THẠCH KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thạch kiếm - Chương 51 - Chương 55

Chương 51: Thác phu phụ

Hôm sau, cả ba người, Oa Tử, Thạch Đạt Lang và đồ đệ rời quán trà Liễu Kiều lên đường đi Edo. Trời quang đãng, ánh nắng đầu mùa chan hòa, vạn vật dường tươi đẹp hẳn lên. Màu lá cây xanh non, không khí trong vắt. Ven suối, những cánh hoa rừng rụng sau trận mưa vừa rồi còn rải rác trên nền cỏ ướt.

Oa Tử cưỡi bò, Thạch Đạt Lang thong dong đi cạnh. Cả hai nét mặt hớn hở. Bao nhiêu sầu muộn trước đây hình như họ đều để lại đằng sau cả. Giang chạy nhảy như con sóc. Nó lấy lá cuộn thành kèn thổi te te và đuổi bắt những con sáo sậu đậu ở vệ cỏ.

Mặt trời mỗi lúc một cao, Giang đã thấy mồ hôi vã lấm tấm. Nó lấy tay quệt:

- Nóng quá ! Mới sáng mà đã nóng. Đây là đâu thế thầy.

- Đèo Mã Yên Sơn. Nghe nói khúc này khó đi lắm, sang bên kia, đường mới khá hơn.

- Thảo nào con thấy mệt !

Thạch Đạt Lang phì cười:

- Tại con chạy nhảy nhiều. Đường còn dài, muốn đi lâu phải giữ sức chứ !

Oa Tử xen vào:

- Mình chả có gì vội. Đường vắng, cứ thong thả, đến Edo lúc nào thì đến.

Giang phản đối:

- Tại cô cưỡi bò. Thử đi bộ như em xem !

Nhưng vừa than mệt xong, Giang đã quên ngay. Thấy đằng xa có thác nước, Giang vội reo lên:

- Ồ ! Đằng kia có cái thác. Ta lại xem đi thầy !

Thạch Đạt Lang cũng phụ họa:

- Ờ phải đấy, ta lại đó nghỉ chân.

Cả ba rẽ vào đường mòn. Càng vào sâu, cảnh càng hoang dã. Cỏ cao ngang đầu gối, hoa dại rụng đầy, sau trận mưa, nước suối dâng cao kéo theo những cành khô gẫy dạt vào bờ từng đám.

Tiếng nước đổ ầm ầm nghe mỗi lúc một rõ, muốn nói chuyện với nhau phải cao giọng hơn bình thường.

Đến gần thác, thấy có gian lều gỗ chẳng biết ai đã dựng lên, dùng làm chỗ trú chân thật hợp ý.

Giang đỡ Oa Tử trên lưng bò xuống, rồi dẫn con vật buộc vào gốc cây hòe gần một thảm cỏ mướt. Oa Tử chỉ tấm biển gỗ dựng bên thác:

- Kìa ! Tấm biển đề tên thác nước:

Meoto no taki - thác Phu Phụ - tên nghe lạ quá!

Chàng biết tại sao có tên ấy không ?

Thạch Đạt Lang lắc đầu. Cả hai lẳng lặng đứng nhìn nước từ trên núi ầm ầm đổ xuống, tung bọt trắng phau. Họ đoán có lẽ dòng nước, khi đến chỗ dốc trước khi đổ xuống vực sâu đã bị chia hai, một bên chảy hùng tráng mạnh mẽ, một bên thong thả êm đềm, nên mang tên thế chăng.

Dù thế nào đi nữa, thác nước thật đẹp. Hai dòng song song bổ túc cho nhau trước khi nhập chung làm một, đổ từ trên cao hàng chục trượng xuống một cái hồ lớn rồi chia thành nhiều nhánh len lỏi giữa những ghềnh đá xanh rêu như những con rắn bạc mất hút trong đám cỏ lau và cây rừng rậm rạp dưới chân núi.

Nước chảy liên miên, tiếng thác nước ầm ầm đổ khiến phong cảnh sống động và như tiếp cho Giang một nguồn sinh lực mới. Thằng bé nhảy trên những hòn đá ngổn ngang, la hét vang trời, thỉnh thoảng ngưng lại để nghe giọng mình dội vào vách đá vang vang, lấy làm thích thú.

- A ! Có cá ! Có cá !

Giang nhặt đá ném. Hết con này đến con khác, cứ thế mê mãi đuổi cá theo dòng suối xuống vùng hạ lưu. Chẳng bao lâu tiếng la hét của nó loãng đi và bị tiếng thác nước khỏa lấp, không còn nghe thấy gì nữa.

Trong bóng mát của gian lều, Thạch Đạt Lang và Oa Tử ngồi cạnh nhau, giữa hằng hà sa số những vòng hào quang sặc sỡ như những chiếc cầu vồng nhỏ do ánh mặt trời chiếu lên trên nền cỏ ướt. Oa Tử nói:

- Không biết thằng bé chạy đâu ? Mười bốn mười lăm rồi mà còn nghịch ngợm quá!

- Nó còn trẻ con. Ở tuổi ấy, ta nghịch hơn thế nữa. Trái lại, Mãn Hà Chí lại khác ta. Hắn hiền như bụt. Chẳng biết bây giờ hắn đâu. Hắn đáng phải để ý hơn là thằng bé.

- Nói đến Mãn Hà Chí, thiếp mới sực nhớ, mong hắn đừng có mặt.

- Sao vậy ? Có mặt Mãn Hà Chí mình sẽ giải thích để hắn khỏi hiểu lầm. Tốt chứ.

Oa Tử bứt cỏ:

- Chẳng biết hắn có hiểu không ? Mẹ con bà Hồ Điểu nhiều thành kiến và bướng lắm, không như mọi người đâu.

- Oa Tử ! Có chắc nàng không đổi ý không ?

Oa Tử ngạc nhiên, hỏi lại:- Đổi ý về việc gì ?

- Về lòng mình. Ta muốn nói nàng có hối hận đã từ hôn Mãn Hà Chí chăng ?

Oa Tử cau mày như vừa nghe một điều trái ý.

- Không ! Thiếp không bao giờ hối hận !

Thiếu nữ mặt ửng đỏ, gục đầu, lấy tay bưng mặt. Cử chỉ ấy cùng những rung động nhẹ của đôi vai nàng, tất cả đều như gào lên một sự thật:

“Lòng thiếp thuộc về chàng, chàng không biết ư ? Thiếp là của chàng chứ chẳng phải của ai hết”.

Tiếc đã lỡ lời, Thạch Đạt Lang quàng vai Oa Tử tha thiết. Mấy ngày nay, nhìn ánh sáng đùa giỡn trên thân hình người thiếu nữ, ban đêm dưới ngọn đèn mờ lay động, ban ngày dưới ánh dương quang lộng lẫy, nhìn làn lông tơ lấm tấm mồ hôi, hắn nghĩ đến một bông sen mới nở còn ướt sương mai.

Trong quán trà, chỉ nằm cách nhau một tấm bình phong mỏng, hắn đã ngửi mùi hương từ mái tóc người thiếu nữ bay ra phảng phất lẫn với mùi da thịt nồng ấm. Giờ đây, tiếng thác đổ ngoài kia khích động hắn vô cùng. Mạch máu hắn chảy mạnh. Thạch Đạt Lang cảm thấy nhộn nhạo khác thường, bèn bỏ ra xa, đến gần chỗ nước chảy, ngồi khuất trong đám cỏ cao.

Được một lúc, Oa Tử cũng tới bên, ôm gối hắn và ngước mắt nhìn bộ mặt đăm chiêu thoáng chút hốt hoảng của người yêu.

- Giận thiếp đấy ư ? Nếu có điều gì không phải, cho thiếp xin lỗi.

Thạch Đạt Lang không đáp. Mặt hắn đanh lại, cố làm ra vẻ nghiêm trang. Oa Tử bỗng ôm lấy cổ hắn ghì chặt. Mùi hương của thiếu nữ và cử chỉ nồng nàn ấy khiến Thạch Đạt Lang ngây ngất. Hắn không còn tự chủ nổi, ôm chặt lấy Oa Tử và đè nàng xuống cỏ.

- Oa Tử ! Oa Tử !

Nhưng Oa Tử vùng vẫy, cố thoát khỏi vòng tay lực lưỡng của hắn.

- Đừng ! Đừng ! Thạch Lang, chàng mà cũng thế ư ?

Lệ ứa ra hai bên khóe mắt, tiếng nức nở và nét mặt van lơn của người thiếu nữ làm Thạch Đạt Lang sửng sốt. Hắn bỏ Oa Tử ra. Nàng kinh hãi chạy về lều.

Một chiếc túi nhỏ đựng đồ trang sức từ tay áo Oa Tử rớt xuống đất nằm trên cỏ, bên một cánh hoa nhàu nát. Thạch Đạt Lang đăm đăm nhìn cái túi, thảng thốt:

- Ta đã làm gì ? Ta đã làm gì Oa Tử ?

Xấu hổ và hối hận tràn ngập lòng người trẻ tuổi. Hắn bị lạc hướng và có cảm tưởng như vừa bị xúc phạm. Oa Tử lừa dối hắn sao ? Nhưng lời nói của nàng, mắt nàng, môi nàng, tóc nàng, cả thân thể và dáng điệu của nàng nữa, đều mời mọc hắn, thổi bùng ngọn lửa đam mê trong lòng hắn, rồi khi ngọn lửa ấy đã phừng cháy, cũng lại chính nàng dập cho nó tắt.

Sao vậy ? Thạch Đạt Lang không ý thức được trinh tiết đối với Oa Tử quý trọng đến mức nào và sự cố gắng của nàng để người yêu không bị ràng buộc bởi những trách nhiệm khác ngoài kiếm đạo. Hắn chỉ nhìn thấy sự thất bại chua cay của mình trong sự không kềm chế nổi lòng ham muốn. Hình như bao nhiêu cố gắng để trở thành người phi thường của hắn đều hư ảo, hão huyền cả.

Thạch Đạt Lang phục xuống cỏ. Hắn tự nhủ chưa làm điều gì xâm phạm nhưng sao lương tâm hắn vẫn không an ổn. Mùi đất ẩm xông lên, Thạch Đạt Lang dần dần lấy lại được bình tĩnh. Khi đứng dậy, mắt hắn không còn ngọn lửa đam mê nữa mà nguội lạnh như tiền. Dường như hắn vừa nghe tiếng gọi, tiếng gọi của sông rộng núi cao, của lý tưởng hắn đã nguyện phục vụ. Lông mày hắn cau lại như trước kia hắn đã cau lại lúc phải đơn phương lâm trận với hàng trăm đệ tử Hoa Sơn dưới gốc cổ tùng. Một đám mây che khuất vầng thái dương. Con chim rừng bay qua, buông tiếng kêu lanh lảnh. Cơn gió đổi chiều làm tiếng thác nghe khác lạ. Thạch Đạt Lang phanh ngực áo, thong thả đến gần chân thác nước.

Như con chim sẻ nhỏ sợ hãi, Oa Tử đứng sau gốc sồi lớn chứng kiến tất cả những băn khoăn lo lắng của người tình. Nàng không biết Thạch Đạt Lang có hiểu cho nàng không. Thấy Thạch Đạt Lang đau đớn, đã mấy lần Oa Tử muốn chạy ra giải thích cho chàng rõ, nhưng hình như có cái gì cầm chân nàng lại. Lần đầu tiên, nàng thấy thần tượng của nàng, người mà nàng đã dâng hiến cả linh hồn, không phải là hiện thân của đạo đức như nàng tưởng. Sự phát hiện ra trong con người Thạch Đạt Lang một con thú trần trụi với dục tính mãnh liệt khiến mắt Oa Tử mờ đi vì buồn rầu và kinh hãi.Oa Tử muốn chạy, tìm một chỗ nào thật vắng vẻ ẩn tránh. Nàng muốn bình tĩnh hơn để suy nghĩ, nhưng đi một quãng lại lo sợ và bất định.

“Có lẽ Thạch Đạt Lang khác mọi người. Lòng ham muốn và sự tỏ tình của chàng cũng khác. Ta đã làm khổ chàng”.

Bèn quay trở lại chỗ Thạch Đạt Lang đứng, nhưng chẳng thấy ai, chỉ thấy hơn nước như sương bao phủ và tiếng thác đổ ầm ầm rung chuyển cả căn lều gỗ.

- Cô Oa Tử ! Cô Oa Tử đâu ?

Tiếng Giang gọi thất thanh.

- Cô đây.

- Sư phụ ngã xuống thác rồi ! Cô đứng đây, em xuống xem sao.

Giang nắm dây leo, chuyền xuống giữa những phiến đá trơn trượt. Nhưng Oa Tử làm sao mà có thể cứ đứng ở đây được. Nàng cũng tìm cách theo chân thằng bé.

Đến lưng chừng ghềnh, Oa Tử thấy một vật gì như phiến đá trắng ở giữa thác.

Chính là Thạch Đạt Lang, tựa một sinh vật tí hon giữa cảnh hùng vĩ của thác nước cao hàng chục trượng trên đầu !

Hai tay chắp trước ngực, trần truồng, hắn cầu nguyện.

- Sư phụ !

- Thạch Đạt Lang !

Nhưng những tiếng hét ấy chẳng bao giờ hắn nghe được. Như nghìn nghìn vạn vạn con rồng bạc điên cuồng gầm thét xung quanh, đưa móng vuốt ra quấn lấy vai lấy tay hắn, sẵn sàng lôi hắn đi, những dòng nước nghìn cân nặng của thác Phu Phụ có thể đưa hắn tới cái chết tăm tối. Một chút sơ hở, mất thăng bằng, một hơi thở sai lại khiến công lực suy giảm, Thạch Đạt Lang sẽ bị cuốn vào vực sâu, không cách gì trở lại.

Hắn có cảm tưởng như tim phổi và cơ thể hắn bị sức nặng của cả dãy Mã Yên Sơn đè lên. Hắn không thể khinh xuất.

Ngọn lửa dục vọng trong lòng hắn lụi dần ...lụi dần ...Ngọn lửa ấy giống như lòng tham vọng trước đây đã đẩy hắn ra trận Sekigahara, đã là động lực thôi thúc hắn thực hiện những võ công phi thường. Nhưng nếu hắn không hướng dẫn, chế ngự được tham vọng, nó sẽ biến hắn thành giống thú hung bạo. Mà với một kẻ thù vô hình, nguy hiểm như thể ẩn tàng trong xương thịt, đau đớn thay cho Thạch Đạt Lang, lưỡi gươm của hắn lại vô dụng !

Ý thức sự thất bại hiển nhiên của mình, Thạch Đạt Lang hoang mang bối rối.

Đứng dưới thác nước điên cuồng, hắn cầu nguyện, mong tìm sự quân bình của thể xác và tâm hồn trong khi tranh thắng với cơn thịnh nộ của trời đất, cũng như trước kia hắn đã tranh thắng ngọn Đại Bàng Sơn.

- Sư phụ ! Sư phụ đừng bỏ con !

Tiếng thét của Giang giờ đây là một lời van xin nức nở. Nó cũng chắp tay trước ngực, mặt nhăn lại, cùng chia xẻ với thầy sức nặng ghê gớm của khối nước, niềm đau và sự buốt lạnh thầy nó đang gánh chịu.

Giang không hiểu sao sư phụ mình lại làm thế. Đứng dưới thác nước cho đến chết chăng ?

Bỗng nó giật mình:

cô Oa Tử cũng không còn trên bờ bên kia nữa. Hay lại ngã xuống suối rồi ?

Đột nhiên, giữa những tiếng gió hú và thác đổ ầm ầm, Giang nghe tiếng thầy.

Tiếng được, tiếng mất, không rõ ràng, chẳng biết là lời niệm kinh hay là những lời tự trách, nhưng tiếng thầy nó mạnh lắm, đôi lúc át cả tiếng gió gào và tiếng thác đổ.

Rồi thầy nó thận trọng bước ra khỏi thác. Vẻ trẻ trung và mãnh liệt giờ đây lồ lộ trên tấm thân cùng tráng của Thạch Đạt Lang. Tâm, thân hắn đã được thanh lọc để sẵn sàng bắt đầu một đời sống mới.

Hiểm họa đã qua. Giang thở phào. Nếu cô Oa Tử không còn ở trên bờ nữa thì chắc cô cũng đã về lều, vì cô tin rằng sư phụ nó không sao cả.

- Cô Oa Tử chắc hiểu thầy mình hơn mình.

Nó nghĩ thế rồi nhảy từng bước nhẹ nhàng trên những hòn đá, tìm quãng suối hẹp lội sang bờ bên kia.

Khi đến gần lều, Giang rón rén nhìn vào trong thấy Oa Tử ôm áo và kiếm của sư phụ, mặt đầm đìa nước mắt, nhưng môi lại như mỉm cười.

Oa Tử không giấu mình khóc. Giang thấy lần này những giọt nước mắt của cô Oa Tử khác những giọt nước mắt những lần trước. Nó không hiểu tại sao, chỉ linh cảm một chuyện gì quan trọng lắm đã xảy ra giữa hai người.

Giang bỏ đi, ra chỗ gốc hòe, nằm xuống thảm cỏ cạnh con bò và nói:

- Cứ thế này thì bao giờ mới đến Edo ?

Chương 52: 1 vụ cưỡng bức

Trên đỉnh núi bên kia đèo, tuyết chưa tan, trắng lóa mắt nhưng ở chân đồi, hai bên bờ sơn đạo, nơi Oa Tử và Giang thong dong bước, cây cỏ xanh mát.

Gió thổi nhẹ hiu hiu, đồng cỏ lau gợn sóng.

Giang dong bò cho Oa Tử cưỡi. Nó đang tuổi lớn, tuy dáng người mảnh khảnh nhưng màu da bánh mật và ánh mắt tinh anh tiềm ẩn một sức sống dồi dào. Nhìn Giang, Oa Tử đã thấy trước một thanh niên dũng cảm và quả quyết, nhưng lằn ranh giữa lòng quả cảm và bướng bỉnh mảnh như tơ, khó mà phân định.

Càng lớn, Giang càng bướng bỉnh và đòi hỏi, nhất là nó lại quen sống nếp sống phóng túng không gì câu thúc.

Tính bướng bỉnh ấy khiến Oa Tử nhiều khi bực mình, nhất là sự háu ăn của nó, thật không giới hạn. Khi đi ngang qua một quán ăn hay một cửa hàng thực phẩm, thế nào Giang cũng đòi mua một thứ gì. Nếu không thì ì ra, không chịu dẫn bò đi nữa.

Qua xóm Suhara, đã ăn bánh bỏng ở một quán ven đường rồi, mới được vài dặm, Giang đã kêu đói. Cả hai phải tạt vào dùng bữa sáng tại một hàng cơm cuối xóm. Ăn xong, Giang lại nói với Oa Tử:

- Vùng này hồng khô ngon có tiếng. Cô mua một ít mang theo để ăn đường chứ !

Nhưng Oa Tử lờ đi như không nghe thấy.

Đến Fukushima, một thị trấn khá quen thuộc có nhiều món ăn đặc biệt, ngửi mùi thơm từ trong bếp bay ra, Giang không nhịn được, nài nỉ:

- Cô Oa Tử, hay ta nghỉ chân ở đấy một lát.

Oa Tử lặng thinh. Thằng bé hểnh mũi hít hà:

- Thơm quá ! Cô không ngửi thấy gì à ?

- Mình mới ăn xong mà, cứ dừng lại luôn như thế, bao giờ mới đến nơi !

- Nhưng em đói ...

Vừa nói, Giang vừa giữ chặt dây thừng. Con bò, dường như đồng tình với nó, cũng dừng lại gặm cỏ.

- Giang hư lắm. Nếu em cứ thế, cô sẽ xuống đi bộ và mách thầy em ...

Giang phụng phịu. Nó không sợ vì dư biết Oa Tử chỉ dọa chứ không dám làm.

Trong thâm tâm, Oa Tử rất chiều nó.

Quả nhiên, thấy nét mặt Giang không vui, nàng trên lưng bò tuột xuống rồi cùng vào quán. Thằng bé ngồi ngay vào bàn, gọi luôn hai đĩa bánh dày đậu.

- Hành phi trộn với đậu ngọt rắc lên bánh dầy. Ngon tuyệt ! Em thèm rỏ dãi ra đây này.

- Giang ! Em phải giữ ý tứ ! Gọi cho cô ấm trà.

- Cô không ăn bánh ư ?

- Không, cô không đói. Ăn nhiều thành con lợn, xấu lắm.

Giang không để ý đến lời nhắc khéo. Nó vơ vào:

- Nhưng em đã gọi hai đĩa. Vậy để em ăn luôn phần của cô vậy.

Nói đoạn nó gọi thêm trà, buộc lại cây kiếm gỗ ra phía sau lưng cho khỏi vướng, rồi ngồi ngay ngắn chờ bánh mang ra.

Nhìn dáng điệu trịnh trọng của Giang, Oa Tử không khỏi mỉm cười.

Ăn một loáng hết hai đĩa bánh, Giang mới quay nhìn xung quanh. Bỗng nó há hốc mồm, chạy bổ ra cửa.

Tuy ngạc nhiên nhưng Oa Tử cũng uống hết chén trà. Tra tiền chủ quán xong và sắp sửa đứng dậy thì Giang trở về. Thằng bé thở hổn hển, đến bên thiếu nữ, ghé tai thì thầm:

- Mãn Hà Chí ! Em vừa thấy Mãn Hà Chí !

Oa Tử tái mặt:

- Hắn đến đây làm gì ?

- Không biết. Nhưng ông ấy nhìn vào quán. Thấy em, ông ấy bỏ đi, em đuổi theo để coi cho chắc. Đúng là Mãn Hà Chí !

Nhìn vẻ mặt nghi ngờ của Oa Tử, Giang nói:

- Cô không tin à ? Hay để em gọi ông ấy lại.

- Đừng ! Đừng làm thế !

Đoạn, ghé tai Giang, Oa Tử hỏi khẽ:

- Thầy em có cách xa đây không ?

Giang lắc đầu:

- Em không biết. Chắc xa. Tại con bò này đi chậm quá !
Oa Tử hồi hộp. Tim nàng đập dồn dập. Sợ càng chùng chình, Thạch Đạt Lang đi càng xa, nàng vịn vai Giang trèo lên lưng bò, bảo nó dẫn lên đường ngay tức khắc.

Trên lộ, Oa Tử và Giang không nói lời nào, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng.

Oa Tử thì lo lắng, nàng không biết xử trí ra sao nếu gặp lại Mãn Hà Chí. Còn Giang thì lấy làm lạ không hiểu tại sao thầy nó lại bỏ đi trước, chỉ dặn nó ở lại cùng đi với Oa Tử và giúp đỡ nàng.

Tuổi trẻ tò mò, không nhịn được, Giang bèn hỏi:

- Cô và sư phụ giận nhau đấy à ?

Thấy Oa Tử không đáp, nó hỏi lại:

- Sao từ khi ở thác, sư phụ không nói gì với cô nữa, lại bỏ đi trước, bảo đợi cô ở Edo là sao ?

Oa Tử quay đi, kín đáo chùi giọt lệ trên khóe mắt. Nàng chẳng biết trả lời thế nào cho phải vì chính nàng cũng chưa tìm được lời giải đáp thích đáng về hành động của Thạch Đạt Lang.

Hồi tưởng lại sáu bảy năm trước khi còn ở chùa Tiểu Sơn, Oa Tử cũng đã bị một viên đội trưởng làm hỗn. Bây giờ thấy hành động ấy ở Thạch Đạt Lang, nàng bối rối.

Mặc dầu hai trường hợp hoàn toàn khác nhau, nàng vẫn không hiểu rõ thái độ dùng sức mạnh để chiếm đoạt như vậy có phải là thường tình của đàn ông hay không và thái độ cự tuyệt của nàng có hợp với hoàn cảnh ấy không ? Mớ ý tưởng hỗn độn và nỗi băn khoăn khiến Oa Tử phiền muộn. Mối u tình nàng mang trong lòng bấy lâu nay như dòng suối êm đềm, bỗng trở thành thác lũ.

Oa Tử liên tưởng đến tiếng thác đổ ầm ầm, tiếng kêu thét ngỡ ngàng của lòng nàng trước hành động của người yêu và vẻ ngạc nhiên trên nét mặt Thạch Đạt Lang. Nàng lại càng hoang mang hơn nữa vì nếu cứ như thế này mãi, cả hai không hiểu nhau thì sự theo chàng như một cái bóng thật là phi lý.

Thấy Oa Tử mắt đỏ hoe, sự bối rối hiện rõ trên gương mặt, Giang thôi không hỏi nữa. Và nó cũng quên ngay những điều vừa hỏi.

Đến Kozengi, Giang dẫn bò, rẽ sang một đường lớn nhiều người qua lại hơn. Ngay chỗ rẽ là một căn lều gỗ dùng làm trụ sở cho lính tuần tra xét những khách bộ hành để tìm bắt kẻ gian phi và đôi khi cả những kiếm sĩ đối nghịch với chính quyền.

Oa Tử và Giang cũng bị lính tuần chặn giữ, nhưng nhờ có chứng thư của Lưu Cát tướng công nên không bị làm khó dễ gì. Tiếp tục cuộc hành trình, qua nhiều quán xá ven đường, lần này Giang ngoan ngoãn dắt bò đi, không đòi ăn như những lần trước.

Hết quãng đường phố tương đối đông dân cư, lại đến quãng đường vắng vẻ, cây cao và bụi gai mọc chi chít. Giang bỗng hỏi Oa Tử:

- Cô Oa Tử ! Huyền Trang là ai ?

- Huyền Trang ?

- Vâng. Khi qua quán đằng kia, có người chỉ cô và nói “Huyền Trang cưỡi bò” !

Vậy Huyền Trang là ai vậy ?

Oa Tử cười:

- Không rõ có đúng không, cô chỉ biết Huyền Trang là một vị sư nhà Đường bên Tàu, sang nước Thiên Trúc thỉnh kinh và mang về Trung Hoa nhiều bộ kinh quý giá lắm.

- À, cháu biết rồi ! Đấy là ông sư Tam Tạng. Vậy nếu cô là Huyền Trang thì cháu là Tôn Ngộ Không rồi !

Oa Tử cười như nắc nẻ. Nhìn thằng bé đen đủi, chân tay dài múa may như con vượn, nàng trêu nó:

- Ừ, vừa là Tôn Ngộ Không lại vừa là Trư Bát Giới nữa. Vì em háu ăn lắm.Không vừa, Giang đáp lại:

- Như vậy mới xứng với sư Tam Tạng hay khóc !

Cả hai cùng cười vang, không nhớ gì đến những chuyện buồn phiền trước đấy nữa.

- Tại sao Huyền Trang lại cùng đi với Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới hả cô ?

Oa Tử biết chuyện Tam Tạng thỉnh kinh từ khi còn ở chùa Tiểu Sơn, nhưng nghe thằng bé hỏi thì hơi lúng túng. Nàng chỉ đáp đại khái:

- Ngộ Không tượng trưng cho sự khôn ngoan tháo vát, Bát Giới là lòng dục của con người, còn Huyền Trang, lòng sùng đạo.

Sự giải thích ấy chẳng biết có thỏa mãn được tính tò mò của Giang không, nhưng không thấy nó hỏi thêm gì nữa.

oo - Đứng lại !

Tiếng quát kèm theo bóng người trong bụi nhảy xổ ra chặn đường khiến Oa Tử và Giang giật mình thất sắc. Định thần nhìn kỹ, thì ra là Mãn Hà Chí; một Mãn Hà Chí gầy đen, quần áo xốc xếch. Gã trợn mắt, chỉ tay vào mặt Oa Tử, giọng hằn học:

- Con tiện tỳ kia ! Xuống ngay !

Cơn ghen tức lộ trên nét mặt, gã hùng hổ sấn đến đầu con bò Oa Tử đang cưỡi.

Từ khi giã biệt Thạch Đạt Lang trên sơn đạo ở sườn đồi Sinh Minh, Mãn Hà Chí nghe theo lời khuyên của bạn, đến Edo lập nghiệp. Gã có ý đợi Thạch Đạt Lang tại Liễu kiều để cùng đi. Nhưng số phận run rủi, gã vừa tới Liễu kiều đúng lúc thấy Thạch Đạt Lang sánh vai Oa Tử vào quán trọ. Sự hân hoan trên nét mặt hai người khi tương hội khiến Mãn Hà Chí nổi cơn ghen, quên luôn những lời khuyên chí tình của bạn, cho đó chỉ là những lời dối trá. Gã theo dõi Thạch Đạt Lang và Oa Tử suốt dọc hành trình, đôi lúc lạc dấu vết, mãi đến bây giờ mới được dịp ra tay.

Ngạc nhiên cực độ, Oa Tử không thốt nên lời, trừng trừng nhìn gã.

- Xuống ngay ! Mày theo thằng Thạch Kinh Tử, thất thân với nó rồi phải không ?

Phẫn nộ và khinh bỉ thay cho ngạc nhiên, Oa Tử xám mặt.

- Ta không xuống ! Ta không liên quan gì đến ngươi cả !

- A ! Mãn Hà Chí giận dữ thét. Nhưng ta có liên quan ! Ngươi xuống không ?

Thét đoạn, hắn sấn đến nắm áo Oa Tử. Giang gạt gã ra:

- Ông làm gì thế ? Cô ấy không muốn xuống thì không xuống. Ông có quyền gì ...

Mãn Hà Chí nhảy lui:

- Thằng oắt này là ai ?

- Là ai không cần biết, nhưng ông không được động đến cô Oa Tử.

- A ! Láo ! Ta nhớ ra rồi ! Mày là thằng oắt con bưng rượu ở quán Kitano !

- Mà ông là gã say rượu ở quán ấy ! Phải rồi, ông sống bám vào mụ điếm già, bây giờ bị mụ bỏ chứ gì !

Câu nói của thằng bé khiến Mãn Hà Chí nhảy lên như có ai cầm nắm muối xát vào vết thương đang rướm máu của gã.

- Đúng không ?

Mắt Mãn Hà Chí trợn ngược:

- Nhãi con khốn nạn ! Ai dạy mày thế ?

Gã nhoài tay ra định túm cổ Giang. Nhưng nhanh như cắt, Giang đã luồn qua bụng bò, chuồn sang bên kia, ngoái cổ lại hét:

- Đồ tồi ! Hèn nhát ! Bắt nạt trẻ con !

Con bò vùng lên chạy, mang theo Oa Tử trên lưng. Nàng kinh hãi kêu cứu. Giang chạy theo, định đỡ Oa Tử xuống thì bị Mãn Hà Chí túm được.

- Oắt con ! Tao bắt được mày rồi ! Nói lại những điều vừa rồi tao nghe thử !

Giang vung tay đấm vào mặt gã:

- Đồ tồi ! Đồ hèn nhát ! Ăn bám vào gái điếm !

Mãn Hà Chí túm ngực áo nó nhấc bổng lên. Thằng bé vừa định rút kiếm gỗ ra liền bị Mãn Hà Chí tức giận ném ngay vào bụi rậm. Đầu va vào gốc cây, Giang nằm sóng soài bất tỉnh.

Mở mắt ra, con đường mòn vắng hoe, Giang không nhớ chuyện gì đã xảy ra. Một tiếng chim lảnh lót từ trên ngọn cây cao vọng xuống, nó nghe như tiếng sáo ai thổi đột nhiên bị cắt đứt.

Chương 53: Hiệp sĩ đất Kiso

Thạch Đạt Lang ngồi nghỉ chân trên lưng chừng đồi chờ Oa Tử và Giang đi tới. Đợi lâu không thấy bóng hai người, hắn có vẻ đã hơi sốt ruột. Nhìn những đám mây trắng trên nền trời xanh, Thạch Đạt Lang vẩn vơ dõi xem những đám mây ấy bay về hướng nào hay cứ nằm yên như thế mãi, lơ lửng treo trên ngọn đồi giữa hắn và khu rừng thưa dưới chân núi.

Bỗng mí mắt hắn giật lia lịa. Linh cảm một chuyện gì không hay xảy ra cho Oa Tử, Thạch Đạt Lang đứng dậy, đi đi lại lại.

Thạch Đạt Lang vẫn thường nghĩ đến Oa Tử và càng nghĩ đến nàng bao nhiêu, hắn càng tự giận mình. Tiếng kêu lo sợ, trách móc của Oa Tử còn như đồng vọng bên tai cùng với tiếng thác đổ. “Thạch Đạt Lang ! Chàng mà cũng thế ư ?”. Hắn đã biểu lộ hành động xấu xa gì để Oa Tử phải trách móc như thế ? Oa Tử yêu hắn hay không ? Yêu hắn vì hắn là Thạch Đạt Lang hay chỉ yêu cái phần phi thường của một kiếm sĩ trong hắn ?

Thạch Đạt Lang định gạt đi, không muốn bận tâm đến nữa. Đã hứa đi cùng Oa Tử đến Edo, để nàng ở đó theo học môn gì nàng thích, bề nào hắn cũng có trách nhiệm.

Nhưng còn thanh kiếm đeo bên sườn đây mà hắn coi như người tình không rời nửa bước, hắn phải đối xử ra sao ? Đã nhiều ngày nay, thì giờ tập luyện và tu dưỡng của Thạch Đạt Lang không được điều hòa. Nhìn dãy núi xanh biếc phía xa cùng cảnh trí bao la trước mặt. Thạch Đạt Lang tự thẹn thấy mình nhỏ mọn.

Trời đã ngả bóng. Mãi không thấy Oa Tử và Giang đến, Thạch Đạt Lang bồn chồn tự hỏi:

“Hay là họ bị giữ lại ở ngã ba Kozengi rồi !”. Linh tính báo cho hắn biết thực sự đã có chuyện chẳng lành. Quàng túi hành trang lên vai, sửa lại quai nón và bao kiếm, hắn vội vàng đổ dốc.

Đi chừng một quãng, bỗng gặp một khách bộ hành nhìn hắn hỏi:

- Phải chăng đại hán là người vừa ở ranh tỉnh tới, cùng đi với một thiếu nữ và một tiểu đồng ?

Lo lắng, Thạch Đạt Lang đáp:

- Phải ! Có chuyện gì thế ?

- Thiếu nữ bị bắt cóc rồi. Người ta thấy nàng bị dẫn vào rừng.

- Mô Phật ! Thế còn thằng bé ?

- Không biết. Chẳng ai rõ nó đi đâu !

Lòng nóng như lửa đốt, Thạch Đạt Lang không kịp cảm ơn người cho tin, hớt hải chạy xuống đồi trở lại phía ngã ba ranh tỉnh chỗ có đồn canh. Đến nơi, trời vừa chạng vạng. Cửa đồn đóng và hàng rào cản tre cũng đã được buông xuống. Trong các quán xá, người ta đang lục đục dọn đồ.

Thạch Đạt Lang tiến đến gần một ông già hỏi tin tức. Ông già nghễnh ngãng, hắn phải hỏi đi hỏi lại hai ba lần, ông lão mới nghe ra:

- À, tráng sĩ muốn hỏi thăm nữ lang ngồi trên lưng bò trông như nhà sư Tam Tạng ấy chăng ?

- Phải, cùng với một tiểu đồng đeo kiếm gỗ dài trên lưng. Lão trượng biết họ đâu không ?

- Ờ ờ, có thấy cả hai qua đây.

- Bây giờ họ đâu ?

- Lão không rõ.

Nghe trả lời, Thạch Đạt Lang toan bỏ đi nhưng cũng thêm:

- Có người nói họ bị bắt dẫn đi về phía này.

Ông lão gật gù:

- Có thể lắm. Vùng ranh tỉnh này nhiều dư đảng vô lại. Nếu quả họ bị bắt cóc thì không bị dẫn trở lại ngã ba này đâu. Chúng theo đường lên mả ngụy rồi ra hồ Nobu rồi.

Cảm ơn ông lão, Thạch Đạt Lang vội vàng quay gót, dạ bồi hồi lo sợ. Oa Tử yếu đuối, vạn sự trông vào hắn lúc đi đường, nếu xẩy chuyện gì e rằng ...e rằng ...nàng khó sống.

Đêm xuống dần, tuy chưa tối hẳn nhưng trên trời đã lốm đốm sao thưa. Thạch Đạt Lang cắm cúi đi, không một ý niệm gì về kẻ đã bắt cóc Oa Tử là Mãn Hà Chí. Hắn đồng ý với ông già, đồ chừng kẻ đó là một trong những tên vô lại hay thảo khấu thường ẩn nấp ở nơi hoang dã vùng biên giới để dụ dỗ và bắt cóc những thiếu nữ khờ dại đem bán.

Càng đi, trời càng tối. Dưới tàng cây rừng, Thạch Đạt Lang nhìn phía trước không xa được quá vài thước. Hắn có cảm tưởng dường như đang lên dốc chứ không có dấu hiệu gì thoai thoải xuống bờ hồ. Nghi đi lạc, hắn trèo lên ngọn cây khoáng đãng nhìn sao và quan sát tứ phía để định hướng.

Trong bóng đêm, lờ mờ ẩn hiện một mái nhà với rặng cây. Ánh đèn đỏ quạch hắt ra như một đốm nhang ai thắp trên mộ.

Không còn cách nào khác, Thạch Đạt Lang quyết định tiến tới, hy vọng gặp người để hỏi thăm đường và nếu biết được tin tức gì thêm thì càng tốt. Đi mãi, đi mãi. Ánh đèn lúc ẩn lúc hiện. Thạch Đạt Lang lấy làm kỳ, đôi lúc nghĩ đó là ma trơi, nhân trời lặng gió hiện lên lơ lửng như thế, đến gần gặp hơi người thì tắt chứ chẳng phải đèn đóm gì hết.

Đột nhiên vừa từ trong rừng ra, rẽ khỏi một lùm cây lớn, hắn trông ngay thấy đốm lửa đó. Và một căn trại.

Căn trại không to nhưng vững chắc, mặc dầu mái ra. dày đã lõm nhiều chỗ. Ánh đèn thực ra là lửa đốt trong lò. Và bên cạnh lò, một bóng người đang hoạt động.

Thạch Đạt Lang cúi mình, nhẹ nhàng men đến bên vách. Phía tay mặt có một gian bếp. Bên bếp buộc một con bò lang. Thạch Đạt Lang tin chắc đấy là con bò mà hắn đã thuê cho Oa Tử cưỡi.

Nấp trong bóng tối bên vách, nín thở, hắn nghe có tiếng lọc cọc đều đều như tiếng guồng tơ quay.

Bỗng giọng đàn ông từ sau bếp vọng ra, mạnh và hơi khàn:

- Khuya rồi, mẹ đi nghỉ thôi. Mẹ cứ than mỏi mắt mà vẫn làm trong tối, rồi thành lòa đấy.

Bóng đen đáp gì hắn không nghe rõ, nhưng lát sau không thấy tiếng guồng tơ quay nữa. Có bóng đàn bà đi đi lại lại trước ánh lửa, cúi xuống đứng lên như đang mải dọn dẹp.

Giọng đàn ông lại tiếp:

- Con rửa tay chân xong là vào ngay đấy ! Mẹ hâm canh lên là vừa.

Một lúc, nghe tiếng người đến bên con bò vỗ đầu nó mà nói lớn:

- Mẹ đã coi con bò con mang về chưa ? Bò cái, dáng nhiều sữa, tốt lắm.

Con vật rùng mình, dậm chân. Người kia vỗ nhè nhẹ lên vai nó. Tiếng bà mẹ trong nhà vọng ra:

- Để đấy mai hãy hay, trời tối thế này coi gì được.

Lợi dụng cơ hội tốt, Thạch Đạt Lang đổi chỗ nấp. Hắn lẳng lặng trườn đến dưới cửa sổ, nép mình bên tảng đá, hé mắt nhìn vào gian phòng chính trong nhà. Ngoài ánh sáng từ lò lửa phát ra còn ánh sáng một cây đèn nhỏ để ở góc phòng, nên tương đối trông khá rõ mọi thứ. Vật đầu tiên khiến hắn chú ý là một cây thương dài treo trên vách, gác vào một cái giá mồ hóng đã đóng đen. Mũi thương bóng loáng. Những vòng vàng hoặc đồng cẩn trên cán thương đỏ rực, chứng tỏ vũ khí ấy đã được sử dụng thường xuyên và vẫn được lau chùi một cách trìu mến.

Thạch Đạt Lang lấy làm lạ. Theo luật hiện hành, nhà nông không được dùng vũ khí dù họ có đủ tiền mua. Đó là những vật dụng không được tàng trữ trong nông trại, đừng nói gì đến dùng nó.

Gã đàn ông bước vào phòng. Gã còn trẻ, trạc ngoài hai mươi nhưng thoạt trông đã biết không phải là một nông dân thường.

Mắt gã tinh nhanh và sắc sảo. Gã mặc áo màu chàm theo kiểu nông dân, ngắn tới gối nhưng chân quấn xà cạp và đi dép cỏ. Mặt tròn, tóc rậm buộc túm về phía sau bằng sợi dây thừng ngắn. Trông gã nặng nề, bước đi chậm chạp nhưng vững vàng như bước đi của một con gấu. Từ trong bếp mùi khói tỏa ra, cay và khét. Khói sộc vào mũi khiến Thạch Đạt Lang khó chịu, muốn hắt hơi. Hắn cố giữ, đưa tay che mũi song quá trễ.

Tiếng hắt hơi bị ngắt quãng làm bà mẹ từ trong bếp nói vọng ra:

- Ai đó ?

Không nghe đáp, bà tiếp:

- Lâm Bằng ! Cổng ngoài đóng kỹ chưa ? Ta nghe tiếng ho, hình như có người lạ trong vườn !

Thạch Đạt Lang rón rén bước khỏi chỗ nấp dưới cửa sổ, đến ẩn sau một gốc cây.

- Phải tiếng ho không hay mẹ nghe lầm tiếng chuột rúc đấy ?

- Ta đâu điếc. Chắc khói bếp làm nó ho. Ngươi ra coi xem.

Im lặng một lúc, rồi tiếng chân bước. Những bước vững vàng, chắc chắn.

Người có tên Lâm Bằng nhẹ nhàng kéo cánh cửa chính. Thong thả, từ tốn, gã phóng tia mắt ngờ vực nhìn bốn phía, đầu hơi đưa về phía trước. Dáng điệu gã có một vẻ gì thận trọng khiến Thạch Đạt Lang phải e dè. Hắn không biết Lâm Bằng có mang võ khí gì không nhưng khi thấy gã bước ra hiên và ánh sáng trong nhà hắt lên lưng, Thạch Đạt Lang thấy rõ một cây gậy gã giấu đằng sau. Cây gậy khá dài, bằng tre lên nước bóng loáng. Nhìn cách cầm cây gậy sát vào người, Thạch Đạt Lang tin rằng gã đã sử dụng cây gậy này nhiều lần và thành thuộc lắm.
Từ chỗ nấp sau gốc cây, hắn nhảy ra:

- Yên tâm ! Ta không phải kẻ đạo chích. Ta đến tìm một người.

Lâm Bằng khựng lại, phóng tia mắt sắc như dao yên lặng nhìn Thạch Đạt Lang, đánh giá địch thủ.

- Ngươi hãy đem trả thiếu nữ và đứa nhỏ bị bắt lúc nãy. Nếu họ không sao thì ta bỏ qua, coi như không có chuyện gì. Nhưng nếu họ bị thương, ta sẽ không tha thứ ...

Yên lặng. Tuyết tan trên đỉnh núi khiến dòng suối sau trại dềnh lên, nước chảy róc rách càng làm tăng sự yên lặng nặng nề.

- Mang họ ra đây ! Lập tức !

Giọng Thạch Đạt Lang cất cao, quyền uy và cấp bách. Nhưng Lâm Bằng đâu phải là người dễ bị áp đảo. Tay phải giữ đầu gậy tre áp sát vào mình, gã sẵn sàng tung đòn chí tử.

- Đồ dòi bọ ! Ngươi là ai, tên gì ? Sao dám đến đây bảo ta bắt cóc con nít ?

- Ngươi thừa biết người thiếu nữ cưỡi con bò kia và đứa trẻ yếu đuối không thể tự vệ nên đã hèn hạ cưỡng bách bắt đi, còn chối nỗi gì !

Một tiếng rít. Cây gậy tung ra nhanh như chớp. Thạch Đạt Lang chưa kịp nhận ra đâu là đầu gậy, đâu là cánh tay người cầm thì gậy đã tới sát bên sườn. Hắn nhảy chéo, tránh miếng đòn sát thủ.

- Khoan ! Đừng manh động, ngươi sẽ hối không kịp !

Nhưng Lâm Bằng dường như không để lời cảnh cáo ấy vào tai. Thạch Đạt Lang lùi ba bước thì gã cũng tiến ba bước, liên tiếp phóng chiêu bổ trên, phát ngang và quạt là là mặt đất.

Thạch Đạt Lang tiếp tục tránh né. Hai lần, hắn định rút kiếm nhưng lần nào cũng không được. Vì đưa tay rút kiếm, khuỷu tay phải của hắn sẽ bị hở. Đòn gậy tre của địch thủ vù vù trước mặt, nhanh và mạnh như vũ bão, tất nhiên không để hắn làm việc ấy.

Thạch Đạt Lang thấy địch thủ không phải kẻ tầm thường. Chỉ một chút khinh xuất cũng có thể mất mạng. Hắn giữ thế thủ, chú tâm quan sát đối phương, thấy gã rất bình tĩnh, tấn vững vàng, thủ kín đáo mà công mau lẹ. Thạch Đạt Lang nghĩ thầm:

Gã nông dân này học lối đánh côn ở đâu thật xuất sắc. Gã đã làm chủ được cây gậy của mình, kỹ thuật còn cao hơn nhiều người sử dụng gươm bén. Nhưng Thạch Đạt Lang không có thì giờ lượng định lâu. Đòn này tiếp đòn khác, lúc tay trái, lúc tay phải, lúc cả hai tay, Lâm Bằng sử dụng cây gậy tre cực kỳ xảo diệu đôi lúc làm Thạch Đạt Lang tránh đòn xong mà kinh hãi toát mồ hôi. Gươm còn có cán, có mũi, nhưng cây gậy của gã nông dân này có hai đầu, đầu nào cũng chí tử. Gã tung lên, bổ xuống, phạt ngang, đâm trước, thúc sau, quay tít cây gậy như tay thợ rất mực lành nghề bắt bột làm kẹo:

lúc dài, lúc ngắn, lúc cao, lúc thấp, lúc kéo bột nhỏ như tơ, lúc cô đặc thành cục, chỗ nào cũng thấy đầu gậy, lúc nào cũng thấy đầu gậy cả.

Tiếng bà mẹ từ trong nhà vọng ra:

- Lâm Bằng ! Thằng này chẳng phải đồ thảo khấu tầm thường.

Thanh âm bà có vẻ quan ngại như chính bà đang giao đấu.

- Không hề gì.

Giọng Lâm Bằng bình tĩnh. Những chiêu thức kỳ quái lại tiếp tục được phóng ra, mạnh và nhanh hơn trước. Dường như thấy có mẹ đứng quan sát, gã lên tinh thần và càng thêm phấn khởi.

Mẹ Lâm Bằng hô lớn:

- Cẩn thận ! Nó ở bên trái. Sử đòn Liên Hoa Lạc.

Nhưng bộ vị của Thạch Đạt Lang chỉ là hư bộ. Lợi dụng lúc Lâm Bằng bị phân tâm, Thạch Đạt Lang tiến sát đến bên gã, chộp cổ tay Lâm Bằng nắm cứng rồi dùng một thế nhu quyền vật ngã quay lơ ra đất. Cây gậy văng ra xa. Mặt Lâm Bằng nhăn lại vì đau đớn. Bà mẹ kêu thét nhảy vào nhà trong rồi tung cửa ra ngoài.

Trên mặt cỏ, Lâm Bằng nằm ngửa. Gã nghiến răng, cong người, hai chân đạp xuống đất bành bạch, cố hết sức hất Thạch Đạt Lang đang quỳ đầu gối trên ngực. Hai địch thủ công lực có phần tương đương nhưng Thạch Đạt Lang nhờ nhanh nhẹn đã chiếm được thượng phong. Những ngón tay cứng như sắt của hắn đã ghì Lâm Bằng xuống mạnh và chắc như những sợi dây lòi tói. Thế mà hắn cũng phải vất vả lắm mới giữ được địch thủ khỏi vùng dậy. Cả hai không nói một lời, không phát ra một tiếng kêu.

Chỉ nghe phì phì như hơi thở của loài mãng xà trong bóng tối.

- Lâm Bằng ! Đừng sợ !

Nghe tiếng mẹ Lâm Bằng, Thạch Đạt Lang tưởng trong tình thế này, thế nào bà cũng xin tha cho con trai. Và hắn cũng chẳng hẹp hòi gì mà không thuận.

Nhưng hắn lầm. Bà mẹ Lâm Bằng chạy ra, trong tay đã lăm lăm cây thương từ bao giờ. Dưới ánh đèn hắt qua khung cửa vừa mở, mũi thương và những vòng đồng trên cán thương lóe sáng. Và lưng hắn sẽ là cái đích dễ dàng cho mũi thương ấy.

Thạch Đạt Lang cảm thấy nhột nhạt, dường như tia mắt của bà cũ đã xoáy vào gáy hắn trước khi ngọn thương đâm tới.

Hắn tiếc đã phản ứng chậm, không giải quyết cuộc đấu sớm hơn để bây giờ đứng trước một tình thế khó xử. Lối thoát độc nhất của Thạch Đạt Lang là phải bỏ ngay gã nông phu. Như mũi tên bật khỏi dây cung, Thạch Đạt Lang tức khắc tung mình đánh vút, chớp mắt đã nhảy ra khỏi sân, xa hơn một trượng. Hắn lăn mình đến gần gốc cây, thanh mộc kiếm sẵn sàng cầm trong tay lăm lẳm.

Mũi thương cũng vừa phóng tới, cắm ngập xuống đất chỉ cách chỗ Lâm Bằng nằm chừng hơn gang, cán thương còn rung rung dưới sức ném của bà lão.

- Ái chà ! Thằng này giỏi ! Ngươi tưởng chúng ta là những nông dân quê mùa nên đến đây tác quái chăng ?Lâm Bằng vùng đứng dậy. Gã xốc lại áo và khoát tay:

- Khoan ! Con nghĩ đây là một chuyện hiểu lầm. Ta chẳng nên vì chuyện hiểu lầm mà giết hại nhau vô ích !

Đoạn quay sang phía Thạch Đạt Lang:

- Túc hạ là ai không rõ, nhưng bất luận là ai cũng xin thu kiếm về. Đây là một sự hiểu lầm đáng tiếc.

Thấy thái độ khoan hòa của địch thủ, Thạch Đạt Lang gật đầu tra kiếm vào vỏ:

- Tại hạ cũng có điều không phải, xin thứ lỗi.

Bèn tự xưng danh tính, rồi cả ba bước vào nhà.

Phân ngôi chủ khách xong, Thạch Đạt Lang trình bày lý do tại sao đến đây và hỏi về lai lịch con bò cái.

- À ra thế ! Lâm Bằng vỗ đùi đáp. Vì con bò mà ngờ vực. Cũng chẳng có gì đâu, do ngẫu nhiên thôi. Số là kẻ thô lậu này lúc chiều đi câu cá, thấy con bò vị sa lầy gần đầm cỏ lác. Nó không lên được, cứ đứng đấy mà kêu rống. Chỗ hoang dã chẳng có ai, nghĩ âu là của trời cho nên cố gắng buộc dây kéo lên. Ở chốn thôn ổ, có con bò như có thêm người giúp việc. Huống chi đây lại là con bò cái, sữa tốt lắm. Không ngờ lại là bò của tráng sĩ ...

Nghe những lời chất phác, Thạch Đạt Lang mỉm cười:

- Cũng chẳng phải của tại hạ. Đấy là bò thuê để người bạn đồng hành cưỡi. Thật đáng tiếc đã không trình bày rõ ràng để đến nỗi suýt nữa thì xẩy ra thù oán !

Mẹ Lâm Bằng xen vào:

- Tráng sĩ nói phải. Nhiều khi có những chuyện không đâu mà làm lụy đến nhiều người. Đây là bài học quý giá. Ta sống đã quá nửa đời rồi nhưng hành động quả còn hấp tấp. Lâm Bằng, ngươi dẫn tráng sĩ đi xét khắp các nơi đi, để tráng sĩ yên lòng chúng ta không giấu những người bạn của tráng sĩ ở trong nhà.

Đoạn quay sang Thạch Đạt Lang, bà nói:

- Xin tráng sĩ cứ tự tiện lục soát.

Lâm Bằng cũng phụ họa:

- Để các hạ nghi ngờ, tại hạ thật vẫn còn áy náy. Nào xin mời các hạ.

Nhưng Thạch Đạt Lang gạt đi:

- Thôi, bất tất ! Lời lão bá và Lâm bằng hữu cũng đủ cho tại hạ tin rồi. Tại hạ làm phiền lão bá và bằng hữu đã nhiều. Xin cho cáo biệt.

- Không được. Mẹ Lâm Bằng lại nói. Lâm Bằng, ngươi ăn cơm đi rồi dẫn tráng sĩ đến khu rừng ven hồ. Ta chắc nếu chúng bắt cóc cô nương thì cũng đem đến quanh đó thôi. Chỗ ấy là nơi tụ tập của nhiều du đãng bất lương lắm.

oo Lúc đầu gió còn thổi nhẹ, sau mạnh dần, ào ào qua những tàn cây lớn và kéo rạp đầu các bụi lau sậy. Bó đuốc trong tay Lâm Bằng đã phải mồi lại mấy lần mà xem chừng gió chưa đứng.

Số nông dân trong vùng này đếm được khoảng mười nhà. Lâm Bằng dẫn Thạch Đạt Lang đi hỏi tin tức đã đến chín. Vẫn không kết quả. Đến đâu cũng chỉ gặp những bộ mặt e dè hoặc ngái ngủ. Không ai trông thấy bất kỳ một thiếu nữ hoặc thiếu niên nào có hình dạng như Thạch Đạt Lang mô tả.

Lâm Bằng bảo bạn đồng hành:

- Còn một căn nữa ở cuối xóm. Gia đình này vừa làm nghề trồng rẫy vừa săn thú.

Nếu không có tin gì khác thì đêm nay ta đến phải ngưng. Quanh đây không còn ai để hỏi thăm nữa.

- Đa tạ bằng hữu đã nhọc công. Nếu không ai biết hay nghe nói gì thì chắc chúng không dẫn qua đây rồi.

- Có gì mà nhọc công. Đi bộ tại hạ không ngại, đi cả đêm cũng chẳng sao. Có điều không biết đường hướng gì mà cứ đi thì thật vô ích.

- Đúng thế.

- Hai người đó với các hạ liên hệ ra sao ? Thân thuộc, bạn bè hay nô bộc ?

- Họ là những người thân nhất của tại hạ.

Thấy Thạch Đạt Lang đáp lửng lơ, Lâm Bằng cũng không hỏi thêm. Cả hai yên lặng đi dưới ánh đuốc. Mặc dầu gió đã dịu hơn trước nhiều nhưng ngọn lửa vẫn chiếu ánh sáng bập bùng đỏ quạch lên những cành cây khiến chúng trông như những cánh tay của những hình thù quái dị đang múa may trong đêm tối.

Thạch Đạt Lang muốn biết thêm về kỹ thuật sử côn của người nông phu nhưng không tiện hỏi. Buổi sơ kiến hắn không muốn tỏ ra tò mò quá. Hắn tự nhủ “Thôi để chờ dịp khác. Thế nào ta cũng phải tìm hiểu mới được. Một kỹ thuật trác tuyệt như vậy mà mình không học hỏi thì thật đáng tiếc !”.

Đã đến cuối xóm. Lâm Bằng chỉ căn trại nằm khuất sau một bụi tre cao, những gốc tre lớn bằng bắp chân lá rậm xào xạc và thân tre cọ vào nhau kẽo kẹt.

- Đến nơi rồi. Các hạ đứng đây để tại hạ vào hỏi thì hơn. Họ biết tại hạ nên không nghi ngờ gì, có thể cho mình tin tức tốt.

Lâm Bằng đi vào con đường đất nhỏ. Lát sau nghe tiếng gã đập cửa. Khi cầm đuốc đi ra, trông gã có vẻ vội vàng hơn trước. Gã nói:

- Người chồng không biết gì, nhưng vợ hắn cho một tin chắc các hạ phải hài lòng.

Dáng điệu và lời nói của Lâm Bằng khiến Thạch Đạt Lang bồn chồn. Hắn nhướng lông mày ra dáng hỏi.

- Mụ vợ nói lúc chiều có gặp một thằng bé chừng mười bốn mười lăm tuổi, quần áo lem luốc, lưng đeo thanh gươm gỗ dài, nét mặt hớt hải. Nó hỏi thăm mụ đường đến văn phòng quận lỵ. Mụ hỏi nó đến để làm gì thì nó nói để thưa việc cô nó bị một tên du đãng bắt đi nên nhờ văn phòng và lính tuần tìm giúp.

Mụ khuyên thằng bé không nên đến, vô ích. Lính tuần không bao giờ tìm giúp những người dân thường bị bắt. Nếu kẻ đó là hàng quý tộc thì lính tuần mới làm, còn không thì mặc kệ. Những chuyện bắt người dẫn đi như thế này xảy ra hằng bữa, sáng, trưa, chiều, tối, ai hơi đâu !

Theo ý tại hạ, thằng bé ấy có thể là người các hạ muốn tìm. Các hạ nghĩ sao ?

Thạch Đạt Lang gật đầu:

- Đúng rồi. Thế bây giờ nó đâu, đi về hướng nào ? Người đàn bà có cho biết thêm tin tức gì không ?

- Co. Mụ bảo mụ khuyên thằng bé đến Narai, quá ngã ba Yabuhara. Ở đấy có một lão hiệp tên Đại Cổ, chuyên buôn bán dược thảo lại hay cứu giúp người khốn khó. Đến đấy mà tìm.

Thạch Đạt Lang mừng lắm, cảm ơn Lâm Bằng:

- Đa tạ bằng hữu. Nhờ quý bằng hữu, tại hạ mới biết phải làm gì. Tại hạ xin đi ngay gặp vị lão hiệp ấy, may ra ...

- Bây giờ thì trễ rồi, mà đi đêm xuyên rừng cũng khó. Chi bằng xin mời về nghỉ tạm ở tệ xá, để sáng mãi cũng không muộn.

- Được không ? Sợ phiền lão bá ...

- Có gì mà phiền. Ta băng qua hồ này, đỡ được nửa đường. Tại hạ đã hỏi mượn thuyền của chủ nhân căn trại vừa rồi. Xin cứ theo tại hạ.

Cả hai men theo đường xuống hồ, tới một bực đá quả nhiên có chiếc thuyền con buộc đó.

Gió đã yên từ bao giờ. Mặt hồ, phẳng như mặt trống, phản chiếu bóng núi Koma đen sẫm cắt trên nền trời đầy sao lấp lánh.

Thạch Đạt Lang giơ cao đuốc, Lâm Bằng chống sào đẩy chiếc thuyền con lướt nhẹ trên mặt hồ phẳng lặng. Ánh đuốc phản chiếu mặt hồ đỏ rực, hồng hơn cả ngọn lửa bó đuốc hắn cầm trên tay.

Chương 54: Vết răng rắn độc

Ánh đuốc trông xa tựa đôi chim lửa đang vờn nhau trên mặt hồ, trong một chuyện thần thoại.

Bên bờ hồ, Mãn Hà Chí nhìn sững, khẽ thốt:

- Có người ! Có người đấy !

Gã kéo dây thừng buộc chéo tay Oa Tử lại với nhau, lôi nàng đứng dậy. Nhưng Oa Tử ghì xuống, nhất định không đứng.

- Đứng dậy !

- Không !

Mãn Hà Chí nắm đầu dây quất vào vai Oa Tử. Nàng vẫn ngồi lì.

- À bướng ! Này, bướng ! Này, bướng !

Sau mỗi tiếng, gã lại quất đầu dây thừng vào vai, vào lưng thiếu nữ. Oa Tử đau, nhăn mặt, nước mắt chảy ràn rụa nhưng tuyệt nhiên không thốt một lời van xin hay mắng nhiếc. Thái độ ấy như khiêu khích và càng làm cho Mãn Hà Chí giận dữ hơn, gã nắm cổ áo kéo nàng đứng dậy.

- Đứng lên ! Muốn hay không cũng phải đi theo ta !

Rồi đẩy Oa Tử một cái. Thiếu nữ ngã sấp. Tay bị trói, nàng đang cựa quậy uốn mình định ngồi dậy thì bị Mãn Hà Chí nắm tóc giật mạnh khiến nàng bật ngửa. Đau và tức giận, Oa Tử dùng chân đạp gã rồi kêu cứu ầm lên. Mãn Hà Chí giơ tay bịt vội miệng nàng, tay kia xé vạt áo nhét vào miệng Oa Tử. Oa Tử chỉ còn ú ớ. Một vệt máu đen rỉ ra bên khoé mép. Mặc kệ ! Mãn Hà Chí cúi xuống nắm cổ áo Oa Tử lôi đi như lôi một con vật.

Đến một ngôi miếu nhỏ bỏ hoang bên rặng liễu, Mãn Hà Chí đẩy cửa, kéo Oa Tử vào. Miếu hôi hám, mùi ẩm mốc xông lên nồng nặc nhưng trên bệ gạch thờ đã đổ nát còn lưu lại một bát hương bằng sành và hai cái chén gỗ.

Mái miếu thủng một lỗ lớn, ánh sao đêm chiếu lờ mờ hình vẽ một con rắn quấn chung quanh cái cột, đầu ngóc lên như đe dọa. Bất giác Oa Tử ước trở thành con rắn để có thể chui qua khe miếu mà trốn thoát.

Đưa mắt nhìn quanh, thấy không có gì khả nghi, Mãn Hà Chí đẩy Oa Tử vào sát bệ thờ rồi ra khỏi miếu, khép cửa. Ngồi chặn bên ngoài, gã nhìn ánh lửa đuốc trên mặt hồ xa dần và suy nghĩ miên man. Bữa nay thật là một ngày khó nhọc. Lúc bắt Oa Tử dẫn vào rừng, gã có ngờ đâu nàng bướng đến thế. Có lúc Oa Tử đòi cắn lưỡi tự tử. Mãn Hà Chí biết tính nàng, những lời đe doa. ấy chẳng phải là những lời dọa suông. Bị khinh miệt quá sức, Mãn Hà Chí đã có ý tưởng sát nhân nhưng không dám thực hiện. Âu cũng là điều may, vì ngồi đây bây giờ, nếu làm việc ấy gã sẽ hối hận biết chừng nào.

Mãn Hà Chí không hiểu tại sao đàn bà lại ưa Thạch Đạt Lang hơn gã trong khi lúc đầu thì khác hẳn. Oa Tử đấy, trước đây đã chẳng là vị hôn thê của gã là gì ? Ôkô nữa, lúc đầu chọn đi theo gã, sau lại coi gã như một miếng giẻ thừa, muốn vất đi cho rảnh nợ. Lại cả A Kế Mỹ ! Người đàn bà nào khi gặp Thạch Đạt Lang cũng so sánh nó với gã. Chỉ có một lý do để cắt nghĩa:

Thạch Đạt Lang đã nói xấu gã sau lưng, thế thôi ! Cho nên nó đã chiếm được lòng Oa Tử. Nghĩ đến đấy, Mãn Hà Chí tức giận vô kể, tự trách mình ngu hết sức. “Mình đã tin vào những lời giả nhân giả nghĩa của nó”. Mãn Hà Chí tự nhủ.

“Nào suốt đời làm bạn, nào giúp đỡ lẫn nhau, nào tìm thầy dậy nghề cho mình để làm lại cuộc đời ! Láo ! Láo hết ! Trong khi ấy nó đi với vợ mình”. Cơn ghen khiến Mãn Hà Chí mờ mắt.

- Thằng đểu !

Gã thốt ra lời chửi tục tằn và rủa thầm Thạch Đạt Lang đã lừa dối:

“Bây giờ ta mới biết. Thì ra trên đời này có những thằng bên ngoài được mọi người kính nể mà bên trong toàn dòi bọ. Đọc thiên kinh vạn quyển ? Trau dồi kiếm đạo ? Để làm gì ? Hừ ! Để trở nên thằng phản bạn, lừa lọc, đạo đức giả à ?”.

Mãn Hà Chí nắm chặt hai tay đạp vào đùi:

“Nhất định ! Phen này ta nhất định phải làm cho nó biết tay. Ta còn thở ngày nào là còn phải nghĩ đến trả thù ngày đó !”.

Gã đạp tung cửa, nhảy vào trong miếu. Nhìn Oa Tử nằm co quắp bên bệ gạch, gã hét:

- Con kia ! Trả lời tức khắc câu ta hỏi lúc nãy !

Im lặng.

- À ra nó khinh mình ! Nó ra gan ! Nó ...

Sực nhớ ra nùi giẻ vẫn còn trong miệng Oa Tử, Mãn Hà Chí cúi xuống giật mạnh.

- Oa Tử ! Hãy trả lời câu ta hỏi !

Tiếng Oa Tử yếu ớt:

- Ta không có gì phải trả lời. Nếu ngươi muốn giết ta thì cứ giết, nhưng nên xử sự đĩnh đạt, xứng đáng là kẻ nam nhi ...

Mãn Hà Chí cười khẩy:

- Đừng nói bậy. Ta giết ngươi làm gì. Ý ta đã quyết phải cho ngươi và thằng Kinh Tử đau khổ suốt đời vì chúng bay làm hại đời ta.

- Mãn Hà Chí ! Ngươi lầm rồi. Chính ngươi đã quyết định đời ngươi. Ngươi đi theo Ôkô mới ra nông nỗi ...- Nói láo !

Lời nói của Oa Tử đã khơi dậy nỗi đau và sự bất lực trong lòng gã. Gã lớn tiếng:

- Câm mồm ! Ta cấm nói đến chuyện ấy.

Oa Tử thở dài thất vọng:

- Mẹ con ngươi là những kẻ lạ đời. Sao cứ ngoan cố đổ tội cho kẻ khác và nuôi lòng oán hận phi lý ...

- Không nói lôi thôi ! Ta chỉ muốn hỏi ngươi có bằng lòng lấy ta không ? Nghĩ đi rồi trả lời cho ta biết.

Giọng Oa Tử yếu ớt nhưng cương quyết:

- Việc gì phải nghĩ nữa. Trong đời này và tất cả những đời sau, ta chỉ yêu có Thạch Đạt Lang. Lòng ta là của chàng rồi ! Sẽ không bao giờ thuộc về một tên hèn hạ như ngươi cả !

- A !

Toàn thân Mãn Hà Chí run lẩy bẩy. Gã nhếch mép cười độc ác.

- Dù muốn hay không, đêm nay mày cũng ở trong tay ta ...

Oa Tử rùng mình:

- Ta không cha không mẹ. Không một ai thân thích khác. Ta không sợ chết.

- Hừ ! Ai nói đến cái chết ! Giết ngươi để làm gì ? Ta sẽ làm thế này ...

Mãn Hà Chí vồ lấy Oa Tử, một tay bịt chặt miệng nàng, một tay nắm lấy tay Oa Tử. Mãn Hà Chí cắn lên vai thiếu nữ. Oa Tử thét lên đau đớn nhưng tiếng thét bị chặn ngay trong cổ họng như tiếng con vật bị chọc tiết. Máu loang ra thấm cả áo ngoài, chảy theo cánh tay trần của Oa Tử xuống đến tận lòng bàn tay Mãn Hà Chí. Oa Tử dãy dụa, mặt tái dần rồi ngã lăn ra bất tỉnh. Mãn Hà Chí bỏ nàng xuống. Trên trán Oa Tử, mồ hôi vã ra lạnh ngắt. Mãn Hà Chí lo sợ, cúi xuống cạy miệng thiếu nữ xem nàng có cắn đứt lưỡi không. Thấy không có máu, gã yên tâm, giật tóc mai và gọi cho nàng tỉnh.

Lúc sau, Oa Tử mở mắt. Trong cơn hôn mê, nàng lắp bắp gọi tên Giang cầu cứu.

Đến khi định thần lại và biết mình đang ở đâu, Oa Tử mới thôi. Cơn đau kéo đến khiến vai tê dại, nàng cố giữ cho khỏi bật ra tiếng khóc to nhưng nước mắt vẫn ràn rụa hai bên má.

Trong bóng tối của gian miếu hoang, sự yên lặng chỉ bị cắt đứt bởi những tiếng thút thít và tiếng rên nho nhỏ.
- Đau hả ? Đó là bài học để ngươi ghi nhớ suốt đời. Dù vết cắn trên vai ngươi có lành nhưng vẫn còn vết sẹo. Để ngươi biết ngươi là của ta, đã thuộc về ta. Để thằng Kinh Tử cũng phải biết thế. Bây giờ thì trốn đi. Muốn trốn ta cho trốn nhưng không thể quên ta được !

Oa Tử muốn đứng dậy nhổ vào mặt tên vô sỉ hèn hạ, nhưng không đủ sức. Mệt quá rồi, nàng chẳng còn nghe thấy gì nữa, chẳng còn làm gì được nữa dù biết rằng gã hèn hạ ấy đang quỳ bên cạnh tháo dây trói cho nàng.

Mãn Hà Chí với tay lên bệ thờ, cầm chiếc chén gỗ ra hồ múc nước. Vừa bước khỏi cửa, thấy ngay một bóng đen ù té chạy. Gã đuổi theo bén gót, ôm được, vật ngay xuống.

Thì ra là một lão nông.

- Xin đại nhân tha mạng. Già này chẳng làm gì nên tội. Nhân dẫn lừa mang thóc ra chợ bán, thấy có tiếng khóc trong miếu thì tò mò dòm xem mà thôi ...

- Thật không ? Hay định dò xét cái gì ?

- Bẩm thật, lão đã già không dám nói dối ...

- Vậy lừa đâu ?

- Dạ Ở đằng kia.

- Dẫn ta lại coi, nếu không thì coi chừng cái đầu lão !

Vừa dọa, Mãn Hà Chí vừa mân mê chuôi kiếm đeo bên sườn.

- Dạ dạ ...

Đi khỏi ba gốc liễu, quả nhiên thấy con lừa trên lưng tải hai bịch thóc. Mãn Hà Chí bảo ông già:

- Bỏ thóc đi, dẫn lừa theo ta trở lại miếu.

Tội nghiệp ông già chất phác, gặp người đeo gươm thì sợ hãi, chẳng quan quân cũng phường thảo khấu, đều có quyền sinh sát cả. Lão líu ríu vâng lời.

- Chúng ta muốn đi Edo, cần con lừa của ngươi để cô nương cưỡi.

- Dạ dạ ...

- Mà chúng ta không muốn đi đường đông đúc. Ngươi hãy dẫn lừa theo đường mòn trong rừng, càng vắng càng tốt.

- Dạ, xin đại nhân lấy con lừa, còn tha cho già này về cày cấy. Vợ già đau ốm, chỉ trông cậy vào có mình già.

- Không được ! Đừng có lôi thôi. Muốn ta thử gươm trên cái đầu hói của lão hả ?

- Dạ dạ ...Nhưng đi đường rừng phải trèo cao, mệt nhọc lắm, chẳng biết già này có kham nổi không ?

- Mặc kệ !

Mãn Hà Chí túm cổ ông lão, bắt cột hành trang rồi vực Oa Tử lên lưng lừa. Cả ba người cùng với con vật qua khỏi rặng liễu thì trực chỉ khu rừng chân núi.

Đường mòn càng lúc càng dôc thêm, ông già dẫn lừa thở phì phò mà con vật xem chừng bước chân cũng không được vững nữa. Sỏi đá đổ rào rào. Dưới chân họ, mây mù tụ từng đám nhưng ở xa xa, về phương đông, trời đã hửng sáng.

Oa Tử nằm phục trên lưng lừa từ khi còn tối, chẳng nói một lời. Khi nhìn ánh dương quang vừa hé, nàng bảo Mãn Hà Chí:

- Mãn Hà Chí ! Tha ông già về và trả con lừa lại cho người ta. Ta thấy đã có thể đi bộ được.

- Ngươi có trốn không ?

- Không. Ta cam đoan không trốn.

Rồi với nụ cười héo hắt, nàng tiếp:

- Trốn làm gì khi ta còn phải mang trên vai vết răng của loài rắn độc.

Chương 55: Lời cảnh giác của 1 người mẹ

- Con đã dùng những đòn đặc biệt, nhưng nó khoẻ và nhanh vô cùng. Sợ không làm gì được ...

Mẹ Lâm Bằng cắt ngang:

- Nói nhỏ chứ ! Khua nó dậy đấy hả ? Mày thua nó chỉ vì sơ xuất. Từ trước mày chưa gặp đối thủ nào xứng đáng nên thiếu kinh nghiệm, bây giờ là lúc có cơ hội tốt để học hỏi ...

Bà nói dịu dàng nhưng cương quyết và khích lệ, nghe như lời răn bảo một đứa trẻ lên năm.

- Phải có ý chí và quyết tâm mới nên người được chứ ! Đừng để uổng công ta nuôi dạy.

Thạch Đạt Lang tỉnh đã lâu. Những lời đối thoại của mẹ con gã nông phu ở phòng kế tuy nhỏ nhưng nghe khá rõ, làm hắn ngạc nhiên. Cuộc đụng độ tối qua tưởng như kết thúc, Thạch Đạt Lang coi đó chỉ là một sự hiểu lầm giữa đôi bên, không ngờ có hậu quả nghiêm trọng trong gia đình này đến thế.

Một tiếng nấc nhỏ, cơ hồ gã nông phu không giữ được xúc động bật lên khóc. Rồi tiếng bà mẹ nghiêm nghị:

- Vô ích ! Khóc không giải quyết được gì cả. Hãy thách nó giao đấu lần nữa để giữ vững lòng tự tin. Ta xem đường côn của mày đâu đến nỗi ...

- Nhưng con không đủ sức. Xin mẹ tha thứ cho con, mẹ cho con bỏ võ công để làm một nông dân thường. Con cầm cuốc có lẽ còn có ích hơn cầm côn.

Thạch Đạt Lang nhẹ nhàng tung chăn ngồi dậy, đến bên vách ghé mắt dòm qua khe cửa. Trời mới rạng đông, phòng còn tối nhưng hắn cũng thấy mẹ Lâm Bằng ngồi trên chiếu đối diện với người con trai trước bàn thờ gia tiên. Tuy đã có tuổi, vậy mà lưng bà chưa còng và phong cách chững chạc trong thế ngồi rất nghiêm túc của bà chứng tỏ bà đã thừa hưởng một quá khứ vinh hiển từ một dòng họ hào hùng. Bất giác Thạch Đạt Lang đem lòng kính nể và có hảo cảm với người đàn bà cương nghị ấy.

Lâm Bằng vẫn mặc bộ y phục ngày hôm trước, vóc dáng to lớn thô kệch trái hẳn với thái độ khiêm cung của gã lúc bấy giờ.

Bà cụ sẵng giọng:

- Mày nói cái gì ? Muốn làm nghề nông cả đời hay sao ?

Lâm Bằng lặng thinh, đầu cúi gục. Bà bèn nhích lại gần, kéo đầu con trai đặt vào lòng mình rồi nói bằng một giọng ôn tồn và âu yếm:

- Lâm Bằng ! Ta cố gắng đến ngày nay là để mong con trở thành hào kiệt, khôi phục lại danh dự của cha ông. Con biết đấy, ta không nề khổ cực, sinh nhai đạm bạc cũng chỉ vì mục đích ấy. Bây giờ bỏ cả, như thế là thế nào ? Con không nghĩ gì đến công phu tập luyện hàng chục năm nay, không thương ta, không quan tâm đến dòng máu hiệp sĩ đất Kiso nữa hay sao ?

Nói xong, dường như không cầm được xúc cảm, bà khóc. Xúc cảm hay lây. Lâm Bằng cũng chan chứa nước mắt.

- Sao bây giờ con khác trước ? Can đảm để đâu ?

Bà lau nước mắt:

- Nó còn ở phòng bên. Chừng nào nó tỉnh dậy, con hãy tìm cách khiêu khích nó để giao tranh lần nữa. Nếu con để mất lòng tự tin thì họ nhà ta coi như đến đây là tuyệt diệt.

Lâm Bằng lắc đầu:

- Nó khôn ngoan lắm. Đêm qua đi thuyền trên mặt hồ, con đã rình cơ hội thuận tiện để tấn công nó nhưng không lúc nào nó lộ chút sơ hở. Nhiều lần con đã tự nhủ tên đó chỉ là một võ sĩ giang hồ tầm thường, nhưng không hiểu sao con không dám ...

- Bởi ngươi hèn nhát, khiếp nhược. Bà gắt lên. Phải ngươi đã thề với ta sẽ lập một môn phái riêng để rạng danh tổ phụ không ? Ngươi quên rồi chăng ?

- Con không quên, nhưng sợ lúc đó con quá chủ quan, tin tưởng vào sức mình.

Chưa đủ chính chắn, làm sao dám lập môn phái ? Con trộm nghĩ thà bẻ côn đi cày con hơn để mẹ chịu cảnh cơ hàn trong lúc tuổi mẹ thì cao và sức khoẻ kém dần.

Bà cụ trừng mắt:

- Nói bậy ! Mày từ bỏ võ công để săn sóc ta không làm ta sung sướng gì hơn. Trước nay, mày chưa được dự trận nào quan trọng, mới thua một lần đã tỏ ra khiếp nhược. Ta không nói nữa. Lâm Bằng ! Khi nó dậy, mày phải khiêu khích nó. Nếu lần này thua, bấy giờ gác côn cũng chưa muộn.

Thạch Đạt Lang thong thả quay về chỗ nằm. Nếu gã nông phu khiêu khích, nhất định hắn không thể từ chối được, mà nếu hắn xuất thủ dù chỉ để tự vệ, hắn cũng sẽ thắng dễ dàng. Trận đánh này quyết định tương lai của Lâm Bằng và tuổi thọ của bà lão, vì bất luận thế nào, cục diện cũng sẽ làm tinh thần bà chấn động, không chắc sống được.

Bình tĩnh thu nhặt hành trang, hắn yên lặng mở cửa lẻn ra ngoài.

Mặt trời mới rạng. Những ngọn bạch dương trồng trước trại ửng hồng như vừa được rắc phấn. Men theo vách nhà bếp, Thạch Đạt Lang thấy con bò hắn thuê nằm thản nhiên, mắt lơ đãng nhìn ra xa, miệng nhóp nhép. Hắn đưa tay chào từ giã con vật, xuyên qua rặng bạch dương rồi rảo bước lẩn vào những bụi cây thấp ở ven rừng. Hôm ấy, núi Koma trông rõ mồn một từ chân cho đến đỉnh. Thỉnh thoảng mới có vài cụm mây hồng nhẹ nhàng trôi theo gió sáng.

“Giang còn nhỏ, Oa Tử thì yếu đuối. Không biết cả hai có gặp nguy hiểm gì không.

Nếu phen này không tìm ra tung tích thì âu cũng là Trời Phật đã an bài !”. Thạch Đạt Lang tự nhủ thầm để tìm sự yên tĩnh. Sau biến cố ở thác Phu Phụ, mặc dầu đã giữ vững ý chí quyết tâm theo con đường kiếm thuật, tâm hồn hắn đôi khi vẫn bị xao động vì tình yêu và bổn phận. Trước gió sớm bay vừa, lòng hắn cũng xôn xao như những lá bạch dương, không kềm giữ nổi.

Đến Narai, trời đã quá trưa. Trấn Narai đương hồi thịnh. Có tiệm bán đồ da, trưng ra đủ thứ loại da thuộc và lông thú. Tiệm khác trang hoàng mỹ lệ chuyên về nghề làm lược, một đặc sản đất Kiso.

Thấy một cửa hàng treo bảng hiệu vẽ con gấu lớn với chữ đề to tướng “Đại Hùng Dược Phòng” và ngay cạnh cửa có cái cũi nhốt con gấu đen, Thạch Đạt Lang bước vào.

Trong hiệu la liệt bảng gỗ nêu tên các vị thuốc đã được bào chế sẵn bằng mật gấu.

Mãi pha trà, chủ nhân không để ý, chỉ hỏi:

- Khách quan cần gì ?

- Xin lỗi, tại hạ muốn hỏi thăm một người tên Đại Cổ, nghe nói chuyên buôn bán dược thảo ở trấn Narai này.

Chủ nhân quay ra, nhướng mày, cặp kính trễ xuống mũi:

- Đại Cổ ư ? Ông ấy ở đằng kia, gần ngã ba, cách đây một quãng.

Vừa lúc ấy, một thằng bé ăn mặc ra dáng tiểu đồng bước vào. Chủ nhân vội nói:

- Này Isu, tráng sĩ muốn tìm Đại Cổ tiên sinh, mày dẫn ông ấy đi chỉ nhà cho tường tận rồi về đây ta bảo.

Tiểu đồng đầu cạo trọc chỉ để lại túm tóc phía sau gáy, ra hiệu cho Thạch Đạt Lang đi theo. Nghe chủ tiệm bào chế gọi Đại Cổ bằng tiên sinh thì chắc lão hiệp này rất được dân địa phương kính nể, Thạch Đạt Lang mừng thầm thấy công của mình không đến nỗi là công cốc. Đến ngã ba Yabuhara, thằng bé chỉ căn nhà phía trái bên kia đường và nói:

- Đấy, chỗ ấy.

Rồi tong tả quay gót.

Thạch Đạt Lang ngạc nhiên. Ngôi nhà không có vẻ gì là một cửa hiệu có bán dược thảo. Mặt tiền, dài đến hai trượng, bốn dãy liếp gỗ mắt cáo che gần hết. Tường cao bao bọc hai gian nhà kho lớn, cổng ra vào bằng đá khá kiên cố, cửa lúc bấy giờ đang đóng kín. Hắn đến trước cổng, ngần ngừ một lát rồi vừa đằng hắng, vừa đẩy cửa vào, thấy mình đứng ngay trong một căn phòng rộng.

- Có ai trong nhà không ?

Phòng rộng nhưng vắng, sáng mờ mờ làm hắn liên tưởng đến một tiệm nấu rượu Sakê. Nền đất nện khiến không khí mát mẻ, dễ chịu khác thường.

Thạch Đạt Lang đằng hắng nhắc lại câu hỏi. Đợi khá lâu mới thấy một người từ phòng trong bước ra. Phòng này trải chiếu, có lẽ là văn phòng. Người vừa bước ra hất hàm có ý hỏi. Thạch Đạt Lang trình bày mục đích xong, ông ta chậc lưỡi, nói:

- Thì ra tráng sĩ đến vì thằng bé đấy !

Bèn mời vào, lấy thêm gối đặt lên chiếu để khách ngồi rồi tiếp:

- Tiếc quá, tráng sĩ đến hơi trễ. Thằng bé tới đây hồi nửa đêm, bấy giờ chúng tôi đang chuẩn bị hành trang để chủ nhân đi du ngoạn. Theo lời kể hình như nó đi cùng với một nữ lang, nửa đường bị cưỡng bức bắt đi. Nếu tên vô lại đó là thảo khấu hay cường đồ thì truy ra cũng dễ, nhưng đằng này không phải. Dường như cũng lại là một kẻ lữ hành khác không phải ở địa phương này.

Thấy thằng bé tứ cố vô thân lại tỏ ý sợ hãi, Đại Cổ tiên sinh dẫn nó theo, may ra trên đường đi, tìm gặp được người mà nó gọi bằng cô, tên là ...tên là ...

- Oa Tử.

- Phải rồi ! Oa Tử ! Thằng bé ấy đối với tráng sĩ là thế nào ?

- Nó là học trò tại hạ.

- Thật tiếc ! Nếu tráng sĩ đến sớm chút nữa thì gặp. Đại Cổ tiên sinh mới đi khoảng đầu giờ dần.

- Các hạ biết tiên sinh đi đâu không ?

- Khó mà biết được. Vì cửa hiệu chúng tôi không giống các hiệu khác nên chủ nhân ít khi ở nhà. Mỗi năm hai lần, vào mùa xuân hay mùa thu, những kẻ hái thuốc trên núi mới mang thuốc xuống giao để chúng tôi bào chế. Lúc ấy mới bận. Còn những tháng khác, Đại Cổ tiên sinh thường đi du ngoạn các nơi, khi thì suối nước nóng, khi thì chùa miếu, chỗ nào cảnh đẹp lại dừng chân nghỉ vài ngày, có khi hàng tuần khó mà lường trước.

Lần này chắc tiên sinh đi thăm thiền viện Zenkoji rồi tiện đường đến Edo, nhưng đấy chỉ là dự đoán, chủ nhân chúng tôi không nói rõ đi đâu bao giờ. Tráng sĩ dùng trà ?

Thạch Đạt Lang gật đầu cảm ơn. Người đàn ông mang trà ra, Thạch Đạt Lang lại hỏi thêm về niên kỷ cùng vóc dáng Đại Cổ.

- Ồ ! Tráng sĩ gặp chủ nhân tôi thì nhận ra ngay. Ông đã quã ngũ tuần nhưng còn khoẻ, dáng đẫy đà, da đỏ hồng và mặt có vài vết rỗ, thái dương bên phải tóc hoa râm hơi thưa ...

- Thế y phục ra sao ?

Người kia gật gù:

- Ờ ...ờ ...Tráng sĩ có hỏi mới nhớ. Lần này ông vận y phục đặc biệt:

kimono bằng vải sọc Trung quốc đặt mua ở Sakai riêng cho cuộc hành trình này. Mới nhập cảng, ít người biết, có khi chưa ai mặc cũng nên. Tráng sĩ thấy là nhận ra tức khắc.

Nghe mô tả, Thạch Đạt Lang cũng mường tượng được phong cách của Đại Cổ và có đôi chút khái niệm về nếp sống của ông. Hắn uống cạn chén trà, cảm ơn người làm công rồi ra khỏi hiệu.

Nắng chiều chênh chếch. Thạch Đạt Lang tự nhủ cứ đà này thì không thể nào đuổi kịp Đại Cổ trước khi trời tối nữa rồi, nhưng nếu đi tới khuya để sáng sớm hôm sau trèo lên đèo Shiojiri thì có thể đợi Đại Cổ ở đó được.Gần đến chân đèo, ánh tà dương đã tắt hẳn. Màn sương mỏng xanh phơn phớt đã bắt đầu phủ lên mặt lộ. Trong bóng núi đổi màu đen sẫm, đây đó vài đốm lửa tiều mới nhóm càng làm tăng vẻ cô tịch đìu hiu của vùng sơn dã.

Còn đến năm chục dặm đường nữa mới đến đèo, Thạch Đạt Lang cứ lầm lũi đi, mặc cho bóng tối bao vây tứ phía. Đi đã lâu, xem chừng thấm mệt, gặp một tảng đá nhẵn, hắn ngồi xuống giở lương khô ra ăn rồi nằm nghỉ ngay trên tảng đá.

Gió mát hiu hiu, Thạch Đạt Lang lâng lâng dõi theo những vì sao nhấp nhánh và ngủ quên lúc nào không biết.

Giấc ngủ của người kiếm khách giang hồ say và lâu, mãi đến khi nghe những tiếng nói lào xào, hắn mới tỉnh.

Trời đã sáng rõ. Thạch Đạt Lang nhỏm dậy nhìn quanh không thấy ai. Ngôi miếu nhỏ chênh vênh trên mỏm đá ở đỉnh đèo trông càng nhỏ giữa cảnh bao la của trời đất.

- Lên đây ! Lối này ! Tiếng đàn ông vọng lại. Ở đây trông thấy núi Phú Sĩ !

Thạch Đạt Lang quay nhìn tứ phía. Quả nhiên, sau lưng hắn, lềnh bềnh trên một biển mây, ngọn Phú Sĩ uy nghi hồng rực phản chiếu ánh thái dương vừa hé. Núi cao và hùng vĩ, trên ngọn tuyết phủ trắng xóa, có giải mây năm sắc vắt ngang mang một vẻ đẹp huyền bí hắn chưa bao giờ thấy. Thạch Đạt Lang kêu lên khoái trá. Từ nhỏ, được xem nhiều tranh vẽ cảnh Phú Sĩ sơn, hắn cũng có đôi chút ý niệm, nhưng đây là lần đầu tiên được thấy tận mắt ngọn danh sơn này. Và cảnh thật gợi trong lòng hắn nhiều hoài cảm bao la khiến hắn xúc động vô tả.

Từ sau trận chiến dưới gốc cổ tùng, đôi khi Thạch Đạt Lang đã dám có ý tưởng cao ngạo trên đời này mấy ai đủ khả năng là đối thủ của hắn. Nhưng trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, trước vẻ sáng lạn huy hoàng và bền vững của ngọn Phú Sĩ sơn, niềm ý thức sự nhỏ bé của mình và sự phù du của kiếp sống khiến hắn tự thẹn đã đặt quá nhiều quan trọng vào những võ công đạt được.

Thiên nhiên là cái thước để con người tự lượng. Hạt cát trên sông Hằng, thân phận con người là thế trong cái trình tự tạo hóa đã an bài, không cách gì thoát khỏi. Mặc cảm tự ti xâm chiếm lòng hắn, Thạch Đạt Lang quỳ xuống chắp tay cúi đầu lâm râm khấn nguyện xin được tha thứ về những ý tưởng ngạo mạn của mình, đồng thời cầu cho vong hồn mẹ hắn an nghỉ đời đời, chị hắn, Oa Tử và Giang được an lành trong cuộc sống. Sau hết, lại xin tiền nhân phù hộ cho hắn đủ nghị lực làm rạng danh tổ quốc và dân tộc, dù công nghiệp ấy hắn không dám sánh cùng núi non hùng vĩ trước mặt.

Nhưng cầu nguyện xong, nhìn lưỡi gươm bên sườn, hắn lại có ý tưởng khác. Ừ, con người nhỏ bé thật, nhưng cái gì đã khiến cho con người ý thức được mình nhỏ bé ? Thiên nhiên chỉ cao cả qua nhãn tuyến của con người. Thần linh chỉ hiện hữu khi cảm thông được với người. Chính con người, sinh vật có tâm linh và ý thức chứ không phải gỗ đá vô tri, đã phát hiện ra sự cảm thông ấy. Cho nên con người nếu hợp nhất với thiên nhiên, không phân chia nhĩ, ngã, không phân biệt với ngoại cảnh, biết lấy cái tâm bình đẳng với vũ trụ, cái tâm chân như của nhà Phật để làm căn bản hành động, thì khó gì không thực hiện được những công nghiệp vĩ đại ? Và với thanh kiếm ba thước này, hắn đâu còn nhỏ bé so với ngọn Phú Sĩ sơn kia ...

Nghĩ đến đấy, Thạch Đạt Lang khoan khoái lạ thường. Tuy cách xa trăm dặm, ngọn núi dường như gần gũi hơn, trên cùng một bình diện với hắn.

Tiếng chân người rộn rịp cùng với tiếng gọi nhau í ới càng lúc càng gần. Dưới chân đèo, khách hành hương, tay nải, vai gánh đã thấy đông.

Thạch Đạt Lang nghĩ thầm “Sớm muộn gì Đại Cổ cùng với Giang cũng qua đây, nếu lời dự đoán của người làm công là đúng. Có lẽ nên thảo vài chữ để lại chỗ này, may ra thằng bé để ý. Mình lên mỏm đá cao trên kia nhìn xuống bao quát được khoảng núi rộng hơn và thấy họ dễ hơn”. Bèn lấy miếng vải và bút mực trong bọc ra viết vội:

“Đại Cổ tiên sinh nhã giám, vãn bối là sư phụ tiểu đồng cùng đi với tiên sinh. Rất mong gặp tiên sinh ở miếu trên đỉnh đèo, xin tiên sinh lưu ý”. Rồi buộc vào cành cây và rời khỏi tảng đá.

Đi được một quãng bỗng nghe phía dưới có người nói:

- Ở trên kia ! Hắn đấy !

Âm thanh quen thuộc lắm, gợi cho Thạch Đạt Lang nhớ đến tiếng rít của cây gậy tre. Quả nhiên, giọng Lâm Bằng tiếp ngay:

- Thạch Đạt Lang ! Ngươi bỏ chạy không dám giao đấu với ta ! Hèn nhát !

Thạch Đạt Lang quay lại. Đứng giữa hai tảng đá trên cao, hắn yên lặng nhìn xuống. Mẹ Lâm Bằng cưỡi bò phía sau, cách xa con trai chừng hai trượng.

Thấy Thạch Đạt Lang lặng thinh và không tỏ vẻ gì muốn giao đấu, Lâm Bằng nói:

- Mẹ đợi đây ! Con lên bắt nó !

- Không được ! Tiếng bà cắt ngang. Lúc nào mày cũng hấp tấp, nóng nảy. Trước khi giao tranh phải dự đoán ý nghĩ của địch đã. Nó đứng trên cao lăn đá xuống trong khi mày trèo thì mày nghĩ sao ?

Hai mẹ con nói nhỏ với nhau, gió thổi tạt, Thạch Đạt Lang nghe không rõ, nhưng về mặt chiến thuật, rõ ràng hắn đã chiếm thượng phong. Thạch Đạt Lang không ngại giao đấu nhưng điều làm hắn khó xử là sự tháo gỡ mối oán giận của nhà này. Nếu Lâm Bằng lại thua nữa, mối hiềm khích gia tăng và sẽ không bao giờ chấm dứt. Từ sau cuộc đụng độ với phái Hoa Sơn, Thạch Đạt Lang đã ý thức sự điên rồ của những cuộc tranh chấp chỉ nhằm mục đích thù hận. Nhìn bà mẹ Lâm Bằng, hắn liên tưởng tới bà Hồ Điểu, một người đàn bà bướng bỉnh, yêu con và yêu đảng tộc đến thành mù quáng. Khẽ lắc đầu, hắn trở góc, tiếp tục trèo lên.

- Thạch đại hiệp !

Giọng bà mẹ Lâm Bằng rõ ràng như có ý cầu khẩn. Thạch Đạt Lang dừng bước, quay lại. Bà đã từ lưng bò tuột xuống, và trước sự kinh ngạc của hắn, bà quỳ xuống sụp lạy.

Bối rối, Thạch Đạt Lang không biết xử sự ra sao. Trên cao, bên những hòn loạn thạch ngổn ngang, hắn cố gắng đáp lễ, giơ tay như mời bà đứng dậy.

- Đại hiệp ! Già này thật lấy làm thẹn đã đuổi theo đại hiệp, xin đại hiệp thứ lỗi và đừng lầm là già ngoan cố. Hành động của già chẳng phải vì ác cảm hay oán thù, chỉ xin thương đứa con già, mười năm tự học không thầy, không bạn, không kinh nghiệm.

Xin đại hiệp dạy cho nó một bài học để soi sang đường nó đi ...

Thạch Đạt Lang nghe, không thốt một lời. Giọng bà cụ trở nên xúc động:

- Đại hiệp bỏ đi, già ngạc nhiên quá. Kỹ thuật thằng Lâm Bằng còn kém nhưng nó đã dày công khổ luyện. Nếu vì lý do gì nó chán nản không tập luyện thì già này phải chết không dám nhìn mặt tổ tiên nữa. Xin đại hiệp rủ lòng thương giáo huấn cho nó.

Nói đoạn, bà lại khấu đầu làm lễ.

Thạch Đạt Lang vội vàng bước xuống cầm tay bà đỡ lên lưng bò rồi bảo Lâm Bằng:

- Túc hạ dẫn bò cho lão bá. Tại hạ cần suy nghĩ. Nhận hay không sẽ trả lời túc hạ sau.

Hắn đi trước vài bước, và mặc dầu đã hứa trả lời, lúc lâu sau cũng chẳng thấy nói gì. Lâm Bằng nhìn lưng Thạch Đạt Lang, tay gã ngứa ngáy khó chịu, thỉnh thoảng lại cầm đầu dây thừng quất nhẹ vào chân bò một cái, ra vẻ bồn chồn lắm. Mẹ Lâm Bằng có dáng tư lự.

Bỗng Thạch Đạt Lang quay lại:

- Được rồi ! Tại hạ nhận.

Lâm Bằng đứng khựng, tay nắm chặt côn tre hơn:

- Vậy ngươi đã sẵn sàng ?

Không để ý đến câu hỏi, Thạch Đạt Lang nhìn bà mẹ:
- Trận đấu này quyết định sự sống chết của đôi bên, mặc dầu võ khí có khác. Xin lão bá chuẩn bị ...

Lần đầu tiên Thạch Đạt Lang thấy bà lão mỉm cười:

- Già biết điều đó. Nếu con già thua trong tay đại hiệp, một người còn trẻ tuổi hơn hắn, thì hắn cũng nên bẻ côn mà quy ẩn. Vậy sống chết có gì khác đâu ? Và nếu chuyện đó xảy ra, già cũng không oán hận !

- Vậy được !

Thạch Đạt Lang cúi nhặt đầu dây thừng, bảo với Lâm Bằng:

- Ta chẳng nên tỷ thí ở đây, phiền người qua lại. Để buộc bò vào gốc cây rồi ra khu khoảng khoát đằng kia, túc hạ muốn giao đấu bao lâu tại hạ cũng bồi tiếp.

Khu khoảng khoát ở lưng chừng đồi, rải rác vài hòn đá tảng mặt đã nhẵn vì sương tuyết. Cả ba yên lặng đến đó. Tới nơi, Thạch Đạt Lang là người đầu tiên lên tiếng:

- Chuẩn bị !

Không đợi nhắc lần thứ hai, Lâm Bằng đã nhảy ra giữa bãi, côn tre cầm tay khoảng một phần chiều dài, đầu côn chỉ xuống đất. Thạch Đạt Lang tay buông thõng, dáng tự nhiên, nhưng mắt long lanh như mắt vọ nhìn địch thủ.

- Sao ngươi không chuẩn bị ?

- Tại hạ đã sẵn sàng !

- Ngươi đấu tay không chăng ?

Thạch Đạt Lang nhếch mép, tay trái đặt lên bao kiếm. Đã đến lúc hắn không muốn phí công lực vào lời nói.

Trong góc, mẹ Lâm Bằng ngồi như tượng đá.

Hai địch thủ gờm nhau. Lâm Bằng hơi gù, tấn đứng vững chãi, hít một hơi dài như gom khí lực của khắp cả miền đồi núi vào trong lồng ngực để cây gậy tre trong tay gã bung ra với tất cả sức mạnh mong muốn.

Thạch Đạt Lang, tia mắt sắc như dao chuyển dần sang màu hổ phách, nhìn Lâm Bằng tưởng xuyên thấu tim gan gã. Tia mắt ấy có ma lực ghê gớm. Phóng ra đúng lúc, nó có thể lũng đoạn tâm ý khiến địch thủ tổn thương còn hơn là đao kiếm. Trúng nhược điểm, nó là mũi dùi mở đường để lưỡi kiếm theo sau tàn phá. Chưa ai xuất thủ, nhưng trận chiến đã bắt đầu.

Bỗng mẹ Lâm Bằng kêu lớn:

- Khoan !

Thạch Đạt Lang tung mình nhảy về phía sau chừng một trượng.

- Đại hiệp sử võ khí gì ? Thiết kiếm hay mộc kiếm ?

- Thiết kiếm hay mộc kiếm không quan hệ, kiếm nào cũng vậy ?

- ... ?

- Kiếm, dù gỗ hay thép, là một tuyệt đối. Trong trận thư hùng như trận này, không có nửa chừng. Kẻ nào sợ thì chạy.

Bà lão im lặng rồi gật đầu:

- Phải lắm. Vậy hai bên hãy khai rõ danh tính và môn sư theo đúng nghi thức để khỏi phải hối tiếc về sau. Sợ khi giao đấu xong thì đã muộn ! Lâm Bằng ! Ngươi hay khai trước.

Lâm Bằng thu côn về, trịnh trọng cúi đầu trước địch thủ:

- Tiện danh là Lâm Bằng, tổ phụ phụng thị dưới trướng tướng quân Yoshimida đất Kiso. Đời tiên phụ chẳng may bị vết nhơ, xin miễn khai rõ, gia đình phải bỏ đi lang bạt.

Tại hạ nguyện khôi phục lại danh dự cho tiền nhân nên đã khổ công tập luyện và khai triển một kỹ thuật về trúc côn, lại có ý định lập riêng môn phái.

Tại hạ đã sẵn sàng, xin lãnh giáo !

Thạch Đạt Lang cúi đầu đáp lễ rồi cũng khai danh tính:

- Tiện danh là Thạch Điền Đạt Lang, sinh quán ở Miyamoto đất Harima. Tại hạ thụ huấn võ công đầu tiên của tiên phụ, sau tự học để lập chí theo kiếm đạo. Hiện không còn ai thân thích, nếu bị bại, xin đừng quan tâm đến di hài tại hạ.

Đoạn rút kiếm giơ ngang mày, lưỡi kiếm lóe sáng tựa hào quang. Mẹ Lâm Bằng nín thở. Không như những bà mẹ khác, bà đã đi tìm và buộc đứa con còn lại độc nhất của mình, đối đầu với một mối nguy hiểm gã chưa bao giờ gặp. Để lấy kinh nghiệm. Để duy trì lòng tự tin. Và để khôi phục lại danh dự. Bà cho rằng đó là con đường phải đi và đó là cách duy nhất. Tất cả hoài vọng của bà đặt lên cánh tay đứa con ấy.

Ngồi trên góc đồi quạnh vắng, bà cầu nguyện không bằng lời mà bằng tất cả lòng tin tưởng vào thần Phật, thỉnh cầu các vị xuống hỗ trợ cho con bà chiến đấu.

Nhìn mũi kiếm của Thạch Đạt Lang, Lâm Bằng lạnh người. Thạch Đạt Lang hôm nay không giống như Thạch Đạt Lang gã thấy hai hôm trước.

Hai hôm trước, hắn lưu hoạt, uyển chuyển hơn nhiều trong dáng đi cũng như cách đứng. Tuy là đối thủ, hắn vẫn có vẻ cởi mở, thân thiết, ví như những nét chữ thảo với vẻ bay bướm, phóng dật. Bây giờ, Thạch Đạt Lang nghiêm nghị đến khô khan. Mũi kiếm hắn chỉ về đằng trước như một nét chữ chân phương không mang cả đến sơ bút, tuồng như những thế kiếm sắp tung ra đã được chuẩn bị, cân nhắc kỹ càng, bất di bất dịch:

những nét chữ khắc vào đá.

Thái độ của Thạch Đạt Lang khiến Lâm Bằng phân vân. Gã chưa dám tấn công, cây côn tre vẫn ở thế chờ đợi.

Vạt sương cuối cùng buổi sáng vừa tan hết. Thình lình một tiếng “chát” ghê rợn xé bầu không khí tĩnh mịch. Bộ vị hai địch thủ đã thay đổi. Không ai biết rõ là tiếng gậy hay tiếng gươm vừa được phóng ra. Hư ảo như là tiếng vỗ của một bàn tay.

Lâm Bằng vừa trượt đòn phạt ngang vai địch thủ mà chiêu kiếm của Thạch Đạt Lang hớt xéo lên cũng hụt, cách thái dương gã đến non nửa tấc.

Thạch Đạt Lang biến chiêu lập tức, lợi dụng uy lực của đường kiếm hụt, bổ xuống.

Chiêu này hắn đã ứng dụng trong trận đánh Hoa Sơn dưới gốc cổ tùng ngày nào, giết hại có đến chục đồ chúng. Nhưng Lâm Bằng, bề ngoài thô kệch mà thật ra nhanh nhẹn dị thường. Gã tránh chiêu kiếm sát thủ ấy, hai tay đưa ngược cây côn tre lên đỡ, khuỷu tay phải cao hơn vai trái để cây côn tiếp xúc với lưỡi kiếm phần gần lá chắn cho giảm bớt sức mạnh của lưỡi kiếm chém xuống.

Kiếm và côn giao nhau trên đầu gã. Tình trạng không khác gì tình trạng hai bên khóa kiếm, một chút sai lầm có thể mất mạng trong nháy mắt. Nhưng côn khác kiếm.

Côn không lưỡi, không sống, không mũi, không chuôi, nhưng trong tay một hảo thủ như Lâm Bằng, nó có đủ cả mọi đặc điểm ấy. Lại dài hơn kiếm, nó có thể dùng như một cây thương ngắn.

Thạch Đạt Lang không dám thu kiếm về. Hắn chưa đoán được đòn kế tiếp của Lâm Bằng nên phải vận toàn công lực đè lên võ khí của gã.

Phần Lâm Bằng, gã ở trong tình trạng nguy khốn hơn. Đang giữ thế thủ, mọi sơ hở để cây gậy lệch đi, tất lưỡi kiếm chém xuống, chẻ đôi đầu. Mặt gã tái ngắt, hai hàm răng cắn chặt vào nhau làm cổ bạnh ra. Mồ hôi rỏ giọt lên những vết nhăn ở khóe mắt. Cây côn trên đầu đã hơi run và tiếng thở của gã đã nặng hơn trước.

Mẹ Lâm Bằng hoảng sợ, sắc diện tái hơn sắc diện người con trai trong cuộc. Bà vươn cổ, mắt lồi khỏi tròng:

- Lâm Bằng, hông mày cao quá !

Vừa kêu vừa vỗ vào hông trái, rồi như không chịu nổi sự căng thẳng tinh thần, bà ngã sấp.

Sau lời cảnh giác của bà mẹ, côn và kiếm rời nhau tức khắc, mạnh và nhanh không ai nhìn kịp. Chỉ thấy Thạch Đạt Lang hơi lạng đi và tiếng Lâm Bằng rống lên như bò bị chọc tiết. Rồi một thân người đổ xuống bất tỉnh.

Thạch Đạt Lang giơ tay áo quệt mồ hôi. Hắn tra kiếm vào vỏ, đến bên mẹ Lâm Bằng đỡ bà ngồi dậy. Mắt bà lão như lạc thần.

- Tại hạ chém đằng sống.

Thạch Đạt Lang ôn tồn nói. Bà lão dường như không hiểu, ngước nét mặt đần độn lên nhìn hắn.

- Lâm Bằng chắc chỉ bị thương xoàng, không can gì. Lão bá đến gọi cho tỉnh để tại hạ đi lấy nước.

Nghe Lâm Bằng bị thương xoàng, bà ngạc nhiên. Lết đến gần, sờ tay con, mạch vẫn còn đập, áo không dính máu, bà mừng rỡ cuống quít vừa lay vừa gọi. Lát sau, Lâm Bằng tỉnh dậy. Mắt lờ đờ, gã nhìn Thạch Đạt Lang, lẩm bẩm:

- Tại hạ không phải đối thủ của đại hiệp. Đa tạ đã lưu tình ...

Thạch Đạt Lang nắm tay Lâm Bằng không đáp. Lát sau mới vạch áo ngoài, chỉ một vết đỏ bầm trên ngực mà nói:

- Nếu không nhanh mắt, tại hạ cũng ra người thiên cổ rồi.

Đoạn nhìn bà mẹ, hỏi:

- Sao lão bá biết mà cảnh giác Lâm Bằng hắn đã để hông cao quá.

- Già không hiểu võ công, nhưng thấy nó dồn hết tâm lực vào việc giữ cho kiếm khỏi bổ xuống đầu thành ra không tiến thoái được. Nếu biết hạ thấp hông trái xuống một chút, lưỡi kiếm sẽ tuột đi theo chiều cây côn và đầu côn tự nhiên bung ra đập vào ngực đối thủ, già bèn bảo nó ...

Thạch Đạt Lang gật đầu. Hắn đã học được một kinh nghiệm bổ ích. Trong cuộc viễn du vào biên giới của sự sống và chết vừa qua, lời cảnh giác của bà mẹ Lâm Bằng hiển nhiên chẳng phải là một lời phù phiếm.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau