LỤC MẠCH THẦN KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Lục mạch thần kiếm - Chương 51 - Chương 55

Chương 51: Đòi báu vật nhà sư động thủ

A Tử xoa tay mạnh vào nhau rồi nhìn vào lòng bàn tay thì thấy hai bàn tay vẫn đẹp như ngọc không có chút vết tích gì, mà cũng không có dấu máu dơ bẩn chi hết. Nàng biết những gì mình nghe trộm ở nơi sư phụ về phép luyện công quả đúng rồi bất giác cả mừng. Nàng cầm đỉnh ngọc lên đổ xác con rết xuống đất rồi bon bon chạy ra ngoài điện không thèm để mắt ngó Du Thản Chi nữa, tựa hồ như người đó đã thành vật vô dụng như con rết vậy.

Du Thản Chi nhìn sau lưng A Tử đi khỏi rồi cởi áo ra, thì thấy quầng đen đã chạy tới nách đồng thời một cánh tay bị ngứa ngáy khó chịu.

Bệnh ngứa lan ra mau chóng chỉ trong chớp mắt, gã cảm thấy tựa hồ có đến hàng ngàn hàng vạn con kiến đang cắn rứt.

Du Thản Chi nhảy lên chồm chồm, đưa tay lên gãi. Nhưng không gãi còn khá, vì càng gãi bao nhiêu thì càng ngứa dữ dội thêmbấy nhiêu, dường như trong xương tủy và trong ruột gan đều có sâu bọ bò qua bò lại lúc nhúc.

Người bị đau còn chịu được chứ bị ngứa ngáy thì không thể nào chịu được, Du Thản Chi nhảy lên nhảy xuống la hét om sòm rồi rồi đập cái đầu sắt vào tường kêu binh binh.

Gã chỉ mong sao cho mình ngất đi không còn biết gì nữa để khỏi chịu đựng những cơn ngứa ngáy kì dị.

Du Thản Chi đập đầu một lúc nghe đánh tạch một tiếng, một vật trong bọc rơi xuống.

Ðó là gói giấy dầu tuột ra để lộ một cuốn sách giấy vàng, chính là cuốn sách chữ Phạn mà gã lượm được của Kiều Phong.

Du Thản Chi bị cơn ngứa ngáy hành hạ chẳng buồn lượm lên nữa.

Trong lúc vô tình gã trông thấy bìa sách lật ra trang đầu có vẽ một nhà sư người gầy như que củi.

Hình vẽ nhà sư này rất là kì dị , đầu luồn xuống dưới hai chân quặp lại, hai bàn tay thì nắm lấy hai chân.

Du Thản Chi đang ngứa ngáy khó chịu, chẳng còn lòng dạ nào để ý đến hình vẽ kì dị này.

Gã chồm lên nhảy xuống một hồi nữa thì cảm thấy cơn ngứa ngáy làm cho khó thở.

Gã nằm xuống đất xé hết quần áo rách tươm rồi lăn mình cho da thịt sát xuống mặt đất.

Gã gãi một hồi nữa đến trầy da chảy máu.

Trong lúc Du Thản Chi vừa lăn lộn vừa gãi tự nhiên đầu gã luồn vào giữa hai chân quặp lấy. Vì đầu gã có chụp lồng sắt thành lớn quá không ra được.

Gã đưa hai tay nắm chân định kéo rộng ra rồi hất đầu lên, song lúc này gã kiệt sức quá rồi, không nhúc nhích được nữa tạm dừng tay thở lên hồng hộc.

Ngẫu nhiên cuốn sách bày ra trước mắt kiểu hình vẽ nhà sư gầy trong cuốn sách giống như kiểu gã đang ngồi.

Trong lòng gã vừa kinh ngạc lại vừa buồn cười. Kì dị ở chỗ gã ngồi kiểu này tuy vẫn ngứa như cũ nhưng hơi thở nhẹ nhàng hơn. Vì vậy nên gã không muốn rút đầu ra khỏi chân mà cứ để nguyên vậy gục xuống đất.

Gã gục đầu như vậy thì hai mắt càng gần sách hơn. Gã nhìn lại ảnh nhà sư đột nhiên thấy người trong tranh vẽ có những sợi dây rất nhỏ. Vì sách cũ quá, màu giấy đã vàng khè và xám xịt, nên chẳng thấy gì.

Du Thản Chi cảm thấy tay mặt ngứa một cách kì lạ, mắt gã cũng ngẫu nhiên nhìn vào cánh tay phải nhà sư trong đồ hình, bỗng thấy từ cánh tay này có sợi dây nhỏ thông lên đến cổ họng rồi chuyền xuống trước ngực đi vòng vèo đưa ra hai vai rồi lên đến đỉnh đầu.

Du Thản Chi nhìn sợi dây nhỏ đó thì trong lòng tự nhiên cảm thấy tựa hồ như tay phải ngứa ghê gớm, có một luồng hơi ấm áp đi theo những đường như sợi dây, từ cổ họng xuống trước ngực rồi từ hai vai đến đỉnh đầu, dần dần biến mất.

Gã tiếp tục đưa luồng tư tưởng theo những đường chỉ trong đồ hình mấy lần và mỗi lần đều thấy một luồn khí ấm thông vào đầu óc, rồi cánh tay đang ngứa cũng bớt dần đi.

Du Thản Chi cảm thấy rất là kì lạ, gã chẳng hoài công suy xét nguyên do tại sao? Chỉ cho luồng tư tưởng tiếp diễn như vậy đến ba mươi mấy lượt. Cánh tay chỉ còn hơi ngứa gã làm thêm mười lần nữa thì từ cánh tay cho đến bàn tay không còn thấy gì nữa.

Bấy giờ gã mới rút đầu ra khỏi đôi chân.

Gã giơ bàn tay lên xem thì những quầng đen trên tay cũng đều biến mất.

Du Thản Chi đang mừng rỡ bỗng la lên:

- Chao ôi! Thôi hỏng rồi! Nọc rết kịch độc đã chuyền vào mình cả rồi.

Nhưng dù sau gã hết được cơn ngứa kì dị đã thấy đỡ khổ, còn những mối lo gì hãy bỏ đó. Gã lẩm bẩm:

- Việc đời kể ra cũng lạ, mình ngẫu nhiên đưa đến kiểu ngồi như hòa thượng này là nghĩa làm sao? Phải chăng đó là ý trời?

Thật ra hình vẽ trong sách là một diệu pháp để trút bỏ những mối ưu phiền trong lúc luyện công.

Du Thản Chi đang rất khổ sở đến cực độ biến diễn ra cách đó chứ không phải do sự ngẫu nhiên mà gặp.

Nên biết rằng "Vướng cổ thì ho, ăn no quá thì mửa." Ðó là tính cách tự nhiên của con người. Du Thản Chi đang lúc ngứa ngáy khổ sở thì gục đầu xuống cũng chỉ là một tập quán tự nhiên chẳng có gì lạ. Có điều cuốn sách rớt xuống lại tự nhiên mở ra đúng tranh đó thì quả là một sự ngẫu hợp... Còn bao là ý trời ban phước hay gieo họa thì còn khó mà biết được.

Du Thản Chi ngơ ngẩn một lúc, gã mệt quá lăn ra ngủ.

Sáng sớm hôm sau, gã vừa thức giấc mở chăn ra đã thấy A Tử lật đật đi vào điện.

Nàng thấy Du Thản Chi thân thể lõa lồ bộ dạng kì quái thì la lên một tiếng kinh ngạc rồi hỏi:

- Mi vẫn chưa chết ư?

Du Thản Chi giật mình rồi vội kéo chăn trùm lên che mình rồi đáp:

- Tiểu nhân chưa chết.

Rồi gã lẩm bẩm:

- Té ra nàng tưởng mình chết rồi!

A Tử nói:

- Mi chưa chết thì hay lắm! Mau mặc quần áo rồi theo ta đi bắt trùng độc.

Du Thản Chi vâng lời ngay.

A Tử ra ngoài rồi gã nói với tên quân Khất Ðan lấy cho một bộ áo.

Tên quân Khất Ðan này thấy gã hàng ngày đi theo A Tử, ngĩ rằng gã được quận chúa thương yêu, liền kiếm một bộ y phục lành lặn sạch sẽ cho gã thay.

Du Thản Chi theo A Tử ra khỏi cung như mấy hôm.

Nàng đem đỉnh ngọc đốt hương dẫn dụ trùng độc bắt về.

Sau cùng cũng chọn một con độc nhất cho ăn tiết gà, rồi cho hút máu Du Thản Chi để đem ra luyện công.

Du Thản Chi lại chiếu theo đồ hình trong sách để hóa giải độc.

Lần thứ hai là con nhện xanh hút máu gã.

Lần thứ ba là con bò cạp lớn.

Lần nào A Tử cũng chắc là gã cũng phải chết, thế mà gã vẫn không sao, nàng không khỏi đem lòng ngờ vực.

Cuộc bắt những trùng độc của A Tử tiếp diễn sau ba tháng thì bên ngoài thành Nam kinh trong vòng mười dặm, rắn rết độc mỗi ngày một ít đi, rồi chỉ còn những con không độc mấy, không hợp ý A Tử. Càng về sau hai người càng phải đi xa thêm.

Một hôm hai người ra ngoài thành phía tây hơn ba mươi dặm.

A Tử thắp hương liệu lên chờ hồi lâu mới thấy trong đám cỏ rậm có tiếng sột soạt.

A Tử hô lên:

- Cúi thấp xuống!

Du Thản Chi vội phục xuống, thoáng nghe những tiếng phì phì.

Trong tiếng kì dị này có lẫn mùi tanh hôi, khiến người phải buồn nôn. Du Thản Chi nín thở không nhúc nhích, bỗng thấy trong đám cỏ dại rẽ ra hai bên, một con trăn lớn, mình trắng chấm đen từ phía Tây đi qua phía Ðông.

Ðầu con trăn này hai mang bành ra hình tam giác. Trên đầu nhô lên một miếng thịt sù sì.

Ở phương Bắc vốn rất ít rắn rết.

Du Thản chi chưa thấy con trăn hình thù quái dị này bao giờ. Con trăn chạy đến bên đỉnh ngọc, rồi đi vòng quanh chiếc đỉnh. Nhưng thân nó dài hơn trượng, mình to bằng cánh tay thì làm thế nào chui vào trong đỉnh được? Nó ngửi thấy mùi thơm rồi nó cứ đập cái đầu vào đỉnh"cốp cốp."

A Tử không ngờ mùi hương lại dẫn dụ cả con vật lớn đến thế. Nàng kinh dị vô cùng chưa có ý định ra sao.

Nàng khẽ bò đến bên Du Thản Chi hỏi nhỏ vào tay gã:

- Làm thế nào bây giờ? Nếu để con trăn đập vỡ đỉnh ngọc thì hỏng bét!

Du Thản Chi vừa nghe tiếng oanh thỏ thẻ lại hơi ấm lọt vào tai là một chuyện suốt đời gã chưa được thấy bao giờ.

Gã lấy làm vinh hạnh vô cùng liền đáp:

- Không hề chi! Tiểu nhân ra đuổi nó đi!

Nói xong gã đứng dậy rào bước đến gần con trăn. Con trăn vừa nghe thấy tiếng động, lập tức ngẩn đầu lên, thè lưỡi đỏ hỏn ra phun phè phè, sắp nhảy chồm lại.

Du Thản chi thấy vậy sợ hãi chưa dám tiến lên, gã toan nhặt viên đá để toan ném nó, nhưng lại sợ làm vỡ đỉnh ngọc.

Gã còn đang phân vân chưa biết làm thế nào, bỗng thấy một luồng gió lạnh thổi vào mặt, khiến gã kinh hãi rùng mình cúi đầu xuống xem thì thấy từ góc Tây Bắc có một dây lửa cháy đi tới. Chỉ trong khoảnh khắc dây lửa cháy đến trước mặt.

Lúc gần đến thì nhìn rõ không phải là dây lửa mà trong bụi cỏ có vật gì bò lại. Làn cỏ xanh gặp phải vật đó trở thành cỏ khô vàng úa trông xa như lửa cháy. Khí lạnh ở dưới chân gã mỗi lúc một lạnh buốt thêm. Gã lùi lại mấy bước thì thấy vết cỏ khô vàng đi dần dần về phía đỉnh ngọc. Con vật đó là một con tằm.

Con tằm này trắng như ngọc có ẩn hiện sắc xanh khác với con tằm thường. Nó lớn hơn con tằm thường nhiều và giống như con giun. Mình nó trong suốt như thủy tinh.

Con trăn khí thế hung hãn ngẩng đầu lên vừa thấy con tằm này thì tựa hồ như sợ lắm. Nó rút đầu lại để dấu dưới mình.

Con tằm trong suốt bò mau lạ thường qua mình con trăn chẳng khác nào cục than hồng. Nó bò đến đâu xương sống con trăn cháy thành tro đến đó. Lúc bò lên đến đầu, con trăn bị xẻ đôi tựa như một lưỡi dao rạch dọc.

Con tằm chui vào túi nọc độc bên mang con trăn để hút nọc một lát là hết ráo. Mình con tằm chướng lớn lên gấp đôi.

Ðứng xa trông chẳng khác một bình thủy tinh bên trong đựng một thứ nước xanh xanh.

A Tử vừa mừng vừa sợ khẽ nói:

- Con tằm này ghê gớm quá. Quả là ông vua trong các loại nọc độc.

Du Thản Chi trong lòng hồi hộp nghĩ thầm:

Giả tỷ con tằm này mà hút máu mình thì còn chi là tánh mạng.

Con tằm đi một vòng quanh cái đỉnh ngọc, bò qua bò lại, nó đi tới đâu thành chết đến đấy. Nhưng tựa hồ như nó biết rằng nếu chui vào trong đỉnh tất là phải chết nên chỉ quyện vòng ngoài mà thôi.

Nó quyện đi quyện lại một lúc thì bỏ đi về hướng Tây Bắc.

A Tử la lên:

- Ta phải rượt theo nó cho mau!

Nàng lấy tấm khăn đoạn ra bọc đỉnh lại rồi lên ngựa chạy theo con tằm.

Du Thản Chi lết thếch chạy theo A Tử.

Con tằm tuy nhỏ, mà nó chạy rất lẹ, cũng may là nó để vết đen lại mới biết đường mà đuổi theo, nếu không thì đã mất hút ngay từ lúc đầu.

Hai người chạy theo một mạch chừng ba bốn dặm bỗng nghe phía trước có tiếng nước chảy róc rách, thì ra đã đến bờ suối, và không thấy dấu vết đâu nữa.

A Tử nhìn sang bờ suối bên kia, cũng không thấy vết con tằm bò lên, dĩ nhiên là nó lặn xuống suối rồi. Nàng bực mình dặm chân oán trách Du Thản Chi:

- Mi phải tìm kiếm kì được bắt nó đem về cho ta, không thì đừng vác mặt về ra mắt ta nữa.

Nói xong nàng xoay mình nhảy tót lên ngựa về thành Du Thản Chi rất đỗi hoang mang, đành theo dọc bờ suối đi về phía hạ lưu để tìm. Gã đi đến bảy tám dặm đường.

Lúc trời đã hoàng hôn, đột nhiên gã thấy giữa đám bụi rậm bờ bên kia có một vệt đen thì mừng rỡ vô cùng, gọi ầm lên:

- Cô nương! Cô nương! Tiểu nhân kiếm thấy nó rồi!

Nhưng A Tử đi xa từ lâu rồi.

Du Thản chi lội xuống suối qua bờ bên kia, cứ theo vệt đen mà đi. Vệt đen này theo sườn núi đến khu thung lũng trước mắt.

Du Thản chi trong lòng phấn khởi nên chạy rất nhanh. Gã ngẩng mặt nhìn lên đầu núi có một ngôi chùa, cách kiến trúc cực kì hùng vĩ.

Du Thản chi ngẩng đầu lên trông, trước cổng chùa có tấm biển đề năm chữ lớn "sắc kiến Mẫn Trung Tự" Gã chẳng còn lòng nào mà ngắm phong cảnh miếu điện, chỉ lủi thủi theo vệt đen bên sườn núi mà đi quanh co mấy chỗ ở phía sau.

Bỗng trong chùa có tiếng chuông, tiếng khánh, tiếng mõ và tiếng tụng kinh. Chư tăng đang bận khóa lễ, thanh âm nhộn nhịp dường như khá đông người.

Du Thản Chi từ khi trên đầu chụp lồng sắt, đã tự thẹn với hình thù kì dị của mình, không dám xuất hiện trước mặt mọi người. Gã sợ chư tăng trông thấy, liền men theo chân tường lầm lũi mà đi. Gã thấy vệt đen đi qua một khu bùn lầy rộng lớn rồi ra đến khu vườn rau.

Du Thản Chi mừng thầm chắc trong vườn không có người, gã chỉ cần con tằm đang ăn rau tại đó, thì bắt được ngay. Gã rảo bước đi về phía vườn rau.

Ðến chân dậu lập tức dừng bước, vì nghe trong vườn có tiếng người đang mắng nhiếc.

Gã nghe rõ:

- Mi không giữ kỉ luật, một mình bỏ đi rong chơi khiến cho lão sợ hết hồn nửa ngày trời chỉ lo mi đi rồi mất biền biệt không về nữa. Lão đem mi từ đỉnh núi Côn Luân đường xa muôn dặm tới đây, mà mi chẳng biết cái công trình khổ nhọc của lão đối với mi. Mi như vậy là mi tự hại bước tiến trình của mi đó, không còn ai thương mi nữa.

Nghe giọng người này ra chiều căm hận nhưng vẫn đầy vẻ thương yêu và kì vọng rất nhiều, chẳng khác gì lời cha mẹ dạy một đứa con bướng bỉnh hư đốn.

Du Thản Chi lẩm bẩm:

- Lão nói cái gì đem từ núi Côn Luân, đường xa muôn dặm tới đây xem chừng như lão là sư phụ hay là bộc tiền bối người nào đó, chứ không phải là phụ thân.

Du Thản Chi vừa nghĩ, vừa nép mình vào bên dậu để ngó trộm thì thấy lão đó là một vị hòa thượng.

Nhà sư này thấp lủn thủn mà béo chùn béo chụt, người tròn ủng như trái bóng. Chính ra đã là người tu hành tất nhiên đầu trọc, nhưng đặc biệt nhà sư vẫn để tóc dài, tay chân mặt mũi cũng đầy lông lá. Nhưng quần áo nhà sư mặc trên người rất là sạch sẽ, thật là chẳng nhuốm bụi trần.

Bỗng nhà sư trỏ tay xuống đất, vẻ mặt căm tức mắng nhiếc không ngớt miệng.

Du Thản chi nhìn theo tay nhà sư chỉ thì vừa kinh dị vừa mừng thầm.

Té ra nhà sư kia nào phải đang trách mắng ai đâu, mà chính đang thống mạ con tằm kì dị.

Tưởng nhà sư lùn cổ quái nhất là lão cất tiếng mắng nhiếc con tằm thì lại là một điều không thể tưởng tượng nổi.

Du Thản Chi thấy ở dưới đất con tằm đang chạy tới chạy lui dường như muốn tìm đường chạy thoát, nhưng tựa hồ như nó đụng đầu vào bức tường vô hình và lập tức rụt lại chuyển hướng.

Du Thản Chi chú ý nhìn thấy dưới đất có vạch một vòng tròn sắc vàng.

Con tằm tả xung hữu đột mà thủy chung không sao vượt khỏi cái vòng.

Bấy giờ gã mới tỉnh ngộ, lẩm bẩm một mình:

- À phải rồi! Nhà sư đã dùng một thứ thuốc để vẽ vòng tròn kia mà thuốc này lại kị với con tằm đó, khác nào rắn sợ hồng hoàng.

Nhà sư lùn nhiếc mắng một hồi rồi lấy trong bọc ra một vật gì cắn ăn ngấu nghiến, nhìn kĩ thì thấy cái đầu dê nướng chín rồi. Lão ăn một cách ngon lành. Lão móc trên đầu cột một bầu cũ kĩ và rách nhiều chỗ, mở nút ra, rồi ngửa cổ dốc bình vào miệng nuốt ừng ực một hồi.

Du Thản Chi ngửi thấy mùi thơm biết ngay bầu này đựng rượu ngon.

Gã lẩm bẩm:

- Té ra nhà sư này uống rượu ăn thịt. Xem chừng lão nuôi con tằm này và quý báu vô cùng! Mình biết làm thế nào để lấy cắp đây?

Du Thản Chi còn đang ngẫm nghĩ, chợt góc vườn bên kia có tiếng người gọi:

- Tam Tĩnh! Tam Tĩnh!

Nhà sư lùn nghe thấy giật mình hoảng hốt giấu vội cái đầu dê cùng bầu rượu vào đống rơm. Bên ngoài tiếng người kia lại gọi dồn:

- Tam Tĩnh! Tam Tĩnh! Ngươi ẩn vào đâu mà kín thế? Sao không lên cúng phật?

Nhà sư lùn vội nhắc cái cuốc chạy ra luống rau vừa cuốc vừa nói:

- Tôi còn xới rau mà! Phương trượng bảo phải ráng sức trồng rau, có được rảnh đâu mà cúng Phật?

Người kia đi lại gần.

Du Thản Chi ngó trộm thấy một nhà sư đứng tuổi vẻ mặt nghiêm trang tựa hồ như bao phủ một làn sương mờ lạnh lùng nói:

- Một ngày hai khóa cúng: sáng và chiều, ai cũng phải đông đủ. Ngươi lên dự khóa cúng xong rồi xuống xới rau.

Nhà sư thấp lùn pháp danh là Tam Tĩnh nói:

- Vâng.

Rồi bỏ cuốc theo nhà sư đứng tuổi đi ngay. Lão không dám ngoái đầu nhìn lại con tằm, tựa hồ như sợ nhà sư đứng tuổi kia phát giác.

Du Thản Chi chờ cho hai người kia đi ra rồi lắng tay nghe bốn bề vẳng lặng như tờ, gã lẩm bẩm:

- Trên chùa đang khóa cúng Phật, các nhà sư đều trên Tam Bảo, mình không đánh cắp con tằm thì biết đợi đến khi nào?

Gã liền từ chân giậu chui ra, thấy con tằm vẫn chạy lăng xăng không ngớt, bụng bảo dạ:

- Làm thế nào bắt được nó bây giờ?

Gã ngây người ra một lúc ngẫm nghĩ cách bắt con tằm, rồi chạy lại đống rơm, móc cái bầu ra, giơ lên lắc lắc, Gã thấy hãy còn đến nửa bầu rượu, gã uống liền mấy hơi, còn thừa dổ xuống vườn rau, gã từ từ để miệng bầu quay vào phía trong vòng tròn vẽ dưới đất.

Con tằm bò một lát đến miệng bầu quả nhiên chui lọt vào trong.

Du Thản Chi cả mừng bịt nút miệng bầu lại hai tay bưng bầu chui qua dậu ba chân bốn cẳng theo đường cũ chạy về.

Du Thản chi ra khỏi chùa Mẫn Trung mới được vài chục trượng thì cái bầu tiết ra khí lạnh tê người chẳng khác gì cầm một tảng băng.

Gã hết đổi bầu từ tay phải sang tay trái, rồi lại từ tay trái sang tay phải. Nhưng cái bầu lạnh thấu xương không thể nào cầm được.

Du Thản Chi để lên đầu đội thì càng lại không xong vì khí lạnh truyền qua cái lồng sắt thấu vào óc buốt không chịu nổi các mạch máu trong cơ thể hồ như đông lại không lưu thông được.

Du Thản Chi gặp tình trạng cấp bách nghĩ ra được một kế .

Gã cởi dây lưng ra buộc vào cổ bình rồi xách đi. Dây lưng không truyền khí lạnh mới cầm đi nhanh được. Hơi lạnh trong bầu chỉ tiết ra trong khoảnh khắc phía ngoài bầu một tầng sương lạnh đóng váng.

Du Thản Chi rảo nhanh về đến ngoại thành Nam Kinh thì trời đã khuya. Cổng thành đã đóng rồi gã đành phải ngủ ngoài một đêm.

Sáng sớm hôm sau gã mới vào cung Ðoan Phúc, trình A Tử là đã bắt được con tằm mang về.

A Tử nghe nói cả mừng, bỏ tằm vào trong lọ sành để nuôi.

Hồi đó đã sang tháng năm vào tiết đầu hạ khí trời ấm áp. Thế mà nuôi một con tằm bên trong điện phủ, khí lạnh trong điện mỗi lúc một lân cao chẳng mấy chốc mà bình trà chén nước đều đóng băng.

Ðêm hôm ấy Du Thản Chi ngủ tại đó, rét run lên bần bật suốt đêm không sao ngủ được.

Gã nghĩ lẩn thẩn: "Con tằm này thật là kì dị thiên hạ hiếm có. Giả tỷ cô nương cho nó hút máu mình dù chẳng bị nọc độc làm cho uổng mạng thì cũng chết cóng."

A Tử thấy con tằm phát ra khí lạnh kì dị thì biết con vật hạn hữu. Nàng tiếp tục đi bắt những rắn độc, trùng độc đem về cho đấu với con tằm. Con tằm chỉ quanh một vòng đi đủ làm cho con vật kia lạnh cóng rồi nó hút lấy chất nước trong mình con vật bị chết.

A Tử thử luôn mười mấy ngày như vậy, không còn giống trùng nào có thể chống cự được với con tằm nữa.

Một hôm A tử vào Thiên điện bảo Du Thản Chi:

- Bữa nay ta giết con tằm bóng rọng (trong suốt) kia. Mi thò tay vào trong lọ để cho nó hút máu!

Du Thản chi mấy hôm nay ban ngày lo sốt vó, ban đêm nằm mơ thấy toàn chuyện hãi hùng. Bây giờ gã thấy nàng chẳng chút rộng tình bắt mình phải hy sinh cho con tằm. Trong lòng gã siết nỗi thê lương! Cặp mắt đăm đăm nhìn A Tử nhưng gã không nói gì cũng không nhúc nhích.

A Tử ngồi xếp bằng tĩnh tâm vận nội công, hí hửng mừng thầm bụng bảo dạ:

- Ngẫu nhiên ta được vật dị bảo này về luyện Hoa Công Ðại Pháp. Sự thành tựu của ta biết đâu chẳng lợi hại hơn sư phụ ta?

Nàng giục Du Thản Chi:

- Mi thò tay vào trong lọ đi!

Du Thản Chi nước mắt tuôn rơi, quỳ xuống lạy A Tử nói:

- Cô nương ơi! Khi cô nương luyện xong độc chưởng thần công rồi, đừng quên kẻ tiểu nhân này đã chết vì cô nương. Tiểu nhân họ Du tên Thản Chi, chứ không phải là Thiết Sửu, Ðồng Sửu gì ráo!

A Tử tủm tỉm cười nói:

- Ðược rồi ngươi tên Du Thản Chi! Ta nhớ kĩ lắm! Mi đối với ta một dạ trung thành, ta coi ngươi là một đứa nô bộc trung nghĩa.

Du Thản Chi nghe A Tử khen mình gã, gã cảm thấy cõi thấy cõi lòng được an ủi rất nhiều trước khi nhắm mắt, gã dập đầu lạy hai lạy rồi nói:
- Ða tạ cô nương!

Nhưng ai mà chả có lòng ham sống sợ chết.

Du Thản Chi không muốn bó tay chịu chết gã nghĩ đến bữa trước bị rắn rết cắn, nhờ phép vận công của nhà sư trong đồ hình mà thoát chết, bữa nay gã lại đem cách đó ra thử.

Gã đứng vững hai chân, cuối mình luồn đầu qua hai chân rồi thò tay phải vào trong lọ, đồng thời tâm niệm một sợi chỉ vàng xâu trong người nhà sư vẽ trên hình đồ.

Ðột nhiên ngón trỏ thấy hơi ngứa ngáy, một luồn khí lạnh chui vào trong tâm.

Gã đã chuẩn bị từ trước, tâm tâm niệm niệm vào đường chỉ vàng, quả nhiên thấy luồng khí lạnh đi theo mạch lạc hẳn hòi, đúng như luồng sợi chỉ vàng mà hắn đang để tâm suy nghĩ. Luồng khí lạnh từ trong tâm ra ngón tay rồi lại về cánh tay... Sau cùng chuyền lên đỉnh đầu...

Luồng khí lạnh này nhỏ xíu nhưng lạnh vô cùng, Du Thản Chi phải nhẫn nại lắm mới chịu nổi!

A Tử thấy kiểu cách của Du Thản Chi vừa lấy làm lạ vừa buồn cười, nàng động tính hiếu kì lại gần coi thì thấy con tằm kia đang cắn chặt đầu ngón tay trỏ Du Thản chi. Mình con tằm trong suốt như thủy tinh, nàng trông thấy rõ một dây máu do miệng tằm hút vào, chạy qua mé tả, sang mé hữu, đưa ra miệng rồi trở về người Du Thản chi.

Từ đầu sắt cho đến quần áo cùng chân tay gã đều bao phủ một màn sương bạc.

A Tử lẩm bẩm gã này chết rồi! Trong mình người sống có một luồng nhiệt khi phát ra thì khi nào sương đóng thàng băng thì được.

Nàng lại thấy trong mình con tằm vẫn có máu chuyển động rõ ràng đó là chưa hút hết sức. Nàng định chờ cho nó no lăn rồi mới đập chết lấy huyết luyện công. Nàng để hết tâm trí chăm chú theo dõi cuộc diễn biến.

Ðột nhiên trên mình con tằm có một luồng nhiệt khí toát ra.

A Tử còn đang kinh hãi bỗng nghe"tạch"một tiếng, con tằm từ ngón tay Du Thản Chi rớt xuống.

Trong tay A Tử đã cầm sẵn một cây côn gỗ, liền đập xuống.

Con tằm này bản tính rất linh mẫn, chính ra khó lòng đánh trúng nó. Dè đâu nó rơi xuống đáy lọ rồi ngửa bụng lên, cựa quậy một lúc mà không sao trở mình lên được nên cây côn của A Tử vừa đánh xuống con vật đã nát nhừ.

A Tử cả mừng, A Tử vội mừng vội thò tay vào lọ lấy nước trấp dịch trong mình con tằm xoa vào hai bàn tay, rồi nhắm mắt vận công cho huyết dịch thấm vào tay. Nàng biết rằng con tằm này là vật chi bảo không phải một lúc mà tìm được ngay, nên nàng lấy nước đó sát hết lần này đến lần khác để luyện công, kì cho đến lúc khô kiệt mới thôi.

A Tử vất vả nửa ngày trời, bây giờ nàng mới duỗi chân đứng dậy vãn thấy Du Thản Chi đứng kiểu đó, và khắp người chỗ nào cũng phủ một làn sương đóng lại trắng xóa. Nàng lấy làm kinh dị, đưa tay sờ vào người gã thì thấy giá buốt vô cùng, phải co lại ngay. Quần áo gã cũng đều đóng băng cứng nhắc.

A Tử chẳng hiểu ra sao, ngơ ngác đứng nhìn gã hồi lâu mới bỏ đi.

Hôm sau A Tử đến thiên điện xem thấy Du Thản Chi vẫn đứng nguyên như cũ, băng giá đóng lạitrên người gã dày thêm một lớp nữa.

Nàng vừa kinh hãi vừa buồn cười cho gọi Thất Lý đến, sai y đem xác Du Thản Chi đem chôn.

Thất Lý dẫn mấy tên quân Khất Ðan khiêng xác Du Thản Chi bỏ vào xe ngựa.

A Tử dặn Thất Lý chôn cất cẩn thận. Nhưng gã Thất Lý chẳng buồn cất công đào lỗ chôn táng, ném xác Du Thản Chi xuống khe nước rồi trở về thành.

Không ngờ cái tính lười nhác của Thất Lý lại cứu được mạng sống của Du Thản Chi.

Nguyên ngón tay gã bị con tằm cắn, đáng lí ra phải dùng phép vận công trong Dịch cân kinh để giải độc.

Pho dịch cân kinh do thủ bút của Ðạt ma lão tổ để lại. Trong kinh này truyền cho những người có nội công tối cao theo phép mà làm.

Du Thản Chi sau khi bị con tằm hút máu, máu lại nhập về ngón tay vào huyết quản, đồng thời đem những tinh hoa của con vật độc nhất thiên hạ là con tằm giá lạnh kia đưa vào thân thể. Giả tỷ gã đã luyện hết toàn bộ pháp quyết trong Dịch Cân Kinh thì gã có thể đẩy chất độc ra ngoài. Nhưng gã chỉ nhìn theo tranh vẽ rồi theo phép hàng công, chất độc vào rồi không biết cách trụt ra chứa chất độc con tằm vào trong người.

Chất kịch độc này thuộc loại âm hàn, thêm vào đó những chất độc khác của con rết, nhện, rắn... đã chứa sẵn trong người gã.

Mấy chất độc chồng chất lên làm cho gã chết cứng.

Giả tỷ, Thất Lý đem xác gã chôn xuống đất thì mấy trăm năm sau xác lão vẫn cứng đơ, chưa chắc đã tiêu hóa được. Ðằng này xác gã hất xuống suối, từ từ chảy xuôi, chảy được chừng hai mươi dặm thì dòng nước đến chỗ quanh co và chật hẹp xác gã bị vướng đám lau sậy. Chẳng bao lâu nước quanh chỗ gã đóng lại thành băng trông tựa hồ xác gã đã đưa vào quan tài bằng thủy tinh.

Nước suối tiếp tục cọ sát không ngớt, làm cho khí lạnh trong người Du Thản Chi giảm xuống dần dần rồi sau cùng khối băng quanh người lão từ từ tan ra.

May mà đầu gã chụp lồng sắt, chất sắt mau nóng mà cũng mau lạnh. Vì thế nước bọc trong ngoài lồng sắt tan trước.

Du Thản Chi bị nước tràn vào miệng ho một lúc, đầu óc tỉnh táo lại. Gã từ lòng suối bò lên, toàn thân còn lại những mảnh băng chạm vào nhau lách cách.

Gã mơ màng như người đang nằm mộng tỉnh giấc.

Lúc người bắt đầu lạnh cứng, không phải gã chết tri giác. Có điều bị băng đóng chặt chung quanh không sao nhúc nhích được.

Du Thản Chi ngồi bờ suối nhớ lại, mình đối với A Tử hết dạ trung thành, nguyện đem thân nuôi trùng độc cho nàng luyện công. Thế mà mình chết rồi. A Tử tuyệt không một tiếng thở dài.

Gã bị băng đóng chung quanh người trông ra rất rõ. Gã thấy A Tử hớn hở tươi cười lấy huyết con tằm ra đổ trên bàn tay luyện công. Gã nhìn thấy A Tử ngoẹo cổ, nhìn xác mình, dường như cái chết của mình khiến nàng thú vị tuyệt không có chút gì là thương tiếc mình.

Gã tự nhủ: "con tằm kia đủ chất độc, nó đánh ngã bao nhiêu loại trùng độckhác. Cô nương lấy huyết dịch nó luyện vào bàn tay chắc là môn độc chưởng luyện xong rồi. Nếu mình về xem nàng...

Ðột nhiên người gã run bắn lên, gã lẩm bẩm:

- Cô nương mà thấy mặt mình, chắc đem mình ra thử độc chưởng, nếu độc chưởng luyện xong thì chỉ một chưởng thì mình toi mạng. Nếu chưa thành thì nàng bắt mình đi bắt trùng độc cho đến khi nào luyện xong độc chưởng, rồi bấy giờ lại thử chưởng thì mình cũng hết sống. Ðằng nào cũng chết, mình trở về đó làm cóc gì.

Gã đứng dậy nhảy lên mấy bước cho những hòn băng còn đọng ttrên người hay trong quần áo rơi hết ra rồi tự hỏi:

- Ta biết đi đâu bây giờ?

Còn đang phân vân bỗng nghe tiếng cười khanh khách như tiếng nhạc vàng thuận theo chiều gió đưa lại rồi thanh âm một thiếu nữ thỏ thẻ nó:

- Tỉ phu ơi! Lâu nay tỉ phu không đi chơi với tiểu Muội, bây giờ du ngoạn lâu thêm một chút không được sao?

Giọng nói trong trẻo ỏn thót này có lẫn cả phần cám dỗ không phải A Tử thì còn ai vào đây? Du Thản Chi cả kinh nghĩ:

- Làm sao cô nương ấy đến được đây? Dường như nàng đi với Kiều Ðại vương?

Tiếp theo là tiếng vó ngựa dồn dập, hai con ngựa từ đàng xa phóng tới. Du Thản Chi nhìn bốn phía không thấy chỗ nào ẩn lánh được, gã đành co rúm người lại, nằm phục đám cỏ rậm sau gốc cây, gã vừa cử động một cái thì Kiều Phong trông thấy ngọc cỏ phất phơ đằng xa, liền nói:

- A Tử trong đám cỏ rậm sau cây kia có con dã thú, chưa hiểu là chó sói hay hươu nai.

A Tử cười nói:

- Mắt tỉ phu tinh thật! Còn ở xa thế mà đã trông rõ.

Nói xong phóng ngựa lại gần, vẫn còn e con thú chạy trốn mất, khi hai người cách bụi cỏ vừa tầm mũi tên, bỗng nghe: "vèo" một mũi tên bắn ra, Du Thản Chi không dám nhúc nhích, đành gửi tính mạng cho số trời, may mà Kiều Phong cùng A Tử không trông thấy rõ, mũi tên say xít qua đầu, cắm vào gốc cây. Giả tỉ tên trúng vào lồng sắt thì dù gã không đến nỗi bị thương nhưng tên chạm vào bật ra tiếng vang, tất Du Thản Chi bị lộ tung tích.

Lại khéo làm sao trong đám cỏ này có hai con thỏ rừng.

Phát tên A Tử bắn tới, chúng kinh hãi phải chạy ra bon bon chạy trốn về phía trước.

A Tử cười nói:

- Chà chà! Phen này tỉ phu trông sai rồi! Chỉ có hai con thỏ làm gì có chó sói, với hươu nai?

Nói xong giục ngựa tiến lên. Véo véo!

Hai mũi tên bay ra, cặp thỏ trúng tên ngã quay.

A Tử ngồi trên ngựa nhặt lấy hai con thỏ thì bất thình lình bên kia bờ suối có tiếng người hỏi:

- Tiểu cô nương! Cô nương có thấy con hàn độc trùng của tôi đâu không?

A Tử ngẩn đầu lên thì thấy người gọi mình là một nhà sư hình dong cổ quái.

Nhà sư này thấp lủn thủn mà béo chùn béo chụt, người tròn ủng chẳng khác nào một quả bóng khổng lồ.

Du Thản Chi nấp trong đám cỏ rậm cũng trông rõ thì đúng là Tam Tĩnh hòa thượng ở sau vườn rau chùa Mẫn Trung. Con tằm kia được nhà sư này nuôi. Y gọi là Hán Ngọc trùng thì đúng là tên thực của con tằm.

Gã lẩm bẩm:

- Con tằm đó đã bị cô nương đập chết rồi. Nhà sư này hỏi lại đúng cô ta!

Bỗng thấy A Tử ngẩn người ra rồi cười khanh khách nằm phục xuống lưng ngựa không ngẩng lên nữa.

Tam Tĩnh nổi giận nói:

- Ta có con tằm trắng, hễ nó đi đến đâu là cây cỏ cháy đến đó. Mi có trông thấy không? Cớ sao lại cười?

A Tử nhìn Kiều Phong nói:

- Tỉ phu coi kìa! Quả bóng khổng lồ tròn ủng kia có đáng buồn cười không?

Kiều Phong nghiêm mặt nói:

- Tuồng con nít nói năng chẳng biết điều kính trọng, không được vô lễ với đại sư phụ.

Ông thấy Tam Tĩnh tướng mạo kì dị, tiếng nói sang sảng như tiếng chuông đồng, rõ ràng là một tay bản lãnh cao cường, lại nghe nhà sư đi tìm con Hàn Ngọc trùng chi chi thì biết ngay là không phải vật tầm thường.

A Tử nói:

- Ðại hòa thượng ơi! Hòa thượng nuôi con tằm đó ư?

Tam Tĩnh vội nói:

- Phải rồi! Phải rồi! Tôi đem nó từ núi Côn Luân đường xa muôn dặm tới đây. Cô nương đã nhìn thấy nó, xin làm ơn trỏ đường cho.

A Tử nói:

- Con tằm đó đi qua đâu thì có một vệt đen kéo theo phải không? Mình nó lạnh vô cùng nên bất luận cái gì xung quanh đều đóng lại thành băng, có đúng không?

Tam Tĩnh nói:

- Ðúng rồi! Ðúng rồi! Không sai một li nào hết.

A Tử cười nói:

- Hôm qua tôi thấy con tằm đó đánh nhau với con rết, và bị rết cắn chết rồi.

Tam Tĩnh tức giận nói:

- Thúi lắm quân chó đẻ! Con Hàn ngọc Trùng của ta là vua độc trong thiên hạ. Bất luận rắn độc hay trùng độc nào thấy nó cũng đều sỡ hãi không dám nhúc nhích, có lí đâu bị rắn cắn được?

A Tử thấy lão nói thô tục thì càng chọc tức thêm:

- Thầy chùa không tin thà thôi. Hôm qua tôi cũng thấy một con tằm lớn trong suốt như thủy tinh, thấy hình dạng cổ quái nên giẫm chết rồi! Tam Tĩnh nhảy chồm lên một cái đã xa hơn trượng trông chẳng khác chi quả bóng bật lên trên không.

Lão cất tiếng chửi:

- Tổ mẹ mười tám đời nhà ngươi! Con Hán Trùng Ngọc của ta linh hoạt như gió, nếu mi không có thuốc kị thì làm sao chế phục được nó. Mi chưa dẫm vào nó thì nó đã cắn ngươi toi mạng rồi.

A Tử thò tay vào bọc, lấy ra gói nhỏ. Nàng mở gói ra thì đúng là xác con tằm kì dị đó. Con tằm này bị côn gỗ đập chế huyết dịch phọt ra còn đọng đóng lại thành băng cứng đờ.

Nguyên A Tử biết xác con tằm này chắc còn có chỗ dùng được việc, nên gói lại đem theo.

Tam Tĩnh thấy con tằm quí của mình quả nhiên đã chết rồi. Sắc mặt lão nhợt nhạt như xác chết trôi. Người lảo đảo, đột nhiên lão nằm phục xuống đất khóc rống lên một hồi rồi bất thình lình đưa tay ra cướp lấy xác con tằm ôm vào lòng vừa khóc vừa nói:

- Con ơi! Ta trăm cay nghìn đắng đưa con từ núi Côn Luân đến đây. Con không nghe lời ta, một mình đi du ngoạn để con tiện tì kia dẫm chết!

Lão càng khóc càng thê thảm, sau nghẹn ngào khóc không ra tiếng nữa.

A Tử vỗ tay cả nói:

- Hay quá! Hay quá!

Kiều Phong là người hiểu rộng biết nhiều, ông chắc chắn nhà sư không để yên ông cầm cương ngựa toan đứng chắn trước người A Tử để hộ vệ cho nàng rồi hãy kiếm lời từ tạ nhà sư.

Nào ngờ Tam Tĩnh đại sư chưa dứt tiếng khóc đã nhảy vọt lên như quả bóng nhằm lao xuống A Tử.

Nhà sư nhảy cực kì mau lẹ, như Kiều Phong ngồi trên ngựa chưa chạy được đến A Tử thì lão đã nhảy bổ tới nơi.

Kiều Phong nghe tiếng gió cấp bách, vội la lên:

- Chớ đánh chết người!Tay trái ông nắm lấy sau lưng A Tử nhấc bổng nàng lên ngồi trước mình.

Bỗng nghe tiếng binh một cái." Trái bóng thịt"Tam Tĩnh đụng vào con ngựa của A Tử. Con ngựa bị hất ra xa ngã kềnh xuống đất chết ngay lập tức.

A Tử sợ tái mặt không ngờ lão hòa thượng hình thù cổ quái mà uy mãnh đến thế.

Tam Tĩnh đụng vào làm chết con ngựa của A Tử rồi người bật lên như cái lò xo xoay sang A Tử.

Kiều Phong hích vào hai bên vế đùi cho ngựa nhảy tung lên để tránh nhưng Tam Tĩnh vọt lại quá nhanh mà ngựa nhảy chậm hơn.

Kiều Phong xem chừng nguy hiểm đến nơi.

Nhà sư chồm tới uy lực dũng mãnh ghê gớm. Nếu muốn chống lại phải phóng chưởng ra. Song ông lại nghĩ Rõ ràng A Tử có lỗi đạp chết con tằm quý của người ta. Bên mình đuối lí, chẳng lẽ cậy mạnh hiếp người.

Ông liền tay trái ôm lấy A Tử phi thân nhảy ra ngoài yên ngựa một quãng xa chừng hai trượng." Binh"một cái Tam Tĩnh đã nhảy xổ xuống con ngựa Kiều Phong.

Lần này lảo nhảy mạnh hơn, con ngựa bật văng đi đúng vào cây xuyên qua bụng, ruột gan cùng máu tươi chảy ra lênh láng.

Tam Tĩnh thản nhiên nhằm Kiều Phong cùng A Tử xông tới.

Kiều Phong rất lấy làm kinh dị, ông lẩm bẩm:

Thế võ của nhà sư đem thân mình để choảng và người quả là ít thấy. Nhưng lão cứ dùng tấm thân bằng da bằng thịt để nhảy xổ vào, gặp người cầm khí giới há chẳng uổng mạng?

Ông thấy nhà sư vẫn tiếp tục nhảy xổ vào mình.

Lần này ông không tránh nữa cất tiếng nói:

- Xin hòa thượng đừng bức bách tôi nữa, để tôi có lời nói lại với hòa thượng.

Tam Tĩnh chỉ cách ông không quá ba thước. Nhà sư nghe ông nói câu này đột ngột tung mình lên trên ba trượng xoay lốc ba vòng.

Kiều Phong ôm lấy A Tử lùi sau hai bước.

Tam Tĩnh lẹ làng hạ mình xuống. Vai lão vừa chạm đất, lập tức lão trào mình tiến đến chân Kiều Phong la lớn:

- Trả con tằm ta đây! Trả con tằm ta đây!

Thân pháp này so với địa đường quyền thường thấy trong các phái võ thật khác xa. hai chân lão co lên như quả bóng khổng lồ lă tròng trọc đến nơi.

Kiều Phong nghĩ thầm:

- Nhà sư này thật là kì cục. Ðánh nhau với người mà dùng thế này sao được. Ông nhảy sang bên hai bước. Vừa nhảy vừa liếc mắt xuống thấy phấn vàng rơi rụng đầy mặt đất.

Ông là người linh cơ mau lẹ, tuy chưa biết thứ phấn vàng này có điều chi lạ, nhưng rõ ràng không phải có từ trước, mà đúng là nhà sư trong lúc cử động tay chân đã rắc ra. Nếu mình dẫm vào e mắc bẫy. Ông quát ra một tiếng phóng chân đá ra, người nhảy vọt lên ôm A Tử nhảy theo, không chịu dẫm chân xuống phấn vàng.

Nguyên thứ phấn này là thứ phấn độc của Tam Tĩnh rắc ra. Nếu Kiều Phong dẫm phải, phấn bay tung lên thì ông cùng A Tử sẽ hít phải và lập tức toàn thân nhũn ra rồi để cho kẻ địch muốn băm vằm thế nào cũng được.

Tam Tĩnh ghê cho Kiều Phong rất linh cơ, lão thấy ông sắp mắc vào bẫy, thế mà đang lúc nguy nan ông lại nhảy vọt lên tránh khỏi. Lão đã nhảy bật lên như cái lò so nhằm Kiều Phong bổ tới. Lão chắc mẫm dù võ công Kiều Phong cao cường đến đâu nhưng tay ẵm một người nhảy lên một lần rồi, hẳn không thể nhảy lên cái thứ hai. Chỉ cốt sao cho hai người ngã lăn ra là xong. Trong mồm miệng lão đã để thuốc độc sẵn, còn đối phương nhất địng trúng độc.

Kiều Phong thấy nhà sư lại nhảy tới không tránh được nữa liền khẽ đưa chân trái đập vào trái bóng thịt , để mượn đà nhảy ra chỗ khác.

Tam Tĩnh dùng hết sức bình sinh nhảy lại, mà Kiều Phong đã hất trở về. Lúc toàn thân lão bị đá hất lên, khác nào như gốc cây từ trên không rớt xuống, lão không tự chủ được duỗi hai chân ra. Chân rớt xuống đất đá "binh"một tiếng, chẳng khác nào đóng cọc xuống đất. Ðầu gối không co lại được, sức nặng toàn thân đè xuống cái ống chân nhỏ bé kêu rắc rắc, hai ống chân đã bị gãy rồi.

Kiều Phong đạp vào người nhà sư, bản ý chỉ cốt lấy đà nhảy ra chỗ khác tránh chất độc. Ông không ngờ đến cách luyện nội công kì dị của nhà sư này. Nội lực không ăn ý với kinh mạch. Thân thể lúc ở trên không, lại không thành ý định của người.

Kiều Phong thấy hòa thượng gãy hai chân trong lòng rất ân hận, ông nói với nhà sư:

- Ðại sư đừng có nhúc nhích. Nằm yên đấy chờ tôi gọi người đến đưa đại sư về quý tự. Ðại sư ở chùa nào?

Tam Tĩnh nhịn đau hồi lâu rồi mới nói:

- Cha mi khắp thiên hạ đâu chả là nhà? Việc gì mi phải hỏi cha mi trụ trì chùa nào? Ta gãy chân thì tự biết điều trị. Mi còn giả vờ nói đãi lòng làm chi?

Kiều Phong nói:

- Nếu đại sư đã tự chữa được lấy cho mình thì còn gì hay bằng! Tại hạ họ Kiều tên Phong, đại sư muốn báo thù thì đến Nam Kinh tìm tại hạ.

Ðoạn ông quay sang A Tử:

- Chúng ta về thôi!

A Tử cũng nhìn Tam Tĩnh thè đầu lưỡi ra, lấy ngón tay chỉ vào má mà nói:

- Tại hạ họ Ðoàn tên Tử, đại sư muốn báo thù thì đến thành Nam Kinh tìm tại hạ!

Nói xong cầm tay Kiều Phong dắt đi.

Du Thản Chi nấp trong bụi rậm, ngó trộm tấn kịch vừa rồi, trong lòng kinh hãi. Gã thấy A Tử đi khỏi tuy cũng hơi yên tâm nhưng bâng khuân ngơ ngẩn như người mất hồn. Nhất là gã thấy A Tử nắm tay Kiều Phong ra chiều thân thiết thì trong lòng càng uất hận buồn rầu.

Bỗng gã nghe Tam Tĩnh kêu:

- Nước! Nước! Ta khát nước quá!

Du Thản Chi nghĩ thầm: "Con tằm đó là do ta bắt cắp về cho cô nương làm lụy đến nhà sư này, nay y lại gãy chân, mình thật áy náy quá."

Gã nghe lời nhà sư đòi uống nước liền từ trong bụi chui ra nói:

- Ðại sư chờ một chút tôi lấy nước cho.

Tam Tĩnh quay lại coi thấy gã mặt sắt hình thù quái dị thì giật nảy mình lên hỏi:

- Mi là người hay là quỷ sứ?

Du Thản Chi nhăn nhó cười không trả lời, gã nói:

- Tôi đi lấy nước đây!

Gã chạy ra suối gần đấy, hai tay vốc nước từ từ để vào miệng nhà sư.

Nhà sư uống nước rồi nói:

- Chưa đủ, còn khát lắm!

Du Thản Chi nói:

- Ðược rồi!

Ðoạn lại vốc nước nữa cho đại sư uống.

Nhà sư hết khát rồi, gã nói:

- Ðại sư không đi được, từ đây về chùa Mẫn Trung cũng không bao xa, ta cõng đại sư đi!

Tam Tĩnh trố mắt nhìn Du Thản Chi xem cử động, còn thì gã đã chụp cái lồng sắt không trông thấy rõ chân tướng.

- Sao mi biết ta là hòa thượng chùa Mẫn trung?

Du Thản Chi chột dạ nghĩ thầm: "Hỏng bét! Mình thò đuôi ra mất rồi!" Gã đành hàm hồ nói:

- Gần đây chỉ có một chùa Mẫn Trung là ngôi chùa lớn. Tại hạ nghĩ đai sư ở chùa đó.

Tam Tĩnh nói:

- À! Thằng này thông minh đấy! Ta không cần mi cõng. Ở vườn sau chùa Mẫn Trung ta có cái bầu đựng rượu thuốc trị thương rất linh nghiệm. Ta phiền mi tới đó đem ra đây cho ta.

Du Thản Chi lấy làm kì hỏi:

- Trong vườn rau còn có cái bầu nữa ư? Thế cái bầu kia...

Ba tiếng "cái bầu kia" vừa ra khỏi miệng, gã biết mình dại rồi nên im bặt không nói sao nữa.

Tam Tĩnh cũng nói:

- Ủa! Ta hồ đồ mất rồi! Cái bầu ấy không thấy nữa. Ta nhờ mi cõng ta về vậy.

Du Thản Chi nói:

- Ðược!

Từ chổ bờ suối đã trông thấy mái chùa Mấn Trung, bất quá cũng chừng hơn một dặm, Du Thản Chi cúi xuống cõng nhà sư rồi cất bước.

Gã mới đi được bảy tám bước, bỗng thấy mười đầu ngón tay nhà sư cứng như sắt chạm vào cổ mình mỗi lúc một nghẹt thở.

Du Thản Chi cả kinh, gã cố hết sức hất Tam Tĩnh xuống đất.

Nào ngờ hai chân nhà sư quặp lấy lưng gã.

Lúc hất nhà sư ra thì thấy lưng mình đau đớn kịch liệt.

Bỗng nghe Tam Tĩnh hỏi: Cái bầu rượu ta có phải thằng lõi này đánh cắp không? Thằng giặc non! Mi đã lấy trộm uống lại ăn cắp luôn cả bầu rượu nữa nghĩa làm sao?

Du Thản Chi đang bị nhà sư nắm giữ, đành cãi liều:

- Không phải! Tôi không lấy bầu rượu của đại sư đâu.

Tam Tĩnh nói:

- Mi vừa nghe ta nói trong vườn rau còn cái bầu rượu đã tỏ ra sửng sốt. Mi có tật giật mình. Cái bầu của ta không phải mi lấy cắp thì ai vào đây?

Du Thản Chi không thấy nhà sư đề cập đến con tằm thì nghĩ bụng:

- Lấy cắp cái bầu thì chẳng chi quan hệ.

Hơn nữa cũng không còn cách nào cãi được, gã đáp:

- Thôi được rồi! Nếu tại hạ có ăn cắp cái bầu của nhà sư thì để tại hạ về lấy trả là xong.

Tam Tĩnh cười ha hả rồi đột nhiên khóc rống lên, nghẹn ngào hỏi:

- Thằng giặc con này! Lúc mi ăn cắp cái bầu rượu của ta ngươi có thấy đứa con quý báu của ta là "Hàn Ngọc Trùng" không?

Du Thản Chi đáp:

- Không thấy! Tại hạ chỉ thấy ở dưới đất có vẽ một vòng tròn chứ không thấy gì hết.

Tam Tĩnh nói:

- Hỡi ôi! Nó không giữ bổn phận bỏ trốn đi bị người ta đánh chết rồi! Thằng giặc này đi về phía Ðông?

Du Thản Chi hỏi:

- Sao lại đi về phía Ðông?

Nhà sư hai tay bóp chặt cổ gã nói:

- Ta bảo ngươi đi về phía Ðông thì ngươi đi về phía đó. Sao còn hỏi lôi thôi?

Du Thản Chi bị Tam Tĩnh bóp cổ đau quá đành đi về hướng Ðông.

Nhà sư này tuy thấp lùn nhưng béo chụt nên người y nặng quá, Du Thản Chi chỉ đi được vài dặm là thở hồng hộc, gã phều phào nói:

- Tại hạ mệt quá không đi được nữa rồi, ngồi nghĩ chút xíu đi.

Tam Tĩnh tức mình nói:

- Ta bảo ngươi nghĩ đâu mà ngươi dám nghĩ? Ði mau! Ði mau!

Nhà sư vừa nói vừa kẹp hai chân vào người, tựa như người thúc vế vào lưng ngựa.

Du Thản Chi bị nhà sư thôi thúc không làm thế nào được, đành miễn cưỡng bước đi.

Lại đi thêm năm sáu dặm nữa, gã cất chan không nổi, người gã té nhào về phía trước, miệng sùi bọt giãi hồng hộc.

Tam Tĩnh hét:

- Ði mau! Ði mau!

Y vừa giục vừa đánh Du Thản Chi.

Du Thản Chi nói:

- Ðại sư có đánh chết tôi cũng không đi nổi nữa.

Tam Tĩnh nói:

- Ngươi không đi ta sẽ giết mi.

Vừa dứt lời thì phía sau có tiếng người gọi:

- Tam Tĩnh! Ngươi to gan thật! Dám trốn ra đây! Phương trượng truyền pháp chỉ sai chúng ta đi bắt ngươi về.

Du Thản Chi quay đầu nhìn lại thì thấy phía sau, trên đường lớn có hai nhà sư mặc áo bào xám chạuy như bay đến.

Người đi trước chính là nhà sư lớn tuổi mà gã đã gặp trong vườn rau lúc trước.

Tam Tĩnh kêu vang:

- Sư huynh ơi! Hai chân tiểu đệ bị kẻ địch đánh gãy rồi bây giờ không thể nào nhúc nhích được. Chờ cho tiểu đệ chữa xong rồi sẽ về chùa chịu tội với phương trượng.

Nhà sư đứng tuổi quát lên:

- Có người cõng ngươi trốn đến đây, thì có người cõng ngươi về chùa. Trời ơi! Người ngợm gì... mà kì quái như vậy?

Nhà sư thấy Du Thản Chi đội lồng sắt, bất giác la lên những tiếng kinh ngạc.

Còn nhà sư kia ít tuổi hơn, nói:

- Bắt luôn cả tên tà ma quỷ quái này về chùa.

Tam Tĩnh nói:

- Nếu hai vị sư huynh bắt buộc phải đưa tiểu đệ về chùa thì tiểu đệ xin tuân mệnh.

Rồi lão quát Du Thản Chi:

- Thằng giặc con này! Cõng ta theo hai vị sư huynh.

Du Thản Chi nói:

- Tôi đi không nổi nữa rồi, cần nghĩ một lúc đã.

Tam Tĩnh nói:

- Không được! Chúng ta cần phải về chùa Mẫn Trung trước trời tối.

Nhà sư đứng tuổi cũng nói:

- Phải rồi! Mau lên! Còn nghĩ gì nữa?

Nói xong liền tiện tay nhặt lấy một cành cây bên đường quật vào vai Du Thản Chi.

Du Thản Chi đau quá nghĩ thầm:

- Sao những nhà tu hành lại nóng nảy thế mà không nghe lời nói thật?

Gã đành gượng gạo đứng dậy cõng Tam Tĩnh, chân ngang đá chân xiêu, đi về lối cũ.

Hai nhà sư đi sau Du Thản Chi để canh chừng, thấy ống chân Tam Tĩnh quả bị gãy rồi, hai bàn chân lủng lẳng đưa qua đưa lại, nên chẳng cần quan tâm đề phòng.

Ngờ đâu bốn người đi đến khe núi, Tam Tĩnh đột nhiên ấn tay trái vào lưng Du Thản Chi, người y nhảy tung lên, nhắm nhà sư đứng tuổi xô lại!

Nhà sư này quát mắng:

- Mi muốn chết đó chăng?

Nhà sư không kịp rút giới đao phóng chưởng ra đánh Tam Tĩnh cũng phóng chưỏng dánh trúng vào hậu tâm nhà sư kia.

Hai chưởng giao nhau nổi lên một tiếng vang ghê rợn.

Nhà sư trẻ tuổi lùi lại một bước dùng cả song quyền đánh vào trước mặt Tam Tĩnh.

Tam Tĩnh để cánh tay trái lên cánh tay nhà sư để mượn đà người y tung lên cao tay phải phóng chưởng đánh trúng đầu nhà sư đứng tuổi.

Tiếp theo Tam Tĩnh lộn mình một vòng đã về đến trên lưng Du Thản Chi.

Du Thản Chi thấy trên lưng bỗng nhiên nhẹ bổng, thì ra Tam Tĩnh phi thân ra ngoài cự địch. Gã toan chạy trốn, nhưng chưa kịp rời khỏi chỗ cũ thì Tam Tĩnh đã bay trở về. Tay trái y nắm lấy cổ gã.

Du Thản Chi nhìn ra thấy hai nhà sư kia đầu gối nhũn ra, từ từ ngồi phệt xuống mặt nhăn nhó ra chiều đau đớn vô cùng!

Gã vừa sợ hãi vừa ngạc nhiên tự hỏi:

- Tam Tĩnh hòa thượng đánh đòn gì mà ghê gớm thế? Y mới phóng ra một chưởng mà xem chừng đối phương bị thương rất nặng!

Bỗng nghe hai nhà sư mới đến miệng thở hộc lên mình co rúm lại mình giãy dụa mấy cái rồi chết liền.

Tam Tĩnh giơ tay phải ra trước mặt Du Thản Chi ra chiều đắc ý nói:

- Mi trông rõ rồi chứ!

Du Thản Chi ngó bàn tay y thấy một ngón tay giữa đeo nhẫn. Trên mặt nhẫn chìa ra một mũi kim châm nhỏ xíu. Ðầu mũi kim châm hãy còn dính máu tươi.

Gã nghĩ một

Chương 52: Viện giới luật ban hành hình phạt

Một hôm, trời đã xế chiều, đi đến trước một ngôi chùa lớn. Du thản Chi ngẩng đầu lên nhìn thấy biển đề năm chử lớn: “Sắc Kiến Thiếu Lâm Tự.”

Ngày trước gã thường nghe bá phụ cùng phụ thân đề cập tới chùa Thiếu Lâm là một phái võ được các phái võ ở Trung nguyên coi trọng như núi Thái Sơn như sao Bấc Ðầu, ai cũng kính ngưỡng. Nhưng trong vòng một năm nay, gã bị bao nhiêu cảnh thống khổ dày vò, những cảnh vật bên ngoài đối với gã không còn hứng thú gì nữa. Gã chỉ cầu sao.mỗi ngày đi được mấy dặm, bị Tam Tĩnh đánh được vài lần, thế là gã mãn nguyện lắm rồi.

Thực ra, dù Du thản Chi có đi nhiều đường đất, hay bị Tanh Tĩnh đánh nhiều đòn vọt hơn, gã vẫn lầm lì chịu đựng, không nói nửa câu. Ði xa hay gần, bị đánh nhiều hay ít, dường như đối với gã chẳng có gì là phân biệt.

Du thản Chi lúc này đột nhiên nhớ tới chùa Thiếu Lâm, trong lòng gã không khỏi rung động, nhưng rồi lại lắng xuống ngay. Ít lâu nay gã bị trăm cay nghìn đắng dày vò thì dù có tiến vào hoàng cung hay vào nội điện cũng chẳng lấy gì làm hứng thú nữa.

Ðoàn người tiến vác tòa đại điện. Trong điện có một nhà sư bảo:

- Ðứa y lên giới luật viện!

Tám nhà sư vâng lời dẫn Du thản Chi theo cửa ngách đi ra, men theo con đường nhỏ lên núi.

Lên đến một tòa điện cây cối um tùm thì dừng lại. Trong viện có một vị lão tăng bước ra, cất giọng khàn khan, trịnh trọng tuyên bố:

Vâng pháp dụ của Viện Trưởng Giới Luật thì: Tam Tĩnh chưa được phép đã thiện tiện xuống núi. Nguyên một tội vi phạm kỷ luật y phải phạt ba trăm pháp côn chia ra đánh làm mười ngày. Phạt xong ba trăm côn, Viện sẽ điều tra những tội trạng mà y phạm pháp sau khi xuống núi, đặng chiếu điều xử trị.

Hai nhà sư nắm lấy Tam Tĩnh bắt nằm sấp xuống đất.

Du thản Chi bỗng thấy lưng nhẹ bỗng, gã khoan khoái vô cùng.

Bỗng thấy một nhà sư đi bắt Tam Tĩnh lúc trước đến đứng bên cạnh nhà sư già, nói nhỏ mấy câu xong.lại nhìn Du thản Chi chỉ trỏ một hồi.

Nhà sư già gật đầu nói:

- Tên tiểu tặc họ Du pnụ giúp cho Tam Tĩnh trốn chạy cùng gây nên tội ác, làm bại hoại Phật pháp phải phạt một trăm phát côn trước, tội trạng sẽ xét xử sau.

Một nhà sư đẩy lưng Du thản Chi và bảo:

- Nầm sấp xuống đề chiu tội!

Du thản Chi tuyệt không kháng cự gì cả, nằm xuống, gã lẩm bẩm:

- Các ngươi bảo ta làm sao, ta chịu làm vậy. Các người bảo ta có. tội. Ừ! Thì ta nhận tội.

Vị lão tăng tuyên bố hình phạt xong trở gót đi vào.

Trong viện Giới Luật lại có bốn nhà su đi ra, dẫn Tam Tĩnh và Du thản Chi vào trong một gian nhà đại sảnh.

Mấy nhà sư đè giữ Tam Tĩnh và cầm đại côn đánh xuống. Ðánh Tam Tĩnh xong ba mươi roi lại sang đánh Du thản Chi.

Du thản Chi cảm thấy họ đánh mình ba mươi côn nặng hơn đánh Tam Tĩnh nhiều. Gã nghĩ rằng: họ là đồng môn với nhau, nên lúc hạ. thủ cũng có phân biệt kẻ khinh người trọng.

Gã bị ba mươi côn th*t nát máu rơi.

Qua bảy ngày sau những vết thương bị đòn chưa lành, hai phạm nhân lại bị đem ra đánh lần thứ hai. Ðánh kỳ cho bao giờ đủ trăm côn mới thôi.

Một nhà sư lại đem pháp dụ của Viện Trưởng Viện Giới Luật ra tuyên đọc trước mặt gã:

- Tên tiểu tặc họ Du phải vào bón phân trong vườn rau để tư tâm hỏi đã làm nên tội lỗi.

Du Thản Chi ngơ ngác theo mấy nhà sư vào vườn rau bái kiến kiếm một nhà sư quản lý vườn này.

Nhà sư quản lý vườn pháp hiệu Duyên Căn hình thù bé nhỏ mà gầy khẳng gầy kheo, đã rụng mất hai chiếc răng cửa. Lúc y nói miệng để trống hốc. Y thấy Du Thản Chi đầu bịt lồng sắt hình thù quái gở lấy làm thích thú.

Lão ngồi trên ghế dài, nghếch chân lên, hỏi lai lịch Du Thản Chi.

Du Thản Chi nghĩ :

- Cha bác mình là những nhân vật có tên tuổi trong võ lâm, nếu bữa nay mình nói thật ra há chẳng làm nhục đến oai danh Du thị Song hùng và Tụ Hiền Trang ư?

Nghĩ vậy, gã chỉ khai mình là người tầm thường quê kệch, chẳng may bị quan binh Khất Ðan bắt đem đi, rồi bị hành hạ khổ sở.

Nhà sư này rất ưa chuyện trò, những chi tiết nhỏ nhặt lão cũng muốn hỏi chân tơ kẻ tóc quyết không để cho Du Thản Chi ăn nói hàm hồ. Nhưng Du Thản Chi quyết ý dấu nhẹm thân thế mình. Ngoài điều gã kể mình là thiếu niên nhà nông, gã không nói thêm gì nữa.

Nhà sư tra ngọn hỏi ngành mãi đến tối mịt mới xong, tính vừa ba giờ đồng hồ.

Nhà sư Duyên Căn hỏi đi hỏi lại hết lần này đến lần khác để kiếm lấy một chỗ sơ hở mà vặn Du Thản Chi.

Du Thản Chi tuy không phải là một gã thông minh lanh lợi, nếu gã nói dối bị lòi đuôi. Nhưng gã đem thân thế mình nói rút lại một cách vắn tắt.

Ðại khái những câu hỏi và câu trả lời như sau:

- Phụ thân ngươi làm gì?

- Chết rồi!

- Tại sao mà chết?

- Ốm!

- Ốm bệnh gì?

- Tôi không biết!

- Sao ngươi giúp đỡ Tam Tĩnh?

- Y bắt được tôi.

- Sao mi không trốn đi?

- Tôi không trốn thoát.

Ðến bữa cơm tối Duyên Căn bưng bát cơm lớn đến bên Du Thản Chi ngồi ăn để tiện vặn hỏi.

Sau khi không hỏi thêm được điều gì nữa, Duyên Căn mới bảo:

- Ngươi múc ra hai thùng nước phân bón rau. Chúng ta ở đây không thể lười nhác được đâu. Vừa rồi hhỏi chuyện mi mất hàng nửa ngày công việc đều bỏ bê.

Du Thản Chi đáp ngay:

- Vâng!

Gã không màng phân trần về vụ mất thì giờ này là do nhà sư hỏi vặn mà gã phải trả lời chứ đâu phải gã bày chuyện.

Du Thản Chi trong bụng đói meo, mình đầy thương tích, mà vẫn đi múc phân tưới rau ngay chứ không dám kêu ca gì hết.

Vườn rau chùa Thiếu Lâm rất rộng diện tích có đến hai trăm mẫu. Trong vườn này kể cả hạng thợ thường xuyên lẫn thợ làm xắp có đến ba bốn chục người và đều là tăng sĩ trong chùa.

Du Thản Chi mới đến, đầu lại đội cái lồng sắt, hình thù cổ quái, mọi người đều khinh miệt và thường đem gã ra làm trò cười. Những công việc nặng nhọc dơ dáy đều đổ lên đầu gã.

Du Thản Chi càng ngày càng suy nghĩ ít đi, quan niệm và phải trái về mừng giận thương vui. Gã cũmg mơ hồ không phân biệt được rõ ràng. Ai bảo gì gã cũng chịu.

Suốt ngày gã chỉ ngơ ngác bần thần. Họa hoằn trong lúc ngủ mê, gã mới mơ thấy A Tử.

Một hôm vào lúc hoàng hôn, Du Thản Chi bón tưới vườn rau xong thì thân thể mệt nhoài, chân tay ê nhức, gã chợt nge thấy tiếng đũa lách cách, gã liền đứng dậy xuống nhà ăn cơm, bỗng thấy tiếng Duyên Căn gọi:

- A Du! Mi cầm bát cơm này đưa sang căn phòng nhỏ bên rừng trúc cho một vị sư phụ ở đó dùng, vì y bịnh không qua đây được.

Thản Chi đáp:

- Vâng!

Ðoạn đón lấy bát cơm sang rừng trúc.

Rừng trúc này lớn lắm, gã đi một lúc mà vẫn chưa hết.

Gã nhìn vào trong đám lá cây rậm rạp thấy một căn nhà đá nhỏ, liền chạy đến trước cửa cất tiếng gọi:

- Sư phụ! Sư phụ! Cơm của sư phụ đây!

Trong nhà có giọng khàn khàn đáp lại.

Du Thản Chi đưa tay ra đẩy cửa.

Cánh cửa mở ra, gã bưng bát cơm lớn đi vào.

Gã thấy trên chiếc chiếu trải dưới đất có một người nằm quay mặt vào trong.

Trong nhà không có giường phản, bàn ghế chi hết.

Một cái bát sành đựng lưng bát nước lã đặt ngay trong một góc chiếu.

Du Thản Chi lại nói:

- Sư phụ! Tôi mang cơm lại cho sư phụ đây!

Người kia nói:

- Ta không đói, không ăn cơm được ngươi bưng về đi!

Tiếng nói phều phào không được rõ ràng và thủy chung vẫn không quay đầu ra.

Du Thản Chi vừa nghe y biểu không đói, không ăn cơm, liền bưng bát cơm về nhà ngay, báo cho Duyên Căn biết.

Trưa hôm sau, Duyên Căn lại kêu Du Thản Chi mang cơm đi, người kia vẫn không ăn.

Bốn ngày liền, Du Thản Chi mỗi ngày đưa cơm hai lần.

Người đó không lúc nào quay mình ra và thủy chung vẫn không ăn cơm.

Gã cũng mất tính hiếu kỳ nữa, mặc dù thấy việc khác thường, gã cũng chẳng buồn quan tâm.

Ðến trưa hôm thứ năm, Du Thản Chi theo thường lệ lại bưng cơm sang, người kia vẫn nhắc lại câu trước:

- Ta không đói, không ăn cơm, ngươi mang về đi.

Du Thản Chi vẫn bình thản lạt lẽo như thường đáp:

- Ðược rồi!

Ðoạn trở gót đi luôn.

Người này đột nhiên vùng dậy nắm lấy tay Du Thản Chi mắng:

- Mi là người không có lòng dạ chi hết...

Vừa nói mấy tiếng người đó la lên:

- Úi chao!

Vì thấy đầu gã đội cái lồng sắt, nên không khỏi giật mình kinh ngạc.

Du Thản Chi thấy nhà sư vừa gầy gò vừa đen đúa, mắt sâu mũi cao, không ra dáng một nhà sư Trung Nguyên. Trên mặt nhiều vết nhăn nheo mà không biết đã bao nhiêu tuổi.

Nhà sư hỏi:

- Ðầu ngươi chụp cái chi?

Du Thản Chi đáp:

- Cái lồng sắt.

Nhà sư lại hỏi:

- Ai chụp vào đầu ngươi?

- Người Khất Ðan.

Nhà sư hỏi:

- Sao mi không bỏ đi?

Du Thản Chi đáp:

- Bỏ không được.

Nhà sư nói:

- Bốn ngày liền ta không ăn cơm, ngươi chẳng hỏi gì đến đã đành sao cũng không kêu ai lại thăm ta một lần. Hoặc kêu thầy đến chữa bịnh cho ta, là nghĩa làm sao?

Nhà sư này tuy người Hồ bên Tây Vực song nói tiếng Hán rất lưu loát.

Du Thản Chi nói:

- Ông sống cũng thế chết cũng vậy, có liên quan gì đến tôi?

Nhà sư cả giận vươn tay ra nắm lấy vai Du Thản Chi.

Du Thản Chi thấy vai bị đau tựa hồ dao cắt, nhưng gã nhịn đau quen, chẳng cậy cựa mà cũng chẳng rên la, cứ thản nhiên như không.

Nhà sư rất lấy làm kỳ hỏi:

- Mi có thấy đau không?

Du Thản Chi lạnh lùng đáp:

- Ðau cũng thế mà không đau cũng vậy. Chả can hệ gì!

Nhà sư lại càng ngạc nhiên hỏi lại:

- Mi bảo không can hệ gì. Chẳng lẽ cái vai này không phải là vai mi? Ta vận thêm kình lực bóp nát vai mi ra nhé?

Nhà sư vừa nói vừa vặn kình lực mạnh bóp mạnh.

Du Thản Chi thấy đau vào đến tận tâm can, vai gã quả nhiên bị bóp nát.

Song người gã tuy đau mà tâm thần gã trơ như gỗ đá chẳng tranh biện mà cũng chẳng van xin.

Gã yên trí rằng trong lá số gã, thiên đình đã định sẵn xương vai gã bị bẻ nát, đành phải chịu.

Nhà sư thấy sức chịu đựng gã cương cường như vậy đâm ra bội phục nói:

- Giỏi lắm! Trong chùa Thiếu Lâm cả đến tên đầu bếp cũng tu luyện được đến mức độ này thì ghê thật! Thôi ngươi đi đi!

Du Thản Chi bưng bát cơm về, chưa ra khỏi rừng trúc thốt nhiên va phải nhà sư Duyên Căn đứng ở bên đường.

Duyên Căn âm thầm chạy đến bên gã cười lạt nói:

- A Du! Việc chùa Mẫn Trung nước Liêu đã phát giác ra rồi, ngươi đến viện Giới Luật đi!

Du Thản Chi nghe nói việc chùa Mẫn Trung bị phát giác thì nghĩ thầm:

- Ðây chắc là Tam Tĩnh đã điều tra ra vụ ta ăn cắp con tằm kỳ dị. Vụ này rắc rối ta. Thôi ta đành phó mặc trời.

Gã lẻo đẻo theo Duyên Căn về viện Giới Luật đã gặp nhà sư già.

Lúc này lại thấy nhà sư đó đứng trước cửa viện lạnh lùng nói:

- Du Thản Chi! Tam Tĩnh biểu những tội đại ác tại chùa Mẫn Trung đều do ngươi gây ra, có đúng thế không?

Du Thản Chi đáp:

- Ðúng thế! Chính tôi gây ra!

Nhà sư già nghe Du Thản Chi nhận tội nhận tội, không chối cải một câu nào thì lấy làm lạ hỏi, nói:

- Mi đã nhận tội, ta không làm khó dễ vói người làm chi nữa mà năm trăm roi đòn thị uy cũng miễn cho mi. Mi vào phòng sám hối để nghĩ kỹ lại coi, nếu còn điều gì không thật nói với ta.

Duyên Căn dẫn Du Thản Chi tới phía sau viện Giới Luật.

Nơi đây là một khoảng đất trống, đã bày sẵn bốn cái "cột đá"hình vuông.

Duyên Căn kéo một chiếc cột đá một cái cửa mở ra.

Chính mỗi một cột này là một căn nhà nhỏ xíu.

Duyên Căn đẩy cửa vào, bảo Du Thản Chi vào trong xong rồi đóng lại.

Tuy gọi là phòng sám hối nhưng thực ra không phải là một căn phòng mà chỉ một "chiếc quan tài" bằng đá để dựng lên.

Du Thản Chi vào rồi, đừng nói không thể ngồi xuống được, mà xoay mình cũng đã khó khăn.

Trên nóc nhà đã có đục hai lỗ thông hơi. Bốn mặt vách đá gần khít chạm vào người.

Du Thản Chi lẩm bẩm:

- Mình có việc gì suy nghĩ, làm tổ gì mà phải sám hối ?

Giữa lúc ấy, bỗng nghe tiếng người kêu thất thanh như lợn bò chọc tiết.

Tiếng kêu la do những lỗ nhỏ trên đỉnh thạch thất vọng ra và rõ ràng là tiếng Tam Tĩnh.

Du Thản Chi nghe lão thét lên:

- Không được! Không được! Người tôi làm sao vào lọt nhà sám hối?

Vị lão tăng Giới Luật nói:

- Lề luật của bản trì từ ngàn xưa lưu lại, sư sãi phạm tội nặng đều được vào nhà sám hối để xét mình cũng ăn năn. Người vào đi!

Tam Tĩnh vội nói:

- Người tôi to béo thế này làm sao vào lọt được?

Du Thản Chi tuy đang trong lúc hoạn nạn, nghe lão nói mấy câu này, mới nhớ ra Tam Tĩnh người béo chùn béo chụt mà tròn ủm như trái bóng thì không khỏi phì cười.

Bỗng nghe nhà sư già lạnh lùng giục:

- Các ngươi bỏ lão vào đi rồi đóng cửa lại!

Kế tiếp lại vẳng nghe mấy tiếng cựa quậy.

Tam Tĩnh kêu gọi ầm lên nhưng nhà sư già không khoan dung cho bạn đồng môn chút nào nhất định thi hành luật pháp một cách nghiêm chỉnh.

Tam Tĩnh kêu lên:

- Tôi sẽ bẩm bạch phương trượng . Ðại sư ngược đãi đồng môn một cách gắt gao. Người tôi to béo thế này làm sao nhét vào được phòng nhỏ này... Trời ơi! Không được!

Lão tăng giục ban chấp sự:

- Các ngươi ấn mạnh y vào! Gắng sức ấn thật mạnh!

Một nhà sư khác bỗng kêu lên:

- Thúi quá! Y vọt cả... ra rồi!

Lão tăng vẫn giục:

- Ðã nhét được quá nửa rồi, còn non nửa thôi mà! Ðẩy mạnh vào!

Vất vả hồi lâu rồi sau cùng cũng nhét được hết người nhà sư Tam Tĩnh béo chùn béo chụt tròn ủm như quả bóng vào căn nhà nhỏ hẹp.

Tam Tĩnh mất hết khí lực không còn hơi sức đâu tranh luận nữa. Lão nghẹn ngào trong khổ và khóc thút thít.

Du Thản Chi nghĩ thầm:

- Căn nhà đá chật hẹp này đến mình gầy nhỏm gầy nhom còn chẳng đủ chỗ xoay mình. Thế mà họ nhét đưọc "trái bóng thịt" vào kể cũng là kỳ công hạn hữu.

Ðột nhiên Tam Tĩnh la lên:

- Thả tôi ra! Thả tôi ra! Tôi xin nói hết không dám nói sai câu nào.

Nhà sư già nói:

- Người hãy nói trước đi rồi ta sẽ thả ra.

Tam Tĩnh nói:

- Tôi... Tôi ở chùa Mẫn Trung nước Liêu, ăn trộm ba mươi ba lạng bạc, mua rượu uống. Tôi mổ ba con chó và giam cầm nhà sư. bốn người tục... tôi đã... có người bạn gái ở nước Liêu... với đã đánh bạc...Nhà sư già nói:

- Mi biểu những việc này đều do gã mặt sắt làm trò à?

Tam Tĩnh nói:

- Vâng! Vâng. Ðúng là gã làm cả. Tôi quên đó.

Nhà sư già nói :

- Người chưa suy nghĩ được kỹ càng. Người hãy ở lại trong buồng sám hối một ngày một đêm cho tâm hồn tỉnh táo để suy nghĩ lại.

Tam Tĩnh kêu to hơn nữa:

- Chỉ trong một giờ nữa là tôi đã bị chết ngộp rồi. Tôi xin thú nhận hết. Những vụ đó đều chính tay tôi làm cả.

Nhà sư già nói:

- Thế còn gã mặt sắt làm điều chi sai quấy?

Tam Tĩnh đáp:

- Gã.. gã ăn cắp cái bầu của tôi rồi gã uống trộm rượu nữa.

Nhà sư già hỏi:

- Còn gì nữa không?

Tam Tĩnh nói:

- Tôi.. Tôi không biết. Mau... mau thả tôi ra.

Nhà sư cười lạt nói:

- Ngươi vu oan giá họa cho người.

Rồi quay sang bảo mấy nhà sư chấp sự:

- Các vị thả gã mặt sắt ra!

Mấy vị chấp sự vâng lời mở cửa thạch thất kéo Du Thản Chi ra.

Du Thản Chi nhìn ra căn thạch thất ở bên cạnh thì thấy da thịt Tam Tĩnh lòi ra những kẻ hở nhà đá.

Giả tỷ phòng sám hối này là căn nhà vách gỗ thì đến bật tung.

Nhà sư nhìn Du Thản Chi hỏi:

- Những việc xảy ra ở nhà Mẫn Trung, Tam Tĩnh đã thú nhận cả rồi. Sao mi còn chưa nói rõ tâm tình.

Du Thản Chi đáp:

- Tôi không biết.

Nhà sư nói:

- Rút cuộc mi chưa làm việc gì sai quấy phải không?

Du Thản Chi đáp:

- Kiếp này tôi nhiều tai nạn, chắc là do kiếp trước gây nên tội nghiệp rất nhiều. Kiếp này tuy chưa làm điều sai quấy, nhưng kiếp trước phạm nhiều tội nặng.

Nhà sư nghe gã nói vậy rất vui lòng. Lão nghĩ lại vừa rồi nghi oan cho gã, bây giờ lão rất hối hận.

Nhà sư quay lại bảo Duyên Căn:

- Gã mặt sắt này bản tính thuần hậu nhà sư người Hồ kia mắc bệnh triền miên, ngươi bảo gã sang đó hầu hạ, đừng bắt gã làm việc trong vườn rau.

Duyên Căn nói:

- Vâng!

Tam Tĩnh kêu rầm lên:

- Không xong rồi! Mau buông thả tôi ra!

Tiếp theo là những tiếng "rắc rắc" không ngớt, tựa hồ như tiếng bắp rang.

Nguyên Tam Tĩnh bị nhét chặt quá, xương cốt cọ xát vào nhauphát ra tiếng.

Du Thản Chi nghĩ bụng:

- Xem chừng trong người Tam Tĩnh đã gẫy mất mấy dẻ xương sườn.

Bỗng thấy Tam Tĩnh lại kêu ầm lên:

- Tôi đã cung xưng hết rồi, sao còn chưa thả tôi ra? Ðại sư... nói vậy thì ra đại sư lừa gạt tôi hay sao?

Duyên Căn quay lại bảo Du Thản Chi:

- Mi mau lạy tạ tấm lòng từ bi của chấp pháp đại sư đã cho mi tới làm tại một nơi công việc nhẹ nhàng.

Du Thản Chi từ khi đến nước Liêu bị bao nhiêu nỗi khổ hành hạ, đâm ra mất hết thiện cảm với người ngoại quốc, bất luận là ai. Gã chẳng lấy việc để hầu hạ nhà sư người Hồ kia tên gọi là Ba La Tĩnh làm dễ chịu. Nhưng Duyên Căn đã bảo vậy thì gã cũng quỳ xuống đất lạy tạ.

Duyên Căn lại dẫn Du Thản Chi đến rừng trúc đưa vào phòng Ba La Tĩnh để giới thiệu.

Ba La Tinh vẫn nằm quay mặt vào tường.

Hai người vào phòng lão cũng mặc kệ, không quay ra mà cũng không hỏi han gì.

Ðến bữa ăn, Du Thản Chi lấy cơm đưa vào, thì Ba La Tinh cũng chỉ nói một câu cộc lốc:

- Không ăn cơm!

Lão cũng không thèm nhìn gã.

Sau hai ngày nữa, giọng nói Ba La Tinh tỏ ra rất suy yếu , tân khách trong chùa có người hay tin đến trước hỏi thăm. Sau khi người khách này về, đưa hơn mười vị lão tăng cùng đến thăm hỏi.

Du Thản Chi đứng bên thấy người khách giới thiệu với Ba La Tinh chức vị các lão tăng, nào Thủ Tòa La Hán Ðường, nào Phó tòa Viện Ðạt Ma, nào Thủ tòa Viện Giới Luật, toàn là những vị cao cả.

Gã nghĩ bụng:

- Lão sư người Hồ này chắc cũng là một nhân vật ghê gớm nên lão vừa thọ bệnh đã bao nhiêu nhân vật đầu nảo đến hỏi thăm.

Ba La Tinh bệnh luôn mấy ngày vẫn chưa bớt.

Ngẫu nhiên lão ăn được chút cháo nhưng vẫn chưa dậy được.

Suốt ngày nằm quay mặt vào tường. May mà tính lão ôn hòa không cáu kỉnh gì với Du Thản Chi cả.

Gã ở đây cũng chẳng có việc gì làm, nên suốt ngày nhàn rỗi, tịnh mịch.

Qua hai hôm nữa, vào khoảng nửa đêm, Ba La Tinh đột nhiên rên la ầm ĩ rồi la hét:

- Trời ơi! Nhức đầu! Tôi nhức đầu quá!

Du Thản Chi thắp đèn lên, thấy mặt lão đỏ bừng, gã đưa tay sờ vào trán lão thấy nóng bỏng.

Ba La Tinh vừa nhảy lên nhảy xuống vừa kêu:

- Chết! Ta chết đến nơi rồi! Ði kêu thầy đến chửa cho ta.

Du Thản Chi kinh hãi đáp:

- Vâng! Vâng!

Rồi không biết đi kiếm ai được, gã đành chạy vài vườn rau gọi Duyên Căn.

Duyên Căn đến viện Thanh Kiên mời một nhà sư biết thuốc sang chẩn mạch, vừa cho thuốc uống vừa làm phép châm cứu, vất vả mất nửa đê, mãi đến lúc trời sáng mớ yên lại.

Mấy lần lão lên cơn như vậy, các nhà sư chửa thuốc lắc đầu bảo nhau:

- Vị Hồ tăng này mắc phải thứ bệnh kỳ lạ bên Thiên Trúc, đất Trung Nguyên chưa gặp bao giờ, mình khó lòng chữa khỏi được.

Ba La Tinh càng ngày càng suy nhược.

Một hôm lão dậy đi tiểu, chân nhũn ra té nhào xuống đất. Ngã chúi về đằng trước đầu đập vào viên đá, trán thủng ra một lỗ, máu chảy ra rất nhiều.

Các lão tăng được tin đều đến hỏi thăm.

Bệnh tình nhà sư họ Hồ kéo dài hơn một tháng, mỗi ngày một trầm trọng thêm.

Một hôm Du Thản Chi bị cảm hàn, nửa đêm đau bụng, gã chạy ra rừng đi tiêu. Lúc đang buộc giải quần, dưới ánh trăng sáng, bất thình lình gã thấy một người từ dưới đất nhô lên cách chỗ gã đứng hơn môrt trượng.

Du Thản Chi hồn vía lên mây, suýt nữa gã thất thanh la lên.

Nhưng bóng đen náy chìa lên nửa người sau cùng toàn thân xuất hiện.

Rõ ràng là Ba La Tinh!

Ban ngày gã thấy Ba La Tinh thở hổn hển, muốn ngồi dậy uống chút nước thì xem ra cũng rất khó khăn. Thế mà lúc này lão biến thành con rồng thiêng cọp dữ, từ lòng đất chui lên được.

" Cách" một tiếng lão nhảy lên ngọn cây trúc nhanh như mèo!

Du Thản Chi rất lấy làm kỳ lẩm bẩm:

- Té ra bấy lâu lão này giả vờ mắc bệnh. Lão ở dưới đất chui lên làm gì và bây giờ lão đi đâu?

Bỗng thấy ngọn trúc khẽ lung lay, Ba La Tinh từ cây trúc này nhảy sang cây trúc khác cách đó chừng ba trượng. Ngọn trúc bật lên tiếng rất mạnh. Theo đà của nó Ba La Tinh nhảy được rất xa.

Lão nhảy đã lẹ làng lại nhanh như chớp , nếu Du Thản Chi chưa nhìn thấy lão từ trước thì nhất định không thể biết trên cây trúc có người mà chỉ cho là ngọn gió đêm lay động cành trúc dưới báng trăng tỏ mà thôi.

Du Thản Chi tiếp tục ngó những cành trúc lay động chao thẳng đường tiến về hướng tây bắc. Tuy gã đã lạnh nhạt thế sự, chẳng quan tâm một việc ggì nữa. Nhưng dù sao gã cũng còn trẻ người non dạ thì làm gì đã mất hết tính hiếu kỳ. gã chạy lại chỗ Ba La Tinh ở dưới đất chui lên để ngó xem thì thấy dưới đất có một lỗ tròn bên cạnh đặt một tấm ván. Trên mặt tấm ván có đất bùn và lá trúc, rõ ràng là lúc Ba La Tinh chui vào lỗ rồi sẽ kéo tấm ván đậy lên.

Rừng trúc này vốn ít người qua lại. Dù có người vào rừng mà dẫm chân lên tấm ván thì cũng lấy làm chi lạ.

Du Thản Chi tự hỏi:

- Ðường hầm này đi về đâu? Ta thử xuống xem sao?

Gã thò chân xuống đất chui vào trong hầm.

Không ngờ đường hầm rất ngắn, gã lần mò đi chưa được vài trượng, lại thấy đường đi dốc ngược lên.

Du Thản chi đi đến cuối đường chui ra thi không nhịn được phải phì cười, vì miệng hầm đằng này chính là chỗ Ba La Tinh trải chiếu lên.

Suốt ngày Ba La Tinh nằm trên chiếu này, nên không ai phát giác ra được.

Du Thản Chi tự hỏi:

- Thằng cha Ba La Tinh này thật là kỳ dị, không biết lão đi đâu?

Gã không nén nổi tính hiếu kỳ, lại chạy vào rừng trúc, theo đường Ba La Tinh chạy đi.

Gã biết mong manh rằng lão sư họ Hồ này khéo giả vờ giả vịt ốm đâu bệnh hoạn, tất cả là có cuộc âm mưu rất lớn. Nếu mình đi theo dõi để phát giác ra việc bí mật cuà lão. Lão mà biết ra thì tính mạng của mình đi đời.

Nghĩ vậy lão len lỏi cẩn thận và ở tận đằng xa nhìn thấy Ba La Tinh đang đứng trên một cây trúc, gã liền nằm rạp xuống bụi cỏ rậm, bò đi từng bước.

Gã bò còn cách cây trúc đó còn hơn một trượng thì dừng lại không dám tiến bước.

Du Thản Chi đứng chờ hồi lâu, đưa mắt nhìn ra phía trời Tây một áng mây trôi lảng bảng bay lại, che ánh trăng tỏ, bốn bề tối đen và phẳng lặng như tờ.

Bỗng nghe tiếng gió thổi rào rạt, cánh trúc kia hạ xuống rồi lại bật lên.

Ba La Tinh lượn đà bay vọt ra, nhảy vào giữa đám cây rậm rạp phía trước.
Du Thản Chi thấy lão khinh công cao cường như vậy phải lắc đầu lè lưỡi.

Gã đâm ra sợ quá không dám đi nữa, quay về phòng mình nghĩ.

Trong khoảng thời gian uống cạn tuần trà, Du Thản Chi nghe trong phòng Ba La Tinh có tiếng sột soạt, lão biết rằng lão đã về thì lẩm bẩm:

- Thật là một phen hú hồn! May mà mình về ngay, nếu mình chần chờ thêm một lát nữa tất bị lão khám phá ra.

Sáng hôm sau, Du Thản Chi dậy sớm thấy Ba La Tinh nằm quay mặt vào vách giả vờ bệnh thế cực kỳ nghiêm trọng.

Gã không nói gì cầm cây cuốc ra rừng đào măng.

Gã đi thẳng vào chỗ đám cây rậm rạp mà Ba La Tinh đêm qua đã nhảy vào đó.

Du Thản Chi vừa đi được vài trượng, bỗng thấy sau vòm cây một nhà sư đi ra, lớn tiếng hỏi:

- Mi đến Tàng Kinh Lâu làm gì?

Du Thản Chi đáp:

- Tôi... Tôi đào măng trúc.

Nhà sư vẩy tay nói:

- Ði, đi mau! Mi không có pháp điệp của phương trượng, không được tới gần Tàng Kinh Lâu.

Du Thản Chi nói:

- Vâng, vâng!

Rồi quay vào rừng trúc đào măng.

Gã nghĩ bụng:

- Té ra trong bụi rậm này là Tàng Kinh Lâu, nếu không có pháp điệp của phương trượng thì không thể đến gần. Ðêm qua Ba La Tinh lẻn vào Tàng Kinh Lâu, chẳng lẽ lão đến đây lấy trộm kinh sách về coi? Nhưng lão đã là hoà thượng thì xem kinh sách là việc rất hợp lý. Nam Mô A Di Ðà Phật! Nam Mô A Di Ðà Phật không biết phật có gì mà cất kỹ thế?

Du Thản Chi đã điều tra ra việc Ba La Tinh giả vờ lâm trọng bệnh đào đường hầm để đi lén vào Tàng Kinh Lâu mà htôi. Gã chẳng buồn để tâm đên việc đó nữa, gã đào được một đống măng thật to đem về vườn rau giao cho Duyên Căn.

Duyên Căn Khen rằng:

- Thằng nhỏ này giỏi lắm, làm việc gì cũng chăm chỉ tận tâm. Thật không uổng công ta đề bạt mi lên với đại sư chấp pháp. Mi đem măng xuống giao cho nhà bếp.

Du Thản Chi vâng lời khuân măng xuống bếp.

Trong bếp một nồi canh rau bốc hơi ngùn ngụt, chú tiểu múc một bát canh cho gã ăn, rồi lại múc thêm bát nữa đem về cho Ba La Tinh.

Du Thản Chi bưng bát canh rau về phòng Ba La Tinh vẫn một giọng cộc lốc:

- Không ăn!

Nhưng rồi ngửi thấy mùi bát canh thơm ngon, lão thèm quá bảo:

- Ðược lắm! Ngươi đưa ta thử một miếng xem.

Lão xoay tay ra đón lấy bát canh giả vờ không ngồi dậy được, mặt vẫn quay vào tường nằm húp canh.

Du Thản Chi để ý trông thấy có bóng cuốn sách ánh vào trong bát nước canh. Trong sách toàn chữ ngọng ngoẹo rất kỳ dị.

Gã sực nhớ ra điều gì liền lẩm bẩm:

- Ðây là thứ văn tự ngoại quốc giống kiểu chữ ở trong cuốn sách ta lượm được. Thì ra Ba La Tinh hằng ngày quay mặt vào tường là để xem lén những sách cổ quái này! Chà chà! Nửa đêm lão lén vào Tàng Kinh Lâu cốt là lấy những thứ sách nước ngoài này về coi.

Trước kia Du Thản Chi đã bị hành hạ, nên gã không quan tâm đến sự vật bên ngoài nữa. Mấy bữa nay gã ở chùa Thiếu Lâm không bị ngược đãi, nên gã thấy Ba La Tinh có những hành động kỳ bí mới lại nổi tánh hiếu kỳ.

Nhưng bây gờ thấy Ba La Tinh có những hành động đó, bất quá là để kiếm sách ngoại quốc về đọc, thì nghĩ bụng:

- Làm hòa thượng đương nhiên phải xem kinh. Lão hòa thượng nước ngoài thì phải đọc kinh nước ngoài, cái đó chẳng có chi lạ. Có điều người ngoại quốc tính ưa làm những sự kỳ bí không muốn hỏi mượn mà thờ.

Nghĩ vậy từ đó gã không để ý đến hành động của Ba La Tinh nữa.

Lại hơn một tháng nữa trôi qua. một hôm vào khoảng nữa đêm Du Thản Chi đang ngủ say, đột nhiêu thấy ánh đèn sáng trưng.

Gã mở bừng mắt ra thì ánh sáng này từ phòng Ba La Tinh phát ra rồi lọt qua khe vách ván lọt ra ngoài.

Ánh sáng bữa nay so với những ngáy trước sáng chói gấp mười.

Du Thản Chi lấy làm kỳ dị, gãnghiêng người nhòm qua khe cửa vào trong.

Vừa nhòm vào, gã giật mình kinh hãi vì trong phòng này có năm nhà sư gia đang ngồi xếp bằng. vị nào cũng mặc áo cà sa đai hồng nhắm mắt nhập định.

Trong năm vị lão tăng này thì có ba vị bữa trước đến hỏi thăm bịnh tình Ba La Tinh, gã biết mặt rồi. Ba nhà sư này đều lả những vị cao tăng bản tự giử chức phận rất trọng đại.

Năm vị cao tăng ngồi xung quanh chiếu.

Chiếu đã lật lên thì cái hầm lộ ra Ba La Tinh hiện không ở đây.

Du Thản Chi chắc là hiện giờ lão đang đi lấy trộm sách. Ðây là lần đầu hành vi của lão bị phát giác, rồi bị bắt nữa cũng chưa biết chừng.

Lúc Du Thản Chi để ý nhìn lại năm vị lão tăng thì ai cũng để tay phải lên trước ngực nhưng không phải để lần tràng hạt, mà xoay lòng bàn tay hướng vào đúng cửa hầm do Ba La Tinh đã đào ra.

Gã đối với vị Hồ tăng này tuy không có tình nghĩa gì nhưng từ lúc được phái đến hầu hạ lão, gã không bị hành hạ đánh đập nữa, nên chỉ mong được hầu lão lâu dài cho đỡ thân mà thôi. Bây giờ gã thấy xảy ra vụ này, trong lòng không khỏi băn khoăn và ngấm ngầm lo cho lão.

Ðột nhiên năm vị lão tăng đồng thời phất tay áo một cái đèn đuốc trong nhà bị luồng chưởng phong thổi tắt đi, tối sầm lại, nhưng rồi ngọn lửa lại bùng sáng lên ngay.

Du Thản Chi hoa mắt lên, nhìn lại thì thấy trong nhà thêm một người nữa chính là Ba La Tinh ở dưới đường hầm chui lên.

Vị Hồ tăng tay cầm ba quyển sách vừa nhìn thấy năm vị lão tăng ngồi giữ canh miệng hầm bất giác giật mình đánh thót một cái.

Năm lão tăng đồng thanh cất tiếng niệm:

- A Di Ðà Phật!

Tay phải từ từ vươn ra, năm tay áo nhà tu mầu đỏ phồng lên khác nào năm cái buồm nhỏ.

Ba La Tinh nhào đi một cái, lộn đầu xuống giơ chân lên.

Hai chân nhà sư ngoáy tít mỗi lúc một nhanh trông thành hình tròn như một trái banh.

Năm vị lão hòa thượng đồng thanh quát lên:

- Ái chà!

Năm chưởng nhất tề phóng ra đánh "binh" một tiếng vang lên không khí bị đè ép quá nặng khiến cho Du Thản Chi không thở được phải ngất đi.

Gã mê man hồi lâu, rồi bên tai văng vẳng ngghe tiếng niệm phật. Gã lần lần tỉnh lại định thần, mở mắt nhìn qua khe vách ván thì thấy Ba La Tinh cũng ngồi xếp bằng tuớng mạo rất nghiêm trang.

Năm vị lão hòa thượng ngồi xung quanh nhà sư người Hồ.

Cả sáu vị đang niệm kinh.

Du Thản Chi nghe không hiểu câu nào, song tựa hồ hai bên đã hòa giải xong.

Sáu vị sư tụng kinh hồi lâu rồi năm vị lão tăng đứng dậy chắp tay.

Nhà sư già nhỏ bé gầy gò lên tiếng:

- Ba LaTinh sư huynh! Từ đây sắp tới sư huynh cứ việc đi vào Tàng Kinh Lâu và muốn đọc sách gì tùy ý, bất tất phải lén vào trộm nữa.

Ba La Tinh ngẩng đầu lên, vẻ mặt nghi ngờ, ngây ngây người ra một lúc rồi hỏi:

- Trong một thời gian bao nhiêu?

Nhà sư gầy đáp:

- Vĩnh viễn không kỳ hạn nào, tức là cho đến ngày sư huynh viên tịch thì thôi.

Ba La Tinh hỏi:

- Ý các vị muốn bức bách ta phải tự thiêu chăng?

Nhà sư già đáp:

- A Di Ðà Phật! Sao sư huynh lại nói thế? Sư huuynh từ bên Thiên Trúc là một thượng quốc đến đây chiếu cố tới Trung Thổ chúng tôi. Chúng tôi một lòng thành kính còn chưa đủ, khi nào dám vô lễ?

Ba La Tinh hỏi:

- Chúng ta đều là đệ tử nhà Phật, bất luận việc gì xin nói rõ ra. Trong Tàng Kinh quí tự đây có đầy đủ cả kinh bên tệ quốc.

Mấy trăm năm nay, tệ quốc trãi qua bao nhiêu cuộc chiến tranh loạn lạc, kinh sách mât mát rất nhiều, vì thế mà phải qua bên quý quốc để tìm kiếm. Cửa Phật là cửa từ bi quảng đại, cớ sao tự lại hẹp hòi như vậy?

Nhà sư gầy đáp:

- A Di Ðà Phật! Nếu sư huynh tìm những loại kinh điển cứu nhân độ thế của nhà Phật thì tệ tự quyết không dám giữ làm bí mật. Trước kia tệ tự đã lấy ờ bên Thượng quốc, bây giờ trả về Thượng quốc thì đó là một việc hợp tình hợp lý. Có điều sư huynh lại muốn lấy coi những sách bí mật về võ học của riêng bản tự nên chúng tôi dám để sư huynh tự tiện mà thôi. Những kinh sách về võ học tuy nguồn gốc cũng xuất phát từ thượng quốc, song mấy trăm năm nay những bậc cao tăng bên tệ tự đã chỉnh đốn lại và tăng bổ rất nhiều. Vậy đúng lý ra sư huynh chẳng nên lấy xem.

Ba La Tinh nói:

- Ðại sư vừa biểu từ nay sắp tới cho bần tăng được tự do ra vào Tàng Kinh lâu và tự ý muốn xem kinh sách gì cũng được sao bây giờ lại đổi giọng?

Nhà sư gầy nói:

- Không dám! Ðó là bản ý của tệ tự.

Ba La Tinh nói:

- Các vị đừng nói quanh quẩn nữa, muốn xử trí với bần tăng cách nào xin nói toạc ra.

Nhà sư gầy nói:

- Bên tệ tự suốt từ trên xuống đều kính ngưỡng Phật pháp cao thâm của sư huynh, có ý muốn mời sư huynh ở lại Trung Nguyên giúp tệ tự phổ biến nghĩa Phật, tế độ chúng sinh.

Ba La Tinh run người lên, mặt xám ngắt:

- Ðại sư... Ðại sư nói vậy là có ý... định giữ luôn bản tăng ở đây, vĩnh viễn không cho cho trở về cố hương nữa phải không?

Nhà sư gầy nói:

- Ðối với các vị đại đức bên thượng quốc, tệ tự đâu dám vô lễ? Chỉ thành khẩn xin người lưu lại mong rằng sư huynh ưng thuận lời thỉnh cầu đó.

Nói xong cúi đầu chắp tay thi lễ rồi đi ra.

Bốn nhà sư kia cũng theo gót ra luôn.

Ba La Tinh dàu dàu nét mặt. Biết rằng mấy nhà sư nọ nói vậy là cố ý giam giữ mình suốt đời ở Thiếu Lâm, rồi tha hồ muốn xem bao nhiêu kinh sách thì xem, nhưng không được về Thiên Trúc. Thế thì dù có đọc hết kinh sách trong Tàng Kinh Lâu chùa Thiếu lâm, bao nhiêu bí lục có đọc trơn làu làu, cũng chẳng ích gì.

Lão nghị vậy tức mình lẩm bẩm luôn mồn:

- Giả dối! Thật là quân giả dối! Rõ ràng giam cầm mình ở đây mà mở miệng vẫn nói nhân nghĩa là khẩn cầu mình lưu lại và xin mình đừng phụ lời khẩn cầu đó. Thế là họ đẩy mình vào đất không có lối thoát. Lão càng nghĩ càng bực tức khó chịu, bất giác vung tay lên đánh đầu cồm cộp.

Sở dĩ Ba La Tinh giả vờ mắc trọng bệnh là để đánh lừa các sãi chùa Thiếu Lâm không để ý đề phòng lão cho tiện việc lão lén vào tàng kinh xem sách trộm. Lão vốn là người có trí nhớ khác thường nên vâng lệnh sư phư đến chùa Thiếu Lâm để xem kinh sách. Theo mệnh lệnh của sư phụ thì lão phải học thuộc kỹ rồi về Thiên Trúc đọc lại cho người ghi chép. Không ngờ lúc lão lấy trộm kinh sách để lộ hành tích thành hỏng việc.

Ít lâu nay Ba La Tinh suốt ngày quay mặt vào tường đọc kinh khổ công ghi nhớ đã thuộc được hơn ba mươi bộ, nào ngờ sơ hở một chút đến nỗi cơ mưu bại lộ, bị các nhà sư chùa Thiếu Lâm khám phá ra. Mấy nhà sư này không làm khó dễ gì cho lão, dò xét biết được dụng ý của lão thì không cho lão về nước mà thôi.

Ba La Tinh buồn rầu vô hạn.

Suốt đêm hôm ấy từ chập tối cho đến sáng lão hết thở ngắn than dài thở ngắn lại gắt gỏng Du Thản Chi khiến gã băn khoăn lo lắng.

Qua mấy ngày như vậy, Ba La Tinh quả nhiên phát bệnh thực sự thỉnh thoảng mắt lão trợn ngược lên đăm đăm nhìn về phí trời Tây.

Du Thản Chi trông thấy mà phát khiếp.

Một hôm Du Thản Chi đưa cơm cho Ba La Tinh.

Lão giơ tay ra cầm lấy nắm cơm toan bỏ vào miệng ăn.

Ðột nhiên mặt lão thoáng lộ vẻ vui tươi lẩm bẩm một mình:

- Ðược rồi! Ðược rồi!

Lão ăn vội ăn vàng cho xong rồi nắm lấy tay Du Thản Chi nói:

- Ta dạy ngươi một đoạn sách, rồi ngươi nhớ đọc lại nhé. Nhưng ngươi phải nhớ kỹ rằng đừng tiết lộ cho những nhà sư trong chúa này biết, ngươi làm được chứ?

Du Thản Chi không hiểu ý lão hỏi lại:

- Ðoạn sách gì?

Ba La Tinh nói:

- Ngươi phải hứa hẹn với ta là quyết giữ kín không nói với ai.

Du Thản Chi từ khi ở nước Liêu bị hành hạ cực kỳ khổ sở, sau ai bảo làm sao, y nghe vậy, không hề dám trái ý ai cả.

Bây giờ La Tinh nói vậy, gã gật đầu đáp ngay:

- Sư phụ đã dặn thế, tiểu nhân quyết không dám nói với ai.

Ba La Tinh trầm ngâm một lát rồi nói:

- Còn môt việc nữa là mỗi ngày ta đánh ngươi một trận, đánh cho thịt đổ máu rơi. Ðó là khổ nhục kế khiến người ngoài trông thấy khỏi nghi ngờ ta đồng tình với ngươi. Ngươi đừng tiết lộ với ai nghe.

Du Thản Chi ngần ngừ một lát rồi hỏi lại:

- Tiểu nhân không làm điều gì lầm lỡ sao sư phụ lại đánh đòn?

Ba La Tinh mắt toé hào quang hung dữ nói:

- Mi không nghe ta thì liệu hồn đó!

Lão giơ bàn tay đập xuống đánh "binh" một cái, những mảnh gạch run bắn lên tung toé, vết bàn tay lão in sâu vào viên gạch.

Lão nói:

- Mi quay đầu lại đây cho ta đánh chưởng!

Du Thản Chi cả kinh nói:

- Ðầu tiểu nhân không chịu nổi ba chưởng. Sư phụ... sư phụ có đánh tiểu nhân thì đánh vào mé bên môi.

Ba La Tinh bật cười nói:

- Thôi! Ðây mi nên nhớ lấy! " Hi la cáp tát đắc, ngỏa tư nặc đặc lãng ba, khứ thần, ấn địa, thản lập thốc Tây loại Tư loại Tư nặc sám mả mi phi sâm, đáo ni sơn phu nhi..."

Lão đọc một đoạn dài rồi giục:

- Nào! Mi đọc thử lại ta nghe!

Du Thản Chi nghe tiếng ngoại quốc chẳng hiểu câu gì, không nhớ được nửa chữ.

Gã há hốc miệng ra đọc:

- Hi... Hi... Hi...

Gã chỉ đọc được chữ "hi" rồi không đọc xuống dưới được nữa.

Ba La Tinh cả giận đưa tay đẩy ngực gã một cái.

Du Thản Chi ngã ngửa người ra va vào tường đánh "binh" một cái. Gã đau quá suýt ngất đi.

Ba La Tinh vừa giận vừa càu nhàu:

- Thằng lỏi con! Ta dạy mi chẳng nhớ được chữ gì, mi không chịu để ý mà nghe phải không?

Du Thản Chi xoa lưng nói:

- Tiểu nhân... Tiểu nhân không hiểu sư phụ nói gì , chỉ thấy lí la lí lô con sao hiểu được?

Ba La Tinh suy nghĩ rồi nói:

- Ừ mi nói cũng có lý! Mi không hiểu ta nói gì tất nhiên mi không thể nhớ được, vậy bây giờ ta dạy mi.

Nói xong lão đập tan đống đất khô rãi lên lên mặt đất, rồi lão lấy ngón tay vạch ba chữ ngòng ngoào, nói:

- A Bối nhỉ! Mi đọc đi! A Bối nhỉ, A Bối nhỉ...

Du Thản Chi đọc theo lão:

- A Bối nhỉ! A Bối nhỉ.

Ba La Tinh cả mừng lại dạy gã thêm ba chữ nữa.

Du Thản Chi đọc xong hỏi:

- Thế thì nghĩa gì?

Ba La Tinh nói:

- Ðó là những chữ cái không có nghĩa gì hết. Mi đọc nữa đi.

Lão lại dạy ba chữ cái khác. Nhưng lúc quay lại hỏi ba chữ đầu "a Bối nhỉ" thì Du Thản Chi quên sạch mất rồi.

Ba La Tinh tức quá lão xách ngược Du Thản chi lắc đi lắc lại, thiếu điều gã phải hộc cơm ra, lão càu nhàu nói:

- Ta gặp phải thằng ngu xuẩn này thật là vô phước mất rồi. Mi dốt nát thế này ba mươi sáu bộ kinh sách thì đến đời kiếp nào cho xong?

"Uỳnh" một tiếng, lão xách Du Thản Chi liệng ra ngoài cửa.

Du Thản Chi nằm sóng sượt dưới đất thi gan không dậy nữa.

Ba La Tinh tưởng mình liệng gã chết rồi, sợ quá bồng y vào trong nhà, tìm lời ngon ngọt dỗ dành gã hồi lâu, rồi lại bắt đầu dạy gã nhận mặt chữ.

Du Thản Chi sợ Ba La Tinh đánh đập phải cố công ghi nhớ.

Nhưng chữ Phạn nước Thiên Trúc có chữ như con nòng nọc, có chữ giống con giun.

Tóm lại chẳng có lề lối văn tự nào hết.

Du Thản Chi học chữ trên lại quên chữ dưới, chữ cuối lại quên chữ đầu.

Thành ra một thầy trò hai người cùng kêu khổ om sòm.

Chương 53: Phép luyện dịch cân kinh

Ba La Tinh điên tiết lên là đánh Du Thản Chi liền. Lão có nghĩ đâu rằng việc nhận chữ đọc sách có liên quan đến tính tình và khiếu thông minh thiên phó của con người, há phải cứ ép uổng mà làm được.

Ba La Tinh tuy dữ đòn đánh Du Thản Chi, song gã càng mê muội lại càng không nhớ những chữ cái Phạn văn mà lão đang dạy gã.

Việc đời hễ có chí là thành tựu, tuy Du Thản Chi dốt nát tối tăm, song gã cố gắng hơn nữa tháng liền cũng thuộc được hết những mẫu tự Phạn văn.

Ba La Tinh tiếp tục dạy Du Thản Chí đọc từng chữ từng câu.

Phạn văn là một thứ văn tự khó học vào bậc nhất trên thế gian. Văn tự Tây phương phần nhiều chia thành chữ đơn chữ kép. Về Phạn văn ngoài chữ đơn chữ kép ra lại còn song số. Cứ xem một điểm này, đại khái sẽ suy luận ra nhiều điểm khó khăn khác, bao nhiêu chỗ quanh co. biến hoá, cực kỳ phức tạp. Ðến ngay những bậc thông minh tài trí phi thường phải ít ra là một năm hay nữa năm mới phân biệt rành rẽ được cách đọc chữ Phạn.

Du Thản Chi tư chất đã tầm thường lại bị Ba La Tinh thôi thúc cho mau thành tựu. Ðúng là "Dục tốc bất đạt." Thầy không biết cách dạy trò, trò không biết cách học, thành ra việc học chỉ lờ mờ không thấu đáo.

Du Thản Chi suốt ngày bị thành sầu vây hãm, ngoài cái đau đớn về xác thịt, thêm vào tinh thần bị khủng bố. Gã khổ sở về việc học kinh sách Phạn văn.

Nữa đêm nhiều lúc gã tỉnh giấc, gã nghĩ lại thời kỳ còn ở nước Liêu, bất quá chỉ phải ăn đòn, chịu thảm hình về xác thịt mà thôi. Trong đầu óc còn được tự do hơn nhiều. Huống chi thỉnh thoảng lại được thấy mặt A Tử. Cái tươi cười hay cái cáu giận của nàng cũng khiến cho bao nhiêu cái khổ não cả thiên hạ đổ xuống sông xuống biển hết. Gã thấy hiện giờ đầu óc mình bị lão Ba La Tinh nhét đầy những ma kha bắt la nhược "rồi" ban nhược ba yết đề gì vào, so với thân thể bị khổ hình còn tệ hại hơn nhiều.

Lắm lúc gã toan xuống than thở với Duyên Căn, nhưng gã chưa nói câu gì, y thấy gã mình đầy thương tích dường như cũng ra chiều đắc ý.

Du Thản Chi có lần ấp úng kể lể sự tình, nhưng Duyên Căn chẳng thèm để ý hỏi rõ đầu đuôi đã mắng át đi:

- Thằng giặc non! Mi sợ đánh ư? Mi nên nhớ rằng người trên mi bảo mình làm gì thì dù khổ sở đến đâu cũng ráng mà chịu. Ðức Phật Tổ đã dạy rằng: "Ta không vào địa ngục thì còn ai chịu vào?" Ðức Phật vào địa ngục còn không lùi bước mi mới bị đánh một đập mà đã không chịu được ư? Ngày trước Ðức Phật Tổ xả thân để nuôi chim ưng, xả thân cho cọp cắn. Ngài có tinh thần đại nhân đại nghĩa như vậy, sao mi không học lấy?

Du Thản Chi mỗi lần mở miệng than phiền với Duyên Căn là lại được nghe lão thống mạ thêm một hồi.

Sau gã không dám nói gì với lão nữa. Gã đành để cho số phận mình phải học chữ Phạn. Người ta thường nói: "Phúc đáo tâm linh." Có lẽ gã đến thời vận khá!

Tối hôm đó gã cởi áo đi ngủ, sờ vào bọc thấy cuốn sách của mình bọc giấy dầu.

Ðột nhiên gã nghĩ bụng:

- Văn tự trong sách này dường như cũng giống thứ văn tự mà sư phụ đương dạy mình.

Nghĩ vậy gã liền giở sách ra coi, nhận được hai chữ nhất cũng đọc là nhất, và một chữ tam cũng đọc là tam. Thế rồi bắt đầu gả thấy hứng thú trong việc tìm hiểu sách của mình. Gã tự nhủ: Trong sách nói gì mình không hiểu, nhưng nếu mình biết Phạn văn thì sẽ đọc được hết. Dù sao cuốn sách này cũng là bậc cao nhân cứu mạng cho mình. Ngày nọ trong thành Nam Kinh, A Tử cô nương bắt mình đem huyết nuôi trùng độc, nhờ sách này mà biết phép hóa nạn. Như vậy thì phương pháp trong này rất hữu dụng.

Từ lúc Du Thản Chi phát giác ra chuyện này gã không lấy việc học tập Phạn văn là một cực hình nữa, gã cố ghi câu sách cùng những lời thầy dạy, bởi gã cũng hy vọng một ngày kia sẽ đọc được cuốn sách trong bọc mình. Gã có linh cảm rằng cuốn sách đó ghi chép những đặc biệt, không thể cho Ba La Tinh hay biết được. Chỉ những lúc gã đi ngủ mới trùm chăn rồi hé ra xem lén một chút.

Những lúc gã coi văn tự trong sách, đồng thời gã coi cả hình người vẽ bên cạnh và dĩ nhiên gã không quên soi kỹ những đường chỉ vàng trong đồ hình, rồi gã dùng ý tưởng bắt đầu luyện công.

Du Thản Chi có ngờ đâu cuốn sách kinh này là Dịch Cân Kinh của Ðạt Ma Lão Tổ, vị thủy tổ chùa Thiếu Lâm viết ra. Cuốn kinh này là một bảo điển tối cao về võ học. Gã vô tình gã theo kinh sách mà tu luyện.

Kể ra thì tại chùa Thiếu Lâm từ mấy trăm năm nay không thiếu gì các vị cao tăng tu luyện Dịch Cân Linh, song tổn phí bao nhiêu ngày hằng mệt nhọc mà vẫn không được việc gì đặc sắc, nên các nhà sư cho là kinh này không linh nghiệm. Ðến ngày bị A châu lấy cắp đi, các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm tuy có đem lòng căm giận, nhưng vẫn không cho là môt việc quan hệ. Họ có biết đâu rằng sở dĩ những bậc cao tăng tu luyện không thành hiệu quả là vì chưa khám phá ra được hai chữ trước ý. Nếu càng để ý mong mỏi cho công lực chóng tiến bộ thì lại càng không thu lượm được kết quả cao.

Các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm cố tình luyện Dịch Cân Kinh mà chẳng ăn thua gì, còn Du Thản Chi thì trong lúc vô tình gặp nạn mà tu luyện thành hiệu quả.

Thật là:

Cố ý hoa hoa ủ rũ,

Vô tình tiếp liễu, liễu xanh om.

Trong đám tăng lữ chùa Thiếu Lâm hơn một trăm năm trước đây có vị thần tăng. Vị này xuất gia từ thuở nhỏ. Người có tính điên khùng. sư phụ nhà sư này cố tâm luyện Dịch Cân Kinh mà không thành giận quá ngồi viên tịch. Nhà sư vô tình lượm được cuốn kinh ở bên mình sư phụ mình, cười ha hả rồi bắt đầu luyện và sau thành một tay cao thủ phi thường. Nhưng cũng chỉ được một đời, võ công nhà sư đến cao cường thế mà đến lúc ngưồi viên tịch, thủy chung vẫn không nói ra được vì lẽ gì mà thành công. Mọi người chẳng ai hiểu đó là hiệu quả "Dịch Cân Kinh."

Du Thản chi vô tình luyện, gã không biết công lực mình mỗi ngày một tiến bộ, thì ra gã đi đúng con đường của nhà sư điên ngày trước.

Phạn văn rất khó học vì cách biến hóa phức tạp vô cùng.

Một hôm Ba La Tinh dạy Du Thản Chi đọc câu: Na la phạt đại đề" rồi lão cắt nghĩa:

- Có một cô gái tên là Na Phạt. Còn chữ "phạt đại đề" nghĩa là đang nói. Thế là chữ "Lạp" biến thành chữ "La"

Du Thản Chi nhớ kỹ rồi, một lúc sau, Ba La Tinh lại dạy câu: "Na Lạp Hách ba da đề" nghĩa là cô Na Lạp đang nấu cơm. Trong từ ngữ "ba da đề"có thanh âm Ba đứng trước nên chữ na Lạp đổi thành Na Lạp Hách.

Tiếp theo lão dạy đến câu: "Na Lạp Tự đế tư đặc cáp đề" nghĩa là cô Na Lạp đứng đó. Từ ngữ" Ðế tư đặc cáp đề", đứng đầu có âm "đế" nên chữ "Na Lạp" biến thành "Na Lạp Tư."

Du Thản Chi dương đôi mắt thao láo ra mà nghe đến co gân đút thịt vẫn ù ù cạc cạc.

Gã lẩm bẩm:

- Người Trung quốc nói vắn tắt và rõ ràng bằng một chữ "tram" (nghĩa là đúng) là đủ mà người Hồ bên Tâu Vực lại đọc thôi một tràng dài: "Ðề tư mạc cáp đề" gì gì không biết. Thế rồi một cô gái tên là "Na Lạp." Lúc cổ nói ra lại phải đổi thành "Na La", lúc cổ nấu cơm lại thành "Na Lạp Tư." Chà chà! Có cát tên cổ mà lúc nói lúc thổi cơm, lúc đứng lên đều biến đi. Không biết lúc cô ăn, đi ngủ, cô đi đường, cô mắng người, thì danh tự của cô còn biến ra gì gì nữa? ... Phạn văn đã khó nhọc như vậy thì tài trí Du Thản Chi không có cách nào hiểu được văn tự Dịch Cân Kinh?

Gã đành cứ đến tối luyện công theo sợi chỉ vàng xây trên hình người trong bản đồ.

Ban đầu gã chỉ là chơi, nhưng gã luyện được hơn nửa tháng, bất giác gã thấy luồng hơi mát mẽ theo lõi sợi chỉ vàng trong đồ hình mà đi vào thân thể gã. Luồng hơi này đi đến đâu thì các cơ thể trong người gã cực kỳ khoan khoái dễ chịu. Gã chẳng cần hiểu luồng hơi mát chu du lưu trong thân thể có lợi hại gì cho mình? Gã chỉ thấy khoan khoái dễ chịu là gã cứ luyện đều. Luồng hơi mát mẻ về sau đi quen đường, gã không cần xem sách, có cũng tự nhiên đi đúng đường không lầm lỡ.

Từ đó cả những lúc ăn cơm, lúc đi đường, lúc làm công việc hay đọc sách gã cũng vận động luồng hơi không ngớt.

Giả tỉ Du Thản Chi có tài thông minh để đọc sách như Ðoàn Dự, như Vương Ngọc Yến thì pho Dịch Cân Kinh này gã lại không luyện được đến chỗ thành tựu. Vì khi hiểu được ý nghĩa Phạn văn biết cách tu luyện tâm pháp vào hạng võ công cùng thượng thặng, điểm nào cũng để ý cũng cố gắng học đến chỗ tinh vi thì không khỏi phạm vào hai chữ trước ý. Môn này tuy làm cho thân thể người thêm phần cường kiện đẩy lùi được bệnh hoạn, song đối với những người đã có cõ công hạng thượng thặng thì không bổ ích gì.

Cuốn Dịch Cân Kinh này Kiều Phong đánh rớt. Du Thản Chi lượm được. Nhưng nếu Kiều Phong không để thất lạc, rồi ông học thêm chữ Phạn, luyện tập theo đúng phương pháp thì ông có là người khoáng đạt sáng suốt đến đâu, cũng không khỏi đem lòng mong mỏi cho công lực mình một ngày tinh tiến. Nếu luyện Dịch Cân Kinh theo lối đó thì chỉ tốn công vô ích mà thôi. Xem thế đủ biết lẽ cùng thông, họa, phúc, đều do cơ duyên quyết định, chớ không phải cưỡng cầu mà được.

Có luồng hơi mát không vận hành trong người Du Thản Chi theo đường lối trong đồ hình, thế là gã bỏ không luyện nữa.

Mà thật là kỳ quái! Có khi gã để cách mươi ngày hay nửa tháng mới luyện lại luồng hơi vẫn chạy thông đông không vấp váp.

Trong các môn võ học, bất luận môn gì cũng theo đà luyện tập mà tiến bộ thêm. Dù người cần mẩn đến đâu cũng khó có thể luyện qua sáu giờ trong một ngày, chỉ có môn "Dịch Cân Kinh" là không phải vận nội công, cũng không cần chú ý mà có thể vận hành không ngớt được. Nên dù lúc đang ngủ, công lực cũng tăng tiến.

Ðông tàn, Xuân lại Hạ qua, Thu tới, được hơn một năm.

Du Thản Chi ban đầu môn học Phạn văn cho hiểu nghĩa sách, nhưng càng học càng thấy khó. Gã muốn xem chừng muốn học cho thông nghĩa sách thì dù cặm cụi suốt đời cũng không thành công, nên gã bỏ ý niệm đó.

Ba La Tinh, cũng đâm ra chán nản, sau tức mình quá lão đánh đập Du Thản Chi luôn mấy ngày chứ không dạy chữ.

Du Thản Chi lặng lẽ chịu đòn, nhưng gã cảm thấy lão càng đánh nhiều cũng chẳng thấy gì, chỉ thấy hơi ngứa mà không đau đớn. Gã cho là Ba La Tinh đánh chịu đòn, chứ có hiểu đâu rằng công lực mình mỗi ngày mỗi tiến bộ và đã đến lúc tự bảo vệ được cho mình.

Một hôm xế chiều, Ba La Tinh dạy kinh sách một lúc, nhưng Du Thản Chi chẳng hiểu gì ráo. Lão tức quá phóng cả quyền cước hầm hầm đánh gã một hồi.

Nhưng lúc gã chạy rồi thì lão lại tự thương thân mình nét mặt buồn rầu vô hạn. Lão nghĩ mình bị quần tăng chùa Thiếu Lâm giam cầm không cho về cố hương. Lão toan dạy Phạn văn, Du Thản Chi để gã học thuộc kinh sách rồi cho gã về Thiên Trúc đọc lại thế thì mình dù có phải vì theo mệnh lệnh sư phụ mà xương táng quê người cũng đã góp được phần công đức với bản phái, là làm cho những kinh sách bị thất lạc trở về đất cu. Song gã mặt sắt ngu như trâu dốt như bò, cố dạy hơn một năm mà chưa thuộc nổi mười trang. Thế thì đến đời kiếp nào thì gã mới thuộc hết được ba mươi mấy pho kinh, chắc là đến lúc mình chết cũng chưa xong.

Lão bị thương rồi khóc rống lên một hồi thì đột nhiên tự đằng xa có khúc tiêu vọng lại thoang thoảng lọt vào tai lão.

Hiện nay nội công Du Thản Chi đã tiến đến mực mắt tinh, tai thính nên gã thoáng nghe tiếng sáo lọt vào tai. Chùa Thiếu Lâm phòng viện rộng lớn, sư sãi tu hành thanh tĩnh, cấm tiệt tiếng tơ tiếng trúc. Trong vòng mấy dặm, trước nay không nghe thấy tiếng âm nhạc bao giờ, vậy thì tiếng sáo này ở đâu mà ra?

Du Thản Chi không hiểu nhạc luật, song gã nghe rõ tiếng sáo lúc nhát gừng, lúc liên tục khi lên bổng khi xuống trầm, thanh âm cực kì quái dị.

Gã còn đang ngơ ngẩn kinh ngạc, bỗng nghe bên kia vách ngăn trong phòng Ba La Tinh, cũng nổi lên ba hồi sáo lanh lảnh. Gã liền ghé mắt vào kẽ vách để nhìn sang thì thấy Ba La Tinh tay cầm ống sáo ngắn để lên môi đang thổi. Nhưng lão chỉ thổi ba hồi rồi hạ xuống đút vào bọc vẻ mặt tươi cười hớn hở, vùi đầu vào xuống ngủ.

Từ ngày Du Thản Chi đến ở với Ba La Tinh, chưa bao giờ lão thấy gã hí hửng như bữa nay thì tự hỏi:

- Mấy tiếng sáo vừa rồi hẳn là điều gì quan trọng? Phải chăng lão có đồng bạn ở bên Thiên Trúc qua đây đã tiếp ứng cho lão? Mấy tiếng sáo này Ba La Tinh và Du Thản Chi dĩ nhiên đã nghe thấy rồi, vậy chắc trong chùa Thiếu Lâm cũng có mấy vị cao tăng nghe rõ. Quả nhiên chưởng môn phương trượng truyền pháp dụ ra cho các nơi phải gia tâm phòng bị để cản trở địch nhân xông vào chùa Thiếu Lâm đồng thời phải coi chừng Ba La Tinh, đừng để cho lão trốn thoát.

Ngờ đâu nửa tháng trời, tuyệt không có sự gì xảy ra, mà cũng không có động tĩnh nào khác lạ.

Việc đề phòng tại chùa Thiếu Lâm dần dần trở lại sơ thoáng trễ tràng.

Một đêm kia, giữa lúc canh khuya Du Thản Chi đang ngủ say bất thình lình bỗng nghe có tiếng"chí chí"rất khẽ. Một là hiện nay nội công gã tinh tiến, hai là gã thích chơi rắn rết từ thuở nhỏ, nên vừa nge tiếng rắn độc phì phì là gã biết ngay.

Gã ngồi nhỏm dậy lắng tai nghe thì phát giác ra rằng"chí chí"đó ngay ở phòng bên.

Du Thản Chi toan lên tiếng đánh thức Ba La Tinh phải đề phòng có rắn độc bò đến.

Gã chưa kịp mở miệng thì lại nghe mấy tiếng sáo vu vi giống hệt những tiếng mà Ba La Tinh đã thổi trước đây trên nửa tháng.

Du Thản Chi động tánh hiếu kì, lại ghé mắt qua khe vách ván. Thì eo ôi! Ðầy phòng Ba La Tinh toàn là rắn độc cỡ có đến mấy ngàn con. Con nào cũng cất đầu lên ngất ngưỡng nhìn Ba La Tinh, dường như muốn nhảy xổ vào.

Du Thản Chi lẩm bẩm:

- Chí nguy! Thật là chí nguy! Tìm cách nào mà cứu được lão bây giờ?

Gã định thần nhìn thì thây đàn rắn dừng lại xung quanh Ba La Tinh còn cách ngoài ba thước, mặc dầu những con bên ngoài bò đẩy những con trong cũng chỉ đứng lại trước cái vòng tròn vô hình không xê xịch tiến thêm một tấc nào nữa.

Du Thản Chi nhớ lại bữa trước nhà sư Tam Tĩnh dùng thuốc kỵ vạch vòng tròn để ngăn ngừa con tằm kỳ dị không dám tiến qua, gã chắc rằng Ba La Tinh cũng dùng được vật gì khắc chế các loài rắn độc như Tam Tĩnh đã kiềm chế con tằm kỳ dị kia.

Nghĩ vậy, Du Thản Chi cảm thấy trong lòng ổn định được một chút. Gã chỉ còn chưa hiểu rõ một vấn đề:

- Tại sao bao nhiêu rắn độc ùn ùn kéo về đây?

Bỗng thấy Ba La Tinh cầm ống sáo đưa lên miệng thổi.

Nhưng lần này lão thổi một khúc nhạc rất du dương rất êm ái lọt tai.

Trong mấy ngàn con rắn độc này, bỗng có hai con sắc vàng lắc lư theo nhịp của tiếng sáo. Còn ngoài ra cả đàn rắn: xanh có, đen có, sặc sở có, thì chỉ ngếch đầu lên mà nhìn, chứ không nhúc nhích, nên hai con sắc vàng lắc lư cái đầu theo nhịp nhạc trông càng rõ rệt.

Tiếng sáo của Ba La Tinh mỗi lúc một lên cao, mấy con rắn đi lượn vòng vèo ra ngoài nhá chơi, rồi hơn chục con khác cũng theo ra.

Bất thình lình ngoài cửa có tiếng người kinh hải, la lên:

- Rắn độc! Trời ơi! Rắn độc kéo đến đông quá!

Lại có tiếng người khác nói tiếp:

- Vị Hồ tăng bên Thiên Trúc không chừng bị rắn độc cắn chết rồi? Không hiểu tại sao rắn về nhiều thế?

Một người nữa lại nói:

- Hãy khoan đừng nhhốn nháo! Ðể coi cho rõ rồi sẽ báo.

Du Thản Chi biết ngay đây là những nhà sư chùa Thiếu Lâm đến để canh chừng Ba La Tinh.
Ba la Tinh thổi sáo mỗi lúc một lên cao.

Ðàn rắn độc trong phòng mổi lúc ra ngoài một đông, dường như lũ rắn không chịu nổi tiếng sáo bổng và réo rắt, chúng tới tấp chạy đi. Số đông cất đầu lên rất cao, chỉ còn khúc đuôi ở dưới đất chống lấy cái mình ngất ngểu múa lên.

Ba La Tinh thổi sáo một hồi nữa thì dường như hết hơi.

Ðàn rắn độc trong nhà tranh nhau chạy ra.

Bốn nhà sư đứng ngoài cửa la lối om sòm.

- Lạ quá! Suốt đời tôi chưa bao giờ thấy nhiều rắn như bữa nay!

Có vị nói:

- Phải chăng vị hòa thượng Thiên Trúc này nguyên là xà linh xuất thế?

Có vị nói:

- Ta phải mau mau về bảo với Huyền Nạn sư bá!

Hai con rắn vàng sau bò lại rất nhanh khiến cho Du Thản Chi trông thấy phải hoa mắt.

Ðột nhiên đánh"bịch"một tiếng, một con rắn vàng không chống nỗi nữa, ngã lăn ra nằm dãy. Tiếp theo con rắn vàng kia cũng ngã xuống.

Ba La Tinh vương tay ra nắm lấy một con. Lão lấy một miếng vải dày phủ lên đầu nó lật ngửa con rắn lên sờ soạn một lúc rồi lấy lưỡi dao con rạch vào dụng rắn một đường dài chừng nữa tấc. Ðoạn lão nắn đi nắn lại mấy cái rút ra một cái ống dài chừng ba tấc tựa hồ như một khúc ruột non.

Ba La Tinh người run run bốc ra. bên ngoài có một cuộn tròn nhỏ xíu.

Lão mở ra thì là một mảnh giấy rất mỏng có viết chữ nhỏ dày chi chít.

Du Thản Chi rất lấy làm kỳ, tự hỏi:

- Tại sao trong bụng rắn lại có chữ?

Gã ngưng thần coi kỹ lại thì thấy trên chữ trên mãnh giấy này ngoằn ngoèo theo lối chữ Phạn nước Thiên Trúc. Bấy giờ gã mới tỉnh ngộ, lẩm bẩm một mình:

- Phải rồi! Con rắn này là của đồng bọn lão ta cho đến để đưa tin.

Du Thản Chi còn đang ngẫm nghĩ thì thấy Ba La Tinh lại theo cách trước mổ bụng con rắn vàng thứ hai và lấy ra khúc nữa trong cũng có một mảnh giấy.

Lão mở mảnh giấy ra xem.

Du Thản Chi chú ý nhìn trộm thì văn tự trong mảnh giấy này giống hệt mảnh giấy trước.

Ba La Tinh đưa mắt đọc chữ trên mảnh giấy một lượt rồi để sang một bên.

Du Thản Chi lẩm bẩm:

- Ðối phương hành động cực kỳ chu đáo, họ sợ một con rắn đọc dọc đường có thể xảy ra chuyện bất ngờ nên dùng hai con rắn đem tin. Thư tín trong bụng hai con rắn cũng chỉ coi là một.

Bỗng thấy Ba La Tinh lật dưới chiếu lên lấy ra một mảnh giấy mỏng dùng hòn than nhỏ viết mấy hàng chữ rất nhanh rồi cũng cuốn lại cho vào khúc ruột giả ấy nhét vào bụng rắn.

Lão lại xé một mảnh áo buộc vết thương lại cho hai con rắn.

Ðoạn lão mở cửa liệng một con vào đống cỏ rậm. lão toan thả nốt con rắn thứ hai thì đột nhiên đánh"binh"một tiếng ván cửa bị chưởng phong đánh bật ra.

Ðèn lửa trong nhà bị luồng gió tạt đi.

Giữa lúc này trong phòng xuất hiện thêm bốn vị lão tăng.

Nhà sư đứng đầu bên tã phóng chưởng ra trên không vù vù mấy tiếng nhằm đánh vào tay phải Ba La Tinh.

Ba La Tinh cảm thấy tay phải bị tê nhức. Con rắn cầm trong tay này đánh rơi xuống đất.

Nhà sư đầu mé hữu đưa ngón tay ra lách cách mấy tiếng con rắn nhảy lên một cái.

Sau mấy tiếng bật ngón tay, đầu rắn sưng húp lên huyết nhục nhão ra, liền chết tại chỗ.

Du Thản Chi cả kinh nghĩ thầm:

- Thần công vị lão hòa thượng này đến thế là cùng! Bật tay trên không mà đánh chết được con rắn.

Bỗng thấy nhà sư vừa đánh chết con rắn lên tiếng:

- Vị thần phải nể cây da. Tệ tự kính ngưỡng Ðức Phật Tổ nên sư huynh phạm lỗi lớn là lén vào Tàng Kinh Lâu lấy trộm sách cũng bỏ đi không cứu xét. Tệ tự chỉ lưu sư huynh lại để trọn kiếp tu hành. Thế mà sư huynh gọi rắn rết về nơi cửa Phật là chỗ thanh tịnh làm gì? Như vậy há phải hành động của bậc chân tu!

Ba La Tinh chỉ nhắm mắt chắp tay nhưng không nói gì.

Một vị lão tăng khác nói:

- Con rắn này tất có điều chi kỳ lạ. Tam Thông! Ngươi lượm con rắn đó đem ra ngoài xem xét lại coi. Tại sao mình nó lại quấn băng vải.

Ba La Tinh nghe nói vậy biết rằng cơ mưu của mình đã bị bại lộ, liền phóng chưởng ra nhằm đánh vào con rắn.

Một vị lão tăng đứng ngoài cửa, phất tay áo thầy tu một cái, một luồng kình phong phát ra vù vù cản luồng chưởng phong của Ba La Tinh lại.

Ðồng thời đèn lửa trong phòng tắt phụt. Bụi bặm cùng vôi vữa trên nóc nhà rơi xuống lả tả.

Một nhà sư đứng tuổi ở ngoài cửa chính là Tam Thông cúi xuống lượm con rắn chết lên rồi lui ra ngoài.

Bốn vị lão tăng đồng thời cất tiếng niện:

- Nam mô Phật tổ cứu độ chúng sinh!Ðồng thời phất tay áo một cái, luồng chưởng phong nổi lên cực mạnh, tấm ván cửa bật ra rồi bay đi rất xa lâu lắm mới rớt xuống.

Bốn nhà sư cũng băng mình ra cửa cùng môt lúc, không có kẻ trước người sau.

Kể ra khuôn cửa này chỉ rộng đủ chỗ cho hai nhà sư sóng vai ấy ra.

Ấy thế mà cả bốn vị vừa né lách coi như một phiến liền bay ra lọt mới kỳ.

Du Thản Chi đứng ở phòng bên thấy thế không khỏi sinh hồn động phách, lẩm bẩm:

- Trên thế gian sao lại có hạng võ công ghê gớm đến thế? Kẻ đại cừu của ta là Kiều Phong tự xưng "Thiên hạ vô địch" nhưng đem so với mấy vị cao tăng này chưa chắc thấm vào đâu?

Thật ra bốn vị lão tăng này tuy công lực thâm hậu nhưng so với Kiều Phong một tay thần võ, hãy còn kém xa.

Kể về võ công thì hiện giờ Du Thản Chi cũng đã hơn bốn vị lão tăng nầy rồi. Có điều gã không tự biết mà thôi.

Ba La Tinh thấy bốn nhà sư ra khỏi rồi, ván cửa cũng rời ra.

Những trận gió thu thổi ào ào vào phòng càng tăng thêm vẻ tiêu điều.

Lão nghĩ tới con hoàng xà đã vào tay đối phương, lại chùa Thiếu Lâm thế nào chả có người hiểu Phạn văn và những điều bí mật của mình tất bị họ khám phá. Thế là giấc mộng trở về Thiên Trúc lại tan ra bọt nước.

Lão càng nghĩ càng buồn rầu, rồi đột nhiên nằm phục xuống khóc rống lên.

Du Thản Chi thấy Ba La Tinh khóc lóc cực kỳ thống thiết, trong lòng bất nhẫn lên tiếng an ủi lão:

- Sư phụ! Mới có một con rắn bị họ đánh chết, còn con kia trốn thoát rồi cũng đủ đưa tin đi, hà tất sư phụ phải đau lòng như vậy?

Ba La Tinh nghe lão nói thế, ngừng bật tiếng khóc, bảo:

- Ngươi... Ngươi ra đây!

Du Thản Chi đứng dậy chạy ra phòng lão nói:

- Tiểu nhân đi tìm những tấm ván cửa lấp lại đã!

Ba La Tinh nói:

- Khoan đã! Sao ngươi biết ta còn một con rắn nữa trốn thoát?

Du Thản Chi đáp:

- Tiểu nhân nhìn rõ cả sư phụ nhét một miếng giấy vào bụng nó.

Ba La Tinh đáp:

- Hừ! Không phải tâm ta độc ác với ngươi, nhưng ngươi đã phát giác ra điều bí mật của ta. Vậy ta dung ngươi thế nào được?

Nói xong đột nhiên lão đứng phắt dậy nhảy xổ tới sau lưng Du Thản Chi, giơ hai tay ra bóp chặt cổ gã.

Du Thản Chi bị Ba La Tinh nghẹn cổ muốn hô hoán lên, nhưng không kêu ra tiếng được.

Gã thấy bốn ngón tay lão cứng như sắt mội lúc một ghịt chặt thêm.

Gã bị người đè nén ngược đãi quen rồi, không nghĩ gì đến ra tay kháng cự.

Trong lòng gã những muốn năn nỉ:

- Sư phụ ơi! Xin sư phụ nới tay! Tiểu nhân không dám đưa việc hoàng xà đó nói với ai đâu?

Mà không sao nói ra được.

Ba La Tinh không sao nghe tiếng gã lầm bầm mà dù cho lão có nghe thấy chăng nữa, cũng không chịu dung tha.

Du Thản Chi vừa đau đớn vừa sợ hải quá, quỳ mọp ngay xuống nhưng Ba La Tinh chỉ mỗi lúc một rít chặt tay thêm.

Du Thản Chi thấy tối tăm mặt mũi, nghĩ thầm:

- Phen này ta đành chịu chết rồi!

Bỗng nghe phía sau có người hắng giọng rồi lên tiếng nói:

- Ba La Tinh thấy có hai nhà sư Thiếu lâm đến nơi, đành phải buông Du Thản Chi, giọng xẳng hỏi:

- Các ngươi đến đây có việc chi?

Một nhà sư Thiếu Lâm lùi lại một bước, nấp vào sau nhà sư kia rồi mở mảnh giấy đọc mấy câu li la li lô, đoạn nói tiếp:

- Bức thư gởi cho đại sư đại ý nói: đến đêm trăng tròn sau người sẽ đến chùa để đón đại sư. Ha ha! Ðáng tiếc, thật là đáng tiếc.

Ba La Tinh hỏi:

- Tiếc cái gì?

Nhà sư kia nói:

- Ðáng tiếc không giữ được kín đáo. Phong bì này bị bần tăng khám phá ra được.

Ba La Tinh cáu tiết nói:

- Bọn Hòa Thượng Trung Nguyên các ngươi đều là phường vong ân bội nghĩa. Các ngươi đã qua bên Thiên Trúc lấy kinh về rồi giữ làm của mình. Ta đây bất quá mượn xem lại chỉ vì các kinh này cũng chỉ của Thiên Trúc mà ra. Các ngươi uống nước mà không biết nhớ nguồn. Sao không nghĩ đến chỗ những king sách vì đâu mà có?

Nhà sư kia đáp:

- Nếu sư huynh chỉ coi kinh cũ của Thiên Trúc thì chúng tôi quyết không ngăn trở làm gì. Ðừng nói sư huynh lấy ra đọc, mà có bản sao lại thì chùa Thiếu Lâm chúng tôi cũng xin làm giúp để hoàn thành công đức là đã giữ được những pho kinh cũ quy hoàn bên Thiên Trúc. Nhưng sư huynh lại xem trộm những bí lục về võ học của các vị cao tăng bao nhiêu đời của chùa Thiếu Lâm soạn ra. Như thế thì không thể được.

Ba La Tinh tức giận nói:

- Ta đọc là đọc những kinh sách bằng chữ Phạn của nước Thiên Trúc bọn sư sãi Trung Nguyên các ngươi làm gì có kinh sách bằng chữ Phạn?

Nhà sư kia đáp:

- Ấy chính chỗ đó mới là kỳ dị...

Du Thản Chi nghe hai bên tranh biện, cũng đem lòng suy luận xem ai phải ai trái.

Gã lẩm bẩm:

- Kể ra thì chùa Thiếu Lâm đối xử với nhà sư Thiên Trúc không có gì quá đáng, chỉ giữ lão không cho rời khỏi chùa này mà thôi. Nhưng biết đâu canh khuya tịch mịch, lão không giết mình. Nếu bây giờ không trốn đi, e rằng khó lòng toàn mạng.

Nghĩ vậy gã rảo bước ra khỏi rừng trúc, quanh qua vườn rau, gã nhìn không thấy ai liền co giò chạy tuốt. Gã chạy mỗi lúc một mau thoáng cái đã qua hai ngọn núi. Gã cảm thấy nhẹ nhàng gặp những tảng đá lớn, gã chỉ khoa chân một cái nhảy qua, hay gặp khe lạch, gã chỉ đề thí là nhảy sang bờ bên kia như không?

Du Thản Chi cắm cổ chạy một lèo. Khi ngoảng đầu lại coi thấy chùa Thiếu Lâm ẩn hiện trong đám rừng cây và cách đã xa rồi.

Gã dừng bước lại, trong lòng rất lấy làm quái dị tự hỏi:

- Sao mình chạy được nhiều đường đất đến thế mà không chút mệt nhọc? Sao mình chạy bước lại mau lẹ khác thường? Hay là... có ma đưa lối quỷ đem đường?

Du Thản Chi đang ngẫm nghĩ, bỗng thấy những ngọn khói cuồn cuộn bốc lên trên không ở phía sau chùa, thì khinh sợ lẩm bẩm:

- Chà chà! Trong chùa đang nấu cơm. Lát nữa Ba La Tinh bảo mình đi lấy cơm, lão không thấy tất lên tiếng gọi và bọn thầy chùa tất đuổi theo mình.

Nghĩ tình cảnh bị bắt về chùa, chắc chết mất mạng, gã lại co dò chạy tuốt.

Lần này gã hoang mang quá không phân biệt đường lối cứ nhằm vào đám rừng hoang rậm rạp mà chạy dài, với ý nghĩ xa chùa Thiếu Lâm được chừng nào hay chừng nấy.

Du Thản Chi chạy hồi lâu, quay đầu nhìn lại phía chùa Thiếu Lâm thì thấy rừng núi trùng điệp, không còn thấy mái chùa đâu nữa, gã đã hơi yên dạ. Nhưng gã vẫn chưa hết băn khoăn, lủi vào trong bụi cỏ rậm để nghe ngóng bốn mặt xem có động tịnh gì không.

Trong hang động chim hót líu lo, trùng kêu rộn rã. Giữa cảnh hoang vu u tịch, về góc Tây bắc, đột nhiên có hồi sáo thổi vọng lại.

Du Thản Chi giật mình đánh thót một cái, vì tiếng sáo này giống hệt tiếng sáo Ba La Tinh thổi hôm trước để gọi rắn độc về.

Gã toan đứng dậy chạy trốn mà không hiểu tại sao chân mình tựa hồ đóng đinh xuống đất không sao nhúc nhích được.

Gã lại càng hoảng hốt la thêm "Có ma! Có ma!."

Thực ra chỉ vì gã khiếp sợ quá và cặp giò nhủn ra.

Tiếng sáo mỗi lúc một gần, Du Thản Chi ngồi trong cỏ rậm dương mắt lên nhìn thì thấy trên sườn núi mé Tây Bắc có hơn mười nhà sư người Hồ, mình mặc áo vàng để lộ tay trái ra ngoài.

Người nào mặt cũng đen thui, rõ ràng cùng một chủng tộc với Ba La Tinh.

Bọn Hồ tăng này chạy đến đầu mé núi tả thì xếp bằng ngồi xuống, cứ bốn người một chỗ, cả thảy mười sáu người.

Chương 54: Cuộc tỉ thí nội công giữa hai phái tinh tú và hồ tăng

Du Thản Chi rất lấy làm kỳ nghĩ thầm:

- Chốn này hoang sơn tịch mịch, tứ phía không người, mười sáu nhà sư người Hồ giở trò yêu ngoa quỷ quái gì đây? Chẳng lẽ họ đến tìm mình?

Sự thực tuy không phải thế, nhưng gã như con chim phải tên sợ cây cung, gã nấp vào trong bụi cỏ rậm, không dám nhúc nhích.

Bỗng thấy mười sáu vị Hồ tăng ngồi xuống rồi miệng đọc lâm râm. Lúc đầu thanh âm nhỏ như tiếng muỗi vo ve, rồi dần dần một lúc một cao giọng.

Du Thản Chi thấy họ niệm những gì "Mầu ni ha ma hống" dường như là những câu thần chú tiếng Phạn. Mỗi khi gã nghe những từ ngữ đoạn văn là y như nhức đầu, bọn Hồ tăng này lại tụng niệm thanh âm vang dội, cả mười sáu người cùng một giọng giống nhau lúc khoan lúc nhặt, khi ngắn khi dài.

Cả mười sáu người tụng niệm rất đều nhau, khác nào do miệng một người phát ra thanh âm.

Lúc tiếng tụng niệm lên cao đến cùng cực thì góc Ðông Bắc vọng lại mấy tiếng u ú khác nào tiếng quỷ hú lúc canh ba, thanh âm này tuy nhỏ bé mà người nghe không khỏi ớn da gà. Thanh âm vừa vọng đến thì tiếng tụng niệm mười sáu gã Hồ tăng lập tức rối loạn, song chỉ một lát lại đồng đều như trước.

Tiếng u ú như quỷ hồn vang lên hai lượt thì thanh âm tụng niệm Phạn ngữ của Hồ tăng cũng bị nhốn nháo hai lần.

Du Thản Chi để ý nhìn vẻ mặt mười sáu vị Hồ tăng thì thấy có người ra chiều phẫn nộ, có người lộ vẻ kinh hoàng.

Bây giờ mười sáu người này chia làm chia làm hai toán: một toán tám người tụng niệm tiếng Phạn, còn một toán nữa lại tụng niệm lối khác.

Ðồng thời thanh âm bên kia cũng phân làm hai loại rú lên hai thứ tiếng"ú ú""toe toe" khác nhau.

Thanh âm bọn Hồ tăng lại hỗn loạn rồi chia làm bốn tốp, tụng niệm bốn loại thần chú khác nhau.

Du Thản Chi dường như đã đoán ra bảy tám phần. gã tự hỏi:

- Bọn chống đối đám Hồ tăng là ai?

Rồi gã tự trả lời:

- Ðương nhiên là các nhà sư chùa Thiếu Lâm. Chắc hẳn bọn Hồ tăng này đến tiếp viện đón Ba La Tinh về nước và một đằng các nhà ư chùa Thiếu Lâm nhất định giữ lại không buông tha.

Gã suy nghĩ một lát rồi biết mình đoán lầm một phần.

Từ góc Ðông Bắc một toán người từ từ đi đến.

Giữa đám người này có một lão già thân thể cao to lớn vạm vỡ, so với người xung quanh cao hơn nửa cái đầu.

Lão này chúm môi huýt sáo. Mỗi lần huýt sáo lạinphát ra tiếng "vú" như quỷ gào.

Tám người này đều mặc áo đơm bằng vải gai màu vàng và mỗi người đều cầm một cây cương trượng vừa dài vừa lớn.

Ðặc biệt là trong tay lão già cầm một cây quạt lông. Sắc mặt hồng hào tươi đẹp như người còn ít tuổi. Ðầu tóc lão bạc phơ. Dưới cằm ba thước rau bạc. Trông lão khác nào như một vị tiên đồng nhan hạt phát trong tranh vẽ.

Toán người này đi lại còn cách bọn Hồ tăng vài trượng thì dừng bước.

Lão già chúm môi huýt sáo phát ra mấy tiếng rùng rợn.

Bọn Hồ tăng không chống nổi, ba người công lực kém nhất ngã lăn ra trước.

Lão già khẽ phe phẩy quạt lông lại huýt sáo mấy hồi nữa, lão dùng quạt lông quạt một cái tiếng sáo phóng ra xa.

Bốn Hồ tăng khác ngồi đối diện với lão lại ngã lăn ra.

Tình trạng này khiến cho các nhà sư người Hồ tụng niệm Phạn chú hoảng loạn cả lên.

Còn chín lão Hồ tăng gắng gượng chống chọi, đồng thời lộn đầu xuống giơ chân lên, xoay tít người.

Du Thản Chi đã nhìn thấy Ba La Tinh hôm trước đây dùng thân pháp này để kháng cự các nhà sư chùa Thiếu Lâm.

Gã biết rằng đây là một thế võ oai lực rất mạnh của bọn Hồ tăng.

Lão già phe kia lộ vẻ mỉm cười nhằm đúng chỗ sơ hở của đối phương lại huýt sáo "toe toe" lên một tiếng.

Bên Hồ tăng có người té theo, có người nghiêng mình đi tránh được, chỉ lảo đảo mấy cái rồi đứng vững lại.

Tiếng huýt sáo của lão già chẳng khác gì một thứ ám khí hũu chất vô hình lợi hại.

Trong khoảng thời gian chừng hơn cháy hết tuần hương, chín lão Hồ tăng lại có bốn lão ngã xuống.

Bọn người tùy tùng lão già phe kia thi nhau tán tụng lão.

Nào là:

- Công lực sư phụ thật chấn động cổ kim. Bọn Hồ tăng kia chống đối với phái ta phỏng khác gì lùa đom đóm tranh sáng với ánh mặt trời.

Nào là:

- Ðối phương tựa hồ châu chấu đá voi, không biết tự lượng sức mình. Buồn cười quá!

Nào là:

- Sư phụ giởn chơi mà đẩy được bọn yêu ma quỷ quái vào đất chết, khác nào nhổ cỏ khô bẻ cành mục. bọn đồ nhi chẳng những chưa từng mắt thấy mà cũng chưa từng được nghe ai nói đến bao giờ.

Nào là:

- Ðây là một kỳ công vỉ tích không tiền khoáng hậu. Nếu không có sư phụ thì bọn Hồ tăng bên Thiên Trúc này coi Ðông thổ không còn có ai, mà bọn họ hoành hành không còn úy kỵ gì nữa. Nào là; - Có điều đáng tiếc là những nhân sĩ của các phái võ Trung Nguyên chưa được chứng kiến cuộc này, nên dù có kể lại họ nghe thì những người hũ hậu đó chưa chắc đã tin là sự thực.

Bọn đồ đệ xúm vào tán tụng sư phụ chẳng hiểu câu gì.

Nhưng lão già vẫn chúm môi huýt sáo.

Tiếng sáo nhọn như mũi tên bắn ra tuyệt không để làm cho lời ca tụng làm trở ngại.

Tình thế đã rõ rệt! Lão già chỉ thổi mấy hơi nữa là mười sáu lão Hồ Tăng đều bị chế phục, thốt nhiên đến nỗi lên mấy tiếng sáo lanh lãnh do một người trong đám Hồ Tăng thổi lên.

Du Thản Chi chú ý nhìn ra thấy một người trong năm vị Hồ Tăng đứng lộn ngược, đưa ống sáo lên miệng gắng sức thổi. Còn bốn nhà sư kia bày thành hàng chữ nhất xoay chuyển rất mau như đèn kéo quân để hộ vệ cho lão đứng giữa thổi sáo và ngăn ngừa cho tiếng sáo huýt bên địch không xâm nhập.

Du Thản Chi hỏi:

- Y thổi ống sáo làm chi vậy?

Bỗng thấy trong đám cỏ rậm bên cạnh mình có tiếng phì phì. Một con rắn ngũ sắc chiếu ra, Du Thản Chi biết con rắn này cực độc. Gã còn biết rõ rằng dù người có sợ rắn, mà thực ra thì bất luận là rắn độc, hay ác thú vẫn sợ người hơn là người sợ chúng. Miễn là người đừng trêu cho nó tức giận thì không bao giờ nó nhảy vào cắn người.

Nghĩ vậy gã nằm im thin thít trong đống cỏ không dám nhút nhích.

Gã nhìn thấy con rắn độc này đứng thẳng đầu lên ngất ngưởng đi về phía lão già.

Trước khi con rắn chưa ra khỏi bụi rậm, bọn đệ tử đứng bên lão già đã sợ hãi, có kẻ la:

- Rắn độc! Rắn độc!

Tên khác la:

- Chao ôi! Nguy rồi!

Tên khác gọi:

- Sư phụ ơi! Bọn rắn độc dường như xông lại phía chúng ta.

Du Thản Chi ngước mắt nhìn ra ngoài thì thấy mười mấy con rắn đủ cỡ bốn mặt xông vào lão già cùng bọn đệ tử. Bọn này lại kêu loạn lên. Nào là:

- Ðáng tiếc là chiếc Bích Ngọc Vương Ðỉnh kỵ rắn lại không có ở đây!

Nào là:

- Con tiện tỳ A Tử! Phen này bắt được nó thì phải phanh thây làm muôn đoạn!

Nào là:

- Nói lắm vô ích, đánh mau đi, đánh mau đi?

Nào là:

- A Tử không ăn cắp đỉnh ngọc đem đi thì... chao ôi! Nguy rồi!

Du Thản Chi nghe bọn này đề cập đến A Tử, ban đầu gã còn cho là người khác. Sau gã nghe thấy một người nói đến A Tử và đề cập đến đỉnh ngọc là vật chi bảo để chế khắc rắn độc thì trống ngực gã đánh thình thình.

Gã lẩm bẩm:

- Ðúng là bọn chúng nói tới cô nương rồi. Chẳng lẽ cái đỉnh ngọc đó cô nương đã lấy trộm của bọn chúng đem đi.

Bọn đệ tử giơ cương trượng lên nhắm vào chỗ lũ rắn độc bò đến đập xuống.

Chỉ có lão già thần sắc vẫn thản nhiên và chúm chím môi huýt sáo nhắm đối phương tấn công.

Bọn Hồ Tăng đứng đối diện thấy tiếng sáo huýt không ngớt, bốn lão Hồ tăng kia lại càng hồi hộp.

Du Thản Chi nghĩ bụng:

- Khu vực này bát ngát thì mấy con rắn độc kia chỉ một lúc là bị bọn họ dùng cương trượng đánh chết hết, chứ làm cóc gì được?

Nhưng đàn rắn đến mỗi lúc mỗi nhiều.

Chỉ trong khoảnh khắc xung quanh bọn người này đã có đến hàng mấy trăm con tụ tập. Trong đám này lại có đến ba bốn con trăn lớn.

Mấy con rắn lại gần đến nơi hất khúc đuôi lên trước quấn chặt lấy hai tên đồ đệ tiếp theo lại hai tên nữa bị trăn quấn. Kể ra thì khi bọn này vừa thấy rắn mà co giò trốn chạy thì đàn rắn thế nào đuổi kịp được. Nhưng khốn nổi sư phụ còn đang nghinh địch, khi nào đồ đệ dám bỏ đi. Chúng đánh múa tít binh khi 1đập xuống ầm ầm. Họ đập một lúc chết được tám chín chục con, nhưng cũng đến bảy tám tên phải bị rắn cắn bị thương.

Mấy con trăn thực là lợi hại, da to thịt dầy, bị cương trượng đánh mà nó vẫn còn đi được như không việc gì. Khi nó đã quấn được thì mỗi lúc một chặt thêm không không chịu buông tha.

Tiếng sáo thổi mỗi lúc một gay gắt thêm thì đồng thời giống trăn lớn cũng đến nhiều.

Trong khoảng thời gian chừng ăn xong bửa cơm đã thấy gần hai mươi con bò lại.

Lão già thấy tình thế nguy cấp toan bỏ chạy, không ngờ bị hai con rắn nhỏ bất thình lình nhảy chồm lên cắn vào mặt.

Lão giận quá quát lên một tiếng:

- Gớm thật! Rồi vung quạt lông đánh mạnh ra. hai con rắn nhỏ bị đánh rớt xuống, đột nhiên lão lại thấy một vật nhũn ở gót chân. Lão biết là nguy rồi, liền nhảy vọt lên cao. Bỗng nghe mấy tiếng sáo lanh lảnh, bốn con trăn đồng thời tung khẩu đuôi lên quấn đuôi vào người lão.

Lão già còn đang lơ lửng trên không phóng hai chưởng ra đánh "binh binh."

Lập tức hai con trăn ở trước mặt và bên tả bị hất ra, chúng loạng choạng rồi bắn ra hai trượng.

Giữa lúc ấy hai con trăn lớn khác lại tung khấu đuôi đánh tới.

Trong lúc nguy cấp lão vận kinh lực đoạn đánh ra một chưởng. Chưởng phong cực kỳ mãnh liệt đánh đập nát đầu con trăn. Lúc này lão mãi vận kình lực để chống cự với những con trăn lớn, miệng không huýt sáo được.

Bốn vị Hồ Tăng nhân lúc rãnh tay đều lấy ống sáo ngắn ra thổi lên.

Lúc năm ống sáo cùng lên tiếng thì đàn rắn độc ào ào kéo đến như nước thủy triều. Tuy lão già đã đánh chết được ba bốn con trăn lớn. Nhưng sau lưng cùng trên đùi lại bị hai con khác quấn chặt.

Lão già hết sức bình sinh quát lên một tiếng khiến cho con trăn trên lưng lão bị đứt làm hai đoạn. Máu tươi đã chảy đỏ lòm khắp mình mẩy.

Giống trăn thực là dai sức, tuy nó bị đứt rồi mà không chết ngay. Nó nhịn đau vặn thật mạnh khiến cho xương cốt lão cơ hồ muốn gãy.

Lão già hết sức kháng cự thì lại có hai con trăn lớn khác nhảy lại quấn lấy lão, đồng thời quấn cả hai tay, khiến cho lão không còn cách nào kháng cự được.

Du Thản Chi ở trong đám cỏ rậm ngó thấy tình cảnh kinh hồn động phách này, cũng sợ tán hồn, dường như nghẹt thở.

Bọn Hồ Tăng thấy mọi người bên địch bị rắn trăn cuốn chặt chỉ còn tiếng rên rĩ nhiếc mắng mà không còn kháng cự được, nên hô không thổi sáo nữa. Bọn họ lại cất đầu lên hạ chân xuống đứng dậy.

Lão Hồ tăng thổi sáo trước tiên, đầy mặt râu quặp, rõ ràng là thủ lĩnh bọn họ, lão tiến lại mấy bước dỏng dạc hỏi:

- Tinh Tú Lão Quái! Bọn ngươi và bọn ta đều đến Trung Nguyên, hai bên không can thiệp gì đến nhau, sao ngươi lại bắt con rắn lớn của ta nuôi đem mổ bụng?

Nguyên lão già mặt mũi hồng hào đầu tóc bạc phơ phảng phất như tiên ông kia chính là Tinh Tú Lão Quái tên gọi Ðinh Xuân Thu mà các nhân sĩ trong võ lâm ở Trung Nguyên đều biết tiếng và ghét cay ghét đắng vì môn phái lão chuyên về tà thuật.

Nhân vì chiếc Bích Ngọc Vương Ðỉnh một trong ba vật lớn của phái Tinh Tú, bị nữ đệ tử là A Tử ăn cắp đem đi mất. Ðinh Xuân thu đã phái bọn đệ tử chu du lùng bắt. Thậm chí cả đại đệ tử phái này là Trích Tinh Tử cũng ra đi tầm nã, song lần nào cũng đưa tin về toàn những điều bất lợi cho bản phái mà vẫn chưa lấy lại được Ðỉnh Ngọc.

Sau cùng nghe tin A Tử nương tựa vào thế lực bang chúa Cái Bang là Kiều Phong che chở cho. Trích Tinh Tử bị đánh đập thảm thương thập tử nhất sinh.

Tinh Tú Lão Quái Ðinh Xuân Thu được tin này vừa kinh hải vừa căm hận. Lão biết Cái Bang là một Bang lớn nhất trong các phái võ Trung Nguyê, khó mà đối chọi được nên lão phải thân hành Ðông du một chuyến. Chuyến đi này của lão mục đích thứ nhất là giật lại chiếc Bích Ngọc Vương Ðỉnh. Còn việc tìm Kiều Phong để trả hận và bắt A Tử trị tội thì lão chỉ liệt vào hạng quan hệ tầm thường.

Dọc đường, lão muốn yên phận giữ mình, không có ý gây sự với ai.

Việc luyện "Hoá công đại pháp" của phái này là thời thượng phải kiếm chất độc ở các giống rắn rết tẩm lòng bàn tay cho thấm vào cơ thể. chỉ trong vòng bảy ngày mà không có chất độc mới tẩm vào thì chẳng nhhững công lực bị giảm sút mà những chất độc tích trữ mấy chục năm trời, không được chất độc mới thấm vào khắc chế bớt đi, lại bắt đầu bộc phát dần dần sinh ra tai họa ghê gớm không biết đâu mà lường.

Năm nay một vị trưởng lão trong bản phái đã luyện xong Hóa công đại pháp rồi phạm tội bị sư phụ bắt không cần hành tội chỉ đem giam vào nhà thạch thất, khiến cho trưởng lão đó không có cách nào bắt được trùng độc để tiếp tục lấy nọc độc mới tẩm vào mình. Kết quả lão này bị chất độc trong mình lên cơn cực kỳ khổ sở vì da thịt trong toàn thân bị nát nhừ.

Lão không thể nào chịu lâu được, rên rĩ kêu gào hơn bốn mươi ngày mới chết.

Tinh Tú Lão Quái tuy đã là một tay độc ác vô cùng nhưng nghĩ tới thảm cảnh này không khỏi phát ớn và hổ thẹn.

Bích Ngọc Vương Ðỉnh có tính chất thiên nhiên tiết ra một luồng hơi đặc biệt, mỗi khi đốt hương liệu lên thì chỉ trong khoảnh khắc là dẫn dư rắn rết độc bò về. Trong phạm vi mười dặm, không còn thứ trùng độc nào đã ngửi thấy mùi hương mà chống lại nổi, không tìm đến.

Ðinh Xuân Thu có chiếc Ðỉnh Ngọc trong tay nên việc bắt trùng độc không tốn một chút hơi sức nào mà phép Hóa công đại pháp càng luyện càng thâm.

Luyện phép "Hóa công đại pháp" khác gì người tập uống rượu. Ðã uống được rồi thì mỗi ngày uống nhiều thêm không thể nào bớt đi được.

Chất độc tong người càng ngày càng đầy dẩy có đụng độ với kẻ địch bên ngoài, chất độc trong mình mới bài tiết ra được chút ít vào người bên địch. Nhưng phái Tinh Tú ở vào một khu đảo hẻo lánh bờ biển tinh Tú. Trong phạm vi mấy dặm bất luận người phái võ nào cũng không dám bén mảng đến để cho người phái Tinh Tú có chỗ tiết độc.Cứ trong bảy ngày lại phải một lần bôi chất độc mới vào. Chất độc chỉ có phần mỗi ngày một tăng gia chứ không bao giờ giảm sút. Hết ngày này sang ngày khác năm này qua năm khác, thì chất độc chứa chất trong cgười phải đấn mức độ nghê hồn.

A Tử mưu mô ghê gớm. một hôm nàng chờ sư phụ bắt trùng độc xong rồi, liền từ giã đi Ðông du.

Ðến lúc Tinh Tú Lão Quái phát giác ra nàng ăn cắp chiếc đỉnh ngọc mang theo thì đã qua bảy ngày và A Tử đã trốn đi xa rồi. Nàng theo những con đường nhỏ hẹp mà đi, nên biệc truy nã rất khó. Bọn sư huynh nàng tuy võ công hơn nàng, nhưng mưu cơ đều kém xa nàng. Nàng dùng cách hư trương thanh thế dương Ðông kích Tây (nhắm bên đông mà đánh bên tây) liên tiếp bày ra bao nhiêu ngụy kế để trốn tránh.

Tinh Tú Lão Quái ở vào khu đất ẩm thấp trong hang núi tối tăm rất có nhiều rắn độc và trùng độc. Tuy lão mất đỉnh ngọc, nhưng việc bắt trùng độc rắn độc để tiếp tục luyện công cũng không khó khăn gì. Có điều sẵn đỉnh ngọc trong mình thì việc bắt rắn dễ hơn và mỗi lần bắt được những thứ trùng độc ghê gớm hơn, hiếm có hơn, kỳ dị hơn. Bây giờ thì bắt được thứ nào dùng thứ ấy không được như ý mình.

Lại còn một điều nữa khiến cho lão quan tâm hơn là lỡ ra bọn cao thủ Trung Nguyên khám phá ra lai lịch chiếc đỉnh ngọc thì bất luận là ai họ cũng đập tan đỉnh ngọc tức khắc. vì thế ngày nào chưa lấy đỉnh nhọc về là lão chưa yên tâm ngày ấy. Thực ra lão chẳng muốn xuống Trung Nguyên chút nào song biết bao nhiêu đệ tử đi tìm mà vẫn không được việc. Cân nhắc đường lợi hại lão đành mạo hiểm một phen.

Ðinh Xuân Thu đi đến giới tỉnh Thiểm Tây thì gặp bọn đồ đệ trong môn phái. Ðại đệ tử là Trích Tinh Tử bị mất hết võ công và đã bị bọn sư đệ đánh đập nhừ tử rồi ngược đãi đến nổi không còn hình người nữa. Nhị đệ tử là gã mũi sư tử chiếm chức vị đại sư huynh.

Bọn đệ tử thấy sư phụ thân hành ra đi thì vừa kinh ngạc vừa sợ hãi. Bọn chúng đều nghĩ rằng vì không hoàn thành được sứ mệnh của sư phụ giao phó và sẽ bị một phen trách phạt cực kỳ thảm khốc khó lòng chịu nổi.

May mà Tinh Tú Lão Quái đang gặp lúc cần người, tạm gác chuyện trách phạt lại, cho chúng đối tội lập công.

Mọi người lên đường nghe ngóng tin tức Cái Bang. Một là bọn chúng bộ dạng kỳ dị cách nói năng và hành động lại càng làm cho người ta ghê tởm chán ghét, không ai muốn nói rõ biết. Hai là Kiều Phong đã sang nước Liêu làm đến Nam Viện Ðại Vương trong võ lâm ít người biết đến, nên khó lòng dò được tin xác thực. Ngay đến việc tổng đà Cái Bang dời đi đâu chúng cũng không điều tra được.

Ðinh Xuân Thu trong lòng nóng nảy, nghĩ thầm:

- Phái Thiếu Lâm được các phái võ Trung Nguyên rất trọng vọng. Bất luận một cử động nào trong võ lâm Trung Nguyên đều không thể qua mắt các vị cao tăng chùa Thiếu lâm được. Chi bằng mình đến chùa Thiếu lâm không gây thù oán với phái này, mình không đến đấy để họ dọ thám mà xin vào ra mắt đàng hoàng để hỏi thăm tin tức thì hẳn Huyền Từ phương trượng chùa Thiếu Lâm cũng nể mặt mình đôi chút.

Nghĩ vậy lão dẫn bọn đệ tử đi về phía núi Thiết Thất Tỉnh Hà Nam. Trong khi đi đường đoàn người này đã thấy chất độc trong mình rục rịch lên cơn. Họ liền bắt rắn độc để lấy nọc bôi vào.

Tinh Tú Lão Quái Ðinh Xuân Thu dẫn đoàn đệ tử vào địa giới tỉnh Hà Nam.

Một hôm đang đi đường, đột nhiên thấy hằng hà sa số rắn độc bò ra, lão mừng quá, lập tức sai đồ đệ bắt thật nhiều để lấy nọc độc đổ gan bàn tay. Việc này rất bổ ích và rất cần thiết cho phép "Hóa công đại pháp" của lão.

Tuy lão biết rằng rắn độc kéo thành đoàn thế này là một điều kỳ lạ không phải tầm thường, nhưng lão đã là người tài nghệ cao siêu lại gan dạ hơn đời. Lão làm một vị chưởng môn trên bờ biển Tinh Tú chẳng khác gì ông vua con. Quyền sinh sát trong tay tha hồ mà làm mưa làm gió, nên lão chẳng thèm quan tâm điều gì. Dè đâu đàn rắn này lại có chủ.

Nguyên phái Hồ Tăng bên nước Thiên Trúc sai Ba La Tinh đến chùa Thiếu Lâm để lấy trộm kinh sách, lâu ngày không thấy tin tức gì nên cho mười sáu nhà sư đến tiếp ứng.

Kể ra thì những vị Hồ Tăng Thiên Trúc này võ công chẳng cao cường gì lắm, nhưng họ có một tuyệt kỳ bí mật là dùng tiếng sáo để sai khiến rắn rết.

Bọn Hồ Tăng từ nước Thiên Trúc trèo đèo lội suối, vừa đi vừa thổi sáo dẫn dắt rắn độc xuống Trung Nguyên. Ðường sá xa xôi diệu vợi, hãy tính trong mười dặm mới có một con rắn độc theo ra cũng đã nhiều lắm rồi. Ðương nhiên là dọc đường chẳng may cũng có một số lớn không chịu nổi đường xa hoặc khơng chống lại được thủy thổ nóng lạnh từng nơi, đã chết đến quá nửa. Thế mà khi tới địa giới tỉnh Hà Nam hãy còn lại một con số ghê người, nhất là mấy chục con trăn lớn dài đến mấy trượng. Những con số này đã từ mấy khu rừng rậm bên nước Thiên Trúc dẫn đến thật là giống vật hiếm thấy ở Trung Nguyên.

Bọn Hồ Tăng này tự biết rằng nếu trông cậy vào nhân số cùng võ công thì quyết không tài nào địch nổi bọn tăng sĩ chùa Thiếu lâm vừa mạnh vừa đông. Huống chi phái Thiếu Lâm lại là lãnh tựu phái võï Trung Nguyên, chẳng chống thì chầy, những tay hào kiệt các phái sẽ kéo đến viện trợ. Nếu tranh đấu đường hoàng thì nhất định sẽ bị đại bại. Nhưng đột nhiên đuổi hàng vạn con rắn độc ồ ạt kéo vào chùa Thiếu Lâm đánh một cách chớp nhoáng khiến họ trở tay không kịp thì tuy chẳng đánh đổ được môn phái này, nhưng việc cứu Ba La Tinh và cướp ít kinh sách đem về cũng không thể làm được.

Bọn Hồ Tăng ngày nghĩ đêm đi để dân cư dọc đường khỏi kinh hãi khi thấy rắn rết. Vào đến địa giới tỉnh Hà Nam chưa bao lâu thì phát giác ra rằng có nhiều rắn độc bị giết.

Sau cuộc điều tra cặn kẽ, bọn Hồ Tăng biết là Tinh Tú Lão Quái đã hạ thủ giết rắn của mình.

Tinh Tú Hải cũng cách Thiên Trúc không xa mấy oai danh cũng hành vi độc ác của Tinh Tú Lão Quái, bọn nhân sĩ võ lâm nước Thiên Trúc đều biết tiếng.

Bọn Hồ Tăng bản tâm không muốn sinh sự với bọn Tinh Tú làm gì. Nhưng Lão Quái càng ngày càng tệ hại, chuyên tìm những con rắn kịch độc để giết khiến cho uy lực của đàn rắn giảm đi rất nhiều. Bọn Hồ Tăng không nhẫn nại được nữa, rồi hai bên đi đến chỗ căm thù nhau gây nên một trường kịch đấu.

Bọn Hồ Tăng dĩ nhiên trông cậy vào đàn rắn độc để thủ thắng Tinh Tú Lão Quái Ðinh Xuân Thu tiếng tăm lừng lẫy bị trăn quấn chặt không nhúc nhích được.

Bọn Hồ Tăng hỏi Ðinh Xuân Thu vì lẽ gì giết rắn thì lão trả lời:

- Rắn độc chuyên hại người và súc vật, bất luận là ai trông thấy cũng có quyền tiêu diệt. Ta biết đâu được là những rắn đó của các ngươi nuôi dưỡng.

Một nhà sư Thiên Trúc nói:

- Bần tăng đã từng đưa thư đến xin các hạ đừng giết những con rắn gia súc này của bần tăng nữa, thế mà các hạ không đếm xỉa đến là nghĩa làm sao?

Ðinh Xuân Thu nói:

- Ðinh mỗ từ thuở nhỏ đến giờ chỉ có hỏi vặn người thì được chứ chưa từng thấy ai dám chất vấn người bao giờ. Ngay chính sư phụ ta ngày nọ buông lời trách mắng ta, ta cũng hạ thủ giết ngay. Bọn ngươi là mấy tên thầy chùa thối tha từ nước ngoài đến đây mà dám giở lý với ta.

Nhà sư Thiên Trúc thấy con trăn to quấn chặt khiến cho Tinh Tú Lão Quái không còn sức kháng cự mà lão nói năng vẫn giữ thói ngạo mạn thì biết rằng phen nầy kết oán đã sâu. Nếu còn tha mạng là để một mối đại họa vô cùng trọng đại, liền tìm lời mạt sát:

- Ðai danh Tinh Tú Lão Quái khét tiếng gầm trời ai ngờ chỉ có danh hão mà thôi, không đối phó nổi với vài con rắn nhỏ xíu.

Ðinh Xuân Thu tủm tỉm cười nói:

- Vì lão phu sơ ý một chút mà bị khốn vào tay mấy đứa súc sinh. Nếu bữa nay ta có hồn về chín suối cũng chẳng qua là số mệnh mà thôi.

Lão chưa dứt lời, thốt nhiên một tên đồ đệ phái Tinh Tú cũng bị trăn quấn kêu lên:

- Ðại sư phụ ơi! Nếu đại sư phụ buông tha tiểu nhân ra thì có nhiều điều rât bổ ích cho đại sư phụ:

Tiểu nhân rất nhiều ngụy kế đại sư phụ dù đề phòng đến đâu cũng không siết được. Ðại sư phụ chỉ sơ tâm một chút là mắc vào cạm bẫy ngay lập tức.

Nhà sư Thiên Trúc lạnh lùng hỏi:

- Tha mi ra thì được lời gì? Gã kia đáp:

- Phái Tinh Tú có ba báu vật gọi là Tinh Tú tam bảo. Tiểu nhân sẽ lấy ra dâng cho đại sư phụ. Nếu đại sư phụ đem tiểu nhân cùng tất cả bạn đồng môn đây giết hết vĩnh viễn không bao giờ đại sư phụ lấy được Tinh Tú bảo nữa.

Du Thản Chi núp trong đám có rậm ngoảnh đầu nhìn ra thì thấy người nói câu vừa rồi là một Ðại Hán thân hính cao lớn tuy hắn con trăn to lớn quấn chặt ma thân hình vẫn tráng kiện, khí vũ vẫn hiên ngang. Gì không ngờ con người như vậy lại hèn mạt đến thế chỉ vì ham sống sợ chết mà muối mặt đi bán đứng sư phụ bao giờ?

Lại một tê đệ tử khác la lên:

- Ðại sư phụ! Ðại sư phụ! Trong tam bảo thì một vật đã bị người lấy cắp đi mất rồi. Ðại sư phụbuông tha tiểu nhân ra hay hơn và chỉ có mình tiểu nhân là kẻhết dạ trung thành với đại sư phụ. Tiểu nhân quyết không lừa dối.

Một lát sau bọn đệ tử phái Tinh Túthi nhau kêu lên.

Có kẻ nói:

- Ðại sư phụ! Ðại sư phụ tha mạng cho tiểu nhân là hay hơn hết, bọn chúng không hết lòng trung thành với đại sư phụ đâu. Chỉ mình tiểu nhân là đến chết cũng không thay đổi lòng dạ quyết vì đại sư phụ ra sức.

Có kẻ nói:

- Tiểu nhân biết rất nhiều tuyệt kỹ bí truyền của phái Tinh Tú sẽ nói cho đại sư phụ biết, không dấu một tí gì.

Co kẻ nói:

- Người bản phái đến Trung Nguyên là có cuộc mưu đồ lớn lao và liên quan không ít đến nước Thiên Trúc. Các đại sư phụ có muốn biết không?

Có kẻ nói:

- Trên bờ biển Tinh Tú có chôn dấu rất nhiều vàng bạc châu báu tiểu nhân biết hết mọi chổ.

Bọn này vì cầu may để tránh cái chết mà nịnh hót đủ điều. Kẻ thì đem lọi nhử mồi, kẻ thì lay chuyển tính hiếu kỳ của đối phương. Có kẻ lại công nhiên nói nhũng chuyện hoang đường.

Mấy tên đệ tử bị rắn độc cắn bị thương, hoặc trăn quấn chặt chỉ còn hơi thở phập phù. Gã nào cũng chỉ sợ mình bị bỏ rơi, nên liên tiếp tranh nhau năn nỉ van lơn.

Bọn nhà sư nước Thiên Trúc, không ngờ những đệ tử phái Tinh Tú lại khốn nạn đến thế được nên đem lòng khinh bỉ. Có lão động tính hiếu kỳ lại gần để nghe ngóng.

Lão Hồ tăng trưởng toán lạnh lùng hỏi:

- Bọn mi đối với sư phụ chẳng còn hết dạ trung thành, thì nói chi đến chuyện trung thành với người chưa quen biết nữa? các ngươi nói vậy chỉ tổ làm trò cười cho bọn ta mà thôi.

Tên đệ tử phái Tinh Tú nói:

- Không phải thế! Tinh Tú Lão Quái võ công kém cỏi. Tiểu nhân theo lão chẳng ăn thua gì, vậy giữ lòng với lão cũng vô ích. Còn đại sư phụ võ công lùng lẫy khắp thiên hạ, đâo đức văn chương cũng khiến cho ai nấy đều phải kính ngưỡng. Tinh Tú Lão Quái bì với đại sư phụ thế nào được?

Một tên nói:

- Phải rồi! đại sư phụ mà thu dụng bọn đệ tử phái Tinh Tú là khiến cho các phái võ Tây Vực cũng như ở Trung Nguyên đều chấn động. Họ sẽ khâm phục các vị cao tăng nước Thiên Trúc không biết đến đâu mà nói.

Một tên nói:

- Cao tăng thôi ư? Sao người còn gọi cao tăng? Hai chữ "cao tăng" không đủ để ca tụng các vị đại sư phụ đây, mà phải kêu bằng "Thánh tăng", "Thân tăng" mới đúng! Giảtỉ tiểu nhân là người đi chu du liệt quốc thì sẽ hết sức tuyên dương đức oai của đại sư phụ để danh vọng của các vị "Thánh tăng" nước Thiên Trúc khét tiếng khắp thiên hạ.

Một tên nói:

- Chà! Tiếng tăm cácvị "Thánh tăng" nước Tây Trúc đã lẩy lừng khắp thiên hạ ai là không biết? Hà tất phải đến ngươi đi khua chuông gõ trống.Một tên nói:

- Ðại sư phụ! Ðại sư phụ là"Thánh tăng "là" Phật sống"tiểu nhân lả kẻ tuyên bố trước tiên. Còn những gã kia chỉ biết bắt chước chứ ăn thua gì?

Nhà sư trưởng toán chau đôi mày nói:

- Bọn mi toàn là hạng hèn hạ, tiểu nhân, ton hót lắm làm cho người ta rác hại.

Rồi quay sang hỏi Ðinh Xuân Thu:

- Tinh Tú Lão Quái! Tư cách bọn này đê hèn đến thế sao mà ngươi cũng thu dụng được? Thật toàn đồ vô liêm sỉ thì chúng còn làm nên trò trống gì? Thôi ta hóa kiếp cho ngươi trước rồi cho bọn chúng đi theo luôn. Hỡi ơi! Bần tăng lại phạm sát giới rồi đây!

Nói xong phất tay áo một cái phóng chưởng lực ra đánh Ðinh Xuân Thu.

Nhà sư thấy Ðinh Xuân Thu đang phải gắng gượng chống với rắn quấn vào mình chân tay không cử động được thì chưởng thế mãnh liệt của mình chẳng đánh chết cũng làm cho lão bị thương.

Ngờ đâu lúc chưởng lực đánh ra. Ðinh Xuân Thu vẫn thản nhiên như không, mà hai chân nhà sư này lại nhũn ra, ngã lăn xuống đất co rúm lại thành một đống lù lù, lăn lộn mấy cái rồi không nhúc nhích được nữa.

Bọn Hồ tăng cả kinh kêu gọi:

- Sư huynh! Sư huynh!

Hai lão giơ tay ra nâng dậy, nhưng vừa sờ vào mình nhà sư kia thì mặt mũi tối tăm, không đứng vững, cũng té xuống luôn.

Ba nhà sư khác đứng bên vội đưa tay ra nâng dậy. Nhưng vừa chạm vào áo cà sa thì cả ba người lại lăn ra. Mới trong chốc lát đã có sáu nhà sư té xỉu.

Các Hồ tăng khác thấy tình thế bất lợi đều hồn vía lên mây đứng thộn mặt ra, không dám thò tay nâng đỡ nữa, sợ cũng bị ngã như đồng bọn.

Một nhà sư nổi giận quát lên:

- Tinh Tú Lão Quái kia! Ngươi lộng hành tà phát, hãy nếm chưởng lực của ta đây!

Nói xong đánh ra một chưởng.

Ðinh Xuân Thu cười ha hả, dường như chưởng lực chạm vào người lão lại bật trở ra, khiến nhà sư này há hốc miệng ra rồi lập tức ngã lăn đùng.

Còn chín Hồ tăng nữa cũng bị tiếng quát của Ðinh Xuân Thu làm chấn động. Bọn này dùng tiếng Thiên Trúc lí lố bàn với nhau một hồi rồi đồng thanh quát lên một tiếng thật to phất tay áo một cái. Chín ngọn phi đao đồng thời phát ra ánh sáng xanh lè nhằm Ðinh Xuân Thu phóng tới.

Ðinh Xuân Thu lại quát một tiếng thật to, lắc đầu ba cái, tóc bạc phất phơ bay ra, tựa những cây nhuyễn tiên ngắn chạm vào phi đào kêu lên leng keng mấy tiếng. Chín ngọn phi đao đều bị đánh rớt xuống. Chín vị Hồ tăng chân tay co quắp không kịp kêu lên một tiếng lăn ra chết liền.

Du Thản Chi nấp trong đám cỏ rậm, mũi ngửi thấy một luồng hơi tanh tưởi vô cùng xông vào mặt đau quá, nước mắt giàn giụa.

Bốn bề trở lại yên tĩnh.

Mười sáu vị Hồ tăng đều co rúm lại trông chẳng khác gì những trái bóng tròn và rõ ràng chết hết cả.

Gã hoảng hồn không biết Ðinh Xuân Thu dừng thứ võ công gì mà chỉ một cử động đã đánh chết được hết địch.

Những con trăn lớn cùng rắn độc sau khi quấn chặt mọi người phái Tinh Tú rồi không nghe thấy các nhà sư thổi sáo thôi thúc nên chưa cắn chết người.

Mười sáu nhà sư Tây Vực lăn ra chết rồi, những con trăn không biết báo thù cho chủ, chúng chỉ quấn chặt thầy trò Ðinh Xuân Thu, chờ lệnh một lúc.

Một lúc lâu không thấy có tiếng động song những con rắn này là vật vô tri vô giác, vẫn giữ nguyên trạng thái chờ đợi.

Qua một thời gian khá lâu, rắn không công kích người, mà người bị rắn quấn chặt cũng không dám nhúc nhích, sợ chúng nổi hung lên cắn cho thì mất mạng.

Yên lặng hồi lâu, bọn đệ tử Tinh Tú thấy các nhà sư Thiên Trúc chắc chắn chết cả rồi đã hết nỗi lo về bọn này.

Một tên cất tiếng nói trước:

- Sư phụ ôi! Thần công sư phụ đã đến mức thiên hạ vô địch. Giữa lúc cười nói chỉ giơ tay một cái mà mười sáu tên thầy chùa độc ác man rợ đều bị giết sạch...

Tên này chưa dứt lời tên khác đã nóingay:

- Sư phụ! Sư phụ đừng nghe giọng lưỡi thối tha của hắn. Chính hắn vừa ca tụng bọn sư mô rợ Hồ nào "Thánh tăng" nào "thần tăng" nào "Phật sống."

Lại một tên đệ tử khác nói:

- Bọn đệ tử theo đòi sư phụ đã bấy nhiêu năm, còn lạ gì tài năng nghiêng trời lệch đất của sư phụ. Vừa rồi mấy tên thầy chùa man rợ Hồ nói nhăng nói cuội, toàn những lời bịp bợm.

Bỗng có tiếng khóc rống lên:

- Sư phụ hỡi! Sư phụ ơi! đệ tử thật là ngu ngốc:

Chỉ vì tham sống sợ chết mà đầu hàng kẻ thù. Bây giờ hối cũng chẳng kịp nữa. Ðệ tử đành chịu để rắn độc cắn chết, không dám xin sư phụ tha mạng nữa!

Gã này chỉ nói mấy câu đó, bọn đệ tử lập tức tỉnh ngộ .

Tinh Tú Lão Quái rất ghét những kẻ nào lẻo mép mồm miệng, để che lấp tội lỗi:

Chỉ những kẻ tự thố trách mình lầm lỡ đánh chết, đem hết bao nhiêu tội lỗi đổ lên đầu mình thì họa may sư phụ nhhiêu dung cho chăng.

Nghĩ vậy chúng lại tranh nhau kể tội bất lương của mình. Dù phải phân thây muôn đoạn cũng không oán hối; khiến cho Du Thản Chi nằm trong đám cõ cũng phải nhức đầu chói tai.

Bọn đệ tử lãi nhãi, thủy chung Ðinh Xuân Thu vẫn không đếm xỉa đến.

Lão ngấm ngầm vặn kình lực ba lần, định làm cho những con trăn quấn mình phải đứt tung.

Ðinh Xuân Thu vận hết nội lực phóng r a mà chúng chỉ duỗi mình đi một chút chứ không sao cả. Lão biết rằng muốn thoát tai ách này thật khó vô cùng.

Người lão bị con trăn lớn quấn chặt. Những con trăn này trong rừng rậm khí hậu viêm nhiệt nước Tây Trúc. Mình nó cứng rắn vô cùng, thứ gì đập cũng phải bật trở lại.

Ðinh Xuân Thu trãi qua mấy chục năm tu luyện, chất độc trong người lão không biết đâu mà kể. Vì thế mà lão Hồ tăng trưởng toán, vừa phóng chưởng đánh lão đã thúc đẩy chất độc ra ngoài da. Chưởng đối phương đánh tới, lão vận động thần công đem chất độc phóng theo chưởng lực đối phương,

Bọn Hồ tăng sỡ dĩ chết ngay lập tức là do chất đọc truyền nhiễm vào người chứ không phải do tà thuật gì hết.

Da trăn đã dày cứng lại trơn tuột, chất độc trong mình Ðinh Xuân Thu khhông thể thấm vào cơ thể chúng được, lão đành chịu thua.

Lão đang bực mình chưa thoát khỏi mấy con trăn. Bên tai nghe những lời khả ố của bọn đệ tử gã liền nói móc:

- Chúng ta bị rắn độc làm cho khốn đốn. Ai nghĩ ra cách lừa bịp được đàn rắn thì ta sẽ tha mạng cho. Các ngươi còn lạ gì tính khí ta nữa? Kẻ nào được việc cho ta, ta mới không giết. Còn các ngươi chỉ trẻm mép tìm lời xảo trá nói nhăng nói cuội phỏng có ích gì!

Lão vừa dứt lời, bọn đệ tử lâp tức câm mồm.

Hồi lâu mới có một tên lên tiếng:

- Bây giờ chỉ còn cách dùng lửa nóng đốt mình những con trăn lớn này lập tức chúng phải bỏ chạy.

Ðinh Xuân Thu mắng:

- Mẹ kiếp! Thằng này nói thúi lắm! Chỗ này là nơi hoang dã tịch mịch làm gì có thôn trang có nhà ở, làm gì có ai đi lại? Dù có người phải đi qua quãng đường này, nhưng họ thấy nhiều rắn độc thế này tất nhiên hốt hoảng chạy trốn, lấy đâu ra lửa để đốt rắn?

Sau đó những tên đệ tử khác lại đua nhau đứ ra ý kiến, song đều không thể thực hiện được. Bọn này sỡ dĩ nhao lên, chẳng qua tất để lal61y lòng sư phụ ra chuyện ta đây thực lòng thực dạ với thầy, và cố gắng bày mưu tính kế.

Lại một giờ trôi qua, một tên đệ tử bị rắn xiết chặt quá nghẹt thở. Trong lúc mê man, gã thò miệng cắn con trăn một miếng. Trăn bị đau quay lại cắn vào cổ gã, gã chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi chết ngay tức khắc.

Ðinh Xuân Thu trong lòng nóng nảy vô cùng, giả tỉ lão bị địch thân vây hãm khốn đốn thì chỉ trong vài giờ là lão nghĩ được mưu kế xảo nguyệt để lừa bịp đối phương đặng thoát thân, nhưng đối với đàn rắn vô tri vô thức này thì dù có mưu kế tuyệt diệu đến đâu cũng chẳng thua gì. Lão sợ những con trăn đến lúc đói quá sẽ đớp thịt mình mà nuốt.

Ðiều lão lo âu quả nhiên xuất hiện một con trăn lớn đã lâu không nghe thấy tiếng sáo, bụng đói như bào, nó hà miệng to tướng hớp vào người tên đệ tử mà nó đang quấn chặt.

Gã này la hoảng:

- Sư phụ cứu đệ tử với! Sư phụ cứu đệ tử với!

Vừa dứt lời thì cặp giò gã đã bị con trăn nuốt vào miêng rồi. Tấm thân gã không còn tự chủ được nữa, rồi từng khúc một bị nuốt vào bụng trăn. Miệng gã hét cho đến phút cuối cùng.

Hàm răng giống rắn trăn đều bình móc câu. Bất luận giống động vật nào bị nó cắn cũng chỉ dần dần đẩy vào bụng chứ không thể nào thoát ra được. Gã đệ tử phái Tinh Tú bị trăn ngoạm chân nuốt vào bụng rồi dần dần nó nuốt đến lưng, đến ngực. Lúc hắn chưa chết, hắn lớn tiếng kêu rú lên cực kỳ thãm thiết, làm chất động cả một vùng bao la bát ngàn.

Một tên đệ tử thấy Tinh Tú Lão Quái cũng đành chịu bó tay, bất giác lửa giận bốc lên ngùn ngụt, mở miệng thống mạ sư phụ, đổ cho lão làm liên lụy mình. Vì trước kia, hắn đang chăn cừu ở bờ biển Tinh Tú làm kế sinh nhai thị bị lão kiếm lời đường mật, dụ gã vào làm môn hạ phái Tinh Tú. Bữa nay hắn bị chết thảm dưới miệng rắn độc, hắn quyết định chết xuống âm ty sẽ làm cáo trạng kiện thầy trước Diêm Vương.

Một tên bắt đầu mở miệng chửi, những tên kia lập tức không chịu kém nhao nhao cả lên thhống mạ sư phụ theo.

Bọn đồ đệ ngày thường bị Tinh Tú Lão Quái độc ác ngược đãi cực kỳ tàn nhẫn, ai nấy đều căm hận trong lòng mà không dám nói ra miệng. Bữa nay thầy trò đều chết đến nơi chúng đều thóa mạ cho sướng miệng để hả tấm lòng căm tức bấy lâu nay.

Hai tên đệ tử vì lớn tiếng thoáng mạ, mình hắn cử động mạnh khiến cho con trăn đang quấn hắn một miếng.

Hắn lớn tiếng kêu la:

- Úi chao ôi! ai cứu tôi với! Ai cứu tôi với!

Du Thản Chi nghe tiếng kêu cứu, không nhẫn nại được nữa, đang nằm trong bụi cỏ, đứng phắt dậy nói:

- Ta đi phóng hỏa đốt rắn để cứu các ngươi đây!

Gã ôm cỏ khô chất vào thành đống.

Bọn người phái Tinh Tú bất thình lình thấy gã bịt mặt xuất hiện hình thù cổ quái, đều sợ hãi giật nẩy mình lên. Nhưng nghe hắn nói tự nguyện phóng hỏa đốt rắn cứu mình thì khác nào đã xuống đến quỷ môn quan còn được nhìn thấy đường về, liền nhao nhao lên thi nhau ngỏ lời cảm tạ.

Bọn người này có bản lĩnh cao siêu về thóa mạ người, thì tài tán tụng nịnh hót cũng phi thường.

Suốt đời Du Thản Chi chưa từng được ai kêu mình nào là "Ðại anh hùng" "Ðại hào kiệt" nào là "Nhân Nghĩa sỉ" naò là "Hảo hán nhất đời" chẳng thiếu chi danh từ cao đẹp.

Ðại phàm con người ai nghe người tán tụng mình mà không nức lòng hả dạ.

Du Thản Chi thấy bọn này nâng mình lên mây xanh thì trong lòng cũng cảm thấy khoan khoái vô cùng, nếu hắn chẳng quản gì mạo hiểm, cố chi cứu mạng cho chúng.

Gã lấy đá lửa bên mình ra, quẹt lửa lên châm vào đống cỏ khô. Nhưng lúc nhìn thấy những con trăn dữ tợn, nhiều không biết đến đâu mà kể, cũng đâm ra sợ hãi vô cùng. Gã chớ câu chọc ong, ong đốt mình trêu chọc đám rắn nàythì liên lụy ngay đến mình.

Gã suy nghĩ một lát rồi lượm cành cây khô chất đống lên đốt một đống lửa thật to để ngăn trở cho rắn khỏi đến cắn mình trước, rồi mới nhặt một cành cây đang cháy sắn liệng vào con trăn gần nhất, đoạn chạy mau về phía đống lửa ẩn nấp để chờ. hễ thấy rắn bò lại phía mình là lập tức xa chạy cao bay, chẳng thèm làm "đại anh hùng", "đại hiệp sĩ" gì nữa.

Dè đâu giống trăn quả nhiên rất sợ lửa. Lửa mới nóng đến bên mình, lập tức nó buông ngay tên đệ tử phái Tinh Tú ra rồi chui vào đống cỏ rậm.

Du Thản Chi thấy phép hỏa công của mình rất hiệu nghiệm.

Giữa những tiếng hoan hô nhiệt liệt của bọn đệ tử phái Tinh Tú, gã chặt từng cành cây đang cháy liệng vào đống rắn.

Ðàn rắn tới tấp bò cả.

Cả đến những con trăn dài hàng mấy trượng cũng không chịu nổi lửa nóng bỏ chạy ào ào.

Chỉ trong khoảnh khắc, hàng mấy trăm con trăn lớn cùng rắn độc chạy tản đi hết sạch sành sanh, gã lại nghe bọn đệ tử phái Tinh Tú đổi giọng nịnh thầy.

Có kẻ nói:

- Sư phụ mắt thấy xa hàng muôn dặm, thần cơ diệu đoán khôn lường. Quả nhiên phép hỏa công của sư phụ vô cùng linh nghiệm.

Có kẻ nói:

- Sư phụ hồng phúc tày trời, gặp dữ hóa lành. Ðây toàn là trông cậy vào lối chỉ huy của sư phụ mới thoát nạn. Sư phụ thay người phóng hỏa cứu mạng kiến ruồi cho bọn đệ tử chúng tôi.

Bao nhiêu lời tán tụng hoàn toàn hướng về Tinh Tú Lão Quái, còn công lao đốt lửa đuổi rắn của Du Thản Chi thì chẳng ai thèm đếm xỉa đến nửa.

- Bọn mi vừa thóa mạ sư phụ xong, bây giờ lại hết lời tán tụng là nghĩa làm sao?

Du Thản Chi nghe bọn chúng nói vừa ngơ ngác vừa lấy làm lạ rủa thầm:

Gã có biết đâu rằng bọn này sau khi thoát nạn rắn, thì tính mạng chúng lại ở trong tay Tinh Tú Lão Quái. Nếu không nịnh hót cho lão vừa lòng thì lão chỉ giơ tay lên một cái là rồi đời. Còn công cứu mạng Du Thản Chi đến đây là sổ toẹt, chúng coi gã như người đi đường mà thôi.

Ðinh Xuân Thu vẫy tay gọi Du Thản Chi, bảo:

- Thiết đầu tiểu tử! Ngươi lại đây! Tên ngươi là gì?

Du Thản Chi bị người khinh rẽ lấn át quen rồi nên dù thấy đối phương vô lễ cũng không cho là kẻ ngổ ngược.

Gã đáp:

- Tôi là Du Thản Chi.

Nói xong tiến lại mấy bước.

Chương 55: Tầm a tử quái kiệt đưa đường

Ðinh Xuân Thu hỏi:

- Ðám Hồ tăng này chết cả chưa? Ngươi lại sờ mũi chúng xem còn thở không?

Du Thản Chi dạ một tiếng rồi cuối xuống để tay lên mũi một nhà sư thì chỉ thấy lạnh ngắt. Nhà sư này đã chết tự bao giờ. Gã lại xem nhà sư khác thì cũng tắt hơi rồi. Gã nói:

- Họ chết hết cả rồi không còn ai thở nữa.

Gã vừa nói vừa đứng thẳng người lên nhìn vẻ mặt mọi người nhâng nhâng nhao nháo, ra chiều giễu mình. Gã chẳng hiểu ra sao lại nhắc câu vừa nói:

- Họ chết cả rồi không còn thở nữa.

Du Thản Chi thấy bộ mặt nửa ra khinh khỉnh, nửa ra giễu cợt bọn đồ đệ phái Tinh Tú mỗi lúc một tiêu tan để thay dần dần vào những nét mặt kinh dị.

Ðinh Xuân Thu nói:

- Ngươi coi lại lần nữa xem các nhà sư này còn có thể cứu vãn được nữa không?

Du Thản Chi đáp:

- Vâng.

Rồi gã đi xem xét cẩn thận hết cả mười sáu vị Hồ tăng lại một lần nữa. Ðoạn gã lắc đầu nói:

- Bọn họ chết hết rồi không còn thể nào cứu vãn được nữa. Công lực của lão tiên sinh thật là ghê gớm!

Ðinh Xuân Thu cười lạt nói:

- Bản lãnh chống chất độc của ngươi mới là lợi hại.

Du Thản Chi lấy làm kỳ hỏi:

- Lão tiên sinh bảo... tôi có bản lãnh... tôi có bản lãnh... gì để chống lại chất độc?

Ðinh Xuân Thu ngửa mặt lên trời cả cười nói:

- Giỏi! Giỏi! Giỏi lắm! Ta xem da dẻ và thanh âm ngươi nói thì biết ngươi còn nhỏ tuổi lắm. Thế mà đã có bản lãnh đến như vậy. Thật là hậu sinh khả úy!

Du Thản Chi chẳng hiểu ra sao, không biết lão nói vậy là ý gì? Gã có biết đâu rằng mỗi lần gã sờ vào mũi những nhà sư kia là một lần xuống Quỹ Môn Quan. Gã thử xong mười sáu nhà sư người Hồ tức là đã trải qua mười sáu lần nguy hiểm rất lớn có quan hệ đến mạng sống của gã.

Nguyên Tinh Tú Lão Quái tuy được Du Thản Chi cứu cho thoát chết, song lão đứng địa vị tôn sư một phái võ bị trăn quấn mình không có cách nào gở ra cho khỏi chết mà phải nhờ đến một đứa trẻ nít nhỏ tuổi đến cứu cho. Vụ này mà đồn đại ra chốn giang hồ thì còn chi là thể diện. Vì thế mà sau khi thoát nạn, đàn trăn bỏ đi xa rồi lão nghĩ ngay đến cách giết Du Thản Chi để bịt miệng. Những nhà sư Thiên Trúc bị lão phóng chưởng có chất kịch độc, chỉ trong chốc lát đều bỏ mạng. Lão sai Du Thản Chi sờ mũi họ sự đó là có dụng ý cho tay gã nhiễm phải độc mà chết.

Dè đâu Du Thản Chi bản chất âm dương sai lệch đã nhờ phép luyện Dịch Cân Kinh thành ra nội công ghê gớm. gã lại trải qua mấy tháng trời tập luyện không ngớt đồng thời hút cả chất dịch con Băng Tằm là một loại trùng độc nhất thiên ha. Chất độc con Băng Tằm rất dung hợp với thể chất Du Thản Chi. Trong mình gã đã chứa chất độc này thì bất cứ chất độc nào cũng không làmgì được. Dĩ nhiên là chất độc tự phát ra trong mình Ðinh Xuân Thu đã thấm vào đâu mà làm cho gã chết được?

Thật ra gã không cần đốt lửa để đuổi trăn, chỉ đàng hoàng đi vào giữa đàn trăn là bất cứ giống trăn độc đến đâu cũng không gia hại gì được. Trái lại nếu có con rắn độc nào cắn gã, bị huyết dịch của gã thắm vào mình là nó chết ngay tức khắc. Có điều Du Thản Chi không biết như vậy mà Tinh Tú Lão Quái Ðinh Xuân Thu cũng không bao giờ nghĩ đến điều đó.

Ðinh Xuân Thu cùng bọn đệ tử thấy Du Thản Chi sờ mũi các vị Hồ tăng lần đầu đã chắc mẩm rằng gã sẽ co rúm lại mà chết như những nhà sư kia. Ngờ đâu gã mò mẫm hết cả thân thể mười sáu nhà sư vẫn không sao?

Thầy trò phái Tinh Tú thấy vậy không khỏi nao núng.

Ðinh Xuân Thu lẩm bẩm:

- Thằng nhãi này không hiểu bản lãnh chân chính của hắn ra sao? Ðây chắc là trong mình hắn có để sẵn chất kịch độc như Hùng Hoàng Châu, Tịch Tà Bích chẳng hạn, hay là hắn uống thứ thuốc giải độc rất linh nghiệm gì từ trước nên mới chịu đựng nổi chất kì độc của ta nhiễm vào mình.

Nghĩ vậy lão bảo:

- Du huynh đệ! Ngươi lại đây! Ta có chuyện muốn nói.

Du Thản Chi tuy thấy lão nói có vẻ thành khẩn, nhưng chính mắt gã trông thấy liền một lúc giết luôn mười sáu nhà sư một cách tàn nhẫn, lại nghe thấy giữa tình thầy trò với nhau mà bọn đồ đệ ba hồi thống mạ, ba hồi siểm nịnh thì biết rằng: hạng người này rất khó đối phó, chỉ có cách kính nhi viễn chi là hơn.

Nghĩ vậy gã đáp:

- Tiểu nhân có việc gấp không thể trùng trình được. Xin cáo từ lão tiên, tiểu nhân phải đi ngay bây giờ.

Nói xong gã chấp tay vái chào, rồi trông về ngã đường phía Ðông Bắc dông tuốt.

Gã vừa đi được hai bước, đột nhiên thấy bên mình có luồn gió mát lướt qua. Hai cổ tay gã bỗng nhiên bị nắm chặt. Người nắm tay Du Thản Chi lướt tới nhanh quá khiến cho gã chưa kịp phản kháng thì đã bị nắm tay rồi.

Du Thản Chi quay đầu nhìn lại thì thấy người nắm tay mình chính là một tên đệ tử phái Tinh Tú. Tên này người cao lớn đẩy đà. Gã không hiểu chúng có dụng ý gì, nhưng trông mặt hắn cười một cách hung dữ, rõ ràng không phải chuyện tử tế, thì gã không khỏi giật mình la lên:

- Buông tay tôi ra!

Rồi cựa mạnh một cái. Bỗng nghe trên đầu có tiếng gió vù vù, một bóng người to lớn ở phía sau lưng vút qua đầu gã rồi đánh huỵt một tiếng. Bóng người này đã đập vào vách núi trước mặt, đập mạnh đến nỗi xương thịt tan nát, đầu nhão ra như đất bùn.

Du Thản Chi thấy tên đồ đệ này va vào vách núi mãnh liệt quá chừng, gã không tin tưởng mình lóa mắt.

Gã còn đang kinh ngạc, khi định thần nhìn lại thì Ðại Hán đập vào vách núi mà chết chính là tên đệ tử phái Tinh Tú vừa nắm chặt tay mình.

Gã lại càng kinh ngạc hơn nữa, tự hỏi:

- Thằng cha này rõ ràng vừa nắm tay mình sao hắn lại đâm đầu vào núi mà tự tử một cách bất thình lình?

Gã có biết đâu Ðại Hán này không phải đập đầu vào núi tự tử mà chỉ vì ngã cựa mình một cái, luồng kinh lực của gã tung Ðại Hán lên qua đầu rồi hất mạnh vào núi đến nỗi toi mạng.

Ta nên biết rằng Du Thản Chi tập luyện Dịch Cân Kinh rồi, nội lực gã suốt ngày đêm tăng lên rất nhiều mà gã không hay. Hơn nữa gã chưa từng động thủ với ai, nên không biết công lực của mình đã ghê gớm lắm rồi.

Ngày nọ Ba La Tinh, bóp cổ gã cơ hồ nghẹt thở, gã sợ quá chỉ thộn mặt ra, tuyệt không kháng cự. Thật ra nếu gã cố sức cựa quậy là Ba La Tinh không còn cách nào kiềm chế được gã.

Bọn đệ tử phái Tinh Tú thấy Du Thản Chi chỉ nhất tay một cái đã giết chết bọn đồng môn đều cả kinh thất sắc la lên một tiếng:

- Ối chao!

Tinh Tú Lão Quái đã giàu kinh nghiệm, lịch duyệt gian hồ vừa thấy gã hất chết đệ tử mình, đã nhìn thủ pháp của gã và cách cử động này không phải người có võ công thượng thặng mà chỉ có sức mạnh dị thường ở nơi cánh tay. Lão cho đó là thần lực thiên nhiên còn về võ công thì gã vào hạng tầm thường. Lão băng mình đi một cái đưa tay nắm lấy cái đầu sắt Du Thản Chi.

Du Thản Chi bị chụp một cách đột ngột, không kịp đề phòng, sức mạnh lão không kém gì một trọng lượng ngàn cân đè xuống gã ngã quỵ xuống đất. Gã thẳng người lên toan đứng dậy thì trên đỉnh đầu dường như có một trái núi vạn cân đè xuống, gã không cử động được nữa mở miệng van lớn:

- Xin lão tiên sinh tha mạng cho.

Ðinh Xuân Thu thấy gã năn nỉ tha mạng mới yên lòng hỏi lại:

- Sư phụ mi là ai! Mi to gan thật! Sao dám đánh chết đồ đệ ta.

Du Thản Chi áp úng:

- Tiểu nhân không có sư phụ. Tiểu nhân cũng... chẳng giết đồ đệ của lão tiên sinh.

Ðinh Xuân Thu nghĩ bụng: Mình đã kiềm chế được gã, chi bằng đánh chết gã để bịt miệng là xong.

Nghĩ vậy, lão buông tay ra, cho Du Thản Chi đứng dậy, liền phóng chưởng đánh vào ngực gã. Du Thản Chi thấy vậy cả kinh, bất giác đưa tay lên gạt chưởng của lão quái. Ðinh Xuân Thu phóng chưởng này rất chậm, lúc Du Thản Chi giơ tay lên gạt thì hai bàn tay vừa chạm nhau.

Chính Ðinh Xuân Thu có dụng ý như vậy, lão để chất độc đã chứa sẵn trong bàn tay theo một luồng nội lực hùng mạnh đẩy ra. Ðó chính là phép "Hóa công đại pháp" của lão từng nổi danh mấy chục năm trời và giết hại không biết bao nhiêu là tay cao thủ võ lâm không ngờ hôm nay lão phải bị một lần thất bại.

Thật ra đối với Du Thản Chi, một đứa hậu sinh nhỏ tuổi, lão không muốn vận dụng "Hóa công đại pháp" vì mỗi lần vận dụng đến nó là một lần tổn hao nguyên khí và giảm bớt chất kịch độc trong mình nhưng vì lão thấy Du Thản Chi đã sờ vào mười sáu vị Hồ tăng mà vẫn không trúng độc nên bất đắc dĩ phải dùng đến tuyệt kĩ này.

Hai chưởng gặp nhau, Du Thản Chi lảo đão người đi lùi lại đến mấy bước.

Gã toan đứng dậy nhưng lại trượt đi ngồi phệt xuống.

Gã ngồi xuống toan chống hai tay ra đằng sau để ngồi cho vững nhưng dư lực đòn chưởng đối phương vẫn còn mãnh liệt.

Du Thản Chi mông vừa tới đất rồi đến lưng đến đầu cũng hạ xuống theo, lộn đi ba vòng mới thôi.

Còn Ðinh Xuân Thu sau khi hai chưởng gặp nhau bổng thấy trước ngực mát lạnh rồi từ trong lòng bàn tay một luồng nội lực tiết ra ngoài thân thể một cách nhanh chóng dị thường.

Lão vội cố sức dừng lại nhưng không tự chủ được, nội lực vẫn thoát ra ngoài.

Lão vội đảo ngược đầu xuống giơ chân lên, chuyển vận luôn mấy lần.

Nhờ phép "Có cơ vận kinh" này của phái Tinh Tú, lão mới ngăn nội lực lại.

Lão nhảy lộn người đứng dậy râu tóc dựng ngược lên, sắc mặt lợt lạt, trong rất đáng sợ.

Lão lại xòe hai bàn tay to tướng như cái quạt toan đánh xuống Du Thản Chi nữa.

Du Thản Chi đập đầu lia lịa kêu van:

- Xin lão tiên sinh tha mạng, xin lão tiên sinh tha mạng!

Ðinh Xuân Thu gặp chưởng Du Thản Chi, lão biết rằng"Hóa công đại pháp' của mình tu luyện đã mấy chục năm nên nội lực còn mạnh hơn đối phương, nhưng về chất độc so với đối phương mình còn kém xa. Nếu hai người tỷ thí tất lão còn thua một bậc.

Giữa thầy trò phái Tinh Tú trước đây thì ai mạnh nấy được, ai yếu nấy thua, không có chút tình nghĩa gì hết. Chẳng những thế, giữa đồng môn với nhau, cách tàn sát càng tệ hại hơn. Vì bị bại về người khác phái thì đối phương còn có phần nhân nhượng, chớ giữa phái Tinh Tú với nhau thì chẳng ai chịu thua ai bao giờ.

Ðinh Xuân Thu tự hỏi:

- Cuộc tỷ thí vừa rồi rõ ràng là Du Thản Chi đã thắng mình mà sao gã vẫn năn nỉ xin tha mạng? Chẳng lẽ gã cố ý trêu cợt mình? Phép "Hóa công đại pháp" này gã đã học ở đâu?

Ðinh Xuân Thu vừa kinh dị vừa bẽn lẽn, nhưng lão vốn là người xảo quyệt, ngoài mặt vẫn thản nhiên. Lão đặt chân trái xuống tung mìh nhảy lại Du Thản Chi rồi hỏi gã:

- Mi thực tình xin tha mạng hay mi giả vờ?

Du Thản Chi dập đầu lia lịa nói:

- Tiểu nhân một tấm lòng xin lão tiên sinh tha cho cái mạng kiến ruồi này.

Ðinh Xuân Thu nói:

- Mi... mi... mi... Lão nói luôn ba tiếng "mi" rồi thốt nhiên làm mặt giận nói:

- Mi ăn cướp Bích Ngọc Vương Ðỉnh của ta đem giấu đâu?

Lão nghĩ rằng phàm ai học Hóa công đại pháp thì không có Bích Ngọc Vương Ðỉnh là không được và cứ tra hỏi cho ra đỉnh ngọc hoặc giả có thể điều tra được lai lịch của gã cũng nên.

Du Thản Chi nói:

- Tiểu... Tiểu nhân không lấy cắp Ðỉnh Ngọc của lão tiên sinh, mổi lần cô nương dùng xong lại đem cất đi chưa bao giờ cho tiểu nhân mó tay vào...

Ðinh Xuân Thu mới hỏi một câu mà đã lòi ra đầu mối Ðỉnh Ngọc của mình thì mở cờ trong bụng. Lão hỏi tiếp:

- Chà! Mi còn cãi nữa ư? Rõ ràng cô nương bảo mi ăn cắp kia mà!

Du Thản Chi la lên:

- Trời ơi! Thật là oan uổng cho tiểu nhân quá! Từ khi cô nương luyện Băng Tằm rồi tiểu nhân không thấy Ðỉnh Ngọc đâu cả. Sao cô nương lại bảo tiểu nhân ăn cắp? Lão tiên sinh không tin thì xin đi tìm cô nương để đối chất ba mặt một lời.

Ðinh Xuân Thu nói:

- Ðược lắm! Ðã vậy thì mi đưa ta đi gặp cô nương để hai người đối chất với nhau một phen.

Du Thản Chi nói:

- Vâng! Xin lão tiên sinh đi ngay để gặp cô nương.

Ðinh Xuân Thu nói:

- Phải rồi! Ta đi ngay bây giờ để tìm thấy mặt nó đặng hỏi cho ra. Mi còn sống được hay phải chịu chết hôm nay sẽ rõ.

Du Thản Chi nói:

- Cô nương ở tận bên thành nước Liêu, đường đi diệu vợi, phải đi hàng nửa tháng hay ít ra là mười ngày mới tới nơi. Hôm nay làm sao đối chất được? Có điều... Có điều...

Ðinh Xuân Thu vô tình mà biết được nơi ở của A Tử thì mừng rỡ vô cùng, lão hỏi ngay:

- Có điều... là sao?

Du Thản Chi nói:

- Nếu lão tiên sinh muốn sang kinh thành nước Liêu, tiểu nhân xin dẫn đường.

Ðinh Xuân Thu là con người hiểu đời, tuy Du Thản Chi đã chụp lồng sắt lão không trông thấy mặt gã, song chỉ nghe tiếng nói lão cũng biết rằng chính gã này cũng muốn gặp A Tử.

Hiếu sắc là thường tình của con người. A Tử là một cô gái dung nhan mỹ lệ, lão chắc Du Thản Chi cũng đem lòng say mê nàng. Muốn thử lòng gã, lão giả vờ đánh trống lảng:

- Ðàng xa hàng ngàn dặm kinh thành nước nước Liêu làm cóc gì? Ðể ta phái mấy tên đệ tử đắc lực qua đó giết quách con tiện tỳ ấy đi, lấy ngọc đỉnh đem về là xong.

Quả nhiên Du Thản Chi thấy lão có ý định giết A Tử thì bồn chồn trong dạ nói ngay:

- Không không! không được! Làm thế không xong...

Ðinh Xuân Thu càng trông rõ ruột gan gã, giả tảng hỏi:

- Làm thế sao lại không được?

Du Thản Chi đỏ mặt nhưng vì gã đeo mặt sắt, nênkhông ai thấy rõ, gã ấp úng:

- Cái đó... cái đó...

Ðinh Xuân thu cười ha hả nói:

- Phải chăng mi muốn che chở cho con tiện tỳ A Tử đó, để rồi lấy nó làm vợ?

Ý nghĩ "lấy A Tử làm vợ", Du Thản Chi đã âm thầm chôn sâu xuống tận đáy lòng. Cả những giấc ngủ ban đêm gã còn chả bao giờ dám mơ ước, huống chi là giữa thanh thiên bạch nhật.

Du Thản chi kính ngưỡng bái thờ A Tử như một vị thần tiên. Hy vọng cao xa tuyệt đích của gã là được hóa thành kiếp trâu ngựa để làm nô lệ cho nàng. Ngẫu nhiên được thấy mặt nàng một lần hay được nghe lời nàng nói là gã đủ mãn nguyện rồi. Khi nào dám để những ý tưởng được yêu ấp con người thần tiên đó vào đầu óc?

Du Thản Chi nghe Ðinh Xuân Thu nói câu này gã thộn mặt ra đầu váng mắt hoa, đứng không vững, người lảo đảo luôn mấy cái gã hấp tấp đáp:

- Không, không phải...

Ðinh Xuân Thu coi bộ dạng gã càng hiểu, quyết định không nghi ngờ gì nữa. Lão lẩm bẩm toan tính:

- Thằng lõi này không hiểu nó luyện theo phương pháp nào hay gặp cơ duyên gì, mà chất độc chứa trong người gã còn nhiều hơn ta? Ta phải thu nạp gã để dò la gã luyện công theo môn phái nào, đoạn rút hết chất độc trong người gã vào mình rồi khi đó hãy đem gã xử cũng chưa muộn. Giờ mình giết gã ngay, há chẳng đáng tiếc lắm ư?

Dưới mắt Tinh Tú lão quái thì mạng con người hay mạng con rắn con rết cũng thế thôi, không hơn không kém. Trong người Du Thản Chi đã chứa chất độc thì gã cũng là vật chí bảo trên thế gian, lão tính cách khai thác lấy chất độc làm của mình, còn cái xác không thì giết bỏ.

Ðinh Xuân Thu nghĩ rằng: bắt rắn rết độc thì dùng Bích Ngọc Vương Ðỉnh, còn thu dụng "con người độc" Du Thản Chi thì phải dùng cái mồi khác, có thế thôi.

Cái mồi tốt nhất đủ làm điên đảo thần hồn Du Thản Chilà A Tử. Cái mồi này nhử được "Con người độc" đồng thời có thể lấy lại được Ðỉnh ngọc về, sau cùng là giết được A Tử nữa. Vậy chuyến đi này được cả ba việc. Thật là tuyệt diệu!

Tính toán đâu đấy rồi lão nói:

- Này này, ta hỏi ngươi: giả tỉ ta đem A Tử gả cho ngươi làm vợ, ngươi có bằng lòng không?

Du Thản Chi đáp:

- Cái đó... cái đó không thể nào thành được. Tiểu nhân chỉ là nô bộc của cô nương mà thôi. Tiểu nhân được cô nương sai khiến, đánh mắng cũng là quá phận rồi. Cô nương là một bậc thần tiên, tiểu nhân suốt đời không dám có ý nghĩ càn rỡ đó. Vậy xin lão tiên đừng nói thế lỡ ra mà... mà đến tai cô nương... thì nguy cho tiểu nhân lắm đó!

Ðinh Xuân Thu nói:

- Việc gì mà nguy? A Tử là đồ đệ của ta. Ðã là đồ đệ thì phải nghe lời sư phụ truyền dạy. Ta biểu gả nó cho ngươi, khi nào nó dám chống cự. Nó lấy cắp Bích Vương đỉnh Ngọc ta không giết nó phải mang ơn sâu tày trời biển, khi nào còn dám cãi lời ta.

Du Thản Chi hỏi:

- Cô nương... cô nương là môn đồ của lão tiên sinh ư?

Ðinh Xuân Thu nói:

- Ngươi không tin ta ư?

Lúc trước Du Thản Chi nấp trong bụi cỏ đã nghe lần thầy trò đối đáp với nhau, biết rằng A Tử là đồ đệ của lão rồi, có điều gã lại không hiểu tại sao con người ngọc nhan sắc nguyệt thẹn hoa nhường, phong tư cao nhã, lại cùng bọn đê tiện bỉ ổi này là bạn đồng môn, chẳng hóa ra cá mè một lứa, mà do đó nàng mất cả phẩm cách con người.

Ðinh Xuân Thu trỏ gã đồ đệ mũi sư tử hỏi:
- Tiểu sư Muội ngươi hình dung như thế nào?

Gã mũi sư tử đáp:

- Năm nay A Tử mười sáu tuổi. Nàng mặt trái xoang, cằm thon, má lúm đồng tiền, thân hình tha thướt, da trắng nõn nà, môi trên hơi cong, mắt đen láy và rất tinh nhanh. Tính nàng ưa mặc áo tía lưng thắt đai vàng.

Du Thản Chi nghe tên đồ đệ mũi sư tử tả đúng hình dáng A Tử Mỗi câu hắn nói ra là mỗi lần trái tim gã đập thình thịch. Khi gã nghe hắn nói hết lời, thì không còn nghi ngờ gì nữa. Gã khẽ nói:

- Hình dáng cô nương quả đúng như thế.

Ðinh Xuân Thu nói tiếp:

- Nếu ngươi muốn lấy A Tử làm vợ cũng dễ dàng thôi. Có điều môn phái ta có những lề luật nhất định là nữ đệ tử, không gả cho người ngoài mà chỉ gả cho đồng môn bản phái. Ngươi tuy hình thù cổ quái nhưng ta cũng đặc biệt thu nhận ngươi làm đồ đệ, nếu ngươi chịu bái ta làm sư phụ.

Du Thản Chi nghe lão nói câu lấy A Tử làm vợ tuy gã không dám mơ tưởng hão huyền. Nhưng gã vẫn hỏi lại: Nếu tiểu nhân lạy lão tiên sinh làm sư phụ thì tiểu nhân cũng là đồng môn của cô nương phải không?

Ðinh Xuân thu vẫn thấy Du Thản Chi có ý trì nghi, chưa tỏ rõ thái độ liền nói:

- Con nhỏ A Tử dễ thương thật đấy, chả trách bao nhiêu gã nam đệ tử đồng môn cứ lăm le chực lấy nó làm vợ. Ta nhớ đến công lao ngươi bữa nay, mà ngươi bái ta làm sư phụ thì ta phải lấy ân tình đặc biệt đối đãi với ngươi cũng là lẽ thường.

Du Thản Chi nghe lão nói vậy, bất giác lòng nóng như lửa, gã lẩm bẩm: Nếu ta để mất cơ hội này thì sẽ phải ân hận suốt đời. Kể ra thì không bao giờ ta tính lớn chuyện lấy cô nương làm vợ. Nhưng mà... Nhưng mà... ta không thể để cô nương lọt vào tay phường chó má, những quân súc sinh đê tiện kia được.

Chớp mắt, bầu máu nóng trào lên trên ngựa gã, gã quỳ xuống lạy nói:

- Sư phụ! Ðệ Tử là Du Thản Chi xin bái kiến sư phụ làm lễ nhập môn, xin sư phụ thu nạp.

Ðinh Xuân Thu nói:

- Ngươi đã nguyện ý lạy ta là thầy thì được rồi. Nhưng lệ luật của bản môn rất nhiều, ngươi có giữ đúng được không? Sư phụ đã sai bảo việc gì, ngươi phải gắng sức hết lòngtuân theo mệnh lệnh, không được phản kháng nghe chưa?

Du Thản Chi nói:

- Ðệ tử xin tuân theo lề luật, phục tùng sư mệnh.

- Nếu sư phụ bảo ngươi chết, ngươi có cam tâm chịu chết không?

Du Thản Chi ấp úng:

- Cái đó... Cái đó...

Ðinh Xuân Thu nói:

- Ngươi suy nghĩ rồi trả lời cho rõ ràng. Cam tâm thì bảo cam tâm, mà không cam tâm thì bảo rõ không cam tâm.

Du Thản Chi lẩm bẩm:

- Lão muốn giết mình dĩ nhiên mình không cam tâm chút nào. Nhưng nếu xảy ra như vậy thật, lúc đó mình trốn được thì trốn, mà không trốn được thì chịu. Dù chẳng cam tâm cũng chẳng làm gì.

Nghĩ vậy liền đáp:

- Sư phụ đối với đệ tử ơn sâu nghĩa trọng. Sư phụ bắt chết đệ tử cũng cam tâm.

Ðinh Xuân Thu cười ha hả đáp:

- Hay lắm! hay lắm! ngươi thề độc đi. Nếu ngày sau ngươi chẳng chịu tuân lời thì chịu thế nào?

Du Thản Chi nghĩ ngay rồi đáp:

- Ðệ tử Du Thản Chi nếu sau này không tuân lời, xin chịu thảm hình của sư phụ phân thây muôn đoạn, chẳng được chết toàn thi thể.

Ðinh Xuân Thu ngẩn người rồi cười nói:

- Anh chàng đầu sắt này xảo quyệt gớm! Ngươi không tuân theo mệnh lệnh sư phụ, dĩ nhiên là ta sẽ xử tử. Vậy lời thề độc của ngươi chỉ bằng thừa. Nhưng thôi được, ngươi nhớ lấy lời thề đó nghe.

Rồi lão gọi:

- Lại đây lai lịch ngươi thế nào thuật kĩ cho ta nghe!

Du Thản Chi không thể làm thế nào được, đành đem những ngày hoạn nạn, những nỗi cơ cực, thuật lại sơ qua một lượt, có điều gã không muốn kể hết gốc gác làm nhơ nhuốc thanh danh họ Du ở Tụ Hiền Trang, gã chỉ nói mình là con một nông dân bị người Liêu tìm lương thảo bắt đi. Gã được gặp A Tử rồi cùng nàng đi bắt rắn độc, trúng độc.

Lúc Du Thản Chi kể đến chuyện bắt con Băng Tằm, Ðinh Xuân Thu càng để ý nghe một cách rất chăm chú. Lão hỏi kỹ về hình thù con Băng Tằm. Có điều lão vẫn giữ một khuôn mặt thản nhiên tuyệt không lộ vẻ gì khác lạ.

Du Thản Chi nghĩ thầm:

- Vị sư phụ này không phải người tốt, nếu mình nói rõ cho hắn biết cuốn kinh chữ Phạn tất lão đoạt mất. Gã nghĩ vậy, nên Ðinh xuân Thu có hỏi lại phép luyện công cổ quái này, gã cũng không chịu thố lộ hết sự thật.

Ðinh Xuân Thu không biết là công lực mà "Dịch Cân Kinh" mà tưởng đó chỉ là công hiệu con tằm kì diệu. Lão rủa thầm trong bụng: "Thần lực quí báu như vậy mà lọt vào tay thằng quỉ con mặt sắt này để hút lấy chất độc vào trong người thật là đáng tiếc!"

Lúc Du Thản Chi kể đến đoạn con Băng Tằm do nhà sư Tam Tĩnh đem về chùa Thiếu Lâm, Ðinh Xuân Thu vỗ đùi đánh đét một cái rồi nói:

- Nhà sư Tam Tĩnh biết bắt con Hán độc trùng từ núi Côn Luân thì hay lắm. Ở đó đã bắt được một con thì chắc còn hai ba con nữa chứ đâu có một. Có điều là núi Côn Luân rộng kể hàng ngàn dặm, nếu không có người thuộc đường lối chỉ dẫn thì khó lòng mà bắt được Hán độc trung này.

Chính lão đã nhìn thấy chỗ linh diệu của Hán trùng độc thì ắt rằng nó còn quí hơn Bích Vương Ngọc Ðỉnh nhiều. Vậy việc giết A tử để đoạt lại đỉnh ngọc hãy tạm gác lại. Lão hỏi tiếp:

- Nhà sư Tam Tĩnh còn ở chùa Thiếu Lâm chứ? Hay lắm, hay lắm, chúng ta đến bảo ông ta dẫn đến núi Côn Luân để bắt Băng Tằm đi!

Du Thản Chi lắc đầu nói:

- Không được! không được! Nhà sư Tam Tĩnh hung dữ vô cùng, chưa chắc lão đã đưa đi. Hơn nữa y đã vi phạm luật lệ bản môn nên bị đại hòa thượng chùa Thiếu Lâm giam vào nhà đá rồi, có được tự tiện ra đâu.

Ðinh Xuân Thu hung dữ mà không chịu đi ư? Thế thì kì nhỉ? Chúng ta cứ đến chùa Thiếu Lâm coi, tìm cách bắt y ra rồi sẽ liệu.

Du Thản Chi nghĩ bụng:

- Tại chùa Thiếu lâm có biết bao nhiêu hòa thượng võ nghệ cao cường. Lão này muốn đến đó bắt người không phải là chuyện dễ.

Ðinh Xuân Thu thấy Du Thản Chi im lặng không nói liền hỏi:

- Tại sao ngươi không nói? Du Thản Chi đáp:

- Ðệ tử e rằng các vị đại hòa thượng chùa Thiếu Lâm. Vì lão quá nóng lòng đi bắt Băng Tằm, lão nghĩ bụng:

- Ta không cần động thủ với các tên sư mõ chùa Thiếu lâm, chỉ cốt sao lén lút bắt được Tam Tĩnh ra là xong. Họ ở ngoài ánh sáng, mình trong bóng tối. Chẳng lẽ Tinh Tú Lão Quái mà làm cái việc bắt nhà sư béo chùn béo chụt ấy đó không xong?

Nghĩ vậy lão nói:

- Ngươi cứ dẫn đường đến chùa Thiếu Lâm là được.

Du Thản Chi vãn ra chiều sợ sệt. Ðinh Xuân Thu hỏi:

- Ðã có sư phụ đi kèm ngươi còn sợ gì?

Du Thản Chi đáp:

- Tại chùa Thiếu lâm còn có vị sư ở Tây vực. Lão muốn... sát hại đệ tử.

Ðinh Xuân thu hỏi:

- Hồ tăng ở Tây vực ư? Võ công lão như thế nào? Chắc còn cao hơn mười sáu vị sư chứ? Du Thản Chi đáp:

- Ðệ tử không hiểu, chỉ thấy các vị chùa Thiếu Lâm cầm không cho lão về thôi.. Chắc là võ công ghê gớm lắm.

Ðinh Xuân thu cười ha hả nói:

- Ta chỉ mới có giơ tay một cái mà cả mười sáutên Hồ tăng đã chết nhăn răng ra rồi, thì dù có thêm một tên nữa thì phỏng có ích gì? Lại đây mau! Bữa nay ngươi đã bái ta làm sư phụ và ta đã thu nạp ngươi làm đồ đệ rồi. Ngươi ghé tai vào đây cho ta dặn.

Du Thản Chi từ từ lại gần bên đinh Xuân Thu, trong lòng ngấm ngầm sợ hãi.

Ðinh Xuân Thu nói nhỏ vào tai gã:

- Khi ngươi thấy lão Hồ tăng đó thì Khấn thầm trong bụng "Tinh Tú lão tiên! Tinh tú lão tiên, bảo vệ đệ tử. Ðàn áp kẻ địch. Một, ba, năm, bảy, chín!" Rồi giơ tay lên vỗ vào tai trái một cái. Ngươi cứ làm thế thì dù ở bất cứ nơi đâu sư phụ cũng tâm linh cảm ứng được, thì vẫn thần thông để cứu ngươi. Và từ đó trở đi, lão thấy ngươi sẽ đem lòng kính sợ chứ không dám hại ngươi nữa. Ðây là sư phụ mới dạy cho ngươi pháp luật đầu tiên. Ngươi phải hõc thuộc kĩ nghe!

Du Thản Chi giơ tay lên sờ tai bên trái mình rồi hỏi:

- Có phải chỗ này không?

Ðinh Xuân Thu đáp:

- Ðúng rồi! Nhưng ngươi không được tiết lộ cho ai biết cả. Ðấy là một môn pháp thuật thàn diệu của bản phái. Ngươi đã thuộc những câu khẩu quyết chưa?

Du Thản Chi vâng lời đọc khẽ một lượt.

Ðinh Xuân Thu gật đầu nói:

- Hay lắm! Ngươi thuộc lòng thế là được rồi. Ta đi thôi!

Du Thản Chi vâng lời không dám chống đối mệnh lệnh sư phụ, đành dẫn đoàn người đi về phía chùa Thiếu Lâm.

Ðoàn người đi một mạch cho đến lúc hoàng hôn thì đã thấy chùa Thiếu lâm xuất hiện ở đàng xa, mái chùa liên tiếp không biết bao nhiêu là phòng ốc.

Ðinh Xuân Thu quay lại bảo bọn đồ đệ:

- Các ngươi vào cũng không được việc gì. Nhiều người chỉ tổ vướng chân ta. Vậy các ngươi vào bụi cây trong rừng mà ẩn nấp. Chỉ một mình A Du (tức là Du Thản chi) vào chùa với ta là đủ.

Bọn đệ tử vâng lời, chỉ có gã mũi sư tử nói:- Khi nào giết xong bọn đầu trọc trong Thiếu Lâm, thì sư phụ báo tín hiệu ra ngoài, để bọn đệ tử hoan hô sư phụ.

Ðinh Xuân Thu trợn mắt lên nói:

- Các sư phụ chùa Thiếu Lâm có ai đụng đến phái Tinh Tú mình đâu? Sao ngươi muốn giết người ta?

Gã mũi sư tử bẽn lẽn nói:

- Vâng! Vâng!

Du Thản Chi theo sư phụ vào chùa Thiếu Lâm, gã đi sau thấy lão tay áo phất phơ, chân bước nhẹ nhàng, chẳng khác nào tiên ông trong tranh vẽ, thì sinh lòng kính cẩn nhủ thầm:

- Mình gặp vị sư phụ như vị này chắc kiếp trước đã đầy kiếp tu. Phen này đến chỗ A Tử cô nương chưa biết ra sao, nhưng có sư phụ che chở, binh vực thì ít ra đi đâu cũng khỏi bị người ức hiếp.

Hai người theo đường lớn lên núi, gần đến quán Lương Ðình ngoài cổng chùa Thiếu Lâm, bỗng nghe có tiếng vó câu lộp độp, rồi thấy hai con ngựa chạy như bay sắp tới nơi.

Du Thản Chi bị người hành hạ đã nhiều, nên vừa thấy ngựa đã kêu lên:

- Sư phụ ơi! Cô nương tới!

Rồi gã đứng nép sang một bên đường. Ðinh Xuân Thu vẫn nghiễm nhiên như không có chuyện gì. Lão cứ ung dung giữa đường mà đi, chẳng đẫn đờ mà cũng không hấp tấp. Hai con ngựa một đen một vàng đi song đôi chỉ còn cách Ðinh Xuân Thu một trượng thì rẽ sang hai ben mé đường để lướt qua lão.

Hai người cưỡi ngựa ngoảnh đầu lại nhìn Ðinh, Du một cái. Người cưỡi ngựa đen bé nhỏ và gầy nhom, mình mặc áo đen, hai mắt loang loáng vẻ mặt tinh lanh. Người cưỡi ngựa vàng mặc áo hòang bào, thân hình không gầy lắm, nhưng cao lênh nghênh, lông mày chênh chếch rủ xuống, vẻ mặt bướng bỉnh, nhiều tuổi hơn người áo đen.

Hai người thấy Du Thản Chi đầu bịt thì ra chiều kinh dị nhưng cũng quay đi ngay thẳng tới quán Lương Ðình, xuống ngựa buộc vào cột quen.

Người mặc áo hoàng bào móc trong bọc ra một cái hộp đồ lễ cầm trong tay, lớn tiếng hỏi:

- Chúng tôi đến bái sơn.

Vô hình chung, chùa Thiếu Lâm là đầu não các phái võ Trung Nguyên những giang hồ hiệp khách quanh năm đến bái sơn không ngớt.

Sau quán Lương Ðình có một căn phòng nhỏ. Trong phòng có tăng nhân chuyên đón khách.

Nhà sư nghe tiếng có khách đến bái sơn vội chạy đến chắp tay nói:

- Khách quan từ phương xa đến chắc đi đường mệt mỏi lắm. Tiểu tăng là Hư Phong xin bái kiến.

Người mặc hoàng bào khoanh tay đáp lễ nói:

- Không dám! Tại hạ xin ra mắt đại sư.

Người mặc áo đen cũng chắp tay thi kễ nói:

- Lúc này Ðinh Xuân Thu cùng Du Thản Chi cũng đãvào tới quán Lương Ðình.

Nhà sư Hư Phong hỏi:

- Xin khách quan cho biết cao tính đại danh?

Người mặc hoàng bào đáp:

- Mộ Dung Phục ở núi Giang Nam xin bái sơn.

Tiếng "Bắc Kiều Phong Nam Mộ Dung" khách võ lâm không ai không biết.

Ðinh Xuân Thu vừa nghe nói "Mộ Dung Phục ở Giang Nam xin bái sơn" trong lòng rung động, nheo mắt nhìn người mặc áo vàng thì thấy nét mặt vàng ửng, thân hình ốm o, bộ dạng không xứng đáng với tên "Giang Nam Mộ Dung" tiếng tăm lừng lẫykhắp thiên hạ chút nào. Lão còn đang ngơ ngẩn ngẫm nghĩ, thì Hư Phong cũng giật mình hỏi lại:

- Các... Các hạ là... Mộ Dung công tử?

Người mặc hoàng bào tủm tỉm cười đáp:

- Tại hạ họ Bao, tên gọi Bao Bất Ðồng.

Y trỏ người áo đen giới thiệu:

- Vị này là anh em tại hạ tên gọi Nhất Trận Phong...

Chưa dứt lời thì Trì khách tăng Hư Phong đã nói:

- Tiểu tăng nghe danh đã lâu. Người là Phong Bá Ác. Phong tứ gia?

Phong Bá Ác nhanh nhẹn cười hỏi luôn:

- Tuệ Thu sư thúc trong quý tự vẫn mạnh giỏi?

- Tuệ Thu sư thúc vẫn bình thường. Người hay nhắc và khen ngợi Phong tứ gia là một tay hảo hán, nóng nảy, gan dạ, võ công cao cường! Người nhớ tứ gia lắm.

Phong Bá Ác cười ha hả:

- Tại hạ bị Tuệ Thu sư phụ đánh cho một quyền đau đến ba tháng mới hết.

Rồi cả ba cùng cười ồ.

Nguyên Lão Phong Bá Ác là người ưa tranh đấu gặp ai cũng muốn giành sự đánh nhau chơi. Mấy năm trước đây, chẳng có chuyện gì cũng vào chùa Thiếu Lâm rồi xảy ra cuộc ác đấu với Tuệ Thu thiền sư. Hai bên kẻ nửa cân, người tám lạng, chẳng ai thua ai.

Hư Phong liếc mắt nhìn Ðinh Xuân thu hỏi:

- Cao tính lão sinh là gì?

Ðinh Xuân Thu đáp:

- Tại hạ họ Ðinh.

Giữa lúc ấy lại có hai người cưỡi ngựa đi lên núi.

Hư Phong vừa nghe có tiếng vó ngựa đưa mắt nhìn ra thấy một con ngựa màu hồng thậm. Lại còn một con ngựa nữa sắc xanh xám, người cưỡi gnựa mặc trường bào màu xanh xám.

Tới nơi hai người xuống ngựa, mọi người nhìn rõ mặt lão mặc áo hồng bào tuổi ngoài năm mươi, mặt vuông tai lớn trông đường vệ như một ông quan. Người mặc áo bào xanh xám có vẻ mặt thầy đồ, tuổi chừng ngót năm chục, cặp mắt đã lờ mờ dường như vì đọc sách nhiều quá nên thị lực kém đi.

Phong Ác Bá giới thiệu:

- Thưa đại ca cùng nhị ca! Vị này là trì khách tăng Hư Phong sư phụ.

Rồi quay sang Hư Phong giới thiệu:

- Ðây là Ðặng đại ca của tại hạ tên là Ðặng Bách Xuyên.

Lại trỏ vào lão thầy đồ nói:

- Vị này là nhị đại ca, tên gọi là Công Dã Càn.

Hư Phong chắp tay thi lễ nói:

- Tiểu tăng từng được nghe các danh Ðặng đại ca cùng Công Dã nhị gia. Bữa nay được hai vị giá lâm thật là vinh hạnh cho tệ tự.

Ðặng Bách Xuyên cùng Công Dã Càn lên tiếng đáp:

- Không dám, sư phụ dạy quá lời.

Hai người mới nói bấy nhiêu tiếng, mà hai người nghe đã chói tai vì thanh âm Ðặng Bách Xuyên xoang xoảng như tiếng chuông đồng. Ðây là lão mới buột miệng nói tự nhiên, chưa dùng sức chút nào, mà đã làm rung động lá nhĩ mọi người.

Công Dã Càn nói tiếp:

- Công tử tôi sắp đến bây giờ, cảm phiền sư phụ báo cho một tiếng.

Hư Phong nói:

- Vâng, xin năm vị ở trong quán chờ một chút, tiểu tăng vào chùa thông báo, mời các sư bá, sư thúc ra nghênh tiếp liệt vị.

Ðặng Bách Xuyên nói:

- Không dám!

Lão quay lại, ngó thấy Ðinh Xuân Thu cùng Du Thản Chi, không biết là hạng người thế nào.

Hư Phong trở gót lật đật đi vào chùa. Y nhớ lại lần trước quần hào Trung Nguyên đã tụ tập chùa Thiếu Lâm để thương nghị cách đối phó với Mộ Dung công tử, một tay thông suốt hết những tuyệt kĩ của tất cả phái võ khắp thiên hạ.

Sau cuộc hội đàm chưa bao lâu thì phát sinh vụ Kiều Phong lẻn vào chùa Thiếu Lâm, kế tiếp đến cuộc đại hội quần hùng ở TụHiền Trang, các vị anh hùng Trung Nguyên đổ dồn cặp mắt vào "Kiều Phong" còn vụ "Nam Mộ Dung" tự nhiên lắng xuống. Trước kia bao nhiêu tội ác khách giang hồ đổ cả lên đầu "Cô Tô Mộ Dung" nhưng từ đó lại được san sả bớt đi phân nửa cho Kiều Phong gánh đỡ. Không ngờ bửa nay "Mộ Dung công tử" lại xuất hiện một cách đột ngột.

Huyền Từ đại sư, phương trượng chùa Thiếu Lâm được tin báo một cách bất ngờ, liền phái viện trưởng viện Ðạt Ma là Huyền Nạn đại sư thống lảnh mười lăm vị cao tăng xuống núi nghênh tiếp.

Mọi người hỏi Hư Phong biết rằng Mộ Dung công tử phái bốn tay thuộc hạ theo đúng phép lễ nghi, xem ra không có ác ý gì cả.

Tuệ Thu Hiền Sư lại hết sức khen ngợi Phong Bá Ác là người bạn tốt.

Mọi người đều chân tay không, không cầm binh khí. Vì ai nấy đều biết tiếng tăm Mộ Dung Phục lừng lẫy thiên hạ, dù chàng có ý đến chùa Thiếu Lâm để gây hấn, cũng không đến nỗi vừa gặp nhau đã động thủ ngay.

Lúc Hư Phong trở gót vào chùa thì cặp mắt láo lia của Phong Bá Ác ngó chầm chập vào bộ mặt sắt Du Thản Chi không ngớt. Y càng ngó càng lâu càng thấy hay hay.

Phong Bá Ác lại đi vòng quanh Du Thản Chi ngắm ngía cái đầu kỳ lạ, thấy cái đầu này đúc rất tinh xảo, hàn gắn rất kỹ càng. Gã muốn đưa tay ra gõvào cái đầu này mấy cái.

Bọn Ðặng bách Xuyên biết tính gã hay rắc rối dễ xảy ra chuyện lôi thôi, liền ngăn trở y tránh mọi chuyện xích mích nhỏ mọn có thể gây thành đại sự.

Phong Bá Ác xem ngắm hồi lâu gợi chuyện:

- Này anh bạn! Anh mạnh giỏi chứ?

Du Thản Chi đáp:

- Dạ, tôi... tôi thường. Còn ông bạn thế nào?

Gã thấy Phong BáÁc hình như ngứa chân ngứa tay, vung quyền múa chưởng, càng ngấm ngầm sợ hải.

Phong Bá Ác nói:

- Cái lồng sắt của anh bạn ai làm khéo thế? Phong mỗ đi khắp thiên hạmà chưa thấy ai có cái mặc nạ này.

Du Thản Chi bẽn lẽn, cúi đầu xuống nói khẽ:

- Vì tôi... không có quyền tự chủ được thân mình, nên họ... muốn làm thế nào thì làm. Tôi không có cách nào...

Phong Bá Ác vốn là người đầy lòng nghĩa hiệp, nghe DuThản Chi nói vậy, cũng thương tình liền hỏi:

- Kẻ nào mà ác ôn ghê gớm đến thế? Phong Mỗ muốn thử coi xem cái mặc nó thế nào? Phong Bá Ác vừa nói vừa nói vừa nheo mắt nhìn vào mặt Ðinh xuân Thu vì tưởng lão này đã ức hiếp và chụp lòng sắt vào đầu Du Thản Chi.

Ðinh Xuân Thu, trên mặt thoáng qua nụ cười, dường như có để ý cho Phong Bá Ác trông thấy.

Du Thản Chi vội nói:

- Không... không phải sư phụ tôi đâu.

Phong BáÁc nói:

- Vậy thì ai? Họ chụp lồng sắt vào đầu anh để làm gì? Tôi phải tháo bỏ đi cho anh.

Y nói xong thò tay vào bọc móc lưỡi dao trủy thủy sáng loáng ra. Mới trông cũng biết ngay là một lưỡi dao cực kỳ sắc bén.

Phong Bá Ác định dùng lưỡi dao này để tháo cái lồng sắt cho Du Thản Chi.

Du Thản Chi biết cái lồng sắt này đã dính liền mặt mũi và đầu óc mình, nếu tháo nó ra thì đồng thời rứt cả da thịt mình và có thể nguy đến tính mạng. Gã vội ngăn lại:

- Không! Không thể tháo ra được đâu!

Phong Bá Ác nói:

- Anh đừng sợ gì hết. Anh cứ để tôi tháo ra cho, quyết không tổn thương gì đến da thịt anh đâu.

Du Thản Chi vẫn nằng nặc không chịu, nói:

- Không! Không được mà!

Phong Bá Ác hỏi:

- Phải chăng anh sợ hãi cái con người đã chụp mũ sắt lên đầu anh nên anh không dám để tôi tháo ra cho anh chứ gì? Lần sau anh có gặp hắn hành hạ về tội mất mặt sắt, anh cứ biểu hắn rằng: "Nhất trận Phong này đè anh để tháo ra đó" anh không tự chủ được thì biểu hắn đến tìm tôi mà trả đũa.

Phong Bá Ác nói xong nắm chặt cổ tay trái Du Thản Chi.

Du Thản Chi nhìn thấy lưỡi dao truỷ thủ sáng loáng thì kinh hãi vô cùng, vội la lên:

- Sư phụ! Sư phụ!

Gã vừa gọi vừa quay lại Ðinh Xuân Thu cầu cứu, nhưng thấy lão cứ thản nhiên hai tay chấp để sau lưng đủng đỉnh đi ra phía ngoài quán Lương Ðình để ngắm phong cảnh, vờ như không nghe tiếng Du Thản Chi kêu gọi. Du Thản Chi trong lúc hoang mang, nhớ đến phương pháp sư phụ đã truyền thụ để cự địch. Gã ngầm ngầm niệm khẩu quyết: "TinhTú lão tiên! Bảo vệ đệ tử! Ðánh bại kẻ địch. Một, ba, năm, bảy, chín." Ðoạn gã giơ tay mặt vỗ vào bả vai bên trái Phong Bá Ác. Dè đâu chổ gã đập lại đúng vào huyệt thiên tông một huyệt đạo trọng yếu nơi sau lưng.

Phong Bá Ác lúc đó để hết tinh thần vào việc tháo lồng sắt cho Du Thản Chi, y sợ chỉ trệch mũi dao một chút là có thể làm gã phải sứt mặt vỡ đầu, y còn có đề phòng đâu đến chỗ bị Du Thản Chi tập kích ngấm ngầm một cách bất thình lình.

Hơn nữa kình lực chưỡng thế này rất mạnh không phải tầm thường lại đập vào chỗ hiểm yếu trong người, Phong Bá Ác chỉ kịp rú lên một tiếng rồi ngã chúi về đằng trước. Ấy là Phong Bá Ác đã nhanh chân lẹ tay, nên bị đòn rồi còn gắng gượng chống đỡ được. Tay trái y vừa chống xuống đất, y liền nhảy phắt đứng thẳng người lên được." Ụa một cái, miệng Phong Bá Ác hộc ra máu tươi."

Ðặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Ðồng, ba người thấy Du Thản Chi bất thình lình hạ độc thủ, khiến người anh em bị một đòn nặng thì đều giật mình kinh hãi.

Ðinh Xuân Thu biết Du Thản Chi trong người chứa đầy nọc độc, lão giả vờ bảo Du Thản Chi niệm khẩu quyết rồi vỗ vào bả vai đối phương. Bởi nơi đó là chỗ yếu huyệt của con người, Du Thản Chi chỉ khẽ vỗ là đối phương phải bị trong thương ngay chẳng phải do phù chú pháp thuật gì cả.

Công Dã Càn bắt mạch Phong Bá Ác, thấy mặt cấp xốc, dồn dập dường như bị trúng độc, lão nghĩ ngay ra rồi trỏ vào mặt Du Thản Chi quát mắng:

- Thằng lõi con kia! Té ra mi là môn hạ Tinh Tú Lão Quái, vừa ra tay là dùng đến thủ đoạn thâm độc hại người.

Lão móc trong bọc ra một cái bình nhỏ, mở nắp lấy một viên thuốc giải độc nhét vào mồm Phong Bá Ác. Ðặng Bách Xuyên và Bao Bất Ðồng, lạng người đi một cái đứng chặn trước mặt Ðinh Xuân Thu cùng Du Thản Chi.

Bao Bất Ðồng tính tình nóng nảy chẳng kém gì Phong Bá Ác, còn có phần nham hiểm hơn. Ngoài ra, y lại có tính câu chấp. Y ngầm vận tiềm lực vào tay trái, năm ngón tay giơ ra như móng vuốt toan chụp xuống ngực Du Thản Chi.

Ðặng Bách Xuyên vội can ngăn:

- Bao tam đệ hãy dừng tay!

Bao Bất Ðồng chuẩn bị chụp xuống nghe Bách Xuyên nói liền quay trở nhìn.

Ðặng Bách Xuyên nói tiếp:

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau