THẠCH KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thạch kiếm - Chương 66 - Chương 70

Chương 66: Giang hồ quen thói

Họ Hòa Giả thiên đến Tân đô, ở một tòa lâu đài đồ sộ, lũy cao hào sâu, xứng đáng là tư dinh của sứ quân một thời đã làm cho Tôn gia phải kính nể.

Nhưng Hòa Giả Nghị, vị trưởng tộc, không ngụ tại lâu đài. Sau nhiều năm chinh chiến, ông muốn hưởng cuộc sống an nhàn tại cổ thành Osaka, nơi sinh quán, để uống trà làm thơ và chơi cây cảnh. Mọi quyền hành giao cho con trai trưởng, Hòa Giả Đạo Uẩn nắm giữ. Hòa Giả Đạo Uẩn tuổi mới ngoài hai mươi, đã chứng tỏ có tài cai trị khôn khéo và thích nghi với chính tình mới có phần hơn cả các bậc trưởng thượng từ xưa chỉ quen quy luật chiến tranh. Những chính sách khôn ngoan làm thay đổi bộ mặt lãnh địa, sở dĩ thực hiện được là nhờ sự cương quyết và nhìn xa của tân chủ soái, nhưng tất nhiên cũng phải kể đến công của các phụ tá kinh nghiệm và sáng suốt khuyến nghị.

Điền Xán Quang chính là một trong số các phụ tá tin cẩn ấy mà Hòa Giả Nghị đã đích thân chọn lọc và chỉ định đến Tân đô làm tham vấn cho Đạo Uẩn.

Sáng hôm ấy, như thường lệ, ông sửa soạn đến tư dinh, bỗng gia nhân vào báo có kẻ muốn xin tham kiến. Thì ra là một tùy viên tên gọi Cao Mục Lân.

- Ngươi có việc gì ?

- Tiểu nhân muốn cầu một ân huệ, xin đại nhân giúp cho.

Điền Xán Quang nhướng mày ra ý hỏi.

- Đại nhân vẫn thường đàm đạo với thiếu gia. Nếu có dịp nào tiện, xin đề bạt cho một người.

Điền Xán Quang mỉm cười. Ở nhiệm vụ tham kiểm ông giữ, những kẻ thuộc quyền và thân hữu hay nhờ cậy ông giới thiệu kẻ này người nọ vào những chức vụ còn trống.

Nhưng thường ông rất ngại. Có người ông chưa biết rõ khả năng và đức độ, có người ông biết nhưng lại không thích hợp.

- Ai thế ? Ngươi biết rõ không hay lại chỉ là một gã phiêu lưu lo tìm công danh thì nhiều mà tinh thần phục vụ thì ít đấy ?

- Không. Gã này còn trẻ, bà con bên tiện nội, sinh quán ở Iwakuni tỉnh Suo, đến tá túc tại tệ xá đã hơn hai năm nay.

- Iwakuni ? Trước khi xảy ra trân Sekigahara, tỉnh Suo thuộc gia tộc Lưu Hòa cai trị.

Phải gã là kiếm sĩ của tộc đó chăng ?

- Bẩm không phải. Gã tên gọi Cát Xuyên Mộc, cùng với Y Tô Gia Nghĩa là hai môn đồ nổi tiếng của danh kiếm Cổ Tư Nhiễm Chúc. Gã có tài đặc biệt rút gươm nhanh cực kỳ, chém đứt cánh nhạn đang bay ...

Điền Xán Quang lắng tai. Viên cận vệ đem hết sở trường của người hắn nhờ đề bạt ra khoa trương:

nào chiêu trảm nhạn Cát Xuyên Mộc thi triển ra sao, chiêu chiết liễu gã khổ công luyện tập thế nào, thao thao như người đích thân sử dụng những đường kiếm ấy vậy.

Tuy lắng tai, nhưng Điền Xán Quang không khỏi không liên tưởng đến một việc xảy ra trước đây hai năm tại một làng nhỏ vùng Hotengahara khi ông công du qua đấy.

Một nông dân đã một mình một kiếm giết hết bọn cướp từ trên núi đổ xuống vơ vét, sau đó lại tổ chức dân làng tự vệ chống cướp, hữu hiệu đến độ không một tên thảo khấu nào dám lai vãng quấy phá nữa. Kẻ thuật lại bảo người đó là một nông dân đần độn nhưng Điền Xán Quang không tin. Cho người đó phải là kẻ có tài, không muốn phô trương mà lại có óc thực tế, ông bèn đem chuyện thuật lại với Hòa Giả Đạo Uẩn, nhưng không thấy chủ soái có lệnh gì đặc biệt nên sau đó cũng quên đi. Nay nghe Cao Mục Lân tán dương người bà con của hắn, ông hỏi thêm cho rõ:

- Cát Xuyên Mộc có làm ruộng ở vùng Hotengahara bao giờ không ?

- Không. Tiểu nhân không nghe nói.

- Được rồi, để coi. Nếu có dịp, ta sẽ giúp.

oo Ở thao trường, Hòa Giả Đạo Uẩn đang tranh tài với một số tùy tướng cùng lứa tuổi về môn bắn cung thì Điền Xán Quang bước vào. Nhìn tư thế và phong cách của thiếu chủ, ông không thể không khen thầm. Phong cách trang nghiêm, tư thế vững chãi, tay áo bào lụa đen vén cao để lộ những bắp thịt cuồn cuộn, mắt nhìn thẳng hồng tâm, chẳng trách tên bắn đi mười lần trúng cả mười. Có người bảo Đạo Uẩn quá chú trọng đến môn bắn cung là một môn không mấy thích hợp với thời đại của hỏa khí và trường thương thì Đạo Uẩn chỉ đáp vắn tắt:

“Tên của ta nhắm mục tiêu tinh thần”. Nhìn Đạo Uẩn luyện tập, Điền Xán Quang tiếc đã hứa giúp đề bạt người của Cao Mục Lân. Một lãnh tụ như Đạo Uẩn không dễ gì chấp nhận sự tầm thường.

Thấy Điền Xán Quang, vị tiểu lãnh chúa niềm nở:

- Kìa Điền tiên sinh ! Đến sớm thế ? Hay tiên sinh muốn thử tài với vãn sinh đấy ?

- Đâu dám ! Vả lão phu đã tự hứa chỉ so tài với những người đồng tuế.

- Tiên sinh hẳn chê vãn sinh còn con nít ?

- Không phải vậy. Điền Xán Quang nói chữa. Thiếu gia hiểu lầm rồi ! Lão phu đã già, lâu nay ít luyện tập, tranh tài với một trang thanh niên dũng nhuệ có kỹ thuật điêu luyện như thiếu gia thì sao gọi là công bằng được ?

Mọi người trong sảnh cười ha hả. Đạo Uẩn cũng cười, đoạn rửa tay chỉnh y phục, cùng Điền lão sánh bước vào hậu đình.

- Tiên sinh cần gặp vãn sinh có việc gì ?

- Cũng chẳng có việc gì quan trọng.

Đoạn, sau khi trình bày vài việc thông thường, Điền Xán Quang nói:

- Có người nhờ lão phu đề bạt lên thiếu gia một kiếm sĩ.

- Ai thế ?

- Hắn còn trẻ, tên Cát Xuyên Mộc, người tỉnh Suo. Nghe nói có tài về kiếm thuật.

Đang lơ đãng nhìn ra xa, Đạo Uẩn quay lại chú ý:

- Cát Xuyên Mộc ? Tên nghe quen quen. Tiên sinh biết gã không ?

- Lão phu không rõ lắm, nhưng là học trò của Cổ Tư Nhiễm Chúc.

- Ý tiên sinh thế nào ? Sao không gọi đến thử ?

- Thiếu gia chọn người đã biết chúng ta không những chú trọng về võ thuật mà còn phải có đạo đức và kiến thức nữa.

- Đúng vậy, nhưng đừng bỏ lỡ dịp. Theo thiển ý, tiên sinh cứ cho triệu cả hai đến khảo sát xem sao.

- Cả hai ? Sao lại cả hai ? Còn ai nữa ?

- Thế tiên sinh quên rồi chăng ? Năm ngoái, vãn sinh có nghe kể câu chuyện một nông dân đuổi cướp ở vùng Hotengahara. Người đó xem ra cũng có tài đấy. Tên hắn là gì nhỉ ? Thạch Điền ...Thạch Điền Đạt Lang thì phải !

- Ồ, thế ra thiếu gia vẫn nhớ chuyện ấy !

- Nhớ chứ ! Chẳng biết bây giờ hắn còn ở Hotengahara không ?

- Lão phu cũng không rõ. Thấy thiếu gia không hỏi gì đến, tưởng ngài không quan tâm.

- Để một nhân vật như vậy lọt vào tay kẻ khác mà không xét thì uổng lắm.

- Lỗi tại lão phu. Nhiều người cầu cạnh quá, lão phu chẳng muốn làm thiếu gia bận lòng.

- Đa tạ tiên sinh. Vãn sinh bận thật nhưng bỏ qua là bỏ qua những chuyện khác kia chứ người nào tiên sinh đã để mắt tới, sao vãn sinh lại không lưu ý được. Xin xét việc này ngay cho.

oo Tảng sáng hôm sau, Điền Xán Quang lên đường cùng với một tùy viên nhắm hướng Hotengahara thẳng tiến.

Ngày đi đêm nghỉ, đến nơi, chiều đã xế. Đồng Hotengahara bây giờ khác lạ. Trước kia đìu hiu hoang vắng là thế, nay xanh ngắt những ruộng kê non thoai thoải xếp thành bậc trên sườn đồi. Lại có chỗ giồng đậu, giồng bắp. Con suối sau khu rừng thưa đã được be lại, chia thành nhiều nhánh chảy vào các chỗ trũng tạo nên các hồ nhỏ điều hòa mực nước để từ đó dẫn vào tưới các ruộng kê.

Một con chim sơn ca thấy động vụt lên cao, tiếng hót lảnh lót. Cảnh thanh bình, sung túc như hiện ra trước mắt. Điền Xán Quang ngạc nhiên nói với người tùy tùng:

- Hotengahara là đây đấy ư ? Hơn hai năm trước, vùng này còn là hoang địa, ta đi qua chỉ thấy lau sậy, có đâu được như thế này !

Theo đường mòn dẫn đến chân núi Hitachi, cả hai vừa cho ngựa đi bước một vừa ngắm cảnh. Tuy một đôi chỗ chưa khai phá hết, cây mục còn rải rác trên nền cỏ dại, nhưng nói chung toàn vùng hiển nhiên đang trên đà phát triển. Xa xa, một đám nông phu vác cào, cuốc đứng tụ tập trước một căn lều.

Người tùy viên bỗng thốt lên như để lưu ý Điền Xán Quang:

- Đại nhân ! Ngài có thấy gì không ?

Điền Xán Quang nheo mắt, lấy tay che ánh nắng chiều chênh chếch:

- Hình như có toán nông phu đang hành lễ trước một căn miếu thì phải ...

- Dạ đúng. Tiểu nhân cũng thấy thế.

- Mình lại coi, nhân thể hỏi thăm tin tức. Ta biết gần đây có ngôi đền, tới tạm trú qua đêm được.

Bèn lỏng cương cho ngựa thong dong bước. Đến nơi, thấy khoảng hai chục nông dân vừa lễ xong, đứng trước một ngôi miếu nhỏ bằng gỗ mới dựng trên một cái gò cao.

Sau miếu là căn lều cũ đã được sửa sang lại. Miếu nhỏ quá, cửa miếu chỉ rộng bằng mặt chiếc bàn con, một người chui không lọt. Bên trong có pho tượng Bồ tát Quán Thế Âm đặt trên một cái kỷ với những đồ tế tự.

Toán nông phu dường như vừa thăm ruộng về, nông cụ đã được rửa sạch sẽ và đang sửa soạn lục tục rời khỏi nơi hành lễ.

Điền Xán Quang sai tùy viên gọi một gã nông phu còn trẻ lại hỏi. Anh ta ngần ngại bước tới.

- Miếu này thờ ai vậy ?

- Thạch Điền đại hiệp.

- Ủa ! Phải Thạch Điền Đạt Lang chăng ?

- Phải. Thạch Điền đại hiệp là đại ân nhân của chúng tôi. Các ngài là ai ?

- Chúng ta là những người trong dinh Hòa Giả muốn gặp đại hiệp. Phải chăng...

phải chăng đại hiệp đã ... quy tiên ?

- Không biết. Thạch Điền đại hiệp trước ở căn nhà này nhưng nay không còn ở đây nữa.

Thấy có khách lạ hỏi thăm, những nông dân khác xúm đến vây quanh, ồn ào mỗi người một câu nghe không rõ gì cả. Một nông phu giả phải bước ra, đỡ lời cả toán:

- Thạch Điền đại hiệp trước ở đây với một đồ đệ. Ngài là thiên sứ giúp chúng tôi đánh đuổi bọn sơn quỷ, lại còn chỉ bảo chúng tôi cách ngăn nước, lấy nước vào ruộng.

Khi thành công, chúng tôi đến tạ Ơn thì ngài đã về trời, nên lập miếu này thờ ngài và nhớ ơn ngài chỉ dạy.

Điền Xán Quang bước xuống ngựa, tần ngần nhìn gian lều cỏ cùng ngôi miếu con.

Ông hối tiếc đã chậm trễ, để lỡ cơ hội chiêu dụ một người tài đức về cho soái chủ. Ông quay bảo tùy viên:

- Thạch Đạt Lang là một kiếm sĩ giang hồ. Ta không biết mặt và cũng không rõ thân thế, nhưng ta tin đấy là một người mà tài năng và kiến thức ít ai bì kịp. Lại không ham danh lợi. Uổng quá !

Nhưng ông vẫn còn chút hy vọng. Quay sang người nông phu già, ông hỏi:

- Từ đây đến thiền viện Toku đi đường nào tiện ?

- Ngài cứ theo đường mòn này, qua suối rẽ trái một thôi thì đến.

- Cư sĩ Tuệ Tĩnh còn trụ trì ở viện không ?

- Dạ còn. Ngài bây giờ là chỉ đạo của cả khu này. Phải rồi, nếu các vị cần biết rõ thêm điều gì nữa thì cứ đến đấy mà hỏi.

- Cảm ơn lão trượng.

Nói xong, Điền Xán Quang và tùy viên lên ngựa. Toán nông dân cũng dần dần giải tán.

oo Nghe tin khách quý từ Tân đô đến, viện chủ Tuệ Tĩnh lật đật bước ra nghênh tiếp.

Hàn huyên xong, hỏi về lý do cuộc thăm viếng bất ngờ, Điền Xán Quang đáp:- Đệ muốn thăm tin tức của Thạch Điền Đạt Lang trước làm ruộng ở vùng này. Hỏi nông dân quanh đây, họ cho biết chỉ lão huynh mới rõ.

Tuệ Tĩnh buồn bã gật đầu:

- Thạch Đạt Lang bỏ đi đã non nửa năm nay, ngay sau khi thu hoạch vụ kê thứ hai. Thật là một vị anh hùng, kiên trì và cương quyết. Không nhờ Thạch Điền đại hiệp thì xóm tiều đã tan nát rồi mà cả vùng cũng không được thịnh vượng như thế này.

Rồi vị cư sĩ tóm tắt công trình của Thạch Đạt Lang kể cho Điền Xán Quang nghe.

Sau khi đánh tan bọn sơn quỷ, Thạch Đạt Lang tổ chức dân lành thành đoàn đội, đào hào, đắp lũy để tự vệ. Ngay năm ấy, dân làng còn phải chống chọi với hai bọn cướp khác nữa. Chết mất hai thanh niên, bị thương sáu người nhưng từ bấy giờ không tên cường khấu nào dám bén mảng tới xóm nữa. Nhưng đấy không phải là thành quả chính.

Điều quan trọng là Thạch Đạt Lang đã gây cho dân làng lòng tự tin ở sức mình để tự cường và tự túc. Chính Thạch Đạt Lang đã hô hào mọi người kết đoàn gom sức đắp bờ, be suối để phòng lụt và dẫn nước vào ruộng cho nên mới được như ngày nay. Năm đầu thu hoạch được một số kê, bắp khá; măn sau số thu hoạch tăng gấp đôi. Dân xóm mừng rỡ mở hội, mang đến tặng Thạch Đạt Lang mười hũ rượu, ngũ cốc và dê, gà nhưng Thạch Đạt Lang không nhận, tặng lại dân làng để dùng vào bữa tiệc. Chưa bao giờ xóm tiều lại có những ngày vui như thế.

- Họ cử lão tới tạ Ơn Thạch đại hiệp. Đại hiệp có nói sự thành công này do tinh thần kết đoàn và lòng quyết tâm của dân xóm chứ ông không có công gì, lại tặng lại dân xóm pho tượng Quan Thế Âm do ông điêu khắc những khi nhàn rỗi.

Mấy hôm sau, lão lại đến cùng với một số chức sắc, chủ ý rước đại hiệp tới ở hẳn trong xóm tại một căn nhà đã được thu xếp tươm tất trước, nhưng đến nơi thì Thạch đại hiệp đã đi rồi. Căn lều bỏ trống.

Mất mấy hôm dân chúng buồn rầu chẳng thiết làm ăn gì cả. Lão phải giải thích, khuyên họ chớ nên sao nhãng công việc thường nhật vì như thế trái với lời dặn của Thạch đại hiệp. Họ có lập căn miếu nhỏ, đặt pho tượng Quan Thế Âm trong đó và ngày hai lần, lúc đi làm cũng như lúc trở về, đến khấu đầu làm lễ tỏ lòng nhớ ơn ân nhân.

Nghe xong, Điền Xán Quang mơ màng nhìn ra xa. Ông mường tượng bóng người hiệp sĩ chưa hề quen biết, lòng ngẩn ngơ hối tiếc:

“Ta đã không tròn bổn phận với chủ soái. Biết bao giờ mới lại gặp được một người như thế ?” oo Hữu ngạn sông Sumida, trên ngã ba đường liên tỉnh dẫn đến Tân đô, người ta mới dựng một trạm canh thật lớn. Cổng cao, hai cánh bằng gỗ kiên cố chắn ngang đường, lính biên phòng ngày đêm thay nhau canh giữ và tuần tiễu suốt từ bờ sông đến chân núi.

Thạch Đạt Lang cùng đồ đệ đứng trong hàng chờ lính tuần kiểm soát. Ba năm trước, hắn cũng đã ghé qua đây, không gặp điều gì khó khăn nhưng tình thế mỗi ngày một tồi tệ hơn. Nhà cửa dựng thêm nhiều nhưng cái không khí thanh bình bây giờ không còn nữa.

- Anh kia ! Đến lượt anh ! Bước lại đây !

Thạch Đạt Lang tiến lại, giơ cao hai tay cho hai người lính tuần lực lưỡng, mặc quần da đi dép cỏ, lục soát.

- Vào thành làm gì ?

- Chẳng có chủ đích gì nhất định.

- Không có chủ đích gì ? Ngươi định nói đùa chăng ?

- Ô hay ! Thì ta là kẻ giang hồ nay đây mai đó, đến hay đi làm gì có chủ đích !

- Nói láo. Ai làm gì mà không có chủ đích. Hay là kẻ gian đấy ?

- Nếu vậy cứ cho là ta vào thành để cầu học cũng được.

Người lính lặng thinh, giở một quyển sổ lớn ra rồi vừa hỏi vừa ghi chép:

- Tên gì ? Bao nhiêu tuổi ? Sinh quán ở đâu ?

- Thạch Đạt Lang, hăm chín tuổi, sinh quán làng Miyamoto, tỉnh Mimasaka.

- Sư phụ là ai ?

- Không có sư phụ.

- Ai cho tiền ngươi đi đây đó ?

- Ta ăn nhờ ngủ đậu tại các đền chùa, đôi khi bạn bè giúp đỡ chút đỉnh. Cũng có lúc trồng trọt sinh nhai.

Ngẫm nghĩ một lát, người lính lại hỏi:

- Đến thành ở nhà ai ?

- Chưa biết. Chưa có địa chỉ nhất định.

- Vào thành phải khai chỗ trú ngụ. Không chỗ trú ngụ không được vào.

Thạch Đạt Lang nghĩ nếu cứ khai thật thì không bao giờ xong cuộc tra vấn cù nhầy này. Bèn nói đại:

- Ta ngụ Ở dinh Trúc Mộ đại nhân, trong phủ.

Trúc Mộ đại nhân chẳng ai khác, chính là Trúc Mộ Trung, trưởng nam Trúc Mộ Chính, một kiếm sĩ danh tiếng vùng Nara, nay đã lui về ở ẩn tại Trúc Lâm cốc. Ngưỡng mộ tài học và kiếm thuật nhà Trúc Mộ, lãnh chúa Tôn Điền Tùng Cương cử Trúc Mộ Trung vào giữ chức trung quân tham vấn trưởng và khi đặt bản doanh mới tại Tân đô, lại dành riêng một khu để làm tư dinh cho Trúc Mộ.

Để tránh một cuộc tra xét kéo dài, bất đắc dĩ Thạch Đạt Lang phải quyền biến nhắc đến tên Trúc Mộ Trung, hy vọng vị này biết đến hắn qua sự giới thiệu của thiền sư Đại Quán hoặc của chính Tôn Điền.

Quả nhiên khi nghe danh Trúc Mộ, người lính há hốc mồm. Tính danh đó hầu như có ma lực làm người lính sợ hãi. Gã đổi giọng lễ phép:

- Sao đại hiệp không nói trước ? Nếu biết đại hiệp có liên hệ với Trúc Mộ đại nhân, kẻ nô tài này đâu dám xét hỏi.

Người lính kia cũng đỡ lời:

- Bây giờ gian tế trà trộn trong dân chúng nhiều không kể xiết. Lệnh trên ban xuống là phải xét hỏi kỹ những kẻ giang hồ, xin đại hiệp bỏ qua cho.

Thạch Đạt Lang mỉm cười gật đầu cám ơn rồi ung dung dắt tay đồ đệ qua cổng hướng về phía bến đò. Hạo Nhiên hỏi:

- Sao họ đặc biệt khám xét kỹ những kiếm khách như chúng ta vậy thầy ?

- Họ sợ gian tế.

- Ngốc quá ! Gian tế dại gì ăn mặc như kiếm khách. Cứ mặc như nông phu hay thường dân khác, ai biết !

- Nói khẽ chứ ! Phải giữ mồm miệng. Chỗ này chẳng phải vùng Hotengahara đâu.

- Làm ta lỡ chuyến đò.

- Lỡ đò thì đợi chuyến sau, càng có thì giờ ngoạn cảnh núi Phú Sĩ.

- Ở Hotengahara cũng ngắm được núi Phú Sĩ, cứ gì ở đây !

- Ở đây khác. Núi Phú Sĩ thay đổi theo giờ, theo mùa, theo thời tiết, lại theo chỗ người đứng ngắm nữa. Nó còn đổi khác theo tâm trạng người đứng ngắm.

Hạo Nhiên lơ đãng nghe. Nó đâu có lưu tâm gì đến núi Phú Sĩ nên chẳng hỏi tại sao. Nó chỉ mong chóng vào thành, đến ở nhà Trúc Mộ đại nhân như lời thầy nó nói với người lính.

- Tối nay ta đến nhà Trúc Mộ đại nhân thật hả thầy ?
- Để ta xem đã.

- Nãy thầy nói vậy mà ?

- Ừ, nhưng không phải giản dị như thế. Trúc Mộ đại nhân giữ chức vụ rất lớn cạnh lãnh chúa đương nhiệm, gần như một vị đại thần trong cung, phải có giới thiệu mới được.

- Chắc ông ấy uy nghi, oai vệ lắm ! Lớn lên con cũng muốn được như thế !

- Uy nghi, oai vệ ?

- Dạ, uy nghi như ông ấy.

- Sao con nhắm thấp thế ?

Hạo Nhiên nhíu mày ngước nhìn thầy:

- Con không hiểu.

- Con hãy trông núi Phú Sĩ. Núi Phú Sĩ có uy nghi không ?

- Người ta so sánh với núi sao được ?

- Núi Phú Sĩ tuy uy nghi, oai hùng, bất di bất dịch nhưng vẫn giữ yên lặng. Con muốn trở nên một người phi thường sau này, tốt lắm. Nhưng hãy giữ yên lặng như núi.

Con làm nên việc phi thường, tự nhiên sẽ được nể trọng thật sự, không phải giữ chức vụ cao mới được nể trọng.

Những lời Thạch Đạt Lang chưa kịp thấm vào bộ Óc non nớt của thằng bé, thì tiếng ồn ào của chuyến đò ngang đã tới. Hạo Nhiên vui mừng chạy xuống bến.

Sông Sumida ở khúc này có nhiều điểm trái ngược:

chỉ trong một quãng ngắn, chỗ rộng chỗ hẹp, chỗ sâu chỗ nông. Khi nước lên, sóng đục ngầu dào dạt vỗ vào bờ. Khi nước xuống, dòng sông trong leo lẻo. Bến đò ở đầu một cái vụng nhỏ đá chờm ra ngoài.

Trời xanh, nước trong vắt. Ngồi bên mạn thuyền, Hạo Nhiên nhìn đáy sông thấy lờ mờ hình chiếc mũ sắt đã han rỉ. Tiếng khách quá giang ồn ào nó chẳng để ý, mải nhìn đàn cá nhỏ lội tung tăng vẩy trắng óng ánh như bạc.

Thạch Đạt Lang đảo mắt nhìn quanh. Con đò hầu mang đủ hạng người của đủ thành phần trong xã hội:

một người thợ mộc, bàn tay với những đốt to lớn giữ khư khư túi đồ nghề trong bọc; hai mã phu quần áo nhớp nhúa, nét mặt nhăn nhúm như trái táo phơi khô; ba ả kỹ nữ phấn son loè loẹt; một du tăng nón tu lờ che kín mặt, nhắm mắt ngồi tham thiền trong góc; một kiếm khách lang thang cũng như hắn, quần áo bạc phếch và bốn năm gã trai tráng có vẻ phu khuân vác, ngồi đứng hỗn độn, trò chuyện, chửi thề oang oang.

Đò cập bến, bọn họ tranh nhau lên, xô đẩy đám phụ nữ kêu om sòm. Chờ cho khách quá giang đi đã vãn, thầy trò Thạch Đạt Lang mới bỏ thuyền lên bờ. Được mấy bước, bỗng có tiếng người gọi giật:

- Tráng sĩ ! Tráng sĩ quên cái này !

Quay lại, thấy người kiếm khách đồng hành cầm một cái túi gấm đưa cho. Cái túi cũ đã rách miệng và những đường chỉ thêu viền bạc đã sờn nhiều chỗ. Thạch Đạt Lang lắc đầu:

- Không phải của tại hạ. Chắc của người nào bỏ quên.

Bỗng Hạo Nhiên chạy đến, giật ngay cái túi từ tay người khách lạ, nhét vào bọc rồi nói:

- Của tôi !

Khách nhìn thằng bé, trừng mắt:

- Tiểu tử này thật vô lễ. Muốn sống đưa nó lại cho ta rồi khấu đầu xin lỗi ba lần, ta sẽ trả.

Hạo Nhiên trề môi thè lưỡi chế nhạo. Khách nắm áo nó định làm dữ, nhưng Thạch Đạt Lang vội giơ tay ngăn lại, xin lỗi về sự lỗ mãng ấy của nó, lấy cớ con trẻ còn dại, xin khách bỏ qua cho.

Người kia quay nhìn hắn khinh bỉ:

- Ngươi tên gì ? Liên hệ gì với thằng bé này ? Chú hay anh nó ?

- Tại hạ là Thạch Điền Đạt Lang, sư phụ thằng bé này.

Người kia nhíu lông mày, nhìn Thạch Đạt Lang một chặp, đoạn bảo Hạo Nhiên:

- Liệu hồn ! Lần sau đừng trách.

Rồi lập tức quay gót bỏ đi.

- Khoan ! Thạch Đạt Lang gọi. Xin cho tại hạ hỏi một điều.

Lời lẽ ôn hoà cùng dáng điềm tĩnh của hắn khiến người kia đứng sững, e ngại, tay để vào đốc kiếm.

- Ngươi muốn gì ?

- Các hạ cho biết quý danh.

- Can dự gì đến ngươi ?

- Tại hạ đã nói tên khi các hạ hỏi đến. Dĩ nhiên tại hạ cũng phải được quyền biết danh tính người đã hỏi.

Người kia lại trừng mắt nhìn Thạch Đạt Lang từ đầu đến chân, rồi không biết nghĩ sao, đáp:

- Ta là Liêu Phong.

Thạch Đạt Lang gật đầu:

- Tốt lắm. Giờ các hạ đi được rồi !

- Ta sẽ không quên cuộc gặp gỡ này.

Nói xong khách bỏ đi không quay lại.

Hạo Nhiên thở phào. Nó nhìn sư phụ với ánh mắt thán phục. Thạch Đạt Lang bảo:

- Hạo Nhiên ! Sống ở thành phố khác với sống ở thôn quê. Ở thôn quê, ta làm bạn với cầy cáo; ở đây, xung quanh ta có nhiều người. Con phải để ý cách cư xử cho có lễ độ.

- Thưa thầy vâng.

- Nếu mọi người biết sống hoà hợp với nhau thì mặt đất này là tiên cảnh. Người ta ai cũng có phần xấu phần tốt, không biết kềm chế để phần xấu lộ ra làm hại kẻ khác thì mặt đất này là địa ngục. Lễ độ không phải là giả dối đâu, nó giúp ta loại bỏ những hành động xấu, không hợp với xã hội, để mọi người sống hòa đồng với nhau. Con hiểu rõ chưa?

Hạo Nhiên gật. Thạch Đạt Lang lại tiếp:

- Xã hội nào cũng được tổ chức nhằm mục đích duy trì sự hòa đồng ấy. Hành động của con vừa rồi thật đáng trách. Chuyện nhỏ, nhưng suýt nữa thành lớn. Chúng ta chưa biết rồi đây sẽ đi đâu, nhưng bất kỳ đi đâu, con cũng phải tỏ ra có lễ độ và tôn trọng người xung quanh.

Hạo Nhiên lí nhí một lời xin lỗi. Nó rút cái túi gấm ra đưa cho Thạch Đạt Lang:

- Thầy giữ hộ con. Con giữ sợ mất.

- Túi này cha con để lại phải không ?

- Vâng.

Thạch Đạt Lang nhớ đến công đồ đệ. Nhờ những kỷ vật trong túi này mà hắn đã qua được mùa mưa lụt đầu tiên tại đồng hoang Hotengahara. Những năm sau, trồng cấy có kết quả hơn, Hạo Nhiên đã chuộc lại được cái túi. Hắn chắc tiền bán con ngựa trước khi ra đi, thằng bé cũng đã gom cả vào đây. Giao cái túi cho hắn giữ, Thạch Đạt Lang biết đồ đệ tin mình lắm. Hắn chỉ phiền không có khả năng giữ tiền, nhưng vẫn mỉm cười bảo thằng bé:

- Cũng được, để ta giữ cho. Nhưng khi nào tiêu việc gì, con tự quyết định lấy. Tối nay con thích ngủ ở đâu ?

- Nếu không đến nhà Trúc Mộ đại nhân được thì ta tìm cái quán nào trọ tạm chứ !

Hạo Nhiên nhìn cảnh vật xung quanh thấy cái gì cũng khác lạ. Khu này thuộc về phía bắc ngoại thành Edo. Một cái chợ ngựa quy tụ hàng trăm con đủ giống và màu sắc thường xuyên họp ở đây. Lái buôn, mã phu tấp nập ra vào, ngựa hí vang rần. Kẻ mua người bán điều đình giá cả trong những quán trà, quán rượu hoặc quán ăn dựng la liệt xung quanh chợ. Họ đập tay vào nhau, dùng những tiếng lóng và thổ ngữ nếu không phải tay nghề thì khó mà hiểu.

Một người tuổi trạc trung niên cao lớn, dáng mạnh mẽ, râu quai nón rậm tới mang tai, mặc trang phục kiếm sĩ, cùng đi với hai gia nhân, len lỏi, xem xét hàng chục con ngựa. Gã chỉ trỏ, vạch khuyết điểm của từng con rồi kết luận:

- Về thôi. Hôm nay chẳng có con nào khá. Họ bán lừa chứ ngựa gì mà tồi thế. Mua loại này về để tập luyện sao được !

Ra đến cổng chợ, kiếm sĩ mua ngựa vô ý suýt đụng phải thầy trò Thạch Đạt Lang.

Vừa định ngỏ lời xin lỗi, bỗng gã khựng lại, ngạc nhiên lùi mấy bước:

- Ủa, Thạch Điền Đạt Lang ! Phải Thạch Điền Đạt Lang đó không ?

Thạch Đạt Lang cũng nhìn gã, rồi kêu lớn:

- Mạnh Đạt !

Quả người đó là Mạnh Đạt. Mặc dầu hắn và Mạnh Đạt đã trực tiếp so gươm ở đại lâu viên trong Trúc Lâm cốc sáu bảy năm trước nhưng Mạnh Đạt tỏ ra không mang một chút hiềm thù gì. Lại còn có vẻ thân thiện nữa.

- Không ngờ gặp đại hiệp ở đây. Đại hiệp tới Tân đô lâu chưa ?

- Tại hạ mới từ Shimosa đến. Lão nhân gia vẫn được bình yên chứ ?

- Bình yên. Nhưng ở tuổi đó cũng chưa biết thế nào. Xấp xỉ cửu tuần rồi còn gì !

Đại hiệp đã định trọ đâu chưa ?

- Chưa. Tại hạ cũng còn đang tìm ...

- Còn tại hạ thì ở ngay trong dinh Trúc Mộ đại nhân. Nếu có dịp, xin mời đại hiệp đến thăm, tại hạ rất hân hạnh được giới thiệu đại hiệp.

Rồi ghé tai Thạch Đạt Lang, Mạnh Đạt nói nhỏ:

- Còn chuyện nữa. Một bảo vật rất quý thuộc quyền đại hiệp đấy.

Gã mỉm cười bí mật:

- Đừng quên đến, càng sớm càng tốt.

Nói đoạn, cùng với gia nhân nhảy lên ngựa phóng đi mất.

Chương 67: Ma tâm pháp

Lữ quán Mã Đề thật xứng với tên gọi, vì có một dãy chuồng ngựa lớp xếp theo hình vòng cung, dựng lên để mã phu mang ngựa đến. Quán chia làm hai tầng ngăn thành nhiều phòng nhỏ, mỗi phòng trải được hai chiếu. So với dãy chuồng ngựa lớn vây quanh, nơi để khách trọ Ở chẳng khác gì một căn nhà phụ, nhưng được cái rẻ tiền.

Thày trò Thạch Đạt Lang chọn lữ quán này để trọ cũng vì lý do ấy. Vả lại, nếu đem so sánh với căn lều cỏ tại Hotengahara, quán này cũng còn sang chán ! Sau ba năm ở đồng hoang, quán nào đối với thầy trò hắn cũng tốt, dù đó chỉ là một lữ quán rẻ tiền, dành cho bọn mã phu và dân thợ.

Một người làm công dáng thô kệch chỉ Thạch Đạt Lang tới một căn phòng cuối dãy. Căn phòng trông ra hướng tây năm, nắng chiều gay gắt rọi qua khung cửa sổ trần mở rộng khiến không khí trong phòng oi bức khó chịu. Thấy có người vào, đàn ruồi trâu đồng loạt cất cánh bay lên, vo ve, đan đi đan lại loang loáng dưới tia nắng.

Thạch Đạt Lang cau mặt. Vài ngày trước, có lẽ hắn không thấy khó chịu như thế, vì nắng ấm khiến kê, lúa chóng chín. Ở ngoài ruộng rộng rãi, sau mỗi cơn gió nhẹ, nắng có vẻ ấm ấp hơn. Ngay cả những con ruồi cũng vậy. Khi hắn cuốc đất khó nhọc, mồ hôi đổ đầy mình, nếu có con ruồi nào đậu lên đầu lên cổ, hắn cũng chỉ nhẹ nhàng xua đi, coi như là những sinh vật làm công việc kiếm ăn hàng ngày mà thôi. Như hắn. Thế mà chỉ cách một vài ngày đường, qua mấy khúc sông vào trong sự náo nhiệt của đô thị, lòng con người đã đổi khác. Thạch Đạt Lang ngồi xuống chiếu, bên chiếc bàn thấp thô sơ, quên những điều bực dọc nhỏ nhặt để giữ lòng bình thản.

Đồ đệ hắn xếp gọn hành trang rồi ra đóng cửa sổ. Nhưng xem chừng cũng không kết quả. Không khí trong phòng càng ngột ngạt hơn.

- Hay để con gọi chủ đổi cho phòng khác ?

Thạch Đạt Lang gật đầu. Hạo Nhiên đi ra, lát sau dẫn vào một phụ nữ trạc trung niên, ăn mặc chải chuốt, dáng chững chạc có vẻ như là quản lý. Mụ đảo mắt nhìn quanh rồi bảo:

- Nếu không bằng lòng phòng này thì khách quan lên lầu hai, mát và đỡ ruồi hơn.

Lầu hai không đỡ ruồi nhưng quả có mát hơn đôi chút. Sau khi xếp dọn xong hành lý, Hạo Nhiên cảm thấy đói bụng. Mùi thức ăn từ phòng bên bay sang càng khiến ruột nó cồn cào. Nó hít hà:

- Hình như bên kia đang ăn mì nấu. Hay ta cũng gọi mì ăn hả thầy ?

Thạch Đạt Lang mỉm cười gật đầu. Hạo Nhiên vui mừng chạy ngay xuống lầu. Ở thôn quê, muốn ăn mì người ta gieo hạt ngay từ đầu xuân. Khi hạt nảy mầm, phải cào cỏ, tưới nước, bón xới để mùa hạ trổ bông, mùa khô gặt về phơi khô đập lấy hạt, xay thành bột rồi mới làm ra sợi mì. Ở đây dễ quá, chỉ việc vỗ tay gọi người hầu đến là có mì ăn. Thành ra dân kẻ chợ nhiều người chẳng biết cây lúa mì nó thế nào và chắc cũng chẳng mấy ai lưu tâm đến công khó nhọc của người nông dân trồng ra nó.

Thạch Đạt Lang đưa tay lên chiếc kỷ thấp, ngồi ngó mông lung. Tiếng ồn ào của phiên chợ đã vãn. Bên kia đường, người đi lại cũng bớt tấp nập. Bỗng một bảng gỗ mộc, trên viết hàng chữ đen nhánh:

“Ma tâm pháp - Vương Chính đảm trách mài giũa theo phương pháp chân truyền của Cổ gia”, làm hắn chú ý. Phương pháp của Cổ gia là phương pháp gì ? Người họ Cổ độc nhất hắn biết là Cổ Huy Đạo. Nghĩ đến Cổ Huy Đạo, hắn nhớ ngay tới nhà luyện kiếm kiêm nghệ sĩ tài hoa này với bà lão mẫu tại ngõ Kim Phong hắn đã tá túc khi còn ở Cổ thành.

Hạo Nhiên cũng vừa trở lại, đến ngồi bên sư phụ. Trông sang bên kia đường, thấy tấm bảng, nó tỏ vẻ không hiểu:

- Họ quảng cáo bán gì thế hả thầy ?

- Ta không rõ, nhưng đoán có lẽ họ mài kiếm theo một phương pháp riêng do họ Cổ truyền lại. Ma tâm là mài giũa tinh thần. Nếu coi kiếm là tinh hoa của võ thuật thì mài kiếm cho sắc cũng như luyện cho tinh thần linh mẫn. Chắc họ quảng cáo mài kiếm đấy thôi. Để xem, có dịp ta sẽ sang đấy. Nếu quả đúng, ta đưa họ chuốt lại lưỡi kiếm của ta luôn thể.

Món mì nấu chờ mãi chưa thấy mang lên. May nhờ có gió nhẹ, trời cũng đỡ nóng.

Thạch Đạt Lang thiu thiu ngủ, nhưng những tiếng cười nói ồn ào ở phòng bên đột nhiên làm hắn tỉnh giấc. Hắn bảo tiểu đồ:

- Hạo Nhiên ! Sang bảo họ bớt làm ồn để ta ngủ một chút.

Hạo Nhiên vừa kéo cửa bước vào, tiếng cười nói bỗng im bặt. Bốn người đang quây quần bên khay rượu quay mặt ra nhìn thằng bé, người nào cũng râu ria xồm xoàm, dáng dấp thô lỗ.

- Các bác hãy nói nho nhỏ, để thầy tôi ngủ.

- Cái gì ? Mày nói cái gì, thằng tiểu quỷ ?

Bị gọi một cách xấc xược là tiểu quỷ, Hạo Nhiên tức giận:

- Ai là tiểu quỷ ? Chúng tôi thuê phòng để được yên tĩnh, các bác làm rộn như vậy, không để ai nghỉ ngơi gì hay sao ?

- Mày nói vậy hay thầy mày bảo mày sang đây nói vậy ?

- Thầy tôi bảo.

Cả bọn cười hô hố. Một gã to lớn cất giọng khinh bỉ:

- Thế hả ! Vậy mày về bảo với thầy mày đợi đấy, ta là Mã Tiên đại ca sẽ trả lời sau. Mã tiên là cái roi ngựa. Hay muốn ăn roi ngựa thì bảo !

Nhìn dáng điệu dữ dằn của cả bọn, Hạo Nhiên ngại không dám đứng lâu, lùi ra ngoài, lủi thủi về phòng. Bài học lễ độ Thạch Đạt Lang dạy nó trên bến sông Sumida xem chừng không phải người nào cũng biết. Phòng thầy trò Thạch Đạt Lang và phòng của bốn gã kia chỉ được phân cách bằng một bức vách mỏng. Tiếng cười nhạo báng và những lời khích bác tục tằn vang đến Thạch Đạt Lang nghe rõ mồn một.

- Thằng ấy tên gì, tao quên không hỏi, nhưng ai thì cũng phải nể mặt chúng ông chứ ! Nó làm như quán này là nhà nó vậy !

- Phải cho nó biết tay.

- Dẫn nó ra sau nhà, đổ vào mồm nó vài gáo nước đái ngựa cho nó chừa thói hỗn láo đi.

- Ha ha ! Phải đấy ! Cho nó uống nước đái !

- Để tao. Tao sang trói nó lại bắt làm giấy xin lỗi rồi mang ra sau nhà. Thằng này !

Kiếm cái gì đựng nước đái trước đi nghe không !

Hạo Nhiên cau mặt nhìn thầy như hỏi ý. Ba năm theo Thạch Đạt Lang, nó đã được sư phụ dạy cho cách vận khí, luyện công, sử dụng quyền cước và kiếm thuật. Thủ pháp của nó đã tiến bộ nhiều, những chiêu kiếm phóng ra cũng chính xác hơn trước, nhưng vì tuổi còn nhỏ nên không đủ bình tĩnh. Vả lại chưa dịp nào so tài với một địch thủ thật sự nên nó e ngại. Hạo Nhiên nhìn thầy chờ lệnh; Thạch Đạt Lang chỉ đưa mắt mỉm cười không nói năng gì.

Hai bát mì với một hũ rượu nhỏ mới được mang tới đặt trên mặt kỷ còn nóng hổi.

Thạch Đạt Lang khẽ bảo học trò:

- Ăn đi con. Ta thấy đói bụng lắm rồi !

Chưa kịp hết câu, cánh cửa đã xịch mở. Gã to lớn có tên là Mã Tiên ở phòng bên khệnh khạng bước vào. Hạo Nhiên nói khẽ:

- Nó đấy ...

Gã to lớn cười khềnh khệch.

- Chú kia ! Khoan ăn đã. Chú có biết ta là ai không ?

Thạch Đạt Lang điềm tĩnh lấy đũa khều những sợi mì trong bát, làm như không để ý đến kẻ mới vào.

Mã Tiên lại nói:

- Khoan hãy ăn. Đừng tưởng làm thế mà giấu được sự sợ hãi của ngươi, không qua mắt ta được đâu !

- Hả ? - Thạch Đạt Lang vờ không hiểu, ngước lên - Ngươi là ai, đến có việc gì ?

- Chỉ những thằng ngu, hoặc vừa đui vừa điếc mới không nghe đại danh của ta mà thôi. Cả vùng này không ai không rõ ...

- Ta có hơi lãng tai. Ngươi hãy nói to chút nữa. Tên gì ? Ở đâu đến ?

- Hừ ! Thằng này muốn chết ! Đã thế thì trước khi chết, ta cũng cho ngươi biết tên để khỏi hối tiếc. Ta là Mã Tiên đại ca, chuyên môi giới lừa ngựa. Khắp vùng Chichibu này ai cũng kiêng nể. Con nít thấy ta không dám hó hé.

Thạch Đạt Lang cười khẩy:

- Vậy là lái ngựa rồi !

- Lại nói cho ngươi hay, ta cung cấp ngựa cho tướng phủ đó. Liệu hồn mỗi khi tiếp xúc với ta ...

- Tiếp xúc ? Tiếp xúc cái gì ?

- Sao ? Phải ngươi sai thằng nhỏ này sang quấy rầy chúng ta không ? Quán này đâu phải khách sạn. Muốn yên tĩnh thì ở nhà, chúng ta lái ngựa thích nói to, được không ?

Giọng Mã Tiên hằn học, mặt gã đỏ gay, bóng loáng. Mấy giọt mồ hôi từ trên trán chảy ngoằn ngoèo xuống tận chân mày, gã giơ tay quệt rồi nghĩ sao, rút ngay dao găm cài bên sườn ra cầm lăm lẳm.

- Ngươi phải lập tức xin lỗi.

Thạch Đạt Lang ngừng đũa, ngẩng nhìn Mã Tiên, mặt đanh lại:

- Xin lỗi cái gì ?

- Xin lỗi đã làm rộn cuộc vui của anh em chúng ta !

- À ra thế ! Mã Tiên, phải tên ngươi là Mã Tiên không ? Hãy trông đây rồi cho biết ngươi làm được như thế này chăng.

Vừa hết câu, bỗng xoét một tiếng, Thạch Đạt Lang thình lình rút đoản kiếm. Ánh thép loáng lên dưới tia nắng, ba vật đen lả tả rơi xuống chiếu. Chưa ai biết rõ là gì, Thạch Đạt Lang đã tra kiếm vào vỏ nhanh trong chớp mắt. Trông kỹ những vật đen trên chiếu thì ra ba con ruồi trâu. Hắn thản nhiên bảo đồ đệ:

- Hạo Nhiên ! Nhặt mấy con ruồi vất ra ngoài rồi lau chiếu cho sạch !

Mã Tiên há hốc mồm. Chưa bao giờ gã thấy ai xuất thủ thần tốc như vậy. Kinh hãi cực kỳ, gã lui dần ra cửa.

Khi Hạo Nhiên trở lại, phòng bên chỉ còn nghe vài tiếng thì thào khe khẽ. Lát sau yên lặng như tờ, có lẽ bọn lái ngựa đã rút đi cả. Hai thầy trò cười thỏa mãn, ăn xong mì thì trời vừa tối. Trăng thượng tuần lấp ló sau những mái nhà mới lợp đơn sơ. Đâu đây vài tiếng ngựa dậm chân đuổi muỗi và hí nho nhỏ.

Thạch Đạt Lang nói:

- Ta sang nhà bên kia xem có đúng là xưởng mài kiếm không, ở nhà đóng cửa lại, kẻ tiểu tâm hay thù vặt, nên cẩn thận đề phòng.

Đoạn, xốc áo xách kiếm ra đi. Nửa thang gác, gặp mụ quản lý hối hả bước lên:

- Khách quan phải là Thạch Điền Đạt Lang ở Miyamoto chăng ?

- Chính thị !

- Vậy có thư đây !

Cầm cuốn thư, định bật niêm, hắn bỗng sực nhớ, hỏi:

- Người mang thư còn đấy không ?

- Không, đi rồi.

Ngạc nhiên không hiểu ai đã biết chỗ trọ của mình sớm thế, Thạch Đạt Lang muốn hỏi thêm nhưng nghĩ chẳng ích gì, lại thôi. Hẳn cảm ơn mụ quản lý rồi trở lại phòng mở thư ra đọc. Thì ra của Mạnh Đạt. “Trúc Mộ tướng công rất vui mừng khi được tin các hạ đến Tân đô. Ngài ủy cho tại hạ viết thư này ân cần mời các hạ vào dinh hội kiến. Xin chớ để ngài thất vọng”.

Không do dự, Thạch Đạt Lang gọi lấy giấy bút phúc đáp ngay, đại ý nỏi rất cảm kích vì sự lân ái của Trúc Mộ và sẽ đến bái kiến nếu được nhà danh kiếm này đích thân chỉ dẫn cho một vài tuyệt kỹ. Để tránh ngộ nhận, hắn giải thích:

“Tại hạ bôn tẩu giang hồ cốt cầu học. Nếu không được mở đường chỉ lối cho, thì đâu dám bận đến các vị tiền bối”.

Viết xong, gọi Hạo Nhiên đến:

- Ta nhờ con đưa thư này cho một người tên Mạnh Đạt ở phủ Trúc Mộ. Đường đi ta không rõ lắm, nhưng hẳn không xa. Con là đứa trẻ tháo vát, chắc làm được. Phủ Trúc Mộ tất nhiều người biết.

Được sư phụ giao phó trách nhiệm, Hạo Nhiên hãnh diện:

- Con làm được. Thầy cứ tin ở con.

Đoạn mặc áo, xỏ dép, hăng hái theo Thạch Đạt Lang ra ngoài.

oo Căn nhà gỗ của Vương Chính không có vẻ gì là một xưởng mài kiếm. Mặt tiền cũng không phải là một cửa hàng nữa, vì ngoài cái bảng gỗ quảng cáo ra, không thấy có chỗ nào trưng bày bất cứ cái gì cả. Mà cái bảng quảng cáo đề chữ “Ma tâm pháp” càng bí hiểm nữa, khiến ai muốn đoán và hiểu thế nào cũng được.

Thạch Đạt Lang bước vào. Căn nhà vắng teo. Một cái bình phong che sơ sài gian ngoài cho thấy bên trong là một phòng hẹp, hơi tối. Bên trái có hành lang chạy hun hút sâu đến đâu không rõ. Trong phòng kê một chiếc tủ thấp, trên sàn trải chiếu và trên chiếu một người nửa ngồi nửa nằm, mặt hơi nghiêng ra phía ngoài, đầu gối lên một cái tráp.

Thạch Đạt Lang nhìn người đó, không đoán được bao nhiêu tuổi và cũng không biết được là gã đang làm gì, ngủ hay tĩnh tọa. Ngọn đèn leo lét để trên tủ chiếu ánh sáng lờ mờ trên khuôn mặt vàng bủng khiến sắc diện gã bềnh bệch như đất sét. Trông gã, Thạch Đạt Lang liên tưởng đến hình một đạo sĩ vẽ trong những bức cổ họa.

Hắn hắng giọng. Người kia dường ngủ say, chẳng có phản ứng gì. Hắn gọi to hơn:

- Chủ nhân ! Chủ nhân !Bấy giờ mới thấy người kia từ từ quay đầu ra, như có vẻ cố gắng lắm mới thoát khỏi giấc mộng dài hàng thế kỷ. Gã lấy tay chùi nước dãi bên mép, đoạn thong thả ngồi dậy ngước nhìn Thạch Đạt Lang:

- Khách muốn điều gì ?

- Phải chủ nhân quý danh là Vương Chính, chuyên mài kiếm chăng ?

- Phải, mài kiếm và tâm con người.

Thạch Đạt Lang có cảm tưởng gã Vương Chính này, nếu quả thật là tay chuyên môn mài kiếm thì chỉ làm cho kiếm nhụt đi mà thôi. Nghĩ vậy hắn cười thầm, nhưng cũng cứ nói rõ mục đích của mình.

- Xin cho xem kiếm.

Kiếm vừa đưa ra, Vương Chính chồm hẳn người lên, hai tay đỡ lấy, trân trọng, vui mừng như gặp bạn quý.

“Kỳ thật ! Gã này thấy người thì lạnh nhạt mà thấy kiếm thì trọng vọng !”. Thạch Đạt Lang nghĩ, “Cũng lạ !”.

Vương Chính đến bên đèn, khêu cho sáng, rồi tay trái cầm bao kiếm, tay phải nhè nhẹ rút lưỡi kiếm ra. Cầm kiếm thẳng đứng trước mặt, gã chăm chú quan sát kỹ càng từ chuôi kiếm đến mũi kiếm. Thạch Đạt Lang thấy mắt gã sáng rực như đôi mắt thủy tinh của pho tượng Di Lặc trên chùa. Bỗng “cắc” một tiếng khô khan, lưỡi kiếm được tra ngay vào bao, nhanh và mạnh khiến Thạch Đạt Lang giật mình. Vương Chính quay sang nhìn hắn:

- Mời khách vào trong này !

Thạch Đạt Lang tháo dép, bước lên chiếu. Vương Chính lùi lại nhường chỗ rồi đẩy một cái gối tới mời ngồi.

- Kiếm này thuộc gia đình khách đã mấy đời ?

- Tại hạ không biết. Đó không phải là đồ gia bảo mà cũng chẳng phải danh kiếm gì.

- Khách đã mang nó ra trận hay chỉ dùng thường ngày ?

- Dùng thường ngày. Nó chẳng có gì đặc biệt, nhưng có cũng còn hơn không.

- Hừ ...

Rồi nhìn thẳng mắt Thạch Đạt Lang, gã hỏi:

- Qúy khách muốn mài nó thế nào ?

Thạch Đạt Lang ngạc nhiên:

- Muốn mài thế nào ? Chủ nhân hỏi vậy là có ý gì ?

- Chắc quý khách muốn mài thật sắc ?

Thạch Đạt Lang cười:

- Dĩ nhiên rồi. Kiếm thì càng sắc càng tốt, còn mong gì hơn nữa !

Vương Chính thở dài:

- Quả vậy ! Qúy khách cũng như mọi người, ai cũng nghĩ thế ...

- Vì đó là lẽ thường. Vả lại chủ nhân chẳng phải là kẻ chuyên môn mài kiếm ư ?

Hà tất ...

Không để Thạch Đạt Lang nói dứt câu, Vương Chính đã lặng lẽ cầm ngược thanh kiếm trao trả lại hắn:

- Rất tiếc ! Kẻ này chẳng giúp gì được cho quý khách. Xin mang đi chỗ khác.

Thạch Đạt Lang lặng thinh, giơ tay đón thanh kiếm, cố giữ để không lộ vẻ phật ý.

Ngay lúc đó, một người mở cửa thò đầu vào:

- Vương huynh, đệ định đi câu mà cần lại gãy. Huynh có cần câu cho đệ mượn một buổi.

Vương Chính cau mặt:

- Không có ! Ta chẳng giữ những đồ sát sinh ấy trong nhà làm gì ! Đi chỗ khác mà mượn !

Điệu bộ và giọng nói của gã rõ ra vẻ khó chịu. Người khách thì đã bỏ đi, nhưng Thạch Đạt Lang nổi tính tò mò. Có lẽ gã này là một kỳ nhân thật, thiếu thông minh tế nhị, ghét nhân quần xã hội, nhưng lại quan thiết đến những vật vô tri. Bèn hỏi thẳng:

- Sao chủ nhân không muốn mài kiếm này ? Kiếm này xấu qua không đáng được sửa hay sao ?

Vương Chính lắc đầu:

- Hiển nhiên là không ? Khách đã dùng nó nhiều lần, tất biết đó là một thanh bảo kiếm vùng Bồ Điền. Khách muốn mài nó cho thật sắc để giết người cho ngọt chứ gì ?

- Dĩ nhiên ! Như thế có gì là xấu ?

- Phải rồi ! Mang kiếm sắc để giết cho ngọt thì có gì là xấu ! Kẻ mang kiếm tất nhiên phải thích thú chứ ...

- Ai mang kiếm cũng muốn kiếm mình sắc. Chủ nhân là kẻ mài kiếm ...

Vương Chính vội giơ tay ngăn lại, chỉ ra ngoài cửa:

- Khoan ! Kẻ này đâu có chủ ý mài kiếm. Xin đọc kỹ lại bảng cho:

“Ma tâm pháp” chứ không phải “Ma kiếm pháp”. Chữ rành rành ra đó, sao khách lại lầm ? Đa số những người mang kiếm lại đây cần được mài cái tâm trước khi mài kiếm. Họ không hiểu tại sao phải như thế, nhưng đó là điều căn bản kẻ này được giáo huấn trước khi học kỹ thuật mài kiếm.

Thạch Đạt Lang gật gù, nhìn gã chờ giải thích thêm.

- Cho nên, thấy người nào cầm kiếm mà không có cái tâm trung trực, khoan thứ thì kẻ này không mài kiếm cho.

- Hay lắm ! Vậy dám hỏi lệnh sư là ai ?

- Thì bảng ngoài kia cũng đã ghi rõ:

“Theo phương pháp Cổ gia”. Cổ gia là Cổ Huy Đạo tiên sinh, chắc quý khách có nghe danh ?

Thạch Đạt Lang thầm nghĩ:

“Quả không lầm ! Gã này thuyết chẳng khác gì ông già họ Cổ”, bèn đáp:- Không những nghe danh mà còn hân hạnh được biết đích thân Cổ tiên sinh cùng Cổ lão bá nữa. Tại hạ có tá túc tại ngõ Kim Phong một thời gian ...

Vương Chính ngạc nhiên tròn xoe mắt, lui lại một bước, nhìn Thạch Đạt Lang kỹ hơn:

- Xin thứ cho tội đường đột. Phải chăng quý khách chính là ...là ...người đã gây chấn động Cổ thành năm năm trước đây khi một mình cự với cả Hoa Sơn phái, và quý danh là Yết Mân Thạch Điền Đạt Lang ?

Thạch Đạt Lang hơi đỏ mặt:

- Quả vậy. Không ngờ tiện danh lại được chủ nhân lưu ý.

Vương Chính bối rối cúi đầu:

- Kẻ này thật có mắt cũng như không. Đáng lẽ chẳng được phép nói những lời vô ý thức như thế trước mặt một đại kiếm sĩ.

- Chủ nhân quá khen. Những điều tại hạ vừa nghe thật quý báu.

Phần thấy Thạch Đạt Lang tâm đầu ý hợp, phần nghe sư phụ đã nói nhiều đến vị kiếm sĩ anh hùng này, Vương Chính không ngần ngại đem những quan niệm về tâm và kiếm của mình ra luận. Gã thao thao:

- Đối với kiếm sĩ, kiếm với tâm là một. Nếu đi tìm cái tinh hoa của kiếm thuật thì lưỡi kiếm là cứu cánh, thể hiện sở học và tài năng của mình. Nhưng nếu vào đời hành đạo thì, cũng như vị chân tu nhập thế, kiếm là phương tiện bất tuyệt gìn giữ và khích lệ cái tâm. Tâm kiếm dựa nhau quan trọng là thế, cho nến kiếm sắc mà tâm nhụt thì chẳng làm được gì. Có người nói mục đích tối hậu của kẻ cầm kiếm là không dùng kiếm. Tại hạ cho là phải, nhưng muốn thế, phải giữ cái tâm cho ngay thẳng, độ lượng. Nêu chủ trương mài tâm trước khi mài kiếm.

Thạch Đạt Lang nhìn Vương Chính. Trong cơn nhiệt thành trình bày những suy tư của mình với người đồng điệu, mắt gã sáng như sao, hai gò má ửng hồng, vẻ ủ rũ và sắc diện vàng bệch không còn nữa. Hắn so sánh gã mài gươm này với một hũ rượu sa-kê bằng sành, tuy bên ngoài thô kệch nhưng rượu bên trong thơm ngon, làm lòng người ấm áp.

- Cổ tiên sinh có nói thấy thanh kiếm báu như được thấy ánh chân quang bảo vệ sự an hòa cho xã hội. Người không nói rõ nhưng hiển nhiên đã ẩn dụ cái tâm của kẻ cầm kiếm trong đó.

Thạch Đạt Lang gật đầu:

- Như vậy chắc khi thấy lưỡi kiếm của tại hạ, chủ nhân ghê sợ lắm nhỉ !

Vương Chính cười xòa:

- Cũng một phần nào. Quả thật khi quan sát lưỡi kiếm của khách quan, kẻ này thấy có khích động. Từ khi đến Tân đô mở xưởng này, nhiều người đã mang kiếm đến nhờ sửa, nhưng phần lớn chỉ quan tâm làm sao cho kiếm thật sắc bén để giết người cho nhiều, cho ngọt. Giết ai ? Lúc nào ? Làm sao phải giết ? Hình như họ chẳng bao giờ để ý!

Đến khi xem lưỡi kiếm của khách quan, lại thấy có nhiều chỗ gợn mẻ chứng tỏ nhiều lần kiếm đã va chạm vào xương thịt người, nên cho rằng chẳng qua đây cũng chỉ là một kẻ cầm kiếm tầm thường như ngàn kẻ khác, lấy sự giết người làm thích thú mà thôi ...

- Đa tạ chủ nhân cho biết. Tại hạ đã suy nghĩ nhiều mỗi khi xuất thủ nhưng đôi lúc vẫn còn hối tiếc. Xin bái lĩnh những lời vàng ngọc.

Vương Chính nhìn thẳng mắt Thạch Đạt Lang:

- Xin đừng khách sáo nữa. Khách quan cứ để kiếm đây, kẻ này sẽ vì tri kỷ mà mài kiếm.

Đêm dường đã khuya. Thạch Đạt Lang đứng dậy cáo từ.

- Hãy khoan ! Khách quan còn thanh kiếm nào để ở nhà trọ không ?

- Không. Tại hạ chỉ có thanh trường kiếm đó.

- Vậy lấy gì dùng ? Mời khách quan vào trong này xem có thanh nào được thì dùng tạm, thay thế.

Chủ khách theo nhau qua dãy hành lang tối đến một căn phòng nhỏ trải chiếu, sát tường kê nhiều kệ gỗ lớn. Vương Chính đến bên một cái rương đặt trên kệ gỗ, mở nắp lấy ra sáu bảy thanh trường kiếm đặt lên chiếu, rồi bảo:

- Hiện nay trong nhà không có thanh kiếm nào đặc biệt. Chỉ có mấy thứ này, tùy khách quan lựa chọn.

Thạch Đạt Lang cầm từng thanh lên ngắm nghía, thấy chủ nhân quả có khiêm nhượng. Tất cả đều là kiếm có giá trị, nhưng có một cây không thể nào hắn dời mắt ra được. Bao đen bóng, chạm trổ tinh vi, dáng hơi cong, thật cân đối. Hắn rút kiếm ra khỏi bao, lượng định sắc nhụt, nhấc trên tay thấy vừa vặn quá. Ánh thép xanh biếc, những nét chạm đường khắc trên chuôi nhất nhất đều trau chuốt, hoàn hảo. Ghé sát vào đèn, quan sát kỹ, càng trông càng thích, không chỗ nào chê trách. Sợ kiếm ấy đối với mình quá sang, hắn bỏ xuống định chọn cây khác mộc mạc hơn, nhưng không sao rứt ra được.

Bèn ngẩng đầu lên nhìn Vương Chính:

- Tại hạ lấy thanh này được chăng ?

Hắn không nói “mượn” vì thấy thanh kiếm thật vừa ý nên muốn mua đứt.

- Khách quan thật có mắt tinh đời. Nó là một danh phẩm của thế kỷ trước đấy !

- Chắc chủ nhân không bán ?

Vương Chính mỉm cười:

- Sao lại không ? Gặp người xứng đáng thì bán chứ !

- Bao nhiêu ?

- Xin để lại với giá vốn thôi.

- Nghĩa là bao nhiêu ?

- Hai chục lạng vàng !

Số tiền quá lớn, Thạch Đạt Lang không thể nào có nổi. Hắn ngần ngừ:

- Vậy tại hạ chẳng dám mượn đâu.

- Sao vậy ? Khách quan cứ dùng, bao lâu cũng được !

Thạch Đạt Lang lắc đầu:

- Kiếm tốt quá, dùng quen rồi khi trả lại như phải vĩnh biệt một người thân, tại hạ chịu không nổi.

- Khách quan thích nó đến thế kia à ? Vương Chính nhìn kiếm rồi lại nhìn Thạch Đạt Lang. Vậy xin biếu ...để làm duyên, nhưng cũng xin khách quan cho lại một cái gì...

Thạch Đạt Lang gãi cằm bối rối. Hắn chẳng có cái gì để cho lại.

- Nghe Cổ tiên sinh nói khách quan tạc tượng đẹp lắm. Một bức tượng nhỏ cũng đáng quý.

Thạch Đạt Lang đỏ mặt, càng bối rối hơn. Bức tượng Quan Âm mới đây hắn đã tặng cho dân xóm tiều rồi, trong đẫy hiện nay chẳng còn gì để trao đổi.

- Hay thế này. Chủ nhân cứ giữ lấy kiếm, tại hạ bây giờ cũng nhàn rỗi, sẽ tạc một pho tượng bằng gỗ bạch đàn nhỏ, khi nào xong đem tới đổi lấy kiếm.

- Hà tất phải câu nệ như vậy. Khách quan mang kiếm về dùng và cứ coi như là của khách quan. Còn bức tượng, lúc nào trao cũng được.

Cả hai cùng cười vui vẻ, đập tay vào nhau để thắt chặt điều vừa thỏa hiệp. Vương Chính thêm:

- Mà tại sao khách quan không sang ở hẳn tệ xá ? Việc cơm nước, tiện nội có thể chu tất được. Khách quan chỉ có một mình ...

- Không ! Tại hạ còn một tiểu đồ.

- Không sao, càng có người sai bảo.

- Như vậy sợ phiền chủ nhân chăng ?

- Có gì mà phiền ! Xin đừng từ chối, phụ lòng người ngưỡng mộ.

Dứt lời, Vương gọi vợ ra bảo hâm rượu đãi khách. Hai người, một kẻ mài kiếm, một kẻ xử kiếm, ngồi đối ẩm với nhau thoải mái không còn câu nệ gì nữa, luận bàn vô cùng hứng thú. Câu chuyện dĩ nhiên không ngoài đề tài liên quan đến kỹ thuật rèn kiếm khiến Thạch Đạt Lang cũng biết thêm được nhiều điều bổ ích.

Vương chủ nhân nói:

- Tạo nên một thanh kiếm giá trị, người thợ phải mất nhiều công phu và kinh nghiệm. Trước hết phải chọn thép tốt, chấn than phải dưới một phần trăm thì mới đủ mềm để rèn, nhưng cũng không được mềm quá, lưỡi kiếm sẽ yếu. Nhiệt độ nung phải cao. Những bậc thầy trong nghề, nhìn ánh thép phát ra khi nung biết là đã rèn được hay chưa. Thép nung đúng độ rồi thì rút ra để trên đe để thợ phụ đập cho dẹp theo chiều dài.

Lúc thép đã khá mỏng, phải nhanh tay xoay trở gấp lại cũng theo chiều dài lưỡi kiếm.

Nếu nguội, cho vào lò nung rồi lấy ra đập nữa. Rèn như thế hàng nghìn lần, lớp nọ chồng lớp kia, thép kiếm mới đủ cứng, đồng thời lại khá dẻo không dễ gãy. Sau đó đem tôi. Tôi thép nghĩa là làm cho thép nguội nhanh để giữ những đặc tính của nó. Nói thì dễ, nhưng khi thực hiện mới thấy khó. Nếu không kinh nghiệm, ở một giai đoạn nào đó trong lúc rèn, người thợ làm sai tiêu chuẩn thì lưỡi kiếm coi như hỏng. Bây giờ chỉ còn rất ít những tay lành nghề rèn được kiếm tốt mà thôi, và dường như họ tụ lại ở cả Nara thì phải.

Thạch Đạt Lang ngồi nghe không dám lạm bàn, đôi lúc cũng hỏi vài câu hoặc xin dẫn giải thêm những điều chưa rõ. Thấy khách chú ý, Vương Chính hết sức sốt sắng, mắt long lanh, lấy từ tráp ra nhiều tập sách cổ, chỉ cho Thạch Đạt Lang xem những thanh kiếm quý được ghi chép và mô tả trong đó.

- Những năm gần đây, tại hạ có đi các nơi, nhất là đến những đền miếu, được biết có lưu trữ nhiều cổ kiếm. Như ở Suwa, tỉnh Shinano, một vị thiền sư đã cho tại hạ xem bộ sưu tập kiếm quý. Có đến hàng trăm chứ không ít, phần nhiều là kiếm gia bảo do chủ nhân không muốn giữ, đem tặng đền. Kiếm cổ thật, nhưng rất tiếc bị han rỉ gần hết. Ở Omishima, trong hàng ngàn kiếm đã xem, tại hạ chỉ chọn được chừng một chục là còn sửa được.

Nhấp ngụm rượu, ngồi thừ ra một lúc, Vương Chính thở dài:

- Điều trớ trêu là kiếm càng cổ bao nhiêu thì dường như chủ nhân nó càng cất kỹ bấy nhiêu, có khi còn chôn đi cho khỏi lộ nên rỉ sét hư hỏng cả. Những người đó chẳng khác gì các bậc làm cha mẹ, che chở bảo vệ con mình quá đáng, để chúng không được tôi luyện trên trường đời nên sau này trở thành ngu xuẩn, đần độn.

Nói đến đây, mắt Vương bỗng sáng lên, rồi như sực nhớ ra điều gì, xin lỗi chạy vào trong nhà. Lúc ra mang theo một cây kiếm dài một cách khác thường, để lên chiếu.

Thạch Đạt Lang giật mình, tim như ngừng đập. Không lầm được, đây chính là “cây sào phơi” của Giang Biên Liễu Cát Xuyên Mộc.

Nhìn khách, Vương Chính ngạc nhiên:

- Sao ? Khách quan cũng biết thanh kiếm này à ?

- Biết. Của một kiếm sĩ tên Cát Xuyên Mộc.

- Phải rồi. Nhân có việc đến dinh Hòa Giả, một tùy viên trong dinh là Cao Mục Lân đã nhờ tại hạ sửa lại cho thanh kiếm này. Hắn nói kiếm của người bà con hắn tên Cát Xuyên Mộc.

Vương Chính rút thanh kiếm ra, kiếm quang sáng lòa:

- Đây là một thanh kiếm lạ, dài quá mức bình thường. Kẻ nào dùng nó phải là người khổng lồ, tay như tay vượn, hoặc nếu không thì cũng phải thành thuộc lắm.

Thạch Đạt Lang cầm kiếm lên ngắm:

- Sao không thấy khắc tên người đã tạo ra nó ?

- Không khắc tên nhưng đúng là kiếm Tư Dưỡng Trai đấy ! Tư Dưỡng Trai là một nhà luyện kiếm danh tiếng ở tỉnh Suo, qua đời vào thế kỷ trước. Tạo phẩm của ông để lại không nhiều và có một số không đề tên nhưng quan sát kỹ tất biết.

- Kiếm này dùng xung trận ...

- Đúng vậy, và phải đeo trên lưng. Nhưng chủ nó bây giờ muốn sửa lại đeo ngang hông. Cũng mất công lắm. Khách quan có thấy vài chỗ rỉ sét trên mặt không ? May là kiếm tốt có thể mài mất đi được, chứ kiếm bây giờ mà như thế là rỉ ăn xuyên sang bên kia rồi, coi như bỏ.

Chuyện vãn hồi lâu, thấy không tiện lưu lại thêm nữa, Thạch Đạt Lang xin cáo thoái.

Đêm khuya, lá cây phong bên cửa sổ sương đã bắt đầu động giọt. Trở lại phòng trọ, vẫn chưa thấy Hạo Nhiên đâu, Thạch Đạt Lang lo lắng đứng nhìn ra ngoài cửa sổ.

Chương 68: Con cáo

Đêm càng lúc càng khuya. Trên mặt con rạch nước đen, sương đã phủ lờ mờ, có chỗ che khuất cả những lùm cây dại và chân cầu gỗ.

“Chẳng biết đây có phải là khu Kobikicho không ?”. Hạo Nhiên đi đã mỏi và mặc dầu đã hỏi thăm nhiều người, ai cũng bảo đúng, nó vẫn phân vân nghi hoặc. Cảnh trí đìu hiu. Chỉ còn vài ngôi nhà gỗ tận đàng xa le lói ánh đèn. Gió về khuya chớm lạnh thoảng đưa đến tai nó lúc xa lúc gần những tiếng rì rào của sóng vỗ ngoài vịnh. Gần bờ rạch, nhiều đống gỗ đá ngổn ngang, trong bóng đêm tạo thành các hình thù kỳ dị. Ở thành đô bây giờ chỗ nào nhà cửa cũng đua nhau mọc lên như nấm gặp trời mưa, nhưng Hạo Nhiên khó có thể tin được Trúc Mộ đại nhân lại ở một khu nghèo nàn như khu này.

Nó hoang mang chẳng biết tính thế nào:

đi thì đêm khuya khó gặp người để hỏi thăm đường, mà về thì quyết không được rồi ! Một lời hứa với sư phụ không thể coi thường. Sư phụ chẳng phạt nó đâu nhưng lần đầu tiên ông sai làm một việc nó cho là quan trọng, việc chẳng thành, nó cảm thấy hổ thẹn.

Mấy ngón chân hơi nhức, Hạo Nhiên tìm một tảng đá ngồi xuống cởi dép ra, để chân trần lên đám cỏ ướt sương, thấy mát dễ chịu. “Tất cả đều do mụ quản lý ở quán Mã Đề mà ra cả. Hỏi mụ, mụ bảo đến khu Kobikicho mà tìm. Khu nghèo nàn vắng vẻ thế này, làm gì có phủ Trúc Mộ !”. Hạo Nhiên nhặt hòn đá ném mạnh xuống đất cho đỡ bực bội. Nó không ngờ rằng Kobikicho là một khu rộng lớn bao gồm rất đông dân ở ngoại ô, chạy dài mãi ra tận bờ vịnh. Chỗ này chỉ là một xóm nghèo thuộc khu ấy, tập trung toàn dân vô gia cư, thợ thuyền tay làm hàm nhai và những kẻ gần như cùng đinh trong xã hội.

Có tiếng động sau đống gỗ làm Hạo Nhiên giật mình. Xỏ dép đứng lên vòng ra phía sau, nó ngạc nhiên thấy một căn nhà, không, một túp lều mới đúng, với ánh đèn hắt qua khe cửa sổ nhỏ xíu dán giấy. Túp lều đã nhỏ lại ẩn sau đống gỗ cao, thảo nào nó không để ý.

Rón rén đến gần, Hạo Nhiên thấy dưới ánh đèn lờ mờ, một người đàn bà đầu quấn vuông chiếu cói thay khăn đang dọn dẹp. Ánh sáng yếu ớt không cho nó đoán được mụ chừng bao nhiêu tuổi. Tuy vậy nó vẫn đánh bạo gõ cửa và gọi bừa, hy vọng được tiếp nhận:

- Thái thái ! Mở cửa cho cháu.

Người đàn bà mở cửa nhìn ra, cất giọng the thé:

- Lại mày nữa ! Phải hồi chiều mày ném đá vào tao rồi chạy không ?

- Dạ không, không phải. Hạo Nhiên vội vã cải chính. Cháu mới gặp thái thái lần này là lần đầu mà !

Người đàn bà bỏ vuông chiếu cói ra nhìn nó một lúc:

- Ờ ờ không phải. Thằng kia nhỏ hơn.

Đoạn phá lên cười:

- Hà hà ! Thế tối tăm thế này mày đến đây làm gì ?

Bấy giờ Hạo Nhiên mới chú ý đến cách phục sức diêm dúa không hợp với khung cảnh của người đàn bà trung niên trước mặt. Tóc mụ chải cẩn thận, thoa dầu bóng, mặt trát phấn trắng như bôi vôi, môi son đỏ chót, áo kimono đã cũ nhưng bằng hàng lụa thêu hoa.

Hơi sợ, nó lùi lại một bước. Mụ kéo tay nó vào trong nhà:

- Tối tăm thế này em đến đây làm gì ? Cần gì ta giúp.

Hạo Nhiên ngây thơ đáp:

- Cháu muốn gặp Trúc Mộ đại nhân.

Người đàn bà trố mắt nhìn nó:

- Mày nói giỡn đấy à ?

- Thật mà ! Cháu muốn vào phủ Trúc Mộ.

Người đàn bà ré lên cười, lát sau mới bảo:

- Trúc Mộ tướng công là bậc quyền quý, mày tưởng ngài mở cửa tiếp mày sao ?

- Cháu mang thư cho một người trong phủ.

Hạo Nhiên vừa nói vừa rút ra một cuộn giấy gắn niêm và chỉ cho người đàn bà xem tên người nhận.

- Người đó là Mạnh Đạt ở phủ Trúc Mộ đại nhân.

Người đàn bà gật đầu ra vẻ thông cảm:

- Phải rồi, chắc là một kẻ trong đám lính hầu. Thế mà mày nói cứ như là thân thuộc với ngài lắm. Thật tức cười !

- Vậy thái thái biết phủ Trúc Mộ Ở đâu chỉ cho cháu.

- Biết chứ ! Qua cầu gỗ sang bên kia rạch, đi một quãng đến trại Ninh Cát của tướng công Y Lâm, qua trại Lan Châu, trại Lâm Phố, trại Hồ An ...

Vừa nói mụ vừa đếm ngón tay kể tên từng trại một. Có đến bảy tám trại như thế, sau cùng mới bảo:

- Ta chắc thế nào mày cũng tìm ra. Trại Trúc Mộ lớn nhất ở cuối đường không chú ý cũng thấy.

- Thế qua cầu sang bên kia còn thuộc khu Kobikicho không ?

- Còn chứ.

- Trời đất ! Thế mà chúa cứ tưởng ...Khu này sao mà rắc rối quá !

Người đàn bà mỉm cười. Thấy thằng bé hiền lành, lễ phép lại tỏ ý lo ngại chẳng tìm ra đường, mụ ngần ngừ một lúc rồi nói:

- Mày ngớ ngẩn lắm, thôi để ta dẫn đi.

Nói đoạn đẩy nó ra, đóng cửa, xăm xăm đi trước, bảo Hạo Nhiên theo sau. Trong đêm tối, tà áo mụ phất phơ tựa cánh con thiêu thân lớn bay trong sương mù lãng đãng.

Gần đến giữa cầu, bỗng có gã đàn ông đi ngược chiều sát vào người mụ, huýt sáo.

Nhưng gã không dừng bước, cứ tiếp tục qua mặt cả hai người. Mùi rượu sa-kê bốc lên nồng nặc.

Mụ dẫn đường dừng chân lại nhìn theo rồi gọi với:

- Ai như Quản Bạc Nhất ?

Gã đàn ông khựng lại một chút, rồi tiếp tục đi chẳng nói chẳng rằng. Mụ chạy theo nắm vai áo:

- Quản Bạc Nhất ! Ngươi biết ta mà ! Sao hờ hững với nhau quá thế ?

- Bỏ ra ! Gã kia đáp.

- Không ! Lâu nay không gặp, không muốn đi với ta chăng ?

- Hết tiền rồi !

- Can gì ! Lúc khác trả cũng được !

Rồi ôm cứng lấy gã đàn ông có tên Quản Bạc Nhất ấy, mụ quay bảo Hạo Nhiên:

- Đi đi ! Ta cần nói chuyện với ông này.

Kinh ngạc chẳng hiểu đầu đuôi gì, Hạo Nhiên đứng sững nhìn hai người giằng co nhau cho đến khi mụ kia kéo gã đàn ông xuống chân cầu và mất hút trong bóng tối dưới đó.

Lát sau hoàn hồn, nó bước ra thành cầu vịn vào lan can gỗ, tò mò nhìn dòng nước đen bẩn, lờ đờ chảy bên dưới. Thình lình, giọng người đàn bà rít lên the thé, nhọn hoắt như đâm vào tai nó cùng với tiếng gió rít của hòn đá ném về phía nó đứng.

- Súc sinh ! Mày nhìn cái gì thế ?

Hạo Nhiên né tránh, bỏ ra giữa cầu rồi cúi đầu lầm lũi bước. Suốt thời kỳ ở Hotengahara cho đến nay, chưa bao giờ nó thấy một bộ mặt nào ghê sợ hơn bộ mặt trắng bệch như vôi của người đàn bà ấy lúc đó.

Qua khỏi cây cầu gỗ, Hạo Nhiên theo con đường trải đá xanh độc nhất đến trước một kho hàng rồi tới một tường rào ngăn kho hàng ấy với một kho hàng khác. Kho nào cũng tường cao, cổng kín kiên cố. Qua vài kho hàng như thế, nó bỗng hiểu ra đấy là những trại mà mụ đàn bà lúc nãy đã chỉ cho nó. Có lẽ mụ gọi là trại vì có quân canh giữ vật dụng và lừa ngựa cho các chủ tướng.

Đến trại sau cùng ở cuối đường, Hạo Nhiên tin chắc đã tìm ra được phủ Trúc Mộ khi thấy trên cánh cổng có vẽ hình đầu một thiếu phụ búi tóc hai tầng. Mà hình này qua những bài hát dân giả, ai cũng biết là huy hiệu của dòng họ Trúc Mộ.

Hạo Nhiên mạnh dạn gõ cổng. Nhưng cổng vừa cao vừa dày, gõ mãi chẳng ai thưa. Tức mình, nó nhặt đá đập thình thình. Lúc sau mới thấy người lính tuần mở hé một khe cửa sổ nhỏ phía trên cổng nhìn xuống:

- Thằng bé kia, hỏi gì ?

- Có thư tới.

Người lính bèn mở một khung cửa nhỏ đặt lẩn trong cánh cổng lớn để tiện việc ra vào mà không cần mở cổng, bước ra cầm cuộn thư trong tay Hạo Nhiên, soi đèn mà đọc.

- Thư này gửi cho một kiếm sĩ tên Mạnh Đạt phải không ?

- Phải. Cháu đợi lời phúc đáp để mang về. Ông làm ơn chuyển thư cho cháu.

- Nhưng Mạnh Đạt không có ở đây.

- Thế ông ấy ở đâu ?

- Ở Higakubo.

- Sao ? Ai cũng bảo phủ Trúc Mộ Ở Kobikicho mà !

- Ờ ! Người ta bảo thế nhưng đây là trại quân, chỉ có gạo và các vật dụng nuôi quân mà thôi. Tướng phủ ở Higakubo kia !

- Higakubo có xa đây không ?

- Xa, xa lắm.

- Ở tận chỗ nào ?

- Trên núi, phía đông Tân đô này đến hàng chục dặm.

Hạo Nhiên buồn bã lắc đầu. Nó không ngờ khó khăn đến thế ! Nhưng vốn tính bướng bỉnh và có tinh thần trách nhiệm từ khi còn thơ ấu, phải đương đầu với bao nhiêu cam go của cuộc sống để mưu sinh và giúp đỡ cha già, nó không chịu khuất phục.

- Thưa ông, thế ông có thể vẽ cho cháu đường nào đi đến Higakubo được không ?

- Thằng này điên ! Dù ta có vẽ cho mày thì mày cũng phải đi hết đêm mới đến được.

- Không sao, cháu sẽ đi cả đêm.

Người lính lẳng lặng không nói gì, nhưng trong lòng thầm phục thằng bé.

- Ở chân núi, cầy cáo vô số. Mày sợ cáo nó hớp hồn không ?

- Không, cháu không sợ.

- Mày quen với hiệp sĩ Mạnh Đạt hả ?

- Không, nhưng thầy cháu quen.

Người lính không hỏi thêm gì nữa, nhưng sau nghĩ thế nào, bảo với Hạo Nhiên:

- Ta khuyên như thế này. Bây giờ khuya rồi mà mày lại không biết đường, sợ lạc.

Ta cho ngủ ở đây, sáng mai hãy đi, mày nghĩ sao ?

Ngần ngừ một lát, có lẽ cho là phải, Hạo Nhiên gật đầu.

- Có rơm trong chuồng ngựa ấy. Mang vào vựa thóc trải ra mà ngủ.

Hôm sau gần trưa, Hạo Nhiên mới giật mình thức giấc. Trong vựa thóc vừa tối vừa ấm, nó ngủ quên, không ngờ trời sáng lúc nào. Bước ra cửa, ánh nắng chan hòa khiến mắt nó hấp háy phải lấy tay che. Sực nhớ đến nhiệm vụ phải làm, Hạo Nhiên rảo bước ra điếm canh. Người lính đêm qua còn đó, thấy nó, nhe răng cười chế nhạo:

- Sao không ngủ thêm giấc nữa ?

Nó cũng cười xòa:

- Cháu ngủ quên ! Thế ông đã vẽ đường cho cháu chưa ?

- Rồi. Hôm qua mày nói cần gấp mà !

- Vâng, cảm ơn ông, cháu đi ngay giờ đây.

- Khoan, ở lại ăn chút gì lót lòng đã. Đủ cơm cho hai người đấy, ăn đi !

Thấy người lính tử tế với mình, Hạo Nhiên cúi đầu cảm tạ.

Ăn xong, cầm mảnh giấy vẽ sơ sài những đường chính dẫn đến Higakubo, Hạo Nhiên cáo từ người lính, lên đường.

Trời xanh và trong. Những cụm mây trắng nhẹ như bông trôi lờ lững. Nắng không gay gắt. Hạo Nhiên thấy lòng lâng lâng vui thích. Nó không ngờ thấy nó ở quán Mã Đề đang bồn chồn lo lắng vì nó.

Qua quãng đường lát đá xanh, dọc theo những lộ chính tấp nập trên bờ các kênh đào ngang dọc ven đô, Hạo Nhiên thỉnh thoảng lại dừng bước xem thợ nề, thợ mộc bận tíu tít dựng sườn nhà, xây tường, xẻ gỗ. Tiếng đục tiếng búa chan chát không làm nó khó chịu, trái lại khiến nó vui vẻ thích thú. Không khí sinh động, rộn rịp khác hẳn với những ngày ở Hotengahara. Những người phu lực lưỡng, cởi trần hè nhau kéo nhiều tảng đá lớn, hò những câu hò lạ tai. Đằng xa, trên lưng chừng giàn tre cao ngất ngưởng dựng sát tường một tòa lầu đang xây, thợ thuyền hành động chẳng khác gì những con ong bò vẽ bu trên giàn hoa bìm bìm sặc sỡ về mùa xuân.

Mải mê theo dõi các sinh hoạt muôn màu muôn vẻ diễn ra trước mắt, Hạo Nhiên quên hẳn mục đích của mình. Đến khi mặt nước hắt ráng chiều đỏ hồng và đàn quạ bay ngang, buông những tiếng khô khan trên nền trời bắt đầu nhạt nắng, nó mới giật mình:

“Ờ, thế mà đã chiều rồi ! Chóng quá !”. Và ba chân bốn cẳng, nó vội vã tìm đường đi về phía đông.

Hạo Nhiên rảo bước nhanh như chạy, mong sao tới được Higakubo trước khi trời tối mịt. Chẳng bao lâu đã đến chân đồi Azabu, con đường cây cao bóng rợp đan xít nhau, tuy thỉnh thoảng có ánh nắng xiên khoai chiếu qua tàn lá loang loáng, nhưng đường vẫn ẩm ướt và trơn trượt. Gốc cây, rêu mọc đầy. Có nhiều chỗ âm u, tưởng như đêm đã xuống từ lâu. Hạo Nhiên càng bước vội, mấy lần suýt ngã, phải nhặt một cành cây làm gậy chống. Cho đến khi trèo lên đỉnh đồi, nhìn về phương tây, thấy mặt trời đỏ khé còn cách chân trời đến non con sào, nó mới yên lòng.

Đồi hoang vụ lạ lùng. Không cả tiếng chim vỗ cánh bay ngang. Đứng giữa rừng cỏ tranh cao ngang ngực, trông xung quanh trùng trùng điệp điệp những tàng cây nối tiếp nhau từ sườn đồi trải dài đến tận thung lũng phía dưới, tiếng suối nước róc rách đâu đây càng làm tăng vẻ hoang vắng, Hạo Nhiên bỗng có cảm giác kỳ lạ, vừa bâng khuâng vừa sợ hãi như đứng trong một ngôi chùa cổ, giữa những pho tượng trang nghiêm. Âm vang của một hồi chuông, không, của tiếng cồng thúc quân hay của hồi trống trận, ầm ì trong gió khiến nó rùng mình. Hạo Nhiên không ngờ nó đang đứng giữa vùng linh địa của ngôi đại điện thờ thần Thái Dương giờ đây đã hoang phế. Sương chiều xám đục quanh quất bên những ngọn cây thấp và những lùm bụi ven đường mòn. Hạo Nhiên bỗng thấy những gốc cây như sáng hơn lên. Đã có lần nó có cảm giác như thế khi đứng trong gian phòng bên khung cửa sổ dán giấy lúc chập choạng tối. Gian phòng dường như sáng hẳn trong khi bên ngoài trời chiều mỗi lúc một tối. Thầy nó bảo đó là ảo giác. Nhưng lần này cảm giác ấy mạnh lắm. Nó không cho là ảo giác, lấy tay dụi mắt, và bỗng chú ý đến đôi mắt tròn xoe, đỏ như hổ phách đang trừng trừng nhìn nó từ trong hốc một gốc cây mục.

- Con cáo !

Hạo Nhiên vùng lên, vung gậy đập mạnh một cái. Soạt ! Con vật nhảy qua đống lá khô. Nhanh không kém, Hạo Nhiên chạy theo. Cây gậy vung lên giáng xuống hết bên tả lại bên hữu, kêu bồm bộp ! Một tiếng chít ! Hình như con vật trúng thương bật lên cao.Bộ lông màu lá úa xẹt trong bóng tối tựa tia nắng quái loé lên rồi vụt tắt lúc chiều tà. Rồi mất hút. Hạo Nhiên đuổi theo, cầm gậy hất tung những đám lá khô, cành gẫy. Không vết tích gì của con vật. Nó cau mặt, lo lắng đảo mắt nhìn quanh. Ngay từ khi còn dưới gối mẹ, Hạo Nhiên đã được nghe kể rất nhiều chuyện cổ tích về con cáo. Đó là một giống vật ghê gớm, rất xảo quyệt, có biệt tài thay hình đổi dạng và mê hoặc những kẻ nào ở gần. Bản tính Hạo Nhiên ưa loài vật, kể cả lợn rừng và chồn hôi, nhưng nó ghét cáo vô kể. Ghét và sợ nữa. Nó tin chắc nếu gặp con cáo này, nó sẽ bị dẫn đi lạc đường cũng như hôm qua cáo đã dẫn nó đi lạc tại khu Kobikicho. Hơn nữa, con cáo này vừa bị nó đánh có thương tích, tất sẽ tìm cách trả thù. Vừa tức, vừa buồn, Hạo Nhiên ngồi xuống bên thân cây đổ trong đám cỏ cao. Nó cảm thấy đói và khát, nhất là khát.

Hoàng hôn xuống nhanh. Những vạt ánh sáng sau cùng của một ngày quý xuân như rút vội vàng khỏi đỉnh các ngọn đồi ở đằng xa. Hạo Nhiên thè lưỡi liếm những lá trà dại đọng sương cho đỡ khát. Mồ hôi trên mép chảy vào miệng hơi mặn, nó giơ tay áo quẹt ngang. “Con cáo đó chết thì may, nếu không thể nào cũng trở lại bắt hồn mình !” Bỗng có tiếng nhạc ngựa văng vẳng. Hạo Nhiên lắng tai, thầm nhủ:

“Rồi, rồi !

Chắc nó trở lại. Không biết lần này nó đội lốt gì !”. Bèn lấy nước bọt bôi lên hai bên lông mày để giải trừ ảnh hưởng của loài yêu quái. Cảm thấy lòng yên ổn và bình tĩnh hơn, Hạo Nhiên đến nấp sau bụi gai, tay lăm lăm cây gậy.

Từ xa, nhạt nhoà trong sương chiều, bóng một thiếu nữ cưỡi ngựa dần dần hiện ra.

Nàng đội nón nan to, choàng mạng che nửa mặt và ngồi lệch một bên trên lưng ngựa, buông lỏng tay cương cho con vật thong thả đi bước một. Sự xuất hiện lạ lùng, nếu chẳng phải thần tiên thì cũng quỷ mị ấy, khiến Hạo Nhiên không còn nghi ngờ gì nữa:

“Con cáo này quả đáng sợ ! Nó đã thành tinh, đội lốt người đến dụ dỗ mình đây ! Nhưng ta đã đề phòng, đừng hòng mê hoặc ...”.

- Oa Tử ...ử ...ử ...

Tiếng gọi kéo dài từ lưng chừng đồi vang dội cả vùng theo gió đưa đến tai Hạo Nhiên nghe rõ mồn một. “Chắc bạn bè con cáo ấy gọi ! Cáo thành tinh phải có chín đuôi và nhiều kẻ hầu hạ !”. Bèn vất gậy đi, rút cây kiếm ngắn gia bảo vẫn giắt theo bên mình, sẵn sàng đối phó với mọi bất trắc.

Đến gần đỉnh đồi, như thuộc đường lối, ngựa đột nhiên rẽ sang một đường khác về hướng nam. Màu son nạm bạc của yên ngựa loé sáng dưới tia nắng hồng cuối cùng của mặt trời vừa lặn.

Hạo Nhiên nắm chặt tay kiếm, tự trấn an và khích lệ:

“May mà nó không biết mình ở đây !”.

Theo sự hiểu biết của thằng bé, hồn những con cáo thành tinh đội lốt người bao giờ cũng theo sau lưng nó chừng vài bước. Hạo Nhiên nuốt nước bọt, định chờ cho nó quay hẳn đi mới ra tay. Nhưng con cáo khôn ngoan dường như đoán được ý thằng bé, dừng lại và xuống ngựa.

- Oa ...Tử ...

Lần này tiếng gọi gần lắm.

- Ở đây ! Tiểu nữ ở trên này !

Chỉ một loáng đã nghe tiếng chân người bước rào rạo. Một tráng sĩ hiện ra, y phục giản dị đến thô sơ, hông đeo trường kiếm nhưng đi hơi thọt.

Hạo Nhiên đứng sững, chân tay run lẩy bẩy. “Trời ơi ! Đây mới là con cáo ấy.

Đúng nó rồi. Vết thương ở chân thế kia không thể nào lầm được. Nó không đội lốt thiếu nữ mà đội lốt đàn ông ! Trời ! Con cáo này ghê thật !”. Hạo Nhiên sợ. Người đàn ông còn trẻ, dáng cao lớn. Thằng bé tự xét mình không làm gì được, đành đứng yên không dám thở mạnh, chỉ trố mắt ra nhìn.

- Cô nương lên ngựa đi để ta dẫn cho. Chúng ta phải về mau kẻo tướng công áy náy ...

Oa Tử e lệ đáp:

- Tiểu nữ đâu dám. Xin thiếu gia đi trước, tiểu nữ theo sau.

Nhưng tráng sĩ kia không nghe, cứ giằng lấy dây cương mà dẫn ngựa.

Một cành khô gãy rơi cạnh Hạo Nhiên. Tiếng động làm tráng sĩ đảo mắt nhìn quanh, nhãn tuyến dừng ngay chỗ thằng bé đứng. Hạo Nhiên hết hồn định vùng lên chạy nhưng chân cứng đơ như bị dính chặt xuống đất. Nó chưa bao giờ khiếp hãi đến thế, tay run run tưởng chừng đánh rơi cây kiếm ngắn.

May sao tráng sĩ kia không nói gì, nhìn một lúc rồi quay đi dường như không quan tâm đến nó, theo sau là Oa Tử. Cả hai trò chuyện vui vẻ với nhau những gì, trong cơn thảng thốt, Hạo Nhiên cũng không biết nữa.

Bầu trời tối dần. Vài đốm sao mọc sớm đã hiện lên lác đác.

Tại vùng Higakubo này, vào những thế kỷ trước, có dựng một đền thờ Thái Dương thần nữ. Đền hướng ra biển, phía đông, rất được nhiều người sùng mộ đến lễ bái. Nhưng trong cuộc tranh chấp giữa các sứ quân, không may đền đã bị tàn phá, phần vì chiến tranh, phần vì cường đạo, cướp bóc. Di tích không được trùng tu, dần dần theo thời gian mà đổ nát, nhưng địa linh, nhân kiệt, khí thiêng vẫn còn phảng phất. Trúc Mộ Trung, người được lãnh chúa đương thời vời vào giảng huấn cho trưởng nam vì ngưỡng mộ sở học và kiếm thuật nhà Trúc Mộ, đã xin được lập tư dinh tại đây. Cũng như cha là Trúc Mộ Chính, Trúc Mộ Trung tuy giữ địa vị cao và tư dinh được tôn danh là tướng phủ, bản tính lại không thích khoa trương nên dân giã ít người biết đến nơi ẩn dật này.

Trúc Mộ Trung có người cháu gọi bằng bác, hơi có tật nơi chân, cũng là tay anh hùng trẻ tuổi, tính tình hào phóng, đã giữ chức vụ cao cho một lãnh chúa, nay được gọi về phụ tá ông quản trị gia nhân. Người đó là Trúc Mộ Mẫn Đức, chính là tráng sĩ vừa đi đón Oa Tử.

Mẫn Đức gặp Oa Tử trong một trường hợp ngẫu nhiên lúc mới đến, giúp bá phụ tại tướng phủ. Trước đó, trong ba năm, Oa Tử đã sống cuộc đời hết sức bấp bênh dưới sự kềm toa? của Mãn Hà Chí. Đi đâu hắn cũng tìm cách cho mọi người biết Oa Tử là vợ hắn.

Với sức khoẻ của Mãn Hà Chí, tìm việc làm như vác đá, thợ hồ, thợ mộc có lẽ cũng dễ, nhưng hắn không muốn. Hắn muốn một công việc nhàn nhã hơn. Oa Tử xin vào làm nữ tỳ cho một gia đình kia, số tiền công dành dụm cũng cưu mang hắn được một thời gian, nhưng chứng nào tật nấy, Mãn Hà Chí chẳng bỏ được rượu chè, có khi bạo hành nàng, khiến chủ nhà phải can thiệp.

Bữa kia, trên đường phố Tân đô, cả hai đang đi bỗng gặp một đám rước với nghi trượng của lãnh chúa Tôn Điền. Theo mọi người quỳ rạp hai bên lề đường, Oa Tử trông thấy, sau kiệu của Tôn lãnh chúa, cả nghi vệ và huy hiệu nhà Trúc Mộ.

Kỷ niệm xưa dâng lên dào dạt trong lòng, nàng không cầm được nước mắt, vừa thương thân tủi phận vừa nhớ tiếc những ngày đã qua, Oa Tử gục xuống lề đường, bên cạnh người chồng hờ Mãn Hà Chí.

Bỗng có tiếng gọi đích danh khiến nàng giật mình ngửng lên.

- Oa Tử ! Phải Oa Tử cô nương không ?

Người gọi chẳng ai xa lạ, chính là Mạnh Đạt, một trong ba hiệp sĩ của Trúc Lâm cốc, nơi nàng tá túc khi xưa dưới sự yêu mến độ lượng của Trúc Lâm cư sĩ. Chẳng biết bây giờ lão nhân gia ra sao ? Nghĩ đến đấy, nàng lại hối hận trước khi ra đi, chẳng vào từ biệt cốc chủ.

- Oa Tử cô nương ! Cô nương còn nhớ tại hạ chăng ?

Nước mắt chan hoà, Oa Tử chỉ gật đầu không đáp. Mạnh Đạt giơ tay đỡ luôn nàng lên ngựa, trước sự ngạc nhiên sửng sốt của Mãn Hà Chí và những kẻ xung quanh. Vừa mở miệng phản đối, hắn đã bị đoàn lính tùy tùng vây lại:

- Muốn khiếu nại gì thì làm đơn nộp lên tướng phủ.

Đám rước cứ đi. Kèn, trống, thanh la, não bạt vang vang, át cả tiếng kêu nghẹn ngào tức tối của Mãn Hà Chí.

oo Về trước đại sảnh, Mẫn Đức quỳ tại hiên ngoài, chưa dám lên tiếng, chờ lệnh bá phụ gọi.

Trúc Mộ nhìn ra, khẽ gọi:

- Đã về đấy ư ? Vào trong này !

Đại sảnh thật rộng và uy nghi. Hai hàng cột lớn, vân gỗ nổi như mây, ngả bóng dài trên sàn gỗ trắc đen bóng lộn. Nhưng chỗ Trúc Mộ Trung ngồi làm việc, cách trần thiết lại đơn giản. Trên chiếc kỷ thấp, cây đèn lồng nhỏ hắt ánh sáng mờ dịu lên một tập sách để gần. Góc phòng, một lọ sứ men rạn cắm ba bông cúc long trảo và trên tường treo một thanh trường kiếm. Trần thiết chỉ có thế. Có lẽ vì sinh trưởng nơi dân giả và quen nếp sống khắc khổ nên ông không thích sự rườm rà. Dinh thự này cũng do chính ông họa kiểu và dùng ngay những vật liệu sẵn có tại địa phương để xây cất. Dựa vào rặng đồi thoai thoải và lấy rừng cổ tùng gần đó làm bối cảnh, ông đã cho dựng sảnh đường và những phòng ốc phụ thuộc vào lối kiến trúc hơi thô nhưng giản dị và vững chãi của Trúc Lâm cốc.

Mẫn Đức quỳ gối tiến vào. Đối với bá phụ, chàng luôn luôn có thái độ tôn kính vì biết ông rất câu nệ về nghi thức. Vừa là thuộc cấp lại vào hàng con cháu nên chàng không bao giờ dám suồng sã như một đôi khi đã tỏ ra với tổ phụ là Trúc Mộ Chính.

Lúc Trúc Mộ Trung ở sảnh đường, ông luôn luôn ngồi nghiêm túc sau chiếc bàn thấp, nếp áo ngay ngắn buông toa? xung quanh. Cần nói hay sai bảo gia nhân điều gì, lời ông chỉ vừa đủ nghe, đĩnh đạt, trang nghiêm. Ở chỗ công chúng, chưa bao giờ Mẫn Đức thấy ông tỏ thái độ bối rối hay giận dữ, một điều chàng cố noi theo mà không được.

- Oa Tử cô nương đã về chưa ?

- Thưa đã. Nàng lễ đền trên núi, lúc trở về để ngựa thong dong nên có hơi trễ.

- Ngươi đi đón nàng phải không ?

- Dạ phải.

Trúc Mộ tướng công im lặng. Khuôn mặt ông nhìn ngang dưới ánh đèn rắn đanh, suy tư và khắc khổ. Đột nhiên ông lên tiếng:

- Oa Tử ở đây lâu thật khó xử. Ta đã bảo Mạnh Đạt gặp dịp thuận tiện, lựa lời để nàng đi nơi khác.

Mẫn Đức ngạc nhiên. Ba tháng trước, khi Oa Tử đến đây, Mạnh Đạt giới thiệu nàng là người thân tín hầu cận lão nhân gia ở Trúc Lâm cốc, Trúc Mộ tướng công đã vồn vã tiếp đón, bảo nàng lưu lại trong dinh bao lâu cũng được, nay không hiểu sao lại đổi ý.

Bèn rạp đầu xin hộ:

- Xin bá phụ rủ lòng thương xét lại. Oa Tử cô nương tứ cố vô thân, nếu bá phụ không cho tá túc thì nàng biết đi đâu.

- Không phải ta không rộng lượng, nhưng việc gì cũng phải có giới hạn.

- Con tưởng bá phụ đã có ý bao dung ...

Trúc Mộ tướng công gật đầu:

- Oa Tử chưa làm điều gì khiến ta phiền lòng, nhưng chắc ngươi cũng rõ một thiếu nữ nhan sắc như nàng ở phủ này làm sao tránh khỏi lời dị nghị. Trong số những kiếm sĩ hầu cận ta, sớm muộn gì rồi cũng có chuyện đáng tiếc, bấy giờ thêm khó xử.

Mẫn Đức không đáp. Những lời của bá phụ chàng không có ý gián tiếp chỉ trích ai và riêng đối với chàng lại càng không có ý ám chỉ. Mẫn Đức đã ba mươi, tuy vẫn còn độc thân, nhưng chưa bao giờ để lộ cho ai biết cảm tình đặc biệt của chàng đối với Oa Tử. Giữa Oa Tử và chàng, sự giao du chưa bao giờ vượt quá mức của hai người bạn. Mẫn Đức phỏng đoán vấn đề có lẽ liên quan đến chính bá phụ và bá mẫu chàng chứ không ai khác. Bá mẫu chàng xuất thân từ giai cấp quý tộc, trong một gia đình thuộc loại con gái xuất giá phải được rước bằng kiệu sơn son, phủ rèm gấm với đầy đủ nghi thức và danh vọng trong ngày hôn lễ. Bá phụ, bá mẫu chàng ở một khu riêng biệt, xa đại sảnh, hạnh phúc ra sao chẳng mấy ai biết, ngay đến con cháu trong nhà cũng ít khi lai vãng.

Cho nên khi thấy một thiếu nữ lạ mặt có nhan sắc đến tá túc trong dinh, qua những lời đồn đại thị phi, tránh sao bá mẫu chàng chẳng đem lòng nghi kỵ. Bèn nói:

- Bá phụ nghĩ vậy rất phải. Xin để con và Mạnh Đạt lo chuyện này. Thế nào cũng tìm được cách giải quyết ổn thỏa không để lụy đến Oa Tử cô nương.- Vậy hay lắm ! - Trúc Mộ gật đầu - Ngươi nên giải quyết càng sớm càng tốt.

Nghe xong, Mẫn Đức chưa kịp cáo từ, chợt gia nhân vào bẩm có thư ở Trúc Lâm cốc do khoái mã đưa đến. Trúc Mộ Trung hơi cau mày:

- Khoái mã ? Chắc có tin khẩn cấp. Bảo mang vào ngay ta coi:

Thì ra thư của Sử Đà:

“Lão nhân gia mới trở bệnh, lần này có phần nguy kịch hơn lần trước. Người nói bệnh của người không phải lý do để tướng công phải rời nhiệm sở, nhưng môn hạ ngại vì người tuổi cao, nếu có mệnh hệ nào, e không kịp. Vậy khẩn có thư này, xin tướng công lưu ý”.

Trúc Mộ Trung không để lộ xúc động. Ông yên lặng một lúc, vẫy tay cho gia nhân lui rồi vắn tắt với Mẫn Đức:

- Lão nhân gia trong người không được khoẻ. - Đoạn tiếp với giọng điềm tĩnh cố hữu - Mẫn Đức, ngươi hãy thay ta về Trúc Lâm cốc.

- Dạ.

- Hãy lo phụng dưỡng lão nhân gia, đừng để người thiếu thốn gì. Phải đích thân săn sóc tổ phụ, có tin gì báo cho ta biết ngay, chớ chậm trễ.

- Dạ.

- Tốt lắm ! Vậy về sửa soạn ngay đi, sáng mai lên đường sớm, miễn vào gặp ta nữa.

Mẫn Đức lui ra. Trúc Mộ tướng công mở thư đọc lại, nét mặt đăm chiêu:

“Bây giờ chỉ còn cầu Trời Phật cho lão nhân gia tai qua nạn khỏi mà thôi. Chắc chưa đến nỗi nào !”.

Tin dữ chẳng mấy chốc đã loan truyền khắp tướng phủ. Oa Tử, mắt đỏ hoe, vội vã đến gõ cửa phòng Mẫn Đức:

- Nghe tin thiếu gia sắc đi Trúc Lâm cốc, xin cho tiểu nữ đi theo. Đã lâu lắm không được gặp lão cốc chủ, nay nhân cơ hội, tiểu nữ mong được về vấn an và hầu hạ người để đền đáp phần nào ơn cứu trợ.

Thấy Oa Tử, Mẫn Đức chợt nhớ đến lời hứa với bá phụ khi nãy. Thật là dịp may hiếm có, không để cho nàng đi lần này thì còn dịp nào hơn nữa. Bèn gật đầu ưng thuận ngay:

- Vậy cô nương chuẩn bị đi, tại hạ đến xin phép tướng công. Nếu được, sáng mai ta sẽ khởi hành sớm.

- Đa tạ thiếu gia.

Nói đoạn, Oa Tử lật đật ra về sửa soạn hành trang rồi lên đại sảnh cáo biệt Trúc Mộ tướng công.

- Cô nương cùng đi với Mẫn Đức, thế thì tốt lắm ! Hắn vừa ở đây ra cũng đã trình ta về chuyện đó. Chắc phụ thân ta rất vui lòng được gặp lại cô nương.

Ông gọi gia nhân mang tiền và một bộ áo vóc thêu hoa mẫu đơn đưa tặng Oa Tử.

Buổi chia ly diễn ra bịn rịn giữa kẻ ở người đi, lúc trời chưa hửng sáng. Hai nữ tỳ mang đèn lồng cùng đoàn gia nhân tiễn Mẫn Đức và Oa Tử ra đến tận cổng ngoài. Đốm sao mai lấp lánh qua cành thưa, lúc ẩn lúc hiện, lòng Oa Tử vui buồn lẫn lộn cũng chẳng khác gì. Trong cuộc đời trôi nổi của người thiếu nữ kém may mắn ấy, mỗi lần đi lại như mang đến cho nàng một chút hy vọng nhưng kèm theo niềm bâng khuâng tiếc nhớ. Hy vọng gặp được người tình. Tiếc nhớ niềm an vui vuột mất.

oo Tiếng gà rừng gáy xa xa. Trời sắp sáng. Chiếc nón nang rộng vành sương xuống ướt đẫm. Oa Tử xốc lại túi hành trang trên vai, kéo vạt áo sát vào người cho đỡ lạnh, chống gậy dò từng bước theo sau Mẫn Đức. Băng qua bãi cát ướt ven sông và cây cầu gỗ, cả hai tới một con đường lớn được đắp từ thời Kamakura nhưng bây giờ không còn mấy người qua lại. Hai bên đường, cây cao bóng ngả tối đen, yên lặng và sâu hun hút. Mẫn Đức dừng chân chờ Oa Tử:

- Vắng quá phải không cô nương ? Xưa kia chỗ này nhiều đạo tặc lắm !

- Vậy ư ? Thảo nào nghe rờn rợn. Chỗ này địa danh là gì vậy, thiếu gia ?

- Ngã ba Dogen. Những tên cường đạo cùng bọn đàn em ẩn nấp trong các hang động gần đây hay ra quấy nhiễu, cướp của giết người. Gặp đàn bà con gái chúng bắt cóc mang đi ...

- Ghê quá ! Thôi, thiếu gia đừng nói nữa.

Mẫn Đức cười thầm. Biết làm cho nàng sợ hãi là không nên nhưng chàng vẫn thấy hơi thích thú khi cảm thấy mình mạnh để có thể bảo vệ người khác. Không biết đó có phải là một hiện tượng tâm lý để tự vệ, gây cho ta lòng tự tin hơn trước khi áp đảo kẻ thù hay không, dù sao chàng cũng cần trấn an người bạn đồng hành:

- Nhưng đấy là chuyện xưa kia. Từ khi bá phụ tại hạ lập tư dinh ở Higakubo, bọn chúng đâu còn dám lai vãng nữa. Vả lại, ngày nào chả có lính tuần tiễu.

Oa Tử gật đầu, yên tâm đôi chút. Tuy nhiên vẫn ráng bước dài hơn để theo kịp Mẫn Đức.

Chợt tiếng lá xao động. Oa Tử nắm chặt cánh tay chàng kiếm sĩ đồng hành.

- Cái gì thế cô nương ?

- Có người !

- Đâu ?

Oa Tử trỏ một bóng đen đang lẩn vào bụi rậm. Nhanh như cắt, Mẫn Đức nhảy tới.

Bóng đen vung tay. Ánh sáng của một lưỡi dao ngắn lóe lên.

- Này ! Con cáo !

Mẫn Đức bắt ngay cánh tay cầm dao. Bóng đen vùng vẫy, tay đấm chân đạp.

Nhưng sức yếu, chỉ một loáng đã bị Mẫn Đức đè sấp xuống đất. Thì ra là thằng bé gặp chiều qua trên sườn đồi. Nó vẫn tưởng chàng là con cáo thật.

Nằm trên cỏ, hai cổ tay bị khóa chặt trong lòng bàn tay cứng như sắt của hiệp sĩ trẻ tuổi, Hạo Nhiên thở phì phì, đạp tứ tung. Nhưng nó nhất định không van xin con cáo. Oa Tử vừa đến. Động lòng trắc ẩn, nàng bảo Mẫn Đức:

- Thiếu gia tha cho nó, tội nghiệp ! Nó còn nhỏ.

Mẫn Đức nới tay:

- Ngươi là ai ? Rình mò chuyện gì ?

Hạo Nhiên không đáp. Oa Tử gỡ tay Mẫn Đức ra, đỡ thằng bé ngồi dậy.

- Tên em là gì ? Sao mới tinh sương mà đã đến đây được ? Nhà em ở đâu ?

- Thế các ngươi không phải là cáo à ?

Oa Tử mỉm cười:

- Không, chúng ta không phải là cáo.

- Láo ! Con cáo bị thương ở chân hôm qua đây mà !

Dứt lời đạp mạnh một cái, lấy đà đứng lên, định xông vào đánh nữa. Oa Tử tránh sau gốc cây kêu lớn:

- Chà ! Thằng bé này dữ quá !

Mẫn Đức hét một tiếng, tay trái giữ hai khuỷu tay Hạo Nhiên, tay phải nắm cổ áo nó nhấc bổng lên, xăm xăm trở lại cây cầu gỗ, dốc ngược đầu nó xuống rồi bảo:

- Thằng này điên. Hay mày bị cáo nó bắt hồn thật chăng ?

Dưới chân cầu, nước chảy ào ào tung bọt trắng. Trong ánh bình mình vừa rạng, Hạo Nhiên trông những hòn đá tròn rêu phủ đen, ngổn ngang như đầu bầy quỷ vẽ trong tranh trên chùa.

- Ta vất mày xuống đây, sợ không ?

Dĩ nhiên thằng bé sợ. Sợ lắm ! Nhưng nó cắn răng không kêu khóc, chân đạp vào thành gỗ thình thình.

- Thiếu gia, thiếu gia làm gì thế ?

Oa Tử chạy đến, hốt hoảng hỏi Mẫn Đức.

- Thằng bé này dường như bị quỷ ám hay bị Oan hồn nào nhập vào rồi. Mắt nó trừng trừng như mắt người điên vậy.

- Ta không điên ! Ta không bị quỷ ám ! Chính các người là hồ ly hiện hình định bắt hồn ta, còn nói gì ?

- Khoan, đừng nói bậy ! Thiếu gia bỏ nó xuống đi để tiểu nữ hỏi cho rõ. Chắc có uẩn khúc gì đây.

Mẫn Đức đặt thằng bé xuống. Ngồi bệt trên sàn cầu, khiếp sợ, đói khát và bị sỉ nhục, không tự kềm chế được nữa, Hạo Nhiên òa lên khóc. Đáng thương cho nó, bao nhiêu nhuệ khí, khôn ngoan bỗng tiêu tán đâu mất cả Oa Tử đến ngồi bên, quàng tay lên vai nó, ôn tồn an ủi:

- Tội nghiệp em ! Em ở đâu ? Đến đây có việc gì ? Cứ nói cho ta biết, ta sẽ giúp em. Ta chẳng phải là hồ ly đâu.

Giọng nói và dáng điệu thiếu nữ khiến thằng bé yên lòng. Nhưng nó vẫn phân vân không tin hẳn, hỏi lại, giọng vẫn còn nghẹn nước mắt.

- Thật không ? Thật không phải cáo không ?

Oa Tử cười, nắm tay nó. Tay nó ẩm và lạnh. Sờ trán. Trán nó hâm hấp nóng.

- Trời ơi, bị cảm lạnh rồi. Tối qua em ngủ ở đâu ?

Hạo Nhiên hất hàm về phía bụi cây:

- Chỗ đó !

- Em từ đâu đến ?

- Kobikicho !

- Mô Phật ! Kobikicho cách xa đây hàng chục dặm đường ! Mà em đến đây làm gì?

- Em phải đưa một cuốn thư vào phủ Trúc Mộ. Người ta bảo phủ Trúc Mộ Ở khu này. Phải khu này tên gọi Higakubo không ?

- Phải.

Hạo Nhiên mở bọc rút một cuốn thư ra đưa Oa Tử coi. Thấy lạ, Mẫn Đức cũng tò mò ghé mắt nhìn.

- Thư này gửi cho hiệp sĩ Mạnh Đạt trong phủ.

- Đúng rồi. Vậy ông không phải là cáo. Cáo không biết đọc.

Mẫn Đức cả cười, khiến Oa Tử và Hạo Nhiên cũng cười theo. Không khí hết căng thẳng trở nên hòa dịu hẳn. Hạo Nhiên tiếp:

- Em phải đưa thư đến tận tay hiệp sĩ Mạnh Đạt và đợi thư phúc đáp mang về.

Oa Tử gật đầu, cảm thấy việc này đối với thằng bé quan trọng lắm, như một sứ mệnh nó phải làm và chắc không bao giở để cho ai khác Mạnh Đạt xem thư ấy. Bèn bảo nó:

- Tướng phủ ở cách đây chừng non một dặm về phía tây. Hiệp sĩ Mạnh Đạt có ở đó, nhưng em đi sai đường rồi. Phải trở lại đường này mới đúng.

Định mệnh trớ trêu thật. Cơ hội đoàn tụ chờ đợi đã hơn ba năm giữa Oa Tử và Thạch Đạt Lang, một cơ hội hãn hữu còn hơn cả cuộc gặp gỡ giữa ả Chức và chàng Ngâu qua giải ngân hà, lại một lần nữa bị lỡ.

Mẫn Đức chỉ đường thêm cho thằng bé:

- Qua cầu, đến ngã tư thì nhớ rẽ trái. Khi nào nhìn thấy cổng đá cao trên có chòi canh thì hỏi người lính tuần, họ chỉ cho.

Hạo Nhiên cảm ơn định bước đi. Chợt Oa Tử gọi:

- Khoan đã.

Nàng mở bọc, lấy bốn chiếc bánh nếp gói lá tre mang theo dự bị để ăn đường, đưa cho nó và bảo:

- Ăn đi em !

Hạo Nhiên đứng sững nhìn khuôn mặt người thiếu nữ trước đây nó tưởng là con cáo, lờ mờ dưới bóng chiếc nón nan rộng vành, như cố ghi lấy những nét đặc biệt của ân nhân. Đoạn gỡ lấy bánh giơ ngang mày, nó lí nhí một câu cám ơn rồi cúi đầu chào, quay gót.

Sau nó, tiếng Mẫn Đức dặn với, nửa đùa nửa thật:

- Cứ thong thả mà đi, không xa lắm đâu, đừng để cáo nó bắt hồn mà lạc.

Oa Tử khẽ thở dài.

- Thằng bé thật lạ !

Bất giác liên tưởng đến Giang. Nỗi băn khoăn tràn ngập tâm hồn khiến nàng đứng sững cho đến khi nghe tiếng Mẫn Đức gọi mới sực tỉnh.

Chương 69: Khúc gỗ

Bộp ! Trái mận xanh rụng ngoài vườn kêu một tiếng khô khan. Trong phòng, dưới ngọn đèn dầu thông hơi rung rung theo nhịp thở, Thạch Đạt Lang mải miết đưa lưỡi dao sắc trên một khúc gỗ cũ. Vỏ gỗ mỏng rải rác trên mặt kỷ và khắp nơi quanh chỗ hắn ngồi.

Thạch Đạt Lang mới dọn từ quán Mã Đề sang tạm trú tại một phòng sau xưởng mài kiếm của Vương Chính. “Thằng bé này khó tính !”. Lời nói của mẹ, hắn thường nghe lúc nhỏ vì mỗi khi không vừa ý điều gì hắn lại khóc ré lên, đòi cho bằng được thứ mình muốn, còn ăn sâu vào tiềm thức như vết sẹo không xóa được của một cái mụn nhọt hắn mang trên đầu thuở thiếu thời. Những kỷ niệm xưa liên tiếp theo nhau qua ký ức, nét mặt và hình dáng mẹ hắn lúc nhạt nhòa, lúc rõ rệt hiện lên như một người mẫu. Mắt Thạch Đạt Lang chăm chú, tay thoăn thoắt đưa đi đưa lại trên khúc gỗ. Hắn cố phổ lên đó những nét dịu dàng, yêu thương của mẹ hắn còn giữ được. Thạch Đạt Lang đã hứa và cố tạc cho xong pho tượng Quan Âm để đổi lấy thanh kiếm của Vương Chính. Hắn làm việc vội vàng suốt từ chiều sau khi vừa thu xếp xong chỗ ăn ở. Vì không sẵn gỗ bạch đàn và theo sở thích riêng của Vương Chính, hắn đồng ý tạc tượng trên một khúc gỗ cũ do Vương Chính để dành từ lâu và trìu mến đưa hắn:

“Ba năm trước, tại hạ hành hương ở phương bắc, thấy thợ thuyền đang phá một ngôi đền cổ thì dừng lại xem. Đền đổ nát gần hết, nhưng không phải là không giá trị. Họ không biết gì cứ phá bừa. Tiếc quá, tại hạ xin một khúc gỗ làm kỷ niệm. Khúc gỗ này đây, chắc phải lâu hàng mấy trăm năm, thớ gỗ mềm, vân đẹp, đại hiệp xem dùng được thì dùng”.

Thạch Đạt Lang nhận lời, nhưng thấy Vương Chính băn khoăn lo lắng về khúc gỗ gã coi như vật gia bảo, Thạch Đạt Lang đôi khi không giữ được bình tĩnh. Tay hắn hơi run và đã mấy lần phải sửa lại toàn bộ hình thể bức tượng.

Gần sáng, bức tượng tưởng như sắp thành hình, bỗng gặp phải một đường nứt ngay phía trên đầu. Không phải là một nhà điêu khắc chuyên môn, không biết kỹ thuật sửa chữa thế nào cho khéo để che vết nứt, hắn cứ gọt bớt. Khúc gỗ trước dài hơn hai gang tay, nay chỉ còn độ gang rưỡi và không ra hình thù gì nữa. Chán nản, Thạch Đạt Lang bỏ dao gục xuống kỷ. Ngọn đèn lụi dần. Ngoài kia, tiếng chim vành khuyên đã bắt đầu lích chích. Hắn thiếp đi lúc nào không biết.

Tỉnh dậy, Thạch Đạt Lang thấy trong người dễ chịu hơn, tinh thần bớt căng thẳng.

Hắn ra giếng súc miệng rửa mặt rồi trở vào tiếp tục công trình bỏ dở. Ngọn đèn dầu được khêu to thêm. Thạch Đạt Lang đưa lưỡi dao nhẹ nhàng trên khúc gỗ, linh cảm sự sống động của từng thớ cây mềm, tưởng chừng qua mỗi đường dao gọt những thớ gỗ ấy lại phát hiện ra bao nhiêu thăng trầm của lịch sử ngôi cổ miếu. Nếu không cẩn trọng, những đường dao của hắn là những đường dao vô ích làm hỏng cả khúc gỗ, biến khúc gỗ quý báu thành đống vỏ bào vô dụng.

Liên tưởng và so sánh lịch sử ngôi cổ miếu với lịch sử dân tộc, Thạch Đạt Lang bỗng giật mình. Và hắn sợ. Những đường kiếm của hắn sẽ để lại gì ? Xây dựng hay chỉ là phá hoại ? Băn khoăn, nghi hoặc, hắn dừng tay thừ người suy nghĩ.

Nhưng một chốc lại thấy Thạch Đạt Lang cúi xuống, lưỡi dao sắc đưa lia lịa, cuồng nhiệt. “Lần này phải thành công”, hắn cố moi ký ức, hình dung ra nét mặt mẹ hắn, những nét hiền hậu hắn muốn phổ vào bức tượng lịch sử này, nhưng không thể nào bắt nổi ... Nó nhạt nhòa như sương khói. Nó lãng đãng như ở một nơi xa xôi, vô thức nào hắn không sao đến được. Trước sự bất lực và giới hạn của chính mình, Thạch Đạt Lang tức giận hét lớn. Ngọn đèn phụt tắt.

Chủ nhân bước vào:

- Thạch đại hiệp ! Sao thế ?

Thạch Đạt Lang nhìn khúc gỗ. Nó chỉ dài độ bằng ngón tay giữa đống vỏ bào vương vãi trên mặt kỷ và xung quanh chỗ ngồi.

- Bức tượng đâu ?

- Hỏng rồi ! Ta đã làm hỏng khúc gỗ.

Hắn gục xuống kỷ. Có tiếng chân dồn dập trong phòng và hình như hắn đang được nâng dậy. Nỗi xót xa vừa tỉnh cơn ảo mộng giảm bớt. Thay vào đó, một màn sương đục trùm lên toàn thân và bọc kín lấy hắn. Dần dần trí não Thạch Đạt Lang chỉ còn là một khoảng trống vô hạn.

oo Trưa hôm sau, len lỏi trong đám mã phu dẫn ngựa, Hạo Nhiên trèo vội vã lên thang gác quán Mã Đề, mồ hôi nhễ nhại, quần áo bám đầy bụi đất. Qua cửa văn phòng, mụ quản lý gọi giật lại:

- Thằng bé kia, đi đâu ?

- Lên gác. Tôi trọ với thầy tôi trên gác mà.

- A, ta nhớ ra rồi. Mày đi khỏi quán từ hôm nào ?

Hạo Nhiên lẩm nhẩm tính:

- Từ hôm trước ngày hôm qua.

- Thế là đã ba ngày, hai đêm phải không ?

Hạo Nhiên gật đầu:

- Phải.

- Từ đây đến phủ Trúc Mộ mà ba ngày hai đêm ? Mày thấy có lâu quá không ? Hay là bị cáo nó bắt hồn ?

Hạo Nhiên đáp liền:

- Sao bà biết ? Hay bà cũng là cáo đấy ?

Tìm được lời trả miếng mụ quản lý, nó cười khanh khách, tiếp tục lên thang.

- Thầy mày không ở đây nữa.

Lời nói như gáo nước lạnh dội lên đầu. Hạo Nhiên đứng sững nhìn mụ rồi tỏ vẻ không tin, chạy ba bước một lên gác. Trở xuống, nét mặt nó ngơ ngác:

- Ông ...ông ấy đổi phòng rồi hở bà ?

- Thằng này lạ ...Thì ta đã bảo thầy mày đi rồi ...- Đi thật à ?

Hạo Nhiên hốt hoảng hỏi lại.

- Không tin thì sổ đây, xem đi.

- Tại sao ...tại sao ông ấy lại không đợi ...

- Tại mày đi lâu quá chứ sao ! La cà cho lắm vào ...

Hạo Nhiên hỏi như mếu:

- Bà biết thầy tôi đi đâu không ?

- Không biết ! Ta nghĩ ông ấy bỏ mày lại vì thấy mày vô tích sự.

Hạo Nhiên tái mặt. Nó chạy ra hiên, hết nhìn đầu phố lại cuối phố rồi nhìn lên trời, nước mắt ứa ròng ròng hai bên má.

Mụ quản lý mỉm cười quay vào, lấy gương soi rồi lấy bông phấn ra thoa lên mặt:

- Ta đùa đấy. Ông ấy chẳng đi đâu xa, dọn sang xưởng mài kiếm bên kia đường ấy.

Đến đấy mà tìm.

Người ta dẫn Hạo Nhiên vào phòng Thạch Đạt Lang. Sư phụ nó nằm trên chiếu, hai tay khoanh lại đặt sau đầu, thiêm thiếp như ngủ.

- Thưa thầy, con đã về.

Thạch Đạt Lang yên lặng. Trong phòng, không khí buồn tẻ. Những mảnh vỏ bào vương vãi khắp nơi, lấm tấm trắng trong bóng tối. Đĩa đèn dầu thông tắt đã lâu vẫn còn nguyên trên kỷ gỗ. Không thấy sư phụ nói gì, Hạo Nhiên lại nhắc:

- Thưa thầy, con đã về.

- Ai đấy ?

Thạch Đạt Lang mở mắt nhìn:
- A ! Hạo Nhiên hở ?

Đoạn thoang thả ngồi dậy. Hạo Nhiên quỳ rạp xuống chiếu:

- Con về trễ, xin thầy tha tội.

Nhưng Thạch Đạt Lang lặng thinh, gần như chẳng có phản ứng gì trước sự hối lỗi của đồ đệ. Một lát mới nói:

- Ra mở cửa sổ, dọn phòng xong rồi đi tắm.

Nói xong khoác áo lững thững bước ra vườn, ngồi dưới gốc mận. Sự thất bại sáng nay của hắn chứng tỏ khả năng con người chỉ có giới hạn, và một mình hắn, đơn phương, chưa chắc làm nên chuyện gì hữu ích. Thạch Đạt Lang tự hứa sẽ suy nghĩ về điều này kỹ càng hơn trước khi đem lưỡi kiếm phục vụ minh chủ mình chọn lựa.

Quay vào phòng, nhìn đồ đệ quỳ trước cửa chờ lệnh, Thạch Đạt Lang ân cần hỏi:

- Con đi đường có mệt không ? Có thư phúc đáp gì cho ta không ?

Thấy không bị quở trách, Hạo Nhiên vui vẻ:

- Dạ có, thưa đây.

Nó lôi trong bóc ra cuộn thư còn lấm tấm vệt mồ hôi trình sư phụ. Thạch Đạt Lang bật niêm, đọc:

“Trúc Mộ đại nhân rất tiếc, vì chức vụ, không thể so kiếm cùng đại hiệp.

Tuy nhiên, Trúc Mộ Mẫn Đức, một trong những người thấu đáo về kiếm học nhà Trúc Mộ, có thể bồi tiếp. Chỉ tiếc hiện nay Mẫn Đức đã đi Trúc Lâm cốc để săn sóc Trúc Lâm cốc chủ, chưa biết bao giờ mới về. Vậy xin hẹn dịp khác”.

Thạch Đạt Lang mỉm cười, tự nhủ “Cũng được !”. Trúc Mộ Mẫn Đức là ai, hắn không biết. Hắn chỉ muốn thử tài với Trúc Mộ Trung, người đã được vời vào giảng huấn về kiếm học cho trưởng nam đương kim lãnh chúa. Nếu không được thì thôi, Thạch Đạt Lang chẳng tha thiết gì tranh tài hơn kém với người mang tên Mẫn Đức nào đó.

Để cuốn thư lên kỷ, hắn hỏi đồ đệ:

- Hạo Nhiên, chắc ngươi đi lạc ?

- Dạ.

- Lạc đường tới những ba ngày, ngươi thấy có lâu quá không ?

- Con bị cáo nó dụ.

- Cáo nó dụ ? Ngươi sinh trưởng ở thôn quê, lạ gì con cáo mà bị nó dụ ?

- Dạ ...dạ ...Con không rõ, nhưng đúng con bị cáo dụ đi loanh quanh mất hai ngày đêm.

- Hừ ...lạ thế !

- Dạ, đúng vậy. Có lẽ cáo ở Tân đô này nhiều và tinh khôn hơn cáo ở miệt Hotengahara, thành ra con bị nó bắt.

Thạch Đạt Lang nghiêm mặt nhìn đồ đệ:

- Nó bắt ra sao ?

- Thưa thầy, nó định theo hại con vì con đánh nó bị thương. Con đã lấy nước bọt bôi lên lông mày để làm phép nhưng vẫn bị nó bắt được và trừng phạt.

Trước sự ngây thơ và tin tưởng thành thật của thằng bé, Thạch Đạt Lang không nỡ quở trách, chỉ ôn tồn bảo:

- Không phải con cáo trừng phạt con đâu. Chắc con có làm điều gì đáng lẽ chẳng nên làm nên bị lương tâm con trừng phạt đấy. Thôi sửa soạn đi tập buổi chiều.

Ngoài kia, trời ầm ì như sắp bắt đầu một trận mưa lớn.

Chương 70: Tiếng muỗi đêm hè

Mỗi ngày theo thông lệ, điểm tâm xong, Hòa Giả Đạo Uẩn thường ra đại sảnh hỏi han mọi việc xảy ra trong lãnh địa, duyệt phê những tờ trình của thuộc cấp rồi vào thư phòng đọc sách hoặc cùng với các tham vấn luận bàn về tư tưởng của Nho gia, buổi chiều tập luyện ở thao trường; đến tối rảnh rỗi, đàm luận võ nghệ với các thuộc cấp thân cận cùng trang lứa.

Đạo Uẩn còn trẻ, tính tình khoáng đạt, nên trong những cuộc mạn đàm như vậy, không khí bên khay trà hay chiếu rượu thường cởi mở, tự nhiên. Ông mặc áo mỏng bằng vải gai, hàn huyên cùng thuộc cấp thật thoải mái.

- Này Hồ Kiện Bình, nghe nói ngươi giỏi về môn trường thương, không mấy ai địch nổi, đúng chăng ?

- Bẩm, quả vậy !

Thấy lời đáp ra vẻ đắc ý, không tỏ chút khiêm nhường nào, Đạo Uẩn mỉm cười:

- Ngươi tự tin lắm nhỉ !

- Bẩm thiếu gia, cho đến nay chưa ai qua mặt được tiểu nhân thì hà tất phải chối cãi làm gì ?

Đạo Uẩn gật đầu:

- Ừ phải, để đấy. Có ngày ta sẽ thử tài cho ngươi biết.

- Xin đa tạ. Tiểu nhân mong ngày ấy sớm đến.

- Nếu ngày ấy không đến thì may cho ngươi lắm đấy !

Mọi người ha hả cười. Hồ Kiện Bình lại nói:

- Thiếu gia chắc đã nghe câu đồng dao trẻ con hát ngoài phố ?

- Chưa, câu gì thế ?

- Câu hát ngụ ý ca tụng tiểu nhân.

- Vậy hả ? Đọc ta nghe thử.

Sử thương nhiều kẻ Năng luyện ắt tinh Vạn người khôn địch Thương Hồ Kiện Bình.

Nghe đọc vừa dứt, Đạo Uẩn đập tay vào đùi cười sằng sặc:

- Hay lắm ! Khéo lắm ! Nhưng ai đã sửa câu ấy thế ?

- Sửa ? Bẩm có ai sửa đâu ? Câu ấy do người nhà tiểu nhân nghe được rồi về thuật lại đấy chứ !

Đạo Uẩn vẫn không nín được cười. Lát sau mới lập nghiêm, bảo thuộc hạ:

- Câu này trong một truyện về đời Hậu Hán, dân gian đặt ra để ca ngợi Hàn Lý Thanh, một võ tướng vô địch trường thương đương thời chứ đâu phải tên ngươi.

- Vậy tiểu nhân không rõ, xin thiếu gia tha tội.

- Ta cũng đoán không phải chính ngươi sửa mà là một kẻ nào đó đặt ra để phỉnh ngươi mà thôi. Nhưng nên thận trọng, tự tin là một đức tính, nhưng tự mãn thì không.

Đoạn quay nhìn xung quanh, Đạo Uẩn hỏi:

- Trong các bằng hữu đây, có bao nhiêu người chuyên về trường thương, bao nhiêu chuyên về kiếm thuật ?

Bảy người thì năm người cúi đầu đáp sở trường về thương pháp, chỉ có hai chuyên về kiếm thuật.

- Trường thương lợi gì mà nhiều người học thế ?

- Thưa đó là võ khí có nhiều ưu điểm lúc lâm trận. Nó dài nên chiếm lợi thế hơn kiếm, miễn đừng dài quá khó sử dụng. Thương dùng đâm, chém, đỡ gạt được cả. Khi chẳng may thất bại, có thể bỏ thương dùng kiếm, còn nếu chỉ dùng kiếm, không may kiếm gãy, sinh mạng coi như trứng để đầu đẳng. Như vậy, kiếm bổ túc cho thương ...

- Không hẳn thế ! - Một kiếm sĩ vội vàng lên tiếng phản đối - Sự nghiệp của chúng ta không phải chỉ giới hạn trong những trận chiến ở sa trường. Huống chi kiếm là linh hồn của kiếm sĩ. Kiếm học giúp ta giữ tâm đoan chính trong khi đi tìm tinh hoa của kỹ thuật, và đó mới là căn bản của mọi sự học tập. Nếu giữ được cái tâm cho ngay thì với võ khí gì, dù cả với hỏa khí nữa, ta cũng không phạm vào những lỗi lầm ngu xuẩn và vô luân. Cho nên kiếm đạo có những áp dụng rất phổ quát ...

Đạo Uẩn cắt ngang:

- Quan niệm này ta đã nghe ở đâu rồi.

- Thưa đó là quan niệm của tiểu nhân và cũng có thể tất cả những ai lưu tâm đến kiếm đạo.

- Như những ai ?

- Như Cổ Huy Đạo tiên sinh và một danh kiếm đương thời Cát Xuyên Mộc. Cả hai đều khẳng định như vậy.

Nhắc đến tên Cát Xuyên Mộc, Đạo Uẩn mới sực nhớ ra chưa quyết định dứt khoát có nên gọi hắn vào để thử tài không. Mặc dầu đã được Điền Xán Quang đề bạt qua trung gian của Cao Mục Lân, Đạo Uẩn thực ra vẫn chưa rõ sở học cùng tài năng Cát Xuyên Mộc. Với tuổi ấy, xét lương bổng chỉ cần hơn ngàn gia. lúa mỗi năm cũng đủ.

Nhưng vấn đề không phải ở đấy. Vấn đề, như lời thân phụ Đạo Uẩn đã nói, chính là xét kỹ người trước khi dùng và khi đã dùng rồi thì đãi ngộ trọng hậu. Xét người kỹ không những về tài năng mà còn cả về khuynh hướng đạo đức nữa. Nếu họ không hòa đồng được với chính sách chung của tộc đảng thì cũng vô ích. Ông đã nói:

“Lãnh địa này ví như một tòa lâu đài được xây cất bởi nhiều phiến đá. Nếu phiến đá nào không đẽo gọt được để có thể cùng ghép chung vào các phiến đá khác, tạo nên bức tường thành vững chắc chống đỡ cho lâu đài khỏi đổ, thì phiến đá ấy dù có tốt đẹp hay to lớn đến đâu cũng bằng vô dụng. Ở trên núi, ở đồng hoang, thiếu gì những phiến đá như thế bị bỏ lại”. Xét khía cạnh này, Cát Xuyên Mộc có một ưu điểm. Gã còn trẻ, có thể đẽo gọt để trở thành phiến đá tốt chống đỡ lâu đài họ Hòa Giả. Đạo Uẩn lại nghĩ đến kẻ kia, người kiếm sĩ tên Thạch Điền Đạt Lang đã không may để vuột mất. Nếu những điều Điền tham vấn nói là đúng thì kiếm sĩ ấy quả là người dùng được. Tiếc thay ! Chẳng biết bây giờ hắn lưu lạc phương nào ? Nhưng thật khó mà đánh giá. Tài năng cả hai chỉ căn cứ vào những lời đồn đại, có gì chính xác đâu. Xét gia thế, Cát Xuyên Mộc được hai lợi điểm:

hắn sinh trưởng tại Suo, lại là môn đệ của Nhiễm Chúc, một danh kiếm mà tài năng ai cũng phải kính phục, tất nhiên sở học vững vàng hơn Thạch Điền Đạt Lang, xuất thân từ một gia đình kiếm sĩ tầm thường ở thôn Mimasaka cô lậu và không có căn bản vững chắc về kiếm học.

Bèn quay sang tả hữu, hỏi:

- Các ngươi có ai biết Thạch Điền Đạt Lang không ?

- Phải chăng thiếu gia muốn nói đến Thạch Điền Đạt Lang ở Miyamoto, đất Harina ? Một kiếm sĩ giang hồ cách đây non bốn năm đã giao tranh với Hoa Sơn phái ?

- Ta không rõ lắm nhưng đại cương hình như thế.Mọi người nhìn nhau không hiểu rõ ý chủ soái nên ngài ngại chưa đáp.

- Có chuyện gì ? Các ngươi định giấu ta chăng ?

- Xin tha lỗi. Về Thạch Điền Đạt Lang, bọn tiểu nhân nhận được nhiều tin tức trái ngược, nhưng tựu trung chẳng ai biết diện mạo hắn ra sao mà tin tức cũng không có gì làm bằng chứng nên chưa dám mạo muội.

- Thì ta cũng thế. Nghe nói hắn là một kiếm sĩ dũng mãnh, lại có lòng cứu khốn phò nguy, giúp dân khai hoang nên được mến chuộng lắm phải không ?

- Chuyện đó thì bọn tiểu nhân không biết, nhưng hình như hắn là người rất tàn ác.

Khi còn ở Miyamoto, nơi sinh quán, hắn giết người không gớm tay. Lúc giao tranh với Hoa Sơn phái, hắn đã nhẫn tâm chặt đầu cả một đứa trẻ mới tuổi.

Đạo Uẩn chau mày:

- Thật thế ư ?

- Và ngay bây giờ đây, ở Tân đô này, cũng có yết thị gọi đích danh hắn ra đối chất với một lão phụ cùng làng về một chuyện điếm nhục gì đó, hình như cướp đoạt vị hôn thê của con trai bà và phá hoại danh dự gia tộc bà thì phải.

- Bảng yết đã lâu chưa ?

- Bẩm cũng mới vài tháng.

- Thế hắn có ra mặt không ?

- Không ! Không thấy động tĩnh gì. Có thể hắn không biết và cũng có thể hắn trốn luôn. Người ta nói trong những trường hợp kém thế, hắn thường lủi mất. Đã mấy lần xảy ra như vậy, nhất là trong lần giao tranh với Hoa Sơn, sau cùng hắn cũng bỏ chạy, ẩn trốn trên núi mãi về sau mới lộ diện.

Hòa Giả Đạo Uẩn nét mặt đăm chiêu. Những tin tức ông vừa được thuộc hạ cho biết thật khác xa với những tin tức của Điền Xán Quang thuật lại về vị anh hùng khẩn hoang mà nông dân vùng Hotengahara hàng ngày thờ phụng. Hình ảnh người kiếm sĩ ông ngưỡng mộ mờ dần, thay vào đó là mối nghi hoặc mỗi lúc một lớn. Hòa Giả Đạo Uẩn cáo mệt đứng lên lui vào hậu thất. Là người không chịu chấp nhận những điều chưa rõ rệt, Đạo Uẩn tự nhủ “Con người đó có thể là một kỳ nhân. Ta sẽ tìm hiểu hắn kỹ hơn”.

Hôm sau, ở thư phòng ra, gặp Điền Xán Quang, Đạo Uẩn không ngần ngại kể lại những tin tức mới biết và yêu cầu ông đặc biệt lưu tâm, nếu có gặp Thạch Đạt Lang thì tìm cách dẫn hắn vào dinh ngay. “Vãn sinh muốn biết mặt hắn thế nào và nó i chuyện với hắn một lúc”.

Đến chiều, ở thao trường, Cao Mục Lân lại nhắc tới Cát Xuyên Mộc. Đặt mũi tên trên dây cung, Đạo Uẩn nói:

- Ờ, ta quên khuấy đi mất. Cứ dẫn hắn lại đây, lúc nào cũng được. Còn chuyện thu nạp hay không thì sau sẽ xét.

oo Ngồi trong phòng riêng nhà Cao Mục Lân, Cát Xuyên Mộc rút “cây sào phơi” ra ngắm nghía. Suy đi tính lại, hắn đổi ý không muốn sửa thanh kiếm ấy nữa. Nó tuy dài quá thật, nhưng dùng đã quen, đối với người khác có lẽ gặp khó khăn nhưng trong tay hắn lại là một võ khí cực kỳ lợi hại. Nên hắn đã sai người đến xưởng mài kiếm lấy về.

Dĩ nhiên kiếm vẫn còn nguyên hình cũ, nhưng rút ra khỏi bao mới thấy khác rõ rệt. Từ màu xanh đen, lưỡi kiếm bây giờ sáng loáng, nhuyễn, mịn như gương. Các đốm nhỏ rỉ sét bằng mũi kim đã biết đi hết và hình vẽ sóng gợn dọc theo chiều dài lưỡi kiếm hiện lên, rõ nét như cắt. Ánh thép bóng ngời toa? hào quang, tưởng như mang theo trong lòng nó bao chiến công hiển hách của hàng thế kỷ trước. Toàn bộ lưỡi kiếm rực rỡ tựa tia nắng mai khiến Cát Xuyên Mộc không khỏi thốt lên một tiếng “Ồ” ngạc nhiên thích thú.

Càng nhìn lâu, hắn càng đắc ý.

“Ta có cảm tưởng như mới được trông thấy nó lần đầu. Khác trước quá !”. hắn đứng lên múa thử vài chiêu. Không ! Vẫn là lưỡi kiếm đó. Sự khác lạ có chăng chỉ ở bên ngoài, và lần này xoay trở thanh kiếm trong lòng bàn tay, hắn lại có cảm tưởng như vừa được hội ngộ với cố nhân, vừa được nắm một bàn tay quen thuộc.

Tra kiếm vào bao, nghe tiếng “cắc” khô và gọn, Cát Xuyên Mộc gật gù:

“Được lắm!”, rồi vỗ nhẹ vào bao kiếm, hắn thấy dậy lên trong lòng một niềm tin tưởng vô biên vào người bạn chí thân ấy.

Mải thử kiếm, Cát Xuyên Mộc không để ý và cũng không ngờ có một bóng người đứng ở cổng từ bao giờ nhìn hắn qua khung cửa sổ mở.

- Cát Xuyên Mộc - Ồ, Hồ Điểu lão bá ! Đến từ bao giờ, sao không lên tiếng ?Tiếng cười khe khẽ qua cái miệng móm:

- Đến từ lâu. Đại hiệp luyện võ chăng ?

- Không, vãn bối thử kiếm. Thanh kiếm mới đưa người ta sửa lại. Mời lão bá vào trong này.

Nhà Cao Mục Lân ở trên cao, tại một nơi được gọi là đồi Lãm Nguyệt, nhở cảnh trí khoảng khoát, từ lưng chừng đồi đã có thể ngắm trăng một cách dễ dàng ngay từ khi trăng mới tỏ. Phòng Cát Xuyên Mộc ở trông ra vịnh đằng xa. Những đêm trăng sáng, mây với nước cùng màu, mặt biển đẫm ánh trăng lung linh mờ ảo không phân biệt được đâu là trời đâu là nước, đẹp lạ lùng. Nhưng Cát Xuyên Mộc không bao giờ để ý.

Bà Hồ Điểu rửa chân xong, bước vào nhà, ngó quanh quẩn:

- Chà ! Đại hiệp có căn phòng mát mẻ quá ! Không sợ đâm lười ra ư ?

Cát Xuyên Mộc mỉm cười cải chính:

- Nhà này của Cao Mục Lân, vãn bỗi chỉ ở nhờ. Vả chăng, vãn bối đâu phải là Mãn Hà Chí !

Bà Hồ Điểu không nhận ra lời nói chọc, hay có nhận ra cũng vờ như không biết.

Bà cúi tìm trong thắt lưng một mảnh giấy đưa cho Cát Xuyên Mộc rồi nói:

- Chả có gì làm quà, có bài kệ hiếu tử để đại hiệp đọc những lúc nhàn rỗi. Ta chép một ngàn bài cơ đấy !

- Một ngàn bài ! Nhiều thế ?

Cát Xuyên Mộc cầm tờ giấy liếc qua đoạn đầu:

Trên mọi nẻo đường đời Vạn sự do nhân duyên Nhân chính là hạt giống Duyên xúc tác môi sinh Nhìn vào thân chúng ta Duyên chính là cha mẹ Khổ nhọc thuở sinh ra Dưỡng nuôi từ tấm bé.

...

Hắn đặt tờ giấy xuống:

- Hay lắm, cảm ơn lão bá, để rồi vãn sinh sẽ xem sau.

- Quạ còn biêt tha mồi mớm cho mẹ, vượn biết săn sóc cho già, con người mà không có lòng hiếu thì thua cả loài cầm thú. Ta thấy bây giờ lòng người đen bạc, tình cha con, nghĩa vợ chồng hỏng cả, nên bỏ công chép bài kệ này phổ biến. Đại hiệp thấy ai muốn có kệ tụng thì cho ta biết, ta mang đến.

Cát Xuyên Mộc quay đi giấu nụ cười thầm và hỏi sang chuyện khác:

- Tấm giấy cáo thị vãn sinh viết cho lão bá, lão bá đã cho người đem dán khắp nơi chưa ?

- Lâu rồi, nhưng chẳng thấy kết quả gì. Nó vẫn trốn chui trốn nhủi ở đâu chứ có ra mặt đâu.

Đoạn hạ thấp giọng:

- Này, khi đến đây, ta thấy có một người khả nghi lắm. Gã cũng mặc rách rưới kiểu kiếm sĩ lang bạt như thằng Thạch Đạt Lang, nhưng không phải nó. Thấy ta, gã nhìn một lúc rồi lủi vào bờ giậu mất.

Cát Xuyên Mộc nhíu mày:

- Ai vậy kìa ?

- Gã này đã đứng tuổi. Đại hiệp nên cẩn thận.

Cát Xuyên Mộc gật đầu cám ơn, gọi người nhà mang dưa ra đãi khách. Cả hai vừa ăn dưa vừa chuyện vãn. Bà Hồ Điểu than thở đã lâu lắm, có đến mấy năm nay chẳng gặp mặt con, tuổi già càng ngày càng yếu nên mọi việc đều trông cậy cả vào Cát Xuyên Mộc chứ chẳng mong gì ở thằng Mãn Hà Chí. Bà vừa nói vừa khóc.

Chán ngấy vì đã nghe chuyện gia đình bà nhiều lần, lại không hiểu kẻ nào theo dõi mình nên trong lòng băn khoăn nên trong, Cát Xuyên Mộc chỉ đưa đà cho có lệ. Câu chuyện trở thành nhạt nhẽo. Ngoài kia trăng đã lên, lấp ló ngọn cây. Thấy không tiện ngồi thêm, bà Hồ Điểu đứng dậy cáo biệt.

Tiễn khách ra cổng xong trở vào, Cát Xuyên Mộc khoanh tay gối đầu nằm ngửa trên chiếu, mắt xa vắng. Đèn chưa thắp, muỗi bay vo ve hắn cũng mặc kệ. Qua khung cửa sổ mở, ánh trăng chênh chếch chiếu vào in bóng những ngọn cây rung động lên vách.

Chiều xuống đã lâu mà Cao Mục Lân chưa về. “Chắc đêm nay hắn phải ở lại trong dinh”, Cát Xuyên Mộc nghĩ thầm rồi dần dần thiếp đi trong tiếng muỗi cùng những tiếng côn trùng ri rỉ quanh hè.

Dưới chân đồi, một bóng đen vừa nhảy qua hàng giậu. Đêm khuya, trăng lơ lửng giữa trời, vằng vặc. Lẩn trong những lùm cây thấp, bóng đen phủ phục, chờ đợi. Rồi như một con ếch, gã bò vào, nhích từng bước, từng bước, sau mỗi bước lại dừng lại nghe ngóng.

Cát Xuyên Mộc vẫn ngủ say, tiếng ngáy đều đều khiến bóng đen vững dạ. Gã đưa lưỡi kiếm luồn qua khe cửa, nhẹ nhàng đẩy sang bên. Khung cửa lùa mở hé, êm như ru, bóng đen bò vào, mất hút trong căn phòng tối.

Tiếng ngáy thưa dần, có tiến sột soạt của người vừa trở mình. Bên ngoài, ánh trăng vẫn chan hòa đổ trên những lá trà đen cứng như phủ lên đó một lớp bạc lỏng.

Yên lặng kéo dài chẳng biết bao lâu, một khắc hay mười khắc ? Ý niệm về thời gian mất hết. Chợt tiếng thét như xé toang màn đêm yên tĩnh và sau đó là tiếng mũi kiếm cắm phập xuống chiếu ngay chính giữa chỗ Cát Xuyên Mộc nằm. Một bóng người vọt ra ngoài cửa sổ. Tiếp liền đó, Cát Xuyên Mộc, tay trái còn giữ bao kiếm, tay phải trỏ mũi “cây sào phơi” vào cổ họng bóng đen đứng thở hổn hển.

- Ngươi là ai ?

Giọng Cát Xuyên Mộc hết sức bình tĩnh. Như bức tượng đá, hắn không tỏ vẻ gì ngái ngủ hoặc bị khích động sau cuộc tập kích. Bóng đen vẫn đứng yên không đáp.

- Nói ngay ! Ngươi là ai ? Tên gì ?

- Ta thất bại thì ngươi giết ta đi, cần gì hỏi danh tính. Nhưng báo cho ngươi biết phái Hồ Phong sẽ không để ngươi yên.

Cát Xuyên Mộc cười nhạt. Thì ra tên này thuộc phái Hồ Phong đến để trả thù cho đồng bọn bị hắn giết tại bờ sông Sumida đây ! Một cái xoay tay nhẹ. Lưỡi kiếm loáng lên như lằn chớp dưới ánh trăng. Tiếng rú tắt nghẹn trong cổ họng và một thây người đổ xuống trước nụ cười thỏa mãn chưa tắt của Cát Xuyên Mộc.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau