THẠCH KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thạch kiếm - Chương 41 - Chương 45

Chương 41: Cây đàn vỡ

Nước sôi vừa đúng độ, đồ dùng pha trà sẵn sàng để bên, Yến Nương thoăn thoắt đổ bột trà vào bát, châm nước sôi, đánh cho trà ngầu bọt. Những cử chỉ ấy nhanh nhẹn, tự nhiên và nếu chú ý hình như có một chút gì nồng ấm trong khóe mắt và nụ cười của Yến Nương mỗi khi nàng bưng trà đến cho khách. Đôi má lúm đồng tiền càng tăng vẻ quyến rũ khiến Bạch Phát thi sĩ, nhà thơ đa tình, cứ ngây người ra ngắm.

Lửa bắt đầu lụi. Yến Nương bỏ thêm củi vào lò. Tiếng than nố lách tách, khói trắng bốc cao, tỏa mùi thơm nhè nhẹ. Ngửi mùi thơm khác lạ, Lưu tướng công hỏi:

- Nàng đun củi gì thế ? Mùi này không phải mùi củi thông.

- Dạ không phải. Đấy là gỗ mẫu đơn.

Mọi người ngạc nhiên vì mẫu đơn mọc thành bụi, làm gì có gỗ mà dùng làm củi sưởi. Nhưng Yến Nương đã cầm một khúc đưa Lưu Cát xem. Khúc gỗ nhỏ, thớ vặn vẹo, khô đanh, rất nhiều mắt, cành cụt chĩa ra tua tủa.

- Những gốc này tiện nữ cho đào ở vườn ngoài, đem phơi để dành làm củi sưởi.

Tuy không nhiều nhưng cũng đủ dùng. Khu vườn quý tôn khách đi qua lúc nãy trồng toàn mẫu đơn có đến hàng trăm năm nay, nhiều cây đã cỗi nên không ra hoa to nữa. Tiện nữ lựa những cây nào tốt và thuộc giống quý mới để lại.

Thạch Đạt Lang thấy hay hay, tò mò hỏi:

- Theo ý cô nương, thế nào mới là giống mẫu đơn quý ?

- Mẫu đơn là hoa vương, hoa nào cũng đẹp. Nhưng theo thiển ý, giống hoa tốt phải to, nhiều cánh và thuần sắc, như vậy mới xứng đáng là phú quý chi hoa. Tỷ như những khóm trồng ở ngoài kia có tên Đại Hồng Phấn và Mỹ Nhân Kiểm là những thứ đặc biệt lắm. Đại Hồng Phấn hoa to, đỏ, mịn như nhung và Mỹ Nhân Kiểm trắng như tuyết không có một tạp sắc nào.

- Cô nương rành về mẫu đơn lắm nhỉ.

- Đại hiệp quá khen. Những điều nhỏ nhặt ấy, tiểu nữ đều đọc ở trong sách.

Rồi đăm đăm nhìn Thạch Đạt Lang, nàng nói:

- Mẫu đơn là hoa vương. Cho nên sau khi chết, gốc nó vẫn giữ được tính chất khác thường. Cũng như có những người giá trị của họ không thể lẫn với những người tầm thường được. - Và mơ màng như để nói với chính mình - Trên đời này, mấy ai được như hoa mẫu đơn kia, khi cánh đã héo rồi danh thơm còn lưu mãi.

Lời Yến Nương gieo mối cảm hoài sâu xa trong lòng khách. Mọi người ngồi im không nói. Lát sau Đại Quán mới lên tiếng:

- Trong cuộc nhân sinh ngắn ngủi này, con người chúng ta chỉ nở hoa vào lúc thanh xuân thật, nhưng sinh tử vốn hư không, có lìa bỏ được ý niệm phân biệt sinh tử mới gọi được là giải thoát.

Yến Nương với tư cách chủ nhân, yêu cầu quan khách lưu chút kỷ niệm. Lưu Cát tướng công bèn bảo Cổ Huy Đạo:

- Chủ nhân đã yêu cầu, xin nhường tiên sinh khai bút.

Con hầu mang giấy mực ra, trải thêm tấm thảm lên sàn. Cổ tiên sinh cầm bút, trầm ngâm giây lát rồi chấm vào nghiên mực, tay đưa thoăn thoắt trên tờ giấy lụa vân.

Nét bút tung hoành, chẳng mấy chốc đã thấy hiện ra một cành mẫu đơn trông sinh động như thật. Nhìn hoa, Đại Quán cao hứng, viết ngay một bài cảm đề theo thể thơ hài cú:

Vướng mắc gì trong vòng hệ lụy ?

Cánh hoa kia tuy đẹp Nhưng rồi cũng tàn phai.

Bạch Phát lão nhân thì chọn thể thơ tứ tuyết:

Hoa tươi không nỡ hái Hoa rụng lòng bâng khuâng Vườn khuya bông tuyết trải Hạt bụi vào hư không.

Đọc thơ, Yến Nương mắt rướm lệ. Riêng Thạch Đạt Lang mừng thầm, vì chẳng ai bảo hắn đề thơ lưu niệm.

Bức tranh được treo lên, Yến Nương cúi đầu tạ khách. Bỗng có người lên tiếng:

- Chủ nhân nổi tiếng danh cầm, sẵn có đàn tỳ, sao không dạo nghe một bản ?

Vâng lời, Yến Nương đến bên vách nâng đàn, rồi không đợi giục, kéo bồ đoàn ngồi giữa phòng, vặn giây so phím, lựa một khúc hợp với tâm sự.

Mới đầu còn gẩy vài tiếng, tuy chưa thành khúc điệu mà đã tỏ ra lão luyện.

Tiếng đàn từ dây này sang dây khác vang lên, lúc khoan lúc nhặt, bộc lộ niềm u uẩn. Tiếng nào cũng mang nặng nỗi bất đắc chí thuở bình sinh, nghe ra nghẹn ngào thương cảm.

Lửu lụi dần, gian phòng tối hơn, chẳng ai để ý. Cử tọa dường như bị thôi miên bởi sức cám dỗ của tiếng đàn bi thiết. Mãi đến khi kết thúc, năm ngón tay nàng phả cả vào bốn dây, nghe đánh “toang”, tưởng như không chịu nổi những u uất, cây đàn muốn vỡ tung, mọi người mới giật mình sực tỉnh.

Yến Nương để đàn lại chỗ cũ, khiêm nhượng:

- Tiện nữ còn phải học nhiều, xin quý tôn khách lượng thứ.

Tân khách cúi đầu không đáp. Nói gì cũng bằng thừa sau những tiếng đàn như thế.

Yến Nương gọi người nhà mang thêm củi, gây lửa lớn hơn.

Câu chuyện đổi sang nghệ thuật pha trà và uống trà của một vài sắc dân miền bắc hải đảo. Dịp này Cổ Huy Đạo và Đại Quán chứng tỏ các vị quả là những bậc hiểu biết uyên bác về nghệ thuật dùng trà.

Trời đã khuya, có lẽ cuối giờ sửu, mọi người từ tạ ra về. Yến Nương đứng bên cửa cảm ơn quan khách, cúi chào từng người trong khi khách lần lượt buộc giày cỏ bước xuống thềm.

Thạch Đạt Lang cũng ngỏ lời từ biệt, nhưng Yến Nương giữ lại. Nàng kéo áo hắn nói nhỏ:

- Hãy khoan ! Đại hiệp ở lại đây đêm nay. Bất cứ vì lý do gì thiếp cũng không để chàng về được.

Đạt Lang thẹn, mặt đỏ như gấc. Hắn vờ không nghe, cứ xăm xăm bước.

- Kim Phong tiên sinh ! Tiện nữ giữ Thạch đại hiệp ở lại tối nay, được không ?

Thạch Đạt Lang bối rối, gạt tay thiếu phụ ra:

- Cô nương tha lỗi, tại hạ phải về.

Nhưng Cổ Huy Đạo bước đến bên, đẩy nhẹ hắn vào phòng và ghé tai nói nhỏ:

- Tráng sĩ, sao lại thế ? Ở lại đi, lúc nào về cũng được.

Thạch Đạt Lang tưởng mọi người đồng lõa với nhau giữ hắn ở lại để trêu cợt vì thấy hắn quê mùa. Nhưng nhìn nét mặt nghiêm trang của Cổ Huy Đạo và Yến Nương, hắn thấy là không phải thế. Đại Quán lầm lì chẳng nói câu nào, trong khi Hải Chính Hành và Lưu Cát cười lớn:

- Đạt Lang ! Ngươi là người có diễm phúc nhất Kyoto này đấy !Bỗng một ả thị tỳ đạp tuyết hớt hải chạy đến bên Yến Nương nói nhỏ mấy câu.

Nghe xong, nàng nghiêm sắc mặt:

- Tiện nữ đoán quả không sai. Mấy đường hẻm sau nhà bị vây kín rồi, chỉ có cổng chính là còn ra vào được, nhưng bị canh chừng. Ngoài đường nhiều kẻ đeo kiếm đứng tụm năm túm ba dòm ngó. Qúy khách phải cẩn thận, tiện nữ đã cho gọi phu cáng đến đón quý vị Ở ngoài. Riêng Thạch đại hiệp thì không thể nào dời đây được, nhất định phải ở lại.

Yến Nương phong cách đa tình rất mực, ngón đàn điêu luyện gây xúc động lòng người, thế mà khi hữu sự, nàng lại tỏ ra can đảm vô cùng, bình tĩnh cắt công việc đâu ra đấy, chẳng kém gì nam nhi. Thấy vết máu trên tay áo Thạch Đạt Lang, nàng có ý nghi, áy náy lo cho hắn nên đã phái người đi dò xét.

Yến Nương kéo Thạch Đạt Lang vào nhà trong, khép cửa lại:

- Thạch đại hiệp ? Bây giờ đã biết chuyện gì xảy ra ở ngoài rồi, chàng còn muốn đi không ?

- Tại hạ phải đi.

Yến Nương nghiêm mặt:

- Để làm gì ? Để chứng tỏ chàng không sợ họ phải không ?

Đạt Lang lặng thinh. Yến Nương tiếp:

- Nếu đại hiệp sợ bị chê là hèn nhát thì sáng mai ra gặp họ cũng chẳng muộn. Bây giờ họ đang phục kích, lại có số đông. Mãnh hổ nan địch quần hồ, nếu để chàng rơi vào bẫy của họ rồi mất mạng thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ và uổng chí bình sinh.

- Xin cảm ơn cô nương đã cho nghe những lời xác đáng. Nhưng còn danh dự … - Tiện nữ biết. Tiện nữ không khuyên đại hiệp trốn chạy, chỉ lưu tâm suy xét. Một cuộc xô xát xảy ra ở nơi này sẽ làm bao người vô tội chết oan. Lòng nhân có cho phép chàng làm như thế không ? Xin nghĩ kỹ, đừng vọng động ?

Thạch Đạt Lang cho là phải. Hắn xếp bằng trên chiếc bồ đoàn đặt ở góc phòng.

Nàng Yến ngồi bên lò sưởi, gọi:

- Thạch đại hiệp ! Đến đấy sưởi cho ấm, chỗ ấy lạnh lắm !

Nhưng hắn chối từ:

- Cô nương đi nghỉ, đừng quan tâm đến tại hạ. Khi nào trời sáng, tại hạ sẽ đi.

Mời mọc mãi, Thạch Đạt Lang vẫn chỉ cảm ơn, ngồi im như tượng. Thế nhưng sự vụng về của hắn không làm Yến Nương giận. Trái lại nàng thấy hắn có một vẻ gì khác thường, rất quyến rũ.

Yến Nương hơn Thạch Đạt Lang chừng năm tuổi. Cảm tình nàng đối với hắn như của một người chị mà cũng như của một người tình. Lẫn lộn, khiến nàng háo hức, say mê.

Có người nói nếu coi đàn ông chỉ như con bò vắt sữa lấy lợi, thì hãy làm nghề ca kỹ. Đối với Yến Nương, điều này không đúng, vì nàng, tuy đã được huấn luyện để trở thành một danh kỹ tài sắc vẹn toàn, tiểu nữ vẫn không để mất đi bản chất dễ cảm, dễ rung động của lòng mình. Nàng vẫn còn biết yêu, biết cảm.

Nhìn gã thanh niên ngồi kia, dáng cứng đơ, tuy là một kiếm sĩ đã xông pha nhiều trận, nhưng hãy còn ngây dại trong tình trường, từ chối mọi lời mời mọc, không dám đến cả nhìn mình nữa, như sợ ánh mắt mình mê hoặc, nàng cảm thấy xót thương và tự nhiên trong lòng dâng lên một niềm mến yêu dào dạt, như một trinh nữ lần đầu gặp người tình lý tưởng.

Tuyết ở mái hiên đổ xuống nghe như có ai nhảy vào vườn. Thạch Đạt Lang rướn mình, nghe ngóng. Mỗi lần có tiếng động như thế, thần kinh hắn lại căng thẳng, các chân tóc dựng đứng. Yến Nương rùng mình. Lúc gần sáng là lúc lạnh nhất trong đêm, nhưng không phải nàng rùng mình vì lạnh mà vì nhìn gã thanh niên kia tinh thần căng thẳng quá độ, nét mặt khẩn trương đến thành dữ dội.

Ấm nước sôi phì phì trên bếp. Tiếng nước reo quen thuộc khiến nàng cảm thấy bớt trống trải. Yến Nương pha trà và gọi:

- Sắp sáng rồi. Đại hiệp lại uống trà, ngồi gần lửa cho ấm.

- Cảm ơn cô nương.

Thạch Đạt Lang đáp nhưng vẫn không nhúc nhích.

Chén trà nguội dần. Yến Nương chẳng muốn khẩn khoản mời nữa làm phiền người bạn trẻ. Tuy nhiên nàng khó chịu. Đổ chén trà nguội vào bình đựng nước cặn, nàng tự nhủ:
”Thật phí ! Thừa trà cho tên thô lỗ này uống. Chẳng biết một chút lịch thiệp gì !”.

Thế nhưng nhìn hắn nàng lại thương.

- Thạch đại hiệp !

- ... ?

- Sao đại hiệp có thái độ như thế ?

- Tại hạ không muốn trễ nải sự đề phòng.

- Đề phòng cái gì ?

- Kẻ thù ! Dĩ nhiên ! Cô nương đã biết rồi !

- Đại hiệp lầm ! Nếu cứ tiếp tục thế này thì khi kẻ thù đến, chàng sẽ kiệt sức, không còn đủ tỉnh táo mà đối phó. Thiếp không biết gì về kiếm đạo, nhưng nhìn đại hiệp, thấy không thắng được. Chàng sẽ chết trong đám loạn đao mà thôi. Thật đáng buồn và đáng tiếc !

Lời nói của Yến Nương có lẽ chỉ do lòng lân ái, thương xót, nhưng làm Thạch Đạt Lang bối rối. Hắn dời chỗ ngồi đến bên bếp lửa.

- Cô nương chê tại hạ còn non nớt ?

- Thiếp làm phật ý đại hiệp chăng ?

- Không. Nhưng tại hạ muốn được nghe những lời giải thích rõ hơn.

Sau trận đấu vừa rồi ở hậu viên Kim Các Tự, Thạch Đạt Lang ý thức rõ rệt mối nguy ghê gớm đương bao vây hắn. Kẻ thù bây giờ là toàn thể phái Hoa Sơn rình rập, chỉ chờ cơ hội thuận tiện là ra tay bất cần luật lệ. Thạch Đạt Lang muốn bỏ đi, mai danh ẩn tích một thời gian nhưng nghĩ thế hèn quá lại thôi. Hắn phải trở lại cáo biệt những người đã cư xử rất tốt với hắn như mẹ con Cổ lão mẫu. Ngẫu nhiên làm sao lại gặp Yến Nương.

Nàng ngụ ý chê hắn chưa đủ trưởng thành. Có lẽ đúng. Hắn muốn hỏi cho ra lẽ.

- Xin cô nương cho biết tôn ý.

Yến Nương không trả lời. Thạch Đạt Lang cau mặt tiếp:

- Hay cô nương đùa, chế giễu tại hạ ?

Nụ cười vừa nở trên môi vội tắt ngay, Yến Nương lắc đầu:

- Tiện nữ đâu dám thế. Đối với một kiếm sĩ, trước vấn đề sinh tử như vậy, tiện nữ đâu dám đùa cợt.

- Vậy ý cô nương ra sao, đừng để tại hạ nóng ruột hơn nữa.

- Đại hiệp muốn nghe đàn chăng ? Tiện nữ xin gẩy một bản tặng đại hiệp.

- ... ?

- Mà thôi ! Trong hoàn cảnh thế này, đại hiệp còn lòng dạ nào nghe đàn nữa, phải không ?

Không hiểu ý tứ Yến Nương ra sao, Thạch Đạt Lang đấu dịu:

- Sao không nghe ? Thì cô nương cứ đàn đi, ít ra tiếng đàn của cô nương cũng làm tại hạ thư thái.

Vâng lời, Yến Nương dạo một bản hành khúc.

Đàn xong, nàng nói:

- Có bao giờ đại hiệp tự hỏi một cây đàn chỉ có bốn dây như thế này mà có thể diễn tả được mọi vi tế của âm thanh không ?

- Không. Tại hạ không rõ.

- Cây đàn cũng như con người đấy, đại hiệp ! Nhưng trước khi giải thích, để tiện nữ đọc một đoạn trong bài Tỳ Bà Hành của Bach Cư Dị tả tiếng đàn, chắc đại hiệp biết:

Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt Trước nghê thường sau thoắt lục yêu Dây to dường đổ mưa rào Nỉ non dây nhỏ như trò chuyện riêng Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy Mâm ngọc đâu bỗng nẩy hạt châu Trong hoa, oanh ríu rít nhau Suối tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước Ngựa sắt giong xô xát tiếng đao Cung đàn lựa khúc thanh tao, Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây ...

Xem thế, cây đàn nhỏ bé này có thể phát ra không biết bao nhiêu là âm giai, từ những tiếng nhỏ như tơ, cao tựa hạt châu nẩy trên mâm bạc và trầm tựa như mưa rào đổ, nhất nhất đều được cả. Tại sao vậy ? Nhờ cái gì mà cây đàn có thể rung động đáp ứng mọi sự sai khiến của người gẩy ? Ngay từ nhỏ, lúc đang học, thiếp đã thắc mắc phá một cây đàn ra xem. Mãi sau mới biết được cái bí mật ấy nằm trong lòng đàn. Nó chính là cái tâm của cây đàn.

Nếu đại hiệp coi kỹ, sẽ hiểu tại sao nhờ nó mà cây đàn rung động, gây ra những âm hưởng vô cùng tinh tế, vi diệu, và cũng nhờ nó mà mỗi cây đàn có một âm sắc riêng, không cây đàn nào giống cây đàn nào.

Yến Nương đặt cây tỳ bà lên kỷ, cầm dao nhọn đâm mạnh một nhát, trước sự sững sờ của Thạch Đạt Lang. Hắn không ngờ và cũng không cản kịp. Thạch Đạt Lang cảm thấy như đau nhói ở tim và như có máu từ trong lòng đàn rỉ ra. Hắn giữ một tiếng kêu.

Bàn tay nhanh nhẹn, quyết liệt của Yến Nương giơ lên đâm xuống ba lần. Cây đàn vỡ toang.

Nàng cầm cây đàn vỡ giơ lên cho Thạch Đạt Lang xem. Hắn nhìn mặt Yến Nương, nhìn mảnh đàn vỡ và nhìn những ngón tay trắng muốt còn nắm con dao nhọn, tự hỏi người đứng trước mặt hắn là nàng danh kỹ đất thần kinh có ngón đàn tuyệt diệu hắn vừa được nghe hay chỉ là một thiếu phụ mà bản chất tàn ác đã được phô diễn trong hành động hắn vừa chứng kiến.

Yến Nương chỉ tay vào mảng gỗ trong lòng đàn và nói:

- Miếng gỗ cong này chính là cái tâm của cây đàn. Nếu nó cứng và thẳng, tiếng đàn sẽ cứng ngắc, buồn tẻ. Phải gọt nó cong, nhưng như thế cũng chưa đủ. Lúc dán vào lòng đàn, hai đầu nó phải để lơi cho tự do rung động thì mới tạo nên được sự phong phú trong âm thanh.

Tâm trí con người cũng thế, phải mềm dẻo thích nghi. Sau mỗi khi căng thẳng, hãy để cho lòng thoải mái. Cứng quá thì gãy.

Mắt Thạch Đạt Lang không rời khỏi cây đàn. Môi hắn mím chặt. Yến Nương lại tiếp:

- Điều tiện nữ vừa nói, ai chơi đàn cũng biết. Vì thế, búng tay một cái, thiếp có thể vận dụng cả bốn dây, phát ra tiếng gió rít, mưa gầm hay sét nổ, nhờ đặc tính quân bình hòa hợp của miếng gỗ trong lòng đàn. Tối nay, khi nhìn đại hiệp lần đầu tiên, tiện nữ không thấy một chút gì gọi là mềm dẻo thoải mái. Chỉ thấy sự ngay đơ, cứng ngắc làm cho tiện nữ lo sợ. Xin đại hiệp tha lỗi cho, tiện nữ không bao giờ có ý đùa cợt hay chế giễu đại hiệp, đại hiệp có hiểu cho không ?

Một tiếng gà gáy xa xa. Về phương đông, trời đã rạng hoa lê. Thạch Đạt Lang ngồi đăm chiêu nhìn cây đàn vỡ, những mảnh gỗ vụn rải rác trên mặt kỷ và sàn nhà. Hắn không nghe tiếng gà và cũng không ngờ trời đã sáng.

Chương 42: Trái tim đau

Tiết trời ấm áp đã hai ngày. Tuyết tan hết từ lâu, và ở trong vườn những lá non lại mới bắt đầu nhú.

Buổi trưa, không khí oi nồng. Hơi nước từ dưới đất bốc lên rung rung trong ánh nắng chói lòa gay gắt. Người ta đã phải mặc áo mỏng mùa hè thay cho áo kép.

Bên chiếc cổng tò vò lớn trước tư dinh Tả xuyên hầu Lưu Cát, một thiền sư trẻ tuổi đang đứng chờ, nhẫn nại. Nhà sư trang phục theo lối lữ hành:

áo xắn cao, quần bó chẽn, vai đeo tay nải, bụi đường bám lốm đốm trắng nhiều chỗ. Gọi cổng mấy lần không thấy ai ra mở nhà sư trẻ tỏ vẻ sốt ruột. Ông dùng cây vồ nhỏ gõ vào cánh cổng vài lần nữa cũng không kết quả, bèn bỏ đi, men theo chân tường đá vòng quanh mãi.

Đến một chỗ tường được thay bằng hàng giậu thấp, ông dừng lại ghé mắt nhìn vào. Bên trong, lẩn giữa những lùm cây cắt xén gọn ghẽ, là mấy gian nhà cỏ.

- Thầy chùa tìm ai ?

Nhà sư giật mình. Đang dáo dác nhìn quanh xem người vừa hỏi đứng chỗ nào, thì lại nghe tiếng nói tiếp, giọng dấm dẳn buông sõng:

- Muốn xin ăn thì lại đằng bếp. Chỗ này là nhà khách, có gì đâu !

Định thần nhìn kỹ, mới thấy một thằng bé trạc mười bốn mười lăm, đen đủi, đứng bên trong giậu. Nhà sư ngạc nhiên, kho hiểu sao trong dinh Lưu Cát tướng công lại nuôi những gia nhân nhỏ tuổi thiếu lễ độ như vậy. Tuy nhiên, vẫn ôn tồn:

- Bần tăng không phải kẻ đi khất thực. Bần tăng là Giác Nhiên ở trấn Izumi, mang thư đến cho Đại Quán, nghe nói ngụ Ở đây. Thí chủ phải chăng là tiểu bộc trong dinh ?

- Không phải. Tôi tên Giang, khách của Lưu tướng công, cũng như Đại Quán, không phải người hầu.

- Mô Phật ! Bần tăng không biết. Vậy phiền tiểu thí chủ vào báo với Đại Quán thiền sư có Giác Nhiên đợi ngoài này.

- Được ! Để tôi gọi.

Dứt lời, chạy ngay đi. Trong lúc vội vàng, thế nào vấp phải chiếc rễ cây lớn mọc chồi trên mặt đất, ngã sóng soài. Mấy quả quít giấu trong tay áo rơi ra ngoài lăn lông lốc.

Thằng bé nhặt lên gom lại rồi lật đật vào nhà. Lúc sau trở ra nói:

- Đại Quán đi khỏi rồi.

- Đi đâu ?

- Hình như lên chùa Phổ Tế.

- Bao giờ về ?

- Không rõ. Người nhà bảo “sẽ về ngay”.

Nhà sư đứng tần ngần một lát, đoạn mở tay nải đeo trên vai ra rút một phong thư định đưa cho Giang, nhưng nghĩ sao ông lại cất đi và nói:

- Bần tăng muốn ngồi chờ Đại Quán về. Tiểu thí chủ có biết chỗ nào có thể ngồi chờ được mà không làm phiền đến ai thì chỉ giùm.

Giang gật đầu, chui hàng rào ra dẫn nhà sư trẻ tuổi qua sân đến một căn nhà đã đổ nát dùng làm lẫm lúa.

- Đây, chỗ này. Thầy ngồi đợi ở đây chắc chẳng làm phiền ai đâu.

Lẫm lúa bỏ hoang đã lâu ngày. Rêu mọc từng đám trên nền đất ẩm lẫn với những đống phân bò và bánh xe gẫy, lưỡi cày han rỉ.

Nhà sư trố mắt nhìn Giang, chưa kịp nói câu gì, Giang đã bỏ chạy.

Đến trước căn nhà gỗ về phía tây hoa viên, nó gọi:

- Cô Oa Tử ! Em mang quít về cho cô đây !

Đã mấy ngày nay, Oa Tử bệnh nằm liệt giường. Thầy thuốc do Đại Quán mời đến khám nói nàng bị tâm bệnh, cắt cho mấy thang thuốc bổ. Nhưng nàng nào có uống.

Thuốc sắc rồi để nguội phải đổ đi. Oa Tử sờ tay lên má, biết mình gầy lắm. Những gân xanh nổi rõ trên mu bàn tay làm ngón tay nàng như dài và trắng hơn. Từ khi ngất đi sau miếu sơn thần đêm hôm đó, Oa Tử được đưa về tĩnh dưỡng tại tư dinh Lưu Cát. Sự sợ hãi, thất vọng và tủi cực làm tinh thần và thể chất vốn đã yếu đuối của nàng không còn được như xưa nữa. Lúc nào Oa Tử cũng hâm hấp sốt mà cũng chẳng biết đói. Sáng nay, Oa Tử thèm ăn một quả quít. Nàng ngỏ ý với Giang. Thằng bé xuống bếp nhưng chẳng may, nhà bếp không có thứ trái cây ấy. Nó chạy ra tiệm thực phẩm để mua cũng không được.

Vòng ra phố chợ, chỉ thấy rau đậu lẫn với các quầy hàng xén bán kim chỉ gương lược, chẳng chỗ nào bán quít.

Thất vọng, Giang trở về, nghĩ không còn cách gì khác ngoài cách xem vườn nhà nào trồng quít thì hái trộm vài quả. Qua một thửa vườn cây cối sum sê, thấy hai cây chĩu chịt những quả còn xanh, Giang mừng hết sức, mon men đến gần. Ngờ đâu, chẳng phải quít mà chỉ là mận. Nó không biết mùa này đâu phải là mùa quít !

Thất thểu đi một lúc, bỗng mắt Giang sáng lên vì nó vừa trông thấy trên bệ thờ lộ thiên ở góc vườn nhà kia một đĩa trái cây trong đó để lẫn lộn những quả táo xanh và mấy quả quít đỏ.

Giang nhổ nước bọt vào lòng bàn tay và xoa hai bàn tay với nhau. Một cử chỉ quen thuộc nó thường làm mỗi khi gặp công việc khó khăn cần phải dùng nhiều sức hay cần phải tập trung ý chí. Đoạn nhìn trước nhìn sau không thấy ai, nó chui tọt qua hàng rào, nhanh như con sóc.

Lấy ba quả quít bỏ vào tay áo chui ra, đối với Giang không có gì khó khăn. Nhưng ra khỏi vường, nó sợ, khấn thầm trong bụng:

“Lạy các ngài, xin đừng phạt con. Con không ăn quít này, con chỉ mượn tạm, sau sẽ xin hoàn lại đầy đủ”. Nó không biết bàn thờ thờ ai nên khấn bừa là các ngài, và cũng không dám nói là lấy cho cô Oa Tử ăn, sợ thần linh phạt cô nó.

Giang bày ba quả quít lên bàn, bóc một quả đưa cho Oa Tử. Nhưng Oa Tử không động đến.

- Sao cô không ăn ?

Oa Tử vùi mặt xuống gối, nước mắt chan hòa. Giang tặc lưỡi:

- Cô lại khóc rồi ! Sao cô khóc hoài vậy ?

- Cô xin lỗi em.

- Cô đừng xin lỗi nữa. Cô ăn đi cho em vui lòng.

- Cám ơn Giang, em cứ để đấy, cô ăn sau.

- Quả này em bóc rồi, cô ăn đi.

- Em đối với cô tốt quá, nhưng quả thật bây giờ cô chưa muốn ăn.

- Tại cô khóc nhiều quá đấy mà ! Cô nương, có chuyện gì làm cô nương buồn thế ?

- Cô khóc vì sung sướng đấy em ạ. Em tốt quá !

- Em không muốn cô khóc và gầy yếu như thế này đâu. Cô làm em cũng muốn khóc.

Oa Tử chùi nước mắt:

- Thôi cô không khóc nữa. Cô hứa với em cô không khóc nữa, em bằng lòng chưa ?

- Cô phải ăn quả quít này em mới bằng lòng. Cô muốn ăn quít, em đi lấy về cho cô, bây giờ cô lại không ăn. Nếu không ăn uống gì thì làm sao mà sống được ?

- Ừ, thì cô ăn đây !

Oa Tử cầm quả quít đã bóc. Những ngón tay trắng xanh run run nhặt những sợi xơ trắng trên múi quít, nàng tách quả quít ra làm hai, đưa cho Giang một nửa.

- Em ăn với cô.

Giang nuốt nước bọt. Nó thèm lắm, nhưng nghĩ đến lời đã khấn, nó không dám.

- Không, em không ăn đâu, cô ăn đi.

- Sao không thấy thầy Đại Quán ở nhà. Em biết thầy đâu không ?

- Hình như lên chùa Phổ Tế rồi. Giang đáp.

- Hôm qua thầy Đại Quán có gặp sư phụ của em phải không ?

- Vâng, sao cô biết ?

- Thầy Đại Quán nói. Không rõ thầy ấy có cho Thạch Đạt Lang biết chúng mình ở đây không ?

- Em cũng không rõ.

- Thầy Đại Quán bảo với cô sẽ dẫn Đạt Lang về đây. Thầy ấy có nói cho em biết thế không ?

- Không.

- Vậy chắc thầy quên rồi.

- Cô có muốn em nhắc không ?- Ừ, em nhắc thầy thì tốt.

Nàng mỉm cười. Lần đầu tiên từ khi nằm bệnh, Giang thấy Oa Tử mỉm cười, vẻ sung sướng lộ trên nét mặt.

- Nhưng đừng nhắc thầy chuyện ấy trước mặt cô.

- Sao vậy ?

- Thầy ấy gớm lắm, cứ cho là cô mắc bệnh tương tư, rồi chế giễu cô.

- Thế nếu sư phụ em đến gặp cô thật, cô có hết bệnh không ?

- Đấy ! Đến em mà cũng nghĩ cô như thế !

Tuy nói vậy, nhưng Oa Tử vui sướng hẳn ra. Niềm hân hoan và hy vọng lóe sáng trên khuôn mặt xanh xao như tia nắng hửng lên trong một buổi chiều thu ảm đạm.

Có tiếng hắng giọng bên ngoài và tiếng gọi của một gia nhân:

- Cô nương ! Giang có trong ấy không ?

- Có. Chuyện gì thế ?

- Đại Quán muốn gặp Giang. Thầy có việc muốn dặn.

Giang chạy vội ra, Oa Tử gọi với:

- Đừng quên nhắc thầy Đại Quán việc ấy, nghe em !

Rồi nằm xuống quay mặt vào vách, kéo chăn che kín đôi má gầy ửng đỏ.

oo Tả xuyên hầu Lưu Cát ngồi đàm đạo với Đại Quán trong thư phòng phía sau đại sảnh. Giang theo người hầu vào, cúi đầu chào Lưu Cát lấy lệ rồi chạy ngay đến bên Đại Quán ghé tai nói nhỏ:

- Lúc nãy có một ông sư đến tìm thầy. Ông ấy ở trấn Izumi tới và cũng ăn mặc giống như thầy. Cháu đi gọi lại nhé !

- Thôi không cần. Ta gặp ông ấy rồi. Ông ấy than phiền mày đối với ông ấy tệ quá.

- Cháu đối tệ với ông ấy bao giờ ?

- Để khách ngồi đợi ở nhà kho, cạnh đống phân bò là không tệ à ?

- Thì tại ông ấy bảo tìm hộ cho một chỗ ngồi chờ không muốn ai làm phiền, cháu mới dẫn đến đó chứ.

Lưu tướng công nghe chuyện, cười bò ra, rung cả hai vai, rút khăn thấm nước mắt mấy lần. Mãi sau mới lấy lại được vẻ trang nghiêm. Đại Quán cũng lắc đầu, mỉm cười:

- Cái thằng này, thật bất trị !

Lưu Cát lại hỏi:

- Vậy ra đại sư tính đi thẳng về Tajima, chứ không qua trấn Izumi nữa đấy ?

- Dạ chính thế. Bần tăng sợ về không kịp.

Giang ngạc nhiên, giương mắt tròn xoe nhìn Đại Quán:

- Thầy định đi đâu ?

- Ta phải về nhà thăm lão mẫu. Bà bệnh nặng.

- Thầy cũng có mẹ à ?

Đại Quán cười:

- Dĩ nhiên là có.

- Bao giờ thì thầy trở lại ?

- Cái đó còn tùy tình trạng sức khỏe của bà.

- Vậy cô Oa Tử với cháu phải ở đây, không gặp lại thầy nữa ư ?

- Sao lại không ? Ta đã xin với tướng công cho Oa Tử lưu lại đây ít bữa đến khi bình phục. Cháu phải săn sóc và khuyên Oa Tử chịu khó ăn uống. Đối với nàng, dưỡng sinh đúng phép tốt hơn là uống thuốc.

Giang thừ người ra suy nghĩ:

- Khó lắm ! Cháu đã khuyên nhiều lần mà cô Oa Tử chẳng nghe. Cháu sợ không đủ sức.
- Ta biết. Đấy là tâm bệnh, phải kiên nhẫn mới được.

- Nếu sư phụ cháu đến thăm, chắc cô Oa Tử khỏi. Thầy gặp sư phụ cháu rồi phải không ?

- Ừ, ta đã gặp Thạch Đạt Lang.

- Ở đâu ?

Đại Quán nhìn Lưu Cát, phân vân không muốn đáp. Giang tiếp luôn:

- Bao giờ sư phụ cháu đến ? Thầy có hứa dẫn sư phụ cháu đến thăm cô Oa Tử phải không ?

- Ờ ...ờ ...

Lưu tướng công xen vào nói:

- Thạch Đạt Lang ! Có phải anh chàng thanh niên kiếm sĩ ta gặp tại quán Lạc Thiên đó không ?

- Thưa phải. Đại Quán đáp.

Đoạn quay về phía Giang, ông ôn tồn giải thích:

- Ta không quên lời hứa ấy đâu. Vừa rồi ở chùa Phổ Tế về, ta có tạt qua ngõ Kim Phong tìm Thạch Đạt Lang nhưng không thấy. Chắc hắn vẫn còn ở nhà Yến Nương.

Lưu tướng công nhướng lông mày:

- Thật ư ?

Rồi lẩm bẩm:

- Tên quê mùa ấy có gì đặc biệt mà Yến Nương phải quan tâm đến thế ?

Đại Quán nghe, không khỏi cười thầm, nhưng cũng phụ họa:

- Lòng đàn bà khó dò. Hình như chẳng nhiều thì ít, Yến Nương cũng như Oa Tử, đều bị bệnh cả. Mà anh chàng Đạt Lang này xem ra rồi cũng như các thanh niên khác thôi, khó tránh khỏi bị quyến rũ.

Trời đã về chiều. Đại Quán đứng dậy cáo từ. Lúc chia tay mỗi người một tâm trạng, không buồn cũng chẳng bịn rịn. Nhà sư chợt đến, chợt đi là sự thường, không ai lấy làm ngạc nhiên hoặc tỏ ý lưu lại.

Đại Quán ra khỏi thư phòng, Giang chạy theo nắm áo:

- Thầy đến an ủi cô Oa Tử cháu một chút. Cô ấy cứ khóc hoài, cháu không sao dỗ được.

- Oa Tử có nhắc đến Thạch Đạt Lang không ?

- Có. Cô Oa Tử hỏi thầy bao giờ dẫn Thạch Đạt Lang về ? Nếu ông không về, chắc cô Oa Tử chết mất.

- Không sao đâu, rồi sẽ khỏi.

- Thầy Đại Quán ! Yến Nương là ai vậy ?

- Sao cháu hỏi ta câu đó ?

- Thì lúc nãy thầy nói sư phụ cháu ở nhà Yến Nương mà !

- Ờ ...ờ ...Bây giờ ta không đến thăm Oa Tử được, nhưng ta muốn nhắn một lời khuyên.

- ... ?

- Cháu bảo Oa Tử hãy cố gắng ăn uống, giữ gìn sức khỏe. Đó là phương cách thiết thực nhất trong lúc này.

- Thì cháu cũng đã nói nhiều lần như vậy. Cô Oa Tử không nghe. Cháu biết làm sao được ?

- Nếu Oa Tử không nghe, cháu cứ nói thật ...

- Nói thật cái gì ?

- Nói thật là Thạch Đạt Lang đang say mê một kỹ nữ tên Yến Nương ở xóm Rokyjo và hiện ở nhà nàng mấy đêm nay. Oa Tử có ngu mới đi yêu một người như vậy !

Giang trợn mắt nhìn Đại Quán. Nó sững sờ không nói nên lời. Lát sau mới hét lớn:

- Nói láo ! Ông sư này nói láo ! Ông ấy là thầy tôi ! Ông ấy là kiếm sĩ, chưa bao giờ làm điều gì bậy ! Ông xui tôi nói thế để cô Oa Tử tự tử chết hay sao ? Ông mới là thằng ngu, thằng khùng !

Đại Quán cười ha hả.

- Này ông đầu trọc kia, ông không được nói xấu sư phụ tôi ! Mà ông quyền gì bảo cô Oa Tử là ngu !

Đại Quán gật gù:

- Khá ! Cháu thật là đứa trẻ tốt, có lòng trung hậu.

Rồi đưa tay xoa đầu Giang. Nhưng Giang cúi tránh, không để tay ông chạm vào đầu nó.

- Từ nay, không nhờ ông giúp việc gì nữa. Tôi sẽ tự đi tìm thầy tôi dẫn về cho cô Oa Tử.

- Cháu biết chỗ nào không ?

- Không. Nhưng tôi sẽ tìm được !

- Tùy. Nhưng ta bảo trước, tìm chỗ ở của Yến Nương không phải dễ. Cháu muốn biết, ta chỉ cho.

- Không cần ! Tôi không cần ông chỉ.

Đại Quán nhìn thằng bé rồi mỉm cười nói:

- Giang ! Ta không thù gì Oa Tử mà cũng chẳng ghét Thạch Đạt Lang. Trái lại, trong thâm tâm, ta vẫn mong ước cả hai sum họp với nhau, sống một cuộc đời bình thường ...

- Vậy tại sao ông lại nói những chuyện độc ác như thế ?

Đại Quán thở dài, ngồi xuống gốc cây bên vệ đường:

- Ta lầm ! Ta không ngờ những điều ta dự đoán làm cháu hiểu lầm ta ! Cháu nói có lý, nhưng cháu phải biết cả hai đều là những người bệnh. Thạch Đạt Lang, sư phụ cháu, hắn đang ở cái lúc phải tự xét mình, khắc kỷ để tự tu dưỡng. Hy vọng hắn ý thức được đàn bà còn nguy hiểm hơn là đao kiếm gấp bội lần. Nhưng ngoài Thạch Đạt Lang ra, ai có thể giải quyết được những việc riêng tư ấy của hắn. Nên ta nghĩ tốt hơn hết cứ để cho hắn tự giác ngộ. Còn Oa Tử, nàng rất cần giúp đỡ. Ta là thiền sư đã nhập thế, có bổn phận giúp đỡ nàng, chữa những người mắc tâm bệnh cũng như thầy lang chữa những người mắc bệnh thể chất. Nhưng hỡi ơi ! Ta chẳng làm gì được ! Nếu Oa Tử không ý thức nổi được rằng mối tình của nàng vô vọng thì ta chỉ còn cách khuyên nàng giữ lấy sức khỏe mà thôi. Và nếu không được nữa thì nói thật cho nàng biết.

Đại Quán nói thao thao, chẳng biết Giang có hiểu gì hay không hay chỉ là để tự thuyết phục. Thằng bé vẫn còn giận:

- Ông không cần giúp cô Oa Tử. Tôi sẽ giúp cô ấy.

- Vậy tốt. Đại Quán gật đầu. Cháu đến xóm Liễu xem Thạch Đạt Lang làm gì rồi về nói cho Oa Tử biết. Oa Tử sẽ đau lòng lắm nhưng cũng giúp cho nàng sáng mắt.

Ông nói đoạn, đứng dậy sửa lại tay nải, chống gậy bỏ đi.

Giang nhìn theo, lẩm bẩm:

- Sư khùng, láo khoét !

Rồi nghĩ thế nào, nó đưa tay ra banh mồm lè lưỡi, vẫy vẫy ngón tay sau lưng Đại Quán, bắt chước cử chỉ của những trẻ đầu đường xó chợ chế giễu những nhà sư khất thực.

Bóng Đại Quán khuất dần sau hàng cây, Giang một mình đứng lặng. Nó thấy cay cay ở mắt và tự nhiên nước mắt trào ra. Nó gục đầu vào thân cây nức nở.

Khi lòng đã nguôi nguôi, Giang chùi nước mắt. Như con chó con mất mẹ, nó thất thểu đi tìm người hỏi thăm đường đến xóm Liễu.

Chương 43: Hương trầm

Trong xóm Liễu, lác đác đã có vài quán rượu và tiệm ăn lên đèn. Khách làng chơi thưa thớt. Giờ này, các ả giang hồ còn bận trang điểm, không mấy ả đứng phất phơ đón khách trước cửa.

Trời chưa tối, nhưng hai chiếc đèn lồng lớn treo trước quán Lạc Thiên đã được thắp sáng. Giang đến xóm yên hoa, nhận ra ngay nơi mình muốn tìm, nên dừng chân trước cổng chính Lạc Thiên Quán nghe ngóng. Nó không rõ xóm Liễu ở đâu, cứ tưởng phải đi xa nên đã chuẩn bị kỹ cho cuộc hành trình. Nói là chuẩn bị nhưng thực ra có gì đâu, đeo thêm cái túi vải gai trong bỏ vài thứ lặt vặt, kể cả cái mặt nạ nó ưa thích, thường lúc nào nhàn rỗi lại đem ra ngắm và đeo vào mặt, và thanh gươm gỗ dài. Đôi dép vẫn là đôi dép cỏ cũ, xơ xác, mòn vẹt gót.

Qua cánh cửa khép hờ, đang ngó nghiêng nhìn vào trong sân, bỗng thấy một người dáng dấp và y phục có vẻ như gia nhân trong quán đi ra. Thấy Giang, gã ngạc nhiên hỏi giọng hách dịch.

- Mày là ai ? Trẻ con đến đây làm gì ?

- Tôi tìm sư phụ. Thạch Đạt Lang ở đây phải không ? Bác làm ơn báo cho ông ấy biết có học trò ông đợi ngoài này.

Sự ngạc nhiên trên mặt gã gia nhân bỗng biến mất, nhường chỗ cho sự khó chịu và tức giận. Cũng vì Thạch Đạt Lang mà hai ngày nay, phái Hoa Sơn cho người đi lục soát khắp xóm, công việc làm ăn của gã bị đình trệ, tiền trà nước thu vào sút kém hẳn đi.

Nhớ đến lời dặn của viên quản lý, gã cau mặt:

- Ở đây không có ai tên đó cả. Nhãi con, mới mở cửa chưa có khách đã đến quấy rầy ! Đi ra !

Đoạn xô Giang ra khỏi cổng. Giang vung tay gạt mạnh:

- Ơ hay ! Bác này làm gì thế ? Tôi hỏi tin, không cho biết thì thôi, can gì đẩy tôi !

- Á à ...thằng này bướng ! Mày đến đây do thám hả ?

- Và không đợi trả lời, gã nắm ngay lấy cổ áo Giang nhấc bổng lên, ném bịch ra ngoài cửa.

Giang ngã ngồi xuống vệ đường, đau điếng. Cơn giận nổi dậy, phừng phừng, mắt hoa lên, nhớ đến lúc đánh nhau với con chó đen trong trang trại nhà Trúc Mộ, Giang rút phắt thanh kiếm gỗ cầm tay xông vào chém bừa vào mặt kẻ thù. Gã gia nhân tránh kịp nhưng cũng bị lưỡi kiếm sướt qua má, máu chảy ròng ròng. Tay ôm má, miệng la, tay kia túm áo Giang, gã quật thằng bé xuống đất. Song Giang lấy chân đạp lên đùi địch thủ, tung mình đứng ngay dậy được, rồi sẵn gươm và nhân lúc kẻ thù hãy còn ở thế nửa quỳ nửa đứng chưa vững, nó giơ kiếm chém một nhát lên đầu gã. Nhát chém khá mạnh vì Giang dùng cả hai tay nắm chuôi kiếm bổ xuống. Nhưng may cho gã, thanh kiếm gỗ không sắc, tóc gã lại rậm buộc lên thành búi lớn trên đỉnh đầu nên chỉ nghe tiếng bịch, gã gia nhân thở phì một cái, quay lơ ra đất, như một khúc gỗ bị vất lên cỏ.

Trời chạng vạng. Lợi dụng lúc tranh tối tranh sáng, Giang lẩn vào bụi rậm bên cổng và thoắt cái đã biệt dạng.

Sự việc xảy ra mau chóng, song không qua được mắt một ả kỹ nữ đứng trên lầu tiệm ăn nhỏ gần đấy. Ả hô hoán:

- Giết người ! Có kẻ giết người ! Thằng bé mặc áo đen mang gươm giết gia nhân quán Lạc Thiên rồi !

Người ta đổ xô ra gọi nhau í ới, mang đèn bu xung quanh xác gã gia nhân Lạc Thiên quán. Nhưng gã không chết, chỉ ngất đi. Xoa rượu và giật tóc mai một hồi thì tỉnh, gã được dìu vào nhà. Hú vía ! Ở cái xóm yên hoa này, ẩu đả xảy ra hàng đêm. Nếu không đổ máu chết người thì chẳng ai để ý và chủ quán cũng giấu nhẹm nội vụ đi hay tìm cách giảm bớt sự trầm trọng để khỏi bị điều tra phiền phức và tránh tai tiếng.

Phố chính đã lên đèn rực rỡ. Rặng liễu trồng hai bên vệ đường tỏa ánh sáng xanh mát huyền ảo. Khách chơi bắt đầu đổ đến tấp nập. Nhưng không phải con lộ nào trong xóm cũng đông đúc và sáng sủa như thế. Quanh co giữa những căn nhà gỗ nhỏ của những người buôn bán lặt vặt hoặc những kẻ sống bám vào các tiệm nước, các nhà hành lạc, là những bãi hoang tối tăm, những đoạn đường sình lầy ít người qua lại. Khu Rokyjo này đang được mở rộng nhưng sự phát triển quá nhanh, các tiện nghi về giao thông không theo kịp.

Giang trốn trong bãi hoang một lúc lâu, hay ít ra nó tưởng thế. Tiếng mõ cầm canh từ xa vẳng lại rời rạc. Sao khuya cũng đã lác đác trên bầu trời vẩn đục và mờ mờ do ánh sáng trong xóm hắt lên. Thấy không ai đuổi theo tìm mình, Giang vững dạ, nhưng lại áy náy lo cho Oa Tử và buồn phiền chẳng biết bây giờ sư phụ nó ở đâu. Nó đánh liều tìm đường ra khỏi bãi hoang, theo lối mòn để ra đường chính. Nhưng đi được một quãng chạm ngay phải hàng rào, Giang phải quay lại tìm lối khác. Không hiểu sao, lối này cũng lại dẫn đến chân hàng rào như lúc nãy. Rào thì cao, làm toàn bằng cây gỗ to bằng bắp đùi đẽo nhọn, dựng khít bên nhau, những khe hở nhỏ đến nỗi thò bàn tay qua không lọt. Giang phân vân lo sợ. Nó không biết xóm này chỉ có một cổng chính, xung quanh là hàng rào cao một trượng bao bọc để giữ an ninh cho xóm.

Giang quay trở lại, cứ nhắm nơi nào có ánh đèn mà tới. Nhưng nó cũng cẩn thận, tránh những chỗ sáng quá. Nó lùi lũi đi, hy vọng thoát khỏi khu này, một nơi mà nó cho là toàn những người không tốt, mặc dầu họ ăn mặc đẹp đẽ.

Qua một ngã tư, bỗng có tiếng gọi phía sau. Lúc đầu không để ý, Giang cứ đi, nhưng tiếng chân dường như đuổi theo nó. Giang quay lại không thấy ai, chỉ có một cô bé ăn mặc ra dáng nữ tỳ, tuổi cũng khoảng cùng trang lứa với nó, đang cố gắng chạy theo.

Giang dừng lại. Cô bé tiến đến hỏi:

- Anh có phải là người đến tìm Thạch Đạt Lang ở quán Lạc Thiên không ?

Giang định chối, song nhìn dáng điệu cô bé hiền lành, thở hổn hển, có vẻ không làm hại mình được, nên gật đầu:

- Phải - Tên anh là Giang hả ?

- Phải.

- Vậy anh theo tôi, tôi đưa anh đến gặp Thạch Đạt Lang.

Nghe nói gặp sư phụ, Giang mừng hết sức. Nhưng e ngại, nó hỏi:

- Cô là ai, sao biết Thạch Đạt Lang ?

Cô bé cắt nghĩa nàng là tỳ nữ của Yến Nương. Nghe tên Yến Nương, Giang không còn nghi ngờ gì nữa. Nó cũng tâm sự:

- Thạch tiên sinh là sư phụ tôi, tôi phải đến gặp ông tức khắc. Nhưng sư phụ tôi có chắc ở đó không ?

- Nếu không ở đó, cô tôi sai đi tìm anh làm gì ?

Cô bé đi bên cạnh Giang không ưa bắt chuyện. Hỏi câu gì nó cũng chỉ trả lời gióng một.

- Yến Nương là ai vậy ?

- Chủ tôi.

- Bà đã già chưa ?

- Chưa.

- Bà làm gì ?

- Làm ở Lạc Thiên quán.

- Sư phụ tôi ở nhà bà hả ?

- Phải.
- Ông ở đó làm gì ?

Cô bé quay nhìn Giang, lát sau mới đáp nhưng không đúng câu hỏi:

- Sắp đến rồi đấy. Tới cái cổng treo chiếc đèn lồng kia, anh cứ đẩy mà vào. Tôi phải đi làm việc khác.

Dứt lời, rẽ vào một đường hẻm lát đá, hai bên trồng toàn mẫu đơn đã bắt đầu trổ nụ.

Theo lời chỉ, Giang đến trước cổng. Cổng gỗ, thấp và hẹp, chắc là cửa sau của một trại nhỏ. Cánh cổng khép hờ, Giang đẩy nhẹ vào không một tiếng động. Qua khu vườn trồng nhiều cây không rõ loại gì, được cắt xén gọn ghẽ hiện lên trong bóng tối lờ mờ như những hình kỷ hà đủ cỡ, Giang thấy một căn nhà gỗ.

Trong nhà vắng lặng, có vẻ bỏ hoang. Giang hơi ngạc nhiên, chẳng lẽ cô bé đó đánh lừa mình, nhưng đã vào đây cũng cứ thử xem. Nếu không thấy sư phụ thì đi ra, có gì mà ngại.

Bèn gõ cửa. Đến năm sáu tiếng chẳng ai trả lời. Đợi khá lâu lại gõ nữa. Cũng không động tĩnh. Sốt ruột, Giang đi vòng quanh. Bếp, chỗ ở gia nhân, vựa củi, kho chứa đồ, nơi nào cũng vắng lặng tối om. Cửa sổ độc nhất trông ra vườn lại quá cao, Giang cố kiễng chân, đầu mới chạm tới khung gỗ.

Tìm quanh mãi, thấy một khúc cây, Giang hì hục vần sát vào chân tường dưới cửa sổ rồi trèo lên, dí mũi qua hàng song tre. Nó bỗng suýt kêu lớn.

Trong phòng, Thạch Đạt Lang, thầy nó, nằm trước lò sưởi, tay co lại gối đầu, trên mình đắp chiếc chăn thêu. Lửa lò đã lụi nhưng ánh than còn hồng chiếu lên những đường thêu vàng óng ánh. Giang chưa bao giờ thấy thầy nó đắp tấm chăn đẹp đến thế !

Quanh chỗ Thạch Đạt Lang nằm, rải rác một nghiên mực, mấy ngọn bút và ba bốn tấm giấy đã vẽ xong, tấm thì bông hoa, tấm thì bụi trúc. Một tấm vẽ con gà còn bỏ dở.

Trông thấy sư phụ, Giang muốn đưa tay ra ôm ngay lấy người nó quý mến và cảm phục xa vắng bấy lâu nay, nhưng nhìn cách ăn mặc và công việc thầy nó đang làm, nó giận.

- Sao sư phụ ta lại có thể yên tâm ngồi vẽ những bức tranh nhưng thế kia được ?

Ông không biết cô Oa Tử đang ốm hay sao ?

Tấm chăn Thạch Đạt Lang đắp, nó cho là biểu hiện của nếp sống khoái lạc, sa đọa sư phụ nó đang bị chìm đắm vào. Lại nhớ đến lúc Thạch Đạt Lang ôm một thiếu nữ không quen biết dưới chân cầu ngày đầu năm, nó tự nhủ:

- Thầy ta bây giờ khác rồi, không còn như trước.

Sự bực tức tràn đến kèm theo niềm cay đắng. Giang hờn dỗi không muốn gặp thầy nữa. Nó thong thả tuột xuống.

- Giang ! Thạch Đạt Lang gọi. Ai dẫn con đến đây ?

Giang lại ngẩng đầu lên nhìn vào. Thạch Đạt Lang vẫn nằm bên lò sưởi, nhưng mắt hé mở và nụ cười thật tươi. Nó nhảy bổ xuống khỏi khúc gỗ, chạy vội về phía trước, đẩy mạnh cửa, xông vào phòng như vũ bão, ôm lấy cổ sư phụ:

- Thầy ! Thầy !

Thạch Đạt Lang cũng ôm lấy đầu đầy bụi đất của Giang, ghì vào ngực mình:

- Lâu lắm ta không gặp con. Sao con biết ta ở đây ? Thầy Đại Quán chỉ cho phải không ?

Rồi ngồi dậy, để đầu Giang vào lòng mình. Hơi ấm của sư phụ truyền sang, Giang thấy dễ chịu vô cùng, bao nhiêu hờn giận quên đi hết cả. Nước mắt chạy quanh, nó như con chó con nằm bên mẹ, sung sướng nhận những cái vuốt ve âu yếm. Lát sau mới sực nhớ:

- Thầy ! Oa Tử ốm nặng. Cô ấy muốn gặp thầy lắm. Cô ấy mong thầy hết sức. Thầy đến thăm cô ấy đi. Chỉ một lần thôi, con chắc cô ấy sẽ chóng khỏi.

- Tội nghiệp !
- Tết vừa rồi, cô Oa Tử có đến chân đại kiều đường Gojo đợi thầy, thấy thầy ôm một cô gái nào đấy, cô Oa Tử giận và từ bấy giờ không vui, ít nói, ít cười, ăn ngủ cũng thất thường, cô gầy lắm !

- Thế ư ? Ngày hôm đó ta cũng xúc động quá. A Kế Mỹ đột nhiên hiện ra làm ta lúng túng.

- A Kế Mỹ là bà con gì với thầy ?

- Người quen cũ, đã lâu. Nhưng thôi đừng nói chuyện ấy nữa. Bây giờ Oa Tử ra sao?

- Cô Oa Tử đang ở trong dinh tướng công Lưu Cát. Thầy đến thăm đi. Gặp thầy, thế nào cô ấy cũng khỏi bệnh.

Giang còn nói rất nhiều, câu nào cũng không ngoài mục đích thuyết phục sư phụ đến thăm cô nó. Nhưng Thạch Đạt Lang như ở tận đâu đâu, mặt đăm chiêu suy nghĩ.

Những lời cầu khẩn của thằng bé chẳng khác gì nước vỗ vào thành đá, vẫn trơ trơ không suy suyển. Thạch Đạt Lang chỉ trả lời ậm ừ.

Giang khó chịu, giật tay áo sư phụ, định bắt ông phải tỏ thái độ dứt khoát, bỗng nghe tiếng chân người. Nữ tỳ của Yến Nương bước vào, mang bộ áo của Thạch Đạt Lang đặt lên kỷ:

- Tiểu tỳ đã giặt xong áo và gột sạch vết máu. Xin đại hiệp kiểm lại.

- Cám ơn cô. Thế còn Yến Nương đâu ?

- Chủ nhân tiểu tỳ bận tiếp khách, sai tiểu tỳ về vấn an và hỏi xem đại hiệp có cần gì nữa không ?

- Ta ở đây rất vừa ý, nhưng nếu ở lại lâu hơn nữa sợ làm phiền chủ nhân. Cho nên xin cáo biệt. Phiền cô chuyển lời cảm ơn chân thành của ta đến chủ nhân.

Nghe sư phụ nói, Giang sung sướng quá, nhảy cẫng. Ờ ! Có thế chứ. Chắc ông đã quyết định đi thăm Oa Tử. Ông đúng là một mẫu người tốt và ngay thẳng, xứng đáng làm sư phụ nó.

- Ngoài ra, ta muốn nhờ cô chỉ đường cho chú em đây ra khỏi xóm, mang áo này đến ngõ Kim Phong hoàn lại cho Cổ Huy Đạo tiên sinh. Giang ! Con làm việc ấy giúp ta được không ?

- Thưa không được !

Ả nữ tỳ xen vào làm cả hai thầy trò cùng ngạc nhiên.

- Anh này đã đả thương một gia nhân ở quán Lạc Thiên. Chuyện đó được bỏ qua vì chủ nhân tiểu tỳ đích thân can thiệp và bảo lãnh. Nhưng để anh ấy ra ngoài tất sẽ bị theo dõi. Mấy hôm nay, đồ chúng Hoa Sơn canh gác ngặt lắm, xin đại hiệp cẩn trọng !

- Cảm ơn cô, nhưng ta cũng có kế hoạch riêng.

Tuy nhiên, sợ nguy hiểm đến tính mạng Giang, Thạch Đạt Lang đồng ý giao cho một người khác mang áo đến ngõ Kim Phong trả Cổ lão bà.

Ả nữ tỳ đi rồi, Thạch Đạt Lang mặc lại bộ áo bằng vải thô của hắn. Bộ áo bạc màu vì sương nắng, mồ hôi loang lổ, nhưng sao hắn thấy đẹp và trân quý vô cùng, mặc vào thoải mái hơn lụa là nhiều.

Khi thắt đến thắt lưng và đeo kiếm, cảm giác cô đơn của Thạch Đạt Lang biến mất. Hắn thấy tự tin và an toàn hơn. Thanh kiếm đối với Thạch Đạt Lang thân thiết như ruột thịt, như bố mẹ anh em và có lẽ thay cho vợ con hắn suốt đời. Mà đúng vậy:

từ trước đến nay Thạch Đạt Lang vẫn tâm nguyện như thế.

Giang ra vườn, ngẩng mặt nhìn trời. Sao đêm lấp lánh. Mảnh trăng hạ huyền lấp ló sau ngọn cây.

- Khuya rồi, nhưng không sao, mình đánh thức cô Oa Tử dậy. Chắc sự bất ngờ này sẽ làm cho cô sung sướng lắm.

Thạch Đạt Lang đến bên, vỗ vai Giang:

- Con ra cửa sau đợi ta.

- Thế thầy không đi cùng với con à ?

- Đi chứ. Nhưng ta muốn đích thân từ biệt Yến Nương. Cũng không lâu đâu !

- Vâng. Vậy con đợi thầy ngoài cửa.

Con đường kiếm đạo còn dài và gian khổ. Lạc Thiên quán, đối với Thạch Đạt Lang là nơi nghỉ chân nhiều hứng thú nhưng tạm thời. Mấy ngày nhàn rỗi ở đây đã giúp hắn lấy lại được quân bình về tâm hồn cũng như thể chất, giúp hắn cảm thông được với cái đẹp, hòa đồng với thiên nhiên. Hắn không mảy may nghi ngờ sự chính trực của đời sống khổ hạnh hắn đang sống, nhưng sự chối bỏ tất cả mọi lạc thú đôi khi khiến hắn tự cảm thấy nhỏ mọn hẹp hòi.

Giây đàn căng quá sẽ đứt, tinh thần căng quá sẽ khủng hoảng. Sau trận giao chiến với Điền Chính, tinh thần và thể chất Thạch Đạt Lang đã gắng sức tột độ, cần được nghỉ ngơi. Hắn cũng đã uống chút rượu, muốn ngủ thì ngủ, muốn đọc sách vẽ tranh thì đọc sách vẽ tranh. Cứ để tâm hồn đôi khi tự do như thế, quả nhiên hắn thấy thư thái hơn trước.

Mở cửa sau, Thạch Đạt Lang định vào cảm ơn Yến Nương. Nhưng nghe tiếng đàn phách vọng ra, tự nhiên hắn đổi ý. “Vô ích mà cũng chẳng hợp thời. Cái thường của họ là cái vô thường của ta. Mình không thuộc về xã hội ấy”. Hắn lặng lẽ cúi đầu, tạ Ơn người tri kỷ trong lòng, rồi lui bước.

Nữ tỳ của Yến Nương chạy theo, trao cho Thạch Đạt Lang phong thư nhỏ. Hắn mở ra, mùi hương trầm thoang thoảng phả trên giấy hoa tiên:

“Mỗi đêm hoa mỗi tàn, chỉ ánh nguyệt lung linh vĩnh cửu. Bên chén rượu nồng thiếp ngồi nhỏ lệ. Trân trọng gửi chàng những hàng chữ này làm duyên hội ngộ”.

- Thư ai đấy thầy ?

- Hỏi làm gì, con không biết đâu !

Giang hểnh mũi:

- Chà ! Mùi hương trầm ! Thơm quá !

Chương 44: Khung cửa

Giang đi theo sư phụ. Nó thầm nghĩ không biết làm cách nào ra khỏi chỗ này.

Xóm Liễu tường cao vây bốn mặt, đêm khuya, chỉ cổng chính là còn mở, lại nghe nói kẻ thù rình khắp nơi, chắc ở cổng đó phải đông lắm. Giang lo sợ hỏi sư phụ:

- Đi đường nào, thầy ?

- Các cửa đều đóng cả rồi phải không Giang ?

- Dạ phải, chỉ còn cửa chính mở. Mà đường ấy không đi được đâu, ta nên tìm chỗ nào tường thấp trèo ra thì hơn.

Thạch Đạt Lang nhìn đồ đệ, mỉm cười, rồi nghiêm nghị bảo:

- Mạng sống quý thật, nhưng làm như vậy là hèn nhát. Ta không thể có thái độ trốn tránh mà phải đường hoàng đi ra bằng cổng chính.

Giang ngước nhìn sư phụ. Nó suy nghĩ về lời nói. Trên bước đường giang hồ, Giang nhiều lần nghe nói đến sự hèn nhát. Kiếm sĩ mà bị coi là hèn nhát thì không còn đáng gọi là kiếm sĩ, cho nên nó tự thẹn đã có những ý nghĩ như vừa rồi.

- Vậy con cũng ra bằng cổng chính !

Giang chữa lại.

Thạch Đạt Lang vỗ vai nó:

- Giỏi lắm ! Nhưng con phải biết dũng cảm và liều lĩnh khác nhau. Con còn nhỏ, chưa biết võ nghệ, mà cứ nhắm mắt xông vào chốn đao kiếm, khác nào kẻ không biết bơi đòi nhảy bừa xuống nước để qua sông. Cái chết cầm chắc trong tay, một cái chết vô ích. Như vậy ta gọi là xuẩn động !

- Nhưng con không muốn là một tên hèn nhát.

- Ai bảo con hèn nhát đâu ! Vả chúng theo ta chứ đâu phải con !

Giang cúi đầu ngẫm nghĩ.

- Vậy con phải làm thế nào bây giờ ?

- Yên tâm ! Ta sẽ giúp con trèo tường ra ngoài !

Hai thầy trò vừa đi vừa trò chuyện, bỏ đường lớn rẽ vào những đường mòn cỏ lau rậm rạp, lúc lâu thì đến chân rào gỗ. Hàng cột đen trùi trũi, to lớn ken sát nhau lừng lững trước mặt, Giang nghểnh cổ trông lên chỉ thấy trời sâu thẳm, mấy ngôi sao thưa lúc ẩn lúc hiện không rõ.

Thạch Đạt Lang dừng lại:

- Con ra ngoài đó trước, đợi ta.

- Đợi thầy ở đâu ?

- Trường đua ngựa.

- Thế nào thầy cũng đến chứ ?

- Giang ! Ta không nói dối. Một trong những điều ta muốn dạy con là sự thành thật, sao lại cứ nghi ngờ ta. Con đi nhặt cho ta hòn đá.

Giang nhặt một hòn đá đưa cho thầy. Thạch Đạt Lang ném viên đá qua bên kia rào, lắng nghe động tĩnh, không thấy gì khả nghi, mới cúi xuống khẽ bảo đồ đệ:

- Leo lên vai ta rồi bám vào đầu cột mà trèo ra ngoài.

- Dép con bẩn.

- Không sao, cứ leo lên.

Nhưng rào cao quá. Ở trên vai Thạch Đạt Lang mà Giang với tay mãi cũng không tìm được chỗ nào để bấu cho chắc vào hàng rào được. Thạch Đạt Lang phải bảo Giang đứng trên hai bàn tay mình, giơ cao lên, thằng bé mới bám được vào đầu cột.

- Nhìn kỹ xem bên ngoài có ai không !

Giang đưa mắt quan sát:

- Không. Bãi hoang, chỉ toàn cỏ lác.

- Có thể chỗ này trũng nước. Vậy đừng nhảy, hãy bám vào cột leo xuống từ từ. Chớ gây tiếng động vô ích.

- Dạ.

Một lúcs au, nghe tiếng chân đạp lên bùn, rồi tiếng Giang kêu khẽ:

- Tới rồi thầy !

- Vậy tốt. Đi mau đi, đợi ta ở chỗ trường đua.

Bên kia tường rào, trước khi đi, Giang còn ghé sát miệng vào khe cột hở, nhắc Thạch Đạt Lang như để lưu ý sư phụ nỗi quan tâm lớn lao của nó:

- Con đợi thầy đến gặp cô Oa Tử đấy !

Thạch Đạt Lang không đáp, lắng tai nghe cho đến khi thấy bước chân đứa học trò nhỏ xa dần mới bỏ đi trở lại, tìm lối ra đường lớn.

Thạch Đạt Lang bước nhanh ra khỏi cổng chính. Số đệ tử Hoa Sơn ngồi sưởi bên vệ đường, không để ý đến sự xuất hiện thình lình của hắn, mà cả hai tên có phận sự lảng vảng gần cổng cũng không ngờ.

Mấy đêm nay, đồ chúng Hoa Sơn chia nhau canh gác cẩn mật tất cả những điểm quan trọng quanh xóm Liễu, đề phòng Thạch Đạt Lang bỏ trốn. Sau khi dò xét và phong văn kẻ thù còn ở quán Lạc Thiên, chúng mấy lần định xông vào quán lục soát nhưng không được. Cũng như mọi lần, khi bàn việc gì quan trọng, đồ chúng Hoa Sơn thường chia thành hai phái. Một phái, muốn trả thù ngay cho chủ, đưa ý kiến phải xông vào quán lập tức, tốc chiến tốc thắng, bắt cho bằng được Thạch Đạt Lang đem về trị tội.

Phái kia, cẩn trọng hơn, bày mưa theo dõi, muốn lừa kẻ thù vào bẫy để giết, một phần vì e ngại sức khoẻ và đường gươm dũng mãnh của Thạch Đạt Lang, một phần vì không muốn làm kinh động đến nơi ăn chơi nổi tiếng nhất kinh đô, thường được các bậc vương tôn và những tay quyền thế trong phủ lui tới giả trí. Hơn nữa, thế lực của Hoa Sơn ngày nay đã giảm đi nhiều, nhất là sau khi Sĩ Khánh bị tàn phế và Điền Chính bị giết thê thảm, họ càng dè dặt không dám vọng động.

Hai phái giằng co mãi, sau đi đến quyết định chỉ bao vây bên ngoài, cắt đệ tử thay phiên nhau mai phục tại các nơi hiểm yếu. Cho nên đã mấy đêm liền, người của Hoa Sơn không ngừng dòm ngó kẻ ra vào quán Lạc Thiên, nhất là những thanh niên vóc dáng cao lớn. Đôi khi chúng không từ cả việc bắt phu cáng phải dừng lại vạch màn cho chúng coi rõ mặt khách ngồi trong. Chúng sợ Thạch Đạt Lang trá hình trốn mất.

Có điều không ai ngờ kẻ thù chẳng đội trời chung ấy của chúng lại hiên ngang ra đi bằng cổng chính.

Đệ tử Hoa Sơn kinh ngạc há hốc mồm. Định thần một chốc, gã mới kêu lên được thì Thạch Đạt Lang đã rởi khỏi cổng xa đến mấy chục bước.

- Anh em ! Nó đấy ! Đuổi theo mau !

Mọi người bỏ đống lửa quay ra. Quả nhiên phía trước chúng là vóc dáng lợi hại của kẻ thù; ánh đèn chiếu vào, bóng hắn đổ dài di động trên mặt đường lát đá !

- Đạt Lang ! Quân súc sinh ! Muốn sống đứng lại !

Một đệ tử Hoa Sơn hét lớn.

Thạch Đạt Lang rút phắt kiếm, hắn quay lại không đáp. Sự im lặng của hắn làm đồ chúng Hoa Sơn nổi gai ốc. Vài tên tay đã để vào đốc kiếm, vội khựng lại không dám rút gươm ra, dường như sợ nếu làm cử chỉ gì khiêu khích, có thể sẽ bị hắn giết ngay tức khắc. Có tên thụt lùi về phía sau. Đạt Lang tiến tới, lưỡi kiếm đưa thẳng trước mặt, vững vàng, không mảy may rung động. Đồ chúng Hoa Sơn lui mấy bước.

Đột nhiên một tiếng thét thật lớn rung động cả khu phố, Thạch Đạt Lang tung mình như chớp xẹt nhảy đến dựa lưng vào bức tường của một căn nhà gần đó.

Đệ tử Hoa Sơn bao vây xung quanh thành hình vòng cung, lúc đầu còn ít, sau càng lúc càng nhiều, có đến chừng ba chục. Số đông làm chúng tăng thêm nhuệ khí. Tiếng la hét cùng những lời chửi rủa tục tằn vang rân cả khu xóm. Hàng quán đóng cửa rầm rầm.

Đạt Lang vẫn yên lặng dựa lưng vào vách, gươm tuốt sẵn cầm tay. Dưới mái hiên, trong bóng tối, hắn đảo mắt vọ nhìn khắp vòng vây trước mặt, lượng chỗ cường, chỗ nhược để tùy cơ ứng biến. Tiếng chửi rủa, hắn bỏ ngoài tai, coi như những tiếng sủa của bầy sơn cẩu. Chúng càng ồn ào, Thạch Đạt Lang càng vững dạ vì rõ ràng chúng chẳng có kế hoạch gì, ô hợp như một lũ thảo khấu.

- Ngươi có phải là Thạch Đạt Lang ở Miyamoto không ?

- Chính thị. Bọn ngươi muốn gì ?

- Chúng ta là đệ tử Hoa Sơn. Muốn gì ngươi tất biết ! Sẵn sàng chưa ?

Tiếng cười gằn của Thạch Đạt Lang làm cả bọn ớn lạnh:

- Sẵn sàng ? Ta sẵn sàng ngay cả trong giấc ngủ. Đứa nào muốn chết thì cứ lại đây.

Nhưng ta cần biết một điều trước khi giao đấu:

các ngươi là kiếm sĩ tôn trọng luật giang hồ hay muốn ỷ vào số đông để thủ thắng ?

Không kẻ nào đáp lại. Tiếng ồn ảo giảm bớt nhưng cũng chẳng ai dám tiến tới.

Không khí có vẻ căng thẳng hơn trước.

Bỗng từ đám đông, một lão tráng bước ra. Thạch Đạt Lang chú ý thủ thế. Trước một đám đông giận dữ, đầy thù hận, chỉ sơ hở hay nhầm lẫn một chút có thể mất mạng như chơi, hắn cũng đề phòng, sợ có kẻ dùng ám khí, nên đã chọn chỗ đứng gần một cột gỗ.

Lão tráng không cầm gươm nhưng đeo song kiếm. Chính là Ưng Đằng. Có lẽ ông mới tới. Điềm tĩnh và đĩnh đạt, Ưng Đằng chậm chạp tiến lên mấy bước. Tiếng ồn ào im hẳn. Phong cách ấy chứng tỏ ông là một trong những người có uy tín của phái Hoa Sơn.

- Thạch Đạt Lang ! Chúng ta đến đây làm gì, ngươi thừa biết. Ngươi đã làm nhục bản phái, dùng thủ thuật đê hèn khiến chưởng môn chúng ta thành tàn phế, giết Điền Chính, người thừa kế của bản phái. Những tội ác tày trời ấy không thể tha thứ được !

Nếu chúng ta để ngươi sống, chúng ta không còn mặt mũi nào đứng trên đời này nữa !

Những lời cáo buộc nghiêm nghị, vững vàng ấy làm xúc động đồ chúng Hoa Sơn.

Tiếng la phẫn nộ vang trời dậy đất.

- Giết ! Giết nó để trả thù cho Sĩ Khánh và Điền Chính !

- Còn đợi gì nữa ? Anh em hãy xông vào lấy đầu thằng súc sinh lập tức !

Nhưng Ưng Đằng giơ tay ra hiệu cho đồ chúng Hoa Sơn yên lặng, rồi tiếp:

- Ta là Ưng Đằng, chỉ muốn trả thù cho chưởng môn nhân và khôi phục danh dự cho bản phái. Đó là lề luật võ lâm, tuyệt không có ý gì ỷ chúng hiếp cô. Ngươi là kiếm sĩ tất hiểu rõ. Bây giờ hãy trông đây !

Dứt lời, Ưng Đằng rút kiếm đánh soạt, ánh hàn quang thành hình vòng cung lấp lánh.

- Được lắm ! Ưng Đằng ! Ngươi xứng đáng là một kiếm sĩ. Nhưng nếu muốn trả thù, sao không đường đường chính chính tuyên chiến theo đúng đường lối võ lâm, như Sĩ Khánh và Điền Chính đã làm ? Tại sao lại để đồ đệ ngươi mai phục đánh lén.

- Chính ngươi đã lẩn trốn nên chúng ta phải canh giữ, chứ không phải đánh lén.

- Vô lý ! Nếu ta muốn, ta có nghìn cách trốn, và chắc bây giờ đã không đứng trước mặt bọn ngươi !

Ưng Đằng cười gằn:

- Trốn sao được ! Hoa Sơn chúng ta tai mắt khắp nơi, sao để ngươi thoát !

- Ta cũng tin như thế. Nhưng khu này không phải là chỗ định hơn thua. Tuy nhiên nếu bọn ngươi cố tình trả hận ngay tại chỗ, ta sẵn sàng chấp nhận và ta chấp cả bọn ngươi. Chỉ tiếc rằng danh dự phái Hoa Sơn lại bị đạp xuống bùn nhơ một lần nữa !

Ưng Đằng do dự. Đệ tử Hoa Sơn đã tụ tập khá đông, nếu cùng xông vào tấn công một lượt cũng có thể thắng được, nhưng thắng chẳng vinh gì mà bại thì quá nhục nhã, không còn hy vọng gì phục hưng lại danh dự môn phái.

Dùng dằng chưa quyết, bỗng tiếng kêu báo động vang dội:

- Lính tuần tới ! Anh em giải tán ! Giải tán !

Mọi người nhốn nháo. Từ đằng xa, đã vẳng tiếng vó ngựa lộp cộp.Ở xóm Liễu, những chuyện sinh sự xảy ra rất thường. Chẳng đêm nào không có, nhưng phần lớn là giữa các toán du đãng anh chị thanh toán lẫn nhau hoặc giữa các tên dẫn mối tranh khách. Cho nên quan lãnh binh cảnh vệ đã đặt riêng một biệt đội đặc trách khu vực này, đêm nào cũng liên tục tuần phòng khắp các ngả đường và cả bên ngoài rào, tại những bãi hoang, vì ở đó hay xẩy ra những vụ án mạng rất khó điều tra ra hung thủ. Quan lãnh binh là người rất mực liêm chính, được lòng tin cậy của hoàng gia, nên quyền hành lớn. Những tên phạm pháp làm rối loạn trật tự do thuộc hạ ngài bắt được phần lớn không oan uổng gì và thường bị dân chúng khinh ghét. Những bang phái có danh vọng tỷ như kiếm phái Hoa Sơn, vì lý do đó, hết sức tránh mọi hành động bị liệt chung với những toán du đãng thông thường.

Nghe báo động có lính tuần đến, đồ chúng Hoa Sơn rục rịch tản mát để khỏi bị bắt bớ điều tra lôi thôi. Nhưng khi ngựa tới, té ra không phải lính tuần. Một thanh niên cao lớn, áo khoác ngoài đỏ chói, lưng đeo trường kiếm nhảy vội xuống. Ưng Đằng nhận ngay ra là Giang Biên Liễu Cát Xuyên Mộc.

Một niềm hy vọng thoáng hiện. Lão tươi cười giơ tay đón chàng kiếm sĩ trẻ tuổi:

- Cát Xuyên thiếu hiệp ! Được gặp thiếu hiệp ở đây, thật là đại hạnh !

Cát Xuyên Mộc cũng vồn vã đáp lễ, nhưng sự vồn vã ấy chỉ thoáng cái đã biến mất, nhường chỗ cho một thái độ nghiêm cẩn.

- Ưng lão huynh ! Ưng lão cùng anh em bản phái làm gì mà tụ tập ở đây đông thế này ?

Từ khi theo Sĩ Khánh về tá túc một dạo ở đường Tân Hổ, Cát Xuyên Mộc vẫn có thói quen gọi phái Hoa Sơn là bản phái, mặc trên danh nghĩa, hắn chẳng có liên hệ gì với phái này.

Ưng Đằng đưa mắt về phía bức tường có Thạch Đạt Lang đứng. Lão đáp gọn:

- Thiếu hiệp nhìn rõ ai không ?

Tuy đã dư biết, Cát Xuyên Mộc vẫn vờ hỏi:

- Thạch Đạt Lang ?

- Chính thị !

Nhìn Ưng Đằng rồi nhìn Thạch Đạt Lang, Cát Xuyên Mộc nói lớn:

- Ưng lão huynh ! Thạch đại hiệp ! Không ngờ gặp cả hai vị Ở đây, tại hạ rất ngạc nhiên. Các vị có những chuyện riêng cần giải quyết, đáng lý ra tại hạ không can thiệp, nhưng vì cùng trong giới võ lâm, nên có điều phải nói.

Giọng Cát Xuyên Mộc sang sảng. Gã còn trẻ, ăn mặc sặc sỡ như con nít, nhưng bấy giờ phong cách gã chững chạc lắm. Gã tỏ vẻ tự tin hết sức, gần như ngạo mạn.

Trong lòng tuy khó chịu nhưng Ưng Đằng vẫn bình tĩnh không lộ ra ngoài, để xem gã giở trò gì. Thấy không ai phản đối, Cát Xuyên Mộc nói tiếp:

- Các vị có bao giờ tự hỏi làm náo động phố xá như thế này nếu lính tuần bắt gặp, sẽ bị phiền nhiễu như thế nào không ? Nhưng đấy là chuyện riêng của các vị, tại hạ không biết. Tại hạ chỉ lưu ý, các vị đều là những kiếm sĩ có danh vọng, nếu để bị bắt vì tội ẩu đả tầm thường và làm mất trật tự ngoài phố như những tên vô lại khác thì xấu hổ chung cho cả võ lâm, tại hạ không chấp nhận được.

Đồ chúng Hoa Sơn cất tiếng ồ lên một lượt, phản đối những lời lẽ hàm ý hỗn xược ấy. Nhưng Ưng Đằng đã giơ tay ra hiệu im lặng.

- Thiếu hiệp nói cũng có lý.

- Đúng vậy ! Các vị đã chọn nhầm chỗ và nhầm lúc để thanh toán việc riêng. Nếu các vị muốn so kiếm với nhau, sao không theo đúng luật giang hồ, đường hoàng công bố lời thách thức, địa điểm và giờ giao đấu ?

Có tiếng xì xào bàn tán, kẻ phản đối người tán thành. Sau cùng Ưng Đằng mới cất tiếng:

- Thiếu hiệp nói phải. Nhưng nếu chúng ta định ngày giờ và địa điểm, thiếu hiệp có bảo đảm rằng Thạch Đạt Lang sẽ có mặt không ? Tại hạ sẵn sàng làm trung gian dàn xếp.

- Dĩ nhiên, nhưng ta muốn biết thiếu hiệp có bảo đảm được việc đó chăng ?

- Bảo đảm ...bảo đảm ...Cái đó phải hỏi hắn !

Nói đoạn, quay sang phía Thạch Đạt Lang như thầm hỏi ý.

- Hay thiếu hiệp bày ra chuyện này để cho y trốn đấy ?

Cát Xuyên Mộc có vẻ giận:

- Ưng lão huynh muốn sỉ nhục ta chăng ? Tại hạ không phải là bạn Thạch Đạt Lang, không có lý do gì để che chở cho hắn. Nếu hắn trốn, cả võ lâm đều biết hắn là thằng hèn và sẽ phỉ nhổ hắn.

Nhưng Ưng Đằng lắc đầu. Giọng lão mạnh và quyết định:

- Như vậy không đủ. Chúng ta không rời khỏi nơi đây đêm nay nếu không có gì bảo đảm hắn không trốn ! Phải thế không anh em ?

Đồ chúng Hoa Sơn cùng reo lên một lượt, vang động cả khu phố:

- Phải ! Phải ! Như vậy mới được !

Cát Xuyên Mộc quay gót. Gã tiến đến bên bức tường, đối diện Thạch Đạt Lang trong bóng tối. Bốn tia mắt nhìn nhau, dò xét, tia mắt của hai dã thú. Có cái gì ghê gớm, ác liệt trong những tia mắt ấy, đòi hỏi hai bên phải nhận thức giá trị tinh thần của nhau, thôi thúc nhưng thoáng một chút nghi kỵ ... và thách thức.

- Thạch Đạt Lang ! Ngươi vừa nghe những điều ta nói chăng ? Ngươi có chấp nhận một cuộc giao tranh với kiếm phái Hoa Sơn vào ngày giờ và địa điểm sẽ được ấn định không ?

- Ta chấp nhận !

- Vậy tốt.

- Tuy nhiên, ta không muốn ngươi can thiệp.

- Như thế là thế nào ? Ngươi không muốn ta bảo lãnh sự có mặt của ngươi ?

- Đúng vậy ! Ta đã giao đấu với Sĩ Khánh và Điền Chính. Trong lúc giao đấu, ta không có một hành động nào hèn nhát. Tại sao đệ tử của họ lại không tin ta và cho rằng ta sẽ bỏ trốn ?

- Hay lắm ! Thạch Đạt Lang ! Thật là một lời nói kiêu hùng, ta sẽ không quên lời ấy của ngươi. Bây giờ, hãy định giờ và địa điểm đi !

- Ta để quyền ấy cho bên kia. Ta sẽ chấp nhận bất cứ nơi nào và giờ nào họ định.

- Chà ! Được lắm. Vậy từ này đến lúc giao đấu, tìm ngươi ở đâu ?

- Ta không có địa chỉ nhất định.

- Vậy làm sao chuyển thư cho ngươi được ?

- Bảo họ định địa điểm và ngày giờ ngay tức khắc, tại đây ! Ta sẽ đến !

Cát Xuyên Mộc gật đầu, tin tưởng và thầm phục con người mà nếu phải coi là kẻ thù, gã cũng hãnh diện. Gã trở gót, lui về phía đồ chúng Hoa Sơn, bàn luận một lúc với Ưng Đằng và một số đồ đệ Hoa Sơn khác rồi trở lại bảo Thạch Đạt Lang:

- Điểm hẹn là gốc cổ tùng ở chân đồi Sinh Minh, trên đường đi Quan Lãnh vào cuối giờ dần, ngày mốt. Truyền nhân đại diện Hoa Sơn kiếm phái là Hoa Sơn Tuệ Tâm, trưởng nam của Hoa Sơn Cảnh Môn và là biểu đệ của Sĩ Khánh và Điền Chính. Nhưng Tuệ Tâm còn nhỏ, phải có một số cao đồ trợ giúp. Ta phải nói trước như thế để khỏi có sự hiểu lầm về sau.

- Được lắm ! Ta chấp nhận !

Mọi điều đều được hai bên thỏa thuận. Đệ tử Hoa Sơn đem bút mực và bảng gỗ đến. Chính tay Cát Xuyên Mộc viết những điều ấy lên bảng gỗ và Ưng Đằng sai người mang ra dựng ở ngã tư, chỗ đông người qua lại nhất.Thạch Đạt Lang nhìn tấm bảng gỗ, thờ ơ đọc những hàng chữ đen nét mực chưa khô viết trên đó rồi lẳng lặng bỏ đi, theo đường dẫn đến trường đua ngựa.

oo Một mình trong bóng tối dưới mái trường đua, Giang đi đi lại lại, lo lắng. Một cái cáng đi qua cũng khiến nó chạy vội ra, một tiếng chân người cũng làm nó bồi hồi nghe ngóng. Nhưng chỉ là những khách làng chơi về muộn dáng đi nghiêng ngả, tiếng hát đứt quãng lưu lại chút dư âm thoảng theo gió đưa đến tai nó.

Hết đi đi lại lại rồi ngồi bó gối trên nền đá lạnh ẩm ướt sương đêm, Giang nghĩ ngợi vẩn vơ. Hay thầy nó bị thương, chết rồi cũng nên, ở một chỗ nào đó. Góc tường ?

Vệ cỏ ? Trong đám lau sậy ven sông ? Giang lo sợ, kinh hãi, hoảng hốt. Nếu không, sao mãi bây giờ chưa tới. Nó không kiên nhẫn được nữa, bỏ luôn trường đua, cắm đầu chạy về hướng xóm Liễu. Mới được chừng trăm bước, tiếng Thạch Đạt Lang từ trong bóng tối đã vang lên, gọn mà mạnh:

- Giang ! Chạy đi đâu thế ?

Giang giật mình. Hoàn hồn, nó sung sướng vô tả.

- Có chuyện gì mà chạy vậy ?

Giang thở phào, nhẹ hẳn người đi như vừa trút được khối đá đè nặng trên ngực.

- Thầy ! Sao lâu thế ? Con đợi mãi sốt ruột quá định chạy về xóm tìm thầy !

Thạch Đạt Lang cười, ôm lấy nó vui vẻ bảo:

- Ngốc ơi là ngốc ! Làm vậy có khi lỡ cơ hội ta gặp lại con ! Rồi lại trách ta sai hẹn!

- Thầy có thấy đông đệ tử Hoa Sơn ở cổng không thầy ?

- Cũng khá !

- Họ không giữ thầy lại à ? Không có chuyện gì xảy ra phải không ?

- Không.

- Giờ thầy đi đâu ? Dinh tướng công Lưu Cát ở phía này. Con chắc thầy muốn gặp cô Oa Tử lắm.

- Muốn gặp lắm chứ !

Giang nhảy cẫng.

- Khuya thế này, chắc cô Oa Tử phải ngạc nhiên và phục con hết sức.

Đạt Lang nắm chặt tay Giang dẫn đi. Hơi ấm của sư phụ truyền sang, Giang cảm thấy an toàn hơn bao giờ hết.

- Giang ! Con có nhớ cái quán ăn ở đó ta gặp con lần đầu không ? Quán tên gì nhỉ?

- Nhớ, nhưng dinh tướng công này đẹp hơn quán ấy nhiều !

Thạch Đạt Lang phì cười:

- Dĩ nhiên rồi !

Đến cổng dinh, Giang dừng lại:

- Cổng đóng rồi, nhưng nếu ta đi vòng về phía sau, còn cái cửa nhỏ cho gia nhân ra vào. Để con gọi cửa báo cho họ rõ. Nếu Lưu Cát tướng công biết thầy đến, thế nào ông cũng ra đón. Cái ông sư Đại Quán ấy thật là ác. Con hỏi thầy ở đâu, ông không nói, chỉ bảo ở xóm Liễu, lại còn bảo tốt hơn hết là đừng đến tìm thầy ...

Giang vừa lí láu, vừa kéo sư phụ đi. Đến trước một cửa hẹp bên hàng rào cây xanh, nó ngừng lại chỉ tay lên khuôn cửa sổ còn sáng ánh đèn, bên trong một ngôi nhà gỗ nhỏ ở cuối vườn:

- Cô Oa Tử ở chỗ ấy đấy thầy. Chắc cô còn thức đợi con về.

Và không chờ Thạch Đạt Lang đáp, nó chạy vội đến toan đập cửa.

Nhưng Thạch Đạt Lang giữ tay nó lại:

- Khoan ! Ta không vào đâu. Ta chỉ muốn nhờ con một chuyện này thôi !

- Sao ? Thầy không vào ? Đã đến đây mà thầy không vào à ? Thế thầy đi với con làm gì ?

- Ta muốn đưa con về đến nhà, an toàn.

- Không ! Không ! Thầy không đi được !

Giang hét lên và nắm chặt lấy tay áo sư phụ.

- Giang ! Nói khe khẽ chứ. Đừng làm kinh động mọi người. Con hãy nghe ta.

- Con không nghe. Thầy hứa cùng về với con mà !

- Thì ta cùng về với con rồi !

- Đâu phải về để nhìn cái cánh cổng này thôi ! Con muốn thầy về gặp cô Oa Tử kia mà !

- Giang ! Con hãy bình tĩnh, để ta nói con nghe. Trong hai ngày nữa, có thể ta không còn ở trên trần thế này nữa.

- Con biết rồi ! Thầy vẫn thường nói đời kiếm sĩ bấp bênh, sống nay chết mai, không có gì chắc chắn.

- Đúng vậy ! Con đã biết như thế là tốt. Nhưng lần này không phải nói suông. Lần này, chín phần mười ta có thể chết. Vì vậy ta nghĩ chẳng nên gặp Oa Tử.

- Vô lý. Càng nên gặp chứ !

- Con còn nhỏ dại, ta giải thích cho con cũng bằng thừa. Lớn lên con sẽ hiểu.

- Thầy ! Thầy nói thầy sắp chết. Thật không ?

- Thật. Nhưng đừng nói chuyện ấy cho Oa Tử biết nghe con, nhất là trong khi nàng đang đau nặng. Hãy khuyên Oa Tử giữ gìn sức khỏe và tìm đường đi đến hạnh phúc. Đó là điều ta muốn nhắn con nói với nàng. Chớ nói ta sắp chết.

- Không ! Con nói hết ! Con sẽ nói hết. Làm sao mà con giấu được cô Oa Tử ?

Nước mắt Giang chảy quanh. Nó giật giật tay áo sư phụ:

- Thầy ơi ! Thầy đi với con đi !

Thạch Đạt Lang đẩy Giang ra:

- Con vẫn không nghe lời ta !

- Nhưng con thương cô Oa Tử lắm. Nếu con nói thầy không muốn vào thăm, bệnh cô Oa Tử sẽ nặng thêm.

- Đó là điều ta nhờ con. Hãy khuyên giải nàng, hãy nói với Oa Tử chừng nào ta còn theo đường cung kiếm thì gặp nhau chỉ thêm khổ cả cho hai người mà thôi. Con đường ta chọn đòi hỏi một kỷ luật khắt khe, sự chế ngự những tình cảm yếu đuối, bắt ta sống một cuộc đời khắc khổ, chịu đựng thử thách. Nếu không, ta sẽ không bao giờ tìm thấy ánh chân quang.

Giang, con hãy nghĩ kỹ. Con cũng thế, nếu con muốn theo con đường ta theo, con cũng sẽ phải làm như ta, nếu không sẽ không bao giờ trở thành một kiếm sĩ xứng đáng với tên ấy.

Giang không nói gì, nhưng vẫn thút thít. Thạch Đạt Lang quàng tay qua vai nó, kéo nó ôm chặt vào lòng:

- Kiếm đạo vô cùng, mà đời người thì hữu hạn. Nếu ta không còn trên dương thế này, con hãy tìm một sư phụ khác xứng đáng mà học hỏi. Ta không thể đến gặp Oa Tử được vì ta biết không gặp ta, nàng sẽ có hạnh phúc hơn. Và khi có hạnh phúc, nàng sẽ hiểu lòng ta bây giờ. Ánh sáng trên khung cửa kia, có phải ở phòng nàng không ? Chắc nàng cô đơn lắm. Thôi con hãy vào đi, đừng khóc nữa.

Giang bắt đầu hiểu lờ mờ nỗi đau lòng của sư phụ. Nó chùi nước mắt, ngửa mặt lên hỏi thầy, mong bấu víu vào chút hy vọng cuối cùng vừa lóe trong trí:

- Thế khi học xong, thầy sẽ đến với cô Oa Tử chứ ?

- Ờ, có lẽ, ngày ấy ...

- Bao giờ hả thầy ?

- Khó biết trước được con ạ.

- Hai năm nhé ?

Thạch Đạt Lang không đáp.

- Ba năm ?

- Con đường khắc kỷ không biết đến đâu là cùng.

- Thế suốt đời thầy, thầy không bao giờ gặp cô Oa Tử sao ?

- Nếu tài của ta quả có thực, có lẽ một ngày nào đó, ta sẽ đạt tới mục đích. Nếu không, suốt đời, ta cũng vẫn chỉ là kẻ ngu ngốc như bây giờ mà thôi. Nhưng cũng có thể ta sẽ chết sớm. Một người mà tương lai như thế, làm sao có thể để đời mình ràng buộc với đời sống của một thiếu nữ trẻ đẹp và đầy hứa hẹn như Oa Tử ?

Thạch Đạt Lang nói rất nhiều. Giang dường như nghe không kịp. Chẳng biết nó có hiểu hết không nhưng nó vẫn bướng bỉnh bám lấy ý nghĩ muốn dẫn sư phụ vào với Oa Tử.

- Thầy chẳng cần hứa gì cả. Chỉ vào thăm cô Oa Tử một lát thôi. Một lát thôi, cô ấy sẽ sung sướng lắm.

- Không giản dị như thế đâu con ! Oa Tử và ta đều còn trẻ. Nói ra thì thẹn, nhưng gặp nàng, ta biết không thể nào làm ngơ được trước những giọt nước mắt và những lời cầu khẩn của nàng. Ta sợ ta không giữ được lòng bình tĩnh.

Thạch Đạt Lang bây giờ đã khác. Hắn không còn là một thanh niên mới lớn, tàn nhẫn và vị kỷ như khi ở trên cầu Hamada đã cự tuyệt Oa Tử. Hắn điềm đạm, vị tha hơn, và dịu dàng hơn. Dịu dàng hơn nhiều lắm. Có lẽ vẻ duyên dáng của Yến Nương đã đánh thức ngọn lửa đam mê trong lòng hắn nên hắn phải cố tình quay đi trước những quyến rũ của nàng. Đối với Oa Tử, hắn không chắc vào lòng mình. Hắn không dám có ý tưởng gì để nàng hiểu đời nàng sẽ phải lệ thuộc vào đời hắn.

Giang nghe tiếng sư phụ nói nhỏ bên tai, trong khi nó gục mặt vào cột rào thút thít:

- Giang ! Bây giờ con đã hiểu ý ta chưa ?

Thằng bé lắc đầu không đáp. Đến khi nó chùi nước mắt quay ra thì không thấy ai nữa. Xung quanh Giang, sương đã xuống từ bao giờ, làm mờ đục cả những lùm cây lân cận.

Thất vọng, Giang sợ hãi chạy quanh, cuống quít gọi:

- Sư phụ ! Sư phụ ! ...

Chương 45: Giăng bẫy

Trăng vừa ló khỏi ngọn cây, đồ chúng Hoa Sơn đã chia thành nhiều toán trèo lên đồi Sinh Minh, nhằm hướng cổ tùng tiến tới.

Họ đi yên lặng dưới trăng, chập chờn ẩn hiện. Bóng họ lúc đổ dài, lúc khuất lẩn vào những bụi cây mọc tràn ra cả sơn đạo, hình thù cổ quái.

Xa xa, cắt trên nền trời trong vắt, gốc tùng to lớn, tàng lá rậm rạp mọc chênh vênh bên bờ vực sâu. Bóng tùng che lấp ánh trăng khiến vực tối om, đã sâu lại càng thăm thẳm.

Trên tàng cây, sườn núi đá dốc gần như thẳng đứng. Chỗ đó chỉ có loài vượn ở; họa hoằn, vào những ngày hè nắng ráo mới thấy một hai gã tiều phu mạo hiểm trèo lên kiếm củi. Sơn đạo khúc khuỷu. Mưa, tuyết từ thượng nguồn đổ xuống hàng năm cày nát mặt đường, để lại nhiều vết ngoằn ngoèo sâu hoắm lẫn với những hòn quái thạch rải rác.

Đệ tử Hoa Sơn leo dốc một cách khó nhọc. Nhìn lên, về phía gốc cổ tùng đã có ánh lửa lập lòe, bóng nhiều người thu hình ngồi im lìm bên các tảng đá trông như những con cua đêm rình mồi trên bãi cát.

- Anh em đến có vậy thôi à ?

- Còn một số đi sau, cùng với Cảnh Môn lão tiền bối.

- Hơi ít. Ta dự trù khoảng trăm rưởi, nhưng đây chỉ được nửa số ấy thôi chứ mấy.

Người kia quay lại lẩm nhẩm tính:

- Quả vậy ! Không ngờ anh em đến ít thế !

- Hừ ! Kể cả số người đến trễ, có lẽ cũng chỉ được tám chục.

Một đệ tử nói:

- Người đời thường phù thịnh chứ ai phù suy ? Nhiều mà không dùng được thì thà ít mà có bản lĩnh và hết lòng với môn phái lại hơn.

- Huynh đệ nào vừa nói thật chí lý. Ta thấy anh em có mặt ở đây đều là những hảo thủ trung thành, vậy cứ chờ xem.

Tuy đã tự trấn an như vậy nhưng đa số vẫn không yên bụng. Nghĩ đến chiêu kiếm thần tốc của Thạch Đạt Lang sau sân chùa Kim Các đã đưa Điền Chính và Hạ Nguyên Cát sang bên kia thế giới chỉ trong nháy mắt, họ còn thấy rùng mình sởn gai ốc. Ngồi sát lại bên đống lửa, một số thì thào bàn bạc:

- Tền này quá lợi hại, không thể khinh suất. Phải dùng mưu ...

- Dĩ nhiên rồi. Cho nên đệ nghĩ địa hình ở đây hiểm trở, ta phải đặt ổ phục kích và phải hành động ngay. Nếu không sợ trễ quá.

Người khác nói:

- Cái khó là không biết nó tới bằng đường nào mà phục kích. Chẳng rõ các vị huynh trưởng có cắt người đi do thám trước không ?

- Chờ được tin thì muộn. Lúc này ta cứ chia ba toán mà phục ở những chỗ hiểm địa ở cả ba ngả đường. Nó đến bằng ngả nào cũng chết.

- Như vậy e lực lượng mình bị phân tán, số người ở mỗi nơi không đủ sức cự lại.

- Không hề gì. Mình có ưu thế bất ngờ. Vả lại khi phát giác ra nó ở chỗ nào thì mọi người cùng đổ lại, ba mặt giáp công rồi cứ dùng cách xa luân chiến mà đánh, khoẻ mấy cũng phải nhược.

Nghe ra lời bàn hợp lý. Cả bọn im lặng không phản đối. Lại có người nói:

- Nghe đâu Ưng Đằng lão huynh cũng đã sắp đặt hai tay cung nỏ sẵn sàng và một tay dùng hỏa khí nữa.

- Vậy tốt quá. Hỏa khí ở đâu thế ?

- Hình như của một khách thương người Bồ Đào Nha tặng. Hiệu nghiệm vô cùng !

Mọi người cùng à một tiếng, tinh thần phấn chấn hẳn lên. Nhưng có kẻ bất nhẫn cho rằng làm thế không quanh minh chính đại. Đã lấy số đông áp đảo và đánh lén lại còn dùng ám khí.

Tuy nhiên chẳng ai quan tâm. Họ chia thành ba toán, phân công rồi cứ tiến hành cuộc giăng bẫy.

Bỗng nghe tiếng lào xào. Một người kêu lớn:

- Anh em ! Nó tới !

Tình thế đột nhiên căng thẳng. Bóng người nháo nhác ẩn vào các bụi rậm ! Đống lửa bị đạp tắt ngúm. Chỉ một loáng, khoảng đất trống bên gốc tùng đã vắng hoe, bầu không khí yên lặng nặng trĩu đe dọa bao trùm khắp cây cỏ. Dưới ánh trăng rung rung, côn trùng cũng không lên tiếng và những cành thông ướt sương lấp lánh như những lưỡi kiếm thép.

Thời khắc trôi qua, không động tĩnh. Yên lặng nặng nề như thế chẳng biết bao lâu.

Mãi sau mới thấy hai xa phu lực lưỡng phăng phăng lên đồi, vai khiêng cái cáng lớn.

Họ đặt cáng ngay trên khoảng đất trống, vén rèm cho một ông già và một thiếu niên bước ra. Tưởng ai, hóa ra là Hoa Sơn Cảnh Môn và người trưởng nam, Hoa Sơn Tuệ Tâm, mười ba tuổi, mới nhậm chức chưởng môn của kiếm phái. Bọn đệ tử Hoa Sơn canh chừng dưới chân núi, trong lúc vội vã đã hoảng báo.

- Tình hình này mà còn khệnh khạng đi cáng !

- Tân chưởng môn còn ít tuổi, đi cáng chẳng có gì quá đáng. Huynh đệ khe khắt quá !

Bấy giờ, đồ chúng Hoa Sơn mới lục tục bước ra tham kiến. Ưng Đằng và một số anh em khác có trách nhiệm cũng vừa đến. Một ngọn đèn lồng được thắp lên nhưng ánh sáng bị che bớt, chao qua chao lại, mờ đục và yếu ớt dưới ánh trăng vằng vặc.

Vừa ra khỏi cáng, Cảnh Môn đã hỏi ngay, giọng đầy vẻ quan thiết:

- Anh em đến đủ cả rồi đấy chứ ?

Một người đáp:

- Dạ đủ cả.

- Vậy Ưng hiền điệt cho bố trí đi thì vừa.

Đoạn quay sang phía thiếu niên, ông nói:

- Tuệ Tâm ! Con ra đứng dưới gốc thông kia lược trận. Cuộc chiến này rất quan hệ cho phái Hoa Sơn ta mà con là chưởng môn. Con chưa biết võ công nên các vị đây sẽ vì con mà chiến đấu. Đừng sợ gì cả ...

Ông vỗ vai con trai, khuyến khích. Tuệ Tâm bậm môi khẽ gật, bước tới bên gốc cây. Tuy còn nhỏ nhưng dường như đã ý thức được tầm quan trọng của tình thế, chàng thiếu niên đứng thẳng, yên lặng, tay nắm chặt, dáng điệu nghiêm trang và cứng nhắc như một hình nộm bằng gỗ được trưng bày trong ngày lễ của các thiếu niên kiếm sĩ.

- Chúng ta đến hơi sớm, bây giờ mới đầu giờ dần.

Cảnh Môn vừa nói vừa rút trong bọc ra một ống điếu và nhồi thuốc. Cảnh Môn đã già, không biết võ công, có tật ưa hút thuốc, bấy giờ được coi là một thứ hàng xa xỉ và hiếm vì phải mua từ các tàu buôn ngoại quốc. Nhưng vì ông đứng vào hàng thúc bá của Sĩ Khánh và Điền Chính, vả tính ông hào sảng, rất quan tâm đến sự thịnh suy của môn phái nên ai ai cũng kính mến, coi ông như trưởng lão của cả phái. Hễ có chuyện gì quan trọng, trước đây, bao giờ Sĩ Khánh cũng hỏi ý kiến ông; huống chi bây giờ, Tuệ Tâm, trưởng nam của ông lại mới được công cử làm chưởng môn, nên ý kiến ông càng được trọng nể lắm.

- Lão phu nghĩ việc này nên hết sức cẩn thận. Bản phái chẳng may bị tên đó làm nhục, chỉ còn hiền điệt - Cảnh Môn nhìn Ưng Đằng - là người cao tuổi nhất, xứng đáng làm niên trưởng để hướng dẫn công cuộc phục thù. Tuệ Tâm tuy là truyền nhân nhưng chẳng biết gì về võ công, mà lão phu thì hồ đồ, xin hãy vì bản phái mà hết lòng cho.

Ưng Đằng cảm động quỳ xuống đáp:

- Việc là việc chung, tại hạ đâu dám xao lãng. Sao lão trượng lại nói thế ?

Cảnh Môn đỡ Ưng Đằng dậy:

- Ấy cũng là vì việc chung nên lão phu mới đề nghị nên hỏi ý kiến tất cả anh em để họ cùng góp phần vào việc diệt thù. Hiền điệt nghĩ sao ?

- Lão trượng nói rất phải.

Bèn tập hợp tất cả mọi người lại, trừ những kẻ có phận sự phải canh phòng, để bàn luận. Chủ trương mai phục ở các nơi hiểm yếu trên cả ba nả đường đổ lên đồi Sinh Minh được tán thành. Mọi người nhất quyết phải giết cho được Thạch Đạt Lang bằng mọi giá và bằng mọi cách.

- Nếu tất cả anh em cùng đồng lòng như vậy thì còn gì hơn nữa. Chỉ xin thi hành cho bằng được. Lão hủ rất tiếc không trẻ lại vài chục tuổi để tiếp sức với anh em !

Ưng Đằng bèn đem trình hai cung thủ và người sử dụng hỏa khí:

- Tại hạ cũng đã có kế hoạch. Vạn bất đắc dĩ, nếu nó quá mạnh, những huynh đệ này cũng dùng được việc.

Mọi người phấn khởi, nhất nhất tuân theo sự xếp đặt của Ưng Đằng:

Một toán xuống mai phục ở ven bờ vực, một toán ẩn trong khu rừng bách gần ngã ba đường đi Quan Lĩnh và một toán bố trí ngay tại chỗ, lo bảo vệ hai cha con Tuệ Tâm. Cung thủ án chỗ cao nhất trên đồi và người anh em sử dụng hỏa khí trèo lên cành thông ngồi đợi, nạp đạn sẵn và mồi lửa để bên, nếu thấy địch chạy là bắn.

Phân công bố trí xong, mọi người tản đi không tiếng động, êm như loài thủy cầm lẩn vào đám sậy.

oo Đứng lâu nghe chừng khó chịu, Tuệ Tâm vặn mình, nhăn mặt. Chân nó đã hơi tê, sương thấm qua lần dép cỏ lạnh buốt.

- Ngứa quá !

- Tuệ Tâm ! Gì thế ?

Hoa Sơn Cảnh Môn hỏi con.

- Lá thông rơi vào cổ áo khó chịu lắm. Mà con buồn ngủ quá !

- Phải ráng. Can đảm lên, chút nữa có chuyện gì xảy ra, hãy coi cho kỹ. Bây giờ là chưởng môn kiếm phái Hoa Sơn rồi, không được có những cử chỉ hèn yếu.

Tiếng cú rúc từ xa vẳng tới. Một con chim đêm bay ngang qua, cánh đập phành phạch và bóng đổi dài trên nền cỏ ướt.

- Thân phụ ! Con sợ !

- Sợ cái gì ? Không được tỏ ra khiếp nhược !

Thình lình, tiếng quát ở phía lưng chừng đồi làm Tuệ Tâm giật bắn người. Nó chạy lại ôm chầm lấy cha. Cảnh Môn gỡ tay Tuệ Tâm ra, trừng mắt nhìn. Một giọng nói nửa giận dữ nửa chế nhạo vọng lên:

- Ta là Giang Biên Liễu. Mắt ngươi mù hay sao mà không thấy ?

- Không biết ! Đứng lại ! Quân này đến do thám chăng ?

Tiếng cười ha hả:

- Nếu quả ta do thám thì lưỡi gươm này đưa ngươi về chín suối từ lâu rồi !Thấy Cát Xuyên Mộc, Ưng Đằng vội chạy ra đón. Nhìn chàng thanh niên mặt đầy nộ khí, ông quát đồ đệ:

- Anh em ai về chỗ nấy, không được vô lễ !

Đoạn quay sang phía thanh niên:

- Thiếu hiệp đại xá cho. Vi bản phái phải bố trí tự vệ nên mới có chuyện này.

Không ngờ thiếu hiệp cũng lại có mặt, lão phu rất lấy làm cảm kích !

Thấy thái độ hòa nhã của Ưng Đằng, Cát Xuyên Mộc nguôi giận, tra kiếm vào vỏ, khiêm nhượng.

- Kính chào lão tiền bối, vãn sinh chỉ vì trách nhiệm mà đến chứ không có ý gì khác.

- Đa tạ thiếu hiệp.

- Đêm trước, vì đã đứng ra làm trung gian dàn xếp cuộc tranh chấp này nên vãn sinh phải lo tròn bổn phận. Mới đây, nhờ may mắn biết được một số chi tiết về Thạch Đạt Lang, vãn sinh muôn thông báo để quý phái rõ.

Ưng Đằng ngạc nhiên, nhưng thấy thanh niên này có ý thiên về phía mình nên hoan hỉ mời Cát Xuyên Mộc đến gần gốc tùng đàm đạo.

Xong phần giới thiệu và nghi lễ, đôi bên đề cập ngay vào việc chính. Cát Xuyên Mộc nói:

- Vãn sinh dự định sẽ thành lập một kiếm phái sau này nên phải học hỏi và theo dõi những trận thư hùng của các hảo thủ võ lâm. Thạch Đạt Lang tuy là tên quê mùa nhưng mới đây đã lập nhiều thành tích đáng kể ...

Ưng Đằng không hiểu Cát Xuyên Mộc có ý gì, đang phân vân thì gã tiếp:

- Vãn sinh ngạc nhiên lắm, để tâm dò xét thì được biết một vài điều rất hữu ích.

Tên này sinh trưởng ở Miyamôt, con một kiếm sĩ quê mùa vùng Mimasaka. Lúc lớn, cùng với bạn đầu quân, tham dự trận Sekigahara. Thua trận, trở về làng, hắn làm nhiều điều phi pháp càn rỡ bị dân làng khinh ghét đuổi đi. Là một tên vô lại, nhưng Thạch Đạt Lang có sức khoẻ hơn người, có đôi chút võ nghệ và khi chiến đấu thì cực kỳ dũng mãnh liều lĩnh. Hắn không có sư phụ nên kiếm pháp chẳng ra đường lối gì. Phương pháp chính thống của quý phái không làm Thạch Đạt Lang e dè đâu, chẳng khác gì đem lời nói ra mà lý luận với kẻ điếc. Cho nên, theo thiển ý, nếu không dùng bẫy bắt hắn như bắt một con thú dữ thì quý phái nhất định thất bại. Nói thế để quý phái liệu mà hành động !

Ưng Đằng gật đầu:

- Đa tạ thiếu hiệp. Ngu lão cũng đã nghĩ đến điều đó.

Rồi đem kế hoạch dự định, chỗ mai phục cùng việc dùng cung nỏ và hỏa khí sẵn sàng truy kích Thạch Đạt Lang ra sao kể cho Cát Xuyên Mộc nghe hết.

Cát Xuyên Mộc mỉm cười, nói lửng lơ:

- Cũng được ! Xem ra tên đó rơi vào ổ phục kích của quý phái thì cũng khó lòng thoát. Nhưng vẫn còn có chỗ sơ hở.

Khó chịu vì thái độ hợm hĩnh của gã thanh niên, Ưng Đằng hỏi:

- Sơ hở chỗ nào ?

- Các vị tính kế để bắt Thạch Đạt Lang, được lắm ! Nếu hắn cứ thẳng thắn, đơn độc trèo lên núi, tất sẽ chết trong tay quý vị. Nhưng nếu hắn không đến thì sao ? Cả kế hoạch của quý vị sẽ phải vất bỏ vì vô dụng.

- Phải chăng thiếu hiệp muốn nói tên đó chạy trốn. Nếu thế chúng ta sẽ yết bảng khắp nơi nêu sự hèn nhát ấy ra để hạ nhục hắn. Giang hồ sẽ chê cười hắn.

- Có thể các vị sẽ làm thế, nhưng chẳng ai cấm Thạch Đạt Lang đi rêu rao khắp nơi là Hoa Sơn đã giăng bẫy lừa hắn nên hắn không muốn làm nạn nhân của một âm mưu bất chính. Danh dự quý phái có vãn hồi được đâu mà công của các vị là công cốc.

Hơn nữa, Thạch Đạt Lang vẫn sống, sẽ trả thù các vị, mối lo là ở đó !

Cảnh Môn nghe ra, nhìn Ưng Đằng như ngầm hỏi cách xử trí. Vị trưởng lão lặng thinh. Tuổi già làm óc ông đặc lại, không còn sáng kiến gì nữa.

Lát sau, gã thanh niên lại nói:

- Vãn sinh có một kế nhỏ.

Không ngăn nổi vui mừng, cả hai người kia cùng đồng thanh:

- Xin thiếu hiệp cho nghe.

Cát Xuyên Mộc bèn ghé miệng vào tai Ưng Đằng nói thầm mấy câu, xong quay ra cao giọng với một vẻ tự tin đặc biệt:

- Thế nào ? Tiến bối thấy làm như vậy có ổn chăng ?

Nét mặt rạng rỡ, Ưng Đằng gất đầu lia lịa, mỉm cười thỏa mãn:

- Thiếu hiệp giúp cho như thế thì còn gì bằng nữa !

Rồi xích lại gần Cảnh Môn, ghé tai nói nhỏ cho ông nghe cái mưu kế của Giang Biên Liễu Cát Xuyên Mộc.

oo Hôm sau, trời gần sáng, Thạch Đạt Lang tới ngôi quán nhỏ bán rượu ở phía bắc trấn Kitano, nơi trước đây hắn gặp Giang và thu nhận Giang làm đồ đệ. Quán tiêu điều hơn và chủ quán cũng già hơn trước nhưng vẫn còn nhớ hắn, niềm nở mời vào, hàn huyên như vừa gặp một người thân lâu ngày không tin tức.

Ăn xong bữa cơm và ngủ một giấc dài, Thạch Đạt Lang ra đi đến xế trưa mới trở lại, mang về một tấm bố nhờ chủ quán thuê may cho một chiếc áo chẽn nhiều túi, một cái khố. Vải thừa thì làm một dây lưng dài thật chắc. Hắn cũng không quên mua tặng chủ quán một bịch khoai. Chủ quán đưa vải ra tiệm may, bảo may gấp, khi trở về lại mua một bình rượu sa-kê rồi vào bếp lúi húi gọt khoai nấu món canh khoai hầm thịt.

Buổi chiều vắng khách, cả hai bày món ăn ra bàn, chén chú chén anh, nói chuyện mãi đến đêm mới đi nghỉ.

Gà gáy sang canh, nghe tiếng nước dội ngoài giếng, chủ quán tỉnh giấc. Trông ra, Thạch Đạt Lang đang đứng dưới trăng tắm nước lạnh. Tắm xong, hắn mặc quần áo mới.

Chủ quán cũng ra, thắt hộ dây lưng và sửa soạn hành trang giúp.

- Hôm qua, đại hiệp nói chẳng ở đây lâu. Không ngờ đi sớm thế ?

Chủ quán tuổi đã cao, lại không có gia đình, thấy Thạch Đạt Lang sống đơn độc cũng như mình thì đem lòng lân ái. Ông săn sóc chàng thanh niên, coi như người nhà, hỏi thăm cả về Giang và đoán thằng bé chắc bây giờ lớn lắm. Đạt Lang hứa khi trở lại Kyoto sẽ tới trọ nhà ông và dẫn Giang đến.Thạch Đạt Lang ra đi, chủ quán tiễn chân đến tận cửa ngoài, lòng bùi ngùi nhìn theo như vừa tiễn chân một người thân chẳng hy vọng gì tái ngộ.

Trăng lung linh trên nền trời trong vắt. Thạch Đạt Lang cảm thấy lòng lâng lâng, mỗi bước một nhẹ nhàng, đầy hứng khởi.

Gió đêm mơn man trên mặt. Chút rượu sa-kê uống vừa phải, giấc ngủ ngắn mà ngon, nước giếng lạnh chà xát cơ thể khiến huyết mạch chạy điều hò a, bộ quần áo mới mặc ấm áp dễ chịu, Thạch Đạt Lang không có cảm tưởng mình là người sắp chết. Hồi tưởng hôm nào trên đỉnh Đại Bàng sơn, hắn cũng có cảm giác như thế này. Co khác là bấy giờ cành cây nặng trĩu băng giá mà bây giờ thì nụ đã bắt đầu nở hoa.

Sau khi rời khỏi dinh tướng công Lưu Cát, Thạch Đạt Lang đến đền Kuruma ngồi nhập định dưới gốc thông, hy vọng tìm thấy, trong sự yên tĩnh suy tư, trạng thái chân phúc của tâm hồn. Hắn cố gắng xua đuổi những tư tưởng bi quan về cái chết, nhưng đầu óc lộn xộn không sao thoát khỏi những ý niệm hắc ám.

Bây giờ tắm nước lạnh xong, đột nhiên thấy dễ chịu hơn, hắn tiếc đã phí thì giờ vô ích.

Tiếng kèn thờ não nuột từ một nhà có đám tang ở đâu vọng đến. Trong đêm tịch mịch, điệu nhạc bi ai gợi lên trong tiềm thức Thạch Đạt Lang cái cảnh một gia đình buồn thảm ngồi canh thức xung quanh cỗ quan tài bằng gỗ mộc. Cảnh này ở đâu ? Hắn cố nhớ mà không sao nhớ được.

Thấp thoáng sau hàng cây là sông Kamo và đằng xa, nơi chân trời, giải Thiên Sơn ba mươi sáu ngọn đầy bí ẩn ngạo nghễ nhìn hắn. Nước sông trắng xoa như bạc, Thạch Đạt Lang men theo dòng sông, qua cầu gỗ. Chủ quán đã nói với hắn muốn đi Quan Lĩnh, từ phía bắc Kyoto phải qua cầu này vì đây là đường gần nhất.

Sang bên kia sông, vừa được mấy bước, nghe tiếng gọi, Thạch Đạt Lang đứng khựng, nhưng không định hướng được tiếng ấy từ đâu đến. Thêm vài bước lại nghe tiếng gọi. Thạch Đạt Lang dừng lại lần nữa, chú mục nhìn kỹ xung quanh. Từ xa, một dáng người cao lớn rảo bước đi tới, tay vẫy lia lịa. Hắn không đoán được là ai mặc dầu cái dáng cao lớn ấy rất quen thuộc, hình như hắn đã gặp vài lần.

Đến gần thì ra ...Cát Xuyên Mộc. Thạch Đạt Lang đề phòng. Hắn không tin chàng thanh niên này, nhưng vì y làm trung gian giữa hắn và phái Hoa Sơn, nên không lộ ra mặt. Cát Xuyên Mộc lên tiếng:

- Nhân huynh vẫn được an khang đấy chứ ?

Vồn vã nhưng kiểu cách và thân mật quá đáng. Đáp lại, Thạch Đạt Lang chỉ giữ thái độ nghiêm cẩn, trả lời đủ lễ.

Đưa mắt về phía cầu sông Kamo và nhìn xung quanh không thấy ai, Cát Xuyên Mộc lại hỏi:

- Nhân huynh đi một mình ?

- Dĩ nhiên tại hạ đi một mình.

- Chắc huynh đài miễn chấp cho đệ việc làm đêm hôm trước. Đa tạ huynh đài đã nhận lời.

- Tại hạ phải cảm ơn các hạ mới phải chứ. Sự can thiệp của các hạ đã tránh cho đôi bên một cuộc xô xát đẫm máu xảy ra ở một nơi chẳng mang vinh dự gì cho võ lâm.

Thế là may lắm.

Thạch Đạt Lang cũng đáp lại bằng những lời lẽ khiêm tốn.

- Nhân huynh đến nơi hẹn ?

- Đúng thế !

- Đến một mình ?

- Dĩ nhiên. Đây là chuyện riêng của tại hạ.

- Hừ ...Thạch huynh ! Nhân huynh tha lỗi, nhân huynh có hiểu lầm hay quên những lời giao ước đệ đã nói với nhân huynh đêm hôm ấy chăng ?

- Ờ ...ờ ...không ! Tại hạ không quên điều gì cả ...

- Đây không phải là một cuộc tỷ kiếm tay đôi, giữa hai kiếm sĩ với nhau như trường hợp Sĩ Khánh và Điền Chính ...

- Tại hạ biết.

- Hoa Sơn Tuệ Tâm tuy là chưởng môn nhưng chỉ là một thiếu niên không hiểu võ công gì. Vậy nhân huynh không phải chỉ đương đầu với y mà phải đương đầu với những đệ tử bảo vệ y, có thể là mười, hai mươi hay hàng trăm người và toàn là những hảo thủ cả. Qúy huynh biết thế không ?

- Biết chứ ! Tại sao các hạ hỏi điều đó ?

- Họ đang mai phục ở ba ngả đường đi Quan Lĩnh, gần gốc cổ tùng chờ nhân huynh ...

- Sao các hạ biết ? Các hạ vừa ở đó đến chăng ?

Cát Xuyên Mộc ngượng, nói lảng:

- À ...Không ...Đệ đoán vậy và cũng đoán nhân huynh đi đường này nên chờ để lưu ý nhân huynh đấy thôi. Đệ thấy có bổn phận phải làm thế vì là người trung gian dàn xếp ...

- Cảm ơn các hạ.

- Thật nhân huynh chỉ đi có một mình hay còn người nào nữa sẽ nhập bọn ?

- Thực ra tại hạ còn một kẻ đồng hành ...

- Ồ ! Ai vậy ? Ở đâu ?

- Ở ngay đây thôi !

Trước sự ngạc nhiên của Cát Xuyên Mộc, Thạch Đạt Lang chỉ bóng mình trải dài dưới ánh trăng và cười ha hả.

Cát Xuyên Mộc có vẻ thẹn và giận:

- Có gì đáng cười ? Hình như huynh đài không coi lời cảnh cáo của đệ vào đâu cả.

Nhưng Thạch Đạt Lang nghiêm mặt:

- Các hạ cho rằng tại hạ đùa chăng ? Khi Bồ tát Mạn Đà La nói rằng kẻ nào tin có đức Toàn Năng đi bên mình thì kẻ đó có sức mạnh bằng hai người, các hạ cũng cho rằng ngài nói đùa chăng ?

Cát Xuyên Mộc không đáp. Thạch Đạt Lang lại tiếp:

- Nhìn bên ngoài, có vẻ như Hoa Sơn phái sẽ áp đảo được tại hạ. Họ đông người, tại hạ chỉ có một. Nhưng xin các hạ đừng lo lắng gì cho tại hạ. Nếu biết họ dàn ra mười người, tại hạ cũng đem theo mười bằng hữu để đối địch; họ dàn ra trăm người, tại hạ cũng mang theo trăm người, thì cuộc chiến sẽ rối loạn lắm ! Bao nhiêu người sẽ chết hoặc bị thương và vấn đề cũng chỉ giải quyết được thế thôi, nghĩa là giữa cá nhân tại hạ và Hoa Sơn phái, một còn một mất, vậy có ích gì ?

- Nhân huynh nói cũng phải, nhưng khi chiến đấu mà đã biết trước thất bại thì e rằng ...e rằng ...

- Không hợp với binh sách chứ gì ? Xin đa tạ ! Tại hạ đã có chủ ý.

- Nếu nhân huynh đã nhất định như thế thì thôi. Chỉ xin lưu tâm tìm cách gì ít nhất bảo toàn được sinh mang !

- Sinh mạng con người là quý, tại hạ cũng tin như vậy. Nhưng các hạ hãy nhìn kìa:

con sông Kamo này có thể là con sông đưa đến cửu tuyền, con đường tại hạ sắp đi để tới ngã ba Quan Lĩnh có thể là con đường đầy gai góc đưa tới địa ngục, nhưng đối với tại hạ, nó là con đường độc nhất dẫn đến một đời sống trọn vẹn.

Lui một bước, Cát Xuyên Mộc trừng trừng nhìn Thạch Đạt Lang:

- Nghe huynh đài nói, không biết huynh đài còn đủ lý trí không !

- Các hạ muốn nghĩ gì thì nghĩ. Có những người sống cũng như chết và có những người chết rồi mà còn sống !

Rồi không để Cát Xuyên Mộc nói thêm, Thạch Đạt Lang tiếp ngay:

- Đường trước mặt đi đến đâu thế, các hạ ?

- Qua làng Hananoki đến ngã ba Quan Lĩnh, dưới gốc cổ tùng, chỗ huynh đài sẽ trở thành người ...thiên cổ.

Dường như không lý gì đến ẩn ý của người trước mặt, Thạch Đạt Lang vẫn hỏi tiếp:

- Xa không ?

- Chừng năm dặm nữa. Còn đủ thì giờ !

- Đa tạ. Bây giờ xin cáo biệt. Sẽ tái ngộ các hạ Ở một nơi khác.

Nói xong, quay ngoắt sang một đường mòn gần đấy, thấp hơn. Cát Xuyên Mộc gọi với:

- Thạch Đạt Lang ! Không phải ! Đường này mới đi Quan Lĩnh !

Nhưng Thạch Đạt Lang không đáp, Cát Xuyên Mộc chạy theo:

- Lầm đường rồi, quay lại đi !

Bỗng gã dừng lại vì thấy Thạch Đạt Lang ở xa xa, quay lưng lại mặt ngẩng nhìn trời. Cát Xuyên Mộc bật cười vì sự hiểu lầm của mình:

Thạch Đạt Lang đang đi tiểu.

Gã rảo bước trở về đường cũ, ngồi trên phiến đá đợi. Trông lên vầng nguyệt sáng, gã mỉm cười tưởng tượng đến sự thích thú sắp được chứng kiến một cuộc tranh hùng đẫm máu. Nếu gã không nhanh trí báo cho Thạch Đạt Lang biết trước ổ phục kích thì hắn chết mau quá, còn gì là thú vị ?

Chờ mãi không thấy Thạch Đạt Lang lên, Cát Xuyên Mộc đứng dậy theo đường mòn nhìn xuống. Không có Thạch Đạt Lang. Hắn đã biết đâu mất. Chỉ còn những bụi cây lá nghiêng ngả trước gió đêm và xa xa vẳng lại tiếng cút kít của một cái cối xay lúa chạy bằng guồng nước.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau