LỤC MẠCH THẦN KIẾM

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Lục mạch thần kiếm - Chương 101 - Chương 105

Chương 101: Hai bên ý hợp tâm đầu

Hư Trúc còn đang ngơ ngẩn thì Cát Ðại Bá hấp tấp đáp:

- ... Trúng vào huyệt Huyền Khu, Khí Hải, ... Hư Không Trúc

Hư Trúc cả mừng nói:

- Huynh đài đã biết được vị trí Sinh tử phù thì hay lắm.

Chiêu Dương ca thiên điếu vừa rồi đã khiến cho thần trí Cát Ðại Bá tỉnh lại.

Hư Trúc liền vận dụng chân khí thuần dương rồi dùng phép Thiên Sơn lục dương chưởng của Ðồng Mỗ đã truyền thụ cho vỗ vào ba huyệt đạo Huyền Khu, Khí Hải và Hư Không Trúc.

Chỉ chớp mắt Sinh tử phù lạnh như băng trong người Cát Ðại Bá tiêu tan.

Cát Ðại Bá thoát cơn nguy khốn, đứng dậy múa may khoa chân mừng rỡ như người được của báu rồi đột nhiên y phục xuống đất dập đầu binh binh lạy Hư Trúc, nói:

- Thưa ân công! Tính mạng Cát Ðại Bá này ân công đã ban cho. Từ đây về sau ân công có điều gì sai khiến, dù phải nhảy vào đống lửa, Cát Ðại Bá này cũng chẳng dám từ nan.

Hư Trúc bản tính khiêm cung, thấy Cát Ðại Bá hành đại lễ, cũng vội vàng dập đầu binh binh lạy trả rồi nói:

- Tại hạ không dám nhận trọng lễ. Nếu huynh đài sụp lạy thì tại hạ cũng phải dập đầu.

Cát Ðại Bá lớn tiếng nói:

- Xin ân công đứng lên cho. Ân công làm như vậy khiến cho tiểu nhân phải tổn thọ.

Ðể biểu thị tấm lòng cảm kích, Cát Ðại Bá dập đầu thêm mấy cái nữa, Hư Trúc cũng dập đầu đáp lễ.

Hai người còn đang sì sụp lạy lẫn nhau chưa ai chịu ai thôi trước thì đột nhiên có mấy người la lên:

- Mau phá giải Sinh tử phù.

Rồi đổ xô cả lại như ong vỡ tổ, vây lấy hai người.

Một lão già giơ tay ra nắm lấy Cát Ðại Bá nói:

- Thôi đừng lạy lục nữa, để bọn ta còn xin ân công giải độc cứu mạng.

Hư Trúc thấy Cát Ðại Bá đứng dậy rồi, mới đứng thẳng người lên nghiêm chỉnh nói:

- Các vị đừng nóng nảy, hãy nghe tại hạ nói một lời.

Lập tức nhà đại sảnh yên lặng như tờ.

Hư Trúc nói:

- Muốn phá giải Sinh tử phù cần phải biết đích xác bộ vị mới được. Vậy các vị có biết không?

Mọi người lại náo loạn cả lên.

Người thì nói:

- Tại hạ có biết.

Kẻ lại nói luôn:

- Tại hạ bị trúng vào huyệt Uỷ Trung và huyệt Nội Ðình.

Lại có người nói:

- Người tại hạ đau đớn ngứa ngáy mỗi tháng một khác. Dường như Sinh tử phù chạy loạn khắp trong cơ thể không khác gì lúc luyện công bị chân khí nghịch hành.

Ðột nhiên có người lớn tiếng quát lên:

- Anh em không được ồn ào. Ai cũng la làng thì Hư Trúc Tử tiên sinh biết lối nào mà nghe.

Người la đó chính là Ô lão đại. Mọi người yên lặng trở lại.

Hư Trúc nói:

- Tại hạ tuy được Ðồng Mỗ truyền thụ phép phá giải Sinh tử phù... nhưng... cái đó...

Bảy tám người trong bọn không nhịn được lại reo lên:

- Tuyệt diệu! Thật là tuyệt diệu! Như vậy ngô bối có thể thoát chết.

Hư Trúc lại nói tiếp:

- Nhưng về việc nhận xét Sinh tử phù ở bộ vị nào thì tại hạ hãy còn nông cạn. Nếu vị nào không biết rõ thì chúng ta sẽ tìm kiếm dần dần. Ðồng thời trong quý vị có mặt nơi đây, vị nào tinh thông về y thuật hợp tác cùng tại hạ nghiên cứu và nhất định phải chữa cho bằng được.

Quần hào lại reo ầm lên:

Hồi lâu tiếng hoan hô dần dần nhỏ đi rồi dừng lại. Mai Kiếm đột nhiên cất tiếng lạnh như băng nói:

- Chủ nhân ta ưng thuận phá giải Sinh tử phù cho các ngươi đó là tấm lòng từ bi quảng đại của người. Nhưng bọn mi lại dám cả gan lớn mật làm phản, khiến cho Ðồng Mỗ phải ly cung xuống núi rồi quy tiên. Bọn ngươi lại tiến đánh núi Phiêu Diễu, sát hại bao nhiêu chị em bộ Quân Thiên. Vậy món nợ đó các ngươi tính sao?

Nàng vừa dứt lời, quần hào ngơ ngác nhìn nhau, trong lòng sợ hãi vô cùng. Họ nghĩ rằng lời Mai Kiếm vừa nói là đúng sự thực, mà Hư Trúc lại là truyền nhân của Ðồng Mỗ thì dĩ nhiên y không thể bỏ qua những tội lỗi tày đình mà họ đã phạm vào.

Có người muốn khẩn cầu, nhưng nghĩ lại tội làm cho Ðồng Mỗ phải ly cung mà chết và tội phản loạn kéo dài đến đánh cung Linh Thứu đều cực kỳ thâm trọng! Ðâu có thể nói mấy câu năn nỉ mà xong được? Nên chẳng ai dám lên tiếng.

Ô lão đại nói:

- Lời cô nương thống thách thật là chí lý. Ngô bối đã phạm tội ngập đầu, đành cam chịu để Hư Trúc Tử tiên sinh trách phạt, tha hay giết đều tuỳ nơi tiên sinh định đoạt.

Quần hào nghe Ô lão đại nói, lại nhao nhao theo hùa:

- Phải lắm! Chúng ta đã làm nên tội nghiệt, Hư Trúc Tử tiên sinh muốn trách phạt thế nào cũng xin cam chịu.

Có nhiều người thấy Sinh tử phù đòi mạng một cách cực kỳ đau khổ, liền quỳ gối xuống lạy Hư Trúc như tế sao.

Nguyên Ô lão đại đã biết rõ tính nết Hư Trúc là người trung hậu thành thực chứ không nham hiểm độc ác như Ðồng Mỗ, nếu chính y ra tay trừng phạt thì còn nhẹ hơn bọn Mai, Lan, Cúc, Trúc tứ kiếm nhiều. Vì thế mà lão quay ra năn nỉ Hư Trúc.

Hư Trúc lại chẳng có chủ ý gì quay sang hỏi Mai Kiếm:

- Mai Kiếm tỷ tỷ! Việc này nhờ tỷ tỷ giúp ý kiến nên giải quyết thế nào?

Mai Kiếm đáp:

- Bọn này đều không phải thiện nhân. Chúng đã sát hại bao nhiêu chị em Quân Thiên. Vậy chủ nhân bắt chúng phải đền mạng mới được.

Ðộng chúa động Ngọc Tiêu là một lão già bảy mươi tuổi nhìn Mai Kiếm xá dài nói:

- Cô nương! Bọn tại hạ bị trúng Sinh tử phù, thảm trạng khổ đau không biết đến đâu mà nói, nên khi được tin Ðồng Mỗ lão nhân gia không ở trên núi thì rất đỗi hoang mang lo sợ, đó cũng vì sự sống mà chúng tôi làm nên tội lỗi. Bây giờ hối hận thì đã không kịp nữa. Vậy xin cô nương mở lượng hải hà nói giúp với Hư Trúc tiên sinh cho!

Mai Kiếm trầm ngâm đáp:

- Cái tội giết người, các ngươi phải tự chặt cánh tay mặt đi là trừng phạt nhẹ lắm rồi!

Nàng vừa nói ra đã biết ngay như thế là mình ban lệnh không được hợp lý, liền quay lại hỏi Hư Trúc:

- Thưa chủ nhân! Nô tỳ tính vậy được chăng?

Hư Trúc cảm thấy phạt như vậy là nặng quá, nhưng lại không muốn trái ý Mai Kiếm, nên ngập ngừng đáp:

- Như thế... Như thế...

Hư Trúc chưa dứt lời thì có một người rẽ đám đông đi ra. Người này mặt đẹp như ngọc, phong tư tuấn nhã. Chính là Vương tử nước Ðại Lý tên gọi Ðoàn Dự. Tính chàng ưa can thiệp việc người, hay cùng người đàm luận thị phi.

Chàng nhìn Hư Trúc chắp tay cười nói:

- Nhân huynh! Các vị đây lúc tiến đánh núi Phiêu Diễu, tiểu đệ đã không tán thành. Song nói khô cổ cũng chẳng ai nghe. Bây giờ họ gây nên đại hoạ, nhân huynh trừng trị trách phạt là đáng lắm. Nhưng tiểu đệ xin nhân huynh giao việc này cho tiểu đệ trách phạt liệt vị được chăng?

Hôm trước, quần hào uống máu ăn thề gây sự để đánh giết Ðồng Mỗ, Ðoàn Dự hết sức ngăn cản. Hư Trúc cũng biết. Y hiểu chàng là một vị công tử đầy lòng bác ái nghĩa hiệp nên vẫn kính trọng chàng. Huống chi Hư Trúc đang lúng túng chưa biết cách xử trí ra sao, nghe chàng nói vậy liền chắp tay nói:

- Tại hạ kiến thức hẹp hòi, không quen xử sự. Nếu được Ðoàn công tử vui lòng đứng ra liệu lý giùm cho thì tại hạ cảm kích vô cùng.

Quần hào lúc vừa nghe Ðoàn Dự nói câu đầu kể tội họ đáng trách phạt thì trong lòng bất phục. Có người nóng nảy đã toan cất tiếng chửi mắng. Nhưng sau nghe Hư Trúc chấp thuận lời chàng, họ vội rụt lưỡi lại không dám nói ra nửa lời.

Ðoàn Dự hắng giọng rồi nói:

- Vậy là hay lắm! Các vị đây phạm lỗi lầm thật là thâm trọng mà cách trừng phạt của tại hạ cũng chẳng nhẹ nhàng. Hư Trúc Tử tiên sinh đã nhường cho tại hạ xử lý. Nếu các vị phản kháng thì tại e rằng Hư Trúc lão huynh không chịu phá giải sinh tử phù cho các vị nữa.

Chàng ngừng lời cười ha hả rồi dõng dạc tuyên bố:

- Ðệ nhất điều: các vị phải đến trước vong linh Ðồng Mỗ kính cẩn dập đầu lạy tám lạy, nghiêm chỉnh mặc niệm, ăn năn tội lỗi. Lúc hành lễ ai mà ngấm ngầm ra điều mạo phạm Ðồng Mỗ, tội trạng sẽ bị gia trọng một bậc.

Hư Trúc cả mừng khen:

- Phải lắm, phải lắm! Hình phạt trong điều thứ nhất thật hay, đáng phục... đáng phục...

Quần hào chưa hiểu anh công tử đồ gàn này còn đưa ra những hình phạt cổ quái gì nữa, ai nấy đều xao xuyến trong lòng. Nhưng vừa nghe y tuyên bố phải cúi đầu lạy trước vong linh Ðồng Mỗ thì nghĩ thầm:

- Tôn trọng người đã chết là thường tình, thì cúi đầu lạy trước linh vị có chi là lạ? Huống chi mình có thù ghét Ðồng Mỗ lúc mình vừa lạy vừa lầm thầm mắng khẽ thì gã làm sao biết được?

Nghĩ vậy mọi người đồng thanh ưng thuận.

Ðoàn Dự thấy mình tuyên bố điều thứ nhất mọi người đều hoan hỷ đồng ý thì tinh thần phấn chấn, dõng dạc tuyên bố tiếp:

- Ðệ nhị điều: Liệt vị phải cúi đầu hành lễ trước những vị tỷ tỷ bộ Quân Thiên đã bị tử nạn. Vị nào đã giết người phải phục lạy và mặc niệm sám hối. Lúc hành lễ phải bịt khăn trắng để tang. Ai không giết người thì chỉ xá dài hành lễ là đủ và sẽ được Hư Trúc Tử nhân huynh trị bịnh cho để khích lệ.

Quần hào lên núi Phiêu Diễu phần lớn là không giây vào vụ giết người thì ưng thuận ngay.

Bọn người đã hạ thủ tàn sát nghe đến truyện đội khăn tang dập đầu hành lễ so với hình phạt chặt tay của Mai Kiếm còn nhẹ gấp trăm lần, dĩ nhiên họ cũng không có điều gì phản đối.

Ðoàn Dự lại tuyên bố:

- Ðệ tam điều: Các vị phải vĩnh viễn thần phục Linh Thứu cung, không được sinh lòng phản trắc. Hư Trúc Tử tiên sinh đã ra lệnh thì ai nấy nhất nhất phải tuân theo. Chẳng những phải cung kính Hư Trúc tiên sinh mà thôi, đối với bốn vị tỷ Muội Mai, Lan, Cúc, Trúc cũng phải đem lòng kính nể, đổi thù ra bạn, không được cử động gươm đao. Nếu vị nào không phục thì cứ việc tiến lên cùng Hư Trúc Tử tiên sinh tỷ đấu và ra chiêu để xem ai hơn ai kém rồi sẽ nói chuyện sau.

Quần hào nghe Ðoàn Dự nói vậy đồng thanh đáp:

- Phải lắm! Phải lắm!

Có người lại nói:

- Công tử định phạt như vậy là nhẹ lắm rồi. Chẳng hiểu còn có điều chi dạy bảo nữa không?

Ðoàn Dự vỗ tay đáp:- Chỉ có bấy nhiêu thôi!

Rồi chàng quay lại hỏi Hư Trúc:

- Nhân huynh! Tiểu đệ quy định ba điều như vậy đã được chưa?

Hư Trúc chắp tay đáp:

- Ða tạ! Ða tạ! Công tử xử sự như thế là hay lắm.

Hư Trúc lại quay sang Mai Kiếm với vẻ mặt ra chiêu băn khoăn hỏi:

- Tam điều Ðoàn công tử nêu ra, tỷ tỷ có ý kiến gì không?

Mai Kiếm đáp:

- Thưa chủ nhân! Chủ nhân đã là chúa tể cung Linh Thứu thì bất luận chủ nhân bảo sao bọn nô tỳ đều phải vâng theo. Chủ nhân đã có độ lượng khoan hồng nhiêu dung cho bọn phản loạn, thì bất tất phải băn khoăn làm chi.

Hư Trúc cười nói:

- Không dám! Việc này... tại hạ còn có điều muốn nói... chẳng biết có nên không?

Ô lão đại đỡ lời:

- Hết thảy ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo đều là thuộc hạ núi Phiêu Diễu. Giáo chủ có điều chi dạy bảo thì còn ai dám kháng cự. Nếu ba điều hình phạt mà Ðoàn công tử đã định có chỗ khoan hồng quá đỗi, giáo chủ muốn bổ sung thì bọn thuộc hạ cũng xin cam tâm bái lãnh.

Hư Trúc nói:

- Tại hạ còn ít tuổi kiến thức nông cạn, bất quá được Ðồng Mỗ chỉ điểm cho mấy môn võ công. Chức giáo chủ gì đó thực ra... Xin các vị tiền bối nghĩ lại.

Nguyên Hư Trúc từ thuở nhỏ đến giờ vẫn bị người sai khiến làm kẻ môn hạ. Y không bao giờ tự mình quyết định được chủ ý và bây giờ đứng trước mặt mọi người y không khỏi lúng túng, nên nói ấp a ấp úng và giọng lưỡi lại ra chiều khiêm cung quá độ.

Mai, Lan, Cúc, Trúc nghĩ thầm trong bụng:

- Không hiểu sao chủ nhân mình đối với bọn nô tài kia mà lại dùng lời lẽ khách khí như vậy?

Ô lão đại lại lên tiếng:

- Giáo chủ đối với bọn thuộc hạ khiêm hoà như vậy thì dù anh em thuộc hạ có phải gan óc lầy đất cũng không đủ báo đền trong muôn một. Giáo chủ có mệnh lệnh gì xin cứ ban ra!

Hư Trúc nói:

- Phải, phải! Tại hạ nói lầm rồi xin các vị đừng cười... Tại hạ muốn nói đến hai việc. Việc thứ nhất hơi có vẻ tư tâm. Số là tại hạ... nguyên tại hạ xuất thân từ chùa Thiếu Lâm làm chức tiểu hoà thượng. Vậy xin từ đây sắp tới các vị có bôn tẩu giang hồ đừng làm khó dễ đệ tử phái Thiếu Lâm, bất luận là tăng hay tục. Ðây là một việc cầu tình chứ không dám nói là một mệnh lệnh.

Ô lão đại lớn tiếng hô:

- Giáo chủ có lệnh: từ đây sắp tới, trên bước giang hồ anh em có gặp bất luận là đại sư, hoà thượng hay bạn bè tục gia thuộc phái Thiếu Lâm, nhất nhất phải cung kính, chớ có thất lễ mà mang tội.

Quần hào đồng thanh hô vang:

- Xin tuân mệnh!

Hư Trúc thấy mọi người ưng thuận, y có vẻ mạnh dạn hơn, chắp tay nói:

- Ða tạ, đa tạ! Tại hạ còn việc thứ hai là xin các vị thề lòng hiếu sinh của đức Thượng đế không nên giết người một cách bừa bãi. Hay hơn nữa là đừng giết cả các sinh vật dù là nhỏ mọn như con ong con kiến. Các vị lại không nên ăn những đồ huyết thực. Nhưng đó là một điều rất khó, vì chính tại hạ cũng đã ăn mặn mất rồi. Thế thì...các vị cố tránh việc giết người là đủ.

Ô lão đại lại tuyên bố:

- Giáo chủ có lệnh: Hết thảy anh em dưới trướng cung Linh Thứu từ nay không được giết càn người vô tội và không được sát sinh một cách bừa bãi. Kẻ nào bất tuân sẽ bị trừng trị.

Quần hào lại đồng thanh đáp:

- Xin tuân mệnh!

Hư Trúc cười nói:

- Ô tiên sinh! Mấy lời tuyên bố của tiên sinh thật là rõ ràng. Tại hạ thực không thể sánh bằng. Tiên sinh... trúng sinh tử phù ở chỗ nào, để tại hạ tẩy trừ đi cho.

Ô lão đại sở dĩ phải mạo hiểm đứng đầu việc mưu phản chẳng qua cũng chỉ vì cái sinh tử phù ở trong người. Bây giờ lão nghe Hư Trúc chịu phá giải sinh tử phù cho mình, từ nay sẽ trút được mối lo canh cánh bên lòng. Lão mừng rỡ khôn xiết và trong lòng cực kỳ cảm kích quỳ mọp ngay xuống để lạy tạ.

Hư Trúc cũng quỳ xuống hỏi:

- Ô tiên sinh, tiên sinh bị thương ở bụng vì trái tùng đã khỏi chưa?

Lúc này bốn chị em Mai Kiếm đã chuyển động cơ quan mở cả lớn ra để các phụ nữ chín bộ tiến vào đại sảnh.

Bỗng nghe thanh âm Phong Ba Ác, Bao Bất Ðồng lớn tiếng hô hoán rồi cùng Ðặng Bách Xuyên, Công Dã Càn tiến vào đại sảnh.

Nguyên bọn này định đến đây tìm Ðồng Mỗ để tỷ đấu, nhưng chạm trán phải quần nữ bát bộ đưa di thể Ðồng Mỗ về đến bên ngoài Linh Thứu cung.

Bao Bất Ðồng thì ngôn ngữ lỗ mãng, còn Phong Ba Ác bản tính hiếu chiến. Hai bên trước còn gây lộn rồi đi đến chỗ động thủ.

Chẳng mấy chốc Bao Bất Ðồng cùng Phong Ba Ác được Ðặng Bách Xuyên và Công Dã Càn đến giúp. Bản lãnh bốn người này tuy rất mực cao cường, nhưng quả bất địch chúng, không thể chống nổi bọn phụ nữ đông người.

Bốn người vừa đánh vừa chạy, mình đều bị thương. Nếu cửa lớn chậm mở trong một khắc và Mai, Lan, Trúc, Cúc không lên tiếng ngăn trở thì bốn gã chẳng bị bắt cũng phải mất mạng với quần nữ chín bộ cung Linh Thứu.

Lúc này quần nữ trong chín bộ theo ý Hư Trúc mở tiệc Quần anh tại trong nhà đại sảnh.

Mộ Dung Phục thấy mình ở lại trơ trẽn liền dẫn bọn Ðặng Bách Xuyên cáo từ xuống núi.

Kiếm Thần Trác Bất Phàm và Phù Dung Tiên Tử Thôi Lộc Hoa không lời từ biệt cũng bỏ đi luôn và chẳng biết đi về hướng nào.

Hư Trúc thấy bọn Mộ Dung Phục muốn đi thì cố tình giữ lại.

Mộ Dung Phục nói:

- Tại hạ đã đắc tội với núi Phiêu Diễu nên rất bẽ bàng. Nay đã được nhân huynh bỏ qua là cảm ơn thịnh tình lắm rồi, khi nào còn dám quấy quả.

Hư Trúc nói:

- Sao công tử lại nói vậy? Tại hạ xem hai vị công tử văn võ kiêm toàn, anh hùng xuất chúng. Tại hạ vô cùng ngưỡng mộ những muốn... nhờ hai vị chỉ giáo. Tại hạ... là kẻ vụng về... không biết nói thế nào cho vừa lòng công tử...

Bao Bất Ðồng cùng quần nữ giao phong bị thương mấy chỗ vốn đã bực mình. Bây giờ nghe Hư Trúc ấp úng lưu khách thì nghĩ ngay đến trong người y có bức chân dung Vương Ngọc Yến liền rủa thầm:- Thằng trọc này khéo giả nhân giả nghĩa. Hắn đã là đệ tử nhà Phật mà còn sinh lòng ám Muội đối với biểu Muội của công tử ta. Hiển nhiên y là môt gã dâm tăng không giữ quy luật thanh tu của nhà Phật. Gã nghĩ vậy liền nói:

- Tiểu sư phụ lưu anh hùng chỉ là giả trá mà lưu mỹ nhân mới là thực sự. Sao không nói trắng ra là muốn lưu Vương cô nương ở lại núi Phiêu Diễu.

Hư Trúc ngạc nhiên hỏi lại:

- Tôn giá... bảo sao? Tại hạ muốn lưu mỹ nhân nào?

Bao Bất Ðồng đáp:

- Tiểu hoà thượng đã có lòng ám Muội. Chẳng lẽ nhà Mộ Dung ở Cô Tô đều là hạng si ngốc ư! Thế thì buồn cười thiệt!

Hư Trúc nói:

- Tại hạ thiệt không hiểu tiên sinh muốn nói gì? Và có điều chi buồn cười?

Bao Bất Ðồng tuy đã dấn thân vào nơi đầm rồng hang cọp, nhưng khí tức lên là gã chẳng coi sống chết vào đâu, liền lớn tiếng nói:

- Thằng trọc nhãi nhép kia! Mi đã làm hoà thượng chùa Thiếu Lâm, một môn phái vang danh trong thiên hạ sao còn đi quy đầu tà phái, cấu kết với bọn yêu ma quỷ quái? Ta nhìn thấy ngươi lại điên tiết lên. Ngươi đã là một nhà sư mà bức bách mấy trăm phụ nữ lương gia đem về làm vợ, làm nhân tình, vẫn cho là chưa đủ mà còn để ý đến Vương cô nương nhà ta! Ta nói cho ngươi hay, Vương cô nương là người nhà Mộ Dung công tử, ngươi đừng dở trò con cóc ghẹ muốn ăn thịt ngỗng trời, phải dẹp lòng ước muốn đen tối đó đi!

Bao Bất Ðồng càng mắng càng hăng, khoa chân múa tay trỏ vào mặt Hư Trúc, thoá mạ không tiếc lời.

Hư Trúc chẳng hiểu ra làm sao, ấp úng:

- Tại hạ... Tại hạ...

Bỗng hai tiếng veo véo rít lên! Ô lão đại một tay chống thanh Lục ba hương lộ quỷ đầu đao còn Cát Ðại Bá sử ngọn Ðại thiết chuỳ nặng hơn sáu mươi cân vung lên quát lớn, nhảy xổ lại tấn công Bao Bất Ðồng.

Mộ Dung Phục biết rằng Hư Trúc đã nhận lời giải sinh tử phù cho bọn người này và đã được quần hào liều chết vì y, nếu để xẩy cuộc hỗn chiến thì nguy hiểm vô cùng. Y vừa thấy Ô lão đại cùng Cát Ðại Bá nhẩy tới liền lạng người ra sử chiêu Ðẩu chuyển tinh di cho quỷ đầu đao chém trả lại Cát Ðại Bá và cây thiết chuỳ vụt về phía Ô lão đại. Hai binh khí chạm nhau đánh choảng một tiếng toé lửa ra bốn phía.

Mộ Dung Phục lại xuay tay ra nắm lấy vay Bao Bất Ðồng khẽ đẩy một cái lùi ra xa hơn trượng rồi quay lại nhìn Hư Trúc chắp tay nói:

- Xin lỗi giáo chủ! Tại hạ xin cáo từ.

Rồi lạng người đi một cái đã ra đến cửa nhà đại sảnh thì thấy cơ quan chuyển động và phiến đá lớn đã nổi lên cản đường.

Hư Trúc tuyệt không có ý gây thù với Mộ Dung Phục vội nói:

- Công tử đừng chạy nữa. Tại hạ... không có ý gì đâu.

Mộ Dung Phục nhíu cặp lông mày quay lại lớn tiếng hỏi:

- Phải chăng các hạ tự phụ là thiên hạ vô địch muốn chỉ giáo cho tại hạ mấy chiêu?

Hư Trúc khoát tay lia lịa nói:

- Không... không dám...

Mộ Dung Phục hỏi:

- Tại hạ vô cớ đường đột đến đây. Các hạ nhất định muốn lưu lại chăng?

Hư Trúc lắc đầu đáp:

- Không phải... Hỡi ôi!

Mộ Dung Phục đứng gần cửa ngạo nghễ nhìn quần hào ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo, rồi lại nhìn đến Mai, Lan, Cúc, Trúc tứ kiếm và quần nữ chín bộ.

Quần hào và quần nữ thấy khí thế y oai nghiêm, không ai dám tiến lại.

Mộ Dung Phục phất tay áo một cái rồi nói:

- Ði thôi.

Rồi ngang nhiên ra khỏi cửa lớn.

Ô lão đại căm tức nói:

- Thưa giáo chủ! Nếu để gã sống ra khỏi núi Phiêu Diễu thì bọn ta còn làm người thế nào được? Xin giáo chủ hạ lệnh bắt chúng lại.

Hư Trúc lắc đầu nói:

- Thôi! Chuyện xong rồi ta nên bỏ qua! Tại hạ không hiểu vì lẽ gì y nổi cơn thịnh nộ. Hỡi ôi! Thật là khó hiểu!...

Vương Ngọc Yến theo bọn Ðặng Bách Xuyên đi trước Mộ Dung Phục, thấy Ðoàn Dự chưa ra khỏi toà đại sảnh thì quay lại nói:

- Ðoàn công tử! Sau này sẽ có ngày tái hội.

Ðoàn Dự giật mình. Trong lòng chua xót miễn cưỡng đáp:

- Vâng... Rồi ta gặp nhau...

Chàng đứng nhìn bóng Vương Ngọc Yến đi mỗi lúc một xa. Bên tai chàng còn văng vẳng câu nói của Bao Bất Ðồng: "Vương cô nương là người nhà Mộ Dung công tử" thì chàng lại nát gan đứt ruột và tự coi mình như con cóc ghẹ đòi ăn thịt ngỗng trời. Bất giác chàng lẩm bẩm:

- Phải rồi! Lúc Mộ Dung công tử đứng trước cửa sảnh đường thần oai lẫm liệt, anh hùng khí khái xiết bao nhiêu! Y giơ tay một cái là phá ngay được chiêu thức của hai kẻ kình địch thì bản lãnh cao thâm biết là chừng nào! Sức mạnh không trói nổi con gà thì lọt vào mắt xanh của nàng thế nào được? Lúc này Vương cô nương nhìn biểu huynh nàng với con mắt đầy tình tứ vừa ngưỡng mộ vừa thương yêu. Ðoàn Dự này quả nhiên chỉ là con cóc ghẹ mà thôi!

Trong nhà đại sảnh còn lại hai chàng thanh niên. Hư Trúc thì bị làn mây nghi ngờ bao phủ, ngồi cúi đầu xuống như ngây như dại. Còn Ðoàn Dự lại đau xót nỗi biệt ly, nét mặt buồn rầu như kẻ mất hồn. Hai người bâng khuâng nhìn nhau tựa hồ một đôi chàng ngốc.

Hồi lâu, Hư Trúc buông một tiếng thở dài.

Ðoàn Dự cũng thở dài theo rồi nói:

- Nhân huynh! Nhân huynh cùng tiểu đệ đồng bệnh tương lân. Mối tương tư chôn sâu tận đáy lòng biết lấy gì tiêu khiển?

Hư Trúc nghe nói bất giác mặt thẹn đỏ bừng. Y tưởng Ðoàn Dự đã biết vị nữ lang trong mộng của mình, liền ấp úng hỏi:

- Ðoàn... công tử, sao Ðoàn huynh lại biết?

Ðoàn Dự đáp:

- Nhân huynh bất tất phải dè dặt. Ai không biết Tử Ðô là người đẹp thì người đó không có mắt, ai không biết nàng đó đẹp thì không phải là người nữa. Lòng yêu cái đẹp ai mà chẳng có? Nhân huynh cùng tiểu đệ đều thuộc hạng chìm nổi phương trời, đã gặp nhau tất phải hiểu nhau.

Chàng nói xong lại buông tiếng thở dài.

Nguyên Ðoàn Dự thấy trong bọc Hư Trúc có cất dấu bức chân dung Vương Ngọc Yến thì tưởng y cũng yêu nàng như mình.

Vừa rồi Mộ Dung Phục cùng Hư Trúc có chuyện xích mích, dĩ nhiên cũng chỉ vì Vương Ngọc Yến mà ra.

Ðoàn Dự nghĩ vậy lại nói:

- Nhân huynh võ công tuyệt đỉnh, nhưng về duyên phận tính tình không hợp thì bất luận dùng cách nào cũng không được.

Hư Trúc lẩm bẩm:

- Về duyên phận tính tình không hợp... duyên phận này tự nhiên mà gặp... chứ không phải cầu mà nên được... Phải rồi! Sau khi từ biệt, bóng người mù mịt bên trời góc bể biết đâu mà tìm?

Hư Trúc nói đây là về nữ lang trong mộng của mình, nhưng Ðoàn Dự tưởng y nói về Vương Ngọc Yến.

Cả hai thanh niên này đều ngốc nghếch, không thông hiểu việc đời, thế mà mỗi lúc một trở nên ý hợp tâm đầu.

Quần nữ cung Linh Thứu đặt tiệc, Hư Trúc cùng Ðoàn Dự dắt tay nhau ngồi vào chiếu.

Các động chúa, đảo chúa đều là thuộc hạ cung Linh Thứu, dĩ nhiên không ai dám lên ngồi cùng bàn với Hư Trúc.

Hư Trúc không hiểu gì về việc tiếp khách. Y thấy ai đến bên cũng mặc chẳng niềm nở chào mời mà chỉ nhỏ to chuyện trò với Ðoàn Dự.

Ðoàn Dự trong lòng điên đảo vì Vương Ngọc Yến. Chàng khen nàng không tiếc miệng: Nào tính nết dịu dàng nhu thuận, nào tư dung siêu phàm thoát tục.

Hư Trúc cứ tưởng chàng khen Mộng trung nữ lang của mình mà không dám hỏi tại sao chàng lại biết nàng? Y cũng không dám hỏi đến lai lịch của nàng nữa. Trái tim y đập nhộn lên rồi lẩm bẩm:

- Mình đã tưởng Ðồng Mỗ chết đi rồi thiên hạ không còn ai biết Mộng cô của mình ở nơi đâu. Thế mà còn Ðoàn công tử đây nhận được thì ra đấng hoàng thiên có ý thương xót loài người không để ai phải tuyệt vọng. Nhưng khốn nỗi Ðoàn công tử lại đem lòng ái mộ tương tư nàng. Nếu mình tiết lộ ân tình dưới nhà hầm nước đá tất nhiên chàng nổi cơn thịnh nộ, bỏ bữa tiệc dở dang, rũ áo ra đi thì mình không biết bấu víu vào đâu để nghe ngóng tin nàng được.

Hư Trúc thấy Ðoàn Dự trầm trồ khen ngợi cô nương đó thì cũng phụ hoạ vào với tấm lòng thành thực.

Hai người cùng nói chuyện về tình nhân của mình mà chẳng ai nói rõ tình nhân mình là ai, thành ra hai vị cô nương riêng biệt mà hai vị tình lang đều tưởng là chỉ có một.

Ðoàn Dự nói:

- Nhân huynh! Theo thuyết của nhà Phật thì mọi việc đều lấy chữ duyên làm cứu cánh. Ðạt Ma tổ sư đã nói: "Chúng sinh không biết mình là ai thì những sự đau khổ hay vui mừng đều do duyên kiếp mà ra". Thế thì ta có được việc gì vui vẻ hay buồn phiền chẳng qua là duyên nợ kiếp trước nên kiếp này được hưởng thụ hay phải đền bồi. Duyên phận hết rồi lại trở thành không, chả có chi là đáng vui mừng hay đáng tủi.

Hư Trúc nói:

- Phải rồi! Những chuyện đắc thất của con người là tuỳ ở duyên phần. Dù đắc dù thất cũng không thay đổi lòng dạ. Nguyên lý của Phật gia là ở chỗ đó.

Ta nên biết rằng môn Phật học tại nước Ðại Lý hưng thịnh vô cùng. Ðoàn Dự từ thủa nhỏ tụng kinh niệm Phật, nên chàng đã được thấm nhuần rất nhiều Phật học.

Hư Trúc cùng Ðoàn Dự hai người nói chuyện với nhau về lý thuyết nhà Phật rất là tương đắc. Bên này dẫn chứng một câu trong kinh Kim Cương thì bên kia lại nêu ra một đoạn kinh Pháp Hoa rồi cùng nhau than thở cho khuây khoả nỗi tương tư.

Bốn nàng Mai, Lan, Cúc, Trúc luân lưu nhau rót rượu khuyên mời.

Ðoàn Dự uống một chén thì Hư Trúc cũng uống một chén.

Ðôi bạn này vừa uống rượu vừa trò chuyện cho đến nửa đêm.

Bữa tiệc đã mãn.

Quần hào no say đứng dậy cáo từ và do quần nữ cung Linh Thứu đưa vào các phòng ngủ.

Hư Trúc cùng Ðoàn Dự mười phần đã say đến tám chín, mà vẫn còn tiếp tục ngồi uống và nói chuyện.

Chương 102: Dưới thạch động hư trúc luyện kỳ công

Tiệc rượu hôm nay đã giục lòng Ðoàn Dự nhớ tới Tiêu Phong cùng mình uống rượu thi tại ngoài thành Vô Tích. Hôm ấy Ðoàn Dự dùng nội công vận chuyển theo thủ pháp Lục mạch thần kiếm dồn rượu tiết ra đầu ngón tay út nên chàng không biết say. Bữa nay chàng uống một cách thực sự nên đã say khướt.

Chàng nói:

- Nhân huynh! Tiểu đệ có một vị huynh trưởng kết nghĩa kim lan họ Kiều tên Phong. Kiều đại ca của tiểu đệ thật là một tay đại anh hùng, đại hào kiệt. Về võ công cũng như về tửu lượng như y thật trên đời có một không hai. Nếu nhân huynh gặp y tất cũng đem lòng ái mộ ngay. Ðáng tiếc là hiện giờ y không có ở đây, ba ta kết nghĩa đệ huynh thì thật là một việc thoả chí bình sinh.

Hư Trúc trước nay chưa từng uống rượu, nhưng nhờ y được nội công tinh thâm nên uống hết mấy bát lớn mà vẫn không say. Có điều lúc này trong tâm thần bâng khuâng trống rỗng, y nói năng mạnh dạn không rụt rè cố chấp như lúc thường. Y cảm thấy hào khí bồng bột nói luôn:

- Nếu nhân huynh... chẳng hiểu tiểu đệ ngu ngốc thì chúng ta kết nghĩa anh em. Sau này tìm được Kiều đại ca lại kết bái lần nữa là xong.

Ðoàn Dự khen:

- Tuyệt diệu! Huynh trưởng bao nhiêu tuổi?

Hai người bày tỏ niên canh. Hư Trúc lớn hơn hai tuổi.

Ðoàn Dự liền hô:

- Nhị ca! Nhị ca nhận của tiểu đệ một lạy đi!

Rồi bước ra khỏi bàn lạy phục xuống đất. Hư Trúc vội vàng đáp lễ nhưng chân nhũn ra ngã khuỵu xuống đất.

Ðoàn Dự thấy Hư Trúc ngã ra vội vàng đỡ dậy. Chân khí hai người đụng vào nhau đều cảm thấy nội lực trong mình đối phương đầy rẫy liền vội vàng thu chân lực lại.

Lúc này Ðoàn Dự đã say khướt, chân bước loạng choạng đứng không vững.

Ðột nhiên hai người cùng nổi lên một tràng cười khanh khách, ôm chặt lấy nhau nằm lăn ra đất.

Ðoàn Dự nói:

- Nhị ca! Tiểu đệ không say đâu! Chúng ta ngồi dậy uống thêm trăm chén nữa.

Hư Trúc đáp:

- Tiểu huynh vui lòng tiếp tam đệ uống cho say mèm.

Ðoàn Dự nói:

- Lúc đắc ý con người nên tận hưởng, đừng để cho rượu thẹn với bóng trăng! Ha ha! Chúng ta uống thêm ba chung nữa!

Hai người càng nói càng đi vào chỗ mơ hồ rồi ngủ đi lúc nào không biết.

Sáng hôm sau Hư Trúc tỉnh dậy thì thấy mình nằm trên giường trải nệm êm ấm vô cùng. Y giương mắt nhìn xung quanh thì thấy mình ngủ trong một gian phòng rất rộng. Gian phòng này không có nhiều đồ vật, nhưng cách bài trí rất trang nhã cổ kính. Trên vách treo mấy bức tứ bình, nét bút đanh thép, màu giấy vàng khè, tỏ ra đã treo lâu ngày.

Một thiếu nữ bưng cái khay đến bên giường chính là Lan Kiếm.

Nàng nói:

- Chủ nhân tỉnh rồi à? Xin người xúc miệng để rồi dùng điểm tâm.

Hư Trúc trong người chưa hết cơn men, miệng thấy đắng ngắt, khát khô cả cổ. Y thấy trong khay có chén nước trà trong vắt, liền cầm lên uống ừng ực một hơi hết sạch.

Nguyên đây là chén sâm thang, suốt đời Hư Trúc chưa biết mùi sâm thang bao giờ. Y uống hết mà chẳng biết là trà gì, chỉ rụt rè cười nói:

- Ða tạ tỷ tỷ! Bây giờ ta dậy đây, xin tỷ tỷ ra ngoài đi!

Lan Kiếm chưa trả lời thì từ cửa phòng một thiếu nữ bước vào chính là Cúc Kiếm. Nàng mỉm cười nói:

- Hai chị em nô tỳ xin phục thị chủ nhân thay áo.

Nàng nói xong lại đầu giường vớ lấy một bộ quần áo lót màu xanh lợt để ở trong chăn Hư Trúc.

Hư Trúc luống cuống mặt thẹn đỏ bừng nói:

- Không! Ta không cần hai vị tỷ tỷ phục thị. Ta chẳng bị thương mà cũng không có bệnh tật chi hết. Có điều uống rượu quá say mà thôi. Hỡi ôi! Trong thập giới của nhà Phật, thì ta lại phạm thêm vào một giới nữa rồi! Tam đệ ơi! Ô hay! Ðoàn công tử đi đâu rồi?

Lan Kiếm toét miệng ra cười đáp:

- Ðoàn công tử xuống núi rượt theo ý trung nhân rồi. Lúc công tử ra đi có dặn nô tỳ bẩm lại với chủ nhân, xin mời chủ nhân đến Trung Nguyên tái hội.

Hư Trúc la lên một tiếng úi chao! rồi nói:

- Ta còn có việc muốn hỏi y. Sao y đã vội bỏ đi ngay.

Hư Trúc trong lòng nóng nảy hấp tấp nhảy xuống giường toan đuổi theo Ðoàn Dự để hỏi xem danh tánh Mộng trung nữ lang cùng địa chỉ nàng. Ðột nhiên y nhìn thấy mình ăn mặc một bộ áo ngắn màu nguyệt bạch rất sạch sẽ thì la lên một tiếng kinh ngạc, lại kéo chăn phủ lên mình hốt hoảng hỏi:

- Ô hay! Ta thay áo từ bao giờ?

Nguyên Hư Trúc vẫn mặc bộ quần áo do Thần Châm may ở dọc đường. Khi về đến cung Linh Thứu, y bốc bùn đất thoa đầy mình dơ bẩn cả quần áo. Bây giờ y thấy đồ mặc trong người nhẹ nhàng và sạch sẽ, tuy y chẳng biết là lụa là hay gấm đoạn nhưng cũng biết là quần áo này thuộc hạng sang trọng.

Cúc Kiếm cười nói:

- Ðêm qua chủ nhân say rượu rồi bốn chị em nô tỳ phục thị tắm rửa và thay áo cho, chủ nhân cũng không biết ư?

Hư Trúc cả kinh ngẩng đầu lên nhìn, thấy Lan Kiếm, Cúc Kiếm người đẹp như ngọc, miệng cười tươi như hoa thì trái tim đập thình thình.

Hư Trúc lại giơ tay lên coi thì thấy cánh tay mình trắng trẻo mịn màng, rõ ràng bao nhiêu cáu ghét đã được cọ rửa đất sạch sẽ. Trong lòng y bỗng nảy ra một tia hy vọng, gượng cười nói:

- Ta thật say tuý luý, may mắn hơn nữa là tấm thân được tắm gội sạch sẽ.

Lan Kiếm cười nói:

- Ðêm qua chủ nhân say rượu ngủ li bì. Bọn chị em nô tỳ bốn người đã tắm gội cho chủ nhân đó.

Hư Trúc la hoảng một tiếng cơ hồ ngất đi rồi lại nằm xuống, miệng lẩm bẩm:

- Hỏng bét! Thật là hỏng bét.

Lan Kiếm, Cúc Kiếm không khỏi giật mình kinh hãi, đồng thanh hỏi:

- Chủ nhân! Chủ nhân có điều chi không ổn?

Hư Trúc nhăn nhó cười đáp:

- Ta là nam nhân, lại loã lồ thân thể trước mặt bốn vị tỷ tỷ... có phải là hỏng bét rồi không? Huống chi toàn thân ta dơ bẩn lâu ngày, mùi hôi sặc sụa. Sao các vị tỷ tỷ lại làm việc ô uế đó?

Lan Kiếm nói:

- Bốn chị em nô tỳ là phận tôi đòi của chủ nhân, thì dù có phải vì chủ nhân mà tan xương nát thịt cũng không dám oán hận. Bọn nô tỳ có phạm tội làm gì, xin chủ nhân trách phạt.

Nói xong, Lan Kiếm, Cúc Kiếm lại lạy phục xuống đất, miệng vẫn van xin tha thứ không ngừng.

Hư Trúc thấy hai nàng ra chiều sợ sệt thì nghĩ đến bọn Dư bà, Thạch tẩu vì mình thủ lễ đối đãi mà họ sợ run thì chắc là bọn Lan Kiếm, Cúc Kiếm này cũng coi mình như Ðồng Mỗ trước. Chỉ một lời nói hiền từ hay nét mặt ôn hoà, là lập tức đưa đến những hình phạt gớm ghe!

Hư Trúc nghĩ vậy liền nói:

- Thôi hai vị tỷ tỷ dậy đi! Các vị ra ngoài kia cho ta thay áo không cần phải phục thị.

Hai nàng Lan, Cúc đứng dậy, nước mắt chảy quanh lui ra ngoài phòng.

Hư Trúc rất làm kỳ hỏi:

- Ta có điều gì lầm lỗi với các vị? Làm sao các vị không vui? Ta e rằng có điều gì lầm lỗi để các vị phải phiền lòng mà sa nước mắt...?

Cúc Kiếm đáp:

- Chủ nhân đuổi chị em nô tỳ ra ngoài, không cho phục thị gội rửa thay áo thì nhất định... là chán ghét bọn nô tỳ...

Chưa dứt lời dòng châu lã chã tuôn rơi xuống cặp má hồng trông thật đáng thương.

Hư Trúc khoát tay lia lịa nói:

- Không! Không phải thế! Ôi! Ta không biết nói thế nào cho rõ được. Ta là nam nhân, các vị là thiếu nữ. Cái đó... cái đó... không tiện... chút nào. Thiệt ta không có ý gì khác đâu! Ta nói có đức Bồ Tát trên đầu chứng minh. Ðã là người xuất gia, ta không bao giờ nói dối. Ta quyết không lừa gạt các vị tỷ tỷ đâu!

Lan Kiếm, Cúc Kiếm thấy Hư Trúc vừa nói vừa trỏ tay vạch chân ra chiều nóng nảy thành thực, bất giác phá lên cười rồi đồng thanh nói:

- Chủ nhân đừng lấy làm lạ. Trong cung Linh Thứu vốn không có đàn ông cư trú. Bọn nô tỳ chưa gặp nam nhân bao giờ. Chủ nhân là trời, bọn nô tỳ là đất. Làm gì có chuyện nam nữ phân biệt?

Thế rồi hai người lại gần phục thị Hư Trúc thay áo đổi hài.
Lát sau Mai Kiếm, Trúc Kiếm cũng tới nơi. Một cô bưng gương lược, một cô rửa mặt cho Hư Trúc.

Hư Trúc sợ quá không dám thốt lên tiếng mà cũng không dám thốt lên một câu bảo họ lui ra đừng phục thị.

Hư Trúc biết rằng Ðoàn Dự đi đã xa rồi dù có rượt theo cũng không kịp.

Y lại nghĩ tới quần hào các đảo các động chúa chưa giải trừ Sinh tử phù thì không tiện bỏ đi.

Dùng điểm tâm xong, Hư Trúc ra nhà đại sảnh cùng quần hào tương kiến. Y muốn giải trừ Sinh tử phù cho hai người đau đớn khổ sở trước. Nhưng việc giải trừ Sinh tử phù cần đem chân lực và vận dụng phép Thiên Sơn lục dương chưởng. Chân lực trong người Hư Trúc đầy rẫy thì dù có giải trừ cho mười người một lúc cũng không biết mệt nhọc. Có điều Ðồng Mỗ cấy Sinh tử phù vào mỗi người một chỗ không giống nhau.

Hư Trúc ngẫm nghĩ tìm cách giải trừ thấy rất phiền phức. Về kinh mạch huyệt đạo, sự hiểu biết của Hư Trúc lại rất nông cạn, nên không dám tuỳ tiện động thủ. Nếu chỗ sai trật thì làm hại thêm cho người mắc nạn.

Từ sáng đến giờ ngọ mới trị được hai người. Ăn cơm trưa rồi nghỉ ngơi một chút, Mai Kiếm thấy Hư Trúc châu mày nghĩ ngợi tìm cách giải Sinh tử phù ra chiều mệt trí, liền nói:

- Thưa chủ nhân! Trong hậu điện cung Linh Thứu, vị chủ nhân mấy trăm năm trước có khắc hoạ đồ vào vách đá. Nô tỳ thường nghe Ðồng Mỗ nói: Những bức họa đồ đó có liên quan đến Sinh tử phù. Sao chủ nhân không tới đó coi để nghiên cứu phép giải trừ cho mau chóng hơn?

Hư Trúc cả mừng nói:

- Vậy thì hay lắm!

Bốn cô Mai, Lan, Cúc, Trúc dẫn đường cho Hư Trúc đi vào hoa viên, nhấc một hòn non bộ lên, để hở một cửa hầm. Mai Kiếm cầm đuốc đi trước dẫn đường, rồi bốn người theo sau tiến vào. Thỉnh thoảng Mai Kiếm lại bấm nút cơ quan cho khỏi phát động, vì trong đường hầm bố trí mai phục rất nhiều ám khí, độc vật. Ðường hầm này khúc khuỷu quanh co, có chỗ đất rộng rãi sáng sủa, rõ ràng là một địa đạo thiên nhiên trong lòng đất. Vì công trình hiện đại này nếu lấy nhân lực xây cất thì mấy trăm năm cũng không thể cấu tạo nên được.

Ði vào trong đường hầm chừng hơn hai dặm, Mai Kiếm giơ tay ra đẩy một khối đá mé tả rồi đứng sang bên nói:

- Xin chủ nhân tiến vào thạch thất đi. Bọn nô tỳ không dám vào trong.

Hư Trúc nói:

- Chúng ta cùng vào cả, chẳng có gì quan ngại đâu. Ðừng đứng ngoài này chật hẹp khó chịu.

Bốn cô hầu nhìn nhau lộ vẻ vừa kinh hãi vừa mừng thầm:

Mai Kiếm nói:

- Thưa chủ nhân! Trước khi Ðồng Mỗ quy tiên có bảo bọn nô tỳ rằng: Nếu bọn nô tỳ bốn người hết lòng trung thực phục thị người không phạm lỗi lầm thì đến năm bốn mươi tuổi, người sẽ cho bọn nô tỳ mỗi năm được vào trong thạch thất này một ngày để nghiên cứu võ công trên vách đá. Ðó là một ơn điển thâm trọng. Theo đúng lời hứa với Ðồng Mỗ trước kia thì còn phải hai mươi năm nữa mới được vào.

Hư Trúc nói:

- Phải chờ những hai mươi năm trời, há chẳng buồn đến chết ư? Huống chi đến bây giờ các vị đã già rồi còn học võ công làm gì nữa? Bây giờ chúng ta vào cả đi thôi!

Bốn cô hầu cả mừng lạy phục xuống đất để tạ ơn.

Hư Trúc vội nói:

- Dậy đi! Dậy đi! Nơi đây chật hẹp ẩm thấp thế này, nếu ta cũng hoàn lễ thì đè cả lên nhau mất.

Bốn người tiến vào thạch thất thì thấy bốn mặt vách đá mài nhẵn lỳ. Trên vách đá vô số những hình vòng tròn đều nhau, đường kính chừng hai thước. Trong mỗi vòng tròn đều khắc nhiều thứ đồ hình. Cái khắc hình người, cái khắc hình thú vật. Có cái khắc văn tự không đủ nét. Lại có cái khắc ký hiệu và những đường dây ngòng ngoèo. Vòng tròn nào cũng chứa số thứ tự bằng những chữ Giáp nhất, Giáp nhị hoặc Tí nhất, Tí nhị.... tổng số những vòng tròn có tới gần nghìn chiếc.

Mai Kiếm nói:

- Trong một giờ chúng ta xem thế nào cho hết được?

Trúc Kiếm nói:

- Chúng ta hãy xem vòng Giáp nhất trước có phải thế không?

Hư Trúc gật đầu khen phải.

Năm người liền giơ đuốc lên soi vào chiếc vòng tròn chứa số Giáp nhất.

Hư Trúc vừa nhìn đã nhận ra bức vẽ trong vòng này là thủ thức đệ nhất chiêu về Thiên Sơn chiết mai thủ liền nói:

- Ðây là Thiên Sơn chiết mai thủ.

Mọi người chuyển sang đồ hình Giáp nhị thì quả nhiên là chiêu thứ hai trong Thiên Sơn chiết mai thủ.

Mọi người lần lượt xem xuống dưới. Hết các đồ hình về Thiên Sơn chiết mai thủ thì đến đồ hình Thiên Sơn lục dương chưởng. Bao nhiêu ca quyết bí hiểm đều chứa rõ trong các vòng tròn.

Xem hết Thiên Sơn lục dương chưởng thì đến những thức võ công mà Ðồng Mỗ cùng Lý Thu Thủy sau khi ra khỏi hầm nước đá đã tỷ đấu với nhau. Nhưng Hư Trúc xem văn tự khắc trong đồ hình so với lời truyền thụ của Ðồng Mỗ thì kỹ hơn nhiều, y chỉ cần nghĩ một chút là hiểu rõ ngay.

Hôm ấy Ðồng Mỗ cùng Lý Thu Thủy đấu tài, những mong chóng thắng kẻ địch, chớ không phải bản ý muốn truyền võ công một cách thấu đáo cho Hư Trúc. Vì thế mà mỗi chiêu Lý Thu Thủy phô diễn, y không biết cách trả đòn ngay. Hư Trúc phải nghe Ðồng Mỗ chỉ bảo cách ra chiêu, còn những chỗ biến hoá vi diệu bà ta không đủ thì giờ truyền dạy.

Lúc này Hư Trúc theo chỉ thị trong đồ hình, vận động chân khí, mới học được vài chiêu người y nhẹ nhàng như muốn bay bổng lên không, song tựa hồ còn có chỗ nào sai trật một chút nên chân không rời khỏi mặt đất được.

Hư Trúc đang để tâm trí vào những lời chỉ dẫn trong đồ hình, tuyệt không để ý gì đến ngoại vật thì bất thình lình hai tiếng la hoảng vang lên.

Hư Trúc cả kinh quay đầu nhìn lại thì thấy hai cô Lan Kiếm, Trúc Kiếm lảo đảo người đi rồi ngã lăn xuống đất. Còn hai cô Lan, Cúc cũng tay vịn vào vách đá sắc mặt lợt lạt lảo đảo muốn té.

Hư Trúc vội chạy lại đỡ hai cô Mai, Trúc hỏi:

- Hai vị tỷ tỷ làm sao vậy?
Mai Kiếm run lẩy bẩy đáp:

- Chủ... chủ nhân! Công lực bọn nô tỳ kém cỏi không thể ở trong này xem được... bọn nô tỳ xin ra ngoài chờ đợi!

Rồi bốn cô dắt nhau vịn vào vách đá bước lần ra khỏi thạch thất.

Hư Trúc ngẩn người một lúc rồi cũng chạy ra xem thì thấy bốn cô đang ngồi xếp bằng trong đường hầm. Người cô nào cũng run bần bật, nét mặt lộ vẻ cực kỳ đau khổ.

Hư Trúc vừa thấy tình hình này đã biết là các cô bị trọng thương rồi, liền vận động Thiên Sơn lục dương chưởng vỗ vào lưng mỗi người mấy cái. Một luồng khí thuần dương hùng hậu thấm vào trong cơ thể khiến sắc mặt bốn cô trở lại bình thường, rồi chẳng bao lâu trán toát mồ hôi, mở được mắt ra nói:

- Ða tạ chủ nhân đã hao phí công lực để trị thương cho bọn nô tỳ.

Các cô trở mình sụp xuống để tạ ơn.

Hư Trúc giơ tay ra đỡ dậy hỏi:

- Vụ này là thế nào đây? Sao các cô tự nhiên lại bị thương ngất đi?

Mai Kiếm thở dài đáp:

- Thưa chủ nhân! Sở dĩ trước đây Ðồng Mỗ biểu phải bốn mươi năm sau, bọn nô tỳ mới được vào thạch thất mỗi năm một lần để xem đồ hình là người đã thâm ý. Nguyên những đồ hình này tuy khắc toàn những môn võ công vi diệu, mà nô tỳ không biết tự lượng, cứ chiếu theo những chỉ thị trong đồ Giáp nhất luyện tập. Nhưng nội lực chưa đủ nên lập tức cảm thấy chân khí chạy nhộn nhạo trong các kinh mạch. Nếu không được chủ nhân giải cứu thì bốn chị em nô tỳ không còn được thấy mặt trời nữa.

Lan Kiếm cũng nói:

- Chính Ðồng Mỗ cũng mong đến ngày chị em nô tỳ đủ bốn mươi tuổi để tập luyện những môn võ công thượng thặng. Nhưng... bọn nô tỳ tư chất hèn kém, dù có luyện tập hơn hai mươi năm nữa, vị tất đã dám tiến vào trong nhà này.

Hư Trúc nói:

- À ra thế đấy! Vậy đó là lỗi tại ta. Chính ra ta không nên để các vị tỷ tỷ vào đây mới phải.

Tứ kiếm lại lạy phục xuống tạ tội, đồng thanh nói:

- Sao chủ nhân lại dạy thế? Ðó là chủ nhân đặc biệt gia ơn. Chỉ đáng trách bọn nô tỳ đã càn rỡ không biết lượng sức mình thôi.

Cúc Kiếm nói:

- Công lực chủ nhân cực kỳ hùng hậu, nếu luyện được những môn võ công cao thâm này thì rất là được việc. Trước kia Ðồng Mỗ thường khi ở trong nhà thạch thất hàng tháng không ra ngoài là để nghiên cứu tập luyện những đồ phổ trên vách đá.

Mai Kiếm lại nói:

- Bọn nô tài ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo đến đánh cung Linh Thứu, bức bách các chị em bộ Quân Thiên phải trỏ nơi cất dấu bảo vật của Ðồng Mỗ, nhưng hết thảy chị em bộ này một dạ trung trinh thà chết chứ không chịu khuất phục. Bốn chị em nô tỳ đã chuẩn bị nếu bọn chúng tiến vào đường hầm thì phát động cơ quan. Nếu mà chúng tìm vào nhà thạch thất được biết hết những đồ hình trên vách đá nhà mật tại cung Linh Thứu này thì thật là một mối vạ lớn cho võ lâm. Giả tỷ bọn nô tỳ sớm biết thế này thì để bọn chúng vào đây hoá ra lại hay hơn.

Hư Trúc gật đầu nói:

- Ðúng thế thật. Nếu là người không đủ công lực mà nhìn thấy những đồ hình này thì còn nguy hại hơn bị trúng độc hay trúng ám khí. Họ chưa tiến vào đây là còn may đó.

Trúc Kiếm tủm tỉm cười nói:

- Chủ nhân thật là người thiện tâm. Theo ý nô tỳ thì nên để bọn chúng vào luyện công mà chết cho mình coi thật sướng mắt.

Hư Trúc nói:

- Ta vừa luyện xong mấy chiêu thấy tinh thần phấn chấn, nội lực đầy rẫy. Bây giờ nên trở ra giải trừ Sinh tử phù cho bọn họ. Các cô cũng ra ngoài một lúc để nghỉ ngơi.

Năm người lại theo đường hầm đi ra. Hư Trúc vào ngay toà đại sảnh giải trừ Sinh tử phù cho ba người nữa.

Những ngày hôm sau, Hư Trúc tiếp tục dùng Thiên Sơn lục dương chưởng giải trừ Sinh tử phù cho quần hào. Cứ mỗi khi thấy tinh thần mỏi mệt, sức lực thiếu thốn thì lại vào trong nhà thạch thất luyện tập võ công thượng thặng. Bốn cô hầu phục thị Hư Trúc nhưng chỉ đứng ngoài chờ đợi chứ không dám vào như trước nữa.

Hàng ngày, Hư Trúc có lúc nào rảnh rỗi lại chỉ điểm võ công cho quần nữ chín bộ với lòng thành thực, không dấu giếm một chút nào.

Công việc giải trừ Sinh tử phù cho quần hào hết hơn hai mươi ngày mới xong. Mặt khác, Hư Trúc hàng ngày nghiên cứu đồ phổ tập luyện tinh thông những đồ giải trong thạch thất nên võ công y tiến bộ rất mau, khác xa với ngày đầu tiên lên núi Phiêu Diễu nhiều.

Quần hào trước kia phải thuần phục Ðồng Mỗ vì mụ gieo Sinh tử phù vào người để kiềm chế.

Hiện thời cung Linh Thứu đổi chủ. Hư Trúc lấy lòng thành thực đối đãi, lấy lễ nghi cư xử nên tuy họ là những nhân vật ngang bướng song cũng cảm ơn mến đức, thực lòng tín phục.

Quần hào được giải trừ Sinh tử phù rồi bái tạ giải tán đâu về đấy.

Trên núi Phiêu Diễu chỉ còn một mình Hư Trúc là đàn ông.

Y nghĩ thầm:

- Thuở nhỏ mình là một đứa bé lênh đênh, cơ khổ, hoàn toàn nhờ cậy các vị sư phụ trong chùa Thiếu Lâm nuôi dạy nên người. Nếu mình không tìm về chùa Thiếu Lâm thì thật là kẻ vong ân phụ nghĩa. Ta đành trở về để lãnh tội trước phương trượng và sư phụ mới phải lẽ.

Hư Trúc nghĩ vậy rồi nói rõ cho bốn cô hầu cùng quần nữ chín bộ hiểu rõ căn nguyên ý muốn xuống núi ngay hôm đó.

Mọi việc trong cung Linh Thứu do thủ lĩnh chín bộ là Dư bà cùng bọn Thạch tẩu xử lý. Bốn cô hầu muốn đi theo phục dịch, nhưng Hư Trúc ngăn lại nói:

- Nay ta quay về chùa Thiếu Lâm làm lại hoà thượng. Trong thiên hạ có nhà sư nào đem tỳ nữ đi theo bao giờ?

Hư Trúc nói hai, ba lần, bốn cô hầu vẫn chẳng tin lời. Y liền lấy dao cạo, cạo trọc đầu nhẵn bóng. Bốn cô không biết làm sao cản Hư Trúc được nên đành cùng quần nữ chín bộ tiễn chân Hư Trúc xuống núi. Quần nữ chỉ đành gạt lệ chia tay.

Hư Trúc thay đổi quần áo thày tu chùa Thiếu Lâm mặc vào mình rồi thi triển cước bộ chạy về phía núi Tung Sơn.

Dù ròng rã bốn ngày, dọc đường y không dám dây đến chuyện người ngoài. Vả lại y mặc áo hoà thượng thì dù có gặp đạo tặc cũng chẳng ai đánh y làm chi. Từ cung Linh Thứu về đến chùa Thiếu Lâm, Hư Trúc không có sự gì xảy ra ở dọc đường.

Hư Trúc vừa nhìn thấy mái ngói vàng khè chùa Thiếu Lâm, trong lòng đã nhộn nhạo lên bao mối cảm khái. Y nghĩ tới mấy tháng trời vắng mặt tại ngôi chùa yêu quý này, mình đã phạm vào không biết bao nhiêu thanh quy giới luật thì trong lòng vô cùng hổ thẹn. Y cảm thấy tâm thần xao xuyến chẳng hiểu phương trượng và sư phụ có tha thứ và cho mình trở lại Phật môn không.

Vào cửa sơn mãn rồi, Hư Trúc tìm đến bái kiến sư phụ Tuệ Luân.

Tuệ Luân thấy y trở về đột ngột thì không khỏi sửng sốt, cất tiếng hỏi:

- Ta sai mi cầm thơ đi sao đến hôm nay mới trở về?

Hư Trúc nằm phục xuống đất, trong lòng tê tái, bất giác khóc rống lên, miệng nghẹn ngào:

- Sư phụ! Ðệ tử... tội thực đáng chết. Xuống núi rồi không biết trì thủ... để đến nỗi không giữ được giáo huấn của sư phụ.

Tuệ Luân biến sắc hỏi:

- Sao, sao? ... Ngươi đã nhiễm phải tanh hôi rồi ư?

Hư Trúc thú thật:

- Dạ, chẳng những đệ tử đã ăn mặn mà thôi!

Tuệ Luân không bình tĩnh được lớn tiếng hỏi:

- Quân nghiệt súc đáng chết này!... mi uống rượu rồi ư?

Hư Trúc đáp:

- Chẳng những đệ tử uống rượu, mà còn say khướt nữa.

Tuệ Luân buông một tiếng thở dài ảo não, hai dòng lệ tuôn rơi nói:

- Thuở nhỏ ta thấy mi tính nết thực thà trung hậu. Thế mà mới đi vào thế giới phồn hoa không lâu tại sao đã bị chìm đắm ngay. Hỡi ôi!...

Hư Trúc thấy sư phụ thương tâm thì lại càng sợ hãi nói:

- Ðệ tử còn phạm vào nhiều giới luật tệ hơn nữa...

Y chưa kịp nói phạm sát giới, sắc giới thì đột nhiên hai hồi chuông khánh nổi lên làm gián đoạn. Hai hồi chuông khánh này là để triệu tập chư tăng về hàng chữ Tuệ.

Tuệ Luân lập tức đứng lên lau nước mắt nói:

- Mi phạm giới nhiều quá, ta không còn cách nào che chở cho mi nữa. Mi... mi tự đem thân đến giới luật viên mà chịu tội đi! Ta e rằng chính ta đây cũng phải vì ngươi mà chịu trách nhiệm.

Chương 103: Chùa thiếu lâm triệu tập quần tăng

Tuệ Luân nói xong cầm lấy lưỡi giới đao treo ở trên tường lật đật đi ngay.

Hư Trúc đến trước giới luật viện khom lưng bẩm:

- Ðệ tử là Hư Trúc đã vi phạm giới luật thanh tu, khẩn cầu chưởng luật Trưởng lão ban hình phạt.

Hư Trúc hô luôn hai lần, trong viện có một nhà sư đứng tuổi bước ra lạnh lùng nói:

- Thủ toà Trưởng lão cùng chưởng luật sư thúc chưa rảnh để nghe ngươi nói. Ngươi hãy quỳ xuống đó mà chờ.

Hư Trúc khép nép vâng lời quỳ ngay xuống. Y quỳ từ giữa trưa cho đến lúc trời tối mà chẳng có một ai thèm hỏi tới. May mà nội công y thâm hậu nên quỳ nửa ngày trời chẳng ăn uống gì vẫn chưa mỏi mệt chút nào.

Bỗng bên tai nghe tiếng chuông chiêu mộ thu không. Giờ cúng Phật buổi tối đã bắt đầu. Hư Trúc miệng nhẩm kinh sám hối.

Bỗng một nhà sư trẻ tuổi đi tới nói:

- Hư Trúc! Mấy bữa nay trong chùa có nhiều việc trọng đại, các vị trưởng lão chưa rỗi để xử việc ngươi. Ta coi bộ ngươi quỳ mọp niệm kinh có vẻ chân thành sám hối. Thôi bây giờ ngươi hãy tạm thời đến vườn rau bón phân. Khi nào các vị trưởng lão rảnh việc sẽ kêu ngươi đến hỏi tình hình, tuỳ theo tội nặng nhẹ để xử phạt.

Hư Trúc kính cẩn đáp:

- Dạ. Ða tạ tấm lòng từ bi của sư huynh.

Rồi chắp tay thi lễ xong mới đứng lên.

Y nghĩ bụng:

- Chưa thấy có lệnh đuổi mình ra khỏi chùa lập tức thì hãy còn hy vọng.

Hư Trúc ra đến vườn rau. Y tìm đến nhà sư coi vườn là Duyên Căn nói:

- Thưa sư huynh! Tiểu tăng là Hư Trúc phạm giới luật bản môn, có lệnh truyền phạt ra đây gánh phân bón rau.

Nguyên Duyên Căn tư chất tầm thường đã chẳng lãnh hội được nghĩa thiền, mà luyện võ công cũng không tiến bộ. Y chỉ thích làm những việc vặt. Khu vườn rau này rộng tới hai trăm mẫu, nhân công có đến bốn chục người. Y cai quản bọn này với tác phong hống hách.

Mỗi khi gặp nhà sư nào do giới luật viện xử phạt vào vườn rau làm công, Duyên Căn lại càng làm oai làm phước.

Y vừa nghe Hư Trúc nói thì trong bụng cả mừng hỏi ngay:

- Ngươi phạm giới luật gì?

Hư Trúc đáp:

- Tiểu tăng phạm rất nhiều giới cấm không thể nói một lời hết được.

Duyên Căn tức giận nói:

- Tại sao một lời lại không nói hết được? Ta khuyên ngươi nên thú thật đi, cho ta biết rõ đầu đuôi. Ðừng nói ngươi chỉ là một chức tiểu hoà thượng cỏn con mà ngay thủ toà viện Ðạt Ma La Hán Ðường, hễ bị phạt đến vườn rau làm công ta cũng hỏi cho biết rõ. Chẳng ai lại dám bướng bỉnh. Ta trông bộ mặt ngươi đỏ lừ, trắng phớ, nhất định là hay ăn vụng thịt rồi. Có phải thế không?

Hư Trúc đáp:

- Chính phải!

Duyên Căn nói:

- Hừ! Ta đoán không sai mà! Không chừng ngươi còn uống rượu nữa. Ðừng có mà cãi bướng! Lừa dối ta không phải chuyện dễ đâu!

Hư Trúc nói:

- Chính phải! Một hôm tiểu tăng uống rượu đến say mèm không còn biết trời biết đất gì nữa.

Duyên Căn cười nói:

- Ha ha! Ngươi thật là lớn mật! Cơm no rượu say rồi tất còn nảy lòng chim dạ thú. Thế là tám chữ sắc tức thị không, không tức thị sắc, ngươi bỏ sau gáy rồi. Chắc đầu óc ngươi còn nghĩ tới nữ sắc phải không, mà không phải một lần, có thể đến bảy tám lần mới đúng.

Hắn nói bằng giọng rất sắc bén.

Hư Trúc thở dài đáp:

- Tiểu tăng không dám nói dối sư huynh. Chẳng những nghĩ tới mà thôi, lại còn phạm vào sắc giới nữa.

Duyên Căn rất lấy làm đắc ý, tự cho mình có con mắt tinh đời, lớn tiếng mắng để ra oai:

- Tên tiểu hoà thượng kia! Mi thật là lớn mật! Dám làm bại hoại đến danh dự của chùa Thiếu Lâm ta. Trừ sắc giới, ngươi còn phạm tội gì nữa không? Hay còn đi ăn cắp tiền bạc của người để tiêu xài, hoặc đánh nhau cãi nhau với ai nữa?

Hư Trúc cúi đầu đáp:

- Tiểu tăng đã giết người, mà không phải chỉ giết có một người.

Duyên Căn cả kinh sắc mặt tái mét, lùi lại ba bước.

Trước nay y chỉ quen khinh khi người hiền lành mà rất sợ hãi kẻ hung ác, nên vừa nghe Hư Trúc nói đến giết người mà lại giết nhiều người nữa là khác, thì sợ run lên bần bật, chỉ lo Hư Trúc nổi cơn điên mà động thủ thì chắc mình không địch nổi. Y liền cố trấn tĩnh, đổi giọng niềm nở nói:

- Võ công là điều thứ nhất được thiên hạ ưa chuộng. Ðã luyện võ thì khó lòng giữ khỏi lỡ tay giết người. Chắc bản lãnh của sư đệ đã rất mực cao cường.

Hư Trúc đáp:

- Nói ra càng thêm hổ thẹn. Nhưng võ công của tiểu đệ học được của bản môn đã hoàn toàn tiêu tan hết. Hiện giờ trong mình tiểu đệ không còn lại một chút gì gọi là công phu của phái Thiếu Lâm nữa.

Duyên Căn cả mừng nói:

- Thế thì càng hay! Thế thì càng hay!

Y nghe Hư Trúc nói mất hết công phu bản môn thì cho là vì Hư Trúc phạm tội nhiều nên các vị trưởng lão tước bỏ võ công, hắn đã toan trở mặt.

Nhưng sau Duyên Căn lại nghĩ thầm:

- Tuy võ công gã bị tước bỏ, nhưng nếu gã còn sót lại chút ít, thì mình cũng khó lòng đối phó.

Duyên Căn nghĩ vậy liền nói:

- Sư đệ! Ngươi đã đến vườn rau làm công để sám hối, thế là hay lắm. Nhưng chúng ta đây có lệ: Hễ ai phạm giới luật tức là bàn tay bị dính máu tanh hôi rồi. Vậy lúc làm công chân tay phải đeo xiềng đeo khoá. Ðó là quy củ của tổ tôn truyền lại. Chẳng hiểu sư đệ có chịu không? Nếu không chịu thì ta sẽ lên viện giới luật bẩm lại để tuỳ Thủ toà trưởng lão định đoạt.

Hư Trúc nói:

- Luật lệ đã như vậy, dĩ nhiên tiểu tăng phải tuân theo.

Duyên Căn mừng thầm trong bụng, sai lấy xiềng khoá ra đeo vào chân tay Hư Trúc.

Nên biết rằng: Từ mấy trăm năm nay, chùa Thiếu Lâm đã truyền dạy võ công thì khó lòng tránh khỏi có những nhà sư làm điều càn rỡ. Phần nhiều nhà sư phạm pháp lại võ công cực cao, khó lòng chế phục, nên Sám hối đường trong viện giới luật cùng trong các khu vườn rau đều chuẩn bị xiềng xích đúc bằng sắt thép.

Duyên Căn thấy Hư Trúc đeo xiềng xích rồi hắn rất yên lòng, lại trở giọng lớn tiếng mắng nhiếc:

- Tặc hoà thượng kia: Mi tuổi còn nhỏ mà đã lớn mật làm càn, vi phạm hết các giới luật. Bữa nay không dùng trọng phạt thì sao hả được lòng căm tức của ta?

Hắn nói rồi bẻ một cành cây vụt tới tấp xuống đầu Hư Trúc.

Hư Trúc thu chân khí lại không dám vận nội lực chống đối, để mặc cho Duyên Căn muốn đánh thế nào thì đánh.

Trong khoảnh khắc, đầu mặt Hư Trúc đầm đìa máu tươi, nhưng y chỉ niệm Phật, không lộ vẻ gì oán hận.

Duyên Căn thấy Hư Trúc không né tránh, cũng không chống đối thì nghĩ thầm:

- Gã tiểu hoà thượng này quả nhiên mất hết võ công, ta tha hồ mà dày xéo hành hạ gã.

Hắn nghĩ tới Hư Trúc ăn thịt cá phè phỡn, uống rượu say tuý luý rồi giở thói dâm dật mà chính mình hắn đã ngoài bốn mươi tuổi chưa được nếm mùi vị khoái lạc, thì trong lòng ghen ghét lại sôi lên sùng sục. Hắn càng đánh mạnh tay hơn, gãy luôn ba cây rồi mới dừng tay.

Hắn lại hùng hổ nói:

- Mỗi ngày mi phải xúc ba trăm thùng phân bón rau. Nếu mi thiếu một thùng thì ta sẽ dùng đến côn sắt đánh cho mi gãy gối tối mặt.

Hư Trúc được Duyên Căn đánh mắng lại thấy yên lòng tự nhủ:

- Mình đã phạm bao nhiêu giới luật dĩ nhiên phải chịu trọng phạt. Hình phạt càng nặng bao nhiêu, tội nghiệt của mình càng nhẹ đi chừng ấy.

Y kính cẩn đáp ngay bằng một tiếng vâng rồi ra chái hiên lấy thùng gánh phân bón tưới rau cỏ. Nhưng ngoài việc gánh ba trăm thùng nước phân rồi còn phải bón, tưới mất khá nhiều thời giờ, đâu có thể làm xong trong chốc lát được.

Hư Trúc chẳng chút than phiền, lặng lẽ làm việc một cách rất thấu đáo. Suốt đêm y làm việc luôn chân luôn tay không nghỉ chút nào mà đến sáng vẫn chưa xong.

Nhờ được sinh lực đầy rẫy, Hư Trúc không thấy mỏi mệt. Y gánh đầy đủ ba trăm thùng nước phân tưới rau rồi mới vào nhà chứa củi nằm lăn ra ngủ vùi.

Hư Trúc vừa chợp mắt được một lúc thì Duyên Căn đã đến khua náo cho y tỉnh dậy. Hắn còn nặng lời quở trách:

- Tặc hoà thượng kia! Trời đã ban ngày ban mặt mà còn chui rúc vào đây mà ngủ vùi. Dậy mau đi đốn củi!

Hư Trúc chỉ dạ một tiếng chứ không giải thích chi hết, rồi vào rừng đốn củi.

Sáu bảy ngày liền, Hư Trúc ban ngày đi đốn củi, tối về lại gánh phân tưới rau trăm bề cực khổ, mà khắp mình mẩy bị đánh thương tích đầy người, trông thật thảm hại.

Sáng sớm ngày thứ tám, Hư Trúc đang bón rau thì Duyên Căn đến nơi ôn tồn nói:

- Sư huynh vất vả quá nhỉ?

Rồi hắn lấy chìa khoá mở xiềng xích cho Hư Trúc.

Hư Trúc nói:

- Tiểu đệ chưa mệt lắm, còn ba mươi gánh nữa mới đủ, để làm xong hãy đi ngủ cũng chưa muộn.

Duyên Căn nói:

- Sư huynh nghỉ đi thôi! Chỗ còn thiếu đó để tiểu tăng làm nốt cho. Mời sư huynh vào nhà ăn cơm. Mấy bữa nay tiểu tăng đắc tội với sư huynh. Mong rằng sư huynh dung thứ cho.

Hư Trúc thấy Duyên Căn thốt nhiên thay đổi thái độ thì trong lòng rất lấy làm kỳ. Y ngửng đầu nhìn lên thì thấy mặt mũi hắn tím bầm sưng húp, rõ ràng vừa bị một trận đòn thảm khốc.

Hư Trúc càng lấy làm kỳ hơn nữa khi Duyên Căn nhăn nhó nói:

- Tiểu tăng có mắt mà không biết núi Thái Sơn, nên đắc tội với sư huynh. Nếu sư huynh không lượng thứ cho thì tiểu tăng... phải đại hoạ đến nơi rồi.

Hư Trúc chẳng hiểu ý tứ Duyên Căn ra sao, vẫn nói bằng một giọng rất cung kính lễ phép:

- Tiểu tăng mình làm mình chịu. Sư huynh trách phạt như thế là đáng lắm, thực tình tiểu tăng không dám oán hận sư huynh chút nào.

Duyên Căn biến sắc giơ tay lên, tự tát bốp bốp vào mặt mình bốn cái thật mạnh rồi nói:

- Sư huynh! Tiểu tăng khẩn cầu sư huynh mở lượng từ bi! Sư huynh là đại nhân, đừng để tâm chắp nhặt đến lỗi lầm của kẻ tiểu nhân. Tiểu tăng... Tiểu tăng...

Hắn nói chưa dứt lời lại giơ tay lên tự tát vào mặt luôn mấy cái nữa.

Hư Trúc kinh ngạc hỏi:

- Tại sao sư huynh lại có cử chỉ này?Duyên Căn quỳ xuống đất, nắm lấy vạt áo Hư Trúc nói:

- Nếu sư huynh không lượng thứ cho thì đôi tròng mắt... của tiểu tăng không thể giữ được nữa!

Hư Trúc ngơ ngác hỏi:

- Tiểu tăng thật tình không hiểu một tí gì cả.

Duyên Căn nói:

- Nếu được sư huynh nhiêu dung cho, tiểu tăng khỏi bị móc mắt, thì kiếp sau xin làm thân trâu ngựa để báo đền ân đức cao cả của sư huynh.

Hư Trúc hỏi:

- Sư huynh nói gì kỳ vậy? Tiểu tăng có bảo móc mắt sư huynh bao giờ đâu?

Duyên Căn mặt tái mét nói:

- Nếu sư huynh kiên quyết chẳng chịu dung tha, thì tiểu tăng thành người có mắt không tròng. Tiểu tăng đành tự xử lý vậy.

Hắn nói xong đưa hai ngón tay lên để toan móc tròng ra.

Hư Trúc vội nắm tay Duyên Căn lại hỏi:

- Ai bức bách sư huynh phải móc mắt?

Duyên Căn trán toát mồ hôi ấp úng đáp:

- Tiểu tăng... Tiểu tăng không dám nói. Nếu tiểu tăng nói ra thì... sẽ bị giết chết.

Hư Trúc tự hỏi:

- Tại chùa Thiếu Lâm này ai là người có uy quyền lớn đến thế?

Nghĩ vậy Hư Trúc liền hỏi:

- Có phải phương trượng không?

Duyên Căn nói:

- Không phải.

Hư Trúc lại hỏi:

- Thế thì chắc là một trong ba vị thủ toà Ðạt Ma Viện, La Hán Ðường, Giới Luật Viện phải không?

Duyên Căn đáp:

- Không phải hết! Sư huynh ơi! Tiểu tăng không dám nói đâu, chỉ khẩn cầu sư huynh tha thứ cho mà thôi. Những vị ấy biểu rằng: Nếu muốn giữ được đôi tròng mắt thì chỉ còn có chính miệng sư huynh tuyên bố dung tha cho tiểu tăng là được.

Hắn nói xong liếc mắt nhìn trộm sang mé bên, vẻ mặt cực kỳ sợ hãi.

Hư Trúc nhìn theo mắt Duyên Căn về phía hành lang thì thấy có bốn nhà sư ngồi đó đều mặc áo tăng bào sắc tro, đầu đội tăng bào màu xám, quay mặt vào trong nên không trông rõ tướng diện.

Hư Trúc tự hỏi:

- Chẳng lẽ lại là bốn vị sư huynh kia? Chắc họ được lệnh trên phái đến trừng phạt Duyên Căn vì tội chuyên quyền làm oai, làm phách đã đánh đập những nhà sư phạm giới?

Hư Trúc nghĩ vậy liền nói:

- Tiểu tăng không oán trách sư huynh tức là lượng thứ rồi còn gì?

Duyên Căn mừng rỡ khôn xiết liền quỳ ngay xuống vườn rau dập đầu lạy tạ. Trán hắn dính cả nước phân vào mà hắn cũng không quan tâm.

Hư Trúc lại nói:

- Xin sư huynh đứng dậy mau đi! Chớ nên dùng đại lễ.

Duyên Căn lóp ngóp đứng lên, kính cẩn mời Hư Trúc vào phòng ăn, rồi tự tay mình bưng cơm rót nước hầu hạ.

Hư Trúc không thể từ chối được, vì xem chừng nếu mình không để hắn phục thị thì dường như hắn bị đại hoạ, nên đành để mặc hắn muốn làm sao thì làm.

Duyên Căn khẽ hỏi nhỏ vào tai:

- Sư huynh có xơi rượu không? Hay có muốn dùng thịt chó thì tiểu tăng cũng tìm cho được!

Hư Trúc cả kinh nói:

- A di đà Phật! Tội nghiệt, tội nghiệt! Sao lại làm thế được?

Duyên Căn lé mắt nói:

- Bao nhiêu tội nghiệt để tiểu tăng lãnh chịu cả cho. Tiểu tăng đi kiếm về để sư huynh dùng nhé?

Hư Trúc khoát tay lia lịa nói:

- Ðừng, đừng! Những việc phạm giới này sư huynh chớ nên đề cập đến nữa!

Duyên Căn nói:

- Nếu sư huynh thấy ở trong chùa bị kỷ luật bó buộc, không được tự do vui sướng thì cứ việc tự tiện xuống núi. Nếu trong Giới Luật Viện có ai hỏi tới, tiểu tăng sẽ nói là phái sư huynh đi tìm vật dụng. Tiểu tăng xin hết sức che lấp, quyết không để xảy ra chuyện gì đáng lo ngại.

Hư Trúc nghe Duyên Căn nói mỗi lúc một nói nhảm thêm thì lắc đầu bảo:

- Tiểu tăng thành tâm sám hối những tội lỗi đã phạm cho nghiêm giới luật. Xin sư huynh đừng nhắc đến chuyện vi phạm thanh quy nữa.

Duyên Căn tuy ngoài miệng vâng dạ nhưng trong bụng vẫn mắng thầm:

- Mi là một gã thày tu phá giới, đam mê tửu sắc mà còn khéo giả vờ.

Tuy hắn nghĩ vậy, nhưng thấy Hư Trúc gạt đi không dám nói nữa.

Hắn hầu hạ Hư Trúc dùng cơm chay rồi lại mời y về thiền phòng của mình để nghỉ ngơi.

Từ hôm ấy Duyên Căn hết sức chiều chuộng Hư Trúc, không bắt y gánh phân bón rau nữa.Ba ngày trôi qua. Hôm ấy vào khoảng giờ ngọ, Duyên Căn pha ấm trà Long tỉnh hai tay đưa cho Hư Trúc nói:

- Mời sư huynh dùng trà.

Hư Trúc nói:

- Tiểu tăng là kẻ can phạm chờ ngày định tội, mà sư huynh quá hậu đãi như vậy, khiến tiểu tăng thực áy náy.

Rồi đứng lên hai tay đỡ lấy chén trà.

Bất thình lình, chuông khánh đổ hồi vang lên không ngớt. Ðó là tiếng hiệu triệu họp toàn thể chư tăng trong chùa.

Ngoại trừ hàng năm gặp ngày Phật đản, hoặc ngày sinh nhật Ðạt Ma tổ sư, còn trong chùa trước nay rất ít khi triệu tập toàn thể chư tăng.

Duyên Căn nói:

- Phương trượng đã sai nổi hiệu chuông tụ tập chúng tăng. Vậy chúng ta phải đến điện Ðại Hùng xem sao?

Hư Trúc nói:

- Phải đó.

Thế rồi hai người cùng mười mấy nhà sư trong khu vườn rau lật đật chạy đến Ðại hùng Bảo điện.

Trong điện đã thấy hơn hai trăm nhà sư tụ tập, ngoài ra còn vô số tăng chúng đang lục tục kéo đến.

Chỉ trong khoảnh khắc hơn năm trăm vị sư đã đến đông đủ và chia thứ bậc vào ngồi. Tuy số người rất đông đảo mà im lặng như tờ.

Hư Trúc đứng vào hàng các nhà sư có chữ Hư. Y ngửng đầu nhìn lên thì thấy những bậc cao tăng tiền bối vẻ mặt cực kỳ nghiêm trọng, đã chột dạ nghĩ thầm:

- Phải chăng vì mình phạm tội quá nặng nên Phương trượng triệu tập toàn thể tăng chúng để trừng phạt một cách đặc biệt đặng răn kẻ khác cho nghiêm luật lệnh? Không chừng trước tình hình nghiêm trọng này, mình sẽ bị đuổi ra khỏi môn trường thì biết làm thế nào?

Hư Trúc còn đang khiếp sợ, bỗng ba hồi chuông bất chợt nổi lên.

Chư tăng đồng thanh tuyên Phật hiệu:

- A di đà Phật! A di đà Phật!

Phương trượng chùa Thiếu Lâm là Huyền Từ đại sư cùng ba vị cao tăng đứng hàng chữ Huyền và bảy nhà sư khác nữa từ hậu điện thong thả đi ra.

Chư tăng trong điện nhất tề khom lưng thi lễ.

Chúng tăng ngửng đầu nhìn lên thì thấy bảy nhà sư này đều đã lớn tuổi, sắc phục không giống bản tự. Ðúng là bảy nhà sư ở chùa khác mới đến.

Nhà sư ngồi đầu khách vị tuổi độ bảy mươi, thân hình bé nhỏ và thấp lùn, hai mắt loang loáng. Lúc lão đưa mắt nhìn xung quanh dáng điệu rất oai nghiêm.

Huyền Từ quay mặt về phía tăng chúng bản tự dõng dạc giới thiệu:

- Vị này là Thần Quang Thượng Nhân, phương trượng chùa Thanh Lương trên núi Ngũ Ðài. Quần tăng bản tự làm lễ ra mắt đi.

Nên biết rằng Thần Quang Thượng Nhân là một tay oai danh lừng lẫy trong võ lâm. Lão cùng Huyền Từ đại sư là hai vị La Hán Háng Long, Phục Hổ. Về võ công người ta đồn Thần Quang Thượng Nhân có phần trội hơn Huyền Từ đại sư.

Chúng tăng đều lẩm bẩm:

- Nghe đồn Thần Quang Thượng Nhân tự coi mình là một nhân vật cao cả. Lão là một nhà sư lại dính vào những việc võ lâm trần tục, thế là đi vào đường lối Hạ thừa. Trước nay lão không muốn kết giao với chùa Thiếu Lâm, hôm nay lão thân hành tới đây tất có việc gì quan trọng lắm.

Mọi người đều khom lưng quay về Thần Quang Thượng Nhân thi lễ.

Huyền Từ lại giơ tay về phía sáu nhà sư trong hàng tân khách nói:

- Sáu vị đây là cao tăng chùa Thanh Lương, hoặc là bạn thâm giao với Thần Quang Thượng Nhân cũng đều là những nhân vật có đạo đức lớn nơi cửa Phật. Bữa nay bảy vị đồng thời giáng lâm thật là vẻ vang cho bản tự. Vì thế mà có cuộc triệu tập đông đủ chư tăng bản tự tới đây làm lễ ra mắt. Bần tăng mong được Thần Quang Thượng Nhân khai đàn thuyết pháp để biểu dương ý nghĩa nhà Phật và để toàn thể tăng chúng bản tự cùng được thụ giáo cho thêm phần đạo đức.

Thần Quang Thượng Nhân nói:

- Bần tăng chả dám nào!

Thân hình lão bé nhỏ, thấp lùn, không ngờ thanh âm lại oang oang vang dội, chẳng khác tiếng sư tử gầm thét, khiến cho chúng tăng không khỏi kinh hãi. Nhưng Thượng Nhân tuy lớn tiếng mà không kéo gân cổ cũng không vận nội lực để cố ý uy hiếp nhân tâm mà chỉ dùng tiếng nói tự nhiên. Thật là một thứ thanh âm trời cho có một.

Thượng Nhân lại nói tiếp:

- Thiếu Lâm bảo tự là chốn trang nghiêm, tiểu tăng đem lòng sùng kính đã lâu. Sáu mươi năm về trước, tiểu tăng đã đến đây cầu giới, song bị cự tuyệt ngay từ ngoài cửa Sơn môn. Sáu mươi năm sau trở lại, cảnh cũ vẫn còn như xưa mà nhân sự không giống trước nữa. Thật là đáng buồn!

Chúng tăng nghe lão nói xong trong tâm đều chấn động vì giọng lưỡi lão đầy vẻ hằn học tức giận.

Ai nấy đều tự hỏi:

- Chẳng lẽ lão đến đây để tầm cừu?

Huyền Từ vốn là người rất bình tĩnh, đáp bằng một giọng ôn hoà:

- Té ra sư huynh ngày trước đã từng đến chùa Thiếu Lâm để xuất gia đầu Phật. Tất cả chùa chiền khắp thiên hạ đều là một nhà. Nay sư huynh từ chùa Thanh Lương dời gót tới đây, đã là Phật môn đệ tử ai không sùng kính? Ngày trước chùa Thiếu Lâm chưa dám tiếp nạp thành đắc tội với sư huynh. Vậy tiểu tăng xin nghiêng mình tạ lỗi, song cũng vì thế mà sư huynh đi lập một cơ sở khác đặng đem hoằng pháp phổ độ chúng sinh, làm nên công nghiệp rất lớn cho nhà Phật. Câu chuyện ngày trước chẳng qua chỉ là một trường nhân duyên trong cõi u minh xếp đặt.

Huyền Từ nói xong hay tay chắp để trước ngực cung kính thi lễ.

Thần Quang Thượng Nhân đáp lễ rồi nói:

- Sở dĩ ngày trước tiểu tăng đến bảo tự để cầu giới cố nhiên là ngưỡng mộ bảo tự đã đứng đầu võ lâm trong mấy trăm năm. Thiên hạ còn đồn chùa Thiếu Lâm rất nghiêm minh mà xử sự rất công bằng ngay thẳng...

Lão nói tới đây đột nhiên đảo mắt phóng tia sáng ra bốn mặt rồi ngửng đầu nhìn lên pho tượng Phật tổ kim thân trên Ðại hùng bảo điện, lạnh lùng tiếp:

- Ngờ đâu việc đời thường chỉ có hư danh ít khi thấy thực sự. Nếu tiểu tăng biết thế này thì năm ấy cũng chẳng đến chùa Thiếu Lâm làm chi cho mất công.

Thần Quang Thượng Nhân vừa dứt lời thì hết thảy hơn năm trăm nhà sư chùa Thiếu Lâm đều biến sắc, nhưng tại đây giới luật rất nghiêm, tuy ai nấy đều căm phẫn mà tuyệt chẳng ai dám lên tiếng.

Huyền Từ phương trượng bình tĩnh nói:

- A di đà Phật! Sao sư huynh lại nói vậy? Nếu tệ tự từ trên xuống dưới có ai làm việc sai quấy thì xin sư huynh cứ nói rõ. Kẻ có tội phải chịu trừng phạt mà phạm lỗi lầm thì phải sửa đổi. Lời sư huynh nói ra để mạt sát danh dự chùa Thiếu Lâm như vậy há chẳng thấy quá ru?

Thần Quang Thượng Nhân hỏi lại:

- Xin hỏi sư huynh: Cửa Phật phải chăng là chốn quan nha hay là ổ giặc cướp?

Huyền Từ lạnh lùng nói:

- Tiểu tăng chưa thể hiểu được lời nói của sư huynh có ngụ ý gì. Xin sư huynh chỉ thị cho.

Thần Quang đáp:

- Chốn quan nha bắt người giam cầm, còn ổ đạo tặc thì bắt người để lấy tiền chuộc, đó là những việc tầm thường. Chùa Thiếu Lâm đã chẳng phải chốn quan nha, lại không là ổ giặc cướp mà sao tự ý bắt giam người ngoài không thả cho về. Tiểu tăng xin hỏi lại sư huynh: Chùa Thiếu Lâm làm những việc cường hung như vây có xứng đáng với bốn chữ Phật môn thiện địa không?

Huyền Từ đưa mắt nhìn nhà sư thứ tư ngồi phía dưới Thần Quang nghĩ thầm:

- Nhà sư này rậm râu sâu mắt, môi thâm da thiết bì, ta dã ngờ hắn không phải là một nhà sư ở Trung Nguyên, té ra quả nhiên y là một vị hòa thượng nước Thiên Trúc. Ðương nhiên y vì muốn đòi Ba La Tinh mà đến đây. Nhưng không hiểu tại sao y kéo cả Thần Quang chùa Thanh Lương này cùng đến làm chi?

Huyền Từ nghĩ vậy rồi hỏi:

- Thưa sư huynh! Tiểu tăng có điều chưa hiểu kính xin sư huynh chỉ giáo: Giả tỷ có người ngoài đến chùa Thanh Lương trên Ngũ đài sơn xem trộm kiếm kinh về Phục Ma Kiếm trong Phục Hổ quyền phái cùng những môn ảo diệu bí mật về Tâm, ý, Khí, Hỗn nguyên công, Phổ lan trượng pháp của quý tự thì sư huynh xử trí ra sao?

Thần Quang cười ha hả quay lại nhìn nhà sư môi thâm mắt trắng da thiết bì nói:

- Huyền Từ đại sư chưa bị đánh đã cung xưng, tự mình thú nhận là có ra lệnh bắt giam Ba La Tinh sư huynh ở tại chùa Thiếu Lâm rồi.

Nguyên nhà sư môi thâm da thiết bì kia chính là Triết La Tinh, sư huynh của Ba La Tinh. Ngày nọ y cưỡi rắn đến Trung Nguyên rồi gặp Du Thản Chi cùng Cưu Ma Trí và bị một phen nhục nhã cắm đầu quay về Thiên Trúc.

Dọc đường hắn gặp một vị lão tăng ở Trung Nguyên tay cầm thuyền trượng chăm chú nhìn hắn. Triết La Tinh đang lúc căm tức đầy ruột, liền quát bảo vị lão tăng nhường lối. Hắn thốt ra những lời rất vô lễ.

Vị lão tăng kia là người tính nóng như lửa, tức thì quay lại mắng trả.

Hai bên trước còn đấu khẩu sau đấu võ. Cuộc đấu kéo dài đến một giờ không phân cao thấp. Công lực hai người đều có chỗ sở trường riêng mà đánh nhau bằng binh khí cũng chống chọi nhau chẳng ai hơn ai.

Trận đấu kéo dài đến lúc hoàng hôn thì vị lão tăng quát bảo dừng tay rồi nói:

- Phiên tăng kia! Võ công của ngươi rất cao, đáng tiếc là ngươi nóng tính không trấn tĩnh được.

Triết La Tinh nói:

- Ngươi với ta kẻ bảy lạng người nửa cân chẳng ai hơn ai!

Hắn học mót được mấy câu hoa ngữ thành ra nói sai. Ðáng lý phải nói kẻ tám lạng người nửa cân thì hắn lại nói kẻ bảy lạng người nửa cân.

Vị lão tăng rất lấy làm kỳ hỏi:

- Sao ngươi lại bảo kẻ bảy lạng người nửa cân?

Triết La Tinh đỏ mặt lên nói:

- Ồ! Ta nói lầm kẻ chín lạng người nửa cân

Vị lão tăng liền cười ha hả nói:

- Ta dạy cho ngươi hay: Tám lạng mới là nửa cân. Có một câu nói thông thường của người Trung Nguyên chúng ta mà ngươi còn chưa rành. Về học thêm mấy năm nữa rồi sẽ đến nói chuyện bằng Hoa ngữ với ta cũng chưa muộn.

Nguyên Triết La Tinh và Ba La Tinh cố ý đến Trung Nguyên để lấy lại bản kinh của nước Thiên Trúc, nên ráng học tiếng Trung Hoa, nhất là những câu tục ngữ. Nhưng hắn chỉ nhớ thấp thỏm không rành mạch nên mới có sự lầm lẫn như thế.

Hai nhà sư vốn không thù oán, đánh nhau nửa ngày rồi sinh ra mến tài nhau giới thiệu tên họ.

Vị lão tăng đó pháp danh là Thần Âm và là sư đệ Thần Quang phương trượng chùa Thanh Lương.

Thần Âm lại hỏi Triết La Tinh qua Trung Hoa có việc gì? Thì Triết La Tinh nói là: Sư đệ hắn là Ba La Tinh qua Trung thổ đến chùa Thiếu Lâm để đưa thơ rồi không hiểu vì lẽ gì lại bị chùa Thiếu Lâm bắt giữ, không thả cho về.

Nguyên Thần Âm là người hiếu sự, lại thấy uy danh chùa Thiếu Lâm đồn đại xa gần thì trong lòng không phục. Hắn còn có ý khoe khoang ông bạn mới kết giao liền nói:

- Sư huynh ta là Thần Quang bản lãnh phi thường, thiên hạ vô địch, chẳng coi chùa Thiếu Lâm vào đâu. Vậy ta đưa ông bạn đến yết kiến sư huynh ta. Chắc chắn y sẽ có cách cứu được sư đệ cho ông bạn.

Chương 104: Huyền sinh phóng chưởng thử phiên tăng

Thần Âm liền dẫn Triết La Tinh về chùa Thanh Lương để bái kiến Thần Quang.

Thần Quang là người rất mực tâm cơ. Y nghĩ rằng phương trượng chùa Thiếu Lâm chủ trương khoan hoà, vậy mà sao lại bắt giữ Ba La Tinh? Hẳn có nguyên nhân trọng đại chi đây.

Y liền trọng đãi Triết La Tinh, lựa lời thăm hỏi dần dần.

Chưa đầy nửa tháng thì Triết La Tinh đem hết chuyện bí mật kể hết cho Thần Quang nghe.

Thần Quang bụng bảo dạ:

- Ba La Tinh đến chùa Thiếu Lâm cốt để ăn cắp kinh sách. Nếu hắn không ăn cắp được thì chùa Thiếu Lâm nên đuổi hắn về là phải. Dù cho hắn lấy được rồi mà đường trưởng phát giác thì cũng đến đoạt kinh lại là cùng. Hiện nay chùa Thiếu Lâm bắt hắn giam giữ không tha, thì nhất định chẳng những hắn đã ăn cắp kinh mà thôi, có khi hắn học thuộc lòng hết rồi cũng chưa biết chừng. Hơn nữa nếu lão Phiên tăng chỉ để lấy cắp kinh sách về Phật pháp để phổ cứu chúng sinh thì chùa Thiếu Lâm chẳng những không can thiệp đến, mà còn lục những phu kinh sách hay gửi tặng nữa là khác. Vậy thì nhất quyết không phải hắn ăn cắp kinh Phật mà là những bí lục về võ công gì đây.

Thần Quang nghĩ tới những bí lục võ công của Thiếu Lâm thì tỏ vẻ sốt sắng vô cùng.

Ta nên biết rằng Thần Quang là một bậc kỳ tài trong võ lâm, đã thiên tư đĩnh ngộ lại nhiều sáng kiến, có điều đáng tiếc là căn nguyên võ học của chùa Thanh Lương hãy còn kém chùa Thiếu Lâm xa. Y chỉ có những pho quyền kinh, Kiếm phổ, nội công bí yếu thông thường mà lại ít ỏi, chưa xứng đáng vào hạng công phu bậc nhất. Thế mà võ công y đến bậc thượng thặng đủ biết tư chất lão không phải tầm thường.

Ngày y tới chùa Thiếu Lâm mới mười bảy tuổi. Phương trượng chùa Thiếu Lâm hồi đó là Diệu Diệp thiền sư, vừa mới thấy diện mạo cùng tia mắt y đã biết ngay là con người độ lượng hẹp hòi, không thể truyền thụ Phật pháp được. Nếu để y làm một nhà sư tầm thường trong chùa thì y không cam chịu lâu dưới điều khiển của người khác và ngày sau ắt sinh hoạ hoạn nên Diệu Diệp thiền sư cự tuyệt ngay. Vì thế mà Thần Quang mới tìm đến tu hành tại chùa Thanh Lương.

Năm y mới ba mươi tuổi mà kỹ thuật đã bao trùm toàn tự, nhảy lên hàng phương trượng chùa Thanh Lương.

Y tự biết hiện nay võ công mình cao hơn những kinh sách bí lục trong bản tự. Nếu muốn tiến hơn thì phải tìm cơ duyên khác mới được. Y vừa nghe lời Triết La Tinh, đã để tâm nghĩ kế ngay, và sau mấy ngày y mới quyết định chủ ý rồi lẩm bẩm:

- Bây giờ ta cứ vì hắn mà ra mặt đến đòi Ba La Tinh, dù trong chùa Thiếu Lâm có nhiều tay cao thủ, bất cứ việc gì đến hợp lý là được. Chẳng lẽ họ là đệ tử nhà Phật mà lại cậy thế mạnh để uy hiếp người ư? Khi mình nắm được Ba La Tinh rồi thì lo gì hắn chẳng tiết lộ cho mình hay những bí lục về học của chùa Thiếu Lâm.

Thần Quang Thượng Nhân nghĩ vậy, liền viết thiếp mời Long Mãnh đại sư chùa Ðại Tướng Quốc phủ Khai Phong, Ðạo Thành đại sư chùa Phổ Ðộ tỉnh Giang Nam, Giác Hiền đại sư chùa Ðông Lâm núi Lư Sơn và Dung Trí đại sư chùa Tinh Cảnh thành Trường An là bốn vị cao tăng đến, rồi Thần Âm và Triết La Tinh thẳng tới chùa Thiếu Lâm.

Bốn vị cao tăng kia tuy không cùng chủ trương như Thần Quang, nhưng là những nhân vật có danh vọng rất lớn trong võ lâm. Có điều những chùa Ðại Tướng Quốc, Phổ Ðộ... trước nay chỉ trọng Phật pháp mà khinh rẻ võ công. Rất Long Mãnh, Ðạo Thanh đại sư chưa được lên đến địa vị cao cả, tại nơi chùa mình.

Huyền Từ phương trượng chùa Thiếu Lâm nghe Thần Quang Thượng Nhân bảo mình bị đánh đã cung xưng ra thì thật là vô lễ. Tuy đại sư bản tính trầm mặc cũng không khỏi nổi giận nói:

- Nhà sư Thiên Trúc là Ba La Tinh sư huynh quả thực có đến bản tự, không bao giờ lão tăng phủ nhận điều đó.

Thần Quang Thượng Nhân cười ha hả nói:

- Thế thì hay lắm. Vị này là Long Mãnh đại sư chùa Ðại Tướng Quốc phủ Khai Phong, vị này là Giác Hiền đại sư chùa Ðông Lâm núi Lư Sơn, vị này là Dung Trí đại sư chùa Tinh Cảnh tại Trường An, vị này là Ðạo Thanh đại sư chùa Phổ Ðộ tỉnh Giang Nam. Cả bốn vị đều là những bậc cao tăng ở Trung Nguyên. Nay lão tăng mời bốn vị đến đây để chứng kiến vụ này. Phương trượng sư huynh đã thừa nhận Ba La Tinh sư huynh nước Thiên Trúc hiện ở bảo tự, vậy xin phương trượng tha cho y ra về Thiên Trúc để khỏi mang tiếng với ngoại bang là đệ tử nhà Phật ở Trung Hoa giam giữ người đồng đạo, cậy mạnh hành hung.

Những câu nói của lão rất sắc bén, cố ý bức bách chùa Thiếu Lâm phải thả Ba La Tinh. Những người trong chùa Thiếu Lâm đã biết nội tình đều nghĩ thầm:

- Ba La Tinh ăn cắp kinh rồi bị giữ, đã là thực tình mà phương trượng cũng không phủ nhận điều đó thì e rằng không tha họ không xong.

Bỗng nghe Huyền Từ nói:

- Vừa rồi Thần Quang sư huynh nóng nảy muốn gặp toàn thể tăng chúng đệ tự, mà chưa nói đến bốn vị cao tăng. Té ra bốn vị này đều là những tay cao thủ nổi tiếng trong võ lâm. Lão tăng có ý ngưỡng mộ từ lâu, nay được tương kiến thật là may mắn!

Huyền Từ chắp tay để trước ngực thi lễ. Ðại sư vừa nói vừa kéo dài thời khắc để có thì giờ tìm kế đối phó.

Bốn vị cao tăng lập tức đứng dậy đáp lễ đồng thanh nói:

- Ba La Tinh sư huynh tại Thiên Trúc hiện giờ ở trong bảo tự. Nếu y có điều gì đắc tội với phương trượng, bọn bần tăng cũng xin phương trượng nghĩ tình họ Thích khắp thiên hạ đều là một nhà mà giờ Ba La Tinh đại sư lại cho sư huynh y là Triết La Tinh đại sư đến đây đưa về Thiên Trúc thì bọn bần tăng đều cảm đại đức.

Huyền Từ nghĩ bụng:

- Việc nhà Ba La Tinh thì chẳng khó gì, nhưng phóng thích hắn thì bao nhiêu bí lục võ công của chùa Thiếu Lâm từ đây sẽ bị công khai ra khắp thiên hạ hết.

Ðại sư trong bụng ngần ngừ chưa biết trả lời ra sao lại tuyên mấy câu Phật hiệu để kéo dài thêm thời khắc.

Hồi lâu Huyền Từ mới nói:

- Ba La Tinh sư huynh đem thơ đến chùa Thiếu Lâm. Toàn thể tệ tự từ trẻ xuống dưới thấy y từ Phật quốc sang đây đều một lòng kính cẩn. Không ngờ y lén đào đường hầm Tàng Kinh Các lấy trộm bao nhiêu bí lục về võ học từ mấy trăm năm truyền lại. Thiếu Lâm tuy là một nơi am thiền cửa Phật, nhưng lại là một môn phái trong võ lâm, đương nhiên phải tôn trọng lề luật võ lâm.

Ngừng một lát Huyền Từ lại nói tiếp:

- Thần Quang Thượng Nhân! Vừa rồi bần tăng có một câu hỏi: Giả tỷ có người lén vào chùa Thanh Lương lấy cắp quyển kinh kiếm phổ của quý tự mà sư huynh đã vào địa vị phương trượng, lại là chưởng môn một phái võ thì xử trí ra sao, chưa được Thượng nhân trả lời.

Thần Quang Thượng Nhân tủm tỉm cười đáp:

- Võ công cao hay thấp phần lớn do trông cậy vào bản lãnh của con người, còn quyền kinh, kiếm phổ chỉ đứng vào hàng thứ hai. Giả tỷ có vị anh hùng hảo hán nào dư tài vào được chùa Thanh Lương lấy cắp quyển kinh, kiếm phổ của tệ tự thì ngoài việc lão tăng tự nhận bất tài không còn biết nói sao nữa? Chẳng lẽ người ta muốn coi võ học pháp môn của mình một chút mà hay giam giữ suốt đời người ta ư? Có lý nào thế được?

Huyền Từ cũng tủm tỉm cười:

- Nếu là những võ công bí lục tầm thường chẳng có gì kỳ bí, dù công khai ra đời cũng chẳng ngại gì. Nhưng gặp trường hợp quyền kinh, kiếm phổ, nội dung tinh vi bí ảo mà để người ta lấy cắp truyền ra ngoài, lọt vào tay quân cuồng vọng hoặc những kẻ bụng dạ hẹp hòi thì mối hoạ không biết đến đâu mà kể. Con người trong võ lâm là phải nghĩ tới chỗ đó.

Huyền Từ nói mấy câu này bằng một giọng ôn hoà. Nhưng mấy chữ những quân cuồng vọng hoặc những kẻ bụng dạ hẹp hòi rõ ràng để ám chỉ Thần Quang Thượng Nhân. Mọi người nghe câu này biết ngay Huyền Từ mạt sát Thần Quang là con người bụng dạ khôn lường. Sở dĩ gã đến yêu sách phóng thích Ba La Tinh chỉ vì mục đích gom về những bí lục về võ học của phái Thiếu Lâm.

Thần Quang biến sắc, mặt giận hầm, xẵng giọng:

- Phương trượng nói vậy là theo một chiều, nhưng e rằng bên trong còn có tình ý gì khác cũng chưa biết chừng. Triết La Tinh sư huynh đường muôn xa vạn dặm đến đây, chẳng lẽ phương trượng không để cho sư huynh sư đệ họ được thấy mặt nhau một chút?

Huyền Từ nghĩ bụng:

- Nếu mình kiên quyết không cho Ba La Tinh ra đây tương kiến thì rõ ràng chùa Thiếu Lâm đuối lý, để mấy vị cao tăng các chùa Phổ Ðộ, Ðông Lâm... đem lòng bất phục.

Ðại sư nghĩ vậy liền truyền lệnh:

- Mời Ba La Tinh sư huynh ra đây!

Chấp sự tăng truyền lệnh ra ngoài. Chẳng bao lâu bốn vị lão tăng đưa Ba La Tinh lên điện.

Ba La Tinh nhìn thấy sư huynh thì vừa bi thương, vừa vui mừng, nảy lại ôm lấy Triết La Tinh nước mắt đầm đìa. Hai người nghẹn ngào nói với nhau bằng tiếng thổ âm nước Thiên Trúc một hơi. Người ngoài nghe chẳng hiểu gì hết, nhưng cũng chắc là Ba La Tinh kể lại chuyện lấy kinh bị bắt và lý do chùa Thiếu Lâm không chịu phóng thích.

Triết La Tinh gật đầu lia lịa rồi nói lớn bằng tiếng Trung Nguyên:

- Phương trượng chùa Thiếu Lâm đã bịa chuyện. Ba La Tinh sư đệ tiểu tăng không hề lấy cắp bí lục võ công mà chỉ xem lén kinh sách nhà Phật. Kinh sách nhà Phật vốn là của nước Thiên Trúc chúng tôi truyền sang mà xem đến cũng là phạm pháp ư? Hơn nữa Ðạt Ma tổ sư cũng là người Thiên Trúc chúng tôi truyền võ công lại cho các vị mà các vị lại giam cầm người Thiên Trúc... thì là quên ơn, phụ... phụ gì nhỉ? Thế là không tốt.

Hắn nói tiếng Trung Hoa tuy không được sõi sàng nhưng đầy đủ lý lẽ, khiến tăng chúng chùa Thiếu Lâm không bài bác được.

Ba La Tinh cũng cãi cối không chịu thú nhận việc lấy cắp kinh sách về võ học, trong người hắn không có tang vật gì thì thực khó mà bức bách hắn phải thú nhận.

Huyền Từ nói:
- Ðức Phật từ bi! Ðức Phật từ bi. Ðã là người xuất gia không được nói dối. Ba La Tinh sư huynh nói dối mà không sợ bị xuống địa ngục rút lưỡi ư? Pho Ðại Kim Cương quyển kinh của bản tự sư huynh đã coi trộm chưa?

Ba La Tinh cãi liền:

- Không có! Không có! Ta mượn coi một bộ Kim Cương kinh mà thôi.

Huyền Từ lại hỏi:

- Những chưởng pháp của chùa Thiếu Lâm sư huynh đã xem trộm chưa?

Ba La Tinh lại cãi:

- Không có! Ta chỉ mượn bộ Ba La mật tâm kinh để xem qua.

Huyền Từ nói:

- Thế thì Ma Kha Chỉ quyết của phái Thiếu Lâm chẳng lẽ sư huynh cũng chưa coi trộm? Hôm ấy năm vị sư đệ bắt gặp sư huynh vào Tàng kinh các đang coi lén bộ Yếu quyết về chỉ pháp rồi từ Tàng kinh các chuồn ra thì sư huynh bảo sao?

Ba La Tinh nói:

- Tiểu tăng vào Tàng kinh các quý tự mượn coi một bộ Ma Ha Tăng chỉ luật. Về triều nhà Tần, vị cao tăng bên quý quốc là Pháp Hiền nguyên người họ Củng, xuất gia từ thuở lên ba dốc lòng theo đạo. Ðến năm Tấn Long An thứ ba, Pháp Hiền đại sư tây du đến nước Thiên Trúc lấy kinh đã được rất nhiều pho kinh sách quý giá, trong đó cả bộ Ma Ha Tăng chỉ luật. Tiểu tăng mượn xem pho đó không hiểu đã phạm giới luật gì của quý tự?

Nên biết Ba La Tinh là người thông minh cơ biến lại học vấn uyên bác, nên được chùa Thiên Trúc đặc phái trọng nhiệm đi lấy cắp kinh sách. Bây giờ hắn chối hết những chuyện xem trộm bí lục về võ công để tỏ ra chùa Thiếu Lâm hoàn toàn đuối lý.

Huyền Từ cất tiếng niệm:

- A di đà Phật!

Bất thình lình có luồng gió nhẹ thổi lướt qua bên mình. Một bóng hồng thấp thoáng, có người phóng quyền ra đánh vào sau lưng Ba La Tinh. Thoi quyền này vừa thần tốc vừa mãnh liệt vô cùng.

Quyền phong đang nhắm huyệt Chí Dương sau lưng Ba La Tinh xô tới. Chiêu quyền phóng ra đột ngột cơ hồ không có cách nào giải cứu.

Bỗng thấy Ba La Tinh xoay tay lại. Tay trái giữ lấy huyệt Thần Ðạo, tay phải nắm lấy huyệt Cân Xúc. Lòng bàn tay hướng ra ngoài, chưởng lực xô ra rất nhanh. Huyệt Thần Ðạo ở trên huyệt Chí Dương mà huyệt Cân Xúc ở dưới huyệt Chí Dương. Chưởng lực hai tay kết lại thành một tấm bình phong để chống đỡ cho huyệt Chí Dương, thủ pháp xảo diệu vô cùng.

Trên Ðại hùng bảo điện thiếu gì những bậc cao thủ, vừa thấy y ra chiêu này rất mau lẹ và đối phó được thế đánh bất ngờ.

Ba La Tinh vừa trổ tài tựa hồ như lôi sư huynh sư đệ đồng môn phân tích chiêu thức để luyện tập và phô diễn chưởng pháp thượng thặng.

Mọi người thấy thế không nhịn được bật lên tiếng hoan hô:

- Thật là một chưởng pháp tuyệt diệu!

Ba La Tinh dùng chưởng lực hai tay để cản trở thoi quyền. Người kia liền biến quyền thành chưởng chém vào sau cổ Ba La Tinh.

Lúc này mọi người đã nhìn rõ người đánh lén đó là một nhà sư đứng tuổi mặc áo cà sa Ðại hồng ở chùa Thiếu Lâm. Chẳng những nhà sư đó ra chiêu thần tốc mà tựa hồ chỉ chờ Ba La Tinh quay đầu lại là dùng chưởng chém xuống luôn.

Ba La Tinh liền vung ngón tay trái ra đề phóng vào cườm tay đối phương.

Nhà sư kia nếu không thu chiêu về thì sẽ bị ngón tay Ba La Tinh điểm vào huyệt Hậu Khoát, nhất là Ba La Tinh lại vận hết nội lực toàn thân vào đầu ngón tay thì có thể khiến cho bàn tay nhà sư kia thành tàn phế. Chiêu này chỉ trông tựa hồ rất bình thường chẳng có chi kỳ dị, nhưng nếu phóng túng thì sức mạnh phi thường!

Bỗng có tiếng người reo:

- Chỉ pháp tuyệt diệu!

Nhà sư kia lập tức thu chưởng về, lún người xuống chuyển đến cạnh sườn mé tả Ba La Tinh phóng song quyền liên hoàn. Chỉ trong chớp mắt đã đánh luôn bảy quyền. Bảy quyền này chia ra đánh vào trán, quai hàm, cổ, ngực và lưng Ba La Tinh một cách thần tốc phi thường.

Ba La Tinh không còn cách nào né tránh được cũng phóng luôn ra bảy quyền.
Binh binh bảy tiếng liền. Mỗi quyền của Ba La Tinh đều đụng vào quyền của nhà sư. Chỉ trong thời gian chớp nhoáng mà thoi quyền nào cũng chống được quyền pháp của địch nhân thì phải là tay tập luyện tinh thục vô cùng! Nếu chỉ ỷ vào võ công thì dù cao thâm đến đâu cũng không tài nào tránh được.

Ba La Tinh đột nhiên nhớ ra việc gì ồ lên một tiếng rồi nhảy lùi lại phía sau.

Nhà sư đứng tuổi cũng không đuổi đánh nữa, từ từ lùi lại ba bước, chắp tay quay về phía Huyền Từ cùng Thần Quang thi lễ nói:

- Tiểu tăng đã vô lễ, xin hai vị đại sư tha tội cho.

Huyền Từ cười khà khà chắp tay đáp lễ.

Thần Quang vẻ mặt giận dữ chỉ hừ một tiếng chứ không nói gì.

Huyền Từ quay về phía bốn vị cao tăng Long Mãnh, Ðạo Thành, Giác Hiền và Dung Trí nói:

- Xin bốn vị sư huynh xử vụ này cho.

Bầu không khí trong đại điện trở nên yên tĩnh.

Từ lúc Thần Quang Thượng Nhân đề cập đến việc chùa Thiếu Lâm bắt giữ nhà sư Ba La Tinh, Hư Trúc biết ngay là chuyện hôm nay không liên quan gì đến mình mới hơi yên dạ. Khi y thấy một vị sư thúc tổ trong bản tự tập kích, Ba La Tinh hoá giải được hết. Hai người chỉ đánh mấy chiêu rồi lại lùi ra.

Hiện thời võ công Hư Trúc đã đủ quan sát thấy chiêu số hai bên chưa dùng tới mức võ công thượng thặng mà không hiểu tại sao lại trao đổi có ba chiêu rồi ngừng tay.

Y cũng không hiểu vì lẽ gì mà phương trượng tự lộ vẻ vui tươi, còn đối phương thì ra chiều bẽn lẽn. Theo chỗ y biết thì ba chiêu vừa rồi, Ba La Tinh tuyệt chưa kém cỏi chút nào.

Bỗng thấy Long Mãnh ho hắng tiếng rồi hỏi:

- Theo ý ba vị thì nên thế nào?

Ðạo Thanh đại sư đáp:

- Vừa rồi Ba La Tinh sư huynh sử ba chiêu thì dường như chiêu thứ nhất là Thiên y vô phòng trong Ban Nhược chưởng pháp, chiêu thứ hai là Dĩ dật đãi lạo trong Ma Ha Chỉ, chiêu thứ ba là Thất tinh tụ hội trong Kim Cương đại quyền.

Thần Quang Thượng Nhân nói:

- Ha ha! Phật môn ở Trung Nguyên quả nhiên đã chịu nhiều ơn huệ của nước Thiên Trúc. Ðương nhiên Ðạt Ma tổ sư đã sáng lập các tuyệt kỹ của Thiên Trúc đem về để lập ra Thiếu Lâm bảo tự. Những tuyệt kỹ của Thiên Trúc lưu truyền đến ngày nay. Vị cao tăng Thiếu Lâm ra chiêu rất hợp với võ công của vị Thiên Trúc. Thực là đáng mừng!

Thần Quang nói câu này khiến cho quần tăng chùa Thiếu Lâm đều lộ vẻ tức giận.

Nên biết rằng vừa rồi Ba La Tinh xoen xoét không chịu thú nhận xem trộm bí lục võ công của chùa Thiếu Lâm, nhà sư đứng tuổi vừa rồi pháp danh Huyền Sinh, sư đệ Huyền Từ, võ công cao cường tính khí lại cương trực.

Huyền Sinh đột nhiên xuất kỳ bất ý tập kích Ba La Tinh đã có tính toán trước. Những chiêu số nhằm đánh vào các bộ vị đối phương bức bách Ba La Tinh phải phân biệt dùng Ban Nhược chưởng, Ma Ha Chỉ và Kim Cương quyền mới giải khai được. Giả tỷ Ba La Tinh chưa từng học qua những môn đó dĩ nhiên phải đem công phu của bản môn ra hoá giải. Nhưng bấy nhiêu ngày hắn ở chùa Thiếu Lâm trong lòng lúc nào cũng nghĩ tới và chân tay vẫn luyện tập toàn là công phu của phái Thiếu Lâm, nên trong lúc thảng thốt, hắn không kịp nghĩ gì, tiện tay đưa ngay ba chiêu thức rất thuận tiện mới học được đem ra đối phó. Ngờ đâu Thần Quang lại bóp méo vấn đề cho đó là võ công của Thiên Trúc.

Thực ra những võ công phái Thiếu Lâm gốc nguồn ở Ðạt Ma tổ sư. Từ triều nhà Lương Ðạt Ma ở nước Thiên Trúc qua Trung Hoa để giảng luận Phật pháp của Lương Võ đế. Vì đôi bên không ý hợp tâm đầu, Ðạt Ma tổ sư dựng chùa Thiếu Lâm truyền dạy Thiền Tôn tâm pháp cùng võ công tuyệt thế. Ðó là việc mà khắp thiên hạ ai ai cũng biết.

Thần Quang Thượng Nhân là tay cơ biến hơn đời, nhận luôn ngay những võ công của phái Thiếu Lâm như Ban Nhược chưởng, Ma Ha chỉ, Kim Cương quyền đều từ Thiên Trúc truyền sang. Thế thì Ba La Tinh biết sử dụng mấy thứ võ công vừa rồi chẳng có chi là lạ, không thể nhân đó mà bảo hắn đã ăn cắp bí lục của chùa Thiếu Lâm được.

Huyền Từ phương trượng nói:

- Về Phật pháp cũng như về võ công của bản tự đều do Ðạt Ma tổ sư truyền lại. Ðó là một điều đúng sự thực. Thế thì kinh sách của Thiên Trúc trả về cho Thiên Trúc là một việc hợp tình hợp lý, giả tỷ Ba La Tinh sư huynh nói thẳng ra xin lại những kinh văn của Ðạt Ma tổ sư, bản tự sẽ kính cẩn đưa ra để tặng. Nhưng phép Ban Nhược chưởng là do Nguyên Nguyên đại sư, phương trượng đời thứ tám bản tự sáng chế. Ma Ha chỉ do Bát Chỉ Ðầu Ðà lập ra. Ðến như Ðại Kim Cương huyền pháp thì sáu vị cao tăng đời thứ mười một bản tự tổn bao nhiêu công phu trong ba mươi sáu năm trời cùng nhau nghiên cứu mới hoàn thành. Ba môn này toàn là võ công ở Trung Nguyên không dính líu gì đến Thiên Trúc. Các vị sư huynh đều là những bậc võ học cao thâm, chỉ trông qua là biết. Bần tăng bất tất phải nói nhiều.

Long Mãnh đại sư và Dung Trí đại sư biết ngay lời Huyền Từ là đúng sự thực, liền quay lại hỏi Thần Quang Thượng Nhân:

- Ý sư huynh nghĩ sao?

Thần Quang Thượng Nhân tủm tỉm cười đáp:

- Ðó chỉ là lời nói một bên của phương trượng chùa Thiếu Lâm. Theo chỗ tiểu tăng biết thì lại khác hẳn. Hôm trước Triết La Tinh sư huynh cùng tiểu tăng bàn về những điểm dị đồng giữa võ công nước Thiên Trúc và nước Trung Hoa, cũng đã đề cập đến Ban Nhược chưởng, Ma Ha chỉ và Ðại Kim Cương quyền thì y bảo chiêu Thiên y vô phùng theo tiếng Phạn gọi là A phầm Tư ni Trác nhi. Chưởng lực này bên phải nhẹ nhàng mà thực, chưởng lực bên trái trầm trọng mà hư. Hư với thực hợp lại rất là đắc dụng, vì địch nhân coi thường không để ý nên dễ mắc bẫy. Phương trượng sư huynh! Triết La Tinh nói vậy chẳng hiểu có đúng không?

Huyền Từ hơi biến sắc một chút rồi bình tĩnh đáp:

- Nhỡn quang của sư huynh thật là vi diệu, tiểu tăng rất bội phục.

Nguyên Thần Quang là người thông minh mà kiến thức lại cao thâm. Lão vừa trông Ba La Tinh cùng Huyền Sinh đối thủ một chưởng đã biết ngay đến chỗ tinh thâm của chiêu Thiên y vô phùng. Lão liền bịa chuyện nói là nghe lời bàn của Triết La Tinh. Cách giải thích của lão cốt để chứng minh những chiêu thức đó là của nước Thiên Trúc.

Từ lúc Thần Quang được mục kích ba chiêu đối thủ giữa Ba La Tinh và Huyền Sinh thì trong lòng lão ngứa ngáy khó chịu, ngấm ngầm thèm khát võ công của phái Thiếu Lâm. Lão nghĩ bụng: Những nhà sư chùa Thiếu Lâm hiện nay đều là hạng tầm thường, nên các vị tiền bối truyền các môn võ học cao minh cho, e rằng họ chỉ lĩnh hội được vài phần. Nếu vào địa vị mình nghiên cứu thì khó gì chẳng trở nên một tay thiên hạ vô địch?

Huyền Từ cũng biết lão nói thế là nhân được xem chiêu số của Ba La Tinh rồi tự ý nói ra. Lão đổ cho Triết La Tinh bảo lão để lừa dối mọi người. Nhưng lão vừa thoáng qua một chút đã biết ngay chỗ ảo diệu cao thâm của chưởng pháp thì thật là một tay thông minh tuyệt thế và tinh mắt phi thường trên đời ít có.

Huyền Từ đại sư trầm ngâm một chút rồi nói:

- Huyền Sinh sư đệ! Phiền sư đệ đến Tàng kinh các lấy kinh sách về ba môn võ công vừa rồi đưa cho các vị sư huynh coi.

Huyền Sinh vâng lệnh đem bốn tên đệ tử đi theo.

Lát sau Huyền Sinh trở về cầm kinh sách đưa cho Huyền Từ.

Ðại hùng bảo điện cách Tàng kinh các đến ba dặm đường. Thế mà chỉ trong khoảnh khắc Huyền Sinh đã lấy được sách về thì đủ biết thân pháp y mau lẹ phi thường. Người ngoài không biết nội tình thì cho là chuyện tầm thường, nhưng tăng chúng chùa Thiếu Lâm ai cũng khen thầm ba quyển kinh kia, màu giấy chỗ vàng khè, chỗ thâm lại, tỏ ra truyền đã lâu đời.

Huyền Từ cầm kinh sách để lên bàn nói:

- Mời các vị sư huynh coi thử. Ba pho kinh này đều có ghi rõ những lịch trình công phu sáng lập. Liệt vị sư huynh không tin lời lão tăng thì còn được, chẳng lẽ những vị phương trượng bao nhiêu đời trước chùa Thiếu Lâm và toàn là những vị cao tăng đạo đức lại cũng có những hành vi vô sỉ ăn gian nói dối hay sao?

Ðại sư nói câu sau cùng đồng thời đưa mắt ngó Thần Quang.

Thần Quang tảng lờ như không biết, rồi cầm lấy cuốn Ban Nhược chưởng pháp mở từng trang một ra coi. Long Mãnh đại sư xem cuốn Ma Ha chỉ bí yếu. Ðạo Thanh đại sư coi cuốn Ðại Kim Cương quyển thần công.

Long Mãnh và Ðạo Thanh chỉ đọc bài tựa rồi trao cho Giác Hiền, Dung Chí. Bốn vị cao tăng này đều biết đây là võ công bí mật của phái Thiếu Lâm, còn mình là những tay cao thủ nổi tiếng ở phái khác. Hai nữa, Huyền Từ đại sư một vị cao tăng hiện đại, nói ra câu gì quyết không giả dối. Nếu xem kỹ thì không khỏi tỏ ra mình ngờ vực Huyền Từ đại sư, và như vậy là phạm vào tội bất kính.

Thần Quang Thượng Nhân trái lại xem rất kỹ, lật từng trang một, cố ý tìm ra những chỗ sơ hở nghi ngờ để bài bác Huyền Từ.

Trong đại điện trừ tiếng hô hấp rất khẽ và tiếng mở sách lạc xạc, ngoài ra không còn tiếng động gì khác. Bầu không khí yên lặng phi thường.

Chương 105: Cưu ma trí diệu võ dương oai

Quần tăng chùa Thiếu Lâm chăm chú nhìn nét mặt Thần Quang Thượng Nhân để xem lão có tìm ra được chứng cớ gì trong ba bản kinh sách để làm tài liệu cãi chối không? Nhưng mặt lão vẫn trơ như đá, không lộ vẻ vui mừng hay thất vọng chi hết. Sau thấy lão mở từng trang một xem rồi gấp cuốn Ma Ha chỉ quyết, cầm một tay trả lại Huyền Từ phương trượng.

Rồi lão nhắm mắt lại ngẫm nghĩ không nói câu gì.

Huyền Từ đại sư thấy bộ dạng lão như vậy cũng không đoán được ý tứ của lão.

Sau một lúc lâu, Thần Quang Thượng Nhân mở mắt ra nhìn Triết La Tinh nói:

- Sư huynh! Ngày trước sư huynh đã đọc những yếu quyết về Ban Nhược chưởng cho tiểu tăng nghe. Tiểu tăng còn nhớ câu tiếng Phạn: "Nhân khổ nãi la ty, Bát nhĩ cam nhi tinh, Kha la ba cơ tư tin, binh na tư ni, phạt nhĩ bất thân la..." Dịch sang Hoa ngữ nghĩa là: "Ban đêm tịch mịch nghĩ vẩn vơ thì làm cách nào để chế phục?" ý nghĩa thứ nhất về nội công Ban Nhược chưởng là ở chỗ đó, có đúng thế không?

Triết La Tinh sững sờ một lát rồi hiểu ý tứ liền đáp:

- Ðúng rồi! Sư huynh dịch rất sát nghĩa!

Quần tăng chùa Thiếu Lâm ngơ ngác nhìn nhau, ai cũng kinh hãi thất sắc. Cả những vị sư vào hàng hậu bối cũng lắng tai nghe.

Thần Quang Thượng Nhân lại nói lý lố một hồi tiếng Phạn rồi hỏi:

- Những câu tiếng Phạn như thế, tiểu tăng dịch sang Hoa ngữ thế này: "Cần đem lòng dạ rối ren để xét những chỗ rối ren. Cửu xét thông ra được thì ý nghĩ rối ren cũng chẳng còn. Quay lại cứu xét lòng dạ mình thì chỗ cứu xét ở đâu? Ðã không cứu xét vào đâu được thì cõi lòng thành tịch mịch. Tịch mịch mà không phải tịch mịch, thì chẳng ai là người tịch mịch được. Muốn soi cho sáng àm không còn chỗ để soi. Cảnh trí đều tịch mịch thời lòng lo nghĩ sẽ yên lại. Bên ngoài chẳng tìm ra ngọn ngành mà bên trong cũng không yên lặng. Hai đường đều biến mất thì tính tình yên tĩnh trở lại". Ðó là yếu quyết về luyện nội công Ban Nhược chưởng.

Triết La Tinh đáp ngay:

- Phải lắm! Phải lắm! Hôm ấy tiểu tăng cùng sư huynh đàm luận Phật pháp tại chùa Thanh Lương núi Ngũ Ðài rồi bàn luận sang võ công. Yếu quyết luyện nội công Ban Nhược chưởng của nước Thiên Trúc đúng là như vậy.

Thần Quang Thượng Nhân lại nói:

- Hôm ấy sư huynh có nói về yếu chỉ Ðại Kim Cương quyền và bí quyết Ma Ha chỉ tiểu tăng cũng còn nhớ.

Ðoạn lão lại đọc ra một tràng thao thao bất tuyệt.

Huyền Từ cùng các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm ai nấy đều hoảng sợ tái mặt vì Thần Quang Thượng Nhân đọc thuộc làu làu không sai một chữ và đúng là bí quyết ghi trong ba pho sách đó. Không một ai ngờ sách vở chỉ qua mắt một lần mà lão học thuộc lòng ngay được. Vừa rồi lão lẳng lặng lật từng trang sách lên xem là để học thuộc lòng các yếu quyết về những môn võ học trong ba bộ bảo kinh.

Thần Quang vốn tinh thông Phạn ngữ, lão phiên dịch những yếu quyết thành tiếng Phạn rồi theo trong kinh đọc thuộc lòng những câu đó bằng Hoa ngữ. Lão làm như những pho sách này nguyên trước bằng Phạn văn rồi có người dịch sang Hoa văn. Thế là tội Ba La Tinh ăn trộm kinh sách đã được lão tẩy sạch.

Mặt khác Nguyên Nguyên đại sư, Bát Chỉ Ðầu Ðà cùng mấy vị cao tăng tiền bối chùa Thiếu Lâm lại thành ra những người dịch lén lại những trang sách kia và mang tiếng là người trộm cắp bịp đời.

Giả tỷ việc này theo lẽ phải mà tranh luận thì dù Thần Quang có dẻo lưỡi đến đâu chưa chắc đã biện bạch được.

Huyền Từ trong lòng căm tức vô cùng, nhưng trong lúc này đại sư chưa biết phải đối phó bằng cách nào.

Huyền Sinh lại rẽ mọi người bước ra nhìn Triết La Tinh nói:

- Ðại sư! Ðại sư bảo những môn Ban Nhược chưởng, Ma Ha chỉ và Ðại Kim Cương quyền đều từ Thiên Trúc truyền lại cho bản tự, chắc đại sư tinh thuộc vô cùng. Việc này chân hay giả tìm ra cho rõ chẳng khó khăn gì. Bây giờ tiểu tăng muốn lãnh giáo đại sư mấy cao chiêu về ba môn võ công đó, và tiểu tăng nói chắc chắn những chiêu thức của tiểu tăng nhất quyết không ra ngoài ba môn đó. Ðồng thời xin đại sư chỉ điểm cũng trong phạm vi ba môn đó mà thôi.

Huyền Từ lẩm bẩm:

- Mình dốt thật! Làm như vậy quả nhiên rõ trắng đen ngay. Thế mà mình không nghĩ ra.

Thần Quan Thượng Nhân không khỏi run lên nghĩ thầm:

- Biện pháp này thiệt là lợi hại. Dĩ nhiên Triết La Tinh không hiểu thế nào là Ban Nhược chưởng... Bây giờ biết bảo hắn trả lời ra sao?

Triết La Tinh vẻ mặt bẽn lẽn đáp:

- Võ công nước Thiên Trúc bao la bát ngát. Nguyên những màn nổi tiếng đã có đến ba trăm sáu mươi tuyệt kỹ. Tiểu tăng tuy biết đại khái hết cả, nhưng không thể nói môn nào cũng tinh thục được. Tiểu tăng nghe nói chùa Thiếu Lâm có bảy mươi hai môn tuyệt kỹ. Vậy tiểu tăng xin hỏi sư huynh: "Sư huynh có tinh thông được hết thảy bảy mươi hai tuyệt kỹ đó không? Giả tỷ tiểu tăng chỉ định cho sư huynh diễn ba thứ trong bảy mươi hai môn, sư huynh có dám nhận lời không?"

Câu đáp của Triết La Tinh quả nhiên làm cho Huyền Sinh phải chưng hửng.

Nên biết rằng bảy mươi hai môn tuyệt kỹ của chùa Thiếu Lâm, mỗi vị cao tăng có giỏi ra là chỉ học được năm, sáu môn. Nếu gặp phải chỉ định ba môn thì bất luận là ai cũng không thể làm được.

Huyền Sinh là một tay võ công rất tinh thâm. Những điều nhà sư hiểu biết tuy rộng rãi, nhưng trong bảy mươi hai môn tuyệt kỹ thì chỉ có hiểu nhiều lắm là được sáu môn.

Huyền Sinh còn đang ngẫm nghĩ tìm câu trả lời thì một giọng nói dõng dạc từ đằng xa vọng lại:

- Chư vị đại đức Thiên Trúc cùng các vị cao tăng Trung thổ tụ hội tại chùa Thiếu Lâm để bàn luận võ công thiệt là một thịnh sự. Tiểu tăng may được gặp đây, liệu có được vào bàng thính lời cao luận của hai bên không?

Câu nói rành mạch từng chữ lọt vào tai hết thảy mọi người.

Thanh âm này từ ngoài cửa sơn môn vọng vào đã rõ ràng lại nghiêm nghị, hoà bình mà không chói tai. Người phát thanh phải là một tay nội công cao thâm thuần hậu, có điều họ ở xa mà biết rõ được tình cảnh đại điện thì tất là một tay nội công của nhà Phật đến mực Thiên nhĩ mới phải.

Huyền Từ đại sư hơi lộ vẻ kinh ngạc rồi vận nội lực nói:

- Ðã là đồng đạo trong Phật môn, xin mời đại sư quang lâm

Huyền Từ phương trượng lại nói:

- Hai vị sư đệ Huyền Minh và Huyền Thạch xin đại diện cho tiểu huynh ra nghênh tiếp tân khách.

Huyền Minh, Huyền Thạch khom lưng dạ một tiếng toan trở gót đi ra khỏi điện thì người kia đã vào đến cửa nói:

- Tiểu tăng không dám để các vị nghênh tiếp. Tiểu tăng rất ngưỡng mộ Huyền Minh đại sư giỏi về môn thần kỹ gầm lên như sư tử rống và Huyền Thạch đại sư vung tay đấm vỡ bia cũng vào bậc thiên hạ vô song. Nay được gặp hai vị cao tăng chùa Thiếu Lâm thật may mắn vô cùng.

Nói hết mỗi câu, người này lại tiến gần lại thêm mấy trượng.

Lúc y vừa dứt lời thì người đã xuất hiện ngay trước cửa điện.

Mọi người nhìn ra thì là một nhà sư đứng tuổi vẻ mặt trang nghiêm, hai tay chắp để trước ngực, hớn hở nói:

- Sơn tăng là Cưu Ma Trí ở nước Thổ Phồn, xin tham kiến phương trượng chùa Thiếu Lâm.

Quần tăng thấy thân pháp y đều hết sức kinh dị. Khi nghe lão báo danh là Cưu Ma Trí thì mọi người ồ lên một tiếng nói:

- Té ra là Ðại Luân Minh Vương nước Thổ Phồn giá lâm!

Huyền Từ đứng lên rảo bước tới gần, nghiêng mình thi lễ nói:

- Minh vương làm quốc sư nước Thổ Phồn chẳng quản đường xa diệu vợi qua Ðông Thổ. Tiểu tăng thường ngưỡng mộ quốc sư là một bậc quang minh chính đại. Bữa nay tệ tự có một việc khó giải quyết may được đại giá quang lâm thật là vinh hạnh. Tiểu tăng xin quốc sư cầm cán cân công bằng để phân biệt chân giả vụ này cho.

Huyền Từ dứt lời liền đưa Thần Quang, hai anh em Triết La Tinh, cùng bọn Long Mãnh đại sư ra tương kiến.

Triết La Tinh đã gặp Cưu Ma Trí và bị một vố cay. Hắn mất bao nhiêu công phu mới đoạt được cuốn Dịch Cân Kinh ở trong mình Du Thản Chi, rồi bị Cưu Ma Trí hớt tay trên mất. Bây giờ hắn lại gặp Cưu Ma Trí thì trong lòng không khỏi hoang mang và căm phẫn. Hắn biết rằng võ công Cưu Ma Trí còn cao hơn hắn nhiều.

Lúc Huyền Từ dẫn Triết La Tinh cùng Cưu Ma Trí tương kiến thì hắn chỉ lặng lẽ hành lễ chứ không nói nửa lời.

Cưu Ma Trí nhìn Triết La Tinh chỉ cười nhạt một tiếng, chứ không đề cập đến chuyện cũ.

Mọi người làm lễ tương kiến xong, Huyền Từ sai đặt ghế chính giữa điện rồi mời Cưu Ma Trí an toạ.
Cưu Ma Trí cũng ngỏ đôi lời khiêm tốn khách sáo rồi ngồi xuống. Thế là chỗ ngồi Cưu Ma Trí ở ngay mé trên Thần Quang.

Ðối với người khác thì đó là chuyện thường, nhưng Thần Quang trong lòng hậm hực khó chịu. Lão mắng thầm:

- Thằng cha Phiên tăng này chỉ khéo làm bộ làm tịch, vị tất đã có bản lãnh gì đáng kể. Ðể rồi ta sẽ thử coi.

Cưu Ma Trí nói:

- Phương trượng yêu cầu tiểu tăng cầm cán cân công bằng để phân xử kẻ phải người quấy thì tiểu tăng không dám. Nhân vừa nói tiểu tăng dừng chân trên lưng chừng sườn núi được nghe Huyền Sinh đại sư cùng Triết La Tinh đại sư giảng luận võ công thì thấy cả hai vị đều có chỗ phi lý.

Cưu Ma Trí vừa nói câu này thì quần tăng trong đại điện tức run lên, nghĩ thầm:

- Miệng lưỡi cha này đáo để đây!

Triết La Tinh đã được nếm đòn lợi hại của Cưu Ma Trí, không dám tiến ra khiêu chiến. Còn Huyền Sinh tính tình cương cường mà chưa hiểu võ công y, không nhẫn nại được nói ngay:

- Tiểu tăng lầm lỗi ở chỗ nào xin Minh Vương chỉ giáo cho.

Cưu Ma Trí tủm tỉm cười đáp:

- Vừa rồi Triết La Tinh sư huynh chất vấn đại sư, nói rằng phái Thiếu Lâm có bảy mươi hai môn tuyệt kỹ chưa chắc đã có lấy một người tinh thông hết cả được, câu đó không đúng. Còn đại sư lại nhận những môn Ma Ha chỉ, Ban Nhược chưởng, Ðại Kim Cương quyền là những môn bí truyền của phái Thiếu Lâm, trừ bọn đệ tử chính tông của quý phái còn người ngoài không ai biết cả. Nếu không đúng thế thì nhất định quý phái đã đi học lỏm của người ta. Câu đó cũng sai lầm.

Lão nói liền môt lúc chê trách cả hai người. Quần tăng nghe thấy ngẩn mặt ra nhìn nhau không ai hiểu ý lão thế nào.

Huyền Sinh dõng dạc hỏi:

- Theo lời quốc sư thì ra có người kiêm thông được cả bảy mươi hai môn tuyệt kỹ của tệ phái ư?

Cưu Ma Trí gật đầu đáp:

- Ðúng thế!

Huyền Sinh hỏi:

- Xin hỏi quốc sư vị đại anh hùng đó là ai?

Cưu Ma Trí đáp:

- Cái đó tiểu tăng không tiện nói ra.

Huyền Sinh biến sắc hỏi:

- Là quốc sư chăng?

Cưu Ma Trí gật đầu chắp hai tay để trước ngực vẻ mặt nghiêm trang đáp:

- Chính thị!

Lão vừa nói hai chữ chính thị, quần tăng đều biến sắc lẩm bẩm:

- Thằng cha này khoác lác quá, hay là hắn mắc bệnh điên khùng?

Nên biết rằng bảy mươi hai môn tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm thì có người chuyên luyện hạ bàn, có người chuyên về khinh công, có người sở trường về quyền chưởng, có người lại dùng ám khí để thủ thắng. Ngoài ra hoặc luyện theo đao hoặc kiếm, hoặc sử côn, sử bổng. Môn nào có đặc điểm của môn ấy. Người nào đã chuyên dùng trường kiếm thì không thể nào sử thiền trượng. Người chuyên về đại lực, thần quyền thì lại không giỏi thu phát ám khsi. Tuy có người tinh thông được năm, sáu môn nhưng những môn đó không xung khắc nhau, mâu thuẫn nhau. Các bậc cố lão có truyền lại đời trước trong đám cao tăng có một vị kiêm thông được kêu bằng Thập tam tuyệt Thần tăng. Phái Thiếu Lâm đã sáng lập đến mấy trăm năm mà mới có được một người như vậy. Ðằng này Cưu Ma Trí lại bảo một mình y kiêm thông cả bảy mươi hai môn tuyệt kỹ thì thật là một câu chuyện bịp đời.

Huống chi trong bảy mươi hai môn tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm có đến mười ba, mười bốn môn cực kỳ khó luyện. Dù là bậc thiên tư cực cao suốt đời khổ luyện lấy một môn chưa chắc đã thành tựu. Hiện thời tổng số tăng nhân chùa Thiếu Lâm đến hơn năm trăm vị. Cả hơn năm trăm vị hợp lại cũng chưa tinh thục được hết bảy mươi hai môn tuyệt kỹ, thế mà Cưu Ma Trí trạc ngoài bốn mươi tuổi thì dù cho mỗi năm y luyện được một môn, kể từ ngày y mới lọt lòng cũng chưa được bảy mươi hai năm luyện tập. Vả lại môn tuyệt kỹ này thì môn nào cũng rất phức tạp, trong vòng một năm y làm thế nào mà luyện được mấy môn?

Huyền Sinh cười thầm trong bụng, nhưng ngoài mặt vẫn giữ vẻ cung kính nói:

- Quốc sư không phải là người trong phái Thiếu Lâm chúng tôi, vậy mà những môn Ma Ha chỉ, Ban Nhược chưởng, Ðại Kim Cương quyền cũng đều tinh thông cả chăng?

Cưu Ma Trí cười đáp:

- Tiểu tăng không dám! Còn mong Huyền Sinh đại sư chỉ giáo cho.Dứt lời y nghiêng người đi một chút. Tay trái đột nhiên đưa ngang ra, quyền bên phải vèo một tiếng đánh tới. Chiếc đỉnh hương đồng đặt trước bàn thờ Ðức Phật Như Lai, bật lên tiếng boong rồi hằn lên. Ðó là một chiêu Lạc chung đông ứng trong phép Ðại Kim Cương quyền.

Quyền không đụng vào đỉnh đồng phát ra tiếng cũng chưa lấy làm gì khó. Nhưng thoi quyền đó đánh ngang ra phía trước mà đỉnh đồng bật tung lên thì quyền lực thật là xảo diệu vô cùng, đúng là đã luyện đến chỗ bí ảo của Ðại Kim Cương quyền.

Cưu Ma Trí không chờ cho đỉnh đồng rớt xuống, lại phóng tay trái đánh ra một chưởng theo chiêu Nhiếp trượng ngoại đạo trong môn Ban Nhược chưởng.

Một tiếng choang vang lên! Từ trong đỉnh đồng có một vật rớt xuống rồi mịt mờ khói toả. Tàn hương trong đỉnh đồng cũng tung toé ra mù mịt trông không rõ là vật gì.

Lúc này dư lực của chiêu Lạc chung đông ứng hết rồi, đỉnh đồng rớt ngay xuống.

Cưu Ma Trí lại giơ ngón tay cái ra bật một cái. Một luồng chỉ lực lợi hại bắn ra khiến cho chiếc đỉnh đồng đột nhiên trệch đi nửa thước.

Cưu Ma Trí lại bật ngón tay luôn hai cái nữa, đỉnh đồng lui xa thêm một thước rưỡi rồi mới rót xuống trên mặt đá xanh trong đại điện.

Bọn Huyền Từ, Huyền Sinh cùng các vị cao tăng thấy thế ai cũng phải thán phục. Nhất là ba lần bật ngón tay của Cưu Ma Trí coi rất tầm thường chẳng có chi kỳ dị, thế mà bên trong lại tiềm tàng một luồng nội lực đến độ siêu phàm nhập thánh. Chiêu đó mệnh danh là Tam nhập địa ngục trong phép Ma Ha chỉ chính tông. Sở dĩ nó mang cái tên đó vì người cho thành công mỗi một cái bật tay phải chịu khổ sở chẳng khác gì vào địa ngục một lần.

Lúc này tàn hương đã lắng xuống dần dần, vật rơi xuống đất lớn bằng bàn tay đã lộ ra. Quần tăng trông thấy bất giác la lên một tiếng kinh hoảng.

Nguyên vật đó là một chiếc bàn tay bằng đồng, năm ngón rất rõ, cườm tay và cạnh ngón tay đều lấp loáng có ánh sáng rực rỡ như vàng. Lưng bàn tay lại sắc xanh xám.

Cưu Ma Trí phất tay áo bào một cái rồi cười nói:

- Chiêu Cà sa phục ma công này tiểu tăng luyện chưa được tinh thục, còn nhờ phương trượng sư huynh chỉ giáo cho.

Vừa dứt lời, chiếc đỉnh đồng ở phía trước cách chừng bảy thước thốt nhiên chuyển động luôn mấy cái. Lúc đỉnh đồng đứng lại thì mé trong hướng ra mé ngoài. Bỗng thấy chính giữa thân đỉnh bị khoét mất một miếng giống như hình bàn tay. Chỗ đỉnh bị cắt, ánh vàng chói lọi.

Bấy giờ những nhà sư thấp kém mới hiểu rõ Cưu Ma Trí vừa sử chiêu Nhiếp phục ngoại đạo trong phép Ban Nhược chưởng. Chưởng lực chiêu này sắc bén như lưỡi bảo đao cắt đỉnh đồng ra một miếng hình bàn tay. Lạ hơn nữa là chỗ bị cắt lại không ở phía hướng về Cưu Ma Trí mà lại ở mé bên kia.

Huyền Sinh tự nghĩ dùng chưởng lực cắt đỉnh đồng ra một miếng thì mình còn làm được, nhưng cắt ở mé bên kia thì không tài nào làm được.

Lát sau nhà sư trong lòng chán nản tự nghĩ:

- Không chừng vị thần tăng này nói đúng sự thực và bảy mươi hai môn tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm có khi cũng tự nước Thiên Trúc truyền đến thật. Y luyện tập ở tận tổ cho nên những chỗ ảo diệu cũng cao thâm hơn ở Trung Thổ nhiều.

Huyền Sinh nghĩ vậy hai tay chắp để trước ngực khom lưng nói:

- Thần kỹ của quốc sư khiến cho tiểu tăng được mở rộng tầm mắt. Tiểu tăng rất lấy làm bội phục.

Cưu Ma Trí sử chiêu sau cùng chiêu Cà sa phục ma công. Môn này chính Huyền Từ đã tốn không biết bao nhiêu công phu cùng thời giờ luyện tập, đến nỗi vì nó mà trễ nải việc tu luyện thiền học. Thường thường đại sư vẫn hối hận về chuyện này không khác gì người ta thường nói: "Ðược buổi giỗ lỗ buổi cấy", chỗ sở đắc không đủ đều bù lại chỗ sở thất. Nhưng đại sư lại nghĩ đến mình luyện được môn tụ công vào bậc nhất thiên hạ thì cũng an ủi được đôi chút.

Bây giờ Huyền Từ thấy Cưu Ma Trí phất tay áo một cách nhẹ nhàng không lộ hình tích, vẻ mặt vẫn tươi cười, y còn không sợ vì miệng nói mà để chân khí phải tiết ra ngoài thì thật mình không bằng y.

Ðại sư nghĩ vậy lại cảm thấy buồn rầu.

Trong nhà đại điện không một tiếng động. Ai nấy đều bị thần công của Cưu Ma Trí trấn áp.

Bỗng Huyền Từ thở dài nói:

- Bữa nay lão tăng mới biết rằng bên ngoài vòm trời này còn có vòm trời khác, bên ngoài cõi người này còn có cõi người khác. Lão tăng khổ học mấy chục năm trời nhưng đối với con mắt quốc sư chưa đủ làm trò cười.

Ngừng một lát Huyền Từ lại nói tiếp:

- Ba La Tinh sư huynh! Chùa Thiếu Lâm như vũng nước nông cạn không đủ để giao long vùng vẫy. Nơi đây phước bạc chẳng dám lưu quý khách. Vậy xin sư huynh tuỳ tiện.

Huyền Từ vừa nói ra, Triết La Tinh cùng Ba La Tinh đều lộ vẻ mừng vui.

Thần Quang Thượng Nhân thì lại vừa vui mừng vừa âu sầu. Vui mừng ở chỗ Ba La Tinh quả nhiên đã thuộc làu những tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm và Huyền Từ đại sư bằng lòng thả y về. Còn lão buồn là vì vụ này lão chẳng có công trạng gì mấy, mà do thần kỹ của Cưu Ma Trí làm nên. Cưu Ma Trí đã cao siêu rất mực, khống chế được toàn cuộc thì dù mình có được Ba La Tinh truyền cho những môn tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm, nhưng cũng còn là những việc rất khó.

Cưu Ma Trí vẫn thản nhiên không lộ vẻ gì. Y chắp tay để trước ngực nói:

- Phúc đức thay! Phương trượng sư huynh hà tất phải quá khiêm?

Toàn thể tăng nhân chùa Thiếu Lâm đều cúi đầu buồn bã.

Nên biết rằng Huyền Từ bị áp bức đến độ phải nói những câu đó là tự nhận tuyệt kỹ Thiếu Lâm không bằng người. Tiếng tăm lừng lẫy mấy trăm năm đầu sỏ những môn võ học ở Trung Nguyên, phái Thiếu Lâm chưa bao giờ bị nhục nhuệ khí như bữa nay. Vụ này chẳng những phái Thiếu Lâm bị bại nhục mà cả các phái võ Trung Nguyên đều mất mặt với người Phiên.

Những nhà sư Long Mãnh, Ðại Thanh, Giác Niên, Dung Trí, Thần Âm cũng vẻ mặt buồn thiu. Sự tình biến diễn đến mức độ ra ngoài những sự liệu trước của họ mới lúc lên chùa Thiếu Lâm.

Huyền Từ đại sư không muốn cưỡng lưu Ba La Tinh đã nghĩ kỹ lắm. Ðại sư nghĩ rằng chùa Thiếu Lâm mà giữ Ba La Tinh là cốt để cho các môn tuyệt kỹ bản tự khỏi tiết lộ ra ngoài. Bây giờ mắt thấy một Cưu Ma Trí kiêm thông cả bảy mươi hai môn tuyệt kỹ thì giữ Ba La Tinh lại cũng chẳng ích gì. Vả lại Ba La Tinh có thuộc lòng chăng nữa chỉ được đến bảy tám môn là cùng so với Cưu Ma Trí chưa thấm vào đâu. Kể về võ công của Cưu Ma Trí thì trong bản tự dĩ nhiên không một ai địch lại được. Nếu kéo cả hơn năm trăm nhà sư nhảy vào tấn công là ỷ mình nhiều người để thủ thắng thì đâu có phải hành vi của phái Thiếu Lâm đã từng vang danh thiên hạ?

Huyền Từ nghĩ vậy rồi lẩm bẩm:

- Bữa nay Ba La Tinh xuống núi rồi thì chỉ trong vòng một tháng trên chốn giang hồ sẽ đồn đại những tiếng không hay. Phái Thiếu Lâm đã không làm được lãnh tụ võ lâm mà chính mình cũng không còn mặt mũi nào làm phương trượng chùa Thiếu Lâm nữa. Nếu bữa nay không xử sự như vậy, thì cũng không còn tìm ra được lối thoát nào khác.

Những việc xảy ra trong đại điện, Hư Trúc đều nhìn rõ hết. Ðến khi y nghe phương trượng nói mấy câu sau cùng rồi toàn thể chư tăng bản tự nhất là các bậc tiền bối đều nét mặt sầu thảm. Y liếc mắt nhìn sư phụ mình là Tuệ Luân thì thấy người nước mắt nhỏ xuống như mưa, tỏ ra rất đỗi thương tâm! Thậm chí còn có mấy vị sư thúc đấm ngực khóc rống lên.

Hư Trúc tuy không hiểu rõ chi tiết về vụ này nhưng cũng biết rằng Cưu Ma Trí vừa phô trương võ công, bản tự không người địch nổi đành để hắn đem Ba La Tinh đi. Nhưng trong lòng Hư Trúc có thắc mắc nhất ở chỗ Cưu Ma Trí sử Ðại Kim Cương quyền, Ban Nhược chưởng pháp, Ma Ha chỉ pháp, chiêu thức trúng hay trật, vì y chưa học qua thì không có cách nào hiểu được. Nhưng cách vận dụng nội lực về quyền pháp, chưởng pháp, chỉ pháp thì y trông rõ cả và nó đúng là công phu Tiểu vô tướng công.

Hư Trúc học được công phu Tiểu vô tướng công của Vô Nhai Tử, sau lại được Thiên Sơn Ðồng Mỗ truyền dạy những ca quyết về Thiên Sơn chiết mai thủ. Lúc bà ta phát giác ra y có công phu Tiểu vô tướng công thì rất đỗi thương tâm và căm hận, vì công phu này sư phụ bà ta chỉ truyền cho một mình Lý Thu Thủy, mà Hư Trúc lại học được ở Vô Nhai Tử. Thế thì rõ ràng giữa Vô Nhai Tử và Lý Thu Thủy đã có mối liên quan mật thiết với nhau, nên bà ta nổi lòng ghen tức.

Hư Trúc lại nhớ khi Thiên Sơn Ðồng Mỗ hết cơn giận đã nói kỹ cho y nghe về phép vận dụng Tiểu vô tướng công. Nhưng về sau y được Lý Thu Thủy chỉ điểm rõ hơn.

Về võ học Hư Trúc chẳng những không được quảng bác mà có thể nói ra rất đỗi hẹp hòi, song riêng về môn Tiểu vô tướng công thì y đã thuộc lòng. Khi về cung Linh Thứu, Hư Trúc lại học được những đồ hình trong thạch thất dưới đường hầm thì môn này y đã đến được chỗ kỳ diệu bí ảo.

Tiểu vô tướng công là môn võ học của Ðạo gia giảng dạy cách giữ lòng thanh tĩnh, thần trí phiêu diêu, so với cái học vô sắc, vô tướng của nhà Phật tuy nghe hình như có chỗ tương đồng, mà thực tế lại khác hẳn.

Hư Trúc vừa nghe đến thanh âm Cưu Ma Trí lúc còn ở ngoài sơn môn đã biết hắn dùng trung khí để truyền tiếng nói ra xa và y đã phải run sợ. Hư Trúc hiểu rằng môn Tiểu vô tướng công của Cưu Ma Trí đã đến chỗ rất thâm cao. Sau Cưu Ma Trí thi triển quyền pháp, chưởng pháp, chỉ pháp, tụ pháp, bề ngoài tuy biến ảo khôn lường, nhưng thực ra hắn đã hoàn toàn phát động môn Tiểu vô tướng công.

Sư thúc tổ Hư Trúc là Huyền Sinh và cả Ba La Tinh sử chiêu thức Thiên y vô phương từ trong đến ngoài, thuỷ chung vẫn là công phu của Phật môn. Cả đến những nội công về Ban Nhược chưởng, Ma Ha chỉ cũng đều có lề lối riêng biệt, không pha trộn công phu ngoại lai vào.

Bây giờ Hư Trúc nghe Cưu Ma Trí miệng nói là tinh thông hết bảy mươi hai môn tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm, song lúc thi triển chiêu thức thì rõ ràng hắn đã phát động công phu về môn Tiểu vô tướng công. Lúc hắn thi triển Ban Nhược chưởng, Ðại Kim Cương quyền, cũng phát huy cường kinh về môn Tiểu vô tướng công uy mãnh đến cực điểm để trấn áp những người hiện diện đương trường. Trong con mắt người chưa hiểu Tiểu vô tướng công liền cho ngay là hắn đã tinh thông các môn tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm.

Tuy đó là trường hợp vàng thau lẫn lộn nhưng phải thành thực nhận chận là uy lực môn Tiểu vô tướng công chẳng thua kém gì những tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm. Có điều hắn đã trỏ con hươu mà bảo con ngựa để bưng mắt mọi người.

Hư Trúc rất lấy làm kỳ ở chỗ Cưu Ma Trí rõ ràng sử dụng môn Tiểu vô tướng công lại nói là tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm, mà trên từ Huyền Từ phương trượng trở xuống đến hơn năm trăm nhà sư sao chẳng một ai vạch chỗ bịp đời của hắn ra?

Hư Trúc có hiểu đâu rằng môn Tiểu vô tướng công vừa tinh thâm vừa bao la bát ngát lại là thứ võ học của Ðạo gia. Những người hiện diện toàn là Phật môn đệ tử thì dù võ công cao đến đâu mà chưa từng luyện nội công của Ðạo gia thì nhìn nhận thế nào được. Nhất là môn Tiểu vô tướng công đúng như tên gọi của nó, đã tướng vô hình thì còn biết đằng trời nào mà mò.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau