THẠCH KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thạch kiếm - Chương 6 - Chương 10

Chương 6: Cây đại bách

Trời còn tối mà chuông chùa Tiểu Sơn đã rộn rã đổ hồi vang dội khắp nơi, lan đến tận khu rừng già chân núi. Dân làng giật mình tỉnh giấc. Hôm nay, ngày chót Đại Quán phải dẫn phạm nhân về nên ai cũng nóng lòng ngóng đợi. Mọi người tự hỏi không biết nhà sư có làm được như lời đã hứa không, thì có tin đến.

- Thạch Kinh Tử bị bắt ! Thạch Kinh Tử bị bắt !

Một đồn mười, mười đồn trăm, câu Thạch Kinh Tử bị bắt truyền từ miệng người này đến miệng người khác nhanh như mồi lửa cháy.

- Ai bắt Thạch Kinh Tử ?

- Thầy Đại Quán.

- Thật hả ? Thầy Đại Quán giỏi quá, chắc có võ !

Rồi họ sầm sập chạy lên chùa. Đã thấy phạm nhân bị trói chặt vào lan can trước tiền đình đại sảnh, xung quanh người bu đông nghịt, ồn ào bàn tán. Có người miệng há hốc, mắt tròn xoe, đứng trân trân nhìn Thạch Kinh Tử như nhìn ma quỷ hiện hình. Có người nuốt nước bọt.

Đại Quán ngồi trên thềm đá cao, chống khuỷu tay ra sau lưng, trầm ngâm không nói một lời. Lát sau, khi dân làng đến đông, ông mới khoan thai đứng dậy, giọng sang sảng:

- Xin yên lặng ! Kể từ nay, thế là chúng ta có thể yên tâm lo việc đồng áng. Binh gia sẽ không còn đóng ở làng này nữa !

Tiếng hoan hô vang dậy không ngớt. Đối với dân quê chất phác, Đại Quán giờ đây là một anh hùng, một hiệp sĩ đã cứu vớt và che chở họ. Nhiều người đến trước mặt ô ng cúi đầu tỏ vẻ biết ơn. Có người sụp lạy hoặc tranh nhau đến gần sờ tay, sờ gấu áo.

Đại Quán bối rối, ông không quen với sự sùng kính cá nhân thái quá như vậy nên ngượng nghịu thấy rõ. Rẽ đám đông, ông chắp tay trước ngực, ấp úng:

- Mô Phật ! Xin quý thí chủ giữ trật tự, bần tăng có điều quan trọng muốn nói.

Mọi người đứng giãn ra xung quanh, yên lặng.

Thạch Kinh Tử trở về là do thiên định, bần tăng thật chẳng dám nhận công lao.

Luật trời như vậy, mọi người chúng ta ai cũng phải theo, ai trái tất sẽ bị trừng phạt !

- Không, không phải ! Thầy quá khiêm ! Chính thầy bắt được nó mà, đâu phải luật trời gì !

- Chúng tôi biết công thầy !

- Chúng tôi cảm ơn thầy đã bắt nó !

Đại Quán đỏ mặt:

- Thôi cũng được. Nếu quý thí chủ muốn cám ơn, bần tăng xin nhận, nhưng luật pháp thì phải theo. Bây giờ việc đã xong, xin quí thí chủ giúp cho một tay.

Đám đông hơi ngạc nhiên, tò mò hỏi:

- Giúp gì vậy ?

- Giúp việc này:

Thạch Kinh Tử đã bị bắt, giờ phải làm gì ? Bà con chắc rõ nếu không bắt được hắn, bần tăng sẽ phải treo cổ trên cây đại bách, ngược lại nếu bắt được hắn, bần tăng có quyền làm gì hắn thì làm ...

- Có, chúng tôi có biết chuyện đó !

- Vậy bây giờ phải làm gì ? Thạch Kinh Tử kia kìa, hắn bị trói chặt rồi, bằng xương thịt hẳn hoi chứ không phải hồn ma của hắn đâu ! Cũng chẳng có gì ghê gớm lắm ! Nói cho đúng ra, hắn đã tự đến nộp mình, không kháng cự. Giờ ta tha hay giết ?

Tiếng bàn tán xầm xì. Đa số phản đối ý kiến tha Thạch Kinh Tử. Một người mạnh miệng:

- Phải giết ! Đồ vô tích sự ! Tội nó nặng lắm ! Thả ra, dân làng sẽ khốn khổ với nó!

Đại Quán im lặng, đảo mắt nhìn quanh. Tiếng ồn ào nổi lên, rồi những người đứng phía sau la lớn:

- Giết ! Giết !

Bỗng một bà già ở đâu hớt hải chạy lại, rẽ đám đông, hích bên nọ, gạt bên kia, chen lấn lên trước. Khi tới được hàng đầu, Hồ Điểu Anh, vì bà ta chính là Hồ Điểu Anh, vừa thở hổn hển vừa trừng trừng nhìn vào mặt Thạch Kinh Tử. Bà cầm cây gậy dâu, quay lại nhìn dân làng, mặt đằng đằng nộ khí:

- Không được ! Không giết ngay được ! Phải cho nó đau đớn ê chề rồi hãy giết !

Coi kìa ! Trông bộ mặt nó, thật gớm ghiếc !

- Bà đến gần Thạch Kinh Tử giơ cao cây gậy vụt lấy vụt để xuống thân hình tiều tụy của hắn.

- Đồ khốn kiếp ! Đồ đốn mạt ! Này ...này ...

Những ngọn roi liên tiếp giáng xuống đầu, xuống mình Thạch Kinh Tử như mưa bấc làm hắn đau đớn, dẫy dụa. Hắn không kêu la, còn bà Hồ Điểu thì mệt nhoài, thở hổn hển. Đánh chán tay, bà quay sang nhìn Đại Quán:

- Thằng này làm con lão hư hỏng !

Rồi giọng run lẩy bẩy, đứt quãng, bà tiếp:

- Mãn Hà Chí bỏ đi, lấy ai nối dõi tông đường cho lão ?

- Mô Phật ! Mãn Hà Chí đâu phải là đứa tốt lành gì, sao bà không để cho rể kế tự ?

Bà ngó Đại Quán trân trân:

- Sao nhà thầy lại nghĩ về con lão như thế ?

Tủi thân, bà khóc:

- Ai nghĩ sao, mặc ! Con ta ... nó chẳng phải là đứa xấu !

Nhưng cơn giận kéo đến lại làm cho bà đột nhiên khác hẳn, liều lĩnh và ương ngạnh. Bà trỏ Thạch Kinh Tử:

- Mày làm hư nó ! Nó trở nên vô lại cũng vì mày. Tao có quyền băm vằm mày rạ..

Rồi quay lại đám đông, bà năn nỉ:

- Bà con cô bác để cho lão quyết định. Lão xin xử nó xứng đáng ...

Một tiếng thét giận dữ cắt ngang lời Hồ Điểu. Đám đông quay lại nhìn về phía sau, rồi không ai bảo ai, đứng giạt sang hai bên, nhường chỗ cho một người ăn mặc theo lối binh gia, hùng hổ tiến vào. Đội trưởng “râu bàn chải” nghênh ngang trước mặt Đại Quán, quay một vòng nhìn đám đông và lên giọng hách dịch:

- Có chuyện gì vậy ? Đây không phải là trò chơi ! Mọi người hãy giải tán, ai về nhà nấy lập tức.

Đám đông yên lặng, ngần ngừ nhưng không ai chịu bỏ đi.

- Các ngươi nghe ta nói không ? Giải tán ngay, không được tụ họp nữa !

“Râu bàn chải” tay nắm đốc kiếm, nét mặt gườm gườm, dọa nạt, nhìn những người đứng ở hàng đầu làm cho họ sợ hãi, mắt mở lớn, lùi xa thêm vài bước.

- Không ! Đại Quán lên tiếng. Họ không có lý do gì phải dời khỏi nơi đây. Chính bần tăng đã mời họ đến để định đoạt số phận Thạch Kinh Tử !

- A ! Thầy mời họ lại ? Nhưng thầy lấy quyền gì can thiệp vào chuyện này ?

Rồi tay nắm đốc kiếm, ưỡn ngực, viên đội nhìn Đại Quán, lão bà Hồ Điểu Anh và đám đông bằng đôi mắt hống hách. Hắn cao giọng:

- Tên Yết Mân Thạch Kinh Tử này không những đã phạm trọng tội đối với luật pháp hàng tỉnh, hắn lại còn là đào binh trong trận Sekigahara nữa. Dân chúng không được làm tội hắn mà phải để nhà cầm quyền xét xử !

Đại Quán lắc đầu:

- Nhảm ! Vọng ngôn !

Thấy viên đội trưởng định nói thêm, nhà sư giơ tay chận lại:

- Đấy không phải là những điều đội trưởng đã hứa với ta !

Thấy tình hình nghiêm trọng có thể làm hại đến uy tín của mình, “Râu bàn chải” bèn dịu giọng:

- Chắc chắn thầy Đại Quán sẽ được trọng thưởng. Nhưng ở đây, ta là đại diện chính thức của Tôn gia, ta có bổn phận phải giữ phạm nhân lại. Bà con không cần phải lo lắng !

Đại Quán không trả lời, bật lên cười ha hả. “Râu bàn chải” quay lại, nghiêm trọng:

- Thầy hãy giữ thái độ đứng đắn. Ta không đùa và chẳng có chuyện gì đáng cười !

- Thái độ đứng đắn ? Đại Quán vẫn không thể nén cười. Thế nào là thái độ đứng đắn ? Này “Râu bàn chải”, nhà ngươi quên lời hứa với ta rồi chăng ? Nếu thật vậy thì cứ nói, ta sẵn lòng và lập tức thả ngay Thạch Kinh Tử !

Mọi người giật mình lùi ra xa, lấm lét nhìn Đại Quán và viên đội trưởng ?

- Sẵn sàng chưa ?

Đại Quán vừa hỏi vừa kề dao gần dây trói.

“Râu bàn chải” ngẩn người, luống cuống. Đại Quán trỏ viên đội trưởng:

- Ta sẽ cho hắn xông đến ngươi trước để hắn tự xử. Ta không trách nhiệm. Để xem ngươi có khả năng đối phó với hắn không !

- Khoan ! ... Khoan ! ... “Râu bàn chải” hối hả xua tay.

- Ta đã giữ lời hứa ! Bây giờ ... tùy ngươi.

Mồ hôi đổ lấm tấm trên trán, “Râu bàn chải” vội nói:

- Khoan ...khoan ... Đừng cắt !

- Vì sao ?

Hắn lắp bắp:

- Bắt ... bắt ... bắt được nó rồi thì đừng thả. Nguy hiểm lắm. Bây giờ thế này:

Thầy giết nó đi. Đây gươm đây, nhưng để ta mang đầu về. Thế là công bằng. Thầy nghĩ sao ?

- Hà ...hà ...Để ngươi lấy đầu nó hả ? Không đời nào ! Chùa chỉ nhận làm tang lễ, đâu có bao giờ giết người, giao xác hay giao một phần nhục thể cho người khác ! Vậy còn ra thể thống gì nữa ? Hà ... hà ... ngươi nghĩ xem, làm thế còn ai dám lên chùa tụng niệm mà chư tăng còn ai được đồng xu nào nữa ?

Ngay cả trong tình trạng như vậy mà Đại Quán vẫn không ngớt trêu trọc “Râu bàn chải”. Nhưng nói xong, ông vội vã quay lại trước mặt dân làng và nghiêm giong:

- Xin quý thí chủ xét cho kỹ, bây giờ ta phải làm gì ? Hay ta treo nó trên cây đại bách vài ngày, mặc cho gió mưa vùi dập, quạ sẽ đến mổ mắt nó. Qúy thí chủ nghĩ sao ?

Trước ý kiến quá tàn bạo, ai cũng rùng mình, nhưng chẳng ai dám phản đối. Chỉ có Hồ Điểu Anh lên tiếng:

- Ý thầy Đại Quán rất hay, nhưng lão cho vài ngày chưa đủ. Phải lâu hơn thế nữa.

Treo nó chừng nửa tháng cho nó thật đói khát để rồi chính tay lão đưa nó về âm phủ !

Đại Quán gật đầu:

- Cũng được ! Vậy cứ y thế mà làm !

Rồi Đại Quán cởi dây buộc Thạch Kinh Tử khỏi lan can, lôi hắn đi như lôi một con vật ra sau chùa, đến bên cây đại bách. Tội nhân đầu cúi gầm, lầm lũi đi không nói, những vết roi hằn trên da thịt còn rướm máu làm mọi người động lòng thương hại. Tuy nhiên, trong lúc say sưa vừa mới bắt được tên tội nhân nguy hiểm, họ vẫn tiếp tay nối thêm dây và hè nhau kéo hắn lên cao buộc vào cành đại bách lớn nhất.

Bị trói chặt chân tay, treo lủng lẳng trên cây, Thạch Kinh Tử trông chẳng khác gì một hình nhân bằng dạ ướt.

Từ trên núi về chùa, một mình trong gian phòng lạnh lẽo, Oa Tử cảm thấy mỏi mệt và buồn vô hạn. Niềm trống trải đối với Oa Tử không phải là một điều mới lạ, nhưng sao bữa nay nàng thấy cô đơn hết sức. Chùa đông gia nhân, tương đối đủ tiện nghi, Oa Tử vẫn không cảm thấy bình yên như khi chỉ có nàng và Đại Quán ở trên núi. Ngồi một mình bên chiếc bàn thấp, ngó mông lung ra cửa sổ, nàng suy nghĩ về những tình cảm phức tạp của lòng mình mà vẫn không sao tìm được một kết luận thích đáng. Nhưng biến cố vừa qua đã mở mắt cho nàng thấy rõ lòng mình hơn. Nàng cho rằng nỗi cô đơn giống như cơn đói, không phải ở ngoài vào mà chính ở trong lòng mình. Cảm thấy cô đơn không khác gì cảm thấy thiếu một cái gì hết sức cần thiết, tối quan hệ cho cuộc sống, một cái gì không có không được. Nhưng cái gì ? Nàng không biết ... Chẳng phải người chung quanh, cũng chẳng phải những tiện nghi của đời sống yên ổn trong chùa.

Những thứ đó không làm giảm bớt được cảm giác đơn độc đang đè nặng lên tâm hồn nàng bữa nay. Ở trên núi chỉ có cây rừng tịch mịch, sương mù âm u, nhưng có Đại Quán. Đột nhiên nàng chợt hiểu và bừng tỉnh. Phải rồi ! Sự thông cảm ! Những lời an ủi, khích lệ của nhà sư bàng bạc một niềm cảm thông đi thẳng vào tâm hồn nàng làm cho Oa Tử thấy ấm áp dễ chịu như chưa một ngọn lửa nào sưởi ấm được như thế ! Và tự nhiên, nàng cảm thấy sự thiếu vắng nhà sư đã làm tăng thêm nỗi cô đơn ấy.

Oa Tử đứng dậy, óc suy nghĩ vẩn vơ về những ý tưởng vừa qua. Sau khi quyết định treo Thạch Kinh Tử lên cây, Đại Quán gần như bận rộn suốt ngày trong nhà khách với các kiếm sĩ từ Himeji đến. Ông không có lúc nào rảnh rỗi ngồi nói chuyện với nàng như những ngày ở trên núi. Oa Tử thở dài, lại ngồi xuống.

Giá nàng có một người bạn. Không cần nhiều, chỉ một người bạn thôi, một người hiểu nàng, để cho nàng dựa dẫm, một người bạn trung thành, có khí phách và đáng cho nàng tin cậy. Nhưng biết ai bây giờ ?

Dĩ nhiên nàng còn cây sáo trúc, nhưng một thiếu nữ mười sáu tuổi có những cảm nghĩ, những băn khoăn, vật vô tri như cây sáo làm sao giải đáp ? Nàng trông cậy một tâm hồn biết thông cảm, tham dự hẳn vào cuộc sống của nàng chứ không phải chỉ làm khách bàng quang.

Những giọt nước mắt chua cay chảy trên má, nàng thấy người nóng hừng hực, máu dồn lên thái dương khiến nàng khó chịu, muốn hét to lên cho hả cơn bi phẫn.

Cánh cửa khép hờ phía sau nhẹ nhàng mở. Trong bếp, lửa cơm chiều đã bắt đầu nhóm và tiếng động nồi niêu theo cửa mở tràn vào. Oa Tử quay lại, bóng Hồ Điểu đã in đậm trên nền khung cửa sáng.

- Á à, cô này trốn ở đây hả ? Chiều rồi, cả ngày không làm việc gì sao ?

Nàng hơi ngạc nhiên, chưa kịp phản ứng. Quên cả chào hỏi, nàng luống cuống xếp gối ngay ngắn và mời bà lão ngồi. Hồ Điểu Anh không làm khách, thản nhiên ngồi xuống vào đề ngay, giọng trịnh trọng:

- Này con dâu ta ...

Trước dáng điệu đầy tự tin và kẻ cả ấy, Oa Tử khẽ dạ, cúi rạp đầu xuống chiếu.

- Ừ ! Bây giờ con đã nhận làm dâu ta, ta có điều muốn nói. Nhưng hãy mang trà lại đã. Ta vừa nói chuyện với thầy Đại Quán và các kiếm sĩ từ Himeji tới, khát khô cả cổ mà chẳng được hớp nước.Oa Tử lật đật đi pha trà mang lại.

- Ta muốn nói chuyện với con về thằng Mãn Hà Chí. Ta không tin thằng Thạch Kinh Tử, nhưng hình như Mãn Hà Chí vẫn còn sống và hiện nay đang ở tỉnh khác, phải không con ?

Oa Tử đáp, lạnh nhạt:

- Thế ạ ?

- Ta không chắc, nhưng có điều là sư cụ đã đồng ý cho con kết hôn với nó mà gia đình Hồ Điểu ta cũng đã coi con như vị hôn thê của nó rồi. Dù sao đi nữa, mong con chớ từ ...

- Mô Phật !

- Con vẫn giữ lời hứa chứ, Oa Tử ?

Oa Tử khẽ thở dài.

- Vậy được ! Ta bằng lòng lắm.

- ...

- Con biết đấy, miệng lưỡi thế gian, làm sao mà bịt được ? Ta không biết bao giờ thì Mãn Hà Chí trở về nên ta muốn con đến ở với gia đình ta, giúp ta một tay. Công việc bề bộn quá, rể và gái ta làm chẳng xuể ...

- Thưa bà ...

- Ngoài con là dâu ra, còn ai đến ở với ta được ?

- Thưa bà, con không biết, nhưng ...

- Con không muốn đến hả ? Con không thích hay sao ? Nhiều người khác chắc không ngần ngại gì mà không nhảy vào ngay đấy !

- Không phải thế ... nhưng chỉ vì ...

- Không nhưng gì hết. Cô đi sắp xếp quần áo ngay đi !

- Ồ, đi ngay à ? Con nghĩ nên đợi ít lâu thì hơn.

- Đợi gì ?

- Đợi Mãn Hà Chí về.

- Không được ! Nhất định không được !

Giọng bà đanh lại, không cho cãi.

- Để cô một mình, cô nghĩ đến những đứa khác hả ? Bổn phận tôi phải trông nom cô. Tôi sẽ dạy cô chăn tằm, làm công việc đồng áng, may vá thêu thùa và giữ phong cách con nhà chứ !

Oa Tử phân vân không biết phản đối ra sao. Hai bên thái dương nàng nóng rần rật.

Chuyện Mãn Hà Chí làm lòng nàng đau thắt. Nàng sợ. Nàng sợ bất cứ lời nói gì cũng sẽ tăng thêm nỗi đau đớn ấy và làm nàng bật khóc.

Không để ý gì đến nỗi phiền muộn của Oa Tử, bà Hồ Điểu tiếp theo, ngạo mạn:

- Còn chuyện nữa, ta vẫn không rõ rồi sư bác sẽ xử thằng Thạch Kinh Tử ra sao, nên muốn con để mắt canh chừng nó cho đến khi nó chết hẳn. Cả ngày lẫn đêm. Nhất là về đêm vì ta nghi chúng nó đồng lõa với nhau quá !

- Vậy bà vẫn để con lưu lại đây chứ ?

- Ừ, tạm thời thôi. Không lẽ bắt cô phân thân ra được à ! Khi thấy nó chết hẳn rồi, cô mang quần áo lại ngay nhà ta, nghe chưa ?

- Dạ.

- Nhớ kỹ đấy !

Đoạn bà hối hả bước ra khỏi phòng.

Ngay lúc đó có bóng người thấp thoáng bên song cửa. Rồi một giọng đàn ông gọi khẽ:

- Oa Tử !

Tưởng Đại Quán, nàng chạy vội ra, nhưng vừa đến bên cửa thì dừng ngay lại.

Người đứng ngoài là “Râu bàn chải”. Hắn thò tay qua cửa sổ nắm chặt lấy tay nàng.

- Oa Tử, nàng đối với ta rất tốt, nhưng đáng tiếc, ta phải đi Himeji ngay bây giờ !

Oa Tử không trả lời, cố rút tay ra, nhưng viên đội trưởng càng giữ chặt.

- Nghe đâu Himeji đang phái người đến điều tra chuyện Thạch Kinh Tử. Ta hận không lấy được đầu nó. Giá ta giết được Thạch Kinh Tử thì cũng gọi là làm tròn trách nhiệm, nhưng thằng trọc cản không cho ta làm theo ý định. Ta biết nàng có cảm tình với ta nên đến đây đưa thư này, lúc nào rỗi thì đọc, đừng cho ai biết. Ta đi đây !

Nói xong, hối hả dúi phong thư vào tay Oa Tử và đi vội, tiếng chân bước trên những bậc thang gỗ cọt kẹt nghe đến tận cửa ngoài.

Cuốn giấy không phải chỉ có bức thư mà còn một đồng tiền vàng nữa. Ý tứ thật rõ ràng:

“Râu bàn chải” yêu cầu Oa Tử chặt đầu tội nhân mang đến Himeji, hắn sẽ kết hôn với nàng, Oa Tử sẽ là vợ hắn, suốt đời giàu sang, phú quý. Cuối thư, hắn ký tên Hoa Kính Áo Đại Môn và xác nhận hắn là một trong những hiệp sĩ thuộc dòng dõi thế phiệt nhất trong vùng.

Oa Tử phẫn nộ nhưng chỉ mỉm cười thương hại. Vừa lúc đó, Đại Quán đến.

- Oa Tử, chưa ăn cơm chiều à ?

- Chưa ! Con không đói mà nhức đầu quá !

- Ngươi cầm vật gì vậy ?

- À, bức thư.

- Lại thư !

- Vâng.

- Của ai vậy ?

- Thật là ... Thầy thóc mách quá !

- Không, tò mò tìm hiểu thôi, đâu có thóc mách !

- Thầy muốn xem không ?

- Nếu ngươi không thấy gì phiền ...

- Để thầy đọc chơi lúc rảnh thôi nhé !

- Thì cớ nào cũng là cớ, có gì quan trọng !

- Đây, thầy cứ đọc, chẳng sao.

Oa Tử chìa lá thư ra. Đại Quán đọc xong cười ha hả. Oa Tử cũng không nhịn được, nhìn nhà sư hỏi ý.

- Tội nghiệp ! Hắn thất vọng quá đấy mà ! Phải dùng cả tình lẫn tiền để dụ ngươi.
Bức thư này thật khôi hài, may mà xã hội ta lại có những hiệp sĩ kiêu hùng như hắn, dám yêu cầu một thiếu nữ cắt đầu giặc thay mình và lại còn viết thư nữa mới đáng phục chứ !

- Con chẳng lưu tâm đến thư, nhưng tiền thì phải làm gì hả thầy ?

Oa Tử đưa đồng tiền vàng cho Đại Quán xem. Ông nhấc thử trong lòng bàn tay:

- Khá nặng đấy ! Có giá lắm !

- Thế mới phiền.

- Việc gì mà phiền ! Ta biết cách dùng, đừng lo.

Đại Quán đến bên thùng phước sương kê sát vách, định bỏ vào, nhưng nghĩ sao lại đổi ý. Ông đến trước bàn thờ Phật, thắp hương và cúi đầu làm lễ. Một lúc sau, đứng dậy, ông nói:

- Con giữ lấy. Sau này sẽ có dịp dùng đến.

- Con chẳng giữ làm gì, chỉ gây thêm oan nghiệt. Lỡ có người hỏi đến thì biết nói sao. Con tưởng cứ coi như không có là hơn.

- Vàng này không còn là của Áo Đại Môn nữa, ta đã đem cúng đường tam bảo và đức Phật cho lại con đấy. Con cứ giữ lấy.

Oa Tử ngần ngại, nhưng cũng nghe lời Đại Quán, giắt đồng tiền vào thắt lưng, đoạn nghiêng đầu nhìn trời qua khe cửa, lẩm bẩm:

- Trời nổi gió. Chắc đêm nay mưa mất. Đã lâu lắm không thấy mưa.

- Đầu tháng ba rồi còn gì ! Đêm nay hẳn mưa to. Càng tốt, mưa lớn làm rụng bớt hoa úa và làm lòng người thêm mát mẻ.

- Bạch thầy, nếu mưa to thì Thạch Kinh Tử ra sao ?

- Hừ ...Thạch Kinh Tử ...

Đại Quán nhìn ra phía cây đại bách, không nói.

Ngoài kia, đột nhiên có tiếng tội nhân gọi vọng vào:

- Đại Quán ! Đại Quán !

- Á à ! Thạch Kinh Tử còn sống hả ?

Tiếng Thạch Kinh Tử gay gắt, tục tằn:

- Thằng trọc chó lợn kia ! Đồ sư hổ mang ! Đến đây ta nói câu chuyện !

Gió thổi qua cành cây rào rào, tiếng hắn chửi rủa nghe khi được khi mất. Những lá úa bắt đầu rụng tơi tả, quay cuồng quanh gốc cây rồi tản mát trên những ngọn cỏ đã chớm vàng vì thiếu nước.

Nhà sư bật cười, bước ra sân, nhìn lên tàng cây cao:

- Khá lắm ! Ngươi còn khỏe lắm ! Hy vọng sinh lực ấy không phải như ngọn đèn dầu phựt sáng trước khi sắp tắt.

- Câm mồm ! Nếu sợ chết, ta đâu có để cho nhà ngươi trói dễ như vậy !

- Ngươi bị trói vì ta khỏe, ngươi yếu !

- Láo ! Nói láo ! Ngươi phải biết là ngươi đang nói láo !

- Vậy ta nói khác đi:

Ta khôn, ngươi dại. Dại hết sức !

- Ừ, dại thật ! Tự nhiên chui vào bẫy ! Thật là dại !

- Đừng dãy dụa như vậy, mất sức vô ích !

- Ở trên núi, nếu ta muốn thoát thân thì dễ quá. Ta có thể giết ngươi dễ dàng như dẫm chết con giun vậy !

Đại Quán cười khà khà:

- Sự so sánh làm ta chẳng hài lòng chút nào. Nhưng việc đã rồi, có hối cũng không kịp nữa. Bây giờ phân bua làm gì !

- Đồ khẩu Phật tâm xà ! Tại ta nghe lời dụ dỗ ngon ngọt của ngươi nên tin tưởng, giờ bị lừa. Ta tưởng ngươi là một thầy tu khác với những người khác chứ !

- Thôi đừng khùng nữa, muốn gì nói đi !

- Tại sao ngươi đối với ta tàn nhẫn vậy ? Sao không giết ngay đi ? Ngươi muốn giết thì cứ giết, sao để chúng hành hạ ta thế này ? Ngươi là người tu hành, tất biết thế nào là hiệp sĩ đạo ...

- Dĩ nhiên biết chứ, biết hơn ngươi chứ !

- Giá ta để cho dân làng bắt lại hơn ! Họ còn ít ác độc hơn ngươi.

- Đấy là lỗi lầm độc nhất của ngươi đấy ư, Thạch Kinh Tử ? Chuyện gì ngươi làm cũng lầm lỗi, không nhiều thì ít. Ở trên đó sao ngươi không suy nghĩ về những việc ngươi đã làm đôi chút ?

- Đồ giả nhân giả nghĩa ! Ta chẳng làm điều gì đáng phải xấu hổ. Mẹ Mãn Hà Chí tìm đủ mọi cách hại ta, nhưng trước sau ta vẫn coi hắn là bạn. Bổn phận ta phải trở về báo cho mẹ hắn biết tin. Ta phá rào, giết người cũng vì vậy, đâu có gì xấu, đâu có gì trái với đạo người hiệp sĩ ?

- Không phải vậy ! Vấn đề của ngươi là không biết cân nhắc, suy nghĩ. Không phải cứ khinh cái chết là trở nên hiệp sĩ. Chết lúc chưa đáng chết chỉ là xuẩn động. Tin tưởng vào một điều gì phải, là tốt nhưng cứ nhắm mắt làm bừa chỉ có hại, chỉ đưa ngươi đến tình trạng như ngày nay, bị trói thúc thủ trên cây cao này mà thôi.

Đại Quán ngừng một lát rồi hỏi kháy:

- Thế nào, ở trên đó nhìn phong cảnh có đẹp không ?

Thạch Kinh Tử hét lên:

- Thằng trọc ! Ta sẽ không bao giờ quên mối nhục này !

- Sẽ quên ! Sẽ quên ! Trước khi trở thành cái xác khô đét, còn chút thì giờ, ngươi hãy cố gắng quan sát mọi vật xung quanh, quan sát mọi người rồi bỏ những ý nghĩ thiển cận, vị kỷ của ngươi đi. Chừng nào về chầu tổ tiên, nhớ nói với các cụ rằng một tăng sĩ nghèo tên Đại Quán đã khuyên ngươi như vậy. Tổ tiên ngươi sẽ hối tiếc ngươi không nghe ta nên đã chết, mang tủi nhục về cho dòng họ.

Oa Tử đứng gần đó lắng tai nghe, chạy vội lại:

- Thầy Đại Quán ! Sao thầy lại có thể tàn nhẫn với người không còn tự vệ được như thế ? Thầy là người tu hành hay chỉ khoác áo thầy tu ? Thạch Kinh Tử đã tin tưởng ở thầy, không kháng cự ...

- Này, chuyện gì vậy ? Đồng minh của ta bây giờ quay lại chỉ trích ta đấy hả ?

- Xin thầy thương hắn. Thầy đối với hắn như thế con không trọng. Nếu thầy muố n giết thì giết quách ngay đi, hắn chịu chết mà, để cho linh hồn hắn được siêu thoát.

Trong cơn phẫn khích, Oa Tử nắm vạt áo Đại Quán giật liên hồi. Đại Quán gạt tay nàng, giọng nghiêm nghị:

- Yên ! Đàn bà biết gì mà nói ! Nếu ngươi không im, ta sẽ treo lên cây như nó !

- Không im ! Con có quyền nói ! Con có công đi lên núi bắt hắn, con có quyền !

- Không được ! Đại Quán này muốn phạt Thạch Kinh Tử ra sao thì phạt !

- Vậy thầy giết hắn đi ! Giết ngay đi ! Làm nhục hắn trong khi hắn nửa sống nửa chết thật không xứng đáng ...

- Đó là nhược điểm duy nhất của ta. Ta thích hành hạ những thằng ngu như nó !

- Bất nhân !

- Đi đi, để ta yên !

- Không !

- Đừng bướng ! Đi !

Đại Quán lấy tay đẩy mạnh Oa Tử. Nàng ngã ngồi xuống đất, bên gốc đại bách.

Cạnh gốc cây, áp má vào lớp vỏ xù xì, nàng rên khe khẽ. Nước mắt trào ra, Oa Tử không ngờ Đại Quán tàn nhẫn đến mức ấy. Người trong làng ai cũng tưởng Thạch Kinh Tử chỉ bị treo ít lâu rồi sẽ được thả, ai ngờ chính Đại Quán vừa xác nhận ông thích nhìn Thạch Kinh Tử đau đớn. Oa Tử rùng mình ghê sợ cho sự dã man của con người.

Nếu Đại Quán, người mà nàng tin tưởng bấy lâu nay, đã tỏ ra tàn ác như vậy thì ở ngoài kia, xã hội còn ghê gớm đến bực nào ! Nàng còn ai để trông cậy nữa ? Bất giác, Oa Tử cảm thấy thân cây đại bách ấm áp hơn, dường như máu tội nhân từ trên cành cao dồn xuống đang luân lưu trong những thớ gỗ. Thạch Kinh Tử kiên cường, không hổ với dòng dõi hiệp sĩ. Lúc đầu bị trói ở trên núi và ngay bây giờ đây, nàng thấy Thạch Kinh Tử vân còn nhân tính. Hắn còn biết khóc. Không hiểu sao cái gì đã là mọi người khinh ghét hắn, coi hắn như một con quỷ và xua đuổi hắn đến thế ?

Nước mắt tràn trề, hai vai rung động, Oa Tử ôm gốc cây, không kể gì đến gió rít bên ngoài và những giọt mưa bắt đầu rơi trên vai và cổ áo. Đại Quán kéo vạt tăng bào lên che đầu, gọi:

- Oa Tử ! Vào thôi, ướt hết bây giờ !

- ...

- Lỗi tại ngươi đó ! Tại ngươi hay khóc nên trời cũng bắt chước.

Không nghe trả lời, ông đổi giọng nghiêm trang:

- Gió mạnh rồi. Có lẽ bão. Về phòng thôi, đừng dư nước mắt khóc một người chẳng còn sống bao lâu nữa !

Nói xong, nhà sư tay giữ vạt áo, tay che đầu chạy vào hậu liêu !

Vài giây sau, nước đổ như trút. Những giọt mưa to rơi lộp bộp trên sân đất. Oa Tử ngồi bất động dưới gốc cây, mặc cho mưa rơi trên đầu trên tóc. Chiếc kimono nàng mặc dán vào mình ước sũng và lạnh buốt, nhưng nghĩ đến nỗi đau khổ Thạch Kinh Tử phải chịu, nàng thấy mưa gió không có nghĩa lý gì. Nàng thầm cầu nguyện cho tính mệnh hắn toàn vẹn.

Oa Tử quanh quẩn bên gốc cây, thỉnh thoảng ngẩng đầu lên nhìn, nhưng mưa to quá, không trông thấy Thạch Kinh Tử đâu hết. Nàng gọi tên hắn. Không nghe tiếng trả lời. Có lẽ giọng nàng đã lạc đi trong mưa bão, mà cũng có lẽ hắn không trả lời thực, vì hắn coi nàng như mọi người khác trong làng có ý tưởng thù nghịch, chỉ tìm đến để làm khổ hắn mà thôi.

Mưa thế này mà không cứu Thạch Kinh Tử thì hắn chết mất. Trong cơn tuyệt vọng, nàng bỏ chạy vào chùa, gió thổi sau lưng khiến nàng suýt ngã.

Trong chùa, cửa bếp cũng như cửa các tăng phòng đều khép kín. Nước mưa từ các máng xối đổ xuống, đào những rãnh nhỏ sâu trên sân đất, ào ào chảy xuống chân đồi.

Đến phòng Đại Quán, nàng vừa đập cửa vừa gọi lớn.

- Ai đó ?

- Con đây ! Oa Tử !

- Ngươi còn ngoài đó hả ? Làm gì ngoài đó ?

Cửa mở, nước mưa theo gió tạt vào làm Đại Quán lùi lại mấy bước. Ông ngạc nhiên nhìn Oa Tử trong bộ quần áo ướt sũng, giục:

- Vào đi !

- Không cần ! Con không đến để trú mưa, chỉ xin thầy rủ lòng thương, cho hắn xuống !

- Không ! Nhất định không được !

- Con lạy thầy, thầy cứu hắn, con đội ơn thầy suốt đời.

Nàng quỳ xuống, không nghĩ gì đến chiếc kimono bê bết bùn đất:

- Xin thầy đừng quan tâm đến con, mà thương hắn. Thầy không thể để hắn chết thế được ! Con xin làm theo bất cứ lệnh gì của thầy, nhưng lạy thầy, xin thầy cứu hắn !

Tiếng gió ù ù, mưa đổ sầm sập át cả tiếng Oa Tử van xin khóc lóc. Hai tay chắp trước ngực, trông nàng chẳng khác gì một phật tử đang thành kính đội mưa chịu lễ sám hối trước tòa sen.

Đại Quán đứng im như tượng, mắt nhắm nghiền. Không ai biết bên trong khuôn mặt bình thản ấy có những xao động thầm kín gì. Lúc sau, mở mắt ra, ông nghiêm nghị:

- Oa Tử, về phòng ngay đi ! Sức ngươi yếu đuối, để bị cảm hàn là tự chuốc lấy cái chết vô ích.

- Con lạy thầy, con van thầy ! Xin thầy thương hắn ...

Trước mắt Đại Quán, Oa Tử vẫn quỳ, đầu cúi rạp. Nhà sư với tay đóng cửa. Một giọng nói như băng vọng ra lẫn trong tiếng mưa rơi vẫn còn nặng hạt:

- Khuya rồi, ta đi nghỉ. Ngươi cũng nên về thôi. Ta khuyên ngươi đấy.

Chương 7: Cương Thạch và Đại Thụ

Sáng hôm sau, những dấu vết của mùa xuân gần như đã bị trận bão đêm trước quét sạch. Nắng ban mai gay gắt làm những người đi làm đồng bắt đầu phải mang nón. Bà Hồ Điểu nhọc mệt leo lên chùa, thở hổn hển. Cổ khô, miệng khát, mồ hôi đẫm trán chảy dài xuống má làm khó chịu, nhưng bà vẫn không nghỉ. Và nóng nảy muốn tới chùa ngay để xem Thạch Kinh Tử thế nào. Mới đến cổng, bà đã gọi tới tấp:

- Thầy Đại Quán ! Thằng đó liệu có qua khỏi không ?

Đại Quán bước ra hàng hiên, mắt hấp háy:

- À, bà Hồ Điểu ! Đêm qua mưa to quá há !

- Phải. Bà cười ác độc. Trận mưa chết người chứ không bỡn.

- Dầm mưa vài đêm chẳng sao. Sức người bền bỉ lắm, nhưng nắng buổi trưa mới thật ghê gớm.

Hồ Điểu hướng bộ mặt nhăn nhúm về phía cây đại bách:

- Thầy nghĩ hắn còn sống à ?

Bà lấy tay che mắt cho đỡ chói, đôi mắt sắc nheo lại dưới ánh nắng, đứng chăm chú nhìn một lúc rồi lẩm bẩm:

- Trông như cái giẻ rách thế kia, khó sống lắm, khó sống lắm !

- Không thấy quạ bu xung quanh mổ mắt, vậy là chưa chết.

- Ờ phải ! Mô Phật, sức học uyên bác như thầy, khó ai mà lừa được.

Rồi nghểnh cổ, đưa mắt tò mò nhìn qua vai Đại Quán vào trong, bà nói:

- Không thấy dâu lão đâu. Thầy gọi nó giùm lão với !

- Bần tăng biết dâu bà là ai mà gọi.

- Chà ! Thầy gọi giúp chút mà ! Nó ở trong chùa ấy !

- Nhưng ai mới được chứ ?

- Oa Tử. Hồ Điểu sốt ruột. Oa Tử chứ ai nữa !

- Vậy sao bà không bảo Oa Tử lại bảo dâu bà ? Cô ấy đâu đã về làm dâu nhà Hồ Điểu ?

- Chưa. Nhưng lão có ý định đưa nó về giới thiệu với họ hàng là dâu của lão.

Đại Quán mỉm cười:

- Liệu được không ? Bần tăng chưa từng thấy ai lấy chồng vắng mặt như thế bao giờ !

Bà Hồ Điểu giọng bất mãn:

- Thầy nhiều chuyện ! Thì cứ gọi hộ lão ! Đâu phải việc của thầy !

- Chắc cô ấy còn ngủ trong phòng !

- Ờ nhỉ, lão quên mất. Bà nói nửa như với mình, nửa như với Đại Quán. Lão có bảo nó ban đêm phải để ý trông thằng Thạch Kinh Tử, chắc sáng ra nó mệt. Nhân thể hỏi thầy, có phải ban ngày thầy trông chừng hắn không ?

Nhưng không đợi Đại Quán trả lời, bà bước vội ra gốc đại bách, nhìn chăm chú lên cây một lúc, thừ người ra suy nghĩ, lát sau quày quả bỏ đi, tay vung vẩy cây gậy dâu.

Đại Quán không nói, cũng trở về phòng, ngồi tư lự đến chiều.

Oa Tử ở cách phòng Đại Quán không xa. Nàng đóng cửa phòng từ sáng, trừ hai bận mở cho một chú tiểu mang bát thuốc và liễn cháo đến. Đêm trước, người ta đã phải khiêng Oa Tử về khi thấy nàng ngất đi ở ngoài hiên dưới mưa gió. Dỗ dành lắm nàng mới uống hết chung trà nóng. Sư cụ quở Oa Tử không biết bao nhiêu, nàng chỉ yên lặng không đáp. Giờ đây, ngồi dựa lưng vào vách ván, đầu nặng và nhức như búa bổ, nàng thấy cơn sốt kéo đến, trong người nóng hầm hập. Cố lắm nàng mới húp được vài thìa cháo loãng.

Hoàng hôn tắt đã lâu, bóng tối ập xuống bao phủ cả gian phòng hiu quạnh. Trái với đêm trước, vầng trăng hôm nay hiện lên rực rỡ, ánh sáng long lanh như rung động trên nền trời sâu thẳm.

Chờ mọi người ngủ yên, Đại Quán mới bỏ sách xuống, xỏ chân vào đôi guốc gỗ, bước ra sân. Ông khẽ gọi:

- Thạch Kinh Tử !

Tiếng đáp lớn từ trên cây vọng xuống, mạnh và đầy giận dữ:

- Gì vậy, thằng trọc ?

Ít khi Đại Quán bị bất ngờ như vậy. Ông không giấu được vẻ ngạc nhiên:

- Sắp chết mà còn hét to nhỉ ! Ngươi là cá hay thuộc loài thủy quái gì vậy ? Cứ sức này thì còn chịu được vài trận mưa nữa. Sao, giờ thấy đói chưa ?

- Đừng hỏi lôi thôi. Chặt phứt đầu tao đi cho rồi !

- Không được ! Chặt bây giờ để đầu ngươi rớt xuống cắn ta hả ?

Rồi nhìn trời, ông nói:

- Trăng đẹp quá ! Ở trên đó, ngươi ngắm trăng chắc thú hơn ta.

- Này thằng trọc hổ mang kia ! Mở mắt nhìn cho rõ:

ta chưa yếu sức đâu, ta muốn làm gì vẫn còn làm được.

Dứt lời, Thạch Kinh Tử uốn cong mình tung lên cao rồi buông xuống, vùng vẫy dãy dụa như con cá mắc câu. Sức mạnh của hắn làm cành đại bách rung chuyển, lá và vỏ cây rơi lả tả trên đầu Đại Quán. Nhà sư vẫn thản nhiên, nhưng vẻ ung dung có hơi giả tạo. Ông đưa tay khoan thai phủi lá cây rụng trên vai:

- Được lắm. Cứ giận, càng giận điên cuồng càng tốt. Hãy tỏ cho mọi người biết ngươi hãy còn sung sức ! Có người nói kềm chế được nóng giận là cương nghị, khôn ngoan, nhưng ta, ta cho đó là ngu xuẩn. Ta không khen những người biết tự kềm chế và có giáo dục như vậy. Thanh niên phải tỏ ra có nhiều sức lực hơn bậc đàn anh chứ ! Giữ sức mà làm gì ! Dãy đi, cứ dãy cho khỏe, càng mạnh càng tốt.

- Ta giật đứt sợi dây này, xuống ăn thua đủ với ngươi !

- Dọa hay làm thật vậy ? Nếu thấy đủ sức thì cứ làm, ta đợi.

- Câm họng !

- Ngươi còn khỏe lắm ! Dãy rung cả cành đại bách, nhưng tiếc rằng đất vẫn chưa chuyển. Khỏe nhưng vẫn yếu. Sự cuồng nộ của ngươi chỉ do lòng hung bạo mà ra, vì xúc cảm nhất thời mà có, không phải là sự phẫn nộ của người vì thấy điều bất bình mà giận dữ. Sự phẫn nộ chỉ đáng kể khi nó bắt nguồn từ một niềm bất mãn tinh thần. Giận những chuyện không đâu là cái giận của đàn bà, không giải quyết được gì hết !

Thạch Kinh Tử không nghe, vừa chửi rủa vừa giẫy dụa. Càng dãy, sợi dây càng thắt chặt. Hắn mệt phờ người, những chỗ dây thừng siết vào da thịt rớm máu.

Đại Quán đứng nhìn một lúc, lắc đầu. Ông lấy giọng thân thiết khuyên nhủ:

- Thạch Kinh Tử ! Ngươi chẳng nên ngu ngốc như vậy. Dãy dụa bao nhiêu cũng chẳng làm cây gẫy được mà thế gian này đâu có sứt mẻ đi chút nào ?

Thạch Kinh Tử rên khe khẽ. Cơn cuồng nộ của hắn đã qua, hắn thấy lời Đại Quán nói đúng.

- Ta khuyên ngươi mang sức mạnh dùng vào việc gì có ích cho nhà cho nước. Hãy cố gắng làm một điều gì hữu ích cho những người chung quanh, tuy bây giờ có hơi trễ.

Ngươi cứ thử cố gắng đi, Trời Phật sẽ độ trì cho. Cả những người dân tầm thường trong làng này cũng sẽ cảm động và đối xử với ngươi khác trước.
Giọng Đại Quán trở nên buồn và nhu hòa:

- Thật đáng tiếc ! Ngươi sinh ra làm người mà hành động như loài dã thú, không bằng giống sói lang. Thật buồn ! Một thanh niên đang tuổi hăng hái như ngươi mà chết vô dụng, không có cơ hội nên người !

- Thế ngươi là người đấy hả ?

- Lúc nào ngươi cũng ỷ và sức mạnh vô địch. Bây giờ ai thắng, ai bại, ngươi đã thấy rõ.

- Ta không có gì phải xấu hổ. Cuộc đấu không ngay thẳng.

- Có gì khác đâu ? Ngươi bại không phải vì thiếu sức mạnh mà vì bất trí. Ta không dại gì đấu sức với một người khỏe như ngươi. Bạo hổ băng hà, tử nhi vô hối ! Ai đưa tay không ra bắt cọp bao giờ ! Người khôn hơn cọp là vì thế. Trong cuộc giao đấu giữa người và cọp, nếu cọp thua, chẳng ai bảo là cuộc đấu không ngay thẳng.

Thạch Kinh Tử không tỏ dấu hiệu gì nghe lời Đại Quán.

- Vũ dũng của ngươi cũng thế, không hơn gì sự hung tợn của một con vật. Đấy không phải là cái dũng của người hiệp sĩ. Lòng dũng cảm thật phải biết thế nào là sợ, sợ những điều đáng sợ. Người hiệp sĩ yêu cuộc sống, coi cuộc sống là vật báu vô giá và chỉ chết khi cần, tự quyết định lúc nào đáng chết và chết một cách đĩnh đạt ...

Vẫn không có tiếng đáp lại.

- Thạch Kinh Tử, tội nghiệp cho ngươi ! Ngươi dũng cảm và có sức mạnh, nhưng thiếu kiến thức và không ngoan. Dũng cảm, sức mạnh chỉ là phương tiện. Kiến thức, khôn ngoan mới thực sự là cốt tủy của người hiệp sĩ khi hành đạo. Hợp những điều ấy lại, ngươi sẽ chỉ thấy có một đường ! Ngươi rõ không, Thạch Kinh Tử ? Một đường thôi !

Cây đại bách vẫn yên lặng. Yên lặng như phiến đá Đại Quán ngồi, như bóng đêm vây quanh gốc đại thụ.

Lát sau, Đại Quán đứng dậy:

- Nghĩ kỹ đi, Thạch Kinh Tử ! Nghĩ thêm một đêm nữa rồi chết cũng không muộn !

Nói xong, ông bỏ đi, đầu cúi, lòng nặng trĩu ưu tư. Nhưng được vài bước, tiếng Thạch Kinh Tử đã gọi giật ông lại:

- Thầy Đại Quán !

- Gì vậy ? Ngươi đã nghĩ chín rồi hả ?

- Đại Quán ! Xin thầy cứu con !

Tiếng Thạch Kinh Tử vang lên trong đêm khuya yên tĩnh. Một cơn gió nhẹ thoảng qua, lá cây xào xạc như than khóc càng làm tăng thêm nỗi bi thiết của lời kêu cứu.

- Con muốn trở nên người tốt. Sắp chết, con mới hiểu được giá trị của sự sống thì đã muộn, xin thầy giải thoát cho con.

- Lần đầu ta thấy con nói như một người. Con đã biết suy xét rồi đó !

- Con không muốn chết. Con muốn cố gắng làm lại tất cả.

Và hắn khóc:

- Đại Quán ! Xin thầy giúp con !

Nhưng nhà sư lắc đầu:

- Ta rất tiếc chẳng có quyền ấy. Đó là quyền của tạo hóa. Đầu chặt đi rồi, không gắn lại được nữa, luật thiên nhiên như vậy. Ta thương con nhưng không cởi trói cho con được, vì không phải ta đã trói con mà chính con đã tự trói con đấy ! Ta chỉ còn một điều khuyên:

Hãy anh dũng trước cái chết, và vì danh dự của ông cha, hãy cố giữ vẻ bình thản. Đọc kinh đi, ta mong sẽ có người nghe thấy lời con sám hối.

Rồi Đại Quán bước đi hẳn, tiếng guốc gỗ xa dần về phía tăng phòng.

Thạch Kinh Tử không kêu nữa. Nghe lời khuyên của nhà sư, hắn nhắm mắt lại lâm râm cầu nguyện và quên hết mọi sự, cả sự chết cũng như sự sống. Tâm hồn hắn lâng lâng, siêu thoát. Đối với hắn giờ đây mọi việc đều là hư ảo dưới bầu trời vằng vặc trăng sao, với gió đêm thì thào thổi qua những tàn lá. Hắn thấy lạnh, lạnh lắm.

Thời gian trôi qua. Thạch Kinh Tử cảm thấy như có người ở dưới gốc cây đang tìm cách trèo lên. Người đó ôm thân cây, cố gắng một cách vụng về bám lấy cành thấp nhất nhưng hai ba lần đều trượt và tuột xuống. Hắn nghe tiếng vỏ khô rào rạo mỗi khi người đó rướn mình lên và tiếng thở hổn hển. Sự vụng về và yếu đuối của người trèo làm hắn mường tượng có lẽ tay chân người ấy bị xây xát nhiều hơn là lớp vỏ xù xì của cây đại bách. Nhưng hình như người đó quyết tâm lắm, vì chẳng bao lâu sau đã thấy một bóng đen bò đến gần chỗ cành cây treo hắn. Thạch Kinh Tử nhịn thở, banh mắt ra nhìn. Có tiếng gọi đứt quãng, nhẹ như tơ lẫn trong hơi thở hổn hển:

- Thạch Kinh Tử !

- Ai đấy ?

- Oa Tử. Oa Tử lên cứu chàng.- ...

- Nghe chàng van xin, tiếng đau thương tự tâm khảm, Oa Tử không nỡ ...

- Nàng định cởi trói cho ta thoát sao ?

- Vâng, trốn đi ... Oa Tử cũng muốn rời khỏi chỗ tàn bạo và vô lý này. Oa Tử sẽ giúp chàng, chúng ta cùng nhau đi trốn.

Bấy giờ Thạch Kinh Tử mới nhận thấy Oa Tử đã sẵn sàng. Nàng mặc áo chẽn, một túi vải hành trang đeo sẵn trên vai.

- Vậy nhanh lên ! Cắt ngay dây đi, Oa Tử !

- Đây ! Cắt ngay đây !

Nàng rút trong lưng ra một con dao nhỏ, một tay ôm cành cây, một tay cứa vào sợi dây. Sợi chão đứt dần và sau một tiếng phựt, Thạch Kinh Tử rơi xuống như hòn đá, kéo theo cả thiếu nữ. Một cành thấp gần gốc cây đập vào lưng hai người làm nàng đau điếng rồi cả hai ngã lăn trên nền đất.

Thạch Kinh Tử ê ẩm cả người. Oa Tử ngất đi, nằm yên như khúc gỗ. Một lúc sau tỉnh lại nàng mới gượng đau, bò đến chỗ Thạch Kinh Tử nằm, cắt nốt dây trói cho hắn.

- Nàng không sao chứ ?

- Cũng không biết nữa, nhưng chắc còn đi được.

- May mà có cái cành thấp này đỡ, nếu có việc gì cũng không đến nỗi nặng lắm !

- Còn chàng thì sao ? Có yếu quá không ?

- Ờ ...ờ ...ta ...ta ...

Hắn ngưng lại một chút, giơ tay định hét lớn, bỗng nhiên khựng lại, vui mừng ghé vào tai Oa Tử:

- Sống rồi ! Ta sống thật rồi !

- Dĩ nhiên là chàng sống.

- Sống ! Không dĩ nhiên gì cả ! Rõ ràng là ta sống rồi !

- Bây giờ phải trốn khỏi nơi này ngay. Chần chừ có người trông thấy, mình khó thoát lắm !

Rồi chống tay đứng dậy, Oa Tử khập khiễng bước đi, theo sau là Thạch Kinh Tử, yên lặng và run rẩy như hai con sâu yếu ớt bị thương trong trận tuyết giá đầu mùa.

Họ lầm lũi đi như trong mơ, thất thểu trên con đường rừng rậm rạp cho đến khi tiếng gà văng vẳng đằng xa làm họ thức tỉnh. Oa Tử dừng chân trông về hướng đông, bảo Thạch Kinh Tử:

- Trời hửng sáng rồi đấy !

- Đây là đâu thế ?

- Đỉnh đồi Nakayama.

- Đã đến đỉnh đồi Nakayama rồi cơ à ? Nhanh quá nhỉ !

Oa Tử mỉm cười yếu ớt. Nàng gắng gượng đáp lời Thạch Kinh Tử mà như nói với chính mình:

- Ờ, nhanh thật ! Nếu quyết tâm, ta có thể làm những việc không ai ngờ được !

Rồi bỗng sực nghĩ ra điều gì, nàng vội vã thêm:

- Chết ! Quên mất. Chắc anh đói lắm. Mấy ngày nay có được ăn gì đâu !

Nghe nói đến ăn, Thạch Kinh Tử thấy bụng cồn cào, đau quặn, nước rãi ứa đầy miệng. Oa Tử ngồi xuốn vệ đường, mở đẫy lấy ra bốn chiếc bánh nếp. Ngồi trông nàng mở đẫy, hắn thấy sao chậm quá, tưởng có đến hàng giờ mới xong. Tay run run bóc bánh, mùi thơm của lá gói đưa lên mũi khiến hắn choáng váng. Hắn nhai trệu trạo vài cái đã nuốt ngay, nhưng vẫn tận hưởng được hương vị ngọt ngào của đậu xanh quyện với bột nếp nhuyễn tan trong miệng.

“Ta sống thật rồi !”, hắn nguyện thầm sẽ khôn ngoan hơn và quyết tâm sống một cuộc đời khác.

Trên trời, mây hồng lên rực rỡ. Thạch Kinh Tử nhìn nét mặt người bạn đồng hành đã rõ hơn. Hắn no bụng, yêu đời và không còn lo sợ nữa.

- Trời sáng rồi ! Oa Tử nói. Chúng ta phải hết sức cẩn thận. Đây là ranh tỉnh rồi đó!

Thạch Kinh Tử ngạc nhiên:

- Ranh tỉnh ... Ta phải đi Hinagura kia mà !

- Đi Hinagura làm gì ?

- Cứu Ô Nhiên. Ô Nhiên bị giam ở đó. Nàng với ta chia tay tại đây thôi !

Oa Tử nhìn hắn, kinh ngạc:

- Chàng muốn đi một mình à ? Nhưng nếu biết thế, Oa Tử đã không bỏ Miyamoto.

- Làm sao được ? Chẳng lẽ cứ để Ô Nhiên bị giam ở đấy mãi !

Oa Tử cầm tay Thạch Kinh Tử nhìn vào mắt hắn, chứa chan thông cảm và say đắm:

- Thạch Kinh Tử, khi nào thuận tiện, Oa Tử sẽ nói rõ chàng nghe cảm tình của Oa Tử đối với chàng, nhưng bây giờ chàng đừng bỏ Oa Tử ở đây. Đi đâu cho Oa Tử theo với!

- Không được đâu.

- Chàng nên nhớ - Nàng nắm chặt tay Thạch Kinh Tử - lúc nào Oa Tử cũng muốn ở bên chàng. Đi cứu Ô Nhiên, nếu thấy Oa Tử theo làm phiền thì Oa Tử sẽ đến Himeji đợi chàng vậy !

- Cũng được ! Như thế tiện hơn !

- Thế nào chàng cũng trở lại nhé.

- Dĩ nhiên.

- Oa Tử đợi chàng ở cầu Hanada ngoại ô thành Himeji đấy ! Dù lâu một trăm hay một ngàn ngày, Oa Tử cũng đợi !

Thạch Kinh Tử gật đầu, rảo bước lên núi. Oa Tử đứng lặng trông theo cho đến khi bóng hắn khuất dần trong những lùm cây rậm rạp.

Chương 8: Vết chân dã thú

Mặt trời mới lên khỏi con sào, cháu ngoại bà Hồ Điểu đã hốt hoảng chạy tới, tay xách dép, tay quệt mũi, thở hổn hển:

- Bà ơi, bà ! Trên chùa có chuyện !

Bà Hồ Điểu mãi quạt lò, tiếng quạt giấy phành phạch. Bà không lưu ý mà cũng hầu như không nghe tiếng thằng bé.

- Bà ! Có chuyện trên chùa !

- Chuyện gì ?

- Thạch Kinh Tử trốn rồi !

- Trốn rồi ? Thật hay bỡn ?

Trong cơn thảng thốt, bà vô tình để cây quạt bị lửa cháy táp một miếng. Bà lấy chân dậm tắt, hỏi lại:

- Chắc không ? Mày bịa chuyện đấy chứ ?

- Thì ai cũng nói vậy. Trên chùa đương rối loạn cả kia kìa. Oa Tử và thầy Đại Quán cũng biến mất luôn.

Mặt bà Hồ Điểu tái mét, chân tay run lẩy bẩy như bị trúng gió. Thằng cháu giương mắt ngạc nhiên nhìn bà và sợ hãi giật lùi ra cửa.

- Kỳ Ô Nô !

- Dạ.

- Chạy ba chân bốn cẳng tìm ba mày về đây. Rồi đến nhà cậu Ngô mời cậu lại ngay bà bảo. Nhanh lên, không được la cà dọc đường, chết ...chết đòn đấy !

Giọng bà có vẻ luống cuống.

Nhưng thằng bé chưa bước ra khỏi cổng ngoài, bà Hồ Điểu đã thấy một đoàn người lũ lượt kéo đến, đi đầu là cậu Ngô cùng con rể bà và một số lực điền trong xóm.

Họ xôn xao bàn tán:

- Oa Tử chắc theo thằng Thạch Kinh Tử rồi !

- Cả sư bác cũng không thấy đâu, lạ quá !

- Thì một đồng một cốt cả. Không biết bà già nghĩ sao đây ? Gia đình Hồ Điểu phen này cứ gọi là mất hết danh giá.

Cậu Ngô và rể bà Hồ Điểu mỗi người mang một ngọn giáo cũ, binh khí của tổ phụ để lại. Bên ngoài họ làm bộ hung hăng lắm nhưng trong lòng bối rối chưa có định kiến.

Họ kéo vào nhà báo tin bà Hồ Điểu hay để xem bà xử trí ra sao vì từ trước đến nay đối với họ, bà vẫn là tay cứng cỏi.

- Thạch Kinh Tử bỏ trốn rồi, bà biết chưa ?

- Biết rồi. Đợi đấy, ta ra ngay.

Hồ Điểu Anh thật không hổ là người cầm đầu đảng tộc. Khi biết chuyện Thạch Kinh Tử bỏ trốn, sau phút chấn động ban đầu, bà lấy ngay được bình tĩnh. Bà vào nhà trong, yên lặng quỳ trước bàn thờ gia tiên cầu xin phù hộ rồi đến bên tủ đựng đồ gia bảo, mở ngăn kéo lấy thanh kiếm cũ. Kính cẩn nâng ngang mày, bà lâm râm khấn vái và giắt kiếm vào thắt lưng. Rồi thay áo chẽn, đi dép cỏ, buộc chặt quai dép vào cổ chân, bà điềm tĩnh mở cửa bước ra nhà khách. Mặt bà đanh lại.

Đám gia nhân yên lặng đứng nhìn, lòng ngưỡng phục lộ ra trên những khuôn mặt rám nắng. Họ đã hiểu và tin tưởng:

gia chủ nhà Hồ Điểu không làm họ thất vọng.

- Chuyện đâu còn có đấy. Ta sẽ thân hành đi bắt nó đem về xử tội xứng đáng.

Hồ Điểu Anh bước ra cửa giữa hai hàng người đứng dạt ra hai bên. Một kẻ lên tiếng:

- Nếu bà già đi thì chúng ta đâu ở nhà được !

Thế là đám đông cùng ùa ra cổng, gặp gì cầm nấy. Dao gậy không đủ, họ chặt tre vót nhọn làm vũ khí, náo nhiệt ồn ào trong bầu không khí hỗn loạn. Họ theo chân Hồ Điểu lên núi, hăng hái đi không nghỉ. Đến trưa tới đỉnh đồi. Mặt trời đã đứng bóng, chỉ thấy nắng chói chang đổ trên đồng cỏ gianh xa tắp, không bóng người cũng như bóng vật.

- Trốn rồi ! Chúng nó trốn xa rồi !

Họ giận dữ sục sạo khắp nơi ra đến tận ranh tỉnh gần đồn thương chánh. Binh sĩ trong đồn cản lại không để số đông như vậy vượt ranh giới. Cậu Ngô bước ra giải thích:

- Thạch Kinh Tử là một tên tội phạm nguy hiểm, Oa Tử là gái mất nết, nếu không cho chúng tôi đuổi theo bắt chúng thì còn mặt mũi nào nhìn ai nữa. Gia đình chúng tôi mất hết thể diện, đến phải bỏ làng đi mất.

Viên đội trưởng thông cảm nhưng nhất quyết không để mọi người vượt ranh tỉnh.

Luật như vậy, muốn đi phải có giấy phép, mà xin được phép cũng lâu lắm. Hồ Điểu bàn cùng mọi người rồi quay lại nói:

- Thế ta và cậu Ngô, hai người đi được không ?

- Được ! Luật cho phép tới năm người.

Hồ Điểu Anh gật đầu vừa ý. Bà nói với gia nhân:

- Vậy mọi người hãy trở về. Không phải lo gì cả. Ta biết chuyện này trước khi đi nên đã khấn tiền nhân và mang sẵn gươm đây. Ta thề phải làm xong hai việc, một là bắt Oa Tử, nó bôi tro trát trấu vào danh dự nhà ta ; hai là tìm cho được thằng Mãn Hà Chí về để có người nối dõi, dù phải buộc dây lôi cổ nó về cũng không ngại. Ta sẽ tìm cho nó một con vợ đức hạnh gấp trăm lần con Oa Tử để bảo toàn danh giá nhà ta. Ta thề như vậy !

Tiếng hoan hô vang dậy, nhưng con rể bà cúi mặt không nói. Hồ Điểu Anh chăm chú nhìn hắn, tiếp lời:

- Ta và cậu Ngô nhiều tuổi rồi, đáng lẽ được quyền nghỉ ngơi, nhưng ý ta đã quyết.

Dù đôi ba năm ta cũng phải đi khắp, tìm bằng được nó. Trong khi ta không có nhà, anh là con rể hãy thay ta quán xuyến mọi việc. Còn các ngươi phải chịu khó chăm chỉ làm ăn, không được biếng nhác. Ai trễ nải việc chăn tằm, nhổ cỏ, ta sẽ không để yên đâu !

Các ngươi nghe rõ cả chứ ?

Cậu Ngô đã gần năm mươi, bà Hồ Điểu hơn cậu mười tuổi. Đám gia nhân ngại không muốn để hai người xông pha chống cự với một địch thủ hiển nhiên vừa khỏe, vừa trẻ hơn nhiều, lại có tiếng là hung bạo và khát máu như Thạch Kinh Tử.

- Hay bà với cậu mang thêm vài người chúng tôi nữa đi cùng. Họ cho phép tới năm cơ mà !

Bà lão lắc đầu quầy quậy:

- Không cần ! Không cần ! Ta đâu đã yếu sức ! Ai cũng cho là Thạch Kinh Tử khỏe nhưng ta không sợ. Nó là đứa con nít, ta biết từ khi còn ẵm ngửa. Nó trẻ và có sức mạnh thật, nhưng mình dùng mưu chứ ! Vả lại cậu Ngô cũng chưa già kia mà. Thế nào chúng ta cũng bắt được nó ! Giờ về đi, nhớ lời ta dặn đấy !

Hồ Điểu Anh làm hiệu xua mọi người trở lại rồi cùng cậu Ngô tiến qua hàng rào ranh tỉnh. Không ai ra cản, hai chị em bà thong thả qua cổng đồn. Có người còn bắt loa tay gọi lớn:

- Nếu đau ốm, nhớ báo tin anh em chúng tôi biết !

- Nhớ giữ gìn sức khỏe !

Họ quay lại nói với nhau:

- Bà già thế mà còn gan dạ lắm !

Cậu Ngô sống về nghề thợ săn, lúc trẻ cũng là tay giang hồ tham dự nhiều trận chiến đẫm máu. Giờ có tuổi nhưng trông cậu vẫn còn trang kiện, tóc chưa bạc, da chưa mồi. Cậu là em bà Hồ Điểu, chính tên là Ngô Gia Kế, dân làng gọi tắt là cậu Ngô. Trước những biến cố mới đây làm nhục gia phong, cậu Ngô rất quan tâm nên hết lòng nghe theo những quyết định của bà chị.

- Chị Hồ Điểu này !

- Gì thế cậu ?

- Chị đi xa đã sắp xếp trước, còn tôi chẳng có gì, vẫn đeo bộ quần áo thường ngày.

Phải dừng chân chỗ nào cho tôi kiếm đôi dép và cái nón đã chứ !

- Ờ, gần đây hình như có quán trà.

- Chắc quán của chú Mã Khôi. Quán khá lớn bán đủ đồ nhật dụng.

- Vậy ta tạt qua đấy, cần gì thì mua.

Gần đến quán, họ ngạc nhiên thấy trời đã về chiều. Trên núi, ánh sáng vẫn còn thịnh, họ tưởng còn lâu mới tối, nhất là đương mùa hè, ngày dài đêm ngắn.

Hai chị em rảo bước vào quán, gọi trà uống và nghỉ ngơi. Bà Hồ Điểu nói:

- Từ đây tới Takano còn xa, cứ mửng này đi hết đêm chưa chắc tới. Hay ta qua quán Thiên Phúc trọ tạm, cậu nghĩ thế nào ?

- Thì cứ đi được đến đâu hay đến đấy.

Nghỉ ngơi và mua đồ nhật dụng xong, cậu Ngô cầm nón đứng dậy, nhưng nghĩ sao lại để xuống.

- Chị đợi tôi một chút.

- Cậu đi đâu ?

- Tôi đi lấy nước mang theo phòng khi khát.

Cậu Ngô tháo ống tre đeo vai, lần theo sân ra suối. Dìm ống tre xuống dòng nước đợi cho bong bóng không sủi lên nữa, cậu mới xách ống, men theo phòng trọ trở về. Qua cửa sổ hé mở, tò mò nhìn vào, cậu ngạc nhiên thấy có người nằm đắp chiếu trùm chăn.

Tuy không rõ mặt, nhưng nhìn mớ tóc đen dài xõa ra hai bên, cậu cũng đoán chừng là phụ nữ. Mùi thuốc sắc hăng hăng cay từ trong phòng bay ra đến tận cửa ngoài.

Tiếng bà Hồ Điểu sốt ruột gọi:- Cậu Ngô ! Làm gì lâu thế ?

- Xong rồi đây.

- Mau lên còn đi chứ !

Cậu Ngô bước vội đến gần bà, rụt rè giải thích:

- Hình như có người ốm nằm trong phòng.

- Trong phòng có người thì có gì lạ ! Quán trà mà ! Cậu chỉ để ý những chuyện đâu đâu, chẳng khác gì trẻ nít !

Cậu Ngô cười bẽn lẽn. Cũng như mọi người, cậu thường bị bà Hồ Điểu nạt nộ, nhưng khác với số đông, cậu biết tính bà nên tìm cách khôn khéo tránh né không để bà giận dữ.

Hai người lầm lũi theo đường đồi dốc, hướng về phía thị trấn Harima. Vì là con đường hàng ngày có nhiều người và lừa ngựa tới lui khu mỏ bạc nên mặt đường lồi lõm rất khó đi.

- Chị cẩn thận kẻo ngã !

- Chà ! Giờ trứng lại khôn hơn vịt đấy ! Đường này ta nhắm mắt đi cũng được. Có cậu phải dè chừng thì có !

Đột nhiên có tiếng vó ngựa và tiếng nói sau lưng:

- Hai bác đi nhanh gớm nhỉ !

Quay lại, bà Hồ Điểu thấy chủ quán trà cưỡi ngựa gần tới.

- Phải ! Chúng tôi mới nghỉ ở quán xong nên khỏe thêm được chút. Còn bác đi đâu đấy ?

- Đi Tatsumo.

- Đi Tatsumo giờ này hả ?

- Ở đó mới có thầy lang. Đi ngựa thì chừng nửa đêm sẽ tới.

- Bác gái đau hả ?

- Không. Chủ quán hơi cau mặt. Nếu vợ con thì còn nói gì. Đây là khách qua đường đấy chứ !

- À, người đàn bà nằm trong phòng ấy phải không ? Lúc lấy nước ở suối về tôi có thấy.

Cậu Ngô đỡ lời chị. Lần này đến lượt bà lão cau mặt.

- Phải đấy. Cô ta tạt qua quán nghỉ chân nhưng trông có vẻ sốt nặng. Tôi mời vào phòng trong nằm, đến bây giờ cũng không đỡ. Tôi sợ còn nặng thêm !

Hồ Điểu Anh cắt ngang:

- Có phải cô bé khoảng mười sáu mười bảy tuổi, người mảnh dẻ không ?

- Dạ phải, cỡ tuổi ấy. Cô ấy bảo từ Miyamoto đến.

Bà lão đưa mắt nhìn cậu Ngô rồi lấy tay sờ vào thắt lưng như muốn tìm vật gì. Lúng túng một lát, bà thất vọng kêu lên:

- Thôi rồi ! Lại quên rồi !

- Chị quên gì ?

- Chuỗi tràng hạt. Tuổi già lú lấp quá, bây giờ mới nhớ ra, hình như ta để trên ghế đẩu ở quán trà. Lúc đi vội, quên khuấy mất !

Chủ quán nhanh nhẩu đỡ lời:

- Thế để tôi quay ngựa lại lấy giúp.

- Không sao, không dám phiền bác. Bác đương đi tìm thầy thuốc kia mà. Cứu bệnh như cứu hỏa, chớ nên trì hoãn. Để chúng tôi trở lại lấy cũng được.

Dứt lời, Hồ Điểu Anh liếc nhìn cậu Ngô, rồi bước vội theo đường cũ trở lại quán nước.

Hai người hối hả đi trong bóng chiều bắt đầu đổ xuống nhanh trên thung lũng. Họ thở hổn hển, không ai nói với ai lời nào. Trong thâm tâm, cả hai đã biết chắc đó là Oa Tử.

Sau khi bị nhiễm lạnh vì trận mưa ngoài sân chùa mấy hôm trước, Oa Tử vẫn chưa bình phục. Nàng đã cố gắng rất nhiều để cứu Thạch Kinh Tử và trên đường đi trốn, bản năng sinh tồn đã làm nàng quên hết mệt mỏi. Nhưng từ khi Thạch Kinh Tử bỏ đi, sự chán nản về tinh thần và đau đớn về thể chất đã làm nàng không chịu đựng được nữa.

Cơn sốt hừng hực kéo đến, nàng thất thểu đến gần quán trà, đầu nhức như muốn vỡ, chân tay rời rã.

Oa Tử chỉ nhớ mang máng đã vào trong quán, nhưng không biết tại sao lại nằm đây và nằm đây từ bao giờ. Trong cơn mê sảng, nàng chỉ thấy khát, xin nước uống luôn miệng. Hình như chủ quán có nói gì và cho nàng uống thuốc nhưng Oa Tử không nhớ rõ.

Da khô, miệng đắng, nàng thì thào:

- Có ai đấy không, cho tôi xin hớp nước:

Không thấy trả lời, nàng chống tay ngồi dậy bò ra cửa. Đến bên lu nước, với tay cầm chiếc gáo tre, nàng bỗng nghe ngoài cửa có tiếng động như tiếng liếp sập xuống.

Quán trà tuy lớn nhưng vẫn là một ngôi hàng miền sơn cước, cửa ngõ đến khuya mới khóa, khách vãng lai chỉ cần đẩy chiếc then gỗ cài lỏng lẻo là vào được dễ dàng.

Bà Hồ Điểu và cậu Ngô bước qua ngưỡng cửa. Trong nhà tối đen như mực. Bà lão rỉ tai em:- Tối quá ! Nó nằm ở đâu vậy ?

- Để tôi đi nhóm lửa. Hồi chiều tôi thấy nó ở bên này.

Khi mồi lửa đã gây xong, ánh sáng vàng vọt càng làm tăng thêm sự trống trải của gian phòng rộng. Hai chị em bước nhẹ sang căn bên:

chiếc chiếu vẫn còn nguyên đó nhưng trên chiếu chỉ trơ trọi một túi vải thô. Oa Tử không còn nằm đấy nữa !

Bà Hồ Điểu nhìn cánh cửa hé mở phía sau và bóng Oa Tử thấp thoáng cạnh lu nước. Bà kêu lên:

- Kia kìa ! Nó kia kìa !

Oa Tử giật mình, tiện tay cầm chiếc gáo ném ngay vào mặt bà lão rồi bỏ chạy xuống đồi, vạt kimono xòe rộng như cánh hạc trắng trong đêm tối. Hồ Điểu Anh vuốt nước lạnh trên mặt, gọi rối rít:

- Cậu Ngô ! Cậu Ngô ! Đuổi theo nó đi !

- Nó chạy rồi hả ?

- Dĩ nhiên nó chạy rồi ! Tại cậu mở cửa làm rơi tấm liếp, nó thấy động chạy mất rồi. Thật chẳng được cái tích sự gì !

Bà dậm chân tức giận, cầm gậy đuổi theo. Trong màn đêm bắt đầu xuống dày đặc ở ven rừng, bóng Oa Tử thấp thoáng trên đồng cỏ gianh như một con nai vừa vượt thoát khỏi tay đám thợ săn tàn ác.

- Không sao ! Chị để tôi. Nó đang ốm mà chân con gái bì với tôi thế nào được. Bắt lại khó gì !

Cậu Ngô hít một hơi dài, phóng theo. Tiếng bà Hồ Điểu chạy sau dặn với:

- Dùng gươm dọa nó chứ đừng giết. Đem nó về đây cho ta hỏi tội !

Nhưng mới được một quãng, cậu Ngô kêu lên kinh ngạc. Hồ Điểu Anh lo sợ hỏi:

- Cái gì thế ?

- Chị coi kìa !

Bà lão chạy đến:

ngay dưới chân hai người, sâu chừng một trượng là một khe đất hở khá rộng chạy dài mãi đến tận khu rừng kế cận, bụi gai và tre chen nhau mọc chi chít.

- Sao ? Nó nhảy xuống đấy à ?

- Vâng. Chắc cũng không sâu lắm !

Hồ Điểu Anh nắm vai câu em lắc mạnh:

- Vậy cậu còn đợi gì nữa ?

Có tiếng sột soạt trong lòng khe như tiếng vải bị xé rách và tiếng chân đạp cành khô tìm chỗ đứng.

- Trời tối như thế, chị thử nhảy xuống coi ! Phải về quán đốt đuốc mới tìm được chứ !

oo Thạch Kinh Tử khoanh tay ngồi trên phiến đá lớn, chăm chú nhìn đồn Hinagura bên kia thung lũng. Chị hắn đang bị giam tai đó. Hắn ngồi từ sáng đến chiều hôm trước, rồi gần như cả ngày hôm nay vẫn chưa tìm được cách gì cứu Ô Nhiên. Hắn nhất định không chịu rời khỏi nơi này khi chưa cứu được chị. Binh sĩ trong đồn có đến trên dưới năm chục người canh gác. Nhìn địa thế xung quanh, cân nhắc đường tiến thoái, hắn thấy khó quá. Sau đồn có khe núi sâu hiểm trở; trước đồn, hai lần cửa gỗ dày kiên cố.

Hơn nữa tứ bề đều là bãi hoang, cỏ thấp và cằn cỗi, không một lùm cây hay bụi rậm khả dĩ len lỏi trốn tránh. Vào một ngày trong sáng như ngày hôm nay, tấn công vào đấy chỉ làm bia cho tên đạn trong đồn bắn ra. Có lẽ phải đợi đến đêm. Nhưng Thạch Kinh Tử quan sát thấy cửa đồn đóng sớm lắm, ngay sau khi mặt trời lặn. Ban đêm, bò đến gần mở cửa, chắc chắn sẽ làm cho đường dây báo động rung các mõ gỗ đánh thức cả đồn dậy. Suy đi tính lại mãi mà không tìm được kế gì tạm gọi là an toàn để lẻn vào đồn một cách êm thấm. Thạch Kinh Tử buồn bã vì bất lực.

“Cách gì cũng nguy hiểm vừa cho chị ta và cũng cho ta nữa. Mà không biết có kết quả gì không !”. Hắn thở dài. “Sao bây giờ ta hèn quá ! Trước đây đâu có vậy, cần gì đắn đo sống chết !”.

Hôm sau hắn lại ra chỗ cũ, ngắm đồn Hinagura, bồn chồn lo lắng. Hắn không dám lại gần, chỉ quanh quẩn bên hốc núi, tự trách mình mất hết can đảm. Chưa bao giờ hắn thấy kém cỏi như vậy, phân vân không biết như thế là hèn nhát hay thận trọng. Hắn đăm chiêu suy nghĩ về những lời khuyên của Đại Quán:

bạo hổ băng hà tử nhi vô hối.

Hắn có một mình phải đương đầu với mấy chục người, thất bại là chết. Hắn chết, chị hắn chết. Hai cái chết vô ích. Hắn trở lại bình tĩnh hơn, tính chất nghiêm trọng của vấn đề làm hắn tự thấy mình có trách nhiệm phải đắn đo, cân nhắc.

Dũng cảm không phải là hung bạo. Đột nhiên hắn thấy rõ ý nghĩa của những lời nói khôn ngoan ấy.

Thạch Kinh Tử thở phào nhẹ nhõm như vừa giải quyết xong được một chuyện khó khăn, như vừa trút bỏ được cái xác nặng nề của một con vật để trở thành người dũng cảm, không ngoan, không bị những hành động hiếu thắng nhất thời chi phối.

Như viên ngọc thô, mạng sống của hắn là một vật báu vô giá, nếu không được giũa mài, viên ngọc chỉ là đồ vô dụng.

Thạch Kinh Tử ngửa mặt nhìn trời cao, màu xanh trong vắt huyền diệu. Tâm hồn hắn hôm nay cũng giống như màu xanh kia, không bị một đám mây thù hận nào làm vẩn đục. Nhưng nghĩ đến chị, lòng hắn lại dạt dào thương xót. Không lẽ để Ô Nhiên cứ bị giam mãi trong đó ! Hắn nhất định cứu chị ra, dù lần này có phải dùng đến những hành động trái với bài học hắn vừa mua bằng nhiều đau thương nhục nhã. Hắn quyết định thi hành kế hoạch.

“Đợi đêm khuya, ta vòng ra sau núi. Ghềnh đá dốc như vậy mà lại hay, chắc chúng ỷ vào địa thế thiên nhiên hiểm trở không canh gác kỹ. Chờ xem động tĩnh ra sao, ta sẽ trèo vào đồn sau”. Vừa nghĩ đến đó, một mũi tên bay đến cắm phập xuống đất, cạnh chỗ hắn ngồi chừng vài bước. Bên kia thung lũng, lính canh lố nhố chỉ trỏ. Chắc chúng đã trông thấy hắn và bắn thử một mũi tên xem phản ứng.

Hắn yên lặng, ngồi nguyên chỗ cũ.

Mặt trời sắp lặn. Từ sau những chỏm núi về phương tây, ánh nắng chiếu lên các tầng mây hắt xuống tỏa ra thành những tia sáng như nan quạt vàng rực. Một con chim bay ngang, Thạch Kinh Tử cầm đá ném. Con vật bất hạnh rơi xuống cỏ, hắn nhặt lên vặt lông ăn bữa chiều. Cắn vào thịt chim bê bết máu và nóng hổi, hắn lại thấy khơi dậy bản năng dã thú, lòng sôi sục đau thương và căm giận, hắn muốn giết.

Tiếng la hét từ chân núi theo chiều gió vang đến tai Thạch Kinh Tử. Một toán chừng hai chục binh sĩ trong đồn cầm vũ khí ào ào leo đường mòn đến gần chỗ hắn đứng. Họ chỉ trỏ bao vây hắn.

- Nó đấy ! Nó đấy ! Bắt lấy nó !

- Thạch Kinh Tử ở Miyamoto đấy. Cẩn thận, nó khỏe lắm !

Thạch Kinh Tử chưa ăn hết con chim. Đưa mắt nhìn toán lính, ánh mắt hắn đầy tức giận như mắt của loài dã thú nguy hiểm bị quấy rối lúc đang ăn.

Hắn ngồi xổm xuống, hai tay quơ hai hòn đá lớn.

- A ...á ...á Sau tiếng thét ghê hồn, hai hòn đá bung ra, thây người ngã xuống. Hàng rào binh sĩ dạt ra hỗn loạn. Bóng Thạch Kinh Tử như lằn chớp phóng xuống chân đồi chạy thẳng đến cổng đồn.

Không ai kịp phản ứng, lúc sau mới ùa theo la hét. Thạch Kinh Tử đã như con hổ bị thương, nhảy đến cổng đồn vượt qua lần cửa thứ nhất. Hắn say máu không để ý đến toán binh sĩ đuổi phía sau, đấm một quả như trời giáng vào đầu tên lính gần đó định nhảy lại cản hắn. Tiện tay hắn nhổ luôn cây cột rào, vung loạn xạ, gặp gì đánh nấy.

Không cần biết là người hay vật, hắn đập liên hồi trong tiếng kêu thất thanh của bọn lính, phá tung lần cổng gỗ thứ hai chạy vào các phòng giam.

- Ô Nhiên ! Chị Ô Nhiên ! Em đây, Thạch Kinh Tử ! Em vào cứu chị ...

Mắt hắn đổ lửa, nhìn láo liên. Phòng nào cửa đóng, hắn lấy cây cột rào đập tan nát. Trong bóng đêm chập choạng, những tiếng kêu đau đớn lẫn với tiếng chân sầm sập chạy tứ tán, điên cuồng như trong một trận hỗn chiến.

- Ô Nhiên ! Ô Nhiên ... ! Ô Nhiên ... !

Không thấy Ô Nhiên, tiếng Thạch Kinh Tử kéo dài và lạc đi như tiếng hú.

Trong bóng tối một gian phòng giam bẩn thỉu, có người đương tìm cách chui ra ngoài. Thạch Kinh Tử nhảy bổ tới, lấy chân chặn cổ. Hình thù nhỏ thó ấy kêu thất thanh, lạy van rối rít. Thạch Kinh Tử nắm cổ áo gã xách lên, gầm như rống:

- Chị tao đâu ? Ô Nhiên đâu ? Không nói tao đập chết !

- Dạ ...dạ ...Ô Nhiên không ở đây nữa, bị giải đi nơi khác rồi.

- Bao giờ ? Ở đâu ?

- Dạ ... hôm kia, đi Himeji.

- Himeji ?

- Dạ phải.

- Mày nói láo tao giết.

Thạch Kinh Tử nắm tóc hắn. Hắn rên rỉ:

- Dạ dạ ... tôi không nói láo ... Tôi thề ...

- Vậy được. Mong mày nói đúng, nếu không ...

Toán lính ập tới cửa. Thạch Kinh Tử tung người đó ra như một võ khĩ, ném vào đầu bọn lính rồi lẩn vào bóng tối nhà giam, thoát ra cửa sau chạy trốn.

Hàng chục mũi tên bắn theo veo véo. Một mũi tên trúng vào vạt áo hắn như một cây kim khâu lớn. Thạch Kinh Tử vụt qua sân, nhảy lên hàng rào rồi nhanh như chớp, vượt ra khỏi đồn. Đằng sau hắn, tiếng súng nổ hồi vang dội trong đêm tối.

Thạch Kinh Tử tụt nhanh xuống ghềnh đá. Hắn nghe văng vẳng lời khuyên của Đại Quán:

“Người hiệp sĩ yêu cuộc sống ... Hung tợn là sức mạnh của loài thú ... Phải sợ những điều đáng sợ ...”.

Chương 9: Thạch điền đạt lang

Thạch Kinh Tử đợi ở vùng ngoại ô thành Himeji, lúc đứng trên cầu Hanada kín đáo ngó người qua lại, lúc ẩn dưới chân cầu, lần theo những đường phố nhỏ hẹp ra vào thị trấn hay đi lẫn trong đám đông. Chiếc nón sụp xuống tận mắt, manh chiếu cũ quấn quanh mình đến cằm, trông hắn chẳng khác gì một tên ăn mày nghèo khó.

Hắn ngạc nhiên không thấy Oa Tử đâu. Nàng hứa đợi trăm ngày hay ngàn ngày cũng đợi mà sao mới có một tuần đã không thấy bóng dáng. Thạch Kinh Tử rất sợ khi hứa với ai điều gì không giữ được lời. Đã nhiều lần hắn muốn bỏ đi, nhưng còn nấn ná, một phần vì chưa gặp Oa Tử, một phần muốn nhân cơ hội tìm chỗ giam chị.

Theo dòng người tiến sâu vào thị trấn, đương miên man suy nghĩ, đột nhiên hắn nghe tiếng gọi phía sau:

- Thạch Kinh Tử !

Giật mình quay lại, thấy Đại Quán rảo bước đi tới. Hắn ngạc nhiên bực bội, không ngờ nhà sư này đã nhận ra hắn trong bộ cải trang rách rưới.

Đại Quán nắm tay Thạch Kinh Tử, giọng gọn và sắc:

- Theo ta !

Giữa đường phố chẳng biết phản ứng ra sao, hắn lúng túng. Nhìn ánh mắt hiền hòa nhưng nghiêm nghị của Đại Quán, Thạch Kinh Tử như bị thôi miên.

- Đừng làm bậy ! Ta mất công tìm ngươi đã lâu.

Thạch Kinh Tử líu ríu theo nhà sư. Hắn không mảy may biết Đại Quán dẫn mình đi đâu, nhưng một lần nữa, không thể nào chống lại ý muốn của vị tăng kỳ lạ này. Không hiểu sao, hắn linh cảm mình sẽ bị dẫn về cây đại bách sau chùa hoặc đem đi nhôt ở một căn hầm tối tăm nào đó trong lâu đài, có thể cùng một chỗ với chị hắn. Tự nhiên hắn mong được gặp mặt chị. Bây giờ nếu có phải chết thì Ô Nhiên, người mà hắn thương yêu nhất, sẽ là người cùng hắn chia sẻ những giây phút cuối cùng trên dương thế.

Đại Quán dẫn Thạch Kinh Tử đi một lúc thì thấy lâu đài Himeji sừng sững hiện ra trước mặt. Nhìn tòa nhà đồ sộ, hắn hiểu tại sao người ta lại gọi nó là Bạch Hạc lâu. Lâu đài trắng toát, uy nghi đứng trên thành đá hoa cương cao vút không khác gì một loài kỳ điểu từ trên trời đậu xuống ngạo nghễ.

Thạch Kinh Tử theo Đại Quán qua chiếc cầu lớn bắc ngang chiến hào bên ngoài.

Toán lính mặc giáp sắt, nghiêm chỉnh canh phòng trước cổng thành, gươm giáo loang loáng dưới nắng hè làm hắn chột dạ. Đại Quán không quay đầu nhìn lại nhưng cũng biết ý, nắm chặt tay hắn để trấn an và khích lệ. Hai người qua cổng thành thứ nhất, đến cổng trong, thấy binh sĩ còn đông và nghiêm túc hơn như sẵn sàng đối phó với mọi bất trắc. Đây là nội điện, nơi quan đầu lãnh cư trú. Những cảnh này, dân chúng không khỏi sợ hãi. Sống trong cảnh tranh chấp hỗn loạn đã lâu, cũng như tại nhiều lâu đài ở các địa phương khác, sự thanh bình là một nếp sống xa xỉ làm họ bỡ ngỡ không quen.

Đại Quán đến gần toán lính canh, nói với viên đội trưởng:

- Hắn đây !

Rồi yêu cầu làm theo những điều ông dặn:

- Đội trưởng cẩn thận ! Mãnh sư chưa thuần, đừng có khinh lờn, nguy hiểm lắm !

Và tiếp tục đi qua cổng lớn tiến vào nội điện. Mọi người để ông tự do, dường như đã quen với sự lui tới của vị thiền sư này.

Viên đội trưởng yên lặng nhìn Thạch Kinh Tử, giơ tay ra hiệu mời hắn theo mình đến một dãy nhà thấp và bảo hắn vào tắm cho sạch sẽ. Thạch Kinh Tử ngần ngại. Hắn nghĩ đến lần tắm trước ở nhà bà Hồ Điểu và cái bẫy hắn đã ngu dại chui đầu vào để suýt nữa thì mất mạng. Đứng giáp vào tường, khoanh tay trước mặt, hắn đưa mắt nhìn quanh.

Nơi đây thật yên tĩnh. Đúng là cảnh thái bình, an lạc ; cây cỏ xanh mướt, tươi tốt như ở một hoang đảo, xa mọi chuyện thị phi. Chắc Tùng Tôn gia dùng nơi này để hưởng mọi lạc thú sau khi trận mạc vất vả.

Một gia nhân bước vào mang bộ kimono đã gấp sẵn, cung kính để trên ghế cùng với các đồ trang phục khác.

- Để ngài dùng khi tắm xong. Cần gì, đại nhân cứ truyền, tiểu tốt túc trực ngoài kia.

Rồi lặng lẽ cúi đầu lui bước.

Những đồ trang phục để trên ghế, ngoài bộ kimono đen, còn có một cây quạt, vài chiếc khăn lụa với một cặp kiếm, một trường, một đoản. Tất cả đều giản dị, không đắt tiền nhưng đủ dùng cho một kiếm sĩ. Thấy được đãi ngộ một cách quý trọng, hắn cảm động, muốn cúi xuống cầm khăn lên áp vào má để hưởng mùi thơm và hơi ấm của lụa mới. Hắn yên tâm, mở cửa bước vào phòng tắm.

Tôn Điền Tùng Cương đứng tì tay trên lan can trước hàng hiên tư dinh, nhìn ra vườn. Ông lùn và mập, nửa đầu phía trước cạo trọc theo kiểu các kiếm sĩ đã được thụ phong, mặt lấm tấm rỗ hoa. Tuy không mặc triều phục nhưng dáng điệu rõ ra phong cách đại gia, nghiêm trang và đĩnh đạt.

Thấy Thạch Kinh Tử từ đằng xa, ông cầm quạt chỉ và hỏi Đại Quán:

- Phải hắn đấy không ?

- Dạ phải.

Nhà sư cung kính cúi đầu.

- Trông được đấy chứ. Đại sư cứu hắn là phải lắm !

- Đó là nhờ ơn đại gia, không phải do bần tăng.

- Đại sư quá khiêm tốn ! Nếu ta được vài người như đại sư giúp đỡ thì biết bao kẻ hữu ích đã không uổng mạng và toàn dân miền này cũng khá hơn !

Nói xong, ông ta thở dài:

- Điều làm ta đau lòng là hầu như tất cả thủ hạ của ta đều chỉ biết có việc bắt trói và chặt đầu bách tính.

Lát sau, Thạch Kinh Tử được dẫn đến trình diện Tôn gia. Ngồi trong vườn, đầu hơi cúi, hay tay kính cẩn để trên đùi, hắn nghe tiếng Tôn Điền Tùng Cương hỏi, giọng trầm và ấm:

- Ngươi tên Yết Mân Thạch Kinh Tử phải không ?

Thạch Kinh Tử ngước mắt nhìn khuôn mặt của nhân vật đệ nhất quyền uy hắn mới chỉ nghe danh nhưng lần đầu diện kiến, rồi tỏ vẻ tôn kính đáp:

- Dạ, thưa phải.

- Họ Yết Mân là một chi trong đảng tộc Khải Mân Tử và Khải Mân Mã Song, chắc ngươi biết, trước đây là lãnh chúa cư ngụ tại lâu đài này.

Thạch Kinh Tử thấy cổ họng như thắt lại. Hắn chẳng biết trả lời sao. Là đứa nghịch tử của dòng họ, từ nhỏ hắn đã làm nhiều chuyện động trời, không kiêng nể gì các lãnh chúa nhưng không ngờ đồi trụy đến mức làm mất cả danh giá tổ tông như thế ! Bây giờ có người nhắc lại quá khứ, hắn xấu hổ mặt đỏ bừng.

- Những điều ngươi làm không tha thứ được !

Lời Tôn gia trở nên nghiêm khắc như những lời buộc tội:

- Ta buộc lòng phải trừng phạt ngươi.

Quay sang Đại Quán, Tôn Điền Tùng Cương hỏi:

- Thủ hạ của ta, Hoa Kính Áo Đại Môn, đã tự tiện hứa nếu đại sư bắt được tên này thì có toàn quyền muốn trừng phạt ra sao mặc ý, đúng không ?

- Xin đại gia hỏi thẳng Áo Đại Môn.

- Ta hỏi hắn rồi.

- Vậy đại gia cho rằng bần tăng đã dối gạt đại gia chăng ?

- Dĩ nhiên là không. Áo Đại Môn đã thú nhận, nhưng ta muốn đại sư xác quyết.

Mặc dầu không được phép, nhưng hắn là thủ hạ của ta. Lời hắn đã hứa, ta phải trọng.

Cho nên tuy là đầu lãnh vùng này, ta không có quyền phạt Thạch Kinh Tử nữa. Tùy đại sư định liệu.

- Bần tăng đã có dụng ý.

- Ta đoán không sai. Vậy đại sư cho nghe cao kiến.

- Bần tăng thiển nghĩ nên giữ tội nhân lại một thời gian để huấn phục.

- Nữa ?

- Bần tăng nghe nói phía nam lâu đài có một căn thạch thất bỏ phế lâu ngày, không ai dám lai vãng vì nhiều ma quỷ ...

- Đúng ! Thạch thất đó ở riêng một khu, không dùng được việc gì nên tối tăm ẩm thấp lắm. Đã lâu không ai mở cửa.

- Vậy đại gia không phiền lòng khi trong lâu đài của một lãnh tụ có nhiệm vụ soi sáng muôn dân lại có một căn phòng không ánh sáng hay sao ?

- Ờ, ta chẳng bao giờ nghĩ đến điều đó đấy !

- Bá tánh có thể nghĩ như vậy và có hại đến uy tín đại gia. Bần tăng đề nghị xin được soi sáng ngôi thạch thất ấy !

- Hừ ...

- Nếu đại gia cho phép, bần tăng sẽ sử dụng nó làm nơi giam giữ Thạch Kinh Tử cho đến khi nào hắn đủ sáng suốt. Hắn sống tối tăm đã lâu rồi, bây giờ là lúc cần chỉ cho hắn một con đường quang đãng. Thạch Kinh Tử, ngươi nghe ta nói không ?

Thạch Kinh Tử không đáp, nhưng Tôn đầu lãnh cười ha hả. Ông gật đầu vừa ý:

- Được lắm ! Được lắm ! Thật hợp ý ta !

Đại Quán và Tôn Điền tuy không cùng địa vị trong xã hội nhưng thông cảm nhau thật dễ. Cả hai đều là thiền hữu và coi nhau thân thiết tựa anh em. Ông tiếp:

- Sau khi dẫn hắn đến thạch thất, xin đại sư trở lại dùng trà. Ta đợi.

Nói xong, ông khoan thai trở vào nội sảnh. Hình dáng Tôn đầu lãnh tuy thấp lùn nhưng sự hiện diện của ông như bao trùm khắp tòa lâu đài to lớn.

oo Đêm đã khuya lắm. Trong căn nhà đá trên đỉnh vọng lâu, Thạch Kinh Tử vẫn còn ngồi suy nghĩ. Ở đây, thời gian như ngưng hẳn, không đồng hồ, không lịch, không xuân hạ thu đông, bốn mùa qua đi chẳng ai hay biết. Trong phòng tối âm u, chỉ còn ngọn đèn dầu leo lét tỏa ánh sáng vàng vọt lên khuôn mặt xanh xao của Thạch Kinh Tử ngồi yên lặng trước tập Tôn Tử binh pháp đặt trên chiếc kỷ thấp. Cuốn sách mở tới thiên “Địa hình”:

“Tôn Tử nói:

Hình đất có chỗ thông, chỗ vướng, chỗ trống, chỗ hẹp, chỗ hiểm, chỗ xa. Hình thông, chiếm trước chỗ cao sáng, giữ đường lương thuận thì lợi. Hình vướng, quân địch không phòng, ra quân sẽ thắng. Quân địch có phòng, ra quân không thắng, rút về khó, ắt không lợi ...”.

Mỗi khi đọc đoạn nào không hiểu, Thạch Kinh Tử lại ngồi thừ người suy nghĩ, đọc đi đọc lại. Đoạn nào hay, hắn lẩm nhẩm thuộc lòng tựa người tụng kinh. “Cho nên kẻ biết việc binh, công không lầm, thủ không quẫn. Biết mình biết người, phần thắng đã đành ; biết đất biết trời, trăm trận trăm được ...”.

Khi mỏi mệt hoặc buồn ngủ, hắn với tay lấy bát nước để sẵn bên vã lên mặt cho tỉnh táo. Hết dầu, hắn rót ở hũ ra. Góc phòng, sách xếp hàng đống:

binh thư, kiếm pháp, kinh điển, chữ Nhật có, chữ Hán có, nhiều vô số kể. Suốt ngày, hắn vùi đầu vào đọc theo những thư chỉ dẫn của Đại Quán gửi vào, cùng với các bộ sách tham khảo mượn trong thư các của Tôn đầu lãnh.

Trước khi tự nguyện giam mình vào thạch thất, Thạch Kinh Tử đã nghe lời Đại Quán:

- Ta sẽ gửi sách vào cho ngươi đọc. Hãy trau dồi kiến thức trước khi trau dồi võ công. Một danh tăng đã nói:

“Vùi đầu trong kinh điển, ta đọc thiên thư, vạn quyển. Đọc xong, thấy lòng thông suốt”. Ngươi hãy coi căn thạch thất này như bụng mẹ và hãy chuẩn bị tái sinh. Nếu ngươi coi nó bằng mắt thì đây chỉ là một căn phòng tầm thường, trống rỗng, tối tăm ; nhưng nếu ngươi coi nó bằng trí óc rồi để tâm phán đoán, suy xét thì phòng này chính là con thuyền đại giác đưa ngươi tới ánh chân quang. Tùy ngươi quyết định.

Thạch Kinh Tử từ lâu đã không còn đếm ngày tháng. Trời lạnh là mùa đông, trời nóng là mùa hè, hắn không cần biết thêm mà bốn mùa cũng không ảnh hưởng gì đến hắn. Không khí trong phòng lúc nào cũng ẩm thấp. Nhưng có điều chắc chắn là lần này nếu chim én lại bay đến làm tổ dưới mái vọng lâu thì là lần thứ ba, kể từ khi hắn đến ở căn thạch thất. Mùa xuân thứ ba trong bụng mẹ !

Hắn tự nhủ:

“Sắp hăm mốt rồi ! Ta đã làm gì đời ta trong suốt hăm mốt năm ấy?”.

Nghĩ đến những điều đã làm, nhiều khi hối hận khóc rưng rức lên như đứa trẻ. Cơn đau đến dằn vặt làm hắn mệt mỏi, ê chề có khi cả ngày, lòng đau như cắt.

Cho đến một hôm, khi đàn én đầu xuân đã bắt đầu bay đến chao đi chao lại trên mái vọng lâu, hắn bỗng nghe tiếng ai gọi tên ngoài cửa sắt. Âm thanh quen thuộc, nhưng tiếng nói dường như lạ tai. Đã lâu lắm, hắn không được nghe tiếng đồng loại.

- Thạch Kinh Tử, ngươi vẫn mạnh chứ ?

Sau tiếng mở khóa lách cách, dáng quen thuộc của Đại Quán hiện ra trên khung cửa. Thạch Kinh Tử quá xúc động, không nói nên lời, giơ tay vụng về nắm áo nhà sư kéo vào phòng. Mấy năm nay, những gia nhân mang cơm nước vào cho hắn đều như câm điếc, bây giờ nghe lại giọng và trông mặt người quen cũ, hắn không thể nào không mừng rỡ.

- Ta mới đi xa về. Ba năm rồi đấy nhỉ, chắc giờ ngươi đã giác ngộ hơn trước.

- Thầy Đại Quán ! Con biết thầy hết lòng thương con. Con thành thật cảm ơn thầy.
Đại Quán ngạc nhiên, mỉm cười vỗ vai Thạch Kinh Tử:

- Trong căn thạch thất vắng vẻ này, mấy năm nay không có ai trò chuyện, vậy mà bây giờ con đã biết xử sự như một người. Tốt lắm ! Hôm nay ta dẫn con ra khỏi nơi đây.

Hãy giữ lấy những kiến thức đã thu thập được sau nhiều năm tháng khổ luyện. Ra đời, tiếp xúc với xã hội, vốn đó quý lắm đấy con ạ !

Đại Quán dẫn Thạch Kinh Tử đến ra mắt Tôn Điền, lần này trong đại sảnh chứ không ở ngoài vườn như trước. Sau phần nghi lễ thường lệ, Tôn đầu lãnh ngỏ ý muốn thu hắn làm thuộc hạ, Thạch Kinh Tử từ chối:

- Tiểu nhân rất cảm kích, nhưng tự xét bây giờ chưa phải lúc. Vả lại vong hồn người đã khuất hẳn sẽ ngăn cản không cho tiểu nhân nhận ân sủng ấy.

- Sao vậy ? Ngươi đã gặp những hồn ma trong căn thạch thất chăng ?

- Thưa không. Khi còn ở căn nhà đá, tiểu nhân có thấy trên xà nhà và vách tường nhiều vết đen lấm tấm. Mới trông tưởng là sơn, nhưng cầm đèn soi kỹ thì không phải.

Đó là những vệt máu người, máu tổ tiên của tiểu nhân còn lưu lại trước khi chết để bảo vệ dòng họ.

- Hừ ... có thể lắm !

- Nhìn những vết máu ấy, tiểu nhân đau đớn và xấu hổ. Ông cha tiểu nhân đã có một thời oanh liệt, rồi vì lầm lỗi đã thất bại và chết thảm, oan hồn vật vờ như lá thu trước gió. Nhưng những giọt máu hào hùng ấy vẫn còn luân lưu trong huyết quản của tiểu nhân đây ...

Thạch Kinh Tử nói đến đấy, mắt quắc lên, sáng như đổ lửa:

- Một ngày nào đó, giòng máu ấy sẽ khôi phục lại khí thế xưa. Tuy bất xứng, nhưng tiểu nhân vẫn thuộc dòng họ của tổ tiên. Anh linh các Người sẽ đưa đường chỉ nẻo để tiểu nhân trả mối cừu hận, bấy giờ e rằng tiểu nhân không thể không nghe lời ... Thưa đại gia, thời này chưa phải thời thái bình. Vì dân và vi ơn đức của đại gia, tiểu nhân có bổn phận không nên để mối thù ấy khơi dậy.

Đại Quán gật đầu:

- Ta hiểu ý. Đi là phải, nhưng đi đâu ? Con định trở về Miyamoto, sống cả đời ở đó chăng ?

Thạch Kinh Tử mỉm cười buồn bã:

- Con muốn một mình trở lại Miyamoto một lần thôi.

Tôn đầu lãnh quay lại nói với Đại Quán:

- Ta hiểu. Vậy xin đại sư bảo với thuộc hạ lo tiền bạc và quần áo chu tất cho hắn.

Đại Quán cúi đầu:

- Đa ta đại gia đã quan tâm.

Tôn đầu lãnh mỉm cười:

- Đại Quán ! Lần đầu tiên ta thấy đại sư cám ơn ta đấy !

Thiền sư cũng cười:

- Quả có thế. Bần tăng sẽ không tái phạm nữa.

- Hắn còn trẻ, đi cho biết đó biết đây là tốt. Tái sinh, có phải đại sư dùng chữ tái sinh không, thì phải có tên mới chứ. Hắn sinh tại vùng đất sỏi đá, đặt tên là “Thạch Điền” để không quên cái gốc. Đại sư nghĩ thế nào ?

- Đại gia nói rất phải. Thạch Điền còn nghĩa là đồ vô dụng, nhưng bây giờ hắn không còn vô dụng nữa, ta mong hắn đạt được chí hướng, vậy bần tăng xin thêm vào hai chữ “Đạt Lang” cho hợp với tình ý và khai triển ý tái sinh ...

- Hay lắm ! Hay lắm ! Tôn Điền gật đầu. Thạch Kinh Tử ! Kể từ nay, tên ngươi là “Thạch Điền Đạt Lang”. Gắng giữ lấy cái chí để trở nên người hữu ích !

Thạch Kinh Tử cúi rạp đầu, kính cẩn:

- Tiểu nhân xin tuân mệnh !

- Thạch Điền Đạt Lang ! Cái tên thật hay ! Nào chúng ta hãy uống rượu mừng tên mới !

Tôn đầu lãnh đứng dậy, theo sau là Đại Quán và Thạch Kinh Tử. Ba người kéo nhau sang phòng bên, khay rượu bày ra, chén thù chén tạc cho đến tối. Thân hữu và bộ tướng của Tôn gia cũng được mời đến. Trong bữa tiệc, Đại Quán cao hứng đứng dậy, biểu diễn một vũ điệu xưa.

Thạch Kinh Tử, bây giờ là Thạch Điền Đạt Lang, ngạc nhiên không ngờ ân nhân của mình không những là một học giả uyên bác mà còn là một nghệ sĩ tài hoa làm hắn càng thêm cảm phục.

Cuộc vui kéo dài đến khuya mới dứt.

Hôm sau, Thạch Điền Đạt Lang và Đại Quán cùng rời khỏi lâu đài.

Thạch Đạt Lang chập chững những bước đầu tiên trong nếp sống mới, một nếp sống khắt khe hắn tự nguyện tuân theo để rèn luyện kiếm pháp mà trong ba năm khổ hạnh hắn đã phần nào lãnh hội được lý thuyết.

Còn Đại Quán có những dự tính riêng:

ông tiếp tục cuộc hành hương thăm các chùa chiền để trau dồi thêm về thiền đạo.

Bây giờ đã đến lúc hai người phải chia tay. Ra khỏi thị trấn, Thạch Đạt Lang quay lại giã từ ân nhân. Đại Quán nắm tay hỏi:

- Con muốn gặp ai nữa không ?

- Ai ?

- Ô Nhiên.

- Chị con còn sống hả thầy ?

Hắn không ngờ người chị thương yêu đã nhiều lần săn sóc hắn như một người mẹ vẫn còn trên dương thế, nhưng hắn không dám hỏi. Đại Quán cho biết ba năm trước đây, Ô Nhiên bị giải đến lâu đài, nhưng vì không chứng cớ nên đã được tha. Chị hắn không muốn trở về làng cũ, hiện ở cùng với người bà con xa tại trấn Sayo, cuộc sống bình yên và sung túc.

- Con muốn gặp chị con không ? Nàng mong lắm. Ba năm trước ta đã nói với nàng là con chết rồi, nhưng ta có hứa sẽ dẫn đến thế cho nàng một người em mới, khác với Thạch Kinh Tử xưa kia.

Thạch Đạt Lang giơ hai tay chắp ngang trán, tỏ vẻ kính trọng như đứng trước Phật đài, giọng run run cảm động:

- Không những thầy đã hết lòng thương con mà còn quan tâm đến chị con như thế, lòng từ bi ấy con biết lấy gì báo đáp !

- Vậy để ta dẫn con đến thăm Ô Nhiên, đấy là cách con cảm ơn ta đó.

- Không, con nghĩ không cần thiết. Thầy cho con biết tin là đủ. Để chị con coi con như chết, và con cũng tin như thế. Bây giờ không phải lúc quay lại dĩ vãng mà cần hướng về tương lai. Con đường chập chững trên đường đi tìm chính mình, không biết có đủ quyết tâm để cải thiện bản thân hay không, chừng nào tiến bộ đôi chút, bấy giờ có lẽ nhìn về quá khứ cũng không muộn, nhưng bây giờ thật chưa phải lúc.

- Ừ, con nghĩ thế cũng được.

- Con nói không được gãy gọn, mong thầy hiểu cho.
- Ta hiểu chứ. Ta rất vui lòng thấy con quyết tâm theo đuổi mục đích như vậy. Hãy cứ làm những gì con cho là đúng với lương tâm.

- Vậy xin giã biệt thầy. Một ngày nào đó, nếu còn hơi thở, con xin lại đến bái yết.

- Tốt lắm, nếu có cơ hội, con chớ bỏ qua.

Đại Quán quay lưng đi, nhưng được vài bước lại dừng lại.

- À, còn chuyện này nữa. Bà Hồ Điểu và cậu Ngô đương tìm con và Oa Tử đấy. Họ nhiều tuổi rồi, nhưng nhất quyết đi tìm để trả hận. Có thể họ cũng làm phiền con, nhưng không quan trọng lắm đâu, đừng để tâm. Lại còn Áo Đại Môn nữa. Con không biết hắn, hắn là viên đội trưởng chỉ huy toán binh sĩ lùng bắt con ngày trước, vì không làm tròn bổn phận, giờ bị loại ra khỏi đám thuộc hạ của Tôn gia rồi. Chắc ngày nay hắn cũng chỉ là thảo mãng trong vùng mà thôi !

Đại Quán trở nên đăm chiêu:

- Thạch Điền Đạt Lang ! Đường con đi không phải là không có trở ngại. Phải cẩn thận mới được !

- Con sẽ cố gắng.

- Vậy ta yên tâm. Thôi, ta đi đây.

Đại Quán quay gót về hướng tây. Thạch Đạt Lang đứng nhìn theo cho đến khi bóng nhà sư khuất hẳn, hắn mới cất bước. Để tay vào đốc kiếm, hắn vừa đi vừa suy nghĩ:

“Bây giờ chỉ còn thanh kiếm này là vật duy nhất trên đời ta tin cậy”. Hắn lẩm bẩm như nói với chính mình. “Ta sẽ tuân theo kỷ luật, coi thanh kiếm này như chính hồn ta, tu tỉnh thành người khôn ngoan và lương thiện. Đại Quán theo thiền đạo, còn ta theo kiếm đạo, chưa chắc ai đã hơn ai. Ta còn trẻ, đâu đã lấy gì làm trễ !” Bước đi của Thạch Đạt Lang vững vàng, mạnh mẽ. Hất vành nón lá lên cao, nhìn quãng đường tương lai trước mặt, quãng đường vô định ai cũng phải qua, chẳng nhiều thì ít, hắn thấy lòng chứa chan tin cậy và hy vọng.

Thạch Đạt Lang chưa đi xa, mới ra khỏi ngoại ô thành Himeji được một quãng thì một thiếu nữ ở trên cầu Hanada chạy tới. Hắn nheo mắt, lấy tay che cho khỏi chói, rồi ngạc nhiên kêu lớn:

- Oa Tử !

Oa Tử chạy đến nắm áo hắn:

- Thạch Kinh Tử ! Chàng nhớ cầu này là cầu gì không ? Chàng có nhớ Oa Tử hứa đợi chàng ở đây không ?

- Oa Tử đợi ta ba năm ở đây đấy ư ?

- Vâng. Bà Hồ Điểu và cậu Ngô suýt nữa bắt được thiếp khi thiếp nằm bệnh ở quán trà chân núi, nhưng may sao thiếp thoạt chạy được và trốn đến đây. Oa Tử vẫn đợi chàng.

Nàng chỉ một cửa hàng nhỏ, làm những vật kỷ niệm bằng tre đan bán cho khách qua đường gần đó:

- Oa Tử kể tình cảnh họ nghe. Họ thương tình nhận cho vào giúp việc, nên mới có chỗ trú đợi chàng đấy chứ. Hôm nay là ngày thứ chín trăm bảy mươi, Oa Tử đâu có quên lời hứa !

Nàng nhìn mặt Thạch Đạt Lang như dò xét:

- Thạch Kinh Tử ! Chàng dẫn thiếp theo chứ ?

Thạch Đạt Lang thật chẳng có chút ý định gì mang theo Oa Tử hay bất cứ ai. Lúc này hắn vội đi, trong lòng đã quyết muốn tìm chỗ tự mình luyện kiếm. Đến chị hắn, người hắn thương yêu và muốn gặp mặt nhất, hắn cũng phải cố quên, nói gì đến Oa Tử hắn vẫn coi là vị hôn thê của Mãn Hà Chí, bạn hắn. Vả lại, làm sao đủ sáng suốt tự buộc mình vào kỷ luật khi luôn luôn có người đi kèm làm rộn. Những ý tưởng này mặc nhiên hiện lên nét mặt không dấu được. Hắn hỏi, giọng hơi sẵng:

- Dẫn Oa Tử đi ? Nhưng đi đâu mới được chứ ?

- Thì chàng đi đâu, thiếp theo đó.

- Cuộc hành trình của ta dài và gian khổ, không phải là một cuộc du ngoạn.

- Oa Tử sẽ không làm rộn chàng. Oa Tử chịu được chút ít cực khổ.

- Chút ít thôi ư ?

- Không. Gian khổ thế nào Oa Tử cũng chịu.

- Oa Tử ! Không phải chuyện ấy đâu. Làm sao một người muốn quyết tâm trở thành kiếm sĩ, lại để phụ nữ đi theo được ? Kỳ lắm. Người ta sẽ bảo:

“Kìa trông Thạch Đạt Lang, hắn là kiếm sĩ mà phải có vú nuôi đi theo chăm sóc !”.

Oa Tử vẫn giữ chặt lấy vạt áo hắn.

- Oa Tử ! Bỏ ta ra !

- Không ! Không bỏ ! Chàng đã lừa dối thiếp !

- Lừa dối lúc nào ?

- Ở trên đồi, chàng đã hứa mang Oa Tử theo mà.

- Chuyện xảy ra đã lâu rồi. Bấy giờ ta vội nên không nghĩ. Vả lại tại nàng đưa ra ý đó, ta gật vì không có cách gì chọn lựa !

- Không ! Không phải ! Nhất định không phải ! Chàng không nói thật phải không ?

Oa Tử tức giận đẩy Thạch Đạt Lang vào thành cầu.

- Ô hay ! Oa Tử làm gì thế ? Người ta nhìn kìa !

- Không cần. Ai nhìn mặc kệ ! Bấy giờ chàng bị trói trên cây, hỏi có muốn Oa Tử giúp không, chàng mong quá mà. Chàng bảo tôi cắt dây rồi đi trốn, còn chối nữa không?

Giọng Oa Tử run run, cố nói gãy gọn, nhưng nước mắt cứ trào ra, chảy dài trên má.

Khi nhỏ đã chịu cảnh côi cút, không cha không mẹ, lớn lên, vị hôn phu bỏ đi, bây giờ lại gặp cảnh này, nàng uất hận nấc lên tức tưởi. Thạch Đạt Lang xúc động, nhưng chẳng biết làm sao. Hắn lắp bắp:

- Kìa Oa Tử, đừng làm thế, người ta trông kìa. Ban ngày ban mặt, mua cười cho khách qua đường ư ?

Oa Tử buông áo Thạch Đạt Lang, gục đầu trên thành cầu thổn thức, tóc rồi bời xõa xuống hai vai.

- Chàng tha lỗi cho thiếp. Đáng lẽ thiếp chẳng nên nói những lời ấy. Thôi, chàng quên đi, thiếp chẳng làm ơn gì cho chàng cả.

Thạch Đạt Lang cúi xuống, vén mớ tóc để lộ khuôn mặt đẫm nước mắt của Oa Tử rồi nhìn thẳng vào mắt nàng, nói bằng một giọng dịu dàng đầy thương cảm:

- Oa Tử ! Trong suốt thời gian Oa Tử chờ ta, ta đã bị giam trong thạch thất ở lâu đài Himeji. Suốt ba năm trường ta không nhìn thấy ánh sáng mặt trời.

- Thiếp biết.

- Oa Tử biết ? Ai nói cho Oa Tử biết ?

- Thầy Đại Quán.

- Vậy hả ? Thầy có nói rõ hết không ?

- Cũng đủ để thiếp hiểu. Khi thiếp bị ngất đi dưới đáy vực, thầy Đại Quán đã cứu và dẫn đường cho về đây. Ba năm rồi, thầy vẫn thỉnh thoảng đến thăm. Hôm trước thầy có ghé dùng trà, nói chuyện về chàng. Thầy nói nếu gặp chàng “thì đấy là chuyện của hai người, ai biết rồi sau sẽ ra sao ?”. Bấy giờ thiếp không hiểu, nhưng nay thiếp đã rõ.

Thạch Đạt Lang bỏ tay xuống. Hắn nhìn quãng đường về hướng tây, tự hỏi chẳng biết rồi có còn gặp lại người đã cứu hắn không. Lòng bác ái của nhà sư bao la như biển, thương vạn vật chúng sinh chứ không riêng gì hắn. Ai đau khổ, hoạn nạn, Đại Quán đều ra tay cứu vớt, an ủi, khích lệ, dạy dỗ với một tinh thần vị tha tuyệt đối không mong đền đáp. So với lòng từ bi ấy, hắn thấy mình nhỏ nhen, hẹp hòi quá đỗi. Bất giác, trong lòng hắn dâng lên một niềm ao ước mạnh mẽ, muốn được trở nên người như thế, dù phải hy sinh tất cả mọi lạc thú trên đời.

“Ấy là chuyện của hai người”, lời nói của Đại Quán do Oa Tử nhắc lại đè nặng lên tâm hồn hắn làm hắn suy nghĩ. Qua hàng đống sách vở đã đọc, không có chương nào, mục nào nói về tình trạng khó khăn như tình trạng Oa Tử và hắn đương trải qua. Không biết ý Đại Quán muốn nói đó là chuyện riêng của hai người, chỉ hai người trong cuộc mới có thể giải quyết được, hay đó là chuyện nhỏ không đáng nói, hay đó là một vấn đề quan trọng, một thử thách lớn lao chính hắn và Oa Tử phải giải quyết.

Mãi suy nghĩ miên man, hắn cúi nhìn nước dưới chân cầu. Nước trôi mau, không trở lại.

- Thiếp đi với nhé !

Tiếng nàng cầu khẩn làm hắn tỉnh mộng.

- Chủ tiệm đã hứa cho thiếp thôi việc lúc nào cũng được. Để thiếp chạy về nói với chủ và thu xếp quần áo xong quay lại ngay.

Thạch Đạt Lang đặt tay hắn lên bàn tay nhỏ bé của Oa Tử trên thành cầu:

- Oa Tử nghe ta, hãy suy nghĩ một chút ...

- Suy nghĩ gì nữa ?

- Về điều ta mới nói với Oa Tử. Ta vừa trở nên một người khác. Đã ba năm nay bị giam trong thạch thất tối tăm, chỉ đọc sách, ta đã khóc cho thân thế, đã hối hận biết bao nhiêu nhưng cũng đã tìm thấy ánh sáng. Ta mang tên mới:

Thạch Điền Đạt Lang, tên là Đạt Lang mà chưa đạt nên phải cố. Ta muốn dành tất cả thì giờ trong đời để tập nên người toàn thiện, không màng lạc thú gì khác. Nếu nàng theo ta, nàng sẽ không bao giờ có hạnh phúc, chỉ có thử thách và khổ đau. Rồi cùng với thời gian, tuổi tác, khổ đau càng thêm chồng chất ...

- Chàng nói như vậy làm thiếp càng thấy gần chàng hơn. Bây giờ thiếp biết chắc thiếp không lầm. Thiếp đã thấy nơi chàng một người lý tưởng có lẽ suốt đời tìm kiếm cũng không chắc đã gặp ...

Thạch Đạt Lang giật mình, hắn đi sai đường, kết quả trái với ý muốn !

- Oa Tử, ta rất tiếc không để Oa Tử cùng đi được.

- Để thiếp theo vậy. Thiếp không làm gì trở ngại đến công phu luyện tập của chàng đâu. Chàng cũng sẽ không biết có thiếp đi theo nữa.

Thạch Đạt Lang không biết trả lời ra sao.

- Thiếp không làm phiền gì mà ! Thiếp hứa với chàng như vậy.

Hắn vẫn im lặng.

- Vậy đồng ý nhé ! Chàng đợi thiếp ở đây, thiếp trở ra ngay. Chàng đi là thiếp giận đấy !

Oa Tử hối hả trở về cửa hàng bán đồ tre. Được vài bước, nàng quay mặt lại dặn với:

- Nhớ không được bỏ đi đấy !

Và trong niềm vui sướng, nàng cười, để lộ đôi má lúm đồng tiền xinh đẹp.

Thạch Đạt Lang vô tình khẽ gật. Bây giờ là lúc hắn có thể bỏ đi dễ dàng, nhưng sao chân hắn vẫn dính chặt xuống đất, lưu luyến như bị đôi má lúm đồng tiền và giọng nói van lơn giữ lại. Con người mới duyên dáng và dễ mến làm sao ! Có lẽ ngoài chị hắn ra, nàng là người yêu thương hắn nhất và hắn cũng dành cho nhiều cảm tình nhất. Hắn nhìn trời, nhìn nước, tay nắm chặt thành cầu, lòng băn khoăn, bối rối. Rút thanh đoản kiếm trong bọc ra, hắn vạch chữ lên thành gỗ.

Oa Tử trở lại cầu. Nàng mang dép cỏ mới, quấn xà-cạp vàng và đội nón lá rộng vành dùng để đi đường xa, quai lụa đỏ buộc dưới cằm trông thật rực rỡ, tươi tắn. Nhưng Thạch Đạt Lang đã không còn ở đấy nữa.

Oa Tử khẽ kêu lên một tiếng kinh ngạc, rồi như vừa ý thức được sự việc xảy ra, nàng òa lên khóc. Trên thành cầu, chỗ Thạch Đạt Lang đứng trước, một hàng chữ mới khắc, rõ ràng như đập vào mắt:

“Tha lỗi cho ta, tha lỗi cho ta !”.

Chương 10: Hoa Sơn phái

Năm mươi năm trọn kiếp

Hư ảo là cuộc đời

Cơn mê, đừng luyến tiếc

Hiu hắt lá phong rơi ...

Nhân sinh quan coi cuộc đời là phù du, tạm bợ do tướng Y Đằng thâu tóm trong bốn câu thơ ngắn như trên rất được phổ biến trong xã hội Nhật vào đầu thế kỷ mười bảy.

Tướng Y Đằng sau thất trận vì bị phản bội. Ông tự tử tại Kyoto năm bốn mươi tám tuổi.

Hai thập niên sau, vào khoảng , cuộc nội chiến giữa các sứ quân kết thúc.

Tôn Điền Tùng Cương chiến thắng, nắm hết quyền bính, thế lực chỉ thua có hoàng gia ở kinh đô mà thôi. Khắp nơi thái bình an lạc, chỗ nào cũng mở hội, đèn treo hoa kết như trong những thời cực thịnh ngày trước. Nhưng sau cái vỏ thanh bình ấy, chẳng ai thấy cuộc sống yên vui này được bền. Kinh nghiệm hơn một thế kỷ nội chiến đã làm dân chúng càng tin vào tính chất phù du của kiếp người và kích thích họ nhiều hơn trong những cuộc tìm vui thâu đêm suốt sáng.

Lãnh chúa Tôn Điền Tùng Cương tuy vẫn nắm quyền nhưng chức tước đã chính thức trao cho người con thứ ba tên Dã Hạc. Có tin đồn tân đầu lãnh Dã Hạc sẽ đi Kyoto bái kiến hoàng thượng, nhưng ai cũng biết chuyến đi này không phải chỉ có mục đích nghi lễ suông. Ở miền tây, Hòa Giả Nghị, người kế vị Y Đằng cũng là một lãnh chúa uy quyền rất lớn, trước đây từng là địch thủ của Tôn gia. Thân phụ Giả Nghị đã cố duy trì quyền đầu lãnh cho dòng họ Hòa, chờ con trai khôn lớn, nhưng thất bại. Họ Hòa hiện ở thành Osaka, bề ngoài chịu thần phục Tôn gia nhưng bề trong vẫn ngấm ngầm mưu phản.

Tôn Điền không phải là không biết. Ông rất quan tâm đến vùng Osaka, cho đó là một lãnh địa tập trung nhiều kẻ bất mãn chống đối ông. Một số người cũng biết vậy, khôn ngoan lui tới cả đôi bên, khi thì tư dinh Giả Nghị, lúc thì phủ Tôn gia để cầu lợi.

Có người nói gia đình họ Hòa tiền bạc như nước, lâu đài đầy rẫy, giá muốn thu dụng tất cả những tay kiếm sĩ giang hồ trong vùng cũng chẳng khó gì. Họ dự đoán tình hình mỗi người một phách, nhưng tựu trung cái tinh thần hưởng lạc không mấy ai không có.

- Đấy rồi các bác xem, chẳng chóng thì chầy, sẽ có đánh nhau ghê lắm !

- Ờ ...chắc cũng chẳng lâu đâu !

- Còn hồ nghi gì nữa ! Đèn này cứ là sẽ dẹp hết !

- Các bác chỉ lo hão ! Còn sống ta chơi cho thỏa cái đã, rồi muốn ra sao thì ra !

Lợi dụng tâm lý ấy, thanh lâu trà thất mọc lên như nấm. Tối đến, thiên hạ đổ xô nhau đi mua vui giải trí, mọi chuyện đều gác sang bên.

Từ căn nhà đường Tân Hổ gần Cấm thành, một toán võ sĩ trung niên ồn ào bước ra, cũng không ngoài mục đích tầm hoa hưởng lạc, tiếng cười nói oang oang, binh khí chạm nhau rổn rảng. Đó là một trang trại khá lớn có tường gạch quét vôi trắng bao bọc.

Cổng ra vào đồ sộ, mái lợp ngói xanh kiên cố. Bên cổng, một tấm biển gỗ to dày nhưng đã cũ, loang lổ và nứt nẻ nhiều chỗ, khắc hàng chữ lớn nét mòn vì mưa nắng:

Võ Đường Hoa Sơn Kyoto. Ở dưới, hàng chữ nhỏ hơn đề tên trại chủ:

Hoa Sơn Khổ Bích.

Trông dáng điệu, toán võ sĩ có vẻ ham luyện kiếm và sở trường về môn này, vì ngoài hai thanh kiếm thép mang trên lưng, một số còn đeo thêm kiếm gỗ. Vài thanh niên trẻ tuổi hơn vác cả giáo dài.

Mặt họ dữ tợn, trông phát khiếp:

mắt đỏ au như lúc nào cũng sẵn sàng gây ẩu đả.

Họ đi nghênh ngang, vây quanh một người trẻ tuổi ăn mặc sang trọng.

- Đêm nay đại ca muốn đi chơi đâu đây ?

Một người hỏi. Người được gọi là đại ca trả lời dõng dạc:

- Đi đâu cũng được, miễn là đừng đến chỗ hôm qua.

- Sao vậy ? Các em thích đại ca lắm mà. Họ chỉ nhìn đại ca, đâu thèm để mắt gì đến tụi này !

- Đại ca nói phải. Sao ta không tìm đến nơi nào mới, không ai biết chúng ta là ai có hơn không ?

Họ cãi nhau om sòm, không ngoài chuyện uống rượu và tìm gái.

Sau cùng, cả bọn kéo nhau đến xóm bờ sông, nơi tập trung nhiều nhà mới dựng.

Những năm trước đây xóm náy là một bãi hoang, cỏ dại cùng lau lách mọc đầy, cảnh tiêu điều hiu quạnh, chứng tích của một thời tương tàn còn để lại. Nhưng từ khi hòa bình vãn hồi, lác đác có người đến cư ngụ, rồi người nọ bảo người kia, xóm bờ sông bây giờ thành đông đúc. Giá đất tăng lên vòn vọt. Nhiều thanh lâu được mở ra, ngoài cửa treo rèm màu hồng hay hoàng yến, bên trong kỹ nữ ra vào tấp nập, nhất là về đêm. Thôn nữ từ các vùng xa mới vào nghề, mặt trát phấn trắng còn vụng, loang lổ, e thẹn nấp sau khung cửa vẫy gọi khách qua đường. Những thiếu phụ nghèo khó nhiều khi do chủ thanh lâu mua đi bán lại hàng loạt, ngồi túm tụm trong phòng, gảy đàn shamisen hát những bài hát huê tình hoặc thô tục rồi cười với nhau rúc rích.

Người được gọi là đại ca tên Hoa Sơn Sĩ Khánh, vóc dáng cao lớn, mặc bộ kimono màu vỏ già sẫm. Vừa bước chân đến xóm, Sĩ Khánh đã quay lại nói với một gã trung niên đồng bọn:

- Hồ Định ! Gọi người đi mua cho ta cái nón !

- Để che mặt phải không đại ca ? Ở xóm này, đại ca cần gì che mặt ?

- Không cần thì nói làm gì ? Đi ngay đi ! Ta không muốn thấy mọi người xầm xì chưởng môn phái Hoa Sơn đến giải trí ở khu này.

Hồ Định cười:

- Vậy chỉ tổ làm người ta chú ý. Ở đây nàng nào cũng biết ai đội nón rộng vành là con nhà phú quí. Đại ca lại đẹp trai, họ chẳng để yên đâu. Hà ...hà ...kìa, nàng đứng đằng kia khá đấy chứ !

Hồ Định vừa khéo đùa vừa khéo nịnh. Mọi người cười tủm tìm. Tuy nói thế nhưng hắn cũng sai gia nhân chạy đi mua nón và cả bọn đứng ở dưới mái hiên chờ. Nón mang về, Sĩ Khánh đội lên đầu, vành lớn che lấp nửa mặt. Sĩ Khánh thấy yên tâm và thoải mái hơn.

- Đại ca đội nón này được quá, đẹp trai nhất vùng đấy !

Rồi quay sang đồng bọn, Hồ Định đưa thêm một câu nịnh gián tiếp:

- Kia kìa, thấy không ! Các nàng đổ xô ra cửa nhìn đại ca đấy !

Thực ra Sĩ Khánh trông cũng rất có phong độ:

dáng người cao lớn, đi đứng hiên ngang, bên hông đeo song kiếm vỏ chạm trổ công phu, rõ ra con nhà quyền quý. Mặc dầu đội chiếc nón bình dân, hắn cũng không khỏi làm người ta chú ý.

- Ê ! Ê ! Anh chàng đẹp trai kia, mang nón gì kỳ vậy ?

- Vào đây cho chúng em xem mặt nào !

- Thẹn gì nữa ! Vào đây ! Vào đây !

Nghe những lời mời chào sỗ sàng, Sĩ Khánh lại càng làm ra vẻ kiêu kỳ, tuồng như không để ý. Nghe lời Hồ Định, đây là lần đầu tiên hắn đến xóm này, thấy được chú ý cũng nở mũi, nhưng lôi kéo quá, hắn hơi ngán. Là trưởng nam của Hoa Sơn Khổ Bích, từ nhỏ hắn chẳng phải quan tâm gì đến tiền bạc, nhưng cũng vì vậy mà không rõ đời sống xã hội bên ngoài. Đứng trước mặt phụ nữ, hắn cả thẹn mặc dầu bản tính kiêu căng.

Những lời xu nịnh của bộ hạ cùng với dáng điệu mời mọc của các ả giang hồ như liều độc dược dễ nuốt làm kích thích tính kiêu căng của hắn.

Một nàng đứng trước cổng nói lớn:

- Tưởng ai, té ra là đại ca đường Tân Hổ. Đại ca che mặt làm gì vậy ?

Sĩ Khánh quay sang vờ nói với Hồ Định, tuy trong lòng khoan khoái nhưng giả vờ bất mãn:

- Sao họ biết danh tính ta ?

- Dễ quá mà ! Nàng kia đáp. Ở đây ai cũng biết đệ tử phái Hoa Sơn thường mặc áo màu vỏ già, gọi là màu hoa sơn. Nhiều người mặc lắm !

- Nếu nhiều người mặc, sao nàng lại biết ta ?

- Vì không phải trên tay áo ai cũng có phù hiệu hình hoa thị !

Sĩ Khánh nhìn xuống tay áo:

- Hừ ! Bận sau phải cẩn thận hơn mới được !

Ngay lúc ấy, thình lình một bàn tay thò ra nắm chặt lấy áo hắn. Hồ Định kêu lên:

- Chà chà ! Đại ca che mặt nhưng quên che phù hiệu trên áo. Bây giờ thì mọi người đều biết cả rồi, ta phải vào đây thôi !

Sĩ Khánh lúng túng:

- Ừ thì vào ! Nhưng bảo nàng bỏ ta ra chứ !

Hồ Định hét to:

- Bỏ ra ! Đại ca nói sẽ vào, làm gì mà níu kéo thế ?

Cả bọn chui qua tấm rèm vào trong phòng. Cảnh nghèo nàn của căn phòng với vài cành hoa đã úa héo cắm lộn xộn trong một cái lọ rẻ tiền làm Sĩ Khánh phát chán. Nhưng hình như không để ý đến khung cảnh tồi tàn ấy, mọi người khác vẫn ồn ào cười nói:

- Mang rượu ra đây ! Có bánh trái gì thêm cành tốt !

Ưng Đằng, môn đệ ngang cấp với Hồ Định, cũng cất giọng khàn khàn truyền lệnh:

- Mang các em ra đây !

Mọi người phụ họa, bắt trước giọng Ưng Đằng:

- Mang các em ra đây, đừng để ông già đợi !

- Á à ! Ta đâu đã già mà các ngươi nói vậy ? Ta nhập môn lâu hơn các ngươi thật nhưng chưa già, tóc chưa sợi nào bạc !

- Ngươi nhuộm đi, ai biết !

- Tên nào nói vậy ? Đáng phạt chén rượu !

- Mệt quá ! Mang rượu lại đây ta uống.

Ưng Đằng tung chén rượu về phía người vừa nói. Người kia bắt lấy, ném ngược lại.

Tình hình có vẻ căng thẳng, Sĩ Khánh phải can thiệp:

- Ưng Đằng ! Hãy biểu diễn màn vũ xem còn trẻ không nào !

Ưng Đằng nén giận:

- Xin tuân lệnh !

Đứng lên đi vào góc phòng gần bếp, Ưng Đằng lấy tấm vải đỏ con hầu vẫn dùng đeo trước ngực để nấu ăn, quấn lên đầu, tiện tay ngắt cành hoa mận cài vào khăn, rồi vớ cây chổi dài, dậm chân đánh bịch xuống sàn mở đầu màn vũ.

Mọi người cười bò, la hét:

- Lão huynh đi bài vũ Du Tử Nghinh Xuân đấy. Hát theo đi, Hồ Định !

Hồ Định gật đầu, mời mọi người phụ họa. Đồng bọn cầm đũa gõ lên chén, có người còn dùng cả que gắp than đập vào thành hỏa lò đánh nhịp:

Qua dậu tre xanh Ý ...a ...là dậu tre xanh Cái giậu tre xanh ...

Lá trúc buông mành, Tình tang kìa bóng ai áo trắng, Bóng ai áo trắng ...ý ...a ...

Bên nhành liễu non ...

Tiếng vỗ tay rào rào sau đoạn giáo đầu. Hồ Định vui vẻ cúi đầu chào. Kỹ nữ trong phòng bấm đàn samisen hát tiếp điệp khúc:

Cô em bữa trước, Hôm nay còn đâu.

Cô em hôm nay, Ngày mai chẳng thấy.

Ấy ai âu sầu, Thôi đừng mai mốt tìm lâu, Hãy yêu em nhỏ bên lầu hôm nay ...

Một đệ tử ngồi ở góc phòng, tay cầm bát rượu lớn vừa đưa cho bạn vừa lè nhè:

- Sao không cạn hết đi, bằng hữu ?

- Đủ rồi !

- Đủ rồi ? Thế mà cũng gọi là kiếm sĩ ! Kiếm sĩ gì mà không uống hết bát rượu ?

- Cũng được. Nhưng nếu ta uống hết, ngươi cũng phải uống với ta.

- Được, thế là công bằng.

Họ đổi rượu cho nhau, người này bắt kẻ kia uống, rượu tràn cả ra ngoài mép chẳng khác gì đàn trâu bên máng nước. Một giờ sau, ai nấy mặt đỏ gay, người nôn mửa ra chiếu, người ngồi thừ nhìn quãng không, mắt hằn những tia máu. Một người bị rượu kích thích, hoa chân múa tay thách đố:

- Trong anh em đây, ngoài đại ca ra ... hự ...ai dám tự hào biết hết các chiêu thức...hự ...của kiếm phái Hoa Sơn ?

Thanh niên ngồi gần đó, cạnh Sĩ Khánh, xem chừng còn tỉnh, cất tiếng dõng dạc:

- Ngươi chỉ khéo nịnh ! Kyoto này có nhiều kiếm phái mà Hoa Sơn chúng ta chỉ là một, có gì mà kiêu ngạo thế !

- Nhiều kiếm phái là những kiếm phái nào ?

- Như Võ Đằng Tôn Các ở Kurotani, Bạch Hạc ở Kitano; ấy là chưa kể Vạn Mai Kiếm ở Sài Hồ, mặc dầu phái này còn ẩn danh không thu đồ đệ.

- Những phái đó hơn gì Hoa Sơn ta ?

- Ta không luận hơn kém. Ta chỉ muốn nói chúng ta chẳng nên tự phụ coi môn phái mình là nhất.

Người kia khoan thai đứng dậy:

- Được lắm ! Ta muốn biết tài ngươi tới mức nào. Ngươi là đệ tử phái Hoa Sơn mà làm hạ giá bản môn, coi kiếm kỹ của sư tổ không ra gì, không biết ngươi là người thế nào?

- Ta không hạ giá ai cả, chỉ nêu lên những sự kiện. Sư tổ là bậc đệ nhất kiếm khách một thời, từng chỉ dẫn những chiêu kiếm trác tuyệt cho nhiều lãnh chúa, nhưng thời ấy đã qua rồi. Ngày nay số người trau dồi kiếm đạo không phải là hiếm, không những ở Kyoto này mà còn ở Edo, Hitachi, Echizen và khắp các tỉnh khác nữa. Sư tổ là bậc đại kiếm khách nhưng không phải vì thế mà chúng ta là đại kiếm khách cả. Đấy là sự thật, hà tất phải bàn cãi ?

- Đồ hèn nhát ! Ngươi là kiếm sĩ Hoa Sơn mà lại đi sợ những phái khác !

- Ai nói sợ ? Ta chỉ muốn cảnh cáo mọi người đừng quá tự mãn.

- Mày lấy quyền gì dạy dỗ chúng ta ?

Dứt lời, hắn thoi một quả đấm làm tên kia ngã lăn chiêng ra chiếu. Hồ Định và Ưng Đằng chạy vội đến can, đẩy hai tên ra, mắng:

- Thôi, không được đánh nhau ! Trước mặt đại ca, không được vô lễ !

Mọi người xúm vào dàn hòa, chuốc thêm rượu và lái câu chuyện sang hướng khác.

Một lúc sau không khí đã dịu, tiếng cười lại nổi lên trong khi anh chàng ưa chỉ trích lúc nãy còn ngồi phân bua với Ưng Đằng:

- Đấy lão huynh coi, chỉ vì sự an nguy của bản môn mà đệ nói chứ không có ý gì kia khác. Nếu không lưu tâm chấn chỉnh, lòng hợm hĩnh của mọi người sẽ làm phái Hoa Sơn ta rồi không còn đất đứng.

Một mình, Sĩ Khánh ngồi yên lặng, chán nản như chẳng buồn để ý gì đến chuyện vừa xảy ra. Hắn chưa say, nhưng rõ ràng là không thấy thoải mái trong khung cảnh náo nhiệt này. Hồ Định nhận thấy điều đó, ghé tai Sĩ Khánh nói nhỏ:

- Đại ca không được vui phải không ?

- Ừ. Ta tự hỏi không biết những huynh đệ kia có vui chăng ?

- Vui chứ ! Họ cho thế là vui !

- Ta không thấy thế ! Ta không hiểu sao họ có thể vui được !

- Hay chúng ta đi nơi khác yên tĩnh hơn. Đại ca nghĩ thế nào ?

Như được gãi đúng chỗ ngứa, Sĩ Khánh bằng lòng ngay:

- Ta muốn đến chỗ hôm qua.

- Vân Nghê quán ấy hả ?

- Ừ.

- Chỗ ấy được lắm. Đệ biết đại ca thích quán đó nhưng không tiện dẫn những tên thô lỗ kia tới. Để họ Ở đây tốt hơn, hợp với họ mà lại rẻ tiền.

- Vậy đi thôi. Ưng Đằng lo chuyện ở đây cũng được.

- Đại ca giả bộ đi tiểu, đợi tiểu đệ ngoài hiên, đệ ra ngay.

- Lúc sau, Sĩ Khánh khéo léo rút êm, mọi người không ai chú ý.

oo Trước một căn nhà tại xóm yên hoa ngoại thành Kyoto, một thiếu phụ đang bận treo lại chiếc đèn lồng gió mới thổi tắt. Nàng kiễng cao chân. Áng sáng ngọn đèn rung rinh in bóng những lọn tóc mới gội chưa kịp chải vẽ thành những vết đen lay động lên đôi cánh tay trần trắng muốt. Mùi hoa mận thơm ngọt dịu dàng vương trong gió thoảng từ ngoài vườn vào.

Vừa mới đi tới, Hồ Định đã nhanh nhảu:

- Ôkô ! Cần ta giúp không ?

- Đại ca đấy ư ? Thế thì còn gì bằng nữa !
- Vậy đợi ta chút.

Hồ Định bước nhanh vào vùng ánh sáng ngọn đèn. Ôkô biết là mình lầm:

nàng tưởng nghe tiếng nói của Sĩ Khánh. Hồ Định cầm đèn treo lên móc rồi hỏi:

- Thế này được chưa ?

- Được rồi. Cảm ơn lắm.

Nhưng Hồ Định nghiêng đầu nhìn và cho là chưa được. Hắn tháo ra treo lại đèn cho ngay ngắn hơn. Ôkô mỉm cười thấy có những người đàn ông ở nhà chưa chắc đã chịu giúp ai làm việc gì, nhưng đến nơi này lại tỏ ra rất dễ thương và ưa giúp đỡ. Nhiều khi họ tự tay rót rượu lấy, mang gối ra hay mở cửa hoặc vui vẻ làm nhiều việc linh tinh khác mà ở nhà họ không bao giờ chịu làm.

Treo đèn xong, Hồ Định cùng Sĩ Khánh bước vào phòng. Trong nhà thật yên tĩnh.

Sĩ Khánh buột miệng:

- Ở đây yên lặng quá nhỉ !

Hồ Định nói:

- Để đệ ra mở cửa.

Đứng trên hiên, Sĩ Khánh nhìn giòng sông Takase chảy êm đềm; xa hơn nữa, về phía nam, qua cây cầu nhỏ bắc ngang, khu Teramachi rải rác đền miếu bên kia một cánh đồng hoa dại nở rộ gợn sóng dưới ánh trăng.

Ngồi chờ một lát không thấy ai, Hồ Định bắt đầu sốt ruột:

- Hừ ! Sao thế này ? Các em đâu cả ? Hôm nay xem chừng vắng khách mà Ôkô cũng đi đâu mất, mãi chưa thấy mang trà ra.

Không dằn được nôn nóng, hắn đứng dậy xăm xăm vào nhà trong, suýt và phải A Kế Mỹ từ trong phòng bước tới. Chùm khánh nhỏ đeo bên hông nàng vang lên lanh canh, rồi tiếng kêu của cô bé:

- Cẩn thận ! Chú làm đổ trà bây giờ !

- Sao lâu vậy ? Đại ca đang đợi ngoài kia. Cô không mong đại ca à ?

- Đó ! Đó ! Chú làm đổ trà ra khay rồi ! Có đi lấy cái khăn để người ta lau đi không?

- À há ! Gớm hách nhỉ ! Ôkô đâu ?

- Đang trang điểm trong nhà.

- Chưa xong kia à ? Lâu thế !

- Trời ơi ! Cả ngày hôm nay bận tíu tít ...

- Bận gì ? Hôm nay tiếp ai thế ?

- Tò mò vậy ? Đâu phải việc chú ! Tránh ra để người ta đi.

Hồ Định né người sang bên. A Kế Mỹ bưng khay trà vào phòng, chào Sĩ Khánh:

- Kính chào khách quan. Hân hạnh được khách quan quá bộ ...

Sĩ Khánh vờ thản nhiên, không nhìn cô bé, hờ hững đáp:

- A Kế Mỹ đấy à. Cảm ơn chuyện hôm qua nhé !

Hắn có vẻ ngượng. A Kế Mỹ đặt khay lên bàn, cầm chiếc đĩa nhỏ chạm trổ tỉ mỉ trên để một chiếc ống điếu bằng sành:

- Xin mời khách quan dùng thuốc.

- Ta tưởng thuốc lá bị cấm.

- Vâng. Nhưng chẳng ai tuân, mọi người vẫn cứ dùng như thường. Vậy tốt, ta hút một điếu.

A Kế Mỹ mở nắp hộp xà cừ, dúm một chút thuốc, nhanh nhẹn nhồi vào ống điếu:

- Xin mời khách quan, để tiểu nữ châm lửa.

Sĩ Khánh không quen hút, vụng về rít một hơi ngắn rồi nhăn mặt ho sặc sụa:

- Đắng quá !

A Kế Mỹ quay đi che miệng.

- Hồ Định đâu ?

- Chắc ở trong phòng mẹ.

- Hắn mê Ôkô lắm. Có lẽ hắn trốn ta đến đây đã nhiều lần, phải không, A Kế Mỹ ?

A Kế Mỹ cười khúc khích không đáp.

- Cớ gì mà cười. Chắc mẹ nàng cũng yêu hắn lắm chứ gì ?

- Tiểu nữ không rõ.

- Hẳn rồi. Mà thế cũng tiện, đôi bên cùng vui vẻ cả:

mẹ nàng với Hồ Định, còn nàng với ta !

Làm vẻ tự nhiên, hắn đặt tay mình lên tay A Kế Mỹ để trên đùi. A Kế Mỹ cau mặt, hất tay hắn và nhích ra xa. Cử chỉ ấy càng khiến hắn cả gan hơn. Hắn giơ tay ra quàng ngang lưng cô bé, định kéo tấm thân mảnh dẻ ấy lại gần:

- Ấy chớ có chạy ... Ta không làm hỗn nàng đâu !

A Kế Mỹ gỡ tay Sĩ Khánh:

- Khách quan bỏ ra để tiểu nữ còn đi lấy rượu.

- Ta không uống rượu !

- Nhưng nếu không mang rượu đến mẹ tiểu nữ mắng.

- Mẹ nàng đang ở trong phòng trò chuyện với Hồ Định, mắng gì !

Hắn ghé mặt lại gần A Kế Mỹ. Nàng quay phắt đi gọi lớn:

- Mẹ Ơi ! Mẹ !

Hắn buông tay. Nàng chạy vội vào nhà trong. Sĩ Khánh thất vọng. Hắn không vừa ý nhưng cũng không muốn nài ép cô bé. Ngồi một mình buồn, một lúc lâu chẳng có ai tiếp, hắn nói lớn:

“Ta về đây !” rồi đứng lên khật khưỡng ra hành lang.

- Đại ca đi đâu đấy ? Ở lại chứ đã về đấy à ?

Ôkô chạy ra, ôm Sĩ Khánh. Hắn thấy tóc và son phấn trên mặt nàng vẫn còn nguyên vẹn. Nàng rối rít gọi Hồ Định ra giữ Sĩ Khánh, lại ngọt ngào chuốc rượu còn Hồ Định vào trong nhà tìm A Kế Mỹ dẫn trở lại phòng. Thấy vẻ mặt khách sượng sùng, A Kế Mỹ nhoẻn miệng cười.

Ôkô liếc nhìn con gái, nói nhỏ:

- A Kế Mỹ, rót rượu mời đại ca đi !

- Dạ !

- Đại ca thấy đấy, nó còn dại lắm, chẳng khác gì con nít !

Hồ Định chen vào:

- Ấy thế mới dễ thương ! Cô ấy còn trẻ mà !

- Hăm mốt rồi đấy !

- Hăm mốt cơ à ! Ta không ngờ, trông chỉ độ mười sáu, mười bảy là cùng !

Đột nhiên nét mặt A Kế Mỹ trở nên rạng rỡ:

- Thật hả thúc thúc ? Tiểu nữ chỉ muốn cứ mười sáu mãi ...

Nàng chắp hai tay lên ngực, nói khẽ:

- Vì năm mười sáu, tiểu nữ đã gặp một chuyện thật thần tiên.

- ...

- Tiểu nữ không nói với ai nhưng chuyện đó xảy ra đẹp quá ! Bấy giờ là năm có cuộc chiến Sekigahara, ở tỉnh ... Ở tỉnh nào thúc thúc biết không ?

Ôkô cắt ngang, giọng đe dọa:

- Cái con lắm mồm này ! Đừng nói nhảm nữa, vào phòng lấy cây đàn shamisen ra đây !

A Kế Mỹ cụt hứng, phụng phịu đứng dậy đi vào phòng mang cây đàn ra. Nàng đặt đàn ngồi xuống và bắt đầu dạo một khúc ngắn. Tiếng đàn vừa dứt, mắt xa vắng nhìn vào quãng không, nàng cất tiếng ca nho nhỏ như kể lể với chính lòng mình hơn là làm vui cho khách:

Mây che thì kệ mây che, Mắt em nhòa lệ chẳng hề thấy trăng ...

Ngừng lại, nàng quay sang hỏi Hồ Định:

- Thúc thúc có hiểu không ?

- Không hiểu rõ. Hát tiếp đi.Trong đêm vần vũ tối tăm, Tình anh là ngọn thần đăng soi đường ...

Hồ Định nói bâng quơ:

- Còn trẻ lắm, mới hăm mốt mà !

Sĩ Khánh từ nãy đến giờ ngồi yên, hai tay ôm đầu, bấy giờ mới ngẩng lên:

- A Kế Mỹ, ta muốn mời nàng chén rượu.

Hắn đưa chén cho A Kế Mỹ, tự tay mang bình rượu đã hâm nóng rót vào. A Kế Mỹ bình tĩnh dốc một hơi cạn rồi trao chén cho Sĩ Khánh. Ngạc nhiên, hắn hỏi:

- Nàng uống đượu rượu à ?

Đến phiên Sĩ Khánh uống xong, hắn lại mời A Kế Mỹ chén nữa. Nàng vui vẻ nhận lời, nhưng hình như thấy chén quá nhỏ, với tay lên kệ lấy chiếc bát lớn. Trong nửa giờ sau đó, hai người thay phiên nhau uống rượu bằng bát. Tửu lượng A Kế Mỹ chẳng kém gì Sĩ Khánh khiến hắn ngạc nhiên quá đỗi. Một cô gái trông chỉ độ mười sáu, mười bảy, môi trinh non thế mà nốc rượu như nốc nước lã. Chẳng biết rồi rượu nó đi đâu trong cái thể nhỏ bé nhường kia ?

Ôkô can:

- Thôi, đại ca chẳng nên thi nữa. Không biết sao ? Con bé nó có tài uống rượu cả đêm cũng không say đâu. Để nó chơi đàn thôi.

Nghe nói thế, Sĩ Khánh sửng sốt:

- Vậy hả ? Thật không ngờ !

Nhưng hắn đã có vẻ lảo đảo ngồi không vững. Hồ Định chạy đến bên ân cần bảo:

- Đại ca say rồi, chẳng nên uống thêm nữa !

Sĩ Khánh khoát tay:

- Can gì ! Này Hồ Định, có lẽ đêm nay ta không về được. Ngủ lại đây thôi !

- Không sao. Tùy đại ca muốn ở bao lâu cũng được. Phải không, A Kế Mỹ ?

Hắn nheo mắt nhìn Ôkô, kéo nàng sang phòng bên, thì thầm:

- Đại ca đêm nay vui lắm, chắc muốn ngủ lại. Nếu A Kế Mỹ không bằng lòng thì phiền lắm đấy ! Dĩ nhiên mẹ phải có bổn phận phải lo cho con cái, vậy nàng tính bao nhiêu ?

Ôkô để tay lên má, suy nghĩ. Hồ Định giục:

- Định ngay đi !

Rồi ghé sát tai Ôkô, hắn thêm:

- Đám này khá lắm ! Chưởng môn phái Hoa Sơn, tiếng tăm lừng lẫy thuộc hạng danh gia thế phiệt, tiền bạc chẳng thiếu. Lại chưa vợ con. Bề gì cũng là một mối không phải dễ kiếm !

- Cũng được, nhưng ...

- Không nhưng gì cả. Đồng ý nhá ! Đêm nay chúng ta ở lại !

- Trong phòng, ánh sáng lờ mờ, Hồ Định để tay lên vai Ôkô. Đúng lúc ấy một tiếng động mạnh ở phòng sau làm hai người giật mình.

- Gì vậy ? Nàng có khách đấy à ?

Ôkô gật đầu, yên lặng đưa đôi môi ướt nhẫy sát vào tai Hồ Định thì thầm:

- Chốc nữa !

Rồi lấy dáng điệu tự nhiên, cả hai đứng dậy, sánh vai nhau bước ra phòng ngoài.

Sĩ Khánh đã ngủ gục bên khay rượu.

Hồ Định vào phòng kế, ngả lưng trên chiếu. Hắn nằm ngước mặt nhìn trần, tay khẽ gõ nhịp, đợi lúc lâu không thấy Ôkô đến, mắt hắn dần dần nặng trĩu.

Hôm sau tỉnh dậy, trời đã gần trưa, Hồ Định cảm thấy buồn bực. Sĩ Khánh ngồi trong phòng trông ra ngoài hiên, đang uống rượu. Dáng điệu tươi cười, Ôkô và A Kế Mỹ dường như không để ý gì đến chuyện đêm qua. Cả hai đùa cợt với Sĩ Khánh, đòi Sĩ Khánh hứa một điều gì:

- Thế đại ca đưa bọn thiếp đi nhé !

- Ờ thì đi. Bảo làm ít món ăn nguội và nhớ mang theo bình rượu.

Thì ra hai mẹ con Ôkô muốn đi xem tuồng của gánh Okumi trên đường lưu diễn mới đến dựng rạp ở xóm bờ sông gần đường Tân Hổ. Gánh này không phải chỉ là một gánh tuồng cổ như những gánh khác, nhưng biết cách canh cải các tích cũ, đệm thêm nhạc và hát nên rất được sự hâm mộ của quần chúng. Gần đây, trên các nẻo đường đông đúc trong xóm, rất nhiều gánh hát mới được lập ra, đào kép thi đua nhau trổ tài lôi kéo khách mộ điệu. Gánh nào cũng cố tạo ra vài nét đặc thù, bài bản hay điệu múa riêng biệt. Nhiều nữ diên viên trước đây là gái giang hồ, nay vào nghề mới, thành nổi tiếng, được mời đến hát trong những rạp lớn tại kinh đô. Có nàng còn mang tên và cải nam trang, thủ những vai hiệp sĩ khá thành thạo.

Sĩ Khánh ngồi thừ người nhìn qua cửa sổ. Dưới chân cầu ven sông, lác đác vài phụ nữ giặt áo, đập vải kêu bồm bộp. Trên cầu, khách qua lại tấp nập.

Hắn quay hỏi Hồ Định:

- Qúa trưa rồi. Họ sửa soạn chưa xong à ?

Rượu ngà ngà, Sĩ Khánh chờ mãi đã chán, hết hứng muốn dẫn hai nàng đi coi hát.

Hồ Định vẫn còn buồn bực và thất vọng vì chuyện đêm trước, cau có:

- Đi chơi với họ thật bực mình. Đến phút chót còn thay áo, chải tóc. Mất thì giờ quá !

Sĩ Khánh nghĩ lan man đến võ đường ở nhà. Chắc giờ này môn đệ hắn đang tập luyện. Hắn mường tượng nghe tiếng gươm giáo chạm nhau, tiếng thét xung trận chói tai của võ sinh và cả đến những lời ngạc nhiên bất mãn của đàn em khi thấy hắn vắng mặt trong giờ giảng võ.

- Hồ Định, ta chẳng còn lòng nào muốn đi coi hát nữa. Hay về thôi !

- Thế đại ca bỏ lời hứa hả ?

Sĩ Khánh thở dài. Hồ Định tiếp:

- Họ đang hớn hở vì chuyện đi coi hát, đại ca làm thế họ giận, bận sau đến ta đâu được tiếp đãi niềm nở nữa. Để đệ vào giục.

Tới cuối hành lang, liếc mắt nhìn vào phòng Ôkô, Hồ Định thấy quần áo vất bừa bãi nhưng không thấy bóng dáng hai mẹ con đâu. Ngạc nhiên, hắn chạy sang phòng kế.

Phòng kế cũng vắng lặng. “Không biết Ôkô đi đâu ?”. Hồ Định tự nhủ và sục sạo ra tận sau nhà tìm.

Đến một căn buồng nhỏ bẩn thỉu, hắn rón rén nhìn qua cửa sổ. Buồng tối om như hũ nút, mùi ẩm mốc của quần áo lâu ngày không giặt lẫn với mùi rượu xông ra nồng nặc.

Tò mò, Hồ Định lấy ta kéo nhẹ cánh cửa.

- Ai ?

Tiếng quát giận dữ từ trong buồng phát ra làm hắn giật nẩy mình nhảy lui.

Bóng một người đàn ông nằm ngửa trên mảnh chiếu rách trong cảnh tranh tối tranh sáng có một cái gì rờn rợn bí ẩn. Hắn lợm giọng. Người đàn ông quần áo bẩn thỉu, chân tay thô kệch, chiếc chuôi kiếm lộ bên hông. Trong cách phục sức, không ai không bảo là một tay kiếm giang hồ thường thấy lang bạt khắp nơi trong nước từ quê đến tỉnh.

Anh ta nằm trên chiếu, mắt dán lên trần nhà, chẳng thèm ngồi dậy hay tỏ ra có ý định gì muốn tiếp hắn.

- Xin lỗi. Hồ Định nói. Tôi không biết có khách trong phòng.

- Ta đâu phải khách.

Người nằm trong buồng sẵng giọng, mắt vấn nhìn lên trần.

Tiếng hắn khàn khàn, hơi rượu sặc sụa. Hồ Định chẳng biết là ai, nhưng thấy rõ hắn có ý đuổi mình.

- Vậy xin lỗi đã làm rộn.

Nói xong định quay gót. Người kia chống tay ngồi dậy:

- Khoan ! Đi thì đóng cửa lại !

Hồ Định bực mình về sự thô lỗ ấy. Hắn giơ tay khép cửa và lẩm bẩm câu gì không rõ.

Lúc sau Ôkô đến. Nàng mới băm tám nhưng rõ ra vẻ kẻ cả, lên giọng mắng người nằm trong phòng:

- Mãn Hà Chí ! Anh lại làm bậy gì rồi hả ?

A Kế Mỹ theo sau mẹ nói vọng vào:

- Sao thúc thúc không đi với mẹ ?

- Đi đâu ?

- Xem tuồng Okumi.

Miệng Mãn Hà Chí nhệch xuống, gã cười cay đắng:

- Thằng chồng nào lại muốn đi cùng với tình nhân của vợ mình bao giờ !

Ôkô như vừa bị cái tát. Nàng quắc mắt giận dữ:

- Anh nói cái gì ? Có phải anh muốn ám chỉ tôi với Hồ Định không ?

- Ai ám chỉ cái gì ?

- Thì anh vừa nói đó !

Mãn Hà Chí ngậm miệng quay mặt vào tường.

Mặt cho Ôkô tỏ vẻ khinh miệt, Mãn Hà Chí vẫn giữ yên lặng.

- Anh làm tôi lên ruột ! Chỉ được cái ghen hão ghen huyền. Thôi đi ! A Kế Mỹ !

Mặc thằng khùng ấy ...

Mãn Hà Chí với tay nắm áo Ôkô:

- Mày bảo ai khùng ? Nói với chồng như thế hả ?

Ôkô giật áo ra, gay gắt:

- Ai cấm được tôi nói ? Nếu là chồng, anh phải biết bổn phận làm chồng chứ ! Ai nuôi anh cơm ăn, rượu uống ? Đồ ăn hại, vô tích sự !

- ...

- Từ khi đến đây, anh kiếm được đồng xu nào ? Chỉ bám vào gấu áo tôi để rượu chè bê tha, anh còn than nỗi gì ?

- Ta đã nói sẽ đi làm. Làm phu khuân đá nàng không cho, bảo tiền công không đủ sống ! Nàng nói không ăn được thứ này, không mặc được thứ kia, không ở được nhà bé ... Không cái nọ, không cái kia ... trăm thứ không ...Ta muốn kiếm một nghề lương thiện, nàng gạt đi, mở cái phòng trà khốn nạn này ! Nàng phải thôi ngay !- Hắn hét lên.- Thôi ngay !

Khắp người hắn nóng ran, tay chân run lẩy bẩy.

- Thôi cái gì ?

- Thôi mở phòng trà này !

- Thế lấy gì mà ăn ?

- Ta đi vác đá cũng đủ nuôi cả ba.

- Nếu anh muốn đi vác đá hay cưa gỗ thì cứ đi, muốn làm phu, thợ hay gì cũng được để đủ nuôi cái miệng anh. Anh là thằng nhà quê thì cứ ở nhà quê, sao lại bỏ làng mà đi. Tôi chẳng giữ anh làm quái gì !

Mãn Hà Chí cố giữ cho nước mắt khỏi trào ra. Hắn nuốt lệ cùng với những nỗi uất ức chua cay đang dâng lên bóp nghẹn cổ họng.

Ôkô và A Kế Mỹ bỏ đi từ bao giờ, hắn vẫn ngồi cắm mặt nhìn xuống đấ t. Nghĩ lại từ khi Ôkô cho hắn tá túc tại căn nhà nhỏ của nàng ở sườn núi Ibuki, hắn tự cho là có diễm phúc được một người thông cảm, yêu thương và săn sóc. Nhưng bây giờ ... hắn không biết như thế có phải là may mắn không ...Làm con chó trung thành của một góa phụ tính tình thất thường và dâm đãng hay để giặc bắt, đằng nào hơn ? Hắn còn phải là người nữa hay không ? Những ước ao của hắn xưa kia, giờ không còn gì nữa ! Hắn luôn bị chế giễu, khinh rẻ.

Mãn Hà Chí đập tay xuống chiếu, giận run:

- Đồ đĩ rạc ! Đồ điếm thối tha !

Ngồi một mình, hắn để mặc nước mắt trào ra ướt đẫm má. “Ừ, tại sao ta lại không về làng ? Oa Tử còn đó chắc vẫn một lòng chờ đợi. Mẹ, cậu Ngô, chị ta và anh rể ta, ai cũng tha thiết đến ta, sao ta không về nhỉ ? Giờ này, chuông chùa Tiểu Sơn đã sắp đổ hồi rồi đấy !”.

Những hồi chuông chiêu mộ văng vẳng trong tâm tư đưa hắn trở về tuổi niên thiếu, sông Aida êm đềm cuộn khúc, hoa dại nở đầy hai bên bờ sông cùng với những loài chim khuyên, chim sao; chim chìa vôi ríu rít trên cành mận sau nhà ...

Mãn Hà Chí đập hai tay lên đầu than vãn:

- Ta điên rồi ! Ta điên mất rồi !

Cơn say như biến mất, hắn vùng đứng dậy nói lớn với chính mình:

- Phải quyết đi hôm nay !

Thanh âm hắn vang dội trong căn nhà trống khiến hắn ngạc nhiên. Đột nhiên, Mãn Hà Chí nhận thức được mình đang tự do không ai cản giữ, không còn gì vương vấn.

Đồ đạc vỏn vẹn chỉ có một thanh gươm, hắn cúi xuống nhặt lên giắt vào thắt lưng, lẩm bẩm:

“Ít ra ta cũng vẫn con là người !”.

Như một ông tướng vững vàng tự tin trước khi lâm trận, Mãn Hà Chí định hiên ngang giơ cao vũ khí xông ra cửa chính, nhưng thói quen vẫn làm hắn xỏ chân vào đôi dép cũ rách, len lén theo cửa bếp ra ngoài.

Mới được vài bước, hắn khựng lại. Không phải vì trời bên ngoài đẹp quá, trong sáng quá hay ánh sáng làm hắn chói mắt, nhưng vì hắn không biết đi đâu. Đối với Mãn Hà Chí, thế giới bên ngoài chẳng khác gì mặt biển sóng cồn, hắn như người đang vùng vẫy để khỏi chết đuối, không biết bấu víu vào đâu. Ngoài Kyoto ra, hắn không còn biết nơi nào khác trừ làng hắn và Sekigahara, nơi xảy ra trận chiến độc nhất mà hắn tham dự. Trong khi đang phân vân, đột nhiên một ý nghĩ làm hắn hối hả trở lại:

“Tiền ! Mình quên mất, đi thì phải có tiền chứ !”.

Mãn Hà Chí chạy thẳng đến phòng Ôkô, lục lọi khắp chỗ, mở tủ, mở ngăn kéo, vất tung cả quần áo ra sàn, hy vọng tìm được thứ hắn muốn. Nhưng vô ích. Ôkô chẳng dại gì để tiền ở nhà cho hắn thấy. Thất vọng, Mãn Hà Chí ngồi bệt xuống sàn cạnh đống quần áo và vật dụng bừa bãi. Mùi nước hoa Ôkô ưa dùng thoang thoảng từ những món đồ lót đắt tiền bay lên quanh quẩn bên hắn. Giờ này chắc nàng đang chăm chú xem diễn tuồng ở rạp hát, làn da nhồi phấn trắng và khuôn mặt đỏm dáng của Ôkô như theo với mùi nước hoa phảng phất hiện lên trêu chọc Mãn Hà Chí. Hắn nhổ bọt, chửi thề một câu tục tằn rồi ngồi dựa lưng vào thành tường, thừ người ra buồn bã. Ý tưởng lộn xộn đến trong óc:

Oa Tử, gia đình hắn ở Miyamoto. Hắn thấy dại dột quá sức, nghe lời người đàn bà ấy viết thư dứt tình với Oa Tử. Chẳng biết vị hôn thê của hắn bây giờ nghĩ sao, có ruồng bỏ hắn không ? Hắn muốn gọi mẹ và những người thân khác. Cái gì ở làng hắn bây giờ cũng tươi cũng đẹp, cả đến đất trong làng, hắn cũng có cảm tưởng như ấm áp hơn và gợi nhớ hơn trước.

Suy nghĩ miên man, Mãn Hà Chí không để ý gì đến tiếng đập cửa dồn dập. Mãi khi có tiếng chân người bước vào, hắn mới giật mình quay ra.

- Xin các hạ thứ lỗi, tại hạ Ở võ đường Hoa Sơn muốn hỏi thăm sư huynh Sĩ Khánh.

Không biết vị đó có còn ở đây không ?

Mãn Hà Chí cau mặt càu nhàu:

- Làm sao ta biết được ?

- Tại hạ chắc vị đó còn ở đây. Tại hạ không dám tự tiện làm rộn, nhưng có chuyện khẩn cấp can hệ đến danh dự của bản phái. Xin các hạ làm ơn thông báo giúp !

- Cút đi ! Ta không biết ai là Sĩ Khánh cả !

Người kia ngạc nhiên định quay ra, nhưng nghĩ thế nào lại vớt vát:

- Xin các hạ nói với sư huynh của tại hạ, có một kiếm khách tự xưng là Thạch Điền Đạt Lang ở Miyamoto đến võ đường khiêu khích. Anh em không ai địch nổi, hắn ngồi chờ sư huynh để tỷ kiếm. Vậy xin mời sư huynh về ngay cho.

Mãn Hà Chí mở to mắt, nhìn vào quãng không:

- Miyamoto ? Thạch Điền Đạt Lang ? Ai vậy ?

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau