THẠCH KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Thạch kiếm - Chương 11 - Chương 15

Chương 11: Mãnh hỗ quần hồ

Thật là một mối nhục lớn. Trong lịch sử lập phái, Hoa Sơn chưa bao giờ phải chịu một sự thất bại nặng nề đến thế !

Hai bên hành lang võ đường, võ sinh ngồi bất động, mặt cúi gầm, bàn tay nắm chặt để lên đùi, đốt ngón tay nhợt nhạt chứng tỏ sự tức giận đến cùng cực. Trong phòng kế cận, một số huynh đệ họp bàn, tiếng tranh luận qua khe cửa lọt ra ngoài nghe không rõ, nhưng âm thanh đầy căm phẫn.

Trời đã xế chiều. Giờ này, thường ngày họ ngưng luyện tập, chuẩn bị đi uống rượu hay mua vui ngoài phố, nhưng hôm nay chẳng ai nghĩ đến chuyện ấy. Không khí yên lặng, nặng nề; thỉnh thoảng một tiếng kẹt cửa càng làm tăng vẻ thê lương của gian đại sảnh rộng lớn.

- Đại ca đã về đấy hả ?

- Không, chưa thấy gì cả.

Mẩu đối thoại của người trong phòng với võ sinh đứng đợi ở cửa sổ suốt buổi chiều, vang dội qua dãy hành lang. Mọi người ngẩng nhìn ra ngoài, nhưng rồi lại cúi mặt xuống, không giấu được thất vọng. Vài tiếng nói nhỏ từ trong phòng lọt ra nghe loáng thoáng:

- Có lẽ đại ca không ở đó đâu. Người đã đi tìm những chỗ khác chưa ?

- Dạ chưa, nhưng đã sai người đi khắp các trà thất. Vẫn không được tin tức gì.

Trên bàn thờ chưởng môn tiền bối, nến cháy leo lét. Mọi người không ai ngăn được những ý tưởng chua chát cho rằng anh em Sĩ Khánh thật bất xứng với tổ phụ. Lúc sinh thời, Khổ Bích không bao giờ vắng mặt ở võ đường quá một ngày, chứ đừng nói để bị sỉ nhục như vậy.

Hoa Sơn Khổ Bích xuất thân từ một gia đình bình dân làm nghề thợ nhuộm. Lúc còn trẻ, vì hàng ngày phải làm những động tác nhịp nhàng trong nghề nhuộm lụa như giặt, vắt, phơi, xếp, ông nảy ra ý nghĩ khi học võ, đem áp dụng những động tác ấy vào việc luyện kiếm. Khổ Bích thụ huấn kiếm pháp của một danh tăng ở Kyoto, về sau tự trau dồi, tôi luyện mãi thành kiếm pháp biến ảo khôn lường. Nhiều chiêu thức đặc biệt do ông phát minh đã khiến kiếm kỹ của ông trở thành độc đáo. Ông nổi tiếng đương thời và nghiễm nhiên giữ một địa vị cao trong trong chốn giang hồ, trở thành giảng sư về kiếm thuật cho một số lãnh chúa, và sau đó sáng lập ra phái Hoa Sơn, thu dụng đồ đệ.

Suốt đời, Hoa Sơn Khổ Bích đã tỏ ra là một kiếm sĩ gan dạ và tài trí. Hai con trai ông, Sĩ Khánh và Điền Chính, cũng được khổ luyện ngay từ khi còn nhỏ, nhưng sau thời kỳ nghiêm phụ mất, tinh thần và kiếm thuật của họ dần dần sa sút. Có người bảo có lẽ vì họ đã được hưởng một gia tài và một danh vọng quá lớn.

Ai cũng gọi Sĩ Khánh là đại ca hay Hoa Sơn chưởng môn, nhưng so về kiếm kỹ và đức độ, hắn còn xa mới được như thân phụ. Vì vậy số môn đệ không được đông đảo như trước. Người ta nhập môn Hoa Sơn chỉ vì háo danh, bởi làm đồ đệ Hoa Sơn cũng đủ bảo đảm một chỗ đứng khiến giang hồ phải e dè và kính nể.

Trong những thập niên gần đây, sau vụ thất trận của lãnh chúa Hoàng Giả, võ đường Hoa Sơn không còn được trợ giúp dồi dào như thời sinh tiền Khổ Bích, nhưng nhờ nếp sống giản dị và cần kiệm của lão chưởng môn, các con trai ông ngày nay vẫn dư dật. Ngoài ra do sự đóng góp của môn đệ phần nhiều thuộc thành phần giàu có, Hoa Sơn phái không mất đi chút nào vẻ phong lưu ngày trước. Nhưng vì thế mà nói rằng đó là một võ đường giá trị bậc nhất thì không đúng. Về kiếm thuật, Hoa Sơn ngày nay chỉ còn là một bóng mờ, một môn phái hữu danh vô thực.

Thế giới bên ngoài bức tường cao, sơn trắng kia đã thay đổi nhiều, nhưng những người bên trong vẫn không hề hay biết hoặc lưu ý. Họ đã quen khoe khoang những chiến tích cũ, ngủ yên trên những chiến tích ấy mất rồi nên ăn chơi buông thả, sao lãng việc luyện tập cho mãi đến hôm nay mới mở mắt bừng tỉnh, ê chề, bất lực trước những hành động hạ nhục của một kiếm khách vô danh, chẳng biết từ đâu đến.

Bấy giờ là khoảng trước giờ ngọ, gia nhân gác cửa vào thông báo có một kiếm khách tự xưng Thạch Điền muốn được tiếp kiến. Khách có vẻ quê mùa, chừng hăm hai hăm ba tuổi, vóc người cao lớn, tóc không chải, buộc túm về phía sau, màu đỏ quạch vì phơi nắng và bụi bặm. Bên hông đeo một cái túi bằng da sống, thứ túi các tay kiếm khách giang hồ thường dùng mỗi khi phải lang bạt nay đây mai đó. Bộ kimono cũ và rách, đã bạc phếch, không biết trước đây màu gì, đen hay nâu nữa.

Khách nói quê quán ở Miyamoto, vùng Mimasaka. Trông dáng điệu và y phục, đúng là loại kiếm sĩ lang bạt không nơi nương tựa, thấy nhan nhản ở khắp thôn quên cũng như thành thị thời ấy. Thạch Điền Đạt Lang trông còn có vẻ tệ hơn:

hình như hắn không lưu tâm gì đến chuyện phục sức bề ngoài, chỉ chú ý vào việc luyện võ. Mắt hắn sắc như dao, dáng đi ngang tàng, nên tuy quần áo rách rưới, tên gia nhân cũng giật mình lui bước.

Nếu hắn chỉ làm một kiếm sĩ lỡ độ đường đến nhờ tá túc hoặc xin bữa ăn lót dạ thì không nói làm gì. Đằng này lại muốn gặp chưởng môn Hoa Sơn Sĩ Khánh để tỷ kiếm.

Cái đó mới làm mọi người ngạc nhiên cười ha hả.

Viên quản gia định đuổi thằng điên đó ra ngoài, nhưng có người tò mò muốn biết hắn thuộc môn phái nào và sư phụ của hắn là ai nên đã sai người ra hỏi lai lịch. Thạch Đạt Lang chỉ vắn tắt trả lời hắn không có sư phụ, tự học kiếm trong những năm qua, và suốt năm vừa rồi đã ở trong rừng trau dồi kiếm thuật cùng với cỏ cây và muông thú, tạo nên những đường kiếm riêng biệt. Hắn không xuất thân từ môn phái nào nhất định và muốn được so kiếm với các bậc cao thủ ngày nay như Hoa Sơn Sĩ Khánh để lãnh giáo những cao chiêu. Mục đích và tham vọng của hắn chỉ có thế. Mặc dầu hắn tự cho còn nhiều khuyết điểm nhưng hắn ước mong phái Hoa Sơn không làm hắn thất vọng.

Tên gia nhân trở vào trình lại, còn nhại giọng nói nhà quê của địa phương hắn để tăng vẻ khôi hài làm mọi người cười lăn lộn:

- Chà chà ! Thằng đó điên hẳn rồi ! Cái gì mà tự tạo nên những đường kiếm riêng, coi người bằng nửa con mắt như thế !

Bèn lại sai đầy tớ ra hỏi một cách giễu cợt:

- Bản phái có lệ không an táng những kẻ đến làm rộn võ đường. Vậy quý khách đã chỉ định ai là người đến mang xác quý khách đi chưa ?

Thạch Đạt Lang thật thà đáp:

- Nếu chẳng may tại hạ bị thất thế, xin cứ vất xác xuống sông hay để cho dòi bọ đục rỉa, không quan hệ. Thế nào cũng được, tại hạ không phiền lòng.

Lần này thì cả võ đường không cười nữa. Hiển nhiên hắn đã thách thức một cách đứng đắn và mang sinh mạng ra đánh cuộc.

Bàn tán một hồi, những người thuộc hàng huynh trưởng ra lệnh:

- Dẫn nó vào !

Trong phút đầu, họ tưởng để một vài tay em ra dậy tên điên khùng đó một bài học cũng đủ, nhưng mới qua đường gươm thứ nhất, họ đã kinh hãi cực điểm. Thạch Đạt Lang không phải là một tay kiếm tầm thường.

Bình tĩnh đứng giữa phòng, sau một tiếng thét, hắn đã chém môn đệ Hoa Sơn lăn long lóc trên sàn, cánh tay cụt đến khuỷu, bàn tay văng vào góc tường giật liên hồi vẫn còn nắm chặt thanh đoản kiếm.

Hai người khác luân phiên nhau xông ra, một trong hai người thuộc hàng cao thủ, nhưng Thạch Đạt Lang nhanh như chớp xuống tấn tránh lưỡi kiếm chém ngang đầu, thuận tay đưa ngược gươm từ bụng lên cổ người đó. Rút kiếm ra, máu phun như tưới trên mình hắn, Thạch Đạt Lang nhăn mặt, quay lại tiếp chiêu ngay, vừa kịp gạt bắn tanh kiếm đâm xéo hông đã đá người kia một cái như trời giáng lăn xuống sàn, lộn vào chân tường, giãy đành đạch.

Mọi người sửng sốt, hét lên phẫn nộ, cùng rút kiếm ra khỏi vỏ. Tình hình không còn là một cuộc so tài thử sức nữa mà là một cuộc nhất tề xông tới lấy số đông áp đảo giết cho được Thạch Đạt Lang. Nhưng hắn như con cọp dữ, đâu có để cho dễ bắt. Hắn chém đông, gạt tây, đâm, phát; kiếm quang loang loáng dưới ánh chiều xuyên qua cửa sổ. Thạch Đạt Lang hét lên những tiếng ghê rợn, mỗi nhát kiếm lia tới đâu là có người ngã tới đó, không chết thì cũng thương tích trầm trọng.

Môn đệ Hoa Sơn đã bắt đầu e ngại không dám xông xáo như trước. Thạch Đạt Lang đưa mắt nhìn quanh, nhận rõ tình hình, bèn nói lớn, thanh trường kiếm vẫn nắm chắc trên tay, máu nhỏ giọt.

- Như vậy đã đủ, không nên để chết thêm nhiều người nữa. Ta muốn tỷ kiếm với Sĩ Khánh chứ không phải với các ngươi.

Môn đệ Hoa Sơn yên lặng vây quanh Thạch Đạt Lang, tuy không nói ra nhưng trong lòng ai cũng kinh hãi. Gờm nhau một lúc, tất cả đều đồng ý tạm dứt cuộc tỷ võ, dẫn Thạch Đạt Lang ra nhà khách để gia nhân khiêng những xác chết và người bị thương đi, dọn dẹp võ đường chờ Sĩ Khánh trở về quyết định.

Mặt trời lặn đã lâu, tiếng xôn xao và tiếng chân người bước rầm rập ở cổng ngoài mới nghe rõ. Từ trong hành lang, toán võ sinh ngồi bất động từ trước vội đứng dậy ra đón, dẫn chưởng môn Hoa Sơn và hai huynh trưởng Hồ Điểu cùng Ưng Đằng vào hậu sảnh. Chưa kịp an tọa, Hồ Định hỏi ngay:

- Sao ? Chuyện gì vậy ? Kể qua cho đại ca nghe.

Giọng hắn gay gắt nhưng không dấu nổi xúc động. Một võ sinh quỳ bên thi thể bạn đồng môn, quay lại hằn học trách:

- Lỗi ở huynh trưởng đã dẫn đại ca xuống xóm. Tên đó đến làm loạn võ đường như thế này, huynh trưởng phải chịu trách nhiệm.

- Im mồm ! Ngươi nói láo ta cắt lưỡi.

- Khi sinh tiền, lão chưởng môn chưa bao giờ bỏ võ đường đi đâu lâu đến thế !

- Đại ca cần giải trí. Chúng ta đi xem tuồng Kabuki, ngươi là cái thá gì mà dám hạch hỏi ?

- Xem tuồng Kabuki đâu cần phải vắng mặt suốt ngày đêm, huynh trưởng tất phải biết chứ !

Hồ Định gầm lên nhảy đến định chẹt cổ tên võ sinh hỗn láo. Trong khi mọi người đang tìm cách can gián thì một tiếng nói nhỏ đầy bi phẫn làm ai cũng phải chú ý:

- Bây giờ đại ca đã về, không phải lúc đổ lỗi cho nhau nữa. Xin đại ca cứu vãn danh dự cho bản phái, không thể để tên đó thoát khỏi đây mà không trừng trị !

Những người bị thương, tay chân buộc vải đẫm máu, mặt ủ rũ buồn thiu ngồi rải rác khắp phòng. Có người khóc, có người căm giận chửi rủa. Họ là nhân chứng hùng hồn tỏ rõ sự bất lực của môn phái và mặc nhiên bảo ngầm cho Sĩ Khánh biết địch thủ dũng mãnh đến bực nào.

Trong giới kiếm sĩ, điều hệ trọng nhất là danh dự. Các môn phái tranh nhau hơn kém cũng vì danh dự. Cho tới những năm gần đây, các chính phủ đương quyền đều có đặt ra luật pháp để thống nhất việc cai trị và xét xử, nhưng thời bấy giờ, ngay cả ở Kyoto, luật lệ chẳng có gì nhất định. Tất cả sinh hoạt trong nước đều chiếu theo phong tục, tập quán là những thứ luật bất thành văn mà mọi người, từ thứ dân đến sĩ phu đều chấp nhận. Môn phái Hoa Sơn cũng vậy, tuy gồm nhiều võ sinh vô học, lỗ mãng nhưng không phải là những kẻ vô liêm sỉ không có căn bản đạo đức gì. Vì thế, sau trận thất bại nhục nhã vừa qua, điều họ nghĩ đến trước tiên là danh dự ; danh dự của tông môn, của sư phụ và của chính họ. Lời người vừa nói nhắc họ nhớ đến danh dự ấy, gạt hết mọi hiềm khích cá nhân và có tác dụng như chất keo gắn họ liền với nhau trong niềm tủi hổ.

Tất cả đứng dậy theo Hồ Định vào phòng trong, cùng Sĩ Khánh bàn cách đối phó.

Nhưng thật không may, đúng vào lúc này, sau một ngày đêm truy hoan hưởng lạc, chưởng môn phái Hoa Sơn cảm thấy mỏi mệt, tâm trí rời rã, bao nhiêu nhuệ khí như tiêu tan hết. Tuy nhiên, Sĩ Khánh không thể làm gì khác hơn là chấp nhận cuộc thách đấu.

Hắn xắn tay áo lên, dùng dây da buộc cho gọn rồi hất hàm hỏi:- Thằng đó đâu ?

- Thưa ngồi ở bên nhà khách, phía vườn sau.

- Bảo nó đến đây !

Sĩ Khánh thấy môi se, cổ khô. Hắn nuốt nước bọt, bước ra đại sảnh ngồi vào ghế giữa, sửa soạn nhận lễ tiếp kiến theo nghi thức với tư cách chưởng môn. Thanh trườ ng kiếm do một đồ đệ lấy ở giá xuống dựng bên cạnh.

Ba bốn võ sinh định ra vườn sau mời Thạch Đạt Lang thì Hồ Định và Ưng Đằng vội cản lại. Hai người muốn thảo luận thêm tìm cách bắt giết cho được Thạch Đạt Lang.

Họ dẫn nhau vào phòng, nhiều huynh trưởng trong phái cũng đi theo, gây nên một cuộc bàn cãi sôi nổi. Sau cùng đa số đồng ý là hồi này đại ca không được khỏe, kiếm thuật cũng không có những chiêu thức gì xuất sắc hơn kiếm thuật của những người mới bị đánh bại, nếu cứ để một chọi một thì nguy hiểm lắm. Số thương vong vừa rồi cũng đã đủ làm mất mặt phái Hoa Sơn, huống chi để chưởng môn bị thua nữa thì còn gì là danh dự, hiểm họa to lớn không biết chừng nào và hậu quả ghê gớm lắm chứ không phải tầm thường.

Giá Điền Chính còn ở nhà thì không ngại, vì so về kiếm kỹ, Điền Chính có phần hơn Sĩ Khánh một bậc. Hắn đáng mặt chưởng môn hơn, nhưng là con thứ không có trách nhiệm gì nặng nề, Điền Chính thường hay bỏ đi chơi xa, mặc anh lo liệu. Mới cách đây mấy hôm, hắn cùng vài người bạn lên đường đi du ngoạn miền tây, chẳng bảo cho ai biết bao giờ về cả.

Hồ Định đến gần Sĩ Khánh nói nhỏ:

- Bọn tiểu đệ có một kế mọn ...

Và ghé tai Sĩ Khánh, hắn thì thầm trình bày cái kế hoạch hắn và đồng bọn đặt ra để bắt Thạch Đạt Lang.

- Thế là đánh lừa nó hả ?

Hồ Định khoát tay ra hiệu bảo đừng nói lớn, nhưng Sĩ Khánh không nghe:

- Không được ! Ta không khi nào chấp nhận một hành động như vậy ! Hèn lắm !

Nếu chuyện đó đồn đại ra ngoài thì còn gì thanh danh phái Hoa Sơn nữa ! Họ sẽ cho mình vì sợ một tên giang hồ lạc thảo mà phải dụ nó vào bẫy ...

- Ấy chơ ! Đại ca đừng ...đừng ...

Nhưng mặc cho Hồ Định cản, Sĩ Khánh vẫn tỏ vẻ bất bình, mặt đỏ gay, thốt ra những lời phản đối. Hồ Định phải đánh trống lấp:

- Đại ca để đàn em lo liệu ...Đại ca cứ yên tâm !

- Ngươi tưởng Hoa Sơn Sĩ Khánh này, chưởng môn kiếm phái Hoa Sơn lại chịu thua tên ...tên Thạch Điền gì đó ...ở Mimasa hả ?

- Không ! Không ! Tiểu đệ đâu có ý ấy ! Đại ca ở bậc cao trọng, can chi phải hạ mình đối địch với một tên mãi võ vũ phu tầm thường như vậy ? Chuyện này xin đừng nói lớn, người ngoài biết không tốt. Vấn đề quan trọng là đừng để nó thoát !

Trong khi ấy bọn môn đệ Sĩ Khánh đã dần dần phân tán gần hết, lặng lẽ rút êm như một đàn mèo, không một tiếng động. Người ra vườn sau, kẻ nấp trong những xó kẹt hoặc biến đi như tan vào bóng tối của khu trang tại rậm rạp. Một lúc sau không còn thấy ai, Hồ Định mới rút gươm, giọng cương quyết:

- Đại ca, giờ này không nên chần chừ nữa.

Và hắn thổi tắt đèn.

Một mình ngồi trong bóng tối, giữa bầu không khí hoang vắng và căng thẳng đến rợn người, Sĩ Khánh đột nhiên cảm thấy cô đơn và buồn khôn tả. Dù cao ngạo đến đâu, hắn cũng đã nhận rõ đồ đệ hắn coi võ công hắn chẳng ra gì, không đủ sức bảo vệ thanh danh môn phái. Từ khi thân phụ quy tiên đến nay, hắn quả đã sao lãng việc luyện tập, giữ được những đường kiếm uy mãnh như xưa cũng đã khó, nói gì đến việc bồi dưỡng hay khai triển.

Sĩ Khánh buồn rầu thở dài đứng lên đi ra gần cửa sổ. Qua khung giấy mỏng, hắn nhìn sang phía vườn sau, chỗ Thạch Điền ngồi, thấy có ánh sáng chập chờn leo lét. Đó là ngọn đèn độc nhất còn thắp sáng trong trại.

Ngoài kia, bao nhiêu cặp mắt khác cũng đương chú mục vào ngọn đèn ấy. Những bóng đen nằm rạp xuống đất, nín thở bò lại gần từng chút, từng chút, lắng tai nghe ngóng động tĩnh.

Hồ Định tuy là con người thích hưởng lạc, nhưng khi cần hành động hắn cũng tỏ ra có bản lãnh và khôn ngoan. Hắn tự đặt mình vào địa vị Thạch Đạt Lang, tự nêu nhiều câu hỏi và tự giải đáp:

“Thạch Đạt Lang là kẻ vô danh, vùng này không ai biết, nhưng phải nhận là hắn khỏe và có võ công thượng thừa. Nếu không, sao chỉ trong khoảnh khắc đã đả thương được tới năm sáu cao thủ Hoa Sơn. Hắn lại nhiều mưu lược, biết tiến thoái khi cần để giữ sức. Nếu ta là hắn, ta sẽ làm gì ? Không lẽ cứ ngồi nhà khách chờ chưởng môn về ? Hắn ngu gì mà không biết hắn có thể bị bao vây như chuột trong rọ.

Vậy chắc giờ này hắn đã chuẩn bị kỹ, sắn sàng nghênh chiến. Nhưng sao hắn không thổi tắt đèn đi để gây hỗn loạn trong bóng tối mà nắm phần thắng chứ ? À, phải rồi !

Hắn để đèn lừa ta, tưởng hắn không chuẩn bị, rồi nấp đâu đó xuất kỳ bất ý ...Đúng rồi !

Phải rồi ! Ở địa vị hắn, ta cũng làm vậy !” Hồ Định nhìn chung quanh. Dưới ánh sao lờ mờ, môn đệ Hoa Sơn như những âm binh lom khom từ khắp vườn tiến tới. Đến gần cửa phòng, Hồ Định lên tiếng.- Thạch Điền ! Xin lỗi để các hạ phải chờ lâu. Chưởng môn Hoa Sơn muốn được tiếp kiến !

Không nghe trả lời. Hồ Định đồ chừng Thạch Đạt Lang án binh bất động, nằm phục đâu đó chờ lúc thuận tiện đánh ra. Hắn đưa mắt lần nữa, thấy bộ hạ đã tề tựu đông đủ, bèn quát như sấm động:

- Giê ...ết !

Đồng thời lấy chân đạp toang cửa. Cánh cửa bằng gỗ mỏng vỡ tung, bay vào trong phòng làm tắt ngọn đèn độc nhất đặt trên kỷ. Căn phòng tối om. Đồ đệ Hoa Sơn mạnh ai nấy hét, phá cửa sổ nhảy vào như vũ bão, đao kiếm cầm tay chặn hết các lối.

Nhưng phòng trống không, Thạch Đạt Lang đã đi đâu mất ! Mọi người nhìn nhau lao xao, nổi lửa châm đèn, ngạc nhiên đến cực điểm. Quái lạ, ấm trà vẫn đây, chén trà rót ra vẫn còn nguyên chưa ai động đến. Người canh cửa bên ngoài nói có trông thấy Thạch Đạt Lang cách đây chừng vài khắc đi vào phòng tắm, sao bây giờ đã mất dạng ?

Tiếng chân bước rậm rịch khắp nơi vang động cả khu vườn yên tĩnh.

- Nó là ma à ? Thoát ra đường nào được ?

- Lạ thật !

Hồ Định nổi nóng sai bộ hạ sục sạo không thiếu chỗ nào, vừa văng tục vừa dọa nạt. Bỗng có tiếng reo hò mừng rỡ:

- Đây rồi ! Hắn trốn chỗ này !

Tất cả đổ xô vào buồng tắm, thấy sàn nhà bị gỡ một mảng lớn vừa người chui lọt.

Hiển nhiên Thạch Đạt Lang đã chui qua lỗ này trốn ra ngoài.

Hồ Định ra lệnh:

- Nó mới thoát đây thôi ! Anh em đuổi theo tức khắc !

Ai ai cũng hoan hỉ. Vậy Thạch Đạt Lang là một thằng hèn, đã không dám ở lại tỷ đấu với chưởng môn, thế thì còn đáng sợ gì nữa ! Mọi người thấy cơn nguy hiểm đã qua, đều lên tinh thần và can đảm, hùa nhau từng tốp ào ra cổng ngoài bắt gian khách.

Được vài bước đã có người chỉ trỏ kêu rầm rĩ:

- Kia kìa ! Nó kia kìa !

Một bóng đen từ trong bụi rậm gần cửa sau vọt ra, lẩn vào đường hẻm bên hông trại. Môn đệ và gia nhân Hoa Sơn la hét đuổi theo. Khi bóng đen chạy gần đến bãi hoang thì bị toán phục kích ở đó đổ ra chận bắt làm hắn ngã sóng soài. Nhưng bóng đen đã nhanh nhẹn đứng ngay dậy được và chống trả kịch liệt làm ba đệ tử Hoa Sơn phải lui bước.

Bọn đuổi theo chạy đến nơi trông thấy hắn vội nói:

- Không phải tên này ! Nhầm rồi !

Đương phân vân thì Hồ Định tới:

- Á à ! Ta biết tên này. Nó đâu phải Thạch Điền ...gì đó !

- Huynh trưởng biết hắn hả ?

- Ừ, ta thấy hắn ở quán Vân Nghê.

Mãn Hà Chí, vì chính hắn là Mãn Hà Chí, đứng ngây người nhìn Hồ Định. Không ai nói câu gì. Mãn Hà Chí vụng về buộc lại tóc và sửa lại bộ áo xốc xếch.

- Hắn là chủ quán Vân Nghê hả ?

- Không. Ôkô bảo không phải. Hắn chỉ là kẻ ở đậu.

- Trông khả nghi lắm. Hắn rình rập ở cửa sau làm gì thế ?

Nhưng Hồ Định đã quay gót đi và dặn bộ hạ:

- Bỏ thằng đó đấy, mất thì giờ vô ích. Chia hai ra, cánh tả lên phía bắc, cánh hữu xuống phía nam. Nếu không bắt được nó, ít ra cũng biết nó trú ngụ Ở đâu.

Xôn xao một lúc, chúng chia thành hai nhóm làm theo lệnh Hồ Định.

Mãn Hà Chí ngồi trên phiến đã trông đám gia nhân phái Hoa Sơn chạy đi chạy lại vội vã. Thấy người tới gần, gã giữ lại hỏi.

- Ngươi muốn gì ?

- Anh chàng tên là Thạch Điền gì đó chừng bao nhiêu tuổi ?

- Làm sao ta biết được !

- Cỡ trạc tuổi ta không ?

- Để coi nào ...Ừ, cũng đại khái vậy.

- Hắn nói ở làng Miyamoto, tỉnh Mimasaka à ?

- Ừ.

- Chắc Thạch Điền cũng là Thạch Kinh Tử đấy thôi. Viết khác nhưng đọc cũng tương tự.

- Sao ngươi hỏi ta những câu ấy ? Bạn ngươi hả ?

- À không. Muốn biết vậy thôi mà !

- Này ta bảo thật, lần sau gặp những chuyện như thế này, nên tránh ra xa kẻo lụy vào thân đấy !

Nói xong rảo cẳng bước đi.

Mãn Hà Chí cũng đứng dậy, men bờ lạch đi về phía bắc. Thỉnh thoảng ngước lên nhìn trời đầy sao lấp lánh, hắn tự nhủ:

“Nghĩ cho cùng, ta cũng chẳng nên gặp hắn làm gì, chỉ thêm xấu hổ. Nhưng để cho tụi Hoa Sơn bắt được thì chúng giết chết. Không biết hắn trốn đâu ! Bạn bè, ít ra mình cũng phải báo cho hắn biết để đề phòng” ...

Chương 12: Gặp gỡ trên đạo

Con đường đá dốc gồ ghề dẫn lên chùa Phổ Quang ngoằn ngoèo tựa rắn lượn.

Hai bên đường lác đác vài căn nhà xiêu vẹo, vách ván nhô ra thụt vào như hàm răng khểnh. Trước thềm, cỏ dại mọc đầy, rêu phong loang lổ cả trên mái. Dưới ánh nắng gay gắt ban trưa, mùi cá phơi bốc nồng nặc.

Từ trong một căn nhà ven phố, tiếng la hét tục tằn vang lên, tiếp theo là bát đĩa ném ra cửa rơi vỡ loảng xoảng. Một gã đàn ông trạc trung niên từ trong nhà vùng chạy ra, mặt nhăn nhó, mụ vợ đuổi theo sau, tay cầm chổi, tóc chưa kịp búi, áo xốc xếch, đôi vú mướp lộ ra thỗn thện như vú bò.

- Mày chạy đi đâu, thằng già khốn nạn kia ? Đi rượu chè bỏ vợ con đói khát giờ còn vác mặt về hả ...hả ?

Trong nhà có tiếng trẻ khóc. Vài người hàng xóm thò mặt ra cửa nhìn nhau bàn tán chỉ trỏ.

Thạch Đạt Lang mỉm cười. Hắn đã quen với cảnh đó từ khi đến tạm trú ở vùng này chừng hơn một tháng. Đứng trước một cửa hàng xiêu vẹo bán đồ gốm, hắn tò mò nhìn hai người thợ đang chăm chú làm việc cạnh chiếc bàn xoay, mặt ngay ra, say mê như đứa trẻ. Hai người thợ không để ý gì đến hắn, mãi miết chân đạp tay nặn, cả người như hòa đồng với khối đất sét đặt trên bàn.

Thạch Đạt Lang thích làm đồ gốm lắm. Ngay từ khi còn nhỏ, hắn đã say mê mọi thứ công việc bằng tay chân, nhất là những việc cần đến sự khéo léo và mỹ thuật. Hắn mong ước làm được một chén trà bằng đất nung, và bây giờ, đúng lúc này, hắn thấy người thợ già đang chăm chú làm một chiếc chén như thế. Nhìn người thợ gọn gàng phối hợp những động tác, chân đạp bàn xoay, tay giữ chén đưa đẩy cho thành hình, hắn ngạc nhiên không ngờ muốn làm một đồ vật giản dị như thế mà cũng cần đến một kỹ thuật tinh vi nhường ấy !

Tự nhiên hắn thấy tôn trọng những con người nghèo khó trước mặt đã đem hết khả năng, nghệ thuật và tấm lòng vào những việc làm tầm thường hàng ngày. Thạch Đạt Lang kính cẩn đứng nhìn. Trên chiếc kệ thô sơ ghép bằng gỗ tạp treo ở góc phòng; chén, bát, ấm trà mới nung xếp thành hàng, dưới đất ngổn ngang đất sét, thùng nước và những vật dụng linh tinh khác.

Cửa hàng tồi tàn, hai người thợ quần áo nhem nhếch nhưng làm việc với vẻ mặt đầy vui thích. Những ấm chén họ làm ra bán chẳng được bao nhiêu, nhiều lắm là một vài đồng, cho khách thập phương qua lại lên chùa lễ Phật. Thạch Đạt Lang chẳng biết với số tiền khiêm nhượng thu được họ có đủ ăn không, đời sống ngày càng đắt đỏ, không dễ dàng gì ! Trước nỗi cực nhọc và sự kiên nhẫn của hai người thợ, Thạch Đạt Lang cảm thấy con đường hắn đi còn dài và gian khổ; sự cần cù của họ là tấm gương để hắn noi theo, cho hắn sức mạnh để không nhụt chí.

Suy nghĩ miên man, hắn nhớ đến những ngày ở thạch thất, vụ thách đấu với phái Hoa Sơn, rồi mới đây những lần đến thăm viếng một vài môn phái tại Kyoto, đâu đâu hắn cũng toàn thắng, không nơi nào dạy cho hắn được một bài học đáng nhớ. Thạch Đạt Lang băn khoăn không biết vì sở học mình cao hay vì kiếm pháp những người kia còn thấp, không đáng tay đối thủ. Hay hắn quá khắt khe với mình ? Có lẽ nào ! Kyoto là nơi tập trung nhiều danh gia, sao lại tồi tệ đến thế ? Thạch Đạt Lang thất vọng. Nếu tất cả chỉ tầm thường như vậy thì nền võ nghệ xứ này chẳng hóa ra đáng buồn lắm sao ? Thạch Đạt Lang hít mạnh một hơi, khoan khoái và kiêu hãnh. Nhưng đột nhiên hắn nghĩ đến lời nói của người xưa trong sách hắn đã đọc và rùng mình kinh hãi:

“Không gì giết chết tài năng nhanh chóng bằng lòng kiêu ngạo !”. Hắn quay nhìn lần chót người thợ già đang chăm chú vào công việc, tay chân nhem nhuốc bùn đất, rồi lặng lẽ bước đi theo con đường đá lên chùa.

Được một quãng, bỗng có tiếng gọi từ dưới chân núi:

- Này tráng sĩ mang kiếm !

Thạch Đạt Lang quay lại:

- Ngươi gọi ta ?

Nhìn người gọi mình tay cầm cây đòn dài, mặc áo chẽn đệm bông ở hai vai, chân trần đi dép cỏ đã vẹt gót, Thạch Đạt Lang đoán chừng anh ta là một phu xe hoặc phu cáng. Anh ta đáp bằng một giọng lễ phép ít thấy ở giới thấp kém như vậy trong xã hội:

- Vâng. Tráng sĩ có phải là Thạch Điền Đạt Lang xã Miyamoto không ?

- Phải.

- Cám ơn tráng sĩ.

Nói xong bước thẳng về phía cuối phố. Thạch Đạt Lang nhìn theo thấy người phu cáng bước vào một tiệm trà. Sực nhớ sáng nay khi qua phố, hắn thấy có một đám xa phu ăn mặc như vậy đứng ngồi lố nhố trong tiệm. Không hiểu chuyện gì nhưng thấy người gọi, Thạch Đạt Lang cũng đứng đợi, chừng tàn nén hương, không ai chạy ra hắn mới bỏ đi, thong thả leo lên núi.

Dọc đường, Thạch Đạt Lang dừng lại nhiều lần trước những ngôi đền nhỏ rải rác, mỗi lần dừng chân lại khấu đầu làm lễ cầu xin thần Phật phù hộ cho chị hắn. Có nơi hắn còn xin thần linh giúp cho đủ nghị lực và khôn ngoan để trở nên một kiếm sĩ xứng đáng như lòng mong ước. “Nếu chẳng được như nguyện, xin đừng cho đệ tử hưởng lộc trời”. Thạch Đạt Lang lâm râm khấn nguyện, hy vọng lòng thành của hắn làm các đấng thiêng liêng xúc động. Gần đỉnh núi, Thạch Đạt Lang tìm một phiến đá nhẵn nhụi ngồi nghỉ, chiếc nón lá để bên. Nhìn giải thung lũng chạy dài dưới chân, phong cảnh tươi đẹp như trong tranh vẽ, hắn cảm thấy hãnh diện vô cùng vì còn được sống và thưởng ngoạn. Niềm biết ơn dâng lên dào dạt trong lòng, ơn Trời Phật, ơn các đấng sinh thành, ơn Đại Quán thiền sư đã chỉ cho hắn con đường mà ngày nay hắn đang theo đuổi.

Thạch Đạt Lang nghĩ đến một chuyện cổ tích về thế kỷ thứ mười, có hai anh chàng tên Mã Tử Kiên và Sùng Mạch, cả hai cùng tham vọng ngút trời, cùng nhau hợp tác, hẹn nhau nếu bá chủ được võ lâm sẽ chia hai sơn hà, hùng cứ mỗi người một phương. Chuyện thật khó khăn như trong huyền thoại, nhưng xét cho cùng giấc mơ của hai người ấy so với ước vọng của hắn bây giờ không khác nhau là mấy. Lại như tướng Y Đằng và Hòa Giả Nghị với những trận chiến ghê hồn trong thập niên vừa qua cùng với mưu đồ thống nhất nước Nhật của họ chẳng phải là những toan tính, mưu lược và kiên trì đáng cho hắn phải ngưỡng phục sao ?

“Ta sinh chẳng gặp thời. Bây giờ không phải lúc dùng đao kiếm để mưu cầu sự nghiệp, nhưng chẳng hề gì, ước vọng của ta khác”. Hắn nhủ thầm và đưa tay vuốt ve thanh kiếm đeo bên sườn. Trông giây phút, trực giác mẫn nhuệ của hắn lóe lên như một tia sáng giữa đêm sâu giúp hắn nhận chân được đâu là tinh hoa của kiếm đạo và càng làm hắn vững ý chí.

Mãi suy nghĩ, Thạch Đạt Lang không để ý đến tên phu cáng lại vừa xuất hiện trên sườn núi, miêng kêu tay chỉ:

- Kìa, Thạch Điền Đạt Lang kia kìa !

Theo sau là một toán xa phu vừa vạch lau vừa trèo lên phía hắn. Định tránh mặt, Thạch Đạt Lang đứng dậy, đến gần tấm bảng gỗ vờ đọc những lời yết cáo trên đó, nhưng vẫn ngấm ngầm đưa mắt quan sát. Hắn thấy có một toán xa phu nữa cầm gậy xuất hiện chặn lối lên và tìm cách bao vây hắn vào giữa. Thạch Đạt Lang định thét một tiếng thật lớn cho đám xa phu sợ mà bỏ chạy, nhưng nghĩ cho kỹ, hắn thấy không cần. Hắn chưa hiểu ất giáp ra sao và cũng tò mò muốn biết họ vì lý do gì lại tìm cách gây hấn với hắn.

Thạch Đạt Lang không muốn sát hại đám người nghèo khổ ấy. Chắc có sự hiểu lầm, nếu mọi chuyện sáng tỏ, họ sẽ bỏ đi. Nghĩ thế nên hắn yên tâm đứng đợi.

Thấy ồn ào ở cổng ngoài, một số tăng ni chạy ra sân chùa thập thò sau hàng rào gỗ. Khách vãng lai hiếu kỳ cũng dừng lại mỗi lúc một đông, lẫn lộn trong đám xa phu, hoặc đứng ngồi rải rác chờ động tĩnh.

Từ xa xa, tiếng chân người rậm rịch đi tới, dường như đang khiêng một vật gì nặng, ì ạch lên núi. Đến gần, thì ra là bốn xa phu khiêng một chiếc cáng nghèo nàn, kiểu hai người ngồi đã cũ, sơn bên ngoài loang lổ nhiều chỗ. Họ đặt cáng xuống khoảng đất trống cạnh chùa. Một bà lão mặc áo chẽn nâu đã bạc màu cùng với một ông già trang phục lối kiếm sĩ thôn quê vén rèm bước ra. Cả hai trạc độ sáu mươi, sáu lăm, tuy đã trọng tuổi nhưng còn quắc thước mặc dầu có vẻ mỏi mệt. Bà lão nheo mắt, lấy tay che cho khỏi chói, quay nhìn về phía Thạch Đạt Lang rồi nói với ông già:

- Lần này thì đừng để nó thoát, nghe không cậu Ngô !

Thì ra đây là hai chị em bà Hồ Điểu. Cậu Ngô gật đầu:- Chị đừng lo, để mặc tôi !

Rồi quay sang hỏi người phu cáng kế bên:

- Đâu ? Nó đâu ?

Họ chỉ Thạch Đạt Lang đứng trước tấm bảng gỗ ở đằng xa đang mãi mê đọc cáo thị như không để ý gì đến xung quanh. Cậu Ngô nhổ nước bọt vào tay, nắm đốc kiếm hùng dũng rẽ đám đông đi thẳng đến phía Thạch Đạt Lang đứng. Theo sau, bà Hồ Điểu khấp khểnh bước, chân hãy còn tê dại vì ngồi quá lâu. Có tiếng ai gọi với:

- Cẩn thận, lão trượng ! Nó khỏe lắm đó !

Vài người khác hùa theo dặn dò:

- Lão bá cứ thong thả, chuẩn bị kỹ là hơn, đừng vội !

Mọi người giương mắt nhìn, theo dõi cuộc tranh hùng sắp tới mà họ cho là sẽ hào hứng lắm. Họ cười nói ồn ào như sắp được xem một màn kịch ít khi xảy ra tại một nơi hẻo lánh như vậy.

- Bà lão liều quá ! Tuổi bà đáng lẽ phải ở nhà vui với con cháu mới phải !

- Ờ ...ờ ...Nhưng cũng đáng phục lắm chứ ! Danh dự gia đình là trọng ...

- Nghe đâu con dâu bà bỏ đi theo thằng đó đấy !

Một người cầm gáo nước chạy theo:

- Lão bá ! Lão bá ! Uống chút nước đã !

Bà Hồ Điểu dừng lại cầm gáo nước uống một hơi, lấy tay chùi mép rồi đưa cho em:

- Này cậu, giải khát đi. Hình như nó có học võ chút đỉnh, nhưng theo ta, nó vẫn chỉ là thằng con nít, không bằng cậu đâu !

Qua cổng chùa, bà Hồ Điểu nhìn vào. Thói quen kính ngưỡng thần Phật làm bà khựng lại rồi không biết nghĩ sao, bà quỳ xuống ngay trên bực đá trước cổng, mở bọc lấy tràng hạt ra nhắm mắt lâm râm khấn khứa. Cậu Ngô cũng dừng lại phía sau chắp tay yên lặng.

Sự việc xảy ra vừa bất ngờ vừa mang vẻ khôi hài làm mọi người bỡ ngỡ. Có người che miệng khúc khích, nhưng cũng có người tán thưởng.

- Phải lắm. Có gì mà cười ! Trước khi đối đầu với một tên hung dữ như thế, xin thần Phật phù hộ cho là phải chứ ! Lão bà đi khắp nơi không gặp kẻ thù, nay thấy nó ở đây, tất do cơ duyên hãn hữu, cám ơn Trời Phật là đúng lắm !Tiếng khen chê nổi lên, mỗi người một phách, nhưng tựu trung ai cũng cho bà già can đảm.

- Nếu bà lão không bắt được nó giải về làng, ta phải giúp !

Một người nói.

- Ờ. Không có lý gì mà những trai tráng như chúng mình lại không can thiệp !

Khách bàng quan khi biết rõ lý do gì đã khiến hai chị em bà Hồ Điểu phải ra tay như thế đều tỏ lòng kính phục. Họ còn khuyến khích đám xa phu tiếp sức nữa.

Thạch Đạt Lang vẫn yên lặng, bất động. Hắn đứng dựa lưng vào tảng đá lớn suy nghĩ nhưng vẫn chưa tìm ra được cách phản ứng thế nào cho phải.

Đại Quán đã một lần cảnh cáo hắn trên đường hành hiệp thế nào cũng có lúc gặp hai chị em Hồ Điểu, nhưng không ngờ câu chuyện lại xoay ra thế này. Chưa bao giờ hắn có ý tưởng là hắn đã làm tan nát gia đình nhà họ Hồ. Hắn luôn luôn coi Oa Tử là vị hôn thê của bạn, có thân chăng cũng chỉ như người em gái nhỏ đã một lần cứu hắn, hắn biết ơn, thế thôi ! Bây giờ chẳng biết làm sao, dù phải tự vệ, hắn cũng không thể nào rút gươm chống lại hai người già kia, nhất lại là thân mẫu và cửu phụ của bạn mà hắn biết chắc là võ công không thể nào là đối thủ của hắn được.

Thạch Đạt Lang đứng nhìn đám đông bao vây trước mặt, bối rối không tìm ra cách giải quyết thỏa đáng. Mọi người đều về phe Hồ Điểu, coi hắn như một tên sát nhân đáng ghê sợ và xấu xa, hắn không có cách gì biện minh được. Phải chi Mãn Hà Chí có mặt ở đây, may ra mới hy vọng hóa giải được sự hiểu lầm này.

Bà Hồ Điểu lần xong chuỗi hạt, đã đứng dậy, giọng run run nhưng dáng điệu cương quyết, nói với đám xa phu:

- Ta vừa khấn Trời Phật phù hộ ta và cậu Ngô bắt tên nghịch tử này. Giờ ta cám ơn tất cả anh em. Ta không cần ai giúp mà anh em cũng đừng nhiều lời. Nếu chẳng may ta và cậu Ngô có mệnh hệ nào, xin anh em cứ đưa thi thể chúng ta về Miyamoto, sẽ có người đền công xứng đáng.

Dứt lời, rút thanh đoản kiếm gia bảo do tổ phụ để lại mà bà đã cẩn thận giắt theo trước khi lên đường, bà Hồ Điểu hướng về phía Thạch Đạt Lang nói lớn:

- Thạch Kinh Tử ! Mày là Thạch Kinh Tử ở Miyamoto phải không ? Nghe nói mày mới đổi tên gì hay lắm, nhưng ta không cần biết. Đối với ta, mày vẫn là thằng Thạch Kinh Tử dẫn con ta đi mất tích và còn dụ dỗ dâu ta nữa ! Bốn năm nay, giờ mới gặp ! Ta với mày một còn một mất. Hãy rút kiếm ra, thằng kia ! Ta đợi !

Cơn giận làm mặt bà đỏ gay, tiếng nói lạc đi, giọng cao the thé như xoáy vào tai, những nếp nhăn dưới cằm rung động, cổ bà bạnh ra tựa cổ rắn. Hiển nhiên bà muốn trút hết niềm căm phẫn dồn nén từ lâu lên đầu địch thủ trước khi giết hắn để trả hận.

Thạch Đạt Lang không nói gì. Hắn chẳng muốn phân trần, chỉ đứng yên như pho tượng nhìn hai người. Cậu Ngô điềm tĩnh hơn. Tay cầm kiếm, cậu nói với bà chị:

- Để tôi ...

- Không được ! Giọng bà Hồ Điểu dứt khoát. Thần Phật đã phù hộ ta, tiền nhân đã ứng vào lưỡi gươm này, ta phải đích thân lấy đầu thằng nghịch tử. Mày không rút kiếm ra cũng không cần, trông đây !

Bà vừa nói vừa giơ đoản kiếm chạy đến trước mặt Thạch Đạt Lang. Nhưng rủi thay, vì quá vội, bà vấp ngã sóng soài chỉ trước mặt hắn có vài bước, thanh kiếm văng sang bên cạnh. Mọi người kinh hãi, kêu lên:

- Chết rồi ! Nó giết bà lão mất !

Cậu Ngô sợ quá, đứng lặng như trời trồng. Một số xa phu vừa định ùa tới thì may sao bà lão đã lồm cồm bò dậy, nhặt thanh kiếm chạy vội về phía em. Bà hơi ngượng, nhưng lấy giọng giận dữ khỏa lấp:

- Cậu chẳng được cái tích sự gì ! Rút gươm ra cầm chơi đấy à, sao không chạy lại đâm cho nó một nhát ?

Thạch Đạt Lang bên ngoài mặt lạnh như tiền, nhưng trong lòng không khỏi xúc động. Hắn thương bà lão và ông già, nạn nhân của bao nhiêu ràng buộc, của những quan niệm hẹp hòi và lễ nghi phiền phức. Hắn tiếc chẳng đủ thì giờ cùng uy tín đánh tan những ngộ nhận giữa hắn và gia đình Hồ Điểu. Một ngày kia, biết đâu một ngày kia, cơ may nào đó cho hắn được dịp biện bạch, thù hận sẽ qua đi, chỉ còn lại tình người nồng ấm như thuở nào lúc còn thơ ấu, hắn vẫn sang chơi nhà Mãn Hà Chí, ăn cơm và làm giúp mẹ bạn những công việc lặt vặt trong nhà.

Thạch Đạt Lang lắc đầu tự nhủ:

“Không được ! Ta không thể làm thế được !”. Hắn hét lên một tiếng to như sấm động, mọi người giật mình, vòng vây vô tình dãn ra đôi chút. Hắn đi thẳng tới trước. Bà Hồ Điểu lắp bắp:

- Thạch Kinh Tử, mày đi đâu vậy ?

- Nó trốn đấy ! Nó trốn đấy !

Bà Hồ Điểu hoảng hốt:

- Rút kiếm ra, Thạch Kinh Tử ! Ta đợi đã bốn năm ...

Nhưng Thạch Đạt Lang lắc đầu. Trong dáng đi và trên vẻ mặt hắn có một cái gì kiêu hùng làm mọi người phải kính nể, e dè không dám ngăn cản. Đến gần nơi ghềnh đá dốc, cỏ cao ngập đầu người, bỗng nhiên hắn nhảy xuống nhanh như tên bắn, một loáng đã mất dạng trong những lùm cây, không còn dấu tích gì nữa.

Chương 13: Tên tiểu đồ

Cơn mưa trái mùa tầm tã đổ xuống ngoại ô vùng Kyoto. Tiếng mưa rào rào cùng với tiếng chày giã gạo trong xóm quyện vào nhau tạo nên một âm thanh đều đều buồn tẻ làm tăng vẻ tiêu điều của những căn nhà ảm đạm, mái ra. sũng nước và cửa gỗ mục nát không đủ ngăn cơn gió phũ phàng từ đồng không thốc tới.

Đây là một xóm nhỏ nghèo dựng trên một khu đất bỏ hoang ở ven cổ thành, cư dân chỉ độ vài chục người, tay làm hàm nhai, vất vả lẳm mới kiếm đủ sống. Có những ngày hoàng hôn tắt đã lâu, sương chiều bắt đầu xuống làm mờ những mái ra. mà bếp núc trong xóm vẫn lạnh tanh, chỉ lác đác vài căn nhà có khói bốc lên chứng tỏ có cơm tối.

Trước một căn lều trông tiều tụy chẳng kém gì những căn khác, khách vãng lai nhìn chiếc nón nan cũ rộng vành treo bên cửa, trên đề mấy chữ vụng về thì mới biết đó là một cái quán. Nhưng quán mới xơ xác làm sao ! Đồ đạc chả có gì, vài chiếc chiếu trải ngay trên mặt đất dùng làm giường ngủ cho khách trọ qua đêm. Góc quán cũng có ổ rơm, nhưng ai muốn nghỉ lưng phải tra thêm tiền nên ít khi có khách sang dám đụng tới món hàng xa xỉ ấy. Xế vào phía trong, gần cửa ra sân sau là một cái bệ đất đắp cao tới đầu gối, giữa khoét sâu xuống vừa dùng làm bếp vừa dùng làm lò sưởi.

Một đứa bé trai trạc mười, mười một tuổi đứng dựa lưng vào bệ đất. Tóc nó ướt sũng nước mưa, những giọt nước chảy đầy trên cổ, trên trán xuống chiếc kimono rộng thùng thình, bùn đất bắn lên đến tận gáy. Bụng nó quấn sợi dây thừng lớn thay dây lưng, mặt mũi đen đủi nhem nhếch, trông chẳng khác gì một con thủy quái vừa rẽ nước sông lên như thường thấy vẽ trên các bức tranh dân gian bán ngoài chợ.

Đứng một lúc, nó cất tiếng gọi:

- Có ai ở nhà không ?

Trong quán vắng, giọng nó vang át cả tiếng mưa rơi bên ngoài.

- Thằng Giang đấy hả ? Tiếng chủ quán trong phòng vọng ra.

Giang là đứa bé hầu bàn ở quán rượu gần đấy, được chủ nuôi để sai vặt.

- Vâng. Hôm nay ông có lấy rượu không ?

- Không. Ông khách chưa về. Hôm nay khỏi.

- Ngộ Ông khách muốn về uống thì sao ? Để cháu cứ mang sang như thường lệ.

- Ông ấy uống ta sẽ đi lấy.

Giang tiu nghỉu. Nó bước vào phòng, đưa mắt nhìn quanh rồi tò mò hỏi:

- Ông làm gì đấy ?

- Tao viết thư để kịp gửi xe ngựa ngày mai đi Kuruma. Mà khó viết quá, ngồi mãi đau cả lưng.

- Ông già vậy mà chưa biết viết hả ? Lạ nhỉ !

- Im mồm ! Đi chỗ khác chơi. Đừng làm rộn !

- Ông để cháu viết giúp được không ?

- Mày mà viết gì !

- Được, cháu viết được.

Giang bước đến sau lưng chủ quán nhìn ông già gò lưng trên tờ giấy, tay lem nhem những mực. Nó chăm chú dò từng chữ đã viết rồi bật cười như nắc nẻ:

- Sai rồi ông ơi ! Chữ “than” đâu có nét này. Nếu có thành ra “thang” à ? Ông muốn gửi than hay thang cho người ta ?

- Ờ ...ờ ...tao muốn gửi than.

- Vậy phải xóa nét này đi. Ông đưa chau đọc xem nào ...Thế này không được, ông viết lăng nhăng khó hiểu quá !

- Mày giỏi viết thử tao coi !

Lão quán đưa bút cho Giang:

- Lau cái đầu đi đã ! Nước rỏ ướt hết giấy bây giờ !

- Thôi bỏ tờ này đi, để cháu lấy lau đầu. Ông lấy tờ khác cháu viết hộ. Nào đọc đi !

Giang ngồi xuống, lăn bút vào nghiên mực rồi thoăn thoắt viết theo lời ông già nói.

Thư viết xong thì ông khách trọ cũng vừa về. Đã hơn nửa tháng nay, Thạch Đạt Lang đến trọ Ở quán, thấy chủ quán thật thà chất phác rất hợp ý, vả chỗ trọ cũng vừa túi tiền nên hắn cứ nấn ná mãi. Để nón ngoài hiên, hắn vắt khô những chỗ áo ướt:

- Mưa to quá, rụng hết cả hoa mận.

Hắn vừa nói vừa nhìn cây mận ngoài sân, hoa trắng rơi đầy đất, lẫn với bùn và nước. Mưa tuy đã bớt nặng hạt nhưng thỉnh thoảng vẫn còn cơn gió mạnh lay cành làm cánh hoa rơi lả tả.

Vào trong bếp, Thạch Đạt Lang ngạc nhiên thấy thằng bé vẫn mang rượu đến cho mình đang ngồi cạnh ông già chủ quán chăm chú viết. Hắn đứng sau lưng đọc và mỉm cười.

Giang ngẩng đầu lên, thấy Thạch Đạt Lang, bèn quơ vội lá thư và cây bút giấu sau lưng:

- Xấu lắm ! Xem trộm như vậy là xấu lắm !

- Đưa ta xem ngươi viết gì vậy.

- Không !

Thạch Đạt Lang muốn trêu thằng bé:

- Cứ đưa ta xem chút nào !

- Ông mua rượu cháu mới cho xem.

- À ra thế ! Được rồi, ta mua rượu.

- Ba xị nghe ?

- Nhiều quá.

- Vậy hai xị.

- Không, ta không uống nhiều thế đâu !

- Vậy bao nhiêu ? Kẹo thế !

- Ta nghèo, tiền đâu mà dám tiêu phí.

- Thôi được, đây ông xem đi. Nhưng đừng quên kể chuyện như ông đã hứa đấy.

Thạch Đạt Lang mỉm cười gật đầu. Hắn cầm tờ thư lẩm nhẩm đọc trong khi Giang kéo áo che đầu chạy ra khỏi quán. Đọc xong, hắn ngạc nhiên quay sang hỏi ông lão:

- Thằng Giang viết thư này đấy hả ?

- Phải, nó viết đấy. Nó có vẻ rành lắm.

Thạch Đạt Lang gật gù đi vào trong nhà rửa mặt thay áo, khi ra ngoài đã thấy chủ quán treo xong ấm nước lên móc trên bếp và đương lấy cơm cùng cải muối chua sắp ra đĩa. Hắn ngồi bên bếp lửa, tiếp tục câu chuyện bỏ dở khi nãy:

- Ông biết nó bao nhiêu tuổi không ?

- Hình như mười một. Tôi nhớ có lần nó bảo vậy.

- Có vẻ khôn sớm, phải không ông ?

- Thì làm ở đó từ năm lên bảy, tiếp xúc với đủ mọi hạng người, gì mà chẳng khôn sớm !

- Ờ ờ ...chữ nó viết còn non nhưng dáng cách khoáng đạt, lời thư chân thật. Thằng ấy chắc sau này sẽ khá.

- Vậy hả ?

Lão quán mở nắp ấm, bỏ trà vào:

- Hừ ! Quái lạ. Đến giờ này vẫn chưa mang rượu sang. Lại la cà ở đâu rồi !

Vừa lúc ấy Giang bước vào, tay cầm bình rượu.

- Sao lâu thế ? Mày làm ông khách đợi.

- Cháu phải hầu bàn. Có ông khách mới tới hỏi nhiều chuyện mất thì giờ lắm.

- Chuyện gì ?

- Chuyện về Thạch Điền Đạt Lang.

- Này giữ mồm giữ miệng, nói bậy chết đó con !

- Cháu biết chứ, nhưng cần gì. Ở đây ai cũng rõ chuyện xảy ra hôm nọ Ở trên chù a.

Chị Tiểu Khê và cô con gái ông thợ sơn hôm ấy cũng ở đó mà ! Họ biết hết.

Thạch Đạt Lang lắng tai nghe nhưng cả hai yên lặng không nói thêm gì nữa.

Thằng Giang cứ quanh quẩn trong quán, nó nhìn Thạch Đạt Lang như dò xét và có ý muốn hỏi điều gì.

- Ông khách này !

- Hả ?

- Cháu có chuyện muốn nói. Cháu ở lại đây với ông một lúc được không ?

- Được chứ, nhưng phải xin phép ông chủ cháu trước đã.

- Không sao, hôm nay trời mưa vắng khách, cháu cũng rảnh.

- Vậy được !

- Để cháu đi hâm rượu.

Và nó nhanh nhẹn để bình rượu lên bếp, một lúc sau rượu nóng, bày ra khay gọn gàng trước mặt ông khách trọ. Thạch Đạt Lang nhìn thằng bé lăng xăng trong quán, thấy vui bụng và quyến luyến.

- Ông thích rượu sa-kê không ?

- Thích.

- Nhưng nghèo không có tiền uống phải không ?

- Ờ.

- Cháu thấy kiếm sĩ phần nhiều giàu lắm mà. Lương cao, bổng hàng nghìn gia. lúa.

Ở quán, cháu nghe có người nói như tướng quân Bình Cảnh Hồ đi đâu cũng hàng năm sáu chục gia nhân theo hầu, ngựa xe thật nhiều, lại mang chim cắt để săn mồi nữa ...

- Đúng đấy.
- Rồi tướng Sơn Hoành, thuộc hạ của lãnh chúa Hòa Giả Nghị, bổng lộc mỗi năm năm chục ngàn gia. ...

- Đúng.

- Vậy sao ông nghèo thế ?

- Ta còn đang học.

- Bao giờ thì ông có đồ đệ ?

- Không biết. Chắc chẳng bao giờ có.

- Sao vậy ? Võ nghệ Ông dở lắm phải không ?

- Cháu đã nghe người ta nói về ta, hôm ở trên chùa. Dù sao đi nữa, ta là kẻ chạy trốn ...

- Phải rồi ! Mọi người đều bảo ông hèn, cháu nghe thật tức.

- Hà hà ...Việc gì mà tức, họ có nói cháu đâu ?

- Nhưng tức hộ Ông. Mà sao ông bỏ chạy ? Phải đánh lại chứ ! Bây giờ thì trễ rồi, nhưng ở gần đây có cái sân rộng, hàng ngày con ông tiệm giày, con ông thợ đẽo guốc và cả con ông thợ sơn nữa, thường hay tụ tập ở đấy để luyện võ. Ông ra đấy đánh một đứa đi để lấy tiếng chứ !

Thạch Đạt Lang cười:

- Cũng được, nếu cháu muốn ta sẽ làm.

Thạch Đạt Lang không muốn làm phật ý thằng bé. Hắn còn trẻ, rất hiểu tâm trạng những đứa trẻ giống như hắn trước kia ; hơn nữa trong thâm tâm cảm thấy yêu mến thằng bé, muốn chiều chuộng nó như trước kia hắn vẫn mong được người lớn chiều chuộng.

- Thôi, nói chuyện khác. Bây giờ đến phiên ta hỏi cháu vài câu nhé. Cháu sinh ở đâu ?

- Ở Himeji.

- Vậy là vùng Harima rồi.

- Đúng. Ông ở Mimasaka phải không ? Người ta bảo thế.

- Ờ, ta ở Mimasaka phải không ? Thế bố cháu làm gì ?

- Bố cháu là kiếm sĩ. Kiếm sĩ thứ thiệt, có lính hầu đàng hoàng !

Thạch Đạt Lang không ngạc nhiên. Thảo nào thằng bé biết đọc và biết viết khá.

- Bố cháu tên gì ?

- Hoa Kính Áo Đại Môn. Bố cháu có bổng hàng ngàn gia. lúa, nhưng khi cháu lên bảy thì bố cháu bỏ đi và dẫn cháu đến Kyoto này. Tiêu hết tiền, ông gửi cháu ở tiệm rượu rồi vào chùa tu. Cháu chả muốn làm ở tiệm rượu, cháu muốn học làm kiếm sĩ như bố cháu và học đánh kiếm như ông. Ông nghĩ có phải không ?

Nghỉ một chút, nó nhìn Thạch Đạt Lang giọng say sưa:

- Cháu muốn như ông, đi khắp nơi học đánh kiếm. Hay ông cho cháu theo làm đồ đệ ?

Thằng bé có cái vẻ bướng bỉnh, muốn làm gì phải được. Nó nhìn Thạch Đạt Lang, kiên nhẫn chờ câu trả lời và không ngờ đã xin làm học trò một người trước đây gây ra sự bất hạnh cho bố nó. Thạch Đạt Lang chẳng biết đáp ra sao, vì vấn đề không phải là nhận hay không nhận. Hắn chẳng biết có nên kể cho Giang nghe lai lịch cùng những sự liên hệ giữa hắn với Áo Đại Môn hay không. Hắn thương thằng bé và cảm thấy có trách nhiệm đối với nó. Con đường người kiếm sĩ theo đuổi thật nhiều bất ngờ, không phải chỉ giản dị có giết người hoặc bị người giết. Tấm gương Hoa Kính Áo Đại Môn và những bon chen của cuộc sống, trách nhiệm cá nhân đứng trước xã hội, cá nhân với cá nhân làm vầng trán hắn nhăn lại.Vài chén rượu uống trước đây không đủ làm Thạch Đạt Lang lên tinh thần mà chỉ làm hắn thấy cô đơn hơn. Hắn cần suy nghĩ.

Giang ngồi bên cạnh, thấy Thạch Đạt Lang mặt lầm lì không nói thì hơi sợ. Nhưng bản tính bướng bỉnh, nó cố hỏi. Lão quán chạy ra đuổi không cho làm rộn khách, nó vùng vằng đáp lại. Nó nắm tay, kéo áo Thạch Đạt Lang, sau cùng òa lên khóc.

Thạch Đạt Lang không còn cách gì, bao giờ hắn cũng thấy lòng mềm lại trước nước mắt:

- Được rồi, được rồi ! Ta sẽ thu cháu làm đồ đệ, nhưng cháu phải xin phép chủ đã!

Giang mừng rỡ, chạy ù ra cửa.

Sáng hôm sau, Thạch Đạt Lang dậy sớm nói với chủ quán:

- Ông sắp giùm ta một ít món ăn nguội mang đi, nhân thể tính tiền trọ. Mấy ngày nay ở đây thật dễ chịu, nhưng không nấn ná mãi được. Ta phải đi Nara bây giờ.

Ngạc nhiên, lão quán không ngờ Thạch Đạt Lang lại có quyết định ấy. Lão hỏi:

- Khách quan không ở đây nữa ư ? Hay tại thằng nhỏ làm phiền đấy ?

- Không. Ta có ý định đi Nara từ lâu để tham quan phép xử trường thương của Quang Minh hội. Nghe nói có nhiều ngón đặc sắc lắm !

Phút sau, hắn tiếp:

- Còn thằng Giang. Đêm qua không thấy lại. Nếu sau khi ta đi, nó đến làm phiền ông điều gì thì cũng xin bỏ qua cho nó.

- Chậc ! Có gì mà phiền ! Con nít bất quá la hét khóc lóc một hồi rồi quên ngay ấy mà !

- Ta nghĩ chủ nó chẳng cho đi đâu ! Ông vào làm thức ăn hộ, ta đợi.

oo Cơn mưa bữa trước đã tạnh hẳn. Buổi sáng tươi mát hứa hẹn một ngày rực rỡ. Gió thổi hây hây, nhẹ như mơn trên da thịt. Nước sông Kamo dâng cao, đục ngầu. Đằng kia, chỗ ngã ba đầu cầu bắc qua sông đi Nara, một toán tuần cảnh đang ồn ào xét hỏi những người qua lại. Họ kháo nhau vì sắp có quan đầu lãnh tới kính lý nên lính tuần phải có trách nhiệm giữ an ninh cho ngài. Thạch Đạt Lang cũng bị gọi lại khám xét, nhưng thấy không có gì khả nghi nên được phép qua cầu.

Câu chuyện tình cờ nhắc hắn nghĩ đến thân phận những kiếm sĩ giang hồ như hắn, lang thang không biết đâu là định sở và cũng không có lãnh chúa nào để thần phục. Năm năm trước, Thạch Đạt Lang cùng với Mãn Hà Chí đầu quân dưới trướng hệ phái Osaka cũng vì lòng trung thành cố hữu của gia đình hắn đối với hệ phái ấy. Cha hắn làm quản giáo cho Yết Mân bấy giờ là thuộc hạ thân tín của đảng tộc họ Hòa ở Osaka nên chỉ biết có họ Hòa. Lúc còn nhỏ trong những khi ngồi gần bên bếp lửa, nghe cha thuật lại các chiến công hiển hách của đảng tộc, hắn hết sức thán phục. Lòng ngưỡng mộ ấy còn lưu lại trong ký ức đến ngày nay và làm hắn có thành kiến coi những lãnh chúa khác như những phe phản loạn. Thân phụ Hòa Giả Nghị cũng như Yết Mân tuy đã khuất, nhưng bây giờ ai hỏi hắn là người của phe nào, hắn chẳng ngần ngại nói hắn thuộc dòng họ Yết.

Những năm lang bạt làm hắn khôn lớn và chính chắn hơn. Hắn thấy những điều hắn làm trong tuổi niên thiếu thật vô ích và rồ dại. Phụng sự chủ soái đâu phải chỉ là nhắm mắt xông bừa ra trận, giết cho được nhiều người, mà phải có khả năng, tận tụy và trung thành, nhất là trung thành cho đến chết. Bấy giờ hắn và Mãn Hà Chí không hiểu và cũng không có một chút ý niệm gì về lòng trung thành. Hai đứa mới chập chững vào đời, hăm hở đi tìm công danh, không ngờ suýt nữa vong mạng trong tăm tối. Thiền sư Đại Quán dạy cho hắn biết thân mình là quý, không ngờ vì thiếu suy xét, hắn đã mang cái mạng sống trân quý ấy đổi lấy chút hư danh bèo bọt.

Trời đã gần trưa, sắp tới thị trấn Daigo, trán lấm tấm mồ hôi, hắn định dừng lại nghỉ mệt. Bỗng có tiếng gọi sau lưng làm hắn quay lại.

- Ông ơi ! Ông đợi cháu !

Thạch Đạt Lang nhận ngay ra là Giang, thằng bé làm ở quán rượu. Nó chạy theo, thở chẳng ra hơi, vừa chạy vừa gọi, miệng la tay vẫy rối rít. Đến gần, chưa kịp yên chỗ, nó đã trách:

- Ông nói dối cháu ! Ông nói dối cháu ! Sao ông làm vậy ?

Mặt đỏ gay, lời nói đứt quãng, câu trách móc thật nghiêm khắc nhưng trông vẻ mặt nó thiểu não như sắp khóc. Nó ăn mặc mới thật nực cười. Bộ quần áo hầu bàn cũ lem luốc nay được thay bằng một chiếc kimono mới, nhưng chiếc kimono lại quá ngắn, tay áo chỉ đến khuỷu và gấu áo chỉ vừa quá bụng được một chút. Nó đeo bên sườn thanh kiếm gỗ dài hơn người và sau lưng một cái nón nan thật lớn to như cái dù.

Thạch Đạt Lang nhìn thằng bé không khỏi phì cười. Hắn ôm lấy Giang và lấy vạt áo chùi những giọt nước mắt bắt đầu chảy xuống đôi má đen sạm của nó. Thằng bé hình như vẫn chưa vừa lòng, còn sụt sịt ấm ức:

- Ông người lớn mà ông nói dối cháu, không biết xấu hổ ! Ông nhận cháu làm đồ đệ rồi lại bỏ đi, không đợi. Người lớn nào cũng nói dối như thế sao ?

- Ta thật không phải. Thôi ta xin lỗi.

Giang nhoẻn miệng cười.- Ta không có ý định nói dối cháu đâu, nhưng vì cháu còn bố cháu, còn chủ quán... Tối qua không thấy cháu sang, ta tưởng chủ cháu không bằng lòng.

- Thì ít nhất ông cũng phải chờ để cháu nói cho biết chứ !

- Vì vậy ta xin lỗi. Thế chủ cháu có bằng lòng không ?

- Có.

Giang với tay hái chiếc lá dâu bên vệ đường hỉ mũi. Nó nói:

- Ông chủ bảo cứ đi, không có võ đường hay một kiếm sĩ nào biết tự trọng lại thu dụng cháu làm đồ đệ. Cháu bảo cháu theo ông thì ông chủ phá lên cười. Ông bảo:

“Thằng đó nhận mày là đúng rồi. Mày theo mang gươm cho nó chứ làm gì !”. Ông ấy còn cho cháu thanh kiếm này làm quà đấy !

Thạch Đạt Lang mỉm cười.

- Cháu chạy qua quán chỗ ông trọ, không thấy ai. Chủ quán không có đấy, cháu giật luôn cái nón này đội đầu.

- Bảng hiệu của người ta mà mày lấy đội đầu. Mày biết chữ gì viết trên đó không ?

“Giường cho thuê” đó !

- Mặc kệ. Khi mưa đội cũng đỡ lắm chứ !

Thái độ của thằng bé bấy giờ rõ ràng là bất cần. Điều quan trọng đối với nó là gặp Thạch Đạt Lang, được hắn cho thờ làm thầy để học võ. Cảm thấy vậy, Thạch Đạt Lang không muốn nói thêm gì làm cho nó bối rối. Hắn nghĩ có lẽ đây là điều tạo hóa đã an bài để hắn săn sóc thằng bé, đền lại phần nào những bất hạnh mà bố nó phải chịu.

Thấy Thạch Đạt Lang vui vẻ, không có ý xua đuổi, Giang rụt rè:

- Từ nay cháu sẽ gọi ông bằng thầy.

Thạch Đạt Lang mỉm cười gật đầu. Thằng bé yên bụng, mặt tươi hẳn lên. Bỗng sực nghĩ đến chuyện gì, nó nói:

- Ấy quên ! Có cái này cho ông ...à cho thầy ...

Giang thò tay vào áo lấy cuộn giấy đưa ra. Thạch Đạt Lang ngạc nhiên:

- Gì thế ? Thư ai vậy ?

- Thầy nhớ không ? Hôm qua con đã nói có ông khách đi ngang vào uống rượu hỏi con nhiều chuyện lắm. Ông ấy đưa thư này bảo con chuyển cho thầy. Ông ấy uống rượu như hũ chìm.

Thạch Đạt Lang không đoán ra là ai, cậy khằn đóng trên bì thư, mở ra nhìn xuống chữ ký ở dưới mời biết là của Mãn Hà Chí. Hắn càng ngạc nhiên. Chữ viết nghiêng ngả, tuồng như người viết đã say lắm. Thạch Đạt Lang thong thả đọc từng chữ, thấy ý tứ lộn xộn, câu kệ không rõ ràng, nhưng cũng hiểu đại lược:

“Từ khi bỏ mày ở Ibuki, tao vẫn không quên làng cũ, không quên mày. Tao nghe nói đến tên mày ở gần võ đường Hoa Sơn. Chúng tìm mày đó. Tao muốn gặp mày, mà thôi, chẳng cần. Tao uống rượu ở quán này. Say quá !” Đến đây thì một hàng chữ bị nhòe, có lẽ vì rượu đổ vào.

“ ... bị giữ trong thành lâu, sa đọa quá lắm. Năm năm vô công rồi nghề, chẳng biết làm gì. Nghe nói mày thành công, tao mừng cho mày. Có người nói mày là tay kiếm vô địch, nhưng ở đây người ta cho mày là thằng hèn. Giỏi hay hèn, tao cóc cần, miễn là mày làm cho người ta nói tới là tao sướng. Mày đã có danh, còn tao chỉ thụt lùi trong vũng bùn nhơ nhớp. Tao chẳng muốn gặp mày đâu, xấu hổ lắm. Nhưng đời còn dài, mày ạ. Sau này ai biết ai ! Còn mày còn tao. Chúc mày mạnh khỏe”.

Góc thư còn mấy câu tái bút, dặn dò:

“Bảo trọng lấy thân, đừng chết uổng. Thành danh thì phải sống để làm gương cho tao. Sẽ có dịp gặp mày kể nhiều chuyện”.

Thạch Đạt Lang đọc xong thư, cuốn lại, lòng buồn man mác.

- Giang ! Con có hỏi ông ấy ở đâu không ?

- Không.

- Ở quán có ai biết ông ấy là ai không ?

- Chắc không ai biết.

- Ông ấy đến quán uống rượu thường không ?

- Không. Lần đầu con thấy.

Thạch Đạt Lang tự nhủ nếu biết địa chỉ của Mãn Hà Chí, có lẽ hắn sẽ đến thăm.

Hắn muốn an ủi, khích lệ người bạn cũ, đưa bạn trở về con đường lành mạnh, nếu không bạn hắn dám phẫn chí tự hủy hoại cuộc đời lắm ! Hắn muốn dẫn Mãn Hà Chí về làng gặp mẹ để đánh tan những hiểu lầm của bà Hồ Điểu đối với hắn.

Hai thầy trò yên lặng bước trên con đường núi gập ghềnh dẫn đến thị trấn Daigo, chẳng bao lâu đã thấy ngã tư đầu thị trấn hiện ra trước mặt. Thạch Đạt Lang tạt vào ven rừng ngồi nghỉ. Hắn quay nói với đồ đệ:

- Giang ! Ta muốn nhờ con một việc.

- Dạ.

- Con mang cho ta bức thư.

- Mang đi đâu vậy thầy ?

- Đi Kyoto.

- Trở lại à ?

- Ừ. Con mang thư đến võ đường Hoa Sơn đường Tân Hổ.

Giang không nói gì. Nó lấy chân đá những hòn cuội ở ven đường. Thạch Đạt Lang nhìn thẳng vào mặt nó:

- Con không muốn đi phải không ?

Giang ngập ngừng đáp:

- Không phải con không muốn đi, nhưng ngộ thầy lại bỏ con thì sao ?

Thạch Đạt Lang hối hận. Vì một quyết định sai lầm, hắn đã làm mất lòng tin của thằng bé:

- Không. Thầy đã nhận con làm đồ đệ, thầy không bỏ. Lấy danh dự một kiếm sĩ, thầy nói với con như thế. Thầy rất tiếc đã có chuyện hiểu lầm ban sáng, thầy xin lỗi.

- Vậy con đi.

Đến ngã tư, cả hai cùng vào quán, gọi trà và cơm. Thạch Đạt Lang mua giấy, thảo thư gửi cho chưởng môn Hoa Sơn:

“Sĩ Khánh chưởng môn nhân nhã giám, Tại hạ được biết quí phái đang cho người đi tìm. Hiện nay, tại hạ trên đường đi Yamoto, có ý định lưu lại vùng Iga và Ise chừng một năm để nghiên cứu thêm về kiếm pháp.

Tại hạ ân hận không được tiếp kiến huynh đài, người mà tại hạ hằng ngưỡng mộ đại danh, để trau dồi thêm sở kiến. Nhưng sang năm, vào ngày trọng xuân, thế nào tại hạ cũng trở lại kinh thành. Từ nay đến đó, hy vọng tiện kỹ sẽ xứng đáng với quý phái hơn và cũng mong quý phái đừng để tại hạ thất vọng.

Thư bất tận ngôn, kính mong huynh đài lượng thứ.

Yết Mân Thạch Điền Đạt Lang kính bái.” Bức thư lễ độ nhưng cũng thật cao ngạo, đầy tự tin, không những có ý thách thức chưởng môn Hoa Sơn mà còn cả mọi người trong phái.

Viết xong, Thạch Đạt Lang buông bút, niêm phong lại giao cho đồ đệ.

- Con để thư ở ngoài cổng được không ?

- Không. Phải đích thân giao tận tay cho người giữ cửa.

- Dạ.

- Còn điều nữa ta muốn nhờ con làm nhưng hơi khó.

- Chuyện gì vậy thầy ?

- Ta muốn con tìm ông khách đến uống rượu ở quán đưa thư cho con trước đây.

Tên ông ta là Hồ Điểu Mãn Hà Chí. Ông ấy là bạn cũ của ta.

- Việc ấy dễ lắm.

- Con làm sao nói ta nghe thử.

- Thì con cứ đi một vòng hỏi thăm tất cả các quán rượu là thấy ngay chứ gì !

Thạch Đạt Lang cười ha hả, khen thằng bé lém lỉnh.

- Ý kiến hay, nhưng theo thư thì hình như ông ta có quen ai ở Hoa Sơn. Con thử hỏi dò tại đấy xem.

- Thế khi gặp, con phải nói những gì ?

- Con bảo sang năm, nội trong bảy ngày đầu xuân, ngày nào ta cũng đến đợi ở chân đại kiều đường Gojo, mời ông ấy đến gặp ta.

- Còn gì nữa không thầy ?

- Bảo ta muốn gặp ông ấy lắm.

- Dạ. Vậy khi trở về, con sẽ tìm thầy ở đâu ?

- Đến Nara, con tìm Quang Minh hội. Hội này ở một ngôi đền lớn lắm, nổi tiếng về môn sử trường thương, không ai là không biết.

- Thật nhé ! Thầy đợi con đấy !

- Con không tin ta hả ? Lần này không thấy ta, con cứ chặt đầu ta đi.

Hai thầy trò Thạch Đạt Lang cùng cười lớn, bước ra khỏi quán. Đến ngã tư, chia tay mỗi người một ngả, Thạch Đạt Lang đi Nara, còn tên tiểu đồ trở lại Kyoto theo đường cũ.

Nơi ngã tư đông nghẹt khách thương hồ, kẻ mua người bán tấp nập, ngựa hí vang rân. Trên trời, én nhỏ như mũi kim, gió thổi qua hàng vi lô xào xạc.

Giang quay nhìn Thạch Đạt Lang, thấy sư phụ cũng đang ngoái cổ lại nhìn mình, nó toét miệng ra cười, giơ tay vẫy.

Chương 14: Chim trời cá nước

A Kế Mỹ ngồi cạnh bờ sông, vừa giặt áo vừa khe khẽ hát một khúc tình ca học được khi xem tuồng Kabuki ở đường Tân Hổ. Lời ca nhẹ nhàng, tiết điệu êm ái ru nàng vào ảo tưởng như được cùng đong đưa với làn gió xuân bên những cành đào nở đầy hoa vẽ trên nền lụa mỏng.

Gió xuân, kìa gió xuân lơi.

Thoáng nhẹ trên đồi.

Phất phơ tung áo, bồi hồi lòng em ...

Gió xuân có nặng bên rèm.

Sao lòng em nặng ...

Giang đứng bên bờ sông nhìn thiếu nữ giặt áo và hát. Trong khung cảnh thanh bình êm đềm ấy, nó bỗng thấy vui lây và tuy chẳng hiểu gì cũng mỉm cười:

- Cô nương hát hay quá !

A Kế Mỹ giật mình quay lại, ngạc nhiên nhìn thằng bé, nhỏ và đen đủi, đeo thanh kiếm gỗ dài hơn người và đội một cái nón lớn rộng vành trông như cái nấm.

- Em là ai vậy ? Sao gọi chị bằng cô nương ?

Khi nói, A Kế Mỹ vô tình để một chiếc áo tuột tay trôi theo dòng nước. Bắt không kịp, nàng kêu lên:

- Trời ơi ! Trôi mất cái áo rồi !

- Để em vớt hộ.

Giang chạy trên bờ sông, cầm kiếm gỗ chận áo rồi khều lên. Nó cười vui vẻ:

- Ít ra thanh kiếm này cũng không đến nỗi vô dụng !

A Kế Mỹ cười theo, thấy thằng bé dễ thương và nhanh nhẹn.

- Tên em là gì ?

- Giang.

- Em ở đâu, muốn hỏi chị điều gì thế ?

- Chị biết gần đây có trà thất nào tên là Vân Nghê quán không ?

- Biết chứ ! Nhà chị đấy ! Ở ngay trong khu vườn đằng sau chỗ em đứng đó !

- Vậy hả ! Thật là may. Thế mà em đi tìm mãi.

- Em tìm làm gì ? Em ở đâu tới ?

- Ở đằng kia.

Nó lấy tay khua khua chỉ phía trước mặt, không rõ ràng nhất định vùng nào.

- Đằng kia là chỗ nào ?

- Em cũng không biết nữa.

A Kế Mỹ mỉm cười:

- Thôi khỏi cần. Thế em muốn tìm nhà chị làm gì ?

- Em muốn tìm một người tên Hồ Điểu Mãn Hà Chí. Em hỏi ở võ đường Hoa Sơn, người ta bảo cứ đến quán Vân Nghê thì thấy.

- Ông ấy không ở quán.

- Chị nói dối !

- Không, chị không nói dối đâu ! Trước kia ông ấy có ở quán nhưng nay đi rồi.

- Đi đâu ?

- Chị cũng không biết.

- Nhưng ở quán, chắc phải có người biết chứ ?

- Không. Mẹ chị cũng không biết. Ông ấy trốn đi chẳng để lại tin tức gì.

- Lạ quá nhỉ ? Sao lại thế được ?

Giang ngồi xuống cỏ, mắt đăm đăm nhìn dòng nước chảy, chẳng biết phải làm thế nào.

- Ai sai em đến đây ?

- Sư phụ.

- Sư phụ em là ai ?

- Thạch Điền Đạt Lang.

- Em có mang thư gì của thầy em không ?

Giang lắc đầu:

- Không.

- Thằng này thật kỳ ! Mang tin gì mà không biết ở đâu đến lại chẳng có thư từ gì cả là thế nào ?

- Sư phụ em chỉ dặn miệng thôi.

- Dặn điều gì cho chị biết được không ? Có thể ông ấy không trở lại nữa, nhưng nếu gặp, chị sẽ chuyển lời cho.

- Không biết em có nên nói cho chị biết không ? Chị nghĩ thế nào ?

- Tùy em, chị chẳng nghĩ gì cả.

Ngồi yên một lúc, Giang mới mở miệng:

- Sư phụ em muốn gặp ông Mãn Hà Chí nên bảo em tin cho ông ấy biết thầy em sẽ đợi ông ở Đại Kiều đường Gojo trong vòng bảy ngày đầu năm tới. Sư phụ em muốn gặp ông ấy lắm !

A Kế Mỹ che miệng cười ngặt nghẽo:

- Thật chưa bao giờ chị thấy chuyện lạ vậy ! Bây giờ thầy em sai đi tìm một người, bảo đợi đến sang năm mới cho gặp. Thầy em cũng kỳ cục chẳng kém gì em cả !

Và nàng lại che miệng cười như nắc nẻ. Giang tức giận:

- Ô hay ! Sao chị cười hoài vậy ? Chuyện có gì đáng cười đâu !

- Em giận chị đấy hả ?

- Chứ gì nữa ! Em hỏi chị tử tế, nhờ chị giúp em một việc mà chị lại cười chế giễu!

A Kế Mỹ bình tĩnh lại:

- Thôi chị không cười nữa. Ừ, để khi nào gặp chị sẽ nói cho ông Mãn Hà Chí biết.

- Thật nhé.

- Thật.

Nhưng A Kế Mỹ vẫn không nhịn được cười. Nàng cắn môi một lát mới hỏi:

- À, thế em nói lúc nãy tên sư phụ em là gì ?

- Thạch Điền Đạt Lang, chị chóng quên quá !

- Viết thế nào ?

Giang nhặt một cành tre khô viết chứ Thạch Điền lên cát.

- Ô, đấy là họ Thạch, họ của Thạch Kinh Tử mà !

- Sư phụ là Thạch Điền, không phải Thạch Kinh Tử !

- Họ Thạch cũng viết thế.

- Nhưng không phải là Thạch Kinh Tử.

A Kế Mỹ lặng thinh, không cãi. Nàng nhìn chữ Thạch viết trên cát, tâm hồn như để tận đâu đâu. Một lúc sau mới ngẩng lên nhìn Giang, ngắm nghía nó từ đầu đến chân và dịu dàng hỏi:

- Sư phụ em có phải ở vùng Mimasaka không ?

- Phải. Chị biết à ? Em ở Harima còn sư phụ em người làng Miyamoto, cũng gần đấy.

- Ông người cao lớn khỏe mạnh, tóc trên đầu không cạo hết như kiểu các kiếm sĩ phải không ?

- Đúng rồi ! Vậy chị có biết ông ấy ?

- Chị nhớ có lần sư phụ em nói vì cái sẹo lớn ở đỉnh đầu nên không muốn cạo hết tóc.

- Sư phụ nói với chị như vậy à ? Lúc nào thế ?

- Năm năm rồi còn gì, bấy giờ chị mới mười sáu.

- Chị biết sư phụ em lâu thế kia à ?

A Kế Mỹ không đáp. Những kỷ niệm ngày xưa ấy nay lại hiện lên, rõ ràng và thân thiết như mới xảy ra hôm qua làm nàng bồn chồn không yên. Nghe thằng bé nói, không còn hồ nghi gì nữa, sư phụ nó chính là Thạch Kinh Tử. Nàng không lạ gì nếp sống phóng đãng của mẹ, lại chứng kiến tận mắt sự trụy lạc của Mãn Hà Chí nên khi chọn Thạch Kinh Tử, nàng càng vững tin ở sự chọn lựa của mình. Tư cách Thạch Kinh Tử khác tư cách Mãn Hà Chí bao nhiêu ! Rất may nàng chưa lấy ai, mặc dầu ở trà thất đã có nhiều người lui tới xin cưới nàng làm vợ. Đối với những khách làng chơi say sưa và khả ố ấy, nàng thường tỏ vẻ khinh bỉ. Bên cạnh họ, Thạch Kinh Tử thật là con người lý tưởng, thường hiện ra trong những giấc mơ êm ái nhất của nàng và trong những lúc nàng hát những bài diễm tình cố ý dâng cho người trong mộng.

Thấy A Kế Mỹ không trả lời, Giang nói:

- Nhé ...Chị đừng quên đấy ! Nếu gặp ông Mãn Hà Chí, chị nói hộ em.

Và bỏ cô thiếu nữ ngồi mơ mộng bên dòng sông, nó nhanh nhẹn chạy vào trong xóm.

oo Chiếc xa bò chất đầy ngô, gạo và các thổ sản khác đang ì ạch leo dốc. Trên nóc xe, một tấm biển chữ đen viết đậm nét:

“Công đức khách thập phương cúng chùa Đại Từ ở Nara” rung rinh theo nhịp bánh xe quay cút kít.

Giang theo sau xe, vừa đi vừa huýt sáo, thỉnh thoảng nhặt viên sỏi ném vào bụi rậm hoặc cuốn lá làm kèn thổi te ... te ... Bỗng nhiên mắt nó sáng lên như vừa tìm được điều gì thú vị. Nó chạy theo xe, bám lấy tấm ván phía sau lấy đà đánh đu leo lên, nhẹ nhàng như một con mèo nhảy trên mái ngói.

Ngồi yên trên một bao gạo thấp, chân bỏ thõng đong đưa theo nhịp xe đi, Giang sung sướng nhìn cây cối hai bên đường như chạy lùi trước mặt. Xa xa, những giải đồi tròn trặn trồng toàn trà xanh uốn éo trải dài đến tận chân trời rồi lẩn vào màn sương mờ trắng đục. Vài cây anh đào nở muộn còn hoa lấm tấm hồng, đây đó hai ba nông dân mặc áo chàm lúi húi làm rẫy. Cảnh vùng Yamoto bấy giờ thật thanh bình và tươi đẹp.

Gió mát hây hây thổi, đôi mắt Giang nặng trĩu. Nó cố giữ cho khỏi buồn ngủ nhưng thiếp đi lúc nào không hay. Chiếc xe va phải hòn đá lớn chao mạnh làm Giang giật mình tỉnh giấc. Nó ước giá đường gồ ghề hơn chút nữa để đỡ buồn ngủ, sợ đến Nara không ai đánh thức.

Xe qua dưới một tàn cây, Giang đưa tay ra hái lá kẹp vào hai hàm răng thổi một điệu nhạc nó vẫn thường nghe trong các đám hát dân dã. Tiếng kèn làm gã xa phu chú ý, dừng xe lại. Ngó hai bên không có ai, gã làm lạ bèn vòng ra phía sau thấy Giang đang ngồi trên bao gạo. Tức giận, gã túm lấy nó lớn giọng hỏi:

- Ranh con ! Mày làm gì trên đó ?

- Tôi có làm gì đâu !

- Ai cho mày trèo lên xe tao ?

- Tôi đi nhờ mà ! Mà ông có phải kéo xe đâu, bò nó kéo chứ !

- A thằng này hỗn.

Vừa nói gã vừa nắm cổ áo Giang xách lên ném xuống đất, thuận chân đá nó một cái vào mông đau điếng. Giang ngã chúi vào gốc cây, nhưng biết phận chẳng dám ta thán, chỉ lẩm bẩm nhìn gã xa phu vừa nguyền rủa vừa đánh xe đi khuất, tiếng lọc cọc của cỗ xe trên đường gồ ghề còn vọng lại như chế giễu.

Ngồi một lúc, bỗng sực nhớ ra chuyện gì, Giang đứng bật dậy dáo dác tìm quanh.

Nó sờ lên cổ, lục trong tay áo, nét mặt càng lúc càng tỏ ra lo lắng. Nó vừa nghĩ đến chiếc ống quyển đựng thư phúc đáp của võ đường Hoa Sơn bảo nó mang về đưa sư phụ.

Nó nhớ rõ đã cẩn thận buộc ống quyển đó bằng một sợi dây gai đỏ, bây giờ không biết rơi đâu mất. Giang chạy ra chỗ chiếc xe bò dừng lại lúc nãy rồi lại trở về bên gốc cây, vòng ra xa, lấy ta gạt những đám cỏ cao để tìm cũng không thấy. Nó tỏ ra bối rồi thật sự.

Nhìn vẻ mặt hoảng hốt của thằng bé, một thiếu nữ trang phục theo lối lữ hành đi qua chợt dừng lại:

- Em đánh mất vật gì phải không ?

Qua chiếc nón rộng vành, Giang ngước nhìn thiếu nữ, gật đầu.

- Tiền hả ?

Giang không nói, chỉ lắc đầu rồi lại cúi xuống tiếp tục tìm quanh quẩn.

- Vậy chắc là cái ống tre dài chừng ba tấc, buộc dây đỏ phải không ?

Giang giật mình cuống quít:

- Phải rồi ! Phải rồi ! Sao cô nương biết !

- Vậy em đúng là thằng bé đã chọc cho ngựa chạy ở gần trại Mã Phố rồi ! Em đánh rơi ống quyển ở đó, có người nhặt được gọi trả mà em cứ chạy hoài !

- Em lại tưởng họ đuổi theo bắt ! Cô nương trông thấy ai nhặt được ?
- Một vị ăn mặc theo lối kiếm sĩ, người cao lớn.

- Cô nương chắc không ?

- Chắc.

- Vậy em phải trở lại.

Nhưng mới chạy được vài bước, Giang đã nghe tiếng thiếu nữ gọi:

- Thôi đừng trở lại nữa. Ông ấy kia kìa, ở phía cánh đồng, đang đi đến đây đấy !

Giang mở to mắt nhìn. Một tráng sĩ cao lớn trạc ba mươi lăm, bốn mươi tuổi bước những bước dài vội vã đến gần chỗ nó đứng. Cái gì ở ông ta cũng khác với người thường:

vai nở, lưng rộng, râu rậm và đen mọc gần kín cả mặt, tay để trần to lớn, chân đi dép cỏ đã cũ nhưng y phục còn tươm tất lắm. Trông dáng dấp, Giang chắc đây phải là một kiếm sĩ có danh vọng, bổng lộc đến ngàn gia. lúa chứ không ít. Nó hơi ngại, giật lùi lại phía sau, không dám hỏi.

May sao tráng sĩ lên tiếng gọi nó trước:

- Bé con ! Có phải mày đánh rơi cái ống đựng thư này gần trại Mã Phố không ?

- Dạ phải.

Tráng sĩ đưa ống quyển, Giang vội vàng giật lấy.

- À há ...Không biết cám ơn à ?

Giang lí nhí:

- Dạ, cảm ơn ông.

- Thư quan trọng mà mày không giữ gìn cẩn thận để rớt dọc đường, thật đáng đánh đòn.

- Dạ.

Chợt nghĩ không biết sao ông này lại biết là thư quan trọng, Giang vội hỏi:

- Ông mở ống ra xem thư đấy à ?

- Dĩ nhiên ! Nhặt được cái gì thì phải mở chứ ! Nhưng ta không xem thư đâu, vẫn còn nguyên niêm đấy. Mày kiểm lại đi !

Giang mở ống quyển, ghé mắt nhìn vào thấy phong thư vẫn còn nguyên vẹn thì yên dạ, đậy nắp lại đeo lên cổ. Nó tự nhủ:

- Lần này mình phải cẩn thận hơn mới được !

Thiếu nữ thấy thằng bé lúng túng, vội đỡ lời:

- Cảm ơn tráng sĩ. Giá không có tráng sĩ thì cuốn thư chắc bị mất rồi.

Tráng sĩ cười:

- Thằng bé này đi với cô nương đấy à ?

- Không. Tiểu nữ mới gặp nó ở đây thôi.

- Nó đội cái nón gì lạ quá, lại có chữ viết “giường cho thuê” là thế nào ?

Thiếu nữ cũng cười:

- Tiểu nữ cũng không hiểu, nhưng thấy nó có vẻ lo lắng, tội nghiệp quá !

Quay sang Giang, nàng hỏi:

- Em định đi đâu ?

Tìm lại được ống thư, Giang yên tâm vui vẻ đáp:

- Em đi Nara, đến Quang Minh hội. Cô nương cho em đi cùng nhé ?

Thiếu nữ gật đầu. Bước sau người con gái, Giang bỗng chú ý đến một cái túi nàng giắt ngang lưng, đựng một vật dài như ống tre nó đương đeo trên cổ. Giang tò mò hỏi:

- Cô nương cũng mang thư đấy à ?

- Không. Sao em hỏi thế ?

- Thế cái gì cô nương giắt ở thắt lưng đó ?

Thiếu nữ mỉm cười:

- À, cái sáo !

- Cái sáo ?

Giang bước vội đến gần hơn, không ngần ngại ghé sát mắt vào lưng thiếu nữ nhìn cây sáo. Đột nhiên nó có cảm giác là lạ. Tuy còn bé, nó cũng biết thế nào là một người đẹp và bản năng của nó mơ hồ cho biết đây là một thiếu nữ còn thanh khiết. Giang ngẩng lên nhìn thiếu nữ, xúc động trước vẻ dịu dàng và cao quý của gương mặt nàng. Nó lùi lại, nửa e thẹn nửa sợ hãi, không dám nhìn nữa, tự nhủ:

“Chà ! Cô nương này sao đẹp quá ! Mình có người bạn đồng hành như thế này từ đây đến Nara thật là may !” Nó ấp úng:

- Em thấy cái sáo rồi. Cô nương biết thổi sáo à ?

Tiếng “cô nương” nó dùng xưng hô với thiếu nữ làm nó liên tưởng đến phản ứng của người con gái giặt áo ven sông nó mới gặp chiều qua nên không đợi trả lời, nó hỏi tiếp ngay:

- Cô nương tên gì thế ?

Thiếu nữ đưa mắt nhìn tráng sĩ đi cùng với mình, mỉm cười. Ông này cũng nhếch mép bảo Giang:

- Thằng này thật chẳng biết lễ độ gì ! Phàm lệ nếu muốn hỏi danh tính ai, phải xưng tên mình trước đã chứ !

- Tên cháu là Giang.

Thiếu nữ và tráng sĩ cùng cười. Giang phản đối:

- Các vị làm vậy không công bằng. Cháu đã nói tên rồi, sao các vị lại cười ?

Tráng sĩ hơi thẹn, lập nghiêm:

- Tên ta là Sử Đà.

- Chắc đó là tên họ. Thôi cũng được. Còn cô nương tên gì ? Nếu cô nương không nói thì vị này sẽ chê là vô lễ đó !

- Tên ta là Oa Tử.

- Oa Tử ! Oa Tử ! Nghe quen quá !

Nó lặng yên, đi một lúc, rồi lại liến thoắng:

- Cô nương mang sáo đi đâu vậy ?

- À, ta thổi sáo kiếm tiền độ nhật.

- Cô nương làm nghề thổi sáo à ?

Oa Tử cười:

- Ta không rõ có nghề nào là nghề thổi sáo không, nhưng nhờ ống sáo này ta mới có tiền chi dụng. Nếu em cho là nghề cũng được.

- Cô nương thổi sáo trong những cuộc lễ lạc ở chùa hay ở miếu phải không ?

- Không.

- Hay cho những ban nhạc rong diễn tuồng Kabuki ?- Cũng không phải.

- Vậy cô nương thổi điệu gì ?

- Thì những khúc dân nhạc mọi người vẫn thường nghe ấy mà !

Riêng tráng sĩ rậm râu lại chú ý đến thanh kiếm gỗ của Giang:

- Chú bé đeo vật gì sau lưng thế ?

- Thanh kiếm gỗ. Ông không nhìn thấy thanh kiếm gỗ bao giờ à ? Cháu tưởng ông là kiếm sĩ chứ !

- Ta chính là kiếm sĩ, nhưng thấy mày còn bé lại mang thanh kiếm quá dài nên hỏi cho biết.

- Cháu học kiếm thuật.

- Chà ! Vậy mày có sư phụ chưa ?

- Có rồi !

- Người mày mang thư hộ đấy hả ?

- Vâng.

- Chắc sư phụ mày giỏi lắm nhỉ !

- Cũng chẳng giỏi lắm đâu ông.

- Sao ? Mày nói gì ?

- Sư phụ cháu đánh kiếm xoàng lắm, ai cũng chê.

- Thế sao mày theo ông ấy ? Sư phụ kém, mày không buồn à ?

- Không. Cháu đánh kiếm cũng không ra gì nên chẳng cần.

Tráng sĩ nghe thằng bé nói muốn phì cười nhưng giữ ngay được, mặt tuy lập nghiêm mà khóe mắt không dấu nổi vẻ khoái trá.

- Thế mày đã học được chút gì về kiếm thuật chưa ?

- Chưa. Thật ra chưa học được gì !

Lần này thì tráng sĩ không giữ nổi nữa, phá lên cười ha hả. Thiếu nữ nghe chuyện cũng lấy tay che miệng.

- Hà hà ... Đi đường chung với thằng bé này cũng đỡ buồn. Đường ngắn được chút!

Quay sang Oa Tử, trung niên tráng sĩ lại hỏi:

- Còn cô nương đi đâu ?

- Tiểu nữ đi Nara, nhưng chưa định trọ Ở chỗ nào cả. Tiểu nữ muốn tìm một người quen cũ là kiếm sĩ. Nghe nói dạo này kiếm khách giang hồ lạc thảo đến tụ Ở Nara đông lắm, may ra nhờ ơn trời Phật ...

Qúa trưa, cả ba người tới chân cầu Uji. Dưới mái hiên quán trà nhỏ ven đường, một ông lão râu tóc bạc như cước ngồi giữa chiếu, dùng gáo tre chuyên trà từ ấm lớn sang các bát sành cho khách đứng ngồi lố nhố xung quanh. Thấy Sử Đà, ông lão ngừng tay gọi lớn:

- Sử đại nhân, vào đây đã ! Lâu lắm lão phu chẳng thấy ai ở Trúc Lâm cốc đi qua.

Nhớ quá ! Nhớ quá !

- Bọn tại hạ chỉ muốn nghỉ chân một lát. Xin lão trượng cho tự nhiên.

Cả ba người cùng bước vào quán:

- Xin lão trượng cho vài cái bánh, thằng nhỏ này chắc đói rồi.

Bánh mang ra, Giang nhót lấy hai chiếc, vòng cửa sau mang lên đồi ăn. Với những trẻ hiếu động như nó, ngồi yên chuyện vãn thật chẳng hứng thú gì. Oa Tử nhấp trà, hỏi lão quán:

- Từ đây đến Nara còn xa không lão trượng ?

- Còn xa. Nếu đi nhanh thì chỉ quá Kizu trước khi trời tối. Sức cô nương, chắc là phải nghỉ ở Taja hay Ide.

Sử Đà đỡ lời:

- Cô nương đây muốn đến Nara tìm người quen nhưng không rõ địa chỉ.

Rồi ngập ngừng, hắn gãi râu:

- Nghĩ chẳng nên phải không lão trượng ? Nara bây giờ không như trước. Thân gái dặm trường đến Nara một mình e không tiện.

Lão quán nhìn Oa Tử, gật gù:

- Phải, đại nhân nói phải lắm ! Thật không nên !

Khách hàng nghe chuyện cũng phụ họa:

- Đúng vậy. Nara bây giờ nguy hiểm lắm ! Khách phương xa cứ tưởng nơi đó là thị trấn cổ kính, đền đài lăng tẩm mỹ lệ, không giặc giã cướp bọc gì, nhưng lầm lắm. Từ sau vụ Sekigahara, số kiếm sĩ thất trận không biết chạy đi đâu đổ về ẩn trốn ở đó rất nhiều.

Có người khá, nhưng phần đông nghèo đói, sống về nghề thảo khấu, ước lượng có đến hàng ngàn không đủ cơm ăn chứ đừng nói gì khôi phục lại địa vị cũ. Thế lực Tôn gia ngày càng mở rộng, vùng Nara thế nào cũng bị càn quét, nhưng hiện nay số kiếm khách lưu lạc lợi dụng nơi người thưa rừng rậm này đặt sào huyệt tụ họp ăn hàng không phải là ít. Khách lạ nếu không rõ đường đi nước bước, khó mà được an toàn.

- Ờ ờ ...Các tay kiếm lừng lẫy giang hồ một thời như Hà Nguyên Cát, Hồ Uy Thạch, Hoàng Tế ...nghe nói đều lẩn quất ở đấy cả.

- Phải rồi. Nhiều tay nghèo đói quá, bán cả gươm lấy tiền độ nhật. Rồi rượu chè, ẩu đả, gây hỗn loạn mong kéo dài tình trạng bất ổn để thừa cơ nước đục thả câu. Cô nương chẳng nên đến chỗ đó làm gì !

Mỗi người một câu, ai cũng cho Nara là nơi gió tanh mưa máu làm Oa Tử lo sợ.

Nàng ngồi yên lưỡng lự. Giá có tin gì, dù không đích xác đi nữa, là Thạch Đạt Lang có mặt ở đó thì nàng cũng quyết tâm đi cho bằng được. Đằng này, từ khi bỏ nàng lại trên cầu Himeji, hắn như chim trời cá nước, chẳng để lại tung tích gì.

Sử Đà thấy nàng do dự, hỏi:

- Cô nương tên là Oa Tử, lại biết chơi sáo phải không ?

- Dạ phải.

- Tại hạ đề nghị thế này có hơi đường đột, nhưng như cô nương biết đấy và các vị Ở đây đều đã nói rõ, cô nương nên bỏ ý định đi Nara, theo tại hạ đến Trúc Lâm cốc. Tại hạ sẽ tiến dẫn cô nương lên cốc chủ.

Rồi như muốn biện minh thêm cho ý định ngay thẳng của mình, Sử Đà tiếp:

- Tại hạ là Sử Đà Chu An Môn, phục thị tại Trúc Lâm cốc. Chủ nhân tại hạ bây giờ đã già, trên tuổi, chán cảnh bon chen giang hồ nên treo kiếm quy ẩn. Được cô nương vui lòng thỉnh thoảng cho nghe một vài thanh điệu, chắc người cũng đỡ cô tịch.

Lão quán vui vẻ thêm vào:

- Cốc lão nhân chính là tay đại kiếm sĩ Trúc Mộ Chính, từ khi về ở ẩn còn có biệt hiệu là Trúc Lâm cư sĩ. Thật là một đại gia, danh vọng ít ai bằng. Hân hạnh ấy, cô nương chẳng nên từ chối.

Oa Tử từ khi ở chùa cũng đã nghe danh Trúc Mộ Chính. Nàng cho là may mắn có cơ duyên gặp được Sử Đà nhưng vẫn ngần ngại:

- Chỉ sợ tiện kỹ không đáng để lọt tai cốc lão chủ.

- Không sao ! Không sao ! Trúc Mộ lão nhân gia tính tình khoáng đạt, không như các kiếm sĩ khác đâu ! Người ưa sự bình dị, có lẽ cô nương quá khiêm tốn đó thôi !

Oa Tử ngồi suy nghĩ. Nàng tính nếu đi Nara, không chắc gì đã tìm được Thạch Đạt Lang. Vả lại, hiện nay giới giang hồ đều đồng ý cho rằng Trúc Mộ gia là nơi tập trung nhiều kiếm khách cao thủ, có phần danh tiếng hơn cả Hoa Sơn phái. Vậy rất có thể Thạch Đạt Lang cũng đến đó. Nếu nàng tìm thấy tên Thạch Đạt Lang trong danh sách quan khách đến viếng Trúc Lâm cốc thì may mắn chừng nào ! Biết đâu ...

Nghĩ thế, Oa Tử vui vẻ gật đầu:

- Nếu tráng sĩ thấy tiểu nữ không đến nỗi bất tài thì xin vâng.

- Vậy hay lắm ! Xong tuần trà này ta lên đường thôi. Hành trình còn xa mà cô nương sức yếu ...Cô nương biết cưỡi ngựa không ?

- Dạ biết.

Sử Đà lấy tiền trả chủ quán rồi nhờ người đi thuê ngựa để Oa Tử cưỡi, còn hắn và mã phu đi bộ dẫn đường. Hắn gọi Giang. Thằng bé chạy từ trên đồi xuống, thở hổn hển:

- Các vị đã đi rồi à ?

- Ừ, chúng ta đi thôi kẻo tối.

Dọc đường, Sử Đà hỏi Giang làm gì trên đồi. Giang đáp:

- Cháu xem người ta đánh bạc. Có đến chục người quây quần dưới gốc cây cãi nhau ỏm tỏi.

Gã giữ ngựa cười:

- Chắc lại mấy tên kiếm khách giang hồ đó chứ gì ! Chẳng có việc gì làm, chúng tụ nhau lại sát phạt.

- Họ kiếm ăn bằng nghề đó à ?

- Vậy còn khá. Có đứa đi cướp đường, cướp chợ, bắt cóc trẻ con đòi tiền chuộc, chẳng chuyện gì tệ hại đến đâu mà chúng không làm !

- Sao quan quân không bắt ?

- Bắt không xuể. Lính tuần thì ít mà chúng thì đông, nhiều đứa võ nghệ khá lắm, lính cũng nể.

Giang đỏ mặt chen vào:

- Này ông kia ! Sao ông vơ đũa cả nắm vậy ? Kiếm khách giang hồ cũng có người tốt kẻ xấu chứ ! Thầy tôi là một kiếm khách giang hồ đấy !

- Vậy hả ? Chả trách mày bênh thầy mày !

- Thầy tôi không phục vụ ai nhưng là một kiếm khách có danh dự.

- Thầy mày thuộc môn phái gì ?

- Không biết.

- Thằng này lạ ! Đồ đệ mà không biết tông môn.

Rồi quay sang Sử Đà, gã giữ ngựa tiếp:

- Bây giờ ai cũng tự cho mình là kiếm sĩ. Khách quan cứ đi trên đường này một lúc là thấy hàng chục kẻ mang kiếm nghênh ngang, chẳng hiểu có tài cán gì không nhưng cũng làm nhiều người e ngại !

Gã liếc nhìn Giang:

- Đến như cái thằng bé này cũng vậy. Trông có khác gì con rận vác cái tăm ! Họ cứ tưởng đeo gươm là trở thành kiếm sĩ, có biết đâu không bỏ thây dọc đường thì cũng chết đói.

Nghe giọng khinh mạn của gã mã phu, Giang tức đỏ mặt. Nhưng nghĩ đến chuyện bị tên đánh xe ném xuống đất, nó yên lặng quay đi không phản ứng.

Toán người ngựa đi theo đường chính đến tận bến đò sông Kizu. Tới bến, Sử Đà bảo Giang:

- Bé con ! Chúng ta chia tay nhau ở đây. Chiều rồi, chẳng bao lâu nữa mặt trời lặn.

Mày nên để ý đừng làm mất ống thư, và cũng đừng la cà dọc đường.

Giang ngạc nhiên:

- Thế còn cô nương ? Cô nương đi với em chứ ?

Oa Tử xuống ngựa vội nói:

- Xin lỗi, ta quên không cho em biết. Ta đi theo tráng sĩ này đến Trúc Lâm cốc.

Giang sững sờ, đứng lặng. Oa Tử tần ngần nói với nó:

- Thôi em đi. Hãy bảo trọng lấy thân.

Giang gắng gượng hỏi:

- Cô nương định tìm ai, tên gì ? Cho em biết được không ?

Nhưng Oa Tử không trả lời. Nàng lẳng lặng bước xuống thuyền, vẫy tay từ biệt.

Giang buồn rầu nhìn người lái đò chở cả bọn sang bên kia sông. Nó nhặt một viên đá ném thia lia trên mặt nước. Viên đá tưng lên vài lần rồi chìm, để lại những vòng tròn theo nhau lan rộng ra xa, xa dần, trên mặt sông sáng loáng dưới bầu trời chiều đỏ rực.

Chương 15: Quang Minh hội

Trong giới võ lâm, Quang Minh không phải là một bang hội nhỏ. Từ lâu, hội này đã từng làm chấn động gian hồ nhờ tuyệt kỹ trường thương và những thế mâu, bổng không ai cự nổi. Tổng doanh hội đặt tại khu rừng thông rậm rạp trên triền núi Abura, trong một ngôi đền kiến trúc uy nghi, cổ kính. Xung quanh đền, vách đá sừng sững bao bọc. Trùng trùng điệp điệp, những gốc tùng vạn niên vỏ xù xì, ba người ôm không xuể, cành lá xum xuê xanh biếc, ngọn vươn cao vút, chứng tích thiên nhiên của bao nhiêu triều đại phế hưng, như làm tăng thêm vẻ hùng vĩ của cảnh trí.

Vào những hôm trời u ám, cả khu đền lờ mờ ẩn hiện, bập bềnh trôi trong màn sương mù dày đặc, khiến khách du đứng trước cảnh bao la huyền bí ấy không khỏi ngơ ngẩn xuất thần, thấm thía nỗi hèn mọn của kiếp nhân sinh phù ảo.

Trước đây, rừng này trong thời đại Nara đã nổi danh nhờ một nhà tắm công cộng do một lãnh chúa phu nhân cho xây cất. Nhưng công trình ấy ngày nay chẳng còn gì, họa chẳng chỉ lưu lại chút di tích trên nền đá xanh giờ đây rêu và cỏ dại đã phủ gần kín.

Khách thập phương vãn cảnh đền Quang Minh một phần vì vẻ đẹp hùng vĩ hoang sơ ấy, một phần cũng vì muốn được tận mắt chiêm ngưỡng ngôi đền danh tiếng, nhưng ít ai biết nơi đó còn là chỗ tàng trữ một kho cổ ngoạn vô giá có một không hai trong nước Nhật.

Thạch Đạt Lang leo vội những bậc đá gồ ghề và trơn trượt trên triền núi Abura trước khi trời tối. Hắn đảo mắt nhìn quanh, thấy rải rác lẩn khuất trong rừng thông rất nhiều đền miếu. Sau cơn mưa lớn vừa qua, những tàn lá thông xanh biếc hẳn lên giữa đám thân cây nâu sẫm vững vàng ngạo nghễ trên sườn núi. Vài vạt nắng hoàng hôn còn đọng lại trên những đỉnh đồi cao làm ửng vàng cả một vùng sơn lĩnh.

Thạch Đạt Lang chú mục nhìn những ngôi đền, tuyệt nhiên không thấy có doanh trại gì chứng tỏ đông người cư trú nên đồ chừng đền Quang Minh phải ở sâu trong rừng rậm. Đi một quãng xa chừng hơn dặm nữa, hắn thấy hiện ra tam quan một ngôi chùa cũ kỹ. Dưới mái, một bảng gỗ khắc ba chữ “Quang Minh Tự” dát vàng trên nền gỗ gơn then, tuy lâu ngày sương tuyết đã làm loang lổ, nhưng nét chữ vẫn còn xương kính. Hắn bước qua tam quan nhưng nghĩ sao lại trở gót, ngước mắt lên đọc kỹ thì thấy là Quang Hân chứ không phải Quang Minh. Hai chứ Minh và Hân chỉ khác nhau vài nét, trong lúc vội vàng và nóng lòng muốn được tiếp kiến, hắn đã trông nhầm, tưởng đây là đền Quang Minh, tổng doanh của Quang Minh hội.

Thạch Đạt Lang tần ngần đứng trước tam quan, tự trách mình thiếu điềm tĩnh.

Một nhà sư ở trong chùa đi ra, dừng lại nhìn hắn soi mói. Hắn vội vã bỏ nón thi lễ và hỏi:

- Tại hạ muốn được thỉnh giáo vài điều.

- Thí chủ muốn hỏi điều gì ?

- Phải chăng đây là Quang Hân tự ?

- Phải. Nhà sư vừa gật đầu vừa chỉ tay lên bảng gỗ. Có viết rõ ràng trên bảng này.

- Tại hạ được biết đền Quang Minh cũng ở gần đây, sao không thấy ?

- Đền Quang Minh ở phía sau chùa. Chắc thí chủ đến dự thí võ ?

- Dạ phải. Tại hạ quả có ý ấy.

- Vậy bần tăng có lời khuyên, thí chủ nên bỏ qua ý ấy đi.

- Sao thế ?

- Nguy hiểm lắm ! Bần tăng thấy chỉ người què mới đến xin Phật độ cho lành, nhưng người lành mấy ai muốn thành què bao giờ !

Thạch Đạt Lang mỉm cười. Nhà sư này trông khỏe mạnh và ưa hí lộng, khác với những nhà sư khác. Có lẽ vị tăng này đã tiếp xúc với nhiều người đến xin thí võ tại đền Quang Minh, thấy kết quả không hay nên khuyên vậy. Nhà chùa là nơi hoằng dương Phật pháp, phổ độ chúng sinh, dĩ nhiên chăm lo Phật sự là công việc chính, nếu có dùng đến võ công cũng chỉ là điều bất đắc dĩ.

Nhà sư giảng giải:

- Vô Niệm đại sư, vị tiền bối sáng lập ra Quang Minh hội, nay đã già, lẫm cẫm.

Trước đây, người thường giao du với Trúc Mộ Chính cùng bằng hữu của đại kiếm sĩ này nên có thời kỳ quan tâm đến võ học. Ấy cũng chỉ vì người muốn bảo vệ đền chống lại quân cường đạo nên đã nghiên cứu khai triển một vài thế võ dùng thiền trượng để tự vệ mà thôi. Nhưng bây giờ tuổi đã cao, người trên tám mươi nên không còn minh mẫn và cũng chẳng muốn tiếp khách thập phương nữa chứ nói gì đến chuyện truyền dạy võ học.

Về cách sử trường thương, người không còn để ý gì đến.

Nhà sư tiếp:

- Vì thế thí chủ chẳng nên tìm hiểu thêm làm gì. Người đã ở ẩn, thí chủ chắc không được tiếp kiến đâu, mà có tiếp kiến cũng vô ích !

Trông dáng điệu và nghe cách nói của nhà sư, rõ ràng là vị tăng này có ý ngầm bảo Thạch Đạt Lang đi cho khuất mắt. Nhưng không lẽ dụng công tới đây, hắn lại để bị đuổi dễ dàng như thế ! Bèn khẩn khoản:

- Tại hạ cũng có nghe nói đến Vô Niệm đại sư, nhưng được biết vị thủ tòa hiện nay là Vô Tướng cũng là tay cao thủ. Người tuy chưa phải là chưởng môn nhưng đã thấu triệt mọi nguyên tắc căn bản và bộ pháp của tôn phái. Tuy đã thâu nhận nhiều đồ đệ nhưng người không bao giờ từ chối chỉ dẫn cho bất cứ ai đến bái kiến ...

- Hừ ! Vô Tướng ... - Nhà sư nói với giọng khinh thường - Người ta đồn vậy chứ chưa chắc đã đúng. Thực ra Vô Tướng còn là đồ tử của viện chủ tệ tự, Ngộ Không thiền sư. Khi Vô Niệm tỏ ra có những triệu chứng tinh thần không được mẫn duệ, bản viện chủ thấy cần phải duy trì nên võ học mà người đã khổ công nghiên cứu với Vô Niệm trước kia, nên chọn Vô Tướng để truyền thụ và vận động đặt lên chức thủ tòa.

Thạch Đạt Lang gật đầu:

- À ra thế !

- Vậy thí chủ còn muốn thí võ nữa chăng ?

- Mô Phật ! Tại hạ cất bao nhiêu công lao tới đây ...

- Vậy tùy thí chủ.

- Xin đại sư cho biết phải đi đường nào mới tới đền, rẽ phải hay trái ?

- Không cần rẽ bên nào cả, cứ xuyên qua tệ tự là nhanh nhất. Nhưng bây giờ sắp tối rồi, thí chủ nên vào hậu liêu nghỉ, ngày mai đến cũng không muộn.

Thạch Đạt Lang cảm ơn, theo nhà sư vào hiên chùa ngồi, giở cơm nắm và thức ăn nguội ra dùng bữa tối.

Sáng hôm sau, mặt trời vừa ló dạng, Thạch Đạt Lang đã sẵn sàng. Đi qua sân chùa nhìn nhà kho, củi chất ngổn ngang, khói bếp bốc cao, một gia nhân đang quảy nước tưới cây, hắn thấy khung cảnh chẳng khác gì một trang trại nhỏ vùng quê. Sau sân là mảnh vườn rộng chừng hai ba sào, giồng đủ thứ rau đậu.

Bước xuống vườn, men theo những luống cải tươi tốt, sương đêm còn đọng lóng lánh trên những tàu lá xanh non, Thạch Đạt Lang thấy lòng lâng lâng khoái hoạt, sức sống dạt dào luân lưu trong cơ thể. Cuối vườn, một ông lão cắm cúi cào cỏ, vuông khăn vải sô quấn quanh đầu giữ cho tóc khỏi xõa. Ông lão chăm chú làm việc, Thạch Đạt Lang trông không rõ mặt, chỉ thấy đôi lông mày dài rủ trắng như tuyết. Ngoài tiếng răng cào thỉnh thoảng chạm phải hòn đá kêu “cạch” khô khan, cảnh vật yên lặng như tờ, không nghe tiếng động gì khác.

Thạch Đạt Lang định hỏi thăm, nhưng thấy ông lão mãi việc quá lại thôi. Khi đi ngang, hắn đột nhiên thấy ông liếc mắt nhìn chân mình, tuy đầu vẫn cúi và tay vấn đều đều cào cỏ. Một sức mạnh vô hình toát ra từ tia mắt khiến hắn giật mình nhảy tránh sang bên. Tia mắt bất ngờ có uy lực dũng mãnh tựa tiếng sét xé mây đen trong những đêm giông bão. Hắn cảm thấy nhột nhạt khó thở, thân thể nóng ran như vừa thoát khỏi một ngọn lửa táp tới hay như vừa tránh kịp một thế kiếm giết người phạt ngang hạ chỉ.

Phản ứng tự nhiên khiến hắn để tay lên đốc kiếm. Nhìn quanh chẳng có ai, chỉ có lão làm vườn vẫn yên lặng đưa cây cào đều đều bên luống rau, hắn ngạc nhiên kinh sợ. Thế này là thế nào ? Hắn không mơ ngủ, sau một đêm nghỉ ngơi, đang thoải mái dễ chịu, công lực tràn trề, tự nhiên trong một sát na, kinh mạch như đảo lộn. Lạ ! Lạ quá !

Thạch Đạt Lang yên lặng bỏ đi, trong lòng phân vân không biết sao giải đáp.

Tiếp tục đi về hướng nam, một lúc sau quả nhiên thấy đền Quang Minh hiện ra trước mặt. Trước cổng đền, hắn đứng suy nghĩ:

“Theo lời vị tăng thì tất Vô Tướng phải còn trẻ. Vô Niệm đã già và lẫn, không quan tâm gì đến võ công nữa. Nhưng xem ra lão già làm vườn là tay ghê gớm lắm chứ không vừa. Hay là ... hay là ...” Kinh nghiệm quý báu vừa qua bảo hắn phải thức tỉnh đề phòng mọi bất trắc.

Thạch Đạt Lang giơ tay đập cửa hai lần không ai trả lời. Ngó quanh thấy chiếc khánh treo trong góc, hắn cầm dùi gióng lên mấy tiếng.

Một lát có tiếng chân người ra mở cổng. Đấy là một tăng nhân còn trẻ, áo màu vỏ dà vắt trên vai để lộ cánh tay trần lực lưỡng, bắp thịt cuồn cuộn. Nếu là võ sĩ dưới trướng một lãnh chúa nào đó, nhà sư này tất phải làm đến chức đoàn trưởng.

Chắc đã quen tiếp xúc với những người như Thạch Đạt Lang hàng ngày đến ghi danh xin thí võ, nhà sư thản nhiên hỏi:

- Thí chủ là võ sĩ ?

- Phải.

- Thí chủ muốn điều gì ?

- Tại hạ muốn được bái kiến vị thủ tòa.

- Vậy vào đi.

Tăng nhân đứng tránh sang bên, đưa tay chỉ về phía khạp nước, ngầm bảo phải rửa chân trước khi lên đại sảnh. Một ống tre dẫn nước chảy lanh tanh không ngớt xuống khạp. Bên cạnh để cái gáo cũng làm bằng tre vàng óng. Xung quanh la liệt dép cỏ, cũ có mới có, nhiều đôi đã mòn vẹt và bám đầy bùn đất.

Rửa chân xong, tăng nhân đưa Thạch Đạt Lang qua dãy hành lang mờ mờ đến một căn phòng nhỏ bảo ngồi đợi. Mùi hương trầm thoang thoảng trong không khí, vài tàu tiêu in bóng mờ ảo lên nền giấy tàu bạch phất khung cửa sổ gió thổi kêu phần phật. Ngoài cách ăn nói hơi khiếm nhã của tăng nhân trẻ tuổi, cảnh đền thật tịch mịch chẳng có gì khác thường.

Tăng nhân trở lại, mang theo một quyển sổ, một cây bút và nghiên mực, hách dịch nói như người lớn bảo trẻ con:

- Ghi danh tính, sinh quán và môn phái vào đây !

Thạch Đạt Lang nhìn bìa sổ thấy ở trên đề “Danh sách võ sinh”, ở dưới là tên cùng chữ ký của vị tăng chấp quản. Hắn mở sổ, trang nào cũng đặc những chữ. Đến gần cuối, thấy còn chỗ trống, Thạch Đạt Lang theo cách những người tới trước, điền tên và sinh quán vào. Nhưng về môn phái, không biết nên viết ra sao, hắn chỉ viết sơ sài là đã thụ huấn môn đánh côn của thân phụ từ khi còn nhỏ. Hắn không có sư phụ, tự luyện tập lấy theo sách vở và theo thiên nhiên, rồi kết luận:

“Tiểu nhân còn phải học hỏi nhiều, muốn được các bậc cao minh chỉ giáo”.

Nhà sư đứng bên theo dõi những điều hắn viết, cắt ngang:

- Thí chủ hẳn rõ bản hội chuyên về trường mâu, danh tiếng lừng lẫy thiên hạ.

Ngay trong những cuộc đua tài giữa võ sinh hay môn đệ, những thế côn bổng cũng rất nguy hiểm, mất mạng là thường. Đao thương không có mắt, thí chủ hãy suy nghĩ kỹ trước khi giao đấu và nên đọc những lời cảnh cáo trên đầu sổ.

Thạch Đạt Lang lật trang đầu, quả nhiên thấy ghi rõ trong phần giới luật:

“Võ sinh phải nhận hết trách nhiệm nếu bị thương tích hay tử vong khi giao đấu”. Hắn mỉm cười:

- Điều này dĩ nhiên rồi. khi chấp nhận giao tranh, nếu có xảy ra chuyện gì, trách nhiệm còn quy về ai nữa ?

- Vậy tốt ! Thí chủ hãy theo ta đến nơi giảng võ.

Võ sảnh rộng mênh mông. Thạch Đạt Lang chưa bao giờ thấy nơi luyện võ nào lớn như thế. Hai hàng cột chu vi có đến mấy sải tay chạy dài suốt dọc võ sảnh, đỡ những rầm nhà chạm trổ tinh vi, thếp vàng trên nền gỗ sơn then bóng lọng. Ven tường để nhiều giá binh khí cắm toàn trường mâu, mũi mâu đúc thành hình đầu rồng, đuôi rắn và đủ các loại thú cổ quái.

Thạch Đạt Lang không phải là võ sinh độc nhất trong sảnh. Khi hắn đến, trên sàn đã có chừng chục người khác ngồi đợi sẵn. Nhiều võ sinh trang phục theo lối kiếm sĩ và tăng lữ đứng nghiêm chỉnh phía sau, chắc là làm nhiệm vụ giám sát. Tất cả đều chăm chú theo dõi cuộc đấu giữa hai người đeo mặt nạ và sử dụng trường côn nên chẳng ai lưu ý đến Thạch Đạt Lang được nhà sư dẫn vào chỉ chỗ cho ngồi trong góc.

Yên vị rồi, Thạch Đạt Lang nhìn lên tường. Tấm bảng cáo thị treo nêu rõ nếu ai muốn dùng binh khí thật cũng sẽ có người bồi tiếp, nhưng thông thường trong khi tỷ thí, chỉ mộc côn được sử dụng mà thôi. Tuy là mộc côn, nhưng loại này cứng và nguy hiểm không kém gì côn sắt, nếu trúng có thể làm gãy tay chân hay đưa hồn về chín suối như bỡn.

Hai đối thủ quần thảo một hồi, một người trúng thương, ôm đùi tập tễnh bước ra khỏi vòng chiến. Gã lê chân vào góc phòng, ngồi phịch xuống, mặt mày nhăn nhó.

Đấu thủ thắng trận bỏ mặt nạ ra. Tiếng gã vang lên sang sảng:

- Người kế tiếp !

Đây có lẽ là một trong những tăng sĩ cao thủ của Quang Minh hội, giữ chức vụ trắc nghiệm và tuyển chọn võ sinh. Thân hình gã lực lưỡng trong bộ quần áo chẽn màu đen, hay tay giữ chặt một cây côn gỗ sồi dài chừng hai sải. Gã đưa mặt gườm gườm nhìn mặt từng người ngồi ở dưới sàn, không giấu vẻ kiêu ngạo tự đắc.

Một võ sĩ tuổi trung niên thấy hắn đưa mắt nhìn mình, vội vàng đứng dậy nhận thách đấu. Tráng sĩ xắn tay áo, dùng dây da buộc gọn cửa tay lại, điềm tĩnh đến bên giá binh khí chọn một cây trường mâu rồi thong thả bước vào đấu trường, trong khi tăng sĩ nọ vẫn lăm lăm cây côn gỗ đứng đợi.

Theo lệ, hai bên cúi đầu chào nhau trước khi giao chiến. Nhưng võ sĩ nọ vừa cúi đầu xong thì nhanh như chớp, cùng với tiếng thét làm rung động cả những giá binh khí đặt tại võ sảnh, tăng sĩ đã giơ côn bổ một nhát như trời giáng lên đầu đối thủ. Võ sĩ nọ ngã gục, tắt thở ngay đương trường, máu và óc phọt tung tóe.

Gia nhân chạy đến khiêng xác chết đi, lau rửa vội vã không nói một lời. Tăng sĩ đứng trong góc phòng lại tiếp tục cất giọng sang sảng:

- Người kế tiếp !

Gọi đến lần thứ hai, không ai động đậy. Cả võ sảnh im lặng như tờ. Thạch Đạt Lang tưởng vị tăng sĩ đó là Vô Tướng đại sư, thủ tòa Quang Minh hội, nhưng sau hỏi ra thì không phải. Một võ sinh cho biết đó là Cổ Bất Úy, một trong thất trụ của viện chấp pháp, vô địch thiết côn và rất tàn nhẫn. Vô Tướng đại sư không bao giờ phải ra chiêu vì từ trước đến nay chưa có ai qua khỏi tay bảy vị đó.

Cổ Bất Úy cầm ngang cây côn, đứng dõng dạc hỏi:

- Còn ai nữa ?

Tăng nhân chấp quản lấy danh sách võ sinh, nhìn mặt, gọi tên từng người.

- Xin lỗi, vãn sinh hôm nay không sung sức, để khi khác.

- Anh kia ?

- Vãn sinh xin miễn.

Danh sách đọc lên, ai cũng thoái thác. Cuối sổ, viên chấp quản đọc tên và chỉ tay vào Thạch Đạt Lang.

- Còn thí chủ thế nào ?

- Xin tùy tiện.

- Tùy tiện là thế nào ? Muốn giao đấu hay không ?

- Tại hạ muốn giao đấu.

Mọi con mắt đổ dồn cả vào Thạch Đạt Lang. Hắn khoan thai đứng dậy.

Cổ Bất Úy không còn ở trên đấu trường này. Gã đã lui vào phía trong võ sảnh, sau cây cột lớn đứng chuyện trò với nhiều tăng sĩ khác. Nghe có người nhận thách đấu, gã hơi bực mình, khó chịu:

- Chán thật ! Hay vị nào thay tại hạ bồi tiếp hắn đi !

- Thôi quý hữu gắng giải quyết nốt. Chỉ còn một người nữa thôi mà !

Bất đắc dĩ, Cổ Bất Úy uể oải bước ra, nhấc cây côn gỗ bóng loáng quen thuộc dựng ở góc phòng rồi đứng vào bộ vị.

Đột nhiên gã quay phắt người lại, rồi như để áp đảo đối phương, thét lên một tiếng ghê rợn, giơ cao cây côn đâm thẳng vào tường võ sảnh. Tường võ sảnh lát bằng gỗ dầy, tiếng gỗ vỡ nứt cùng với tiếng thét của Cổ Bất Úy khiến ai nấy giật bắn người. Trông ra, sức mạnh cây côn đã chọc thủng tường một lỗ to bằng cái bát !

Mọi người đều kinh hãi, duy Thạch Đạt Lang vẫn điềm nhiên như không, đứng bất động giữa sàn, hai tay cầm kiếm gỗ thủ thế. Cổ Bất Úy rút côn, di chuyển chậm chạp quanh Thạch Đạt Lang như mèo vờn chuột.

Có tiếng cười gằn phát ra gần cửa sổ, rồi một giọng nói vọng vào:

- Đồ ngu ! Nhìn cho kỹ ! Nó đâu phải là bức tường vô tri vô giác !

Cổ Bất Úy mắt vẫn dán vào Thạch Đạt Lang, quát:

- Ai đó ?

Nhưng tiếng cười lại nổi lên, thanh âm lần này trầm xuống vừa thương hại, vừa chế nhạo. Thấp thoáng ngoài song, làn tóc bạc phơ với đôi mày trắng như tuyết.

- Cổ Bất Úy ! Không xong đâu ! Hãy đợi Vô Tướng về xử trí.

Thạch Đạt Lang liếc mắt nhìn ra. Trong một sát na, hắn trông thấy đầu ông già làm vườn hồi sáng, nhưng ngay sau đó đã biến mất. Cảnh lại trở về tịch mịch.

Cổ Bất Úy phân tâm, hai tay nới lỏng cây côn, lòng hơi rung động. Thấy Thạch Đạt Lang vẫn đứng nguyên chỗ cũ, gã thốt một lời rủa ngắn, vận sức hai cánh tay vào cây côn quyết tâm tấn kích. Gã đổi bộ vị.

Thạch Đạt Lang xoay chuyển theo bước đi của Cổ Bất Úy, hai tay vẫn lăm lăm thanh kiếm gỗ nhưng không đổi vị trí. Hắn trầm giọng:

- Sẵn sàng !

Sự bình tĩnh của Thạch Đạt Lang làm Cổ Bất Úy nổi xung. Mắt gã lồi ra. Gã múa cây mộc côn, đâm dứ một chiêu, hai chân nhảy lên khỏi mặt sàn rồi hạ xuống ở một bộ vị khác, nhẹ nhàng như ánh trăng đùa sóng nước. Phải công nhận công phu của gã tuyệt luân, những thế côn của gã nhanh nhẹn và uy mãnh, địch thủ chỉ mất bình tĩnh một chút là có thể mất mạng như chơi.

Nhưng Thạch Đạt Lang không dại. Thế thủ kiếm của hắn không có gì khác thường, hay người ngoài trông vào tưởng thế. Hai tay giữ kiếm dọc trước mặt, thân hình hắn hơi lùn hơn đối phương một chút và không lực lưỡng bằng, nhưng điểm khác nhau chính là ở đôi mắt. Mắt Thạch Đạt Lang không chớp, sắt như dao, tinh như mắt chim cắt. Hắn đứng im nhìn địch thủ múa côn, tìm một điểm sơ hở.

Cổ Bất Úy không ngớt giương đông kích tây, phóng ra những hư chiêu làm phân tâm Thạch Đạt Lang, người mà gã coi như một đối thủ đáng sợ. Gã lắc đầu mấy cái để mồ hôi khỏi chảy xuống mắt hay để xua đuổi những lời cảnh cáo của ông già tóc bạc, không ai biết, nhưng mọi người đều thấy tinh thần gã bắt đầu rối loạn. Gã thay đổi cách cầm côn nhiều lần. Nhìn Thạch Đạt Lang vẫn đứng trơ trơ trong thế thủ kiếm, gã nghiêng mình đi rồi xuất kỳ bất ý, vung tay ngược lại dùng côn như một cây thương đâm thẳng vào ngực địch thủ trong một tiếng thét xung trận tựa trời long đất lở.

- Gi ...ết !

Không ai rõ chuyện gì xảy ra, chỉ thấy trong võ sảnh, tiếng vang chưa dứt, Cổ Bất Úy đã nằm dài sóng sượt, mặt úp sấp xuống sàn, ở vết kiếm chém trên lưng máu bắt đầu loang ướt đẫm hai bên áo. Cây côn gỗ cắm sâu vào tường trước mặt còn rung rung theo tiếng chân mọi người rầm rập chạy đến.

- Sao vậy ? Sao vậy ?

- Cổ Bất Úy nguy rồi ! Lấy thuốc, lấy thuốc rịt mau lên !

- Không kịp nữa rồi ! - Lão già ở ngoài hiên bước vào nói - Nếu ta biết là dùng thuốc mà chữa được, ta đã không khuyên hắn đợi Vô Tướng trở về !

Mọi người vội vàng xé tấm tăng bào bịt vết thương, không ai để ý đến Thạch Đạt Lang lầm lũi đi ra cửa.

Hắn sắp sửa xỏ chân vào dép thì ông già đầu bạc đã theo tới.

- Này thí chủ !

Thạch Đạt Lang quay lại:

- Tiền bối gọi hậu bối ?

- Phải. Bần tăng có vài điều muốn hỏi thí chủ.

Thạch Đạt Lang theo ông già đến một tăng phòng nhỏ sau đại sảnh, một phòng vuông vức, ngoài khung cửa vào độc nhất không còn lối nào khác. Sau khi đã phân ngôi chủ khách, ông lão cất tiếng:

- Đại sư thủ tòa đáng lẽ đích thân tiếp kiến thí chủ, nhưng rất tiếc hiện nay người đang vân du, có thể đến cuối tuần trăng mới trở về, nên bần tăng đại diện.

Thạch Đạt Lang cúi đầu:

- Đa tạ lão tiền bối. Hậu bối rất cảm kích về bài học quí hội đã ban, nhưng cũng xin lão tiền bối lượng thứ cho kết quả cuộc giao đấu xảy ra như vừa rồi ...

- Cõi nhân sinh vô thường, thí chủ để ý làm gì ! Hãy coi như là quả nghiệp.

- Thương thế Cổ Bất Úy ra sao, thưa lão tiền bối ?

- Hắn chết rồi.

Lời vị lão tăng không khác gì cơn gió lạnh tạt vào mặt Thạch Đạt Lang. Hắn nhắc lại:

- Chết rồi ?

Và lẩm bẩm “mô Phật” rồi cúi đầu đọc một lời cầu nguyện ngắn cho người quá vãng. Hắn thấy lòng buồn khôn tả.

- Thí chủ !

- Thưa lão tiền bối ?

- Thí chủ tên là Thạch Điền Đạt Lang ?

- Dạ phải.

- Thí chủ học võ công môn phái nào ?- Kẻ hậu bối không có sư phụ theo nghĩa thông thường như mọi người hiểu. Trước đây, lúc còn nhỏ, gia phụ chỉ cho một vài miếng côn quyền, sau đó nhờ có duyên may mắn, hậu bối có được đọc sách rồi cứ theo sách mà luyện kiếm giữa cảnh núi cao sông rộng. Vì vậy có thể nói võ công của hậu bối đã được đào luyện trong thiên nhiên.

Vị lão tăng trầm ngâm một lúc rồi gật gù:

- Có lẽ thí chủ đã đi đúng đường. Công lực dồi dào quá !

Cho đó là một lời khen, Thạch Đạt Lang sượng sùng đỏ mặt:

- Lão tiền bối quá khen ! Kẻ hậu bối còn phải học nhiều !

- Không ! Không ! Ý bần tăng không phải vậy mà chỉ muốn nói công lực thí chủ quá mạnh, cần kiềm chế bớt. Cường bất khiển tất nhược.

Thạch Đạt Lang ngạc nhiên, nhướng mắt nhìn lão tăng.

- Thí chủ còn nhớ lúc gặp bần tăng ở vườn rau sáng nay không ?

- Dạ nhớ.

- Trông thấy bần tăng, thí chủ nhảy vội sang bên để tránh ?

- Đúng vậy.

- Tại sao thí chủ làm thế ?

- Hậu bối cũng không rõ. Bấy giờ, cảm thấy có một sức mạnh vô hình đe dọa, hậu bối đã phản ứng tự nhiên. Có lẽ vì tự vệ, cũng như người tránh một thế kiếm ...

Lão tăng mỉm cười:

- Trái lại, khi thí chủ cách bần tăng chừng một trượng, chính bần tăng cảm thấy không khí ngột ngạt, sát khí bừng bừng phát ra từ ánh mắt cũng như dáng đi của thí chủ nên bần tăng đề phòng. Một nông dân chất phác nào đó đi qua chắc chỉ nhìn bần tăng như một kẻ làm vườn vô hại, nhưng thí chủ lại khác. Tham vọng cùng với nội lực hết sức sung mãn của thí chủ không kềm chế tuôn ào ào như thác lũ, gặp bần tăng bị dội lại nên thí chủ tưởng bần tăng sắp động thủ ...

Thạch Đạt Lang nghe nói, không ngờ lão tăng này là một kỳ nhân về khí công.

Khả năng cảm nhận và phản xạ đã đạt tới mức tinh nhuệ lạ thường. Hắn thấy mình chỉ là tên học trò ngờ nghệch. Nhìn lão tăng, trên vẻ mặt quắc thước vẫn còn phảng phất nụ cười nửa bí mật, nửa từ bi, hắn không đoán được trong lòng vị này đang nghĩ gì.

- Đa tạ lão tiền bối đã chỉ điểm. Dám xin lão tiền bối cho biết quý tính cao danh và hiện giữ chức vụ gì trong Quang Minh hội ?

- Bần tăng không thuộc Quang Minh phái. Bần tăng là Ngộ Không, trú trì Quang Hân tự.

- À ra thế !

- Vô Niệm với bần tăng là chỗ cố cựu. Trong những thập niên trước, người và bần tăng có lưu tâm đến võ học và hợp sức nghiên cứu về thương pháp. Nhưng bây giờ bần tăng nguyện không động đến đao thương nữa.

- Vậy ra thủ tòa Quang Minh hội, Vô Tướng đại sư chính là đồ tử lão tiền bối ?

- Nói thế cũng được. Vì không muốn sử dụng võ khí vào bất cứ việc gì, nhưng lại tiếc không muốn để mai một nền võ học đã được Vô Niệm khổ công tìm tòi, bần tăng có luận với Vô Tướng nhiều lần về những yếu quyết của thương pháp, vì xét ra hắn là người có căn bản nhất.

- Hậu bối thật vô lễ, nhưng muốn xin được tá túc tại quý tự ít lâu, chờ Vô Tướng đại sư trở lại.

- Thí chủ định tranh phong với hắn ?

- Hậu bối từ xa tới đây vẫn có ý muốn được người chỉ giáo.

Ngộ Không hòa thượng lắc đầu:

- Vô ích ! Thí chủ không có gì phải học ở Quang Minh hội cả.

- Thật ư ?

- Trong cuộc tỷ võ vừa rồi, thí chủ đã nhận thấy hết những yếu quyết về việc sử thương của Cổ Bất Úy. Nếu còn muốn biết thêm gì nữa, thí chủ cứ nhìn vào mắt bần tăng đây.

Ngộ Không phóng mục quang thẳng vào Thạch Đạt Lang, mắt mở lớn như lòi ra đằng trước. Thạch Đạt Lang chăm chú nhìn hai đồng tử Ngộ Không lấp lánh như sao, ánh mắt đỏ tía tựa hai cục than hồng, dần dần đổi ra màu xanh biếc, sâu thăm thẳm.

Ánh bích quang tỏa ra một ma lực kỳ lạ thu hút hết ý chí của hắn làm hắn tê dại, không khác gì một con ếch nhỏ đứng trước miệng một con rắn sắp nuốt mình. Hắn buồn ngủ, mê đi, cố gắng lắc mạnh đầu để tránh đôi mục quang giết người ấy. Tiếng cười hắc hắc của vị lão tăng nghe mơ hồ thoảng như hơi gió.

Tiếng cười vẫn chưa dứt thì một chú tiểu từ cửa ngoài bước vào, ghé tai vị sư già nói nhỏ. Ngộ Không khẽ đáp:

- Được, con cứ mang vào đây.

Chú tiểu đi ra, bưng vào một liễn cơm, đũa bát và một đĩa dưa muối để trên cái khay đặt lên kỷ. Vị sư già xới cơm ra bát:

- Thí chủ dùng tạm. Cơm nhà chùa đạm bạc nhưng ai đến vãn cảnh cũng được tệ tự đãi một bữa cơm chay. Đó là thường tình chứ không phải biệt lệ gì, xin thí chủ đừng bận tâm.

Thạch Đạt Lang sực tỉnh, đưa tay áo lau mồ hôi, nhìn vị sư già thấy trên nét mặt tuy thản nhiên nhưng thoáng điểm một chút gì giễu cợt.

- Đây là dưa leo và khổ qua muối chua. Ngon lắm. Món đặc biệt của tệ tự.

Vị sư già cười nhẹ, tiếp:

- Nổi tiếng vùng này đấy ! Thí chủ từ xa đến chắc không rõ chứ ở tệ tự nhiều người làm khéo lắm. Họ gọi là dưa muối Quang Hân. Khác với những cách muối khác là có thêm chút húng quế và ớt đỏ, nhiều ớt đỏ ...

Thạch Đạt Lang nói mấy tiếng cảm ơn và cầm đũa. Trong khi ăn, hắn vẫn cảm thấy mục quang sắc như dao và mạnh như kiếm thép của vị sư già phóng thẳng vào mình. Kinh mạch hắn nhộn nhạo khó chịu, chẳng biết đó là sức phản xạ mãnh liệt của chính ý chí hắn hay tạc lực ghê gớm của bậc kỳ nhân ngồi trước mặt. Thạch Đạt Lang cắn một miếng vào quả dưa, tiếng cắn ròn tan khiến hắn có cảm tưởng như nghe mũi thương đâm qua lần giáp sắt hay như một thoi quyền đánh vào mặt, khiến những đốt xương trong đầu hắn nứt rạn.

Rời khỏi Quang Minh hội, dư vị món dưa muối vẫn còn tê tê trên đầu lưỡi, Thạch Đạt Lang không quên được sự thật phũ phàng. Vị cay đắng của ớt đỏ muối với khổ qua nhắc hắn biết hắn đã thua. Bước nhanh dưới những vòm lá rậm xanh đen của hàng bách cổ thụ che khuất cả ánh mặt trời chiều đang xuống, Thạch Đạt Lang tự nhủ, chua chát:

“Ngoài khung trời này còn có những khung trời khác, cái ta hiểu thật là nông cạn. Ta đã thắng bên ngoài, nhưng bên trong, phần tâm ý ...” Một con nai nhỏ nghe tiếng chân người, sợ hãi vùng chạy, lẩn vào trong bóng tối của khu rừng sâu thẳm. Sực nghĩ đến Giang, Thạch Đạt Lang quay gót theo đường cũ trở lại đền Quang Minh. Trong đền đã lên đèn, tăng chúng đi lại vội vã, có vẻ chưa hết xúc động sau biến cố vừa qua. Thạch Đạt Lang gọi cổng, đứng chờ một lúc lâu mới thấy một nhà sư bước ra. Nhà sư giật mình khi nhận ra hắn trong bóng tối chập choạng.

- Thí chủ ...thí chủ quên gì chăng ?

- Tại hạ quên một điều, xin quý tự vui lòng giúp. Ngày mai hoặc ngày kia, nếu có ai đến tìm, quý tự bảo giùm là tại hạ tới trọ Ở khu bờ hồ Sarusawa. Chỗ đó nhiều phạn điếm nhưng chắc tìm cũng không khó.

- Được !

Nghe lời đáp cụt lủn, Thạch Đạt Lang không yên bụng. Hắn thêm:

- Người tìm tại hạ là một đứa trẻ mươi, mười hai tuổi. Nó tên Giang. Phiền quý tự chỉ dẫn tường tận cho.

Thạch Đạt Lang trở lại khu rừng, theo đường mòn xuống núi. Hắn không thoải mái, bực dọc với chính mình. Tuy là chuyện vặt, nhưng rõ ràng việc này chứng tỏ tâm trạng bối rối của hắn sau khi bị thua vị sư già mày trắng. Hắn chưa đủ bình tĩnh, quên cả những chuyện cần phải làm, chưa đủ trưởng thành chấp nhận lẽ hơn thua, chưa phá được sai lầm của chấp ngã thì làm sao đạt tới chân như, mục đích tối hậu của kiếm học?

oo Trong hai thập niên vừa qua, vùng hạ lưu sông Sai và bờ hồ Sarusawa phát triển mạnh. Nhà cửa, hàng quán đủ loại mọc lên như nấm. Mới đây, quan đầu xứ đặt bản doanh tại thị trấn gần đó nên số công sai, nha lại lui tới rất đông làm vùng này trở thành một xóm sầm uất.

Cũng như ở các nơi khác, hễ chỗ nào đông người là có người Tàu đến buôn bán.

Một người Tàu mở cửa hàng ăn chuyên nghề làm bánh bao mới đến lập nghiệp chừng một năm bây giờ đã phát đạt. Nghe nói bác ta học được nghề làm bánh chân truyền của Hồ Vọng Xương, mà bánh bao Hồ Vọng Xương thì nổi tiếng là ngon không ai bì kịp.

Thạch Đạt Lang đến xóm bờ hồ, trời đã gần khuya vậy mà hàng quán vẫn còn để đèn sáng trưng, khách ra vào tấp nập. Phạn điếm tuy nhiều, nhưng Thạch Đạt Lang kén kỹ, không dám đến những nơi có vẻ sang trọng. Hắn chẳng có bao nhiêu tiền; số bạc Tôn gia tặng đã vơi đi nhiều, tuy nhiên hắn lại muốn trọ Ở một nơi nào không đến nỗi xa mặt phố để đồ đệ dễ tìm. Thạch Đạt Lang mới ăn cơm ở chùa mà bây giờ đã đói vì phải đi một quãng khá xa từ trên núi xuống. Mùi xào nấu và mùi bánh bao vừa chín tời từ một quán ăn đưa ra ngào ngạt làm con tì con vị hắn cồn cào. Hắn đứng tần ngần dưới hiên quán ăn một lúc rồi mạnh dạn bước vào. Quán đông người, tửu bảo bận tíu tít. Thạch Đạt Lang gọi vài cái bánh bao, thấy cái nào trên mặt cũng có đóng dẫu chữ “Hồ ” đỏ chót. So với bữa cơm chay ăn hồi chiều, bánh tiệm này quả thật thơm ngon, chưa bao giờ hắn được thưởng thức bánh ngon như thế.

Thiếu nữ đứng rót trà, nhìn dáng điệu và y phục Thạch Đạt Lang khác lạ bèn hỏi:

- Qúy khách từ phương xa đến ?

- Phải.

- Qúy khách đã định trọ đâu chưa ?

Thạch Đạt Lang đương phân vân, nghe hỏi như người được gãi đúng chỗ ngứa, vội nắm ngay lấy cơ hội:

- Chưa, cô nương biết quán nào chỉ giùm. Ta ở xa đến, chẳng rõ đường lối.

- Vậy may quá. Tiểu nữ có người bà con, nhà còn dư căn phòng rộng vẫn thường để khách vãng lai đến tạm trú. Vừa dịp ông khách trước mới đi, phòng còn để trống, để tiểu nữ hỏi xem.

Rồi không đợi trả lời, nàng quay gót đi ngay, bước nhanh và gọn như bước chân chim. Lát sau, dẫn đến bàn một thiếu phụ, lông mày cạo nhẵn và vẽ cong như kiểu lông mày các phụ nữ đã xuất giá, có lẽ là vợ chủ quán. Thiếu phụ giới thiệu sơ sơ nhà trọ, tuy ở gần thị trấn nhưng yên tĩnh, thật hợp ý Thạch Đạt Lang. Hắn gật đầu ưng thuận.

- Nhà đó của bà chị ta. Qúy khách yên tâm không phải lo tiền trà nước đâu !

Thạch Đạt Lang đứng dậy, gọi tửu bảo trả tiền rồi theo thiếu phụ ra cửa.

oo Căn nhà có gác, ở lui vào phía trong một khu vườn nhỏ, trông ấm cúng và dễ thương lạ. Thiếu phụ gõ cửa, một tỳ nữ bước ra mở cổng. Hai người đàn bà nói nhỏ với nhau một hồi, thỉnh thoảng lại đưa mắt liếc về phía Thạch Đạt Lang. Hắn đứng xa xa, đảo mắt nhìn quanh. Gốc tùng cổ thụ bên hòn đá rêu phong, vài khóm cúc đầu mùa điểm hoa vàng lấm tấm bên hàng giậu tre thưa, gây cho hắn một cảm tình quyến luyến đặc biệt.

Người tỳ nữ mời Thạch Đạt Lang vào nhà và đưa lên phòng trên gác. Căn phòng đối với hắn thật quá sang trọng làm hắn hơi bối rối. Hắn thắc mắc không hiểu sao một gia đình vào loại khá giả như thế này lại cho khách ở trọ, bèn hỏi thì người nữ tỳ chỉ cười mà không nói.

Thạch Đạt Lang đã ăn chiều, thay quần áo đi tắm rồi vào phòng nằm nghỉ. Tuy nhiên, ý nghĩ này vẫn lởn vởn trong trí cho đến khi giấc ngủ đến nhẹ nhàng, ru hắn vào một thế giới bình yên không mộng mị.

Sáng hôm sau, Thạch Đạt Lang nói với ả nữ tỳ:

- Ta đang đợi một người nên muốn lưu lại đây một hai ngày, được không ?

- Xin quý khách tùy tiện. Chủ nhân đã đến kia !

Vừa hay một thiếu phụ trạc ba mươi tuổi bước vào, phong tư thanh nhã, nét mặt như hoa, dung nhan thật diễm lệ. Thạch Đạt Lang cúi chào, nhân thể hỏi lý do vì sao bà nhận khách trọ. Nữ lang che miệng cười chúm chím:

- Chẳng giấu gì quý khách, tiện thiếp là góa phụ. Tiên phu trước đây diễn tuồng Nô, khi còn sinh thời cũng có đôi chút danh tiếng. Thiếp sống một mình, nhiều phen sợ hãi, nhất là vào lúc này ở Nara, quân cường khấu dòm dỏ khắp nơi nên e ngại lắm.

Ngừng một chút, nữ lang lại tiếp:

- Như quý khách thấy đấy, trong vùng thiếu gì hồng lâu và quán rượu, nhưng bọn chúng vẫn chưa vừa lòng, thường tụ tập đến quấy nhiễu những tư gia lương thiện, nhất là những nhà không có đàn ông. Chúng gọi như thế là “đi thăm quả phụ”.

Thạch Đạt Lang mỉm cười:

- Thế ra phu nhân nhận khách trọ vì cần người bảo vệ đấy !

Nữ lang cười theo, cúi đầu e lệ:

- Quả vậy ! Trong nhà không có đàn ông, quý khách cứ tùy tiện ở bao lâu cũng được.

- Cảm ơn phu nhân. Xin cứ yên tâm, tại hạ còn ở đây ngày nào, sẽ cố gắng giữ an toàn cho phu nhân ngày ấy. Duy có điều, tại hạ đang đợi người thân, phiền phu nhân cho treo bảng ngoài cửa đề tên tại hạ để người quen dễ kiếm.Nữ lang hớn hở sai nữ tỳ viết tên khách vào mảnh giấy dán ra cổng ngoài.

Thằng Giang cả ngày hôm đó không tới, nhưng trưa hôm sau có ba người ăn mặc theo kiểu kiếm sĩ giang hồ đến thăm. Nữ tỳ ra mở cổng. Bọn này chẳng hỏi han gì, gạt phắt sang bên xăm xăm bước thẳng lên lầu. Thạch Đạt Lang trông bọn họ phảng phất quen mặt, mãi sau mới nhớ ra là những người hắn đã gặp tại võ sảnh đền Quang Minh khi tỉ đấu với Cổ Bất Úy.

Phân ngôi chủ khách xong, ba kiếm sĩ tranh nhau tâng bốc Thạch Đạt Lang:

- Đại ca thật là vô địch ! Tiểu đệ chưa bao giờ thấy ai giỏi như thế ! Không phải nịnh đại ca, chứ chuyện vừa rồi lọt ra giang hồ thì Quang Minh chỉ còn nước đeo mo vào mặt.

- Phải ! Phải ! Đại ca là khách phương xa mà chỉ một nhát kiếm đã hạ đệ nhất cao thủ của thất trụ Quang Minh hội. Chà chà ...

Hắn vừa nói vừa múa tay diễn lại thế kiếm của Thạch Đạt Lang.

- Đại ca biểu diễn chiêu đó vô song, không tiền khoáng hậu.

- Đúng là thánh kiếm !

- Lại còn trẻ nữa chứ ! Nhất ! Nhất !

- Phái lạc thảo võ lâm chúng đệ mới được biết đến phương danh lần này là lần đầu, rất lấy làm bội phục !

Thạch Đạt Lang nghe mà đỏ mặt. Hắn ngượng nghịu không biết đáp ra sao và cũng không biết đáp vào lúc nào nữa vì cả ba người kia tranh nhau tán tụng không ngớt miệng. Kẻ nói, người ăn bánh uống trà xì xụp, vụn bánh vãi tung tóe quanh chỗ ngồi.

Chờ cho cả bọn nói đã chán, Thạch Đạt Lang mới từ tốn hỏi danh tính. Một người xem chừng là đàn anh trong đám vội lên tiếng:

- Ấy quên ! Tiểu đệ tên là Thang Mộc, phục thị dưới trướng quan đầu xứ Nhiễm Chúc. Tên này là Châu Toàn Thông.

Rồi hất hàm về phía người thứ ba - Còn tên kia là Hoàng Dung Am, ba đời lạc thảo, bây giờ vẫn đói rách. Anh em cả mà, đại ca !

Thạch Đạt Lang tự hỏi không biết bọn này có mục đích gì, sao không nói ra mà cứ quanh co mãi. Hắn hỏi thẳng:

- Tại hạ đoán các vị đến đây chắc phải có chủ ý. Vậy xin cho biết cao kiến.

- Cao kiến mẹ gì ! Muốn mời đại ca nhập đảng mà.

Nhưng người có dáng đàn anh tên Thang Mộc trừng mắt nhìn, gạt đi và nói:

- Thật ra bọn tiểu đệ phải có mục đích chứ ! Chả là anh em tiểu đệ có dự tính tổ chức một màn thí võ dưới chân đồi Kasuga để mời bách tính đến coi, trước mua vui đánh cuộc, sau để tìm danh thủ võ lâm. Võ đài đã dựng xong rồi, nhưng bọn đệ tự thấy tài còn kém cỏi, nếu chẳng may bị thua thì bao nhiêu tiền bạc thành nước lã ra sông hết.

Thấy Thạch Đạt Lang vẫn ngồi im, hắn tiếp tục:

- Bọn đệ muốn mời đại ca hợp tác. Nếu đại ca bằng lòng thì sẽ chia tiền lời đánh cá, ngoài ra bao nhiêu phí khoản ăn uống, cư trú, bọn đệ sẵn sàng bao biện hết. Đại ca thử nghĩ coi, với tài sức của đại ca thì có lợi cho cả đôi bên, bọn đệ có tiền uống rượu mà đại ca cũng không phải lo độ nhật.

Thạch Đạt Lang cười khẩy:

- Nếu đó là những điều các vị tính toán thì chẳng nên bàn thêm nữa làm gì. Tại hạ không lưu tâm.

- Sao vậy ?

Thang Mộc ngạc nhiên hỏi:

Sự phẫn nộ của Thạch Đạt Lang thình lình nổ tung ra như tiếng sét. Hào khí bừng bừng, hắn quát lớn:

- Tại sao hả ? Tại vì ta không phải là thảo khấu ! Ta ăn cơm bằng đũa chứ không phải bằng gươm !

Bọn kia ngạc nhiên há hốc mồm:

- Thế nghĩa là thế nào ?

- Chúng bay không hiểu ư, đồ ngu ! Ta là kiếm sĩ, suốt đời sẽ giữ danh dự kiếm sĩ, dù có phải chết đói cũng không theo chúng bay, hiểu chưa ? Bây giờ thì cút đi !

Một tên trong bọn nhép miệng định nói gì lại thôi. Thang Mộc mặt đỏ như gấc, lắp bắp:

- Được rồi ! Ngươi sẽ biết tay !

Chúng nhất tề đứng dậy nhưng biết dù cả ba hợp lực lại cũng khó mà địch nổi Thạch Đạt Lang nên hỗn độn rút ra cửa. Rời khỏi phòng, rầm rập xuống lầu, chúng vẫn còn day tay mắm miệng làm ra vẻ đe dọa.

Tối hôm đó trời sáng trăng suông. Sương đêm mờ mờ, cả khu vườn như tắm trong một màn khói mơ hồ trắng đục. Chủ nhân mời Thạch Đạt Lang xuống dùng cơm chiều, đãi hắn một vài món đặc biệt do chính tay bà nấu và rượu sa-kê hảo hạng. Men rượu thấm dần vào da thịt, hắn say phơi phới.

Trở lên phòng trọ, ngồi dựa lưng bên kỷ, Thạch Đạt Lang nghĩ ngợi mông lung.

Hắn nhớ đến Ngộ Không, vị lão tăng kỳ dị, sự thua kém của mình rồi khẽ lắc đầu:

“Thật xấu hổ !”.

Những địch thủ trước đây hắn đã giết hoặc đánh bị thương trên bước đường giang hồ, chẳng bao giờ hắn nghĩ đến. Chúng như những bông tuyết tan đi khi ánh mặt trời chiếu tới, nhưng với Ngộ Không thì khác hẳn. Hình ảnh vị sự già với đôi mắt sáng quắc, sâu thăm thẳm và đầy ma lực cùng với những tràng cười hăng hắc theo đuổi hắn mãi không thôi. Một cảm giác thua kém khó chịu làm hắn bực bội.

Hay kiếm đạo tự nó không phải là cứu cánh. Hắn tự học kiếm, không đủ khách quan để lượng giá kỹ thuật của chính mình, nay gặp thất bại lại càng nghi ngờ. Ngộ Không nói công lực hắn quá mạnh, cần kềm chế, hắn thật không hiểu. Từ trước đến nay, hắn vẫn cho công lực là căn bản. Công lực mạnh đâu phải là khuyết điểm ! Ngày trước hắn không ưa suy nghĩ, chỉ hành động theo bản năng. Sau khi ở thạch thất ra, qua nhiều năm đọc sách và suy tư, hắn đã trở thành người khác:

việc gì làm cũng không khỏi qua nhận thức, phán đoán rồi mới chấp nhận hay gạt bỏ. Không những đối với những thế kiếm hắn sáng tạo ra mà còn trong mọi cách cư xử. Hay Ngộ Không muốn nói đến công lực tinh thần, sức mạnh nội tâm man rợ hắn chưa kềm chế được chứ không phải công lực thể chất. Có thể vậy lắm. Vị sư già không biết đã nhận thức được như thế hay chỉ đoán mò ...

Thạch Đạt Lang nhức đầu không nghĩ nữa. Để tự trấn an, hắn cho rằng sự hiểu biết thuần túy sách vở chẳng ích lợi gì. Đối với một kiếm sĩ, chậm một sát na có thể mất mạng. Nếu gặp đối thủ ngang tài thì liệu vị lão tăng kia còn sống nổi không, nếu chỉ trong một thoáng, ông chớp mắt ?

Bước chân vội vã lên thang gác làm hắn tỉnh mộng. Nữ tỳ vào phòng, theo sau là Giang. Da Giang vốn đen, bấy giờ trông càng sậm lại vì nắng gió và bùn đất, tóc phủ đầy bụi như rắc một lượt phấn trắng. Thạch Đạt Lang mừng rỡ đứng lên giơ hai tay đón tên học trò nhỏ. Giang ngồi bệt xuống sàn thở dốc:

- Mệt quá !

- Con tìm ta có dễ không ?

- Dễ gì ! Con muốn bỏ cuộc luôn, chỗ nào cũng xông vào mà không thấy. Sao thầy lại ở đây ?

- Vậy con không hỏi đền Quang Minh à ?

- Có chứ, nhưng họ không biết thầy là ai.

- Vậy hả ?

Mắt Thạch Đạt Lang khép nhỏ lại:

- Ta đã nói rõ nhờ họ chỉ con đến khu này mà ! Nhưng thôi, gặp được con là mừng rồi. Đói không ?

Giang không trả lời, tháo ống quyển trên cổ đưa Thạch Đạt Lang:

- Đây là thư Hoa Sơn phúc đáp. Con không tìm được ông Mãn Hà Chí nhưng đã nhờ người nhắn tin cho ông ấy biết.

- Vậy tốt. Bây giờ đi tắm rồi xuống nhà ăn cơm.

Thạch Đạt Lang mở thư đọc. Sĩ Khánh nhận lời thách đấu, sẵn sàng gặp hắn vào mùa xuân năm sau, nếu không đến thì hắn bị coi như hèn nhát và phái Hoa Sơn sẽ yết cáo thị khắp nơi thông báo chuyện đó để giang hồ biết. Nét chữ xiêu vẹo, lời thư huênh hoang, tuồng như không phải do chính chưởng môn phái Hoa Sơn viết.

Đọc thư xong, Thạch Đạt Lang châm lửa đốt. Tàn tro bay cao lập lờ trên không như những cánh bướm đen rồi chậm rãi rơi xuống sàn. Hắn lơ đãng nhìn tàn tro, lòng buồn vời vợi. Sang năm, cuộc gặp gỡ xảy ra hiển nhiên không phải là cuộc gặp gỡ tầm thường, nhưng là một cuộc tỷ đấu sinh tử giữa một môn phái đông người và hắn, một kiếm sĩ cô thế.

Thạch Đạt Lang chấp nhận cuộc sống giang hồ không có ngày mai. Sống bữa nay chưa biết hoàng hôn hôm sau ra sao, mình hay Sĩ Khánh sẽ giống như cánh bướm đen kia, âm thầm rã mục cùng cây cỏ ? Ý nghĩ ấy làm hắn thở dài ảo não. Còn bao nhiêu việc phải làm, hắn muốn trở nên một kiếm sĩ trừ gian khử bạo, nhưng cho đến nay vẫn chưa thực hiện được điều gì theo sở nguyện. Lòng Thạch Đạt Lang lúc này còn vướng mắc nhiều ham muốn:

tiền bạc, ngựa xe, kẻ hầu người hạ, một căn nhà ấm cúng với vợ con quấn quít. Đôi khi hắn mơ một mối tình nồng nàn, nhưng suốt trong những năm theo đuổi kiếm học, chưa có lúc nào có hay không dám có một người tình. Thạch Đạt Lang đã đi nhiều nơi, gặp nhiều phụ nữ khả ái, không phải chỉ khuôn mặt kiều diễm của họ làm hắn ưa thích mà đôi khi lòng khao khát xác thịt của tuổi dậy thì bừng bừng nổi dậy làm hắn khó chịu. Hắn phải dẹp đi không nghĩ đến nữa.

Những ý tưởng lan man đưa hắn nhớ đến Oa Tử. Con người hiền dịu ấy, hắn coi như cô em gái dễ thương, lần cuối cùng gặp mặt cách đây thế mà hơn một năm rồi, nhưng mỗi khi nghĩ đến, hắn không khỏi bâng khuâng xúc động.

Ngồi mơ mộng chẳng biết bao lâu, khi Giang ăn cơm xong lên phòng, hắn mới bừng tỉnh. Thằng bé tắm sạch sẽ, đã thay áo mới, đến ngồi nghiêm túc bên kỷ trà. Nó hãnh diện làm xong nhiệm vụ thầy giao phó, nhưng mỏi mệt không còn liến thoắng nữa, một lúc sau ngủ gục ngay trên chiếu. Thạch Đạt Lang cúi xuống bế nó lên giường.

oo Mặt trời vừa mọc, Giang đã tỉnh dậy cùng với tiếng chim sẻ ríu rít. Thạch Đạt Lang cũng dậy sớm vì hắn có ý định rời Nara ngay ngày hôm đó. Đương xếp hành trang thì bà chủ vào, hai tay ôm một hộp quần áo.

- Nghe nói quý khách ra đi, sao vội thế ?

- Phu nhân tha lỗi, tại hạ có chuyện cần.

- Qúy khách lưu lại nơi đây thời gian tuy ngắn ngủi, nhưng cũng làm cho cảnh nhà đỡ lạnh lẽo, nên có món quà mọn này tặng quý khách. Xin đừng từ chối.

Góa phụ mở hộp lấy ra một chiếc kimono lụa và một áo khoác ngoài bằng gấm, nét vẽ đơn sơ nhưng trang nhã. Thạch Đạt Lang ngạc nhiên trố mắt nhìn không hiểu.

- Những món này là của tiên phu, trong nhà còn nhiều lắm. Thiếp đã sửa lại cho vừa, nếu quý khách không nhận, thiếp cũng chẳng biết làm gì. Để vô dụng uổng lắm.

Trước sự thành tâm của thiếu phụ, Thạch Đạt Lang không tiện từ chối, đành cảm ơn và líu ríu vâng lời như đứa trẻ khi mẹ bảo thử áo. Nữ lang vòng ra phía sau, cầm áo cho hắn xỏ tay. Hắn bẽn lẽn, mặt đỏ rừ.

- Khéo như in, vừa lắm rồi !

Giang đứng bên, hai tay chắp sau lưng, ngắm nghía:

- Thế còn cháu, phu nhân cho cháu cái gì ?

Nữ lang cười vui vẻ:

- Cháu đi theo sư phụ tài ba này, đẹp trai này, còn đòi gì nữa ?

Nó dỗi:

- Áo cũ mèm, đẹp nỗi gì ?

- Thế cháu muốn thứ gì ?

Giang chạy ngay ra hành lang, gỡ chiếc mặt nạ tuồng Nô treo trên vách rồi nói:

- Cháu muốn cái này !

Giang đã để ý chiếc mặt nạ ngay từ sáng sớm, thích lắm. Nó cầm chiếc mặt nạ trong tay, áp vào má để thấy cảm giác mát rượi của thớ gỗ. Thạch Đạt Lang ngạc nhiên vì trình độ thẩm mỹ của thằng bé. Hắn cũng đã để ý đến chiếc mặt nạ ngay từ khi mới đến trọ, khen công trình điêu khắc của người làm ra nó tinh vi và sống động. Mặt nạ không biết làm từ thời nào nhưng chắc là xưa và đã được dùng nhiều trong những màn vũ long trọng. Không giống như những chiếc khác sơn vẽ lòe loẹt, mặt nạ này để mộc, có những nét thanh nhã của gương mặt một thiếu nữ nhan sắc. Duy một điều mép bên trái nhếch cao lên phô hàm răng trông dễ sợ với những sợi tóc thưa rủ xuống dài và đỏ quạch. Không phải mặt một người thường mà là mặt của một thiếu nữ điên dại.

- Không được ! Cái đó không được đâu !

Nhưng Giang đã đeo mặt nạ lên đầu, tránh né bà chủ vừa cười vừa đuổi theo nó chạy quanh phòng.

- Phu nhân cho cháu ! Bây giờ phu nhân còn dùng cái này làm gì ?

Thạch Đạt Lang bối rối vì cử chỉ của tên đồ đệ, quát:

- Giang !

Rồi giơ tay định túm lấy nó. Giang nhanh nhẹn luồn qua tay sư phụ, chạy xuống lầu. Nữ lang đuổi theo, tuy không tỏ vẻ gì phật ý, nhưng rõ ràng không muốn để mất chiếc mặt nạ.

Thạch Đạt Lang thu dọn xong, ngồi trên bực gỗ định đợi tên tiểu đồ về sẽ trách mắng. Bỗng Giang ở đâu chạy ra “òa” một tiếng. Hắn giật bắn mình đứng phắt dậy.

Trong cảnh tranh tối tranh sáng của căn phòng, thằng bé trông như con quỷ, mép nhếch lên, tóc buông dài xõa ra sau gáy. Thì ra nó đeo cái mặt nạ dữ tợn và sinh động đến nỗi Thạch Đạt Lang không ngăn nổi hồi hộp.

- Giang ! Sao chưa trả lại cho bà chủ ?

- Bà chủ cho con rồi mà !

- Nói bậy ! Cho lúc nào ?

- Mới đây, ở ngoài vườn. Con đã trả cho bà, nhưng bà nghĩ lại, lại cho con. Bà bảo nếu con thích thì cứ giữ, nhưng phải giữ cẩn thận. Con đã hứa với bà rồi !

- Thật cái thằng này ! Ta chẳng biết phải xử trí ra sao nữa !

Thạch Đạt Lang chưa giúp được nữ lang điều gì mà đã nhận áo, nay học trò lại lấy chiếc mặt nạ mà bà ưa thích. Hắn ngượng, muốn trả ơn nhưng thấy bà chẳng cần tiền, món tiền nhỏ của hắn chỉ tổ mua cười, mà trong hành trang hắn chẳng có vật gì đáng giá.

Hắn xuống lầu gặp bà chủ, ngượng ngùng xin lỗi về hành động vô lễ của học trò và cầm chiếc mặt nạ hoàn lại. Nhưng nữ lang cười, nói:

- Không ! Qúy khách chẳng nên quản ngại. Nghĩ cho cùng, thiếp chẳng dùng nó làm gì mà thằng bé có vẻ thích lắm. Cái đẹp nhất và đẹp mãi là cái đẹp mình dành cho người khác thưởng ngoạn, có phải không quý khách ?

Thạch Đạt Lang cảm động cúi xuống buộc lại quai dép.

Từ giã căn nhà trọ, mới đi được vài bước, hai thầy trò thấy vợ người chủ quán bán bánh bao hớt hải chạy đến:

- Khách quan ! Khách quan ! Dừng lại đã ...

Bà ta thở hổn hển, giọng lạc đi:

- Quang Minh hội biết tin khách quan ra đi nên cho người phục kích ngoài cách đồng Hannya. Đông lắm ...

- ...

- Có cả vị thủ tòa nữa. Trượng phu ta biết chuyện, bảo đến báo khách quan hay.

- Thật ư ? Sao lại có chuyện đó ?

- Không biết, nhưng rất nguy hiểm. Khách quan nghĩ lại, tránh voi chẳng xấu mặt nào, hãy lưu lại đây vài ngày, chờ tối trời lẻn đi đừng để ai biết ...

Thạch Đạt Lang bình tĩnh:

- Phải chăng đại nương nói họ đợi tại hạ Ở đồng Hannya ?

- Không rõ địa điểm có đúng không nhưng thấy đi về hướng ấy. Ngoài chư tăng ra còn nhiều tay kiếm giang hồ khác nữa. Khách quan có nói xấu gì đền Quang Minh hay làm điều gì xúc phạm đến các vị ấy không ?

- Không.

- Hình như tăng chúng trong đền giận dữ về việc khách quan sai người yết bảng khắp nơi làm nhục họ, vẽ hình một vị tăng bị chém chết.

- Họ lầm. Tại hạ đâu có thuê ai yết bảng bao giờ.

- Vậy thì khách quan lại càng không nên chết vì việc người khác làm bậy.

Thạch Đạt Lang ngước nhìn trời, tư lự. Hắn nghĩ tới ba tên du đãng tới thăm hắn bữa trước, có thể chính chúng đã đồn đại và phao vu cho hắn thuê chúng làm nhục Quang Minh hội. Chí đã quyết, Thạch Đạt Lang nói:

- Tại hạ cám ơn, nhưng không thể lưu lại được.

Rồi xốc lại hành lý trên vai, hắn bảo Giang:

- Đi con !

Nữ lang chủ trọ thấy ồn ào ngoài cổng, chạy ra nghe chuyện, giữ hắn lại.

- Tại hạ phải đi. Còn lưu lại ngày nào chỉ gây thêm phiền phức cho phu nhân mà thôi !

Nước mắt chạy quanh, nữ lang khẩn khoản:

- Không sao, không phiền gì hết ! Qúy khách ở lại an toàn hơn.

- Không được ! Giang, con cám ơn phu nhân đi rồi lên đường.

Nghe lời sư phụ, Giang cúi chào cảm ơn hai người đàn bà. Nó cũng sụt sịt, không phải vì tiếc phải từ giã một nơi êm ấm nhưng vì lo lắng. Nó chưa rõ tài năng của người nó thờ làm sư phụ. Ở Kyoto, người ta vẫn cho thầy nó là tên khiếp nhược. Nghĩ đến bao nhiêu cao thủ Quang Minh đang chờ thầy trò nó để ra tay, Giang sợ hãi quá chừng.

Trong trái tim bé bỏng của nó, một nỗi lo âu dâng lên tràn ngập.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau