LỤC MẠCH THẦN KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Lục mạch thần kiếm - Chương 6 - Chương 10

Chương 6: Một bức thư mật rất quan trọng

Ðơn Chính lấy làm lạ, nói:

- Tiểu Quyên nào? Tôi làm gì mà đắc tội với nàng?

Triệu Tiền Tôn trỏ Ðàm bà, đáp:

- Vị này là Tiểu Quyên đây! Tiểu Quyên là phương danh bà nhưng khắp thiên hạ ngoài tôi ra không ai dám gọi đến!

Ðơn Chính vừa tức vừa buồn cười, nói:

- Thế ra đó là phương danh của Ðàm bà đây. Tại hạ không biết, dám mạo muội nói ra. Vậy xin thứ lỗi.

Triệu Tiền Tôn ra vẻ tức giận, trừng mắt nói:

- Kẻ không biết là không có lỗi. Nhưng chỉ phạm lần đầu còn có thể tha thứ, chứ phạm đến lần hai thì không tha thứ được.

Ðơn Chính nói:

- Tại hạ tuy bấy lâu ngưỡng mộ đại danh Ðàm ông, Ðàm bà ở động Xung Tiêu núi Hoa Sơn nhưng chưa có cơ duyên được quen biết. Tại hạ tự xét mình chưa bao giờ phê bình chuyện người khác lúc vắng, thì làm gì đắc tội với Ðàm bà?

Triệu Tiền Tôn tức giận nói:

- Tôi vừa hỏi "Tiểu Quyên! Gần đây vẫn vui vẻ chứ?" Bà chưa kịp trả lời thì năm ông con quý tử của các hạ làm bộ tịch nghênh ngang đi vào, làm gián đoạn câu chuyện của bà, cho đến bây giờ bà vẫn chưa kịp trả lời tôi. Ðơn lão hiệp! Lão hiệp thử hỏi xem Tiểu Quyên là hạng người nào? Tôi, Triệu Tiền Tôn Lý, Chu Ngô Trịnh Vương là ai? Chẳng lẽ chúng tôi đang nói chuyện với nhau cứ để các ông làm gián đoạn hay sao?

Ðơn Chính nghe y nói có vẻ ngô nghê thì trong bụng cười thầm, đáp:

- Tại hạ có điều chưa rõ cần thỉnh giáo các hạ.

Triệu Tiền Tôn nói:

- Ðiều chi? Tôi mà cao hứng lên thì chỉ rõ đường lối cũng chả ngại gì.

Ðơn Chính nói:

- Ða tạ. Các hạ bảo phương danh của Ðàm bà khắp thiên hạ chỉ mình các hạ nói ra được, có đúng thế không?

Triệu Tiền Tôn đáp:

- Ðúng lắm! Nếu các hạ không tin để tôi gọi lại mà xem. Các hạ thử hỏi có phải tôi đây là Triệu Tiền Tôn Lý, Chu Ngô Trịnh Vương, Phùng Trần Chữ Vệ, Tưởng Thâm Hàn Dương, đã cùng các hạ thách thức nhau rồi không?

Ðơn Chính đáp:

- Không, không! Dĩ nhiên là tôi không dám gọi đâu, nhưng chẳng lẽ Ðàm ông cũng không dám gọi ư?

Triệu Tiền Tôn Lý mặt giận xám xanh, lẳng lặng hồi lâu. Mọi người đều tưởng rằng Ðơn Chính hỏi lại Triệu Tiền Tôn câu ấy để y khó trả lời. Không ngờ Triệu Tiền Tôn khóc rống lên, nước mắt giàn giụa, tiếng khóc cực kỳ bi thảm. Mọi người thấy vậy đều không ai hiểu ra sao cả.

Ai cũng cho là con người chẳng biết sợ trời đất là gì, to gan dám trêu chọc chống báng cả thiết diện phán quan. Một câu nói nhẹ nhàng mà khiến cho y bật lên tiếng khóc hờ trời hờ đất.

Ðơn Chính thấy y khóc rất thảm thương, bao nhiêu lửa giận từ nãy đến giờ đều tắt ngấm, lại an ủi y, nói:

- Triệu huynh! Ðó là tại hạ có lỗi.

Triệu Tiền Tôn nức nở nói:

- Tôi không phải họ Triệu.

Ðơn Chính càng lấy làm lạ, hỏi:

- Vậy quý tính các hạ là gì?

Triệu Tiền Tôn nói:

- Tôi chả có họ gì cả. Các hạ đừng hỏi nữa! Các hạ đừng hỏi nữa!

Bấy giờ trong rừng hạnh, những tay cao thủ đều đoán là Triệu Tiền Tôn tất có điều chi cực kỳ thương tâm không thể nói ra được. Nhưng chẳng ai biết là việc gì.

Nếu y không tự nói ra thì người ngoài cũng không tiện hỏi.

Mọi người thấy Triệu Tiền Tôn cứ ấm ức khóc mãi.

Ðàm bà dằn giọng nói:

- Ngươi phát điên rồi sao? Trước mặt quý vị đây ngươi không sợ mất mặt ư?

Triệu Tiền Tôn nói:

- Bà bỏ tôi đi lấy cái lão Ðàm ông bất tử kia, tôi không thương tâm sao được.

Tim tôi tan nát, ruột tôi đứt đoạn, còn mỗi cái mặt bên ngoài, mất thì mất chứ để làm gì?

Mọi người nghe, trông nhau mỉm cười. Nguyên trước Triệu Tiền Tôn cùng Ðàm bà có một đoạn tình sử. Sau không biết sao Ðàm bà lại đi lấy Ðàm ông khiến cho Triệu Tiền Tôn phải đau lòng, thậm chí muốn vứt cả tên họ đi, như điên như rồ, như ngây như dại.

Bây giờ thấy ông bà Ðàm công đã ngoài sáu mươi cả rồi mà Triệu Tiền Tôn còn nhớ đến mỗi tình cũ kỹ đã mấy chục năm trời vẫn còn quyến luyến.

Ðàm bà mặt đầy dăn deo, da mồi tóc bạc, vừa cao vừa lớn, không biết lúc trẻ tuổi nhan sắc bà thế nào mà làm rung động Triệu Tiền Tôn đến già cũng không quên được.

Ðàm bà có vẻ bẽn lẽn, nói:

- Sư huynh còn nói đến chuyện cũ làm chi? Nay Cái Bang gặp việc trọng đại cần giải quyết, sư huynh phải ngoan ngoãn mới được.

Triệu Tiền Tôn nghe Ðàm bà thỉnh thót mấy lời dường như lọt tai lắm. Y nói:

- Vậy nàng phải quay lại cười với tôi một cái tôi mới chịu nghe!

Ðàm bà chưa cười thì người chung quanh đã cười ồ, mà Ðàm bà dường như không hay biết gì, quay lại nhìn Triệu Tiền Tôn rồi cười.

Triệu Tiền Tôn nhìn bà như ngây như dại, tâm thần mê mẩn.

Ðàm ông ngồi bên tỏ vẻ vô cùng tấm tức nhưng không sao được.

Ðoàn Dự trông tình cảnh này bất giác cả kinh, nghĩ thầm: "Ba người này thâm tình như vậy, họ đặt hết thảy người đời ra ngoài cuộc. Mình... mình cùng Vương cô nương liệu rồi đây có khỏi lâm vào tình trạng này không?

Không! Không! Ðàm bà này đã có tình ý với sư huynh, còn Vương cô nương thì thuỷ chung không quên biểu huynh nàng là Mộ Dung công tử. Ðem mình so với Triệu Tiền Tôn thì mình hãy còn thua xa."

Triệu Tiền Tôn cùng Ðàm công, Ðàm bà sôi nổi lên một lúc về ân xưa oán cũ, Kiều Phong nghe, đoạn nghĩ lung lắm: "Té ra Triệu Tiền Tôn không phải họ Triệu, lại là sư huynh Ðàm bà. Ta thường nghe Ðàm ông, Ðàm bà ở động Xung Tiêu núi Hoa Sơn nhờ môn tuyệt kỹ của phái Hoa Sơn mà danh vang thiên hạ. Nay nghe giọng nói thì ba người này tựa hồ không cùng một môn phái. Vậy thì Ðàm ông thuộc phái Hoa Sơn hay Ðàm bà mới thuộc phái Hoa Sơn?" Kiều Phong còn đang nghi hoặc, bỗng nghe Triệu Tiền Tôn nói:

- Mấy năm nay mình không xuống Giang nam, nghe đâu ở đất Cô Tô này ra gã Mộ Dung Phục chuyên dung ngón "gậy ông đập lưng ông". Gã cả gan làm càn, giết hại người vô tội. Mình muốn xen bản lĩnh gã thế nào, liệu có dùng được chính sách "gậy ông đập lưng ông" với Triệu Tiền Tôn Lý, Chu Ngô Trịnh Vương này không?

Triệu Tiền Tôn vừa nói xong mấy câu này, bỗng lại nghe tiếng người khóc rống lên, cũng thê thảm, cũng nức nở hệt như tiếng y vừa khóc xong. Mọi người đều lấy làm lạ thì thấy người đó vừa khóc vừa kể lể:

- Sư muội ơi! Ta đây có điều chi không phải với sư muội mà sao sư muội lại đi lấy cái lão họ Ðàm, để cho ta đêm thương ngày nhớ không lúc nào khuây, Tiểu Quyên sư muội ơi! Ta nhớ lại lúc Sư phụ hãy còn, coi ta và nàng như con ruột người. Sư muội bỏ ta thì còn mặt mũi nào mà trông thấy Sư phụ sau này nữa?

Từ lời nói cho đến âm thanh không khác Triệu Tiền Tôn chút nào. Giả tỷ mà mọi người không chính mắt trông miệng y há hốc ra, vẻ mặt kinh dị thì ai cũng cho là chính y đang khóc, đang nói. Mọi người quay đầu nhìn lại thì người phát ra tiếng khóc là một thiếu nữ mặc áo hồng lạt.

Khi thiếu nữ đó quay lại thì chính là A Châu. Ðoàn Dự cùng A Bích và Vương Ngọc Yến đã biết A Châu rất sở trường về cách bắt chước cử chỉ cùng giọng nói người khác nên không lấy gì làm lạ. Còn ngoài ra ai cũng ngạc nhiên và buồn cười. Mọi người đã tưởng Triệu Tiền Tôn thấy A Châu nhái mình tất nhiên nổi giận.

Không ngờ y nghe nàng khóc lóc nói lại càng xúc động tâm tình, cũng mắt đỏ hoe,miệng méo xệch, hai hàng lệ chạy quanh rồi bật lên tiếng khóc hoà điệu với A Châu.

Ðơn Chính chỉ lắc đầu, lên tiếng dõng dạc:

- Ðơn mỗ tuy là họ Ðơn nhưng năm thê bảy thiếp, con đống cháu đàn chứ chẳng cô đơn chút nào. Còn Song Oai đại huynh đây tuy họ Song mà chỉ một mình một bóng, lúc nào cũng tịch mịch thê lương. Tình trạng này chẳng biết ăn năn từ trước, bây giờ đã quá muộn rồi, hỗi cũng không kịp nữa. Song huynh ơi! Hôm nay chúng

ta được Mã phu nhân mời đến đây phải chăng để bàn về việc hôn nhân đại sự (!) của các hạ?

Triệu Tiền Tôn lắc đầu, đáp:

- Không phải.

Ðơn Chính nói:

- Thế thì chúng ta đến đây để thương nghị việc trọng yếu của Cái Bang mới là vấn đề chính.

Triệu Tiền Tôn thốt nhiên nổi giận, hỏi:

- Sao? Chỉ có đại sự của Cái Bang mới là vấn đề chính yếu, còn việc giữa tôi và Tiểu Quyên không phải vấn đề chính yếu hay sao?

Ðàm ông nghe đến đây không thể nhịn được nữa, nói:

- A Tuệ! A Tuệ! Nếu mình không ngăn cấm thằng cha phát điên rồ kia thì tôi không chịu được nữa đâu!

Mọi người nghe đến hai chữ A Tuệ, nghĩ thầm: "Thế ra phương danh của Ðàm bà là A Tuệ, còn Tiểu Quyên là do Triệu Tiền Tôn đặt ra".

Ðàm bà dậm chân, nói:

- Không phải y phát điên phát rồ đâu. Ông làm hại y thân tàn ma dại đến thế còn chưa mãn nguyện sao?

Ðàm ông lấy làm lạ, hỏi:

- Tôi... tôi ... làm gì mà hại y?

Từ trưởng lão cùng Ðơn Chính trông nhau, lắc đầu nghĩ thầm: "Ba người già từng ấy tuổi vẫn chưa trót đời, mà lại là những nhân vật kỳ cựu có danh tiếng trong võ lâm. Ai lại giữa chỗ công chúng còn đem câu chuyện trai gái đời xửa đời xưa ra mà tranh chấp nhau, thật đáng buồn cười".

Từ trưởng lão đằng hắng một tiếng rồi nói:

- Ông bà họ Ðàm cùng huynh ông đây giá lâm tệ bang, khiến cho toàn bang chúng tôi từ trên chí dưới rất là hân hạnh. Mã phu nhân! Phu nhân đem đầu đuôi công việc của phu nhân ra trình bầy đi!

Từ nãy tới giờ, Mã phu nhân vẫn đứng một bên thõng tay cúi đầu, giờ nghe Từ trưởng lão gọi, nàng mới từ từ quay đầu lại, nói rất nhỏ:

- Tiên phu chẳng may qua đời, tiểu nữ chỉ đau buồn cho số phận long đong, lại chưa được chút con nào để nối dõi nhà họ Mã.

Tuy nàng nói nhỏ nhưng thanh âm trong trẻo, rõ ràng từng tiếng một lọt vào tai mọi người, nghe rất êm ái. Nàng nói tới đây, câu nói trở nên nhát gừng vì nàng đang nức nở khóc thầm.

Bao nhiêu vị anh hào trong rừng hạnh nghe nàng nói bất giác động mối thương tâm. Cùng là tiếng khóc: Triệu Tiền Tôn khóc thì khiến cho người ta phải bật cười: A Châu khóc thì làm cho ai nấy đều kinh dị, Mã phu nhân khóc thì khiến cho người ta chua xót trong lòng.

Mã phu nhân lại tiếp:

- Sau khi tiểu nữ an táng tiên phu rồi, kiểm điểm lại những di vật của chàng, có bắt được một phong mật thư và cũng là lời di chúc, ngoài bì đề: "Sau khi ta chết yên lành, thì đem phong thư này đốt ngay lập tức. Nếu mở ra xem tức là huỷ hoại thân thế ta, dù ta đã ở dưới suối vàng cũng không yên giấc. Gặp trường hợp mà ta bị bất đắc kỳ tử thì phải đem phong thư này trình các trưởng lão để quý vị cùng nhau hội đồng mở ra xem. Việc này trọng đại vô cùng, không được lầm lỡ."

Mã phu nhân nói tới đây, trong rừng hạnh im phăng phắc, ai cũng lắng tai nghe đoạn chót về việc trình bày của nàng ra sao. Mã phu nhân ngừng lại giây lát rồi từ từ cởi bọc trên lưng ra, nàng mở cái túi nhỏ, rút một phong thư bọc trong giấy dầu đưa lên, nói:

- Ðây là di thư của tiên phu. Sau khi phát giác phong thư này, thấy lời căn dặn viết rất kỹ càng, tiểu nữ biết là một việc trọng đại, vội đem lên trình Bang chúa.

May mà lúc này Bang chúa cùng các vị trưởng lão đều xuống Giang Nam về việc báo cừu cho tiên phu. Vì lẽ đó tiểu nữ chưa trình được thư.

Mọi người nghe nàng nói có vẻ khác lạ, lại nhấn mạnh vào những chữ "may mà", "vì lẽ đó", ai cũng liếc nhìn Kiều Phong.

Kiều Phong thấy từ hồi hôm xảy ra mấy cuộc âm mưu trọng đại mà việc nào cũng nhằm vào mình. Tuy việc Toàn

Quang Thanh cùng tứ lão gây ra phản nghịch đã lắng xuống nhưng chưa gọi là kết thúc được, thì bây giờ lại mọc ra việc Mã phu nhân.

Nghe tới đây, ông cảm thấy khoan tâm, sắc mặt rất bình tĩnh vì ông tự nghĩ:

- Họ muốn âm mưu điều gì thì cứ nói ra cho hết đi. Bậc đại trượng phu phải cho quang minh lỗi lạc. Kiều mỗ này bình sinh không làm việc gì ám muội thì còn sợ gì ai phao vu hãm hại.

Mã phu nhân lại tiếp:

- Tiểu nữ biết phong thư này có quan hệ lớn đến bản bang, Bang chúa cùng các trưởng lão đã không có mặt ở Lạc Dương, sợ để chậm sẽ lỡ thời cơ, nên phải qua Trịnh Châu bái kiến. Từ trưởng lão đệ trình phong thư này nhờ lão gia tác chủ. Vậy nội dung bức thư ra sao và công việc hệ trọng thế nào, tiểu nữ xin Từ trưởng lão nói cho mọi người nghe.

Từ trưởng lão lại hắng giọng mấy tiếng rồi mới nói:

- Việc này nói ra mang ân mang oán rất nhiều. Lão phu thật khó nghĩ quá!

Trưởng lão vừa nói ra hai câu lạnh toát mà lúc này trời cũng vừa tối, một lớp sương dày đặc bay phủ rừng hạnh, trong lòng mọi người đều cảm thấy lạnh lẽo âm u.

Từ trưởng lão đưa tay đón lấy phong thư ở trong tay Mã phu nhân rồi tuyên bố:

- Mã Ðại Nguyên từ thời tằng tổ, qua tổ phụ đến phụ thân đều là người ở Cái Bang, không là trưởng lão thì cũng làm đến "bát đại đệ tử" (đệ tử tám túi). Tôi đã từng chơi với Ðại Nguyên từ nhỏ đến lớn nên rất thuộc mặt chữ của y. Tôi xác nhận từng chữ trên phong bì đây do chính Mã Ðại Nguyên viết ra. Lúc Mã phu nhân trao thư này đến tay tôi, vẫn còn niêm phong y nguyên, chưa có một chút dấu vết nào chứng tỏ đã có người mở ra. Tôi e rằng chờ phiên hội đồng đông đủ các trưởng lão thì lỡ việc lớn của bản bang nên mở thư ra xem. Lúc mở thư có mặt Thái Sơn thiết diện phán quan Ðơn huynh đây minh chứng đây.Ðơn Chính xác nhận:

- Ðúng như vậy, lúc đó tại hạ đến thăm Từ trưởng lão tại nơi ẩn cư, có được mắt trông thấy trưởng lão mở phong thư này.

Từ trưởng lão lấy hai ngón tay mở rút thư ra rồi nói:

- Tôi xem chữ viết trong thư, nét bút cứng rắn không phải là chữ Ðại Nguyên, đã lấy làm lạ. Trên đầu thư đề bốn chữ: "Kiếm nhiệm đại ca" càng làm cho tôi ngạc nhiên. Uông Bang chúa qua đời đã lâu sao có người viết thư cho ông với cách xưng hô như vậy. Thế rồi tôi chưa xem nội dung bức thư vội, lại nhìn xuống cuối cùng xem người thư danh (ký tên) là ai? Khi xem đến càng ngạc nhiên hơn nữa. Bất giác, tôi buột miệng kêu lên: "ủa! Thì ra là y!" Ðơn huynh động tính hiếu kỳ, ngoái đầu sang coi rồi cũng bật lên tiếng "ủa! Thế ra là y!"

Triệu Tiền Tôn nói xen vào:

- Lão Ðơn kia! Thế là không được! Ðó là mật thư của Cái Bang. Lão đã không phải là hàng đệ tử một túi, hai túi mà cũng chưa nhập tịch Cái Bang nữa. Sao người ta không mời mà tự nhiên dẫn xác đến, còn xem trộm mật thư của người ta?

Nếu không nhìn thấy vẻ mặt ngây ngô của Triệu Tiền Tôn mà chỉ nghe mấy câu này thì thấy lời y rất hợp tình hợp lý. Ðơn Chính hơi đỏ mặt, nói:

- Tôi... tôi... chỉ ngó chỗ ký tên chứ không nhìn gì đến nội dung bức thư.

Triệu Tiền Tôn nói:

- Dù kẻ ăn cắp một ngàn lạng vàng hay ăn cắp một đồng tiền cũng là phường ăn cắp. Chẳng qua chỉ khác ở chỗ ăn cắp nhiều hay ăn cắp ít mà thôi. Ngó trộm thư người ta thì không phải là người quân tử. Ðã không phải là quân tử thì là tiểu nhân, đã là tiểu nhân thì là hạng đê hèn bỉ ổi. Ðã đê hèn bỉ ổi thì nên giết quách đi.

Ðơn Chính nhìn năm con rồi xua tay ra hiệu bảo không được vọng động, cứ để cho y mặc sức nói càn rồi sau sẽ hay. Tuy lão trong lòng căm giận nhưng cũng cảm thấy có điều gì khác lạ.

Lão nghĩ thầm: "Từ lúc thằng cha này gặp mình, y chỉ tìm cách trêu chọc mình, hay là y có thù oán gì với mình từ trước? Trong đám giang hồ có mấy người dám coi thường Ðơn gia ở Thái Sơn. Không biết thằng cha này là ai

mà mình nghĩ mãi không ra?"

Mọi người chỉ mong Từ trưởng lão đem tên họ người thư danh ở cuối bức thư nói ra cho nghe để sẽ là nhân vật nào mà khiến cho trưởng lão cùng Ðơn Chính phải kinh dị đến thế. Khi họ nghe Triệu Tiền Tôn nói chuyện lôi thôi rắc rối thì nhiều người trừng mắt nhìn y ra chiều tức giận.

Ðàm bà thốt nhiên nói:

- Các người nhìn gì mà nhìn lắm thế? Sư huynh ta nói phải lắm.

Triệu Tiền Tôn thấy Ðàm bà bênh mình, bất giác quên cả giận dữ, nói:

- Các người coi đó! Ðến Tiểu Quyên cũng hiểu vậy, ta còn nhầm lẫn ở chỗ nào?

Tiểu Quyên đã nói câu nào hay làm việc gì không có bao giờ nhầm lẫn hết.

Bỗng lại thấy một giọng nói giống hệt Triệu Tiền Tôn nhại lại:

- Phải mà! Ðến Tiểu Quyên cũng hiểu vậy, ta còn nhầm lẫn ở chỗ nào? Tiểu Quyên đã nói câu nào hay làm việc gì không có bao giờ nhầm lẫn hết. Nàng lấy Ðàm ông, không chịu lấy ngươi cũng hoàn toàn là đúng!

Người đó chính là A Châu. Nguyên từ lúc Triệu Tiền Tôn ra điều khinh miệt Mộ Dung công tử, nàng vẫn còn ôm một mối căm hờn, nên cứ nhè y để khiêu khích.

Triệu Tiền Tôn nghe A Châu nói thì dở cười dở mếu. A Châu đã khéo dùng những cái mâu thuẫn của Triệu Tiền Tôn để chế giễu y, chẳng khác gì thủ pháp "gậy ông đập lưng ông" của Mộ Dung công tử.

Lúc này A Châu được hai người đưa mắt thầm cám ơn nàng. Bên trái là tia mắt của Ðàm ông, bên phải là tia mắt của Ðơn Chính. Cũng giữa lúc này, một bóng người thoáng qua, Ðàm bà đã nhảy đến trước mặt A Châu, giơ tay lên tát nàng một cái thật mạnh và quát hỏi:

- Ta lấy chồng đúng hay lấy chồng nhầm thì việc gì đến con tiện tỳ này?

Bà ra tay cực lẹ, A Châu muốn tránh mà không kịp, người bên cạnh cũng không có cách nào cứu viện. Nàng bị cái tát, mặt trắng nõn nà bỗng lằn lên năm vết ngón tay tím bầm.

Triệu Tiền Tôn cười ha hả, nói:

- Cho con tiện tỳ này một bài học thế là phải. Ai bảo mi hay mồn năm miệng mười.

A Châu nước mắt chạy quanh, toan khóc lên thì Ðàm ông đã thò vào trong bọc lấy ra một cái hộp bằng ngọc nhỏ, mở nắp hộp, bôi dầu vào đầu ngón tay xoa lên má nàng. Những thương tích ở trên mặt nàng bớt xanh xám ngay, rút tay về là xong rồi. Những động tác của Ðàm ông xoa thuốc cho nàng lại càng mau lẹ hơn.

Nàng chưa kịp né tránh, dầu đã bôi vào mặt rồi.

Nàng còn đang ngạc nhiên, mặt đang nóng bừng, má sưng lên, thốt nhiên nàng thấy dễ chịu, đồng thời trong tay trái có một vật nho nhỏ. Nàng nhìn lại thì ra cái hộp bằng ngọc thạch sáng bóng, biết ngay là của Ðàm ông tặng cho. Hộp này đựng thuốc trị vết thương linh nghiệm vô cùng. Bất giác nàng đổi sầu làm tươi.

Từ trưởng lão không lý gì đến việc Ðàm bà càu nhàu với Ðàm ông. Lão nghiêm nét mặt nói với mọi người:

- Các anh em! Người viết bức thư này, bây giờ không tiện nói ra. Từ mỗ ở bản bang đã dư mấy mươi năm, chẳng còn sống ở đời được bao và đã vào thâm sơn ở gần ba mươi năm nay, không muốn trở lại chốn giang hồ để cùng người tranh chấp koặc kết oán thù, Từ mỗ đã không con cháu lại không đồ đệ, mình tự hỏi mình, lòng không mảy may tư vị. Anh em có tin như thế không?

Mọi người Cái Bang đáp:

- Từ trưởng lão đã nói còn ai là người không tin?

Từ trưởng lão lại quay sang nhìn Kiều Phong, hỏi:

- Ý kiến Bang chúa thế nào?

Kiều Phong đáp:

- Kiều mỗ trước nay vẫn một lòng kính trọng trưởng lão, hẳn trưởng lão đã rõ.

Từ trưởng lão lại nói:

- Sau khi tôi xem thư rồi, trong lòng nghi hoặc, vừa đau thương lại vừa phẫn nộ.

Từ mỗ e mình có chỗ sai lầm liền trao lại cho Ðơn huynh coi. Ta nên biết rằng Ðơn huynh cùng người viết thư là chỗ bạn thân để nhìn nhận nét chữ. Việc này quan hệ lớn lắm. Từ mỗ phải nhờ Ðơn huynh suy nghiệm cho rõ bức thư này là chân hay giả.

Ðơn Chính nhìn Triệu Tiền Tôn ra điều hỏi: "Ngươi còn nói gì nữa thôi?"

Triệu Tiền Tôn nói:

- Từ trưởng lão trao cho lão thì dĩ nhiên lão có thể xem được. Nhưng lần đầu lão đã ngó trộm thì cũng tỷ như một tên ăn cắp đã được tiền rồi, về sau phát tài không đi ăn cắp nữa. Thế thì dù có trở nên phú ông vẫn không rửa được cái tiếng xuất thân là tên ăn cắp.

Từ trưởng lão nói:

- Ðơn huynh! Xin Ðơn huynh tuyên bố cho mọi người hay bức thư là chân hay giả!

Ðơn Chính nói:

- Tôi cùng người viết thư kết bạn lâu năm, trong nhà hãy còn nhiều thư tín của người đó. Ngay lúc bấy giờ tôi có dẫn Từ trưởng lão cùng Mã phu nhân về tệ xá lấy những bức thư cũ đem ra so sánh, bút tích quả nhiên giống hệt, cả phong bì ngoài cũng cùng một kiểu, thì đúng là thư của người đó rồi.

Từ trưởng lão nói:

- Lão phu chẳng còn sống được mấy năm nữa nên làm việc gì cần thận trọng.

Huống chi việc này có quan hệ đến việc hưng suy của bản bang, cùng thanh danh và tính mệnh của một vị anh hùng hào kiệt thì khi nào còn dám mạo muội, cẩu thả.

Mọi người nghe Từ trưởng lão nói đến đây, ai cũng đưa mắt nhìn Kiều Phong vì họ biết rằng vị anh hùng hào kiệt mà trưởng lão nói đó ám chỉ Kiều Phong. Có điều không ai dám nhìn thẳng ông. Khi chạm luồng nhãn quang ông là lập tức họ cúi đầu xuống.

Từ trưởng lão lại nói:

- Lão phu biết rõ hai ông bà họ Ðàm ở Hoa Sơn cùng người viết thư quen biết nhau từ lâu, nên đã lên Hoa sơn vào động Xung Tiêu để thỉnh giáo. Ðàm ông, Ðàm bà đã đem hết các điều uỷ khúc nói rõ với lão phu. Lão phu không nỡ đem việc này nói rõ ra, thật là một điều đáng thương, đáng tiếc, đáng buồn và ngán ngẩm!

Từ trưởng lão nói đến đây thì ai cũng rõ vợ chồng Ðàm ông cùng Ðơn Chính lục tục kéo đến đây là do lời mời của Từ trưởng lão để chứng minh việc này.

Từ trưởng lão lại nói:

- Lúc đó Ðàm bà bảo có một vị sư huynh đã được mục kích việc này. Nếu mời được chính vị này lại thì rõ ràng lắm. Vị này chính là Triệu Tiền Tôn tiên sinh.
Nhưng tiên sinh này tính khí khác người, không ai mời được tiên sinh đến. Chỉ có Ðàm bà là tiên sinh rất kính nể. Bức thư của bà vừa bay tới nơi, tiên sinh quả nhiên ứng hậu ngay.

Ðàm ông đột nhiên nổi giận, nhìn Ðàm bà hỏi:

- Sao? Sao? Mình đã gọi thằng cha này đến đó ư? Sao không bảo tôi biết trước, muốn bưng mắt cả tôi để thầm lén vơi nhau?

Ðàm bà cũng giận, đáp:

- Ông nói cái gì bưng mắt, cái gì thầm lén? Tôi viết thư rồi Từ trưởng lão cho người đem đi. Ðó là việc quang minh chính đại. Nói với ông làm gì để ông bèo nhèo.

Ðàm ông nói:

- Làm việc giấu chồng, không giữ đạo vợ, như thế không được!

Ðàm bà cũng không nói nữa, giơ tay tát bốp vào mặt Ðàm ông. Kể về võ công thì Ðàm ông bản lĩnh còn hơn Ðàm bà nhiều. Song bà đưa tay ra tát Ðàm ông đã không đánh lại cũng không né tránh. Ngồi yên như tượng để chịu cái tát.

Ðoạn ông móc bọc ra một cái hộp nhỏ lấy dầu bôi vào má, những vết tím bầm tiêu dần ngay. Cái tát đã lẹ, cách trị lại càng lẹ hơn. Lửa giận hai ông bà đều tiêu tan. Người ngoài ngó thấy ai cũng phải buồn cười.

Bỗng thấy Triệu Tiền Tôn thở dài sườn sượt, nói lên bằng một giọng bi ai thống thiết:

- À ra thế đấy! à ra thế đấy! Hỡi ôi! Nếu mình biết thế này thì ngay từ lúc ban đầu chịu để cho nàng tát mấy cái, phỏng có khó gì!

Giọng nói đầy vẻ hối hận. Ðàm bà cũng ra vẻ buồn rầu, nói:

- Ai bảo sư huynh bị tôi đánh một tát là đánh lại ngay, chứ không bao giờ chịu nhượng bộ.

Triệu Tiền Tôn ngây ngây ngô ngô đứng đực người ra, hồi tưởng lại mối tình ngày xưa: cô tiểu sư muội này xinh đẹp, óng ả nhưng phải tính hung hăng, động một tý là đánh người, nhiều khi không có duyên cớ gì cũng đánh, nhất là trong lòng có điều gì bực tức thường hay giận cá chém thớt, gây lộn với mọi người.

Vì thế mà mối lương duyên ông và Ðàm bà không thể thành toàn được. Bây giờ Triệu Tiền Tôn mắt thấy Ðàm ông bị tát cứ lẳng lặng chịu đòn không dám oán hận, y mới tỉnh ngộ và trong lòng hối hận vô cùng, tự trách mình không biết nhẫn nhục.

Trước nay y không hiểu tại sao tiểu sư muội đi quyến luyến người khác, tưởng là vì những nguyên nhân trọng đại, té ra chỉ vì đối phương nhịn đòn không đánh lại mà công hiệu như vậy. Biết thế này thì khi trước mình đi cầu nàng tát còn chưa được, vì được nàng tát là phúc cho mình lắm.

Từ trưởng lão nói:

- Triệu Tiền Tôn tiên sinh! Xin tiên sinh tuyên bố cho một câu, những việc viết trong thư này có đúng sự thật không?

Triệu Tiền Tôn vẫn lẩm bẩm một mình: "Mình thật là thằng ngốc! Sao bấy giờ không nghĩ ra? Học võ công là đi đánh kẻ thù, đánh người ác, đánh những hạng tiểu nhân đê hèn. Làm sao lại cứ để ý vào những việc phản kháng người trên, với ý trung nhân của mình. Người ta có đánh mình vì tình, có mắng mình là vì yêu, đánh cho vài cái tát mà làm sao cũng không chịu nổi?"

Mọi người nghe y nói lẩm nhẩm thì vừa buồn cười, vừa thương y là một gã thất tình. Cái Bang hiện đương lâm vào tình trạng có việc trọng đại cần phải giải quyết, thế mà y chỉ nói đi nói lại mấy mươi lần những câu vô ích đó.

Từ trưởng lão lại nhắc:

- Triệu Tiền Tôn tiên sinh! Chúng tôi mời tiên sinh đến đây là để nói về việc nội tình cái thư này.

Triệu Tiền Tôn vẫn trả lời đi đâu:

- Ðúng rồi! Ðúng rồi mà! Trưởng lão hỏi về việc cái thư chứ gì? Cái thư ấy tuy ngắn nhưng ý tứ sâu xa vô cùng tận: "Trước đây bốn mươi năm là bạn đồng song với nhau, tình cảnh ấy còn như in trước mắt. Mỗi lần tôi nhớ đến tưởng sư huynh bây giờ tuy mái tóc đã hoa râm mà bộ mặt tươi cười chẳng khác năm xưa."

Từ trưởng lão hỏi Triệu Tiền Tôn về việc phong thư của Mã Ðại Nguyên thì y lại đọc thuộc lòng cái thư của Ðàm bà gửi cho y mới chán.

Từ trưởng lão không biết làm thế nào, quay lại nói với Ðàm bà:

- Ðàm phu nhân! Xin phu nhân hỏi lại tiên sinh cho.

Ngờ đâu Ðàm bà nghe Triệu Tiền Tôn đem cái thư tầm thường của mình ra đọc trơn như cháo chảy, bất giác cũng thả hồn vào cõi hư vô, trong lòng xiết bao cảm động.

Má bà ửng đỏ, nói:

- Sư huynh! Sư huynh nói việc hiện tại đi!

Triệu Tiền Tôn nói:

- Phải mà! Tình trạng hiện tại cũng như ngày xưa, tôi nhớ rõ cả. Nàng chải đầu rẽ tóc hai bên, kết thành hai búi, mỗi búi buộc túm lại bằng một sợi chỉ đào. Hôm đó sư phụ dạy chúng ta ra chiêu "Thâu long chuyển phượng".

Vương Ngọc Yến nghe đến "Thâu long chuyển phượng" thì sẽ gật đầu, tựa hồ nàng đã hiểu chiêu này.

Ðàm bà từ từ lắc đầu, nói:

- Sư huynh! Không phải thuật lại việc ngày xưa của chúng ta.

Từ trưởng lão hỏi :

Sư huynh về việc ngoài cửa ải Nhạn Môn Quan năm nọ, đã xảy ra cuộc huyết chiến trong hang đá. Sư huynh đã trông rõ tình hình lúc đó thế nào, thuật lại cho mọi người nghe đi.

Triệu Tiền Tôn đáp bằng một giọng run run:

- Ngoài ải Nhạn Môn Quan... trong hang đá... tôi... tôi...

Y thốt nhiên biến sắc xoay mình một cái, trông về góc Ðông Nam là chỗ khôngngười, co giò chạy tuốt, thân pháp cực kỳ mau lẹ. Mọi người trông thấy Triệu Tiền Tôn dường như đi thẳng không trở rừng hạnh nữa, mà muốn đuổi theo cũng không kịp, đều lớn tiếng gọi:

- Triệu Tiền Tôn tiên sinh! Ði đâu đấy? Trở lại đã!

Triệu Tiền Tôn không nói gì, càng chạy nhanh hơn trước. Bỗng thấy tiếng nói dõng dạc:

- Hai mái tóc đã hoa râm, vẻ mặt hớn hở tươi cười không còn được như xưa nữa.

Triệu Tiền Tôn thốt nhiên dừng bước, quay lại hỏi:

- Ai hỏi đó?

Vẫn tiếng nói vừa rồi đáp:

- Nếu không thế thì sao trông thấy Ðàm ông mà phải tự thẹn mình kém cỏi, co giò chạy trốn?

Mọi người nhìn xem ai nói thì ra Toàn Quang Thanh.

Triệu Tiền Tôn hỏi giật giọng:

- Ai tự thẹn mình kém cỏi? Lão Ðàm bất quá chỉ hơn ta một môn "chịu đòn không đánh trả" chứ bằng ta thế nào được.

Bất thình lình lại nghe bên kia rừng hạnh có tiếng một ông già nói:

- Biết "chịu đòn không đánh trả" là người giỏi nhất thiên hạ, há phải chuyện tầm thường?

Mọi người quay đầu nhìn lại thì thấy sau khóm hạnh một người đi ra, mình mặc áo thầy chùa sắc tro, mặt vuông, tai lớn, tướng mạo coi rất oai nghiêm.

Từ trưởng lão reo lên:

- Trí Quang đại sư trên núi Thiên Thai đã tới! Hơn ba mươi năm chưa được thấy mặt, đại sư vẫn tinh thần tráng kiện như xưa!

Trí Quang hoà thượng tuy không lừng danh trong võ lâm và đám hậu bối ở Cái Bang ít người biết đến lai lịch đại sư. Kiều Phong, sáu vị trưởng lão, Toàn Quang Thanh đều đứng lên nghiêm cẩn cung kính, biết là một nhân vật có chí nguyện khác thường, dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi.

Ðại sư ra tận ngoài hoang đảo xa xăm tìm cỏ cây kỳ lạ về chế thuốc chữa bệnh ngã nước cho trăm họ miền Chiết Giang, Phúc Kiến và Lưỡng Quảng. Vì thế mà đại sư mấy phen bị bệnh, võ công mất hết. Nhưng đại sư làm ơn cho trăm họ được nhiều. Mọi người tới tấp chạy lại thi lễ.

Trí Quang đại sư nhìn Triệu Tiền Tôn, cười nói:

- Võ công không bằng đối phương mà ra chiêu "chịu đòn không đánh trả" đã là khó. Võ công giỏi hơn đối phương thì chiêu "chịu đòn không đánh trả" lại càng khó hơn nữa.

Triệu Tiền Tôn cúi đầu ngâm nghĩ ra chiều tỉnh ngộ.

Trí Quang đại sư lại nói:

- Lão tăng ngẫu nhiên qua đây, không biết có cuộc quần anh đại hội. Thật là mạo muội! Bần tăng xin cáo từ.

Từ trưởng lão vội nói:

- Trí Quang đại sư! Ơn đức đại sư thấm nhuần rất rộng, ai cũng kính trọng.

Chúng tôi bữa nay có một việc lớn chưa giải quyết được, may gặp đại sư đến đây thật là phúc lớn cho Cái Bang. Mời đại sư đến còn chưa được, có lý đâu lại để cho đại sư bỏ đi. Bất luận đại sư có việc gì khẩn yếu cũng xin dừng Phật giá lại một lúc.

Triệu Tiền Tôn nói:

- Cuộc đại chiến trong hang đá ngoài ải Nhạn Môn Quan, Trí Quang hoà thượng cũng có dự phần. Vậy đại sư thuật lại đi!

Trí Quang vừa nghe nói đến việc hang đá ngoài ải Nhạn Môn Quan, nét mặt thoáng thấy một vẻ kỳ dị, tựa hồ như phấn khởi, như sợ sệt, như thê thảm không muốn nhìn thấy gì nữa. Sau cùng lộ ra vẻ mặt từ bi, thương xót, than rằng:

- Cuộc chém giết đó ghê gớm quá! Nói đến việc đó thật đáng xấu hổ. Các vị thí chủ! Trong hang đá cách đây ba mươi năm xảy ra cuộc chém giết rùng rợn, việc đó còn nhắc đến làm chi?

Từ trưởng lão nói:

- Vì hiện nay bản bang xảy ra cuộc biến cố rất trọng đại, mới tìm ra được phong thư dính líu đến người đó.

Nói xong cầm thư đưa ra. Trí Quang đón lấy thư, xem đi xem lại hai lượt rồi lắc đầu nói:

- Mối oan khiên nên cởi chứ đừng thắt chặt. Sao còn đem việc cũ ra mà bàn tán.

Theo ý kiến bần tăng thì nên xé bỏ bức thư này mất tích đi hay hơn.

Từ trưởng lão nói:

- Mã Phó Bang chúa ở bản bang bị chết thê thảm, nếu không tra xét cho ra thì nỗi oan của Mã Phó Bang chúa không bao giờ rửa sạch được, mà bản bang có cái nguy cơ tan vỡ.

Trí Quang đại sư gật đầu, nói:

- Nói thế là phải! Nói thế là phải!

Lúc này mảnh trăng lưỡi liềm ở trên trời chênh vênh chiếu xuống. ánh sáng trong trẻo mà lạnh lùng buông xuống ngọn cây hạnh.

Trí Quang nhìn Triệu Tiền Tôn rồi nói:

- Hay lắm! Lão tăng làm việc lầm lẫn bất tất phải che giấu, đành nói thật ra là xong.

Triệu Tiền Tôn nói:

- Chúng ta vì nước vì dân, sao lại có những hành động lầm lẫn được.

Trí Quang lắc đầu, nói:

- Lầm toét ra rồi sao còn tự dối mình và đi dối người. Ba mươi năm trước đây, các tay hào kiệt ở Trung Nguyên nhận được tin báo nước Khất Ðan có dư hai trăm võ sĩ muốn vào cướp chùa Thiếu Lâm, mưu toan đoạt lấy những đồ phổ trân quý về võ công trong chùa từ mấy trăm năm.

Mọi người khẽ bật lên tiếng "úi chà!" và nghĩ thầm: "Cái dã tâm của bọn võ sĩ Khất Ðan thế thì gớm thật!" Nên biết rằng những môn tuyệt kỹ về võ công phái Thiếu Lâm là những thứ chí bảo về võ thuật Trung Nguyên. Nước Khất Ðan gây cuộc binh cùng nhà Ðại Tống bao nhiêu năm liền, nếu quả chúng cướp được những bí quyết về võ công của phái Thiếu Lâm đem về truyền bá cho quân nhân thì quan binh nhà Ðại Tống không thể nào địch nổi.

Trí Quang nói tiếp:

- Ðó là việc tày trời! Giả tỷ mà Khất Ðan thành công trong vụ này thì nhà Ðại Tống có cái vạ mất nước. Thế thì bọn con cháu của đức Hoàng đế ta có khi đến phải diệt chủng ở dưới lưỡi gươm dài, dao bén của quân Liêu cẩu.

Bọn ta thấy việc khẩn cấp, không kịp thương nghị kế hoạch. Vừa nghe võ sỹ Khất Ðan toan qua ải Nhạn Môn Quan, liền một mặt thông báo về chùa Thiếu Lâm đề phòng cho nghiêm mật, một mặt đem người ra phục ngoài cửa Nhạn Môn để phục kích bọn Liêu cẩu để tuyệt diệt.

Mọi người nghe tin Khất Ðan muốn vào xâm lấn, thảy đều chau mày nghiến răng vì nhà Ðại Tống mấy đời thường chịu quân Khất Ðan lăng nhục, bị thua trận đã nhiều, nào chết quan, mất đất, nào nhân dân bị giày xéo dưới gót sắt của chúng không phải là ít.

Chương 7: Một trận ác đấu ngoài ải nhạn môn quan

Trí Quang đại sư từ từ quay đầu lại, chú ý nhìn Kiều Phong, nói:

- Kiều Bang chúa! Trường hợp mà Bang chúa được tin báo cấp về việc này thì Bang chúa sẽ hành động ra sao?

Kiều Phong nghe hỏi, bầu nhiệt huyết bốc lên bừng bừng, dõng dạc đáp:

- Trí Quang đại sư! Kiều mỗ kiến thức hẹp hòi, tài đức không đủ để quần chúng cảm phục, hiệu lệnh không đủ để anh em trong bản bang tuân theo, nói ra càng thêm hổ thẹn. Dù Kiều mỗ không đủ tài năng nhưng có tấc dạ sắt son, có cốt cách của một gã nam nhi. Trong phạm vi những công cuộc đại nghĩa khí này, quyết chẳng đến nỗi không hiểu điều hơn lẽ thiệt. Nhà Ðại Tống ta bị quân Liêu cẩu lăng nhục, đó là mối căm hờn cho quốc gia, ai là người không nghĩ đến chuyện báo thù. Giả sử mà tôi không được tín báo về việc này cũng phải tự mình suất lĩnh anh em bản bang đi suốt ngày đêm đến tiếp viện.

Những câu khẳng khái hiên ngang của Kiều Phong khiến cho mọi người nghe đều cảm thấy rung động trong lòng và đều cho là bậc đại trượng phu phải thế mới xứng đáng.

Trí Quang gật đầu nói:

- Bang chúa nói như vậy thì ngày đó chúng tôi ra ngoài ải Nhạn Môn quan phục kích không phải là một hành động lầm lạc chăng?

Kiều Phong cảm thấy trong lòng tức tối, lẩm bẩm: "Ngươi cho ta là hạng người nào? Nói thế chẳng hoá ra coi thường ta lắm ru?" Tuy nhiên thần sắc vẫn bình tĩnh, ông nói tiếp:

- Những sự nghiệp oai hùng lẫm liệt của tiền bối, Kiều mỗ rất lấy làm ngưỡng mộ, chỉ tiếc mình sinh sau đẻ muộn, không được theo gót các bậc tiên hiền để dự phần vào những công cuộc nghĩa cử oai hùng, ra tay giết giặc.

Trí Quang chầm chậm nhìn Kiều Phong, nét mặt lộ vẻ khác lạ, thủng thỉnh nói:

- Sau khi chúng tôi được tin, một mặt phái người đến chùa Thiếu Lâm đưa tin, một mặt cùng nhau kéo thẳng đến Nhạn Môn quan để đánh giặc Hồ. Tôi đi cùng nhân huynh đây.

Vừa nói vừa trỏ Triệu Tiền Tôn, Trí Quang lại nói tiếp:

- Chúng tôi đi đoàn đầu cả thảy hai mươi mốt người. Trừ vị thủ lĩnh võ công tuyệt vời ra không kể, còn Uông Bang chúa, Vạn Thắng Ðao Vương Hương Lâm lão anh hùng, Hoàng Sơn Quán Vận Ðạo trưởng phái Ðịa Tuyệt đều là những tay cao thủ bậc nhất trong võ lâm lúc đương thời. Hồi đó lão tăng chưa xuất gia đầu phật, tuy theo gót quần hùng mà thực ra thì bản lĩnh người ta mười, mình chưa được hai, chẳng qua là vì lòng yêu nước, giết giặc, không dám lùi lại phía sau, mong gom góp được phần nào hay phần ấy. Chính nhân huynh đây hồi đó võ công cũng còn cao hơn lão tăng nhiều.

Triệu Tiền Tôn nói:

- Quả vậy! Võ công ngươi hồi đó còn thua xa ta lắm, hay ít ra cũng còn kém hơn một bực.

Triệu vừa nói vừa giơ hai ngón tay thẳng lên, cao thấp cách nhau đến hơn một thước. Y cho thế còn chưa đủ, liền đưa hai lòng bàn tay xa nhau đến thước rưỡi. Trí Quang lại nói:

- Lúc qua ải Nhạn Môn quan thì trời đã hoàng hôn, chúng tôi ra khỏi cửa quan chừng hơn mười dặm, vừa đi vừa ngơm ngớp phòng bị. Trời mỗi lúc một tối sầm lại. Ðột nhiên góc tây bắc có tiếng vó ngựa dồn dập, ít ra là hơn chục con, khí thế rất hùng dũng. Vị thủ lĩnh chúng giơ cao tay mặt lên, cả đoàn đều dừng bước. Ai nấy vừa mừng rỡ vừa hồi hộp mà chẳng ai nói câu nào. Mừng rỡ vì tin báo quả nhiên đúng và chúng tôi đến nơi vừa kịp để ngăn cản bên địch. Song ai cũng biết rằng bọn võ sỹ Khất Ðan này rất lợi hại vô cùng. Ai cũng nghĩ nếu tử tế họ đã không đến đây, mà họ đã đến chứng tỏ là chẳng tử tế gì.

Ngừng một giây, Trí Quang lại nói tiếp:

- Bọn này đã dám khởi hấn với phái Thiếu Lâm, một phái võ nổi tiếng nhất ở Trung Nguyên, tất là đã được tuyển lựa kỹ càng trong những tay võ sỹ cừ khôi.

Nhà Ðại Tống đánh nhau với Khất Ðan nhiều trận thua mà ít khi được. Cuộc chiến đấu hôm nay chưa ai đoán trước được là thắng hay bại. Vị thủ lĩnh vẫy tay một cái, hai mươi mốt người chúng tôi liền chia nhau mai phục vào phía sau những tảng đá lớn hai bên đường.

Hang núi này mé tả là một vực sâu, đá mọc lởm chởm, thăm thẳm nhìn không thấy đáy. Tiếng vó ngựa mỗi lúc một gần, rồi nghe rõ cả tiếng họ ca hát. Song những khúc ca Tây Liêu điệu dài thườn thượt, lại giọng khô khan quê kệch, không

ai hiểu gì cả.

Tay phải tôi nắm chặt lưỡi đao, mồ hôi tay ướt đẫm, thò tay xuống đầu gối lau vào quần cho khô đi, nhưng chỉ được một lát lại ướt đầm. Thủ lĩnh đại ca phục ngay bên cạnh tôi, anh thấy tôi không nín thở được liền đưa tay ra vỗ nhẹ vào vai tôi hai cái rồi trông tôi mà cười. Ðoạn anh vung tay trái đánh dứ một đòn, ra điều tay này sẽ giết hết giặc Hồ.

Tôi cũng nhìn đại ca mỉm cười và thấy vững tâm được nhiều. Con ngựa bên Liêu đi đầu còn cách chừng hơn năm chục trượng, tôi nấp sau tảng đá lớn, ngó ra xem thì thấy bọn võ sỹ Khất Ðan này đều mặc áo mền dày, người dáo dài, kẻ đao ngắn, có người cầm cung đeo túi tên, lại có người để con chim ưng thật lớn đậu trên vai.

Họ vừa đi vừa hát vang, dường như không ai nghĩ đến phía trước có quân địch mai phục. Lát sau tôi đã trông rõ mặt mày người võ sỹ Khất Ðan, tên nào cũng tóc ngắn, râu rậm, mặt mũi hung dữ. Khi thấy họ đến gần, trống ngực tôi đánh thình thịch, dường như trái tim tôi muốn chui qua miệng nhảy ra ngoài.

Mọi người nghe Trí Quang thuật, tuy là việc xảy ra trước đây ba mươi năm mà trong lòng ai nấy đều hồi hộp.

Trí Quang lại nhìn Kiều Phong, nói:

- Việc thành bại này có liên quan đến quốc vận nhà Ðại Tống, cũng là sự yên nguy của ức triệu sinh linh. Chúng tôi lại không nắm vững phần thắng, chỉ trông vào ưu điểm là kẻ địch lộ liễu bên ngoài, còn mình thì nấp trong bóng tối. Theo ý

Bang chúa thì chúng tôi nên làm thế nào?

Kiều Phong đáp:

- Từ xưa đã có câu "Binh bất yếm trá". Hai nước giao binh thì không kể gì đến đạo nghĩa giang hồ hay lề luật võ lâm nữa. Quân Liêu cẩu tàn sát già trẻ, lớn bé con dân nhà Ðại Tống, họ có kiêng dè gì đâu? Theo ý kiến tại hạ thì trong trường hợp nên dùng ám khí và ám khí cần tẩm thuốc độc cực mạnh.

Trí Quang giơ tay vỗ đùi đánh đét một cái, nói:

- Phải lắm! ý kiến Kiều Bang chúa rất hợp với tư tưởng chúng tôi hồi ấy! Thủ lĩnh đại ca thấy Liêu cẩu đến gần liền hú lên một tiếng dài để ra hiệu. Sau các tảng đá lớn, ám tiến tới tấp bay ra: nào cương tiên, nào tụ tiến, nào phi đao, nào thiết chuỳ đều tẩm thuốc kịch độc. Bỗng nghe những tiếng kêu oai oái vang dậy, bọn Liêu cẩu nhốn nháo cả lên, ngã ngựa đến quá nửa. Trong bọn cưỡi ngựa này có người vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.

Trí Quang lại kể tiếp:

- Lúc này tôi đã đếm được rõ ràng bọn võ sỹ Khất Ðan có mười tám tên cả thẩy, mười một tên đã bị trúng ám khí, thế là chỉ còn có bảy. Chúng tôi liền nhất tề xông ra, khoa đao lên chém một lúc chết sạch cả, không còn mống nào chạy thoát.

Nhiều người Cái bang hoan hô nhiệt liệt, song Kiều Phong và bọn Ðoàn Dự lại thầm hỏi: "Ông vừa nói bọn võ sỹ Khất Ðan này được tuyển lựa rất kỹ mà sao chỉ trong khoảnh khắc chúng đã bị giết hết?"

Trí Quang thở phào một cái, kể tiếp:

- Chúng tôi giết một lúc hết sạch mười tám tên, mừng thì mừng thật nhưng lại càng nghi hoặc: chẳng lẽ bọn võ sỹ Khất Ðan chỉ có bấy nhiêu tên bị thịt này thôi sao? Mỗi tên mới bị một đao là toi mạng ngay, tuyệt không có lấy một hảo thủ,

chẳng hoá ra người đưa tin không xác thực? Hay là quân Liêu cẩu có ý bày ra kế dụ địch để nhử bọn chúng tôi?

Trí Quang kể tiếp:

- Còn đương phân vân bỗng lại nghe có tiếng ngựa hí, từ góc Tây Bắc hai người cưỡi ngựa đi tới. Lần này chúng ta không mai phục nữa, ngang nhiên tiến lại. Hai người cưỡi ngựa này là một đàn ông và một đàn bà. Người đàn ông thân thể khôi vĩ, tướng mạo đường đường, cách phục sức sang gấp mấy mười tám tên võ sỹ trước.

Người đàn bà là một thiếu phụ tay bồng đứa nhỏ. Hai người lỏng buông tay khấu, sánh vai nhau cười cười nói nói ra chiều thân mật, rõ ràng là một cặp vợ chồng trẻ. Hai người này vừa trông thấy chúng tôi đã hơi lộ vẻ ngạc nhiên.

Khi thoáng nhìn thấy mười tám tên võ sỹ nằm chết la liệt trên mặt đất, gã đàn ông lộ vẻ hung dữ lạ thường. Gã nhìn chúng tôi cả tiếng quát hỏi, nhưng gã nói tiếng Khất Ðan chỉ nghe thấy líu lo mà chẳng hiểu gì.

Thiết Tháp Phương Ðại Hùng cử ngọn thục đồng côn, quát lớn:

- Tên Liêu cẩu kia xuống nạp mạng đi!

Vừa nói vừa giơ côn đánh xuống gã đàn ông. Thủ lĩnh đại ca trong lòng nghi hoặc, quát lên:

- Phương hiền đệ không được lỗ mãng! Chớ có giết y, phải bắt sống để tra hỏi ngọn ngành.

Thủ lĩnh chưa dứt lời thì gã kia vươn tay phải ra chụp được tay Phương Ðại Hùng đang cầm cây thục đồng côn, vặn đánh "ráu" một tiếng, xương tay Phương Ðại Hùng đã bị gãy nát. Gã giằng lấy cây côn giơ lên vụt xuống. Chúng tôi la ầm lên tiến đến giải cứu thì đã không kịp. Lúc ấy có bảy tám người nhằm gã phóng ám khí tới.

Gã này chỉ giơ giơ tay áo bên trái lên phất một cái, phát ra một luồng kình phong quạt cả bấy nhiêu ám khí rớt xuống một bên. Chúng tôi biết rõ tính mạng Phương Ðại Hùng không thể nào thoát chết, thì thấy gã cầm thục đồng còn xâu

người Phương lên rồi quăng cả người lẫn côn xuống bên đường, miệng lý lố chẳng biết nói gì.

Bây giờ thì rõ ràng tin báo quả đã không sai. Chúng tôi lại lo rằng sau đây còn có những tay ghê gớm hơn nữa. Chúng tôi đành ỷ bên mình đông người xúm lại uy hiếp, sáu bảy người nhảy xô lại tấn công gã đàn ông và bốn năm người xúm lại đánh thiếu phụ. Không ngờ thiếu phụ này chẳng biết chút võ nghệ nào.

Vừa bị chém một đao, cánh tay nàng đã đứt lìa mình. Thiếu phụ bồng con té nhào xuống đất. Một người khác bồi thêm một nhát nữa, bớt mất nửa đầu nàng. Gã đàn ông tuy võ nghệ cao cường nhưng bị bảy tám tay cao thủ vây đánh thì tài nào có thể rảnh tay giải cứu được cho vợ con.

Mấy chiêu đầu gã chỉ dùng thủ pháp kỳ dị để cướp lấy khí giới của chúng tôi chứ không chém giết ai. Nhưng khi thấy vợ con bị giết rồi thì mắt gã đỏ ngầu, vẻ mặt hung dữ trông mà phát khiếp. Lúc đó tôi thấy gã mắt nảy lửa thì hồn vía lên mây không dám tiến lên.

Triệu Tiền Tôn ngắt lời:

- Cái đó không thể trách ngươi được! Cái đó không thể trách ngươi được!

Triệu Tiền Tôn trừ khi nói tới Ðàm bà là có ý nể nang, còn ngoài ra bất luận nói với ai, y cũng chẳng coi vào đâu, vẫn một luận điệu trào phúng và lên giọng trịch thượng. Hai câu này thế là y nói tử tế rồi đó.

Trí Quang lại nói:

- Trận ác chiến này diễn ra trước đây ba mươi năm. Trong ba mươi năm trời, tôi đã không biết bao nhiêu lần nằm mơ thấy hình ảnh đó xuất hiện. Tất cả những chi tiết trong trận ác chiến dường như in sâu vào tâm khảm tôi. Gã người Liêu kia vươn hai tay ra quét ngang một cái, không biết gã đã dùng thủ pháp gì mà đoạt được khí giới của hai người trong bọn tôi, rồi một tay đâm, chém giết luôn hai người đó.

Thoắt nhảy xuống, thoắt đã lại vọt lên lưng ngựa, gã chẳng khác gì ma quỷ hiện hình, Quả vậy gã tựa hồ có phép biến hoá xông vào mé bên này giết một người rồi chuyển vụt sang bên kia chém người khác. Chỉ trong khoảnh khắc, bọn tôi hai mươi mốt người thì chín người đã mất mạng về tay gã. Bấy giờ ai nấy đều tức giận,hai mắt đỏ ngầu.

Thủ lĩnh đại ca cùng Uông Bang chúa và đồng bọn sấn xổ xông vào, không kể gì sống chết để chiến đấu với gã. Dè đâu võ công gã kỳ lạ không thể tưởng tượng được, không ai đoán trước nổi những đòn gã sắp đánh về phương nào. Luồng gió Bắc ngoài ải Nhạn Môn quan thổi hắt hiu hoà lẫn với tiếng kêu gọi của các vị anh hùng hảo hán lúc lâm chung.

Những chân tay run rẩy, những khí giới nhuốm máu đào phóng lên không trung loạn xạ. Lúc này ai bản lĩnh có giỏi cũng bảo vệ thân mình chưa xong, không vào cứu được người chung quanh nữa. Trước tình thế này, lòng tôi quả là vô cùng sợ hãi. Nhưng mắt thấy anh em chết thảm, bất giác luồng nhiệt huyết sôi sùng sục,căm giận đến quên cả sợ hãi.

Tôi cưỡi ngựa xông thẳng vào trước mặt đối phương, hai tay cử hai đao bổ xuống đầu gã. Tôi tự biết nếu nhát gươm này không chém trúng gã thì đành mất mạng với gã. Thanh đao tôi còn cách đầu gã chừng hơn một thước thì đột nhiên tay gã chụp lấy một người đưa đầu lên để hứng lấy nhát đao của tôi.

Tôi nhìn rõ đó là Ðỗ lão nhị trong Ðõ thị tam hùng ở Giang Tây thì giật mình kinh sợ. Nếu cứ thuận đà chém thẳng xuống thì còn gì là tính mạng Ðỗ ca? Tôi hấp tấp rút đao về bỗng nghe "chát" một tiếng, lưỡi đao đã chém đúng vào đầu con ngựa tôi cưỡi. Con ngựa bị đau quá, vừa hí vang một tiếng vừa nhảy lên.Giữa lúc này, gã người Liêu kia đánh ra một chưởng. May làm sao, con ngựa của tôi vừa nhảy lên, không sớm không chậm một giây nào, vừa đúng lúc con ngựa chạm vào chưởng lực của gã, không thì tôi đã bị gãy xương toi mạng. Chưởng lực của gã thật là khủng khiếp, cả người tôi lẫn ngựa bắn tung lên rất cao, rớt đúng xuống một ngọn cây lớn rồi mắc luôn trên đó.

Tôi sợ hãi mê man, chẳng biết mình còn sống hay đã chết rồi và người mình đang ở chỗ nào. Tôi ở trên cao trông xuống thấy bọn anh em mình bao vây đối phương mỗi lúc một ít dần, chỉ còn lại năm sáu người, tôi thấy người nhân huynh

đây (trỏ Triệu Tiền Tôn) lạng đi một cái, té lăn xuống vũng máu. Tôi tưởng y cũng toi mạng rồi.

Triệu Tiền Tôn nói:

- Việc này nói ra thật xấu hổ nhưng chả cần giấu giếm làm gì. Có phải ta bị thương đâu, vì sợ quá mà ngất lịm đi ngã ra. Ta thấy gã người Liêu hai tay nắm lấy hai chân Ðỗ nhị ca xé ra một cái đứt đôi, lục phủ ngũ tạng rời cả ra ngoài. Ðột

nhiên ta thấy trái tim ngừng đập, mắt tối sầm lại rồi không biết gì nữa. Phải mà! Ta là con quỷ nhát gan, thấy gã vừa xé người đã sợ quá ngất đi.

Trí Quang nói:

- Thấy con ác quỷ đó giết anh em mà bảo là không sợ thì thật là nói bậy. Lúc đó mảnh trăng lạnh lùng cũng đang lơ lửng đầu non rọi xuống như cảnh tượng đêm nay.

Trí Quang nói đến đây, liếc mắt nhìn lên mảnh trăng lưỡi liềm trên đỉnh núi rồi nói tiếp:

- Lúc đó bên ta chỉ còn bốn người chiến đấu với gã Liêu cẩu. Anh thủ lĩnh tưởng mình không tài nào thoát chết, quát hỏi liên thanh: "Ngươi là ai? Ngươi là ai?" Gã người Liêu không trả lời, xoay tay hai cái lại giết luôn hai người nữa. Thốt nhiên gã co chân đá vào huyệt đạo trên lưng Uông Bang chúa, rồi chân trái đá theo thế "Uyên ương liên hoàn" trúng huyệt đạo anh thủ lĩnh.

Những cử động điểm huyệt, đá huyệt của gã tôi trông rõ cả. Lấy chân đá mà điểm trúng huyệt đạo, cước pháp của gã thật vô cùng kỳ dị, tôi không thể tưởng tượng được. Giả tỷ tôi không biết mình sắp chết đến nơi thì khi trông thấy hai

người bình sinh tôi rất kính ngưỡng đang gặp nạn, đã buột miệng la lên.

Gã người Liêu thấy đã giết hết bọn cường địch liền chạy lại bên thi thể vợ, ôm lấy thây nàng khóc rống lên, tiếng khóc cực kỳ bi thảm. Tôi nghe tiếng khóc không khỏi mủi lòng, thì ra tên Liêu cẩu này ác như quỷ sứ, dữ như ác thú mà hãy còn có nhân tính. Giọng thống khốc bi ai của gã tưởng chả kém gì người Hán chúng ta.

Triệu Tiền Tôn nói:

- Loài dã thú còn có thâm tình giữa cha con và vợ chồng, vị tất nó đã thua loài người. Thế thì người Liêu cũng là người, Hán cũng là người, sao nó lại không thương xót bằng người Hán?

Mọi người nghe Triệu Tiền Tôn nói, nổi lên la ó:

- Quân Liêu cẩu bạo ngược hung dữ, tệ hại hơn rắn độc, mãnh thú. Sao lại đem ví với người Hán ta được?

Triệu Tiền Tôn chỉ cười lạt mà không đáp. Trí Quang lại nói tiếp:

- Gã người Liêu khóc một hồi rồi ôm lấy xác đứa nhỏ nhìn một lúc rồi đặt xác đứa nhỏ vào trong lòng xác mẹ. Ðoạn gã chạy đến trước mặt anh thủ lĩnh quát tháo. Song anh thủ lĩnh không chịu khuất phục, trừng mắt nhìn gã. Có điều anh bị

điểm huyệt nên không nói ra lời quát mắng lại được. Gã người Liêu đột nhiên ngửa mặt nhìn trời, hú lên một tiếng dài rồi thò đầu ngón tay ra viết chữ vào vách đá.

Lúc đó trời đã tối mịt, tôi lại ở đằng xa nên không nhìn rõ gã viết những gì.

Triệu Tiền Tôn nói xen vào:

- Gã viết gì cũng viết bằng chữ Khất Ðan, dù ngươi có trông thấy cũng chẳng hiểu cóc gì.

Trí Quang đáp:

- Ðúng rồi! Tôi có trông thấy thì trông chứ cũng không hiểu được. Gã viết xong quay lại ôm lấy thây vợ con, chạy ra sườn núi nhảy tòm xuống vực sâu! Biến cố này thật tôi không ngờ đến. Tôi vẫn tưởng một người võ công cao cường như gã tất phải là một bậc cao cả ở nước Liêu, chuyến này vào Trung Nguyên tập kích chùa Thiếu Lâm chắc gã đứng vào địa vị đại thủ lĩnh và là một nhân vật tối quan trọng trong đoàn võ sỹ mới phải.

Gã bắt giữ anh thủ lĩnh cùng Uông Bang chúa còn thì giết hết, có thể nói là gã đã toàn thắng và sẽ thẳng tiến vào Trung Nguyên. Dè đâu gã lại nhảy xuống vực thẳm tự tận. Lúc trước, tôi đã nhìn xuống khe núi, chỉ thấy mây toả mịt mù, sâu

không rõ đáy. Gã đã nhảy xuống thì dù võ công cao đến đâu, cái thân thể bằng xương bằng thịt cũng nát ra như cám.

Tôi giật mình kêu rú lên một tiếng thất thanh. Trong chuyện kỳ dị lại xảy ra việc khác còn kỳ dị hơn. Tôi vừa kêu rú lên, bỗng nghe tiếng trẻ nít khóc oe oe từ dưới khe núi vọng lên, tiếp theo là một vật đen sì ở dưới khe bay vọt lên không, rơi nhẹ đánh "xạt" một tiếng vào chỗ Uông Bang chúa ngã ra còn nằm đó, tiếng trẻ nít vẫn khóc thét lên không ngớt.

Té ra cái vật rớt xuống bên mình Uông Bang chúa chính là đứa nhỏ lúc nãy. Bấy giờ tôi hết sợ rồi, liền từ trên ngọn cây nhẩy xuống, chạy lại xem thì thấy đứa nhỏ nằm ngang trên bụng Uông Bang chúa khóc hoài. Tôi nghĩ một lúc mới hiểu rõ: nguyên lúc thiếu phụ Khất Ðan bị giết, đứa con nàng tuy ngã xuống đất, nhắm mắt ngừng thở nhưng thực ra chưa chết.

Gã người Liêu trong lúc xót thương khóc vợ, đặt tay lên mũi đứa nhỏ không thấy hơi thở, tưởng là vợ con cùng chết cả rồi, liền ôm cả hai cái xác nhảy xuống vực.

Ðứa nhỏ bị chấn động, đột nhiên hồi tỉnh bật lên tiếng khóc. Gã người Liêu chân tay mau lẹ phi thường, không muốn chôn sống con dưới vực sâu, liền quăng đứa nhỏ lên theo đúng phương vị vào chỗ Uông Bang chúa, thì quả nhiên đứa nhỏ rớt trúng bụng Uông Bang chúa nên không bị thương.

Thế là gã người Liêu trong lúc mình đang lơ lửng chưa xuống đến đáy vực mới phát giác ra con mình chưa chết. Gã liền lập tức quăng con lên, tâm linh gã mau lẹ đã đành, nhưng tung con đúng chỗ không sai mảy may thì võ công này ai mà

không khiếp sợ. Tôi nhìn anh em chết thảm, khóc ròng một lúc rồi nhấc đứa nhỏ lên, toan đập nó vào tảng đá cho chết đi.

Nhưng vừa toan liệng vào, bỗng nghe nó khóc thét lên, tôi nhìn mặt nó một cái, thấy má nó bụ bẫm đỏ hây, mắt nó đen láy và trong sáng đang nhìn tôi. Nếu tôi không trông vào mặt nó thì đã quật chết tươi rồi, chả còn chuyện gì nữa. Nhưng tôi trông bộ mặt khả ái không nỡ hạ độc thủ. Tôi nghĩ thầm trong bụng: "Quật chết một đứa nhỏ chưa đầy năm là một cử động hèn nhát, đâu phải là hành vi của bậc đại trượng phu".

Quần chúng Cái bang có người la lên:

- Trí Quang đại sư! Bọn Liêu cẩu giết đồng bào người Hán chúng ta không biết bao nhiêu mà kể. Chính mắt tôi trông thấy bọn dã man nầy lấy mũi dáo dài xâu trẻ con người Hán rồi cưỡi ngựa cầm bêu khắp phố phường để diễu võ dương oai! Bọn chúng giết trẻ con mình được tại sao mình lại không giết nó đi?
Trí Quang đại sư thở dài, nói:

- Quả đúng như vậy, song tấm lòng trắc ẩn ai mà không có? Hôm ấy tôi trông người thảm tử đã nhiều, quả là không nỡ trông thấy đứa hài nhi chết thảm nữa. Các bạn bảo tôi làm việc sai lầm cũng được, hay bảo tôi là nhát gan tôi cũng đành chịu, tôi vẫn để nó sống, rồi đi giải những huyệt đạo cho anh thủ lĩnh cùng Uông Bang chúa. Một là bản lĩnh tôi quá thấp kém, hai là gã người Liêu có những tuyệt kỹ dị kỳ, tôi đã gia công nào nắn, nào vỗ, nào thoa, nào dẫy, nào bóp gân cốt hì hục tay đẫm mồ hôi, dùng đủ mọi cách mà anh thủ lĩnh cùng Uông Bang chúa vẫn không nhúc nhích và không mở miệng nói được.

Trí Quang lại nói tiếp:

- Tôi chưa có cách nào giải cứu hai người, lại phập phồng lo sợ bọn tiếp viện bên Liêu kéo đến, liền dắt ba con ngựa lại, xốc anh thủ lĩnh rồi Uông Bang chúa để lên lưng ngựa. Mình tôi cưỡi một con, một tay bồng đứa nhỏ Khất Ðan, một tay dắt hai ngựa đi ngày đêm về Nhạn Môn quan tìm thầy thuốc giải huyệt cũng chẳng ăn thua gì.

May sao đến tối hôm sau là đủ mười hai giờ, huyệt đạo hay vì tự nhiên được giải phóng. Anh thủ lĩnh cùng Uông Bang chúa nhớ ngay đến việc bọn võ sỹ nước Liêu đến tập kích chùa Thiếu Lâm, nên vừa khai thông huyệt đạo, lập tức hai vị cùng tôi lại ra ngoài ải Nhạn Môn quan dò xét.

Chúng tôi thấy máu đổ thịt rơi trên mặt đất vẫn còn y nguyên như hôm qua. Tôi lại nhìn xuống vực thẳm, song thuỷ chung vẫn không thấy đáy. Lúc đem mai táng thi hài anh em bị uổng mạng, chúng tôi kiểm điểm lại thì chỉ thấy có mười bẩy tử thi, mà tính ra chết mất mười tám người, thế thì đi đâu mất một cái xác?

Nói tới đây, đại sư đưa mắt nhìn Triệu Tiền Tôn. Triệu Tiền Tôn nhăn nhó cười, nói:

- Trong đám này có một xác chết sống lại, đi đi lại lại được cho đến ngày nay.

Cái xác ấy là Triệu Tiền Tôn Lý, Chu Ngô Trịnh Vương này.

Trí Quang lại nói:

- Bấy giờ chúng tôi chẳng lấy gì làm lạ, tưởng rằng trong lúc hỗn chiến, nhân huynh đây đã chết mất xác lăn xuống dưới vực thẳm cũng là chuyện thường.

Chúng tôi mai táng anh em xong, mối căm hờn vẫn còn nung nấu trong lòng, liền đem những xác người Liêu quăng hết xuống vực thẳm. Anh thủ lĩnh thốt nhiên quay lại hỏi Uông Bang chúa: "Này Kiếm Nhiêm! Gã người Liêu kia mà muốn

giết hai ta thực dễ như trở bàn tay. Sao gã lại đá trúng các huyệt đạo mà không giết chúng mình?"

Uông Bang chúa đáp: "Vụ này thật khó hiểu quá! Hai ta là nhân vật đầu sỏ, bọn ta lại giết cả vợ con yêu dấu của gã, đáng lý gã phải giết sạch bọn ta mới phải". Ba người bàn đi tán lại mãi vẫn không ra lẽ. Anh thủ lĩnh hỏi: "Gã viết chữ vào vách đá kia, hoặc giả có thâm ý gì chăng?"

Khốn nỗi cả ba chúng tôi đều không hiểu chữ Khất Ðan. Anh thủ lĩnh quệt máu ở dưới đất bôi lên vách đá rồi xé mảnh áo bạch bào in vào đó. Chúng tôi thấy nét chữ Khất Ðan sâu vào trong đá đến một tấc, mà gã chỉ lấy ngón tay vạch ra.

Riêng chỉ lực này chúng tôi thấy thế mà ghê sợ, liên tưởng đến hiện tượng hôm trước, bất giác trong lòng cả thẹn. Chúng tôi về quan ải, tìm đến người lái buôn ngựa, thường qua nước Liêu mua ngựa có biết chữ Khất Ðan, cầm mảnh bạch bào in chữ đưa cho y coi để y dịch ra chữ Hán viết vào giấy.

Trí Quang thuật đến đó, ngẩng đầu nhìn trời, thở dài một tiếng rồi tiếp tục kể:

- Ba người chúng tôi xem xong bản dịch ra Hán văn rồi người nọ nhìn người kia,ai cũng ra vẻ không tin. Chúng tôi lại đi tìm một người khác thông hiểu chữ Khất Ðan nhờ dịch miệng lại từng câu cho chúng tôi nghe hết một lượt, thì ý tứ cũng

đúng như bản dịch trước. Than ôi! Nếu sự thực đúng như thế, thì không những mười bảy anh em mình chết uổng mà cả bọn người Liêu trước cũng vô tội mà phải vạ can. Ðối với thân nhân những người bị nạn, chúng tôi rất lấy làm hổ thẹn và hối hận suốt đời.

Mọi người nóng lòng nghe xem ý tứ những dòng chữ trên vách đá nói gì thì Trí Quang lại ngần ngừ không nói nữa, thậm chí có người sốt ruột lên tiếng giục:

- Những dòng chữ đá nói gì? Xin đại sư cho biết! Làm sao mà các vị phải hối hận?

Trí Quang nói:

- Xin liệt vị anh hùng biết cho, không phải là tôi có ý giấu giếm không chịu thổ lộ ý nghĩa trong bản văn bằng chữ Khất Ðan. Liệt vị nên biết cho rằng ý nghĩa lời văn trên vách đá quả thực tình. Té ra thủ lĩnh đại ca, Uông Bang chúa và tôi đây đã lầm lớn trong những cái lầm phi thường, có thể nói là không còn mặt mũi nào trông thấy ai nữa. Trí Quang này là tên vô danh tiểu tốt trong võ lâm làm việc lầm lẫn không kể gì, nhưng còn thủ lĩnh đại ca cùng Uông Bang chúa ở vào địa vị nào?

Huống chi Uông Bang chúa đã qua đời, tôi không dám làm thương tổn đến thanh danh hai vị đó. Xin anh em tha lỗi cho, tôi không thể nói việc này được.

Uông Bang chúa là Bang chúa Cái bang trước đây, oai danh lừng lẫy. Trên từ trưởng lão dưới đến đệ tử, ai cũng chịu ơn sâu nghĩa nặng của Bang chúa. Quần chúng Cái bang tuy nóng tính hiếu kỳ, song nghe nói việc này có hại đến thanh

danh Uông Bang chúa nên không ai dám hỏi han nữa. Trí Quang thấy mọi người yên lặng, kể tiếp:

- Ba chúng tôi thương nghị một lúc, trong lòng ai nấy đều bán tín bán nghi, thế rồi tạm thời hãy để cho đứa nhỏ Khất Ðan kia được toàn mạng. Chúng tôi trở về chùa Thiếu Lâm để nghe động tĩnh. Nếu quả bọn võ sỹ Khất Ðan kéo đến tập kích mà chúng tôi không đương nổi bấy giờ sẽ giết đứa nhỏ cũng chưa muộn.

Chủ ý đã định, chúng tôi lên ngựa đi ngay, không kể ngày đêm về đến chùa Thiếu Lâm thì thấy anh hùng các nơi đến tiếp viện đã nhiều. Ta nên biết việc này có liên hệ đến sự yên nguy sinh tử hàng bao nhiêu triệu bách tính đất Thần Châu.

Một khi đã được tin cấp báo, ai nấy đề mong góp một phần hơi sức vào công cuộc bảo vệ phái Thiếu Lâm.

Trí Quang đảo cặp mắt sáng như điện nhìn một lượt từ tả sang hữu rồi nói tiếp:

- Cuộc tụ hội tại chùa Thiếu Lâm lần này bao nhiêu bậc anh hùng nhiều tuổi hơn tôi đến tham dự rất đông, tưởng chẳng cần phải nói rõ hết mọi chi tiết. Tất cả mọi người có mặt tại chùa Thiếu Lâm đều phòng bị rất là nghiêm ngặt. Anh hùng khắp nơi về tiếp viện mỗi ngày một đông, cuộc phòng thủ cực kỳ chu đáo cẩn mật.

Thế mà từ tiết Trùng dương tháng chín cho đến tháng chạp, suốt ba tháng trời tuyệt không thấy âm hao chi hết. Mọi người toan bắt gã đưa tin ra chất vấn nhưng tìm không thấy y đâu nữa. Chúng tôi mới biết đó là tin giả, bao nhiêu người đã bị lừa dối. Trận đánh ngoài Nhạn Môn quan hai bên chết uổng không ít.

Nhưng chẳng bao lâu, Khất Ðan đem quân thiết kỵ vào xâm lấn công kích các lộ quân mặt Hà Bắc. Chuyện võ sỹ Khất Ðan có vào đánh lớn chùa Thiếu Lâm nữa hay không, không ai để ý tới nữa. Bọn chúng dù có đến tập kích hay không cũng thế, người Khất Ðan đã thành những quân tử thù của nhà Ðại Tống ta.

Thủ lĩnh đại ca, Uông Bang chúa cùng tôi, ba người trong lòng rất hổ thẹn về việc ngoài ải Nhạn Môn quan, chỉ đem việc này kể lại với phương trượng chùa Thiếu Lâm và chỉ báo tin cho những thân nhân anh em tử nạn, còn tuyệt nhiên

không nói với người ngoài. Ðứa nhỏ Khất Ðan gửi cho một nhà nông thôn dưới chân núi Thiếu Thất nuôi dưỡng.

Vấn đề khó giải quyết là ở chỗ sau này sẽ xử trí với đứa nhỏ đó ra sao? Chúng tôi đối với cha mẹ nó quả tàn nhẫn, nếu lại hạ thủ giết cả nó thì thật là quá độc ác.

Bằng nuôi cho nó lớn khôn mà người Khất Ðan đã thành kẻ tử thù của chúng ta thì phỏng có khác gì nuôi ong tay áo?

Sau thủ lĩnh đại ca lấy trăm lạng bạc giao cho nhà nông để y nuôi dưỡng đứa nhỏ và bảo vợ chồng y nhận nó làm con chính thức. Khi nó khôn lớn cũng không cho nó biết là đã lãnh tiền để nuôi nó. Vợ chồng nông gia này không có con, mừng như bắt được của, liền vâng lời ngay, vì vợ chồng ấy không biết đứa nhỏ này là dòng máu Khất Ðan.

Trước khi đem đứa nhỏ đến núi Thiếu Thất, chúng tôi đã thay quần áo như trẻ con bên Hán. Nên biết rằng nhân dân Ðại Tống thâm thù người Khất Ðan đến tận xương tuỷ. Ai biết nó là dòng dõi Khất Ðan giả trang cũng tìm cách giết nó...

Kiều Phong nghe đến đây đã đoán ra được tám chín phần, giọng run run hỏi:

- Trí Quang đại sư! Tôi... tôi... xin hỏi, nhà nông ở chân núi Thiếu Thất đó họ gì?

Trí Quang đáp:

- Bang chúa đã đoán ra, tôi chả giấu làm gì vô ích, nà nông đó họ Kiều tên gọi Tam Hoè.

Kiều Phong lớn tiếng la lên:

- Không! Không phải!... đại sư chớ nên bịa chuyện hồn ma để vu hãm tôi. Tôi đường đường là người Hán tộc, sao lại bảo tôi là dòng giống mọi rợ Khất Ðan. Nếu đại sư còn nói lăng nhăng thì tôi... tôi... sẽ... Tam Hoè công là gia gia thân sinh ra tôi, đại sư còn nói...

Ðột nhiên Kiều Phong nhảy lại trước mặt Trí Quang, túm lấy ngực áo. Ðơn Chính cùng Từ trưởng lão la lên:

- Không được! Không được!

Rồi sấn đến toan cướp Trí Quang lại. Kiều Phong chân tay rất mau lẹ, túm lấy mình Trí Quang kéo đi xa ra. Con Ðơn Chính là Ðơn Trọng Sơn, Ðơn Thúc Sơn,Ðơn Quý Sơn, ba gã nhảy xổ tới sau lưng Kiều Phong để cứu Trí Quang. Kiều Phong giận như điên cuồng, nắm lấy Ðơn Thúc Sơn quăng ra xa, rồi lại nắm lấy Ðơn Trọng Sơn đẩy mạnh một cái. Lần thứ ba, ông nắm lấy Ðơn Quý Sơn ném xuống đất, chân dậm lên đầu gã.

Ðơn thị ngũ hổ tiếng tăm lừng lẫy một dải Sơn Ðông. Năm anh em thành danh đã lâu, nào phải hạng hậu bối ở lều tranh túp cỏ mới ra đời. Thế mà Kiều Phong tay trái nắm Trí Quang, tay phải túm luôn ba gã đại hán như cầm nắm rơm ném đi,chẳng ai chống cự được mảy may. Mọi người trông thấy đều hết hồn, miệng há hốc ra.

Ðơn Chính cùng Ðơn Bá Sơn và Ðơn Tiểu Sơn, ba người xót tình máu mủ, toan nhảy xổ vào cứu viện nhưng thấy Kiều Phong dẫm lên đầu Ðơn Quý Sơn, biết rõ thần lực của ông ghê gớm, chỉ khẽ vận động kình lực xuống chân là Ðơn Quý Sơn sẽ bị gãy xương toi mạng. Vì thế mà ba cha con Ðơn Chính phải dừng chân không dám tiến lại nữa.

Ðơn Chính kêu lên:

- Kiều Bang chúa! Ta hãy lấy điều phải chăng nói chuyện với nhau, sao lại hành động nóng nảy như thế? Ðơn gia tôi với Bang chúa vốn không thù không oán, vậy Bang chúa buông tha con tôi ra.

Từ trưởng lão cũng nói:

- Kiều Bang chúa! Trí Quang đại sư là người khắp giang hồ ai cũng kính trọng,Bang chúa không được hại đến tính mạng đại sư.

Kiều Phong căm tức máu sôi, lớn tiếng nói:

- Ðúng rồi! Kiều Phong này với nhà họ Ðơn không oán không thù, Trí Quang đại sư là người mà tôi vẫn tôn kính. Các ông... các ông... muốn cất ngôi Bang chúa của tôi thì tôi xin chắp tay nhường lại. Sao phải bày đặt ra câu chuyện này để khinh miệt tôi? Tôi... tôi... Kiều mỗ này có làm điều chi mờ ám bại hoại... sao các ông lại bức bách tôi đến thế?

Mấy câu sau Kiều Phong nói với giọng nghẹn ngào. Mọi người nghe không khỏi tỏ ý đồng tình. Khi nghe thấy Trí Quang đại sư xương cốt trong mình kêu rắc rắc,ai nấy đều biết rằng tính mệnh đại sư chỉ một hơi thở là xong. Ðại sư sống hay chết đều ở trong tay Kiều Phong.

Chương 8: Sự lòng giải tỏ khúc nôi

Trong rừng hạnh, ngoài tiếng xương cốt đại sư Trí Quang chuyển rắc rắc, tiếng gió thổi ngọn cây ào ào hoặc tiếng côn trùng sột soạt trong đám cỏ, ngoài ra không ai dám lên tiếng. Bầu không khí nặng trĩu nghiêm trọng bao phủ hồi lâu, đột nhiêu

Triệu Tiền Tôn cười khanh khách, nói:

- Buồn cười thật là buồn cười! Người Hán đã chắc gì hơn ai? Người Khất Ðan chưa chắc đã không bằng loài súc sinh! Hiển nhiên đã là người Khất Ðan việc gì mà phải mạo nhận là người Hán, như thế phỏng có ích gì? Ðến cha mẹ sinh ra

mình, mình không chịu nhìn nhận, thế cũng đòi là tu mi nam tử, là đại trượng phu?

Kiều Phong trợn mắt, hầm hầm nhìn Triệu Tiền Tôn, hỏi:

- Phải chăng tiền bối bảo Kiều mỗ là người Khất Ðan?

Triệu Tiền Tôn đáp:

- Ta cũng không hiểu nữa. Ta chỉ biết rằng trận đánh ngoài ải Nhạn Môn quan có người võ sỹ từ tướng mạo cho đến thân thể hao hao giống ngươi mà thôi. Trận đánh ấy, chợt nghĩ đến ta lại hồn vía lên mây, tim mật tan vỡ. Tướng mạo con người đối đầu với ta, dù trăm năm nữa ta cũng không quên được.

Kiều Phong từ từ buông Trí Quang đại sư xuống, chân phải sẽ hất lên một chút,nhẹ nhàng đá cái thân thể to lớn của Ðơn Quý Sơn đánh binh một cái cho rơi xuống đất. Ðơn Quý Sơn xoay mình đi, đứng ngay dậy được chưa bị thương chút nào. Kiều Phong hai mắt nhìn chằm chặp Trí Quang đại sư, thấy nét mặt lão vẫn thản nhiên, không lộ ra chút chi là giảo quyệt gian trá, liền hỏi:

- Thế rồi sao nữa?

Trí Quang đáp:

- Những chuyện về sau Bang chúa đã biết rồi đó, Bang chúa hồi bẩy tuổi lên núi Thiếu Thất hái trái cây, gặp con chó sói toan vồ thì may sao gặp một nhà sư chùa Thiếu Lâm cứu cho thoát chết, giết ác thú, lại chữa cho Bang chúa khỏi vết thương.

Từ đó trở đi, nhà sư còn truyền dạy võ công cho Bang chúa, có đúng thế không?

Kiều Phong đáp:

- Ðúng rồi! Thế ra các việc đại sư đều biết cả.

Hồi đó nhà sư chùa Thiếu Lâm truyền dạy võ công cho Kiều Phong đã dặn chàng không được tiết lộ với ai. Vì thế mà khách giang hồ chỉ biết chàng là đồ đệ chân truyền của Uông Bang chúa, chứ không ai hiểu Kiều Phong đã có mối quan hệ với chùa Thiếu Lâm. Trí Quang nói:

- Nhà sư chùa Thiếu Lâm đó chịu lời uỷ thác của thủ lĩnh đại ca giáo huấn cho Bang chúa khỏi lầm đường lạc lối. Chính vì việc này, thủ lĩnh đại ca, Uông Bang chúa cùng tôi đã tranh luận sôi nổi. Tôi bảo để nguyên Bang chúa ở chốn đồng

ruộng, sinh nhai về nghề nông, không cần học võ làm gì để mua thù chuốc oán trong đám giang hồ. Song thủ lĩnh đại ca lại bảo nếu làm như vậy thì có điều hối hận với lệnh song đường, nên chăm chút nuôi dưỡng giáo huấn để Bang chúa trở

nên một vị anh hùng.

Kiều Phong hỏi:

- Tại sao... mà các vị tiền bối lại có điều hối hận với song thân tôi? Người Hán cùng người Khất Ðan đã có mối thù sâu cay, chém giết nhau là sự thường, tôi tưởng chả có điều chi mà phải hối hận.

Trí Quang thở dài, nói:

- Bức di văn trên vách đá ngoài ải Nhạn Môn quan hiện nay vẫn còn, rồi đây lúc này tiện dịp Bang chúa ra mà coi. Thủ lĩnh đại ca đã có chủ ý như vậy thì dù sao tôi cũng phải chịu thua anh. Ðến năm mười bốn tuổi, Bang chúa được Uông Bang chúa nhận làm đồ đệ, rồi từ đó trở đi, Bang chúa gặp rất nhiều bước đường may mắn. Dĩ nhiên là thiên tư Bang chúa đặc biệt hơn người, cả chí phấn đấu cũng không ai bì kịp. Giả tỷ mà Bang chúa không được thủ lĩnh đại ca cùng Uông Bang chúa hết lòng quyến cố đỡ đầu cho thì Bang chúa đâu có dễ dàng bước lên địa vị ngày nay.

Kiều Phong cúi đầu ngẫm nghĩ, nhớ lại trong đời mình đã gặp bao nhiêu bước nguy nan, song lần nào cũng đổi dữ ra lành, chưa bị vố nào đau và bao nhiêu cơ hội may mắn từ đâu đưa đến cho mình, không cầu mà được. Mình cứ tưởng tiền vận dường như có phúc tinh chiếu mệnh đều tai qua nạn khỏi. Bây giờ nghe Trí Quang đại sư nói mới biết là mình được một vị đại anh hùng ngấm ngầm nâng đỡ, mà sao chính mình không biết gì hết.

Kiều Phong lại bâng khuâng tự hỏi: "Lời nhà sư Trí Quang nói có đúng hay không? Nếu đúng thì mình dòng máu Khất Ðan chứ không phải người Hán và Bang chúa không phải là ân sư mình, trái lại là cừu địch có mối thù giết cha mình.

Người anh hùng ngấm ngầm giúp ta phải chăng có chân tâm mong ta nên người hay chỉ là một cách để chuộc lại lỗi trước? Không! Không! Giống Khất Ðan hung tàn bạo ngược, là quân tử thù của người Hán, sao ta lại có thể là người Khất Ðan được?"

Trí Quang lại nói:

- Ban đầu Uông Bang chúa vẫn gia tâm đề phòng Bang chúa, nhưng rồi sau thấy nghiệp võ của Bang chúa tiến rất mau, cách hành động bất cứ việc gì cũng hợp ý Uông Bang chúa, lại một niềm kính cẩn tôn trọng, dần dần Uông Bang chúa rất chân tam yêu mến Bang chúa. Sau, Bang chúa được nhiều công trạng, oai danh mỗi ngày một lừng lẫy. Dân chúng Cái Bang từ trên chí dưới ai cũng đem lòng tin phục.

Cả người ngoài cũng biết rằng ngôi Bang chúa ở Cái Bang tất đến tay Bang chúa. Song Uông Bang chúa thuỷ chung vẫn không có chủ ý như vậy, chỉ vì lẽ Bang chúa là người Khất Ðan. Sau, Uông Bang chúa đem ba vấn đề trọng đại nan giải ra thử thách Bang chúa, thì Bang chúa nhất nhất giải quyết được một cách rất chu đáo. Thế mà Uông Bang chúa còn chờ cho Bang chúa lập đủ bẩy lần công lao to lớn mới chịu đem "Ðả cẩu bổng pháp" truyền thụ cho.

Năm đại hội ở Thái Sơn, Bang chúa đã trừ được tám kẻ cường địch cho Cái Bang, khiến Cái bang lừng danh thiên hạ. Bấy giờ Uông Bang chúa không còn do dự gì nữa, lập Bang chúa lên làm chủ Cái Bang. Theo chỗ tại hạ biết thì Cái Bang này mấy trăm năm nay, chưa có vị Bang chúa thứ hai nào phải trải qua nhiều cuộc gian lao mới lên được ngôi làm chúa tể bản bang như Bang chúa.

Kiều Phong cúi đầu nói:

- Tôi vẫn tưởng rằng ân sư tôi là Uông Bang chúa có ý rèn luyện cho tôi, bắt tôi phải chịu gian khổ nhiều năm để có thể đảm đương trách nhiệm trọng đại. Cứ lời đại sư nói thì ra... thì ra...

Lúc này trong lòng Kiều Phong mười phần đã đến tám tin lời Trí Quang đại sư.

Trí Quang nói:

- Những điều tại hạ biết đã nói hết rồi. Sau khi Bang chúa lên ngôi chúa tể Cái Bang, tại hạ còn được nghe tiếng đồn trên đám giang hồ, ai cũng nói Bang chúa là người toàn làm việc nghĩa hiệp, gây hạnh phúc cho dân, xử sự rất công bằng, chỉnh đốn mọi công việc để Cái Bang trở nên hưng vượng. Riêng tôi, tôi cũng mừng thay cho Bang chúa. Tôi còn được nghe Bang chúa đã mấy lần phá gian mưu của Khất Ðan, cũng là giết vô số anh hùng Khất Ðan. Cái lo "dưỡng hổ di hoạ" không thành vấn đề nữa. Việc này kể ra vĩnh viễn chẳng nên nhắc tới nữa mà không biết ai lại khuấy lên. Chẳng những nó làm phiền lòng cho Bang chúa mà còn vô bổ cho Cái Bang.

Từ trưởng lão nói:

- Ða tạ Trí Quang đại sư đã thuật lại vụ này một cách rất rành mạch, khiến cho ai nấy dường như được chứng kiến những việc đã xảy ra. Còn phong thư này...

Trưởng lão tay giơ phong thư lên, nói tiếp:

- Phong thư này là của thủ lĩnh đại ca viết cho Uông Bang chúa đây. Trong thư người cực lực khuyên ngăn Uông Bang chúa không nên truyền ngôi chúa tể Cái Bang cho Kiều Bang chúa. Kiều Bang chúa! Bang chúa thử coi xem.

Nói xong, cầm thư đưa cho Kiều Phong. Trí Quang nói:

- Ðể tôi xem coi lại đã, xem có đúng là bức thư đó không?

Nói xong, đưa tay ra cầm lấy thư xem qua một lượt rồi nói:

- Ðúng rồi đây! Quả nhiên là bút tích của thủ lĩnh đại ca.

Nói xong, đưa ngón tay ra cấu chỗ tên người thư danh, bỏ vào miệng nuốt. Lúc đó trời đã tối hẳn, trong rừng hạnh chỉ có ánh trăng sao lờ mờ. Khi Trí Quang hoà thượng xé chỗ tên ký, hoà thượng đã có ý để cho vào tận mắt, giả vờ ánh sáng không đủ rõ, lá thư đã gần kề miệng. Kiều Phong không ngờ vị lão tăng đạo cao đức trọng lại biết cách giảo hoạt đến thế.

Kiều Phong thấy Trí Quang xé thư giận quá gầm lên, vung tay trái ra nhảy lại điểm huyệt nhà sư, tay phải cướp lấy lá thư, song chậm mất rồi, chỗ tên ký đã bị nuốt vào trong cổ họng. Kiều Phong đành giải phóng huyệt đạo cho nhà sư, nhưng vẫn bực mình, hỏi:

- Ðại sư... đại sư làm gì vậy?

Trí Quang mỉm cười, đáp:

- Kiều Bang chúa! Kiều Bang chúa đã biết thân thế mình rồi. Còn chuyện Bang chúa muốn báo thù người đã hạ sát lệnh tôn cùng lệnh đường thì Uông Bang chúa đã qua đời rồi còn gì nữa. Ðến như tên họ thủ lĩnh đại ca thì bần tăng không muốn Bang chúa biết, chính bần tăng cũng có tham dự vào trận đánh nhau với lệnh tôn, lệnh đường thì bất luận tội tình gì, lão tăng xin một mình gánh hết. Bang chúa muốn giết, muốn mổ xin cứ hạ thủ đi cho!

Kiều Phong thấy Trí Quang lông mày rủ thấp, nét mặt tươi cười mà đượm vẻ từ bi nghiêm cẩn. Trong lòng ông tuy vừa thương vừa giận nhưng cũng đem lòng kính trọng. Ông nói:

- Hiện giờ Kiều mỗ chưa rõ chân giả ra sao, dù mỗ có muốn hạ sát đại sư chăng nữa cũng không thể hấp tấp được.

Nói xong, Kiều Phong lại đưa mắt nhìn Triệu Tiền Tôn. Triệu Tiền Tôn nhún vai tựa hồ như không quan tâm gì, y nói rất tự nhiên:

- Ðúng đó! Ta cũng dính líu vào vụ này thì ta cũng chịu một phần. Lúc nào ngươi thích lên muốn ra tay thì cứ việc.

Ðàm bà lớn tiếng nói:

- Kiều Bang chúa! Bất luận việc gì cũng nên nghĩ kỹ, không nên hành động hấp tấp mới phải. Nếu Bang chúa không cẩn thận thì tôi e rằng sẽ gây nên mối tương tranh giữa người Hán và người Hồ. Các hào kiệt ở Trung Nguyên sẽ coi Bang chúa là kẻ cừu địch.

Kiều Phong chỉ cười lạt một tiếng, ruột rối tơ vò, không biết đáp thế nào mới phải. Ông giở thư ra xem, trong thư viết:

"Kiếm Nhiêm lão đệ!

Mấy đêm bàn bạc, lão đệ thuỷ chung không thay đổi ý kiến về việc truyền ngôi.

Mấy bữa nay tiểu huynh đã nghĩ kỹ, nhận thấy rằng việc đó không nên.

Kiều quân tài nghệ hơn người, công lao vĩ đại, tính nóng và can đảm, là một nhân vật chẳng những riêng trong quý bang không ai bằng mà cả đến khắp cõi Thần Châu cũng ít người bì kịp. Ðể một người tài đức trọn vẹn lên kế vị thì sau này

sự nghiệp lên như diều, không còn nghi ngờ gì nữa."

Ðọc đến đây, Kiều Phong nghĩ bụng, vị tiền bối này khoa trương mình đến cùng cực, trong lòng xiết bao cảm kích. Ông tiếp tục đọc xuống dưới:

"... Nhưng cuộc huyết chiến ngoài ải Nhạn Môn quan thuở nọ, những cảnh tượng kinh hồn khiếp vía lúc nào cũng ám ảnh tiểu huynh. Thằng nhỏ này không phải là người cùng chủng tộc với mình, hơn nữa cha mẹ y lại chết về tay chúng ta. Sau này y không biết đến gốc gác y thì chẳng nói làm chi, lỡ mà y biết ra thì không những Cái Bang sẽ bị tiêu diệt và tay y, mà cả các phái võ Trung Nguyên cũng phải vạ lớn. Về võ công cũng như thao lược, hiện nay Trung Nguyên ít người bằng đứa nhỏ này. Ðáng lý ra thì việc lớn ở quý bang người ngoài không nên can dự vào, nhưng ta cùng hiền đệ mối thâm giao đâu phải kẻ tầm thường. Ðây là một việc có ảnh hưởng vô cùng trọng đại, ta mong rằng hiền đệ nên nghĩ kỹ..."

Còn người ký tên thì đã bị Trí Quang xé đi rồi. Từ trưởng lão thấy Kiều Phong đọc thư xong đứng thừ người ra không nói năng gì. Trưởng lão lại đưa cho Kiều Phong một lá thư khác, nói:

- Ðây là thủ thư của Uông Bang chúa, chắc Bang chúa nhận được bút tích.

Kiều Phong đón lấy thư xem. Trong thư nói:

"Huấn dụ gửi cho Mã Phó Bang chúa, truyền công trưởng lão, chấp pháp trưởng lão cùng tất cả các trưởng lão.

Gặp trường hợp mà Kiều Phong có những hành vi thân Liêu, phản Hán, giúp Khất Ðan để lấn áp Ðại Tống, thì lập tức phải hạ sát y ngay, chớ để lỡ việc.

Tất cả các phương pháp để trừ khử y như hạ độc, hành thích,... đều dùng được cả. Ai hạ thủ sẽ được trọng thưởng mà không phải tội.

Uông Kiếm Thông thủ bút"

Dưới cùng chưa rõ ngày: nhà Ðại Tống, niên hiệu Nguyên Phong năm thứ sáu, tháng năm ngày mồng bảy.

Kiều Phong tính lại thì đúng là ngày mình lên nhậm chức Bang chúa Cái Bang. Kiều Phong nhận rõ ràng mấy dòng chữ đó đích thị là thủ bút của ân sư Uông Kiếm Thông. Xem thế thì biết thân thế mình rõ lắm rồi, không còn hoài nghi gì nữa.

Ông hồi tưởng lại ân sư đối với mình như người cha thảo, dạy mình rất nghiêm, yêu mình tha thiết. Ngờ đâu ngày mình lên kế vị Bang chúa, ân sư lại ngấm ngầm viết đạo huấn dụ này. Ông cảm thấy chua xót, nước mắt chạy quanh rồi nhỏ giọt lên tờ thủ dụ của Uông Bang chúa ướt hết cả. Từ trưởng lão thủng thẳng nói:

- Bang chúa đừng trách chúng tôi vô lễ. Nguyên tờ thủ dụ này Uông Bang chúa chỉ cho một mình Mã Phó Bang chúa biết mà thôi. Mã Phó Bang chúa giấu kỹ, tuyệt không nói với ai. Mấy năm nay, Bang chúa làm việc quang minh lỗi lạc,

quyết không có hành động thống Liêu phản Tống hoặc giúp Khất Ðan để áp bức người Hán. Thế thì di mệnh của Uông Bang chúa quyết không cần thi hành.

Mãi đến khi Mã Phó Bang chúa đột nhiên bị giết, Mã phu nhân mới tìm thấy tờ di mệnh này. Nguyên mọi người đã có ý nghi ngờ Mã Phó Bang chúa bị Cô Tô Mộ Dung sát hại. Giả tỷ mà Bang chúa đã tìm ra được thủ phạm để báo thù cho Ðại Nguyên thì thân thế cùng gốc gác Bang chúa không còn yếu tố nào để phát giác ra nữa. Lão phu này đã nghĩ kỹ, muốn vì đại cuộc đem huỷ phong thư này đi, nhưng mà... nhưng mà... nhưng mà...

Từ trưởng lão nói đến đây, đưa mắt nhìn Mã phu nhân, nói tiếp:

- Một là Mã phu nhân thống hận thù chồng, không thể để Ðại Nguyên oan chìm đáy bể, chết không nhắm mắt. Hai là Kiều Bang chúa o bế người Hồ, có những hành vi nguy hại đến bản bang...

Kiều Phong hỏi:

- Kiều mỗ o bế người Hồ? Câu đó ở đâu mà ra?

Từ trưởng lão nói:

- Hai chữ Mộ Dung tức là họ Hồ đó. Nguyên họ Mộ Dung là dòng dõi họ Tiên Ty cùng với Khất Dan ở ngoài quan ải.

Kiều Phong nói:

- Ủa! Nguyên do như vậy thế mà tôi không biết!

Từ trưởng lão lại nói:

- Ba nữa là chuyện Bang chúa nguyên người Khất Ðan thì nhiều người bản bang đã biết rồi mới sinh ra nội biến, dù ta có giấu cũng vô ích.

Kiều Phong ngửa mặt lên trời thở dài, trong lòng sầu thảm, những nghi vấn đã nửa ngày trời bây giờ mới phát giác. Ông quay lại nhìn Toàn Quang Thanh, hỏi:

- Phải chăng ngươi biết ta là dòng dõi Khất Ðan cho nên bội phản?

Toàn Quang Thanh đáp:

- Ðúng thế!

Kiều Phong lại hỏi:

- Bốn vị trưởng lão Tống, Hồ, Trần, Ngô tin theo lời ngươi, muốn giết ta cũng vì thế phải không?

Toàn Quang Thanh đáp:

- Phải đó! Nhưng mấy vị đó còn bán tín bán nghi nên chủ ý chưa nhất quyết, rồi tới lúc tối hậu lại sinh ra sợ sệt.

Kiều Phong hỏi:

- Gốc gác về thân thế ta vì đâu mà ngươi biết?

Toàn Quang Thanh đáp:

- Việc này dính líu đến nhiều người, xin thứ cho tại hạ không nói ra được. Bang chúa còn lạ gì "cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng ra".

Lúc này không biết bao nhiêu làn sóng tư tưởng nổi lên trong đầu óc Kiều Phong. Ông nghĩ thầm: "Bọn họ đem lòng ghen ghét mình, bày đặt ra chuyện nọ trò kia để hãm hại. Mặc dầu mình thân cô thế cô cũng phải chiến đấu đến cùng

chứ không chịu khuất phục."

Nhưng rồi ông lại nghĩ: "Ân sư mình đã có thủ dụ, điều đó không còn sai được.

Trí Quang đại sư là người đạo cao đức trọng, đối với ta không thù oán, sao lại đến đây bày đặt ra quỷ kế này? Từ trưởng lão là một vị nguyên lão trọng thân có đâu lại đem lòng khuynh thúc bản bang? Ngoài thiết diện phán quan Ðơn Chính, Ðàm công, Ðàm bà đều là những bậc tiền bối có danh vọng rất lớn trong võ lâm. Triệu Tiền Tôn tuy dở điên dở dại nhưng cũng không phải là hạng tầm thường. Bọn họ chung khâu đồng tử thì có lẽ nào còn giả được?"

Quần chúng Cái bang nghe Trí Quang cùng Từ trưởng lão nói thì nhốn nháo cả lên. Nguyên Kiều Phong đối với bọn thuộc hạ rất có ơn nghĩa, về võ công cũng như về tài đức, ông được mọi người rất kính phục. Dè đâu ông lại là con cháu Khất Ðan, mối cừu hận giữa nước Liêu cùng nhà Ðại Tống mỗi ngày một sâu cay hơn.

Tử đệ Cái Bang chết về tay người Liêu trong bấy nhiêu năm không biết đến bao nhiêu mà kể .

Thế thì một người Liêu làm chúa tể Cái Bang tránh sao khỏi người bản bang bàn tán xôn xao. Nhưng đến việc công nhiên trục xuất Kiều Phong ra khỏi Cái Bang thì bất luận là ai cũng không dám nói ra miệng. Bầu không khí ngột ngạt, nặng trĩu bao phủ lên khu rừng hạnh, chỉ còn nghe thấy tiếng thở hít trầm trọng của người.
Ðột nhiên có tiếng đàn bà lanh lảnh vang lên nói:

- Thưa các vị bá thúc! Tiên phu chẳng may mất đi, kẻ nào hạ độc thủ đến bây giờ cũng chưa điều tra được rõ. Song tiên phu bình nhật là người thành thực, trung hậu, ít nói. Trong đám giang hồ không ai thù hằn, tôi thật không thể nào nghĩ ra người đã giết tiên phu. Phải chăng vì tiên phu nắm giữ một vật trọng yếu, khi người ta đã biết rồi đời nào còn chịu bỏ. Tất nhiên người ta việc mật sẽ bị tiết lộ, hư hỏng việc lớn. Phải chăng vì vậy mà người ta giết tiên phu đi để bịt miệng?

Người nói đây chính là Mã phu nhân. Mấy câu này dụng ý rất rõ ràng dường như trỏ vào mặt Kiều Phong là thủ phạm giết chồng nàng để chôn sâu những chứng cớ tỏ rõ ông là con cháu Khất Ðan.

Kiều Phong từ từ quay đầu lại nhìn con người toàn thân mặc tang phục, vẻ mặt yêu kiều khép nép, dáng điệu tha thướt, uyển chuyển,nói:

- Phải chăng phu nhân ngờ Kiều mỗ sát hại Mã Phó Bang chúa?

Mã phu nhân đứng thẳng người quay lại nhìn Kiều Phong, đôi mắt nàng trong như ngọc, lấp loáng trong đêm tối.

Kiều Phong thấy nàng run lên đáp:

- Thiếp là hạng nữ lưu đâu có biết gì, phải xuất đầu lộ diện thế này đã là quá rồi, còn dám buộc tội cho ai? Chỉ vì tiên phu phải thác oan nên ra khẩn cầu các vị bá thúc nghĩ tình cố cựu, điều tra ra thủ phạm để báo thù rửa hận cho tiên phu mà thôi.

Nàng nói xong quỳ xuống lạy sì sụp. Kiều Phong trước nay chỉ sợ những người mềm mỏng chứ không sợ kẻ cương cường. Ðối với Mã phu nhân, một người yêu kiều tha thướt ông không có cách nào đối phó. Nàng không bảo Kiều Phong là hung thủ mà thực ra câu nào cũng ngụ ý ám chỉ ông. Kiều Phong thấy kiểu cách nàng lạy phục xuống đất thì tức uất người nhưng không tiện buông cơn giận cho nổi lên, ông đành quỳ xuống đáp lễ, nói:

- Xin tẩu tẩu đứng dậy!

Chợt mé tả rừng hạnh có tiếng một thiếu nữ hỏi:

- Mã phu nhân ! Tôi có một điều nghi ngờ muốn hỏi, chẳng hay phu nhân có ưng không?

Mọi người quay đầu nhìn lại thấy nữ lang mặc áo xanh lợt, chính là Vương Ngọc Yến.

Mã phu nhân hỏi lại:

- Cô nương có điều gì muốn tra hỏi ta?

Vương Ngọc Yến đáp:

- Tôi đâu dám tra hỏi, phu nhân vừa nói Mã tiền bối có phong di thư gắn xi cẩn thận, lúc Từ trưởng lão mở ra vẫn còn nguyên niêm, thế thì trước khi Từ trưởng lão chưa mở ra, không có ai đã được xem nội dung bức thư đó phải chăng?

Mã phu nhân đáp:

- Ðúng thế!

Ngọc Yến nói:

- Thế thì bức thư của vị thủ lĩnh cũng như tờ di mệnh của Uông Bang chúa, trừ Mã tiền bối ra không ai biết nữa. Sao phu nhân được biết lại biết nó quan trọng mà bảo người ta giết Mã Phó Bang chúa để bịt miệng?

Mã phu nhân hỏi lại:

- Cô nương là ai? Sao lại can dự đến việc lớn của Cái bang?

Ngọc Yến đáp:

- Dĩ nhiên là tôi không thể can dự vào việc lớn của quý bang, song các người bên quý bang lại vu hãm biểu huynh tôi nên tôi mới hỏi.

Mã phu nhân hỏi:

- Biểu huynh cô nương là ai? Phải chăng là Kiều Bang chúa?

Ngọc Yến lắc đầu, mỉm cười đáp:

- Không phải là Kiều Bang chúa mà là Mộ Dung công tử.

Mã phu nhân nói:

- À ra thế đấy!

Rồi phu nhân không đáp lời Vương Ngọc Yến, quay lại hỏi chấp pháp trưởng lão:

- Bạch trưởng lão! Luật lệ bản bang rất là nghiêm ngặt. Giả tỷ chính trưởng lão phạm pháp thì xử trí ra sao?

Chấp pháp trưởng lão Bạch Thế Kính nói:

- Ðã biết luật mà còn phạm pháp thì tội nặng hơn một bậc.

Mã phu nhân hỏi:

- Còn người có địa vị cao hơn trưởng lão thì sao?

Bạch Thế Kính biết ý nàng muốn ám chỉ ai rồi, bất giác quay lại mà nhìn Kiều Phong vừa đáp:

- Luật pháp bản bang là do tổ tiên định ra, không phân biệt địa vị cao thấp hoặc hàng tôn ti, ai cũng như ai, có công là thưởng có tội là phạt.

Mã phu nhân lại nói với Vương Ngọc Yến:

- Cô nương đây có lòng nghi ngờ là phải lắm. Ban đầu tôi cũng nghi thế. Song tối hôm trước khi được tin dữ, bỗng nhiên có kẻ trộm vào nhà tôi.

Ai nấy giật mình, có người hỏi:

- Có kẻ trộm vào nhà phu nhân? Kẻ trộm đã lấy những thứ gì? Có đánh người bị thương không?

Mã phu nhân đáp:

- Không ai bị thương cả. Kẻ trộm dùng huân hương làm cho tôi cùng hai đứa nữ tỳ mê đi, mở rương lục tủ tìm hết khắp nơi, lấy trộm hơn mười lạng bạc. Hôm sau tôi tiếp được tin dữ tiên phu bị nạn nên không còn bụng dạ nào nghĩ đến việc kẻ trộm lấy cắp bạc. May mà tiên phu tôi giấu phong thư vào chỗ kín đáo, kẻ trộm mới không tìm thấy để xé bỏ đi.

Câu này càng rõ ra Mã phu nhân ám chỉ Kiều Phong đã hoặc chính mình hoặc sai người vào nhà Mã Ðại Nguyên trộm thư. Ông đã định trộm thư thì tất là biết nội dung bức thư đó thế nào. Thế là về điểm giết người để bịt miệng đã rõ ràng.

Vương Ngọc Yến nhất tâm muốn cãi cho Mộ Dung Phục và nàng e Kiều Phong có dính líu đến biểu huynh nàng, liền nói:

- Kẻ cắp vào nhà trộm mười lạng bạc là chuyện tầm thường, gặp trúng đêm hôm đó chẳng qua là việc ngẫu nhiên.

Mã phu nhân nói:

- Cô nương nói phải lắm! Tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng sau tìm thấy ở chân tường chỗ vào cửa sổ, kẻ trộm chui ra đánh rơi một vật trong lúc y vội vàng. Tôi thấy vật đó, trong lòng hoảng sợ và biết vụ này quan hệ phi thường.

Tống trưởng lão hỏi:

- Phu nhân lượm được vật gì? Tại sao vụ này lại quan hệ phi thường?

Mã phu nhân từ từ mở bao, lấy ra một vật dài độ tám, chín tấc, đưa lên Từ trưởng lão rồi nói:

- Xin các vị bá thúc tác chủ cho.

Từ trưởng lão đón lấy vật đó thì phu nhân ngã quay xuống đất khóc rống lên.

Mọi người quay lại nhìn Từ trưởng lão. Trưởng lão lấy xem thì đó là một cây quạt giấy. Trưởng lão mở quạt thấy có đề bài thơ, liền đọc lên:

Ải Nhạn trời đông tuyết phủ nhoà,

Tơi bời cây cỏ, quãng bình sa,

Bất thủ há phải tham công trạng,

Chém giặc Lâu Lan báo quốc gia.

Kiều Phong nghe đọc bài thơ xiết nỗi kinh hoàng. Ông chú ý nhìn bức hoạ đồ trên cây quạt vẽ người tráng sỹ ra ngoài ải giết giặc. Cây này chính là của ông. Bài thơ do ân sư Uông Kiếm Thông viết ra còn bức hoạ đồ là thủ bút Từ trưởng lão.
Nét vẽ tuy không được tinh vi cho lắm nhưng rất cứng cáp, rõ cảnh trời đang xuống tuyết dữ và biểu lộ con người khẳng khái hào hiệp.

Kiều Phong quý cây quạt này lắm, ông cất kỹ mà sao nó lại lạc vào nhà Mã Ðại Nguyên. Từ trưởng lão lật quạt lại coi, thấy bức hoạ đồ chính tay mình vẽ ra thì buông một tiếng thở dài, lẩm bẩm than rằng: "Người ta đã không cùng chủng tộc với mình, tất nhiên tâm địa phải khác. Uông Bang chúa hỡi Bang chúa! Việc này Bang chúa đã lầm to rồi!"

Kiều Phong khi nghe thấy thân thế mình là dòng dõi Khất Ðan, trong lòng bao nhiêu cảm giác xung đột nhau. Hơn mười năm trời, hằng ngày ông bày mưu tính kế nào diệt nước Liêu, nào giết người Hồ, một đời trải qua bao trận phong ba, không lúc nào ông ngã tay chèo.

Nay ông nhìn thấy cây quạt của mình, Mã phu nhân câu nào cũng cố ý buộc chặt ông đã âm mưu hại Mã Ðại Nguyên, trong lòng ông vẫn vững vàng, óc ông nảy ra nhiều nghi vấn: ai đã lấy cắp quạt để vu oan giá hoạ cho mình? Việc này liệu có đánh ngã được mình không? Ông quay lại nói với Từ trưởng lão:

- Từ trưởng lão! Cây quạt này là của tôi.

Những bậc địa vị cao cả hoặc những bậc tiền bối ở Cái Bang mới nghe Từ trưởng lão đọc bài thơ đã biết là quạt của Kiều Phong còn bang chúng thì chưa ai hay.

Ðến khi nghe Bang chúa tự nhận là quạt của ông, ai nấy đều sửng sốt. Từ trưởng lão trong lòng cũng cảm xúc mạnh, hồi lâu mới lẩm bẩm: "Uông Bang chúa coi ta là người tâm phúc, vậy mà việc này không cho ta hay!" Mã phu nhân lại nói:

- Từ trưởng lão! Uông Bang chúa không nói cho trưởng lão biết thế là may đó!

Từ trưởng lão không hiểu, hỏi lại:

- Phu nhân bảo sao?

Mã phu nhân buồn rầu đáp:

- Trong Cái bang chỉ có mình Mã Ðại Nguyên vì biết việc này mà chết thảm. Giả tỷ trưởng lão... cũng biết trước thì chắc đâu chẳng cùng một số kiếp.

Kiều Phong lớn tiếng hỏi:

- Các vị còn ai nói gì nữa không?

Ông đảo mắt nhìn từ Mã phu nhân qua Từ trưởng lão rồi đến các trưởng lão chấp pháp, truyền công một lượt. Ai cũng lẳng lặng không nói gì. Kiều Phong chờ một hồi không thấy ai lên tiếng, liền nói:

- Lai lịch thân thế Kiều mỗ đã quá bẽ bàng, chính Kiều mỗ lại không hay biết.

Nhưng đã có nhiều vị tiền bối chỉ rõ ra, Kiều mỗ không dám phủ nhận. Kiều mỗ xin thoái vị Bang chúa Cái Bang để nhường lại cho bậc hiền tài.

Nói xong, ông rút ở bên đùi ra một cái túi dài, lấy ra cây gậy trúc bóng loáng như ngọc màu xanh biếc, chính là cây "Ðả cẩu bổng", một tín vật của địa vị Bang chúa Cái Bang. Ông hai tay nâng cao lên, nói:

- Cây bổng này Kiều mỗ được Uông Bang chúa trao cho. Từ ngày Kiều mỗ lên chấp chưởng Cái Bang, tuy chẳng có công trạng gì nhưng cũng không phạm lỗi lớn.

Nay Kiều mỗ thoái vị, vậy quý vị hiền năng nào muốn ra gánh lấy trách nhiệm thì xin lại đây lãnh lấy cây bổng này!

Cái bang đã có tiền lệ, khi vị tân Bang chúa ra nhiệm chức thì do cựu Bang chúa trao lại đả cẩu bổng cho. Trừ trường hợp cựu Bang chúa mất đi mới không theo lệ ấy. Kiều Phong đang độ thanh niên, võ công thao lược cả Cái Bang, không có người thứ hai nào sánh kịp.

Từ khi ông làm Bang chúa đến giờ, trong bang tuy không khỏi còn có những người phản trắc, nhưng không một ai dám mong kế vị Bang chúa. Quần chúng Cái Bang thấy Kiều Phong tay nâng cây bổng, khí khái hiên ngang đứng trước mọi

người, còn ai dám ra nhận lấy cây bổng.

Kiều Phong hỏi luôn ba câu, thuỷ chung không ai đáp, liền nói:

- Thân thế Kiều mỗ chưa rõ rệt thì dù sao Kiều mỗ cũng không dám đảm nhiệm chức Bang chúa nữa.

Từ trưởng lão cùng hai vị truyền công, chấp pháp trưởng lão,ba vị hãy nhận lãnh lấy cây bổng này tạm giữ. Rồi đây ai lên nhậm chức sẽ do ba vị chuyển lại vật chí bảo của bản bang.

Từ trưởng lão nói:

- Thế thì phải lắm.

Vừa nói vừa giơ tay ra đón lấy cây bổng. Thốt nhiên Tống trưởng lão lớn tiếng ngăn lại:

- Hãy khoan!

Từ trưởng lão vội rụt tay về, hỏi:

- Tống lão đệ có điều chi muốn nói?

Tống trưởng lão đáp:

- Tôi nhận thấy Kiều Phong Bang chúa không phải người Khất Ðan.

Từ trưởng lão hỏi:

- Sao vậy?

Tống trưởng lão đáp:

- Vì tôi trông Kiều Bang chúa không giống người Khất Ðan.

Từ trưởng lão hỏi:

- Sao lại không giống?

Tống trưởng lão đáp:

- Người Khất Ðan hung bạo, tàn ác. Trái lại, Kiều Bang chúa là bậc anh hùng hảo hán, đại nhân, đại nghĩa. Vừa mới đây, bọn tôi làm phản Bang chúa, Bang chúa cam chịu lưu huyết để tha tội bội phản cho chúng tôi. Thử hỏi người Khất

Ðan phỏng có hành vi anh hùng như thế chăng?

Từ trưởng lão nói:

- Kiều Bang chúa được Uông Bang chúa giáo hoá từ thuở nhỏ nên đã biến cải được thói hung tàn của người Khất Ðan.

Tống trưởng lão nói:

- Ðã biến cải được tính nết thì không phải là người đốn mạt, làm Bang chúa chúng ta có điều gì không xứng đáng? Tống mỗ xét bản bang không có vị nào anh hùng hơn Kiều Bang chúa. Ðể người khác lên làm Bang chúa, Tống mỗ này không phục.

Quần chúng Cái Bang cũng có một số đông có ý nghĩ như Tống trưởng lão.

Nguyên Kiều Phong là người có cái thế rất được trọng vọng. Bây giờ chỉ căn cứ vào miệng vài người và mấy dòng chữ đã truất ngôi Bang chúa của ông, bao nhiêu người vẫn tận trung với ông rất lấy làm bất phục. Vừa thấy Tống trưởng lão đứng đầu nói ra, họ nhao cả lên. Thậm chí có mấy chục người hô to:

- Chúng ta phải đề phòng bọn âm mưu hãm hại Kiều Bang chúa, chớ nên nhẹ dạ tin người.

Có người nói:

- Việc qua đã mấy chục năm nay, ai trông thấy mà biết?

Có người nói:

- Việc thay đổi ngôi chúa tể bản bang đâu có thể dễ dàng như thế được!

Có người nói:

- Tôi nhất tâm theo Kiều Bang chúa, bất luận ai lên tôi cũng không phục!

Hồ trưởng lão hô to:

- Ai muốn theo Kiều Bang chúa thì đứng sang hàng ngũ bên tôi!

Hồ vừa nói vừa kéo Tống trưởng lão bên tay phải, Ngô trưởng lão bên tay trái đứng sang phía Ðông. Tiếp theo là ba đà chúa phân đà Ðại Nhân, Ðại Dũng, Ðại Nghĩa cũng sang phía Ðông the Hồ trưởng lão. Thuộc hạ ba phân đà này cũng ào ào đi theo các đà chúa mình.

Toàn Quang Thanh, Trần trưởng lão, truyền công trưởng lão và hai đà chúa Ðại Trí, Ðại Tín đứng nguyên chỗ cũ.

Thế là Cái Bang chia làm hai phái: phái đứng ở phía Ðông chiếm độ năm phần, phái đứng nguyên chỗ ba phần, còn ngoài ra là những người do dự không biết theo bên nào.

Chấp pháp trưởng lão Bạch Thế Kính trước nay vẫn là người cả quyết, nói một là một hai là hai, mà bây giờ cũng phân vân không quyết định.

Toàn Quang Thanh nói:

- Hỡi các anh em! Kiều Bang chúa tài lực hơn người, anh hùng xuất chúng, ai không bội phục? Song, chúng ta là người Ðại Tống mà lại có thể đi theo hiệu lệnh một người Khất Ðan được chăng? Tài ba Kiều Phong càng lớn bao nhiêu càng

nguy hiểm cho chúng ta bấy nhiêu.

Hồ trưởng lão nói:

- Thối lắm! Thối lắm! Quân chó đẻ! Ta coi bộ ngươi bẩy tám phần giống Khất Ðan.

Toàn Quang Thanh lớn tiếng nói:

- Chúng ta là những bậc hảo hán trung thành, tấc dạ sắt son, há lại can tâm đi làm nô lệ, làm chó săn cho người khác giống hay sao?

Lời y quả nhiên có hiệu lực. Những người đang đứng ở phía Ðông có đến hơn mười người chạy trở lại phía Tây. Quần chúng ở phía đông người thì mắng nhiếc, kẻ thì lôi kéo, rối loạn cả lên. có người lên chân xuống tay, có người cầm binh khí, mấy chục người quay ra đánh nhau. Các vị trưởng lão lớn tiếng dàn xếp. Nhưng người nào cũng có ý kiến thiên tư. Ngô trưởng lão cùng Trần trưởng lão trở mặt mắng nhau, hai mắt đỏ ngầu, cơ hồ muốn động thủ.

Kiều Phong bèn lên tiếng:

- Các anh em hãy dừng tay nghe tôi nói đây!

Kiều Phong nói bằng một giọng dõng dạc oai ghiêm, mọi người đang phân tranh lập tức đình chỉ quay nhìn ông. Kiều Phong nói:

- Ngôi Bang chúa Cái Bang này Kiều mỗ đã nhất định rút lui.

Tống trưởng lão vội ngắt lời:

- Bang chúa! Bang chúa đừng nản lòng...

Kiều Phong lắc đầu, nói:

- Không phải Kiều mỗ nản lòng. Về chuyện khác thì hoặc giả còn có sự âm mưu hãm hại, nhưng đến bút tích của ân sư Kiều mỗ là Uông Bang chúa thì bất luận làm cách nào cũng không thể giả tạo ra được.

Kiều Phong lại lớn tiếng hơn nói tiếp:

- Cái Bang là một bang lớn nhất trong đám giang hồ, oai danh lừng lẫy bốn phương. Trong võ lâm ai là người không kính phục. Nếu mình lại tàn sát nhau há chẳng khiến người ngoài cười cho ư? Lúc Kiều mỗ ra đi xin có đôi lời trình bày.

Nếu ai còn phóng một quyền, đá một cước vào mình anh em trong bản bang thì người đó phạm tội rất lớn.

Bang chúng trước nay đều là những người trọng nghĩa, nghe Kiều Phong nói,không khỏi hổ thẹn. Bỗng có tiếng đàn bà hỏi:

- Còn người sát hại anh em bản bang thì sao?

Kiều Phong dõng dạc đáp:

- Giết người thì phải thường mạng. Tàn hại anh em thì người đời thống mạ!

Mã phu nhân nói:

- Vậy là hay lắm!

Kiều Phong nói:

- Kiều mỗ là người quang minh lỗi lạc, trước nay chưa có điều gì phải giấu giếm ai bao giờ. Mã Phó Bang chúa bị ai giết hại, kẻ nào ăn trộm cây quạt để hãm hại Kiều mỗ, rồi đây sẽ tra xét cho ra. Mã phu nhân! Với bản lãnh này, Kiều mỗ đã vào quý phủ mà định lấy vật gì thì tất chẳng chịu về không và cũng chẳng đến nỗi đánh rơi những đồ vật trong mình. Ðừng nói quý phủ chỉ có mấy người đàn bà,ngay đến hoàng cung nội điện, tướng phủ, soái đường hay giữa đám thiên binh vạn mã, Kiều mỗ muốn lấy vật gì, vị tất đã không làm nổi.

Kiều Phong nói mấy câu rất oai nghiêm dõng dạc, quần chúng đều hiểu bản lãnh ông, biết là ông nói rất có lý, không ai dám bảo ông là khoác lác.

Mã phu nhân cúi đầu không nói gì nữa.

Kiều Phong lại chắp tay thi lễ với tất cả mọi người

rồi nói:

- Non xanh vẫn đó, nước biếc còn đây. Kiều mỗ xin tạm biệt. Chúng ta còn có ngày hội ngộ. Kiều mỗ là người Hán cũng được, mà người Khất Ðan cũng thế, còn sống ngày nào quyết không sát hại một người Hán. Nếu trái lời thề thì như lưỡi dao này.

Nói xong, ông lươn tay trái ra, nhảy lên chụp lấy Ðơn Chính. Cổ tay Ðơn Chính run lên, cần dao không chặt, bị Kiều Phong cướp mất. Kiều Phong lấy ngón tay cái bên phải bấm vào ngón tay giữa, búng mạnh một cái, tiếng "keng"vang lên, thanh đao gãy đôi. Mũi đao bay ra ngoài mấy thước, chuôi đao vẫn còn trong tay. Ông quay lại xin lỗi Ðơn Chính, bỏ chuôi đao xuống đất rồi ra đi.

Chương 9: Cái bang bị địch bao vây

Mọi người thấy Kiều Phong ra đi đều chưng hửng. Có người lớn tiếng gọi:

- Bang chúa đừng đi nữa!

Có người hô:

- Ðại cục Cái Bang đều trông cậy vào Bang chúa, Bang chúa chủ trương cho!

Có người năn nỉ:

- Xin Bang chúa trở lại cho!

Ðột nhiên có tiếng gọi vang lên, rồi một cây gậy từ trên không ném xuống.

Chính là Kiều Phong ném cây Ðả cẩu bổng lại. Từ trưởng lão giơ tay ra đón lấy.

Tay vừa chạm vào cây bổng thì từ cánh tay cho đến toàn thân run lên như điện giật, phải buông tay ra, dư lực cây bổng vẫn còn rất mạnh cắm sâu xuống đất mà đứng thẳng.

Bang chúng đồng thanh hô vang lên vì họ trông thấy cây bổng, một vật chí bảo để trấn bang. Họ có quan niệm rằng thấy cây gậy tức là thấy Bang chúa. Trong lòng mọi người đều bâng khuâng nghĩ ngợi.

Ðoàn Dự cũng gọi:

- Ðại ca! Ðại ca! Tôi đi theo đại ca đây!

Chàng hấp tấp đuổi theo Kiều Phong, nhưng vừa chạy được ba bước, chàng lại nhớ đến Vương Ngọc Yến, quay lại nhìn. Vừa nhìn thấy mặt nàng, chân chàng không sao bước đi được nữa. Trong lòng chàng tự nhiên nẩy ra bao nhiêu mối tơ tình êm dịu, chàng quay trở lại, đến bên Vương Ngọc Yến, hỏi:

- Vương cô nương! Các cô định đi đâu bây giờ?

Vương Ngọc Yến đáp:

- Biểu huynh ta bị họ vu oan, có lẽ chàng chưa biết, định đi báo cho chàng hay.

Ðoàn Dự tê tái trong lòng mà phải ngậm bồ hòn làm ngọt, nói:

- Ủa! Mấy cô nhỏ tuổi đi đường xa sao tiện, để tôi đưa đi.

Chàng lại nói thêm một câu để chữa thẹn:

- Tôi vẫn nghe danh công tử đã lâu, muốn đến gặp công tử một lần (?)

Bỗng thấy Từ trưởng lão lớn tiếng nói:

- Việc báo thù rửa hận cho Mã Phó Bang chúa chúng ta có thể để về sau sẽ tính.

Nhưng bản bang một ngày không thể vô chủ, Kiều Phong đi rồi, việc này không thể trì hoãn được. Nhân lúc ở đây đông đủ cả, ta phải bàn tính ngay bây giờ.

Tống trưởng lão nói:

- Theo ý tôi thì chúng ta nên đi tìm Kiều Bang chúa trở về để người hồi tâm nghĩ lại mà đừng thoái vị...

Tống chưa dứt lời thì đầu đằng Tây có người kêu lớn:

- Kiều Phong là người rợ Hồ nước Khất Ðan, sao lại để làm thủ lĩnh chúng ta được? Bữa nay chúng ta còn nghĩ đến tình xưa nhưng lần sau gặp mặt đã thành cừu địch đánh nhau chí mạng.

Tống trưởng lão cười lạt, nói:

- Ngươi đánh nhau chí mạng với Kiều Bang chúa được không?

Người đó nổi giận, nói:

- Mình ta không đánh được thì mười người cùng đánh, mười người không nổi thì cả trăm người. Nghĩa sĩ ở Cái Bang ai không tận trung báo quốc. Chẳng lẽ thấy địch là rụt cổ vào ư?

Gã nói mấy câu đó thật khẳng khái hiên ngang. Nhiều người vỗ tay hoan hô.

Tiếng hoan hô chưa dứt thì góc Tây Bắc có tiếng người the thé:

- Bọn Cái Bang ước hẹn với người ta hội diện ở Huệ Sơn, thế mà bội ước không đến, thì ra chúng còn ẩn nấp ở đây. Ha ha! Buồn cười, thật đáng buồn cười!

Giọng nói sắc nhọn như đâm vào tai. Tiếng nói không được rõ ràng, tựa hồ như đầu lưỡi to quá hay là kịt mũi khiến người nghe phải khó chịu.

Tưởng đà chúa ở phân đà Ðại Nghĩa và Phương đà chúa ở phân đà Ðại Dũng đồng thanh la lên:

- Ờ ! Chúng ta lỡ lời ước hội, bọn đối đầu đã tìm đến đây!

Ðoàn Dự cũng nhớ ra, lúc ban ngày cùng Kiều Phong gặp mặt lần đầu ở quán rượu đã nghe thấy có hai người vào báo, ước định đến canh ba đêm nay có cuộc hội họp trên núi Huệ Sơn. Lúc đó dường như Kiều Phong thấy bên mình chưa đủ người, lực lượng hãy còn đơn bạc, nhưng vẫn y hẹn.

Chàng ngửa mặt lên nhìn thì mảnh trăng đã xế, biết rằng đã qua canh ba. Ða số người Cái Bang chưa biết cuộc ước hẹn này. Hoặc giả có người biết thì cũng chỉ để trong lòng vì bổn bang đang xảy ra việc trọng đại, nên không có đầu óc nào nghĩ tới nữa, bây giờ mới sực nhớ ra.

Từ trưởng lão hỏi dồn:

- Cuộc ước hội thế nào? Ðối đầu với mình là ai?

Lâu nay Từ không nghe gì đến việc của bản bang đối với đám giang hồ nên không hiểu gì hết. Chấp pháp trưởng lão ghé tai nói khẽ với Tưởng đà chúa:

- Phải chăng Kiều Bang chúa hứa lời ước hẹn với họ?

Tưởng đà chúa đáp:

- Ðúng rồi! Nhưng Bang chúa vừa mới phái người đến Huệ Sơn báo cho đối phương để lui cuộc hội diện lại sau bẩy ngày.

Tưởng nói rất khẽ vào lỗ tai đủ cho chấp pháp trưởng lão nghe thấy mà thôi, thế mà người kia ở ngoài rừng hạnh cũng nghe rõ, liền nói:

- Ðã hẹn là phải đúng, không có lui lại bảy, tám ngày gì hết. Muốn lùi lại một giờ cũng không được!

Bạch Thế Kính tức giận nói:

- Cái Bang ta đường đường là một bang lớn trong nước Ðại Tống, há sợ bọn giặc Hồ Tây Hạ các ngươi hay sao? Chẳng qua vì trong bản bang có việc khẩn yếu, rỗi công đâu mà đi cãi nhau nhảm nhí với các ngươi! Thay đổi ngày hội họp là chuyện tầm thường, có chi mà phải la ó?

Ðột nhiên có tiếng gọi, sau rừng hạnh một người vọt ra té lăn dưới đất không nhúc nhích. Bọn Bạch Thế Kính nhìn thấy người này mặt mũi bầy nhầy, cổ họng bị cắt đứt, tắt hơi từ bao giờ.

Mọi người nhìn ra là phó đà chúa ở phân đà Ðại Tín.

Tưởng đà chúa vừa sợ vừa giận, la lên:

- Tá hiền đệ đây mà! Y vừa được lệnh Kiều Bang chúa phái đi để trả lời hoãn lại ngày hội.

Chấp pháp trưởng lão nói:

- Từ trưởng lão! Hiện giờ Bang chúa không có ở đây, xin trưởng lão tạm chấp trưởng chức quyền Bang chúa.

Bạch Thế Kính không muốn tiết lộ bộ mặt vô chủ của bản bang để khỏi bị kém thế bên địch.

Từ trưởng lão hiểu ý, nghĩ thầm: "Lúc này mình không chịu đảm đương trách nhiệm thì cũng không thể nào tìm được người thứ hai nào giữ vững đại cục", bèn lớn tiếng hỏi:

- Người ta thường nói "hai nước đương lúc giao tranh không chém sứ giả". Thế mà tệ bang phái người đến xin hoãn cuộc tương hội, sao quý quốc lại giết y?

Tiếng the thé đáp lại:

- Hắn đã tỏ vẻ kiêu ngạo lại nói năng vô lễ, vào yết kiến tướng quân bên ta không chịu quỳ lạy, không giết còn để làm gì?

Bang chúng nghe thấy nổi lên la ó, nhiều người buông tiếng chửi mắng. Ðến lúc này mà Từ trưởng lão vẫn chưa biết kẻ đối đầu là hạng người nào, chỉ thấy Bạch Thế Kính hiểu y là người nước Tây Hạ, rồi bây giờ người này lại gọi y bằng tướng quân thì còn biết đâu mà mò. Lão liền hỏi:

- Ngươi cứ chui rúc vào xó nào, sao không dám ló mặt ra đây? Cứ nấp nánh để nói nhăng nói cuội, đâu có phải là hảo hán.

Người kia cười ha hả hô lên:

- Tướng quân! Ta ra đi thôi chứ!

Bỗng nghe đằng xa có tiếng tù và nổi lên, tiếp theo là tiếng vó ngựa từ ngoài mấy dặm vọng lại. Bên địch sắp đến là cả một đội nhân mã nhưng hãy còn khá xa.

Từ trưởng lão ghé miệng vào tai Bạch Thế Kính hỏi khẽ:

- Họ là ai và đến có chuyện gì?

Bạch Thế Kính đáp:

- Nước Tây Hạ có tòa nhà giảng võ gọi là Nhất Phẩm Ðường chi đó. Người ta đồn toà nhà này do quốc vương Tây Hạ dựng ra, làm nơi chiêu nạp những tay cao thủ trong võ lâm, tiếp đãi rất trọng vọng để truyền dạy võ nghệ cho quan quân trong nước.

Từ trưởng lão gật đầu nói:

- Nước Tây Hạ chỉnh đốn quân cơ, luyện tập võ nghệ, phải chăng cốt để sang xâm phạm giang san nhà Ðại Tống?

Bạch Thế Kính khẽ đáp:

- Chính là vì vậy. Sở dĩ đặt tên là "Nhất phẩm đường" vì người nào đã được vào đây đều là hạng võ công bậc nhất. Người cai quản Nhất phẩm đường là một vị vương gia và được phong chức Chinh Ðông Ðại Tướng quân, tên gọi Hách Liên Thiết Thụ gì đó. Mới đây y thống lãnh dũng sỹ trong toà Nhất Phẩm Ðường đi sứ Biện Lương, vào triều kiến hoàng thượng và hoàng hậu nhà Ðại Tống ta. Tuy mượn tiếng là về triều cống, song thực tế để do thám quân tình. Gã Hách Liên Thiết Thụ diễu võ dương oai ở chốn kinh sư rồi cho kẻ tuỳ tòng của gã ra đòi tỷ võ với ngự lâm quân. Trong bọn quan quân ngự lâm quân tại triều đình làm gì có tay cao thủ. May mà Tô học sỹ nghĩ ra một kế...

Từ trưởng lão ngắt lời:

- Tô học sỹ nào? Ðại Tô học sỹ hay Tiểu Tô học sỹ?

Bạch Thế Kính nói:

- Chính Ðại Tô học sỹ tên gọi Tô Thúc, Tô Ðông Pha. Học sỹ tâu lên thái hậu:

"Nhà Ðại Tống ta, dẹp võ luyện văn, mối bang giao với các nước láng giềng rất là hoà mục, không tiện tỷ thí võ công. Nhưng người Tây Hạ lại hiếu chiến, khinh nhà Ðại Tống ta như không có người. Chi bằng hẹn họ đến mùa xuân sang năm đến thành Biện Lương mà xem võ học nhà Ðại Tống".

Từ trưởng lão gật đầu, đáp:

- Ðó là kế hoãn binh. Vậy trong năm nay bọn ta phải mời các bậc cao thủ khắp nơi, lựa chọn dũng sĩ để chuẩn bị sang năm đối địch.

Bạch Thế Kính nói:

- Trước khi người Tây Hạ qua Ðại Tống, họ cũng đã biết đại khái về võ học nước ta, họ hiểu rằng bản bang là một phái võ lớn trong triều Ðại Tống. Họ muốn huỷ diệt bản bang để gây thanh thế và để sang năm nắm vững phần thắng, vì họ chắc rằng thần dân nhà Ðại Tống một khi nghe thấy quân Tây Hạ kéo đến là sợ vỡ mật.

Khi đó họ sẽ xâm lấn bờ cõi được dễ dàng.

Từ trưởng lão ngấm ngầm kinh hãi, khẽ nói:

- Kế ấy quả nhiên độc địa.

Bạch Thế Kính lại nói:

- Gã Hách Liên Thiết Thụ ra khỏi kinh thành Biện Lương liền xuống ngay Tổng đà bản bang ở Lạc Dương thì vừa trúng lúc Kiều Bang chúa suất lĩnh chúng tôi xuống Giang Nam về việc báo thù cho Mã Phó Bang chúa. Bọn người Tây Hạ phải một phen mất công không. Nhưng họ chưa chịu thôi, lại theo xuống Giang Nam này ước hẹn cùng Kiều Bang chúa tương hội.

Từ trưởng lão trầm ngâm một lát rồi nói khẽ:

- Có lẽ bọn họ trù tính trước hết hãy huỷ diệt Cái bang ta rồi còn lên đánh phá chùa Thiếu Lâm, sau nữa đến phái Hoa sơn, phái Ðông Hải. Ðánh lần lần cho các phái, các bang ở Trung Nguyên tan nát. Như thế thì cuộc thắng sang năm mười phần họ nắm đến chín rồi.

Bạch Thế Kính nói:

- Kể ra thì họ định thế đó, nhưng liệu những tay dũng sĩ Tây Hạ có làm nổi thế không? Ðiều đó chỉ có Kiều Bang chúa liệu được mà thôi. Nhưng tiếc rằng giữa lúc nguy cấp này...

Ðang nói dở câu, lão hiểu rằng nói hết không tiện nên thôi. Lúc này tiếng vó ngựa đã gần tới nơi. Tám người cưỡi ngựa, chia hai hàng xông vào trong rừng, đều cầm đao trường. Mũi dáo có buộc một lá cờ nhỏ. Lưỡi đao sáng loáng. Trên bốn lá cờ bên tả thêu hai chữ "Tây Hạ" còn bốn lá bên hữu thêu hai chữ "Hách Liên" đều bằng chỉ trắng.

Sau tám người cưỡi ngựa cầm cờ thì đến bốn người thổi hiệu tù và, bốn người đánh trống.

Quần chúng Cái Bang nhún vai, nói:

- Bọn này làm như kiểu ra quân trong khi hai nước giao tranh, đâu có phải lề lối các bậc anh hùng hảo hán trong đám giang hồ đến cùng nhau hội ngộ.

Sau mấy tên đánh trống thì đến tám tên võ sỹ Tây Hạ.

Từ trưởng lão thấy trong tám người này đã có đến sáu người râu tóc bạc phơ vào hạng tám mươi tuổi thì nghĩ bụng: "Ðây chắc là nhân vật trong Nhất phẩm đường". Tám tên võ sỹ chia hai đứng bên tả hữu. Sau cùng là một người cưỡi ngựa từ từ đi vào rừng hạnh.

Người này độ ba mươi tư, ba mươi lăm tuổi, mình mặc áo cẩm bào đỏ, mũi như mũi chim ưng, vẻ mặt rõ ra một người minh tinh mẫn cán. Ði theo sát người này là một gã đại hán người cao lênh khênh, đặc biệt có cái mũi rất lớn. Gã mũi lớn vừa vào tới rừng đã bô bô:

- Quan Chinh Ðông đại tướng quân đã đến! Bang chúa Cái Bang đâu, mau ra nghênh tiếp!

Tiếng gã nói the thé, đúng là gã đã đến trước. Từ trưởng lão nói:

- Bang chúa bản bang không có đây, công việc bản bang do lão phu xử lý. Anh em Cái Bang chúng tôi toàn là những người giang hồ thảo dã, tướng quân nước Tây Hạ muốn tương kiến theo lễ quan liêu thì chúng tôi không dám với cao. Xin mời tướng quân lên hội diện cùng các bậc vương công nhà Ðại Tống, cần chi phải đến chơi với lũ hành khất chúng tôi. Giả tỷ các người lấy địa vị đồng đạo trong võ lâm đến đây gặp nhau thì tướng quân là khách phương xa, xin xuống ngựa vào đây theo lễ chủ khách nói chuyện.

Câu này Từ trưởng lão nói thật đứng đắn, không kiêu ngạo mà cũng không mất địa vị mình. Bang chúng nghĩ thầm: "Từ trưởng lão quả là một tay ngoại giao cự phách". Gã hán tử mũi lớn nói:

- Bang chúa bên quý bang đã không có đây thì tướng quân bên tôi không thể thi lễ cùng lão được.

Gã liếc mắt nhìn thấy cây Ðả cẩu bổng vẫn còn cắm dưới đất, liền nói:

- Ủa! Cành trúc này nhẵn bóng đẹp gớm! Mình phải lấy về làm cái cán chổi mới được!

Gã vươn tay vung roi ngựa ra cuốn lấy đầu cây Ðả cẩu bổng. Quần chúng Cái Bang vội la lên:

- Mi cút ngay!

- Quân chó đẻ này!

- Mẹ nó, láo quá!

Ðầu roi ngựa của gã mũi lớn sắp cuốn được cây Ðả cẩu bổng bỗng có bóng người nhảy vụt ra vươn tay một cái, chắn ở phía trước cây Ðả cẩu bổng. Người này chờ cho roi ngựa quấn vào tay mình rồi co tay lại một cái, gã đại hán không ngồi vững trên lưng ngựa được, phải tung mình nhảy theo đứng xuống đất.

Hai bên đồng thời cùng vận động kình lực, bỗng nghe "rắc" một tiếng, cây roi ngựa đã đứt đôi. Người ấy xoay mình trở tay cướp lại cây Ðả cẩu bổng, xong chẳng nói câu gì lùi trở về ngay. Mọi người nhìn xem ai thì té ra truyền công trưởng lão.Truyền công lão võ công tuyệt cao, ông rất ít lời, nhưng trong bản bang có việc nguy nan thì ông lại là người rất đắc lực. Ông vừa ra chiêu này kéo gã đại hán mũi to xuống ngựa, roi ngựa gã lại bị đứt đôi, thế là gã thua rồi. Gã đại hán cũng thâm trầm ghê lắm. Tuy bị một vố cay nhưng gã tuyệt nhiên không biến sắc, vẫn điềm nhiên nói móc:

- Bọn hành khất xin cơm quả nhiên bụng dạ hẹp hòi, một cành tre mà cũng không cho người ta.

Từ trưởng lão hỏi:

- Các vị anh hùng hảo hán bên Tây Hạ ước hẹn gặp gỡ tệ bang có việc gì?

Hán tử đáp:

- Tướng quân ta nghe nói bọn Cái Bang ở Trung Nguyên có hai môn tuyệt kỹ "Ðả miêu bổng pháp" và "Hàng xà thập bát chưởng" nên muốn đến để xem chơi.

Bang chúng nghe nói lửa giận bừng bừng, vì gã có ý xuyên tạc "Ðả cẩu bổng pháp" thành "Ðả miêu bổng pháp" và "Hàng long thập bát chưởng" ra "Hàng xà thập bát chưởng", rõ ràng là gã có ý khinh nhờn mình. Cuộc hội ngộ ngày nay khó lòng tránh khỏi gây ra cuộc ác chiến. Bang chúng tức giận buông lời xỉ mạ.

Từ trưởng lão, truyền công trưởng lão, chấp pháp trưởng lão ai nấy cả kinh nghĩ thầm: "Ðả cẩu bổng pháp" và "Hàng long thập bát chưởng" bao giờ cũng chỉ có Bang chúa bổn bang là biết sử dụng mà thôi. Ðối phương đã biết tên hai môn tuyệt kỹ này mà chúng có vẻ không sợ gì, ỷ vào võ nghệ ngang tàng đến đây khiêu chiến, e rằng mình khó chống lại được.

Từ trưởng lão nói:

- Các ông muốn xem "Ðả miêu bổng pháp" cùng "Hàng xà thập bát chưởng" của tệ bang, điều đó phỏng có khó gì! Chỉ cần đem con mèo hoặc con rắn ra đây là có cách đối phó được ngay. Các hạ muốn học làm mèo hay rắn nào?

Ngô trưởng lão cũng cười ha hả, nói:

- Ðối phương là rồng chúng ta mới dùng đến "Hàng long chưởng", đối phương là rắn thì chỉ cần bản lãnh bắt rắn là đủ.

Gã hán tử mũi to lại thua một trận đấu khẩu, đang tìm câu nói lại thì phía sau đột nhiên có tiếng nói ồm ồm:

- Hàng long cũng được mà hàng xà cũng được, ai dám đấu với ta thì ra đây?

Người này vừa nói vừa rẽ đám đông người đi ra, đứng ngất ngưởng, hai tay chắp để sau lưng. Quần chúng Cái bang nhìn thấy y tướng mạo cực kỳ xấu xa, mặt mũi hung ác, chưa biết là ai.

Bỗng thấy Ðoàn Dự lên tiếng gọi:

- Ô kìa! Ðồ đệ! Ngươi cũng đến đây à? Trông thấy sư phụ sao lại không lạy?

Người mặt mũi xấu xa này chính là Nam Hải Ngạc Thần, tên gọi Nhạc Lão Tam.

Nam Hải Ngạc Thần trông thấy Ðoàn Dự cũng giật mình, lão ra chiều bẽn lẽn nói:

- Ngươi... ngươi...

Ðoàn Dự nói:

- Này đồ đệ! Bang chúa Cái Bang đây là huynh trưởng mới kết nghĩa với ta. Quý vị đây đều là sư bá, sư thúc ngươi đó, ngươi không được vô lễ! Mau trở về đi!

Nam Hải Ngạc Thần gầm lên một tiếng, bao nhiêu cành lá trong rừng hạnh động rào rào, lão mắng:

- Mẹ kiếp! Lại gặp phải đồ chó!

Ðoàn Dự nói:

- Ngươi mắng ai là đồ chó?

Nam Hải Ngạc Thần tuy hung hãn vô cùng nhưng những câu lão đã nói ra bất luận thế nào cũng không cãi lời. Tại phủ Trấn Nam Vương nước Ðại Lý, lão đã làm lễ bái kiến nhận Ðoàn Dự làm sư phụ, lão vẫn không từ chối. Nam Hải Ngạc Thần đáp:

- Tính tôi quen miệng mắng người, lão gia quan tâm làm gì? Vả lại, tôi có mắng lão gia đâu!

Ðoàn Dự nói:

- Hừ! Ngươi thấy sư phụ sao không sụp lạy vấn an, thế thì còn ra thể thống gì nữa?

Nam Hải Ngạc Thần cố nhịn, quỳ xuống dập đầu nói:

- Sư phụ! Lão gia vẫn mạnh giỏi đấy ạ?

Lão càng nghĩ càng tức, lạy xong đứng phắt dậy, trở gót chạy đi liền, vừa chạy vừa gầm lên. Mọi người nghe tiếng gầm của lão như nước thuỷ triều đổ xuống ầm ầm, ai nghe cũng biết ngay võ công của lão ta không phải tầm thường. Trong Cái Bang bất quá chỉ được vài ba người như Từ trưởng lão hoặc truyền công trưởng lão là có thể đối địch với lão được.

Thế mà cậu thư sinh yếu ớt Ðoàn Dự lại ngang nhiên là sư phụ lão thì ai mà không ngạc nhiên. Bỗng thấy trong đám võ sỹ Tây Hạ một người nhảy ra, người cao lênh khênh như cây tre, chân bước rất lẹ làng, hai tay cầm khí giới rất lạ cán

dài đến ba thước có năm móng sắt nhọn quắt, ánh trăng chiếu vào xanh lè.

Ðoàn Dự biết gã là một trong Tứ ác đứng hàng thứ tư, tức Cùng Hung Cực Ác Vân Trung Hạc. Chàng tự hỏi: "Sao bọn Tứ ác lại kéo nhau sang đầu Tây Hạ.

Chàng chú ý nhìn sang phía người Tây Hạ, quả thấy có cả Vô ác Bất Tát Diệp Nhị Nương bồng một đứa nhỏ miệng cười khanh khách. Chỉ còn thiếu minh lão đứng đầu bọn này là ác Quán Man Doanh Ðoàn Diên Khánh thái tử."

Chàng nghĩ thầm: "Chỉ cần mình thái tử Diên Khánh không đến là được, còn Nhị ác, Tứ ác tưởng người Cái Bang đây cũng đủ đối phó rồi". Nguyên bọn Tứ ác từ lúc rời khỏi nước Ðại Lý liền sang Tây Hạ vào Nhất Phẩm Ðường. Vì nghe tin ở đây có cho sứ đi mời những tay cao thủ võ lâm, bọn này liền quy đầu Tây Hạ.

Hách Liên Thiết Thụ thấy bọn Tứ ác giở mấy ngón võ ra, đã biết ngay là những tay cao thủ tuyệt luân, liền tiếp đón trọng vọng. Chuyến này Hách Liên Thiết Thụ sang thành Biện Lương đem bốn người đi theo để làm thủ túc cho mình. Vân Trung Hạc nhẩy ra, lớn tiếng nói:

- Tướng quân ta nghe nói Cái Bang có hai môn tuyệt kỹ. Nếu bọn ngươi quả những tay bản lãnh cao cường, hay chỉ là hạng có danh hão, vậy thì ra đây ta coi!

Hồ trưởng lão nói với Từ trưởng lão:

- Ðể tôi ra tỷ thí với hắn!

Từ trưởng lão nói:

- Gã này khinh công lợi hại lắm đấy. Hồ huynh phải cẩn thận mới được!

Hồ trưởng lão vác cương trượng ra đứng cách Vân Trung Hạc độ hơn một trượng, nói:

- Tuyệt kỹ của bản bang phải tuỳ người mới đem ra thi thố, còn đối với các hạ là hạng vô danh tiểu tốt thì cần gì dùng đến "Ðả cẩu bổng pháp". Hãy coi đây!

Lão vung cương trượng lên nghe vù vù, nhằm vai bên tả Vân Trung Hạc đánh xuống. Hồ trưởng lão người thấp lùn, béo chùn chụt mà Vân Trung Hạc thì cao lênh khênh và gầy khẳng gầy kheo, thành ra cặp đối thủ này trông không xứng đôi.

Cây cương trượng của Hồ trưởng lão dài đến hơn một trượng, nên tuy Vân Trung Hạc người cao nghệu mà lão vung trượng lên cũng thành thế trên cao đánh xuống thấp.

Nguyên Hồ trưởng lão được sư phụ truyền thụ cho lối sử dụng thứ binh khí dài này là có ý bù vào chỗ người lão thấp lủn thủn, nên lúc lão phát huy quyền lực thấp mà thành cao.

Vân Trung Hạc né người tránh khỏi, rồi nghe đánh "bịch" một tiếng, đất cát bắn tung lên, vì cây trượng của Hồ trưởng lão vụt xuống đất, đầu trượng ngập sâu hơn một thước. Xem thế đủ biết sức mạnh ghê người.

Vân Trung Hạc tự biết thực lực mình không bằng lão, hết tránh qua bên tả lại nghiêng bên hữu, vận động khinh công cùng lão giao đấu. Hồ trưởng lão múa tít cây trượng, quanh mình lão chỉ thấy một luồng ánh bạc, nhưng không đánh trúng Vân Trung Hạc được đòn nào.

Ðoàn Dự đang xuất thần theo dõi cuộc đấu, bỗng bên tai nghe giọng nói êm ái của một nữ lang hỏi:

- Ðoàn đại ca! Bọn mình giúp bên nào cho phải?

Ðoàn Dự ngoảnh đầu lại thì người hỏi đó chính là Vương Ngọc Yến, chàng bất giác tâm thần mê mẩn, ngẩn ngơ hỏi lại:

- Cô nương bảo sao?

Ngọc Yến nói:

- Gã gầy nhom và cao lênh khênh kia là bạn với đồ đệ đại ca, còn lão lùn mập thì lại là thuộc hạ của người anh kết nghĩa với đại ca. Hai người càng đánh càng hăng, chúng ta nên giúp ai hay là nên can ngăn?

Ðoàn Dự nói:

- Ðồ đệ tôi là con người độc ác mà gã cao gầy kia lại càng tệ hại hơn, giúp họ làm gì?

Vương Ngọc Yến trầm ngâm một lát rồi nói:

- Ủa! Bọn Cái Bang đã đuổi huynh trưởng đại ca không để làm bang chúa, lại đổ oan cho biểu huynh tôi, tôi ghét họ lắm.

Sở dĩ Vương Ngọc Yến tức giận bọn này là vì họ đối với biểu huynh nàng không tốt. Bất luận ai coi biểu huynh nàng không ra gì, nàng đều cho là người ác nhất thiên hạ.

Vương Ngọc Yến lại nói tiếp:

- Lão lùn mập sử hai mươi bốn đường "Pha Ma trượng" của Ngũ Ðài Sơn. Vì lão lùn quá nên hai chiêu "Tần Vương Tiên Thạch" cùng "Ðại Bàng Triển Xí" không được kín đáo, chỉ đánh vào hạ bàn bên hữu lão là không đỡ được. Song gã cao gầy không nhận ra, lại tưởng người lùn thì hạ bàn rất vững, nhưng thực ra không phải thế.

Mặc dầu nàng nói nhỏ nhưng những tay cao thủ giỏi nội công trong trường đấu đều nghe thấy rõ ràng. Ai cũng biết võ công Hồ trưởng lão không phải hạng tầm thường, song vừa nhìn đã nhận rõ ngay chỗ sở đoản của lão thì thực không được mấy người.Nghe Vương Ngọc Yến nói ra, mọi người đều nhận là đúng. Hồ trưởng lão sử hai chiêu "Tần Vương Tiên Thạch" và "Ðại Bàng Triển Xí" quả về sức mạnh thì có thừa nhưng về vững chãi thì chưa đủ, hạ bàn sơ hở rất nhiều. Vân Trung Hạc liếc mắt nhìn Vương Ngọc Yến khen rằng:

- Cô em đẹp quá! Mà tinh mắt thật chẳng ai bằng, lấy tôi làm chồng quách.

Lão vừa nói vừa vung cây cương trảo lên đánh luôn ba chiêu vào hạ bàn Hồ trưởng lão. Quả nhiên chiêu thứ ba Hồ trưởng lão không đỡ được, vừa nghe "sột" một tiếng, đùi lão bị đâm một nhát dài và sâu vào đến xương, máu chảy đầm đìa.

Vương Ngọc Yến tính tình hồn nhiên thật thà, nghe Vân Trung Hạc khen mình đẹp thì lấy làm khoái chí. Gã nói hỗn thế mà nàng không để ý, mỉm cười nói:

- Nói thế mà không biết xấu, ngươi có tài cán gì ta mới chịu lấy ngươi chứ?

Vân Trung Hạc thích quá, nói:

- Sao nàng không chịu lấy ta? Phải chăng nàng đã có thằng lỏi mặt trắng kia? Ðể ta giết ý trung nhân của nàng đi, xem nàng có phải lấy ta không?

Câu nói này phạm vào điều tối kỵ của Vương Ngọc Yến, nàng quay mặt đi không thèm nói gì nữa. Vân Trung Hạc toan tìm lời nói gỡ lại thì Ngô trưởng lão bên Cái Bang đã nhảy ra, giơ quỷ đầu đao lên chém bên trái bốn nhát, bên phải bốn nhát, trên bốn nhát, dưới bốn nhát, tổng cộng mười sáu nhát, khí thế rất là dũng mãnh.

Vân Trung hạc không hiểu đao pháp lão thuộc về môn phái nào, né tránh hết bên nọ sang bên kia, sợ hãi vô cùng. Vương Ngọc Yến cười nói:

- Ngô trưởng lão sử "Tứ tượng hợp lực đao pháp", bên trong gồm tám quẻ và sinh khắc biến hoá khôn lường. Gã cao gầy kia không hiểu, nếu gã biết sử chiêu "Hạc xà bát đả" thì có thể phá nguy được.

Người Cái Bang lại nghe nàng chỉ đường giúp cho Vân Trung Hạc thì trong lòng ai nấy đều căm giận. Bỗng thấy Vân Trung Hạc biến đổi chiêu thức, đứng xoạc chân ra, cầm cương trảo quét ngang trông tựa hồ như con tiên hạc.

Ngọc Yến đứng sát lại bên Ðoàn Dự khẽ cười nói:

- Gã cao gầy mắc mưu tôi rồi, không chừng tay trái gã bị chém đứt bây giờ.

Ðoàn Dự lấy làm lạ, hỏi:

- Ðúng thế không?

Ngọc Yến chưa kịp đáp đã thấy Ngô trưởng lão chém xéo lên, tựa hồ như không hợp lề lối nào cả, ra đòn mỗi lúc một chậm lại. Ðột nhiên, lão chém ba đao rất mau, ánh đao vừa loé lên, Vân Trung Hạc đã kêu rú lên một tiếng thất thanh, lưng bàn tay gã bị trúng đao.

Cây cương trảo bên tay này không nắm vững được, rớt xuống đất đánh "choang" một tiếng. May thân pháp gã mau lẹ dị thường, vội lùi về phía sau tránh kịp ba nhát đao của Ngô trưởng lão nên gã chỉ bị thương xoàng. Ngô trưởng lão bước tới trước mặt Vương Ngọc Yến, cầm dựng cây đao lên, nói:

- Ða tạ cô nương!

Vương Ngọc Yến mỉm cười, nói:

- Phép "Kỳ môn tam tài đao" của trưởng lão quả là tuyệt diệu!

Ngô trưởng lão giật mình, nghĩ thầm: "Cô này biết cả đến đao pháp bí hiểm của ta thì ghê thật!". Nguyên Vương Ngọc Yến hiểu đao pháp của Ngô trưởng lão nhưng nói trá là "Tứ tượng lục hợp đao" vì nàng thấy Vân Trung Hạc biết sử chiêu "Hạc xà bát đả", liền khuyến khích cho gã ra chiêu này, quả nhiên gã trúng kế,suýt bị đứt mất tay.

Ðứng bên Hách Liên Thiết Thụ là người nói tiếng the thé, tên gọi Nỗ Nhi Hải.

Tuy hắn mặt mũi bần tiện nhưng là một tay túc trí đa mưu. Hắn thấy Vương Ngọc Yến mấy câu trước cho Vân Trung Hạc thắng, rồi mấy câu sau lại giúp Ngô trưởng lão đả thương Vân Trung Hạc, liền quay lại nói với Hách Liên Thiết Thụ:

- Tướng quân! Cô bé người Hán kia tinh quái lắm, ta bắt về Nhất Phẩm Ðường,để nàng biết được điều gì thì phải nói hết ra thì lợi hại vô cùng.

Hách Liên Thiết Thụ nói:

- Hay lắm! Ngươi làm đi!

Nỗ Nhi hải vênh mặt lên, nghĩ bụng: "Ông này thật khéo quá, mỗi khi mình hiến kế là ông lại nói mỗi câu gọn lỏn "Hay lắm! Ngươi làm đi!" Nhưng hiến kế thì dễ,làm việc mới khó. Cô bé này võ công cao cường không biét đến đâu mà lường!

Mình ra tất bị ê mặt với mọi người, chi bằng ta hạ thủ trước đi là hơn". Hắn tiến lên ba bước, nói:

- Từ trưởng lão! Tướng quân chúng tôi muốn xem "Ðả cẩu bổng pháp" và "Hàng long thập bát chưởng" của quý bang. Có biết thì biểu diễn đi cho coi, mà không biết thì chúng tôi xin cáo từ, chả rỗi công đâu mà chờ.

Từ trưởng lão cười lạt, đáp:

- Những tay cao thủ trong Nhất Phẩm Ðường bên quý quốc chúng tôi xem ra tầm thường lắm, không đáng xem "Ðả cẩu bổng pháp" và "Hàng long thập bát chưởng".

Nỗ Nhi Hải nói:

- Thế nào mới là xứng đáng?

Từ trưởng lão đáp:

- Phải đánh bại được những bọn tầm thường bên chúng tôi thì người cầm đầu Cái Bang mới chịu ra tay.

Vừa nói tới đây, đột nhiên lão ho lên sù sụ, rồi thấy mắt đau lên kịch liệt không mở ra được, nước mắt trào ra.

Từ trưởng lão cả kinh, vội nhảy tung người lên.

Nguyên lão là tay giang hồ lão luyện, kiến thức rất rộng, vừa thấy có điều kỳ dị thì biết ngay là bên địch đã dùng tà pháp, liền nhảy vọt lên không trung nín thở, chân phải đá luôn ba phát.

Nỗ Nhi Hải không ngờ lão già đầu bạc phơ mà chân tay mau lẹ đến thế. Hắn vội né tránh, nhưng chỉ tránh được phần trước ngực là nơi trọng yếu. Bả vai hắn bị trúng, người hắn xiêu đi, tiện đà hắn nhảy lùi về phía sau. Quần chúng Cái bang nhất tề la lên:

- Không biết mắt bị bệnh gì mà tự nhiên không mở ra được, đau nhức vô cùng,nước mắt trào ra.

Vương Ngọc Yến, A Châu, A Bích cũng bị đau mắt không mở ra được. Nguyên người Tây Hạ đã ngầm phóng ra một luồng mù độc không mùi vị lại không hình sắc. Thứ mù độc này lấy nọc các giống rắn độc luyện với mù độc ở núi Ðại Tuyết Sơn ra đựng vào bình. Khi dùng đến thì họ uống thuốc giải độc trước giữ mình, rồi mới mở nắp bình cho mù độc bay ra.

Dù ai thính mũi, tinh mắt đến đâu cũng không thể phát giác ra được. Mù độc làm cho chảy nước mắt, hơi độc nhiễm vào đầu óc. Những tiếng kêu rú lên không ngớt,quần chúng Cái Bang lục đục ngã lăn ra.

Ðoàn Dự đã nuốt "Mãng hổ chu cáp" nên bất luận tà khí gì cũng không xâm nhập vào người được.

Chàng thấy mọi người Cái bang, rồi A Châu, Bích đều hốt hoảng, không hiểu tại sao, trong lòng rất kinh sợ. Chàng lại thấy Từ trưởng lão nhắm mắt, hai lần nhẩy lên trên không, rồi chân tay lão bị tê liệt ngã lăn ra.

Nỗ Nhi Hải lớn tiếng quát tháo, chỉ huy bọn thủ hạ cùng các võ sỹ trói hết người Cái Bang lại, còn tự mình thì tiến đến bên Vương Ngọc Yến, giơ tay nắm lấy cổ tay nàng.

Ðoàn Dự quát lên:

- Mi làm trò gì vậy?

Trong lúc cấp bách, chàng giơ ngón tay trỏ bên phải lên, một luồng chân khí từ đầu ngón tay phóng ra nghe "xuỳ", chính là phép Lục Mạch Thần Kiếm của họ Ðoàn nước Ðại Lý.

Nỗ Nhi Hải không hiểu gì cả, vẫn chụp lấy cổ tay Vương Ngọc Yến.

Ðột nhiên nghe "rắc" một tiếng, xương tay phải hắn đã gãy làm đôi. Nên biết rằng, một khi Lục Mạch Thần Kiếm đã phóng ra thì cái thân thể huyết nhục bình thường của con người không tài nào chống lại được.

Nỗ Nhi Hải la lên:

- Xin thôi!

Ðoàn Dự cúi xuống ôm lấy tấm lưng thon của Vương Ngọc Yến vào lòng, đoạn dùng phép "Lăng ba vi bộ" bước xéo lên ba thước rồi lại rẽ ngang hai bước, chàng chạy rất nhẹ nhàng.

Diệp Nhị Nương vẫy tay một cái, phóng kim độc vào sau lưng Ðoàn Dự. Mũi tên độc này đi thẳng và rất mạnh.

Ðoàn Dự chính ra không biết cách né tránh gì, chỉ nhờ ở bộ pháp lúc đi chếch,lúc lùi lại. Kim độc bắn tới nơi thì người chàng đã lăng qua mé hữu ba thước. Ba tay cao thủ trong bọn võ sỹ Tây hạ nhất tề xuống ngựa gọi nhau đuổi theo. Ðoàn Dự đến bên một con ngựa, đặt Ngọc Yến lên yên trước rồi phi thân nhảy lên sau,phóng nước đại chạy như bay.

Bọn võ sỹ Tây Hạ đã chiếm đóng những nơi hiểm yếu bốn mặt rừng hạnh, khi thấy Ðoàn Dự cưỡi ngựa đột nhiên chạy ra chúng liền bắn tên không ngớt. Hơn mười mũi tên "Lang nha vũ tiến" đều cắm phập vào cây hạnh. Trong bóng tối

Ðoàn Dự bảo ngựa:

- Này ngựa không ngoan! Này ngựa không ngoan! Chạy càng nhanh càng tốt! Về nhà ta cho ăn gà, ăn thịt, ắn cá, ăn cừu (!)

Ngựa chạy một lúc đã bỏ xa những người ở phía sau. Chàng hỏi Ngọc Yến:

- Vương cô nương! Cô làm sao vậy?

Vương Ngọc Yến đáp:

- Tôi bị trúng độc rồi, trong người không còn chút khí lực nào nữa.

Ðoàn Dự nghe hai tiếng "trúng độc" thì giật nẩy người lên, vội hỏi:

- Có nặng lắm không? Phải tìm thuốc giải độc mới được.

Ngọc Yến nói:

- Tôi cũng không biết nữa, đại ca giục ngựa đi mau đến chỗ nào bình yên rồi sẽ nói chuyện.

Ðoàn Dự hỏi:

- Bây giờ đi đâu cho bình yên?

Ngọc Yến nói:

- Về Thái Hồ.

Ðoàn Dự nhìn nhận phương hướng, biết Thái Hồ ở về mé Tây, liền cho ngựa chạy về ngả Tây Bắc để vừa xa quân địch vừa về gần Thái Hồ. con ngựa này đi chưa được bao lâu đã mệt nhoài, trời lại lất phất mưa.

Ðoàn Dự hỏi:

- Vương cô nương! Cô cảm thấy thế nào?

Vương Ngọc Yến đáp:

- Không sao.

Ðoàn Dự được đi cùng mỹ nhân, trong lòng vui sướng khôn xiết, nhưng lại sợ nàng trúng độc mãnh liệt có thể nguy hại đến tính mạng. Vì thế mà có lúc chàng mỉm cười, có lúc nét mặt lại buồn thiu. Ðêm tối không nhìn rõ nên không biết vẻ

mặt chàng thay đổi luôn luôn. Trời mưa mỗi lúc một nặng hạt, Ðoàn Dự cởi áo trường bào của mình ra che lên người cho Vương Ngọc Yến, nhưng chỉ được một lát thì che được người nọ, hở người kia rồi cả hai người cùng ướt như chuột.

Ðoàn Dự lại hỏi:

- Vương cô nương! Cô thấy thế nào?

Vương Ngọc Yến thở dài đáp:

- Ðã lạnh lại ướt, tìm vào đâu ẩn mưa một lúc.

Bất luận Vương Ngọc Yến bảo gì, Ðoàn Dự cũng coi như ngọc chỉ trên thiên đình hoặc như chiếu chỉ nhà vua. Nàng bảo cần tìm chỗ trú mưa, chàng biết rõ rằng đây chưa thoát ra khỏi vòng nguy hiểm mà vẫn luôn mồm khen phải.

Trong lòng lại nảy ra những ý nghĩ vớ vẩn: "Lúc nào Vương cô nương cũng chỉ nghĩ đến biểu huynh nàng là gã Mộ Dung Phục, còn Ðoàn Dự này thuỷ chung vẫn vô hy vọng. Hôm nay ta cùng nàng gặp bước gian nguy, ta tận tâm kiệt lực bảo vệ cho nàng, giả tỷ có vì nàng mà phải chết, thì sau khi ta chết rồi chắc nàng cũng nghĩ đến ta vài phần. Sau này, nàng cùng Mộ Dung Phục thành hôn sinh con đẻ cháu, lúc rảnh việc kể lại chuyện xưa cho con cháu nghe, có khi cũng đề cập đến việc hôm nay. Bấy giờ tuy đầu nàng đã bạc phơ, nhắc đến ba chữ "Ðoàn công tử" chắc nàng cũng châu lệ tuôn rơi..."

Chàng nghĩ vậy, bất giác tự thương cho mình, hai mắt đỏ hoe.

Vương Ngọc Yến thấy chàng ngẩn ngơ, chẳng biết có tìm được chỗ trú mưa không, liền hỏi lại:

- Thế nào? Không có chỗ nào trú mưa được ư?

Ðoàn Dự còn đương ngơ ngẩn, nói đi đâu:

- Lúc đó cô nương nói chuyện cùng con gái...

Vương Ngọc Yến lấy làm lạ, hỏi:

- Ðại ca nói con gái tôi cái gì vậy?

Bấy giờ Ðoàn Dự mới giật mình tỉnh ngộ, cười nói:

- Chết chưa! Tôi đang nghĩ vẩn vơ.

Chàng đưa mắt nhìn chung quanh, thấy góc đông bắc có một cái trại đặt cối giã gạo, liền nói:

- Chỗ kia có thể trú mưa được.

Rồi bắt ngựa rẽ vào. Ðến nơi, chàng xuống ngựa, nhìn thấy Vương Ngọc Yến sắc mặt lợt lạt, bất giác động lòng tiếc ngọc thương hương, hỏi nàng:

- Cô nương đau bụng hay nhức đầu?

Vương Ngọc Yến lắc đầu, tủm tỉm cười, đáp:

- Tôi không sao cả!

Ðoàn Dự nói:

- Chao ôi! Không biết bọn Tây Hạ đã tung thuốc độc gì ra, tôi phải tìm thuốc giải cho cô nương mới được.

Chương 10: Cường địch truy tầm vương ngọc yến

Ngọc Yến nói:

- Trời đang mưa như tầm như tã, đại ca cho tôi xuống ngựa vào trong nhà rồi sẽ hay.

Ðoàn Dự dậm chân, nói:

- Chết chưa! Tôi thật hồ đồ quá!

Vương Ngọc Yến mỉm cười, nghĩ thầm: - "Ngươi quả là một gã hồ đồ".

Ðoàn Dự nhìn nàng mỉm cười, mê mẩn tâm thần suýt nữa lại quên cả mở cửa trại. Chàng hấp tấp vào đẩy cửa rồi quay trở ra đỡ Ngọc Yến xuống ngựa, nhưng mắt vẫn không ngớp nét mặt kiều diễm của nàng, không để ý đến bên cửa trại có rãnh nước. Chân trái chàng bước vào, vừa kịp kêu lên một tiếng, người đã tụt xuống rãnh bùn lầy, mặt mũi chân tay lấm bê bết.

Chàng hỏi Vương Ngọc Yến:

- Thôi chết tôi rồi! Cô nương có việc gì không?

Ngọc Yến nói:

- Ðáng lý tôi hỏi đại ca có việc gì không thì phải. Ðại ca ngã có đau không?

Ðoàn Dự thấy nàng quan tâm đến mình thì mừng rỡ vô cùng, đáp:

- Không sao! Không sao! Dù có té bị đau một chút cũng không sao.

Chàng đưa tay đỡ Ngọc Yến xuống ngựa, nhưng trông thấy tay dơ bẩn vội rụt lại, nói:

- Không được! Ðể tôi rửa sạch rồi sẽ đỡ cô nương xuống.

Ngọc Yến thở dài, nói:

- Ðại ca thật là lẩn thẩn như đàn bà, người tôi ướt hết rồi, đại ca dù có dính bùn phỏng có can hệ gì!

Ðoàn Dự nói:

- Tôi làm ăn luộm thuộm quá, không biết hầu hạ cô nương.

Thế rồi chàng ra suối rửa tay, xong mới đỡ Vương Ngọc Yến xuống ngựa bước vào nhà. Hai người thấy cối gạo, chày đá đương giã bỏ chỏng chơ đó không có người trông coi.

Ðoàn Dự cất tiếng gọi:

- Ở đây có ai không?

Bỗng trong đống rơm góc nhà có tiếng hốt hoảng la lên:

- Chết rồi!

Hai người hấp tấp đứng dậy là một đôi trai gái cỡ mười tám đôi mươi đều là thanh niên nông thôn, quần áo xốc xếch, đầu tóc rũ rượi, mặt mũi đỏ bừng ra chiều bẽn lẽn. Nguyên đó là một cặp nhân tình, cô gái ở đây coi chừng cối gạo còn chàng trai lén đến du hí với nàng. Thấy trời mưa to, tưởng không có ai vào nên tự do hành lạc, không còn uý kỵ gì nữa. Ðoàn Dự cùng Ngọc Yến đứng ngoài nói với nhau bấy lâu mà họ cũng không biết.

Ðoàn Dự chắp tay nói:

- Trời mưa to quá, chúng tôi vào đây ẩn, phiền chiễu hai vị nhiều quá. Hai vị đang bận gì xin cứ việc tuỳ tiện, để mặc chúng tôi.

Ngọc Yến khẽ bảo Ðoàn Dự:

- Ðại ca thật ngốc! Ðã có mặt chúng ta ở đây, đâu họ còn dám cùng nhau ân ái?

Nàng là đàn bà con gái, nên vừa thấy vẻ mặt hai người như vậy không tiện nhìn lâu, còn Ðoàn Dự thì để cả tâm trí vào Vương Ngọc Yến, không chú ý gì đến cặp nam nữ thanh niên nông thôn đó. Chàng đặt Vương Ngọc Yến ngồi xuống ghế, nói:

- Cô nương ướt hết rồi, bây giờ làm sao đây?

Vương Ngọc Yến càng đỏ mặt hơn, nàng nghĩ ra một kế, rút trên mái tóc cành kim thoa nạm hai hạt châu, nhìn cô thôn nữ nói:

- Tôi tặng chị cành thoa này, phiền chị cho mượn một bộ quần áo để thay.

Cô thôn nữ tuy không biết hai hạt châu quý giá vô ngần, nhưng cũng biết được giá vàng. Cô gái ngập ngừng đáp:

- Tôi lấy quần áo cho cô thay... còn cành... kim thoa này tôi không dám lấy.

Nói xong nàng trèo thang lên gác. Ngọc Yến nói:

- Này chị! Chị hãy lại đây đã!

Cô thôn nữ đã lên bốn năm bực thang, lại quay trở xuống, đến trước mặt Vương Ngọc Yến. Nàng nhét cành thoa vào trong tay cô gái, nói:

- Cành thoa này đáng giá hơn trăm lạng bạc. Tôi tặng chị thật đấy. Chị đưa tôi lên đó thay áo được không?

Cô thôn nữ vốn là người tốt, thấy Ngọc Yến xinh đẹp đáng yêu, bản tâm đã muốn giúp đỡ, lại được tặng cành thoa thì mừng rỡ vô cùng. Cô cũng từ chối vài câu rồi mới nhận, đoạn dắt Ngọc Yến lên gác để nàng thay áo. Trên gác ngổn

ngang nào tấm cám, nào dần, sàng, thúng mủng. Cô thôn nữ có vài bộ áo cũ rách,đang vá dở thì chàng trai đến, liền bỏ đó, giờ cô lấy đưa cho Ngọc Yến thay.

Chàng trai nông thôn ngấp ngó nhìn Ðoàn Dự không dám nói gì.

Ðoàn Dự cười,nói:

- Ðại ca! Quý tính là gì?

Thanh niên đáp:

- Tôi họ Kim.

Ðoàn Dự nói:

- À! Kim đại ca!

Thanh niên nói:

- Không phải! Tôi là Kim A Nhị, còn Kim A Ðại là anh tôi.

Ðoàn Dự nói:

- Ồ ! Thế thì Kim nhị ca...

Vừa nói đến đó, bỗng nghe tiếng vó ngựa chừng hơn mười con chạy đến. Ðoàn Dự cả kinh, đứng lên gọi:

- Vương cô nương! Quân địch đuổi theo đến nơi rồi!

Vương Ngọc Yến nhờ cô thôn nữ giúp đỡ cởi áo ướt xong, đang lau mình mẩy,bỗng nghe tiếng vó ngựa thì giật mình kinh sợ. Trong khoảnh khắc, đoàn người ngựa đã đến ngoài cửa trại. Có người nói to:

- Con ngựa này của ta đây mà! Thằng lỏi con cùng cô kia ẩn náu ở đây rồi!
Vương Ngọc Yến cùng Ðoàn Dự, một người trên gác, một người dưới nhà phập phồng lo sợ. Bỗng nghe đánh "binh" một tiếng, có người đạp cửa, rồi ba bốn tên võ sỹ Tây Hạ sấn vào.

Ðoàn Dự nhất tâm bảo vệ Vương Ngọc Yến liền nhảy vội lên lầu.

Vương Ngọc Yến không kịp mặc áo, liền cầm áo ướt che trước ngực.

Ðoàn Dự cả kinh nói:

- Chết rồi! Tôi mạo phạm cô nương, thật là vô lễ!

Vương Ngọc Yến hỏi:

- Biết làm thế nào bây giờ?

Bỗng thấy một tên võ sỹ hỏi Kim A Nhị:

- Có phải tiểu thư ở trên gác kia không?

Kim A Nhị hỏi lại:

- Người hỏi cô làm gì?

Gã võ sỹ giở quyền đánh "binh" một cái, thanh niên bắn đi đến hơn một trượng.

Kim A Nhị vốn tính quật cường, mở miệng chửi mắng luôn.

Thôn nữ vội kêu lên:

- A nhị ca! A nhị ca! Chớ mắng chửi người ta.

Cô rất quan tâm đến tình nhân, vội xuống để khuyên can. Không ngờ tên võ sỹ vung đao chém Kim A Nhị một nhát đứt đôi đầu. Cô thôn nữ sợ quá, ở trên cầu thang ngã lăn xuống thì một tên võ sỹ khác ôm chầm lấy cô, nhe răng cười, nói:

- Ðể tôi ẵm nàng lên gác.

Rôi "roạc" một tiếng, gã xé áo cô ra. Cô thôn nữ cùng quá, giơ móng tay lên cào mặt gã thành năm vệt máu. Tên võ sỹ cả giận, vận kình lực ra bàn tay, đánh một chưởng vào trước ngực cô, chết ngay lập tức.

Ðoàn Dự nghe thấy dưới nhà rú lên những tiếng kinh hồn, cúi xuống xem thì thấy đôi thanh niên nam nữ đều bị giết

chết.

Chàng áy náy vô cùng, lẩm bẩm: "Việc này là lỗi tại ta, để luỵ cho hai người phải chết một cách bi thảm". Chàng thấy tên võ sỹ chạy lại toan lên gác, vội đẩy cái thang gỗ một cái. Thang này chỉ tựa hờ vào gác nên Ðoàn Dự vừa đẩy đã đổ ngay xuống. Tên võ sỹ lẹ làng đón lấy cầu thang, bắc vào ván gác.

Ðoàn Dự muốn đẩy nữa thì một tên võ sỹ khác vung tay lên phóng ám tiến ra,Ðoàn Dự không biết tránh, tên vừa đánh "tách" đã cắm phập ngay vào vai bên trái chàng. Tên võ sỹ thứ nhất nhân lúc chàng tay giữ bả vai, mỗi bước ba bậc đi mau lên gác. Vương Ngọc Yến ngồi phía sau Ðoàn Dự, nghe thấy võ sỹ xuất chưởng đánh chết cô thôn nữ lại trèo lên gác, liền bảo Ðoàn Dự:

- Ðại ca lấy ngón tay trỏ bên trái điểm vào huyệt "hạ quản" bụng dưới hắn.

Ðoàn Dự ở nước Ðại Lý lúc học phép Nhất Dương chỉ cùng Lục Mạch Thần Kiếm, bao nhiêu huyệt đạo trong người chàng đã nhớ được rõ ràng. Vừa nghe Vương Ngọc Yến bảo, đã thấy chân trái tên võ sỹ bước vào cửa gác, chàng không nghĩ ngợi gì nữa, đưa ngón tay điểm luôn vào huyệt "hạ quản" gã.

Tên võ sỹ lúc chui vào gác, bụng dưới để sơ hở, chỉ kịp kêu rú lên một tiếng, té lăn xuống chết tươi.

Ðoàn Dự không ngờ sức một ngón tay của mình lại lợi hại đến thế, bất giác đứng ngẩn người ra.

Ðoàn Dự lại thấy một tên võ sỹ Tây Hạ khác đầy mặt râu đâm tua tủa vừa múa cây đại phá đao để che đỡ toàn thân mình, vừa trèo lên gác. Ðoàn Dự vội hỏi Vương Ngọc Yến:

- Bây giờ điểm chỗ nào? Bây giờ điểm chỗ nào?

Ngọc Yến cả kinh, nói:

- Chao ôi! Hỏng rồi!

Ðoàn Dự hỏi:

- Làm sao mà hỏng?

Ngọc Yến đáp:- Hắn múa đao để hộ vệ các huyệt đạo trong người. Nếu đại ca động thủ, điểm huyệt "đản trung" ở trước ngực hắn, thì ngón tay chưa phạm tới huyệt đạo đã bị hắn chém mất rồi.

Trong lúc tình thế nguy cấp, Ngọc Yến vừa nói xong, tên võ sỹ râu tua tủa đã bước tới cửa gác.

Ðoàn Dự nhất tâm hộ vệ, chỉ cốt cho Vương Ngọc Yến đặng chu toàn, chàng không còn suy nghĩ gì nữa, bất chấp tay mình có bị chém hay không.

Chàng vận nội lực vào cánh tay rồi đưa luôn ngón tay điểm vào huyệt "đản trung" tên võ sỹ.

Gã đang giơ đao lên chém tay chàng, bỗng rú lên một tiếng, ngã ngửa về phía sau, trước ngực thủng một lỗ vọt máu tươi bắn lên cao đến hai thước. Vương Ngọc Yến cùng Ðoàn Dự vừa kinh hãi vừa mừng thầm, không ngờ sức mạnh một ngón tay ghê gớm đến thế.

Ta nên biết rằng nội lực Ðoàn Dự thâm hậu trên đời có một và Lục Mạch Thần Kiếm của họ Ðoàn nước Ðại Lý lại là một môn võ đứng vào bậc nhất trong võ lâm.

Ðoàn Dự có nhiều khiếm khuyết chẳng qua chỉ ở chỗ chưa biết vận dụng một cách linh hoạt môn đó mà thôi.

Nhưng chàng được Ngọc Yến chỉ điểm cho, uy lực của chàng phát ra so với những tay cao thủ như Khô Vinh đại sư, Cưu Ma Trí, Thái tử Diên Khánh,... còn có phần mạnh hơn. Mới trong khoảnh khắc, Ðoàn Dự đã dùng chỉ lực đánh chết hai tên võ sỹ. Mười mấy tên kia thấy vậy không dám lên gác nữa. Chúng tụ tập ở dưới nhà thương nghị.

Ngọc Yến nói:

- Ðoàn công tử! Công tử rút mũi tên trên vai ra.

Ðoàn Dự cả mừng, nghĩ thầm: "Thế ra nàng vẫn quan tâm đến chỗ ta bị thương vì mũi tên ở trên vai". Chàng liền giơ tay lên rút tên ra. Mũi tên này vào sâu đến hơn một tấc, đã đụng vào xương bả vai thì lúc nhổ ra đau đớn vô cùng. Song Ðoàn Dự mừng quá thành ra không đẻ ý gì đến chỗ mình bị đau đớn. Chàng hỏi:

- Vương cô nương! Bọn chúng sắp đánh lên đây, bây giờ cô nương phải đối phó bằng cách nào?

Chàng vừa nói vừa quay đầu lại nhìn Vương Ngọc Yến, bỗng để mắt đến chỗ áo nàng không được chỉnh tề, vội ngoảnh đi chỗ khác, nói:

- Tôi thật vô lễ quá!

Ngọc Yến thẹn đỏ mặt lên, nàng luống cuống chưa kịp mặc áo, liền chui vào trong đống rơm chỉ để hở đầu ra ngoài, rồi vừa cười vừa nói:

- Không sao! Công tử ghé đầu lại đây.

Ðoàn Dự từ từ nghiêng người, trong lòng vẫn e dè đề phòng khi nhìn đến chỗ áo quần nàng không được kín đáo là lập tức quay đầu đi chỗ khác. Chính lúc chàng đang xoay người lại nhìn chênh chếch, thế nào lại trông ngay thấy ngòi cửa sổ một tên võ sỹ Tây Hạ đứng ngấp nghé dòm vào. Chàng vội nói:

- Mé bên này có kẻ địch!

Vương Ngọc Yến tự hỏi: "Không hiểu gã ở môn phái nào? võ công ra sao?"

Nàng bảo:

- Công tử dùng tụ tiễn ném ra!

Ðoàn Dự theo lời nàng, giơ tay phóng tên ra. Song chàng không biết phóng ám tiến, nên mũi tên ném ra sai địch ít ra là hai thước. Lúc Ðoàn Dự phóng tên võ sỹ không né tránh, song kình lực chàng mạnh quá, mũi tên đi nghe vù vù. Gã mới giật mình thục đầu xuống để tránh, nằm phục trên lưng ngựa.

Vương Ngọc Yến ngẩng đầu lên trông thấy rõ ràng, nói:

- Gã là một tên chuyên môn bắt người rất giỏi. Công tử cứ lờ đi như không biết, chờ y túm được mình rồi, sẽ phóng chưởng đánh vào đầu gã là xong.

Ðoàn Dự đáp:

- Cái đó dễ lắm.

Chàng từ từ đến bên cửa sổ. Quả nhiên tên võ sỹ nhảy lên, đạp vô cửa sổ xông vào.

Ðoàn Dự kêu lên:

- Mi lên đây làm chi.

Tên võ sỹ không hiểu tiếng Hán, trừng mắt nhìn rồi nhanh chớp gã thò tay trái ra túm lấy ngực Ðoàn Dự. Thủ pháp gã mau lẹ dị thường vừa túm được, gã giơ người Ðoàn Dự lên không.

Ðoàn Dự trở tay đánh xuống đỉnh đầu gã một chưởng nghe "chát" một tiếng. Tên võ sỹ đang chực đưa Ðoàn Dự ra cửa hất mạnh xuống lầu cho chàng phải sống dở chết dở.

Gã không ngờ bị chàng đánh bất thình lình một chưởng, vỡ đầu chết ngay lập tức.

Ðoàn Dự trước nay chưa đánh chết ai bao giờ, hôm nay vì hộ vệ Ngọc Yến mà liền lúc giết chết ba mạng người, lòng chàng không khỏi tê tái, chàng càng nghĩ càng sợ, liền lớn tiếng gọi:

- Ta không muốn giết bọn người nữa đâu, các người chạy đi là xong.

Chàng vừa nói vừa dùng sức đẩy cái xác gã võ sỹ vừa rồi xuống dưới. Ðám võ sỹ Tây Hạ cả thảy mười lăm người đến vây đánh trại máy, chết mất ba tên còn lại mười hai. Trong mười hai gã này, có bốn tay cao thủ Nhất Phẩm Ðường, còn tám tên kia thì đều là những chiến sỹ tầm thường. Trong cao thủ thì hai tay người Hán,một tay người Tây Vực và một tay người Tây Hạ.

Bốn tay cao thủ này đứng xem một lúc, thấy võ công Ðoàn Dự tựa hồ vô cùng lợi hại, có lúc lại dường như quá non nớt rất đáng buồn cười, thật không biết đâu mà mò được. Họ ngồi gần nhau để bàn định cách tấn công, còn tám gã kia thì bàn nhau lấy rơm đốt nhà máy giã gạo và đương định phóng hoả.

Vương Ngọc Yến nghe chúng bàn nhau cả kinh, nói:

- Nguy rồi! Chúng đương định phóng hoả.

Ðoàn Dự dậm chân, nói:

- Vậy làm sao bây giờ?

Chàng chợt nhìn đến cái guồng nước lớn chuyển động không ngớt, quay lên hạ xuống. Lòng chàng cũng xáo động chẳng kém gì cái guồng nước này. Bỗng nghe tiếng một gã người Hán nói:

- Ðại tướng quân đã có lệnh: vị cô nương đó học thức uyên thâm, phải bắt sống nàng, không được hại mạng. Hãy khoan việc phóng hoả.

Rồi lại có tiếng gọi to:

- Này, thằng nhỏ kia cùng cô nương! Mau mau đầu hàng đi, không thì bọn ta phóng hoả đốt cháy các ngươi như hai con lợn thui.

Gã gọi luôn ba tiếng, Ðoàn Dự cùng Vương Ngọc Yến mặc kệ, không đáp. Gã liền lấy đá lửa ra cầm trong tay, nói:

- Nếu các ngươi không hàng phục ta sẽ thui sống.

Vừa nói vừa giơ đá lửa vào bên đống rơm để hăm doạ. Ðoàn Dự thấy thế nguy, nói:

- Ta phải hạ thủ trước để chúng không kịp trở tay.

Chàng bước lên guồng nước. Cái guồng này lớn lắm, đường kính rộng đến hai trượng.

Ðoàn Dự đạp chân lên guồng, hai tay giữ cái trục ngang bên trên, từ từ chuyển xuống. Gã người Hán đang lớn tiếng gọi Ðoàn Dự cùng Vương Ngọc Yến quy phục, không ngờ chàng bước theo guồng nước xuống, giơ ngón tay trỏ ra điểm vào sau lưng gã. Ðoàn Dự dùng môn "Thiếu dương kiếm" trong phép Lục Mạch Thần Kiếm. Dè đâu chàng đánh lén đã đề khí từ trước. Nội lực không thoát ra được.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau