THẠCH KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thạch kiếm - Chương 61 - Chương 65

Chương 61: Máu đổ ven sông

Bà Hồ Điểu đến Edo vào đầu tháng sáu. Tiết quý hạ Oi bức như trời muốn mưa mà không mưa được khiến bà khó chịu. Tuổi già, đường trường mệt nhọc, lại thêm nỗi thất vọng đâm hụt Thạch Đạt Lang càng làm bà buồn bực.

Từ ngày rời khỏi đồi Sinh Minh đến nay thấm thoát đã hai tháng. Hai tháng lang thang, không tin tức gì của Mãn Hà Chí, đứa con trai duy nhất, nhưng bà vẫn không nản chí. Không chùa miếu nào là bà không tạt vào thắp hương khấn vái, cầu nguyện. Bà Hồ Điểu chỉ sống với hy vọng độc nhất là bắt được kẻ thù không đội trời chung của dòng họ, đồng thời dẫn đứa con yêu quý về làng. Nhưng sức khỏe giảm dần, bà sợ chẳng còn đủ thì giờ làm tròn được lời nguyền ấy trước khi nhắm mắt.

Edo đương kỳ nắng hạn. Con đường gồ ghề chói chang. Chỗ nào cũng lọc cọc xe bò, lũ lượt phu khuân vác tung bụi mù mịt phủ trắng ngọn cây và trên các mái tranh các căn lều gỗ cất san sát ven lộ.

- Đây là Edo đấy ư ? Sao người ta lại có thể chọn một nơi khô cằn thế này làm kinh đô được ?

Bà Hồ Điểu lắc đầu, không tin những gì thấy trước mắt. Qua một giàn tre dựng cạnh bức tường đang xây dở, thấy chỗ râm mát, bà dừng chân nghỉ, lấy quạt trong bọc ra phe phẩy.

Bỗng “bộp” một cái, miếng vữa bằng cái bát từ trên giàn rớt ngay vào áo. Giật mình ngước lên, bà lớn giọng mắng kẻ vô ý. Bọn thợ trên giàn nhìn bà cười hô hố.

- A ! Tụi này hỗn láo quá ! Ở Miyamoto, chúng bay dám cười ta thế chăng ?

Nhưng tiếng cười càng to, vừa chế nhạo vừa khiêu khích.

- Con mẹ khùng ấy nói gì thế ?

- Đứa nào láo ? Này ta bảo cho mà biết, ta đáng tuổi mẹ chúng bay, đừng có hỗn !

Nhưng bọn thợ chẳng vì thế mà ngưng cười. Chúng còn trao đổi với nhau những câu ra ý dè bỉu khiến bà tức lộn ruột.

Trời nóng nực càng như quạt thêm lửa giận trong lòng, vừa mắng nhiếc, bà vừa lay cây cột chống. Tấm ván trên giàn đổ nhào, bọn thợ hồ ngã xuống kéo theo nào thùng nước, nào vôi cát bắng tung tóe. May mà bà Hồ Điểu tránh kịp và giàn tre cũng không cao nên không ai việc gì. Bọn thợ văng tục, vây quanh bà xắn tay áo định làm dữ. Bà Hồ Điểu cũng chẳng vừa, rút ngay cây gươm cũ ra. Tuy là gươm thờ lâu ngày cùn nhụt, nhưng trong tay một người có hành động liều lĩnh để tự vệ, nó cũng khiến bọn kia e dè không dám sấn tới.

Kẻ qua đường hiếu kỳ bắt đầu bu đông. Thấy bà lão dữ quá lại lăm lăm cây gươm, bọn thợ hồ đồ rằng bà cũng thuộc dòng dõi kiếm sĩ gì đây nên sợ liên lụy, đưa mắt nhìn nhau rồi rút vào một xó dọn dẹp, thỉnh thoảng liếc mắt lườm nguýt bà và lẩm bẩm chửi rủa.

Sự thay đổi thái độ ấy làm bà Hồ Điểu hài lòng. Bà tra gươm vào vỏ, phủi áo, rẽ đám đông bước ra, không quên quay lại mắng vài câu lấy lệ.

Ruồi nhặng vo ve trên những đống rác. Mùi hăng ngai ngái của phân bò phơi nắng luẩn quẩn trong bầu không khí oi ả. Bà Hồ Điểu mới đi được chừng quãng ngắn, bỗng thấy một thiếu niên xách thùng nước bẩn chạy theo, đổ vào lưng bà, tiếp theo là những tiếng cười hăng hắc. Thiếu niên này dáng thợ thuyền, chắc cũng cùng cánh với bọn thợ hồ lúc nãy. Đổ nước xong, hắn xách thùng trốn mất dạng sau những đống gạch vụn và tre gỗ ngổn ngang gần đó. Bà Hồ Điểu tức lặng người, không biết xử trí ra sao, đứng la hét chửi rủa một hồi, rồi cung cúc đi giữa những cặp mắt lãnh đạm của khách bộ hành qua lại.

“Đời bây giờ chẳng còn luân thường đạo lý gì ! Không ai trọng nể người già cả.

Nếu chẳng phải vì thằng Mãn Hà Chí thì không bao giờ ta ở đây thêm một ngày nào nữa”. Bà tự nhủ.

Xung quanh bà, cái gì cũng mới:

những ngôi nhà mới dựng hoặc vừa được xây xong, gạch ngói còn đỏ au, cây mớ trồng, đường mới đắp, thợ thuyền đều là những thanh niên trẻ trung lực lưỡng. Chỉ có bà là già, không hợp thời, không đúng cảnh ngộ, lạc lõng và bị chế nhạo. Tủi cực dâng lên trong lòng, bà khóc. Kéo vạt áo lau nước mắt, vạt áo ướt nhẹp. Bà lấy tay vắt mũi, bàn tay nhăn nheo, da điểm đồi mồi lấm tấm. Con đường đông người mà sao bà Hồ Điểu thấy cô độc như đang đi trong sa mạc.

Đến khúc rẽ, một đống đất cao nghều nghệu chắn cả lối đi. Gần đống đất có cắm bảng chỉ lối vào một nhà tắm công cộng. Bà Hồ Điểu theo hướng chỉ, đến nhà tắm mua tấm thẻ gỗ, cởi áo ngoài ra giặt rồi treo lên sào phơi. Tắm xong, ngồi đợi áo khô bên gốc cây, bà đưa mắt nhìn mông lung xung quanh.

Chỗ nào cũng thấy cất nhà, dựng quán. Sau quầy gỗ của một ngôi hàng xén nhỏ, một cô bé tuổi chừng mười lăm, mười sau, mãi soi gương kẻ lại lông mày. Cử chỉ quen thuộc ấy nhắc bà nhớ lại những năm còn trẻ khiến tự nhiên bà có cảm tình với cô bé xa lại. Đó là hảo cảm đầu tiên bà có giữa những cảnh náo nhiệt chen lấn và những lời mặc cả ồn ào ở chốn kinh đô đang được tạo lập này.

Loáng thoáng vài câu trả giá miếng đất đưa đến tai. Bà ngạc nhiên không hiểu sao một khoảnh đất rộng chừng ba trượng, sâu chừng chục trượng mà giá đắt đến thế, bằng một mẫu đất hay ruộng tốt ở quê nhà.

Bỗng nghe tiếng động sau lưng. Bà có cảm giác như ai vừa sờ vào áo. Giật mình quay lại, thằng kẻ cắp đang lần lưng bà. Bà nắm tay nó. Trễ mất rồi, nó đã giật mất túi tiền bà buộc hờ ngoài áo lót sau khi tắm.

- Ối kẻ cắp ! Bắt thằng ăn cắp !

Vừa la hoảng, bà Hồ Điểu vừa nhoài người ra ôm lấy nó. Nó đạp mạnh một cái khiến bà ngã lăn ra nhưng trong tay vẫn còn nắm được vạt áo nó. Sực nhớ đến thanh gươm, bà rút ra chém loạn.

Gã kẻ cắp tháo chạy, nhưng chẳng được xa. Dường như bị thương ở chân, gã chạy tập tễnh được một quãng. Có người đi ngược tới, nghe tiếng kêu, chẳng biết nếp tẻ ra sao, túm ngay được nó. Thì ra thằng Cốt Mục chuyên nghề cắp vặt trong vùng. Người ta trói nó lại và đi mời Diệp Hàn Khang đến phân xử.

Diệp Hàn Khang chẳng phải là kiếm sĩ hay phán quan gì ở địa phương. Ông chỉ cai quản một toán thợ chừng mấy chục người, thầu xây cất nhà cửa khi có khách gọi đến. Nhưng ông được tín nhiệm và kính trọng nhờ tính công bằng và lòng thương người, ưa giúp kẻ hoạn nạn.

Diệp Hàn Khang đến, thấy Cốc Mục bị trói gô nằm dưới đất, đã biết ngay là có chuyện gì rồi. Ông gọi gia nhân tới truyền lệnh:

- Trồng cây cột rồi kiếm miếng ván và bút mực đem đến đây.

Nghe nói trồng cột, Cốc Mục lo lắng ra mặt, van lạy:

- Chủ nhân tha cho, nô tài xin chừa. Từ nay sẽ về làm nghề khác.

Diệp Hàn Khang lắc đầu:

- Không được. Ngươi hứa nhiều lần rồi mà chứng nào vẫn tật nấy ... Lần này ta không tha nữa.

Cột trồng ngay ven lộ, nơi đông người qua lại. Diệp Hàn Khang tự tay viết mấy dòng chữ lên miếng ván:

“Tên này là Cốc Mục, nguyên làm công cho bản nhân, phạm tội trộm cắp bị bắt quả tang, nay trói tại đây để mọi người phỉ nhổ cho chừa. Làm tại Edo, đường Ninh Hạ. Diệp Hàn Khang cẩn cáo”.

Viết xong, sai đóng lên đầu cột, trói Cốc Mục vào để người canh giữ và cho ăn uống trong ba ngày. Lại đích thân đem túi tiền trả cho bà Hồ Điểu. Sau khi hỏi han, được biết bà không phải người địa phương, bèn sai gia nhân săn sóc:

- Lý Tuất ! Ta thấy bà già này chẳng có ai thân thích ở đây. Để bà lang thang rồi lại bị lừa nữa cho xem. Người đưa được bà về nhà thì tốt. Tuổi cao mà bị đánh, thật bất hạnh.

Bấy giờ Edo mới lập, trộm cắp như rươi. Nạn sứ quân tuy tạm yên nhưng quyền lãnh chúa chưa vững, quan quân bận tâm dẹp loạn, không đủ thì giờ tuần tiễu và trừng trị kẻ gian phi. Dân chúng phải tự vệ và đảm trách lấy an ninh, cho nên khi bắt được đứa làm bậy, họ thường trói vào cột, kể tội để mọi người qua lại sỉ nhục. Đối với thường phạm, đó là hình phạt phổ thông nhất, vì thời bấy giờ không nói gì đến giới sĩ phu và kiếm sĩ, các tầng lớp dân gian khác cũng rất trọng danh dự, rất sợ bị đàm tiếu.

Diệp Hàn Khang đến Edo đã hơn mười năm, khi vùng này mới lèo tèo chỉ có vài quán xá. Nhờ trí thông minh, tài tháo vát và nhất là khéo léo mua chuộc lòng người, ông quy tụ được một số thợ giỏi làm thủ túc, nhân thầu xây cất cho những thương gia mới đến lập nghiệp. Công việc làm ăn phát đạt, có số vốn khá, ông đầu tư vào việc tạo mãi đất đai, tự xây nhà bán lấy lời. Cứ thế phất dần lên, bây giờ giàu có không phải bận tâm gì đến việc kinh doanh nữa, ông xoay ra kết thân với phái kiếm sĩ có quyền thế và được mọi người kính nể, mặc nhiên coi như là hào trưởng thủ lĩnh cả vùng, hễ có việc gì khó khăn là đến nhờ giải quyết.

Thời đó hai giới được trọng vọng nhất là kiếm sĩ và hào trưởng. Tuy nhiên giới sau này được quý mến hơn vì họ đứng về phía dân chúng. Đấy không phải là một tâm trạng mới mẻ hay lạ lùng gì. Lòng quý mến này có đã từ lâu trong dân gian và không phải chỉ thấy ở những vùng đang phát triển như Edo.

Sự hình thành của giới hào trưởng bắt nguồn từ thời kỳ còn sứ quân Ashikaga, lúc nội chiến đang mạnh. Khắp nơi, chỗ nào cũng có những bọn thảo khấu tung hoành giết người cướp của như loài dã thú. Theo truyền thuyết, bọn này cưỡi ngựa, đóng khố, thắt lưng da trâu to bản, tóc dài xõa xuống vai và thay vì quấn khăn, chúng buộc quanh đầu một vòng thừng lớn.

Bọn đó sử dụng trường kiếm dài đến bốn thước, đoản kiếm thước hai, nhưng cũng có khi dùng bồ cào, dao quắm và cả rìu nữa. Khỏi nói, bọn thảo khấu ấy giết người không gớm tay, quan quân phải nể sợ.

Tuy nhiên cũng có một số thảo khấu chủ trương tốt, không giết bừa bãi mà chỉ giết để trừng phạt những kẻ hay hà hiếp nhân dân mà thôi, rồi lấy tài sản của những kẻ đó chia cho người nghèo khó. Do đấy chúng được lòng dân và dân tôn chúng lên làm hào trưởng.

Hòa bình vãn hồi. Bọn thảo khấu phần lớn giải nghệ hoặc bị bắt đi phát vãng, nhưng cũng có kẻ đổi tên đổi họ lẩn trốn, chiêu tập đàn em lập thành phường đảng ở các thị trấn. Một số thành công được dân chúng tin cậy. Tuy danh hiệu không rõ ràng nhưng cái tinh thần hào trưởng vẫn có.

Họ được coi như loại người “lấy đạo nghĩa làm xương, lòng yêu dân làm thịt và sự dũng cảm làm da”. Nói cách khác, họ chính là những anh hùng dân gian đúng nghĩa.

Bà Hồ Điểu được Lý Tuất cõng, theo Diệp Hàn Khang về nhà ông ở bên kia cầu Đại Bản. Cầu này mới bắc được hơn năm, còn tươi màu gỗ mới. Chân cầu xây đá xanh, đồ sộ và vững chắc. Cầu này ai cũng biết và được dân chúng coi như một điểm mốc để đo các khoảng cách từ Edo đến các thị trấn lân cận.

Dưới sông, thuyền đậu san sát, chở đến Edo đủ các loại thực phẩm và vật liệu xây cất. Bên kia cầu là chợ cá và khu thương mại chính, chia thành nhiều phường:

phường thợ rèn, phường thợ nhuộm, thợ dệt chiếu, thợ bán đồ đồng.v.v ...

Tư thất Diệp Hàn Khang ở một ngõ hẻm xa đường cái nên ít ồn ào bụi bặm, tuy không rộng lắm nhưng có nhiều điểm hợp với bà Hồ Điểu nên bà nấn ná mãi mười tám tháng sau vẫn còn ở đó.

Mỗi lần cáo biệt để ra đi, bà lại được Diệp Hàn Khang chí tình lưu lại:

- Vội gì ! Vãn bối đã ra lệnh cho gia nhân hễ được tin tức gì của Mãn Hà Chí hay Thạch Đạt Lang thì thông báo ngay. Lão bá cứ ở đây, hà tất phải nhọc lòng.

Mãi rồi bà cũng thành lười, an phận. Phải công nhận Diệp Hàn Khang là người tốt.

Căn nhà của vị mạnh thường quân này chẳng phải chỉ có bà Hồ Điểu mà thôi mà còn là nơi tá túc thường xuyên của vô số những kẻ lang bạt, những thanh niên phóng túng, những can phạm mới ở tù ra, thất nghiệp không ai chứa chấp. Tóm lại, đó là chỗ thường trú của những kẻ vô gia cư. Chúng tụ đến ăn uống, ngủ la liệt trên sàn, ngoài hiên. Tuy có đời sống phóng túng như vậy nhưng nói chung chúng rất trọng nghĩa khí, không bao giờ làm phiền đến ân nhân, và cũng có tổ chức:

kẻ đến trước bảo ban kẻ đến sau, ít khi để xảy ra những chuyện đáng tiếc.

Để có việc làm qua thì giờ, bà Hồ Điểu thường săn sóc những kẻ ốm đau, giúp việc may vá, nấu nướng cho cả bọn nên được bọn chúng quý trọng lắm. Phong cách kẻ cả của bà làm nhiều đứa phải nể phục và kháo nhau:“Đúng là dòng dõi kiếm sĩ. Không biết trước đây chồng bà làm gì nhưng dòng Hồ Điểu chắc là một dòng có hạng”.

Để bà được yên tĩnh lễ Phật, Diệp Hàn Khang sai cất riêng cho bà một gian nhà gỗ ở góc vườn và hàng tuần đến vấn an. Có người hỏi tại sao ông đãi ngộ một người không thân thích mà hậu hĩnh như thế, Diệp Hàn Khang giải thích:

- Khi còn song thân, ta ở chẳng hết lòng. Nay thấy có bổn phận phải trọng những người già cả, coi họ như song thân ta lúc còn tại thế.

Mùa xuân tới. Hoa mận rừng nở rồi rụng mà những cây anh đào trồng ven lộ vẫn chưa chịu đơm hoa. Có lẽ do khí hậu hỗn tạp của đô thị đương xây cất mà hoa đào nở muộn chăng ?

Năm ấy chùa Phổ Giác ở tả ngạn sông Sumida về phía bắc có rừng mơ vừa chớm nụ. Thiên hạ rủ nhau đi lễ đông lắm.

Diệp Hàn Khang bảo với bà Hồ Điểu:

- Vãn bối lên chùa Phổ Giác, lão bá có đi không ?

- Đi chứ. Chùa Phổ Giác nghe nói linh thiêng. Ta cũng muốn tới dâng hương vài ngày, trước là lễ Phật, sau du xuân cho đỡ cuồng cẳng.

Diệp Hàn Khang bèn sai gia nhân đến bãi Kyobashi thuê thuyền. Rồi bày rượu ra, rót mời bà Hồ Điểu một chén.

- Vãn bối lên chùa là có ý định cầu siêu cho thân mẫu. Tiết thanh minh, chẳng tiện về quê tảo mộ. Nhớ đến song thân, lòng lại bồi hồi ân hận, nên nhân dịp này muốn giãi bày chút lòng hiếu.

Bà Hồ Điểu rưng rưng nước mắt:

- Lão đệ nghĩ thế là phải lắm. Nếu thằng con ta cũng được như lão đệ thì ta sung sướng biết mấy ! Nhưng chưa lễ lạc gì mà rượu chè thế này có tiện không ?

- Vãn bối đã dặn trước trên chùa rồi, lão bá yên tâm. Vả lại lễ lạc rềnh rang mà làm gì ! Thiển nghĩ cỗ bàn có to đến đâu cũng chẳng nguôi được lòng ân hận của vãn bối.

Bà Hồ Điểu cúi đầu, có lẽ cũng đồng ý với chủ nhân. Diệp Hàn Khang lại mời:

- Nào, xin cạn chén. Hôm nay ta phải đi thuyền ngược dòng sông một quãng.

Nhưng không hề gì. Thuyền to mà gia nhân đều là những chân sào thiện nghệ cả, lão bá đừng sợ.

Chén thù chén tạc, chẳng mấy chốc bà Hồ Điểu đã say khướt.

- Lâu lắm không uống rượu, nay vui miệng, ta thấy người như bay bổng.

Bữa rượu gần tàn thì thuyền cũng vừa tới. Gia nhân chạy lên thông báo. Cả bọn khiêng đồ, quẩy níp xuống thuyền, chèo ra giữa sông mà đi, vào một ngày xuân tươi đẹp, gió nhẹ bay vừa và nước sông chỉ hơi gợn sóng. Càng lên phía bắc, càng cách xa Edo bao nhiêu, cây cỏ càng xanh tươi bấy nhiêu, mặt nước long lanh trong vắt. Ở những chỗ gần bờ, rễ cây lớn đua ra, bóng rợp che kín cả vùng khiến lòng sông như sâu thẳm.

Trong bụi cây, tiếng chim trả lời nhau lảnh lót.

- Ồ ! Tiếng chim họa mi, lão đệ nghe thấy không ?

- Có. Khu rừng này có tiếng nhiều chim. Về mùa mưa, tu hú hót cả ngày.

Diệp Hàn Khang lại bày rượu ra. Hai người chân sào cũng nhắp mỗi người một chén.

- Một chén thôi. Để khi đến nơi, các chú muốn uống bao nhiêu thì uống. Say bây giờ, lộn cổ xuống sông cả lũ.

Mọi người cười ha hả:

- Phải rồi ! Phải rồi ! Một chén mà tiểu nhân đã thấy nước sông trôi như rượu trong vò đổ ra rồi !

Qua xóm chài, thuyền ghé vào bờ mua cá. Cá tươi đủ loại vô số kể, thả trong khoang tha hồ chọn. Mua xong, Diệp Hàn Khang xẻ thịt ra, lấy giấy lau khô, rưới nước gia vị lên ăn sống. Bà Hồ Điểu ghê sợ quay mặt đi niệm Phật.

Đến bến chùa trời đã quá ngọ. Bà Hồ Điểu tập tễnh trèo lên, tuy đau chân nhưng vẫn nhất định từ chối sự giúp đỡ của Diệp Hàn Khang. Từ bến lên tới cổng chùa phải qua một bãi đất rộng, lau lách mọc đầy xen lẫn với những hòn đá cuội to bằng trứng ngỗng. Buộc thuyền xong, cả bốn người theo chân nhau qua bãi.

Một bọn trẻ con tay xách giỏ tre đang cắm cúi vạch lau lật đá, thấy người lạ tới thì ùa đến.

- Ông khách, ông khách mua cho cháu đi !

- Lão bá ! Những món này đẹp lắm, lão bá mua đi, cháu lấy lão bá coi nhé ?

Diệp Hàn Khang có vẻ thích trẻ con, ông cười vui vẻ hỏi:
- Chúng mày bán gì thế ? Cua hả ?

- Không. Đầu mũi tên.

Vừa nói, một đứa vừa lấy trong giỏ ra một vài mũi tên bằng đồng đã han rỉ đưa Diệp Hàn Khang coi.

- Đằng kia co nhiều mộ hoang, khối người đến lễ. Họ mua đầu mũi tên cắm lên mộ. Ông mua vài cái cắm lên mộ lấy phúc.

Diệp Hàn Khang lắc đầu:

- Ta chẳng dùng đầu mũi tên làm gì. Đây, cho mỗi đứa mấy đồng, bằng lòng chứ ?

Dĩ nhiên là chúng bằng lòng, cười hể hả bỏ đi, nhưng được một quãng, một gã râu ria từ trong căn lều cuối bãi bước ra tịch thu hết cả số tiền ấy. Diệp Hàn Khang không ngạc nhiên, chỉ lắc đầu. Bà Hồ Điểu hỏi:

- Sao có nhiều đầu tên ở đây vậy ?

- Không rõ. Vãn bối dự đoán chỗ này xưa kia chắc là bãi chiến trường. Nghe nói cách đây mấy trăm năm, trên thượng lưu sông Sumida này có xảy ra nhiều trận thủy chiến. Hẳn đây là di tích của những trận ấy và những ngôi mộ đằng kia là mồ các chiến sĩ vô danh.

Hai gã chân sào đi trước thông báo nên khi Diệp Hàn Khang và bà Hồ Điểu tới nơi, vị tăng trụ trì đã đứng sẵn trên thềm nghênh tiếp.

Cảnh chùa Phổ Giác khiến bà Hồ Điểu thất vọng. Chùa chỉ là một ngôi nhà cổ, ngói vỡ nhiều nơi, cửa mục, tường đất bị nước mưa sói vào lâu ngày đã lở lói, để lộ chân cột mối ăn lỗ chỗ. Nhưng bối cảnh thật vĩ đại. Núi cao lừng lững với rừng tùng xanh đen, xen lẫn những gốc mơ điểm hoa trắng trên sườn đá rêu phong. Tiếng chim gõ thân cây đều đều như gõ mõ, hàng lau già xào xạc khiến bà Hồ Điểu cảm thấy như có nỗi buồn vô cớ đương len lỏi vào lòng lúc nào, không sao ngăn được.

- A di đà Phật ! Cung thỉnh chư vị vào chùa lễ Phật.

Tiếng vị tăng già đánh thức bà Hồ Điểu trở về thực tại.

- A di đà Phật ! Cảnh chùa điêu tàn quá đỗi ! Thế chùa ta khách thập phương không được mấy hay sao ?

- Cũng chẳng có nhiều. Như thí chủ thấy đấy, vì đường xa diệu vợi phải đi đò, lại ở nơi vắng vẻ nên không mấy người đến.

Khay trà dọn ra, chủ khách đàm đạo một lúc thì vị tăng dẫn Diệp Hàn Khang ra chính điện làm lễ cầu siêu cho mẹ. bà Hồ Điểu cũng theo ra ngồi phía sau nghe kinh.

Bà lâm râm khấn nguyện, cầu cho Mãn Hà Chí bình yên và cho bà chóng gặp lại hắn. Rồi hai tay chống xuống chiếu, đầu cúi rạp, bà hạ thấp giọng:

- Và cũng xin chư Phật mười phương ban cho già sức khỏe để già giết được thằng Kinh Tử. Lòng thành cúi xin các ngài chứng giám.

Bà suýt soa khấn vái, kể tội kẻ thù, tưởng như đức Phật trên tòa sen kia là một phán quan, và sau những lời cầu xin ấy, không có lý do gì không ban cho bà những điều bà mong ước.

Lễ xong, Diệp Hàn Khang và bà Hồ Điểu cúng vào chùa một số tiền đã phong bao sẵn.

Vị tăng trụ trì dẫn hai người ra hậu điện ghi tên vào sổ công đức. Nhìn trên bàn, thẻ gỗ mang danh tính thí chủ và tiền tặng xếp thành hàng. Thấy có tấm thẻ đề:

“Đại Cổ ở Narai, cúng lạng vàng lá”, Diệp Hàn Khang hỏi:

- Đại sư thứ lỗi. Mười lạng vàng này quả là món tiền lớn. Đại Cổ ở Narai là ai vậy?

- Bần tăng không rõ. Năm ngoái vị đó qua đây thấy cảnh chùa nghèo, mái dột nên có nhã ý tặng số tiền ấy để sửa lại mái. A di đà Phật ! Thật là công đức vô lượng !

- Chắc là một thương gia giàu có lại có lòng mộ đạo.

- Bần tăng cũng đoán thế. Được biết vị đó còn cúng vào chùa Kim Các tới hai mươi lạng vàng vì trong chùa có đặt vong của Thế Đạt Y Lâm. Vị đó nói:

“Thế Đạt Y Lâm không phải là kẻ phản loạn mà là một hào trưởng có nghĩa khí, đáng được ghi ơn vì đã có công mở mang miền đông nước Nhật”.

Diệp Hàn Khang yên lặng một lúc rồi gật đầu:

- Cũng có lý. Ở đời này, nhiều người có hành vi kỳ lạ ...

Chưa kịp giải thích thêm, bỗng nghe ồn ào ở cửa ngoài. Vài ba đứa trẻ đang tranh nhau mách với hai người chân sào và chỉ trỏ ra phía bãi.

Vị tăng bước ra nạt:

- Đi chỗ khác chơi ! Làm gì ồn thế !

- Ngoài kia đang đánh nhau ! Đại sư ra mà xem !

- A di đà Phật ! Lại có chuyện chẳng lành rồi ! Chúng bay nói thật hay bỡn ?

- Thật !

- Xin lỗi chư vị, bần tăng phải ra coi chuyện gì. Bãi này vắng vẻ, mỗi khi có chuyện, bần tăng phải thảo tờ trình cho quan quân đến điều tra, nếu không thì phiền phức lắm.

Vị tăng già xỏ dép, chống gậy hối hả bước ra, theo sau là Diệp Hàn Khang, bà Hồ Điểu và hai người chân sào. Nhưng đến nơi, cuộc chiến đã mãn. Cảnh vật yên lặng lạ lùng. Gió hình như cũng không thổi nữa. Một con én đơn độc chao trên mặt nước ngoài xa rồi mất hút trong đám sậy.

Bốn xác người nằm rải rác giữa những vết chân chằng chịt in lên đất bùn nhão trên bãi và những ngọn lau tơi tả rụng xung quanh. Một thanh niên cao lớn mặc bào đỏ, len lỏi giữa những xác chết ấy ý chừng đang tìm lối ra bờ sông. Lưng hắn đeo kiếm dài.

Hắn không có vẻ gì sợ sệt hoặc quan tâm đến năm người vừa ở chùa ra đứng sững nhìn và mấy đứa trẻ lấp ló sau gốc liễu.

Bỗng có tiếng khàn khàn gọi. Hắn quay lại. Một xác người chống tay ngồi dậy, hổn hển nói:

- Nghiệt súc ! Đừng hòng trốn chạy. Trận chiến chưa xong mà, ta thề sẽ phanh thây mày !

Loáng một cái, lưỡi gươm của gã áo đỏ bổ xuống. Một tiếng rú thất thanh, máu phọt tung tóe. Đầu kẻ vừa nói bị chẻ đôi và tiếng cười của gã áo đỏ vang lên man rợ, thích thú:

- Hà hà ! Bây giờ thì trận chiến xong chưa ?

Đoạn, kéo áo người chết lau kiếm, gã thản nhiên tra vào bao và vũng nước gần đấy rửa tay, gột những chỗ áo bị rây máu.

Vị tăng già nuốt nước bọt thấy khó. Ông chưa bao giờ chứng kiến một cảnh giết người tàn bạo đến thế.

- A di đà Phật ! A di đà Phật !

Vị tăng dường như không nói được gì hơn, chỉ luôn mồm niệm Phật. Nhưng bà Hồ Điểu ngạc nhiên trố mắt. Thấy gã áo đỏ đứng lên, bà gọi rối rít:

- Cát Xuyên Mộc ! Cát Xuyên Mộc !

Cát Xuyên Mộc quay nhìn bà. Chẳng biết gã có nhận ra bà là ai không, chỉ thấy gã mỉm cười rồi rảo bước bỏ đi.

Bờ sông, tiếng sóng vỗ rì rào làm chòng chành con thuyền gỗ.

Chương 62: Mảnh vỏ bào

Diệp Hàn Khang ngạc nhiên, không ngờ bà Hồ Điểu là người ít giao thiệp lại quen biết gã kiếm sĩ trẻ tuổi ấy. Ông cũng định hỏi cho rõ nhưng trước mặt vị tăng già, thấy không tiện lại thôi.

Hai gã chân sào ra chỗ thuyền đậu, sửa soạn cởi giây buộc để dời bến. Thình lình Cát Xuyên Mộc rẽ lau bước tới:

- Các chú chở ta sang bên kia sông được không ?

Còn khiếp sợ vì đường gươm chớp nhoáng của gã thanh niên kiếm sĩ áo đỏ, hai gã ấp úng. May sao bà Hồ Điểu đến. Thấy bà, Cát Xuyên Mộc đổi ngay thái độ, tươi cười hỏi:

- Lão bá làm gì ở đây thế ?

- Ta lên chùa Phổ Giác dâng hương.

- Lão bá đi thuyền này đấy ư ?

- Phải.

- May quá ! Vãn bối cũng muốn sang sông về Edo. Phiền lão bá cho quá giang được chăng ?

Bà Hồ Điểu chưa kịp đáp, Diệp Hàn Khang đã tiến ra vái chào. Nhanh trí và khôn ngoan, ông biết không thể từ chối được nên đi bước trước để mua chuộc cảm tình của Cát Xuyên Mộc. Ông tự giới thiệu mình và ân cần mời chàng thanh niên kiếm sĩ cùng xuống thuyền trở về Edo.

Tâm thuật Diệp Hàn Khang và Cát Xuyên Mộc khác nhau nhiều lắm, nhưng đôi khi những người khác tính nết lại tình cờ có một vài sở thích giống nhau. Diệp Hàn Khang và Cát Xuyên Mộc đều thích ăn cá sống, vì vậy khi cá tươi được mang tới và khay rượu bày ra, cả hai đều tỏ vẻ hoan hỉ. Dưới mắt Diệp Hàn Khang bấy giờ, Cát Xuyên Mộc không còn là một kẻ sát nhân ghê sợ nữa mà là một tri kỷ.

Câu chuyện nổ như pháo ran. Trong lúc cao hứng, chàng thanh niên kiếm sĩ rửa chén chuốc rượu mời bà Hồ Điểu và chủ thuyền, sau đó lại rót cho hai gã chân sào mỗi người một chén. Bà Hồ Điểu hỏi tin tức về Thạch Đạt Lang:

- Hình như hắn vẫn còn ở vùng Edo này. Mùa thu năm ngoái, có người thấy hắn đến thăm một kiếm sĩ có danh vọng về võ học ở ngoại thành.

Diệp Hàn Khang không đồng ý, cho là sai lầm. Nếu Thạch Đạt Lang còn ở Edo thì gia nhân đã báo ông biết rồi. Kẻ chịu ơn ông không hiếm, lại thuộc mọi tầng lớp xã hội, có lý nào hành tung của một kiếm sĩ đã diệt gần hết phái Hoa Sơn qua khỏi mắt họ được.

Tuy tin tức về kẻ thù không rõ nhưng lòng quan tâm theo dõi của hai người làm bà Hồ Điểu yên bụng. Bà hy vọng nếu cả hai cùng giúp thì chóng chầy gì bà cũng bắt được Thạch Kinh Tử.

- Già này được cả hai vị để tâm ra sức giúp cho, thật muôn vàn may mắn. Chắc những lời cầu xin của già đã được đức Phật chứng giám nên ngài run rủi cho gặp hai vị.

Thật là hạnh ngộ.

Nói rồi bà cúi rạp đầu xuống sạp thuyền tạ Ơn và rót rượu mời Diệp Hàn Khang và Cát Xuyên Mộc.

Nhân cơ hội, Diệp Hàn Khang cũng muốn biết thêm về kẻ đối ẩm, bèn đưa đẩy:

- Cát Xuyên đại hiệp ! Thế bốn tên mà đại hiệp vừa giết ở ven sông là ai vậy ? Có liên hệ gì với Thạch Đạt Lang chăng ?

Dường như chỉ đợi có thế, uống xong chén rượu, Cát Xuyên Mộc nhếch mép cười khinh mạn, đáp:

- Có gì đâu mà phải bận tâm ! Bọn đó là tiểu tốt của Hồ Phong chứ không liên hệ gì đến Thạch Đạt Lang. Hồ Phong mở trường dạy binh pháp, ta có đến thăm mấy lần.

Toàn lý thuyết suông. Cũng có lần lão luận về thuật dụng kiếm, nhưng cũng như lý thuyết về binh pháp của lão, hão huyền cả. Ta có lên tiếng chỉ trích thì bị bọn đồ đệ Hồ Phong đả kích và thách thức. Ta chỉ cười và hẹn chúng đến bờ sông Sumida cho chúng nếm thử chiêu kiếm trảm nhạn của ta.

Ngừng một lát, rót thêm rượu uống cạn, Cát Xuyên Mộc lại tiếp:

- Có năm đứa đến, nhưng một đứa sợ quá bỏ chạy ngay từ đầu. Hà hà ...Còn bốn đứa kia, làm sao địch nổi một cái vẩy tay của ta được.

Kể xong, hắn gật gù cười nhạt:

- Ở Edo này xem ra chẳng thiếu gì kẻ khoác lác, nói một tấc lên đến trời mà hành động thì khiếp nhược ...

- Hồ Phong ? Hồ Phong nào nhỉ ?

- Hồ Phong Hạo Điền, tôn ông không nghe nói đến bao giờ ư ?

- Không, lão phu kiến thức nông cạn ...

- Hồ Phong Hạo Điền xuất thân ở đất Cải, một thời giữ chức tham nghị quân sự cho sứ quân Hồ Điền Tân Dã. Bây giờ về hưu, mở trường riêng thu đồ đệ.

Diệp Hàn Khang tuy là một doanh nhân, không hiểu rõ về những việc xảy ra trong giới võ lâm nhưng tính tình chất phác dễ tin người. Những lời Cát Xuyên Mộc nói khiến ông phục lắm. Qua vài mẩu chuyện trao đổi, ông thấy ga thanh niên ngồi trước mặt tuy hợm hĩnh, tàn nhẫn nhưng là một kẻ có tài về kiếm thuật và chắc chắn đường gươm độc đáo của hắn sẽ dùng được việc khi cần, bèn nảy ý muốn mua lòng Cát Xuyên Mộc. “Gã này còn trẻ, chưa cạo đầu xuống tóc như các kiếm sĩ khác mà đã tỏ ra có bản lĩnh và kiến thức, thật không phải dễ tìm. Mình nên tìm cách giữ hắn làm thủ túc”.

- Đại hiệp ! Lão phu có lời đề nghị.

- ...

- Hiện trong nhà lão phu có nuôi được chừng bốn năm chục gia nhân đều là thanh niên can đảm, khỏe mạnh. Lão phu có ý muốn xây dựng một võ đường cho họ luyện tập và mời đại hiệp giảng dạy. Đại hiệp nghĩ thế nào ?

Cát Xuyên Mộc ngồi im một lát, đoạn nhìn thẳng vào mặt Diệp Hàn Khang mà nói:

- Tôn ông cũng biết là đã có nhiều sứ quân mời tại hạ, bổng lộc hai ba ngàn gia. lúa mỗi năm nhưng tại hạ chưa tiện nhận lời vì thú thật, hiện nay chưa muốn bị ràng buộc bởi một lời hứa nào cả. Vả lại tại hạ đã định không làm việc gì nếu bổng lộc không được năm ngàn giạ.

Ngưng một lát, hắn lại tiếp:

- Nhưng thế nào cũng có dịp tới vấn an tôn ông.

- Đa tạ đại hiệp.

Bà Hồ Điểu khẩn khoản xin Cát Xuyên Mộc lưu tâm đến lời đề nghị ấy nhưng gã chỉ ậm ừ.

Đến gần cầu Đại Bản, cảnh hỗn tạp vùng tân đô đã thấy xuất hiện. Cát Xuyên Mộc yêu cầu cho thuyền cập bến, từ giã bà Hồ Điểu và chủ thuyền để lên bờ. Nhìn vóc dáng cao lớn của gã thanh niên với thanh kiếm đeo trên lưng dài như cây sào phơi in rõ nét trên nền áo tía khuất dần theo con đường mòn ven đô, Diệp Hàn Khang không khỏi khen thầm, khẽ thốt:

- Chà ! Con người trẻ tuổi mà ghê gớm quá !

Bà Hồ Điểu cũng trông theo. Liên tưởng đến Mãn Hà Chí, bà khẽ thở dài không nói.

Năm ngày sau, Cát Xuyên Mộc đến tư thất Diệp Hàn Khang như một cơn lốc. Chủ nhân hân hoan ra đón, lại gọi gia nhân lần lượt từng người tới cung kính vái chào khiến Cát Xuyên Mộc rất xứng ý.

- Đây là số gia nhân phụ trách trong nhà. Còn một số nữa cũng hiểu biết võ nghệ và kiếm thuật được lão phu sai đi làm chút việc nên không ra mắt đại hiệp được, xin thứ lỗi.

- Tôn ông có nếp sống phong lưu lắm nhỉ !

Diệp Hàn Khang mỉm cười:

- Cũng không phải lo về sinh kế. Như lần trước đã đề nghị với đại hiệp, lão phu muốn mở một võ đường ...

- Tại hạ hôm nay đến đây cũng vì lý do ấy. Xin cho xem khu vườn tôn ông định dựng võ đường.

Diệp Hàn Khang dẫn Cát Xuyên Mộc ra vườn sau. Thấy có một số vải đương nhuộm phơi la liệt trên cỏ, Cát Xuyên Mộc ngỏ lời hỏi.

- Vườn rộng, lão phu cho nhà hàng xóm làm nghề thợ nhuộm thuê phơi vải. Nếu đại hiệp nhận lời, để bảo họ dẹp đi.

- Bất tất ...Tôn ông dựng võ đường làm gì ! Vườn này khá kín đáo không trông ra đường, chỉ cần khai quang một khoảng đổ cát lên là được. Chẳng ai làm rộn.

- Nhưng nếu trời mưa ?

- Trời mưa tại hạ không đến. Và cũng báo để tôn ông rõ, những buổi tập luyện sẽ nguy hiểm lắm đấy, không như ở các võ đường khác đâu. Tôn ông cần cảnh cáo gia nhân, nếu họ không chú ý sẽ bị tàn phế cả đời hay có khi mất mạng nữa.

- Được rồi ! Họ phải hiểu chuyện đó. Đại hiệp cứ giảng dạy theo ý muốn.

Các buổi luyện tập được ấn định mỗi tháng ba lần vào những ngày mồng ba, mười ba và hăm ba nếu trời không mưa, lương bổng tùy số lần luyện tập nhưng không dưới hai ngàn gia. lúa mỗi năm và các phí tổn linh tinh trong khi giảng dạy chủ nhân phải đài thọ.

Sân luyện võ vừa hoàn tất, Cát Xuyên Mộc đã khai giảng ngay và mới hôm đầu tiên đã không nương tay với các võ sinh dù họ thiếu kinh nghiệm. Đến hôm thứ ba thì đã có một người gãy cẳng và bồn năm kẻ bị thương nhẹ.

Đứng giữa sân, lăm lăm cây kiếm tre, Cát Xuyên Mộc lớn tiếng cảnh cáo:

- Ta đã bảo phải cẩn thận chú ý đề phòng ! Nào ai muốn tập nữa ? Muốn thì vào đây, nếu không ta đi về, khỏi mất thì giờ vô ích.

Trong số võ sinh đứng ngoài lố nhố bên gốc phong lớn, một thiếu niên bước ra nói:

- Vãn sinh ! Xin đại hiệp nương tay cho !

Và cúi xuống nhặt thanh kiếm gỗ.

Một tiếng “chát”. Thanh trúc kiếm của Cát Xuyên Mộc đã giáng vào lưng. Thiếu niên ngã sấp, nằm bất động trên nền cát ẩm, chưa kịp giơ kiếm lên đỡ.

Mọi người xúm đến khiêng thiếu niên võ sinh đặt dưới tàn cây, lấy nước vẩy lên mặt. Nhưng gã không tỉnh, mặt nhợt nhạt, lát sau mắt lạc thần, không thở nữa.

- Các ngươi trông gương đó ! Lúc nào cũng phải cẩn trọng không được sơ hở. Để đối thủ khai thác nhược điểm của mình là điều tối kỵ trong khi giao đấu !

Bầu không khí nặng nề khó thở. Võ sinh đưa mắt nhìn nhau, có người cau mặt giận dữ, có người nhẫn nhục chịu đựng, nhưng ai cũng tỏ vẻ bi thương. Duy Cát Xuyên Mộc không hỏi han và cũng không hề để mắt nhìn đến cái xác không hồn của thiếu niên võ sinh nằm dưới tàng cây phong lớn.

- Nếu cái chết làm các ngươi sợ hãi thì tốt hơn hết nên từ bỏ kiếm thuật. Tinh thần còn quan trọng hơn kiếm thuật. Sự luyện tập là cần nhưng biết khép mình vào kỷ luật để chế ngự xúc động và giữ cho mình cái dũng khí cần thiết khi lâm trận, đó mới là điều cốt yếu. Nào ! Ai là kẻ tự cho mình còn giữ được cái dũng khí ấy thì vào đây !

Không ai lên tiếng và cũng không ai động đậy gì.
Thình lình một võ sinh trung niên cao lớn đứng phía sau Cát Xuyên Mộc nhảy vọt tới với ý định tập hậu hắn. Nghe tiếng gió, Cát Xuyên Mộc cúi rạp mình. Bị mất đà, trung niên võ sinh ngã lộn ra phía trước và thanh trúc kiếm của Cát Xuyên Mộc cũng vừa bổ xuống trúng hông gã. Tiếng thét đau đớn vang lên. May gã chỉ bị gẫy xương chứ không đến nỗi nguy đến tính mệnh.

Cát Xuyên Mộc vứt kiếm xuống sân, tháo bao tay, nói:

- Thôi ngưng ! Hôm nay như thế tạm đủ.

Đoạn ra giếng múc nước rửa mặt.

Xác gã thiếu niên võ sinh được khiêng vào hậu sảnh và người ta lo chữa trị cho những kẻ bị thương. Gia nhân đổ đi tìm Diệp Hàn Khang, kháo với nhau khe khẽ:

- Có lẽ phải nói với chủ nhân ngưng tập thôi. Nguy hiểm quá !

oo Về đến nhà, Diệp Hàn Khang hốt hoảng đến ngay hậu sảnh thăm gia nhân bị thương và cử người lo việc mai táng cho gã thiếu niên bạc phúc.

Ra nhà ngoài, thấy Cát Xuyên Mộc ung dung ngồi uống trà bên chiếc kỷ thấp, đột nhiên hình ảnh gã kiếm sĩ vung gươm kết kiễu đời kẻ thua trận không đủ sức tự vệ trên bờ sông Sumida tháng trước hiện lên trong trí ông khiến ông nửa bất mãn, nửa phẫn nộ.

Một người, dù có tài năng đến mấy đi nữa mà thờ ơ như thế trước cái chết và sự đau khổ của đồng loại do chính mình gây ra thì người ấy cũng không đáng để ông ngưỡng mộ.

Thấy ông vào, Cát Xuyên Mộc điềm nhiên quay lại hỏi:

- Nghe nói Tân đô có xóm yên hoa mới lập, chủ nhân chắc biết rõ, sao không cho tại hạ đến thăm ?

Muốn uống rượu hay hưởng lạc, Cát Xuyên Mộc thường vẫn có thói đòi hỏi như thế, chẳng biết vì dụng ý trơ trẽn hay chỉ vì tuổi thiếu niên thiếu tế nhị. Diệp Hàn Khang khôn khéo đáp:

- Thế ra đại hiệp chưa đến đó bao giờ ư ? Tối nay lão phu phải ở nhà trông coi gia nhân lo việc tang chứ không thì cũng đến đó với đại hiệp.

Nói đoạn gọi hai tên bộc thân tín là Lý Tuất và Liêu Túc đến đưa cho một số tiền và căn dặn:

- Các ngươi đến đó không phải để ăn chơi mà để đại hiệp sai bảo. Đừng để đại hiệp mất vui. Nhớ lời ta dặn.

Cả ba theo đường mới đắp qua bãi đậu thuyền Kyobashi, đến gần xóm yên hoa thì trời đã chạng vạng. Ban đêm ở tân đô bấy giờ phần lớn chưa có đèn. Những đêm không trăng như đêm nay, trời tối như mực, ba thầy trò Cát Xuyên Mộc bước khấp khểnh khó khăn. Đường gồ ghề, nhiều đoạn đá, cát chất thành đống ngổn ngang, đường chính không đi, đi xuống ruộng.

- Chà ! Đường xá gì mà tồi tệ quá. Đáng lẽ ta phải mang đèn.

Lý Tuất cười:

- Đi chơi mang đèn để tổ người ta cười cho. Ấy ! Cẩn thận, có đống đất mới đào, đại hiệp tránh sang bên kẻo sa xuống hố !

Cả ba cùng nói cười vui vẻ, quên hẳn chuyện bị thảm ban chiều. Đến một cái cầu gỗ bắc ngang qua một con lạch nước đục ngầu phản chiếu màu trời đỏ quạch, Liêu Túc bảo Cát Xuyên Mộc:

- Xóm yên hoa ở bên kia cầu này. Đây là đường tắt, chứ đường chính xa hơn và đông người qua lại. Đại hiệp có cần khăn vải không ?

- Để làm gì ?

- Để che mặt đi một chút. Như thế này ...

Hắn vừa nói vừa lấy khăn trong bọc ra choàng lên đầu.

Cát Xuyên Mộc cũng bắt chước, dùng một tấm khăn lụa màu lá úa bịt tóc.

Liêu Túc nhìn rồi nói:

- Được lắm ! Bảnh quá rồi !

Lý Tuất cũng phụ họa:

- Màu khăn thật khéo chọn !

Đến xóm yên hoa, nhà nào nhà nấy đều đã lên đèn. Tuy không được như xóm Liễu ở Kyoto, nhưng cái không khí ăn chơi rộn rịp không kém. Trước cửa thanh lâu phần nhiều có treo rèm lụa màu hoàng yến hoặc nghệ non. Có nhà buộc dây đeo lục lạc hoặc khánh sành dưới chân cửa để báo hiệu cho con em biết mỗi khi có khách đến.

Cát Xuyên Mộc cùng hai gia nhân đi lẫn lộn trong đám khách tìm hoa, người nào trên đầu cũng buộc một vuông khăn như một ước lệ. Họ vào nhà này, nhà kia, ngắm nghía một lúc rồi lại đi ra, dường như chưa vừa ý.

- Thôi, đại hiệp khỏi cần giấu diếm nữa. Lý Tuất nói.

- Giấu diếm cái gì ?

- Đại hiệp bảo chưa tới khu này bao giờ, sao vừa đến nhà đằng kia đã có người nhận ra ngay ?

- Ai ? Ta đâu có biết !

- Một cô em nấp sau tấm bình phong, thấy đại hiệp đến, kêu lên rồi bỏ chạy.

Cát Xuyên Mộc mỉm cười:

- Họ lầm đấy. Ta quả chưa đến nơi này bao giờ.

Nhưng lát sau nghĩ thế nào, hắn lại bảo hai tên theo hầu:

- Hay là trở lại nhà đó, xem cô bé ấy là ai.

- Tùy đại hiệp.Cả ba trở lại ngôi thanh lâu đầu tiên, trước cửa treo hai chữ Lạc Thiên. Căn nhà mới cất được một phần, kiến trúc dự trù có vẻ quy mô, hàng cột vài mái thấp rập theo lối kiến trúc các đền miếu cổ thành Kyoto, nhưng nhìn kỹ có một vẻ tạm bợ và thiếu phong cách chững chạc. Cát Xuyên Mộc đoán chừng dưới sàn gỗ có lẽ vẫn còn là bãi lầy với cỏ hoang và ếch nhái. Căn đại sảnh dùng làm phòng ăn chưa kịp dọn dẹp, bừa bãi khay rượu, khăn lau tay và những cánh hoa nhàu nát.

Lý Tuất vỗ tay ba lượt, đợi lúc lâu mới thấy một mụ trung niên ra đón vào, mời ngồi bên chiếc bàn thấp ở góc phòng. Trên bàn, độc nhất chiếc lọ sứ nhỏ cắm một bông cúc long trảo đã héo.

- Chỗ này mà gọi là lạc thiên sao ? Cát Xuyên Mộc hỏi, nửa bông đùa nửa chỉ trích.

- Xin quý khách lượng thứ. Quán mới cất, chưa được như ý. Xếp đặt phòng ốc và bài trí chưa đâu vào với đâu. Chừng nào xong, quý khách sẽ thấy quán chúng tôi chẳng kém gì nhà hàng chính Lạc Thiên ở Kyoto khi trước.

- Ồ ! Thế ra đây là hậu thân của Lạc Thiên quán ở Kyoto đấy ?

- Cũng không hẳn thế. Đây chỉ là một chi nhánh mới mở.

Nhìn Cát Xuyên Mộc một lát, mụ rụt rè hỏi:

- Qúy khách tha lỗi, hình như năm trước chúng tôi có gặp quý khách trên đường Koshu thì phải ?

Cát Xuyên Mộc quên lần gặp gỡ ấy nhưng vội nắm ngay lấy cơ hội để làm quen:

- Phải rồi ! Thế là ta cũng có duyên với quán này lắm.

Mọi người cười vui vẻ, không còn nhớ gì đến lời chê bai của hắn lúc trước.

- Dĩ nhiên đại hiệp có duyên với quán này rồi. Lý Tuất tiếp. Có nàng vẫn không quên đại hiệp mà !

Rồi gã tả qua dung mạo và y phục người thiếu nữ nhìn thấy sau bức bình phong cho mụ tài phán nghe. Mụ gật đầu:

- Tiện phụ biết. Tưởng ai chứ nàng đó thì đúng ở đây rồi. Xin để gọi ra bồi tiếp.

Nhưng đợi mãi không thấy ai ra, Liêu Túc nóng ruột lại vỗ tay gọi.

- Khách quan vui lòng thư cho một chút. Chủ nhân đang cho người đi tìm. Không hiểu nàng đi đâu mà tìm mãi không thấy.

- Nàng tên gì ?

- Mộ Hoa Nương.

Mộ Hoa Nương là tên mới của A Kế Mỹ. Sau cái đêm bị kẻ lạ mặt bắt đi và cưỡng bức ở ven sông trấn Hà Châu, tỉnh dậy, A Kế Mỹ không còn cách nào khác là theo đoàn kỹ nữ đến Edo và xin nhập bọn vậy. Nàng mang tên mới do Thôi Nãi Phu đặt cho từ đó.

Thấm thoắt thế mà đã gần hai năm. Kiếp bèo giạt tưởng tạm yên, ai ngờ định mệnh lại đưa đẩy gã này đến với nàng lần nữa. A Kế Mỹ sợ và ghét Cát Xuyên Mộc. Cũng như Sĩ Khánh và tên cường đồ đã cưỡng bức nàng, A Kế Mỹ thấy người đàn ông nào cũng ích kỷ, tàn bạo và đáng ghê tởm, ngoại trừ một người ... Người đó, chao ôi ! nghĩ đến chỉ khiến nàng tủi thân muốn khóc. Sự sợ hãi thúc đẩy A Kế Mỹ tìm cách tránh mặt ba người khách. Nàng nép mình trốn trong đống gỗ vụn và dăm bào của căn lều đang dựng ở sân sau. Ngoài kia tiếng gọi “Mộ Hoa Nương” vang đến tai nàng lẫn với tiếng ồn ào của khách chơi đêm, tiếng sênh phách và những tiếng rao hàng lanh lảnh.

Mỗi tiếng gọi lại như làm tăng thêm nỗi lo sợ của A Kế Mỹ khiến nàng cố thu mình nhỏ lại hơn trong bóng tối như con chuột trong lỗ sâu. Nàng ngồi như thế lâu lắm, lắng nghe động tĩnh. Cho đến khi không còn tiếng réo gọi nữa và đồ chừng khách đã đi khỏi, A Kế Mỹ mới bò ra, len lén xuống bếp. Thấy nàng, mụ đầu bếp ngạc nhiên:

- Mộ Hoa Nương ! Đi đâu về thế ? Bao nhiêu người tìm, cả chủ nhân cũng ...

- Khe khẽ chứ ! Chủ nhân đâu ?

- Ông lên nhà khách rồi.

- Cho ta chén rượu.

- Rượu bây giờ ư ?

- Ừ, nhanh lên !

Với hũ rượu trên kệ, mụ rót một chén rượu đưa A Kế Mỹ. Nàng ngửa cổ uống một hơi cạn, lấy vạt áo chùi mép đoạn chạy ra cửa.

- Đi đâu đấy ?

- Ta ra giếng sau rửa chân.

- Nhớ lên trình chủ nhân, nghe !

Nhưng A Kế Mỹ không lên đại sảnh gặp Thôi Nãi Phu. Nàng vòng qua bếp mở cổng sau ra đường. Gió đêm thổi lành lạnh. Chút rượu vừa uống khiến nàng chếnh choáng say. Nhìn mấy khung cửa giấy sáng, trên đó hiện lên hình một hai kỹ nữ với khách làng chơi ngồi kề vai nhau, A Kế Mỹ nhổ nước bọt rồi cắm cúi đi thật nhanh về phía trước.

Một cái hố, nước mưa đọng lưng chừng, phản chiếu nền trời sao lấp lánh. A Kế Mỹ dừng lại ngắm, rồi nghĩ thế nào, nhìn lên trời tìm ngôi sao lớn nhất, nàng thì thầm một lời ước.

Đằng xa về phía sau, bóng đèn lồng thấp thoáng. Gió thoảng đưa tiếng chân người và tiếng gọi “Mộ Hoa Nương” đến tai A Kế Mỹ.

Nàng tức giận rủa thầm:

- Đồ súc vật ! Chúng không để người con gái đau khổ này yên thân được lúc nào chăng ? Nước mắt và mồ hôi của ta trong bấy lâu không đủ để chúng mua thêm được cái cột hay cây kèo nào sao ?Đừng hòng bắt ta trở về nữa !

A Kế Mỹ rẽ theo đường mòn xuống ruộng. Trong bóng tối, nàng rảo bước đi nhanh, hy vọng chóng ra khỏi chỗ này càng sớm càng tốt.

Trên đầu nàng, vướng trong tóc, một mảnh vỏ bào cũng theo nhịp chân nàng bước mà nhún nhảy như múa.

oo Khi cả ba dời khỏi trà thất thì Cát Xuyên Mộc đã say chếnh choáng, phải vịn tay vào vai Lý Tuất mới đi được.

Phố xá vắng teo. Về đến gần bờ lạch, trời tối om nhất là qua những quãng đường có tàng cây rậm rạp. Đêm không trăng, dưới ánh sao lờ mờ khi ẩn khi hiện, cả ba bước thấp bước cao, không phân biệt được chỗ nào là đường chỗ nào là vệ cỏ nữa Lý Tuất bực dọc nói bâng quơ:

- Đã bảo ngủ lại, mai về có phải hơn không !

Liêu Túc cũng phụ họa:

- Phải rồi. Sao đại hiệp không ngủ lại ?

- Ngủ ở đâu ? Cát Xuyên Mộc lè nhè. Ở cái trà thất hôi hám đó à ? Không đời nào !

Thà trở lại quán Lạc Thiên còn hơn.

- Không nên ...

- Sao lại không nên ?

- Nàng đó tuy biết đại hiệp song lại cố ý lánh mặt. Như thế thì còn thú vị nỗi gì ?

Cát Xuyên Mộc đập tay vào vai Lý Tuất:

- Phải ! Phải ! Ngươi nói phải lắm !

- Đại hiệp muốn cùng vui với nàng không ?

- Không.

- Nhưng vẫn nhớ nàng phải không ?

- Trong đời, ta chưa bao giờ nhớ ai cả. Ta không phải hạng người dễ say mê đàn bà. Ta có nhiều việc khác phải làm !

- Việc gì ?

- Tiền tài ! Danh vọng ! Lòng ngưỡng mộ của người đời ! Ta muốn ...

- Ấy cẩn thận ! Đống đá trước mặt !

Cát Xuyên Mộc tránh sang bên. Đột nhiên, hắn gạt tay Lý Tuất và Liêu Túc rồi quát lớn:

- Ai ?

Một bóng đen nhào tới, mũi kiếm phóng thẳng vào bụng Cát Xuyên Mộc cùng với tiếng thét:

- Coi đây !

Tình hình khẩn cấp khiến Cát Xuyên Mộc tỉnh hẳn rượu. Hắn nghiêng mình tránh mũi kiếm sát thủ, rồi nhảy lên tảng đá đảo mắt nhìn. Quanh hắn, hàng chục bóng đen khác lố nhố từ các lùm cây ven lộ xông ra - Súc sinh ! Mày giết bạn đồng môn của ta, mày phải chết.

Cát Xuyên Mộc cười gằn, với tay ra sau lưng rút “cây sào phơi” nhanh như một lằn chớp.

Chương 63: Đĩa cá nướng

Bỏ ý định đi Mitsu gặp Liêu Chính Mộ Đức, Thạch Đạt Lang phiêu bạc khắp miền trung nước Nhật gần hai năm. Cuộc sống khổ hạnh, bất trắc đã tôi luyện chí khí hắn, cho hắn nhiều dịp giúp đỡ đồng loại và những kinh nghiệm quý báu về kiếm thuật. Say mê nếp sống hải hồ, phóng dật, Thạch Đạt Lang không để ý đến bề ngoài. Quần áo lôi thôi lếch thếch, râu ria lởm chởm, hắn mặc kệ, đói thì đào củ, hái trái cây rừng mà ăn, lạnh thì hiên chùa, cùng lắm bụi cây, hốc đá chố nào cũng là chỗ trú.

Sau khi thoát hiểm trên đồi Hòa Đa, hắn đến Edo lưu lại vài ngày rồi lại hướng về phía Thiên Đài mà đi. Hắn không muốn sự ràng buộc nào nên đã quyết định không lên phương bắc phục thị Liêu gia nữa. Số tiền Mạc Khải Kỳ tặng chưa trả được, Thạch Đạt Lang vẫn còn áy náy.

Cuộc sống phiêu bồng đưa đẩy hắn đến bình nguyên Hotengahara, nơi đây năm trăm năm trước, Nasakado đã khởi loạn. Bình nguyên này cho đến ngày nay vẫn thế :

một vùng hoang vu đầy lau thưa với cỏ dại. Đây đó, vài gốc sồi ngả nghiêng bên những thân cây mục nát đổ dài trên đất sỏi như xác những kẻ chiến bại bị đốn ngã từ nhiều thế kỷ trước.

Mặt trời xế về tây. Ráng chiều nhuộm hồng mặt nước đầm cỏ lác gần đó khiến bóng những ngọn cói đen, cao, rõ rệt như cắt trên nền nước sáng.

Nhìn quanh không hy vọng gì có chỗ trú ngụ qua đêm, Thạch Đạt Lang ngồi nghỉ chân bên một gốc cây mục. Hắn cảm thấy mệt mỏi. Sau trận bão vừa qua trên đồi Tochigi, khí trời ẩm thấp lùa vào lần áo trong làm hắn rùng mình ớn lạnh. Đã mấy hôm nay chỉ ăn hạt giẻ với rễ cây, hắn ao ước một bếp lửa ấm, một bát cháo nóng hay một thứ gì ăn cho chắc bụng.

Cơn gió thoảng mang đến vị mằn mặn của muối. Tiếng ếch kêu lúc xa lúc gần.

Thạch Đạt Lang đoán chừng sắp hết bình nguyên. Cứ đi nữa chắc sẽ ra bờ biển, có thể gặp xóm chài nào đó xin tá túc. Nếu không lại phải ngủ qua một đêm ngoài trời nữa.

Những lúc khác, có lẽ Thạch Đạt Lang đã tận hưởng cái thú được một mình trong cảnh tịch mịch như thế này. Nhưng sau nhiều ngày thiếu thốn, hắn chỉ thấy một cảm giác đau thương đến buốt nhói trong lòng và muốn xua đuổi cái cảm giác ấy đi. Trớ trêu thay, tiếng muỗi vo ve cùng những tiếng côn trùng ri rỉ xung quanh lại như đồng lòng lôi kéo, bao vây hắn trong niềm cô quạnh mà hắn không sao dứt ra được.

Thạch Đạt Lang đứng lên men theo con lạch nhỏ. Đến bờ đầm, bỗng nghe bì bõm trong đám cỏ lác, rõ là tiếng chân người hoặc tiếng rái cá bắt mồi. Đầm này sâu, mặt nước cao, chắc rái cá tụ vào đây không phải là ít ! Trong bóng tối chập choạng, hắn mở to mắt nhìn. Quả có bóng người đang lúi húi. Trông kỹ thì ra một đứa trẻ.

Thấy động, thằng bé ngẩng lên. Nó cũng chẳng khác gì con rái cá, quần áo đầy bùn đất nhưng hai mắt long lanh, đen, tròn nhìn Thạch Đạt Lang dò xét.

Mừng được gặp đồng chủng, Thạch Đạt Lang cười vui vẻ:

- Chú bé làm gì đó ?

- Bắt cá !

Thằng bé đáp gọn lỏn, đồng thời giơ cho hắn xem chiếc rổ tre đựng chừng chục con cá to bằng ba ngón tay, vẩy trắng bạc đang quẫy lẫn trong những cọng rong và lá cỏ phủ trên mặt.

- Nhiều cá nhỉ !

Thằng bé lắc đầu:

- Cũng chẳng nhiều. Bắt từ trưa đến giờ mới được chừng ấy. Mùa thu rồi, cá trốn xuống bùn hết.

- Bán cho ta được không ?

- Bán chỗ cá này ấy à ?

- Ừ, cho ta mua, ta sẽ trả tiền.

- Không được. Cá này tôi bắt về cho cha tôi.

Dứt lời nó ôm rổ cá nhảy lên bờ. Một loáng đã mất dạng trong đám cỏ tranh cao bằng đầu người, không để lại dấu vết.

- Thằng này nhanh nhẹn quá !

Thạch Đạt Lang bất giác hồi tưởng lại những kỷ niệm cũ thuở thiếu thời và nghĩ đến Giang, đứa học trò nhỏ bây giờ chẳng biết trôi giạt nơi đâu. Lần cuối gặp Giang ở trấn Kiso, gần biên giới tỉnh, bấy giờ nó mới mười lăm. “Nay chắc đã lớn, gần mười bảy tuổi rồi còn gì ! Tội nghiệp ! Nó gọi mình là sư phụ, tôn kính phục thị mình mà mình đã làm được gì cho nó đâu !”.

Nhớ đến những lúc đi với Giang và Oa Tử, hắn phiền muộn khôn cùng, tự trách mình đã không làm tròn bổn phận bảo vệ hai người trong cơn hoạn nạn. Trăng lên từ bao giờ hắn không biết. Mãi khi nhìn thấy bóng mình kéo dài trên nền cỏ ướt sương, hắn mới sực tỉnh. Vầng trăng đầy, tròn vành vạnh tỏa ánh sáng lung linh lên cánh đồng mênh mông càng làm tăng nỗi hiu quạnh trong lòng hắn. Nhớ lại những đêm trăng sáng như đêm nay, Oa Tử thường mang sáo ra thổi. Qua nhạc dế nỉ non, Thạch Đạt Lang nghe văng vẳng tiếng sáo của Oa Tử xen lẫn với những tiếng cười trong như thủy tinh của nàng và Giang. Thạch Đạt Lang lẳng lặng đi như kẻ mộng du. Vầng trăng chênh chếch ngang vai, biểu tượng mối tình son sắt của nàng, theo hắn từng bước, trung thành và im lặng.

Đi như thế chẳng biết bao lâu, bỗng xa xa thấy thấp thoáng có ánh đèn. Mừng được chỗ nghỉ chân và biết đâu chẳng có cái gì ăn lót dạ, Thạch Đạt Lang rảo bước về phía ấy.

Nhưng đến nơi, căn lều gỗ trơ trọi đen ngòm sau rặng lau cao khiến hắn e ngại.

Cửa đã đóng kín. Một tiếng ngựa hí vang. Hắn giật mình nắm đốc kiếm.

- Ai đó ?

Hắn nhận ngay ra giọng thằng bé bắt cá hồi chiều.

- Ta là khách lỡ đường, muốn ngủ nhờ một đêm, sáng mai đi sớm.

Tấm ván cũ dùng làm cửa được kéo sang bên, đứa trẻ thò đầu ra dò xét.

- À ! Ông khách !

Đoạn bước hẳn ra ngoài, nhìn Thạch Đạt Lang một lúc, nó nói:

- Được, mời ông vào.

Căn lều đổ nát quá đỗi. Mái tranh nhiều lỗ hổng, ánh trăng xuyên qua vẽ lên vách lá những vệt sáng tròn loang lổ. Cuối lều sát với một căn phòng, tạm gọi là phòng vì được ngăn ra bằng mấy tấm ván cũ, là một chỗ lõm xuống dùng làm bếp. Trong bếp than, sậy đã tàn nhưng mùi khét của những thân sậy chưa cháy hết vẫn còn phảng phất.

Đứa bé khêu to ngọn đèn dầu thông đặt trên bệ đất, mời Thạch Đạt Lang ngồi vào chiếc chiếu độc nhất trải trên nền nhà rồi quỳ xuống trước mặt hắn, trang trọng nói:

- Xin tha lỗi, nhà nghèo không có gì đãi khách. Lúc nãy ở ngoài đầm, ông ngỏ ý muốn ăn cá, bây giờ còn ý muốn ấy không ?

Trong căn lều nát, dáng trịnh trọng của thằng bé khiến Thạch Đạt Lang ngạc nhiên. Hắn không nói mà chỉ nhìn nó chăm chú. Thấy khách nhìn, thằng bé cũng nhìn lại, chờ câu trả lời.

- Ngươi bao nhiêu tuổi ?

- Mười hai.

Đứa trẻ đáp buông sõng. Nhìn khuôn mặt nó, Thạch Đạt Lang phân vân vì nó hao hao giống một khuôn mặt nào đó hắn không nhớ. Tuy thằng bé nhem nhuốc đen đủi như củ sen vừa móc dưới bùn lên, nhưng khuôn mặt ấy có nhiều nét thanh tú. Đặc biệt là đôi mắt sắc sảo vô cùng, vừa thông minh vừa cương nghị khiến hắn có cảm tình ngay.

Không thấy khách nói gì, đứa trẻ lại tiếp:

- Trong nhà cũng còn cháo kê nấu đậu. Cá nướng phần cha tôi rồi, ông có thể dùng chỗ còn lại.

Thạch Đạt Lang mỉm cười nghe câu nói thật thà ấy. Hắn gật:

- Tốt lắm. Vậy mang ra đây cho ta.

- Ông dùng trà không ?

- Nếu có trà thì còn gì bằng !

- Vậy ông chờ đấy.

Thạch Đạt Lang nghe tiếng đứa nhỏ bẻ những thân sậy ở phòng trong rồi tiếng thổi lửa phù phù. Chắc nó đang đun nước.

Qua khe vách, khói cuồn cuồn tuôn ra, xua hàng đàn muỗi với bọ mát bay tứ tung khắp chỗ.

Lát sau thằng bé bưng ra một cái khay gỗ trên bày lộn xộn những thứ thực phẩm vừa kể, kèm theo một ấm trà, đôi đũa và cái bát sành, để tất cả lên chiếu trước mặt khách.

Đang đói bụng, Thạch Đạt Lang không nề hà, ăn một loáng đã hết cả món cá nướng và bát kê nấu đậu. Hắn chép miệng ra vẻ còn thòm thèm, gật đầu cám ơn thằng bé.

- Ngon lắm ! Cho ta gửi lời cảm ơn chủ nhà nữa. Chủ nhà đâu ? Chắc ngủ rồi !

Đứa trẻ cười hì hì, lấy tay chỉ vào mũi mình:

- Chủ nhà đây !

Thạch Đạt Lang trố mắt:

- Ngươi là chủ nhà ?

Đứa trẻ gật. Yên lặng ngượng nghịu một lát, Thạch Đạt Lang lại hỏi:

- Ngươi ở một mình thì làm gì mà sống ?

- Bắt cá, trồng rau, cho thuê ngựa. Con ngựa buộc đằng trước ông thấy đó. Tôi cho thuê và làm nài giữ ngựa luôn.

Thằng bé vừa nói vừa thu xếp khay mang vào.

- Khuya rồi, ông đi nghỉ thôi ! Nằm ngay trên chiếu ấy. Nhà chỉ có thế !

Thạch Đạt Lang cảm ơn, cởi áo ngoài ra làm gối, dựa song kiếm vào vách cạnh túi hành trang rồi nằm nghỉ. Giấc ngủ đến chập chờn. Qua tiếng muỗi vo ve, hắn nghe đâu đây tiếng mưa rơi trên mái tranh và tiếng rin rít của sắt đá cọ vào nhau. Tỉnh dậy, mồ hôi toát ra như tắm ướt cả lần áo lót.

Bên ngoài, ánh trăng vẫn vằng vặc. Từ hiên vọng vào nhiều tiếng xoèn xoẹt, dường như có người đang mài dao trên đá. Một con dao hay một lưỡi kiếm ? Thạch Đạt Lang nhẹ nhàng ngồi dậy, đưa tay với thanh trường kiếm kéo lại gần mình. Tiếng mài dao dừng lại, tiếp theo giọng đứa trẻ hỏi:

- Ông tỉnh rồi à ?

Hắn cau mày. “Sao nó biết mình đã tỉnh ?” và hết sức ngạc nhiên về sự linh mẫn của thằng bé.

Ghé mắt qua khe vách, hắn thấy thằng bé bắt cá đang ngồi mài một lưỡi dao, loại dao dùng để phát cỏ của nhà nông, dài đến hơn thước. Bên cạnh nó là cái hũ sành đựng nước.

- Ban đêm mài dao làm gì vậy ?

- Ông sợ hả ?

Câu hỏi như nhát kiếm đâm vào tâm thức Thạch Đạt Lang. Hắn yên lặng, tự hỏi hay thằng bé này là một con rái cá thành tinh ở dưới đầm hiện lên trêu chọc hắn. Ở những chốn đầm lầy, thiếu gì chuyện chồn, cáo, rái cá sống lâu năm thành tinh có thể đọc được những ý tưởng thầm kín của người ta rồi đội lốt người, hiện lên quấy phá.

Thạch Đạt Lang đứng dậy bước ra hiên đến bên thằng bé:

- Ngươi mài dao làm gì thế ? Hắn hỏi lại.

Đứa trẻ chùi lưỡi dao và quần rồi giơ lên cao. Lưỡi dao loáng dưới ánh trăng. Nó đưa hai ngón tay sờ thử xem sắc hay nhụt, đoạn nói:

- Ông nghĩ dao này chặt người làm đôi được không ?

Thạch Đạt Lang cau mặt:- Còn tùy ...

Thằng bé ngẩng nhìn Thạch Đạt Lang ra ý hỏi.

- Còn tùy cách sử dụng. Ngươi biết cách dùng nó không ?

- Biết chứ !

- Định chặt ai thế ?

- Cha tôi !

Câu trả lời khiến Thạch Đạt Lang giật mình sửng sốt. Từ khi bước vào lều, hắn không ngờ đứa trẻ lại có ý tưởng ghê gớm đến thế !

- Chặt cha ngươi ra làm đôi ? Ngươi nói đùa không đấy ?

- Thật mà !

Thạch Đạt Lang phẫn nộ kêu lớn:

- Ngươi có ý định giết cha ? Ngươi có biết thế là vô luân hay không ? Đến lang sói ở đồng hoang này cũng không thế !

- Tôi đâu có giết. Tôi chỉ cắt đôi ra thôi mà ...

- Thằng này điên rồi !

Thạch Đạt Lang nhảy lại định giật con dao. Nhưng thằng bé kêu lên:

- Không ! Không ! Nếu không chặt ra thì làm sao tôi mang đi chôn được !

Thạch Đạt Lang khựng lại:

- Thế cha ngươi chết rồi à ?

- Phải. Chết rồi ! Lúc sáng.

Thạch Đạt Lang thở phào tựa người vừa trút được một gánh nặng. Nhìn ra xa, đồng cỏ hun hút dưới ánh trăng mơ hồ như trong truyện liêu trai. Hắn lắc đầu, không ngờ cuộc đời lại có những chuyện bi hài đến thế được !

- Thi thể để đâu ?

- Ở phòng trong, ông vào mà coi !

Thạch Đạt Lang theo thằng bé vào phòng. Nó mang theo cái đèn đã khêu to ngọn đặt lên chiếu. Trên chiếu, xác một ông già mặt kimono mới, nằm ngay ngắn, tay để lên ngực, mái tóc bạc phơ cuốn gọn gàng trong chiếc mũ vải nông dân. Đầu chiếu, trên một cái kệ thấp bày bát cơm, bát nước và một đĩa gỗ đựng mấy con cá nướng, một cái lọ nhỏ cắm vài bông hoa dại còn tươi.

Trông đĩa cá, nhớ đến lúc hắn đòi mua những thứ ấy của thằng bé mang về làm lễ cúng cha, Thạch Đạt Lang cảm thấy bẽ bàng. Nghĩ rằng hắn cũng đã chia sẻ một phần những lễ vật kia, Thạch Đạt Lang chắp tay cúi đầu kính cẩn trước thi hài chủ nhân để tỏ lòng cám ơn và từ biệt.

Thằng bé mắt đỏ hoe. Nó không khóc, chỉ bậm môi. Thạch Đạt Lang khen cho lòng can đảm ấy và liên tưởng đến hành động thực tế của nó, mài dao định cắt thi thể cha ra để mang đi chôn cho dễ, hắn không biết phải nghĩ thế nào. Trong những tâm hồn hoang dã, ý niệm về luân lý có khác với ý niệm của mọi người. Một hành động khác thường trong một cảnh huống khác thường, âu đành coi như vậy !

- Ngươi định chôn cha ngươi ở đâu ?

- Trên đồi. Chỗ ấy cao, không ngập nước.

- Không mướn được ai khiêng xác hay sao ?

- Không có tiền.

- Ta tặng một số tiền làm ma.

Đứa trẻ lắc đầu:

- Cha tôi không muốn thế. Ông không nhận tiền tặng của ai bao giờ, mà cũng không muốn lễ lạc gì ở chùa nên không cần tiền.

Xem thái độ của thằng bé và nghe những lời nó nói thì gia đình này chắc không phải gia đình nông dân và có một quá khứ muốn giấu. Tôn trọng ý muốn ấy, Thạch Đạt Lang đề nghị giúp đứa nhỏ trong việc chôn cất.

Hôm sau, mới hửng sáng, thi thể ông lão đã được bó chặt lên lưng ngựa chở đi, đứa bé dẫn đường và Thạch Đạt Lang theo sau.

Đồng hoang khá rộng, nhiều chỗ lầy lội chỉ mọc toàn một thứ cỏ lác. Gặp những chỗ như thế, ngựa chở nặng không qua được, Thạch Đạt Lang phải vác thi thể ông lão lên vai, lựa chỗ đất rắn hoặc bước lên thân cây đổ mà đi. Xế trưa mới tới bãi tha ma trên một quả đồi trong một khu rừng thưa. Rải rác đây đó vài ngôi mộ, có ngôi chỉ còn là những nấm đất thấp lè tè, cỏ đã vàng cháy.

Tìm đến chỗ mấy ngôi mộ cũ có dựng bia, đứa bé ngỏ ý muốn an táng cha ở đấy.

Hai người hì hục đào huyệt xong, đặt thi thể ông lão xuống và lấp đất. Đứa bé cắm những bông hoa dại lên mồ rồi chắp tay cung kính vái. Nó nói:

- Ông bà và mẹ tôi chết đều chôn ở đây cả. Những mộ này là mộ các vị ấy.

- Sao không có danh tính gì khắc trên bia mộ ?

- Ông tôi không cho ! Cha tôi dựng những tấm bia đá này để đánh dấu. Theo lời kể lại thì lúc còn sống, ông tôi được nhiều nhà quyền quý đến thăm, mời giữ nhiều chức vụ.

Nhưng ông tôi không nhận, bảo rằng kiếm sĩ chỉ thờ một chủ. Nếu thất bại, không bảo vệ được chủ soái thì phải mai danh ẩn tích đi. Cho nên ông tôi về cày ruộng, không muốn lộ danh tính nữa.

- Ngươi biết tên tổ phụ ngươi là gì không ?

- Không. Cha tôi không cho biết.

- Cha ngươi tên gì ?

- Người ta thường gọi là Hạo ông.
- Thế còn ngươi ?

- Tôi tên Hạo đồng.

- Có anh chị em gì không ?

- Có. Có một người chị lớn nhưng không biết mặt vì khi tôi sinh ra thì chị tôi đã biệt tích rồi. Không biết giờ ở đâu !

- Bây giờ còn một mình, ngươi định làm gì ?

- Không biết nữa. Chắc vẫn bắt cá, trồng rau, chăn nuôi như trước.

Trên đường về, Thạch Đạt Lang nhìn cảnh bình nguyên trải dài trước mặt. Hắn lấy làm lạ tuy ở đây không có cây to, nhưng đất đai chẳng phải không màu mỡ. Xem những bụi lau, bụi cói thì biết. Xanh biếc tốt tươi. Chỉ những chỗ nào xa bờ đầm thì cỏ mới úa vàng cằn cỗi. Vấn đề có lẽ là nước. Hoặc trời ít mưa hoặc không giữ được nước lâu.

Nếu biết chế ngự thiên nhiên, con người sẽ giàu mạnh. Không hiểu vì sao vùng bình nguyên này lại không được khai phá. Cư dân ở đây quá nghèo. Đất rộng dân thưa mà phải chịu cảnh cơ cực thì cũng lạ. Nhìn Hạo đồng đi bên cạnh dắt ngựa, hắn tự nhủ:

“Như thằng bé này can đảm và tháo vát, nếu chưa khá được, chắc cũng vì còn nhỏ tuổi quá mà thôi !”.

- Hạo đồng ! Ngươi muốn ở đây cả đời trồng rau, bắt cá không ?

Nó lắc đầu:

- Không !

- Ngươi ước muốn làm gì ?

- Làm kiếm sĩ. Tôi muốn được như cha tôi.

- Cha ngươi là nhà nông, đâu phải kiếm sĩ !

- Vừa là nhà nông, vừa là kiếm sĩ. Tôi vẫn thường xem ông luyện kiếm ở sau nhà.

Thạch Đạt Lang không hỏi nữa, lẳng lặng đi bên Hạo đồng. Những lời hắn dự đoán quả không sai. Hắn thấy thương thằng bé.

Lát sau, Hạo đồng ngập ngừng hỏi:

- Ông khách ! Ông cũng là kiếm sĩ phải không ?

Thạch Đạt Lang gật:

- Ngươi hỏi làm gì ?

- Cha tôi chết rồi, không còn ai thân. Ông cho tôi theo được không ?

Thạch Đạt Lang không đáp, cứ lẳng lặng đi. Hắn đã đoán trước ý thằng bé nhưng phân vân quá. Giang là đồ đệ mà hắn cũng chưa làm được gì cho nó, lại không biết hiện giờ Giang ở đâu; nay nhận thêm Hạo đồng nữa, trách nhiệm càng nặng, biết có chu toàn được không hay chỉ làm nó khổ ! Nhưng thấy thằng bé nhỏ tuổi mà can đảm, trong tình trạng tứ cố vô thân khẩn cầu mình, nếu không giúp, nó sẽ trông vào ai ? Nếu cứ sợ trách nhiệm thì không làm được gì. Cha mẹ sinh con, chưa chắc đã bảo đảm được đường đi của con mình ...Vả lại ai có thể khách quan để cả quyết được đường này đối với nó là tốt, đường kia đối với nó là xấu ? Hạo đồng muốn trở thành kiếm sĩ ? Được ! Nếu ước vọng của nó chỉ có thế, ta có thể dẫn dắt nó và trong cảnh ngộ này, có lẽ ta chỉ làm được vậy thôi.

Mải suy nghĩ và bị giằng co bởi lòng thương người và trách nhiệm, Thạch Đạt Lang vẫn chưa trả lời đứa bé.

- Nếu ông thuận, tôi sẽ dẫn ngựa và hầu hạ Ông. Ông chỉ phải dạy tôi cách đánh kiếm.

Thạch Đạt Lang bật cười:

- Không phải chỉ có thế. Muốn trở thành kiếm sĩ, ngươi phải nhẫn nhục và chịu nhiều gian khổ.

Cho là Thạch Đạt Lang không chịu thu mình làm đồ đệ, Hạo đồng quỳ ngay xuống trước mặt hắn, khẩn khoản:

- Xin ông giúp tôi thành kiếm sĩ. Lúc còn sống, cha tôi vẫn ước mong như thế nhưng chẳng tìm được ai để nhờ cậy.

- Hừ ! Thôi đứng lên ! Trước khi quyết định, ngươi hãy cho ta biết ngươi có đủ ý chí và khả năng không đã !

Hạo đồng mừng cuống quít:

- Dạ đủ ! Đủ !

- Khoan, để xem.

Rồi nhìn quanh, Thạch Đạt Lang tìm được một cành cây gãy, nhặt đưa cho đứa bé:

- Cầm cành này đánh ta. Xem ngươi dùng gậy ra sao.

- Nếu đánh trúng, ông cho tôi theo chứ ?

- Cứ thử đi đã.

Hạo đồng cầm cành cây múa tít xông vào. Thạch Đạt Lang né tránh rồi luồn ra phía sau phát vào lưng nó khiến nó ngã sấp. Lồm cồm bò dậy, thằng bé lại nhảy tới dùng cành cây đâm vào bụng Thạch Đạt Lang. Lần này nó chỉ đâm dứ. Cành cây chưa đến bụng, nó đã thu về phạt ngang chân địch thủ.

Thấy Hạo đồng cũng biết biến chiêu và cách cầm côn của nó tuy vụng về nhưng không đến nỗi tệ, Thạch Đạt Lang khen:

“Giỏi !”. Hắn đá cành cây bắn ra xa rồi thuận tay nắm thắt lưng thằng bé nhấc bổng lên. Hạo đồng dãy dụa, tức giận mặt đỏ bừng nhưng không thốt một lời nào.

- Ngươi đã chịu chưa ? Có muốn học kiếm nữa không ?

- Vẫn muốn học.

- Để làm gì ?

- Để thắng địch thủ.

- Ngươi trong tay ta, thắng thế nào được !

- Ông khỏe và lớn hơn tôi nhưng tôi sẽ tập luyện để thắng.

Thạch Đạt Lang cười ha hả:

- Ngươi nên nhớ trong khi ngươi tập thì ta cũng tập ...

- Nhưng ông nhiều tuổi hơn, ông già trước tôi. Tôi thắng ông được !

- Hừ ! Nếu ta vất ngươi xuống phiến đá kia cho ngươi dập xương mà chết, ngươi có sợ không ?

- Không sợ !

- Bướng thật !

Hắn ném Hạo đồng xuống cỏ. Thằng bé đau nhưng vùng trở dậy nhặt cành cây xông vào nữa, lần này dáng quyết liệt.

- Thôi !

Thạch Đạt Lang xua tay. Hắn nhìn Hạo đồng lăm lăm cây gậy, cười mà bảo nó:

- Được rồi. Ta thu ngươi làm đồ đệ.

Về đến lều, trời tối mịt. Trên quãng đường còn lại, Hạo đồng vui vẻ hết sức, nhất định mời Thạch Đạt Lang ngồi lên lưng ngựa để nó dẫn đi. Cách xưng hô của nó với Thạch Đạt Lang cũng đổi khác. Nó gọi Thạch Đạt Lang là thầy và xưng con.

Tuy không được học hành nhưng Hạo đồng tỏ ra lễ phép và cũng biết đôi chút đạo lý mà Thạch Đạt Lang đồ chừng đã được cha nó dạy cho. Ngoài ra, về gia thế, nó không rõ gì hơn ngoài họ nó là Hạo.

- Ông con trước khi chết đã đốt hết gia phả. Cha con lại không muốn tiết lộ lý lịch của tổ tiên nên đến đời con không còn biết gì nữa.

Thạch Đạt Lang thở dài:

- Thật đáng tiếc ! Con là Hạo đồng, nhưng đồng không phải là tên riêng mà chỉ có nghĩa là thằng nhỏ. Từ nay ta gọi con là Hạo Nhiên, con có bằng lòng không ?

- Hạo Nhiên là gì hả thầy ?

- Hạo Nhiên là ngay thẳng. Ta muốn suốt đời con giữ cái chí khí ngay thẳng con vẫn có.

- Vậy con xin bái lĩnh.

Nói đoạn dập đầu xuống lạy tạ.

- Hạo Nhiên ! Ngày mai chúng ta sẽ lên đường đi khỏi nơi đây. Đêm nay là đêm cuối cùng con sống dưới mái nhà này. Mười hai năm, chắc con có nhiều kỷ niệm. Hãy giữ những kỷ niệm ấy, đừng quên con thuộc dòng họ Hạo.

Mắt Hạo Nhiên mờ lệ.

- Thế con có được mang vật gì làm kỷ niệm trong nhà này không ?

- Được ! Con thích vật gì cứ mang, nhưng đừng cồng kềnh, cản trở bước đường phiêu lưu của con.

Hạo Nhiên vào phòng trong, lấy cái đĩa gỗ đựng cá cúng cha cất vào bọc.

Chương 64: Khẩn hoang

Tinh sương ngày hôm sau, hành trang của Hạo Nhiên đã được gói gọn trong một cái đẫy vải. Nhưng nó bịn rịn mãi, hết đi ra lại đi vào, dường như không dứt ra khỏi được mấy luống hành và rau cải giồng trong vườn, lòng bâng khuâng nhớ tiếc. Thạch Đạt Lang cũng đã dậy. Hạo Nhiên nhóm lửa pha trà nóng bưng lên. Nhìn tiểu đồ gọn gàng trong bộ kimono mới màu chàm, chân đi dép cỏ, hắn chạnh lòng nhớ đến Giang. Trông Hạo Nhiên như một con ếch nhỏ, gầy guộc. Thấy ánh mắt thằng bé thoáng vẻ lo âu, Thạch Đạt Lang gọi nó đến gần:

- Hạo Nhiên ! Bỏ nơi này đi, con có hối hận gì không ?

Nó khẽ lắc đầu:

- Không ! Con chỉ hơi buồn.

Nhưng vội tiếp ngay, giọng cả quyết:

- Con đã nhất định rồi. Con không hối hận.

- Vậy tốt. Mong con thành đạt. Bây giờ hãy dẫn ngựa ra buộc vào cây đằng kia rồi thu xẻng cuốc, búa rìu lại, phòng có lúc dùng đến.

- Thế thầy cũng đi chứ ? Để con dẫn ngựa tới.

- Cứ làm theo lời ta bảo đã !

Buộc ngựa xong và gom nông cụ lại rồi, Hạo Nhiên trở lại đến bên thầy chờ sai khiến.

- Căn nhà này đã che mưa nắng cho con trong nhiều năm. Bây giờ bỏ đi, con hãy cám ơn và vĩnh biệt nó, đừng luyến tiếc.

Rồi Thạch Đạt Lang lại tiếp:

- Ta sẽ đốt nó đi, con bằng lòng không ?

- Đốt đi ?

- Ừ. Nếu bỏ hoang, nó sẽ là nơi trú chân của quân cường đạo. Tủi vong hồn tổ phụ con và chắc cha con cũng không bao giờ muốn thế !

Hạo Nhiên lặng thinh, nhưng lòng nó bồi hồi muốn khóc. Lát sau, nó gật đầu.

Khi Thạch Đạt Lang bước ra, căn lều đã chớm bốc khói. Chỉ một loáng, ngọn lửa phừng phừng dâng cao, đỏ rực. Tàn than như những cánh bướm đen chao lượn trên không. Gió thổi ù ù giữa những tiếng nổ răng rắc của thân tre và thân sậy. Hai thầy trò đăm đăm đứng nhìn ngọn lửa thiêu dần túp lều cho đến khi cả mái lều sập xuống.

Hạo Nhiên bỗng khóc òa. Thạch Đạt Lang vỗ lưng nó, an ủi:

- Thôi, ta đi, con ! Nếu cứ bận tâm về dĩ vãng thì chẳng bao giờ làm được việc gì cả.

Thằng bé miễn cưỡng chùi nước mắt, nhặt đẫy vải đeo lên vai, lủi thủi theo thầy đến chỗ buộc ngựa. Ngoài nhìn đống tro nghi ngút khói, chỗ trước kia là căn nhà nó ở với người thân, không cầm lòng được, nước mắt Hạo Nhiên lại trào ra.

- Con buộc nông cụ và những đồ dùng khác lên lưng ngựa, ta với con đi bộ. Cũng gần đây thôi.

- Đi đâu vậy thầy ?

- Đến đồi đằng kia. Ta sẽ dựng ở đó một căn nhà mới.

Hạo Nhiên không hiểu rõ ý thầy, ngước mắt nhìn:

- Ta vừa đốt nhà cũ mà. Dựng nhà mới làm gì ?

- Nhà đó là của tổ phụ con. Chỗ ấy trũng dễ bị lụt lội. Ta đã có chủ ý. Căn nhà chúng ta sắp dựng đây sẽ là của chúng ta.

- Thế thầy định cứ ở đây mãi sao ?

Thạch Đạt Lang gật đầu:

- Phải rồi. Chúng ta sẽ ở đây một thời gian.

- Thầy không đi đâu luyện tập và học hỏi nữa sao ?

- Ta sẽ luyện tập ngay tại đây.

- Ở đây ? Ở đây thì có gì mà luyện tập ?

- Tự ép mình vào kỷ luật, tập gian khổ, giữ tâm cho vững là căn bản của mọi thành công. Đường kiếm tinh thục chưa đủ, ta sẽ luyện cho con một nội lực dồi dào. Và ta sẽ dạy con biết đọc để sau này nếu ta không ở bên con được, con vẫn có thể học thêm để tăng kiến thức. Hạo Nhiên ! Con có đọc được sách không ?

- Dạ, có biết đôi chút.

- Ai dạy ?

- Cha con. Cha con có dạy đọc và viết những chữ thông thường mỗi khi nhàn rỗi.

- Vậy tốt. Để khi ổn định rồi, ta sẽ tiếp tục dạy con học. Nào, bây giờ thì lên đường, đến khu đồi kia, gần rừng, vừa dễ đốn gỗ vừa cao ráo.

Thạch Đạt Lang đi trước, để tâm quan sát địa hình. Hạo Nhiên dẫn ngựa theo sau.

Nó ít nói vì ở nơi hoang dã từ nhỏ, ít trò chuyện nên cứ cung cúc đi, thảng thầy hỏi gì mới đáp. Gần chiều, tới một nơi tương đối khoảng khoát trên đồi, cả hai dừng lại.

- Chỗ này được đấy ! Thạch Đạt Lang bảo. Ta dừng chân ở đây. Con nhóm lửa nấu cơm để ta đi một vòng xem xét.

Rồi tháo hành trang trên lưng ngựa xuống, Hạo Nhiên nhanh nhảu:

- Con biết chỗ này. Bên kia rừng thưa có con suối, lội qua suối là một đường mòn dẫn đến xóm tiều. Ở đấy có chợ nhỏ.

- Vậy tiện lắm. Nhất là không xa suối. Nếu địa điểm tốt, sáng mai ta sẽ khởi công.

Lúc Thạch Đạt Lang xem xét địa hình xong trở ra đã thấy đồ đệ ngồi canh nồi đậu đỏ nấu trên bếp. Bếp do nó tạm thời tạo nên trong lúc cấp bách bằng cách đào lỗ và quây đá xung quanh. Hắn mỉm cười khen thằng bé nhanh trí và nhiều sáng kiến.

Xong bữa ăn, trời vừa tối. Không đủ thì giờ làm việc gì khác, cả hai thầy trò đêm ấy ngủ dưới ánh sao, gối đầu lên những khúc cây nhặt về làm củi.

Hôm sau, trời mới tảng sáng, Thạch Đạt Lang đã tỉnh dậy. Bộ quần áo ướt sương làm hắn rùng mình. Hắn tĩnh tọa vận khí cho huyết mạch lưu thông, đoạn vác rìu lên đồi đốn cây trong khi Hạo Nhiên còn say ngủ.

Thạch Đạt Lang có ý định lưu lại vùng này một thời gian ngay sau khi cùng đồ đệ mang xác Hạo ông đến chôn ở đồi bên cạnh.

Hắn nghĩ:

Nếu thiền đạo, trà đạo và các sáng tạo mỹ thuật có tác dụng tốt đến tâm linh con người thì tại sao cày một thửa ruộng, trồng một khoảnh vườn lại không có ích ?

Khu hoang địa này chính là một thao trường lớn giúp ta luyện chí và nuôi sống ta không lệ thuộc vào người khác. Chỉ những người tự lực cánh sinh mới biết chân giá trị của sự tranh đua với ngoại cảnh.

Khi còn nhỏ, mẹ hắn dẫn hắn ra đồng nhiều lần, cùng cày cấy với các nông dân khác. Lúc đó hắn chỉ biết lao động cốt để mưu sinh, nhưng bây giờ hắn thấy, ngoài mục đích kiếm sống, sự lao động còn nhằm nuôi dưỡng tinh thần nữa. Nếu hắn thành công biến khu đất hoang này thành vườn ruộng với hoa màu thì quả hắn đã làm một việc tốt, góp phần vào sự hưng thịnh cho khu này. Nhưng điều quan trọng hơn cả là gián tiếp bảo cho những cư dân ở đây biết họ có thể thoát khỏi được nghèo đói, vươn lên hạnh phúc và tự do bằng ý chí và can đảm để tự giải thoát.

Cởi trần, da rịn mồ hôi đỏ au dưới nắng, Thạch Đạt Lang cầm rìu bổ những nhát dữ dội vào thân cây bạch dương trước mặt. Vỏ cây bắn tung tóe, chỉ một loáng, ba bốn gốc đã bị đốn ngã.

Tỉa cành và róc vỏ xong, hắn gọi đồ đệ:

- Hạo Nhiên, lấy dây buộc cành và vỏ để riêng ra làm củi. Chờ ta đốn xong vài cây nữa rồi gom lại dựng nhà.

Mùa thu sắp tàn, côn trùng dần dần im tiếng. Lá vàng rụng đầy đất. Hai thầy trò Thạch Đạt Lang đã dựng xong căn lều nhỏ, mái lợp gianh, vách bằng những cành bạch dương ken xít nhau, trát đất. Tuy không đẹp nhưng vững chắc, đủ che cho hai người trước những ngọn cuồng phong mà hắn dự đoán sẽ xảy ra rất thường ở vùng này. Lạ i có cả cái kho nhỏ, một bên để chứa nông cụ, một bên làm chuồng ngựa.

Tạm xong chỗ ở, Thạch Đạt Lang sửa soạn vỡ đất để ải, chờ gieo hạt.

Khu đồng hoang Hotengahara này quả là một nơi khó sống. Đất toàn sỏi đá, không giữ nước được, chỉ nắng một thời gian đã khô nứt nẻ. Đến mùa mưa, nước lũ chảy như thác kéo theo lớp mầu bên trên đổ xuống hằng hà sa số khe đá dưới chân núi. Không có sông lớn điều hòa việc canh nông, chỉ có một cái đầm độc nhất lại quá hẹp không đủ chứa nước cấy lúa.

Vấn đề chính rõ ràng bày ra trước mắt:

trị thủy. Nhưng vấn đề này một hai người không làm được, hay nếu có làm cũng chỉ hạn hẹp. Muốn mang lại sinh kế cho cả một làng hay một khu vực, phải có sự hợp tác của số đông. Thạch Đạt Lang nhìn rõ viễn tượng ấy nên quyết định thuyết phục dân chúng tham dự vào một kế hoạch quy mô.

Nhưng thuyết phục thế nào ?

Đã nhiều năm nay, hắn quan niệm kiếm đạo theo một khía cạnh khác với quan niệm của đa số người đương thời. Đối với hắn, lấy sự trau dồi kiếm thuật làm mục đích tối hậu thì quá phù phiếm, vì lưỡi kiếm tự nó không giải quyết được gì. Trong tay một kẻ dù tài giỏi đến đâu nhưng không lý tưởng, lưỡi kiếm cũng chỉ là bạo lực. Kiếm đạo phải có mục đích hướng dẫn con người đến sự quân bình của tâm hồn, đến hạnh phúc. Và lưỡi kiếm chỉ là một phương tiện để tìm sự quân bình ấy mà thôi. Hai năm trước, Thạch Đạt Lang đinh ninh nếu muốn áp dụng lý tưởng ấy tất phải có quyền hành, cho nên rắp tâm tìm minh chúa để phục vụ. Nhưng ngày nay, trong chốn đồng không mông quạnh này, quyền lực hay địa vị gì cũng vô dụng. Hắn phải tìm cách thuyết phục, vì thuyết phục chính là bước đầu của mọi công cuộc lãnh đạo. Từ nay, lưỡi gươm sắc đeo bên sườn, hắn sẽ dùng để bảo vệ người cô thế mà không làm cho họ sợ.

Những ngày sau đó, khí trời chưa lạnh, Thạch Đạt Lang và đồ đệ chặt cây, đào rễ, cuốc đất, be bờ, làm việc cực nhọc từ sáng đến chiều, có hôm tận tối mịt mới về nghỉ.

Công khó của hai thầy trò không phải là không có kết quả:

một khoảnh đất rộng chừng năm sào đã thành hình, tạm bằng phẳng để sẵn sàng đón nhận hạt giống.

Dân ở xa mang sản vật đến xóm tiều bán hoặc cư dân trong vùng theo đường mòn xuống núi dừng lại tò mò nhìn hai người. Họ kháo nhau:
- Gã này điên ! Chắc mới ở đâu tới chứ ai cũng biết đất này mà trồng cấy gì được !

- Phí công vô ích.

- Thằng bé kia hình như là con Hạo ông, trước ở khu dưới, sao bây giờ lại tới đây ?

Một hôm có kẻ đến tận chỗ Thạch Đạt Lang làm, khuyên nhủ:

- Đất này cằn cỗi, giồng gì cũng uổng công thôi. Nếu có hoa màu thì chúng ta đã chẳng bỏ hoang.

Thạch Đạt Lang chỉ cười. Khác với những nông dân kia, hắn tin hắn làm được.

Nếu thành công thì đây là một chứng cớ hiển nhiên:

ý chí con người đã thắng mọi trở lực và bằng thành quả này, hắn sẽ thuyết phục dân làng cùng hợp tác để thực hiện một công cuộc quy mô hơn.

Thấy bảo không được, dân vãng lai chẳng ai thèm khuyên nhủ nữa. Họ chế nhạo hắn, gọi thầy trò hắn là những thằng ngốc. Thạch Đạt Lang không để tâm, nhưng Hạo Nhiên tức lắm. Bữa kia, nó nhặt đá định ném. Hắn trừng mắt:

- Hạo Nhiên ! Làm vậy ích gì ? Nếu không biết tự chế, ta không nhận con làm đồ đệ nữa !

Mặt thằng bé đỏ bừng. Nó vất hòn đá đi, nhưng đến bên gốc cây bưng mặt tấm tức.

Thạch Đạt Lang nhìn nó, quay đi khẽ thở dài:

Tội nghiệp ! Nó cũng như ta, đơn độc trước bao khó khăn. Nó còn nhỏ tuổi quá !

Như thông cảm nỗi buồn của đứa trẻ, trời bỗng đổi khác. Gió thổi, cây rung ào ào, mây vần vũ tựa sắp có dông lớn. Bầu trời càng lúc càng tối, vài giọt mưa đã bắt đầu rơi lộp bộp trên những tàu lá to mọc xập xè dưới đất.

Thạch Đạt Lang thu xẻng cuốc vác lên vai, gọi Hạo Nhiên rồi rảo bước về lều. Vừa đến nơi, mưa đổ như trút. Một lằn chớp xẹt ngang, ngoằn ngoèo sáng rực, tiếp theo là tiếng sét nổ long trời lở đất. Lo lắng, hắn cao giọng gọi đồ đệ nhiều lần nhưng mưa và sấm chớp át tiếng hắn gọi.

Trong cảnh thịnh nộ của trời đất, Thạch Đạt Lang dường như thấy cây đại bách sau chùa Tiểu Sơn và vẳng nghe giọng trách mắng nghiêm khắc của Đại Quán. Hắn mở mắt trừng trừng, tưởng trông thấy nhà sư trước mặt. Hắn muốn được như cây đại bách kia, hiên ngang vững chãi trước dông tố và được như nhà sư, có tấm lòng độ lượng không bờ bến. Nếu làm được cho Hạo Nhiên và những người dân vùng này những gì Đại Quán đã làm cho hắn thì món nợ đối với Đại Quán chắc cũng nhẹ được đôi phần.

Thạch Đạt Lang lại lên tiếng gọi đồ đệ. Không thấy bóng dáng nó đâu, hắn bắt đầu sốt ruột.

Mưa dần dần ngớt hột, gió thổi giật từng hồi và trời đã hé rạng. Thạch Đạt Lang bước khỏi lều đi tìm Hạo Nhiên, thấy nó thu mình dưới tàng lá, ướt như chuột lột và tơi tả như thằng bù nhìn giữ dưa.

- Hạo Nhiên ! Sao không về nhà !

- Mưa này không lâu đâu thầy. Tạnh rồi đó ! Ta còn làm thêm được lúc nữa.

Không ngờ thằng bé bướng đến thế ! Thái độ và lời nói của nó vô tình dạy cho Thạch Đạt Lang bài học kiên trì trước nghịch cảnh khiến hắn phải suy nghĩ.

Những ngày sau đó, trời bàng bạc, ảm đạm. Trận mưa tuy to nhưng ngắn không làm hư hại gì đến công trình khẩn hoang của hai thầy trò. Khu đất mới cuốc trở nên sẫm màu. Cỏ xanh hơn trước và trên từng không, đã có những đàn ngỗng thiên di, tiếng khàn khàn qua màn sương mỏng dội xuống lẫn với gió heo may gây gây lạnh.

Thạch Đạt Lang tiếp tục làm việc cực nhọc trên thửa đất mới phá. Buổi sáng hắn luyện kiếm, dạy Hạo Nhiên những chiêu thức căn bản của một kỹ thuật hắn phát huy và khai triển nhưng chưa quy vào hệ thống. Buổi tối dưới ngọn đèn dầu thông, hắn dạy đồ đệ đọc và viết.

Một hôm trời trở nên oi bức khác lạ. Hai thầy trò đang đánh luống trên thửa đất mới vỡ, bỗng nghe nhiều tiếng ầm ì từ xa vọng lại. Chim bay xào xạc. Ở phía chân trời, mây đen kéo tối sầm, rồi như những luồng khói dày đặc, ùn ùn đùn nhanh, chẳng mấy chốc đã che kín cả bầu trời. Hạo Nhiên ngước nhìn, lo ngại:

- Lần này chắc có chuyện ...

Chưa hết câu, một cơn lốc ở đâu thình lình nổi dậy, cuốn lá khô cành gẫy bốc cao.

Những cánh chim bị lốc cuốn, chao đi chao lại kêu keng kéc sợ hãi.

- Lại sắp mưa lớn phải không, Hạo Nhiên ?

- Vâng. Nhưng lần này dữ lắm. Ta về thôi, thầy !

Thấy đồ đệ nhiều kinh nghiệm về thời tiết, Thạch Đạt Lang thường hỏi nó khi có điềm gì khác lạ. Lần này Hạo Nhiên có vẻ vội vàng, chạy thẳng một mạch về nhà, mặc Thạch Đạt Lang thu dọn đồ đạc đi sau.

Về đến lều, chưa kịp cất nông cụ, mưa lớn đã ập xuống. Sấm chớp liên tiếp xé bầu trời tối om. Những giọt nước bằng hạt ngô đập rào rào lên vách, gió thổi cột kèo ngả nghiêng kêu cót két. Ở những chỗ trũng, bong bóng nổi phập phồng.

Mưa như thế, tầm tã trong một thời gian thì ngớt nhưng chẳng bao lâu lại tiếp tục, dữ dội hơn trước. Khu vườn xung quanh lều bị nước mưa đào những rãnh nhỏ, kéo đất trôi đi, trơ lại chỉ còn đá vụn và cành gẫy lởm chởm. Gió càng lúc càng mạnh, mái lều tưởng chừng bị giật sập. Đã có những nút buộc bị long. Thạch Đạt Lang đôn đáo chống chỗ này, che chỗ kia. Trời tối, hắn quên cả thắp đèn và không hiểu Hạo Nhiên đi đâu.

Lo lắng, tức giận làm hắn bồn chồn khó chịu. Mãi khi trời tối mịt và gió tạm yên, hắn mới mang đồ nguội ra ăn và ngồi nghỉ.

Qua một đêm dài thao thức, nghe mưa gió bên ngoài ào ào như trút giữa những lằn chớp sáng rực và những tiếng sét vang dội bốn bề, tâm trạng của Thạch Đạt Lang khi bị treo trên cành đại bách hơn mười năm trước lại hiện về. Trước sức mạnh vô cùng của vũ trụ, còn người thật nhỏ bé, bất lực. Và hắn liên tưởng đến Hạo Nhiên, đến Giang, đến Oa Tử, những con người cô thế. Hắn mong cho trời chóng sáng.

Hôm sau, dưới bầu trời xám đục, mưa đã ngớt nhưng gió vẫn còn mạnh. Qua khe cửa, Thạch Đạt Lang nhìn ra ngoài, giật mình vì cảnh vật đổi khác hẳn:

chỗ nào cũng mênh mông trắng xóa. Đây đó vài ngọn tùng rạp đầu xơ xác. Khoảng đất phía xa do hắn và đồ đệ khổ công cuốc xới, đắp bờ bị nước tràn ngập không còn dấu tích. May mà căn lều hắn dựng ở đồi cao và khá vững, chứ nếu không, chắc cũng bị nước cuốn đi rồi.

Tới trưa, chẳng thấy Hạo Nhiên đâu, Thạch Đạt Lang càng bồn chồn lo lắng.

- Thầy ! Thầy ! Con đã về !

Tiếng đồ đệ gọi từ phía đường mòn theo gió đưa đến khiến Thạch Đạt Lang mừng rỡ hết sức. Trông ra, thằng bé đầu đội nón nan, mình khoác tơi lá, đang dẫn ngựa đi trên sườn đồi phía bên kia suối. Trên lưng ngựa chất hai, ba giỏ tre đậy kỹ. Dường như nó đang tìm cách lội qua suối.Bấy giờ Thạch Đạt Lang mới sực nhớ đến con ngựa và không ngờ Hạo Nhiên đã lấy ngựa cưỡi đi từ bữa trước, lúc chưa bão.

Hắn bắc loa tay kêu lớn, gọi thằng bé:

- Khoan ! Đứng đó ! Để ta sang giúp !

Nói đoạn, vớ vội cuộn dây chão đeo vào người, băng ra suối.

- Đây ! Phía này thầy !

Hạo Nhiên miệng gọi, tay vẫy rối rít:

- Chỗ này nhiều đá lớn dễ đi, con biết.

Thạch Đạt Lang buộc một đầu dây vào gốc cây bên này suối rồi cầm đầu kia lội sang. Đến nơi, hắn buộc đầu dây ấy vào một gốc cây khác, đồng thời cột bụng ngựa và cả lưng thằng bé vào dây chão rồi bảo nó lần theo dây mà qua suối. Thạch Đạt Lang kèm ngựa cho ngựa khỏi sợ. Nước suối chảy như thác. Tuy có dây giữ mà cả hai thầy trò và con ngựa cũng vất vả mới qua được. Cả ba ướt nhẹp, rét run, về đến nhà đốt lửa sưởi một lúc mới hoàn hồn.

- Hạo Nhiên ! Ngươi đi đâu sao không nói trước ta biết ?

- Con đến xóm tiều mua thức ăn dự trữ.

- Bão xong rồi, dự trữ làm gì ?

- Chưa xong đâu thầy. Dù hết gió to nhưng còn mưa nữa. Khí hậu vùng này lạ lắm.

Mưa dai dẳng còn lâu, có khi lụt lội cả tuần trước khi có tuyết. Đến lúc tuyết tan lại lụt nữa. Nếu không dự phòng thì đói.

Hạo Nhiên giở lớp vải sơn đậy các giỏ tre ra:

nào kê, nào đậu đỏ, nào gạo, lại có cả cá khô và thịt ướp. Nó cũng không quên mua cho thầy một gói trà.

Thạch Đạt Lang nhìn đồ đệ, lòng biết ơn dào dạt. Thằng này nhỏ tuổi mà khôn ngoan, biết phòng xa quá đỗi. Nhưng nó liều lĩnh hết sức. Có điều chẳng biết nó lấy tiền đâu ra để mua những thứ này.

- Tiền ở đâu thế con ?

- Con đến đền Toku mua chịu và gửi lại cái hộp cha con cho làm tin. Cha con bảo họp đó quý lắm.

- Phải hộp gia bảo của nhà con không ?

- Con không biết nhưng chắc thế.

- Cha con để lại cho con những gì ?

- Cái hộp đó và một thanh kiếm ngắn.

- Nó lấy trong bọc ra một thanh đoản kiếm đưa sư phụ coi. Thạch Đạt Lang trịnh trọng đỡ lấy thanh kiếm. Vỏ kiếm bằng gỗ bọc gấm đã sờn, không mang vết tích gì của người làm ra nó nhưng lưỡi kiếm xanh biếc. Gần sống kiếm có khắc hai chữ không rõ nét, dường như hai chữ đó đã bị mài mờ đi để những người sau không nhận diện được.

Thạch Đạt Lang gật gù:

- Đây là một thanh kiếm quý, nhưng không phải dùng để chiến đấu.

Hắn nói thế, không muốn cho đồ đệ biết lưỡi kiếm kia chính là lưỡi kiếm chủ nhân nó chỉ mang theo để kết liễu đời mình khi cần thiết. Hắn có cảm tưởng cái hộp mà Hạo Nhiên đã gửi lại làm tin ở đền Toku có một giá trị đặc biệt.

- Từ nay, con chớ giao cho ai những kỷ niệm do tổ phụ để lại. Để khi trời yên rồi, ta sẽ dẫn con đến chuộc.

- Con cám ơn thầy.

- Đêm qua ngủ ở đâu ?

- Ông thủ từ bảo ngủ tạm tại đền vì bão to quá, hôm nay mới về được.

- Đã ăn cơm chưa ?

- Chưa. Chắc thầy cũng chưa ăn ?

Thạch Đạt Lang cười:

- Ừ, con đi nấu cơm đi. Ta thấy hình như nhà cũng không còn củi.

- Còn, còn chứ ...

Vừa nói, Hạo Nhiên vừa hối hả đứng lên ra nhà kho, chỉ chỗ nó để dành củi đốt và cỏ khô cho ngựa.

- Đây này thầy ! Nhiều lắm, đủ để sưởi cả mùa đông nữa.

Lại thêm một lần Thạch Đạt Lang thấy thằng bé quả biết lo xa. Tiên liệu là mọt đức tính của người chỉ huy. Về điểm này hắn thấy hắn còn thua đồ đệ.

Trong những ngày sau, mưa vẫn rả rích. Thạch Đạt Lang mang sách ra bảo Hạo Nhiên đọc những chương bổ ích và giảng dạy cho nó hiểu nghĩa lý trong sách. Những lúc học trò mệt mỏi, hắn chỉ dẫn cho nó cách vận khí và luyện tập ở những nơi chật hẹp. Hạo Nhiên tỏ ra rất thông minh, mới vài tuần đã tiến bộ lắm. Thạch Đạt Lang rất ưng ý.

Đến khi mưa dứt hẳn, mặt trời hé dạng và nước đã rút đi gần hết, hai thầy trò ra khỏi lều thăm mảnh đất khẩn hoang. Cả hai không còn nhận ra được mảnh đất ấy nữa vì nó chỉ còn là một vũng lầy nhão nhoẹt.

- Chỗ này không hy vọng trồng cấy gì như mình định được đâu. Hạo Nhiên nói.

Thầy nên đi tìm chỗ khác thôi.

- Không sao, ta đã xem rồi. Chờ nước rút hết, đất màu tốt còn lại thì phải trồng được chứ.

- Thế ngộ mưa nữa thì sao ?

- Ta sẽ ngăn không cho nước chảy vào.

Vừa nói hắn vừa lấy tay chỉ:

- Đắp một con đê ngăn nước đến tận đằng kia, bao quanh thửa đất.

- Trời ơi ! Công trình quá ! Thầy với con làm thế nào được !

- Hạo Nhiên ! Con chớ quên đây là nơi ta dùng làm thao trường để luyện tập.

Luyện tinh thần trong khi tập thể chất. Đừng bao giờ nản chí cả.

Thế là suốt mùa đông năm ấy, trừ những ngày tuyết rơi nhiều, thầy trò Thạch Đạ t Lang lại ra công đào xới, lấy đá đắp đê trước những cái nhìn chế giễu của cư dân trong vùng.

Nhưng đê mới xong được nửa, con tuyết tan đầu xuân đã tràn tới, kéo văng công trình khó nhọc của cả hai xuống chân núi.

Buồn rầu, Thạch Đạt Lang ngồi trong lều trông ra, không biết đối phó thế nào với những tàn phá không cưỡng nổi ấy của thiên nhiên. Thầy trò nhìn nhau chẳng thốt một lời.

Bỗng Thạch Đạt Lang sực nghĩ ra. Vô tình hắn đã quẩn quanh trong việc phá một thửa đất rồi san ra vuông vức như ở đồng bằng. Thảo nào không được. Vì ở đây là sườn đồi, thế đất phải khác. Hắn không thể giữ cho nước không chảy, hay giữ cho đất đứng yên không bị nước soi mòn. Nước là nước, đất là đất, sao hắn lại điên rồ đòi thay đổi bản chất của nó.

Phải thuận theo dòng nước và thế đất. Đừng ngăn nó chảy. Hãy lợi dụng sự di động của nước, đưa nó dần dần vào những thửa ruộng nhỏ, không cần vuông vức mà thuận với sườn đồi thấp dần từng bậc một, tất nước không còn đủ mạnh để phá đất nữa.

Nghĩ đến đấy, hắn sung sướng quá, đập tay vào đùi nói lớn:

- Thật là ngốc. Không biết thuận theo thiên nhiên, sao đòi thành công được ?

Rồi lấy sổ tay ra, hắn ghi một nhận xét:

“Làm ruộng cũng như làm chính trị, phải thuận với thiên nhiên. Nhưng trước hết, hãy tìm hiểu thế nào là thuận với thiên nhiên đã”.

Chương 65: Sơn quỷ

Đền Toku thực ra là một thiền viện, cách xóm tiều chừng năm dặm. Lão ông thủ viện tính tình trầm mặc, trước cũng là kiếm sĩ nhưng nay ẩn ở chốn hoang vu này để tránh dòm ngó.

Ông vẫn giữ liên lạc với vài người bạn cũ phục thị trong dinh Hòa Giả ở Cổ thành, nhưng mối giao tình cũng vì địa vị xã hội khác biệt mà không còn thắm thiết lắm.

Hôm ấy Điền Xán Quang tới chơi. Điền Xán Quang làm tham kiểm trong dinh sứ quân Hòa Giả Nghị, giữ một chức vụ quan trọng coi việc tra xét danh sách những người được đề bạt và cố vấn cho sứ quân Hòa Giả Nghị việc sử dụng những người được đề bạt ấy.

Trong các chuyến công du, Điền Xán Quang thường có khá đông người tháp tùng, nhưng lần này đến thăm người bạn cũ, ông chỉ đem theo hai kiếm sĩ tùy viên và một gia nhân thân tín.

Đã lâu không hưởng cảnh thanh nhàn, Điền Xán Quang tỏ ra hết sức thích thú khi được ngồi trong một mảnh vườn nhỏ xa thị thành, dưới gốc phong cành đã bắt đầu nảy lộc, nghe tiếng ếch kêu báo hiệu sự hồi sinh của vạn vật sau một thời gian đông miên đằng đẵng.

Trời xế chiều, Điền Xán Quang không để ý. Mãi khi gia nhân bưng trà ra, ông mới nói:

- Ồ ! Hóa ra ta ngồi quên trong cõi vô minh này cũng lâu rồi nhỉ.

- Xin đại nhân bảo trọng. Trời hãy còn lạnh ...

- Không sao ! Ông cười. Tấm thân này đã nhiều xông pha, xá gì chút lạnh cuối mùa. Chà ! Mùi hoa mai mới nở thơm thật dễ chịu. Mai chiếm xuân khôi ...Ngươi có ngửi thấy gì không ?

- Bẩm, tiểu nhân chẳng thấy gì cả.

- Chắc không ? Hay ngươi bị cảm hàn rồi đấy ?

Điền Xán Quang vừa nửa đùa nửa thật bảo kẻ hầu trà đứng cạnh.

Thình lình một tiếng quát lớn sau hàng giậu khiến ai nấy giật mình.

- Dòm ngó cái gì ? Có đi chỗ khác không ?

Tiếp theo là tiếng chân lui về phía bếp rồi vệ sĩ của Điền Xán Quang hớt hải chạy tới.

- Chuyện gì thế ?

- Bọn tiểu nhân không rõ, để hỏi chủ viện.

Chủ viện đến ngay không đợi gọi.

- Xin tha lỗi, gia nhân không biết làm kinh động đến tôn khách. Đó chỉ là một đứa trẻ trong xóm.

- Trẻ trong xóm ? Nó đến dò xét gì vậy ? Có chắc không hay là gian tế đấy ?

- Chắc. Thằng bé đó tên là Hạo đồng. Nghe nói trước tổ phụ cũng là kiếm sĩ nên cứ thấy ai là kiếm sĩ thì thập thò nhìn ngó vì nó cũng muốn được như tổ phụ.

Điền Xán Quang gật gù:

- Trẻ con tò mò là sự thường, lão huynh đừng chấp. Nếu đúng thế thì gọi nó đến cho nó vài cái bánh. Biết đâu chẳng phải là đứa trẻ có khả năng, tập luyện nên người được.

oo Hạo Nhiên vào bếp ném chiếc túi vải đến trước mặt mụ giữ kho:

- Mụ đổ kê vào đấy để tôi còn mang về, trời sắp tối rồi.

- Á ! Thằng này trịch thượng quá ! Mày làm như chúng tao nợ mày ấy.

- Đừng thấy viện chủ thương, cho mày ăn mà hỗn láo. Muốn xin cái gì thì phải nói cho có lễ phép.

Gã đầu bếp phụ họa.

- Tôi đâu có xin, tôi mua mà ! Tôi trả tiền bằng chiếc hộp quý cha tôi để lại và đã trao cho viện chủ rồi.

- Cha mày làm phu giữ ngựa mà để lại cho mày đồ quý gì ?

- Can dự gì đến chú ? Có đong kê đổ vào đấy hay không thì bảo. Viện chủ bảo tôi xuống đây lấy kê chứ không xin của chú.

Gã đầu bếp cười hinh hích:

- Thằng bé này hay giận quá ! Ừ, rồi chúng ta đổ kê vào bị cho. Nhưng này, ta hỏi thật, sao mày lại phải đem tiền của cha mày đi nuôi cái thằng khùng ấy ? Hai đứa đào xới thửa đất ấy thì trồng cấy gì được ! Tìm vàng hả ?

Hạo Nhiên tức giận đứng sững, không nói được lời nào. Thấy có con cóc ẩn mình trong góc bếp, nó vồ lấy ném cái bốp vào mặt gã vừa nói rồi định quay đầu chạy.

Nhưng ngay lúc đó, lão viện chủ bước vào. Ông nắm vai thằng bé. Hạo Nhiên sợ hãi giằng ra.

- Đừng sợ, ta đã nghe hết. Mụ già và gã kia không được trêu chọc nó nữa. Bây giờ bỏ chuyện ấy đi, ta dẫn nó lên gặp Điền đại nhân.

- Chắc nó lại làm điều gì xúc phạm đến Điền đại nhân chứ không sai.

Lão viện chủ cười:

- Không, các ngươi đoán lầm. Ngài chỉ muốn gặp nó và còn muốn cho nó bánh nữa.

Hạo Nhiên đứng nép bên rào gỗ, tò mò nhìn Điền Xán Quang. Lần đầu tiên nó gặp và được nhìn thỏa thích một kiếm sĩ có danh vọng ở trong dinh. So với các kiếm sĩ giang hồ khác và nhất là với thầy nó, Hạo Nhiên thấy sự khác biệt cách xa nhau ghê gớm, từ y phục, cử chỉ đến dáng dấp.

- Lại gần đây. Ngươi tên gì, mấy tuổi ?

- Nô tài là Hạo Nhiên, mười ba tuổi.

- Ngươi muốn trở thành kiếm sĩ phải không ?

Hạo Nhiên gật đầu:

- Dạ phải.

- Tốt lắm. Vậy có muốn vào trong dinh ở không ? Ngươi sẽ giúp gia nhân làm việc vặt và ta sẽ cho lệnh dạy ngươi trở thành kiếm sĩ.

Hạo Nhiên lắc đầu. Tưởng thằng bé nhút nhát, Điền Xán Quang nhắc lại và bảo nó ông có ý ấy thật chứ không phải nói đùa. Nhưng Hạo Nhiên đáp:

- Nghe lão trượng nói ngài định cho nô tài ăn bánh ...

Lão viện chủ tái mặt:

- Hạo nhi ! Không được hỗn.

Đoạn tiến đến dắt tay nó định lôi đi. Điền Xán Quang ngăn lại:

- Không sao ! Lão huynh ! Nó nói phải. Ta đã hứa thì phải giữ lời.

Bèn gọi gia nhân mang bánh tới cho Hạo Nhiên. Hạo Nhiên đổ cả vào bọc gói lại.

- Ngươi không ăn ở đây sao ?

- Không. Nô tài phải về, sư phụ đợi.

- A ! Ngươi có sư phụ hả ?

Nhưng Hạo Nhiên không đáp, hối hả quay đi quên cả chào và cảm ơn người cho bánh.

Vốn tính độ lượng và yêu trẻ, Điền Xán Quang không để tâm, cho là thằng bé cứng đầu, không giống tính nết những đứa trẻ khác. Trái lại, lão viện chủ có vẻ e ngại, sợ làm mất lòng khách quý. Ông xin lỗi thay cho nó nhiều lần, uống tách trà rồi đàm đạo với Điền Xán Quang một lúc rồi mới lui gót.Đến bếp, hỏi Hạo Nhiên đâu thì được biết nó đã mang túi kê về rồi. Xa xa, vẳng tiếng kèn làm bằng lá nó mới cuốn, vừa đi vừa thổi phỏng theo một điệu nhạc cổ thường nghe trong các buổi tế lễ mà khi còn sống cha nó vẫn dẫn nó đi xem.

Trên đường về, từ Toku đến Hotengahara, chỗ hai con suối nhập lại thành một dòng sông nhỏ có cây cầu bắc ngang, bỗng Hạo Nhiên giật mình, nhảy lui nấp vào bụi rậm.

Nó vừa trông thấy trên cầu ba cái bóng đen cao lớn, dáng điệu dữ dằn, tay cầm giáo, đang châu đầu vào nhau bàn bạc.

Từ trong bụi, Hạo Nhiên banh mắt nhìn ra. Ba thằng quần áo lôi thôi lếch thếch, râu xồm, tóc búi quấn trong những cái khăn không phân biệt rõ màu, trông như quỷ.

“Đúng rồi”, Hạo Nhiên nghĩ thầm. Và kỷ niệm hãi hùng của thời thơ ấu hiện lên, gợi trong trí nó nhiều hình ảnh ghê sợ khiến tim nó đập dồn dập.

Ngay từ nhỏ, mẹ nó đã dọa, nếu hay khóc đêm và không ngoan ngoãn thì sơn quỷ tới bắt đi. Sơn quỷ râu xồm, nanh dài, đeo bị và uống máu con nít. Đến khi khôn lớn, nó không tin những lời ấy nữa, nhưng ấn tượng sơn quỷ nanh dài, uống máu con nít vẫn để lại trong lòng nó một nỗi khiếp sợ không sao gột sạch.

Đã từ lâu, hàng trăm năm trước, trên triền núi Hitachi cách xóm tiều chừng vài chục dặm có một ngôi cổ miếu thờ sơn thần.

Không ai biết đó là thần gì nhưng khẩu truyền thần rất linh thiêng, nếu cúng bái hàng năm đầy đủ, thần sẽ phù hộ cho được mùa và không bị dịch tễ. Cho nên dân trong vùng luân phiên nhau mang lễ vật đến dâng cúng. Lễ vật gồm có dê, bò , lợn và các loại ngũ cốc. Vào những năm ngài đặc biệt ra oai, lễ vật còn gồm cả một thiếu nữ đồng trinh nữa.

Lễ vật thường được rước về đêm, dưới ánh đuốc chập chờn đến chân núi, qua nhiều tàng cây rậm và những khe đá ẩm ướt trơn như đổ mỡ. Nhưng đấy là chuyện xưa, khi dân xóm còn thưa thớt và chưa mấy người dám phiêu lưu đến gần ngôi cổ miếu. Sau này, những tiều phu đi kiếm củi phát giác sơn thần thực ra chỉ là một người hoặc con cháu của người đó, có lẽ là một tên cướp lẩn trốn trong rừng, lợi dụng lòng mê tín của dân xóm mà ra oai tác phúc. Lễ vật vì thế thưa và ít dần, vơi theo với lòng kính trọng.

Sau cuộc tranh chấp sứ quân, số binh sĩ thua trận đào tẩu nhiều, miếu sơn thần trở nên rộn rịp. Ban đêm người ta thấy có ánh lửa nhiều nơi trên triền núi, tiếng người kêu khóc và những bóng đen ra vào sân miếu. Từ đó cướp đổ xuống các xóm hẻo lánh bắt gia súc cùng với đàn bà con gái mang đi, không năm nào là không có, có khi một năm hai ba lượt.

Chúng vẽ mặt dữ tợn, mang đủ loại vũ khí, từ gậy, đinh ba đến đao kiếm. Ai chống cự liền bị giết tức thì. Dân làng gọi chúng là sơn quỷ. Mới năm trước, bọn này từ trên núi xuống cướp phá, đốt nhà, xúc thóc, bắt bò lợn dẫn đi lại còn giết ba thanh niên chống lại chúng. Trong ký ức của Hạo Nhiên, biến cố ấy xác định sự có thật của bầy sơn quỷ nó từng được nghe kể trong thời thơ ấu và càng làm tăng nỗi kinh hoàng trong lòng nó.

Nấp sau bụi rậm, Hạo Nhiên run lập cập. Nghĩ đến lời Thạch Đạt Lang dặn trong cơn nguy biến đừng bao giờ để những xúc động, kể cả sự sợ hãi, làm chủ mình, nó cắn chặt hai hàm răng với nhau.

Ngoài kia, trên cầu gỗ lại thêm bốn năm bóng đen nữa, rồi chúng cứ tiếp tục đến, lúc hai lúc ba, chẳng bao lâu tổng số bọn cướp đã tới non hai chục đứa.

Hạo Nhiên cố trấn áp sự sợ hãi, giữ cho đầu óc tỉnh táo để suy nghĩ tìm kế thoát thân, nhưng nó không tìm ra cách gì, chỉ ngồi yên không thở mạnh và mở banh mắt nhìn ra ngoài trong bóng tối chập choạng. Bọn sơn quỷ dường như không lưu ý gì đến người và cảnh vật xung quanh, ồn ào nhổ bọt, hỉ mũi và cãi vã. Nhờ đó Hạo Nhiên biết đêm nay chúng đến ăn hàng ở xóm tiều.

Lúc sau khi trời tối hẳn, cả bọn bỏ đi. Hạo Nhiên thấy nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng.

Bước ra khỏi bụi cây, cành lá sột soạt, đột nhiên một tiếng quát làm nó giật bắn người.

- Ai ?

Kinh hoảng, Hạo Nhiên vất túi kê xuống đất, co giò chạy thục mạng. Nó không ngờ bọn cướp còn để lại hai thằng ở đầu cầu để canh chừng. Thấy bóng người vụt ra ven suối, hai đứa vác giáo rượt theo. Hạo Nhiên tuy nhanh nhẹn nhưng làm sao địch nổi những tên cướp lực lưỡng. Chẳng mấy chốc chúng đuổi kịp thằng bé, trói nghiến lại, mặc cho nó kêu cứu vang động cả khu đồi hoang tịch.

- Trói làm gì, thí cho nó một nhát.

Một tên nói.

Hạo Nhiên hết hồn, không kêu nữa vì biết kêu cũng vô ích, có lẽ chỉ làm cho những tên cướp thêm tức giận.

- Không. Tao có cách này hay hơn.

Nói đoạn, một tên xách bổng Hạo Nhiên lên. Thằng bé bồn chồn sợ hãi không biết chúng định làm gì mình. Nó không đạp, không giẫy, người mềm như sợi bún và bỗng thấy đũng quần ướt nhẹp.

Không đợi lâu, tên cướp xách nó ra bờ sông. Một tiếng “phọp”, Hạo Nhiên bị quẳng xuống nước. Nước lạnh bắn tung tóe lên mặt. May mà chỗ ấy lòng sông cạn, nó chỉ nằm ngửa trên bùn, xung quanh cỏ lác, ếch nhái vô số nhảy tòm tọp.

Tên cướp lội ra, kéo Hạo Nhiên đến chân cầu, buộc nó vào đấy.

- Ở đây chờ nước lên, mày về với tổ tiên con ạ !

Sau tiếng cười hềnh hệch chấm dứt lời đe dọa, tên cướp bỏ vào bờ. Cảnh sông cô tịch trong đêm lại trở lại cái hoang vắng cũ, giữa những tiếng côn trùng ri rỉ và lau khô xào xạc.

Hạo Nhiên lấy lại bình tĩnh. Cơn sợ đã tan và nó có cảm giác như tự nhiên được giải thoát, mặc dầu vẫn bị trói chặt vào chân cầu. Không hiểu tại sao, có lẽ vì tên cướp không còn đó, có lẽ vì mùi bùn nước quen thuộc làm nó yên tâm hơn, hay có lẽ vì cả hai.

Hạo Nhiên ngẩng nhìn trời. Trời cao vòi vọi, vài đốm sao lúc ẩn lúc hiện. Hạo Nhiên nhìn mặt sông. Mặt sông lăn tăn gợn sóng, nước vỗ bờ ì ọp. Xung quanh nó, tạo vật thờ ơ đến lạnh lùng !

Nó thử vặn mình, rướn người. Sợi dây trói nó vào chân cầu gặp nước nở ra siết chặt vào bụng và đùi khiến nó đau đớn, nhăn mặt. Hạo Nhiên cựa quậy những đầu ngón tay thấy dễ dàng hơn, bèn lần xuống bụng tìm mối dây buộc. Khó nhọc lắm mới cởi được nút ra thì các ngón tay cứng đơ, gần như tê dại. Nhưng nó mừng vô tả. Gió đêm thổi mạnh mà thân thể nó nóng ran, khích động như chưa bao giờ như thế.

Hạo Nhiên vặn mình cho dây trói tuột đi rồi nương theo chân cầu trầm mình xuống. Nó sờ soạng, hy vọng tìm một vật gì nhất thời cắt được dây buộc cổ tay. Khi chạm phải hòn đá sắc cạnh tạm dùng được, nó kê sợ dây lên hòn đá cứa đi cứa lại. Một lúc lại dừng, nghe ngóng. Khi sợi dây đã có chiều hơi lỏng muốn dãn ra, nó sung sướng mất cả bình tĩnh, đưa tay cứa sợi dây nhanh hơn. Trong đêm vắng, nước đọng bì bọp vang dội. Ếch nhái im bặt, tiếng nước vỗ chân cầu nghe càng lớn.

Giật mình, Hạo Nhiên dừng tay. Tim nó đập thình thịch trong lồng ngực như muốn vỡ. Nhớ lời sư phụ, Hạo Nhiên hít vào thật sâu, vận khí chu lưu khắp cơ thể. Bốn bề vắng lặng, dường như hai tên cướp đã đi xa rồi. Một lúc, thấy huyết mạch điều hòa, nó mới yên tâm tiếp tục cứa sợi dây cho đến đứt rồi cúi xuống cởi dây trói chân. Đoạn, hít một hơi dài, nó đạp nhẹ vào chân cầu, lặn xuống nước và trườn mình ra xa. Bơi qua khúc sông hẹp đối với Hạo Nhiên chẳng khó gì. Nó vẫn thường bơi như cơm bữa khi bắt cá ở đầm, tuy lần này cẩn thận hơn, không để gây tiếng động.

Sang đến bên kia sông, Hạo Nhiên vẫn chưa hoàn hồn. Bám vào rễ cây, nó trườn lên bờ như một con rắn, chờ tới chỗ khuất không trông thấy cây cầu gỗ nữa, nó mới vội vã đứng lên hướng về phía đồng Hotengahara rảo bước.

Sau nó, về mạn xóm tiều, lửa cũng vừa rực sáng, chiếu đỏ chân trời và khiến những hàng cây ở gần hiện rõ nét như cắt.oo - Thầy ! Thầy ơi ! Thầy có nhà không ?

Nghe giọng sợ hãi, cấp bách của đồ đệ, Thạch Đạt Lang vùng dậy mở cửa. Nhìn thằng bé ướt nhẹp bùn đất, hắn trố mắt ngạc nhiên. Không đợi sư phụ hỏi, Hạo Nhiên liến thoắng:

- Con ở đền Toku về. Bọn sơn quỷ đang phá xóm, đốt nhà ...

Thạch Đạt Lang cau mày:

- Sơn quỷ ? Sơn quỷ nào ? Phải cướp không ?

- Dạ phải, phải. Nhiều lắm, đến hai chục đứa ... Xóm tiều ... Con suýt bị giết chết... Thầy mau đi cứu họ ...

Không đợi trò nói thêm, tuy chỉ là những câu nhát gừng, hỗn loạn, Thạch Đạt Lang chạy bổ vào nhà trong, một loáng đi ra, song kiếm đã giắt ngang lưng, khăn trên đầu buộc vội.

- Thầy cho con đi cùng ...

- Không được ! Con ở lại con nhà !

Hạo Nhiên trố mắt:

- Thầy chưa biết đường, để con chỉ ...

- Không cần ! Chỗ lửa cháy đằng xa kia chứ gì. Ta biết !

Nó năn nỉ:

- Nhưng con giúp thầy được nhiều việc, thầy cho con đi ...

- Không ! Nguy hiểm lắm. Vướng cẳng ta.

Thấy thầy sẵng giọng, Hạo Nhiên đành cúi đầu vâng lệnh. Rồi tần ngần nhìn sư phụ bước nhanh về phía chân trời đỏ rực, lòng nó băn khoăn chẳng rõ ông có đủ tài đối phó với bọn quỷ dữ ấy không ! Nỗi lo âu bỗng dưng tràn ngập tâm hồn ngây thơ của nó.

oo Bọn sơn quỷ mới ra khỏi xóm chừng non một dặm thì Thạch Đạt Lang cũng vừa tới. Chúng khoảng bảy tám đứa, mặt đỏ gay phần vì rượu, phần vì do ánh lửa từ những bó đuốc chúng cầm hắt tới, mồ hôi nhễ nhại, đánh hai chiếc xe bò lớn chở thực phẩm cao có ngọn, theo sau có đến chục phụ nữ tóc xõa, áo quần xốc xếch, tay bị trói giật cánh khuỷu, vừa đi vừa khóc mếu. Nói đi thì cũng không đúng vì họ bị trói thành một xâu, nếu chẳng may có kẻ ngã thì những người kia cũng ngã theo. Tên cướp đi cạnh hò hét, thúc đẩy, thỉnh thoảng lại pha trò tục tằn hoặc giơ roi hăm dọa. Kẻ nào tránh né thì cả xâu nghiêng ngả, nên có những lúc cả bọn phụ nữ phải bò. Dưới ánh đuốc bập bùng, đoàn người khốn khổ ấy trông chẳng khác gì tội nhân dưới địa ngục bị bầy quỷ sứ dẫn đi hành quyết.

Thấy một bóng người cao lớn chặn đường, cặp lông mày rậm bị chiếc khăn kéo ngược xếch đến thái dương, đôi mắt đỏ au như hổ phách, sát khí phừng phừng toát ra từ chân tóc, bốn tên cướp đi đầu khựng lại, quát:

- Ai ?

Yên lặng. Bóng người cao lớn kia vẫn tiến bước, tay để vào đốc kiếm. Bọn cướp nhất tề thoái lui. Thạch Đạt Lang đảo mắt vọ, đếm đúng tám đứa. Bốn trước mặt, ba áp tải xe lương và một đứa đoạn hậu dẫn đám phụ nữ.

Một tiếng thét như sấm, ánh thép lóe sáng. Hai thây người gần nhất đổ xuống tựa củi mục, máu ở ngực và cổ họng chúng phun ra có vòi. Tiếng la hét thất thanh của đám phụ nữ cùng tiếng chân chạy loạn xạ.

- Mày là đứa nào ? Sao dám cản trở việc làm của chúng ta ?

Thạch Đạt Lang cười gằn, lau máu kiếm lên áo rồi tra kiếm vào vỏ. Bây giờ hắn tay không, thách thức. Hắn không cần võ khí vì cầm chắc phần thắng. Biết địch thủ chỉ là những tên thảo khấu tầm thường, ô hợp, Thạch Đạt Lang muốn một lần làm cho chúng phải nể sợ, cạch đến già. Đó là hành động khinh địch, Thạch Đạt Lang biết, nhưng là một hành động có mưu tính.

- Ta là thiên sứ, trời sai xuống bảo vệ dân xóm này.

Tên cướp không tin, cầm giáo xỉa Thạch Đạt Lang một nhát. Hắn né tránh và nhanh như cắt, bắt lấy cán giáo giật mạnh. Gã kia theo đà ngã chúi về phía trước.

Thuận chân, Thạch Đạt Lang đá một cước như trời giáng vào hạ bộ nó. Cùng với tiếng thét xé ruột vì đau đớn, tên cướp tung lên rồi rơi xuống, đầu đập vào tảng đá, nằm ngay đơ như cán cuốc trên mặt cỏ.

Hai đứa khác xông tới. Một đứa định dùng dao quắm phạt ngang sườn, một đứa lấy gậy bổ lên đầu địch thủ. Thạch Đạt Lang nhanh mắt vớ ngay cây đuốc cắm trên xe ném vào mặt một thằng. Trong lúc chúng đang lúng túng, cây giáo trên tay Thạch Đạt Lang tựa lằn chớp phóng ra, xiên cả hai đứa làm một như xâu cá nướng.

Thủ pháp của Thạch Đạt Lang xuất quỷ nhập thần, nhanh vô kể. Những đứa kia đã bỏ chạy từ bao giờ, còn lại một tên không tin ở mắt mình, đứng nhìn, mồm há hốc.

Thạch Đạt Lang tiến đến, hai tay chắp lại giơ cao. Một tiếng rắc, đầu tên cướp vỡ nát, chết tươi, không kịp kêu. Máu ở mắt và miệng ộc ra loang thẫm cả râu và ngực.

Đám phụ nữ phía sau khóc như ri. Thạch Đạt Lang bước đến, họ sụp lạy xin tha.

Hắn phải trấn an:

- Đừng sợ ! Ta không hại người vô tội. Ta đến giết bọn quỷ cứu dân xóm.

Bây giờ bọn phụ nữ mới vén tóc hé mắt nhìn lên. Thấy gã làm ruộng vẫn ở căn lều cùng với một thằng nhỏ tại đồng Hotengahara, họ vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Thật là chuyện không ngờ. Kẻ mà dân làng vẫn cho là đần độn, không ai lưu ý lại chính là ân nhân của cả xóm.

- Bọn chúng bao nhiêu đứa ? Sao chỉ có mấy thằng này thôi ?

- Chúng nhiều lắm, còn ở lại trong xóm.

Thạch Đạt Lang cắt dây trói và bảo bọn phụ nữ đánh xe bò trở lại. Hắn về xóm trước xem tình thế ra sao và xử bọn sơn quỷ còn lẩn quất ở đó.

Đến nơi, lửa đã bớt. Mùi gỗ thông lẫn với mùi quần áo và thực phẩm cháy khét lẹt.

Trẻ con và những người già nhớn nhác tìm cha mẹ, con cháu, gọi nhau ơi ới. Nhưng thanh niên thì không thấy ai. Có lẽ họ đã trốn hết, sợ bọn sơn quỷ ra tay giết sạch. Nắm một cụ già lại hỏi, cụ sợ hãi lắp bắp chẳng ra hơi. Mãi sau, gặp nhiều người khác, giải thích mãi, Thạch Đạt Lang mới được họ cho biết bọn chúng tập trung tại nhà trưởng xóm. Ở đấy có mấy thùng rượu sa-kê, chúng tiếc chưa bỏ đi, còn ngồi nướng gà vịt nhậu nhẹt. Thạch Đạt Lang phóng đến. Trong nhà ồn ào như chợ vỡ. Ngoài cửa, một tên cướp cầm giáo ngồi canh.

Bò dưới hàng giậu thấp, Thạch Đạt Lang đến gần, xuất kỳ bất ý phóng ngay quyền vào gáy nó. Chỉ kịp nấc lên một tiếng ngắn, nó gục xuống. Thạch Đạt Lang giật cây giáo lẩn vào bụi rậm.

Trong gian phòng chính nhà trưởng xóm, trên chiếu trải xung quanh bếp, lố nhố nằm ngồi chừng hơn chục tên cướp, đứa nào cũng râu ria xồm xoàm, mặt mày dữ tợn.

Gần bếp, ngay dưới cửa sổ, một tên ý chừng đầu đảng, ngồi lầm lì, tay ôm hũ rượu lớn.

Gã cởi trần, khoác áo da beo màu vàng sẫm ngắn đến lưng, trên đầu thắt sợi dây chão thay khăn. Khắp nhà, la liệt hũ với bát cùng võ khí đủ loại. Thình lình một tên xô cửa bước vào. Tiếng ồn ào im bặt. Nhìn nét mặt và dáng điệu vội vàng sợ hãi của nó, cả bọn đoán ngay có sự chẳng lành. Quả nhiên đó là một trong những tên đi hộ tống xe lương bị Thạch Đạt Lang đánh, kinh hoảng chạy về thông báo cho đồng đảng biết.

Còn bán tín bán nghi và đang vật vờ vì say rượu, chưa đứa nào nói gì thì một tiếng thét vang như sấm làm rung động vách ván của căn nhà gỗ. Tiếp theo là một bóng đen từ trên cửa sổ nhảy xuống. Phản ứng của tên đầu đảng nhanh nhất. Nó vớ con dao quắm đứng lên, nhưng không kịp nữa. Ngọn giáo trong tay Thạch Đạt Lang đã phóng tới đâm suốt sau lưng, mũi giáo lòi ra trước ngực đến một tấc. Tên cướp ngã sấp xuống chiếu giữa những tiếng loảng xoảng của hũ, chén đổ vỡ.

Trường kiếm rút ra, Thạch Đạt Lang tung hoành như cọp dữ trong đàn dê. Kiếm quang lóe tới đâu, thịt rơi tới đó. Thủ cấp lăn lông lốc trên sàn, mắt mở trắng dã đến nứt kẽ như còn giữ nỗi kinh hoàng của kẻ bị giết trước khi chết. Tiếng kêu, tiếng rú thất thanh, tiếng ằng ặc, phì phì của máu phun ra khắp chỗ trong hỗn loạn cùng cực.

Khi không còn một tên đứng vững, Thạch Đạt Lang mới ngừng tay. Hắn lau kiếm, dựa lưng vào vách nhìn cảnh tàn sát trong phòng, lòng bỗng rung động, khẽ thở dài.

Trong giai đoạn lịch sử xáo trộn, ở một nơi hoang vu như thế này, không ai biết luật lệ là gì, hắn không còn cách nào khác là nhất thời dùng lưỡi kiếm của mình để bảo vệ kẻ cô thế.

Đoàn phụ nữ bị bắt giải đi cũng đã trở về, đẩy theo hai xe bò chở lương thực bị cướp. Cha mẹ, vợ con gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Lại nghe bọn sơn quỷ bị giết gần hết tại nhà trưởng xóm, dân làng kéo nhau đến tạ Ơn cứu tử.

Khi trông thấy ân nhân, họ ngạc nhiên vô cùng. Không ngờ chính là gã nông phu ở đồng Hotengahara. Nhiều người phục xuống lạy, một phần vì quá xúc động, một phần vì muốn tạ tội đã coi thường hắn trong bao lâu. Thạch Đạt Lang bối rối, đỡ những người già dậy và bảo tất cả đứng lên. Hắn xin được coi như dân trong xóm.

Trong khi một số trai tráng bận lo việc thu nhặt xác bọn cướp chôn cất, Thạch Đạt Lang cáo từ để trở về căn lều cỏ.

- Ta chắc thế nào cũng có những bọn cướp khác trở lại. Hãy họp nhau thành đội mà chống cự. Đào hào, rào giậu, canh phòng, chữa lửa. Mỗi đội có trách nhiệm riêng.

Hãy luyện tập cho giỏi, nhưng đừng vì thế mà sao lãng việc trồng cấy. Tay gậy, tay cuốc để sinh tồn, anh em hãy nhớ !

Đó là những lời cuối cùng Thạch Đạt Lang nói với trai tráng ở xóm tiều đêm ấy.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau