THẠCH KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thạch kiếm - Chương 26 - Chương 30

Chương 26: Đại bàng sơn

Vào hạ bán thế kỷ thứ mười lăm, những kiếm phái danh tiếng như Võ Đằng Tôn Các ở miền bắc, Bạch Hạc ở đông nam rất được võ lâm sùng mộ. Vùng Kyoto có Hoa Sơn, bấy giờ Khổ Bích còn giữ chức chưởng môn. Ở bang Kuwana, tướng quân Điền Quang Tĩnh nổi danh hào kiệt, vì không những ông là một danh gia kiếm sĩ mà còn là một nhà cai trị quyền uy và khôn khéo. Khi ông mất, dân chúng nhớ ơn người đã đem lại ấm no cho bang, lập đền thờ truyền tụng công đức ông mấy đời sau chưa dứt.

Điền Quang Tĩnh lúc còn trẻ là môn đệ Bạch Hạc phái. Nhờ có kiến thức và đức hạnh, Điền Quang Tĩnh được sư phụ đặc biệt yêu mến, truyền hết các bí quyết cho mà chính con ruột tiên sinh cũng không biết. Theo truyền thuyết thì sau khi sư phụ qua đời, Điền Quang Tĩnh đến lập nghiệp tại bang Kuwana, mở trường dạy võ. Sư huynh ông tới thăm, dùng mẹo hỏi về những chiêu kiếm kỳ bí ấy, Điền Quang Tĩnh chỉ điểm cho hết, song vì tư chất kém cỏi, vị sư huynh này không lý hội được, chỉ học có cái kỹ thuật bên ngoài còn cái tâm vốn là tinh hoa của Bạch Hạc kiếm thì lại sao lãng, nên Bạch Hạc kiếm miền đông nam không sao bằng được kiếm thuật của Điền Quang Tĩnh. Vì thế khi nói đến Bạch Hạc kiếm là phải đến bang Kuwana. Tiếc rằng từ sau khi Điền Quang Tĩnh chết đi, môn học ấy cũng thất truyền và bây giờ thì không còn mấy ai nhớ rõ những yếu quyết ấy nữa.

Trên đây là một trong những truyền thuyết cư dân vùng Kawana ưa kể lại cho khách vãng lai nghe khi học đặt chân đến vùng sơn cước này. So với các chuyện truyền ký khác nhuộm đầy vẻ thần bí phát sinh từ óc tưởng tượng của những người dân rất nặng lòng với mảnh đất quê hương trên đó họ đã cư ngụ hàng mấy mươi đời thì truyền thuyết này cũng không có gì xa sự thật mấy. Đền thời Điền Quang Tĩnh còn kia và danh ông vẫn còn lưu lại hậu thế như một nhà cai trị sáng suốt và một kiếm sĩ lỗi lạc.

Thạch Điền Đạt Lang nghe chuyện trên đây qua miệng người mã phu kể lại sau khi rời thị trấn Kuwana. Hắn chỉ gật đầu và thỉnh thoảng đáp vài tiếng nhát gừng lấy lệ.

Trời gần cuối năm, đang tiết đại hàn, gió tây bắc thổi lạnh buốt như cắt da thịt.

Thạch Đạt Lang mặc phong phanh có cái kimono mỏng, ngoài choàng một tấm áo khoác đã cũ nhàu nát và cáu bẩn, nhiều chỗ bụi đường bám loang lổ. Mặt hắn đen sạm, chiếc nón nan đội trên đầu tơi tả, giá có đánh rơi cũng không ai thèm nhặt. Tóc hắn buộc túm về phía sau, trông rõ ra cung cách kẻ giang hồ khất cái. Tuy nhiên đôi mắt sáng như sao, hàm răng trắng bóng, mỗi khi hắn ngước lên nhìn hay cười nghe chuyện người mã phu kể, khóe miệng cũng như tia mắt ấy có một cái gì ngây thơ tương phản hẳn với khuôn mặt khắc khổ sạm đen vì phong sương của hắn. Một cái gì rất hấp dẫn mà cũng rất quyền uy làm người đối thoại phải kính nể.

Người mã phu, khi nghe hắn gọi dẫn ngựa đến, đã có vẻ e ngại nhưng không cưỡng được. Bây giờ hắn đã ngồi trên lưng ngựa rồi, đi đã quá nửa đường, gã mã phu càng thấy khó có hy vọng đòi được tiền thuê của ông khách lại này ! Gã rụt rè nhắc:

- Thưa khách quan ...

- Gì thế ?

- Chiều nay thì tới Kameyama, nhưng đến đêm chưa chắc đã tới làng Ujii được !

- Hừ ...

Thạch Đạt Lang tuy nghe nhưng không để ý. Dường như hắn mãi ngắm cảnh vật xung quanh. Thực ra về mùa đông, rừng núi tiêu điều chẳng có gì đáng ngắm. Vài gốc cổ thụ trơ trọi đưa những cành đen khẳng khiu lên trời tựa những cánh tay gầy guộc, lá úa rụng đầy lối đi, những mảng rêu trên các tảng đá nứt nẻ đã đổi màu, chỗ vàng chỗ nâu sẫm. Duy chỉ có hàng tùng bách là vẫn xanh tốt, tàn lá sum sê không coi gió lạnh ra gì cả. Hàng tùng bách này hợp với tâm trạng hắn chăng mà sao hắn cứ quay đầu nhìn mãi?

- Ujii là một xóm nhỏ ở lưng chừng núi, vắng teo vắng ngắt, khách quan đến đấy làm gì ?

- Ta đến thăm một người.

- Chỉ có hai ba nông dân nghèo khổ ở đó làm rẫy cùng với mấy lão tiều phu già, chặt củi đốt than chứ có ai đâu ...

- Tại Kuwana, ta nghe nói ở đó có tay giỏi nghề sử loại võ khí đặc biệt lắm.

- Chắc khách quan muốn nói Chu Kế Phong ...

- Phải rồi, Chu Kế Phong. Nhưng đấy là họ, tên hắn là gì ?

- Tất Đạt.

- Ờ ! Chu Kế Phong Tất Đạt ! Phải rồi !

- Y làm nghề thợ rèn liềm và lưỡi hái. Y có chế ra một thứ võ khí giống như cái hái, lợi hại vô cùng, làm nhiều kẻ mất mạng. Thế ra khách quan cũng là kiếm sĩ đấy !

- Hừ ... hừm ...

- Khách quan là kiếm sĩ, hay để tiểu nhân dẫn đi Matsuzaka. Nơi đó có nhiều tay giang hồ hảo hán kiếm thuật nổi tiếng lắm.

- Những ai, kể ta nghe thử ?

- Trúc Vô Công Tử Hãn, Dương Nguyên Sinh chẳng hạn.

Thạch Đạt Lang gật đầu:

- Ta cũng có nghe tên những người ấy.

Hắn không nói gì thêm nữa khiến người mã phu tưởng ông khách lạ biết rõ, nhưng không lưu tâm. Cả hai, kẻ dẫn ngựa và người cưỡi ngựa theo đường núi gập ghềnh lầm lũi tiến về phía trước.

Đến Kameyama, Thạch Đạt Lang xuống ngựa, vào một quán ven đường ăn lót dạ.

Hắn bước khập khiểng vì vết thương ở gan bàn chân do cái đinh hắn dẫm phải khi còn ở trấn Kuwana bây giờ nung mủ làm hắn nhức nhối khó chịu. Hắn phải thuê ngựa cưỡi chứ không dám đi bộ. Thạch Đạt Lang xin chủ quán chậu nước, tháo dép ra coi, thấy chỗ vết thương đỏ ửng như quả hồng sắp chín, sờ vào nóng và đau lắm. Hắn rửa sạch, dùng vải buộc lại và tự trách đã vô ý để xảy ra chuyện đáng tiếc ấy.

Theo tiêu chuẩn của hắn thì như vậy là hắn thua cái đinh. Là kiếm sĩ, hắn đã không cảnh giác đến nỗi cái đinh nằm nhô đầu lên rõ ràng như vậy mà không tránh nổi:

giác quan của hắn chưa đủ linh mẫn. Tệ hơn nữa, sự phản ứng lại chậm chạp để đầu đinh xuyên qua dép và sâu trong gan bàn chân. Đáng lý ra hắn phải nhảy tránh ngay khi cảm thấy mũi đinh chạm vào da mới phải.

Thạch Đạt Lang bực bội về sự non kém ấy. Óc và toàn thân hắn chưa đồng nhất thì nội lực hắn dù có dồi dào đến đâu chăng nữa, những cảm nhận vẫn còn chậm chạp, xuất thủ không đủ thần tốc, chiêu kiếm sẽ vì thế mà kém phần uy mãnh.

Trên đường theo đuổi kiếm đạo, Thạch Đạt Lang luôn luôn bị ám ảnh bởi sự tận thiện tận mỹ, và những ám ảnh ấy đã làm hại đến lòng tự tin của hắn. Không lúc nào hắn không lo tự tu tự kiểm. Ngày hôm nay phải hơn ngày hôm qua, nếu không được như thế, hắn cho là mình đang xuống dốc. Mặc dầu trong những năm gần đây, từ khi rời khỏi căn thạch thất, hắn đã giao đấu với nhiều người, một số là cao thủ võ lâm, nhưng vẫn chưa tìm được ai đáng gọi là người có khí phách, một người đủ nhân, trí, dũng xứng đáng là đối thủ của hắn.

Võ lâm tuy đông đảo, nhưng sự thiếu vắng mẫu người lý tưởng làm Thạch Đạt Lang thất vọng. Đôi khi hắn chỉ còn biết tự an ủi cho là vì mình chưa đủ từng trải nên chưa gặp. Những lúc ấy, hắn lại liên tưởng đến Đại Quán, nhà sư lạ lùng đã hé mở cánh cửa thiền, chỉ cho hắn thế nào là cái tâm của người cầm kiếm. “Đời người có số mệnh. Nếu số mệnh đã run rủi ta gặp Đại Quán thì ta phải cố gắng đừng để những lời ông chỉ bảo ta không mang lại kết quả”.

Thạch Đạt Lang tự nhủ. Đại Quán là một người khác thường. Không thể bảo ông là người bất trí. Quan niệm về nhân và dũng của ông cũng khác lạ. Nghĩ đến đây, hắn cảm thấy đau nhói ở cổ tay và cảm giác ấy lan dần ra khắp thân thể như cơn đau hắn cảm thấy khi bị treo lủng lẳng trên cành đại bách sau chùa Tiểu Sơn dạo nào. Cảm giác ấy phát sinh hoàn toàn trong cõi vô thức, hắn dùng ý chí dẹp đi và tự nhủ sau này sẽ tìm cách lừa và bắt Đại Quán trói vào cây đại bách như ông đã trói mình khi trước. Nghĩ như vậy, tuyệt nhiên hắn không có ý gì muốn trả thù, có lẽ chỉ muốn giải tỏa những ẩn ức. Nhưng ý nghĩ ấy khiến Thạch Đạt Lang mỉm cười. Đại Quán chắc không tức giận đâu, có lẽ ông chỉ mỉm cười mà nói:

“Đồ ngu. Cũng tiến bộ đôi chút đấy, nhưng làm thế để làm gì hở thằng ngốc ?.

Thạch Đạt Lang lạc trong những ý nghĩ mung lung ấy. Trong những lúc suy tư khắc khoải hoặc nghi ngờ khả năng của chính mình, hắn thường lên núi cao sống cảnh cô đơn tịch mịch giữa thiên nhiên. Hắn sống ra sao, chỉ có cây rừng, đá núi và hắn biết.

Lúc trở về, má hắn hõm, mặt hắn sạm đen, tóc cứng như rễ tre, quần áo lôi thôi lem luốc, nhưng mắt hắn sáng hơn, tựa như những hòn than hồng trong lò sẵn sàng tung ánh lửa ra xung quanh, thiêu đốt. Bấy giờ hắn không khác gì một con thú với sức mạnh vô biên, hung hãn, chỉ có hắn mới chế ngự được. Hắn ra đi, đông tây nam bắc, bất kỳ chỗ nào nghe nói có những quái nhân hay kiếm khách hơn người là hắn cũng tìm đến cho bằng được. Để tự chứng minh tài năng. Để củng cố lòng tự tin gần như ngạo mạn. Và cũng vì thế mà hắn có mặt tại sơn đạo ngày hôm nay.

Còn nửa tháng nữa mới đến tiết thượng nguyên, Thạch Đạt Lang không dằn lòng được khi nghe người ta nói đến Chu Kế Phong Tất Đạt nên nhất quyết đến vùng núi này tìm con chim lạ ấy:

Tất Đạt, một con người khí phách hay chỉ là giá áo túi cơm như muôn ngàn giá áo túi cơm khác hắn đã gặp trên bước đường hành hiệp ?

Thạch Đạt Lang và gã mã phu đến xóm Ujii thì trời đã khuya. Hắn cảm ơn, trả công xong, định vào trong xóm thì người mã phu giữ lại, rụt rè hỏi:

- Khách quan đến nhà ai ?

- Chu Kế Phong.

- Bây giờ khuya rồi, từ đây về đến trấn cũng hết đêm. Khách quan cho tiểu nhân theo được không ? Tiểu nhân ngủ ngoài hiên, tìm cái gì cho ngựa ăn, rồi sáng mai kiếm mối trở lại trấn, cũng được thêm chút tiền.

Nhìn gã mã phu, Thạch Đạt Lang thương hại. Thân thể gã gầy yếu, chiếc áo chẽn với sợi giây thừng thắt ngang lưng đã sờn rách, đôi dép cỏ mòn vẹt gót. Đêm nay lạnh, có thể có tuyết rơi, đi tắt đường nào thì cũng không về đến Kuwana trước khi trời sáng.

Hắn gật đầu:

- Vậy theo ta. Nếu không tìm được nhà Chu Kế Phong thì mình tìm chỗ khác !

Chu Kế Phong mở một lò rèn. Giá trời chưa tối, hỏi thăm quanh đấy chắc họ chỉ đường cho ngay, nhưng khuya khoắt thế này bất tiện quá. Trong thôn yên lặng, ngoài tiếng chày gỗ đập thình thịch đều đều, không còn nghe tiếng gì khác.Thạch Đạt Lang đồ chừng có người còn giã gạo hay đậu gì đó, bèn cùng với người mã phu theo hướng tiếng chày mà đi tới. Một lúc sau thấy lập lòe ánh sáng qua lùm cây, rồi cả hai đến trước một căn nhà ngoài hiên than củi xếp ngổn ngang và lù lù một đống sắt vụn. Cánh cửa hé mở, ánh sáng vàng vọt của bếp lửa đặt giữa nhà bập bùng vẽ lên vách lem nhem mồ hóng những hình thù cổ quái đang nhảy múa. Trước bếp lửa, một người đàn bà ngồi xoay lưng ra ngoài, tay áo xắn cao, đang dùng một cái chày gỗ ra sức đập vào mớ quần áo để trên phiến đá.

Thì ra họ đã đến đúng cửa hàng lò rèn của Chu Kế Phong. Gã mã phu đẩy cửa bước vào. Người đàn bà giật mình kêu lên một tiếng ngắn.

- Chào bác. Trong này ấm quá nhỉ, bác cho sưởi nhờ chút.

- Ngươi là ai ? Hỏi gì ?

Gã mã phu đến ngồi xổm bên bếp, xòe hai tay ra đưa đi đưa lại trên ngọn lửa:

- Tôi là mã phu ở trấn dưới. Có khách quan đây muốn gặp bác Tất Đạt.

Người đàn bà quay ra, vừa lúc Thạch Đạt Lang bước vào. Nhìn y phục và dáng khập khiễng của hắn, thiếu phụ hơi cau mặt, giọng hách dịch:

- Đóng cửa lại ! Gió lùa làm thằng bé cảm bây giờ !

Thạch Đạt Lang lùi lại khép cửa rồi ra ngồi trên khúc gỗ cạnh vách. Phòng trong có tiếng động, thiếu phụ bỏ đống quần áo đang giặt, chạy vội vào. Thạch Đạt Lang nhìn theo thấy bà ta lật chăn, bế một đứa trẻ nhỏ lên cho bú.

Hắn đảo mắt nhìn quanh. Căn phòng hắn ngồi có lẽ là cửa hàng vì ở góc thấy có một cái bễ bỏ không, trên vách treo la liệt những lưỡi liềm, cuốc, dao phát và một vài nông cụ lặt vặt khác. Trần nhà mồ hóng bám đen, rủ xuống lòng thòng như thạch nhũ.

Gần cửa vào phòng trong, có treo một nông cụ hình thù quái dị hắn đoán chừng là món võ khí người mã phu nói đến hồi nãy. Mắt Thạch Đạt Lang sáng lên. Hắn để ý quan sát, quả là một thứ võ khí kỳ lạ, giống như cái gậy ngắn, rất tiện giắt thắt lưng, đầu có khoen, móc sợi dây xích sắt. Cuối sợi xích là một quả đầu tròn không biết làm bằng gì nhưng trông có vẻ nặng. Tiếng người đàn bà trong phòng vọng ra.

- Chắc khách quan cũng là một trong những lãng nhân giang hồ đi khất cái để tìm thầy học võ chứ gì ! May mà trượng phu ta đi vắng chứ nếu không thì hẳn không toàn thây ra khỏi chỗ này đâu !

Người mã phu tỏ vẻ bất bình. Gã nhìn vào phòng trong rồi liếc xéo Thạch Đạt Lang thấy hắn vẫn giữ vẻ điềm tĩnh. Thiếu phụ cười hích hích ra vẻ tự mãn và bằng lòng với câu nói này lắm. Không muốn để mất lòng người đàn bà, Thạch Đạt Lang hỏi:

- Thế ra Chu gia đi vắng hả ? Đi đâu vậy ?

- Đền Arakida.

- Đền Arakida ở đâu ?

- Đến Ise mà không biết đền Arakida thì lạ thật !

Tiếng thằng bé cựa quậy và khóc. Người đàn bà ru khe khẽ:

À ơi cái ngủ mày ngủ cho say Đừng theo những trẻ quấy ngày khóc đêm Cái ngủ mày ngủ cho bền Quấy nhiều khóc lắm chỉ phiền mẹ cha ...

Tiếng ru nghe không rõ nhưng điệu ru thật quen thuộc. Nó gợi cho Thạch Đạt Lang nhớ lại những ngày tháng xa xôi thuở nào, khi hắn còn bé, bé lắm. Hắn ngồi im nhìn ngọn lửa bập bùng, lòng mềm hẳn lại, thèm khát một mái nhà êm ấm, một mối tình dịu dàng chưa bao giờ được hưởng.

Người đàn bà đặt đứa bé nằm yên, bước tới bên bếp lửa từ bao giờ và móc lên cái móc trên bếp một ấm nước rồi hỏi hai người:

- Uống trà nhá !

Thạch Đạt Lang không đáp, chỉ hất hàm về phía món võ khí treo bên cửa, hỏi thiếu phụ:

- Cái này của lệnh phu vẫn dùng đấy ư ?

- Phải ! Người đàn bà đáp với giọng hãnh diện. Trượng phu ta tự chế ra đấy.

- Ta coi một chút được không ?

- Được !

Thiếu phụ với tay tháo món võ khí trao cho Thạch Đạt Lang. Hắn nhấc thử quả cầu đúc bằng sắt to bằng quả cam thấy nặng chừng hai cân. Trong lúc giao đấu, vung cầu này lên trúng đầu địch thủ có thể làm vỡ sọ, trúng tay chân thì gãy tay gãy chân như chơi. Dọc cán cầm, có một cái rãnh và một nút bấm. Thạch Đạt Lang bấm nút, một cái lưỡi như lưỡi hái bật ra, cong cong tựa càng bọ ngựa, móc cũng được mà chém cũng được, thật là lợi hại.

- Loại võ khí này ghê gớm quá, nhưng không biết sử dụng ra sao !Hắn cầm võ khí tay trái, tay phải giữ quả cầu sắt.

Tiếng người đàn bà cười hinh hích:

- Không phải thế ! Đưa ta chỉ cho.

Thiếu phụ nắm cán võ khí, thu sợi dây xích và quả cầu vào một tay, quay mình rồi xuất kỳ bất ý tung giây xích ra đánh rẹt. Sợi dây xích móc vào cây dao phát treo trên giá, cuốn luôn cây dao giật trở lại. Trong nháy mắt, cây dao đã nằm gọn trong tay trái thiếu phụ.

Thạch Đạt Lang và gã mã phu trố mắt nhìn. Gã mã phu xuýt xoa:

- Ghê thật !

Vợ Tất Đạt treo võ khí lên vách, nói:

- Công dụng của sợi dây xích là thế. Nó dùng để đoạt kiếm địch thủ. Nếu cần, bật lưỡi hái ra cắt tay địch thủ nếu hắn không chịu buông kiếm.

Thạch Đạt Lang trân trân nhìn người đàn bà. Đối với hắn, giờ đây thiếu phụ này là một người khác. Sau thủ pháp vừa rồi, bà ta không còn là một người tầm thường, đần độn nữa.

Vợ Tất Đạt ở lứa tuổi trung niên, da ngăm ngăm đen lại lùn, bình thường kể như vào hạng xấu. Nhưng sự khéo léo và nhanh nhẹn vừa qua, cách tung quả cầu ra và thu lưỡi dao về có một cái gì linh động, uyển chuyển khác thường làm hắn ngạc nhiên như vừa được xem một điệu vũ đặc biệt. Hắn hùa theo người mã phu:

- Ghê thật !

Và trong lòng hắn nghĩ không biết Tất Đạt ra sao, kỹ thuật sử dụng võ khí của y cao đến mức nào mà vợ y lành nghề như thế ! Ý tưởng này làm hắn càng háo hức muốn gặp Tất Đạt. Lợi dụng lúc thiếu phụ vào nhà trong lấy trà, hắn hỏi nhỏ người mã phu:

- Đền Arikida là đền gì, ở đâu ?

- Đó là đền xử nữ, thờ thần Thái Dương, ở cách đây mấy dãy núi. Dòng họ Arikida trông nom đền, trồng trọt lấy thóc lúa và hoa quả dùng vào việc cúng lễ.

- Vậy ta tìm Tất Đạt chắc cũng không khó.

Họ uống trà đến khuya. Khi vợ Tất Đạt vào nhà trong rồi, cả hai chia phiên nhau canh bếp lửa tới sáng.

Hôm sau, Thạch Đạt Lang trở dậy sớm. Vết thương ở chân hắn sưng to. Hắn lên cơn sốt không đi bộ được nữa nên lại phải thuê ngựa cưỡi đến trấn Yamada nghỉ tạm. Ở đó có chỗ trọ tử tế và may ra có lương y chữa trị. Thạch Đạt Lang ngỏ lời với người mã phu, được gã bằng lòng ngay vì thấy ông khách lạ này cũng sòng phẳng tử tế, và nhất là ở Yamada dễ tìm được khách thuê ngựa đi ngược trở lại trấn Kuwana hơn.

Qúa trưa, Thạch Đạt Lang đến Yamada, tìm chỗ trọ, trả tiền mã phu, rồi mượn người đến đền xử nữ hỏi thăm tin tức Tất Đạt.

Yamada là một thị trấn nhỏ hẻo lánh, về mùa đông lại càng vắng vẻ. Vài chục ngôi nhà gỗ nghèo nàn bên một sơn đạo, tuyết rơi đêm trước còn phủ trắng mái nhà và lấp kín những gốc cây đổ sau trận bão vừa rồi. Quán Thạch Đạt Lang ở trọ là một trà thất đơn sơ, hắn cũng lại là người khách duy nhất trong quán. Rủi cho Thạch Đạt Lang, trấn này trước đây vẫn có tiệm thuốc, nhưng nay vì vắng khách, không còn ai ở lại hành nghề nữa. Người hắn mướn đi hỏi tin tức cũng đã về, nói không có ai tên Tất Đạt ở đền Arikida cả, Thạch Đạt Lang thất vọng, đành ngồi trong phòng chuyên tâm vào việc trị thương. Nghe nói dùng quả muồng muồng giã nhỏ đắp vào chỗ đau có thể khỏi, hắn cũng làm theo. Mùi muồng muồng xông lên hắc và ngái khiến hắn buồn nôn và hối hận đã rẽ vào vùng này mà chẳng được việc gì. Chỉ còn vài ngày nữa hết năm, Thạch Đạt Lang đã viết thư gửi đi, hẹn tiết Nguyên tiêu trở lại Kyoto gặp Hoa Sơn phái, không lẽ bây giờ hủy bỏ cuộc gặp gỡ ấy chỉ vì cái chân đau. Lại còn việc hội ngộ với Mãn Hà Chí ở đại kiều đường Gojo nữa. Suy đi tính lại, việc quan trọng nhất bây giờ là phải làm sao cho vết thương ở chân được lành đã rồi rời nơi này ngay để đi Kyoto thì mới kịp.

Đêm ấy Thạch Đạt Lang sốt nặng. Chủ quán đến săn sóc cho hắn, lột bỏ lớp đậu muồng muồng đi và rửa sạch chỗ chân đau, buộc lại cẩn thận. Sáng hôm sau cơn sốt lui nhưng vẫn còn sưng và đau lắm. Hắn có cảm tưởng như đeo một cục chì. Trong đời, Thạch Đạt Lang chưa bao giờ bị bệnh nặng đến phải nằm liệt giường ba ngày liền, ngoại trừ một lần, lúc còn nhỏ bị cái nhọt trên đỉnh đầu.

“Bệnh hoạn thật là một kẻ thù đáng sợ mà ta không làm gì được ! Kẻ thù bên ngoài còn dễ đối phó, chứ kẻ thù từ trong ra, nó ăn ruỗng cơ thể và tâm hồn mình lúc nào không hay, khó mà lường nổi”. Nhưng nghĩ như thế, hắn lại thấy tâm thần khích động cho đó là một thách đố. Hắn tung chăn ngồi dậy, lẩm bẩm:

“Một vết thương nhỏ như thế này mà mình không quyết tâm khắc phục thì làm sao đương đầu với cả Hoa Sơn phái ?”.

Hắn nghiến răng chịu đau, thu chân lại ngồi theo thế kiết già, nước mắt chảy ràn rụa, tưởng ngất đi ngay trong lúc ấy. Nhưng sau một khắc tự chủ, hô hấp trở lại điều hòa, hắn thấy mắt bớt hoa, mạch máu hai bên thái dương dường như bớt đập mạnh và trong người thư thái hơn trước. Trước ý chí mãnh liệt của hắn, con quỷ đau đớn đã nhường bước, hắn nghĩ vậy. Thạch Đạt Lang nhắm mắt, hai tay để lên đùi, tập trung hết ý chí vào việc điều hòa kinh mạch, đẩy máu độc ra ngoài. Mồ hôi vã ra như tắm, hắn cảm thấy vết thương dưới chân đang nứt ra, lần vải buộc ướt nhớp nháp.

Một lúc sau dừng lại, hắn duỗi chân. Lại lần nữa sự đau đớn làm mặt hắn co rúm.

Thạch Đạt Lang thong thả cởi lần vải ngoài, quả nhiên máu mủ đã loang đầy mấy lần vải trong, ướt đẫm. Máu đen và mủ đặc vẫn tiếp tục ri rỉ chảy từ miệng vết thương ra, nhưng máu mủ chảy đến đâu, hắn thấy nhẹ người đi đến đấy. Hắn gọi người hầu lấy chậu nước, rửa sạch chỗ đau, buộc lại bằng vải mới, rồi ngồi xếp bằng nhìn ra ngoài.

Trước cửa sổ, rừng bách trải dài trên tuyết, gần đấy là đồi Mi Sơn, xế về phía đông, đồi Thạch Ấn nhô đầu khỏi hàng bách tuyết phủ trắng xóa. Giữa hai quả đồi là một ngọn núi cao, sườn dốc và trên đỉnh một tảng đá lớn nhô ra trông tựa mỏ chim. Trái núi giống con đại bàng nghiêng đầu nhìn cánh rừng trước mặt. Thạch Đạt Lang càng nhìn càng thấy giống, không ngờ chính ngọn núi ấy mang tên Đại Bàng sơn, một tên do dân địa phương đặt cho không biết tự bao giờ.

Trông ngọn núi ngạo nghễ, hắn nghĩ đến Trúc Mộ tiên sinh, từ trên mây nhìn xuống, chế giễu sự yếu đuối, vô dụng của hắn. Thạch Đạt Lang nóng nảy muốn đi ngay, làm một cái gì, không phải vì hiếu thắng mà vì muốn chứng tỏ với chính mình sự quyết tâm và ý chí khắc phục trở ngại. Nhu cầu ấy cấp thiết, từ trong cõi sâu kín nhất của tâm thức thôi thúc, không cho hắn trì hoãn, mặc dầu cơ thể hắn đang trải qua cơn đau đớn ê chề. Hắn gọi chủ quán đến tính tiền, gói cho một ít lương khô để ngày hôm sau đi sớm.

Hôm sau, mới đầu giờ mão, Thạch Đạt Lang đã trên đường dẫn đến đền Arikida.

Mỗi bước chân đi là một khó nhọc vô cùng, cơn đau dày vò làm hắn có cảm tưởng như chân sắp rời ra từng mảnh. Thạch Đạt Lang biết rõ chuyện đó từ khi rời khỏi quán, nhưng hắn nghiến răng mà đi vì đây là một thử thách. Lội qua nước suối lạnh buốt, sang đến bờ bên kia thuộc địa phận đền Arikida, hắn gục xuống bên gốc cổ tùng rễ nổi cao trên mặt đất. Không khí trong lành, phong cảnh tịch mịch quanh ngôi đền và từ xa, xa lắm mơ hồ vẳng lại tiếng sáo theo một điệu nhạc cổ làm hắn thiếp đi. Trong giấc mơ, dướng như hắn nghe tiếng chim hót và cả tiếng nghẹn ngào đứt quãng của những thiếu nữ hát đệm trong những buổi tế lễ xưa.

Thạch Đạt Lang tỉnh dậy, nắng đã chan hòa đổ trên các mảng tuyết chưa tan. Hắn chỏi mắt, lấy tay sửa lại chiếc nón rồi men theo bờ suối đi ngược lên, khó nhọc trèo qua những tảng đá rêu phủ trơn trượt. Được một quãng thấy bức tường đất chắn ngang, chỉ còn để lại một lối đi nhỏ, và gần đấy có cửa khép kín, Thạch Đạt Lang tháo kiếm và hành trang dựa cửa ngồi nghỉ. Hắn lấy lương khô ra ăn, múc nước suối uống rồi ngồi trên bờ suối cởi vết thương ra xem. Vết thương tuy còn đau nhưng đã đỡ nhiều, không sưng tấy lên như trước. Thò chân xuống nước lạnh, hắn lại thấy dễ chịu, nên nghĩ sao, cởi luôn quần áo nhảy xuống tắm. Hắn vùng vẫy, ngụp lặn dưới nước, tưởng như muốn để cho dòng nước trong sạch này rửa hết mọi nhơ bẩn của tâm hồn và thân thể cho hắn được thanh khiết hơn.

Nghe tiếng chim véo von, hắn cũng hòa theo mà ca hát. Giá có ai đi qua nhìn Thạch Đạt Lang tắm vào lúc này tất cho hắn là một thằng điên, vì hỗn hào bị thần linh quở phạt như trước đây đã phạt hóa điên một tên thợ săn vào bắn trộm chim trong đền.

Đối với Thạch Đạt Lang, sự tắm nước lạnh và dự định trèo lên đỉnh Đại Bàng sơn ngày hôm nay có một ý nghĩa đặc biệt. Cuộc giao đấu với Hoa Sơn phái là cuộc giao đấu sinh tử. Hắn không sợ chết, cũng không muốn chết anh hùng. Hắn muốn thắng một cách anh hùng nên hắn phải chuẩn bị. Để có một ý chí vững chắc như sắt đá. Để có một lòng tự tin không gì lay chuyển.

So sánh với Trúc Mộ tiên sinh, Ngộ Không lão tăng và Đại Quán thiền sư, rõ ràng hắn còn yếu đuối, chưa đủ trưởng thành để biết phải làm gì và làm vào lúc nào. Cho nên hắn phải học cái dũng của họ, cái dũng của kẻ chiến thắng bản thân trước khi chiến thắng ngoại vật.

Thạch Đạt Lang bơi sang bên kia suối, chui qua ngọn thác nhỏ, nước đổ xuống như trăm ngàn lưỡi dao bén chém vào da thịt. Da hắn đỏ au. Dưới chân hắn là vực sâu, bên kia, ngọn Đại Bàng sơn lừng lững đè lên hắn. Thạch Đạt Lang đã quyết tâm chưa, đủ nghị lực chưa ? Bây giờ là lúc quyết định. Hắn hét to, vang động cả sơn cốc:

- Ta sẽ thắng !

Tiếng vọng từ khắp các vách đá dội lại, thôi thúc, cổ võ:

- Ta sẽ thắng ! Ta sẽ th ... ắng ! Ta sẽ th ... ắng ...

Nắm một dây leo dài, Thạch Đạt Lang đánh đu xuống vực rồi chuyền cành nọ sang cành kia, chẳng mấy chốc đã đứng dưới chân núi. Nhìn hắn trần truồng leo qua những cành cây, bám vào ghềnh đá mới thấy sự táo bạo vô biên của hắn. Chỉ một cái xẩy tay hay trượt chân là tan xác. Không khác một người tiền sử ra sức chế ngự thiên nhiên để tìm sự sống. Gió núi thổi ào ào, tai hắn ù đi. Mỗi lần bám vào vách đá cao để leo lên, hắn lại gọi tên người hắn muốn tranh thắng. Này Đại Quán này ! Này Ngộ Không này ! Này Trúc Mộ này ! Hắn trèo. Hắn đạp. Hắn bấu. Chỉ còn vài trượng nữa là tới đỉnh. Da hắn gai cào sứt đến rướm máu. Một chút cố gắng nữa ! Một chút nữa thôi !

Nói thì dễ nhưng làm thật khó. Chút cố gắng ấy chính là để phân định sự khác biệt giữa lưỡi gươm chiến thắng và lưỡi gươm chiến bại.

Thạch Đạt Lang và trái núi bây giờ là một, nhưng trái núi ngạc nhiên và không muốn người ta làm rộn nên thỉnh thoảng lại đổi xuống rào rào sỏi với đá, không kiên trì bám vào những bụi cây mọc chồi ra, có lẽ đã bị kéo văng xuống vực rồi !

Đột nhiên, trong một cố gắng phi thường, Thạch Đạt Lang rướn mình đi lên bám vào một phiến đá. Hắn nằm sấp trên phiến đá ấy, trông ra bốn bề không có gì ngăn cản, chỉ thấy trời xanh biếc. Bên dưới, mây nhẹ như khói bao phủ cả một vùng.

- Thắng rồi ! Ta thắng rồi !

Hắn đã lên tới đỉnh, bao nhiêu sức lực như sợi dây cung căng quá độ đứt phựt, bỏ hắn. Thạch Đạt Lang thở hắt ra, nhắm mắt, bất tỉnh.

Khi tỉnh dậy, hắn nhìn xuống chân. Máu mủ ở vết thương tuôn ra, Thạch Đạt Lang tưởng như đang kéo trôi tất cả những nhu nhược và mặc cảm của hắn. Trong cái thanh khiết chốn cao sơn dường như có mùi tinh lực con người, mùi dịu ngọt của phiền não đang tiêu tán.

Chương 27: Phù du trước gió

Buổi kinh sớm vừa xong, toán lễ sinh ôm sách theo nhau đến học quán. Họ toàn là xử nữ được tuyển dụng vào đền Arikida phụ giúp việc tế lễ và ca múa nên ngoài phần vụ hàng ngày, còn phải học thêm cổ thi và nhạc lý. Trong những buổi lễ chính thức, toán thiếu nữ lễ sinh vận đồng phục áo trắng, quần lụa ống rộng màu huyết dụ gọi là hakama, nhưng ngày thường, đồng phục của họ là kimono ngắn tay và hakama bằng vải trắng.

Đền Arikida ở biệt lập một khu trên ngọn đồi cao, kiến trúc đơn sơ nhưng cổ kính, trong một khung cảnh u tịch. Đền ở xa các sơn đạo nên ít khách vãng lai. Nếu có ai muốn đến chiêm bái thì phải gọi cổng, thủ đền đích thân ra hướng dẫn vào đại sảnh.

Quanh đền lũy đất đắp cao quá đầu người, chỉ để một cửa nhỏ thông ra suối.

Hôm ấy, phụ trách việc quẩy nước vào đền là hai thiếu nữ lễ sinh tuổi chừng đôi tám. Cả hai mang gàu tre từ nhà bếp đi ra chuyện trò ríu rít, bước chân ngắn và mau vẽ thành những vệt dài trên cỏ ướt.

Đến cổng sau, vừa mở cửa, nàng nhỏ tuổi nhất giật mình lùi lại đưa tay lên miệng giữ tiếng kêu khẽ. Vì cái túi vải không biết của ai để đó từ bao giờ, theo đà cửa mở, lăn vào trong thềm đá.

- Mô Phật !

Cả hai nhìn chiếc túi vải chằm chằm. Túi bằng vải khô màu chàm đã bạc vì mưa nắng, miệng sờn rách, đổ nghiêng đè lên một thanh kiếm gỗ, vỏ đen bóng như mun.

- Túi này của ai ?

Hai thiếu nữ phân vân nhìn nhau. Cô lớn lẩm bẩm:

- Đồ ăn trộm. Chắc đồ ăn trộm rồi ! Kẻ nào đem vào đây giấu ...

Không ai bảo ai, họ thò đầu ra ngoài cổng nháo nhác nhìn quanh rồi bỗng nhiên ù té chạy về hướng bếp. Đến dãy nhà gỗ dùng làm phòng vãng lai cho khách, họ tranh nhau gọi:

- Cô nương ! Cô nương ! Ngoài cổng sau có vật gì lạ lắm !

Oa Tử bỏ dở quyển kinh đang chép, đặt vội xuống bàn chạy ra.

- Có cái túi vải của ai để ngoài cổng. Bọn tiểu nữ chắc là đồ ăn trộm.

- Sao không đem vào đưa cho lão quản ?

- Không biết bên trong đựng gì. Bọn tiểu nữ sợ lắm !

Oa Tử tò mò, định cùng ra cổng sau với hai thiếu nữ, nhưng thấy họ lộ vẻ hoảng hốt quá nên thôi. Nàng ân cần bảo:

- Vậy để ta coi. Các em vào làm việc khác đi vậy !

Nhìn chiếc túi vải nằm chơ vơ bên cánh cổng khép hờ, Oa Tử có cảm giác kỳ lạ.

Chiếc túi cũng cô đơn như nàng, cũng phiêu bạc như nàng. Chủ nó là ai, ở đâu, nàng không biết, nhưng trông cái màu chàm đã bạc, cái miệng túi đã sờn, nàng đoán chắc người mang nó cũng phong sương lắm. Oa Tử cúi xuống lấy tay nhấc thử thấy nặng quá, bèn dùng cây gươm móc vào miệng túi mà kéo lê trên cỏ.

“Nặng thế này mà cũng đeo được !”. Thế rồi động lòng trắc ẩn, nàng lại thương kẻ vô danh.

Đã hơn hai tháng nay, Oa Tử và Giang đến tá túc ở ngôi đền này sau khi lang bạt trên khắp các ngả đường đi tìm Thạch Đạt Lang. Bấy giờ là mùa đông, nhiều sơn đạo tuyết phủ kín, sức nàng yếu đuối chắc không thể nào tiếp tục được. Nhân một buổi trọ tại lữ quán kia, nàng đem sáo ra thổi cho vơi niềm u uẩn thì được một khách quan chú ý.

Không ngờ khách lại là một người có chức vị trong đền Arikida, mời nàng về dạy nhạc cho các xử nữ. Ở hoàn cảnh tứ cố vô thân như nàng bấy giờ, thôi thì đâu cũng là nhà, khác gì cánh phù du mùa đông mặc cho gió đưa đẩy. Nàng gật đầu ưng thuận.

Thế là Oa Tử và Giang được vị khách quan kia dẫn về đền. Chỉ phiền một nỗi Giang lại là con trai, mặc dầu còn nhỏ tuổi, nhưng theo luật lệ không được phép ở cùng một khuôn viên với các xử nữ. Vì thế người tá điền giao cho nó việc phụ giúp lão làm vườn và buổi tối cùng ngủ chung trong vựa củi với lão.

Thời gian trôi qua, Oa Tử càng ngày càng yêu cảnh u tịch của ngôi đền. Thông reo gió sớm, giọng chim lảnh lót lúc ban mai, và những buổi chiều tà, tiếng vạc kêu sương gợi cho nàng biết bao hoài cảm. Có những lúc ngồi lặng trước cảnh yên tĩnh của thiên nhiên, Oa Tử ngơ ngẩn xuất thần mặc cho hồn phiêu diêu ngược dòng thời gian trở về những năm tháng cũ. Nàng tưởng như đương ngồi trên bực đá ở thềm chùa Tiểu Sơn, lòng lâng lâng không vương vấn. Những lúc ấy, Oa Tử lại đem sáo ra thổi:

thanh ba tinh khiết của tiếng trúc dâng cao, lòng nàng quyện vào những âm thanh đó mỗi lúc một say sưa làm nàng ngây ngất.

Đằng xa, một vệt khói xanh bốc lên trong khu vườn hoang. Oa Tử nhớ đến Giang, tội nghiệp thằng bé đã phải lao động cực nhọc ở cái tuổi mà trẻ con chỉ biết chơi đùa.

Chắc bây giờ nó đang nhặt cành khô và đốt lá. Nàng bắc loa tay gọi lớn:

- Gi ... ang ! Gi ... ang ơi !

Có tiếng đáp và lúc sau, Giang chạy tới. Bộ mặt đen đủi lém lỉnh của nó loang loáng dưới ánh nắng qua khe những cành cây trong vườn. Giang lấy tay quệt mồ hôi trán, toét miệng cười:

- Ngỡ là ai. Cô nương gọi em làm gì vậy ?

Đột nhiên, Giang nhìn thấy cái túi vải Oa Tử để bên cạnh:

- Cái này của ai thế ?

Vừa hỏi, Giang vừa giơ tay định kéo cái túi, nhưng Oa Tử ngăn lại:

- Không được ! Không biết của ai. Để ta gọi người mang lên giao cho lão quán.

Không được đụng đến đấy !

Bỗng từ xa, một lễ sinh chạy tới trước mặt Oa Tử:

- Xin mời cô nương về ngay. Viện chủ muốn gặp.

- Thế à. Ta về ngay đây. Nhân thể nhờ em mang cái túi này trao cho lão quản, để hễ có ai đến hỏi thì hoàn lại cho họ.

Giang nhìn cái túi vải và thanh gươm người thiếu nữ lôi đi, mắt nó buồn và môi bậm chặt. Nắng sáng rọi qua cành thưa, vài chiếc lá khô còn sót lại rủ bóng loang lổ lên mặt Giang khiến miệng nó trông như mếu. Oa Tử nhìn Giang lo lắng hỏi:

- Chuyện gì thế em ? Em nhìn gì vậy ?

Giang lắc đầu buồn bã:

- Không ! Em trông cái túi và thanh gươm, lại nhớ đến thầy em !

Nghe Giang nói, Oa Tử không nén được xúc động, mắt đỏ hoe. Nghe lời Đại Quán, nàng đã cố quên con người ấy, nhưng hình ảnh Thạch Đạt Lang vẫn luôn luôn ám ảnh. Lời nói của thằng bé khơi dậy sự nhớ thương mãnh liệt làm Oa Tử đau khổ vô cùng.

Nàng có cảm tưởng nó như cơn đau răng, lúc bận quên đi thì thôi, nhưng hễ ai động đến thì nhức nhối. Nỗi đau nhọn sắc tựa gai đâm sâu vào vết thương chảy máu. Đại Quán chưa yêu, hay không biết yêu là gì, hiểu thế nào được tâm trạng của nàng lúc ấy. Nàng đưa tay áo lên chùi nước mắt, lầm lũi bước đi. Có lẽ nàng phải bỏ nơi này, dù gian nan đến mấy cũng chịu, chỉ cốt nhìn mặt người yêu, ghé đầu vào ngực người nàng thương nhớ. Vui buồn lẫn lộn, nước mắt lại trào ra, hình ảnh Thạch Đạt Lang nhòe nhoẹt. Như trong giấc mơ, ảo tưởng làm Oa Tử quên cả thực tại khiến hai lần Giang phải chạy đến lo ngại hỏi:

- Cô nương ! Cô nương làm sao thế ?

Mãi khi thằng bé kéo áo, ngập ngừng:

“Cô nương giận em đấy à ?”. Oa Tử mới sực tỉnh. Nàng gượng cười với thằng bé:

- Không. Ta có tâm sự buồn. Thôi em đi làm đi, ta lên xem viện chủ bảo gì, đến bữa chiều sẽ lại gặp em.

Viện chủ Arikida gọi văn phòng của ông là Văn Mặc Viện, nơi ông vừa tiếp khách, vừa hội họp và nghiên cứu cổ thư để soạn thảo văn liệu cho đền. Sát với viện là một ngôi nhà gỗ dùng làm trường học cho các lễ sinh, đồng thời cũng là nơi dạy dỗ một số các trẻ nhỏ trong mấy quận lân cận. Ông có ý dạy cho phái thiếu niên biết về cổ sử Nhật, một điều mà các nhà giáo dục thời bấy giờ cho là vô ích. Nhưng ông, ông nghĩ khác. Đa số dân chúng thường có khuynh hướng liên kết quốc gia với lịch sử các triều đại, nên chỉ giữ lòng trung với một triều đại nào đó thôi mà quên mất lòng trung với quốc gia. Hưng vong của giai cấp, họ cho là hưng vong của cả dân tộc, họ chỉ biết xả thân cho giai cấp, vì vậy cảnh tương tàn phe phái làm quốc gia suy yếu. Cho nên ông đi tìm cái gốc, dạy cho trẻ hiểu đâu là nguồn, hy vọng sau này sự tha thiết với nguồn gốc sẽ đơm hoa kết trái để dân tộc còn mãi với thời gian.

Với lòng thành khẩn, kiên trì, ông san định lại cổ thư, phả vào đó luồng sinh khí mới để phái thiếu niên dễ cảm thông với cổ nhân hơn. Ông làm việc ấy cả mười năm rồi, tuy chưa đáng gọi là có kết quả gì đặc biệt nhưng dân trong vùng đã giác ngộ:

triều đại này suy vi, triều đại kia hưng thịnh thì đó cũng chỉ là những chuyển biến của quốc gia, tỷ như những ngôi sao lúc mọc, lúc lặn, ánh sáng mờ nhạt không thể bì với ánh thái dương, tiêu biểu cho dân tộc được.

Viện chủ Arikida vừa ra khỏi phòng học thì một lễ sinh đã đến trình với ông là Oa Tử đang chờ ở viện. Ông sực nhớ ra, có vẻ bối rối:

- Ờ, ta quên khuấy đi mất đấy.

Bèn vội vã vào văn phòng. Gặp Oa Tử, ông nhã nhặn xin lỗi:

- Để cô nương phải chờ, lão phu thật đắc tội. Cô nương tới đã lâu chưa ?

- Dạ, tiện nữ cũng vừa đến. Viện chủ cho gọi có việc gì ?

- Không quan trọng lắm, nhưng có đôi chút liên quan đến cô nương. Cô nương dùng trà đã.

Vừa hay, lão quản bước vào, nói nhỏ với viện chủ điều gì. Ông nghiêm sắc mặt, khẽ gật. Quay sang Oa Tử, ông hỏi:

- Cô nương có nghe lão quản vừa nói gì với ta không ?- Dạ, tiện nữ đâu dám vô lễ.

- Một cái túi vải và thanh kiếm vừa được tìm thấy trong khuôn viên đền. Chắc không phải do khách thập phương đến chiêm bái để lại.

- Tiện nữ đã biết.

- Cô nương biết rồi ?

- Dạ ! Chính tay tiện nữ kéo vật đó từ cổng sau vào và đã nhờ một em lễ sinh mang giao cho lão quản.

Viện trưởng lặng thinh, nhìn Oa Tử, lúc sau mới nói:

- Chắc lại của một kiếm sĩ nào đó muốn chọc ghẹo người trong đền thôi.

- Viện chủ nghi có kẻ đột nhập đền xử nữ này chăng ?

- Có thể lắm. Nhân chuyện này, ta cũng muốn nói đến việc của cô nương.

- ...

- Thật là bất đắc dĩ. Cô nương hẳn hiểu ta không có ý gì ...

- Xin viện chủ giải thích thêm, tiện nữ quả không biết rõ.

Viện chủ Arikida thở dài, vẻ bối rối ra mặt:

- Chuyện không quan hệ, nhưng không nói thẳng để cô nương biết thì không được.

Nhiều người xầm xì về việc ta để cô nương ở trong đền cùng với các xử nữ. Cô nương biết đấy, vì tiếng tăm của viện ...

- Thưa viện chủ, tiện nữ đã làm gì ...

- Không ! Không ! Cô nương đừng giận. Ta không trách, trái lại còn rất cảm ơn. Cô nương đã giúp rất nhiều cho viện. Nhưng ... nhưng ... Ông bối rối gãi râu ... Cô nương đã từng trải, trên bước đường lịch lãm, hẳn không tránh được việc gặp gỡ phái nam. Cô nương tha thứ cho, hoàn cảnh cô nương không hợp với tiêu chuẩn của bản viện, nên có điều ...

Mặc dầu viện chủ đã rào trước đón sau, dùng những mỹ từ để che giấu điều khó nói, Oa Tử nghe vẫn khó chịu. Nàng bực bội. Quả thật, Oa Tử đã đi nhiều nơi, làm nhiều nghề độ nhật, lại luôn luôn mang hình bóng một người đàn ông trong tim, nhưng thật nàng vẫn còn là xử nữ. Bông hoa trên suối, theo dòng nước cuốn đi, ai biết đâu vẫn còn phong nhụy !

Hai hàng nước mắt trào ra, vừa thương phận mình, vừa giận người, Oa Tử cảm thấy tắc nghẽn ở cổ họng.

Viện chủ Arikida còn nói nhiều, nhưng nàng có nghe gì đâu. Nàng cũng chẳng muốn trần tình, chỉ ghê cho miệng lưỡi thiên hạ. Thôi thế cũng xong, lòng nàng tuy lưu luyến nơi này nhưng sự ra đi chẳng phải do nàng đề nghị. Phù du đâu quản gió đông, một lần nữa lưu lạc, biết đâu may mắn chẳng gặp người nàng mong ước ?

- Tiện nữ xin đa tạ viện chủ đã cho tá túc và không dám ở lại làm phiền quý viện thêm nữa. Vậy ngay từ bây giờ, xin bái biệt, viện chủ cho tiện nữ tạ lỗi để về thu xếp hành trang ....

- Ồ. Gì mà vội thế, cô nương !

Tuy nói vậy, nhưng ông vẫn đứng dậy mở tủ, lấy một ít vàng gói vào một phong bao nhỏ. Nhìn ra cửa, thấy Giang đứng lấp ló, ông vẫy tay gọi vào. Giang khép nép đến bên Oa Tử.

Viện chủ cầm phong bao đưa cho nàng:

- Có chút quà mọn, lão phu trả ơn cô nương ...

Nhưng Oa Tử từ chối. Nàng nói:

- Tiện nữ không dám. Đáng lẽ tiện nữ phải trả tiền ăn ở mới phải chứ đâu dám lấy công vài điệu sáo tầm thường ấy.

Khẩn khoản thế nào cũng không nhận. Sau viện chủ Arikida phải cười bảo:

- Cô nương bướng bỉnh quá. Thế lão phu muốn nhờ một việc, cô nương có chịu làm cho chăng ?

- Viện chủ cứ dậy, tiện nữ đâu dám từ chối.

- Làm việc này hộ lão phu cũng tốn công sức. Hay là để lão phu đưa tiền cho cháu Giang đây làm lộ phí, rồi cháu giúp lão phu. Cô nương chỉ giám sát thôi cũng đủ.

Nói xong, ông đưa phong bao cho Giang. Thằng bé giơ tay ra nhận liền, nhưng nghĩ sao, lại để xuống bàn quay lại hỏi Oa Tử:

- Em lấy nhé ?

Dáng điệu của nó khiến mọi người mỉm cười. Trước sự đã rồi, Oa Tử đành gật đầu và cảm ơn lão viện chủ.

- Điều lão phu muốn nhờ là xin cô nương cho phép cháu bé mang vật này đến biếu ngài Tả Xuyên Hầu Lưu Cát ở Kyoto.Ông với tay lên kệ lấy cái ống tre, rút ra một cuốn giấy trải trên bàn. Thì ra là một bức thủy thái họa khá lớn:

- Hai năm trước, ngài Tả Xuyên Hầu có cậy lão phu vẽ cho một bức tranh, ngài sẽ đề thơ bình chú để dâng lên hoàng thượng. Vì vậy lão phu không muốn giao cho bất cứ ai sợ tranh bị hư rách. Cậy đến cô nương xin hết lòng cẩn trọng cho.

Viện chủ giở dần bức tranh. Tranh họa một cảnh triều đình cổ. Vì lời bình chú chưa đề, nên Oa Tử không rõ đời nào, nhưng nhìn những nét thanh nhã và các chi tiết được ghi lại rất trung thực và chính xác, nàng thấy tác giả có óc nhận xét thật tinh tế.

Nó có vẻ đẹp riêng, tuy nhiên so với lối họa của Trúc Mộ tiên sinh, nàng cho nét bút của viện chủ kém phần phóng khoáng.

- Cô nương ! Cô nương ! Lửa này vẽ đẹp quá, trông bập bùng như thật !

Giang vừa khen vừa toan giơ tay sờ vào chỗ vẽ.

- Giang ! Không được mó vào ! Xem thôi, sờ vào hư mất !

Trong khi mọi người mãi mê xem tranh, một gia nhân đến gần viện chủ ghé tai nói thầm. Viện chủ gật đầu, đáp lại:

- Thôi thế cũng được. Nếu người ta đã xác nhận được túi và gươm là của người ta thì trao cho họ cũng không hề gì. Nhưng giá bảo họ biên nhận thì hơn.

oo Nghe tin Oa Tử ra đi, toán lễ sinh trong viện xôn xao hẳn lên. Mấy tháng nay Oa Tử dạy sáo và nhạc cho họ, họ rất thích thú và quý trọng. Nàng luôn luôn như người chị cả tài hoa, không những từng trải việc đời mà còn khéo léo tế nhị, hướng dẫn họ trong mọi việc và cách cư xử hàng ngày. Đôi khi có sự bất hòa, nàng đứng ra dàn xếp, mọi người đều vừa lòng và hoan hỉ.

Tan giờ học, bọn lễ sinh kéo nhau đến phòng Oa Tử, ríu rít hỏi thăm:

- Cô nương đi thật đấy à ?

- Cô nương có trở lại không ?

- Sao cô nương lại bỏ đi. Chúng em nhớ lắm. Biết bao giờ mới lại có thầy dạy nhạc được như cô nương.

Nhiều thiếu nữ lộ vẻ rầu rĩ vì phải xa Oa Tử. Họ đến ôm nàng, cầm tay bịn rịn. Vài người giúp Oa Tử thu xếp hành trang. Hành trang nào có gì đâu, mấy bộ quần áo, gương lược linh tinh thu gọn vào vừa một gói Oa Tử đeo trên lưng. Cuộc đời lưu lạc sông hồ, mang nhiều theo càng thêm bận. Đối với Oa Tử, buổi ra đi hôm nay sao lạ kỳ, nàng phân vân vui buồn lẫn lộn. Một cảm giác vừa như lưu luyến vừa như được giải thoát đến xâm chiếm tâm hồn, Oa Tử thở dài nghĩ thầm:

“Sự thay đổi nào mà không nhiều sầu muộn ?”.

Cả đoàn lễ sinh theo Oa Tử ra khỏi phòng. Mắt mọi người đỏ hoe, vài thiếu nữ không cầm được xúc động, sụt sịt khóc.

Oa Tử cố lấy giọng bình tĩnh, khuyên giải:

- Thôi thì chẳng nên buồn phiền. Ở đời, ly biệt là sự thường. Có hợp thì có tan. Rồi một ngày ta sẽ gặp lại các em. Hãy bảo trọng lấy thân và trau dồi tài đức ...

Nàng nói mà trong lòng áy náy vì dư biết lần này ra đi là vĩnh biệt. Làm gì còn có cơ hội nào trở lại đây nữa.

Một lễ sinh đề nghị tất cả cùng đi tiễn Oa Tử ra tận chân cầu Isuzu. Gió đông thổi se sắt luồn vào tay áo ngắn, các nàng cảm thấy lạnh, nép vào nhau run rẩy.

Bước xuống thềm, Oa Tử đưa mắt nhìn Giang, đã thấy thằng bé ngồi chờ ở đó từ lúc nào. Nó trả lại đền bộ đồng phục trắng, mặc chiếc kimono ngắn cũ trước kia, vai đeo thanh kiếm gỗ dài cùng chiếc ống tre viện chủ giao cho nó mang đi. Trong túi vải nhỏ bên sườn còn chiếc mặt nạ và bộ áo để thay đổi.

Thấy Oa Tử, Giang phụng phịu:

- Sao cô nương lâu thế ?

Oa Tử cười, hỏi lại:

- Thế em làm gì trong lúc chờ ta ?

- Chả làm gì cả. Em ngắm cảnh đồi. À, em thấy một người trông giống thầy em lắm, đi về phía chân núi.

- Trời ! Em thấy Thạch Đạt Lang sao ?

- Giống thôi, nhưng nhìn kỹ có lẽ không phải vì ông này đi khập khiễng.

Oa Tử thở dài, im lặng. Trong cuộc hành trình cùng với Giang, sự nhầm lẫn như vậy xảy ra rất thường:

khi thì người mang gươm cưỡi ngựa trên quan lộ, lãng nhân đội nón nan bên cửa lữ điếm, khi thì kiếm sĩ vừa bước xuống đò ... hai cô cháu trông ai cũng thấy Thạch Đạt Lang, đến gần mới biết là không phải. Hy vọng lóe lên rồi vụt tắt, chuyện xảy ra có lẽ đến hàng chục lần, bây giờ Oa Tử không còn hồi hộp cuống quýt nữa. Nàng chỉ yên lặng an phận. Và thở dài.

Giang lon ton đi trước. Một thiếu nữ hỏi nhỏ Oa Tử:

- Em bé là con cô nương đấy à ?

Oa Tử ngạc nhiên nhìn thiếu nữ. Đột nhiên nàng hiểu, hơi đỏ mặt:

- Sang năm ta mới hăm mốt, làm sao có con lớn như vậy được !

- Thế mà người ta cứ đồn ...

Oa Tử nhớ lại những lời viện chủ nói, nhưng nàng tự trấn an ngay, nghĩ rằng Thạch Đạt Lang chắc chẳng tin những lời dèm pha đồn đại ấy.

Đến cuối vườn, Oa Tử rẽ vào phía miếu thờ Đức Thái Dương thần nữ.

- Cô nương lầm đường rồi. Ra cổng phía này kia mà !

- Không, ta muốn vào lễ Đức Bà.

Đến trước cửa miếu, nàng chắp tay kính cẩn đọc một bài kinh ngắn và cúi đầu lâm râm cầu nguyện.

Đi một quãng, không thấy Oa Tử, Giang quay trở lại. Thấy nàng ở trước cửa miếu, nó đứng sững nhìn. Một lễ sinh bảo nó:

- Sao em không vào lễ với cô nương ?

- Em không lễ. Việc gì em phải lễ ?

- Đây là Đức Bà thần nữ, thủy tổ và cai quản muôn loài, không phải như những thần linh khác. Vào lễ đi, Đức Bà phù hộ cho.

- Không. Em không lễ. Ngốc thế !

Cả bọn sững sờ vì thái độ cục cằn khiếm nhã của thằng bé. Oa Tử lễ xong quay ra, thấy vẻ bất bình trên mặt họ, bèn hỏi nguyên do. Nàng cau mặt mắng Giang:

- Giang hỗn lắm nhé. Nếu em không tin thì cũng phải trọng tín ngưỡng của kẻ khác chứ. Nhưng em nên lễ là phải.

- Tại sao ?

- Vì Đức Bà là thủy tổ giống nòi ta, ta phải biết ơn và tôn kính. Vả lại có phải chính em đã nói với ta lúc ở cánh đồng hoang Hannya, em cũng cầu Trời lạy Phật cho thầy em thoát nạn mà. Em lạy Đức Bà đi, Ngài sẽ phù hộ cho chóng gặp thầy.

Giang cúi đầu, một lúc sau mới nói:

- Nhưng các cô này cứ nhìn em ...

- Ừ thì chúng ta sẽ quay mặt đi. Vào lễ đi.

Giang đến vội cửa miếu, chắp tay lại mấy cái thật nhanh rồi ù té bỏ chạy, chiếc ống quyển và thanh gươm đập vào lưng nó lịch bịch.

Chương 28: Cái chong chóng

Thạch Đạt Lang ngồi yên lặng đợi đò ngang dưới mái hiên hẹp của một quán bán hải vị trông ra biển.

Ăn xong đĩa nghêu luộc mà người hắn nhờ đi mua dép cỏ vẫn chưa về, sốt ruột, hắn cởi miếng vải buộc vết thương ở chân ra. Chỗ đau đã xẹp nhiều, da xung quanh bàn chân bây giờ màu tím hồng và hơi nhăn. Không bị vướng víu khó chịu như trước, Thạch Đạt Lang đứng dậy đi ra phía ghềnh đá vốc nước rửa. Buộc lại vết thương xong, trở về quán, hắn đã thấy dép và xà-cạp mới mua để ở đó từ bao giờ, bên túi hành trang chỗ hắn ngồi cũ.

Chủ quán nướng nghêu trong bếp, trông ra nhắc:

- Bác chân sào tìm khách quan đấy. Thuyền sắp rời bến rồi.

- Ồ vậy ư ? Để ta trả tiền và ra ngay bây giờ. Hôm nay ngày mấy rồi quán chủ ?

Chủ quán cười:

- Khách quan thật là hạnh phúc. Nghe hỏi, biết ngay chẳng nợ nần ai. Hôm nay hăm bốn, sắp hết năm rồi còn gì.

- Chà ! Thế mà ta cứ tưởng muộn, hăm bảy hăm tám gì đó !

Chủ quán lắc đầu:

- Thanh niên có khác, vô tư quá !

Thạch Đạt Lang trả tiền xong, xỏ chân vào đôi dép mới, buộc vội dây xà-cạp rồi hối hả chạy ra bến. Hắn thấy dễ chịu quá, có thể đi bộ thêm được đến vài chục dặm. Từ tình trạng tàn tật bỗng nhiên trở thành khỏe mạnh, hắn yêu đời hẳn lên. Nhất là sự thành công của hắn trên đỉnh Đại Bàng sơn ngày hôm qua khiến hắn vô cùng tin tưởng vào ý chí mãnh liệt hắn có. Thạch Đạt Lang hít mạnh một hơi dài:

không khí dường như nhẹ và thơm hơn, những bước chân trên cát của hắn vững vàng như những bước chân con tuấn mã.

Đò đã đầy người nhưng bác chân sào vẫn cố xếp cho hắn một chỗ ngồi gần mũi.

Biển lặng. Mặt nước trong xanh phẳng lỳ tựa tấm gương soi phản chiếu vài cụm mây lờ lững. Thạch Đạt Lang nhìn về phía bến:

dẫy quán ven bờ, ngôi chợ cũ khuất dần trong tàn trắc xanh đen và xa xa là sơn đạo đi Matsuzaka, ngoằn ngoèo giữa những đám tuyết trắng chưa tan. Giá có thì giờ, có lẽ hắn cũng đi gặp Trúc Tử Hãn ở Matsuzaka, nhưng bây giờ thì muộn mất rồi. Hắn cần phải về Kyoto trước tết nguyên tiêu, nên tự hẹn sẽ tìm gặp vị kiếm sỹ này vào một dịp khác.

Vừa từ trên thuyền bước xuống, Thạch Đạt Lang chú ý tới ngay một gã đàn ông trung niên đi trước, lưng giắt đoản côn, ngang hông đeo kiếm bao bằng da trâu. Gã trạc độ bốn mươi bốn hai, mày rậm, mắt lồi, mặt lại rỗ chằng chịt. Mớ tóc đỏ quạch buộc ngược về phía sau thành một túm, dáng điệu dữ dằn. Nếu không có thằng bé trạc độ trên mười tuổi vác túi đồ nghề thợ rèn theo sau thì ai cũng ngỡ là kẻ cướp.

Thằng bé má còn dính vệt than và mồ hóng, chắc là thợ phụ. Chân nó ngắn, đuổi không kịp bước của thầy nên thỉnh thoảng phải chạy. Chiếc túi vải gai đeo trên lưng to gần bằng mình nó kêu lịch kịch theo bước đi. Mỗi khi chạy, nó phải lấy tay đỡ túi cho khỏi va vào lưng. Đột nhiên thằng bé khựng lại la hoảng:

- Ý ! Thầy đợi con với. Con quên cái búa rồi !

Thạch Đạt Lang phì cười. Nhưng gã đàn ông quay lại trừng mắt:

- Thật hay bỡn ?

- Dạ thật ! Con để quên trên thuyền.

- Hà ! Bây giờ mày lại quên cả đồ nghề độ nhật nữa. Muốn sống đi lấy ngay ! Bận sau mà quên nữa thì chết với ông !

Đứa bé líu ríu vâng lời, cắm cổ chạy.

Con đường từ bến tàu đến chợ chẳng thiếu gì quán bán các vật dụng linh tinh, nhất là đồ kỷ niệm. Thằng bé đi tìm búa quay trở lại không thấy thầy đâu, lo lắng nhìn quanh. Khi thấy gã đàn ông trong tiệm bán đồ chơi bước ra, tay cầm cái chong chóng bằng giấy sặc sỡ, mắt nó sáng lên vui sướng.

- Hứa Hoành !

Nghe gọi, thằng bé chạy vội lại.

- Mang cái này cho ta ! Có tìm thấy búa không.

- Dạ có. Con để trong túi rồi !

- Thầy mua cho bé Hồ nhi đấy à ?

- Ừ.

Hai thầy trò gã thợ rèn đi trước Thạch Đạt Lang tuồng như dẫn đường cho hắn, vì hắn thấy hắn định rẽ phía nào thì họ cũng đã rẽ trước về phía ấy. Trông dáng điệu, y phục và những đồ nghề thằng bé mang theo, Thạch Đạt Lang đoán mười phần chắc chín gã đàn ông là Chu Kế Phong Tất Đạt, người thợ rèn xóm Ujii, nổi tiếng về ngón đòn với thứ võ khí cổ quái như cái hái do gã chế ra.

Muốn kiểm chứng và nhân thể tìm cơ hội làm quen, hắn rảo bước đến gần, niềm nở hỏi:

- Chào đại hiệp. Đại hiệp cũng đi Ujii đấy à ?

- Phải. Ngươi hỏi gì ?

- Phải chăng đại hiệp là Tất Đạt ?

- Chính thị. Thế ngươi là ai ?

- Tại hạ tên Thạch Điền Đạt Lang, đi tìm thầy học võ. Mới đây qua quý xá, có được gặp lệnh khổn ...

- Á à ! Vậy ngươi đã gặp chuyết kinh đấy. Thế ngươi có phải là khách trọ Ở Yamada không ?

- Phải Tất Đạt mỉm cười ngạo mạn:

- Có người cho biết ngươi muốn tìm ta để học vài ngón sở trường. Vô ích ! Vô ích !

Thủ pháp của ta ngươi chẳng dùng được vào việc gì đâu.

- Sao vậy ?

- Vì vừa nhìn ra thì ngươi đã thành người thiên cổ rồi ! Ta phát lạc nhanh lắm !

Gã nói xong cười ha hả. Tiếng cười vang động cả khu rừng vắng. Thạch Đạt Lang đã từng nghe vợ Chu Kế Phong thốt ra những lời như vậy, tuy lời không hẳn là thế, nhưng ý khinh miệt tương tự. Mụ vợ có vẻ hống hách, song chồng mụ xem ra còn kiêu căng hơn nhiều.

Hắn muốn dạy gã thợ rèn này một bài học ngay tại đây, nhưng nghĩ lại chẳng việc gì mà vội. Đại Quán đã cho hắn kinh nghiệm đầu tiên về cuộc đời:

đừng tưởng mình là nhất, gầm trời này thiếu gì kẻ hơn ta. Tự cao tự đại chỉ chuốc lấy những thất bại đau đớn. Trước khi thử sức với ai, hãy tìm hiểu và đánh giá kỹ địch thủ.

Nghe tiếng cười ngạo mạn của Chu Kế Phong vang động bên tai, Thạch Đạt Lang chỉ lặng thinh. Lát sau hắn mới khiêm tốn:

- Tại hạ đã hiểu. Nhưng may mắn được gặp đại hiệp ở đây, tại hạ không muốn để lỡ dịp hạnh ngộ. Chỉ xin chỉ bảo cho vài điều về thứ binh khí kỳ dị.

- Ha ha ! Vậy ra ngươi cũng đã biết đến thứ võ khí ấy của ta sao ? Ai dạy ngươi biết ?

- Lệnh khổn đã chỉ cho một chiêu ...

- Được lắm ! Ta cũng thương ngươi thật lòng cầu học. Nếu chỉ muốn nghe ta nói thôi thì về nhà, ta nói rõ cho nghe.

- Đa tạ đại hiệp. Và cũng xin cho tá túc qua đêm.

- Được ! Nhưng ngươi phải ngủ trong bếp với thằng Hứa Hoành. Nhà ta không có chỗ dư.

Trời chiều đỏ rực, cả ba đến chân núi Suzuka. Xóm Ujii hiền lành nằm ở cuối con đường nhỏ, ráng hoàng hôn nhuốm hồng các mái tranh như trong một bức cổ họa.

Hứa Hoành chạy vội về nhà báo tin trước nên khi Chu Kế Phong đến ngõ đã thấy vợ bế con nhỏ ra cửa đứng đón, tay cầm chiếc chong chóng gió thổi quay tít.

Vợ Tất Đạt vừa nựng con vừa chỉ vào chồng:

- Hồ nhi ! Bố kìa ! Bố đã về kìa !

Chu Kế Phong nhìn đứa bé, nét mặt tươi hẳn lên, vẻ thô lỗ kiêu căng biến mất. Gã bế đứa nhỏ trong tay, đong đưa rồi rúc đầu vào nách nó. Nó cười khanh khách. Chu Kế Phong cầm cái chong chóng dứ dứ trước mặt con. Nó nhoài người ra, tay quơ chân vẫy, và người mẹ cũng cười như nắc nẻ. Gã bế đứa nhỏ đi vào nha trong, vợ theo sau, để mặc cho Thạch Đạt Lang đứng một mình ở ven cổng.

Cảnh gia đình êm ấm, tiếng cười rộn rã hồn nhiên của vợ con người thợ rèn làm hắn vui lây, nhưng sao hắn cảm thấy lẫn lộn một chút gì chua xót. Hình như trong tiềm thức, hắn đã được hưởng cảnh này. Kiếp này hay tiền kiếp, hẵn cũng không biết nữa.

Thấy trong nhà gần bếp lò có lửa, Thạch Đạt Lang bỏ nón, tháo túi đeo lưng tiến đền gần ngồi sưởi. Cửa hàng vẫn thế, vẫn những nông cụ lặt vặt để trên kệ, vẫn những dây mồ hóng đen rủ lòng thòng từ trên trần xuống như thạch nhũ. Bên ngoài bóng tối phủ đầy. Ánh lửa bật bùng của khúc củi gần tàn chiếu bóng Thạch Đạt Lang rung rinh trên vách.

Chu Kế Phong tắm gội xong sắp ăn cơm mới sực nhớ đến người khách trẻ. Gã gọi vợ:

- Dọn thêm phần nữa cho khách. Ở nhà ngoài ấy, ta ra bây giờ !

Vợ Tất Đạt bưng khay rượu ra. Mụ đặt bình sa-kê lên hâm trên bếp than, liếc nhìn Thạch Đạt Lang rồi đi vào trong nhà, lầu bầu khó chịu:

- Lần trước đã tới rồi, giờ lại tới nữa.

Chu Kế Phong đến ngồi bên bếp. Bộ mặt rỗ của gã trông hiền hậu hơn, không biết vì mới tắm xong hay vì ánh lửa không soi rõ hết những vết lồi lõm. Gã hất hàm hỏi Thạch Đạt Lang:

- Uống chút rượu nhá ?

- Vâng, đại hiệp đã cho thì xin nhận.

Chu Kế Phong cầm bình rượu rót ra đĩa đưa Thạch Đạt Lang. Hắn uống một hơi cạn, mím môi lại chép chép miệng. Rượu hơi chua nhưng hắn cũng cảm thấy dễ chịu.

Máu nóng chạy râm ran trong người. Hắn vui vẻ:

- Để tại hạ rót mừng đại hiệp một lần.

- Không sao. Ta có đĩa riêng đây rồi !

Cả hai im lặng ngồi nhìn lửa và những cục than hồng trong lò. Lúc sau, Chu Kế Phong mới hỏi:

- Ngươi năm nay bao nhiêu tuổi ?

- Hăm hai.

- Quê quán ở đâu ?

- Mimasaka.Mắt Chu Kế Phong đột nhiên lộ vẻ chú ý. Gã quan sát Thạch Đạt Lang từ đầu đến chân rồi nói:

- Lúc nãy ngươi bảo tên ngươi là gì nhỉ ?

- Tại hạ là Thạch Điền Đạt Lang.

- Hừ. Thạch Điền. Họ Thạch như Thạch Kinh Tử chứ gì ?

Vừa lúc ấy vợ Tất Đạt mang thức ăn ra, một bát canh, một đĩa cá muối, một liễn cơm, mụ đặt cả vào cái khay lớn trên chiếu. Mụ nói với Thạch Đạt Lang, không khách sáo:

- Ăn đi.

Thạch Đạt Lang cúi đầu cảm ơn. Chu Kế Phong vẫn thắc mắc, nhưng gã làm bộ tự nhiên rót thêm sa-kê vào đĩa:

- Uống chút rượu nữa đã. Thế khi còn nhỏ người ta gọi tên ngươi là gì. Phải Thạch Kinh Tử không ?

- Dạ phải.

- Tên đó ngươi giữ cho đến khi mười bảy mười tám chứ gì ?

- Đúng vậy.

- Năm mười bảy, ngươi có dự trận Sekigahara cùng với một thanh niên nữa cùng trạc tuổi ngươi phải không ?

Đến đây thì Thạch Đạt Lang ngạc nhiên thật sự. Hắn chậm rãi đáp:

- Phải. Sao đại hiệp biết ?

Chu Kế Phong cười xòa:

- Ta biết nhiều chuyện vì ngày đó ta cũng dự trận Sekigahara. Thảo nào trông ngươi quen quen, có lẽ chúng ta đã gặp nhau ở trận tiền.

Bản tính trung trực, Thạch Đạt Lang tin ngay và trong lòng chớm nở một mối hảo cảm với gã thợ rèn.

- Chắc đại hiệp thuộc cánh quân của Uất Tảng ?

- Phải rồi. Ta ở gần đó nên đầu quân với các kiếm sĩ địa phương. Không may mà phe mình thua trận.

Hai người nhìn nhau, mỗi người một ý nghĩ.

- Thế người bạn đồng ngũ với ngươi bây giờ đâu ?

- Cũng không rõ vì đã lâu không gặp lại.

- Ngay từ sau trận chiến ấy sao.

- Không hẳn thế. Tại hạ với nó phải lẩn trốn một thời gian tại vùng chân núi Ibuki chờ vết thương lành thì chia tay. Về sau nó đi đâu, tại hạ không biết.

Chu Kế Phong gọi vợ lấy thêm rượu nhưng người đàn bà đã vào nằm với con ở trong phòng. Mụ nói vọng ra:

- Hết rượu rồi !

- Hết thì đi mua, ta muốn uống nữa.

- Sao bữa nay uống nhiều thế ?

- Có chuyện vui muốn uống, được không ?

- Bây giờ khuya rồi, tiệm đầu xóm đã đóng cửa, mua khó lắm.

Chu Kế Phong lộ vẻ tức giận, cao giọng gọi:

- Hứa Hoành !

Không nghe tiếng đáp. Gã gọi lần nữa, to hơn. Một lát mới thấy cửa sau mở, Hứa Hoành thò đầu ra hỏi, giọng ngái ngủ:

- Thầy gọi con ?

- Ờ, chạy đến nhà Hòa San vay bình rượu mang về đây ! Bảo nhà có khách.

Thạch Đạt Lang đã say. Hắn không uống được nhiều nên gạt đi:

- Thôi thôi, nếu vì tại hạ mà đi vay rượu thì chẳng nên.

- Không được. Phải uống với ta thêm vài bình nữa. Vả lại ta chưa cho ngươi chút biết những điều ngươi hỏi ta mà.

Hứa Hoành mang rượu về. Chu Kế Phong đặt lên bếp. Trong khi đợi rượu nóng, gã thao thao kể lại những võ công đã trải ở chốn giang hồ, không quên thêm thắt cho câu chuyện được hứng thú. Rồi rượu rót ra, gã vừa uống vừa ép Thạch Đạt Lang, thành ra tuy đã cẩn thận, đề phòng, hắn cũng không thể từ chối được.

Khi luận đến thứ võ khí cổ quái gã chế ra, Chu Kế Phong say, nói không còn gãy gọn. Tuy vậy Thạch Đạt Lang chú ý theo dõi cũng hiểu được đôi phần:

nào cách dùng quả cầu sắt ném vào mặt địch thủ, dùng dây xích đoạt võ khí, dùng lưỡi hái móc tay chân ...Lại thuật phối hợp dây xích với quả cầu làm địch hoa mắt để dễ bề giương đông kích tây cùng các yếu quyết và phương vị của chân đứng, tay ném ...

Nghe những lời Chu Kế Phong dẫn giải, Thạch Đạt Lang nghĩ thầm gã thợ rèn này cũng khá, đã cố công nghiên cứu và chắc khai triển được nhiều chiêu thức lợi hại. Người ta có hai tay, nếu lúc chiến đấu chỉ sử dụng một tay cầm kiếm thì uổng phí. Để rồ i có dịp hắn sẽ lưu tâm học thêm song kiếm.

Bình rượu mới mang về chẳng mấy chốc đã cạn. Cả hai cùng say mèm. Trong đời Thạch Đạt Lang chưa bao giờ say đến thế. Chu Kế Phong lè nhè gọi vợ:

- Này mẹ nó ! Bế con vào ngủ ở phòng trong đi. Để giường cho khách.
Vợ Tất Đạt không trả lời. Mụ nghe rõ lời chồng, song không muốn rời chỗ ấm.

Tiếng lè nhè của Chu Kế Phong lớn hơn:

- Nghe ta nói không ? Khách mệt rồi, phải để cho người ta nghỉ. Bế con vào phòng trong !

- Sau không để chú ấy ngủ ngoài đó ?

- Đừng nhiều chuyện. Ta bảo phải nghe.

Nói xong, gã chống tay đứng lên, đi vào phòng lôi vợ dậy. Tiếng gã thở khò khè.

Mụ Tất Đạt cau có buộc lại tóc trong khi gã thợ rèn bế đứa nhỏ nói vọng ra:

- Ngươi nghỉ tạm đây nghe ! Nếu khát, có sẵn ấm nước trên bếp và trà ở đầu giường ấy.

Thạch Đạt Lang ngồi bên bếp lửa, trí óc tan loãng không còn suy nghĩ gì được nữa.

Hắn với tay cầm ấm nước, rót một chén uống. Nước trà nguội ngắt, chan chát đắng làm hắn tỉnh đôi chút. Hắn nghe tiếng đàn bà văng vẳng:

- Vào trong phòng ngủ đi. Ta mang gối mới ...Trượng phu ta say chắc. Mai dậy trễ...làm bữa sáng nóng cho ăn.

Thạch Đạt Lang lẩm bẩm “cảm ơn, cảm ơn” rồi đi vào trong phòng. Hắn quên cả cởi dép. Ngồi trên chiếu, hắn mới sực nhớ ra, đưa tay tháo dép, ngả mình lên giường và kéo chăn trùm kín mặt. Hơi chăn ấm lẫn với mùi sữa thơm thoang thoảng khiến đầu óc hắn lâng lâng. Trước khi nhắm mắt, hình như Thạch Đạt Lang thoáng thấy mụ Tất Đạt thổi tắt đèn và lẩn vào trong bóng tối sập xuống dầy đặc.

Thạch Đạt Lang có cảm giác như ai đã dùng vòng sắt đánh đai vào đầu mình và siết chặt. Đầu hắn nhức vô cùng, mạch máu hai bên thái dương đập thình thịch. Muốn ngồi nhưng chân tay rời rã, hắn không còn làm chủ được những cử động của chính mình nữa. Ánh sáng từng vòng, vàng, đỏ, xanh lẫn lộn thi nhau nhảy múa trước mặt.

Giữa lằn biên giới của tỉnh thức và hôn mê ấy, Thạch Đạt Lang bỗng thấy hiện ra một thiếu phụ, hắn không nhìn rõ dung nhan, nhưng dáng đi nhẹ nhàng như những vệt sương trên sóng nước.

“À ơi ...Cái ngủ mày ngủ cho say ...”. Điệu ru quen thuộc văng vẳng bên tai đưa hắn trở về dĩ vãng:

một căn nhà gỗ nhỏ, bức tường đá rêu phong với những dây leo, rễ bám chằng chịt mang nhiều chùm hoa tím nhỏ li ti. Cạnh hàng rào, rặng cây rậm rạp cành rủ la đà, mỗi khi đêm xuống, ôm ấp bao nhiêu bí mật. Mẹ hắn bế hắn trên tay, hát ru khe khẽ. Ngọn đèn trên vách, ánh sáng không đủ chiếu khắp gian phòng, nhưng cũng cho thấy những giọt nước mắt long lanh trên gò má mẹ hắn. Mặt bà hiện ra lờ mờ trong ký ức, trắng lắm mà lại phơn phớt xanh, như màu hoa lê mới nở.

Từ phòng trong, giọng ông Mưu Ni Sai, cha hắn, vọng ra giận dữ:

“Cút đi ! Cút về nhà mày đi !”. Mẹ hắn nấc lên, áp má hắn vào mặt. Những giọt nước mắt nóng hổi chả y vào miệng hắn, mằn mặn. Hắn cũng khóc theo. Khối óc thơ ngây ấy không đoán được chuyện gì đã xảy ra trong gia đình và ngay đến bây giờ hắn vẫn không hiểu tại sao cha hắn lại đuổi mẹ hắn đi. Hắn thấy mẹ Ôm chặt mình vào lòng, chạy ra ngoài. Gió thổi ào ào bên tai làm hắn khóc to hơn. Mẹ hắn càng ôm chặt. Đến một nơi hình như là bờ sông, hắn nghe tiếng mẹ hỏi trong nức nở:

“Thạch Kinh Tử ! Con là con mẹ hay con cha?”. Mẹ hắn đặt hắn xuống ven sông, bên những hòn đá cuội. Bà lội ra giữa dòng, mặc hắn gào thét giữa bụi cỏ hoang, cạnh những đám bồ công anh hoa vàng lấm tấm. Cơn gió lạnh thổi, hắn rùng mình, mở mắt.

Thạch Đạt Lang ú ớ trong miệng, khẽ cựa mình. Thiếu phụ ấy là ai, có phải mẹ hắn không ? Hắn cố vận dụng ký ức để nhớ lại nhưng vẫn không sao mường tượng được nét mặt của bà. Qúa mệt mỏi, Thạch Đạt Lang lại thiếp đi trong bóng tối.

Bóng người thiếu phụ hiện ra lúc xa lúc gần, lãng đãng. Bà giơ tay vẫy. Ô hay ! Sao đêm nay, hắn mộng thấy mẹ hắn luôn vậy ! Hắn gọi, nhưng tiếng gọi tắc nghẹn trong cổ họng. Hắn vùng vẫy, và đột nhiên mở mắt.

Cơn say đã tan. Miệng khô đắng, Thạch Đạt Lang nằm yên nhìn lên trần. Lửa phòng ngoài tắt từ lâu, ánh than hồng hắt lên các vì kèo loang lổ mồ hóng mang một vẻ mơ hồ quái dị.

Trong cảnh tranh tối tranh sáng ấy, đột nhiên Thạch Đạt Lang chú ý đến cái chong chóng giấy cắm trên trần. Mùi da thịt, mùi sữa thơm ngòn ngọt của đứa trẻ và mẹ nó còn như quyện vào chăn gối. Chiếc chong chóng quay nhè nhẹ. Chong chóng quay thì có gì lạ vì người ta làm chong chóng để cho ...nó quay. Nhưng muốn quay phải có gió. Thạch Đạt Lang nằm yên, đoán chắc có người vừa mở cửa.

Quả nhiên, hắn nghe tiếng cửa khép nhẹ, rất nhẹ rồi những bước chân rón rén mỗi lúc một xa. Cái chong chóng thôi quay.

Trong một thoáng, Thạch Đạt Lang ý thức ngay được nguy cơ sắp xảy ra. Hắn đã hiểu tại sao vợ chồng người thợ rèn lúc đầu tỏ vẻ lãnh đạm thờ ơ, sau lại vồn vã với hắn, để hắn ngủ trong căn phòng êm ấm kín đáo như thế này. Hắn đã hiểu tại sao người chồng nhất quyết đòi mua thêm rượu và phục cho hắn uống say. Hắn tự giận mình không cảnh giác sớm để suýt nữa thì mất mạng.

Thạch Đạt Lang tỉnh rượu hẳn. Bản năng tự vệ thức dậy, hắn lắng nghe động tĩnh như một con sâu nằm dưới lá nghe thời tiết xung quanh. Hệ thần kinh bén nhạy của hắn căng thẳng cực độ. Thạch Đạt Lang tự hỏi:

Đây là đâu, ổ đạo tặc hay hắc điếm ? Gã thợ rèn này có thù gì với mình ? Soát lại ký ức, hắn chắc chắn chưa bao giờ gặp gã này. Vậy lý do gì ... Nhưng bây giờ không phải lúc tìm hiểu, suy luận. Phải phản ứng ngay, khẩn cấp lắm rồi.

Thạch Đạt Lang trườn mình xuống cuối giường, khều đôi dép xỏ vào chân, buộc quai, sửa lại chăn đắp cho ra vẻ vấn còn người nằm ngủ rồi len lén cầm thanh kiếm lẩn vào trong bóng tối dày đặc sau đống củi, than xếp hỗn độn.

Tàn nén hương, đã nghe tiếng chân người bước ngoài hiên và tiếng xì xào khe khẽ.

Cánh cửa lùa hé mở. Dưới ánh sáng lờ mờ của bếp than gần lụi, cái chong chóng quay tít.

Bên tấm màn cửa mỏng, đôi mắt trắng dã của một kẻ mặc y phục lối dạ hành ló ra, tay lăm lăm lưỡi kiếm tuốt trần. Theo sau là một người cao lênh khênh, cầm giáo. Cả hai men theo vách, đến trấn hai đầu giường. Gã thợ rèn vào sau chót, một tay cầm lưỡi hái, một tay giữ quả cầu.

Chúng đưa mắt nhìn nhau, rồi như cùng theo một mật hiệu, quát lớn:

- Thạch Kinh Tử !

Đồng thời phóng chiêu ra như chớp xẹt. Giá Thạch Đạt Lang còn nằm đó chắc trở tay không kịp mà có chết cũng chẳng toàn thây. Nhưng không một ai trông thấy phản ứng gì hết. Ba loại võ khí đã đánh vào quãng không, hay đúng ra, đã đánh vào một đống chăn gối bỏ không. Tiếng thét làm rung chuyển căn nhà gỗ chỉ đánh thức đứa nhỏ dậy làm nó khóc ré lên ở trong phòng.

Gã thợ rèn phóng cước đá tung chiếc chăn đắp. Không thấy Thạch Đạt Lang, gã chửi thề một câu tục tĩu, chạy vội ra ngoài:

- Bọn ngươi đứng đây có thấy nó trốn không ?

- Không ! Sao ! Nó trốn rồi à ?

- Còn hỏi gì nữa ? Toàn đồ ăn hại, không được việc gì hết.

- Nhưng nó trốn đi đâu ? Bọn tiểu đệ canh ở đây ngay từ khi đại ca bảo, có thấy gì đâu !

- Kia kìa, cái cửa mở hé kia kìa. Đồ ngu, ở đó chứ đâu nữa !

Chu Kế Phong giận sùi bọt mép, đi đi lại lại bên bếp lửa như con thú dữ trong cũi.

Gã cao giọng:

- Anh em lại đây ! Tất cả ! Ta nói chuyện !

Mọi người tề tựu xung quanh gã, lố nhố có đến chục tên chứ không ít. Gã thợ rèn tiếp tục:

- Thằng này nguy hiểm lắm, tên Thạch Kinh Tử. Nó khỏe vô địch. Trước đây năm năm, chém bào huynh ta là Thử Mạch một kiếm vỡ sọ trên đồi Ibuki. Mà bào huynh ta thì các ngươi đã biết, đâu phải kém cỏi gì ! Bây giờ nó trốn rồi. Chỉ có hai đường về trấn, ta phải chia ra thành hai toán, đuổi bắt bằng được. Tên này có súng - gã chỉ một người vác cây hỏa mai - dẫn đầu toàn năm người đi về hướng nam, còn lại bao nhiêu theo ta qua cầu, hướng đền Irakida. Gặp nó, bắn phát súng làm hiệu, chúng ta sẽ đến giúp sức.

Mọi người y kế thi hành, rầm rộ ra đi, đuốc thông đốt khét lẹt. Tụi này chính là tay chân của Chu Kế Phong Cố Hải, em Chu Kế Phong Thử Mạch, tên tướng cướp bị Thạch Đạt Lang giết khi hắn còn ẩn náu tại nhà Ôkô trên đồi Ibuki năm nào. Cố Hải giờ đổi tên là Tất Đạt, tuy bên ngoài làm ra vẻ làm ăn lương thiện, nhưng vẫn cùng lâu la tụ tập giết người cướp của. Khách vãng lai vô ý sa vào ổ chúng thường bị thủ tiêu, xác vất cho quạ rỉa trong rừng sâu hoặc bên khe suối.

Đêm mỗi lúc một khuya. Căn nhà gỗ tối đen, vắng lặng, đìu hiu như cảnh vật xung quanh. Gà đã hai lần gáy, vẫn chưa thấy toán nào trở lại.

Mãi sau, lâu lắm, khi sương đã xuống mờ mờ bao phủ cả vùng rừng núi, khí hậu bắt đầu lạnh buốt và các vì sao cũng run rẩy ở trên cao, mới thấy chúng lục tục kéo nhau về. Đầu tiên là toán của tên mang súng hỏa mai, sau đến Tất Đạt và đồng bọn. Chúng lẳng lặng mở cửa vào nhà, ngồi la liệt trên sàn, gây lửa cháy to thêm. Mệt nhọc và chán nản lộ trên nét mặt, Tất Đạt là người đầu tiên lên tiếng:

- Thằng nào đi lấy rượu uống chứ !

Một kẻ chạy đi. Cả bọn lại đăm đăm ngồi nhìn ngọn lửa.

- Thằng đó thật hên. Nếu ta tóm được ...

- Đại ca chắc nó là Thạch Kinh Tử không ?

- Sao lại không ? Ta đã hỏi kỹ lai lịch. Vả trông vóc dáng cao lớn và trạc tuổi thì đúng nó. Có lẽ hương hồn bào huynh ta đã run rủi cho nó tới ...

- Bây giờ đại ca tính sao ?

- Còn tính sao nữa ? Ta chỉ tiếc đã không ra tay ngay. Vì muốn ăn chắc nên gọi anh em đến giúp sức.

Chu Kế Phong rót hết chén này đến chén khác. Bình rượu lớn cạn dần. Mặt xám lại, đôi mắt lạc thần nhìn ngọn lửa như bị thôi miên, gã có vẻ muốn gục xuống chiếu.

Bọn đàn em xúm đến đơ, gã gạt tay ra, lè nhè:

- Thôi bọn ngươi về cả đi. Để mặc ta. Chưa say ...chưa say mà ...

Trời sắp sáng. Tiếng gà văng vẳng trong khe núi. Nhiều bóng người từ căn nhà lò rèn bước ra, lầm lũi tản mát trên các đường mòn trong xóm. Chu Kế Phong ngủ thiếp trên chiếu rượu, tiếng ngáy vang làm rung động cả những dây mồ hóng rủ trên trần.

Ngoài hiên, lẩn sau bóng tối của đống than, gỗ chất cao lên đến tận nóc, một cái áo vải sơn đen bỗng nhiên chuyển động. Cái áo vươn cao từng chút, từng chút, rồi khuôn mặt đen nhẻm của Thạch Đạt Lang lộ ra, đôi mắt long lanh như mắt vọ.

Thì ra Thạch Đạt Lang vẫn còn đây, chưa lúc nào rời căn nhà gỗ. Sau khi bước khỏi giường, hắn đã cẩn thận mở hé cánh cửa hông, núp ngay sau đống than ngoài hiên, dùng chiếc áo vải sơn treo ở đó ngụy trang và lắng nghe hết mọi động tĩnh trong nhà.

Êm như ru, hắn rón rén đến gần bếp. Chu Kế Phong vẫn ngáy như sấm.

Thạch Đạt Lang đứng lặng nhìn gã thợ rèn, mỉm cười thương hại. Trong cuộc gặp gỡ này, rõ ràng hắn thắng. Tuy nhiên, gã thợ rèn có một điểm đáng khen, đã vì mối thù giết anh mà ra tay. Vậy có nên giết gã không ? - Thạch Đạt Lang tự hỏi - Nếu không, có thể còn nhiều hậu hoạn. Khôn ra thì phải giết. Nhưng một câu hỏi khác lại được đặt ra:

Gã có đáng giết không ? Thạch Đạt Lang cứ phân vân mãi. Lúc sau, hắn nghĩ được một cách cho là hay nhất. Với tay lấy món võ khí quái dị treo gần đó, hắn bật nút bấm cho lưỡi bung ra, dùng giẻ bọc lại rồi đặt nó gần cổ gã thợ rèn, quả cầu một bên và lưỡi hái một bên.

Hắn giật lùi lại ngắm công trình của mình. Khi thức giấc, gã thợ rèn chắc phải ngạc nhiên lắm, nhưng lưỡi hái đã được bao lại rồi cũng như cái chong chóng đã bọc lại thì còn quay sao được ! Năm năm về trước, khi giết Chu Kế Phong Thử Mạch, Thạch Đạt Lang đang trong cơn say máu. Hắn như con thú hoang, giết là một bản năng tranh sống, nhưng nay, đứng trước gã thợ rèn nằm im vô hại dưới chân, hắn thấy thật vô ích. Và biết đâu, nếu giết gã, tiểu chủ nhân của chiếc chong chóng kia sẽ lại để cả đời mình đi tìm hắn trả thù cho bố. Oan nghiệt sẽ chập chồng, bao giờ mới dứt ?

Đứng trước căn phòng ấm cúng, mùi sữa mẹ còn như thoang thoảng từ trong chăn gối bay ra, Thạch Đạt Lang cảm thấy ghen tức và hơi tiếc vì phải từ giã nơi này.

Hắn nói thầm trong bụng:

“Ta xin lỗi đã làm rộn. Xin cứ ngủ bình yên”.

Rồi nhẹ nhàng mở cửa bước ra.

Chương 29: Con ngựa bay

Đến đồn kiểm tra gần biên giới quận thì trời đã tối, Giang và Oa Tử vào nghỉ chân qua đêm tại một quán trọ. Hôm sau, mới hửng sáng, sương mù chưa tan, nàng đã đánh thức Giang dậy để lên đường sớm, tránh cái nắng gay gắt buổi trưa.

Đường đèo khấp khểnh, nhưng không khí tươi mát lúc ban mai làm hai người dễ chịu. Trên bầu trời trong phớt xanh, các vì sao thưa dần rồi những dải mây hồng ở đỉnh núi đằng xa bắt đầu vàng ánh lên như mới được rắc một lượt kim nhũ. Mặt trời hiện ra đỏ rực làm bừng sáng cả một khu sơn lĩnh.

Oa Tử đứng sững trước cảnh thiên nhiên mới tỉnh giấc, lòng nôn nao, rộn rã. Nàng cho rằng đây là một trong những lúc kỳ diệu nhất tạo hóa đã ban cho chúng sinh, kể cả những sinh vật nàng vẫn thường gọi là vô tri vô giác như cây cỏ. Tự nhiên nàng thấy sung sướng và hãnh diện được sống trên thế gian này.

Nhìn mặt trời to và đỏ như cái đèn lồng lớn do một bàn tay vô hình nào đó thắp lên, lừ lừ hiện ra khỏi rặng núi xanh lam, Giang vui mừng nhảy cẫng, vỗ tay reo:

- Đẹp quá ! Cô nương trông kìa, đẹp quá !

Oa Tử khẽ suỵt, bảo Giang đừng kêu lớn, dường như sợ sự vui vẻ thái quá của thằng bé làm mất vẻ trang trọng của cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Hai cô cháu đứng lặng ngắm cảnh mặt trời mọc, một lúc lâu Giang mới lên tiếng:

- Cô cháu mình là người đầu tiên đi trên đường ngày hôm nay đấy !

- Sao em biết ?

- Cô xem có ai đi trước mình đâu !

- Ừ nhỉ. Nhưng đi đầu thì ích gì ? Đường ngắn hơn chăng ?

- Không phải. Nhưng khỏi đi sau ngựa với cáng, đỡ hít bụi !

Oa Tử liếc nhìn Giang thấy thằng bé quả nhiên láu thật.

- Hơn nữa, đi đầu thích thú hơn chứ. Vì chẳng có ai trên đường, em có cảm tưởng như cả con đường thuộc về em, muốn làm gì thì làm, sướng lắm !

Oa Tử mỉm cười. Để chọc thằng bé, nàng nói đùa:

- Vậy sao em không tự coi như một tướng quân quyền uy, được mọi người trọng vọng đương cưỡi ngựa đi thị sát lãnh thổ của mình ? Ta đóng vai người hầu dắt ngựa.

Giang cười phụ họa:

- Ờ phải đấy ! Phải đấy ! Em làm tướng công, cô nương dắt ngựa. Cô nương đi trước đi !

Oa Tử ngó quanh không thấy ai, bèn bẻ cành tre làm roi chỉ sang hai bên đường, vừa đi vừa nhại giọng lính tuần vệ:

- Qùy xuống ! Tất cả quỳ xuống ! Giang tướng công đi tuần sát !

Giang tháo ống quyển trên vai, cười lên giả làm ngựa và cười như nắc nẻ. Nó nhảy chân sáo, dường như cái trò chơi giản dị này đã cho hai cô cháu những phút vui hồn nhiên và sung sướng thật sự.

Nghe tiếng léo nhéo bên ngoài, một ông già mở hé cửa ra nhìn. Oa Tử hơi thẹn, vất roi xuống đất, lầm lũi đi. Giang ngạc nhiên:

- Ô hay, sao cô nương làm thế ? Cô nương không sợ tướng công giận có thể phạt chém đầu à ?

- Thôi, không chơi nữa.

- Sao vậy ? Mình đang chơi vui mà !

- Thôi ! Kỳ quá ! Có người ở quán nhìn kia kìa. Chắc họ cho mình là hai đứa khùng!

Giang quay lại thấy một quán ăn nhỏ, vách ván đã cũ, bên một đống rơm lớn, người dân vùng sơn cước thường đắp lên dành cho gia súc ăn về mùa đông. Cạnh đó buộc một con ngựa.

Nhìn quán ăn, Giang bống thấy đói bụng.

- Cô nương, hay ta vào quán nghỉ đi.

- Vào làm gì ?

- Em đói ! Ta vào uống trà rồi lấy cơm nắm ra ăn.

- Khoan đã. Mới đi được vài dặm mà đã đói. Cứ thế này thì phải ăn năm bữa một ngày chắc.

Giang giận dỗi:

- Nhưng em chạy bộ chứ đâu được cưỡi ngựa như cô nương !

- Thì hôm qua ta mới thuê ngựa đi một lần, chỉ vì trời tối mà mình lại vội. Nếu em không bằng lòng thì hôm nay ta đi bộ với em cả ngày.

- Không ! Hôm nay đến phiên em cưỡi ngựa.

- Trẻ con không cưỡi ngựa được !

Giang phụng phịu:

- Nhưng em muốn tập !

- Để lúc khác. Hay chốc nữa, khi nào mệt hãy hay. Bây giờ còn đi được, thuê ngựa cưỡi phí tiền.

Giang không đáp mà cũng chẳng nói gì thêm. Nó cung cúc đi trước, bỏ mặc Oa Tử lẽo đẽo theo sau.

- Giang ! Em giận ta đấy à ?

Giang đứng lại đợi. Một lúc au, khi Oa Tử đến gần, nó mới nói:

- Cô nương thừa biết em đi bộ cả ngày cũng chẳng mệt. Đợi mệt thì bao giờ mới có ngựa cưỡi !

Oa Tử cười làm lành:

- Ừ thì cưỡi, nhưng một lần này thôi nhé !

Giang chỉ đợi có thế. Nó mừng rỡ chạy ngược lại, đập cửa quán rầm rầm. Chủ quán mở cửa thò đầu ra, thấy Giang, gắt:

- Cái gì mà ầm lên thế ? Hỏi gì ?

- Cô nương ta cần một con ngựa đi Minakuchi, bao nhiêu tiền ? Nếu giá phải chăng, ta mướn đến tận Kusatsu.

- Mày con cái nhà ai ?

- Con bố mẹ ta !

Giang vênh mặt đáp.

- Ta tưởng mày con bà La Sát !

- Chắc vợ lão là bà La Sát còn lão là ông Thiên Lôi. Sao lão dữ quá thế ?

- Dữ hay không dữ ta không cần biết. Ngựa ta không cho thuê.

Muốn thuê ngựa, Giang đành phải làm lành:

- Thôi, lão trượng cho cháu thuê đi. Cháu trả tiền đàng hoàng mà !

- Không được !

- Sao không được ?

- Không có mã phu đi kèm dắt về.

Vừa lúc ấy, Oa Tử tới. Nàng hỏi rõ sự tình, đề nghị xin trả tiền trước rồi khi đến Kinakuchi sẽ nhờ người dắt ngựa hoàn lại tử tế. Thấy Oa Tử có dáng nhu mì thực thà, chủ quán phân vân một lúc rồi nói:

- Thôi cũng được. Nể cô nương lắm đấy, xong việc nhớ trả lại ngựa cho lão.

Nàng hỏi giá, trả tiền rồi cầm cương dắt ngựa đi. Ra đến đường, Giang vẫn chưa nguôi cơn tức:

- Lão già dịch !

- Ô hay Giang ! Sao hỗn thế ? Lão ta có làm gì em đâu ?

- Cô nương không biết, lão coi em như rác, nhất định không cho thuê ngựa. Thế mà thấy cô nương đến lại bằng lòng ngay. Thấy con gái đẹp thì híp mắt lại ...

Oa Tử cười thầm trong bụng. Nàng cảnh cáo thằng bé:

- Này, nói nho nhỏ chứ. Con ngựa này nó nghe hết đấy. Nó dám hất ngã em để trả thù cho chủ nó lắm !

- Thật hả cô ? Để em thử ...

Dứt lời, Giang trèo lên ngựa.

- Em không biết cưỡi ngựa phải không ?

- Biết chứ ! Em thấy người ta cưỡi nhiều lần rồi !

- Thế sao em lại trèo đằng sau ?
Giang thẹn nói chữa:

- Tại cái bàn đạp này cao quá. Cô đỡ em chút !

Oa Tử xốc nách bế Giang ngồi lên yên. Con ngựa đi bước một, Giang hơi nghiêng ngả theo nhịp bước chân ngựa, nhưng nó hài lòng lắm. Mặt tươi rói, nó lấy vẻ nghiêm trang, một tay giữ bờm ngựa, một tay chống nạnh, nhìn Oa Tử mỉm cười.

- Cô nương đi trước đi.

- Nhưng em ngồi chưa vững, ta phải đi bên cạnh ...

- Không sao, em để chân được vào hai bàn đạp mà. Cái yên vải bố này tuy hơi ráp nhưng buộc chắc lắm !

Oa Tử đi trước, tay cầm cương. Tiếng lộp cộp của chân ngựa đạp trên đá lẫn với tiếng nhạc ngựa long coong bấy giờ đối với Giang thật là một tiết điệu vui tai lần đầu tiên nó được hưởng.

Mặt trời đã lên cao nhưng trên con đường đèo, nhiều chỗ sương còn đọng từng mảng mờ mờ xám nhạt. Đi được chừng một quãng khá xa, bỗng nghe phía sau có tiếng chân người vội vã và tiếng gọi lớn. Hai cô cháu nép vào vệ đường. Giang lo lắng hỏi:

- Hình như họ gọi chúng ta !

- Không biết có phải không. Chờ xem.

Lúc sau, thấy hiện ra mờ mờ trong màn sương một bóng người. Bóng đó rõ dần và khi còn cách Oa Tử một trượng thì cả hai nhận ra đấy là một người đàn ông trung niên, mặt rỗ và dữ dằn, chân quấn xà cạp, đi hài xảo bằng cỏ bện. Xung quanh gã còn như bọc một lớp sương gã kéo theo từ đêm, chiếc áo dày gã mặc bên ngoài ướt nhẹp.

Gã đàn ông đến gần Oa Tử, giật mạnh dây cương từ tay nàng làm Oa Tử chúi xuống suýt ngã rồi quát như sấm động:

- Tiểu tử này ! Xuống !

Con ngựa nghe tiếng quát giật mình lùi lại giơ hai cẳng trước hí một tiếng dài.

Giang sợ quá, suýt bị hất xuống đất, vội nắm chặt lấy bờm ngựa. Hoàn hồn, nó tức giận đáp:

- Bác này ! Làm gì kỳ vậy ? Ngựa của ta thuê mà !

- Mặc kệ, có xuống không ?

- Không ! Tráng sĩ là ai ?

- Ta là Chu Kế Phong Tất Đạt ở xóm Ujii, bên kia ranh quận. Ta cần ngựa để đuổi theo một người tên Thạch Đạt Lang. Hắn đi về phía này từ sớm. Đưa ngựa đây.

Gã nói nhanh như bắp rang, vừa nói vừa thở hổn hển. Trong sương sớm lạnh, những giọt nước nhỏ li ti đọng trên râu và chân tóc gã bắn ra cùng một lúc với hơi thở mờ mờ như khói. Trên cành khô, sương còn đọng giá, vậy mà cổ hắn bóng nhẫy mồ hôi, mạch máu ở hai bên cổ nổi cao lên như hai chiếc đũa.

Oa Tử đứng lặng tựa trời trồng, mặt tái mét, dường như bao nhiêu máu đã bị đất dưới chân nàng hút đi mất cả. Môi nàng run run, nàng muốn hỏi lại cho rõ những điều vừa nghe được, nhưng chẳng thốt ra lời nào.

- Tráng sĩ nói đi tìm Thạch Đạt Lang à ?

Giang hỏi mà tay run lập cập, chân để vào bàn đạp không còn vững nữa.

Chu Kế Phong hình như không để ý đến dáng điệu kỳ lạ của cả hai người, chỉ gắt:

- Có xuống ngay không ? Nếu không ta nắm cổ lôi xuống.

- Không ! Ngựa này cô nương ta thuê.

- Mặc kệ cô nương mày. Ta nói tử tế vì thấy chúng mày chỉ là đàn bà con nít. Ta vội nên mượn tạm ...

- Cô nương ! Em nói có phải không ? Ngựa này mình thuê, sao cho ông ấy mượn được ...

Oa Tử muốn ôm lấy Giang. Điều nàng quan tâm nhất không phải là chuyện thuê con ngựa mà chính là không muốn cho gã này có phương tiện đi nhanh hơn, đuổi kịp được Thạch Đạt Lang, gây khó cho chàng. Oa Tử bèn đáp ngay:

- Đúng vậy ! Ngựa bọn ta thuê. Tráng sĩ vội thì chúng ta cũng vội, không nhường cho tráng sĩ được !

- Em nhất định không xuống ! Chết cũng không xuống !

- À, tiểu tặc chó đẻ này ! Mày nhất định không xuống phải không ?

Vừa nói, Chu Kế Phong vừa nắm chân Giang định lôi nó xuống ngựa. Đây là cơ hội hãn hữu để Giang dùng đến thanh kiếm gỗ đeo trên lưng, nhưng trong lúc bối rối, nó quên mất. Vả cả hai tay nói còn bận ôm chặt cổ ngựa nên dù có nhớ cũng không làm gì được. Chỉ còn cách đánh miếng võ nó vẫn thường sử dụng là nhổ nước bọt vào mặt địch thủ. Nghĩ đến, làm liền. Giang bụm một bãi nước bọt lớn, ra sức bình sinh nhổ đánh bẹt một cái vào mắt Chu Kế Phong, đồng thời thuận chân đạp mạnh vào ngực gã. Chu Kế Phong bị tấn công bất ngờ, giơ tay ôm mặt. Mất thăng bằng, gã ngã ngồi xuống đất.

Gã chửi thề một tiếng tục. Vừa lúc ấy, Oa Tử rút thanh gươm ngắn nàng vẫn mang theo để tự vệ ra khỏi vỏ, xông tới đâm Chu Kế Phong. Gã lăn một vòng tránh. Oa Tử mất đà chúi về đằng trước, nhưng vẫn cảm thấy hình như múi gươm chạm phải vật gì. Oa Tử ngã sóng soài bên vệ đường, một tia máu phun vào mặt rồi tiếng con ngựa hí vang. Thì ra lưỡi gươm Oa Tử đâm trượt Chu Kế Phong nhưng lại chạm vào mông ngựa. Con vật giơ cao hai chân trước hí một tiếng dài nữa, lao đi như tên bắn. Trên lưng nó, Giang hết cả hồn vía, hai tay giữ chặt cổ ngựa, chân quặp vào bất cứ sợi dây gì nó khều được ở dưới yên, miệng la như mất cướp:

- Cô nương cứu em ! Cô nương ...cứu ...u ...u ...

Chu Kế Phong đuổi theo, định ghìm con ngựa lại nhưng không kịp. Ngựa bị đau, phóng ào ào xuống núi, bất kể cây cối, trở ngại ; trên lưng nó Giang đeo cứng, tựa như cái hình nộm mới bị đứt giây, vật vờ theo gió.

Chu Kế Phong lảo đảo trở lại chỗ Oa Tử ngã, thì không thấy nàng đó nữa. Nháo nhác nhìn quanh, chỉ thấy thanh gươm ngắn nàng dùng định đâm gã lúc nãy lăn lóc bên bụi gai, gã nhặt lên, ngắm kỹ, chùi vết máu rồi giắt vào thắt lưng. Một ý tưởng thoáng hiện ra trong trí. Gã đoán nàng này hẳn có liên hệ gì với Thạch Đạt Lang, nếu tìm bắt được, dùng nàng làm cái mồi dụ hắn sa bẫy thì tốt lắm. Hay ít ra cũng biết hắn đi đường nào hoặc trốn ở đâu.

Bèn sục sạo khắp nơi. Đến một trang trại nghèo, không có ai, ngoài một bà lão còng đang quay tơ, gã chạy vào hỏi, kéo cả màn cửa, lật cả đống củi ra tìm, làm bà lão sợ chết khiếp. Không thấy Oa Tử, gã thất vọng giận dữ bước ra. Vừa đi khỏi ngõ, chợt thấy bóng một thiếu nữ thoáng lẩn vào rặng bách xanh um, Chu Kế Phong kêu một tiếng mừng rỡ, đuổi như bay, chẳng mấy chốc đã gần bắt kịp. Quả nhiên là Oa Tử.

Oa Tử sợ cuống cuồng, chân ríu lại, ngã lăn ra. Đám cỏ lún xuống như một cái hố.

Kinh hãi, nàng kêu thất thanh, may có cái rễ lớn đâm ngang, vội bám chặt lấy. Dưới kia là vực thẳm tối đen, sâu bao nhiêu nàng cũng chẳng biết. Oa Tử nhờ bám vào rễ cây lơ lửng trên vực. Sỏi, đá, đất đổ rào rào trên đầu. Ngẩng lên, thấy Chu Kế Phong đã tới, đôi mắt hung dữ chăm chú nhìn nàng. Gã cười gằn độc ác:

- Hà ! Thử xem cô em có thoát khỏi tay ta không nào !

Nhìn xuống, Oa Tử chỉ thấy tối đen. Nếu muốn khỏi bị bắt, nàng buông tay ra là xong, nhưng buông tay ra là chết. Tâm thần bất định, Oa Tử mê đi. Nàng nhìn thấy Thạch Đạt Lang. Hình ảnh Thạch Đạt Lang rõ ràng lắm, sáng như vầng trăng trong một đêm giông bão.
Chu Kế Phong không đợi phản ứng, quỳ xuống bờ vực kéo tay Oa Tử lôi lên. Oa Tử vùng vẫy kêu cứu, nhưng những tiếng kêu thất thanh của nàng chỉ làm gã thợ rèn giữ nàng thêm chặt. Gã lôi Oa Tử khỏi vực, vứt xuống cỏ như vứt một mớ giẻ. Giận dữ và tuyệt vọng ứ nghẹn cổ, Oa Tử ngất đi, trên gò má trắng bệch, xanh xao, vết gai cào còn rướm máu.

Tiếng gọi Chu Kế Phong và tiếng chân người rầm rập chạy trên triền núi. Gã thợ rèn bắc loa tay hét lớn:

- Hồ, Tích ! Xuống cả đây ! Ta ở dưới này !

Bọn lâu la ào ào đổ dốc như đàn lợn rừng đuổi mồi, thở hồng hộc, đao kiếm đeo bên sườn chạm nhau loảng xoảng. Đến gần chủ soái, chúng khựng lại, ngạc nhiên nhìn Oa Tử nằm thiêm thiếp trên cỏ. Chu Kế Phong kể qua tự sự rồi ra lệnh:

- Trói nó lại. Còn chúng bay, có được tin tức gì của thằng đó không ?

- Có. Lão chủ điếm trà bảo sáng nay có một kiếm khách đến mua cơm sớm lắm rồi đi ngay. Chắc là hắn. Hắn đi về phía quận Tsuchi. Nhưng không hề gì, đi đường nào cũng thế, vì hai đường Fusuka và Tsichi sẽ gặp nhau ở ngã tư Ishibe. Nếu ta nhanh chân đến trước mai phục ở Ishibe thì thế nào cũng gặp.

- Được rồi. Ta đi tắt đến đấy ngay bây giờ. Bọn ngươi canh chừng con bé đừng để nó chạy thoát.

Nghĩ một lúc, gã nói tiếp:

- Sẽ gặp nhau ở Yasugawa. Bọn ngươi cứ đường thẳng mà đi, nhớ để ý đến những thằng cao lớn có dáng dấp lãng tử.

Dứt lời, Chu Kế Phong xốc lại áo, chạy như bay lên núi. Một loáng đã không thấy bóng dáng đâu nữa.

Trên đường đồi khấp khểnh, con ngựa phi nước đại vùn vụt, vó nện lộp cộp, bụi cát bay mù. Vết thương ở mông nó cùng những tiếng kêu thét của Giang hình như kích thích nó chạy nhanh hơn. Gió thổi ù ù, mấy lần Giang tưởng bị hất ngã vì những cành cây thấp chắn ngang, nhưng nhờ nhanh trí, nó cúi xuống tránh được.

Giang càng kêu, ngựa càng chạy khỏe. Khản cổ, lạc giọng, tiếng kêu của nó sau chỉ còn là những tiếng rên đứt quãng. Nó ôm chặt cổ ngựa, áp má vào bờm, nhắm chặt mắt mặc cho số phận. Dần dần Giang nhận ra rằng nếu mình cứ nằm bò trên lưng ngựa rồi nhấp nhỏm theo đà ngựa chạy thì đỡ ê đít, nhưng chẳng thú vị gì. Nhớ lúc trước khi đòi cưỡi ngựa, nó mong làm sao được ngồi trên lưng một con tuấn mã, giật cương cho phóng như bay, băng rừng băng suối mới thật sướng ! Bây giờ có sướng gì đâu, chỉ thấy sợ.

Loáng một cái, đã đến làng Mikumo. Thấy có người đi ngược chiều, Giang tiếp tục kêu cứu. Nhưng ngựa chạy nhanh, người bộ hành tưởng là khoái mã của quan quân, nép vào vệ đường tránh vạ. Qua làng, gà kêu quang quác, chó sủa râm ran, vài người hé cửa nhìn nhưng chẳng ai giúp được gì. Tâm lý chung, chẳng ai muốn dính vào những chuyện không đâu, nhất là lại nguy hiểm như chuyện ghìm một con ngựa bất kham, không chết người cũng bị thương tật.

Đường đèo vắng vẻ. Nắng đã lên cao, người ngựa mồ hôi nhễ nhại. Xa xa một cây sồi cổ thụ vươn cành thấp xòe ra che cả lối đi. Giang nhìn thấy. Sống chết ở lúc này. Nó chuẩn bị. Khi lá sồi vừa chạm mặt, Giang lập tức níu ngay lấy, đánh đu lên như con nhái bén bám cành tre, cả người lủng lẳng đong đưa cách mặt đất chừng ba thước. Ngựa tiếp tục phóng đi, dường như không chú ý gì đến kỵ mã tí hon bất đắc dĩ vừa rời khỏi lưng nó.

Giang nhìn xuống đất. Sâu thăm thẳm, nó không dám bỏ tay ra, chỉ vùng vẫy co chân cố quắp lấy cành đu lên, định bụng sẽ chuyền vào thân cây. Không ngờ cành nhỏ gãy cái “rắc”, kéo theo nó ngã lăn ra đất.

Giang ngạc nhiên thấy không đau đớn gì, chỉ hơi ê ẩm. Đứng dậy phủi quần áo, sực nhớ đến Oa Tử, nó vội chồm lên, chạy ngược lại con đường đã qua, mắt tìm nháo nhác. Cứ chạy một quãng nó lại dừng lại gọi:

- Cô nương ! Cô nương ! Cô nương ở đâ ...âu ...

Sự bấn loạn lộ trên nét mặt ngơ ngác của nó.

- Không biết cô ấy có thoát được không ? Nếu bị thằng giặc đó bắt thì khổ quá !

Giang lo lắng, tự trách đã không bảo vệ được người thiếu nữ yếu đuối. Mồm nó méo xệch, vừa đi vừa lấy tay áo chùi nước mắt. Bỗng có người từ ven rừng bên trái đi đến. Tới gần thì ra là một thanh niên, tuổi chừng hăm bảy hăm tám, da ngăm ngăm đen, vận y phục lữ hành, chân đi giầy cỏ, lưng đeo kiếm. Thanh niên nhìn Giang hỏi:

- Bé này con cái nhà ai, phải ở làng Mikumo không ? Sao lại vừa đi vừa khóc ?

- Cháu lạc mất cô cháu !

- Cô ngươi là ai ?

- Oa Tử ! Đại hiệp ở phía rừng lại có thấy cô cháu không ? Cô cháu trạc hai mươi tuổi, nhỏ nhắn, vận áo chẽn ...

- À ...à ...có ! Nhưng tay bị trói, có hai nông dân lực lưỡng dẫn đi.

- Đi với hai nông dân ? Không ! Chúng cháu bị một tên mặt rỗ cướp ngựa. Cô cháu mặc áo chẽn trắng chấm đen ...

- Vậy đúng rồi. Ta chắc đây là bọn Chu Kế Phong. Hắn làm thợ rèn ở quận gần đây, nhưng nghe nói thỉnh thoảng có tụ tập lâu la đi ăn cướp.

- Thế thì cháu phải đi ngay cứu cô cháu mới được !

- Khoan ! Cả hai cô cháu người đi chung với nhau hay sao ? Câu chuyện thế nào kể ta nghe.

Giang bèn thuật lại. Thanh niên gật đầu:

- Vậy chúng làm loạn quá rồi, chẳng coi quan quân ra gì nữa. Nhưng bọn chúng dữ lắm, chớ nên khinh xuất. Ngươi còn bé, không làm gì được đâu, để ta giúp ...Oa Tử...mphải tên cô ngươi là Oa Tử không ?

Tự nhiên Giang thấy tin người thanh niên lạ mặt. Nó gật đầu, ngây thơ hỏi:

- Đại hiệp bắt chúng giao cô Oa Tử lại cho cháu hay sao ?

Thanh niên mỉm cười:

- Ừ, để ta xem. Cứ đợi ở đây, nấp vào bụi đằng kia, đừng làm ồn lên, thế nào chúng cũng đi qua. Ta sẽ liệu.

Giang nghe lời, chạy vào ẩn trong bụi nhìn ra thấy chàng thanh niên theo đường dốc đi xuống núi.

Đợi mãi mà không thấy gì, hơi sốt ruột, nó thầm nghĩ tráng sĩ kia muốn đánh lừa nó, chỉ nói vậy cho qua rồi chuồn êm chứ chắc gì cứu được Oa Tử. Giang định bụng nhảy ra, tự mình đi tìm lấy. Đột nhiên nghe tiếng chân lạo xạo trên lá khô, nó dừng lại.

Bóng ba người hiện ra:

hai nông dân dáng lực lưỡng, râu ria xồm xoàm kèm một thiếu nữ mặc áo trắng bị trói tay đi ở giữa.

Đúng là Oa Tử rồi không còn hồ nghi gì nữa. Giang định cất tiếng gọi, bỗng sực nhớ đến lời khuyên của chàng thanh niên, khựng lại kịp. Nó còn nhỏ quá, không những không giúp ích được gì cho cô nó mà còn nguy hiểm nữa.

Đợi cả ba đi khuất, Giang mới len lén bò ra theo hút, vừa đi vừa lẩn vào các thân cây mọc rải rác trong rừng thưa.

Thình lình, chàng thanh niên ban nãy, lần này đội nón nan che kín mặt, tay cầm gậy ra vẻ một khách bộ hành đi đường xa, ở chân núi hiện ra. Thanh niên vừa đi vừa nói khá lớn, dường như cốt để cho Oa Tử và hai kẻ kia nghe rõ:

- Ghê quá ! Thật đáng sợ !

- Chuyện gì mà đáng sợ ?

- Dưới chân núi có một tên kiếm khách giang hồ tự xưng Thạch Đạt Lang đứng chắn lối, gặp ai cũng nhìn, kiếm tuốt trần, mắt dữ tợn trông phát khiếp.

- Thật hả. Thế sao ngươi đi thoát ?

- Hắn gọi ta lại, hỏi tên tuổi. Khi biết ta là Sảnh Trung thì cho đi. Hắn nói hắn chỉ cần tìm giết Chu Kế Phong Tất Đạt và lâu la của gã thôi. Không biết thù hằn gì mà ghê thế !

- Hai nông dân lực lưỡng đưa mắt nhìn nhau. Oa Tử mặt trắng bệch, run rẩy muốn ngất tại chỗ.

- Nhà ngươi có chắc như vậy không ?

- Thì chính mắt ta nhìn thấy, chính tai ta nghe, sao lầm được. Các bác phải cẩn thận, nên đi đường khác !

Nói xong gã chống gậy lầm lũi đi, miêng còn lẩm bẩm:

- Không biết thù hằn gì mà ghê thế !

Hai tên lâu la của Chu Kế Phong kéo Oa Tử vào ngồi bên đường bàn nhau khe khẽ.

Lúc sau, một đứa trở lại canh chừng Oa Tử, đứa kia chạy theo gọi Sảnh Trung.

Chúng ta muốn nhờ ngươi giúp một tay.

- Sao phải nhờ ta giúp ? Sảnh Trung đáp. Các bác là đàn em Chu Kế Phong hả ?

- Không. Chúng ta muốn bắt tên cướp hỗn láo đó !

- Chịu thôi. Ta không giúp được. Trông dáng dấp nó khỏe lắm, bốn người chưa chắc địch nổi chứ đừng nói ba. Nhất là lại còn cô này vướng chân vướng cẳng, làm gì được ?

- Thế ngươi bảo bây giờ phải làm sao ?

- Theo ta nghĩ thì chỉ có cách này là thượng sách. Trói cô bé vào gốc cây đằng kia rồi hai bác với ta xuống núi tìm mẹo mà bắt nó. Xong việc trở lại dẫn cô bé này đi.

Hai tên gật gù cho là phải. Bèn sẵn dây, trói Oa Tử vào gốc cây. Một tên còn cẩn thận xé vạt áo bịt miệng để nàng khỏi kêu cứu.

- Thôi được rồi. Đi mau mới kịp.

Dứt lời, cả ba theo nhau xuống núi.

Giang chờ cho cả bọn đi khuất mới chạy ra. Nó ôm lấy Oa Tử, nước mắt tràn đầy má:

- Cô nương ! Cô nương !

Đôi mắt Oa Tử cũng sáng lên vui mừng nhưng nàng chỉ ú ớ. Bấy giờ Giang mới sực nhớ, vội cởi miếng giẻ bịt miệng và dây trói Oa Tử ra. Hai cô cháu ôm nhau. Giang khóc tấm tức, Oa Tử vỗ lưng nó nhè nhẹ. Trong đời Giang, chưa lúc nào nó thấy sung sướng bằng lúc ấy. Nó lẩm bẩm một câu cảm ơn đức Phật linh thiêng học mót được khi còn ở đền Arakida. Oa Tử nghe, thấy sai, cười thầm trong bụng, định sửa lại cho nó, nhưng lại thôi. “Ồ, hà tất ! Miễn lòng thành thực thì đức Phật ngài cũng chứng giám”.

Chương 30: Bướm đông

A Kế Mỹ tung chăn ngồi dậy. Phòng trọ vắng vẻ, ánh chiều nhạt dần. Bóng một cành thông thấp thoáng lay động in lên khugn giấy vàng úa trên song cửa, và con chim gáy sau nhà cũng thôi không còn buông những tiếng kêu cúc cu đều đều buồn bã.

Một mình trong phòng, A Kế Mỹ cảm thấy cô đơn tràn ngập. Vết thương Sĩ Khánh để lại trong lòng nàng thật sâu đậm, A Kế Mỹ càng nghĩ càng tủi thân, khóc rấm rứt.

Thôi thế là hết. Tấm thân giữ gìn bấy lâu nay, giờ đây hoen ố, nàng biết làm sao giải thích cho người yêu trong mộng.

Vừa thoát chết, A Kế Mỹ mất hết can đảm, không dám nghĩ đến chuyện ra bãi biển lần nữa. Với tay lấy cái lược chải sơ mái tóc, thắt lại chiếc “obi” rồi bò ra khỏi chiếu nằm, nàng kéo cửa lùa rón rén bước khỏi phòng trọ.

Gió lạnh bên ngoài làm A Kế Mỹ dễ chịu. Cơn nóng trong người đột nhiên giảm bớt, nàng có cảm tưởng như vừa được uống một chén nước lạnh.

Như con chim mới sổ lồng còn e sợ không dám vỗ cánh bay cao, A Kế Mỹ dựa lưng vào hàng hiên, ngồi suy nghĩ. Đi đâu ? Về đâu ? Mẹ nàng đã bỏ đi theo Hồ Định, nàng chẳng tìm làm gì, mà ví dù có tìm được, nàng cũng quyết không để cho mẹ bán mình lần nữa. Tứ cố vô thân, cánh bướm mong manh lạc giữa mùa đông, biết nơi nào an toàn mà nương tựa. A Kế Mỹ kéo vạt áo lau nước mắt, đứng dậy:

Thôi thì cũng liều ! Và men theo hàng giậu thấp, lẻn ra cửa sau trốn.

Ở bến đò, người đi lại tấp nập, gồng gánh chen đẩy. A Kế Mỹ nhìn đám đông, trông ai cũng thẹn, tưởng như họ đều đã biết rõ cảnh ngộ mình. Giống như chim bị tên sợ cây cong, nàng né tránh hết mọi người và ngồi ẩn trong một bụi rậm chờ trời tối.

Những ngày cuối năm, tại bến đò chỗ nào cũng đông nghẹt khách vãng lai thuộc đủ mọi giai tầng xã hội:

tăng lữ, kiếm sĩ, thương nhân, kẻ chợ người quê, chen nhau mua sắm hoặc đáp thuyền về quê quán.

A Kế Mỹ chẳng biết đi đâu. Bầu trời xám nặng như chì, nước sông cuồn cuộn chảy.

Lòng nàng còn nặng gấp mấy bầu trời, mà khối nước của dòng sông kia giá đem rửa những vết nhơ trên thân thể nàng thì cũng khó mà sạch. Mối tình u uẩn của nàng, tuy Thạch Đạt Lang không hay biết, nhưng đã ăn sâu vào tâm khảm người thiếu nữ. Nó là bông hoa dại, khi ở đồi Ibuki mới còn là nụ, theo năm tháng nay đã đến độ mãn khai, được chăm bón bằng thương yêu, mong nhớ và cảm phục. Thân nàng dù bị dày xéo, bông hoa yêu đương vẫn nguyên vẹn. Nàng chỉ tiếc nó chẳng được hoàn toàn như lòng mong ước.

Nghĩ đến Thạch Đạt Lang, A Kế Mỹ sực nhớ đến lời chàng nhắn Mãn Hà Chí qua miệng tên tiểu đồ:

chân đại kiều đường Gojo, ngày nguyên đán. Một tia hy vọng lóe lên, A Kế Mỹ lau vội nước mắt. Tay run run, nàng lấy trong bọc ra cái túi đựng số bạc vụn dành dụm bấy lâu nay, lẩm nhẩm tính, rồi cả quyết theo chân bọn khách thương bước xuống thuyền đi Kyoto.

Đối với A Kế Mỹ, Kyoto chẳng xa lạ gì. Ở bến tàu bước lên, trời đã chạng vạng tối.

Nàng không muốn về xóm cũ, nơi có quán Vân Nghê của mẹ nàng khi trước, sợ gặp người quen, nên theo đường nhỏ vòng ra phía cổ thành đến khu Teramachi. Ở đó nhiều đền miếu, A Kế Mỹ hy vọng tìm được ngôi chùa nào có vị trụ trì nhân từ cho nàng tá túc qua đêm, rồi sáng hôm sau hãy tính.

Giữa hàng liễu úa, cành rủ lưa thưa, A Kế Mỹ lủi thủi đi. Gió sông thổi lạnh căm, nàng xuýt xoa run rẩy kéo vạt áo giữ hơi ấm.

- Cô em ! Này cô em, đi đâu vội thế ?

A Kế Mỹ giật mình quay lại. Một người vừa gầy vừa cao, không đoán được tuổi, quần áo rách rưới bẩn thỉu, theo chân nàng từ bao giờ. Râu tóc gã lởm chởm gớm ghiếc, bên hông đeo song kiếm, dáng điệu nửa hành khất, nửa giang hồ lãng tử. A Kế Mỹ hơi sợ, cắm cúi đi, chân bước nhanh hơn.

- Cô em ! Giải “obi” của cô tuột rồi đó, có muốn thắt lại, ta giúp !

Nàng không nói gì, chỉ rảo bước. Qua mấy năm sống ở Cổ thành, nàng nghe đồn có nhiều tên du đãng nghèo đói thường hay la cà ở các quán rượu, hoặc núp tại các khu đường vắng chờ khách cô thế đi qua xông ra ăn cướp. A Kế Mỹ đoán tên này chắc cũng thuộc vào loại ấy.

- Xinh đẹp như vậy sao không bới tóc cho cao, đến những nơi thanh lịch chứ ở chỗ hoang vắng này làm gì ? Hay chán cảnh gia đình rồi bỏ nhà đi hoang đấy ? Để ta đưa về...

- ...

- Em nên cẩn thận, đêm khuya thân gái, thiếu gì đứa vô lại rình mò, nó bắt đem bán cho lái buôn, gái Kyoto có giá lắm ! Ở Edo bây giờ nhiều thanh lâu, hay em về ở với ta, mình tính kế làm ăn ...

Gã cười hô hố, lúc đe dọa lúc dụ dỗ. A Kế Mỹ bực mình vì những lời lải nhải, gắt:

- Ngươi là ai ? Đi đi, ta không dễ gì dụ dỗ.

- Á à ! Nói thật đó. Ta thương cô em, thật tình muốn giúp ...

- Cút đi !

Bị mắng, gã chỉ cười, hàm răng khấp khểnh cáu bẩn trông gớm chết.

- Cút đi ! Không ta ném hòn đá này thì bỏ mạng.

Tuy bên ngoài nói cứng nhưng trong lòng A Kế Mỹ sợ lắm. Ven đường cây cỏ um tùm. Thấy lẩn trong những bụi cây cỏ ấy, vài gốc tùng trắc mọc hoang, lùn tè, trong bóng tối, mới dâng, có thể tạm làm chỗ ẩn thân được, A Kế Mỹ cúi xuống vờ nhặt hòn đá, vung tay ném, gã kia né tránh. Thừa dịp tốt, A Kế Mỹ lẩn ngay vào bụi rậm. Trên cao, nền trời sẫm xuống dần. Vài ngôi sao mới mọc lấp lánh. Tiếng ễnh ương lẻ loi kêu trong đám cỏ. Con đường mòn ven sông vắng vẻ mờ mờ sau màn sương mỏng xanh lam, nhẹ như khói.

A Kế Mỹ cúi rạp người, như một con chồn, lủi giữa các bụi cây thấp. Chỗ này chắc xưa kia cũng là vườn tược của đền chùa chi đây, bây giờ hoang phế, nhưng thỉnh thoảng vẫn còn di tích những lối đi lát gạch. Nàng thở thật khẽ, cố di chuyển nhẹ nhàng như bơi giữa biển lau sậy.

Đột nhiên, một bóng người từ trong bụi cây vụt nhảy ra đẩy nàng ngã sấp. A Kế Mỹ chỉ kịp kêu một tiếng ngắn, bóng đen đã đè lên người nàng, ôm chặt, một tay bịt miệng, một tay giật dải thắt lưng. A Kế Mỹ vùng vẫy, chân đạp tay tát.

Thì ra gã du đãng lúc nãy. Nó thông thuộc đường lối khu này nên nấp sắn một chỗ đón đầu, chờ đợi.

Gã thở hổn hển. Mùi rượu và mùi hôi thối từ miệng gã xông ra nồng nặc làm A Kế Mỹ muốn ngất xỉu. Những sợi râu ngắn cứng đâm vào má, vào cổ nàng như những cái gai nhọn sắc. A Kế Mỹ đau muốn kêu cứu nhưng những tiếng kêu chỉ là những tiếng ú ớ trong cổ họng.

Tên này gầy mà sao khỏe quá, nàng dùng tay cố đẩy mặt gã ra khỏi mặt mình nhưng không nổi. Trong lúc bối rối, bất ngờ một ngón tay nàng thò vào lỗ mũi nó. Nàng chọc mạnh một cái.

- Á !

Tiếng kêu ngạc nhiên đau đớn của tên du đãng làm A Kế Mỹ giật mình. Gã lăn người sang bên, hai tay ôm mặt.

- Đồ chó đẻ ! Ông giết mày !

A Kế Mỹ ngồi dậy, chống hai tay giật lùi về phía sau. Thấy chỗ rắn, nàng đoán chừng là một hòn đá, dựa lưng vào đó thở hổn hển. A Kế Mỹ kinh hãi tột độ. Vạt áo nàng rách toạc một miếng, để lộ lần áo lót bên trong và phần ngực trần, trắng nõn dưới ánh sao đêm. A Kế Mỹ chỉ kịp làm một phản ứng tự nhiên:

kéo vạt áo kia che lại rồi hai tay giữ chặt lấy ngực, tự vệ. Nàng lắp bắp:

- Ngươi ...ngươi muốn gì ?

Gã kia đã đứng lên, cười gằn độc ác. Nhìn người thiếu nữ yếu đuối trước mặt, không cách gì thoát khỏi nanh vuốt của gã, gã khoái trá, đi đi lại lại, tựa như con mèo vờn con chuột trước khi ăn thịt.

- Muốn gì ? Hề hề ...Muốn gì thì nàng biết đấy !

Và chồm tới định đè sấn nàng xuống.

A Kế Mỹ nhanh mắt, lăn một vòng tránh được. Gã vồ hụt, ngã sóng soài. Cái ngã này làm gã đau điếng, vì sau tiếng “hự” va vào đá, không thấy gã trở dậy nữa.

A Kế Mỹ lóp ngóp đứng lên, hai tay giữ áo, chạy thục mạng. Trong đêm tối, như một bóng ma, tà áo trắng bay phần phật giữa những bụi đỗ quyên và tử dương hoa đã tàn và lá xơ xác.

A Kế Mỹ vừa chạy vừa kêu:

- Trời ơi ! Cứu tôi ! Cứu tôi với !

Tiếng kêu đứt quãng của nàng lạc trong hơi gió. Trong cái hoang tịch của cánh đồng Teramachi đêm đó, mảnh trăng hạ tuần cũng chưa mọc. Một tiếng cú rúc xa xa nhại lời kêu cứu của nàng và càng làm tăng thêm vẻ hoang vu, vắng lặng.

Tên côn đồ tỉnh dậy, giận uất người. Nghe tiếng kêu của A Kế Mỹ, gã loạng choạng đuổi theo, miệng lầm bầm chửi rủa. Gã đuổi theo mỗi lúc một nhanh, những tiếng chửi tục tằn càng ngày càng gần lại và tiếng chân chạy nặng nề của gã làm A Kế Mỹ rối ruột. Bước chân A Kế Mỹ không còn vững, nàng thở hồng hộc, đến bên một vũng lầy thì kiệt sức quỵ xuống. Lá lau khô cứa vào mặt vào môi, nàng thấy xót và ở miệng có vị mằn mặn.

A Kế Mỹ thở dốc tuyệt vọng. Lạnh, lạnh quá. Máu trong người nàng dường như chảy đi đâu hết. A Kế Mỹ nhìn những ngôi sao lấp lánh đằng xa như trong giấc mơ, nhỏ dần, nhỏ dần rồi bóng tối chụp xuống toàn thân nàng, đen và sâu thăm thẳm. Nàng không còn biết gì nữa.

oo Tiếng gọi văng vẳng bên tai làm A Kế Mỹ sực tỉnh. Chân tay nàng lạnh giá và trên mặt hình như có ai lấy nước lã vã vào. A Kế Mỹ mở mắt lờ đờ nhìn xung quanh. Một bóng đen đang cúi xuống, giật tóc mai nàng và gọi khe khẽ:

- Cô nương ! Cô nương ! Tỉnh dậy !

A Kế Mỹ cựa mình, thở dài. Tiếng người kia vui mừng:

- Mô Phật !

Và tiếp theo, giọng ái ngại:

- Ngươi khát không ?

- Đây là đâu ? Phải bãi biển Symiyoshi không ?

Bóng đen lắc đầu:

- Hãy còn mê sảng. Giá có lửa sưởi thì tốt.

Đoạn cởi áo ngoài đắp lên mình A Kế Mỹ. Nhưng nàng vùng dậy, hốt hoảng:

- Không ! Không !

Ngươi đừng sợ ! Tên đó chết rồi !

Và lấy tay chỉ người nằm cách đấy chừng một thước.

A Kế Mỹ nhìn xác chết, giật lùi lại rồi nhìn người ngồi bên cạnh không hiểu. Giữa bóng đen âm u của những lùm cây rậm rạp, nàng không phân biệt được người đó thuộc thành phần nào trong xã hội, nhưng theo giọng nói, đoán chừng thuộc loại trung niên trở lên, và nghèo khổ. Tấm áo người ấy vừa đắp lên mình nàng làm bằng vải gai, chỉ những người bần cùng hoặc giai cấp đạo sĩ mới mặc.

- Lão ...lão là ai ?

- Ta là Áo Đại Môn đi khất thực qua đây, nghe tiếng cô nương kêu cứu, chạy lại thì đúng lúc tên côn đồ này định làm hỗn. Ta đập gậy lên đầu nó, tưởng đâu dọa cho nó bỏ, nào ngờ trúng chỗ phạm làm nó chết tốt.

- Mô Phật. Đa tạ lão trượng đã cứu tiểu nữ.

- Thế còn cô nương ? Nhà ở đâu ? Đêm hôm khuya khoắt đến chỗ này làm gì ?

- Thưa lão trượng ...

- Gọi ta là đạo sĩ. Ta là kẻ tu hành.

- Thưa lão đạo sĩ, tiểu nữ không có nhà và cũng không thân thích. Tiểu nữ ở xa đến, trời tối, không tìm được nơi quán xá nào hợp với túi tiền nên định vào khu Teramachi, xem cảnh chùa nào rộng cho tiện nữ ở qua đêm thì tá túc. Không ngờ ...

- Cô nương thật bất cẩn. Vùng Kyoto bây giờ nhiễu nhương lắm, bọn đãng tử hoành hành khắp nơi, đàn bà con gái ban ngày còn không dám ra chỗ vắng, huống chi ban đêm.

Nghe giọng nói và xem cách xử sự của đạo sĩ, A Kế Mỹ yên tâm phần nào. Tuy nhiên nàng vẫn dè dặt:

- Gần đây có ngôi chùa nào không, lão đạo sĩ ?- Không ! Ngôi chùa gần nhất cũng cách đây chừng một dặm. Cô nương sức còn yếu, không đi nổi đâu. Hay cô nương đến ngụ tạm chỗ ta ở ?

A Kế Mỹ không nói gì, lòng lo lắng. Biết rõ ý nghĩ của nàng, đạo sĩ trấn an:

- Ấy là ta khuyên như thế, còn tùy cô nương quyết định.

- Thưa, thế nhà lão đạo sĩ ở đâu ?

Lão già mỉm cười:

- Ta cũng như cô nương, không có nhà. Ta ở nhờ một ngôi đền gần đây, cùng với một lão khất cái nữa. Nếu cô nương chẳng chê là hủ lậu thì cứ tự tiện.

- Đa tạ lão đạo sĩ.

- Vậy cô nương ngồi nghỉ, chờ ta một lát. Ta đọc bài kệ vãng sinh và lấy đá lấp cái xác kia lại, kẻo để quạ rỉa tội nghiệp.

Khi đạo sĩ làm xong việc thì trời đã khuya. Mảnh trăng lưỡi liềm vàng úa nhô lên khỏi đám tùng bách đen sẫm. Một con chim đêm bay ngang, cánh vỗ phành phạch, tiếng “quác” buông khô khan trong đêm tối vắng lặng.

Lão đạo sĩ đưa cho A Kế Mỹ mượn cây thiền trượng chống tạm, rồi cả hai, kẻ trước người sau, theo con đường hẹp đi sâu mãi vào cảnh hoang dã.

Đến một nơi lau sậy rậm rạp cao quá đầu người, đạo sĩ dừng lại nói:

- Sắp đến rồi !

Nhưng A Kế Mỹ nhìn trước nhìn sau chẳng thấy nhà cửa gì cả, chỉ thấy bốn bề lau lách mọc đầy, tiếng côn trùng ri rỉ trong đám cỏ. Nàng ngạc nhiên hỏi:

- Lão đạo sĩ ở đây sao ?

- Sau rừng kia là ngôi đền ta ở. Đối với cô nương chắc chẳng đủ tiện nghi, nhưng đối với ta thế cũng đủ.

Đi hết rừng lau, quả nhiên thấy một căn nhà. Một căn nhà gỗ hoang tàn, đổ nát hơn là một cảnh đền miếu. Lão đạo sĩ trèo lên thềm. Hàng lan can gỗ nghiêng ngả từ khi Mãn Hà Chí bị lão dùng thế nhu đạo hất ra ngoài, vẫn còn nguyên đó, không sửa chữa.

Lão già kéo tấm liếp sang bên, đàn dơi thấy động bay tới tấp. A Kế Mỹ giật mình, do dự không dám bước vào.

- Không sao đâu, bên trong ấm hơn nên dơi làm tổ. Chúng sinh cả, mình trọng nó, nó chẳng hại mình. Ta với nó sống hòa hợp chẳng bên nào cảm thấy phiền lụy. Để ta mồi chút lửa cho ấm.

Đạo sĩ nói đoạn đánh đá vào bùi nhùi, bẻ cành khô gây lửa. Chẳng bao lâu, gian phòng sáng hẳn lên, ngọn lửa vàng tươi bập bùng, nổ lách tách, tàn bắn ra xung quanh như những chiếc pháo bông nhỏ xíu.

- Cô nương có sợ ta giống như tên côn đồ lúc nãy không ?

A Kế Mỹ lắc đầu. Đạo sĩ Áo Đại Môn này hình dung kỳ dị, nhưng phong cách nhân hậu, vả dưới ánh lửa trông lão già lắm, có lẽ đến ngoài sáu mươi. Râu tóc bạc nhiều, da mặt nhăn nheo, dáng dấp mang một vẻ gì phiền muộn, chắc ở tuổi thanh niên lão gặp nhiều đau khổ.

Nàng đưa mắt nhìn quanh phòng. Cảnh bần hàn không còn có thể nào hơn được, nhưng những đồ dùng cần thiết hàng ngày lão thu góp để hỗn độn làm nàng ngạc nhiên:

hai cái nồi đất, một cái đã mẻ miệng, cái hỏa lò, vài chiếc bát đĩa, mấy đôi đũa cắm trong cái ống tre treo trên vách. Gần đấy là một manh chiếu cũ, một cái gối cáu bẩn.

- Để ta đi nấu cháo. Chắc cô nương cũng đói rồi.

- Cảm ơn đạo sĩ, tiểu nữ không đói. Chỉ thấy sốt và mệt.

- Cảm hàn rồi đấy. Cô nương ra chỗ kia nằm nghỉ đi. Nghỉ là cách tốt nhất giữ sức khỏe chống bệnh. Đợi ta nấu cháo xong, ăn bát cháo nóng là khỏi.

A Kế Mỹ cảm động. Nàng thấy lão đạo sĩ này dễ thương quá và đột nhiên nhìn căn phòng dơ bẩn của lão không còn ghê tởm nữa.

Lão đạo sĩ đổ gạo, nước vào nồi, bắc lên bếp rồi lấy ở góc nhà ra một mảnh gỗ. Lão tìm được ở đâu mấy cọng hành lá, rút dao găm ra, dùng mảnh gỗ làm thớt thái hành trên đó. Thái xong, lão trút vào bát, lau thớt đặt sang bên, lẩm bẩm:

- Để làm cái khay cũng tiện.

A Kế Mỹ xin phép đi nằm nghỉ. Đạo sĩ mỉm cười:

- Vẽ. Mệt thì đi ngủ. Có cái màn rách đắp tạm, khi nào cháo được ta gọi dậy ăn.

A Kế Mỹ không nề hà, nàng ngả mình xuống chiếu, định quơ tấm màn đắp thì một con vật gì nhảy vụt ra. A Kế Mỹ giật mình ôm mặt kêu lớn. Lão đạo sĩ chồm dậy:

- Gì thế ? Cái gì thế ?

- Không biết vật gì trong đống chăn nhẩy ra.

- Chắc là chuột.

- Không phải. Nó to như con mèo, màu vàng ...

- Vậy chắc là con sóc. Khu này nhiều sóc và cầy cáo ...Thảo nào ta thấy gạo vương vãi.

A Kế Mỹ vẫn còn lo sợ, đảo mắt nhìn quanh:

- Kia kìa ! Nó kia kìa ! ...

Lão đạo nhìn theo tay chỉ, trông lên cái kệ xiêu vẹo gần nóc nhà, thấy có đôi mắt tròn xoe, long lanh nhìn xuống không chớp. Đôi mắt nấp sau pho tượng Phật cụt đầu, loang lổ và ám khói mang một vẻ gì vừa tinh nghịch vừa chế nhạo làm pho tượng trở nên sinh động một cách kỳ dị. Lão vỗ tay, dậm chân, đôi mắt bỏ bức tượng chạy sang bên.

Thì ra đó là một con khỉ nhỏ. Nó đánh đu vào xà nhà, đuôi quắp lên xà gỗ, bỏ thõng mình đu đưa, nhe răng kêu khèn khẹc, da mặt nhăn nheo như quả táo phơi nắng.

- Cái con quỷ này không biết ở đâu đến. Từ trước ta có thấy nó bao giờ đâu ?

- Trong rừng không có khỉ à ?

- Đây là rừng lau, làm gì có. Chắc của ai nuôi đi lạc. Không sao đâu, ngươi cứ nằm nghỉ. Để cho nó vài cái hạt dẻ. Chúng sinh cả, chẳng nên đuổi nó làm gì !
- Nó phá lắm đấy !

- Trông thì cũng có vẻ thuần rồi, không ngại.

Lão đạo sĩ đem mấy quả thông và hạt dẻ ra để lên kệ rồi ngồi xuống mở nồi cháo ra khuấy nhè nhẹ. Mùi cháo nóng bốc lên thơm nức, tỏa khắp gian phòng. Lão hít hà, nuốt nước bọt ừng ực. Trông lão bấy giờ sung sướng, bồn chồn, tưởng như nồi cháo hoa kia chứa đựng tất cả cái tuyệt đích của khoái lạc trong cõi nhân sinh mà lão sắp được hưởng.

Chuông chùa Kiyomi từ xa vọng đến. Năm cũ sắp qua, năm mới gần kề, trong tháng này, chùa nào cũng thỉnh chuông lúc sang canh như để cảnh tỉnh chúng sinh ôn việc đã qua, tránh cảnh trầm luân trong biển u mê, hư vọng. Tiếng ngân nga theo gió thoảng đưa, êm êm như những tiếng vỗ về từ cõi cao cả xa xôi nào vọng tới, thay lời đức Phật từ bi xoa dịu nỗi đau khổ trong lòng người thiếu nữ. A Kế Mỹ lắng nghe tiếng chuông, thiêm thiếp dần rồi đắm mình vào giấc mộng.

- Đồ súc vật ! Bỏ ta ra !

Tiếng kêu thất thanh của A Kế Mỹ trong giấc chiêm bao khiến đạo sĩ giật mình bỏ dở bài kinh. Lão đến bên chiếu, lay thiếu nữ. Nàng ngồi dậy ngơ ngác. Nỗi sợ hãi còn như ngưng lại trên đôi mắt lạc thần và trên đôi môi run rẩy trắng bệch của A Kế Mỹ.

- Sao vậy ? Chuyện gì kinh động ngươi quá vậy ? Nói ta biết, họa chăng ta giúp ngươi được gì chăng ?

A Kế Mỹ khóc òa. Đạo sĩ khẽ vỗ lưng nàng:

- Chuyện gì rồi cũng qua. Cứ nói đi. Nói đi thì vơi được sầu khổ. Ngẫu nhiên ta gặp ngươi, âu cũng là tiền định. Biết đâu những kinh nghiệm của ta chẳng giúp ngươi được phần nào.

A Kế Mỹ lắc đầu thổn thức.

- A di đà Phật ! Xin đấng Vô Lượng cứu vớt chúng sinh.

- Đạo sĩ có thương con không ? Đạo sĩ khuyên con phải làm gì bây giờ ?

Thì ngươi phải nói cho ta biết chuyện gì chứ ?

A Kế Mỹ cắn môi. Nàng đã tự nhủ không hở chuyện này cho ai biết nhưng sao đêm nay, cái đêm gần hết năm, chấm dứt một chặng đường trong cõi vô thủy vô chung, nàng không còn can đảm một mình mang gánh nặng tội lỗi và khổ đau ấy trên vai nữa.

Nàng muốn làm lại tất cả. Cũng như cây cỏ sang xuân đâm chồi nảy lộc, nàng thấy cần phải trút bỏ hết mọi ưu phiền cũ để cho dòng nhựa mới luân lưu trong cơ thể.

Nghĩ thế, A Kế Mỹ lau nước mắt. Và nàng kể hết cho Áo Đại Môn nghe cuộc đời của mình, những chuyện xảy ra từ khi còn thơ ấu trên đồi Ibuki, phải vâng lời mẹ lột xác chết trên bãi hoang bán lấy tiền cung phụng mẹ, rồi gặp Thạch Kinh Tử, theo mẹ mở trà thất, sông những năm sa đọa ở Kyoto, bị Hoa Sơn Sĩ Khánh cưỡng hiếp, nàng tự tử và được cứu sống ra sao, nhất nhất thuật lại. Nhiều đoạn không dằn được xúc động, A Kế Mỹ nức nở.

Lão đạo sĩ ngồi nghe, không nói gì chỉ thỉnh thoảng lắc đầu. Nước mắt A Kế Mỹ thấm ướt vạt áo gai trên đùi lão. Thương cho A Kế Mỹ bao nhiêu, lão không khỏi không ghen tức với Sĩ Khánh. Ôi chao ! Lòng trần còn nặng, dứt đi thật khó. Nhìn đầu A Kế Mỹ gục trên gối mình, phô làn da gáy trắng ngần, mịn màng. Áo Đại Môn giơ tay vuốt nhè nhẹ. Lão tự nhủ lòng:

“À thì ra da thịt này hắn đã làm chủ !”.

Mùi thơm da thịt quyện mùi phấn sáp thoang thoảng đưa lên ngây ngất. Hơi thở Áo Đại Môn nặng nề hơn. Đã lâu lắm lão không ngửi mùi này, bây giờ gần A Kế Mỹ, lòng ham muốn của lão trỗi dậy. Tấm thân suy nhược tưởng khô cằn, giờ đây sống lại.

Một ý tưởng tội lỗi vụt hiện. Nhưng lão vẫn ngồi yên, vẻ trầm mặc, mục quang dán vào làn gáy đầy, trắng có những sợi tóc đen mướt chải thẳng hàng của A Kế Mỹ. Trong phút hôn mê của lý trí ấy, màu trắng dường như mở rộng mãi ra, bao bọc lấy lão làm lão ngộp thở.

Một tiếng “kịch” ở đằng sau. Lão đạo sĩ quay lại. Con khỉ đã ngồi đấy từ bao giờ, loay hoay đang tìm cách mở nồi cháo. Đạo sĩ như tỉnh giấc, đẩy đầu A Kế Mỹ ra, đến bên bếp lửa. Tưởng có người đến đuổi, con khỉ chạy vội ra hiên. Lão quỳ xuống, đầu cúi rạp, miệng lẩm bẩm chẳng hiểu là một đoạn kinh, một bài sám hối hay một lời cảm tạ.

Lúc sau, lão quay vào, A Kế Mỹ vẫn còn phủ phục trên chiếu. Lão ôn tồn nói:

- Con ạ, đời người là bể khổ. Nhưng cái khổ của con so với cái khổ của bao nhiêu người khác vẫn chưa phải là to lớn. Đức Phật từ bi thương xót tất cả, cứu vớt tất cả. Con chỉ là nạn nhân của dục vọng. Quan trọng là tấm lòng. Tấm lòng con trong trắng thì con vẫn trong trắng. Múc cháo ăn đi con, cháo có lẽ khê rồi đó.

Nói xong, lão đạo sĩ nhặt bồ đoàn, cầm gậy lặng lẽ bước ra cửa. Đêm tàn, trăng lụn. Một tiếng vạc trên từng không vọng xuống, báo hiệu bình minh sắp rạng.

oo Cuối đông, vùng hoang địa quanh khu Teramachi lạnh buốt. Sương mù chỗ xanh lam, chỗ trắng đục, trên những ngọn lau khô còn vương vất chưa tan mặc dầu bấy giờ là cuối giờ thìn sang giờ tỵ.

Một tiếng “choét” sắc, gọn, vài cái lông rơi lả tả, tiếng vỗ cánh bay đi của con chim cắt. Thế là hết. Cuộc đời một sinh vật vừa được cáo chúng. Cắt tha mồi bay đến đậu trên cườm tay của Cát Xuyên Mộc. Hắn giơ con mồi lên, quay gọi Sĩ Khánh:

- Đại huynh ! Bữa nay mình đi săn thế là hên đấy chứ ! Mới sáng mà đã được chú chim gáy này rồi. Cắt này khá lắm !

Con chó săn theo sau, cất tiếng sủa vang, đuôi ve vẩy.

Cát Xuyên Mộc bỏ mồi vào bị đeo bên hông, lấy tay đập nhẹ nhẹ lên đầu chim cắt, đậy chiếc mũ da nhỏ xíu che mắt nó lại rồi tiếp tục len lỏi giữa hàng lau.

Hôm qua cũng gần chỗ này đây, con chó cắn đuôi con khỉ khiến nó bỏ chạy.

Không biết bây giờ đâu, đệ đoán nó trốn ở trong tàn cây đằng kia thôi ...

Không nghe trả lời. Ngạc nhiên, Cát Xuyên Mộc ngoái cổ nhìn, không thấy Sĩ Khánh đâu, bèn quay trở lại.

Nửa tháng nay, ngụ tại võ đường Hoa Sơn, Cát Xuyên Mộc chẳng có việc gì làm, bày trò tiêu khiển, thường cùng với chưởng môn nhân Hoa Sơn mang cắt đi săn bắn. Bữa trước qua đây, chẳng may con khỉ của hắn sợ hãi bỏ đi, bữa nay hắn muốn trở lại tìm.

Sĩ Khánh chẳng có lòng dạ nào đi săn, chỉ vì cần đến võ tài Cát Xuyên Mộc mà hắn phải chiều. Hai tuần chung sống với gã thiếu niên, nhiều khi hắn bực mình thấy rõ sự trưởng thành không đi đôi với tuổi trẻ. Cát Xuyên Mộc ưa rong chơi, tính nết phóng đãng gần như buông thả, y phục sặc sỡ không ra thế nào. Sĩ Khánh đôi khi dùng lời bóng gió nhắc nhở, Cát Xuyên Mộc chỉ cười, không để ý.

- Tiểu đệ còn trẻ, để khi nào lập gia đình, sống vào khuôn phép cũng còn kịp chán.

Nhìn Sĩ Khánh cau có, buồn rầu ngồi trên tảng đá, Cát Xuyên Mộc đến bên vồn vã:

- Đại huynh trong người không được khỏe chăng ?

- Không, tại hạ vẫn bình thường.

Một lát lại nói:

- Dạo này ta với thiếu hạ làm điều đó thật lầm.

- Điều gì ?

- Đi săn. Cứ rong chơi mãi chẳng luyện tập, ngày nguyên tiêu gần đến rồi, sao đủ sức địch với hắn !

Cát Xuyên Mộc cười để lộ hàm răng trắng bóng:

- Không sao. Theo ý đệ, ta chẳng nên lo lắng vô ích.

- Nhưng thiếu hạ phải biết hắn là tay ghê gớm, chẳng nên khinh thường. Binh pháp có nói không bao giờ được khinh địch. Trước khi tranh đua, phải chuẩn bị và tập luyện kỹ càng.

- Đệ biết chứ. Nhưng bây giờ trễ rồi. Cách tốt nhất là giữ cho lòng bình thản thoải mái. Thắng địch tùy thuộc nhiều yếu tố ...

Tuy nói thế, nhưng trong thâm tâm Cát Xuyên Mộc coi thường Sĩ Khánh lắm. Hắn cho Sĩ Khánh hẹp hòi, không biết nhìn xa trông rộng và thiếu những dự phóng tương lai.

Tài năng lại kém cỏi, mấy lần thử so gươm với Sĩ Khánh, hắn lấy làm lạ một người như vậy mà giữ chức chưởng môn một môn phái danh tiếng. Chả trách gì Hoa Sơn càng ngày càng lụn bại.

Theo ý riêng hắn, có lẽ em Sĩ Khánh là Điền Chính nhiều khả năng hơn, nhưng nghe nói Điền Chính rượu chè be bét, lại vô trách nhiệm, việc gì cũng phó mặc ông anh nên chưa chắc Điền Chính bảo vệ được gia phong. Vả có muốn tìm cũng khó. Hạc nội mây ngàn, biết tung tích hắn đâu mà tìm về cho kịp.

Cát Xuyên Mộc lắc đầu, thương hại Sĩ Khánh và cả phái Hoa Sơn. Nếu chưởng môn nhân Hoa Sơn đọc được những điều Cát Xuyên Mộc đang nghĩ, chắc hắn mất tinh thần lắm.

Có tiếng chó sủa dữ dội đằng xa. Cát Xuyên Mộc nói:

- Chó thấy mồi rồi. Để đệ ra xem sao.

- Thiếu hiệp cứ đi săn, nếu muốn. Ta về đây !

Cát Xuyên Mộc sửng sốt định nói gì, nhưng nghĩ lại thôi. Hắn mặc kệ Sĩ Khánh, theo hướng chó sủa, vạch lau xăm xăm đi tới.

Tiếng chó sủa mỗi lúc một gần. Đến nơi, thấy con chó săn đứng trước thềm một căn nhà đổ nát, vươn mình sủa dữ dội. Hắn đá con chó một cái, ghé mắt nhìn vào trong nhà tối như hũ nút. Hắn giơ tay kéo liếp. Con chó nhảy xổ vào nhanh như tên bắn. Tiếng kêu thét hãi hùng, tiếng chó sủa ủng oẳng, đồ đạc đổ vỡ rầm rầm lẫn với tiếng la hét thất thanh của một thiếu nữ làm căn vách ván rung rinh như sắp sập.

Trong cảnh tranh tối tranh sáng, Cát Xuyên Mộc nhìn con chó đè lên hình thù một người nằm trên chiếu. Mõm nó ngoạm vào cánh tay người ấy, lắc đi lắc lại định rứt đứt tay áo. Con khỉ lông vàng của hắn nhảy choi choi trên cái kệ gỗ, nhe răng kêu khẹc khẹc.

Không suy nghĩ, Cát Xuyên Mộc nhẩy xổ đến, hai tay nắm hai hàm răng con chó bửa mạnh. Một tiếng rắc, tiếp theo là những tiếng ằng ặc, máu tuôn xối xả, bắn cả vào mặt mũi hắn. Con chó dẫy đành đạch, máu lẫn với rãi rớt phun ra ướt đầm mảng lông cổ trước ngực. Một lát sau thì tắt thở hẳn.

Cát Xuyên Mộc quỳ bên A Kế Mỹ nằm thiêm thiếp. Hắn vạch tay áo nàng lên, vết răng chó cắn sâu vào tận trong thịt, máu loang ướt cánh tay trần. Áng sáng bên ngoài hắt qua khe liếp hé, trông nàng như một đóa phù dung bị xéo nát.

Cát Xuyên Mộc ghé miệng hút máu từ vết thương ra, nhổ đi mấy lần, rồi xé vạt áo buộc lại. Hắn lượm xác con chó vất ra sân, đoạn xốc A Kế Mỹ lên vai.

Gió lạnh bên ngoài làm hắn rùng mình. Hắn kéo vạt áo che cho người thiếu nữ.

oo Đến khuya, lão đạo sĩ trở về. Cảnh hoang vắng của căn nhà thê lương hơn và tự nhiên lão linh cảm có một chuyện gì ghê rợn vừa xẩy ra. Lão hốt hoảng gọi:

- Cô nương ! Cô nương còn đấy không ?

Không có tiếng trả lời. Chỉ thấy lão hành khất già ở phía sau lê bước tới.

- Nàng bị bắt đi rồi.

- Ai bắt ?

- Một tráng sĩ cao lớn còn trẻ lắm, mặc áo đỏ viền xanh, đeo trường kiếm.

- ...

- Chà ! Con người mới khỏe và đẹp làm sao ! Đẹp trai hơn ta và lão nhiều ! Sức lão chẳng giữ được nàng đâu !

Nói xong như rất vừa ý về câu pha trò đó, lão hành khất cười hềnh hệch.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau