THẠCH KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thạch kiếm - Chương 31 - Chương 35

Chương 31: Tình huyết nhục

Sĩ Khánh về đến võ đường, mặt cau có. Hắn ném con cắt cho một đệ tử bảo nhốt vào lồng rồi ngồi phịch xuống ghế.

- Cát Xuyên tráng sĩ không về cùng với đại ca ư ?

- Không. Nhưng chắc hắn cũng sắp lại.

Sĩ Khánh vào nhà tắm thay áo rồi ra ngồi ở đại sảnh.

Võ đường đóng cửa từ ngày hăm lăm, phần lớn võ sinh đã tản mát về quê ăn Tết cả. Những tiếng đao kiếm không còn rộn rã như mọi ngày và lò sưởi cũng không nhóm vì tiết kiệm than củi. Không khí lạnh lẽo càng thêm giá buốt và làm tăng vẻ rộng lớn của gian đại sảnh. Sàn gỗ đen im lìm. Đây đó vài giá binh khí đứng trơ trọi. Sĩ Khánh bước vào, nhận ngay thấy cái cảnh hoang vắng ghê người ấy. Ngồi bên chiếc bàn thấp, hắn bất giác thấm thía nỗi cô đơn của chính lòng mình và sự bất lực của cả môn phái. Hắn rùng mình, mất hết ý chí chiến đấu. Sự trụy lạc trong tâm hồn của Sĩ Khánh còn đáng sợ gấp mươi lần sự trụy lạc của võ phái hắn đang đảm trách.

Sĩ Khánh rung chuông gọi đệ tử hầu cận. Chẳng thấy ai tới, hắn uể oải đứng dậy vén màn cửa nhìn ra ngoài.

Bên kia vườn, trước gian nhà gỗ dùng làm văn phòng của viên tổng quản, vô số người ngồi đứng lố nhố. Đủ các hạng. Thợ mộc, thợ nề, lái buôn, chủ tiệm rượu, thấp thoáng có cả bóng phụ nữ. Họ là những khách thương và phu phen bấy lâu nay vẫn thường cung cấp nhu yếu phẩm hoặc sửa chữa võ đường đến đòi nợ cuối năm. Ai nấy nếu không bồn chồn thì cũng lo lắng, vẻ giận dữ hiện ra nét mặt.

- Không biết bao giờ ông quản mới đến ? Nợ bác nhiều không ?

- Cũng đến vài ngàn.

- Của tôi thì số nợ năm trước coi như xong, nhưng năm nay chưa được đồng nào cả.

- Lúc sinh tiền Khổ Bích lão gia, đâu có bao giờ phải chầu chực thế này. Chẳng biết các ngài trong ấy ăn tiêu ra sao mà ông quản này chậm chạp đến thế ?

Họ hỏi han nhau, trao đổi những lời than phiền. Tuy thế một phần lớn vẫn còn giữ lễ độ. Danh vọng các bậc tiền bối Hoa Sơn còn để lại trong lòng họ một sự tôn kính mà hậu duệ của phái, dù hèn kém, chưa làm mai một.

Mãi đến trưa, khi mặt trời đứng bong, một toán chừng sáu bảy người, dẫn đầu là Ưng Đằng, mới khệnh khạng đến. Ưng Đằng nhìn đám chủ nợ, thấy toàn là thứ dân, bèn lên tiếng hách dịch:

- Tổng quản đi vắng, chưa về.

Quả thật, tổng quản Hồ Định đã trốn rồi, ẵm luôn cả số tiền hắn quyên được của những đồ đệ và thân hữu, cùng với Ôkô đi biệt tích. Một chủ nợ đứng lên trần tình:

- Anh em tiểu nhân bất đắc dĩ phải đến đây. Năm cùng tháng tận rồi, xin các ngài trong quý phái trả nợ cho. Nếu không được hết thì cũng chi cho mỗi người một ít để bọn tiểu nhân lo trang trải nợ nần.

- Đúng rồi ! Bọn tiểu nhân không đợi lâu hơn được nữa.

Người khác nói.

- Nếu ngài không trả được thì cho bọn tiểu nhân gặp chưởng môn.

Ưng Đằng ghé tai đồ đệ nói nhỏ. Hắn chạy đi, lát sau trở lại thì thầm:

- Đại ca bảo nói đại ca không có nhà.

Ưng Đằng cau mặt. Tiến thoái lưỡng nan, hắn phân vân không biết xử trí ra sao, nhưng vì thân danh là một trong mười cột trụ của phái, hắn cao giọng:

- Bản chưởng môn không có nhà. Để thư thả, ta sẽ hoàn trả chu tất.

- Thư thả là đến bao giờ ? Hôm nay cuối năm rồi, không trả ngay không được !

Nghe giọng nói có vẻ hỗn xược, Ưng Đằng nóng mặt:

- Đứa nào nói không được ?

Mọi người im thin thít.

- Ta đã nói trả là trả. Bây giờ các ngươi về đi, ta còn nhiều việc khác.

Nhưng chẳng ai nhúc nhích. Một chủ nợ than phiền:

- Vay thì năn nỉ, trả thì khó khăn, còn lên mặt mục hạ vô nhân, không biết nhục !

- Đứa nào nói đấy.

- Ta nói !

Ưng Đằng đứng dậy, xăm xăm đến bên người vừa cất tiếng, xuất kỳ bất ý, thoi cho một quả. Mọi người ồ lên một tiếng kinh ngạc và bất nhẫn. Ưng Đằng nắm cổ áo người đó nhấc bổng lên ném ra cửa.

- Trông đấy ! Đứa nào còn nói hỗn sẽ biết tay ta !

Rồi đưa mắt cho đàn em:

- Dồn chúng nó ra cổng trước, đóng cửa lại !

Đồ đệ Hoa Sơn nhất tề xắn tay áo, mặt hầm hầm. Mọi người nhìn nhau cung cúc bước ra. Khỏi bờ mới quay lại chửi mắng thậm tệ Ưng Đằng và đồng bọn.

Sĩ Khánh ngồi trong sảnh, nghe tiếng ồn ào đã biết chuyện gì rồi nhưng vẫn cúi mặt làm ngơ. Vấn đề chi tiêu trong nhà, hắn chẳng bao giờ lý tới, mặc quản gia lo liệu.

Từ khi Hồ Định bỏ đi, tất cả mọi việc đều do Ưng Đằng quán xuyến, cho nên thấy đàn em làm bậy, hắn cũng chẳng nói năng gì. Bản tính rụt rè, ưa hưởng thụ, hắn sợ, không muốn làm mất lòng kẻ tay chân.

Ưng Đằng bước vào thấy Sĩ Khánh vẫn còn ngồi thờ thẫn bên chiếc bàn thấp.

- Đại ca, có chuyện gì không vui thế ?

Nhìn bọn thuộc hạ, Sĩ Khánh vững dạ. Hắn đáp:

- Không. Chẳng có chuyện gì. Sắp đến ngày rồi phải không Ưng Đằng ?

- Sắp rồi ! Bọn tiểu đệ đến đây cũng vì việc ấy. Đại ca phải tính chỗ và giờ hẹn đi chứ, để còn thông báo cho nó biết, không chần chờ được nữa đâu.

- Ờ ...ờ ... chỗ nào tiện nhỉ. Ngươi nghĩ cánh đồng Đại Tỉnh Môn phía bắc Cổ Thành có được không ?

- Chỗ đó được. Đệ nghĩ chẳng còn chỗ nào hơn. Thế còn ngày giờ, đại ca định ra sao ?

- Ngươi tính nên hẹn trước hay sau ngày hạ nêu ?

- Đệ cho là càng sớm càng tốt. Đừng để nó kiếm cớ trốn mất.

- Mùng tám được không ?

- Mùng tám là kỵ nhật lão tiền bối tổ khảo, đại ca quên rồi sao ?

- Ừ nhỉ, vậy vào ngày mùng chín đi. Đầu giờ thìn, bấy giờ sương chưa tan, mình dễ xoay sở.

- Dạ. Bọn tiểu đệ sẽ cho yết bảng ngay tối nay dưới chân cầu.

- Vậy tốt !

- Đại ca sẵn sàng cả rồi chứ ?

- Dĩ nhiên, dĩ nhiên !
Nói thế nhưng Sĩ Khánh không an tâm. Tuy Thạch Đạt Lang chỉ là một tên kiếm khách, nhưng gần đây có tin đồn đại gã đã giao đấu với nhiều cao thủ võ lâm và đều thắng cả. Sĩ Khánh hơi sợ. Hắn không muốn tự nhận mình tư chất kém cỏi, không đủ khả năng bảo vệ danh dự một môn phái lớn, mà chỉ cho là hiện giờ tâm không tĩnh, một phần vì tình hình tài chính của Hoa Sơn kiệt quệ quá, một phần cũng vì A Kế Mỹ. Trong vụ Sumiyhoshi, A Kế Mỹ cự tuyệt hắn làm lòng tự ái của hắn thương tổn, hắn càng nghĩ càng giận. Lại Hồ Định bỏ đi. Tất cả những biến cố ấy khác nào những mũi thương ác độc đâm thủng lòng tự tin của hắn, giảm nhuệ khí của hắn không ít.

Sĩ Khánh gọi người hầu, hỏi tin Cát Xuyên Mộc. Thấy trình Cát Xuyên Mộc chưa về, hắn ngạc nhiên. Nắng xiên khoai đã đổ dài bóng những gốc tùng, bách cao lớn sau nhà mà người hắn mong đợi tiếp tay vẫn còn mãi mê săn bắn làm hắn khó chịu, cảm thấy như bị phản bội.

Ưng Đằng trở lại, theo sau là một đệ tử mang tấm bảng gỗ mới cắt, chữ viết còn đen nhánh nét mực chưa khô. Sĩ Khánh nhìn tấm bảng, lẩm nhẩm đọc:

“Cáo yết Thạch Đạt Lang lãng nhân kiếm khách, Phúc đáp yêu cầu của ngươi, bản phái quyết định ngày giờ gặp gỡ như sau:

Địa điểm:

Đồng Đại Tỉnh Môn, phía bắc Cổ Thành Ngày giờ:

đầu giờ thìn, ngày mùng chín tháng một xuân năm mùi.

Bản chưởng môn sẽ hiện diện. Nếu vì lý do gì ngươi không đến, bản phái dành toàn quyền tiếu mạ ngươi trước công chúng. Phần bản phái, nếu không giữ lời hứa, xin quỷ thần tru diệt.

Làm tại sảnh đường Hoa Sơn ngày quý đông năm Ngọ Chưởng môn:

Hoa Sơn Sĩ Khánh”.

Sĩ Khánh đọc xong, gật gù:

- Được đấy !

Lời văn rõ ràng trong cáo thị làm hắn hết do dự. Ít nhất, tình thế đã ngã ngũ rồi, hay có lẽ bây giờ hắn mới ý thức được như vậy.

Ưng Đằng ra lệnh cho đồ đệ mang bảng ra cắm ngay dưới chân đại kiều đường Gojo và trở vào ngồi cùng Sĩ Khánh bàn các việc sắp tới.

oo Dưới chân đồi Yoshida, Thạch Đạt Lang len lỏi giữa những ngôi nhà nghèo nàn của các kiếm sĩ vọng tộc nhưng ít tiền. Những kiếm sĩ này phần lớn mang tư tưởng bảo thủ, cầu an, không ưa hay không thể làm được những việc xuất chúng, đành cam phận sống tầm thường như mọi người.

Thạch Đạt Lang vừa đi vừa đảo mắt đọc những tấm bảng gỗ nhỏ đề tên gia chủ treo trước cửa mỗi nhà. Hắn tìm gia đình người dì, vì hắn chỉ còn có bà dì này với Ô Nhiên, chị hắn, là hai người thân duy nhất. Dì hắn lấy chồng kiếm sĩ, phục thị dưới trướng Tôn Điền. Có điều hắn không ngờ chú dượng hắn cũng chẳng giàu có gì, tư thất ở hỗn độn trong khu gia cư thanh bạch này, tìm được thật khó. Nhà nào cũng nhỏ chỉ hai gian, chen chúc nhau, co ro như sợ cái lạnh mùa đông, nấp sau mấy thửa vườn hẹp xơ xác, cây cối khẳng khiu, tuyết trong trận bão vừa qua vẫn còn đọng trên cành cây gầy guộc.

Cửa đóng kín mít. Ngày ba mươi Tết, tuy có đôi nhà trang trí trúc và cành thông theo tục lệ cổ truyền ở trước hàng hiên, nhưng thiếu hẳn cái không khí rộn rịp ngoài đại lộ.

Đi mãi không tìm được nhà, mà tứ bề vắng vẻ không biết ai hỏi thăm, Thạch Đạt Lang tự nhủ:

“Chắc di mẫu ta dọn đi nơi khác rồi”. Bèn đi ngược trở lại. Đến gần chợ, sương chiều phủ kín khắp nơi nhưng phố xá ngày Tết vẫn còn tấp nập. Đèn đường nhòe nhoẹt rung rinh giữa những vòng ánh sáng vàng úa. Khách bộ hành mang xách đi lại vội vàng, lúc ẩn lúc hiện.

Một phụ nữ đứng tuổi bước ngang trước mặt Thạch Đạt Lang. Đột nhiên hắn có cảm giác kỳ lạ, hình như đã thấy người này ở đâu rồi. Những nét quen thuộc lắm. Người đàn bà đi đã xa mà hắn vẫn còn ngẩn ngơ nhìn theo. Đứng một lúc, hắn sực nhớ :

nét mặt này là nét mặt của mẹ hắn, hắn vẫn mường tượng trong giấc mơ. Đúng rồi, chắc bà đó là di mẫu hắn. Tuy không gặp dì mười năm nay, nhưng cái vẻ mặt và cái dáng đi ấy, hắn không sao quên được.

Thạch Đạt Lang chạy theo gọi. Bà kia dừng lại, nhìn hắn ngạc nhiên tột độ, nhưng trong khóe mắt nhăn nheo và trong tròng mắt bắt đầu mờ đục vì cuộc sống khó khăn, thoáng một niềm nghi kỵ:

- Ngươi là Thạch Đạt Lang, con ông Mưu Ni Sai phải không ?

Đến lượt Thạch Đạt Lang ngạc nhiên. Hắn tự hỏi không hiểu sao dì hắn lại gọi hắn là Thạch Đạt Lang mà không là Thạch Kinh Tử. Trực giác bén nhậy của hắn cho biết rõ ràng hắn không được tiếp đón nồng nhiệt. Nhưng vẫn thành thật đáp:

- Vâng, tiểu điệt là Thạch Kinh Tử, dòng họ Yết Mân.

Bà dì nhìn Thạch Đạt Lang từ đầu đến chân, không một lời mừng rỡ:

“Ồ ! Mày đã lớn thế này rồi cơ à !” hoặc “cháu đấy ư, lâu lắm dì chẳng gặp cháu” ... Bà chỉ lạnh nhạt nói:

- Ngươi đến đây làm gì ?

- Thưa di mẫu, cũng không có lý do gì đặc biệt. Nhân đi qua Kyoto, tiểu điệt tạt vào thăm di mẫu và chúc di mẫu cùng di trượng sang năm mới an khang.

Hắn nhìn nét mặt, chân tóc bà dì. Nhiều nếp nhăn ở đuôi mắt, vành môi, chân tóc cũng đã bắt đầu nhuốm bạc. Nếu mẹ hắn còn sống, bà cũng tuổi này và chắc còn nhiều vết nhăn hơn. Giọng nói hẳn cũng thế.

Bà dì tỏ vẻ không tin:

- Mày đến thăm ta ư ?

- Dạ, tiểu điệt cáo lỗi đã không báo trước.Bà giơ tay đuổi Thạch Đạt Lang:

- Vậy bây giờ đã gặp ta rồi thì thôi, đi đi !

Kinh ngạc về lời nói quá vô tình ấy, Thạch Đạt Lang giận dữ:

- Tại sao di mẫu lại đối với con như thế ? Nếu di mẫu đuổi con, con xin đi ngay chẳng dám làm phiền, nhưng con muốn biết tại sao. Hay con đã làm điều gì để di mẫu phật ý. Ít nhất di mẫu cũng cho con biết chứ !

Dường như hối hận vì thái độ lạnh nhạt của mình, bà đi quay đi, không trả lời vào câu hỏi. Bả nói lảng:

- Ừ, thôi đã đến đây thì về nhà, chào dượng mày một câu. Ta là dì mày, cũng không muốn mày đi khỏi nơi này rồi đem lòng oán giận ta.

Thạch Đạt Lang theo bà về nhà. Hắn đợi ở phòng ngoài chờ bà vào báo cho dượng hắn biết. Tiếng ho khan và thở khò khè của một người bị bệnh suyễn ở phòng trong vọng ra cùng với lời nói bực tức:

- Sao ? Con ông Mưu Ni Sai à ? Nó đến đây làm gì thế ? Sao bà để nó vào nhà mà không báo cho tôi biết trước ?

Tiếng dì hắn nói thầm những gì không rõ, rồi tiếng lục đục của người ở trên giường bước xuống tìm dép. Sau cùng, cánh cửa lùa mở và ông Mã Xuyên bước ra, mắt hấp háy.

Mã Xuyên là dượng hắn, dáng thấp lại hơi gù, hai vai so lại vì bệnh hoạn. Nhìn Thạch Đạt Lang, ông tỏ vẻ khinh rẻ ra mặt, một sự khinh rẻ thường thấy ở những người tình thành nhìn bà con thô lỗ của họ Ở quê ra thăm:

- Thằng Kinh Tử đấy à ? Mày đến làm gì thế ?

- Tiểu điệt nhân có việc đi qua Kyoto, đến thăm di trượng.

- Láo !

- ...

- Mày trí trá lắm, ta lạ gì. Đừng tìm cách dối gạt. Ở Mimasaka người ta đuổi mày nên mày trốn lên đây chứ gì ?

Thạch Đạt Lang đứng sững. Hắn không ngờ dượng hắn lại có thái độ như vậy.

Dưới ánh đèn lờ mờ, dì hắn ngồi lặng thinh trong góc phòng, đầu hơi cúi.

- Mày giết người, dụ dỗ con dâu người ta, làm bại hoại gia phong, thật đáng xấu hổ, bây giờ còn đến đây định bêu xấu chúng ta nữa ư ?

Nói xong dượng hắn thở hổn hển. Dường như câu nói dài và sự tức giận làm ông mệt nhọc, ông giơ tay đỡ ngực. Thạch Đạt Lang buồn rầu, tuy biết bị hàm oan nhưng trước cảnh ấy không giữ được lòng thương xót.

- Thưa di nương di trượng, tiểu điệt biết đã làm nhiều điều không phải, nhưng bấy giờ tiểu điệt còn dại. Bây giờ xin sửa đổi.

Ông lão hình như không để ý đến lời hắn nói. Ông ngồi xuống chiếu tiếp tục mắng nhiếc:

- Dân làng ruồng bỏ mày, chắc mày phải bỏ đi cũng vì thế. Gieo gió gặt bão, ông Mưu Ni Sai dưới mồ hẳn không được nằm yên.

Thạch Đạt Lang thấy di trượng, di mẫu tỏ ra phiền lòng và giận dữ quá, bèn cáo thoái:

- Thôi, tiểu điệt chỉ đến để chào di trượng và di mẫu. Bây giờ xin cho tiểu điệt được kiếu ...

- A ! Không được ! - Ông Mã Xuyên giận dữ cắt ngang - Mày không đi bây giờ được. Mày biết ai đợi mày ngoài ấy không ? Mụ Hồ Điểu. Mày mà gặp mặt mụ thì phiền lắm.

- Ô ! Bà Hồ Điểu đến đây ư ?

- Chứ gì nữa. Tháng trước mụ tới đây, kể cho chúng ta nghe hết về mày. Nếu không phải vì tình huyết nhục thì ta đã trói mày giao cho mụ ấy rồi. Nhưng mày là cháu, chúng ta nghĩ tình đối với ông Mưu Ni Sai và mẹ mày nên giữ mày lại. Mày nên đợi đến khuya hãy trốn đi.

Thạch Đạt Lang buồn phiền khôn tả, biết có trần tình cũng vô ích nên chỉ ngồi cắm mặt xuống đất. Những lầm lỗi của hắn trong tuổi thiếu thời không ngờ đã bị bà Hồ Điểu thổi phồng lên và đã gieo vào lòng di mẫu và di trượng hắn một ấn tượng xấu xa đến thế.

Dì hắn nhìn hắn thương hại, bảo hắn ra nhà sau nằm nghỉ. Một mình trong bóng tối, dựa lưng vào đống củi, một lần nữa, Thạch Đạt Lang lại thấm thía nỗi đơn độc của mình. Hắn cởi cây gươm đeo bên sườn, vuốt nhẹ lên bao gỗ nhẵn bóng. Cảm giác mát rượi của vỏ gươm làm hắn thoải mái như những lời an ủi của người bạn cố tri.

Thạch Đạt Lang ngồi đã lâu, không một ai hỏi han gì. Không khí trong vựa củi ẩm ướt lạnh tanh. Đói, mệt và buồn ngủ, hắn thiếp đi lúc nào không biết.

Tiếng chuông giao thừa đổ hổi làm Thạch Đạt Lang bừng thức giấc. Năm mới rồi, năm mới rồi đấy ! Giấc ngủ vừa qua đã đem lại cho hắn sự sảng khoái. Tâm trí lâng lâng thư thái, những bắp thịt sau một thời gian nghỉ ngơi như được dãn nở thêm ra và một luồng sinh lực mới chu lưu khắp thân thể.

Thạch Đạt Lang đứng dậy vươn vai. Chuông chùa vẫn thong thả buông những tiếng ngân nga, uy nghi đĩnh đạt, đủ một trăm lẻ tám tiếng cho một trăm lẻ tám mê vọng của người đời, mỗi tiếng là một lời nhắc nhở họ về tính chất phù ảo của kiếp nhân sinh.

Thạch Đạt Lang tự hỏi có bao nhiêu người trong đêm nay, cái đêm trừ tịch này, đã nói được:

“Ta đã làm xong điều ta phải làm, ta chẳng có điều gì hối tiếc”. Riêng đối với hắn, mỗi tiếng chuông lại làm hắn rùng mình nghĩ đến những tư tưởng, những hành động xấu xa hắn đã phạm phải trong năm qua, năm trước và những năm trước nữa.

Không năm nào không có những điều hắn không hối tiếc. Người đời thay vợ đổi chồng, đối đãi với tổ tiên, cha mẹ, anh em, con cái, ai dám tự hào đã không có điều gì xúc phạm ?

“Ta vẫn tự nhủ:

nhất định không mong nhờ ai điều gì mà sao vẫn còn hy vọng ở họ lòng thương yêu ? Thật là ngu xuẩn và dại dột. Ta phải quyết tâm và ghi điều này lên giấy mới được !”. Thạch Đạt Lang mở hành trang, lấy ra một mẩu nến, đánh lửa thắp lên rồi rút ra quyển sổ giấy đã vàng trong đó hắn ghi những điều nhận xét về võ công, về địa lý cũng như những ý tưởng hỗn độn của hắn trên bước đường giang hồ, kèm theo với cây bút nhỏ. Hắn nhổ nước bọt vào cái nghiên con, mài mực, viết câu khai bút:

“Ta muốn không có điều gì phải hối tiếc”. Nhưng viết thôi, không đủ, hắn cần tìm một câu ngắn, gọn, ý nghĩa súc tích như một thành ngữ để có thể nhắc đi nhắc lại hàng ngày. Có thế hắn mới không quên. Bèn sửa:

“Ta sẽ không hối tiếc những điều ta làm”. Nhưng vẫn chưa vừa ý, hắn lại sửa lần nữa:

“Không làm những gì phải hối tiếc”. Thạch Đạt Lang lẩm nhẩm nhắc đi nhắc lại câu này giữa những tiếng chuông lớn ngân nga và những tiếng chuông nhỏ đổ hồi báo hiệu một năm mới vừa điểm.

Cửa lùa xịch mở. Dì hắn thò đầu vào và nói, giọng run run thì thầm:

- Kinh Tử ! Mày ở đây không được nữa rồi. Mụ Hồ Điểu đến ngoài kia và đòi chúng ta phải điệu mày ra. Chúng ta đã nói mày không có đây nhưng mụ không nghe. Đầu năm, đừng để xảy ra chuyện không hay.

Giọng bà dì hạ thấp hơn:

- Kinh Tử, trốn đi mau. Dượng mày đang giữ mụ ngoài nhà khách.

Bà lẻn vào, cầm nón đội lên đầu Thạch Đạt Lang và đẩy hắn ra phía cửa bếp.

Hắn vừa đi vừa khoác vội túi hành trang lên vai:

- Con ân hận và xin lỗi đã làm phiền di mẫu.

Bà tạt vào bếp lấy năm cái bánh dầy nhỏ, gói vào vuông vải trắng dúi vào tay hắn.

Thạch Đạt Lang cung kính giơ bánh lên ngang trán tỏ dấu cảm ơn và đi vội ra cửa:

- Con xin vĩnh biệt di mẫu.

Chương 32: Dưới chân Đại Kiều

Như cánh chim bạt gió, Thạch Đạt Lang lầm lũi đi trong đêm tối, dưới trời giá buốt. Chiếc nón nan mong manh không đủ che đầu, gió lạnh lùa qua lần khăn mỏng quấn quanh trán, hắn phải cắn chặt hai hàm răng cho khỏi và vào nhau kêu lập cập. Hơi hắn thở ra trắng tựa khói, vướng vào hàng lông tơ trên mép chẳng mấy chốc đã đọng thành những giọt sương nhỏ li ti.

“Chà, lạnh dữ !”. Trước nay, lạnh như thế này đối với hắn có nghĩa gì đâu, sao đêm nay hắn run rẩy như chiếc lá ? Chắc chẳng phải vì cái lạnh bên ngoài mà vì lòng hắn nhu nhược. Như đứa trẻ nhỏ thích được mẹ Ôm ấp nâng niu, hắn vẫn còn trông cậy vào tình thương của người khác. Trong thâm tâm, hắn chưa gạt bỏ được sự mong ước nắm một bàn tay trắc ẩn, nghe một lời âu yếm, hay nhận một cử chỉ vuốt ve, hắn vẫn còn bị tình cảm ràng buộc. Sự thất vọng vừa qua tại nhà người dì đã như một gáo nước dội vào dập tắt tất cả những mong ước ấy làm hắn lạnh tê, nhưng đồng thời cũng khích động lòng tự ái của hắn không ít. Hắn chẳng trách người dì và ông chú dượng, chỉ giận mình chưa đủ trưởng thành để sống một đời tự lập. Tự lập ! Trong cơn phẫn nộ với chính mình, Thạch Đạt Lang nói to như hét:

- Tự lập ! Ta phải sống cuộc đời tự lập ngay tự trong lòng ta !

Tiếng kêu giận dữ phát xuất từ tâm khảm hắn vang lên tựa sấm động bên tai.

Trong giờ khắc trang nghiêm của buổi nguyên đán, giữa những tiếng chuông chùa dõng dạc uy nghi, tiếng kêu bi thiết ấy là lời hứa long trọng với chính mình, Thạch Đạt Lang sung sướng như người vừa được giải thoát. Hắn bước nhanh hơn, hơi thở dồn dập, một thay đổi sâu xa đương làm đảo lộn cả tâm hồn và thể chất hắn.

“Kiếm đạo không phải là con đường dành cho những kẻ yếu hèn, không lý tưởng.

Người mang kiếm không lý tưởng chỉ là kẻ ăn mày lang bạt. Sự khác biệt giữa một kẻ ăn mày lang bạt và một hiệp sĩ giang hồ nằm trong đáy lòng mình chứ không ở nơi nào khác”. Thạch Đạt Lang vừa lòng với những suy tư ấy. Hắn bước những bước dài, mạnh trên đường cỏ ướt sương và không còn thấy tê cóng trên đầu ngón chân như trước nữa.

Hồi lâu, cảnh trí xem chừng đổi khác. Rặng liễu ven đường nhiều thêm ra và nhà cửa cũng thưa dần. Dưới chân Thạch Đạt Lang đã có những vũng nước đóng váng. Đôi lúc, hắn phải tránh đường mòn, đi lên bờ cỏ cho khỏi ướt chân.

Ngoài xa, một dải sương trắng đục mờ mờ, có lẽ là sông Kamo. Không ngờ hắn đến bờ sông Kamo chóng đến thế ! Trời còn tối lắm. Lau sậy và cỏ lác mọc rậm rạp ven sông càng làm cho bờ sông tối thêm, hắn không phân biệt được đâu là bờ, đâu là nước nữa.

Thạch Đạt Lang men theo rặng liễu đến chỗ lũng cao. Trời chưa sáng, vả hẵn cũng không gấp nên quyết định ngồi nghỉ chân trên lũng. Nhìn quanh, vô số cành lá gãy, lá khô, hắn nhặt gom lại thành đống, mồi lửa đốt. Gió sông thổi ào ào, mấy lần lửa đã bắt lại tắt ngấm. Kiên nhẫn, hắn lấy nón che, thả từng chiếc lá làm mồi, đến khi lửa bốc cao, hắn xoa hai tay vào nhau khoan khoái và cởi hài xảo hong bên đống lửa. Ngọn lửa theo gió thổi tạt vào mặt nóng rát. Thạch Đạt Lang lùi lại, bỗng tay chạm vào một túi nặng đeo bên mình. Sực nhớ đến mấy chiếc bánh dì hắn cho lúc sang canh, cơn đói ở đâu kéo đến khiến hắn ứa nước rãi. Hắn tháo túi, lấy bánh ra bày trước mặt, dùng cành khô xiên từng chiếc hơ lên lửa.

Bánh dầy gặp lửa phồng to tựa quả cam, vàng ngộm, nhắc hắn nhớ đến những ngày Tết nguyên đán xưa, khi còn nhỏ, hắn cũng nướng bánh ăn như thế này. Bánh dầy nhạt, không tẩm đường và cũng không có muối, nhưng dẻo và thơm, càng nhai càng có vị. Bất giác, hắn so sánh những chiếc bánh thuần hậu với cuộc đời hành hiệp hắn đang theo đuổi, đạm bạc mà cao khiết.

Thạch Đạt Lang vui vẻ, vừa ăn bánh vừa ngó ngọn lửa bập bùng. Cơn gió thổi, ngọn lửa rạp sang bên rồi lại tỏa ra cháy xuê xoang hơn trước. Những tiếng nổ lách tách reo vui, một chút vui nhỏ trong niềm vui lớn sáng tạo của vũ trụ.

“Năm nay ta ăn một cái Tết nguyên đán của riêng ta ...Giang hồ lãng tử như ta mà cũng có bánh ăn đầu năm thì chắc Trời Phật chẳng để ai đói lòng. Này sông Kamo là bạn, băm sáu ngọn Hải Nhai sơn làm bối cảnh trang trí cho cây tùng xanh tốt ngoài kia !

Thật là hùng vĩ ! Ta phải làm cái gì mới được ! Ờ ờ ...ăn xong, ta sẽ xuống sông tắm gội cho thân thể thanh khiết đợi ánh sáng đầu tiên của năm mới.” Thạch Đạt Lang lần ra bờ sông, cởi bỏ quần áo, xếp cùng với hành trang bên gốc liễu rồi nhảy xuống tắm. Nước lạnh quất vào da thịt làm cho bắp thịt hắn săn lại nhưng Thạch Đạt Lang thấy sảng khoái vô cùng. Hắn vùng vẫy bơi lội, bọt nước bắn tứ tung chẳng khác gì một loài thủy cầm đang đùa nghịch.

Thạch Đạt Lang vừa tắm xong, chân trời phía đông cũng vừa hửng sáng. Hắn bước lên bờ, linh cảm làn dương quang mới hé chiếu trên lưng, quay lại thì đúng lúc mặt trời vừa ló.

Xúc động trước vẻ đẹp bao la của cảnh vật, bóng tối lui dần dưới bầu trời rạng rỡ, sông dài, trời rộng trải thênh thang, Thạch Đạt Lang cứ để nguyên thân thể trần truồng như kẻ cổ sơ, dạng chân giơ tay hít một hơi dài bầu không khí trong lành buổi ban mai vào ngực.

Giây phút huyền diệu ! Đột nhiên, hắn cảm thấy tâm hồn lâng lâng bay bổng, bừng lên một sự cảm thông với vô cùng và hòa đồng cùng vạn vật. Hắn không còn là hắn nữa, hắn là cái cây, là đám mây, là ngọn núi. Hơi thở của hăn, những tế bào trong cơ thể hắn chỉ là những mắt xích của vô cùng, ảo giác mà thôi, hiện ra rồi lại tan loãng vào thiên nhiên để mà luân lưu mãi. Không ngờ trong giây phút linh thiêng này, hắn vừa lý hội được cái nghĩa sắc, không của nhà Phật.

Thạch Đạt Lang lau khô mình, sắp sửa mặc quần áo thì vừa hay nhìn lên lũng cao, thấy bóng một bà già bên đống lửa. Bà đó không ai khác hơn là bà Hồ Điểu.

Hồ Điểu lão bà trông thấy hắn cũng không khỏi kinh ngạc:

- Đúng rồi ! Đúng hắn rồi !

Mới kêu được có thế, bà đã hụt hơi vì xúc động, hai tay giữ ngực rồi sụp xuống.

Chân tay run rẩy, bà thều thào:

- Lạy Trời lạy Phật, vong hồn cậu sống khôn thác thiêng run rủi cho ta gặp thằng ác tặc đây rồi !

Từ khi cậu Ngô gặp nạn chết đi, bà luôn luôn đem theo trong mình một cái túi nhỏ đựng vài sợi tóc và lóng xương của người em bạc mệnh như một giải bùa để những khi trái gió trở trời, hoặc gặp chuyện gì phiền não, bà mang ra cầu nguyện. Tuy cậu mới chết chẳng bao lâu, nhưng không ngày nào bà không khấn vái vong linh cậu. Bà nguyền sẽ trả mối thù cho dòng họ đến hơi thở cuối cùng, giết cho bằng được tên đại gian đại ác, cho dù có phải tan xương nát thịt cũng cam lòng.

Nghe đồn có bảng cáo thị dưới chân đường Gojo của Hoa Sơn phái hẹn Thạch Đạt Lang tỉ võ ngày nguyên tiêu, bà Hồ Điểu không ngần ngại, vội vàng đến Kyoto xem hư thực. Bà chỉ sợ trễ, Thạch Đạt Lang mà chết dưới tay Hoa Sơn rồi thì còn đâu để bả trả hận. May sao Trời Phật và đức Quan Âm bồ tát đã chứng giám lời cầu xin thành khẩn của bà, lại nhờ vong hồn cậu Ngô linh thiêng, bà bắt gặp nó ở đây.

Thấy ánh lửa ven sông, bà đinh ninh cho là lửa của kẻ ăn xin nào đó đốt lên sưởi ấm, không ngờ lại chính là Thạch Đạt Lang. Khi nhìn dáng dấp cao lớn của người dưới nước bước lên, dám khinh thường cái lạnh, tắm sông về mùa này, bà không còn hồ nghi gì nữa.

Thạch Đạt Lang trần truồng là một dịp rất tốt cho bà tấn công, chờ lúc hắn đang mãi bận quần áo, xuất kỳ bất ý xông ra đâm cho một nhát, tất hắn tránh không kịp.

Nhưng bộ Óc già nua của bà không cho thế là phải. Bà nhắm mắt chắp tay cảm ơn Thần Phật, tin rằng Thần Phật sẽ phù hộ bà cho đến lúc chết. Mà có Thần Phật phù hộ thì lo gì bà không giết được nó ?

Khi bà Hồ Điểu mở mắt ra, Thạch Đạt Lang đã mặc xong quần áo. Túi hành trang trên vai, song kiếm giắt lưng, thoắt cái hắn đã nhảy qua vũng nước lớn, rảo bướ c đi về phía đại kiều đường Gojo.

Bà Hồ Điểu há hốc miệng, không ngờ hắn nhanh quá đến thế. Rút kiếm ra rồi, bà lại tra kiếm vào vỏ, chạy theo. Bà cũng khôn ngoan không lên tiếng thách thức, chỉ men theo hàng liễu và lẩn sau những bụi lau sậy, dõi bước chân hắn.

Bóng chiếc cầu gỗ đã bắt đầu hiện ra lờ mờ trong sương sớm cùng với những mái nhà rêu màu xám nhạt. Còn một thôi nữa thì đến chân cầu, Thạch Đạt Lang bước nhanh. Hắn dư biết bà Hồ Điểu đang đuổi theo nhưng hắn không quay lại. Vì quay lại, tất nhiên phải đối đầu với bà. Hắn phải tự vệ nhưng lại không muốn làm bà lão bị thương. “Thật là khó xử !”. Hắn tự nhủ thầm, và mỉm cười:

“Thật là một đối thủ lợi hại!”.

Nếu như hắn vẫn là thằng Thạch Kinh Tử xưa kia, khi còn ở Miyamoto thì dễ quá:

hắn chỉ đấm cho một quả, bà sẽ nằm liệt giường hàng tháng. Nhưng nay hắn là người khác rồi.

Thực ra Thạch Đạt Lang chẳng ưa gì bà Hồ Điểu, nhưng hắn không căm thù bà như bà căm thù hắn. Hắn cho rằng lòng căm thù của bà sinh ra từ một điều ngộ nhận.

Hắn muốn trần tình, nhưng cái thế không cho phép. Chắc chắn hắn nói thế nào bà cũng chẳng nghe, bà vẫn nổi tiếng là người bướng nhất làng. Chỉ Mãn Hà Chí nói, may ra bà mới để vào tai, vì thực ra ngoài Mãn Hà Chí, còn ai có thể chứng minh chính con bà đã viết thư từ hôn với Oa Tử ?

Đến đầu cầu đường Gojo, Thạch Đạt Lang chậm bước. Dịp may để bà Hồ Điểu đuổi mau hơn. Trăm thước. Năm chục thước. Ba chục thước. Trông dáng đi của Thạch Đạt Lang, sao bà ghét lạ ! Đến những vết chân hắn in trên đất, bà cũng ghét cay ghét đắng. Bà ngoảnh mặt đi, nhổ bọt, rồi không giữ nổi kiên nhẫn, hét lớn:

- Thạch Kinh Tử !

Nhưng Thạch Đạt Lang không chú ý, làm như không nghe tiếng.

- Thạch Kinh Tử ! Mày điếc à ? Sao không nghe ta gọi ?

Thạch Đạt Lang vẫn điềm tĩnh tiến bước.

Bà Hồ Điểu tức uất, hai tay nắm chặt, cổ bạnh ra, chạy lên chặn đường hắn.
- Đứng lại !

Thạch Đạt Lang giả vờ ngạc nhiên:

- Chà ! Ai như bà Hồ Điểu ? Sao bà lại ở đây ?

- Tiểu tặc gian ác, đừng vờ vịt ! Sao ta lại ở đây ! Đáng lẽ ta phải hỏi mày câu ấy.

Ta đã để mày chạy khỏi tay ta trên sơn đạo chùa Phổ Quang, bây giờ không thể cho mày trốn thoát được. Ta phải lấy đầu mày !

Mặt bà Hồ Điểu đỏ gay, gân cổ nổi lên như chiếc đũa. Giọng bà the thé phun ra từ cái miệng nhăn nheo có hàm răng vổ, thưa làm Thạch Đạt Lang thấy sợ hãi hơn là tiếng thét xung trận của một đối thủ lợi hại.

Sự sợ hãi của hắn bắt nguồn từ hồi nhỏ, khi hắn và Mãn Hà Chí đang mãi hái trộm dâu trong vườn thì bị bà bắt được. Bấy giờ hắn tám chín tuổi gì đó. Tiếng hét của bà làm hắn sợ hãi quá chừng, bỏ chạy mà trống ngực đập thình thịch. Thời gian trôi qua, cường độ của sự sợ hãi giảm bớt nhưng âm hưởng tiếng hét vẫn còn vang dội bên tai làm hắn giật mình khó chịu.

Phần bà Hồ Điểu, tuy bây giờ Thạch Đạt Lang đã thành niên, nhưng ấn tượng một đứa bé hỗn láo và man dại vẫn còn ghi trong ký ức. Khi Mãn Hà Chí đăng lính, rồi Oa Tử, con dâu tương lại của bà bỏ đi, bà đều quy tội cho Thạch Đạt Lang dụ dỗ. Vì những lời đàm tiếu trong làng, sự tức giận của bà mỗi ngày một tăng và nay trở thành thù hận.

Bây giờ, tất cả kỳ vọng của bà trước khi nằm xuống là được cắt đầu Thạch Kinh Tử cáo gia tiên để trả mối hận đó.

Bà Hồ Điểu giơ tay quệt mép, nhổ bọt vào gan bàn tay rồi rút kiếm đánh soạt:

- Thạch Kinh Tử ! Thằng vô lại du đãng kia ! Rút kiếm ra nếu không đừng trách ta không báo trước.

Tích xưa, chuyện con bọ ngựa đá xe không biết có từ đời nào nhưng so vớ i cảnh này thì thật hợp. Bà Hồ Điểu chân tay khô đét chẳng khác gì càng bọ ngựa, mắt lồi, da mặt nhăn nhúm, chiếc áo chẽn bà mặc ngắn đến lưng, gió thổi phồng lên như hai cái cánh. Còn Thạch Đạt Lang chẳng nói chẳng rằng, lừng lững như cỗ xe vững chãi, đưa mắt nhìn lão bà bọ ngựa múa kiếm chạy quanh. Cảnh tượng thật nực cười, nhưng Thạch Đạt Lang không cười được. Hắn chỉ thấy thương.

Khi bà Hồ Điểu đến gần, giơ kiếm định đâm, hắn không tránh, giơ tay nắm chặt lấy khuỷu tay bà.

- Thôi mà, bà bớt giận để con nói.

Giọng hắn cầu khẩn. Đang đà, bà Hồ Điểu ngã xô vào người hắn. Hắn nhẹ nhàng đẩy ra.

- Bà hiểu lầm con rồi !

- Mày đừng tìm cách lừa gạt. Ta từng này tuổi đầu, ăn hơn mày bốn mươi cái Tết, mày chỉ đáng con cháu ta, chuyện gì ta phải nghe mày nói ?

Mặt bà đỏ gay, bọt sùi ra bên mép qua hai hàm răng vổ và thưa. Thạch Đạt Lang lắc đầu:

- Bướng quá sức ! Thật chẳng hổ danh dòng Hồ Điểu.

- Tiểu tặc đừng hỗn. Ta không nghe những lời tán tụng của mày đâu. Bỏ tay ta ra !

- Bà hãy nghe con giải thích ...

- Không ! Không giải thích gì cả. Đọc kinh sám hối đi là vừa, trước khi ta chặt cổ mày !

Bà Hồ Điểu vùng vẫy giằng tay ra, dáng điệu hung hăng như con gà chọi.

- Bà không nghe con nói thì con phải đoạt thanh kiếm này.

- Hứ ! Đoạt đi ! Nó là đồ gia bảo nhà ta. Mày giết ta mới lấy được. Đừng hòng !- Xin bà bớt giận. Tuổi bà đã cao, giận dữ không tốt. Hãy để Mãn Hà Chí nói bà rõ.

- Á ! Mày nói gì thằng Mãn Hà Chí ?

- Con có hẹn hôm nay gặp Mãn Hà Chí ở chân cầu. Nó biết rõ chuyện, bà đợi nó nói hết cho bà nghe.

- Xì ! Chỉ láo ! Thật xấu hổ, mày có phải con ông Mưu Ni Sai dòng họ Yết Mân không ? Ông ấy có dạy mày khì phải chết thì chết cho đĩnh đạt không ? Đừng tìm cách gạt ta để rồi trốn như lần trước !

Mắt bà long sòng sọc ngước nhìn Thạch Đạt Lang. Thấy hắn lặng thinh, bèn giật mạnh tay, nhưng vì dùng quá sức, bà bắn ra xa, ngã ngồi xuống. Thạch Đạt Lang định đến nâng dậy song bà đã đứng lên kịp, cầm gươm xông tới:

- Nam mô quan thế âm bồ tát !

Bà Hồ Điểu vừa niệm kinh vừa phóng ra một chiêu. Kiếm chiêu vừa run lại vừa chậm. Thạch Đạt Lang khẽ nghiêng mình né tránh. Bỗng thấy nhói bên mí mắt, hắn đưa tay lên sờ. Không có máu, chỉ thấy cay và hơi ngứa.

Bà Hồ Điểu quay lại tấn công lần nữa. Hắn nheo mắt nhìn. Mắt bên trái hắn cay như xát ớt, nước mắt chảy ra ràn rụa, hắn không hiểu tại sao.

- Nam mô a di đà Phật !

- Nam mô quan thế âm bồ tát !

Mỗi câu niệm Phật lại kèm theo một chiêu kiếm. Lão bà Hồ Điểu Anh điên cuồng chạy xung quanh Thạch Đạt Lang, phóng kiếm đâm chém liên tiếp. Đôi dép da trâu dưới chân bà kêu lép nhép, mà hắn chỉ nghiêng mình tránh né.

Thạch Đạt Lang phiền lòng quá. Nếu muốn, hắn chỉ giơ tay bà sẽ ngã ngay nhưng thấy bà yếu, hắn không nỡ. Mắt hắn bị thương, bây giờ cộm và ngứa. Hắn muốn giải quyết vụ này cho chóng xong mà chưa biết phải làm thế nào.

Đột nhiên, bà Hồ Điểu giả chạy quá đà, quay ngược lại dùng thế hồi mã chém một nhát vào đầu Thạch Đạt Lang. Đạt Lang giơ tay đỡ. Soạt ! Lưỡi kiếm cắt đứt miếng áo ngoài và chạm vào cườm tay hắn. Hồ Điểu Anh thấy đã chém trúng địch thủ, mừng rỡ nhảy lên:

- Mô Phật ! Phen này mày chết với ta !

Thạch Đạt Lang cau mặt. Từ trước hắn vẫn coi thường bà lão, không quan tâm điều thắng bại, nhưng bây giờ biết là lầm. Binh thư cũng như kinh nghiệm đều dậy không bao giờ được khinh địch. Theo luật giang hồ, như vậy là hắn bại rồi. Vết thương ở cườm tay tuy nhẹ, nhưng chứng tỏ hắn đã bất cẩn, một điều hết sức tránh trong khi giao đấu.

Thạch Đạt Lang hét một tiếng, chờ cho Hồ Điểu Anh đến gần, vòng tay ra sau lưng bà điểm mạnh một cái. Bà lão ngã sấp, kiếm văng sang bên. Bà không đứng dậy được nữa, mặt nhăn nhó. Thạch Đạt Lang dùng cầm nã thủ pháp khóa tay bà lại, đồng thời móc vào nẹp áo xách bà lên như xách con mèo. Tay kia hắn nhặt thanh gươm, cầm lăm la)m.

Bà Hồ Điểu rên rỉ:

- Thằng này hỗn, thằng này hỗn ! Mày làm gì ta vậy ? Ối chao, đau ! Bỏ ta ra !

Không còn Thần Phật gì nữa hay sao ? Thạch Kinh Tử. Thằng súc sinh này, mày hỗn quá!

Bà Hồ Điểu giẫy đạp như điên, mồm la bai bải. Mặc ! Thạch Đạt Lang làm như không nghe gì hết. Hắn giơ bà ra xa để bà khỏi đạp vào chân hắn rồi lầm lũi đi về phía đại kiều.

Đang phân vân không biết xử trí ra sao, bỗng xa xa gần bờ sông có chiếc thuyền nhỏ neo bên gốc liễu. Thuyền dường như bỏ trống. Một ý nghĩa thoáng hiện. Hắn xăm xăm xách bà Hồ Điểu đến bên thuyền, tìm dây trói chặt chân tay bà lại.

- Trời ời ! Thạch Kinh Tử, mày làm gì ta thế này ? Mày định trôi sông ta hay sao ?

Ừ giết ta đi, mày làm nhục ta quá rồi !

Thạch Đạt Lang không đáp. Nét mặt hắn đăm chiêu, vẻ buồn và hối hận thoáng lộ trên khóe mắt.

- Qúa lắm rồi ! Thật không còn Thần Phật trời đất gì nữa ! Thạch Kinh Tử ! Sẵn gươm kia sao mày không cho ta một nhát ?

Thạch Đạt Lang nhẹ nhàng đặt bà lão lên thuyền.

- Bà nằm tạm đây, con đi tìm Mãn Hà Chí.

Rồi hắn bỏ đi.

Nhưng bà Hồ Điểu không chịu. Bà la hét, gọi tên Thạch Đạt Lang chửi rủa, dùng hai chân bị trói đạp lung tung khiến chiếc thuyền nhỏ chòng chành tưởng sắp lật.

Đi một quãng, nghĩ thế nào, Thạch Đạt Lang quay trở lại. Hắn tìm giây chão buộc chặt hai đầu thuyền vào gốc liễu. Lại nhặt thanh kiếm gia bảo nhà Hồ Điểu tra vào bao rồi cẩn thận đặt lên thuyền bên bà lão.

Lần này hắn bỏ đi hẳn, giữa những tiếng mắng nhiếc và câu nói sau cùng nghe được của bà Hồ Điểu:

- Thạch Kinh Tử ! Mày nói theo kiếm đạo mà ngu quá, có biết gì về kiếm đạo. Lại đây ta dạy cho, thằng tiểu tặc ...

Thạch Đạt Lang mỉm cười, lẩm bẩm:

- Để rồi sẽ học sau.

oo Mặt trời đã lên cao, đỏ chói trên bầu trời xanh nhạt không vẩn mây. Thạch Đạt Lang tưởng như những tia nắng mới của vầng thái dương xuyên thấu tâm can.

Hắn nghĩ đến điều dân gian thường tin tưởng:

mỗi năm vào ngày mồng một, đúng lúc bình mình, tia sáng đầu tiên của mặt trời sẽ làm tiêu tán con sâu tư kỷ nó đục khoét tâm ta và ràng buộc ta vào những ham muốn ti tiện. Ai bắt gặp tia sáng đó, suốt năm sẽ hưởng hạnh phúc, an vui.

Thạch Đạt Lang phanh ngực áo, hít một hơi dài. Hắn hy vọng.

Chương 33: Cố nhân

"Đại Tỉnh Môn, bắc Cổ Thành, đầu giờ thìn tháng mạnh xuân, ngày mồng chín ...”.

Thạch Đạt Lang vẻ tư lự, lẩm nhẩm đọc ngày giờ và điểm hẹn cáo yết trên bảng gỗ dựng dưới chân cầu rồi thong thả lui vào một chỗ khuất đứng ngó mông lung.

Thấy mắt còn cộm, hắn đưa tay dụi, không ngờ chạm phải một vật cứng dính gần cổ áo. Rút ra xem, ra là một cây châm nhỏ bằng sắt giống như cái kim khâu nhưng không có lỗ chỉ, một đầu nhọn, đầu kia hơi loe buộc vài sợi tơ ngắn.

- À ra cái này đây !

Thạch Đạt Lang không ngờ bà già ghê gớm thế ! Trên bước đường giang hồ, hắn đã từng nghe nói nhiều đến thuật phóng châm của một số phụ nữ. Hắn không tin mấy, mặc dầu cho rằng thuật đó không hẳn là vô căn cứ. Nhưng dù có thật đi chăng nữa, chắc cũng chỉ là một tiểu kỹ của những kẻ yếu thế, gặp lúc cùng thì dùng để tự vệ, hắn chẳng quan tâm. Song qua kinh nghiệm vừa rồi, Thạch Đạt Lang thấy thuật phóng châm quả là một đòn nguy hiểm không thể coi thường. Cây châm nếu được phóng trúng vào con ngươi và chiêu kiếm của bà già nhanh hơn chút nữa thì trong lúc lúng túng dụi mắt, hắn đã bị khốn rồi. Hơn nữa, nếu cây châm lại được tẩm thuốc độc, kết quả còn đáng sợ gấp mấy ! Nghe nói người sử dụng tuyệt kỹ này có thể giấu rất nhiều châm trong tay áo hoặc trong miệng rồi xuất kỳ bất ý phóng ra có khi hai ba cái một lúc. Châm phóng bằng miệng phải luyện tập công phu và nếu không phải tay lão luyện, không dám dùng châm độc.

Chẳng biết bà Hồ Điểu đã sử dụng tuyệt kỹ nào, nhưng may cho hắn, châm của bà không tẩm độc chất, hắn chỉ thấy mí mắt ngứa xoàng và hơi cộm. Hắn vận khí thấy kinh mạch vẫn điều hòa không có triệu chứng gì tỏ ra bị ngộ độc thì yên dạ. Thạch Đạt Lang mở bọc định lấy lọ thuốc bột rắc vào chỗ ngứa, thình lình nghe sột soạt phía sau lưng.

Một thiếu nữ đã đứng đó tự bao giò, tay cầm giải lụa trắng đưa cho hắn, nói:

- Chớ dụi. Càng dụi mắt càng ngứa thêm. Thạch lang, chàng hãy lấy giải lụa này mà buộc !

Thạch Đạt Lang ngạc nhiên:

- Cô nương là ai ? Sao biết tại hạ ?

Thiếu nữ không đáp, chỉ đăm đắm nhìn. Lát sau thấy hắn vẫn đứng im như phỗng thì ra vẻ bối rối. Không giấu được vẻ buồn đượm chút tủi thân, nàng cúi đầu nói khẽ:

- Thạch Kinh Tử ...à ...à ...Thạch Đạt Lang ! Chàng thật không nhận ra thiếp sao ?

Thạch Đạt Lang nhìn kỹ. Thiếu nữ này chắc thuộc hạng quyền quí trong xã hội.

Lối trang phục xa xỉ, áo bằng hàng lụa đắt tiền thêu hoa chim, nhưng nếp áo xô lệch.

Cửa tay và thân áo nhiều chỗ đã rách, vạt áo loang lổ những vết bùn dường như chưa được gột rửa kỹ. Da mặt nàng hơi xanh dưới lớp phấn thoa vội. Đôi môi nàng mọng, tô son đỏ thắm run run như sắp khóc hay định nói điều gì song cố giữ.

Trông nàng như con chim non bị bão, vậy mà trong cái tơi tả ấy, diện mạo thiếu nữ vẫn còn giữ được một vẻ đẹp lạ kỳ. Những đường cong của môi, của má, của cằm nàng mang một sức quyến rũ đặc biệt, đầy nữ tính. Thạch Đạt Lang so sánh thiếu nữ đứng trước mặt với Oa Tử. Hai người xấp xỉ cùng trạc tuổi như nhau, nhưng Oa Tử đẹp thanh cao, trang nhã và quý phái còn nàng này cũng đẹp nhưng đẹp cách khác. Ở khóe mắt bờ môi có một vẻ gì nồng nàn nó lôi kéo, thu hút người khác phái như một thứ nam châm hút sắt. Thiếu nữ trông quen lắm, hình như hắn đã gặp ở đâu rồi mà không tài nào nhớ ra được.

Sự im lặng của Thạch Đạt Lang làm thiếu nữ càng bối rối thêm. Sau cùng không nhịn được nữa, nàng òa lên khóc, giang tay ra ôm chặt lấy hắn:

- Thạch Kinh Tử.

Cử chỉ tự nhiên và tiếng kêu xuất phát tự đáy lòng có một cái gì khích động làm bừng dậy trong tiềm thức Thạch Đạt Lang những kỷ niệm cũ tưởng đã quên lãng từ lâu.

Văng vẳng, hắn nghe đâu đây tiếng nhạc khánh leng keng như khi ở trên đồi Ibuki, hắn còn là tên lính bại trận phải trốn tránh trong vựa củi của một căn trại đổ nát.

Và hắn sửng sốt kêu lớn:

- A Kế Mỹ ! Ồ A Kế Mỹ ! Nàng đã lớn từng này rồi đấy !

Nụ cười sung sướng nở trên môi, A Kế Mỹ gật đầu, trong khi mắt vẫn còn long lanh hai hàng lệ:

- Phải rồi ! Chàng đã nhớ ra người cũ ! Hơn năm năm rồi còn gì ...

Nàng ôm chặt lấy Thạch Đạt Lang hơn và nói như trong giấc mộng:

- Thiếp đợi mãi mới có ngày nay. Thạch Kinh Tử, chàng có nhớ thiếp không ?

Thạch Đạt Lang chẳng biết trả lời sao. Đối với hắn, những ngày ẩn nấp trên đồi Ibuki là một giai đoạn kỳ thú trong cuộc đời trôi nổi của hắn. Mang ơn Ôkô, thanh mộc kiếm đen bóng như mun vẫn còn đeo bên sườn đây là kỷ niệm Ôkô tặng, nhưng hắn cũng không quên vì người phụ nữ đa tình ấy mà Mãn Hà Chí đã bỏ đi, gây cho hắn không biết bao nhiêu phiền lụy với gia đình nhà Hồ Điểu. Còn A Kế Mỹ, nàng chỉ là một cô bé ngây thơ ngẫu nhiên gặp trong những ngày đầu của cuộc đời phiêu bạc, rồi tan biến với thời gian, chẳng để lại một cảm tình gì sâu đậm trong lòng hắn. Đột nhiên bây giờ nàng lại hiện ra, đôi vai thổn thức, ánh mắt dậy thì đam mê trông hắn như van lơn, như cầu khẩn. Hắn biết trả lời sao đây ?

Thạch Đạt Lang không muốn làm phật lòng người thiếu nữ đáng thương kia, nhưng cũng không muốn nói dối. Bèn đánh trống lảng:

- Sao nàng biết ta ở đây mà tìm ? Nàng còn ở Ibuki không ? Mẹ nàng đâu rồi ?

Nghe hỏi đến mẹ, A Kế Mỹ như bị tổn thương, chỉ thổn thức mà không đáp.

- Còn Mãn Hà Chí nữa ? Ngày đó Mãn Hà Chí cũng bỏ đi với mẹ con nàng mà.

Bây giờ còn ở chung với mẹ nàng không ? Ta có hẹn gặp Mãn Hà Chí ở đây hôm nay, nàng biết chứ ?

Mỗi câu hỏi lại nhưng một mũi dao đâm sâu vào vết thương phiền muộn của A Kế Mỹ. Áp mặt vào ngực Thạch Đạt Lang, nàng chỉ biết nức nở lắc đầu.

- Mãn Hà Chí đâu, A Kế Mỹ ? Chuyện gì vậy ? Nàng không trả lời ta thì ta biết làm sao mà giúp nàng được ?

A Kế Mỹ nói qua nước mắt:

- Mãn Hà Chí không đến đâu. Thiếp đâu có nhắn cho ông ấy biết.

Thạch Đạt Lang gỡ tay A Kế Mỹ ra, nhìn thẳng vào mặt nàng. Nước mắt chan hòa nhòe nhoẹt cả son phấn. Hắn lấy tay áo lau mặt cho nàng. A Kế Mỹ giữ chặt tay hắn, muốn kể rõ mọi chuyện từ khi bỏ Ibuki đi ra sao và thổ lộ hết tâm sự với Thạch Đạt Lang nhưng có một cái gì làm nghẹn cổ họng. Nàng chỉ đứng lặng nhìn hắn, nước mắt chứa chan.

oo Trời đã sáng rõ. Tiết trời đầu năm bỗng ấm hẳn. Nắng xuân chan hòa loang loáng trên những cành tùng xanh biếc, vẽ loang lổ từng miếng ánh sáng màu nâu tươi trên nền đất ẩm. Gần bờ sông, ở một vài chỗ cỏ còn ướt, tia nắng rọi qua những giọt sương đọng trên lá chiếu thành những vòng hào quang ngũ sắc óng ánh như những chiếc cầu vồng nhỏ.

Người đi trên cầu mỗi lúc một đông:

phụ nữ mặc áo mới hoa sặc sỡ, thoa cài đầu lóng lánh dưới ánh nắng mai; đàn ông đứng tuổi trang nghiêm trong những bộ y phục sẫm hồ bột cứng nhắc. Họ đến chùa hoặc đi thăm bạn hữu ngày nguyên đán. Lẩn trong đám đông ấy, Giang cũng lên cầu, mắt nhớn nhác nhìn ngược nhìn xuôi tìm sư phụ.

Bỗng Giang reo lên một tiếng vui mừng. Nó vừa trông thấy Thạch Đạt Lang.

Nhưng này, ồ, lạ quá ! Sao thầy nó lại ôm trong lòng một thiếu nữ ? Mà thiếu nữ này không phải Oa Tử. Ai thế nhỉ ? Giang nhăn mặt khó chịu. Nó nheo mắt, lấy tay che nắng nhìn cho rõ. Đúng rồi ! Người đứng dưới chân cầu là Thạch Đạt Lang, sư phụ nó.

Cái dáng dấp cao lớn, ngang tàng, đôi song kiếm giắt bên hông, túi hành trang màu chàm đã bạc vì sương nắng, Giang không thể lẫn. Nhưng Oa Tử đâu ? Mà thiếu nữ kia là ai, sao thầy nó lại ôm nàng vào lòng giữa chỗ đông người qua lại như thế này mà không biết ngượng ?

Nó thường được dạy dỗ người tự trọng phải biết kềm chế dục tính, không bày tỏ tình cảm một cách thái quá trước công chúng, sao vị tôn sư khả kính của nó lại có thái độ tồi bại như vậy ? Giang mím môi, vừa mừng vừa giận, lại ghen hộ cho cô Oa Tử. Nó muốn chạy đến níu áo thầy. Đã lâu không gặp, thầy nó thấy nó chắc vui lòng, nhưng còn thiếu nữ kia, nó e dè không dám. Giang tuy nhỏ, nhưng cũng đã biết thế nào là tế nhị, không muốn làm người khác phải lúng túng.

Ít lâu nay, Giang và Oa Tử tạm nương náu trong khuôn viên lâu đài của Tả Xuyên Hầu Lưu Cát. Khi hai cô cháu mang tranh của viện chủ viện Arakida đến làm quà, Tả Xuyên Hầu thấy Oa Tử đang trong cảnh lưu lạc, người thân không có mà năm cũ sắp hết, bèn ngỏ ý lưu lại. Giang và Oa Tử bằng lòng ngay vì nghĩ không còn nơi nào an toàn hơn nữa.

Mới tối hôm trước, tin rằng thế nào Thạch Đạt Lang cũng có mặt tại đại kiều đường Gojo ngày nguyên đán, Oa Tử đã sắp sẵn bộ y phục nàng ưng ý nhất và tính những chuyện gì cần phải nói với chàng. Mới canh ba, Oa Tử đã dậy gội đầu chải tóc thật kỹ, lòng rộn ràng vui sướng như đứa trẻ sắp sửa được đi trẩy hội. Giang cũng đòi đi cùng, song Oa Tử không muốn. “Lần này ta để em cùng đi, nhưng lần này ta muốn gặp thầy em nói câu chuyện riêng. Thế nào em cũng gặp thầy mà, nhưng đến sau đi, ta và thầy em hứa sẽ đợi”.

Giang phụng phịu. Nó lơ mơ hiểu cảm tình của Oa Tử đối với thầy nó, có điều nó không biết tại sao một thiếu nữ đẹp, tài hoa và khôn khéo như Oa Tử lại cứ khóc mỗi khi nhắc đến Thạch Đạt Lang. Chắc có điều gì làm nàng phiền muộn lắm nên nó thương và bằng lòng để nàng có cơ hội giải bày tâm sự với thầy nó.

Giang ngó nháo nhác tìm quanh. “Kỳ thật ! Không lẽ cô Oa Tử không biết đường ?

Đáng lý ra phải đến đây lâu rồi chứ ! Hay lại tạt vào đền chùa nào cầu khấn gì chăng ?”.

Nó đi ngược đám đông quay trở lại, lòng bồi hồi lo lắng.

Trên cầu, khách vãng lai càng lúc càng tấp nập. Thạch Đạt Lang kéo A Kế Mỹ đến một chỗ khuất nẻo hơn.

Dưới gốc liễu ngay bờ sông, chỗ mọi ngày đàn sếu trắng vẫn thường đến đậu chờ mồi, hôm nay chẳng thấy có con nào. Một thanh niên còn trẻ lắm, y phục sặc sỡ, đứng ngay ở đó, lưng dựa vào cành liễu cỗi có đầu cành vặn vẹo sà trên mặt nước giống con rắn lớn. Gã thanh niên khoanh tay trước ngực, mắt chăm chú hướng về phía Thạch Đạt Lang và A Kế Mỹ.

Bên Thạch Đạt Lang, thiếu nữ vẫn sụt sùi, giọng thành khẩn kể lể nỗi niềm. Nàng đã quyết rũ bỏ hết lòng tự ái, không giấu Thạch Đạt Lang điều gì, chỉ mong mối tình vô vọng nàng ấp ủ bấy lâu nay được đáp ứng.

Tội nghiệp cho nàng ! Những lời kể lể ấy chẳng biết có lọt tai chàng thanh niên lãng tử kia không mà chỉ thấy hắn ừ hử hoặc gật đầu cho qua hay trả lời gióng một.

Mối tình thơ dại đẹp bao nhiêu cũng chỉ như đám bọt nước kia tung lên trắng xóa dưới chân cầu. Mà chân cầu thì hờ hững. Mà bọt nước thì tan đi, còn gì đâu dấu vết ?

Như linh cảm thấy mình đang bị dò xét, Thạch Đạt Lang chú ý nhìn quanh. Mục quang hắn quét từ gần ra xa, soi mói những bụi sậy xơ xác ven bờ, kín đáo dừng ở từng tảng đá. Sau cùng, nó ngưng lại, chăm chú vào gã thanh niên trang phục sặc sỡ đứng bên gốc liễu.

Thạch Đạt Lang mắt nâu. Lúc sinh tiền, ông Mưu Ni Sai vẫn bảo hắn:

“Thằng này mắt nâu, không như mắt ta, đen. Chắc nó giống cụ tổ cữu cũng có đôi mắt sắc như thế, tàn nhẫn lắm !”. Bây giờ, dưới ánh nắng chênh chếch, mắt Thạch Đạt Lang hồng lên rồi đỏ rực như hổ phách.

Hắn nhìn gã thanh niên. Gã thanh niên cũng nhìn lại hắn. Hai làn mục quang chạm nhau tưởng chừng tóe lửa.

Binh pháp có dạy trước khi lâm trận, hãy xét khả năng địch thủ trên đầu kiếm.

Đúng vậy, hai gã này đang thủ thế với nhau, không phải bằng kiếm mà bằng mắt. Như hai con dã thú gờm gờm nhìn nhau trước khi xông vào nhau cắn xé.

“Hừ !”. Gã thanh niên bên gốc liễu nghĩ thầm. “Chắc thằng này là Thạch Đạt Lang đây. Một địch thủ ta phải cẩn thận !”.

Thạch Đạt Lang càng lúc càng chú mục. Mắt hắn lộ hung quang xoáy về phía thanh niên thách đố. Và gã thanh niên không vừa, dường như gật đầu chấp nhận.

Bây giờ cường độ mục quang của cả hai không phải do mắt phóng ra nữa mà tự tâm khảm phát xuất. Nó là cường độ của ý chí, của quyết tâm không cần lời nói và cũng không gì lay chuyển.

Cả hai tuổi tác tương đương, Thạch Đạt Lang chỉ hơn gã kia chừng hai tuổi, cùng ở vào cái tuổi ngang tàng, không biết e sợ là gì, đầy tự tin và ngạo mạn đến liều lĩnh. Hai cá tính đó đối nhau, tất không khỏi va chạm. Và như hai con thú dữ, bản năng của chúng đều ngầm bảo chúng:

đối phương trước mắt là một kẻ thù nguy hiểm và đáng sợ !

Một lúc, thanh niên y phục sặc sỡ quay mặt đi, tránh tia mắt của Thạch Đạt Lang, khẽ nhếch mép. Thạch Đạt Lang thấy rõ nụ cười ngạo mạn ấy, nhưng hắn tin chắc trong trận vừa rồi, hắn đã thắng.

Cúi nhìn thiếu nữ đứng trước mặt, Thạch Đạt Lang để tay lên vai nàng:

- A Kế Mỹ !

Thiếu nữ ngước trông lên, lệ còn hoen má.

- Người đó là ai ?

A Kế Mỹ ngạc nhiên, nhìn về phía Thạch Đạt Lang hất hàm chỉ. Bỗng giật mình.

- Người đó có vẻ biết nàng. Hắn đã theo nàng đến đây để dò xét ta phải không, A Kế Mỹ ?

A Kế Mỹ lau nước mắt:

- Thiếp không rõ, nhưng người đó thiếp chỉ mới biết đây. Y là ân nhân của thiếp.

- ...

- Hai hôm trước thiếp bị chó cắn, nhờ y cứu và gọi thầy thuốc đến chữa cho mới được thế này.

- Thế bây giờ nàng ở với hắn phải không ?

A Kế Mỹ cúi mặt.

- Tên hắn là gì ?

- Cát Xuyên Mộc. Người ta còn gọi là Giang Biên Liễu.

- Giang Biên Liễu ?

- Phải. Giang Biên Liễu là ngoại hiệu của y. Sao ?

- Ta nghe cái tên quen lắm, hình như trong giang hồ đã có nhiều người nhắc đến tên hắn.

Thạch Đạt Lang lại đưa mắt nhìn về hướng Cát Xuyên Mộc đứng và hỏi:

- Có phải hắn sử dụng một cây trường kiếm hỗn danh là cây sào phơi không ?- Thiếp không biết, nhưng thanh kiếm của y quả có dài hơn kiếm thường.

Thấy Thạch Đạt Lang nhìn mình, Cát Xuyên Mộc mỉm cười, đôi má lúm đồng tiền.

Một điều lạ, Thạch Đạt Lang cũng mỉm cười đáp lại, nhưng nụ cười của cả hai chẳng giống nụ cười của đức Phật khi thấy đệ tử mình là Ananda bóp cánh hoa trong tay. Nụ cười Giang Biên Liễu ngạo mạn và mỉa mai; nụ cười của Thạch Đạt Lang ẩn một ý chí tranh đấu mãnh liệt, đầy thách thức.

A Kế Mỹ đưa mắt nhìn hết người này đến người kia, không hiểu. Thạch Đạt Lang khẽ vỗ vào vai nàng:

- A Kế Mỹ, thôi bây giờ hãy về phòng trọ đi. Ta sẽ lại thăm nàng sau.

A Kế Mỹ khóc nấc. Hắn phải cầm tay an ủi:

- Đừng ngại. Ta sẽ lại thăm nàng mà !

- Thạch Kinh Tử ! Thật nhé, thiếp đợi.

Thạch Đạt Lang gật.

- Thiếp trọ Ở thương điếm Hải Âu, trước thiền viện đường Quan Ngoại.

Thạch Đạt Lang lại gật.

Dường như không được hài lòng về thái độ của hắn, A Kế Mỹ nắm tay Thạch Đạt Lang bóp chặt, giọng run run qua hai hàng lệ:

- Nhé ! Thạch Kinh Tử ! Chàng nhớ đến nhé ! Nhớ đấy !

Cát Xuyên Mộc cất tiếng cười vang, trở gót. A Kế Mỹ vừa bước đi vừa ngoái lại.

Thạch Đạt Lang tần ngần đứng một mình dưới chân cầu, nhìn theo hai người, lòng buồn vô hạn.

oo Len lỏi giữa dòng người đi lễ tết đầu năm, Giang tìm mãi không thấy Oa Tử. Trên cầu hẳn là không có rồi. Nó chắc như thế vì đã đi lên đi xuống mấy lượt. Chỉ còn góc phố đằng kia, chỗ ngã ba cầu tiếp giáp với đường lên đền thờ đức Quan Âm là chưa tới.

Nó đến nơi, đang đứng ngơ ngác nhìn lên đền thì nghe tiếng gọi khẽ:

- Giang !

Quay lại, thấy Oa Tử ngồi nấp sau chiếc xe bò chở cỏ. Giang vui mừng quá sức, chạy ngay lại ôm chầm lấy nàng, vội vàng thế nào suýt đâm phải chiếc càng xe.

Hôm nay Oa Tử bới tóc cao, có thoa phân và bôi sáp môi đỏ. Nàng trang điểm trau chuốt, nhưng không được tinh luyện lắm. Nàng lại mặc bộ kimono mới có thêu những bông mẫu đơn trắng trên nền lụa nõn màu hoa đào cho hợp với cảnh tươi đẹp mùa xuân và lòng nàng bấy giờ.

Oa Tử giơ tay đón Giang vào lòng. Nhưng nó kéo nàng đứng dậy, liến thoắng:

- Sao cô nương lại nấp ở đây. Cô nương theo em, sư phụ đằng kia kìa. Không ra ngay, sư phụ bỏ đi mất.

- Không ! Em vào đây với ta, ta không ra đâu !

Giang ngạc nhiên, mở to mắt nhìn Oa Tử:

- Sao vậy ?

- Đừng hỏi tại sao. Em ngồi đây với ta.

- Chà ! Sao cô nương kỳ quá vậy ? Cô nương nói bao nhiêu lần là muốn gặp sư phụ, bây giờ thầy em ngoài kia, cô nương lại trốn nấp ở đây. Cô nương mặc đẹp thế này để ngồi dưới gầm xe bò hả ?

Lời nói ngây thơ của thằng bé như roi quất những vết hằn đau đớn trong lòng Oa Tử. Nàng lắc đầu, mắt rưng rưng lệ:

- Giang ! Em đừng nói thế, đau lòng ta. Em mà cũng tàn ác với ta đến thế ư ?

Giang ôm lấy vai Oa Tử. Nó không dám để đầu gần tóc nàng sợ hư mái tóc chải công phu. Thấy vạt áo Oa Tử ướt, nó biết nàng đã khóc nhiều:

- Em xin lỗi, em không có ý ấy. Nhưng em không biết tại sao ...

Oa Tử lau nước mắt:

- Tìm hiểu làm gì, em !

- Thế cô nương có trông thấy sư phụ Ở dưới chân cầu không ?

Oa Tử gật đầu.

- Vậy em biết rồi nhé ! Cô nương ghen phải không ? Cô nương trông thấy thầy em ôm người con gái ấy chứ gì ?

Oa Tử thấm nước mắt, lắc đầu.

- Cô nương không biết gì hết, chỉ biết khóc thôi. Mình nghi ngờ thì phải đến hỏi cho ra lẽ chứ ! Đi ! Đi với em mau lên, không sư phụ em không còn ở đó nữa.

Giang cầm tay Oa Tử kéo ra khỏi chỗ nấp. Nàng giằng lại. Thằng bé phân vân một lúc rồi rảo bước lên cầu đứng trông xuống, không thấy thiếu nữ kia đâu. Bỗng nó reo lên như chợt nhớ ra điều gì, chạy ngược lại chỗ Oa Tử:

- A Kế Mỹ ! Phải rồi ! Đi mau cô nương, A Kế Mỹ không còn ở đấy nữa !

- A Kế Mỹ là ai ?

- Là cô gái đứng nói chuyện với sư phụ đó. Em nhớ ra rồi. Một lần em gặp cô ấy giặt áo ở ven sông, có nhờ cô ấy chuyển lời nhắn ông Mãn Hà Chí mà. Đúng rồi ! Đúng rồi !

Oa Tử lính quýnh theo Giang. Khi nhìn rõ không còn A Kế Mỹ ở đó nữa, nàng mới yên dạ. Nhưng nàng cũng trở lại chỗ cũ sửa lại mái tóc và nếp áo xô lệch, thoa thêm chút phấn lên mặt.

- Trời ơi ! Cô nương ! Giờ này mà cô nương còn làm dáng thì trễ mất !

Giang vừa kêu vừa dậm chân xuống đất bành bạch.

Quả nhiên, Thạch Đạt Lang đã không còn ở dưới chân cầu. Biết chắc Mãn Hà Chí không tới, hắn vội vàng men theo bờ sông, đến chỗ buộc thuyền giữ bà Hồ Điểu.

Bà già thấy hắn đến, đưa mắt nhìn lo sợ. Thạch Đạt Lang rút đoản kiếm, nhưng hắn chỉ nói:

- Mãn Hà Chí không đến.

- Bây giờ mày giết ta phải không ?

- Không. Con cởi trói cho bà để bà đi tìm Mãn Hà Chí hỏi cho ra lẽ, dẫn hắn về nhà. Con nghĩ như thế hơn là bà tìm cách cắt cổ con.
Thạch Đạt Lang vừa nói vừa cười. Hắn đưa mũi kiếm cắt dây trói. Bà Hồ Điểu lúng túng ngồi dậy:

- Ta biết phải làm gì. Ta không cần mày khuyên !

Thời gian bà cởi được hết dây trói thì Thạch Đạt Lang đã đến chỗ khúc sông hẹp, nhảy qua các ghềnh đá sang bờ bên kia, lẩn vào những bụi lau sậy mất dạng.

Trên lũng cao, Giang thoáng thấy bóng thầy. Nó kêu lớn:

- Cô nương ! Cô nương ! Ở dưới lũng, sư phụ Ở dưới lũng gần bờ sông !

Giang ba chân bốn cẳng đổ dốc. Nó còn nhỏ, nhanh như con sóc. Nhưng Oa Tử vướng áo, chỉ bước được những bước ngắn. Đến gần bờ sông nàng ngừng lại, lên tiếng gọi.

Trên mặt sông rộng, tiếng nàng bay bổng vang xa. Cơn gió thoảng đưa đôi lúc dội lại nghẹn ngào tha thiết như tiếng hò trong đêm vắng.

- Oa Tử !

Âm thanh nhọn hoắt, the thé bỗng làm nàng giật mình. Ngoảnh lại, bà Hồ Điểu đã đứng chỉ cách chỗ nàng chừng vài chục bước. Oa Tử kinh hãi vô cùng. Trong lúc thảng thốt, toàn thân như bị tê liệt, nàng đứng sững. Khi hoàn hồn, bà Hồ Điểu đã tiến tới gần ? Bấy giờ Oa Tử mới kịp phản ứng. Tim nàng đập mạnh, máu dồn lên mặt, Oa Tử quay phắt đầu, cắm cổ bỏ chạy.

Bà Hồ Điểu nhìn theo, gọi:

- Oa Tử ! Đứng lại ! Ta muốn nói câu chuyện !

Trong bộ Óc đa nghi của bà, dần dần hiện ra một ý nghĩ. Bà đã hiểu tại sao Thạch Đạt Lang lại trói bà bỏ lên thuyền. À thì ra hai đứa nó có hẹn với nhau, nó trói mình lại để tự do gặp nhau. Chắc con này đã làm gì phật lòng thằng kia nên nó bỏ đi. Ta biết mà, chúng nó lừa ta thế nào được. Con Oa Tử này thật bất trị !

Trong thâm tâm, bà Hồ Điểu còn ghét Oa Tử hơn Thạch Đạt Lang. Nó đáng lẽ là con dâu bà mà thành ra vì nó mà gia đình bà mất cả thanh danh. Bà cất giọng giận dữ:

- Oa Tử !

Tiếng kêu chưa dứt, bà đã bị một cái đạp vào bắp chân suýt ngã. Giang đứng đằng sau, hai tay chống nạnh:

- Bà là ai, làm gì mà lại đuổi cô Oa Tử ?

- A ! Thằng ranh con, mày ở đâu tới ?

Oa Tử chạy được một quãng, không thấy chân người đuổi theo, bèn dừng lại thở.

Nhìn về phía sau, xa xa, thấy Giang và bà Hồ Điểu đứng đối diện nhau tự a hai con gà chọi, nàng hơi lo. Oa Tử chẳng lạ gì tính bà lão, già nhưng còn hung hăng lắm mà Giang thì nàng thừa biết, nó loắt choắt nhưng nhanh nhẹn vô cùng. Nếu cả hai cùng xông vào quần thảo nhau, tất Giang rút cây kiếm gỗ ra. Bà Hồ Điểu cũng đến phải dùng thanh gươm gia bảo. Dám một hay có khi cả hai bị thương hoặc vong mạng cũng chưa biết chừng.

- Ranh con, mày đi cùng với con Oa Tử phải không ?

- Phải ! Bà là ai ?

- Ta là mẹ nó !

Giang giật mình. Bà già này là mẹ Oa Tử à ? Sao không bao giờ thấy Oa Tử nói đến. Nhưng nghe xưng danh, Giang cũng khựng lại, không dám hỗn.

- Thế sao bà lại đuổi cô Oa Tử cháu ?

Thấy thái độ thằng bé đổi khác, bản tính quỷ quyệt của bà Hồ Điểu nổi dậy. “Phải dùng mưu mới được”, bà tự nhủ. “Đối với thằng Kinh Tử có lẽ nó chẳng tin ta đâu, nhưng con Oa Tử và thằng nhỏ này, chắc lừa không khó. Mình cứ vui vẻ tử tế dụ chúng vào tròng, sau làm thịt mấy chốc !”. Nghĩ đoạn, bà làm bộ tươi cười:

- Ờ ! Tại ta bảo nó không nghe. Nhưng mẹ nào chả thương con, ta muốn gọi nó về, để nó lang bạt tội nghiệp.

- ...

- Thế còn cháu ! Sao cháu biết Oa Tử ? Cháu con cái nhà ai ?

Giang thấy bà lão vui vẻ, lại ngồi xuống bên gốc cây nói năng hòa nhã, cũng nhẹ nhàng đáp lại:

- Tên cháu là Giang. Cháu không có nhà, gặp cô Oa Tử cùng đi tìm sư phụ.

- Ồ ! Vậy ư ? Cháu ngoan quá. Cháu lên mấy rồi ?

- Thưa mười hai.

- Ta muốn nhờ cháu một việc, cháu làm giúp ta được không ?

Giang phân vân. Bà Hồ Điểu kéo tay áo chấm nước mắt rồi nói giọng buồn bã:

- Oa Tử là con dâu ta đấy. Từ ngày nó bỏ đi, ta thương nhớ lắm, mấy lần bảo nó về mà nó chẳng nghe.

Bà Hồ Điểu sụt sịt:

- Ta nhờ cháu đến bảo Oa Tử lại đây ta nói chuyện !

Giang mủi lòng. Bà này chắc nói thật. Nếu cô Oa Tử không muốn về thì trở lại nói chuyện với bà lão một lúc cũng chẳng hề gì. Bèn nói:

- Thật hả bà. Thế để cháu đi gọi !

Bà Hồ Điểu vui vẻ gật đầu, nhìn Giang chạy đi, cười thầm trong bụng.

Lát sau, Giang dắt Oa Tử trở lại. Tuy còn nghi hoặc, nhưng nghe lời Giang, Oa Tử thấy đây cũng là dịp tốt để nói cho bà Hồ Điểu biết hết mọi sự, hầu đánh tan những hiểu lầm từ trước.

Bà già cười hí hí:

- Oa Tử đấy à ? Sao gặp ta con lại chạy ?

Oa Tử phủ phục xuống đất:

- Bà tha lỗi cho con.

Bà Hồ Điểu đưa tay đỡ Oa Tử dậy, bảo nàng ngồi cạnh:

- Con dâu ta có lỗi gì đâu ! Lỗi ở thằng Mãn Hà Chí cả. Trước ta giận con lắm, nhưng nay ta biết, ta thương con. Dễ đã đến năm năm rồi đấy nhỉ, từ bấy đến nay, bao nhiêu nước chảy qua cầu ...

- Nếu bà biết như thế thì may cho con lắm.

Bà Hồ Điểu giơ tay lên má, đập mạnh:

- Chà ! Cái con muỗi quỷ này. Mới nắng lên đã thấy muỗi ! Ở, nhưng mà này Oa Tử ạ ! Ta là mẹ thằng Mãn Hà Chí, có tha lỗi cho con thì cũng phải dàn xếp để đẹp lòng nó chứ. Mặc dầu nó bỏ con đi với người khác nhưng nay đã biết hối trở vể. Ta muốn con về nhà, rồi cả hai vợ chồng con ngồi trước mặt ta để ta khuyên bảo. Như thế ta mới yên lòng làm mẹ.

Oa Tử muốn nói một lời phản đối, nhưng nghĩ có lẽ chưa phải lúc. Nàng chỉ ấp úng:

- Dạ, con hiểu.

Bà Hồ Điểu cũng đoán biết ý nghĩ thầm kín của Oa Tử. Đã khôn lại ngoan, bà chặn ngay:

- Nếu con không muốn chung sống với nó nữa thì ta tưởng đây cũng là dịp tốt, trước mặt ta, nói thẳng cho nó biết. Như thế thì dứt khoát và ta nghĩ, vậy có lẽ lợi cho tương lai của con hơn.

Oa Tử thấy bà lão nói phải. Nhưng chưa vững tin, nàng hỏi vặn:

- Thưa bà, nếu con bằng lòng thì biết tìm Mãn Hà Chí ở đâu ?

Bà Hồ Điểu cười:

- Dễ quá mà. Ta lạ gì chỗ nó ở. Nếu con bằng lòng, ta chỉ cho người đến gọi vài ngay là nó trở về ngay. Nó là con ta, ta bắt nó làm gì nó chả phải làm ?

Một con cáy càng đỏ tía từ trong cái hốc nhỏ ở bờ sông bò ra. Giang rình chộp ngay được. Nó cầm con cáy rón rén bước đến đằng sau bà Hồ Điểu bỏ nhẹ lên khăn đội đầu.

Oa Tử muốn chắc có kết quả, đề nghị:

- Con xin tiếp tay bà, đi tìm Mãn Hà Chí.

Bà Hồ Điểu nắm ngay lấy cơ hội:

- Vậy còn gì bằng. Thế con đến trọ cùng với ta. Năm nào đến Kyoto ta cũng ở trọ tại một quán nhỏ trên đồi Sĩ Miên. Ở đó tĩnh, lễ Phật không ai làm rộn mà lại rẻ tiền, con ạ !

Bà Hồ Điểu thấy nhột sau lưng giữa hai lần áo. Ngoái tay ra sau, bà vớ được con cáy giơ lên.

- Con quỷ này, sao lại bò vào áo ta được kìa !

Giang đứng sau gốc liễu, bưng miệng cố nín cười. Oa Tử cúi mặt vờ như không thấy nhưng cũng mỉm cười. Thằng bé tinh nghịch quá !

Cả ba người, Giang, Oa Tử và bà Hồ Điểu, rời bờ sông theo đường mòn ra đại lộ.

Oa Tử bảo bà Hồ Điểu đi trước. Nàng muốn lui lại phía sau nói với Giang vài lời để nó biết chuyện và trấn an nó:

- Em cứ trở về chờ ta ở khuôn viên lâu đài Lưu tướng công. Nếu ngài có hỏi thì bảo một hai hôm ta sẽ trở lại. Ta phải đi dàn xếp việc riêng nhé !

- Dạ ! Cô nương đừng ngại. Em sẽ chờ cho đến khi nào cô nương về.

- Nếu em rỗi, thử dò xet tin tức Thạch Đạt Lang hộ cho ta.

- Thế lúc sáng sao thấy sư phụ, cô nương lại trốn.

Oa Tử thở dài:

- Ta dại quá !

Đến đầu cầu trời đã gần trưa. Người đi lại trên cầu vẫn tấp nập. Một đám đông lố nhố đứng vây quanh tấm bảng gỗ dựng ở dưới chân cầu, bàn tán:

- Thạch Điền Đạt Lang, tôn huynh có biết là ai không ?

- Có, tại hạ có nghe nói. Chắc tay này cũng phải là một tay cao thủ mới dám đơn thương độc mã chống với phái Hoa Sơn chứ.

Giang cũng chen vào đọc bảng cáo yết. Tin lãng nhân kiếm sĩ Thạch Điền Đạt Lang đương đầu với Hoa Sơn được truyền đi nhanh như mồi thuốc súng !

Chương 34: Đồng cỏ úa

Đại Tỉnh Môn là một đồng cỏ, trước kia dành cho hoàng cung dùng làm mục trường nuôi gia súc. Đồng rộng bao la nhưng không bằng phẳng, đồi nọ tiếp đồi kia trải dài đến tận chân núi. Đây đó vài khu rừng phong thưa, lẫn với nhiều gốc tùng cổ thụ điểm những nét xanh đen trên nền cỏ úa. Đường mòn ngang dọc khắp nơi, ngoằn ngoèo ẩn hiện giữa những hàng lau già xơ xác mà hoa lau muộn từ cuối thu năm ngoái vẫn còn bạc phau, nghiêng ngả.

Vào thế kỷ trước, đồng này có một cái giếng lớn lộ thiên, nước luôn luôn trong và ngọt nên mới có tên là đồng Đại Tỉnh. Giếng sau bị cạn không hiểu vì lẽ gì, cỏ cũng kém xanh dần, thành ra đồng bị bỏ phế. Hoàng cung sai người mang gia súc đi chăn nơi khác, từ đấy đồng Đại Tỉnh trở thành hoang địa.

Đồ đệ Hoa Sơn khoảng chừng hai chục người tụ tập dưới chân đồi từ sáng sớm, gần sơn đạo đi Nara. Sau vài ngày nắng dịu đầu năm, tiết trời bỗng trở lại lạnh. Gió đông bắc thổi nhiều, chúng ngồi sát vào nhau quây quần bên đống lửa, mặt ai nấy đăm chiêu tư lự. Về phía nam cổ thành, đỉnh núi Vân Sơn, tuyết phủ trắng phau, lấp lánh giữa những cành phong trơ trụi. Thỉnh thoảng một tiếng chim sớm lảnh lót vang lên nhưng rồi tắt phụt, thê lương như cánh đồng hoang phế.

Chúng ngồi như vậy dường đã lâu lắm, chẳng ai nói vứoi ai câu gì. Bỗng Ưng Đằng lên tiếng phá tan bầu không khí yên lặng:

- Mấy giờ rồi ?

Bọn đàn em cùng ngửng lên nhìn trời, đồng thanh đáp:

- Dễ đến cuối giờ thìn.

- Sương tan gần hết rồi. Sao không thấy đại ca đâu nhỉ ?

- Đại ca bảo cứ ngồi đây chờ. Chắc cũng sắp tới !

Một người nóng ruột, chạy ra phía sơn đạo, nhìn xuống dưới dốc. Đường đất đỏ vắng tanh, gió thổi rạp đầu những ngọn bông lau hiu quạnh. Bóng một con sóc đen vụt qua, lẩn vào bụi cây, êm và nhẹ như chiếc lá rụng. Ưng Đằng bồn chồn. Hắn sửa lại y phục, xắn cao tay áo, buộc cổ tay bằng hai sợi dây da cho gọn rồi nói:

- Ta nóng ruột quá ! Giờ hẹn qua đã lâu ...

- Huynh trưởng có nghĩ là đại ca ở phía gần giếng không ? Mình hẹn gặp nhau ở khu Đại Tỉnh Môn mà !

- Có thể lắm. Đứa nào chạy ra đó coi xem sao !

Nhưng chẳng ai động tĩnh, vì chẳng ai muốn một mình làm chuyện nguy hiểm ấy mà Ưng Đằng xem ra cũng không có chủ ý gì nhất định. Cả bọn vẫn ngồi lẳng lặng nhìn ngọn lửa lụi dần, khói đen cuồn cuộn bốc cao rồi tản theo chiều gió. Một đứa nói bâng quơ:

- Không biết đại ca bảo đợi ở đây hay bên ấy ?

- Ở đây ! Chắc chắn ở đây !

Xác nhận xong, Ưng Đằng đưa mắt nhìn thuộc hạ:

- Thằng Đạt Lang đó bây giờ ở chỗ nào thì mình không biết, nhưng đại ca bảo mình đợi ở đây thì cứ đợi ở đây. Chúng ta không thể phân tán ra nhiều nơi được, nguy hiểm lắm. Vả cũng không nên đi tìm, giang hồ sẽ bảo mình ỷ chúng hiếp cô, còn gì là danh dự của bản phái ?

Ngồi yên một lúc, hắn lại tiếp:

- Mà thằng đó là cái gì mà mình phải quan tâm ? Chẳng qua chỉ là một tên nhà quê có chút sức mạnh. Dù nó có học mót được vài đường kiếm thì cũng khó mà địch được đại ca ...

Tuy một số trong bụng không đồng ý vì đã chứng kiến trận đấu kiếm năm trước giữa Thạch Đạt Lang và môn đệ bản phái tại võ trường Hoa Sơn, nhưng lời nói của Ưng Đằng tựa như liều thuốc an thần, nếu không làm phấn khởi bọn đàn em thì nhất thời cũng giữ vững được tinh thần của chúng.

Vẻ mặt đa số bây giờ trông tươi hơn. Chúng bàn tán xôn xao:

- Ưng lão huynh nói phải lắm ...

- Phải rồi ! Chúng ta nên nhớ trong cuộc tỷ võ này, đại ca sẽ cho thằng ấy một bài học để nó câm cái mõm chó má của nó lại, đừng huênh hoang khoác lác nữa.

- Lần này võ lâm thế nào cũng có người theo dõi. Ta phải cẩn thận lắm mới được.

Nếu không trực tiếp trợ giúp đại ca ta cũng nên đi theo để cổ võ ...

- Đại ca đã căn dặn đợi ở đây. Dù sao cũng cứ chờ lệnh đã.

Mặt trời lên cao. Giờ thìn qua từ lâu, sang đến giờ tỵ, rồi cuối tỵ mà Sĩ Khánh vẫn chưa đến. Thạch Đạt Lang cũng chẳng thấy tăm hơi đâu. Vẻ lo lắng hiện trên nét mặt của cả bọn.

Dọc theo sơn đạo đi Nara, ở ven suối cũng như trong các lùm cây rải rác đã thấy lỗ nhố bóng người. Đấy là những kẻ hiếu kỳ nghe nói có cuộc tỷ võ thì đến coi cho biết.

Tiếng bàn tán theo gió thoảng đưa đến tai bọn đồ chúng Hoa Sơn:

- Thạch Đạt Lang đâu ?

- Không biết ! Cả Sĩ Khánh hình như cũng không có mặt.

- Lạ nhỉ ! Thế đám ngồi kia là những ai ?

- Nếu không phải là phen bên này thì cánh bên kia. Đến để ủng hộ chứ gì ?

- Lạ ! Tỷ kiếm gì mà đối thủ chả thấy đâu, chỉ thấy có người cổ võ.

Ưng Đằng và thuộc hạ nghe những lời bàn tán tiếng còn tiếng mất không rõ ràng nhưng cũng đoán được ý chính. Hắn bực lắm, định bảo một tên đàn em ra đuổi bọn đó đi nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Dù sao, những điều họ nói ra đều là sự thật. Vả chăng, họ cũng khôn ngoan đứng ở phía xa, nấp sau bụi cây nói lén, mình đến dọa nạt chỉ tổ mua cười cho thiên hạ. Đám người hiếu kỳ mỗi lúc một đông thêm, thấp thoáng có cả bóng phụ nữ.

Giang cũng là một trong số những kẻ hiếu kỳ đó. Nó đội nón nan rộng vành, chữ “giường cho thuê” viết trên đó nay đã nhạt màu, trông lờ mờ không rõ nét. Chân nó đi đôi hài xảo cũ, lưng đeo kiếm gỗ, dài như cái đòn gánh, bên hông lủng lẳng túi hành trang vải thô lớn trông thật tức cười, nhưng ra phết giang hồ lãng sĩ lắm. Giang len lỏi đi từ toán người này đến toán người khác, chú ý nhìn khắp mặt phụ nữ.

“Quái nhỉ, cô Oa Tử đâu sao không thấy ? Cô cũng đã đọc bảng cáo yết rồi mà !

Hay là bà cụ già lại không cho đi !”.

Hôm nay Giang ra đây, hy vọng thế nào cũng tìm được sư phụ. Nó không sợ sư phụ nó gặp nguy hiểm vì nó đã mấy lần chứng kiến tài năng của ông, khi ở cánh đồng Hannya cũng như khi giao đấu với ba đại hiệp nhà Trúc Mộ. Nó tin tưởng vào sức mạnh cũng như những chiêu kiếm thần tốc của thầy nó, những chiêu kiếm mà Giang ước mong một ngày nào rảnh rỗi, thầy nó sẽ truyền thụ lại cho nó. Điều làm Giang lo lắng nhất là sự không có mặt của Oa Tử. Nó không biết nàng đang gặp những trở ngại gì.

Trong trí tưởng tượng ngây thơ và phong phú của nó, Giang hình dung ra Oa Tử bị yếu đau không ai săn sóc. Bà già kia tuy nói là mẹ nhưng không làm nó yên tâm. Không hiểu sao Giang linh cảm bà tìm cách lừa dối và ly gián cô cháu nó. Thâm tâm, Giang coi bà già kia nhưng một con mẹ phù thủy nham hiểm hiện ra để bắt cô Oa Tử đi, như trong các chuyện thần tiên nó đã thường được nghe kể, những bà lão mũi khoằm răng vổ bắt các thiếu nữ xinh đẹp đem đi giết chết. Nghĩ đến Oa Tử bị giết chết, Giang sợ hãi quá chừng. Nó kêu lên một tiếng nhỏ rồi tự trấn an:

“Chắc không có chuyện ấy đâu !”.

Nhưng rồi nó vẫn lầm bầm nguyền rủa bà già độc ác.

Mãi suy nghĩ không để ý, Giang đâm sầm vào một thanh niên cao lớn. Nó giật mình, lí nhí một lời xin lỗi. Thanh niên kia nhìn nó từ đầu đến chân, nói:

- Hà ! Bé con ! Mấy hôm nay sao ta không thấy mày ở đầu cầu đường Gojo ?

Giang ngạc nhiên, trố mắt:

- Tráng sĩ là ai, sao gặp cháu ở đó ?

Nhưng nói xong, nó đã sực nhớ ra ngay người vừa gọi nó:

- À, phải rồi. Tại hôm nay tráng sĩ không mặc áo đỏ nên cháu không nhận ra !

Thanh niên mỉm cười:

- Ờ ! Hôm đó ta gặp mày đi với một thiếu nữ kia mà. Thiếu nữ đâu rồi ?

- Đấy là cô Oa Tử.

- Thiếu nữ đó tên Oa Tử à ?

- Dạ phải.

- Có bà con gì với Thạch Đạt Lang không ?

Nghe hỏi, Giang bực mình, đáp lơ lửng:

- Dạ, dạ ...

- Dạ dạ cái gì ? Nàng là em họ Thạch Đạt Lang phải không ?

- Dạ không.

- Em gái ?

- Cũng không phải.

- Vậy bà con ra sao ?

- Cô Oa Tử yêu Thạch Đạt Lang.

- Vậy là ý trung nhân hả ?

- Cháu không biết. Thạch tiên sinh là sư phụ cháu.

Lần đầu tiên Giang gọi Thạch Đạt Lang bằng tiên sinh vì cô Oa Tử đã dạy nó phải trọng thầy. Nó vênh mặt nhìn gã thanh niên. Gã nhìn lại nó, quắc mắt:

- Thảo nào mày ra đây. Sư phụ mày đâu, sao không thấy. Mọi người đang chờ.

Giang tức giận thật sự:

- Sao tráng sĩ hỏi vậy ? Cháu không biết, cháu không cùng đi với sư phụ.

Chợt một bọn ba người chạy đến, dẫn đầu là Ưng Đằng. Nhìn gã thanh niên, hắn reo lên:

- Cát Xuyên đại hiệp ! Chà ! Bữa nay mới thấy đại hiệp đấy !

- Ưng lão huynh ! Tại hạ cũng vừa tới.

Ưng Đằng mừng rỡ dắt tay thanh niên đến bên đống lửa. Đồ đệ Hoa Sơn đứng cả dậy thi lễ.

Thấy mọi người vây chung quanh một trang thanh niên dáng cao lớn, đeo trường kiếm, khách bàng quan truyền miệng nhau ra vẻ hiểu biết:

- Chắc là Thạch Đạt Lang. Trông người khí phách đấy chứ !

- Chắc không ?

- Thì còn ai vào đấy nữa ?

- Ờ, dáng dấp hiên ngang thế kia. Phải cái y phục hơi diêm dúa !

- Không ! Không phải Thạch Đạt Lang đâu. Giang vội cải chính. Thạch Đạt Lang gì mà ăn mặc như kép tuồng vậy.

Mọi người cười ồ, chưa rõ thằng bé này là con cái nhà ai thì Giang đã phưỡn ngực đáp:

- Ta là học trò của Thạch tiên sinh !

Đám đông xúm lại hỏi han, Giang hãnh diện tả hình dáng sư phụ, nhưng đến khi bị hỏi sư phụ đâu, sao không đến, nó lúng túng chẳng biết trả lời làm sao. Mọi người bán tín bán nghi, nghểnh cổ nhìn. Có kẻ kiên nhẫn chờ, có kẻ chán nản bỏ về không quan tâm đến vụ tỷ thí nữa.

Cát Xuyên Mộc đến ngồi bên Ưng Đằng. Từ sau ngày nguyên đán, hắn không còn lui tới võ đường Hoa Sơn, mà Sĩ Khánh thì buồn bực có ý giận ông khách kém nhã nhặn và vô tâm nên cũng chẳng sai người đi tìm. Phần Cát Xuyên Mộc, hắn chẳng chú ý đến cuộc tranh chấp nữa, vì kể từ khi gặp Thạch Đạt Lang dưới chân cầu đường Gojo, đối phó với tia mắt đầy hung quang và quyết liệt của gã, Cát Xuyên Mộc đã biết kết quả ra sao rồi. Nhìn bọn đồ đệ Hoa Sơn, kể cả những tay trụ cột trong phái như Ưng Đằng chẳng hạn, ngồi ỳ ra bên đống lửa chờ lệnh, Cát Xuyên Mộc đem lòng thương hại. Hắn đã định chẳng nói ra nhưng không dằn được bất nhẫn:- Thạch Đạt Lang không đến, thật là phúc cho Hoa Sơn lắm. Các vị còn ngồi đây làm gì. Sao chẳng chia nhau ra đi đón đại ca các vị dẫn về võ đường thôi, kẻo mà mất mạng sớm !

Mọi người ồ lên một tiếng. Có người giận quá định cất tiếng thóa mạ thì Cát Xuyên Mộc đã chặn ngang:

- Tại hạ nói như vậy cũng chỉ có ý mưu cầu an lạc cho chưởng môn quý phái chứ chẳng có hậu ý gì khác. Trong cuộc giao đấu này, Sĩ Khánh không thủ thắng được. Nếu y không bị Thạch Đạt Lang giết thì cũng mang thương tật suốt đời.

Ưng Đằng đứng phắt dậy, tay để vào đốc kiếm, trừng mắt hét lớn:

- Thằng con nít này, sao dám buông những lời ngông cuồng quá sức, không coi ai ra gì cả ?

Cát Xuyên Mộc cười khẩy:

- Tại hạ biết những lời nói thẳng của tại hạ sẽ làm quý vị mếch lòng. Trung ngôn nghịch nhĩ. Nếu quả thật các vị không ưa, tại hạ xin rút lại lời nói ấy vậy ! Có điều, tại hạ cũng xin kiếu, không thể tiếp tay các vị được !

- Ai nhờ ngươi tiếp tay ?

- Thì Hoa Sơn Sĩ Khánh và cả các vị nữa. Các vị đã mặc nhiên có thái độ ấy !

- Láo !

- Vậy nếu không thì tại sao các vị lại đãi ngộ tại hạ như đã làm trong mấy tuần nay?

- Đó chỉ là vì lòng hiếu khách. Chúng ta muốn xử tốt với ngươi. Thế thôi !

- Ha ha ! Nếu chỉ có thế thì tại hạ cám ơn ! Nhưng này, tại hạ cảnh cáo:

nếu các vị bỏ ngoài tai lời tiên đoán của tại hạ, các vị sẽ hối không kịp. Thạch Đạt Lang không phải con người tầm thường. Y rất nguy hiểm. Nguy hiểm không những cho chưởng môn các vị mà còn cho cả phái Hoa Sơn nữa. Tại hạ đã có dịp nhìn đôi mắt y, quyết liệt vô cùng mà cũng tàn nhẫn vô cùng ...

- Thôi ! Đủ rồi ! Giờ này không phải lúc để ngươi nói những lời làm nhụt nhuệ khí bọn ta !

Nhưng Cát Xuyên Mộc làm như không nghe tiếng. Hay hắn chẳng coi những lời ấy vào đâu. Hắn tiếp, còn cay độc hơn nữa:

- Những kẻ trong cảnh suy tàn thường không chịu nhận lời nói thẳng.

Và chế giễu:

- Tấm cáo thị các vị cho cắm dưới chân cầu là bảng cáo phó của phái Hoa Sơn !

Thật đáng buồn tại hạ phải chứng kiến cảnh trụy lạc của một môn phái vẫn được coi là có nhiều hảo thủ.

Ưng Đằng nhổ bọt vào Cát Xuyên Mộc và soạt một tiếng, đã rút kiếm ra khỏi vỏ.

Đồ chúng Hoa Sơn cũng nhất tề đứng dậy, đao kiếm cầm tay, mặt đằng đằng sát khí.

Nhưng như cắt, Cát Xuyên Mộc phóng cước đá đống lửa bắn tung, xoay mình một vòng. Người ta chỉ thấy tấm thanh bào của hắn rung động, lưỡi kiếm dài như cây sào phơi đã lăm lăm trong tay, ngân quang lấp lánh và lưng hắn đã dựa vào gốc cổ thụ gần đó.

Cát Xuyên Mộc cười gằn. Hiển nhiên nếu bọn Hoa Sơn cùng xông lại công kích thì hắn đã sẵn sàng.

Nhìn cục diện đột nhiên biến chuyển, người tinh ý biết ngay gã thanh niên tuy trẻ người mà mánh lới thâm độc. Hắn đã dùng những lời khiêu khích để, trước mặt bọn đồ đệ Hoa Sơn và bao nhiêu khách bàng quan gần đó, có cơ hội chứng tỏ tài năng. Nếu cần, hắn sẽ ra tay tàn sát hầu làm lu mờ và áp đảo cả phái Hoa Sơn lẫn Thạch Đạt Lang.

Thật là một hành động cao ngạo và liều lĩnh, nhưng là một sự liều lĩnh có tính toán.

Cát Xuyên Mộc chậm rãi đưa tay kiếm lên ngang mặt, mũi kiếm trỏ thẳng về đằng trước.

Giữa lúc ấy, tiếng một thiếu nữ vang lên lanh lảnh từ phía sơn đạo:

- Cát Xuyên Mộc !

Mặt gã thanh niên vẫn lạnh như tiền. Gã chăm chú nhìn bọn Hoa Sơn, không bỏ sót một cử chỉ. Ưng Đằng đứng trước mặt hắn, hai tay nắm chuôi kiếm, lưỡi kiếm chênh chếch chúc xuống, mũi kiếm chĩa vào hông địch thủ. Thế kiếm thật vững vàng, thủ không sơ hở mà lúc công chỉ cần xoay nhẹ cườm tay, mũi kiếm đã sát bên sườn, làm địch thủ lúng túng.

Tiếc thay, thế kiếm không thi triển được, vì đột nhiên hàng ngũ Hoa Sơn rối loạn.

Một môn sinh vừa chạy tới vừa kêu thảng thốt:

- Các vị hãy dừng tay ! Ưng lão huynh ! Mau đi cứu đại ca. Nguy lắm.

Mọi người quay cả lại. Môn sinh này tên Tạ Minh Chí, là võ sinh mới nhập môn được Sĩ Khánh cho theo hầu để sai vặt. Tạ Minh Chí vừa chạy đến trước mặt Ưng Đằng đã phục xuống. Gã thở hổn hển:

- Ưng lão huynh ! Đại ca nguy rồi !

- Làm sao ? Chuyện gì ? Đại ca bây giờ ở đâu ?

Đứng trước cảnh bối rối của nội bộ Hoa Sơn, Cát Xuyên Mộc không nói và cũng không có hành động gì. Hắn thong thả tra kiếm vào vỏ rồi lui ra xa chừng và i trượng đến gặp thiếu nữ vừa gọi tên hắn:

- A Kế Mỹ ! Nàng đến đây làm gì ?

Thiếu nữ chẳng những không đáp còn hỏi ngược lại:

- Thạch Đạt Lang đâu ?

Cát Xuyên Mộc trừng mắt:

- A Kế Mỹ, ta đã bảo nàng không được đến đây, sao còn đến ?

- Ngươi là gì của ta mà có quyền cấm ?

- Câm mồm ! Về ngay nhà trọ đường Quan Ngoại chờ ta ở đấy !

- Không về ! Ta muốn gặp Thạch Đạt Lang, ngươi đừng tìm cách ngăn cản, vô ích!

Cát Xuyên Mộc khó chịu. Càng bảo, A Kế Mỹ càng bướng mà người hiếu kỳ, thấy to tiếng xúm lại mỗi lúc một đông. Hắn đấu dịu:

- Thôi được. Tùy nàng muốn làm gì thì làm. Để ta đến nghe tin tức Sĩ Khánh xem sao.

Đồ chúng Hoa Sơn với Ưng Đằng quây xung quanh Tạ Minh Chí mới nghe được vài câu đã mặt cắt không còn hột máu, rầm rập kéo nhau chạy về hướng bắc như đàn mãnh thú trốn lửa cháy rừng. Cát Xuyên Mộc cũng đi theo. Hắn đoán sơ sơ chắc Sĩ Khánh trúng thương nặng, nhưng không hiểu Thạch Đạt Lang thế nào. Dù sao, Sĩ Khánh cũng là chưởng môn nhân một phái, tất phải thi triển một vài chiêu kiếm. Hai cọp đánh nhau, cọp này thương tích nặng thì cọp kia cũng chẳng vẹn toàn. Cứ đến xem sao, tùy cơ ứng biến, nếu diệt được cả hai thì càng tốt. Nghĩ đến đây, Cát Xuyên Mộc khoan khoái, cười thầm trong bụng.Ưng Đằng và bọn thuộc hạ chạy chừng một quãng khá xa đến ven bờ giếng cạn.

Cỏ cháy vàng loang lổ bao quanh, loạn thạch đủ cỡ đủ màu, ngổn ngang xếp thành vô số hình cổ quái. Tới chân một đồng đất nổi lên như cái gò, cỏ gianh cao tới vai, Tạ Minh Chí vạch cỏ cúi xuống gọi:

- Đại ca !

Đồ đệ Hoa Sơn kẻ trước người sau cũng vừa tới. Nhìn Sĩ Khánh nằm dài thiêm thiếp, mặt gục trên đám cỏ khô, chúng vừa kinh ngạc vừa đau lòng. Sĩ Khánh mặc kimono hoa xanh, tay áo xắn cao buộc bằng hai sợi dây da màu nâu thẫm, đầu quấn giải lụa trắng viết hai chữ “Hoa Sơn”. Hắn như bất tỉnh, không còn cử động gì, hơi thở thoi thóp. Trên đầu cũng như ngực áo không có vết máu, nhưng sắc mặt Sĩ Khánh trắng bệch, môi tái nhợt mang vẻ đau đớn vô hạn.

- Còn thở mà !

Một người để tay lên mũi Sĩ Khánh, hơi thở nhẹ như tơ, không đủ làm rung động sợi chỉ mảnh.

- Còn, nhưng yếu lắm.

- Đỡ đại ca ngồi dậy !

Tạ Minh Chí quỳ xuống cùng với một tên đồ đệ nhấc tay Sĩ Khánh lên định quàng vào vai mình thì Sĩ Khánh choàng mở mắt. Mắt hắn lạc thần, da mặt co rúm lại, mồ hôi ra lấm tấm trên trán.

- Ôi chao, đau !

Hắn chừng muốn kêu to, nhưng người ngoài nghe tiếng hắn như tiếng dế. Đôi con ngươi lờ đờ nhìn phía trước. Hai giọt nước mắt hiện ra lăn dài trên má. Sĩ Khánh rướn người lên, đầu ngoẹo sang bên rồi im lặng, bất động. Hắn đã hôn mê mất rồi !

- Phải kiếm cái gì làm cáng khiêng đại ca về. Ngươi chạy đi mời y sư ngay, nói đại ca bị nội thương nguy kịch lắm.

Ưng Đằng vừa ra lệnh vừa cởi áo đắp lên mình người chưởng môn thất thế. Đồ chúng hối hả chạy đi chặt cành cây, Ưng Đằng cạy miệng Sĩ Khánh bỏ vào mấy viên chỉ thống đơn rồi quỳ bên cạnh nghe động tĩnh.

Một lúc sau, sắc mặt Sĩ Khánh đã bớt nhợt nhạt, bắp thịt bên mép giật liên hồi.

Ưng Đằng thở dài như vừa trút được gánh lặng:

- Đại ca ! Đại ca có nhận ra đệ không ?

Sĩ Khánh từ từ mở mắt. Hắn khẽ chớp hai hàng mi như nhận biết người vừa gọi rồi nhắm mắt lại.

Cáng được mang đến, làm bằng hai cành phong xỏ vào tay chiếc kimono bằng vải dày của một tên đệ tử. Mọi người xúm lại nhấc Sĩ Khánh để lên cáng, cánh tay phải hắn lủng lẳng tựa một vật thừa sắp rời khỏi thân thể. Sĩ Khánh cau mặt nghiến răng không kêu la nhưng ai cũng thấy rõ hắn đang cố vật lộn với sự đau đớn. Mồ hôi ở chân tóc và trên mép chảy rỏ giọt, Ưng Đằng phải dùng khăn thấm bớt. Nhiều người quay mặt đi không dám nhìn cảnh ấy, vì nó thương tâm quá và sợ xúc phạm đến vị chủ soái họ hằng kính trọng.

Bốn người khiêng chiếc cáng bước đi, theo sau là đồ chúng Hoa Sơn lặng lẽ và buồn thảm như một đám tang.

Nhờ mấy viên thuốc, Sĩ Khánh đã tỉnh đôi chút. Hắn rên khe khẽ:

- Đau quá ! Trời ơi đau quá ! Đứa nào chặt tay này đi cho ta ! Đau quá.

Phu cáng đi nhanh hơn. Đường đất đỏ gập ghềnh. Sĩ Khánh càng nhăn mặt:

- Chặt tay này đi ! Trời ơi ! Ta bảo đứa nào chặt tay này đi hộ ta nếu không ta chết mất !

Một đệ tử chạy trở lại nói với Ưng Đằng:

- Ưng lão huynh ! Đại ca đau quá không chịu nổi, bảo phải chặt tay đi. Bây giờ làm thế nào ?

- Đồ ngu. Đại ca đau nhưng không chết. Nếu chặt tay mà không có thuốc rịt thì máu chảy ra hết, đại ca sẽ chết ngay. Thôi đi đi, đừng có nhiễu sự. Tốt hơn là ngươi ba chân bốn cẳng chạy về võ đường bảo y sinh đem thuốc cầm máu đến đây lập tức để rồi ta liệu !

Thấy có người lố nhố trong những bụi cây đằng xa, Ưng Đằng bực tức bảo:

- Gọi anh em đuổi những tên kia đi. Đừng để đại ca làm trò cười cho chúng !

Bọn đồ đệ chạy đi rồi, Ưng Đằng vẫy Tạ Minh Chí lại. Gã đồ tử họ Tạ tưởng huynh trưởng mình quở phạt, len lén đến bên dập đầu xin lỗi.

- Ngươi đi với đại ca từ sáng sớm phải không ?

- Dạ.

- Đại ca gặp Thạch Đạt Lang ở đâu ?

- Dạ, vừa tới chân gò thì Thạch Đạt Lang xuất hiện.

- Thạch Đạt Lang đi một mình hay với nhiều người khác ?

- Dạ, hắn đi một mình.

- Chuyện xảy ra thế nào, kể lại ta nghe ! Đại ca biết chúng ta chờ ở gần sơn đạo mà !

Thấy Ưng Đằng ôn tồn, Tạ Minh Chí bớt lo.

- Trước khi đến đồng Đại Tỉnh, đại ca có nói nếu vạn nhất đại ca bị bại về tay họ Thạch thì phải đem xác đại ca đến chỗ các huynh trưởng chờ ở đồng bên cạnh. Đại ca không muốn đệ cho ai biết trước khi cục diện ngã ngũ. Đại ca nói có những lúc người lãnh tụ phải biết nhận trách nhiệm và không muốn cho võ lâm chê cười mình đã dùng những hành động nhơ nhuốc và hèn hạ để thủ thắng. Đại ca có vẻ buồn nhưng rất dũng cảm và tự tin.

- Rồi sao nữa ?

- Lúc Thạch Đạt Lang đột xuất, hắn hơi mỉm cười. Đệ tử trông rõ lắm tuy lúc bấy giờ sương chưa tan hẳn. Hai bên cúi chào nhau, không ai nói một lời. Bỗng có tiếng thét, thanh kiếm của đại ca bắn tung lên, đại ca ngã chúi xuống cỏ, còn Thạch Đạt Lang nhảy lùi lại, đứng trên một phiến đá trong đám loạn thạch, tóc dựng đứng.

- Sao lúc bấy giờ ngươi không nhảy vào đỡ đại ca ?

- Dạ, vì nhanh quá. Vụt một cái, không đầy nháy mắt. Sau đó, tên kia nhìn đệ tử, mắt hắn đỏ như rực lửa, đệ tử sợ quá. Quay lại, không thấy hắn đâu nữa !

Tạ Minh Chí kể xong như trút được gánh nặng. Ưng Đằng mắt đăm đăm nhìn về phía xa, vẻ tư lự. Chòm râu lão lốm đốm bạc, gió thổi dạt quấn cả vào mang tai.

Cát Xuyên Mộc đứng bên A Kế Mỹ dưới gốc thông già, nhìn bọn đệ tử Hoa Sơn khiêng chủ soái đi qua. Một niềm trắc ẩn hiển lên thay cho nụ cười khinh mạn trên môi hắn, nhưng nghe tiếng rên rỉ của Sĩ Khánh, hắn cau mặt.

Hắn bước đến bên cáng. Đồ đệ Hoa Sơn khựng lại thủ thế. Cát Xuyên Mộc tới gần khẽ gọi:

- Hoa Sơn đại huynh !

Sĩ Khánh nhọc mệt hé mắt. Nhìn thấy Cát Xuyên Mộc, hắn nở nụ cười héo hắt:

- Trễ mất rồi !

Cát Xuyên Mộc trông bàn tay phải xám ngoẹt của chưởng môn nhân phái Hoa Sơn, lắc đầu:

- Gẫy xương bả vai. Thế là cánh tay này bị phế bỏ ...Đại huynh chẳng nên nằm, máu dồn lên óc không tốt.

- Ối chao ! Đau ! Giá ai cắt cánh tay này hộ ta ...

- Trước sau gì thì cánh tay này cũng phải bỏ. Nếu tâm phế không bị chấn động tất còn cứu vãn được. Đại huynh còn cánh tay trái, thiết nghĩ nên bảo tồn lấy tính mệnh và giữ vững hào khí. Khi bình phục sẽ tìm cách rửa hận.

Sĩ Khánh chớp chớp mắt, ra vẻ đồng ý.

- Bây giờ đừng để tâm đến nỗi đau vật chất nữa ...

Sĩ Khánh cau mặt:

- Túc hạ ...túc hạ ...không ở địa vị ta ...

- Tại hạ biết lắm chứ. Nhưng phải khắc phục. Quan trọng là nỗi đau tinh thần.

Đại huynh phải nghĩ đến danh dự và lòng kỳ vọng của môn phái, của cha ông. Có thể nào đại huynh cứ nằm thế này cho môn đệ khiêng về Kyoto, dưới mắt khinh rẻ và chế giễu của mọi người được à ?

Sĩ Khánh quay hẳn đầu sang nhìn Cát Xuyên Mộc. Ánh kiêu ngạo lóe lên trong khóe mắt nhưng tắt ngay. Hắn rên rỉ.

- Nếu cần, tại hạ xin giúp ...

Tiếng Sĩ Khánh thều thào:

- Phải rồi ! Các người để ta xuống. Túc hạ đỡ ta ...

Cát Xuyên Mộc giơ tay dìu Sĩ Khánh. Hắn rú lên:

- Trời ơi ! Đau ! Chết mất. Cho ta mượn lưỡi kiếm. Ưng Đằng đâu, chặt cái tay vô dụng này đi !

Nhưng Cát Xuyên Mộc đã rút cây chủy thủ trong áo:

- Nếu đại huynh không ngại ...

- Ờ ! Túc hạ giúp ta ...

Xoẹt ! Cánh tay Sĩ Khánh đứt lìa đến tận bả vai. Máu tuôn xối xả. Hắn gục xuống ngất đi.

Vừa hay hai khoái mã mang thuốc phong tới như bay. Đồ chúng xúm quanh rịt thuốc rồi lấy vải buộc chặt vết thương. Sĩ Khánh tỉnh lại, muốn một mình trở về võ sảnh đường Tân Hổ, nhưng mới đi được vài bước đã quỵ xuống. Đồ đệ vực hắn lên ngựa, cắt y sinh ngồi giữ. Hắn cũng chẳng con hơi sức đâu mà phản kháng nữa.

Cát Xuyên Mộc trở lại bên gốc thông, đến bên A Kế Mỹ:

- Nàng nhìn rõ không ? Chắc nàng vui lòng lắm !

A Kế Mỹ mặt tái xanh, nghẹn họng không nói nên lời. Nàng thấy hắn tàn ác và bất nhân. Chưa kịp phản ứng, Cát Xuyên Mộc đã tiếp:

- Nàng vẫn nói nếu trả thù được y, sẽ sung sướng lắm. Bây giờ y như thế, nàng đã toại nguyện chưa ?

A Kế Mỹ nhướng mắt nhìn Cát Xuyên Mộc. Không hiểu sao, lúc này nàng thấy ghê tởm hắn. Xem ra, tâm địa hắn còn đáng khinh và đáng sợ hơn Sĩ Khánh nữa. Sĩ Khánh đã làm hại đời nàng, nhưng không đến nỗi là một con người độc ác. Tên Cát Xuyên Mộc này, dưới cái lớp vỏ trẻ trung dễ thương, thật là giống ngạ quỷ nham hiểm. Hắn không phạm những điều lầm lỗi mà thế nhân thường phạm, không gian dối, không ăn cắp, không tà dâm, nhưng là một con quỷ gian ác có những ý nghĩ lệch lạc, thấy người khác đau khổ thì thích thú, khoái chí. Hắn còn nguy hiểm hơn những kẻ tội lỗi thường tình nhiều. A Kế Mỹ muốn chạy trốn, thoát khỏi sự kềm tỏa của giống ác quỷ này nhưng không đủ can đảm.

Cát Xuyên Mộc kéo tay nàng, nàng líu ríu theo sau. Con hoàng hầu trên vai Cát Xuyên Mộc quay lại nhe răng kêu khèng khẹc chế giễu. Nàng muốn mắng nó nhưng không thể. A Kế Mỹ có cảm tưởng nàng và con khỉ kia cùng chung số phận. Nàng ghét Sĩ Khánh và Cát Xuyên Mộc nhưng hai người đó sao cứ thu hút nàng như ngọn lửa thu hút những con thiêu thân đến gần để đốt chết.

Chương 35: Hương trà

Thạch Đạt Lang men theo bờ suối tìm đường ra khỏi đồng Đại Tỉnh. Lau sậy cao quá đầu người, dầy chi chít, hắn phải vạch lối mà đi, chân đạp lên những lớp lá khô nghe rào rạo.

Một con chim nhỏ trong bụi bay vụt lên, bụng trắng phau như bụng cá thoáng quẫy trong đám rong trước khi lẩn đi biệt tích.

Đạt Lang không ngờ cuộc tỷ đấu dễ dàng và kết thúc nhanh như vậy. Quay nhìn gò đất cao gần đám loạn thạch, hắn lẩm bẩm:

“Mình mới phóng một chiêu, sao y không đỡ. Lẽ nào chưởng môn một danh phái mà tồi tàn đến thế !”. Nhưng nghĩ cho cùng, hắn chẳng lấy làm lạ. Ở đời kẻ bất tài thường hay huênh hoang. Khi may mắn được thừa hưởng cái hào quang của đảng tộc để lại, họ được đàn em đua nhau xu nịnh, lâu ngày lộng giả thành chân, họ tưởng mình có tài cán thật. Sống trong ảo tưởng như thế, đến khi hữu sự, họ không ngờ mình quá kém và đã phải trả giá đắt sự ngu dại của mình. Trường hợp Hoa Sơn Sĩ Khánh này là một. Y không huênh hoang nhưng nhu nhược. Vì không có một khả năng gì đáng kể, y đã làm cho chính bản thân và cả môn phái y thân bại danh liệt.

Rút mộc kiếm ra xem kỹ, Thạch Đạt Lang không thấy một vết máu, một chỗ trầy nào. Lưỡi kiếm đạo đen như mun vẫn bóng mịn, chuôi kiếm nằm trong tay hắn chắc, gọn. Hắn có cảm tưởng lưỡi kiếm với thân thể hắn là một, sinh động, vững vàng, sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách.

Nhớ lại lúc mới gặp nhau, Sĩ Khánh hơi giật mình. Phản ứng đó tuy rất nhẹ nhưng không qua được tia mắt sắc bén của Thạch Đạt Lang. Hai bên cúi chào. Dáng điệu Sĩ Khánh rụt rè, có đôi chút hoa mỹ, rõ ràng là phong thái của người chỉ tập luyện trong võ sảnh, ít bôn tẩu giang hồ. Dưới mắt Thạch Đạt Lang, những chi tiết nhỏ nhặt ấy đã tố giác võ công và ý chí của Sĩ Khánh.

Sau đường kiếm độc nhất làm Sĩ Khánh quỵ ngay tại chỗ, Thạch Đạt Lang thất vọng vô cùng. Hắn mong đợi một đối thủ khá hơn, ít nhất cũng thi triển được vài cao chiêu để hắn mở rộng kiến thức và không uổng công chuẩn bị. Nhưng đối thủ ấy đã không nhiệt thành, mà ngay đến lòng tự tin cũng không có. Nếu biết trước, có lẽ hắn đã tìm cách hủy bỏ cuộc gặp gỡ. Hắn chỉ muốn có cơ hội thử nghiệm tài năng chứ đâu phải muốn tìm hư danh trong cuộc tranh chấp.

Thạch Đạt Lang bất giác sinh lòng lân mẫn:

“Thật đáng tiếc !”. Nhưng đã muộn.

Mũi tên bắn đi không thu về được nữa. Hắn thở dài, ngồi xuống tảng đá bên bờ suối, cúi đầu thành tâm cầu cho Sĩ Khánh không đến nỗi tử thương. Và rút quyển sổ nhỏ, lẳng lặng ghi niềm hối tiếc đầu tiên trong năm về một hành động hắn cho là vô ích.

Trời gần trưa, Thạch Đạt Lang lầm lũi đi. Con suối cạn về mùa đông, giờ đây tuyết tan, đã có nước chảy róc rách. Gặp phiến đá chắn ngang, nước phân ra hai dòng, đổ bọt trắng phau, kéo theo cành gãy lá khô bít cả một quãng lòng suối.

Tần ngần nhìn nước chảy miên miên, Thạch Đạt Lang liên tưởng đến cuộc đời hắn, những trở ngại hắn đã vượt qua như phiến đá kia ngăn chặn dòng nước và rồi còn bao nhiêu trở ngại trong tương lai nữa.

Dòng nước chảy đi đâu ? Có lợi ích gì cho ai không ? Nhìn dòng nước, hắn nhớ đến lời Lão Tử trong Đạo Đức Kinh đọc được khi còn ở thạch thất:

“Bậc thượng thiện giống như nước, làm lợi cho vạn vật mà không tranh. Bản thể của Đạo cũng như nước, không làm gì cả mà kỳ thực không có gì là không do cái làm của nó mà ra”. Trước đây, hắn không hiểu ý ấy, bây giờ có lẽ đã lý hội được phần nào.

Bước chân Thạch Đạt Lang rào rạo trên đường sỏi làm một bà lão đang lúi húi hái rau giật mình ngửng đầu lên. Bà lão người bé nhỏ, tay xách giỏ tre đan, mặc một bộ kimono đơn giản, bên ngoài khoác chiếc áo ngắn màu nâu sẫm. Y phục bà là y phục của người thế tục, nhưng bà lại trùm trên đầu một vuông khăn xám như các ni sư. Bà già có dáng thanh tú của những người sống ở thị thành, quen nhàn nhã từ tấm bé.

Thạch Đạt Lang xuất hiện thình lình khiến bà mở to mắt kinh hãi. Một tay để lên ngực, những ngón tay nhỏ, trắng xanh run run, mặt bà tái đi. Chuỗi tràng hạt đeo bên mình theo nếp áo rung động.

Thạch Đạt Lang cũng không ngờ chỗ này có người, nhưng trấn tĩnh được ngay.

Hắn tươi cười hỏi:

- Lão bá làm gì thế ?

Bà già không trả lời, ngó trước ngó sau, quay đầu chạy, chiếc giỏ tre rớt xuống cỏ bà cũng không biết. Bà vừa chạy vừa kêu:

- Cổ Huy Đạo ! Cổ Huy Đạo !

Thạch Đạt Lang chẳng hiểu sao bà lão lại sợ mình đến thế, đứng ngẩn ngơ nhìn theo. Rồi cúi xuống nhặt chiếc giỏ tre lên. Trong giỏ toàn một thứ rau khúc, chắc do bà già hái được từ sớm. Sợ bỏ đi thì uổng, hắn xách lẵng rau rảo bước theo sau.

Đến một khu rừng thưa trên sười đồi thoai thoải, chợt thấy bóng hai người đàn ông, một người ngồi trên tấm vải thay chiếu trải lên cỏ và một hình như đang lúi húi nhóm lửa. Vài sợi khói lam tỏa nhẹ lên cao trong bầu thinh không trong vắt. Khung cảnh thật yên tĩnh và êm đềm một cách lạ !

Thạch Đạt Lang đến gần. Bên tấm vải, bày la liệt những đồ dùng để uống trà, nào khay, nào chén, nào ấm sành. Trên bếp lửa lại treo sẵn một cái ấm sắt đun nước. Rõ ràng đây là cuộc du ngoạn của một nhóm người thấy trời đẹp, cảnh trí vui tươi thì dừng lại pha trà thưởng thức.

Người đàn ông ngồi trên tấm vải dường như đang vẽ tranh. Ông trạc ngũ tuần, nước da mịn và trắng hồng nhưng tóc đã lốm đốm bạc. Nhìn Thạch Đạt Lang, ông không tỏ vẻ gì ngạc nhiên. Dáng điệu vẫn bình tĩnh và ung dung, ông lên tiếng:

- Có chuyện gì thế, tráng sĩ ?

- Vãn bối mang hoàn lại giỏ rau.

Ông vội bỏ bút, cúi đầu thi lễ:

- Giỏ rau này của gia mẫu. Người đã có tuổi, chắc bỏ quên. Xin đa tạ tráng sĩ.

Thạch Đạt Lang vội quỳ xuống:

- Vậy té ra là lệnh đường. Vãn bối thật đắc tội, đã làm lão bá sợ hãi. Vãn bối đột nhiên đi tới, lão bá kinh hãi đánh rơi giỏ rau nên vãn bối mang lại trả chứ không có chuyện gì.

Vừa hay người lão bộc dẫn bà cụ đến. Trông thấy giỏ rau, mặt bà tươi hẳn lên.

- Mẫu thân ! Tráng sĩ đem trả giỏ rau đây này !

Bà cụ cúi đầu cảm tạ:

- Già thật hồ đồ quá. Xin cảm ơn tráng sĩ.

Người đàn ông trung niên tự giới thiệu:

- Tiện danh là Cổ Huy Đạo, nhà ở ngõ Kim Phong.

Nghe tên Cổ Huy Đạo, Thạch Đạt Lang ngạc nhiên. Trên giang hồ, hắn đã nghe nhiều người nhắc đến tên này. Ông không phải là kiếm sĩ, nhưng nổi danh suốt một dải trung nam nước Nhật là một nhà luyện kiếm vô song. Học lực về kiếm phổ của ông uyên bác, đức hoàng đế có khi còn phải triệu ông vào cung để hỏi xuất xứ và tiểu sử của những thanh kiếm lạ. Riêng về tài năng này, giới học giả và kiếm sĩ cầm quyền rất khâm phục. Nghe nói trước đây, lãnh chúa họ Hòa, thân phụ Hòa Giả Nghị, đã viết di chúc dặn người thừa kế phải trích ra hàng năm ba ngàn gia. lúa để tặng gia đình ông chi dụng.

Với số lợi tức ấy, ông thừa sức sống phong lưu. Căn nhà ông ở tại ngõ Kim Phong của tổ phụ để lại, rộng như một trang trại, thiết bị đủ thứ dụng cụ để đúc và mài dũa gươm quý.

Nhưng quan trọng và đầy đủ nhất, phải kể cái thư khố đựng toàn sách chuyên môn về kỹ thuật luyện kiếm và kiếm phổ do tổ phụ Ông sưu tập và truyền lại. Không những thế, Cổ Huy Đạo còn là một nghệ sĩ tài hoa về nhiều phương diện. Ông làm đồ gốm và đồ sơn mài, vẽ tranh thủy mặc, viết bút thiếp và hiểu biết rất sâu rộng về cổ họa Nhật.

Kim Phong Cổ Huy Đạo vang danh khắp nơi đến nỗi nhiều kẻ hậu sinh quá ngưỡng mộ Ông, khi đi qua ngõ Kim Phong, tự động xuống ngựa để tỏ lòng cung kính.

Tuy vậy mà nếp sống của ông rất giản dị. Ông không ưa lụa là, cái ăn cái mặc chỉ vừa đủ cần thiết. Cùng với bà mẹ già xấp xỉ bảy mươi, ông thích du ngoạn đó đây, hòa mình với thiên nhiên và như hôm nay, dùng nơi hoang vu này làm bối cảnh cho một buổi uống trà và vẽ tranh để di dưỡng tính tình.

Lần đầu diện kiến, nếu ông không xưng danh, có lẽ Thạch Đạt Lang không ngờ con người trung niên có cái dáng quan chức ngồi kia lại là Cổ Huy Đạo, nhà kiếm học và nghệ sĩ tài danh lừng lẫy.

Thạch Đạt Lang hỏi lại:

- Phải chăng tiên sinh chính là nhà luyện kiếm nổi tiếng tại ngõ Kim Phong ở cố đô.

Cổ Huy Đạo mỉm cười:

- Đa tạ tráng sĩ quá khen. Lão phu chẳng qua nhờ phúc trạch mà nên, có tài cán gì. Tiện danh bất quá chỉ được một số ít bằng hữu biết đến.

Đoạn tươi cười nói với bà mẹ:

- Lúc nãy, mẫu thân có vẻ kinh hãi. Con thấy tráng sĩ đây rất thuần nhã, có gì đáng e ngại đâu !

Bà lão vui vẻ, lấy tay che miệng:

- Nói ra thì xấu hổ. Lúc bấy giờ nhìn tráng sĩ đột nhiên xuất hiện, ta thấy sát khí bừng bừng, nên sợ quá. Già này hồ đồ, tráng sĩ thứ lỗi.

Trực giác hết sức linh mẫn của bà lão khiến Thạch Đạt Lang kinh ngạc. Bà đã nhìn rõ hơn, hay đúng hơn, cảm thấy nội lực phi thường toát ra từ thân thể hắn, y như là trước kia, Ngộ Không lão tăng ở vườn rau chùa Quanh Minh đã cảm thấy. Gần một năm rồi, công lực sung mãn ấy vẫn chưa kiềm chế được, trách gì chẳng làm cho bà sợ hãi.

Cổ Huy Đạo có lẽ cũng có được sự cảm nhận mẫn nhuệ như thế, nhưng ông điềm tĩnh hơn và có lẽ ông đã chỉ chú ý đến khía cạnh tốt, cái phần thiện trong con người Thạch Đạt Lang mà thôi. Ông giơ tay mời:

- Tráng sĩ vừa chiến đấu xong, hãy lưu lại nghỉ một chút cho thoải mái. Trời trong và đẹp như thế này, cảnh trí lại tịch mịch, vội gì ?

Thạch Đạt Lang đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Thế ra ông cũng đã rõ mình vừa tỷ kiếm với Sĩ Khánh. Sao ông không có phản ứng gì. Có lẽ ông cho đó là những sinh hoạt của một giới khác với giới của ông chăng. Hắn nghĩ thế, nhưng không để lộ ra, chỉ vắn tắt cảm ơn rồi tháo dép ngồi xuống:

- Vãn bối tên Thạch Điền Đạt Lang ở Myamoto.

- Lão phu cũng đã đoán biết vậy.

Bà cụ thân mẫu cũng ngồi xuống hỏi han gia cảnh và sở học của hắn. Bây giờ bà vui vẻ tươi cười, coi Thạch Đạt Lang như một đứa cháu nên hắn thích thú vô cùng. Hắn đem tâm sự ra kể, những thất vọng và kinh nghiệm đã trải qua cùng những ước mơ hắn thường ấp ủ.

Không biết cơ duyên nào đưa đẩy cho hắn gặp hai mẹ con nhà kiếm học Cổ Huy Đạo ngày hôm nay, nhưng hắn có cảm tưởng hai người này cảm thông với hắn từ bao giờ và tự nhiên hắn tin cậy họ. Không phải vì Cổ Huy Đạo danh vọng lẫy lừng mà hắn có cảm tưởng ấy. Giá ông đừng xưng danh, có lẽ hắn còn thấy thoải mái hơn.
Bà cụ hỏi con trai:

- Con thử đoán xem Thạch tráng sĩ bao nhiêu tuổi ?

Cổ Huy Đạo nhìn Thạch Đạt Lang, mỉm cười đáp:

- Khoảng hăm lăm hăm sáu.

Thạch Đạt Lang vội chữa:

- Vãn bối năm nay mới hăm ba.

- Chà ! Thế ra lão phu trông tráng sĩ già hơn tuổi ! Chắc phong sương nhiều cho nên thế ! Nhưng không sao, những vết phong sương ấy là chứng tích của sự từng trải đấy!

Mọi người cười ồ, vui vẻ.

Chuyện vãn hồi lâu, Cổ Huy Đạo ngỏ ý muốn ra bờ suối vẽ tranh còn bà cụ giúp người lão bộc làm bánh lá khúc.

Một mình Thạch Đạt Lang ngồi ngó mông lung ra phía xa. Trời đã quá trưa.

Nắng không còn thịnh nhưng khí hậu ấm áp. Tuy nhiên mới là đầu xuân, cây cỏ chưa xanh tốt, du ngoạn lúc này quả hơi sớm. Hắn nghĩ hai mẹ con Cổ Huy Đạo phải là người yêu thích thiên nhiên lắm, bị bó cẳng suốt mùa đông không ra ngoài được nên mới vội vàng thế. Riêng đối với thanh niên hiếu động như hắn, ngồi mãi cũng chán. Hắn bèn đứng dậy đi quanh.

Một gốc mai già khẳng khiu mọc nghiêng bên bờ suối. Đầu cành, có bông mai độc nhất nở, trắng muốt, rung rinh theo gió. Hắn nhìn cành mai, thấy đẹp vô cùng, đứng sững ngắm không biết chán. Không biết cái cảnh “trúc phong, mai vũ” như thế nào, nhưng bông mai độc nhất trong cái khung cảnh hoang vu ngày đầu xuân này khích động hắn lạ thường.

Men theo bờ suối, đến gần chỗ Cổ Huy Đạo ngồi, Thạch Đạt Lang lẳng lặng nhìn nhà nghệ sĩ dùng ngọn bút lông ghi lại những nét động của dòng nước đương chảy.

Ông vẽ nhiều lần, nhưng có lẽ không lần nào vừa ý nên tranh để la liệt bên cạnh.

Vẽ xong một bức, cho là chưa được, ông lại vẽ lại, không nản chí.

Hừ, Thạch Đạt Lang nghĩ thầm. Vẽ cũng không phải là dễ. Ngọn bút trong tay nghệ sĩ chỉ là dụng cụ, cũng như thanh gươm trong tay kiếm sĩ. Quan trọng là cái tâm, phải để tâm mình hòa hợp với thiên nhiên thì mới diễn tả được thiên nhiên. Phải cảm thông trước đã. Cũng như hắn, khi chiến đấu, kiếm và tâm hợp nhất thì mới đạt tới mức siêu hóa. Ông vẽ nước chảy mà vẫn coi nước là đối nghịch thì không thể nào thành công được.

Thạch Đạt Lang lững thững trở về chỗ cũ. Sợ nhàn rỗi quá thành ra u trệ, hắn ngỏ ý cáo từ hai vị chủ nhân. Cổ Huy Đạo giữ lại:

- Tráng sĩ lưu lại chút nữa, chờ uống trà với lão phu. Trà là thứ di dưỡng tình tình tốt nhất.

Nghỉ một lúc ông lại nói:

- Vả lại theo thiển ý, động là cao điểm của tĩnh. Tráng sĩ muốn giữ cao điểm mãi cũng không thể được. Có động thì có tĩnh. Tĩnh bây giờ để chuẩn bị cho cái động về sau.

Chắc tráng sĩ hiểu ý lão.

- Đa tạ tôn ý. Nếu quả vãn bối không làm phiền gì thì xin ở lại.

Cổ Huy Đạo thu xếp giấy bút và đậy nắp bình mực. Vàng, bạc ánh lên cùng với xà cừ cẩn trên nắp bình lóng lánh làm Thạch Đạt Lang chú ý. Hắn xin phép cầm xem.

Nắp bình mực sơn then bóng lộn, vẽ hai bông cúc bên một hàng giậu nhỏ. Nét vẽ xương kính, cánh bố cục chặt chẽ. Tuy là tranh tĩnh vật nhưng hai bông hoa sinh động lạ thường, nhờ cách rắc bột vàng và bạc, điểm những miếng xà cừ và cách mài sơn tuyệt khéo.

Cổ Huy Đạo nhìn Thạch Đạt Lang. Hắn không giấu lòng thán phục, hai tay bưng bình mực trả chủ nhân và nói:

- Đẹp quá ! Tác giả tạo nên bảo vật này là ai, tiền bối có biết không ?

- Bảo một mình lão phu làm thì không đúng hẳn, vì cũng còn một người nữa là Vương Tích đề thơ và tự tay viết thủ bút, cho nên phải nó Vương tiên sinh và lão phu cùng làm mới phải.

- Vương Tích có liên hệ gì với Vương Trung, quan nhiếp chính đại thần tiền triều không ?

- Vương tiên sinh chính là trưởng tử quan đại thần Vương Trung.

- Chả trách được ! Vãn bối có được nghe đại danh ngài là người viết bút thiếp nổi tiếng nhất kinh thành.

Thân mẫu Cổ Huy Đạo đặt bộ đồ trà lên chiếu vải, nói:

- Già chẳng có gì đãi tráng sĩ, chỉ lưu tráng sĩ lại dùng trà.

Đoạn, mở nắp hộp, lấy trà cho vào bát, dùng gáo tre đong nước sôi, đánh trà nổi bọt. Cử chỉ của bà gọn gàng và chính xác, chứng tỏ bà rất thành thạo. Những ngón tay nhỏ nhắn thoăn thoắt lướt trên các đồ dùng, nhẹ nhàng linh hoạt mà vẫn thanh lịch tự nhiên một cách lạ. Tuổi đã thất tuần, dáng điệu bà không có vẻ già, vẫn nhanh nhẹn, trang nhã và kín đáo, thật đáng tiêu biểu cho vẻ đẹp phụ nữ cùng lứa tuổi.

Càng nhìn hắn càng thấy cảm mến. Nói theo ngôn ngữ kiếm đạo thì những thủ pháp của bà hoàn toàn, không chỗ nào sơ hở. Khi bà giơ cao chiếc gáo nhỏ đong nước vào bát, hắn có cảm tưởng nhìn một tay kiếm tuyệt luân vừa xuất thủ. Hắn nghĩ thầm:

“Đó mới chính là đạo, đó mới là tinh hoa của nghệ thuật, luôn luôn tìm sự tận thiện, tận mỹ !”.
Thạch Đạt Lang ngồi yên quỳ gối, hai tay để lên đùi, trịnh trọng ngắm bà lão bưng trà và xếp bánh ra đãi khách. Ở giữa chốn hoang vu, những chiếc bánh mướt xanh như ngọc thạch trên tấm lá màu nõn chuối đã được cắt vuông vắn để trong cái khay sơn then, trông sao mà ngon mắt thế ! Hắn tưởng mình đang ngồi trong trà thất của một đại gia mà chủ nhân, tuy ưa thích cảnh thiên nhiên nhưng vẫn còn lưu luyến với những nghi lễ của trà đạo. Hắn đâm ngại.

Nhìn Cổ Huy Đạo và bà thân mẫu uống trà, đĩnh đạt, thư thả, hắn lúng túng:

- Vãn bối sinh trưởng nơi cô lâu, không rõ lề lối uống trà ở kinh đô, chẳng biết phải làm thế nào ?

Bà cụ cười mà nói:

- Già này thật mến cái tính ngay thẳng của tráng sĩ ! Thì có gì quan trọng đâu !

Nghệ thuật uống trà chẳng bí mật hay phiền toái gì. Tráng sĩ sinh trưởng ở nhà quê thì cứ uống như người nhà quê ...

- Lão bá nói như vậy, ra uống trà dễ lắm sao ?

- Dĩ nhiên ! Chân lịch sự phát xuất tự trong lòng. Nếu ta quá chú trọng đến cái vỏ bề ngoài thì mất thú đi. Muốn tận hưởng hương vị của trà, cứ để cho lòng ta thoải mái tự nhiên. Cũng như khi sử kiếm, tráng sĩ đâu có giữ cho thân mình quá gò bó. Làm thế, sự hòa hợp giữa kiếm và người không còn nữa, phải vậy không tráng sĩ ?

- Dạ thưa phải.

Bà già lại cười, tiếng trong như thủy tinh:

- Ấy đấy ! Già này lại lộng ngôn rồi. Tráng sĩ tha lỗi, đáng lẽ ta chẳng nên bàn về cách sử kiếm là một môn ta chẳng biết gì cả ...

- Nhưng Thạch Đạt Lang đã cúi đầu, hai tay nâng bát trà lên:

- Vãn bối xin thất lễ.

Vị trà đắng ngắt. Dù có lịch sự đến đâu, hắn cũng không thể cho là ngon được.

Không hiểu tại sao bao nhiêu người đua nhau ca tụng cái hương vị mà họ gọi là thanh lương ấy. Chắc trong cách pha trà, uống trà phải có những điều gì khác cao quý, hắn còn ít tuổi chưa tìm ra hoặc chưa biết thưởng thức, chứ nếu không, sao nó lại được coi như một triết lý sống và được nâng lên hàng trà đạo ? Hắn nghĩ đến Trúc Mộ và Đại Quán, hai người trọng cách uống trà lắm. Đại Quán tán dương đức tính thâm trầm của nó, còn Trúc Mộ thì dành những năm tàn của mình trong việc nghiên cứu trà đạo.

- Tráng sĩ dùng thêm chút nữa ?

- Đa tạ lão bá, xin đủ.

Thạch Đạt Lang miên man nghĩ đến vị dật sĩ dùng kiếm cắt cành mấu đơn dạo nào và đột nhiên chú ý nhìn bát trà trước mặt, hắn ngạc nhiên và khích động đến cùng cực. Không biết lúc đó hắn có thốt ra tiếng kêu nào không ?

Cầm chiếc bát sành lên ngắm nghía, mắt hắn sáng rạng rỡ:

chiếc bát cân đối, màu men tươi, không tì vết, nét vẽ sắc sảo, giản dị mà không tầm thường. Dưới trôn bát, chú ý nhìn những vết bay gọn gàng, vững mạnh của người nghệ sĩ đã tạo ra nó, hắn như lại được nhìn thấy một lần nữa sự tinh vi, sắc bén khác thường của đường kiếm Trúc Mộ.

Thật là sản phẩm của một vị kỳ nhân, hàm chứa niềm giao cảm huyền diệu giữa tâm linh và vật chất. Hắn không hiểu tại sao, chỉ cam thấy như vậy. Có lẽ trực giác của hắn bén nhậy hơn trực giác của những người khác chăng ? Thạch Đạt Lang vuốt ve thành bát. Hắn muốn được tiếp xúc lâu hơn nữa với mỹ tác tuyệt kỹ này.

- Tiền bối ! Vãn bối không biết gì về cách uống trà và những đồ dùng để uống trà, nhưng đây là một chiếc bát hết sức tinh xảo. Ai làm ra nó hẳn phải là một nghệ sĩ siêu đẳng.

- Sao tráng sĩ lại nói thế ?

Lời Cổ Huy Đạo dịu dàng nhưng nghiêm trang. Ông nhìn chàng thanh niên, hình như trên mặt ông thoáng một chút kiêu hãnh.

- Vãn bối không giải thích được, chỉ nói ra điều mình cảm thấy.

- Tráng sĩ cảm thấy đích thực những gì ?

Đạt Lang suy nghĩ một lát rồi nói:

- Vãn bối không thể nói rõ được. Nhìn những vết bay dưới trôn bát thì cảm thấy có một cái gì phi thường làm khích động vãn bối vô cùng.

- Hừ ...

Cổ Huy Đạo là một nghệ sĩ tài hoa, ai cũng biết. Ông lại nhã nhặn nữa nên ai cũng mến yêu. Nhưng dưới cái lớp vỏ nhã nhặn ấy, ông vẫn tự cho không mấy người hiểu được nghệ thuật của ông. Thạch Đạt Lang này chắc gì hơn những người khác. Ông cắn môi:

- Những vết bay ấy thế nào ?

- Mạnh và sắc. Rất sắc.

- Có thế thôi ư ?

- Không ...Còn nữa, còn có một cái gì cao cả và táo bạo như muốn vươn lên, thoát ra ngoài khuôn sáo.

- Gì nữa ?

- Người làm nó có một kinh nghiệm và hiểu biết sâu xa về mỹ thuật nên đã đem sở học và tài thiên phú ra tạo nên chiếc bát, toàn thể đẹp thanh thoát như thế này. Trông thì giản dị mà thật ra rất cầu kỳ. Nhìn những vết bay quét ngược, vãn bối còn thấy người này kiêu ngạo, mục hạ vô nhân, có thể rất danh tiếng mà cũng có thể cô đơn lắm. Tiền bối mua bát này ở đâu hay có biết ai đã tạo ra nó chăng ?

Cổ Huy Đạo cười ha hả:

- Biết ! Tên người tạo ra nó là Cổ Huy Đạo. Nhưng lão phu chỉ làm đồ gốm để tiêu khiển những khi rảnh rỗi mà thôi.

Thạch Đạt Lang nghe đồn nhà chuyên môn về kiếm học này nhiều tài năng, nhưng không ngờ môn gì ông cũng hơn người. Hắn hơi hối đã nói thẳng ra những điều hắn nghĩ, vì có vài ý xúc phạm. Hắn lúng túng:

- Vì tiền bối hỏi nên vãn bối thưa thực. Tiền bối tha lỗi nếu có điều gì chẳng lọt tai.

- Chà ! Chàng thanh niên này khách sáo quá ! Có gì mà không lọt tai ? Xem ra tráng sĩ cũng ưa đồ gốm lắm nhỉ ?

- Trước vẻ đẹp, ai mà không xúc động. Tuy nhiên, vãn bối chẳng biết gì mấy về đồ gốm.

- Dĩ nhiên rồi. Tạo nên một tác phẩm đắc ý, có khi phải dùng đến kinh nghiệm cả đời người. Làm sao mong tráng sĩ biết nhiều về kỹ thuật ấy được ? Nhưng tráng sĩ quả có khiếu thẩm mỹ, một sự hiểu biết về mỹ thuật thiên bẩm. Luyện kiếm đã giúp tráng sĩ phát triển khiếu này, có đúng không ?

Ông dừng lại, không nói thêm mà Thạch Đạt Lang cũng không hỏi gì nữa.

Trời sắp chiều. Hai chiếc bánh nhỏ không đủ dằn bụng một thanh niên đang tuổi lớn. Thể chất và tinh thần hắn đều cần đến những thực phẩm bổ dưỡng hơn, tuy nhiên hôm nay dừng chân trên khu đất hoang dã này, hắn đã được dịp thưởng thức hương vị thanh đạm của một nếp sống xa lạ đối với hắn. Có lẽ hắn còn phải học hỏi nhiều ở Cổ Huy Đạo và Cổ bà. Thạch Đạt Lang quay lại cáo từ hai vị chủ nhân:

- Bây giờ cũng đã muộn. Xin nhị vị cho vãn bối được kiếu. Vãn bối đa tạ lòng yêu mến của nhị vị và những lời chỉ bảo hai vị đã ban cho.

Bà lão nhìn Thạch Đạt Lang trìu mến:

- Nếu có dịp nào tráng sĩ qua ngõ Kim Phong, xin nhớ ghé thăm tệ xá.

- Phải đấy ! Cổ Huy Đạo tiếp. Chúng ta sẽ nói chuyện nhiều.

Ông thêm:

- Có nhiều thứ lão phu tin chắc tráng sĩ sẽ rất ưa thích.

Đi một quãng xa, Thạch Đạt Lang còn quay lại nhìn hai người ngồi trên tấm vải.

Con đường gai góc hắn quyết theo chắc không bao giờ đưa đến cảnh giới bình yên như hai người đang sống.

Nét mặt đăm chiêu, hắn lặng lẽ đi trong đồng cỏ hoang như một chiếc bóng.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau