THẠCH KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thạch kiếm - Chương 21 - Chương 25

Chương 21: Đường công danh

Trời hửng sáng, căn nhà hoang giữa rừng lau càng thêm tiêu điều, hiu quạnh.

Sương mù đọng trên mái chưa tan, gió sớm qua kẽ ván lùa hơi lạnh bên ngoài vào gian phòng trống trải. Mây xám giăng ngang bầu trời nặng trĩu và ảm đạm.

Thu đến rồi, đến thực rồi ! Nỗi u buồn bao trùm cả cảnh vật và len lỏi vào lòng người cô khách.

Đạo sĩ khất cái, lưng đeo sáo, tay xách bồ đoàn, chống gậy khập khiễng trở về, tấm vải gai khoác trên lưng ướt đẫm sương đêm. Đến cửa, lão dường như quá mệt, đặt bồ đoàn bên vách dựa lưng ngồi nghỉ, dáng thiểu não chẳng khác gì một linh hồn phiền muộn. Cơn gió lạnh thổi qua, đạo sĩ hắt hơi luôn mấy cái, mũi rãi ròng ròng chảy xuống bộ râu lốm đốm bạc lão cũng chẳng thèm lau, cứ ngồi thở dốc. Một lúc sau mới chống tay đứng dậy mở cửa bước vào nhà.

Việc đầu tiên lão nghĩ đến là hũ rượu, nhưng bước vào phòng, lão ngạc nhiên không thấy đâu. Trong cảnh tranh tối tranh sáng của gian phòng đổ nát chỉ có đống củi đã tàn, và bên cạnh, một người co quắp nằm ngủ. Đạo sĩ giật mình, định thần nhìn. Hũ rượu mẻ miệng và nồi cơm vất lăn lóc gần đó. Cúi xuống nhặt, lão ghé hũ sát vào tai lắc mấy cái:

không nghe tiếng gì, bình rỗng tuếch ! Chắc tên lang bạt này đã uống rượu của lão. Hừ ! Đáng giận thật ! Cơm có thể bỏ qua, nhưng có chút rượu để uống cho ấm bụng cũng tu hết thì thật tàn nhẫn. Không dằn được cơn tức, lão co cẳng đá anh chàng nằm ngủ một phát như trời giáng.

Mãn Hà Chí choàng dậy, nhìn lão đạo sĩ.

- Ngươi là ai, sao vào đây uống rượu của ta ?

Mãn Hà Chí tỉnh hẳn ngủ, hắn nhăn mặt:

- Thế ra rượu của lão đấy hử ?

- Không của ta thì còn của ai ? Ai cho phép ngươi uống rượu ấy ?

- Trót mất rồi, đạo sĩ tha lỗi.

- Này trót !

Và bồi thêm một cước nữa.

- Cha ! Lão này dữ quá ! Ta xin lỗi rồi mà !

- Xin lỗi không, không đủ !

- Vậy lão muốn gì ?

- Trả lại rượu cho ta !

Mãn Hà Chí cười hềnh hệch. Hắn vỗ vào bụng:

- Rất tiếc, ta không mổ bụng ra lấy rượu trả lại được.

Nhưng lão đạo sĩ không nghe, vươn cổ sát tận mặt hắn:

- Đồ ăn cướp ! Ngươi không biết ta phải vất vả đi từng nhà mới xin được một chút cơm và một chút rượu ! Ta già nhưng cũng phải sống chứ ! Ngươi đói, ta cho cơm, nhưng rượu, phải trả lại cho ta !

Trong cơn tức giận, giọng lão lạc đi, môi run run, nước bọt bắn cả vào mặt Mãn Hà Chí. Hắn phải quay đi, lê mình sang bên vách tránh.

- Này lão già, đừng có làm quá ! Đáng gì vài giọt rượu chua với chút cơm nguội, ta trót ăn rồi, đã xin lỗi ! Làm gì mà nhặng lên thế ?

- A, ngươi bảo ai nhặng ?

Đạo sĩ nắm tay áo Mãn Hà Chí. Hắn giật ra định đạp ông già xuống sàn thì lão đã nhanh nhẹn né tránh và thuận tay dùng một thế nhu đạo tung hắn qua cửa sổ. Mãn Hà Chí chưa kịp kinh ngạc về ngón đòn sử dụng một cách tinh thục này thì đã rơi ra ngoài hiên. Sàn hiên mục đổ đánh rầm, bụi bay mù mịt, kéo theo hàng lan can gỗ và tấm liếp phủ lên đầu Mãn Hà Chí. Hắn lúng túng như ếch nằm trong rọ, tay chân vướng vít không sao thoát ra được.

Đạo sĩ chạy lại nắm áo hắn lên giật liên hồi, sẵn gậy để bên, cầm bổ xuống đầu hắn như mưa bấc. Áo Mãn Hà Chí bị giật, tiền vàng trong bọc đổ ra rổn rảng. Lão già trố mắt:

- Chà chả ! Tiền đâu lắm thế này ?

Vớ được cơ hội tốt, Mãn Hà Chí vùng dậy. Hắn bị đánh đau, thở hổn hển, hằn học nhìn lão đạo sĩ:

- Lão khùng kia ! Thấy chưa ? Ta thừa tiền trả cho lão, nhưng lão đánh ta thì phải để ta đánh lại. Đánh bao nhiêu cái, ta phải đánh lại bằng ấy cho đủ số.

Đạo sĩ không đáp, mắt đăm đăm nhìn những đồng tiền vàng không chớp. Cơn giận dường đã nguội, lão đứng thừ người, tiền không nhặt mà cũng chẳng để ý gì đến gã thanh niên lão vừa đánh. Một lúc sau mới lẩm bẩm:

- Mê muội ! Ngần này tuổi đầu vẫn còn mê muội ! Hỉ nộ ái dục theo năm lỗ sáo bay đi, ta vẫn không nhớ ! Thật đáng xấu hổ ! Rượu ta không uống, người khác uống, hà cớ gì phải phân biệt của người, của ta ? Này anh kia, vào trong này sưởi ấm, ta không trách anh nữa !

Mãn Hà Chí ngạc nhiên vô hạn. Lão này tính nết thay đổi khó lường, cơn giận thoắt đến thoắt đi, chắc đã trải qua nhiều chuyện đau khổ. Hắn bất giác động lòng thương xót, nhặt mấy đồng tiền đặt vào tay lão. Đạo sĩ giật mình tỉnh mộng, rụt tay lại:

- Không, ta không lấy. Ta không cần tiền làm gì.

- Tiền bối dường như trong mình không được khỏe. Cần vãn bối giúp điều gì chăng?

- Không !

- Nghe giọng nói, hình như tiền bối quê quán ở miền tây ...

- Ờ, ngươi nhắc ta mới nhớ. Ta sinh quán ở Himeji.

- Vãn bối ở Mimasaka.

- Mimasaka hả, làng nào vậy ?

- Miyamoto.

Đạo sĩ yên lặng, nét mặt thoáng buồn. Lát sau chậm rãi như nói với chính mình:

- Miyamoto ! Nơi đó có nhiều kỷ niệm. Đồn Hinagura, ta đã đóng quân ... Chùa Tiểu Sơn ...

Mãn Hà Chí ngạc nhiên:

- Xin lỗi, thế ra tiền bối trước đây là một kiếm sĩ ?

- Phải, ta là Hoa Kính Áo Đại ...

Nhưng vội xua tay:

- Không, không phải ! Ta lẫn rồi, ngươi đừng để ý !

Rồi cúi xuống nhặt ống sáo và bồ đoàn:

- Ta đi đây, có lẽ mai mới về. Củi dưới bếp, nếu trời lạnh, lấy mà sưởi.

Nói xong, lom khom bước ra cổng, dáng đi phiền muộn khuất dần sau những rặng lau thưa.

oo Mãn Hà Chí ngồi một mình trong gian nhà trống trải. Gió lạnh đầu thu khiến hắn co ro, hai tay thủ bọc vẫn không đủ ấm. Hắn thèm chén trà nóng và một chút đường để lấy sức, nhưng trong cảnh này kiếm đâu ra. Nghĩ lan man, Mãn Hà Chí không biết vừa rồi hắn định lấy tiền của ngươi thanh niên tặng cho lão đạo sĩ có phải là một việc làm chính đáng không, nhưng hắn tặc lưỡi tự nhủ:

“Thì dù sao muốn trao tiền tận tay cho thân nhân gã cũng phải chi phí chút đỉnh chứ ! Mình không có tiền, hiển nhiên phải mượn của gã”õ. Hắn tự cho là phải và bằng lòng với lập luận ấy, tin rằng vong hồn người chết chắc không phản đối gì, miễn đừng tiêu nhiều quá. Có điều Mãn Hà Chí băn khoăn chẳng hiểu thân nhân Cát Xuyên Mộc là những ai và phải đi tìm bao lâu mới thấy !

Trong thời gian tìm kiếm, lỡ tiêu hết số tiền thì tính sao ? Mãn Hà Chí định dò hỏi Y Tô, người môn đệ kiếm phái Cổ Môn hắn nghe danh và cũng là nguồn hy vọng độc nhất giúp hắn phanh ra manh mối.

Mãn Hà Chí đứng dậy thu dọn quần áo, kiểm lại số vàng và bọc giấy dầu rồi vòng quanh căn nhà xem xét một lượt. Dưới trời thu ảm đạm, cảnh điêu tàn càng thêm rõ rệt.

Vết chân chồn cáo ngang dọc khắp nơi, cỏ dại cành gai mượn đường giậu đổ, leo lên tận mái. Nhìn cảnh hoang phế của căn nhà, Mãn Hà Chí liên tưởng đến sự trụy lạc của lòng người và cái chết của Cát Xuyên Mộc. Hắn thở dài ngao ngán. Đường đao kiếm chắc không phải là con đường dành cho hắn.

Mãn Hà Chí theo đường bộ đi từ Fushimi đến Osaka, không lữ quán nào là không tạt qua dò hỏi tin tức về Y Tô, nhưng không nơi nào biết.

Bữa kia, gặp kẻ đồng hành, hắn lân la làm quen, hỏi thăm Cổ Môn kiếm phái và Cát Đằng Cổ Tư Nhiễm Chúc.

- Ờ ờ ... tại hạ cũng có nghe. Nhưng nếu Cát Đằng Cổ Tư Nhiễm Chúc còn sống thì bây giờ đã già lắm. Nghe đâu ông ta quy ẩn trong một làng nhỏ vùng sơn cước. Nếu các hạ muốn rõ thêm, cứ đến Osaka hỏi một người tên Sơn Tỉnh Môn làm quản giáo cho vệ binh trong phủ Hòa thì biết.

Lời chỉ dẫn mơ hồ quá nhưng Mãn Hà Chí phải theo vì không có cách nào khác.

Đến Osaka, hắn thuê một phòng nhỏ trong một lữ quán gần nơi thị tứ rồi hỏi thăm Sơn Tỉnh Môn. Chủ quán gật gù:

- Có nghe. Ở đây ai không biết Sơn Tỉnh Môn, cháu Cát Đằng Cổ Tư Nhiễm Chúc.

Ngài dạy kiếm cho vệ binh trong phủ, nhưng đã bỏ đi từ đầu năm ngoái, hình như lui về cố xứ, đâu như Echizen. Ờ phải, Echizen ! Khách quan cứ đến Echizen hỏi, nhưng bản quán không bảo đảm ngài còn ở đó đâu nhé !

Mãn Hà Chí lại hỏi thăm về Y Tô.

- Y Tô hả ? Cũng cùng môn phái với Sơn Tỉnh Môn đấy. Nghe danh thôi, không rõ ông ta ở đâu.

Lại đi hỏi thăm nhiều nơi khác. Có người nhớ mang máng đã gặp Y Tô ở một căn nhà nhỏ ngoại ô thành Kyoto, lâu lắm rồi, không biết bây giờ ra sao !

Mãn Hà Chí thất vọng quá, muốn tung hê tất cả. Giữa đô thị rộng lớn, náo nhiệt như Osaka này, ai dại gì phí thời giờ điều tra gốc gác một thanh niên đã chết. Cuộc sống rộn rịp ngoài kia như liều thuốc kích thích tinh thần hắn. Ở khắp nẻo đường, ca lâu tửu quán, bảng cáo yết dán chi chít những lời kêu gọi, tuyển mộ vệ binh cho phủ họ Hòa.

Bất cứ tay giang hồ kiếm khách nào đầu quân cũng được trọng đãi. Người ta tung ra nhiều tin tức lạ lùng, như tin những lãnh chúa thất trận trước đây đều quy tụ cả dưới cờ Hòa Giả Nghị, rồi tay anh chị khét tiếng, đầu sỏ hàng mấy trăm du đãng vùng bến tàu bây giờ đã cạo trọc đầu, cải danh hiệu là Đại Mộng, chỉ chờ dịp nổi dậy cùng đàn em phò giúp Hòa Giả Nghị dành quyền chính. Họ nói tụi này sống đế vương lắm, nhờ vào tiền trong phủ chu cấp.

Hai tháng trời ròng rã, Mãn Hà Chí rong chơi ở Osaka, ăn ngon mặc đẹp, thân thể đã béo tốt hồng hào, không còn như khi mới đến. Hắn phấn khởi tinh thần, chẳng quan tâm gì đến số tiền của người chết bị thâm lạm. Thấy trọ Ở lữ quán không tiện và đắt, hắn thuê một căn phòng nhỏ vùng ngoại ô, ban ngày ăn tiệm và rong chơi, rình rập cơ hội gặp người thần thế tiến dẫn vào trong phủ giữ một chức vụ gì kha khá.

Mãn Hà Chí nghe nhiều chuyện khiến hắn nuôi hy vọng lớn:

nào tên giang hồ lạo thảo này trước đây phải làm phu đổ rác trong tiệm ăn, được người đề bạt, nay võng lọng nghênh ngang, đi cáng bốn người khiêng, kẻ kia chỉ biết sơ sài vài thế kiếm nay cũng trở thành quản giáo lương bổng hàng năm trên ngàn gia. lúa. Chờ cơ hội mãi không gặp, đôi khi Mãn Hà Chí cũng thất vọng. Bây giờ người khôn của khó, cảnh phong lưu ở bên kia bức tường cao, đá ghép khin khít khó có kẽ nào mà chui lọt. Nhưng hy vọng vốn là lẽ sống của cuộc đời, ngày nọ qua tháng kia, chưa gặp dịp đấy thôi, hắn còn trẻ và khỏe mạnh, đâu đến nỗi. Huống chi số vàng tính ra mới vơi non nửa, nếu khéo tiêu cũng cầm cự được hàng năm nữa.

Trời mùa đông thế mà rét ngọt. Viễn ảnh mùa tuyết sắp đến làm cho mọi sinh hoạt vội vàng hẳn lên. Trên những bãi hoang ven đô, buổi sáng cỏ đã bắt đầu đóng giá. Đến trưa, những cửa hàng và những lều diễn tuồng rong cùng những quán lá tạm thời dựng lên để gá bạc đã phải trải chiếu trước cửa cho đỡ lầy lội. Càng về chiều, tiếng thanh la, tiếng trống, tiếng hò hét, chào mời càng hăng. Chỗ này chiếu bán thuốc, chỗ kia quán ăn. Mùi thịt nướng, mùi xì dầu xông lên ngào ngạt. Khi hoàng hôn chập choạng, hàng đoàn gái giang hồ phất trát như bôi vôi, tay áo kimono rộng thùng thình như những con bướm đêm, tản ra tứ phía.

Tại một quán rượu đầu phố có kê ghế đẩu ra tận hiên ngoài, hai kẻ trông ra vẻ thợ thuyền đang đấu khẩu, trước còn cãi vã, sau dùng tay chân đấm đá. Lúc Mãn Hà Chí đến, bọn người hiếu kỳ vây quanh đã có hàng chục. Hắn cũng tò mò đứng ngoài khoanh tay nhìn. Nhưng hoặc vì nhờ bộ quần áo sang trọng hắn mặc, hoặc nhờ thanh kiếm hắn đeo bên sườn mà hai kẻ kia e ngại, bỏ đi không đánh nhau nữa. Đám đông tản mát. Chủ quán chạy ra niềm nở:

- Đa tạ đại hiệp. Không có đại hiệp chắc chúng còn làm dữ, gãy cả đồ, vỡ cả chén. Xin mời đại hiệp quá bộ vào trong để thiểm quán kính cẩn tạ vài chung rượu.

Chủ quán cúi đầu mấy lượt, ân cần vồn vã lắm. Mãn Hà Chí thấy vui vui, tự cho mình quan trọng. Hắn hắng giọng:

- Thế nào ? Đông khách chứ ông quán ?

- Dạ, cũng khá. Gần cuối năm, ai cũng vội thành ra không mấy người ngồi lâu.

Chủ quán sai người hâm rượu ngon mang ra. Mãn Hà Chí tay bưng bát rượu, tự hỏi không biết mình lại bắt đầu uống rượu từ bao giờ. Hắn đã thề không đụng vào rượu khi rời Vân Nghê quán vào làm phu vác đá tại công trường Mokoyama, nay số mệnh run rủi làm sao vẫn còn rượu ngon uống, áo đẹp mặc. Không hẳn hoàn toàn phì mã với khinh cừu, nhưng cũng không đến nỗi quá tệ. Hắn sung sướng dùng đũa gõ nhịp, nghêu ngao hát. Bát nọ theo bát kia, mặt Mãn Hà Chí đỏ gay. Hắn lè nhè:

- Thì đôi lúc cũng phải có chén giải sầu chứ ! Nếu không, đời người còn gì là sinh thú ...

- Hà hà, phải lắm ! Ở đời cứ đắc ý vui chơi, chớ để chén vàng trơ với nguyệt ...

Người vừa nói là một thanh niên cao nhỏng, phục sức ra dáng giang hồ hiệp khách, lưng đeo trường kiếm nhưng quần áo bẩn thỉu gớm ghiếc. Y đẩy ghế đến bên bàn Mãn Hà Chí, nhìn hắn từ đầu tới chân, rồi buông sõng:

- Chào huynh đài !

Tiếp theo, tay ngoắc tửu bảo:

- Cho ta một bình, thứ tốt ! Đừng hâm nóng quá !

Mãn Hà Chí nhìn gã thanh niên, thấy y có vẻ như khách quen trong quán, bèn nói:

- Bằng hữu hãy dùng tạm rượu của tại hạ. Chờ hâm nóng xong cũng lâu đấy !

Thanh niên không khách sáo, tự rót rượu ra bát, uống một hơi cạn:

- Hà ! Rượu uống được lắm !

Rồi giơ tay cầm bình rót nữa, liên tiếp năm lần, không đổi sắc diện:

- Tửu lượng bằng hữu khá lắm nhỉ. Mỗi lần uống mấy bát ?

- Không biết nữa. Đệ không tính bát, nhưng chừng mười, mười hai bình gì đó.

- Chà, dữ vậy ? Tại hạ chỉ một bình là đủ.

- Đời bây giờ không say thì tỉnh làm gì ? Mấy anh cầm quyền đó tài ba gì đâu, chẳng qua chỉ nhờ vài thủ đoạn chính trị vặt mà lên, chẳng đáng cho ta phục.

Y lấy tay che miệng, ra vẻ như lỡ lời, nhưng lại ghé sát tai Mãn Hà Chí:

- Nếu Osaka lại chiến tranh với Edo lần nữa thì huynh đứng về phe nào ?

Mãn Hà Chí cũng say. Hắn nhớ trước đây đã chiến đấu dưới cờ Osaka nên đáp ngay không do dự:

- Osaka !

- Hoan hô ! Vậy mừng ông bạn mới !

Thanh niên vừa nói vừa lấy tay vỗ vào lưng Mãn Hà Chí, tay kia cầm bình rượu rót nữa:

- Đệ xin tự giới thiệu:

Điểu Sơn Minh, quận Isai. Chắc huynh đài từng nghe danh Điều Quang Trích Mộ, chưởng ấn quân nhu trong phủ ? Bạn đệ đấy ! Tướng quân Hà Quang Anh cũng là chỗ thân hữu, biết nhau từ thuở hàn vi. Mấy tay kia, Huỳnh Quan Phát, Bộ Mịch Lâm Phong, đoàn trưởng vệ binh trong phủ, biết cả, nhưng đệ ít giao du.

Tính họ không dễ dãi thoải mãi như anh em mình, giao du không sướng !

Uống xong bát rượu, anh chàng cao nhỏng tự xưng là Điểu Sơn Minh kia làm như hối hận đã tiết lộ nhiều điều không nên nói, lấy tay chùi mép:

- Nhưng huynh là ai ? Đệ chưa rõ quý danh tính ...

Mãn Hà Chí tuy không tin, nhưng nghe những điều y vừa nói, cũng mừng gặp được tay quyền thế, bèn khoa trương:

- Bằng hữu có nghe danh Cổ Môn kiếm phái bao giờ chưa ?

Điểu Sơn Minh gật gù:

- Có nghe qua !

- Sư phụ tại hạ là Cát Đằng Cổ Tư Nhiễm Chúc, ba mươi năm trước danh trấn giang hồ. Bây giờ tiên sinh ở ẩn nhưng những đường kiếm bí truyền người tạo ra để truyền lại cho tại hạ hết ...

- Quả không ngoa ! Đệ thoạt trông đã biết ngay huynh phải là tay kiếm sỹ có hạng! Cử chỉ khoan hòa nhưng ẩn tàng một phong cách hiên ngang. Dám hỏi tôn tính đại danh là gì ?

- Tại hạ là Cát Xuyên Mộc, đồng môn với Y Tô Gia Nghĩa.

- Chà, đây là Cát Xuyên Mộc đấy ư ?

Mãn Hà Chí thót ruột, định rút lại lời nói, thì gã thanh niên kia đã quỳ mọp xuống chân bàn, khấu đầu làm lễ:

- Dám xin các hạ tha lỗi cho kẻ ngông cuồng này đứng trước Thái Sơn mà không biết ! Qúy tính cao danh vang dội võ lâm, ai nghe cũng phải kính nể. Nhưng đây là lần đầu tiên tại hạ được bái yết tôn nhan, làm sao biết được ! Thật là đắc tội, đắc tội !

Mãn Hà Chí ngạc nhiên khoan khoái. Hắn không ngờ cái tên Cát Xuyên Mộc nổi danh đến thế ! Nếu anh chàng Điểu Sơn Minh này là bạn bè hay thân thích gì với Cát Xuyên Mộc thì thật khó xử, đến phải so kiếm, nhưng sự thể đã ra thế này, âu là trời định, bèn lên giọng kẻ cả:

- Bất tất phải đa lễ. Nếu bằng hữu khách sáo như thế thì làm bạn sao được.

- Xin đa tạ ! Mong rằng những lời nói ngông cuồng của tại hạ không làm rác tai các hạ.

- Thôi mà ! Bằng hữu cứ coi ta như bạn thiết, chuyện đó chẳng hề gì.

- Càng để ý càng thấy đại huynh đúng là tay cao thủ. Nhưng vẫn không hiểu sao đại huynh chưa có chức vụ gì quan trọng ?

- Ta dành thì giờ chú tâm vào việc luyện kiếm. Vả lại cũng ít giao du ...

- Như vậy, đại huynh không muốn ai biết hoặc không thích giữ địa vị gì chăng ?

- Không hẳn thế ... Ta cũng muốn mang tài ba ra giúp đời, nhưng chưa gặp cơ hội.

- Nếu chỉ có thế thì có gì khó ! Cổ Môn kiếm vang chấn thiên hạ, tiểu đệ lại quen biết nhiều, chỉ sợ đại huynh không ưng, chứ nếu muốn, tiểu đệ xin hết lòng giúp.

Mãn Hà Chí không nói gì. Chờ lúc sau, Điểu Sơn Minh lại tiếp:

- Chiều mai đệ có hẹn với Hà Quang Anh tướng quân. Đệ xin tiến cử đại huynh lên Hà tướng quân xem sao. Hà tướng quân là bạn cũ, chắc thế nào cũng thuận.

Mãn Hà Chí mừng thầm trong bụng nhưng bên ngoài ra vẻ lãnh đạm. Hắn gọi tửu bảo trả tiền. Điểu Sơn Minh lo lắng:

- Thế nào, đại huynh tính sao ?

- Chỗ này trống trải chả nên nói những chuyện ấy. Ta đi tìm nơi khác kín đáo hơn.

Điểu Sơn Minh thở phào nhẹ nhõm:

- Vậy xin đưa đại huynh đi.

Hai người tới một khu ăn chơi, đủ loại ca lâu tửu quán. Mãn Hà Chí muốn dẫn Điểu Sơn Minh vào một quán rượu sang trọng nhưng y gạt đi, nói những nơi đó đắt tiền mà không thoải mái. Y đề nghị đến cuối xóm, vào một khu thanh lâu mà thương vụ phát đạt, theo y, chỉ riêng đèn mỗi đêm tiêu thụ cũng đến hàng trăm thùng dầu thắp.

- Rồi đại huynh xem, chỗ này nhiều thứ lạ, đáng tiền lắm. Khách làng chơi vẫn gọi là Lạc Hoa Mộng.

Mãn Hà Chí vẫn ngại phải chi nhiều, nhưng thấy không khí phóng túng quyến rũ, nên tặc lưỡi theo luôn.

Họ vào một căn nhà làm trên bờ hào sát chân thành có rạch ăn thông ra biển. Mỗi khi thủy triều lên, nước tràn tới, đập vào những cột gỗ cắm làm kè phía sau nhà kêu phì phọp. Ở trên lầu nhìn xuống, nếu chú ý, người ta thấy cả những con cáy con còng, gọng đổ như son, chạy ngang dọc trên bùn tìm mồi. Mãn Hà Chí rùng mình ghê sợ, có cảm tưởng như đấy là những con nhện độc. Khu Lạc Hoa Mộng này đông dân thật ! Trời mới xế chiều mà đã thấy vô số các nàng nhộn nhịp trong ngõ. Đôi khi cũng bắt gặp một khuôn mặt trẻ trung, nhưng phần lớn đều xấp xỉ tứ tuần, phấn son không che dấu được nỗi buồn trong khóe mắt hay vẻ tiều tụy của thân hình.

Điểu Sơn Minh giải thích:

- Nhiều người đến đây chỉ cốt tìm hoa. Dĩ nhiên là thú vui xác thịt đầy dẫy ra đấy, nhưng nếu đại huynh muốn hưởng những thú vui tao nhã cũng không phải là không có.

Vào một đêm đông tuyết rơi đầy đất, ngồi với các nàng nghe thủ thỉ tâm tình thì cuộc đời các nàng cũng đáng thương lắm ! Đa số do hoàn cảnh đưa đẩy buộc phải làm nghề này, có người trước là phi tần trong cung lãnh chúa hoặc con em những kiếm khách danh tiếng một thời, vì cha anh thất sủng hoặc chết trận mà thành bơ vơ. Nhiều nàng tài hoa rất mực nhưng số kiếp long đong, thật đáng thương ! Nghĩ cho cùng, như đại huynh thấy đấy, ở đời này chố ô uế, rác rưởi thiếu gì những cánh hoa rụng !

Mãn Hà Chí mặc cho Điểu Sơn Minh gọi rượu và chọn những nàng chiêu đãi. Y xem ra nhiều kinh nghiệm và từng trải nên Mãn Hà Chí tin tưởng lắm.

Qua một đêm hoan lạc, sáng hôm sau cả hai dậy trễ. Mãn Hà Chí nghe mệt mỏi trong mình, có ý muốn về nhà trọ, nhưng Điểu Sơn Minh giữ lại:

- Đại huynh ở lại đến chiều đã.

- Để làm gì ?

- Đệ đã nói chiều nay có hẹn với Hà tướng quân, nhân thể tiến cử đại huynh.

Quên rồi sao ? Bây giờ đến thì sớm quá, vả đại huynh chưa cho biết điều kiện.- Ta chẳng muốn đòi hỏi nhiều.

- Không nên ! Tay kiếm sĩ danh tiếng như đại huynh không nên nhún nhường quá.

Đòi ít, người ta coi thường đi. Đệ đòi ba ngàn gia. lúa một năm, đại huynh nghĩ sao ?

- Cũng được, tùy bằng hữu.

Buổi chiều trời mùa đông chóng tối. Xóm Lạc Hoa này ở ngay dưới chân thành, bị bóng thành che khuất nên người ta có cảm tưởng đêm đến mau hơn.

Mãn Hà Chí và Điểu Sơn Minh dẫn nhau ra khỏi xóm thì lác đác đã có nhà lên đèn. Qua cầu treo vào thành, đi một thôi đến khu gia cư thanh lịch, Điểu Sơn Minh chỉ một ngôi biệt thự lớn, tường cao vây kín, vườn cây rậm rạp bao quanh, bảo đó là tư thất của Hà tướng quân. Gió chiều trở lạnh, hơi men tan dần, cả hai rét run như cầy sấy.

- Hà Quang Anh trước cũng chẳng có gì, như đệ thôi, nhưng nhờ được người tiến dẫn, bây giờ thành công như thế ! Nào, bây giờ đệ xin vào yết kiến Hà tướng quân để tiến cử đại huynh. Nhưng ... - Điểu Sơn Minh ngập ngừng - nhưng ... phải có cái gì ra mắt chứ ?

Mãn Hà Chí biết rõ, cầu cạnh chuyện gì cũng cần chút lễ, nên không ngần ngại:

- Tất nhiên ! Tất nhiên !

Bèn rút túi tiền vàng trong bọc ra, đếm một số đưa cho Điểu Sơn Minh.

- Hà tướng quân địa vị cao trọng, đại huynh cũng nên liệu cái lễ thế nào coi cho được ...

Mãn Hà Chí ngần ngừ. Điểu Sơn Minh vội trấn an:

- Xin cứ yên tâm. Nếu Hà Quang Anh không nhận, đệ sẽ mang lại trả đại huynh, lo gì. Vả lại đệ quen biết rất lớn, không người này thì người khác, ở đây thiếu gì kẻ giúp đỡ chạy việc, chỉ cần tiền trà nước phải chăng.

Mãn Hà Chí dốc số vàng ra tay, giữ lại một đồng, còn trao cả cho Điểu Sơn Minh:

- Đây, ta chỉ mang theo có thế. Bằng hữu gắng làm cho được !

- Đại huynh cứ yên tâm.

- Thế ta đứng đây đợi hay sao ?

- Đợi cũng được, nhưng không biết bao giờ mới xong. Đêm lạnh, hay đại huynh cứ về nghỉ, mai sẽ gặp.

- Ở đâu ?

Điểu Sơn Minh do dự một lúc.

- Bãi đất trống vẫn dùng diễn trò và hát rong gần chợ cửa Nam, đại huynh biết chứ?

- Biết !

- Hay cứ chờ tiểu đệ trong quán rượu, chỗ gặp nhau hôm qua ấy.

- Cũng được.

Điểu Sơn Minh bỏ tiền vào bọc, giơ tay từ biệt. Y thong thả bước qua cổng ngôi biệt thự, dáng điệu đầy tự tin. Mãn Hà Chí gật gù, trong lòng không nghi ngờ gì nữa:

“Anh chàng này quả có quen Hà Quang Anh thật !”.

Và đêm hôm ấy, trong phòng trọ, hắn mơ thấy cảnh xa mã dập dìu.

oo Hôm sau Mãn Hà Chí lò dò đến bãi đất hoang vùng ngoại ô sớm lắm. Cỏ còn ướt sương. Gió sáng gây gây lạnh. Các chủ sạp trong chợ đã bắt đầu chuyển hàng từ những gian lều xiêu vẹo ra ngoài, xếp la liệt trên chiếu.

Mãn Hà Chí la cà quanh bãi đất trống, đảo mắt nhìn quanh, chú ý tìm anh chàng họ Điểu. Quán rượu mở cửa, hắn vào chọn một chỗ khuất trong góc ngồi nhìn ra ngoài, quan sát khách qua lại. Ngồi lâu không ăn uống gì bất tiện, hắn gọi một bình rượu nhỏ nhâm nhi, đợi mãi đến chiều vẫn không thấy Điểu Sơn Minh đến. Mãn Hà Chí hơi thất vọng, tự an ủi:

“Chắc bận chuyện gì, có lẽ mai hắn mới đến”. Hôm sau, Mãn Hà Chí lại tới quán, lòng thấp thỏm. Chờ đến khi mặt trời ngả bóng, uống hết hai bình rượu cũng không thấy Điểu Sơn Minh đâu, hắn chột dạ. Sự nghi ngờ bắt đầu nhen nhúm. Lúc phố chợ lên đèn và các quán trong bãi rục rịch che liếp, Mãn Hà Chí rầu rầu bước ra thất thểu về phòng trọ. Ngồi một mình trong phòng vắng đâm lo nghĩ vẩn vơ, đôi lúc hắn tự bắt mình lầm bầm nguyền rủa thằng lừa gạt và bực bội vì đã quá tin người, nhưng vẫn cố bám lấy tia hy vọng vẫn còn le lói:

“Hay nó ốm ? Chắc thế ! Thằng ấy xem ra cũng không đến nỗi nào !”.

Ngày thứ ba, Mãn Hà Chí lại mò đến quán rượu, loanh quanh bên ngoài một lúc rồi mới bước vào. Thấy chủ quán, hắn làm bộ vui tươi che nỗi ngượng nghịu:

- Rượu quán này ngon lắm ! Ta mê rồi đó !

- Khách quan đợi người quen ?

- Phải, một người tên Điểu Sơn Minh, mới quen ở quán này đấy.

- Có phải anh chàng cao và gầy như cây tre miễu không ?

- Chính thị.

Chủ quán hỏi thêm chi tiết, Mãn Hà Chí không giấu diếm.

- Thế hắn nói đi chạy việc cho khách quan rồi ăn cắp hết tiền ?

- Không, hắn không ăn cắp. Ta đưa cho hắn nhờ vận động giúp với tướng quân Hà Quang Anh, tìm một chân kha khá trong phủ đấy chứ ! Hắn bảo ta đợi ở đây chờ kế t quả.

Chủ quán nhìn Mãn Hà Chí, thương hại:

- Khách quan đợi hắn đến trăm năm cũng chẳng gặp !

Mãn Hà Chí nhướng lông mày:

- Sao lão biết ?

- Thì ở đây ai còn lạ gì ! Hắn lừa không biết bao nhiêu người rồi. Khu chợ này thiếu gì những kẻ như Điểu Sơn Minh. Trông dáng điệu và cách ăn nói của nó, tưởng quan khách cũng biết mà đề phòng rồi chứ ! Thật rủi, bây giờ biết đâu mà tìm ?

Mãn Hà Chí vừa buồn vừa thẹn. Chủ quán ái ngại:

- Thôi, khách quan cũng chẳng nên buồn. Của đi thay người, ai mà luôn luôn giữ miếng được ! Bạn bè còn không tin thì biết tin ai ?

Nhưng Mãn Hà Chí không phải chỉ buồn mà thôi. Hắn lo ngại thực sự. Cả số tiền coi như mất hết, kéo theo bao nhiêu hy vọng đặt vào đấy:

nào phì mã với khinh cừu, kẻ hầu người hạ, nghênh ngang trở về làng cũ. Bây giờ biết nói làm sao với mẹ, với Oa Tử ?

Nhìn những người qua lại chẳng khác gì những con rối trước mặt, hắn ngẩn ngơ như mất hồn.

- Còn cách này - Tiếng chủ quán kéo hắn về thực tại - nhưng không chắc gì kết quả. Khách quan thử tìm ở chỗ hay làm trò rong xem. Gần đấy có một sòng bài, tụi nó hay tụ họp, tên lưu manh ấy có tiền, thế nào cũng la cà vào đó sát phạt.

Mãn Hà Chí mừng rỡ đứng bật dậy:

- Phải lắm ! Cảm ơn lão quán. Khu trò rong ở về phía nào nhỉ ?

oo Mãn Hà Chí đi vòng ra phía sau chợ, đến một chỗ có hàng rào nứa vây quanh; Trên các cột trồng rải rác từng quãng, cờ đuôi nheo màu sặc sỡ treo tứ tung bay lật phật trước gió. Một cái cổng dựng sơ sài cạnh cây phướn cao, buộc tấm vải đỏ dài chừng ba sải tay viết la liệt những hàng chữ đen khoe sự lành nghề của nhà ảo thuật trứ danh nhất Osaka, những cọp những gấu mới bẫy được và bao nhiêu trò lạ khác. Bên cổng đặt cái trống lớn, một người cởi trần trùng trục chít khăn đầu rìu, đóng khố, tay cầm dùi đánh liên hồi lên mặt trống. Tùng ... tùng ... tùng ... Đứng cạnh là một gã trạc tam tuần, da mặt sần sùi như vỏ cam sành, miệng lưỡi dẻo quẹo luôn mồm mời chào, níu người này kéo người nọ, thỉnh thoảng lại đưa tay thu tiền những kẻ hiếu kỳ vào xem và đẩy họ qua cổng.

Mãn Hà Chí đi qua đám làm trò rong, bọc về phía sau, thấy một khoảng đất vuông bằng cái sân nhỏ, quây chiếu tứ bề. Nhìn qua khe chiếu, vô số người ngồi đứng, chỉ trỏ cãi cọ Ồn ào. Tiếng chửi thề tục tĩu vang ra tận bên ngoài.

Đang phân vân, bỗng có kẻ đến đằng sau vỗ vai:

- Muốn chơi hả ?

Mãn Hà Chí giật mình quay lại. Tên kia cười hì hì, cầu tài:

- Đánh bạc không ?

Mãn Hà Chí gật đầu. Hắn trỏ một cái cửa hẹp, cũng có chiếu che, nếu không để ý thì không biết.

- Vào đi !

Bên tường, xung quanh tấm vải bố lớn, con bạc ngồi xổm thành vòng tròn lố nhố.

Thấy khách lạ, nhà cái ngừng tay quay ra. Mọi người ngoái cổ lại nhìn. Một người yên lặng đứng lên nhường chỗ. Mãn Hà Chí do dự rồi đánh bạo hỏi:

- Điểu Sơn Minh có đấy không ?

- Điểu Sơn Minh ? Cữ này không thấy hắn lại. Chuyện gì đấy ?

- Liệu hắn có đến không ?

- Mẹ ! Thằng này hỏi lẩn thẩn, bố ai mà biết được. Có chơi thì ngồi xuống.

Nghe giọng nói xách mé, Mãn Hà Chí ngại, ấp úng:

- Xin lỗi, xin lỗi ... Ta ... ta muốn tìm Điểu Sơn Minh ... Xin lỗi !

- Không chơi hả ? Mẹ ! Mất thì giờ. Đi chỗ khác mà tìm !

Mãn Hà Chí giật lùi về phía cửa. Nhưng một tay anh chị đã chống tay đứng dậy tiến đến trước mặt:

- Ê, không được ! Đâu có dễ dàng thế ! Không chơi cũng phải trả tiền chỗ.

- Ta không có tiền.

- Không có tiền ? Vậy mày đến đây làm gì ? Định ăn cắp hả ? Không trả chúng ông đánh bỏ mẹ !

Mãn Hà Chí nóng mặt:

- Tụi này láo ! Ai ăn cắp ?

Và làm bộ để tay vào đốc kiếm. Tên anh chị cười hô hố:

- Thôi đi ! Nếu chúng ông sợ thì đâu còn sống đến ngày nay ở cái đất Osaka này !

- Này, ta không giỡn. Các chú có biết ta là ai không ?

Tiếng cười càng to, đầy chế giễu:

- Ai biết mày là thằng chó đẻ nào ! Là ai thì cũng phải trả tiền chỗ.

- Ta là Cát Xuyên Mộc, đệ tử chân truyền của đại kiếm sĩ Cổ Tư, chưởng môn kiếm phái Cổ Môn ...

Mãn Hà Chí nói một hơi, tưởng xưng danh Cát Xuyên Mộc thì bọn kia phải ngạc nhiên bỏ ngay thái độ hỗn láo. Ngờ đâu, tên anh chị chẳng nói chẳng rằng, nhổ bãi nước bọt đánh bẹt một cái xuống đất, quay gọi đám đông:

- Ê, tụi bay coi thằng khùng này nó lắp bắp gì đây này ! Để xem ...
Mãn Hà Chí rút kiếm đánh soạt, dùng đầu mũi kiếm chích vào mông tên anh chị, khiến hắn nhảy lên la hoảng:

- Á à ... thằng này ...

Mọi người nhốn nháo. Có kẻ vơ tiền trên chiếu bạc. Tiếng kêu la, tiếng chửi tục ồn ào như chợ vỡ. Thừa lúc lộn xộn, Mãn Hà Chí lẻn qua khe chiếu che, chuồn ra ngoài nấp sau một cái thùng rỗng. Bọn du côn chia nhau đổ đi tìm, may sao không để ý đến chỗ hắn nấp. Hắn nín thở ngồi thu lu ở đó, một lúc yên tĩnh trở lại mới hoàn hồn. Hắn để ý nghe ngóng, đưa mắt nhìn quanh, bỗng thấy một khe hở gần hàng rào nứa, cỡ con chó to chui lọt, đồ chừng mình cũng có thể chui được, bèn len lén bò vào. Bên trong tối thui. Thì ra đó là cái gầm sàn gỗ của bọn làm trò dạo. Hắn nép mình sát đất, cứ thế bò, một lát sau mới ra khỏi sàn gỗ.

Nơi này gần đống rác, vắng vẻ không có ai. Mãn Hà Chí đứng dậy phủi sạch quần áo, sửa lại đầu tóc rồi giả bộ như khách nhàn du, ung dung vừa đi vừa nhìn ngắm. Có điều hắn trông người đàn ông nào có dáng cao gầy gầy cũng từa tựa Điểu Sơn Minh cả !

Đứng trước một cái dàn tre căng tấm da hổ lớn Mãn Hà Chí dừng lại sau một đám đông.

Tấm da hổ dường đã cũ, nhiều chỗ trụi cả lông nhưng vẫn còn nguyên cả đầu và chân, nhe nanh giơ vuốt. Trong lều tranh tối tranh sáng, hình chúa sơn lâm tuy chỉ là tấm da nhưng cũng cho hắn một cảm giác ghê ghê rờn rợn. Bỗng có tiếng nói rất quen của hai ông bà già cách chỗ hắn đứng vài người làm hắn chú ý dỏng tai nghe.

- Con cọp này chết rồi phải không cậu ?

Tiếng ông già trả lời, ra vẻ hiểu biết:

- Dĩ nhiên chết rồi ! Đây chỉ là da nói. Mắt nó sáng thế kia nhưng là mắt thủy tinh, không phải thật !

- Thế sao ở bên ngoài hộ quảng cáo là cọp mới bẫy được ? Làm cứ như là còn sống!

- Ối dào ! Quảng cáo ấy mà ! Họ cũng thêm thắt đôi chút chứ !

- Đâu được ! - Bà già nói có vẻ tức giận - Thế là nó lừa mình. Ra đòi lại tiền.

- Thôi, bà đừng vẽ chuyện, người ta cười cho.

- Ai cười ? Mình làm gì mà họ cười ? Mình có phải là trẻ nít đâu mà để chúng lừa như vậy ! Cậu không đòi, ta đòi.

Bà già vùng vằng đi ra. Ông lão cũng quay lại. Vừa lúc tấm vải dùng làm cửa lều mở cho khách mới vào, ánh sáng bên ngoài chiếu rõ mặt hai ông bà lão. Mãn Hà Chí nhận ngay ra mẹ mình và cậu Ngô, vội quay đi để tránh nhưng không kịp nữa, cậu Ngô đã trông thấy hắn.

- Ai như thằng Mãn Hà Chí ! Phải Mãn Hà Chí đấy không ?

Bà Hồ Điểu ngạc nhiên tột độ, quay nhìn em:

- Cái gì ? Cậu nói cái gì thế ?

- Thằng Chí, Mãn Hà Chí, bà không thấy ư ?

- Đâu ? Đâu ? Cậu chỉ trông gà hóa cuốc !

Mãn Hà Chí nghe cậu và mẹ nói về mình, không biết nghĩ sao, cúi đầu thật thấp, lủi vào đám đông trốn mất.

- Tôi thấy nó rõ ràng mà ! Nó vừa đứng đây, nhưng sao bây giờ không thấy nữa !

Kìa, nó chạy kia kìa !

- Thật không ? Thật nó không ? Bớ Mãn Hà Chí !

Cậu Ngô vừa lôi chị vừa chạy ra cửa. Mấy năm sau này, bà Hồ Điểu lang thang đây đó tìm con, ăn ngủ thất thường lại gặp sương gió nên yếu đi, không còn được như trước.

- Khoan, khoan ! Cậu làm ta ngã chết bây giờ !

Mọi người nhìn hai ông bà già ngạc nhiên. Họ không biết ất giáp gì nhưng cũng chạy đến giúp, đỡ bà già ra cửa.

Mãn Hà Chí vừa chạy vừa quay lại nhìn, thấy mẹ và cậu đuổi theo, miệng gọi tay vẫy rối rít:

- Mãn Hà Chí ! Mãn Hà Chí ! Ta đây mà, sao lại chạy ?

Mãn Hà Chí phân vân. Hắn dừng lại một lát rồi nghĩ thế nào lại cắm cổ nhảy ra khỏi hàng rào nứa. Cậu Ngô nhất định đuổi theo, miệng không ngớt gọi tên hắn. Bà Hồ Điểu run rẩy chạy theo sau. Bỗng bà lấy hết sức, gân cổ gào lớn:

- Bớ làng nước ! Thằng ăn cắp ! Nó ăn cắp của tôi ! Bắt lấy nó !

Thế là người ta rầm rầm đuổi theo. Vài thanh niên khỏe mạnh rút bậy cây sào hoặc quơ vội cái cán chổi, chạy theo đám đông, ồn ào như bắt giặc. Mãn Hà Chí bị bao vây tứ phía. Họ nắm cổ hắn, dìm đầu xuống, tống cho vài quả thụi.

- Bắt được nó rồi ! Nó ăn cắp của bà lão cái gì ?

- Nó giật túi tiền. Bà già mất hết cả tiền.

Mỗi người nói một câu chờ bà lão đang lệt bệt chạy tới. Sẵn gậy, họ phang ngay cho tên ăn cắp một trận. Mãn Hà Chí kêu la, trần tình. Mặc ! Không ai nghe, không ai tin hắn !

Khi bà Hồ Điểu đến nơi, bà mệt nhoài thở không ra hơi, hổn hển ôm lấy Mãn Hà Chí:

- Con ! Con ! Mẹ đây mà ! Sao con lại chạy thế con ?

Ai nấy trố mắt kinh ngạc:

- Thằng này là con bà đấy à ?

Bà Hồ Điểu quay lại đám đông, dang hai tay ra như để che cho Mãn Hà Chí đứng sau lưng, trả lời đứt quãng:

- Dĩ nhiên ... dĩ nhiên là con lão. Không con lão thì ai vào đấy !

- Thế sao bà lại hô hoán là thằng ăn cắp ?

- Lão không kêu thế thì sao bắt được nó ! Lão kêu bắt nó chứ có kêu đánh nó đâu ?

Các người thật vô duyên, vô tích sự !

Mọi người cười ồ. Cậu Ngô phải đứng ra cảm ơn, giải thích, đám đông mới giải tán, nhưng ai cũng cho bà lão nhiều mưu trí. Hú vía, chậm chút nữa thì Mãn Hà Chí không gãy tay cũng thành tật rồi !

Bà Hồ Điểu nắm cổ áo con trai, kéo vào ngôi đền gần đó. Hắn líu ríu đi theo, quần áo xốc xếch. Cậu Ngô thương hại bảo:

- Bà đừng làm thế ! Nó lớn rồi, đâu còn là con nít nữa.

Bà Hồ Điểu trừng mắt:

- Cậu biết gì ! Con ta ta phải dạy. Cậu lo việc của cậu ấy. Mãn Hà Chí, mày vào đây !

Cả ba vào sân đền. Đền vắng, ít người lễ bái, bỏ hoang lâu ngày, khe đá lót sân đã có rêu xanh và cỏ mọc. Bà ấn đầu Mãn Hà Chí bắt nằm dài ra sân rồi bẻ một cành cây mềm làm roi.

- Mãn Hà Chí ! Mày có còn là con ta nữa không ? Sao gặp mẹ và cậu lại chạy ?

Mày đâu phải ở lỗ nẻ chui ra ?

Nói xong bà quất roi vào lưng hắn. Mãn Hà Chí không thấy đau. Bà già yếu rồi, đánh như phủi bụi, nhưng nước mắt hắn tuôn ràn rụa. Hắn đã làm cho mẹ đau lòng nên không cầm được hối hận.

- Ta tưởng mày chết mất xác ở đâu rồi, không ngờ còn gặp tại Osaka này. Thật xấu hổ ! Đồ vô tích sự ! Mấy năm nay sao không về cúng giỗ ông bà, mà cũng không thư từ thăm hỏi gì người đã sinh ra mày ? Mày có biết cả nhà ai cũng lo lắng vì mày không ?

Sau mỗi câu, bà lại quất cho Mãn Hà Chí một roi. Hắn khóc như đứa trẻ:

- Xin mẹ tha tội. Con biết lỗi và hối hận lắm. Thật con không có ý muốn trốn mẹ và cậu nhưng bất ngờ quá, con sợ và xấu hổ không dám gặp mặt.

Bà Hồ Điểu mủi lòng, quay đi chùi dấu nước mắt. Tuy già nhưng lòng cương nghị vẫn không giảm, bà không muốn đứa nghịch tử biết sự mềm yếu của lòng mình.

- Hừ ! Mày nói có lỗi và xấu hổ không dám về nhà. Vậy chắc trong những năm qua, mày làm nhiều điều xằng bậy lắm ?

Cậu Ngô không nhịn được, xen vào:

- Thôi bà ! Bắt nó khai thì lại đau lòng thêm, ích gì cơ chứ ?

- Cái cậu này ! Đã bảo mặc xác ta, việc gì đến cậu ? Đàn ông mà nhu nhược thế thì dạy ai được ? Thân phụ nó qua đời, ta là mẹ phải biết giáo dục nó chứ ! Mãn Hà Chí, cho ngồi dậy, nhìn vào mặt ta đây !

- Dạ.

Mãn Hà Chí quần áo xốc xếch, mặt nhem nhếch những bụi đất và nước mắt, lồm cồm bò dậy nhưng hắn vẫn không dám nhìn thẳng mặt mẹ. Lòng sợ mẹ từ tấm bé khiến hắn coi bà là một thần linh, ra oai tác phúc thế nào cũng được. Sự thiếu sót bổn phận làm con trong gia đình và dòng họ khiến hắn cảm thấy tội nặng thêm và mặc cảm ấy làm hắn sợ hãi.

- Mãn Hà Chí ! Hãy kể ta nghe trong những năm xa nhà, mày ở đâu ? Làm những gì điếm nhục đến cha ông ? Nói cho thật, ta cấm mày không được bỏ sót.

- Dạ dạ ...

Mãn Hà Chí kéo vạt áo lau nước mắt, sụt sịt kể chuyện đã qua, từ khi thua trận Sekigahara vào nương náu nhà Ôkô, rồi vì giết tên Chu Kế Phong, phải bỏ đi lưu lạc ở Ibuki, ăn nhờ ở đậu trong quán rượu của Ôkô, sau bị bạc đãi, uất hận ra đi như thế nào, nhất nhất kể lại hết. Tuy nhiên vẫn giấu không cho mẹ biết thời kỳ hắn làm phu vác đá cực khổ ở công trường, may vớ được món tiền rồi bị lừa ra sao. Kể xong hắn khóc sướt mướt, cảm thấy nhẹ nhõm sau khi thú tội.

Cậu Ngô nghe chuyện, thỉnh thoảng lắc đầu:

- Hừ ... hừ ... thật không ngờ ...

Bà Hồ Điểu thương con tuy không lộ ra nét mặt:

- Mày làm những điều thật xấu xa, nhưng đã biết hối, thôi cũng được ! Thế bây giờ làm ăn gì ? Trông quần áo cũng không đến nỗi ... Chắc có việc làm rồi chứ ?

- Dạ có.

Hắn đáp ngay không suy nghĩ, nhưng lại vô chữa:

- Ấy không ! Con muốn nói là không có việc đều đặn.

- Vậy lấy gì sống ?

- Con dạy võ, đánh kiếm.

Bà khách tỏ vẻ mừng rỡ, mặt tươi hẳn lên. Quay sang cậu Ngô, bà nói:

- Này cậu, cháu cậu có phải con giòng không ? Nó dạy đánh kiếm đấy !

Cậu Ngô vui vẻ gật đầu:

- Phải chứ ! Con nhà tông mà ! Dòng Hồ Điểu nhà ta, đời nào cũng có người khí phách. Lầm lỡ chút đỉnh, bỏ qua được.

Cả hai ông bà cười vui vẻ làm Mãn Hà Chí cảm thấy kiêu hãnh.

- Này con !

Giọng bà dịu hẳn lại.

- Dạ.

- Con học kiếm của ai ?

- Của Cổ Tư Nhiễm Chúc.

- Chà ! Đó là tay đại kiếm sĩ, sao nhập môn đó được ?

Nét mặt bà Hồ Điểu càng thêm rạng rỡ. Mãn Hà Chí muốn làm vui lòng mẹ, rút trong bọc ra tờ chứng thư, lấy ngón tay cái bịt tên Cát Xuyên Mộc đi rồi khoe:

- Mẹ coi đây này !

Bà Hồ Điểu chăm chú đọc hàng chữ, giơ tay định cầm lấy để xem cho rõ thì Mãn Hà Chí đã vội giấu ra sau lưng:

- Đấy, mẹ coi, mẹ cần gì phải lo lắng cho con.

Bà cười vui vẻ:

- Ừ, ta biết. Cậu Ngô xem, ta nói có đúng không ? Ngay từ khi còn nhỏ, ta đã bảo nó khôn lắm, có phần hơn cả thằng Thạch Kinh Tử và những đứa khác. Bây giờ kiếm sĩ rồi đó, có bằng cấp chứng minh hẳn hoi chứ đâu phải dở.

Bà sung sướng quá, nói văng cả nước bọt. Mãn Hà Chí cũng vui lây cái sung sướng của mẹ, quên dùng ngón tay để che tên, giơ tờ chứng thư đến trước mặt cậu. Cậu Ngô đọc giấy chứng nhận tên Cát Xuyên Mộc, lấy làm lạ, hỏi:

- Mà sao không đề tên mày lại đề Cát Xuyên Mộc. Cát Xuyên Mộc là ai ?

- À ... à ... đấy là biệt danh cháu !

Hắn ấp úng đáp.

Bà Hồ Điểu nhìn con:

- Cái tên Hồ Điểu Mãn Hà Chí không đủ danh giá sao mà phải lấy tên khác ?

- Dạ ... dạ ... Danh giá lắm chứ, nhưng ... nhưng ... - hắn nghĩ nhanh tìm cớ - nhưng vì con đã phạm nhiều tội quá, nêu danh ấy ra sợ mang tiếng.

- Ừ ừ ... thôi được, thế cũng được ! Chúng ta tin mày. Từ khi mày đi đến giờ, mày biết chuyện gì xảy ra ở làng không ?

Hắn lắc đầu. Bà đem chuyện gia tộc nhà Hồ Điểu bị sỉ nhục ra sao, Oa Tử không về làm dâu bà, bỏ đi theo Thạch Kinh Tử làm bà và cậu Ngô suốt mấy năm nay phải đi tìm chúng rửa hận. Bà kể lại hết, lúc đầu còn ôn tồn sau không giữ được xúc động, giọng bà the thé, mắt đẫm ướt.

Ngồi nghe mẹ nói, đầu hơi cúi, Mãn Hà Chí thấy lòng xốn xang vô hạn. Điều hắn quan tâm nhất không phải là danh dự gia tộc hay kiếm phái tông môn mà chính là mối tình của Oa Tử đối với hắn. Như mẹ nói thì Oa Tử đối với hắn thật không còn tình nghĩa gì nữa, và Thạch Kinh Tử chỉ là thằng phản bạn. Sự ghen tị đã có từ lâu trong lòng hắn bây giờ lại được dịp bùng lên. Hắn nghiến răng nhìn mẹ:

- Có thể thế được sao ?

Bà Hồ Điểu cho rằng con mình vì thấy danh dự tông môn bị xúc phạm nên tức giận, lấy làm bằng lòng lắm. Bài học đã có kết quả, bà đăm đăm nhìn Mãn Hà Chí:

- Bây giờ mày đã rõ hết chuyện, và cũng hiểu tại sao chúng ta ở tuổi này đáng lẽ được quyền nghỉ dưỡng già lại phải bôn ba như thế này. Làm con phải hết sức rửa mối nhục của gia đình, tổ tiên. Chừng nào chúng ta không giết được hai đứa đó, chúng ta không trở về làng vì không còn mặt mũi nào đứng trước bàn thờ của dòng họ Hồ Điểu.

Mãn Hà Chí cúi đầu, thấm thía những lời nói đầy phẫn khích ấy.

- Còn con nữa. Không trả xong mối thù này con cũng không nên về Miyamoto làm gì.

- Con không về ! Con không muốn về làng nữa !

- Không phải chuyện ấy. Ý ta muốn nói con phải giết cho được hai đứa đó trước khi về cáo gia tiên. Nghe rõ chưa ?

Mãn Hà Chí lí nhí:

- Dạ dạ con xin làm.

- Xem chừng mày không lấy gì làm hăng hái lắm ! Sao ? Mày sợ không đủ sức hay sao ?

Cậu Ngô tiếp lời:

- Cháu đừng lo, cậu sẽ giúp một tay.

- Cả mẹ mày nữa. Ta già rồi nhưng còn đủ sức. Ta nguyền sẽ lấy đầu chúng nó mang về làng để mọi người cùng biết họ Hồ Điểu không dễ gì chịu nhục. Mày có thề rửa mối nhục ấy không, Mãn Hà Chí ?

- Dạ có.

- Vậy tốt ! Cậu Ngô, đứng ì ra đấy à ? Lại đây khen cháu cậu đi ! Nó thề sẽ giết chết thằng Thạch Kinh Tử và con Oa Tử để rửa hận đấy !

Cậu Ngô không biết nói gì, cứ nhắc đi nhắc lại như cái máy:

- Tốt ! Tốt ! Vậy tốt ...

Xem chừng đã thỏa mãn, bà Hồ Điểu chống tay đứng dậy, nhưng bà nhăn mặt đau đớn:

- Ối, ối, đau quá !

- Gì vậy chị ?

- Ngồi lâu, đất lạnh và ẩm, phong thấp nó lại hành tôi đây !

Mãn Hà Chí nhìn mẹ. Trong một lúc, tình thương và lòng hiếu thảo dào dạt, hắn đến bên mẹ:

- Mẹ để con cõng.

- Con cõng ta ư ? Con tôi ngoan quá !

Hai tay bà ôm cổ con trai, nước mắt sung sướng tràn ra trên đôi má nhăn nheo, chảy xuống gáy Mãn Hà Chí:

- Đã lâu lắm, mấy năm rồi cậu Ngô nhỉ ! Cậu Ngô, con tôi nó cõng tôi đây này !

Mãn Hà Chí cũng sung sướng. Một cảm giác lạ lùng hắn chưa từng có bao giờ chạy khắp cơ thể. Hắn nhún nhảy bà lão trên lưng, nói:

- Mẹ nhẹ quá nhỉ ! Nhẹ quá ! Không như tảng đá ở công trường.

Chương 22: Trảm Nhạn kiếm

Con thuyền rẽ sóng lướt phăng phăng, những đợt sóng bạc đầu tung bọt trắng xóa. Xa xa, đảo Awaiji mờ dần trong màn sương trắng đục. Gió thổi mạnh, cánh buồm lớn kêu phần phật át cả tiếng sóng vỗ.

Vào một ngày trọng đông, vùng trung nam nước Nhật, chiếc thuyền đò chở đầy giấy bổi và chàm từ đảo Shikoku thẳng đường về bến Osaka. Trên thuyền, ngoài số hàng đăng ký, chắc còn hàng lậu, vì mùi thuốc lá tươi hăng ngai ngái phảng phất khắp chỗ.

Thuốc lá bấy giờ là món quốc cấm, nhưng được nhiều người chuộng và bán lời lắm.

Một số khách thương đi theo hàng, nhân dịp cuối năm trở về tỉnh cười nói râm ran:

- Đại huynh khá không ? Dạo này làm ăn ra sao ?

- Cũng không tệ. Nghe nói ở vùng Sakai hốt bạc. Muốn thử thời vận, nhưng để còn nghe ngóng ...

- Chỗ đó cần nhiều tay thợ, đâu phải cánh mình. Nếu huynh biết nghề rèn binh khí hay làm áo giáp thì phất đấy !

Một người khác góp chuyện:

- Phải rồi ! Đệ có người bà con chuyên nghề rèn giáo và làm mộc, trước làm ăn khá lắm ...

- Thế hả ?

- Nhưng bây giờ cũng trung bình thôi. Tụi nó học đếm rồi !

- Thế là thế nào ?

- Mình chỉ bán hàng cho tụi kiếm sĩ, nhưng tụi nó càng ngày càng khó tính và chi li. Trước kia, sau mỗi trận đánh, cứ đi mua lại những đồ sứt càng gẫy gọng của bọn lượm xác lột đồ về sửa chữa sơ sài, thế là đem bán có tiền. Xong một chuyến, đợi đến trận sau, những món ấy lại quay về mình. Bây giờ tụi nó đòi thế này thế nọ, còn đếm đủ số mới mua và trả giá cẩn thận lắm.

- Ấy cứ như mấy tay liều mạng lại hay ! Phải đi xa kiếm những món hàng lạ. Mạo hiểm một tí, nhưng có ăn.

- Tụi kiếm sĩ thế mà đáng thương ! Nhiều gã chẳng biết bữa cơm ngon là gì !

Nói xong hắn nhổ bãi nước bọt, lấy tay quệt ngang.

- Bọn quyền quý sống phè phỡn thật đấy, nhưng chóng chầy gì rồi cũng phải đánh nhau, tranh đất, tranh ruộng, chết để quạ rỉa thây, sướng gì phải không quý huynh ?

- Ừ, suy cho cùng, thời nay chỉ như chúng ta là phải. Phi thương bất phú. Có tiền, ta làm gì cũng được !

Có tiếng cười hề hề.

- Vậy mà cũng có lúc phải cúi đầu lạy chúng nó.

- Có sao ? Lạy đôi ba cái ăn nhằm gì ! Cứ ních vàng đầy túi là an ủi rồi ! Vả lại chúng dễ mua, phóng tiền ra việc gì chả xong.

Vài người mỉm cười gật gù. Bọn thương nhân này xem chừng buôn bán phát đạt, quần áo mặc toàn hàng lụa đắt tiền, tấm thảm họ ngồi cũng làm bằng lông cừu ngoại hóa.

Sau khi họ Hòa thua trận, tài sản của một số đầu mục bị thất tán, phần lớn chuyển qua tay giới doanh thương hơn là vào tay phe kiếm sĩ thắng trận. Lợi dụng nước đục thả câu, giới này phất dần. Bấy giờ, đến ngay những kẻ buôn bán cò con nhưng khéo léo, cũng giàu có chẳng kém gì, có khi còn hơn cả những tay kiếm sĩ bổng lộc hàng năm vài ngàn gia. lúa. Mà bấy giờ, vài ngàn gia. lúa mỗi năm đã là phong lưu lắm !

Chuyện gẫu mãi đã chán, rảnh rỗi chẳng biết làm gì, một người đề nghị:

- Buồn quá ! Hay đánh bài chăng ?

- Ừ, đánh thì đánh !

Thế là màn che được trương lên, rượu sa-kê mang đến, cỗ bàn bày ra. Họ ngồi quây quần trên thảm, chơi bài Umsummo, một kiểu chơi bài của Bồ Đào Nha mới du nhập. Từng cọc tiền vàng xếp đầy chiếc bàn thấp, giá gom lại cũng đủ cứu cho dân năm sáu làng khỏi chết đói, nhưng họ coi như rác.

Trong đám hành khách trên thuyền có một số thuộc thành phần mà bọn khách thương liệt vào hạng không biết thưởng thức khoái lạc ở đời:

một nhà sư, vài tay kiếm khách giang hồ quần áo tả tơi, một nho sĩ mắt lúc nào cũng dán vào quyển sách nát cầm trên tay cùng dăm tráng sĩ nhìn cách ăn mặc biết ngay là những kiếm sĩ chuyên nghiệp.

Họ ngồi rải rác trên thuyền, cạnh những cuộn thừng lớn hoặc dựa lưng vào các bồ giấy có phủ vải sơn, dáng trầm mặc.

Gần chiếu bạc, một thanh niên còn rất trẻ, lơ đãng bắt rận cho một chú khỉ nhỏ bế trên tay. Chú khỉ thật đẹp, lông vàng óng, luôn luôn cựa quậy kêu chíu chít. Thanh niên thỉnh thoảng vỗ nhẹ lên đầu cho nó ngồi yên hoặc mắng khẽ:

- Yên nào ! Để ta bắt rận cho !

Con khỉ dường như chưa thuần, không nghe lời chủ, nhảy tới nhảy lui, thoắt trên vai thoắt trên đầu, lăng quăng múa may, nhe răng ra như trêu chọc.

- Tráng sĩ mua chú khỉ này ở đâu thế ?

- Tại hạ không mua, tại hạ bắt nó trong rừng Awa lúc nó còn nhỏ.

- Thế ư ? Trông ngộ quá nhỉ !

- Tại hạ suýt mất mạng vì nó đấy ! Khi bắt nó, cả đàn xúm vào tấn công, nếu không nhanh tay nhanh mắt trốn vào hốc đá thì ngã xuống vực chết rồi còn gì !

Mọi người chú ý đến chàng thanh niên không phải chỉ vì con khỉ mà còn vì dáng dấp và cách phục sức của chàng ta khác thường lắm. Thanh niên mặc kimono màu xanh tươi, thêu chỉ kim tuyến vàng lóng lánh, bên ngoài khác một chiếc áo choàng đỏ như hoa lựu. Mặc dầu bấy giờ có phong trào ăn mặc sặc sỡ, nhưng cách phục sức như thế thật lòe loẹt quá đáng. Hơn nữa, đầu chàng cũng không cạo phía trước như phần đông các thanh niên đã trưởng thành mà buộc tóc thành cái chỏm tựa đuôi gà bằng một dải lụa cũng màu đỏ. Cách ăn mặc không khác gì trẻ thơ, tuy thế nhìn nét mặt thì trang nghiêm, cương nghị rõ ràng là của một thanh niên trạc ,. Làn da tươi sáng, mắt đen mà sắc, môi đỏ tựa thoa son, thân thể vạm vỡ tràn đầy sinh lực có một cái gì toát ra làm mọi người kiêng nể nhưng vẫn không giấu được vẻ ngây thơ của một thiếu niên mới bước vào đời.

Cũng không ai đoán được chàng ta thuộc về giai cấp nào trong xã hội. Quần áo tuy sặc sỡ nhưng không phải là hàng đắt tiền, gã cũng mang dép cỏ như mọi người. Phong thái có uy nghi đĩnh đạt nhưng đối với hành khách trên thuyền, kể cả với những chân sào rách rưới, gã tỏ ra khiêm cung không có gì hách dịch. Người ta chỉ có thể tạm liệt gã thanh niên vào loại kiếm sĩ giang hồ nhưng thuộc hạng cao, có tư cách nhờ thanh kiếm dài quá khổ gã đeo sau lưng. Thanh kiếm đã cũ, đốc và chuôi lên nước bóng loáng như đồng đen. Kiếm tuy dài nhưng phần chuôi và phần lưỡi cân đối, trông không kỳ dị. Bao kiếm chạm trổ tinh vi. Người sành kiếm thoạt trông phải nhận ngay là một báu vật.

Hồ Định đứng gần chàng thanh niên không khỏi tấm tắc khen thầm. Thanh kiếm đẹp dường ấy dễ gì mua được ở Osaka này; ngay cả ở Kyoto, nơi sản xuất kiếm nổi danh cũng khó ! Hắn tò mò muốn biết chủ nhân nó là ai, thuộc hạng người nào.

Sau nhiều ngày du thuyết khắp vùng Osaka và Kyoto, Hồ Định thấy mệt mỏi. Tình hình tài chánh võ đường Hoa Sơn mỗi ngày một sa sút mà Hoa Sơn Sĩ Khánh chẳng lưu tâm gì đến. Trình sổ sách lên, Sĩ Khánh chỉ nói cho có lệ:

“Thế à ? Ta không ngờ tồi tệ quá !”. Vậy thôi, rồi bỏ đi chơi. Phòng trà tiệm rượu, không nơi nào là không có mặt. Số môn sinh đóng niên liễm không tăng mà nợ cứ chồng chất, viên chấp quản đề nghị cắt mười mẫu đất bán để trả nợ. Cứ như thế này, nếu không có biện pháp gì sửa đổi, tất phá sản mất.

Sau nhiều lần thảo luận, hàng huynh trưởng đồng lòng áp dụng một kế hoạch vừa kiếm được thêm tiền vừa mở rộng môn phái. Họ dự định phát quang khu vườn rộng lớn phía sau trại, xây thêm một võ sảnh nữa và cổ động rầm rộ để tuyển võ sinh mới. Nhưng muốn thi hành kế hoạch, phải có tiền. Hồ Định được cử mang thư của chưởng môn Sĩ Khánh đến các môn đệ cũ đã thành danh yêu cầu giúp đỡ.

Không biết số trời bắt Hoa Sơn chịu cảnh mạt kiếp hay sao mà kết quả không ra gì!

Đi đến đâu cũng vậy, Hồ Định toàn gặp những phản ứng tiêu cực. Mặc dầu đã trổ hết tài hùng biện, hắn chỉ nhận được những lời hứa suông:

“Để đệ xét xem” hoặc “tại hạ sẽ phúc đáp sau”, v.v ... làm hắn chán nản. Thành ra số tiền quyên được không đáng là bao, chỉ đủ chi phí cho cuộc hành trình mà thôi.

Hồ Định là kẻ có lòng, nhưng trong cái không khí ăn chơi phóng đãng của phái Hoa Sơn thời bấy giờ, kể từ chưởng môn Sĩ Khánh trở xuống, một mình hắn không thể làm gì được. Hắn nghĩ đến Ôkô, tự hỏi không biết bức thư hắn nhờ chuyển cho nàng tuần trước đây đã đến tay nàng chưa. Nếu đến rồi tất Ôkô phải ra bến chờ hắn. Khuôn mặt Ôkô hiện ra trong trí. Nàng đã đứng tuổi nhưng trang điểm vào vẫn còn xinh đẹp lắm. Nhất là những kinh nghiệm chốn phòng the của nàng, hắn nghĩ mà xốn xang trong bụng.

Hồ Định đến gần gã thanh niên, cười cầu thân:

- Chào thiếu hiệp ! Thiếu hiệp đi Osaka ?

- Dạ phải. Kính chào đại hiệp.

- Chắc thiếu hiệp về thăm nhà ?

- Không. Gia đình tại hạ không ở đó.

- Vậy chắc ở Awa ?

- Không.

Lời đáp chắc nịch, xem chừng thanh niên không muốn bắt chuyện. Hồ Định quay đi nhìn trời. Vài con hải âu bay xa xa:

những chấm trắng trên nền mây xám vần vũ. Hắn thử gợi chuyện lần nữa:

- Thiếu hiệp có thanh kiếm đẹp quá ! Hẳn là báu vật ?

Thấy có người khen kiếm, thanh niên mau miệng hẳn lên:

- Cảm ơn đại hiệp. Kiếm này là vật gia bảo, tiên tổ phụ tại hạ vẫn dùng xung kích khi ra trận. Phải cái nó hơi dài nên tại hạ đến Osaka định tìm thợ khéo nhờ sửa lại đeo bên sườn cho tiện.

- Quả có hơi dài thật.

- Hơn ba thước cơ đấy. Nhưng tại hạ thiển nghĩ, đã gọi là kiếm sĩ thì không thể không biết dùng kiếm này !

- Dĩ nhiên rồi, kiếm dài hơn cũng dùng được. Tuy nhiên muốn sử dụng cho xảo diệu tất phải là tay tinh thục. Ngày nay có những kẻ đeo kiếm dài nghênh ngang, khinh thế ngạo vật, tài chẳng bằng ai, gặp chuyện gì nguy hiểm thường co cẳng chạy trước. Hà hà ... Thế thiếu hiệp thuộc môn phái nào ?

Nói đến kiếm thuật, Hồ Định không giấu vẻ tự mãn. Hắn nhìn thanh niên ra dáng miệt thị, tuy không nói ra nhưng ý khinh rẻ lộ rõ trên khóe mắt.

- Tại hạ theo Vạn Mai kiếm.

- Vạn Mai kiếm dùng kiếm ngắn, đâu có dài như thế này !

Hồ Định hách dịch làm ra vẻ hiểu biết.

- Đúng ! Tại hạ theo kiếm chiêu Vạn Mai nhưng không dùng kiếm ngắn như đệ tử phái ấy. Thấy kiếm dài lợi thế hơn, tại hạ tập luyện bằng kiếm dài, bị sư phụ bắt được và trục xuất.

- Chà, thanh niên ưa phản kháng lắm nhỉ ! Rồi sao nữa ?

- Nghe nói vùng Echizen có Nhiễm Chúc là bậc dị nhân phát huy nhiều đường kiếm tinh diệu, bèn đến xin nhập môn. Sau bốn năm khổ luyện, tại hạ được sư phụ cho nhập võ lâm, vừa hành hiệp vừa thu thập kinh nghiệm.

- Hừ ! Cổ Tư Nhiễm Chúc ? Ông ta là người có chút danh vọng, sao cấp chứng chỉ bừa bãi thế ?

Nghe giọng khinh mạn của Hồ Định, thanh niên tức lộn ruột nhưng vẫn giữ bình tĩnh:

- Bình sinh, sư phụ tại hạ chỉ mới cấp chứng chỉ cho đệ nhất môn sinh là Y Tô Gia Nghĩa mà thôi. Tại hạ là người thứ hai được chấp nhận, thực ra chưa có chứng thư vì khi mới được phép thì có tin huyên đình lâm bệnh phải về săn sóc.- Ở đâu vậy ?

- Ở Iwakumi, tỉnh Suo.

Nói đến đó, thanh niên ngừng lại, mắt lơ đãng nhìn ra xa, tay vuốt nhè nhẹ trên lưng con khỉ. Hồ Định đợi một lát, không thấy kể tiếp, bèn khẽ nhắc:

- Thiếu hiệp đang kể đến lúc về phụng dưỡng từ mẫu ...

Thanh niên như chợt tỉnh:

- Ờ ... Ờ ... phải. Lưu lại quê nhà ít lâu, tại hạ thường giải khuây bằng cách ra bờ sông múa kiếm chơi và chém én bay thấp khi trời sắp dông bão hay tập chẻ đôi những nhành liễu nhỏ rũ ven bờ. Dần dần luyện thêm được nhiều chiêu kiếm đặc biệt riêng của tại hạ, rất tinh xác. Trước khi quy tiên, gia mẫu có lấy ra thanh kiếm này trao cho, dặn phải giữ gìn cẩn thận, vì nó do chính tay nhà luyện kiếm danh tiếng Tư Dưỡng Trai đặc chế.

Thanh niên tháo kiếm, đưa cho Hồ Định xem. Hắn cầm ngắm nghía, quan sát rất kỹ những nét chạm trổ trên bao rồi rút ra khỏi vỏ. Kiếm quang sáng lòa, ánh thép xanh biếc làm hắn tấm tắc:

- Tốt thật ! Tốt thật ! Nhưng sao không thấy khắc tên kẻ luyện kiếm ?

- Không khắc tên nhưng đích thực là kiếm Tư Dưỡng Trai đấy ! Ở vùng tại hạ, không ai còn hồ nghi gì. Nó còn có hỗn danh là “cây sào phơi”.

Chàng thanh niên lúc trước ít lời, bây giờ thao thao bất tuyệt, lan man kể cả những chuyện đáng lẽ không nên nói với người lạ buổi sơ kiến.

- Khi ở quê nhà, được tin sư phụ đau nặng rồi mất, tại hạ buồn rầu khôn tả. Cháu của người, tên Tử Kỳ, được giao phó trách nhiệm chuyển chứng thư và một số tiền cùng kiếm phổ đến tay tại hạ nhưng cho đến nay vẫn không thấy tin tức gì. Anh ta, ngoài kiếm thuật ra, còn nghiên cứu về kiến trúc. Không biết bây giờ lang bạt đâu, tại hạ đang để tâm tìm kiếm.

- Vậy ư ? Sao khi được tin lệnh sư mất, thiếu hiệp không tới chịu tang ?

- Sư phụ tại hạ ẩn cư tại một vùng hẻo lánh và xa xôi lắm. Vả bấy giờ cũng trùng vào dịp gia mẫu quy tiên nên không bỏ đi được. Thật ân hận. Thế còn đại hiệp, chắc ở Osaka ?

- Không, ta ở Kyoto.

Hai người đứng lặng hồi lâu, nhìn sóng biển rập rình đánh vào mạn thuyền, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Hồ Định là người đầu tiên phá tan sự yên lặng đó:

- Vậy ra thiếu hiệp có ý góp mặt với võ lâm, dùng kiếm đạo lập công danh đấy ?

Câu hỏi nghe như vô hại, nhưng trong giọng nói hàm ý khinh bỉ chế giễu. Mặc cảm gì đã làm Hồ Định có thái độ ấy, không ai biết. Phải chăng vì đã hai mươi năm phục vụ Hoa Sơn phái, hắn vẫn chưa lập được thành tích gì đáng chú ý ? Hay vì thấy thanh niên kia còn trẻ mà đã huênh hoang, nào kiếm chiêu nào kiếm phổ, hắn bực mình mỉa vài câu cho bỏ ghét ?

Thanh niên không đáp, chỉ đăm đăm nhìn màu nước biển xanh đen. Đột nhiên ngẩng lên nhìn Hồ Định:

- Đại hiệp ở Kyoto, vậy có biết Hoa Sơn kiếm phái không ? Nghe nói Sĩ Khánh, con trưởng Hoa Sơn Khổ Bích làm chưởng môn. Phái ấy còn hoạt động gì không ?

Hồ Định nhếch mép cười. Hắn muốn đùa thanh niên này chơi.

- Biết chứ ! Hoa Sơn kiếm phái đang thời hồi thịnh. Thiếu hiệp đã đến thăm bao giờ chưa ?

- Chưa, nhưng tại hạ mong có dịp tới Kyoto gặp Sĩ Khánh lãnh hội mấy chiêu kiếm xem sao !

Hồ Định giả vờ ho, đưa tay lên che miệng giấu nụ cười. Hắn thương hại gã thanh niên chẳng có kinh nghiệm giang hồ gì. Nếu biết hắn là ai và địa vị của hắn tại võ đường Hoa Sơn, chắc gã thanh niên sẽ hối hận vì nói câu ấy. Hồ Định vẫn nửa nạc nửa mỡ:

- Thiếu hiệp có chắc sau khi gặp Sĩ Khánh không bị sứt mẻ gì không ?

- Sao không chắc ?

Lần này Hồ Định không nhịn được nữa. Hắn phá lên cười ha hả.

Thanh niên không để ý, tiếp:

- Hoa Sơn là môn phái lớn và hình như Hoa Sơn Khổ Bích đã một thời danh chấn giang hồ. Nhưng hai người con ngày nay không ra gì cả. Phải thế không ?

- Chưa gặp thì làm sao biết được ?

- Ấy, tại hạ thấy kiếm sĩ khắp nơi đồn đại như vậy. Cũng không tin lắm, nhưng đa số cứ bảo là Hoa Sơn hết thời rồi.

Hồ Định muốn nói toạc ra cho thanh niên kia biết mình là ai nhưng nghĩ lại thôi.

Nói ra mất mặt. Hắn cố dằn cơn giận:

- Bây giờ chỗ nào cũng thấy những kẻ ra vẻ ta đây thạo tin nên không thể trách thiên hạ đã đánh giá quá thấp phái Hoa Sơn. Phái này đâu đến nỗi thế ! Nhưng thôi, ta nói chuyện khác thì hơn. Lúc nãy thiếu hiệp bảo vẫn dùng kiếm chém én đang bay để giải khuây, phải thế không ?

- Tại hạ quả có nói vì sự thật như thế.

- Bằng thanh kiếm dài này ư ?

- Đúng vậy !

- Nếu thế chắc thiếu hiệp cũng có thể dùng kiếm này hạ vài con hải âu đang bay để anh em coi chơi chứ ?

Thanh niên không đáp. Chàng vừa nhận ra ý mỉa mai của kẻ cùng thuyền nên đăm đăm nhìn thẳng không chớp vào mắt Hồ Định:

- Được, nhưng chém làm gì, vô ích !

Hồ Định phưỡn ngực, dằn giọng:

- Thiếu hiệp chưa biết phái Hoa Sơn mà đã giở giọng chê bai ...

- Ồ, thì ra tại hạ đã làm đại hiệp giận.- Ta đâu có giận gì. Nhưng là dân Kyoto, không ai muốn nghe những lời nói xấu Hoa Sơn phái.

- Tại hạ chỉ nhắc lại lời thiên hạ đồn đại đấy thôi. Tại hạ không có, hoặc chưa có ý kiến gì về phái này.

Hồ Định lên giọng kẻ cả:

- Này thiếu hiệp !

- ...

- Ngươi hiểu câu “bất tri tự lượng” là thế nào không ? Tuổi trẻ hay khoe khoang, ta thông cảm mà tha thứ, nhưng cái gì cũng phải có giới hạn. Vì lợi ích cho ngươi, ta khuyên hậu sinh các ngươi đừng khoác lác thái quá. Ngươi tưởng ai cũng thộn cả hay sao? Cái gì mà chẻ liễu với chém nhạn, làm như không ai biết sử kiếm, chỉ một mình ngươi biết !

- Kìa, sao đại hiệp vội nóng quá thế ? Đại hiệp cho những lời tại hạ là khoác lác cả chăng ?

- Hẳn đi rồi chứ còn gì nữa ! Nghe chuyện ngươi, ta đã nhịn không muốn xưng danh. Bất quá ngươi chỉ là một thiếu niên miệng còn hôi sữa, chẳng chấp làm gì, nhưng thấy ngươi huênh hoang quá sức, mạt sát cả phái Hoa Sơn chúng ta nên phải cảnh cáo.

Ngươi biết ta là ai không ? - Hắn vừa nói vừa chỉ tay vào mũi - Hồ Định, đệ nhất cao thủ kiếm phái Hoa Sơn Kyoto đây ! Còn nói bậy, ta mổ ruột !

Cơn giận dồn ép từ nãy, bây giờ bùng ra ! Hồ Định mặt đỏ như gấc, nói một hơi không nghỉ, sùi cả bọt mép. Khách trên thuyền nghe to tiếng, dừng tay chơi bài, quay đầu nghểnh cổ về phía hai người chỉ trỏ.

Hồ Định bỏ đi, bước những bước dài ra đằng cuối thuyền, khoanh tay ngẩng mặt giương giương tự đắc. Thanh niên nín lặng một lúc rồi nghĩ sao, thong thả bước theo.

- Đại hiệp ?

- Gì ?

- Vừa rồi, trước mặt bá chúng, đại hiệp bảo tại hạ là khoác lác. Vì danh dự, buộc lòng tại hạ phải chấp nhận điều đại hiệp thách làm, mặc dầu thấy vô ích. Tại hạ muốn đại hiệp chứng kiến.

- Ta thách điều gì ?

- Đại hiệp quên rồi ư ? Nghe tại hạ nói vẫn dùng kiếm này chém nhạn chơi, đại hiệp có ý chế giễu và thách tại hạ chém một con hải âu đang bay.

- Ờ phải, vậy ngươi làm được không ?

- Nếu làm được, đại hiệp chịu thua chứ ?

- Ờ ... Ờ ... đương nhiên !

- Vậy tại hạ sẽ làm.

- Tốt lắm ! Hồ Định cười gằn ác độc. Nhưng nếu thất bại, ta mổ ruột ngươi !

Thanh niên không đáp, gật đầu. Rồi vụt một cái, gã nhảy phắt lên mặt chiếc thùng gỗ gần chỗ Hồ Định đứng, tay để vào đốc kiếm, hét lớn:

- Gọi hải âu xuống, ta hạ cho xem !

Hồ Định thấy mình như bị lừa, đưa cổ vào tròng làm trò cười cho thiên hạ. Hắn nhớ đến mẩu chuyện xưa của Vô Ngại thiền sư nội dung cũng tương tự, nên ấp úng:

- Vô lý ! Ngươi chém hải âu được thì cũng gọi hải âu được chứ ?

- Biển mênh mông hàng ngàn dặm, mà kiếm ta chỉ dài hơn ba thước, nếu hải âu không có, làm sao ta giết ?

Hồ Định bước tới một bước:

- Này cậu nhỏ kia, ta bảo thật:

Đừng hòng giở thói láu cá để tìm cớ thoát thân.

Nếu không giết được thì nói thẳng đi, quỳ xuống xin lỗi, ta tha cho không chấp.

Thanh niên cười ha hả:

- Sao không giết được ? Không có hải âu ta dùng vật khác. Trông đây !

Một tiếng soạt. Ánh kiếm lóe lên. Hồ Định cảm thấy lạnh ở đỉnh đầu vội trầm mình xuống. Lưỡi kiếm như một lằn chớp hình vòng cung phóng ra rồi lẫn ngay vào màu áo đỏ. Trong nháy mắt, thanh niên đã tra kiếm vào vỏ, chiếc áo bào tía chưa hết rung động. Kiếm dài ba thước mà thanh niên sử dụng nhanh không khác gì một lưỡi trủy thủ.

Hồ Định kinh hãi tột đỉnh. Hắn đưa tay lên sờ đầu, không thấy đau đớn. Nhưng quái lạ, một cảm giác kỳ dị khiến hắn đoán có sự khác thường xảy ra.

Đột nhiên Hồ Định để ý đến một vật nhỏ màu đen to bằng ngón tay cái nằm run rẩy bên đống dây chão, gió thổi như sắp hất xuống biển. Một đầu vật đó buộc sợi dây lụa đỏ. Hắn sờ tay lên đầu lần nữa, tóc bung ra:

chỏm tóc hắn đã bị lưỡi kiếm của gã thanh niên kia chém đứt ! Trời ơi ! Chỏm tóc yêu quý của hắn ! Chỏm tóc mà không một kiếm sĩ nào biết tự trọng không gìn giữ cẩn thận như gìn giữ chính sinh mạng mình. Hồ Định thét lên một tiếng đau đớn, tay để vào đốc kiếm.

Thình lình một cơn gió thổi mạnh làm rung chuyển cả thuyền. Tiếng chân người rầm rập, những tiếng kêu “Bắt nó ! Bắt nó !” cùng tiếng sóng vỗ rào rào, tiếng gió hú qua cách bành giấy bổi xếp hàng trên sàn, tiếng kẽo kẹt của dây chão căng như sắp đứt tung dưới sức mạnh của gió biển làm không khí trong thuyền sôi động hẳn lên.

Hồ Định tay để vào đốc kiếm, sắp rút gươm thì một ý tưởng vụt hiện. Sau cuộc hành trình vừa qua, hắn đã thấm mệt, nội lực hẳn nhiên sút kém. Lại gã thanh niên kia, tuy thân thế và tài năng chưa lộ hẳn nhưng đường kiếm trảm nhạn gã vừa thi triển đã chứng tỏ gã quả là tay địch thủ đáng ngại. Bậy hơn nữa, Hồ Định đã dại dột tiết lộ danh tính, cả thuyền đều nghe, chẳng may trong lúc giao tranh, nếu thất thế thì còn gì là thể diện phái Hoa Sơn nữa !

Hồ Định rất thực tế và biết tự lượng. Hắn ý thức rõ so kiếm với gã kia trong lúc này, bất cứ vì lý do gì, cũng là vọng động. Nắm ngay lấy cơ hội cả thuyền nhốn nháo, hắn to miệng mắng gã thanh niên hòng giữ thể diện:

- Giỏi lắm ! Lên bờ ta sẽ cho ngươi một bài học. Bây giờ xem chuyện gì đã !

Nói xong quay vội đi, nhưng không ra mũi thuyền mà bước xuống khoang dưới, kéo vạt áo lên đầu che chỏm tóc mới bị hớt.

Ngoài mũi thuyền, tiếng la hét, tiếng chân người chạy rầm rập vẫn không giảm.

Con thuyền chòng chành vì sóng lớn, bây giờ theo dòng người hỗn độn chạy dọc ngang càng chòng chành hơn. Có tiếng gọi chủ thuyền. Một người béo lùn chạy ra, thấy bọn khách thương đang la hét đuổi theo một con khỉ. Hỏi duyên cớ mới biết con khỉ đã nhân lúc mọi người vô ý, nhảy vào chiếu bạc ôm trọn cỗ bài chạy. Bây giờ nó đang ngồi trên cuộn dây chão kêu khẹc khẹc nhe răng ra hăm dọa bọn người đuổi bắt. Nó chuyền cỗ bài trên tay, bắt chước cử chỉ của những con bạc. Dáng điệu nó vụng về thật tức cười càng chọc giận thêm những người đuổi.

Đột nhiên con vật bỏ cuộn dây, tót lại phía cột buồm, thoăt thoắt trèo lên rồi ngất ngưởng đánh đu trên đó. Cột buồm cao có đến bốn năm trượng, gió thổi lồng lộng. Con khỉ con như không, lại còn ra vẻ thích thú, nhảy qua nhảy lại nhạo báng những kẻ đứng dưới.

- Á à ! Kìa, nó xé bài rồi ! Nó xé bài rồi !

- Chủ nó đâu ? Gọi nó xuống đi chứ !

Mọi người nhìn gã thanh niên, chờ đợi. Nhưng gã lờ đi như không nghe thấy. Chủ thuyền xem chừng cũng biết chủ nhân con khỉ là ai, nhưng không rõ vì ngại dáng dấp cao lớn của gã hay vì thanh trường kiếm gã đeo trên vai mà không nói gì, chỉ hỏi bâng quơ:

- Ai là chủ con khỉ đó ?

Không có tiếng trả lời. Thanh niên vẫn điềm nhiên đứng dựa bục gỗ, lơ đãng nhìn bọt nước.

- Vùng rừng núi Awaji nhiều loại khỉ lông vàng như con này lắm. Nếu không ai nhận là chủ, tất nó là dã hầu lạc đàn, ta sẽ có cách đối phó.

Bèn chạy vào khoang, một lát mang ra cây hỏa mai đã nạp đạn sẵn. Hắn vừa liếc nhìn thanh niên vừa khum tay mồi lửa, miệng phân bua:

- Đã nói rồi đấy nhé ! Các vị Ở đây làm chứng cho, thú vô chủ là dã thú, bắn chết đừng có trách !

Mọi người bớt ồn ào. Có người tỏ thái độ bất bình. Một số hồi hộp như sắp được xem màn kịch đến hồi gay cấn.

Chủ thuyền nâng súng đặt lên vai. Một tiếng “bùm !”, mùi thuốc súng bay tỏa khét lẹt. Nhưng viên đạn không trúng con vật. Gã thanh niên bào tía đã nhảy đến bên chủ thuyền từ lúc nào, đưa tay gạt chếch mũi súng:

- Thuyền chủ làm gì vậy ? Ngươi định bắn con khỉ bằng thứ đồ chơi này đấy hả ?

- Sao không ?

- Con khỉ có tội gì ?

- Nó lẫy cỗ bài của người ta.

- Lấy cỗ bài mà đáng tội chết ư ? Ngươi tàn nhẫn quá !

- Tàn nhẫn hay không, không cần biết. Ta đã cảnh cáo rồi. Tráng sĩ có phải là chủ con vật đó không ?

- Chính thị.

- Vậy phải đền cỗ bài.

Thanh niên cười ha hả:

- Này thuyền chủ ơi, đừng có hàm hồ ! Ta không xúi con khỉ lấy cắp cỗ bài. Nó là con vật, không biết phân biệt phải trái, nhìn người chơi thì cũng bắt chước, sự thiệt hại đáng là bao mà định giết nó ? Huống chi ngươi không phải là chủ cỗ bài, bắt ta đền sao được ? Mấy người kia chơi bài hay con khỉ chơi bài thì cũng thế ! Nào, ai là chủ cỗ bài, muốn ta bồi thường, nói lên !

Không nghe tiếng đáp. Toán khách thương trước đây miệt thị phái kiếm sĩ, bây giờ đứng im thin thít giữa tiếng cười gằn của gã thanh niên ngạo ngược. Chỉ duy viên nho sĩ khẽ nhếch mép mỉm cười rồi lại tiếp tục cúi đầu xuống trang sách bỏ dở, trong khi các chân sào rộn rịp sửa soạn để thuyền cập bến.

Chương 23: Vỏ ốc lú

Khi thuyền bỏ neo, trời đã chạng vạng tối. Mùi cá khô phơi chưa được nắng, tanh tanh mằn mặn phảng phất trong không khí. Dãy phố nhỏ trước bến đã lên đèn, ánh sáng vàng úa chiếu qua những khung cửa sổ vuông dán giấy như trong những bức tranh cổ.

Thuyền buôn đã về. Khu bến chợ rộn rịp hẳn lên. Đèn lồng không biết ở đâu túa ra vô số kể, trẻ con cầm lố nhố đứng trên bến. Trên mỗi lồng đèn đều có viết tên một quán trọ, một món ăn đặc biệt của nhà hàng hoặc có khi chỉ để quảng cáo một sản phẩm địa phương nào đó.

Tiếng chân sào la ơi ới, tiếng mời chào, cười nói, gọi nhau, trẻ con chí chóe tranh nhau từng bước trên tấm ván bắc lên thuyền. Vài người ra đón thân nhân đứng đằng xa giơ dù vẫy; những bóng đen khi ẩn khi hiện trong vùng ánh sáng mờ tỏ của lồng đèn ngang dọc.

- Công tử lệnh lang của ngài tổng trấn có trên đó không ?

- Công tử nào ?

- Trịnh Đức Nhị Lang.

- Không. Đi thuyền sau.

- Mời khách quan đến trọ Ở quán cháu. Có cửa sổ trông ra biển, đẹp lắm !

- Xin ngài đến quán Mỹ Sinh. Phòng rộng rãi, quý khách mang theo con khỉ không tính tiền.

- Không, ông khách này của tao. Mời khách quan theo cháu.

Nghe lời mời chào của hai đứa trẻ, thanh niên mặc bào tía chỉ mỉm cười. Gã nhẹ nhàng gạt tay chúng nắm áo, xốc lại hành trang, bế con khỉ lên vai rồi bước theo tấm ván xuống bến. Không ai đợi gã cả. Nhưng hình như đã có chủ định, gã xăm xăm đi tới, rẽ vào một ngõ tối khuất dạng.

Trên thuyền, đám khách thương vẫn còn hậm hực, vừa coi phu rỡ hàng vừa bực tức:

- Tên đó ngông nghênh quá đỗi ! Chỉ nhờ vài đường kiếm mà coi người chẳng ra gì... Đáng tiếc là cánh mình chẳng ai biết võ, chứ nếu không ...

- Thôi, để tâm làm gì ! Kệ cho nó làm cha thiên hạ. Cao nhân tắc hữu cao nhân trị. Danh chẳng qua như cái hoa, nhường cho nó hưởng, mình ăn quả có hơn không ?

Chuyện hôm nay bỏ đi. Kìa, các em đã đến đón kìa !

Bọn kỹ nữ trèo lên thuyền, bước những bước nhanh và ngắn, vịn vào nhau cười khúc khích. Quanh ánh đèn lồng, trông các nàng không khác gì những con bướm đêm bu xung quanh ngọn nến.

Một trong những người rời thuyền sau chót phải kể Hồ Định. Chưa bao giờ hắn gặp một hoàn cảnh đáng buồn và đáng giận như thế ! Thật mất hết cả thể diện. Mặt mày bí xị, hắn lấy tâm khăn vuông choàng lên đầu che chỗ tóc bị cắt đứt, nhưng không sao giấu được vẻ ảo não và cau có trên mặt.

- Hồ lang ! Hồ lang ! Thiếp ở đây mà !

Thấy Hồ Định ở trên thuyền bước xuống, Ôkô vẫy gọi rối rít. Đứng ngoài trời khá lâu, và có lẽ cũng vì gió đầu đông thổi mạnh, Ôkô run rẩy như chiếc lá. Những vết nhăn trên mặt nàng hiện ra mờ mờ dưới ánh đèn và dưới lớp phấn trắng. Hồ Định nở nụ cười gượng gạo:

- Ôkô đấy à ? Tưởng nàng không đến chứ !

- Ô hay ! Sao nỡ nói vậy ? Chàng viết thư bảo thiếp ra đón mà !

- Ờ ờ ... nhưng tưởng thư chưa đến kịp.

- Kỳ không ! Hồ lang có vẻ không muốn gặp thiếp. Có chuyện gì không vui mà trông mặt chàng như mặt thằng đánh dậm bị cua cắp vậy ?

Hồ Định đang buồn cũng phải phì cười:

- Thế nào là mặt thằng đánh dậm bị cua cắp ?

Ôkô che miệng rúc rích.

- Không, chẳng có chuyện gì đâu. Chắc tại ta say sóng nên hơi mệt. Ta lên xóm trên, đến quán Thu Nguyệt nghỉ một lát, nếu còn phòng thì trọ luôn. Quán ấy ở cũng được !

- Không, thiếp đã thuê cáng đến đón chàng. Phu cáng đợi ngoài kia.

- Ồ, chu đáo quá ! Thế đã giữ phòng chưa ?

- Rồi. Mọi người đang đợi chàng đấy.

Hồ Định ngạc nhiên:

- Mọi người ? Mọi người là những ai ?

- Thì anh em trong phái Hoa Sơn của chàng chứ ai ?

- Trời ! Nàng mời họ đến làm gì thế ? Ta tưởng chỉ có mình nàng với ta sống vài ngày với nhau ở một nơi vắng vẻ. Bây giờ hỏng hết chuyện rồi, làm thế nào đây ?

Hắn giơ tay bứt đầu bứt tai, luôn mồm kêu hỏng chuyện.

- Thôi, ta không tới đâu !

Ôkô rối rít xin lỗi:

- Thiếp đâu có biết, mà chàng cũng không nói rõ. Họ là bạn cả mà ...

Ôkô đến sát bên Hồ Định. Hắn giận dữ đẩy nàng ra. Bao nhiêu bực dọc và bất lực cảm thấy trên thuyền bây giờ nổ bùng ra, hắn dồn cả lên đầu Ôkô như nước lũ:

- Ngu quá ! Trời ơi, nàng ngu quá ! Nàng về đi, bảo phu cáng về đi. Nàng chẳng hiểu gì cả, chẳng hiểu ta một tí gì cả !

Ôkô phục xuống, nắm vạt áo Hồ Định. Hắn giật mạnh ra, rảo bước bỏ đi. Ôkô chạy theo, bước chân xiêu vẹo suýt ngã. Cả hai đến phía sau chợ cá. Trời tối, chợ đã vãn, các quán đều đóng cửa. Trăng non mới mọc, vẩy cá rải rác đầy dẫy, lóng lánh dưới ánh sáng trăng như những mảnh ngọc trai nhỏ xíu. Khu chợ vắng teo, Ôkô ôm chặt lấy Hồ Định tỏ tình và lơi lả.

- Bỏ ra !

- Nếu chàng đi trọ chỗ khác thì họ sẽ nghĩ chàng với thiếp có chuyện gì ...

- Mặc kệ ! Họ muốn nghĩ sao kệ họ !

- Hồ lang ! Sao chàng đối xử với thiếp như thế ?

Ôkô áp má mình vào má Hồ Định. Mùi thơm ngòn ngọt trên mái tóc Ôkô quyện với mùi phấn sáp trên môi, trên má nàng làm Hồ Định ngất ngây. Nỗi bực dọc cũng bớt đi được đôi phần. Ôkô nũng nịu:

- Thôi cho thiếp xin ...

- Nàng không biết ta thất vọng chừng nào !

- Biết chứ ! Thiếp biết chứ !

- Thế sao nàng lại để cho nhiều người đến như vậy ? Nàng không muốn ở một mình với ta phải không ? Nàng không yêu ta như ta yêu nàng rồi !

Ôkô nhìn Hồ Định ra vẻ trách móc, mắt rơm rớm ướt:

- Đó ! Đó ! Lại nói vậy rồi !

- Thế tại sao ?

- Tại thiếp không từ chối được. Khi nhận được thư, thiếp đã quyết một mình đi Osaka để đón chàng, nhưng không may ngay tối hôm ấy Sĩ Khánh lại đến chơi cả đêm.

A Kế Mỹ lỡ miệng nói thiếp sẽ đi Osaka, thành thử Sĩ Khánh và các bạn chàng cũng đòi đi theo. Thiếp không từ chối được. Họ cùng đến đây cả thảy tời mười người.

Hồ Định nghe trần tình, biết Ôkô chẳng làm gì được, nên cũng nguôi ngoai đôi chút nhưng vẫn không vui. Hắn lo ngại phải tường trình những thất bại trong cuộc du thuyết, rồi còn mái tóc của hắn. Mái tóc ! Trời ơi, biết nói làm sao đây ! Hồ Định bối rối quá !

- Thôi được ! Ta bằng lòng đi với nàng. Gọi phu cáng lại đây !

Ôkô mừng quá, ôm cổ Hồ Định, áp má vào ngực hắn rồi chạy trở lại về phía bến.

Hoa Sơn Sĩ Khánh vừa tắm xong, choàng kimono ấm nằm dài trên nệm bông trong một phòng sang nhất quán trọ. Họ đợi Hồ Định và Ôkô. Chuyện vãn đã chán, một người đề nghị:

- Ta làm chút gì chăng ? Đại ca nghĩ thế nào ? Ngồi không mãi thế này buồn chết !

- Ừ thì bảo mang rượu đến.

Chén thù chén tạc, câu chuyện lan man đi đến mục nhảm nhí. Chẳng ai còn nhớ mình đang đợi Hồ Định nữa.

- Quán này không có kỹ nữ hay sao ?

Một người hỏi.

- Ừ nhỉ ! Sao không gọi chủ quán bảo cho mấy em đến ? Ông chủ đâu ?

Thế là chẳng bao lâu sau, ba bốn kỹ nữ mang đàn tới. Bữa rượu nhộn nhịp hơn trong tiếng cười đùa lơi lả, không còn phân biệt ai chưởng môn ai đồ đệ nữa.

Cũng như mọi lần, Sĩ Khánh uống rượu được một lúc thì say, ngồi thừ người trên chiếu nhìn đàn em vui chơi không mấy thích thú. Là người đứng đầu môn phái, tác phong hắn có phần đĩnh đạc hơn. Hắn không chịu được sự đùa cợt thô lỗ của đàn em.

Ưng Đằng ngồi bên ghé tai Sĩ Khánh nói thầm. Hắn gật gù ra vẻ ưng chịu. Dù sao, vào phòng riêng, bên lò than ấm, một mình với A Kế Mỹ cũng sướng hơn ngồi nghe tụi này pha trò thô tục.

Sĩ Khánh chống tay đứng dậy. Cả phòng chẳng ai để ý. Cuộc vui cứ tiếp diễn, bình rượu xếp đầy góc nhà, các ca kỹ thay phiên nhau hát nhưng bản huê tình đệm đàn samishen nhiều cái phím đã long, tàn tạ chẳng khác gì chủ nó.
Rượu đương nồng, một nữ tỳ bước vào thông báo có khách. Tiếng lè nhè vọng ra:

- Khách nào thế ? Khuya rồi, bảo mai đến !

- Vị khách này tên Hồ Định.

- Hồ Định ... Hồ Định ...

Á à, bấy giờ cả bọn mới nhớ ra là đang đợi Hồ Định. Vài người ngồi dậy khi Hồ Định và Ôkô bước vào, giơ tay vẫy, chào hỏi qua loa. Cả bọn không một ai còn tỉnh táo.

Rượu đã vẽ lên mặt họ những nét ngờ nghệch, biến họ thành những hình nhân ngu độn vây quanh mấy ả ca kỹ múa may như những con rối.

Hồ Định chán nản hết sức. Nghe lời Ôkô, hắn tưởng mình sẽ được đón tiếp long trọng, ngờ đâu ... Hắn lắc đầu, gọi nữ tỳ dẫn sang phòng Sĩ Khánh. Nhưng hành động này không cần thiết, vì chưởng môn Hoa Sơn phái, nghe tin cánh tay phải của mình về, đã chạy vội ra đón. Sĩ Khánh say mèm, chân nam đá chân chiêu, mồm lắp bắp:

- Hồ Định đấy ư ? Ta đợi ... đợi ngươi mãi. Lại đi vui thú với con mẹ này bây giờ mới tới chứ gì ? Không sao ... không sao ...

Hắn đến ôm vai Hồ Định nhưng tuột tay ngã xô về phía trước. Hồ Định giơ tay đỡ.

Sĩ Khánh níu vội lấy đầu Hồ Định. Không kịp nữa rồi ! Vuông khăn trên đầu hắn tuột ra.

- Ồ, cái gì thế này ? Sao tóc ngươi mất một mảng thế này ?

Hồ Định luống cuống, giật vuông khăn trên tay Sĩ Khánh quấn vội lên đầu:

- Không có gì ! Không có gì ! Tiểu đệ bị cái nhọt trên đầu phải cắt tóc đi cho dễ tri.....

Mọi người quay lại nhìn, đa số chẳng để ý. Có tiếng hỏi:

- Huynh trưởng đi quyên góp thế nào ? Có thu được khá không ?

- Cũng chẳng được bao nhiêu. Chuyện này sẽ giải thích sau.

- Ha ha ... chắc lại chỉ có cái nhọt mang về làm kỷ niệm ...

Cả bọn phá lên cười. Câu nói đầy châm chọc làm Hồ Định xám mặt. Hắn chẳng biết nói sao và xem chừng tuy say nhưng bọn này chẳng một ai tin lời hắn.

Sáng hôm sau, một số môn đệ phái Hoa Sơn tụ họp tại bãi cạnh quán. Họ đã tỉnh hẳn rượu. Mặt ai nấy đều tỏ vẻ nghiêm trọng. Ưng Đằng lên tiếng trước:

- Thật nhục nhã. Ta không ngờ xảy ra chuyện ấy !

- Đầu đuôi thế nào, xin huynh trưởng thuật lại cho anh em biết.

- Ta không được nhìn tận mắt, nhưng Hoàng Diệp nghe rõ. Hoàng Diệp ! Ngươi nghe thấy những gì, nói lại để anh em cùng biết.

- Dạ dạ ! Sáng nay tiểu sinh dậy sớm, cảm thấy mệt mỏi vì hôm qua thức khuya, uống rượu nhiều ...

- Thôi nhanh nhanh lên, bỏ qua những đoạn không cần thiết ...

- Dạ. Tiểu sinh đi tắm. Đang tắm thì có hai người ăn mặc ra dáng thương gia bước vào. Họ kể cho nhau nghe những chuyện xảy ra hôm qua trên thuyền giấy. Hình như có một kiếm sĩ thuộc phái Hoa Sơn ta bị một thanh niên lạ mặt mặc áo đỏ dùng kiếm hớt đứt mất chỏm tóc trên đầu, vậy mà kiếm sĩ đó không dám làm gì. Tiêu sinh nghĩ có lẽ đó là đại huynh Hồ Định.

- Bậy nào ! Ngươi lấy gì làm chắc ?

- Có thể lắm ! Này Hoàng Diệp, ngươi không nói láo đấy chứ ?

- Tiểu sinh đâu dám. Sở dĩ tiểu sinh ngờ như vậy vì một trong hai người còn nói:

“Tay kiếm sĩ kia tự xưng là cao nhân phái Hoa Sơn ở Kyoto. Nếu danh tính hắn đúng thì chẳng hóa ra Hoa Sơn dạo này bạc nhược lắm sao ! Không ngờ phái đó thế mà hữu danh vô thực !”.

Nghe đến đây, bọn đồ đệ phái Hoa Sơn không kềm được tức giận:

- Láo ! Láo ! Phải trị cho thằng đó một trận.

- Cắt tóc nó đi !

- Không ! Cắt tóc không đủ ! Cắt cổ nó !

Nhưng Ưng Đằng đã đứng dậy khoát tay:

- Khoan ! Khoan ! Anh em đừng nóng. Chuyện xảy ra như thế nhưng chúng ta chưa biết có phải kiếm sĩ ấy đích thực là huynh trưởng Hồ Định không ? Để ta vào hỏi cho ra nhẽ.

Cả bọn theo Ưng Đằng vào quán. Nhưng đến nơi mới biết Hồ Định đã cùng với Ôkô đi Kyoto từ sớm rồi. Tin này làm cả bọn không còn hoài nghi gì nữa. Sĩ Khánh còn ngủ, họ không đánh thức. Ưng Đằng được coi như người thay mặt Sĩ Khánh, cắt đặt mọi việc, chia anh em đổ đi khắp ngả tìm gã thanh niên áo đỏ.

A Kế Mỹ, áo vén cao, đứng trên bãi cát gần bờ biển chăm chú nhặt vỏ ốc. Mỗi khi tìm được một vỏ ốc lạ, nàng lại tò mò ngắm nghía hoặc để lên tai nghe. Từ sáng, cứ như vậy, nàng đã nhặt và vất đi hàng trăm con ốc.

Trời mới sang đông, khí hậu ven biển chưa lấy gì làm lạnh lắm. Mặt trời đã lên cao, nước biển xanh biếc, sóng nhè nhẹ vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng như những cánh hoa mai trước gió. Trên bãi vắng, một mình A Kế Mỹ trong bộ áo trắng, nhỏ bé trước cảnh bao la của trời nước, chẳng khác gì một con hạc khờ dại lạc bầy từ cảnh tiên nào đậu xuống.

Một môn sinh Hoa Sơn đi qua, thấy A Kế Mỹ, vội dừng lại:

- A Kế Mỹ ! Làm gì ngoài bãi sớm thế ?

- Tiểu nữ ... tiểu nữ tìm vỏ ốc.- Tìm vỏ ốc ? Đằng kia thiếu gì mà phải tìm ở đây ?

- Không. Vỏ ốc đặc biệt chỉ vùng Sumiyoshi này mới có.

- Gì mà quý thế ?

- Vỏ ốc lú.

Gã kia ngạc nhiên mở to mắt:

- Vỏ ốc lú ? Vỏ ốc lú là cái gì ?

- Là một thứ vỏ ốc khi người ta để vào tai nghe hay giữ trong mình thì quên được hết mọi sự.

Gã cười ha hả:

- Cô này điên rồi ! Vô tâm như cô chưa đủ hay sao mà còn đi tìm vỏ ốc lú ?

A Kế Mỹ lắc đầu cười gượng gạo:

- Tiểu nữ không điên, nhưng có những lúc muốn quên. Thế còn khách quan, khách quan đi đâu vội thế ?

- À, ta đi tìm một người.

- Tìm làm gì ?

- Tìm để trả hận.

A Kế Mỹ quay đi. Nàng không quan tâm đến sự tranh chấp của đàn ông mà nàng cho là tàn bạo, ích kỷ, ngoại trừ một người. Khi nghĩ đến người ấy, lòng nàng không khỏi rung động. Hình bóng người ấy luôn lởn vởn trong trí và trong những giấc mơ làm nàng bồi hồi không muốn tỉnh. Đôi lúc, bên những cuộc truy hoan của khách lạ tại quán Vân Nghê, nàng cũng muốn quên hết đi để nghĩ đến tương lai. Nàng tin rằng người nàng yêu mến không biết, hay chẳng quan tâm gì đến mối tình của nàng cả. Mối tình vô vọng ấy nàng thật tình muốn quên nhưng không sao quên được. Nếu quả có vỏ ốc lú, nàng sẽ sung sướng bao nhiêu khi tìm được nó.

Gã môn sinh Hoa Sơn nhìn nét mặt âu sầu của A Kế Mỹ không khỏi ái ngại. Thấy nàng không nói gì thêm, gã lặng lẽ bỏ đi.

A Kế Mỹ lơ đãng nhìn ra xa, khe khẽ ngâm bài thơ quen thuộc:

Nữ la, chàng là cỏ Thổ ti, thiếp làm hoa Cành mềm không đi nổi Nghiêng theo gió xuân qua, Nương mình thông trăm trượng Quấn quít nên một nhà Ai rằng dễ gặp mặt Núi biếc cách chia xa Nhìn nước biển trong xanh và sâu thẳm, A Kế Mỹ tưởng như đó là nguồn an ủi, sự giải thoát. Nàng trừng trừng nhìn những đợt sóng hiền hòa vỗ nhè nhẹ như ru vào ghềnh đá. Đứng trên ghềnh này, chỉ một cử động thôi, một cử động nhỏ, dễ dàng quá, nàng sẽ nằm trong lòng biển xanh, sóng yêu đương ru nàng vào một giấc mộng êm đềm không bao giờ dứt.

Tiếng chân người và tiếng gọi đột nhiên lôi A Kế Mỹ trở về thực tại.

- A Kế Mỹ ! A Kế Mỹ ! Đại ca đang chờ nàng đấy. Ra đây làm gì vậy ?

A Kế Mỹ giật mình, theo chân ả nữ tỳ trở về phòng trọ.

Bốn bề yên lặng. Gió sớm xào xạc trên cành thông. Đôi chim sâu lích chính trong bụi rậm trước cửa sổ. Sĩ Khánh ngồi một mình trong phòng, bên chiếc lò sưởi vừa nhóm.

Sau giấc ngủ vừa qua, hắn thấy trong người khỏe khoắn lạ thường, nhìn A Kế Mỹ bước vào, âu yếm hỏi:

- Buổi sáng lạnh, nàng ra ngoài làm gì thế ?

- Tiểu nữ không thấy lạnh. Ngoài bãi, nắng đẹp và ấm lắm.

- Nàng ra bãi làm gì ?

- Tiểu nữ tìm vỏ ốc.

Sĩ Khánh mắng yêu:

- Nàng làm như còn trẻ con lắm !

- Thì tiểu nữ vẫn là trẻ con.

- Đến tháng chạp này, nàng bao nhiêu tuổi biết không ?

- Tiểu nữ không để ý. Tiểu nữ vẫn tự thấy là còn trẻ con, có hại gì đâu ?

- Hại lắm chứ ! Nàng đã lớn rồi, phải nghĩ đến tương lai, như mẹ nàng muốn.

- Mẫu thân tiểu nữ ? Bà có nghĩ gì đến tiểu nữ đâu, bà vẫn tưởng bà còn trẻ.

- Nàng ngồi xuống đây.

- Xin khách quan tha lỗi. Trong phòng nóng quá, cho phép tiểu nữ ra sân.

- A Kế Mỹ !

Sĩ Khánh sẵng giọng, nắm cổ tay A Kế Mỹ kéo xuống.

- Hôm nay chỉ có mình ta với nàng. Mẹ nàng đi Kyoto rồi.

A Kế Mỹ nhìn đôi mắt đỏ ngầu của Sĩ Khánh. Nàng cong người vùng vẫy cố kéo ra, nhưng bàn tay Sĩ Khánh cứng như sắt chỉ làm cổ tay nàng đau thêm.

- Sao nàng tìm cách trốn ta ?

- Tiểu nữ không trốn.

- Sáng nay không có ai ở quán. Cơ hội tốt như thế này ...

- Cơ hội gì ?

- Nàng đừng có giả vờ. Có đến hơn năm nay rồi, ta với mẹ con nàng quen nhau.

Nàng thừa biết lòng ta đối với nàng ra sao rồi, mà mẹ nàng cũng đồng ý. Mẹ nàng thường bảo tại ta vụng. Hôm nay xem ta có vụng không !

- Bỏ ra !

- Nàng thật không ưng ta phải không ?

- Bỏ ra, không ta kêu lên bây giờ !

Sĩ Khánh cười gằn, chua chát:

- Kêu đi ! Kêu đi ! Không có ai ở quán cả ! Ta đã ra lệnh không ai được làm rộn.

A Kế Mỹ vùng vẫy, tay đấm chân đạp.

- Bỏ ra, bỏ ta ra ! Ta không bằng lòng, để ta đi ...

- Không được.

- Thân ta không thuộc về khách quan.

- Á à ... Nàng lầm ! Hỏi mẹ nàng xem. Ta đã trả tiền ...

- Mẹ ta bán ta, nhưng ta không chịu bán thân ta. Nhất là cho một tên hèn hạ đáng khinh như ngươi !

- Hỗn ! Nàng hỗn !

Sĩ Khánh giật sấp A Kế Mỹ xuống sàn, lấy chăn trùm kín. A Kế Mỹ kêu như điên dại, nhưng những tiếng kêu chỉ còn là những tiếng ú ớ tắc nghẹn.

- Kêu đi ! Kêu to nữa đi ! Không ai đến cứu nàng đâu !

Sĩ Khánh đè lên mình A Kế Mỹ.

Bên ngoài, cảnh vật vẫn điềm nhiên. Nắng sớm vô tình chiếu bóng cành thông lay động bên song cửa sổ. Xa xa, tiếng sóng biển rì rào đưa lại cùng với tiếng chim gáy hót sau nhà.

Sĩ Khánh bước vào phòng tắm, mặt tái xanh, tay trái giơ cao, những vết móng tay cào trên da còn rướm máu. Bỗng cửa phòng mở toang rồi đóng đánh rầm, bóng A Kế Mỹ chạy vụt ra ngoài. Sĩ Khánh kêu một tiếng khẽ, nhảy tới cản nhưng không kịp nữa. Hắn đưa mắt nhìn theo, trên môi nở nụ cười đắc thắng, nụ cười bằng lòng của một con thú vừa được thỏa mãn.

Chương 24: Vị nghĩa vong thân

- Cậu Ngô !

- Gì thế chị ?

- Cậu mệt rồi hả ?

- Vâng, cũng không được khỏe.

- Thảo nào trông thờ thẫn. Hai chân ta cũng mỏi nhừ, nhưng còn quãng nữa thì đến chùa Sơn Nhai. Gắng lên, chẳng lẽ tới đây không vào chùa lễ Phật, phải tội chết !

- A di đà Phật !

- Chùa này có xá lợi do vị cao tăng Tây vực mang đến cúng đã mấy trăm năm, lại trồng được cây bồ đề chiết từ gốc nguyên thủy lấy ở nơi đức Phật ngồi đắc đạo ...

- Sao chị biết ?

- Thì người ta nói thế, sao ta lại không biết !

Bà Hồ Điểu và cậu Ngô đến gần tam quan. Cảnh chùa u nhã, tiếng chim rừng văng vẳng gõ thân cây, mùi hương trầm phảng phất giục lòng người trút bỏ hết niềm tục lụy. Cạnh tam quan thấy cắm vô số bảng lớn nhỏ, chữ viết chi chít.

- Họ viết gì trên bảng này thế chị ?

- À, họ bảo lấy lá bồ đề trong chùa nấu nước uống thì khỏi bệnh nghiến răng.

Cậu Ngô cười chế giễu:

- Nhảm nhí !

- Này đừng báng bổ, đức Phật ngài linh thiêng lắm !

Bỗng bà quay lại, nhớn nhác như tìm ai:

- Thằng Mãn Hà Chí đâu ?

- Chắc nó đi sau.

- Hay lại lạc rồi cũng nên !

Bà quay trở lại, thấy Mãn Hà Chí ngồi trên phiến đá thừ người chán nản. Đã mười ngày nay theo mẹ và cậu lang thang chùa này đền khác trong vùng Sumiyoshi, hắn mệt mỏi không hứng thú. Bản tính ham chơi, ưa chỗ đông người, bây giờ thiếu cái không khí ồn ào của trà đình tửu quán, hắn bực dọc. Đã nhiều lần Mãn Hà Chí nói với mẹ xin tách ra đi riêng tìm Thạch Đạt Lang thì mới hy vọng gặp nhưng bà Hồ Điểu không chịu. Bà nói:

“Tết sắp đến nơi rồi. Sáu bảy năm nay, mày đã không ở nhà lễ gia tiên, năm nay mẹ con sum họp, biết đâu chẳng là lần chót. Nhờ Trời Phật, nếu còn được lâu dài nữa thì hay, bằng không thì cũng không ân hận ...”. Mãn Hà Chí biết không thể làm xiêu lòng mẹ được, đành thôi, nhưng nỗi buồn bực lộ hẳn ra nét mặt. Hắn nhất định sau Tết nguyên đán sẽ bỏ đi ngay, mặc bà muốn nói gì thì nói.

- Mãn Hà Chí ! Có đi nhanh lên không ? Con trai gì mà yếu như sên ấy !

Nghe mẹ quở, Mãn Hà Chí càng bực thêm. Hắn đứng lên, lầu bầu:

- Đi nhanh ! Đi nhanh ! Lúc nào cũng đi nhanh ! Nhanh để làm gì ? Chỉ la cà ở các chùa chiền, phí thì giờ !

- Mày nói gì ? Vào chốn tôn nghiêm, không biết kính Phật trọng tăng thì sa địa ngục đời đời không ngóc đầu lên được con ạ ! Ta không thấy mày lễ Phật bao giờ, rồi hối không kịp đấy !

- Thật là cái nợ !

- Mãn Hà Chí, mày nói ai là cái nợ ?

Giọng bà tức giận, the thé.

Mấy ngày đầu khi mẹ con gặp nhau, còn có đôi chút hòa khí, nhưng dần dần mối bất đồng ngày càng tăng. Bà Hồ Điểu lại khắc nghiệt, không tối nào không bắt con quỳ nghe bà thuyết giáo làm Mãn Hà Chí bực dọc không để đâu cho hết. Nể mẹ, hắn không cãi nhưng sự bực bội dồn ép mãi đến lúc nào đó phải xì ra. May mà hắn còn biết trong uy quyền của bà, chỉ đáp lại bằng những lời chế nhạo hoặc những tiếng lầu bầu bất mãn.

Cậu Ngô đứng bên, biết không tránh khỏi sự va chạm đưa đến cãi vã, nghĩ thầm:

“Thật mẹ nào con nấy !”. Để xoa dịu sự bực bội của hai người, cậu cố gắng lái câu chuyện sang hướng khác:

- Hình như chỗ ghềnh đá đằng kia có cái quán, ta ra đấy xem có gì uống cho ấm bụng chứ !

Nói xong, không đợi trả lời, cầm tay chị và cháu lôi đi. Không ai tỏ vẻ hoan nghênh nhưng cậu cũng kéo bằng được cả hai đến gần quán.

Quán nhỏ. Hàng rào sậy thưa ngăn quán với khu vườn hoang gió đánh tơi tả. Cả ba tìm một bàn bên ngoài ngồi nhìn ra bãi. Mẹ con bà Hồ Điểu buồn thiu, chẳng ai nói với ai lời nào. Cậu Ngô chạy vào trong đem bình rượu sa-kê mới hâm nóng ra rót vào chén mời bà lão:

- Chị uống một tí. Nó còn trẻ người non dạ, để rồi dạy dần dần mới được.

Bà Hồ Điểu hừ một tiếng, quay phắt đi, buông sõng:

- Không uống.

Bị tẽn, cậu Ngô đưa rượu cho Mãn Hà Chí. Đương cơn bực bội, hắn cầm chén rượu uống liền, nốc một hơi cạn sạch, rồi lại tự tay rót thêm, vừa uống vừa mời cậu, Mãn Hà Chí có ý trêu tức bà lão. Khi hắn cầm bình định rót lần nữa, bà Hồ Điểu quay mặt lại giận dữ quát lớn:

- Thôi ! Không phải lúc say sưa ! Chỗ này đâu phải chỗ vui chơi ! Còn cậu nữa, liệu hồn cậu ! Già đầu rồi thì phải biết điều hơn nó chứ !

Như đứa trẻ bị mắng, cậu Ngô khẽ dạ, bẽn lẽn đứng bên hàng rào nhìn ra biển.

Thấy sắc mặt đỏ gay và dáng điệu bất cần của con trai, bà Hồ Điểu giận uất, dùng ngón tay chỉ mặt Mãn Hà Chí, mắng như tát nước. Bà không còn e dè gì nữa, bao nhiêu tiếng xấu xa đem ra đổ hết lên đầu hắn, không lưu ý gì đến chủ quán và số thực khách ngồi ở bàn trong, nhìn ra khó chịu.

Mãn Hà Chí chỉ lặng thinh, lầm lì nhìn khay rượu. Chờ mẹ nói xong, hắn mới ngửng lên nhìn bà lão:

- Vậy con là đồ bất hiếu, bạc bẽo, không có liêm sỉ gì phải không ?

- Chứ còn gì nữa ! Cho đến bây giờ mày đã làm gì để rạng rỡ tổ tông, hoặc ít ra cũng tỏ ra là đứa con hiếu thảo ? Mày chỉ là đồ vô tích sự !

- Mẹ không hiểu ...

- Sao ta lại không hiểu ! Biết con không ai bằng cha mẹ ! Ta xấu hổ đã sinh ra mày, làm nhục cả họ Hồ Điểu. - Bà thở dài ảo não - Càng nghĩ càng thêm xấu hổ ...

- Nếu tôi vô dụng thì tôi theo bà làm gì nữa ! Tôi đi đây !

Mãn Hà Chí tức giận, dằn mạnh chén rượu xuống bàn, đứng lên đi thẳng.

Bà lão giật mình nhìn theo, trong cơn thảng thốt, miệng lắp bắp nói không nên lời.

Bà run run quơ chiếc gậy tre, nhưng rồi lại vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, quay đầu về phía em:

- Cậu Ngô ! Cậu Ngô !

Cậu Ngô như không nghe gọi, vẫn chăm chú nhìn ra bãi.

- Kệ nó ! Muốn đi đâu thì đi, không ai giữ !

Chẳng biết bà nói với ai, với cậu em hay với chính mình. Lát sau cậu Ngô mới lên tiếng, nhưng không phải để đáp lời chị:

- Kỳ thật ! Người con gái đằng kia định làm gì mà kỳ quá !

Rồi không đợi trả lời, cậu hối hả nhảy qua hàng rào thấp, chạy vội ra bãi.

- Cậu Ngô ! Cậu Ngô ! Đi đâu thế ? Thằng Mãn Hà Chí ...Chưa nói hết câu, bà đã lật đật đứng lên đuổi theo, chẳng may vấp phải đám rong ngã sấp mặt xuống đất. Chủ quán và một số thực khách chạy ra đỡ bà dậy, quần áo mặt mũi lem luốc những cát ướt. Bà gạt tay mọi người, phủi vội quần áo, mắt vẫn không rời bóng cậu Ngô trên bãi:

- Điên à ! Chạy đi đâu thế ? Nó đi về phía này mà !

Mọi người nhìn theo đều lấy làm lạ. Cậu Ngô chạy thẳng ra biển. Ghềnh đá ngược ánh mặt trời đen sẫm che khuất bóng cậu, một lúc sau mới thấy cậu hiện ra thì nước đã lên đến đầu gối. Trước cậu chừng vài trượng, một thiếu nữ đương vùng vẫy, áo, tóc xõa trên mặt biển loang loáng dưới ánh nắng.

Bà Hồ Điểu đến bờ nước, chạy tới chạy lui gọi em, giọng lạc đi trong gió lộng:

- Cậu Ngô ! Cậu Ngô !

Người trong quán ùa ra theo cũng phụ họa, nhưng không ai dám bước xuống nước.

Họ chỉ đứng bàn tán:

- Chỗ này sát ghềnh đá, ở đây thì thế nhưng qua chút nữa là hố sâu, vô ý hụt chân nguy hiểm lắm !

Bỗng có tiếng kêu. Nhìn ra không thấy bóng ông già và thiếu nữ đâu nữa.

- Chìm rồi ! Chết rồi, chìm rồi !

Bà Hồ Điểu lo sợ cuống cuồng. Không biết làm sao, bà giơ gậy đập mọi người làm họ chạy tán loạn.

- Nhảy xuống cứu đi ! Chết rồi ! Ông ấy chết đuối rồi !

Bà mếu máo:

- Các người bất nhân quá ! Thấy ông già sắp chết không cứu. Cậu Ngô ơi ! Cậu Ngô ơi ! Ai cứu em tôi !

Người ta vội vã đi gọi thuyền chài. Lặn ngụp hồi lâu mới vớt được cả hai lên. Thiếu nữ còn nắm chặt vạt áo cậu Ngô, nhưng cả hai mắt nhắm nghiền không thở nữa. Mọi người phụ vào gỡ ra và đặt nằm trên bãi cát.

- Anh em mỗi người một tay. Phụ nữ giúp cô bé còn chúng tôi lo cứu ông già. Ngồi lên bụng nhấn mạnh cho nước ộc ra mới được !

Thiếu nữ mặc kimono trắng, mặt còn nguyên son phấn nên trông còn có chút sinh khí, nhưng cậu Ngô thì trái lại, mặt xám ngoẹt, những sợt tóc thưa thớt, bạc và ướt nhẹp dán lên trán và hai bên thái dương. Bình nhật cậu không đến nỗi gầy, sao bây giờ trông hom hem quá ! Bà Hồ Điểu không cầm được xúc động, khóc òa lên.

- Yên nào bà già ! Làm người ta rối trí !

Những kẻ hiếu kỳ bu quanh thì thầm:

- Tự tử hả ? Tự tử vì tình hả ?

- Bậy nào ! - Có người cười đáp - Ông già cứu cô bé đấy chứ !

- Thiếu nữ này trông quen quen. Có phải cô bé nhặt vỏ ốc không ?

- Hình như thế ! Cô ta trọ Ở trong xóm !

Từ đằng xa, bốn năm người chạy lại. Hoa Sơn Sĩ Khánh gạt đám đông len lỏi đến gần nạn nhân. Nhìn cô bé nằm thiêm thiếp trên cát, mặt hắn tái đi. Hắn kêu khẽ:

- A Kế Mỹ !

Một người hỏi:

- Đại hiệp quen cô này hả ?

Sĩ Khánh không đáp chỉ đứng trừng trừng nhìn thiếu nữ. Người ta đập lưng móc miệng cô, nước và rãi rớt ộc ra ướt cả một khoảng cát. A Kế Mỹ thở mạnh rồi cựa quậy chân tay. Mọi người reo lên vui mừng:

- Sống rồi ! Cô bé sống rồi !

Họ tiếp tục hà hơi, vỗ lưng, lau mặt cho A Kế Mỹ. Sĩ Khánh lùi ra ngoài, ghé tai môn hạ nói nhỏ. Một lúc sau, cáng được mang đến, người ta vực cô bé lên đưa vào trong xóm.

Cậu Ngô vẫn nằm bằn bặt trên cát. Mọi người xúm vào làm đủ cách, cậu vẫn không tỉnh. Mắt nhắm nghiền, chân tay lạnh ngắt, da mặt mỗi lúc càng trắng bệch. Vài người lắc đầu:

- Ông già khéo hỏng mất !

Quả thật, thần chết đang rình rập đâu đây và có lẽ đã điểm cậu Ngô rồi ! Xấp xỉ lục tuần, cậu đã già, trước khi nhảy xuống nước cứu cô bé, cậu lại còn uống vài chén rượu thì làm sao mà đủ sức chống lại cái lạnh của nước biển về mùa đông ?Bà Hồ Điểu ngồi bên em, miệng rên khe khẽ. Thấy không kết quả, số người cứu chữa lần lượt đứng lên dần:

- Hỏng rồi ! Trễ quá, không sao cứu được nữa !

Bà Hồ Điểu khóc rống lên, gọi tên em rồi quay ra hằn học với mọi người xung quanh:

- Hỏng là thế nào ? Hai người cùng mang lên một lúc, một người sống một người chết là sao ? Tại ... tại các ngươi không hết sức !

Bà vừa gạt nước mắt vừa ôm lấy cậu Ngô, kéo tay bóp chân, giật tóc mai, không còn cách gì bà biết mà không làm. Lại lật đật mở bọc ra lấy lọ thuốc nhỏ, đổ vài viên vào mồm em. Nhưng cậu Ngô vẫn nằm trơ ra đó. Cậu đã ra người thiên cổ.

Ai ai trông thấy cũng ngậm ngùi. Có kẻ quay đi chùi vội nước mắt.

Trời đã về chiều. Ngoài biển xa, phía chân trời, chỉ còn vài vệt sáng hồng báo hiệu một ngày sắp tắt. Những kẻ hiếu kỳ bỏ đi gần hết. Vài người ở lại nhặt cành khô nhóm đống lửa nhỏ bên cạnh bà lão.

Trong cái yên lặng của buổi chiều quý đông nơi đất khách, bà Hồ Điểu ngồi ôm xác em, tiếng bà nức nở hòa với tiếng sóng rì rào thành một điệu nhạc bi ai tiễn đưa người anh hùng bất hạnh.

A Kế Mỹ nằm trong phòng thiêm thiếp, thỉnh thoảng lại giật tay chân, miệng kêu ú ớ. Sĩ Khánh ngồi bên trầm ngâm yên lặng. Nhìn cổ tay yếu ớt của cô bé có những đường gân xanh nổi rõ dưới làn da trắng bệch, hắn cảm thương vô hạn. Cầm tay nghe mạch, mạch nhẹ như tơ, Sĩ Khánh khẽ lắc đầu:

“Mạch yếu quá !”.

Trong thâm tâm, hắn tự trách mình đã tàn bạo và ngu xuẩn.

- A Kế Mỹ ! Tha thứ cho ta ... Tình ta mãnh liệt làm nàng sợ hãi. Nhưng đàn ông nào cũng như thế ...

Hắn lẩm bẩm nói một mình, không biết để tự bào chữa hay để cho A Kế Mỹ nghe, song lúc bấy giờ hắn thật là thành thực. Mới hay lòng người phức tạp; sáng còn như dã thú, chiều nặng những tình trắc ẩn.

Trời tối đã lâu. Ngọn đèn nhỏ tỏa ánh lờ mờ qua chiếc chụp giấy, vân giấy màu ngà nổi lăn tăn như mây vần trên nền trời sáng. Trong phòng yên lặng, cửa sổ khép kín không để lọt tiếng động bên ngoài. A Kế Mỹ khẽ cựa mình kêu lên thảng thốt:

- Bỏ ra, bỏ tôi ra !

Sĩ Khánh lay vai cô bé:

- A Kế Mỹ ! Đừng sợ ! Đừng sợ ! Hãy tỉnh dậy !

Có tiếng thở dài. A Kế Mỹ mở mắt lờ đờ nhìn lên trần, không ý thức chuyện gì xảy ra chung quanh, thều thào hỏi:

- Hôm nay là mấy rồi !

- Cái gì ? Nàng nói gì ?

- Hôm nay ngày mấy ? Còn bao lâu nữa thì hết năm ?

- Mười ngày nữa. Cứ yên tâm tĩnh dưỡng, khỏe rồi ta sẽ đưa nàng về Kyoto ...

A Kế Mỹ mệt nhọc quay đầu lại nhìn. Dưới ánh đèn mờ, hình như vừa nhận diện được kẻ vừa nói, nàng kêu lên một tiếng kinh hoàng, ngất đi bất tỉnh.

Sĩ Khánh loay hoay đắp khăn ướt lên vầng trán nóng bỏng của cô bé. Hắn tránh không gọi tên, sợ làm nàng kinh hãi, chỉ cặm cụi làm. Thay khăn mấy lượt, mới thấy A Kế Mỹ hơi tỉnh. Trong cơn mê, cô bé gọi tên Thạch Điền Đạt Lang và lẩm bẩm những tiếng gì hình như là “Đại kiều đường Gojo ...”. Sĩ Khánh nghe không rõ nhưng cái tên Thạch Điền Đạt Lang làm hắn chú ý. Thạch Đạt Lang ... Thạch Đạt Lang ... Không biết có phải là tên lãng tử trẻ tuổi đã từng đến làm náo loạn võ đường Hoa Sơn của hắn dạo nào ?

Sĩ Khánh nhìn môi cô bé, chờ đợi. Nhưng A Kế Mỹ không nói thêm lời nào nữa.

Nàng đã thiếp đi rồi !

Ngoài song, bóng cây lay động. Tiếng ngựa hí từ xa vẳng đến. Sĩ Khánh lắng tai nghe:

tiếng chân người bước vội và tiếng con hầu vọng vào:

- Đây ! Đại hiệp ở trong này !

Sĩ Khánh vội bỏ sang phòng bên, quàng tay ra sau khép cửa. Một môn đệ Hoa Sơn, trang phục theo lối lữ hành, nón nan, vai áo trắng bụi đường hối hả tiến vào. Thấy Sĩ Khánh, hắn vội vàng thi lễ.

- Chuyện gì thế ?

- Mời đại ca về ngay cho.

- Nhưng chuyện gì mời được chứ ?

Ở phòng bên, thình lình tiếng thét của A Kế Mỹ vọng sang, rõ mồn một:

- Bỏ ta ra ! Ta không ưng ! Đừng ...

Tiếng thét pha lẫn sợ hãi làm gã đồ đệ Hoa Sơn đang mãi tìm thư trong bọc phải khựng lại, ngẩng đầu nhìn Sĩ Khánh.

- Không can gì ! Kẻ đó sốt, thỉnh thoảng nói sảng ... Đâu ? Thư của ai ? Đưa ta coi !

- Dạ, của Thạch Điền Đạt Lang.

Sĩ Khánh sửng sốt. Hắn vừa nghe tên đó từ miệng A Kế Mỹ thốt ra, bây giờ lại nhận được thư, chẳng biết là điều gì, lành hay dữ. Một cảm giác lo sợ bâng quơ làm hắn ớn lạnh.

Sĩ Khánh cầm thư, lật đật đến bên chiếc bàn thấp, cạy niêm và ghé sát vào ánh sáng ngọn bạch lạp. Lời thư rõ ràng, không uẩn khúc:

“Trong thư trước, tại hạ đã hứa ngày trọng xuân sắp tới sẽ có mặt ở kinh thành.

Xin quý phái cho biết nơi và giờ hội ngộ. Tại hạ không sở trường đặc biệt về loại vũ khí nào nên để tùy quý phái ấn định.

Xin quý phái cho yết ngày giờ và địa điểm lên bảng cáo thị Ở chân Đại kiều đường Gojo trước tiết nguyên tiêu, tại hạ rất hân hạnh.

Hy vọng trong thời gian qua, quý kiếm pháp đã đạt mức trác tuyệt. Về phần tại hạ cũng có tiến bộ đôi chút, không dám để phụ lòng quý phái.

Thư bất tận ngôn, Thạch Điền Đạt Lang kính bái “ Vẫn cái giọng tuy lễ độ nhưng rất cao ngạo trong thư trước. Sĩ Khánh xem xong, tái mặt. Hắn thừ người suy nghĩ. Trác tuyệt cái gì ? Cả năm nay có luyện tập gì đâu mà trác với tuyệt ? Không những chỉ riêng hắn mà thôi, các môn đệ khác, nhưng tay được coi như trụ cột của môn phái, Hồ Định, Ưng Đằng ... cũng thế. Bây giờ không phải là lúc đắm mình trong hoan lạc. Phải hành động và cấp kỳ đặt ngay kế hoạch. Càng nghĩ Sĩ Khánh càng thấy nguy cấp. Từ nay đến tiết nguyên tiêu chẳng còn bao lâu nữa, nếu hắn không trở về Kyoto ngay để thảo luận cùng anh em trong phái thì không kịp.

Thấy tên đồ đệ vẫn còn đứng xớ rớ ở góc phòng chờ lệnh, Sĩ Khánh giận dữ:

- Ra ngoài chờ ta. Gọi chủ quán đến đây. Lập tức !

Đồ đệ ra khỏi. Sĩ Khánh giở cuốn thư đọc lại. Những lời ngạo mạn ngụ ý châm chọc của Thạch Điền Đạt Lang khiến hắn giận run. Ngày hôm nay đối với hắn quả là một ngày buồn tủi, đáng giận. Chuyện A Kế Mỹ xúc phạm lòng tự ái của hắn chưa nguôi, nay lại Thạch Đạt Lang thách thức. Không do dự, Sĩ Khánh quyết ý trở về Kyoto, quay lưng lại nơi sầu thảm này, nơi không để lại một kỷ niệm gì vui tươi trong lòng hắn.

Chủ quán bước vào, Sĩ Khánh căn dặn săn sóc A Kế Mỹ chu đáo. Hắn mở tủ lấy một số tiền trao cho chủ quán và gọi đồ đệ:

- Thu xếp hành trang và để ngựa ta cưỡi, ngươi về sau.

Cả đêm hôm ấy Sĩ Khánh không chợp mắt. Vừa tinh sương, hắn đã lên ngựa bỏ đi như chạy trốn, mặc cho tên đồ đệ theo sau, đến đâu hay đó.

Chương 25: Giang biên liễu

- Thanh niên bế con khỉ lông vàng ? Dạ có, có thấy đi ngang qua đây hồi trưa.

- Đi về phía nào ?

- Phía cầu gỗ, nhưng không qua cầu. Hình như rẽ vào hàng bán đồ sắt.

Bọn đồ đệ Hoa Sơn hấp tấp bỏ đi, quên cả cám ơn bác nông phu làm bác ngạc nhiên nhìn theo, không hiểu chuyện gì.

Trời đã về chiều. Đường chân núi vắng vẻ ít người qua lại, hàng quán ven đường lục tục đóng cửa nhưng may làm sao gian hàng bán đồ sắt và lò rèn vẫn thấy còn người kéo bễ. Cả bọn ùa vào. Nhìn đoàn khách lạ Ồn ào, có dáng giận dữ, binh khí đeo bên sườn kêu rổn rảng, gã kéo bễ chột dạ, ngưng tay chạy vội ra.

- Hồi trưa có ai đến đây không ?

- Dạ có.

- Người thế nào ?

- Một thanh niên cao lớn mang bào tía, đeo trường kiếm, nhưng đầu không cạo như các kiếm sĩ khác thường thấy.

- Hắn ẵm một con khỉ nhỏ phải không ?

- Dạ phải.

- Đúng rồi ! Hắn có hỏi gì không ?

- Có. Thanh niên đòi xem võ khí chế tạo tại bổn tiệm, nhưng hình như không được vừa ý, vì thấy ý chỉ lắc đầu ...

- Hừ ...

- Lại tháo cả trường kiếm đeo trên vai xuống và hỏi ý kiến tiểu nhân nhưng tiểu nhân không dám đáp, vì thật ra tiểu nhân chỉ là thợ phụ không chuyên nghề rèn kiếm ...

- Vậy bây giờ tên đó đâu ?

- Dạ, bỏ đi ngay sau khi biết chủ nhân bổn tiệm đi vắng.

- Đi về phía nào ?

- Về phía bến đò Temma.

Cả bọn lại ùa ra cửa, theo đường bờ sông trực chỉ bến đò Temma. Họ rảo bước, chẳng ai nói với ai lời nào, lầm lũi đi không nghỉ vì trời đã chạng vạng tối. Trăng hạ tuần chưa mọc, sương chiều bắt đầu bao phủ mặt nước làm mờ những ngọn cỏ lác ven sông và run rẩy các đốm lửa chài lúc ẩn lúc hiện tít tận đằng xa, phía bên kia bờ.

Gần đến bến, một người trong bọn kêu lên:

- Thôi rồi ! Nó trốn rồi !

- Sao ngươi biết ?

- Thì quán vắng ngắt, người ta đang xếp dọn bàn ghế. Vậy là thuyền mới nhổ sào, ta lỡ chuyến đò này rồi !

Thất vọng, cả bọn tản ra quanh bến, hỏi thăm người xung quanh thì được biết hồi chiều quả có một thanh niên với con khỉ lên thuyền đi đã hơn một khắc rồi. Tuy nhiên, theo họ, cũng chưa phải là trễ.

- Mùa này nước chảy xiết. Thuyền đi ngược dòng chậm lắm. Chư vị vào quán nghỉ chân một lúc đã, rồi cứ theo đường ven sông này đuổi theo đến bến Kurushi ắt là gặp vì thế nào thuyền cũng cập bến này đón khách.

Đồ đệ Hoa Sơn cho là phải, vào quán gọi bánh trà ăn uống, một lúc sau mới lại lên đường tiếp tục cuộc hành trình.

Sông Temma là một phụ lưu của đại hà Yodo, về mùa nước lớn, ngã ba sông rộng mênh mông như biển. Bọn đồ đệ Hoa Sơn cứ cắm cúi theo đường mòn mà đi, răng nghiến chặt chống lại cái rét căm căm của gió bấc cuối năm. Trăng mọc đã lâu, trắng như sữa trên nền trời trong xanh không một vẩn mây và lạnh buốt. Bên đường, lá sậy khô đóng giá ánh lên dưới ánh trăng chẳng khác gì những lưỡi kiếm thép tí hon sáng lóng lánh.

Giữa sông, lẩn trong màn sương trắng đục, một khối xám lừ lừ tiến ngược dòng nước, ánh đèn chai thấp thoáng ẩn hiện.

- Thuyền kia rồi ! Đấy ! Thuyền ấy đấy !

Cả bảy người không ai bảo ai cùng rảo bước mau thêm. Sự khích động khiến họ quên cả lạnh. Chẳng bao lâu con thuyền hiện ra rõ hơn trước, tiếng mái chèo khua nước rào rào. Một người trong bọn nóng nảy bắc loa tay gọi lớn:

- Bớ thuyền ngoài kia ! Dừng lại !

Trên thuyền có tiếng đáp:

- Ai đó ?

- Dừng lại !

- Nhưng các vị là ai ? Muốn gì ?

- Ta muốn nói chuyện với một người khách mặc áo đỏ !

Lời nói vừa thốt ra, bọn Hoa Sơn thấy thật là dại dột. Đằng nào thuyền cũng ghé bến sắp tới. Thà cứ để yên như thế, bọn hắn chia nhau ra phục kích, chờ cho thuyền đậu, rồi bất ngờ nhảy lên tấn công, nếu không bắt sống thì cũng giết được tên trẻ tuổi xấc láo đó. Bây giờ làm náo động lên, nó nhảy xuống sông trốn mất hay ít ra cũng đã đề phòng. Sự tấn công thành ra mất một yếu tố quan trọng, khó khăn thêm ! Người đứng tuổi nhất trong bọn xem ra giận dữ lắm, bứt tóc giậm chân, tự trách mình ngu xuẩn.

Nhưng đã trót rồi, chỉ còn cách dọa và làm chủ đò sợ hãi.

- Chủ đò đâu ? Ghé thuyền vào bờ !

Không nghe tiếng đáp, chỉ thấy mái chèo vẫn đều đặn khua nước. Hiển nhiên trên thuyền, chủ và khách cho bọn này là thảo khấu bày chuyện để ăn cướp. Muốn an toàn, cách tốt nhất là cứ giữ cho thuyền đi giữa sông, gươm giáo nào đến gần được !

- Nếu không ghé vào bờ, đến bến ta lấy đầu chủ đò. Báo cho mà biết trước !

Trên đường mòn, cả bọn theo nhau đuổi con thuyền sát nút, thỉnh thoảng dừng lại nghe động tĩnh. Họ mang giầy cỏ, bước chân tuy êm nhưng vẫn làm đứt quãng những tiếng côn trùng kêu ri rỉ đều đều trong đám lau sậy.

Trời đã khuya lắm. Trăng sáng vằng vặc mà sương cũng bớt dần. Đò đến gần bến Kurushi, bọn Hoa Sơn chạy trước ra cầu tàu đón. Nhưng kìa lạ quá, sao thuyền không vào mà dừng lại ở giữa sông, quay hai ba vòng như do dự. Có lẽ trên thuyền đang có sự bất đồng ý kiến giữa hai phe hành khách, một phe muốn cập bến và một phe muốn thuyền đậu giữa sông chờ sáng hoặc đợi lính tuần đến bảo vệ.

- Gã tiểu tử hỗn láo mặc áo đỏ có đó không ?

Một người trong bọn Hoa Sơn hỏi lớn.

Tức thì thanh niên ôm con khỉ bước ra mũi thuyền:

- Bọn ngươi là ai ? Nếu không là giặc cướp thì cũng là đồ vô lại tùng tam tụ ngũ để làm bậy bắt nạt kẻ qua sông. Trong thuyền không có ai mặc áo đỏ , chỉ có ta. Vậy chắc bọn ngươi muốn gặp ta. Muốn cái gì ?

Tiếng xì xào nổi lên. Trẻ em và phụ nữ ngồi thu vào góc khoang niệm Phật. Trên bờ, một hai quán vội thổi tắt đèn, đóng cửa. Thời buổi nhiễu nhương, người dân thấp cổ bé miệng chỉ mong yên thân; đao thương không có mắt, kinh nghiệm đã dạy cho họ biết chẳng dại gì mà dính vào những chuyện tranh chấp không đâu.
- Tiểu tặc ! Hãy giữ mồm miệng. Chúng ta là người của Hoa Sơn đến hỏi tội ngươi đây !

- Muốn sống thì ghé thuyền vào bến, đừng để cho chúng ta phải trèo lên !

Thanh niên cười gằn:

- Đồ ngu ! Không biết tự lượng !

Chưa dứt lời, gã giật ngay cây sào trong tay người lái đò và chỉ đẩy vài cái, thuyền đã phăng phăng rẽ nước vào bờ. Con thuyền lướt tới càng lúc càng nhanh tưởng như sắp đâm sầm vào chân cầu gỗ. Mạn thuyền cọ vào chân cầu kêu rắc rắc, tiếng người la hét cùng với tiếng quang quác của những giống thủy cầm thấy động bay lên làm huyên náo cả khúc sông vắng.

Thình lình, một vật tròn đen xẹt qua ngọn lau, bắn thẳng vào vai tên đồ đệ Hoa Sơn đứng trước. Tên này luống cuống giật lùi vung gươm chém loạn. Cả bọn la hoảng.

Cầu tàu thì hẹp, bọn chúng lại đông, sự tháo lui vô trật tự khiến một tên trượt chân ngã lăn tòm xuống nước. Khi định thần nhìn kỹ lại thì mới biết đó là con khỉ. Chúng tức giận chửi bới om sòm.

Thanh niên áo đỏ đứng trên mui thuyền cười ha hả:

- Đây là chư vị kiếm sĩ Hoa Sơn đấy ư ? Giỏi quá ! Giỏi quá ! Ta chưa ra tay mà đã có kẻ uống nước rồi.

Nói vừa dứt câu, nhanh như cắt, thanh niên đã nhảy xuống cầu tàu, áo bào xòe rộng và lưỡi kiếm rút đánh soạt, lóe sáng dưới ánh trăng. Tên đệ tử Hoa Sơn đứng gần nhất chưa kịp trở tay đã bị lưỡi kiếm đâm suốt ngực. Rút kiếm ra, thân người chưa kịp đổ, thanh niên đã nghiêng mình né nhát gươm bổ xuống mạnh như vũ bão của tên Hoa Sơn thứ hai, đồng thời lia trường kiếm chênh chếch theo đường vòng cung từ trên xuống.

Một tiếng thét hãi hùng nhưng đứt quãng, đầu tên môn đệ Hoa Sơn thứ hai đã rơi tõm xuống nước. Mình gã còn quỳ trên cầu, hai tay nắm chặt chuôi kiếm và lưỡi kiếm chém vào thành gỗ vẫn bị giữ chặt ở đó. Máu từ cổ gã phun ra có vòi. Trước hai chiêu kiếm nhanh như chớp xẹt và chính xác cực độ của thanh niên áo đỏ, năm tên còn lại biết gặp phải tay ghê gớm, tản ra chung quanh như năm cánh hoa vây thanh niên vào giữa.

Chúng định lấy số đông áp đảo.

- Gi ... ết !

Tiếng hét xung trận vừa được tung ra như sấm động, một tên đã nhắm hướng thanh niên đứng, chĩa kiếm đâm thẳng vào tựa tên bắn. Chỉ tiếc kỹ thuật còn kém lại không lường kịp phản ứng thần tốc của đối phương nên đường kiếm không trúng đích. Hắn quá đà chúi về đằng trước, chưa kịp gượng dậy đã bị thanh niên nhảy lên lưng đạp cho ngã sấp và dùng chiêu trảm nhạn hớt đầu tên đứng bên hữu khi tên này chưa kịp xuất thủ.

May sao, gã nhanh mắt, trầm mình xuống tránh khỏi, nhưng cũng bị thanh kiếm dài quá khổ chém xả vai. Tiếng rú thê thảm của hai đệ tử Hoa Sơn bất hạnh làm sởn gai ốc ba tên còn lại. Chúng hoảng hốt múa bậy vài chiêu rồi hè nhau bỏ chạy.

Thanh niên áo đỏ nhìn theo lắc đầu:

- Không biết Hoa Sơn còn cao nhân nào nữa không chứ nếu ai cũng thế này cả thì bất xứng quá ! Chả trách làm trò cười cho thiên hạ !

Vừa lúc đó, tiếng vó ngựa từ xa vẳng đến rồi thấy xuất hiện trên đê một kỵ mã, theo sau là một tên hầu chạy bộ. Ánh trăng khuya vằng vặc chiếu rõ trang phục của người cưỡi ngựa:

chiến bào màu vỏ dà viền kim tuyến, nón nan trên đầu, trường kiếm bên hông. Con ngựa ô khỏe mạnh đi nước kiệu, hơi thở phì ra đằng mũi như hai luồng khói trắng.

Ba đệ tử Hoa Sơn tháo thân chạy lên đê suýt đâm phải kiếm sĩ. Chúng khựng lại kịp, rồi đột nhiên cùng reo lên vui mừng:

- Đại ca !

Vì kiếm sĩ cưỡi ngựa đó chẳng ai khác hơn là Hoa Sơn Sĩ Khánh.

- Đi đâu thế này ? Sao lại ở đây ? Ta tưởng các ngươi phải còn ở nhà trọ chứ ?

- Dạ, xin đại ca xá lỗi. Bọn tiểu đệ ra đi từ sáng.

- Hừ ! Lại rượu chè ở đâu rồi ! Thật đáng phạt.

- Trình đại ca không phải thế. Vì bọn tiểu đệ được tin có một tên trẻ tuổi xấc láo phạm đến uy danh của bản phái, nên họp nhau truy nã.

- Đúng vậy không ?

- Bọn tiểu đệ đâu dám nói láo. Tiểu tặc đó ở gần đây. Nó tuy còn nhỏ tuổi nhưng dũng mãnh lắm. Đường kiếm của nó thần sầu quỷ khốc ...

- Nói bậy ! - Tên tiểu đồ chạy theo ngựa của Sĩ Khánh vội cướp lời - Để mất lòng tự tin thì lâm trận thắng sao được ! Không đường kiếm nào thần sầu quỷ khốc bằng đường kiếm của đại ca !
Ba tên kia định kể thêm thì Sĩ Khánh ngăn lại:

- Thôi ! Ta biết rồi. Bây giờ tên đó đâu ?

- Dạ, ở đằng kia !

Và chúng chỉ tay về phía bến đò.

Vừa hay thanh niên áo đỏ đi tới. Dáng hắn lênh khênh, tay còn lăm lăm thanh trường kiếm mà hắn mệnh danh là “cây sào phơi”. Ánh trăng chiếu bóng và kiếm hắn đổ dài trên cỏ.

Ba tiểu đồ Hoa Sơn đưa mắt nhìn nhau, tên hầu ngựa Sĩ Khánh chạy vội tới trước, rút gươm quát lớn:

- Tiểu tặc này phải không ?

Và phóng chiêu ra liền. Thanh niên áo đỏ chỉ khẽ quay mình né tránh rồi thuận tay bổ xuống một nhát, tên hầu ngựa chúi về phía trước tưởng chết đến nơi, may sao chỗ đó gần bờ sông, đất lở khiến hắn rơi tòm xuống nước thoát được thế kiếm cực kỳ nguy hiểm. Lóp ngóp dưới sông, bùn và nước lạnh tràn cả vào mũi và miệng, hắn vừa sợ vừa tức. Nhìn lên thấy ba bạn đồng môn đang bị gã áo đỏ đánh tơi bời, hắn nằm im thin thít không dám chửi to, chỉ rủa thầm trong bụng. Kiếm hắn rơi đâu mất mà lòng tự tin của hắn cũng bỏ hắn rồi !

Trên bờ, bọn đệ tử Hoa Sơn chạy tán loạn không rõ về hướng nào. Thanh niên áo đỏ mắt sáng quắc lừ lừ tiến lại phía Sĩ Khánh. Tình thế khẩn cấp quá, Sĩ Khánh không ngờ cục diện thay đổi nhanh như thế. Lúc đầu hắn không sợ, vì dù sao phía Hoa Sơn cũng có tới bốn người không kể hắn. Bây giờ chỉ còn một mình hắn phải đơn độc chống với gã thanh niên dũng mãnh kia mà kiếm thuật của gã, hắn vừa được dịp quan sát, không phải là hạng tầm thường. Nhìn thanh trường kiếm dài quá khổ gã thanh niên áo đỏ sử dụng, đột nhiên Sĩ Khánh như sực nhớ ra điều gì. Một ý nghĩ vụt hiện, hắn gọi lớn:

- Giang Biên Liễu !

Rồi rút một chân khỏi bàn đạp để lên yên, tay hắn vỗ nhẹ vào đầu ngựa. Con ô câu hí một tiếng dài, co cẳng trước phóng qua đầu thanh niên trong khi Sĩ Khánh uốn mình như con tôm, lộn ngược lại phía sau đồng thời rút kiếm ra khỏi vỏ, đứng vững vàng cách thanh niên áo đỏ chừng non một trượng.

- Tuyệt hảo !

Lời khen nhiệt thành phát xuất từ một tấm lòng tri đắc, ngưỡng mộ làm Sĩ Khánh hả dạ. Là chưởng môn nhân một môn phái lớn, hắn quen được xưng tụng nhiều rồi, nhưng những lời xưng tụng ấy đều do thuộc cấp của hắn nói ra nên hắn coi thường. Giờ đây đứng trước một đối phương mà thành tích vừa qua làm hắn phải kiêng nể, đối phương ấy lại tỏ ra tâm phục hắn vì một xảo kỹ hắn vẫn thường tự hào thì bảo sao hắn không vui lòng cho được ! Và dĩ nhiên, Sĩ Khánh nắm ngay lấy lợi thế ấy. Bằng một giọng vui mừng, hắn gọi:

- Giang Biên Liễu Cát Xuyên Mộc !

Thanh niên áo đỏ ngạc nhiên:

- Đại hiệp là ai, sao biết đến ngoại hiệu của tại hạ ?

Tiếng cười ha hả vang dội trong đêm vắng, tiếng cười vui vẻ, đắc thắng và pha chút hợm hĩnh. Sĩ Khánh vỗ đùi:

- Đại danh thiếu hiệp ai mà không rõ. Tại hạ được nhiều người cho biết uy danh đã lâu, bây giờ mới may mắn được gặp. Thật là đại hạnh !

- Nhưng đại hiệp là ai ?

- Tại hạ là Sĩ Khánh, chưởng môn phái Hoa Sơn, tri hữu của Y Tô khi ngài còn ngụ tại một căn nhà nhỏ ở ngoại thành Kyoto.

- Ồ thế ư ? Vậy đại hiệp là bạn của sư huynh tại hạ đấy !

- Đúng vậy !

- Nếu thế chúng ta là đồng đạo rồi, còn chống nhau làm gì nữa !

Và không chờ Sĩ Khánh phản ứng, thanh niên tra kiếm ngay vào vỏ.

Sĩ Khánh chỉ đợi có thế. Hắn cũng đút gươm vào bao, mở rộng tay nói:

- Hôm nay tại hạ hết sức vui mừng được gặp thiếu hiệp lại là huynh đệ của một bạn cố tri. Phải mời thiếu hiệp đến thăm tệ xá ở Kyoto mới được !

- Sẵn lòng lắm. Tiểu đệ hiện nay chưa có chủ đích gì, hơn nữa cũng muốn viếng Kyoto để cho sửa lại thanh kiếm. Vậy xin theo đại huynh.

- Thế thì còn gì bằng.

- À, có điều muốn hỏi sao đại huynh đoán được tiện danh, lại còn biết cả ngoại hiệu nữa ?

- Có gì đâu. Trong những lúc mạn đàm với Y Tô, ngài thường nhắc đến tên thiếu hiệp. Lại thường nói ngoại hiệu “liễu ven sông” do Cổ lệnh sư đặt cho thật đã lột tả được hết cái phong thái và kiếm thuật của thiếu hiệp nên tại hạ mới trông nhận ra ngay ...

Giang Biên Liễu Cát Xuyên Mộc vui vẻ cười thích thú. Lòng tự ái tuổi thanh niên được những lời ca tụng văn hoa của Sĩ Khánh thổi phồng lên bay bổng tựa diều gặp gió.

Hắn vỗ vai Sĩ Khánh cười ha hả:

- Hảo tri kỷ ! Hảo tri kỷ !

Thế là cả hai sánh vai nhau trở lại bến sông. Bọn đồ đệ bị đánh tan tác thấy tình thế đã yên, chưởng môn chúng cùng với thanh niên áo đỏ đi bên nhau ý hợp tâm đầu như đôi bạn lâu ngày thì lấy làm lạ nhưng yên bụng lắm. Cát Xuyên Mộc quay qua hỏi Sĩ Khánh:

- Tiểu đệ vẫn không hiểu chuyện gì làm quý phái sai người đuổi theo và tấn công tiểu đệ. Trộm nghĩ chắc chỉ do việc xích mích nhỏ trên thuyền buôn mà ra. Có phải thế không.

Sĩ Khánh vội gạt ngang để trấn an Cát Xuyên Mộc:

- Phải đấy. Nhưng đó là chuyện nhỏ. Tại hạ thật rất ân hận về thái độ của Hồ Định. Để về Kyoto, tại hạ sẽ quở hắn.

- Không sao. Tiểu đệ nghĩ họ có một điểm hay là biết bảo vệ danh dự cho môn phái. Cái đó mới là chính. Kỹ thuật chưa cao thì trau dồi thêm, có gì đáng trách ? Thôi ta quên chuyện đó đi là hơn.

- Phải rồi, chẳng nên nói đến nữa.

Bèn hô bộ hạ tìm ngựa dẫn lại. Cát Xuyên Mộc cũng huýt sáo gọi. Con khỉ không biết từ đâu nhẩy đến ngồi trên vai. Cả bọn đến bến đò.

Nhìn thấy bọn đàn em, đứa nằm vắt trên cầu gỗ, đứa mắc vào đám sậy ven bờ, thân thể đã cứng đơ, lòng Sĩ Khánh thắt lại. Dẹp nỗi đau, hắn bảo bọn bộ hạ sống sót ở lại chữa thương và chôn cất những người xấu số, rồi cố lấy vẻ tươi cười mời Cát Xuyên Mộc lên ngựa. Nhưng Cát Xuyên Mộc từ chối:

- Đa tạ đại huynh, tiểu đệ đâu dám. Đại huynh chức vụ cao trọng xin cứ ngồi. Tiểu đệ niên kỷ cũng như danh phận đều kém đại huynh một bực, được đi cạnh cầm cương cũng đã hân hạnh lắm rồi !

Thấy không nài được Cát Xuyên Mộc, vả lại nghe hắn nói cũng phải, Sĩ Khánh trè o lên lưng ngựa nói:

- Vậy ta ngồi một lúc. Khi nào thiếu hiệp mỏi thì ta thay thế.

Trong thâm tâm, hắn mừng như mở cờ. Từ nay đến tiết nguyên tiêu không còn bao lâu nữa. Được tay kiếm tuyệt luân này giúp sức, Thạch Đạt Lang đâu còn là một đối thủ đáng sợ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau