THẦN ĐIÊU HIỆP LỮ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thần điêu hiệp lữ - Chương 186 - Chương 190

Chương 186

Tiểu Long Nữ ngắm cảnh ngơ ngẩn một hồi, bỗng hỏi:

- Chàng bảo sau khi người ta chết, có thật sẽ xuống cõi âm, có thật sẽ gặp Diêm vương hay không?

Dương Quá nói:

- Mong sao như thế. Cõi âm dù có rừng đao, có khổ hình với vô số vạc dầu, nhưng có cõi âm vẫn hơn. Nếu không, đôi ta làm sao còn có dịp gặp lại nhau?

Tiểu Long Nữ nói:

- Đúng thế, nếu có cõi âm thật vẫn hơn. Nghe bảo trên đường xuống suối vàng có Mạnh bà, cho người ta uống một bát canh để quên hết mọi việc trên trần gian. Bát canh ấy, thiếp sẽ không uống đâu. Quá nhi, thiếp muốn vĩnh viễn ghi nhớ ân tình của chàng.

Nàng vốn giỏi kiềm chế mình, lòng bi thương khôn tả mà giọng nói vẫn thản nhiên. Dương Quá thật không chịu nổi, phải ngoảnh đi lau nước mắt.

Tiểu Long Nữ thở dài, nói:

- Chuyện ở cõi u minh, chẳng biết thật hư thế nào, nếu được bất tử thì vẫn hơn. Quá nhi, chàng nhìn xem, bông hoa này đẹp quá chừng.

Dương Quá nhìn theo ngón tay nàng chỉ, thấy bên đường có bông hoa tươi mới nở màu hồng sẫm to bằng miệng chén, đang lay động trước gió, trông như hoa mẫu đơn mà không phải mẫu đơn, như hoa thược dược mà không phải thược dược, bèn nói:

- Loài hoa này ít gặp, giữa mùa đông mà nở rực rỡ thế này. Ta sẽ đặt cho nó một cái tên, gọi là hoa Long Nữ.

Nói rồi chàng bước tới ngắt bông hoa, cài lên mái tóc Tiểu Long Nữ. Tiểu Long Nữ cười, nói:

- Đa tạ chàng đã tặng thiếp một bông hoa đẹp, đã đặt cho loài hoa một cái tên dễ nghe.

Hai người lại đi một chặp nữa, rồi ngồi xuống một bãi cỏ. Tiểu Long Nữ nói:

- Chàng còn nhớ tình cảnh hôm bái thiếp làm sư phụ hay không?

Dương Quá nói:

- Sao lại không nhớ?

Tiểu Long Nữ nói:

- Chàng đã thề suốt đời nghe lời thiếp, bất kể thiếp nói gì, chàng cũng sẽ không làm trái. Hiện tại thiếp đã trở thành thê tử của chàng, theo ý chàng thì nên là "xuất giá tòng phu" hay nên là "vâng lệnh sư phụ"?

Dương Quá cười, đáp:

- Nàng bảo sao, ta làm vậy, lệnh sư phụ không dám trái, lệnh của thê tử càng không dám trái.

Tiểu Long Nữ nói:

- Ồ, chàng còn nhớ thì tốt.

Hai người ngồi dựa vào nhau trên cỏ, nghe văng vẳng tiếng Võ Tam Thông gọi hai người đến dùng bữa tối. Dương Quá và Tiểu Long Nữ nhìn nhau cười, đều nghĩ: "Hà tất vì một bữa ăn mà bỏ cảnh đẹp thế kia?". Lát sau, trời tối dần, hai người đã mệt suốt một ngày đêm, lại bị thương sẵn, cuối cùng đều nhắm mắt ngủ thiếp đi.

Nửa đêm, Dương Quá mơ mơ màng màng gọi:

- Long nhi, nàng có lạnh không?

Chàng quờ tay định ôm nàng vào lòng, nào ngờ thấy trống không. Dương Quá giật mình mở mắt ra, Tiểu Long Nữ đã đi đâu không rõ. Chàng vội bật dậy, nhìn tứ phía, ánh trăng lạnh lẽo chiếu xuống núi rừng tịch mịch, không thấy bóng Tiểu Long Nữ đâu cả. Chàng liền chạy lên núi, miệng gọi to:

- Long nhi, Long nhi!

Trên đỉnh núi, chàng gọi to:

- Long nhi, Long nhi!

Sơn cốc tứ phía âm vang, vọng lại "Long nhi, Long nhi!" nhưng Tiểu Long Nữ thủy chung không hồi đáp. Dương Quá kinh dị nghĩ: "Nàng đi đâu kia chứ? Vùng núi này không hề có mãnh cầm quái thú, mà dù có, cũng không thể làm gì được nàng. Giả dụ ban đêm có cường địch tấn công, nàng nằm sát bên ta, nhất định ta đã phát giác". Chàng gọi lớn như thế, Nhất Đăng đại sư, Hoàng Dung, Chu Tử Liễu đều tỉnh giấc. Mọi người nghe nói Tiểu Long Nữ không biết đi đâu mất, ai cũng kinh ngạc, chia nhau đi tìm khắp Tuyệt Tình cốc, nào thấy tung tích của nàng?

Dương Quá cứ chạy chỗ này chỗ nọ như một kẻ điên. Cuối cùng mọi người hội tụ về một chỗ, Dương Quá cũng đã trấn tĩnh lại, nghĩ: "Vậy là nàng tự bỏ đi, ta mới không biết chút gì. Nhưng tại sao lại bỏ đi? Việc này tất liên quan đến những gì Quách phu nhân nói với nàng chiều qua. Lần trước nàng bỏ đi, cuối cùng lạc đến Tuyệt Tình cốc này, cũng là sau khi trò chuyện với Quách phu nhân mà ra". Chàng liền cao giọng, hỏi:

- Quách bá mẫu, chiều qua rốt cuộc bá mẫu đã nói gì với Long nhi?

Hoàng Dung cũng nghĩ không ra vì sao Tiểu Long Nữ đột nhiên mất tích, thấy trán Dương Quá nổi gân xanh, thì càng lo ngại, nói:

- Ta muốn nàng khuyên ngươi uống Đoạn Trường thảo, hy vọng may ra có thể giải độc hoa Tình cho ngươi.

Dương Quá buột miệng nói:

- Long nhi đã không sống được, Dương mỗ còn sống một mình trên thế gian làm gì?

Hoàng Dung an ủi:

- Ngươi đừng nôn nóng quá. Long cô nương nhất thời chưa biết đi đâu, nàng võ công cao cường, không thể gặp bất trắc, sao lại bảo "không sống được"?

Dương Quá đang nôn nóng, không kìm được, liền nói to:

- Nữ nhi bảo bối của phu nhân đã dùng Băng phách ngân châm phóng trúng vào người Long nhi, đúng vào lúc nàng đang nghịch vận kinh mạch trị thương, chất cực độc đem hút hết vào đan điền nội tạng, Long nhi lại không phải thần tiên, làm sao còn sống nổi kia chứ?

Hoàng Dung đâu ngờ sự thể lại đến mức ấy? Có nghe nói nữ nhi trong tòa cổ mộ dùng Băng phách ngân châm đả thương Dương Quá và Tiểu Long Nữ, nhưng nghĩ hai người đều là truyền nhân của phái Cổ Mộ, cùng một phái với Lý Mạc Sầu, tất có giải dược bản môn, chẳng qua chỉ bị đau nhất thời, chứ không có hậu họa gì, giờ nghe Dương Quá nói vậy thì kinh hãi tái mặt đi. Hoàng Dung suy nghĩ rất nhanh: "Thì ra Quá nhi không chịu uống Tuyệt Tình đơn là vì thê tử không giữ được tính mạng, nên Quá nhi không muốn sống một mình. Thế thì Tiểu Long Nữ đi đâu mới được chứ?". Ngẩng nhìn lên đỉnh núi, nơi Công Tôn Chỉ và Cầu Thiên Xích rơi xuống thạch động, bất giác rùng mình.

Dương Quá từ nãy vẫn không rời mắt khỏi Hoàng Dung, Hoàng Dung nhìn lên đó rùng mình, tâm ý thế nào làm gì chàng chẳng biết? Chàng lập tức vừa kinh hãi vừa giận dữ, nói:

- Long nhi đã khó giữ được mạng sống, phu nhân còn đi khuyên nàng tự tận, mong cứu mạng Dương mỗ chứ gì? Phu nhân tự cho rằng đó là vì thiện ý đối với Dương mỗ, Dương mỗ ta... căm hận phu nhân...

Nói đến đây, chàng nghẹn thở ngã ngửa ra, ngất đi.

Nhất Đăng đại sư xoa lưng cho chàng một hồi, Dương Quá dần dần tỉnh lại. Hoàng Dung nói:

- Ta chỉ khuyên nàng cứu mạng ngươi, không đời nào khuyên nàng tự tận, ngươi không tin, cái đó tùy ngươi.

Mọi người nhìn nhau, thực không biết phải làm sao. Hoàng Dung nói:

- Chúng ta thử lên đỉnh núi đó xem.

Thế là mọi người cùng kéo lên đó, ngó xuống thạch động, bên dưới tối om, chẳng nhìn thấy gì.

Trình Anh bỗng nói:

- Chúng ta tước vỏ cây bện thành dây dài, để tiểu nữ xuống dưới đáy xem sao. Dương đại tẩu lỡ có... trượt chân...

Hoàng Dung gật đầu, nói:

- Chúng ta nhất định phải tìm cho ra.

Thế là mọi người dùng đao kiếm tước vỏ cây, đông người, đến lúc trời sáng đã bện xong một sợi dây dài hơn trăm trượng. Cánh trẻ ai cũng tự nguyện xin xuống, Dương Quá nói:

- Dương mỗ sẽ xuống.

Mọi người nhìn Hoàng Dung, chờ nghe lệnh. Hoàng Dung biết Dương Quá nghi ngờ mình, có lên tiếng can ngăn, Dương Quá cũng chẳng chịu nghe, nhưng nếu để chàng xuống đó, lỡ Tiểu Long Nữ rơi xuống chết dưới đó thật, thì làm sao chàng chịu leo lên? Vì thế nhất thời do dự không nói.

Trình Anh quả quyết nói:

- Dương đại ca, để muội xuống, đại ca có tin muội hay không?

Ngoài Tiểu Long Nữ, người được Dương Quá phục nhất là Trình Anh, tự chàng cũng biết mình đang nôn nóng, mà chân tay thì bủn rủn vô lực, đành gật đầu. Cha con họ Võ cùng Gia Luật Tề dòng giữ sợi dây, thả dần cho Trình Anh xuống đáy thạch động. Sợi dây chỉ còn dư vài trượng, Trình Anh mới tới nơi.

Mọi người vây quanh miệng lỗ hổng, không ai nói gì chỉ chăm chăm ngó xuống, đợi Trình Anh báo tin kéo lên. Mọi người đều sốt ruột, vì đã lâu không thấy tín hiệu của Trình Anh. Hoàng Dung và Chu Tử Liễu nhìn nhau, cùng nghĩ bụng: "Nếu Tiểu Long Nữ quả nhiên chết ở dưới kia, Dương Quá nhất định sẽ nhảy xuống đó, phải kịp thời giữ hắn lại".

Dương Quá thấy Hoàng Dung và Chu Tử Liễu nhìn nhau, nghĩ thầm: "Nếu ta muốn tìm đến cái chết, ắt tự có cách kết thúc, đâu có ở đây để các người lôi lôi kéo kéo như một gã ngốc?".

Bỗng sợi dây Võ Tam Thông đang cầm lay động, Quách Phù và huynh đệ họ Võ cùng kêu:

- Mau kéo lên!

Mọi người hợp lực kéo dây đưa Trình Anh lên. Trình Anh chưa lên tới miệng lỗ hổng, đã nói to:

- Không có, Dương đại tẩu không ở dưới đó.

Mọi người cả mừng, không hẹn cùng thở dài nhẹ nhõm. Trình Anh đã đứng bên miệng hố, nói:

- Dương đại ca, tiểu nữ đã tìm kỹ khắp nơi, dưới ấy ngoài di hài gãy nát của vợ chồng Công Tôn Chỉ, không có vật gì khác. Bạn đang xem tại - www.TruyệnFULL.vn

Chu Tử Liễu trầm ngâm nói:

- Chúng ta đã tìm khắp nơi, thiết nghĩ Long cô nương đã rời khỏi sơn cốc rồi.

Lục Vô Song bỗng nói:

- Còn một chỗ chưa tìm, không chừng Dương đại tẩu đang nghĩ cách tìm viên Tuyệt Tình đơn cũng nên.

Dương Quá giật mình, không chờ nghe hết câu, lập tức chạy ngay lên Đoạn Trường nhai, vừa chạy gấp, vừa gọi to:

- Long nhi, Long nhi!

Đến trước sườn núi, cúi nhìn xuống vực sâu, chỉ thấy sương mù, nào thấy bóng người?

Chàng nghĩ: "Long nhi tâm tư đơn thuần, nếu có tâm sự gì, nhất định sẽ không giấu ta". Chàng nhớ lại câu nàng nói: "Nàng bảo nàng muốn ta vĩnh viễn nhớ lời thề là sẽ nghe nàng phân phó. Ta dĩ nhiên sẽ không làm trái tâm ý của nàng. Nhưng nàng hoàn toàn không có phân phó gì cả, đã tự bỏ đi là sao? Long nhi, Long nhi, nàng rốt cuộc đi đâu vậy? Nàng muốn ta làm theo lời gì của nàng?". Chàng nhìn sang Đoạn Trường nhai đối diện, thấy thấp thoáng như có một bạch y thiếu nữ tóc cài đóa hoa hồng, thân hình uyển chuyển, hai tay song kiếm, chính đang kịch chiến với Công Tôn Chỉ. Chàng gọi to:

- Long nhi!

Khi định thần, nào có thấy Tiểu Long Nữ? Chỉ thấy từng lớp từng lớp sương mù bị gió thổi qua mà thôi, nhưng đúng là có đóa hoa hồng ở sườn núi đối diện.

Chàng lấy làm lạ: "Hôm qua Long nhi đấu với Công Tôn Chỉ ở đó, rõ ràng không hề có đóa hoa hồng. Nơi này toàn là núi đá, thảo mộc chẳng mọc nổi, đào đâu ra hoa? Nếu bảo gió thổi đến, làm sao có sự trùng hợp như vậy được?". Bèn hít một hơi, chạy qua chiếc cầu đá sang sườn núi đối diện. Tới gần, trống ngực đập dồn, chính là đóa hoa màu đỏ sẫm chàng đã cài lên tóc Tiểu Long Nữ chiều qua, lúc này đã hơi héo. Chàng nhớ rất kỹ, tối qua trước lúc ngủ, đóa hoa ấy vẫn còn cài trên mái tóc nàng. Đóa hoa ở đây, Tiểu Long Nữ đêm qua chắc hẳn đã tới chỗ này.

Dương Quá cúi xuống cầm đóa hoa lên, thấy bên dưới có một gói giấy, vội mở gói giấy ra, bên trong là một nắm cỏ màu tím sẫm, chính là loài Đoạn Trường thảo mọc dưới gốc cây hoa Tình. Trống ngực đập dồn, chàng lật cái bao giấy xem kỹ, không có chữ nào, bỗng nghe có tiếng Lục Vô Song gọi ở sườn núi bên kia:

- Dương đại ca, đại ca làm gì ở đó thế?

Dương Quá ngoảnh sang, chợt thấy trên sườn núi bên đó có hai hàng chữ được vạch bằng mũi kiếm lên mặt đá, dòng chữ to viết:

"Mười sáu năm sau, tại đây tái hợp, phu thê thâm tình, xin đừng thất ước".

Dòng chữ nhỏ viết:

—iểu Long Nữ thuộc phu quân Dương lang, muôn phần trân trọng, mong ngày đoàn tụ".

Dương Quá ngẩn ngơ nhìn hai dòng chữ, nhất thời tâm thần rối loạn, thực không hiểu dụng ý thế nào, nghĩ: "Nàng hẹn ta mười sáu năm sau tái hợp ở đây, vậy thì nàng đi đâu kia chứ? Nàng bị trúng độc nặng, khó bề chữa trị, chưa chắc sống nổi mươi bữa nửa tháng, làm sao lại hẹn những mười sáu năm? Nàng cũng thừa biết ta đã ném viên Tuyệt Tình đơn xuống vực, sao còn hẹn mười sáu năm tái hợp?". Chàng càng nghĩ tâm trí càng rối loạn, thân hình lắc lư chực ngã.

Mọi người ở sườn núi bên kia thấy chàng như kẻ phát điên, chỉ sợ chàng trượt chân ngã xuống vực sâu. Nếu sang đó khuyên chàng, chỗ sườn núi chỉ đủ chỗ cho một người đặt chân, nếu Dương Quá phát điên thật, chàng võ công lại cao, không ai chế ngự được, tất sẽ bị chàng kéo ngã theo xuống vực. Hoàng Dung hơi chau mày, nói với Trình Anh:

- Sư muội, hình như Dương Quá chỉ nghe lời sư muội thì phải.

Trình Anh gật đầu, nói:

- Phải! Để muội qua đó xem sao.

Rồi nàng lướt nhanh qua chiếc cầu đá, tiến đến chỗ Dương Quá. Dương Quá nghe sau lưng có tiếng bước chân, bèn quát to:

- Không ai được tới đây!

Đoạn chàng quay ngoắt lại, mắt phóng ra tia hung quang. Trình Anh dịu dàng nói:

- Dương đại ca, là muội đây mà. Muội chỉ giúp đại ca tìm Dương đại tẩu, chứ không có ý gì khác.

Dương Quá chằm chằm nhìn Trình Anh một hồi, ánh mắt mới dịu dần.

Trình Anh bước lên một bước, hỏi:

- Bông hoa này là của Dương đại tẩu để lại ư?

Dương Quá nói:

- Phải. Tại sao phải mười sáu năm? Tại sao phải mười sáu năm?

Trình Anh thong thả đến bên cạnh chàng, nhìn theo ánh mắt chàng, đọc xong hai hàng chữ bên sườn núi đối diện, cũng không hiểu gì, nói:

- Quách phu nhân túc trí đa mưu, liệu sự như thần, không ai sánh kịp. Chúng ta sang bên kia hỏi phu nhân, ắt sẽ hiểu ra.

Chương 187

Dương Quá nói:

- Đúng lắm. Cầu đá rất trơn, cô nương hãy cẩn thận.

Rồi chàng phi thân qua sườn núi bên kia, kể lại hai hàng chữ cho Hoàng Dung nghe.

Hoàng Dung lặng lẽ trầm tư một hồi, đột nhiên hai mắt sáng lên, vỗ tay một cái, cười nói:

- Quá nhi, đại hỉ, đại hỉ!

Dương Quá vừa kinh ngạc vừa vui mừng, run run hỏi:

- Quách bá mẫu bảo... bảo... có tin mừng ư?

Hoàng Dung nói:

- Tất nhiên rồi. Long gia muội tử đã gặp được Nam Hải thần ni, quả là kỳ duyên độc nhất vô nhị.

Dương Quá vẻ mặt ngơ ngác, hỏi:

- Nam Hải thần ni là ai vậy?

Hoàng Dung nói:

- Nam Hải thần ni là vị đại thánh trong cửa Phật, tu vi về Phật pháp và võ công đều cao thâm khôn lường. Chỉ vì Người ít đặt chân lên Trung Thổ, nên hiếm có nhân sĩ võ lâm biết được đại danh của Người. Gia gia ta từng kiến diện Người một lần, được Người truyền thụ một lộ chưởng pháp, dùng cả đời chưa hết. Ôi đó là chuyện xảy ra mười sáu, ba mươi hai, đúng rồi, ba mươi hai năm trước.

Dương Quá bán tín bán nghi, lẩm bẩm:

- Ba mươi hai năm...

Hoàng Dung nói:

- Đúng, vị thần ni này có lẽ đã ngót trăm tuổi. Gia gia ta bảo cứ mười sáu năm Người lại tới Trung Thổ một lần, kẻ ác gặp Người tức là do kiếp trước không tu. Người tốt gặp Người, tất được ban phúc. Long gia muội tử là nhân vật mỹ diễm như tiên, Người nhất định sẽ yêu thích, thu làm đồ đệ, đưa ra Nam Hải.

Dương Quá lẩm bẩm:

- Cứ mười sáu năm, cứ mười sáu năm... Nhất Đăng đại sư, có chuyện đó thật ư?

Nhất Đăng đại sư "ừm" một tiếng.

Hoàng Dung cướp lời, nói:

- Vị thần ni này Phật pháp tuy cao thâm, song tính nết có phần cổ quái. Nhất Đăng đại sư đã được gặp thần ni hay chưa?

Nhất Đăng đại sư lắc đầu, nói:

- Lão nạp vô duyên, chưa được gặp Người.

Hoàng Dung thở dài, nói:

- Vị thần ni có một điều không thông tình lý, ai lại đi bắt một đôi vợ chồng trẻ như hoa phải xa nhau những mười sáu năm, như thế chẳng tàn nhẫn quá sao? Long gia muội muội võ công đã cao như thế, còn học thêm mười sáu năm nữa, để hoàn toàn chế ngự trượng phu hay sao?

Nói đoạn cười to.

Dương Quá nói:

- Không phải thế đâu, Quách bá mẫu.

Hoàng Dung hỏi:

- Thế thì là gì?

Dương Quá nói:

- Long nhi chất độc ngấm vào tạng phủ, tính mạng khó toàn, nếu quả được Nam Hải thần ni ban phúc, thì trong mười sáu năm Người sẽ dùng đại thần thông để khu trừ chất độc khỏi cơ thể Long nhi. Điệt nhi cho rằng... dẫu sao cũng không khỏi hẳn được.

Hoàng Dung lại thở dài, nói:

- Quách Phù thô lỗ đả thương người khác, ta... ta hổ thẹn vô cùng. Quá nhi, dự đoán của ngươi có vẻ hợp lý hơn đấy. Long gia muội muội chất độc ngấm vào tạng phủ, Nam Hải thần ni dù có tiên đơn diệu dược cũng không thể giải hết độc trong một thời gian ngắn. Chỉ mong nàng sớm lành bệnh, Nam Hải thần ni đại phát từ bi, không cần lâu ngần ấy đã cho vợ chồng ngươi đoàn tụ.

Dương Quá chưa từng nghe bốn chữ "Nam Hải thần ni", hoang mang chưa muốn tin, nhưng nào hoa nào cỏ trong tay, nào chữ khắc trên vách núi, đều hoàn toàn là sự thực hiển nhiên, Tiểu Long Nữ nếu gặp bất trắc, làm gì có chuyện hẹn ước mười sáu năm tái hợp? Chàng ngẫm nghĩ một hồi, lại hỏi:

- Quách bá mẫu, vì sao bá mẫu biết Nam Hải thần ni thu Long nhi làm đệ tử? Tại sao Long nhi không viết rõ thực tình trên vách núi, để cho điệt nhi khỏi khắc khoải đợi chờ?

Hoàng Dung nói:

- Đó là ta đoán từ bốn chữ "mười sáu năm sau" mà ra. Ta chỉ biết cứ mười sáu năm Nam Hải thần ni lại tới Trung Thổ một lần, trừ Người ra, không còn ai có cái lệ kỳ lạ đó. Nhất Đăng đại sư, đại sư nghĩ có người nào khác hay chăng?

Nhất Đăng đại sư lắc đầu:

- Không có.

Hoàng Dung nói:

- Vị thần ni này đến tên tuổi còn không cho phép ai nhắc đến, làm sao Long muội muội biết để khắc vào đá? Chỉ tiếc là không biết Đoạn Trường thảo có thể giải độc cho ngươi hay không, ôi, nếu mười sáu năm sau... Long muội muội trở về mà không gặp ngươi, chỉ e nàng cũng không thiết sống nữa thôi.

Dương Quá mắt rưng rưng lệ, tất cả trở nên mờ ảo, nhìn sang sườn núi bên kia tưởng như có bóng bạch y thiếu nữ mười sáu năm sau đang tìm kiếm, rồi thất vọng đau khổ vì không thấy chàng. Một cơn gió lạnh thổi qua, chàng rùng mình, quả quyết nói:

- Quách bá mẫu, vậy điệt nhi sẽ đi tìm Nam Hải thần ni, nhưng không biết Người sống ở nơi nào?

Hoàng Dung nói:

- Ngươi nhất thiết chớ theo đuổi ý nghĩ đó, đảo Đại Trí, nơi Nam Hải thần ni cư trú, há cho người ngoài đặt chân, nam tử tới đó sẽ lập tức mất mạng. Gia gia ta lọt vào mắt xanh của Người mà cũng không dám tới hòn đảo ấy bái yết. Long muội muội đã được vị thần ni thu nhận, nhất định sẽ có ngày tái hợp, mười sáu năm thấm thoắt qua nhanh, hà tất nôn nóng.

Dương Quá quắc mắt nhìn Hoàng Dung, gằn giọng hỏi:

- Quách bá mẫu, tất cả những lời vừa rồi là thật hay giả?

Hoàng Dung nói:

- Ngươi hãy tới đọc lại hai hàng chữ kia, nếu không phải là nét chữ của Long muội muội, thì lời ta nói vị tất là thật.

Dương Quá nói:

- Nét chữ thì đúng rồi. Long nhi viết chữ "Dương" bao giờ cũng thiếu một nét trong chữ "nhật" bên phải, hàng chữ kia không phải là giả.

Hoàng Dung vỗ tay:

- Thế thì tốt. Chẳng giấu gì ngươi, ta chỉ cảm thấy chuyện này quá trùng hợp, nên còn nghi rằng Chu đại ca ngầm bố trí như thế để an ủi ngươi.

Dương Quá cúi đầu ngẫm nghĩ một lát, rồi nói:

- Được, điệt nhi sẽ uống thử món Đoạn Trường thảo, nếu vô hiệu, mười sáu năm sau nhờ Quách bá mẫu đến đây nói cho Long nhi biết số phận của điệt nhi!

Đoạn quay sang phía Chu Tử Liễu, nói:

- Chu đại thúc, thảo dược này uống bằng cách nào?

Chu Tử Liễu chỉ biết Đoạn Trường thảo cực độc, còn dùng nó như thế nào để dĩ độc trị độc thì hoàn toàn không biết, bèn nói với Nhất Đăng đại sư:

- Sư phụ, việc này xin sư phụ chỉ dẫn cho.

Nhất Đăng đại sư dùng ngón trỏ tay phải thong thả điểm bốn huyệt Thiếu Hải, Thông Lý, Thần Môn, Thiếu Xung trên người Dương Quá. Bốn huyệt này đều thuộc "Thủ Thiếu dương tâm kinh" là vùng khí dương mới sinh. Dương Quá cảm thấy có một luồng khí ấm từ bốn huyệt dồn ra phía ngực, tim lập tức dễ chịu hẳn.

Nhất Đăng đại sư nói:

- Chất độc hoa Tình đã tương thông với tâm ý, thì thiết tưởng khi Đoạn Trường thảo giải độc cũng ắt sẽ công tâm. Lão nạp điểm bốn huyệt cho ngươi để bảo vệ tâm mạch. Ngươi hãy dùng thử trước một chút xem sao đã.

Dương Quá lạy tạ. Nhất Đăng đại sư thở dài, nói:

- Nếu sư đệ của lão nạp còn sống, chắc sẽ có thể phối chế lương dược theo lối quân thần tá sứ, chúng ta đỡ phải mò mẫm như thế này.

Dương Quá khi nghe tin Thiên Trúc cao tăng bị Lý Mạc Sầu giết hại, biết Tiểu Long Nữ không còn ai chữa trị, thì đã quyết chết, nhưng lúc này nghĩ đến ời hẹn mười sáu năm, ý tưởng cầu sinh lại trỗi dậy mạnh mẽ, thế là chàng liền lấy ra một nhúm Đoạn Trường thảo, cho vào miệng nhai thật chậm, cảm thấy vô cùng tanh hôi, vị thì đắng hơn cả hoàng liên. Chàng nuốt cả nước lẫn bã vào ruột, trước đây không thiết sống một mình, bây giờ lại sợ chết trước, lo rằng mười sáu năm sau Tiểu Long Nữ về Đoạn Trường nhai tìm chàng chẳng thấy, nàng sẽ thất vọng đau khổ không chịu nổi. Chàng ngồi xếp bằng tròn, ngầm vận nội lực, bảo hộ tâm mạch và đan điền, không lâu thì bụng bắt đầu chuyển động đau nhói lên.

Cái đau này tựa hồ bị hàng ngàn mũi kim nhọn đâm vào bụng, từng khúc từng khúc ruột đứt rời, hai chữ "Đoạn Trường" thật không phải hư ngôn. Dương Quá không rên một tiếng, ráng sức nhịn đau, sau khoảng thời gian bằng uống hết một ấm trà thì cơn đau lan ra toàn thân, tứ chi bách hạch, riêng vùng tim vẫn đều đều dễ chịu, đủ biết thần công Nhất Dương chỉ của Nhất Đăng đại sư tinh thâm trác tuyệt mức nào. Cơn đau kéo dài nửa canh giờ thì lui dần về vùng bụng, đột nhiên Dương Quá ọe ra một ngụm máu đỏ tươi, đỏ hơn hẳn máu tươi của người thường.

Trình Anh, Lục Vô Song thấy thổ huyết đều khẽ kêu lên có vẻ lo ngại, Nhất Đăng đại sư thì rất mừng, nói nhỏ:

- Sư đệ, sư đệ tuy đã chết, vẫn còn ban ân huệ cho người đời.

Dương Quá đứng bật dậy, nói:

- Tính mạng của điệt nhi là nhờ đại sư, Thiên Trúc thần tăng và Quách bá mẫu cứu sống.

Lục Vô Song cả mừng, nói:

- Chất độc trong người đại ca đã hết rồi chứ?

Dương Quá nói:

- Làm sao nhanh thế được? Nhưng đã biết thứ cỏ này công hiệu, mỗi ngày chỉ việc nhai một nắm, độc tính sẽ hết dần.

Lục Vô Song nói:

- Làm sao đại ca biết khi nào trừ hết chất độc? Nhỡ trong người hết chất độc rồi, mà đại ca cứ uống, đứt ruột thì chết đó!

Dương Quá nói:

- Điều ấy thì huynh tự biết, nếu chất độc chưa hết khi động tình sẽ đau đớn.

Quách Phù đứng nghe bên cạnh, đột nhiên nói chen vào:

- Dương đại ca chỉ nhớ đến Dương đại tẩu, chứ chẳng nhớ đến ngươi đâu.

Hôm trước Công Tôn Chỉ dùng hắc kiếm đâm Quách Phù, Lục Vô Song bảo Quách Phù giơ tay mà đỡ, lúc ấy cứ tưởng Lục Vô Song có hảo ý, nhưng sau nghĩ lại, càng nghĩ càng thấy không phải thế, Lục Vô Song đâu biết Quách Phù mặc áo giáp lông nhím mà nhắc, chẳng qua Lục Vô Song muốn trả thù cho Dương Quá. Quách Phù giận lắm, bây giờ có dịp liền châm biếm vài câu. Hoàng Dung vội quát:

- Phù nhi, nói gì vậy?

Lục Vô Song đỏ bừng cả mặt. Quách Phù chưa chịu thôi, còn nói:

- Mười sáu năm sau Dương đại tẩu chắc chắn sẽ trở về, ngươi đừng hòng si tâm vọng tưởng.

Lục Vô Song không nhịn được nữa, xoẹt một tiếng đã rút ra thanh đao lá liễu, gằn giọng nói:

- Nếu không phải tại mi, Dương đại ca và Dương đại tẩu đâu phải biệt li những mười sáu năm? Mi tự nghĩ xem mi đã hại Dương đại ca biết chừng nào?

Quách Phù trợn mắt định cự lại, thì Hoàng Dung quát:

- Phù nhi, ngươi còn vô lễ với người khác sẽ phải lập tức một mình về đảo Đào Hoa, không được phép đến thành Tương Dương nữa.

Quách Phù không dám nói thêm, chỉ hầm hầm nhìn Lục Vô Song.

Dương Quá thở dài, nói với Lục Vô Song:

- Chuyện đó do trời xui đất khiến, Quách cô nương cũng không có ý hại người. Vô Song muội tử, từ nay đừng nhắc đến chuyện đó nữa.

Lục Vô Song nghe Dương Quá gọi mình là Vô Song muội tử, còn gọi Quách Phù là Quách cô nương, rõ ràng phân biệt thân sơ, thì vui lòng tra đao vào bao, hất hàm một cái về phía Quách Phù.

Nhất Đăng đại sư nói:

- Dương thiếu hiệp uống Đoạn Trường thảo mà thân thể không bị tổn hại, xem chừng thứ cỏ này quả nhiên có tác dụng giải độc, nhưng để bảo đảm an toàn, không nên uống liên tục, đợi bảy ngày sau hãy dùng lần thứ hai. Trước khi nhai, thiếu hiệp hãy tự điểm bốn huyệt đạo bảo hộ tâm mạch, lượng thảo dược nhai cũng nên giảm dần.

Dương Quá cúi mình nói:

- Cẩn lĩnh đại sư chỉ giáo.

Hoàng Dung thấy mặt trời đã lên đỉnh đầu, nói:

- Chúng ta rời thành Tương Dương đã lâu, không biết quân tình thế nào, thật rất lo lắng, hôm nay cần trở về. Quá nhi, ngươi cũng nên cùng về thành Tương Dương một thể, Quách bá phụ nhớ ngươi lắm đó.

Dương Quá nói:

- Điệt nhi muốn ở đây chờ thê tử.

Quách Phù lấy làm lạ:

- Dương đại ca định ở đây mười sáu năm ư?

Dương Quá nói:

- Huynh cũng không biết, vả lại huynh cũng chẳng có chỗ nào đáng để đến cả.

Hoàng Dung nói:

- Ngươi cứ ở lại đây mươi bữa nửa tháng cũng tốt. Nếu không có thêm tin tức gì của Long gia muội tử, thì ngươi cứ tới thành Tương Dương.

Dương Quá cứ ngẩn ngơ nhìn sườn núi đối diện, không trả lời.

Mọi người từ biệt Dương Quá. Quách Phù thấy Lục Vô Song hoàn toàn không có ý đi, không nhịn được, nói:

- Lục Vô Song, ngươi ở lại đây bầu bạn với Dương đại ca chăng?

Lục Vô Song đỏ mặt, nói:

- Việc đó liên can gì đến ngươi?

Trình Anh nói:

- Dương đại ca chưa khỏe hẳn, ta cùng biểu muội ở lại săn sóc Dương đại ca vài hôm.

Chương 188

Hoàng Dung biết vị tiểu sư muội này ngoài mềm trong cứng, nếu con gái mình làm rầu lòng nàng ta, không chừng hậu họa vô cùng, bèn quắc mắt với Quách Phù, nói:

- Quá nhi có tiểu sư muội và Lục cô nương săn sóc thật không còn gì bằng. Đợi khi chất độc trong người Quá nhi đã được giải hết, mời ba vị cùng đến thành Tương Dương, chuyết phu và tiểu muội ta xin rộng cửa đón chờ.

Dương Quá, Trình Anh, Lục Vô Song ba người đứng trên sườn núi nhìn Nhất Đăng đại sư, Hoàng Dung và mọi người đi xa dần, cuối cùng khuất hẳn trong rừng cây. Đám cháy lớn trong rừng núi đã tắt.

Dương Quá nói:

- Hai vị muội muội, huynh có một ý định, nói ra xin đừng giận.

Lục Vô Song nói:

- Không ai trách Dương đại ca đâu.

Dương Quá nói:

- Ba người chúng ta từ khi gặp nhau thấy rất hợp, Dương Quá ta hoàn toàn không có huynh đệ tỷ muội, muốn được kết nghĩa kim lan với hai vị, từ nay ta coi nhau như huynh muội, tình như cốt nhục. Ý hai vị thế nào?

Trình Anh chợt nao lòng, biết tình của chàng đối với Tiểu Long Nữ thủy chung như nhất, do phải chờ mười sáu năm đằng đẵng, nên cần định rõ danh phận huynh muội, để tránh ở bên nhau nhiều ngày đôi bên khó xử, thấy Lục Vô Song cúi đầu mắt rưng rưng lệ, vội nói:

- Hai chúng tôi có một vị đại ca như huynh, thật là cầu được ước thấy.

Lục Vô Song đến bên một cây hoa Tình, nhổ ba cọng Đoạn Trường thảo cắm xuống đất, cười nói:

- Người ta khi kết bái thì thắp nhang, ba chúng ta làm theo kiểu mới, dùng cỏ thay nhang.

Nàng tuy đã gắng gượng vui vẻ, nhưng nói đến đây, giọng cũng hơi nghẹn ngào, không đợi Dương Quá trả lời, liền quỳ ngay xuống. Dương Quá và Trình Anh cũng quỳ xuống bên cạnh, vái tám vái, hành lễ kết nghĩa.

Dương Quá nói:

- Nhị muội, tam muội, vật đáng ghét nhất trong thiên hạ là cây hoa Tình, nếu để giống cây này lan ra bên ngoài sơn cốc, sẽ độc hại khôn lường. Chúng ta quyết phá hủy hết chúng đi, muội nghĩ sao?

Trình Anh nói:

- Đại ca có thiện nguyện ấy, chắc Bồ Tát sẽ phù hộ cho sớm được đoàn tụ với đại tẩu.

Dương Quá nghe câu đó, tinh thần phấn chấn hẳn lên.

Ba người liền chọn mấy vật dụng bằng sắt ở khu vực trang viện bị cháy, lấy cành cây làm cán, đi chặt phá những cây hoa Tình chưa bị cháy. Số cây hoa Tình trong sơn cốc không ít, lại phải thận trọng không để gai hoa Tình đâm vào mình, cho nên mất đứt sáu ngày mới chặt phá hết. Ba người chỉ sợ còn lại một cây, không trừ tận gốc, lại dễ sinh họa, cho nên tìm kỹ khắp nơi, đến khi không còn một cây hoa Tình mới dừng tay. Từ đấy trở đi, cái họa do hoa Tình gây nên bị Dương, Trình, Lục ba người tuyệt diệt, hậu nhân không bao giờ gặp phải nữa.

Sáng ngày thứ bảy, Lục Vô Song lấy ra một nhúm Đoạn Trường thảo, nói:

- Đại ca, hôm nay đại ca lại phải nhai thứ cỏ độc này đấy.

Dương Quá đã có kinh nghiệm bảy ngày trước đó, biết Đoạn Trường thảo tuy độc, cơ thể mình chịu được, thế là tự điểm bốn huyệt đạo, cho mấy nhánh cỏ vào miệng nhai, nuốt xuống. Lần này chất độc trong cơ thể đã bớt, sự đau đớn không còn lợi hại như lần trước, nửa canh giờ sau thổ ra một ngụm máu tươi, lập tức hết đau.

Dương Quá đứng thẳng dậy, vươn vai, cử động tứ chi một hồi, thấy Trình Anh và Lục Vô Song sắc diện hoan hỉ, thì nghĩ thầm: "Hai vị nghĩa muội đối với ta tốt thế này, bình sinh có được một hồng nhan tri kỷ như thế đã không phải ân hận, huống hồ có cả hai? Chỉ tiếc là ta không thể báo đáp". Một lát, chàng lại nghĩ: "Nhị muội gặp minh sư, sở học đại tiến, chỉ cần có thời gian tu luyện, tuần tự tiệm tiến, có thể trở thành cao thủ hạng nhất. Tam muội thua kém rất xa", bèn nói:

- Tam muội, sư phụ của muội và sư phụ của huynh là sư tỷ muội, hóa ra hai chúng ta còn là sư huynh muội đấy. Võ công tinh diệu nhất của phái Cổ Mộ chúng ta được ghi trong "Ngọc nữ tâm kinh". Tâm nguyện cả đời của Lý Mạc Sầu là được đọc bộ kinh ấy nhưng đến chết cũng không thỏa nguyện. Bây giờ không có việc gì, để huynh truyền thụ cho muội vài môn võ công được chứ?

Lục Vô Song cả mừng, nói:

- Đa tạ Dương đại ca, lần sau gặp Quách Phù, muội không còn sợ nàng ta vô lễ nữa.

Dương Quá mỉm cười, đem khẩu quyết trong "Ngọc nữ tâm kinh" đọc cho nàng nghe, từ nông đến sâu, dặn:

- Muội hãy học thuộc lòng khẩu quyết, khi luyện công có thể nhờ nhị muội trợ giúp. Nơi này không có người lạ, chính là nơi tuyệt diệu để luyện công.

Mấy ngày liền Lục Vô Song chuyên tâm ghi nhớ "Ngọc nữ tâm kinh", sở học của nàng vốn là công phu phái Cổ Mộ, tương thông cùng mạch, dễ dàng lĩnh hội. Dần dần học đến chỗ thâm thúy, Dương Quá dạy nàng cứ cố ghi nhớ, lâu ngày sẽ hiểu. Cứ như thế dạy gần một tháng, Lục Vô Song đã ghi nhớ thuộc lòng toàn bộ tâm kinh từ đầu chí cuối, không bỏ sót chữ nào. Dương Quá cũng cứ cách bảy ngày lại nhai Đoạn Trường thảo để giải độc, với liều lượng ít dần.

Một buổi sáng nọ, Trình Anh và Lục Vô Song nấu bữa ăn xong, chờ hồi lâu không thấy Dương Quá đến, hai người tới cái hang chàng ở, thì thấy trên đất có hàng chữ lớn vạch bằng vật nhọn:

"Tạm thời li biệt, hậu hội hữu kỳ. Huynh muội chi tình, sáng như nhật nguyệt.".

Lục Vô Song sững sờ, nói:

- Dương đại ca... thế là chàng đi rồi.

Đoạn nàng chạy lên đỉnh núi, nhìn xuống bốn phía, Trình Anh cũng chạy lên theo. Hai người phóng tầm mắt ra xa, chỉ thấy sương mù lãng đãng, nào thấy đâu bóng hình Dương Quá? Lục Vô Song đau lòng, nghẹn ngào nói:

- Chàng bảo chàng... chàng đi đâu kia chứ? Mai sau... mai sau còn có dịp tái ngộ hay chăng?

Trình Anh nói:

- Tam muội, muội hãy nhìn mấy đám mây trắng kia, chúng ta tụ lại rồi tản mát, nhân sinh li hợp, cũng chẳng khác chi, sao muội còn phiền não?

Nàng tuy miệng nói vậy, song nước mắt không cầm được, vẫn lăn dài.

Sau khi ở lại Đoạn Trường nhai hơn một tháng, truyền thụ xong "Ngọc nữ tâm kinh" cho Lục Vô Song, thủy chung không biết thêm chút tin tức gì về Tiểu Long Nữ, Dương Quá biết có đợi thêm cùng vô ích, bèn hái một bó Đoạn Trường thảo cất vào bọc, viết dòng chữ trên mặt đất, rồi lẳng lặng bỏ đi. Chàng hy vọng Tiểu Long Nữ lại trở về núi Chung Nam chăng, bèn trở lại tòa cổ mộ, chỉ thấy mũ áo cưới để trên giường, quần áo vứt dưới nền, càng thêm đau lòng mà thôi.

Chàng xuống núi, lang bạt giang hồ đó đây, thấm thoắt đã mấy tháng, một hôm đến gần thành Tương Dương, thấy những nơi quân Mông Cổ san thành bình địa, đốt sạch, nay đã mọc lên những nếp nhà tranh, khói bếp đó đây, hiển nhiên quân Mông Cổ mấy tháng nay không tiến đánh xuống phía nam. Dương Quá tuy nhớ Quách Tĩnh, nhưng không muốn gặp mặt Quách Phù, nghĩ: "Mình xa Điêu huynh đã lâu, tại sao không đến thăm một chuyến?". Thế là tìm đường đến hoang cốc.

Gần đến nơi ẩn cư năm xưa của Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại, chàng cất tiếng hú thật dài, vừa đi vừa hú. Một lát sau, nghe trên lưng chừng núi phía trước vọng xuống tiếng "oắc oắc". Chàng ngẩng lên, thấy Thần điêu đứng dưới một gốc một cây lớn, bộ vuốt đang đè gí đầu một con báo. Thần điêu nhìn thấy Dương Quá, liền thả con báo ra, sải bước dài về phía chàng, con báo thoát chết, cụp đuôi lẩn ngay vào bụi cỏ. Dương Quá ôm lấy Thần điêu, người và thú đều mười phần hoan hỉ, cùng đi vào thạch thất. Chàng xa đây mới có vài tháng, nhưng đã trải qua mấy phen vào sinh ra tử, bi hoan tụ tán, chỉ tiếc Thần điêu không biết nói, nếu không chàng đã có thể thổ lộ với Thần điêu nhiều điều.

Sau mấy ngày bầu bạn với Thần điêu, hôm nay chàng trở lại chỗ của Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại chôn kiếm. Chàng đọc lại dòng chữ khắc trên đá, bên dưới thanh kiếm gỗ đã mục:

"Sau bốn mươi tuổi, bất kể vật gì, cây cỏ gỗ đá, đều có thể dùng làm kiếm. Từ đây tinh tu, dần dần tiến đến cảnh giới không kiếm thắng có kiếm.".

Chàng nghĩ: "Mình sử dụng thanh Huyền thiết trọng kiếm nặng nề, đã mấy lần vô địch thiên hạ. Nhưng đọc di ngôn của Độc Cô tiền bối, thì rõ ràng kiếm gỗ có thể thắng Huyền thiết trọng kiếm, cuối cùng không dùng kiếm lại thắng kiếm gỗ. Long nhi đã hẹn mười sáu năm sau gặp lại, vậy thì trong vòng mười năm mình cứ thong thả tinh nghiên phép kiếm gỗ thắng Huyền thiết trọng kiếm, không dùng kiếm lại thắng kiếm gỗ".

Thế là chàng liền bẻ cành cây làm một thanh kiếm gỗ, nghĩ: "Huyền thiết trọng kiếm nặng bảy chục cân, thanh kiếm gỗ nhẹ bẫng này muốn thắng Huyền thiết trọng kiếm chỉ có hai cách: một là kiếm pháp tinh diệu, lấy nhanh đánh chậm, hai là nội công sung mãn, lấy mạnh đánh yếu".

Từ đó chàng ngày đêm chuyên tu nội công, tinh nghiên kiếm thuật, sau mỗi trận mưa lớn, chàng lại ra dòng suối chống chọi với nước lũ để tăng lực xuất chiêu, thấm thoắt hết hè sang thu, qua thu sang đông, Dương Quá tuy rất chuyên cần tu luyện, song nội lực và kiếm thuật đều tiến triển chậm. Chàng biết mình tu vi vốn đã tới cảnh giới rất cao, muốn tiến bộ thêm quả thật cực khó, cho nên chàng cũng không vì thế mà nôn nóng.

Một hôm trời có tuyết lớn, Thần điêu kêu to vui mừng, nhảy ra ngoài bãi rộng, dang hai cánh vẫy mạnh, hất từng đám tuyết lớn tung tóe. Dương Quá chợt nghĩ: "Mùa đông không có nước lũ, luyện kiếm trong tuyết cũng là một cách tuyệt diệu". Chàng thấy Thần điêu vỗ cánh càng lúc càng mạnh, các bông tuyết rơi xuống tuy rất dày, song không có bông nào rơi xuống thân mình Thần điêu.

Dương Quá nổi hứng, vung thanh kiếm gỗ hất tuyết lên, đồng thời hất ống tay áo rỗng bên phải không cho các bông tuyết rơi xuống người mình. Đùa như thế nửa ngày, lực đạo của thanh kiếm gỗ và ống tay áo rỗng đều tăng tiến rõ rệt.

Tuyết rơi ba hôm liền, Dương Quá ngày nào cũng luyện kiếm ngoài tuyết. Buổi chiều ngày thứ ba, tuyết rơi càng dày, Dương Quá đang mải vung kiếm hất tuyết thì Thần điêu đột nhiên vẫy cánh quét về phía chàng. Dương Quá không đề phòng, suýt bị quét trúng, vội nhảy tránh, cảm thấy trán mát lạnh, có một bông tuyết dính vào. Chàng nghĩ: "Điêu huynh lại muốn luyện kiếm cho mình tăng tiến về kiếm thuật đây", liền vung thanh kiếm gỗ đâm Thần điêu. "Rắc" một tiếng, thanh kiếm gỗ đụng cánh Thần điêu, lập tức gãy rời. Thần điêu không tấn công nữa, cụp cánh lại, kêu "oắc oắc", thần sắc có vẻ trách móc.

Dương Quá nghĩ: "Muốn dùng thanh kiếm gỗ chống chọi thần lực của Điêu huynh, chỉ có cách né tránh thật nhanh, thừa sơ hở trả đòn". Bèn làm một thanh kiếm gỗ khác, tái đấu ngoài tuyết với Thần diêu. Lần này cầm cự được mười mấy chiêu, thanh kiếm gỗ mới bị gãy.

Cứ thế luyện tập không nghỉ, Dương Quá thấy Thần điêu cũng không lơ là, tựa hồ đôn đốc chàng thật nghiêm, thì trong lòng vừa cảm kích, vừa hổ thẹn, nghĩ: "Ta không luyện được thanh kiếm gỗ, sẽ phụ mỹ ý của Điêu huynh. Dịp may hiếm có này, ta chẳng thể bỏ qua". Thế là ngay cả lúc ngủ chàng cũng nghĩ cách tránh chiêu xuất chiêu và tăng cường nội lực như thế nào. Luyện công đã chăm, nỗi nhớ nhung Tiểu Long Nữ cũng không còn da diết như mấy tháng trước. Hiện thời chất độc hoa Tình trong cơ thể đã được giải hết, nội lực tăng tiến, thể chất cường tráng, đã không còn vẻ tiều tụy hôm nào.

Nhìn quang cảnh trời đất, biết mình biệt li với Tiểu Long Nữ đã một năm, Dương Quá nói:

- Điêu huynh, tại hạ muốn đi Tuyệt Tình cốc một chuyến, hôm nay tạm biệt Điêu huynh.

Rồi chàng mang theo thanh kiếm gỗ, rời khỏi hoang cốc. Thần điêu đi theo chàng đến chỗ đường rẽ, Dương Quá vái Thần điêu một cái, đoạn đi theo đường lớn về hướng bắc. Thần điêu ngậm vạt áo chàng kéo về hướng nam. Dương Quá nói:

- Điêu huynh, tại hạ đi phương bắc có việc, chúng ta chia tay ở đây thôi.

Nhưng Thần điêu cứ kéo chàng về hướng nam. Dương Quá lấy làm lạ: "Điêu huynh dạo trước rất thấu hiểu, sao bây giờ lại cố chấp như thế?". Khổ nỗi ngôn ngữ bất đồng, đành theo Thần điêu đi về hướng nam. Thần điêu thấy chàng chịu rồi thì nhả vạt áo ra, không kéo nữa, nhưng thấy chàng quay người đi lên hướng bắc, nó lại ngậm vạt áo chàng không nhả ra nữa. Dương Quá nghĩ: "Điêu huynh kéo ta về hướng nam, tất có thâm ý, ta đi theo thì hơn". Thế là chàng dứt bỏ ý định đi Tuyệt Tình cốc, mà cùng Thần điêu đi về hướng đông nam.

Đi hơn mười dặm, Dương Quá chợt nghĩ: "Điêu huynh thọ cao, thông linh, hay là Điêu huynh dẫn ta đi gặp Long nhi?". Nghĩ vậy, nhiệt huyết trào dâng, khó kìm lại được, bèn rảo cẳng cùng Thần điêu đi như bay. Chưa đầy một tháng, đã tới bờ Đông Hải.

Dương Quá đứng trên ghềnh đá ven biển, đưa mắt nhìn ra ngoài khơi, thấy sóng bạc đầu từ rất xa chạy lại, trong lòng lo âu xen lẫn hy vọng. Không lâu, tai nghe viễn triều rùng rùng như tiếng sấm ì ầm không ngớt. Chàng thuở nhỏ từng ở trên đảo Đào Hoa, biết thủy triều mỗi ngày đêm diễn ra hai lần, vào giờ Tí giờ Ngọ. Lúc này gần trưa, chắc là lúc triều dâng. Tiếng thủy triều càng lúc càng rõ, ầm ầm như thiên binh vạn mã cùng rầm rập xô tới, chỉ thấy một dải bạch tuyến trào gấp vào bờ, thanh thế còn lợi hại hơn cả sấm sét. Dương Quá thấy trời đất thị uy thì bất giác biến sắc. xem tại TruyệnFULL.vn

Phút chốc thủy triều đã tràn đến trước mặt, tựa hồ muốn đâm bổ lên ghềnh đá. Dương Quá vội nhảy lùi về phía sau, đột nhiên cảm thấy có một kình lực cực mạnh đẩy vào lưng chàng, chính là Thần điêu vẫy cánh tấn công. Chàng đang ở trong không trung, không chống đỡ được, ùm một cái, rơiõm xuống giữa làn sóng bạc đầu, nước mặn xộc ngay vào miệng.

Tình thế lúc này rất nguy, may chàng từng luyện kiếm bao nhiêu lâu giữa dòng nước lũ trên núi, lập tức sử chiêu "Thiên cân trụy" đứng thật vững trên đáy biển bằng đá. Trên mặt biển sóng cao như núi, nhưng dưới đáy biển thì tĩnh lặng hơn. Chàng đã hiểu ra: "Thần điêu dẫn mình ra biển là để mình luyện kiếm trong sóng dữ". Bèn nhún mạnh hai chân, vọt lên mặt nước, một đợt sóng cao như núi ập xuống đầu chàng. Chàng tung mình lên đầu sóng, hít một hơi dài rồi lại chìm xuống đáy biển.

Cứ thế tung mình vọt lên mặt nước để thở, đến khi thủy triều rút thì chàng đã mệt phờ, mặt nhợt nhạt. Giờ Tí, thủy triều lại dâng, chàng cầm thanh kiếm gỗ nhảy xuống múa kiếm trong sóng, cảm thấy lực thủy triều từ tứ phía ập đến, không giống như nước lũ chỉ đẩy từ trên xuống dưới, mỗi khi chống đỡ không nổi, chàng lại chìm xuống đáy biển tạm tránh.

Cứ thế mỗi ngày tập hai lần, chưa đến một tháng, tự cảm thấy công lực đại tiến, nếu đứng trên bờ múa kiếm, nghe từa tựa như tiếng triều dâng. Bây giờ Thần điêu đấu với chàng, đã không dám dùng cánh đụng vào thanh kiếm gỗ nữa.

Một hôm Dương Quá nổi hứng, lúc vung kiếm đâm, sử đến mười thành công lực. Thần điêu kêu "oắc" một tiếng, vội né tránh. Dương Quá thu kiếm không kịp, thanh kiếm gỗ chém trúng vào một thân cây nhỡ nhỡ, kiếm gãy, thân cây cũng gãy đổ. Dương Quá tay cầm cán của thanh kiếm gỗ vừa gãy, nghĩ: "Thanh kiếm gỗ mỏng manh vô lực này mà chém gãy cây là do kình lực của tay ta, khi nào cây gãy mà kiếm không gãy, tức là sẽ bằng thần kỹ của Độc Cô tiền bối năm xưa".

Xuân qua thu tới, năm tháng trôi mau, Dương Quá ngày ngày luyện kiếm với thủy triều, ngày cũng như đêm, trời nóng cũng như trời rét. Tiếng thanh kiếm gỗ phát ra khi đâm càng ngày càng to, ầm ầm ù ù, vang như thế mấy tháng, rồi nghe nhỏ dần, cuối cùng không nghe thấy gì nữaa. Lại luyện thêm vài tháng, tiếng lại nghe to dần, từ nhỏ tới to, lại từ to tới nhỏ, lặp đi lặp lại bảy lần, luyện đến bước ấy, bấm đốt ngón tay, tính ra chàng đã ở bên bờ biển sáu năm. Hiện thời Dương Quá tay cầm thanh kiếm gỗ, đứng bên bờ biển đón sóng mà đâm, kình phong do kiếm tạo nên đã ngang với sóng lớn từ trên cao đổ xuống. Thần điêu tuy có lực đạo kinh hồn, cũng đã không chịu nổi vài ba chiêu thức của thanh kiếm gỗ, bây giờ chàng mới hiểu tâm trạng cuối đời của Độc Cô Cầu Bại: "Từ đây kiếm thuật làm gì có ai trong thiên hạ địch nổi. Hèn chi Độc Cô tiền bối buồn bã chôn kiếm nơi hoang cốc". Lại nghĩ: "Nếu không có Điêu huynh năm xưa chứng kiến phép luyện kiếm của Độc Cô tiền bối, thì làm sao ta có được thần kỹ thế này? Ta gọi Thần điêu là Điêu huynh, kỳ thực Thần điêu là lương sư của ta. Nói về tuổi tác, càng không biết Thần điêu bao nhiêu tuổi, không chừng Thần điêu đáng để ta gọi là Điêu công công, Điêu gia gia cũng nên".

Trong những năm luyện kiếm trên bờ biển, Dương Quá luôn luôn nghe ngóng tin tức qua những người đi biển trở về, xem có ai biết gì về Nam Hải thần ni hay chăng. Nhưng mấy năm, hỏi qua cả ngàn thuyền sư hải khách, không một ai có tin gì, chàng cũng bỏ dần ý định hỏi han, nghĩ thôi cứ chờ mười sáu năm sẽ tái hợp với Tiểu Long Nữ. Một hôm trời mưa gió như trút, Dương Quá cảm thấy bồn chồn, bèn giắt thanh kiếm gỗ sau lưng, khoác áo tơi che mưa, cùng Thần điêu lẳng lặng đi về hướng tây, từ ấy dấu chân chàng đặt khắp chốn Giang Nam Trung Nguyên.

Ghi chú:

Lời và điệu của "Hỏi thế gian tình ái là chi, mà đôi lứa thề nguyền sống chết" là dựa theo bài hát "Mại Bì đường", tác giả là Nguyên Hiếu Vấn, người nước Kim, sáng tác vào năm Kim Thái Hòa thứ năm, bấy giờ phụ thân của Dương Quá là Dương Khang mới năm tuổi.

Chương 189: Phong Lăng Dạ Đàm

Thời Tống Lý Tông, năm Khai Khánh nguyên niên, là năm thứ chín sau khi đại hãn Mông Cổ Mông Ca lên ngôi, bấy giờ vào đầu xuân tháng Hai, bến Phong Lăng ở bờ bắc Hoàng Hà đầy tiếng ngựa hí lừa kêu, tiếng người tiếng xe huyên náo. Mấy ngày liền trời chợt lạnh chợt ấm, Hoàng Hà thoạt tiên tan băng, đến hôm nay gió bấc thổi mạnh, tuyết rơi dày, mặt sông lại đóng băng. Thuyền không thể qua lại, mà băng thì chưa đủ dày cho xe ngựa lại qua, rất nhiều khách đi xuống miền nam đều bị ách lại ở bến Phong Lăng, không thể đi tiếp. Bến Phong Lăng tuy có mấy tòa khách điếm, nhưng dòng người từ phía bắc đổ xuống lũ lượt không ngớt, chưa đến nửa ngày, các nơi đã hết chỗ, những khách thương đến sau không còn phòng để thuê làm chỗ nghỉ đêm.

Tòa khách điếm lớn nhất ở đây có tên "An độ lão điếm", nổi tiếng là tòa khách điếm an toàn. Nơi đây phòng ốc rộng rãi, ít khách thương nào không tìm đến trú ở đây, cho nên càng chật ních. Chưởng cự phải khua môi múa mép mới dồn được ba, bốn khách vào một phòng, còn hai chục người không biết bố trí vào đâu, đành phải ngồi ở gian đại đường. Điếm tiểu nhị bày bàn ăn, đốt một đống lửa lớn ở giữa gian. Ngoài cửa gió lạnh thổi ù ù, tuyết bay lả tả lùa vào qua khe cửa, thổi lửa lúc sáng bừng, lúc tối lại. Mọi người đoán chừng sáng mai chưa thể lên đường, chau mày buồn bã.

Gần tối, tuyết rơi càng dày, bỗng nghe có tiếng vó ngựa, ba người cưỡi ngựa dừng lại ngoài điếm môn khẩu. Một vị khách già ngồi bên đống lửa cau mày, nói:

- Lại có người đến thêm.

Quả nhiên nghe giọng một nữ nhân:

- Chưởng cự, hãy chuẩn bị cho ta hai phòng rộng rãi, sạch sẽ.

Chưởng cự cười hề hề:

- Xin phu nhân lượng thứ, tiểu điếm đầy chật rồi, không còn một chỗ nào nữa.

Giọng nữ nhân:

- Được, thôi thì chuẩn bị cho ta một phòng vậy.

Chưởng cự nói:

- Được quý khách quang lâm quả là vinh hạnh cho tiểu điếm, nhưng hôm nay quả thật không còn lấy một phòng.

Nữ nhân vút vút cây roi ngựa, xẵng giọng:

- Nói vớ nói vẩn! Ngươi mở khách điếm mà không có đủ phòng trọ thì mở khách điếm làm gì? Ngươi bảo người ta nhường phòng lại không được hay sao? Ta trả nhiều tiền cho ngươi được chưa?

Đoạn xông thẳng vào đại đường.

Mọi người thấy nữ nhân trạc ba mươi tuổi, mặt hạnh má đào, dung nhan mỹ lệ, mặc chiếc áo da cừu lót lụa màu lam, cổ quàng tấm lông chồn, phục sức rất sang trọng. Theo sau thiếu phụ có một nam một nữ, đều khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, nam thì mày rậm mắt to, thần tình thô hào, nữ thì thanh nhã tú mỹ. Thiếu niên và thiếu nữ cùng mặc áo da, thiếu nữ cổ đeo một chuỗi minh châu, mỗi hạt ngọc to bằng đầu ngón tay út, phát quang long lanh. Đám khách thương choáng ngợp bởi khí thế của ba người mới tới, ngẩn ngơ nhìn họ.

Điếm bạn cúi mình cười hề hề, nói:

- Phu nhân coi đó, các vị quan khách đây cũng đều không tìm được phòng trống. Ba vị nếu không hiềm phiền toái, tiểu nhân sẽ bảo các vị đây nhường cho một bàn, thôi thì tạm ngồi sưởi qua đêm nay, ngày mai băng đóng cứng, không chừng có thể qua sông.

Thiếu phụ xinh đẹp thấy tình cảnh này là thực, cau mày không nói. Một thiếu phụ trung niên ngồi bên đống lửa nói:

- Phu nhân hãy ngồi xuống đây mà sưởi cho đỡ lạnh đã, rồi tính sau.

Thiếu phụ xinh đẹp nói:

- Được, xin đa tạ.

Một vị khách nam ngồi cạnh thiếu phụ trung niên vội xê dịch sang một bên, dành ra một khoảng rộng.

Ba người ngồi một lát, điếm tiểu nhị bưng thức ăn tới. Thức ăn nhiều món, thịt thà đủ cả, còn thêm một bình rượu trắng. Thiếu phụ xinh đẹp tửu lượng rất cao, uống hết bát này đến bát khác. Thiếu niên và thiếu nữ cùng uống với thiếu phụ xinh đẹp.

Nghe ba người xưng hô, họ là tỷ đệ, chàng thiếu niên là út.

Mọi người ngồi vây quanh đống lửa, nghe gió thổi ù ù bên ngoài, nhất thời chưa định ngủ.

Một hán tử nói giọng Sơn Tây lên tiếng:

- Thời tiết thật là trái chứng, làm khổ người ta, lúc thì tan băng, lúc thì đóng băng.

Một người lùn nói giọng Hồ Bắc:

- Các hạ đừng có oán trách trời đất nữa, chúng ta được ngồi sưởi ấm thế này, được ăn uống no đủ, còn đòi gì hơn? Các hạ mà sống trong thành Tương Dương bị vây hãm, sẽ thấy nơi khốn cùng trong thiên hạ cũng vẫn còn là nơi an lạc chán.

Thiếu phụ xinh đẹp nghe bốn chữ "trong thành Tương Dương", thì nhìn đệ muội một cái.

Một vị khách nói giọng Quảng Đông hỏi:

- Lão huynh, xin hỏi trong thành Tương Dương bị vây hãm, tình cảnh thế nào?

Người nói giọng Hồ Bắc đáp:

- Sự tàn bạo của bọn Thát tử Mông Cổ, các vị hẳn đã nghe cả rồi. Cái năm hơn mười vạn đại quân Mông Cổ vây đánh thành Tương Dương, thống chế Lã đại nhân thủ thành là một kẻ bất tài, may có vợ chồng Quách đại hiệp ra sức chống địch...

Thiếu phụ nghe nhắc đến "vợ chồng Quách đại hiệp" thì lắng nghe.

Người nói giọng Hồ Bắc tiếp:

- Mấy chục vạn quân dân thành Tương Dương cũng dốc sức thủ thành, không một ai run sợ thoái hậu. Như tiểu nhân chỉ là một tiểu thương, cũng dùng xe chở đá giúp cho việc phòng thủ. Vết sẹo trên mặt tiểu nhân đây là do bị trúng tiễn của quân Mông Cổ đó.

Mọi người cùng nhìn người đó, thấy bên dưới mặt trái quả nhiên có một vết thương vì trúng tiễn to bằng miệng chén trà, thì bất giác có ý kính nể.

Vị khách Quảng Đông nói:

- Đại Tống ta đất rộng người đông, nếu ai cũng như lão huynh, thì bọn Thát từ Mông Cổ có hung bạo gấp mười, cũng không thể chiếm được giang sơn ta.

Người nói giọng Hồ Bắc:

- Đúng thế, các hạ thấy đó, đại quân Mông Cổ tấn công thành Tương Dương hơn chục năm, vẫn không hạ nổi, thành thử cũng không chiếm được các nơi khác. Nghe đồn mấy chục quốc gia bên ngoài Tây Vực đều bị quân Mông Cổ tiêu diệt, thành Tương Dương của nước ta vẫn vững vàng như núi. Tứ vương tử Mông Cổ Hốt Tất Liệt thân chinh đứng dưới chân thành đốc chiến, cũng không làm gì nổi người Tương Dương chúng tôi.

Vị khách Quảng Đông nói:

- Trăm họ đều sẵn sàng liều chết với bọn Thát tử, nếu bọn Thát tử tiến đánh vùng Quảng Đông chúng tôi, dân Quảng Đông cũng sẽ đánh cho chúng một trận tơi bời.

Người Hồ Bắc nói:

- Không liều chết với bọn Thát tử thì cũng mất mạng. Bọn Thát tử Mông Cổ đánh không nổi thành Tương Dương, bèn bắt người Hán ở ngoài thành, giải tới dưới chân thành mà chém đầu. Chúng còn dùng dây trói những đứa trẻ thơ năm, sáu tuổi rồi cho ngựa kéo chạy vòng vòng dưới chân thành, vài vòng thì đứa trẻ đã chết tươi. Chúng tôi ở trên mặt thành nghe tiếng trẻ thơ khóc thét mà như đứt từng khúc ruột. Bọn Thát tử tưởng dùng thủ đoạn tàn bạo làm cho chúng tôi sợ hãi mà đầu hàng, nhưng chúng càng tàn bạo, ta càng giữ thành thật vững. Năm ấy lương thực trong thành Tương Dương hết nhẵn, nước cũng cạn, rồi vỏ cây, nước dơ cũng bị người ta ăn uống hết sạch, vậy mà bọn Thát tử vẫn không hạ nổi thành, đành phải lui binh.

Vị khách Quảng Đông nói:

- Mười mấy năm nay, không có thành Tương Dương kiên cường bất khuất, e rằng một nửa giang sơn Đại Tống ta đã mất rồi.

Mọi người nhao nhao hỏi han về tình hình thủ thành Tương Dương, người nói giọng Hồ Bắc kể đâu ra đó, ca ngợi vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung như thần như thánh, ai nấy tấm tắc không thôi.

Một người khách nói giọng Tứ Xuyên bỗng lên tiếng:

- Thực ra quan tốt giữ thành nơi nào cũng có, chẳng qua triều đình không phân biệt trung gian, để cho gian thần tận hưởng vinh hoa phú quý, còn trung thần thì hàm oan mà chết. Chuyện anh hùng Nhạc Phi thời trước khỏi nói, như đối với Tứ Xuyên chúng tôi triều đình đã giết oan mấy vị đại trung thần.

Người Hồ Bắc nói:

- Là ai vậy, xin cho biết.

Người khách Tứ Xuyên nói:

- Bọn Thát tử Mông Cổ đánh Tứ Xuyên hơn mười năm, nhờ có Dư Giới Dư đại soái trấn thủ, trăm họ ở Tứ Xuyên đều coi Dư đại soái như vị Phật sống. Ai ngờ hoàng thượng tin lời tên gian thần Đinh Đại Toàn bảo Dư đại soái lạm quyền, dối trên nạt dưới, ban cho rượu độc buộc Dư đại soái tự vẫn, phái về một tên gian đảng bất tài làm nguyên soái. Sau đó bọn Thát tử Mông Cổ đánh tới, vùng bắc Tứ Xuyên lập tức thất thủ. Ngoài mặt trận toàn là thuộc hạ cũ của Dư đại soái, ai cũng liều chết đánh địch. Nhưng viên nguyên soái mới chỉ biết nịnh nọt thượng ti, không biết gì việc điều binh khiển tướng, tất nhiên không chống nổi quân địch. Bọn gian thần Đinh Đại Toàn, Trần Đại Phương che chở cho viên cẩu nguyên soái kia, lại đi đổ oan cho tướng quân Vương Duy Trung, một vị tướng quân anh dũng bất khuất là tư thông với giặc, áp giải cả gia đình Vương tướng quân về kinh, chém đầu Vương tướng quân.

Nói đến đây, giọng người đó nghẹn ngào, mọi người cùng thở dài.

Vị khách Quảng Đông căm phẫn nói:

- Đại sự quốc gia lại do bọn gian thần thao túng. Nghe nói trong triều có ba con chó, tên gian thần Đinh Đại Toàn là một trong ba con đó.

Một thiếu niên mặt trắng trẻo từ đầu chỉ ngồi nghe, lúc này bỗng lên tiếng:

- Đúng vậy, đứng đầu bọn gian thần trong triều là ba tên Đinh Đại Toàn, Trần Đại Phương, Hồ Đại Xương. Người Lâm An chúng tôi thêm một dấu chấm trên chữ "Đại", thành chữ "Khuyển" (chó), ba tên ấy hóa thành Đinh Khuyển Toàn, Trần Khuyển Phương, Hồ Khuyển Xương.

Mọi người nghe vậy cùng cười ồ lên.

Vị khách Tứ Xuyên nói:

- Nghe khẩu âm của lão đệ, hình như là người Lâm An ở kinh đô thì phải?

Thiếu niên kia nói:

- Đúng thế.

Vị khách Tứ Xuyên nói:

- Vậy lão đệ có nghe kể về tình cảnh tướng quân Vương Duy Trung bị hành hình ra sao chứ?

Thiếu niên nói:

- Tiểu đệ đã chính mắt chứng kiến. Vương tướng quân trước lúc chết vẫn bình thản như không, uy phong lẫm liệt, chửi Đinh Đại Toàn, Trần Đại Phương là bọn họa quốc ương dân, ngoài ra còn có một chuyện lạ.

Mọi người cùng hỏi:

- Là chuyện gì vậy?

Thiếu niên nói:

- Vương tướng quân bị một tay Trần Đại Phương sát hại. Khi Vương tướng quân bị dẫn ra pháp trường, dọc đường Vương tướng quân lớn tiếng nói rằng sau khi chết sẽ lên kêu oan với Ngọc hoàng đại đế. Ngày thứ ba sau khi Vương tướng quân chết, Trần Đại Phương quả nhiên bị chết thảm tại nhà. Thủ cấp của hắn bị treo cao ở gác chuông cửa Đông thành Lâm An, trên một cây sào. Chỗ ấy loài khỉ cũng không thể leo lên nổi, đừng nói là người, nếu không phải thiên thần thiên tướng do Ngọc hoàng đại đế phái xuống, còn ai có thể làm được việc đó?

Mọi người đều cho là lạ. Thiếu niên nói:

- Chuyện ấy thành Lâm An ai cũng biết, không phải do tại hạ bịa ra. Vị nào đến Lâm An, cứ hỏi thăm khắc biết.

Người khách Tứ Xuyên nói:

- Vị lão đệ này nói không sai. Có điều người giết Trần Đại Phương không phải thiên thần thiên tướng, mà là một vị anh hùng hào kiệt.

Thiếu niên lắc đầu nói:

- Thiết nghĩ Trần Đại Phương là đại quan trong triều, có thân binh gia tướng canh phòng cẩn mật, thường nhân làm sao giết nổi hắn? Hơn nữa, thủ cấp của hắn bị treo cao ở gác chuông, trừ phi có cánh mới làm nổi việc đó.

Người khách Tứ Xuyên nói:

- Kỳ nhân hiệp sĩ bản lĩnh phi phàm, trên thế gian vẫn có đấy. Nếu tiểu đệ không chính mắt chứng kiến, thì cũng khó tin.

Thiếu niên ngạc nhiên hỏi:

- Các hạ chính mắt nhìn thấy thủ cấp của Trần Đại Phương bị treo cao ở gác chuông ư? Làm sao các hạ chính mắt thấy được?

Người khách Tứ Xuyên do dự một lát, rồi nói:

- Tướng quân Vương Duy Trung có một người con trai, lúc Vương tướng quân bị bắt thì người con trai ấy không có nhà. Bọn gian thần trong triều đình muốn nhổ cỏ tận gốc, mới sai quân mã truy nã. Người con của Vương tướng quân cũng là một quân quan, tuy biết võ nghệ, song quả bất địch chúng, thấy sắp bị truy binh bắt được, thì gặp một vị cứu tinh, tay không đánh tan mấy chục quân mã. Người con của Vương tướng quân liền đem việc hai cha con anh dũng vệ quốc mà bị hãm hại như thế nào kể lại, vị đại hiệp kia ngay đêm ấy tới Lâm An, định cứu Vương tướng quân, nhưng đã chậm mất hai ngày, Vương tướng quân đã bị giết hại. Vị đại hiệp nổi giận, ngay đêm ấy đi chặt đầu Trần Đại Phương, treo lên trên gác chuông. Chỗ ấy đúng là loài vượn cũng không leo lên nổi, vậy mà vị đại hiệp kia chỉ nhún chân một cái đã bay lên được.

Vị khách Quảng Đông hỏi:

- Vị hiệp khách ấy là ai? Hình dạng như thế nào?

Người khách Tứ Xuyên nói:

- Tại hạ không biết tính danh vị đại hiệp kia, chỉ thấy người ấy thiếu mất cánh tay phải, tướng mạo... tướng mạo rất đặc sắc, cưỡi một con ngựa, dắt theo một con ngựa thứ hai, trên lưng con ngựa thứ hai có một con quái điểu ly kỳ cổ quái...

Chưa nói hết thì một đại hán dõng dạc nói to:

- Đúng thế, đấy chính là vị Thần điêu hiệp lừng danh khắp giang hồ.

Người khách Tứ Xuyên hỏi:

- Là Thần điêu hiệp ư?

Đại hán nói:

- Phải, vị đại hiệp ấy hành hiệp trượng nghĩa, đả phá bất bình, song không chịu nói rõ tính danh, bằng hữu giang hồ thấy chàng lúc nào cũng ở bên cạnh một con quái điểu như hình với bóng, bèn tặng cho chàng ngoại hiệu "Thần điêu đại hiệp". Chàng nói rằng hai chữ "đại hiệp" chàng quyết không dám nhận, người ta đành gọi chàng là "Thần điêu hiệp". Kỳ thực những việc chàng làm hoàn toàn xứng danh với hai chữ "đại hiệp". Chàng mà không xứng, thì còn ai xứng kia chứ.

Thiếu phụ xinh đẹp đột nhiên xen vào nói:

- Ngươi là đại hiệp, ta là đại hiệp, hừ, sao mà lắm đại hiệp thế!

Người khách Tứ Xuyên bình thản nói:

- Phu nhân nói nghe lạ, chuyện giang hồ tiểu nhân tuy không hiểu, nhưng đúng là vị Thần điêu đại hiệp cứu mạng Vương tướng quân, đã đi một mạch từ Giang Tây đến Lâm An, suốt bốn ngày đêm không chợp mắt. Thần điêu hiệp không quen biết Vương tướng quân, nhưng thương Vương tướng quân tận trung báo quốc lại bị gian thần hãm hại, nên bất chấp nguy hiểm, đi kêu oan cho Vương tướng quân, phu nhân bảo như vậy đã xứng là một vị đại hiệp hay chưa?

Thiếu phụ hừ một tiếng, định nói, thì thiếu nữ văn nhã ngồi bên cạnh thiếu phụ nói:

- Tỷ tỷ, vị anh hùng hành xử như thế, rất xứng với hai chữ "đại hiệp".

Giọng nàng trong trẻo, nghe rất êm dịu, ai nghe cũng thích.

Thiếu phụ nói:

- Muội thì hiểu gì?

Đoạn quay sang phía vị khách Tứ Xuyên, hỏi:

- Làm sao các hạ biết rõ mọi chuyện đó? Lại nghe chuyện dọc đường chứ gì? Tin đồn trên giang hồ, chín phần mười là không đáng tin.

Vị khách Tứ Xuyên trầm ngâm giây lát, rồi nghiêm trang nói:

- Tiểu nhân họ Vương, tướng quân Vương Duy Trung chính là tiên phụ, tính mạng của tiểu nhân là do Thần điêu đại hiệp cứu thoát, tiểu nhân thân là khâm phạm, triều đình ra lệnh truy nã, muốn chém đầu tiểu nhân. Nhưng một khi nhắc đến danh tính của ân nhân cứu mạng, tiểu nhân đâu dám tham sống sợ chết, giấu diếm không nói.

Chương 190

Mọi người nghe y nói vậy đều sững sờ. Vị khách Quảng Đông giơ ngón tay cái, nói to:

- Tiểu Vương tướng quân, các hạ là một trang hảo hán, nếu có kẻ nào đi tố giác các hạ với quan phủ, mọi người sẽ băm hắn thành trăm mảnh.

Mọi người cùng khen phải. Thiếu phụ xinh đẹp nghe nói thế, cũng không thể phản bác.

Thiếu nữ văn nhã nhìn ngọn lửa bập bùng lúc sáng lúc tối, đăm đăm xuất thần, khe khẽ thốt lên:

- Thần điêu đại hiệp, Thần điêu đại hiệp...

Rồi ngoảnh sang tiểu Vương tướng quân, nói:

- Vương đại thúc, vị Thần điêu đại hiệp võ công đã cao cường thế, sao lại thiếu mất một cánh tay?

Thiếu phụ xinh đẹp thần sắc đại biến, môi mấp máy định nói gì, lại thôi. Tiểu Vương tướng quân lắc đầu nói:

- Tại hạ ngay đến tính danh của Thần điêu đại hiệp còn không hỏi được, làm sao biết thân thế của chàng.

Thiếu phụ xinh đẹp nói:

- Hừ, các hạ dĩ nhiên không thể biết.

Chàng thiếu niên Lâm An nói:

- Thần điêu đại hiệp giết gian thần, tiểu Vương tướng quân chính mắt mục kích, không phải là thiên thần thiên tướng thực hiện. Nhưng còn việc tên gian thần Đinh Đại Toàn sau một đêm sắc mặt trở nên xanh lè, thì chắc chắn là do trời phạt.

Vị khách Quảng Đông nói:

- Làm sao mà sau một đêm sắc mặt lại trở nên xanh lè?

Chàng thiếu niên Lâm An nói:

- Trước đây dân Lâm An gọi Đinh Đại Toàn là Đinh Khuyển Toàn, nhưng hiện thời đã gọi hắn là Đinh Thanh Bì. Hắn vốn mặt mũi trắng trẻo, bỗng nhiên sau một đêm sắc mặt trở nên xanh lè, rồi cứ bị như thế, chẳng thầy thuốc nào chữa khỏi. Nghe nói hoàng thượng cũng từng hỏi tại sao, tên gian thần tâu là hắn một lòng một dạ lo việc nước, mấy đêm mất ngủ, cho nên sắc mặt trở nên như vậy. Nhưng khắp thành Lâm An ai ai cũng bảo tên gian thần họa quốc ương dân ấy bị Ngọc hoàng đại đế sai thiên tướng xuống làm cho mặt hắn hóa xanh như thế.

Vị khách Quảng Đông lắc đầu, nói:

- Chuyện càng nghe càng kỳ lạ.

Hán tử thẳng thắn kia cười ha hả, vỗ đùi nói:

- Việc ấy cũng là do Thần điêu hiệp làm đó, ha ha, thống khoái thống khoái!

Mọi người vội hỏi:

- Sao lại cũng là Thần điêu hiệp?

Đại hán chỉ cười ha ha, nói:

- Thống khoái thống khoái!

Vị khách Quảng Đông muốn biết chi tiết, liền gọi điếm tiểu nhị mang ra hai cân rượu, mời đại hán uống.

Đại hán uống cạn một bát rượu to, cao hứng nói lớn:

- Chuyện này không phải huynh đệ khoe khoang, mà huynh đệ cũng có đôi chút công lao. Một đêm nọ Thần điêu hiệp đột nhiên tới Lâm An, bảo huynh đệ dẫn mấy chục anh em xông vào nha môn huyện Tiền Đường Lâm An trói bọn sai dịch lại, lột quần áo của bọn chúng, mặc vào giả làm quan dịch. Ai nấy vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, chưa biết Thần điêu hiệp phân phó như thế để làm gì, nhưng chắc sẽ có trò vui, tất nhiên tuân lệnh làm ngay. Đến hết canh ba, Thần điêu hiệp tới nha môn huyện Tiền Đường, mình mặc sắc phục quan huyện, ngồi trên công đường, đập tay xuống bàn quát: "Giải tên phạm quan Đinh Đại Toàn ra đây!".

Nói đến đây, đại hán văng cả bọt mép, lại tợp một ngụm rượu to.

Vị khách Quảng Đông nói:

- Lão huynh bấy giờ làm nghề gì ở Lâm An vậy?

Đại hán trừng mắt nhìn người kia một cái, nói to:

- Làm nghề gì à? Uống bát rượu to, ăn miếng thịt lớn, lấy cân chia vàng bạc, làm ăn kiểu ấy, hiểu chưa?

Vị khách Quảng Đông chột dạ, không dám hỏi thêm. Đại hán nói tiếp:

- Khi huynh đệ nghe ba chữ "Đinh Đại Toàn" thì giật mình, nghĩ: "Đinh Đại Toàn ư, tên cẩu quan ấy đang làm Tể tướng đương triều, Thần điêu hiệp làm sao có thể bắt hắn mang tới đây?". Chỉ thấy Thần điêu hiệp lại vỗ bàn một cái nữa, hai hán tử quả nhiên áp giải một người trang phục đại quan vào công đường. Năm ngoái Đinh Đại Toàn có đến Hựu Thánh quán thắp hương, huynh đệ ở ngoài cổng đạo quán có nhìn thấy mặt hắn, lúc này nhìn kỹ, đúng là Đinh Đại Toàn chứ còn ai vào đấy? Hắn run rẩy toàn thân, nửa như sắp quỳ nhưng chưa chịu quỳ. Một huynh đệ bèn đạp vào khoeo chân hắn, hắn phải vội quỳ xuống. Ha ha, thống khoái, thống khoái! Thần điêu hiệp hỏi, Đinh Đại Toàn, ngươi biết tội hay chưa? Đinh Đại Toàn nói, chưa biết. Thần điêu hiệp quát, ngươi mưu lợi riêng, giết oan người trung lương, tàn hại trăm họ, tư thông với kẻ địch làm hại đất nước, bao nhiêu hành động gian ác, hãy mau cung khai. Đinh Đại Toàn nói, nhà ngươi rốt cuộc là ai, dám bắt giữ đại thần, có biết vương pháp là gì hay không? Thần điêu hiệp nói, ngươi còn nghĩ đến vương pháp hả? Tả hữu đâu, đánh cho hắn bốn chục gậy ta coi! Các huynh đệ vốn căm hận tên gian thần, lúc này được đánh hắn thì giáng thật mạnh, khiến Đinh Đại Toàn ngất đi mấy lần, rối rít xin tha. Thần điêu hiệp hỏi câu nào, hắn ngoan ngoãn trả lời câu ấy, không dám cứng đầu nữa. Thần điêu hiệp sai đưa giấy bút, bảo hắn tự khai. Hắn hơi do dự, Thần điêu hiệp quát đánh vào mông, vả vào miệng hắn.

Thiếu nữ văn nhã mỉm cười, nói nhỏ:

- Thú vị, thú vị!

Đại hán lại tợp một ngụm rượu, nói:

- Đúng, hết sức thú vị. Cái tên Đinh Đại Toàn ấy không chịu nổi đòn, đành tự tay viết lời khai, nhưng hắn viết rất chậm, Thần điêu hiệp luôn miệng thúc giục, hắn cố chần chừ, không chịu viết nhanh. Trời sắp sáng, ngoài cổng nha môn có tiếng huyên náo, rất nhiều quân mã kéo đến, chắc đã bị lộ. Thần điêu hiệp nổi giận, quát: "Chém đầu hắn cho ta!" rồi nháy mắt với huynh đệ. Huynh đệ biết Thần điêu hiệp không muốn giết người, bèn vung đao lên chém xuống, nhưng lúc đụng vào gáy Đinh Đại Toàn thì huynh đệ đã xoay đằng sống đao và chỉ dứ nhẹ. Song nhát đao ấy cũng đủ làm cho Đinh Đại Toàn sợ vỡ mật, chỉ thấy mặt hắn đột nhiên trở nên xanh lè, hắn ngất đi. Thần điêu hiệp cười to, nói: như thế đủ để hắn kinh sợ rồi, chúng ta không cần giết hắn, cứ để triều đình lấy hắn làm gương. Thần điêu hiệp bảo chúng tôi thay y phục nha dịch, lẻn ra cổng sau, ai về nhà nấy. Thần điêu hiệp tự đi đoạn hậu, cũng không phải đánh nhau gì cả, ai nấy bình an rút đi. Nghe nói Thần điêu hiệp hôm sau đích thân vào hoàng cung, đem tờ khai của Đinh Đại Toàn giao cho lão hoàng đế. Nhưng không hiểu Đinh Đại Toàn khéo ăn khéo nói thế nào mà lão hoàng đế tin lời hắn, vẫn cứ cho hắn làm Tể tướng.

Tiểu Vương tướng quân thở dài, nói:

- Chúa thượng nếu không hôn mê vô đạo, gian thần đã không thể làm ác. Giết được Tần Cối, lại đẻ ra Hàn Thác Vị, khử Hàn Thác Vị, lại nảy nòi ra Sử Di Viễn, trừ bỏ Sử Di Viễn, lại đến Đinh Đại Toàn. Ôi, gian thần cứ hết tên này đến tên khác, giang sơn Đại Tống ta khó lòng giữ được.

Đại hán nói:

- Trừ phi mời Thần điêu hiệp làm Tể tướng, may ra mới đánh lui được bọn Thát tử, thiên hạ thái bình.

Thiếu phụ xinh đẹp nói:

- Hừ, y làm Tể tướng sao nổi?

Đại hán tức giận nói:

- Thần điêu hiệp làm không nổi, phu nhân làm nổi chắc?

Thiếu phụ xinh đẹp cũng nổi giận, quát:

- Ngươi là ai mà cả gan vô lễ với ta?

Thấy đại hán tay cầm chiếc que cời than, bèn tiện tay nhặt một khúc củi đánh xuống chiếc que cời một cái. Đại hán chấn động cánh tay, thấy nửa người tê dại, chiếc que cời tuột tay rơi xuống đất, lửa bắn tung tóe, làm cháy sém cả mấy chục sợi râu của y. Mọi người kêu lên thất thanh. Đại hán tuy nóng tính, nhưng vừa lĩnh giáo võ công của thiếu phụ, không dám phát tác, chỉ quặp râu vào, đến rượu cũng không thiết uống nữa.

Thiếu nữ văn nhã kia nói:

- Tỷ tỷ, người ta kể chuyện Thần điêu hiệp hay như thế, tại sao tỷ tỷ lại không thích nghe kia chứ?

Rồi nàng ngoảnh sang mỉm cười với gã đại hán, nói:

- Đại thúc, xin đừng trách.

Đại hán vốn đang căm tức, nhưng thấy thiếu nữ cười dịu dàng thì hết giận, ngoác miệng cười, định nói một câu khách sáo, nhưng chưa biết chọn từ nào cho hay.

Thiếu nữ nói:

- Đại thúc, đại thúc làm sao quen được Thần điêu hiệp vậy?

Đại hán ngoảnh nhìn thiếu phụ, lưỡng lự chưa nói. Thiếu nữ giục:

- Đại thúc cứ nói đi, chỉ cần không đắc tội với tỷ tỷ của tiểu nữ là được. Thần điêu hiệp chừng bao nhiêu tuổi? Thần điêu của Thần điêu hiệp trông có đẹp hay không?

Không đợi đại hán trả lời, nàng quay sang nói với thiếu phụ:

- Tỷ tỷ, không biết Thần điêu của Thần điêu hiệp so với đôi chim điêu nhà ta thì như thế nào?

Thiếu phụ nói:

- Làm sao có thể so với đôi chim điêu nhà ta, không có con ưng con điêu nào trong thiên hạ sánh bằng đôi chim điêu nhà ta.

Thiếu nữ nói:

- Cái đó chưa hẳn. Gia gia thường nói, người học võ cần biết ngoài trời có trời, trên người có người, quyết không được tự mãn. Người đã như vậy, cầm điểu giỏi hơn đôi chim điêu nhà ta chắc cũng có đấy.

Thiếu phụ nói:

- Muội còn nhỏ tuổi, chưa hiểu được gì. Khi chúng ta lên đường, cha mẹ đã bảo muội phải nghe lời ta, muội quên rồi sao?

Thiếu nữ cười, nói:

- Cái đó còn xem lời tỷ tỷ nói có đúng hay không đã. Đệ đệ, đệ thấy ta nói đúng, hay là tỷ tỷ nói đúng?

Chàng thiếu niên ngồi bên nàng cao lớn vạm vỡ nhưng mặt đầy vẻ trẻ con, do dự một lát, rồi nói:

- Đệ không biết. Gia gia dặn hai chúng ta phải vâng lời đại tỷ, dặn tỷ đừng đấu khẩu với đại tỷ.

Thiếu phụ hết sức đắc ý, nói:

- Thấy chưa?

Thiếu nữ thấy đệ đệ bênh đại tỷ, cũng không giận, chỉ cười, nói:

- Đệ đệ chẳng hiểu gì cả.

Rồi nàng quay sang nói với đại hán:

- Đại thúc hãy tiếp tục kể chuyện Thần điêu hiệp đi.

Đại hán nói:

- Được, cô nương đã muốn nghe, thì ta kể cho, họ Tống ta bản lĩnh tuy thấp kém, song cũng là một trang hán tử, bình sinh nói một là một, không bịa một câu. Cô nương không tin thì không nên nghe.

Thiếu nữ cầm bầu rượu rót cho đại hán một bát, cười nói:

- Sao tiểu nữ lại không tin? Đại thúc kể mau đi!

Lại gọi:

- Điếm tiểu nhị, hãy mang ra đây mười cân rượu, hai mươi cân thịt bò. Tỷ tỷ của tiểu nữ kính mời các vị bá bá, thúc thúc uống rượu cho ấm người.

Điếm tiểu nhị dạ ran. Mọi người tươi cười, cùng lên tiếng đa tạ. Lát sau, ba gã điếm tiếu nhị đã bưng rượu thịt ra.

Thiếu phụ xinh đẹp nặng mặt nói:

- Ta có mời khách, cũng không mời kẻ hồ thuyết bát đạo. Này điếm tiểu nhị, số rượu thịt này không được tính tiền với ta đâu đấy.

Điếm tiểu nhị sững lại, nhìn thiếu nữ, bối rối không biết làm sao. Thiếu nữ liền gỡ một chiếc kim thoa trên đầu, đưa cho điếm tiểu nhị, nói:

- Đây là cái thoa bằng vàng thật, đáng giá mười mấy lạng bạc. Phiền ngươi mang đi đổi cho ta. Rồi mang thêm mười cân rượu, hai chục cân thịt dê nữa.

Thiếu phụ tức giận, nói:

- Muội muội, muội định trêu tức ta phải không? Chỉ riêng hạt minh châu gắn trên chiếc kim thoa đã có giá hơn trăm lạng bạc, muội cứ đòi Chu bá bá phải cho bằng được, thế mà bây giờ muội lại tùy tiện đem đi đãi người ta uống rượu. Để xem khi trở về thành Tương Dương, mẫu thân hỏi đến, muội sẽ trả lời thế nào dây?

Thiếu nữ thè lưỡi, cười đáp:

- Muội sẽ bảo muội đánh rơi dọc đường, tìm mãi chẳng thấy.

Thiếu phụ nói:

- Ta sẽ không để cho muội nói dối trót lọt đâu.

Thiếu nữ cầm đũa gắp một miếng thịt bò cho vào miệng, nói:

- Đằng nào cũng ăn rồi, đâu có thể trả lại? Nào các vị xin chớ làm khách.

Mọi người thấy tỷ muội hai người đấu khẩu với nhau, đều cảm thấy thú vị, ai cũng thầm mến thiếu nữ ngây thơ hào phóng, người không biết uống rượu cũng tợp vài ngụm, ngầm ủng hộ nàng. Thiếu phụ xinh đẹp tức quá, nhắm mắt, giơ tay bịt tai lại.

Thiếu nữ cười, nói:

- Tống đại thúc, tỷ tỷ của điệt nhi ngủ rồi, đại thúc kể đi đừng ngại, tỷ tỷ không thức dậy đâu.

Thiếu phụ mở mắt ra, tức giận nói:

- Ta ngủ hồi nào?

Thiếu nữ nói:

- Thế thì càng hay, có nói to cũng không ngại làm cho tỷ tỷ bị thức giấc.

Thiếu phụ gằn giọng nói:

- Tương nhi, ta nói cho muội biết, muội còn sinh sự với ta, ngày mai ta sẽ không cho muội đi cùng nữa đâu.

Thiếu nữ nói:

- Muội chả sợ, muội đi với tam đệ cũng được rồi.

Thiếu phụ nói:

- Tam đệ sẽ đi với ta.

Thiếu nữ hỏi:

- Tam đệ, đệ sẽ đi cùng với ai nào?

Chàng thiếu niên khó xử, theo đại tỷ thì nhị tỷ buồn, mà theo nhị tỷ thì đại tỷ sẽ giận, lẩm bẩm:

- Mẫu thân bảo ba chị em cùng đi với nhau, không được thất tán.

Thiếu phụ quắc mắt nhìn muội tử, giận dỗi nói:

- Sớm biết muội khó bảo thế này, thì hồi bé muội bị kẻ xấu bắt mang đi, ta chẳng lo cứu muội về cho xong.

Thiếu nữ nghe vậy thì mềm lòng, cầm cánh tay thiếu phụ, nũng nịu:

- Hảo tỷ tỷ, đừng giận mà, là muội sai rồi.

Thiếu phụ ngoảnh mặt làm ngơ, thiếu nữ nói:

- Tỷ tỷ mà không cười, muội sẽ cù cho đấy.

Rồi giơ tay phải thọc vào nách thiếu phụ. Thiếu phụ không quay đầu, dùng tay trái gạt ra sau, thiếu nữ đưa tay trái tóm cổ tay của thiếu phụ, tay phải tiếp tục chĩa tới. Thiếu phụ hơi trầm cùi chỏ bên phải, kẹp cánh tay của muội tử lại. Thiếu nữ xoay bàn tay một cái để tránh bị kẹp, tư thái trông cực đẹp.

Trong giây lát, hai người đã chiết giải bảy tám chiêu, cả hai cùng khéo léo sử dụng "Tiểu cầm nã thủ pháp".

Thiếu nữ cố nhiên không cù được tỷ tỷ, mà thiếu phụ cũng không tóm được cổ tay muội tử.

Đột nhiên ở góc nhà có người thấp giọng khen:

- Hảo công phu!

Tỷ muội hai người cùng dừng tay, nhìn về góc nhà, thấy một người ngồi bó gối, đầu thụt vào giữa hai gối, đang ngủ say. Tỷ muội hai người ngồi bên đống lửa, vẫn thấy người kia ngồi bất động như vậy từ lâu, người bên cạnh cũng không thấy được mặt mũi y, y cũng không thể nhìn thấy tỷ muội hai người vừa đùa nhau thế nào, tiếng khen kia chắc không phải do y phát ra. Chàng thiếu niên nói:

- Đại tỷ nhị tỷ, gia gia dặn chúng ta không nên tùy tiện hiển lộ công phu.

Thiếu nữ mỉm cười, nói:

- Này ông cụ non, đệ nói không sai đâu.

Rồi quay sang đại hán, nói:

- Tống đại thúc, xin lỗi, tỷ muội chúng tôi mải đấu khẩu, quên nghe đại thúc kể chuyện, đại thúc mau kể tiếp đi.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau