THẠCH KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thạch kiếm - Chương 71 - Chương 75

Chương 71: Chim bằng khoe vuốt

Hôm sau trên đường từ dinh Hòa Giả về tư thất, Cao Mục Lân dừng lại dưới chân đồi, giao ngựa cho vợ chồng người mã phu già trông giữ. Vợ chồng nhà này không con, ngụ tại căn lều gỗ, sinh nhai bằng nghề cho thuê chuồng ngựa và săn sóc những con ngựa được người thuê gửi ở đấy.

Vừa bước vào cổng, Cao Mục Lân đã được lão mã phu lật đật ra đón, ghé tai nói nhỏ:

- Tôn khách biết chuyện chưa ? Tối qua lại có vụ giết người, xác còn nằm ở chân đồi đó !

- Lại trộm chứ gì ! Dạo này trộm cướp ở Tân đô, chẳng ngày nào mà không có.

- Không biết có phải không, nhưng cứ thế này lão cũng ngại lắm, chả biết có bảo toàn được ngựa cho quý khách không !

Cao Mục Lân trấn an:

- Không sao đâu, lão đừng lo ! Nếu xảy ra chuyện gì, cứ chạy lên nhà ta, báo cho Cát Xuyên hiệp sĩ biết. Ông ấy ở không có đến cả năm nay rồi, chân tay ngứa ngáy cứ than thở chẳng có việc gì làm.

- Cát Xuyên hiệp sĩ phải chăng là Cát Xuyên Mộc ?

- Chính thị. Sao lão biết ?

- Ai chứ Cát Xuyên Mộc thì giới giang hồ lạ gì. Người ta bảo ông ra chiêu xuất quỷ nhập thần. Nhưng chẳng biết có chịu giúp cho những kẻ như nô tài này không ?

Lời ca tụng của người mã phu già khiến Cao Mục Lân rất vừa ý. Ai cũng biết một trong những bổn phận của thuộc hạ Ở dinh Hòa Giả là phải tìm kiếm và đề bạt những kẻ có tài, nhất là về võ học. Cát Xuyên Mộc, người được Cao Mục Lân bảo trợ, không những còn trẻ, lại quả có tài. Nếu hắn được kết nạp, chức vụ hiện nay của Cao Mục Lân không những coi như vững chắc mà còn hy vọng thăng tiến nữa. Tuy thế, không bao giờ Cao Mục Lân tỏ ra vì lợi riêng mà vận động cho Cát Xuyên Mộc. Lúc nào hắn cũng nói chỉ vì mong muốn lãnh địa Hòa Giả được hưng thịnh và trường tồn mà tha thiết lo tròn bổn phận ấy. Cho nên, nếu Cát Xuyên Mộc được mọi người biết đến thì chính là một điều tốt, góp phần vào việc nâng cao giá trị của hắn.

Cao Mục Lân bước vào nhà. Thấy Cát Xuyên Mộc đang ngồi uống trà, hắn cười hớn hở, chào hỏi xong báo có tin vui, nhưng lại vội vào phòng tắm rửa mặt thay áo đã rồi mới trở ra.

Gọi gia nhân, không ai đáp. Hỏi thì Cát Xuyên Mộc nói:

- Hôm qua, vì không có việc gì, thằng bộc xin về thăm mẹ, tại hạ đã cho nó nghỉ.

Quái lạ, sao bây giờ vẫn chưa trở lại.

Vì có họ xa với vợ Cao Mục Lân nên Cát Xuyên Mộc vẫn giữ lễ trong cách xưng hô, tuy nhiên đôi khi hắn cũng tỏ ra lạm quyền như trong vụ cho tên bộc về nghỉ. Cao Mục Lân không nói gì. Chắc trong lúc vui, hắn không để ý. Chỉ thấy rót rượu ra hâm, mang lại trước mặt Cát Xuyên Mộc rồi cả hai ngồi đối ẩm.

- Hôm nay tại hạ có tin mừng.

- Tin gì ? Cát Xuyên Mộc hỏi.

- Như đại hiệp biết, tại hạ nhiều lần đã nêu danh tính đại hiệp ra trước mặt thiếu gia nhưng mãi đến hôm qua mới được ngài lưu ý. Ngài nói mời đại hiệp đến gặp ngài.

Thật là một vinh hạnh.

Tưởng như thế cũng đủ để Cát Xuyên Mộc vui mừng. Không ngờ hắn chẳng nói gì.

Cao Mục Lân bồi thêm:

- Thuộc hạ trong dinh chẳng thiếu. Ai cũng sẵn sàng giới thiệu người của mình, nhưng dường như thiếu gia đã có chủ ý, muốn hội kiến với đại hiệp trước.

Cát Xuyên Mộc rót rượu ra chén, đưa cho Cao Mục Lân:

- Xin phép tôn huynh, mừng tôn huynh một chung rượu.

- Hà hà ! Mừng đại hiệp mới phải chứ !

Đoạn giơ cao chén rượu lên “khà” một cái cạn chung.

Thấy Cát Xuyên Mộc vẫn ngồi im, không đổi sắc mặt, Cao Mục Lân thầm khen con người khí phách, biết tiết chế cảm xúc.

Cát Xuyên Mộc lại tự rót rượu ra chén, bưng uống. Lát sau mới nói:

- Đa tạ tôn huynh.

- Có gì đâu ! Xin đừng khách sáo. Đối với kiếm sĩ tài ba, tương lai rạng rỡ như đại hiệp lẽ dĩ nhiên tại hạ phải lo tiến cử lên chủ soái. Đó chỉ là bổn phận, còn riêng đối với đại hiệp, đó là nghĩa tương tri. Có gì mà phải bận tâm.

- Tôn huynh quá khen. Xin biết cho, tại hạ chẳng phải vì lương bổng mà muốn phụng thị họ Hòa Giả nhưng chính vì lòng ngưỡng mộ ba người trong họ ấy, là đương kim lãnh chúa Hòa Giả Đạo Uẩn, thân phụ ngài là Hòa Giả Nghị và tổ phụ ngài là Hòa Giả Khang ...

- Vậy bao giờ đại hiệp có thể vào yết kiến thiếu gia ?

- Lúc nào cũng được.

- Ngay ngày mai được không ?

- Được.

Khí nói chuyện, nét mặt Cát Xuyên Mộc bình thản, không lộ vẻ háo hức hay băn khoăn mà chỉ tỏ niềm tự tin vững mạnh lạ lùng.

Cao Mục Lân lại tiếp bằng một giọng cố làm ra thản nhiên:

- À, chắc đại hiệp cũng rõ thiếu gia chỉ quyết định thu nạp hay không sau buổi hội kiến và sau khi đã lượng định khả năng. Thủ tục ấy mà, tại hạ tin sẽ không có gì trở ngại.

Đặt chén rượu xuống, Cát Xuyên Mộc nhìn trân trân vào mặt Cao Mục Lân. Rồi với một vẻ lạnh lùng gần như thách thức, hắn gằn giọng:

- Nếu vậy tại hạ không vào. Rất tiếc đã làm phiền tôn huynh.

Mặt Cao Mục Lân đã đỏ vì rượu lại càng đỏ thêm. Những tia máu xung quanh vành tai hắn như sắp nổ tung. Hắn lắp bắp:

- Sa ... sao ? Đại hiệp nói không muốn vào gặp thiếu gia nữa ư ?

- Phải. Tại hạ không thích nữa.

Cát Xuyên Mộc chỉ vẻn vẹn nói có thế, không giải thích thêm. Sự bất ngờ và thất vọng làm Cao Mục Lân ngồi trơ như phỗng. Hắn nhìn kẻ bảo trợ mà lòng muốn điên lên được, nhưng cố nén tức giận.

Cả hai không nói thêm lời nào. Uống hết chung rượu dở, Cao Mục Lân đứng dậy về phòng riêng, quên cả cáo biệt.

Một mình trên chiếu, Cát Xuyên Mộc cũng đã say, dựa đầu lên kỷ lặng lẽ cười thầm. Hắn biết Cao Mục Lân giận lắm vì đã bị đặt vào một tình thế khó xử. Biết nói năng ra sao với vị chủ soái đây ? Nhưng hắn bất cần. Tuy bảo không quan tâm gì đến lương bổng nhưng thực ra không phải thế. Là một người rất nhiều tham vọng, Cát Xuyên Mộc muốn có địa vị và tiền tài càng nhanh càng tốt. Mà ngày nay cách nhanh nhất là bằng lưỡi kiếm. Hắn biết khả năng của mình nên không dễ gì để cho sự khiêm nhượng thao túng. Hắn chỉ làm cao một chút thôi, nhằm mặc cả thêm chút danh vọng, và vì đã dự trù hướng đi của mình từ lâu một cách thông minh và khôn khéo, hắn lùi một bước để tiến hai bước. Cao Mục Lân tuy lớn tuổi hơn hắn nhưng còn ngây thơ và dễ xúc động lắm.

Trong cơn say, Cát Xuyên Mộc mơ thấy mình đang ngụp lặn trong cảnh vinh quang và tiền bạc như nước.

oo Phần Cao Mục Lân, tuy có cảm tình với Cát Xuyên Mộc, hắn cũng không sao ngăn nổi bực mình.

Ngồi trong phòng riêng, sau khi đã tỉnh rượu, Cao Mục Lân loay hoay mãi không biết xử trí ra sao. Vấn đề không phải là phải đối phó cách nào với người bà con bên vợ và cũng là kẻ bảo trợ của hắn, nhưng chính là phải giải thích làm sao với chủ soái. Ai cũng biết Cát Xuyên Mộc đã được hắn vận động tận tình để được thu nạp vào dinh, bây giờ sự thể thế này, tất nhiên uy tín của hắn không còn nữa.

Là người có óc quyền biến, Cao Mục Lân thử phân tích thái độ mới đây của Cát Xuyên Mộc và xét thái độ ấy qua một nhãn quan khác. “Có lẽ Cát Xuyên Mộc muốn chứng tỏ là một nhân vật đặc biệt chăng ? Địa vị người khác, tất đã nhảy vào nắm lấy cơ hội rồi. Để xem !”. Càng suy nghĩ, Cao Mục Lân càng tin Cát Xuyên Mộc, tuy kiêu ngạo nhưng là kẻ có thực tài đáng được nâng đỡ. Như vậy thì vừa có lợi cho mình, vừa có lợi cho hắn. Bèn mưu tìm cách khác thuyết phục.

Ngày kế đó, Cao Mục Lân ở luôn trong dinh. Sáng hôm sau về nhà, hắn đến gặp Cát Xuyên Mộc, tươi cười bả lả như không có chuyện gì xảy ra.

- Cát Xuyên đại hiệp, trong mấy ngày nay, thiếu gia vẫn hỏi thăm tại hạ về đại hiệp. Mỗi đầu tuần thường có cuộc tranh tài bắn cung, sao đại hiệp không đến tham quan, coi xem thuật bắn cung của tộc Hòa Giả ra sao ?

Cát Xuyên Mộc chỉ mỉm cười không đáp.

- Thiếu gia nghe danh đại hiệp đã lâu. Ngài muốn gặp, đó là việc thường tình, có gì mà phải câu nệ ?

- Đành rồi, nhưng giả dụ ngài không vừa ý thì có phải tại hạ khó xử không ? Nếu bị từ khước, tôn huynh đã biết tại hạ đâu phải hạng người đi hạ mình cầu cạnh ...

- À ra thế. Vậy lỗi ở tại hạ đã không nói rõ. Chuyện ấy không hề có, không bao giờ thiếu gia có ý ấy.

- Ngài đã nói gì ?

- Chưa có điều gì nhất định, nhưng ngài tỏ vẻ sốt ruột ...

Suy nghĩ một lúc, Cát Xuyên Mộc đáp:

- Đa tạ tôn huynh giúp đỡ. Tại hạ thật áy náy để tôn huynh phải lâm vào tình trạng như thế này.

- Đại hiệp thử xét lại xem:

đến gặp ngài một lần, nếu không bằng lòng thì thôi, ngại gì ?

Cát Xuyên Mộc gật đầu:

- Vậy cũng được.

Cao Mục Lân mừng lắm:

- Ngay ngày hôm nay, được không ?

- Sớm thế ?

- Hôm nay đầu tuần, có thí võ. Thiếu gia chắc thế nào cũng dự kiến.

- Thí võ lúc mấy giờ ?

- Thường thì vào khoảng sau giờ ngọ.- Vậy để tại hạ chuẩn bị.

Cao Mục Lân ra khỏi phòng, hối hả trở lại dinh. Cát Xuyên Mộc tắm xong, chọn mặc một chiếc quần bằng hàng ngoại hóa đắt tiền, một kimono gấm, bên ngoài phủ áo chẽn rộng vai màu đỏ khé, hồ bột cứng, chân đi dép da mới và quấn xà cạp màu vàng nghệ. Thanh trường kiếm dài đặc biệt đeo chéo sau lưng, đoản kiếm giắt ngang hông trông đường bệ, rõ ra một kiếm sĩ phục thị cho một đại gia, lương bổng đồng niên vạn gia. lúa.

Hắn hỏi tên bộc:

- Nhà có sẵn ngựa không ?

- Dạ có, nhưng để ở tàu ngựa dưới đồi.

Xuốn đến tàu ngựa, không gặp lão mã phu. Quanh ra sau lều, thấy đám đông. Hỏi ra mới rõ người ta đang lo việc tống táng cho cái xác vô thừa nhận bị giết hai hôm trước.

Xác còn nằm trơ, mắt mở trừng trừng chẳng ai vuốt, ở cổ vết thương sâu hoắm, máu đọng đen lại. Lão mã phu cũng có mặt trong đám người phục dịch ấy.

Cát Xuyên Mộc bước tới vỗ vai lão:

- Ta là khách của Cao đại nhân ở trên đồi. Hình như lão giữ ngựa cho Cao đại nhân ?

Nhìn cách phục sức của thanh niên kiếm sĩ, lão mã phu cũng một phần đã đoán ra là ai rồi, sợ hãi líu ríu:

- Dạ, dạ.

Đoạn hối hả trở về tàu, dắt ra một con ngựa lông xám tro đốm trắng. Cát Xuyên Mộc cầm dây cương, vỗ nhè nhẹ lên bờm ngựa, khen:

- Con này được đấy !

- Dạ. Nó thuộc dòng ngựa hay, đại nhân vẫn thường cưỡi, nhưng hôm nay không hiểu sao người lại chọn con ngựa hồng.

Cát Xuyên Mộc gật đầu, nhảy lên yên, rút ra một túi bạc nhỏ, lấy ba đồng ném cho lão và nói:

- Để mua hương hoa, còn thừa giữ lấy !

Ngạc nhiên, lão mã phu hỏi lại:

- Mua hương hoa làm gì ?

Cát Xuyên Mộc hất hàm về phía đám đông:

- Kẻ chết đó !

Đoạn giật dây cương phóng đi trong tiếng ngựa hí. Qua khỏi chân đồi Lãm Nguyệt, Cát Xuyên Mộc khạc và nhổ mạnh bãi nước bọt để xua đuổi cái cảm giác lợm giọng khi nhìn thấy gương mặt đen xạm của tử thi lúc nãy. Hắn có cảm tưởng cái xác hình như đã cử động trong manh chiếu, đôi mắt trắng dã phóng theo hắn. Cát Xuyên Mộc thúc ngựa chạy nhanh hơn.

Đến dinh Hòa Giả, trời đã xế trưa, chờ ở nhà khách đã lâu, ngồi đứng không yên, chợt thấy hắn, Cao Mục Lân chạy vội ra nắm lấy dây cương, vui mừng nói:

- May quá, đại hiệp đến đúng lúc. Hãy nghỉ một chút chờ tại hạ vào bẩm với thiếu gia.

Rồi gọi gia nhân mang nước thơm để Cát Xuyên Mộc lau mặt và một khay thuốc lá đặt lên kỷ. Khi gã hầu cận tới dẫn Cát Xuyên Mộc ra thao trường, hắn tháo trường kiếm trên lưng trao cho người hầu cận, chỉ mang theo thanh đoản kiếm giắt ngang hông.

Hòa Giả Đạo Uẩn mải bắn cung. Mỗi buổi tập, ông đã tự hứa bắn hết trăm mũi tên, số tên chưa hết, không ai dám cắt ngang nên Cát Xuyên Mộc cũng như mọi người khác, đứng xa xa nhìn.

Đạo Uẩn dé chân chèo, mặc quần ống rộng chùng đến mắt cá, cánh tay trái để trần cầm cung, tay phải mang bao da, dáng trang nghiêm đĩnh đạt nhưng không gò bó.

Mắt ông nhìn thẳng, mỗi phát tên bắn đi, nhanh và mạnh trúng hồng tâm. Tiếng reo hò của thuộc hạ nghe vang động cả thao trường. Cát Xuyên Mộc gật gù tán thưởng, nghĩ thầm:

“Thật danh bất hư truyền, không hổ với tổ phụ !”.

Bắn xong trăm mũi tên, Đạo Uẩn gác cung lên giá. Gia nhân mang nước và khăn lại, thuộc hạ vây quanh thoa bóp tay chân, ông pha trò cười giỡn. Cát Xuyên Mộc thấy những điều hắn dự đoán về Đạo Uẩn sai lạc cả. Có lẽ vì còn trẻ nên vị tiểu lãnh chúa này không có cái phong thái kiểu cách như phần đông các lãnh chúa khác.

Cao Mục Lân tiến tới trình điều gì, Đạo Uẩn khẽ gật. Ông chỉnh lại y phục, đến ngồi dưới lá cờ lệnh của tộc Hòa Giả, vẽ huy hiệu một vòng tròn lớn với tám vòng tròn nhỏ bao quanh, tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú.

Cao Mục Lân vẫy Cát Xuyên Mộc lại gần. Hắn quỳ gối trước mặt vị tiểu lãnh chúa để làm lễ ra mắt rồi được mời ngồi trên ghế đối diện coi như thượng khách.

- Tráng sĩ quê ở Iwakumi ?

- Dạ phải.

- Trước trận Sekigahara, tộc Lưu Hòa ở vùng đó nổi tiếng khôn ngoan, giỏi nghề cai trị. Lệnh nghiêm có phục thị trong tộc đó không ?

- Thưa không. Tiểu nhân nghe nói tiên phụ vì sức yếu nên sớm ở ẩn và quy tiên tại quê nhà.

Sau vài câu thăm hỏi thêm về gia thế, Đạo Uẩn lại tiếp:

- Nghe nói tráng sĩ muốn phục thị tộc ta. Vì lý do nào lại chọn lựa như thế ?

- Hòa Giả là một đại tộc tiểu nhân ngưỡng mộ nên muốn sống chết với tộc ấy.

Ngoài ra không còn lý do nào khác.

Đạo Uẩn gật đầu, xem chừng vừa ý về lời đáp trên.

- Tráng sĩ có những chiêu kiếm nào đặc biệt ?

- Tiểu nhân vẫn thường sử chiêu Trảm Nhạn và Chiết Liễu.- Trảm Nhạn và Chiết Liễu ? Ta không nghe nói bao giờ !

- Thưa đó là những thế kiếm do chính tiểu nhân phát kiến.

- Đành vậy, nhưng cũng phải có tiền tích ra sao chứ ?

- Tiểu nhân học kiếm Vạn Mai, sau theo Cổ Tư tiên sinh. Những chiêu kiếm học được, tiểu nhân đã tự biến hóa để chém những cánh nhạn bay thấp và chẻ các nhành liễu rũ ở bờ sông.

Đạo Uẩn gật gù:

- Phải, phải. Tỉnh Suo nhiều không ngòi, chỗ nào cũng trồng liễu. Chắc tráng sĩ luyện kiếm ở một khúc sông gần nhà ?

- Dạ chính thế.

- Ta muốn xem một vài chiêu kiếm của tráng sĩ, được chăng ?

- Xin tuân lệnh.

Đạo Uẩn quay nhìn thuộc hạ:

- Trong các ngươi, ai muốn so tài với Cát Xuyên tráng sĩ ?

Thuộc hạ Hòa Giả Đạo Uẩn ở thao trường bấy giờ có đến vài chục người. Họ đứng đằng sau ông, chăm chú theo dõi cuộc thẩm vấn, thấy Cát Xuyên Mộc còn trẻ, chẳng biết tài năng ra sao nhưng thái độ và ngôn ngữ huênh hoang tự phụ thì có ý ghét. Vài người định bước ra, nhưng Đạo Uẩn đã chỉ Hồ Kiện Bình:

- Hồ Kiện Bình ! Ngươi đắc ý về môn sử thương của ngươi. Hãy chứng tỏ cho mọi người biết.

- Dạ, tiểu nhân sẵn sàng nếu được tráng sĩ đây cho phép.

- Dĩ nhiên, tại hạ rất hân hạnh.

Câu đáp lễ phép nhưng hết sức lạnh lùng. Trong ánh mắt Cát Xuyên Mộc, lóe lên một chút tàn ác.

Đạo Uẩn vẫy tay cho gia nhân dẹp chỗ trong thao trường. Ghế ngồi và các giá binh khí được tạm chuyển đi nơi khác. Không khí đột nhiên căng thẳng hẳn lên. Cuộc thi tài, tuy bề ngoài là một cuộc biểu diễn kiếm thuật, nhưng mặc nhiên, qua thái độ của các đối thủ, có thể sẽ xảy ra rất ác liệt. Thuộc hạ của Đạo Uẩn chỉ có kinh nghiệm ở thao trường, không mấy khi được dự kiến một cuộc giao đấu như lần này. Sinh mạng đôi bên không còn quan trọng nữa, đối thủ phải trông vào khả năng của chính mình, chỉ trong chớp mắt hoặc một chút lầm lẫn, thân bại danh liệt như chơi. Đâu đây xem chừng đã phảng phất mùi tử khí.

Đám thuộc hạ nhìn Hồ Kiện Bình, đặc biệt tin tưởng vào bạn đồng đạo. Hồ Kiện Bình lui vào hậu trướng thay áo lót mới theo đúng truyền thống của kiếm sĩ:

mỗi sáng và trước mỗi cuộc giao tranh, bắt đầu bằng một nụ cười và y phục tề chỉnh vì đến chiều, chẳng biết hình hài có còn nguyên vẹn hay không !

Phần Cát Xuyên Mộc, gã đã nhờ Cao Mục Lân mượn cho một thanh mộc kiếm.

Đứng ở góc thao trường, tay khoanh trước ngực, gã nhìn đám người bận rộn xung quanh như chim bằng nhìn đàn quạ. Lòng tự tín của Cát Xuyên Mộc có thể nói, gần như vô giới hạn. Thái độ ấy không qua khỏi mắt của một số người và họ thầm lo cho tính mạng của Hồ Kiện Bình.

Hồ Kiện Bình y phục tề chỉnh, vén màn bước ra khỏi trướng, tay phải lăm lăm cây thương dài non một trượng, tay kia một cuộn vải ẩm. Hắn dừng lại, quấn vải quanh mũi thương sắc như lưỡi chủy thủ và dài có đến ba tấc.

- Các hạ làm gì vậy ? Cát Xuyên Mộc hỏi. Nếu sợ tại hạ bị thương thì xin cứ yên tâm. Mũi thương sắc hay nhụt cũng thế thôi, đối với tại hạ chẳng quan hệ gì.

Một lần nữa, trong lời nói lễ độ có hàm ý khinh mạn. Hồ Kiện Bình liếc xéo đối thủ, mặt cau lại, dữ dội:

- Chắc không ?

- Chắc.

Hoà Giả Đạo Uẩn và đám tùy tùng không ai nói gì nhưng đưa mắt nhìn Hồ Kiện Bình dường như ngầm bảo:

“Đã thế thì cứ cho nó nếm thử vài mũi thương trần ...” Hồ Kiện Bình gật đầu, lập tức xoay nhanh cán thương, gỡ lần vải quấn ra.

- Được ! Nếu các hạ muốn. Nhưng hãy dùng thiết kiếm. Tại hạ không muốn một đặc quyền nào.

- Không sao, thanh mộc kiếm này cũng hợp với tại hạ lắm.

- Không. Ta không chấp nhận một cuộc giao đấu chênh lệch như vậy !

- Sao ? Các hạ bắt ta dùng thiết kiếm trước mặt thiếu gia đây hay sao ? Ta là khách, đâu dám vô lễ như thế trước mặt ngài.

- Nhưng ...

Đạo Uẩn vội xen vào:

- Hồ Kiện Bình ! Có ai bảo ngươi khiếp nhược đâu mà phải đắn đo mãi không chiều ý tráng sĩ.

Cả hai đấu thủ bèn bước vào giữa thao trường, cúi đầu trước Hòa Giả Đạo Uẩn tỏ ý tôn kính rồi nghiêng mình nhìn nhau thi lễ. Vừa dứt, Hồ Kiện Bình nhảy né sang bên, phóng đầu mũi thương vào gáy Cát Xuyên Mộc trong một cuộc tấn công tiên thủ chớp nhoáng. Một tiếng “cắc” khô khan, cây mộc kiếm gạt cán thương bắn lên cao, Cát Xuyên Mộc đã tiến sát bên đối thủ. Thừa dịp cánh tay đối phương còn vướng chưa kịp thu về, Cát Xuyên Mộc thi triển chiêu:

“Chẻ liễu” đưa kiếm phạt chéo ngực Hồ Kiện Bình. Nhưng Hồ Kiện Bình chẳng phải tay vừa, uốn cong người tránh đòn chí mạng đó rồi lại nhảy sang bên với ý định luôn luôn giữ khoảng cách một ngọn thương giữa hắn và Cát Xuyên Mộc. Biết điểm đặc thù này là nhược điểm của lối sử dụ ng trường thương, Cát Xuyên Mộc không ngớt khai thác, bỏ lỡ một cơ hội nào mà không tấn công xáp lá cà.

Không để Hồ Kiện Bình chiếm ưu thế, hắn nhảy theo bám sát, lúc trước mặt, lúc sau lưng, lúc hai bên sườn, lúc nào cũng sát nách, khiến đối thủ hắn phải cầm ngắn cây thương lại chỉ lo thủ thế. Thành ra cây thương dài một trượng của Hồ Kiện Bình hó a vô hiệu, lại còn vướng víu.

Trong khi đó thì Cát Xuyên Mộc liên tiếp tấn công như vũ bão bằng kiếm ngắn, thi triển vài chiêu rất ngoạn mục, kể cả chiêu trảm nhạn, khiến Hồ Kiện Bình ban đầu còn chống đỡ, sau cứ nhảy lui dần, lui dần. Trông Hồ Kiện Bình bấy giờ chẳng khác gì một con chim ưng nhỏ bị chim đại bàng đuổi theo mổ tới tấp.

Chợt một tiếng rắc vang lên, cây thương gãy hai. Mũi thương bắn ra xa, trong tay Hồ Kiện Bình chỉ còn một đoạn gỗ ngắn. Cùng lúc, tiếng kêu đau đớn như xé màng tai của gã. Người ta tưởng tiếng rú của kẻ sắp hồn lìa khỏi xác cũng chỉ bi thương và ghê rợn đến thế !

Cuộc so tài ngắn ngủi chấm dứt. Một thuộc hạ khác của Hòa Giả Đạo Uẩn định xách kiếm bước ra nhưng vị tiểu chúa ngăn lại và nói:

- Như vậy cũng đã đủ !

Ông đứng dậy bỏ vào hậu sảnh, nét mặt đăm chiêu, trong khi bạn hữu và gia nhân xúm quanh Hồ Kiện Bình xem xét vết thương tìm cách cấp cứu.

Tối hôm ấy, khi Cao Mục Lân về nhà, Cát Xuyên Mộc hỏi:

- Trước mặt thiếu gia, tại hạ biểu dương kiến thức có quá đáng không ?

- Không. Rất đặc sắc. Ngài rất lưu ý đến kỹ thuật của đại hiệp.

Tuy vậy trong lòng Cao Mục Lân hơi khó chịu. Đã biết tài của Cát Xuyên Mộc, hắn có cảm nghĩ con chim hắn đang ấp ủ trong tay, sau này có thể trở thành một loài nghịch điểu, biết đâu chẳng gây cho hắn những tai họa bất ngờ.

- Ngài có thể nói thêm gì không, hay chỉ lưu ý đến kỹ thuật của tại hạ thôi ?

- Không nói thêm gì.

- Thôi mà tôn huynh, chẳng nên giấu nhau nữa.

- Ta giấu làm gì ? Ngài chỉ truyền trị thương và săn sóc cẩn thận Hồ Kiện Bình mà thôi. Ngài có vẻ xúc động.

Thất vọng, Cát Xuyên Mộc ngồi im, lát sau mới nói:

- Thiếu gia xem ra là người có kiến thức và đức độ. Trong tình thế này, nếu cần phụng sự một ai, tại hạ sẽ chọn lựa vị ấy. Nhưng dĩ nhiên, sự quyết định đâu phải ở tại hạ.

Cát Xuyên Mộc chỉ nói có thế. Những năm gần đây hắn đã trưởng thành và cả với Cao Mục Lân, nhiều khi cũng không muốn tiết lộ hết những suy tư thầm kín.

Theo hắn, chẳng sớm thì muộn, hai tộc Hòa Giả và Tôn Điền thế nào cũng xung đột, nhất là khi Hòa Giả Nghị Ở Osaka, tuy bề ngoài làm như ở ẩn nhưng thật ra vẫn chiêu binh mãi mã và thế lực ngày càng bành trướng. Không thể tiên đoán được kết quả ra sao, nhưng có điều những người như hắn, nếu không khôn ngoan mà chọn lầm chúa thì sau này sẽ có thể lại trở thành lang bạt, ăn cơm thí, ngủ đầu hè và sinh mạng nhiều khi cũng không giữ được chỉ vì miếng cơm manh áo.

Hai hôm sau, có tin Hồ Kiện Bình đã tỉnh. Nội tạng bị chấn động và xương hông bị giập nát, hắn vẫn còn trong tình trạng khẩn trương nhưng có lẽ không nguy đến tính mệnh. Nghe tin, Cát Xuyên Mộc không xúc động. Hắn bình tĩnh tự nhủ nếu sau cuộc thử tài hôm trước không nhận được một chức vụ gì như ý mong ước thì ít nhất hắn cũng đã tạo được danh tiếng.

Nhưng tuần sau, Cát Xuyên Mộc ngỏ lời muốn đi thăm Hồ Kiện Bình. Rồi không giải thích vì sao lại đột nhiên có lòng tốt như thế, hắn đích thân đến nhà nạn nhân.

Đang nằm dưỡng thương, Hồ Kiện Bình cảm động rơi lệ:

- Chiến đấu thì thua được là lẽ thường. Tại hạ sở học còn kém, dĩ nhiên không địch lại được các hạ, đâu dám phiền trách. Các hạ đến thăm thật quý hóa. Xin đa tạ !

Cát Xuyên Mộc ra về rồi, Hồ Kiện Bình còn tỏ lòng ngưỡng mộ, nói với người thân:

- Trước ta tưởng hắn chỉ là một tên hợm hĩnh, nham hiểm, không ngờ cũng là tay khá, có tài và nhã nhặn.

Đó là phản ứng Cát Xuyên Mộc đang mong đợi. Điều đó, hắn cũng đã xếp đặt sẵn trong kế hoạch:

làm cho kẻ thua hắn phải ca ngợi hắn để danh hắn được vang động giang hồ và ảnh hưởng thuận lợi đến quyết định của Hòa Giả lãnh chúa.

Mấy ngày sau, Cát Xuyên Mộc lại đến thăm Hồ Kiện Bình. Một lần còn sai gia nhân mang đến tặng Bình một con cá tươi lớn.

Chương 72: Những quả hồng xanh

Tiết đại thử, sau mùa mưa, trời nóng như thiếu đốt. Cua trong lỗ lổm ngổm bò ra, trèo lên cả đường phố. Mấy tấm bảng gỗ thách Thạch Đạt Lang ra mặt đối chất với bà Hồ Điểu, cái thì bị đánh cắp đem về làm củi, cái thì bị gãy, nước mưa cuốn đi mất tự bao giờ.

Tình cờ qua khu này ở ngoại vi Tân đô, thấy đói bụng, Cát Xuyên Mộc nhìn quanh tìm hàng quán. Đây không phải cổ thành nên ít người qua lại, nhưng chỗ bán trà nước kèm điểm tâm như ở Kyoto còn hiếm hoi lắm. Tuy vậy hắn cũng tìm được một quán ăn, nếu không mua được cơm tất cũng có bình trà giải khát.

Quán chẳng lấy gì làm khang trang. Dựng dưới gốc hòe cỗi, có hàng lau ngang ngực che khuất như một bình phong thiên nhiên, quán xem ra cũng mát. Giữa trời hè nóng nực, chỗ nghỉ chân thế này thì thật quý ! Ngoài cửa, sát hàng lau, cắm biển gỗ đề ba chữ “Don-Ji-Ki” đọc nghe tương tự như “Tonjiki”, khẩu phần cơm nắm của lính trận ngày xưa. Trong quán, bên chiếc bàn dài, hai gã kiếm sĩ giang hồ đang ngồi ăn cơm.

Cát Xuyên Mộc bước vào, kéo ghế:

- Ông quán, có gì ăn không ?

- Dạ, có cơm và rượu.

- Biển ngoài kia đề ba chữ “Don-Ji-Ki”. Tên quán hay món ăn gì vậy ?

- À ... à ... dạ ... thưa lão cũng không rõ.

- Không phải ông viết sao ?

- Dạ không. Năm ngoái khi quán mới dựng được một tháng, có ông khách ghé ăn cơm, khen ngon, lúc ra về viết cho mấy chữ, lão còn cắm đó !

Cát Xuyên Mộc chú ý, ngắm lại tấm biển rồi gật gù:

- Nét chữ sắc sảo lắm !

- Khách đã đứng tuổi, nghe nói ưa du ngoạn, thăm các đền chùa, đến đâu cũng cúng đường, có vẻ mộ đạo lắm.

- Ông biết khách là ai không ?

- Dạ, hình như là Cổ ... Cổ ... à, Đại Cổ ở Nara.

- Vậy hả, ta nghe tên quen lắm.

- Don-Ji-Ki, lão cũng chẳng biết nghĩa là gì nhưng thấy người mộ đạo lại sang trọng như Đại Cổ viết thì chắc tránh được bần hàn nên cứ để bảng hiệu từ bấy đến nay.

Khách trong quán cười tủm tỉm, ông quán cũng cười theo. Cát Xuyên Mộc gọi cơm với cá, chan nước trà, cầm đũa xua ruồi rồi bắt đầu ăn. Một trong hai kiếm sĩ ngồi bàn bên dùng bữa xong, ngó ra ngoài, chợt kêu lên:

- Kìa, phải thằng bán dưa không ?

Người kia bỏ đũa ngẩng đầu nhìn ra. Ngoài cửa quán, một gã quẩy gánh dưa da ếch, đi lặc lè, đầu hơi cúi, chiếc đòn gánh nặng trĩu trên vai đỏ ửng.

- Đúng rồi ! Chính nó đấy !

Cả hai bèn hối hả chạy ra. Một tên chẳng nói chẳng rằng, rút phắt gươm ché m một nhát đứt luôn dây quàng gánh. Gã bán dưa mất đà ngã chúi về phía trước, dưa theo nhau lăn long lóc đổ đầy đường.

- Ô hay, các chú làm gì thế ?

- Làm gì hả ?

Chưa kịp bò dậy, gã bán dưa đã bị mũi kiếm dí vào gáy và chân của tên cầm kiếm dậm trên lưng.

- Con bé đó đâu ?

- Con bé nào ? Ta đâu có biết !

- Không biết ? Này không biết ...

Gót chân ấn xuống mạnh hơn. Gã bán dưa mặt đỏ như gấc, vừa tức vừa sợ, định vùng dậy. Bỗng nhói một cái, mũi kiếm hình như đâm vào gáy gã.

- Ngươi mang nó đi đâu ? Mặt mũi thế này mà cũng biết cuỗm vợ người ! Để ta trói lại xem còn chối nữa không ?

Dứt lời tên ấy quỳ ngay xuống, dùng đầu gối đè lên lưng gã bán dưa, một tay bẻ quặt tay gã ra sau lưng, một tay với tìm sợi dây quàng gánh.

Bỗng có tiếng ằng ặc phía sau như lợn bị chọc tiết. Nhìn lui, bạn hắn đổ xuống tựa khúc gỗ mục, máu ở cổ phun ra có vòi. Đứng bên là Cát Xuyên Mộc. Hốt hoảng, hắn đứng phắt dậy:

- Ngươi là ai, sao dám giết người giữa thanh thiên bạch nhật ?

Không nghe đáp, chỉ thấy thanh trường kiếm của Cát Xuyên Mộc tựa con mãnh xà vung lên trước mặt hắn. Hắn lui một bước né tránh, kiếm tiến thêm một bước. Hắn tránh sang bên phải, kiếm cũng theo sang phải. Quay sang trái, kiếm chận bên trái. Hình như Cát Xuyên Mộc không cố tình, hay chưa có ý định giết hắn, nên lúc nào mũi kiếm cũng ở cách mặt hắn chừng non một tấc.

Hắn chửi thề, vung kiếm phản kích. Một chiêu, hai chiêu, ba chiêu ... rồi năm, sáu chiêu liên tiếp. Quái lạ ! Chẳng ăn thua gì, đánh như đánh vào quãng không vậy, không mảy may đụng vào địch thủ mà thanh trường kiếm tựa con rắn vẫn nhảy múa trước mặt.

Như mèo vờn chuột, Cát Xuyên Mộc thích thú trước sự khiếp sợ của đối phương, tiếng cười hăng hắc khiến người nghe sởn gáy.

Gã bán dưa ngồi dậy. Một lúc, hoàn hồn định chạy, bỗng gã giương mắt ngạc nhiên, mồm há hốc:

- Cát Xuyên Mộc ! May quá, đại hiệp cứu tiểu nhân với !

Nghe tên Cát Xuyên Mộc, gã kiếm sĩ kia kinh hãi, biết gặp phải tay ghê gớm, xoay mình chém bậy một chiêu rồi nhảy vào đám sậy định trốn. Nhưng đã trễ, kiếm quang loáng lên, “cây sào phơi” đã xẻo đứt tai gã và phập xuống cắt luôn cổ gã đến gần gáy.

Gã gục xuống chết ngay tức khắc.

Cát Xuyên Mộc lau kiếm lên áo nạn nhân, đoạn quay hỏi gã bán dưa:

- Mãn Hà Chí, lâu lắm không gặp ngươi. Bây giờ đi buôn dưa đấy ?

Mãn Hà Chí bẽn lẽn nhìn xuống đất.

- Làm gì mà để hai tên này vây đánh ?

- Chuyện dài lắm. Đại hiệp vẫn khỏe chứ ?

- Dĩ nhiên là khỏe. Chỉ có ngươi chắc không được như ý phải không ?

- Dạ ... dạ ...

Rồi như tránh không muốn nhắc đến một chuyện đau đớn, Mãn Hà Chí lặng thinh cúi xuống nhặt dưa bỏ vào sọt.

Chủ quán chạy ra, mặt tái mét, lắp bắp:

- Khách quan ! Khách quan ra tay thế này không ai trông thấy, quan quân hỏi, lão biết trả lời làm sao ?

Cát Xuyên Mộc đáp:

- Không hề gì, lão cứ yên tâm.
Đoạn trở vào quán, theo sau là Mãn Hà Chí và chủ quán. Bảo lấy giấy bút, Cát Xuyên Mộc viết:

“Ta là Cát Xuyên Mộc, ngoại hiệu Giang Biên Liễu, xác nhận đã giết hai tên côn đồ này trong khi chúng bắt nạt người lương thiện”.

- Đây thế này được chưa ? Nếu quan quân hoặc có ai khác muốn hỏi gì thì cứ bảo gặp ta trên đồi Lãm Nguyệt, ta sẵn sàng tiếp.

Rồi lại thêm:

- Gã này quen biết với ta, ông quán cho gã gửi tạm hai sọt dưa ở đây, mai lấy.

Chủ quán líu ríu:

- Dạ ... dạ ...

Đoạn gấp tờ giấy bỏ vào bọc và quay vào mang ra hai bình nước trà.

Ngồi đối diện Cát Xuyên Mộc trước bàn, Mãn Hà Chí đầu cúi gầm như đứa trẻ có lỗi. Trước sau gì rồi cũng phải kể hết chuyện cho Cát Xuyên Mộc nghe. Mà chuyện gì đây ? Toàn những việc xấu xa không đáng nói, nhưng vốn tính nhu nhược, Mãn Hà Chí không thể từ chối. Từ khi Oa Tử vuột khỏi tay hắn, càng ngày hắn càng chán nản chẳng thiết làm gì, đàn đúm với bọn vô lại ăn cắp, ăn xin, được đồng nào lại mua rượu uống say sưa tối ngày. Gần đây, túng quẫn quá, phải nhận gánh thuê cho người ta chứ làm gì có tiền mà buôn bán.

- Thế còn hai tên kia, lý do gì ngươi bị chúng đánh ?

Mãn Hà Chí thở dài:

- Cũng chỉ vì một con bé ...

Cát Xuyên Mộc mỉm cười. Thì ra cái tên vô tích sự này vô tích sự Ở đâu chứ với gái thì đào hoa quá ! Hay là cái nghiệp của hắn đấy ? Bèn hỏi:

- Con bé tên gì, ở đâu, nói rõ ta nghe.

Mãn Hà Chí cứ cúi gầm mặt xuống, vặn hỏi mãi mới đáp:

- Con bé làm ở một trà thất nhỏ cách đây chừng một dặm. Chỗ đó đông khách, đủ mọi hạng người, kể cả hai tên lúc nãy. Tại hạ tới uống rượu đôi ba lần, được con bé để ý.

Nó bảo vị hai tên đó cứ theo chọc ghẹo hoài mà lão chủ thì sợ không dám làm gì nên muốn đi chỗ khác mà chẳng biết đi đâu. Thấy tại hạ hiền lành ít nói, nó nhờ dẫn nó đi trốn. Chuyện chỉ có thế ...

- Hừ ! Cát Xuyên Mộc cười khẩy. Ta nghe có vẻ khả nghi lắm ...

- Gì mà khả nghi ?

- Thế tên nó là gì ?

- Ờ ... Ờ ... Tên nó là ...

Cát Xuyên Mộc cắt ngang:

- Mà thôi, ở đây nóng quá, dẫn ta về nhà, ngươi kể ta nghe rõ ngọn ngành sau cũng được !

Mãn Hà Chí giật mình đánh thót.

- Có gì phiền chăng ?

- Nhà tại hạ quê mùa hủ lậu, đại hiệp đến làm gì ?

Cát Xuyên Mộc ngạc nhiên, nhưng nhìn nét mặt thiểu não của Mãn Hà Chí, hắn thôi không không hỏi nữa, chỉ nói:

- Cũng được, để khi khác vậy. Ta ở đồi Lãm Nguyệt, nhà Cao Mục Lân, lúc nào cần việc gì, cứ đến.

Mãn Hà Chí mừng như mở cờ trong bụng:

- Thế thì còn gì bằng ! Thế nào cũng phải có dịp đến vấn an đại hiệp chứ !

- À, trong những tháng gần đây, ngươi có thấy cáo thị nói về Thạch Đạt Lang không ?- Có.

- Trong cáo thị có nêu tên thân mẫu ngươi, sao ngươi không tìm thăm ?

Mãn Hà Chí gãi đầu, bối rối:

- Tại hạ như thế này đến thăm sao được ! Vả lại ... vả lại ...

- Ngươi là đứa con bất hiếu. Tưởng tượng xem mẹ ngươi sống được bao lâu nữa ?

Rồi nếu gặp Thạch Đạt Lang, biết chuyện gì sẽ xảy ra ? Bấy giờ ngươi sẽ hối hận suốt đời!

- Ờ, có lẽ tại hạ cũng phải nghĩ đến chuyện đó.

Nói thế, nhưng thật ra Mãn Hà Chí sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện tìm gặp mẹ.

Mọi người, kể cả kẻ vừa mới cứu mạng hắn, xét cho cùng, chẳng hiểu gì về những liên hệ tình cảm giữa mẹ con hắn cả.

Hai người chia tay nhau. Mãn Hà Chí đi đường nhỏ sang phía tây, còn Cát Xuyên Mộc dọc hướng đông nam về thành phố. Nhưng được một quãng, Cát Xuyên Mộc quay trở lại đuổi theo Mãn Hà Chí, vừa đi vừa ẩn trong các lùm cây ven đường không để gã biết.

Đến một nơi cỏ tranh mới cắt lam nham, chỗ đất còn cháy xém, màu than đen loang lổ từng đám, chỗ cỏ mọc đã cao, hiên ra chục căn nhà dài mái rạ, vách ván lẩn giữa những cây hồng dại, quả vàng quả xanh lẫn lộn. Đó là chỗ ở của một số công nhân làm đủ nghề trong các dinh lãnh chúa đang xây cất ở Tân đô:

thợ nề, thợ mộc, thợ vác đá, thợ đào giếng ... Mỗi căn chứa được năm hộ, có khi sáu, bảy.

Tân đô bành trướng nhanh, thợ thuyền đến lập nghiệp mỗi ngày một đông, mạnh ai nấy sống, tranh nhau đốt cỏ khai quang thêm mãi ra. Ngoại vi tân đô này có đến hàng trăm xóm như thế.

Mãn Hà Chí, may có người giới thiệu, len lỏi vào cũng chiếm được khoảnh đất nhỏ, đương nhiên trở thành kẻ ngụ cư trong xóm.

Về đến nhà, một thiếu phụ lật đật ra đón. Nàng là cô bé Mãn Hà Chí kể cho Cát Xuyên Mộc nghe lúc nãy. Tưởng ai, hóa ra A Kế Mỹ.

- Giao hết chỗ dưa rồi hả ? Thay áo đi tắm đi !

Mãn Hà Chí vui vẻ gật đầu. Nghèo và bị chèn ép như hắn, nhưng đôi lúc hắn cũng thấy vui, cuộc đời đáng sống lắm. A Kế Mỹ bỏ hắn đi mấy lần, tưởng chẳng bao giờ gặp lại, ngờ đâu số mệnh run rủi, hoa xưa ong cũ lại tìm thấy nhau. Hàng xóm toàn thợ thuyền bình dân nhưng chất phác chẳng phiền hà hắn bao giờ. Hắn thấy hạnh phúc.

Nước tắm đã pha xong, Mãn Hà Chí cởi trần, đóng vỏn vẹn cái khố, vừa bước vào bồn vội rút ngay chân ra.

- Chà chà ! Nóng quá !

Gọi A Kế Mỹ đến, đổ thêm nước lạnh vào rồi ngồi trong bồn gỗ, hắn thở phào, khoan khoái.

Lão ông hàng xóm chạy sang, bắc ghế đẩu kề bên, bắt đầu chuyện gẫu.

- Hôm nay ngoài phố có chuyện gì lạ không ?

- Không. Như mọi hôm.

- Giao hết dưa rồi hả ? Nắng thế này, chắc dưa bán chạy.

- Chắc thế. Nhưng còn để một số ở quán Don-Ji-Ki.

- Nếu bác nghe lão, xin chân đào giếng trong dinh thì có phải giờ khá hơn không ?

- Dạ ... dạ ... nhưng A Kế Mỹ đâu để tại hạ làm việc đó.

- Sao vậy ?

- Còn đào giếng thì còn phải ở trong thành, đâu ra ngoài được. Nàng than một mình buồn, chẳng ai bầu bạn.

Ông lão cười hinh hích:

- Hạnh phúc nhỉ ! Lấy nhau lâu chưa ?

- Ối !

- Gì thế ?

- Có quả hồng xanh rơi lên đầu !

Mãn Hà Chí cầm quả hồng xanh đưa ông lão coi. Tiếng cười lớn hơn:

- Chả khoe vợ yêu nữa đi ! Trời phạt đấy !

Mãn Hà Chí cũng cười. Những tâm hồn giản dị thường dễ thông cảm với nhau về những chuyện không đâu.

A Kế Mỹ mang khăn ra. Mãn Hà Chí bước khỏi bồn tắm và ông lão hàng xóm cũng bỏ về, chẳng muốn làm phiền đôi vợ chồng mà ông cho là có hạnh phúc.

Thay áo mới xong, đứng trước hiên, Mãn Hà Chí kể cho A Kế Mỹ nghe câu chuyện xảy ra hồi nãy. Nàng tái mặt:

- Chàng gặp Cát Xuyên Mộc hả ? Có nói thiếp ở đây không ?

- Không. Ai ngu gì mà nói !

- Hắn có đòi đến nhà này không ?

- Có, nhưng ai ngu gì mà cho hắn biết.

A Kế Mỹ thở dài. Mãn Hà Chí cầm tay nàng để lên đùi mình:

- Nàng yên tâm, ta không đời nào tiết lộ cho hắn biết chỗ ở của nàng đâu ! Thằng vô lại đó sẽ theo dõi ...

Thình lình, một quả hồng xanh nữa lại đập đến bộp vào má hắn. Lần này mạnh hơn, thịt hồng vỡ tung tóe.

Mãn Hà Chí giơ tay xoa má, không biết rằng ở đầu nhà, một bóng người cao lớn đang men theo những bụi cỏ tranh, bước vội ra đường cái.

Chương 73: Thầy trò

Thầy trò Thạch Đạt Lang rời khỏi xưởng mài kiếm của Vương Chính đã hai hôm, đi mãi về hướng đông qua mấy xóm tiều xơ xác, lèo tèo vài căn nhà gỗ hoặc đôi ba cái chòi rạ.

Đến đồng Musashimo, cỏ cao ngang bụng, con đường mòn ít người qua lại hình như bị lấp kín từ lâu, chỉ còn lờ mờ dấu vết. Lầm lũi đi trong đám cỏ cao, Hạo Nhiên ngẩng lên bỗng không thấy sư phụ đâu nữa. Nó hốt hoảng gọi:

- Thầy ! Thầy có đấy không ?

Tiếng Thạch Đạt Lang từ phía trước:

- Ta đây, sao chậm thế ?

Nghe tiếng sư phụ, Hạo Nhiên thở phào, bẽn lẽn vì đã sợ hãi vu vơ. Nó bước nhanh để theo kịp thầy, sỏi dưới chân kêu rào rạo, mồ hôi thấm vào những vết xước trên da hơi xót.

- Con đường này đi đâu hả thầy ?

- Ta cũng không rõ, nhưng chắc không phải đến một thị trấn đông đúc.

- Sao mình không đến chỗ nào đông vui ?

- Mình không tiện ở những chỗ đông vui.

- Thế mình ở những chỗ như thế này à ?

- Sao lại không ? Mình cần học, con còn phải tập luyện nhiều, không tiện ở những nơi đô hội. Vả ta cũng không thích.

Hạo Nhiên ngước nhìn trời, nhìn khoảng mênh mông của khung cảnh trước mặt rồi nghĩ đến sự trống rỗng buồn tẻ khi phải sống trong cảnh ấy. So với nếp sinh hoạt nhộn nhịp vừa trải qua, nó thấy lòng ngao ngán. Nó xịu mặt.

Nhìn Hạo Nhiên, Thạch Đạt Lang biết ngay đồ đệ đang nghĩ gì, nhưng không nỡ quở trách. Tuổi trẻ ham vui, cũng như hắn khi xưa, lúc còn nhỏ. Thạch Đạt Lang để tay lên vai thằng bé, cũng nhìn trời và nói:

- Hạo Nhiên ! Sắp vào thu rồi. Trời sẽ đẹp bao nhiêu, gió gợn sóng hoa lau bạc trắng và mỗi sáng sương đọng trong vắt trên nền cỏ trước nhà !

Thạch Đạt Lang nói với Hạo Nhiên mà như nói với chính mình. Trong đáy lòng con người lang bạt có một tâm hồn đa cảm lạ lùng và không biết cuộc đời hắn đang sống đây là do tâm hồn ấy xui khiến hay do lòng yêu thiên nhiên thúc đẩy. Có lẽ cả hai.

- Trước nhà ? Xung quanh đây có nhà nào đâu ?

- Ta sẽ tìm chỗ làm nhà chứ !

- Như ở Hotengahara ấy hả thầy ?

- Ừ. Nhưng lần này ta không làm ruộng nữa. Ta muốn có thì giờ suy tư và tập luyện cùng dạy con về võ nghệ nhiều hơn. Có lẽ cũng cần phải tìm một chố nào hẻo lánh nhưng đừng xa thị trấn lắm. Chúng ta còn phải nhờ cậy vào xã hội nhiều.

Tối hôm đó, như những con thú hoang, hai thầy trò lại ngủ ngoài trời, bên một dòng suối gần cạn, sau bữa ăn đạm bạc gồm cơm khô với cá nướng.

Hôm sau lên đường, qua trấn Kashiwagi, tạt vào quán mua ít thực phẩm khô xong, Thạch Đạt Lang và Hạo Nhiên lại tiếp tục trở lại đường mòn, đi mãi. Vào sâu, đồng cỏ dường như khác dần. Đã có cây sồi và giẻ gai điểm lác đác. Xa xa là bìa một khu rừng thưa, tùng trắc xanh đen chen lẫn với màu lá phong, chỗ đậm chỗ nhạt, không còn làm chán mắt. Đến nơi, lại thấy dòng suối nhỏ, nước róc rách qua những tảng đá xanh rêu dưới vòm rễ cây đan nhau chằng chịt.

Thạch Đạt Lang rất lấy làm thích ý, gật gù:

- Chỗ này được đây. Ta tạm nghỉ rồi ngày mai sẽ bắt tay vào việc.

Sáng hôm sau, mặt trời mới ló, thầy trò Thạch Đạt Lang đã vào rừng hăng hái chặt cây dựng nhà. Hạo Nhiên tính vẫn như xưa, lo xa và cần kiệm, nhặt những cành nhỏ bó lại để dành phơi làm củi. Trong khi nấu cơm cho cả hai thầy trò ăn, nó không khỏi không nhớ lại thời kỳ ở Hotengahara, những lúc vui buồn với Thạch Đạt Lang, những ngày bão lụt và chống cự bầy sơn quỷ. Lòng tri ân, yêu mến sư phụ dào dạt. Hạo Nhiên, trong khi chờ cơm chín, pha một bình trà mang vào rừng để sư phụ giải khát. Hai thầy trò ngồi dưới tàng thông uống nước, ôn lại chuyện những năm qua, tình sư đệ càng thêm khắng khít.

Chẳng bao lâu đã hết hạ sang thu. Khi những chiếc lá phong đầu tiên đổi màu thì căn nhà Thạch Đạt Lang dựng lên cũng vừa hoàn tất. Gọi là nhà, thực ra chỉ là một cái lều gỗ để nguyên cây ghép lại, vỏ còn xù xì chưa róc, mái cỏ tranh do Hạo Nhiên cắt ở cánh đồng ngay đấy phơi khô, ken lại thành từng tấm đem lợp.

- Chẳng khác gì lều của những kẻ đốt than. - Thạch Đạt Lang cười bảo đồ đệ - Nhưng cũng còn hơn không có gì để che mưa nắng.

Những ngày sau đó, ngoài công việc nấu ăn thường nhật, thời biểu luyện tập của thầy trò Thạch Đạt Lang được ấn định rõ ràng và buổi trưa, đôi khi tiếng đọc sách của Hạo Nhiên át cả tiếng ve cuối mùa ngoài đồng vắng.

oo Đối với Giang, đồ đệ cũ trước đây, Thạch Đạt Lang không khắt khe đến thế. Hắn để mặc Giang được tự nhiên, chỉ hướng dẫn và giải thích chứ không ngăn cấm. Áp dụng cách ấy vào việc giáo dục Hạo Nhiên, hắn thấy dường như kết quả không được như ý muốn. Tác phong tốt mất dần, đồng thời tật xấu xem chừng bắt đầu nảy nở như cỏ dại ở vườn hoang. Nếu không nhổ hẳn đi, sau này khó mà trừ được.

Trong những thập niên gần đây, các sứ quân thắng trận liên tiếp lên cầm quyền Người nào cũng chỉ biêt xây dựng uy thế trên võ lực và củng cố uy thế ấy để giữ quyền lợi cho đảng tộc mình mà thôi. Dân chúng ít được lưu tâm đến, nếu có cũng chỉ được coi như một giai cấp thấp hèn được sinh ra để phục vụ. Trận chiến Sekigahara đã mở mắt cho nhiều người và Tôn Điền Tùng Cương hình như cũng có ý muốn theo con đường sửa đổi chính sách. Đó là một điều hay để đưa các từng lớp xã hội từ chỗ hỗn loạn đến trật tự, từ chỗ chia rẽ đến thống nhất và từ chỗ phá hoại đến xây dựng.

Thạch Đạt Lang cũng chủ tâm theo hướng ấy khi luyện tập cho Hạo Nhiên thành một kiếm sĩ có khả năng nhằm mục đích góp phần vào công việc đào tạo giai cấp lãnh đạo sau này. Song song với việc luyện kiếm, hắn bắt đồ đệ phải đọc sách để thêm kiến thức và tu dưỡng tâm tính trong những buổi diện bích suy tư. Vì vậy kỷ luật gắt gao hơn, không còn lơi như những năm trước.

- Hạo Nhiên !

- Dạ.

- Mặt trời sắp lặn. Đã đến giờ tập. Mang kiếm ra đây !

Hạo Nhiên đem hai thanh mộc kiếm lại, một dài một ngắn, quỳ dâng trước mặt sư phụ. Thạch Đạt Lang cầm kiếm, bảo đồ đệ đứng dậy, đưa nó thanh kiếm ngắn và ra lệnh thủ thế.

Thầy trò nhìn nhau yên lặng, kiếm giơ ngang tầm mắt. Vệt sáng cuối cùng của ngày tàn còn đọng lại ở chân trời, nhưng gần căn lều Thạch Đạt Lang và Hạo Nhiên ở, bóng tối đã tràn ngập. Sau lùm cây trắc lá đen dày, mảnh trăng thượng huyền mới mọc lấp ló.

- Mắt !

Giọng Thạch Đạt Lang sắc và gọn. Hạo Nhiên mở to mắt.

- Mắt ta ! Nhìn vào mắt ta !Hạo Nhiên nhìn mắt sư phụ. Trong bóng tối, mắt Thạch Đạt Lang sáng như sao, có ánh đỏ. Nó sợ, chỉ muốn quay đi, nhưng dường đoán được ý nó, Thạch Đạt Lang quát:

- Mắt ta ! Nhìn mắt ta ! Không được quay chỗ khác !

Hạo Nhiên bủn rủn chân tay, thanh kiếm gỗ rung động. Nó cố chú mục vào mắt thầy nhưng mới chỉ một thoáng đã đầu váng mắt hoa, kiếm trên tay nặng trịch chỉ chực rớt.

Thạch Đạt Lang tiến một bước, ánh mắt không rời khỏi mắt đồ đệ. Hạo Nhiên định bước lui mà chân cứ chôn chặt xuống đất, không tiến mà cũng không lui được.

Người nó nóng ran. Sự tức giận như muốn nổ tung. Dường cảm nhận được sức mạnh của nguồn nội lực bộc phát trong lòng Hạo Nhiên, Thạch Đạt Lang lại quát:

- Tấn công !

Hạo Nhiên giật mình nhảy tới. Lưỡi gươm chém bậy lên đầu địch thủ trong một phản ứng hỗn loạn vì thói quen chứ không vì chủ đích. Vù một cái, Thạch Đạt Lang đã cúi mình, thu vai lại, trườn mình như cá đến sau lưng nó, mũi gươm kề sát nách đồ đệ.

- Đủ rồi ! Tạm ngưng !

Hạo Nhiên hoàn hồn, quỳ xuống chân sư phụ. Thạch Đạt Lang chống kiếm, nghiêm khắc nói:

- Vừa rồi ngươi đã thấy sự thiếu bình tĩnh và sợ hãi mang đến kết quả như thế nào.

Trong cuộc chiến, đôi mắt hết sức quan trọng. Nếu sử dụng đúng lúc, nhãn quang có sức mạnh ghê gớm khôn lường, có thể làm tâm ý địch thủ tổn thương ngay từ đầu, chưa đánh đã nắm chắc phần thắng. Đừng để tinh thần dao động vì khiếp nhược, vì khiếp nhược là chết.

- Dạ.

- Bây giờ ra kia, ta tiếp tục.

Hai thầy trò quần thảo với nhau trong bóng tối chập choạng, yên lặng không thốt một lời. Chỉ nghe tiếng thở mỗi lúc một mau của Hạo Nhiên và đôi lúc tiếng mộc kiếm chạm nhau kêu lách cách.

Sương xuống ướt đẫm bãi cỏ ven rừng và vầng trăng cong tựa sừng trâu đã lên khỏi ngọn cây trắc cao nhất. Mỗi khi có cơn gió mạnh, côn trùng lại tạm ngưng điệu nhạc ri rỉ buồn bã. Thu đã về. Những bông hoa dại ban ngày trông không rõ, ban đêm hiện ra run rẩy, xôn xao dưới ánh trăng, trong sương đêm tỏa hương nhè nhẹ.

Thạch Đạt Lang cùng đồ đệ ngừng tập, bước vào nhà thắp đèn. Bỗng nghe tiếng ngựa hí, Thạch Đạt Lang cau mày:

- Ai vậy ?

- Chắc lại một lữ khách nào lỡ đường. Để con ra xem.

- Ừ ra xem ai.

Một lát, Hạo Nhiên trở vào. Thạch Đạt Lang hỏi:

- Lữ khách ?

- Dạ không. Ông này muốn đến thăm thầy. Ông xưng danh là Kỳ Sâm, đồ đệ của Hồ Phong Hạo Điền.

- A ! Ta nhớ rồi. Ra mời vào đây !Tuy không quen thuộc gì với Kỳ Sâm, nhưng Thạch Đạt Lang có biết hắn khi còn ở trọ tại xưởng mài kiếm của Vương Chính. Vương Chính thường liên lạc với các học viên của trường dạy binh pháp Hồ Phong. Sau lần Cát Xuyên Mộc ra tay giết một số học viên của trường này bên bờ sông Sumida rồi sau đấy lại tận diệt mấy người khi bọn này tìm đến báo thù cho bạn đồng môn thì Vương Chính xem chừng phẫn nộ lắm. Vì không muốn dính dáng đến những chuyện ân oán giang hồ như thế, Thạch Đạt Lang bỏ đi, không ở trọ nhà Vương Chính nữa. Bây giờ Kỳ Sâm lại đến tìm hắn, chẳng hiểu có mục đích gì ?

Thạch Đạt Lang ra đón khách ở cửa ngoài. Tuy gọi cửa ngoài nhưng thực ra căn lều không có cửa. Những hôm gió lộng, mưa to, chỉ có tấm liếp cỏ được dùng để che chỗ nằm cho hai thầy trò và những vật dụng linh tinh cùng sách vở. Góc bên kia là bếp.

Thành ra chủ khách phải đứng ngoài hiên đàm đạo.

- Túc hạ đến có việc gì ? Sao biết tại hạ Ở đây mà tìm ?

- Đại hiệp tha cho tội đường đột. Câu chuyện còn dài xin để kể sau. Vả lại đấy không phải là việc chính. Việc chính là có một vị hiện đang là tân khách của gia phụ muốn được gặp đại hiệp.

- Ồ ! Ai vậy ?

Kỳ Sâm mỉm cười:

- Không tiện tiết lộ danh tính. Vị đó bảo muốn dành cho đại hiệp một sự ngạc nhiên thích thú.

Thạch Đạt Lang cũng cười:

- Ra thế đấy ! Thế vị đó đâu, sao không mời vào ?

- Hiện ở tại tệ xá. Và đó cũng là lý do tại hạ vâng nghiêm mệnh đến đây thỉnh đại hiệp ...

Thạch Đạt Lang cau mày. Ở Tân đô hắn chẳng quen ai nên tò mò gặng hỏi, thì chỉ được đáp người đó biết hắn từ khi còn nhỏ.

“Ai thế nhỉ ?”. Thạch Đạt Lang nghĩ thầm. Chẳng lẽ Mãn Hà Chí, hay có thể một người nào đó ở Mimasaka, hoặc Đại Quán hay Oa Tử. Hắn không tin là Oa Tử, nhưng trong thâm tâm ước mong người đó sẽ là nàng. Niềm hy vọng tràn ngập trong lòng, Thạch Đạt Lang hớn hở như đứa trẻ sắp được kẹo.

- Đại hiệp đến không ?

- Ngay bây giờ ư ?

Kỳ Sâm gật:

- Ngay bây giờ. Đêm nay có trăng, trời mát mẻ. Tại hạ đã dẫn theo một con ngựa buộc ngoài kia chờ sắn.

Thạch Đạt Lang gọi Hạo Nhiên tới dặn dò mấy câu rồi ra khỏi nhà. Kỳ Sâm hỏi:

- Hồ Phong Thừa Chí, con trai duy nhất của Hồ Phong Hạo Điền mới bị Cát Xuyên Mộc giết chết, đại hiệp biết chưa ?

- Chưa. Tại hạ Ở chỗ cô lậu này, hàng tháng chẳng có người qua lại, như ếch ngồi đáy giếng, có rõ gì đâu !

- Thừa Chí đến chỗ Cát Xuyên Mộc trọ trên đồi Lãm Nguyệt định ám sát hắn, không ngờ việc chẳng thành nên vong mạng.

Thạch Đạt Lang lắc đầu. Những chuyện oán cừu như thế nếu không tìm rõ ngọn ngành để giải tỏa, chắc còn nhiều người chết. Kể từ ngày bọn đệ tử Hồ Phong bị mất mạng trên bờ sông Sumida, rồi năm học viên của trường bị giết, cộng với Thừa Chí tử thương mới đây, tất cả có trên mười người thuộc phái Hồ Phong bị Cát Xuyên Mộc tàn sát. Và như thế chứng tỏ Giang Biên Liễu chẳng phải tay vừa.

Tiếng ngựa hí nghe đã gần. Kỳ Sâm tới tháo cương ngựa cho Thạch Đạt Lang, yên cương đã bắt đầu ẩm. Thạch Đạt Lang nhảy lên ngựa cùng với Kỳ Sâm sóng đôi đi sâu vào rừng qua các lùm trắc cao, chẳng mấy chốc đã bị sương đêm che khuất dạng.

Hạo Nhiên ngồi trước hiên trong bóng tối của căn lều, giữa sự cô tịch của cảnh vật xung quanh. Nó đã sống trong cảnh hoang vắng từ nhỏ, nhưng sao đêm nay Hạo Nhiên bỗn thấy sự hoang vắng ấy rõ nét như chưa bao giờ thấy. Tiếng côn trùng nhỏ hơn, hàng trắc sau nhà cũng im phắc, không nghe rì rào như mọi lúc.

Hạo Nhiên nhớ đến những lời sư phụ khi nãy:

“Mắt ta ! Nhìn vào mắt ta !”. Trước đây nó không hiểu tại sao khi tập luyện, sư phụ thường bắt nó nhìn vào mắt người. Bây giờ mới vỡ lẽ, không những chỉ để dằn xúc động và sợ hãi mà còn để chế ngự kẻ địch nữa.

“Đừng để tinh thần dao động vì khiếp nhược”, ôn lời sư phụ dạy, Hạo Nhiên chợt thấy trong bóng tối, trên lùm trắc cao, một đôi mắt đang chằm chằm nhìn nó. Đôi mắt tròn xoay, đỏ quạch nhìn nó không chớp một cách ma quái. Hạo Nhiên cau mày. Tuy không giống mắt sư phụ nhìn trong những lúc giao đấu nhưng tia mắt cũng ghê gớm như thế, khiến nó rùng mình, da nổi gai ốc. Ở những nơi hoang vu như thế này, xưa kia biết đâu chẳng là chỗ chiến trường, oan hồn vô số lẩn quẩt bên bờ lau, bụi cỏ. Cũng như con cáo trước đây đã dẫn nó đi lạc ở Higakubo là hiện thân của loài ma quỉ nào đó, bất luận người hay vật có đôi mắt tròn đỏ lạ lùng như thế kia chắc không phải là bạn. Hạo Nhiên định bước vào nhà, tránh nhìn đôi mắt khiến nó rợn người, nổi gai ốc như khi nghe tiếng dao cạo vào cật nứa. Nhưng bỗng ý thức sự hèn kém của mình, Hạo Nhiên không đứng dậy nữa. Nó ngồi yên, trừng trừng nhìn lại đôi mắt đang nhìn nó.

“Ta không sợ”, Hạo Nhiên tự nhủ. “Dù mày là ai, oan hồn hay yêu quái, ta cũng không sợ”.

Kỳ dị thay ! Trong một sự tranh thắng lạ lùng, đôi mắt kia dường như cũng nghĩ như vậy và trở nên sáng hơn, mục lực mạnh hơn như xoáy vào mắt nó. Hạo Nhiên nhìn lại, không chớp, tinh thần căng thẳng, vận toàn lực buộc đôi mắt kia phải bỏ cuộc. Thời gian trôi đi bao lâu không rõ, Hạo Nhiên tưởng đã phải nín thở suốt trong thời gian ấy.

Và trong một sát na, nó biết là nó đã thắng.

Đôi mắt không còn ở đó nữa. Có tiếng lá động sột soạt và tiếng chim vỗ cánh bay đi, nhẹ như gió thoảng.

Trán Hạo Nhiên ướt đẫm mồ hồi. Bây giờ nó thấy người dễ chịu hơn và tự hứa lần sau luyện kiếm với sư phụ sẽ nhất quyết không để bị khiếp nhược.

Hạo Nhiên bước vào nhà, tắt đèn, nằm lên chiếu như thường lệ, thanh kiếm gỗ để bên. Bên ngoài lều, cỏ lóng lánh sương, phản chiếu ánh trăng màu nguyệt bạch. Nó thiếp đi.

Trong giấc mơ, Hạo Nhiên tưởng nhìn thấy một điểm sáng nhỏ xíu giữa bóng đen vô tận. Điểm sáng to dần mãi ra, chuyển từ màu lục sang màu hồng rồi đỏ chói, vàng sậm, tím ngắt quay tròn như hào quang của một chiếc cầu vồng không có đầu mà cũng không có cuối làm nó choáng ngợp.

Giật mình tỉnh dậy, trở mình trên chiếu, Hạo Nhiên nhìn qua khung cửa mở thấy trên cao, tít từng cao, hai vì sao xanh biếc đang nhìn nó.

Chương 74: 1 cuộc dàn xếp

Đến chân đồi Akagi, đêm đã sang canh. Kỳ Sâm và Thạch Đạt Lang xuống ngựa dắt theo đường nhỏ quanh co giữa hai hàng trúc cao tới một cổng đá lớn.

Xa xa, vẳng tiếng sáo đưa lại, nghẹn ngào. Âm vang nức nở như khơi dậy trong lòng Thạch Đạt Lang một nỗi cảm hoài man mác. Kỳ Sâm đẩy cổng bước vào, nói:

- Đây là đường tắt. Tại hạ dẫn đại hiệp theo đường này thật không phải, nhưng nếu đi đường chính thì quá lâu, sợ các vị khách chờ ...

- Có hề gì, các hạ đừng để tâm.

Quanh co một hồi nữa, bỗng thấy ánh đèn thấp thoáng, rồi hai thanh niên cầm thương tiến đến. Khi nhận ra Kỳ Sâm, cả hai đều cúi đầu chào. Kỳ Sâm hỏi:

- Lão nhân gia đã đi nghỉ hay còn ở đại sảnh ?

- Thưa còn ở đại sảnh.

Kỳ Sâm trao cương ngựa cho một thanh niên dẫn đi và bảo người kia cầm đèn soi đường đi trước.

Thạch Đạt Lang không biết rõ gia thế Kỳ Sâm nhưng xét cung cách đối xử của gia nhân thì gã tất phải thuộc một tộc có danh vọng trong vùng. Chẳng hiểu trường hợp nào thân phụ gã lại quen với người đã biết hắn từ khi còn ở Miyamoto ! Bỗng nhiên Thạch Đạt Lang sực nhớ và mười phần đoán được tám chín người đó là ai rồi.

Đường lên đại sảnh quanh co ngoắt ngoéo càng lúc càng cao như tạc trên sườn núi. Tới cửa một tòa lâu đài tường đá dày, cột gỗ lớn hai người ôm không xuể, đã thấy bốn gia nhân túc trực trên thềm cầm đèn sẵn.

Kỳ Sâm dẫn Thạch Đạt Lang vào ngồi trong phòng đợi rồi xin cáo lui, nói để trình với thân phụ.

Nhìn ra cửa sổ, qua một khu vườn khi ẩn khi hiện dưới ánh trăng, chỉ thấy mây tỏa tứ bề, không có nhà cửa cây cỏ gì khác. Sương mù trắng đục bao phủ khắp nơi, len lỏi cả vào phòng. Thạch Đạt Lang dự đoán khuôn viên này có lẽ được dựng trên một ngọn đồi cao hoặc trên một triền núi cheo leo nào đó bao quát cả vùng. Chắc ban ngày, nhìn từ đại sảnh xuống, cảnh trí vô cùng ngoạn mục.

Cửa mở êm như ru. Một tì nữ mặc kimono màu hoàng yến bước vào, để lên kỷ trước mặt Thạch Đạt Lang khay trà, bánh và thuốc hút rồi kín đáo lui gót, lặng lẽ như tan biến qua khung cửa. Mùi phấn son còn phảng phất trong phòng, nhẹ nhàng nhưng quyến rũ.

Uống chưa cạn tuần trà đã thấy chủ nhân tới. Ông thấp lùn nhưng thật khó mà đoán được tuổi. Tóc ông lốm đốm bạc, phía trên trán có lẽ không cần cạo vì đã hói gần hết, răng cửa hổng hai cái. Tuy thế, da dẻ hồng hào không một vết nhăn trên mặt, ria mép và tóc mai dày chứng tỏ sức lực còn sung mãn. Ông chính là Hà Chu Cát Tỉnh, một hào trưởng vùng này, trước cũng là kiếm sĩ có danh vọng phụ thị trong đạo quân ngự lâm. Trong cuộc chiến Sekigahara, Cát Tỉnh đứng về phe chiến thắng nhưng sau đó không nhận tưởng thưởng gì. Tính tình phóng dật, không ưa bị câu thúc nên ông lui về ở ẩn tại tòa lâu đài do tổ phụ dựng lên từ mấy đời trên sườn núi Akagi này, lấy cớ để bảo vệ di sản của ông cha nhưng chính thực để được sống an nhàn theo sở thích.

Buổi sơ kiến, qua những tràng cười thành thật và hào sảng của ông, Thạch Đạt Lang đã có hảo cảm ngay, cho nên sau khi thi lễ và vài câu xã giao, hắn hỏi thẳng:

- Vãn bối được lệnh tử cho biết có người muốn gặp. Dám xin lão tiền bối xác nhận phải thế chăng ?

Cát Tỉnh gật đầu:

- Phải. Chẳng những một mà là hai người nữa kia. Một vị may mắn đã được biết đại hiệp khi còn ở Miyamoto, vị kia thì chỉ mới nghe danh nhưng rất mong được hội kiến.

- Thật hân hạnh. Vãn bối đã đoán được người đó là ai rồi.

- Ai thế ?

- Phải chăng là thiền sư Đại Quán ?

Đập mạnh chiếc quạt đang cầm lên đùi, Hà Chu Cát Tỉnh cười ha hả:

- Phải rồi ! Thật không điều gì giấu được đại hiệp !

Đoạn không đợi Thạch Đạt Lang nói thêm, ông đứng ngay dậy:

- Xin mời đại hiệp theo lão phu.

Cát Tỉnh xăm xăm tiến vào một hành lang sâu và hơi tối ở phía trong. Hành lang rộng nhưng ngoắt ngoéo, lúc lên lúc xuống, lúc hướng sang trái lúc quặt sang phải, Thạch Đạt Lang theo mà gần như lạc hướng. Đến một khúc rẽ, đột nhiên không thấy chủ nhân đâu. Đang phân vân, chợt nghe tiếng Cát Tỉnh gọi:

- Thạch đại hiệp ! Lão phu ở dưới này !

Tiếng gọi dường như phát ra từ một căn phòng sáng có rèm che ở phía dưới. Từ chỗ hắn đứng đến căn phòng ấy là một khoảng lõm tối om trong vách đá và ở gần đấy, một cửa hông mở hé trổ ra khu vườn nhỏ hắn trông thấy khi ngồi trong phòng đợi.

Bất giác Thạch Đạt Lang cảm có điều gì bất ổn. Tiếng chủ nhân lại gọi vọng lên:

- Có chuyện gì vậy, đại hiệp ? Chúng ta ở cả dưới này, ngay cuối hành lang, xin xuống ngay cho.

Thạch Đạt Lang vội đáp:

- Đa tạ. Vãn bối tới ngay bây giờ !

Dứt lời, quay ngoắt trở lại mở cửa hông bước ra vườn rồi men theo những bậc đá ở hàng hiên dốc mé tả mà vào phòng.

Cửa vừa mở, Cát Tỉnh quay nhìn Thạch Đạt Lang không giấu vẻ ngạc nhiên trên nét mặt, nhưng ở góc phòng, thiền sư Đại Quán chỉ ngẩng đầu mỉm cười. Thạch Đạt Lang đến quỳ trước mặt Đại Quán, dáng điệu vô cùng tôn kính !

- Thầy Đại Quán !

Nhà sư phong thái vẫn như xưa, tuy diện mạo có già hơn đôi chút. Vẫn bộ áo chùng nâu cũ, vẫn cái dáng điệu ung dung gần như buông thả, nhưng lần này ở đây không thấy ông đeo tràng hạt. Hình thức bề ngoài hình như không còn để cho thiền sư quan tâm nữa.

- Lâu lắm chẳng gặp con, tuy vậy ta vẫn để ý theo dõi hành tung của con cho đến khi con rời khỏi xưởng mài kiếm của Vương Chính.

Lời nói thân tình mà nặng ý quan hoài khiên Thạch Đạt Lang cảm động.

- Lần cuối cùng ta gặp con ở đâu nhỉ ? À phải, ở Kyoto, có đúng không ? Sau khi mẫu thân ta mất, ta ở lại cư tang một năm rồi lại lên đường phiêu du, thăm nhiều đền miếu và các thân hữu, đọc các kinh sách lạ, đàm đạo với chư tăng, cũng thu thập được nhiều điều bổ ích lắm.

- Thế thầy mới đến Tân đô này thôi ư ?

- Ừ, ta được biết chủ nhân đây trong một dịp tình cờ qua sự giới thiệu của một thân hữu chung. Thế còn ngươi ? Trong thời gian đó làm những gì ?

- Theo dõi hành động của con, chắc thầy đã rõ.

Nhìn Thạch Đạt Lang, Đại Quán dường như muốn so sánh hắn bây giờ với gã nông dân Thạch Kinh Tử khi trước. Ông mỉm cười, chậm rãi:

- Sao còn quan tâm đến những việc đó ? Một người ở tuổi con mà đã nổi danh như thế chẳng phải chuyện thường, nhưng chừng nào con không làm điều gì ô nhục, xấu xa thì có gì đáng trách ? Điều ta muốn biết là sự luyện tập của con đến đâu rồi ?

Thạch Đạt Lang trình bày sơ lược những học hỏi và thành quả của mình trong những năm qua cho Đại Quán nghe rồi kết luận:

- Con sợ còn dại dột, sự suy tư chưa được chín chắn, hành động đôi khi còn khinh suất. Càng đi, con thấy đường càng dài và có cảm tưởng đang trèo một con dốc vô tận mà chưa trông thấy đâu là đỉnh núi.

Đại Quán gật gù xem chừng thỏa mãn về những nhận định thành thật của người thanh niên ông bảo trợ.

- Phải như thế, con ạ ! Nếu một người ở lứa tuổi ba mươi mà tự cho mình đã đến bờ giác thì sự tu luyện coi như chấm dứt rồi. Gã sẽ luẩn quẩn mãi trong mê muội. Ta thật bối rối nếu có người coi ta như một vị bồ tát hay sùng mộ ta như một vị Phật sống. Hãy tự cho là may mắn khi thấy người đời không đánh giá con quá cao, con ạ !

Thạch Đạt Lang cúi đầu cung kính:- Con xin bái lĩnh lời thầy dạy.

Vừa khi ấy, một người trạc trung niên, dáng đường bệ, tay còn cầm trường kiếm để nguyên trong bao, bước vào. Thấy Thạch Đạt Lang ngồi bên Đại Quán, người ấy khựng lại, đưa mắt nhìn chủ nhân rồi lại nhìn nhà sư, đoạn phá lên cười ha hả:

- Phải chăng đây là Thạch Điền đại hiệp ?

Thạch Đạt Lang cúi chào:

- Chính phải. Tiểu nhân là Thạch Điền Đạt Lang, sinh quán tại Miyamoto. Dám hỏi phải chăng ngài là Trúc Mộ đại nhân ?

- Đúng. Ta chờ đại hiệp trong phòng tối từ lâu không thấy đi qua. Giờ đã ở đây rồi!

Khá thật !

Hà Chu Cát Tỉnh quay sang Thạch Đạt Lang, giải thích:

- Đó là mẹo nhỏ do chính lão phu chủ trương, đại hiệp sớm phát kiến làm cho lão thật bẽn lẽn.

Đại Quán cười:

- Đó là cuộc đùa chơi, có gì mà chủ nhân phải để ý !

Nhưng Cát Tỉnh vẫn trần tình:

- Lão phu không ngờ Thạch đại hiệp lại linh mẫn đến thế ! Nghe nhiều lời đồn đại về đại hiệp, lão phu muốn chính mắt được chứng kiến võ công của đại hiệp nên đã bày ra trò này và mời Trúc Mộ tướng công giúp một tay. Khi đại hiệp dừng lại ở hành lang, chính ngài là người đứng trong phòng tối sẵn sàng rút kiếm để thử xem phản ứng của đại hiệp đến mức nào.

Thạch Đạt Lang cười:

- Ra thế đấy !

- Nhưng đại hiệp lại đi cửa khác, vòng ra ngoài vườn mà vào phòng này. Dám hỏi lý do gì khiến đại hiệp phát giác ra có bẫy mà tránh ?

Thạch Đạt Lang không trả lời. Thực ra hắn cũng chẳng biết trả lời ra sao nữa. Đại Quán bèn đỡ lời:

- Chỉ là khác biệt về phản ứng.

- Thế là thế nào ? Xin đại sư nói rõ thêm.

- Phản ứng của một chiến thuật gia khác với phản ứng của một kiếm sĩ. Phản ứng chiến thuật căn cứ trên tri thức, do suy luận mà có. Phản ứng của kiếm sĩ do trực giác.

Khi tôn huynh dẫn hắn theo đường hành lang tới căn phòng này, tôn huynh suy luận đương nhiên hắn sẽ đi theo. Nhưng không ! Đến một chỗ nào đó, trực giác linh mẫn của hắn chắc đã cảm thấy có điều khác lạ nên hắn lập tức phản ứng. Và vì điều khác lạ đó không xác định được ngay, hắn đã chọn cách an toàn nhất để tự vệ:

tránh né.

Phản ứng ấy rất thông thường của người cầm kiếm và hoàn toàn theo bản năng.

- Phải chăng cũng giống như trường hợp đốn ngộ trong thiền phái ?

Đại Quán gật đầu:

- Ở một phương diện nào đó, nếu tuệ căn mẫn nhuệ thì cũng có thể so sánh như thế !

- Đại sư đã bao giờ gặp trường hợp như vậy trong lúc nghiên cứu thiền học chưa ?

Đại Quán mỉm cười:- Bần tăng không biết, vì giá có gặp cũng không ý thức được.

Trúc Mộ xen vào:

- Dù sao, bài học đáng để chúng ta suy gẫm. Một kiếm sĩ nào khác thấy nguy hiểm có lẽ đã rút kiếm xông bừa, áp đảo địch thủ, thắng bại trông vào tài năng. Hành động của Thạch đại hiệp thật khác thường, giải quyết vấn đề êm thấm và thích đáng.

Nói đoạn, quay sang Thạch Đạt Lang ngồi ở góc phòng, ông tiếp:

- Mạnh Đạt có đề cập đại hiệp nhiều lần với lão phu và cách đây không lâu, có trình bức thư của đại hiệp. Bấy giờ vì căn bệnh của lão nhân gia trở nên trầm trọng nên rất tiếc đã không chiều lòng đại hiệp được. Tuy nhiên ...

Ông ngừng lại một lúc. Đại Quán hỏi:

- Vậy tình trạng của Trúc Lâm lão tiền bối bây giờ ra sao ?

- Cũng không khá hơn trước mấy. Gia nghiêm tuổi đã cao, nếu chẳng may mệnh hệ nào ...

Nhưng bỏ dở câu nói, Trúc Mộ lại trở về với ý lúc nãy:

- Nếu không nệ, xin đại hiệp coi những lời yêu cầu trong thư như thế là đã thực hiện. Lão phu hy vọng, phương cách không mấy công chính ấy không làm đại hiệp phật ý !

Thạch Đạt Lang rạp đầu:

- Tiểu nhân đâu dám trái lệnh.

Sự cung kính của Thạch Đạt Lang cũng chỉ là tự nhiên. Trúc Mộ tướng công ở vào một địa vị quá cao, không những ở hiện tại, mà vào hàng danh gia thế tộc từ lâu đời. Đối với một kiếm sĩ lang bạt và nghèo như Thạch Đạt Lang, sự có mặt của hắn với ông cùng trong một phòng đã là điều lạ, huống chi còn ngồi chung đàm đạo với nhau như bạn hữu.

Chủ nhân gọi tì nữ hâm rượu mang tới. Chén chú chén anh, câu chuyện lan man sang nhiều vấn đề khác ngoài lãnh vực võ học. Thạch Đạt Lang nhận thấy sự phân biệt tuổi tác và giai cấp xã hội không còn nữa. Đại Quán và Cát Tỉnh, cả hai đều không tỏ vẻ gì quan tâm đến chức tước của Trúc Mộ cả. Họ coi nhau như anh em và hắn cũng đã được chấp nhận như thế vì cùng theo một lý tưởng đi tìm tinh hoa của Đạo, dù đó là thiền đạo hay kiếm đạo.

Rượu được vài tuần, Đại Quán hỏi Thạch Đạt Lang:

- Oa Tử dạo này thế nào ?

- Đã lâu lắm con không được tin tức gì của nàng.

- Mô Phật ! Ngươi không quan tâm gì đến nàng nữa sao ?

- Oa Tử phải chăng là thiếu nữ trước đây hầu cận lão nhân gia ở Trúc Lâm cốc ?

Trúc Mộ hỏi.

- Thưa chính phải.

- Thế thì lão phu biết. Năm ngoái, nàng được Mạnh Đạt dẫn về tướng phủ, bây giờ lại trở lại Trúc Lâm cốc rồi. Nàng giúp xá điệt săn sóc lão nhân gia.

Nhân cơ hội, Đại Quán nói sơ về thân thế Oa Tử và mối liên hệ giữa nàng với Thạch Đạt Lang. Nhà sư kết luận:

- Bần tăng nghĩ sớm muộn gì cũng phải có giải pháp thỏa đáng mà bần tăng là kẻ tu hành không tiện đứng ra tác hợp. Xin nhị vị giúp cho một tay.

Thạch Đạt Lang cúi đầu yên lặng, trong lòng hết sức phân vân. Giữa tình yêu và sự nghiệp, sự giằng co vẫn chưa ngã ngũ. Trước kia, trên cầu Hanada, khi khắc những dòng chữ từ biệt lên thành cầu, hắn đã quyết tâm trốn tránh Oa Tử. Nhưng lòng hối hận day dứt, hắn lại tìm gặp người yêu. Quãng đường từ quán Liễu Kiều đến thác Phu Phụ còn để trong tâm khảm hắn bao nhiêu xúc động mà mỗi khi nghĩ đến, Thạch Đạt Lang lại thấy lòng rộn lên một niềm yêu thương dào dạt. Không ngờ con tạo trớ trêu, chia ly xảy ra liền đó. Âu cũng là số mệnh, nhưng đối với Thạch Đạt Lang, vô tình số mệnh đã dẫn hắn tiếp tục đi theo con đường tuy cam go nhưng đầy khích lệ của kiếm đạo. Hắn đã quên Oa Tử, đắm mình trong việc tập luyện, quên bản thân, giúp dân xóm tiều Hotengahara chống giặc cướp và nhọc nhằn canh tác.

Cho đến đêm nay, trong cuộc hội ngộ bất ngờ này, Thạch Đạt Lang không ngờ lại bị đặt trước một quyết định khó khăn. Như một đống tro chưa tàn hẳn, lời nói của Đại Quán là cơn gió khơi dậy ngọn lửa yêu đương trong lòng hắn và nhắc cho hắn đừng quên trách nhiệm và bổn phận đối với người con gái đã từng cứu hắn thoát khỏi cơn nguy khốn năm xưa. Động lực nào đã run rủi nhà sư làm việc này ? Đó là một suy tính có kế hoạch hay chỉ là lòng thương xót chúng sinh ? Thạch Đạt Lang bối rối.

Cát Tỉnh gật gù khen phải và Trúc Mộ cũng cho rằng đã đến lúc Thạch Đạt Lang phải ổn định đời sống. Trong thâm tâm, ông nghĩ nếu hắn chịu lập thân tại Tân đô thì sau này tộc Tôn Điền sẽ có thêm một tay kiệt xuất và không còn lo gì những cuộc nổi loạn nữa. Về tình và lý, xem ra cả hai người đều tán đồng ý kiến của Đại Quán và hoan hỉ đứng ra bảo trợ cuộc hôn nhân. Ngoài ra, Trúc Mộ dự định sẽ đề bạt Thạch Đạt Lang vào một chức vụ huấn luyện kiếm thuật trong giảng huấn bộ của Tôn lãnh chúa. Ngặt nỗi chức này phải tuyển chọn rất kỹ và người được đề bạt ít nhất phải là thành viên của vệ binh đoàn trong phủ. Nhất là sau vài vụ nổi loạn được phát giác kịp thời và dập tắt, sự thanh lọc hàng ngũ những cận vệ của Tôn Điền lãnh chúa càng gắt gao hơn nữa. Vấn đề gai góc chính là gia thế của Thạch Đạt Lang. Không có giấy tờ gì chứng minh hắn thuộc dòng dõi kiếm sĩ danh vọng, nói gì đến liên hệ huyết thống với Tôn lãnh chúa. Tệ hơn nữa, trong cuộc chiến Sekigahara, Thạch Đạt Lang lại đứng về phía bên kia và dường như tổ phụ hắn trong những thế kỷ trước, đã bị giam giữ và sát hại tại một trong nhiều căn thạch thất của lâu đài. Tuy nhiên, cả ba đều đồng ý là với sự can thiệp và bảo lãnh của Trúc Mộ tướng công cùng Đại Quán thiền sư, vấn đề có thể giải quyết được.

- Thế nào, con nghĩ thế nào về việc này ?

Đại Quán hỏi.

- Con xin đa tạ và tri ân thầy cùng nhị vị tiền bối đã tỏ lòng ưu ái, nhưng con tự xét hãy còn not nớt ...

- Khoan ! Đừng nhìn vấn đề ở mặt ấy. Nào có ai bắt ngươi khi đã lập thân rồi thì phải thôi không được luyện tập nữa đâu ! Trái lại, chúng ta còn khuyên ngươi phải trau dồi tâm, đức và kỹ thuật cho thật hoàn hảo, đừng bao giờ xao lãng. Vấn đề chúng ta muốn biết là ngươi có định nhận trách nhiệm không hay cứ để mặc Oa Tử chờ đợi như thế cho đến khi nàng nhắm mắt ?

Thạch Đạt Lang có cảm tưởng bị sập bẫy. Oa Tử đã nói với hắn nàng chấp nhận mọi sự thử thách nhưng như vậy không có nghĩa là hắn trút bỏ mọi trách nhiệm cho nàng. Oa Tử yêu hắn và hắn cũng yêu Oa Tử. Tình yêu đã được chia xẻ. Đối với Oa Tử, mối tình ấy là lẽ sống duy nhất của đời nàng, nhưng đối với Thạch Đạt Lang lại khác.

Con đường còn dài, hun hút trước mặt mà lòng nhiệt thành theo đuổi kiếm đạo của hắn vẫn chưa nguôi.

Yêu Oa Tử, nhưng Thạch Đạt Lang cũng yêu kiếm, say mê cuộc sống giang hồ hành hiệp và muốn dâng hiến cả tâm tình lẫn thể xác của mình cho công bằng xã hội, cho lý tưởng cao đẹp mà kiếm đạo đã vạch ra, soi sáng đời hắn như một ánh chân quang.

Gia đình và công danh, với những ràng buộc của nó, có để cho hắn làm tròn được ước vọng ấy không ? Thạch Đạt Lang sợ rằng không. Lưỡi kiếm mang bên mình, hắn sẽ không còn được rút ra tung hoành vì đại nghĩa, cũng như tâm hồn hắn sẽ phải đóng khung cứng ngắc trong những tư tưởng đã định ; những giáo điều có sẵn, những chỉ thị được ban hành nhiều khi không hợp với suy tư của hắn.

Nghĩ đến đây, Thạch Đạt Lang nhăn mặt. Hắn không dám trình bày hết ý, sợ bị bài bác và cho rằng đã có tư tưởng vô trách nhiệm và không thực tế ; nên chỉ quanh quẩn trong những lý do:

còn quá trẻ, chưa đủ trưởng thành, sự tập luyện chưa được như ý muốn ...

Đại Quán gạt đi:

- Không sao ! Con cứ tin cậy ở chúng ta !

Hà Chu Cát Tỉnh cũng phụ họa:

- Đại hiệp chẳng nên từ chối. Việc này thế nào rồi cũng xong. Trúc Mộ tướng công đảm trách tiến cử đại hiệp, còn lão phu xin lo hết mọi chuyện vật chất về hôn sự.

Ông nghiêng mình về phía trước, cầm quạt đập nhẹ lên đùi Thạch Đạt Lang, cười hà hà:

- Chỉ xin đại hiệp khi thành gia thất đừng quên ngu lão.

Thạch Đạt Lang thừ người, chẳng biết mình chủ động hay là nạn nhân của cuộc dàn xếp.

Chương 75: Tiếng trống

Trận bão đêm trước trên đồng cỏ Musashino xem chừng còn dữ dội hơn cả cơn lụt ở Hotengahara dạo nào. Hàng năm, những ngày đầu tháng tám là những ngày nông dân địa phương lo sợ nhất. Gió bão liên miên khiến mùa kê lúa thiệt hại nặng nề, nhà cửa sập đổ. Ấy là theo lời khuyên của những người trong vùng, thầy trò Thạch Đạt Lang đã đề phòng từ trước, chặt cây chống sườn nhà và lấy đá đè lên mái, thế mà căn lều vẫn không vững trước cơn bão. Bây giờ nó nghiêng hẳn sang một bên, gianh lợp tróc nhiều chỗ, mỗi khi gió hơi manh, kèo cột cọ vào nhau kẽo kẹt như đưa võng. Trong nhà, vật dụng, quần áo ướt nhẹp, nước mưa đọng thành vũng. Mấy quyển sách của Hạo Nhiên sũng nước. Nhìn những hàng chữ nhòe nhoẹt trên tập giấy mủn nát, mắt nó đỏ hoe, Thạch Đạt Lang đến bên, vỗ về an ủi:

- Thôi con ạ, để khi có dịp, ta sẽ dẫn con đi mua quyển khác.

Hạo Nhiên ôm thầy khóc nấc. Mặc cho thằng bé được tự do xả hết nỗi phiền muộn qua hai hàng nước mắt, lúc sau Thạch Đạt Lang mới ôn tồn nói:

- Chuyện thiên tai, có tiếc mấy cũng không làm gì được. Lần sau, chúng ta phải cẩn thận hơn. Con đi nấu cơm ăn đi.

Hạo Nhiên lau nước mắt:

- Nhà không còn gạo, để con nướng hạt dẻ thầy lót lòng.

- Không, ta không đói. Con cứ nướng hạt dẻ mà ăn. Ta vào trong xóm, chiều mới về được.

- Thầy vào trong xóm làm gì ?

- Bão lớn chắc nhiều nhà sập và ruộng kê ngập nước hỏng cả. Ta đến giúp họ một tay.

Hạo Nhiên tần ngần nhìn sư phụ bước ra cửa. Nó tự hỏi ông nghĩ gì khi căn nhà của chính ông không lo sửa chữa lại đi giúp sửa những căn nhà của người khác. Nhưng nó không dám tỏ ý. Khói bếp tỏa dày đặc làm nó cay mắt. Hạo Nhiên cời than vùi hạt dẻ vào rồi bó gối nhìn những tàn than nổ lách tách. Mỗi khi thấy hạt dẻ chín bắn ra, nó nhặt vội, xoa vào quần cho bớt nóng rồi suýt soa ăn, quên hết nỗi buồn phiền khi nãy.

Không khí ấm áp quanh bếp lửa khiến nó vui trở lại. Ăn xong, Hạo Nhiên mang quần áo ra hong và xếp dọn chỗ nằm cho sư phụ.

Xế chiều, Thạch Đạt Lang trở về đem theo kê, gạo và cả bánh đậu đã làm sẵn khiến Hạo Nhiên mừng hết sức.

- Đây là những món quà dân xóm tạ Ơn. Bánh đậu này khá ngon, ta mang về cho con đó.

Thì ra khi ta quên mình để giúp người, tự nhiên ta sẽ được người khác giúp. Hạo Nhiên tự nhủ. Bài học tương trợ ấy làm nó sực tỉnh.

Hai ngày sau, trong khi thầy trò Thạch Đạt Lang đang hì hục dựng lại căn lều, lại có ba nông dân tới. Họ đến giúp thầy trò hắn. Nhưng thấy lều đổ nghiêng quá nguy hiểm khó mà dựng lại được, họ đề nghị cả hai đến trú tạm tại nhà họ ít lâu, chờ lối xom gặt xong sẽ góp sức chặt cây cất cho hai thầy trò một căn nhà mới. Những người dân quê chất phác ấy đã tỏ lòng lân ái và tương trợ một cách tự nhiên thật cảm động. Chẳng tiện từ chối và thật ra cũng đang cần một nơi trú ngụ, Thạch Đạt Lang nhận lời, cúi đầu cảm tạ. Hôm sau, hai thầy trò thu nhặt hành trang cùng vật dụng đến tạm cư tại nhà một trong ba người hàng xóm.

Thấm thoắt đã gần nửa tháng. Tiết trung thu, trăng sáng vằng vặc. Dịp này, công việc đồng áng tương đối mãn, nhiều nơi trong vùng bắt đầu mở hội. Nghe tiếng trống từ xa vọng đến, Hạo Nhiên lại nhớ đến những đêm đi xem hội xưa kia, chen vai thích cánh giữa đám đông, nghểnh cổ nhìn các vũ công đeo mặt nạ múa hát trong những tiếng reo hò ầm ĩ. Nó mong cho chóng sáng, hỏi thăm chố nào đánh trống. Nghe nói ở đền Mitsumine trên núi Chichibu.

Hạo Nhiên, lúc pha trà cho Thạch Đạt Lang, đã khéo dò ý:

- Núi Chichibu có xa đây không thầy ?

- Không xa lắm. Con hỏi làm gì ?

- Con muốn đến đền Mitsumine xem tế thần.

Thạch Đạt Lang nhướng mày hơi lấy làm lạ về sự đột nhiên quan tâm đến việc tế tự của đồ đệ. Hắn gật gù:

- Cũng tốt.

- Thế thầy dẫn con đi nhé ! Nhà mình chưa khởi công, đợi họ gặt xong đã, chắc cũng phải hết tuần trăng ...

Nhìn Hạo Nhiên, Thạch Đạt Lang cười mỉm:

- Chắc ngươi lại muốn đi coi múa hát chứ gì ?

Thằng bé toét miệng, gật đầu. Khúc nhạc và điệu vũ độc nhất Hạo Nhiên biết đều do ở những cuộc đi xem hội lúc còn nhỏ vùng Hotengahara. Nó rất thích và không bao giờ quên được những âm thanh của khúc nhạc khi tươi vui, khi nghẹn ngào đứt quãng, những tiếng ự ... ư ... ư ..., theo nhịp dậm chân của vũ công trên sàn gỗ. Và tiếng trống !

Trời ơi ! Tiếng trống sao mà thúc giục và lôi cuốn đến thế ! Nó nôn nóng hỏi Thạch Đạt Lang:

- Con nấu cơm, nắm mang đi ăn đường thầy nhé ! Hôm qua thầy nghe tiếng trống không ? Họ tập để vào hội ngày mốt đấy !

- Sao ngươi biết ?

- Người ta bảo thế !

Tính nết Hạo Nhiên nhắc Thạch Đạt Lang nhớ đến đồ đệ cũ. Thằng Giang muốn điều gì thì hay vòi vĩnh, không như Hạo Nhiên khôn khéo hơn biết dò ý, xếp đặt có lớp lang và tính toán. Bất giác nghĩ đến tuổi thơ của mình không có ai để mà vòi vĩnh, hắn thương cả hai đứa, không nỡ từ chối, gật đầu:

- Ừ thì đi !

Hạo Nhiên hối hả xuống bếp nói vọng lên:

- Tối nay còn trăng. Đi đêm chắc mát.

Cơm xong, nó ra đầu xóm mua hai đôi dép cỏ, sửa soạn hành trang. Thế là lên đường ngay chiều hôm ấy.

Vết tích cơn bão hai tuần trước còn lưu lại nhiều nới. Lá khô cành gãy ngổn ngang.

Ở những vũng nước rải rác, tiếng ếch nhái kêu ì ộp, đàn dơi bay thấp chao đi chao lại bắt muỗi dưới bầu trời hoàng hôn đỏ khé.

Thầy trò Thạch Đạt Lang thong dong bước, vừa đi vừa ngắm cảnh. Đến bờ một con suối nước dâng cao như dòng sông con, giữa dòng chỉ còn lại một đoạn cầu gỗ chơ vơ vô dụng, Thạch Đạt Lang dừng bước lưỡng lự. Trong khi hắn loay hoay tìm cách sang bờ bên kia, Hạo Nhiên bỗng chú ý đến vài mẩu sắt nhỏ trên bờ suối. Nó nhặt lên. Thì ra những đầu mũi tên đã han rỉ và có cả một cái chỏm mũ gãy của chiến binh tử trận. Nó đưa cho sư phụ coi:

- Chắc chỗ này trước kia là bãi chiến trường phải không thầy ?

Thạch Đạt Lang gật:

- Chắc thế !

Tò mò, Hạo Nhiên lại men theo những hòn đá mấp mé mặt nước để tìm thêm.

Bỗng nó la lớn:

- Xương người ! Có xương người !

Thạch Đạt Lang chạy lại. Quả nhiên, rải rác trên một khoảng bằng cái nong là những lóng xương trắng hếu bị nước cuốn lẫn với cỏ rác và những mảnh vải cũ.

- Chắc xung quanh đây còn nhiều xương nữa. Con thử tìm xem.

- Trời ơi, ghê quá ! Tìm làm gì hả thầy ?

- Để đem chôn con ạ. Cho thú rừng khỏi tha đi và người ta khỏi dẫm lên, tội nghiệp.

- Những người chết này có liên quan gì đến mình đâu mà phải làm thế ?

- Hạo Nhiên ! Ta đã đọc cho con nghe một vài đoạn về sử nước nhà. Vùng Musashimo này, trăm năm trước đã là chiến trường giữa hai phái tranh chấp nhau. Cuộc phân tranh kéo dài hàng chục năm ...

- À, con nhớ rồi. Trận Kotensashigara. Vậy ở chỗ này đây hả thầy ?- Ta không biết đích xác, nhưng chắc đã xảy ra nhiều trận đẫm máu trên bờ suối này hoặc trong rừng lân cận. Những người chết di tích còn đây là những chiến binh đã góp phần xây đắp nền móng quốc gia. Không có họ, quốc gia không thể tồn tại. Bây giờ những mảnh xương vô định của họ, hoặc vùi nong dưới cát như mảnh xương này, hoặc tản mác khắp nơi, không đáng để chúng ta thương xót hay sao ? Chiến tranh như những cơn bão, rồi sẽ qua đi, nhưng núi sông vẫn còn đó. Là những kẻ hậu sinh, chúng ta không thể quên ơn họ được !

- Dạ, con biết.

- Thế sao con lại nghĩ là không liên quan ?

Hạo Nhiên lặng lẽ cúi đầu.

- Bây giờ con đi nhặt hết những khúc xương ấy đem về đây cho ta.

Đoạn tìm chỗ cao ráo, hai thầy trò đào một huyệt nhỏ, bỏ xương và di tích người chết xuống rồi lấp đất. Lại kiếm một cành cây lớn, khắc chữ “tử sĩ vô danh” cắm lên đó.

Hạo Nhiên hỏi:

- Cần lấy hoa đặt lên mộ không thầy ?

- Tùy con. Nhưng nếu con đã hiểu được hết ý nghĩa của hành động con làm thì đặt hoa hay không cũng thế thôi.

Tần ngần một lúc, Hạo Nhiên lại hỏi:

- Nếu người nằm dưới mộ là trung thần thì làm thế, nhưng ngộ người ấy là phản loạn thì sao ?

Thạch Đạt Lang yên lặng nhìn vầng trăng. Hắn không tìm được lời giải đáp thỏa đáng. Lát sau mới nói:

- Đức Phật “thường hành bình đẳng”. Đối với người đã chết, ngài siêu độ tất cả, không phân biệt tốt xấu, kẻ thiện người ác.

- Thế kiếm sĩ tốt hay xấu khi chết cũng như nhau, không để lại gì à ?

- Có chứ ! Để lại cái danh của mình.

- Vậy một kiếm sĩ dũng cảm, trung liệt sẽ lưu danh mãi mãi hả thầy ?

- Phải đó. Nhưng không phải chỉ giản dị vậy đâu ! Dũng cảm và trung liệt chưa đủ, phải có lòng nhân ái. Nếu kiếm sĩ chỉ biết dùng sức mạnh của lưỡi kiếm thì, như cây khô ngoài sa mạc, như cơn bão dữ dằn, không những không lợi ích gì cho ai mà còn nguy hiểm. Kiếm sĩ phải có lòng trắc ẩn, có trái tim biết cảm thông với những bất hạnh của người khác.

Hạo Nhiên lặng im, chắp tay thành kính cúi đầu trước mộ.

oo Sườn núi Chichibu bữa nay mây phủ đầy. Từ trên đền Mitsumine nhìn xuống, khách trẩy hội trông như đàn kiến, từng hàng theo chân nhau ẩn hiện qua những dải mây màu khói lam vắt vẻo ngay sườn núi. Họ chống gậy, đội nón nan, kẻ khoác tay nải, người gồng gánh lễ vật mang lên đền. Ba ngọn sơn lĩnh Kumotori, Shiraiwa và Myoho sau núi Chichibu hợp thành một bối cảnh hùng vĩ làm tăng vẻ nguy nga tráng lệ cho vùng thắng tích.

Đền Mitsumine khá lớn, được xây cất từ lâu và đã trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử. Ngôi đại điện ở một khu đất bằng phẳng trên sườn núi, rộng trăm mẫu, hàng năm vẫn là địa điểm tế lễ và tiếp đón khách thập phương. Xung quanh vô số miếu nhỏ, thờ đủ các vị thần linh, lẩn trong những hàng tùng trắc xanh biếc. Cảnh trí u nhã, thêm tin đồn đền rất linh thiêng, lại lưu trữ một bộ sưu tập đồ cổ ngoạn vô giá khiến khách du đã đi qua vùng đông bắc nước Nhật không mấy ai bỏ lỡ cơ hội đến chiêm bái.

Dưới chân núi, một làng được lập ra gồm toàn những gia đình nông dân trưng canh ruộng đền, xuân thu nhị kỳ mang lên đóng góp sản vật đã thu hoạch được. Một số tiểu thương mở trà thất, cửa hàng bán đồ tế tự và kỷ niệm làm cho vùng này quanh năm lúc nào cũng có không khí sầm uất.

Hai thầy trò Thạch Đạt Lang đến chân núi thì đền đã bắt đầu vào hội từ hôm trước, nhưng đêm nay mới là đêm lễ chính. Quán trọ Phật Bà, nơi thầy trò Thạch Đạt Lang dừng chân tạm trú, đèn treo tự sao sa. Hai cây đuốc lớn cắm trên giá trước cổng cháy hừng hực, soi sáng cả một vùng hàng chục trượng. Hạo Nhiên nôn nóng muốn lên đền ngay sau bữa cơm chiều, nhưng thấy sư phụ còn thong thả bên khay trà nên không dám giục.

- Họ đã bắt đầu thúc trống rồi đấy !

Nghe đồ đệ nói lửng lơ, Thạch Đạt Lang dư biết Hạo Nhiên muốn gì. Hắn mỉm cười:

- Họ sửa soạn còn lâu chán ! Xem hội phải thong thả. Vội vàng hấp tấp nó mất thú đi !

Hạo Nhiên đi ra đi vào, mang dép của thầy đặt ngay ngắn trước cửa. Lại kiểm soát hai ống tre xem nước uống có đủ không và mấy chiếc bánh mua của quán hồi chiều đã bỏ vào bọc chưa. Nhìn lên núi, khách hành hương đông như kiến leo kín các bậc đá, nó quay đi giấu tiếng thở dài.

Đợi mãi, sau mới thấy Thạch Đạt Lang nói:

- Nào, ta đi !

Tựa con chó nhỏ xổng xích, Hạo Nhiên chạy vụt ra cửa. Trời tối dần. Sao lác đác trên nền trời đen sẫm và giải ngân hà bắt đầu hiện ra lờ mờ như vệt khói nhạt.
- Đông quá ! Đêm nay mà trời mưa thì hỏng bét !

Hạo Nhiên theo dòng suối người xô đẩy, quên cả Thạch Đạt Lang phía sau. Nó háo hức trèo, nhằm phía đèn lửa sáng trưng trên đỉnh núi tiến tới. Địa điểm hành lễ còn trống nhưng sáng rực như ban ngày nhờ hàng trăm cây đình liệu đã thắp sẵn cắm cách nhau chừng trượng một. Cờ xí đủ màu sắc sặc sỡ bay phần phật. Trống thúc liên hồi, tiếng đàn sáo lẫn với tiếng cười nói của đám đông khích động tinh thần nó vô kể.

Thạch Đạt Lang đi thong thả, hình như không quan tâm gì đến mọi người chung quanh. Thật ra hắn vẫn đề phòng. Cuộc đời hành hiệp của hắn nhiều ân oán, biết đâu một kẻ tiểu nhân nào đó đang rình rập, chỉ chờ cơ hội hắn sơ ý là ra tay. Thạch Đạt Lang luôn luôn đứng trên bờ vực của cái chết. Để sinh mệnh mình bị kẻ khác lấy đi một cách uổng phí, thật không gì hối tiếc hơn. Trong đám đông như thế này, Thạch Đạt Lang lại cần phải cảnh giác.

Nhìn tấm bảng gỗ ghi công đức những thí chủ cắm trước cổng đền, Thạch Đạt Lang bỗng chú ý đến hàng chữ lớn:

“Đại Cổ ở Nara”. Hắn nhớ ngay đến người đã dẫn Giang đi mất, cho đến nay vẫn không tin tức. Đột nhiên, tiếng Hạo Nhiên như kéo hắn về thực tại:

- Thầy ! Thầy coi gì vậy ? Sắp bắt đầu tế rồi !

- Ờ, ngươi cứ vào xem trước đi ! Ta có việc phải làm, sẽ vào sau.

Thạch Đạt Lang có chủ ý, muốn nhân dịp này đến gặp viên quản khố, hỏi thăm tin tức về Đại Cổ.

Lão quản khố ở sau đền đã già, nhìn khách lạ bằng đôi mắt hấp háy, dè dặt:

- Bần tăng không biết gì về chuyện này. Chỉ biết khách thập phương ai cúng vật gì thì nhập kho, thế thôi. Thí chủ muốn biết rõ xin hỏi vị thủ tòa.

- Thủ tòa ở đâu ?

- Ở hậu điện.

Đáp xong, dường như không muốn nghe hỏi lôi thôi gì thêm nữa, lão quản khố sập mạnh cửa trước mặt Thạch Đạt Lang và lẩn mất trong bóng tối của gian nhà kho rộng lớn.

Thạch Đạt Lang lắc đầu đi ra, tìm đến hậu điện. Trước một tấm cửa gỗ dày có ghi chữ “văn phòng thủ tòa”, hắn gõ cửa. Một vị tăng phong thái khắc khổ bước ra nghênh tiếp. Sau khi nghe hắn trình bày có việc liên quan đến người tên Đại Cổ ở Nara, vị tăng trịnh trọng dẫn hắn vào, mời ngồi trên bồ đoàn trong một gian phòng rộng, bài trí trang nhã. Trong phòng, nhiều tủ sách thấp trưng bày kinh Phật và vô số đồ cổ ngoạn.

Sa di bưng trà ra, rồi bánh, trái cây đang mùa và cả một bình rượu sa-kê thượng hạng. Tất cả đặt trên những khay sơn mài khảm xà cừ cực kỳ mỹ lệ. Thạch Đạt Lang không ngạc nhiên vì những món đồ đãi khách xa xỉ, nhưng ngạc nhiên vì sự tiếp đãi quá trọng hậu ấy.

Thủ tòa là một vị tăng trung niên, mập lùn, da đỏ hồng, xúng xính trong bộ thiền phục màu vỏ dà, bước ra chắp hai tay:

- A di đà Phật ! Thiểm tòa lại được cung nghênh thí chủ lần nữa. Cửa thiền cô lậu, chẳng có gì xứng đáng đãi khách, mong thí chủ đừng để ý.

Biết có sự nhầm lẫn, Thạch Đạt Lang vội cải chính:

- Tại hạ mới đến đây lần đầu. Tại hạ chỉ là một giang hồ lãng nhân muốn biết tung tích Đại Cổ tiên sinh ở Nara mà thôi.

Thái độ thủ tòa lập tức đổi khác. Ông nhìn Thạch Đạt Lang từ đầu đến chân, mặc dù ông chỉ đứng đến ngực hắn, cất giọng hách dịch:

- A ! Vậy thí chủ đến đây không phải để dâng cúng gì mà chỉ để hỏi tin tức một người khác đã dâng cúng vào đền thôi, phải không ?

- Dạ phải. Tại hạ chỉ có mục đích ấy !

- Thế tại sao không nói trước ?

- Tại hạ đã nêu rõ là việc có liên quan đến một người tên Đại Cổ chứ không hề nói cung hiến tài vật gì. Chắc có sự hiểu lầm.

- Vậy thí chủ là giang hồ khất sĩ đấy ! Ta chẳng biết và cũng chẳng muốn hỏi danh tính quê quán thí chủ làm gì, nhưng nói cho thí chủ hay bản tòa không bao giờ tiết lộ những tin tức như thế. Muốn biết điều gì cứ coi sổ.

Nói đoạn, hất hàm bảo sa di mang sổ tới. Thạch Đạt Lang liếc qua chỉ thấy ghi vỏn vẹn:

“Đại Cổ ở Nara, cúng ba lần, mỗi lần lạng”, ngoài ra không tin tức gì khác.

Bèn cảm ơn và bước ra cửa.

Buổi lễ đang hồi thịnh. Đoàn nhạc công áo vóc viền vàng, đội mũ cao nghệu, thổi sáo trúc, tiếng ríu rít lảnh lót như chim. Ca công đeo mặt nạ, vừa đi vừa múa hát một bài lễ ca, thỉnh thoảng lại đập vào mặt trống đeo trước ngực kêu “Bung ! Bung !” để giữ nhịp. Nhìn cảnh ấy, Thạch Đạt Lang tưởng mình đang sống lại thời thơ ấu đi xem hội đền Mimasaka ngày trước. Hắn như thấy hiện ra trước mắt cũng đám đông ấy, lẫn lộn giữa những người dân quên chen lấn nhau, nét mặt trắng hồn nhiên của Oa Tử, cái cười chân thật ngờ nghệch của Mãn Hà Chí, và cậu Ngô em bà Hồ Điểu đi đi lại lại dáng điệu quan trọng. Và mờ ảo như sương khói, mẹ hắn lo lắng đến tìm hắn sợ hắn về khuya.

Tiếng trống cái càng lúc càng dồn dập. Khúc ca đổi khác, điệu múa nhanh hơn, rồi quay cuồng như trong một cơn lốc, cả đoàn vũ công chạy tròn quanh sàn gỗ, những chiếc mặt nạ lắc lư, kệch cỡm nhìn đám người lố nhố đứng dưới sàn qua đôi mắt trắng dã ghê sợ. Thạch Đạt Lang biết cảnh này. Hắn cũng thuộc cả lời của khúc ca diễn tả những khổ hình dưới âm ty trừng phạt kẻ báng bổ thần linh. Hắn nhìn hai tay người đánh trống cái. Đột nhiên, sự phát hiện nổ ra như tiếng sét. Hắn nín thở.

- Phải rồi ! Phải rồi ! Song kiếm !

Thạch Đạt Lang mừng rỡ hét lên. Vài người đứng gần quay đầu lại tưởng hắn điên, nhưng rồi sự ngạc nhiên của họ cũng qua mau. Tiếng hét của hắn chìm ngay vào âm thanh cuồng loạn của điệu nhạc và những tiếng chân dậm thình thịch trên sàn gỗ.

Hạo Nhiên ngồi vắt vẻo trên cành cây ngay trên đầu Thạch Đạt Lang nhìn xuống:

- A ! Thầy đã đến ! Con ở trên này, thầy !

Thạch Đạt Lang chẳng nghe thấy gì. Mắt hắn chăm chú dán vào đôi tay kẻ đánh trống. Không phải trong sự mê say âm hưởng của loại nhạc khí cổ điển này nhưng hoàn toàn bị khích động bởi đôi dùi trống.

- Phải rồi ! Hắn lẩm bẩm. Đôi dùi trống và song kiếm ! Cùng một nguyên lý. Hai chiếc dùi trống, một tiếng phát ra.

Thạch Đạt Lang khoanh tay, đăm đăm quan sát từng cử động của người đánh trống.

Thật là giản dị. Người ta sinh ra có hai tay, tại sao không dùng cả hai ? Trong cuộc giao đấu, mọi người thường chỉ dùng một kiếm, mãi rồi thành quen, thành lệ. Nếu cầm kiếm tay phải, tay trái sẽ không còn thuần thục nữa. Cầm kiếm cả hai tay, lợi biết bao nhiêu. Trước đây, trong trận chiến dưới gốc cổ tùng, hắn đã dùng cả hai kiếm, trường kiếm tay phải, đoản kiếm tay trái. Nhưng đó là một hành động phá lệ, không chính thống. Đối diện cái chết trước mắt, như một con thú bị dồn vào chân tường, hắn phải tận dụng mọi phương tiện và khả năng để tự cứu. Bây giờ, hắn thấy hành động ấy thật tự nhiên, nếu không nói là muốn chiến thắng mà không hành động như thế thì thật dại dột.

Trong binh pháp, không một võ tướng nào cầm quân lại dại dột chỉ bảo vệ một bên sườn đạo quân của mình, còn sườn bên kia bỏ trống. Tại sao một kiếm sĩ đơn độc lâm trận lại chỉ cầm kiếm một tay ? Sự phi lý ấy hẳn do tập quán. Tập quán đã khiến một hành động tự nhiên của con người trở thành không tự nhiên, tỉ như đi bằng một chân vậy. Tập cho quen thì đi một chân cũng được nhưng sao bằng hai chân ?

Khi lằn ranh giữa sự sống, chết nhỏ như sợi tơ, hắn đã hành động tự nhiên bằng cách dùng cả hai kiếm, một hành động dáng lẽ hắn phải làm hàng ngày, mà làm một cách thuần thục. Đời kiếm sĩ buộc hắn luôn luôn đi trên lằn ranh ấy, sao hắn ngu ngốc cứ đi bằng một chân ?

Dùng song kiếm chính là phương thức tự nhiên, không tránh được của một kiếm sĩ để tự bảo vệ sinh mệnh. Tuy là một hành động có ý thức như phải tập luyện, khai triển cho hai kiếm thuần thục, bổ túc cho nhau để trở thành một phản ứng vô thứ c, như ăn ngủ, thở hit không khí. Thạch Đạt Lang nhìn hai chiếc dùi trống. Người đánh trống ý thức dùi nào tay phải, dùi nào tay trái, nhưng khi đánh trống đã hoàn toàn hành động một cách vô thức:

tay này đập, tay kia gõ; tới lui, lên xuống, hòa hợp đúng với âm điệu của khúc nhạc.

Hai dùi trống, một âm hưởng.

Đột nhiên, hắn thấy trải ra trước mắt quan niệm thiện ác của nhà Phật. Dưới mắt đại đồng của đức Phật, thiện ác như hai đứa trẻ sinh đôi cùng một vú mẹ, như cặp âm dương, tuy mâu thuẫn đấy nhưng chẳng hề bao giờ rời nhau. Phải biết vượt lên trên cả ác lẫn thiện thì mới mong siêu thoát. Ở khía cạnh này, kiếm đạo khác gì thiền đạo ? Thạch Đạt Lang bỗng cảm thấy vui sướng vô cùng, như người hốt nhiên vừa tỉnh ngộ.

Một cành khô nhỏ rớt lên đầu. Hắn ngước mắt nhìn. Thấy Hạo Nhiên đang còn mải mê xem, hắn bắc loa tay gọi:

- Hạo Nhiên ! Liệu về thôi ! Ngay mai ta còn phải vào trong núi.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau