LƯ SƠN KỲ NỮ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Lư sơn kỳ nữ - Chương 41 - Chương 45

Chương 41: Chuyện lạ ở miêu cương

Dật Tư xua tay đáp:

-Khỏi cần! Khỏi cần!Độc Cô biểu đệ hiện giờ đã rời khỏi núi Dã Nhân không biết đi đâu rồi.

Kêu "ủa" một tiếng, Tiêu Anh ngạc nhiên hỏi:

-Sao tiên tử lại dám quả quyết thế?

Dật Tư đáp:

-Chính mắt tôi đã trông thấy Độc Cô biểu đệ rời khỏi núi Dã Nhân này.

Mọi người nghe nói càng kinh ngạc thêm. Dật Tư bèn kể chuyện ở ngoài cửa hang đợi chờ, ngẫu nhiên trông thấy có người cưỡi con chim điêu như thế nào cho các người hay và nói tiếp:

-Lúc ấy tôi lại tưởng là nhìn lầm người, nhưng bây giờ nghe Băng muội cho hay tình hình ở núi Dã Nhân mới biết rõ hai người cưỡi chim đó có thể cũng là Độc Cô Biểu đệ và Độc Cô Hưng trước là thư đồng bây giờ là sư đệ của y.

Long Sinh thở dài một tiếng cảm khái nói:

-Hơn ba mươi năm nay tôi chưa gặp Đại Bi TônGiả với Nam Môn Vệ Thích Đạo Song Tuyệt lại tưởng hai người đã sớm thoát khỏi trần gian rồi không ngờ hai người ấy vẫn còn ỏ trên tục thế này.

Dật Tư vừa cười vừa khuyên:

-Phạm huynh không nên cảm khái như thế nữa, bây giờ chúng ta nên đi Miêu Lãnh ngay chứ?

Long Sinh mỉm cười gật đầu. Thế là bốn người liền rời khỏi núi Cao Lê Cống đi Miêu Lãnh.

Nhưng khi các người tới Miêu Lãnh tìm khắp nơi trong núi cũng không thấy Ngũ Độc Cốc với Bách Hoa Đầm đâu hết.

Dật Tư cau mày lại thở dài nói:

-Tiếc thay trước kia tôi nghe môn hạ báo cáo tin này, không liên can gì tới mình nên không để ý tới và cũng không hỏi lại Ngũ Độc Cốc với Bách Hoa Đầm ở nơi nào của Miêu Lãnh này, vì thế ngày hôm nay mới khó tìm kiếm như thế này.

Tiêu Anh ngẫm nghĩ rồi mỉm cười xen lời nói:

-Bái Khiết giáo thường hay lánh mặt người, cho nên chỗ ở của họ phải kín đáo khó tìm kiếm. Theo sự nhận xét của tôi thì Ngũ Độc cốc với Bách Hoa đầm mới thoáng nghe qua tưởng là hai nơi, nhưng sự thực chỉ là một nơi thôi. Có lẽ ở trong rừng rậm, hay là ở dưới đáy hang động bí mật gì đó.

Long Sinh gật đầu tán thành:

-Lời nói của Tiêu Thánh Mẫu rất có lý, Miêu Lãnh này rộng lắm, có những khu rừng già chưa khai thác, lại nhiều không thể đếm xuể và những hang động cổ vừa thâm u bí ẩn cũng nhiều vô cùng, chúng ta phải tốn công chia đường đi tìm kiếm mới được.

TiêuAnh vừa cười vừa hỏi:

-Chẳng hay Phạm huynh định chia như thế nào?

Long Sinh chỉ Tiêu Anh với Mộ Dung Băng đáp:

-TiêuThánh Mẫu với MộDung cô nương hai mẹ con đi một đường, tìm kiếm những khu rừng già, còn Long Sinh tôi với Tạ Tiên tử thì lại chia làm hai đường, chuyên đi tìm các hang động bí mật.

Dật Tư cũng tán thành ý kiến ấy.

-Lối chia đường đi của Phạm huynh rất hay, nhưng trước khi đi chúng ta phải hẹn định một cách báo tin để gặp gỡ, như vậy người nào tìm thấy trước, thì phải báo ngay cho ngươi kia hay.

Long Sinh gật đầu, đưa mắt nhìn bốn chung quanh rồi mỉm cười đáp:

-Bây giờ chúng ta dadng đứng ở trên đỉnh núi này vừa cao vừa dễ trông thấy, chi bằng chúng ta cứ lấy nơi đỉnh núi này làm chỗ gặp mặt, bất cứ tìm thấy hay không, bốn ngày sau chúng ta đều phải gặp nhau ở trên đỉnh núi này vào lúc giữa trưa.

Dật Tư với mẹ con Tiêu Anh đều vâng lời, rồi nghe theo lời phân phối của LongSinh mỗi người đi một ngả tìm kiếm. Thị tài cao can đảm hơn người, Long Sinh chia tay mọi người đi xuống những khe núi hay hang hốc rất nguy hiểm để tìm kiếm.

ở Miêu Lãnh các độc vật hãn thế rất nhiều, bất cứ rắn rết cầm thú hung ác và độc địa đều đủ hết,, cả những hoa cỏ cây mây cũng thường có thể giết người được.

Long Sinh đi xuống những hang động thâm u, tất nhiên phải gặp rất nhiều trùng độc và mãnh thú nhưng võ học của ông ta đã luyện tới mức xuất thần nhập hoá rồi, cho nên dù có nguy hiểm đến đâu cũng đều bình yên vô sự. Có lần ông ta lỡ đi lầm vào một hang rắn, trong đó có một loại rắn rất độc tên là ThấtTinh Câu Tử, ông ta bị cuốn chặt, sau ông ta phải dùng nội gia cương khí mới đánh chết được con rắn ấy.

Ông ta khổ tâm tìm kiếm hai ngày liền mà không thấy tà giáo kia đâu hết, mà chỉ còn một ngày một đêm nữa là sẽ gặp lại DậtTư với mẹ con TiêuAnh cho nên ông ta không dám đi xa đành phải trở lại tìm kiếm bên kia ngọn núi cao.

Long Sinh bỗng thấy một con quái vật rất kỳ lạ ở cạnh khe núi, quái vật ấy là một con mối đỏ như máu, dài hơn năm thước, to như một cái thùng đang uống nước ở cạnh suối.

Từ khi vào Miêu Lãnh đến giờ, Long Sinh được trông thấy những con thằn lằn tuy nhiều, nhưng chưa bao giờ thấy con nào lại đỏ như máu và to đến như thế này, nên ông ta vội trốn ngay vào sau một tảng đá, hai mắt cứ ngắm nhìn con độc trùng biết bò và hiếm thấy này hoài.

Ông ta nhìn được một lúc, lại thấy một con thứ hai bò ra.

Con quái vật thứ hai này lại là con nhện đen khổng lồ.

Con nhện này tuy đen, nhưng tám cái chân của nó như tám cái móc gang, lại mọc khá nhiều lông vàng óng ánh.

Chỉ thấy bụng con nhện cũng to bằng cái chậu mà nếu trông thấy cả những chân ở hai bên bụng nó, thì ai ai cũng phải hãi sợ.

Con nhện đen ấy xuất hiện ở bên dưới suối, hình như nó đã luyện qua môn khinh công Thanh Bình Điểm Thuỷ thì phải. Chỉ thấy nó ở trên mặt nước bò mấy cái, đã đi như bay nhảy xổ tới chỗ con mối kia luôn.

Long Sinh biết những loại độc vật này thường thường hay lương sinh lương khắc, thế nào cũng có một trận ác chiến hạn hữu sẽ xảy ra cho mình xem luôn, phen này mình thật là may mắn.

Ngờ đâu con nhện đen vừa nhảy xổ tới trước mặt con mối kia, hai con độc vật hung ác lại không đánh nhau. Con mối đỏ như máu cũng không uống nước nữa, cùng con nhện đen bò vào trong một hang động vừa đen vừa sâu ở gần đó.

Long Sinh đang thất vọng, sau bỗng nghĩ ra một kế, liền bụng bảo dạ rằng:

"Hai con độc vật rất lớn này, một con là mối đỏ như máu, một con là nhện đen lông vàng, đều là vật hạn hữu trên đời này. Bây giờ chúng nó lại cùng chui vào trong một cái hang động như thế, có lẽ chúng có liên quan đến Ngũ Độc Cốc mà mình kiếm mãi vẫn chưa thấy cũng nên".

Nghĩ tới đó, ông ta cứ nằm yên ở đó đợi chờ, để xem có cái gì khác xảy ra nữa không?

Đợi chờ giây lát, quả nhiên ông ta lại thấy một con độc vật hiếm thấy và trông rất rùng rợn đáng sợ xuất hiện nữa.

Con độc trùng này là một con rết màu tía, dài chừng ba thước.

Mỗi một khúc xương của con rết đều to bằng chén nước, hai mắt nó trông như hai ngọn đèn, nó ở sau động đá lởm chởm bên kia bờ suối bò ra. Một trăm cái chân cùng bò một lúc không khác gì bay lơ lửng trên không vậy. Nó cũng chui vào cái hang động tối om kia.

Long Sinh mừng rỡ khôn tả, bụng bảo dạ rằng:

"Đã có ba con độc vật chui vào trong hang rồi, nếu còn hai con nữa tới góp đủ số, thì ta có thể đoán chắc cái hang động tối om kia thể nào cũng có liên quan với Độc Cốc. Lúc ấy ta sẽ mạo hiểm vào bên trong dò thám xem sao... Vừa nghĩ tới đó, ông ta quả nhiên lại thấy con độc vật thứ tư xuất hiện.

Nhưng con độc vật này lại không hung ác đáng sợ như ba con kia,. Trái lại hình dáng của hó rất ngộ nghĩnh và hoạt kê.

Nó là một con cóc khổng lồ, đường kính của bụng nó dài chừng bốn thước, màu xam xám, khắp mình mẩy đều có những nốt mụn sần sùi nổi lên. Nó chỉ có một đặc điểm là to kỳ lạ thôi, chứ ngoài ra không có cái gì là đặc biệt và kỳ lạ hết.

Nhưng mắt của Long Sinh sáng như điện. Ông ta đã trông thấy con cóc này tới đâu, cây cỏ ở đó vàng úa ngay, đủ thấy trong người nó có chất độc lợi hại như thế nào, nhất là những nốt mụn mọc ở khắp mình mẩy khi gặp kẻ địch, có thể phun ra những nước độc lợi hại vô cùng.

Hình thù của con cóc này tuy đần độn, nhưng hành động lại nhanh không thể tưởng tượng được. Mỗi một cái nhảy của nó đi xa ít nhất hàng ba bốn trượng.

Nó ẩn thân ở dưới sườn núi, chỗ Long Sinh ẩn núp. Vừa xuất hiện một cái, nó đã nhảy tới cạnh suối, đột nhiên há cái mồm thật to ra hít một hơi thật lớn. Bụng nó phình lên, và to gấp rưỡi trước ngay.

Long Sinh biết hành động này của con cóc là muốn nhảy qua cái suối.

Quả nhiên con cóc hít đủ hơi xong liền lép bụng một cái, rồi lại phun hơi ra và mồm nó kêu đến "ộp" một tiếng thực lớn. Hai chân sau đạp mạnh vào hòn đá, người nó đã phi lên cao và vượt qua ngọn suối sáu bảy trượng ngay.

Con cóc sang tới bên kia bờ suối, tất nhiên nó cũng chui luôn vào trong hang động tối om kia.

Long Sinh thấy thế, cảm thấy rất hứng thú gắng công chờ đợi thêm vì ông ta nhận thấy sự xét đoán của mình đã đúng. Cái hang động tối om kia chắc thể nào cũng là cửa ra vào của Ngũ Độc cốc.

Con mối đỏ như máu, con nhện đen lông vàng, con rết màu tía, với con cóc khổng lồ màu xám kia, đều là những độc vật hãn hữu, chúng đã lần lượt xuất hiện rồi thì tất nhiên còn con thứ năm thể nào cũng sắp xuất hiện đến nơi chứ không sai.

Một mặt chờ đợi con thứ năm xuất hiện, Long Sinh ước đoán thầm::

"Con độc vật thứ năm xuất hiện đây, nếu không phải là một con độc xà dị hình, thì thể nào cũng là con Kim Câu Độc Khiết mà mình ở xa tới tìm kiếm?" Sự đời lắm lúc nó lại xảy ra trái hẳn với sự tưởng tượng. Thì ra ông ta đợi chờ hàng nửa tiếng đồng hồ mà vẫn không thấy con độc vật thứ năm xuất hiện nữa.

Ông ta vốn là một kỳ nhân, trong lúc thất vọng, bỗng nghĩ ngay ra một ý tưởng kỳ lạ.Long Sinh vẫn cương quyết tin tưởng sự ước đoán của mình không sai, và cho con độc vật thứ năm không phải ở bên ngoài tới mà đã ở sẵn trong hang động rồi.

Nói tóm lại, con độc vật thứ năm ấy mới là con Chúa của năm con độc vật. Vừa rồi bốn con nọ lần lượt đi vào trong hang như thế, là vào hầu Chúa đấy thôi.

Long Sinh càng nghĩ càng nhận thấy mình đoán không sai nên ông ta quyết tâm chui vào trong hang động đó thám hiểm.

Nhảy qua suối kia rồi, Long Sinh không dám đường đột tiến vào hang tối đen.

Trước hết ông vận chân khí lên khến khắp mình mẩy như có một làn gang thép bao bọc rồi dùng nội gia thần công phong bế các yếu huyệt.

Sửa soạn xong đâu đấy, Long Sinh mới đi vào trong hang động tối om nọ.

Đường lối của hang động ấy quanh co khúc khuỷu chứ không thẳng trượt như những cái hang khác, đi vòng mấy lối ngoẹo, đường đi càng vào càng tối om.

Nhưng Long Sinh đã khổ luyện hơn ba chục năm nội ngoại công đã luyện tới mức xuất phàm nhập thánh rồi, nên hai mắt của ông ta càng sáng như điện, có thể trông thấy bất cứ một cái gì ở trong bóng tối.

Long Sinh trông thấy đường đi quanh co khúc khuỷu lúc thì lên cao lúc lại xuống thấp nhưng đi mãi ông ta vẫn không thấy tung tích bốn con độc vật kia đâu hết.

Trong hang động yên lặng như bãi tha ma, càng đi sâu càng rùng rợn thêm. Đi được hơn ba trăm trượng, ông ta mới thấy hai vật vô hình đã phá tan bầu không khí trầm tĩnh ấy.

Vật vô hình ấy là mùi thơm của hoa và tiếng nước chảy róc rách rất khẽ.

Thoạt tiên Long Sinh ngửi thấy mùi hoa trước, nhưng ông ta không hiểu đó là thứ hoa gì?Nó nồng hơn hoa mai, nhạt hơn hoa lan, nhã hơn hoa lài, thanh u hơn hoa quế, khiến người ta không sao phân biệt được nó là hoa gì?

Khi ngửi thấy mùi thơm thì ông ta cũng vừa nghe thấy tiếng nước chảy. Tiếng nước chảy cũng nhẹ lắm, chứ không phải là nước thác và cũng không phải là tiếng nước suối chảy chỉ nhẹ nhàng như gió thổi những làn sóng nhỏ tạt vào bờ thôi.

Long Sinh rất ngạc nhiên lại đi mấy vòng nữa mới thấy trước mặt có ánh nước sáng lóng lánh, và biến thành thủy động.

Địa thế quái dị khiến Long Sinh phải ngừng bước ngay, và trù trừ không biết có nên tiến thêm vào hay không?

Vì suốt dọc đường không thấy có đường lối nào khác, nên ông ta nghĩ bụng:

"Chả là bốn con độc vật:mối đỏ như máu, nhện đen lông vàng, rết màu tía khổng lồ và con cóc màu xám đều lội xuống nước mà tiến thẳng vào bên trong chăng?" Ông ta đang cau mày lại suy nghĩ bỗng trông thấy trên vách động có mấy con bò cạp hình tỳ bà dài chừng bốn năm tấc đang từ từ bò vào trong hang.

Trông thấy những con bò cạp kia, ông ta càng nhận thấy sự ước đoán của mình không sai, ông ta vội giở khinh công tuyệt đỉnh ra phi trên mặt nước mà tiến vào.

Từ lúc đi vào trong thủy động, suốt dọc đường không còn buồn tênh như trước nữa, vì hai bên vách với trên đỉnh, ông ta cứ phát hiện bò cạp độc luôn luôn, có con còn dài hơn một thước.

Lúc này lối đi không quanh co khúc khuỷu như trước nữa. Đi được vài chục trượng đã thấy có chút ánh sáng, rõ ràng đã sắp tới lối ra rồi. Ông ta càng hớn hở mùi hoa thơm cũng nồng hơn trước, bên tai hình như còn nghe thấy có tiếng người vọng tới rất khẽ.

Long Sinh nhận định. Trong thủy động có mùi hoa thơm này có lẽ chính là Bách Hoa đầm, và qua khỏi Bách Hoa đầm là sẽ tới Ngũ Độc Cốc, sào huyệt của bọn Bài Khiết tà giáo chứ không sai?

Người ta trong lúc lo âu kinh hãi và đi vào chỗ nguy hiểm thì bao giờ cũng đề cao cảnh giác, thấy việc gì cũng phải đề phòng cẩn thận, nhưng khi đã qua khỏi nguy hiểm thì đa số lại thường hay sơ suất chểnh mảng.

Phạm Long Sinh là một cao thủ thượng thặng như thế mà cũng phạm phải lỗi lầm trên.Nơi mà ông ta khổ tâm tìm kiếm bấy nhiêu ngày không thấy, bây giờ đã ở trước mặt, tất nhiên ông ta phải cao hứng vô cùng. Chỉ vì sự cao hứng đó, khiến ông ta quên chưa chú ý tới một việc nho nhỏ. Đó là vừa rồi ở bên ngoài mấy trượng, rõ ràng ông ta đã trông thấy một chút ánh sáng mặt trời rồi, nhưng đi sâu vào lại càng không thấy ánh sáng đó.

Long Sinh không đếm xỉa tới điểm ấy cứ tiếp tục thủng thẳng tiến vào trong, hai mắt chú ý vào con bò cạp lớn nhất dài ngót hai thước, đang bò ở đỉnh hang để coi xem đuôi của nó có phải màu vàng không?

Lúc ấy ông ta chỉ còn cách chỗ cửa hang chừng sáu bảy trượng thôi. Sở dĩ cửa động không có ánh sáng là vì bị con nhện đen lông vàng đang đậu ở đó che lấp cửa hang. Đừng nói Long Sinh đang chăm chú nhìn vào đuôi con bò cạp đặc biệt nọ xem là màu gì, mà không chú ý tới lối ra, dù ông ta có hội tụ tinh thần chú ý đến lối ra cũng không sao trông thấy con nhện đen như mực ở chỗ mình hơn mấy trượng đang giương oai định tấn công lén.

Con bò cạp lớn ở trên đỉnh hang từ từ bò về phía trước, Long Sinh cũng từ từ theo sau tiến lên.

Người với nhện xa cách nhau từ sáu bảy trượng rút ngắn còn bốn năm trượng, rồi từ bốn năm trượng rút ngắn xuống hai ba trượng.

Lúc ấy đôi bên chỉ còn cách nhau có chừng hai trượng thôi. Long Sinh ngẫu nhiên nhìn về phía trước liền giật mình kinh hãi.

Sở dĩ ông ta kinh hãi là vì hồi nãy rõ ràng xa xa trông thấy có một chút ánh sáng mặt trời mà sao bây giờ sắp ra tới cửa lại không thấy ánh sáng nữa.

Trong lòng đã kinh hãi thì tất nhiên Long Sinh dừng bước ngay.

Ông ta hưa ngừng bước, con nhện khổng lồ còn chuẩn bị đợi chờ nay nó thấy ông đã ngừng bước, lại tưởng đối phương đã phát hiện ra mình, nên nó tấn công trước. Chỉ nghe thấy "xoẹt" một tiếng dưới rốn nó đã có một nắm sợi thật lớn nhằm đầu Long Sinh phun tới.

Đối với con bò cạp ở trên đỉnh hang, Long Sinh còn hơi hãi sợ, nhưng đối với bóng đen trước mặt lai chỉ kinh ngạc thôi chứ không hãi sợ chút nào. Khi nghe thấy tiếng kêu "xoẹt" ông ta định nhảy lùi nhưng nắm sợi màu xám bạc của con nhện tung ra đã kết thành một cái lưới lớn ở trên không rồi.

Long Sinh thị tài nghệ hơn người, nên cũng can đảm hơn ai hết. Ông ta thấy tránh né không kịp, liền nghĩ ra một kế, không phản ứng gì cả để mặc cho lưới nhện bó chặt lấy mình.

Vì lúc này ông đoán chắc những con độc vật thông linh này là do người ta nuôi dạy. Người nuôi nấng dạy bảo nó tất nhiên là người của phái Bái Khiết tà giáo ở trong Ngũ Độc Cốc này.

Ông ta nhận thấy để cho lưới nhện bắt trói thể nào cũng bị đưa vào Ngu Độc Cốc xét xử như vậy đỡ phải tốn công lần mò một cách mù quáng như trước nữa.

ý kiến này của Long Sinh tuy rất khôn khéo, nhưng suýt tí nữa thì khốn khổ, nếu không nhờ có sự khổ tu ba mươi năm, võ công của ông ta đã luyện tới mức xuất thần nhập hoá thì cả tính mạng của ông ta đã suýt bị mâý con độc vật jhãn thế này nuốt chửng.Vừa bị mạng nhện trói chặt, ông ta đã bị lôi về phía con nhện đen.

Nhưng người của ông ta chưa tới gần con nhện thì đã thấy trên đỉnh đầu có một vật gì giáng xuống.

Con vật đó là con bò cạp đặc biệt lớn dài gần hai thước đang bò ở trên đỉnh đầu.

Con bò cạp hung ác tuyệt luân, không khách khứa gì cả, vừa nhảy xuống lưới nhện đã quay đầu dùng cái móc ở đuôi định đốt Long Sinh ở trong lưới.

Chỗ Long Sinh bị nó đốt ngay ở gần kỳ Môn Huyệt ở vú bên trái. Cũng may trong khi vào hang động, ông ta đã chuẩn bị sẵn, bế hết các yếu huyệt hoá người thành gang cho nên mới không bị nó đốt chảy máu và không tổn hại gì hét. Nhưng ông ta cũng phải nhăn mặt, đủ thấy oai lực của cái móc độc ở đuôi con bò cạp bá đạo không kém gì Kim Cương chỉ của một nội gia trọng thủ vậy. Móc độc ở đuôi con bò cạp vừa đốt xong, thì hai cái càng sắc bén như đao kiếm của con nhện đã nhắm ngực ông rạch luôn hai cái.

Biết đối với những thứ độc trảo hay càng sắc bén của những loại độc vật này kông nên dùng cứng để chống đỡ, vì thế ông ta đã làm cho người mềm nhũn như không có xương mà lép ngay người lại. Nhờ vậy chỉ có chỗ ở trước ngực bị rạch hai đường thôi, chứ da thịt không hề bị suy chuyển chút nào.

Bò cạp với nhện tuy hung ác, độc địa vô cùng, nhưng về mặt linh tính thì chúng còn kém người ta xa. Chúng tưởng đốt và kìm như thế, dù Long Sinh không toi mạng thế nào cũng mê man bất tỉnh.

Long Sinh cũng biết điều đó, nên ông ta giả bộ chết, nín hơi, nhắm mắt, nằm yên ở trong lưới nhện, không cử động chút nào.

Người con nhện hơi thấp thoáng một cái, nó liền dùng cái càng sắc bén gạt luôn một thế. Chỉ nghe thấy kêu "ùm ùm" chỗ cửa hang đã mở ra luôn, ánh sáng mặt trời đã chiếu vào làm loé cả mắt.

Con bò cạp khổng lồ chui ra ngoài hang trước. Long Sinh hé mắt nhìn trộm, thấy đuôi con độc vật ấy chỉ hơi đen và hơi có một chút máu màu vàng nhạt thôi, chứ không phải vàng kim.

Con nhện cũng bò tám chân lôi kéo Long Sinh lăng không phi vào thủy động.

Lúc này Long Sinh lại cảm thấy sự mạo hiểm của mình rất lý thú, vẫn giả bộ chết nằm ở trong lưới, mở hí hí mắt để nhìn tình thế ở bên ngoài.

Ngoài cửa động là một cái đầm nước trông rất rộng lớn, đường kính dài chừng năm trượng. Giữa đầm có một cái đảo nhỏ. Trên đảo trăm hoa đua nở, mùi thơm của hoa toa? ra khiến người ta cảm thấy tinh thần khoan khoái. Giữa trăm cây hoa đó có xây dựng mấy căn nhà bằng trúc rất sạch sẽ.

Long Sinh tưởng con nhện lông vàng thế nào cũng đem mình lội vào đảo ở giữa đầm, người của Bái Khiết Giáo thể nào cũng ở trong mấy căn nhà trúc trên đảo ấy.

Ngờ đâu ông ta đã đoán sai. Con nhện lại đưa ông ta sang phía bên trái đảo, chỗ vách núi cao chọc trời, rồi bay tung lên.

Trong lúc ngừng giây lát. Long Sinh đã trông thấy hai ba tên thiếu nữ Mèo khoa? thân đang đùa rỡn ở trong bụi cây hoa ở trên đảo.

Con nhện khổng lồ và hung ác ấy dưới bụng lôi kéo một cái lưới trong đó có một người đột nhiên từ trên không giáng xuống. Thế hạ giáng tất nhiên phải mạnh vô cùng, mnhưng mấy thiếu nữ Mèo kia không vì thế mà thất kinh la lớn, trái lại chúng không thèm để ý là khác.

Long Sinh đang kinh ngạc, thì thấy mình đã bị con nhện lôi lên lưng chừng vách núi và đưa vào trong cái hố lõm khác gì một cái sân rộng chừng sáu trượng, nhưng phía sát vách núi lại có năm cái hang, một to, bốn nhỏ.

Cái hang lớn nhất cửa hang rộng chừng sáu, bảy thước ở ngay nơi chính giữa, còn bốn cái hang ở hai bên, cửa hang cũng rộng chừng ba bốn thước và rất chỉnh tề.

Long Sinh thấy thế ngạc nhiên và nghĩ bụng:

"Đầm nước này rộng chừng trăm trượng, có bé nhỏ gì đâu mà lại dưới ánh mặt trời, sao mình, Tạ Tiên tử với mẹ con Tiêu Anh đã đi tìm kiếm khắp nơi mà không thấy, thế là nghiã lý gì?" Nghĩ tới đó, nhân lúc lưới nhện hạ xuống mặt sân đá ông ta lăn ngay một vòng nằm ngửa lên để nhìn xuống dưới đầm.

Khi nhìn xuống bên dưới, Long Sinh mới biết cổ nhân dạy câu:"Đọc vạn cuốn sách không bằng đi muôn dặm đường" thật không sai chút nào, vì ông ta thấy cảnh vật ở nơi đây kỳ lạ không thể tưởng tượng được và không có sách vở nào có thể mô tả nổi.

Thì ra trên không chỗ cách đầm nước cao chừng hai trăm trượng, sánh sáng mặt trời từ đó chiếu xuống, mà trên đó, chỗ ánh sáng chiếu xuống ấy chỉ rộng chừng hai ba trượng thôi.. Khắp địa hình nơi đó không khác gì một cái hũ rượu, bên trên nhỏ bên dưới rộng. Nói tóm lại,nơi ấy chính là lòng núi của Miêu Lãnh. Nhưng trong lòng núi lại có một đầm nước lớn, giữa đầm lại có hòn đảo nhỏ.Ngoài cái lỗ hổng trên đỉnh núi có ánh sáng mặt trời chiếu vào lại còn có một thuỷ động rất bí hiểm để làm lối, đi thông ra bên ngoài.

Long Sinh, Dật Tư và mẹ con Tiêu Anh bốn người nếu chịu khó lên trên đỉnh núi này, mà ở trên lỗ hổng ngó nhìn xuống bên dưới, trông thấy cái đầm nước này thì đâu đến nỗi phải tốn công tìm kiếm bao nhiêu ngày mà không thấy?

Nhưng vfi tên đất là Ngũ ĐộcCốc thì có can dự gì đến đỉnh núi cao chót vót đâu?Vì thế bốn người cứ đi tìm những chỗ khe núi, sơn cóc, hay hang động lớn mà thôi, chứ không ai leo lên trên đỉnh núi cả.

Long Sinh đang kinh ngạc, đã nghe thấy trong hang động, ở chỗ sát vách có tiếng chân người rất khẽ vọng ra. Ông ta đưa mắt liếc nhìn thấy trong cái hang động lớn nhất, có một đạo sĩ tuổi ngoài ba mươi bước ra.

Đúng như lời đệ tử của phái Điểm Thương đã kể cho Dật Tư hay đạo sĩ này cũng mặc một cái áo bào màu đỏ, trước ngực có thêu một con Kim Câu Độc Khiết.

Đạo sĩ ấy đi tới trước con nhện lông vàng ngắm nhìn Long Sinh đang giả bộ chết giấc nằm ở trong lưới nhện, cười mấy tiếng rất quái dị, rồi hớn hở nói:

-Người này nằm ở trong lưới nhện độc mà chỉ chết giấc chứ không chết hẳn, quả thật là một diệu vật hiếm có dùng để tế sống Khiết Vương.

Nói xong, y móc túi lấy hai viên thuốc đỏ ném cho con nhện lông vàng, xua tay ra hiệu bảo nó thu hồi cái lưới đang trói LongSinh đi.

Con nhện nuối hai viên thuốc đỏ hồng trước, rồi chỉ thót bụng một cái, những sợi cuốn mình Long Sinh đã thu hồi sạch sành sanh.

Vì nghe thấy đạo sĩ nọ bảo định đem mình đi tế sống Khiết Vương, Long Sinh muốn được kiến thức thêm đôi chút bí mật của Bái Khiết tà giáo, nên ông ta thấy lưới nhện đã thu hồi rồi mà vẫn cứ nằm yên giả bộ chết giấc hoài.

Con nhện lông vàng thu hồi cái lưới xong, liền phi thân vào cái hang động thứ nhất ở bên trái của hang động lớn.

Đạo sĩ mặc áo bào đỏ cũng rất cẩn thận, chỉ thấy y phất tay áo một cái đã có một viên đạn màu đỏ nhằm người LongSinh bắn tới khi ở trước mặt của Long Sinh tự động nổ ngay, bắn ra một luồng sương mù màu hồng và có mùi thơm rất nhạt bao phủ hết mặt mũi của Long Sinh ngay.

Long Sinh đã bế các yếu huyệt, thì tất nhiên thất khiếu tức mắt, mũi, mồm và tai của ông ta cũng đều bế tắc cả rồi.

Chờ làn sương mù màu phấn hồng tan rã hết, đạo sĩ nọ mới tới gần lôi kéo Long Sinh ra chỗ giữa sân đá, dùng gân con giao trói ông ta vào cái cột đá cao hơn trượng dựng ngay chỗ chính giữa ấy.

Long Sinh cứ mặc cho tên nọ trói mình, bụng bảo dạ rằng:

"Chờ lát nữa ta xem xong các ngươi làm trò gì, lúc ấy ta mới trừng trị mấy tên tà ác các ngươi và mấy con độc vật cũng chưa muộn".

Trói LongSinh xong, đạo sĩ áo bào đỏ lại móc túi lấy một cái khăn lụa màu đỏ ra trùm lên trên đầu và mặt nạn nhân.

Thoạt tiên Long Sinh không hiểu tên đạo sĩ này hoá trang mình như một cô dâu để làm chi, nhưng ông ta nghĩ lại, mới vỡ nhẽ:

con bọ cạp mà chúng gọi là Khiết Vương chắc đã có thói quen hễ thấy người nào đầu phủ khăn đỏ như thế này chính là mồi mà bọn đạo sĩ dùng để hiến cho mình ăn, thế là nó bò lại vồ ngay người có khăn phủ đầu như mình bây giờ vậy.

Đạo sĩ áo bào đỏ làm xong mọi việc rồi, liền quay người nhìn về phía cửa hang động cung kính lớn tiếng la rằng:

đệ tử Thiên Vũ kính thỉnh giáo chủ với ba vị sư huynh ra ngoài hang động. Con nhện đen đã bắt được một người Hán, có thể dùng làm lễ vật để tế sống Khiết Vương đấy.

Nghe đạo sĩ nói Long Sinh đã hiểu ra được mấy việc như sau:

. Trong Ngũ Độc cốc này, Bái Khiết tà giáo chỉ có thầy trò năm người thôi.

. Ngoài tên giáo chủ chưa biết tên ra, còn ba người sư huynh của Thiên Vũ đạo nhân, có thể là xếp hàng theo:

Phong, Vân, Lôi và Vũ. Như vậy, ba cái tên ấy có thể là Thiên Phong, Thiên Vân và Thiên Lôi chứ không sai?

. Con bọ cạp chúa mà chúng gọi là Khiết Vương thể nào cũng thích ăn thịt sống của người Hán. Bằng không, trong Miêu lãnh này có biết bao nhiêu người Mèo thuộc và người Mèo rừng. Sao Thiên Vũ đạo nhân lại bảo mình là một món lễ vật hiến tế Khiết Vương rất hiếm có?

Ông ta đang suy nghĩ đã nghe thấy trong động lớn có tiếng chân bò của những con độc vật kêu "xào xào" vọng ra.

Nhờ đầu phủ cái khăn lụa đỏ, Long Sinh càng dễ nhìn hoàn cảnh xung quanh.

Trước hết ông ta thấy trong hang động lớn có ba con bò cạp lớn bò ra, và bò rất đều.

Ba con bò cạp này đều dài chừng thước tư, thước năm, nhưng đuôi con nào cũng màu xám đen.

Sau ba con bò cạp ấy, lại có ba con nữa to hơn, mỗi con dài chừng hai thước, nhưng đuôi của chúng ngoài màu xám đen còn hơi vàng nhạt.

Long Sinh biết ngay con bọ cạp đốt mình lúc nãy là một trong ba con ra sau.

Nhưng con nào cũng như con nào nên ông ta không thể nhận ra con nào đã đốt mình hồi nãy?

Sáu con bò cạp to quá cỡ, con nào cũng dài hơn ba thước đuôi của chúng đều dựng ngược lênvà đã biến thành màu vàng nhạt hết, không còn một tí màu xám đen nào cả.

Chương 42: Khăn đỏ bò cạp độc

Long Sinh bị tên đạo sĩ dùng gân con giao trói vào cột đá và phủ cái khăn đỏ lên trên đầu, ông ta thấy trong hang động có chín con bọ cạp bò ra, ba con lớn nhất dài hơn ba thước, đuôi ngửng lên trông rất hung ác.

Thấy thế, Long Sinh thầm kinh hãi và nghĩ bụng:

" Cho tới giờ vẫn chưa thấy con Kim Câu Độc Khiết mà chúng gọi là Khiết Vương ra? Không biết con bò cạp ấy sẽ to như thế nào?" Trong hang lại có tiếng bò xào xạo, nhưng lần này có vẻ chậm chạp lắm. Thì ra một con quái vật đỏ như máu đang bò ra, trên lưng quái vật có một đạo sĩ mặc áo bào màu vàng kim tóc đỏ như lửa, ngồi xếp bằng tròn trông rất chững chạc. Ba tên đạo sĩ mặc áo bào đỏ đi ở hai bên.

Thấy quái vật đỏ như máu ấy, mình dài hơn năm thước, Long Sinh đoán chắc thể nào cũng là Khiết Vương rồi. Nhưng ông ta nhìn kỹ mới hay quái vật này chính là con mối khổng lồ uống nước hồi nãy.

Ba hàng chín con bọ cạp bò tới chỗ cách Long Sinh bị trói chừng hơn trượng, rồi chúng xếp thành hàng một nằm phục xuống không cử động nhưng chín cái đuôi đều giơ cao trông rất hung dữ, khiến ai cũng phải hoảng hồn.

Con mối đỏ như máu đi tới phía sau chín con bọ cạp cũng ngừng bò luôn. Lão đạo sĩ ngồi xếp bàn tròn ở trên lưng con mối đưa mắt ngắm nhìn Long Sinh một hồi rồi hỏi Thiên Vũ đạo nhân rằng:

-Người này bị bò cạp đốt, nhện cắp và sợi dây nhện dính chặt mà không chết, đủ thấy y cũng có đôi chút công phu.

Thiên Vũ cung kính đáp:

-Giáo chủ cứ yên tâm, đệ tử đã cho y một hạt Đào Hoa Tuý Thần Hoàn, dù y không sợ nọc độc của bọ cạp và nhện, nhưng lúc này thần trí của y cũng mê man và mình mẩy mềm nhũn như người say sưa rồi, tha hồ Khiết Vương thưởng thức:

óc, tỉ, trái tim và tinh huyết khắp người y.

Lão đạo sĩ mặc áo bào vàng tóc đỏ nghe nói gật đầu mấy cái, rồi thò tay vào trong áo lấy ra một cái hộp vàng hình dẹp dài chừng sáu bảy tấc, rộng chừng ba bốn tấc, cao hơn hai tấc.

Long Sinh thấy thế trong đầu liền nở ra mấy ý nghĩ:

ý nghĩ thứ nhất là ông ta thấy lão đạo sĩ tóc đỏ cưỡi trên lưng con mối đỏ như máu, mặt mũi hung ác ấy, giọng nói hình như là người bạn quen năm xưa của mình, nhưng nhất thời không sao nghĩ ra được tên tuổi và lai lịch của y.

ý nghĩ thứ hai là, cứ xem tình hình hiện thời, thì chắc con Kim Câu Đôc Khiết mà chúng gọi là Khiết Vương thể nào cũng ở trong cái hộp vàng hình dẹt này.

Thực tức cười thay mình đã tưởng Khiết Vương thể nào cũng to lớn kinh người, ngờ đâu lại là con bọ cạp độc chỉ to hơn bọ cạp thường chút ít thôi.

ý nghĩ thứ ba là Kim Câu Độc Khiết đã sắp xuất hiện, nhưng còn thứ cỏ lá xanh cành đỏ thì sinh trưởng ở đâu mình vẫn chưa thấy?

Long Sinh đang nghĩ ngợi, thì lão đạo sĩ đã khẽ mở cái nắp hộp kia lên.

Lão đạo sĩ thò tay vào trong hộp bóc ra một con bọ cạp chỉ dài năm thước, mình nó đỏ sẫm, đuôi màu vàng và nhất là người mềm nhũn như sắp chết vậy, đuôi cũng không thấy cong lên. Nếu không đích mắt trông thấy lão đạo sĩ coi nó như một vật báu thì Long Sinh thể nào cũng tưởng là một con bọ cạp sắp chết.

Lão đạo sĩ lấy con bọ cạp thoi thóp đó ra để ngay lên trên đầu con mối mà y đang cưỡi.

Lạ thực, con mối đỏ như máu nọ hung ác biết bao, lúc này lại có vẻ rất sợ sệt, mình nó cứ run lẩy bẩy hoài.

Lão đạo sĩ tóc đỏ lạnh lùng nhìn ba đạo sĩ áo đỏ quát hỏi:

-Thiên Lôi, tiên thảo của khiết Vương đâu?

Một tay đạo sĩ mặt mũi xanh như lá cung kính lấy một tàu lá xanh biếc to bằng bàn tay người ta, rất cẩn thận úp lên mình của Khiết Vương, Tình cảnh đó lại khiến Lonh Sinh hiểu rõ mình đã đoán không sai bốn tên đệ tử của lão đạo sĩ tóc đỏ quả là Thiên Phong, Thiên Vân, Thiên Lôi và Thiên Vũ thực và cái là xanh biếc như bàn tay ấy mà lão đạo sĩ gọi là tiên thảo của Khiết Vương chính là thứ cây xanh cành đỏ mà mình đang định tìm kiếm.

Long Sinh chưa nghĩ xong, thì chuyện lạ đã xuất hiện ra ngay, chỉ trong nháy mắt, cái lá xanh úp ở trên người con bọ cạp đã biến mất, chẳng thấy con bò cạp có động tác ăn hay nuốt gì cảhình như tàu lá ấy bị chất độc của nó làm tan thành nước, rồi hút cả vào trong người nó vậy.

Không những tàu lá của thứ cỏ đó biến mất, mà mình mẩy Khiết Vương có sự biến đổi rất kỳ lạ.

Khiết Vương vốn dĩ màu đỏ sẫm bây giờ đã biến thành màu đỏ hồng, cái đuôi mềm nhũn của nó đã ngửng lên và đang là màu vàng sẫm bỗng đổi thành màu vàng kim chói lọi.

Một lát sau, mình mẩy con Khiết Vương ấy đã biến thành màu đỏ tươi và trong suốt như thuỷ tinh vậy, còn cái đuôi của nó thì biến thành màu vàng khè, không khác gì làm bằng vàng thật vậy.

Bây giờ mới tỏ oai phong của Khiết Vương như thế nào, đuôi nó bỗng vểnh cao lên, hai mắt tia ra những ánh sáng chói lọi như hai ngọn đèn ló nó bò đi bò lại trên đầu con mối, trông thần thái của nó quả thực hung ác rùng rợn.

Con mối đỏ như máu hoảng sợ đến mất hết hồn vía cứ nằm yên ở trên mặt đất không dám cử động chút nào.

Một luồng gió thổi qua, áo bào của tên đạo sĩ tóc đỏ cũng bị thổi tung lên. Long Sinh ngẫu nhiên nhìn về phía lão đạo sĩ, phải giật mình kinh hoàng, vì lúc này ông ta mới trông thấy rõ, lão đạo sĩ tóc đỏ và là Bái Khiết giáo chủ đó, hai chân lại bị cụt từ đầu gối trở xuông.

Thấy hai chân của đạo sĩ bị cụt, Long Sinh sực nhớ câu truyện xảy ra hồi ba mươi năm về trước.

Long Sinh vội vận thần công lên làm cho sợi dây giao trói quanh mình gần đứt, rồi mới vận khí từ đơn điền lên thốt ra tiếng cười như trăm vạn cái trống cùng bị khua động một lúc khiến vách núi vả cả sơn động gần đó cũng phải rung động như sắp đổ vỡ vậy.

Lão đạo sĩ tóc đỏ đang định bỏ con Kim Câu Khiết Vương bay tới chỗ cột đá để hưởng dụng cái mồi mà chúng dùng để tế lễ, thì bỗng nghiên nghe thấy tiếng cười của Long SInh nổi lên như sấm động y đưa mắt nhìn vào cột đá mà lên tiếng hỏi:

-Người đang ở trên cột đá kia là ai thế?

Vẫn để cho cái khăn đỏ phủ mặt, Long Sinh vừa cười vừa đáp:

-Tiết lão ngũ, không nhận ra tiếng cười của lão phu hay sao?Thực không ngờ lão quái vật bị cụt hai chân mà lại chạy tới Bách Hoa Đầm ở Ngũ Độc Cốclàm Bái Khiết giáo chủ thế?Còn bộ tóc của lão quái vật tại ao lại biến thành đỏ như vậy?

Bái Khiết giáo chủ mà Long Sinh gọi y là Tiết lão ngũ nghe nói vừa kinh hãi vừa mừng rỡ thất thanh hỏi:

-Chả lẽ người ở trên cột đó là Phạm Long Sinh huynh đã cách biệt TiếtTriệu Khôi này ba mươi năm nay đấy chăng?Thiên Vũ con mau ra cởi trói cho sư bá đi.

Thiên Vũ đạo nhân cau mày lại khẽ nói với Triệu Khôi rằng:

-Thưa giáo chủ, Khiết Vương đã nổi oai rồi, nếu không có vật gì để tế, chỉ e... Y vừa nói tới đó thì Long Sinh đã cười như điên như khùng và đỡ lời:

-Tiết lão ngũ, việc gì mà phải bảo tên đồ đệ bửu bối ấy cởi trói cho mỗ làm gì.Cách biệt ba mươi năm.Phạm Long Sinh cũng không đến nỗi để phụ mất thời gian khá dài ấy, sợi gân dao này thì khi nào trói nổi mỗ cơ chứ?

Nói tới đó, ông ta lại vận thêm chân khí lên sợi gân dao trói quanh người ông ta, đã đứt ra từng khúc, như bị dao cắt vậy.

Ngờ đâu lúc ấy con Khiết Vương đang đậu ở trên đầu con mối đỏ bay vù lên.

Con KhiếtVương vừa bay lên, Bái Khiết giáo chủ Tiết Triệu Khôi đã hoảng sợ mà quát bảo Long Sinh rằng:

-Phạm huynh mau vứt bỏ cái khăn đỏ che mặt xuống... Y chưa kịp nói hết câu thì thảm kịch đã xảy ra liền.

Thì ra Long Sinh có biết đâu những cấm kỵ của Bài Khiết giáo, vừa làm đứt sợi gân dao xong ông ta đã lấy cái khăn đỏ xuống và cười ha hả với giọng rất quái dị nói:

-Thiên Vũ hiền điệt, Phạm sư bá đã làm cô dâu nửa ngày trời rồi, cô dâu xấu xí đã để cho người ta trông thấy mặt, thì chả cần phải dùng cái khăn nhiễu này làm chi nữa, Thôi, trả cho hiền điệt đây! Ông ta vừa nói vừa ném cái khăn đỏ ấy vào ThiênVũ đạo nhân.

Khi Triệu Khôi lên tiếng quát bảo, thì Long Sinh đã ném cái khăn rồi, động tác của ông ta lại còn nhanh hơn lời nói của Bái Khiết giáo chủ cho nên Bái Khiết giáo chủ chưa dứt lời, thì cái khăn đã úp chụp lên đầu của Thiên Vũ.

Long Sinh tính rất khôi hài, lại dùng thủ pháp đặc biệt, cái khăn đỏ vốn dĩ cuộn tròn bay ra, nhưng khi đến đầu của Thiên Vũ lại đột nhiên tản ra, cũng như lúc Thiên Vũ dùng cái khăn đỏ đối phó với ông ta vậy, úp chụp cả lên đầu lẫn mặt luôn.

Lúc ấy con Kim Câu KhiếtVương vừa bay tới đầuLong Sinh thì thấy đầu của ông ta không có khăn đỏ nữa, trái lại chiếc khăn đỏ lại bay sang đầu Thiên Vũ và nó liền bay theo sang và đậu vào ngay chiếc khăn đỏ đang trùm lên đầu Thiên Vũ luôn.

Triệu Khôi cất tiếng kêu rất bi đát, rồi cùng Thiên Phong, Thiên Vân và Thiên Lôi ba đạo nhân vội giơ tay áo lên che lấy mặt không dám nhìn nữa.

Lúc này Long Snh mới vỡ nhẽ, muốn nhảy lại cứu Thiên Vũ đạo nhân bị mình đùa rỡn mà sắp mang họa thảm khốc.

Nhưng người của ông ta vừa kịp nhảy lên, thì đã thấy một bóng người mặt áo bào vàng cưỡi ở trên mình con mối đỏ phi tới nghênh đón, tay xua lia lịa, mồm thì vội nói:

-Phạm huynh không hiểu luật lệ của Bái Khiết giáo của chúng tôi, xin chớ có nhúng tay vào! Long Sinh biết bạn già năm xua hai chân đã bị cụt không tiện đi lại, vội giơ hai tay ra ẵm lấy Triệu Khôi.

Chỉ trong nháy mắt người của Thiên Vũ đạo nhân đã mất tích chỉ còn lại cái áo bào đỏ với chiếc khăn lụa đỏ ngâm ở trong đống nước vàng thôi.

Tất nhiên con Kim Câu Khiết Vương cũng ở trong vũng nước vàng ấy, nhưng lúc này nó đã mất hết hung oai và dần dấn biến trở lại trạng thái uể oải như sắp chết giống như lúc Triệu Khôi mới đem nó ở trong cái hộp vàng nho nhỏ ra vậy.

Triệu Khôi cau mày lại, giơ tay khẽ phất một cái. Thiên Lôi đạo nhân liền dùng một cái kìm dài gắp con Khiết Vương bỏ vào trong cái hộp vàng đậy nắp lại, trao chiếc hộp đó cho Triệu Khôi xong, y liền quét dọn đống nước vàng của Thiên Vũ đạo nhân đã hoá thành.

Thiên Phong với Thiên Vân đạo nhân thì xua đuổi con mối với chín con bò cạp lớn quay trở vào trong hang động.

Triệu Khôi thấy Long Sinh tỏ vẻ ngượng nghịu biết ông ta lỡ giết hại Thiên Vũ đạo nhân, đang hổ thẹn với mình, liền thở dài một tiếng lắc đầu nói:

-Phạm huynh, huynh là bạn cũ lâu năm của Tiết lão ngũ này, hành động đó là huynh vô tâm gây nên, Tiết lão ngũ đâu dám trách huynh. Xin huynh đừng có rầu rĩ như thế nữa, anh em chúng ta hãy ngồi xuống chuyện trò kể lại những tình hình mà chúng ta đã cách biệt bấy lâu nay.

Long Sinh khẽ đặt Triệu Khôi xuống cùng y ngồi ở trên sân đá lông mày ông ta vẫn cau lại và khẽ lên tiếng hỏi:

-Tiết lão ngũ, vì trước kia chúng ta là bạn thân với nhau, nên vừa rồi Phạm mỗ đã giết hại đồ đệ của lão ngũ xong, mà vẫn còn phải mắng lão ngũ vài câu mới được!Chẳng hay lão ngũ học ở đâu ra những tà môn ngoại đạo này, mà nuôi những vật kỳ độc như thế làm gì?

Triệu Khôi gượng cười đáp:

-Người trong võ lâm ít người luyện được võ công đến mức siêu phàm nhập thánh, ai thụ ân mà chẳng muốn báo đền, mang thù mà chả muốn phục hận?Tiết lão ngũ t ôi ẩn tích ở Miêu Cương nhờ cuốn Ngũ Độc Kinh ngẫu nhiên lượm được để dạy bảo mấy con độc vật hãn thế rồi, mới có thể trả thù tuyết hận được.

Nghĩ đến chuyện năm xưa Long Sinh hăm hở nói:

-Tiết lão ngũ, hai đùi của bạn có phải là do bị vợ chồng Âm Dương Song Ma chặt gẫy đấy không?

Triệu Khôi nghiến răng mím môi đáp:

-Chính vợ chồng y võ công cao hơn đệ nhiều đã chặt gãy hai chân này, nếu đệ không nuôi nấng và dạy bảo được một con Kim Câu Khiết Vương kỳ độc tuyệt luân, thì làm sao địch nổi"Huyết ảnh Thần Trâm, Vôảnh Kiếm, Tiêu Hồn Bảo Phiến, Đoạt Hồn Câu"của vợ chồng y cơ chứ?

Long Sinh nghe tới đó thở dài đỡ lời:

-Tiết lão ngũ tại sao lại không kiếm LongSinh này?Người khác sợ vợ chồng Âm DươngSong Ma, chứ Long Sinh này vẫn muốn đấu với vợ chồng y một phen.

Triệu Khôi bẽn lẽn đáp:-Tôi bị Âm Dương Song Ma, làm nhục nhã vô cùng, rồi lại bị chặt cụt hai chân, như vậy còn mặt mũi nào tái kiếm cố nhân! Sau được một người bạn thân cứu đệ vào Miêu Cương này, nhân thế mà đệ đã luyện được cuốn Ngũ Độc Kinh, rồi lại tìm thấy nơi Bách Hoa Đầm ở Ngũ Độc Cốc rất bí hiểm này, đệ liền thu bốn đồ đệ đặt hiệu Xích Phát chân nhân tổ chức BáiKhiết giáo làm giáo chủ.Hơn ba mươi năm nay đệ đã tìm kiếm được nhiều xà trùng kỳ độc, khổ tâm dạy bảo, rồi lại ngày đêm cầu khấn trời đất phù hộ cho vợ chồngThúc Độ được sống trăm tuổi để Tiết Triệu Khôi tôi gặp lại vợ chồng y.

Nghe tới đó Long Sinh gật đầu vừa cười vừa xen lời nói:

-Tiết lão ngũ, cổ nhân đã dạy:"có công mài sắt, có ngày nên kim". Trời xanh đã không phụ lòng của lão ngũ, vợ chồng Thúc Độ không những chưa chết, mà bây giờ lại tái xuất giang hồ đấy.

Triệu Khôi nghe thấy Long Sinh nói như vậy, hai mắt liền sáng ngời và nói tiếp:

-Nếu vợ chồng Thúc Độ tái xuất giang hồ, thì Tiết Triệu Khôi sẽ được toại nguyện ở trong Thiên Nam đại hội tại Ly Hồn cốc núi Dã Nhân.

Long Sinh giật mình kinh hãi vội hỏi:

-Tiết lão ngũ cũng muốn dự Thiên Nam đại hội đấy à?

Triệu Khôi gật đầu đáp:

-Cách đây không lâu, Uất Trì Cảnh với Đinh Ngọc Sương ngẫu nhiên tới đây mời đệ với Bách Hoa công chúa Giáp Cốc Diệu ở dưới ThiênNam đại hội dự minh ước của anh em chúng để cho đủ số Cửu Sát đệ đã nhận lời làm một người trong nhóm người chủ trì Thiên Nam đại hội rồi.

Long Sinh cau mày lại đỡ lời:

-Sao Tiết lão ngũ lại hồ đồ đến thế, Hoàn Vũ Cửu Sát toàn là những kẻ cực hung cực các... Không đợi chờ Long Sinh nói dứt, Triệu Khôi đã lắc đầu biện bạch:

-Phạm huynh, đệ không hồ đồ đâu, sở dĩ đệ nhận lời chúng là đoán chắc nếu vợ chồng Thúc Độ chưa chết, thì thể nào cũng tham dự đại hội, nhờ đó mà đệ mới có dịp may trả thù. Nếu Phạm huynh có thù với nhóm Cửu Sát, thì lão ngũ này xin làm nội ứng giúp huynh đấu với bọn chúng một phen.

Long Sinh nghe nói mới hơi an ủi, liền chỉ tay vào tóc đỏ của Triệu Khôi, mỉm cười hỏi:

-Sao đầu tóc của đệ lại biến thành đỏ như thế này?

Triệu Khôi nhìn xuống hai chân tàn phế của mình, rầu rĩ gượng cười rồi thủng thẳng đáp:

-Phạm huynh, không những Triệu Khôi là người tàn phế mà đối tượng của đệ định trả thù lại có tiếng là vô địch, cho nên đệ mới phải nghĩ ra hai môn sát thủ đặc biệt để luyện tập.

Long Sinh kêu "ồ"lên một tiếng vừa cười vừa nói tiếp:

-Mỗ thực không ngờ mớ tóc đỏ này của lão ngũ lại là một môn lợi khí phục thù khổ tâm tu luyện mới nên.

Triệu Khôi lại thở dài lắc đầu, rồi từ đầu y bay ra ba sợi tóc đỏ, ba sợi tóc ấy như ba mũi tên bay ra ngoài xa hơn ba trượng, đánh rớt luôn ba tàu lá ở trên một cây cổ thụ nơi đó.

Lá cây vừa rời khỏi cành vẫn xanh như thường, nhưng khi vừa rơi xuống đất thì bỗng biến thành vàng úa.

Hiện tượng đó tỏ rõ Triệu Khôi không những có thể tuỳ theo ý muốn phi tóc ra đả thương người, mà tóc của y sở dĩ đỏ như vậy là do nhuộm một thứ thuốc độc kỳ lạ mà ra.

Long Sinh gật đầu cười và hỏi tiếp:

-Quả thực lão ngũ đã tốn rất nhiều công phu và khổ công tu luyện cái trò dùng tóc để đả thương người như thế này cũng kỳ lạ lắm. Về mặt oai lực thì tóc của lão ngũ cũng không kém gì Huyết ảnh Thần Trâm của Sở Lục Châu.

Triệu Khôi lại mỉm cười nói tiếp -Lúc mới gặp tiểu đệ Phạm huynh có vẻ kinh ngạc lắm, tất nhiên là huynh tới đây không phải là định tìm tiểu đệ rồi, vậy tại sao huynh lại cam tâm mạo hiểm, tìm đến Bách Hoa đầm ở Ngũ Độc cốc này như thế?

Long Sinh mỉm cười đáp:

-Tuy mỗ tới đây không phải vì lão ngũ nhưng cũng vì con Kim Câu Khiết Vương của lão ngũ đã lắm khổ tâm nuôi nấng dạy bảo bấy lâu nay.

Trong lòng kinh ngạc, TriệuKhôi ngơ ngác hỏi:

-Con Kim Câu Khiết Vương hung độc vô cùng, trừ phi phải biết cách khắc chế nó, và phải biết rõ tính nết của nó, thì mới có thể vận dụng. Bằng không chỉ e... Không đợi chờ Triệu Khôi nói dứt lời Long Sinh đã lắc đầu vừa cười vừa đáp:

-Tiết lão ngũ khỏi cần phải lo âu như thế vội, mỗ có định lấy con Kim Câu Khiết Vương của lão ngũ đâu, mỗ chỉ muốn lấy một chút nọc độc của nó với một tàu lá của cây cỏ lá xah cành đỏ đấy thôi.

TriệuKhôi thất cười hỏi lại:

-Nếu Phạm huynh chỉ lấy nọc độc của con bò cạp với tàu lá của cây cỏ ấy, thì sẵn sàng lắm, tiểu đệ xin tặng huynh ngay. Nhưng không hiểu huynh muốn lấy hai thứ ấy dùng làm gì?

Long Sinh bèn kể chuyện MộDung Băng bị Thúc Độ dùng thủ đoạn "Điên ĐảoÂm Dương Triệt Mạch" điểm vào yếu huyệt câm, sau lại bị Lưu Vân Tiên tử chưởng môn phái Điểm Thương ra tay giải cứu bừa, nên khiến cho MộDung Băng bị thương nặng thêm, vì thế nàng bị câm hẳn, khó mà cứu chữa lại được kể cho Triệu Khôi nghe.

Nói xong, ông ta còn mỉm cười nói tiếp:

-Mỗ đã đọc một cuốn quái thư, tên là Kỳ bệnh Kỳ y nên mới biết cổ họng của MộDung Băng hiện thời đã kết một tấm màng có lẽ lúc này chính Thúc Độ đích thân ra tay, cũng khó mà chữa nổi cho nàng ta được. Vậy chỉ có một cáh là dùng lá câyLục Diệp Hồng Tính Thảo bọc lấy nọc độc của con Kim Câu Độc Khiết rồi bảo MộDung cô nương nuốt xuống cổ. Nhưng chỉ nuốt tới cuống họng thôi chứ đừng nuốt xuống bụng rồi do mỗ nghênh tụ công lực cách thể ra tay như vậy mới có thể phá nổi cái màng ở chỗ cuống họng của cô ta.

Triệu Khôi nghe tới đó vỗ tay vừa cười vừa đỡ lời:

-Cách này hay thực, nọc độc của con Khiết Vương mà dùng lá Lục Diệp Hồng Tính Thảo bọc lại như vậy sức giết người đã mất hẳn, lại thêm thần công tuyệt thế của Phạm huynh giúp vào, thì thể nào cũng chữa khỏi cho Mộ Dung cô nương, giọng nói của cô ta cũng sẽ được khôi phục như thường ngay.

Long Sinh chìa tay ra vừa cười vừa nói tiếp:

-Tiết lão ngũ không nên chỉ tán thành suông mỗ như thế, mà phải tặng cho mỗ hai vật đó thì mỗ mới có thể cứu chữa MộDung cô nương được.

Triệu Khôi vừa cười vừa gật đầu đáp:

-Phần vì Phạm huynh là bạn cũ lâu năm của đệ phần thứ hai Mộ Dung cô nương bị Dương Thúc Độ ám hại, tức là cùng chung một kẻ thù với đệ, cho nên Tiết Triệu Khôi này không những tặng nàng nọc độc của con bò cạp với cái lá Lục Diệp Hồng Tính Thảo mà lại còn muốn biếu thêm cô ta một bảo vật nữa.

Long Sinh cười giọng quái dị và đỡ lời:-Bây giờ Tiết lão ngũ đã là giáo chủ của một giáo phái, nên tính nết cũng đường hoàng hơn trước nhiều. Nhưng lão phải biết Mộ Dung cô nương là một bông hoa kỳ lạ hãn thế, có thể ngạo thị võ lâm và lại có liên can rất mật thiết với mỗ, mà nếu tặng vật thật quí chứ vật thường thì đừng có cho cô ta.

Triệu Khôi nghe nói mỉm cười, thò tay vào túi lấy một con bò cạp bằng ngọc xanh biếc dài chừng nửa thước ra cho Long Sinh mà hỏi rằng:

-Phạm huynh thử xem con bò cạp bằng ngọc này có được không?

Long Sinh thất cười đáp:

-Thực là Bái Khiết giáo chủ danh bất hư truyền, sao ngoài con độc khiết hãn thế đang nuôi ra, lão ngũ lấy ở đâu ra được con Ngọc Khiết Tử này thế?

Nói xong, ông ta đỡ lấy con bò cạp ngọc ấy xem xét hồi lâu.

Triệu Khôi mỉm cười đáp:

-Con Thuý Lục Ngọc Khiết này là sau khi đệ vào ở Ngũ Độc Cốc ngẫu nhiên đánh vỡ một tảng đá lớn, rồi phát hiện nó ở trong tảng đá ấy, nên bản thân của nó ngoái chất ngọc quý báu ra, lại còn có diệu dụng khác nữa. Tiếc thay Triệu Khôi tôi là người kiến thức ít ỏi không hay biết gì, nhưng tặng nó choMộ Dung cô nương để làm một trò chơi cũng có thể được.

Long Sinh cầm lấy con bò cạp bằng ngọc xanh lên xem thấy nó là một thứ ngọc vừa trong vừa ấm áp và khắp mình mẩy nó lại có những phù hiệu kỳ quái, hình như những văn tự cổ, mới biết lời nói của Triệu Khôi không sai, quả thực nó còn có diệu dụng khác . Nhưng văn tự ở trên người con bò cạp ấy không phải là chữ Triện của Hán văn và cũng không phải là chữ Phạn của người Tây Tạng, Long Sinh xưa nay vẫn tự phụ là người học rộng tài cao và đã đọc nhiều sách rồi, mà cũng trố mắt lắc đầu, chịu không sao biết rõ được.

Triệu Khôi thấy LongSinh không hiểu rõ những chữ trên người con bò cạp ngọc liền mỉm cười hỏi:

-Phạm huynh cả văn lẫn võ đều cao minh hơn đệ trăm phần chẳng hay huynh có hiểu biết được ý nghiã của những văn tự kỳ dị ấy không?

Long Sinh lắc đầu đáp:

-Tiết lão ngũ không nên khách sáo như vậy, mỗ với lão ngũ cũng như nhau, có mắt mà như mù, không sao biết rõ những chữ đó nói gì. Nhưng con bò cạp ngọc này quả không phải là vật thường tục, mỗ xin đại diện MộDung cô nương cám ơn lão ngũ trước.

Nói xong ông ta bỏ ngay con bò cạp ngọc vào túi, nhưng lại chợt nghĩ tới một việc liền ngạc nhiên hỏi tiếp:

-Tiết lão ngũ đã nhận lời Uất Trì Cảnh với Đinh Ngọc Sương gia nhập minh ước của Hoàn Vũ Cửu Sát, thế sao không đi Ly Hồn cốc ngay?Lão ngũ nên biết ngày hội kỳ của ThiênNam đại hội sắp tới nơi rồi.

Triệu Khôi giơ tay lên gãi mái tóc đỏ mặt lộ vẻ rầu rĩ cau mày lại gượng cười đáp:

-Tiểu đệ tự biết ngày hội kỳ của Thiên Nam đại hội đã sắp tới nhưng đi Ly Hồn cốc hay không đệ vẫn chưa quyết định hẳn.

Thấy đạo sĩ nói như vậy, Long Sinh thắc mắc không hiểu vội hỏi tiếp:

-Tiết lão ngũ đã định đi tới đó để gặp vợ chồng Thúc Độ, trả mối thù năm xưa.

Sao bây giờ lại bỗng dưng có ý định không muốn đi như thế?

Triệu Khôi vẻ mặt rầu rĩ, cúi đầu xuống thủng thẳng đáp:

đệ có chút hãi sợ.

Long Sinh giơ tay vỗ vai Triệu Khôi cười ha hả nói tiếp:

-Tiết lão ngũ đừng có hãi sợ gì hết. Vợ chồng Âm Dương Song Ma tiếng hung ác tuy lớn, võ học tuy cao siêu thực, nhưng Phạm Long Sinh này thể nào cũng... Triệu Khôi vội xua tay và đỡ lời:

-Phạm huynh hiểu nhầm rồi, đệ không phải sợ vợ chồng Thúc Độ với Lục Châu đâu.

Long Sinh càng ngạc nhiên thêm nhìn Triệu Khôi hỏi tiếp:

-Tiết lão ngũ không sợ vợ chồng Song Ma thì sợ ai?Theo sự nhận xét của mỗ thì trên võ lâm có lẽ chưa ai hung ác bằng vợ chồng chúng cả.

Triệu Khôi giơ tay chỉ lên phía trên, vẻ mặt nghiêm nghị đáp:

đệ chỉ sợ trời xanh oai linh hiển hách kia thôi.

Kêu "ủa" một tiếng, Long Sinh cau mày lại hỏi tiếp:

-Tiết lão ngũ muốn trả mối thù chặt cụt hai chân như thế, không phải là việc ác độc gì cả. Vợ chồng Âm Dương Song Ma là những kẻ mang đầy tội ác, giờ giết chúng mới là thuận lòng trời, như vậy lão ngũ còn sợ gì ông trời như thế?

Triệu Khôi lắc đầu thở dài mặt lộ vẻ hổ thẹn, rồi khẽ đáp:

-Phạm huynh chưa biết đấy thôi, đệ nuôi những con độc vật này, cứ phải dùng thịt và máu của những người sống để dinh dưỡng chúng, bấy nhiêu năm nay đệ đã gây ra không biết bao nhiêu là tội nghiệp. Huống hồ năm xưa lúc mới nuôi chúng, đệ đã nhỏ huyết thề độc trước trời đất rồi! -Lão ngũ đã thề những gì?

đệ đã thề không tái xuất Ngũ Độc cốc, hễ ra khỏi sơn cốc này là sẽ bị tan nạn thảm khốc.

Long Sinh nghe Triệu Khôi nói xong chỉ cau mày lại chứ không khuyên đi núi Dã Nhân kiếm Âm Dương Song Ma để trả thù tuyết hận nữa.

Triệu Khôi trợn to đôi mắt lên, đôi ngươi sáng như hai ngọn đèn cười như điên như khùng nói tiếp:

-Phạm huynh, trước khi gặp huynh, tiểu đệ hãy còn do dự không biết có nên đi dự đại hội Thiên Nam hay không. Nhưng bây giờ tiểu đệ đã quyết định rồi.

Đưa mắt nhìn y, Long Sinh mỉm cười hỏi:

-Tiết lão ngũ đã quyết định chưa?Có đi hay không?

Triệu Khôi cười như điên như khùng lớn tiếng đáp:

-Vất vả ba mươi năm trời ăn lông ở lỗ như thế này để làm gì? Tất nhiên Triệu Khôi phải đi dự Thiên Nam đại hội, để giết chết vợ chồng Song Ma trả thù tiết hận chứ.

Long Sinh lại hỏi:

-Thế lão ngũ không sợ phạm lời thề bị trừng phạt hay sao?

TriệuKhôi có vẻ hổ thẹn khẽ đáp:

-Bấy nhiêu năm nay tuy đệ ẩn núp ở trong cốc này, nhưng tự biết đã gây nên rất nhiều tội nghiệp. Cho nên đệ không sợ trời bỗng phạt mình, chỉ sợ sau khi bị trời phạt, không sao trả thù được Thúc Độ với Lục Châu thì dù có chết ở dưới chín suối cũng không sao nhắm mắt được.

Mấp máy môi, Long Sinh đang định lên tiếng nói tiếp thì Triệu Khôi đã gượng cười đỡ lời:

-Nay đã được gặp Phạm huynh, thì tất nhiên đệ phải quyết định cam tâm phạm lời thề mà ra khỏi sơn cốc. Nếu oai trời hiển hách mà báo ứng ngay tức thì, thì xin Phạm huynh thay mặt đệ, hoàn thành cuộc báo thù tuyết hận ấy.

Long Sinh gật đầu đáp:

-Lão ngũ cứ yên tâm, nếu tất cả đúng như lời lão ngũ vừa nói thì LongSinh thề phải diệt được Âm Dương Song Ma để lão ngũ ở dưới chín suối được an tâm.

Triệu Khôi trợn ngược đôi lông mày lên, cười ha hả nói tiếp:

-Phạm huynh đã hứa như vậy, Tiết Triệu Khôi tôi không còn lo âu gì nữa! Nói xong y hướng vào trong hang động lớn tiếng kêu gọi:

-Thiên Lôi con lấy hai tầu lá Lục Diệp Hồng Tính Thảo và một viên Khiết Vương ĐộcĐơn ra cho sư phụ.

Thiên Lôi đạo nhân vâng lời liền đem hai vật đó đưa ra cho Triệu Khôi ngay.

Triệu Khôi lấy độc đơn với hai tàu lá cỏ, rồi nói với Thiên Lôi đạo nhân rằng:

-Thiên Lôi đồ nhi, mau đi bảo Thiên Phong, ThiênVân hay là sư phụ đã quyết tâm ra khỏi sơn cốc, mấy sư huynh đệ phải chuẩn bị hết thảy đến cuối giờ Thân đầu giờ Dậu, sẽ phá thủng vách núi ở sau hang động.

Thiên Lôi đạo nhân nghe nói hớn hở vô cùng, vâng lời rút lui ngay.

Triệu Khôi đưa viên Khiết Vương độc to bằng trái ngô đồng màu xanh biếc với một tàu lá Lục Diệp Hồng Tính Thảo cho Phạm Long Sinh rồi y lại móc túi lấy cái hộp vàng đựng con Kim Câu Khiết Vương ra và từ từ mở nắp hộp lên.

Long Sinh đưa mắt nhìn trộm, thấy con Kim CâuKhiết Vương vừa rồi dũng mãnh hung ác khôn tả, mà bây giờ như là chết cứng nằm yên ở trong hộp không cử động gì hết.

Triệu Khôi mở nắp hộp ra xong, liền phủ tàu lá xanh cuống đỏ úp lên người con bò cạp chúa kia.

Vì đã được trông thấy động tác ấy rồi, Long Sinh liềnthất thanh hỏi:

-Tiết lão ngũ làm như thế để làm gì?Phủ tàu lá lên mình nó như vậy, có phải muốn nó lại nổi hung tác oai tác quái như hồi nãy phải không?

Đậy nắp hộp lại, cài cái móc vàng bên ngoài hẳn hoi. Triệu Khôi gật đầu, vừa cười vừa đáp:

-Phạm huynh nói không sai, sau khi phủ tàu lá đó lên mình nó rồi, chỉ một lát nữa là Kim Câu Khiết Vương sẽ nổi hung oai lên và phải cho nó hút no máu và tinh lũy của người thì nó mới lại say sưa ngủ kỹ. Nhưng trước khi chưa mở nắp hộp này ra, thì không bao giờ nó giở được oai phong ra cả.

Nói xong, y cung kính đưa cái hộp vàng ấy cho Long Sinh ngay.

Chương 43: Đạo trời lớn rộng chớ nên làm bậy

Tuy Long Sinh biết Kim Câu Khiết Vương rất hung ác độc địa, trong lòng hơi kinh hoảng những vẫn không lộ sợ hãi, liền hớn hở hỏi:

-Tiết lão ngũ đưa hộp vàng trong đựng Kim Câu Khiết Vương này cho mỗ làm gì?

Triệu Khôi lộ vẻ rầu rĩ gượng cười đáp:

-Nếu Tiết Triệu Khôi tôi phá vách hang động ra khỏi sơn cốc này mà bị trời phạt ngay tức thì, thì xin Phạm huynh đem cái hộp vàng này đi Ly Hồn cốc, ở ngay trong Thiên Nam đại hội trao hộp cho Dương Thúc Độ, bảo là vật của Tiết lão ngũ năm xưa đã bị y chặt gãy hai chân tặng cho đấy, hỏi y có dám mở nắp hộp ra xem không?

Long Sinh hớn hở cười và nói tiếp:

-Lão ngũ thông minh thật, kế này quả thực là diệu sách. Trong Thiên Nam đại hội thể nào cũng có rất nhiều quần hùng, trước mặt đông đảo như thế, Dương Thúc Độ tự thị thần công của mình hơn người, tất nhiên y không chịu lép vế, thế nào cũng phải mở ra xem ngay.

Triệu Khôi lại móc lấy ba viên thuốc màu tía ra đưa cho LongSinh và nói tiếp:

-Quí hồ giết chết xong vợ chồng Thúc Độ, Phạm huynh không nên để con Kim Câu Khiết Vương còn sống trên nhân gian này làm hại người nữa.Nếu để nó còn sống hậu hoa. sẽ vô cùng tai hại, ba viên thuốc này là thứ thuốc chuyên môn khắc chế nó, Phạm huynh cứ việc búng liên tiếp vào mình nó, hễ có một viên bắn trúng là đủ công hiệu rồi.

Long Sinh rất cẩn thận bỏ cái hộp và ba viên thuốc vào túi, rồi mỉm cười hỏi lại:

-Lão ngũ, chỉ vì con Khiết Vương quá ác độc cho nên mỗ cần phải hỏi thêm lão ngũ một vấn đề nữa.

Triệu Khôi vừa cười vừa hỏi lại:

-Phạm huynh định hỏi việc gì thế?

Long Sinh cau mày lại đáp:

-Vừa rồi mỗ trông thấy con Khiết Vương nổi oai, chỉ nhảy xổ tới người có phủ khăn mặt đỏ mà tấn công thôi, nên lệnh đồ Thiên Vũ mới bị chết oan.

Triệu Khôi gật đầu đáp:

-Phạm huynh nhận xét rất đúng. Bái Khiết giáo chúng tôi xưa nay cứ phủ khăn đỏ vào mặt người được dùng để làm tế vật cho Khiết Vương, nên nó đã quen đi rồi.

Long Sinh gượng cười hỏi tiếp:

-Như vậy có phải là khó khăn lắm ru. Vì nếu ở trong ThiênNam đại hội mỗ muốn úp chụp khăn đỏ vào đầu và mặt của vợ chồng Thúc Độ có phải là chuyện dễ đâu?

Triệu Khôi đáp:

-Phạm huynh cẩn thận thật, nhưng vì mối thù bị chặt chân. Triệu Khôi tôi tính toán lâu rồi, đối với vấn đề này tôi cũng đã có chuẩn bị sẵn.

Long Sinh cười giọng khanh khách hỏi tiếp:

-Lão ngũ hãy nói cho mỗ nghe, lão ngũ đã chuẩn bị như thế nào?

Triệu Khôi lấy một cái lọ ngọc nho nhỏ ra trong ấy có đựng một thứ thuốc bột màu trắng đưa vào mũi không thấy có mùi gì hết. Y hớn hở cười và nói:

-Thứ thuốc bột này, ngửi không thấy mùi gì cả, nhưng đối với con Khiết Vương thì lại là một thứ thuốc quyến rũ nó.

Long Sinh mới vỡ nhẽ nói tiếp:

-Thế ra chỉ cần bôi một ít thuốc bột này vào người vợ chồng Thúc Độ, con Khiết Vương ra khỏi hộp là sẽ tấn công vợ chồng chúng ngay ư?

TriệuKhôi gật đầu đáp:

-Phạm huynh đoán đúng đấy. Nhưng cần phải chú ý đến một điểm này, nếu huynh bôi thuốc này vào tay trước rồi mới xoa vào người vợ chồng Thúc Độ, thì trước khi vợ chồng y mở hộp này ra xem, huynh phải rửa tay sạch sẽ đấy.

Long Sinh gật đầu cầm lấy lọ thuốc bằng ngọc ấy bỏ vào trong túi thở dài nói tiếp:

-Lão ngũ, mỗ chỉ mong những lời của lão ngũ này là thừa thôi, và lão sẽ tự tay trả thù được vợ chồng Song Ma.

Triệu Khôi cảm khái vô cùng, gật đầu thở dài và đỡ lời:

-Chính tay báo thù đó là nguyện vọng lớn nhất của đệ, nhưng đệ sợ oai nghiêm của trời xanh lắm. Bấy nhiêu năm nay... nuôi những con độc vật này quả thực đệ đã giết hại khá nhiều người rồi.

Long Sinh vừa cười vừa hỏi tiếp:

-Những người mà lão ngũ đã giết hại đó là người Hán hay là người Mèo?Là người tốt hay là kẻ gian giảo ác độc!?

Mặt lộ vẻ bẽn lẽn Triệu Khôi gượng cười:

-Người Hán hay người Mèo đều có hết người tốt hay người xấu đệ cũng không sao phân biệt được, cứ biết đã có ngót trăm tính mạng bị chết dưới KimCâu của con Khiết Vương và nọc độc của con trùng độc kia rồi.

Long Sinh biết những nghiệp trái ấy là một gánh vác rất nặng nề, không sao trút khỏi được và ông ta cũng không có lời gì để an ủi gã, nên vội nói lảng sang chuyện khác, chỉ xuống Bách Hoa đầm mà hỏi Triệu Khôi rằng:

-Lão ngũ những thiếu nữ người Mèo trần truồng dưới Bách Hoa đầm kia có phải là thủ hạ của Bách Hoa công chúa đấy không?

Triệu Khôi gật đầu đáp:

-Bách Hoa công chúa ấy tên là Giáp Cốc Diệu, công lực rất cao siêu. Nàng ta với đệ cùng được mời tham dự vào nhóm Hoàn Vũ Cửu Sát. Nàng đã đi Ly Hồn cốc rồi.

Vì biết Triệu Khôi đã dặn Thiên Phong,Thiên Vân, Thiên Lôi ba người đồ đệ chẩn bị sẵn sàng, định đến cuối giờ Thân, đầu giờ Dậu là phá tan vách núi, ra khỏi sơn cốc này. Bây giờ mới là đầu giờ Thân, hãy còn nhiều thì giờ nên ông ta mỉm cười hỏi tiếp:

-Lão ngũ, Bách Hoa công chúa là người như thế nào?Có cảm tình mật thiết gì với lão ngũ không?

Triệu Khôi cau mày đáp:

-Giáp Cốc Diệu sở trường các thứ tiếng động rất huyền diệu, và thiện dùng các thứ ám khí chưởng độc, là người tuy không có tội ác gì mấy, nhưng tính rất dâm đãng, nên trên Bách Hoa đầm xương người chồng chất như núi, thì đủ thấy nàng ta đã gây nên dâm nghiệp không ít.

LongSinh lại hỏi tiếp:

-Bách Hoa công chúa là người cực dâm như vậy, chẳng hay lão ngũ đã có gì với y thị chưa?

Mặt hơi đỏ, Triệu Khôi cả cười đáp:

-Cổ nhân đã dạy:"Thỏ không ăn cỏ bên cạnh ổ" Giáp Cốc Diệu với đệ, kẻ tàn phế này, chỉ là tình láng giềng với nhau và là bạn thông thường thôi, riêng có mấy thiếu nữ Mèo, thủ hạ của nàng ta, thì thỉnh thoảng cũng có sự rắc rối với mấy đứa đệ tử mất dạy của tiểu đệ.

Nói tới đó, y bỗng nhìn Long Sinh mỉm cười hỏi:

-Phạm huynh dò hỏi BáchHoa công chúa cặn kẽ như vậy làm gì?

Long Sinh cười giọng quái dị đáp:

-Giáp Cốc Diệu đã nhập bọn với Hoàn Vũ Cửu Sát thì thể nào mỗ cũng gặp y thị ở trong ThiênNam đại hội. Sở dĩ mỗ hỏi cặn kẽ như vậy nhỡ phải đấu với y thị thì mới biết nên ra tay như thế nào.

Triệu Khôi thở dài một tiếng rồi lắc đầu đáp:

-Phạm huynh khỏi cần phải nể nang gì hết. Diệt ác thì phải diệt cho tận. Tiết Triệu Khôi tôi với Bách Hoa công chúa Giáp Cốc Diệu đều là yêu tà cả, tội đáng chết lắm rồi không thể nào tha thứ được.

Long Sinh vừa cười vừa đỡ lời:

-Lão ngũ không nên nản chí như vậy. Mỗ nhận thấy lão ngũ hãy còn có lương tâm chứ không như những kẻ cùng hung cực ác. May ra... Triệu Khôi lắc đầu, nói tiếp:

-Phạm huynh chỉ thấy đệ bỗng gặp cố nhân mà có chút lương tâm phát hiện như thế này, chứ chưa trông thấy đệ ngày thường sai bảo độc vật hành hung, gây tội ác như thế nào. Đệ tự biết quả báo sắp đến, đại hạn không sao tránh thoát được. Lát nữa vách núi mở rộng, có lẽ chính là lúc kết quả trở về nguồn gốc của đệ đấy.

Long Sinh nhìn kỹ sắc mặt của Triệu Khôi quả thấy có hắc ám nhưng vẫn khuyên:

-Lão ngũ, nếu nhận thấy triệu chứng không may thì hôm nay đừng nên phá vách núi vội, hãy đợi chờ... Triệu Khôi xua tay đáp:

-Phạm huynh không biết đấy thôi.Tiểu đệ một mình ở trong u cốc này, lúc nhàn rồi vẫn lấy thuật số ra tiêu khiển nghiên cứu lâu nên mới thấy hơi hiệu nghiệm.

Theo sự ước đoán của đệ, chỉ có ngày hôm nay cuối giờ Thân đầu giờ Thìn phá vách núi ra khỏi sơn cốc này thì mới còn hy vọng thoát chết, còn những ngày giờ khác, theo các quẻ lại dạy rằng rất nguy hiểm, khôgn có gì giải cứu được hết.

Thấy Triệu Khôi nói đã bói toán kỹ lưỡng Long Sinh cũng không tiện khuyên bảo nữa, liền mỉm cười hỏi:

-Nếu lão ngũ đã bói toán như vậy rồi, thì Phạm mỗ xin đảm nhận trách nhiệm hộ vệ lão ngũ ra khỏi sơn cốc, để coi xem thiên tai gì giáng xuống không?

đa tạ tấm thịnh tình củaPhạm huynh. Nhưng kỳ tai của trời phạt trừ khi không tới chứ nếu tới thì sức người không sao cứu vãn nổi. Xin huynh đừng có bảo vệ đệ ra khỏi sơn cốc, mạo hiểm để mang vạ lây.

Long Sinh nghe nói giả bộ giận dữ mắng chửi luôn:

-Lão ngũ hơi bậy thực, chúng ta là bạn với nhau bấy nhiêu năm.

Triệu Khôi vừa cười vừa đỡ lời:

-Phạm huynh không nên tức giận như thế, nếu huynh để cho đệ ra khỏi sơn cốc này một mình sẽ có lợi ích rất nhiều cho đệ. Dù bị trời đánh đi chăng nữa, huynh vẫn có thể nhặt xác cho đệ, và xây cho đệ một ngôi mộ đề:"Bái Khiết Giáo Chủ XíchPhát Chân Nhân chi mộ".

Cười giọng quái dị, Long Sinh la lớn:

-Tiết lão ngũ, xưa nay Long Sinh mỗ nói là phải làm cho kỳ được mới thôi. Nếu lão ngũ không để ta hộ tống ra khỏi sơn cốc này, thì đây mỗ trả lại lá cây, viên thuốc, Khiết Vương và thuốc bột cho lão ngũ ngay.

Bất đắc dĩ Triệu Khôi phải gật đầu đáp:

-Phạm huynh là người cao nghĩa như vậy. Triệu Khôi tôi đành phải cung kính lãnh thịnh tình ấy. Nhưng huynh cần cất kỹ cái hộp đựng con Khiết Vương vào trong người trước đã.

Không hiểu Triệu Khôi dặn mình như thế làm gì, nhưng Long Sinh vẫn phải nghe lời, bỏ cái hộp ấy vào túi áo trong ngay.

Triệu Khôi thấy LongSinh cất kỹ cái hộp ấy rồi, liền ngửng đầu nhìn trời, rồi gượng cười nói tiếp:

-Sắp đến giờ rồi hãy thử thách xem số mệnh của tiểu đệ ra sao?

Nói xong y liền rú lên mấy tiếng thực dài, thì con rết màu tía, con nhện màu đen, con mối màu đỏ, con cóc màu xám với chín con bò cạp độc đã lần lượt từ trong hang động bò ra.Thiên Phong đạo nhân các người chỉ huy điều động những con vật ấy tụ tập ở giữa sân đá.
Long Sinh ngạc nhiên hỏi:

-Lão ngũ định đưa các con quái vật đi Ly Hồn cốc để dự Thiên Nam đại hội phải không?

Triệu Khôi gượng cười đáp:

-Những con độc vật này là võ khí của đệ, nếu không có chúng, chả lẽ bảo đệ chỉ dùng bộ tóc này đấu với Âm Dương Song Ma hay sao?Huống hồ chúng đi theo bên cạnh thì còn có đệ kìm chế chúng, nếu xa cách đệ không ai đủ sức chỉ huy nổi chúng sẽ làm nguy hại lây không biết bao nhiêu tội nghiệp tầy trời.

Long Sinh nghe thấy Triệu Khôi nói như vậy gật đầu lia lịa và đỡ lời:

-Lão ngũ nói rất phải, mỗ tán thành lão ngũ đem chúng đi Ly Hồn cốc.

Triệu Khôi khẽ giơ tay lên vẫy một cái, con mối màu đỏ như máu đã từ từ bò đến trước mặt.

Long Sinh thấy thế thất cười nói tiếp:

-Lão ngũ cũng thông minh đấy, biết lợi dụng con mối màu đỏ này làm vật cho mình cưỡi, nhưng đại đội nhân mã này cùng tới Ly Hồn cốc, liệu có làm cho bọn Hoàn Vũ Cửu Sát mất hồn mất vía và quấy nhiễu Thiên Nam đại hội không?

Triệu Khôi khẽ nhún vai một cái, đã phi thân lên trên lưng con mối và mỉm cười hỏi Phạm Long SInh rằng:

-Phạm huynh có muốn cưỡi thử con mối này không?

Long Sinh xua tay đáp:

-Mỗ làm gì tốt phước được như thế, mỗ chỉ có đi sau đại giáo chủ để hộ vệ là được rồi.

Triệu Khôi cũng không khách sáo nữa, vẫy tay một cái ra hiệu cho ba tên đồ đệ dẫn mười ba con độc vật từ từ tiến thẳng vào trong hang động ở nơi chính giữa.

Long Sinh đi cạnh Triệu Khôi để bảo vệ, mỉm cười nói rằng:

-Tiết lão ngũ, chả lẽ hang động này rất sâu, mà chỉ cách bên ngoài sơn cốc có một lớp vách đá chăng?

Triệu Khôi gật đầu đáp:

-Vâng, chỉ cách có một lớp vách đá thôi nhưng cứng rắn lắm, tuy vậy đệ đã có cách phá nổi. Và đệ cảm thấy cách phá núi mà ra cũng không khó khăn chút nào.

Long Sinh hớn hở hỏi:

-Cách gì mà phá núi một cách thần diệu như thế?Chả lẽ trong ba mươi năm cách biệt lão ngũ đã luyện thành Ngũ Đinh Thần Chưởng rồi chăng?

Triệu Khôi lắc đầu vừa cười vừa đáp:

-Ngũ Đinh ThầnChưởng là một môn thần công rất cao của nội công, tiểu đệ làm gì có tài ba ấy. Nhưng cách phá núi của tiểu đệ lại giản dị hơn Ngũ Đinh Thần Chưởng nhiều, tiểu đệ chả cần phải tốn chút hơi sức nào hết.

Lúc này Long Sinh mới vỡ nhẽ, chỉ vào những con bò cạp và rết độc mà nói tiếp:

-Có phải lão ngũ định lợi dụng bản năng trời phú cho chúng đấy không?

Triệu Khôi gật đầu mỉm cười đáp:

-Trong bọn chúng có hai tên Khai Sơn Tiên Phong, một tên là Khai Sơn Tráng Sĩ, lát nữa Phạm huynh xem sẽ cảm thấy lý thú lắm.

Long Sinh nghe nói liền nghĩ bụng:

"Hiện giờ y có tất cả năm thứ độc vật:mối, rết, nhện, cóc và bò cạp, vậy không biết loại nào có tài khai sơn?Con nào là Khai Sơn Tiên Phong?Con nào là Khai Sơn Tráng Sĩ?" Trong lúc hai người chuyện trò đã đi tới chỗ cuối hang liền thấy một vách đá rất dày ngăn cản lối đi. Long Sinh mỉm cười hỏi:

Tiết lão ngũ bây giờ đã sắp hết giờ Thân rồi lão ngũ truyền lệnh cho Tiên Phong và Tráng Sĩ phá vách đá đi, để mỗ được sáng mắt một phen.

Triệu Khôi gật đầu, liền giơ tay ra hiệu cho Thiên Vân đạo nhân.

Thiên Vân đạo nhân cung kính vâng lời vội giơ cái quạt nhỏ màu tía lên, chỉ vào vách đá một cái.

Con rết màu tía thấy vậy, vội bò quanh quẩn một hồi liền hoá thành một đạo tử quang bay thẳng lên trên không.

Long Sinh thấy thế kinh ngạc hết sức, biết con rết này là một trong hai Tiên Phong Khai Sơn đây. Ông ta liền nghĩ bụng:

"Chả lẽ con rết này có tài xuyên qua núi như Xuyên Sơn Giác (con tê tê) chăng?

Con rết bay lên trên vách nhưng không chui vào đá mà lại chỉ dùng chân cào hoài như là bò rất nhanh ở trên đó vậy, lát sau chỗ vách đá bị con rết bò qua, đã biến thành màu ngà ngà vàng khác hẳn những chỗ khác.

Long Sinh xem tới đó, biết chất độc của con rết đỏ đủ sức làm cho nát vách đá, cho nên Triệu Khôi mới sai nó làm tiên phong, để làm vách đá này nát ra trước.

Thiên Vân đạo nhân thấy vách đá đã biến sắc liền giơ lá cờ tía lên con rết rời ngay vách đá bay trở về chỗ cũ tức thì.

Triệu Khôi chỉ con mối mà bảo Long Sinh rằng:

-Phạm huynh, đệ nhất tiên phong là con rết màu tía, còn đệ nhị tiên phong là con mối màu đỏ này.

Nói xong, y khẽ vỗ một cái, con độc vật ấy há to mồm phu ra một vòi nước màu vàng, bắn thẳng vào chỗ vách đá đã biến sắc kia.

Vòi nước vàng ấy vừa ra khỏi miệng nó, đã như một vòi nước suối phi thẳng ra ở trên không hoá thành một đám sương mù rất đều đặn phun đúng ngay vào chỗ vách đá.

Độ một lát sau, con mối thu sương mù vàng ấy lại.

Vách đá đang là màu vàng nhợt, nay biến thành màu vàng tía.

Long Sinh mỉm cười hỏ:

-Hai vị tiên phong đã làm cho vách dá thối nát rồi, nhưng mỗ vấn chưa đoán ra được ai là phá vách tráng sĩ?Thiên Phong đạo nhân bỗng phẩy tay một cái, con cóc khổng lồ màu vàng xám trông như cục đất thôi, đã nhảy nhót đến chỗ vách đá cách chừng sáu thước. Long Sinh thấy thế cả cười nói:

-Thì ra phá vách tráng sĩ lại là vị tướng công bụng to này, chuyên môn ăn thịt ngỗng trời bay ở trên không đấy! Ông ta vừa nói xong, thì con cóc đã phình mồm phình bụng, rồi há to cái mồm rộng hít một hơi thực mạnh. Bụng to của nó liền phồng to gấp đôi lên ngay.

Long Sinh biết con cóc muốn dùng "Ha MôKhí" để phá vỡ vách đá, nên cứ khoanh tay mỉm cười đứng xem và một mặt ngấm ngầm vận khí ra đằng trước để đề phòng những tảng đá vỡ và sắc bén bắn ngược trở lại.

Con cóc đã hút đầy hơi, và chỉ nghe thấy tiếng kêu "ộp" rất quái dị, mồm nó đã phun ra một luồng hơi mạnh vô cùng, nhằm vách đá màu vàng úa mà tấn công luôn.

Chỉ nghe thấy tiếng kêu "bùng một tiếng thật lớn, mưa đá bay tung lên quả nhiên vách đá bị thủng một cái lỗ, trong hang động sâu như vậy đã có ánh sáng mặt trời ló vào.

Con cóc thổi hai hơi nữa, cửa hang càng lớn rộng thêm có thể vừa người ra vào rồi.

Tình hình ở ngoài vách đá trông lại kinh người thêm, vì ngoài đó mưa đang đổ xuống như thác. Trong cơn mưa lớn lại còn văng vẳng nghe thấy tiếng sấm động nữa.

Triệu Khôi trông thấy tình cảnh bên ngoài như thế, mặt đã tái mét, người run lẩy bẩy, liền lắc đầu thở dài nói với Long Sinh rằng:

-Phạm huynh xem kìa, phía ngoài đó mưa to và sấm sét đang chuyển động, đủ thấy oai trời lẫm lẫm như thế?Tiểu... đệ thể nào cũng không... tránh khỏi trận tai kiếp này.

Long Sinh cảm thấy mưa bên ngoài rất lớn nhưng tiếng sấm sét không lớn lắm nhưng vẫn không dám khuyên Triệu Khôi mạo hiểm, mà chỉ mỉm cười an ủi rằng:

-Lão ngũ nếu sợ oai trời như vậy thì khỏi cần phải ra ngoài sơn cốc vội, từ từ nghiêm nghị ra lệnh cho thủ hạ đừng làm điều tai ác nữa để Phạm Long Sinh này đi kiếm Âm Dương Song Ma mà trả thù tuyết hận cho lão ngũ.

Triệu Khôi thở dài lắc đầu:

-Vách đá đã mở thì giờ đã tới, không còn lý do nào mà rụt rè không dám ra khỏi sơn cốc nữa. Là phúc hay là hoạ, nếu là hoa. thì quyết không sao tránh được!Tiểu đệ đã quyết tâm mạo hiểm, tranh đua với trời một phen. Xin Phạm huynh nhớ kỹ hộ đệ việc đó, để đệ được toại tâm nguyện bấy nhiêu năm, dù có phải chết ở dưới chín suối cũng yên dạ! Long Sinh thấy y nói bi đát như vậy, biết đó là một triệu chứng bất thường, rõ ràng y biết không thể nào vãn hồi lại được, nên cũng rầu rĩ theo và đáp:

-Lão ngũ đã quyết tâm như vậy, thì hãy sai những con độc vật ra khỏi hang động xem thử trước.

Triệu Khôi gật đầu liền ra lệnh cho Thiên Vân đạo nhân đem con rết màu tía con nhện màu đen, ra ngoài cửa hang trước.

Bên ngoài mưa vẫn đổ xuống như thác mà vẫn có tiếng sấm ẩn hiện không khác gì hồi nãy.Triệu Khuê lại sai Thiên Phong Đạo Nhân đem con cóc khổng lồ rời khỏi hang tiếp. Tiếng sấm với cơn mưa vẫn như trước, không có vẻ gì là tai kiếp của trời sắp giáng xuống đến nơi cả.

Triệu Khuê lại sai Thiên Phong đạo nhân đem con cóc khổng lồ rời khỏi hang tiếp. Tiếng sấm với cơn mưa vẫn như trước, không có vẻ gì là tai kiếp của trời sắp giáng xuống đến nơi cả?

Triệu Khuê thấy thế mặt hơi tươi tỉnh, lại sai Thiên Lôi đạo nhân dẫn chín con bọ cạp độc chui ra khỏi hang.

Lúc này mưa có vẻ lớn hơn trước nhưng tiếng sấm lại ngừng hẳn hình như trời sắp quang đãng rồi thì phải. Long Sinh thấy thế mỉm cười hỏi:

-Tiết lão ngũ cứ yên tâm xem như vậy không có truyện xảy ra nữa đâu.

Triệu Khuê gật đầu cười liền ra lệnh cho con mối mà mình đang cưỡi dùng thân pháp rất nhanh phi ra khỏi hang động.

Ngờ đâu con mối đỏ như máu này ngày thường rất ngan ngoãn nghe lời Triệu Khuê chỉ huy nhưng lúc này nó bỗng chốc lại không phi ra ngoài, trái lại nó còn lui về phía sau hai bước.

Long Sinh thấy thế đang cau mày lại thì Triệu Khuê đã quát bảo con mối rằng:

-Mi sợ chết ư? Chúng đã ra khỏi hang động cả rồi, chẳng lẽ hai ta cứ ở trong Ngũ Độc Cốc này mãi sao?

Nói xong y vỗ mạnh vào lưng con mối để thúc giục nó đưa mình ra khỏi hang.

Con mối thấy chủ nhân nổi giận, liền kêu lên những tiếng rất quái dị vẩy đuôi một cái bốn chân nhún thực mạnh hoá thành một cái cầu vòng bay màu đỏ như máu, lưng vẫn cõng Xích Phát Chân Nhân Tiết Triệu Khuê phi thẳng ra ngoài hang động nhanh như điện chớp.

Long Sinh rất quan tâm đến ngời bạn quý cũng giở khinh công tuyệt thế ra đi cạnh Triệu Khuê cùng phi ra bên ngoài, để chuẩn bị nếu có biến cố gì thì sẽ hết sức ra tay cứu gúp.

Các người ra khỏi hang động, bên ngoài tình thế vẫn yên tĩnh như thường.

Nhưng hai người với con vật ra tới ngoài hang động, thì trước mắt đã có ánh vàng lấp lánh, cả sơn cốc đều sáng rực, một tiếng nổ kinh thiên động địa làm chấn động cả núi non nổi lên... Trong võ lâm đương thời ngoài Đại Bi Tôn Giả với Nam Môn Vệ ra, thì phải kể đến vợ chồng Âm Dương Song Ma, Chúc Thiếu Khoan và Phạm Long Sinh bốn người là có công lực cao nhất. Không kể Thích Đạo Song Tuyệt thì bốn người này vẫn tự phụ là không có địch thủ.

Ngờ đâu phạm Long Sinh vẫn chịu không nổi sức trấn động của tiếng sấm sét ấy. Mắt vừa trông thấy ánh sáng vàng rực rỡ, tai vừa nghe thấy tiếng nổ long trời lở đất, ông ta đã mất tri giác lúc nào không hay.

Chờ tới khi long Sinh mơ mơ màng màng tỉnh dậy, thì mưa đã tạnh, tiếng sấm đã ngớt, chỉ thấy mình mẩy đau nhừ, tựa như bị bệnh nặng mới khỏi vậy.

Long Sinh lắc đầu thở dài một tiếng gượng bò dậy, thì mới trông thấy Tiết Triệu Khuê, Thiên Phong đạo nhân, Thiên Vân đạo nhân, Thiên Lôi đạo nhân với chín con bọ cạp, con rết màu tía, con nhện màu đen, con cóc màu vàng, con mối màu đỏ vân vân, nghĩa là bốn Bái Khiết giáo đồ, mười ba con độc vật hãn thế đều bất động ở xung quanh mình chỉ cách xa mười mấy trượng.

Tuy người và vật không cử động nhưng trông vẫn còn sống, Triệu khuê vẫn cưỡi trên lưng con mối chr có hai mắt nhắm nghiền thôi.

Thấy tình hình ấy, Long Sinh đâm ra nghi ngờ liền nghĩ bụng:

"Chẳng lẽ trời xanh lại oai linh như vậy chăng? Sau một tiếng sấm tất cả nhân vật và độc vật của Bái Khiết tà giáo đều bị trấn động chết hết riêng có một mình người ngoại giáo thoát được tai nạn thôi".

Nghĩ tới đó ông ta liền đi tới trước Triệu Khuê sờ tay vào vai y. Ngờ đâu, cả Bái Khiết giáo chủ và con mối ở dưới y cũng đều hoá thành đống bột hết.

Long Sinh ứa nước mắt thử bọn Thiên Phong đạo nhân các người với những con độc vật kia, kết quả cả người lẫn độc vật đều như thế.

Trong lúc ông ta đau lòng, đang định đào đát để chôn cất bạn cũ gọi là tận chút tình cố nhân, thì bên tai đã nghe thấy tiếng kêu "ùm ùm" ông ta vội ngửng đầu lên nhìn thấy chỗ cách mình hơn mười trượngđang có dòng thác lũ như muôn nghìn con ngựa đang chen chúc nhau chạy tới.

Long Sinh biết đây là trận mưa to hồi nãy đã gây nên nước lũ đổ mạnh vô cùng đành phải phui thân nhảy lên trên vách núi cao năm sáu trượng để tránh nước.

Nguồn nước lũ đó chảy qua chỗ nhỏ oai thế thực là kinh người, cây cối và đá đều bị nước đẩy bật rễ trôi đi ngay. Đồng thời cả xác Triệu Khuê cùng ba tên đồ đệ cùng đàn độc vật đều trôi đi sạch sành sanh cả.

Long Sinh đứng ở trên cao trông thấy vậy, vừa kinh hãi vừa rầu rĩ, liền thở dài một tiếng và nghĩ bụng:

"Thực là oai trời không thể nào đo lường được. Cổ nhân đã dạy câu:

"Thiện ác đáo đầu chung hữu báo" chỉ có sớm hay muộn thôi, quả thực không sai chút nào! Người ta chỉ lỡ một bước, là sẽ gây nên mối hận ngàn thu. Đáng tiếc Triệu Tiết Khuê là người không đến nỗi hung ác lắm, nhưng chỉ vì nuôi những con vật độc đã giết người quá nhiều, nên mới bị báo ứng và bị trời đánh chết moọt cách thảm khốc như vậy".

Trong lúc kinh hãi thở than đó, nhưng lòng Long Sinh rất lấy làm an ủi.

Điều ông ta an ủi là, cứ xem bọn Triệu Khuê các người thì đủ chứng minh đạo trời không sai, như vậy trong trận đại chiến ở Ly Hồn Cốc, Độc Cô Sách, Mộ Dung Băng quần hiệp sẽ ra sao, Hoàn Vũ Cửu Sát bọn chúng kết quả sẽ như thế nào? Vợ chồng Âm Dương Song ma liệu có bị chết không? Chính tà hung bại hoa. phút cát hung, chắc trời xanh đã sớm định đoạt.

Phạm Long Sinh vừa nghĩ vừa thò tay vào túi lấy cái hộp vàng ra xem liệu con Kim Câu Khiết Vương có bị trời đánh không? Ngờ đâu ông ta vừa cầm cái hộp vàng chưa kịp rút ra khỏi áo, thì trên trời đã có tiếng sấm nổi lên, có ánh sáng làm loé hai mắt ông ta rồi.

Lúc này Phạm Long Sinh đã biết thiên oai như thế nào, không dám lấy cái hộp ấy ra nữa, lại bỏ cái hộp vào trong người và chắp tay cúi đầu xuống khấn thầm, đồng thời còn thề nặng nữa.

-Tôi chỉ nhận lời trao phó của Tiết Triệu Khuê lợi dụng con Kim Câu Khiết Vương này để diệt trừ vợ chồng Dương Thúc Độ với Sở Lục Châu đã gây nên nhiều tội ác thôi. Sau khi hoàn thành tâm nguyện cho bạn rồi, tôi xin giết chết con bọ cạp này ngay, quyết không để nó làm hại người đời nữa. Nếu có người thứ ba bị ngộ nạn, thì tôi cũng xin chịu trời hành phạt! Quả nhiên ông ta khấn xong, tiếng sấm cũng thưa dần và im hẳn, chớp nhoáng trên trời cũgn ngừng luôn.

Chờ tới khi nước lũ đã hoàn toàn rút lui hết, mặt trăng đã mọc lên, Phạm Long Sinh vẫn còn chắp tay vái lạy, thì bỗng nghe thấy bên cạnh có người mỉm cười hỏi:

-Sao Phạm huynh lại có thái độ trang nghiêm thế này, chả lẽ thấy tiếng sấm mà đã chứng đạo quả, chán nản việc phàm trần, muốn quy y Tam Bảo, hay Tam Thanh đạo tổ rồi chăng?

Long Sinh cảm thấy trong người mát dịu và mới hay người lên tiếng đó là Dật tư, cả Tiêu Anh với Mộ Dung Băng hai mẹ con đang đứng sau nàng ta.

Thì ra Dật Tư với hai mẹ con Tiêu Anh đi ngang qua đây trông thấy Long Sinh đang đứng chắp tay vái lạy và cúi đầu nhắm mắt lại ở bên dưới nên ba người mới nhảy xuống để hỏi.

Dật Tư mỉm cười hỏi tiếp:

-Phạm huynh, tôi với Tiêu đại tỷ và Băng tiểu muội đã đi tìm kiếm khắp cả khu rừng rậm rồi, cũng không thấy Ngũ Độc Cốc và Bách Hoa đầm ở đâu cả. Chả hay Phạm huynh đã kiếm thấy chưa?

Long Sinh đưa mắt nhìn mộ Dung Băng rồi mỉm cười đáp:

-Mộ Dung cô nương tiên cốt ban san, phước duyên thực tốt có khi nào lại bị câm suốt đời. Lão phu đã kiếm thấy Ngũ Độc Cốc và Bách Hoa đầm rồi.

Tiêu Anh nghe nói mừng rỡ như điên như khùng vội xen lời hỏi:

-Phạm huynh đã tìm thấy Ngũ Độc cốc rồi, chúng ta mau mau đi ngay tới chỗ đó để lấy Kim Câu Khiết Độc đơn hoàn và cái lá Lục DiệpHồng Tính Thảo, chữa cho Băng nhi.

Long Sinh mỉm cười, xua tay bảo TiêuAnh đừng nói nữa, rồi móc túi lấy viên Khiết độc đơn hoàn và cái lá Lục Diệp Hồng Tính Thảo ra.

TiêuAnh thấy thế vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ khôn tả vội cám ơn Long Sinh và nói:

-Phạm huynh cao minh thực, không những đã kiếm thấy Ngũ Độc Cốc và còn lấy được cả những vật mà chúng ta đang cần tới nữa.

Long Sinh lắc đầu cười gượng đáp:

-Việc này là do sự ngẫu nhiên mà nên, chứ không phải là tối cao minh gì đâu.

Nếu vị Bái Khiết giáo chủ không phải là bạn cũ năm xưa của tôi thì hợp sức bốn chúng ta lại cũng không sao địch nổi con Kim Câu Khiết Vương và mười hai con độc vật lợi hại khôn tả.

Nói tới đó, ông ta bèn kể lại câu chuyện của mình ngẫu nhiên vào trong hang động kỳ lạ, gặp bạn cũ ra sao? Sau rồi vị giáo chủ ấy bị trời đánh như thế nào, nhất nhất nói rõ hết cho ba người nghe.

Dật Tư nghe xong cũng cảm khái vô cùng lắc đầu thở dài và lên tiếng nói:

-Thảo nào trận mưa và sấm vừa rồi lại lớn đến như thế? Thì ra bên trong lại bao quát mộtcâu chuyện như vậy. Phạm huynh đã đích thân tham dự, sau này thuyết pháp cảnh thể, hoặc giả có thể khiến nhữngkẻ mới hay tai ác chưa quá đáng mới biết hối cải thì thực là công đức vô lượng.

Long Sinh gật đầu vừa cười vừa đáp:

được trông thấy ông trời nổi oai đã là việc hiếm có nhưngtrấn động của sấm sét quả thực lợi hại đến giờ tôi còn cảm thấy xương cốt nhức mỏi, mình mẩy tê tái, như vừa ốm nặng xong và cũgn như bị thương nặng mới khỏi vậy.

Chương 44: Mai, lan, trúc, cúc

Tiêu Anh đưa mắt nhìn viên thuốc với cái lá ở trong tay Long Sinh, trong lòng rất an ủi và thủng thẳng xen lời nói:

Nghe Phạm huynh nói Bái Khiết giáo chủ tuy có ý hối cải mà vì tai nghiệp quá nặng nên vẫn bị trời đánh. Bởi vậy TiêuAnh tôi mới cảm thấy ông trời đã thương tôi thực. Nếu Băng nhi nói được thì chỉ đợi kiếm thấy Bích nhi, để cho hai chị em nó cùng lấy Độc Cô Sách là tâm nguyện của tôi đã hoàn thành. Lúc ấy tôi sẽ đi làm việc thiện để chuộc tội lỗi xưa, cho tới khi tắt thở mới thôi.

Mộ Dung Băng đứng cạnh đó nghe Tiêu Anh nói xong, liền kéo tay áo lôi Dật Tư sang bên và viết xuống đất:

"Tạ tỷ tỷ, vừa rồi mẹ tôi nói Bích nhi là ai thế?" DậtTưxem xong những chữ đó, liền mỉm cười đáp:

-Tên cô ta là Mộ Dung Bích, là chị gái cùng cha khác mẹ với Băng muội. Hiện giờ không biết cô ta đi đâu, tìm kiếm mãi không thấy.

Tuy không nói được, Mộ Dung Băng nghe thấy Dật Tư nói như vậy đã ứa nước mắt ra, mặt lộ vẻ hổ thẹn và khóc lóc ngay.

Sự biến hoá đột ngột ấy khiến Long Sinh, TiêuAnh và Dật Tư ba người đều ngạc nhiên vô cùng.

TiêuAnh vội ôm Mộ Dung Băng vào lòng với giọng rất nhu mì hỏi rằng:

-Băng nhi, tại sao con lại khóc lóc như thế?

Nghĩ tới khi ở trên bờ hồ Thái Hồ, vì ghen sinh hận, mình đã làm nhục người chị cùng cha khác mẹ của mình và còn cắt tóc dài của nàng ta nữa. Nàng càng nghĩ càng hổ thẹn, bỗng đứng phắt dậy tới trước vách đá đâm đầu vào ngay.

Tiêu Anh không ngờ Mộ Dung Băng lại tự tử như vậy không kịp ngăn cản nên chỉ giậm chân, lo âu đến ứa nước mắt ra và thở dài.

Cũng may, Dật Tư và Long Sinh cả hai thấy thần sắc của Mộ Dung Băng hơi khác đã sớm đề phòng rồi. Nên cả hai người cùng ra tay ngăn cản không để cho Mộ Dung Băng đâm đầu vào vách đá.

Tiêu Anh vội nhảy theo tới ôm chặt Mộ Dung Băng vào lòng, khóc sướt mướt và la lớn:

-Có việc gì Băng nhi cứ nói ra đỉTại sao con lại tự tử như thế? Dù con có trót giết chết chị Bích rồi, mẹ cũng không trách con đâu. Vì lúc ấy con chưa biết chị ấy là chị của mình. Đồng thời mẹ vẫn coi con như là con ruột thịt của mẹ vậy.

Lúc ấy vẻ mặt của Tiêuu Anh rất hiền từ, khiến Mộ Dung Băng lại càng cảm động thêm, cứ nằm phục trong lòng TiêuAnh mà nức nở khóc hoài.

Đừng nói Dật Tư là đàn bà con gái, ngay cả Long Sinh là người có gan dạ như sắt, mà thấy tình cảnh của mẹ con Tiêu Anh như vậy cũng phải cảm động đến ứa nước mắt ra.

Người nào cũng vậy, khi có việc tội lỗi ở trong đáy lòng, cảnh giải quyết tốt nhất là chỉ có thể thổ lộ hết tội trạng, thành thực sám hối. Cho nên sau khi khóc nức nở một hồi, Mộ Dung Băng, liền bẻ một cành cây viết chữ xuống đất, kể lại chuyện ở trên bờ Thái Hồ mình làm nhục Mộ Dung Bích như thế nào cho Tiêu Anh, Long Sinh và Dật Tư ba người xem.

Tiêu Anh xem xong những chữ của Mộ Dung Băng mới vỡ nhẽ nhưng Long Sinh thì hình như bỗng nghĩ tới một việc gì liền cười ha hả hỏi Dật Tư rằng:

-Tạ tiên tử hôm nay là ngày mấy?

Dật Tư ngẫm nghĩ một hồi rồi đáp:

-Hôm nay là ngày hai mươi chín tháng hai.

Long Sinh lại hỏi tiếp:

-Hội kỳ của Thiên Nam đại hội có phải là ngày mười ba tháng ba không?Từ đây đi Ly Hồn cốc thì chỉ bốn ngày là đủ rồi.

Dật Tư gật đầu đỡ lời:

-Phạm huynh nói như vậy rất đúng nhưng tại sao bỗng dưng huynh lại tính toán đến thời giờ như thế làm chi?

Long Sinh có vẻ đắc trí cười ha hả nói:

-Vì tôi thấy thiên tính mẹ con của Tiêu Thánh Mẫu với Mộ Dung cô nương, tôi mới nảy ra một ý kiến là muốn lợi dụng mấy ngày nhàn rỗi đó, chúng ta cùng đi kiếm cho ra Mộ DungBích cô nương.

Tiêu Anh có vẻ không tin, ngạc nhiên hỏi:

-Phạm huynh, chúng ta cần phải đi ngay dựThiên Nam đại hội, không thể nào rời khỏi tỉnh Quý Châu này được, vì chỉ vỏn vẹn trong chín ngày thôi, như vậy thì làm sao mà tìm thấy được tung tích Bích nhi cơ chứ?

Long Sinh vừa cười vừa đáp:

-Thánh Mẫu cứ yên tâm, tôi đã có một diệu kế rất hay rồi.

Thấy lời nói của Long Sinh có vẻ tự tin lắm. Dật Tư liền xen lời nói:

-Phạm huynh có diệu kế gì xin cứ nói cho chúng tôi được nghe với?

Long Sinh nhìn viên thuốc với cái lá ở trong tay vội tươi cười đáp:

-Chúng ta một mặt cứu chữa cho Mộ Dung Băng khỏi bệnh, một mặt tôi sẽ nói diệu kế ấy cho các vị hay.

Nói xong, ông ta liền dùng cái lá Lục Diệp Hồng Tính Thảo, gói viên Khiết Vương độc đơn hoàn lại, mồm thì nói với Mộ Dung Băng rằng:

-Mộ Dung cô nương hãy nuốt cái lá này vào trong cổ họng, nhưng chớ có nuốt vào bụng. Chiéc lá và thuốc tan rồi, cổ họng vừa mát vừa đau, thì phải vận chân khí dồn lên trên cổ họng để chất độc biến thành một thứ nước không có hại cho tạng phủ, lúc ấy lão phu sẽ để tay vào yếu huyệt ở trên vai cô nương, cách thể truyền công giúp cô nương một tay.

Mộ Dung Băng rất cảm động gật đầu lia lịa và vội đỡ lấy viên thuốc bỏ vào mồm nuốt luôn, nhưng chỉ nuốt đến chỗ cổ họng rồi nàng ngồi xếp bằng tròn mà lẳng lặng đợi chờ.

Long Sinh đang định ra tay thì nghĩ đến bò cạp bằng ngọc liền móc túi lấy ra đưa cho Mộ Dung Băng mỉm cười nói tiếp:

-Mộ Dung cô nương, Xích Phát Chân Nhân giáo chủ của Bái Khiết giáo với cô nương rất có duyên phận nên không những đã khẳng khái tặng cho cô nương Khiết Vương độc đơn, lá cỏ và lại còn tặng thêm cho cô nương một vật kỳ báu để làm trò chơi nữa.

Mộ Dung Băng vội đỡ lấy con bò cạp bằng ngọc xanh, đưa mắt nhìn những chữ viết ngoằn ngoèo ở trên người con bò cạp, rồi bỗng tỏ vẻ hớn hở hai mắt sáng ngời.

Tiêu Anh với Dật Tư chỉ chú ý đến hành động của Long Sinh thôi, chứ không để ý đến thần sắc của Mộ Dung Băng.

Long Sinh cũng không phát giác điều đó nên một mặt để tay trên yếu huyệt ở sống vai của Mộ Dung Băng vận Thuần Dương chân khí sang, một mặt mỉm cười hỏi Tiêu Anh với DậtTư rằng; -TiêuThánh Mẫu với Tạ Tiên tử tìm mãi không thấy Mộ Dung Bích cô nương, tại sao không nghĩ cách để cho cô ta tới tìm kiếm hai vị?

Dật Tư gượng cười đáp:

-Chẳng lẽ diệu sách mà Phạm huynh định nói lại là câu hỏi này chăng? Phạm huynh nên rõ, Mộ Dung Bích cô nương đã bị cắt tóc, trong lòng chán nản, thì khi nào... Không đợi chờ nàng nói tiếp, Long Sinh đã vội ngắt lời ngay:

-Tạ Tiên tử đã hiểu lầm rồi, tóc của Mộ Dung Bích cô nương bị cắt đứt như vậy, chỉ chán nản về đường tình duyên thôi, nên theo sự nhận xét của ngu huynh, thì dù nàng ta có chán nản đến đâu cũng vẫn còn nuôi một ý niệm.

Dật Tư vừa cười vừa nói tiếp:

-Xin Phạm huynh cho hay biết cao kiến ấy?

Long Sinh nhìn Tiêu Anh, mỉm cười đáp:

điều đó, mới là ý nghĩ mà tôi vừa phát giác ra, tôi nhận thấy tình mẫu tử là thiên tính trời sinh, đừng nói là tóc bị cắt, dù xương có sắp bị mục, thịt có sắp tan hết, cũng không thể nào mai một được.

Dật Tư gật đầu tán thành ý kiến ấy và đỡ lời:

-Phạm huynh nói rất phải.

Long Sinh vừa cười vừa nói tiếp:

-Tôi nghe các vị nói, thì tôi nhận thấy nhân phẩm của Mộ Dung Bích cô nương thể nào cũng rất cao quý, và ngày thường thấy hành vi của Thánh Mẫu hơi quá đáng, thể nào cô ta cũng thường lên tiếng khuyên ngăn.

Tiêu Anh nghe tới đây, mặt hổ thẹn ứa nước mắt ra, thở dài đáp:

-Phạm huynh đoán rất đúng, mỗi lần Bích nhi gặp tôi, cũng khuyên không nên làm điều ác và bảo tôi phải làm thế nào tìm cho ra Mộ Dung Băng để nghĩ cách hoá giải mối thù hiểu lầm ấy.

Long Sinh gật đầu, vừa cười vừa hỏi Dật Tư rằng:

-Tạ tiên tử, dưới tình hình này, nếu giang hồ đồn đại Bạch Phát Thánh Mẫu Tiêu Anh trở về con đường chính, chưởng môn của các phái đến ngày đại hội ThiênNam sẽ mừng bà ta với cái tên hiệu mới là Bạch Phát ThánhMẫu. Như vậy khi Mộ Dung Bích hay được tin này, liệu có vội đến Ly Hồn cốc, hoặc chính diện tham gia đại hội để mẹ con đoàn tụ với nhau, hay là hoá trang cải dạng ẩn gặp ở trong đám đông mà ứa nước mắt ra an ủi thầm, để hưởng trọn vẹn sự vẻ vang của người mẹ đã đặt dao đồ tể xuống mà biến thành Phật sống?

Dật Tư kêu "ủa" một tiếng, rất phục ý kiến của Long Sinh vừa cười vừa đáp:

-Sao Phạm huynh lại nghĩ ra được diệu sách như thế. Dật Tư tôi rất lấy làm kính phục.

Tiêu Anh cũng rất cảm động ứa nước mắt ra nhìn LongSinh:

đa tạ Phạm huynh đã nghĩ ra diệu sách ấy nhưng nếu Bích nhi ở cách nơi đây xa quá thì làm sao mà có thể hay được tin này.

Long Sinh mỉm cười đáp:

-Thánh Mẫu khỏi cần phải lo âu điểm đó, tôi đã có cách toàn vẹn rồi.

Tiêu Anh nghe nói tuy không tiện hỏi tiếp, nhưng nét mặt đã lộ vẻ muốn biết rõ kế hoạch ấy ra sao.

Long Sinh thấy vậy hiểu ý vội nói tiếp:

-Ngày mười ba tháng ba là ngày đại hội ThiênNam tất cả các cao thủ võ lâm đương thời, thể nào cũng đến tụ họp ở Ly Hồn cốc. Tin này đối với những người có chút tài ba hấp dẫn lắm, tôi không tin một nhân vật trẻ tuổi mà có võ công như Mộ Dung Bích cô nương lại không tới xem trò vui này.

Tiêu Anh gật đầu đáp:

-Phạm huynh phân tích như vậy tuy có lý, nhưng nhiều khi việc đời lại đi trái với ý tưởng của mình.

Long Sinh lắc đầu vừa cười vừa đáp:

Điệu sách vẹn toàn của tôi là trong đó đã bao quát việc trong ý muốn với ngoài ý muốn rồi.

Dật Tư vừa cười vừa xen lời hỏi tiếp:

-Phạm huynh không nên quá tự tin như thế, người ở chỗ gần tất nhiên cũng hay, nhưng Mộ Dung Bích tiểu muội hiện giờ đang ở nơi xa, thì huynh có cách gì báo tin cho cô ta biết được?

Long Sinh vừa cười vừa đáp:

-Chúng ta có thể lợi dụng chín ngày thảnh thơi mà tìm kiếm một nhân vật lục lâm nào xưa nay vẫn có liên lạc với các nhân vật hắc đạo ở các tỉnh rồi nhờ họ dùng chim bồ câu truyền thư hay bắn Lục Lâm Tiễn. Như vậy chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, tin này sẽ truyền đi khắp nơi ngay.TiêuAnh nghe kế hoạch của LongSinh cũng phục mà khen rằng:

-Kế này của Phạm huynh thực tuyệt diệu, chỉ e Bích nhi ở nơi quá xa xôi, dù có hay tin cũng không tới kịp thôi.

Long Sinh vừa cười vừa nói tiếp:

đối với điểm này càng dễ giải quyết, nếu Mộ Dung Bích cô nương mà tới kịp núi Dã Nhân, thì việc gì cũng xong hết.Nhược bằng Thiên Nam đại hội đã kết thúc mà vẫn chưa thấy mặt cô ta đến, thì chúng ta sẽ tuyên bố với các nhân vật có mặt tại đó, là đến tến Đoan Ngọ ở núi Đại Hán Dương trên Lư Sơn, sẽ có một cuộc mừng tặng hiệu Bạch Phát ThánhMẫu cho Tiêu Thánh Mẫu. Như vậy Mộ Dung cô nương thể nào cũng có thời giờ tới kịp.

Dật Tư nghe tới đó, liền xen lời hỏi Tiêu Anh:

-Ngày sinh nhật của Tiêu đại tỷ vào ngày nào thế?

Tiêu Anh vừa cười vừa đáp:

-Mùng một tháng bảy. Tạ tiên tử hỏi làm chi?

Dật Tư liền nói với Long Sinh rằng:

-Phạm huynh, đừng nói tết Đoan Ngọ nữa, cứ nói mùng một tháng bảy, sẽ mời chưởng môn của các phái lên núi Đại Hán Dương chúc thọ cho TiêuThánh Mẫu, như vậy Mộ Dung Bích tiểu muội nghe nói thể nào cũng phải tới ngay.

Long Sinh đưa mắt nhìn TiêuAnh vừa cười vừa nói tiếp:

-Bây giờ Tiêu Thánh Mẫu đã yên dạ rồi chứ?

Nói tới đó, ông ta bỗng nghiêm nét mặt lại nhìn vào con bò cạp ngọc và nói với Mộ Dung Băng rằng:

-Mộ Dung Băng cô nương, đã tới giờ rồi, cô nương hãy điều vận chân khí dồn lên trên cổ họng, tôi sẽ cách thể truyền công giúp cô nương một tay.

Mộ Dung Băng nghe lời, vội vận chân khí lên trên cổ họng và nàng đã cảm thấy nơi cổ họng phát ra được tiếng kêu rất khẽ rồi.

Long Sinh thở hắt ra một cái, rồi từ từ đứng dậy, chắp tay chào Tiêu Anh, mỉm cười nói:

-Xin mừng TiêuThánh Mẫu, Long Sinh tôi may mắn không làm nhục sứ mạng.

Tiêu Anh cảm động đến ứa nước mắt ra đáp:

-Ơn của Phạm huynh nặng như núi Thái Sơn, mẹ con tôi hổ thẹn không biết lấy gì để báo đáp được.

Nói xong, bà ta lại ôm Mộ Dung Băng vào lòng, ứa nước mắt ra với giọng run run nói:

-Băng nhi, con... thử nói một câu... cho mẹ nghe đi! Mộ Dung Băng cũng ứa nước mắt ra, nhìn TiêuAnh chỉ kêu "úớ" một tiếng, vẫn không sao nói ra lời được.

Long Sinh thấy thế hai má đỏ bừng, cau mày , thăm mạch cho Mộ Dung Băng.

Long Sinh thăm mạch xong, mặt lộ vẻ kinh ngạc, hỏi Mộ Dung Băng tiếp:

-Có thật cô nương không nói lên lời được không?

Mộ DungBăng lắc đầu, mồm vẫn "ú ớ mấy tiếng.

Tiêu Anh không sao nhịn được liền hỏi Long Sinh rằng:

-Phạm huynh, tại sao Băng nhi lại không nói được như thế?

Long Sinh gượng cười đáp:

-Chuyện này lạ thật!Khiết Vương độc đơn với lá cỏ Lục Diệp Hồng Tính Thảo đã rõ ràng có công hiệu mà tôi dồn chân khí sang người cô ta cũng thuận lợi lắm.

Mạch của cô ta đã như thường, không có bệnh tật gì hết, tại sao không nói được như thế?

TiêuAnh rầu rĩ thở dài nói tiếp:

-Biết rõ nguồn gốc của bệnh tật thì còn cách cứu chữa được. Bây giờ Băng nhi không có nguyên nhân của bệnh mà chỉ có tình trạng của bệnh thôi. Biết làm sao đây?

Long Sinh hổ thẹn, gượng cười, chìa hai tay ra nói tiếp:

-Long Sinh tôi đã hết cách rồi, tôi cũng không biết nên làm thế nào nữa?

Dật Tư mỉm cười an ủi rằng:

-Hai vị khỏi cần lo âu, chúng ta cứ theo kế hoạch đã định mà hành sự, may ra ở trong ThiênNam đại hội gặp được Đại Bi Tôn Giả với Nam MônVệ ân sư và sư thúc của Độc Cô biểu đệ, thì chắc hai vị ấy thể nào cũng có cách cứu chữa được.

Long Sinh gật đầu đỡ lời:

-Tạ tiên tử nói đúng. Nam Môn Vệ còn không bằng Đại Bi lão hoà thượng. Quả thật y tài ba lắm, bất cứ bệnh tật quái dị như thế nào y cũng có thể cứu chữa được hết.

Bất đắc dĩ bọn Tiêu Anh các người phải đi tìm kiếm tên thủ lãnh lục lâm của tỉnh Quý Châu để nhờ y truyền tin Bạch Phát Quỷ Mẫu đã cải tà quy chính, với mời quần hiệp cùng đi dự ThiênNam đại hội, rồi bốn người mới tiến thẳng về núi Dã Nhân.

Ngờ đâu các người đang trông mong Đại Bi Tôn Giả với Nam MônVệ để chữa bệnh cho Mộ DungBăng thì hai vị Thích ĐạoSong Tuyệt ấy đã có công đức hoàn mãn, cùng dắt tay hành đạo, rời khỏi thế giới trần tục này rồi.

Thì ra anh em Độc Cô Sách với Độc Cô Hưng lên tới trên hang động đã thấy cửa hang có một tảng đá nặng như hàng vạn cân thịt bịt kín.

Độc Cô Sách với Độc CôHưng thấy thế kinh hãi vô cùng hai anh em vội giở hết tốc lực khinh công lên tới gần, mới hay tảng đá đó có viết chữ để lại và mới biết Đại Bi TônGiả và Nam MônVệ đã tự xê dịch mấy tảng đá đó để phong bế cửa hang, và cả hai người đã thành đạo, rời khỏi thế gian trần tục.

Độc Cô Sách với ĐộcCôHưng nhớ ơn của sư phụ, cả hai đều đau lòng khôn tả, liền quì xuống trước động, lớn tiếng khóc lóc.
Hai người khóc rất thảm thương, ĐộcCôHưng vừa nức nở khóc vừa nói với Độc Cô Sách rằng:

-Hai vị ân sư đã thành đạo rồi chúng ta có khóc đến chết vẫn vô ích. Chi bằng hãy xem kỹ những lời để lại, rồi thừa kế di chí thì hơn.

Độc Cô Sách nghe nói phải gượng gạt lệ rồi cùng Độc CôHưng để ý nhìn những lời huấn thị của vị ân sư để lại.

Thì ra lời huấn thị của hai vị chỉ bảo Độc Cô Sách với Độc CôHưng phải gắng sức giữ vững lòng nhân từ, hành đạo giang hồ, phù trì chính nghĩa thôi chứ không có truyền thụ đặc biệt gì hết.

Chỗ cuối Nam Môn Vệ có đặc biệt để lại cho Độc Cô Sách tám chữ như sau:"Anh Hoàng hảo hợp, nhất kiếm thành danh".

Độc Cô Sách nghe xong ngơ ngác không hiểu, liền nghĩ bụng:

"Câu "Anh Hoàng hảo hợp" hình như Nam Môn sư thúc đã cho ta biết trước thành quyến thuộc với chị em Mộ Dung Bích và Mộ Dung Băng, nhưng còn câu"nhất kiếm thành danh" thì thật khó hiểu quá.

Trước khi chia tay, Thúy Thuý đã trao thanh bảo kiếm Thanh Bình cho ta để chuyển tặng choMộ Dung Băng, nhưng bây giờ kiếm ấy đã lọt vào tay Bách Hoa công chúa rồi, chả lẽ kiếm đó sẽ châu về hợp phố, giúp ta gây nên công trạng lớn chăng?" Đọc xong huấn thị, hai anh em bàn tán có nên nghĩ cách đẩy tảng đá lớn ấy ra để vào trong động chiêm ngưỡng lại di dung của hai vị ân sư không?

Ngẫm nghĩ giây lát Độc Cô Sách lắc dầu đáp:

-Phật gia tịch tiệt, đạo gia phi thăng đó quả lả công quả tối cao, kỵ nhất là có trần bụi quấy nhiễu.Tuy hai vị ân sư đã giải thoát, nhưng chúng ta vẫn không nên kinh động tới thì hơn, bằng không việc gì hai vị phải lấy đá lớn bịt kín hang động, không cho chúng ta gặp mặt như thế?

Độc Cô Hưng nghe nói gật đầu đáp:

-ý kiến của đại ca rất phải. Con chim điêu không có ở đây, chúng ta phải đi núi Dã Nhân ngay, như vậy mới khỏi lỡ Thiên Nam đại hội.

Độc Cô Sách tính toán ngày giờ, quả thấy cấp bách lắm rồi hai sư huynh đệ quỳ xuống vái lạy, từ biệt ân sư, và rời khỏi Phổ Đà ra bể trở về miền Tây ngay.

Trong khi đi đường, Độc Cô Sách liền kể chuyện sau khi chia tay ở Ly Hồn cốc như thế nào cho Độc CôHưng nghe. Độc Cô Hưng nghe Độc Cô Sách nói ở núi La Phù nhảy xuống vực thẳm tự tử may mắn gặp gỡ Bán Kỳ lão nhân Nam Cung Giác, liền mỉm cười hỏi:

đại ca, cái quạt của Nam Cung lão nhân tặng cho, đại ca có đem theo trong người không?

Độc Cô Sách nghe nói liền móc trong túi lấy cái quạt bằng nan trúc Tương Phi đưa cho Độc CôHưng xem.

Độc Cô Hưng giở cái quạt ấy ra xem thấy một bên là tranh, một bên là thơ. Bên tranh chỉ vẽ một cành bạch mai, mấy nét mặc lan, mấy khóm trúc vàng, và mấy khóm trúc đỏ. Thơ thì là bài tứ tuyệt của Bán Kỳ lão nhân viết rất thảo như sau:

"Mai Lan trúc cúc ngụ ý thâm.

Nam Cung phí sát khổ tinh thần.

Thuỳ năng tận đắc kỳ trung diệu.

Tiện thị giang hồ đệ nhất nhân".

Xem xong bài thơ với tranh vẽ đó, Độc CôHưng vừa cười vừa nói:

-Vị Nam Cung tiền bối này có vẻ tự phụ lắm.

Độc Cô Sách gật đầu đáp:

-Trước khi chết Nam Cung lão nhân tặng cho ngu huynh cái quạt này nói là đại biểu tâm huyết cả một đời người của ông ta đấy.

Độc Cô Hưng cau mày nói tiếp:

-Tâm huyết cả một đời người của một vị đại hiệp như vậy ắt phải quan trọng lắm nhưng đệ chỉ nhận thấy có một điểm quái lạ thôi. chứ thật sự không nhận xét ra được cái gì cả?

ĐộcCôSách kêu "ồ" một tiếng, lắc đầu vừa cười vừa đáp:

đây không phải là quái lạ, mà chỉ là một bài thơ cố ý làm đảo điên vần trắc.

Nếu viết thành "mai lan trúc cúc ngụ ý thâm" mà cảm thấy đọc ngượng mồm, thì câu bên dưới"Nam Cung phí sát khổ tinh thần" lại càng không hợp với câu trên, bằng trắc trái ngược và sai âm luật hết.

ĐộcCô Hưng nghe xong mỉm cười đỡ lời:

đệ không tán thành ý kiến ấy của đại ca vì mai lan trúc cúc tuy là sai bằng trắc của bài thơ nhưng "lan cúc trúc mai" vẫn là ngượng mồm, nếu muốn cho đúng bằng trắc thì đáng lẽ phải viết là "cúc trúc mai lan" mới phải.

Độc Cô Sách giật mình kinh hãi gật đầu đáp:

-Hưng đệ nói rất đúng, xem như vậy Nam Cung lão nhân có ý vẽ thành Lan, Cúc, Trúc, Mai đấy?

Hai mắt bỗng sáng ngời, Độc CôHưng nói tiếp:

-Như vậy cứ xem bốn chữ đầu khắc bên trong thể nào cũng có sự gì rất huyền bí?Sư huynh hãy để cho đệ xem kỹ bài thơ với bức tranh ở trên quạt vài lần nữa, may ra tiểu đệ có thể tìm được chút bí quyết bên trong chăng?Rồi để đại ca được trở nên giang hồ đệ nhất nhân như Nam Cung lão nhân vẫn kỳ vọng.

Độc Cô Sách thở dài một tiếng gật đầu đáp:

-Cổ nhân vẫn thường nói, người trong cuộc bao giờ cũng mê man, hiền đệ là người ngoài cuộc tất nhiên phải sáng suốt hơn ngu huynh. Vậy hiền đệ cứ xem xét kỹ lưỡng đi! Độc Cô Hưng lẳng lặng không nói năng gì hết, cứ một mặt đi đường, một mặt đọc nhẩm bài thơ tứ tuyệt. Đi được một trăm dặm, Độc Cô Hưng đã thuộc lòng hết hai mươi tám chữ của bài thơ mà vẫn chưa nghĩ ra được huyền cơ của bài thơ ấy.

Y tức giận khôn tả, không xem nữa, liền xoay trái cái quạt lên xem cành mai, mấy nét lan, mấy khóm cúc và ba cây trúc.

Có công mài sắt có ngày nên im, quả nhiên Độc CôHưng tìm ra được mánh lới , vội ngưnừg chân lại vừa nói với Độc Cô Sách rằng:

đại ca đã nhận ra được huyền cơ diệu thị của bài thơ với bức tranh này chưa?

Độc Cô Sách đáp:

-Nếu Hưng đệ đã xét ra được, thử nói cho ngu huynh xem?

Độc Cô Hưng liền chìa cái quạt cho Độc Cô Sách xem rồi chỉ vào ba cành trúc đỏ, lộ vẻ đắc trí mỉm cười nói.

đại ca thử xem, nếu đại ca đứng ở phương vị cây trúc kia, thì ba cành trúc đó chả như là thế Kim Lê Điểm đầu trong Tam ảo Kiếm ảnh là gì?Còn những lá trúc đó chẳng giống như những bông kiếm hoa ở trên trời rớt xuống là gì?? Độc Cô Sách ngắm nhìn một hồi, rồi cũng thất thanh nói:

-Hưng đệ thông minh thực. Quả thực ba cây trúc này bên trong bao hàm một thế kiếm pháp tuyệt học! Nghe thấy câu "kiếm pháp tuyệt học" Độc CôHưng lại nói tiếp:

-Sư phụ của đệ có tặng lại cho đại ca mấy chữ là "nhất kiếm thành danh" hình như có liên can với thế kiếm này cũng nên?

Độc Cô Sách nhìn kỹ cái quạt ấy, rồi nghiêm nghị nói:

-Xem như vậy, cành mai, mấy nét lan, mấy khóm trúc vàng kia chắc cũng như ba cành trúc tượng trưng ba thế tuyệt học khác cũng nên?

Độc Cô Hưng gật đầu đỡ lời:

đại ca nói rất đúng, chỉ dùng mắt xem như thế này khó mà biết rõ lắm sao đại ca không dùng kiếm mà bắt chước thử xem?Như vậy mới mong tìm hiểu được.

Nói xong, y liền rút thanh nhuyễn kiếm đưa ra cho ĐộcCô Sách rồi nói tiếp:

đây là thanh Hàn Tây nhuyễn kiếm mà đại ca đã tặng cho đệ ở trên Lư Sơn ngày nọ, đại ca dùng nó để thay bút thì có lẽ thích hợp hơn.

Độc Cô Sách nhận thấy ý kiến của Độc CôHưng rất có lý, một tay đỡ lấy thanh nhuyễn kiếm rồi cứ theo những nét vẽ của Mai, Lan, Trúc, Cúc mà từ từ múa thử xem.

Thoạt tiên chàng vừa xem vừa múa, rất nhiên rất chậm rồi, nhưng chờ tới khi thuần thuộc rồi kiếm pháp của chàng nhanh như gió và lợi hại vô cùng.

ĐộcCôHưng đang đứng xem có vẻ cao hứng lắm, thì bỗng thấy Độc Cô Sách thu kiếm lại đứng ngẩn ra như người mất hồn vậy. Y liền ngạc nhiên hỏi:

đại ca làm sao thế?

ĐộcCôSách không trả lời câu hỏi của Độc Cô Hưng mà lại cứ đứng thừ người ra như kẻ mất hết hồn vía mồm thì lẩm bẩm nói:

-Ta... ta hiểu rồi. Ta... ta hồ đồ thực! Hai câu nói ấy của Độc Cô Sách đã làm cho Độc CôHưng thắc mắc không hiểu gì cả, sau y thấy Độc Cô Sách cứ đứng thừ người ra như kẻ mất hết hồn vía. Y liền vỗ vai Độc Cô Sách một cái và lớn tiếng nói:

đại ca nên tỉnh táo lại một chút. Chẳng hay đại ca đã hiểu biết rồi, hay vẫn còn hồ đồ?

ĐộcCôSách như người nằm mê mới thức tỉnh, cau mày lại gượng cười trả lời Độc Cô Hưng rằng:

-Hiền đệ, ngu huynh đã hiểu rồi!Thì ra Bán Kỳ lão nhân Nam Cung Giác chính là Tứ Chiêu đà đao, mà Đổng Bách Biểu lão tiền bối đã gặp gỡ năm xưa! Vì Độc Cô Hưng đã nghe Độc Cô Sách kể qua câu chuyện đó, nên y vừa nghe Độc Cô Sách nói như vậy đã mừng rỡ khôn tả vội đỡ lời:

-Như vậy mấy nét lan, mấy khóm trúc, với ba cành trúc vẽ ở trên cái quạt, là bao hàm kiếm pháp tuyệt học mà chính là ba thế Trầmhương Cứu Mẫu, Ngô Cương phạt quế với Ngũ đỉnh khai sơn của Đổng Bách Biểu lão tiền bối đã truyền thụ cho đại ca, sau đại ca đổi thành Trầm Lôi uất hạ, Sảng khí nghênh thu với Thuỵ Tuyết phiêu đông, ba thế kiếm tuyệt học đó phải không?

Vẻ mặt ngơ ngác, ĐộcCôSách gật đầu đáp:

-Phải! Phải! ĐộcCôHưng lại chỉ tay vào cái quạt vừa cười vừa nói:

-Ba thế Hạ, Thu, Đông đã đúng rồi, còn cái cành mai chắc thể nào cũng là thế võ có oai mãnh nhất tên là"Vạn tượng hồi xuân" mà Tứ chiêu đà đao không nỡ truyền thụ cho Đổng Bách Biểu phải không?

ĐộcCôSách gật đầu đáp:

-Có lẽ thế!

Chương 45: Thiên nhân nhất phán

Độc Cô Hưng thấy Độc Cô Sách mặt vẫn rầu rĩ liền ngạc nhiên hỏi:

đại ca đã hiểu rõ hết rồi, tại sao vẫn có vẻ hồ đồ như vậy?

Độc Cô Sách mỉm cười không trả lời, đột nhiên quay người lại múa kiếm nhanh như điện, liên tiếp biểu diễn luôn ba tuyệt thế một lúc.

Độc Cô Hưng đứng cạnh đó xem thấy ba thế kiếm vừa biểu diễn oai lực mạnh không thể tưởng tượng được như lửa ở trên không như mưa to sấm sét như bão lay chuyển muôn vạn cây một lúc, như núi lạnh xuất hiện trong nghìn núi và cũng như tuyết phủ đầy bao quanh. Sự biến hoá ảo diệu không gì có thể đo lường và mô tả nổi.

Độc Cô Sách biểu diễn xong ba thế đó, liền thu kiếm lại đứng nhìn Độc Cô Hưng và hỏi:

-Tuy Hưng đệ chưa được xem qua ba thế kiếm pháp này bao giờ, nhưng chắc hiền đệ đã có thể đoán ra được rồi?

Độc Cô Hưng gật đầu đáp:

-Tiểu đệ biết ba thế kiếm này là Trầm hương uất hạ, Sảng khí nghênh thu, và Thuỵ Tuyết phiêu đông, đại ca đã dùng nói giết chết Dương Tiểu Đào, kết thù kết oán với Âm Dương Song Ma phải không?

Độc Cô Sách cau mày lại hỏi:

Hưng đệ nhận thấy ba thế kiếm pháp ngu huynh vừa biểu diễn đó có giống mấy thê skiếm pháp mà ngu huynh theo bức tranh trên quạt vừa biểu diễn không?

Vì vừa rồi Độc Cô Hưng để ý xem rất kỹ nên thấy Độc Cô Sách hỏi như vậy, liền trả lời:

-Ba thế kiếm sau với ba thế kiếm trước của đại ca vừa biểu diễn thế thức giống hệt nhau nhưng biến hóa thì hơi khác. Hình như oai lực của ba thế kiếm sau còn mạnh hơn ba thế trước?

Độc Cô Sách nản trí thở dài nói tiếp:

-Như vậy ngu huynh không hồ sao được?Ba thế sau là của Đổng Bách Biểu truyền thụ cho, còn ba thế trước là của Bán Kỳ lão nhân vẽ trên quạt mà ông ta quý hơn tính mạng. Như vậy ba thế kiếm sau làm sao mạnh hơn ba thế kiếm trước được?

Thấy Độc Cô Sách nói thế, Độc Cô Hưng đứng ngẩn người ra thôi chứ không hiểu gì cả.

Độc Cô Sách lại bắt chước cành mai và biểu diễn một thế rồi lắc đầu thở dài nói:

-Nhất là thế Vạn tượng hồi xuân này không những không kỳ ảo chút nào, cũng không liên lạc gì với ba thế kia. Trái lại còn kém oai mãnh hơn!Như vậy ngu huynh không thắc mắc sao được?

Độc Cô Hưng ngẫm nghĩ giây lát, rồi bỗng hớn hở cười và nói:

đại ca, thử đọc lại hai câu thơ thứ ba, thứ tư xem sao?

Độc Cô Sách đã thuộc lòng bài thơ ấy, nên không cần phải xem lại cái quạt cũng có thể đọc ra luôn:

-"Thuỳ năng tận đắc kỳ trung diệu, tiện thị giang hồ đệ nhất nhân".

Độc Cô Hưng mỉm cười đỡ lời:

đại ca đã hiểu chưa?Không phải là tuyệt học của Bán Kỳ lão nhân để lại không tính kỳ gì hết mà chúng ta chưa học hỏi được cái tinh diệu của nó thôi.

Độc Cô Sách gật đầu có vẻ tán thành rồi mỉm cười hỏi tiếp:

-Hưng đệ nói đúng lắm!Trên cái quạt này thể nào cũng có những thế kiếm tinh diệu bên trong mà chúng ta chưa hiểu thấu đấy thôi! -Cái quạt nho nhỏ này chỉ lấy trúc làm ma, trên bồi giấy mà thành thôi. Bây giờ chúng ta thử xé rách nó ra biết đâu bên trong lại chẳng có sự ảo diệu gì?

Độc Cô Sách thấy Độc Cô Hưng nhắc nhở như vậy, liền cầm cái nan quạt lên xem xét một hồi.

Độc Cô Hưng thấy chàng cứ ngây người ra xem, liền đến gần mỉm cười hỏi:

-Sao đại ca cứ ngây người ra xem hoài như thế, chả lẽ trên nan quạt có những sự gì ảo diệu kỳ lạ chăng?

Độc Cô Sách lại xem kỹ hai cái nan quạt một hồi nữa rồi mới đưa cho Độc Cô Hưng và nói:

-Hưng đệ thử xem, hai cái nan quạt này quả thực kỳ lạ lắm, bên trên hình như có khắc Lân, Phung, Long, Quy thì phải?

Độc Cô Hưng xem một hồi rồi mỉm cười nói:

đại ca, Lân, Phụng, Long, Quy ngời ta vẫn thường gọi là tứ linh. Đại ca thử nghiên cứu xem nó có liên can gì đến Xuân, Hạ,Thu, Đông bốn màu không?

-Vừa rồi ngu huynh đã xem kỹ rồi và thấy mỗi con vật có một dáng điệu riêng, chắc thế nào cũng có liên quan đến bốn thế tuyệt học để ngu huynh ngồi yên nghĩ ngợi giây lát thì sẽ rõ ngay.

Nói xong, chàng lấy cái quạt, ngồi xếp bằng tròn hai mắt không chớp, cứ nhìn vào dáng điệu của những con Lân, Long, Quy, Phụng khắc trên cái quạt ấy hoài.

Vừa rồi Độc Cô Hưng thấy Độc Cô Sách biểu diễn ba thế kiếm ảo diệu vô cùng, lợi hại tuyệt đỉnh. Y biết, nếu Độc Cô Sách mà học hỏi thêm được thế "Vạn tượng hồi xuân" của Nam Cung Giác, thì đến ngày Thiên Nam đại hội thể nào cũng thắng nổi Hoàn Vũ Cửu Sát hay Âm Dương Song MạViệc này quan trọng lắm nên y không dám quấy nhiễu Độc Cô Sách, mà cứ ngồi cạnh đó suy nghĩ.

Thoạt tiên y thấy mặt của Độc Cô Sách không thay đổi gì hết và cũng không có hỷ nộ ai, lạc gì cả, sau dần dần hình như đã gặp phải một vấn đề gì rất nan giải, đang cau mày lại nghĩ ngợi vậy?Một lát sau nữa, đã thấy chàng tươi cười, hai mắt từ từ nhắm lại, chứ không ngắm nhìn vào nan quạt ấy nữa.

Độc Cô Hưng thấy thế mừng rỡ khôn tả, biết đại ca đã lãnh hội được sự ảo diệu ở bên trong rồi.

Quả nhiên nửa tiếng đồng hồ sau, Độc Cô Sách bỗng mở to đôi mắt ra vẻ mặt rất cao hứng lớn tiếng:

-Hưng đệ, đưa kiếm lại đây.

Độc Cô Hưng hớn hở cung kính đưa ngay thanh nhuyễn kiếm cho chàng.

Độc Cô Sách để cái quạt lên trên tảng đá, cầm lấy thanh nhuyễn kiếm. Dồn công lực vào cánh tay mà múa luôn, trên không liền có bóng kiếm, như một khoảng núi kiếm hoa lên xuống. Chàng biểu diễn bốn thế như Mai, Lan, Cúc, Trúc hồi nãy nhưng sự biến hoá khác vì thế thức nào bên trong cũng lẫn những rồng bay phượng múa vậy.

Kiếm pháp mà Độc Cô Hưng trông thấy lúc này khác hẳn những thế kiếm hồi nãy Độc Cô Sách biểu diễn mà Đổng Bách Biểu truyền thụ cho. Không những thế, sự biến hoá và lợi hại hơn trước nhiều riêng có thế VạnTượng hồi xuân mà theo cành mai biểu diễn thì vẫn còn hơi kém hơn một chút.

Độc Cô Sách biểu diễn xong bốn thế liền thu kiếm lại và mặt đắc chí cũng biến mất theo. Độc Cô Hưng liền mỉm cười nói:

đại ca thông minh thực. Bốn thế kiếm này đã khác bốn thế kiếm trước nhiều và tinh diệu khôn tả.

Độc Cô Sách gượng cười đáp:

-Chưa được!Chưa được! Độc Cô Hưng thắc mắc không hiểu vội hỏi tiếp:

đại ca bảo chưa được là nói về phương diện nào?

Độc Cô Sách nghiêm nghi, thủng thẳng đáp:

-Ngu huynh nhận thấy trong bốn thế kiếm pháp đó, ngoài Tứ linh diệu cơvà Tứ linh diệu thủ ra, còn phải thêm một chút gì vào trong đó thì oai lực sẽ càng hơn thế nhiều.

Độc Cô Hưng nghe thấy chàng ta nói như vậy cũng cảm thấy rất hứng thú, liền nói tiếp:

-Chẳng hay đại ca đã nghĩ ra được cái gì để xen lẫn vào trong đó nữa?

Y vừa nói tới đó, thì gió núi bỗng nổi lên mây ở đâu kéo tới trên không đã có tiếng ngầm hình như sắp có mưa đến nơi. Y lại nói:

-Vừa rồi đang đẹp trời như vậy, chỉ trong nháy mắt mưa đã sắp đổ đến nơi rồi thật là cổ nhân nói câu:"Thiên hữu bất trắc phong vô nhân hữu đán tịch hoa. phúc" quả thật không sai... Y chưa nói dứt thì điện chớp như kim sa làm loé mắt hai người.

Tiếp theo đó có mấy tiếng sấm thật lớn và mưa đã đổ xuống luôn. Y vội tránh tới chỗ hốc đá ở dưới vách núi rồi lớn tiếng kêu gọi:

đại ca mau lại đây! Dưới hốc đá này có thể tránh mưa được đấy.

Ngờ đâu Độc Cô Sách cứ đứng yên ở đó như không nghe thấy gì hết, tay vẫn cầm nhuyễn kiếm, mặc cho trời sấm sét và mưa đổ xuống như trút nước, thái độ của chàng như say sưa, như ngơ ngác.

Độc Cô Hưng thấy thế ngạc nhiên kêu gọi tiếp:

đại ca còn đứng ngẩn ra đó làm gì? Mưa to lớn như vậy, nếu đại ca không tới đây tránh mưa thì thế nào cũng ướt hết đấy.

Độc Cô Sách hầu như không nghe tiếng gọi của Độc Cô Hưng cứ ở trong mưa gió múa kiếm hoài. Những thế kiếm của chàng biểu diễn lúc này rất chậm không có gì là lợi hại như hồi nãy, thỉnh thoảng chàng lại ngừng tay ngẫm nghĩ và sửa đổi.

Lúc này Độc Cô Hưng biết Độc Cô Sách đã nghĩ ra được thế võ tinh diệu, nên đang ở đó luyện kiếm. Y đành phải đứng ở trong hốc đá nhìn ra xem. Y thấy Độc Cô Sách như say mê cứ ở trong mưa gió mà múa từng thức một.

Trận mưa ấy kéo tới rất nhanh, nhưng khi tạnh cũng nhanh vô cùng. Độc Cô Sách ướt như chuột lột vẫn cứ tiếp tục luyện tập kiếm pháp.

Độc Cô Hưng thấy chàng say mê như vậy liền từ từ đi tới cạnh chàng, một mặt vận chân khí, một mặt lớn tiếng kêu gọi:

-Chúng ta còn đi hàng vạn dặm, còn rất nhiều thì giờ cho đại ca luyện tập kiếm đại ca mau mau thay bộ quần áo ướt đi, bằng không bị cảm nặng thì sẽ lỡ mất đại hội Thiên Nam đấy.

Lúc ấy Độc Cô Sách như người ngủ mơ mới thức tỉnh, liền thu kiếm lại nhìn Độc Cô Hưng cười như điên như khùng.

Độc Cô Hưng không sao nhịn được, liền bật cười hỏi:

đại ca, vừa rồi trông đại ca như người bị ma ám sao bây giờ bỗng dưng hớn hở mừng rỡ như thế?

Độc Cô Sách không trả lời câu hỏi mà chỉ giơ tay lên vuốt nước mưa, ở trên đầu trên mặt rồi lớn tiếng ngâm rằng:

"Thuỳ năng tận đắc kỳ chung diệu.

Tiện thị giang hồ đệ nhất nhân." Độc Cô Hưng kêu "ồ" một tiếng, vừa cười vừa hỏi tiếp:

-Có phải nghe thấy tiếng sấm, đại ca bỗng sáng trí tắm mưa rửa sạch bụi trần mà đã hiểu được những sự huyền diệu của cái quạt phải không?

Độc Cô Sách bỗng rùng mình một cái, lắc đầu vừa cười vừa đáp:

-Hiểu biết hết tinh diệu bên trong có phải là chuyện dễ đâu. Ngu huynh chỉ phát giác bốn thế kiếm của Bán Kỳ lão nhân là căn cứ sựnhiên biến hoá của trời đất mà sáng tạo thành, như gió, như mây, sấm, mưa, mặt trời, trăng, sao, chim bay, cá bơi, dế kêu, thú nói, chẳng hạn.

Độc Cô Hưng nghe tới đó gật đầu lia lịa, mỉm cười:-Thảo nào vừa rồi đại ca cứ như người thất thần, quên cả bản thân mình. Thì ra đại ca đã thông hiểu được diệu lý ấy.

Độc Cô Sách lộ vẻ rất an ủi, mỉm cười nói tiếp:

-Từ nay trở đi, sáng sớm ngu huynh phải xem mặt trời mọc, đêm phải xem sao nghiên cứu từng ngọn cỏ mọc mầm, lắng tai nghe tiếng sấm kêu, cả nước chảy lẫn hoa nở cũng không thể sao lãng được. Khi đi tới Ly Hồn cốc, dù chưa đạt được kỳ vọng của Nam Cung Giác lão nhân, nhưng ngu huynh dám chắc bốn thế kiếm pháp ấy cũng có thể diệt trừ được một hai tên nguyên hung cực ác.

Vừa nói tới đó, có một luồng gió lạnh thổi tới. Chàng hắt hơi luôn mấy tiếng.

Độc Cô Hưng liền cau mày lại, khuyên bảo rằng:

đại ca đã bị trúng lạnh rồi. Cũng may túi quần áo không bị ướt, đại ca mau lấy quần áo khô ra thay đi. Đệ dám chắc bộ quần áo ướt ở trên người cũng không thể giúp đại ca nghĩ ra những thế kiếm ảo diệu đâu.

Độc Cô Sách bỗng phải bật cười, vội mở hành trang lấy quần áo ra thay, nhưng chàng chưa kịp thay đã cau mày lại thất thanh la lớn:

-Nguy tai! Rồi chàng nhảy ngay về phía trước. Độc Cô Hưng thấy thế cũng phải giật mình kinh hãi vội đưa mắt nhìn theo để xem chàng làm gì?

Thì ra hồi nãy Độc Cô Sách để cái quạt ở trên mặt tảng đá, mải luyện kiếm quên mất bảo Độc Cô Hưng cất hộ, bây giờ đã bị mưa làm cho ướt hết.

Cũng may Độc Cô Sách đã gấp cái quạt lại tuy bị mưa ướt như vậy nhưng bài thơ tứ tuyệt của Nam Cung Giác lão nhân vẫn chưa hề gì.

Thấy thơ không việc gì, chắc bức tranh ở đằng sau cũng không sao, nhưng khi Độc Cô Sách lật cái quạt trở lại xem thì chàng đã cả kinh thất sắc.

Thì ra chàng thấy Mai Lan Trúc Cúc vẫn nguyên lành, mà sắc không hề bị xoá nhòa, nhưng ở chỗ trống không đã có hiện thêm bốn chữ "VạnTượng Hồi xuân" rất mờ hiện lên... Đủ thấy bốn chữ ấy viết bằng một thứ thuốc phải có nước vẩy vào mới hiện lên, còn một điều lạ hơn nữa, là bốn chữ đó viết theo bốn kiểu:Chân, Thảo, Triện, Lệ.

Chữ "vạn" viết bằng chữ chân phương trông rất hùng hậu.

Chữ "tượng" viết theo lối thảo, nét bút như bay như múa.

Chữ "hồi" viết theo lối lệ, đoan trang chất phác.

Chữ "xuân" viết theo lối triện, trông cổ kính và uyên thông.

Độc Cô Sách chưa kịp cởi áo ướt ra, trông thấy bốn chữ đó, đứng ngây người ngay.

Độc Cô Hưng cau mày lại lớn tiếng nói tiếp:

-Chả lẽ đại ca muốn bị bệnh thật sự thì mới hài lòng hay sao?Cái quạt đã ướt, đằng nào cũng ướt rồi, đại ca đã biết rõ sự ảo diệu của pho kiếm ấy rồi, thì dù có bị rách đi cũng vẫn có đường lối để đại ca mô phỏng ra cả mà hà tất phải như kẻ mất hồn vía như thế.

Độc Cô Sách vừa đi vào chỗ khô thay quần áo vừa đưa cái quạt cho Độc Cô Hưng và lắc đầu thở dài nói:

-Hưng đệ, cái quạt bị ướt không những không bị rách chút nào trái lại còn có thêm bốn chữ, đủ thấy Nam Cung tiền bối đã khổ công vì việc này thế nào?

Độc Cô Hưng cầm lấy cái quạt lên xem cũng phải kinh ngạc la lớn:

đại ca, bốn chữ:Vạn tượng hồi xuân này có phải đại ca đã nói kiếm pháp tuyệt diệu có trùng hợp với tất cả những cái hay của vạn vật ở bên trong đấy không?

Độc Cô Sách gật đầu, chàng lại hắt hơi một cái có vẻ khó chịu.

Độc Cô Hưng mải nhìn cái quạt, không để ý sắc mặt của Độc Cô Sách chỉ hớn hở nói tiếp:

-Nam Cung lão nhân khéo giở trò thật!Sao ông ta không chỉ rõ những ảo diệu của mấy thế kiếm tuyệt diệu ấy ra, mà lại chỉ vỏn vẹn viết có bốn chữ như thế thôi. Như thế lại làm cho đại ca phải tốn rất nhiều tâm trí mới nghĩ ra được sự ảo diệu của nó chứ không sai.

Nói tới đó, y không thấy Độc Cô Sách trả lời, vội ngửng đầu lên nhìn, mới hay mặt của chàng đã đỏ như lửa và đã bị bệnh rồi, y kinh ngạc vô cùng.

Độc Cô Hưng vội nhảy tới gần, lấy hai viên thuốc cho Độc Cô Sách uống, vẻ mặt lo âu, cau mày lại hỏi:

đại ca cảm thấy sao?Người luyện võ đau ốm ắt không phải tầm thường. Đại ca nên cẩn thận mới được bằng không vì bị bệnh không đi được mà lỡ mất Thiên Nam đại hội thì phiền lắm đấy.

Độc Cô Sách uống xong hai viên linh đơn, giơ hai tay lên rờ đầu rồi mỉm cười và trả lời Độc Cô Hưng rằng:

-Hiền đệ khỏi lo, huynh chỉ bị cảm mạo một chút thôi uống xong hai viên linh đơn của hiền đệ, ngu huynh đã thấy trong người dễ chịu, hiền đệ khỏi cần phải lo âu. Bây giờ ta vừa đi vừa nghiên cứu những thế kiếm của Nam Cung lão nhân và tìm tòi xem bốn chữ "Vạn tượng hồi xuân" ấy có dụng ý gì?

Độc Cô Hưng gật đầu mỉm cười, hai sư huynh đệ tiếp tục đi về phía trước, và bệnh phong hàn của Độc Cô Sách cũng không thấy nổi lên nữa. Vì nhờ có sức thuốc của linh đơn mà bệnh đó không nổi lên nhưng trái lại nó tiềm tàng ở trong ngưòi như thế lại càng nguy hiểm hơn.

Muốn nghiên cứu tuyệt học của Nam Cung lão nhân tới nơi tới chốn, sáng nào Độc Cô Sách cũng dậy thật sớm xem mặt trời, đêm đến xem trăng sao mọc, nhất là gặp cuồng phong bão vũ, sấm sét nổi lên đùng đùng, thì chàng lại càng tụ tinh hội thần để xem sự hiểm hóc của trời đất ảo diệu như thế nào, rồi lấy những cái đó mà dung hòa vào bốn thế kiếm của Nam Cung lão nhân đã tốn công suốt đời mới sáng tác nổi những thế kiếm độc đáo này.

Chàng khổ công học hỏi như vậy, tất nhiên chàng đã thu hoạch rất lớn, khiến bốn thế kiếm pháp đó ngày một ảo diệu và tăng thêm oai lực nhưng còn ý nghĩa của bốn chữ "Vạn tượng hồi xuân" kia thì chàng vẫn không hiểu thấu được.

Khi đi tới Lâu Sơn tỉnh Quế Châu, phần vì đã có bệnh sẵn trong người, phần thứ hai đi đường trường sức lực càng yếu ớt dần, phần thứ ba, là vì dầm mưa dãi nắng nên Độc Cô Sách đã bị bệnh ở trong một khe núi.

Độc Cô Hưng kinh hãi và lo âu vô cùng, suýt tý nữa thì y cho Độc Cô Sách uống hết những linh đơn đem theo trong người. Nhưng vì linh dược ấy không chữa bệnh cảm mạo, nên không những bệnh Độc Cô Sách không thuyên giảm mà trái lại, thần trí của chàng ta lại càng mê man bất tỉnh.

Bất đắc dĩ Độc Cô Hưng phải cõng Độc Cô Sách đi tìm kiếm những người ở trên núi đó hỏi thăm xem có ai biết chữa bệnh không?

Thật là người hiền gặp lành, y hỏi thăm ngay vào Lâu Sơn Viễn Hiền trang.

Trang chủ là HoaTâm Uyên là một văn nhân nhã sĩ học rộng tài cao và tinh xảo về môn y lý nữa.

Độc Cô Hưng nghe nói cả mừng, liền cõng Độc Cô Sách đi vào ẩn Hiền trang luôn.

Khi tới nơi Độc Cô Hưng có vẻ thất vọng vì Viễn Hiền trang mà những người thổ dân ở đó giới thiệu không phải là một toà nhà đồ sộ, không ngờ lại là mấy căn nhà lá bên ngoài có hàng rào trúc, trong hàng rào trúc chỉ có trồng một ít cây cỏ thôi.

Độc Cô Hưng vội gõ cánh cửa trúc, liền có một tiểu đồng áo xanh ở trong bước ra mỉm cười hỏi:

-Quý khách... Y chưa nói dứt, thì trong nhà đã có tiếng khàn khàn vừa cười vừa vọng ra:-Linh nhi, hà tất con phải hỏi làm chi? Con không thấy quý khách này đang cõng một người bạn hay sao, như vậy thể nào cũng đến đây để cầu chữa bệnh chứ còn việc gì nữa mà phải hỏi?

Tiếng nói đó vừa dứt, thì đã có một ông già tuổi vừa năm mươi người gầy gò, mặt rất hiền từ, mặc áo vải mộc ở trong nhà bước ra.

Độc Cô Hưng liền cười và hỏi:

-Thưa cụ, cụ có phải là Hoa lão trang chủ của Viễn Hiền trang?

Không đợi chờ y nói dứt, ông già đã gật đầu mỉm cười đáp:

-Tại hạ là Hoa Tâm Uyên, mời lão đệ vào trong nhà ngồi chơi. Bệnh của quý bạn có vẻ nặng lắm, không thể để cho ông ta đứng ngoài gió mãi như thế này được.

Độc Cô Hưng không khách sáo gì nữa, liền cõng Độc Cô Sách đi thẳng vào trong nhà và đặt chàng ta nằm lên cái chõng.

Hoa Tâm Uyên không chuyện trò với Độc Cô Hưng, ông thăm mạch cho Độc Cô Sách ngay.

Độc Cô Hưng đợi chờ ông ta thăm mạch xong liền ân cần hỏi:

-Thưa cụ, bệnh của đại ca tôi... hình như có vẻ nặng lắm không biết... có thể chữa khỏi được không?

Tâm Uyên mỉm cười, lấy một cái chăn bông đắp cho Độc Cô Sách rồi nói với Độc Cô Hưng rằng:

-Lão đệ khỏi cần phải lo âu, vị đại ca này của lão đệ là bị bệnh phong hàn chưa khỏi, rồi lại nhiễm thêm phong hàn ở ngoài vào, trong lòng hình như có sự gì uất ức, vì thế mới nổi bệnh. Tuy bệnh không nhẹ nhưng ở trong Viễn Hiền trang này chỉ độ nửa tháng là cùng Hoa Tâm Uyên tôi ngày đêm chữa chạy cho thể nào cũng phải khỏi.

Độc Cô Hưng nghe thấy Hoa Tâm Uyên nói thế rất yên tâm, nhưng y sực nhớ tới ngày đại hội Thiên Nam chỉ còn có mười ngày nữa là tới nơi. Y liền kêu "ối chà" một tiếng, và gượng cười nói tiếp:

-Nếu phải chữa nửa tháng thì lỡ hết cả đại sự, chẳng hay cụ có cách gì đặc biệt để cho anh em chúng tôi trong mười ngày tới có thể tới kịp núi Dã Nhân, thì anh em Độc Cô Hưng chúng tôi rất cám ơn đại ân, đại đức.

Hoa Tâm Uyên cau mày thủng thẳng đáp:

-Từ đây đi tới núi Dã Nhân, dù hai vị lão đệ có đi nhanh đến đâu cũng phải đi đến bốn năm ngày mới có thể tới được. Nói tóm lại, lão đệ muốn lão phu trong bốn năm ngày chữa khỏi bệnh nặng của đại ca lão đệ chứ gì?

Độc Cô Hưng mặt đỏ bừng, liền đứng dậy vái Tâm Uyên một lạy rất cung kính, rồi gượng cười đáp:

-Xin cụ thứ lỗi cho Độc Cô Hưng đã ăn nói quá đường đột như vậy! Nhưng quả thực anh em chúng tôi có việc bận cần phải trong mười ngày tới kịp núi Dã Nhân, nếu đại ca tôi chưa khỏi tôi đành phải di một mình và nhờ cụ trông nom hộ đại ca tôi vậy.

Tân Uyên bấm đốt ngón tay rồi mỉm cười hỏi:

-Mười ngày nữa tức là ngày mười ba tháng ba. Hai vị lão đệ vội đi Ly Hồn cốc ở núi Dã Nhân như thế, có phải là định đi dự Thiên Nam đại hội đấy không?

Độc Cô Hưng gật đầu đáp:

đúng thế! Cụ đã biết tin như vậy chả lẽ cụ cũng là một vị võ lâm đại hiệp, người cùng nguồn gốc của bạch đạo chăng?

Tâm Uyên gật đầu mỉm cười đáp:

-Ba mươi năm trước lão phu quả có ở trong võ lâm thực, nhưng không phải là người trong bạch đạo như Độc Cô lão đệ nói. Trái lại lão phu là một tên giang dương đại đạo (giặc cướp biển) trong giới hắc đạo, việc ác đến đâu cũng dám nhúng tay cả.

-Cụ hà tất phải nói bông... Tâm Uyên nghiêm nghị đỡ lời:

-Không phải Tâm Uyên này nói bông đâu, vì cơ nghiệp của mình sáng tạo bị người phá huỷ, anh em kết nghĩa bị người giết sạch nên mới một thân một mình chạy lên Lâu Sơn này ẩn danh mai tính tham sống sợ chết để qua ngày đoạn tháng.

Độc Cô Hưng kêu "ồ" một tiếng rồi hỏi tiếp:

-Năm xưa cụ sáng nghiệp ở đâu?

Một mặt bốc thuốc cho Độc Cô Sách uống, một mặt nhắc tới chuyện xưa Tâm Uyên thở dài nói tiếp:

-Bảy anh em chúng tôi kết nghĩa với nhau năm xưa, sáng nghiệp ở núi Hạ Lan được gọi là Hạ Lan thất ác, tiếng tăm cũng khá lừng lẫy trong giới lục lâm.

Độc Cô Hưng vừa cười vừa xen lời nói:

-Tên hiệu Hạ Lan thất ác ấy hình như hơi khó nghe một chút?

-Sự thực, nó là thế! Vì trong bảy anh em chúng tôi, sáu người nghĩa huynh kia đều ăn tim người, ngày nào cũng vậy, ngồi ở trong tụ nghĩa sảnh đun sẵn một chảo dầu, moi tim người ra bỏ vào trong chảo rán, để nhậu với rượu.

Độc Cô Hưng nghe nói tới đó cũng phải cau mày lại, lắc đầu nói tiếp:

-Làm như vậy thì thực là trái với đạo trời và cũng không phải là thái độ của một người giang hồ hào kiệt đáng có! Nói tới đó, y sực nghĩ đến Độc Cô Sách bị bệnh nặng đang đợi chờ người ta cứu chữa sao mình lại khiển người ta như thế, nên y vội xoay giọng mỉm cười hỏi:

-Nghe cụ nói thì hình như cụ là người em út của Hạ Lan thất ác phải không?

Tâm Uyên gật đầu đáp:

-Phải, tôi là người hiền lành nhất trong bọn, không nhẫn tâm trông thấy các người nghĩa huynh ăn tim người như thế, nên vẫn khuyên can họ luôn. Vì thế họ mới ban cho tôi một cái biệt hiệu là Từ Bi Tu Sĩ, để châm biếm.

Độc Cô Hưng thừa cơ tán dương vài câu:

-Cụ sở trường về y lý dùng nghệ thuật để cứu tế người đời, thực là lương tướng rất hợp với lòng trời. Bốn chữ Từ Bi Tu Sĩ đó mới thực đúng với cụ, sao cụ lại bảo là châm biếm?

Tâm Uyên vừa cho Độc Cô Sách uống thuốc xong, liền quay lại đưa Độc Cô Hưng ra phòng ngoài ngồi. Tiểu đồng tên là Linhnhi đã sửa soạn một hũ rượu ngon, mấy món thịt khô để sẵn. Ôta vừa nâng chén lên mời Độc Cô Hưng uống vừa cười vừa nói tiếp:

độc Côlão đệ, lúc ấy lão phu có biết y lý gì đâu, chỉ không nhẫn tâm ăn thịt người đấy thôi. Vì thế, hễ mỗi lần thấy các người nghĩa huynh giết người moi tim ăn, là lão phu mượn cớ rời khỏi Tụ nghĩa sảnh đi ra bên ngoài ngay.

Độc Cô Hưng hớp một hớp rượu vừa cười vừa đỡ lời:

đó là lòng từ bi của cụ và ý niệm trắc ẩn.

Có vẻ hổ thẹn Tâm Uyên lắc đầu thở dài:

-Một tên giặc bể như lão phu thì đâu xứng với câu từ bi chắc ẩn ấy, đó chả qua là vì lòng của lão phu không được sắc đá bằng các vị nghĩa huynh. Nhưng vì thế mà lão phu đã thoát khỏi tai kiếp, mới được sống sót tới ngày nay! Độc Cô Hưng sợ Tâm Uyên quá đau lòng ảnh hưởng đến sự chữa bệnh cho Độc Cô Sách, nên y không dám hỏi lại ông ta đã thoát khỏi tai biến như thế nào.

Tuy Độc Cô Hưng không hỏi nhưng Tâm Uyên cảm thấy không kể chuyện ấy ra thì áy náy khó chịu khôn tả nên ông ta gượng cười nói tiếp:

-Lão phu còn nhớ hồi cách đây chừng ba mươi hai, ba mươi ba. Một buổi chiều nọ sáu vị nghĩa huynh của lão phu đang bảo thủ hạ đốt lò đun dầu để chuẩn bị ăn tim người, lão phu lại lẳng lặng rời khỏi đại trại, đi lên trên ngọn núi nho nhỏ ở gần đó, để ngắm cảnh.

Độc Cô Hưng liền xen lời hỏi:

-Có lẽ lúc ấy trong đại trại vừa có tai kiếp xảy ra phả không?

Tâm Uyên hớp một hớp rượu, thở dài đáp:

-Lão đệ nói rất đúng!Lão phu đang thưởng thức cảnh đẹp, thì bỗng thấy trong trại có lửa bốc cao.

Độc Cô Hưng lại hỏi tiếp:

-Ngọn lửa đó do bất cẩn mà nên, hay là bị người thiêu đốt?

Tâm Uyên rầu rĩ lắc dầu thở dài đáp:

-Lão phu vừa thấy lửa bốc cháy đã vội quay trở về đại trại nhưng khi tới nơi, thì đã thấy đại trại trở thành biển lửa, không còn cách gì cứu chữa được nữa! Độc Cô Hưng ngạc nhiên hỏi:

-Sáu vị nghĩa huynh của cụ đâu, sao các vị ấy không chỉ huy thủ hạ chữa lửa?

Tâm Uyên rùng mình một cái, chén rượu ở trong tay cũng bị rung động mạnh, nên đã tràn một ít rượu xuống đất và ứa nước mắt và đáp:

-Sáu vị nghĩa huynh của lão phu bị người ta giết chết hết, đầu lâu bị bêu ở chỗ sơn khẩu của núi Hạ Lan, còn xác thị thì bị thiêu ra! Độc Cô Hưng thất kinh xen lời hỏi:

-Hạ Lan thất ác lừng danh như vậy tất nhiên võ công phải cao siêu. Sao chỉ trong nháy mắt đã bị tai kiếp hết, và cả đại trại cùng bị thiêu rụi như vậy?

-Vì Hạ Lan thất ác, ác danh quá lừng lẫy, ác nghiệp tạo quá nhiều, nên mới có hai vị kỳ nhân tuyệt thế tới để thay trời hành đạo mà giết hết trong nháy mắt như vậy! Độc Cô Hưng lại hỏi tiếp:

-Hai vị kỳ nhân tuyệt thế mà cụ vừa nói ấy là ai thế?

Hình như nghĩ đến chuyện xưa hãy còn hoảng sợ, Tâm Uyên khẽ đáp:

-Người ra tay giết người là Tam Kỳ Vũ Sĩ Nam Môn Vệ còn người phóng hoa? là Đại Bi Tôn Gỉa.

Hai câu nói ấy tuy rất khẽ, nhưng lọt vào tai của Độc Cô Hưng lại như sét đánh ngang tai khiến y giật mình đến nỗi rớt cả chén rượu xuống đất vỡ tan tành.

Vì y không ngờ Hoa Tâm Uyên, người mà mình trông mong để cứu chữa cho Độc Cô Sách lại có thù không sao tiêu giải được với sư phụ và sư bá mình.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau