LỤC MẠCH THẦN KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Lục mạch thần kiếm - Chương 46 - Chương 50

Chương 46: Cuộc phiếm du đưa đến gặp hoàng gia

Kiều Phong cùng A Tử đi sâu vào trong cánh đồng cỏ mấy ngày liền.

Nhằm gặp tiết thu, vòm trời quang đãng khí trời mát mẻ.

Mùi cỏ êm dịu thoảng đưa hương man mát, khiến du khách cảm thấy tinh thần khoan khoái.

Trong đồng cỏ rậm thiếu gì dã thú. Kiều Phong săn lấy nướng ăn, tâm hồn lâng lâng, chẳng bận một điều lo nghĩ chi hết.

Kiều Phong đi luôn mấy ngày nữa.

Hôm ấy vào khoảng giờ ngọ ông nhìn phía trước mặt, ở tận đằng xa thấy vô số doanh trại, không hiểu là nơi đồn trú quân binh hay là nhà ở một bộ lạc nào đó.

Kiều Phong bảo A Tử:

- Phía trước kia là chỗ đông người trú ngụ, chúng ta quay về thôi để tránh mọi sự phiền lụy có thể xảy ra.

A Tử nói:

- Ðừng! Ðừng quay về vội. Em muốn lại đó chơi. Tỉ phu ơi Em mới cất nhắc được hai tay, còn hai chân vẫn thuỗn ra. Em làm gì được mà tỉ phu e chuyện rắc rối?

Kiều Phong cười nói:

- Những chuyện rắc rối đâu có phải do một mình cô gây ra, có khi từ người khác đưa đến cho mình, muốn tránh cũng không được.

A Tử cười nói:

- Nếu vậy thì ta cứ lại xem, không hề gì đâu?

Kiều Phong biết nàng còn tánh trẻ con, thích coi những nơi náo nhiệt liền buông cương cho ngựa đi từ từ về phía doanh trại. Cánh đồng cỏ mặt bằng phẳng, tuy trông thấy doanh trại rồi mà hãy còn xa.

Kiều Phong cùng A Tử đi chừng được bảy tám dặm bỗng nghe tiếng hiệu tù và nổi lên inh ỏi, rồi thấy cát bụi mịt mù. Một đội kỵ mã chia làm hai cánh một toán chạy lên phía Bắc, một đội quay xuống phía Nam.

Kiều Phong kinh ngạc nói:

- Hỏng rồi! Lại bọn kỵ mã Khất Ðan.

A Tử nói:

- Họ là đồng hương với tỉ phu, thế là hay tuyệt. Sao tỉ phu còn kinh hãi?

Kiều Phong đáp:

- Nhưng mình đã quen biết họ đâu? Thôi ta về quách chẳng ở lại lôi thôi.

Dứt lời ông bắt ngựa quay về lối cũ.

Mới đi được mấy bước bỗng nghe trống thúc vang lên, tiếp theo lại thêm mấy đội kỵ mã Khất Ðan xông tới.

Kiều Phong tự hỏi:

- Sao bốn mặt không thấy địch quân? Chắc là họ tập trận hay săn dã thú chi đây?

Bỗng nghe tiếng reo hò vang dội:

- Bắn đi! Bắn hươu đi!

Cả ba mặt Tây, Nam, Bắc đều thấy tiếng hô bắn hươu.

Kiều Phong nói:

- Té ra họ săn hươu, binh sĩ Khất Ðan thanh thế lớn lắm.

Ông ôm A Tử ngồi trên lưng ngựa dừng lại ở mặt Ðông để coi.

Bọn kỵ mã Khất Ðan đều trong mặc thiết giáp, ngoài khoát cẩm bào.

Cách ăn mặc không khác gì lúc ra trận.

Cẩm bào có nhiều màu sắc: một đội hồng bào, một đội thanh bào, một đội hoàng bào và một đội tử bào.

Cờ hiệu đội nào cũng cùng màu sắc với cẩm bào đội ấy. Binh cường mã tráng, lui tới rong rủi, trông rất oai hùng.

Kiều Phong cùng A Tử trầm trồ khen ngợi.

Quân kỵ Khất Ðan tung hoành tiến thoái theo đúng quân lệnh.

Tên nào cũng cầm trường mâu đuổi hươu nai.

Họ thấy Tiều Phong cùng A Tử cũng chỉ ngó qua, chứ không hỏi han chi hết.

Ba cánh quân kỵ từ ba mặt dồn lại vây mấy chục con hươu vào giữa.

Ngẫu nhiên một con chạy lọt qua chỗ trống ra ngoài vòng vây.

Kiều Phong đang đứng xem chợt có tiếng la to:

- Có phải Kiều đại gia đó không?

Kiều Phong tự hỏi:

- Không biết ai đã nhận ra mình?

Ông ngoảnh đầu nhìn ra thì thấy một người trong đội thanh bào chạy lại, chính là gã đội trưởng trước đây mấy tháng đã được Gia Luật Cơ phái mang đồ lễ đến Kiều Phong.

Gã còn cách Kiều Phong chừng mười trượng đã xuống ngựa lật đật đi bộ đến trước mặt ông, quỳ phục xuống đất, nói:

- Chủ nhân tiểu tốt hiện ổ phía trước kia, cách đây không xa mấy. Người thường nhắc đến Kiều đại gia luôn, dường như nhớ mong đại gia lắm. Bữa nay cơn gió nào thổi đại gia đến đây? Xin kính thỉnh đại gia qua hội diện với chủ nhân tiểu tốt.

Kiều Phong nghe tin Gia Luật Cơ cũng ở gần đây thì vui mừng khôn xiết nói:

- Ta cũng đi chơi phiếm thôi, chả có việc gì cả, không ngờ nghĩa huynh ta cũng ở gần đây, thế thì may mắn biết chừng nào! Ngươi dẫn ta đến hội ngộ.

Gã đội trưởng vừa chủm môi huýt lên một tiếng sáo, đã thấy hai tên quân kỵ cưỡi ngựa chạy lại.

Gã đội trưởng nói:

- Các ngươi lập tức về bẩm chủ nhân có Kiều đại gia bên núi Trường Bạch qua chơi nghe!

Hai tên kỵ binh nghiêng mình nhận lệnh rồi chạy như bay.

Các đội khác vẫn tiếp tục săn hươu, gã đội trưởng đốc xuất đội kỵ binh áo xanh hộ vệ phía sau Kiều Phong và A Tử đi về hướng Tây.

Kiều Phong nghĩ thầm:

- Nghĩa huynh ta không phải tướng chắc cũng là mõt vị đại thần tại triều đình Khất Ðan, nên mới có thanh thế lớn như vầy được. Bọn kỵ binh chạy lui chạy tới trong cánh đồng cỏ liên miên không ngớt. Tên nào bào giáp cũng mới tinh, đầy vẻ hùng tráng.

Gã đội trưởng nói:

- Bữa nay đại gia đến thật vừa khéo. Sáng mai ở đây có mở hội tưng bừng náo nhiệt.

Tiêu Phong đưa mắt nhìn A Tử Thấy nàng lộ vẻ vui mừng, liền hỏi:

- Có cuộc chi mà tưng bừng náo nhiệt?

Ðội trưởng đáp:

- Mai mở cuộc diễn võ. Số là có Khuyết Chân chỉ huy đội thị vệ trong cung Vĩnh Xương và cung Thái Hoà. Bọn quân Khất Ðan chúng tôi đều thi đua võ công, chưa hiểu ai là người tốt phước tranh đoạt được chân chỉ huy này.

Kiều Phong nghe đến cuộc tỉ võ, tự nhiên thấy trong lòng hứng khởi, nở mặt nở mày, cười nói:

- Thế thì hay thật! Ta đang muốn hiểu biết võ công người Khất Ðan.

A Tử cười nói:

- Anh đội trưởng ơi! Sáng mai anh trổ tài võ nghệ, tôi chúc cho anh được chức chỉ huy đội thị vệ.

Gã đội trưởng thè lưỡi ra rồi nói:

- Tiểu nhân đâu dám có gan dạ đó?

A Tử cười nói:

- Giành giựt chức chỉ huy có gì là khó. Anh đội trưởng ơi! Tên anh là gì?

Ðội trưởng đáp:

- Tiểu nhân tên gọi Thất Lý.

A Tử nói:

- Anh nhờ tỉ phu dậy mấy đường quyền thì lo gì không giành được chức chỉ huy?

Thất Lý mừng rỡ nói:

- Nếu được Tiêu đại gia chỉ giáo cho, tiểu nhân đã thấy làm tốt phước lắm rồi còn chức chỉ huy đó tiểu nhân không dám nghĩ đến.

Ðoàn người vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ.

Ði chừng được một dặm bỗng có một đội kỵ binh chạy lại.

Thất Lý nói:

- Ðây là đội Phi Hùng trong "Bì Thất Ðại Trướng"

Ðội quân này quân trang bằng da gấu.

Áo bào khoác ngoài bằng da gấu đen, mũ cao bằng da gấu trắng, trông khí thế thật hùng dũng.

Ðội quân lại gần đến nơi.

Tiếng hô dõng dạt vừa dứt, cả đội đều xuống ngựa, đứng sau hai bên đường đồng thanh nói:

- Xin kính cẩn nghênh tiếp Kiều đại gia!

Kiều Phong giơ tay đáp lễ:

- Không dám!

Rồi phóng ngựa đi trước, đội phi hùng phóng ngựa theo sau.

Ði được vài dặm lại thấy đội Phi Hổ, mũ áo đều bằng da hổ đến đón tiếp.

Kiều Phong tự hỏi:

- Không hiểu Gia Luật Cơ ca làm quan đến chức gì mà dưới trướng có những đội quân oai phong như vậy?

Gã Thất Lý không nói ra, mà lúc Kiều Phong gặp Gia Luật Cơ cũng kiên quyết không chịu thố lộ địa vị của mình, nên ông cũng không muốn hỏi.

Ði đến lúc xế chiều thì gặp một trướng lớn.

Tại đây, một đội Phi Báo đội mũ mặc áo da báo ra nghinh tiếp Kiều Phong cùng A Tử vào trong trướng.

Kiều Phong chắc mẫm vào đây là gặp Gia Luật Cơ ngay.

Nào ngờ trong trướng chỉ thấy trên kỷ bày sẵn vô số món ăn và trái cây mà chẳng thấy chủ nhân đâu.

Gã đội trưởng Phi Báo vào nói:

- Chủ nhân tiểu tử xin Kiều đại gia hãy nghĩ tạm ở đây một đêm sáng mai hãy ra mắt chủ nhân tiểu tử.

Kiều Phong đã vào rồi cũng không hỏi gì nữa, ngồi xuống bên kỷ tự do ăn uống.

Bốn tên tiểu đồng đứng rót rượu, thái thịt, hầu hạ một cách rất chu đáo.

Sáng hôm sau thức dậy lại đi một ngày nữa.

Ðội kỵ mã dẫn đường trông thẳng về phía Tây mà đi một mạch chừng hai trăm dặm.

Xế chiều lại đến một trướng lớn vào ngủ tại đó thêm đêm nữa.

Vào khoảng giữa giờ Ngọ ngày thứ ba, đoàn người ngựa đang đi bỗng thấy Thất Lý nói:

- Ði quanh hết sườn núi này nữa là tới nơi.

Kiều Phong ngẩn đầu nhìn hình thế trái núi rất là hùng vĩ.

Dưới chân núi một con sông lớn nước chảy cuồn cuộn xuốmg phía nam.

Ðoàn người đi quanh hết sườn núi quả thất cờ xí rợp trời tung bay phất phới.

Cả bốn mặt Ðông, Tây, Nam, Bắc đều có doanh trướng dày như bát úp. Hàng ngàn, hàng vạn kỵ binh, bộ binh đứng vây quanh một khu đất trống.

Các đội kỵ mã Phi Hùng, Phi Hổ, Phi Báo đi hộ vệ Kiều Phong, tù và thổi lên inh ỏi.

Ðột nhiên hiệu trống thùng thùng lẫn tiếng pháo nổ rầm trời vang động cả khe núi.

Quan binh giàn hàng tại khu đất trống rẽ ra hai bên.

Một Ðại Hán râu quăn quắt ngất ngưởng ngồi trên lưng con tuấn mã cao lớn sắc vàng đi ra.

Chính là Gia Luật Cơ.

Gia Luật Cơ cho ngựa chạy về phía Kiều Phong cất tiềng gọi:- Kiều hiền đệ! Ca ca mong hiền đệ đi được!

Kiều Phong phóng ngựa lên đón.

Hai người đồng thời xuống ngựa, tay cầm tay, mặt mày hớn hở, trong tâm xiết đỗi vui mừng!

Bốn mặt tướng sĩ hoan hô vang dội:

- Vạn tuế! Vạn vạn tuế!

Kiều Phong giật mình nghĩ thầm tự hỏi:

- Tại sao nơi đây lại nhiều tướng lãnh quan binh thế này.

Người nào cũng khom lưng hoan hô "vạn tuế" là nghĩa làm sao?

Gia Luật Cơ dắt tay Kiều Phong đứng giữa trung quân, nhìn Ðông ngó Tây ra chiều đắc ý.

Kiều Phong ngơ ngác hỏi:

- Ca ca ơi! Phải chăng ca ca... ca ca là...

Gia Luật Cơ cười ha hả nói:

- Giả tỉ hiền đệ biết ta là đương kim Hoàng đế nước Ðại Liêu thì ta e rằng hiền đệ không chịu kết nghĩa anh em với ta. Chính tên ta là Gia Luật Hồng Cơ. Hiền đệ đã có ơn cứu mạng ta, vĩnh viễn ta không quên được.

Kiều Phong tuy là người hiên ngang khí khái, nhưng trước nay chưa biết Hoàng đế bao giờ.

Bữa nay ông thấy nghi thức phô trương cực kỳ long trọng thì không khỏi luống cuống.

Ông hoang mang nói:

- Tiểu nhân chưa được biết bệ hạ nên mới mạo phạm rất nhiều tội đáng muôn thác!

Nói xong toan quỳ xuống.

Nguyên ông là thần dân Khất Ðan gặp Hoàng đế trong nước đương nhiên phải quỳ lạy.

Gia Luật Hồng Cơ vội nâng dạy cười nói:

- Không biết là không có lỗi. Hiền đệ đã cùng ta kết nghĩa Kim bằng. Bữa nay hai ta chỉ nói đến chuyện nghĩa khí mà thôi. Sáng mai hãy dùng nghi lễ của chúa tôi cũng chưa muộn.

Ðoạn nhà vua vẫy tay một cái, ban cổ nhạc nổi chiêng trống hoan nghinh tân khách.

Gia Luật Hồng Cơ dắt tay Kiều Phong đi vào trướng lớn.

Doanh trướng của hoàng đế nước Liêu mấy tầng lợp da trâu vẽ rồng vẽ phượng đủ màu sắc trông trông huy hoàng rực rỡ. Doanh trướng này gọi là "Bì thất đại trướng."

Gia Luật Hồng Cơ ngồi chính giữa mời Kiều Phong ngồi ghế bên. Văn võ bá quan nhất nhất tiến lên lạy mừng.

Những tước phẩm triều đình Khất Ðan chia làm:

Bắc Viện Ðại Vương, Bắc Viện Khu Mật Sứ, Nam Viện Ðại Vương, Nam Viện Khu Mật Sứ rồi đến đại soái, Thái Phó, Thái Bảo, bì Thất Ðại Tướng Quân, Tiểu Tướng Quân, Mã Quân chỉ huy sứ vân vân...

Kiều Phong được nghe giới thiệu các quan tướng nhưng nhiều quá không nhớ xiết được.

Ðêm hôm ấy trong trướng mở tiệc lớn, người Khất Ðan rất tôn trọng nữ giới, A Tử cũng được mời vào dự yến trong "Bì thất đại trướng."

Thật là một tiệc yến, rượu như ao, thịt như núi không thiếu thứ gì, bất tất phải tường thuật.

Tiệc rượu đã nửa vời, hơn mười tên võ sĩ Khất Ðan ra trổ tài trước mắt vua để giúp vui, người nào chân tay mau lẹ, khí lực hùng hậu, mỗi khi cử động đều theo một lối võ công siêu việt. cách biến hóa tuy không xảo diệu bằng võ sĩ ở Trung Nguyên, song lối tiến ngay đánh thẳng của bọn này lúc lâm địch rất công hiệu.

Các quan chức văn ban võ phái người nào cũng đều mừng rượu Kiều Phong.

Ông không cự tuyệt với một ai, có rượu đưa đến mừng là cạn chén.

Ông uống có đến ngoài ba trăm chén rượu mà sắc mặt vẫn không thay đổi khiến cử tọa đều kinh hãi.

Gia Luật Hồng Cơ trước nay vẫn tự phụ mình võ công quán thế mà phen này bị Kiều Phong bắt cả nước đều biết tiếng. Y có ý muốn Kiêu Phong trổ tài võ nghệ siêu quần để che lấp cái nhục ông bị bắt.

Nhà vua không ngờ nguyên về tửu lượng Kiều Phong đã ghê gớm hơn người.

Gia Luật Hồng Cơ đã có ý định ngày hôm sau nhân cuộc hội tỉ võ, yêu cầu Kiều Phong thi triển tuyệt kỹ cho quốc dân lác mắt. Nhưng bây giờ tửu lượng của ông đủ áp đảo quần hùng, người nguời đều đem lòng kính phục.

Gia Luật Hồng Cơ cả mừng nói:

- Kiều hiền đệ. Hiền đệ là một vị anh hùng hảo hán đệ nhất trong nước Ðại Liêu ta.

Thốt nhiên một giọng nói trong trẻo vang lên:

- Không phải! Y mới là đệ nhị anh hùng!

Mọi người nge tiếng quay lại nhìn xem ai thì té ra là A Tử.

Gia Luật Hồng Cơ hớn hở tươi cười hỏi:

- Tiểu cô nương! Y mới là đệ nhị vậy chớ đệ nhất anh hùng là ai?

A Tử đáp:

- Ðệ nhất anh hùng hảo hán chính là bệ hạ. Tỉ phu tôi tuy bản lãnh nghiêng trời nhưng vẫn phải tuân theo bệ hạ không dám trái lệnh. Vậy bệ hạ là đệ nhất anh hùng chớ còn ai?

Gia Luật Hồng Cơ cười ha hả nói:

- Cô nương nói phải! Cô nương nói phải!

Rồi Gia Luật quay lại nói với Kiều Phong:

- Kiều hiền đệ! Ta muốn phong cho hiền đệ một tước vị xứng đáng. Ðể ta nghĩ xem phong chức gì cho phải?

Lúc này nhà vua tửu lượng mười phần đã uống hết tám chín, đưa ngón tay lên gõ trán mấy cái ra chiều suy nghĩ.

Kiều Phong nói:

- Bệ hạ bất tất phải nhọc lòng, tiểu nhân tính tình thô lỗ, khó lòng hưởng thụ giàu sang. Trước nay quen thói hạc nội mây ngàn, tấm thân vô định, thực tâm không muốn làm quan.

Gia Luật Hồng Cơ nói:

- Không được! Ðể ta phong cho hiền đệ một chức quan lớn chỉ cần uống rượu mà không cần làm việc.

Chưa dứt lời bất thình lình có hiệu tù và inh ỏi từ xa đưa đến, tiếng tù và gay gắt dường như có việc gì khẩn cấp.

Người nước Liêu đều ngồi trên chiếc chiếu trải dưới đất để dự tiệc vừa nghe tiếng tù và ai nấy đứng phắt dậy lộ vẻ kinh hoàng.

Tiếng tù và đi rất mau.

Hồi đầu tiên còn xa ngoài mười dặm, hồi thứ hai đã lại gần thêm mấy dặm.

Ðến hồi thứ ba chỉ còn mấy dặm mà thôi.

Kiều Phong nghĩ thầm:

- Con tuấn mã lẹ nhất đời hay khinh công tuyệt đỉnh của một nhân vật nào thì dù tìm khắp thiên hạ cũng không ai nhanh được như thế. Ðây chắc là người Liêu đã dự bị cách truyền tin nhanh chóng để cáo cấp quân tình. Hiệu tù và ở trạm đầu nổi lên truyền đến trạm hai rồi cứ thế truyền đi.

Hiệu tù và mỗi lúc gần lại, đến phía ngoài ngoài "bì thất đại trướng" thì đột nhiên im bặt.

Mấy trăm doanh trại đang mừng tiệc, hoan hô rầm rĩ rất là huyên náo, đột nhiên trở lại yên tĩnh không một tiếng động.

Gia Luật Hồng Cơ vẫn hớn hở tươi cười, từ từ nâng chén ngọc lên uống cạn rồi nói:

- Thượng kinh có kẻ phản loạn. Bây giờ chúng ta phải nhổ trại.

Hai tiếng "nhổ trại" nhà vua vừa nói ra, Quan Hành Quân Ðại tướng quân lập tức chuyển mình ra khỏi doanh trại phát lệnh.

Hiệu lệnh ban ra đến mười người rồi từ mười truyền đến trăm người từ trăm người ra đến ngàn người.
Lát sau khẩu hiệu vang động cả một góc trời nhưng quân sĩ vốn rất nghiêm chỉnh và có thứ tự, tuyệt không nhốn nháo chút nào.

Kiều Phong nghĩ thầm:

- Nước Ðại Liêu ta từ ngày lập quôác đến giờ đã hai trăm năm, oai phong lẫy lừng thiên hạ. Tuy có nội loạn mà quân tình vẫn nghiêm minh. Thế nên mấy triều Liêu chúa thống suất quân cơ rất có phương pháp.

Bỗng lại nghe tiếng vó ngựa dồn dập. Ðội quân tiên phong đi trước.

Tiếp theo là hai đội tả, hữu tiên phong. Tiền quân, tả quan, hữu quân, đã nhổ trại khởi hành.

Gia Luật Hồng Cơ dắt tay Kiều Phong nói:

- Chúng ta cùng đi xem.

Hai người ra khỏi đại trướng.

Tuy đêm tối nhưng mỗi mắt cờ hiệu đều có thắp đèn lồng xanh, đỏ, vàng, trắng, đủ màu sắc soi sáng.

Mười mấy vạn đại quân nhằm phía đông nam tiến phát.

Chỉ nghe tiếng vó ngựa hí và tiếng vó ngựa lộp cộp, không một tiếng người.

Kiều Phong tự nghĩ:

- Phép trị quân nghiêm minh thế này có thể bách chiến bách thắng. Bữa trước, hoàng thượng cậy tài một mình đi săn mới bị ta bắt. Giả tỉ đại quân kéo đến thì Nữ Chân tuy kiêu dũng cũng không tài nào địch nổi với quân quá chênh lệch.

- Ta cũng mong thế...

Mọi người ăn cơm xong thì có thám tử thứ hai về bẩm báo:

- Nam Viện đại vương lập hoàng thái thúc lên kế vị và đã ban chiếu xuống nhân dân.

Gã không dám nói thêm nữa, hai tay nâng chiếu chỉ của hoàng đế dâng lên.

Gia Luật Hồng Cơ đón lấy chiếu coi.

Tờ chiếu đại khái tố cáo Gia Luật Hồng Cơ hoán đoạt ngôi vua. Trong chiếu nói rõ cả đến việc đức tiên đế đã lập Gia Luật Hồng Cơ Trọng Nguyên làm hoàng thái đệ hai mươi bốn năm trời, nhân dân điều biết. Tiên đế băng hà, Gia Luật Hồng Cơ cướp ngôi đoạt bảo, khiến cho trong triều ngoài nội đều nổi lòng căm phẫn. Hiện nay Hoàng thái đệ lên ngôi chính thống, đốc xuất binh mã trong nước đi dẹp kẻ hoán đoạt v. v... Tờ chiếu này có nhiều lời xách động quần chúng. Quân dân nước Liêu xem tất phải hoang mang.

Gia Luật Hồng Cơ cả giận, cầm chiếu thư ném vào đống lửa cho cháy thành tro bụi.

Nhà vua trong lòng nóng nảy lo phiền nghĩ bụng:

- Hoàng thái thúc giữ chức vụ thiên hạ binh mã đại nguyên soái, có thể điều động hơn tám mươi vạn binh mã. Huống chi con y là Sở Vương lại điều động thêm binh mã dưới trướng nữa, thì khí thế lợi hại vô cùng. Ðây mình chỉ đem theo hơn mười vạn nhân mã đi hộ giá. Số quân quá chênh lệch quyết không địch nổi. biết làm thế nào?

Suốt đêm nhà vua trằn trọc ngủ không được.

Kiều Phong nghe Liêu đế muốn phong quan tước cho mình, ông toan dẫn A Tử đang đêm bỏ đi ngay không từ biệt nữa. Nhưng lúc này ông thấy nghĩa huynh gặp bước hoạn nạn không tiện đi ngay.

Ông nghĩ rằng:

- Dù sao mình cũng phải ra sức giúp y một phen mới khỏi uổng tấm lòng tri ngộ .

Ðêm hôm đó ông rảo bước đi chơi ngoài doanh trại, vẳng nghe có tiếng binh bàn tán, đều lo lắng cha mẹ vợ con đang ở Thượng Kinh nhất luật đều bị Hoàng thái thúc câu lựu hết e rằng tính mệnh không toàn.

Có lẽ nhớ đến người nhà đột nhiên buông tiếng khóc.

Tiếng khóc này dường như tính cách truyền nhiễm.

Một người vừa khóc lên hết thảy quan binh trong trại cũng khóc theo.

Chỉ trong khoảnh khắc tiếng khóc vang trời náo động cả một vùng hoang dã.

Tướng lãnh thống lĩnh ba quân bù cực lực cản trở hò hét khan cổ, mà cũng không ngăn nổi.

Gia Luật Hồng Cơ nghe tiếng than khóc biết là điềm quân tâm tan vỡ thì trong lòng phiền não vô cùng.

Sáng hôm sau, laị có thám tử đến báo hoàng thái thúc cùng Sở vương thống lĩnh hơn ba mươi vạn binh mã đến đây phạm giá.

Hồng Cơ nghĩ bụng:

- Hôm nay, chỉ tiến chứ không thoái, dù sao cũng quyết một trận tử chiến.

Nghĩ vậy nhà vua liền triệu tập bá quan thương nghị.

Quần thần đối với Hồng Cơ đều một dạ trung thành, nguyện hết sức quyết một trận tử chiến, nhưng ai cũng lo quân tâm nghiêng ngã.

Hồng Cơ truyền lệnh:

- Các quan binh phải ra sức dẹp kẻ phản loạn. Sau khi bình xong ngoài việc thăng quân còn được trọng thưởng.

Ðoạn nhà vua mặc áo giáp vàng, đầu đội mũ trĩ thân hành thống lĩnh ba quân tiến về phía Hoàng thái thúc.

Các quan quân thấy hoàng thượng thân hành cự địch đều phấn chấn hô vang:

- Vạn tuế!

Và thề liều chết cho vẹn lòng trung.

Kiều Phong đeo cung cầm mâu theo sau Hồng Cơ để hộ vệ nhà vua.

Hơn mươi vạn binh mã nhằm phía đông nam ào ào thẳng tiến.

Thất Lý cầm đầu một đội Phi Hùng để hộ vệ A Tử đi theo toán hậu quân.

Kiều Phong cưỡi ngựa theo sát Hồng Cơ, thấy ông tay phải cầm cương ngựa hơi run thì biết rằng nhà vua không nắm vững phần nào trong cuộc chiến tranh này.

Trong cánh đồng cỏ trừ tiếng vó ngựa dồn dập, không còn một thứ âm thanh nào khác.

Ði đến giữa giờ ngọ, thốt nhiên nghe thấy tiếng tù và nổi lên inh ỏi, ai cũng hiểu là quân địch sắp đến nơi.

Tướng lệnh trung quân truyền ra:

- Xuống ngựa!

Bao nhiêu quân sĩ đều xuống ngựa hết, cầm cương dắt ngựa đi chỉ có Gia Luật Hồng Cơ cùng các đại thần là được ngồi nguyên trên lưng ngựa.

Kiều Phong không hiểu sao kỵ binh phải xuống ngựa, ông lộ vẻ nghi ngờ.

Gia Luật Hồng Cơ thấy vậy cười hỏi:

- Hiền đệ ở Trung Nguyên đã lâu, chưa hiểu cách hành quân của người Khất Ðan phải không?

Kiều Phong đáp:

- Tiểu nhân đang định xin bệ hạ chỉ giáo cho.

Gia Luật Hồng Cơ cười đáp:

- Các tiếng xưng hô: "bệ hạ"đó không biết có còn được hết ngày nay nữa không? Hiền đệ cùng ta nên kêu nhau bằng anh em. Song hiền đệ cứ gọi ta là bệ hạ hoài?

Kiều Phong nghe tiếng cười của nghĩa huynh có đượm vẻ chua cay liền nói:

- Vâng, vâng xin đại ca chỉ giáo cho.

Hồng Cơ nói:

- Cuộc giao phong ngoài bình nguyên điều cần nhất là phải dè dụm mã lực, thứ hai mới đến nhân lực.

Kiều Phong bấy giờ phải tỉnh ngộ nói:

- À, phải rồi! Sở dĩ kỵ binh phải xuống ngựa là để dưỡng sức cho ngựa đỡ mệt.

Hồng Cơ gật gầu nói:

- Dành sức ngựa để đến lúc lâm trận xung phong cho mạnh không sức nào ngăn trở được. Người Khất Ðan đánh Ðông dẹp Bắc bách chiến bách thắng phần lớn là nhờ ở bí quyết này.

Nhà vua nói đến đây, thanh âm trầm xuống vì thấy trước mặt cát bụi tung trời, chưa thấy người mà bụi đã bốc lên cao đến hơn mười trượng.

Hồng Cơ cầm roi ngựa trỏ về phía trước hỏi:

- Hoàng thái Thúc cùng Sở Vương đã lâu ngày từng trải chiến trận, đều là những kiện tướng của nước ta. Họ vẫn cho binh sĩ cưỡi ngựa phóng tới rất gấp sao không dè dặt mã lực? Chắc là họ nắm vững phần thắng, không còn e dè chi nữa.

Chưa dứt lời bỗng thấy tả quân và hữu quân đồng thời hiệu tù và.

Kiều Phong dùng hết nhãn lực để nhìn ra xa thì thấy về phía Ðông có hai cánh quân mã, phía tây có hai cánh, kể cả toán chính diện nữa là năm toán đánh ập vào một toán.

Gia Luật Hồng Cơ biến sắc, ra lệnh cho tướng chỉ huy trung quân:

- Ngươi cho hạ trại đi!

Tướng chỉ huy trung quân dạ một tiếng rồi phóng ngựa chạy ra truyền lệnh cho ba quân hạ trại.

Lập tức các đội tiền quân và hữu quân đều quay lại.

Bao nhiêu quân sĩ trồng cột dựng nên một tòa doanh trại rất lớn.

Cả bốn mặt trước sau, tả hữu đều có kỵ binh đóng giữ.

Mấy vạn quân cung nỏ nấp vào phía sau những cột lớn và dương cung sẵn sàng chỉ còn chờ lệnh là bắn ra.

Kiều Phong nhíu cặp lông mày nghĩ thầm!

- Cuộc đại chiến này chưa biết ai thắng ai bại, thì người cùng dòng giống Khất Ðan cũng lâm vào thảm cảnh thây phơi đầy nội máu chảy thành sông. Nếu may mà nghĩa huynh thắng trận chẳng nói làm chi. Giả tỷ mà người bị hại, thì ta phải nghĩ kế cứu người cùng A Tử được an toàn và đưa đi ẩn lánh một nơi, còn cái ngôi hoàng đế chẳng làm thí thôi cũng chẳng cần gì.

Doanh trại của Liêu vùa mới dựng xong thì đội tiền phong bên phản loạn đã đến nơi.

Ðội tiền phong này không xông vào khiêu chiến, dừng ngựa ở đằng xa vừa tầm cung cứng tên mạnh bắn tới.

Ðồng thời hiệu trống và hiệu tù và liên thanh bất tuyệt.

Các đội ngũ bên địch bao vây khắp bốn mặt, trận thế rất chỉnh tề không hỗn độn chút nào.

Kiều Phong đưa mắt nhìn ra thấy quân địch không biết cơ man nào mà kể, ông trông không rõ hết được, nghĩ bụng:

- Trận đánh này e rằng nghĩa huynh mình tất bị thất bại. Ban ngày khó lòng phá vòng vây để trốn thoát phải cân chống đỡ cho được đến đêm, trời tối mình sẽ tìm cách cứu nguy rồi chạy trốn.

Ông nhìn bóng nắng chiếu xuống những cây cột bóng hãy còn ngắn chủn, mặt trời mới qua ngọ chưa được mấy tý.

Thốt nhiên không gian nổi lên mấy tiếng le te.

Mọi người ngẩn nhìn lên thì ra một đàn nhạn đang bay lưng trời.

Gia Luật Hồng Cơ cũng ngẩng đầu lên nhìn đàn nhạn giây lát rồi gượng cười nói:

- Giả tỷ lúc này ta có hóa làm giống chim nhạn kia cũng khó lòng bay ra thoát khỏi vòng vây này.

Bắc Viện Ðại Vương cùng viên tướng chỉ huy trung quân nhìn nhau thất sắc vì biết nhà vua thấy quân tình chênh lệch quá nhiều đâm ra khiếp sợ.

Ðột nhiên quân địch nổi trống trận vang trời.

Tướng chỉ huy trung quân bên Liêu chúa cũng lớn tiếng ra lệnh:

- Thúc trống!

Mấy trăm cái trống khua lên ầm ầm.

Tiếng trống bên địch vừa dứt, mấy vạn kỵ binh reo hò vang động ca góc trời, cầm trường mâu xông lại.

Ðội tiền phong bên địch đa lại tới vừa tầm tên bắn.

Tướng chỉ huy trung quân phất cờ một cái, tiếng trống im bật.

Mấy vạn mũi tên đuôi có tra lộng bắn ra vun vút.

Ðội tiền phong bên địch tới tấp ngã ngựa.

Song hàng trước ngã thì hàng sau lại xô lên ào ạt. những người ngựa phía trước ngã ra biến thành những ụ thịt đỡ tên cho những đội sau tiến lên.

Quân cung nỏ bên địch dùng mộc che mình để tiến lên nhằm ngự doanh bắn vào.

Gia Luật Hồng Cơ lúc ban đầu rất là khiếp sợ, nhưng đã đến lúc tiếp chiến thì nhà vua lại hăng hái bội phần, tay phải cầm một thanh trường đao ra hiệu lệnh chỉ huy ba quân.

Chương 47: Cuộc bội chiến rùng rợn giữa hai phe khất đan

Các tướng sĩ thấy Hoàng thượng thân hành đi trước nghênh địch liền cả tiếng hoan hô:

- Vạn tuế! Vạn vạn tuế!

Quân địch nghe thấy tiếng hô vạn tuế, ngoảnh đầu lên coi thấy Gia Luật Hồng Cơ mặc bào vàng giáp vàng đứng ở phía trước doanh trại.

Nhà vua oai phong lẫm liệt khiến cho quân địch bỗng nhiên chùn lại không dám tiến nữa.

Gia Luật Hồng Cơ thấy cơ hội thuận lợi liền hô lớn:

- Ðội tả quân kỵ binh xông trận!

Tướng chỉ huy cánh tả quân là Bắc Viện Khu Mật Sứ vừa nghe Hoàng thượng ra lệnh dẫn ba vạn kỵ binh quanh lại bao vây cạnh sườn mé hữu nghịch quân.

Bên địch sau khi trông thấy Gia Luật Hồng Cơ, lòng quân đã nao núng, không đề phòng cánh quân tinh nhuệ trong ngự doanh hùng dũng xông ra.

Bắc Viện Khu Mật Sứ lại là một danh tướng nước Liêu.

Quân hai bên giao chiến được hay thua là do khí thế mạnh hay yếu.

Ðịch quân đang lúc do dự thì đội kỵ binh bên ngự doanh đã xông đến.

Nghịch quân lập tức rối loạn hấp tấp lùi lại.

Bên ngự doanh lại thúc trống trận, cho cánh hữu quân xông ra nữa.

Nghịch quân vừa giao chiến mấy hợp bị thua phải rút lui.

Ngự quân ào ạt đuổi theo như vũ bão.

Kiều Phong cả mừng la lên:

- Cung hỉ đại ca! Trận nầy bên ta toàn thắng rồi.

Gia Luật Hồng Cơ hạ trại xong, nhảy lên lưng chiến mã dẫn quân ra tiếp ứng.

Bỗng nghe hiệu tù và nổi lên, cánh quân sinh lực bên địch xông ra.

Chớp mắt, tên bắn dao đâm vèo vèo, cuộc tranh đấu kịch liệt vô cùng.

Kiều Phong kinh hãi nghĩ thầm:

- Bình sinh ta chưa từng thấy cuộc giao phong nào khốc liệt như bữa nay. Một người dù có bản lãnh thiên hạ vô địch ở giữa đám thiên binh vạn mã này, cũng hết đất dụng võ. Có giỏi chăng nữa cũng chỉ giữ mình cho khỏi mất mạng là may. Cuộc giao chiến giữa những toán quân khổng lồ này so với những cuộc tỉ võ một người hay nhiều người trong võ lâm thật khác nhau một trời một vực.

Bất thình lình phía sau mặt trận, nghịch quân nổi hiệu thanh la lui binh.

Ðội kỵ binh nghịch quân rút lui thì đội cung nỏ bắn tên ra như mưa để yểm hộ cuộc rút lui.

Tướng chỉ huy trung quân cùng Bắc Viện Khu Mật Sứ dẫn quân xông trận ba lần đều không làm cho trận thế đối phương rối loạn được, mà bên ngự quân có đến vài ngàn binh sĩ bị bắn chết.

Gia Luật Hồng Cơ ra lệnh:

- Sĩ tốt tử thương quá nhiều rồi, hãy tạm lui quân!

Lập tức ngự doanh nổi hiệu thanh la lui binh.

Bên nghịch quân phái hai đội xông ra tập kích song ngự quân đã chuẩn bị trước tránh bại rút lui rồi bổ vây hai bên.

Hai đội nghịch quân độ ba ngàn người bị quân binh vây hãm, ngoài ra còn mấy trăm tên xuống ngựa đầu hàng.

Gia Luật Hồng Cơ vẫy tay một cái, quân sĩ trong trại doanh cầm trường mâu ra đâm chết hết ba trăm tên quân địch này.

Hai bên đánh nhau trong vòng một giờ mà cuộc thảm sát tàn khốc dị thường, rồi cả hai bên cùng rút lui chủ lực cách xa nhau tầm tên bắn không tới được.

Khu đất trống ở giữa hai mặt trận, thây phơi máu chảy ghê hồn những kẻ bị thương kêu gào thật thê thảm.

Hai bên cùng cho đội quân áo đen ba trăm người chạy ra kiểm điểm những người bị thương.

Kiều Phong tưởng họ ra khiêng thương binh về cứu chữa.

Không ngờ đội áo đen này ra đến nơi rút đao chém hết những thương binh đối phương.

Sau khi chém chết hết rồi, quân áo đen hai bên la hét om sòm quay ra đánh nhau.

Kiều Phong thấy hai đội quân áo đen này tuy nhân số chẳng có là bao nhưng đều là những tay võ giỏi.

Ánh đao lấp lánh hai bên chiến đấu cực kỳ kịch liệt.

Chỉ trong khoảnh khắc đã có đến hai trăm tên bị chém chết ngã lăn xuống đất.

Ðội quân áo đen bên ngự doanh mạnh hơn, mới bị chết có mấy chục người, thành ra số còn lại hai ba người hợp lại chọi một và thế được thua đã hiển nhiên.

Ðánh thêm một lúc nữa số người nhiều ít càng chênh lệch nhau ba bốn gã quân binh một tên nghịch quân.

Lạ thay quân hai bên chỉ reo hò trợ oai, mấy chục vạn nghịch quân cũng thỏng tay bàng quang chứ không thêm binh tiếp viện.

Sau cùng ba trăm nghịch quân áo đen đều bị giết hết. Ðội ngự quân áo đen còn trở về được hơn một trăm ba mươi tên.

Kiều Phong nghĩ thầm:

- Ðây hẳn là thể lệ tranh đấu của người Liêu như vậy?

Nhìn vào cuộc chiến tranh khốc liệt này, tuy lề lối đã kém xưa nhiều nhưng chí phấn đấu kinh hồn động phách của hai bên hãy còn thấy rõ.

Gia Luật Hồng Cơ giơ cây trường đao lên, lớn tiếng truyền lệnh:

- Nghịch quân tuy nhiều nhưng tướng sĩ không có lòng chiến đấu. Bên ta lại tiếp tục một trận nữa chắc phải thua.

Ngự quân nhất tề hoan hô:

- Vạn tuế! Vạn vạn tuế!

Tiếng hoan hô vừa dứt bỗng nghe bên địch quân nổi hiệu tù và.

Ba người cưỡi ngựa từ từ đi đến.

Người đi giữa hai tay cầm một mảnh da dê giương ra cất tiếng dõng dạc đọc, thì ra đây là chiếu thư của Hoàng thái Thúc.

Tờ chiếu như sau: "Gia Luật Hồng Cơ cướp ngôi, y chỉ là ngụy quân. Hiện nay Hoàng thái Thúc lên ngôi chính thống. Vậy đã là quan binh trung thành của nước Ðại Liêu, phải lập tức về triều quy thuận. Tân hoàng đế nhất lượt gia phong tam cấp."

Mười mấy tay cung nỏ bên ngự quân phóng tên ra veo véo nhằm bắn vào người đọc chiếu thư.

Người này được hai gã đi hai bên giơ mộc lên che đỡ phía trước.

Người đứng giữa toan tiếp tục đọc nữa thì đột nhiên ba con ngựa đều bị bắn trúng ngã khuỵu xuống.

Ba gã ẩn mình vào phía sau những lá mộc và một gã tiếp tục đọc xong chiếu thư của Hoàng thái Thúc rồi lui về bản trận.

Bắc Viện Ðại Vương thấy quan binh dưới trướng mình khi nghe xong ngụy chiếu thư có ý ngã nghiêng, liền hạ lệnh:

- Các ngươi ra thóa mạ lại đi!

Ba chục tên quan binh liền ra đứng trước trại.

Hai mươi tên giơ mộc lên che đỡ cho mười tay mạ thủ già giọng lớn tiếng thóa mạ.

Gã mạ thủ đầu tiên lớn tiếng mắng:

- Những tên phản quốc gian tặc kia! Chúng bay chết không có đất mà chôn đến nơi rồi!

Sau gã thứ nhứt, gã mạ thủ thứ hai nhiếc mắng còn tệ hại hơn.

Những tên về sau càng buông những lời tục tĩu ra chửi rủa.

Kiều Phong chưa biết tiếng Khất Ðan mấy, nên ông không hiểu những câu chửi rủa này, chỉ thấy Gia Luật Hồng Cơ gật đầu lia lịa ra chiều đắc ý thì chắc rằng những tay"mạ thủ"này đã chửi bới một cách hay ho.

Kiều Phong lại đưa mắt nhìn sang bên trận địch thì thấy xa xa có chỗ che tàn che tán, ánh vàng rực rỡ và có hai người cưỡi tuấn mã đứng tay cầm roi ngựa chỉ trỏ.

Một người đầu đội mũ bình thiên, mình mặc áo hoàng bào. Dưới cằm chòm râu dài đã lốm đốm bạc.

Còn một người mặc áo giáp vàng lấp lánh dưới bóng dương quang. Người này mặt mũi gầy nhom nhưng có vẻ tinh thần tráng kiện.

Kiều Phong nghĩ thầm:

- Coi điệu bộ này thì hai người đó chắc là cha con Hoàng thái Thúc và Sở Vương.

Thốt nhiên mười gã mạ thủ ngừng lại thầm thì bàn nhau một hồi lại ngoạc mồm gân cổ bới móc những việc thầm kín của Hoàng thái Thúc cùng Sở Vương ra mà chửi rủa.

Hoàng thái Thúc dường như là người chính trực xuất thân, không chửi mắng vào chỗ nào được, mười gã mạ thủ chỉ xỉa xói vào Sở Vương. Họ kể tội y nào:

gian dâm phi tần của phụ thân, nào cậy thế cha làm càn.

Những câu chửi bới này để ly gián cảm tình giữa hai cha coa.

Cả mười tên đồng thanh chửi bới rất to và rất nhịp nhàng, thanh âm vọng ra xa đến mấy dặm.

Mấy chục vạn quân sĩ bên địch đến quá nửa nghe được rõ ràng.

Sở Vương cầm roi ngựa vẫy một cái nghịch quân la lối om xòm.

Tiếng la vang dội cả góc trời làm át mất hẳn tiếng chửi bới của mười tay mạ thủ.

Sau một hồi náo loạn bỗng thấy quân địch rẽ ra hai bên để đẩy mười chiếc xe ra đến trước ngự doanh.

Xe dừng lại, những tên quân theo xe lôi mấy chục đàn bà con gái ở trong xe xuống.

Có bà già tóc bạc phơ. Có cô trạc tuổi đang xuân. Người nào cũng ăn mặc cực kỳ lịch sự.

Bọn đàn bà vừa ra khỏi xe thì tiếng chửi mắng đôi bên đều im bặt.

Gia Luật Hồng Cơ kêu thét lên:

- Mẫu thân ơi! Mẫu thân! Hài nhi phải bắt quân nghịch phân thây muôn đoạn để báo thù cho mẫu thân.

Nguyên bà già tóc bạc này là đương kim Hoàng thái hậu, tức Tiêu thái hậu, mẫu thân Gia Luật Hồng Cơ, còn ngoài ra là Tiêu hoàng hậu, các vị phi tần, Công chúa vân vân...

Hoàng thái thúc cùng Sở Vương thừa dịp Hồng Cơ ra ngoài săn bắn nổi loạn bao vây cung cấm, bắt Hoàng thái hậu cùng hết thảy gia quyến nhà vua.

Hoàng thái hậu lớn tiếng nói:

- Xin bệ hạ đừng lấy thân già này cùng vợ con làm trọng, phải hết sức giết giặc!

Mấy chục tên quân rút đao ra kề vào cổ đám hậu phi. Bọn phi tần nhỏ tuổi khóc lóc kêu gào.

Hồng Cơ cả giận quát to:

- Bắn chết hết những kẻ kêu gào khóc lóc kia đi!

Tên bay lách cách bắn ra hơn mười mũi, bao nhiêu phi tần công chúa đều bị chết hết dưới mũi tên tàn bạo.

Hoàng hậu reo lên:

- Bệ hạ bắn là phải lắm! Cơ nghiệp của tổ tông truyền lại không thể để rơi vào tay bọn gian thần tặc tử!

Sở Vương thấy Hoàng thái hậu cùng hoàng hậu đều quật cường chẳng những không uy hiếp được Hồng Cơ mà lại làm cho lòng quân bên mình nghiêng ngửa, liền hạ lệnh:

- Bắt những người đàn bà đó bỏ lên xe đẩy lùi lại.

Bọn quân sĩ bắt Hoàng thái hậu bỏ lên xe rồi đẩy lùi lại phía sau trận tuyến.

Sở Vương lại hạ lệnh:

- Ðẩy xe chứa gia đình quan quân bên địch vào trong trận.

Chợt nghe thấy tiếng sáo trúc nổi lên, thanh âm rất thê thảm.

Quân mã rẽ sang hai bên, tiếng lọc cọc đẩy ra.

Một dãy dài già trẻ trai gái từ phía sau đưa ra mặt trận, tiếng khóc vang trời.

Ðây là gia quyến của các tướng sĩ trong ngự doanh.

Ðám quan binh trong ngự doanh là những thân quân kề cận Liêu đế nên Gia Luật Hồng Cơ ưu đãi họ đặc biệt cho gia quyến được vào ở thượng kinh. Một là khiến họ đem lòng cảm kích, lúc có việc sẽ liều mình chết, hai là để giám thị toán quân tinh nhuệ này không dám đem lòng phản trắc. Ngờ đâu chuyến này đi săn biến loạn xảy ra từ trong nhà người thân tín của nhà vua là Hoàng thái thúc làm phản.

Gia thuộc bọn quan binh ngự doanh này có đến trên hai mươi vạn người. Trong đó có nhiều người vì lúc rối loạn mà bắt lầm. Trong lúc nhốn nháo không xét rõ được ai thuộc vào hạng gia quyến bên địch.

Chỉ thấy một đoàn trai gái dắt díu nhau đều bị giải ra trước trận.

Bất quá độ hai vạn người đáng bị bắt.

Còn ngoài ra đều là những người khác ở thượng kinh cũng bị bắt trong lúc nhốn nháo và đưa cả đến đây.

Sở Vương sai một tướng dưới cờ tung ngựa ra trận lớn tiếng gọi:

- Các quan binh ngự doanh nghe đây! Gia quyến các ngươi đều bị bắt. Hễ ai đầu hàng sẽ được thăng quan và trọng thưởng. Còn kẻ nào không đầu hàng thì tân Hoàng đế ra lệnh đem gia quyến ra chém hết.

Người Khất Ðan vốn tính tàn nhẫn hiếu sát đã nói chém giết là chém giết thật sự chứ không phải chỉ hăm dọa mà thôi.

Các quan binh trong ngự doanh có một số nhận ra người nhà lên tiếng gọi nhau:

- Gia gia! Má má! Hài tử! Phu quân! Hiền thê!

Tiếng gọi nhau náo loạn lên.

Bỗng nghe trống bên địch thúc vang, hai nghìn tên đao phủ đi bộ xông ra tay cầm đại đao sáng loáng.

Tiếng trống vừa dứt, hai nghìn thanh đại đao giơ lên nhằm vào đầu bọn gia quyến quan binh.

Viên tướng vừa rồi lại gọi to:

- Ai về đầu hàng tân Hoàng đế sẽ được trọng thưởng. Còn ai không hàng thì gia đình sẽ bị giết hết.

Gã vẫy tay một cái trống lại nổi lên...

Tướng sĩ bên ngự doanh biết rằng hồi trống dứt, viên tướng kia vẫy tay ra hiệu là hai ngàn thanh đao chém xuống.

Nguyên quan quân này trước đây vẫn một lòng trung với Hồng Cơ, Hoàng thái thúc cùng Sở Vương biết rằng đem mồi thăng quan ra nhử không lôi kéo được họ, nên phải đem cha mẹ vợ con cho họ mắt thấy cảnh gia đình bị tàn sát tất phải khiếp sợ.

Trống thúc liên hồi không ngớt. Thân quân trống ngực đánh thình thình.

Ðột nhiên, trong ngự doanh có một người chạy ra kêu òm lên:

- Má má ơi! Má má! Ðừng giết má tôi!

Gã quăng mâu xuống, hộc tốc chạy về phía bà lão trong trận bên địch.

Trong ngự doanh bắn tên ra véo một cái trúng vào lưng gã, nhưng gã chưa chết cứ chạy băng băng về phía mẫu thân.

Những tiếng gọi nhau ơi ới. Con gọi cha, anh gọi em, vợ gọi chồng, nhốn nháo cả lên.

Liền một lúc mấy trăm người trong ngự doanh ùa chạy sang trận địch.

Những quan chức thân tín của Gia Luật Hồng Cơ rút kiếm chém lia mà không ngăn lại nổi.

Trước còn mấy trăm người sau đến hàng ngàn người chạy đi.

Thật là một cuộc đại loạn. Trong số mười lăm vạn quân dã chạy đi mất tám, chín vạn.

Gia Luật Hồng Cơ thở dài sườn sượt.

Nhà vua biết rằng đại cuộc hỏng mất rồi, liền nhân lúc bọn thân quân bỏ trại, chạy đi nhận gia quyến, hạ lệnh:

- Nhổ trại rút lui về phía núi Thương Mang ngã Tây Bắc.

Tướng chỉ huy trung quân mật truyền hiệu lệnh cho số quân còn lại chưa đầu hàng chừng độ năm sáu vạn người.

Tiến đội đổi làm hậu quân, hậu quân đổi làm tiền đội nhổ trại về phía Tây Bắc.

Sở Vương vội truyền lệnh cho quân kỵ đuổi theo, song trên bãi chiến trường gia đình binh sĩ già trẻ lớn bé đày dẫy làm nghẽn cả lối đi. Khi dẹp được đường cho quân kỵ rượt theo thì ngự quân đã chạy xa rồi.

Trên năm vạn thân quân chạy đến chân núi Thương Mang thì trời dã hoàng hôn.

Quân sĩ vừa đói vừa mệt nhọc, lập doanh trại trên sườn núi đẻ tiện việc phòng thủ ở trên đánh xuống.

Thân quân lập trại vừa xong chưa kịp nấu cơm thì Sở Vương đã tự mình thống lĩnh toán quân tinh nhuệ đuổi đến chân núi.

Sở Vương lập tức hạ lệnh xung phong đánh lên sơn trại.

Nhưng thân quân ở trên núi bắn xuống như mưa. Nghịch quân vừa bị chết vừa bị thương có đến trên ba ngàn người.

Sở Vương thấy thế trận bất lợi liền hạ lệnh thu binh, đóng trại dưới chân núi.

Tối hôm ấy, Gia Luật Hồng Cơ đang đứng bên sườn núi nhìn ra xa thấy doanh trại nghịch quân đèn đuốc như sao sa.

Từ phía xa cũng thấy ánh lửa chập chờn, đó là hậu đội nghịch quân cũng kéo đến tham chiến.

Nhà vua lòng buồn rười rượi muốn vào trướng yên nghĩ đột nhiên Bắc Viện Khu Mật Sứ chạy đến báo cáo:

- Một vạn năm ngàn quân mã dưới trướng hạ thần bỏ chạy xuống núi đầu hàng nghịch tặc. Hạ thần trị quân không nghiêm, tội đáng muôn thác.

Gia Luật Hồng Cơ vẫy tay nói:

- Cái đó không thể trách ngươi được. Thôi vào nghĩ đi.

Nhà vua quay lại nhìn thấy Kiều Phong đứng bên cạnh đang ngớ ngẩn xuất thần, liền bảo:

- Ðến sáng mai, nghịch quân sẽ kéo đại binh đến vây đánh, chúng ta sẽ bị bắt hết. Ta là một vị Quốc quân không thể chịu nhục với bọn nghịch tặc, sẽ tự vẫn để báo đền xã tắc, hiền đệ ơi! Hiền đệ đưa cô em trong lúc đem tối trốn đi! Võ công hiền đệ rất mực cao cường, nghịch quân không ngăn trở được đâu.

Nhà vua nói đến đây, vẻ mặt thê lương nói tiếp:

- Ta những tưởng ban cho hiền đệ quyền cao chức trọng, hưởng thụ phú quý. Ngờ đâu đến tính mệnh ca ca không giữ được, còn làm liên lụy đến cả hiền đệ.

Kiều Phong nói:

- Bậc đại trượng phu phải biết đường lui tới. Hôm nay bại trận tiểu đệ bảo hộ đại ca trốn đi chiêu tập những người trung nghĩa mưu đường phục quốc.

Hồng Cơ lắc đầu nói:

- Nay ta không giữ được tính mệnh cho lão mẫu cùng thê tử, sao còn được gọi là bậc Ðại trượng phu? Dưới con mắt người Khất Ðan, kẻthắng là anh hùng, người thua thành phản nghịch. Ta bị một trận tan tành, còn mong gì trung hưng cơ nghiệp. Hiền đệ trốn đi thôi! Kiều Phong biết Hồng Cơ đã nói thực tình, ông khẳng khái đáp:

- Ðã thế thì sáng mai tiểu đệ cùng đại ca ra quyết một trận sống mái với quân địch. Chúng ta đan kết nghĩa kim lan thì đại ca làm hoàng đế hay thường dân cũng vậy thôi. Kiều Phong này lúc nào cũng coi đại ca là nghĩa huynh. Huynh trưởng gặp nạn kẻ làm em phải liều cùng sống chết, có lý đâu chạy trốn lấy một mình?

Gia Luật Hồng Cơ hai hàng nhiệt lệ tuôn rơi, cầm tay Kiều Phong nói:

- Hiền đệ ơi! Hiền đệ thật là người có nghĩa khí ta rất cảm tạ.

Kiều Phong về trướng mình thấy A Tử nằm trong góc, hai mắt mở thao láo, thì ra nàng vẫn chưa ngủ. Nàng hỏi:

- Tỷ phu có giận em không?

Kiều Phong lấy làm lạ hỏi lại:

- Giận cô điều chi?

A Tử nói:

- Chúng ta gặp tai nạn này là tự em gây ra. Nếu em không đòi ra du ngoạn ngoài cánh đồng cỏ thì đâu đến nỗi bị khốn ở đây. Tỷ phu ơi! Chúng ta đành chịu chết tại chốn này rồi phải không?

Ánh lửa đỏ ngoài trướng soi vào bộ mặt lợt lạt của nàng thoáng hiện nét ửng hồng, trông càng thêm vẻ non nớt.

Kiều Phong cảm thấy xót thương nói:

- Tôi giận cô thế nào được? Nếu tôi không đánh cô đến bị thương thì đã không tìm đến chốn này.

A Tử tủm tỉm cười nói:

- Nếu em không phóng độc châm thì việc gì tỷ phu đánh em đến bị thương?

Kiều Phong đưa tay ra vuốt ve mái tóc A Tử. Nhưng từ khi nàng bị thương, tóc rụng mất quá nửa. Mớ tóc còn lại đã ít lại vàng khè.

Kiều Phong khẽ thở dài một tiếng nói:

- Cô còn bé bỏng thế này mà đã chịu khổ sở vì tôi.
A Tử nói:

- Tỷ phu ơi! Trước em không biết làm sao tỷ nương lại ưa tỷ phu? Nhưng về sau em hiểu ra rồi.

Kiều Phong nghĩ bụng:

- Tỷ nương cô thâm tình biết là chừng nào. Cô còn nhỏ đã biết gì. Thực ra vì sao mà A Châu lại thương yêu một kẻ thô lỗ như mình. Chính mình cũng còn chẳng hiểu thì cô này biết thế nào được?

A Tử nghoảnh đầu lại, nét mặt lộ vẻ kỳ dị nói:

- Tỷ phu! Tỷ phu có biết tại sao hôm ấy em bắn độc châm vào tỷ phu? Em không muốn bắn chết tỷ phu, mà chỉ chủ tâm bắn cho tỷ phu không nhúc nhích được, để em được kề cận luôn bên mình.

Kiều Phong hỏi:

- Thế thì có chi là thú?

A Tử mỉm cười nói:

- Khi tỷ phu không cử động được thì vĩnh viễn không thể xa em. Nếu không thì lúc nào tỷ phu ghét em lại bỏ đi, không thèm nhìn gì đến nữa.

Kiều Phong nghe nàng nói tuy ra vẻ con nít nhưng không khỏi hãi hùng. Ông biết rằng không phải buột miệng nói hồ đồ, nên lại càng thương xót và nghĩ thầm: "Sáng mai chắc là phải chết. Thôi ta an ủi cô này mấy câu.

Nghĩ vậy ông nói:

- Cô nghĩ như vậy thực trẻ con quá. Nếu cô thực tình ưa tôi, sao không nói thật ra thử xem tôi có chịu không nào?

Cặp mắt A Tử đột nhiên sáng ngời, lộ vẻ vui mừng nói:

- Tỷ phu ơi! Sau khi thương thế em khỏi rồi, em vẫn đi theo tỷ phu, vĩnh viễn không trở về nơi sư phụ phái Tinh Tú nữa. Tỷ phu đừng bỏ em nhé!

Kiều Phong biết A Tử đã gây nên vạ lớn với phái Tinh Tú, đúng là nàng không dám về đó nữa. Sáng mai đây, đội quân của Hoàng Thái Thúc đánh lên sơn trại, ngọc đá đều ra tro hết, khó lòng có cơ trốn thoát được.

Nghĩ vậy ông liền cười nói:

- Cô làm Ðại sư tỷ phái Tinh Tú mà không trở về thì khác gì để họ như rắn mất đàu, làm sao tiện?

A Tử cười đáp:

- Ðể cho bọn họ rối loạn với nhau một mẻ, em không bận tâm gì đến bọn họ nữa.

Kiều Phong kéo chăn đắp cho nàng rồi cũng giải tấm chiên ra nằm xuống một góc trường.

Ánh lửa ngoài trương chập chờn lúc tắt lúc sáng, vẳng nghe tiếng khóc ầm ĩ bên tai.

Kiều Phong biết đó là bọn ngự quân nghĩ đến gia đình.

Chúng cũng tự hiểu sáng mai khôn toàn tính mệnh, nhưng vì tấc dạ trung trinh với Hoàng thượng mà không chịu phản bội.

Sáng sớm hôm sau, Kiều Phong tỉnh dậy bảo gã đội trưởng Thất Lý chuẩn bị ngựa tốt, trông nom cho A Tử ông mặc quần áo gọn ghẽ ăn hết hai cân thịt dê, uống một cân rượu rồi chạy ra sườn núi.

Lúc này trời còn tối om.

Nhưng chẳng bao lâu thì trời rạng đông.

Trong trại địch, hiệu tù và nổi lên vang động, rồi tiếng khí giới va chạm chan chát.

Bên ngự doanh một đội binh mã kéo ra phòng vệ các nơi hiểm yếu.

Tiêu Phong ở trên cao nhìn xuống thấy ba mặt Ðông Nam và Tây đầu người lố nhố toàn là địch quân.

Một màn sương trắng bao phủ ngoài xa nên không trông rõ.

Lát sau vừng thái dương đã nhô lên đầu ngọn cỏ, muôn đạo hào quang chiếu ra bắn tan chỗ sương mù dày đặc.

Kiều Phong trông rõ toàn là quân mã bên địch.

Ðột nhiên trống trận nổi lên, hai đội quân địch mang hiệu cờ vàng tiến ra theo sau Hoàng Thái Thúc cùng Sở Vương.

Hai vị này cưỡi ngựa đến chân núi, giơ tay chỉ trỏ lên trên núi ra chiều đắc ý.

Gia Luật Hồng Cơ xuất lĩmh đội thị vệ đứng trên sườn núi thấy vậy, lửa giận bốc lên ngùn ngụt, nhắc lấy cây cung của một tên quân trong đội thị vệ.

Ðứng trên núi nhòm xuống tựa hồ địch đã gần kềmà thật ra hãy còn cách xa.

Tên bắn rà mới đến nửa vời đã rơi xuống đất.

Sở Vương cười ha hả nói:

- Hồng Cơ! Ngươi cướp ngôi của gia gia ta làm ngụy quân đã bấy nhiêu lâu nên nhường ngôi lại đi. Ngươi mau mau đầu hàng, gia gia sẽ tha chết cho và cũng gia nhân nghĩa phong cho ngươi làm chức Hoàng thái điệt.

Nói xong y lại cười ha hả.

Mấy câu này rõ ràng Sở Vương có ý châm chọc Hồng Cơ đã giả nhân nghĩa phong cho Gia Luật Trọng Nguyên làm Hoàng thái thúc.

Hồng Cơ cả giận mắng lại:

- Quân phản tặc vô liêm sĩ kia! Sao còn dám mở miệng nói càn .

Bắc Viện Khu Mật Sứ nói:

- Vua nhục thì bầy tôi phải chết. Chúa thượng đối với hạ thần ơn nặng tày non. Hôm nay chính là lúc hạ thần báo ơn chúa thượng.

Nói xong Khu Mật Sư lãnh ba ngàn thân binh reo hò xuống núi.

Ba ngàn người này là những tay dũng sĩ Khất Ðan.

Chuyến này họ biết mình thế nào cũng chết, nên ai nấy cũng liều mình, một người đánh lại mười, reo hò xông trận, chiến đấu một cách cực kì anh dũng, khiến cho địch quân lập tức phải lùi lại hơn một dặm.

Sở Vương phất cờ hiệu.

Mấy vạn quân mã lại tiến lên. Tiếng đao thương va chạm nhau lẫn tiếng người huyên náo vang động cả một góc trời. Máu thịt bắn lên tung tóe.

Ba ngàn quân mỗi lúc một mòn đi rồi sau cùng bị chết hết.

Bắc Viện Khu Mật Sứ ra sức chém giết thêm mấy người nữa rồi tự đâm cổ mà chết.

Hồng Cơ cùng Kiều Phong ở trên núi trông xuống rất rõ nhưng không có cách nào cứu được.

Trong lòng hai vị xiết bao cảm kích tấc dạ trung thành của con người liệt sĩ đều phải sa nước mắt.

Sở vương lại ruổi ngựa đến chân núi cười nói:

- Hồng Cơ! Bây giờ ngươi đã chịu đầu hàng chưa? Ngươi chỉ còn chút ít quân mã thì làm gì được? Bọn thủ hạ ngươi đều là dũng sĩ nước Ðại Liêu. Sao ngươi nỡ để họ chết uổng theo ngươi. Ðã là một đấng nam nhi, một bậc đại trượng phu thì phải cả quyết mau lẹ. Hàng thì hàng lẹ, đánh cũng đánh ngay. Nếu đã biết mình sức cùng lực kiệt thì nên tự vận mà chết để tạ tội với thiên hạ, khỏi làm uổng mạng sĩ tốt.

Gia Luật Hồng Cơ thở dài một tiếng, hai mắt đẫm lệ, tay cầm thanh đao nói:

- Giang sơn cẩm tú nhường cho cha con nhà ngươi. Thế là giữa tình chú cháu, anh em đã cốt nhục tương tàn. Sao còn giết hại dũng sĩ Khất Ðan.

Nói xong giơ đao lên toan đâm cổ.

Kiều Phong giơ bàn tay dài như tay vượn ra thi triển Cẩm nã thủ pháp cướp lấy thanh đao trong tay Gia Luật Hồng Cơ nói:

- Ðại ca là bậc anh hùng hảo hán, có chết thì chết ở chiến trường, cớ sao lại tự vẫn?

Hồng Cơ thở dài nói:

- Hiền đệ ơi! Ở đây có bao nhiêu tướng sĩ theo ta đã lâu ngày ta không nỡ ra nơi trận địa, để bọn họ phải hộ vệ ta mà uổng mạng.

Bỗng nghe Sở Vương lớn tiếng gọi:

- Hồng Cơ! Ngươi chưa tự vẫn đi còn đợi đến bao giờ?

Tay gã cầm roi chỉ trỏ ra chiều đắc ý vô cùng.

Kiều Phong thấy Sở Vương mỗi lúc một đến gần thì nghĩ ra một kế, khẽ nói vỡi Hồng Cơ:

- Ðại ca đối thoại với y để kéo dài câu chuyện, tiểu đệ lần mò đến gần y để bắn một phát.

Hồng Cơ vốn biết Kiều Phong bản lãnh phi thường mừng thầm nói:

- Kế ấy hay lắm! Nếu bắn chết được y thì dù ta có mất mạng cũng nhắm mắt được.

Nhà vua liền cất cao giọng nói:

- Sở Vương kia! Ta đối đãi với cha con ngươi có điều chi tệ bạc? Phụ thân ngươi muốn làm Hoàng đế thì làm chứ sao? Hà tất phải sát hại bao nhiêu tướng sĩ cùng trăm họ, làm tổn thương đến nguyên khí nước ÐẠi Liêu ta?

Kiều Phong cầm một cây cung cứng, mười mũi tên lang nha, dắt một con tuấn mã từ từ ra sườn núi. Ông né người xuống chui xuống vào gầm bụng ngựa, hai chân móc lên lưng ngựa chí mạnh một cái cho ngựa chạy xuống.

Bọn nghịch quân dưới chân núi thấy con ngựa không có người cưỡi chạy xuống đều cho là ngựa đứt dây cương chạy rông, chẳng lấy chi làm lạ, không ai buồn để ý. Ngựa chạy xuống mỗi lúc một gần, một tên quân trông thấy dưới gầm bụng ngựa có người ẩn nấp, lập tức hô hoán lên.

Kiều Phong lấy chân thích mạnh vào lưng ngựa cho ngựa xông thẳng đến phía Sở Vương.

Ông thấy chỉ còn cách chừng hai trăm bộ, liền bám sát bụng ngựa giương cung nhắm Sở Vương bắn tới.

Bọn vệ sĩ đứng bên Sở Vương rất lanh lợi, giơ mộc lên để tránh tên.

Kiều Phong bắn nỏ liên châu, một gã vệ sĩ bị trúng tên ngã ra.

Phát tên thứ hai bắn tới ngực Sở Vương.

Sở Vương nhanh mắt lẹ tay vung roi ngựa lên gạt.

Nguyên cách dùng roi gạt tên là một tuyệt kỹ của Sở Vương.

Song y có ngờ đâu người bắn cung sức cánh tay mãnh liệt phi thường, nội kinh dồn cả vào mũi tên.

Roi ngựa chỉ gạt được mũi tên trệch đi một chút.

Véo một tiếng, mũi tên đã cắm vào vai bên tả, Sở Vương trúng tên rú lên:

- Ái chao!

Rồi đau quá phải nằm phục xuống yên ngựa.

Những tên Kiều Phong bắn, chuôi có lông phóng ra rất mạnh và trúng đích.

Lúc phát tên thứ hai bắn ra thì ông đã đến gần Sở Vương hơn, mũi tên xuyên qua lưng y đến trước ngực.

Sở Vương lảo đảo rồi từ trên lưng ngựa ngã lăn xuống đất.

Kiều Phong vừa ra trận đã thành công, bắn chết được Sở Vương thì nghĩ thầm: "Chi bằng ta thừa cơ, bắn chết luôn Hoàng thái thúc."

Ðịch quân thấy Sở Vương chết rồi ngã lăn xuống ngựa đều hô hoán ầm lên.

Mấy trăm quân cung nỏ nhắm bắn vào con ngựa có Kiều Phong ẩn mình.

Chỉ trong chớp mắt con ngựa này đã bị trúng đến dư hai trăm mũi tên.

Kiều Phong nằm dưới đất lăn đi mấy vòng đến gần một con ngựa khác do một tên địch quân cưỡi.

Chỗ này quân địch toàn là kỵ binh, Kiều Phong thi triển thuật nhỏ mọn từ gầm bụng nhoai sang gầm bụng ngựa kia.

Ðịch quân ở vào tình thế ném chuột sợ bể đồ không dám bắn tên nữa, vì sợ bắn nhằm người phe mình.

Chúng liền rút trường mâu ra đâm tới tấp, song Kiều Phong chuồn dưới gầm bụng ngựa thoắt sang bên tả, thoắt qua mé hữu.

Ðịch quân nhốn nháo cả lên xô đẩy nhau, chen chúc nhau, chỉ tổ xéo lên nhau, mà không đâm trúng được Kiều Phong.

Nguyên Kiều Phong thi triển cách lẩn mình đó chỉ là một xảo thuật rất tầm thường của giới võ lâm ở Trung Nguyên gọi là "dịa đường công phu." Tất cả những thế địa đường quyền, địa đường đao, địa đường kiếm, đều nằm lăn lộn dưới đất để tùy cơ nhằm đánh vào hạ bộ bên địch.

Kiều Phong là người mắt nhanh tay lẹ, thân pháp tuyệt diệu, dùng cách này chuồn qua hàng ngàn bụng ngựa để đến gần Hoàng thái thúc.

Vút! Vút! Vút! Ba mũi tên nhằm Hoàng thái thúc bắn ra.

Bọn vệ sĩ hộ vệ Hoàng thái thúc thấy Sở Vương bị bắn chết, dĩ nhiên là đã phòng cẩn mật.

Hơn ba chục tên giơ mộc lên che kín mấy tầng cho Hoàng thái thúc.

Ba mũi tên chạm vào mộc vang lên những tiếng leng keng rồi rớt xuống.Trong tay Kiều Phong có mười mũi tên mà đã bắn ra hết bảy mũi, chỉ còn có ba.

Ông nhìn thấy bên địch có đến dư ba chục lá mộc che đỡ cho Hoàng thái thúc thì tính rằng ba mũi tên này có giỏi cũng chỉ bắn chết được ba tên vệ sĩ là cùng, còn nói chi đến chuyên bắn Hoàng thái thúc.

Lúc này Kiều Phong đã vào sâu trong trận địch.

Phía sau hàng ngàn quân khinh kỵ cầm trường mâu đuổi theo, trước mặt lại có thiên binh vạn mã, ông đã bị hãm vào nơi tuyệt địa.

Ngày nọ một mình ông, tiếng gọi là độc đấu quần hùng ở đất Trung Nguyên, song đối phương bất quá chỉ vài trăm người cũng đã nguy hiểm lắm rồi, may có người đến tiếp cứu mới thoát chết.

Bữa nay Kiều Phong bị hãm vào giữa chốn trùng vi mấy vạn người thì làm cách nào để thoát thân được.

Kiều Phong lâm vào tình trạng con dã thú đến bước đường cùng.

Bất thình lình ông gầm lên một tiếng thật to, tung người nhảy vọt lên qua ba chục lá mộc rồi hạ mình xuống trước ngựa Hoàng thái thúc.

Hoàng thái thúc giật mình khinh sợ vội giơ roi lên quất vào mặt đối phương.

Kiều Phong né người đi tránh ra, đồng thời nhảy phốc lên yên ngựa Hoàng thái thúc, tay trái nắm lấy sau lưng lão, giơ cao người lão lên quát hỏi:

- Ngươi muốn sống hay là muốn chết? Muốn sống thì bảo ba quân hạ binh khí xuống ngay!

Hoàng thái thúc hồn vía lên mây thộn mặt ra dường như không nghe rõ lời Kiều Phong.

Lúc đó quân địch la rầm lên nghe muốn đứt cả màng tai. Háng ngàn hàng vạn quân giương tên nhắm bắn Kiều Phong. Song chúng thấy Hoàng thái thúc bị ông bắt giữ trong tay nên không dám bắn nữa.

Kiều Phong vận khí từ huyệt đan điền lên, dõng dạc tuyên bố:

- Hoàng thái thúc hạ lệnh cho tam quân phải bỏ binh khí để nghe tuyên đọc thánh chỉ: "Hoàng đế đại xá cho tam quân đều được vô tội bỏ đi không cứu xét."

Tuy ông chỉ nói mấy câu đơn giản mà khiến được mấy chục vạn quân xôn xao cả lên.

Tiếng ông hô rất lớn, vang động cả một khu vực rộng đến vài dặm.

Có đến quá nửa số quân nghe rất rõ ràng, công lực Kiều Phong quả nhiên phi thường.

Bọn nghịch quân vốn chỉ là một phong trào ồ ạt.

Chúng đều muốn bắt Gia Luật Hồng Cơ để được công lớn.

Bây giờ thốt nhiên thấy Sở Vương chết ở trân tiền, lòng quân đã lung lay.

Kế tiếp lại thấy Hoàng thái thúc bị bắt, ai nấy đều nhốn nháo cả lên, không biết làm thế nào.

Kiều Phong đã rút kinh nhgiệm về vụ Bang chúng Cái Bang phản nghịch thâm hiểu lòng người.

Ðứng trước hoàn cảnh phản nghịch mà bị thất bại, người nào cũng chỉ cầu được miễn tội.

Vậy điều cần nhất là mình tỏ ra bỏ hết thù cũ quyết không cứu xét, thì quân phản nghịch tự nhiên mất hết chí chiến đấu.

Lúc này nghịch quân thế lớn, Bên Gia Luật Hồng Cơ bất quá còn hơn hai vạn người ngựa. Nếu còn tiếp tục chiến đấu thì quyết nhhiên không địch lại với số quân địch quá chênh lệch.

Vì thế ông không chờ Gia Luật Hồng Cơ xuống mà chỉ tuyên bố mấy câu để yên lòng quân nghịch.

Mấy câu nói dõng dạc của Kiều Phong vừa truyền ra, nghịch quân đang nhốn nháo, lập tức im lặng phăng phắc ngơ ngác nhìn nhau, trong lòng hoang mang không có chủ đích gì cả.

Kiều Phong biết là cục diện lúc này hãy còn rất nguy hiểm. Chỉ một người đứng bên hô hào là mười mấy vạn quân vô chủ này sẽ ngae theo ngay gây đại biến. Ông không dám trì hoãn giây phút nào, lập tức hô lớn:

- Hoàng đế xuống chỉ, tướng sĩ nghịch quân bất luận lớn nhỏ, nhất luận đều được tha hết. Hoàng đế đặc biệt rộng ơn, quyết không tra xét, quan quân đều được giữ nguyên chức vụ. Vậy các người mau mau bỏ khí giới đi.

Bỗng thấy tiếng loảng xoảng vang lên, một số người quẳng trường mâu trong tay xuống.

Tiếng hạ khí giới truyền nhiễm rất mau.

Chỉ trong chớp mắt có đến phân nửa quẳng khí giới theo, còn phân nửa phân vân chưa quyết.

Kiều Phong giơ cao người Hoàng thái thúc lên, phóng ngựa từ từ lên núi.

Bọn nghịch quân không ai dám cản trở.

Ðầu ngựa ông đi tới đâu là phía trước lại tránh ra để nhường lối đi.

Kiều Phong cưỡi ngựa lên đến lưng chừng sườn núi thì có hai đội ngự doanh quân cưỡi ngựa đón lên sơn trại.

Trên đỉnh núi vang lừng chiên trống nhộn lên một bầu không khí tưng bừng.

Kiều Phong lại nói:

- Hoàng thái thúc! Hoàng thái thúc mau mau hạ lệnh cho bọn thuộc hạ bỏ khí giới đầu hàng thì sẽ được toàn tính mạng.

Hoàng thái thúc nói:

- Ngươi dám bảo đảm cho ta ư?

Kiều Phong quay đầu nhìn xuống thấy còn vô số nghịch quân trong tay vẫn cầm lăm lăm cung tên và trường mâu thì biết rằng lòng quân chưa định, nguy hiểm chưa qua.

Ông nghĩ thầm:

- Hiện giờ việc trấn tỉnh quân tâm là cần nhất. Một mạng Hoàng thái thúc giết đi hay để sống có chi là đáng kể, chỉ cần phái người canh giữ giám sát, quyết từ đây về sau y không dám phản bội nữa.

Kiều Phong nghĩ vậy liền nói:

- Bây giờ chỉ còn một đường lối hay nhất là Hoàng thái thúc đoái tội lập công. Hoàng đế biết rõ việc này đều do Sở Vương gây ra nhất định sẽ tha chết cho Hoàng thái thúc.

Nguyên Hoàng thái thúc vốn không nghĩ đến tranh đoạt đế vị. Chỉ vì con lão là Sở Vương có dã tâm thoát đoạt mà gây nên vạ lớn. Lúc này lão đã bị bắt, chỉ còn mong được toàn mạng, liền đáp:

- Thôi ta cũng đành theo lời ngươi!

Kiều Phong đặt Hoàng thái thúc ngồi xuống yên ngựa, dõng dạc lên tiếng:

- Tam quân hãy nghe đây! Hoàng thái thúc có chỉ thị cho các người.

Hoàng thái thúc lớn tiếng hô:

- Người gây nên bạo loạn là Sở Vương hiện đã bị chết rồi. Ðức Hoàng thượng khoan hồng đại lượng tha tội hết thảy cho các ngươi. Các ngươi mau mau hạ khí giới rồi đến trước Hoàng thượng thỉnh tội.

Hoàng thái thúc vừa nói xong, bọn nghịch quân khác nào như rắn không đầu, dù có kẻ hung hăng quật cường, cũng không dám trái lệnh.

Rồi những tiếng loảng xoảng vang lên, hết thảy nghịch quân đều hạ khí giới.

Kiều Phong áp giải Hoàng thái thúc lên núi Thương Mang.

Gia Luật Hồng Cơ nỗi mừng biết lấy chi cân, khác nào như người trong mộng choàng tỉnh giấc.

Nhà vua chạy đến bên Kiều Phong, nắm chặt hai tay nói:

- Hiền đệ ơi! Hiền đệ ơi! Giang sơn này của ca ca, từ đây anh em ta cùng hưởng.

Nói tới đây nhà vua cảm động quá, bất giác sa lẹâ.

Hoàng thái thúc quỳ phục xuống đất nói:

- Kẻ loạn thần là Trọng Nguyên cam chịu tử tội trước bệ hạ cầu mong bệ hạ khoan ơn.

Gia Luật Hồng Cơ lúc này vui vẻ quá, quay lại hỏi Kiều Phong:

- Hiền đệ tính thế nào đây?

Kiều Phong đáp:

- Nghịch quân người nhiều thế mạnh, điều cần nhất hiện giờ là phải chấn tỉnh quân tâm. Xin bệ hạ giáng chỉ tha tử tội cho Hoàng thái thúc để tránh lòng quân phản trắc.

Hồng Cơ cười nói:

- Hay lắm, hay lắm! Nhất thiết việc gì ta cũng nghe hiền đệ.

Nhà vua quay lại bảo Bắc Viện Ðại Vường:

- Khanh truyền chỉ ra phong cho Kiều Phong tước Sở Vương giữ chức vụ Nam Viện Ðại Vương, và thống lĩnh nghịch quân rút về thượng kinh.

Kiều Phong nghe nói giật mình. Ông giết Sở Vương, bắt Hoàng thái thúc chỉ vì muốn cứu mạng cho nghĩa huynh, tuyệt không có ý mưu đồ tước lộc.

Bây giờ thấy Gia Luật Hồng Cơ đột nhiên phong quyền tước lớn cho mình thì chân tay luống cuống không biết nói thế nào.

Bắc Viện Ðại Vương nhìn Kiều Phong, chắp tay nói:

- Xin kính mừng Kiều huynh! Tước Sở Vương trước nay chưa phong cho ai người họ khác.

Kiều Phong tạ ơn Hoàng thượng đi!

Kiều Phong tiến về phía Gia Luật Hồng Cơ nói:

- Thưa dại ca! Công cuộc hôm nay mà vãn hồi được là nhờ hồng phúc tày trời của đại ca khiến cho quan binh chịu thúc lòng qui thuận, mà bình định xong công cuộc phản loạn này, tiểu đệ bất quá đem chút sức mọn ra góp vào mà thôi có chi là đáng kể công lao. Huống chi tiểu đệ không biết làm quan mà cũng không muốn làm quan. Xin đại ca thu hồi sắc mạng cho.

Gia Luật Hồng Cơ cười ha hả đưa tay phải ra nắm lấy vai Kiều Phong nói:

- Tước vị Sở Vương, quan hàm Nam Viện Ðại Vương là chức quyền tối cao của Triều Ðình Ðại Liêu, nếu hiền đệ còn chê nhỏ không chịu thần phục ta, thì ca ca đây đành nhường luôn cả ngôi hoàng đế cho hiền đệ, ngoài ra không còn cách nào nữa.

Kiều Phong giật mình lẩm bẩm:

- Chết chưa! Ca ca ta vì mừng vui quá mà quyên cả hình thức mất rồi, không còn nhớ gì cả. Nếu mình do dự có thể gây nên biến cố.

Nghĩ vậy, Kiều Phong đành quì xuống bẩm:

- Thần là Kiều Phong xin lãnh chỉ. Ða tạ hoàng ân.

Gia luật Hồng Cơ tươi cười giơ tay ra nâng Kiều Phong dậy.

Kiều Phong nói:

- Hạ thần không dám nghịch chỉ, vâng mệnh lãnh quan tước. Song hạ thần là kẻ thảo dã tính tình lỗ mãng không hiểu pháp độ triều đình. Nếu có phạm lỗi, mong được bệ hạ khoan hồng.

Gia Luật Hồng Cơ vỗ vai Kiều Phong nói:

- Không hề chi mà ngại.

Nhà vua quay sang nhìn một người đứng tuổi trạc ngoài bốn mươi nói:

- Gia Luật Mạc Ca! Ta cho ngươi lãnh chức Nam Viện Khu Mật Sứ phò tá Kiều Phong đại vương, phụ trách quân vụ trong nước.

Gia Luật Mạc Ca cả mừng vội quỳ xuống tạ ơn Hoàng thượng, rồi khom lưng làm lễ tham bái Kiều Phong, nói:

- Thuộc hạ xin tham kiến đại vương.

Hồng Cơ nói:

- Mạc Ca! Ngươi bẩm với đại vương truyền lệnh cho, đặng thống lĩnh nghịch quân quay về Thượng kinh. Chúng ta lại vấn an Thái hậu.

Lúc đó trên núi chiên trống tưng bừng. Gia Luật Hồng Cơ cùng bá quan xuống núi. Các loạn tướng đã dẫn quân vào thỉnh Hoàng thái hậu, Hoàng hậu ra ngoài tù xa và cung kính mời ngồi chờ trong doanh trại.

Gia Luật Hồng Cơ tiến vào trong trướng. Mẹ con, vợ chồng làm lễ tương kiến. Trải qua một cuôc cải tử hồi sinh, mọi người đều hoan hỉ tán dương công lớn của Kiều Phong, bất tất phải thuật kĩ cho rườm lời.

Gia Luật Mạc Ca đi trước dẫn đường và giới thiệu Kiều Phong cùng các bộ thuộc Nam Viện để cùng nhau làm lễ tương kiến.

Vừa rồi Kiều Phong xông vào chỗ thiên binh vạn mã, anh dũng tuyệt luân, mọi người đều mắt thâùy. Các thuộc viên dưới trướng Sở Vương cũ thấy Kiều Phong thần oai lẫm liệt liền đem lòng khiếp sợ, không ai dám tỏ ý bất phục. Chẳng những Kiều Phong anh hùng làm họ kính sợ, mà Sở Vương trước tính nết nóng nảy chẳng được ai ưa.

Chúng vừa thấy Kiều Phong vào đến quân trung hết thảy đều nghe lệnh răm rắp.

Kiều Phong nói:

- Ðức Hoàng thượng đã miễn tội cho các ngươi đi theo kẻ phản thần làm loạn. Từ đây sắp tới, các ngươi phải biết hối cải ăn năn, đừng ăn ở hai lòng mà gây nên tội đại nghịch.

Một tướng râu bạc tiến ra nói:

- Bẩm Ðại Vương! Hoàng thái thúc cùng Thế tử bắt hết gia thuộc chúng tôi, bức bách chúng tôi phải theo hai người làm loạn. Nếu chúng tôi không theo họ, Thế tử sẽ chém hết cả nhà, chúng tôi lâm vào tình trạng bất đắc dĩ mà gây nên tội lỗi, mong rằng Ðại Vương tâu rõ lên thánh thượng cho.

Kiều Phong gật đầu nói:

- Các ngươi đã biết thế thì chúa thượng sẽ khoan dung không hỏi gì đến tội trước nữa.

Nói xong, Kiều Phong quay sang bảo Gia Luật Mạc Ca:

- Bây giờ cho tam quân nghĩ ngơi, ăn uống xong, lập tức nhổ trại về kinh.

Các quan viên dưới trướng Nam Viện Ðại Vương đều được giữ nguyên chức vào lạy mừng Kiều Phong. Kiều Phong tuy trước kia chưa làm quan, nhưng ông đã từng làm Bang chúa Cái Bang lâu ngày, cầm đầu bao nhiêu anh hùng hảo hán một cách rất oai nghiêm. Nay ông thống lĩnh bọn hào kiệt Khất Ðan cũng chẳng khác gì mấy với qui cựu hào kiệt đất Trung Nguyên. Dù trong việc cầm quân nước Liêu có lề luật riêng, Kiều Phong cũng chỉ để ý một chút là hiểu hết. Hơn nữa ông lại được tay phò tá Gia Luật Mạc Ca phân phái các bộ thuộc cùng thu xếp mọi việc rất đúng phép tắc.

Kiều Phong thống lĩnh đại quân sắp lên đường thì Hoàng thái hậu cùng Hoàng hậu phái sứ giả đưa mũ áo tiền bạc đến ban cho.

Kiều Phong tạ ơn xong, Thất Lý hộ vệ A Tử cũng vừa tới nơi.

Nàng mặc áo gấm cưỡi tuấn mã đều do Hoàng thái hậu ban cho.

Kiều Phong thấy A Tử thân hình loắt choắt, mặc bộ áo rộng thùng thình. Bộ mặt nàng bé nhỏ, bị cổ áo che lấp quá nửa.

A Tử chưa được mắt thấy Kiều Phong bắn chết Sở Vương, bắt sống Hoàng thái thúc, nhưng nàng được nghe bọnThất Lý thuật chuyện lại. Khi người ta thuật lại chuyện gì, thế nào cũng thêm thắt vào cho câu chuyện thêm đậm đà, để công cuộc oai hùng của Kiều Phong càng thêm vẻ li kỳ.

A Tử vừa nhìn thấy Kiều Phong đã trách ngay:

- Tỷ phu ơi, tỷ phu lập nên công trạng lớn lao mà không nói trước cho em hay, để em như người ngồi trong ống chẳng biết chi hết.

Kiều Phong cười nói:

- Ðó chẳng qua là vận hên lập được chút công nhỏ mọn, trước đã biết đâu mà nói? Cô vừa thấy tôi lại nói chuyện trẻ nít rồi.

A Tử nói:

- Tỷ phu ơi! Tỷ phu lại gần đây!

Kiều Phong liền đến bên nàng, ông thấy bộ mặt gầy ốm xanh xao vì hân hoan quá đỗi mà thoáng hiện ánh hồng. Khi trông đến áo xiêm nàng bận, thấy nàng buồn cười lại vừa khả ái.

Kiều Phong không nhịn được phá lên cười ha hả.

A Tử làm mặt giận nói:

- Em nói chuyện đứng đắn sao tỷ phu lại cười hô hố thật là kỳ quá.

Kiều Phong cười nói:

- Tôi trông cô mặc áo chẳng khác gì người đóng trò, coi rất thú vị.

A Tử hậm hực nói:

- Tỷ phu coi em là tuồng con nít để làm trò cười cho tỷ phu chắc?

Kiều Phong nói:

- Không phải thế! A Tử cô nương! Lần này tôi tưởng cả hai người chúng ta cùng chết mất mạng, ngờ đâu lại được thoát chết. Tôi lấy làm khoan khoái quá, còn những chức tước Nam Viện Ðại Vương chi chi đó, tôi thật không màng. Mình được sống sót đã là may mắn lắm rồi.

A Tử hỏi:

- Tỷ phu sợ chết lắm hay sao?

Kiều Phong ngẩn ngơ giây lát rồi gật đầu đáp:

- Phải rồi! Gặp lúc nguy hiểm, dĩ nhiên tôi sợ chết.

A Tử nói:

- Em thì cho tỷ phu là bậc anh hùng hảo hán không sợ chết. Nếu tỷ phu sợ chết thì sao dám xông vào chỗ thiên binh vạn mã?

Kiều Phong đáp:

- Cái đó kêu bằng:

tìm sự sống trong đất chết. Giả tỷ không liều lĩnh xông pha thì chết còn gì. Thế đâu có phải là dũng cảm với anh hùng? Chẳng qua mình chỉ như con dã thú đến bước đường cùng thì phải liều mạng mà thôi. Tỷ như chúng ta bao vây con gấu hay con cọp, nó không có đường chạy thoát thì nó phải nhảy xổ vào cắn xé ta may ra thoát chết.

A Tử mỉm cươì nói:

- Tỷ phu lại đem ví mình với giống súc sinh rồi.

Lúc đó hai người đều cưỡi trên lưng ngựa sánh vai mà đi. Kiều Phong đưa mắt nhìn ra xa, trên cánh đồng cỏ bát ngát cờ xí tung bay, đội ngũ tề chỉnh kéo một hàng dài không biết đến đâu là cùng. Chung quanh hai người vô số sĩ tốt hộ vệ.

A Tử khoan khoái vô cùng, nàng nói:

- Ngày nọ em đoạt được chân thừa kế phái Tinh Tú. Hai ba đời phái này mới được vài trăm đệ tử. Trừ sư phụ ra thì em là người có quyền lớn hơn cả, trong lòng đã lấy làm hí hửng. Nhưng bây giờ so với tỷ phu thống lĩnh dư hai mươi vạn nhân mã thì chẳng ăn thua vào đâu. Tỷ phu! Em nghe nói Cái Bang không cho tỷ phu làm Bang chúa. Chà! Chà! Một Cái Bang nhỏ xíu lấy gì làm quí. Bây giờ tỷ phu đem binh mã đến giết sạch họ đi!

Kiều Phong lắc đầu lia lịa nói:

- Cô nương lại nói chuyện trẻ con rồi! Tôi là người Khất Ðan, Cái Bang không cho làm Bang chúa là hợp lý hợp tình. Vả lại, người Cái Bang đều là bạn cũ của tôi sao lại giết họ?

A Tử nói:

- Bọn chúng đuổi tỷ phu ra khỏi Bang, đối xử bất nhân với tỷ phu, thì nên giết sạch đi chớ để làm gì? Sao tỷ phu còn bảo họ là bạn?

Kiều Phong chưa biết trả lời ra sao, chỉ lắc đầu quầy quậy. Ông nhớ lại khi ở Tụ Hiền Trang đã tuyệt giao và chặt đứt mối tình cũ với bạn bè thì không khỏi bùi ngùi trong dạ.

A Tử hỏi:

- Giả tỷ bọn họ biết tin tỷ phu làm đến Nam Viện Ðại Vương nước Ðại Liêu, chắc là họ hối hận lắm, nhưng họ có muốn rước tỷ phu về làm Bang chúa Cái Bang, chắc tỷ phu cũng không chịu làm nữa.

Kiều Phong tủm tỉm cười nói:

- Ðâu lại có lý thế được? Các bậc anh hùng hảo hán ở nhà Tống đều coi người Khất Ðan là phường tội ác ngập đầu. Tôi ở nước Liêu càng làm quan to bao nhiêu, họ càng căm hận tôi bấy nhiêu.

A Tử nói:

- Úi chà! Họ căm hận tỷ phu thì làm cóc gì? Mình tha căm hận cho họ là tốt.

Kiều Phong buông luồng nhởn tuyến nhìn ra chân trời xa trong rừng núi chập chùng lẩm bẩm:

- Qua dãy núi bên kia là đến Trung Nguyên rồi đó.

Tuy ông là người Khất Ðan, nhưng ở Trung Nguyên từ thuở nhỏ nên trong thâm tâm ông thích nhà Ðại Tống hơn nước Ðại Liêu nhiều. Giả tỷ người Cái Bang bao dung cho ông làm một tên tiểu tốt vô danh, một gã đệ tử hạng bét chưa được đeo túi, có lẽ ông còn khoái hơn làm tới chức Nam Viện Ðại Vương tại nước Ðại Liêu.

A Tử lại nói:

- Tỷ phu ơi! Em cho rằng đức Hoàng thượng thật là thông minh. Người phong cho tỷ phu làm Nam Viên Ðại Vương để ngày sau nước Ðại Liêu có giao tranh với nước ngoài tỷ phu sẽ lãnh binh đi chinh phạt, tất là đánh đâu được đấy. Tỷ phu chỉ có việc xông vào trận địch bắn chết chủ tướng, tất nhiên địch quân phải quì xuống xin hàng, như thế là toàn thắng.

Kiều Phong mỉm cười nói:

- Bộ hạ Hoàng thái thúc đều là quan binh nước Liêu trước nay vẫn nghe mạng lệnh hoàng thái thúc. Hôm nay sở dĩ họ phải đầu hàng là vì Sở Vương bị chết, Hoàng thái thúc bị bắt. Còn trường hợp hai nước giao tranh thì tình hình lại khác hơn. Mình có giết được quan nguyên soái thì họ còn phó soái cầm đầu, Giết đư

Chương 48: Kiều anh hùng phụng mạng xuất chinh

Kiều Phong xưa nay không ưa kể những trận đắc thắng hay những võ công oanh liệt của mình. Hồi ông còn ở Cái Bang, ra trận giết được bao nhiêu kẻ gian ác cực kỳ lợi hại, nhưng bất luận cuộc ác đấu kịch liệt đến thế nào, khi về tới bản Bang, ông cũng chỉ nói sơ qua là đã giết được người này người nọ. Còn những việc từng trải gian nan thì bất cứ người nào hỏi ông cũng không chịu nói ra.

Lúc này nghe A Tử hỏi đến, nhớ lại đời mình từng đánh quen trăm trận, lâm địch thế nào rút lui ra sao, kể về lòng dũng cảm của ông không bao giờ nói hết được.

Tuy nhiên, ông cũng chỉ trả lời một cách lờ mờ:

- Tôi đánh nhau với ai, đều là chuyện bất đắc dĩ. Ðã bất đắc dĩ mà phải chiến đấu thì làm gì còn có chuyện dũng cảm nữa.

A Tử nói:

- Em biết rồi! Chuyện dũng cảm nhất của tỷ phu là cuộc ác đấu ở Tụ Hiền Trang.

Phong rùng mình hỏi:

- Sao cô biết việc ấy?

A Tử đáp:

- Hôm đó ở hồ Tiểu Kính, sau khi tỷ phu đi rồi, gia gia, má má cùng bọn thuộc hạ gia gia em có nói chuyện đến tỷ phu và xem chừng ai nấy đều bội phục võ công tỷ phu. Họ kể rằng tỷ phu đến Tụ Hiền Trang dự cuộc anh hùng đại hội rồi một mình đấu với quần hùng chỉ vì câu chuyện đến chữa nội thương cho một thiếu nữ lại chính là tỷ nương em. Lúc đó gia gia cùng má má em chưa biết A Châu tỷ nương là ái nữ của mình. Họ còn biểu tỷ phu đối xử với nghĩa phụ, nghĩa mẫu cùng ân sư cực kỳ độc ác tàn nhẫn, nhưng đối với đàn bà con gái rất đa tình. Họ kết luận tỷ phu vong ân phụ nghĩa, tàn nhẫn cùng hiếu sắc, là con người bất cận nhân tình..

Nói tới đó nàng cười lên khanh khách.

Kiều Phong lẩm bẩm:

- Vong ân phụ nghĩa, tàn nhẫn hiếu sắc! Hỡi ơi! Trách nào những bậc anh hùng hảo hán Trung Nguyên chẳng nghiến răng căm giận Kiều Phong này!

Ðại quân đi liền trong mấy ngày về đến Thượng Kinh.

Trăm quan ở lại giữ kinh thành cùng trăm họ đã được tin, ra tận ngoài xa để đón tiếp.

Lá cờ soái của Kiều Phong đi đến đâu cũng được trăm họ thắp hương quỳ lạy, hoan hô ca tụng công đức của Kiều Phong vì họ biết rằng nếu ông không dẹp xong cuộc biến loạn này thì không biết còn bao nhiêu quân sĩ nước Liêu phải uổng mạng. Nhân dân ở Thượng kinh đại đa số là gia quyến ngự doanh quân, cố nhiên cảm kích ơn đức ông vô cùng!

Kiều Phong lỏng buông tay khấu cho ngựa đi bước một. Trăm họ reo hò vang dội:

- Ðội ơn Nam Viện Ðại Vương đã cứu mạng!

Chỗ thì reo:

- Xin hoàng thiên bảo hộ Nam Viện Ðại Vương sống lâu trăm tuổi.

Kiều Phong nghe những lời chúc tụng cùng thấy trăm họ nước mắt chạy quanh vì cảm đọng thì biết làhọ chí thành. Ông nghĩ: "Một người ở ngôi cao, nhất cử nhất động có quan hệ đến họa phúc của muôn dân. Khi ta bắn chết Sở Vương, chỉ nhân một lúc sinh cường muốn cứu nghĩa huynh và tự cứu mình, không ngờ lại là một việc làm ơn cho bá tính. Than ôi! Lúc ta còn Ở Trung Nguyên cố ý tâm thành hảo sự cho mọi người, mà lại bị bao nhiêu điều chê trách, trở nên một tên gian ác trong chốn giang hồ. Ta vừa đến Ðại Liêu tự nhiên lại thành ra cứu tinh cho trăm họ. Thế thì biết đâu là thiện là ác, thực khó mà phân biệt được."

Thượng kinh là thủ đô của nước Ðại Liêu. Thời bấy giờ Ðại Liêu là nước lớn thứ nhất sau nhà Ðại Tống. Nhưng lực lượng nước Liêu còn cường thịnh hơn nhà Ðại Tống nhiều. Người Khất Ðan sinh nhai bằng nghề súc mục không có chỗ ở nhất định. Những cung điện ở thành thượng kinh thô bỉ hủ lậu, so với Trung Nguyên thật khác nhau một trời một cực.

Ðại quân về thượng kinh, đội quân nào về doanh ấy, những quan tướng thuộc quyền Nam Viện Ðại Vương được Kiều Phong đón vào vương phủ.

Vương phủ này là chỗ ở của Sở Vương.

Sở Vương trước cực kỳ xa xỉ, dinh thự rất là rộng lớn. Trong nhà trần thiết kế cực kỳ xa hoa.

Kiều Phong suốt đời yên phận nghèo nàn, ông vào vương phủ đi coi các phòng viện một lượt.

Ông không quen những cảnh giàu sang phú quý liền sai thuộc hạ dựng hai nơi doanh trướng để mình cùng A Tử mỗi người ở một cái. Cách khải cư của ông giản dị chất phác như xưa.

Ðến ngày thứ ba, xa giá Gia Luật Hồng Cơ, Hoàng thái hậu, Hoàng hậu, Công chúa về đến thượng kinh.

Kiều Phong dẫn bách quan ra tiếp giá.

Trong triều tấp nập bận rộn luôn mấy ngày.

Ðầu tiên là tiệc khánh hạ bình xong cuộc đại loạn luận công ban thưởng, kế đến việc vỗ về gia đình Bắc Viện Khu Mật Sứ cùng các quan binh đã tử nạn.

Hoàng thái thúc tự biết mình không còn mặt mũi nào về đến triều đình nên tự vẫn ngay ở dọc đường.

Hồng Cơ là người thủ tín, những quan binh về phe đảng phản nghịch đều không bị xét hỏi gì cả.

Trong hoàng cung mở yến tiệc khao thưởng công lao tướng sĩ luôn ba ngày.

Kiều Phong là bậc anh hùng đệ nhất trên chiếu tiệc.

Gia Luật Hồng Cơ, Hoàng thái hậu, Hoàng hậu, các phi tần cùng công chúa ban thưởng rất nhiều.

Các quan văn võ cũng đưa đồ lễ đến tặng, chất như núi.

Yến tiệc khao thưởng xong xuôi, Kiều Phong đến Nam Viện phục vu.

Tộc trưởng mười mấy bộ lạc trong nước Ðại Liêu lục tục kéo đến bái kiến, những bbộ lạc đó là: Ô Ngổi bộ, Bắc Khắc bộ, Nam Khắc bộ, Thất Vi bộ, Mai Cổ Tất bộ, Ngũ Quốc bộ, Ô Cổ Lạc bộ rồi còn gì nữa ông không nhớ hết.

Tiếp theo đến các quan quân trong "đại trướng Bì Thất" của Hoàng đế, quan quân thuộc sau doanh của Hoàng hậu, những quan quân, những đội thị vệ trong Hoàng Ninh cung, Trường Ninh cung, Vĩnh Hưng cung, Tích Khánh cung, Diêm Xương cung tấp nập vàp làm lễ bái kiến.

Những thuộc quốc của Ðại Liêu cộng năm mươi chín nước là Thổ Cốt Hồn, Ðột Quyết, Ðảng Hạng, Sa Ðà, BA Tư, Ðại Thục, Tân Giới, Hồi Cốt, Thổ Phồn, Cao Xương, Cao Ly, Tây Hạ, Vu Ðiền, Ðôn Hoàng v. v.. Các nước đều cho sứ thần đưa lễ vật đến Thượng kinh. Họ biết rằng Kiều Phong nắm giữ binh quyền nên đưa tặng đồ trân bảo để cầu thân. Kiều Phong hàng ngày phải tiếp khách hay đón tiếp các bộ thuộc. Trước mắt ông toàn thị vàng bạc, châu báu, bên tai ông toàn những lời ca tụng, nịnh hót. Ông lấy làm phiền phức và chán ngán.

Hơn một tháng trời, Kiều Phong bận bịu vào việc tiếp khách mới hết người đến chúc mừng.

Một hôm Gia Luật Hồng Cơ vời ông vào triều bệ kiến. Nhà vua nói:

- Hiền đệ lãnh chức Nam Viện Ðại Vương ngồi trấn giữ Nam Kinh để chờ cơ hội đánh xuống Trung Nguyên. Tuy ca ca không muốn xa rời hiền đệ. Nhưng vì muốn lập kì công để lại nghìn thu, vậy hiền đệ sớm chọn ngày thống lĩnh ba quân tiến xuống cõi Nam nghe!

Kiều Phong nghe Hoàng thượng sai mình lĩnh Nam Chính, trong lòng kinh hãi hỏi:

- Nam Chính là việc trọng đại, đâu phải chuyện tầm thường. Kiều Phong này là một kẻ dũng phu sợ không đương nổi việc đó.

Gia Luật Hồng Cơ cười nói:

- Nước nhà mới trải qua cơn biến loạn cần cho sĩ tốt nghĩ ngơi. Nhà Ðại Tống hiện Thái hậu đang cầm quyền, trọng dụng Tư Mã Quan sửa sang việc triều chính không có chổ nào sơ hở. Chúng ta không nên khởi binh Nam chinh lúc này. Hiền đệ ơi! Hiền đệ xuống Nam Kinh rồi nên luôn luôn để tâm đến việc thôn tính Nam triều. Bên ta chờ khi nào Tống triều xảy ra cuộc nội biến là lập tức ra quân. Họ ở trong thời kì nội bộ vững vàng mà Liêu quốc ta cử binh đi xâm lược sẽ phải tổn nhiều lực lượng mà thu lượm được ít hiệu quả.

Kiều Phong đáp:

- Vâng! Như thế là phải.

Hồng Cơ nói:

- Có điều ta phải theo dõi việc chính trị Nam triều có thực sự chỉnh đốn, cùng là trăm họ có một lòng qui phục triều đình họ hay không?

Kiều Phong nói:

- Thần xin bệ hạ chỉ thị đường lối cho.

Hồng Cơ cười ha hả nói:

- Ðường lối xưa nay vẫn thế, cứ việc xuất vàng bạc châu báu cho nhiều để mua lòng những kẻ gian tế làm nội công cho mình. Người phương Nam thiếu gì kẻ tham tài, hèn hạ, vô liêm sỉ. Hiền đệ ra lệnh cho Nam Viện Khu Mật Sứ đừng tiếc tiền của, phải vung nhiều ra để mua chuộc bọn này.

Kiều Phong vâng lệnh cáo từ lui ra, trong lòng rất là phiền não, vì ông là một hảo hán hiên ngang trước nay chỉ kết giao cùng những bậc anh hùng hào kiệt. Trên chốn giang hồ, ông từng thấy những vụ hãm hại ngấm ngầm, lén lút hạ độc thủ, hoặc mưu thần chước quỷ chẳng thiếu thứ gì, dù là việc giết người phóng hỏa, cũng chưa từng đem tiền bạc ra thuê ai bao giờ. Huống chi ông tuy là người nước Liêu nhưng được nuôi dưỡng ở Trung Nguyên từ ngày còn thơ ấu cho đến lúc trưởng thành. Thế mà Gia Luật Hồng Cơ giao phó cho ông việc trừ diệt Tống triều, tất nhiên ông rất đổi phiền lòng.

Kiều Phong nghĩ thầm: "Ca ca ta phân cho ta làm chức Nam Viện Ðại Vương là người rất có thành ý, nếu ta từ quan ngay thì không khỏi cô phụ tấm thịnh tình của người và có thể sức mẻ đến nghĩa anh em. Âu là ta hãy xuống Nam Kinh nhận chức trong vòng năm, bảy tháng hay một năm rồi xin cáo là xong. Bấy giờ nếu ca ca ta không chuẩn cho ta từ chức, ta sẽ treo ấn bỏ quan rồi chuồn đi thì ca ca cũng phải đành chịu chứ làm gì được."

Chủ ý đã định, Kiều Phong thống lãnh thuộc hạ đem cả A Tử xuống Nam Kinh.

Thời bấy giờ Nam Kinh của nước Ðại Liêu tức là Bắc Kinh ngày nay, hồi đó còn gọi là Yên Kinh hay U Ðô (kinh đô Châu U).

Nguyên về triều nhà Tấn, Trạch Kính Ðường làm Hoàng đế, nước Liêu hết sức giúp đỡ, Trạch Kính Ðường liền cắt mười sáu châu đất Yên Vân để đền đáp.

Mười sáu châu hồi đó là địa hạt: A Châu, Thuận Châu, Ðàn Châu, Trác Châu, Dịch Châu, Kế Châu, Bình Châu, Thước Châu, Doãn Châu v. v. và toàn là những khu vực trọng yếu về phía Bắc Ký Châu. Sau khi mười sáu châu này được cắt cho nước Liêu rồi, ba triều đại Tấn, Tống, Chu đã phải nhiều phen chinh phạt, mà thủy chung vẫn không lấy lại được.

Ðịa thế mười sáu châu Yên Vân này rất thuận lợi cho nước Liêu đóng quân. Mỗi lần nước này có cuộc động binh lại xua quân qua một cánh đồng bát ngát, Ðại Tống không có địa thế hiểm yếu để phòng thủ. Hai nước Tống, Liêu thường xảy ra cuộc giao binh đến hơn năm trăm năm mà Tống triều chưa được phen nào thắng trận, cố nhiên không phải kếm về lực lượng mà tại Liêu quốc ở trên cao đánh xuống kiềm chế đươc chiến trận và chiếm được tiện nghi nhiều hơn.

Kiều Phong vào thành rồi, thấy Nam kinh phố xá rộng rãi bá tính Nam triều qua lại rất đông. Bên tai ông toàn nghe tiếng nói Trung Nguyên, chẳng khác gì mình đã vào Trung Nguyên vậy. Về phần phồn hoa đô hội, nơi đây hơn thượng kinh rất nhiều.

Kiều Phong cùng A Tử thấy phố xá phồn thịnh rất lấy làm vui thích, hôm sau hai người dùng xe nhẹ đi dong chơi phố phường. Thành Yên Kinh rộng ba mươi sáu dặm vuông chia làm tám cửa. Mặt Ðông có cửa An Ðông và cửa Nghình Xuân. Mặt Nam có cửa Khai Dương và Ðan Phụng. Mặt Tây là cửa Hiền Tây và Thanh Tấn. Mặt Bắc là cửa Thôn đại và củng Thần. Tên hai cửa mặt Bắc có ngụ ý thần phục phương Bắc, tuân theo thánh chỉ của Hoàng đế Bắc quốc.

Vương phủ Nam Viện Ðại Vương ở về mé Tây Nam trong nội thành. T Phong và A Tử đi chơi được nửa ngày thấy chợ búa, phố xá, chùa chiền rất là trù mật, không phải đi coi một lúc mà hết được.

Kiều Phong đã làm Nam Viện Ðại Vương, không phải quản hạt mười sáu châu Yên Vân mà thôi đến cả một giải phủ Ðại Ðồng thuộc đạo Tây Kinh và phủ Ðại Ðịnh thuộc đạo Trung Kinh cũng phải tuân theo lệnh ông. Vì oai quyền quá lớn, ông không thể ở trong doanh trại lụp xụp được đành dọn vào vương phủ.

Kiều Phong trông coi được mấy ngày cảm thấy đầu óc tối tăm, không được phóng khoáng như ở chốn giang hồ, nên rất lấy làm khó chịu. Ông thấy Nam Viện Khu Mật Sứ Gia Luậtb Mạc Ca rất tinh minh mẫn cán, thành thuộc về chính trị, liền giao hết cho y.

Làm quan to kể ra cũng có chỗ hay là trong vương phủ không thiếu gì đồ quý trọng cùng dược liệu hiếm có. A Tử tha hồ mà ăn cao hổ cốt cùng mật gấu, nàng dùng như cơm bữa. Nội thương của nàng mỗi ngày một đỡ. Sang đến mùa đông, nàng đã đi lại được và cử động tự do. Trước hết nàng đi chơi trong nội thành Yên kinh, sau nàng ra chơi cả ngoài thành trong phạm vi mười dặm.

Một hôm trời vừa tạnh mưa tuyết, A Tử mặc áo cừu vào điện Tuyên Giáo của Kiều Phong nói:

- Tỷ phu ơi! Tiểu Muội ở mãi trong thành buồn quá, tỷ phu đưa em đi săn.

Kiều Phong ở trong cung điện lâu ngày cũng phát ngán, nghe A Tử nói vậy thì cả mừng, liền sai thuộc hạ sắp ngựa đi săn. Ông không thích lối săn đem nhiều người đi để bao vây dã thú mà chỉ dẫn mấy tên tùy tùng để phục dịch cho A Tử. Ông lại e làm kinh động đến dân gian, nên chỉ mặc bộ áo da dê như quân sĩ, rồi đeo cung dắt tên cưỡi tuấn mã cùng A Tử ra cửa Củng Thần đi về phía Bắc.

Ðoàn người ra khỏi cửa Củng thần hơn mười dặm, chỉ săn được mấy con thỏ nhỏ.

Kiều Phong nói:

- Chúng ta thử qua mặt Nam coi.

Nói xong bắt ngựa rẽ ra ngã Tây rồi quay xuống phía Nam. Lại đi được hai mươi dặm thì gặp được một con hươu sao chạy xéo qua mặt.

A Tử liền nhắc lấy cung của tên tùy tùng, lắp tên toan bắn. Ngờ đâu cánh tay nàng còn yếu quá không dương cung nổi.

Kiều Phong tay trái quàng sau lưng A Tử nắm lấy cây cung, tay phải kéo dây cung rồi buông tay ra đánh tách một tiếng, mũi tên vừa bay ra, con hươu sao đã ngã lăn xuống đất. Bọn tùy tùng hoan hô rầm lên.

Kiều Phong buông tay A Tử tủm tỉm cười, bỗng thấy mắt nàng ngấn lệ chạy quanh thì lấy làm kỳ hỏi:

- Sao vậy? Cô không muốn ta giúp cô bắn dã thú ư?

A Tử nghe Kiều Phong hỏi nước mắt tràn xuống, nàng nói:

- Tiểu Muội... Tiểu Muội thành người vô dụng mất rồi, dương cái cung tầm thường còn không nổi thì làm được cái gì?

Kiều Phong an ủi nàng:

- Cô đừng nóng nảy, khí lực sẽ dần hồi phục. Nếu sau này không khôi phục lại được nguyên khí thì tôi sẽ rèn luyện phép tập nội công cho, nhất định khí lực sẽ tăng gia.

A Tử đang khóc phá lên cười hỏi: "Tỷ phu nói thật không? Có nhất quyết rèn tiểu Muội tập nội công không?

Kiều Phong đáp:

- Cô hãy yên lòng! Ta nhất định dạy cho cô.

Ðang lúc nói chuyện, bỗng nghe mé Nam có tiếng vó ngựa dồn dập. Kiều Phong nhìn ra thì thấy một đại đội nhân mã đang rong ruổi trên mặt đất đầy tuyết đọng. Ông nhìn phía trước bọn này không thấy cờ hiệu chi hết. Họ toàn là quan binh nước Liêu, chúng đang ca hát vang lừng vui nhộn. Phía sau bọn quan binh có nhiều người bị bắt cột vào khấu đuôi ngựa, tựa hồ đi trận mạc đắc thắng trở về.

Kiều Phong tự hỏi:

- Bên ta có đánh nhau với ai đâu? Vậy chắc đã xảy ra cuộc giao phong ở đâu trở về?

Ông thấy đội quan lính rẽ ra ngã Ðong rồi đi vào thành Nam Kinh, liền quay lại bảo một tên tùy tùng:

- Ngươi lại hỏi bọn kia xem chúng đi đâu về?

Tên tùy tùng đáp:

- Vâng!

Rồi nói tiếp:

- Ðây là bọn anh em thuộc hạ đi kiếm lương về. Nói xong gã phóng ngựa chạy tới chỗ bọn quan binh.

Chạy gần đến nơi, gã lớn tiếng nói mấy câu.

Bọn quan binh nghe Nam Viện Ðại Vương ở đây liền hoan hô ầm ĩ, rồi nhất tề nhảy xuống ngựa tay cầm dây cương dắt ngựa rảo bước đến trước Kiều Phong cúi đầu thi lễ và hô to:

- Ðại Vương thiên tuế!

Kiều Phong giơ tay lên nói:

- Thôi, các ngươi đứng dậy đi! Ông thấy đội quan binh ước chừng dư tám trăm người, trên lưng ngựa chất đầy vải lụa cùng đồ vật và số người bị bắt cũng đến dư tám trăm, phần đông là con gái ít tuổi vàmột số trai tráng. Họ đều mặc y phục người Tống, ai nấy khóc lóc kêu gào, vẻ mặt cực kỳ buồn thảm. Gã đội trưởng nói:

- Bữa nay đến phiên đội binh của tiểu nhân đi kiếm lương thảo may nhờ phúc lớn của Ðại Vương thu lượm được kết quả mỹ mãn.

Ðoạn gã quay bảo binh sĩ:

- Các ngươi lựa chọn lấy những cô gái xinh đẹp cùng những đồ vàng bạc quý giá để dâng Ðại Vương xin Ðại Vương thiên tuế thâu dụng.

Các quân sĩ dạ ran.

Chúng đưa hơn hai chục mỹ nữ đến trước ngựa Kiều Phong, và gói nhiều đồ trang sức vàng bạc, vải vóc vào trong một tấm vải gai. Bọn quan binh Khất Ðan rất tôn kính những bậc anh hùng. Nếu Kiều Phong chịu thu dụng những con gái, lụa là cùng châu báu đi cướp về được thì chúng lấy làm vinh dự lắm.

Ngày trrước, Kiều Phong đến ngoài Ải Nhạn Môn Quan, chính bắt ông đã thấy bọn quan binh nhà Ðại Tống hiếp đáp nhân dân Khất Ðan, lần này ông lại thấy quân binh Khất Ðan đi bắt con dân Ðại Tống. Vẻ mặt những nhười bị bắt bữa nay cũng sầu hổ chẳng khác gì những người Khất Ðan bị bắt ngày nọ.

Kiều Phong ở nước Liêu ít lâu, ông đã biết đại khái về chế độ quân binh trong nước. Nước Liêu đã không phát lương thảo cho quân đội mà cũng không trả tiền lương. Những thức nhu dụng của quan binh đều trông vào các đồ cướp được bên địch. Háng ngày phái bộ đội qua các nước lân bang như Ðại Tống, Tây Hà, Nữ chân, Cao Ly để cướp bắt dân lành. Công việc này họ gọi là"kiếm lương thảo"mà thực ra là hành động của quân cường đạo.

Quan binh triều Tống cũng đi"kiếm lương thảo"bên nước Liêu để báo thù. Vì thế mà nhân dân ở vùng biên giới hai nước cực kì khổ sở, lúc nào cũng nơm nớm lo sợ, sớm lo hôm, tối lo mai.

Kiều Phong trông thấy những hành động cực kì tàn nhẫn vô đạo này nên không muốn làm quan lâu bền. Ông chỉ muốn kéo dài thời gian để vẹn nghĩa với Gia Luật Hồng Cơ rồi cáo quan về ở ẩn. Chủ ý đã định như vậy, nên bất luận với những việc cơ binh trọng đại gì trong nước, ông cũng không phát biểu chủ trương chi hết. Bây giờ trước mắt ông xảy ra thảm trạng ông không khỏi đau thương.

Ông hỏi lại đội trưởng:

- Ngươi đi kiếm lương thảo ở đâu về?

Ðội trưởng kính cẩn đáp:

- Bẩm đại vương! Bọn tiểu nhân di kiếm lương thảo ở ngoài địa hạt Trai Châu nhà Ðại Tống. Từ khi đại vương về đây, thuộc hạ không dám lấy lương thảo trông phạm vi Châu quận nhà.

Kiều Phong nghĩ thầm:

- Nghe lời gã này, thì ra trước nay chúng vẫn cướp bóc của người Tống trong Châu quận này.

Kiều Phong quay lại dùng tiếng Hán hỏi một thiếu nữ điệu đến trước ngựa:

- Ngươi ở đâu?

Thiếu nữ quỳ xuống khóc lóc đáp:

- Tiểu nữ người ở Trương Gia thôn, xin đại nhân mở lòng nhân đức tha cho tiểu nữ về nhà để được đoàn tụ cùng cha mẹ.

Kiều Phong lại ngẩng đầu trông sang bên, thì mấy trăm người bị bắt đều quỳ hết một lượt.

Trong đám này chỉ có một chàng thiếu niên vẫn hiên ngang đứng sững.

Trong số mấy trăm người vừa trai vừa gái bị bắt đều quỳ mọp dưới đất mà một thiếu niên dám hiên ngang đứng sững tỏ rõ thái độ quật cường của gã.

Kiều Phong thấy thiếu niên chừng mười sáu mười bảy tuổi mặt dài, cặp mắt loang loáng, tuyệt không có chút gì khiếp sợ, liền hỏi:

- Chú nhỏ kia! Nhà chú ở đâu?

Thiếu niên đáp:

- Tôi có việc cơ mật cần được bẩm đại vương.

Kiều Phong nói:

- Chú lại đây nói ta nghe!

Gã thiếu niên giơ hai tay bị cột bằng sợi dây thừng rất lớn lên nói:

- Xin đại vương dời ra xa bọn thuộc hạ, việc này không thể để người ngoài nghe thấy được.

Kiều Phong động tính hiếu kỳ, tự hỏi:

- Thằng nhỏ này đã biết gì mà bảo là có việc cơ mật? Gã ở dưới Nam lên hoặc gã có điều chi báo cáo quân tình nhà Ðại Tống? Nhưng ông lại nghĩ rằng: "Gã đã là người Ðại Tống mà đến báo cáo việc cơ mật trong nước cùng người Khất Ðan thì cũng chỉ là một tên Hán gian hèn hạ, đáng khinh. Dù sao gã đã bảo có việc cơ mật trọng đại, âu là ta cũng thử nghe coi cũng chẳng hề chi."

Nghĩ vậy Kiều Phong tung ngựa chạy ra xa mười mấy trượng vẫy tay bảo:

- Chú theo ta lại đây!

Thiếu niên chạy lại giơ hai tay lên nói:

- Xin đại vương hãy cắt dây trói cho tôi đã, tôi sẽ lấy một vật trong bọc để trình đại vương.Kiều Phong rút đơn đao ở sau lưng ra.

Soạt một tiếng, lưỡi dao bổ xuống, đường đao trông như để bổ dọc gã thiếu niên, nhưng rất đúng vị trí lưỡi dao chỉ chặt đứt dây trói mà không động chạm gì đến tay gã.

Thiếu niên giựt mình chú ý nhìn Kiều Phong hồi lâu.

Kiều Phong tủm tỉm cười tra đao vào vỏ rồi hỏi:

- Nào! Chú có gì đâu đưa ta coi.

Thiếu niên thò tay vào bọc móc ra một vật cầm trong tay nói:

- Ðại vương coi đây sẽ rõ.

Nói xong chạy lại trước ngựa Kiều Phong.

Kiều Phong vừa giơ tay ra đón lấy vùa để mắt trông thì thấy đồ vật cầm trong tay thiếu niên cựa quậy, ông rất lấy làm lạ bảo:

- Chú ruỗi bàn tay ra cho ta coi.

Rồi không đón lấy nữa.

Thiếu niên biết âm mưu mình đã bại lộ, sắc mặt tái mét.

Ðột nhiên gã cầm vật trong tay liệng vào mặt Kiều Phong.

Kiều Phong vung roi ngựa lên hất vật đó xuống đất.

Ông chú ý nhìn thì té ra là một con rắn nhỏ xíu đan sì.

Ông nhíu cặp lông mày rồi không để ý gì đến nữa, chỉ nghĩ thầm:

- Thằng nhỏ này tinh nghịch thật. Dám bắt rắn đem cho mình chơi chắc?

Ông lại để ý nhìn con rắn rớt xuống đất, nó lầp tức nhảy lên há miệng cắn vào đùi ông.

Kiều Phong không ngờ đến con rắn nhỏ xíu này lại tung bay lên được, bất giác giật mình đánh thót một cái, rút chân về.

Con rắn cắn hụt ông, liền đớp ngay vào chân trước con ngựa ông đang cưỡi.

Ngựa bị rắn cắn mình mềm nhũn ra, ngã vật xuống đất.

Kiều Phong đang ngồi trên ngựa nhảy xuống kịp.

Ông thấy con ngựa không hí lên được một tiếng chỉ giãy giụa mấy cái rồi chết ngoẻo.

Thiếu niên xông vào phía trước nhặt lấy con rắn nhỏ trên mình ngựa ra rồi liệng vào người Kiều Phong.

Kiều Phong thấy con rắn nhỏ này nọc độc ghê gớm.

Còn đang lơ lửng trên không, nó đã lè lưỡi lắc lư cái đầu nhảy vào mình, ông không dám chần chừ, vận nội kình vào roi ngựa quất mạnh một cái hất ra xa.

Con rắn bị roi quất mà nó vẫn chưa chết, nó tung bay ra xa ngòi mấy một trượng rơi xuống đống tuyết, quằn quặi một chút rồi quay đi mất hút.

Kiều Phong tuy đã trải qua nhiều phen nguy hiểm bất ngờ, thế mà nghĩ đến lần này ông không khỏi ớn da gà.

Trâu ngựa là những súc vật to lớn, khi mắc bệnh người ta phải dùng liều thuốc hàng nửa cân hay một cân trở lên mới thấu bệnh, chứ không phải chỉ mấy đồng cân hay mấy lạng là đủ như trị bệnh cho người.

Cứ suy đó mà ra thì đủ biết rằng muốn dùng chất độc để đánh chết trâu ngựa, số lượng cũng phải nhiều hơn mới có công hiệu.

Con rắn nhỏ xíu này chỉ đớp một cái mà làm chết được ngựa, thì nọc độc của nó mãnh liệt biết đến đâu mà kể?

Gã thiếu niên đã cầm rắn trong tay được để liệng vào Kiều Phong thì cũng phải là một nhân vật rất lợi hại về cách dùng độc, trị độc.

Kiều Phong từng làm Bang chá Cái Bang.

Những bạn bè trong Bang trị độc kể có đến hàng ngàn hàngvạn.

Chức Tư Không cũng là một tay giỏi về nghề này, nhưng chưa có gì đáng gọi là kỳ lạ.

Ðến con rắn đen sì nhỏ xíu này mới thật là hạn hữu.

Những nhà trị rắn độc ở Cái Bang đều là những người đứng tuổi hoặc người già, trải qua bao lâu năm kinh nghiệm mới lành nghề.

Gã thiếu niên này mới mười sáu mười bảy tuổi mà đã có một bản lãnh tinh vi đến thếthì thật là trên đời này hiếm có.

Kiều Phong nghĩ lại bấy nhiêu điều rồi lẩm bẩm: "Nếu mình không có tâm linh mau lẹ, lại đưa tay ra đón lấy thì uổng mạng rồi còn gì? ."

Quan binh Khất Ðan thấy con ngựa của Kiều Ðại Vương ngã ra chết, tới tấp chạy lại.

Kiều Phong xua tay nói:

- Các ngươi đừng lại đây!

Quan binh nghe ông ra lệnh đều dừng bưóc.

Kiều Phong nhìn xuống con ngựa bạch nằm chết trong đống tuyết bây giờ toàn thân biến ra sắc đen, chẳng khác gì một con hắc mã thì trong lòng kinh hãi vô cùng.

Ông lẩm nhẩm gật đầu, nói:

- Giỏi lắm! Giỏi lắm! Tên chú là gì? Cớ sao lại đến nhằm ta hạ độc thủ?

Thiếu niên mím chặt môi không trả lời.

Kiều Phong nói:

- Ngươi cứ nói đi ta sẽ tha mạng cho?

Thiếu niên nói:

- Ta đến báo thù cho cha mẹ ta không xong, còn nói gì được?

Kiều Phong hỏi:

- Cha mẹ chú là ai? Chẳng lẽ ta giết chết cha mẹ chú ư?

Thiếu niên tiến lên hai bước, giơ tay trỏ vào mặt Kiều Phong vẻ mặt cực kỳ căm phẫn nói:

- Kiều Phong kia! Mi đã giết hại bá phụ lại giết luôn cả gia gia cùng má má ta. Ta căm hận không ăn tươi nuốt sống mi được và xé xác mi ra làm muôn mảnh.

Kiều Phong nghe gã nói đến tên của mình là Kiều Phong lại biểu mình giết hại bá phụ cùng song thân gã tì biết ngay chắc là ngày trước mình đã gây thù oán ở Trung Nguyên.

Ông hỏi:

- Bá phụ và song thân chú là ai?

Thiếu niên đáp:

- Ta không muốn sống nữa nên ta bảo cho ngươi biết làm trai họ Du ở Tụ Hiền Trang chúng ta không phải là phường tham sanh úy tử.

Kiều Phong nghe nói đến họ Du ở Tụ Hiền Trang liền nói:

- Ủa! Ngươi là con cháu song hùng họ Du. Vậy hiền tôn là Du Câu hay Du Nhị Gia rồi.

Ngừng một lát ông nói tiếp:

- Ngày đó ta ở Quí trang bị quần hùng Trung Nguyen vây đánh và bức bách ta phải ứng chiến. Ðó là việc bất đắc dĩ, lệnh tôn cùng lệnh bá phủ đều tự vẫn chết đấy chứ!

Tới đây ông lắc đầu nói tiếp:

- Hỡi ôi! Dù người tự vẫn hay người bị giết cũng chẳng khác gì nhau, vì ngày đó ta cướp mất binh khí của bá phụ cùng gia gia chú đến nỗi các người phải tự vẫn. Chú em ơi! Tên chú là gì?

Thiếu niên đứng phưỡn ngực ra đáp:

- Ta là Du Thản Chi. Ta không cần ngươi hạ sát, ta học lối bá phụ cùng gia gia ta.

Nói xong gã thò tay vào ống bít tất rút ra một lưỡi đoản đao rồi cầm đao đâm ngực.

Kiều Phong vội lấy roi ngựa vung ra quấn lấy lưỡi đoản đao kéo về.

Du Thản Chi cả giận nói:

- Ta muốn tự vẫn, ngươi cũng không cho ư? Quân Liêu tội ác ngập đầu kia! Mi thật lòng lang dạ thú!

Lúc này A Tử đã tung ngựa đến bên Kiều Phong quát lên:

- Thằng quỷ con chưa ráo máu đầu kia! sao dám mở miệng mắng người? Mi muốn chết phải không? Ha! Ha! Muốn chết cũng không dễ đâu!

Du Thản Chi Ðột nhiên thấy một vị tiểu cô nương kiều diễm, gã đứng ngây người ra mà nhìn không nói nên lời.

A Tử nói:

- Tỷ phu ơi! Thằng lỏi này hiểm độc gớm lắm. Gã toan dùng rắn độc để hại tỷ phu. Bây giờ tiểu Muội cũng dùng rắn độc để cắn cho y biết mùi.

Nàng là môn đệ phái Tinh Tú, về môn tà độc thì hiện nay không đâu bằng phái này.

Kiều Phong quay lại bảo tên đội trưởng:

- Bữa nay đi kiếm lương được những thứ gì của người Tống ta cho các ngươi tát, nghe chưa!

Ðọi trưởng mừng quá đáp:- Ðại Vương có lòng thương thuộc hạ xin đa tạ.

Kiều Phong nói:

- Những quân binh bắt được người Tống đem về cho ta thì sẽ về Vương phủ để lãnh thưởng.

Bọn quan binh mừng rỡ vô cùng đồng thanh nói:

- Bọn tiểu nhân xin thành tâm dâng Ðại Vương hết đâu dám mong lãnh thưởng.

Kiều Phong nói:

- Các ngươi để những kẻ bị bắt lại đây rồi đưa nhau về thành trước đi, và nhớ đến lãnh... thưởng. Ðám quân binh cúi đầu tạ ơn.

Gã đội trưởng nói:

- Bữa nay không được nhiều dã thú, Ðại Vương bắt lấy đám Tống chư (1) này làm "bia thịt." Trước kia Sở Vương ưa món đó lắm. Có điều đáng tiếc là món hôm nay bọn tiểu nhân bắt được phần nhiều đàn bà. Lần sau sẽ bắt những hạng trai tráng nhiều hơn về để Ðại Vương dùng làm bia thịt. Tống chư là lợn Tống. Tiếng nói để tỏ ý khinh bỉ cũng như Liêu cẩu (chó Liêu).

Nói xong thi lễ, kéo quân về.

Câu chúng vừa nói: "Bắt đám lợn Tống làm bia thịt" vừa lọt tai Kiều Phong, khiến ông rùng mình. Tước mắt ông hiện ra cảnh tượng thê thảm. Sở Vương ngày trước từng bắt người Tống làm"bia thịt"khủng khiếp vô nhân đạo biết chừng nào!

Háng trăm người Tống chẳng khác gì loài dã thú hoặc ngồi trên đống tuyết kêu gào hoặc chạy trốn. Những bậc quý nhân Khất Ðan cười ha hả dương cung lắp tên để bắn chết chơi. Còn người nào chạy được xa rồi thì người Khất đan reo hò đuổi theo tựa như cuộc săn đuổi chồn thỏ vậy. Rút cuộc đều bị bắn chết hết. Các trò bắn người này họ gọi là bia thịt. Cảnh tượng thảm khốc này không chỉ một lần mà thôi, người Khất đan coi những vụ đó là thường, họ bàn tán đến luôn, tựa hồ câu chuyện bình thường không có chi lạ.

Kiều Phong đưa mắt nhìn những người bị bắt thì thấy sắc mặt của người nào cũng tái mét, run cầm cập trước ngọn gió heo lạnh buốt.

Trong bọn dân miền biên giới này có nhiều người hiểu tiếng Khất Ðan từng nghe đến chuyện bia thịt lại càng khủng khiếp.

Kiều Phong thở dài sườn sượt, ngó về phía nam rừng núi trùng điệp, bỗng nhớ lại: "Nếu không có người phát giác ra thân thế mình thì đến ngày nay ta vẫn tưởng mình là người nhà Ðại Tống. Ta với bọn người đó cùng nói một thứ tiếng cùng ăn một thứ cơm, có khác chỗ nào đâu? Làm sao đã là người cả lại còn phân chia làm người Khất Ðan, người Ðại Tống, rồi người Nữ Chân, người Cao Ly... Bọn người bên này sang bờ cõi nước kia để kiếm lương rồi bọn người kia lại qua đất bên này để giết người đốt nhà? Người này mắng người kia là "Liêu cẩu" người kia lại mắng người này là "Tống chư."

Trong một lúc không biết bao nhiêu là sóng tư tưởng cuồn cuộn tràn ngập đầu óc ông.

A Tử vẫn nhìn chằm chặp vào Du Thản Chi đang tính toán xem hành hạ gã cách nào đừng để gã chết ngay tức khắc. Nàng lẩm bẩm:

- Mấy bữa nay mình đang buồn đây. Tuy bắt được tên này về nháao bằng bắt được con hươu con hoẳng chơi cho thích?

Rồi nàng reo thầm:

- À phải rồi! Ta hãy đem thử uy lực chiếc Bích Ngọc VưởngÐinh xem thế nào cũng hay! Trước hết ta bắt mấy con rắn độc cho cắn tay phải gã chờ cho chất độc chạy vào trái tim rồi hãy chém tay gã đi. Ðoạn lại cho rắn cắn tay trái và cũng làm theo cách đó có thể tiêu khiển cho mình được bốn năm ngày.

Kiều Phong thấy lũ quan binh nước Liêu đi xa rồi không còn ai nữa liền bảo đám nạn nhân:

- Hôm nay ta tha các người về, vậy các ngươi chạy ngay đi!

Bọn người bị bắt vẫn tưởng Kiều Phong tha cho họ chạy đi rồi lại bắn bia thịt như những lần trước, thành ra họ vẫn thất vọng ngồi yên.

Kiều Phong lại giục:

- Các ngươi về rồi nên rời xa biên giới để khỏi bị chúng đi càn quét về. Ta có cứu các ngươi cũng chỉ đươc một lần mà thôi, chứ không được lần thứ hai đâu.

Bây giờ bọn nạn nhân mới tin là Kiều Phong nói thật reo hò mừng rỡ quỳ mọp cả xuống đập đầu lạy, đồng thanh nói:

- Ơn đức Ðại Vương ơn nặng tày non. Bọn tiểu nhân trở về nhà sẽ cầu trời khấn phật cho Ðại Vương được sống lâu hưởng phúc.

Nên biết rằng bọn dân Tống bị người Liêu càn quét bắt về rồi trừ khi là nhà đại phú có vàng bạc đem đến chuộc về thì không kể còn ngoài ra bị chết trên đất Liêu, thảm cảnh xương trắng quê người đã diễn ra nhiều lần.

Luôn mấy năm Tống cùng Liêu đánh nhau liên miên nên người giàu có đều di cư vào nội địa cả rồi. Bọn dân bị bắt này đều là hạng cùng khổ, làm gì có tiền bạc lụa là để đem chuộc. Họ biết rằng thân phận họ không bằng trâu ngựa, nay được Kiều Phong buông tha cho họ trở về với gia đình thì nỗi vui mừng biết lấy chi cân?

Kiều Phong nhìn thấy bọn nạn nhân vui mừng dắt giúm nhau đi về phía nam, nghĩ thầm:

- Người Khất Ðan mình bắt họ về đây, rồi lại tha họ khiến bọn họ phải nhọc nhằn khiếp sợ một phen thì làm gì còn có ơn đức với ai.

Ông thấy bọn nạn nhân kéo nhau đi mỗi lúc một xa, chỉ còn mình gã Du Thản Chi vẫn phưỡn ngực đứng đó liền hỏi:

- Sao chú không chạy đi? Bây giờ chú về Trung Nguyên đã có lộ phí chưa?

Nói xong ông thò tay vào bọc toan lấy tiền bạc cho gã nhưng bên mình lại không đem theo đồng tiền nào. Lúc móc túi định lấy tiền tiện tay ông móc cái gói nhỏ bằng giấy dầu ra, ông bỗng chua xót trong lòng thấy gói giấy dầu này bọc cuốn Dịch Cân Kinh bằng tiếng Phạn.

Nguyên ngày trước A Châu vào chùa Thiếu Lâm lấy cắp được pho sách này, nàng bắt buộc ông phải nhận lấy cất đi. Nay người mất mà kinh còn, trách nào trông thấy di vật ông chẳng đau thương?

Kiều Phong lại cất gói nhỏ vào bọc buồn rầu nói:

- Bữa nay ta đi săn không mang tiền theo. Nếu chú không có tiền xài đi theo ta về thành mà lấy.

Cặp mắt Du Thản Chi giận như muốn tóe lửa, lớn tiếng quát:

- Gã họ Kiều kia! Mi muốn giết thì giết, muốn mổ thì mổ, hà tất còn dùng ngụy kế để trêu cợt và làm nhục ta. Họ Du này nghèo khổ chết thôi, chứ không thèm nhận một đồng một chữ của mi.

Kiều Phong cho gã nói thế là phải. Mình là kẻ thù giết cha gã mối thù không đội trời chung, dù nói lắm cũng vô ích, liền bảo:

- Ta không giết chú. Chú muốn báo thù thì lúc nào muốn đến tìm ta cũng được.

A Tử vội nói:

- Tỷ phu ơi! Không thể tha gã được! Thằng lõi này độc ác lắm, gã có báo thù cũng không dùng võ công đàng hoàng, mà chỉ dùng thuốc độc hoặc rắn độc. Vô luận là thủ đoạn hèn mạt nào gã cũng dám làm, khiến cho mình biết đâu mà đề phòng. Ðã nhổ cỏ phải nhổ tận gốc mới khỏi lo về sau.

Kiều Phong lắc đầu nói:

- Bước đường giang hồ chỗ nào cũng đầy gai chông nguy hiểm, mình đều bước qua cả rồi. Xem chừng gã thiếu niên này không hạ nổi ta đâu. Ngày trước vì ta nói khích mà bá phụ cùng thân phụ gã tự vẫn chết! Ðó cũng là chuyện vô tình. nhưng món nợ máu đó ta hãy còn chịu đó chưa trả, có lý nào lại giết cả con cháu họ Du nữa.

Du Thản Chi nghe Kiều Phong muốn tha mình mà vị tiểu cô nương cứ khuyên y giết mình. Tuy chàng cũng muốn đi luôn để khỏi sợ Kiều Phong biến đổi lòng dạ. Nhưng mình chạy đi ngay thì làm hại đến uy danh của phụ thân mình. Gã miễn cưỡng tỏ vẻ gan dạ lạnh lùng đứng nhìn hai người.

Kiều Phong nói:

- A Tử! Chúng ta về thôi. Bữa nay chả còn gì mà săn bắn nữa.

A Tử bĩu môi nói:

- Tiểu Muội đã nghĩ cách an bài gã kia đâu vào đấy rồi mà tỷ phu cứ đòi tha gã. Thế rồi tiểu Muội về thành lấy gì mà chơi?

Nói vậy thì nói chứ nàng không dám trái ý Kiều Phong, bắt ngựa quay đầu cùng Kiều Phong dong cương về thành.

Ði được mấy trượng, nàng còn quay đầu lại bảo:

- Thằng lỏi kia! Mi về luyện lấy sáu chục năm võ công nữa rồi hãy tìm đến tỷ phu ta để báo thù!

Nói xong nàng mỉm cười, gia roi cho ngựa chạy nhanh.

Du Thản Chi thấy bọn Kiều Phong đi về phía tây thủy chung vẫn không quay đầu lại mới biết là mình đã thoát chết. Gã lẩm bẩm một mình: "Tên gian tặc này, sao lại không giết ta? Chắc y coi ta chẳng vào đâu, không thèm giết ta cho bẩn tay. Nay y đã làm chức đại vương chi chi đó ở nước Liêu. Từ đây về sau việc báo thù của ta khó lắm rồi. Nhưng rồi cũng có ngày ta phải tìm đến chỗ y."

Gã cắm đầu vừa đi trên đất đầy tuyết phủ vừa tìm con rắn đen nhỏ xíu để bắt nó đem về. Gã đang tìm kiếm bỗng thấy trên bụi cỏ mé tả một gói nhỏ bọc giấy dầu chính là của Kiều Phong vừa đánh rớt.

Gã liền nhặt lên mở ra xem, thì ra là một cuốn sách. Gã giở luôn mấy trang, nhưng trang nào cũng chỉ thấy chi chít những chữ ngoằn ngoèo hoặc khuyên hoặc điểm. Gã chẳng hiểu gì hết.

Nguyên Kiều Phong nhìn thấy vật lại nhớ đến người. Lúc ông đút"Dịch cân Kinh"vào bọc, lòng dạ thẩn thờ, không bỏ kinh vào trong túi lại bỏ ra ngoài, rồi lúc ngựa chạy xốc nên giấy dầu rớt xuống bụi cỏ, mà ông không hay biết, nênDu Thản Chi bắt được.

Gã xem từ đầu đến cuối, mù mịt chẳng hiểu một chữ nào thì nghĩ thầm: "Ðây chắc là chữ Khất Ðan, cuốn sách này hẳn là vật rất hữu dụng của tên gian tặc. Ta không trả lại y, để y khổ sở cho bỏ ghét!"

Du Thản Chi nghĩ mình lấy được cuốn sách của Kiều Phong tất làm khó cho ông, gã cảm thấy có điều khoan khoái trong lòng vì gã cho là thế cũng gỡ gạc được tí chút trong việc báo thù cha gã.

Cố nhiên, mối thâm thù giết cha mẹ, sâu tấy biển cả, không phải vì cái việc cỏn con đó mà Kiều tan, nhưng nó làm phiền cho kẻ thù phải rầy rà bực bội, cũng là hay rồi.

Gã gói cuốn sách lại trong tờ giấy dầu, cất kỹ vào trong túi áo lót mình rồi trông về phía nam mà đi.

Từ ngày còn nhỏ, Du Thản Chi đã theo phụ thân học võ, nhưng tư chất kém cỏi lại thân thể gày yếu nên sức lực cánh tay không sao mạnh lên được.

Bá phụ cùng phụ thân gã đều nổi tiếng anh hùng trong giới võ lâm ở Trung Nguyên, mà gã học võ ba năm chưa ăn thua gì, thật không xứng đáng là con cái nhà danh gia.

Du Thản Chi học võ cho đến ngày mười hai tuổi, phụ thân gã là Du Câu phát ngán, bàn cùng bá phụ gã:

- Không ngờ nhà họ Du ta lại sanh ra con mẻ mọt chẳng bõ để người ta cười cho thúi óc. Hơn nữa khi người ngoài nghe tiếng là con cháu Du Tị Song Hùng ở Tụ Hiền Trang, thì lúc ra tay họ sẽ dùng hết sức và chỉ một chiêu là y tất uổng mạng. Âu là mình cho y học nghề văn để bảo toàn lấy mạng sống hay hơn.

Thế là từ năm mười hai tuổi, Du Thản Chi thôi không học võ nữa theo thầy đồ đọc sách. Song gã đọc sách cũng lại chểnh mảng vì gã còn để tâm nghĩ đến chuyện đâu đâu, Thảnsự học hành luôn luôn bị gián đoạn.

Một hôm sư phụ nhắc lại cho Du Thản Chi câu nói của Ðức Khổng Tử:

- Việc học có siêng năng và nhuyên cần thì mới tìm thấy sự hứng thú.

Gã nói:

- Ngài nói như vậy;nhưng đệ tử chưa hiểu là nói về môn gì. Gia gia dạy đệ tử tập quyền, đệ tử rất siêng năng và chuyên cần mà tuyệt chẳng thấy hứng thú chi hết.

Sư phụ gã tức mình nói:

- Ðức Khổng Tử nói đó là một học thuyết của thánh hiền để dựng nghiệp lớn trên đời, chứ ngài nói đến cái nghề đánh quyền múa thương làm gì?

Du Thản Chi liền nói:

- Ðược lắm! Sư phụ bảo bá phụ cùng gia gia đệ tử đánh qu yền múa thương là chẳng ra gì. Ðệ tử phải đem chuyện này tố với gia gia.

Ðại khái là gã chọc tức để thầy đồ tức mình phải bỏ đi.

Du Câu đã đánh y không biết bao nhiêu lần, song con người như gã càng đánh càng quật cường bướng bỉnh.

Du Câu thấy con hư cứng đầu khó dạy cũng chẳng biết làm thế nào được, chỉ thở dài rồi bỏ mặc gã muốn làm gì thì làm không nói đến nữa.

Vì thế nên Du Thản Chi đã mười bảy tuổi lại con nhà danh giá mà vẫn văn dốt võ nát;chỉ đi theo một người khách trong nhà đi học nghề bắt rắn, suốt ngày chạy lăng xăng trên núi hay dưới đồng.

Từ khi bá phụ cùng phụ thân gã tự vẫn chết, rồi mẫu thân cũng đật đầu vào cột tử tiết theo cha, thì gã lênh đênh cơ khổ, du đảng khắp nơi. Trong tâm gã chỉ muốn đi tìm Kiều Phong để báo thù.

Hôn xảy ra cuộc đại chiến ở Tụ Hiền Trang, gã nấp ở sau nhà để xem đánh nhau nên gã đã nhớ rõ mặt ông.

Gã nghe nói ông là mgười Khất Ðan, thế là cứ ngây ngô đi về hướng Bắc. Tuy gã chủ tâm đi báo thù mà rút cục trong bụng chẳng biết làm thế nào để báo thù.

Một hôm gã đang chạy lăng băng ở miền biên giới rồi gặp bọn kỵ binh Khất Ðan đến bắt đi và tự nhiên gặp Kiều Phong. Âu đó cũng là một chuyện khuôn thiên lừa lọc, không hẹn mà nên.

Gã được Kiều Phong tha rồi, vừa đi vừa nghĩ bụng: Hiện bây giờ mình chạy xa được chừng nào hay chừng nấy để khỏi bị quân Khất Ðan bắt trở lại. Rồi mình sẽ đi bắt rắn độc tìm cách lẻn vào giường Kiều Phong, bỏ rắn vào chăn mền để nó cắn chết kẻ thù. Còn vị tiểu cô nương kia! Trời ơi! Sao mà người nàng đẹp thế!

Gã nhớ đến hình dung A Tử, bất giác luồng nhiệt huyết nổi lên bừng bừng.

Từ nhỏ đến giờ, năm nay gã mười bảy tuổi và đây là lần đầu tiên trong tâm gã nảy ra cảm giác quỷ quái này...

Gã nhớ đến bộ mặt xanh lướt nhưng thanh nhã mĩ miều của cô bé kia, trong lòng gã lại cảm thấy vui sướng vô cùng!

Du Thản Chi cắm đầu đi mau. Một loáng gã đã qua mặt bọn nạn nhân. Vì gã ở dưới nam nên không quen biết ai trong bọn này. Có người kêu gã kết bạn đồng hành nhưng gã cũng mặc, chỉ lủi thủi đi một mình.

Du Thản Chi đi được mười mấy dặm đường thì bụng đói như cào, nhìn đông ngó tây để kiếm xem có thứ gì ăn được không. Nhưng ở giữa cánh đồng bát ngát ngoài cỏ khô cùng tuyết trắng, chẳng có thứ gì nữa.

Gã lẩm bẩm: "Giả tỷ mình là con trâu hay con dê có lẽ lại thú hơn" vì nó gặm cỏ uống tuyết cũng khoan khoái rồi. Hừ! Nhưng nếu mình làm con dê nhiều người ta giêt gia gia, má má là hai con dê già để ăn thịt thì mình có báo thù không? Nhưng báo thù bằng cách nào? Mình lấy sừng húc kẻ đã giết cha mình ư? Cũng vô lý, người ta nuôi trâu nuôi dê là để ăn thịt, làm sao mình lại tính đến chuyện báo thù với chẳng báo thù?

Du Thản Chi vừa nghĩ vơ nghĩ vẩn, bỗng lại nghe thấy tiếng vó ngựa dồn dập.

Ba tên kỵ binh Khất Ðan đang ruổi ngựa trên đất đầy tuyết phủ rầm rập đi đến, chúng vừa thấy gã thì reo hò mừng rỡ.

Một tên quân Khất Ðan vung cái thòng lọng ra chụp vào cổ gã rồi giật mạnh một cái.

Du Thản Chi thấy nghẹt cổ khó thở, vội giơ tay lên đằng ra.

Không ngờ tên quân Khất Ðan huýt lên một tiếng còi rồi giựt cương cho ngựa chạy nhanh.

Du Thản Chi chân đứng không vững, té lăn xuống đất rồi bị tên quân Khất Ðan kéo tuột đi.

Du Thản Chi kêu lên được mấy tiếng thật to, nhưng rồi cổ họng bị rít chặt lại, không kêu được nữa.

Tên quân Khất Ðan sợ cứ kéo như vậy sẽ làm chết Du Thản Chi liền dừng ngựa lại.

Du Thản Chi lóp ngóp bò dậy, vừa nới dây thòng lọng ra một chút thì tên quân Khất Ðan lại giật mạnh một cái khiến cho gã lảo đảo chúi về phía đằng trước hai bước suýt ngã vật xuống.

Ba tên quân Khất Ðan thấy vậy lại cười ồ. Rồi một tên lớn tiếng nói bi bô với Du Thản Chi mấy câu, nhưng gã không hiểu tiếng Khất Ðan chỉ lắc đầu quày quạy.

Tên quân Khất Ðan lại quất ngựa chạy, lần này ngựa chạy nhanh hơn trước.

Du Thản Chi sợ nghẹt cổ họng không thở được phải hấp tấp chạy theo.

Ba tên kỵ binh Khất Ðan trông về hướng tây mà đi. Tuy chúng không cho ngựa phóng nước đại, nhưng so với người đi chân cũng nhanh hơn nhiều.

Du Thản Chi muốn giữ cho khỏi té nhào cứ phải chạy gần. Gã thấy ba tên kỵ binh nhắm về phía Kiều Phong cho ngựa chạy, thì không khỏi hoảng hồn rủa thầm: "Thằng cha Kiều Phong này miệng thơn thớt da ớt ngâm. Y bảo tha mình rồi lại cho quân đuổi theo bắt lại. Phen này bị y bắt nữa chắc khó lòng thoát chết!"

Từ ngày Du Thản Chi lìa cửa lìa nhà đi về phương Bắc, lúc nào cũng nghĩ đến việc báo thù, chứ có biết trời cao đất rộng là gì.

Gã gặp Kiều Phong một cách đột ngột, cảnh cha mẹ gã bị thảm tử hiển hiện ra trước mắt, máu nóng gã sôi lên sùng sục. Gã tưởng liệng rắn độc ra cắn chết được kẻ thù ngay. Song gã liệng không trúng thế là bao nhiêu chí khí lại tiêu tan. Gã tưởng thoát chết là may ngờ đâu lại bị quân Khất Ðan bắt trở lại.

Lần trước bọn Khất Ðan đi kiếm lương bắt được gã cho gã đi theo bọn đàn bà con gái. Dĩ nhiên bọn này đi thong thả thôi, nên gã theo không khó nhọc gì. Chỉ có lúc gã bị bắt, gã bị đánh một sống đao vào sau lưng là hơi đau ê ẩm mà thôi.

Lần này gã bị bắt khác hẳn lần trước, gã đã bị ngựa kéo xềnh xệch một lúc, bây giờ lại phải gần theo kịp ngựa cho khỏi ngã lăn ra. Gã vừa chạy vừa thở hồng hộc trông rất thiểu não.

Mặt đường đầy tuyết rất trơn. Du Thản Chi chỉ chạy được vài chục bước lại trượt chân té nhào xuống. Mỗi lần té là đây thòng lọng lại xiết chặt sau cổ đến trầy da chảy máu.

Tên kỵ binh Khất Ðan vẫn cho ngựa chạy đều đều, không dừng lại lúc nào, và cũng chẳng thèm để ý đến gã sống hay gã chết nữa, cứ thế kéo gã vào thành Nam Kinh. Lúc vào thành Du Thản Chi mình đầy những máu, trông không còn ra hình người nữa. Gã chỉ mong được chóng chết cho khỏi đau đớn.

Vào thành rồi, ba tên kỵ binh Khất đan còn cho ngựa chạy mấy dặm đường nữa mới kéo gã đến một tòa cung điện. Du Thản Chi thấy đường lót đá tảng màu xanh, cổng cao cột lớn chẳng biết đó là cung điện nào.

Dừng lại trong thời gian chừng uống cạn tuần trà, tên quân Khất Ðan lại kéo Du Thản Chi đến một khu sân rộng rồi đột nhiên huýt lên một tiếng sáo, thích cặp giò vào sườn ngựa phóng rất nhanh. Du Thản Chi không ngờ tên quân phóng ngựa một cách đột ngột chỉ chạy được ba bước rồi té nhào.

Tên kỵ binh Khất Ðan miệng huýt sáo liên hồi, kéo Du Thản Chi chuyển qua ba khúc quanh trong sân. Vó ngựa chạy mỗi lúc một nhanh hơn. Mười mấy tên quan binh đứng ngoài xem, reo hò trợ oai. Du Thản Chi nghĩ thầm: à ra bọn chúng lôi ta cách này đến chết đây.

Từ đầu cho đến chân tay gã va vào đá xanh lát dưới đất khiến gã đau đớn khắp mình mẩy. Bọn quan binh Khất Ðan đang cười rộ, đột nhiên nổi lên một giọng cười trong trẻo của một thiếu nữ.

Du Thản Chi giữa lúc hôn mê vẳng tiếng cô gái vừa cười vừa nói:

- Ha ha! Cái diều giấy bằng người này, e rằng khó lòng thả lên được.

Du Thản Chi tự hỏi: Diều giấy người là ai vậy? Gã còn đang nghĩ ngợi, bỗng thấy sau cổ bị rít chặt lại rồi người gã tung lên trên không.

Nguyên tên kỵ mã Khất Ðan phóng ngựa cho chạy thật nhanh, lôi gã tung bay lên tựa như cái diều giấy để làm trò chơi.

Du Thản Chi người tung bay vì ngựa chạy nhanh, cổ gã bị xiết chặt đau điếng người, không còn biết gì nữa. Mồm miệng và lỗ mũi gã bị gió tràn vào đầy rất khó thở.

Bỗng nghe tiếng cô gái vỗ tay cười:

- Hay quá! Hay quá! Quả nhiên chẳng khác gì thả diều giấy.

Du Thản Chi ngoảnh mặt về phía phát ra tiếng cười nói, thì thấy người vỗ tay tươi cười chính là thiếu nữ chim sa cá lặn mình mặc áo tía.

Du Thản Chi nhìn thấy nàng không biết gã vui mừng hay đau thương. Người gã đang bay trên không trung nên không hiểu gã tư tưởng thế nào. Thiếu nữ kiều diễm này chính là A Tử.

Nguyên nàng thấy Kiều Phong buông tha Du Thản Chi, trong bụng không vui. Nàng cưỡi ngựa theo ông đi một lúc rồi cố ý lùi lại sau để bảo bọn tùy tùng đi

Chương 49: Du thản chi mê mẩn tâm thần

Tên quân Khất Ðan nhảy xuống ngựa để cho A Tử thả "diều người."

A Tử cầm đầu dây rồi phóng ngựa để cho chạy đường vòng tròn. Nàng sung sương hở tươi cười miệng hô:

- Thú quá! Thú quá!

Nhưng nàng bị ghương mới khỏi mà chưa được bình phục bàn tay vẫn còn yếu sức rồi mềm nhũn ra tuột mất đầu dây.

Du Thản Chi rớt xuống đất đánh cái "huỵch"một tiếng, trán gã đụng vào cạnh phiến đá sắc nhọn, bị thương một lỗ, máu chảy ra như suối.

A Tử cụt hứng tức mình la mắng:

- Thằng khốn nạn này sao nặng thế!

Du Thản Chi đã đau xuýt ngất người lại nghe nàng quát mắng vì thân thể vì quá nặng, những muốn quay lại cãi lộn, nhưng không nói nên lời.

Một tên quân Khất Ðan chạy nới lại dây lọng tròng cổ gã, một tên khác xé vạt áo buộc vết thương, nhưng máu tươi vẫn tuôn ra ướt hết không thể cầm được.

A Tử nói:

- Các ngươi lại thả diều đi cho ta coi, liệu có thả lên cao bàng nóc nhà được khkông?

Du Thản Chi không hiểu tiếng Khất Ðan chỉ thấy họ vừa nói vừa giơ tay chỉ chỏ lên nóc nhà cũng đoán là chuyện khong hay cho mình.

Quả nhiên một tên quân Khất Ðan nhắc đầu dây lên luồn qua nách rồi bước lên lưng để khởi làm ngẹn cổ gã rồi quát lên một tiếng:

- Lên đi!

Ðoạn phóng ngựa chạy nhanh. Du Thản Chi trước còn chạy lệt sệt dưới đất mấy vòng rồi tung lên cao dần dần. Tên quân Khất Ðan thả dây mọt lúc lại dài ra. Người Du Thản Chi dần lên cao. Tên Khất Ðan đột nhiên hô lên một tiếng rồi buông đầu dây ra. Du Thản Chi tựa hồ như mũi tên bật khỏi dây cung bắn tung lên.

A Tử cùng các quan binh reo ầm lên. Du Thản Chi không gượng được đành để cho người tung mạnh lên trên không, gã nghĩ bụng:

"Phen này chắc chết!." Khi người gã tung lên hết đà, gã chúc đầu xuống chân ngược lên tưởng chừng như đầu đổ xuống phiến đá xanh đến vỡ óc.

Bốn tên quân Khất Ðan vội tung giây thòng lọng ra tròng lấy lưng gã rồi giật mạnh ra bốn phía. Du Thản Chi ngất xỉu, bốn luồng sức mạnh giữ gã cứng đơ lơ lửng trên không, đầu gã chỏ xuống chỉ còn cách mặt đất chừng ba thước.

Trước tình trạng cực kỳ nguy hiểm nếu chỉ một trong bốn tên quân Khất Ðan chậm giật dây một chút, khiến cho sức mạnh bốn bên không cân nhau thì Du Thàn Chi sẽ đụng đầu xuống đá vỡ óc ra mà chết.

Bọn Khất Ðan thường ngày vẫn đem người Tống ra làm trò chơi như vậy, trong mười người bị chết hết chín. Dù là ở trong cánh đồng cỏ mặt đất mềm dẻo hơn nhưng từ trên cao rớt xuống cũng vỡ óc gãy cổ chết nhiều rồi.

Giữa lúc tiếng hô vang dội bốn tên quân Khất Ðan hạ Du Thản Chi xuống.

A Tử lấy tiền ra thưởng cho đám quan binh mỗi tên mươi lượng.

Bọn quan binh sung sướng tạ ơn rồi hỏi:

- Cô nương còn muốn coi trò gì nữa không?

A Tử thấy Du Thản Chi ngất đi khôngbiết còn sống hay đã chết rồi. Hơn nữa cô vừa thả"diều người"đã dùng sức quá nhiều trước ngực, không đủ sức để xem nữa liền đáp:

- Ta xem đủ rồi. Thằng lỏi này nếu không chết thì sáng mai đem gã vào yết kiến ta để ta nghĩ cách têu khiển khác. Gã đã toan ám toán sát Ðại Vương thì không thể để nó chết một cách dễ dàng được.

Ðám quan binh dạ vang.

Lúc Du Thản Chi tỉnh lại thì mũi ngửi thấy mùi khê nằng nặc. Gã bừng mắt ra nhìn mà chẳng thấy gì, câu đầu tiên gã tự hỏi: "Ta còn sống hay chết rồi? ."

Gã cảm thấy khắp mình đau đớn, miệng khát nước phi thường.

Gã cất tiếng gọi:

- Nước! Nước!

Nhưng nào có ai thèm thưa.

Gã gọi luôn mấy tiếng rồi ngất đi. Gã mơ thấy bá phụ, phụ thân giao đấu với Tiêu Phong, máu chảy lênh láng lại nhìn thấy người mẹ rất thân yêu dắt gã ngồi vào lòng dỗ dành và bảo gã đừng sợ.

Gã lại thấy cả A Tử xuất hiện ra trươc mắt với vẻ đẹp nồng nàn dưới cặp mắt hồ thu và sắc sảo dị thường. Bộ mặt nàng đột nhiên co rúm lại biến thành cái đầu rắn hổ mang bành hai má phùng phình, mình sặc sỡ lại cắn gã.

Du Thản Chi sợ quá muốn trốn chạy, nhưng đến ngón tay còn không nhúc nhích được. Gã gắng gượng né tránh nhưng người vẫn cứng đờ. Rồi gã bị con rắn độc cắn lôi từng miếng thịt ở trên cánh tay, dưới đùi, sau lưng, trước cổ, khắp mọi chỗ trong người, nhất là ở trên trán rắn cắn còn mạnh hơn. Gã thấy những miếng thịt rớt ra thì hết hồn toan kêu lên mà không ra tiếng.

Du Thản Chi người nóng bừng thần trí mê man suốt đêm. Lúc gã tỉnh lại thì người ê ẩm cũng khổ sở như lúc nằm mơ.

Hôm sau hai tên quân Khất Ðan áp giải gã đến yết kiến A Tử, người gã hãy còn nóng ran. Gã vừa bước đi một bước thì người lại ngã lăn ra.

Hai tên quân Khất Ðan vội cắp gã lên rồi vừa mắng vừa dìu đến một căn nhà bằng đá rất lớn. Du Thản Chi tự hỏi: Bọn này đem ta đi đâu? Phải chăng lôi mình ra giết?

Ðầu óc gã vẫn hôn mê, không nghĩ nhiều được. Gã chỉ biết chúng đưa mình qua hai dãy hành lang đến ngoài một tòa sảnh đường...

Hai tên quân Khất Ðan ở ngoài cửa tòa sảnh rồi bẩm báo mấy câu.

Phía trong có tiếng cô gái đáp lại, cửa nhà sảnh đường mở ra. Hai tên quân Khất Ðan liền đẩy gã vào. Du Thán Chi ngửng đầu nhìn lên thì thấy nền nhà trãi một tấm thảm sặc sỡ. Một thiếu nữ xinh đẹp ngồi trên cẩm đôn tận phía trong chính là A Tử.

Nàng để bàn chân trần đặt xuống tấm thảm. Du Thản Chi thấy đôi bàn chân nhỏ nhắn như tuyết, trong như ngọc, mềm như đoạn thì trái tim gã đập mạnh, lòng gã rạo rực. hai mắt gã nhìn choằm chặp vào hai bàn chân xinh đẹp kia. Gã tưởng chừng như da thịt bàn chân nàng trong bóng tối có thể soi gương được.

Bàn chân có ẩn hiện mấy đường gân xanh, gã muốn vươn tay ra vuốt ve lưng bàn chân A Tử.

Hai tên quân Khất Ðan buông tay ra để Du Thản Chi đứng một mình. Du Thản Chi loạng choạng xuýt ngã, nhưng rồi cố gượng đứng vững được.

Cặp mắt Du Thản Chi vẫn không rời bàn chân A Tử. Gã thấy mười ngón chân nàng đều một màu hồng phớt tựa như những canh hoa nhỏ bé.

A Tử đưa mắt nhìn Du Thản Chi thấy gã đầy như những máu me dơ bẩn mặt mũi xưng vếu. Hàm dưới đưa ra, hai mắt đỏ ngầu ham muốn như tóe lửa.

A Tử chợt nhớ lại một con chó sói đói bị thương. Hôm ấy nàng cùng Tiêu Phong đi săn, nàng bắn một phát trúng đầu con chó, nhưng vì không đủ sực mạnh nên không bắn chết được nó. Con sói bị thương cũng dương đôi mắt tóe lửa ra nhìn mình, khác nào cặp mắt Du Thản Chi lúac nàyđang nhìn nàng. nàng tưởng gã muốn nhảy chồm lại cắn mình. Nhưng gã đang bị thương trong miệng lại học máu ra như suốikhông còn ođủ sức. A Tử thích trông cặp mắt hằm hắm như con dã thú, nàng còn muốn con dã thú gầm lên nhữbg tiếng thê thả. Nhưng gã Du Thản Chi bạc nhược quá rồi không còn chút sức nào để phản kháng dù kích thích đến đâu cũng không có phản ứng.

Hôm trước gã toan dùng rắn cho cắn Tiêu Phong, mà không chịu quỳ lạy ăn nói quật cường không thèm lấy tiền của ông. A Tử rất vui mừng và coi gã như một loài dã thú rất lợi hại.

A Tử còn muốn hành hạ đâm cho gã bị thương khắp người. Nàng còn muốn mỗi lần bị thương gã lại chồm lên cắn mình một miếng và đương nhiên không để gã cắn trúng. Ðằng này đi bắt gã đem về để thả diều người thì cái loài dã thú không phản này có dùng làm trò chơi cũng không thú.

A Tử khẽ chau mày tự hỏi: "Bây giờ tìm cách gì mới lạ hành hạ gã này cho vui".

Ðột chiên Du Thản Chi kêu lên mấy tiếng "Hà hà" rồi không biết một luồng khí lực ở đâu đưa đến, khiến gã đủ sức nhảy đến gần A Tử khác nào con beo vồ mồi. Gã ôm chặt lấy chiếc đùi bé nhỏ của nàng lên, cúi rập đầu xuống để hôn hít hai bàn chân nàng.

A Tử cả kinh kêu thét lên. Hai tên quân Khất Ðan cùng bốn ả nữ tỳ hầu cận nàng đều la ầm lên, chạy vào cố gỡ nàng ra.

Du Thản Chi vẫn bám chặt lấy chân nàng dai như đĩ a đói, dù chết cũng không chịu buông tay.

Tên quân Khất Ðan vì dằng mạnh khiến cho A Tử đang ngồi trên cẩm đôn tuột xuống tấm thảm trãi dưới đất. Hai tên quân Khất Ðan vừa sợ vừa tức không dám dằn ra nữa. Một tên đạp mạnh vào sau lưng Du Thản Chi còn một tên tát vào mặt gã.

Những vết thương của Du Thanư Chi vẫn nóng ran, thần trí gã vẫn như người điên chưa tỉnh. Bất luận tình cảnh gì trước mắt gã cũng chỉ thấy lờ mờ. Gã hết sức ôm chặt lấy chân A Tử và vẫn đặt môi xuống hôn bàn chân nàng.

A Tử thấy môi gã khô và nóng bỏng vào chân mình thì trong lòng sợ hãi, nhưng trái lại nàng thấy có cảm giác kỳ dị tê tê buồn buồn rồi đột nhiên nàng thét lên lanh lãnh:

- Ôi chao! Thằng lõi này cắn đầu ngón chân ta.

Rồi nàng vội bảo các ngươi mau ra xa! Gã này phát điên rồi đừng để gã nổi khùng cắn đứt ngón chân ta.

Du Thản Chi cắn mơn man ngón chân A Tử. Tuy nàng không thấy đau nhưng nàng sợ đột nhiên gã cắn mạnh.

Vì nàng e tên quân Khất Ðan đánh đập gã làm cho gã cáu lên liều chết cắn bậy, nên phái bảo chúng xa ra.

Hai tên quân Khất Ðan không biết làm thế nào đành buông tay ra. A Tử dỗ ngọt:

- Mi buông ra đừng cắn ta, ta sẽ tha chết cho.

Lúc này tâm thần Du Thản Chi đã mê loạn không hiểu nàng nói gì.

Một tên quân Khất Ðan cầm đao rút ra khỏi vỏ toan chặt vào cổ gã cho đứt rơi đầu ra, nhưng lại sợ nhát dao chém xuống làm bị thương đến A Tử nên dùng dằn chưa dám hạ thủ.

A Tử lại nhủ:

- Chao ôi! Mi không phải dã thú, cắn người làm gì? Mau nhả ra ta sẽ kêu người đến chữ vết thương cho ngươi và tha ngươi về Trung Nguyên.

Du Thản Chi vẫn mặc kệ. Răng lưỡi gã vẫn nhẹ nhàng đưa qua đưa lại trên bàn chân A Tử chứ không cắn cho nàng đau, rồi hai bàn tay gã mân mê vuốt ve lưng bàn chân nàng một cách âu yếm. Tâm hồn gã thấy phiêu diêu tựa như lúc làm diều người bay bỗng lên mây.

Một tên quân Khất Ðan mau trí đột nhiên thò tay ra bóp cổ Du Thản Chi. gã bị nghẹt cổ không tự do mở ra được.

A Tử vội co đùi lên rút ngón chân trong miệng gã ra.

Nàng sợ gã phát điên lại cắn nữa, liền đứng dậy rút hai chân để về phía sau cẩm đôn.

Hai tên quân Khất Ðan nắm chặt lấy Du Thản Chi rồi nắm tay đấm vào miệng gã hơn mười quyền. Gã hộc lên máy tiếng rồi ọc máu tuơi ra làm dơ bẩn cả tấm thảm trãi dưới đất.

A Tử nói:

- Các ngươi dùng tay đừng đánh gã nữa.

Trãi qua cơn nguy hiểm vừa rồi, nàng thấy gã còn có chỗ để làm trò chơi được, chưa đến nỗi vô vị, nên không muốn cho gã chết ngay.

Hai tên quân Khất Ðan dừng tay không đánh nữa. A Tử ngồi xếp bằng trên ghế để hai bàn chân xuống dưới mông, rồi tính toán: "Bây giờ hành hạ gã bằng cách nào đây?"

Nàng ngẩng đầu lân thấy Du Thản Chi cặp mắt vẫn nhìn mình trừng trừng, liền hỏi:

- Mi nhìn ta gì mà dữ vậy?

Du Thản Chi chẳng quan tâm gì đến sự sống chết nữa, không cần nghĩ ngợi gì đáp liền:

- Cô nương đẹp quá! Nên tôi muốn nhìn mãi.

A Tử đỏ mặt lên nghĩ bụng: "Thằng lõi này thật là gan liền, dám buông lời xúc phạm."

Có điều trước nay nàng chưa từng thấy một chàng trai nào mở miệng khen nàng đẹp trước mặt. Lúc nàng còn học võ phái Tinh Tú, bọn sư huynh đều coi nàng là một đứa trẻ ranh mãnh tinh nghịch. Từ khi nàng theo Tiêu Phong, không phải ông sợ nàng tinh ngịch mà chỉ lo nàng chết. Ông chưa từng để ý đến đẹp hay xấu. Bây giờ nàng thấy Du Thản Chi khen mình thì trong bụng không khỏi mừng thầm rồi định bung: "Ta lưu gã ở bên mình để lúc nào ngồi buồn lại đem gã ra tiêu khiển, như vậy cũng hay! Có điều tỉ phu ta bảo tha gã, nếu biết ta bắt gã về tát nhiên cấu giận. Dù ta có dối được bữa nay thì bữa mai tất cũng bị lộ. Muốn cho tỉ phu ta thủy chung không hay biết được thì phải dùng cách gì đây? Cấm mọi người xung quanh không được tố cáo với tỉ phu thì ta có thể làm được. Xong lỡ tỉ phu đột ngột đến đây trông thấy gã thì sao?

Nàng trầm ngâm một lát rồi chợt nghĩ ra điều gì nàng lẩm bẩm: "A Châu tỉ nương rất giỏi cải trang. Tỉ nương giả là gia gia mà tỉ phu không nhận ra. Ta đem gã này thay hình đổi dạng, tất tỉ phu không thể biết được, chỉ còn e gã nếu không tự nguyện thì dù là cải trang cho gã cũng chỉ được một lúc rồi gã vội rửa đi, khôi phục lại chân tướng cũng bằng vô dụng"

Cặp lông mày cong cong của A Tử nhíu lại. Nàng nghĩ ra được mưu kế, vỗ tay cười ha hả reo lên:

- Hay lắm, hay lắm! Ta cứ làm thế là được.

Nàng nói tiếng Khất Ðan bảo hai tên quân một hồi. Chỗ nào chúng nghe chưa hiểu hỏi lại thì nàng giải thích rõ ràng. Nàng lại sai thị nữ lấy ra ba chục lạng bạc giáo cho chúng.

Hai tên Khất Ðan cầm tiền rồi cúi mình thi lễ, kéo Du Thản chi ra ngoài phòng Du Thản Chi la lên:

- Ta muốn ở đây nhìn nàng! Ta muốn nhìn cô bé xinh đẹp mà độc ác kia.

Mấy tên quân Khất Ðan cùng bọn thị nữ không hiểu tiếng Hán chẳng hiểu gã kêu la chuyện chi.

A Tử cười hì hì nhìn sau lưng gã lại tưởng đến sáng kiến thông minh của mình, càng nghĩ càng đắc chí.

Du Thản Chi bị lôi về chỗ cầm tùvà quẳng xuống đống cỏ khô.

Ðến chiều có người mang lại cho Du Thản Chi một dĩa thịt cừu và mấy cái bánh bao.

Người gã vẫn còn nóng ran miệng nói lảm nhảm. Người đưa bánh đưa thịt đến sợ quá vội đặt ăn xuống rồi chạy đi.

Du Thản Chi đói quá, đói đến nỗi không biết gì nữa. Thức ăn để đó thủy chung gã vẫn không đụng đến.

Chiều hôm ấy, thốt nhiên có ba người Khất Ðan đến, Du Thản Chi tuy thần trí mê man, nhưng gã cũng biết lờ mờ, tưởng là những chuyện không hay sắp đến cho mình. Gã gượng gạo đứng lên.

Du Thản Chi vẫn già giọng mắng nhiếc:

- Mấy con chó Khất Ðan này muốn chết phải không? Ðại gia sẽ băm bọn bay ra làm muôn đoạn!

Ðột nhiên tên Khất Ðan thứ ba, hai tay bưng một vật gì trắng toát trông giống như gạo hay làn tuyết. Chúng giữ chặt lấy mặt gã.

Du Thản Chi thấy mặt mình vừa ướt vừa mát lạnh. Ðầu óc gãtỉnh lại nhưng hơi thở không thông. Gã nghĩ thầm: "Bọn này bít kín thất khiếu cho ta chết ngay đây!" Nhưng gã lại biết ngay là mình đoán sai, mồm miệng và mũi gã có người chọc ra mấy lần gã lại thở hít được như thường, chỉ còn cặp mắt là không mở ra được. Gã cảm giác mặt mình ướt đẫm và đang có người xoa nắn tựa hồ như trát bột hay trát bột vào.

Du Thản Chi bị hành hạ hai ngày liền, đau khổ đủ điều. Bây giờ trong lòng gã mê man tự hỏi: "Bọn ác tặc này không biết đang dùng phương pháp cổ quái nào để giết ta đây?"

Sau một lúc gã thâùy họ khẽ nậy chất bột trên mặt mình ra.

gã mở mắt nhìn thì thấy một chiếc mặt nạ bằng bôt mì vừa tháo ra.

Tên quân Khất Ðan hai tay cầm rất cẩn thạn cái mặt nạ bằng bột còn đang ướt này chỉ sợ vỡ nát.

Du Thản Chi lớn tiếng mắng:

- Quân Liêu cẩu hèn mạt này! Ta sẽ cho bọn mi chết không có đấùt mà chôn.

Ba tên quân Khất Ðan để mặc Du Thản Chi tha hồ chửi bới kêu gào, chúng mang cái mặt nạ đắp bằng bột đi.

Du Thản Chi sực nhớ ra lẩm bẩm: "Phải rồi! Chúng bôi thuốc độc vào mặt mình, chắc chẵn bao lâu mặt mình sẽ nát rửa da thịt, biến thành quỷ sứ..."

Gã càng nghĩ càng sợ hãi rồi định bụng:

Nếu để chúng hành hạ cho đến chết thì thà rằng tự tử đi còn hơn. Gã chủ ý rồi liên tiếp đập đầu vào tường"binh binh"luôn mấy cái.

Nhưng tên ngục tốt nghe tiếng chạy vào trói chặt tay chân gã lại.

Du Thản Chi đã đập đầu đến choáng óc, sắp ngất đi, để mặc bọn ngục tốt muốn làm gì thì làm.

Qua được mấy ngày, gã thấy mặt mình chẳng đau đớn gì mà cũng không nát rữa song gã quyết lòng một chết cho rồi. Gã tuy bụng đói mà ngục tốt đưa cơm vào ăn nữa.

Ðến ngày thứ tư, ba tên quân Khất Ðan lại chạy đến chỗ Du Thản Chi xiềng gã đem đi. Trong lúc đau khổ vô cùng gã chỉ còn xót lại một chút hy vọng là được đưa đến chỗ A Tử để nàng hành hạ khảo đã, thì dù có đau khổ đến đâu chăng nữa cũng còn được thấy dung nhan người đẹp để mà an ủi. Hoài bão hy vọng đó, trên nét mặt đau khổ thoáng một nụ cười chua chát.

Ba tên quân Khất Ðan đem gã qua mấy đường hẻm nhỏ rồi đưa vào một gian phòng tối đen. Bươc qua một cái bệ đa chừng mười bậc thì đến một nơi than hồng bốc lên ngùn ngụt soi sáng nửa căn nhà đá.

Một bên thợ rèn vai u thịt bắp mình trùng trục đứng bên lò lửa. gã chăm chú nhìn một vật đen sì mà gã đang cầm trên tay.

Ba tên quân Khất Ðan đẩy Du Thản Chi đến trước mặt gã thợ rèn. Hai tên chia nhau giữ chặt hai tay gã, còn một tên nắm lấy sau lưng.

Người thợ rèn ngẹo đầu ngắm nhìn đồ vật cầm trong tay tựa hồ như để so sánh.

Du Thản Chi đưa mắt nhìn đồ vật trong tay người thợ rèn thì thấy một cái mặt nạ đúc bằng thép, có dùi thủng miệng, lỗ mũi và hai mắt. Gã tự hỏi: "Cái mặt nạ bằng thép này để làm gì? ."

Bỗng người thợ rèn cầm chiếc mặt nạ lên úp vào mặt gã.

Du Thản Chi bất giác ngẩng đầu về phía sau để tránh nhưng rút cục người thợ vẫn lồng vào được. Gã thấy mặt mình giá lạnh vì da thịt chạm vào gang théo. Gã rất làm kỳ ở chỗ chiếc mặt nạ này lồng vào mặt mình vừa khẳm vừa khăm, mồm miệng mặt mũi chỗ nào cũng ăn khớp, dường như cái mặt này họ làm để cho đeo.

Du Thản Chi không phải hạng ngu ngốc cho lắm, gã chỉ nghi ngờ một lúc rồi biết ngay cứu cánh về vụ này. Ðột nhiên gã, cảm thấy lạnh đến xương sống, than thầm: "trơi ơi! Ðúng là chúng làm cái mặt này để cho mình đeorồi. Bữa trước bọn chúng đã lấy bột ướt để nhòi vào mặt mình thì ra là chúng làm khuôn mặt. Không biết bọn chúng làm cái mặt nạ này là có dụng ý gì? Hay là..."

Dường như Du Thản Chi đã đoán ra cái trò độc ác của bọn Khất Ðan đúc mặt nạ để làm gì, gã không dám nghĩ thêm nữa, chỉ cố cựu quay lùi lại.

Người thợ rèn lại tháo mặt nạ ra gật lia lịa ra vẻ vừa lòng. Y lấy ra một cái kiềm to tướng cặp lấy mặt nạ đặt vào lò lửa nung cho đỏ lên. Tay phải cầm một cái dùi sắt đánh vào mặt nạ beng beng một hồi rồi lại đưa tay sờ đầu sờ gáy Du Thản Chi để sữa lại những chỗ không ăn khớp.

Du Thản Chi quát mắng:

- Mấy thằng Liêu cẩu trời đánh này! Tụi bây định làm việc thương thiên nghịch lý gì đây? Tụi bây là những con quỷ hung tàn, hoàng thiên sẽ giáng họa để tụi bay không được chết yên lành đâu! Nhà trời sẽ ra tay sát hại cả đến lục súc cùng con cái của tụi bây.

Gã lớn tiếng chửi mắng ầm ầm, nhưng bọn Khất Ðan chẳng hiểu gì hết.

Người thợ rèn đột nhiên quay đầu lại nhìn Du Thản Chi bằng đôi mắt hung dữ, giơ cái đầu kim sắt nung đỏ lên như muốn chỉ vào mặt gã.

DuThản Chi khiếp quá mắt trợn lên miệng há hốc ra.

Người thợ rèn chỉ hăm dọa thế thôi rồi cười ha hả rút kiềm về. Ðoạn y lấu một cái khuôn sắt ngư hình nửa quả dưa, ướm vào sau gáy Du Thản Chi bằng đôi mắt hung dữ, giơ cái đầu kim sắt nung đỏ lên. Ðoạn y lớn tiếng nói mấy câu.

Ba tên quân Khất Ðan dằn ngửa Du Thản Chi trên mặt bàn đầu thò ra ngoài. Lại thêm hai người Khất Ðan nữa lại tiếp tay giữ đầu gã không cho gã động dậy. Cả thảy năm nười giữ cả chân tay mình mẩy Du Thản Chi. Khói trắng bốc lên hơi mùi thịt khét lẹt bay ra.

Du Thản Chi rú lên một tiếng ngất đi.

Người thợ rèn lấy kiềm gắp nốt miếng mô hình nữa lắp vào sau gáy gã. Cả hai nửa úp vào nhau thành ra cái hình tròn chụp cả lấy đầu Du Thản Chi.

Cái lồng sắt hãy còn nóng bỏng chạm vào da thịt cháy lên xèo xèo, thịt cũng mềm nhũn ra.

Người thợ rèn này là tay khéo nhất trong thành Yên Kinh. Hai nửa đầu ráp vào nhau trông liền như một không hở sợi tóc.

Du Thản Chi khác nào kẻ vào địa ngục, trãi qua muôn trượng lửa nóng. Gã ngất đi không biết bao lâu dần dần hồi tỉnh, cảm thấy trước mặt sau gáy đau rát không chịu được gã lại ngất đi.

Nên biết rằng người ta lúc thần trí mê man mà ngất đi được cũng là một việc trời sanh ra để hộ vệ cho tâm trí. Nếu không có lúc ngất đi đó thì sẽ đau khổ cho đến chết.

Du Thản Chi ba lần ngất đi, ba lần hồi tỉnh. Gã lớn tiếng kêu gào mà bên tai vẫn chẳng nghe thấy tiếng mình.

Lúc đầu gã tưởng tại mình điếc, nhưng rồi kêu to lên một lần nữa mới phát giác ra mình kêu không thành tiếng. Gã nằm thẳng người muốn cử động cũng không được. Gã không nghĩ ngợi gì chỉ cắn răng để cố nhịn đau đớn từ trước mặt đến sau gáy.

Gã giữ nguyên tình trạng như vậy hồi lâu rồi gắng gượng giơ tay lên sờ mặt lạnh cứng ngắtvà như thế đã đủ chứng minh gã đoán không lầm là cái mặt nạ chụp vào đầu gã.

Du Thản Chi căm hận vô cùng cố gắng kéo mặt nạ ra, nhưng dường như đã gắn chặt vào mặt gã, kéo thế nào cũng không nhúc nhích được. Gã vừa căm phẫn vừa tuyệt vọng, không nhẫn nại được, khóc òa lên. Nước mắt gã tuôn ra như suối mà tiếng khóc cũng chỉ ấm ức, không phát ra thanh âm.

Gã đang độ thiếu niên nên dù đau đớn đến đâu cũng vẫn đủ sức chịu đựng, không đến nỗi chết.

Mấy hôm sau những vết thương và những chỗ đau đớn dần dần giảm bớt đi, gã đã cảm thấy đói bụng ngửi mùi bánh mùi thịt thèm quá không nhịn được, liền bốc ăn. Ăn vào thấy người càng dễ chịu hơn.

Bây giờ Du Thản Chi đưa tay lên sờ khắp trên đầu, trên mặt biết rằng cái lồng sắt đã úp chụp kín cả đầu, mặt mình không còn cách nào tháo ra được.

Mấy hôm đó gã tức giận như điên cuồng, nhưng sau ba ngày dần dần gã bình tĩnh trở lại. Rồi tự hỏi: Quân Liêu cẩu này dùng lồng sắt chụp lấy đầu mình là có dụng ý gì?

Gã cho đây chỉ là mệnh lệnh của Tiêu Phong, còn dụng ý gì thì gã nghĩ mãi cũng không đoán ra.

Sở dĩ A Tử sai đắp lồng sắt chụp vào đầu vào mặt gã là để bịp Tiêu Phong. Vụ này nhất thiết do gã đội trưởng Thất Lý chiều ý A Yử mà làm ra.

Hằng ngày A Tử vẫn hỏi dò Thất Lý về mọi tình hình Du Thản Chi sau khi đầu gã đã chụp lồng sắt vào rồi. Ban đầu nàng vẫn lo rằng nhân vụ này mà Du Thản Chi sẽ chết mất, nhưng về sau nàng biết gã đã dần dần khỏe lại như cũ thì rất mừng lòng.

Mới đây A Tử được tin Tiêu Phong ra duyệt binh ngoài cõi Nam Giao, liền truyền cho Thất Lý đem Du Thản Chi vào để nhìn hình thù gã sau khi đầu bịt lồng sắt và mặt nạ ra sao? Nàng ngồi trong cung Ðoan Phúc để chờ cho đến khi ba quân Khất Ðan bộ hạ của Thất Lý dẫn Du Thản Chi vào.

A Tử vừa trông thấy hình thù Du Thản Chi trong lòng xiết bao nỗi mừng vui về cách giả tạo này. Nàng lẩm bẩm:

- Phương pháp này thật là tuyệt diệu! Bây giờ thằng lỏi đeo bộ mặt này vào thì dù gã có đứng đối diện, tỷ phu ta cũng không thể nhận ra được.

Du Thản Chi tiến lên mấy bước. A Tử vỗ tay khen hay rồi bảo Thất Lý:

- Ngươi lấy năm chục lạng bạc để thưởng cho tên thợ rèn đã làm việc chu đáo!

Thất Lý nói:

- Xin vâng. Ða tạ Quận chúa.

Nguyên Gia Luật Hồng Cơ muốn chiều lòng Tiêu Phong đã đặc biệt giáng chỉ phong A Tử làm Ðoan Phúc quận chúa. Cung Ðoan Phúc này cấp riêng cho nàng làm nơi cư trú.

Du Thản Chi nhìn qua lỗ mắt trên mặt nạ thấy A Tử tươi cười xinh đẹp vô cùng, thì trong lòng không khỏi rung động. Gã thấy nàng cười nói tuy chẳng hiểu gì, nhưng cũng thấy khoan khoái trong lòng bất giác nhìn nàng chằm chặp không chớp mắt. A Tử thấy Du Thản Chi đeo mặt nạ coi rất kỳ dị, song nhận ra gã vẫn nhìn mình không chớp mắt, liền hỏi:

- Thằng lỏi ngu ngốc kia! Mi nhìn ta làm chi vậy?

Du Thản Chi ấp úng:

- Tôi... tôi không biết!

A Tử hỏi lại:- Mi đeo mặt nạ có dễ chịu không?

Du Thản Chi lại hỏi:

- Cô nương thử đoán xem có dễ chịu không?

A Tử cười khanh khách đáp:

- Ta nghĩ không ra.

Nàng thấy cửa miệng Du Thản Chi rất hẹp chỉ đủ để ăn cơm húp canh. Còn muốn ăn thịt phải phải nghiền nát ra mới đưa vào được. Như vậy dù gã muốn cắn ngón chân mình cũng không thể được, liền cười hỏi:

- Sỡ dĩ ta bắt mi phải đeo mặt nạ để vĩnh viễn mi không cắn ta được.

Du Thản Chi mừng thầm, nói:

- Phải chăng cô nương muốn tôi... tôi ở luôn bên mình để hầu hạ?

A Tử đáp:

- Chà! Mi là một đứa khốn nạn, để mi ở bên mình đặng mi nghĩ cách hại ta phải không?

Du Thản Chi nói:

- Tôi quyết không để ý hại cô nương. Tôi chỉ thù một mình Tiêu Phong mà thôi.

A Tử nói:

- Mi muốn hại tỷ phu ta, phỏng có khác gì hại ta?

Du Thản Chi nghe A Tử nói vậy trong lòng chua xót, không biết trả lời thế nào.

A Tử cười nói:

- Mi muốn hại tỷ phu ta, ta tưởng lên trời cũng không khó bằng. Thằng ngốc kia! Mi có muốn chết không?

Du Thản Chi đáp:

- Dĩ nhiên là tôi không muốn chết. Có điều hiện giờ trên đầu tôi chụp một cái lồng sắt thành thử người chả ra người, quỷ chả ra quỷ thì dù chết cũng vậy thôi, chả khác gì.

A Tử nói:

- Nếu quả mi muốn chết thì ta cho mi được toại nguyện, có điều không phải được chết một cách dễ dàng đâu.

Nàng quay sang bảo gã Thất Lý đứng bên cạnh:

- Thất Lý! Ngươi lôi nó ra chặt cánh tay trái đi!

Thất Lý dạ một tiếng rồi lôi Du Thản Chi đi.

Du Thản Chi cả kinh la lên:

- Không! Không! Tôi không muốn chết! Cô nương... Cô nương đừng sai chặt cánh tay tôi.

A Tử cười lạt nói:

- Lời ta đã nói ra lẽ nào không thi hành, trừ phi... mi chịu quỳ xuống khấu đầu!.

Du Thản Chi còn đang ngần ngừ, Thất Lý đã lôi gã ra hai bước.

Du Thản Chi không dám chần chừ nữa, quỳ mọp ngay xuống dập đầu lạy, đầu gã chụp lồng sắt chạm xuống đá xanh kêu"boong boong."

A Tử cười khanh khách đáp:

- Từ thuở nhỏ ta chưa được nghe ai dập đầu lại có âm thanh dễ nghe như vậy. Mi lạy thật lâu cho ta nghe.

Du Thản Chi là một vị Tiểu trang chúa ở Tụ Hiền trang, dù gã văn dốt võ dát mọi người trong trang đều biết gã là một thiếu niên đốn mạt, nhưng con Du Ký chết rồi, Du Câu chỉ có mình gã, quý gã như hòn ngọc báu.

Tiểu Trang chúa gọi một tiếng ngươì nhà đã răm rắp. Từ thuở nhỏ gã đã được nuông chiều, ăn sung mặc sướng, có bao giờ chịu khổ nhục như ngày nay?

Lúc Du Thản Chi mới thấy Tiêu Phong gã còn có khí phách quật cường, thà chết chứ không chịu quỳ lạy. Nhưng mấy bữa nay từ tâm hồn cho đến thể xác, gã chịu không biết bao nhiêu là đau đớn cực nhục cho nên mất hết chí khí của trang thiếu niên. Gã vừa nghe A Tử muốn chặt tay mình, bắt gã quỳ xuống, gã cũng phải quỳ rồi bắt gã lạy gã cũng phải lạy. A Tử bảo gã dập đầu nghe hay, gã cũng dập đầu lia lịa kêu"boong boong."

A Tử tủm tỉm cười nói:

- Hay lắm! Từ đây trở đi, ta sai bảo ngươi điều gì, ngươi không kháng cự thì thôi. Nếu còn trái lệnh, lập tức ta sai chặt tay, mi đã nhớ chưa?

Du Thản Chi nói:

- Vâng, vâng.

A Tử nói:

- Ta cho ngươi đội cái lồng sắt, ngươi có hiểu tại sao không?

Du Thản Chi nói:

- Thực tình tôi không biết.

A Tử nói:

- Ðáng lẽ mi chết rồi, ta cứu mạng mi mà mi không biết cám ơn ta. Tiêu đại vương muốn bằm mi nát ra như cám, mi có biết không?

Du Thản Chi đáp:

- Y là kẻ thù giết cha tôi, cố nhiên không chịu buông tha.

A Tử nói:

- Y giả vờ tha mi, rồi lại sai người đi bắt ngươi về để băm vằm mi ra. Ta thấy mi là một đứa nhỏ không đến nỗi hèn hạ lắm, nên sai người bắt mi về đây, giết mi đi nghĩ cũng tội nghiệp, nên ta phải nghĩ cách giấu mi. Nếu Tiêu đại vương lại gặp mi thì mi tất phải chết mà rầy rà đến cả ta nữa.

Du Thản Chi chợt tỉnh ngộ nói:

- À! Thế ra cô nương đúc cái lồng sắt này bịt đầu tôi là để cứu mạng cho tôi. Tôi cảm kích vô cùng!

Chính A Tử đã làm cho gã đau đớn ê chề, lại bịp gã khiến gã đem lòng cảm kích. Nàng thấy gã tin lời mình mà khoan khoái vô cùng, mỉm cười nói:

- Vì thế mà rồi đây mi có gặp Tiêu đại vương thì đừng nói năng chi hết để y không nghe được thanh âm mà nhận ra mi nữa. Nếu mi lên tiếng, y nhận ra mi, tất đem chặt một cánh tay mi đi. Rồi đi một thời gian ngắn lại chặt nốt một cánh tay thứ hai.

A Tử quay sang bảo tên đội trưởng:

- Thất Lý! Ngươi đi thay quần áo Khất Ðan cho gã mặc, tắm rửa cho sạch những vết máu mủ tanh hôi trong người gã đi!

Thất Lý vâng lệnh lôi Du Thản Chi ra ngoài.

Chẳng mấy chốc tên đội trưởng lại đưa gã vào.

A Tử thấy gã đã thay mặc quần áo Khất Ðan. Thất Lý muốn lấy lòng A Tử, cho gã mặc quần áo sặc sỡ, giống một tên tiểu sửu (thằng hề trong tuồng tàu).

A Tử cả cười nói:

- Ta đặt tên cho mi là Thiết Sửu. Từ đây nếu ta kêu Thiết Sửu thì mi phải thưa ngay.

Rồi nàng cát tiếng gọi to:

- Thiết Sửu! Du Thản Chi vội đáp:

- Dạ, dạ!

A Tử thích lắm đột nhiên nàng nhớ ra điều gì hỏi:

- Thất Lý! Có phải nước Ðại Tự bên Tây Vực đem đến biếu một con sư tử không? Ngươi kêu quản sư đem nó vào đây, đồng thời gọi mấy tên vệ sĩ đến nữa.

Thất Lý vâng lệnh chạy đi. Mười sáu tên vệ sĩ tay cầm trường mâu chạy vào điện, khom lưng thi lễ trước A TưƯ. Ðoạn đứng ngay người lên, chỉa mười sáu mũi trường mâu ra phía ngoài để bảo vệ cho A Tử.

Chỉ trong khoảnh khắc ngoài điện có tiếng sư tử gầm thét. Tám Ðại Hán khiên một chiếc củi sắt đi vào. Trong cũi có một con sư tử đực chạy quanh. Con sư tử này lông vàng bờm dài nanh vuốt rất nhọn trông rất hung dữ. Gã quản sư tay cầm roi da đi trước.

A Tử thấy con sư tử hung mãnh mà phát khiếp. Nàng hớn hở nói:

- Thiết Sửu! Ta bảo ngươi làm một việc, thử coi ngươi có chịu nghe lời ta không?

Du Thản Chi đáp:

- Vâng!

Gã trông thấy con sư tử thì trong lòng hồi hộp tự hỏi: "Không biết A Tử có dụng ý gì đây?" nghe nàng nói trống ngực đánh hơn trống làng.

A Tử nói:

- Ta không hiểu cái lồng sắt bịt đầu ngươi có được kiên cố không? Vậy ngươi thử dò đầu sắt vào cho con sư tử cắn mấy miếng thử xem có vỡ được không?

Du Thản Chi nghe nói cả kinh ấp úng:

- Cái đó... Cái đó... Không nên thử làm chi. Giả tỷ nó cắn vỡ thì đầu tôi...

A Tử gắt gỏng:

- Mi thật là đồ vô dụng! Có việc cỏn con thế mà đã khiếp sợ. Kẻ là đại trượng phu thì coi cái chết như không mới phải. Và ta chắc rằng nó cắn không vỡ được đâu.

Du Tharn Chi nói:

- Cô nương! Chuyện này há phải trò đùa. Giả tỉ nó cắn không vỡ thì cái lồng sắt cũng bị móp méo, và đầu tôi...

A Tử cười khanh khách nói:

- Thì đầu ngươi có méo xệch đi cũng chẳng sao. Thằng lỏi này thật khoa chịu quá! Cái đầu mi cũng chẳng còn đẹp đẽ gì nữa. Dù cái lồng có méo mó thì cái đầu ngươi ở bên trong cũng chẳng ai trông thấy. Hà tất ngươi phải quan tâm nó đẹp hay xấu? ...

Du Thản Chi vội nói:

- Có phải tôi còn có tham vọng cho cái đầu dễ coi đâu? ...

A Tử sa sần nét mặt gạt phắt đi:

- Mi không nghe lời ta ư? Ðược lắm!

Ðoạn nàng quay ra bảo gã đội trưởng:

- Thất Lý! Ngươi quẳng cả người nó vào trong củi cho sư tử ăn thịt đi!...

Thất Lý"dạ"một tiếng rồi chạy lại nắm lấy Du Thản Chi.

Du Thản CHi nghĩ thầm: "Nếu quẳng cả người mình vào cũi cho sư tử cắn thì còn chi là tính mạng. Thôi ta đành nghe lời cô này thò cái đầu sắt vào củi, còn sống hay chết đành phó mặc số phận"

Nghĩ vậy gã la lên:

- Thôi đừng! Tôi xin vâng lời cô nương!

A Tử cười nói:- Có thế chứ! Ta bảo cho ngươi biết:

từ đây trở đi ta biểu ngươi làm sao thì lập tức ngươi phải làm ngay! Nếu còn bướng bỉnh để bản cô nương nổi nóng thì không hay đâu.

Ðoạn nàng thét gã đội trưởng:

- Thất Lý! Ngươi nọc cổ gã ra đánh ba chục roi để từ đây cho gã biết phép.

Thất Lý vâng lệnh lập tức rút lấy cây bì tiêu trong tay gã quả sư quất vào lưng Du Thản Chi.

Du Thản chi đau quá không chịu được, rú lên một tiếng:

- Úi chao!

A Tử nói:

- Thiết Sửu kia! Ta cho mi hay:

ta sai người đánh mi tức là ta tử tế với mo lắm đó. Thế mà mi lại la làng. Phải chăng mi không muốn ta sai người đánh mi?

Du Thản Chi vội nói:

- Không! Không! Tôi vui lòng lắm. Xin đa tạ cô nương có lòng hạ cố đã cho tôi được ăn đòn.

A Tử thét:

- Ðánh đi!

Thất Lý quất veo véo liền một lúc đến mười roi.

Du Thản Chi nghiến chặt hai hàm răng chịu đựng không dám hé miệng. Bởi vì gã đã đội lồng sắt những ngọn roi chừa đầu gã ra, chỉ vụt vào lưng, nên gã có thể nhẫn nại được.

A Tử thấy gã chịu đựng không rên rỉ gì, lại cảm thấy trò này vô vị hỏi:

- Thiết Sửu! Ta lại hỏi ngươi, có phải ngươi nói vui lòng để ta sai người đánh mi không?

Du Thản Chi đáp ngay:

- Vâng!

A Tử lại hỏi:

- Ngươi nói thực hay nói dối? Ta nghĩ rằng ngươi buột miệng nói để bịp ta.

Du Thản Chi nói:

- Thực tình như vậy, đâu dám lừa bịp cô nương.

A Tử nói:

- Mi đã vui lòng, sao lại không cười, và không reo lên "Thú quá! Thú quá!"

Du Thản Chi bị nàng hành hạ đến ruột, tan hồn, quên cả mối căm thù. Nàng nói làm sao cũng bào hao làm vậy. Gã miễn cưỡng lên tiếng:

- Cô nương đối với tôi thật là phúc đức. Tôi dược ăn đòn khoan khoái vô cùng!

A Tử nói:

- Thế mới phải chứ! Nào ta thử xem.

Nàng nói xong đập bàn một cái, Thất Lý giơ roi lên vụt tới tấp.

Du Thản Chi cười ha hả nói:

- Sướng quá! Sướng quá! Ða tạ cô nương đã ban ơn cho.

A Tử lại đập bàn ra hiệu roi lại quất xuống, Du Thản Chi vẫn bám gan chịu đòn reo lên:

- Ða tạ cô nương đã cứu mạng cho, Roi đòn này thật là sung sướng.

Chỉ trong khoảnh khắc đã đánh đến hai chục roi, kể cả đòn đánh trước tổng cộng đến ba mươi roi.

Du Thản Chi bị đau ê ẩm cả người loạng choạng bước đến bên cũi sắt. Gã nghiến răng thò đầu vào trong cũi.

A Tử bảo gã quản sư:

- Ngươi cho sư tử cắn gã đi. Sao mãi nó không vồ?

Gã quản sư quát lên mấy tiếng. Con sư tử nghe hiệu lệnh chồm lại há miệng thật to cắn vào đầu Du Thản Chi.

Bỗng nghe tiếng xào xạo. hàm răng sư tử nhá chiếc lồng sắt. Du Thản Chi sợ quá nhắm mắt lại.

Gã cảm thấy một luồng nhiệt khí qua những lỗ hỗng lồng sắt chui vào thì biết rằng cả cái đầu mình đã lọt vào hàm sư tử. Tiếp theo gã cảm thấy trước trán và sau gáy đau đớn kịch liệt.

Nguyên người thợ rèn lúc chụp cái lồng sắt vào đầu gã, đầu và mặt mũi bị lồng sắt còng nóng bỏng làm cho gã xém da cháy thịt. Sau mấy bữa những vết thương mới đong vẩy. Bây giờ sư tử cắn vào, những vết thương lại toét ra.

Sư tử cố sức gặm mà cắn không vào, lại thấy đau răng. Nó nổi hung giơ vuốt lên cào vai Du Thản Chi.

Du Thản Chi bị sư tử cào vai bị thương đau tới xương tủy hét lên một tiếng Úi chao! rùng rợn.

Con sư tử thấy trong miệng mình tự nhiên bật lên tiếng thét thì không khỏi giật mình, há miệng ra lùi lại phía sau cũi sắt.

Nên biết rằng sư tử hay hùm beo tuy đều là loài thu sdữ nhưng không phải nó chỉ một mực liều lĩnh vồ cànkhông suy xét. Lúc gặp điều gì khác lạlà nó lại thụt về để coi cho rõ xem có nên vồ nữa hay không, nhất là con sư tử này sau khi bị bắt, tính hung hăn giảm đi rất nhiều. Du Thản Chi vừa la lên một tiếng, sư tử sợ quá lùi lại.

Gã quản sư coi đó là một việc mất thể diện cho mình, gã lại lớn tiếng quát tháo giục sư tử vồ Du Thản Chi cắn nữa.

Du Thản Chi cả giận, đột nhiên vươn tay nắm lấy cổ áo gã quản sư gắng sức kéo mạnh, lôi đầu gã đứt vào cũi sắt.

Gã quản sư rú lên.

A Tử thích quá vỗ tay cười ha hă:

- Hay quá! Hay quá! Ta được coi hai người đánh nhau trí mạng thật là tuyệt!

Mấy tên quân Khất Ðan toan chạy ra gỡ gã quản sư ra khỏi tay Du Thản Chi, nhưng nghe A Tử nói vậy lại thôi. Gã quản sư hết sức cựa quạy, nhưng lúc này Du Thản Chi đã nổi tinh, cố giữ chằng chằng gã quản sư, nhâùt quyết không chịu buông tha.

Gã quản sư chỉ còn trông con sư tử lại cứu mình, gãthét lên:

- Cắn! Cắn chết đi!

Con sư tử lại nghe gã giục rối rít, gầm lên một tiếng đau tai nhức óc, nhảy chồm lại. Nó chỉ thấy chủ nhân giục cắn chết đi mà không biết cắn ai? Nó nhe hàm răng sắc nhọn, trắng ởn ngoạm rau ráu cắn đứt một bên đầu gã quản sư, óc và máu tươi vọt ra tung tóe nhày nhụa trên mặt đất!

A Tử hớn hở tươi cười reo ầm lên:

- Ha ha! Thiết Sửu đại thắngThiết Sửu đại thắng!

Nàng vẫy tay ra lệnh cho mấy tên quân Khất Ðan khiêng cũi sư tử đi và đem tử thi gã quản sư ra ngoài. Ðoạn nàng bảo Du Thản Chi:

- Thế là được rồi! Mi đã làm cho ta được vừa lòng trong chốc lát. Ta muốn thưởng mi mà chưa biết thưởng gì đây?

Nàng chống tay lên cằm ra chiều suy nghĩ.

Rồi! Mi toan ở chờ Tiêu đại vương đến thăm ta, mi thừa cơ hạ thủ để sát hại đại vương, báo thù cho cha mẹ mi phải không?

Du Thản Chi nói:

- Tiểu nhân đến đây cốt để báo thù cho song thân nhưng không ngờ vụ này lại dính líu đến cô nương.

A Tử nói; - Tại sao mi lại thích làm nô lệ cho ta?

Du Thản Chi đáp; - Cô nương là người đẹp nhất trên trần gian. Tiểu nhân... Tiểu nhân tưởng tìm khắp thiên hạ cũng không tìm được người thứ hai nào như cô nương!

Gã nói câu này thật là hỗn xược vô cùng! Giả tỉ A Tử là một cô gái tầm thường mà thấy kẻ đê hèn dám ra điều trêu cợt thì đã giết rồi. Nhưng A Tử lại ưa nghe người ta tán tụng mình dẹp.

A Tử là một cô gái nhỏ tuổi tuy nhan sắc mỹ miều song chưa hết độ trưởng thành hơn nữa nàng bị trọng thương chưa khỏi hoàn toàn người vẫn gầy nhom vàng ửng, mà biểu đẹp nhất trần gian thì thật là quá đáng. Nhưng nàng thấy ở đời có kẻ khen mình nhan sắc khuynh thành cũng nức lòng hả dạ.

A Tử toan ưng thuận lời khẩn cầu của Du Thản Chi, bỗng có thị vệ báo:

- Ðại vương đã đến!

A Tử đưa mắt nhìn Du Thản Chi khẽ hỏi:

- Ngươi có sợ không?

Du Thản Chi run run đáp:

- Không sợ.

Thực ra gã nghe Tiêu Phong đến hồn vía đã rụng rời. Nếu quả gã không sợ thật thì việc gì vừa nói vừa run?

Bỗng thấy cửa điện mở rộng. Tiêu Phong mình mặc áo cừu nho, lưng thắt đai lụa đi đến.

Tiêu Phong vừa bước vào cửa điện đã nhìn thấy ngay vũng máu tươi lại thấy một người đầu chụp lồng sắt, trông điệu bộ rất kỳ dị, ông nhìn A Tử cười hỏi:

- Bữa nay coi khí sắc cô có vẻ tươi cười, chắc lại có trò chơi gì mới lạ?

A Tử cười đáp:

- Nước Cao Xương bên Tây Vực mới đem cống gã này tên gọi Thiết Sửu. Ðầu gã sư tử cắn cũng không vỡ được. Tỷ phu coi đầu gã còn in vết sư tử cắn đây nè!

Tiêu Phong nhìn kỹ cái lồng sắt quả nhiên vết răng sư tử hãy còn rõ mồn một.

A Tử lại nói tiếp:

- Tỷ phu ơi! Tỷ phu có cách nào tháo cái lồng sắt đầu gã ra coi được không?

Du Thản Chi nghe A Tử nói vậy thì hồn vía lên mây. Gã đã được mục kích Tiêu Phong trổ oai thần đánh nhau với quần hùng Trung Nguyên ở Tụ Hiền Trang. Ông vung song chưởng đánh bá phụ cùng phụ thân gã khiến cho lá mộc bằng sắt trên tay phải văng mất thì bây giờ ông muốn tháo cái lồng sắt đầu gã phỏng có khó gì?

Lúc thợ rèn lắp lồng sắt vào đầu gã thì gã muốn ngất đi, song bây giờ trái lại, gã chỉ mong cái lồng này vĩnh viễn lấy đầu mình, không muốn Tiêu Phong nhìn rõ bản tướng.

Tiêu Phong đưa ngón tay ra khẽ gõ vào cái lồng sắt nghe"coong coong"thì bật cười nói; - Cái lồng này bền chặt gớm! Người thợ chế ra nó lại rất tinh vi, phá hủy đi há chẳng đáng tiếc ư?

A Tử nói:

- Sử giả nước Cao Sương cho tiểu Muội hay rằng: gã này mặt tinh răng lồi, ba phần giống người bảy phần giống quỷ. Ai trông thấy cũng phải tránh xa, nên cha mẹ gã mướn thợ rèn đúc cái lồng sắt này chụp vào đầu gã để người ngoài trông thấy khỏi khiếp sợ! Tỷ phu ơi! Tiểu Muội muốn coi chân tướng gã thế nào mà thiên hạ phải khủng khiếp?

Du Thản Chi lại càng run sợ, hai hàm răng đập nhau cầm cập.

Tiêu Phong thấy gã kinh sợ lạ thường, liền nói:

- Gã này sợ quá rồi! Mở mặt gã làm cóc gì? Gã đã chụp lồng sắt từ thuở nhỏ, nếu mình miễn cưỡng lấy ra, e gã khó lòng sống được...

A Tử vỗ tay cười nói:

- Nếu vậy càng hay! Tiểu Muội đã thấy con rùa, đầu nó thò ra thụt vào trong cái mai cứng rắn, tiểu Muội muốn bắt lột bỏ cái mai kiên cố đi, thử coi nó có sống được không?

Tiêu Phong nghe A Tử nói vậy, bất giác châu mày, cho là một câu vô cùng khinh bạc, tâm địa cực kỳ tàn nhẫn! Ông nói:

- A Tử! Em là cô bé nhỏ tuổi ngoan ngoãn sao lại ưa chơi những trò độc ác làm cho người ta phải sống dở chết dỡ như vậy?

A Tử mồm năm miệng mười, chu chéo lên:

- Trời ơi! Tỷ phu không thương tiểu Muội phải không? Tiểu Muội đâu có hay được bằng chị A Châu. Nếu tỷ phu coi tiểu Muội cũng như chị A Châu thì sao mấy ngày liền không lại thăm tiểu Muội lấy một lần?

Tiêu Phong nói:

- Làm cái chức Nam Viện Ðại Vương chi chi đó thật là ngán quá! Ngày nào cũng như ngày nấy, công kia việc nọ bận tíu tít chẳng có lúc nào mở mắt ra được. Tuy bận là thế mà mỗi ngày tôi chả đến thăm cô một lần là gì?

A Tử cướp lời:

- Mỗi ngày một lần! Mỗi ngày một lần! Tiểu Muội không muốn tỷ phu diễn cái trò mỗi ngày đến thăm một lần lấy lệ ấy. Giá mà có chị A Châu thì nhất định tỷ phu ở luôn bên cạnh không dời nữa bước chứ chẳng"một lần"gì ráo!

Tiêu Phong nghe nhắc đến A Châu, cảm thấy đau lòng, xong thực tình như vậy, không biết trả lời sao chỉ cười khà khà nói:

- Tỷ phu là người lớn, không biết chơi những trò cho hợp cỡ trẻ con như cô. Vậy cô kiếm mấy cô bé cùng một cỡ với cô để trò chuyện cho vui có hơn không?

A Tử lại xoen xoét nói:

- Cái gì mà trẻ con chớ chẳng trẻ con. Tiểu Muội có phải trẻ con đâu? Nếu tỷ phu không muốn chơi với tiểu Muội thì còn đến đây làm gì?

Tiêu Phong nói:

- Tôi đến đây xem cô có mạnh hơn chút nào không? Bữa này cô đã uống mật gấu chưa?

A Tử nhấc chiếc cẩm đôn lên, hùng hổ quẳng xuống đất nói:

- Trong lòng tiểu Muộiđã phiền muộng thì dù mỗi ngày có uống đến hàng trăm cái mật gấu cũng chẳng ăn thua gì?

Tiêu Phong thấy A Tử vẫn giữ thói con nít thường làm mình làm mẩy. Giả tỷ nàng là A Châu, thì ông cam tâm nghĩ cách khiến cho nàng đổi giận làm lành, nhưng đối với con người điêu ngoa độc ác như A Tử, thì ông không thể nhịn nổi sự chán ghét, chỉ buông thỏng một câu:

- Cô hãy nằm nghĩ một lát cho đỡ mệt. Rồi đứng dậy đi ra.

A Tử trông sau lưng Tiêu Phong, người nàng run run muốn khóc òa lên. Nàng chợt nhìn thấy Du Thản Chi đứng đó. Bao nhiêu lửa giận đầy ruột liền chi trút lên đầu gã. Thật là giận cá chém thớt.

Nàng quát lên:

- Thất Lý! Quất cho gã ba mươi roi.

Thất Lý"dạ"rồi rút lấy roi da.

Du Thản Chi vội kêu lên:

- Cô nương! Tiểu nhân có điều gì lầm lỗi đâu?

A Tử chẳng thèm trả lời gã, chỉ quát Thất Lý:

- Ðánh đòn mau!

Thất Lý được lệnh càm roi quất"véo"vào lưng Du Thản Chi.

Du Thản Chi không ngớt kêu la van vỉ:

- Cô nương! Xin cô cho biết tiểu nhân đã phạm tội gì để sau này khỏi tái phạm.

Thất Lý lại quất mạnh luôn mấy roi.

Du Thản Chi kêu giãy lên, A Tử nói:

- Ta muốn đánh là đánh! Mi không có quyền được chất vấn ta. Chẳng lẽ mi vô tội mà ta sai đánh oan mi hay sao? Mi muốn biết phạm tội gì ư? Ta cho mi hay:

mi dám chất vấn ta, cũng là một tội rồi đó! Cần phải đánh đau!

Du Thản Chi cãi:

- Vì cô nương đánh trước tiểu nhân mới hỏi. Lúc tiểu nhân chưa hỏi cô nương đã sai đánh rồi kia mà.

Roi lại quất "Ðét, đét, đét" luôn ba ngọn. A Tử cười nói:

- Ta biết trước là mi vẫn chưa chịu một phép, nên ta sai gã đánh mi, quả nhiên mi chất vấn ta thật! Thế có phải là ta đoán việc như thần không? Và ta biết rõ lòng dạ mi vẫn bướng bĩnh quật cường. Nếu mi đúng là kẻ tận trung thì thốt nhiên có bị ta đánh, tất đã cố sức chịu đựng, hơn nữa mi vui vẻ tự động hiến thân để hứng lấy những roi đòn mới phải. Mi đã la làng là trong lòng mi không phục ta rồi. Thôi! Mi không muốn để ta đánh chẳng thèm sai người đánh cho bẩn tay.

Du Thản Chi nghe A Tử nói vậy lại càng sợ hãi, người gã run lên mình sởn gai ốc. Gã biết rằng nếu A Tử không đánh gã nữa thì nhất định nàng sẽ nghĩ ra thứ hình phạt còn thảm khốc gấp mười thà rằng chịu mấy chục roi đòn đi còn hơn.

Nghĩ vậy gã vội kêu van:

- Tiểu nhân thực có lỗi! Tiểu nhân thực có lôi. Xin cô nương cứ đánh, đánh nữa cho! Tiểu nhân được đội ơn đức rất nhiều! Cô nương đánh nhiều chừng nào có bổ ích cho tiểu nhân chừng ấy.

A Tử mỉm cười hỏi:

- Mi cũng khá thông minh đấy, nhưng ta chả mắc mưu mi đâu. Phải chăng mi nói đãi lòng xin ta càng đánh hay là để ta hả dạvà sẽ tha cho mi.

- Tiểu nhân không dám nói đãi lòng cô nương.

A Tử lại hỏi:

- Mi chân tâm muốn ta đánh thật nhiều ư?

Du Thản Chi đáp:

- Ðúng là tâm nguyện của tiểu nhân như vậy.

A Tử nói:

- Nếu vậy được lắm! Ta sẽ cho mi được toại nguyện.

Ðoạn nàng quay sang bảo gã đội trưởng:

- Thất Lý! Ngươi đánh gã đủ một trăm roi cho gã tâm nguyện được ăn nhiều đòn.

Chương 50: Một lối luyện công kỳ dị

Du thản Chi giật mình nghĩ thầm:

- Nếu cô này sai người đánh mình một trăm roi thì còn chi là tánh mạng, nhưng việc đã đến thế này nếu mình kiên quyết không chịu, người ta vẫn cứ đánh mình. Vậy mình có chống cự cũng chẳng ăn thua gì.

Gã nghĩ vậy nên không nói gì nữa.

A Tử hỏi:

- Làm sao mi lại lầm lì không nói? Phải chăng trong lòng mi còn có chỗ ấm ức? Ta kêu người đánh mi chắc mi cho ta là bất công phải không?

Du Thản Chi nói:

- Tiểu nhân chân tâm kính phục cô nương, biết rõ cô nương sai đánh tiểu nhân tức là có hảo tâm muốn thành toàn cho tiểu nhân vậy.

A Tử hỏi:

- Thế sao mà rồi mi chẳng nói năng gì?

Du Thản Chi không biết trả lời ra sao, gã ấp úng:

- Cái đó... cái đó... tiểu nhân lúc nào cũng nghĩ đến ơn đức cô nương thâm trọng tày non, tiểu nhân vô cùng cảm kích, không lời nào giải tỏa cho xiết được! Tiểu nhân chỉ nghĩ cách sau này không biết lấy chi đền đáp cô nương cho phải đạo?

A Tử nói:

- Chà mi bảo đền đáp ta? Dền đáp cách nào? Ta sai người đánh mi một roi mi ghi vào góc lòng để căm thù ta chứ gì?

Du Thản Chi khoát tay lia lịa đáp:

- Không không! Không phải! Tiểu nhân nói đền đáp là đúng chân tình. Tiểu nhân đã nhất quyết dù có phải nhảy vào đống lửa hay phải tan xương nát thịt vì cô nương cũng cam lòng.

A Tử nói:

- Nếu vậy thì hay lắm! Thất Lý đâu? Ngươi đánh gã đi!

Thất Lý "dạ" một tiếng rồi rút bì tiên ra quất Du Thản Chi. Lúc đánh được hơn năm chục roi. Du Thản Chi đau tê dại cả người và đầu óc tối tăm không còn biết gì nữa. Hai đầu gối gã nhũn ra từ từ ngã xuống.

A Tử thấy vậy cười hì hì. Nàng chờ cho gã cất tiếng van xin và định bụng hễ gã cất lời năn nỉ thì lại tăng gia năm mươi roi nữa.

Ngờ đâu lúc này Du Thản Chi đã mê man bất tỉnh. Thỉnh thoảng gã khẽ rên ư ử trong miệng chứ không van vỉ chi hết.

Ðánh được hơn bảy mươi roi thì gã ngất lịm đi. Thất Lý vẫn chẳng dung tình, đánh đủ trăm roi mới buông tay ra.

A Tử thấy Du Thản Chi chỉ còn thoi thóp thở. Tình trạng thập tử nhất sinh của gã làm cho nàng cụt hứng. Nàng nói:

- Các ngươi đem gã ra ngoài thôi! Thằng lỏi con này chả còn gì đáng coi nữa.

Rồi nàng quay ra hỏi tên đội trưởng:

- Thất Lý! Ngươi còn có trò gì mới mẻ nữa không?

Thất Lý dường như không nghe rõ, sai mấy tên thuộc hạ khiêng Du Thản Chi đi. Du Thản Chi bị trận đòn này phải dưỡng thương đến hơn một tháng mới khỏi.

Những tên quân Khất Ðan thấy A Tử dường như lãng quên Du Thản Chi rồi, đã lâu nàng không kêu đem gã lại để hành hạ nữa. Chúng liền ghi tên vào danh sách những người Tống mới bị bắt và cho theo bọn này đi làm những công việc đê tiện, như: hốt phân, kì cọ chuồng dê, nhặt phân trâu, lột da cừu, gặp việc gì làm việc ấy.

Trên đầu Du Thản Chi lại chụp chiếc lồng sắt, mọi người nhằm vào đó mà chế nhạo, khinh mạn gã. Cả đến người Hán đồng bào với gã cũng coi như một con quái vật.

Du Thản Chi ráng sức chịu đựng, ai nói ngược nói xuôi cũng mặc không bao giờ đối đáp, cơ hồ gã biến thành kẻ câm điếc. Có ai đánh mắng gã, gã cũng không hề chống cự. Chỉ trừ phi có người cưỡi ngựa đi ngang qua là gã mới ngẩng đầu lên nhìn một cái.

Du Thản Chi chỉ còn một điều tâm nguyện là mong có ngày được "cô nương" gọi gã đến để đánh cho một chặp. Gã coi việc mình không được gặp A Tử là một cực hình còn đau khổ hơn việc bị đánh đòn.

Thời gian lặng lẽ trôi hơn hai tháng nữa, tiết trời đã đỡ lạnh.

Một hôm Du Thản Chi đang theo mọi người ra ngoài thành Nam kinh vác đất, khuân gạch để bồi đắp cho tường thành dầy thêm, bỗng nghe tiếng vó ngựa dồn dập.

Mấy người cưỡi ngựa từ cửa nam ra, một âm thanh trong trẻo cười nói:

- A ha! Gã Thiết Sửu chưa chết ư? Ta tưởng gã bỏ mạng từ lâu rồi.

Ðoạn nàng gọi:

- Thiết Sửu! Mi lại đây!

Ðó chính là A Tử.

Du Thản Chi mơ tưởng ngày đêm chỉ mong đến lúc được nghe người sang sảng tiếng vàng. Vừa nghe gọi, gã cuống cả lên hai chân dường như đóng chặt xuống đất không sao cất bước nổi nữa. Trái tim gã rạo rực dường như muốn nhảy ra ngoài lồng ngực. Lòng bàn tay gỉ mò hôi ra ướt đẫm.

A Tử gắt lên:

- Thiết sửu! Thằng chết kia! Ta kêu mi lại đây mi không nghe thấy hay sao?

Du Thản Chi vội đáp:

- Dạ! Cô nương!...

Gã xoay mình chạy lại trước ngựa A Tử. Ðang chạy, gã không nhìn được ngẩng đầu lên nhìn nàng.

Thấm thoát đã bốn tháng, bây giờ Du Thản Chi mới lại được thấy mặt người tiên. Nàng da dẻ thêm phần hồng hào, vẻ đẹp lại càng tăng lên gấp bội.

Du Thản Chi trong lòng xiết bao hồi hộp, gã vừa đi vừa nghếch mặt lên, vấp chân một cái ngã lăn ra. Mọi người thấy vậy đều cười rộ. Gã lổm ngổm đứng dậy và không dám nghếch mặt lên nhìn A Tử nữa.

A Tử trong lòng hớn hở, cười hỏi:

- Thiết Sửu! Sao mi lại chưa chết?

Du Thản Chi đáp:

- Tiểu nhân đã có lời nói:

Phải tìm cách để báo đáp ơn đức cô nương, khi nào đã chết được?

A Tử lại càng khoan khoái cười khanh khách nói:

- Ta đang tìm một tên nô bộc hết dạ trung thành để làm một việc trọng đại. Ta e rằng người Khất Ðan tay chân cục mịch làm hỏng việc của ta. Nay mi chưa chết thì hay lắm. Mi theo ta đi!

Du Thản Chi đáp:

- Xin vâng.

Rồi đi theo sau ngựa A Tử.

A Tử vẫy tay ra hiệu cho Thất Lý cùng ba tên vệ sĩ Khất Ðan trở lại, không phải đi theo nàng nữa.

Thất Lý đã biết A Tử nói đâu là đúng thế, không ai khuyên can được. Vả lại thằng lõi mặt sắt, con người hèn hạ nhu nhược dù có theo nàng quyết cũng không xảy ra biến cố gì. Y chỉ dặn một câu:

- Xin cô nương về sớm cho.

Ðoạn cả bốn tên nhảy xuống ngựa đón chờ ở ngoài cổng thành. A Tử lỏng buông tay khấu cho ngựa đi thong thả. Ði chừng được bảy tám dặm thì đường lối càng hoang vu tịch mịch. Sau đến một nơi khe núi âm u rậm rạp.

Du Thản Chi chân dẫm xuống đất lõm bõm, vì những lá rụng và cỏ thối lâu năm nhão ra thành bùn. Lại đi chừng hơn một dặm, đường núi cũng gập ghềnh. A Tử phải xuống ngựa, tay cầm dây cương dắt ngựa đi một quãng nữa.

Nàng đưa mắt nhìn ra bốn mặt thấy chỗ này âm u mờ mịt. Gió lạnh rít từng cơn theo khe núi thổi vèo vèo, khiến cho người rét buốt thấu xương.

Nàng nói:

- Hay lắm! Chỗ này được đây!

Nàng buột ngựa vào gốc cây rồi dặn Du Thản Chi:

- Những việc gì mi trông thấy bữa nay phải nhớ kỹ rằng không được tiết lộ với một ai và ngay với chính ta mi cũng không được đề cập đến nữa. Mi nghe rõ chưa?

Du Thản Chi đáp:

- Vâng vâng!

Lúc này gã mừng như điên. Dù A Tử gọi gã đi theo ra nơi hẻo lánh này để đánh gã một trận nhừ xương, gã cũng vui vẻ can tâm.

A Tử thò tay vào bọc lấy chiếc đỉnh ngọc màu xanh biếc đặt xuống đất nói:

- Lúc mi thấy những loài sâu bọ cổ quái xuất hiện, ta cấm mi không được sợ sệt và nhất là không được lên tiếng.

Du Thản Chi lại đáp gọn:

- Vâng.

A Tử lại lấy trong bọc một cái túi vải nhỏ xíu mở ra thì bên trong có mấy viên sắc vàng, sắc đen, sắc tía, sắc đỏ.
Nàng véo lấy mỗi thứ một chút bỏ vào trong đỉnh ngọc quẹt lửa đốt lên, rồi đậy nắp đỉnh lại. Nàng nói:

- Chúng ta ngồi gốc cây này để coi chừng.

A Tử ngồi xuống gốc cây. Du Thản Chi không dám ngồi bên nàng, chạy lại ngồi trên một tảng đá, cách chỗ nàng chừng hơn một trượng. Gió lạnh căm căm vẫn thổi đều, quyện mùi thơm ngát từ quần áo A Tử tiết ra đưa vào mũi Du Thản Chi, khiến cho gã ngây ngất đê mê. Gã nghĩ rằng cuộc đời gã mà còn được giây phút như lúc này thì bấy nhiêu lâu gã có chịu cực nhọc đau đớn ê chề cũng là được trả một cách quá hậu rồi! Gã chỉ mong A Tử vĩnh viễn ngồi dưới gốc cây, để cho gã đứng xa xa hầu tiếp nàng là mãn nguyện lắm rồi.

Tâm hồn Du Thản Chi đang bay bỗng lên chín tầng mây thì bỗng nghe dưới bụi rậm có tiếng sột soạt, một giống rắn rết gì đang bò lại.

Du Thản Chi tuy không có tài cán gì, nhưng gã sở trường về nghề bắt rắn rết... Gã vừa nghe tiếng động đã biết ngay có vật kì dị.

Quả nhiên trong đám cỏ xanh rậm rạp có vật gì đang động đậy nhìn kỹ thì là một con rết toàn thân nó lấp lánh. Ánh sáng đầu nó đỏ như máu khác hẳn với giống rết thường.

Con rết này ngửi mùi hương từ trong đỉnh ngọc bay ra liền tìm đến ngay. Nó thấy đỉnh ngọc có lỗ thủng nên chui vào không ra nữa.

Du Thản Chi sắp la lên:

- Con rết này độc ghê gớm!

Thì phía sau lại thấy tiếng "xì xì", một con bò cạp sắc vàng ở trong bụi cỏ đang bò rất nhanh.

Du Thản Chi vừa toan đưa chân ra giẫm chết, thì A Tử vội quát lên:

- Ô kìa! Không được giẫm chết nó. Mi thật là ngu ngốc!

Du Thản Chi còn đang giơ chân phải lên chưa giẫm xuống, gã nghe A Tử la, liền dừng lại. Con bò cạp cũng chạy mau lại phía đỉnh ngọc rồi chui vào.

Chỉ trong chớp mắt, trong đỉnh ngọc nổi lên những tiếng"chi chi." Con rết cùng bò cạp đánh nhau.

Du Thản Chi vốn ưa coi loài côn trùng đấu chơi. Từ thuở nhỏ gã vẫn nuôi dế để xem chúng chọi chơi. Lúc này gã muốn mở nắp đỉnh để coi rết và bò cạp chọi nhau, xem con nào thắng con nào bại. Nhưng gã khiếp oai A Tử không dám cử động hấp tấp.

Lúc con rết và con bò cạp đang chọi nhau trong đỉnh ngọc thì từ góc Tây Bắc một con thạch thùng chạy lại, từ góc Tây Nam cũng có một giống côn trùng chạy ra không biết là giống gì. Con này tròn như quả cầu toàn thân lấp lánh. Hai giống côn trùng này đều chạy về phía đỉnh ngọc. Lập tức có những tiếng kỳ dị phát ra loạn cả lên.

Du Thản Chi đưa mắt nhìn về phía A Tử thì thấy nàng lộ vẻ vui mừng.

Nàng xoa hai bàn tay nhỏ nhắn vào nhau khẽ nói:

- Bốn con đến rồi quả nhiên hương liệu mình rất linh nghiệm!

Nàng chưa dứt lời, thì lại thêm một con nhện chạy vào trong đỉnh ngọc.

Bấy giờ Du Thản Chi mới hiểu là cô này tìm đến đây vì chỗ này rậm rạp ẩm thấp có nhiều trùng độc. Nhưng gã chưa hiểu cô dẫn dụ những trùng độc đến để làm gì. Nếu muốn xem chúng chọi nhau thì sao lại không mở nắp đỉnh?

Bỗng nghe một tiếng "tạch" con bò cạp từ trong đỉnh ngọc bị hất ra, không nhúc nhích, vì nó đã chết rồi.

Một lát sau, lần lượt đến con nhện, con thạch thùng và con vật mình tròn không biết tên đều bị đẩy ra ngoài và đều chết cả rồi.

A Tử vỗ tay cười nói:

- A ha! Con rết đầu đỏ lợi hại hơn hết.

Du Thản Chi hỏi:

- Cô nương! Cô đốt hương liệu gì mà dẫn dụ bao nhiêu thứ côn trùng độc bò đến?

A Tử sa sầm nét mặt nói:

- Ta đã bảo mi không được hỏi lôi thôi. Mi quên rồi hay sao? Nếu lần sau mi còn lắm miệng thì ta cho ăn trăm roi đòn đó!

Du Thản Chi cúi đầu nói: Vâng! Tiểu nhân cao hứng, không kịp suy nghĩ buột miệng nói ra, xin cô nương lượng thứ cho...

A Tử không thèm nói gì với gã nữa. Nàng móc trong bọc lấy một cái túi vải ra. Trong túi có một mảnh đoạn rất dày. Miếng đoạn này có hào quang lóng lánh, hình như những ánh ngũ sắc không nhất định. Mỗi khi tay nàng cử động một chút thì màu sắc rực rỡ lại biến ảo ly kỳ.

A Tử tiến lại gần cái đỉnh ngọc phủ tấm đoạn lên gói cái đỉnh lại. Du Thản Chi nhìn xuống con bò cạp cùng mấy con vật bị chết nằm dưới đất thì thấy bốn con này đều xác xơ. Bao nhiêu chất nước trong mình chúng đều bị hút khô kiệt.

A Tử lấy mảnh đoạn gói chặt đỉnh ngọc, dường như sợ con rết ở trong bò ra mất, rồi nàng bỏ vào trong một cái túi da treo ở cổ ngựa.

Nàng cười nói:

- Chúng ta về thôi!

Ðoạn giục ngựa cho đi!

Du Thản Chi theo sau A Tử, nghĩ thầm: Cái đỉnh ngọc này đã cổ quái. Nhưng chất hương liệu lại càng kì dị hơn. Chỉ thắp lên là dẫn dụ được bọn côn trùng tìm đến.

A Tử về đến điện Ðoan Phúc dặn bọn thị vệ trong điện dọn một buồng xép bên cạnh cho Du Thản Chi ở.

Du Thản Chi cả mừng, gã biết rằng từ nay thường được thấy mặt A Tử luôn.

Quả nhiên sáng hôm sau A Tử cho gọi Du Thản Chi đến tòa điện phụ. Chính nàng đong cửa điện lại. Trong điện chỉ có hai người. A Tử chạy lại đầu phía Tây điện, mở một cái lọ sành ra cười nói:

- Ngươi coi đây có hùng vĩ không?

Du Thản Chi nhìn vào thì thấy con rết bắt được hôm qua đang chạy rất nhanh trong lọ.

A Tử nói:
- Bữa nay chúng ta lại đi bắt một con trùng độc khác đem về...

Du Thản Chi xiết đỗi hoài nghi, nghĩ bụng: Một cô gái xinh đẹp như thế kia, thiếu gì trò chơi mà phải đi tìm những trùng độc dơ dáy mà nguy hiểm về chơi." Nhưng gã không dám hỏi nhiều, chỉ đáp gọn một tiếng:

- Vâng!

A Tử dẫn Du Thản Chi đến một khe núi khác. Nàng cũng đốt hương liệu bỏ vào ngọc đỉnh như hôm trước và cũng dẫn về được năm thứ trùng độc. Sau một phen tranh đấu, lần này còn lại được con nhện đen.

A Tử lại mang về bỏ vào lọ khác nuôi.

Nàng gọi Du Thản Chi đem chăn chiếu vào căn điện phụ để tối ngủ tại đó canh chừng mấy con trùng độc.

Du Thản Chi xem qua đã biết những loại côn trùng này có thể đục lỗ vì chúng ở trong chỗ kín mít không có kẽ hở, có khi lại tự khoét vết nứt để trốn ra. Gã nghĩ thầm:

Bất luận là để con rết hay con nhện chạy mất mình cũng phải tội trước tiên. Huống chi A Tử đã tổn hao bao nhiêu tinh thần mới bắt được chúng về. Nếu mình để chạy mất một con, có khi nàng nổi hung giết mình đi thế là uổng mạng. Vì vậy, nên lúc nào gã cũng nơm nớp để ý trông coi hai cái lọ này. Gã chợp ngủ chốc lát, lúc chợt tỉnh dậy lại quẹt lửa soi xem ngay.

Chiều hôm sau, A Tử lại dùng phương pháp đó đi bắt được một con cóc.

Ngày thứ tư đi bắt thì dẫn dụ toàn những giống côn trùng rất nhỏ, rõ ràng chất độc không được mạnh lắm, A Tử chưa vừa lòng lại đi thêm hơn mười dặm mới bắt được con bò cạp xanh biếc. Suốt ngày thứ năm không bắt được thứ gì, cả ngày thứ sáu cũng vậy.

Ðến ngày thứ bảy mới bắt được con rắn xanh nhỏ. A Tử ra chiều vui thích, sai Du Thản Chi mỗi ngày phải giết một con gà trống lấy tiết để nuôi những con trùng độc này. Nuôi được hơn mười ngày, một buổi sáng kia, A Tử lại vào tòa điện nhỏ để xem năm thứ trùng độc rồi nói:

- Ðược rồi!

Nàng lại lấy đỉnh ngọc và hương liệu thắp lên rồi bảo Du Thản Chi:

- Mi mở nắp năm cái lọ sành ra.

Du Thản Chi tuân mệnh mở hết các lọ rồi đứng sang một bên.

Bỗng nghe thấy tiếng sột soạt, năm con trùng độc ngửi thấy mùi hương tranh nhau chui vào đỉnh ngọc. Tiếp theo là tiếng chọi nhau chí chí.

Năm con trùng độc này con nào cũng hút hết những chất độc của bốn con khác nên trong mình chúng đều có chất độc kịch liệt. Chúng lại ăn tiết gà lâu ngày, dương khí rất vượng, vừa gặp những loại khác, chúng cắn xé nhau đến chết ngay lập tức.

Ðầu tiên là con cóc bị chết trước, thứ hai là con rắn xanh bị chết theo.

Còn ba con nữa đấu nhau một lúc thì con nhện và con bò cạp đều nhảy ra ngoài đỉnh ngọc, trong đỉnh chỉ còn con rết bắt được hôm đầu tiên là lợi hại hơn cả.

Con rết toàn thắng rồi bò ra ngoài đỉnh ngọc đi hút những chất độc ở mấy con kia. Rồi mình nó cũng sưng vù lên. Cái đầu đỏ biến sang sắc tía, rồi từ sắc tía biến sang sắc biếc, sau cùng biến ra màu đục.

A Tử rất lấy làm mừng khẽ nói:

- Xong rồi! Thế là môn phái ta lại có thể luyện được môn tuyệt kỹ này!

Du Thản Chi lẩm bẩm:

- Té ra cô này đi bắt những con trùng độc để luyện một môn tuyệt nghệ gì đây.

Con rết ăn những chất độc no rồi lại quay về đỉnh ngọc.

A Tử hỏi Du Thản Chi:

- Thiết Sửu! Ta đối với mi thế nào?

Du Thản Chi đáp:

- Cô nương đối với tiểu nhân ơn nặng tày non.

A Tử hỏi:

- Mi biểu rằng dù có phải vì ta mà tan xương nát thịt hoặc nhảy vào đống lửa mi cũng can tâm. Câu đó là ngươi nói thực hay nói dối?

Du Thản Chi đáp:

- Tiểu nhân không dám dối cô nương. Cô nương có việc gì xin cứ sai bảo, tiểu nhân quyết không từ chối.

A Tử nói:

- Nếu vậy thì hay lắm! Ta cho mi hay ta muốn luyện một môn tuyệt kỹ cần có người trợ giúp mới xong. Mi có ưng giúp ta không? Giả tỷ luyện được thành công, nhất định ta sẽ trọng thưởng cho mi.

Du Thản Chi nói:

- Lý đơn nhiên là tiểu nhân phải tuân theo lời cô nương sai bảo, cô nương bất tất phải quan tâm đến chuyện ban thưởng.

A Tử nói:

- Thế thì lại càng tuyệt nữa! Vậy chúng ta bắt đầu luyện thôi.

Nói xong nàng ngồi xếp bằng, hai tay sát vào nhau, nhắm mắt vận khí một hồi rồi nói:

- Mi đưa tay ra bắt láy con rết đó lại đây. Thế nào con rết cũng cắn mi, nhưng mi đừng có nhúc nhích, để yên cho nó hút khí huyết của mi, càng hút càng hút được càng hay.

Du Thản Chi từ thuở nhỏ đã quen chơi rắn rết, biết rằng những loài này tuy hình thù nhỏ xíu màchất độc lợi hại vô cùng. Nếu người sơ ý để nó đớp một miếng, vết thương cũng sưng vù hàng mấy ngày chưa khỏi.

Con rết này hình thù quái dị, mấy con rắn con nhện... không nọc độc bằng, nó cắn chết thì đủ biết nó độc cỡ chừng nào!

Du Thản Chi nghe A Tử bảo mình để cho con rết hút máu, gã rùng mình ghê sợ hơn là bị đánh trăm roi, vẻ băn khoăn lộ hẳn ra ngoài mặt.

A Tử sa sầm nét mặt hỏi:

- Sao? Mi không muốn thế ư?

Du Thản Chi ấp úng:

- Không phải là tiểu nhân không muốn. Có điều... có điều...

A Tử nói:

- Có điều con rết này độc quá, mi sợ chết chứ gì?

Du Thản Chi không biết nói thế nào. Gã nhớ lại lời hứa tự nguyện vì nàng dù tan xương nát thịt, vì nàng nhảy vào đống lửa... Nhưng giờ gặp cảnh nguy nan gã lại sợ co vòi.

Du Thản Chi ngẩng đầu lên nhìn A Tử, thấy mặt nàng đỏ nhừ, môi chúm lại ra chiều khinh miệt gã vô cùng! Gã mê hoảng như người bị ma ám, nói:

- Hay lắm! Tiểu nhân xin vâng mệnh cô nương.

Ðoạn gã nghiến răng nhắm mắt lại, tay trái mở nắp đỉnh ngọc, tay phải thò vào trong đỉnh.

Vừa thò vào đầu ngón tay giữa đau nhói như bị kim đâm. Du Thản Chi cố nhịn đau, gã mở bừng mắt ra, nhìn thấy con rết đang cắn ngón tay giữa mình, quả nhiên để hút máu. Gã khiếp quá khắp người sởn gai ốc. Gã toan vẫy tay cho con rết rơi ra, chân gã đạp mạnh xuống đất, nhưng dù gã không nhìn cũng biết cặp mắt sắc như dao của A Tử đang nhìn chòng chọc vào lưng mình nên gã lại không dám nhúc nhích.

Thực ra thì lúc con rết hút máu gã không đau lắm, nhưng gã nhìn con rết thấy mỗi lúc một phồng lên mà ngón tay gã tím bầm lại. Quầng máu tím trước lợt sau đã mồi dần dần thẫm lại.

Sau một lúc vết thâm từ ngón tay loang ra bàn tay rồi từ bàn tay lên ngón tay.

Ðến lúc này thì Du Thản Chi không còn nghĩ gì đến tính mạng mình nữa, gã trở lại bình tĩnh, miệng lộ vẻ tươi cười, nhưng vì mặt gã chụp lồng nên A Tử trông không được rõ. Con rết này từ khi hút nhiều chất độc, cái đầu đỏ biến thành màu lục, bây giờ lại từ màu lục trở lại màu hồng.

Du Thản Chi lẩm bẩm:

- Bao nhiêu chất độc ngươi đã truyền vào người ta. Hay lắm. Ta là Thiết Sửu thì bây giờ lại biến thành Ðộc Sửu.

A Tử cười khánh nói:

- Mi hãy còn cười nói được kia ư?

Miệng nàng nói vậy hai mắt chú ý nhìn con rết, để hết cả tâm thần vào đó. Ðột nhiên, con rết buông ngón tay Du Thản Chi, nằm phục xuống trong lòng đỉnh ngọc. Một lát sau lỗ đỉnh có máu rươm rướm chảy ra.

A Tử lộ vẻ vui mừng đưa ngón tay đón lấy huyết dịch, nàng ngồi xếp bằng vận nội công cho huyết dịch thấm vào trong da bàn tay.

Du Thản Chi nghĩ thầm:

- Thế là huyết dịch ta thấm vào trong người nàng. Xem chừng nàng đang luyện môn "ngũ độc chưởng" chi đây.

Gã là người hủ lậu hẹp hòi, nên không biết cái đỉnh ngọc này là vật chi bảo của phái Tinh Tú, mang danh là "Bích Ngọc Vương Ðỉnh" và môn tuyệt nghệ của A Tử luyện kêu bằng: "Hóa công đại pháp", một môn tuyệt học của tà phái đã làm cho các tay hào kiệt võ lâm phải kinh hồn táng đởm. Con rết tiết hết huyết độc xong lăn ra chết liền.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau