LAM Y NỮ HIỆP

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Lam y nữ hiệp - Chương 36 - Chương 40

Chương 36: Dùng sắc mê hồn, Đường Trại Nhi ru hồn Ngũ hổ Mê luyến yêu đương, Vô Địch tướng chuyển hướng tam quân

Trong căn phòng bày trí trang nhã, trên tràng kỷ niệm nhiều thiên thanh, kê sát tường bên một chiếc đôn gỗ bày lư hương bằng đồng đen tỏa nhẹ khói nhang trầm thơm dịu, một thiếu phụ tuyệt đẹp ngả lưng, dựa mình vào gối gấm, đôi chân duỗi theo chiều tràng kỷ. Dưới đợt tóc mây đen lánh óng ánh phản chiếu bóng đèn lưu ly treo ở giữa phòng, nổi bật khuôn mặt trái xoan trắng hường với cặp mắt bồ câu, chiếc mũi dọc dừa, cặp môi mọng đỏ như trái nhót. Mấy sợi tóc lòa xòa trên trán và lả lướt trên cổ trắng mịn màng như mỡ đọng càng làm tăng vẻ đẹp vừa mơ màng vừa lộng lẫy của khuôn mặt mỹ miều ấy. Nàng vận xiêm y bằng lụa hường mỏng in rõ chiếc đùi thon thon đầy đặn, dài muốt vì lụa mềm mại phủ sát mình mà nàng lại chống tay nằm nghiêng. Thiếu phụ lim dim cặp mắt huyền nhìn vào khoảng chân không như đang mải miết suy tính điều gì, tay phe phẩy chiếc quạt lông bạch hạc nõn nà.

Cửa phòng chợt mở ra, Tôn Hoàn gọn gàng trong chiếc bào tím sẫm đai huyền đủng đỉnh bước vào. Thiếu phụ nằm nguyên chỗ, ngước mắt nhìn người mới đến, cất giọng trầm trầm :

- Sư huynh đã đọc kỹ bức thơ của Giáo chủ chưa?

Tôn Hoàn đi đến bên trường kỷ nhìn thiếu phụ hồi lâu, mới đáp :

- Có, đọc rồi.

Không chớp mắt, nàng dịu dàng :

- Sư huynh tính sao?

Với một giọng đều đều, Tôn Hoàn chậm rãi :

- Chưa tính sao cả. Vả lại tính ngay sao được, còn phải tùy trường hợp!...

Thiếu phụ kéo gối dựa mình vào thành kỷ cuốn, buông hai chân dài muốt xuống mặt chiếc thảm lông cừu trải trên mặt gạch vân thạch màu xanh lợt :

- Trường hợp ấy, mình phải lựa tạo nó ra, nếu chờ thì đến bao giờ?...

Tôn Hoàn ngồi xuống kỷ bên thiếu phụ, đưa tay ra hai bên như kẻ phân bua :

- Kìa, ngu huynh đã nói gì hơn kém đâu? Việc gì cũng cần suy tính rồi mới hành động, có hành động mới tạo ra được cơ hội hay chớ?

Quay đầu nhìn thiếu phụ, Tôn Hoàn nói tiếp :

- Vả lại, trong thơ tuy nói cấp tốc, nhưng không phải là Giáo chủ có ý giục ta hành động bừa mứa đâu. Chuyện này, Người phái sư muội thân tới Kim Lăng tất có ngụ ý riêng. Theo bức thơ do ngu huynh gởi về Bình Dương huyện, Giáo chủ hiểu rõ tình hình tại Kim Lăng rồi, nên mới có huấn lệnh này. Theo ý ngu huynh, vì huấn lệnh này, sư muội mới phải tới đây. Chính sư muội mới là người tạo ra có lợi cho Giáo giới Bạch Liên chúng ta trong dịp này. Trái lại, ngu huynh chỉ là kẻ dàn cảnh cốt sao cho thiệt thích hợp!...

Thiếu phụ phe phẩy quạt lông như thể để đùa có việc hơn là quạt. Nàng im lặng nhìn Tôn Hoàn hồi lâu :

- Sư huynh ngụ ý gì khi nói có cơ hội tốt do tay tôi tạo ra?

- Sư muội thử quay hẳn mặt nhìn ngu huynh xem nào.

Thiếu phụ lững lờ quay hẳn mặt về phía Tôn Hoàn.

- Đẹp, đẹp mơ màng ngây ngất khiến gỗ đá cũng không thể vô tình đừng nói chi con người bằng xương bằng thịt có nhiều cảm giác. Mấy năm nay không gặp nhau rồi, mà sư muội vẫn không hề thay đổi! Trái lại còn đẹp hơn trước bội phần khiến lắm phen ngu huynh... không muốn là ngu huynh nữa!

Nàng sẽ nhếch mép cười. Nụ cười nửa miệng ấy càng tăng vẻ duyên dáng, lả lướt của nàng :

- Kìa, sư huynh không trả lời câu tôi hỏi?

Tôn Hoàn hất hàm :

- Còn trả lời chi nữa. Khen và hâm mộ sắc diễm kiều của sư muội là đủ trả lời rất nhiều rồi. Hừ! Nhất tiêu thiên kim, nụ cười của sư muội cũng đủ làm chết kẻ nhìn rồi, huống chi còn cặp mắt huyền vừa dịu dàng vừa sắc bén như Thu phong nhạo thủy thì cả đến toàn thành Kim Lăng này cũng ngây ngất, xiêu vẹo đổ sụp, chớ chẳng nói chi một nhóm người.

Thiếu phụ đưa mắt thiệt đa tình, mỉm cười cự kỳ duyên dáng :

- Giáo chủ và sư huynh ác thiệt! Lúc nào cũng đưa tôi vào một trường hợp tôi... không muốn!

Tôn Hoàn thở mạnh, vuốt trán như người gạt mồ hôi :

- Ngu huynh phát điên người lên vì cái nhìn của sư muội! Hừ đã nhiều phen...

Tôn Hoàn chợt nín thinh.

Thiếu phụ hỏi :

- Đã nhiều phen... làm sao? Tức chết đi được hay nói nửa chừng!

Tôn Hoàn lờ đờ nhìn người đẹp bên mình :

- Thật vậy, đã nhiều phen ngu huynh muốn ích kỷ rời hẳn nơi lục địa hữu sự này đem sư muội ra khơi lên bất cứ một hải đảo nào không người...

Thiếu phụ cười nhẹ, tiếng vang tựa khánh vàng :

- Không người, để truyền đạo cho ai? Cho thiên cao, hải khoát chăng?...

Tôn Hoàn lắc đầu chậm rãi :

- Không! Lúc đó làm chi có đạo nữa và cần chi đạo, thiết chi giáo? Dưới bầu trời cao, biển rộng gió muôn phương lộng ngàn cây, ngu huynh tôn thờ hương sắc mỹ miều của sư muội là đủ rồi! Riêng mình ngu huynh được nhìn, được ngắm được hưởng tất cả những gì gọi là mỹ sắc tinh hoa của vũ trụ khung đúc cả trên toàn tấm thân đều đặn tuyệt vời như Vu Sơn thần nữ của sư muội! Trái ngược thay là cuộc đời! Éo le thay vòng nhân thế!... Sao ngu huynh lại cứ phải là... Sư huynh của người đẹp mỹ miều nhỉ?... Sao Giáo chủ cứ phải dùng sắc đẹp của sư muội mỗi khi Người muốn vượt một trở lực lớn lao? Sao Giáo chủ không sớm tịch đi để ngu huynh lên thay thế? Lúc đó chắc chắn ta sẽ thay đổi hết chánh sách chiến lược hành động độc đáo của Người. Trên bệ giáo đường sẽ có hai chiếc ngai, một cho ta một cho sư muội, chúng ta song song ngồi nghiêm chỉnh sau làn khói biếc hương trầm nghe lời cầu khấn của tín đồ... Nhưng tan buổi giảng giáo, chúng ta trở về nơi trướng gấm màn the để riêng mình ta tôn sùng Thần Nữ. Thiệt oái oăm thay! Sư muội có nhận xét thấy không?

Tôn Hoàn chống cùi tay lên đầu gối, hai tay ôm đầu, khổ sở. Thiếu phụ nhìn họ Tôn, thương hại, đưa tay khẽ vuốt vai :

- Sư huynh! Điên hay sao vậy? Hành động cho giáo giới ta chớ tôi có làm chi bậy bạ mà lo?

Tôn Hoàn rùng mình dưới bàn tay nõn nà ấy, ngồi lại, ngã đầu vào thành kỷ, nghi ngờ :

- Phải! Không làm gì. Chẳng ai theo không mà không đòi hỏi một sự gì! Rồi đây tướng tá Kim Lăng như hùm beo, sư muội sẽ là hồng tâm cho chúng bắn! Chúng sẽ giết nhau vì: "Sắc bất ba đào"! Nhưng sư muội cũng liệu hồn! Kẻ hạ sát sư muội sẽ không ai hết mà chính là ngu huynh. Liệu hồn! Ta không đe dọa đâu!

Ngồi nhích sát vào Tôn Hoàn, thiếu phụ dịu dàng vuốt ve trên má vị Quân sư của Kim Lăng :

- Sư huynh nổi điên, phát khùng rồi đây à? Tôi hành động bề ngoài thôi chớ, chừng nào thành tựu công tác, tôi sẽ cùng sư huynh đi xa du ngoạn một phen.

Tôn Hoàn sung sướng hỏi :

- Thiệt không? Hay Đường sư muội lại lãnh công tác khác của Giáo chủ?

Thiếu phụ họ Đường mỉm cười :

- Tôi xin hứa. Hành động xong vụ này cũng lớn lắm rồi, tôi cần nghỉ ngơi.

- Nếu vậy ngu huynh không thể chần chờ phải tổ chức thi hành ngay chương trình của Giáo chủ mới được.

- Bao giờ mới bắt đầu?

- Hai bữa nữa, ngu huynh sẽ mời họ dự tiệc ở đây.

- Bao nhiêu người? Những ai? Tên tuổi tánh nết họ thế nào?

Tôn Hoàn suy nghĩ giây lát :

- Sáu người. Ngũ hổ tướng và Thiên phong. Lung lạc được họ thì việc gì cũng xong. Đây nhé: Vô Địch tướng quân Hoàng Bách Thắng hiện giữ ấn Nguyên nhung điều đốc tam quân. Y cáo lớn, uy nghi dáng vì nguyên soái, trạc bốn mươi, trầm tĩnh, đáng kính và đáng mến.

- Hừ có gia đình vợ con ở đây không?

- Không. Không ai có gia đình cả. Tiếp đến Quá Sơn Hổ Triệu Đại Bằng, ngoại tam thập lầm lì nói, tầm thước nét mặt phải chăng ngã về hung dữ hơn là mỹ mạo. Thứ hai, Cầm Mao Hổ Dư Đông Bích, cũng trạc tuổi ấy, tóc vàng hoe, cao lênh khênh trông ốm, mắt như chim ưng, xấu trai lắm.

Thứ tư, Thanh Diện Hổ Tống Võ Cường, tuổi như hai người trên, mặt xanh lè, râu lún phún, mập mạp hơn cỡ trung bình.

Thứ năm, Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi, mặt rám nắng như màu đồng, râu quai nón, lực lưỡng, tánh nóng như lửa và rất đa tình. Y thầm yêu trộm nhớ Quận chúa Lan Anh mà không hề dám tỏ tình.

Thiếu phụ họ Đường hỏi :

- Thuận Vương có biết mối tình thầm kín của y không?

- Hình như không.

- Quận chúa nhan sắc lắm phải không? Bao nhiêu tuổi?

- Nàng ta đôi chín. Võ thuật giỏi, công dung ngôn hạnh hoàn toàn. Nhưng nàng là một thiếu nữ thùy mị dù xuân xanh đôi chính cũng còn thua vẻ mặn mà khêu gợi say đắm của sư muội!... Hay là tại ngu huynh mến sư muội mà nhìn ra như vậy?

Thiếu phụ xuân sắc nọ ừ hứ im lặng. Hồi lâu nàng hỏi :

- Thế còn Tiên Phong? Có mỹ mạo không hay quỷ sứ cả một lũ?

Tôn Hoàn mỉm cười :

- Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng cùng tuổi, y hệt Hầu Văn Bảo.

- Cũng râu quai nón?

- Y hệt mà! Sồm xoàm hơn chút đỉnh, khỏe lắm.

- Có thầm yêu Quận chúa không? Nếu có thì quả không may cho nàng quá!

- Có. Y cùng một tình trạng với Bạt Sơn Hổ họ Hầu.

- Kình địch nhau, phải không hả sư huynh?

- Kình địch ngấm ngầm mỗi khi cả hai cùng gặp Quận chúa.

- Ngoài ra, họ vẫn là hai người bạn thân? Quận chúa có tình ý gì không?

- Chính vậy, họ ngấm ngầm mà! Còn Quận chúa như nước chảy vô tình, không để ý tới hoa rơi.

Nàng cười khanh khách:

Ở địa vị Thuận Vương, tôi sẽ gã Lan Anh cho một người!

Tôn Hoàn ngạc nhiên :

- Ai? Bạt Sơn Hổ hay Trại Nguyên Khánh? Chắc đâu nàng bằng lòng ưng chịu?

- Người ấy không là Hầu và cũng chẳng là Điêu, mà là Vô Địch tướng quân.

- Hoàng Bách Thắng?

- Phải. Muốn được việc phải thế. Thuận Vương không thâm ý, đại sự khó thành. Cầm được Hoàng Bách Thắng là khiến nổi Tam quân và tránh luôn được cả hiềm khích của Hầu, Điêu hai người.

Tôn Hoàn gật gù khen :

- Sư muội tinh ý lắm, nhưng thế sự tính sao cho cùng được? Lan Anh cành ngọc lá vàng, song thân nuông chiều nhất mực.

- Hai Thái tử thế nào?

- Ngoài hai chục tuổi, mỹ mạo nam tử, Triệu Vân, Mã Siêu tái sanh!

Thiếu phụ thở dài :

- Nếu hai chàng này thuộc Ngũ hổ, Tiên Phong có phải bớt được vẻ lục quỷ không!

Tôn Hoàn cười nham hiểm :

- Đó là cái hên của ngu huynh, có thế mới hòng được cùng sư muội ngao du chớ?

Thiếu phụ dằn dỗi :

- Từ trước tới nay, tôi đã mê luyến ai... lâu chưa, hay là rút cuộc vẫn về với sư huynh?

Tôn Hoàn xử huề :

- Sư muội đừng buồn nữa, sau mấy năm xa cách, đêm nay một khắc ngàn vàng...

Thiếu phụ lặng lẽ duỗi dài chiêu đăm, im lặng.

Tôn Hoàn nhích lại bên nàng khẽ ngả đầu vào vai nõn nà mát rượi.

Hai người im lìm như vậy hồi lâu, Tôn Hoàn đứng lên cầm tay người đẹp :

- Khuya rồi, sư muội?...

Thiếu phụ lặng lẽ trỗi dậy, đứng lên uyển chuyển cùng họ Tôn sang phòng bên...

° ° °

Nhẹ tay gài viên ngói lại như cũ, Lan Anh cùng hai Thế tử đứng lên chuyển ra khỏi khu vực dinh Quân sư, theo phương hướng đã thuộc lòng tránh tất cả những mái có giăng dây báo động rất dễ dàng. Lối kiến thiết trong Vương phủ theo một thể thức liên hoàn, các mái lầu hay điện các khác nhấp nhô không kể, nhưng mái tránh nơi nào cũng liên tiếp nhau bởi các mái hành lang như một lớp cầu nổi. Ở dưới đất, quân lính canh phòng ngay tại chỗ có hành lang nổi đó và cũng ngay ở trên mái hành lang đoàn phòng thủ chăng dây báo động. Dạ hành khách nào vô tình vào Vương phủ chạy trên mái muốn từ khu nọ sang khu kia tất phải qua mái hành lang cho tiện và lẽ cố nhiên vô tình vướng dây báo động ăn thông với phía dưới.

Sở dĩ bữa nọ Tam hiệp vào Vương cung thăm Lan Anh mà không vướng dây đó là vì ba người chịu khó chuyền qua các mái điện phụ. Lỡ gặp hai mái xa nhau quá, Tam hiệp lại nhảy xuống đất lẩn theo bong cây tới khi tiện đường nhảy lên nóc nhà, ba người mới lại tiếp tục phi hành. Chu Trấn Quốc, Bảo Quốc và Lan Anh có nhiệm vụ giữ bản đồ các nới cơ quan bên trong cũng như bên ngoài, dĩ nhiên ba người tránh rất dễ dàng các chỗ nguy hiểm.

Về tới hậu cung, ba anh em về thẳng phòng khách riêng của Lan Anh. Như đã hẹn nhau hồi ban sang, đêm ấy ba người lần lượt dò thám mấy nơi khác không thấy gì lạ đã định trở bước thì chợt thấy bên dinh Quân sư để đèn rất sáng trên lầu rủ nhau phi thân tới đó rút ngói dòm xuống. Vừa hay gặp lúc thiếu phụ kiều diễm đang ngả mình trên kỷ. Lan Anh nhìn xuống trước lấy làm lạ, nhường cho Trấn Quốc, Bảo Quốc coi.

Trấn Quốc nhất định theo dõi liền ra hiệu bảo mọi người cùng kéo ngói nằm úp mình trên mái nghe. Bởi vậy ba anh em đã vô tình mà nghe được một chuyện hết sức bất ngờ. Lan Anh vừa rót trà mời hai Thế tử vừa uống vừa nói :

- Nữ nhân họ Đường ấy chắc mới được Tôn Hoàn bí mật đem vào Vương phủ. Nhị vị hiền huynh có biết ai đi không?

Trấn Quốc nói :

- Họ là người nhà với nhau dù có vào công khai cũng không hề gì. Có lẽ nữ nhân ấy là Đường Trại Nhi, đệ nhị môn đồ của Bạch Liên giáo chủ Cố Duy Thanh.

Bảo Quốc nói :

- Chắc chắn là con yêu nữ ấy rồi, hồi nãy Tôn Hoàn có dùng danh từ "Đường sư muội". Theo những điều nghe lỏm được, Đường Trại Nhi đến Kim Lăng với mục đích quyến rũ chư tướng để làm gì? Theo giáo đạo Bạch Liên ư? Không có lẽ!

Lan Anh nói :

- Những việc tầy trời, quan trọng nhường ấy mà Phụ vương không hề hay biết, trông cả vào chúng khởi đại sự nguy hiểm nhường nào! May mắn khám phá ra vụ Đường Trại Nhi, nhị vị hiền huynh định tánh sao?

Chu Trấn Quốc suy nghĩ giây lát :

- Hai bữa nữa, anh em ta trở lại do thám xem chúng hành động thế nào sẽ hay.

- Hồi nãy nghe yêu nữ ấy phát biểu ý kiến, tiểu muội muốn giết nó cho rồi.

- Chà! Chúng muốn nói gì, ta cũng không quan tâm, cấm sao được miệng cười! Ngu huynh lo hai hôm nữa khó lòng dò nghe vì Tôn Hoàn mời sáu tướng dự tiệc ở nhà dưới, ngồi trên nóc nhà vô ích.

Bảo Quốc nói :

- Cần chi nghe nữa. Luận điệu của Tôn Hoàn và Đường Trại Nhi hồi nãy chỉ tỏ rằng Trại nhi có nhiệm vụ dùng sắc đẹp dụ dỗ Ngũ hổ và Tiên Phong. Việc dụ dỗ ấy chắc không thể tiến hành ngay trong một buổi hà tất phải theo dõi. Trên bàn tiệc, bất quá Trại Nhi uốn éo khéo léo khiến các tướng cùng mê luyến. Sau đó yêu nữ sẽ hành động lung lạc từng người một tại nhà riêng của mỗi người. Vậy, chúng ta nhân cơ hội chúng mải hoan lạc, làm việc khác ích lợi hơn nhiều.

Lan Anh ngắt lời :

- Phải chăng nhị huynh định kiếm bức thơ của Bạch Liên giáo chủ gởi cho Tôn Hoàn?

Bảo Quốc gật đầu :

- Hiền muội đoán trúng ý ngu huynh. Đọc được thơ ấy, ta nắm hết đầu mối về sự hiện diện của Đường Trại Nhi tại Vương phủ Kim Lăng.

Trần Quốc nói :

- Ta vẫn thiếu sót mất một điều hệ trọng nhất.

- Điều chi vậy?

- Hiền đệ xét đúng tình lý, trả lời tất cả những câu do ngu huynh hỏi sẽ thấy. Đây nhé, Đường Trại Nhi có thể dùng nữ sắc truyền giáo hay mời mấy vị tướng lãnh ấy nhập giáo đạo Bạch Liên được không?

Bảo Quốc đáp :

- "Vô thần tất nhi vô đạo". Những tướng ấy không có đạo giáo nào cả. Vả lại, không thể trong một thời gian ngắn, Đường Trại Nhi dù kiều diễm tài giỏi đến mấy cũng không thể khiến họ tin tưởng được.

- Tỉ dụ họ theo Bạch Liên giáo, phương hại cho ta không?

- Không, Tôn quân sư chẳng là đệ nhất đồ đệ của giáo phái đó ư.

- Nghĩa là ta gạt bỏ vấn đề quyến rũ người nhập giáo Bạch Liên. Nếu cần thêm tín đồ cho giáo phái thì Tôn Hoàn đã hành động rồi, không lẽ nào chờ tới bây giờ?

- Chính vậy.

- Nếu thế thì tại sao Tôn Hoàn căn cứ vào câu chuyện giữa y và Trại Nhi hồi nãy chịu để cho người mà y thương mến giao tiếp với sáu tướng với mục đích lung lạc chúng?

- Chắc vì một lẽ gì khác nữa. Và lẽ đó, Tôn Hoàn căn cứ vào tình hình hiện thời của Kim Lăng, mới bày tỏ cho Đường Trại Nhi biết thôi.

Chu Trấn Quốc hỏi :

- Ấy đó! Mục đích thứ hai này mới thiệt can hệ cho Phụ vương. Ngu huynh đoán như thế này, Tôn Hoàn thấy Phụ vương không nhất quyết khởi binh, muốn hợp với Hoàng Bách Thắng và chư tướng thành một khối để tự ý hành động dù Phụ vương chủ hòa. Họ Hoàng nắm hết binh lực trong tay có thể tự ý dấy loạn không cần tới Phụ vương nữa. Hoặc y dùng áp lực buộc Phụ vương theo chúng, hoặc y mặc ý để Phụ vương lai Kinh rồi tự dấy binh sau.

Tôn Hoàn biết Hoàng Bách Thắng và chư tướng dám đi tới nước ấy nên tương kế tựu kế, nhân dịp Đường Trại Nhi vừa tới, y dùng mỹ nhân kế gây cảm tình với các tướng nhất là Hoàng Bách Thắng lấy danh nghĩa Bạch Liên giáo khởi sự chống lại triều đình. Theo lời Đường Trại Nhi biện bạch, Bạch Liên giáo là một giáo phái lớn cội rễ đã ăn sâu trong dân gian từ bao lâu nay rồi, cuộc khởi binh sẽ được toàn thể tín đồ Bạch Liên hưởng ứng trong toàn quốc, với ngọn lưỡi vô cùng khéo léo, nguy hiểm và với khóe thu ba lả lướt tống tình ấy, chắc chắn Hoàn Bách Thắng sẽ nghe theo. Bức thơ do Giáo chủ Bạch Liên gởi cho Tôn Hoàn không có gì lạ đâu. Đó là ủy nhiệm thơ cho phép Tôn Hoàn và Đường Trại Nhi toàn quyền hành động. Hiền muội và hiền đệ nghĩ sao?

Lan Anh nói :

- Dự đoán của hiền huynh phù hợp với lời tiên đoán của tiểu muội về thái độ dễ phản bội của họ Hoàng, mà tiểu muội đã trình bày sáng nay. Tin chắc là đúng.

Chu Quốc Bảo nói :

- Dự đoán đó trúng thì gia đình ta trong Vương cung đang ở trong tình thế nguy nan!

Trấn Quốc trầm ngâm :

- Ngu huynh dự đoán thiệt, nhưng suy xét tính toán kỹ mới phát biểu ý kiến, hiền đệ có thể coi như ta đang ở trong tình hình tối ư nguy hiểm, mà cứu cánh chỉ vỏn vẹn có ba anh em ta và một số gia tướng thân cận,.

Bảo Quốc băn khoăn, chắp tay sau lưng đi đi lại lại nghĩ lung lắm. Trấn Quốc ngồi duỗi dài trên kỷ, tay chống đao, tay tỳ trán đăm chiêu. Trái với thái độ lo nghĩ của hai anh, Lan Anh thản nhiên bóc vỏ một trái cam ăn thiệt ngon lành.

Trấn Quốc ngước mắt nhìn Lan Anh mỉm cười :

- Hiền muội vô tư lự hơn cả trong mấy chúng ta.

Nàng cười khanh khách :

- Tư lự làm chi cho thêm già người, phải không hiền huynh?

Trấn Quốc chăm chú nhìn nàng hồi lâu như muốn đọc được ý nghĩ của cô em gái diễm kiều nọ :

- Hiền muội có diệu kế giải nguy rồi chăng?

Lan Anh ranh rảnh :

- Lúc tiểu muội xuống núi, Thượng Thái sư phụ có ban cho một hồ lô rãi đậu thành binh. Đối phương có ba đầu sáu tay cũng không làm chi nổi.

Bảo Quốc nghe vậy phì cười :

- Lần thứ nhất ngu huynh nghe được tam muội nói giỡn.

Lan Anh nghiêm nghị hỏi :

- Có bao giờ thấy tiểu muội đùa giỡn không? Vì sư phụ bắt giữ kín việc biết pháp thuật. Nay nguy ngập không đem áp dụng còn để làm chi?

Giọng nói cứng cỏi cả quyết của nàng khiến hai Thế tử ngẩn người nhìn nhau nghi ngờ, không hiểu ra sao cả. Thượng Thái, sư phụ của Lan Anh, nhân vật hữu danh phái Thiếu Lâm chuyên về môn Võ thuật công phu lấy công phu làm gốc. Chuyên cần luyện tập hữu công hữu thành, bất chuyển bất bại, môn đồ phải kiên tâm nhất trí. Ngày ngày tập luyện theo phương pháp của môn phái, ít nhất năm năm mới đạt tới mức trung bình, nhiều là mươi, mười hai năm theo đến nơi đến chốn mới qua được ngưỡng cửa Siêu Đẳng. Khi thành tài xuất thân, nếu người tập không có dịp luôn luôn sử dụng thuật công phu của mình, thì còn phải siêng năng ôn luyện hàng ngày cho khỏi xao lãng mới mong giữ được cấp bực chuyên môn. Vậy, lẽ nào Lan Anh biết những thuật hoang đường như thế được. Ngay như mình đã từng ở bảy năm trên La Phù sơn bái Thiên Không làm thầy, bảy năm khổ luyện công phu chịu luật thép của sơn môn, lúc ra về cũng chưa đạt nổi chức đệ nhất môn đồ nữa là!... Nghĩ đến đây, Chu Trấn Quốc phì cười.

Lan Anh làm bộ nghiêm nghị :

- Trưởng huynh cười gì? Khoái trá như vậy chắc tìm được giải pháp hay?

- Ngu huynh cười ở chỗ tại sao hiền muội có tài xuất chúng như vậy, mà không chịu giúp Phụ vương chinh phạt đoạt Thiên hạ, cần gì phải chiêu binh nạp tướng lo nghĩ mất công biết bao lâu nay rồi?

Câu hỏi đột ngột của Trấn Quốc khiến Lan Anh ngẩn người hết giỡn :

- Nói giỡn nhị vị hiền huynh vậy thôi, làm chi có chuyện thần tiên ấy! Hiện thời, chúng ta hãy cố gắng theo dõi hành động của Đường Trại Nhi xem sao đã. Trưa hôm nay, hiền huynh đã nói với Vương mẫu và khuyên can Phụ vương chưa?

- Chưa gặp Phụ vương. Người bận việc nên dùng bữa riêng ngay tại văn phòng. Khuya rồi, giải tán, đến mai sẽ hay.

Nói về thiếu phụ diễm kiều trong dinh Tôn Hoàn chính là Đường Trại Nhi, đệ nhị đồ đệ sau Tôn Hoàn của Giáo chủ Bạch Liên Cố Duy Khanh thời bấy giờ. Không những là môn đồ, nàng còn là một nữ lãnh tụ rất đắc lực đã từng thâu nạp được nhiều tín đồ cho giáo giới, và gây nhiều cơ sở Bạch Liên tại khắp nơi. Võ nghệ khá, lanh lợi, nàng thường dùng sắc đẹp thiên phú mê luyến không biết bao nhiêu người theo đạo Bạch Liên. Bổn tánh dâm đãng, nàng cùng Tôn Hoàn tư thông ngay từ thuở ban đầu, lúc mới nhập giáo giới Bạch Liên. Họ Tôn say mê Trại Nhi vô cùng, nhưng cũng rất khổ sở bực tức vì cô "sư muội" ấy quá ư lẳng lơ, phụ lời hứa chung tình. Bởi vậy, Tôn Hoàn mới giận dữ bỏ đi sau nhiều lần gay gắt Trại Nhi, mà nàng chứng nào vẫn tật ấy không thể bỏ qua các thư đồ có dũng lực "hoặc hảo nam tử".

Phiêu bạt giang hồ ròng rã luôn mấy năm trường, Tôn Hoàn nhờ gió núi mây ngàn khuây khỏa sầu tình u uất, và thời gian hầu như đã hàn mối thương long xóa mờ hình bóng giai nhân trong tâm khảm kẻ thất tình. Nay đó mai đây, cuộc đời bình bồng vô định, họ Tôn nghe đồn Thuận Vương trọng kẻ sĩ, mến người tài, bèn trở gót Kim Lăng đầu bôn và được trọng dụng. Tuy vậy, Tôn Hoàn vẫn nhớ tình thầy trò, nghĩa sư đệ sao quên, nên cho Cố Duy Thanh biết hiện thời chàng giữ chức Quân sư trong Vương phủ điều khiển tướng binh. Được tin trò cũ, Giáo chủ Bạch Liên mừng rỡ vô cùng, thường cùng trò xưa liên lạc.

Về phần Đường Trại Nhi, từ khi Tôn Hoàn bỏ ra đi cũng cảm thấy buồn miên man. Nhưng tạo vật bẩm sanh ra nàng với nhan sắc diễm kiều, thân hình thần nữ Vu Sơn khêu gợi, tánh tình lẳng lơ dâm dật, đâu có phải để quy mối tình giai nhân vào một nơi nhất định. Vắng Trăng thì đã có Sao, Đường Trại Nhi lúc còn Tôn Hoàn ở bên đã phải dọc ngang thỏa mãn, thì khi họ Tôn ra đi nàng phải tìm cách lấp chỗ thiếu, thiết tưởng đó chỉ là lẽ dĩ nhiên của con người trai lơ phù phiếm. Giáo chủ Cố Duy Thanh biết vậy, phần vì Bạch Liên giáo không chăm chú lắm về phương diện đức độ, phần vì Đường Trại Nhi rất được việc cho giáo hội, nên làm ngơ không cần biết tới sự hành động dâm bôn có tánh cách cá nhân của nàng.

Lời đồn về tánh dâm đãng của nàng thì như vậy, phù hạp với nét kiều mị trên mặt nàng, và thân hình đầy đặn nở nang làm bật những đường cong vô giá của nàng chung gối chia mền với bất cứ một ai. Đã khôn lại ngoan, khi ưng ý chàng nào, Trại Nhi thường hẹn với người ấy ra khỏi Bình Hương huyện nơi trụ sở Bạch Liên giáo đem nhau đến chỗ nào vắng vẻ, cây cối âm u, không có ai dám qua lại mới giở trò ân ái giữa nơi nội cỏ ngàn cây.

Sau cuộc mây mưa, nàng thường bảo :

- Thôi nhé, đừng vì cuộc gặp gỡ hôm nay mà ỷ mình sàm sỡ công khai. Hãy quên đi, quên tới khi nào tôi mật báo sẽ hay. Không nghe lời, hậu quả tai hại thì đừng có trách.

Mà đừng có trách thiệt! Một chuyến có anh chàng nhẹ dạ, sau khi hưởng những phút thần tiên mê ly bên thần nữ Vu Sơn, sau khi được ấm áp thỏa mãn tấm thân trong ngọc trắng ngà, coi thường lời dặn của Đường Trại Nhi, khoe khoang với mọi người rằng chính mình đã từng cùng người đẹp gởi hồn mộng chốn Vu đài... Câu chuyện đến tai nàng, mấy hôm sau, anh chàng dại dột kia bỗng dưng mất tích không còn tra cứu vào đâu nữa, cho đến khi mấy tháng sau có bọn hiệp hộ phát giác ra bộ xương trắng hếu tại giữa chốn rừng sâu mà nhờ mấy mảnh áo quần còn lại, người nhà nhận ra bộ xương vô chủ kia chính là kẻ đã bỗng dưng biệt tích từ mấy tháng trước đây. Giấu diếm sao được? Dù Đường Trại Nhi kín đáo tới mực nào, đầu mày cuối mắt, chỉ thoáng trông không cần nhìn tận nơi, người tinh ý suy luận ra cũng thừa hiểu. Nhưng việc ai mặc nấy, chớ can dự chi tới mình bép xép thêm mắc vạ lây!

Đường Trại Nhi luyện tập được cho năm thiếu nữ xuân cắc do nàng chọn lọc, từ võ nghệ cho đến các mánh lới của một đảng viên lành nghề trong giáo hội. Đó là Khuất Tiến Nhi, Từ Thúy Nhi, Hà Tam Nhi và Vân Tiên Nhi. Vì đồng loạt tên "Nhi" mà người nào cũng làn thu thủy nét xuân sơn, yêu kiều khác thường chẳng nhường chi bầy tiên nữ động Thiên Thai, nên nổi danh "Ngũ Tiên Nhi". Thầy nào, trò ấy, Ngũ Tiên Nhi cũng dâm đãng vô cùng.

Đường Trại Nhi thấy năm môn đồ đã thành tài, có thể tự hành động được rồi, bền trình bày kế hoạch, chương trình hoạt động với Giáo chủ Cố Duy Thanh, phái Ngũ Tiên Nhi đi các nơi gây thêm thanh thế, bành trướng giáo đạo.

Khuất Tiên Nhi được gởi tới chi nhánh Bạch Liên ở Hồ Bắc, Viên Thu Nhi hoạt động trong khu vực Giang Tây, Hà Tam nhi thì lại qua Lưỡng Quãng (Quảng Đông, Quảng Tây), Vân Tiên Nhi phụ trách chi sở giáo đạo tại Chiết Giang, còn Từ Thúy Nhi lãnh đạo miền Giang Tô và sau đó nàng qua Trấn Giang gặp Tiêu chân nhân và Hắc Đầu Đà cùng hai tên này liên kết thành bộ ba sát hại Phàn Mộng Liên trên đường. Trấn Giang, Thái An huyện. Ba người liền rủ nhau qua Tiên Long trấn, Từ Thúy Nhi dung bản lãnh phi thiềm tẩu bích giả Hà Tiên Cô trên tháp Cửu Trùng, chẳng dè bị Tam hiệp khám phá sát hại cả ba, báo thù cho trinh nữ họ Phàn. Đó là việc trước.

Đường Thúy Nhi ở tại trụ sở và chỉ đích thân hành động mỗi khi có việc quan trọng. Nhờ Tôn Hoàn, Giáo chủ Cố Duy Thanh biết ý định mưu phản của Thuận Vương và tính toán sẽ dựa vào cơ hội ấy quật khởi chiếm cứ toàn tỉnh Hồ Nam làm căn cứ, nên yêu cầu họ Tôn liệu cho biết trước ngày giờ dấy binh của Kim Lăng để đồng thời hành động, bất chấp cả người em thứ hai của Thuận Vương lúc đó đang bổ nhậm Trường Sa, thủ phủ tỉnh Hồ Nam.

Về sau, Tôn Hoàn thấy thái độ lừng khừng của Thuận Vương, e Cố Duy Thanh khinh thường, hành động lộ liễu có hại cho toàn thể giáo giới Bạch Liên, bèn thông báo cho Giáo chủ hay tình trạng không nhất quyết của vị thủ lãnh binh đội Kim Lăng, và nhấn thêm điểm triều đình triệu Thuận Vương về Kinh sư giữ chức Chánh giám khảo kỳ thi Võ trạng.

Cố giáo chủ suy nghĩ chợt nãy ra một kế, liền gọi Đường Trại Nhi đưa cho xem bức mật thơ mà rằng :

- Tình hình Kim Lăng như vậy, con có kế hoạch chi thủ lợi cho giáo giới ta không?

Trại nhi suy tính hồi lâu mới đáp :

- Nếu ta chuyển được chí hướng của các tướng tá chỉ huy quân đội Kim Lăng, thì khi Thuận Vương ưng chịu theo chiếu chỉ của Hoàng đế lên Yên Kinh, sẵn có lực lượng trong tay, họ cứ việc dấy binh như thường, coi như không chịu theo mang lệnh án binh bất động của Thuận Vương nữa là xong.

Cố Duy Thanh vuốt râu đắc ý :

- Con luận bàn rất trúng ý ta, nhưng lỡ Thuận Vương cáo ốm không về Yên Kinh mà vẫn án binh bất động thì sao?

Đường Trại Nhi không ngần ngại đáp ngay :

- Việc Thuận Vương lên Yên Kinh hay ở lại Kim Lăng bất quá chỉ là sự kiện phụ thuộc không đáng kể. Binh quyền ở cả trong tay Hoàng Bách Thắng và Tôn sư huynh, vậy cuộc dấy binh đều do hai người ấy. Ngoài ra cứ việc giam lỏng Thuận Vương và gia đình vào hậu cung là xong chuyện.

Bạch Liên giáo chủ gật đầu :

- Ta cũng nghĩ như thế đó. Việc tối ư hệ trọng này trừ con ra, tất không ai thi hành nổi, ta muốn con chịu khó đảm nhiệm việc này.

- Sư phụ đã dạy lẽ nào con không đi?

Giáo chủ hân hoan nhìn nữ đồ thân tín :

- Tương lai của toàn thể Giáo giới Bạch Liên đều do ở nơi con. Khởi hành sớm ngày nào hay ngày ấy.

Mấy hôm sau, sau bữa tiệc tiễn hành, Đường Trại Nhi rời Bình Hương huyện sang Kim Lăng. Tới Kim Lăng nàng vào tửu quán trọ qua một đêm, hôm sau mới vào thẳng Vương Phủ, tự xưng là bảo muội của Tôn quân sư từ hương quán lên thăm. Tôn Hoàn đang ngồi trong thơ phòng, chợt có lính hầu vào báo :

- Bẩm Quân sư, có người xin yết kiến, tự xưng là bào muội của Người.

Bỏ cuốn sách đang coi dở xuống án :

- Được, mời vào khách phòng, ta sẽ ra tức thì.

Quân hầu ra mời Đường Trại Nhi vào. Nàng ngắm nghía khu dinh thự lộng lẫy khen thầm, theo quân hầu vào khách sảnh trang hoàng tao nhã sang trọng.

Nàng hỏi quân hầu :

- Tôn phu nhân có nhà không?

- Thưa, Quân sư tôi không có phu nhân.

- Vậy ư? Huynh trưởng ta ở một mình trong dinh rộng lớn này mà chưa có người hầu hạ sao?

- Dạ! Quân sư tôi độc thân.

Đường Trại Nhi đủng đỉnh dạo quanh căn phòng khách trang nhã xem mấy bộ tứ bình bằng sứ treo trên tường, nét họa màu cực kỳ linh động. Có tiếng giày bước nhẹ qua cửa phòng cuốn trúc diệp. Đường Trại Nhi quay phắt người lại thấy Tôn Hoàn vừa vén rèm cửa đi tới.

Nàng lẳng lặng nhìn người xưa. Tuy xa cách mấy năm trường đằng đẵng, nét mặt Tôn Hoàn vẫn phây phây không hề gợn vết thời gian. Về phần Tôn Hoàn cũng không ngờ lại được tái kiến giai nhân ngay tại Vương phủ cổng kín tường cao này. Nàng vẫn đẹp, đẹp lộng lẫy có phần hơn trước. Bộ xiêm y thôn dã mà nàng có ý mang trên người kia không làm át nổi sắc kiều diễm vô song thiên phú. Mãi ngắm người xưa, Tôn Hoàn đứng sững như tượng đá, cơ hồ quên rằng mình là chủ nhân và đang có phận sự phải tiếp khách phương xa. Thản nhiên, Đường Trại Nhi cung bái thỏ thẻ :

- Tiện thiếp xin kính chào Quân sư, mong Người thứ cho tội đường đột này.

Tôn Hoàn giật mình, tỉnh mộng :

- Kìa, sư muội đến Kim Lăng từ hồi nào, sao không báo cho ngu huynh biết trước để kịp tiếp rước đàng hoàng?

Đường Trại Nhi vẫn thản nhiên hầu như lãnh đạm :

- Không dám, vào được chốn cổng kín thành cao này là quá lắm rồi, còn mong chi tiếp rước!

Giọng nàng hằn hộc mới đáng mến làm sao! Tôn Hoàn tiến tới gần nàng :

- Cớ sao sư muội nói như vậy khiến ngu huynh buồn long? Ngu huynh sống buồn tủi cô độc trong dinh với bao mộng đẹp xa xưa đã vì đâu tan vỡ?

Đường Trại Nhi điềm nhiên :

- Ô hay! Quân sư nói chi vậy? Khách đến, dù là người nhà, cũng phải mời ngồi đã chớ?

Tôn Hoàn bâng khuâng hành động như kẻ mất hồn, đưa tay mời Đường Trại Nhi ngồi.

Đường Trại Nhi không tha :

- Tôi là người vượt ngàn dặm chẳng quản thân gái đường xa tới yết kiến Quân sư xin giúp đỡ, mà Ngài đem những chuyện trên trời dưới biển, thở vắn than dài những đâu đâu thốt ra có ích lợi chi cho Ngài và cho tôi?

Tôn Hoàn khổ sở :

- Ủa! Sao sư muội nỡ gay gắt kẻ bao năm nay sống tủi buồn cô độc trong chốn thâm nghiêm này?

- Hừ! Từ nơi Kim Lăng lầu vàng, điện ngọc đến Bình Hương dã thảo sơn khê tuy ngàn dặm thiệt, nhưng ngàn dặm xa xôi ấy đối với Ngài có là bao mà không nỡ hạ bút đưa tin, mặc ai canh trường trằn trọc mòn mỏi trông chờ người viễn xứ!

Dứt lời, Đường Trại Nhi quay mặt đi, vén tà áo gạt lệ ngọc rưng rưng...

Tôn Hoàn cuống quýt đứng lên, đến bên người đẹp cầm tay nàng van lơn :

- Sư muội, nên bỏ qua việc cũ để chung vui cuộc trùng phùng. Quên hết đi! Từ nay hai ta như chim liền cánh, cây liền cành, xây lại cuộc đời mới mẻ êm vui!

Nói tới đây, Tôn Hoàn chợt nhận ra Đường Trại Nhi không mang theo hành lý :

- Sư muội để hành trang ở đâu mà không đem theo đây?

Đường Trại Nhi rút tay lại :

- Vào dinh đại quan, ai dám mang theo hành trang để ăn vạ nơi đây sao?

Tôn Hoàn dịu dàng :

- Sư muội tưởng tượng hoài! Để hành lý đâu, ngu huynh cho quân hầu lấy về.

Bấy giờ Đường Trại Nhi chắc chắn là Tôn Hoàn đã hết ghen giận khi xưa mới dịu nét mặt, ngước cặp phương nhỡn u huyền ra vẻ say đắm nũng nịu nhìn Tôn Hoàn không chớp mắt, khiến vị Quân sư đa tình ngây ngất, toàn thân rung động bởi một cảm giác lạ lùng.

- Sư huynh thiệt tâm muốn tôi ở lại đấy chớ?

Tôn Hoàn vui mừng :

- Sao lại thiệt với không thiệt? Ta mong nhớ sư muội nhựt dạ khôn khuây.

- Hành lý để ở Hưng Gia tửu quán Lư Cầu lộ.

Ngu huynh cho gia nhân đi lấy về đây tức khắc.

Trưa hôm ấy, sau bữa cơm, hai người ngồi trong thơ phòng trên lầu, Tôn Hoàn mới thủng thẳng hỏi Trại Nhi :

- Sư muội đến Kim Lăng có mục đích gì nữa không?

- Nếu không có công tác chắc khó lòng ra khỏi Bình Hương huyện vì Giáo chủ. Riêng cá nhân tôi, đi Kim Lăng chỉ vì sư huynh, công tác chỉ là một cớ để được Giáo chủ cho đi.

Đường Trại Nhi lấy bức thơ trong ngực áo ra đưa cho Tôn Hoàn bóc đọc ngay. Đọc xong, họ Tôn ngẩn người ra suy nghĩ :

- Giáo chủ toan tính lớn như vậy ư?

Đường Trại Nhi gật đầu im lặng.

- Sư muội có hiểu đã lành một công tác vạn nan không?

- Có, nhưng không nhận thì tới đây sao nổi để hai ta được trùng phùng?

- Ngu huynh không dám đoán rằng các tướng nhất dạ trung thành với Thuận Vương, nhưng không thế mà liều lĩnh dám có ý định lôi kéo họ theo ta phế Thuận Vương, cất binh phản loạn gây lợi thế cho Giáo giới Bạch Liên!

Ngẫm nghĩ giây lát, Tôn Hoàn nói tiếp :

- Trên đời này còn chi bằng tiền bạc? Thuận Vương dư tiền bạc cho họ dùng, vậy ta định lung lạc họ bằng cách gì? À! Ngu huynh hiểu thâm ý của Giáo chủ rồi! Kim tiền và nữ sắc, không có tiền thì dùng sắc! Bởi vậy mới giao công tác này cho sư muội!

Nói tới đây, Tôn Hoàn bỗng im lặng, mặt đỏ bừng bừng. Đường Trại Nhi nhận thấy cần phải nói kẻo Tôn Hoàn có thể làm hỏng việc được chỉ vì ghen tương muốn giữ nàng :

- Sư huynh nghĩ kỹ xem. Giáo chủ là người có công dạy bảo hai ta ngày nay mới thành tài. Sư huynh vì ai nay được ngồi nơi ngôi cao bong cả, được trọng vọng, phú quý nhất mực?

Tôn Hoàn cau mặt :

- Đành như thế rồi. Ngu huynh trả ơn Giáo chủ bằng cách giúp đỡ Người trong nhiều năm, bành trướng giáo giới, nhưng khó lòng hoàn thành được một công tác thậm nan như công tác này!

Đường Trại Nhi chậm rãi :

- Tôi sở cầu cố sức hoàn thành công tác này đền ơn Giáo chủ một lần chót, sau đó... ở liền đây với sư huynh, chẳng bao giờ xa nhau nữa.

Tôn Hoàn vội hỏi :

- Thiệt vậy chớ?

- Sư huynh nghi ngờ tôi không thiệt tình chăng?

- Ngu huynh không nghi ngờ nhưng nghĩ khác, chắc sư muội muốn hiểu!

- Tôi mong được nghe sư huynh giải thích.

Cầm tay Trại Nhi, Tôn Hoàn nhìn mặt người đẹp, tha thiết :

- Sư muội phải tự đặt mình vào địa vị của ngu huynh mới mong hiểu tâm trạng của ngu huynh được! Mối tình say đắm nồng nàn của ngu huynh đối với sư muội quả không còn biết nói sao cho cùng. Phải lẩn tránh bao năm trời lang bạt kỳ hồ cũng chỉ vì không chịu được cảnh đau lòng trông thấy người yêu không hoàn toàn thuộc về mình... Yêu nhau như vậy, thà phụ nhau cho xong!

Đường Trại Nhi vuốt tóc Tôn Hoàn, dịu giọng :

- Ý của Giáo chủ như vậy. Tôi hiểu lắm, nhưng vẫn phải nhận công tác để được tới Kim Lăng họp mặt cùng ai cho thỏa lòng mong nhớ. Còn về phần công việc ta có thể hành động khác được cơ mà! Hay là sư huynh không muốn tôi quấy rầy mãi mãi thì cũng được, tôi sẽ tự lực hành động nếu cần hiến thân cho chư tướng thì cũng đành để đền công ơn Giáo chủ. Sau đó, tôi sẽ mặc thiên hạ sự, hoàn toàn thế phát vào chốn thâm sơn tu hành cho rồi đời nhị rửa hoa tàn!

Tôn Hoàn giật mình :

- Ấy chết, sao sư muội nghĩ mông cuồng như vậy?

Đường Trại Nhi buông tay, ngồi phịch xuống kỷ bọc gấm :

- Sư huynh nhất quyết từ chối không giúp tôi thi hành nhiệm vụ để được an tâm theo nhau chung sống.

Vốn biết tánh Đường Trại Nhi ngang bướng, Tôn Hoàn làm lành :

- Ngu huynh nghĩ sao nói vậy, nếu sư muội cố tâm hành động giúp Giáo chủ cũng nên cho ngu huynh có đủ thì giờ suy tính, phác họa kế hoạch mới mong có hiệu quả chớ.

Đường Trại Nhi cố ý để Tôn Hoàn phải dỗ dành :

- Nếu biết sư huynh không chiều chuộng, ghét bỏ tôi như vầy thì chẳng tới Kim Lăng làm chi thêm tủi hận.

- Được lắm, ngu huynh sẽ giúp, nhưng chỉ e một điều.

Đường Trại Nhi ngã đầu vào vai Tôn Hoàn :

- Sư huynh e ngại gì?

Tôn Hoàn im lặng hồi lâu mới nói :

- Sư muội thanh sắc lưỡng toàn, mà bọn Hổ tướng Kim Lăng dù chẳng thiếu chi mỹ nữ cung tần, nhưng chúng lúc nào cũng như hổ đói gặp sư muội tất chúng mê loạn ngay, ngu huynh e dè là thế đó?

- Trời ơi! Động được tới người Trại Nhi này có dễ dàng như sư huynh tưởng đâu? Sư huynh không tin tôi rồi!

- Sư muội khá giữ lời hứa, nhé?

- Nhất định. Xin sư huynh an tâm! Đêm nay là đêm của chúng ta.

Và đêm đó nhờ sáng kiến của Lan Anh, hai Thế tử Chu Trấn Quốc, Bảo Quốc đã bất ngờ khám phá ra sự hiện diện của Đường Trại Nhi, nữ lãnh tụ đắc lực của Bạch Liên giáo trong dinh Tôn Hoàn và nghe lỏm được sự mưu tính của hai người.

Hôm sau, khi Tôn Hoàn sửa soạn sang dinh Hoàng Bách Thắng, Đường Trại Nhi nói :

- Giáo chủ có dặn khi tới Kim Lăng gặp sư huynh rồi phải thông tin về Bình Hương huyện cho người hay, vậy trong khi sư huynh vào cung, tôi ra ngoại phủ cho người về Bình Hương báo tin nhé?

Tôn Hoàn gật đầu.

Trại Nhi ra khỏi phủ thuê kiệu đến Hưng Gia quán, Lưu Cầu lộ nhắn tin xong rồi, vui chân đi qua các phố tấp nập thăm thú nội thành. Lúc qua Hoa Vương Tửu, nàng thấy khát bèn rẽ vào lên thẳng lầu thượng uống trà. Đang mãi ngắm cách bày trí lộng lẫy của căn thượng lâu, thì một người từ dưới lầu đi lên. Trại Nhi kín đáo nhìn. Người đó tuy vận áo bào che hẳn bộ ngực võ phục mặc trong nhưng thoạt nhìn ai cũng có thể đoán là một thiếu gia công tử sức lực tiềm tàng, nước da hồng hào, cổ to vai rộng, bước đi uyển chuyển như con báo. Vận bào lục bông trắng, chân dận ủng Hổ bôn, chàng ta phảng phất như hình Lữ Bố trong tranh.

Người đó kéo ghế ngồi cách chỗ Đường Trại Nhi vài thồi.

Đường Trại Nhi mải miết nhìn Tráng sĩ khen thầm :

- Chao ôi! Sao lại có người đẹp như vậy! Ta đã từng gặp nhiều chàng trẻ đẹp nhưng chưa ai bén gót người này! Chuyến đi Kim Lăng này thích thú thật. Ước chi dụ được y vào giáo đạo Bạch Liên!

Nàng mê mải nhìn quên cả sự cần phải khiêm nhượng kín đáo của nữ giới. Bất chợt tráng sĩ nọ vô tình gặp phải cặp mắt u huyền đó đang chăm chú nhìn mình. Chàng tưởng thiếu phụ kiều diễm nhìn qua vai mình ra phía sau nên ngoái cổ lại quan sát, nhưng giờ đó thượng lầu vắng khách. Trong căn lầu đẹp đẽ chỉ có vỏn vẹn hai người, ngoại trừ mấy tên tửu bảo đang mải chuyện trò ở đầu thang lầu. Luồng mắt nàng lờ đờ có sức hấp dẫn lạ lùng! Tráng sĩ thản nhiên độc ẩm tuy vậy trong thâm tâm chàng rất khó chịu. Phụ nữ chi mà kỳ lạ! Nhìn người ta chòng chọc không hề biết ngượng! Hay là nàng đã gặp ta ở đâu rồi, nên mới nhìn dữ như vậy? Chàng cố kiểm điểm lại những người đã từng gặp, từng quen biết nhưng đành không nhớ ra thiếu phụ nọ là ai.

Phần Đường Trại Nhi nghĩ cũng lung lắm. Nàng muốn làm quen con người hùng dũng tuấn kiệt nọ. Nhưng làm quen bằng cách nào? Hỏi thẳng người ta ư? Không được! Trơ trẽn quá! Đàn bà con gái bước ra ngoài vòng lễ giáo sẽ bị chàng khinh miệt. Nơi đây may mắn vắng vẻ nếu không liều làm quen e lỡ cơ hội tốt. Cũng phải liều chớ sao? E dè mãi thành tựu sao được? Vừa rồi nghe tửu bảo hỏi thăm chắc chắn qua đây nhiều lần rồi. Mà đã quen thuộc Kim Lăng tất phải biết tiếng Tôn Hoàn, chi bằng ta núp sau danh Tôn Hoàn ướm dò xem sao? Trại Nhi nghĩ đoạn, nhất quyết thử liều làm quen tráng sĩ tuấn kiệt. Nàng bèn dịu dàng đứng lên tới trước thồi tráng sĩ e lệ vái dài :

- Thiếp kính chào Thiếu gia. Người còn nhận được thiếp không?

Tráng sĩ ngạc nhiên nhưng cũng đẩy ghế đứng lên đáp lễ :

- Tôi không nhớ đã được diện kiến nương tử nơi nào. Nếu nương tử cho biết quý danh may ra... Nhưng hãy mời nương tử tạm ngồi.

Trại Nhi đứng, chàng nhận thấy nàng có một thân hình tuyệt cân đối, Trại Nhi e lệ kéo ghế ngồi đối diện vị thiếu gia phong lưu nọ :

- Thiếp là bào muội của Tôn quân sư trong Vương phủ. Hình như đã có dịp được hân hạnh gặp tôn nhan một hôm thiếp đi cùng gia huynh cũng tại đất Kim Lăng này thì phải?

Khi nghe ba tiếng Tôn quân sư, nét mừng đắc chí thoáng qua trên mặt tráng sĩ chớp mắt, mà Đường Trại Nhi không kịp nhận thấy.

- Chính tôi cũng ngờ không nhớ ra được gặp nương tử nơi đâu rồi. Tuy không được là bạn thân thiết của Tôn quân sư nhưng đại danh của lệnh huynh ở Kim Lăng này ai mà chẳng biết tiếng? Nương tử ở ngay trong Vương phủ.

Thấy tráng sĩ trả lời không quen Tôn Hoàn, Đường Trại Nhi mừng thầm vì thiệt ra nàng cốt bịa chuyện lấy cớ làm quen, nay bước khó khăn đã qua rồi thì câu chuyện Tôn quân sư có ăn nhập chi với hai người!

Nàng đáp :

- Dạ thiếp ở trong phủ cùng với gia huynh. Còn thiếu gia ngụ tại Kim Lăng? Quý tánh cao danh là chi?

- Thưa, tôi họ Vân tên Bưu từ Sơn Tây tới đây ngụ tại nhà người bạn đồng họ tức Vân tiêu cuộc ở An Hà lộ. Có lẽ chuyến này tôi sẽ ở lại đó giúp việc bảo tiêu.

- Trông Thiếu gia là người có dũng lực hiện trong Vương phủ lúc nào cũng sẵn sàng thâu dụng hiền tài, sao không đầu bôn có hơn không? Nếu thiếu gia ưng thuận, thiếp có thể giúp được.

Tráng sĩ mỉm cười :

- Đa tạ. Nương tử hảo tâm muốn nâng đỡ, tôi vốn không quen đời sống bó buộc nên không hề nghĩ tới việc đầu bôn. Ăn chơi phóng khoáng quen rồi, việc bảo tiêu cũng vị tất tôi sẽ làm nổi. Tuy vậy, tôi cũng còn ở Kim Lăng nhiều ngày. Sau đó sẽ liệu.

Giọng chàng nói trầm trầm êm ái. Đường Trại Nhi nhìn gần càng thấy tráng sĩ đẹp ngồn ngộn, toàn thân chàng như toát ra một điện lực hấp dẫn khiến Trại Nhi toàn thân rung động bởi thứ cảm giác rất quen thuộc với nàng mỗi khi gặp một nam tử vừa ý. Từ trước đến nay chưa lần nào nàng cảm thấy xác thịt rộn rực đến như vậy. Nếu không vì trách nhiệm nặng nề hiện thời, nàng quết cám dỗ chàng này đi một nơi xa vắng tận hưởng ái ân. Nay đã dò biết địa chỉ của chàng họ Vân rồi thì sẽ liệu sau, kéo dài sự họp mặt này không có lợi e chàng nghi ngờ càng thêm khó.

Nghĩ đoạn, Đường Trại Nhi bèn nói :

- Tiện thiếp là Tôn Trại Nhi, sau này có việc chi cần, thiếp lúc nào cũng sẵn sang giúp đỡ giới thiệu cùng gia huynh. Trước lạ sau quen, thiếu gia chớ ngại. Nay thiếp xin kiếu từ kẻo gia huynh mong chờ sai người đi kiếm.

Đường Trại Nhi đứng lên vẫy tay gọi tửu bảo trả tiền trước thồi nàng.

Vân tráng sĩ ngăn lại :

- Sá chi việc nhỏ mọn đó, nương tử cho phép tôi trả cả làm lễ tương kiến. Nếu có việc gì sai bảo, nương tử cứ truyền gọi.

Đường Trại Nhi đưa mắt nhìn chàng thiệt lẳng lơ mê luyến :

- Mới hân hạnh quen nhau mà thiếp đã... nợ rồi!

Dứt lời, nàng cúi đầu chào nhẹ, uyển chuyển xuống lầu. Tráng sĩ ngồi xuống ghế rót rượu suy nghĩ! Chàng gọi tửu bảo hỏi :

- Ngươi có biết mỹ nương tử vừa rồi là ai không?

Tửu bảo lắc đầu thưa :

- Lần này con mới thấy người đó là lần đầu.

- Những người trong Vương phủ có hay ra Hoa Vương lầu uống rượu không?

- Thưa có, các tướng tá cao cấp lui tới bổn lầu luôn.

- Quân sư có tới đây lần nào không?

- Thưa, thỉnh thoảng có tới lui, nhưng chuyến nào cũng đi cùng Vô Địch tướng quân, ít khi đi với người khác.

Thường ra, các vị cao cấp ấy ít khi dung tiệc trong phòng công cộng. Họ ngồi trong các ngăn riêng lớn, nhỏ tùy theo số người. Bởi lầu lúc nào cũng cung cấp đủ vì có tới trên mười phòng như vậy.

Tráng sĩ vui vẻ trả tiền trà rượu và hậu thưởng cho tên tửu bảo lanh lẹ đó.

Tráng sĩ xuống lầu nhàn nhã đến An Hà lộ, tìm Vân tiêu cuộc. Tiêu cuộc của họ Vân rộng lớn ở ngay đầu lộ. Tráng sĩ bước vào Tiêu Cuộc. Viên tài phú Quản lý bước tới đón chào :- Quý khách có hàng hóa áp tải đi xa hay cần được hộ vệ?

- Tôi muốn yết kiến Vân tiêu sư. Người có nhà không?

Viên tài phú chưa kịp trả lời, thì từ trong nhà, một người râu quai nón, vóc dáng khỏe mạnh đi ra nhìn tráng sĩ giây lát, đoạn vui vẻ la lớn :

- Kìa Chu đại hiệp! Tôi chờ cả hơn năm nay, bây giờ mới được tái kiến. Lệnh muội Nữ hiệp Lam Y đây không cùng đi?

Chu Đức Kiệt - vì chính là chàng - cùng người đó thi lễ :

- Tôi qua đây được ít hôm rồi, bữa nay mới rảnh sang đến yết kiến Vân đại ca. Gia muội mắc bận không cùng đi.

Vân Báo nói :

- Mời nhân huynh vào hậu sảnh. Trưa nay dung bữa với tôi nhé?

- Đại ca cho ăn khi nào tôi dám chối từ. Tôi còn nhớ bữa ăn xô bồ, nhưng thiệt vui, chuyến gập đại ca áp tải hàng hóa trên đường đi Dương Châu.

- A! Bữa ăn ở bên trụ Cầm Thảo Khấu qua Mã Thạch cương ngót ngày đường. Chuyến nào đi Dương Châu tôi cũng ngừng lại đó.

Vân Báo gọi vợ và hai con một trai, một gái ra chào Chu Đức Kiệt, và bảo làm rượu đãi khách.

Đức Kiệt hỏi :

- Chẳng hay Vân đại ca có nhận được tin tức ở lệnh huynh không?

- Nếu nhân huynh không nhắc thì tôi quên khuấy đi mất. Cách đây hơn một tháng tôi có nhận được thơ của gia huynh gởi lời hỏi thăm nhị vị Chu hiệp. Để tôi lấy nhân huynh coi. Vân Báo vào nhà trong giây lát trở ra đưa lá thơ nhận được từ Bình Dương huyện bên Sơn Đông cho họ Chu. Ngoài câu chuyện gia đình, giáo đầu Vân Bưu nhắn Vân Báo nếu gặp anh em Chu gia thì thay mặt hỏi thăm.

Vân Báo nói :

- Chừng nào nhân huynh về Sơn Đông?

- Hoặc cuối năm nay hay sang Xuân chưa nhất quyết. Hiện tôi có một việc nhờ nhân huynh giúp.

- Rất vui lòng, chỉ e không làm nổi.

- Dễ dàng thôi. Trước khi tới Bảo phiêu cuộc, bất chợt tôi gặp một thiếu phụ làm quen tự xưng là Tôn Trại Nhi, bào muội Tôn Hoàn trong Vương phủ Kim Lăng. Trại Nhi lân la hỏi địa chỉ của tôi nên tôi mạo danh là Vân Bưu, bằng hữu của nhân huynh ngụ tại đây. Trong trường hợp Trại Nhi tới hỏi hoặc sai người hỏi, nhân huynh liệu lời và báo bên Cao gia trang cho tôi hay, được không?

Vân Báo vui vẻ :

- Tưởng chuyện khó khăn chớ việc đó thì được. Nếu đi vắng, tôi sẽ dặn người nhà. Hình dáng Trại Nhi thế nào?

- Thiếu phụ kiều diễm khiến ai cũng phải chú ý.

- Nhân huynh đây chú ý chắc vì công việc, đâu vì sắc?

- Đại ca đoán trúng. Nghe đồn Bạch Liên giáo có một nữ lãnh tụ đắc lực. Thiếu phụ nhận là bào muội Tôn Hoàn, nên tôi ngờ có điều bí ẩn chi đó.

Vân Báo nói :

- Hình như Thuận Vương toan tính việc chi ghê lắm, phải không? Binh đội đồn trú nhiều hơn trước gấp bội. Nhờ vậy việc thương mại bỗng rút lên một mức khá cao. Vì hiểu tình hình hơn, tôi thấy thế làm lo. Lỡ xảy ra chuyện gì toàn dân Kim Lăng bị ảnh hưởng tai hại chẳng nhỏ.

Đức Kiệt suy nghĩ giây lát :

- Đồng ý với đại ca nhưng không hiểu rõ nên không dám quả quyết.

Hai người chuyện văn, cơm rượu xong xuôi sang đầu giờ Thân, Chu Đức Kiệt mới thuê kiệu về Cao gia trang! Về tới nhà, Đức Kiệt thuật chuyện cho Lam Y nữ hiệp và Âu Dương Bích Nữ nghe, Lam Y nói :

- Còn ngờ vực chi nữa! Chắc thiếu phụ đa tình ấy là Đường Trại Nhi, lãnh tụ nổi danh dâm đãng của giáo giới Bạch Liên. Tôn Hoàn há không phải là môn đồ của Bạch Liên, đó ư. Việc này can hệ lắm nên báo cho Mã nguyên soái biết để tùy cơ phòng bị nữ lãnh tụ họ Đường hiện diện trong Vương phủ tất phải có chuyện bất thường rồi!

Dứt lời, nàng ranh mãnh bảo Âu Dương Bích Nữ :

- Hiền tẩu coi, Chu huynh mới đi một mình bữa nay mà đã có người đẹp mê luyến tán tỉnh rồi đó, hiền tẩu phải hiểu tâm kẻo "mất", ha!

Nói đoạn, nàng nhìn lại hai người cười như nắc nẻ. Âu Dương Bích Nữ đỏ mặt cười theo :

- Chà! Cô nào dám phạm tới Chu huynh kể cũng gan dạ thiệt đó!

Chu Đức Kiệt vui lây :

- Như ngu huynh được việc lắm, chớ nhị vị hiền muội còn trách nổi gì!

Lam Y đem chuyện Hoa cô nương Đới Ngọc Hoàn mê luyến Đức Kiệt hồi hai người qua Sơn Phu hắc điếm kể lại cho Âu Dương Bích Nữ nghe. Đức Kiệt trách nhẹ Lam Y :

- Hiền muội khéo nhắc chuyện xưa, nếu vậy còn nhiều vụ nữa khá nhớ lại kể nốt đi! Ngu huynh lên đại sảnh gặp Nguyên soái đây.

Nói đoạn, chàng kín đáo nhìn Âu Dương Bích Nữ, xốc áo ra khỏi phòng.

Đêm hôm ấy, vào quãng ngót canh ba, Lam Y và Âu Dương Bích Nữ ở chung căn phòng kế bên phòng Chu Đức Kiệt có cửa thông sang nhau, ba người vừa luyện thần nhập định xong lên giường toan đi nằm thì chợt không ai bảo ai mà cùng giật mình nhỏm cả dậy. Lam Y, Âu Dương Bích Nữ vội xỏ giày mặc áo ngoài với tay lấy bảo kiếm trên đầu giường rảo bước sang phòng bên, thì gặp ngay Chu Đức Kiệt cầm Thất Tinh đao đi ập tới. Đức Kiệt chỉ tay lên nóc nhà hất hàm có ý hỏi.

Lam Y gật đầu :

- Có tiếng chân phi hành thoáng qua mái này. Ra lối cửa, mau. Kẻ nào đó chạy lẹ lắm!

Âu Dương Bích Nữ tiện tay tắt phụt ngọn đèn dầu, rồi theo hai người băng qua hành lang ra sân phi thân lên nóc nhà. Tam hiệp cùng nằm ép xuống mái định thần nhìn quanh. Âu Dương Bích Nữ vỗ vai anh em Chu gia, chỉ về phía Tây.

Ba cặp mắt long lanh sáng ngời như điện quang cùng nhìn về một phía. Quả nhiên, một dạ hành khách đang chuyền từ mái nọ sang mái kia. Cách chỗ Tam hiệp chừng bảy, tám mái nhà như có ý tìm kiếm gì vì dạ hành khách lúc chạy, lúc dừng hẳn lại, bất thường. Đức Kiệt vẫy tay ra hiệu, tức thì Tam hiệp cùng trỗi dậy, chạy hàng một đuổi theo.

Chỉ giây lát, Tam hiệp đã đuổi kịp. Dạ hành khách đang lom khom nhìn xuống mái toan phi thân sang mái bên, nhưng hình như linh tính báo nguy nên quay phắt người lại vừa kịp thấy Tam hiệp phóng tới êm ru. Dạ hành khách nhắm đầu Lam Y sả tới một nhát kiếm. Bình tĩnh, Lam Y hoa Thái Dương kiếm thành một làn kiếm quang sáng trắng, nhưng nàng đảo bộ nhảy luôn xuống dốc mái, khẽ quát :

- Hãy ngừng tay, Lan Anh!

Nhạc Lan Anh vội thâu kiếm, lùi lại mấy bước, đồng thời nhận ra Tam hiệp bèn vòng tay vái chào. Giữa khi ấy, chợt có hai bóng nữa từ phía Tây Nam chạy vùn vụt tới. Âu Dương Bích Nữ gọi khẽ :

- Nhị huynh!

Hai người mới tới đó chánh là Âu Dương Tòng Cát, Tòng Đức. Tòng Cát nói :

- Tưởng ai, hóa ra là người nhà cả! Vị này là ai?

Lam Y giới thiệu :

- Đây là Nhạc Lan Anh, tiểu thơ hay là Lan Anh Quận chúa trong Vương phủ Kim Lăng cũng vậy.

Âu Dương Bích Nữ tiếp lời :

- Còn đây là nhị vị gia huynh Âu Dương Tòng Cát và Tòng Đức.

Lan Anh thi lễ cùng anh em Âu Dương. Qua bong đêm mờ mờ, Tòng Đức nhận thấy Lan Anh vóc dáng nhỏ nhắn xinh đẹp bội phần. Quả vậy, nàng thấp hơn Âu Dương Bích Nữ hẳn một gang tay. Lan Anh nói :

- Vào trang trại này nguy hiểm quá! Mới chốc lát đã có năm người đuổi tới.

Lam Y phì cười :

- Ai bảo có cổng trang tử tế không vào, mà lại dung lối phi thiềm tẩu bích? Mời hiền muội xuống nhà.

Dứt lời, nàng nhảy xuống đất trước. Các người khác theo sau. Đức Kiệt nói :

- Về tụ tập ở phòng tôi cho tiện.

An tọa xong, Lam Y hỏi :

- Nhạc hiền muội đến bất thường thế này tất có việc quan trọng?

Lan Anh nói :

- Quả vậy, tiểu muội có điều muốn trình bày.

Mọi người im lặng chờ nghe. Nhạc Lan Anh đem việc vô tình dò thám được ở dinh Tôn Hoàn đêm qua, kể rành mạch cho năm người nghe. Chu Đức Kiệt mỉm cười, hất hàm nhìn Lam Y và Âu Dương Bích Nữ như có ý nhắc điều gì.

Lam Y nói :

- A, đúng là Đường Trại Nhi sáng nay.

Lan Anh không hiểu :

- Thơ thơ nói gì? Đường Trại Nhi sáng nay làm sao?

- Hiền muội cứ hỏi Chu huynh sẽ rõ. Sáng nay gia huynh gặp Đường Trại Nhi rồi.

Chu Đức Kiệt kể cho Lan Anh nghe việc gặp Đường Trại Nhi hồi sáng ở tửu lầu. Nhưng giấu nhẹm việc Trại Nhi mê luyến chàng. Âu Dương Bích Nữ bảo Lan Anh giọng gay gắt :

- Chu huynh chưa nói hết đâu. Sáng nay, Đường yêu nữ còn tỏ vẻ mê luyến hỏi địa chỉ và có ý muốn tái kiến Chu huynh nữa đó.

Chu Đức Kiệt nói lảng :

- Nữ yêu vào Vương phủ Kim Lăng với công tác đặc biệt ấy chắc thành công. Do đó, gia đình Thuận vương sẽ ở vào tình trạng bị cô lập trong Vương cung.

Lan Anh gật đầu :

- Hai Thế tử và tiểu muội cũng nghĩ vậy, nên đêm nay mới mạo muội tới đây tỏ bày tình hình nguy cấp ấy và yêu cầu tiếp tay.

Lam Y suy nghĩ giây lát :

- Chúng tôi rất sẵn lòng. Thuận Vương tự mua dây buộc vào mình thiệt đáng đời!

- Trong trường hợp có biến, tiểu muội nếu không đích thân đến đây được thì sẽ cho người cấp báo?

- Được, tiện làm sao vậy. Chúng tôi ở thường trực nơi đây.

Âu Dương Tòng Đức nói :

- Ra tới Cao gia trang có lẽ hơi xa. Chi bằng một vài người trong bọn chúng ta thiên vào ở tạm Hoa Viên tửu lầu, lúc cẩn cấp hành động mới có hiệu quả.

Tòng Cát hỏi :

- Tam hiệp vào ở Hoa Vương lầu không tiện, vậy ai vào đó được? Điều cần thiết nhất là phải biết lối vào Vương phủ.

Lam Y nói :

- Không khó. Người vào ở Hoa Vương lầu không còn ai hơn nhị vị Âu Dương huynh. Còn muốn biết đường vào Vương phủ thì ngay đêm nay, một trong hai đại huynh theo Nhạc hiền muội vào tận trong Vương cung là hơn cả...

Nàng nhìn qua Tòng Đức rồi nói tiếp :

- Tôi đề nghị hiền huynh Tòng Đức lãnh nhiệm vụ này. Có được không?

Tòng Đức kín đáo nhìn Lan Anh :

- Được lắm, rất vui lòng. Ta đi ngay kẻo trễ.

Chàng đứng dậy, đeo đao trên lưng.

Tam hiệp và Tòng Cát tiễn đưa Nhạc Lan Anh ra đến sân.

Lam Y nữ hiệp cầm tay Lan Anh dặn nhỏ :

- Hiền muội nhớ dẫn đường cho Âu Dương huynh, nhé!...

Nhờ bóng tối, không ai trông thấy cô gái họ Nhạc sắc diện đỏ bừng.

Lan Anh vái chào mọi người rồi thoăn thoắt theo Tòng Đức. Ra khỏi Cao gia trang, cặp thanh niên nam nữ phóng mình chạy vùn vụt về nội thành...

Tới một nơi cây cối um tùm bóng tối dầy đặc, Lan Anh ra hiệu chỉ lên mặt tường cao. Hai người băng mình qua hào rồi nhảy vút lên mặt tường chuyển vào nội phủ. Lan Anh ghé tai Tòng Đức nói nhỏ :

- Hiền huynh nhớ kỹ nhé. Chúng ta theo các rặng cây lớn này tuy đường vòng hơi xa hơn vượt nóc nhà, nhưng không nguy hiểm chỉ cần chú ý tới bọn tuần phòng thôi.

Hương thơm mùi trầm ở làn tóc mây nàng bốc ra ngào ngạt. Tòng Đức dễ chịu :

- Tiểu thơ nên tin ở khiếu nhớ lâu của tôi.

Hai người tiếp tục chạy lướt trên mặt cỏ, tiến lẹ làng không một tiếng động nhỏ.

Vòng vèo hồi lâu vào tới ngọn giả sơn cao lớn, Lan Anh ngừng bước.

- Tam hiệp đã vào lối đây mấy lần và chờ tiểu muội ở sau giả sơn này. Mái lầu cong ở phía xa kia là tư phòng của tiểu muội.

Tòng Đức ngước nhìn theo tay nàng chỉ nhận xét kỹ càng.

- Bây giờ tôi trở về chớ?

- Không, hiền huynh theo tiểu muội vào phòng lấy họa đồ có ghi những chỗ căng dây báo động theo kế hoạch phòng bị dạ hành khách của Tôn Hoàn.

Nàng rảo bước đi trước. Không bao lâu đến chân lầu cao. Lan Anh ra hiệu cùng Tòng Đức phi thân lên mái ngói vượt qua hành lang. Nàng đi thẳng tới cửa chánh, gõ nhẹ. Cánh cửa từ từ mở ra. Lan Anh lách mình vào trước, đoạn giơ tay mời bạn đồng hành. Vương nhũ mẫu đứng nép bên cửa giật mình.

Lan Anh biết ý nói ngay :

- Đây là người nhà của Tam hiệp, nhũ mẫu chớ ngại.

Tòng Đức mỉm cười khẽ gật đầu chào người lão bộc trung thành của họ Nhạc. Vương nhũ mẫu đóng cửa lại, đoạn khêu bấc dầu cho sang thêm chút ít. Lan Anh mời Tòng Đức ngồi, rồi mở ngăn án thơ lấy bức họa đồ do nàng phác họa lại trải ra mặt án, chỉ dẫn cho Tòng Đức biết các điểm ghi son đỏ là những lối có đặt Thiên La Võng trên các mái Vương cung. Nàng dịu dàng hỏi :

- Hiền huynh nhớ đường về không?

- Nhớ rồi. Có lẽ mai chưa cần tới, nhưng từ ngày mốt, tôi sẽ vào Hoa Vương lầu và ngụ ở lầu thượng sẵn sàng chờ lệnh của tiểu thơ.

Lan Anh hơi đỏ mặt, ngước mắt nhìn chàng thanh niên dũng cảm, tỏ ý biết ơn. Trong ánh đèn mờ ảo của căn phòng trang nhã, Tòng Đức cảm thấy Lan Anh kiều diễm bội phần.

- Tiểu thơ dùng thuật phi hành khá cao, cớ sao hồi nãy tại Cao gia trang lại lỡ chân thành tiếng động vậy?

Nàng mỉm cười :

- Như vậy tức là kém. Tiểu muội sơ ý hai lần dẫm phải ngói long. Hiền huynh nghe thấy thế nào?

- Tôi đọc sách vừa tắt đèn đi nằm, chợt nghe sột nhẹ một tiếng, nên nghi ngờ cùng gia huynh lên mái xem, biết đâu lại gặp dạ hành thiệt.

Lan Anh duyên dáng :

- May quá, vào trúng nhà quen, nếu không thì đêm nay vị tắt đã về nổi nhà.

Tòng Đức muốn hỏi thêm nữa nhưng e bất tiện, vả lại đã quá canh tư rồi, đủ thì giờ trở gót, bèn khiếu từ. Lan Anh tiễn chàng ra tới hành lang. Hai người khẽ nghiêng mình chào nhau. Tòng Đức nhẹ nhàng như én liệng đáp mình xuống Hoa Viên rồi thoăn thoắt hòa người vào bóng tối. Lan Anh đăm chiêu nhìn theo, tần ngần hồi lâu mới lững thững về đi nghỉ.

Làn sương lam huyền ảo phủ nhẹ lên muôn vật, xa xa tiếng vạc rời rạc vọng chốn không trung...

° ° °

Trong khách sảnh rộng rãi, dinh Tôn quân sư đèn nến sáng choang. Giữa sảnh bày tám thồi cá nhân theo hình chữ "Khẩu". Ở phòng bên, Ngũ Hổ tướng và Tiên Phong Điêu Thiên Phượng bào phục sang trọng, mỗi người một màu áo ngồi dựa mình nhàn nhã trong những chiếc kỷ chân quỳ chạm trổ, đệm gấm thêu bông muôn màu tuyệt đẹp.

Tôn Hoàn ngồi trên trường kỷ nâng ly mời quý khách dùng trà thơm ngát, quân hầu vừa nâng lên, Nguyên soái Hoàng Bách Thắng cất tiếng vang tựa chuông đồng :

- Bữa nay Tôn quân sư nhân dịp gì vui mừng, mà phá lệ bao năm nay cấm, phòng họp anh em đông đủ như vậy?

Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng đặt ly xuống án :

- Quân sư vui vẻ thế này ắt phải có lý do đặc biệt!

Tôn Hoàn mỉm cười điềm đạm :

- Đây là bữa tiệc vui họp anh em để trình diện một bạn đồng đạo của tôi.

Hoàng Bách Thắng ngạc nhiên :

- Vị nào vậy? Đến Kim Lăng hồi nào mà không thấy Quân sư nói cho hay?

Tôn Hoàn đáp :

- Mới tới thôi, tới thăm riêng chớ không có tư cách đầu bôn nên lẽ nào phô trương? Trước khi giới thiệu bạn đồng đạo, tôi yêu cầu quý vị một điều.

Sáu tướng nhìn nhau không hiểu. Hoàng Bách Thắng hỏi :

- Điều chi bí mật vậy? Xin Quân sư cứ dạy?

Tôn Hoàn chậm rãi :

- Không có điều chi bí mật đâu. Nhưng quý vị là Hổ tướng, vị nào cũng oai hung dữ dội, người lạ trông thấy phải khiếp đởm. Người đồng đạo với tôi đây không phải ai xa lạ, mà chính là sư muội họ Đường tên Trại Nhi từ Hồ Nam tới đây. Phụ nữ vốn tánh hay e thẹn rụt rè, e quý vị vốn sẵn tánh tướng quân không được... nhẹ nhàng khiến nàng sợ hãi. Có thế thôi.

Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo cười ha hả :

- Tưởng chuyện chi khó khăn chớ Hổ tướng có dữ thời chỉ dữ giữa chốn ba quân trên trường chinh chiến, chẳng lẽ dữ trước một thinh sắc dịu dàng sao?

Điêu Thiên Phượng mỉm cười :

- Dịu dàng chẳng biết đâu, nhưng có nghe Hầu đại ca cười nếu tôi là gái thì chắc chắn ngất lịm từ lâu rồi!

Các tướng vỗ tay cười ầm!

Trong khi sáu tướng mãi chuyện trò bàn tán ầm ĩ, thì Đường Trại Nhi kín đáo đứng sau rèm nhận xét từng người một.

Mỗi người một vẻ dữ dội, sức khỏe tiềm tàng. Đã đành cả sáu tướng này không một ai bén gót tráng sĩ mỹ mạo kiêu hùng gặp sang qua tại Hoa Vương tửu lầu, nhưng trong thế gian này mấy ai được như vị Hảo Tráng Sĩ ấy?

Nghĩ tới đây, nàng bỗng cảm thấy con tim hồi hộp, mắt phượng lim dim, cặp môi mọng đỏ như đón chờ.

Sau tuần trà, Tôn Hoàn sai a hoàn vào mời nàng ra. Đưa bàn tay như tháp bút trắng nuột như ngà. Trại Nhi vén nhẹ mấy sợi tóc mai lòa xòa trên má ửng hồng, đoạn uyển chuyển qua bức rèm bông do hai thị nữ kính cẩn vén rộng. Xiêm y toàn bằng thứ lụa mỏng Cẩm Châu màu hường thêu bông ngân tuyến dán chặt vào người nổi bật những đường cong tuyệt mỹ.

Sáu tướng đờ người ra nhìn, cơ hồ quên cả người đẹp vừa cúi đầu chào.

Tôn Hoàn khó chịu, cố giữ vẻ tươi cười :

- Đường sư muội chào chư vị Hổ tướng.

Sáu người cùng đứng bật lên đáp lễ. Tôn Hoàn chỉ vào Hoàng Bách Thắng giới thiệu với Trại Nhi :

- Đây là Hoàng nguyên soái biệt hiệu Vô Địch tướng quân.

Bốn mắt nhìn nhau. Đã có định ý, Trại Nhi nhân dịp ấy lờ đờ tống tình khiến họ Hoàng đờ đẫn như kẻ mất hồn. Lần lượt họ Tôn giới thiệu hết loạt. Đối với mỗi người một khác, Trại Nhi mánh lới sử dụng cặp mắt huyền khiến tướng nào cũng có cảm tưởng là mình được nàng chú ý hơn cả. Khép nép ngồi xuống trường kỷ kế bên Tôn Hoàn, Trại Nhi liệu lời đối đáp chuyện trò cùng mọi người.

Tới lúc quân hầu tới mời quan khách sang đại sảnh nhập tiệc thì câu chuyện giữa nàng và các tướng đã có phần thân mật hơn trước.

Trại Nhi khôn khéo rót đầy ly Tôn Hoàn trước, kế tới Hoàng Bách Thắng. Nàng cố ý rót rượu thêm thong thả, đồng thời đưa mắt cặp mắt cực kỳ khả ái nhìn họ Hoàng, miệng chúm chím cười duyên. Đã có chủ tâm, Hoàng Bách Thắng uống rượu cầm chừng. Trại Nhi biết ý, đến thồi họ Hoàng rót rượu. Nhân dịp mọi người say ngất ngưởng, Bách Thắng hỏi nhỏ :

- Hình như Nương tử có điều chi không vui?

Trại Nhi cầm hồ rượu rót tư từ, nét mặt u buồn, liếc trộm Tôn Hoàn, lắc đầu khẽ thở dài.

- Chừng nào tôi được tái kiến Nương tử?

Liếc trộm Tôn Hoàn lần nữa, Trại Nhi nói nhỏ :

- Thiếp khổ lắm!... Sáng mai cuối Thìn, chờ thiếp Đông môn thành.

Tôn Hoàn say quá gục trên thành kỷ. Đường Trại Nhi vội gọi gia nhân giúp nàng vực họ Tôn lên lầu. Trước khi rời khỏi đại sảnh, Trại Nhi tình tứ nói :

- Chư vị tướng quân say cả rồi, yêu cầu Nguyên soái phụ trách việc vực các tướng lên kiệu về dinh... giúp thiếp nhé? Tôn sư huynh quá chén, thiếp cần săn sóc.

° ° °

Vận thường phục, Hoàng Bách Thắng đứng chờ trước giờ hẹn ở Đông môn. Lát sau, Đường Trại Nhi bỏ kiệu cách đó một khu phố, lững thững đi tới. Nàng nhận ngay ra họ Hoàng, đưa mắt ý tứ nhìn rồi rẽ vào một tửu quán vắng vẻ lên thẳng thượng lầu. Bách Thắng vào theo. Hai người chọn thực phòng riêng ngồi, gọi tửu bảo lấy mấy món thực vật thông lệ rồi bảo :

- Ta cần nói chuyện riêng, không được làm nhộn, nghe.

Bách Thắng hỏi :

- Nương tử tới Kim Lăng có việc chi mà coi vẻ âu sầu?

Nàng ngước mắt nhìn họ Hoàng, đoạn chớp mắt mấy cái rơm rớm lệ, im lặng nhìn xuống.

Bách Thắng nhích ghế lại gần :

- Nương tử có thể tin ở tôi, thổ lộ cùng, tôi sẽ tận lực giúp.

Trại Nhi thở dài :

- Nói ra còn e ngại, thiếp đâu dám mong Nguyên soái...

Bách Thắng vội ngắt lời :

- Dù nơi vắng vẻ nhưng cũng e tai vách mạch rừng, Nương tử nên thế danh từ ấy bằng hai tiếng Hoàng huynh có phần tiện hơn.

Trại Nhi thở dài não nuột :

- Hoàng huynh thừa biết thiếp thuộc giáo đạo nào rồi chớ gì?

Bách Thắng gật đầu :

- Đã đành! Nhưng có hề chi?

- Nếu chỉ ở trong tình thế hiện tại không hề chi thật. Nói ra mới là cả một sự khó khăn, vì vậy thiếp mới lo sầu.

- Tôi cam chắc và hứa không bao giờ lộ chuyện. Dù thế nào cũng sẽ tận tâm giúp.

Lờ đờ nhìn thẳng vào đôi mắt ham muốn của họ Hoàng, Trại Nhi nói :

- Hoàng huynh mà giải quyết được nỗi khổ của thiếp thì dù có phải đem tấm thân bèo bọt này báo đền thiếp quyết chẳng từ nan.

Hoàng Bách Thắng bủn rủn cả toàn thân :

- Nương tử nói lẹ lên, tôi nóng ruột muốn giúp cho xong ngay tức khắc.

Trại Nhi lắc đầu :

- Không dễ dàng như Hoàng huynh tưởng đâu! Họa chăng Hoàng huynh có nắm trọn quyền binh lực Kim Lăng!Bách Thắng vội đáp qua hơi thở :

- Trời ơi! Ngoài tôi ra, còn ai điều khiển tướng binh lực Kim Lăng nữa!

- Điều khiển theo mạng lệnh của Vương gia chớ gì?

- Tôi muốn là được, không là không, quân đội chịu mạng lệnh và theo tôi, hiện thời Thuận Vương đối với ba quân không ảnh hưởng được như tôi.

- Thiếp tạm lời tin Hoàng huynh. Câu chuyện sắp kể ra đây là cốt ý nhờ Hoàng huynh giải quyết giùm tình trạng cận nan của riêng thiếp không hơn không kém. Nếu Hoàng huynh hành động được thì thiếp quyết xin làm nô lệ chịu sự sai khiến của Hoàng huynh suốt đời.

- Nương tử quá nặng lời khiến tôi áy náy vô cùng. Dù phải huy động cả đạo quân Kim Lăng để vừa lòng Nương tử tôi cũng chẳng từ nan.

Đường Trại Nhi mừng thầm nhích lại gần Bách Thắng.

Mùi trầm hương từ người nàng bốc ra ngào ngạt khiến họ Hoàng mê mẩn cả tâm thần những muốn bế trọn người đẹp trong tay hưởng mộng vu đài.

Trại Nhi chậm rãi :

- Thiếp chịu ơn lớn của Bạch Liên giáo chủ. Mồ côi từ tấm bé, thiếp được Người nuôi dạy nên người và mới có ngày nay. Bởi vậy tin cẩn thiếp coi như con, trao cho thiếp nhiệm vụ hiện thời rất nặng nề...

Hoàng Bách Thắng thúc giục :

- Nương tử nói tiếp đi.

- Số là Giáo chủ được Tôn sư huynh cho biết việc Kim Lăng muốn khởi binh, nhưng sau đó thấy Kim Lăng bất động, nên người ngỡ rằng Thuận Vương không đủ can đảm hành động, mới phái thiếp đến đây liên lạc yêu cầu cùng Tôn sư huynh liệu lời thúc giục Thuận Vương khởi chiến, Bạch Liên giáo sẽ hưởng ứng mở rộng thanh thế. Tới Vương phủ thiếp mới biết rằng sư huynh hữu danh vô thực, không quyền hành. Khi nhận lời từ Bình Hương huyện ra đi thiếp tin chắc ở địa vị Tôn sư huynh, nên trót hứa với Giáo chủ là sẽ cố gắng thành công. Chẳng dè Thuận Vương án binh bất động mà sư huynh thì không đủ quyền lực, cho nên thiếp tự coi như đã hoàn toàn thất bại với nhiệm vụ.

Trại Nhi không cần giấu diếm nói thẳng nhiệm vụ của mình cho Hoàng Bách Thắng nghe, nét mặt hết sức thật thà. Bách Thắng nhìn thẳng vào mặt nàng cố ý nhận xét và tin ngay, thấy Trại Nhi quả là một người đáng được thương mến chiều chuộng.

- Nương tử trách oan Tôn quân sư. Y có bổn phận thảo luận kế hoạch trình lên Thuận Vương, Thuận Vương sẽ bàn định cùng tôi để hành động. Theo đúng lề lối thì như vậy. Nhưng tình hình có thể khác được nếu tôi muốn!...

Trại Nhi vờ vĩnh :

- Hoàng huynh dạy thế nào tôi không hiểu.

- Như vậy nghĩa là quyền hành vẫn ở tôi là người đứng đầu điều khiển tam quân. Nương tử suy luận ra chưa?

Trại Nhi khẽ gật đầu chờ họ Hoàng nói tiếp.

- Trong tình thế hiện tại, người hữu danh vô thực chính là Thuận Vương. Vừa rồi Nương tử nói Thuận Vương án binh bất động quả rất đúng. Tôi thừa hiểu Vương gia e ngại nghe lời kẻ nào sàm xúi, không tin vào lực lượng của Kim Lăng, hay nói trắng ra là một phần không tin ở tôi có đủ tài sức chiến thắng hay không! Lòng tự ái của tôi bị tổn thương rất nhiều vì kẻ chủ chiến là chính tôi, kế tới lệnh sư huynh. Tôn quân sư chỉ khác tôi ở một điểm, tôi chủ chiến thì khởi chiến được không cần tới Thuận Vương, trái lại, Tôn Hoàn có chủ chiến còn phải do ở sự định đoạt của tôi.

Trại Nhi mừng thầm đã gãi đúng chỗ ngứa :

- Nhưng còn vấn đề tài chánh nuôi ba quân, Thuận Vương vẫn là người chủ quyền xuất phát.

- Lề lối chánh thức quả có như vậy. Tiền bạc để cả trong kho, một khi tôi vượt quyền Thuận Vương dĩ nhiên phải chiếm đoạt toàn thể Vương phủ, công khố cũng như tư khố sẽ do một tay tôi sử dụng. Giam lỏng gia đình Thuận Vương trong Vương phủ cũng không khó khăn, trừ phi vị Vương gia ấy biết đằng vân giá võ hay độn thổ mới hòng thoát thân. Còn ai đến cứu Thuận Vương? Chẳng lẽ quân triều đình.

Nói tới đây Hoàng Bách Thắng mỉm cười đắc chí, đăm đăm nhìn người đẹp kế bên. Đường Trại Nhi mừng thầm thúc đẩy mạnh :

- Hoàng huynh quên hai Thế tử và Quận chúa, nghe nói ba người ấy bản lãnh tuyệt luân.

Bách Thắng lắc đầu cười gằn :

- Đồn đại! Không đáng kể. Chúng theo tôi toàn gia được sống, nghịch lệnh sẽ nát thây. Tôi đang ngờ rằng chính vì ba đứa ấy Thuận Vương không dám cả quyết hưng binh. Riêng phần tôi nhất định chiến.

Trại Nhi ngước mắt huyền say đắm nhìn họ Hoàng, thỏ thẻ :

- Thiếp không ngờ được gặp cứu tinh. Trong dạ tiệc hôm qua, nhác nhìn thiếp cảm thấy ngay Hoàng huynh là nhân vật dũng cảm, anh hùng cái thế.

Bách Thắng dịu dàng :

- Những lời hứa hồi nãy, liệu Nương tử một khi toại ý rồi, có quên không?

Trại Nhi e thẹn đáng yêu :

- Thần thiếp như hạt mưa sa, được nấp bóng anh hùng là ý sở cầu, lẽ nào quên lãng được!

Hoàng Bách Thắng sung sướng, toàn thân rạo rực khó chịu, cầm nhẹ lấy bàn tay thon thon trắng nuột như ngà của người đẹp :

- Được Nương tử kề bên, dù phải phá tan thành quách dẹp lối tiến quân, tôi cũng chẳng ngần ngại, Nương tử?...

Trại Nhi khẽ rút tay ra, e thẹn :

- Thiếp cũng xin thề, trên trường chinh chiến muôn dặm xông pha, chàng đâu thiếp đó sớm tối hầu hạ phủi bụi chỉnh y.

Hoàng Bách Thắng đưa tay quàng đôi vai đầy đặn của người đẹp, khẽ gọi :

- Ái Khanh! Ta mến nàng biết nhường nào!

Đường Trại Nhi nhắm mắt ngả đầu vào vai họ Hoàng, mùi thơm kỳ lạ từ làn da, mái tóc nàng bốc lên khiến viên Hổ tướng si mê ngây ngất. Bách Thắng đưa tay xa hơn nữa...

Đường Trại Nhi nhẹ nhàng gỡ ra, ngồi thẳng dậy cất lời êm dịu nhưng chẳng kém nghiêm nghị :

- Hoàng lang! Chàng là anh hùng quân tử, thiếp phận gái phòng khuê, xin đừng thấy phải dấn thân tới đây mà đã vội vàng khinh miệt coi thiếp như kẻ bán phấn buôn hương, khổ cho thiếp biết nhường nào! Tình đôi ta còn dài, ngày mà Hoàng lang giữ lời hứa hẹn cũng sẽ là bữa thiếp chẳng phụ khách anh hùng ngay nơi hổ trướng thay thế phòng khuê. Ngày xuân của thiếp tuy đã mỏi mòn vì giáo đạo, nhưng nếp lòng trinh nữ vẫn nguyên vẹn thuở má đào! Hoàng lang hỡi, chàng thật tình, thương thiếp nhé?

Bị cự tuyệt thể chất, Hoàng Bách Thắng không giận, trái lại còn say mê hơn trước :

- Được, nàng có thể trông cậy ở lời ta trong một ngày rất gần đây thôi.

Đường Trại Nhi âu yếm :

- Thiếp tin ở lời Hoàng lang ngày đêm trông chờ. Giờ đây xin chia tay mong ngày được quỳ gối nâng vạt chiến bào hầu khách anh hùng thượng mã.

Hoàng Bách Thắng gật đầu :

- Ái khanh ra về trước.

Đường Trại Nhi đưa mắt liếc họ Hoàng thay lời tạm biệt thoăn thoắt ra khỏi tửu quán thuê kiệu về Vương phủ. Hoàng Bách Thắng đứng đờ ra như pho thạch tượng hồi lâu mới gọi bảo dọn tiệc khác, độc ấm. Chàng đang tính hành động cho vừa lòng người đẹp Bình Hương, hoàn toàn không ngờ đang nhấn mình vào con đường đầy chông gai nguy hiểm.

Nói về hai Thế tử và Lan Anh. Ba người y hẹn, đêm hôm Tôn Hoàn bầy tiệc mời sáu người tướng Ngũ Hổ và Tiên Phong, đang nịt võ trang gọn ghẽ phi hành tới nóc dinh Quân sư.

Ba anh em nằm dán mình trên nóc dinh nghe ngóng, nhận xét thấy trên lầu vắng tanh không một bóng người. Chu Trấn Quốc bèn ra hiệu bảo hai anh em đoạn tự kỷ lẩn xuống hành lang vào phòng Tôn Hoàn, cố tìm ra bức thơ của Giáo chủ Bạch Liên.

Thấy mấy cuốn sách đặt trên án thơ bên bộ nghiên bút, không do dự, Trấn Quốc bước tới mở từng cuốn ra tìm kiếm.

Mở quá nửa cuốn, chợt một phong thơ rớt ra mặt án.

Quả nhiên, đó là phong thơ của Giáo chủ Cố Duy Thanh gởi cho Tôn Hoàn. Trấn Quốc đã toan lấy phong thơ đem về cho Vương phụ xem, song lại e Tôn Hoàn thấy mất thơ, nghi ngờ hành động khác đi, càng thêm khó theo dõi. Trả bức thơ lại trong sách như cũ, Trấn Quốc ra khỏi căn phòng, nhìn trước nhìn sau, chuyền lên mái vẫy tay gọi Bảo Quốc và Lan Anh về hậu cung. Tháo đoản đeo lên án thơ, Trấn Quốc ngồi phịch xuống kỷ lớn thở dài bảo hai anh em :

- Không còn nghi ngờ gì nữa, Cố Duy Thanh phái Đường Trại Nhi tới Kim Lăng lung lạc các tướng khởi loạn để Bạch Liên giáo có đường bành trướng giáo đạo.

Chu Bảo Quốc nói :

- Hiền huynh tin chắc Đường Trại Nhi thành công không?

- Chưa trông thấy họ Đường thì còn nghi ngờ, chớ thấy nó rồi, ngu huynh tin chắc yêu nữ thành công. Nội phản tới nơi rồi!

Lan Anh nói :

- Trưởng huynh tính sao bây giờ?

Trấn Quốc đáp :

- Báo ngay cho Phụ vương biết đêm nay.

Ba người đồng ý, đi vòng vèo qua nhiều dãy hành lang sang điện riêng nơi Thuận Vương thường ngự. Ánh đèn trong phòng Thuận Vương le lói rọi qua khe dưới cửa. Trấn Quốc gõ nhẹ lên cánh cửa chạm trổ. Tiếng Thuận Vương vọng ra :

- Ai đó?

- Phụ vương, Trấn Quốc xin hội kiến.

Thuận Vương rút then mở khóa cửa. Anh em Trấn Quốc vào phòng, cung bái, đèn còn thắp sáng choang. Thuận Vương đứng sững ngạc nhiên :

- Các con đi đâu giờ này mà vận dạ hành phục và võ trang thế kia? Ngồi đây.

Trấn Quốc nói :

- Chúng con khinh động vì có việc cơ mật cần trình bày cùng Phụ vương.

- Cha nghe.

Trấn Quốc đem việc hai lần do thám bên dinh Tôn Hoàn thuật lại rõ ràng. Thuận Vương tái mặt, thần người nghĩ ngợi hồi lâu :

- Chiều nay, cha mới nhận được thơ của Trần thái sư do phi kỵ quân đem về Kim Lăng. Vụ Lôi Xích, Thường Phi lên Yên Kinh hỏng rồi. Thái sư báo hai đầu đà mất tích ngay từ đêm nhập Hoàng thành.

Trấn Quốc hỏi :

- Thiên tử vẫn bình an vô sự?

- Vô sự! Sáng hôm sau ngự triều bình tĩnh như thường.

- Thái sư còn nói gì khác nữa không?

- Họ Trần khuyên cha nên án binh chờ dịp khác thuận tiện hơn và khuyên cha nên theo chiếu chỉ lai Kinh cho Thiên tử khỏi nghi ngờ. Thơ vắn tắt có thế thôi.

- Phụ vương tính sao?

- Theo lời Thái sư là người ở ngay Yên Kinh tất hiểu tình hình hơn ta.

- Thế còn các binh đội đã triệu tập về cả Kim Lăng?

- Trước khi lên đường, cha giải tán họ về các vị trí cũ như xưa.

Trấn Quốc im lặng suy nghĩ, Bảo Quốc nói :

- Giải tán binh đội lẹ làng cũng mất năm, bảy ngày. Trong thời gian đó, có thể sanh biến rồi, e Phụ vương đi không nổi.

Uất ức, Thuận Vương vùng đứng dậy đi bách bộ quanh phòng :

- Hừ! Ta không ngờ nuôi ong tay áo! Hậu đãi chúng nhường ấy...

Bảo Quốc nói :

- Chư tướng đầu bôn Kim Lăng vì chức tước, tiền lắm, bạc nhiều, nay manh tâm phản bội vì sắc đẹp tiền tài cũng không có điều chi lạ!

Thuận Vương suy nghĩ hồi lâu :

- Vào dinh Tôn Hoàn dễ dàng như vậy, thì ám sát Đường Trại Nhi chắc không khó khăn? Hạ hay bắt yêu nữ ấy đem đi, có lẽ dập tắt được mọi sự nguy hiểm?

Lan Anh cất lời thưa :

- Hạ sát Trại Nhi vô ích, Hoàng Bách Thắng và Tôn Hoàn cũng như chư tướng chủ chiến, nếu Phụ vương án binh, bọn Hoàng, Tôn cũng sẽ tự ý khởi binh. Con thiết nghĩ nàng có lợi cho Phụ vương hơn là có hại trong tình trạng Phụ vương về Yên Kinh.

Thuận Vương kinh ngạc :

- Cha không hiểu Lan Anh định nói gì?

- Chư tướng vì Trại Nhi sanh phản, Phụ vương có thể vịn vào cớ ấy đối đáp với Thiên tử rằng chúng ngầm theo Bạch Liên giáo thừa dịp Phụ vương lai Kinh nên gây phản. Hiện thời, bọn Bạch Liên đang lan tràn nhiều nơi trong lãnh thổ Giang Nam, vậy việc chư tướng vì ham mê Trại Nhi khởi biến là chuyện bất thường có thể xảy ra bất cứ ở nơi nào. Nhà vua không thể vì vậy bắt tội Phụ vương được.

Thuận Vương gật đầu :

- Khá khen con mưu trí lắm!

Từ nãy, Trấn Quốc im lặng nghe và nghĩ ngợi, chàng nói :

- Lan Anh hiền muội bàn chí phải. Việc cần cấp hiện tại là Phụ vương và Vương mẫu phải kíp kíp lai Kinh, và bí mật ra khỏi Kim Lăng. Nếu bọn Hoàng, Tôn biết, tất chúng phát binh truy nã ngay. Vậy ai ở lại trấn giữ Vương cung, ai sẽ theo bảo vệ Phụ vương và Vương mẫu?

Thuận Vương nói :

- Gia đình nhà ta vỏn vẹn có năm người, thêm Vương nhũ mẫu và vợ con thúc thúc Vĩnh Bình mới từ Hoàng Châu về ít lâu nay. Ta đi cả, chớ ở lại chống giữ nơi đây có ích lợi chi?

Trấn Quốc đáp :

- Ít nhất phải có một người ở lại mới mong giữ kín được vài ba ngày. Nếu đi cả, bọn Hoàng, Tôn sanh nghi đột nhập Vương cung, do đó sẽ có truy binh. Con tình nguyện ở lại thi hành phận sự đó. Con trình bày chương trình rút lui ra khỏi Vương cung như thế này: Nhân vì gia đình thúc thúc Vĩnh Bình có mặt tại đây, ta có thể sửa soạn cho đi một cách đàng hoàng nói là mọi người về Bắc. Vương mẫu và nhũ mẫu Ý Lan giả đò đi dâng hương, cho các a hoàn thân tín đi theo có thể dùng thêm một xe khác, vượt ra lối Bắc môn chờ nhập với đoàn xe kia. Phần Phụ vương vận thường phục, trá hình ra khỏi Vương cung bằng lối sau. Con sẽ để ngựa chờ sẵn ở ngoài. Phụ vương ra Bắc môn phóng ngựa đuổi theo đoàn xe. Dù sao các xe khi ra khỏi thành độ mười lăm dặm cũng dừng lại chờ. Hiền đệ Bảo Quốc, hiền muội Lan Anh theo bảo vệ gia đình. Đây là kế thứ nhất trong trường hợp Phụ vương muốn đi sớm.

Thuận vương nói :

- Nhựt kỳ còn dài không cần phải đi gấp, cha e sửa soạn không kịp.

Trấn Quốc nói :

- Nếu vậy, ngày mai, Phụ vương liệu bề triệu tập Hoàng Bách Thắng, Tôn Hoàn tuyên bố ý định chủ chiến, bàn bạc kế hoạch xuất quân để đoán ý mưu phản của chúng, một mặt trong nội cung, con sửa soạn cho toàn thể gia đình đi trước, có Bảo Quốc ngầm theo hộ vệ. Phần Phụ vương, Lan Anh hiền muội và con sẽ đi sau.

- Như thế được vì Tôn Hoàn chỉ sanh biến khi nào cha nhất quyết chủ hòa, nhưng việc cho gia đình khởi hành trước vẫn phải hoàn toàn bí mật kẻo chúng sanh nghi.

Bốn người bàn bạc hồi lâu về các tiểu tiết rồi mới giải tán.

Trưa hôm sau, Thuận Vương đặt tiệc ngay ở phòng họp mời riêng Hoàng Bách Thắng và Tôn Hoàn vào dự. Thuận Vương đưa bức thơ mới nhận được của Trần Chí Hòa cho hai người coi, Hoàng Bách Thắng hỏi :

- Trần thái sư là người thông hiểu tình hình trong triều nhắn như vậy, Vương gia quyết định thế nào?

- Lai Kinh vô cùng nguy hiểm. Cô gia nhất quyết khởi binh. Yêu cầu Nguyên soái và Quân sư thảo ngay chương trình xuất quân, cô gia rất lo về vụ Lôi Xích, Thường Phi mất tích? Dù sao, cơ sự đã rồi, chẳng cần quan tâm đến nữa. Đằng nào ta cũng khởi binh. Hai khanh trình bày kế hoạch cho cô gia xem.

Tôn Hoàn nói :

- Kế hoạch thảo sẵn rồi nhưng thần cần hoàn bị một vài điểm với Hoàng nguyên soái, sẽ trình lên Vương gia sau.

Hoàng Bách Thắng thưa :

- Tuy có mấy điểm cần thay đổi nhưng đại khái phân phát tướng lãnh xuất quân chiếm Giang Nam như thế này, thần trình bày ra đây để Vương gia hiểu tổng quát. Quá Sơn Hổ Triệu Đại Bằng đới lãnh ba mươi viên bộ tướng, mã tướng và mười ngàn binh lấy Hàng Châu. Thị trấn này khó hơn cả vì triều đình mới cho tân quan thay thế Vương gia Vĩnh Bình tử nạn. Cẩm Mao Hổ Dư Đông Bích lãnh ba mươi viên bộ, mã tướng và mười ngàn quân chiếm Dương Châu. Viên Trấn thủ thị trấn này tuy từ trước tới nay vẫn giao bảo với Vương gia song thần nghe y rất liêm chánh, chắc sẽ có phản ứng mạnh mẽ, nhưng ta có ưu điểm ở chỗ bọn tùy thuộc của Phùng Đình Sơn (tên Tổng trấn) đều là người chân tay của Kim Lăng. Thanh Diện Hổ Tống Võ Cường lãnh hai mươi mã, bộ tướng và mười ngàn binh lấy Tô Châu. Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo đới lãnh mười tướng và mười ngàn binh kéo thẳng ra Trấn Giang chận đường phản ứng của Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục. Hai đạo quân của Triệu Đại Bằng và Dư Đông Bích sẽ từ Hàng Châu, Dương Châu kéo rốc vào Trấn Giang khiến Đàm Bá Phục phải thọ địch ba mặt. Tiên Phong Điêu Thiên Phượng đới lãnh ba mươi mã, hộ tướng và mười lăm ngàn tinh binh vào Nam Xương. Chờ Tôn quân sư ấn định ngày khởi binh, thần sẽ cho phi kỵ quân thông báo cho các nơi sơn trại biết để họ đồng thời hưởng ứng. Đáng lo nhất về địch quân chỉ có mặc Trấn Giang nơi Đàm Bá Phục thống xuất Thủy quân kiêm lục chiến, nhưng với ba tướng Triệu, Dư, Hầu, thần chắc chắc khi họ Đàm điều động xong binh đội để phản ứng thì đã bị thọ địch tam phân rồi. Như vậy, toàn vùng Giang Nam chỉ trong vòng ba mươi ngày là hoàn toàn lọt vào tay ta. Riêng mặt Hồ Nam, ta không lo vì Trấn thủ quan Trường Sa là Vương gia Vĩnh An. Hơn nữa tại Hồ Nam có nhiều sơn trại và là thủ phủ Bạch Liên giáo, chắc chắn họ sẽ chia nhau quấy phá chiếm các nơi lân cận. Khi quân ta đoạt xong Giang Nam rồi, quân triều đình do Mã Thành Long và Hà Thiên Thọ điều động tới ngoại giới địa Giang Nam ít nhất nghỉ ngơi dàn trận đối địch. Số quân toàn cõi Giang Nam từ binh tới tướng sẽ tăng lên gấp đôi, đó là thần chưa kể tới giới giang hồ hắc đạo sẽ đua nhau kéo về hưởng ứng với ta. Giang Nam đất rộng phì nhiêu, lương thực đầy đủ thừa sức cung cấp toàn diện. Vương gia nghĩ sao?

Nghe Hoàng Bách Thắng trình bày sơ lược kế hoạch hành quân, Thuận Vương thấy y dự tính trúng nên khen thầm nghĩ rằng nếu Hoàng, Tôn hai người manh tâm sanh biến thì quả rất đáng ngại.

- Kế hoạch tiến quân của hai khanh chu đáo lắm. Cô gia đại phước mới gặp được hai người có tài xuất chúng. Khi thành công, hai khanh sẽ đứng đầu bảng văn, võ bá quan của Tân Triều.

Tiệc tan, hai người ra về, Hoàng Bách Thắng hỏi Tôn Hoàn :

- Tôi hơi lạ về thái độ chủ chiến đột ngột của Thuận Vương.

Tôn Hoàn đáp :

- Không có gì lạ. Thuận Vương nhát tánh không tự chủ, khi nhận được tin của Trần thái sư đâm ra nghĩ ngợi lo sợ nên đổi ngay thái độ từ do dự sang chủ chiến.

- Nhân dịp này, tôi hành động. Tôn huynh giúp tôi chớ?

- Dĩ nhiên. Từ trước tới nay, ta vẫn chủ chiến khởi quân.

- Lỡ mai mốt Vương gia đổi ý, Tôn huynh nghĩ sao?

- Việc đó Hoàng huynh hiểu rõ và đủ tư cách hành động hơn tôi.

Nói đoạn, Tôn Hoàn nhìn Hoàng Bách Thắng dò ý.

Nhưng họ Hoàng lầm lì im lặng. Y đang mải nghĩ đến cuộc gặp gỡ hồi ban sáng với Đường Trại Nhi và khấp khởi mừng thầm chẳng bao lâu nữa sẽ đạt ý nguyện chiếm được người đẹp.

Trước khi chia tay ai về dinh ấy, Hoàng Bách Thắng bảo Tôn Hoàn :

- Tối nay, tôi tập họp các tướng tại bổn dinh, mời Tôn huynh sang dự.

Nói về Thuận Vương trở về hầu cung, hai Thế tử và Lan Anh đã chờ sẵn ở tư sảnh hỏi tin tức. Thuận Vương kể lại buổi họp và chương trình xuất quân của Hoàng, Tôn cho ba con nghe. Lan Anh về phòng thảo một bức thơ dài gởi Lam Y nữ hiệp.

Nhận được thơ, Tam hiệp đọc xong đưa trình lão anh hùng Trại Mạnh Thường và Mã nguyên soái yêu cầu định đoạt về tình hình trong Vương phủ Kim Lăng. Tức khắc, Mã Thành Long họp bàn cùng mọi người. Nguyên soái nói :

- Thuận Vương về Yên Kinh là một ưu điểm riêng đối với y, sau này, Thiên tử xét xử thế nào, chúng ta không cần biết tới. Nhiệm vụ của chúng ta là dập tắt cuộc mưu phản, hành động sao có thể tránh cho dân chúng khỏi bị tai hại vì cuộc mưu phản ấy. Chúng ta đã bao vây địa giới Kim Lăng ngăn cản chiến cuộc khỏi lan tràn khắp cả Giang Nam, nhưng dân chúng Kim Lăng vẫn ở trong vòng ảnh hưởng tai hại. Nay, kẻ mưu phản bị phản, chi bằng trong lúc bầy tướng tá Kim Lăng còn nằm gọn cả trong Vương phủ, tại sao ta không đánh thốc vào tận sào huyệt ấy khiến chúng không kịp trở tay? Hoặc giết, hoặc bắt được tên nào hay tên ấy. Chẳng hay quay vị nghĩ sao?

Mọi người đều đồng ý khen phải. Mã nguyên soái nói tiếp :

- Vậy, tôi yêu cầu Tam hiệp liên lạc ngay với Nhạc Lan Anh, tức khắc tổ chức việc đưa thẳng các vị anh hùng và chư tướng thuộc thành phần quân đội vào Hậu cung liệu bề khởi sự đánh bắt bọn phản loạn. Riêng tôi sẽ phái một số người trá hình làm thường dân đón tại bốn phủ môn không cho phản tướng liên lạc được với binh đội của chúng đóng ở các trại quân ngoại phủ hòng cứu cánh. Như vậy, chỉ trong nội ngày chúng ta hy vọng thành công.

Anh em Chu Đức Kiệt nhận lời, tức khắc chờ Âu Dương Tòng Đức liên lạc với Nhạc Lan Anh ấn kỳ hẹn để đưa các vị anh hùng vào hậu cung Vương phủ. Ngay đêm hôm ấy, Tòng Đức nhập Vương phủ cho Lan Anh biết kế hoạch của Mã nguyên soái.

Lan Anh bảo Tòng Đức chờ phúc đáp và tức khắc sai nữ tì Tố Vân mời Trấn Quốc, Bảo Quốc sang hội ở tư phòng. Không hiểu có chuyện gì cấp bách, hai Thế tử vội đến ngay.

Lan Anh bèn nói cho hai anh nghe sự liên lạc giữa nàng và Tam hiệp từ trước đến nay và việc Mã nguyên soái đã hoàn toàn bao vây đất Kim Lăng. Trấn Quốc giật mình trách :

- Cơ sự hệ trọng nhường ấy, bây giờ hiền muội mới thổ lộ cho ngu huynh biết là thế nào?

- Hiền huynh đừng vội trách. Hiện tiểu muội cũng mới biết việc binh đội triều đình bao vây Kim Lăng từ đêm qua, nhưng sự biến chuyển không hại cho ta, chỉ cần thay đổi chương trình hành động chút ít thôi.

- Thay đổi thế nào?

- Nội ngày mai, hiền huynh đáng lẽ cho gia đình lên Bắc trước thì nên để cả Phụ vương cùng đi và cũng chẳng nên nói rõ việc hiện tại cho Người biết làm chi thêm lo. Còn ba anh em ta ở lại tiếp các vị anh hùng vào ngay Hậu cung này chống lại bọn Tôn, Hoàng. Có vậy thôi.

Trấn Quốc suy nghĩ hồi lâu :

- Như thế cũng được. Ngu huynh sửa soạn rồi, trưa mai Phụ vương sẽ cùng gia đình ra đi, nhưng có một kế này khả dĩ bắt trọn ổ sáu tướng và Tôn Hoàn...

Lan Anh ngạc nhiên :

- Kế gì mà ghê gớm vậy?

- Khi Phụ vương đi khỏi, ta sẽ nhân danh Người triệu chư tướng vào phòng họp. Nơi đây các vị anh hùng mai phục sẵn, nếu không bắt được trọn ổ thì ít nhất cũng có vài tướng sa lưới.

Lan Anh khen kế hay.

Hôm sau, Lan Anh cho nữ tì Tố Vân ra Hoa Vương lầu báo trước cho Âu Dương Tướng Cát, Tòng Đức biết chờ nàng ngoại thành Tây môn cùng về Cao gia trang. Tam hiệp dẫn Nhạc Lan Anh lên yết kiến Mã Thành Long trình bày tự sự. Nguyên soái chấp nhận mưu kế của Chu Trấn Quốc và hỏi nàng :

- Các vị giang hồ nghĩa sĩ và chư tướng sẵn sàng cả rồi, nếu tiểu thơ cần thêm bộ tướng, lão phu vui lòng giúp.

- Thưa Nguyên soái, mai phục với năm mươi gia tướng cung thủ có thể tạm đủ, chỉ xin Người cho binh đội trấn các thủ môn phòng bắt bọn nội phản lọt ra ngoài và binh đội đóng ở ngoại thành chờ khi thành sự thì áp tràn các trại quân.

- Việc đó lão phu lo đầy đủ rồi, tiểu thơ an tâm.

- Thiếp tôi còn một điều nữa cầu mong Nguyên soái thương tình giúp đỡ.

- Điều chi thắc mắc, tiểu thơ cứ tự nhiên bày tỏ.

- Số là Thuận Vương bị bọn phản tướng lung lạc nên có tội với triều đình, và vì thế ít lâu nay Nguyên soái phải nhọc công thân hành xuống tận Kim Lăng. Dù sao thiếp cũng bái lạy xin Người đại lượng bao dung khi hồi triều tâu cùng Hoàng thượng khoan hồng cho kẻ có tội được ăn năn hối cải.

- Lão phu sẽ tận tình giúp đỡ.

Lan Anh mừng rỡ lạy tạ Mã nguyên soái lui ra. Tam hiệp giới thiệu Nhạc Lan Anh với ba anh em họ Mã và hai anh em họ Hà. Sau một hồi chuyện trò, Hà Thiên Tường mới rõ người đã giúp mình trong kỳ Kỵ mã hội năm ngoái là Nhạc Lan Anh. Phần Lan Anh cũng không ngờ họ Hà dạng người ốm nhom, sắc diện vàng bệnh thế kia mà lại sức khỏe nhường ấy. Tước hiệu Trại Nguyên Bá quả rất hạp với chàng. Lan Anh từ tạ các vị anh hùng ra về, hẹn canh ba chờ nhau trong hậu cung.

Nói về Hoàng Bách Thắng sau bữa họp cùng Thuận Vương nhất quyết phen này khởi chiến, trước để vừa lòng mình muốn chọc trời khuấy nước một phen cho phỉ chí tang bồng, sau là vừa lòng người đẹp.

Hoàng Bách Thắng vốn biết Thuận Vương không tự chủ nên chẳng tin vào thái độ chủ chiến nhất thời của vị Vương gia ấy. Chàng cần phải hành động mau lẹ trước khi Thuận Vương hỏi ý kiến để khỏi mang tiếng con người bội bạc phản chủ. Tức khắc, ngay chiều hôm ấy, Hoàng Bách Thắng công khai mời Quân sư Tôn Hoàn, các tướng và các tay giang hồ hắc đạo được Thuận Vương trọng đãi để ở trong Vương phủ như đầu đà Thạch Căn, Tử Nguyên, Giới Tăng, Đức Năng. Bọn hắc đạo như Bao Chí Cường, Lục Kiến Vân, Sở Bá Toàn, Đặng Thất, Ngô Bình Phi, Tần thị (tức Bạch Mẫu Ngô Công rất lợi hại, thân mẫu của Đổng Kinh Thiên trong trận hỏa thiêu Xích Hoa viện bởi anh em Chu gia hồi trước), Đới Ngọc Hoàn (con gái Đới Vĩnh Khang ở hắc điếm Sơn Phu).

Tất cả họp ở dinh Nguyên soái, tổng cộng mười tám người, Đường Trại Nhi giữ ý không tới. Hoàng Bách Thắng nói :

- Từ bao lâu nay chư tướng chờ đợi ngày xuất quân, thì nay ngày đó sắp tới. Bổn soái báo tin mừng ấy trong buổi họp công khai hôm nay với mục đích yêu cầu toàn thể nỗ lực tăng thêm sự tập luyện thao diễn hàng ngày cùng tam quân tại giáo trường. Binh đội Kim Lăng cần phải đánh thiệt mau lẹ, tranh thủ thời gian chiếm toàn cõi Giang Nam để làm căn cứ trước khi đụng độ cùng ba đạo quân thủy lục của Mã Thành Long, Hà Thiên Thọ và Đàm Bá Phục. Khi toan tính xong vùng phì nhiêu này rồi, ta sẽ quân thế tam phân giành thiên hạ với đạo quân họ Mã, miền Bắc và đạo quân họ Hà, Tây nam. Vậy bốn Hổ tướng và Tiên Phong tướng có nhiệm vụ hạ các đại trấn nên thi hành theo đúng chương trình, kế hoạch mà bổn soái đã phác họa cho từng người một. Ba tướng được chỉ định thành ba mũi dùi chĩa vào đạo quân lục chiến của Đàm Bá Thành, cần phải dùng toàn lực đẩy đạo quân ấy ra biển và tổ chức tập họp ngay bọn thủy khấu để họ choán giữ hành động chống lại triều đình ngoài hải phận thuộc Giang Nam. Theo kế hoạch mà Bổn soái đã ghi rõ cho năm Hổ tướng có nhiệm vụ chiếm đất hạ thành đây. Tướng nào quân ấy, hẹn trong bảy ngày kể từ ngày mai phải hoàn toàn trực thuộc nhau cho dễ dàng hành động. Các vị hảo hán nam nữ đầu bôn Kim Lăng, suốt trong thời gian chiến đấu, chớ quên mình là quân nhân phục vụ dưới quyền Bổn soái. Ngày thường là anh em nhưng hành quân có luật lệ, xin chớ lạm dụng tình bằng hữu thi hành sai nhiệm vụ. Kẻ có công sẽ được thăng thưởng, có tội sẽ chiếu theo quân pháp không thể tha thứ dung tình. Vị nào chán nản không muốn theo nữa, cứ phát biểu ý kiến, Bổn soái sẽ chấp thuận ngay, nhưng đừng chờ tới khi cần tới mới chuyển hướng thì sẽ bị coi như phạm tội bôn đào.

Dứt lời, Hoàng Bách Thắng nhìn quanh xem có ai phản đối không. Nhưng toàn thể đều đứng lên cúi đầu đồng thanh.

- Chúng tôi theo Nguyên soái.

Hoàng Bách Thắng nói mấy lời cảm ơn, mở bọc giấy đưa cho các Hổ tướng mỗi người một bổn chương trình hành động, và một lệnh tiển hành quân. Buổi họp bế mạc. Tôn Hoàn về dinh, Đường Trại Nhi đón hỏi tin tức. Tôn Hoàn kể lại cho nàng nghe. Trại Nhi mừng rỡ :

- Công việc sắp thành tựu. Ngày mà Kim Lăng khởi chiến, nhiệm vụ của tôi sẽ chấm dứt sư huynh ạ. Thế là xong.

Tôn Hoàn giật mình hỏi :

- Thế là xong? Sư muội định đi đâu? Về Bình Hương chăng?

Đưa mắt nhìn họ Tôn, Trại Nhi mỉm cười :

- Về Bình Hương sao được? Lúc đó tình hình sẽ rối tung, nơi này giặc, chỗ kia cướp, đường trường bất an, sư huynh muốn đuổi tôi về Bình Hương chăng?

- Hỏi cho biết chớ thiệt tình sư huynh không muốn rời sư muội ra nữa.

- Tôi ở lại với sư huynh cho tới khi nhiệm vụ Quân sư thành tựu, chúng ta sẽ giã từ hết vào núi, chịu không?

- Có sư muội ở bên, dù góc biển chân trời ta cũng không ngại.

° ° °

Chiều hôm sau, vào quãng nhá nhem tối. Hoàng Bách Thắng và Tôn Hoàn đang ngồi uống rượu bàn bạc bên dinh Quân sư có Trại Nhi hầu tiếp, thì chợt có gia tướng bên dinh Nguyên soái dẫn Tống Thúc Huỳnh, do thám viên, y phục đầy bụi tới xin yết kiến, báo rằng :

- Vào khoảng giữa giờ thân, trên đường lên Bắc, con ở Phong Đương huyện về đang ngồi ở tửu điếm bên đường thì thấy bốn xe tứ mã chạy qua. Hình như các xe đó của Vương phủ.

Hoàng Bách Thắng thản nhiên :

- À, đó là xe đưa gia đình Vĩnh Bình phu nhân về Bắc.

Như chợt nghĩ ra điều gì, Hoàng Bách Thắng chưa kịp nói thì Tôn Hoàn đã hỏi trước tên thám tử :

- Xe lớn hay nhỏ?

- Thưa, thứ lớn nhất có mui che kín.

- Có gia tướng hộ vệ không?

- Dạ, có chừng bảy, tám người. Đoàn xe phi lẹ, con mãi nhìn toàn đội không kịp đếm.

Tôn Hoàn lặng lẽ nhìn Hoàng Bách Thắng.

Họ Hoàng lẩm bẩm như nói một mình :

- Gia đình Vĩnh Bình làm gì cần tới bốn xe tứ mã cỡ lớn?

Tôn Hoàn biết ý bảo tên thám tử :

- Cho phép ngươi lui.

Hoàng Bách Thắng vẫn nói một mình :

- Thuận Vương đã chủ chiến, ít ngày nữa khởi binh còn cho họ hàng thân thích về Bắc làm gì? Mâu thuẫn! Hoàn toàn mâu thuẫn!

Quay sang phía Tôn Hoàn, Bách Thắng hỏi :

- Tôn huynh có đồng ý với tôi về các điểm mâu thuẫn ấy không?

- Tôi nhận thấy ngay từ nãy. Tất có sự gì ám muội trong việc di chuyển ấy.

- Hay là phát binh đuổi theo xem?

- Không kịp! Đoàn xe tứ mã ra khỏi địa phận Kim Lăng rồi. Ngày mai gặp Thuận Vương dò xem thái độ thế nào sẽ hay.

- Đằng nào mình cũng khởi chiến, lo chi việc ấy? Nhưng không hiểu tại sao tôi có cảm tưởng kỳ dị là Thuận Vương không thiệt tình với chúng ta. Hình như Vương gia tuyên bố ý nhất quyết khởi chiến nhằm kéo dài thời giờ để hành động câu chuyện gì, mà ta không hiểu.

Tôn Hoàn mỉm cười :

- Đó là Hoàng huynh tự ti mặc cảm. Chúng ta không thật tâm với Thuận Vương nên có cảm giác trái ngược ấy. Trong trường hợp Thuận Vương không chủ chiến, án binh bất động, Hoàng huynh sẽ hành động thế nào?

- Bắt y giam lỏng trong hậu cung và bọn ta cứ việc xuất quân!

- Bây giờ tôi hỏi ngược lại. Nếu Thuận Vương hối hận, hay e sợ, muốn quy thuận triều đình nhưng bị vướng bởi bọn anh em mình, thì y sẽ mưu toan ra sao?

- Lập mưu, bày kế bắt chúng ta. Tôi muốn hỏi y dùng lực lượng nào bắt bọn ta?

- Liều thuốc mê trong rượu không đủ bắt cả toàn bọn ư?

Hoàng Bách Thắng chép miệng :

- Tình thế xoay chuyển dị kỳ thật! Thuận Vương thâu nạp chúng ta với ý định khởi phản chống lại triều đình. Nay binh đội đầy đủ, đáng lẽ phải hăng hái tiếp thu ý định ấy, y lại hành động trái ngược để đến nỗi mất cả tình mật thiết cộng sự, hai bên ghi kỵ lẫn nhau, trở thành đối lập!

Tôn Hoàn nói :

- Nếu không đối lập hoàn toàn, thì ít nhất cũng tạm đối lập đến ngày xuất quân!

- Từ nay trở đi không tiệc tùng cùng y nữa, và phải phòng bị trong các phiên họp.

Cùng một thời gian trong khi Hoàng Bách Thắng, Tôn Hoàn chuyện vãn trong dinh họ Tôn, ở ngoài Cao gia trang các vị anh hùng nghĩa sĩ cũng sửa soạn để đêm ấy nhập Vương cung. Trên khách rãnh, Trại Mạnh Thường, Lam Y nữ hiệp, Chu Đức Kiệt, Âu Dương Bích Nữ, Tòng Cát, Tòng Đức, Hà Thiên Đường, Hà Thiên Khánh, Mã Thành Hổ, Mã Thành Báo, Mã Kim Loan, quây quần bàn tán. Con trai họ Đàm vắng mặt, có việc phải về Trấn Giang.

Trại Mạnh Thường nói :

- Nếu tướng tá Kim Lăng nghi ngờ mà không mắc mưu hai Thế tử tất sẽ xảy ra trận đấu đại quy mô. Vương cung rộng rãi, phần chúng đông hơn, quý vị định đem các thứ khí giới gì? Phải đủ cả trường, đoản chớ?

Mã Thành Hổ đáp :

- Ba anh em tiểu điệt có giáo sắt, đại phủ và song kiếm rồi.

Hà Thiên Tường đáp :

- Anh em tiểu điệt dung thiết chùy.

Tòng Cát nói :

- Con và hiền đệ Tòng Đức có mang theo đao, thương.

Chu Đức Kiệt nói :

- Thất Tinh đơn đao, Thái Dương và Trảm Lư trường kiếm. Còn khi nào cần trường khí, vào đó sẽ liệu mượn của chúng được.

Mã Thành Hổ nói với Tam hiệp :

- Chúng tôi có đem theo một số võ khí thiệt tốt như xà mâu, đao dao, thương, nếu quý vị dùng tôi xin đưa, hiện để cả bên phòng.

Lam Y nữ hiệp đáp :

- Khỏi phiền Mã tướng quân, chúng tôi quen dùng mấy thứ võ khí này rồi.

Đúng canh ba đêm ấy, mười vị anh hùng do Âu Dương Tòng Đức dẫn đầu, vào tới hậu cung Kim Lăng.

Lan Anh và hai anh em Trấn Quốc, Bảo Quốc chờ sẵn đón vào tư phòng Lan Anh.

Nhũ Mẫu họ Vương và bốn nữ binh thân tín Tố Vân, Tố Muội, Thu Nhi, Thu Nguyệt hầu trà nước.

Lam Y hỏi nhỏ Lan Anh :

- Sao hiền muội không cho Vương nhũ mẫu theo Thuận Vương cùng đi?

- Tiểu muội khuyên bảo nhiều lần nhưng nhũ mẫu nhất quyết không đi, cho rằng tiểu muội ở trong vòng nguy hiểm thề sống chết cũng ở lại với tiểu muội.

- Trung thành đáng khen... Từ khi Thuận Vương ra đi, trong Vương phủ có xảy chuyện gì lạ không?

- Không, mọi sự đều như thường.

Lam Y giới thiệu Mã Kim Loan với Nhạc Lan Anh.

Phần Lan Anh giới thiệu hai anh với các vị anh hùng.

Trấn Quốc, Bảo Quốc hoan hỉ, thấy người nào cũng phương phi quắc thước, trung hậu, dáng điệu nhã nhặn nhưng không kém oai hùng tỏ ra có dũng lực, tài nghệ tiềm tàng đáng kính mến.

Trần Quốc trải tờ họa đồ khu đại sảnh mai phục, trình bày cho các vị anh hùng xem rõ một lượt.

Chu Đức Kiệt nói :

- Bọn phản tướng mắc mưu càng hay, nếu không thì ta cứ đánh không chờ nữa.

Thường nhựt, mỗi khi hội họp, chúng có đem theo khí giới không?

- Có, chúng đem theo đoản khí.

- Ngũ Hổ và Tiên Phong ưa dùng thứ võ khí gì?

Trấn Quốc đáp :

- Hoàng Bách Thắng dùng bát xà mâu, Triệu Đại Bằng dùng Tam khích đao, Dư Đông Bích đánh chĩa ba, Tống Võ Cường xử lang nha thiết côn. Hầu Văn Bảo múa song phủ, Điêu Thiên Phượng xử Bát giác đồng chùy. Hiện có bốn đầu đà dùng giới đao, thiết thiền trượng. Tần thị tuy quá thất thập nhưng khá nguy hiểm với cây Thiết Trúc trượng. Đới Ngọc Hoàn trước kia bị nhị vị đánh gãy chân nay đã bình phục như thường, bản lãnh cũng khá hơn xưa nhờ Tần thị luyện tập thêm. Còn bọn Bao Chí Cường, Lục Kiến Văn, Sở Bá Toàn, Đặng Thất, Ngô Bằng Phi thì kẻ dùng dần, người xử đao côn.

Nghe Trấn Quốc nói xong, Chu Đức Kiệt nói với mọi người :

- Bên kia khá đông, chúng ta chia nhau đối địch, quay vị nên lựa chọn đấu thủ của riêng mình.

Âu Dương Tòng Cát nói :

- Hà tất chúng tôi phải tự lựa chọn. Chu hiền đệ phân phát luôn.

- Ai nấy đều khen phải.

Chu Đức Kiệt mỉm cười nhìn từng người với võ khí dựng bên :

- Thiển ý như vầy, vị nào muốn thay đổi xin cứ cho biết. Hà Thiên Khánh nhân huynh dùng song chùy nặng nề nên tiếng cặp bát giác đồng chùy của Tiên Phong Điêu Thiên Phượng. Mã Thành Báo xử đại phủ đón song phủ của Đệ ngũ hổ Hầu Văn Báo. Nhị huynh Tòng Đức dùng Thiếu Lâm mộc côn nên thử lửa với Lang nha côn của đệ tứ hổ Tống Võ Cường. Trưởng huynh Tòng Cát giáo sắt giao đấu với đệ tam hổ Dư Đông Bích sử dụng chĩa ba. Mã Thành Hổ nhân huynh giáo sắt thử đón đao ba mũi của đệ nhị hổ Triệu Đại Bằng. Hà đại ca Thiên Tường xử song chùy nên tiếp thiết trượng của một trong bốn Đầu đà, chúng những bốn người, khó phân biệt tên tuổi quá...

Trấn Quốc nói theo :

- Cũng dễ nhận lắm, không khó, Thạch căn mắt đỏ dữ như người say rượu vậy, dũng lực rất đáng kể.

Hà Thiên Tường giơ tay :

- Được, cho tôi xin Thạch Căn mặt đỏ.

Trấn Quốc nói :

- Tên Tử Nguyên mặt vàng khè như chim điêu, ai lãnh đây?

Mã Kim Loan giơ tay :

- Cho tôi đảm nhiệm tên đó, mắt vàng có dễ nhận không?

- Trông đặc biệt lắm, nhận ra ngay, tiểu thơ không sợ lầm đâu. Còn hai tên, Giới Tăng và Đức Năng mập mạp bụng phệ y hệt anh em sanh đôi!

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Tôi xin đới lãnh cả hai.

Chu Đức Kiệt lừ mắt :

- Âu Dương muội tham lam vậy?

- Tiểu muội ghét giống đó lắm nên lãnh cả.

Mọi người khúc khích cười. Trấn Quốc hỏi tiếp :

- Còn Bao Chí Cường song giản? Hiền muội Lan Anh vẫn không ưa cặp mắt láo liên của nó, nên lãnh đi.

Lan Anh cười :

- Trưởng huynh đã dạy, lẽ nào ngu muội chối từ.

Chu Bảo Quốc nói :

- Riêng bốn tên Lục Kiến Văn, Sở Bá Toàn, Đặng Thất, Ngô Bằng Phi, trưởng huynh Trấn Quốc và tôi giành phần giao tranh. Được không?

Trấn Quốc gật đầu :

- Phải lắm, nay còn Hoàng Bách Thắng xử bát xà mâu và chỉ huy chưa chắc y khởi đầu lâm chiến ngay, mà bên ta còn nhị vị đại hiệp Chu gia, vậy ai muốn lãnh họ Hoàng?

Chu Đức Kiệt nhìn Lam Y nữ hiệp không do dự :

- Gia huynh thị soát toàn trận, coi chừng Hoàng Bách Thắng là trúng bộ vị lắm. Nhưng lẽ nào lại bỏ quên Tần thị và Đới Ngọc Hoàn? Cực thù gặp nhau, chắc chúng muốn gặp tôi! Tránh cũng chẳng được. Mong rằng chuyện này Tần thị không lẹ chân như khi ở Xích Hoa viên nữa.

Chư vị anh hùng cười ồ. Chu Đức Kiệt nói :

- Còn hai người nữa: Tôn Hoàn và Đường Trại Nhi?

Lan Anh nói :

- Tôn Hoàn là một cây kiếm tả đạo không đáng kể, bọn nữ binh của tiểu muội sẽ coi chừng. Đường Trại Nhi chắc ở lại dinh họ Tôn không tới đâu. Tôi cho bọn Tố Vân sang đó, nhưng bốn thủ môn đều có người của Mã nguyên soái, nó chẳng thoát nổi.

- Để Trại Nhi thoát khỏi thì uổng lắm đa!

Âu Dương Bích Nữ gay gắt :

- Tôi cũng muốn gặp mặt con tiện tì ấy xem nó nguy hiểm tới bực nào?

Lam Y phì cười :

- Thì có khó gì, tẩu tẩu liệu xử hai tên đầu đà bụng phệ cho mau lẹ rồi kiếm đường vào dinh Tôn Hoàn còn kịp chán!

Chu Đức Kiệt nói lảng :

- Bây giờ phân công rồi, chúng ta nghỉ ngơi thôi.

Chu Trấn Quốc nói :

- Quý vị nhân huynh sang phòng tôi và Bảo Quốc, giường đệm sẵn sàng rồi.

Lan Anh mời Lam Y nữ hiệp, Âu Dương Bích Nữ, Mã Kim Loan ở lại tư phòng.

Chương 37: Huyết thắm phủ vương, cung môn tử chiến Thưởng công đền tội, Mã soái hồi Kinh

Sáng hôm sau, nhận được trát mời đại hội toàn thể chư tướng, Hoàng Bách Thắng lập tức triệu mọi người đến tư dinh ghi thêm vào giấy mời kèm theo lệnh tiễn khoản "Đai nịt gọn ghẽ, võ trang đầy đủ".

Năm tướng và các tay giang hồ đại đạo không hiểu cái chuyện gì cần kíp nguy hiểm, đều vội vàng y lệnh vào dinh Nguyên soái.

Tới nơi, thấy Hoàng Bách Thắng ngồi chờ ngay ở Hổ tướng, kế bên dựng cây bát xà mâu, trang phục đảo giáp thiệt gọn ghẽ, oai phong lẫm liệt. Kế bên là Quân sư Tôn Hoàn.

Nhận thấy nét ngạc nhiên trên nét mặt chư tướng, Hoàng Bách Thắng giải thích ngay :

- Bữa nay, Vương gia triệu đột nhiên triệu đại hội không ở phòng thường trực mà trái lại ở Đại sảnh hậu cung, trái với thường lệ kể từ nhiều năm nay. Đáng lẽ kỳ hội đông đủ này phải triệu tập ngay ngoài công đường. Bởi vậy, bổn soái nghi ngờ có điều chi bất lợi, và bất lợi về phần chúng ta. Ít lâu nay, tánh tình Vương gia, bổn soái nhận xét có phần thay đổi nhiều, không tự chủ cương quyết như xưa. Hình như Người bị ảnh hưởng của một khối ngoại nhân mà kẻ chủ mưu có lẽ không phải ai xa lạ: chính là hai Thế tử và Quận chúa Lan Anh, nếu bổn soái không lầm.

Phàm kẻ có tội khi đã ăn năn thường hay đới tội lập công bán dư đảng mình hòng thoát lỗi. Đó là trường hợp hiện tại trong Vương phủ, và nhân tiện có buổi triệu tập hôm nay, bổn soái mới giãi bày cùng chư tướng và quý vị hảo hán.

Ngoài ra, còn có một vài chi tiết khả nghi mới thâu lượm được tối qua. Do thám tử gặp đoàn xe tứ mã của Vương cung trên đường lên Bắc. Sự kiện này có nghi gì chăng? Bổn soái chưa hiểu rõ nhưng rất có thể là Vương gia cùng ba người con ngấm ngầm hành động chi đây, hành động ấy có lẽ phương hại cho chúng ta.

Trước đây, hầu hết các vị thuộc giới giang hồ phiêu bạt, nghe đồn Kim Lăng chiêu nạp nhân tài võ dũng nên kéo nhau về đầu bôn, kẻ nọ giới thiệu người kia. Chúng ta bao lâu nay đem tài sức ra giúp Người, giờ đây Người không cần tới ta nữa và coi ta như vật hi sanh, liệu ta có chịu như vậy không?

Nhất quyết không! Chư tướng, quý vị hảo hán hãy cùng bổn soái họp lại thành một khối vững chắc bảo vệ lấy quyền lợi chung của chúng ta. Nếu không xảy ra chuyện gì thôi, bằng như có sự phản phúc, chúng ta sẽ chống trả lại mãnh liệt, trước hết chiếm Vương phủ hoạt động khố và tức khắc khởi binh.

Vị nào theo bổn soái, hãy đứng sang bên hữu. Vị nào muốn bỏ đây ra đi đứng sang bên tả. Mấy lời tâm huyết, mong tất cả hiểu cho bổn soái. Ta hành động tức khắc, kẻo hối bất cập.

Hoàng Bách Thắng vừa dứt lời, toàn thể mọi người đều đứng sang bên hữu, đồng thanh :

- Chúng tôi theo Nguyên soái, tùy lệnh người chỉ huy.

- Bổn soái cảm ơn toàn thể, vậy ta hành động ngay.

Họ Hoàng nói riêng với Tôn Hoàn :

- Nếu cần đảo chánh, việc trong Vương phủ này không có gì khó khăn đáng kể. Yêu cầu Tôn huynh tạm về dinh chờ đợi. Trong trường hợp chuyện đáng tiếc không xảy ra, tôi sẽ cho người ra mời vào họp, nếu trái thì việc cần sử dụng tới võ lực không hạp với Tôn huynh, người cứ ở nguyên trong dinh chờ báo tiệp.

Tôn Hoàn ra về.

Hoàng Bách Thắng thắt lại đai kiếm, cầm xà mâu hỏi :

- Chư tướng sẵn sàng chưa? Hãy theo tôi.

Đoàn người hùng dũng đi thẳng vào Vương cung, tiến tới nơi công đường...

Nói về Tôn Hoàn khi trở về tới dinh lên lầu thấy Đường Trại Nhi đang ngồi thảnh thơi nhìn ra lan can. Nàng ngạc nhiên hỏi :

- Sư huynh dự đại hội sao về lẹ vậy?

Tôn Hoàn kể cho nàng nghe hành động của Hoàng Bách Thắng. Trại Nhi biến sắc suy nghĩ. Tôn Hoàn ngồi xuống bên thắc mắc :

- Sư muội nghĩ gì thế?

Trại Nhi lẳng lặng hồi lâu, buông xõng :

- Đại sự hỏng mất rồi!

Tôn Hoàn giật mình :

- Sao lại hỏng được? Căn cứ vào điểm nào?

Trại Nhi thở dài :

- Không khi nào Thuận Vương dại dột đến nỗi chỉ trông cậy vào tài lực của ba người con và một số gia tướng trong Hậu cung mà dám phục kích một lực lượng lớn lao như thế!

Thuận Vương thừa biết tài lực của các tướng lãnh, lẽ nào tin tưởng ở tài sức mấy người con và một số gia tướng trong cung, có khác nào trứng chọi với đá không?

Biết đâu bấy lâu nay, bọn Trấn Quốc, Bảo Quốc, Lan Anh không bí mật liên lạc với một lực lượng nào ngoài sự hiểu biết của chúng ta, mưu tính vụ phục kích hôm nay, nếu có phục kích? Biết đâu lực lượng hậu thuẫn của ba anh em Trấn Quốc không phải là bọn anh hùng nghĩa sĩ đã từng hoạt động trong kỳ kỵ mã hội năm rồi? Nghe đâu như Lan Anh là môn đồ thuộc phái Thiếu Lâm, phải không?

Tôn Hoàn im lìm, tái mặt khẽ gật đầu. Đường Trại Nhi chậm rãi nói tiếp :

- Trước đây, tôi tưởng thành công khi Hoàng Bách Thắng và các tướng lãnh đứng trong địa vị chủ động, nghĩa là tự ý lật hay áp bức Thuận Vương phải theo lực lượng Kim Lăng xuất quân. Trái lại, giờ đây quyền chủ động không ở họ Hoàng nữa. Y cảm thấy bị thụ động, ở vào trường hợp nguy hiểm, nên mới hô hào chư tướng võ trang, quyết liệt tranh đấu buổi hôm nay.

Tôn Hoàn ngắt lời :

- Hay là để ngu huynh...

Nhưng Đường Trại Nhi đã xua tay :

- Làm gì cũng trễ cả rồi! Cha con Thuận Vương triệu tập đại hội nguy hiểm tới mực độ này, tức là đã sửa soạn hoàn toàn mới quyết liệt hành động. Tôi không trách ở sư huynh hay riêng một ai thấp trí, vì tất cả chúng ta đều thấp trí thua mưu, đã bỏ phí không biết bao nhiêu cơ hội thuận tiện có lợi cho chúng ta. Vừa rồi sư huynh định triệu một số binh tướng trong trại quân của Vương phủ tiếp tay cho mọi người chớ gì? Sư huynh quên vụ Kỵ mã hội rồi chăng? Cả một thao trường, quân tướng đầy đủ, sẵn sang mà bọn anh hùng nghĩa sĩ đối lập kia đã chống trả lại như thế nào? Và họ cũng vẫn thành công thoát khỏi trùng vi như thường!

Tôn Hoàn phản đối :

- Nhưng ta bị bất ngờ, vả lại khinh thường không dung toàn lực áp đánh. Vì sao được với bây giờ ngu huynh huy động toàn lực binh đội bao vây Vương phủ?

Trại Nhi cười lạt :

- Tăm tối như chúng ta, thất bại là phải! Sư huynh còn tin tưởng ở các nơi phủ môn hiện không có người của đối phương cải trang canh phòng sao? Người nào ra khỏi phủ sẽ bị bắt hết! Sư huynh hãy cố tin ở dự tính của tôi. Giờ đây không còn cách chi bằng sư huynh và tôi liệu đường cải trang trà trộn thế nào đào tẩu ngay ra khỏi Vương phủ mới kịp. Không còn chút hi vọng nào đâu. Từ nãy đến giờ, Hoàng Bách Thắng không cho người ra thỉnh sư huynh tức là có chuyện không hay rồi. Lẹ lên kẻo chẳng ra thoát khỏi dinh. Có đường ngầm hay cửa bí mật nào không? Việc này sư huynh hiểu biết hơn tôi.

Tôn Hoàn nói ngay :

- Có cửa bí mật ở ngay thành tường Vương phủ do Hoàng Bách Thắng dự báo từ lâu, nhưng phải sang ngay dinh của y. Sư muội biết dinh họ Hoàng có một con đường nhỏ ăn thông ra tận mé tường Vương phủ chớ gì?

Trại Nhi gắt :

- Tôi qua đó bao giờ mà biết? Sửa soạn mau!

Hai người vùng đứng lên vào phòng thay đổi y phục, thu xếp tiền bạc đeo vào một bọc lẩn ra cổng hậu, đi vòng vèo sang dinh họ Hoàng, lẩn ra lối sau mở cửa tiến vào một con đường gạch xây kín tối mờ mờ đi hồi lâu mới cuối đường bít kín.

Tôn Hoàn nói :

- Đây là tường thành Vương phủ, phía ngoài có khoảng đất trống ăn tới một phố nhỏ. May ra thoát.

Họ Tôn vận động cơ quan, rút mạnh vòng sắt ở chân tường.

Trại Nhi không thấy cửa mở, nóng ruột :

- Sao chẳng thấy chuyển động cả gì thế này?

- Rút then chốt ở dưới rồi, bây giờ chỉ khẽ đẩy vào khuôn cửa đá này là mở được.

Miệng nói, tay làm, quả nhiên cửa đá chuyển, mở ra phía ngoài.

Tôn Hoàn ló đầu nhìn ra thấy khu đất vắng tanh liền kéo tay Trại Nhi, kéo sụp mão xuống tận trán, thản nhiên đi thẳng ra phố nhỏ như cặp vợ chồng thường nhân vậy.

Trại Nhi nói :

- Không nên đi ngoài đường lộ liễu quá. Kia có tửu quán nhỏ, ta vào đó sai tiểu nhị đi gọi xe ngựa ra khỏi thành đi Tô Châu ngay bây giờ...

Chư tướng theo Hoàng Bách Thắng vào tới công đường hỏi quân hầu :

- Vương gia đã ra đại sảnh chưa?

- Con không rõ, mời Nguyên soái vào.

Chờ mọi người vào khỏi công đường, tên quân canh vừa rồi vội vàng chạy theo lối khác vào Hậu cung báo với Thế tử Trấn Quốc :

- Thưa Thế tử, họ qua công đường rồi, người nào cũng vận đoản giáp, võ trang thiệt đầy đủ.

- Vậy hả? Cho người lui.

Tức khắc Trấn Quốc vào căn phòng kế bên có các anh hùng hiệp sĩ và một phần cung thủ đang nấp, nói cho Chu Đức Kiệt và Lam Y biết.

Không do dự, Chu Đức Kiệt nói ngay :

- Nếu thế, chúng nghi ngờ rồi. Cuộc cung thủ phục kích chắc bất thành. Chi bằng đại ca và Bảo Quốc tiếp chúng, trong khi anh em tôi vượt qua nóc điện xuống trước công đường chặn lối ra của chúng, bắt buộc chúng phải kéo lùi thẳng vào hoa viên, chiến đấu ở đó rộng rãi tiện hơn. Không chờ Trần Quốc trả lời, Đức Kiệt nhờ Lan Anh hướng dẫn lối vượt lên nóc điện ra ngoài công đường.

Nói về bọn Hoàng Bách Thắng qua công đường, theo mấy dãy hành lang kín mái vào tới gần đại sảnh, Bách Thắng đưa cây xà mâu cho Triệu Đại Bằng cầm hộ mà rằng :

- Các vị hãy đứng lại đây, tôi vào cửa đại sảnh xem sao.

Dứt lời, họ Hoàng thong thả tiến tới thì cũng vừa lúc Chu Trấn Quốc đi đến đầu bên kia. Thấy Thế tử không võ trang, Hoàng Bách Thắng hơi an tâm, nghĩ thầm có lẽ mình nghi ngờ quá đáng chăng. Trấn Quốc thản nhiên vái chào :

- Kìa, Nguyên soái đã tới, xin mời vào sảnh, Quân sư và Chư tướng đâu?

Họ Hoàng chào lại :

- Mọi người chờ cả ngoài kia. Vương gia đâu chưa thấy ngự trước.

- Phụ vương tôi bắt chợt mắc chút việc bận nhưng cũng sắp ra đó. Mời Nguyên soái và chư tướng vào đại sảnh chờ một lát.

Bách Thắng cười gằn :

- Quân sư và Chư tướng là những người có lễ độ lẽ nào nhập sảnh họp trước Vương gia? Chúng tôi chờ chừng nào Người tới sẽ vô theo.

Trấn Quốc thản nhiên cười theo :

- Việc đó tùy ý Nguyên soái, tôi đâu dám ép. Chẳng hay Nguyên soái đi đâu về mà mặc cả đoàn giáp tới phiên họp?

- Trong nhiều năm nay, nhờ ơn Vương gia, tôi được hưởng cuộc đời an lạc, không bao giờ dùng tới mấy thứ này. Bữa nay trở ra mặc thử thấy còn vừa vặn y nguyên, mới biết rằng thân thể chưa đến nỗi bì trệ nên mặc luôn vô đây cho thêm phần trịnh trọng oai nghiêm trong buổi đại hội đặc biệt bất thường.

- Tướng quân trở giáp là điềm chinh chiến sắp tới nơi.

- Chúng ta há không phải là những người chủ chiến đó ư? Kìa, nhưng tôi lấy làm lạ sao Vương gia bữa nay trì trễ nhiều vậy?

Lượng đoán các anh hùng hiệp sĩ đã đủ thì giờ xuống công đường, Trấn Quốc thừa dịp Bách Thắng vừa hỏi, rút lui :

- Để tôi trở vào xem sao.

Dứt lời, chàng quay ngoắt lẹ bước vào hậu cung.

Bách Thắng nhìn quanh, khó chịu vì bầu không khí nặng nề quá an tĩnh chốn thâm cung, toan đi trở ra thì đã thấy chư tướng kéo rốc vào.

Triệu Đại Bằng liệng cây xà mâu cho Hoàng Bách Thắng bắt, la lớn :

- Hữu biến rồi! Bảo Quốc, Lan Anh cùng bọn người lạ chắn đường ra đang từ công đường tiến vào đây!

Hoàng Bách Thắng trợn mắt nhìn quanh :

- Anh em theo tôi ra ngã này, nơi đây chật khó dụng võ. Lẹ lên kẻo chúng chặn đầu kia.

Bách Thắng hoa mâu rảo bước, chư tướng chạy theo, người nào cũng mắt trước, mắt sau phòng ngừa.

Giữa lúc ấy, toán anh hùng nghĩa sĩ cũng vừa ập đới đuổi dồn. Bọn tặc tướng do Bách Thắng dẫn đầu chạy xuyên dọc dãy hành lang tới đầu nội điện thoát ra hoa viên rộng rãi. Ngay giữa hoa viên, Chu Trấn Quốc cầm ngang ngọn ngân thương chờ, mỉm cười.

Bách Thắng quát :

- Thế ra đại hội là một trận phục kích phản phúc hèn hạ, nhưng các người lầm! Chúng ta đã sẵn sàng. Uổng công ta đã giới thiệu anh em người lên La Phù sơn.

Miệng quát, họ Hoàng đưa mắt quan sát các bụm cây quanh đấy xem có phục binh hay không, Chư tướng chạy dàn rộng ra khắp xung quanh.

Trấn Quốc mắng lại :

- Hoàng Bách Thắng! Tự vấn xem ai phản phúc? Diện đối diện chiến đấu đàng hoàng. Ta không phục binh hoa viên đâu mà lo!

Bách Thắng vẫy tay dàn trận thành hàng chữ Nhất thì vừa lúc các anh hùng hiệp sĩ cố ý chậm bước ra tới nơi nhìn khí giới đối phương, lựa địch thủ đã chỉ định phần mình đứng đối diện cách nhau chừng hai mươi bước. Bọn Hoàng Bách Thắng nhận ra nhiều nét mặt quen thuộc chuyến trước ở Kỵ mã hội, biết ngay là gặp toàn tay kình địch ghê gớm.

Chu Đức Kiệt hất hàm hỏi :

- Bọn ngươi nhận được người quen hả? Ta cũng nhận ra mấy tên mất ngù mão năm ngoái và bọn thoát chết ở Xích Hoa viện, Hắc điếm Sơn Phu.

Chỉ ba anh em họ Mã và hai người họ Hà, Đức Kiệt nói tiếp :

- Các ngươi đừng tiếc không kịp khởi binh tạo phản, nghe? Năm vị anh hùng đây là con Mã nguyên soái và Hà tổng trấn, vậy binh tinh nhuệ triều đình đã vây chặt Kim Lăng, bọn ngươi không hòng thoát nổi thành môn đâu. Còn đây là Lam Y nữ hiệp, một người mà các ngươi đã từng nghe danh từ hai năm nay tại đất Giang Nam. Biết điều bỏ giáo lai hàng ngay, may ra cứu được tội rụng thủ cấp!

Hoàng Bách Thắng hầm hầm nổi giận đưa tay về phía hàng ngũ của mình, quát :

- Ngươi thử trông xem chúng ta có phải hạng người biết sợ không? Đã gặp nhau đây, ta thử nữa một phen! Còn ngươi là ai mà dám đối diện ta? Phi Thiên Hổ Hoàng Bách Thắng này không thèm hạ kẻ vô danh!

Chu Đức Kiệt mỉm cười :

- Sơn Đông Đơn Đao Chu Đức Kiệt đã đưa hồn sư thúc Phi Không của ngươi về địa ngục là ta. Cho ngươi tùy ý lựa đối thủ.

Bách Thắng cười ha hả :

- Được lắm! Ta đang muốn gặp ngươi và Lam Y xem Đao pháp gia truyền họ Chu thế nào. Đã mang danh anh hùng, ta nên xử sự cho đàng hoàng. Người muốn hổn đấu hay đấu từng người một?

- Thế nào chúng ta cũng theo được. Đơn chiến hay kép chiến ta đâu có ngán? Nếu là bọn ngươi thì ta hỗn chiến may ra nhờ xáo trộn mới có đường tẩu thoát!

Quay lại hàng ngũ của mình, Hoàng Bách Thắng hỏi :

- Anh em muốn hỗn chiến hay đơn chiến?

Đồng loạt hô :

- Đơn chiến sợ chi!

Hầu Văn Bảo nóng ruột không chịu được, xách song phủ chạy ra trước hô lớn :

- Đánh đi cho rồi! Tụi bây ai muốn thử song phủ Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo?

Mã Thành Báo vát đại phủ ngăn lại :

- Có đệ nhị công tử Mã nguyên nhung trướng hạ Hoa Ban Báo đây.

Hàng ngũ đôi bên cùng lùi lại nhiều bước nhường chỗ cho hai dũng tướng cùng lực lượng mặt sắc đen sì, râu quai nón tua tủa, dữ dội như hung thần giáp chiến.

Một bên, Hầu Văn Bảo mặc đồng phục ngũ hổ đen tuyền.

Một bên, Mã Thành Báo vận võ phục áo đen loáng chấm đỏ như bộ da báo hoa, ngực phanh ra nở nang lông lá xồm xoàm, hai tay xắn cao lộ cánh tay chắc nịch bắp thịt nổi lên như thừng cháo, quần đen tuyền, chân giận võ hài da báo.

Hai thanh niên võ tướng lừ lừ nhìn nhau như muốn dò lực lượng đối thủ qua hai luồng mắt sáng quắc nẩy lửa, xa trông như hai pho tượng đồng.

Bỗng thét lớn một tiếng vang động cả hoa viên, Hầu Văn Bảo nhảy vụt tới lia lưỡi phủ tay tả vào ngang hông địch thủ, đồng thời ngọn phũ bên hữu hạ như chớp nhoáng xuống vai họ Mã. Đó là thế Song Phủ Đồng Khoa rất lợi hại.

Bộ tấn vững như chôn xuống đất, Mã Thành Báo hoa đại phủ quay tròn đi một vòng gạt văng song phủ địch sang một bên.

Hai tiếng "Chát! Chát!" vang lên ghê rợn, cả hai tướng cùng khen thầm nhau dũng mãnh. Vừa gạt xong đòn địch, Mã Thành Báo đánh theo luôn một thế Di Sơn Đảo Hải nhằm cổ địch lia đại phủ tới cực kỳ dữ dội. Muốn tỏ sức mạnh, Hầu Văn Bảo không né tránh đưa luôn song phũ lên gạt. Chém mạnh mà gạt cũng mạnh, hai tướng cùng đảo cả người sang hai bên, khí giới va vào nhau chát chúa, nảy lửa. Nhưng cả hai lại sáp chiến luôn. Ba ngọn phủ xoắn lấy nhau, công phá dồn rập, chém toàn đòn chí mạng, hai đấu thủ chỉ sơ hở chân tơ kẽ tóc là đủ mạng vong ngay. Kỳ phùng địch thủ, tướng ngộ lương tài, không ai chịu nhường ai, trận đấu thấm thoắt đã ngoài trăm hiệp. Hai bên thay phiên nhau tấn công, Hầu Thiên Bảo thừa thế chém luôn năm bảy nhát ào ào như gió khiến đối thủ phải hồi bộ theo đà tấn công của họ Hầu. Nhưng rồi Mã Thành Báo lại phản công ngay dùng đốc phủ thúc vào mặt vào ngực, lia phủ ngang dầu, ngang hông. Hầu Văn Bảo bị dồn hẳn vào một góc, gần cây cổ thụ cao bằng đầu người. Hầu Văn Bảo vội vàng nhảy lộn bật người qua ngọn cây đo ra phía sau. Mã Thành Báo hét lớn chém theo một đại phủ Thiết Hoàn Tử, hụt người nhưng cây đó bị lưỡi phủ tiện làm đôi.

Hầu Văn Bảo cười sằng sặc :

- Ủa! Cái cây này làm sao mà mi chém? Coi này!

Tức thì, họ Hầu chồm tới hoa song phủ tấn công tới tấp.

Mã Thành Báo lùi bước vừa đỡ vừa nói:

Cây đó thế mạng cho mi đó! Sẽ đến lượt mi!

Họ Mã lùi một chập đến trên mười thước tới một gốc cây hòe lớn. Mừng quá, Hầu Văn Bảo quyết hạ độc thủ, liền nhằm ngực đối phương phóng luôn một phủ bên hữu. Lằn phủ xẹt ra như chớp, Mã Thành Báo né vội sang một bên. Ngọn phủ phóng trượt cắm nhập vào cây hòa. Lá vàng bị động rụng lác đác. Thành Báo la :

- A ha! Mất một phủ rồi con ơi! Trúng sao được?...

Chắc chắn hạ địch thủ với lối phóng lợi hại đó, chẳng dè hụt, Hầu Văn Bảo tái mặt, chuyển cây phủ còn lại sang tay hữu. Thừa dịp ấy, Mã Thành Báo nhào tới hạ phủ đánh liên miên, đòn nào cũng chí tử. Mất chiếc phủ, sức chống đỡ và tấn công của họ Hầu kém hẳn gần phân nửa. Y cố lùi bước vòng ra chỗ cây hòe để thâu lại khí giới.

Thành Báo biết ý cản đường. Dịp này không hạ địch còn chờ dịp nào nữa? Chàng dùng toàn lực áp đảo họ Hầu tơi bời. Cây đại phủ hoa lên vùn vụt như gió dạt mưa rào áp đảo đối phương.

Đứng ngoài, Hoàng Bách Thắng lo ngại, biết Hầu Văn Bảo lâm nguy, muốn tiếp tay nhưng không được vì đã nhận lời đơn chiến, không lẽ vừa mới đánh mà đã nuốt lời! Bách Thắng liền hất hàm về phía cây hòe nháy mắt Triệu Đại Bằng đứng bên mình. Đại Bằng biết ý chạy vòng qua nơi hai đấu thủ đến cây hòe rút chiếc phủ của Hầu Văn Bảo ra, định ý tiếp tay họ Hầu bằng cách liệng cây phủ trả y. Nhưng bên phía trận các anh hùng hào kiệt, một người đã đặc biệt chú ý đến các hành động của Triệu Đại Bằng. Người đó là Mã Thành Hổ có nhiệm vụ đấu với cây giáo ba mũi.

Khi họ Triệu rời hàng ngũ chạy ra phía cây hòe, Mã Thành Hổ biết ngay ý định của y, chờ cho Đại Bằng rút cầm hẳn ngọn đoạn phủ trong tay, mới rời hàng ngũ của mình chặn đường quát :

- Bỏ cây phủ đó lại. Đã hứa đơn chiến sao còn tiếp tay?

Đại Bằng quắc mắt như con diều hâu :

- Bộ ngươi muốn cấm ta trả khí giới cho y sao?

Mã Thành Hổ cười gằn, cầm ngang cổ giáo sắt :

- Như vậy là phạm luật đơn chiến. Họ Hầu đã có tài phóng phủ hại người, tự y phải thâu phủ giữ mình. Hành động của ngươi là tiếp tay. Ta phản đối.

- Phép đơn chiến không cấm tiếp khí giới. Ta cứ trả họ Hầu cây phủ này!

- Nhưng ta không cho ngươi trả.

- Ngươi tên chi?

- Ngọc Diện Hổ Mã gia trưởng tử Thành Hổ.

- A! Trưởng huynh của Thành Báo? Hèn nào!

- Hèn nào sao?

- Hèn nào ngươi không muốn ta trả ngọn phủ cho địch thủ lợi hại của em ngươi.

Mã Thành Hổ cười gằn :

- Dù em ta rớt cây đại phủ ta cũng mặc. Y phải tự lực chiến đấu. Ngươi tên chi?

- Quá Sơn Hổ Triệu Đại Bằng.

- Dứt lời họ Triệu xách đoản phủ chạy về bổn trận, nhưng Mã Thành Hổ chặn đường quát :

- Bỏ ngọn phủ lại. Nếu không mi sẽ có chuyện với ta!

- Bộ ngươi làm chi nổi?

- Đi thử mà coi.

Triệu Đại Bằng cứng cổ tiếp tục quay về trận mình, nhưng Mã Thành Hổ đã quật luôn một cán giáo vào mặt y. Họ Triệu vội liệng cây phủ xuống đất, hai tay cầm đao ba mũi gạt mạnh. Thành Hổ thừa dịp bồi luôn mấy ngọn giáo sắt nữa buộc Đại Bằng rời khỏi chỗ có ngọn đoản phủ. Dùng chân hất món khí đó về mặt trận mình, Mã Thành Hổ chống giáo, nhảy ra khỏi vòng chiến quát :

- Đại Bằng! Ngươi muốn đấu cùng ta, lát nữa sẽ được như ý.

Họ Triệu toan theo tiếp đấu nhưng Thành Hổ đã chạy về bổn trận. Chàng lượm ngọn phủ liệng ra thật xa ra phía sau hàng ngũ mình.

Nói về Hầu Văn Bảo khi thấy đồng bọn chạy ra rút ngọn phủ ở cây hòe thì khắp khỏi mừng, chẳng dè bị Mã Thành Hổ đâm ngang cản lại. Hầu Văn Bảo cố ý lùi về phía Triệu Đại Bằng những mong họ Triệu tiếp tay tung trả lại cây đoản phủ. Mã Thành Báo biết vậy đánh ráo riết chặn ngang thành thử Hầu Văn Bảo hết hy vọng luống cuống bị dồn ra xa.

Xưa nay chuyện đánh song phủ mà mất một chiếc thì chẳng khác chi kẻ bị cụt một tay. Sở dĩ hồi nãy, Hầu Văn Bảo dám táo bạo liệng phủ định hạ ngay đối thủ vì y cậy tài phóng búa bách phát bách trúng, đang lúc đối phương bị dồn vào gốc hòe, không trổ ngón độc đó kết thúc trận đấu còn chờ gì nữa?

Dè đâu, Mã Thành Báo lanh lẹ, tinh mắt tránh nổi ngọn búa phóng nguy hiểm đó, chàng biết cách khai thác thế trận hãm họ Hầu vào vòng nguy nan.

Về phía Hầu Văn Bảo không dám gạt đỡ những thế đại phủ nặng như Thái Sơn của đối phương như lúc hai tay còn đủ song phủ cân đối. Y nhảy ngang, nhảy dọc tránh hết thảy các thế búa mạnh mẽ của họ Mã. Cũng vì thế, y tốn sức rất nhiều. Tuy vậy y vẫn tính toán sử dụng tài phóng cây đoản phủ. Chuyến này thắng thì đã đành là thắng trận, trái lại, nếu hụt hay đối phương né kịp, thì phải chạy ngay may ra mới thoát chết.

Như đoán được ý định của Hầu Văn Bảo, Mã Thành Báo bèn nghĩ ra một kế.

Chàng hạ luôn mấy thêm đại phủ thiệt mạnh rồi vờ trượt chân loạng choạng hớ hênh, cầm dọc cán phải, hở ngực và bụng. Hầu Văn Bảo cả mừng, đứng sững lại nghiến răng dung toàn lực phóng luôn ngọn phủ thứ hai nhằm ngực đối thủ. Thứ khí giới nặng nề đó xẹt thẳng vào ngực Mã Thành Báo. Cả hai chiến tuyến cùng hồi hộp.

Chát!... Lẹ như cắt, Mã Thành Báo hoa cây đại phủ gạt văng đoản phủ lên không trung rớt về mặt trận nhà.

Hầu Văn Bảo co chân chạy. Không kịp, Mã Thành Báo phi thân tới ngay sau lưng lao thẳng ngọn đại phủ trúng giữa lưng địch thủ. Hầu Văn Bảo chỉ kịp kêu dội lên một tiếng cực kỳ ai oán, xương sống bị lưỡi phủ nặng nề sả làm đôi, hồn phiêu diêu nơi thế giới âm u... Thâu cây đại phủ lại, Mã Thành Báo chùi vấy máu ở lưỡi phủ vào áo thây ma rồi trở về bản trận.

Cái chết của Hầu Văn Bảo làm xúc động hàng ngũ tặc đảng không ít. Triệu Đại Bằng thương bạn gầm lên như sấm vang, vác đao ba mũi nhảy xô ra đánh Mã Thành Báo :

- Hầu hiền đệ có linh thiêng hãy coi ta lấy đầu tên này!...

Mã Thành Báo toan đưa đại phủ gạt thì Mã Thành Hổ đã kịp múa giáo sắt hất ngược cây đao ba mũi trở lại :

- Triệu Đại Bằng! Ngươi phải đấu với ta!

Quy cả trách nhiệm về cái chết của Hầu Văn Bảo lên đầu Mã Thành Hổ, Triệu Đại Bằng nộ khí xung thiên :

- Vì ngươi tiểu tâm không trả lại cho bạn ta cây đoản phủ nên y mới bị hại. Hãy coi ta phục thù.

Đại Bằng lia luôn một đao vào ngang sườn đối thủ, Thành Hổ biết lợi hại xoạc hai tay cầm chắc cán giáo, cản lưỡi đao địch lại, đồng thời tiện tay chọc luôn mũi giáo vào mặt họ Triệu theo thế Lý Ngư Ngộ Thủy. Triệu Đại Bằng trổ tài đưa đốc đao gạt băng giáo địch sang bên, rồi xử thế Giao Long Xuất Hải chém ngược đao ba mũi từ dưới lên trên lợi hại, những tưởng xã luôn địch thủ ra làm hai mảnh. Đảo bộ sang tả, Mã Thành Hổ đưa đầu giáo sắt chặn lưỡi đao đó lại và ghì chặt ấn mạnh xuống. Triệu Đại Bằng cố hất ngược đao lên. Hai bến cùng gắng thi sức, không ai chịu nhường ai. Hai cặp chân vững chãi xoay tròn. Cổ phồng, cầm bạnh ra, bắp thịt vai nổi lên cuồn cuộn căn cả vai áo cơ hồ muốn rách toang.

Hai tướng vận dụng toàn lực, bên ấn mạnh giáo xuống, một bên cố hất đao lên. Hai thứ võ khí toàn thép bỗng tượt chệch sang bên, khiến cả hai đối thủ cùng đao đi mỗi người một ngã. Nhưng họ lấy thăng bằng, quay lại xáp chiến ngay dữ dội.

Trong khi ấy thì hàng ngũ bên Hoàng Bách Thắng, hai người Dư Đông Bích và Tống Võ Cường chạy ra khiêng xác Hầu Văn Bảo vào đặt nằm dưới một bóng cây đại thọ.

Thanh đao ba mũi của họ Triệu như đại bàng vũ cánh chém ngang, tạt dọc loang loáng như chớp giật mưa rào. Ngọn giáo của Thành Hổ đâm đông, thích tây huyền ảo, lẹ làng tựa mãng xà nhập động. Hai món khí giới va vào nhau chan chát, hai tướng tài sức đồng đều, quay tròn lấy nhau hỗn đấu bất phân thắng phụ.

Bỗng trong một hiệp mà hai bên cùng áp dụng thế công, hai món binh khí va vào nhau quá mạnh đến nỗi buột khỏi tay đấu thủ văng ra ngoài vòng chiến đến hơn một trượng nằm song song trên bờ cỏ gần chỗ Mã Thành Hổ đứng hơn, Mã Thành Hổ chồm tới trước dẫm chặt lấy thanh đao và ngọn giáo. Trễ mất một bước, Triệu Đại Bằng cố liều cúi xuống định rút đao ra nhưng Mã Thành Hổ đã nhằm mặt y tống luôn một Thôi Sơn Thủ.

Họ Triệu vội nhảy lùi lại tránh đòn, thì Thành Hổ đã đưa thừa dịp ấy cầm ngọn giáo sắt lên, lăm lăm chĩa vào phía địch thủ. Đại Bằng lùi luôn ra xa tay không thủ thế.

Mã Thành Hổ cười khanh khách :

- Vào đây mà lấy đao!

Họ Triệu đứng y nguyên thủ thế Thạch Mã Trụ, tay hữu xòe Cương Đao đưa ra phía trước, tay tả nắm lại co vào bên sườn, chân đứng "Chảo Mã Tấn", tả "Mã sinh", hữu "Mã tử".

- Người nhào tới đây đi, ta coi?

Nổi nóng vì thái độ khinh thường của đối phương. Mã Thành Hổ nhảy tới tạt luôn một cán giáo vào mặt y. Đại Bằng cúi xuống né khỏi, nhưng ngọn giáo sắt tạt chéo lên bắt buộc y phải hồi bộ ra xa nữa. Mã Thành Hổ cười vang, giơ cây giáo lên khỏi vai nhằm ngực địch thủ như muốn phóng. Triệu Đại Bằng tưởng thật vội nhảy chéo xa nữa ra phía sau. Nhưng Mã Thành Hổ đã hạ giáo xuống, quay ngoắt về chỗ cũ nhặt thanh đao lên, lao cắm phập xuống mặt đất cách nơi chàng đứng non hai trượng :

- Ta trả đao đó, lấy đi và đấu nữa. Lúc nãy, Hầu Văn Bảo vì thiếu cây phủ mà thí mạng, trái lại, ngươi thiệt mạng vì có cây đao này.

Nói đoạn, chàng chống giáo đứng chờ tỏ ra mình quân tử không thèm đánh bất ngờ :

- Vào lấy đao ngay! Ngọc Diện Hổ này không ưa đánh kẻ cùng đường.

Triệu Đại Bằng chạy tới rút phắt cây đao ba mũi lên :

- Ta nợ ngươi lần này, chuyến sau sẽ trả.

Mã Thành Hổ nói khẩy :

- Chết đến nơi rồi, còn trả với không trả nổi gì! Đánh đi!

Tức thì, hai tướng lại áp vào đánh nhau dữ dội hơn trước.

Đấu một chập trên bảy mươi hiệp nữa, Mã Thành Hổ thở dốc, ra chiều mệt mỏi lùi dần.

Triệu Đại Bằng mừng rỡ đuổi theo đánh ráo riết. Thành Hổ gạt đỡ loạng loạng lùi đến chỗ có mấy viên đá lớn bày bên khóm phong lan, bỗng vấp phải đá ngã ụp mặt ra phía sau. Đại Bằng xô vội tới dơ đao nhằm lưng địch thủ đâm xuống, nhưng Mã Thành Hổ trá mệt, chỉ chờ có thế, trong khi mũi đao còn ở trên cao chưa kịp hạ xuống thì chàng đã lăn nghiêng đi nửa vòng, đâm ngược mũi giáo trúng bụng họ Triệu. Triệu Đại Bằng thét lớn lùi lại ba bước, ruột lòng thòng theo mũi giáo vừa rút buột ra ngoài giơ tay hữu vận dụng hết tàn lực lao cây đao ba mũi vào ngực Thành Hổ.

Lúc đó họ Mã chưa kịp trỗi dậy, mãi nhìn bụng địch thủ và cũng không ngờ đối phương còn đủ lực đánh liều đòn cuối cùng ấy, tới lúc thất kịp thì chỉ còn đủ thì giờ nghiêng người đi, lưỡi đao cắm phập vào bả vai. Buông tay giáo, Thành Hổ đỡ lấy cán đao rút ra, đứng hẳn dậy. Vừa khi ấy, Triệu Đại Bằng loạng choạng, đau đớn, hai tay ôm đống ruột lòng thòng, huyết từ vết thương phun ra như suối, té lăn ra mặt cỏ, nấc lên mấy tiếng, trút linh hồn.

Thế là hết đời Quá Sơn Hổ. Tiếc thay! Anh hùng dọc ngang hồ hải, chỉ vì không biết noi theo chánh đạo nên táng mạng vô ích.

Phía hàng ngũ bên kia, Hoàng Bách Thắng và Tống Võ Cường vội chạy tới chỗ Mã Thành Hổ còn đứng nhìn Triệu Đại Bằng.

Thấy vậy, Chu Đức Kiệt và Mã Thành Báo cũng vội vàng phóng mình chạy tới, tưởng hai địch tướng muốn đánh Thành Hổ báo thù.

Nhưng không, Hoàng, Tống hai người thấy họ Triệu đã tắt thở chỉ quắc mắt căm thù nhìn Mã Thành Hổ rồi khiêng tử thi về để song song với xác Hầu Văn Bảo.

Thành Hổ cắm cây đao ba mũi xuống đất, lượm lấy ngọn giáo sắt, vai tả máu chảy dầm dề, bảo hai người :

- Không sao đâu, nhưng cần buộc thuốc cầm máu.

Chu Đức Kiệt nói :

- Tôi có sẵn thuốc đây. Hãy trở về hàng ngũ đã.

Ba người về tới mặt trận nhà, thì Chu Bảo Quốc và Trấn Quốc đã lấy sẵn vải thuốc và nước, rạch áo Thành Hổ ra chùi vết thương rắc thuốc và buộc lại cẩn thận.

Bị mất liền một lúc hai tướng tài, Hoàng Bách Thắng vừa lo vừa giận, chưa biết tính đường nào thì phía trận bên kia, một tướng dong dỏng ốm nhom, mặt vàng khè, tóc vàng như râu ngô búi ngược, vận võ bào, lưng đeo lá đáp, chân vận ủng da, tay cầm cặp thiết chùy Tòng cát lớn, nhảy ra trước trận, quát :

- Tiên Phong Trại Nguyên Khánh đâu? Hãy ra đây cùng ta giao đấu ba trăm hiệp!

Phía trận địch nhận ra người lợi hại đã thắng giải xe tứ mã ở kỵ mã hội đầu năm ngoái.

Còn căm thù vì mấy chuyến trước, Điêu Thiên Phượng vốn đã muốn cùng viên tướng đó so tài thử lửa lần nữa, nghe gọi đích danh bèn xách cặp bát giác đồng chùy nhảy vọt ra trước trận :

- Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng đây! Ngươi là ai?

- Tứ Xuyên, Thành Đô tổng trấn đệ nhị công tử Trại Nguyên Bá Hà Thiên Khánh đây. Nếm mấy thiết chùy năm ngoái còn chưa biết sợ sao?

Điêu Thiên Phượng quát :

- Năm ngoái nhờ kế nghi binh, ngươi thừa dịp nhá nhem tối trốn thoát, nay thử nữa coi!

Trên mặt trận, một tướng lực lưỡng như hộ pháp hùng dũng oai phong, một dong dỏng gầy guộc, lanh lẹ như một con hầu lòng vàng.

Cặp bát đồng chùy đã lớn, nhưng song thiết chùy còn lớn hơn, một tám, một mười. Hai hổ tướng sử dụng khí giới nặng nề ấy một cách thiệt nhẹ nhàng.

Hà Thiên Khánh cười lớn :

- Ngươi muốn chết, ta vui lòng chỉ đường cho xuống địa ngục. Cho ngươi đánh trước đi kẻo thiên hạ đồn ta không biết nhường đàn em!

Điêu Thiên Phượng chạm lòng tự ái gầm lên như hổ dữ, nhảy chồm tới úp cặp bát giác nặng nề xuống Thiên Khánh theo kế Lôi Đả Thiên Môn.

Hà Thiên Khánh thét :

- Khá lắm! Coi đây!

Chàng tọa bộ Trung bình tấn đưa cặp thiết chùy lên khỏi đầu chịu đòn. Đó là thế Hầu vương hiến quả. Cặp bát giác đồng chùy như hai chiếc búa lớn đập xuống trúng song thiết chùy vững chắc như chiếc đe, bật ra tia lửa sáng ngời và hai tiếng chát chúa vang động cả hoa viên. Sức đánh xuống của Trại Nguyên Khánh đã dũng mãnh như thần tướng, nhưng sức chịu đựng vô song của Trại Nguyên Bá lại càng ghê gớm nữa. Chàng trơ ra như toàn thân và song chùy liền nhau toàn thép, hai cánh tay không hề rung chuyển, khiến cả hai bên hàng ngũ đều có cảm tưởng như Thiên Khánh bị hai vồ đập lùn hẳn xuống mặt đất. Hai bổ tướng cùng khen thầm nhau dũng lực.

Điêu Thiên Phượng tức khắc hạ thấp bát giác đồng chùy, chuyển bộ cước thành Chão Mã Tấn tả tiền, hữu hậu, khoát hai tay đánh thốc ngược cả cặp chùy vào cằm đối phương. Đó là ngọn Song Tinh Xuất Thế. Họ Điêu sử dụng thế chùy nguy hiểm này, cốt đánh bể mặt địch thủ.

Nhưng có dễ dàng như vậy đâu? Địch thủ của chàng là một viên hổ tướng hữu danh với tước hiệu Trại Nguyên Bá đâu có dễ chịu thua dễ dàng như vậy! Bộ tấn nguyên như cũ, Hà Thiên Khánh hạ luôn cặp song chùy xuống chặn khí giới đối phương. Bốn ngọn chùy lại có dịp dập vào nhau chát búa, ghê rợn. Hà Thiên Khánh cười ha hả :

- Ta nhường hiền đệ hai đòn rồi đó nhé! Cho thêm đòn nữa là ba!...

Điêu Thiên Phượng cũng hét :

- Này ba đòn!...

Tức thì, chuyển mình sang bên, tọa tấn thiệt thấp, quật trái luôn một đồng chùy nặng nề theo thế Lão Hán Quải Sơn vào sườn địch thủ, Hà Thiên Khánh thuận tay đưa thiết chùy chặn chiếc bát giác lại.

Sở dĩ ngay từ lúc khởi chiến, Điêu Thiên Phượng đã xử dùng toàn đòn độc chí mạng là vì y biết đối phương sức lực, bản lãnh không vừa, nếu không áp đảo ngay, e về sau khó thắng. Phần Hà Thiên Khánh nhường họ Điêu ba đòn khởi trận không phải là vì hoặc khinh thường, hoặc thương hại gì Thiên Phượng nhưng trước mặt các vị anh hùng - nhất là Tam hiệp, ba nhân vật đã cứu chàng ra thoát Nam môn kỵ mã trường, chàng muốn phô trương để mọi người được mục kích đại lực trời cho của mình. Trừng mắt nhìn họ Điêu, Hà Thiên Khánh nạt :

- Qua nhường hiền đệ ba đòn rồi, nay đến lượt qua thử chùy chớ?

Tin ở sức mình, Điêu Thiên Phượng nhảy ra khỏi vòng chiến :

- Được lắm, bình phủ thần thủ đi.

- Ta sẽ dùng các thế ngươi vừa sử dụng nhé! Chịu được hãy đỡ, đừng cố lấy mẻ mà chết đa! Coi chừng!

Tức thì, Hà Thiên Khánh hoa song chùy lên một vòng vùn vụt như gió, cất chân nhảy chồm lên nhằm đầu họ Điêu quật xuống sử dụng thế Lôi Đả Thiên Môn. Thiên Phượng vận dụng toàn lực đưa chùy lên đỡ.

Tiếng "Chát", rùng rợn vang động. Hai thứ kim khí va mạnh tóe lửa. Điêu Thiên Phượng chùn tay, toàn thân rung chuyển. Chàng có cảm tưởng như vừa bị một tảng đá lớn ngàn cân từ không trung rớt trúng cặp bát giác đồng chùy của chàng.

Đảo hẳn người ra phía sau năm, sáu bước, họ Điêu còn đang bàng hoàng thì Hà Thiên Khánh đã rượt tới dùng ngọn Song Tinh Xuất Thế thúc song chùy vào mặt. Thiên Phượng sợ hãi muốn né tránh mà như kẻ bị điện lực của đôi mắt diều hâu họ Hà sai khiến, tránh không nổi, đành cố sức đưa chùy dập xuống chặn khí giới địch. Bốn ngọn chùy vừa chạm nhau thì cặp bát giác đồng chùy buột khỏi tay họ Điêu văng mỗi ngọn sang một bên như hai trái cầu.

Toàn thân bủn rủn tê buốt, Điêu Thiên Phượng bật nửa người lăn đi hai vòng, loạng choạng cố bò dậy, nét mặt nhăn nhó, đau đớn, hai bàn tay đẫm máu, co ro chạy về bãi trận. Hà Thiên Khánh cười lớn :

- Điêu Thiện Phượng! Lượm chùy đánh nữa?

Nhưng họ Điêu còn đánh sao được, hai tay toạc hổ khẩu, máu chảy dầm dề, mười ngón tay hầu như gãy vụn...

Bên mặt trận tặc đảng, khi thấy Hà Thiên Khánh đỡ ba thế chùy dũng mãnh của Điêu Thiên Phượng một cách dễ dàng. Hoàng Bách Thắng lượng đoán ngay được thế trận, một lần nữa sẽ bất lợi cho mình toan gọi Điêu Thiên Phượng về bản trận thì Hà Thiên Khánh đã khởi thế tấn công.

Bách Thắng bèn bảo mọi người :

- Sau Thiên Phượng, tôi sẽ đấu. Khi nào thấy tôi yếu thế, các vị cứ ào vào hỗn chiến mạnh ai nấy đánh không được thì chạy tháo thân, chớ câu nệ mà hại cả lũ. Tiếp tục đơn chiến sẽ bị đối phương tỉa lần lần. Đừng trái lời.

Bởi vậy, lúc thấy Điêu Thiên Phượng bỏ chạy tháo thân, thì Hoàng Bách Thắng vác luôn trượng Bát xà mâu toàn thép nặng tám mươi ba cân chạy vùn vụt ra không nói không rằng đâm săn vào bụng Hà Thiên Khánh thật dữ dội.

Thiên Khánh biết là Phi Thiên Hổ Vô Địch tướng quân khởi chiến nhưng tin tưởng ở dũng lực của mình và sức nặng hơn bốn trăm cân của cặp thiết chùy nên ngang nhiên đưa chùy ra gạt mạnh, tưởng địch thủ sẽ bị ảnh hưởng đàn áp của món võ khí nặng nề của mình.

Nhưng chàng tính thầm!

Chùy tuy nặng, nhưng chỉ là món đoản khí và dễ đàn áp những món võ khí đồng loại, như bát giác chùy, song đoản phủ, đồng nhân nếu những món này nhẹ hơn. Như trận đấu với Điêu Thiên Phượng vừa rồi, sở dĩ họ Điêu nếm mùi thất trận ngay là vì cặp bát giác đồng chùy nặng có ba trăm cân. Khi hai khối kim khí gặp nhau, lẽ tự nhiên khối nặng hơn chuyển động bởi một sức mạnh hơn, thì khối nhẹ hơn sử dụng bởi một sức hoặc cân đối, hoặc yếu hơn tất thế nào cũng bị đàn áp ngay. Thiên Khánh mạnh hơn sử dụng song chùy nặng hơn, đàn áp Điêu Thiên Phượng yếu hơn chống đỡ với cặp chùy nhẹ hơn.

Trái lại, chùy rất kỵ các đoản khí nhẹ như kiếm, đơn đao, đoản đao, tiên, giản. Đấu với những đoản khí này người sử dụng trừ khi gặp một địch thủ bản lãnh, sức lực hoặc hơn mình hoặc ngang mình sẽ bị bất lợi chỉ vì không thể xoay, chuyển, biến trá mau lẹ bằng địch thủ dùng các đoản khí nhẹ.

Chùy còn kỵ cả các trường khí như mâu thương, giáo, kích, đại đao, côn trường. Sức mạnh của Thiết chùy gạt một trường khí, dù người dùng chùy chuyển hết lực vào cánh tay, cũng không mạnh bằng đập trúng một ngọn trùy khác. Sức gạt mạnh ấy kém hẳn đi bẩy phần mười vì hai lẽ:

Lẽ thứ nhất: Trường khí không toàn khối nên khi va chạm với ngọn chùy không bị ảnh hưởng toàn lực.

Lẽ thứ nhì: Khi biết bị chùy gạt, đấu thủ sử dụng trường khí sẽ thâu ngay khí giới của mình về. Trừ khi đấu thủ bản lãnh quá kém không ước lượng nổi đòn của đối phương - trong trường hợp ấy dù có bị chùy gạt trúng, áp lực đối phương không đáng kể.

Bởi vậy, khi hai đấu thủ bản lãnh vào hạng cao siêu giáp chiến, ta không nên hấp tấp vội cho ngay người sử dụng song chùy nặng nề sẽ thắng người dùng trường khí nhất là khi món trường khí ấy nặng tám mươi ba cân và người sử dụng là Hoàng Bách Thắng, một tay kiệt liệt của La Phù sơn, sức mạnh hơn cả sư trưởng Thiên Không.

Một đấu thủ hiểu biết giá trị bản lãnh Công phu chân tài của mình, biết cái "lợi hại", cũng như "yếu điểm" của thứ võ khí mình cầm trong tay, biết ước lượng lợi hại của đối phương để khai thác lợi thế khi giáp chiến, đấu thủ đó chắc chắn ít khi bị sút kém, trừ khi gặp phải một đối phương bản lãnh cao hơn mình nhiều bực.

Hoàng Bách Thắng, vốn là một tay lão luyện giang hồ, tính như vậy nên không e ngại cặp thiết chùy nặng nề của Hà Thiên Khánh, quyết đánh để gỡ danh dự và mong chuyển lại tình thế sau khi ba dũng tướng bên mình, hai bị tử thương, một bị trọng thương, loại khỏi vòng chiến.

Bởi thế, khi Hà Thiên Khánh vận dụng thần lực đưa trái thiết chùy nặng nề gạt ngọn xà mâu thì chỉ trúng nhẹ như một món võ khí thường thôi, vì Hoàng Bách Thắng đã dung thế Tam Hóa Liên Mâu ngoằng mũi mâu từ bụng địch thủ lên ngực và từ ngực lên mặt.

Ba mũi đâm liên tiếp vừa mạnh, vừa lẹ trong chớp mắt cực kỳ lợi hại ấy áp đảo hẳn họ Hà.

Gạt hỏng mất mũi mâu thứ nhất ở bụng, Thiên Khánh không kịp đưa chùy lên gạt hai ngọn sau nên đành phải lùi luôn bốn, năm bước thiệt lẹ mới tránh khỏi lối đánh Liên Mâu. Không tha, Hoàng Bách Thắng trở đốc mâu thành trượng quật luôn một ngọn ngang mắt cá chân địch thủ. Thiên Khánh gạt được một đòn, nhưng đòn thứ nhì đã tới ngay bụng.

- Tại sao Hà lại sút kém như vậy?

- Thưa không, Thiên Khánh không sút kém. Đây là cái "lợi hại" môn chùy pháp và Mâu pháp.

Mâu pháp đã lanh lẹ, ngọn mâu lại do Hoàng Bách Thắng sử dụng, lẽ cố nhiên cán cân trận đấu phải lệch về bên họ Hoàng.

Nói về "Lực", Hà Thiên Khánh không khỏe gấp đôi, gấp ba Hoàng Bách Thắng, mà sử dụng món võ khí nặng gấp trăm lần cây Xà mâu, họ Hà phải xuất năm lần hơn về "năng lực" mới đối chọi kịp với ngọn Mâu của Bách Thắng.

Trái lại, nếu Thiên Khánh không cung cấp đủ số năng lực ấy, sự Lanh lẹ dĩ nhiên phải kém địch thủ những mấy lần. Trên chiến trường xung phong ồ ạt, Hà Thiên Khánh có thể là một viên dũng tướng Vô Địch trong việc phá thành, chiếm ải, vượt cặp thiết chùy nặng nề ấy như Tấn Vương Lý Nguyên Bá thời Đường, Nhưng trước một địch thủ tài lực như họ Hoàng sử dụng toàn đòn Giang Hồ với một thứ võ khí kỵ với thiết chùy, thì Hà Thiên Khánh khó bề thủ thắng.

Tam hiệp, Tòng Cát, Tòng Đức chú ý lối đánh của Hoàng Bách Thắng ngay từ lúc khởi chiến và dự tính ngay được tình hình bất lợi cho Hà Thiên Khánh.

Bởi thế, sau khi họ Hoàng dùng lối "Tam Hóa Liên Mâu", Chu Đức Kiệt và Lam Y là hai người đứng gần vòng chiến hơn hết đã phòng bị can thiệp.

Nhờ vậy, khi Bách Thắng đâm mũi mâu thứ hai sắp trúng bụng Hà Thiên Khánh thì Chu Đức Kiệt phi thân tới kịp, đạp bật cán mâu họ Hoàng sang bên, đồng thời điểm luôn mũi Thất Tinh đao vào mặt y khiến y phải vội vàng lùi luôn mấy bước tránh đòn.

Để che đậy việc cứu trợ người đồng bọn, Chu Đức Kiệt nói lớn :

- Hoàng Bách Thắng! Ngươi đấu với ta mới hợp lẽ chớ?

Đang sắp hạ kẻ địch bỗng bị phá ngang, Bách Thắng phản đối :

- Ngươi xử sự không anh hùng chút nào cả, sao dám can thiệp cứu bạn trong một trận đơn chiến?

- Ta đâu có cứu ai, nhưng ngươi phải cùng ta đơn chiến như chính ngươi đã nhận phân đấu cùng ta hồi nãy. Sau khi hạ Điêu Thiên Phượng, Hà tướng quân hết phận sự trên trận địa này rồi.

- Ta sẵn sàng, ngươi đánh đi!

Hoàng Bách Thắng nổi giận đùng đùng hoa mâu nhập chiến.

Trông hai người thiệt là kỳ phùng địch thủ.Chu Đức Kiệt vận võ phục đen tuyền, tóc búi ngược như Lữ Ôn Hầu hậu Hán, lưng thắt thanh sô sa đới, chân dận Bạch vân võ ủng, sử dụng đơn đao Thất Tinh ánh sáng xanh lè.

Một bên, Hoàng Bách Thắng cũng vận võ phục đen nhưng đeo đoản thiết giáp lóng lánh, đầu đội bao câu chiến mão ngù đen, ống chân đeo lá đáp buộc giải chéo lối Sơn Đông hướng mã, chân đi Hắc bổ hái, tay cầm ngọn xà mâu toàn thép xám đen ngù xanh biếc.

Cả hai đấu thủ cùng lực lưỡng, Họ Chu Đức Kiệt kiêu hùng, dáng điệu hào hiệp phong lưu mã thượng.

Họ Hoàng dữ dội, hiên ngang quả không hổ danh Vô Địch tướng quân. Hoàng Bách Thắng thấy đối phương dùng đơn đao liền áp dụng lối đánh ồ ạt với cây xà mâu vừa dài vừa nặng hơn. Ngọn mâu trong tay họ Hoàng rất lợi hại, lúc đâm lúc quất lanh lẹ, dữ dội, quằn quại như con mãng xà giỡn mồi.

Chu Đức Kiệt khen thầm mâu pháp họ Hoàng quả đã đạt tới mực độ cao siêu. Tuy là đồ đệ của Thiên Không, sư trưởng La Phù sơn, và phải gọi Phi Không là sư thúc nhưng tài nghệ và nguyên lực của Hoàng Bách Thắng trội hơn hẳn vài ba độ. Cũng vì vậy Chu Đức Kiệt tiếc cho y không biết lựa đường ngay mà đi. Với tài ấy, sức ấy làm gì họ Hoàng không kiếm nổi một chức lớn trong quân binh của Tri đình, hoặc trở thành một khách giang hồ mã thượng hữu danh trong thiên hạ?

Đâm luôn một lúc trên mười mũi mâu, mũi nào họ Hoàng cũng yên trí trúng đích, nhưng kỳ thay, Đức Kiệt không đỡ gạt, chập chờn như bóng ma. Mỗi khi ngọn mâu sắp tới người chỉ còn độ vài tấc thì chàng đã quay ngoắt né sang bên, khiến Bách Thắng đâm trượt hoài mặt đỏ gay tức bực.

Chống mâu nhảy ra khỏi vòng chiến, Bách Thắng quát :

- Khoan!

Đức Kiệt thâu đao lại :

- Muốn gì?

- Nghe ngươi danh trấn giang hồ, võ dũng tuyệt luân, lẽ nào né đường mâu của ta hoài khiến trận đấu mất thú, nên ta ưng thuận cho ngươi đổi võ khí rồi tái đấu ba trăm hiệp chơi?

Chu Đức Kiệt cười lớn :

- Hoàng Bách Thắng! Sao ngươi lầm lẫn tới nước ấy, dù có thác cũng không oan. Tất ngươi biết ngọn thiết thiền trượng của Phi Không nặng không kém chi xà mâu của ngươi, vậy mà y đã táng mạng tại Kim Cương tự. Tại sao?

Đưa ngược Thất Tinh đao ra phía trước mặt, Đức Kiệt nói tiếp :

- Là cao đồ La Phù sơn, ngươi không hiểu thế nào là Kiếm Thanh Hoa Ảnh lục ư? Hãy nhận xét kỹ xem thanh đao này có biết sợ bất cứ thứ võ khí nào ở trên đời này? Ta còn e có hại cho ngươi là khác nữa?

- Được lắm! Trận đấu sẽ trả lời. Nhưng ta có một điều kiện?

- Nói đi, ta nghe!

- Trong trận đấu này, nếu ngươi thắng ta thì không sao, trái lại, nếu ngươi thất trận, ta yêu cầu ở ngươi một lời hứa: mặc cho hàng ngũ bên ta tự tiện ra khỏi nơi Vương phủ này. Chịu không?

- Được chớ, khó chi điều ấy?

Nhân dịp, Hoàng Bách Thắng quay về bản trận dặn lại Dư Đông Bích, Tống Võ Cường :

- Nếu ta không thắng nổi Chu Đức Kiệt, liệu áp đánh trúng ngay và mạnh ai người ấy tẩu thoát, chớ có do dự mà bị bắt tất cả. Rất có thể người của chúng vây phía ngoài Vương phủ, nhưng dù sao cũng còn có hy vọng thoát thân. Nhắn bảo mọi người ngay.

Về phần Chu Đức Kiệt, chàng nghi ngờ đối phương tạ sự ngắt quãng trận đấu để ra mạng lệnh gì đó cho đồng bọn, bèn dặn Lam Y nữ hiệp :

- Chúng bị mất ba viên dũng tướng nên có ý muốn hỗn chiến thoát thân đấy nhé. Hiền muội liệu cắt đặt lại hàng ngũ của ta cho cân đối. Cố bắt cho kỳ được chớ đừng nên sát hại nhiều. Nếu không vì Nhạc Lan Anh thì bọn giang hồ hiệp khách chúng ta không nên can thiệp vào vụ này.

Lam Y nói nhỏ :

- Ngu muội đồng ý, hiền huynh an tâm.

Chu Đức Kiệt trở ra trận địa thì Hoàng Bách Thắng cũng vừa tới nơi.

Chuyến này, họ Hoàng lễ phép hơn, hoa xà mâu diễn mấy đường bái tổ, bộ pháp tuyệt hảo nhà nghề.

Để đáp lại, Chu hiệp cũng sử dụng lối bái tổ hoa mỹ của đao pháp gia truyền Chu Gia Phong Vũ Đao thập phần hùng dũng. Chàng hất hàm mời Bách Thắng nhập chiến.

Tức thì, họ Hoàng đảo bộ nhảy tới dùng thế Mã Sà Phiên Thân nhằm vai tả địch nhưng khi mũi mâu gần tới nơi thì đảo luôn đâm thẳng vào vai hữu.

Chu Đức Kiệt hiểu thế đánh huyền bão linh động của đối phương, ngay từ đầu, ung dung đưa giọng đao gạt hẳn mũi mâu sang bên, đoạn tiếp sát quơ luôn một đao ngang đầu địch. Lằn đao vút như gió, Bạch Thắng tọa bộ nhường lưỡi đao lướt qua đầu, rồi thúc luôn một đốc mâu vào bụng đối phương.

Đức Kiệt hạ đao gạt, đồng thời xử thế Đại Bàng Chiến Dự phóng luôn một ngọn cước hữu vào mặt địch thủ. Bách Thắng khen thầm hảo thủ, liền đưa tay tả chặn ngọn cước đó lại, đồng thời tay hữu thích luôn mũi mâu vào đùi tả của đối phương. Nhưng y đâm hụt vì Đức Kiệt vừa nhảy khỏi mặt đất, táp luôn cước tả vào mặt họ Hoàng. Bách Thắng kinh hoảng không ngờ Đức Kiệt cùng một lúc, không cần trớn, mà phóng luôn hai thế đá lợi hại như vậy. Lùi mấy bước tránh đòn, họ Hoàng đâm luôn một mâu nhằm ngực địch thủ. Lẹ như chớp, Đức Kiệt khẽ né sang bên, vươn tay tả cặp được cán mâu giựt mạnh. Ngọn mâu buột khỏi tay, bị chớm giựt, Bách Thắng nhào đi mấy vòng, nhưng quẩy mình đứng lên luôn, thì vừa kịp thấy ngọn mâu do Chu Đức Kiệt phóng tới.

Vươn tay bắt lấy lại khí giới, Bách Thắng mừng rỡ chưa kịp nhập chiến thì Chu Đức Kiệt đã nhảy tới tấn công liên tiếp như vũ bão, làm Thất Tinh đao xanh lè, vi vu lạnh người, đâm đâm chém chém linh động ghê hồn.

Hoàng Bách Thắng cũng tận tâm giao đấu, cây mâu xoay tròn gạt đỡ tấn công không ngừng. Thiệt là kỳ phùng địch thủ, tướng ngộ lương tài. Trận tranh hùng vừa ác liệt vừa thập phần hào hứng. Chu Đức Kiệt dũng mãnh kiêu hùng như giao long hí thủy. Hoàng Bách Thắng nhuệ khí đằng đằng tựa mãnh hổ nghinh phong.

Trận đấu diễn trên hai trăm hiệp.

Thanh Thất Tinh báu đao có thể chặt đứt được ngọn mâu địch bằng thép thường, nhưng trong nhiều trận đánh, Chu Đức Kiệt giao tranh rất đàng hoàng, dùng công phu tập luyện bình sanh để thắng kẻ địch chớ ít khi chàng dùng tới lợi khí đó, trừ phi trường hợp cấp bách cần phải tranh thủ thời gian.

Vì lẽ ấy, họ Hoàng mới có dịp tranh tài cùng đối phương.

Tới mực độ trên hai trăm hiệp, sức lực Bách Thắng kém lần lần, thở mạnh, mắt bắt đầu loạn, phần vì sử dụng ngọn mâu nặng, y phải tổn nhiều sức mới chống đỡ nổi thanh Thất Tinh đao biến hóa vô chừng, phần vì nguyên căn thần khí của y không đầy đủ như Chu Đức Kiệt, nên y bắt đầu mất sức lùi dần.

Trên bước giang hồ, đụng độ với nhiều tay kiệt liệt tài sức của Lam Y nữ hiệp và Chu Đức Kiệt rất đều nhau, hai nhân vật ấy chưa từng phải giao tranh tới dư hai trăm hiệp.

Nay Hoàng Bách Thắng cầm cự oanh liệt đến mực độ ấy, công phu khổ luyện của y cũng đã đáng liệt vào hạng siêu đẳng, danh Vô Địch quả bất hư truyền trong giới hắc đạo, hiềm vì y không chuyên như anh em Chu gia nên dĩ nhiên kém bền bỉ một khi trận đấu kéo dài.

Bên hàng ngũ địch, Dư Đông Bích, Tống Võ Cường thấy Hoàng Bách Thắng bắt đầu kềm thế lùi dần, liền ra hiệu cho đồng bọn ào sang hàng ngũ nghĩa sĩ hỗn chiến.

Đã dự phòng, các vị anh hùng tức thì đón đánh. Trận giao đấu khởi toàn diện trong hoa viên, khí giới sát phạt nhau va chạm chan chát, rợn người. Bọn quân hầu thuộc hạ các tướng trong Vương phủ thấy động kéo vào xem sự gì. Tới khu công đường, chúng bị đoàn gia tướng hậu cung chặn lại, điều qua tiếng lại xúc mích, thành thử hai bên mở thêm một trận xung đột hỗn độn.

Thấy các tướng đã xáp trận, Hoàng Bách Thắng cố gắng chống trả đòn địch, muốn chạy thoát thân. Biết vậy, Chu Đức Kiệt chém luôn hai lát nhằm vai họ Hoàng cốt ý bắt đối phương phải đưa mâu lên gạt đỡ, đồng thời chàng dùng thêm Phượng Hoàng Phi Độc Cước phóng chân hữu đá vào mỏ ác địch, trong khi tay tả xòe Cương Đao thọc thẳng vào xương quai sanh y giựt mạnh xuống. Bách Thắng đuối sức không tránh được nữa, trúng cả hai đòn một lúc té ngửa ngất lịm.

Chu Đức Kiệt không cố ý đả tử nên chỉ dùng một phần sức lực hạ địch thủ ngất đi mà thôi. Chàng cúi xuống tháo đai của Bách Thắng trói chặt y gò cánh xẻ ra sau lưng, đoạn lượm ngọn xà mâu đứng lên quan sát trận thế.

Gần bên chàng đứng nhất ở bên tả có Âu Dương Bích Nữ đang đấu với hai đầu đà bụng phệ Giới Tăng và Đức Năng.

Hai tên này sử dụng thiền trượng lanh lẹ phi thường, khác hẳn với bề ngoài ai cũng tưởng chúng nặng nề chậm chạp vì béo mập thù lù. Bên hữu, Lam Y nữ hiệp đánh với Bạch mẫu Ngô Công Tần thị và Đới Ngọc Hoàn.

Còn các cặp khác chiến đấu rải rác trong hoa viên.

Chu Đức Kiệt gọi Âu Dương Bích Nữ :

- Âu Dương hiền muội!

Âu Dương Bích Nữ nhảy ra khỏi vòng chiến.

Chu Đức Kiệt liệng cây bát xà mâu cho nàng :

- Dùng mâu đấu với trượng coi.

Nàng bắt lấy ngọn mâu. Gài Trăm Lư vào vỏ thì vừa lúc hai đầu đà Giới Tăng và Đức Năng xông vào đánh tới tấp.

Ngọn mâu ở trong tay Âu Dương Bích Nữ thiệt lợi hại. Nàng hoa lên hai vòng đánh bật địch thủ sang bên, đoạn nàng xông liền vào áp đảo tơi bời. Không mấy chốc, nàng đã đâm trúng vế Đức Năng lăn kềnh ra đất rên xiết.

Giới Tăng yếu thế kéo lê thiền trượng toan chạy, nhưng Âu Dương Bích Nữ nhảy tới đâm luôn một lát vào bụng chân y té nhào. Hai đầu đà trúng thương nặng lê lại gần nhau Âu Dương Bích Nữ nhìn quanh, đoạn gọi Lam Y :

- Lam Y hiền muội, xà mâu đây.

Lam Y đưa tay tả ra hiệu bảo Âu Dương Bích Nữ liệng mâu, băng mình ra khỏi vòng chiến.

Tần Thị thét lớn múa thiết trúc trượng áp đánh, nhưng Lam Y đã cầm gọn xà mâu trong tay, quát lớn :

- Ác phụ không biết điều, bản cô nương đã sanh phước không thèm hạ sát hai đứa bây mà không biết đường trốn chạy như ở Sơn Phu hả?

Tần Thị thét vang :

- Ai sợ Lam Y nữ hiệp chớ tổ mẫu bây đây không coi mày ra gì đâu. Hãy nhận lấy trượng này!

Dứt lời, Bạch Mẫu Ngô Công vụt luôn một trượng vào mặt địch thủ Đới Ngọc Hoàn cũng vác đao nhảy vào tiếp tục chiến đấu.

Lam Y gạt khí giới địch sang bên, nhảy lùi lại mấy bước chỉ mặt Đới Ngọc Hoàn :

- Con dâm nữ muốn ta đưa về chầu Xích Hoa Xà và Mẫu Dạ Xoa phải không? Biết điều hãy đào tẩu ngay kẻo toi mạng.

Đới Ngọc Hoàn nghiến răng rít lên :

- Ta phải moi gan mi ra mới hả giận. Coi đây!

Ngọc Hoàn lăn xả vào đánh, Tần thị xông theo, Lam Y nhắm lưỡi đao của họ Đới vụt mạnh một mâu. Thanh đao buột khỏi tay Ngọc Hoàn quay ra xa. Họ Đới cánh tay tê buốt, nhăn nhó bỏ vòng chiến. Lam Y quật luôn một mâu nữa đánh văng thiết trúc trượng của Tần thị. Cũng như Đới Ngọc Hoàn, Tần thị toàn thân rung động, tê buốt vì ngọn mâu quật nặng nề ấy.

Lam Y nữ hiệp thâu xà mâu lại chống xuống đất cười khanh khách.

Tần thị và Đới Ngọc Hoàn ngó trước ngó sau, chạy ra mé tường hoa viên phi thân đào tẩu.

Lam Y nhìn Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ :

- Sanh phước cho hai chúng nó. Một đứa mất con, một đứa mất cha mẹ, thế đủ rồi. Nếu gặp lần thứ ba quyết không tha!

Chợt nhớ ra điều gì, nàng nói tiếp :

- Ủa! Không thấy Tôn Hoàn và Đường Trại Nhi. Chị em ta lùng bắt chúng đi.

Âu Dương Bích Nữ giật mình :

- Quên khuấy đi mất! Có lẽ chúng cao chạy xa bay rồi. Nhưng cứ thử tìm xem, dù sao cũng có bọn nữ binh của Lan Anh hành động trước ta.

Lam Y cắm phập xà mâu xuống đất, rồi cùng Âu Dương Bích Nữ ra khỏi hoa viên theo đường cũ ra lối công đường, thì nghe tiếng reo hò sát phạt. Hai nữ hiệp vội lẹ chân ra xem mới biết là bọn gia tướng đôi bên đang ấu đả. Cả hai bên cùng có kẻ chết và bị thương.

Đứng trên bực cao, Lam Y gọi lớn :

- Bớ các gia tướng, hãy ngưng chiến nghe ta nói đây!

Chúng thâu khí giới lại, đứng hai bên tả, hữu sân. Nàng dõng dạc nói tiếp :

- Ngũ hổ tướng, Tiên Phong và những người khác định tạo phản nên do lệnh Thuận Vương chúng đã bị vây bắt trong hậu cung rồi. Không tin, cho phép vào thẳng trong đó mà coi xem có thiệt như vậy không.

Giờ đây, quân triều đình vây trọn Vương phủ rồi, nếu các ngươi muốn bị tội theo bọn tướng tá chủ nhân của các ngươi, thì cứ việc theo chúng chống cự lại quân hậu cung. Bằng như các ngươi mong được sống bình an, ta khuyên người của dinh nào nên về ở dinh đó cho tới khi có lệnh mới định đoạt. Nghe chưa?

Bọn gia tướng có mục đích gì đâu. Chúng liền theo lời hạ khí giới.

Lam Y hỏi :

- Trong bọn các ngươi, có người nào thuộc dinh Tôn Hoàn không?

Bốn tên bước ra chắp tay đứng nghiêm chỉnh.

Một tên ra vẻ lanh lợi hơn nói :

- Thưa nữ tướng, chúng con thuộc dinh Quân sư, ít người hơn cả.

- Tôn Hoàn và Đường Trại Nhi đâu?

- Con tưởng Quân sư và Đường cô nương vào cả hậu cung. Hai người bỏ dinh đi lâu lắm rồi, ngay từ lúc đầu theo Ngũ Hổ thì phải.

Tên gia tướng trong dinh Hoàng Bách Thắng bước tới thưa :

- Lúc mới đầu con trông thấy hai người vào dinh Hoàng nguyên soái.

Lam Y lấy làm lạ :

- Dinh họ Hoàng có cửa thông ra ngoài Vương phủ hay có lối đi ngầm nào không?

- Con không rõ, nhưng có một cửa sau mà Nguyên soái không bao giờ cho phép ai được mở hết.

Nghe tới đây, Âu Dương Bích Nữ bảo Lam Y :

- Có lẽ là cửa bí mật mà chỉ riêng Hoàng, Tôn hai tên biết với nhau thôi. Chắc chúng cao chạy xa bay rồi, nhưng ta cứ ra đó xem thế nào. Con yêu nữ họ Đường khôn vô tả! Nó chạy mất thì đáng tiếc!

Lam Y gật đầu đồng ý, bảo tên gia tướng của Bách Thắng :

- Các ngươi có bao nhiêu người hãy theo ta, còn thì đâu về đó.

Lam Y chỉ tên gia tướng dinh họ Hoàng đã trông thấy Tôn Hoàn và Đường Trại Nhi mà rằng :

- Còn ngươi phải theo ta, khá đi trước dẫn đường.

Tên kia vâng lời quay ra. Lam Y và Âu Dương Bích Nữ theo sau. Vừa vòng vèo đi được một quãng đường thì có tiếng chân chạy phía sau.

Hai người quay vội nhìn lại thì ra Nhạc Lan Anh, tay vác phương thiên kích chạy tới.

Lam Y nữ hiệp hỏi :

- Hạ tên Bào Chí Cường rồi ư? Mũi kích còn vấy máu kia kìa.

Lan Anh đáp :

- Dạ, tên đó hết nhìn láo liên rồi. Tiểu muội ghét cặp mắt y quá! Nhị vị hiền thơ đi đâu thế này?

Lam Y kể việc Tôn Hoàn và Đường Trại Nhi cho nàng nghe.

Ba người lẳng lặng đi tới dinh Hoàng Bách Thắng.

Tên gia tướng dẫn tới chỗ cửa hậu, ngạc nhiên la lớn :

- Ủa! Ai đã mở then và gióng cửa ra thế này?

Lam Y mở cánh cửa lúc đó chỉ có khép hờ lại, dặn tên gia tướng chờ ở đó, rồi cùng Âu Dương Bích Nữ và Lan Anh đi vào con đường nhỏ bí mật. Lúc sau, ra tới chân tường, Lam Y nhìn quanh, nhận thức ngay lối sử dựng cơ quan. Cánh cửa đá chuyển động mở hẳn ra.

Ba người bước ra khu đất trống vắng vẻ và đi thẳng tới khu phố nhỏ, Âu Dương Bích Nữ nói :

- Con yêu nữ và Tôn Hoàn tẩu thoát rồi! Hoàng Bách Thắng không cần giấu lối cửa sau dinh y vì cho rằng không cần thiết.

Ba người quay vào đóng cửa lại như cũ rồi trở lại.

Ra tới ngoài con đường nhỏ, Lan Anh đóng cửa lại như trước và bảo tên gia tướng theo sang dinh Tôn Hoàn.

Ba người lên thẳng thượng lầu xem xét. Trong phòng Đường Trại Nhi, xiêm y vẫn để trong rương nguyên vẹn.

Lam Y nữ hiệp nói :

- Đường Trại Nhi lanh lợi lắm. Chắc Tôn Hoàn hay Hoàng Bách Thắng để lộ chuyện gì nên nó dự tính đào tẩu ngay.

Ba người đi xuyên gần hết Vương phủ. Lam Y và Âu Dương Bích Nữ tấm tắc khen ngợi cách kiến trúc hoàn toàn đặc biệt trong phủ.

Lam Y nói :

- Từ ngàn xưa, phàm kẻ nào lo đại sự mà nghịch đạo Trời, trái ý dân cũng không đạt. Tiếc cho Thuận Vương và cũng may cho ta, Hoàng Bách Thắng bị nói khích chịu nhận đấu ở hậu hoa viên, dễ dàng đỡ mất thì giờ cho ta biết chừng nào. Trái lại, nếu y không chịu giàn mặt chiến đấu rút vào khu phòng vệ kiến trúc kiểu trôn ốc này, chắc chắn bọn ta không thắng ngay đâu và còn mất nhiều thì giờ là khác.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Họ Hoàng kiêu hãnh tin ở lực lượng hùng hậu của y, nên mới nhận chiến ở hoa viên.

- Lực lượng và tài nghệ chiến của chúng như vậy không tự tin sao được?

- Tuy hạ bọn họ Hoàng, tôi vẫn thấy tiếc thay cho các nhân tài ấy.

Ba người vừa đi vừa chuyện trò vào tới hậu hoa viên thì các trận đấu cũng vừa tàn.

Trừ Hầu Văn Bảo, Triệu Đại Bằng, Bào Chí Cường tử thương, hai đầu đà Thạch Căn và Tử Nguyên cũng bị Hà Thiên Tường và Mã Kim Loan hạ sát. Còn tất cả đều trúng thương bị bắt.

Bọn quân binh hậu cung giúp việc trói các tướng, hò nhau khiêng đặt thành hàng dài dưới mái hiên.

Trận đánh kéo dài suốt từ trước Ngọ đến chiều tối mới chấm dứt.

Anh em Trấn Quốc sửa soạn giải lao mọi người và mở phủ môn cước mấy đạo binh trá hình thường dân vào phủ.

Các anh em hai họ Mã, Hà hỏi tướng binh xem Nguyên soái và Hà tổng tr ấn đâu, mới biết hai vị cao cấp còn ngồi cả bên Hoa Vương lầu gần phủ chờ tin.

Mã Thành Long nói :

- Nếu không nhờ quý vị anh hùng giúp sức, chắc chắn đại sự không thể thành công mau lẹ như hôm nay. Đại công ấy, tôi sẽ tâu trình Hoàng đế để ghi danh quý vị vào bảng vàng Giang Hồ Hiệp Khách.

Chu Đức Kiệt nói :

- Nguyên soái quá khen, anh em giang hồ chúng tôi thế thiên hành đạo, nay vừa làm bổn phận một công dân đất nước. Giờ đây xin kiếu về Cao gia trang.

Mã Thành Long ngạc nhiên :

- Các vị về Cao gia trang ngay bây giờ sao?

- Dạ! Ở lại Vương phủ cũng không ích lợi gì. Bọn tặc tướng trừ Tôn Hoàn, Trại Nhi vừa chết vừa bị bắt hầu đủ duy thiếu có mụ Tần thị và Đới Ngọc Hoàn trốn thoát.

Còn việc giải ngũ một số binh lực Kim Lăng và phân phát mọi công việc trong Vương phủ, chúng tôi không biết luật lệ binh ngũ ra sao, ở lại thêm quẩn chân Nguyên soái trong lúc người cần xếp đặt gấp rút cho sự an ninh dân chúng được đều hòa như không xảy ra chuyện gì cả.

Về tới Cao gia trang, tôi sẽ cho người đem hành trang của Người và của chư tướng vào đây, như vậy Nguyên soái đỡ phí thì giờ sai người qua lại.

Mã Thành Long cười :

- Quý vị Giang Hồ Hiệp Khách hành động mau lẹ hơn chúng tôi chậm chạp vì thủ tục rất nhiều. Vài bữa nữa, chúng ta sẽ họp mặt trên tiệc rượu khánh hỷ. Vậy nhờ khách anh hùng chuyển lời cám ơn chúng tôi lên Trại Mạnh Thường lão hán và Cao trang chủ hộ, nhé!

Chu Đức Kiệt vâng lời, cùng Lam Y và ba anh em Âu Dương ra khỏi đại sảnh cùng chư tướng tạm biệt.

Trấn Quốc nói với năm hiệp khách :

- Anh em tôi đang bận việc Vương phủ, ngày khác chúng ta tái kiến?

Chu Đức Kiệt cười :

- Ta còn gặp nhau nhiều mà! Tôi rất mừng cho nhị thế huynh rằng tình hình đang biến chuyển có lợi cho lệnh Phụ vương. Trấn Quốc nói mấy lời cảm ơn. Vừa khi đó, thị nữ Tố Vân tiến tới :

- Quận chúa cho con đến mời các vị anh hùng vào tư phòng.

Năm người liền theo Tố Vân vào hậu cung. Nhạc Lan Anh đứng chờ sẵn ở phòng ngoài.

An tọa xong, thị nữ dâng trà, Lan Anh nói :

- Sở dĩ tiểu muội lưu quý vị đại huynh và thơ thơ lại tư thất là có ý muốn thổ lộ vài điều.

Lam Y nữ hiệp ngồi bên, cầm tay nàng thân ái :

- Hiền muội chưa nói tôi đã hiểu rồi đó nhưng thử nói đi nghe nào!

Lan Anh chậm rãi :

- Cuộc sống trong Vương phủ của tiểu muội kể từ đây chấm dứt, và muốn trở về chốn xưa của cố song thân phụng thờ hương khói bỏ lửng đã hai chục năm trường.

Lam Y nữ hiệp nói :

- Việc tế mộ phần tôi không dám ngăn, nhưng lẽ nào hiền muội ở lại nơi hoang vu ấy sống với một kỷ niệm xa xưa, mai một thân thế chăng? Thiển nghĩ từ tấm bé đến nay, hiền muội vẫn được vợ chồng Thuận Vương thương quý như con ruột, vậy nếu hai Thế tử về Kinh sư, hiền muội cúng nên đi theo cho phải đạo dưỡng nữ. Tuy mất chức vụ ở Kim Lăng, tôi chắc Thiên tử công minh chánh đại không nở bắt tội Thuận Vương đâu. Trong khi Trấn Quốc bàn giao công việc Vương phủ, Hiền muội vào Vũ Hồ tế mộ phần, xong rồi về đây cùng đi Yên Kinh có hơn không?Nhạc Lan Anh gật đầu :

- Trong quãng mười chín năm trời, tiểu muội đã xa Vương cung theo sư phụ trên Long Sơn ngót bẩy năm rồi. Trở về Kim Lăng được đúng hai năm thì xảy ra vụ này, nhưng lúc nào tiểu muội cũng không vui với cảnh sống bó buộc trong cấm. Đối với công dưỡng dục của Thuận Vương, tiểu muội đã trả ơn bằng cách giải quyết vụ Kim Lăng này rồi, chắc dưỡng phụ không còn điều chi chê trách. Mai một đây, tiểu muội sẽ trình bày thiệt sự cho Trấn Quốc biết gia cảnh tiểu muội, và nhất quyết ra đi. Giờ đây, nhờ các vị cho Vương nhũ mẫu và hai a hoàn theo đem rương trang ra khỏi đây thôi.

Lam Y thấy Lan Anh quyết định rời Vương phủ bèn nói nhỏ với Âu Dương Bích Nữ mấy câu.

Âu Dương Bích Nữ gật đầu mỉm cười đưa mắt nhìn nhị huynh Tòng Đức, đoạn nói với Lan Anh :

- Hiện thời, chúng tôi còn ở lại Cao gia trang một thời gian ngắn nữa và vui lòng chờ Nhạc hiền muội. Sau hai chục năm trời, chắc nơi nhà cũ đổ nát rồi. Vậy phải tính chuyện xây đắp mộ phần lệnh song thân cho được vĩnh viễn. Rời Kim Lăng, chúng tôi sẽ cùng đi với hiền muội, nhưng với điều kiện là... là...

- Là sao? Hiền thơ cứ dạy.

- Là mời hiền muội cùng về ở chơi tại tệ trang bên Tô Châu một thời gian rồi sau sẽ hay, có được không?

Lan Anh cảm động :

- Rời khỏi Vương phủ, tiểu muội tứ cố vô thân, được hiền thơ phong nạp cho thì còn gì mà không nhận lời? Hiềm một nỗi đem theo đông người quá.

- Không sao. Lấy hành trang đủ dùng đem theo người. Gia phụ và gia huynh Tòng Cát sẽ về Tô Châu trước, nên cho ba a hoàn đem tư trang đi theo. Còn Vương nhũ mẫu và Tố Vân cùng đi Vũ Hồ với chúng ta.

- Chúng tôi có ngựa riêng rồi, hiền muội nên sửa soạn một xe ngựa để nhũ mẫu và Tố Vân đi cho tiện.

Lan Anh nói :

- Có sẵn xe chờ dưới hoa viên rồi.

Tam hiệp và Tòng Cát, Tòng Đức đứng cả lên, cầm theo khí giới.

Lan Anh đưa mọi người xuống hoa viên. Một chiếc xe song mã và bẩy năm con ngựa yên cương sẵn sang chờ ở nơi gần giả sơn. Vương nhũ mẫu, Thu Nhi, Thu Nguyệt ngồi sẵn trong xe. Hai tên quân hầu chạy tới thưa :

- Nhị vị Thế tử cho chúng con đem ngựa đến để quý vị anh hùng về Cao gia trang.

Chu Đức Kiệt cười :

- Nhị vị Thế tử chu đáo quá, nhưng ai sẽ đem bầy ngựa này về trả Vương phủ được?

Quân hầu đáp :

- Con có lệnh đi theo để làm nhiệm vụ đó.

Năm người tạm biệt Lan Anh lên ngựa theo quân hầu dẫn đường ra khỏi Vương phủ.

° ° °

Nguyên soái Mã Thành Long đã biết trước rằng anh em Trấn Quốc, Bảo Quốc là hai người trung dũng, xếp đặt vụ Vương phủ nên mọi việc đáng lẽ bùng nổ lớn thì được thâu gọn lại đỡ tổn sức hao quân, nên đối với hai người rất có cảm tình.

Từ trước đến nay, công việc trong Vương phủ phần nhiều do Trấn Quốc điều động, còn Thuận Vương thì chỉ ký nhận làm vì, nên cuộc bàn giao công khố, trình sổ sách, danh tánh các nhân viên, nhất nhất rõ ràng không có gì khó khăn cả.

Họ Mã vốn người hiền đức không muốn hại Thuận Vương là người đã biết hối cải, nên tự ý chuyển số binh đội dư ở Kim Lăng sang binh đội của mình và chỉ giữ nguyên số do triều đình chỉ định cho địa hạt Kim Lăng thôi. Sau đó, họ Mã lập một bổn phúc trình rành mạch kể công hai Thế tử và Quận chúa Lan Anh trong vụ lập mưu bắt các phản tướng lời lẽ thiệt hiền lành gỡ tội cho vị Vương gia lỡ lầm.

Thành Long đưa bổn phúc trình cho Hà tổng trấn coi. Họ Hà cũng nhân đức ưng thuận. Riêng Đàm Bá Phục vắng mặt vì miền duyên hải Trấn Gian Thành mới xảy ra một vụ cướp biển, nên phải đích thân trở về Đại bản doanh điều tra, trao quyền điều động binh đội cho con trai là Đàm Bá Lân.

Mã Thành Long cho phi kỵ quân cấp tốc đem phúc trình về Yên Kinh và xin cho Chu Trấn Quốc là người không thạo công việc cai trị Kim Lăng tạm quyền hành thay thế Thuận Vương được ở lại cho đến khi triều đình ban lệnh mới, hoặc phái người thay thế, hoặc bổ nhậm vĩnh viễn Chu Trấn Quốc. Một mặt Hà Thiên Thọ cùng hai con Thiên Tường, Thiên Khánh rút binh đội Tứ Xuyên về cả Thành Đô.

Đàm Bá Lân cũng rút đoàn thủy quân lục chiến về Trấn Giang. Riêng bộ độ Miền Bắc được giữ lại.

Trước khi giải tán hai đạo quân Đông, Tây về vị trí cũ, Mã Thành Long đặt một bữa tiệc lớn ngay trong phủ thành, mời Trại Mạnh Thường lão anh hùng, Cao trang chủ và toàn thể các vị hiệp khách nghĩa sĩ đồng dự.

Sau bữa đại tiệc, mọi công việc đã tạm rảnh rang. Nhạc Lan Anh mời hai Thế tử về tư thất nói thiệt tình cảnh của mình.

Trấn Quốc, Bảo Quốc giật mình, không ngờ Lan Anh mà hai chàng vẫn yên trí là em ruột lại có một tiểu sử gia đình bi đát đến như thế. Trấn Quốc bùi ngùi nói :

- Cớ sự đã xảy ra như vậy, vạn nhất chẳng đều qua số mệnh, thì mới đây, kẻ gây ra tội lỗi là thúc thúc Vĩnh Bình cũng đã bị hạ sát rồi, thiết tưởng hiền muội chẳng nên cùng gia đình ngu huynh ly tán. Từ trước đến nay, song thân rất chiều chuộng quý mến hiền muội có phần hơn cả con ruột, chuộc được phần tội lỗi nào cho mối hận giữa hai họ chúng ta. Nay hiền muội ra đi, song thân phiền muộn xiết bao. Tiện đây, ngu huynh sẽ phái thợ vào tận Vũ Hồ xây đắp lại mộ phần lệnh Tôn lệnh mẫu. Bảo Quốc không có trách nhiệm ở Kim Lăng sẽ theo hiền muội kính viếng mộ phần cho thỏa linh hồn người quá cố.

Lời nói nhân nghĩa của Trấn Quốc khiến Lan Anh rơm rớm lệ.

Nàng nói :

- Tiểu muội không cố dứt tình. Nhưng yêu cầu nhị vị hiền huynh cho phép tiểu muội được làm nhiệm vụ của một người con đối với vong linh cha mẹ. Sau đó, tiểu muội đi cùng Tam hiệp qua Âu Dương trang bên Tô Châu như đã hứa với các vị ấy. Nếu triều đình ra ơn cho trưởng huynh Trấn Quốc được ở lại Kim Lăng, dĩ nhiên gia đình sẽ được đoàn tụ như xưa. Trái lại, hiền huynh phải về Kinh thì qua Tô Châu cũng nên tìm đến Âu Dương trang cho tiểu muội biết tin rồi sẽ hay. Mã nguyên soái nhân đức thiệt, song ở trong Vương phủ với tình trạng bị chiếm đóng, tiểu muội thấy khó chịu lắm. Tam hiệp hiện còn chờ ngoài Cao gia trang, mai tiểu muội sẽ ra đón rồi cùng đi viếng mộ phần ở Vũ Hồ.

Trấn Quốc suy nghĩ giây lát :

- Hiền muội đã quyết định như vậy, ngu huynh không lẽ chẳng chiều lòng. Sáng mai ngu huynh sẽ đón đoàn thợ vào Vũ Hồ chờ hiền muội tới sẽ khởi công xây đắp.

- Đa tạ hảo ý của hiền huynh nhưng phái thợ từ đây tới Vũ Hồ hơn hai trăm dặm xa xôi, để tiểu muội tự liệu lấy cũng được. Thợ ở Thái Bình huyện thiếu gì và chỉ cách có vài dặm đường.

- Ngu huynh đã quyết định, hiền muội cản trở vô ích. Lạ một điều là tại sao song thân lại giấu diếm việc này và không cho xây đắp mộ Nhạc tướng công và phu nhân từ trước.

- Dễ hiểu lắm, Phụ vương không muốn cho tiểu muội biết tiểu sử bi đát của gia đình. Nếu không nhờ Thượng Thái sư phụ thì chính tiểu muội cũng mịt mờ không biết gì.

Hôm sau, Nhạc Lan Anh từ biệt mọi người đem Tố Vân, Tố Muội ra khỏi Vương phủ đến Cao gia trang.

Anh em Chu gia và Âu Dương vui mừng, đón nàng vào trong chào Cao Thiệu Đàm và Trại Mạnh Thường.

Lão anh hùng nói :

- Lão phu nghe nói điệt nữ sẽ cùng Tam hiệp và Tòng Đức đi Vũ Hồ, sau đó về Tô Châu, vậy điệt nữ cứ tùy tiện nhé. Ta coi điệt nữ như con chớ có nề hà.

Lan Anh cảm động vâng lời, trở ra đàm luận cùng năm người. Lam Y nói :

- Chúng ta mất nhiều thì giờ ở Kim Lăng rồi, liệu mai hay mốt khởi hành đi thôi.

Lan Anh góp ý kiến :

- Vũ Hồ là vùng hoang vắng, theo lời Vương nhũ mẫu thì trên đường Kim Lăng, Thái Bình huyện còn có hàng quân, nhưng từ đại lộ rẽ vào Vũ Hồ hoàn toàn hoang vắng. Chúng ta phải đem theo lương thực cùng các thứ cần dùng đóng trại nhiều ngày. Trong lúc chờ xây xong mộ phần, quý vị có thể giải trí bằng cách săn cáo nhị thể.

Âu Dương Bích Nữ mừng rỡ :

- A ha, với da cáo nhị thể, ta sẽ khâu võ bài và túi dạ hành tuyệt đẹp.

Nội nhật hôm sau, năm người có phận sự đi Vũ Hồ kéo nhau vào thành mua sắm các thứ cần dùng.

Trại Mạnh Thường và Âu Dương Tòng Cát khởi hành về Tô Châu trước. Lan Anh căn dặn ba a hoàn thân tín Tố Muội, Thu Nhi, Thu Nguyệt đem theo tư trang cùng các trường khí về Âu Dương trang cho nàng. Trại Mạnh Thường đi khỏi, các vị anh hùng nam nữ cùng từ tạ Cao trang chủ lên đường đi Vũ Hồ. Tam hiệp, Tòng Đức, Lan Anh đi ngựa. Vương nhũ mẫu mừng rỡ được trở lại chốn cũ lên xe song mã chở các vật dụng do a hoàn Tố Vân cầm cương. Đêm hôm đầu ngủ ở tửu điếm. Trưa ngày thứ hai, đoàn nhân mã đi tới quãng đường rẽ vào Vũ Hồ.

Đường đó là một con độc đạo, cây cỏ rậm rạp, băng qua các ngọn đồi nhấp nhô những tảng đá thiên nhiên cực kỳ lớn.

Qua một khúc đường độ mươi dặm rậm rạp như vậy, cảnh sắc bỗng đổi hẳn. Các ngọn đồi thoai thoải thấp hơn khu bên ngoài nhiều, cỏ hoa xanh mướt cao hơn mắt cá chân ngựa chút ít, cây cối thưa đi nhiều, nhưng đủ giữ bóng mát đó đây. Thỉnh thoảng lại có một dòng nước róc rách, quằn quại chảy như rắn bạc luồn mình qua đồng cỏ xanh rì.

Vương nhũ mẫu cố nhận xét nhớ lại con đường mà chính mình suốt mấy chục năm nay cũng chỉ qua có ba lần, lần này là lần thứ ba.

Chuyến đầu theo vợ chồng chủ nhân Nhạc Hoàng vào lập trại và chuyến thứ hai theo Thuận Vương về Kim Lăng, trong tay khư khư bế nữ tiểu chủ thỉnh thoảng lại khóc giãy lên đòi mẹ.

Phần Nhạc Lan Anh, nàng rất đỗi hồi hộp. Mỗi bước chân ngựa, quãng đường được thu ngắn lại, đưa nàng vè nơi chôn nhau cắt rốn và cũng là nơi mà song thân nàng tử nạn, bỏ lại đứa con còn măng sữa chơ vơ với người lão bộc trung thành.

Thấm thoát đã hai chục năm!...

Nàng thúc ngựa lên ngang xe song mã, hỏi nhũ mẫu Ý Lan :

- Nhũ mẫu nói rằng, chỉ có trại nhà ta ở trong khu Vũ Hồ này?

Vương Ý Lan gật đầu, nheo mắt vì vừng thái dương đã ngã non Tây chiếu tréo vào mặt :

- Phải rồi chỉ có một mình nhà ta. Tôi nhớ lắm, Lan nhi à. Tướng công ăn thịt, chủ mẫu trồng rau, một tháng đôi lần, Tướng công đánh xe lên huyện bán da cáo nhị thể và mua các thực phẩm khác về.

- Thiệt chắc không có ai tới nữa chớ?

- Có một hai lần Tướng công đưa người bạn trên huyện về chừng hơn một ngày rồi họ đi ngay. Còn chuyến sau cùng có nhiều người đột nhập khu này là đoàn săn của Thuận Vương.

Lan Anh chỉ vết đường mòn :

- Nếu vậy, có thể nói là suốt bao nhiêu năm nay không có bóng người lai vãng khu này nữa, vậy mà nhũ mẫu coi này!... Đường mòn rất rõ rệt như thế vẫn có người qua lại.

- Lằn bánh xe in rõ ràng! Có cả lằn mới nữa. Không lẽ bây giờ có người khác cư ngụ Vũ Hồ?

Nhũ mẫu đáp :

- Tôi cũng nghĩ vậy nên rất phân vân. Đáng lẽ không còn lối đi nữa vì cỏ mọc đều rồi.

Bốn người cỡi ngựa đi sau nghe Vương nhũ mẫu và Lan Anh bàn tán, Lam Y nói :

- Nhạc hiền muội à, rất có thể có người khác vào ở vùng Vũ Hồ được, nhiều người ở cũng chưa biết chừng, hai chục năm qua rồi, cuộc đời phải tiến theo vòng thời gian chớ?

Chứng cớ hiển nhiên là ngay tờ hồi ấy, Thuận Vương đã biết lần mò vào khu hẻo lánh này săn cáo nhị thể.

Lan Anh nhìn mọi người như phân vân :

- Không hiểu bị thúc đẩy bằng ý nghĩ gì, nhưng tiểu muội vẫn có cảm tưởng rằng chỉ riêng gia phụ mới vào ở Vũ Hồ, ngoài ra không có ai hơn nữa. Kỳ thiệt!

Đoàn người vừa đi vừa chuyện trò, không mấy chốc vừng thái dương đã ngã hẳn xuống chân trời.

Cảnh chiều tà bao phủ khắp vùng hoang vu tịch mịch.

Tới một dốc đồi, bỗng Vương nhũ mẫu reo lên, chỉ tay phía tả :

- Ồ!... Kia rồi!

Mọi người nhìn theo phía tay chỉ.

Quả nhiên, Vũ Hồ long lanh phẳng lặng như tấm gương sáng ngời phản chiếu cảnh trời xanh mây trắng.

Bên bờ hồ, một căn trại nhỏ, hai nếp nhà cây nối vào nhau theo hình chữ "Đinh". Làn khói lam phảng phất như dải lụa xám, bốc từ mái nhà lợp ngói lên cao.

Lam Y nói :

- Có người ở mà! Chắc phải khu trại cũ không?

Nhũ mẫu nói :

- Chắc chắn là trại này rồi. Mặt nước Vũ Hồ kia và bên hồ chỉ có một trại nhỏ. Tôi còn nhớ lắm, Nữ hiệp ạ. Chắc rằng người vào đây thấy căn trại bỏ hoang nên sang sửa lại, rồi ngụ cư liền.

Bỗng có tiếng gọi từ phía trại nhỏ :

- Lan... an... an... n Anh... nh... nh!...

Một lần nữa, tiếng gọi vọng lên dài hơn trước.

- Ai đó biết nàng Lan Anh đã tới mà hò gọi như vậy?

Đành rằng phải có người quen biết, biết là nàng vào Vũ Hồ mới gọi như vậy, nhưng quả tình ai cũng cảm như đó là tiếng vọng của oan hồn vợ chồng Nhạc tướng công mừng rước con gái độc nhất thân yêu đã trở lại chốn xưa.

Lam Y nữ hiệp nóng ruột giục giã :

- Đi lẹ lên xem ai gọi mà lạ kỳ như vậy. Đứng mãi đây suy nghĩ sao?

Đoàn người ngựa tiến lẹ hơn trước, chẳng mấy lúc tới nơi.

Trước cổng trại lố nhố những người, có cả ba chiếc xe ngựa lớn đậy ở ven giữa hàng rào.

Một bầy sáu con ngựa ăn cỏ thơ thẩn đó đây.

Hai người chạy ra mừng đón đoàn người mới đến.

Bọn Lam Y nhận ngay ra là Chu Bảo Quốc và Dương Hoài Ngọc!

Bảo Quốc nói lớn :

- Sao quý vị đến trễ vậy? Tôi chờ ba hôm nay rồi!

Lan Anh đem việc Trấn Quốc Chiêu Đức thiền sư nhị Thế tử dẫn thợ vào Vũ Hồ xây dựng lại mộ phần của song thân nàng nói qua cho mọi nghe.

Bấy giờ ai nấy mới vỡ nghĩa.

Mọi người cùng xuống ngựa, vui vẻ chào hỏi nhau.

Lan Anh nói với Bảo Quốc :

- Ngờ đâu hiền huynh vào Vũ Hồ sớm thế!

- Hôm sau, huynh trưởng giục ngu huynh lên đường ngay.

Chàng chỉ ba xe ngựa mà rằng :

- Ba xe này trở các dụng cụ vật liệu, hiện để cả trong vườn, nhưng không phải dùng tới nữa vì mộ phần đã có người xây dựng thiệt đồ sộ và quanh năm hương khói ngay từ ngày xảy ra chuyện chẳng lành rồi. Những người mới đến nghe Lan Anh, Bảo Quốc nói chuyện với nhau, không hiểu đầu đuôi ra sao cả.

Bảo Quốc quay lại toan giới thiệu Dương Hoài Ngọc với mọi người thì đã thấy Lam y, Chu Đức Kiệt, Âu Dương, Tòng Đức chuyện trò thân mật với họ Dương rồi.

Chàng ngạc nhiên :

- Ủa! Các vị quen biết nhau từ hồi nào vậy?

Chu Đức Kiệt phì cười :

- Lâu rồi, bây giờ đại ca mới hỏi thì vừa!... Vào cả trong nhà nói chuyện, bộ đứng mãi đây sao?

Vương nhũ mẫu dắt tay Lan Anh chỉ chỗ này chỗ kia lăng xăng nói chuyện. Hai người vào trại trước.

Trong khu vườn trước nhà cây cối trồng ban xưa vẫn y nguyên từ bồn cây, đám cỏ rất gọn gang nhất nhất như trước.

Duy có dưới gốc cây cam ở mảnh vườn bên hữu, hai ngôi mộ xây bằng vân thạch màu xanh biếc nằm song song trơ trơ cùng tuế nguyệt.

Hai tấm bia bạch thạch khắc chữ vàng đỏ ối.

Bia bên tả đề: "Nhạc tướng công húy Hoành chi mộ".

Bia bên hữu: "Nhạc phu nhân Miêu gia húy Thúy Lan chi mộ".

Mấy hàng chữ nhỏ hơn ghi tuổi người quá cố và ngày mất.

Hai tô nhang sứ đặt ngay trước hai tấm bia dưới mái xây cầu vồng che nắng mưa. Chân nhang còn đỏ nguyên tỏ rằng hàng ngày có người trông nom việc hương khói.

Vương nhũ mẫu và Lan Anh quỳ xuống trước hai phần mộ lẩm nhẩm khấn vái, nước mắt chan hòa...

Các anh hùng đứng nghiêm chỉnh cả phía sau tôn trọng giây phút cảm động linh thiêng.

Lam Y và Âu Dương Bích Nữ đỡ hai người dậy, đưa vào trong nhà lúc đó đã lên đèn.

Ngoài trời, hoàng hôn ảm đạm, màn sương lam nhẹ phủ khắp vùng cô liêu tịnh mịch.

Trong nhà đồ vật vẫn nguyên như hai năm trước, duy chỉ khác ở giáp vách nơi giữa nhà có bày một bàn thờ lớn nhang khói quyện trầm hương.

Một lần nữa, Vương nhũ mẫu cùng Lan Anh quỳ lạy trước bàn thờ.

Sau đó, nhũ mẫu cùng Lan Anh vào căn phòng cũ của song thân nàng, giảng giải chuyện xưa.

Họ Vương chỉ vết giáo sắt của Nhạc Hoàng đã gài kẻ tử thù trên vách ván cho nàng coi và nơi vợ họ Nhạc ngã gục khi trút linh hồn...

° ° °

Sau bữa cơm tối, mọi người quây quần cả ở gian giữa nói chuyện.

Bảo Quốc gọi một người trạc ngũ tuần, nét mặt trung hậu ra chào mọi người.

Chàng nói :

- Người này là Tạ Chấn trước kia hầu trong hậu cung Vương phủ Kim Lăng. Phụ thân tôi đã phái y vào Vũ Hồ với phận sự trông nom phần mộ của Nhạc tướng công và phu nhân từ hai chục năm nay. Tạ Chấn có đem cả gia đình y vào Vũ Hồ và hiện ở căn nhà ngang trong nhà sau. Khi họ Tạ vào ở Vũ Hồ, tôi còn nhỏ tuổi không biết gì, nên nhường lời cho y hầu chuyện cùng quý vị.

Theo lời Tạ Chấn, thì sau khi ở Vũ Hồ ra về, Thuận Vương phái người vào xây dựng hai ngôi mộ họ Nhạc, sửa sang lại toàn bộ khu tiểu trại và đích thân dẫn Tạ Chấn tới ở hẳn nơi đó.

Hàng năm, Thuận Vương cung cấp thực vật tiền bạc cho Tạ Chấn mà nhiệm vụ chỉ trông nom hương khói mộ phần và sửa sang khu trại gìn giữ cho được như xưa.

Trong thời gian ấy, tuy Thuận Vương không vào Vũ Hồ nữa nhưng vẫn mỗi năm hai ba lần, cho người đến kiểm soát phận sự của họ Tạ và cung cấp các vật dụng cho y luôn thể.

Nghe chuyện Tạ Chấn, mọi người đều khen ngợi cử chỉ tuyệt đẹp của Thuận Vương đối với gia đình họ Nhạc.

Cử chỉ toàn hảo ấy đã gỡ được phần nào mối hận giữa hai họ Chu, Nhạc từ bao năm nay.

Vương nhũ mẫu và Nhạc Lan Anh cảm động vô cùng!

Riêng Lan Anh, nàng thấy Thuận Vương quả rất tốt với cá nhân nàng. Vị Vương gia kỳ khôi ấy đã làm một việc mà ngay chính nàng cũng không thể làm hơn được.

Mộ phần song thân xây đắp không khác chi mộ Đế Vương. Khu trại nhỏ vô giá trị của gia đình nàng vẫn nguyên nếp khang trang như cũ.

Còn nàng, nàng sống trong điện vàng, các ngọc, đời sống của một vị Quận chúa cao quý, nhung gấm, lụa là.

Phải, không còn chối cãi được, Thuận Vương tự lãnh phần trách nhiệm phụ mẫu gây dựng cho nàng, nên mới còn có ngày nay.

Nếu Thuận Vương không đức độ, có lẽ hiện thời nàng đang phiêu bạt nơi nào rồi cũng chưa biết chừng!

Các hành động của nàng mới đây trong Vương phủ Kim Lăng có lợi cho tình thế của Thuận Vương rất nhiều đối với triều đình. Âu đó cũng là một lối trả ơn vì nàng đã gỡ cho dưỡng phụ khỏi tội phản nghịch đoạn đầu.

Chu Bảo Quốc nói với Lan Anh :

- Các vật liệu tải từ Kim Lăng vào đây để lại cho Tạ Chấn dùng mỗi khi phải trùng tu trang trại. Thiệt không ai ngờ rằng Phụ vương hành động ngoài sự hiểu biết của chúng ta.

Âu Dương Tòng Đức nói :

- Chu đại huynh đi không về rồi như vậy mất công quá nhỉ?

Bảo Quốc đáp :

- Không, chuyến này, tôi lên thẳng Bắc Kinh thăm tin tức song thân.

- Chúng ta sẽ đồng hành vì đàng nào cũng qua Tô Châu. Hiện thời không phải xây đắp mộ phần, cúng bái xong chắc đi ngay.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Vậy không săn cáo nhị thể ư? Sao tính chuyện đi ngay?

Chu Đức Kiệt nói :

- Có săn để lấy bộ da nhị thể khâu võ hài chớ!

Lam Y nữ hiệp hỏi Dương Hoài Ngọc :

- Còn Dương tôn huynh đến đây từ bao giờ mà không thấy có tấm da cáo nào trong nhà.

Dương Hoài Ngọc nói :

- Từ ngày rời Tam Môn cốc, tôi về qua Nghĩa Hưng phủ đóng cửa võ đường, ngao du đây đó. Một hôm đến Thái Bình huyện định qua Kim Lăng, nửa đường thấy lối đi lạ, bèn tò mò rẽ vào coi. Vui mắt đi mãi chẳng dè vó ngựa liên miên đưa tôi vào tới Vũ Hồ thì trời tối hẳn. Hàng quán không có, nhà cửa dân cư cũng không, tưởng sẽ phải ngủ ngoài trời. Chợt thấy ánh đèn le lói, tìm tới thì gặp Tạ Chấn. Cảnh đẹp lưu luyến gót giang hồ, tôi ở lì đây ngót hai tháng rồi mà chưa muốn cất bước phiêu lưu. Con cáo nhị thể, trong thời gian vãng cảnh Vũ Hồ, tuy thấy đã nhiều nhưng tôi không săn, vì giống thú ấy có bộ lông hai màu thiệt đẹp. Không có giống thú ấy, Vũ Hồ sẽ như một giai nhân tuyệt sắc thiếu vẻ dịu hiền!

Lam Y mỉm cười :

- Ngờ đâu Dương tôn huynh là trang võ dũng mà còn kiêm cả nghề thẩm mỹ nữa. Địch Phượng Tiên ở Tam Môn cốc mong chờ tôn huynh nhiều lắm.

Chu Đức Kiệt nói thêm :

- Từ ngày Dương đại ca ra đi, Địch tiểu thơ rất đỗi buồn bã. Mỗi chuyến ra Âu Dương trang thăm chúng tôi, nàng nói tới đại ca rất nhiều. Lão tiên sinh Địch Lân cũng vậy, than phiền, mong cùng đại ca tái kiến.

Dương Hoài Ngọc đáp :

- Thiệt vậy không? Tam Môn cốc, đất đá trơ trọi, ít cây lớn, bóng mát không có nên mọi người đều mắc tật nóng nảy. Không hạp với cá tính tôi thì ở lâu sao được?

- Ủa! Đại ca nghi ngờ lời nói của anh em tôi ư?

Hoài Ngọc vội lắc đầu :

- Không, tôi đâu dám thế, nhưng tôi sẽ qua Tô Châu Phương tiểu thơ được mạnh không?

Tòng Đức nói :

- Phương tiểu thơ nay là tẩu tẩu tôi rồi.

- A! Nghĩa là kết duyên châu trần với lệnh huynh Tòng Cát? Đẹp đôi quá!

- Phải. Cưới hồi cuối năm ngoái. Phương phu nhân dọn vào ở trong tệ trang.

- Nếu vậy, chắc Địch tiểu thơ có dịp tới Âu Dương trang thăm lệnh tẩu luôn.

Lam Y nói :

- Tôi khuyên Dương tôn huynh nên qua thăm Địch gia trại. Điềm tĩnh trước những cảnh quá ngang ngược như Tôn huynh thì ai cũng phải lầm, chẳng cứ gì Địch tiểu thơ. Tôn huynh ra đi đúng lúc họ Địch hiểu và khâm phục. Vậy lỗi lầm ấy đáng được tha thứ. Chẳng nên vì thế lỗi nghĩa phu thê.

Dương Hoài Ngọc suy nghĩ hồi lâu :

- Nữ hiệp đã dạy, tôi sẽ theo lời qua bên Địch gia trại.

Chu Đức Kiệt vui cười :

- Chúng tôi lại có dịp được uống tửu thiệt say rồi!

Dương Hoài Ngọc mỉm cười :

- Rượu thì đâu sẽ có đó, lúc nào muốn uống là có ngay. Các vị đại hiệp vào Vũ Hồ với ý định đi săn mà không lập chương trình săn như thế nào, cứ bắt Dương mỗ này đãi rượu! Uống trước cũng được, mời quý vị ra Củng gia điếm.

Lam Y nữ hiệp nói :

- Củng gia điếm? Nơi Vũ Hồ này phong cảnh hiền lành lặng lẽ, nếu không có loài cáo nhị thể thì còn có gì đặc biệt hơn khiến người đáng chú ý? Quanh vùng toàn đồi thoai thoải, một ngọn núi lớn cũng không. Ai quen cảnh hùng vĩ chắc không ở nổi nơi này lấy mười ngày.

- Phải đi mấy ngày mới tới Củng gia điếm, hả tôn huynh?

Dương Hoài Ngọc phản đối :

- Chắc Nữ hiệp biết Vũ Hồ qua lời Vương nhũ mẫu? Hoặc căn cứ vào cảnh sắc quanh khu trại này nên tưởng lầm như vậy! Thiệt ra, trái ngược hẳn lại. Lúc mới đến trại Nhạc gia, tôi cũng nghĩ như Nữ hiệp, sau mấy ngày tò mò thăm thú quanh vùng, tôi mới biết rõ.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Dương đại ca nhận xét như thế nào, tả cho chúng tôi nghe với.

- Ai vào Vũ Hồ theo đường Kim Lăng Thái Bình huyện đều nghĩ rằng khu này là cái túi không có lối khác, ngoài con đường mà quý vị đi qua hồi trưa vào Vũ Hồ.

Ngắm phong cảnh, người ta thấy trời xanh ngắt, nhưng vướng các ngọn đồi, không ai thấy một điểm kỳ lạ về phương Tây nam.

Tây nam là hướng trước cổng trại Nhạc gia.

Vừng thái dương mọc trước giờ Thìn vòm trời xanh mát dễ chịu, chỉ riêng hướng Tây nam là từ lúc mặt trời mọc tự nhiên bị lớp sa mù che lấp hẳn cho đến lúc sương chiều bốc lên thay thế bao phủ vạn vật.

Sáng mai dậy sớm trước khi mặt trời ló dạng, quý vị sẽ thấy ở hướng Tây nam có một chặng núi đá màu lam khá cao sừng sững như bức thành. Nhưng cứ từ lúc có ánh Thái dương le lói là chỉ trong một khắc, sa mù bốc lên cao che lấp toàn thể chặng núi ấy.

Nếu ta nhắm hướng Tây Nam mà đi chỉ độ hai mươi dặm đường là tới chân chặng núi hùng vĩ ấy.

Đi vòng mỏm núi sang hướng Bắc bộ hai dặm nữa có làng Thanh Phiên độ hai trăm nóc nhà, dân cư trù mật. Vị trí làng này giáp ngay chân núi thoai thoải cây xanh bóng mát rườm rà, suối lớn róc rách trong như lưu ly.

Củng gia điếm ở ngay đầu làng trên đường từ Thái Bình qua Thạch Tắc huyện giáp ranh giới tỉnh Hồ Bắc, đường núi nhấp nhô.

Uống rượu ở Củng gia điếm tuyệt thú!

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Ngọn núi đá lam đó có tên không?

- Kỳ Hầu sơn. Từ lưng chừng núi trở xuống cây cối rậm rạp. Trái lại, phía trên trơ trọi đá lam.

- Người làng Thanh Phiêu không qua Vũ Hồ này bao giờ ư?

- Tôi có thăm dò mới biết không ai qua lối Vũ Hồ vì nhiều lẽ.

Tại làng Thanh Phiêu củi rừng có sẵn, suối nước ngay bên, đầu làng có đường đi lên huyện, họ vào Vũ Hồ toàn đồi cỏ không có ích lợi gì cho cuộc sống hàng ngày.

Từ Thanh Phiêu trông qua phía Vũ Hồ, dân làng tưởng không có lối ra. Họ là những người hiền lành chất phác, quanh năm chỉ biết công việc thường ngày, đi xa nữa làm chi!

- Họ không biết trong làng Vũ Hồ có cáo nhị thể. Nếu biết, họ đã tổ chức săn bắn lấy da rồi.

- Lạ nhỉ! Giống cáo thường hay sống rất xa. Kỳ Hầu sơn có rừng lớn sao chúng không tràn lan tới?

Dương Hoài Ngọc đáp :

- Nhờ mấy tháng ở đây, tôi nhận xét kỹ rồi. Cáo nhị thể không ăn mồi thịt như loại cáo đen, cáo xám. Chúng sống bằng củ sắn và mấy thưa ấy chỉ trong khu Đông bắc Vũ Hồ mới có.

- Đại huynh coi, Tây nam, Đông bắc hai hướng trái ngược hẳn, vì lẽ ấy dân Thanh Phiêu không biết có giống thú tuyệt đẹp ấy trong vùng Đông Bắc Vũ Hồ.

- Mai mốt săn, đại huynh sẽ nhận định được ngay hình thế địa lý khu Đông bắc khác hẳn khu Tây nam.

Từ làng Thanh Phiêu trở đi, chặng Kỳ Hầu sơn ăn liền với các dãy núi chạy dài vào đất Hồ Bắc. Nhưng từ Vũ Hồ này vào khu Đông bắc toàn đồi, đọt cỏ xanh miên man đi mãi tới đâu không rõ.

- Loài cáo chị thể móng dài và sắc đào đất thành hang hốc ở ngay trong lòng các đồi đất chi chít như mạng nhện vậy.

- Vì địa lý, hai vùng khác nhau nên cáo nhị thể chỉ sống trong khu đồi đất hợp với chúng hơn. Có lẽ chúng lan tràn vào sâu khu Đông bắc nhưng tôi chưa đi tới.

- Trước kia chắc Nhạc tướng công biết rõ địa thế toàn khu, chỉ vì thích săn cáo nhị thể nên Tướng công ở ngay Vũ Hồ là đầu địa điểm vào khu Đông bắc.

Đẩy ghế đứng lên, Dương Hoài Ngọc lấy bầu rượu treo trên tường xót ra ly mời mọi người uống :

- Thứ rượu này tôi mua ở Củng gia điếm. Vì còn ít quá sợ thiếu niên hồi nãy không dám mời. Các vị dùng thử xem và cho biết ý kiến.

Mọi người cùng cầm ly, men rượu ngào ngạt thơm phưng phức.

Âu Dương Tòng Đức khen ngợi :

- Thơm dịu, chưa uống đã thấy ngon!

Ai nấy đều cạn chén, Lam Y khà một tiếng :

- Chà! Hảo tửu! Nhân dịp này hôm nào ra khỏi Vũ Hồ ta sẽ đi lối Kỳ Hầu sơn để được uống rượu ở Củng gia điếm mới được!

Dương Hoài Ngọc nói :

- Hai mươi dặm đường không bao xa, mai tôi sẽ đi mua về đây đủ dùng trong nhiều ngày...

Tòng Đức cười :

- Bộ Dương đại ca định cố thổ ở Vũ Hồ sao...

Dương Hoài Ngọc chưa kịp trả lời thì Lam Y chợt hỏi Chu Đức Kiệt :

- Huynh trưởng nhắp ly rượu Củng gia vừa rồi có nhận thấy gì lạ không?

Câu hỏi đột ngột của nàng khiến ai nấy đều ngạc nhiên.

Chu Đức Kiệt nói :

- Có hương vị đặc biệt lắm. Ngu huynh biết đã uống thứ mỹ tửu này ở đâu rồi nhưng không nhớ ở đâu nữa.

Lam Y gật đầu :

- Tiểu muội cũng vậy không nhớ đã uống ở nơi nào rồi... Phải đến Củng gia điếm uống tại chỗ mới thích thú, nhân tiện văn cảnh Kỳ Hầu sơn.

Nàng quay lại hỏi Chu Bảo Quốc :

- Khi Thế tử rời Vương phủ Kim Lăng, Mã nguyên soái có hành động gì khác không?

- Nguyên soái đổi ý, để Mã Thành Hổ ở lại cùng gia huynh Trấn Quốc điều khiển công việc Kim Lăng về đích thân kéo binh đội giả tù xa về Yên Kinh trước.

- Thế cũng may, việc Kim Lăng tạm giải xong, kéo dài ngày nào, chúng tôi khó chịu lo lắng ngày ấy. Nhưng gia phụ về triều không biết lành hay dữ?...

Chu Đức Kiệt khuyên giải :

- Theo sự hiểu biết của tôi, lệnh phụ hồi triều mới không nguy. Hà tất nhân huynh phải lo.

Mọi người chong đèn chuyện vãn đến khuya mới đi nghỉ.

Chương 38: Làng Thanh Phiêu, mãnh hầu bắt tiểu nhi Huyện Thạch Tấn, anh thư trêu nữ hiệp

Hôm sau, Nhạc Lan Anh và Vương nhũ mẫu làm đại lễ cúng vong linh Nhạc tướng công và phu nhân thiệt linh đình.

Lam Y nữ hiệp và Âu Dương Bích Nữ tiếp tay đóng vai nữ hỏa đầu nhanh nhẹn, khéo léo chẳng kém chi người nội trợ sành sỏi. Nghỉ một ngày, Tam hiệp, Âu Dương Tòng Đức nhờ Dương Hoài Ngọc hướng dẫn đi săn. Bảo Quốc và Nhạc Lan Anh ở lại gia trại.

Khởi hành từ sáng sớm, cuối giờ đến giờ Mùi, đoàn người đi săn mới trở về, người nào cũng chặt cành cây gánh mồi săn nặng trĩu.

- Tổng cộng được mười cáo nhị thể, lông trắng muốt, đốm hay loang vàng cháy thiệt đẹp.

Bảo Quốc xem kỹ từng con một :

- Sao bắn toàn giống đực cả thế này?

Chu Đức Kiệt đáp :

- Chúng tôi theo chỉ dẫn của Dương đại ca. Mùa này các con cái phần nhiều có bụng, bắn e phương hại tới sự sanh tồn của giống động vật này. Mà quả vậy, những con cái đều lớn bụng.

Ngay hôm ấy, mọi người xúm lại lột da cáo rắc diêm sinh, căng ngoài trời phơi khô.

Được tám hôm, Bảo Quốc nóng lên Yên Kinh nói với mọi người để khởi hành trước.

Theo lời bàn của Lam Y, Chu Đức Kiệt nói riêng với Tòng Đức :

- Nhị huynh tôi muốn thưa một chuyện này, cảnh anh em trai với nhau nên thiệt tình nhé.

Tòng Đức ngạc nhiên :

- Việc chi vậy? Hiền đệ cứ dạy.

- Đây là một chuyện tâm tình, tôi đã bàn với Bích Nữ và gia muội. Hai người ấy đồng ý nên bữa nay mới bộc lộ cùng nhị huynh.

Tòng Đức nghi ngờ :

- Phải chăng là vụ Dương Hoài Ngọc và Địch Phượng Tiên.

- Không phải. Chẳng chóng thì chầy, mối duyên hai họ ấy có nếp rồi. Đây là việc Nhạc tiểu thơ...

- Ô hay! Việc Nhạc tiểu thơ can dự gì tới ngu huynh?

Chu Đức Kiệt mỉm cười :

- Can dự lắm! Số là ít lâu nay gần gũi, chúng tôi thấy Lan Anh có cảm tình, chú ý đến hiền huynh rất nhiều, nếu không lầm, hiền huynh cũng không đến nỗi thờ ơ trước thiếu nữ đảm đang và tài ba ấy.

Đưa mắt nhìn Tòng Đức nét mặt đỏ, Đức Kiệt nói tiếp :

- Phần huynh trưởng Tòng Cát vuông tròn rồi, trong các anh em chỉ còn một hiền huynh lẻ bạn, tôi chắc song thân cũng mong hiền huynh an bài gia thất mà không nói ra, chi bằng nhân dịp này, hiền huynh hỏi nàng loan phượng đẹp duyên có hơn không?

- Sao các người biết ngu huynh có cảm tình với họ Nhạc mà dám cả quyết nói vậy?

Chu Đức Kiệt phì cười :

- Người ta có mắt để nhìn và hiểu chớ! Hiền huynh thấy chúng tôi nhận xét có sai lạc bao giờ chưa?

- Đành rằng, nhưng ít ra nàng ưng thuận mới được chớ! Lỡ cự tuyệt, sau này khó nhìn nhau lắm.

- Việc đó chúng tôi vui lòng cáng đáng. Bây giờ chỉ cần một điều...

- Hiền đệ nói xem nghe có trôi không?

- Nhân tiện chuyến này Bảo Quốc lên Yên Kinh, đàng nào cũng qua Tô Châu, hiền huynh nên cùng y song hành rủ về gia trang ít bữa. Tôi bảo Bích Nữ viết thơ về bộc lộ tự sự với song thân. Người sẽ lo liệu cho.

- Ai cầm thơ đó về?

- Hiền huynh chớ còn ai vào đó nữa.

Suy nghĩ giây lát Tòng Đức nói :

- Dù thế nào, Lan Anh cũng là dưỡng nữ của Thuận Vương, ít nhất nàng cũng phải trình bày và theo sự định đoạt của dưỡng phụ, dưỡng mẫu chớ.

- Chớ sao! Nhưng Bảo Quốc sẽ nói với Thuận Vương thay nàng, là vì khi nhận được thơ của Bích Nữ, tất phụ thân bàn định với Bảo Quốc và nhờ y nói với Thuận Vương. Như vậy đỡ mất nhiều thì giờ. Riêng phần chúng tôi lát nữa sẽ nói riêng cho y nghe. Bởi vậy cần có sự ưng thuận của hiền huynh trước đã.

Tòng Đức ngượng nghịu gật đầu :

- Hiền đệ bàn vậy, ngu huynh xin nghe theo. Chủ chốt là Lan Anh đồng ý vui lòng mới được.

- Nàng vui lòng đến đâu ấy chứ lị! Xứng đáng, đẹp đôi quá rồi.

Trong khi Chu Đức Kiệt nói chuyện với Tòng Đức, Lam Y nữ hiệp cùng bàn riêng với Chu Bảo Quốc.

Nàng nhập đề luôn và thêm rằng :

- Trại Mạnh Thường lão anh hùng rất được Hoàng đế sủng ái, mối duyên Lan Anh và Tòng Đức là lợi điểm của Vương gia, riêng đối với nhà vua tôn huynh nên nhấn mạnh điểm ấy.

Trước lời lẽ cứng rắn, hợp tình phải lý của Nữ hiệp, Bảo Quốc rủ cả Dương Hoài Ngọc lên đường đem theo bọc da cáo nhị thể phơi khô về Âu Dương trang.

Lan Anh nhờ Tòng Đức cho cả Vương nhũ mẫu và A hoàn Tố Vân đi theo về Tô Châu trước.

Nhũ mẫu tần ngần muốn đi sau với Lan Anh nhưng nàng khuyên :

- Nhũ mẫu an lòng đi trước, tôi đồng hành với Tam hiệp du ngoạn phong cảnh ít bữa sẽ lên Tô Châu ngay.

Tòng Đức đi khỏi mấy ngày, Nhạc Lan Anh lễ tạ mộ phần và sửa soạn lên đường.

Nàng gọi vợ chồng Tạ Chấn nhắn nhủ :

- Tạ đại ca cứ tiếp tục trông nom phần mộ cho đàng hoàng tử tế, hàng năm tôi sẽ trở về cúng tế và tiếp tế cho nhé.

Tạ Chấn nhất nhất vâng lời.

Nàng lấy mười đĩnh bạc cho lão bộc trung thành và để lại xe ngựa cùng các vật liệu cho lão dùng.

Bốn người lên ngựa ra khỏi cổng trại, trên đường mới do Dương Hoài Ngọc chỉ trước đây tiến ra Kỳ Hầu Sơn. Ngọn Kỳ Hầu hùng vĩ ngoạn mục lạ thường. Bốn người phóng ngựa lên mô đất cao ngắm địa thế. Làng Thanh Phiêu ở gần ngay chân núi Thôn Thanh Phiêu có tới hơn hai trăm nóc nhà ngói, tranh lẫn lộn, cây cao bóng cả rườm rà. Một ngọn suối bạc quanh co bắt nguồn từ núi Kỳ Hầu chảy qua phía Đông, rồi mất hút trong thung lũng đầy lau sậy nhởn nhơ trước gió Người trong thôn kẻ gánh nước, người giặt giũ tấp nập bên bờ suối dưới bóng cây râm mát.

Lam Y nói :

- Nếu không nhờ Dương Hoài Ngọc chỉ điểm thì chúng ta cũng phải lần theo đường cũ mới ra khỏi khu Vũ Hồ.

Chu Đức Kiệt cười vang :

- Y trầm lặng, ít nói nhưng hay quan sát tìm tòi không khác chi địa lý gia.

Âu Dương Nữ giục ngựa đi trước :

- Đói bụng rồi, tìm Củng gia điếm dùng bữa thôi!

Bốn người xuống khỏi mỏm đất cao, tiến về phía suối cho ngựa băng qua. Gặp nước trong mát, bốn tuấn mã ngừng lại giữa dòng sông thỏa thuê.

Dân làng thấy bọn người lạ đi tới đều ngừng công việc tò mò nhìn.

Chu Đức Kiệt hỏi lớn :

- Gần đây có tửu điếm nào không? Làm ơn chỉ giùm.

Một thanh niên chỉ tay ra hướng Bắc :

- Đầu thôn có quán rượu, quý vị đi vòng lối này sẽ tới ngay.

Đức Kiệt nói mấy lời cảm ơn, thúc ngựa vượt suối lên bờ. Bốn người thả lỏng cương mặc ngựa theo đường mòn ra phía cổng thôn.

Lát sau Lam Y chỉ lá chiêu bài phất phơ phía trước :

- Tửu điếm kia rồi. Khang trang quá nhỉ!

Quả vậy, tửu điếm mái tranh có lầu ở ngay dưới bóng ba cây hòe lá sum suê. Bốn người xuống ngựa toan cột cương vào gốc cây nhỏ, thì hai tiểu nhị đã chạy ra đón lấy ân cần mời chào.

Lam Y đi trước bước lên thềm nhà. Trong tửu điếm có vài ba thực khách.

Bỗng một lão trượng đang ngồi trong quầy hàng, vội chạy ra vái chào, rồi hướng vào Lam Y và Chu Đức Kiệt niềm nở hỏi :

- Chao ôi! Nhị vị đại hiệp còn nhớ tôi không?

Anh em Chu gia chú ý nhìn chủ quán, đoạn cùng reo lên :

- A! Củng lão! Mạnh khỏe chớ?

Họ Củng mừng rỡ :

- Dạ, chính tôi đây. Mời quý vị ngồi nghỉ đã.

Dứt lời, Củng lão bước vào phía trong gọi :

- Trần hiền điệt và A Hoành ơi! Có khách quen ra mau!

Hai thanh niên trạc hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi chạy vội ra, người nào cũng thắt tấm khăn ngang bụng ra dáng đầu bếp.

Trần Nhị nhỏ nhắn hơn A Hoành, hỏi :

- Ai vậy lão bá?

Củng lão chỉ về phía bốn người, ngồi ở thồi trong góc thực phòng rộng rãi :

- Nhận ra ai kia không?

Hai người chú ý giây lát rồi rảo bước tới trước mặt anh em Chu gia quỳ lạy.

Trần Nhị nói :

- Trần Nhị kính chào nhị vị ân nhân!

Chu Đức Kiệt đỡ hai người dậy :

- Chà! Phát tài có khác, hai người cùng mập mạp cơ hồ tôi không nhận ra nữa. Di cư đến thôn này từ bao giờ? Ngồi chơi nói chuyện tự nhiên.

Củng lão và hai thanh niên khúm núm kéo đôn ghế ghé bên thồi.

Trần Nhị nói :

- Từ ngày nhị vị trừ tam chi hồ, ít lâu sau đại lâm tại Sơn Phu bỗng nhiên động rừng, mãnh thú về nhiều quá, không dám ở nữa, Củng lão bá và chúng con bỏ nghề đốn củi lên Kim Lăng sinh nhai, song không cạnh tranh nổi với dân đại trấn, nên kéo nhau đi nơi khác. Qua đây thấy cảnh đẹp thanh bình bèn nán lại lập quán lấy tên là Củng gia điếm. Được cái, con sành nghề nấu ăn và biết nấu rượu, trên cho kiếm ăn được tạm đủ. Chẳng mấy khi qua đây, xin mời ân nhân nán lại vài ngày cho con được thừa tiếp. Trên lầu có phòng lớn, sạch sẽ lắm.

Lam Y nói với mọi người :

- A, thứ rượu mà Dương Hoài Ngọc mua uống bữa nọ y hệt mùi vị rượu ngon ở hắc điếm Sơn Phu! Phải chăng Trần Nhị học được phương pháp nấu rượu đó?

Họ Trần gật đầu :

- Dạ, chính vậy. Nhưng ân nhân an tâm, Củng gia điếm hiền lành lương thiện chớ không phải Sơn Phu hắc điếm.

Mọi người cùng cười vang.

Lam Y bèn đem chuyện Sơn Phu điếm ra kể cho Nhạc Lan Anh nghe vì nàng bỡ ngỡ không hiểu đầu đuôi ra thế nào cả.

Chu Đức Kiệt giải thích rõ hơn :

- Người lập ra hắc điếm là Xích Hoa Đà Đới Vĩnh Khang, thân phụ của Đới Ngọc Hoàn trong Vương phủ.

Trần Nhị ngạc nhiên :

- Ủa, ân nhân còn gặp Hoa cô nương (tước hiệu của Ngọc Hoàn) nữa sao?

Đức Kiệt mỉm cười :

- Phải. Gặp Ngọc Hoàn ở Kim Lăng và một lần nữa, chúng tôi dong cho y chạy thoát.

- Vậy ra ân nhân từ Kim Lăng qua đây?

- Chúng tôi từ Kim Lăng đi Tô Châu.

- Ủa, sao người lại đi lối này vòng mất một ngày đường?

Chu Đức Kiệt không muốn nói rõ :

- Vì tiễn một người quen nên qua khu Kỳ Hầu Sơn. Nhờ vậy, chúng ta mới có dịp tái kiến và nếm lại hương vị rượu ngon hắc điếm Sơn Phu chớ.

Trần Nhị lặp lại lời mời hồi nãy. Tam hiệp và Lan Anh nghỉ lại Củng gia điếm. Họ Trần mời bốn người lên lầu, hối tiểu nhị lấy nước rửa mặt và dọn thồi rượu ngay ngoài hiên lầu cho mát. Củng lão và Trần Nhị ngồi hầu rượu. Bốn người thong thả ăn uống, ngắm cảnh đẹp thiên nhiên. Ăn xong, mọi người đang chuyện vãn thì chợt thấy một đoàn người võ trang gươm giáo, từ đâu kéo về qua trước tửu điếm.

Họ thấy Củng lão và Trần Nhị ngồi ngoài hiên lầu, một tráng niên gọi lớn :

- Trần đại ca ơi, không cứu nổi tiểu nhi đâu. Ác thú dũng mãnh quá và khôn hơn người họp đàn đuổi, chúng tôi chạy bán sanh bán tử mới về thoát.

Trần Nhị đứng dậy hỏi vọng xuống :

- Các đại ca có trông thấy tiểu nhi không?

- Có trông thấy như hôm qua mà không thể nào cứu được mới ức chớ! Chỉ khổ cho vợ chồng Vương Lục khóc dở mếu dở.

Nhìn bốn vị nam nữ anh hùng, Trần Nhị chợt nghĩ ra điều gì, bèn bảo tráng niên :

- Các đại ca cứ về nhà đi, lát nữa tôi sẽ bàn một việc hay lắm.

Đoàn người bèn tản về mấy căn nhà lân cận Củng gia điếm.

Thắc mắc về câu chuyện giữa Trần Nhị và bọn tráng đinh, Lam Y hỏi :

- Cứu tiểu nhi nào? Câu chuyện thế nào?

Trần Nhị chỉ dãy nương ngô và khoai ở phía bên tả cách tửu điếm chừng vài trăm thước mà rằng :

- Ân nhân trông các nương ngô kia kìa. Cớ sự đã xảy ra tại đó chiều hôm qua. Nguyên mấy nương ngô ấy là của những dân thôn ở ngay đầu thôn Thanh Phiêu. Xưa nay họ vẫn trồng trọt không hề xảy ra chuyện gì đáng tiếc, ngoại trừ mấy con hầu tử trong rừng thỉnh thoảng ra ngắt trộm khoai. Cách đây năm hôm, Vương Lục, một trong những người trồng ngô, khoai đánh bẫy được một con hầu khá lớn, ngay trong nương, và đem con thú đó về nhà bỏ vào cũi. Chẳng ngờ sáng hôm sau, vợ chồng Vương Lục trở dậy thì thấy con hầu đó đã mở cũi trốn đi lúc nào không biết.

Mọi sự tưởng êm, Vương Lục và vợ là Trương thị vẫn ra nương làm việc như thường ngày. Họ Vương chỉ có một con trai ba tuổi tên là Vương Chi, nên đem theo ra ngoài nương trông coi cho tiện. Chẳng dè, chiều hôm rồi lúc vợ chồng họ Vương đang sửa soạn ra về thì chợt có một bầy hầu hơn một trăm con, dẫn đầu bởi một con hầu lớn hơn người từ trong rừng cây tràn ra tàn phá các nương ngô, và bắt tiểu nhi Vương Chi cõng vào rừng cây đi mất. Vợ chồng Vương Lục và một số người khác cũng bị chúng cào xé thương tích đầy mình, quần áo tả tơi.

Lam Y hỏi :

- Trai tráng trong làng không ai ra cứu họ ư?

- Thưa có. Nhưng việc xảy ra thiệt mau lẹ. Tráng đinh vác khí giới ra đến nơi thì bầy hầu bỏ đi được một lúc rồi. Họ liền kéo nhau vào rừng tìm kiếm tiểu nhi, khốn nỗi trời chiều ngả hoàng hôn, trong rừng tối âm u, họ tìm quanh quẩn một hồi vô hiệu quả, không ai dám tiến sâu đành kéo nhau ra về.

Hôm qua, tráng đinh họp lại đông hơn vào rừng tìm kiếm và đi sâu hơn trước, thì thấy bầy hầu ở trong một khu có nhiều hang đá, cây cối chằng chịt. Chúng thấy người bèn từ từ phía xông ra đánh đuổi. Phần vì bầy ác hầu đông hơn, phần vì chúng lanh lẹ, độc dữ, mọi người sợ hãi bỏ chạy tản mát. Có kẻ lạc lõng mãi đến gần tối may mắn tìm được lối ra.

- Không ai thấy Vương Chi phải không?

- Có người quả quyết thoáng thấy tiểu nhi ngồi trong lòng con mãnh hầu trên cành cây cao, nhưng vừa tới nơi thì bị bầy hầu tấn công ngay, mạnh ai nấy chạy, làm gì còn tinh thần nhận ra tiểu nhi nữa. Hôm nay, đoàn người lại vào rừng. Như ân nhân vừa nghe rõ, họ nói đích xác trông thấy Vương Chi ở trên cành cao nhưng không thể cứu được đành ra về. Khổ một nỗi, vợ chồng Vương Lục khóc chảy máu mắt. Tiểu nhi không có thức ăn đến chết đói mất.

- Xưa nay Thanh Phiêu thôn có bao giờ bị nạn hầu quấy phá không?

- Từ ngày con tới ngụ cư không hề xảy chuyện gì cả. Theo lời các vị bô lão trong thôn không những không có nạn hầu mà ngay trong rừng cũng không có thứ mãnh hầu dữ dội, to lớn như con đã bắt Vương tiểu nhi. Họ nói rằng có lẽ bầy thú này mới từ xa đến chiếm ngụ khu rừng. Các tiều phu cả quyết như vậy.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Dãy núi này có tên là Kỳ Hầu, tất phải có nguyên do liên hệ tới giống thú đó chứ?

Trần Nhị đáp :

- Quả có vậy, nhưng không ngụ ý tới mãnh hầu. Trên núi có một giống hầu nhỏ bé thiệt xinh, lông đen mượt như nhung, ngực lông trắng muốt, và trước cổ khoang màu đỏ hung, đuôi ngắn, trái hẳn với loại hầu đuôi dài. Tạo hóa sanh ra để đánh đu trên cành cây. Giống hầu này không ở trong khu rừng sau thôn mà ở ngay lưng chừng núi đá. Thỉnh thoảng có một vài con lạc xuống rừng chân núi, người đi rừng bắt được đem lên Thạch Tấn huyện bán đắt tiền lắm. Từ ngày định cư Thanh Phiêu thôn, con trông thấy có một người bắt được con nhỏ xíu. Tên Kỳ Hầu Sơn có lẽ ngụ chỉ giống thú xinh đẹp hiền lành ấy.

Lam Y hỏi :

- Lẽ cố nhiên rồi. Không yêu cầu, bọn tôi cũng có nhiệm vụ giúp đỡ. Phiền Trần đại ca báo cho vợ chồng Vương Lục biết và tổ chức lấy mươi người nhanh nhẹn khỏe mạnh, mang đầy đủ dây nhợ và đóng tạm lấy một cái cũi tre hay gỗ cho chắc chắn để nhốt con mãnh hầu đã bắt Vương tiểu nhi. Sáng mai vào rừng, dẫn tới chỗ bầy ác hầu tụ họp.

Trần Nhị sung sướng xin phép đi ngay cho kịp thì giờ.

Tam hiệp rủ Lan Anh ra bên suối ngồi chơi, ung dung nhàn nhã, cảnh sắc khu Kỳ Hầu sơn tuyệt đẹp chẳng khác chi bức tranh họa màu.

Chiều tà bóng ngả hoàng hôn, bốn người trở về Củng gia điếm, tới cửa thì vừa gặp Trần Nhị đi với hai người nam nữ dân thôn mắt sưng húp, nét mặt ủ dột đoán ngay là vợ chồng họ Vương.

Quả vậy Trần Nhị nói :

- Đây là vợ chồng Vương Lục nhờ con dẫn đến đây tạ ơn quý vị đại hiệp.

Lam Y toan gạt đi thì Vương Lục và vợ đã mếu máo quỳ lạy, xin cứu mạng cho tiểu nhi Vương Chi.

Chu Đức Kiệt nói :

- Vương đại ca cứ yên tâm ra về, chúng tôi sẽ cố hết sức. Khóc lóc không ích lợi gì?

Được lời như cởi tấm lòng, vợ chồng họ Vương ra về.

Trần Nhị nói :

- Sáng mai, trai tráng và một số tiều phu thuộc khu rừng sẽ tề tựu cả ở đây. Xin phép quý vị ân nhân, con vào xem bếp nước.

Lam Y mỉm cười nhìn Trần Nhị tất tưởi đi vào nhà trong :

- Trông họ Trần ai dám bảo y đã từng ở Sơn phu hắc điếm, thường ngày trông thấy cảnh róc thịt người nấu món ăn?...

Nhạc Lan Anh hỏi :

- Việc đánh tam chi hổ ở khu đại lâm Sơn Phu thế nào? Thơ thơ nói cho nghe với. Tiểu muội cũng mong được theo đòi hành hiệp.

Lam Y cả cười, vỗ vai Lan Anh :

- Chà! Hiền muội không có tướng mạo kiếm khách giang hồ. Theo như khoa tướng số, tôi nhận thấy hiền muội nếu không là bậc vương phi, Quận chúa thì ít ra cũng là vị phu nhân tiền lắm bạc nhiều, thuộc một thế gia địch quốc.

Nói đoạn nàng nhìn Âu Dương Nữ, Chu Đức Kiệt cười ròn rã.

Nhạc Lan Anh má ửng hồng càng tăng thêm vẻ đẹp cao quý.

Lan Anh không tha :

- Hồng diện tất hữu thí, diện tướng này có việc vui mừng đến nơi rồi mà vị phu quân ít ra cũng là tay anh hùng quán thế, trí dũng song toàn.

- Kìa, Chu huynh và tẩu tẩu coi. Cứ trông cặp mắt bồ câu long lanh kia, lúc thì sáng ngời, nhưng cũng có khi mơ màng đăm chiêu như nhớ nhung tới ai xa xôi dặm trường, đủ hiểu hình bóng vị lang quân tương lai đã từng vương vấn tim người đẹp, sau nhịp cầu duyên nợ.

Lan Anh sắc diện đỏ gay, đấm nhẹ vào vai Lam Y :

- Gớm đi thôi bà thầy! Khi cầm kiếm thì dữ dội khủng khiếp, mà lúc đùa cũng đùa ghê. Nói câu ấy thẹn chết đi được!

Âu Dương Nữ tiếp lời :

- Thẹn tức là "có" rồi. Gián tiếp mặc nhận như vậy đủ tỏ Lam Y quả đã đặc biệt am tường khoa tướng số.

Lan Anh nguýt nhẹ Âu Dương Nữ :

- Hết Lam Y, nay lại Âu Dương thơ thơ hùn nhau cợt tôi đó phải không?

Chu Đức Kiệt chua :

- Âu Dương muội muội mới đúng chớ sao lại "thơ thơ"? Gọi gần đi thì vừa...

Lan Anh nhìn Tam hiệp :

- Còn hai người nữa, bao giờ mới cho uống rượu đây? Riêng phần Lam Y, tôi sẽ coi tướng hộ nhá!

Lam Y đáp :

- Việc của Chu huynh hiển nhiên công khai rồi, uống rượu lúc nào cũng được. Riêng tôi, hiện giờ thì tình yêu là nhân loại, và hương gió muôn phương, đố Lan Anh coi được tướng số tôi đấy.

- Thôi xin thua! Kìa Trần Nhị đã dọn bữa chiều, mời quý khách chiếu cố cho.

Sáng hôm sau, các tráng đinh tề tựu cả trước Củng gia điếm. Người nào cũng cầm theo khí giới.

Tin Lam Y nữ hiệp giúp họ Vương vào rừng bắt mãnh hầu cứu tiểu nhi lan tràn khắp Thanh Phiêu thôn, nên dân chúng tò mò kéo ra đứng chật cả khu trước cửa tửu điếm để xem vị nữ hiệp có khác người thường không.

Con trai Củng lão là Củng Hoành vốn sức lực, nên cũng nhập bọn tráng đinh theo hiệp khách vào rừng.

Đoàn người đi tới cửa rừng, Lam Y hỏi :

- Ai thuộc lối dẫn đến hang hầu hãy đi trước, đừng e ngại, chúng tôi coi chừng.

Một người tên là Triệu Bật cầm đoản đao nhận việc dẫn lo.

Lam Y căn dặn :

- Khi nào gần tới nơi, mọi người đứng cả vào một chỗ, và đừng xôn xao. Mặc chúng tôi hành động nhé!

Rừng già cây lớn hàng ôm, những lớp lá dầy kết vào nhau thành lớp mái khổng lồ đen kịt. Tuy vậy cũng có nhiều đường mòn, dấu vết tiều phu hạ cây đốn củi. Được một quãng khá xa, tới một khu cầu lớn thưa dần, ánh sáng lọt qua soi khắp nơi đây đó. Lối đi bắt đầu lởm chởm có đá. Tiếng bầy hầu ríu rít vọng tới.

Triệu Bật chỉ tay chênh chếch sang phía tả :

- Gần tới hang hầu rồi. Đi thẳng hướng này sẽ đến.

Bốn người tiến lên trước. Tiếng hầu nghe mỗi lúc một rõ hơn. Đoàn người lặng lẽ tiến chừng ba trăm bước nữa, tới một khu đất đá nhấp nhô, nhìn qua bụi cây thưa, thấy rõ hang hầu ở ngay phía trong.

Lam Y xua tay ra hiệu cho đoàn trai tráng ngừng bước. Bốn người lanh lẹ lẫn sau các bụi cây vừa tiến, vừa quan sát.

Bây giờ thì trông rõ lắm rồi. Có bốn miệng hang ở ngay chân núi. Ngay khu đất trống khá rộng trước cửa hang, bầy hầu nhỏ độ vài chục con, con ngồi con đứng, chạy tung tăng. Giữa bầy hầu ấy, tiểu nhi Vương Chi tay cầm mấy trái rừng ngồi ghé trên khúc cây khô nhìn ngó nghiêng. Những con hầu lớn hơn ngồi dàn cả trước miệng hang, hoặc leo lên các mặt đá lớn và cành cây ngổn ngang.

Trên mỏm đá cao, một con hầu thiệt lớn bằng người ta nhưng dãy ngang hơn, lông dài mượt đang ngồi vắt vẻo giữa mấy con khác cỡ bằng trẻ nít mười tuổi.

Âu Dương Nữ ghé tai Lam Y nói nhỏ :

- Sao lại có thứ hầu lớn thế nhỉ, hay là đười ươi?

- Khỉ đột, đười ươi lông thẫm gần như đen, trái lại con này lông vàng hoe. Chắc con hầu bị Vương Lục bắt sổ cũi thoát về, báo đồng bọn báo thù. Giống hầu thù dai dẳng lắm. Điều cốt yếu là chúng không hại tiểu nhi.

Chu Đức Kiệt nhắc :

- Hành động đi! Tiểu nhi đang lảng vảng giữa bầy hầu nhỏ dễ bắt lắm, nhưng con hầu khổng lồ và bầy hầu lớn thế nào cũng can thiệp.

Lam Y phân công :

- Âu Dương tẩu tẩu nhào tới cần nhất bắt lại tiểu nhi chạy trở ra phía này, còn thì mặc chúng tôi...

Nàng vừa dứt lời thì con đại hầu đã từ trên mỏm đá nhảy xuống quãng đất trống nhìn ngang, nhìn ngửa như giống thú đánh hơi lạ.

Biết không thể trù trừ được nữa, nếu chờ mãnh hầu đến gần tiểu nhi Vương Chi hành động thêm khó khăn. Lam Y vội ra hiệu cùng bỏ bụi rậm, nơi đang núp ào tới. Bốn người dùng thuật nhảy xa, băng mình vào giữa khu đất trống, Âu Dương Bích Nữ vội bế lấy tiểu nhi lên tay hữu, tay tả rút kiếm phòng bị.

Bầy hầu nhỏ hốt hoảng chạy tứ tung, kêu chói tai. Mãnh hầu tức giận gầm lên dữ dội nhào tới. Những con hầu khác cũng gầm gừ vang dậy từ cành cây, mỏm đá, trong hang ùa cả ra nạt nộ.

Lam Y nói lớn :

- Để mãnh hầu này mặc tôi.

Nàng chặn trước con mãnh hầu, nhưng ghê gớm, nó chồm thẳng vào Lam Y, vươn hai cánh tay dài phượt, lông lá xù xì bóp cổ nàng nhe răng nhọn hoắt gầm lên, như sấm, mắt long sòng sọc đổ lửa, vỗ ngực như trống trận.

Lam Y quát :

- Ác hầu không được làm dữ!

Nàng đón bắt trúng cổ mãnh hầu, tự ngã ngửa xuống đất theo cả mãnh hầu.

Sức hầu đã mạnh gặp phải dũng lực của Lam Y cũng không vừa, con thú bị kéo mạnh quá sắp đổ lên người nàng, nhưng Lam Y đã đạp tung mãnh hầu lộn nhào ra phía sau, tự mình cũng lộn đi mấy vòng chồm dậy. Bị thế đánh bất ngờ, mãnh hầu quật trúng mấy viên đá lởm chởm trên mặt đất. Đau quá nó gầm thét quăng mình nhào vào định ôm địch thủ, hơi thở gớm khiếp. Lẹ như vượn, Lam Y tránh sang bên dùng bàn tay "Cương đao" chém mạnh vào ngang sườn mà bật hẳn sang bên. Bị cánh tay cứng như sắt ấy, mãnh hầu rú lên đau đớn. Nhưng ỷ sức mạnh nó lăn xả vào đối phương, chụp đại.

Lam Y nhảy vọt lên cao khiến ác thú chụp hụt nhào ra phía trước. Thừa dịp, Lam Y quơ tay bắt trúng cổ chân mãnh hầu nhấc rộc lên khỏi mặt đất và vung tròn, trước còn chậm, hai ba vòng sau thì bắt đầu quay tít như chong chóng. Mãnh hầu rống lên vang dậy cả khu rừng núi.

Trong khi Lam Y giao đấu cùng ác thú, bầy hầu cũng xông bừa vào đàn áp dữ dội, nhưng Chu Đức Kiệt, Âu Dương Nữ, Lan Anh đã rút đao kiếm ra hoa múa, làn kiếm vi vu lạnh ngắt khiến bầy hầu hoa cả mắt sợ hãi tản mát vào rừng hay chui vào hang trốn tránh.

Bọn trai tráng mới đầu nghe tiếng mãnh hầu gầm thét thì kinh sợ, toan kéo nhau chạy, nhưng Củng Hoành tin tưởng ở tài lực các vị hiệp khách ngăn cản lại. Họ đành núp cả vào sau các bụi rậm theo dõi trận đánh cho tới lúc Lam Y nữ hiệp buông chân con mãnh hầu nó lăn lông lốc trên mặt đất. Bị chóng mặt, nó loạng choạng, quờ quạng chậm chạp không dậy nổi nữa. Củng Hoành biết được dịp tốt, hô mọi người xông vào đánh nhàu mãnh hầu vào cũi, đóng chốt cột chặt lại.

Ngồi gọn trong tay Âu Dương Nữ, tiểu nhi Vương Chi trước còn khóc, sau nín thinh.

Âu Dương Nữ vỗ về :

- Ta bế về với ba má nhé!

Vương Chi gật đầu có vẻ bằng lòng lắm.

Chu Đức Kiệt bảo các tráng đinh lấy các cành lá khô chất gần các miệng hang nổi lửa đốt.

Âu Dương Nữ nói :

- Bầy hầu sợ rồi thì thôi, đốt hại chúng làm chi?

- Giống hầu khôn lắm. Nếu không có lửa có khói cho chúng sợ hãi hơn nữa, thì chúng lại kéo nhau ra phá nương bắt trẻ sau này thêm tội. Mà ngu huynh không đốt chết chúng đâu mà e ngại.

Củng Hoành khéo léo chất đống cành khô phóng hỏa không cho lan tràn ra cháy rừng. Xong việc, đoàn người kéo nhau ra về.

Ra khỏi rừng, một số tráng đinh chạy về thôn trước báo cho mọi người hay tin cứu tiểu nhi Vương Chi và bắt mãnh hầu. Thành thử khi đoàn người về đến cổng thôn thì mọi người đã kéo ra rất đông, đi đầu là vợ chồng Vương Lục.

Hai người mừng rỡ nửa khóc, nửa cười khi nhận được đứa con thân yêu do Âu Dương Bích Nữ đưa cho. Họ quỳ xuống hướng vào bốn vị anh hùng tạ ơn cứu sống tiểu nhi.

Lúc đó con mãnh hầu đã tỉnh. Nó chạy ngang quay dọc trong chiếc cũi gióng dây thiệt chắc, nhe răng gầm gừ, thỉnh thoảng lại rống lên kinh khủng khiến những kẻ tò mò đi gần nhìn cho rõ giật mình sợ hãi, chạy bạt cả sang hai bên.

Mãnh hầu cầm những gióng cây lớn bằng ống chân lay đùng đùng như muốn phá cũi nhảy xổ ra báo thù, nhưng gióng cây lớn quá cứng ngắt.

Đoàn trai tráng khiêng cũi về để ngay dưới gốc cây hòe lớn trước cổng thôn. Nam phụ, lão ấu kéo ra xem rất đông vòng trong vòng ngoài chật ních. Những người qua lại trên đường cái giữa hai huyện Thái Bình và Thạch Tấn thấy đám đông cũng rẽ vào coi...

Lam Y và Chu Đức Kiệt muốn kiếu từ để sáng hôm sau lên đường nhưng các bô lão trong Thanh Phiêu thôn ra tận Củng gia điếm mời tối hôm sau vào thôn dự tiệc. Biết không thể từ chối được, Tam hiệp và Lan Anh vui vẻ nhận lời.

Hôm sau vào khoảng giờ Tỵ, trong khi Tam hiệp cùng họ Nhạc vào thăm cảnh trong thôn, thì có hai người một nam một nữ từ lối Thái Bình huyện về qua khu Kỳ Hầu Sơn rẽ vào Củng gia điếm dùng bữa.

Cả hai cùng vận võ phục, lưng đeo đơn đao. Thanh niên vào khoảng hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi khôi ngô tuấn tú, nước da bánh mật khỏe mạnh, vóc người tầm thước. Thiếu nữ tuổi đời quãng đôi mươi, da trắng nuột vẻ anh thư cân quắc.

Lúc đó Củng lão ngồi quầy hàng. Thiếu nữ hỏi :

- Có việc gì mà người bu đông ở cổng thôn vậy hả lão tiên sinh?

- Người ta xem con mãnh hầu đó cô nương. Hiếm có thứ hầu lớn như vậy.

Thanh niên rủ thiếu nữ :

- Chúng ta ra coi xem sao đi!

Chàng nhắn Củng lão :

- Tiên sinh bảo dọn bữa ngay nhé. Chúng tôi nhìn qua xem con hầu thế nào, sẽ trở vào ăn ngay mới kịp về nhà trước tối.

- Dạ nhị vị quý khách trở vào sớm kẻo nguội món ăn. Tôi cho bày thồi ngay.

Hai người rảo bước rẽ vào đám đông xem.

Thiếu nữ la :

- Chà! Mãnh hầu dữ và lớn quá đa!

Thanh niên gật đầu :

- Ờ, chưa bao giờ được thấy một con hầu lớn thiệt như vậy. Thiệt hiếm có!

Thiếu nữ nhắm người đứng bên hỏi :

- Chắc giống đại hầu này ở trong núi Kỳ Hầu, dân thôn bẫy được phải không?

Người nọ đáp :

- Cô nương hỏi Củng Hoành, người đứng gần cũi hầu kia thì rõ.

Vốn khâm phục đến cực điểm anh em Chu gia, nên thỉnh thoảng Củng Hoành lảng vảng ra gốc hòe để cũi hầu, lỡ gặp người hỏi chuyện thì y lại tán dương công trạng của anh em Chu gia mà y tôn sùng như thần thánh.

Nghe thấy người nói đến tên mình, Củng Hoành quay ngoắt người lại hỏi :

- Ai gọi tôi vậy? Củng Hoành đây?

Người nọ đáp :

- Củng đại ca ơi, có cô nương đây muốn hỏi thăm về vụ con mãnh hầu.

Củng Hoành nhìn thiếu nữ mà người nọ vừa chỉ :

- Ai muốn biết điều chi về con mãnh hầu này, xin cứ hỏi tôi, Củng mỗ rành chuyện nhất và rất sẵn lòng trả lời hết thảy.

Tiến lại gần thiếu nữ, y hỏi :

- Thưa cô nương, có điều gì cần dạy?

- Tôi muốn biết qua về vụ bẫy con hầu này, đại ca làm ơn chỉ giùm.

Củng Hoành giãy nảy :

- Ấy chết! Đâu có bẫy! Bắt được đấy chớ! Vị Nữ hiệp tài ba quán chúng đã bắt được nó sáng qua trong chân núi Kỳ Hầu kia kìa.

- Chao ôi! Bắt được à! Vị Nữ hiệp nào mà oai dũng thế?

Được hỏi đúng kiểu, Củng Hoành sung sướng đáp :

- Đã nói đến nữ hiệp khách thì trên đời này chỉ có một Lam Y nữ hiệp nghĩa là hiệp nữ vận áo lam, chớ còn ai đây nữa. Củng mỗ này được "quen" Nữ hiệp từ hai năm nay rồi, mà cũng chưa thấy vị nữ hiệp nào khác xuất hiện... võ dũng, thần lực, ghê gớm quá! Lúc trông Lam Y nữ hiệp cầm chân con mãnh hầu này quay tít như cái chong chóng. Củng mỗ này đứng ngoài mà cũng hoa cả mắt...

Thiếu nữ ngắt lời :

- Củng đại ca ơi, Nữ hiệp còn ở đây không?

- Để Củng mỗ kể cho mà nghe, con hầu bị quay tít...

Thiếu nữ ngắt lời lần nữa :

- Làm ơn trả lời, tôi còn gấp đi ăn cơm kẻo nguội.

Củng Hoành ngơ ngác :

- Nhưng cô nương vừa hỏi gì mới được chứ?

Thiếu nữ cố nhịn cười :

- Tôi hỏi rằng Lam Y nữ hiệp còn ở đây không và ở đâu.

- À!... Tưởng chuyện gì, Nữ hiệp còn ở đây chứ lị! Đêm nay dự tiệc trong thôn. Vị nữ anh hùng nghĩa hiệp ấy trọ tại bổn điếm Củng gia kia kìa. Ngựa còn để cả đây. Hừ chủ nào ngựa nấy, con tuấn mã trắng như tuyết, thiệt hay! À, nhưng bây giờ có xin yết kiến cũng không gặp đâu, nữ hiệp vào chơi trong thôn rồi...

Thiếu nữ đưa mắt nhìn thanh niên tráng sĩ.

Nàng cố nhịn để khỏi phì cười :

- Củng đại ca ơi, đêm nay trong quý thôn ăn tiệc mừng Nữ hiệp lớn lắm à?

- Mời Nữ hiệp thì tiệc phải lớn chứ! Tiếc thay người không có nhà, nếu có thì tôi rất vui lòng "giới thiệu".

Nhìn qua con mãnh hổ một lần nữa, thiếu nữ bảo thanh niên :

- Nào, về tửu điếm ăn cơm, nguội hết rồi.

Củng Hoành gọi với :

- Cô nương chưa nghe hết chuyện bắt mãnh hầu, về điếm làm gì rồi, nếu nguội thì sẵn lửa hâm lại cần chi.

Thiếu nữ ngoái cổ lại :

- Chịu khó kể cho mọi người nghe cũng vậy.

Củng Hoành ngẩng cổ cố nói với theo :

- Nhưng họ nghe cả rồi cô nương ơi...

Thiếu nữ cười khúc khích, bảo thanh niên :

- Tên Củng Hoành nói dai quá, ngang phè! Nếu Lam Y nữ hiệp biết vậy, y sẽ được lãnh một bài học "kín chuyện".

Tiểu muội muốn bàn với hiền huynh điều này...

Thanh niên hất hàm có ý hỏi. Nàng nói nhỏ mấy câu.

Thanh niên mỉm cười gật đầu :

- Chuyện đó nghe được. Thử coi...

Về tới tửu điếm, thiếu nữ bảo với Củng lão :

- Tầu ngựa ở đây có lớn không? Mấy bữa nữa tôi có bầy ngựa qua đây, có lẽ phải trọ lại một đêm.

- Dạ tầu ngựa bổn điếm chứa được bốn chục con, rộng rãi, có lối đi riêng phía sau vườn. Có mã phu chuyên môn trông nom cẩn thận.

Thiếu nữ gật đầu :

- Bốn mươi con vừa đủ. Tôi muốn coi qua có được không?

Củng lão lật đật bước ra khỏi quầy hàng :

- Dạ, mời cô nương tự tiện, tôi dẫn lối.

Thiếu nữ theo Củng lão vào tới vườn sau rộng rãi.

Tầu ngựa dựng thành một dãy dài ở mé vườn bên tả.

Củng lão chỉ cổng sau mà rằng :

- Dắt ngựa vòng ngoài tửu điếm vào lối cổng sau rất gọn gàng. Tầu ngựa tuy dài rộng thế này mà thiếu chỗ. Khách thương dừng lại đây thường có hàng trăm ngựa thồ...

- Bốn con tuấn mã này của ai vậy?

- Của Lam Y nữ hiệp, người đã bắt con mãnh hầu trong khu rừng chân núi Kỳ Hầu hôm qua giúp vợ chồng họ Vương tìm đứa tiểu nhi đó...

- A! Một mình Lam Y nữ hiệp sao có tới bốn tuấn mã?

- Thưa có một vị tráng sĩ và hai thiếu nữ cùng đi với nữ hiệp.

Thiếu nữ trở ra ngoài tiệm cùng thanh niên dùng bữa rất lẹ, trả tiền lên ngựa đi ngay. Hai người vừa đi khuất nẻo đường, thì Tam hiệp và Lan Anh trở về.

Sẩm tối hôm ấy, bốn người sửa soạn vào thôn dự tiệc.

Thấy Tam hiệp đeo võ khí, Lan Anh hỏi :

- Dự tiệc mà đem theo đao kiếm ư?

Lam Y nữ hiệp nói :

- Bán đao, bán kiếm là linh hồn của khách giang hồ, bất ly thân. Thời buổi này biết thế nào được. Mất tiền bạc không sao chớ bảo kiếm thì không được. Chắc gì tửu điếm? Vả lại rời thanh kiếm ra, thấy người chống chếnh thế nào ấy.

Củng lão, Trần Nhị và Củng Hoành cũng được mời vào thôn dự tiệc, nhưng vì ngoài điếm còn khách trọ và ít ra cũng phải có một người ở lại, cùng hai tên tiểu nhị coi nhà, nên ba người rút thăm trúng tên ai người nấy phải ở lại.

Củng Thiện bèn biên tên ba người vào ba miếng giấy, gập nhỏ lại bỏ vào chiếc chén. Củng Hoành tranh lấy bóc.

Y vẫn nhắm mắt, mở mảnh giấy ra chìa cho Củng lão và Trần Nhị xem. Họ Trần vỗ tay sung sướng đọc lớn :

- A Hoành.

Củng Hoành giãy nẩy như đỉa phải vôi :

- Dọa nhau chi vậy? Đời nào lại thế được.

Nhưng y mở bừng mắt đọc rõ ràng tên y trên mặt giấy thì mặt xịu lại.

- Đen quá! Hầu hạ nữ hiệp ngay từ buổi đầu mà bây giờ trượt đi ăn tiệc đãi nữ hiệp thời có ức không.

Không tin, A Hoành mở luôn cả hai mảnh giấy kia đọc, rõ ràng tên Củng Thuận và Trần Nhị.

Họ Trần mỉm cười :

- Thôi đại ca chịu khó ở lại coi nhà, chuyến sau nữ hiệp qua đây, tôi tình nguyện ở nhà, nhường đại ca đi nhé.

A Hoành hậm hực :

- Nói gì chuyến sau nữa! Thế mà hai hôm nay "giảng nghĩa" đến khan cổ về vụ mãnh hầu! Ức thật! Đêm nay phải nốc rượu say nhừ tử mới chịu nổi.

Củng Thuận nháy Trần Nhị :

- Sẩm tối rồi, sửa soạn theo Nữ hiệp đi thì vừa.

Hai người vào nhà trong mặc A Hoành ngồi đờ người ra đó.

A Hoành vùng đứng dậy vào bếp lục lọi lấy rượu.

Củng Thuận từ trong phòng gọi vọng ra :

- Hoành nhi! Hoành nhi!

A Hoành lẳng lặng bước vào, đứng ỳ ra đó.

- Cha có tuổi rồi chẳng muốn rượu chè lôi thôi, nhường con đi thay và liệu lời cáo lỗi cùng các lão hộ cha nhé.

Nét mặt tươi hẳn lên, Củng Hoành nhảy vút ra khỏi phòng la :

- Trần đại ca ơi! Chờ tôi với. Có thế chứ lị! Bữa tiệc mà không có A Hoành thì không nổi đình đám. Sướng quá!

Trần Nhị ló đầu ra hỏi :

- Củng đại ca làm chi mà la lối rền lên như vậy

- Đi dự tiệc chớ còn chi nữa! Chờ tôi đấy!

... Sáng hôm sau, ai nấy đều dậy trễ, đêm hôm trước bữa tiệc kéo dài đến khuya mới ra về, rượu vào chếnh choáng ngủ say A Hoành ít say hơn hết vì mải "giảng nghĩa" vụ mãnh hầu nên nói nhiều hơn là uống.

Bọn tiểu nhị dậy sớm hơn hết, ra vườn.

Một tên nói :

- Mấy thằng mã phu trời đánh này ngủ không biết đường dậy cho ngựa ăn. Lát nữa khách hàng lấy ngựa đi mới cuống cà kê.

Tên khác nói :

- Đánh thức chúng dậy, ai chả có khi ngủ quên.

Tên kia bèn gọi lớn :

- Liễu Tam, Điền Thất ơi! Dậy chớ, sáng bảnh mắt rồi.

Trong gian đầu tầu ngựa im lìm, không tiếng trả lời. Tên tiểu nhị bèn bước vào gọi, nhưng cảnh diễn ra trước mắt khiến y giật nẩy mình.

Liễu Tam, Điền Thất miệng bị nhét đầy giẻ, tứ chi bị trói gò nằm lên trên phản cây.

Sợ quá, Tiểu nhị chạy vội ra gọi đồng bọn và lên nhà trên báo cho cha con họ Củng và Trần Nhị biết.

Ba người lật đật kéo nhau xuống tầu ngựa cởi trói cho hai mã phu.

Củng lão hỏi :

- Ai vào đây trói các ngươi thế này?

Liễu Tam nắm cổ tay, cổ chân bị đau vì lằn dây siết chặt.

- Đêm qua, tôi đang ngủ say bỗng thấy lạnh buốt trên má, giật mình vùng dậy thì ra có người áp lưỡi đao lên mặt tôi uy hiếp bắt không được kêu, và ép buộc tôi lấy dây ghì trói, nhét giẻ vào miệng Điền Thất. Tôi đành phải theo lời người đó tưởng được tha, chẳng dè y lại trói tôi. Hành động xong, y bỏ sang bên tầu ngựa. Chúng tôi lắng tai nghe, thấy tiếng chân ngựa đi từ tầu ra lối cổng sau dông mất. Chắc nó lấy trộm ngựa rồi.

Đoàn người vội vàng sang bến tầu ngựa đêm, thấy thiếu mất một con.

Củng Hoành vội la lên :

- Chết rồi! Tên đạo chích lấy mất con tuấn mã của Lam Y nữ hiệp.

Đồng thời, Trần Nhị cũng trông thấy mảnh giấy trắng mắc vào đầu rui nhà :

- Kìa, có mảnh giấy gì ở đầu rui, bắc thang lên lấy coi!

Liễu Tam bắc thang tre lấy tấm giấy đưa cho Trần Nhị đọc.

"Mượn tuấn mã nối dây liên lạc. Hạ Hầu ký".

Đọc xong, Trần Nhị hỏi Liễu Tam :

- Ngươi nhận được mặt kẻ trộm ngựa không?

- Dưới ánh đèn bấc dầu lờ mờ, tôi chỉ biết y vận dạ hành phục màu đen. Mặt bịt khăn đen trông không rõ, riêng thấy cặp mắt long lanh sáng quắc.

Biết hỏi thêm cũng vô ích, Trần Nhị bảo Củng Hoành :

- Phiền đại ca lên lầu báo vụ này cùng các vị đại hiệp. Tôi ra xem cổng hậu.

Trúng ý, A Hoành vội vàng trở lên nhà trên tót lên lầu gõ cửa phòng.

Lúc đó bốn người đang sửa soạn hành trang.

Chu Đức Kiệt mở cửa thấy nét mặt A Hoành ngơ ngác liền hỏi :

- Làm sao vậy? Mãnh hầu bẻ cũi trốn mất rồi à?

- Thưa không, nhưng nguy lắm, đêm qua có kẻ trộm mất ngựa rồi.

- Ủa, nó lấy cả bốn con à?

- Không ạ, nó lấy mất con tuấn mã của nữ hiệp Lam Y. Con Bạch mã...

Lam Y, Âu Dương Nữ, Lan Anh nghe nói mất ngựa vội bước ra :

- A Hoành có chắc mất con tuấn mã của ta không?

- Thưa chắc lắm. Con bắt mã phu nuôi bốn con tuấn mã riêng một khu trong tầu, hiện giờ thiếu hẳn con Bạch mã. Tên trộm cả gan để lại một mảnh giấy trắng giắt trên đầu rui nhà.

- Giấy đâu, đưa ta coi!

- Trần Nhị cầm ở dưới tầu ngựa.

Bốn người vội vàng lần ra vườn sau vừa lúc gặp Củng Thuận và Trần Nhị đi vào.

Trần Nhị đưa mảnh giấy cho Lam Y coi và kể chuyện hai tên mã phu bị trói.

Bốn người xúm lại đọc hàng chữ viết rất hoạt, rồi trở ra tầu ngựa.

Lam Y thấy quả nhiên con Bạch mã của mình bị lấy trộm thật.

Nàng theo vết chân ngựa từ trong tầu ra đến cổng hậu, và từ cổng hậu ra trước Củng gia điếm đi độ hai mươi thước đến một chỗ có nhiều vết chân ngựa rồi mất hút.

Lam Y hỏi Trần Nhị :

- Nẻo đường này lên Thái Bình huyện hay Thạch Tấn?

- Thưa lên Thạch Tấn.

- Đêm qua có mấy người trọ trong điếm?

- Có hai người trọ từ ba bữa nay rồi. Họ chờ đoàn khách thương và hiện đang uống trà ở trong quán. Xảy ra vụ này thiệt đáng tiếc! Từ ngày khai trương đến nay chưa hề bị mất trộm lần nào.

- Sáng qua, hay tối qua trong lúc chúng tôi vào thăm trong thôn, có ai lạ vào tửu điếm dò hỏi gì không?

Trần Nhị ngơ ngác không hiểu nhưng Củng Thuận nói :

- Tôi luôn luôn ngồi quầy hôm qua lác đác có thực khách vào hàng ăn xong, họ đi ngay.

Chợt nghĩ ra điều gì, Củng Thuận nói tiếp :

- A, hay là hai nam nữ thanh niên vào điếm trưa hôm qua...?

Lam Y vội hỏi :

- Nam nữ thanh niên ra làm sao? Hồi nào?

- Lúc đó quý vị còn ở cả trong thôn vào quãng cuối giờ Tị. Họ bảo dọn thồi ăn, nhưng trước khi ăn, họ thấy đám đông bèn rủ nhau ra cổng thôn xem mãnh hầu. Lúc trở vào họ nói sẽ có bầy ngựa qua khu vực này nên đòi vào xem tầu ngựa. Nhìn qua, họ trở ra ngay dùng bữa và lên đường, nẻo đường Thạch Tấn.

- Hai người ấy có dò hỏi chi khác không? Hình dáng thế nào?

- Họ không hỏi chi cả. Thanh niên trạc hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi, thiếu nữ mười chín, hai mươi tuổi, võ phục, đeo đơn đao, dáng điệu thế gia chi tử.

Lúc đó, A Hoành mới nói theo :

- A, con có thấy họ ra xem mãnh hầu. Họ tưởng mãnh hầu đó sa bẫy, nhưng con cải chánh là nữ hiệp đã bắt nó.

Nghe vậy, Lam Y lắc đầu, nhìn Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ rồi đủng đỉnh trở về Củng gia điếm.

Trần Nhị lo ngại hỏi Lam Y :

- Trong thôn này cũng có ngựa, con vào lấy để ân nhân dùng tạm, tới nơi nào gặp ngựa tốt sẽ mua sau, có được không?

Lam Y mỉm cười :

- Không cần. Có lẽ hôm nay chưa lên đường được. Đem điểm tâm lên lầu cho chúng tôi và nếu đại ca không mắc bận, tôi sẽ nhờ vào trong thôn hỏi hộ chút việc.

- Dạ, cần điều gì, ân nhân cứ tùy tiện sai bảo. Bây giờ A Hoành làm bếp thạo lắm rồi.

Lát sau bốn người ngồi trên phòng lầu ăn sáng.

Âu Dương Nữ nói với Chu Đức Kiệt :

- Tiểu muội nghi đây không phải là một vụ trộm. Có kẻ nào muốn thử thách chi đó...

Chu Đức Kiệt gật đầu :

- Đúng vậy. Kẻ đó chỉ lấy riêng con Bạch mã của Lam Y trong khi nó đủ thì giờ dắt cả bốn con tuấn mã đi, còn cả gan để giấy lại nữa.- Kẻ đó nghe danh Lam Y muội muội từ trước rồi! Hôm qua bất chợt qua đây, y nghe chuyện bắt mãnh hầu nên cố ý mượn con ngựa để được gặp Lam Y đó.

Lam Y nói :

- Chung quy chỉ tại A Hoành bép xép phô trương. Chuyến trước ở Sơn Phu im lìm chậm chạp, không hiểu sao bây giờ nó nói luôn miệng.

Chu Đức Kiệt phì cười :

- Trước kia, y làm tiều phu, nhà ở ngay cửa rừng, chẳng im lìm thì nói với cây cối hay muông thú sao? Nay lên chức hỏa đầu, con chủ quán thì phải biết ngôn ngữ giao dịch chớ.

- Tiểu muội nghi hai nam nữ thanh niên bữa qua là thủ phạm vụ trộm.

- Chắc chắn rồi, còn nghi gì nữa! Hai người ấy họ "Hạ Hầu".

- Lát nữa, Trần Nhị lên sẽ nhờ y vào thôn thăm dò xem gần đây có người nào mang họ Hạ Hầu không. Y khá lắm, không láu táu như A Hoành.

Vừa lúc ấy, Trần Nhị lên tới nơi hỏi Lam Y nữ hiệp :

- Ân nhân có điều gì sai bảo?

- Đại ca vào trong thôn hỏi thăm xem có người nào biết từ đây lên Thạch Tấn huyện có gia đình nào họ Hạ Hầu không, hoặc có thôn trang nào đáng chú ý không. Nên hỏi những ai thường qua lại Thạch Tấn huyện cho khỏi mất công.

Trần Nhị tươi tỉnh :

- Tưởng việc gì, chứ người thuộc lối Thái Bình và Thạch Tấn huyện không ai hơn con. Từ Thanh Phiêu lên Thạch Tấn do đại lộ đúng ba mươi bốn dặm. Ngoại trừ những xóm lèo tèo chừng mươi, mười lăm cái nhà không đáng kể, đi mười dặm đường tới thôn Hòa Lạc, thêm chín dặm nữa tới trại Lục gia, và chặng cuối cùng là Kỳ Hầu Ổ, cách Thạch Tấn bốn dặm.

Tam hiệp ngạc nhiên :

- Ủa? Kỳ Hầu Ổ?

Trần Nhị gật đầu :

- Dạ, Kỳ Hầu Ổ lớn nhất trong các thôn trang trên con đường này, ở mé bên hữu cách mặt lộ chừng vài trăm thước. Đại trang ấy có ruộng nương bao bọc khắp chung quanh, và sau lớp ruộng là chặng núi này kéo dài qua đó. Cảnh sắc phong quang hùng vĩ như đây.

Lam Y phì cười :

- Chắc lại nhiều hầu như khu Thanh Phiêu nên thành tên Kỳ Hầu Ổ chứ gì?

- Không phải. Nếu vì loài hầu mà thành tên, tất dân Thanh Phiêu cũng được nghe đồn.

- Còn vụ họ Hạ Hầu?

- Tuyệt nhiên không nghe nói tới họ ấy, để con vào thôn thăm dò xem có ai biết không.

- Ờ, phiền đại ca giúp tôi việc ấy càng mau lẹ càng hay.

- Đó là bổn phận của con.

Trần Nhị đi ngay đến trưa mới về, thưa rằng :

- Không một ai biết họ Hạ Hầu hay thôn xóm nào mang tên như vậy cả. Nhưng về Kỳ Hầu Ổ hình như khu ấy là đất đai của dòng dõi tướng môn gì đó.

Không do dự, Lam Y bảo Trần Nhị :

- Thôi, sửa soạn thắng ngựa, chúng tôi khởi hành lên Thạch Tấn huyện ngay bây giờ.

- Để con lấy tạm con ngựa Nữ hiệp cưỡi.

- Cám ơn, tôi cưỡi chung với gia tẩu được rồi.

Chờ Trần Nhị đi khỏi, Lam Y nói với Chu Đức Kiệt và Âu Dương Nữ :

- Chúng ta lên huyện vào quán trọ. Sáng mai, tiểu muội thân hành vào Kỳ Hầu Ổ xem thế nào. Linh tính báo rằng đáng để ý tới trang trại đó.

Âu Dương Nữ nói :

- Chúng tôi cùng đi với. Tiểu tâm vẫn hơn.

Lam Y giảng giải :

- Từ trước đến nay, chúng ta hiệp ý hành động rất vui, nhưng vụ trộm ngựa này hoàn toàn có tánh cách riêng biệt.

Tất cả có bốn tuấn mã, tên Hạ Hầu lựa trúng con Bạch mã của tiểu muội, tức là có ý thách thức riêng mình Lam Y nữ hiệp. Tẩu tẩu vui lòng để tiểu muội tự hành động xem tên Hạ Hầu bản lãnh cao siêu dường nào.

Chu Đức Kiệt nói :

- Lam Y đơn thân hành động là phải. Vụ này có tánh cách trêu đùa, phần đua tài và danh dự nhiều hơn là nguy hiểm. Lam Y dư sức trả lời.

Lam Y mỉm cười :

- Theo linh tánh đoán liều họ Hạ Hầu ở Kỳ Hầu Ổ, nếu không có họ đó ở thôn trang ấy thì cũng đành mất toi con Bạch mã! Chẳng lẽ tới trang trại nào, chúng ta cũng ngừng bước mất thì giờ thăm dò sao? Theo nét chữ mềm mại tuyệt đẹp. Hạ Hầu có lẽ là một cân quắc tiểu thư.

Suy nghĩ giây lát, nàng nói tiếp :

- Dù sao cũng cố tìm lấy lại con bảo mã trung thành ấy. Gươm linh, tuấn mã là hai vật chí bảo của bọn giang hồ. Kiếm thanh hoa ảnh giúp ta vẫy vùng trong thiên hạ, cũng như ta đã nhờ vó câu thần mã thâu ngắn tạm trường. Lẽ nào bỏ nó được.

Nói tới đây, cặp phượng nhỡn xếch ngược long lanh sáng ngời như ánh kiếm, giả thử chàng hay nàng Hạ Hầu nào đó lúc này đứng trước mặt nàng, cũng đủ hạ khí giới vì luồng kiếm nhỡn ấy, chớ không cần nàng phải ra công tranh đấu nữa.

Trần Nhị lên bảo ngựa đã đóng yên sẵn sàng. Bốn người đeo hành lý và đao kiếm xuống lầu. Chu Đức Kiệt ra quầy hàng trả tiền trọ. Củng lão và Trần Nhị nhất định không lấy. Đức Kiệt để tiền trên mặt quầy mà rằng :

- Buôn bán thế này, lãi lời bất quá được bao nhiêu? Muốn trả ơn chúng tôi, lão trượng và Trần đại ca cứ lương thiện, sống theo lẽ phải là được rồi.

Củng, Trần và A Hoành líu ríu tạ ơn. Vừa lúc ấy, vợ chồng Vương Lục cũng ẵm tiểu nhi Vương Chi đến bái tạ cứu mạng. Lam Y đỡ dậy khuyên nhủ mấy điều. Nàng để ý thấy vợ Vương Lục vóc dáng người dong dỏng giống mình, thì chợt nghĩ ra một ý kiến hỏi nhà ở đâu.

Trương thị đáp ở kế cận, cách Củng gia điếm mấy nhà.

Lam Y yêu cầu mọi người chờ, đoạn bảo Trương Thị dẫn nàng về nhà.

Tới nơi, Lam Y hỏi :

- Đại nương có dư bộ y phục nào để lại cho tôi được không?

Trương thị bỡ ngỡ không hiểu :

- Y phục thì có, nhưng đã cũ, và ân nhân dùng sao được?

- Được, cứ lấy ra đây tôi coi. Có giầy hay hài xảo nữ càng hay.

Trương thị đành chiều ý, vào phòng lấy mấy thứ y phục và cặp thôn hài tốt nhất của mình đưa ra cho Lam Y. Nàng lựa một bộ so lên người thấy vừa vặn bèn để riêng ra và thử đến cặp hài.

Trương thị đỏ mặt nói :

- Cặp hài này của gia mẫu cho nhưng nhỏ quá, con đi không vừa Lam Y kín đáo nhìn, quả nhiên hai bàn chân Trương thị thô kệch quá chừng.

- Làm việc đồng áng thì phải thế chứ, chân lớn là lẽ thường... Coi này, vừa cỡ chân tôi quá. Nhường tất cả lại cho tôi nhé!

- Dạ, ân nhân cứ lấy dùng.

Lam Y gói bộ y phục và thôn hài vào bọc hành trang, móc túi lấy mười lượng bạc đưa cho Trương thị.

- Cầm lấy tiền này mua quà cho Vương Chi, đừng chối từ tôi giận đấy.

- Ân nhân cho con nhiều quá...

Trương thị chưa nói hết lời thì Lam Y đã vỗ má tiểu nhi quay ngoắt ra khỏi cửa rồi, mặc Trương thị bỡ ngỡ sung sướng với số bạc trắng xóa trong tay.

Nàng về thẳng Củng gia điếm. Ba người đã lên ngựa chờ sẵn.

Lam Y vẫy tay chào bọn Củng, Trần nhảy phắt lên ngồi phía sau Âu Dương Nữ, giục lên đường.

A Hoành đờ người ra nhìn theo, đầu lắc lư khen :

- Hay quá...

Trần Nhị nhìn bạn thiết hỏi :

- Hay cái gì?

A Hoành vẫn nhìn theo đoàn lữ khách kiệu nhỏ trên đường xa :

- Nữ hiệp phi thân lên ngựa hay quá, thiệt tài tình!

Trần Nhị nguýt bạn :

- Thôi đi ông! Vì ông ba hoa nhiều quá nên kẻ đạo chích biết nữ hiệp có Bạch mã mới nẫng tay trên đó. Còn hay với dở nỗi gì.

A Hoành tặc lưỡi phân trần :

- Nào, tôi có nói gì đâu? Chỉ khen đề cao nữ hiệp cưỡi Bạch mã thiệt hào hùng. Có vậy thôi.

- Chao ôi! Cái "vậy" của ông đủ dẫn đường cho kẻ trộm ngựa rồi! Sao hồi sáng ông không nói rõ?

- Tôi đâu cò dè!

Trần Nhị chép miệng :

- Mỗi chuyến đại ca "không dè" là đủ hết nghiệp rồi còn gì. Ngựa luyện, ngựa quý của người ta chớ đâu phải ngựa bụng ủng đít von đã mua đâu.

... Xế chiều hôm ấy, Tam hiệp và Lan Anh đi qua khu Kỳ Hầu Ổ.

Chu Đức Kiệt nói :

- Đại thôn này lớn thật! Tường hoa, mái ngói như bát úp.

Lam Y im lặng nhận xét.

Bóng tà gác sớm đầu non khiến dãy núi đá nhấp nhô trở nên tím thẫm vạch ngang nền trời xanh ngắt. Đám thôn phu vác cuốc hò nhau trở về thôn. Đây đó, mấy chú mục đồng đủng đỉnh, an nhàn dẫn trâu hồi ổ. Tiếng sáo du tử véo von, trầm bổng hòa với tiếng mõ trâu rung tạo thành bản nhạc chiều bất hủ trong gió mát dịu dàng nhẹ kẽ lá ngàn cây.

Lam Y buông xõng :

- Cảnh chiều cô thôn đẹp thật, tình hoài vương vấn khách giang hồ.

Chu Đức Kiệt trầm lặng nhìn em.

Âu Dương Nữ hỏi Lam Y :

- Bình Dương cảnh sắc thế nào?

- Kỳ mỹ như khúc hùng ca bất diệt! Cảnh thì suối mát, non cao, nương lúa. Vật dù có mãnh thú, thịt mối. Nam, phụ, lão, ấu người Sơn Đông rất thượng võ, ai cũng biết chút ít côn, quyền, cung, mã. Tẩu tẩu sẽ được thăm thú xứ sở ấy.

Bốn người lỏng cương chuyện vãn bất giác đến Thạch Tấn huyện thì vừa sẩm tối.

Thạch Tấn là huyện lỵ nhỏ, so với nhiều nơi mà Tam hiệp đã từng qua chỉ bằng một phần tư, nên tìm hồi lâu mới thấy quán trọ vừa ý.

Chủ quán thắc mắc hỏi :

- Quý khách bốn người mà cưỡi ngựa, có lẽ giữa đường gặp cường đạo?

Lam Y đáp :

- Không. Một con đau phải để lại ngoài thành. Huyện này có bình an không?

- Dạ, bổn huyện tuy nhỏ nhưng tương đối bình an, không hề xảy ra chuyện đạo chích.

Sáng hôm sau, Lam Y cải trang thành một thôn nữ, vai đeo gói hành lý nhỏ đựng một bộ võ phục, và võ ủng, sửa soạn đến Kỳ Hầu Ổ.

Âu Dương Nữ phì cười :

- Cô muội lấy ở đâu ra bộ áo thôn nữ vừa vặn thế này?

Lam Y chưa kịp đáp lời, thì Chu Đức Kiệt đã nói :

- Hiền muội lại mua của Trương thị, vợ Vương Lục ở thôn Thanh Phiêu chớ gì?

Lam Y gật đầu :

- Chính vậy, Trương thị và tiểu muội vóc người bằng nhau. Cải trang thế này được không?

Nhạc Lan Anh mỉm cười :

- Y hệt một thôn nữ kiều diễm, khéo nhỉ! Đến Kỳ Hầu Ổ lỡ gặp Trang chủ có khiếu thẩm mỹ thì rầy rà lắm đấy.

- Nếu vậy chắc Trang chủ ấy đến ngày tận số rồi!

- Thơ thơ không đem hảo kiếm theo sao?

- Thôn nữ mà giắt trường kiếm thì còn gì trái ngược hơn? Có túi phi đao đây rồi. Trong trường hợp không thấy gì lạ, sẩm tối tôi sẽ về.

"Nếu dò la được tin tức Bạch mã, nội nhật ngày mai mới có thể về được. Đừng nóng ruột nhé".

Nói đoạn, nàng vẫy tay chào mọi người rồi xuống lầu.

Lúc nàng đi qua quầy hàng, chủ quán giật mình, tưởng người lạ nào, nhưng trấn tĩnh ngay khi nhận ra nữ khách đến chiều qua.

Lam Y mặc chủ quán ở lại với sự bỡ ngỡ của y, đi vụt ra khỏi tửu quán, theo đường cũ ra thành.

Theo đại lộ, lúc gặp người, Lam Y đi như thường, trái lại khi vắng vẻ nàng hoặc chạy, hoặc bước đi vùn vụt. Chẳng bao lâu, đã tới khúc rẽ vào Kỳ Hầu Ổ.

Nàng thản nhiên hỏi một nông phu đang cuốc đất :

- Đại ca làm ơn chỉ giùm trang trại của họ Hạ Hầu.

Người nọ nhìn Lam Y giây lát :

- Cô từ đâu tới đây :

- Tôi từ Lục gia thôn tới, cầm thơ cần của người bạn họ Hạ Hầu tiểu thư.

- Vào trong thôn hỏi mới biết được, trong ấy nhà cửa nhiều, đường lối ngoắt ngoéo, nói ở đây nhớ sao nổi.

- Nhưng đích thôn này có họ Hạ Hầu?

- Không đích xác, ai chỉ đường cho mất công.

Lam Y cảm ơn đi thẳng vào Kỳ Hầu Ổ.

Nàng mừng rỡ đã dự đoán trúng, không những tìm thấy họ Hạ Hầu ở Kỳ Hầu Ổ mà kẻ lấy trộm Bạch mã là một thiếu nữ.

Vào tới trang, nàng chưa biết đi ngả nào thì có mấy người đàn bà già, trẻ đi qua. Họ trâng tráo nhìn người lạ.

Lam Y nhằm người có tuổi hỏi :

- Lão bà, làm ơn chỉ giúp Hạ Hầu tiểu thư ở nơi nào.

Bà già nhìn nàng từ đầu tới chân, trong khi mấy cô gái khác thì thầm ghé tai nhau nói chuyện.

Lam Y nghĩ bụng, người trong thôn này kỳ lạ, mình cũng như họ chớ có ba đầu sáu tay, mười hai con mắt đâu mà họ nhìn dữ vậy! Lạ thì lạ chớ! Nghĩ vậy, nhưng nàng vẫn điềm tĩnh mỉm cười chờ trả lời.

Bà già nói :

- May cho cô đó. Tiểu thư đi chơi xa mới về. Định xin việc làm hả?

Lam Y gật đầu :

- Dạ, tiểu nữ nhà nghèo, nghe đồn Hạ Hầu tiểu thư nhân đức nên đến xin hầu hạ.

- Trắng trẻo dễ coi thế này chắc Hạ Hầu tiểu thư ưng ý lắm. Đường lối trong Kỳ Hầu Ổ quanh co khó kiếm, vậy cứ đi thẳng đây độ trăm bước tới ngã ba, quẹo tay tả đi đến cây đề lớn.

"Dưới gốc cây đề có máng nước lớn, nơi giặt công cộng. Chịu khó hỏi thăm một lần nữa, thế nào người nhà Hạ Hầu tướng công dẫn về tới nơi".

Lam Y gặng hỏi thêm :

- Phiền lão bà cho biết, Hạ Hầu tiểu thư là con quan hay sao?

Bà già trừng mắt làm như thôn nữ ngớ ngẩn nọ đã phạm vào một tội lớn vì không biết họ Hạ Hầu là nhà quan :

- Trời ơi, biết đường vào Kỳ Hầu Ổ mà hỏi câu ngớ ngẩn thế ư! Tướng công là dòng dõi Kỳ Dũng Hầu khi xưa đó. Được chấp nhận làm tôi bộc họ ấy tha hồ sung sướng. Cố đi!

- Dòng dõi nhà quan thì chắc tướng công ở nơi đế kinh chớ không ở nhà.

- Dòng dõi nhà quan chớ không phải làm quan, vậy tướng công ở nhà chớ sao lại ở kinh đô? Trông cô sáng sủa thế kia sao mà tối dạ thế.

Lam Y mỉm cười :

- Xin lỗi làm phiền lão bà, tiểu nữ quê mùa không thuộc thể cách quan liêu.

Dứt lời, nàng chào đi thẳng. Lão bà nhìn theo. Mấy thiếu phụ, thiếu nữ thôn dân nói với nhau :

- Người ở đâu mà xinh đẹp chẳng kém gì Hạ Hầu tiểu thư nhỉ?

- Cùng khổ mặt, cùng nước da trắng muốt, nhưng tiểu thư làm gì có chiếc mũi cao dọc dừa ấy? Vậy vẻ đẹp còn kém người này chứ lị.

Lam Y cố làm ra vẻ quê mùa ngờ nghệch, kéo chiếc khăn bịt đầu buộc quàng xuống cằm che kín thêm mặt đều đặn của nàng.

Quanh co mấy khúc, nàng đi đến máng nước thật. Đó là một mái ngói cột gạch, ở giữa xây mấy hàng bậc giặt. Nước chảy theo máng từ ngoài suối vào một cái hồ lớn trong veo Một đoàn người toàn phụ nữ, già có, trẻ có, trang phục ra dáng nô tỳ và thôn dân đang giặt giũ quần áo. Họ vừa làm việc, vừa chuyện trò cười nói vui vẻ. Thấy thôn nữ Lam Y đeo hành lý đi tới, không ai bảo ai, họ đồng loạt ngừng tay, yên lặng nhìn. Họ nhìn chăm chú vì Lam Y thôn nữ lạ mặt hay vì nàng kiều diễm. Có lẽ vì cả hai lý do, nhưng riêng Lam Y thì nghĩ rằng những người trong Kỳ Hầu Ổ tò mò thiệt, và chẳng tế nhị chút nào.

Nàng thản nhiên vái chào hỏi thăm đường vào Hạ Hầu trang.

Một người trạc ngoài hai mươi tuổi hỏi :

- Thơ thơ hỏi thăm ai đó?

- Tôi đến xin việc làm. Thơ thơ làm ơn chỉ giúp.

- Biết làm việc gì?

- Việc gì tôi cũng làm được.

- Chân tay trắng nuột thế kia có dám làm việc nặng nhọc không?

Mọi người nhìn nhau tủm tỉm cười, Lam Y hỏi bực mình hỏi lại :

- Thơ thơ là người nhà đại quan hay sao mà chất vấn dữ vậy?

Một lão bà chỉ cô gái nọ mà rằng :

- Chị Liêm Hoa đây là người làm trong nhà Hạ Hầu, tử tế chị ấy sẽ giới thiệu cho.

Lam Y niềm nở hỏi Liêm Hoa :

- Xin lỗi thơ thơ, để tôi giặt cùng cho mau lẹ nhé!

- Được, giặt xong đi cùng tôi về nhà.

Lam Y treo bọc hành lý lên cành cây, xắn cao tay áo, đứng vào bên Liêm Hoa, giặt ồ ạt mồi hồi hết cả hai lố quần áo.

Mọi người nhìn nhau tỏ ý ngạc nhiên, khen ngợi Lam Y giặt khỏe.

Liêm Hoa hỏi :

- Tên chị là gì? Biết tên gọi nhau tiện hơn.

- Tôi họ Lam tên Anh, sanh quán ở Thái Bình huyện.

Hai thế nữ nữa xếp các quần áo giặt sạch vào hai chiếc giành mây rồi xỏ đòn gánh khiêng về nhà. Liêm Hoa và Lam Y theo sau. Nàng nói chuyện :

- Lúc ở ngoài đầu lộ hỏi thăm vào đây, có người lực điều nói rằng Hạ Hầu tiểu thư mới du lịch xa về, phải không?

Liêm Hoa đáp :

- Phải rồi. Tiểu thơ và đại công tử mới đi Hàng Châu thăm người cô cửu về hồi trưa hôm qua.

Lam Y vờ hỏi :

- Nghe nói Hàng Châu là một đại trấn, chắc đại công tử và tiểu thư mua được nhiều thứ đẹp về nhà lắm nhỉ?

- Đi như vậy mấy khi ai chịu mua gì thêm bận tay đường trường. Tôi chỉ thấy dắt được một con Bạch mã cực đẹp về nhà thôi.

- Chắc nhà thiếu ngựa nên tiểu thư mới chịu khó mua thêm về dùng chứ gì?

Liêm Hoa phản đối :

- Đâu có! Tầu ngựa nhà có dư ngựa, có lẽ vì thiếu Bạch mã nên mua về cho đủ bộ.

- Kim chi ngọc diệp như tiểu thư mà xông pha kỵ mã kể cũng hiếm có.

Liêm Hoa phì cười :

- Lam thơ hỏi ngớ ngẩn thật. Hạ Hầu là dòng dõi võ tướng khai quốc công thần, tiểu thư và đại công tử võ nghệ gia truyền, dũng lực vô song. Cung mã là nghề nhà mà! Thơ thơ được thâu nhận làm việc ở đây sẽ mục kích hai vị ấy luyện tập thường ngày.

- Đại công tử và tiểu thư danh hiệu là gì nhỉ?

- Hạ Hầu Hùng và Hạ Hầu Ánh. Trông thơ thơ gọn gàng thế này chắc sẽ được hầu cận tiểu thư đó. Tôi biết ý tiểu thư và sẽ nói giúp cho.

Lam Y làm ra vẻ mừng rỡ :

- Ơn ấy bao giờ tôi dám quên.

- Ồ, có gì mà ơn với huệ. Bọn công nhân chúng mình giúp nhau là thường.

Hai người vãn chuyện, đi vòng vèo qua mấy dãy nhà tá điền, đến một trang môn đồ sộ, có tấm biển vắt ngang đề ba chữ "Kỳ Dũng Hầu". Bên trong đình đài mấy lớp khang trang, hoa viên cây cối rườm rà, nào giả sơn, nào hồ bán nguyệt, cực kỳ sang trọng.

Liêm Hoa nói :

- Nam nữ công nhân ở trong nhà này đông và do bà Dương Kim quản gia điều xuất. Theo lệ phải trình diện với quản gia trước, nhưng Lam thơ theo tôi về phòng riêng ở hậu viên, chờ tôi nói với tiểu thơ trước cho thì chắc chắn hơn.

Lam Y theo Liêm Hoa đi vòng vèo vào tới khu hậu đình, thì vừa thấy một thiếu nữ đứng trên hành lang nhìn xuống.

Liêm Hoa nói nhỏ với Lam Y :

- May quá tiểu thư kia kìa, chắc thế nào cũng hỏi. Đó là Mai Hương đình có phòng của tiểu thư.

- Tiểu thơ ở nhà mà không vận xiêm y thường phục à?

- Ít khi lắm. Luôn luôn dùng võ phục.

Quả nhiên, Hạ Hầu Ánh vẫy tay gọi Liêm Hoa.

Liêm Hoa dặn Lam Y đứng đó chờ, rồi rảo bước sang đình Mai Hương.

Hạ Hầu Ánh hỏi Liêm Hoa :

- Ai đi với ngươi vậy?

- Con đang giặt ở máng nước thì thôn nữ này vào Kỳ Hầu Ổ kiếm việc làm. Thấy người gọn gàng dễ coi bảo theo về xem tiểu thư có bằng lòng không.

Hạ Hầu Ánh chăm chú nhìn Lam Y thôn nữ giây lát :

- Tên y là gì? Gọi sang đây ta coi!

- Y họ Lam tên Anh, người Thái Bình huyện.

Hạ Hầu Ánh nhìn Lam Y không chớp mắt trong khi nàng vờ khép nhìn xuống nền gạch bông. Tuy vậy, Nữ hiệp đã thừa thì giờ quan sát tiểu thơ họ Hạ Hầu rồi. Nàng phảng phất như Nhạc Lan Anh cao hơn, nhưng cũng chỉ đứng đến tai Lam Y.

Hạ Hầu Ánh nghĩ thầm sao lại có thôn nữ xinh đẹp, trắng trẻo ngà ngọc chẳng kém chi một vị thiên kim tiểu thư thế này? Được người này hầu cận thì còn chi bằng, nhưng biết đâu y không là gian tế, là Lam Y nữ hiệp tìm đến đây lấy lại Bạch mã.

Đoán được ngay ý nghĩ của Hạ Hầu Ánh, Lam Y vờ ngơ ngác nhìn y hệt một thôn nữ lần đầu mới được đặt chân tới cấm đình danh gia.

Bỗng Hạ Hầu Ánh cất tiếng trong trẻo hỏi :

- Lam Anh một mình từ Thái Bình huyện tới đây, mà không sợ đường trường thân gái sao?

- Thưa tiểu thư, con côi cút đi với vợ chồng người biểu huynh qua Lục gia thôn, được nghe nói tướng công và phu nhân bên Kỳ Hầu Ổ nhân đức, nên biểu huynh dẫn con sang đây xin việc làm.

- Vợ chồng biểu huynh ngươi đâu? Không thấy đi cùng?

- Biểu huynh và biểu tẩu vào Thạch Tấn huyện, chiều mai mới về qua đây rước.

- Giá tỉ không kiếm được việc làm, đêm nay ngươi định ngủ ở đâu?

- Biểu huynh con dặn rằng xin ngủ nhờ một nhà nào trong Kỳ Hầu Ổ và chiều mai sẽ ra đại lộ chờ.

- Nếu ta thâu nhận, ngươi có ưng ý theo ta không?

- Thưa tiểu thư, con mong muốn được như vậy. Phước đức quá!

Bỗng Hạ Hầu Ánh hỏi ngang :

- Bên Thái Bình huyện rộng lớn, không kiếm nổi chỗ làm sao?

- Con có đi làm mấy nơi, nhưng các nam công nhân... sỗ sàng quá nên đành phải bỏ việc.

Hạ Hầu Ánh nhận xét thấy Lam Y sắc diện đỏ ửng vẻ mắc cỡ thì tin là nàng thật tình, nghĩ thầm "Phải rồi, nhan sắc thế kia, bọn nam bộc không trêu cợt sao được".

- Được rồi, ta nhận ngươi làm hầu cận ta. Nếu bọn nam bộc lả lơi trêu ghẹo, ngươi cứ việc mách để ta trừng phạt. Các thể nữ trong nhà đều vận xiêm y, chịu khó ngoan ngoãn ta sẽ may cho.

Lam Y bẽn lẽn :

- Con vận y phục thôn dã đã quen, tiện làm việc hơn. Dùng xiêm y không được gọn gàng.

Hạ Hầu Ánh mỉm cười :

- Nếu thế ta sẽ cho vận võ phục, hầu đao mã, chịu khó ta sẽ truyền dạy võ nghệ cho. Hiện thời, ta có nhiều võ phục cũ, ta sẽ đưa cho mà dùng.

- Dạ, con xin cố theo.

Nói câu ấy, Lam Y không khỏi cười thầm: "Mày thấp hơn ngót ngang tay và nhỏ cân hơn, chị mày đây vặn vừa sao".

Hạ Hầu Ánh thấy mến ngay Lam Y thôn nữ, bèn bảo Liêm Hoa :

- Để Lam Anh ở đây với ta. Có gặp quản gia Dương Kim thì bảo cho y hay việc thâu nạp này nghe chưa?

Liêm Hoa đi khỏi, Hạ Hầu Ánh nói :

- Nguyên tòa Mai Hương đình này thuộc về ta, vào đây chỉ phòng riêng cho cất hành lý. Hiện có hai nữ tì làm việc vặt, hiềm vì chúng ủy mị lắm, chớ không khỏe mạnh như Lam Anh.

Lúc hai người đi gần nhau, Hạ Hầu Ánh mới chợt nhận ra thôn nữ cao lớn hơn mình :

- A, Lam Anh lớn hơn ta nhiều, phải may võ phục khác mới vừa.

Mai Hương đình có một tầng lầu. Ở trên là tư phòng của Hạ Hầu Ánh và một căn phòng xép. Dưới là khách phòng bày giá võ khí.

Hạ Hầu Ánh dẫn Lam Y vào căn phòng nhỏ sau khách phòng mà rằng :

- Từ nay Lam Anh ở đây. Khỏe mạnh thế này, không theo tập cũng phí. Biết kỵ mã không?

Lam Y đáp :

- Trước kia gia đình chưa sa sút, nhà có ngựa nên con có tập cưỡi qua loa và biết đóng yên ngựa.

Giữa lúc hai người đang nói chuyện, thì có tiếng gọi :

- Hiền muội có nhà không?Hạ Hầu Ánh lên tiếng trả lời, và bảo Lam Y :

- Công tử Hạ Hầu Hùng, anh ta đó. Lam Anh theo ra đây.

Dứt lời, nàng đi trước ra khách phòng. Một thanh niên tuấn kiệt đang ngồi trên cẩm đôn.

Thấy Lam Y, Hạ Hầu Hùng hỏi em :

- Ai đây?

- Tiểu muội mới kiếm được một người hầu đao mã đó, thôn nữ Lam Anh.

Lam Y kín đáo nhận xét Hạ Hầu Hùng, tiến lên vái chào.

Hạ Hầu Hùng lẳng lặng nhìn Lam Y một hồi, đoạn bảo em :

- Con Bạch mã vẫn không chịu ở chung tàu với bầy ngựa nhà. Nó đá luôn, ngu huynh nhốt riêng ra rồi. Chắc nó nhớ chủ.

- Hoặc nhớ chủ, hoặc dữ tánh. Ngựa nhà bị thương không.

- Chúng giạt sang bên nên không hề gì. Ngu huynh cột Bạch mã vào ổ riêng.

Hạ Hầu Ánh nói :

- Ta ra coi xem thế nào, nhân tiện chỉ cho Lam Anh biết nơi tàu ngựa luôn thể.

Nàng vẫy Lam Y đi theo.

Ra tới nơi, tiếng ngựa hí vang ầm. Hạ Hầu Hùng nói :

- Con Bạch mã hí đó, chắc nó nhớ chủ chớ không sai.

Lam Y cười thầm: "Bây ngu quá! Nó đánh hơi biết ta tới nên mừng rỡ, chớ nhớ gì. Ngựa nhớ phải bỏ ăn chớ sao lại hí vang".

Bạch mã giậm bốn vó, giựt dây cột như muốn tháo chạy.

Tên gia nhân mã phu chạy ra nói :

- Bạch mã dữ quá! Kỳ một điều là sao bây giờ nó mới hung hãn vậy.

Anh em Hạ Hầu tiến vào tàu ngựa, Lam Y sợ Bạch mã giựt đứt dây chạy ra với nàng sẽ bị lộ chân tướng, bèn ngăn lại :

- Trước kia biểu huynh con có giữ tàu ngựa, nên con học theo biết tánh ngựa. Con Bạch mã này nổi hung có lẽ bị cột dây ngắn quá. Để con thử coi!

Hạ Hầu Hùng nghe vậy lại chăm chú nhìn Lam Y.

Hạ Hầu Ánh mỉm cười bảo rằng :

- Lam Anh thạo về mã tánh như vậy ư? Thử coi, nhưng cẩn thận kẻo nó đá đó.

Lam Y vờ lấy nắm cỏ tươi đi thẳng vào trong tàu cho Bạch mã và nới dài dây cột.

Bạch mã thấy chủ đứng yên ngay. Lam Y vỗ lên cổ nó mấy cái :

- Ăn cỏ đi kẻo bị đánh đa!

Tuấn mã ngoan ngoãn cúi đầu ăn cỏ như thường, yên trí là chủ đã tới.

Lam Y ra khỏi tàu ngựa.

- Công tử và tiểu thư coi, vì dây cột ngắn quá, nó không cúi đầu được xuống tới máng ăn.

Hạ Hầu Hùng nói một mình :

- Lạ quá nhỉ! Vừa rồi chính tay ta cột nó, dây dài đủ cỡ mà.

Hạ Hầu Ánh vô tình khen :

- Không ngờ Lam Anh lại thạo về môn mã tánh như vậy. Khá lắm!

Hạ Hầu Hùng bảo em :

- Ngu huynh mừng thay cho hiền muội gặp được người hầu vừa ý.

Hạ Hầu Ánh vui vẻ :

- Tiểu muội nghĩ rằng Lam Anh có thể thành người bạn hơn là người hầu.

Trong khi anh em Hạ Hầu mải nói chuyện, Lam Y nhận xét địa thế khu vườn sau, thấy có hai cổng bằng cây đóng kín, còn tên mã phu thì ở cùng với gia đình y trong căn nhà nhỏ cách tàu ngựa chừng vài sải tay.

Lát sau, về đến Mai Hương đình, Hạ Hầu Ánh bảo nàng :

- Tôi có cảm tưởng là Lam Anh thạo nghề cung mã, lai lịch của em thế nào thuật rõ tôi nghe, chỗ chị em bạn gái đừng ngại Lam Y nghĩ thầm mày đã trộm ngựa trêu ta thì ta sẽ trêu lại cho mà coi! Nàng đáp :

- Tiểu thư biết nhìn người, tôi đâu dám giấu diếm. Khi xưa nội tổ ở trong quân binh nên tôi biết qua loa về nghề cung mã. Sau đó gia đình sa sút tôi phải đi làm mướn ăn, ngoài ra không có gì đáng nói thêm bận tai tiểu thư.

Hạ Hầu Ánh cả cười :

- Như thế cũng thừa đủ cho chúng ta thành thân nhau. Tôi ưa chuộng võ nghệ và hàng ngày luyện tập. Lam Anh chịu khó ở đây giúp việc, tôi truyền nghề cho. Khỏe mạnh thế này chắc mau tấn tới lắm.

- Tiểu thơ cùng tập với đại công tử, tôi mắc cỡ và ngại vô cùng.

- Việc chi mà ngại. Các a hoàn trong trại được lệnh luyện võ nghệ theo các nam công nhân, nhưng người nào cũng ẻo lả, e thẹn trốn tránh, nên tôi bực mình không tin dùng ai cả. Mong rằng Lam Anh bạo dạn hơn.

- Tôi theo tiểu thư tất bị các đồng nghiệp chê cười ghen tị. Cùng là bạn tôi đòi với nhau, lẽ nào mình tôi múa may trên sân trong khi họ phải rán sức làm việc, các bạn không đố kỵ sao được? Mong rằng tiểu thư cho tôi được tự nhiên hầu hạ thì hơn.

Hạ Hầu Ánh lắc đầu :

- Ý tôi đã quyết, Lam Anh đừng cản tôi. Có ai cấm đoán họ tập võ nghệ đâu? Trách Lam Anh sao được? Nếu chúng điều nặng, tiếng nhẹ, mách tôi hay. Trốn luyện võ là trái lệnh tướng công. Người muốn rằng tất cả nam nữ tráng niên trong trang đều phải biết võ nghệ sơ đẳng. Học võ giữ mình há không phải là điều hay cho phụ nữ sao?

- Tiểu thư dạy như vậy, tôi sẽ cố gắng theo đòi, nhưng võ sảnh ở đâu?

- Trong khu hậu viên hồi nãy có hai cổng, một thông sang võ sảnh có cả vòng luyện mã, một lối thông ra cánh đồng tới suối tắm ngựa, mai tôi sẽ chỉ cho, nhưng phải dậy sớm mới mong thành công.

Đêm hôm ấy, tiếng kiểng ở vọng canh đầu thôn vừa đổ canh ba, Lam Y lẹ làng mở cửa phòng lẻn ra ngoài nghe ngóng, thì vừa lúc toán tránh đinh tuần phòng từ phía hậu viên tiến về hướng Mai Hương đình.

Nàng vội nấp vào bóng tối chờ chúng đi khỏi mới vùn vụt chạy thẳng ra tàu ngựa. Vốn đã thuộc đường, nàng không mất công tìm kiếm.

Lẹ tay mở gióng cây, Lam Y vào tàu vỗ nhẹ lên má Bạch mã cho nó biết là chủ tới khỏi kinh hoàng. Đoạn nàng gài mảnh giấy bữa nọ của Hạ Hầu Ánh lên vách tường, tháo dây cột dắt Bạch mã ra khỏi tàu ngựa.

Đi vòng trên cỏ, tránh xa căn mã phu, Lam Y dắt ngựa ra tới cổng mà nàng đoán là ăn thông ra cánh đồng.

Trước khi mở cổng, nàng phi thân lên mặt tường nhìn ra ngoài nhận xét. Quả nhiên, phía ngoài đồng rộng bát ngát mênh mông.

Yên trí, Lam Y nhẹ tay rút then cổng, dắt Bạch mã ra ngoài, vỗ lên má con vật tinh khôn nói nhỏ :

- Ngươi đứng dậy, ta đóng cổng đã!

Nàng vượt tường vào trong gài cổng lại như cũ rồi nhảy ra ngoài. Cẩn thận, nàng dắt Bạch mã cách khỏi Kỳ Hầu Ổ một quãng xa để tránh tiếng chân ngựa, đoạn theo phương hướng đi tréo ra lối đại lộ, tránh hẳn lối vào thôn ổn. Tới đại lộ, Lam Y lên ngựa cho đi bước một về phía Thạch Tấn huyện.

Chợt từ cành cây bên đường có tiếng cú rúc, Lam Y dừng ngựa lại nhìn quanh, một bóng đen từ cành cây nhảy xuống mặt đại lộ, tiến thẳng đến phía Lam Y. Nàng xuống ngựa hỏi :

- Sao tẩu tẩu không cùng đi?

Bóng đen chính là Chu Đức Kiệt đáp :

- Đáng lẽ nàng cùng đi, nhưng nghĩ vì hiền muội muốn dành sự bất ngờ cho Nhạc Lan Anh, lỡ họ Nhạc tỉnh dậy không thấy hai người đâu, kinh động nơi quán trọ thì sao? Vì thế Âu Dương Bích Nữ ở lại.

- Hiền huynh chờ lâu chưa?

- Tới vừa lúc kiểng đổ canh ba, đúng lời hiền muội hẹn.

- Hiền huynh về thành đi. Chiều mai cuối giờ Thân đến cả Kỳ Hầu Ổ nhé!

- Lấy lại Bạch mã rồi, sao không đi ngay, ở lại làm chi?

- Hiền huynh quên rằng họ Hạ Hầu muốn làm quen với chúng ta à? Sáng mai, tiểu muội còn trêu giỡn họ chút đỉnh cho bỏ công vất vả.

- Chúng đông thì sao?

- Không, có hai anh em. Hạ Hầu Hùng và cô em Hạ Hầu Aùnh.

Đức Kiệt lên Bạch mã, Lam Y vẫy tay chào rồi phi hành về Kỳ Hầu Ổ.

Nàng hành động lặng lẽ như bóng vượn.

Tảng sáng hôm sau, Hạ Hầu Ánh đai nịt gọn ghẽ xuống lầu. Thấy cửa phòng thôn nữ còn đóng chặt, nàng lẩm bẩm :

- Cô ả này ngủ say không biết đường dậy, phải luyện cho y thức sớm mới được.

Nhẹ tay, nàng khẽ mở cửa phòng, ló đầu nhìn vào. Lam Y ngủ say, mặt quay vào tường. Rón rén, Hạ Hầu Ánh mở mùng đập nhẹ vào vai gọi :

- Lam Anh! Lam Anh! Sáng rồi dậy chớ!

Lam Y vờ ư hử, vươn vai rồi lại ngủ nữa.

Hạ Hầu Ánh mỉm cười, cù vào sườn thiếu nữ mãi ngủ.

Lam Y giả vờ giật mình choàng dậy, dụi mắt, ngáp dài.

- Ủa tiểu thư! Dậy sớm vậy?

- Còn sớm à! Tảng sáng rồi. Định tập luyện phải dậy sớm giờ này chớ.

- Trời ơi! Sáng thật rồi ư? Đệm ấm ngủ ngon quá! Xin lỗi tiểu thư, tôi rửa mặt cho tỉnh sẽ ra hầu ngay.

- Hôm nay trễ đó. Có lẽ đại công tử chờ ở võ sảnh.

Lam Y rửa mặt quấy quá, bịt khăn lên đầu, vội vã theo Hạ Hầu Ánh.

- Mấy hôm hành trình mệt mỏi, ngủ quên không nghe nổi tiếng gà gáy sáng nữa.

Hạ Hầu Ánh nói :

- Nếu còn mệt, ra võ sảnh coi cho biết thể thức, vài ngày tinh thần điều hòa sẽ bắt đầu luyện tập cũng được. Cố gắng có hại cho sức khỏe.

- Thưa tiểu thư hô hấp khí trời trong sạch ban sảng khoái lắm.

Bỗng Hạ Hầu Ánh lắng tai nghe, rồi bảo Lam Y :

- Kìa! Sao lại có tiếng ồn ào ở hậu viên? Rảo bước coi!

- Chắc công tử và tráng đinh luyện tập, nên tiếng ồn ào vọng tới đây...

- Không, tập luyện, phận sự ai nấy lo? Mọi sáng có thế đâu...

Hạ Hầu Hùng và các tráng đinh đang xúm xít quanh nơi tàu ngựa.

Thấy tiểu thư đi tới, bọn tráng đinh vội tản sang hai bên, chăm chú nhìn thôn nữ xinh đẹp đi phía sau.

Hạ Hầu Hùng bảo em :

- Đêm qua có kẻ trộm bạch mã rồi, y để lại tờ giấy này.

Chàng đưa tờ giấy cho em xem.

Hạ Hầu Ánh nhận ra tờ giấy do chính mình đã gài trong tàu ngựa Củng gia điếm mấy bữa trước, khi nàng trộm bạch mã của Lam Y nữ hiệp.

Nàng nhìn qua thấy không ghi thêm câu nào, bèn nói :

- Lam Y nữ hiệp trả đũa lẹ nhỉ! Hiền huynh kiếm dấu chân ngựa chưa?

- Dấu chân còn rành rành từ trong tầu ngựa đi ra tới mảnh đất này, nhưng mất hút trên làn cỏ tiên. Trước cổng sau cũng có dấu.

- Cổng để ngỏ ư?

- Cổng đóng. Thì có khó khăn gì, nàng mở cổng dắt ngựa ra rồi vượt tường đóng lại như cũ. Chúng ta khờ khạo để trang dinh canh phòng nơi cổng hậu, xem nàng hành động thế nào.

Hạ Hầu Ánh phì cười.

- Bất ngờ ở điểm Nữ hiệp đến quá sớm thôi. Nếu để bọn tráng đinh canh phòng, bất quá chúng lại bị nàng lập mẹo trói gà chớ ăn thua gì! Nhân vật ấy hành động thiên hình vạn trạng phòng ngừa sao nổi.

Hạ Hầu Hùng cười theo :

- Hiền muội phí công toi. Tưởng mượn Bạch mã nối dây liên lạc làm quen, ngờ đâu nàng đi thẳng. Bây giờ biết kiếm phương nào?

Lam Y cười thầm: "Ta đứng ngay nhãn tiền mà bây giờ không biết gì cả".

Hạ Hầu Hùng kéo em ra một chỗ nói nhỏ :

- Sao hiền muội dễ tánh thế? Có nghi ngờ gì không?

- Hiền huynh ngờ Lam Anh chớ gì. Không phải đâu. Sáng nay cô ả còn ngủ say.

- Nó vờ thế, biết đâu?

- Lẽ nào Lam Y lại mất công giả đò tới đây xin việc làm chi. Nàng đích thân tới đòi, không những chúng ta phải trả ngựa mà còn khẩn khoản tiếp đãi. Thôi đừng bận tâm nữa, tiếc rằng chúng ta vô duyên không được làm quen với nàng.

Lam Y hỏi Hạ Hầu Ánh :

- Có kẻ trộm táo gan vào đây đoạt bạch mã phải không tiểu thư? Sao không tra cứu?

Hạ Hầu Ánh gật đầu :

- Kẻ trộm đó là một nhân vật hữu danh trong giới giang hồ.

- Ủa, hữu danh mà đi trộm ngựa của người ta ư?

- Không. Lấy lại chớ không lấy trộm. Bạch mã chính là của y do tôi lấy về đây để mong được gặp người ấy.

- Nhân vật giang hồ đó là ai?

- Lam Y nữ hiệp.

- A! Tôi được thấy mặt người ấy rồi.

Hạ Hầu Ánh ngạc nhiên :

- Thiệt ư? Gặp ở đâu, hình dáng thế nào?

- Hình dáng y hệt tiểu thư. Mới đây khi qua Thanh Phiêu thôn, biểu huynh bị cảm nóng lạnh nằm lại đó, nên tôi được thấy Nữ hiệp giúp người thôn ấy bắt con mãnh hầu to lớn dị thường.

- Tôi cũng trộm bạch mã của Nữ hiệp tại Củng gia điếm bên Thanh Phiêu. Nhưng Lam Anh còn may mắn hơn tôi là được trông thấy nàng... Thôi, sang võ sảnh, trễ quá rồi.

Thao trường Kỳ Hầu Ổ là một khu đất khá rộng, các bực đá tập nhảy cao, vòng luyện mã ở xung quanh. Võ sảnh là một mái đình trống, nền đất phẳng lì cao hơn mặt thao trường độ một thước.

Các tráng đinh đứng thành hàng ba đang đồng đều luyện một bài quyền theo sự hướng dẫn của viên Trưởng đinh. Họ biểu diễn từng thế quyền một rất thong thả theo từng tiếng đếm Nhất, Nhị, Tam của Trưởng đinh.

Thí dụ, khởi bài quyền bằng "Bài Tổ", rồi chuyển sang thế thứ nhất. Từ thế bài Tổ sang thế "chánh" thứ nhất, phải qua một "thế biến" thì Trưởng đinh đếm "Nhất" ở thế Biến, và đếm "Nhị" khi chuyển sang thế chánh. Đoạn từ thế chánh nọ chuyển sang thế chánh kia nếu phải qua hai thế biến, thì viên Trưởng đinh hô nhất ở thế biến thứ Nhất, hô Nhị ở biến thứ hai, và hô tam lúc nhập thế chánh. Đó là lối tập đồng đều người học để luyện thuộc một bài quyền.

Bọn tráng đinh cởi trần, quấn thắt lưng vải thôn quần bịt ống chân dận hài thảo tết bằng gai. Người nào cũng nở nang, khỏe mạnh. Hạ Hầu Hùng cũng cởi trần, cổ to, vai rộng lưng chét, có sức vài trăm cân. Chàng đang cử hai bánh xe bằng đá cỡ lớn, gân bắp nổi lên cuồn cuộn. Cử bánh xe đá xong, chàng thong thả hô hấp theo mấy thế đầu của bài "Nội công".

Hạ Hầu Ánh bỏ áo ngoài. Bên trong, nàng vận sẵn chiếc trấn thủ bằng vải ngắn tay nọt chặt lấy người. Hai cánh tay nõn nà nhưng chắc nịch. Nàng đi đi lại lại hô hấp, rồi chuyển thần lực cử hai bánh xe đá như anh.

Cử tạ xong, nàng lại hô hấp điều hòa.

Hạ Hầu Hùng hỏi em :

- Lam Anh chịu ra đây luyện tập đó ư?

- Dạ, Lam Anh ra đây cho dạn với cảnh thao trường, và sẽ bắt đầu luyện. Tiểu muội quyết luyện cho nàng thành người bạn tập thân tín.

Hạ Hầu Hùng mỉm cười, nhìn cô thôn nữ đang bỡ ngỡ e thẹn :

- Đã ra đây, phải mạnh bạo tự nhiên mới mong thành công được.

Quay sang Hạ Hầu Ánh, chàng nói :

- Chúng ta cầm tay Lam Anh kéo nàng nhảy lên bực cao kia đi, cho quen hoạt động chỗ đông người.

Lam Anh vờ vĩnh :

- Ấy chết! Cao thế kia nhảy lên đó sao được! Té người chết.

Hạ Hầu Ánh phì cười :

- Ý kiến ấy hay đó. Phải vẫy vùng cho dạn chỗ đông người, vài bận quen ngay. Công tử và tôi kèm hai bên té sao được?

Dứt lời, nàng cầm tay Lam Y kéo đại ra góc thao trường, nơi có các bực đá tập phi thân.

Hạ Hầu Hùng theo ra, cầm tay tả Lam Y, Hạ Hầu Ánh cầm tay hữu dặn rằng :

- Tự nhiên, đừng gò lại nhé. Chúng ta sẽ nhảy lên bực đá cao nhất kia kìa.

Lam Y vờ nói :

- Trời, trông rợn cả tóc gáy!

Hạ Hầu Hùng bảo :

- Sợ thì nhắm mắt lại. Sẽ như bay đó. Lúc mở mắt thì đã đứng chót vót trên kia rồi. Nào nhảy!

Lam Y nhắm mắt sợ hãi.

Anh em Hạ Hầu cầm tay phi thân lên mặt bực đá cao nhất.

Cả ba người cùng như ba con chim bay.

Tới mặt tường, Hạ Hầu Hùng kêu :

- Lam Anh nặng quá! Thiếu chút nữa không tới mặt tường.

Hạ Hầu Ánh nhắc :

- Đừng co tay lại mà.

Hạ Hầu Hùng nói :

- Lam Anh có co tay đâu, nhưng sao mà nặng vậy? Nào nhảy xuống.

Hai người cầm tay Lam Y nhảy xuống và cùng cảm tưởng như vị một sức nặng ngàn cây kéo buột cả hai xuống mặt đất.

Hạ Hầu Ánh la lớn :

- Lam Anh để tay tự nhiên mà sao nặng quá vậy? Suýt trượt chân. Cố mềm mại toàn thân, thử nhảy lần nữa coi nào.

Anh em Hạ Hầu cầm tay Lam Y hô nhảy.

Họ co chân lấy trớn tưởng nhảy ngay lên mặt tường như vừa rồi, nhưng chẳng nhúc nhích được chút nào cả.

Lam Y vờ kêu :

- Kìa, sao công tử và tiểu thư không nhảy?

Hạ Hầu Hùng bảo Lam Y :

- Tôi bê một bánh xe đá còn phi thân lên mặt tường rất nhẹ nhàng huống chi Lam Anh.

- Chắc công tử và tiểu thư phi thân sai phép thế nào đó chứ? Lẽ nào tôi nặng đến thế được?

Hạ Hầu Ánh phản đối :

- Ai lại nhảy sái phép bao giờ! Thử lại coi nào!

Lam Y đưa tay cho hai người cầm. Lần này tới mặt tường cao và cả hai cùng cảm thấy như có sức vô hình kéo vút lên cao mà không phải dùng sức nữa.

Hạ Hầu Hùng vội hỏi em :

- Nhẹ quá phải không? Người Lam Anh thế nào ấy! Lúc như phiến đá ngàn cân, lúc nhẹ bỗng như nắm bông vậy. Kỳ thật!

Hạ Hầu Ánh nói :

- Đúng thế, hay Lam Anh có pháp thuật gì trêu chúng tôi đấy?

Lam Y đáp :

- Trời ơi, tiểu thư gán cho tôi tội tày đình. Sợ lắm chẳng tập nữa, nhảy xuống đi, đứng chênh vênh chóng mặt quá chừng.

Anh em Hạ Hầu cầm tay Lam Anh nhảy xuống nhẹ nhàng như lúc phi thân.

Nhưng lần này chưa kịp buông tay ra thì đã bị Lam Y cầm chặt, phi thân kéo vụt cả hai người lên mặt tường lẹ làng như chim én.

Buông anh em Hạ Hầu ra, Lam Y lảo đảo dùng thế "Hồ Điệp Phiên Hoa" tuyệt đẹp, xòe hai tay cánh bướm nhào người xuống mặt đất tuyệt đẹp.

Thế nhảy đó là một công phu cực kỳ điêu luyện của tay thượng thặng môn phi hành.

Lam Y khoanh tay cười duyên dáng nhìn anh em Hạ Hầu.

Hai người kinh ngạc nhảy xuống đất cung bái. Hạ Hầu Ánh nói :

- Chúng tôi hữu nhãn vô ngươi, múa rìu qua mắt thợ, mong Nữ hiệp lượng thứ.

Lam Y giả vờ luống cuống :

- Ấy chết! Công tử và tiểu thư lầm tưởng tôi là Lam Y nữ hiệp.

Hạ Hầu Ánh nhìn nàng mà rằng :

- Không là Nữ hiệp thì là ai nữa? "Khinh thân thuật" thiệt cao siêu. Lúc nặng như Thái Sơn, khi nhẹ như chim Hồng, chim Hộc. Bản lãnh tuyệt vời!

- Tôi đích thị là Lam Anh, đồ đệ của Nữ hiệp. Sư phụ phái tôi tới đây trước và chiều nay người mới đến.

Hạ Hầu Ánh ngạc nhiên nhìn anh, không ai bảo ai mà cùng nghĩ thầm "Đồ đệ mà bản lãnh thế này thì sư phụ chắc ghê gớm lắm!"

Hạ Hầu Hùng nghi ngờ :

- Nữ hiệp trêu giỡn anh em tôi mãi, gia muội trộm Bạch mã không ngoài mục đích được diện kiến tôn nhan.

Lam Y mỉm cười :

- Công tử khăng khăng tôi là Nữ hiệp thì tôi biết nói sao?

Giọng nói thật thà và nét mặt tự nhiên của nàng khiến hai người tin ngay.

Hạ Hầu Ánh nói :

- Bản lãnh chúng tôi còn kém xa tài nghệ môn đệ của Lam Y nữ hiệp thật đáng hổ ngươi. Thế mới biết, Nữ hiệp danh quả bất hư truyền. Từ nay, yêu cầu thơ thơ coi chúng tôi là bằng hữu, đừng dùng danh từ công tử, tiểu thư nữa khiến tôi đắc tội muôn phần.

- Nhị vị ngang hàng với gia sư, tôi đâu dám nhận hân hạnh ấy? Bản lãnh của nhị vị đạt mức cao độ rồi đó, nhiều người không bằng, chớ quá nhún nhường.

Anh em Hạ Hầu mặc áo, mời Lam Y về Mai Hương đình.

Hạ Hầu Ánh hỏi Lam Y :

- Phải chăng đêm qua, Lam thơ thơ đem Bạch mã đi? Để ngựa đâu mà mau lẹ vậy?

- Tôi không đem Bạch mã đi đâu cả. Sư phụ tôi đích thân đến lấy đi, chính tôi cũng không ngờ. Người đến sớm như vậy vì Người hẹn tôi chiều nay mới tới.

- Lam thơ cải trang khéo quá, y hệt thôn nữ xinh đẹp.

- Tiểu thơ cho phép tôi đổi lại y phục.

Dứt lời, Lam Y vào phòng thay áo Hạ Hầu Hùng bảo em gái :

- Giới giang hồ kiếm khách hành động thiệt khôn lường! Ngờ đâu Lam Anh khỏe đến thế! Lúc ghì anh em ta không cất nổi chân khỏi mặt đất, lúc nhấc bổng lên như cầm hai vật nhẹ vậy.

Hạ Hầu Ánh gật đầu :

- Lam Anh đóng vai thôn nữ ngớ ngẩn khéo quá đến nỗi tiểu muội hết ngờ vực ngay từ lúc mới gặp nàng. Thầy nào trò ấy cũng ghê gớm cả.

Hai người đang mải chuyện trò bỗng có vật gì bay cắm phập vào cánh cửa ra vào.

Cả hai cùng vội chạy ra xem. Hạ Hầu Ánh kêu :

- Ủa, ai liệng Liễu Diệp phi đao thế này?

Hạ Hầu Hùng với tay rút ngọn phi đao xuống :

- Có chữ trắng ở giải đao màu lam đây nè. Coi nào!

Chàng đọc :

- "Lam". Lam Y cợt ta phóng ngọn phi đao này, kiếm mau, nàng chưa chạy đi xa được đâu.

Dứt lời, Hạ Hầu Hùng chỉ tay vào phòng có ý bảo em coi chừng Lam Anh, đoạn chạy vụt ra sân ngó quanh quẩn, rồi phi thân lên mái đình tìm kiếm.

Hạ Hầu Ánh nhón nhén qua phòng khác ló đầu nhìn căn phòng nhỏ.

Lam Y đã gọn gàng trong bộ võ phục tuyệt đẹp và đang xõa tóc chải đầu, vẻ mặt rất tự nhiên.

Nàng mỉm cười khi thấy Hạ Hầu Ánh ngó vào phòng mình.

- Tôi chải tóc xong sẽ ra ngay. Có việc gì gấp không?

Nét mặt nghi ngờ và sửng sốt của Hạ Hầu Ánh khiến nàng cười thầm, thản nhiên hỏi :

- Kìa, tiểu thơ làm sao đờ người ra vậy? Tinh thần bất an phải không?

Hạ Hầu Ánh lắc đầu. Giữa khi ấy Hạ Hầu Hùng bước tới hất hàm hỏi em.

Hạ Hầu Ánh nói :

- Lúc tiểu muội vào thì Lam Anh đang xõa tóc chải đầu.

Lam Y vờ ngạc nhiên :

- Tôi chải đầu thì sao, hả tiểu thơ? Có điều gì lạ vậy?

Hạ Hầu Ánh hỏi :

- Nãy giờ, thơ thơ có rời phòng này lúc nào không?

- Tôi vừa thay y phục xong, đang chải đầu thì tiểu thơ vào. Chuyện gì thế?

Hạ Hầu Hùng giơ cao ngọn Liễu Diệp phi đao :

- Lam cô nương có nhận ra ngọn phi đao này không?

Lam Y gật đầu không do dự :

- Ủa! Lưỡi phi đao của Lam Y nữ hiệp! Công tử bắt được ở đâu thế?

- Không bắt được ở đâu cả. Vừa đây lưỡi đao do bàn tay bí mật nào phòng cắm phập ở cánh cửa phòng khách kia kìa. Hay là ma quỷ?

Lam Y tự nhiên :

- Chắc Nữ hiệp tới giỡn chơi, lẽ nào có chuyện ma quỷ giữa ban ngày?

- Nếu tôi là nhị vị thì chạy luôn ra ngoài tìm trước, hơn là vào đây.

Hạ Hầu Hùng đáp :

- Tôi tìm kiếm khắp nơi rồi mới vào đây. Thiệt tình, tôi ngờ thơ thơ quá.

Lam Y mỉm cười :

- Trời ơi! Ngờ tôi ư? Công tử coi kìa. Phòng này có hai cửa sổ thì còn đóng kín y nguyên, cửa ra vào ăn thông với phòng khách, không lẽ tôi chui qua ngói sao? Dầu tôi có bản lãnh cao siêu cũng không thể mau lẹ bằng Nữ hiệp.

Dứt lời, nàng bước ra khách phòng, tay bới tóc gài trâm :

- Vết đao của Nữ hiệp đâu?

Hạ Hầu Ánh chỉ vào cánh cửa chạm trổ bên tả :

- Đây này, vết đao sâu lắm.

Lúc bấy giờ, Hạ Hầu Ánh mới nhận ra điều gì lạ và la lên :

- Lam Y nữ hiệp phóng đao thật tài tình! Trúng mắt con ốc chạm nổi.

Hạ Hầu Hùng và Lam Y xúm lại nhìn.

Lam Y tặc lưỡi vờ vĩnh :

- Nói đến tài phóng đao của sư phụ tôi thì tuyệt hảo. Bách phát bách trúng. Bất cứ đứng, ngồi, chạy, nhảy, lộn cũng sử dụng được như thường. Một điều khiến tôi thắc mắc không hiểu vì lẽ gì Nữ hiệp đến Kỳ Hầu Ổ giờ này? Phóng ngọn phi đao xong bỏ đi đâu? Ban ngày, ban mặt, trang trại đông người thế này mà qua lại không ai biết cả, biểu hiện như ma quỷ. Nhiều khi chính tôi cũng khổ sở vì tánh chất bất thường của Nữ hiệp nhị vị ạ.

Anh em Hạ Hầu nghi nghi, hoặc hoặc, bực mình vì bị giỡn chơi như một trẻ nít. Ba người trở vào khách phòng.

Lúc đó, Hạ Hầu Hùng mới chăm chú ngắm kỹ Lam Y thực kiêu hùng trong bộ võ phục màu lam tuyền.

Cả đôi võ ủng ngắn cổ cùng đồng màu với y phục. Màu lam thẫm tôn nước da trắng mịn của nàng không những là trang cân quắc anh thư mà còn đáng bậc thiên hương quốc sắc.

Hạ Hầu Hùng mải miết nhìn khuôn mặt trái xoan đẹp như vị tiên cô trong bức họa treo trên tường khách phòng Mai Hương đình.

Lam Y biết vậy tảng lờ như không. Hạ Hầu Ánh cũng nhìn nàng không chớp mắt. Màu lam quả rất hợp với thiếu nữ kỳ vỹ đang ngồi trước mặt nàng.

Lam tuyền...! Không, đâu có lam tuyền. Đầu giải đai lưng có đường triện màu trắng kia kìa, thiệt là nổi, Lam Anh khéo dùng màu sắc lắm!

Hạ Hầu Ánh chú ý nhìn. A! Không phải đường triện thường! Đó là một dải chữ thêu theo kiểu triện nối nhau ngang đầu hai giải thắt lưng. Nàng cố đọc ra chữ "Y" và đoán ra chữ "Lam" bị gấp lại trông không rõ. Kỳ thiệt! Sao Lam Anh lại thắt lưng thêu triện hai chữ "Lam Y"? Hạ Hầu Ánh nhìn lại một lần nữa suốt từ cặp võ hài gọn gàng lên đến mớ tóc mây huyền ánh.

Bất chợt nàng gặp đôi mắt phượng xênh xếch đang dịu dàng nhìn lại nàng và cặp môi đỏ thắm chúm chím cười. Thôi đích thật rồi! Đích thật Lam Y nữ hiệp đang ngồi trước mặt nàng chớ không phải Lam Anh đồ đệ nào cả. Nữ hiệp đích thân trêu cợt anh em nàng. Bản lãnh của chính Lam Y nữ hiệp mới xuất quỷ nhập thần như vậy chớ!

Nghĩ đoạn, Hạ Hầu Ánh bảo anh lúc đó cũng đang mải miết ngắm nhìn người đẹp quên cả mình là chủ, và vị anh thư nữ kiệt là khách.

- Hiền huynh cố đọc dòng chữ triện trắng ở đầu giải đai lưng sẽ biết đích danh người ngồi trước mặt chúng ta đây.

Lam Y cả cười :

- Bây giờ mới nhận ra hai hàng chữ này ư? Đọc cho rõ đi kẻo lầm nữa.

Nàng vừa nói vừa căng đầu giải lưng cho anh em Hạ Hầu đọc.

Hạ Hầu Hùng la lớn :

- Lam Y! Có thế chứ, tôi ngờ ngay từ lúc mới được diện kiến, nhưng không đủ yếu tố để ghép buộc nên đành phải thôi.

Anh em Hạ Hầu cùng đứng lên vái chào. Hạ Hầu Ánh nói :

- Bao lâu nay nghe đại danh, tôi hằng ao ước được gặp nên mới mạo muội trộm ngựa nối dây liên lạc, xin Nữ hiệp lượng thứ cho.

Lam Y đáp lễ mà rằng :

- Nếu tôi không nhận là Lam Y thì nhị vị tính sao? Đai lưng này của sư phụ tôi đó.

Hạ Hầu Hùng đáp :

- Nữ hiệp cợt chúng tôi thế đủ rồi. Lẽ nào trên đời này đã có Lam Y lại còn Lam Anh nữa...

Lam Y nghiêm nét mặt :

- Nào nhị vị muốn gặp thì nay tôi đã tới, có điều gì dạy bảo không?

Hạ Hầu Ánh nói :

- Nghe đại danh Lam Y nữ hiệp từ lâu, ao ước được kết giao. Nay người không nề hà tới đây, xin mời ở lại tệ trang nghỉ ngơi ít lâu. Hình như có lệnh huynh cùng đi phải không?

- Gia huynh Chu Đức Kiệt hiện ở Thạch Tấn huyện cùng với gia tẩu và một người bạn.

- Để tôi cho tráng đinh lên huyện mời về đây.

- Đừng, mất công. Chiều nay ba người ấy sẽ tới. Tướng công và phu nhân hiện có ở nhà không? Người là hữu quan chăng?

- Gia phụ, gia mẫu hiện có nhà. Cho đến nay, gia phụ vẫn vui thú điền viên sơn dã. Trước kia nội tổ và tam đại có xuất chán Lam Y hỏi :

- Trên Thanh Phiêu thôn có Kỳ Hầu Sơn, quý trang đây là Kỳ Hầu Ổ, vậy có liên lạc gì giữa hai danh từ ấy không?

Hạ Hầu Hùng đáp :

- Kỳ Hầu Sơn chỉ định một loài hầu dị thường. Còn Kỳ Hầu Ổ là do tước Kỳ Dũng hầu của nội tổ Hạ Hầu Thiên khi xưa dày công hạn mã, nên Minh Thành tổ phong tước và cắt đất này cho con cháu Hạ Hầu tập ấm. Bởi vậy mới thành danh từ Kỳ Hầu Ổ.

- A! Thế ra nhị vị là dòng dõi danh tướng, thảo nào võ dũng gia truyền.

Hạ Hầu Ánh mỉm cười :

- Nữ hiệp giễu anh em tôi làm chi?

- Tôi nói thiệt tình dâu dám giễu? Lẽ tự nhiên nhị vị không có công phu khổ luyện như bọn giang hồ chúng tôi, nhưng dòng dõi tướng môn luyện tập được như vậy cũng không phải dễ dàng. Trên đường du hiệp, anh em tôi thường giấu tên tuổi, nhị vị làm thế nào biết được hành tung của chúng tôi.

Hạ Hầu Hùng nói :

- Nữ hiệp còn nhớ đã hành động những gì ở Dương Châu không?

- Có chứ! Quên sao được?

- Một người rất thân với nhị vị đại hiệp đã kể chuyện cho anh em tôi nghe.

- Phải chăng Thiên Lý Mã Tào Chí? Lúc qua Dương Châu tôi ở Tào gia trang.

Hạ Hầu Hùng lắc đầu :

- Không. Cuối năm ngoái, chúng tôi sang Trấn Giang có quen với Phàn Thế Hùng. Tuy mới quen biết nhau nhưng tánh tình họ Phàn hào hiệp nên thành tâm giao. Chúng tôi kể chuyện vụ kỵ mã hội ở Kim Lăng thì họ Phàn nhân đó nói lai lịch vị hiệp khách lúc qua Trấn Giang cả phá Xuân Phong lầu, nào hạ Phi Không Đầu Đà Kim Cương tự ở Dương Châu, hỏa thiêu Xích Hoa viện ở Sơn Phu, và báo thù cho Phàn Mộng Liên em của Thế Hùng.

Lam Y nói :

- Trận đánh ở Kim Cương tự, anh em họ Phàn gia có tham dự. Bởi vậy tên Hắc Đầu Đà trốn thoát, về sau bất chợt gặp Mộng Liên và Thế Hùng ở Trấn Giang nó mới theo dõi ám sát. Mộng Liên trúng độc đao chết. Tiếc thay! Hồi ấy nếu chúng tôi xuống Thái An huyện sớm độ mười ngày thì cứu được tính mạng Mộng Liên khỏi tay tử thần! Mỗi khi nghĩ tới thiếu nữ bạc số ấy, tôi ân hận thương tiếc vô cùng. Mọi sự chẳng qua tránh không được số trời! Vợ Thiên Lý Mã Tào Chí bên Dương Châu là biểu muội của anh em Phàn gia đấy.

Hạ Hầu Ánh nói :

- Dạ, Thế Hùng nói chính vì cứu người biểu muội ấy mới tìm ra vụ đầu đà Kim Cương tự.

- Họ Phàn được mạnh khỏe không?

- Thế Hùng mời chúng tôi về Thái An huyện chơi. Phàn mẫu và tẩu nương được mạnh khỏe. Lão mẫu nhắc đến nhị vị luôn... À, Thế Hùng còn nói tới một vị hiệp nữ họ Âu Dương hồi đó đi cùng Nữ hiệp mà.

Lam Y gật đầu :

- Vị đó là ái nữ của lão anh hùng Trại Mạnh Thường bên Tô Châu, và là cao đồ Thiếu Lâm tự. Gia huynh đính hôn cùng Âu Dương tiểu thơ hồi cuối năm ngoái. Từ ngày kỵ mã hội Kim Lăng, ba chúng tôi vẫn cùng nhau du hiệp. Lát nữa, gia tẩu sẽ tới. Thiếu nữ hiện thời cùng đi với ba chúng tôi cũng không xa lạ với nhị vị đâu Hạ Hầu Ánh ngơ ngác nhìn anh không hiểu.

Lam Y giải thích :

- Đã dự khán kỵ mã hội tất nhị vị biết mặt Quận chúa Lan Anh.

Hạ Hầu Ánh đáp :

- Có. Hiện thời Quận chúa Lan Anh đồng hiệp cùng với Nữ hiệp đó ư?

- Phải. Chính nàng. Chuyện dài lắm, tôi kể nhị vị nghe.

Lam Y kể lai lịch Nhạc Lan Anh và các vụ lộn xộn trong Vương phủ Kim Lăng cho anh em Hạ Hầu nghe.

Hạ Hầu Hùng nói :

- Trời ơi! Việc xảy ra ở kế bên mà chúng tôi hoàn toàn không biết gì.

Lam Y nói :

- Vụ đó có tánh cách quân sự, bí mật, ai biết được mà nói.

Chiều hôm đó, Chu Đức Kiệt, Âu Dương Bích Nữ và Nhạc Lan Anh dắt Bạch mã đến Kỳ Hầu Ổ cho Lam Y nữ hiệp. Lam Y giới thiệu, mọi người hân hoan mừng rỡ.

Anh em Hạ Hầu mời bốn người lên đại sảnh ra mắt song thân là Hạ Hầu Đồng và Từ thị phu nhân. Thấy con gặp bạn anh hùng hào kiệt. Hạ Hầu tướng công vui mừng vô hạn, giữ Tam hiệp và Nhạc Lan Anh ở lại Kỳ Hầu Ổ.

Khu này, cảnh sắc phong quang đẹp mắt, nhân không có việc gì gấp bốn người vui vẻ nhận lời lưu lại Kỳ Hầu Ổ ít lâu, ngày ngày cùng cha con Hạ Hầu thao luyện, đàm luận cổ kim, hoặc vào núi săn bắn thú rừng.

Anh em Hạ Hầu bấy giờ mới trông thấy Thất Tinh đao, Thái Dương kiếm, và thanh Trảm Lư của Tam hiệp. Hai người trầm trồ khen ngợi, ao ước có được một bảo vật như thế.

Hạ Hầu Hùng nói :

- Nội tổ tứ đại tôi có để lại một cây trường kiếm đã từng giúp Người xông pha chinh chiến, lập nhiều kỳ công, uống máu Nguyên quân không biết bao nhiêu mà kể. Thanh kiếm đó có tốt, nhưng so với mấy bảo vật này còn kém xa một vực một trời. Để tôi lấy xuống các vị coi.

Lát sau Hạ Hầu Hùng cầm thanh trường kiếm vỏ đồng bọc da cá sấu đặt trên bàn.

Lam Y đỡ lấy đọc chữ "Kỳ Dũng Hầu" nạm ở chuôi kiếm. Nàng hỏi :

- Ba chữ này hình như được nạm vào chuôi kiếm sau khi quân binh của Minh Thái Tổ đã bình định xong Trung Quốc?

Hạ Hầu Hùng đáp :

- Chính vậy, tuy đuổi quân Mông Cổ ra khỏi lãnh thổ, song gia tổ cũng còn chinh phạt các phiên trấn lúc đó còn lưu luyến Nguyên triều, mấy năm sau mới hoàn toàn được hưởng thái bình.

Lam Y rút trường kiếm ra coi, lấy khăn lau hết lớp dầu bôi trên lưỡi kiếm. Nàng nhìn kỹ rồi đưa cho mọi người luân tay coi.

Chu Đức Kiệt hỏi Hạ Hầu Hùng :

- Lưỡi kiếm này không bôi dầu thì bị han sao?

- Để lâu sẽ bị han tuy không đến nỗi han dễ dàng như thứ thép thường.

Lam Y nói :

- Lưỡi kiếm có vết mài tức là sử dụng nhiều, thép trui không đúng mức độ nên bị lụt. Để lâu bị han tức là thép không nguyên chất. Chẳng như những thanh báu kiếm, dù ngâm vào trong nước hay chôn xuống đất ướt ẩm bất kể thời gian cũng không bao giờ bắt han; chém những vật rắn chắc dễ như chẻ tre và lưỡi vẫn sắc bén thổi sợi tóc đứt như thường.

Hạ Hầu Ánh nói :

- Người xưa đúc nổi những thanh báu kiếm dẻo sắc như gỗ, chắc phải có thuật pháp khác người gì?

Lam Y mỉm cười :

- "Không! Phương pháp thì có nhưng làm gì có chuyện tà thuật hay tiên thuật. Như ba thứ võ khí của chúng tôi, chỉ có thanh Trảm Lư hùng kiếm là được đúc từ thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Thanh Thất Tinh đao và Thái Dương kiếm cũng là hai món báu khí đúc ngay trong thời đại này, chém sắt đá như chém bùn, chém sinh vật không hề vấy máu, so sánh về phẩm đâu có thua sút thanh Trảm Lư.

Trái lại về hình thức, cân lượng hai thanh Thái Dương và Thất Tinh còn mỹ thuật cân đối hơn cây Trảm Lư. Tại sao? Vì kỹ thuật gia hiện đại, biết cách bổ khuyết những cái thiếu sót của người xưa. Tôi dám nói chắc chắn như vậy là vì ngươi tạo ra Thái Dương kiếm không phải ai xa lạ, mà là thúc phụ của tôi. Hạ Hầu hiền muội thử sử dụng thanh Trảm Lư, sau đó cầm Thanh Thái Dương kiếm xem thế nào".

Hạ Hầu Ánh liền rút Trảm Lư kiếm chém ngang, lia dọc, hoa lên mấy đường, đoạn tra vào bao trả Âu Dương Nữ, và rút thanh Thanh Thái Dương đi thử vài thế.

Nàng thâu kiếm, gật đầu mà rằng :

- Quả vậy. Thanh Trảm Lư hơi hẹp đầu mũi kiếm một chút, trái lại Thái Dương kiếm cầm rất vừa tay.

- Chuôi Thái Dương kiếm dài hơn, cầm vừa tay. Chuôi cây Trảm Lư hơi rộng ngang, nếu không có bản lãnh, người sử dụng dễ bị đánh bật kiếm.

- Nhưng thôi, được thanh Trảm Lư cũng là việc thế gian hãn hữu rồi. Nếu là Âu Dương thơ thơ, tôi sẽ đổi hai miếng đáp ở chuôi kiếm cho dài ra và gọn lại.

Chu Đức Kiệt nói :

- Thanh Trảm Lư báu ở phẩm là một chuyện không chối cãi được rồi, nhưng nó còn "quý" ở chỗ cổ. Nếu thay đổi đi thì còn gì đáng quý nữa.

Hạ Hầu Hùng nói :

- Tôi đồng ý với Chu đại ca, không nên sửa đổi cán thanh Trảm Lư. Vả lại đánh bật được kiếm ở tay Âu Dương thơ thơ thiết tưởng không phải dễ.

Lam Y đăm chiêu nhìn mọi người :

- "Ba thứ bảo vật này toàn là thứ "Xuy Mao Kiếm" (thổi tóc đứt qua lưỡi kiếm) chặt sắt như bùn, kiếm sắc như thu phong, kiếm khí như băng tuyết, kiếm thanh như sấm động, kiếm quanh như điện chớp.

Bất cứ đao hay kiếm, phải đủ bốn thứ Sắc, Khí, Thanh, Quang như thế mới có thể gọi là báu vật được.

Nghe những câu chuyện hoang đường về đúc kiếm báu mà phát tức cười. Đại thể như dùng ba trăm mạng hài nhi bỏ vào lò đúc kiếm, hoặc luyện kiếm đến nỗi mất một con ngươi mới thành báu kiếm. Thật ra luyện kiếm có phương pháp hẳn hoi, và đòi hỏi nhiều công phu lớn lao, khó khăn hơn cả câu chuyện hoang đường quái đản, tuy không ghê rợn khủng khiếp bằng".

Hạ Hầu Ánh hỏi :

- Sao ba vị không theo lệnh thúc học phương pháp đúc bảo kiếm có hơn không?

Chu Đức Kiệt đáp :

- Có chớ! Hiện chúng tôi đang nghiên cứu về thuyết pháp và chỉ có thể thực hành được sau khi đã du hiệp đầy đủ khắp mọi nơi như thúc phụ khuyên bảo.

Tam hiệp, Nhạc Lan Anh rất tâm đầu ý hiệp với anh em Hạ Hầu, ở lại Kỳ Hầu Ổ chơi thấm thoắt được trên mười ngày.

Một hôm, Lam Y từ tạ, xin phép lên đường về Tô Châu.

Anh em Hạ Hầu cố giữ không được, đành lưu mọi người lại một ngày làm tiệc linh đình tiễn hành, có cả Hạ Hầu tướng công và phu nhân dự.

Âu Dương Nữ nói với họ Hạ Hầu :

- Bữa nào bá phụ, bá mẫu và nhị vị huynh muội đây qua Tô Châu chơi thưởng ngoạn, thế nào cũng mời đến tệ trang Âu Dương nghỉ ngơi.

Tướng công Hạ Hầu Dũng gật đầu :

- Thế nào cũng có chuyến tôi đến yết kiến Trại Mạnh Thường lão huynh, nhờ nhị vị hiền điệt chuyển lời chào của tôi lên lệnh phụ.

- Dạ tiểu nữ sẽ y lời.

- Và chừng nào các hiền điệt qua đây cũng vui lòng ngừng gót giang hồ ở lại Kỳ Hầu Ổ cho chúng tôi được rước khách anh hùng.

Tam hiệp khiêm tốn từ tạ lên đường. Anh em Hạ Hầu tiễn lên đến Thạch Tấn huyện.

Chương 39: Nhận giúp Thiết Xích, Tam hiệp qua đất Trường Sa Giòng sông Lăng Lý, Cửu quái lộng hành Hoang Địa

Bốn người lên đường về hẳn Tô Châu. Nhưng đường vòng Thạch Tấn huyện không dẫn thẳng đến đại trấn mà đi vào lối sau Tam Môn cốc.

Khi gần tới nơi, Lam Y nhìn quanh :

- Cảnh vật nơi đây y hệt lối vào Tam Môn cốc nhỉ?

Âu Dương Bích Nữ chỉ roi ngựa vào mấy phiến đá lớn chồng lên nhau :

- Thì hẳn hoi là Tam Môn cốc rồi, hiền muội coi cái thạch môn thiên nhiên kia kìa. Không nhận ngay ra là vì chúng ta đi ngược chiều. Lối này rẽ tay hữu qua Hàn gia trại. Lối tay tả qua ngay trước cổng Địch gia trại và về trang trại nhà...

Chu Đức Kiệt nói :

- Phải rồi, trên đường từ Thạch Tấn về đây ta thường gặp các ngưu trại cực lớn. Ngu huynh còn nhớ Địch, Hàn hai Trại chủ đã có lần nói rằng các lái trâu phần nhiều từ Lữ Châu và Vũ Hồ đến, tất kéo qua đường này. Và hai trại Địch, Hàn là chặng cuối cùng trước khi tiêu thụ các giống vật đó vào Tô Châu và các vùng lân cận.

Vừa đi vừa chuyện trò, không mấy chốc bốn người đã sắp qua cổng Địch gia trại.

Lam Y hỏi ý kiến mọi người :

- Có vào thăm Địch Phượng Tiên không? Hay là để khi khác...

Chu Đức Kiệt nói :

- Nên rẽ vào trước là thăm họ Địch, sau là xem anh em chàng họ Dương đã về đây chưa hay lại lang thang nơi nào rồi.

Âu Dương Bích Nữ cười ròn rã :

- Gặp y ở Vũ Hồ, tiểu muội giật mình, không ngờ y lại lang thang mò mẫm vào nơi hẻo lánh ấy để nhận xét từng cử chỉ của giống cáo nhị thể, và lần đường ra Củng gia điếm uống thứ rượu ngon Sơn Phu.

Lam Y góp ý :

- Bà vợ tánh nhanh nhẹn, nóng nảy như Địch Phượng Tiên đâm bực mình, tưởng lầm ông chồng quá ưu điềm đạm ấy là phải?

- Chắc bây giờ họ hiểu nhau rồi! Lúc tái hội, cả hai cùng có cảm tưởng như bắt được bảo vật.

Chu Đức Kiệt mỉm cười :

- Dương Hoài Ngọc có lầm lỳ ra đi như vậy, Địch cô nương mới biết chân đức tính tình của vị hôn phu đáng giá ấy chớ.

Âu Dương Bích Nữ âu yếm nhìn Đức Kiệt :

- Phải các ông hay binh nhau lắm. Có ở vào địa vị Địch Phượng Tiên mới hiểu được nàng. Điềm đạm tùy trường hợp thôi chứ.

Chu Đức Kiệt điềm nhiên :

- Chu tầm mã, mã tầm mã, bởi ngu huynh không điềm đạm nên mới lấy vợ nóng tính... Kỳ vừa rồi ở Kim Lăng, không biết ai mấy lần sôi nổi đòi đánh Đường Trại Nhi.

Lam Y và Nhạc Lan Anh phá lên cười.

Âu Dương Bích Nữ đỏ mặt :

- Nói tới đó, bây giờ tôi còn muốn xé đôi nó ra, đừng nói khi ở Kim Lăng.

Vừa khi ấy, Địch Phượng Tiên đon đả từ trong trại chạy ra đón chào :

- Gớm thật! Nếu không đứng trên đại sảnh trông thấy thì các vị cũng đi qua phải không.

Bốn người cùng xuống ngựa. Lam Y giới thiệu Nhạc Lan Anh rồi nói :

- Đâu có, chúng tôi đang muốn vào thăm đây, Độ này Địch muội mập dữ đa.

Phượng Tiên đáp :

- Vẫn thế chớ mập gì. Chiều rồi, quý vị nghỉ lại đây nhé.

Không chờ nữa, nàng sai gia nhân tháo hành lý đem lên đại sảnh và dắt ngựa vào tàu cỏ. Chu Đức Kiệt ý tứ nhìn Âu Dương Bích Nữ nói nhỏ.

Sắp về đến nhà rồi, còn nhủ đò lại đây. Lam Y thiệt khéo đa sự.

Âu Dương Bích Nữ vui vẻ :

- Cô muội hành động phải rồi. Hiền huynh khó tánh làm chi? Cố rán đi thì cũng phải cuối giờ Hợi mới về tới nhà. Sáng mai thanh thản về trang có hơn không?

- Ngu huynh e hiền muội xa nhà lâu, nhớ lão mẫu chớ.

- Về khuya Người cũng đi nghỉ rồi, chẳng nói chuyện được nhiều.

Quay sang Lam Y, Âu Dương Bích Nữ nói nhỏ :

- Cô muội đoán thử coi họ Dương về Địch gia trại chưa.

Lam Y cười khúc khích :

- Phượng Tiên không hỏi chúng mình ở đâu về tức là biết ta ở Vũ Hồ do Dương Hoài Ngọc kể lại rồi.

Phượng Tiên đang nói chuyện với Nhạc Lan Anh bỗng quay lại hỏi :

- Nhị vị thơ thơ nói gì đến Dương lang vậy? Chàng ra Tô Châu có lẽ cũng sắp về.

Lam Y nói :

- Địch muội không đi theo giúp Dương đại ca, lỡ bị Hàn Gia Tam Mã trêu chọc thì sao?... À, thảo nào, đứng trên sảnh chờ hôn phu nên Địch muội mới trông thấy chúng ra đi qua cổng trại. Gớm thật.

Phượng Tiên nguýt dài :

- Thơ thơ giỡn hoài. Tiểu muội cám ơn món quà da cáo nhị thể nhé. Thiệt đẹp.

Vào đến đại sảnh, Phượng Tiên sai a hoàn dọn dẹp mấy căn phòng ngủ và sửa soạn tiện nghi cho mọi người tắm táp, thay y phục đường trường bụi bậm.

Lúc bốn người trở ra thì Phượng Tiên đã thắp đèn, dọn thồi, ghế ra sân trước mời ngồi nghỉ mát dưới ánh trăng mười bốn.

Thị nữ dâng trà vừa được một tuần thì Địch trại chủ, Dương Hoài Ngọc và Lâm Diêm Bá cưỡi ngựa về tới trại.

Thấy họ Dương cỡi con tuấn mã kiêu hùng, Chu Đức Kiệt hỏi Phượng Tiên :

- Dương đại ca cưỡi con tuấn mã nào mà kiêu dũng thế này?

- Thưa con Lôi Điện mã. Toàn trại này không ai cỡi nổi nó. Vậy mà Dương lang im lìm, giấu diếm, lặng lẽ bỏ đi sau khi đã khắc phục được con hung mã ấy.

Địch, Dương, Lâm phóng ngựa vào tới giữa sân, nhảy xuống đất cùng mọi người chào mừng vui vẻ.

Chu Đức Kiệt hỏi Địch Lân :

- Bao giờ lão bá cho uống rượu mừng đây?

Địch Lân nói đỡ :

- Tam hiệp mới từ Kỳ Hầu Ổ bên Thạch Tấn huyện về qua đây, con mời nghỉ lại nên chưa biết việc hồng thiệp.

Lam Y vỗ vai Phượng Tiên :

- Định ngày nào đây? Chúng tôi về gặp dịp náo tân phòng.

Phượng Tiên đỏ mặt :

- Ngày hai mươi hai tới đây. Quí vị sửa soạn lễ mừng đi thì vừa.

Nhạc Lan Anh nói :

- Tôi ở giữa nói trung gian. Nếu Tam hiệp không cố tâm khuyên nhủ và gởi gắm Dương đại huynh về Tô Châu với Âu Dương Tòng Đức đại huynh, thì có lẽ giờ này Dương huynh còn nằm khàn ở Vũ Hồ để khảo cứu môn địa lý học vùng đó. Vậy mấy ngày nữa, tân lang và tân giai nhân phải đền ơn Tam hiệp bằng bữa rượu túy lúy càn khôn.

Địch Phượng Tiên phân bua :

- Trước các nhân chúng đấy nhé. Tôi hỏi Dương lang vào Vũ Hồ làm gì và tại sao không về Tam Môn cốc, thì vị hôn phu của tôi trả lời rằng vào Vũ Hồ để... đi tĩnh dưỡng tinh thần.

Dương Hoài Ngọc im lìm nhìn Phượng Tiên cười. Mọi người cười theo.

Tối hôm ấy, Phượng Tiên truyền gia nhân dọn bữa ăn ngoài sân hóng gió. Dương Hoài Ngọc hỏi Tam hiệp có qua Củng gia điếm uống rượu khi lên đường đi Tô Châu không, thi Chu Đức Kiệt đem việc gặp Củng Thuận, Trần Nhị, Lam Y bắt mãnh hầu và vụ lấy lại Bạch mã bên Kỳ Hầu Ổ cho mọi người nghe.

Sáng hôm sau, Tam hiệp và Nhạc Lan Anh từ giã ra về. Địch Phượng Tiên gởi lời Âu Dương Bích Nữ thăm Tòng Cát phu nhân.

Về tới Âu Dương trang, bốn người vào ra mắt lão anh hùng Trại Mạnh Thường thì thấy cả Đức Võ Thượng Nhân ngồi đó rồi.

Bốn người cung kính quỳ lạy.

Thượng nhân nói :

- Ta mới tới Tô Châu sáng nay. Các con khá vào chào Âu Dương phu nhân đi.

Bốn người vào cả hậu đường. Âu Dương phu nhân và Phượng thái ngồi cả ở hậu sảnh. Vợ Tòng Cát đang khâu áo ngồi gần đó. Vương nhũ mẫu và bốn a hoàn thân tín của Lan Anh cũng lên chào mừng.

Trình diện xong, Lam Y thấy Âu Dương phu nhân chăm chú nhìn Nhạc Lan Anh bèn đưa mắt ra hiệu cho Âu Dương Bích Nữ.

Phu nhân nói :

- Nghe nói Đức Võ Thượng Nhân mới ở Yên Kinh xuống, chắc có nhiều tin lạ, các con ra đại sảnh xem thế nào, lát nữa sẽ vào đây cho già hỏi chuyện nhé.

Anh em Tòng Cát nghe nói Tam hiệp đã về kéo nhau hội diện và cùng ra đại sảnh.

Nhạc Lan Anh băn khoăn muốn biết tin Thuận Vương hồi kinh sư thế nào, nhưng không dám hỏi ngay. Thượng Nhân biết ý bảo ngay :

- Lan Anh, con muốn biết tin của Thuận Vương không?

Nàng bẽn lẽn cúi đầu chờ. Thượng Nhân nói tiếp :

- Chuyến về kinh, đoàn xe chở Thuận Vương và gia đình bị cướp vây đánh ở trong đất Trực Lệ, may nhờ đoàn quân của Tổng binh Bảo Định vừa dịp kéo qua đó cứu kịp không hề chi. Về tới kinh sư, có lẽ vì ăn năn hối lỗi, Thuận Vương tự ý khấu đầu vào cung nhận tội. Vĩnh Lạc hoàng đế vốn tánh nhân từ chỉ trách mắng một hồi rồi cho ra ở nơi Vương phủ cũ ngoài Hoàng thành. Nói tới đây, ta cần nhắc cho các con nghe một chuyện động trời đã xảy ra trong biệt điện Khánh Hòa mới tỏ được đức tánh cao cả, nhân lượng bao dong của vị Minh quân.

Thượng nhân kể vụ Tề Quân Bảo bất ngờ gặp hai đầu đà ở tiệm thịt cầy bên Lư Cầu kiều cho đến vụ chúng đột nhập Khánh Hòa điện và bị chết như thế nào, và nói tiếp :

- Căn cứ vào vụ mưu sát hụt nhà Vua, các con đủ thấy Thánh thượng nhân đức tới mức độ nào khi tha thứ cho Thuận Vương? Hồng phúc của Minh quân rất lớn mới xui ra việc Tề Quân Bảo tò mò theo hai đầu đà, do đó ta mới kịp cứu giá.

Lam Y nữ hiệp hỏi :

- Thưa thúc phụ, còn việc Thái sư Trần Chí Hòa ra sao.

Trại Mạnh Thường rót trà mời, Đức Võ nhắp ly trà nóng hỏi :

- Tội trạng của Trần Chí Hòa khắc và nặng hơn Thuận Vương nhiều. Y là văn quan vào hàng nhất phẩm triều đình, quan cao chức trọng, hơn nữa y còn là hàng quốc phụ vì con y được nạp vào cung. Biết Thuận Vương mù quáng vì mối thù vô nghĩa muốn tạo, mà họ Trần vẫn thông đồng để hòng địa vị gì? Như vậy là bất trung, bất trí, con người đó dùng sao được? Thay vì tội lăng trì, tru di tam tộc, nhà Vua đầy y và toàn gia ra Thanh Hải. Tây cung Trần phu được hoàn về tới gia đình... Thế là nhẹ lắm, đáng lẽ phải biếm lãnh cung.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Hai hàng quan Văn, Võ có vị nào vị truy tố về tội bè đảng với Thái sư gian nịnh không thúc phụ?

- Có. Hình như Thượng thư Đặng Đá Báy, Ngự sử Triệu Công Hà và mấy viên quan hạ cấp nữa, đầy theo Trần Chí Hòa.

Lam Y nói :

- Như vậy chúng an tâm lập riêng một trào ngoài trại đấy.

Thượng nhân nói tiếp :

- Em Thuận Vương là Tuần phủ Trường Sa Chu Vĩnh An cũng bị triệu về Kinh, thay thế bởi chân Trạng nguyên Hoàng Kinh Tuấn trước đây tòng sự tại Binh Bộ phủ. Ngoài ra còn một số quan liêu tại mấy tỉnh thuộc vùng Giang Nam, bị tình nghi bè kết với Thuận Vương đều bị thuyên chuyển đến các địa điểm xa xôi và đặt trực thuộc dưới quyền chỉ huy của những người khác. Với sự thuyên chuyển này, Vĩnh Lạc hoàng đế hoàn toàn tẩy uế vấn đề triều chính.

Lam Y hỏi :

- Vị nào được thay Trần Chí Hòa, không thấy thúc phụ nói tới.

Thượng Nhân chậm rãi :

- Vấn đề này rất tế nhị. Ta phải hỏi lại xem các con còn nhớ môn sử học mà các con đã học khi còn ở Cửu Huyền sơn không.

Lam Y đưa mắt nhìn Chu Đức Kiệt đoạn nói :

- Xin mời thúc phụ cứ dạy, may ra chúng con còn nhớ.

- Minh Thành Tổ lập quốc xong, vị Tể tướng tên gì và sau này làm gì.

Không do dự, Lam Y đáp :

- Tể tướng là Hồ Duy Dung nhưng mười ba năm sau Duy Dung mưu phản bị Minh Thành Tổ bắt hành quyết. Sau này... sau này...

Lam Y khẽ hất hàm ra hiệu nhờ Chu Đức Kiệt nhắc.

Đức Võ Thượng Nhân mỉm cười :

- Lam Y quên rồi, phải không? Đức Kiệt nói tiếp được không?

Đức Kiệt thưa :

- Vị Thái sư Tể tướng thuộc bộ Trung Thư tỉnh, nên nhân thấy Hồ Duy Dung chuyên quyền mưu phản, vua Thái Tổ bèn bỏ luôn chức thừa tướng để tránh sự chuyên quyền.

Việc triều chính chia cho lục bộ chuyên hành do Nhà vua cầm đầu, và có Điện các Đại học sĩ làm cố vấn. Nhờ sự cải tổ ấy, Thái Tổ kiểm soát được hết việc triều chính và tránh được sự đại thần chuyên quyền. Không hiểu tại sao Vĩnh Lạc hoàng đế, chức Thái sư Tể tướng lại thành thể chế.

Đức Võ Thượng Nhân gật đầu bảo Đức Kiệt :

- Ta biết con nhớ sử học và Lam Y quên là vì trong khi con chịu khó ngồi đọc sử, Lam Y vào rừng hái trái, bắt chim thú đem về miếu nướng ăn.

Mọi người tủm tỉm cười nhìn Lam Y.

Thượng Nhân nói tiếp :

- Vì vụ Trần Chí Hòa Vĩnh Lạc hoàng đế lại áp dụng thể chế bỏ chức Thái sư. Sở dĩ trước đây chính Thái Thượng đặt lại chức Thái sư để tránh việc hoạn quan có người kiểm soát khỏi chuyên hoành. Nay nhà Vua xét không cần thiết vì Tổng thái giám Lý Tuyên là người trung trực. Bởi vậy, Người mới áp dụng chế độ của Tiên Vương.

Nhà vua còn lập cả một chương trình lớn lao cải cách binh bị, bởi vậy triều Tổng trấn Tứ Xuyên Hà Thiên Thọ về họp bàn cùng Nguyên soái Mã Thành Long, Tổng binh Hà Bắc trương phụ, Phó tổng binh Mộc Thạnh. Đại diện Thủy quân có Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục và Đề đốc Trịnh Hòa. Trịnh Hòa do chân Thái giám xuất thân, rất giỏi về Thủy quân, đóng binh ở Thanh Đảo duyên hải Sơn Đông.

Mã Thành Long đặc thăng Toàn quốc Đại nguyên soái kiêm tân chức Điện các đại học sĩ cố vấn của Hoàng đế ở hẳn tại Bắc Kinh.

Triệu Tấn phó soái đạo quân miền Bắc lên thay thế cho họ mã. Mã Thành Hổ thay Triệu Tấn giữ chức Phó soái, Mã Thành Báo lãnh ấn tiên phong cùng anh ở nguyên đơn vị.

Hà Thiên Thọ chức vị đã cao, giữ nguyên chức cũ Tổng trấn Tứ Xuyên, nhưng hai con Hà Thiên Tường, Thiên Khánh được tập ấm điều khiển đạo quân Tây nam.

Nhạc Lan Anh thắc mắc về việc Thái tử Chu Trấn Quốc và Bảo Quốc, bèn hỏi Thượng nhân về sự định đoạt của Triều đình.

Thượng nhân đáp :

- Đàm Bá Phục ở nguyên bộ vị cũ vì chức cao. Riêng về phần Kim Lăng, Thánh thượng còn đang lựa quan chức bổ nhiệm. Theo như sự hiểu biết của Mã Thành Long thì người được tuyển lựa trấn Kim Lăng sẽ là một văn quan.

- Họ Mã tuyên dương đức độ và lòng trung hiếu của Trấn Quốc, Bảo Quốc nên hình như hai người đều được ở lại Kim Lăng phụ tá về mặt binh bị cho vị tân quan.

Khi Mã Thành Long nói vậy tức là đã có phần nào chắc chắn, điệt nữ khá an tâm.

Trại Mạnh Thường góp ý :

- Triều đình đặt Trấn Quốc, Bảo Quốc vào chức phụ tá binh bị Kim Lăng thiệt rất tâm lý, vì hai thành niên ấy thông thuộc đất và dân tình Kim Lăng. Riêng phần bộ đội cũng dễ điều khiển.

Lam Y bảo Nhạc Lan Anh :

- Hiền muội mãi hỏi thăm tin tức người nọ người kia, quên cả tin riêng cho chính mình. Lẽ nào hiền muội bỏ gia đình Thuận Vương đi một cách suôn sẻ thế được.

Thượng Nhân gật đầu mà rằng :

- Lam Y nói phải. Nhất nhất mọi việc thuộc vụ Kim Lăng, tánh chất hành động của từng người một đều được Mã Thành Long ghi chép rõ ràng trong bản tường trình lên nhà vua :

- Nhạc điệt nữ có sắc phong, chưa biết phong như thế nào. Chính Hoàng đế thân yêu cầu ta về đây báo cho lão hữu Trại Mạnh Thường cùng toàn gia, Tam hiệp, Nhạc Lan Anh phải tề tựu cả ở Âu Dương trang chờ Thánh chỉ sẽ tiếp tới ngay. Đáng lẽ từ Yên Kinh, ta vào Thanh Hải đến núi Côn Luân có việc ngay, thành thử phải xuống đây để báo cáo vụ Thánh chỉ sắp tới đây :

- Sáng nay, lúc mới tới trang trại, lão hữu Trại Mạnh Thường nói các con chưa về, ta đã lo lỡ cuộc tiếp rước thánh chỉ.

Lão anh hùng cười và bảo các con :

- Hồi nãy, Thượng Nhân lúc mới đến bí mật không hé lời, nay chờ đông đủ mọi người mới chịu tuyên bố kết quả vụ Kim Lăng. Các con liệu sửa soạn trang hoàng cho nghiêm chỉnh căn đại sảnh để tiếp Thánh chỉ, tiệc rượu đãi khâm sai quan và phòng ốc cho đại quan ngủ lại một đêm.

Nói đoạn, lão anh hùng hỏi Lam Y :

- Vừa rồi, từ Kim Lăng vào Vũ Hồ, dọc đường gặp những chuyện gì mà bây giờ điệt nữ mới về.

Lam Y kể lại vụ cứu thiếu nhi họ Vương ở Củng gia điếm và gặp họ Hạ Hầu cho mọi người nghe.

Nàng nói tiếp :

- Lúc về qua Tam Môn cốc, chúng con mới hay vụ báo hồng thiệp mối duyên Dương Hoài Ngọc, Địch Phượng Tiên sắp tới đây.

Trại Mạnh Thường gật đầu mà rằng :

- Các con khỏi phải lo về vấn đề lễ vật. Lão phu đã sửa soạn đủ. Ngày mai sẽ cho người đem sang Địch gia trại mừng. Các con mới đi xe về, liệu nghỉ ngơi mai mốt đón rước Khâm sai quan.

Tam hiệp rủ Nhạc Lan Anh ra nhà ngoài. Tòng Cát, Tòng Đức cũng theo ra. Âu Dương Bích Nữ hỏi riêng Tòng Đức :

- Nhị huynh về trước đã sửa soạn tư phòng cho... Nhạc tiểu thư chưa.

Tòng Đức nói :

- Phòng của Lan Anh ở kế bên phòng hiền muội. Vương nhũ mẫu cùng ở với nàng như trước.

Chờ anh em Tòng Cát, Tòng Đức đi khỏi, Âu Dương Bích Nữ và Lam Y dẫn Lan Anh về phòng của nàng, đoạn rủ Lam Y vào hậu đường nói chuyện với phu nhân về vụ Tòng Đức, Lan Anh.

Tối hôm ấy, anh em Chu gia đến trại phòng hầu riêng Đức Võ Thượng Nhân.

Thượng Nhân nói :

- Tuy rằng các con không màng danh vọng, quan tước, nhưng ta khuyên chẳng nên khinh thường Thánh chỉ. Dầu sống theo lẽ phải, tự nhiên con người ta phàm sanh ra ở đời phải có Quân, Sư, Phụ làm đầu. Thánh Tổ Vĩnh Lạc là một vị anh quân. Hai con tin ở ta tâm lý nhiều biết người. Vậy ta đã có dịp ngày đàm đạo cùng Nhà vua, diện đối diện, Vĩnh Lạc là con người đáng phục, đáng kính. Nếu được mục kích lối cải cách triều chính thiệt mau lẹ của nhà vua kỳ vừa rồi, tất hai con sẽ nghĩ như ta. Chuyến trước kia, lão hữu Trại Mạnh Thường có kể lại các hành động nghĩa hiệp của hai con, Nhà vua đã có ý dời hai con vào bệ kiến. Nghe lời phúc trình của Mã Thành Long, Thánh thượng càng mong gặp mặt nên nhắn ta dời hai người về Kinh. Ta nghĩ Thành chỉ tới đây không ngoài mục đích đó.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Thúc phụ có chuyện chi cần vào Côn Luân?

- Năm kia, ta lên Côn Luân sơn một lần rồi. Cảnh sắc nơi ấy thiệt là thần tiên y nhã hơn Cửu Huyền sơn gấp bội. Về địa thế cũng lợi hơn. Nếu một mai xảy ra chuyện can qua với các rợ người cửa quán, sự liên quan với Quan nội sẽ bị cắt đứt. Riêng cá nhân ra không ngại. Tuy vậy là một vấn đề phiền phức đáng cho ta lưu ý. Cho nên ta định tâm dời mộ phần Huyền Vân trưởng lão trên Bạch Sơn Miếu về nơi ta đã lựa chọn ở Côn Luân sơn. Ta mong có dịp cùng các con vào dãy núi hữu danh ấy thăm viếng.

Lam Y nói :

- Thúc phụ muốn lập căn cứ tu hành tại Côn Luân sơn là sự rất hợp lẽ, dầu sao cũng cần phải xây dựng cho đủ tiện nghi. Vậy vấn đề thợ thuyền ra sao? Chúng con có đủ tài chính cung cấp thi hành việc đó.

Thượng Nhân suy nghĩ giây lát :

- Con khỏi lo. Để đền ơn cứu giá, Hoàng đế đã ngỏ ý dựng trên Côn Luân sơn một ngôi đại tự theo bản đồ của ta. Chừng nào ta hoàn thành bản đồ xây dựng, Nhà vua sẽ tức tốc hạ lệnh cho quan thủ trấn Thanh Hải lấy công khố ra thi hành. Hiện thời, trên ngọn núi chánh của dãy Côn Luân đã có sẵn ngôi Bích Vân tự, không hiểu xây từ đời nào bằng đá, rộng rãi. Ta nhận xét kỹ rồi, chỉ cần trùng tu, mở rộng thêm chút ít nữa thì hoàn toàn.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Hiện thời, ai trụ trì tại ngôi cổ tự ấy? Hay bỏ hoang?

- Hoang phế từ lâu rồi, lá khô chồng chất. Có một điều lạ là mái ngói không hề suy chuyển với thời gian hoang phế. Sàn nhà và các cây rui hoàn toàn bằng thứ "Thiết Mộc" khô đanh lại, rắn chắc như đá. Cây đó có trong rừng rải rác khắp dãy núi, nhưng phải thiệt vào sâu mới thấy. Công trình kiến thiết của cổ nhân vĩ đại thật, tinh xảo. Phải qua một cái động đá mới vào tới cổng Bích Vân tự. Suối nước chảy ngang qua sân chùa thiệt kỳ vỹ.

- Thưa đấy thuộc về phủ, huyện nào? Có thôn ổ gì không?

Dãy Côn Luân sơn thuộc đất Lương Châu, Tiêu Dương huyện Giang Mã, Tiêu Giang lẩn quất, khi ẩn khi hiện dãy dọc theo dãy núi liên miên nhấp nhô tới một nơi có năm ngọn núi cao ngất, thiên hiểm mà người cùng đó gọi là Ngũ Ngọc sơn. Nghe thế biết vậy, lúc ta lên ngọn núi chánh của dãy Côn Luân sơn là nơi có Bích Vân tự mới hiểu dân chúng chỉ biết truyền khẩu, thiệt ra cổ nhân đặt tên Ngũ Ngọc rất đúng. Đứng ở Bích Vân tự nhận ngay ra ba phía có ba trái núi thấp hơn Côn Luân sơn ở chính giữa, vòng ra phía sau núi thấy ngọn thứ tư và dãy núi lại liên tiếp mịt mù ăn tréo sang phía Tây.

Bởi lẽ khu ấy có năm núi rất rõ rệt nên thành tên Ngũ Ngọc Bích Vân tự trông thẳng ra hướng Đông nam. Ngay phía Đông, án trước Côn Luân sơn là một trong bốn trái núi rải rác chung quanh. Ngay chân núi có Kim gia ổ, Dân Kiều gia gọi là Đông Sơn, bởi vậy ta suy ra ba trái núi tất thành tên theo phương hướng Tây Sơn, Nam Sơn, Bắc Sơn.

- Thưa thúc phụ, nghĩa là lên Bích Vân tự, phải qua chân ngọn núi Đông Sơn, nơi có Kiều gia ổ.

- Chính thế. Hiện thời, đường đi bị cây rừng cỏ dại lấp lối vì ngôi chùa hoang phế lâu đời. Ta đã chuyểân trên các mỏm đá dọc theo lối lên chùa nhận xét, sửa sang không khó. Việc tiếp tế thực vật lên núi do Kiều gia ổ dễ dàng hơn ở ngọn núi Bạch sơn trong dãy Cửu Huyền nhiều. Hơn nữa còn tiện lợi cho việc đúc Thái Dương kiếm vì chùa rộng lớn sẵn nước ngang sân, khi cần nhân công có thể gọi người ngay Kiều gia ổ. Chuyến du hiệp Giang Nam này chắc hai con không có thì giờ nghiên cứu các phương pháp trong cuốn "Thái Dương trường kiếm". Vậy chừng nào về thăm nhà, nên nghỉ ngơi đọc kỹ các bộ bí thư ta đã trao cho, và sao thêm mỗi thức một bản.

Im lặng giây lát, Đức Võ Thượng Nhân nói tiếp.

- Trại Mạnh Thường tố cáo vụ Kim Lăng mưu phản với Nhà vua và giúp đỡ các tướng lãnh triều đình đánh bắt phản tướng đã gây được một tiếng vang rất lớn, khiến Nhà vua chú ý đặc biệt đến giới Giang Hồ Nghĩa Hiệp.

Lam Y nói :

- Việc thúc phụ cứu giá cấp thời mới là điều thúc đẩy Hoàng đế chú ý đến hành động hữu ích của hiệp khách.

- Trại Mạnh Thường cất công vào kinh tố cáo, bày mưu lập kế, ta cứu giá, các con điều khiển trận đánh, mỗi thứ một ít mới gây thành ảnh hưởng lớn lao.

- Thúc phụ dạy con một vài điều về tương lai.

Nhìn thẳng vào cặp mắt long lanh của điệt nữ, Thượng Nhân chậm rãi :

- Con cũng như Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ, người nào cũng hiệp nghĩa cốt đạo can, nhưng duyên nghiệp thiếu thời hãy còn, vậy hiện nay nên sống bình thường như mỗi người.

Anh em Chu gia vâng dạ, toan hỏi thêm nữa thì Thượng Nhân đã nhắm mắt tham thiềân nhập định. Biết người không muốn nói thêm, Đức Kiệt và Lam Y rón rén ra khỏi trại phòng khép cửa lại.

Sáng hôm thứ ba có phi mã quân trên Tô Châu do quan sở tại sai báo cho Trại Mạnh Thường biết đúng giờ Ngọ, Khâm sai quan sẽ đến Âu Dương trang.

Lão anh hùng lập tức sai bày sẵn hương án ở đại sảnh, trải chiếu hoa suốt từ trang môn vào đến thềm nhà. Mọi người trong trang đều được lệnh y phục chỉnh tề đón tiếp, một mặt hỏa đinh sửa soạn đại tiệc.

Đúng giờ, Khâm sai quan và đoàn hộ vệ binh từ Tô Châu tới nơi. Lão anh hùng Trại Mạnh Thường và Đức Võ Thượng Nhân ra tận trang môn đón.

Thượng Nhân giới thiệu Khâm sai quan và Trang chủ. Hai bên cùng cung bái.

Tôn Ngự sử nói :

- Tôi phụng mệnh Hoàng đế đem chiếu chỉ về đây.

Trại Mạnh Thường đưa tay mời. Tôn khâm sai qua trang môn đi giữa, bên tả là Trại Mạnh Thường, bên hữu là Đức Võ Thượng Nhân. Hộ vệ binh đi sau.

Cửa đại sảnh mở lớn, trang đinh võ phục chỉnh tề vác giáo đứng dàn cả hai bên, người nào cũng khỏe mạnh đứng sững như pho tượng.

Khâm sai quan và hai viên phò tá vào đại sảnh trang hoàng uy nghiêm, đứng trước hương án.

Trại Mạnh Thường, Âu Dương Phu nhân, Đức Võ Thượng Nhân đứng hàng đầu ngay sau hương án.

Hàng thứ nhì có Chu Đức Kiệt, Lam Y nữ hiệp, Âu Dương Bích Nữ.

Hàng thứ ba có Âu Dương Tòng Cát, Nhạc Lan Anh, Tòng Đức.

Mọi người khác trong nhà đứng dàn cả hai bên tường đại sảnh.

Viên quan phụ tá đặt chiếc hộp trạm trổ, sơn son thếp vàng lên mặt hương án trầm nghi ngút. Thấy mọi người đã tề chỉnh, Tôn khâm sai từ từ tiến đến hương án, trịnh trọng mở hộp chạm, cung kính nâng tờ chiếu chỉ bằng giấy lụa màu phớt vàng mở ra, lùi lại một bước, cất giọng oang oang đọc.

Mọi người đón chiếu chỉ quỳ cả xuống.

Chiếu rằng:

Đại Minh, thấp bát nhất, sơ Cửu Nguyệt, Binh Thìn niên.

Minh triều Hoàng đế Thánh tổ, Vĩnh Lạc nguyên đệ thập niên họ chiếu.

Xét rằng lão anh hùng Âu Dương gia, tục danh Tòng Thiện biết trọng quyền lợi Quốc gia, lấy nghĩa Quần thần làm đích, Mai Hương Đình dù không phải quan chức Triều đình, không hưởng bổng lộc do Quốc khố đài thọ vẫn tận tâm giữ tròn bổn phận công dân, không quản gian lao tránh cho nước nhà khỏi vòng nội biến, dân gian khỏi ách tương tàn. Trẫm sắc phong Âu Dương Tòng Thiện tước Trung Dũng Hầu, nếu muốn xuất chánh được chấp nhận tức khắc.

Âu Dương Tòng Cát, Âu Dương Tòng Đức có công bình phản tướng, được tập ấm tước vị của thân sanh phụ mẫu.

Toàn gia họ Âu Dương được sử dụng bảy chữ "Trung Dũng Tô Châu Đệ Nhất Gia", lãnh bổng lộc tương đương với tước vị.

Xét rằng Tam hiệp Đơn Đao Chu Đức Kiệt, Lam Y nữ hiệp Chu Tú Anh, Thiết Phiến Cô Âu Dương Bích Nữ, thiên chức cứu khôn phò nguy, giúp đỡ người yếu hèn, vì Quốc gia trị tội cường hào ác bá, gây nhiều chiến công oanh liệt, gần đây điều khiển trận bắt tặc tướng trong Vương phủ Kim Lăng.

Trẫm sắc phong Tam hiệp tước Ngự Tiền Kiếm sĩ.

Chu gia huynh, muội và con cháu được đời đời sử dụng bốn chữ "Danh Trấn Giang Hồ".

Xét rằng Nhạc Lan Anh tánh tình trung thực theo dòng máu tổ tiên, lấy nghĩa Quần Thần làm trọng. Trẫm sắc phong tước "Vũ Mục Anh Thư Quận Chúa".

Xét rằng Chu Đức Võ là người xuất gia tu đạo có công cứu giá thiệt lớn lao, ơn ấy không quên, đào tạo được hai người cháu thành lương đống anh hùng, nữ kiệt anh thư, Trẫm sắc phong Chu đạo trưởng là Côn Luân trưởng lão Đức Võ Thượng Nhân được tùy nghi sử dụng công khố Thanh Hải xây dựng nơi tu đạo.

Ngoài ra, Trẫm tứ hôn Âu Dương Tòng Đức với Vũ Mục quận chúa Nhạc Lan Anh.

Hay tin Hiệp sĩ Chu Đức Kiệt đã hứa hôn với Âu Dương tiểu thư, Trẫm muốn đặc cách chủ hôn để tỏ lòng ưu ái với hai họ Chu, Âu Dương cũng như với Âu Dương và Nhạc gia.

Vậy Trẫm biệt thỉnh với chư khanh.

Đức Võ Thượng Nhân, toàn thể Âu Dương gia, Tam hiệp cùng Quận chúa Nhạc Lan Anh sang Xuân Đinh Tỵ lai Kinh sư dự tiệc yến kỷ niệm ngày lễ Đăng Quang.

Chư khanh khá nghe lời.

Khâm thử!

Đọc xong, Khâm sai quan gấp chiếu chỉ đặt lên hương án, đoạn lấy ở hộp đựng chiếu chỉ, một tập sắc phong có đề tên từng người, áp dấu Ngọc tỷ, thâu bút của Hoàng đế đương triều, cung kính đưa cho từng người một và nói lời chúc tụng.

Hương án bày quay về hướng Bắc nên tám người lãnh sắc quỳ ngay trước án vọng bái tạ ơn Vua.

Khâm sai quan bỏ chiếu chỉ vào hộp, hai tay nâng đưa cho Trại Mạnh Thường lãnh cất đi. Lễ đón Thánh chỉ chấm dứt.

Trang đinh dẹp hương án vào hậu sảnh. Âu Dương phu nhân cáo lỗi về tư phòng. Trại Mạnh Thường mời Tôn khâm sai và hai vị tiểu quan phụ tá dùng trà và cuộc tiếp tân bắt đầu. Tòng Cát thân tiếp đoàn tùy tùng Khâm sai quan ngoài võ sảnh. Tòng Đức tiếp các thực khách hỉ dạ ở thực phòng thường xuyên.

Tôn khâm sai nói cho mọi người biết triều đình bổ Vương Bật thuộc Hàn Lâm viên xuống tựu chức Đề đốc Kim Lăng.

Chu Trấn Quốc được chính thức tựu chức Trung Quân tại đó.

Lam Y nữ hiệp hỏi Tôn Gia Trọng :

- Thưa đại quan, Mã nguyên soái hồi triều nhậm chức mới, tất đem theo cả tiểu thư Kim Loan cùng về.

- Toàn thể gia đình cùng về. Nhị vị công tử Thành Hồ và Thành Báo được phép nghỉ hai tháng tại Yên Kinh trước khi trở về bộ đội nhậm tân chức. Mã tiểu thư cũng có hỷ sự.

- Hỷ sư thế nào, đại nhân.

- Thưa Nữ hiệp, trưởng nam Hà tổng trấn, Thiên Tường công tử dạm hỏi Kim Loan tiểu thư. Hai họ Mã, Hà đều ưng thuận. Chỉ chờ hồng thiệp gởi đi đầy đủ các nơi là nghinh hôn. Thánh thượng chủ hôn.

Buổi tiếp tân kéo dài đến tận chiều trong cảnh tưng bừng đàn ca xướng hát, các vũ nữ ở Tô Châu về trình bày nhiều vũ khúc tân kỳ.

Tối đến, toàn thể Âu Dương trang, đèn nến sáng choang, cuộc vui đến khuya mới tàn. Tôn khâm sai nghỉ lại ở trang trại một đêm, sáng hôm sau mới giã từ mọi người ra Tô Châu, rồi về kinh sư phục mệnh.

Lam Y hỏi Chu Đức Kiệt :

- Có lẽ Chu Bảo Quốc đã nói riêng vụ Tòng Đức, Lan Anh với Mã nguyên soái nên Hoàng đế mới biết và tứ hôn cho hai người.

Đức Kiệt gật đầu :

- Bảo Quốc hành động đúng như lời chúng ta khuyên y khi còn ở Vũ Hồ.

- Hiền huynh bình luận thế nào về lối thăng thưởng của Nhà vua.

- Thăng thưởng thì đáng lắm rồi. Còn việc tẩy trừ Trần Chí Hòa và mấy tên đồng bọn thì chỉ gợt được phần nào bọn gian nịnh trong Triều, nhưng chưa thể loại hết được bọn tham quan ô lại đầy rẫy trong toàn quốc. Có du hiệp như anh em ta mới hiểu được tình trạng của dân chúng nhiều nơi sống khổ sở lầm than dưới sự áp bức tham quan cường hào.

- Nước nhà rộng quá, kiểm soát không nổi.

- Đúng thế. Nếu ở vào địa vị Hoàng đế, ngu huynh sẽ lựa các quan chức có bản lãnh, lập thành "Du Hiệp Đoàn" phái đi các nơi điều tra, lập bản phúc trình. Bọn tham quan ô lại nhỏ thì bị gọi lên phủ, lớn bị triệu hồi kinh trị tội. Hành động bất ngờ như thế mới mong tẩy trừ được hết. Bọn tham quan sẽ luôn luôn lo sợ, không biết "Du Hiệp Đoàn" tới lui lúc nào mà phòng ngờ, thành thử họ tự động phải đi vào con đường chân chánh.

Lam Y mỉm cười mà rằng :

- Phương thuốc trị bệnh tham nhũng của hiền huynh hay đấy, nhưng kiếm đâu ra những vị quan liêu trong triều đình có bản lãnh phi thiềm tẩu bích như một hiệp khách chân chánh hay một tên phi hành đại đạo.

Đức Kiệt phản đối :

- Trong thiên hạ có những nhân vật ấy, lẽ nào triều đình lại không tuyển mộ được? Bởi vậy, đã cải cách phải cải cách hoàn toàn.

- Như lệ luật tuyển Võ trạng chẳng hạn, tại sao không áp dụng thêm vào đó lối khảo thí môn đồ của các võ phái danh gia.

- Võ trạng sẽ hoàn toàn biết là nhường nào về phương diện Công phu bản lãnh.

- Hiền huynh sẽ không tự vấn vì lẽ gì cao đồ môn phái không chịu xuất chánh? Những người ấy mới đáng được tuyển Võ trạng nguyên.

- Dễ hiểu lắm. Theo họ, khổ luyện mới thành tài và phải mất nhiều năm. Trong thời gian dài dằng dặc đó, những ai chịu đựng nổi đạt mức cao siêu thì họ đã quen lối sống phóng khoáng thiên nhiên, thanh thản tự do như chiếc chim trời thả cánh môn phương. Sống bó buộc trong lề lối quan liệu, họ không chịu được. Phải chăng các môn đồ võ phái chịu ảnh hưởng giáo đạo của sư phụ, nên không ưa cảnh sống ra luồn vào cúi.

Anh em Chu gia ngồi bên giả sơn đang thảnh thơi bàn tán ngoài hậu hoa viên, thì trang đinh chạy ra mời về có khách.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Vị nào vậy? Nam hay nữ?

- Thưa thiếu gia, con không nhớ tên gì nhưng đó là vị khách vẫn uống được nhiều rượu.

Đức Kiệt ngắt lời :

- Thiết Hoàn Tử Hồng Trường Hải.

- Thưa không, vị này vẫn đeo xích sắt.

Lam Y nhìn anh mà rằng :

- Trương Tam Sơn rồi! Lâu không gặp ông này.

Hai người về đại sảnh. Thiết Xích Tử đang nói chuyện với Đức Võ Thượng Nhân và lão anh hùng Trại Mạnh Thường liền cùng anh em Chu gia thi lễ.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Trên nửa năm nay mới được gặp Trương tiên sinh. Người đi đâu bây giờ mới xuất hiện.

Thiết Xích Tử đáp :

- Chuyến trước, khi ở miền duyên hải Phúc Kiến về, tôi đi thẳng Tiêu Anh phủ, rồi về nằm khàn ở nhà. Gặp trúng lúc gia đệ tam Vân sửa sang lại một ngôi đại miếu thờ Huyền Thiên Thượng Đế thành thử lẩn quẩn trông nom với y mãi tới nay mới rảnh.

Lam Y ngạc nhiên :

- Nếu tiểu nữ không quên thì hồi ở Dương Châu, tiên sinh có kể chuyện lệnh tôn lập am Trương gia trên Võ Đang sơn, nay sửa sang thần miếu nào.

Thiết Xích Tử giải thích :

- Phải, Trương gia am là của riêng do phụ thân tôi xây dựng để gia sư Trương Lãng Tử ở. Gần đó có ngôi đại miếu thờ Huyền Thiên do người thủ miếu họ Liêu truyền nhau trông nom được bốn đời rồi. Nay họ ấy không có con trai nối dõi nhường lại cho họ Trương trong thôn. Hai ngôi am, miếu ấy kế cận nên gia đệ sát nhập cả hai làm một và sửa chữa luôn thể miếu Huyền Thiên. Huyền Thiên miếu do Minh Thành Tổ hồi chưa lên ngôi đích thân đem quân đuổi tặc tướng Trần Hữu Lượng đến chân Võ Đang sơn, thì gặp trời tối. Địch quân thuộc đường trở lại bao vây, Thái Tổ phải rút quân lên núi vì Trần Hữu Lượng quật khởi đánh dữ quá.

Đêm đó trong khi mệt nhọc, dựa vào yên ngựa ngủ thiếp đi, Minh Thái Tổ mơ thấy thần nhân tự xưng là Huyền Thiên Thượng Đế báo mộng, chỉ một con đường hiểm sau núi có thể vòng ra phía trước đánh úp quân địch. Tỉnh dậy, Thái Tổ tin là có thần nhân phù trợ, lập tức kéo quân theo phương hướng nhớ trong giấc mộng. Quả nhiên, con yếu lộ ấy có thật. Thái Tổ dàn quân bao vây, bất chợt tảng sáng đánh thốc vào quân địch. Tặc tướng Trần Hữu Lượng chạy không kịp bị Thái Tổ đâm một giáo chết tại trận.

Khi lập quốc xong, Thái Tổ nhớ ơn Thần nhân thắng trận Võ Đang sơn bèn lập miếu ngay tại nơi nằm mộng trên núi thờ phụng. Đó là miếu Huyền Thiên do gia đệ sát nhập với Trương gia am chuyển thành ngôi đại tự có quy củ. Thiệt không ngờ gia đệ Tam Vân sùng đạo đến thế? Chẳng như tôi chỉ rượu be bét tối ngày.

Giả tỉ luật nhà chùa chỉ cấm tứ giới mà bỏ lệ cử rượu thịt, chắc chắn Trương mỗ có thể tu hành... đắc đạo được.

Nghe Thiết Xích Tử nói với giọng hết sức thật thà, mọi người đều nhìn nhau phì cười. Ngó ngang, Thiết Xích Tử nói tiếp :

- Tôi có lời chúc mừng hai đạo sắc do Hoàng đế ban tặng Chu gia và Tam hiệp. Tiếc quá, bỏ sót mất vụ Kim Lăng thành thử không được dự Ngự yến cùng các vị.

Tuy không là mai nhân giữa hai họ Chu và Âu Dương, nhưng nếu Trương mỗ này không gọi Thiết Phiến Cô trên Thanh Dương hồ bên Dương Châu, thì Chu đại hiệp quen sao được Âu Dương Bích Nữ? Chuyến này, Hoàng đế trớ trêu đứng chủ hôn cho hai người ở Yên Kinh, lão ngu tôi trật bữa rượu mừng nữa.

- Không tiếc sao được? Mấy khi được uống mừng duyên kỳ ngộ giữa đôi hào kiệt, anh thư.

Trại Mạnh Thường nói :

- Lão đệ khỏi than phiền. Nhà Vua chú ý đặc biệt đến giang hồ chúng ta. Vậy khá ngày giờ tập trung cả ở tệ trang, rồi cùng lên Hà Bắc, lão đệ sẽ có dịp uống cạn kho Ngự tửu.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Trương thúc thúc chuyến này cũng gặp dịp may. Sắp có vụ đại hôn lễ.

Thiết Xích Tử vội hỏi :

- Ai kết hôn với ai vậy? Bao giờ? Tôi đến đây chủ ý mời Tam hiệp đi gấp Trường Sa giúp một việc. Chắc không chờ nổi rồi.

- Ngày mốt sẽ đại tiệc trong Tam Môn cốc. Thúc thúc nán lại vài ngày có sao không?

Nói đoạn, Âu Dương Bích Nữ kể chuyện hai họ Dương, Địch cho Thiết Xích Tử nghe.

Lam Y hỏi :

- Trương tiên sinh bảo anh em tiểu nữ đi Trường Sa có việc gì quan trọng không? Có e lỡ nhật kỳ vì chờ dự tiệc hôn lễ trong Tam Môn cốc không?

Thiết Xích Tử đáp :

- Chờ một vài ngày không sao, nhưng chậm trễ nhiều chắc không được. Ba vị nhận giúp tôi chớ.

- Việc của tiên sinh cũng như việc nhà, lẽ nào không giúp? Chuyện chi vậy.

Thiết Xích Tử chậm rãi :

- Chuyến này, tôi định vào Động Đình hồ chơi, chẳng ngờ nửa đường gặp người nhà của gia muội Trương Tam Nương... Hẳn quí vị còn nhớ việc gia việc muội Tam Nương kết duyên cùng Tiểu Lữ Bố Hoàng Hoa Chiếm bên Trường Sa.

Mọi người gật đầu. Thiết Xích Tử nói tiếp :

- Hoàng Hoa Chiếm vẫn điều khiển mấy Bảo cuộc Trường Sa, Hà Khánh phủ, và Tần Bình huyện. Vợ chồng y ngồi xem xét mọi việc và nhường sự hoạt động cho hai con...

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Nhất thái tử Hoàng Hoa Long và Nhị thái tử Hoàng Hoa Hổ phải không :

- Phải rồi. Năm nay chúng lớn tuổi, hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi cả rồi. Vợ chồng gia muội trao trách nhiệm cho hai con trai trong việc phân phát tiêu sư áp tải hàng hóa đi các nơi.

Cách đây hơn hai năm, Hoàng Hoa Hổ có đánh một bọn tặc đạo trên mé sông nhánh của Trường Giang. Chẳng ngờ trong bọn có một tên là Lôi Chấn bị thương nặng hẹn sẽ bảo thù. Hình như Hoàng Hoa Hổ đâm một thương suốt qua vai Lôi Chấn, tưởng y bị tử thương, chẳng ngờ y sống sót và gởi thư hẹn báo phục.

Bỗng đi đã lâu không thấy gì, họ Hoàng Hoa tưởng tên Lôi Chấn đe dọa hão huyền, biết đâu bây giờ về quấy phá thiệt họ. Chúng hành động thế nào tôi không rõ, nhưng theo lời gia nhân thì hình như chúng có chín tên lấy tên hiệu là Cửu quái lợi hại lắm. Trong nhà Hoàng Hoa vỏn vẹn có hai vợ chồng và hai con trai, bận nhiều việc, các tiêu sư làm công thì bận tải hàng. Hoàng Hoa Long, Hoàng Hoa Hổ cũng ít khi ở nhà, sợ bọn Cửu quái đón đánh xe hàng, phải đích thân đi áp tải.

Bởi vậy, gia muội biên thơ về Võ Đang sơn cầu cứu. Tên gia nhân gặp tôi, nên tôi chợt nghĩ quí vị có thể tiếp tay, nhân tiện qua chơi Trường Sa luôn thể.

Nghe chuyện Trương Tam Sơn, Trại Mạnh Thường bảo Tam hiệp :

- Các con liệu sửa soạn, xong tiệc cưới Dương Hoài Ngọc, Địch Phượng Tiên thì lên đường kẻo trễ.

Lam Y nữ hiệp nói :

- Từ ngày được nghe chuyện, tiểu nữ vẫn ước ao được yết kiến lệnh muội Trương Tam Nương, nay sang Trường Sa cũng là một công đôi việc.

Thiết Xích Tử nhìn Lam Y mà rằng :

- Khi thiếu thời, gia muội Tam Nương cũng hao hao giống Nữ hiệp. Nay có tuổi, Tam Nương hơi đẫy đà một chút, nhưng bản lãnh không hề kém sút.

Hôm sau, Đức Võ Thượng Nhân gọi anh em Chu gia dặn dò, đoạn từ biệt mọi người lên đường vào Thanh Hải thăm thú núi Côn Luân.

Dự tiệc cưới Dương Hoài Ngọc, Địch Phượng Tiên xong, Tam hiệp cùng Thiết Xích Tử vào Trường Sa phủ.

Trại Mạnh Thường tặng họ Trương một con hắc lư cho tiện đi đường vì Tam hiệp cưỡi ngựa.

Một chiều kia gần tới nơi thì mây u ám kéo đầy trời, gió thổi phần phật. Bốn người vội lấy nón, áo da phòng mưa, thúc ngựa chạy lẹ vào thành.

Vừa qua cổng thành thì mưa đổ xuống như trút nước.

Trường Sa phủ rộng lớn không kém gì Kim Lăng.

Thiết Xích Tử nói :

- Đằng nào cũng ước rồi, quý vị theo tôi sang lối Tây môn thì đến nhà.

Đoàn người qua hết phố nọ sang phố kia, vào tới khu nhiều cây cối um tùm nhà cửa rộng rãi, vườn tược hẳn hoi.

Thiết Xích Tử chỉ ra phía trước mặt :

- Đây là khu Đại Mộc, Hoàng Hoa phiêu cục kia kìa, nơi có cây tòng lớn trước cổng.

Lát sau, đến nơi Tam hiệp thấy ngang trên cổng gạch treo tấm biển đề Phiêu Cục Hoàng Hoa nóc cổng có vọng lâu.

Thiết Xích Tử gọi lớn :

- Mở cổng mau! Chưa tối đóng cửa sớm vậy.

Tên gia nhân coi cổng thò đầu ra ngoài vọng lâu hỏi :

- Ai gọi đó? Xin cho biết tên.

- Ngươi không nhận ra ta hay sao, hỏi mãi.

Lúc đó tên gia nhân mới nhận ra người nhà, bèn chạy vội xuống mở cổng :

- Trời ơi, đại bá mà con không biết, mời người vào, ướt hết đồ rồi.

Y vừa nói vừa vái chào bốn người.

- Gia gia có nhà không?

- Thưa có, mời người lên thẳng đại sảnh.

Ba con chó lớn thấy người lạ tới chạy vù qua sân gạch sửa inh ỏi. Mấy tên gia nhân đội nón chạy theo xuống cổng dắt lừa, ngựa.

Tam hiệp, Thiết Xích Tử đỡ hành lý vác lên vai, rảo bước qua sân lên đại sảnh. Vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm và hai thanh niên hào kiệt đứng chờ ở hành lang. Thiết Xích Tử chỉ Tam hiệp giới thiệu :

- Đây là Đơn Đao Chu Đức Kiệt, Lam Y nữ hiệp, Chu Tú Anh và Thiết Phiến Cô Âu Dương Bích Nữ, hôn thê của Chu đại hiệp và là ái nữ của Trại Mạnh Thường bên Tô Châu. Đã có lần ngu huynh nói chuyện cho các người nghe rồi đó.

Mọi người thi lễ, Hoàng Hoa Chiếm cất tiếng sang sảng :

- Nghe chuyện không bằng diện kiến. Bất lâu nghe đại danh, nay hội kiến mới biết danh bất hư truyền, hân hạnh cho chúng tôi nhiều lắm.

Tam hiệp nói mấy lời khiêm tốn. Hoàng Hoa Chiếm mời khách vào sảnh đường. Bốn người để hành lý lên trưởng kỷ, cởi bỏ mũ, áo mưa rồi an tọa.

Trương Tam Nương nhìn Lam Y và Âu Dương Bích Nữ không chớp mắt :

- Trông thấy nhị vị, tôi không khỏi nhớ lại thuở nào cùng tuổi ấy... thấm thoắt đã mấy chục năm qua.

Lam Y nói :

- Lúc ở Dương Châu, Trương tiên sinh đã có dịp kể chuyện cho chúng tôi nghe, như xạ kích viên môn, đấu thương, kích đêm trăng, nên riêng phần tôi vẫn ao ước được yết kiến đại nương.

Trương Tam Nương âu yếm nhìn chồng mỉm cười, chỉ hai con mà rằng :

- Mới ngày nào thí võ thành duyên phu phụ mà nay đã có hai con lớn chừng này rồi.

Lam Y ý tứ thấy Trương Tam Nương tuy có tuổi nhưng vẫn còn trẻ lắm như người trạc tứ tuần, nét mặt thật đẹp đẽ vóc dáng cân đối. Hoàng Hoa Chiếm để râu chòm đen lánh, bệ vệ, khuôn mặt như mũ ngọc khi xưa hẳn đẹp tướng như Chu Đức Kiệt, xứng danh với tước hiệu Tiểu Lã Bố.

Hai anh em Hoàng Hoa Long, Hổ dáng dấp y hệt phụ thân, người nào cũng có vẻ anh hùng hào kiệt.

Gia nhân ra đại sảnh báo khách phòng đã sửa soạn rồi. Hoàng Hoa Chiếm và Trương Tam Nương mời bốn người về phòng thay áo.

Nhà họ Hoàng Hoa có ba nếp xây hàng chữ "Môn" sân trước sân sau, vườn cây xanh mát gọn gàng.

Ngoài trời tối hẳn, trong nhà lên đèn sáng trắng. Vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm và Long Hổ cùng khách dùng bữa ở đại sảnh.

Thiết Xích Tử cũng đã trút bộ áo giang hồ vận thường phục coi đạo mạo, chớ không lôi thôi lếch thếch như thường ngày.

Thiết Xích Tử hỏi vợ chồng Hoàng Hoa :

- Gia nhân cầm thơ đi Võ Đang sơn đã về chưa.

Trương Tam Nương đáp :

- Gặp phải trưởng huynh, y về thẳng đây chớ không đi Võ Đang sơn.

- Phải rồi, chính ngu huynh nhắn không cho y đi Võ Đang sơn và mời Tam hiệp về tiếp tay. Câu chuyện đầu đuôi thế nào? Xưa nay có thường xảy ra nhiều vụ lôi thôi không.

Hoàng Hoa Chiếm đáp :

- Như hiền huynh đã biết, ngoại trừ những đám cướp nhỏ không đáng kể, không bao giờ có chuyện chặn đánh xe hàng tải dưới hiệu kỳ "Hoàng Hoa".

Phiêu cục nhà nhận bảo vệ hàng hóa và khách thương đi nhiều đường lắm, như Trường Đức, Đông Thanh, Hoàng Giang ở phía tây. Bảo Kinh huyện, nguyên Châu, Bình Nhường ở phía Đông. Các nơi này vị trí ở hai bên tả, hữu Trường Sa. Ngoài ra còn có nhiều chuyến tải hàng lớn như đi Nam Xương vào Giang Tây, Sa Chí Phủ, Hán Dương đất Hồ Bắc.

Ba con đường lớn này rất nghịch, tuy vậy bọn lục tâm hắc đạo đều quen biết như nếp xưa không bao giờ hành động khó dễ cho đoàn áp tải Hoàng Hoa.

Cho nên nhiều khi tôi và Long, Hổ hai cháu không đích thân áp tải, phái các tiêu sư phụ đi thay cũng đủ.

Thiết Xích Tử nói :

- Lỡ một hôm bọn lục lâm cường đạo hoặc vì cần quá, hoặc vì thấy chuyến hàng lớn quá, giả dạng đón cướp ở khu vực khác rồi phân tán đi thì hiền đệ tính thế nào.

Hoàng Hoa Chiếm lắc đầu :

- Hiền huynh ít trực tiếp với chúng, nhất là ở vùng ba tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây nên không hiểu mới nói vậy. Các toán "tiểu đạo" không bao giờ dám bén mảng tới những khu vực có "đại đạo". Bọn đại đạo thì có căn cứ hoặc Sơn trại, hoặc Lâm trại hẳn hoi. Chúng quen biết giao dịch mật thiết với nhau phòng khi nhờ nhau cứu trợ nếu bị lâm nguy.

Bởi vậy chúng chia ra nhiều khu vực, đạo nào "kiếm ăn" ở trong ranh giới của riêng đạo ấy, không hề bao giờ lấn nhau. Về điểm này, tôi nhận xét thấy chúng rất tôn trọng quyền lợi của nhau và triệt giữ lời cam kết. Nhờ thế, bọn tiểu đạo không dám tới những nơi thuộc khu vực đại đạo, một là sợ bị đại đạo điều tra, tiêu diệt chúng, hai là sợ không đủ tài sức chống chọi nổi với các đoàn áp tải lớn. Hơn nữa, chúng còn biết rằng các phiêu lưu lớn quen thân mật với đại đạo, nhúng tay vào cướp hàng hóa, sẽ bị đánh bật cả hai đầu.

Chu Đức Kiệt mỉm cười :

- Nghĩa là các "tay em" không dám đụng độ với "tay anh" đó.

- Đúng thế.

- Và nói ngược lại, Phiêu cục, Sơn trại, hay Lâm trại tuy đứng đối lập nhau, nhưng thiệt ra bề trong hai bên vì quyền lợi riêng, phải nhường nhịn lẫn nhau, thành thử bề ngoài thù mà bề trong là bạn.

- Dạ, quả có như thế đó, song có vài điểm này. Đại đạo chỉ "nể" và "chịu" giao dịch với những Phiêu cục nào cứng rắn thôi. Trước khi được chúng hay chịu, tiêu sư phải tranh đấu, đánh cho chúng một vài trận thất điên đao, hoặc ít nhất phải đều sức với chúng mới nói chuyện được.

Âu Dương Bích Nữ hỏi :

- Các Phiêu cục nhỏ làm thế nào sống được.

Trương Tam Nương đáp :

- Sống chứ. Họ nhận hàng đi gần quanh bạt nhà. Mồi nhỏ bắt cá nhỏ. Nhưng cũng có Phiêu cục lớn ngoan cố, mà Tiêu sư trưởng tự lượng không đủ tài sức tranh đấy cùng đại đạo, bèn điều đình với chúng nộp xuất tiền lộ tương đối rẻ.

Mỗi chuyến hàng qua đều mối trả, nhưng không trả công khai, thành thử khách hàng có cảm tưởng tiêu sư bản lãnh siêu quần được bọn lục lâm kiêng nể.

Lam Y nói :

- Làm nghề bảo tiêu kiếm ăn ngoan cố như vậy không bền. Chóng chầy sẽ bị bại lộ. Đối với bọn lục lâm, để chúng sợ hơn là bị chúng nhờn.

Trương Tam Nương gật đầu :

- Nữ hiệp kinh nghiệm điểm ấy rất đúng. Đánh cho chúng thất điên bát đảo, chúng sợ ta phá sào huyệt, hoặc hợp sức với quan quân đả phá, nên bọn nọ bảo kia, chúng tự nhiên kiêng nể mặc ta qua lại như vào chỗ không người. Đó là trường hợp của Phiêu cục Hoàng Hoa.

- Tải hàng gần, chúng tôi để phiêu kỳ và phái các tiêu sư phụ theo áp tải. Một khi tải hàng xa Hoàng Hoa Long hay Hoa Hổ luân phiên theo đoàn xe hàng và không hề xảy ra sự gì.

Bỗng cách đây hai năm, Hoa Hổ áp tải chuyến hàng quan tọng vào Nguyên Châu bên Giang Tây vừa qua dòng Lăng Lý giang, được mấy dặm thì bị toán đại đạo chận đánh định cướp hàng.

Hoa Hổ đón đánh một tên đại đạo xưng danh là Lôi Chấn.

Tên này trúng thương được đồng bọn cứu đem đi.

Sau trận đó, không xảy ra vụ nào khác cả. Cho đến nay, tháng trước Hoa Long, Hoa Hổ đi áp tải chưa về, phu quân tôi đi kiểm soát công việc chi nhánh bảo Phiêu cục của nhà, bỗng một buổi sáng nọ, gia nhân dậy sớm làm việc thì thấy phong thơ ghim chặt ở cột hành lang bởi một con dao ngắn. Gia nhân vào báo, tôi vội chạy ra xem.

Trong thơ không có gì lạ hơn là nhắc lại việc Hoàng Hoa hổ đâm trúng thương kẻ địch năm xưa, nay sau thời gian chuẩn bị, tên đó sẽ báo thù. Ký tên Lôi Châu cửu quái.

Nói tới đây, Trương Tam Nương bảo con trai thứ vào lấy bức thư và con dao ngắn hăm dọa cho Thiết Xích Tử và Tam hiệp xem.

Trương Tam Nương nói tiếp :

- Chúng tôi định tự lực đương đầu nếu chúng lộ diện, nhưng suy đi tính lại phu quân tôi thấy cần phải đủ người tài ba chống đối và cần quét một trận cho bọn đại đạo biết sợ bảo nhau kiêng nể Hoàng Hoa phiêu cục. Nghề nghiệp bắt buộc như thế, cần phải có tài danh. Nếu phu quân tôi viết thơ về Võ Đang sơn cầu gia huynh giúp đỡ bằng cách phái các cháu Trương Tam Võ, Trương Nhị Nương và nếu có thể, chính gia huynh Tam Sơn, Tam Vân tới cả đây. Gia nhân gặp huynh trưởng Tam Sơn, và mọi việc thì quý vị đã rõ.

Chu Đức Kiệt đọc bức thư của Lôi Chấn hăm dọa, lật đi lật lại xem con dao ngắn, đoạn chuyền cho mọi người lần lượt xem.

Lam Y nói :

- Ký tên Lôi Chấn là kẻ bị thương nặng muốn báo thù đã đành, sao lại có hai chữ Cửu quái vào đó? Cửu quái là tước hiệu lục lâm giang hồ của Lôi Chấn, hay là chín tên Quái đồng bọn của y.

Thiết Xích Tử nói :

- Chúng viết nửa chừng thế mới khó hiểu khiến ta ngờ chúng đông người.

Âu Dương Bích Nữ để phong thơ và con dao lên mặt án :

- Theo ngu ý, một mình Lôi Chấn dù sao thời gian luyện tập với chí phục thù, không dám tự lực hành động vì y thừa hiểu tiêu sư Hoàng Hoa phiêu cục là những người có bản lãnh đã từng cho y nếm mùi thất bại.

- Cửu quái đây vừa là tước hiệu lục lâm vừa là số người. Số người đó là chín con Quái, đồng bọn Lôi Chấn.

Chu Đức Kiệt gật đầu đồng ý :

- Hiền muội nói phải. Tôi cũng nghĩ thế.

Thiết Xích Tử nói :

- Thường qua lại miền duyên hải nên tôi biết thứ dao ngắn này là "mũi chùy" của những thủy thủ quen sống trên giang, biển quen dùng. Đối với họ, "chùy" là thứ khí giới thân rất tiện dụng trên bộ cũng qua như khi ở dưới nước. Vậy có thể tạm đoán được bọn Cửu quái thuộc về giới thủy tặc chăng.

Lam Y nói :

- Trương tiên sinh đồng quan điểm với tôi. Trận đánh giữa Lôi Chấn và Hoa Hổ đại ca gần Lăng Lý giang, biết đâu họ Lôi không thuộc loại thủy khấu :

- Trên sông Lăng Lý có hay xảy ra những vụ cướp ghe chài không.

Hoàng Hoa Chiếm đáp :

- Có. Không xảy ra luôn, nhưng mỗi khi hữu sự thì y như là các ghe lớn tải nhiều hàng hóa, tiền bạc bị đánh cướp lấy trộm. Bọn thủy tặc rút lui đi rất êm đềm. Nhà đương cuộc địa phương không biết đâu mà tìm kiếm dò la và kết luận rằng thủy tặc ở xa tới, "ăn hàng" xong rút lui ngay. Chính chúng tôi cũng nghỉ như vậy.

- Lịnh Phiêu cục không bao giờ bảo đảm hàng hóa chạy trên sông ư?

- Có chứ. May mắn không gặp thủy tặc bao giờ cả. Hiện thời, tại Trường Sa có ba Phiêu cục lớn, kể cả tôi, hai nhà kia thường mắc mưu thủy khấu luôn. Vì vậy mới đây, một số khách hàng của họ chạy qua tôi, và tôi thấy đang cần phải giữ tín nhiệm hơn nữa.

Quý vị tới đây, yêu cầu tiếp tay.

Lam Y nói :

- Chúng tôi qua Trường Sa lần này cũng chỉ vì mục đích ấy. Tiên sinh và đại nương chớ nề hà. Nhưng tôi lấy làm lạ rằng tại sao quan quân không dùng biện pháp gì để ngừa bọn thủy tặc hoành hành trên sông Lăng lý.

Trương Tam Nương nói :

- Tôi biết Tam hiệp thắc mắc về điểm ấy. Trước đây, Đề đốc Trường Sa là Vĩnh An, em Thuận Vương, tuy không phải tham quan, song bổn tánh chậm chạp, phái nhân viên đi điều tra mấy lần không đạt kết quả nên họ đình chỉ lại ngay :

- Không hiểu vì mới tới nhậm chức bây giờ thế nào :

- Nhưng cũng hiểu qua về vị trí Trường Sa với Lăng Lý giang như thế nào. Thủ phủ này gần biên giới Giang Tây mà ranh giới hai tỉnh là Lăng Lý giang cách thủ phủ thành có mấy dặm đường. Phân nửa sông thuộc về Hồ Nam, phân nửa thuộc về Giang Tây. Có thể suy luận rằng quan địa phương cho là thủy tặc thuộc căn cứ Giang Tây và gửi công văn yêu cầu quan địa phương bên ấy truy nã.

- Bọn Giang Tây không cần đếm xỉa tới mé bên ấy toàn rừng núi hoặc hoang địa. Quan quân Trường Sa không thấy bên kia hành động nên cũng bỏ nốt. Bọn thủy tặc hành động rất khôn khéo ở chỗ không điều hòa, quan quân theo dõi mãi đâm ngán đành bỏ ngang.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Dòng Lăng Lý có lớn không? :

- Lớn y hệt khúc sông mà quý vị đã qua mới vào được đất Hồ Nam. Ngày mai, chúng ta ra triền sông quan sát.

Đức Kiệt nói với mọi người :

- Theo thiển ý, tôi dự đoán thế này. Tên Lôi tặc không dám vào tận Hoàng Hoa phiêu cục hành động để báo thù đâu, mặc dù chúng là Cửu quái. Bọn Thủy khấu sẽ tổ chức chặn cướp ghe áp tỉa hàng hóa của quý vị. Bây giờ làm thế nào kiếm được sào huyệt của chúng mà phá thì hay hơn cả. Do trận đánh đó, uy danh Phiêu cục càng thêm lừng lẫy.

Hoàng Hoa Long hỏi :

- Phiêu cục nhà nhận áp tải hàng đường thủy nhiều năm nay không hề xảy chuyện gì trong khi thủy tặc vẫn thỉnh thoảng hoành hành đối đầu các Phiêu cục khác. Nếu Cửu quái ở trong bọn thủy khấu, tại sao chúng không quấy chúng ta.

Thiết Xích Tử nói :

- Dễ hiểu lắm, bây giờ bọn Lôi Chấn mới về và Cửu quái sẽ bắt đầu gây chuyện Hoàng Hoa phiêu cục. Chu đại hiệp ước đoán như vậy ta rất đồng ý.

- Dạ bây giờ chúng mới cùng Lôi Chấn về đây thì tiểu điệt xin chịu. Trước kia chắc là bọn khác vì chúng vẫn kiêng nể Hoàng Hoa...

Lam Y nói :

- Ngày mai chúng ta ra bên sông xem sao. Các ghe hay bị chặn đánh ở quãng nào.

Trương Tam Nương nói :

- Trong vòng mười, mười lăm dặm về thượng lưu dòng Lăng Lý. Tôi sẽ dẫn đường.

- Người vùng này quen mặt, Đại nương cùng đi với chúng tôi không tiện. Anh em tôi sẽ tùy nghi hành động.

Thiết Xích Tử nói :

- Tôi cũng thuộc triều Lăng Lý giang, sẽ đi cùng Tam hiệp.

Chu Đức Kiệt gật đầu :

- Phải đó! Trương tiên sinh dẫn đường hợp cách lắm. Chúng ta nên vận thường phục và để võ khí lại nhà.

Sáng hôm sau, Tam hiệp cùng Thiết Xích Tử thuê xe ra bến sông. Từ thành ra bến, hai bên đường đều có nhà ở và tửu quán, người qua lại khá tấp nập. Ngay đầu bến, có cơ sở quan thuế chuyên về việc khám xét và đánh thuế buôn bán muối. Bờ tả ngạn phía Trường Sa, ghe thuyền lớn nhỏ đậu san sát như lá tre. Trái lại bên hữu ngạn thuộc Giang Tây chỉ là một bến đồ chuyên chở khách quá giang. Nước xanh biếc chảy xiết. Bên bờ, mấy ghe chài về cập bến đổ tôm cá bán ngay tại chỗ cho các người buôn bán cất vào phủ thành.

Lam Y chỉ các thúng đựng tôm cá :

- Hải vật tươi quá ngon lành thật.

Thiết Xích Tử nói :

- Miền này có cá chép ngon nhất, thịt mềm thơm, tiếc rằng không phải mùa. Mỗi khi đến thăm gia muội, bao giờ tôi cũng nhằm mùa Lý Ngư.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Mùa xuân có Lý Ngư thì phải.

- Chính mùa Xuân. Giống cá ấy ưa mát. Mùa Đông và Hạ, chúng ở đáy nước không lên. Còn tiết thu là mùa sanh đẻ.

- Nhưng Lý Ngư đâu có ở trong sông ngòi? Nghe nói giống cá ấy ở trong đầm.

Thiết Xích Tử chỉ tay theo dọc sông :

- Các ghe chài lưới đánh cá bắt tôm lan suốt dọc sông này đến ba, bốn dặm. Cũng mé này, đi ngược lên, có một vũng nước lớn và hình như khá sâu. Dân vùng này gọi là Kế Giang đầm, dân chài đánh lưới cá Lý Ngư ở đó.

Bốn người tiến theo dọc sông, vừa đi được một quãng thì có hai người ra kiểu dân chài một trẻ, một già đi tới.

Người trẻ tuổi đội chiếc thúng tre trết sơn bảo người có tuổi :

- Phải đưa hai con Lý Ngư này vào thành bán cho đại tửu lầu mới được phụ thân ạ.

- Ừ, bán cho Kim Môn lầu hơn cả.

Hai cha con bàn tán như vậy khi đi qua chỗ Tam hiệp.

Thiết Xích Tử vội bảo ba bạn đồng hành :

- Kìa, họ nói về cá Lý Ngư. Gọi mua đi.

Không chờ trả lời, Thiết Xích Tử gọi :

- Này! Ngư ông ơi, có Lý Ngư bán đó ư?...

Hai cha con ngư phủ ngừng bước nhìn bốn người. Thanh niên đáp :

- Phải, có hai con Lý Ngư lớn đây, nhưng mắc lắm.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Mắc thì mắc chớ sao? Cho xem còn tươi không nào.

- Tươi lắm! Vừa bắt được ở Kế Giang đầm lên.

Thanh niên vừa nói vừa đặt thúng sơn xuống vệ cỏ mở nắp ra. Trong thúng có nước, mấy câu rêu nổi lềnh bềnh và hai con Lý Ngư lớn đang lừ lừ luồn quanh, chớp nước luôn miệng.

Âu Dương Bích Nữ hỏi :

- Mùa này làm gì có Lý Ngư mà bắt được nhỉ.

Thanh niên chài lưới đáp :

- Mùa nào cũng có Lý Ngư, riêng mùa Xuân nó mới lên mặt nước, dễ lưới hơn. Tôi phải lặn xuống tận đáy Kế Giang đầm khổ cực mới bắt nổi hai con này. Chắc người thường không mua được, nên tôi định đem bán cho đại tửu lầu trong thành.

Lam Y nói :

- Thì đại tửu lầu cũng bán lại cho người ta ăn chớ có bán riêng cho siêu nhân đâu mà thường, với không thường.

Lão ngư phủ nói :

- Thưa đành vậy, nhưng bỗng dưng mấy ai chịu bỏ ra mười lượng bạc để mua một con cá trong khi với bạc ấy có thể dùng được thồi thịnh soạn? Bởi vậy, con tôi mới nói là mắc chớ không có gì đâu.

Thiết Xích Tử nói :

- Được, mười lượng một con, tôi chịu lấy cả hai, đem về tận nhà hộ tôi nhé.

Cha con ngư phủ chưa kịp đáp bỗng có ba người lực lưỡng vận y phục chẽn, quấn khăn đầu rìu, chân đi thảo hài, lưng đeo nón tàu dắt dao ngắn, từ phía bên sông đi tới, vỗ vai bảo thanh niên ngư phủ :

- Này, Phùng đại ca, bắt được Lý ngư sao không như mọi khi? Đem bán ngoài lấy tiền hơn, phải không?

Người khác để râu mép nói :

- Gớm thật! Thề lấy, thề để không bán cho ai! Bắt quả tang nhé.

Người thứ ba đứng tuổi hơn cả, bảo hai người kia :

- Hai hiền đệ hỏi thế chỉ khiến Phùng Tam rối trí cuống cuồng lên thôi. Biết đâu y không đang cho mọi người xem để tỏ tài bắt nổi Lý Ngư trái mùa? Y tài thiệt đó!

Quả nhiên Phùng Tam và lão ngư phủ biến sắc run rẩy khi bất chợt gặp ba người nọ thiệt. Nhưng cha con họ Phùng cố điềm tĩnh che mắt mọi người.

Phùng Tam nói với Thiết Xích Tử và Tam hiệp :

- Tôi cho quý vị xem Lý Ngư trái mùa khó hiếm, có thế thôi, chớ không bán đâu. Mắc lắm, mắc lắm.

Ngay từ lúc đầu, Chu Đức Kiệt thấy tình hình ba đại hán nọ với cha con ngư phủ đã có ý nghi ngờ, nên kín đáo đưa mắt ra hiệu cho mọi người...

Nghe Phùng Tam nói vậy, Chu Đức Kiệt đáp :

- Ừ, mắc thế thì ai mua! Đến mùa cá rẽ sẽ ăn, cần chi vội vàng.

Lam Y tiếp lời Đức Kiệt :

- Mùa này bắt nổi Lý ngư mới thiệt cừ khôi. Lặn giỏi mới làm nổi việc ấy.

Ba đại hán nhìn chằm chặp Lam Y và Âu Dương Bích Nữ.

Nhưng họ lại chú ý đến thúng Lý như ngay.

Người trẻ nhất bảo cha con Phùng ngư phủ :

- Tôi lấy nhé! Không giắt tiền theo đây, sẽ trả đủ như mọi khi, được không?

Phùng Tam gật đầu lia lịa :

- Sao lại không được? Tôi xâu hai con làm một.

- Muốn thế nào cũng được, miễn là nó đừng vuột mà thôi.

Phùng Tam lanh lẹ lấy lạt tre giắt ở thắt lưng xâu mép Lý ngư lại làm một. Đoạn y giơ lên đưa cho hai thanh niên :

- Cá béo lắm. Chắc ba vị vừa lòng hả.

Người kia cười đỡ lấy xâu cá :

- Béo hay chẳng béo cũng không sao. Miễn là có Lý ngư.

Đại hán đứng tuổi vỗ vai bảo ngư phủ cười ha hả :

- Hễ có cá nữa cứ như thường lệ? Đừng để mất công xách như hôm nay.

Phùng lão vâng dạ luôn miệng.

Ba đại hán nhìn Lam Y, Âu Dương Bích Nữ một lần nữa, kéo nhau đi thẳng.

Họ theo bờ đi ngược lên thượng lưu sông Lăng Lý.

Cha con Phùng ngư phủ cùng vội vã đổ hết nước trong thúng sơn. Phùng Tam nói :

- Quý vị bằng lòng vậy. Từ trước đến nay, ba người vừa rồi vẫn là khách hàng mua Lý ngư của tôi. Bữa nay, tôi mệt lười không muốn đem cá tới, chẳng ngờ gặp luôn họ qua đây...

Lão ngư phủ lừ mắt, ngắt lời Phùng Tam :

- A Tam dông dài nhiều lắm! Về nghỉ đi kẻo lại kêu mệt.

Nói đoạn, Phùng lão chào mọi người, vội vã kéo con đi về nhà phía bến sông.

Chờ họ đi được một quãng đường ngắn, Lam Y nói :

- Vụ bán Lý ngư có điều uẩn khúc. Chúng ta cần biết nơi cư ngụ của cha con họ Phùng để điều tra xem thế nào.

Thiết Xích Tử nói :

- Chắc họ về xóm chài ngay bên đường. Tôi theo họ mới được. Ba vị đẹp ngồn ngộn thế này, đi theo e lộ liễu.

Chu Đức Kiệt phản đối :

- Dễ thường hễ có vẻ người dễ coi một chút, thì không được việc nữa sao? Để tôi theo cha con ngư phủ, sẽ có cách dò xét. Trương tiên sinh và nhị vị hiền muội theo lối này xem ba đại há vừa rồi đi về đâu. Ta chờ nhau ở tửu quán kế bên sở Quan Thuế ngay đầu bến.

Lam Y nói :

- Được, hiền huynh cố gạn xem cha con ngư phủ nói gì.

Chu Đức Kiệt theo xa xa. Cha con Phùng Tam lẹ chân về bến rẽ tay hữu vào xóm chài thật. Hai người đi quanh co đến căn nhà tranh vánh có hàng rào gai bao bọc, đẩy cổng tre bước vào. Lão ngư phủ lúi húi mở khóa cửa trong khi Phùng Tam máng chiếc thúng sơn lên vách đất đầu nhà rồi vào theo sau.

Trong nhà vắng vẻ, Phùng Tam mở chốt cánh cửa sổ nhỏ ở hai bên trái nhà. Hai cha con bỏ nón, cởi áo treo lên mắc, vừa quay ra thì thấy một người đứng lù lù ở giữa cửa từ lúc nào, nên cả hai đều giật nảy mình, nhưng nhận xét ra ngay là một trong ba người đi với người có tuổi hỏi mua cá lúc nãy.

Chu Đức Kiệt tươi cười :

- Xin lỗi, đã đến bất ngờ nhé! Tôi có việc muốn nhờ lão ông và đại ca.

Thấy mọi người hỏi mình phương phi hào tuấn, lễ phép, cha con họ Phùng an tâm mời ngồi xuống bộ ghế tre lên nước bóng nhoáng.

Đức Kiệt nói :

- Người nhà đi vắng cả sao.

Phùng Tam nói :

- Chỉ có hai cha con tôi thôi. Gia mẫu mất cả rồi mà tôi thì chưa lập gia đình.

Lão ngư phủ hỏi :

- Quý danh là gì? Tìm chúng tôi có việc chi :

- Tôi họ Chu, không phải người xứ này. Lúc nãy, trên bờ sông không tiện nói, e kẻ qua người lại. Tôi muốn hỏi thật điều này, bán cá Lý ngư phát tài lắm nhỉ.

Cha con họ Phùng nghi ngờ, nhìn đăm đăm vào mặt Đức Kiệt cố tìm, nhận xem có thấy nét gì đáng nghi không.

Đức Kiệt điềm đạm chịu sức nhìn của bốn con mắt xoi mói đó.

Hồi lâu, lão ngư phủ nói :

- Phát tài hay không, đại ca đã trông thấy hồi nãy đó. Mười lượng bạc một con Lý ngư trái mùa cũng có người tranh giành mua nhau. Chính lão ông đi với đại ca hỏi mua chớ còn ai nữa.

Đức Kiệt mỉm cười, nét mặt thật thà rất dễ tin :

- Gia thúc và hai thiếu nữ là gia muội đấy. Trông bộ tịch thế này, chúng tôi làm gì có tiền mua. Trả giá mua hộ một vị Trại chủ cho bọn chúng tôi ở nhờ đó. Mười lượng bạc một con! Dễ kiếm quá. Không mấy chốc có vốn lớn.

Phùng Tam phì cười :

- Phải! Dễ kiếm lắm! Có lẽ Chu đại ca tưởng ngày nào cũng bắt được Lý ngư trái mùa và dễ bắt lắm phải không.

Đức Kiệt chậm rãi lắc đầu :

- Tôi không tưởng gì cả. Chỉ nghĩ rằng nếu bắt được thứ cá ấy tôn thì sẽ phát tài to.

- Dĩ nhiên rồi, làm thế nào bắt nổi cá mới được chứ :

- Trừ gia thúc ra, ba anh em tôi đều thạo môn bơi dài, lặn sâu. Bốn chúng tôi từ xa đến đây không ngoài mục đích kiếm việc làm hay buôn bán lặt vặt kiếm tiền. Nay chợt thấy lão bá và đại ca bán Lý ngư được giá, nên muốn hỏi thăm học đòi kiếm tiền. Hoặc giả nhị vị chung sức làm việc càng hay.

Lão ngư phủ bảo Đức Kiệt :

- Lý ngư đầy rẫy trong Kế Giang đầm, của trời có dành riêng gì cho một ai. Chu đại ca thử coi riêng xóm chài này có bao nhiêu người. Nếu dễ kiếm, họ đã đổ xô vào việc bắt Lý ngư kiếm lời, tội chi phải ra sông chài lưới suốt ngày khổ thân! Cả xóm này mới có một mình cha con tôi bắt thứ cá trái mùa quý hóa ấy thôi. A Tam không lặn giỏi, sành nghề, dài hơi ở lâu dưới nước được thì tôi cũng đành chịu. Có bát ăn là nhờ ở nó. Nhưng thiệt tình không dễ đâu.

Đức Kiệt vái cha con họ Phùng mà rằng :

- Chu mỗ rất phục tài của nhị vị. Không biết sức lặn của tôi có được bằng Phùng đại ca hay không, tôi muốn thử xem may ra theo nổi phần nào chăng. Chỉ e phạm vào quyền lợi của lão bá và đại ca thôi.

Phùng ngư phủ vuốt chòm râu lưa thưa trên cằm, cười ha hả :

- Mối lợi thật đấy, nhưng không khai thác nổi một mình! Phải không A Tam.

Phùng Tam nghiêm nét mặt :

- Chu đại ca à, gia phụ thiệt tình đấy. Như tôi chẳng hạn, bắt được hai Lý ngư, phải lặn tới đáy Kế Giang đầm, sâu tới hai trượng rưỡi, có chỗ ngót bốn trượng. Bắt xong hai con, thì mệt muốn đứt hơi rồi, giá có nữa cùng đành chịu không dám xuống lần thứ ba. Nhiều khi lặn tới hai lần mà chẳng được con nào vì Lý ngư chui hết vào khe đất ven đầm. Xét vậy đủ hiểu cha con tôi hoan nghênh sự hợp tác của đại ca thế nào.

Đức Kiệt thừa dịp nói giọng thông thạo :

- Thế mà tôi cứ lo rằng lỡ bắt được nhiều Lý như quá, không có chỗ tiêu thụ sẽ phải hạ giá thì không nên. Tôi nói tới nhiều quyền lợi là thế.

- Trời ơi! Lo chi chỗ tiêu thụ. Đấy nhé: Đại ca và nhị vị lệnh muội cùng tôi tổng cộng vỏn vẹn có bốn người. Cứ nói đại là mỗi người bắt nổi hai con, vị chi là tám con. Với tám con Lý ngư ấy, đại ca chưa đủ tiếp tế cho một tửu lầu trả giá cao, đừng nói gì cả thành Trường Sa rộng lớn xa hoa nữa. Mà chẳng cần vào phủ thành, tôi có mối bán luôn ngoài này. Hồi nãy, sở dĩ tôi định đem cá vào thành là vì cần giữ cảm tình với một đại tửu lầu xưa nay vẫn tiêu thụ cá của tôi.

Được dịp, Chu Đức Kiệt hỏi :

- Mối ngoài bến là ba vị đại hán hồi nãy phải không.

Phùng Tam gật đầu :

- Phải rồi. Họ vẫn mua cá của tôi. Gặp thì họ tự cầm cá về, thường thường khi bắt cá xong xuôi, cha con tôi chèo ghe đem đến cho họ. Trả cao giá có phần hơn nội thành.

- Họ ở gần hay xa.

- Gần, xa có nói đại ca cũng không biết được. Khi nào hợp tác, đi cùng tôi mới hiểu.

Lão ngư phủ tươi cười :

- Chu đại ca sức vóc thế kia, chắc họ mến lắm. Thằng A Tam nhà tôi bị họ cợt là yếu đuối hoài.

Đức Kiệt ra bộ vui mừng :

- Nếu vậy, ta làm việc ngay kẻo mất thì giờ quý báu. Có cần mua ghe không? Chúng tôi có chút ít vốn liếng.

Phùng Tam thực thà, ngắt lời :

- Khỏi cần. Ghe nhà có sẵn rồi dư sức chở mười người. Vợt lưới để tôi lo cho, chỉ cần áo vải dầu để lặn, vận thường phục ngấm nước lạnh chết.

- Áo vải dầu phải mua ở đâu.

- Trong thành, gần chợ thiếu gì? Có đủ các cỡ. Xem cẩn thận kẻo có cái bị thủng. Thứ áo này người ta buôn từ Quảng Đông về.

- Bao giờ chúng ta có thể bắt đầu cuộc hợp tác được.

Phùng ngư phủ đứng dậy đi tới bàn thờ Ngũ Hồ lấy cuốn lịch, lật đi lật lại xem hồi lâu :

- Ngày mai đại cát cho việc hùn hạp, chắc không sửa soạn kịp. Qua bữa mai phải chờ bốn hôm nữa.

Đức Kiệt cả mừng, vội nói :

- Được, sửa soạn kịp, mai chúng ta nên cùng vào Kế Giang đầm cho biết chỗ và lấy ngày tốt. Sau đó ra quán "nhậu nhẹt" một bữa lấy may, rồi sẽ bắt đầu vào việc.

Phùng Tam nói :

- Dù không đáng kể, chúng ta cũng nên giữ kín sự hợp tác sanh nhai. Họp nhau chè chén ngoài tửu quán lộ liễu quá, để tôi mua thực vật về nhà tiện hơn.

Muốn cho cha con họ Phùng tin hơn, Chu Đức Kiệt nói :

- Nếu có dịp mướn được căn nhà nào gần đây, Phùng đại ca cứ tự tiện lấy hộ. Từ phủ thành ra đây mất công quá :

- Phải đó, tôi sẽ chú ý đến giúp việc ấy. Hiện thời hãy lưu thông bằng phương tiện xe ngựa bình dân, rẻ lắm. Có quan tiền một xuất đi.

Chu Đức Kiệt móc túi lấy hai mươi lượng bạc, trịnh trọng đưa cho Phùng lão :

- Nhờ lão bá giúp đỡ việc mướn nhà và làm bữa rượu mừng đoàn kết ngày mai. Giờ đây, tôi ra về tìm mua áo vải dầu. Gia thúc và gia muội còn chở cả ngoài quán.

Lão ngư phủ cầm bạc, thân mật :

- Sáng mai, đầu giờ Thìn, ra đấy nhé. Ta sẽ chở ghe thăm thú mấy chỗ, cần quen thuộc mặt sông mới thành ngư phủ được.

Chu Đức Kiệt từ tạ ra về.

Chàng ra thẳng tửu quán kế bên Ty quan thuế.

Lam Y, Âu Dương Bích Nữ cùng Thiết Xích Tử đang ngồi uống nước.

Chu Đức Kiệt bước vào thuật việc cha con Phùng ngư phủ cho ba người nghe.

Lam Y nói :
- Ngờ đâu công việc tiến triển mau lẹ như vậy, tôi có cảm tưởng theo đúng hướng đấy... Trương tiên sinh và huynh, tẩu có biết tại sao không.

Không ai bảo ai mà ba người cùng nói :

- Mũi chủy!

Nàng gật đầu :

- Phải rồi, mũi chủy mà ba tên mua Lý ngư giắt ở đai lưng y hệt mũi chủy gài phong thơ hăm dọa Hoàng Hoa phiêu cục. Ta có thể kết luận, bọn Lôi Chấn, Cửu quái là thủy tặc. Hay nói cho đúng, chúng là những tên mới đến đây họp với thủy tặc ở đây hoành hành.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Lúc nãy theo ba tên ấy thế nào.

Âu Dương Bích Nữ đáp :

- Đi được một quãng, chúng xuống xuồng tam bản neo bên bờ sông đi thẳng.

- Đụng độ với bọn thủy khấu, hiền muội nghĩ sao đây?

- Nghĩ gì? Bơi lội hả? Được lắm. Ai đã lên Tung Sơn Thiếu Lâm tự tất biết ở phía Nam Thái Thất sơn có Trấn Võ động, nơi Đạt Ma sư tổ ngồi tham thiền khi xưa trước khi hoàn thành chùa Thiếu Lâm tự. Ngay trước cửa động Trấn Võ có một cái hồ chính, Sư tổ đặt tên là Lộng Nguyệt, quanh năm suốt tháng nước trong vắt. Lộng Nguyệt hồ sâu bốn trượng. Môn đồ nào học "thủy công", Chiêu Đức sư trưởng đều bắt lặn thử tới đáy hồ, thành công mới được hạ sơn cũng như phải qua lần "Mộc nhân, mộc mã".

- Tiểu muội đã xuống tới đáy hồ đó lấy được cây Thiết trượng do Thiền sư phóng xuống. Còn hiền huynh và cô muội.

Lam Y nói :

- Gần trang trại nhà ở Bình Dương huyện. Sơn Đông có lạch Tả Giang, lòng Tả Giang sâu bao nhiêu không hiểu, nhưng Chu huynh và tiểu muội mỗi chuyến bơi, đã từng lặn thì từ địa phận Chu gia qua bên Lôi gia và trở về. Quãng đường bơi lặn khứ hồi ấy độ ba dặm.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Điêu luyện rồi còn gì? Chiêu Đức sư trưởng thường nói: "Lặn trên một dặm đường đáng liệt vào hạng Thánh Thủy rồi, đừng nói chi ba dặm".

Nghe Tam hiệp nói chuyện Thủy Công, Thiết Xích Tử xua tay :

- Cho phép Trưởng mỗ ngồi trên ghe thôi. Tôi đại kỵ thủy! Lặn thì chắc chắn xuống sâu lắm, nhưng không bao giờ thèm lên nữa.

Chu Đức Kiệt nói :

- Hồi nãy tôi có cho cha con ngư phủ hay rằng "gia thúc" và gia muội cùng thạo Thủy công, có thể xuống đáy Kế Giang đầm bắt Lý ngư dễ dàng không thua chi chàng Lăng Lý Bạch Điều Trương Thuận ở Lương Sơn Bạc. Mai mốt Phùng Tam yêu cầu tiên sinh trổ tài thủy sư thì làm thế nào?

- Đại hiệp nói bậy thì chịu lấy, chớ tôi biết nói sao... À, hay là tôi sẽ bảo và rằng mới bị cảm hàn xong thì thôi chuyện chớ gì.

Tam hiệp nhìn nhau tức cười. Đức Kiệt gọi tiểu nhị tính tiền hàng, rồi bốn người mướn xe về thành. Vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm còn chờ bữa trưa. Lam Y hỏi Trương Tam Nương cho xem lại mũi chủy gài phong thơ.

Trương Tam Nương lấy chủy ra, thắc mắc :

- Có việc gì liên can tới mũi chủy này vậy.

Lam Y cầm chủy nhìn qua cố nhận đích xác là không lầm lẫn, đoạn kể chuyện gặp ba đại hán trên bờ sông, và việc Chu Đức Kiệt liên lạc với cha con ngư phủ cho bốn người nhà Hoàng Hoa nghe.

Hoàng Hoa Chiếm suy nghĩ giây lát :

- Bây giờ đành nhờ Tam hiệp lợi dung cha con họ Phùng kiếm sào huyệt của bọn thủy tặc đã. Hoặc giả không thấy, ta sẽ nhử mồi chúng thuyền chở hàng, phục kích ngay trên sông.

Trương Tam Nương nói :

- Tìm được sào huyệt thủy tặc, mẻ lưới sẽ đầy đủ hơn.

Không thấy Hoàng Hoa Long, Thiết Xích Tử hỏi Trương Tam Nương :

- Trưởng điệt đâu rồi.

- Long nhi đi hàng cùng hai tiêu sư. Đi Bảo Kính, gần thôi, vừa đi vừa về ba ngày đường. Tạm thời đường gần ngu muội cũng phải cho các cháu đi theo mới an tâm. Thế nào cũng phải thanh toán xong vụ Lôi Chấn mới an trí làm ăn được. Chưa bắt được chúng thì lúc nào cũng nghi hoặc khó chịu lắm.

Trương Tam Nương đi kích thước Tam hiệp, bảo Hoàng Hoa Hổ ra phố mua mấy bộ ái vải dầu và y phục thường để Tam hiệp tiện trá hình lao động.

Hoàng Hoa Chiếm nói :

- Từ nhà ra bến không tiện đường, tôi muốn cho một giai nhân tâm phúc ra chờ thường trực ngoài bến sông, lỡ có việc gì cần thông báo về nhà, quý vị sai y tùy tiện.

Mọi người khen phải.

Sáng hôm sau, Tam hiệp và Thiết Xích Tử đem theo tên gia nhân Trần Đạt.

Vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm đưa ra tận cổng, chúc may mắn thành công.

Tới bến, Thiết Xích Tử hỏi Trần Đạt :

- Người chờ ở tửu điếm cạnh Ty quan thuế này. Cẩn thận kẻo người ta để ý nhé.

- Thưa gia gia an tâm, con thường được theo hầu đại tiêu sư đi mọi nơi, nên biết cách phụng sự.

Bốn người kéo đến nhà Phùng ngư phủ. Cha con Phùng gia mừng rỡ đón vào. Phùng Tam hỏi :

- Quý vị điểm tâm chưa.

Đức Kiệt nói :

- Ăn sáng cả rồi. Nếu đại ca chưa ăn xin cứ tùy tiện.

- Chúng tôi quen ăn sớm rồi. Đi đi kẻo trễ. Hôm nay không cần đem theo các bộ áo dầu. Ta đi thăm địa thế, mai sẽ làm việc.

Trừ Thiết Xích Tử, Tam hiệp vận y phục chài lưới không thể nào giống hệt ngư phủ chính cống, nhất là Lam Y, Âu Dương Bích Nữ nước da trắng hồng khác hẳn phụ nữ dân chài, ngăm ngăm bánh mật vì đời sống trên sông nước. Thiệt ra hai thiếu nữ ấy giang hồ du hiệp luôn luôn bôn tầu dặm trường, nắng gió là thường đâu có cổng kín cao tường, tháng ngày quanh quẩn phòng khuê, nắng chẳng đến mặt, gió chẳng tới người. Ngoài ra, cả hai còn luyện tập thường ngày vậy mà nước da vẫn trắng trẻo mịn màng, phải chăng đó là nước da thiên phú hay công luyện khí huyết điều hòa, đầy đủ nên tốt da.

Người trong xóm thấy cha con họ Phùng đi với mấy tân hữu đều lấy làm lạ chăm chú nhìn. Tam hiệp có thản nhiên không chút ngượng nghịu.

Ra tới bến sông, sáu người còn đi một quãng nữa mới đến chỗ neo thuyền. Chiếc thuyền khá lớn, có hai máo chèo tiền hâu, Mui tre đan ở gần phía sau. Chu Đức Kiệt gỡ dây cột thuyền thành thạo như một ngư phủ lành nghề.

Lão ngư phủ khen :

- Chà! Thạo quá! Ai dám bảo là Chu đại ca mới vào nghề.

Đức Kiệt cười :

- Tuy trước đây không phải dân chài, nhưng tôi vẫn chèo thuyền nên biết qua loa.

Phùng Tam hỏi :

- Chu đại ca chèo mái tiền hay hậu.

- Để tôi đứng sau, đại ca thuộc đường hướng dẫn vẫn hơn.

Hai mái chèo nhặt khoan khua nước, con thuyền từ từ ngược dòng Lăng Lý.

Thiết Xích Tử gợi chuyện Lão ngư phủ. Hai người cũng suýt soát tuổi nhau, nên xưng hô bằng anh em.

- Trên sông này có cướp bao giờ không.

Họ Phùng đáp :

- Thủy cũng như bộ, chỗ nào mà không có tặc đạo? Đất rộng quá, thêm núi non, rừng rậm sông ngòi hiểm trở. Nhưng chúng ta lo gì bị cướp? Những tay thủy tặc thiệt họ đếm xỉa chi tới anh em chài lưới? Họ nhắm các thuyền hàng lớn, có giá trị mới ra tay hành động làm một "mẻ" ăn nhiều ngày chớ không thèm đánh vặt. Trên dòng Lăng Lý giang này cũng đã nhiều thuyền hàng nếm mùi thủy tặc.

- Vậy ư? Chúng hành động ngay ở đây.

Họ Phùng lắc đầu :

- Không. Thủy tặc dại gì mà đánh thuyền ngay ở đây! Họ hành động cách đây mười, mười lăm dặm, thượng lưu Lăng Lý giang.

- Chúng không "ăn hàng" ở hạ lưu sông xa với bến thuyền sao.

- Không bao giờ tôi thấy như vậy cả. Theo lời các thủy thủ của thuyền bị cướp thì bọn thủy tặc hành động ở thượng lưu cách đây trên mười dặm, giữa một vùng mà hai bên tả, hữu ngạn sông đều cây cối, lau sậy um tùm.

- Người xứ này gọi khu ấy là Hoang Địa, cũng có người gọi là Nghịch Địa.

- Lỗi huynh tới khu Hoang Địa bao giờ chưa?

- Tôi qua đó nhiều lần rồi. Từ ngày kiếm ăn được ở Kế Giang đầm nhờ tài sức A Tam tôi không đến khu đó nữa. Phòng bị vẫn hơn.

Giả đò suy nghĩ, Thiết Xích Tử hỏi :

- Không hiểu tục lệ Trường Sa thế nào, các nơi khác, tôi thường thấy Phiêu cục nhận bảo vệ hàng hóa đi mọi nơi bằng cả hai đường thủy lục. Chắc các thuyền hàng bị cướp nơi Hoang Địa không có tiêu sư hộ vệ.

Phùng Tam nghe thấy vừa chèo thuyền vừa nói :

- Trường Sa cũng như mọi nơi, nhiều Phiêu cục mở tiệm nhận hàng. Trước kia, thủy tặc còn cướp chiếc nọ chiếc kia, miễn là có hàng hóa đáng giá, từ ít lâu nay, chúng đánh toàn thuyền được hộ vệ. Các tiêu sư sợ xanh mặt. Theo lời các thủy thủ làm việc lâu tại những ghe thuyền bị nạn hình như bọn tặc đạo đó hung dữ lắm. Các tiêu sư bị thua đẩy xuống sông bơi trốn mới thoát khỏi tay chúng.

Lão ngư phủ nói :

- Những việc này đồn dậy cả bến sông. Bọn thủy thủ uống rượu trong các tửu điếm, nói chuyện công khai. Bởi thế, anh em ngư phủ nghe đồn mới rõ chuyện.

Chu Đức Kiệt nói :

- Đất Trường Sa không có tiêu sư giỏi, bị thua thủy tặc là phải lắm.

Lão ngư phủ phản đối :

- Sao lại không? Tôi ở đất này nhiều năm, rồi từ ngày chưa sanh A Tam nên biết nhiều. Tiêu sư nổi danh, được khách nhất Trường Sa là họ Hoàng Hoa. Họ ấy áp tải đường bộ nhiều hơn là đường thủy. Đoàn hàng nào qua đất Giang Tây vẫn quá giang ngay tại bến sông trước mặt mọi người. Phiêu kỳ cắm ở đầu đoàn đề tên Phiêu cục rõ ràng :

- Danh tiếng mà vẫn bị thủy tặc đánh ư, lão bá.

Lão ngư phủ lắc đầu :

- Không, họ Hoàng Hoa chưa bị lần nào cả. Tặc đạo thủy bộ đều kiêng nể Phiêu cục ấy. Gần đây đồn rằng bọn thủy tặc Hoang Địa sẽ không như trước, chúng quyết đánh cả đoàn áp tải Hoàng Hoa. Nhưng tin sao được các lời đồn đại? Phiêu cục Hoàng Hoa truyền tử ở đất Trường Sa rất danh tiếng.

Thiết Xích Tử hỏi :

- Bị thủy tặc quấy phá như thế, mà các thuyền hàng vẫn lưu thông ư?

- Không, nhiều người bỏ đường sông, tải hàng bằng đường bộ, chịu mất thì giờ vì đường vòng trái lại tương đối chắc chắn hơn :

- Hiện thời đã có mấy thuyền chủ chở thuyền đi nơi khác kiếm ăn. Họ sợ cháy thành vạ lây, thuyền bị đắm thì hết nghiệp.

- Quan quân không tuần tiễu trên sông hay sao?

- Có chứ! A kia kìa, ba chiếc thuyền xuôi dòng sông về bến. Quân thuyền tuần tiễu đấy.

Mọi người chú ý nhìn theo tay Lão ngư phủ chỉ. Quả nhiên, ba chiếc thuyền sơn đen sì lướt vùn vụt trên sông quân, lính võ trang nghiêm chỉnh, dàn cả hai bên mạn thuyền, viên võ tướng chỉ huy đơn đao, đứng ghếch chân lên đầu mũi thuyền, bên hiệu kỳ màu xanh đề chữ "Bàng".

Toàn thể thiệt oai dũng kiêu hùng, quân tướng trang phục đồng đều, quần áo chẽn màu chàm tiện dụng cho việc bơi lội.

Phùng Tam và Chu Đức Kiệt buông lỏng tay chèo, sáu người cùng chăm chú nhìn theo ba chiến thuyền, lướt sóng, y hệt ba con kình ngư khổng lồ.

Lão ngư phủ nói :

- Lão huynh và quý vị coi, lực lượng quan quân thập phần mạnh mẽ. Thủy khấu dại gì lộ diện khi đoàn tiểu tuần đi qua? Chúng ẩn mình trong rừng cây chi chút hai bên bờ sông, và chỉ xuất hiện khi cần đánh một mục tiêu mà chúng đã dò biết từ trước. Muốn đẩy thủy khấu ra khỏi sào huyệt, quan quân ít nhất phải mở cuộc rảo thanh toàn diện cả hai bên bờ và dòng Lăng Lý dài hàng mấy ngàn dặm! Đánh nơi này, chúng quấy phá nơi khác lưu động vô chừng. Ngu dốt như bọn dân chài chúng ta cũng phải hiểu theo lẽ tự nhiên như vậy.

Thiết Xích Tử gật gù :

- Lão huynh suy luận xác đáng. Tức là các thương thuyền chỉ có thể trông cậy vào sự bảo vệ của tiêu sư. Tại sao họ không họp thành từng đoàn thường thuyền đi cho đông dưới sự bảo vệ của các tiêu sư kết hợp, khỏe mạnh biết ngần nào.

- Nếu tình trạng bị đánh nơi này kéo dài, có lẽ khách thương sẽ đi tới biện pháp ấy.

Tam hiệp lặng lẽ nghe Thiết Xích Tử gợi chuyện Phùng ngư phủ và ngắm phong cảnh giang đầu.

Không mấy chốc thuyền đã đi xa bến, Phùng Tam lái vào một lạch nhỏ bên tả ngạn. Y nói.

Kế Giang đầm kia rồi.

Mọi người nhìn theo. Quả nhiên, cánh bờ sông độ bốn chục trượng có một đầm nước khá rộng hình tròn, chung quanh cây lớn um tùm, lả lơi soi bóng trên mặt nước xanh rờn.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Kế Giang đầm ăn thông với dòng Lăng Lý, Lý ngư thoát hết ra sông chớ còn gì.

Phùng ngư phủ nói :

- Không khi nào, Lý ngư là giống cá hồ không ưa nước chảy xiết.

Vào tới đầm, Phùng Tam bơi thuyền vòng quanh, giảng giải chỗ này sâu bao nhiêu, nơi kia vừa vừa bao nhiêu.

Lam Y và Âu Dương Bích Nữ ra mạn thuyền vớt rước mát rượi.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Mặt nước giá thế này, đáy đầm rất lạnh lắm.

Phùng Tam gật đầu :

- Thiệt lạnh. Dù có áo dầu không ngấm nước, nhiều khi chịu không nổi sức lạnh.

Dứt lời, y buông tay chèo, ngồi xuống mũi thuyền.

Chu Đức Kiệt cũng buông chèo ngồi ghếch trên mũi tre đan.

Chàng kiếm cách gợi chuyện họ Phùng về việc bán cá :

- Vắng vẻ thế này mà Phùng đại ca có mối bán Lý ngư tại chỗ, thế này mới biết nhiều người ưa chuộng thứ cá đặc biệt, đó. Gần đây có làng mạc.

Phùng Tam trịnh trọng đáp :

- Không có làng mạc nào cả. Khu này tuy cây cao bóng cả như vậy, nhưng hãy còn lẫn lau sậy. Theo bờ sông độ hai dặm nữa mới hoàn toàn rừng rậm âm u...

A Tam nhìn bốn tân hữu đồng nghiệp ngập ngùng.

Lão ngư phủ đỡ lời con trai :

- Chúng ta đã hợp tác rất cần coi nhau như anh em một nhà, cởi mở hết tâm tình mới mong hùn hạp lâu dài. Công việc của ta không ngoài mục đích sanh nhai, bắt cá bán lấy tiền, khó nhọc, nguy hiểm mới kiếm nổi đồng lời.

Mối hàng không ai xa lạ, chính là ba người khách hôm qua đó. Ba tháng trước đây, họ mua cá lần đầu ngay ngoài đầu lạch kia kìa, và từ đó hẹn ngày nào có cá cũng dành riêng cho họ, bán ngoài bao nhiêu trả tiền bấy nhiêu. Thường nhựt, vào quãng giờ Tỵ, ba người bơi xuồng tam bản vào đây lấy cá. Bữa nào, A Tam mệt, không lặn cũng báo cho họ biết trước.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Hôm qua bất thường nên mới gặp họ giữa đường về bến.

- Không phải. Đáng lẽ cha con tôi vào chỗ của họ giao cá, nhưng A Tam muốn vào thành bán cá giữ mối bán hàng cho đến mùa, chẳng ngờ gặp ba người ấy gần bến. Họ trách tôi, quý vị cũng nghe thấy phải không.

Đức Kiệt gật đầu :

- Nhà họ ở mãi đâu?

Lão ngư phủ đáp :

- Làm gì có nhà! Họ thường chờ lấy cá ở gốc ba cây đa bên hữu ngạn.

- Nghĩa là ở trong rừng.

- Phải, mấp mé bến nước. Ba cây đa cổ thụ thiệt lớn, rễ chằng chịt ăn cả xuống bờ sông. Ngồi ở đó, họ trông thấy mặt sông, trái lại thuyền bè qua sông không thể trông thấy họ.

Thiết Xích Tử vờ ngạc nhiên :

- Sao kỳ vậy... Hay là... Hay là...

Lão ngư phủ nét mặt nghiêm trọng, hạ thấp giọng như sợ rừng cây nghe tiếng :

- Thủy khấu!... Phải cha con tôi cũng ngờ họ là thủy khấu. Nhưng ba người ấy làm gì có phương hại mình đâu. Mua cá trả tiền sòng phẳng, dễ dãi. Gặp mối bán hàng, thì bán kiếm lời, đỡ mất công vào tận trong phủ thành. Không thông đồng với họ cướp thuyền hàng, hay do thám tin tức cho họ thì thôi :

- Ờ! Lão huynh nói đúng, tôi đồng ý. Ngoài việc bán cá, ta không dính líu vào việc tư của họ để lương tâm cắn rứt là được rồi.

- Vả lại tôi phỏng đoán chớ có biết chắc ba người ấy là thủy khấu đâu? Bởi vậy, cha con tôi cần bộc lộ sự thật với quý vị để tránh hiểu lầm nhau sau này.

Tam hiệp, Thiết Xích Tử mừng thầm, do lòng ngay thẳng của cha con họ Phùng mà có lẽ đã tìm được đầu mối thủy khấu. Còn nghi ngờ chi nữa! Ba tên ấy chắc chắn là đồng bọn thủy tặc hoành hành nơi Hoang Địa. Chúng dùng tiền tài bịt mắt cha con ngư phủ, nhưng lừa sao nổi bốn hiệp khách giang hồ.

Chu Đức Kiệt hỏi Lão ngư phủ :

- Lão bá có biết tên họ ba người ấy không?

- Theo lời họ xưng hô với nhau, hình như cả ba là anh em ruột và họ Cảnh.

- Lão bá xưng hô với họ thế nào?

- Cứ gọi là Cảnh tiên sinh như thường...

Bỗng tiếng chèo bì bõm vọng tới, khiến sáu người nhìn ra phía lạch nước.

Phùng ngư phủ nói :

- Chúng tới kia kìa, quý vị cứ tự nhiên, nhận là cùng họ với tôi ở Quế Lâm lên nhé.

Ba đại hán hôm qua chèo thuyền tam bản vào Kế Giang đầm.

Người lớn tuổi hơn cả bắc loa gọi lớn :

- Phùng đại ca, hôm nay đông người thế? Được nhiều Lý ngư lắm hả.

Lát sau, ba người chèo đến nơi. Phùng Tam nói :

- Hôm qua tôi không được khỏe nên nghỉ lặn. Nhân tiện có bốn người đồng hương ở Quế Lâm lên muốn hợp tác bắt cá, tôi đưa vào đây thăm thú Kế Giang đầm.

Quay về phía Tam hiệp và Thiết Xích Tử, Phùng Tam giả đò giới thiệu :

- Đây là ba vị khách hàng chuyên mua cá của tôi.

Tam hiệp và Thiết Xích Tử, cúi đầu chào.

Ba đại hán chào lại, đăm đăm nhìn Lam Y, Âu Dương Bích Nữ.

Người trẻ tuổi nhất nói :

- Hình như bốn người hỏi mua cá hôm qua mà.

Phùng Tam chống chế :

- Ba vị tiên sinh nhầm đó. Người họ tôi mới lên đang thăm thú bến sông, thì gặp tôi đem cá trở về. Xa nhau lâu cơ hồ không nhận được mặt nữa, sau đó hỏi thăm tên họ mới biết là anh em đồng hương.

Lão ngư phủ cũng nói thêm :

- Vị bằng hữu và ba cháu chúng tôi lặn giỏi lắm, hơn cả A Tam tình nguyện ở lại đây hợp tác bắt Lý ngư mùa bán trong nội thành. Tôi rất mừng A Tam có người cộng tác đỡ mệt.

Ba đại hán nhìn nhau như thăm dò ý kiến. Cả ba cùng gật đầu, mỉm cười. Người trẻ tuổi chỉ hai người đứng hai bên mà rằng.

- Không phải bán cá đi đâu hết. Có bao nhiêu chúng tôi mua bấy nhiêu. Chắc Phùng đại ca đã nói chuyện cho bốn vị mới đến về anh em tôi. Đây là trưởng huynh tôi Cảnh Đắc Vưu. Đây là nhị huynh tôi Đắc Thường, còn tôi là Đắc Phu. Biết tên giao dịch mua bán xưng danh cho tiện.

Chu Đức Kiệt cũng chỉ ba người nhà :

- Đây là gia cửu Trường Sơn, hai em gái tôi Nhị Muội, Tam Muội, Tôi là Chu Nhất Lang, sanh quán tại Quế Lâm.

Cảnh Đắc Vưu hỏi :

- Bốn vị khỏe mạnh chắc thủy công khá lắm, phải không.

Chu Đức Kiệt đáp :

- Chúng tôi cũng ở bờ Lăng Lý giang nên học thủy công từ nhỏ. Dòng sông này bắt nguồn từ Kinh Nguyên huyện chảy qua xứ tôi mới về qua đây :

- Phùng đại ca đã chỉ chỗ giao cá cho chúng tôi chưa.

Chu Đức Kiệt giả đò ngớ ngẩn :

- Nghe nói ngày nào quý vị cũng ra đây lấy cá mà.

Cảnh Đắc Thường phì cười :

- Không có việc gì, rỗi rãi mới qua đây, giờ này không thấy chúng tôi tới thì cứ việc đem cá đến chỗ ba cây đa.

Phùng Tam nói :

- Tôi dẫn bốn người mới đến đó bây giờ. Ba vị trở về hay ra đi bến.

Ba anh em Cảnh gia nhìn nhau hỏi ý kiến, Cảnh Đắc Vưu đáp :

- Tôi ra bến chốc lát. Bữa nay không có Lý ngư, tôi trở lại đó không ích lợi gì cả. Anh em thăm thú cho biết chỗ, mai sẽ gặp nhau.

Nói đoạn, ba người trở mũi tam bản chèo trở ra.

Cảnh Đắc Phu, Đắc Thường nhìn chằm chặp Lam Y và Âu Dương Bích Nữ.

Chờ thuyền tam bản ra khỏi đầm, Chu Đức Kiệt hối Phùng Tam chèo đi.

Hai bên ngạn sông, lau sậy lần lần thưa thớt, nhường chỗ cho rừng cây rậm rạp.

Tam hiệp và Thiết Xích Tử vừa nói chuyện viển vông với cha con họ Phùng, vừa chú ý nhận xét cảnh vật trên sông.

Các thuyền chài lưới thưa dần. Mỗi mái chèo là đưa con thuyền tiến vào nơi vắng vẻ.

Lão ngư phủ nói :

- Từ đây trở đi không ai chài lưới nữa, chẳng như ở hạ lưu sông, dân chài đi xa bến có khi ở hẳn trên sông vài ngày, đầy cá mới về.

Lam Y nghĩ thầm:

"Dĩ nhiên, khúc sông dữ thế này, còn chài nào dám buông lưới. Đây đúng là cảnh giang đầu thủy khấu".

Thuyền lướt nhẹ trên sông do mái chèo dẻo dai, mạnh mẽ của chú chài Chu Đức Kiệt. Độ trên hai dặm đường, mọi người bắt đầu trông thấy khóm cây um tùm, cành lá rườm rà ra mặt nước.

Phùng Tam nói :

- Tới nơi rồi, khóm đa kìa kìa.

Lát sau, Phùng Tam ghé thuyền vào chỗ rễ đa chằng chịt như những con trăn khổng lồ đang quằn quại quấn lấy nhau. Thuyền không vào được bờ vì vướng các rễ đa. Phùng Tam cột thuyền vào một rễ nhỏ. Không hiểu ba cây đa cổ thụ này có từ bao giờ, nhưng các rễ lớn không những đã ăn sâu xuống bờ nước, mà còn sần sùi tết lại thành một khối, nhờ đó Phùng Tam bước trên cái cầu thiên nhiên dị kỳ đó bảy, tám thước mới vào tới bờ.

Năm người lần lượt theo sau. Ba gốc đa cực kỳ lớn. Mỗi gốc vòng kính tới bốn, năm sải tay, khéo chụm vào nhau thành thử đứng giữa quãng trống có cảm tưởng như đứng trong một cái hang lớn, có thể chứa được vài chục người. Đi thuyền ngoài sông, người ta chỉ biết nơi đó có cây đa, lớn nhưng không ai để ý hay ngờ tới đến chỗ vào quá trong bờ sẽ thấy một địa điểm canh phòng cực tốt.

Từ mặt sông trông vào không được vì vướng bụi rậm và cây leo chằng chịt trên rễ đa che kín. Trái lại, người đứng trong bờ vẫn có thể kiểm soát trên mặt sông rất dễ dàng. Trông mặt đất nhẵn lì dưới nơi ba cây đa, bốn tay giang hồ hiệp khách hiểu ngay là người hoặc ở đây, hoặc qua lại khu này không ít.

Phùng Tam nói :

- Ba anh em Cảnh gia vẫn chờ trong cái hang cây này lấy cá. Khi cả ba người cùng chờ, khi một khi hai bất thường.

Trong khi cha con ngư phủ nói chuyện cùng Thiết Xích Tử, Tam hiệp đi dang ra xa tìm vết chân đi :

- Không khó, vết chân người qua lại trong rừng rất dễ thành đường mòn.

Tam hiệp trông thấy ngay. Đường mòn thiệt rõ, cây cỏ bị chà đạp vàng úa, khác hẳn hai bên xanh tốt không dấu chân người.

Không muốn ở lâu, hoặc đi xa hơn nữa, e cha con ngư phủ cho là mình tò mò. Tam hiệp trở về hang cây.

Chu Đức Kiệt nói :

- Nếu ở Kế Giang đầm có một nơi như đây để trú mưa, nắng cũng hay đấy nhỉ.

Lão ngư phủ chép miệng :

- Được như vậy thì còn chi bằng nữa! Tôi vẫn không hiểu vì lẽ gì anh em Cảnh gia ở đây đón cá. Lấy cá xong rồi họ đi đâu? Khám phá ra được cây này từ bao giờ! Kỳ dị quá! Nếu không vì bán cá kiếm lời, cha con tôi cũng đến chịu không dám giao dịch với họ, hay qua lại khu bí ẩn này.

Phùng Tam nói theo :

- Bán cá cho họ đã quen, không hiểu tại sao mỗi chuyến vào đây tôi vẫn cảm thấy rờn rợn thế nào. Nhiều khi anh em họ Cảnh, nhất là người thứ ba Cảnh Đắc Phu, lừ lừ nhìn tôi đến phát khiếp, lạnh cả gáy. Tuy vậy, họ vẫn trả tiền sòng phăng và hiền lành như thường.

Lam Y vẻ mặt nghiêm trọng :

- Thật thế đó. Thấy họ nhìn quá, chị em tôi cũng phát ngán, không biết có dám hàng ngày bơi thuyền vào tận đây trao cá cho họ không? Lỡ xảy ra chuyện bất ngờ thì chết mất.

Âu Dương Bích Nữ nói theo đà Lam Y theo câu chuyện thêm tự nhiên :

- Thôi xuống thuyền đi, đứng đây mãi sợ lắm.

Chu Đức Kiệt cười xòa :

- Nào đi! Nhát như cầy thế, này chắc ai dám tới đây bán cá.

Mọi người xuống thuyền về bến. Gia nhân Trần Đạt lảng vảng gần đó.

Thiết Xích Tử nghĩ thầm để y chờ đó cũng vô ích, bèn ra hiệu cho về.

Lam Y chú ý nhận xét thấy ba người họ Cảnh ngồi trong tửu điếm khác bên kia đường, đang ăn uống với một người trạc tứ tuần.

Nàng đưa mắt cho ba người nhà biết, đoạn thản nhiên theo cha con ngư phủ rẽ vào xóm chài, về nhà họ Phùng.

A Tam vác một cái tháp lớn ra tiệm rượu lấy các món ăn đã đặt sẵn về nhà cúng bái, rồi ngã ra chè chén.

Lam Y sắp đặt chương trình hành động, nên chỉ ăn qua loa mấy miếng :

- Tôi thấy khó chịu muốn nóng lạnh, xin kiếu nhé. Khó chịu từ lúc ở gốc ba cây đa bến nước. Ở đó có ma thiêng chăng.

Cha con ngư phủ tưởng thật định sửa soạn mền gối cho nàng tạm nằm nghỉ.

Âu Dương Bích Nữ biết ý :

- Để tôi đưa hiền tỉ về thành, lỡ đau nhiều còn tiện việc thuốc men.

Chu Đức Kiệt nói :

- Ngu huynh đưa cả hai hiền muội vào thành mới tiện, năm sáu dặm đường lỡ xảy chuyện gì thì sao? Cửu thúc ở lại uống rượu cũng được.

Thiết Xích Tử gật đầu.

- Ờ, các hiền điệt về trước đi.

Lão ngư phủ thật thà lấy vò dầu nóng đưa cho Âu Dương Bích Nữ :

- Cô nương thoa dầu cho lệnh tỉ, rồi hãy ra xe kẻo bị gió. Tiếc quá, bữa tiệc đang vui. A Tam ra gọi xe con.

Lam Y gạt đi :

- Bến xe liền ngay đây, chúng tôi đi được. Lão bá và Phùng đại ca tiếp rượu gia cửu là đủ rồi.

Trên đường vào thành, Chu Đức Kiệt hỏi Lam Y :

- Hiền muội tính chuyện hành động ngay.

Dò được địa điểm của anh em họ Cảnh rồi, chờ làm gì nữa mất công? Nhất quyết ba tên ấy là đồng bọn thủy khấu. Đường mòn ở gốc đa lớn dẫn đến sào huyệt chúng, chắc không sai. Ngu muội giả đau, cốt ý cho cha con họ Phùng tưởng thật để sáng mai khỏi mất thêm thì giờ vào Kế Giang đầm bắt cá với họ, nếu không kịp tổ chức cuộc thám hiểm tìm sào huyệt thủy tặc.

Vào tới Hoàng Hoa phiêu cục, Tam hiệp thuật vụ tìm thấy đường mòn ở gốc đa bên tả ngạn sông Lăng Lý cho vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm.

Trương Tam Nương suy nghĩ giây lát :

- Tam hiệp lập chương trình hành động chưa.

Lam Y nói :

- Hôm nay chúng tôi về sớm cốt bàn luận để sáng mai kịp bắt tay vào việc. Cần phải bao vây, bắt cho hết, đánh một trận bất ngờ tất thành công. Trong những vụ cướp trước đây, thủy khấu hành động thế nào?

- Theo các lời chủ thuyền thì thủy khấu dùng đến bảy, tám chiếc tam bản đón ngay trên khúc sông vắng vẻ, bơi lẹ tới áp mạn thuyền hàng, hạ tiêu sư xong, khuân hết hàng hóa xuống thuyền của chúng, bắt thuyền đánh đi khỏi để tránh lộ liễu, rồi chúng mới tháo lui. Hành động thiệt lẹ làng.

Chu Đức Kiệt nói :

- Chắc ở phía trên địa điểm ba gốc đa còn có một đường nước thông ra bờ sông. Do đường nước bí mật ấy, thủy khấu bơi tam bản ra sông thi hành thủ đoạn, rồi kéo về cả đấy chúng chặt cành cây, bụi rậm lấp lớn ngã ấy đi. Quan thuyền tuần tiễu, hoặc thuyền bè nào khác bơi qua giữa sông còn ai ngờ tới đường nước ấy nữa? Việc đón thủy khấu trên sông không thể không nhờ quan quân được. Đành rằng chúng ta tự lực vào đánh sào huyệt thủy tặc, nhưng đốt pháo hiệu để quan quân ập tới bao vây, đón bắt. Như vậy ta rảnh tay sau trận đánh.

Hoàng Hoa Chiếm gật đầu khen phải :

- Tôi có đi lại giao dịch mật thiết với Trung Quân, vậy tôi vào dinh ngay yêu cầu tiếp tay vụ này.

Lam Y nói :

- Sáng mai, đầu giờ Thìn vào gốc đa, trước hết bắt anh em Cảnh gia, sau đó theo đường mòn tiến sâu vào rừng... Dù sao, vụ đánh thủy tặc đây còn ở trong vòng dự đoán. Hoàng Hoa tiên sinh nên dè dặt khi giao tiếp với quan Trung Quân, sau này họ không trách cứ được ra. Ngoài ra, nên bỏ qua cả việc cha con ngư phủ bán Lý ngư cho ba anh em họ Cảnh. Hai người này không có chủ đích gì cả, ngoài sự bán cá kiếm lời. Chắc Trung Quân không nỡ từ chối.

Âu Dương Bích Nữ mỉm cười :

- Giúp tam quan Trung Quân sẽ đứng đầu lập công bắt thủy khấu, lẽ nào người chối từ? Ba tên Cảnh gia thường đi lại bến sông chắc không ngoài mục đích do thám sự di chuyển thương thuyền. Quan quân tất sẽ điều tra bắt nội cho bọn cho tin tức chúng nữa. Hoàng Hoa tiên sinh nên thận trọng giao ước trưởng với Trung Quân, tránh mọi việc bắt oan những kẻ vô tình ngoài bến.

Hoàng Hoa Chiếm nói :

- Tôi theo lời Tam hiệp lo liệu châu đáo.

Nói đoạn tiêu sư gọi Hoàng Hoa Long, bảo sửa soạn cùng vào dinh Trung Quân, trong khi Trương Tam Nương dọn bữa mời ba anh em Chu Đức Kiệt.

Gần chiều hôm ấy, Thiết Xích Tử mới chuệnh choạng về nhà.

Trương Tam Nương hỏi :

- Hiền huynh không quá chén lộ chuyện cho cha con ngư phủ biết chớ :

- Đời nào có chuyện ấy? Càng uống ngu huynh càng tỉnh, hiền muội khỏi lo.

Sáng sớm hôm sau, Tam hiệp, Thiết Xích Tử, vợ chồng Hoàng Hoa và Hoa Long đai nịt gọn ghẽ đem theo bốn trái hỏa pháo do quan Trung Quân Tần Phúc trao cho, ra bến sông xuống thuyền nhà.

Vừa hay lúc ấy, Hoàng Hoa Hổ cùng hai tiêu sư phụ từ bên ngạn sông phía Giang Tây về tới nơi.

Hoa Hổ ngạc nhiên :

- Song thân đi đâu thế này.

Trương Tam Nương không trả lời, bảo Hoa Hổ đi theo và dặn dò hai tiêu sư phụ về thẳng Phiêu cục xem việc nhà.

Anh em Hoa Long, Hoa Hổ chèo ngược thượng lưu Lăng Lý giang rất lẹ. Trương Tam Nương bảo hai con cho thuyền lướt bên hữu ngạn phòng khi gặp bọn Cảnh gia. Hai tay chèo cứng, thuyền lướt như bay trên dòng nước lác đác ngư chài buông lưới. Vừng thái dương ban sớm chưa đủ sức nóng đánh tan màu sương mờ phủ trên sông mát lạnh heo may. Thuyền vẫn lướt bên hữu ngạn vào khúc sông thuộc phần Hoang Địa, Hoàng Hoa Long hỏi.

Tới chỗ vắng rồi, rẽ qua tả ngạn chớ.

Lam Y đáp :

- Không đại ca cứ chèo thẳng, chừng nào qua địa điểm ba cây đa lớn, đi một khúc nữa sẽ xuôi dòng sang tả ngạn đổ bộ luôn mới lợi thế.

Lát sau Âu Dương Bích Nữ chỉ phía trước :

- Ba cây đa kia rồi! Không hiểu giờ này ba tên họ Cảnh đã tới chưa? Nếu chúng đến rồi đổ bộ thẳng vào gốc đa không nên, e chúng phóng mũi chủy ám hại.

Lam Y suy tính mau lẹ :

- Hồi nãy tôi tính cho thuyền xuôi dòng đỡ phải chèo để tránh tiếng khua nước, đổ bộ êm lẹ vào gốc đa, nhưng tẩu tẩu nói phải, lỡ bọn Cảnh gia đến hang cây sớm, chúng trông thấy ta, trái lại ta không trông thấy chúng là điều bất lợi. Vậy lúc này sang tả ngạn thì vừa. Đổ bộ trước một quãng, len rừng vào đánh úp.

Hoàng Hoa Long đổi tay chèo, lái thuyền sang tả ngạn, chèo nhè nhẹ lên một khúc cách gốc đa chừng hai trăm thước, tìm nơi dễ dàng ghé thuyền vào bờ.

Mọi người nhảy lên đất. Anh em Hoàng Hoa lên sau cùng sau khi tháo bơi chèo đặt nằm vào đáy thuyền, Hoa Hổ liệng cây Lê Hoa thương của chàng cho Trương Tam Nương bắt. Hoa Long kéo ghếch mũi thuyền lên bờ, đoạn cùng Hoa Hổ khiêng bỏ vào rừng cây. Thường nhật, Hoàng Hoa Chiếm và con trai lớn sở trường dùng Phương Thiên Hoa Kích cũng như trường khí dùng trong rừng không tiện, nên bữa nay chỉ riêng mình Hoa Hổ cầm Lê Hoa thương vì chàng bất chợt đi áp tải hàng hóa trở về không kịp đổi khí giới, còn ba người kia đều đem theo đoản kích và đoản thương.

Giấu thuyền xong xuôi, tám người bắt đầu tiến, len lỏi qua rừng cây chi chít. Chu Đức Kiệt đi đầu mở đường, chàng không dám chặt cành rừng cho dễ đi, e tiếng động vang đến gốc đa, Hoàng Hoa Chiếm đoạn hậu.

Chim kêu vượn hót ríu rít từ phía trong vọng ra. Đoàn người tiến thong thả, nhẹ nhàng về phía ba cây cổ thụ.

Hồi lâu độ chừng tới nơi, Chu Đức Kiệt ra hiệu ngừng cả lại, đoạn tiến thêm mươi bước nữa ngồi xuống thấp nhìn qua kẽ lá. Quãng rừng trống trước mặt không có ai. Chiếc thuyền tam bản úp sấp bên gốc đa. Trong hang cây không có bóng người.

Đức Kiệt nghe ngóng cẩn thận, rồi lẹ chân trở bước bảo mọi người :

- Ba tên Cảnh gia chưa tới. Chờ đây bắt chúng hay theo đường mòn tiến vào?

Lam Y nói :

- Chờ đây hơn. Không mất thì giờ là bao nhiêu mà chắc chắn loại trừ được ba tên, rảnh tay hơn.

Ai nấy đều khen phải. Tám người ra khỏi khu rậm tiến vào gốc ba cây đa lớn.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Để ba anh em tôi khởi đầu bắt ba tên họ Cảnh trước. Tôi ghét bộ mặt lấm la lấm lét của chúng lắm. Chu huynh cáng đáng tên Cảnh Đắc Vưu, Lam Y cô muội bắt tên thứ nhì Đắc Thường. Mặc tôi tên thứ ba Đắc Phu. Tên này hay nhìn ngó trân tráo nhất. Các vị lên cây cao núp mình cho dễ xem, mặc bọn tôi ẩn trong bụi cây. Lẹ lên, chúng đến nơi bây giờ đó.

Bốn người, gia đình Hoàng Hoa và Thiết Xích Tử chen mấy cây cao, cành lá um tùm gần đấy, phi thân lên cành núp, trong khi Tam hiệp cũng ẩn vào bụi cây gần chỗ con đường mòn.

Lát sau, quả nhiên có tiếng chân người đi tới thiệt. Họ vừa đi vừa nói chuyện, nói lớn, yên trí rằng không có ai trong chốn hoang lâm.

Lúc chúng ở khúc quanh ló ra chỉ có hai người Cảnh Đắc Phu và một tên lạ mặt.

Đắc Phu nói :

- Chúng đem Lý ngư đến tận đây, đầu mục cứ việc nhận, trả tiền đàng hoàng, chờ chúng đi khỏi hãy đem cá về trại, bữa nay chắc có nhiều cá đấy, đầu mục sẽ có dịp thưởng thức tài sắc hai cô chài lưới xinh đẹp bội phần. Tôi muốn mời họ về làm áp trại phu nhân quá!... Hà... Hà...

Nghe vậy, Âu Dương Bích Nữ nổi giận muốn xé tan xác tên tặc đạo ra làm hai. Chu Đức Kiệt và Lam Y nhìn nàng, nháy mắt ra hiệu. Lam Y chỉ tên đầu mục, đoạn chỉ vào ngực mình ra ý dành phần tên đó. Âu Dương Bích Nữ lắc đầu không chịu.

Cảnh Đắc Phu và đầu mục lúc đó đi ngang ngoài bụi rậm, nơi Tam hiệp đang núp.

Chờ chúng qua hẳn độ chục thước, Âu Dương Bích Nữ lẹ làng như vượn, nhảy vụt ra, tay tả túm đai lưng tên đầu mục kéo văng lại phía sau lăn lông lốc vào bụi rậm. Cảnh Đắc Phu giật mình quay lại chưa nhận được tình hình ra sao, thì đã bị Âu Dương Bích Nữ tay tả túm ngực áo, tay hữu bám vai áo kéo giật xuống vai mình độn mạnh.

Đó là thế Thuận Nghịch Di Sơn. Cảnh Đắc Phu bị hất tung người lên khỏi mặt đất, hai chân chơi vơi chỉ thiên, quật lưng đạch một tiếng xuống đấy, nằm thẳng cẳng ngất lịm.

Âu Dương Bích Nữ còn nương tay, quật cho đủ đau bắt sống. Nếu nàng dùng tay hữu kéo giật xuống, thì Đắc Phu sẽ bị đâm đầu xuống đất gãy cổ chết ngay.

Trong khi ấy, Lam Y và Chu Đức Kiệt đang ngồi gò hai tay tên đầu mục lại. Âu Dương Bích Nữ tháo đai lưng họ Cảnh trói gò y lại, cắt vạt áo nhét đầy miệng xách đến bên chiếc tam bản bỏ cạnh gốc đa.

Anh em Chu gia kéo tên đầu mục vào trong hốc đá.

Mọi người cùng từ trên cây nhảy xuống theo vào.

Tên đầu mục sợ hãi, mặt tái mét, run lẩy bẩy, giương mắt láo liên nhìn từ người nọ đến người kia.

Lam Y rút kiếm kề vào cổ y, nạt :

- Mi muốn sống thì nói thiệt, muốn rụng thủ cấp cứ việc khai mau.

Kiếm sắc long lanh chói mắt, kiếm khí giá băng lạnh người, tên đầu mục nhắm mắt lại, rên rỉ :

- Trăm lạy các vị đại vương con xin nói thật.

- Hai tên họ Cảnh kia đâu?

- Dạ. Thất, bát đại vương ở lại trại, hôm nay đại tiệc ạ.

- Phải chăng, bọn bây vẫn đón cướp thương thuyền.

- Dạ, thưa phải.

- Bây có bao nhiều tên đầu đảng, khai mau! Cửu quái ở đâu?

- Đệ nhất đại vương là Lôi Thông, Nhị Tam là Lôi Quyền, Lôi Chấn. Tứ, Ngũ, Lục là Lư Xích, Lư Hoàng, Lư Thanh. Thất, Bát các vị đã biết, còn Đệ cửu bị bắt nằm ngoài kia. Đó là Cửu quái.

- Chúng lập căn cứ này từ bao giờ.

- Thưa tất cả cùng mới đến chưa được hai tháng ạ.

Lam Y quắc mặt nạt :

- Tên này nói sai. Lôi Chấn ở đây từ trước và đã từng bị trúng thương.

Lam Y liếc nhìn lưỡi kiếm lạnh giá lên má tên đầu mục. Nàng lẹ tay, lưỡi kiếm bên như nước đảo bên nọ, lật bên kia, êm ru khiến tên đầu mục đứng chết cứng không dám cử động, e chỉ sợ sơ suất một sợi tóc cũng đủ đứt da chảy máu.

Y run rẩy :

- Thưa nữ đại vương, con mới đến đây nên không biết trước kia Đệ tam đại vương Lôi Chấn đã ở Hoang Địa.

- Người từ đâu đến đây?

- Con theo Cửu quái đại vương từ miền duyên hải Sán Đầu về hoạt động tại đây được trên hai tháng. Căn cứ trong rừng này đã có sẵn do hai đại vương Nhan Sùng Hoán, Huỳnh Công Quyền thiết lập.

- Hai tên Huỳnh, Nhan còn ở đây không?

- Còn khi Cửu quái đại vương đến đây không hiểu có gì xích mích ba hôm sau, hai bên xung đột, Nhan Sùng Hoán, Huỳnh Công Quyền yếu thế bị hạ sát ngay tại chỗ. Hai tử thi được đem chôn trong rừng sâu. Từ đó mọi người tôn Lôi Thông lên ghế nhất đại vương, và phân ngôi thứ như con đã nói.

Lam Y không hỏi thêm nữa. Nàng hiểu Cửu quái là bọn thủy khấu ngoài duyên hải Sán Đầu do Lôi Chấn dẫn về hoành hành nơi Hoang Địa, thuộc Trường Sa phủ.

Chúng đàn áp Nhan Sùng Hoán và Huỳnh Công Quyền, đoạt căn cứ cho đến nay, Lôi Chấn cậy thế mạnh, biên thơ hăm dọa Hoàng Hoa phiêu cục, báo thù vụ Hoàng Hoa Hổ đâm trúng vai y năm xưa.

Chu Đức Kiệt hỏi đầu mục :

- Từ đây vào trại bọn mi bao xa?

- Thưa độ bốn dặm.

- Đi đường nào?

- Đại vương cứ theo đường mòn này sẽ tới nơi.

Chu Đức Kiệt cắt vạt áo nhét đầy miệng đầu mục.

Lúc đó, Lam Y đã lấy cuộn dây ngoài thuyền tam bản đem vào trói gò tứ chi tên giặc lại. Nàng bảo Chu Đức Kiệt :

- Treo tên này và Cảnh Đắc Phu lên cành cây, lỡ cha con Lão ngư phủ đến khỏi vô tình cắt dây cứu chúng.

- Được lắm, nhưng hiền muội phải lấy dây trói tên Đắc Phu lại kẻo nó rớt xuống thì uổng một tên đại đạo bị bắt sống.

- Tẩu tẩu trói tên kia rồi. Y đã tỉnh.

Nói đoạn, Lam Y xách tên đầu mục ra ngoài hàng cây.

Chu Đức Kiệt tiến đến bên Cảnh Đắc Phu, bảo Âu Dương Bích Nữ đứng gần đó cầm mũi chủy lấy ở túi áo tên đạo tặc.

- Để ngu huynh treo va lên cành đa.

Cảnh Đắc Phu gườm gườm nhìn Tam hiệp. Mắt y đỏ ngầu, căm hờn tột bậc muốn ăn gan uống mật kẻ thù đang lởn vởn trước mắt.

Chu Đức Kiệt cầm mối dây, xách Cảnh Đắc Phu lên khỏi mặt đất :

- Ngươi muốn biết chúng ta là ai hả? Sơn Đông Chu gia Tam hiệp đây. Coi kìa, người vừa nhảy lên cành đa treo tên đầu mục là Lam Y nữ hiệp. Bọn tặc đạo chúng bây chắc đã nghe danh người đó? Còn năm vị là tiêu sư ở Hoàng Hoa phiêu cục, mà bọn thủy khấu các ngươi đang nhằm đánh thương thuyền áp tải trên sông Lăng Lý. Nội nhật, toàn bọn thủy khấu Hoang Địa, sẽ sa lưới quan quân.

Dứt lời, chàng nhằm cành đa cao vót, nơi Lam Y vừa treo tên đầu mục, xách họ Cảnh phi thân lên, buộc lủng lẳng kế bên. Đoạn chàng đáp xuống đất, bảo mọi người :- Nào đi, mời quí vị. Bốn dặm đường trong rừng cây xam chớ không gần đâu.

Thiết Xích Tử đi trước mở đường. Tam hiệp đoạn hậu. Theo đường mòn, đoàn người chia thành ba toán đi cách nhau độ mươi thước. Toán đầu Hoàng Hoa Chiếm, Thiết Xích Tử. Toán nhì, Trương Tam Nương và hai con Hoa Long, Hoa Hổ. Toán thứ ba là Tam hiệp.

Trên cây, những bầy thú thấy người đi vào thì nhớn nhác nhìn theo kêu choe chóe. Con thì đu từ cành nọ qua cành kia lanh lẹ như một hiệp khách phi thiểm tẩu bích đại tài. Còn thì cầm cành nhỏ rung lên rào rào, hoặc gãi đầu, gãi tai nhảy choi choi trên cành cây.

Lam Y nói :

- Bầy hầu này thiệt phiền, đáng ghét quá! Ta đi đến đâu, chúng làm rầm rĩ lên đến đấy. Nếu bọn thủy khấu cho người canh phòng từng chặng. Chẳng cần báo động, chúng cũng biết có người lạ đang tiến vào rừng.

Âu Dương Bích Nữ hưởng ứng :

- Cô muội nói trúng ý. Một phát tên từ bụi rậm hay ngọn cây phóng tới thì có trời cũng...

Nàng chưa nói hết câu, bỗng từ cành cây um tùm cách chỗ mọi người đi độ hai mươi bước, bật lên một tiếng "tách" khô khan, tiếng dây cung bật mạnh.

Lam Y hét :

- Ám tiễn! Nằm xuống...

Không ai bảo ai mà cả tám người cùng lẹ như chớp thụp cả xuống lần đi mấy vòng tránh tên.

Mũi tên bí mật nhằm toán đi đầu.

Tiểu Lữ Bố Hoàng Hoa Chiếm lăn thêm đi hai vòng nữa vừa kịp rút tên bắn luôn hai phát Liên Châu tiễn tuyệt đẹp, nhằm cành cây lá um tùm vừa bật ra tiếng dây cung.

Một người từ sau đám lá ấy nhào xuống cỏ đánh huỵch một tiếng.

Đồng thời một phát tên nữa từ cành cây khác gần đấy bay vút ra nhằm Âu Dương Bích Nữ. Mũi tên chưa tới nơi thì đã bị làn đao Thất Tinh sáng lòe của Chu Đức Kiệt gạt bắn đi.

Hoàng Hoa Chiếm nhảy chồm tới phóng luôn phát tên vào chòm lá ấy. Một tiếng hộc lên vang dội, tiếp theo là một người rớt nhào xuống. Tức thì, Tam hiệp chạy lẹ tới mấy gốc cây lớn gần đó, phi thân lên cành xem xét. Thiết Xích Tử và ba mẹ con Trương Tam Nương cũng hành động theo.

Riêng mình Hoàng Hoa Chiếm đứng lại đưa mắt nhìn khắp nơi sẵn sàng phản ứng. Mọi người tìm kiếm hồi lâu không thấy gì mới nhảy cả xuống đất, đến chỗ hai người vừa trúng tên xem.

Tên thứ nhất bị hai phát gài trúng bụng, hết thở. Tên thứ nhì bị mũi tên xiên ngang sườn còn thở, máu loang đẫm cả áo.

Âu Dương Bích Nữ lượm lấy hai cây cung, lựa một cây tốt đeo lên vai và lấy hai ống tên dồn làm một :

- Tiếc quá, không đem theo cung tên. Trông Hoàng Hoa tiên sinh bắn lối Liên Châu Nhị Độ tuyệt đẹp.

Chu Đức Kiệt nói :

- Chúng tôi nhớ đến chuyện trang môn xạ kích tại Trương gia trang.

Trương Tam Nương cười tủm tỉm :

- Chà! Chuyện từ mấy chục năm trước rồi mà! Chưa có Hoa Long, Hoa Hổ. Và chúng tôi còn nhỏ dại, Âu Dương muội thì chưa chào đời.

Hoàng Hoa Chiếm hỏi :

- Tam hiệp ưa môn xạ tiễn.

Thiết Xích Tử rút bầu rượu ra tu một bụm, đoạn nói :

- Ngu huynh chưa nói cho hiền đệ biết ư? Họ Âu Dương toàn là tay thần tiễn, mà Chu gia thì phóng Liễu Diệp đao như chớp cả đấy. Chúng ta không nên tiến theo đường mòn lộ liễu quá. Đi lẫn vào cây lá thì hơn.

Trương Tam Nương phản đối :

- Tinh trí là hơn cả. Len lỏi vào bụi rậm lỡ bị độc xà thì sao? Trong rừng thiếu gì giống thú nhỏ nguy hiểm ấy.

Lam Y nói :

- Theo đường mòn, nhưng tới nơi nào có loài hầu nên chú ý. Thế nào cũng còn chặng canh phòng chớ chẳng không. Quý vị tiến đi! Chia thành ba nhóm như vừa rồi lợi hơn.

Tám người lại bắt đầu tiến. Lần này, ai nấy đều chú ý đề phòng. Mỗi khi gặp khúc đường nào đáng ngờ, đoàn người lần vào bụi rậm nghe ngóng động tĩnh, chắc chắn không có phục binh mới đi nữa. Tới một quãng rẽ sang phía tả, tiếng hầu lại ríu ít, chí chóe gần đâu đó trong rừng cây. Tam hiệp đi sau cùng ngừng bước nhận xét, thì toán tiên phong Hoàng Hoa Chiếm, Thiết Xích Tử cũng vừa khoát tay ra hiệu, bảo mọi người lần vào mé bụi rậm. Tám người dồn vào sau một khóm xiên lớn kiểm soát cả hai khúc đường mòn. Ngay nơi rẽ, phía trước mặt có tới trên mười gốc trám lớn rải rác.

Tiếng hầu vọng ra từ hai cây trám đâu đấy.

Lam Y nói nhỏ :

- Hơn mười gốc trám mà chỉ hai cây có bầy hầu, lạ quá.

Dứt lời, nàng lần sau các bụi cây, tiến hẳn tới khúc quẹo.

Mọi người theo sau. Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ đi sát hai bên Lam Y. Tam hiệp núp sau khóm cây găng, quan sát từng cây trám một.

Bỗng Lam Y chỉ tay về hướng cây trám thứ năm lớn hơn cả :

- Giống trám làm gì có mớ rễ dài như rễ đa buông thõng gần thân cây thế kia.

Trương Tam Nương đứng sau lưng nàng nói :

- Coi mớ rễ ấy giả tạo quá, nói là chiếc thang dây thì đúng hơn.

Âu Dương Bích Nữ gật đầu :

- Thang dây thiệt đó. Có vết chằng ngang kia kìa. Chúng dựng chòi ở chẽ cây.

Lam Y nói :

- Để tôi ra dụ xem, nếu có chòi tất có người. Thấy một mình tôi, chúng phải xuống chớ không bắn.

Hoàng Hoa Long cản :

- Nếu vậy. Bất tất phải Nữ hiệp hành động, tôi ra chúng cũng lộ diện uy hiếp.

- Cũng được. Nhưng đại ca thấy chúng xuống đủ rồi, thì khoát tay tả ra hiệu, nhảy lánh ra xa để bọn tôi xử trí.

Nàng nhìn vợ chồng Hoàng Hoa như muốn hỏi ý kiến. Hai người gật đầu đồng ý, Lam Y lùi bước, bảo Hoàng Hoa Chiếm :

- Tiên sinh cũng có tên đứng lên đây, ngang hàng với gia tẩu, lỡ cần bắn thì tiện hơn.

Hoàng Hoa Chiếm gật đầu, đứng vào chỗ của Lam Y, kế bên Âu Dương Bích Nữ. Hai người tìm chỗ trống, sẵn sàng phát tên. Hoàng Hoa Long cầm đoản kích toan ra khỏi bụi rậm, thì Thiết Xích Tử đã tháo thiết xích cầm tay bảo :

- Hiền điệt mặc ta.

Dứt lời, Thiết Xích Tử đi trở lại chỗ cũ rồi mới vòng ra đường mòn, vừa đi vừa mở nút bầu rượu tu ừng ực mấy hơi, đoạn chùi mép nói một mình :

- Chà! Khát khô cả cổ. Khu rừng quái ác này không có lấy một tửu điếm.

Bầy hầu ở hai cây trám hàng đầu, thấy người lạ đi qua đường, chí chóe xô ra nhìn.

Thiết Xích Tử cố ý đi loạng choạng sang mé các cây trám.

Quả nhiên, cành lá thứ năm rung chuyển.

Một tiếng tách khô khan bật lên.

Thiết Xích Tử thừa sức nhìn thấy mũi tên bay bút tới cắm phập xuống đất cách vài thước ngay trước mặt.

Ba người trang phục y hệt hai tên đầu mục bị trúng thương ở chặng thứ nhất, nối nhau từ trên cây tuột thang dây xuống đất.

Chúng đeo đoản đao, rút cung tên chìa về phía Thiết Xích Tử.

Một đứa quát :

- Lão kia đi đâu? Vào đây bằng lối nào.

Thiết Xích Tử giả đò giật mình, đờ người ra nhìn, đoạn tiến về phía đó.

Tên nữa quát :

- Ngừng tiến ngay và trả lời kẻo ta bắn lủng tim ra bây giờ.

Thiết Xích Tử gật gù nhìn ba tên đầu mục :

- Ô hay! Đường này đâu phải cấm địa, ai có chân khắc đi, sao cấm đường ta?

- Lão này gàn bướng! Do thám gì trong này! Nói mau.

- Các người hay chửa! Thấy bờ thì lên, thấy đường thì đi, đói meo bụng đây. Ai hảo tâm, vui lòng chỉ lối tửu điếm, ta cảm ơn vô cùng! Ồ, nhưng các người sao lại ở trên cây? Làm gì trong rừng vậy.

Nói đoạn, Thiết Xích Tử nghiêng mình dòm lên chòi lá dựng ở chẽ cây.

Từ chòm lá trám, một tiếng quát vang lên :

- Không nói nhiều, bắt trói tên lão hủ này giải về trại mau.

Từ trong bụi găng, mọi người thấy một tên diện mạo dữ tợn, râu quai nón lưng đeo cung tên, tay cầm đoản đao, tuột thang dây xuống đất.

Lam Y nói :

- Chúng có bốn người thôi. Thằng này đầu bọn.

Âu Dương Bích Nữ bảo Hoàng Hoa Chiếm :

- Tiên sinh nhằm tên thứ nhì, tôi tên thứ nhất, bắn rớt cung chúng nhé.

Hoàng Hoa Chiếm gật đầu.

Hai cây cung do hai tay thiện xạ hữu danh giương tròn như vàng nguyệt đầu tháng.

"Tách!..."

Hai mũi tên cùng phát một lúc chớp nhoáng, trúng đích đánh văng hai cây cung do bọn thủy tặc đang cầm lăm lăm chĩa vào Thiết Xích Tử.

Lẹ làng, Âu Dương Bích Nữ phát luôn mũi tên thứ nhì cắt đứt mối khăn đầu rìu buộc ngược trên trán tên thứ ba.

Không để mất thì giờ, Thiết Xích Tử chồm tới gần tên râu quai nón, vung tay một cái. Thiết Xích Tử vút ra như làn tử điện.

Choang! Thanh đoản đao buột khỏi tay tên nọ văng ra xa, khiến y đau buốt, ôm ban tay nhắn nhó lùi lại mấy bước.

Cơ sự chỉ xảy ra trong chớp mắt. Bốn thủy khấu chưa kịp hành động thì đã bị tám vị nam nữ hào kiệt bổ vây chung quanh. Thiết Xích Tử trừng mắt, dữ dội.

- Bây biết điều hạ khí giới kẻo mất đầu.

Tam hiệp mặc mọi người bắt trói bọn tặc đạo tra hỏi, rủ nhau nhảy lên chòi lá lục xét.

Chòi lợp lá gồi, lót ván đủ rộng cho mấy người nằm. Ngoài mấy bầu nước, rượu và mấy thứ thực vật, mền bông, không có gì khác cả. Chu Đức Kiệt nói :

- Bốn tên này có phước hơn đồng bọn của chúng. Nằm đây chờ quan quân tới lấy đi còn êm ấm hơn bị treo lên cành cây hay bị tên gài vào người.

Tam hiệp xuống cây. Bọn đầu mục đã bị trói gò tứ chi lại.

Hoàng Hoa Chiếm hỏi :

- Trả chúng về chòi chứ?

Lam Y nói :

- Tiên sinh tra hỏi chưa? Nếu rồi thì xin cứ việc.

- Rồi.

Gia đình Hoàng Hoa Chiếm bèn xách bọn đầu mục nhảy lên cây liệng vào chòi lá trong khi Thiết Xích Tử nói chuyện với Tam hiệp.

Từ đây vào đến sào huyệt chúng chỉ còn hơn dặm đường và không còn chặng canh phòng nào nữa.

Chu Đức Kiệt nói :

- Biết đâu chúng không trí trá như tên đầu mục bị treo ngoài cây đa! Tên ấy có đả động đến việc canh phòng trên cây đâu! Nhưng không sao việc đề phòng là bổn phận của chúng ta. Còn điều này nữa. Mỗi khi "ăn hàng" trên sông cũng làm tiệc sẵn để về sào huyệt nhậu nhẹt. Bữa tiệc hôm nay cùng một tính chất.

- Nghĩa là hiện thời bọn Cửa quái không ở sào huyệt.

- Đúng vậy, nhưng không biết chúng đi vào giờ nào. Mong rằng chúng đi rồi.

Chu Đức Kiệt nói :

- Nếu vậy Cửu quái sẽ đụng độ với quan quân.

- Và ta có thể đón đường đánh tập hậu khi chúng tháo lui về sào huyệt.

- Cứ tiến xem sao, không liệu trước được.

Đoàn anh hùng, nữ kiệt tiếp tục tiến theo đường mòn. Đến lúc mặt trời đứng bóng thì vào ới một khu gò cao, cây cối bị phát quanh, quanh đãng. Trên gò, nhiều mái tranh rộng rãi. Chung quanh gò đất có hào nước khá rộng. Bờ hào bên trong là bức tường dựng bằng cây, đầu vót nhọn.

Ba bốn tên thủy đạo đứng canh phòng nơi cổng ra vào đóng kín. Ở bờ hào gần cổng, cột mươi chiếc thuyền vừa độc mộc, vừa tam bản, lớn nhỏ đủ cỡ. Điếu kiều bắc qua hào vào đến chân gò. Một lạch nước rộng độ hơn trượng ăn thông với hào chảy vuột vào rừng cây phía hữu.

Tám người bỏ đường mòn đi len vào các khóm cây tiến tới khu chính giữa đối diện với cổng trại, cách điếu kiều độ năm trượng.

Trên cổng trại có vọng canh. Bọn lâu la vác giáo đi đi, lại lại từ vọng canh tản ra hai bên bức rào cây kiên cố.

Lam Y nói :

- Bọn thủy khấu này khôn khéo thật, quý vị trông cách thức lập sào huyệt của chúng đủ hiểu. Không nhờ cha con ngư phủ, bọn ta vào sao được nơi đây.

Trương Tam Nương đáp :

- Chúng có óc kiến thiết cực hay mới lập nổi nơi căn cứ gọn gàng tiện lợi như vậy. Tỉ dụ với khu doanh trại kia, chúng khai thác các nguồn lợi lâm sản trong vòng năm năn có thể giàu có rồi, không cần phải hành nghề lục lâm đại đạo.

- Tiếc rằng chúng dùng trí óc tinh khôn ấy không hợp chỗ lắm.

Hoàng Hoa Long đứng bên Chu Đức Kiệt nói :

- Không ngờ lại có nước vào tận trong này.

Đức Kiệt lắc đầu :

- Đó là cả một chương trình trùng tu, không thiên nhiên đâu. Trước hết chúng đào hào cải biến ngọn đồi thấp ấy thành đảo. Để có nước và đường ăn thông ra sông Lăng Lý, chúng đào luôn con lạch lấy nước sông vào. Muốn tránh sự dòm ngó của mọi người qua lại trên sông, chúng dùng cây cối lấp miệng lạch tiếp giáp với sông là xong chuyện. Khu này hoang vắng, tả hữu ngạn đều là rừng hoang, thuyền bè qua lại thường đi ở giữa sông phòng sự bất trắc, không ai bơi thuyền sát bờ nên không thể nào thấy rõ được. Tâm lý lắm. Mỗi chuyến "ăn hàng", chúng chở thẳng về đây vào miệng lạch lại như cũ tiện lợi vô cùng. Thường ngày muốn ra sông thám thính chẳng hạn, cũng không khó khăn. Dùng tam bản nhỏ hay độc mộc ra tới đầu lạch, kéo thuyền lên bờ lạch rồi thả ra Lăng Lý giang.

Hoàng Hoa Long nói :

- Nếu vậy từ chỗ ba cây đa lớn đến đầu lạch chắc không xa mấy?

- Xa chớ! Tính theo phương hướng thấy ngay. Con đường mòn dẫn từ gốc đa vào tới đây vằn vèo và có một khúc rẽ thước thợ, nơi bốn đầu mục canh phòng trên chòi lá đó. Khúc rẽ ấy đổi hẳn hướng đi. Chúng ta phải qua một đoạn trên năm dặm đường len lỏi mới vào tới đây. Con lạch kia theo hình thế rẽ quạt ngược với hướng của ta đi.

- Vậy từ gốc đa sang tới đầu lạch không khác gì chiếc quạt mở rộng mà chốt quạt là gò đất kia. Hai nơi có thể cách nhau mươi hoặc mười lăm dặm, đúng với khúc sông thường xảy ra những vụ cướp thương thuyền. Đại ca nghĩ phải không?

Hoàng Hoa Long gật đầu :

- Đại hiệp dẫn giải rõ ràng, hợp lý.

Thiết Xích Tử hỏi :

- Hành động thôi chớ! Vào lối nào.

Âu Dương Bích Nữ đáp :

- Lối nào thì cũng có lâu la canh phòng, chỉ bằng vào ngay cổng trước. Chúng chịu mở cổng càng hay, trái lại cứ tấn công bừa vào. Căn cứ vào những nóc nhà trên gò kia, bọn tặc đạo không đông quá hai trăm kể cả đầu lãnh lẫn lâu la. Chưa biết chừng không đủ số người ấy ở nhà vì chúng còn bận đi "ăn hàng" ngoài sông.

Lam Y nói :

- Đồng ý với tẩu tẩu. Quý vị ai có ý kiến gì hay hơn không.

Mọi người đều ưng thuận.

Chu Đức Kiệt nói :

- Ta trở ra đầu đường mòn kia hãy tiến tới có vẻ tự nhiên hơn.

Tức thì, đoàn người trở bước và đi ra đường mòn dẫn thẳng tới điếu kiều.

Mấy tên lâu la thấy người lạ tới, liền quát hỏi :

- Bọn người nào kia! Đứng lại.

Chu Đức Kiệt tiến lên mấy bước :

- Chúng tôi là đoàn liệp hộ ở bến sông do đệ cửu đại vương nhắn về đây có việc.

Bọn lâu la nghi ngờ :

- Đệ cửu đại vương tên gì? Có nhắn gì không?

- Tên Cảnh Đắc Phu. Đại vương đi với một đầu mục nữa đón chúng tôi ở ngoài gốc đa. Người dặn rằng sẽ đem cá Lý ngư về và muốn biết các vị đại vương đã khởi sự ra sông chưa mà để người chờ mãi.

- Dọc đường có gặp gì không?

- Có, các đại ca đầu mục canh phòng chỉ đường cho chúng tôi vào tới đây.

Một tên trang phục ra kiểu địa đầu mục lên tiếng :

- Không nói lôi thôi! Các người vào được tới đây tất biết khẩu hiệu. Hãy nói ta nghe.

Lam Y nữ hiệp nói nhỏ với mọi người :

- Chúng không báo cho đầu lãnh và gạn hỏi mãi thế này tức là Cửu quái không có nhà. Tiến thôi.

Tám người chưa tiến được ba bước đầu mục trưởng đã quát :

- Đứng lại kẻo ta bắn.

Từ trên vọng lâu và mặt rào cây, có tới hơn hai mươi cung thủ nhô lên chĩa cung tên vào hướng tám người.

Lam Y nói nhỏ :

- Hoàng Hoa tiên sinh, và tẩu tẩu bắn đi.

Tức thì, lẹ như chớp, hai người dùng lối "Tam Hóa Liên Châu" phát luôn sáu mũi tên trúng vai sáu lâu la, trong đó có cả tên trưởng đầu mục.

Bọn trúng thương té nhào ra phía trong. Mười tám tên còn lại bắn trả đũa. Nhưng Lam Y, Chu Đức Kiệt, Thiết Xích Tử và Trương Tam Nương và Hoa Long, Hoa Hổ đã vung tròn khí giới gạt tên chạy ùa vào, nhảy qua rào.

Âu Dương Bích Nữ, Hoàng Hoa Chiếm bắn mấy loạt liên châu. Không định sát hại nhiều nên ha người chỉ nhằm vai đối phương. Bọn cung thủ bị thương hết, không sót một tên nào. Tiếng đồng la báo động gõ vang trong trại giặc.

Bốn tên cản ngoài cổng thấy tám người hung mãnh quá, không dám giao đấu, vội chạy vào trại đóng cổng, nhưng Trương Tam Nương, Hoa Long, Hoa Hổ phóng ba bước đuổi kịp, đạp cổng kéo ồ vào trại. Đồng thời, Lam Y, Chu Đức Kiệt phi thân lên vọng lầu.

Thiết Xích Tử nhìn qua mấy chiếc thuyền neo ở bờ hào không thấy có người, bèn cùng Hoàng Hoa Chiếm ùa vào cổng trại theo Trương Tam Nương.

Âu Dương Bích Nữ chạy tạt sang bên, phi thân lên đầu cây nhọn, đứng chênh vênh như con phượng hoàng. Bên trong có sàn gỗ rất chắc chắn. Bốn lâu la xông tới hươ giáo đâm.

Âu Dương Bích Nữ quát :

- Bọn bây còn chờ gì nữa, hàng đi cho rồi.

Muốn làm đối phương hoảng, nàng múa tròn Trảm lư trường kiếm một vòng. Bốn ngọn giáo địch bị tiện cụt văng xuống đất.

Nàng thét :

- Coi ta lấy thủ cấp.

Bọn lâu la hoảng hốt bỏ chạy, rùng rùng kéo xuống bậc thang.

Lam Y, Chu Đức Kiệt từ trong vọng lâu chạy ra.

Đức Kiệt nói :

- Mấy tên canh phòng chạy hết rồi, ta xuống giúp mấy người ở dưới đi.

Tam hiệp trở vào vọng lâu nhằm đám lâu la đang reo hò bổ vây năm người ở gần cổng trại, nhảy bừa xuống như ba hung thần, dùng bảo đao, báu kiếm lia vùn vụt mấy vòng tiện đứt đôi binh khí đối phương rớt loảng xoảng.

Bọn lâu la dù hung hăng và đông, địch sao nổi tám vị anh hùng kiệt liệt ấy. Tuy vậy chúng cố bám.

Hoa Long, Hoa Hổ tức mình đâm cho mươi tên vào bắp đùi, máu chảy lênh láng, rên xiết, lăn ra mặt đấy, chúng mới hoảng sợ toan bỏ chạy. Nhưng tám người đã bổ vây chung quanh.

Hoàng Hoa Chiếm nói lớn :

- Bọn bây khôn hồn, liệng khí giới đầu hàng, cưỡng lời thì đừng có trách anh em ta không nhân từ, nghe.

Bọn lâu la sợ hãi len lét nhìn nhau liệng khí giới xuống sân.

Hoàng Hoa Chiếm hỏi :

- Tên nào làm đầu mục trưởng ra đây.

Một tên khỏe mạnh trạc ba mươi tuổi tiến lên thưa :

- Đầu mục trưởng thủ trại bị trúng tên nằm trong nhà. Con là phụ.

- Ngươi tên chi?

- Tiền Bái Cước ạ.

- Bọn Cửu quái đầu lãnh đi đâu? Và từ bao giờ?

- Thưa... đi ra sông từ cuối giờ Tỵ. Đi được độ hơn khắc canh thì quý vị tới đây.

Hoàng Hoa Chiếm bảo hai con :

- Điệu mấy tên đi lấy dây về đây.

Tức thì, Hoa Long, Hoa Hổ, điệu Tiền Bái Cước cùng mấy tên khác vào kho hàng lấy dây ra trói bọn lâu la lại. Riêng Tiền Bái Cước được tự do hướng dẫn mọi người đi xem trại.

Toàn khu thiệt ngăn nắp, Bốn cổng ra vào đều có vọng lâu tiện việc canh phòng. Trại lâu la, kho lương thực, đại sảnh, hậu phòng, võ sảnh đây vào đấy, gọn gàng sạch sẽ. Trong bếp thực vật ngổn ngang.

Chu Đức Kiệt hỏi Tiền Bái Cước :

- Bọn ngươi làm gì mà ăn tiệc hôm nay vậy?

- Thưa, mỗi chuyến "ra sông" đệ nhất đại vương Lôi Thông đều có thói quen ăn tiệc lúc trở về.

- Chúng đi bao nhiêu chiếc thuyền? Bao nhiêu người?

- Hôm nay có mười lăm thuyền, tám đầu lãnh và sáu chục quân.

Lam Y ngạc nhiên :

- Sáu chục quân? Mười lăm thuyền cỡ nhỏ chở vừa đủ số người ấy, cướp được hàng hóa, chở bằng gì?

- Thưa, dùng toàn thuyền cỡ trung bình. Trong số sáu chục người, chỉ có ba hay bốn chục theo các đại vương ra sông, còn thì núp cả trên bờ, nơi đầu lạch nước tiếp xúc Lăng Lý giang.

- Hai tên Nhan Sùng Hoán, Huỳnh Công Quyền bị Cửu quái hạ sát chôn ở đâu.

Tiền Bái Cước giật mình không hiểu tại sao bọn lạ mặt này biết nhiều chuyện thế? Y chỉ tay ra hướng rừng phía Nam :

- Chôn ở ngoài rừng kia.

Thấy trong trại, không có gì đáng chú ý, mặc cho quan quân sau này tùy nghi sử dụng. Chu Đức Kiệt bàn với mọi người việc xuống thuyền rượt theo tặc khấu sa sông.

Ai nấy đều đồng ý.

Lam Y nói riêng với Thiết Xích Tử :

- Không thể bỏ trống trại giặc được, lỡ xảy ra nhiều điều bất trắc. Vậy nhờ tiên sinh lãnh trọng trách ở lại đây. Nếu xảy ra việc gì lớn, xin đốt pháo hiệu.

Thiết Xích Tử cười vang :

- Nữ hiệp bàn trúng ý tôi. Trước hết theo giặc ra sông, trận đánh cần "thủ công" nhiều hơn không thích hợp với bản chất sợ nước của tôi. Sau nữa, tuy lãnh trách nhiệm coi trại, Trương mỗ này cũng không ngồi rỗi. Rượu thịt ê hề thế kia ai dùng? Tôi sẽ châu đáo, Nữ hiệp an tâm.

Hoàng Hoa Chiếm đưa hai quả pháo hiệu cho Thiết Xích Tử :

- Đại huynh liệu mà uống nhé, kẻo bị thuốc mê.

- Khỏi lo! Khỏi lo! Mặc ngu huynh, đi đi cho kịp. Bọn thủy khấu này ngày tận số nên lựa đúng ngày quan quân bao vây, hai đầu sông cướp. Chẳng chóng thì chầy, nhưng kẻ gian không khi nào thoát khỏi tử lộ.

Mọi người ra khỏi trại xuống thuyền tam bản, Tam hiệp xuống riêng một thuyền đem theo Tiền Bái Cước đi trước, Hoàng Hoa Chiếm và Hoa hổ chung một thuyền, bơi sau. Trương Tam Nương, Hoa Long chung thuyền đi giữa. Âu Dương Bích Nữ chỉ mặt Tiền Bái Cước :

- Từ đây ra đến đầu lạch có nơi nào canh phòng nữa không?

- Thưa canh phòng ngay ngoài đầu lạch. Suốt dọc lạch không có chặng nào hết.

- Ngươi dối trá sẽ mất thủ cấp đó.

- Con không dám nói sai.

Lạch nước rộng tới hơn một trượng. Hai bên cây cối chằng chịt. Ba con thuyền len lỏi dưới chòm cây tiến lẹ. Mái chèo khua nước bì bõm.

Độ hơn sáu dặm đường, Chu Đức Kiệt hỏi Tiền Bái Cước :

- Chừng nào sắp tới đầu lạch, phải nói nghe.

- Dạ, còn một khúc nữa, đến chỗ cây đa lớn bên tả lạch thì chỉ cách đầu lạch độ trăm thước.

Nghe vậy, nhưng Tam hiệp không tin, để ý hai bên rừng, cây cối bụi rậm chặt phá thưa hẳn đi.

Âu Dương Bích Nữ ghé tai Chu Đức Kiệt nói thầm :

- Hiền huynh lên bờ trước, coi chừng sắp tới đầu lạch. Đáng nghi lắm.

Chu Đức Kiệt gật đầu đưa mái chèo cho Lam Y, đoạn nhảy lên bờ bên tả ngạn.

Giữa lúc đó, Tiền Bái Cước mắt le mày lét, chờ Chu Đức Kiệt nhảy lên bờ rồi, y liền nhảy xuống nước bơi hai, ba sải vào bờ hữu ngạn.

Âu Dương Bích Nữ giương cung bắn, nhưng Lam Y ngăn lại :

- Tẩu tẩu chờ y lên bờ hẳn đã.

Âu Dương Bích Nữ hiểu ngay là nếu bắn Tiền Bái Cước ở dưới nước xác y sẽ trôi theo dòng ra ngoài đầu lạch vì lúc ấy nước đang rút ra sông.

Tiền Bái Cước leo vội lên bờ tưởng thoát thân, chạy ra phía ngoài báo đồng bọn. Dè đâu, chưa chạy được ba thước, thì Âu Dương Bích Nữ đã gài luôn cho một phát tên xiên qua bắp vế. Y kêu dội lên một tiếng té lăn ra đó quằn quại, không chỗi dậy được nữa.

Thuyền của Trương Tam Nương và Hoa Hổ tiến tới.

Lam Y vẫy Hoa Hổ sang thuyền mình, trao mái chèo mà rằng :

- Đại ca chèo cầm chừng thôi. Chúng tôi lên bờ xem tình hình thế nào. Sắp tới đầu lạch mà khúc kia quẹo, trông không suốt.

Dứt lời, Lam Y cùng Âu Dương Bích Nữ nhảy lên bờ bên hữu, tiến lẹ ra phía ngoài.

Quả nhiên, tới khúc quẹo bên tay tả, Tam hiệp ở hai bên bờ trông thấy ngay hai chiếc tam bản neo cả bên tả ngạn.

Gần đó, trên một chẽ cây lớn, có chiếc chòi canh không người.

Những cành lá che lấp đầu lạch, đã được kéo hết lên bờ bên tả và ngay gần đồng cành lá ấy, hơn mười tên thủy tặc đang đứng sau bụ cây mải miết nhìn ra sông.

Lam Y, Âu Dương Bích Nữ thấy hữu ngạn không có gì, bèn phi thân qua lạch sang tả ngạn. Nơi Chu Đức Kiệt núp sau gốc cây chờ.

Ngoài Lăng Lý giang có tiếng gươm đao chí chát.

Đức Kiệt nói :

- Quét lẹ bọn này đi, rồi ra sông, chắc chúng đang đánh thương thuyền. Tam hiệp liền chạy bừa tới chỗ lũ lâu la đang đứng nhìn ra ngoài sông. Bọn chúng nghe tiếng lá khô lạo xạo dưới chân của ba người đều giật mình quay lại.

Tức khắc, chúng rút đao, hò nhau vây đánh, nhưng đâu phải là địch thủ của ba người ấy, nên chỉ trong chốc lát, mấy làn đao, kiếm hoa lên loang loáng, toàn bọn mười ba tên giặc đã trúng tử thương, tên la ngổn ngang trên mặt đất.

Ba thuyền sau lướt nhẹ đến nơi.

Lam Y nói lớn :

- Chúng đang sát phạt ngoài sông. Các vị ra trước đi, chúng tôi theo ngay. Có thuyền đây rồi.

Nàng cầm tay Âu Dương Bích Nữ xuống một tam bản neo bên bờ, nhường chiếc kia cho Chu Đức Kiệt.

Hai thuyền bơi lẹ ra đầu lạch. Những cành lá rà xuống gần mặt nước cũng đủ che khuất con lạch. Tam hiệp rẽ lá, bơi thuyền vùn vụt theo đoàn thuyền của Hoàng Hoa.

Ngay giữa dòng Lăng Lý, hai chiếc thương thuyền lớn đang bị các thuyền thủy tặc bao vây. Thủy tặc áp mạn, bọn đầu lãnh Cửu quái đang sát phạt với ba tiêu sư trấn thương thuyền.

Ba người này yếu thế lùi dần ra phía mũi thuyền, ý muốn nhảy xuống nước, nhưng bị theo riết và hai mặt thọ địch khó thoát.

Lam Y hô lớn gọi Hoàng Hoa Chiếm :

- Có lẽ quân thuyền chặn ở hai đầu, tiên sinh nổ pháo hiệu cho họ biết đường lối.

Hoàng Hoa Chiếm đốt sẵn bùi nhùi, tức khắc châm ngòi hai pháo hiệu liệng lên trên không. Hai tiếng nổ liên tiếp đinh tai vang động khắp vùng. Bọn thủy khấu đang đắc ý sát phạt nhau đều giật mình nhớn nhác, tưởng quan quân tới. Nhưng chúng nhận định ra ngay năm chiếc tam bản từ phía lạch nước bơi ra, lèo tèo chiếc một người, chiếc hai người.

Chúng không hiểu tại sao bọn bảy người này lại ở trong lạch bơi ra được. Căn cứ bí mật trong rừng bị đánh chăng.

Không lẽ nào như vậy được. Chúng vừa rời căn cứ không bao lâu, và cũng vừa mới áp mạn đánh thương thuyền.

Năm con thuyền do những cánh tay mạnh mẽ chèo đang lướt lẹ tới.

Đại đầu lãnh Đệ nhất quái Lôi Thông cầm cương thoa hô lệnh :

- Lư Xích, Lư Hoàng. Hai hiền đệ cùng quân nhà cứ việc áp đảo hạ bọn tiêu sư, đoạt thương thuyền. Mọi người khác theo ta.

Dứt lời, Lôi thông nhảy phắt về thuyền tam bản của y cập bến thương thuyền, lanh lẹ dị thường. Lôi Chấn, Lôi Quyền, Lư Thanh, Cảnh Đắc Vưu, Cảnh Đắc Thường nhảy theo cả xống, mỗi người một thuyền có đầu mục cầm chèo. Sáu chiếc khấu thuyền chia làm hai, bơi vùn vụt đến đón năm chiếc đang tới. Bọn tặc khấu vận toàn thủy phục dễ bơi lặn, sử dụng hoặc cương thoa hoặc giáo sắt.

Lôi Chấn nhận ra Hoàng Hoa Hổ, la lớn :

- A, bọn Hoàng Hoa phiêu cục! Chúng cứu cánh cho đồng bọn.

Cùng lúc ấy, anh em Cảnh Đắc Vưu, cũng nhận ra Tam hiệp.

Cảnh Đắc Thường la lớn :

- Có cả ba anh em tên đánh Lý ngư! Được lắm! Bây sẽ chết vì miệng cá nghe? Còn hai tặc nữ kia, bộ muốn làm áp trại phu nhân sao.

Lam Y lặng lẽ lái thuyền đâm thẳng vào thuyền Cảnh Đắc Vưu.

Muốn nạt y, Âu Dương Bích Nữ giương cung bất chợt bắn một phát tên cắm ngay vào sân thuyền sát bên bàn chân hữu Cảnh Đắc Vưu. Tên thủy khấu giật mình vội co chân lại, thì một mũi tên khác đã vút tới cắt đứt mối khăn đầu rìu buộc ngược đầu y. Chiếc khăn tung ra, rớt xuống nước cùng với mũi tên. Tóc Cảnh Đắc Vưu xõa trùm xuống gáy.

Âu Dương Bích Nữ cười lớn :

- Cảnh Đắc Vưu! Ta tha chết cho ngươi hai lần, thấy không? Đáng lẽ ngươi bị thủng mắt rồi đó.

Đắc Vưu quắc mắt thét :

- Nữ tặc, có giỏi thủy chiến với ta trăm hiệp này.

Âu Dương Bích Nữ rút tên gài lên dây cung, giương tròn nhằm mặt Đắc Vưu:

"Tách".

Tiếng bật dây khô khan, Đắc Vưu vội né sang bên.

Cùng lúc ấy, Lam Y nữ hiệp nhảy vút sang thuyền địch, nhằm ngực họ Cảnh thúc một mũi trường kiếm.

Thiệt ra, Âu Dương Bích Nữ chỉ bật dây cung không, bắt buộc Đắc Vưu phải tránh né. Vốn đã thuộc lối hành động của nhau, Lam Y nhìn Âu Dương Bích Nữ thấy nàng nháy mắt thì hiểu ngay, nhảy sang thuyền thủy khấu áp đảo.

Mũi Thái Dương kiếm xẹt như chớp nhoáng đâm thẳng vào ngực Đắc Vưu. Biết lợi hại, tên này nhảy lùi lại cuối thuyền né khỏi, và đâm trả một dáo.

Nói về Hoàng Hoa Hổ và Đệ tam quái Lôi Chấn gặp nhau.

Cựu thù gặp nhau, Lôi Chấn hô đầu mục tiến thuyền sang phía đối thủ chỉ mặt Hoa Hổ mắng :

- Hai năm nay ta đi vắng, và mong chờ giây phút này báo thù.

Hoa Hổ chèo mạnh hướng thuyền về phía Lôi Chấn rồi buông chèo gác lên thuyền, cầm thương ra đầu mũi :

- Lôi Chấn! Chuyến này ta nhằm bụng nghe.

- Ngươi quên rằng đây là thủy chiến sao? Tử địa của ngươi đó.

Hai thuyền gần giao mũi.

Một bên tiêu sư, một bên thủy khấu, cả hai đều đứng ở mũi thuyền hầm hè giao đấu. Hoa Hổ cầm Lê Hoa thương lăm lăm hạ đối phương. Lôi Chấn cầm giáo sắt định báo thù mũi thương năm xưa. Thương giáo va nhau chan chát. Lôi Chấn cậy mình lợi thế hơn vì có người lái, đánh dứ không sợ thuyền quay. Hoa Hổ biết vậy, chống đỡ chờ hai mạn thuyền giáp nhau mới liên tiếp trả đòn.

Nói về đại đầu lãnh Lôi Thông khi nghe thấy Lôi Chấn gọi đích danh bọn tiêu sư Hoàng Hoa, bèn đứng lên mũi thuyền hô lớn :

- Tên nào là Hoàng Hoa Chiếm hãy ra đây coi mặt nào.

Tức thì, Hoa Long lái thuyền tới phía ấy :

- Đứng ra mũi thuyền, Hoàng Hoa Chiếm hỏi :

- Ngươi tên chi? Ta không thèm hạ vô danh tiểu tốt.

Lôi Thông cười ha hả :

- Đệ nhất quái Lôi Thông đây.

Hai mũi thuyền giao nhau, Lôi Thông đâm thẳng ngọn cương thoa vào mặt địch thủ. Ngồi thụp xuống né, Hoàng Hoa Chiếm điểm mũi kích vào bụng đối phương. Thấy phụ thân dùng đoản kích ngắn quá, Hoa Long lựa tay chèo ghì mạn thuyền liền nhau cho tiện giao chiến. Thoa qua, kích lại, đâm quật tơi bời không ai chịu nhường ai. Hai con thuyền cùng tròng trành, nhờ hai tay chèo rất vững nên giữ được thăng bằng. Tên đầu mục chuyên lái thuyền cho Lôi Thông muốn làm lệch cán cân trận đấu dành phần lợi về cho chủ tướng, bèn nhè lúc Hoa Long mải theo dõi trận chiến, buông mái chèo rút ngọn giáo của y gài ở cuối thuyền đâm vào bụng đối thủ. Hoa Long lanh mắt thấy kịp, vội buông tay chèo né mình bắt được cán giáo giật mạnh. Tên đầu mục yếu sức hơn buột tay dáo, Hoa Long trở giáo đâm lại khiến y hoảng sợ bổ chào xuống nước. Thừa thế, Hoa Long phóng luôn ngọn giáo xiên suốt lưng qua ngực. Tên đầu mục chìm lỉm, máu loang đỏ cả mặt nước.

Mất thăng bằng, Lôi Thông vừa đánh kịch liệt, lắm lúc con thuyền nghiêng ngả muốn lập úp. Hoa Long thừa thế chèo mạnh, húc bừa mũi thuyền vào mạn thuyền địch.

Lôi Thông vận dụng toàn lực đánh thục mạng, ngọn cương thoa vùn vụt không hề sơ hở. Không kém, Hoàng Hoa Chiếm sử dụng đoản kích thiệt tài tình, dương đông kích tây biến ảo lạ thường. Tiêu sư biết Lôi Thông vừa chiến đấu vừa dùng cặp chân điều khiển sự thăng bằng của con thuyền, nên luôn luôn nhè chưa y lia kích bắt buộc Lôi Thông phải nhảy lên tránh đón.

Hoàng Hoa Long hiểu dụng ý của phụ thân, nhè giữa lúc Lôi Thông nhảy khỏi mặt sàn thuyền, liền ra sức chèo húc lật úp thuyền địch, khiến Lôi Thông rớt "tùm" xuống nước.

Hoàng Hoa Chiếm vụt theo mấy ngọn kích, nhưng Lôi Thông đã lặn biến mất tăm.

Cha con Hoàng Hoa chú ý nhìn xem họ Lôi có nhoi lên mặt nước không. Giữa lúc ấy, bỗng con thuyền bị dội hẳn lên muốn lật.

Hoàng Hoa Chiếm nói lớn :

- Lôi tặc đó, đâm mau, con.

Hai cha con cùng lùa thương, kích xuống gầm thuyền.

Lôi Thông buông tay đội thuyền để tránh khí giới địch đâm xuống.

Chừng nào ở trên ngừng tay, y lại nhô mạnh lên đội hẳn mũi thuyền địch lên cao.

Hoàng Hoa Long nói :

- Phụ thân giữ thuyền, để con xuống đánh với y một trận.

- Không để cha xuống kẻo nó tưởng ta e sợ.

Dứt lời, tiêu sư cầm dọc đoản kích, nhảy vọt ra xa nhào đầu xuống nước.

Lúc đó, Lôi Thông nhô lên mặt nước thở thấy vậy, liền lặn theo ngay. Hoàng Hoa Chiếm bơi vòng, chợt nhận ra địch thủ đang lẹ làng lướt tới, bèn cầm kích đón đánh. Dưới nước, Lôi Thông quả thập phần lợi hại, sức lực tăng gấp bội phần y quầy ngang, đảo dọc lanh lẹ, dữ dội như kình ngư đảo thủy, Hoàng Hoa Chiếm rán sức chống đỡ...

Trong bọn thủy khấu Cửu quái có năm tên "thủy công" cao siêu hơn cả là Lôi Thông, Lôi Quyền, Cảnh Đắc Vưu, Đắc thường và Lư thanh.

Khi Lam Y nhảy sang thuyền Cảnh Đắc Vưu, nàng chú ý ngay đến tên đầu mục cầm chèo, nên sau khi đưa luôn mấy lát kiếm lợi hại bắt buộc tên này phải lùi ra đầu mũi thuyền, thì nàng bất chợt quay phắt lại phóng một ngọn cước trúng ngực tên đầu mục cầm chèo, khiến y kêu lên một tiếng nhào xuống nước chìm nghỉm. Âu Dương Bích Nữ thấy thế quân bình trên thuyền ấy, yên trí hơn chú ý nhìn quanh thì vừa lúc Cảnh Đắc Thường cầm cương thoa đứng mũi thuyền lướt tới.

- Oan trái gặp nhau, hôm nay ta quyết bắt ái nương về trại làm lễ hợp cẩn. Từ ngày diện kiến cùng ái nương, tình ta mong nhớ khôn nguây.

Nàng điên tiết vì lời khinh bạc ấy, nhưng cố điềm tĩnh học theo Lam Y lấy thế quân bình. Nghĩa là lẹ như chớp, Âu Dương Bích Nữ phát luôn một phát tên trúng vai hữu tên đầu mục cầm chèo thuyền. Tên này đau quá buông chèo té úp sấp mặt xuống sàn, rên rỉ, la ó không ngớt miệng.

Bất chợt mất thăng bằng vì mái chèo còn thả buông mạn thuyền của Cảnh Đắc Thường bị dòng nước cuốn quay đi một vòng. Cảnh Đắc Thường vội vàng đảo lại phía sau, một tay cầm cương thoa phòng bị tên bắn, một tay gác mái chèo lên thành thuyền.

Âu Dương Bích Nữ đeo cung chèo mạnh mấy mái, lướt thuyền đến cặp với thuyền địch :

- Bản cô nương không thèm hạ cẩu tặc bằng cung tên đâu. Mau ra đây chịu chết.

Dứt lời, nàng rút Trảm Lư kiếm sáng ngời đón đánh. Cảnh Đắc Thường cũng tiến ra mũi thuyền, đâm luôn một thoa vào mặt thiếu nữ, nhưng ngọn thoa bị thanh trường kiếm gạt bắn trở lại thật mạnh, khiến Cảnh Đắc Thường hai tay tê dại, không ngờ địch thủ xinh đẹp nhường kia mà dũng lực phi thường.

Biết rằng đấu trên thuyền không lại, họ Cảnh bèn tính kế áp dụng thủy chiến mới mong bắt nổi người đẹp. Y bèn nhảy lùi lại, tay tả vớ lấy bơi chèo, trổ nghề bơi lạng thuyền ra xa. Âu Dương Bích Nữ cũng vội vàng cầm chèo toan bơi đuổi, nhưng quay được hướng mũi thuyền thì Cảnh Đắc Thường đã lao thuyền y vùn vụt tới :

- Ái nương! Hãy chịu khó cùng ta thủy chiến, ta hứa sẽ đem ái nương về trại vui vầy cảm xúc.

"Rầm..."

Mũi thuyền họ Cảnh đâm mạnh trúng mạn thuyền Âu Dương Bích Nữ, khiến chiếc tam bản này bề ngang lật nhào.

Nhưng Cảnh Đắc Thường đã tính sai, không hiểu đang đụng độ với một môn đồ cấp bậc siêu Thiếu Lâm tự.

Như con phượng hoàng đảo dực, Âu Dương Bích Nữ dùng thế Phong Phi Lạc Nhạn nhảy vút sang thuyền địch như bay, miệng quát :

- Thủy tặc hãy giữ lấy thủ cấp.

Sợ hãi, Cảnh Đắc Thường vội buông tay chèo đưa cương thoa dọc theo người phòng bị, thì một làn kiếm Trảm Lư hoa lên lẹ như chớp giật phũ phàng tựa cuồng phong rít lên như lụa xe, lạnh giá tựa như tuyết băng...

Soạt!... Tiếng soạt ghê gớm, lạnh lùng ấy tiện đứt ba thứ cùng một lúc: cương thoa, thủ cấp Cảnh Đắc Thường và cánh tay hữu tên thủy khấu, cánh tay ấy đã cầm dốc cây cương thoa che suốt từ đỉnh đầu họ Cảnh đến chân. Thủ cấp và cánh tay văng xuống nước, thân tên giặc vật ra mạn thuyền. Âu Dương Bích Nữ đưa chân hất xác địch xuống sông, huyết nhuộm đỏ lòm mặt nước. Tên thủy đầu mục chèo thuyền bị trúng tên hồi nãy đang rên rỉ, ngồi lom khom ở mạn thuyền sợ hãi quá, tưởng Nữ tướng trao kiếm chém nốt, vậy toàn thân chìm lỉm. Thủy tặc xuống thăm Thủy tề.

Âu Dương Bích Nữ tay kiếm tay chèo mũi thuyền về phía Lam Y.

Cảnh Đắc Vưu né kịp mũi Thái Dương kiếm thứ nhất thì mũi kiếm thứ nhì đã đâm vụt vào mặt y. Đắc Vưu tọa tấn nhường mũi kiếm đó trượt qua đỉnh đầu. Hồi bộ xuống cuối thuyền, Đắc Vưu dùng tận lực bình sinh đâm luôn một giáo sắt nhằm bụng đối phương theo thế Độc Xà Nhập Động mạnh lẹ nguy hiểm. Ung dung, lẹ làng, Lam Y né sang mạn thuyền đưa tay tả bắt trúng cán dao giật mạnh về phía sau. Bị giật bất ngờ, Cảnh Đắc Vưu, lực lưỡng nhường ấy, mất thăng bằng, chúi người về phía địch thủ để hứng ngay lưỡi kiếm Lý Ngư Ngô Thủy phạt đứt thủ cấp xuống sông tủm một tiếng. Đồng thời, Lam Y cất chân tả đạp bạt các không đầu của Cảnh Đắc Vưu xuống nước. Trên thuyền không vấy một giọt máu.

Nữ hiệp tra kiếm vào vỏ quan sát trận thế vừa lúc Âu Dương Bích Nữ hạ Cảnh Đắc Thường. Nàng trở mũi thuyền đón thuyền Âu Dương Bích Nữ.

Cả hai chèo song thuyền lẹ về phía Trương Tam Nương đang mỗi người một thuyền, ác chiến dữ dội cùng Đệ lục quái Lư Thanh.

Tên này đang hoang mang vì anh em họ Cảnh bị tử trận, gạt đỡ ngọn thương lợi hại của Trương Tam Nương còn chưa kịp, nay thấy hai nữ tướng hảo thủ bơi thuyền tới áp đảo, y đâm hoảng liều mạnh lao ngọn giáo vào địch thủ.

Trương Tam Nương gạt cây giáo đó văng xuống sông.

Thừa dịp, Lư Thanh nhào xuống nước lặn trốn mất.

Lam Y gọi, chỉ tay về phía Hoàng Hoa Hổ đang tử chiến dưới nước với Lôi Chấn :

- Đại nương đến quan sát trận của Hoa Hổ, chúng tôi trở lại thương thuyền.

Trong khi ấy, Âu Dương Bích Nữ nhìn quanh thấy Hoàng Hoa Long đang áp trận thủy chiến Hoàng Hoa Chiếm và Lôi Thông, nhưng không thấy Chu Đức Kiệt và một tên thủy khấu nữa đâu cả. Hai chiếc tam bản của hai người thì bị cuốn trôi đi xa. Nàng hoảng hốt nhìn quanh tìm kiếm.

Lam Y mỉm cười :

- Tẩu tẩu khỏi lo! Chu huynh lặn quanh đâu đây đó thôi. Chắc chắn Chu huynh sẽ đem địch thủ lên khỏi mặt nước. Này coi kìa.

Âu Dương Bích Nữ nhìn theo tay Lam Y chỉ. Quả nhiên, Chu Đức Kiệt đao không tuốt khỏi vò, vừa nổi lên mặt sông, một tay lôi tên thủy khấu lực lưỡng Lôi Quyền, một tay bơi hướng về thuyền hai người.

Âu Dương Bích Nữ vội lướt tam bản tới đón.

Chu Đức Kiệt liệng Lôi Quyền ướt sũng lên thuyền.

Âu Dương Bích Nữ cầm tay Chu Đức Kiệt lấy trớn kéo vút lên cuối thuyền như con kình ngư vuột mình lên mặt nước.

Nàng ngạc nhiên thấy y phục người yêu không ngấm nước. Chàng rùng mình giũ mấy giọt nước đọng trên vai áo và trên tóc.

Chu Đức Kiệt âu yếm nhìn hai người :

- Nhị vị hiền muội mau cứu thương thuyền. Kìa, hai người bị chúng đánh rớt xuống sông. Lẹ lên! Nhường chiếc tam bản này cho ngu huynh.

Âu Dương Bích Nữ vội nhảy sang thuyền Lam Y, chèo lẹ ra giữa dòng Lăng Lý, tiến thẳng đến hai chiếc thương thuyền đang bị đệ tứ, đệ ngũ quái Lư Xích, Lư Hoàng, và bọn thủy tặc áp đánh tơi bời.

Lam Y ghé tam bản cho Âu Dương Bích Nữ nhảy lên thương thuyền thứ nhất, còn tự mình nhảy lên chiếc thứ nhì. Giữa lúc ấy tiếng reo hò vang động từ hai đầu sông vọng tới. Hai chục chiếc thuyền lớn nhỏ theo tiếng pháo lệnh kéo đến khúc sông đang xảy ra trận thủy chiến.

Nhắc lại Chu Đức Kiệt khi mới khởi chiến.

Đệ nhị quái Lôi Quyền, một trong mấy tay "thủy công" kiệt liệt nổi tiếng bến Sán Đầu, phóng thuyền đến thẳng thuyền họ Chu.

Lôi Quyền cầm ngang cương thoa, quát :

- Thằng giặc mỹ mạo này ở đâu đây can thiệp vào công việc của anh em ta? Không sợ tánh mạng trong bụng cá hay sao.

Chu Đức Kiệt khoan chèo mắng lại :

- Cái giống tặc khấu chúng bây tên nào cũng như tên nào, chết đến cổ còn phách lối! Sào huyệt trong rừng bị chiếm rồi, biết điều khoanh tay chịu trói, may ra toàn mạng.

Đoán chừng đối phương không giỏi thủy công bằng mình, Lôi Quyền lẳng lặng chèo thuyền lao bừa vào thuyền địch. Chu Đức Kiệt biết vậy, cũng không tránh mặc cho hai thuyền đâm rầm vào nhau gần bể. Chàng buông chèo nhảy sang thuyền họ Lôi.

Lôi Quyền thừa thế đâm mạnh một mũi cương thoa nhằm bụng địch thủ.

Đức Kiệt né sang bên, thuận chân đá trúng tay hữu Lôi Quyền, khiến ngọn cương thoa của y rớt xuống đáy thuyền.

Lôi Quyền vội cúi lượm, nhưng Đức Kiệt đã tiến tới đấm luôn trái Thôi Sơn vào mang y.

Họ Lôi đưa tay gạt trái đấm nặng nền của Chu gia toàn thân bị rung chuyển. Cấp quá, Lôi Quyền rút luôn mũi chủy gài ở đai lưng, bất ngờ đâm tréo vào mặt đối phương.

Đức Kiệt té xuống sàn thuyền đưa chân hữu chận chăn tả đá vào khuỷu chân địch.

Không còn thế gỡ nào hơn cho khỏi bị gãy chân, Lôi Quyền ngửa người nhào thẳng xuống sông. Không tha, Chu Đức Kiệt phóng mình xuống nước quyết bắt sống.

Lôi Quyền đương bơi thấy địch thủ theo mình, bèn quát :

- Theo ta xuống nước thì ngươi tới ngày tận số rồi.

Y ngậm ngang mũi chủy, bơi thiệt lẹ đến đánh Chu Đức Kiệt, thủy ba cuồn cuộn.

Chu Đức Kiệt nhào đầu lặn, quơ tay bắt trúng chân đối phương lôi ruột xuống nước chìm lỉm mới buông tay.

Ngay từ nhỏ, Đức Kiệt vốn đã là tay thiện nghệ thủy công, song lần này bơi lặn, chàng có cảm tưởng như vẫy vùng dễ dàng hơn mọi khi rất nhiều vì sức ép của nước bỗng nhiên nhẹ hẳn.

Lôi Quyền cầm chủy nhằm đối thủ đâm trí mạng, Đức Kiệt lánh, né nhẹ nhàng, uyển chuyển như giao long khiến Lôi Quyền kinh ngạc, không ngờ địch thủ lợi hại thủy, bộ như nhau.

Tuy vậy, họ Lôi sử dụng toàn lực quyết thắng. Y vẫy vùng tựa kình ngư, đâm ngang, chém dọc, đánh toàn đòn trí tử. Đức Kiệt né lánh một hồi bắt buộc họ Lôi phải theo theo mình cho mệt. Hồi lâu, hai người cùng nhô lên mặt nước thở mạnh lấy hơi rồi lại lặn luôn.

Lôi Quyền xuống trước, lướt tới đâm mũi chủy nhằm ngực địch thủ. Đức Kiệt không lánh nữa, bắt túng cổ tay họ Lôi, vặn mạnh. Đau quá, Lôi Quyền rời tay. Mũi chủy lắng xuống lòng sông. Thừa thế, Đức Kiệt lặn xuống sâu nữa, lôi địch thủ theo. Xuống thêm năm thước nước nữa, Lôi Quyền cố vùng vẫy nhưng không thoát bàn tay chắc như kềm sắt của họ Chu. Ước lượng đã đủ sâu, Đức Kiệt buông tay ra. Lôi Quyền ngoái lại, xỉa luôn tay song chỉ vào mặt địch. Đức Kiệt bắt luôn tay đó, đồng thời chặt tay Cương đao vào cổ đối phương. Trúng đòn, Lôi Quyền đau quá, há miệng toan kêu, nhưng bị nước lùa vào miệng, mũi sặc sụa ngất lịm.

Họ Chu luôn tay vào đai lưng y lôi lên khỏi mặt nước, nhìn quanh, đoạn bơi thuyền liền về hướng thuyền Âu Dương Bích Nữ.

Chờ hai nữ kiệt bơi thuyền đi khỏi tiếp tay các thương thuyền, Chu Đức Kiệt nhìn về phía tay tả thấy Hoàng Hoa Long đang chăm chú nhìn xuống nước cách đó chừng hai mươi sải tay.

Chàng bèn hướng thuyền về phía ấy :

- Tìm gì thế đại ca? Lịnh phụ thân đâu.

Hoa Long đáp :

- Gia phụ đấu với tên Đệ nhất quái Lôi Thông. Cả hai cùng thủy chiến, nhô lên mặt nước hai lần rồi mà chuyến này chưa thấy lên. Lâu quá! Đại hiệp giữ hộ thuyền này, tôi lặn xem tình hình thế nào.

Đức Kiệt ngăn lại :

- Nếu vậy để tôi lặn tiếp tay. Quân thuyền tới kia kìa. Trao tên thủy khấu này cho họ.

Đức Kiệt lái cho hai mạn thuyền giáp nhau, liệng dây sang thuyền Hoa Long. Chàng bước ra mũi thuyền toan lao mình xuống nước, thì giữa lúc ấy Hoàng Hoa Chiếm nhô lên khỏi mặt nước, tay tả cầm cung, bơi về thuyền nhà. Chu Đức Kiệt và Hoa Long bèn chèo tới cầm tay đón lên thuyền. Hoàng Hoa tiêu sư thở hổn hển, liệng cây cung xuống sàn, rút đoản kích gài ở đai lưng, tháo bao tên liệng cả xuống bên cây cung, rồi cởi áo sũng những nước. Hoa Long e phụ thân bị lạnh, cởi áo ngoài khoác vào cha.

Lúc đó, các chiến thuyền quan quân đã tới vây bắt toàn thể bọn thủy đầu mục, anh em Lư Xích, Lư Hoàng. Lôi Chấn cũng bị Hoàng Hoa Hổ bắt sống trao cho bên quan quân cùng với Lôi Quyền.

Viên tướng chỉ huy các chiến thuyền là Tần Mạnh Đạt đưa mấy thứ y phục khô cho Hoa Hổ thay. Tần Mạnh Đạt xin lỗi tới trễ không được dự chiến vì phải neo thuyền ở xa. Nếu đỗ gần quá, tất bọn thủy khấu nghi ngờ không dám hành động.

Hoàng Hoa Chiếm giới thiệu Họ Tần với các vị anh hùng.

Tần Mạnh Đạt lễ phép :

- Thưa quí vị mấy tên bị chết và mấy tên trốn thoát.

Hoàng Hoa Chiếm nói :

- Hai tên trốn thoát trong đó có tên đầu đảng là Lôi Thông. Hai tên tử trận. Tổng cộng mới có tám thủy khấu.

Trương Tam Nương nói :

- Còn tên Đệ cửu quái bị bắt sống treo đằng ba cây đa lớn cùng với một đầu mục, tướng quân phái người đến lấy ngay.

Tần Mạnh Đạt liền hạ lệnh hai chiến thuyền hộ tống các thương thuyền về bến, chở luôn cả hai tiêu sư áp tải và các thủy thủ bị thương. Một chiếc thuyền khác đổ bộ gốc ba cây đa, lấy hai thủy tặc treo trên cành cây xuống. Mấy chiếc thuyền lớn đâu cả ngoài đầu lạch, còn bao nhiêu chiến thuyền nhỏ thì kéo cả vào trong lạch vào trại giặc.

Mạnh Đạt mời các vị hào kiệt lên chiến thuyền nghỉ ngơi.

Đoàn thuyền vừa đi được một quãng, bỗng có tiếng pháo hiệu nổ trong rừng. Tần tướng quân ngạc nhiên :

- Sao lại có pháo lệnh trong rừng thế này.

Mọi người nhìn nhau không hiểu. Tần Mạnh Đạt hô quân chèo gấp, không bao lâu vào tới trại. Hai cánh cổng vẫn mở rộng. Thiết Xích Tử ngất ngưởng ngồi trên nóc vọng lâu :

- Mời quí vị vào trại! Bắt Trương mỗ chờ lâu quá.

Hoàng Hoa Chiếm hỏi :

- Đại huynh đốt lệnh pháo làm chi vậy? Chúng tôi tưởng trại bị lực lượng nào tấn công?

Thiết Xích Tử nhảy từ vọng lầu xuống cười ha hả :

- Bị tấn công thì việc chi phải đốt pháo hiệu? Chiều rồi, nếu không nổ pháo, mọi người đâu có về lẹ được như vậy.

Tần Mạnh Đạt thấy các anh hùng mỗi người một khí sắc, hào sảng, hồn nhiên nên kính trọng vô cùng. Chàng chia quân, phần giữ chiến thuyền, phần chiếm đóng trại giặc, trói gian đồng bọn thủy khấu vào một nơi, canh phòng nghiêm ngặt.

Hoàng Hoa Chiếm phái Hoa Long, Hoa Hổ dẫn mấy tên quân ra chỗ cây trám giải bốn tên giặc bị trói trên chòi về trại.

Tần Mạnh Đạt hạ lệnh giải đồng bọn thủy khấu xuống thuyền, phái viên chỉ huy phó Vương Mẫn cùng hai phần ba quân lính ở lại tạm chiếm đóng trại giặc đến sáng mai.

Tám vị hào kiệt lên riêng một chiến thuyền đi trước.

Chu Đức Kiệt hỏi Hoàng Hoa Chiếm :

- Có lẽ gì chuyến lặn thứ ba quá lâu đến nỗi Hoa Long ở trên thuyền phải lo ngại vậy tiên sinh.

Tên đầu đảng Lôi Thông thủy công khá lắm. Nó hiểu tôi không quen nước bằng nó nên chuyến ấy xuống sâu. Tôi buộc lòng phải theo, cũng may còn đeo cung tên, tôi liền giắt đoản kích vào đai lưng bắn một phát tên trúng vai nó. Lôi Thông bỏ trận bơi đi. Lúc đó y còn khỏe lắm. Tôi muốn đuổi theo nhưng cần thở đành nhô lên mặt nước.

Lam Y nói :

- Tên đại đầu lãnh ấy không bơi xa được hơn nữa đâu. Nó sẽ lên bờ, rừng cây chi chít biết đâu mà tìm.

Lúc đó Hoàng Hoa Long chợt nhớ đến việc Chu Đức Kiệt bắt tên Lôi Quyền ở dưới nước lên mà võ phục khô nguyên, bèn hỏi :

- Chu đại hiệp cũng lặn xuống sông bắt thủy khấu, y phục không ngắm nước, đầu tóc cũng vậy, thiệt dị kỳ.

Lúc đó Lam Y đã nói Âu Dương Bích Nữ nghe vụ bắt được hai viên Tỵ Thủy, Tỵ Hỏa châu trong cuộc đánh Xích Hoa viện bên Sơn Phu hồi trước và nay mới thấy sự hiệu nghiệm của viên bảo chây ấy vì Đức Kiệt đeo viên Tỵ Thủy.

Lam Y ý tứ đưa mắt nhìn Chu Đức Kiệt đoạn lẹ miệng đáp :

- Khi trước tập thủy công tại Bình Dương, gia huynh may mắn gặp được một ngư phủ lão luyện có phép lạ thư phù cho khỏi thấm nước, không ngờ còn hiệu nghiệm đến bây giờ.

- Hồi nãy y phục có động nước nhưng giũ hết đi ngay.

Đức Kiệt hiểu Lam Y không muốn nói chàng có Tỵ Thủy châu quý báu nên im lặng mỉm cười.

Mọi người nửa tin, nửa ngờ. Sự thật rành rành trước mắt biết nói thế nào.

Hoàng Hoa Long nói :

- Vị ngư phủ đại tài ấy còn ở Bình Dương không Nữ hiệp.

Lam Y lắc đầu :

- Đi đâu từ lâu rồi. Chính tôi cũng không được may mắn như gia huynh.

Anh em Hoàng Hoa Long, Hoa Hổ suýt xoa tiếc rẻ khiến Lam Y bấm Âu Dương Bích Nữ tức cười thầm. Qua nơi giấu chiếc thuyền nhà, Hoàng Hoa Chiếm bảo quan quân ghé vào bờ để Hoa Long, Hoa Hổ lên bờ khiêng bỏ xuống nước, cột dây kéo sau chiếc thuyền về bến.

Lúc đó, trên thuyền còn đông người xúm xít, túm năm tụm ba chờ đón đoàn chiến thuyền trở về. Họ được nghe các thủy thủ hai chiếc thương thuyền bị cướp hụt kể lại trận trên sông do các vị anh hùng hào kiệt lạ mặt cấp cứu. Trong bọn có cả cha con ngư phủ Phùng Tam. Các chiến thuyền chở bọn thủy khấu bị bắt ghé bờ trước. Quan quân đi hai bên áp tải nghiêm ngặt.

Tần tướng quân từ biệt các vị hào kiệt, kéo quân giải bọn giặc về thành trước. Tam hiệp và gia đình Hoàng Hoa tiêu sư đủng đỉnh đi sau.

Khi ấy, trời đã hoàng hôn nên còn chuyến xe sau cùng vắng khách vào thành. Hoa Long thuê cả chuyến và bảo chờ.

Cha con họ Phùng nhận ra bốn người quen thuộc, nên rất đỗi ngạc nhiên.

Phùng Tam bảo cha :

- Hay là ta nhìn lầm? Lẽ nào bốn người cộng sự với ta mà đàng hoàng như thế được.

Phùng ngư phủ nói :

- Lầm lẫn sao được? Con không thấy người em thứ ba họ Cảnh bị trói giải trong đám thủy tặc vừa qua đây ư? Thiệt hú vía, thì ra các vụ cướp trên sông từ trước đến nay đều do bọn chúng cả.

Chu Đức Kiệt hích tay Thiết Xích Tử :

- Kìa cha con họ Phùng đang nhìn bọn ta.

- Để tôi gọi họ, hỏi thăm chơi. Nhờ hai người ấy ta mới bắt trọn ổ bọn thủy khấu.

Nói đoạn, Thiết Xích Tử vẫy tay gọi hai ngư phủ. Cha con Phùng Tam đến vái chào, bỡ ngỡ rụt rè. Thiết Xích Tử vỗ vai lão ngư phủ thân mật :

- Đừng buồn nhé. Chúng tôi có bày vẽ chuyện đánh cá Lý ngư mới tìm ra dấu tích bọn thủy tặc. Từ nay khúc sông này được bình an, khỏi sợ cướp quấy nhiễu.

- Việc đã đành, cha con tôi chỉ lo bị liên can với bọn họ Cảnh mua cá thôi.

- Khỏi lo, chúng tôi sẽ để ý. An tâm làm ăn như thường.

Chu Đức Kiệt hỏi Phùng Tam :

- Sáng nay đại ca có đánh cá không?

Phùng Tam đáp :

- Thưa có bắt được hai con.

- Có vào khu ba cây đa không?

- Không ạ. Lúc ở Kế Giang đầm trở ra thì vừa gặp đoàn chiến thuyền chắn lối. Tất cả chỉ có sáu chiếc, mà sao vừa rồi trở về bến đông đến thế.

- Chắc quan quân kéo đi từ đêm chặn khúc sông trên, thủy tặc mới không nghi ngờ chứ.

Lão ngư phủ hỏi :

- Họ Cảnh những ba người, sao tôi không thấy có tên thứ ba bị bắt.

Đức Kiệt mỉm cười, chỉ Lam Y và Âu Dương Bích Nữ :

- Hỏi gia muội sẽ biết.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Chúng hỗn xược nên chôn thây bụng cá rồi còn đâu.

Lam Y nói :

- Nếu sáng nay tiên sinh vào khu ba gốc đa cũng không khỏi giật mình vì thấy Cảnh Đắc Phu bị bắt treo trên cây. Nơi ấy là chỗ dòm ngó thương thuyền của bọn thủy khấu đó. Có đường dẫn đến trại của chúng cách mặt sông năm sáu dặm. Từ nay tiên sinh nên thận trọng trong việc bán cá, giao dịch, tham mối hàng gần nhưng bị liên can thông đồng với giặc tội nặng lắm đó. Chớ khinh thường có ngày vạ tới sau lưng đa.

Cha con Phùng ngư phủ sợ hãi toát mồ hôi, khẩn khoản yêu cầu nhờ các vị hào kiệt nói giúp với quan trên trong vụ này.

Lam Y nói :

- Chuyến này, tiên sinh khá an tâm, nhưng phải cẩn thận về mai hậu.

Hai người cảm tạ lui bước, hú vía. Tám hào kiệt lên xe về thành.

Trong lúc đi đường, Thiết Xích Tử bảo Hoàng Hoa Chiếm nên chú ý đến việc cha con ngư phủ, kẻo họ bị nghi ngờ bắt oan.

Hôm sau, Hoàng Hoa Chiếm sai gia nhân Trần Đạt đi hỏi thăm mới biết hai thương thuyền bị thủy khấu chặn đánh hôm qua do Phiêu cục của tiêu sư Dương Tấn Huy lãnh áp.

Hai tiêu sư phụ bị thủy tặc Lư Xích, Lư Hoàng đâm té xuống sông, một người mất tích...

Còn Tấn Huy đang rán sức chống chọi thì được Lam Y, Âu Dương Bích Nữ tới giải cứu kịp...

Mọi người đang bàn chuyện bàn tán, tiêu sư Dương Tấn Huy đến thăm, tạ ơn về việc các hào kiệt giúp chiều hôm qua.

Hoàng Hoa Chiếm nói với Tấn Huy :

- Chúng tôi cũng chỉ là những người được giúp đỡ thôi. Có công khám phá ra sào huyệt thủy tặc và làm lệch cán cân trận chiến là giang hồ Tam hiệp đây.

Hoàng Hoa Chiếm giới thiệu từng người một.

Dương Tấn Huy kính cẩn nói với Tam hiệp :

- Nghe đại danh từ lâu, nay mới được diện kiến, hân hạnh cho Dương mỗ biết nhường nào.

Chu Đức Kiệt nói mấy lời khiêm nhường.

Khi họ Dương ra về thì vừa lúc phủ quan Trường Sa Hoàng Kính Tuấn phái sau nha cầm thiệp đến Hoàng Hoa phiêu cục, mời Tam hiệp và gia đình Hoàng Hoa tới phủ nha dùng cơm chiều.

Đúng giờ, Hoàng tri phủ có nhã ý phái công hiệu, tới rước quý khách.

Chủ khách thi lễ xong xuôi, Hoàng tri phủ nói :

- Tần tướng quân phúc trình, tôi mới hay là Tam hiệp và Thiết Xích Tử Trương tiên sinh qua đất Trường Sa. Hồi còn ở Kinh Đô, tôi có được biết vụ đương kim Thiên tử phái khâm sai Tôn Gia Trọng xuống Tô Châu sắc phong quí vị. Vậy nhân đây tôi có lời mừng. Với sự khám phá bọn thủy tặc và trận thủy chiến trên Lăng Lý giang, quý vị đại hiệp đã ghi cho đất Trường Sa một kỷ niệm thật sâu sắc.

Lam Y nữ hiệp hỏi :

- Đại quan có dự tính phá bỏ khu trại cũ của tặc khấu không?

- Không. Theo lời phúc trình cửa Tần tướng quân, căn trại ấy có một địa thế rất lợi cho sự căn phòng trên Lăng Lý giang. Bởi vậy tôi dự tính mở mang thêm, chuyển nơi ấy thành ra đồn quân tiếp phòng, nhân dịp dùng công lực quân đội khai khẩn khu rừng, đào rộng lạch nước để chiến thuyền lớn có thể xuất nhập dễ dàng. Quí vị nghĩ có nên không.

Mọi người đều khen là ý kiến hay.

Chu Đức Kiệt nói :

- Đại nhân thực hành chương trình khai khẩn ấy tức là bọn tặc đạo hết hy vọng lập căn cứ trong rừng sâu và khai thác nguồn lâm sản dồi dào. Thiệt là một công đôi việc. Chắc phải trích trong Ngân khố ra một số tiền lớn mới thực hành nổi chương trình đó.

Hoàng tri phủ lắc đầu :

- Không với số vàng bạc, châu báu tịch thu được của bọn thủy khấu Cửu quái, tài chính rất đầy đủ cho sự thi hành công cuộc ấy. Dù sao, tôi cũng phải chờ sự ưng thuận của thượng cấp về cách sử dụng số bạc lớn thâu được trại giặc mới khởi công.

Tiệc tan, trong khu dùng trà, Hoàng tri phủ nói riêng với Tam hiệp :

- Hiện thời, tôi có một việc thiệt quan trọng muốn hỏi ý kiến và nhờ ba vị, vậy sáng mai có thể tái kiến tại bổn nha được không?

Đồng ý với Lam Y và Âu Dương Bích Nữ, Chu Đức Kiệt đáp :

- Đại nhân có việc sai bảo, lẽ nào anh em tôi chối từ.

Phủ quan nói mấy lời cảm ơn. Mọi người từ tạ ra về. Họ Hoàng hối công kiệu đưa mọi người về nhà thiệt châu đáo.

Sáng hôm sau, y hẹn, Tam hiệp tới phủ đường. Hoàng tri phủ mừng rỡ, mời vào hậu sảnh.

Chu Đức Kiệt nói :

- Đại nhân có điều chi thắc mắc?

Hoàng Kính Tuân chậm rãi :

- Nguyên khu được lệnh triều đình bổ nhiệm Trường Sa, tôi có đem theo người biểu đệ là Hoàng Trọng Hà. Trọng Hà biết võ nghệ và từ trước đến nay vẫn giúp tôi về Ban Mật vụ mỗi khi bổ nhiệm nơi nào. Y hành động khôn khéo, đắc lực. Khi mới tới đây, tôi đọc các hồ sơ cũ, thấy có khoản nói về bọn cường khấu ở Thập Vạn Đại Sơn, nên tôi vẫn có ý muốn tiễu trừ. Bọn cường tặc này quấy nhiễu dân gian, khách thương qua lại vùng đó rất nhiều, lộng hành riêng một giang sơn, không coi ai ra cái gì cả. Tới Trường Sa được ít ngày, tôi phái biểu đệ Trọng Hà đi dò xét tình hình thế giặc Thập Vạn Đại Sơn ngay. Xưa nay, y hành động rất thận trọng, không dè chuyện này mất tích đi biệt không về. Lo ngại tôi phái thêm phó tướng Tôn Vương đi tìm Trọng Hà. Họ Tôn cũng mất tích nốt. Bởi vậy, tôi yêu cầu ba vị đại hiệp giúp tôi, thám thính Thập Vạn Đại Sơn, may ra thấy tung tích hai người đó chăng? Chẳng hay ba vị có thì giờ không? Ngoài quí vị không ai hành động nổi.

Tam hiệp bàn riêng giây lát, Lam Y nói :

- Thời gian không phải là một vấn đề, đại nhân cho phép chúng tôi hỏi mấy điều.

Hoàng Kính Tuân niềm nở :

- Xin quí vị đại hiệp cứ dạy. Tôi sẵn sàng trả lời tất cả những điều hiểu biết.

Lam Y hỏi :

- Hình như Thập Vạn Đại Sơn là một nơi thiên hiểm ở giữa vùng biên thùy Lưỡng Quảng, tại sao đại nhân nhọc công tra cứu làm gì.

Hoàng Kính Tuân lắc đầu :

- Nữ hiệp nói đúng có một phần thôi. Thập Vạn Đại Sơn là cả một dãy núi lớn khởi xuất từ biên giới Lưỡng Quảng chạy dài qua Nam Nguyên huyện và Cẩn Châu ăn sâu vào lãnh thổ Hải Nam. Dãy núi đó cực kỳ hiểm tuấn, mà ngọn Đại Sơn thuộc phần đất Cẩn Châu. Đại Sơn lớn hơn cả các ngọn núi khác của Thập Vạn và cũng là nơi do cường khấu chiếm đóng.

- Vậy phần tiễu trừ thuộc sự thủ phủ Trường Sa.

Hoàng Kính Tuân gật đầu :

- Nữ hiệp nói đúng. Thuộc bổn phận của chính tôi. Chừng nào bọn cường khấu còn chiếm đóng Đại Sơn quấy nhiễu khu vực ấy, tôi còn mất ăn mất ngủ, cho nên dự tính trước nhất của tôi khi mới đến Trường Sa là do thám thính tình thế và tính việc chinh phạt.

Chu Đức Kiệt nói :

- Đường trường thiên lao vạn hiểm, chắc đâu lệnh biểu đệ Hoàng Trọng Hà và Phí tướng Tôn Vương đã tới Thập Vạn Đại Sơn? Họ có thể gặp nguy trong cuộc hành trình.

Hoàng tri phủ đáp :

- Nếu chỉ một mình Trọng Hà bị mất tích thì tôi còn nghi ngờ, nhưng Tôn Vương cũng bặt tăm hơi, nên tôi tin rằng cả hai cùng bị bọn cường khấu Thập Vạn Đại Sơn bắt được, vì nơi đó là mục tiêu nhiệm vụ của hai người ấy.

- Đại nhân có biết đại đầu lãnh Thập Vạn Đại Sơn là ai không?

Hoàng tri phủ lắc đầu :

- Không, nhưng biết rằng chúng khá mạnh, địa thế thiên hiểm bất lợi cho cuộc hành quân. Chắc đại hiệp biết là ai?

- Đại Vương nơi sơn trại ấy là Tháp Tháp Thiên Vương Hầu Văn Lượng, thân phụ của Bát Sơn Hổ Hầu Văn Báo, một trong Ngũ hổ tướng của Thuận Vương.

- A! Ra thế đó! Hầu Văn Báo bị tử trận dưới ngọn phủ của Mã Thành Báo, đệ nhị công tử của Mã nguyên soái, phải không?

- Chính vậy. Hai tướng ấy đồng tài, đồng sức, Thành Báo, thắng là do sự ngẫu nhiên.

Hoàng tri phủ khẩn khoản :

- Ba vị đại hiệp tính sao?

- Chúng tôi nhận lời giúp đại nhân thám hiểm Thập Vạn Đại Sơn tìm lệnh biểu đệ và phó tướng. Nhưng cũng cần nói để đại nhân biết rằng Vĩnh Lạc hoàng đế triệu anh em tôi lai Kinh vào dịp tân xuân. Yêu cầu đại nhân phái người đi theo tin tức về Trường Sa. Từ Cẩn Châu chúng tôi sẽ về thẳng Tô Châu, đỡ phải đi đường vòng thêm mất thì giờ.

Hoàng tri phủ mừng rỡ :

- Tam hiệp nhận lời giúp đỡ là quý, lẽ nào tôi dám làm lỡ việc tiến Kinh.

Lam Y nữ hiệp giảng giải :

- Nếu không mắc việc lai Kinh, chúng tôi có thể hành động rộng rãi hơn nữa như giúp đại nhân tiến quân phá Thập Vạn Sơn trại chẳng hạn, Đại nhân thông cảm ở điểm này cho.

- Tôi hiểu lắm. Dù sao tôi cũng sẽ rán sức trong việc trừ đảng khấu cho khỏi phụ Quân ân. Bao giờ ba vị lên đường?

- Ngày mốt khởi hành sớm. Đại nhân liệu sửa soạn phái người theo :

- Cuối giờ Mão ngày mốt, tôi sẽ cho người thân tín là Trương Nghĩa sang Hoàng Hoa phiêu cục cho quý vị.

Tam hiệp từ tạ ra về.

Chương 40: Cứu người lành hiệp khách thám hiểm Vạn Đại Sơn Thăm thiền sư, hào kiệt nhàn du Thiếu Lâm tự

Chu Đức Kiệt đem việc Hoàng tri phủ yêu cầu kể cho Hoàng Hoa và Thiết Xích Tử nghe.

Hoàng Hoa Chiếm hỏi :

- Từ hôm tới Trường Sa, ba vị hoàn toàn bận về việc trừ thủy khấu, chưa kịp thăm thú mọi nơi, sao đã vội đi?

Lam Y đáp :

- Hôm nay còn rộng thì giờ từ trưa đến tối và suốt ngày mai, phủ thành có đặc điểm gì tiên sinh cho biết?

Trương Tam Nương nói :

- Để chúng tôi hướng dẫn Tam hiệp đến Lạc Tiên lầu xem một bức kỳ họa. Ta sửa soạn đi ngay đi. Uống rượu trên lầu đó luôn thể.

Hoàng Hoa Chiếm nhắc :

- Hiền thê nên sai gia nhân đến đó giữ trước một thồi, chắc chắn có chỗ thì hơn.

Âu Dương Nữ cười khanh khách :

- Uống rượu ngắm bức danh họa, thiệt kỳ thú! Nhưng du họa sư nào vậy?

Thiết Xích Tử nói :

- Đến nơi nhìn bút ký quý vị sẽ nhận ra họa sư là nhân vật thời nào. Mỗi khi qua đất Trường Sa, không bao giờ tôi bỏ lỡ dịp lên Lạc Tiên lầu uống rượu.

Vợ chồng Hoàng Hoa sửa soạn, giao việc phiêu cuộc cho Hoa Long, Hoa Hổ, cùng Tam hiệp và Thiết Xích Tử thanh thản đến Lạc Tiên lầu.

Trường Sa phủ là một thị thành rộng lớn không kém gì Kim Lăng. Duy về phương diện kiến trúc, phủ thành này cổ kính hơn nhiều bởi lẽ thị trấn thuộc phần trung tâm của Trung Hoa cận cổ. Nội thành chia ra thành hai khu thượng hạ. Thượng khu tức là trái đồi thấp, còn hạ khu là bình địa. Từ hạ khu qua thượng khu, khách bộ hành, kiệu phu có đường thẳng xâu thành bực thang đá. Trái lại, xe cộ thì dùng đường vòng thoai thoải dốc. Hai khu liền nhau, nhà cửa như bát úp, buôn bán, kẻ qua người lại sầm uất lạ thường, chỉ khác ở chỗ trên đường phố thỉnh thoảng du khách lại có dịp lên mấy bậc đá, leo dốc lần lần mà không hay.

Lạc Tiên lầu vẫn có từ lâu của nhà họ Tống truyền từ đời nọ đến đời kia và được sửa đi, sửa lại kiến trúc hợp thời. Lầu ở chênh chếch về hướng bắc thượng khu, ngay giữa hoa viên đầu kỳ hoa dị thảo, liễu rủ, tòng che với những nhịp cầu đá chênh vênh qua hồ sen nhận tạo, và những ngọn giả sơn khúc khuỷu uốn éo phần ngoạn mục. Lạc Tiên lầu cao ba tầng ngay tầng thứ nhất, chủ nhân dựng thêm một đài cao ngót trượng, nơi có bức kỳ họa nổi danh.

Tao nhân mặc khách, hiệp sĩ giang hồ, ai qua Trường Sa cũng tới lầu Lạc Tiên uống rượu, hoa tiên phóng bút đề thơ. Đó cũng là nơi gặp gỡ thơ mộng của cặp uyên ương cùng nhau chuốc chén tương quỳnh, hoặc các vương tôn công tử tụ họp để ngắm giai nhân thướt tha với giải xiêm y muôn màu ngàn sắc.

Sáu người đủng đỉnh đi khắp hoa viên thưởng ngoạn. Tam hiệp không ngớt lời khen, ca ngợi hảo cảnh, Lam Y nói :

- Đi nhiều biết rộng là thế. Mỗi nơi, mỗi lạ, mỗi đẹp, cảnh sắc thiệt đáng yêu.

Hoàng Hoa Chiếm nói :

- Chủ nhân hiện thời là Tống Phúc Bình, nguyên một dòng họ truyền từ thời Tống Mạt, qua Nguyên nay tới Minh, mỗi thời mỗi cải cách dù trải bao thế sự thăng trầm.

Sáu người lên lầu. Tới thượng lầu, mỗi người trạc ngoại tứ tuần, tầm thước phúc hậu, cốt cách hào sảnh, tiến tới niềm nở đón chào :

- Hoàng Hoa tiêu sư bữa nay rộng thì giờ thế? Người đã dành thồi chưa?

Hoàng Hoa Chiếm tươi cười đáp lời và giới thiệu đôi bên :

- Đây là Tam hiệp từ Giang Nam qua Trường Sa, và đây là Tống Phúc Bình tiên sinh chủ nhân Lạc Tiên lầu, vị này là gia huynh trưởng.

Hoàng Hoa Chiếm chưa dứt lời thì, Tống Phúc Bình đã cầm tay Thiết Xích Tử mà rằng :

- Ủa! Trương tiên sinh mà tôi không nhận ra, lỗi biết chừng nào! Ngờ đâu hôm nay tiên sinh đổi trang phục, coi lạ hẳn.

Thiết Xích Tử cười hà hà nói với Tam hiệp :

- Trước kia, mỗi khi Trương mỗ này lên lầu, Tống chủ nhân cứ tưởng là Lý Thiết Quài hiện về đây rủ Hà Tiên Cô vào núi.

Trương Tam Nương nói :

- Đi đâu cũng lôi thôi lếch thếch như hiền huynh, ai mà không lầm.

Trông Thiết Xích Tử ngất ngưởng trong bộ y phục mới, nguyên nếp, đại bào súng sính, Tam hiệp nhìn nhau bưng miệng cười.

Tống Phúc Bình thân dẫn mọi người đến thồi riêng.

Trước khi từ tạ xuống lầu, họ Tống mới nói với Hoàng Hoa Chiếm và Trương Tam Nương :

- Vụ bắt thủy khấu vừa rồi thiệt là kỳ công của Hoàng Hoa phiêu cuộc, lời đồn vang dậy khắp phủ thành.

Trương Tam Nương chỉ Tam hiệp :

- Nhờ võ công của ba đại hiệp mới thành tựu, vợ chồng tôi chỉ phụ tá thôi.

Trước lời chúc tụng nồng nhiệt của họ Tống, Tam hiệp nói mấy câu khiêm nhường Chỉ chiếc đài trong cùng lầu xây toàn bằng hồng thạch vân trắng có sáu bực cao, Lam Y hỏi Trương Tam Nương :

- Bức danh họa để trên đài kia, phải không Đại Nương?

- Dạ nơi hai người đang đứng xem. Mời quý vị lên coi!

Sáu người cùng lên hồng thạch đài. Phía trong cùng, lồng vào khung bằng hồng thạch là một bức tường sơn trắng phẳng lì. Lâu ngày màu trắng đã vàng như màu giấy lụa mà các họa sư vẫn dùng vẽ Thủy Mặc. Ngay chính giữa bức tường ấy là Hà Tiên Cô xách lẵng hoa, lớn bằng người thật.

Tam hiệp cùng ngạc nhiên vì nét họa cực kỳ linh động đến nỗi ai cũng có cảm tưởng như người trong tranh hiện nổi hẳn lên, và đang bước ra khỏi bức tường. Trong góc tả ở trên phiến tường ấy chỉ đề vỏn vẹn có ba chữ "Vương Liêu Nhân".

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Trong "Họa Tùng Biên" có đoạn nói tới Vương Liêu Nhân thời Tống Độ Tông, người đất Hán Dương là một họa sư hữu danh chuyên về môn nhân họa. Sao lại có nét bút của họ Vương trên phiến tường này tại Trường Sa? Hoàng Hoa tiên sinh diễn giải được không?

Hoàng Hoa Chiếm đáp :

- Tôi biết chuyện qua lời của chủ nhân Tống Phúc Bình là một thân hữu. Họ Tống thiệt ra sanh quán tại Hán Dương, Đàm Vân Thôn ở chân Hữu Kỳ Sơn, sau đó mới thiên về Trường Sa là nơi quê ngoại và định cư từ đó tới nay.

Hồi ấy, tổ phụ Phúc Bình là Tống Đức Lương ngụ tại Đạm Vân thôn. Cùng thôn có Vương Liêu Nhân. Đồng niên tuế, hai người rất thâm giao, thường rủ nhau vào núi Hữu Kỳ đánh cờ, uống rượu. Về sau, Tống Đức Lương xuống Trường Sa hưởng gia tài khá lớn bên ngoại và ở luôn đó buôn bán kinh doanh. Đức Lương lập một ngôi tửu quán. Nhờ ở đức tính cần mẫn, hoạt động, Họ Tống phát đạt rất mau lẹ, chẳng bao lâu tửu quán đã thành đại tửu lầu trong vòng mười năm trời. Đức Lương lập gia đình và thưởng cho người lên Hán Dương rước Vương Liêu Nhân về Trường Sa chơi.

Trương Tam Nương ngắt lời chồng :

- Phu quân mời Tam hiệp về thồi uống rượu kể chuyện, chớ đứng đây ư?

Sáu người xuống đài, tửu bảo bưng các món ăn đã đặt lên từ trước.

Sau tuần rượu, Âu Dương Nữ hỏi Hoàng Hoa Chiếm :

- Câu chuyện về sau thế nào, tiên sinh kể cho nghe đi.

- Xin vâng

- "Họ Vương vô gia đình nên có khi ở Trường Sa khá lâu mới trở về Đạm Vân thôn trên Hán Dương.

Trước kia, Vương Liêu Nhân có tài nhưng không được mấy ai chú ý tới vì cư ngụ tại chân núi Hữu Kỳ thì hầu như kẻ yếm thế lấy bàn cờ ly rượu qua ngày Bức họa đầu tiên của Vương Liêu Nhân tại Trường Sa là "Bát Tiên đồ" thân tặng Tống Đức Lương, hiện nay còn treo trong tư thất của Tống Phúc Bình.

Tống Đức Lương trưng bày bức họa ấy ngay giữa phòng khách lớn, nơi quan khách ra vào. Ngờ đâu cử chỉ ấy đã đưa Vương Liêu Nhân lên đài danh vọng. Tuy họa "Bát Tiên đồ", Vương Liêu Nhân vẫn không đắc ý và thường nói:

"Tiểu đệ họa người như họa tượng, không có "thần". Xé bỏ đi... họa bức khác. Đại huynh treo làm chi thêm chướng mắt như kẻ qua, người lại".

Không đồng ý, Tống Đức Lương đáp:

"Hiền đệ khó tánh quá. Bức họa linh động nhường ấy, còn muốn hơn thế nào nữa? Họa là bổn phận của hiền đệ. Trưng bày là việc của ngu huynh. Thế nào cũng kết quả tốt. Định họa người đi lại được như thật chăng".

Vương Liêu Nhân bướng bỉnh:

"Chớ không ư? Thế nào cũng có bữa, tiểu đệ họa nổi Hà Tiên Cô biết đi cho mà coi".

Họ Vương rất ưa các tiên nữ và nhất là Hà Tiên Cô. Trưng bày cũng có mà họa xong xé đi cũng có Quan khách qua lại Lạc Tiên lầu đông đảo. Ai nấy đều trầm trồ khen ngợi các bức họa "Vương Liêu Nhân" do Tống Đức Lương trưng bày Từ đó, họa phẩm bán chạy vô cùng, giá cả đều do họ Tống định đoạt. Có nhiều nơi mời Vương Liêu Nhân về tận phủ tân trang để họa, nhưng họ Vương từ chối không đi, giao phí hết việc giao dịch tài chính mặc Tống Đức Lương. Tống Đức Lương thường khuyên bạn: "Tiền bạc, danh vọng lớn rồi, hiền đệ nên nghĩ đến việc lập gia đình, sanh con nối dõi tông đường chớ".

Vương Liêu Nhân chối nguầy nguậy:

"Không! Chúng ta chung sống với nhau thế này không đủ sao? Không con thì cháu. Các con của Đại huynh vẫn mến tiểu đệ như cha ruột chúng. Việc chi phải đi đâu? Hoặc giả đại huynh muốn như vậy".

Tống Đức Lương sửng sốt:

"Đâu có chuyện ấy! Ngu huynh tỏ bày điều hơn lẽ phải đó thôi. Chúng ta tình bạn nhưng còn thân hơn cốt nhục, lẽ nào ngu huynh muốn xa hiền đệ".

Vương Liêu Nhân cười:

"Vậy, yêu cầu đại huynh từ nay đừng nhắc tới việc lập gia đình với tiểu đệ nữa nhé!"

Họ Vương ở hẳn Trường Sa với Tống Đức Lương.

Việc kinh doanh phát đạt vô cùng, Tống Đức Lương sửa sang mở rộng Lạc Tiên lầu thành đệ nhất tửu lầu phủ Trường Sa. Vương Liêu Nhân cũng nổi tiếng như cồn, họa bức tranh nào là bán luôn bức đó, mọi người đều ưa thích, chỉ riêng họ Vương là không ưa tác phẩm của mình. Chàng gọi là bức họa không "thần". Nhiều khi chàng bỏ cả mấy tháng trời không cầm tới bút, đi lang thang khắp đây đó, đến khi trở về làm việc lia lịa mới tìm thấy một đề tài gì mới lạ.

Tống Đức Lương biết tánh bạn nên cũng mặc Vương Liêu Nhân đi chán thì về. Họ Tống chuyên trông coi việc bán tranh, nhiều lúc thiếu họa phẩm, không đủ cung cấp cho số đông khách hàng từ khắp nơi trong nước lặn lội dặm trường đến Trường Sa tìm mua. Tình bằng hữu giữa hai người ngày càng mật thiết.

Thời gian qua...

Vương, Tống đều lớn tuổi. Tống Đức Lương trao việc kinh doanh cho con cái lúc đó đã phương trưởng, cùng Vương Liêu Nhân du lịch khắp đó đây.

Năm ấy, Vương Liêu Nhân sáu mươi bảy tuổi. Một hôm hai bằng hữu thảnh thơi ngồi uống rượu, bỗng Liêu Nhân nói với Tống Đức Lương:

"Đại huynh sai gia nhân mài một châu mực, lẹ lên, tiểu đệ cảm thấy lúc này có thể họa một bức thiệt thọ 'Nhập thần'."

Tống Đức Lương chiều ý bạn sửa soạn đầy đủ các dụng cụ hội họa để trên án, giấy lụa căng sẵn trên mặt tường.

Liêu Nhân ngà ngà say, chập choạng đứng dậy hối gia nhân bê chậu mực, phóng bút vẽ luôn trên tường sơn trắng hình Hà Tiên Cô xách lẵng bông lớn bằng người thật.

Vẽ xong, họ Vương liệng bút, trở lại thồi tiệc hỏi Tống Đức Lương:

"Đại huynh coi thử, nhập thần chưa? Nhân vật trên tường đã hệt người sống chưa? Nói đi, tiểu đệ không dám nhìn nữa".

Tống Đức Lương nhìn vào tường, thì lạ thay! Hà Tiên Cô linh động thật, cầm lẵng bông như muốn bước ra khỏi mặt tường, thân hình uyển chuyển. Họ Tống giật mình la: "Trời ơi, tuyệt hảo! Hà Tiên Cô muốn bước ra khỏi tường! Lạ quá!... Vương hiền đệ coi kìa".

Vương Liêu Nhân vội phắt dậy nhìn lên tường. Quả nhiên, Đức Lương nói đúng, bức họa hoàn toàn linh động. Ngọn bút điêu luyện của chàng đã cho nét họa trên tường một linh hồn. Liêu Nhân sung sướng ngắm nghía hồi lâu, gật đầu đắc ý lảo đảo ngồi xuống kỷ, vỗ vai bạn rằng: "Hà Tiên Cô đã về Lạc Tiên lầu! Đại huynh liệu giữ gìn nàng..." Dứt lời, Liêu Nhân ngả xuống vai bạn thiêm thiếp ngủ.

Tống Đức Lương tưởng họ Vương quá chén, hối gia nhân vực về phòng chẳng dè Liêu Nhân đã quy tiên lúc nào không rõ.

Họ Tống thương xót vô cùng, ma chay cho bạn đầy đủ.

Sau đó, Đức Lương gọi thợ khéo đúc bức tượng thành khuôn lấy hẳn phiến tường có hình Hà Tiên Cô dùng toàn bằng hồng thạch vân trắng xây đài, hồng phiến họa đó vào, di chúc cho con cháu đời đời gìn giữ tôn thờ.

Công việc ấy đã xong, một năm sau, đúng ngày giỗ Vương Liêu Nhân thì Tống Đức Lương cũng mất.

Người nối nghiệp an táng Đức Lương ngay bên mộ phần họa sư họ Vương.

Truyền đời nọ qua đời kia, con cháu họ Vương vẫn giữ được nếp cũ. Lạc Tiên lầu ngày càng canh tân và hồng thạch đài cũng trơ trơ cùng tuế nguyệt.

Riêng phần Hà Tiên Cô, nợ trần hầu chưa dứt, nên tuy hữu linh hồn động mà mãi vẫn không thoát ra khỏi hồng đài...".

Hoàng Hoa Chiếm kể xong câu chuyện danh họa Vương Liêu Nhân ai nấy đều bùi ngùi tưởng tới cố nhân.

Lam Y nói :

- Thiên hạ mênh mông, thế sự thăng trầm, con người kiếp phù du sẽ trở về với gió bụi, duy chỉ có công quả đặc biệt, mới được lưu lại ngàn thu...

Âu Dương Nữ gật đầu :

- Kẻ duyên nghiên bút, người nợ cung kiếm, phải chăng hai món đó đều là kỳ khí của khách giang hồ văn, võ để lưu cái dở hoặc cái hay lại hậu thế.

Bữa rượu thanh thả kéo dài đến tận chiều mới tàn.

Thiết Xích Tử nói :

- Tôi định nhân dịp này mời Tam hiệp về đất Võ Dương cho gia đệ Trương Tam Vân được diện kiến, dè đâu lại vội đi Cẩn Châu giúp phủ quan Hoàng Kinh Tân.

Chu Đức Kiệt đáp :

- Thiệt ra không đến nỗi vội vàng như chúng tôi đã nói với phủ quan đâu. Có thế, họ mới không hoàn toàn ỷ lại vào sự giúp đỡ, sửa soạn binh tướng thiệt đầy đủ chinh phạt sơn khấu.

Lam Y nói :

- Đáng lẽ không thấy hai nhân viên trở về, phủ quan phải lập tức cất quân, lẽ nào chần chờ đến nay, mấy người đó thịt nát xương tan rồi còn gì.

Âu Dương Nữ hỏi :

- Hay là Trương tiên sinh cùng đi với chúng tôi xem tình hình Hoàng Trọng Hà, Tôn Vương ở Thập Vạn Đại Sơn thế nào. Sau đó ta sẽ ngược dòng qua Võ Đang, Tung Sơn, rồi về thẳng Giang Nam. Hình như tiên sinh có ý đi cùng gia phụ qua thăm Bắc Kinh.

Thiết Xích Tử hoan nghênh :

- Cũng được. Nếu Tam hiệp rảnh rang, lúc này Trương mỗ cũng không có việc gì chuẩn đích.

° ° °

Nói về Thác Tháp Thiên Vương Hầu Văn Lượng chiếm cứ ngọn Đại Sơn hùng vĩ, thiên hiểm từ lâu. Trước kia, quan quân đã có lần đến bao vây song bị đánh tan.

Đến khi em Thuận Vương là Chu Vĩnh An được bổ nhiệm Trường Sa, chiêu dụ được Hầu Văn Lượng về làm bè cánh cho Kim Lăng, con Hầu Văn Lượng là Hầu Văn Báo, về nhập Ngũ Hổ dưới trướng Thuận Vương, thì Thác Tháp Thiên Vương họ Hầu được thảnh thơi nghênh ngang riêng một sơn hà. Trên sơn trại, xây dựng thành quách kiên cố, đặt cơ quan phòng ngừa gian tế, Hầu Văn Lượng còn có hai nam, nữ đầu lãnh cộng sự rất đắc lực.

Một người là Tiết Cẩn Hoa, nữ đầu lãnh, tuổi ngót tứ tuần, tánh tình ác nghiệt nên giới hắc đạo lâm đặt cho tước hiệu là Mẫu Đại Trùng. Tiết Cẩn Hoa cao lớn, sức khỏe đặc biệt, quen dùng cặp song đao nặng nề ít người bì kịp. Trước kia, Mẫu Đại Trùng thường hoạt động trong vùng Quý Châu.

Một hôm Hầu Văn Lượng có việc vào đất ấy, tình cờ gặp Mẫu Đại Trùng. Thấy họ Tiết bản lãnh khá, kinh nghiệm nhiều về ngành lãnh đạo, Hầu Văn Lượng bèn rủ về Đại Sơn làm đầu lãnh. Chán cảnh hành động một mình, Tiết Cẩn Hoa nhận xét có thể trông cậy được ở họ Hầu bèn ưng thuận về Đại Sơn.

Lúc ấy, Hầu Văn Báo còn dùng dằng chưa chịu đi gia nhập Ngũ Hổ Kim Lăng vì Thác Tháp Thiên Vương chưa có người phụ việc.

Khi Văn Báo đi Lạc Tiên lầu rồi, Hầu Văn Lượng còn chiêu nạp thêm một người nữa vốn là đạo sĩ, đồ đệ của Chương Dương, đồng môn với Đới Vĩnh Khang chủ nhân Xích Hoa viện mà trước kia đã bị Lam Y nữ hiệp và Chu Đức Kiệt hỏa thiêu bên Sơn Phu hắc điếm, Hứa Khải Liêm, trước làm đồng đạo ở Quan Âm am trong cửa Tây thuộc Côn Minh, tỉnh Vân Nam.

Họ Hứa lớn lên tính tình phóng khoáng không chịu được cảnh am thừa dưa muối, thèm khát mùi trần tục, nên bỏ am trốn đi, đội lốt đạo sĩ vào đời. Ngày thời lang thang khắp chốn, miệng vờ vĩnh tụng niệm kỳ thực dò xét các nhà giàu hoặc nơi nào có gái đẹp, chờ đến đêm giở thủ đoạn phi thiềm tẩu bích vào cướp của hiếp tróc. Bị truy nã tại nhiều nơi, Hứa Khải Liêm lại bị quan sở tại truy tìm về các hành động của y vì có người bị hiếp nhận được mặt tên đạo sĩ đại đạo ấy.

Trước sự truy nã gắt gao, Hứa Khải Liêm đành bỏ lốt đạo sĩ, khăn gói lên đường vào đất Hồ Nam định lần mò ra miền duyên hải Quảng Đông. Nhưng khi qua Cẩn Châu, nghe tiếng Thác Tháp Thiên Vương trên Đại sơn, y liền lần mò đến xin đầu bôn.

Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, sau khi thử thách thấy bản lãnh Hứa Khải Liêm rất đáng kể, Hầu Văn Lượng ưng thuận chịu dung nạp y. Khải Liêm muốn trở lại lốt đạo sĩ cho tiện việc lợi dụng những người hiền lành quá tin tưởng, mỗi khi y vào thành Cẩn Châu. Hầu Văn Lượng không chịu, buộc y phải vận thường phục và ở lại sơn trại, nếu không sẽ không dung nạp y nữa.

Không có cách nào hơn, vả lại cuộc sống trên sơn trại cũng rất đầy đủ duy chỉ thiếu có "sắc" nên Khải Liêm cố nén tâm ở lại.

Sau khi quen thuộc với lối sống tặc khấu trên núi, họ Hứa thông đồng với một số đầu mục bắt phụ nữ, thỏa thú tính. Hành động này của y được đồng bọn giữ kín, Hầu Văn Lượng không hay biết chi cả, Hầu Văn Lượng biết thì Hứa Khải Liêm không chắc ở nổi trên Đại Sơn.

Thiệt ra không phải Hầu Văn Lượng ghét nữ sắc, nhưng việc không xâm phạm tới đàn bà, con gái các nơi lân cận là huấn lệnh của Thuận Vương bắt Sơn trại phải giữ uy tín, phòng sau này khởi sự.

Ngày tháng qua, hôm nhận được lệnh Kim Lăng sửa soạn đề binh, Hầu Văn Lượng khấp khởi mừng thầm sẽ có dịp chọc trời khuấy nước một trời cho thế gian biết mặt Hoàng Sào. Dè đâu từ tính toán đến hành động là một bước dài, cuộc khởi loạn im bặt. Hầu Văn Lượng nóng ruột bội phần, toan phái bộ hạ thân tín về Kim Lăng xem xét tình hình, bỗng một tên quân hầu cận của Hầu Văn Báo lẻn vào báo hung tin, các anh hùng hào kiệt và võ tướng của triều đình đã đột nhập Vương phủ đánh tan tướng Kim Lăng, Bạt Sơn Hổ tử trận.

Hầu Văn Lượng đau đớn gầm thét suốt cả ngày như hổ dữ, khiến bọn bộ hạ ai nấy xanh mặt. Gầm thét, tức giận cho hả lòng thôi, chớ có binh cô tướng quả, y làm chi nổi?

Trước kia, dựa vào thế lực Thuận Vương, được Chu Vĩnh An trấn thủ Trường Sa che chở, nay trở lại tình thế lục lâm cường đạo, có thể bất chợt bị quan quân triều đình tiến đánh, chinh phạt. Hầu Văn Lượng biết vậy nên hạ lệnh cho hai đầu lãnh Tiết Cẩn Hoa, Hứa Khải Liêm phải điều khiển lâu ngày canh phòng cẩn mật, e bị đánh bất ngờ.

Hoàng Trọng Hà được phủ quan Trường Sa, phái xuống Thập Vạn Đại Sơn do thám không hiểu tình hình, vừa lảng vảng tới gần núi thì bị phục binh ùa ra bắt đem về Sơn trại tra tấn. Không chịu nổi cực hình, trước Hoàng Trọng Hà còn chối sau đành thú thật. Hầu Văn Lượng không dám giết họ Hoàng truyền giam vào sơn lao giữ làm con tin.

Mười mấy hôm sau, phó tướng Tôn Vương giả làm tiều phu đi qua chân Đại Sơn cũng bị bắt nốt, giam riêng.

Trong vòng hai tháng trời, bắt luôn được hai thám tử của bộ đội Trường Sa, Hầu Văn Lượng hạ lệnh canh tuần gắt gao, luyện tập lâu la phòng có ngày phải thọ địch.

Tuy Hầu Văn Lượng không còn phong độ như khi trước dưới thời Thuận Vương, nhưng nhờ thế Đại Sơn thiên hiểm, tiếng cường sơn thảo khắp nơi Thập Vạn cũng vẫn làm thất đởm tất cả những ai qua lại trong vùng.

Một hôm, Hầu Văn Lượng đang ngồi cùng Mẫu Đại Trùng Tiết Cẩn Hoa và Hứa Khải Liêm uống rượu giải sầu, bàn tán tình hình hiện tại thì chợt có lâu La phi mã lên đại trại báo :

- Thưa Đại Vương, có hai người xin lên núi yết kiến.

Hầu Văn Lượng cau mặt :

- Ai vậy? Nam hay nữ?

- Thưa, hai người đàn bà cả.

Hầu Văn Lượng nhìn Tiết, Hứa hai người như muốn phân trần, thì Tiết Cẩn Hoa đã nói :

- Kỳ quá nhỉ? Sơn trại ta giao dịch với ai đâu? Gian tế chăng?

Hầu Văn Lượng hỏi lâu la :

- Hai người phụ nữ đó người thế nào, có nói từ đâu tới không?

- Thưa, một lão phụ trạc ngoại thất thập, nhưng còn khỏe mạnh lắm và một thiếu nữ xinh đẹp. Lão phụ nói là từ Giang Tây tới.

- Cho vào.

Tên lâu la vâng dạ lui ra, hồi lâu một bọn hơn mười tên áp giải lão phụ và thiếu nữ vào tới đại sảnh.

Hầu Văn Lượng nhận thấy lão phụ tóc bạc phơ như cước, vóc dáng khỏe mạnh, đi lại cực kỳ lanh lẹ, duy có nét mặt ám ngắt độc ác lạ thường. Còn thiếu nữ thì khá kiều diễm tuy không điểm phấn tô son.

Hai người đeo hành lý. Hai tên lâu la đi sau cùng vác cây trượng đốt sắt và thanh kiếm.

Vừa vào tới thềm, lão phụ đã cất tiếng oang oang :

- Lạ thay cho sơn trại này, mụ phải nói, phải van, phân trần cả giờ, khô cả cổ, lâu la mới chịu vào báo rằng mụ xin yết kiến. Đại vương liệu trừng phạt tên đầu mục canh phòng hôm nay đi kẻo có ngày lỡ việc đó.

Hầu Văn Lượng nhìn hai người từ đầu xuống chân :

- Tên hai người là gì? Đến đây có mục đích gì?

Như bực mình về câu nói của Hầu Văn Lượng, lão phụ cười gằn :

- Hừ! Ngoài sơn trại đã căn vặn một thôi, một hồi rồi, nay tới lần Đại vương bắt cung khai nữa?

Họ Hầu khó chịu :

- Ít nhất mụ phải xưng danh và bày tỏ muốn gặp ta có mục đích gì chớ?

Lão phụ nói xẵng :

- Tôi là Bạch Mẫu Ngô Công Tần thị và đây là Hoa cô nương Đới Ngọc Hoàn. Từ Kim Lăng chạy vào Giang Tây và nay tới đây xin ở nhờ.

Hầu Văn Lượng giật mình nhìn hai người:

"Trước kia, mỗi lần viết thơ về Thập Vạn Đại Sơn thăm cha, Hầu Văn Báo thường hay kể các nhân vật Kim Lăng và có mấy lần nói tới Tần thị và Đới Ngọc Hoàn, bởi vậy Hầu Văn Lượng mới sửng sốt khi nghe đến hai tên quen thuộc này".

Họ Hầu yên trí là toàn thể mọi người kẻ tử trận, người bị bắt, chớ không hay là có người thoát, nên chưa hết nghi ngờ :

- Tại Kim Lăng có ai trốn thoát đâu? Sao mụ tới đây được? Nói cho thiệt!

Tần thị cười ha hả, tiếng lanh lảnh như quạ cái rợn người :

- Thế thì Đại vương không được báo cáo rõ ràng rồi. Riêng trong các tướng trên mặt trận, chúng tôi trốn thoát sau khi thấy cơ sự bất thành còn những người khác không hiểu sống chết thế nào. Lịnh lang Bạt Sơn Hổ bị tử trận trước nhất sau khi đã tranh đấu một trận nảy lửa cùng địch tướng.

Biết lão bà nói thật, Hầu Văn Lượng vội cùng hai đầu lãnh Tiết, Hứa xuống thềm vái chào rước vào sảnh mời ngồi :

- Lão mẫu đừng trách tôi. Từ ngày hay tin Kim Lăng bị thất bại, Sơn trại phải hết sức dè dặt để tránh mọi tai vạ bất ngờ.

Dứt lời, Hầu Văn Lượng giới thiệu hai đầu lãnh Tiết, Hứa.

Chào hỏi xong xuôi, Hầu Văn Lượng thân rót rượu mời Tần thị và Đới Ngọc Hoàn.

- Cơ sự ở Kim Lăng xảy ra như thế nào, lão mẫu kể rành mạch cho tôi nghe với. Tôi vẫn thắc mắc không an tâm.

Tần thị và Đới Ngọc Hoàn thay phiên nhau kể lại trận chiến trong Vương phủ thật tỉ mỉ rõ ràng cho Hầu Văn Lượng nghe. Đoạn nói tiếp :

- Cầm đầu trận đánh bất ngờ ấy là bọn anh em Lam Y nữ hiệp, làm sao có dịp xé xác chúng ta mới hả giận.

- Chính hai tên ấy đã hạ sát Phi Không ở Kim Cương tự bên Dương Châu và Đới Vĩnh Khang bên Sơn Phu. Họ Đới là phụ thân điệt nữ Đới Ngọc Hoàn đây. Chúng hạ sát cả vợ chồng Vĩnh Khang. Đêm đó, con tôi là Lã Ứng Đãng cũng không thoát nổi. Đới Ngọc Hoàn bị gãy chân, tôi bế chạy thoát.

Hầu Văn Lượng mặt đỏ bừng bừng đập bàn :

- Bọn Lam Y ghê gớm thật! Thù này không trả không xong.

Hứa Khải Liêm nghe Tần thị nhắc đến Đới Vĩnh Khang liền hỏi :

- Họ Đới là sư huynh của tôi, khi đến thọ giáo vân Nam, tôi còn nhỏ tuổi. Thấm thoắt, mấy chục năm rồi.

Ngọc Hoàn khoanh tay nói Hứa Khải Liêm :

- Thế ra Hứa thúc phụ mà điệt nữ không biết, đáng tội quá.

Tần thị hỏi Hầu Văn Lượng :

- Sơn trại lớn thế này sao hiền điệt không chiêu nạp thêm các đầu lãnh cho thêm phần được mạnh mẽ có hơn không?

- Trước khi Kim Lăng chưa thất bại, nơi này đâu có cần nhiều đầu lãnh mà chỉ cần chứa thảo đồn lương. Mỗi khi thêm được người nào thì gởi cả về Kim Lăng cho Thuận Vương sử dụng.

- Nay tới lúc cần người thì gấp quá, tôi không dám rời khỏi sơn trại, e quan quân tới chinh phạt bất thần. Lão mẫu và Đới điệt nữ ở lại Sơn trại chứ.

Tần thị gật đầu :

- Dĩ nhiên rồi. Từ Kim Lăng chạy qua Giang Tây ẩn náu ít lâu, chợt nhớ ra đã có lần Bạt Sơn Hổ nói chuyện Thập Vạn Đại Sơn nên chúng tôi mới rủ nhau về đây lấy chỗ dung thân.

Hầu Văn Lượng nói :

- Lão mẫu tới đúng lúc, thành phần sơn trại mạnh thêm.

- Tuy vậy hiền điệt vẫn cần tuyển dụng thêm vài người đích đáng nữa, và ta phải đặt thêm "tai mắt" ngoài sơn trại mới được.

- Hiện thời mới bắt được hai tên gian tế do thám sơn trại, còn giam trong lao.

Tần thị hỏi :

- Chúng do thám cho ai?

- Theo lời cung, cả hai đều thuộc thủ phủ Trường Sa.

Tần thị thất sắc :

- Sơn trại này bắt đầu bị dòm ngó rồi còn gì? Đã có biện pháp gì chưa?

- Tình hình Kim Lăng biến chuyển mau lẹ quá, sơn trại thiếu người nên không kịp thay đổi cho hợp thời, lão mẫu và Đới cô nương đến vừa đúng lúc.

Tần thị cười khẩy :

- Tôi e cũng không làm được việc gì có lợi cho Trại chủ. Ở địa vị ấy tôi củng cố sơn trại từ lâu rồi. Tiếc quá! Một nơi thiên hiểm hiếm có như Thập Vạn Đại Sơn, để lỡ cơ hội kiến thiết xây dựng nơi này thành một căn cứ bất khả xâm phạm là một điểm đáng trách.

Hầu Văn Lượng phản đối :

- Tôi muốn nói về việc thiết lập các địa điểm đầu "Tai mắt" cho sơn trại, mà trước kia hoàn toàn không cần tới. Riêng phần đại trại không có gì đáng chê trách. Khi vào tới đây, tất lão mẫu đã để ý tới ba cửa ải được xây dựng dựa vào thế hiểm tuấn của Đại Sơn? Được trấn giữ chu đáo, dù thiên binh vạn mã cũng khó vào nổi độc đạo ấy. Hậu trại là cả một dãy Thập Vạn chưa từng biết dấu chân người. Trong trường hợp khó khăn chẳng hạn, chúng ta có thể đi sâu vào dãy núi ấy dẫn tới biên giới Lưỡng Quảng. Trước kia, tôi đã mạo hiểm đi thử nên mới thiết lập sơn trại nơi đây. Nếu không mệt mỏi, mời lão mẫu và Đới cô nương thăm thú sơn trại tức thì.

Tần thị nói :

- Đến nương nhờ chủ tất cũng phải nghĩ đến vấn đề an ninh chung, không thể bỏ phí một ngày qua. Nào, ta đi quan sát ngay. Chờ đợi nóng ruột chịu không nổi.

Mẫu Đại Trùng Tiết Cẩn Hoa nói :

- Mời lão mẫu và cô nương cất hành lý về tư phòng đã. Tôi cho sửa soạn sẵn sàng rồi. Xin theo tôi.

Trong khi chờ hai người mới tới về phòng sửa soạn, Hứa Khải Liêm nói với đại đầu lãnh :

- Tôi ra tiền trại tuần phòng và ở luôn ngoài đó, sáng mai Tiết Cẩn Hoa thay thế mới về nhé.

- Nhà có khách, chiều hiền đệ không về uống rượu ư?

- Khách người nhà, câu nệ làm chi? Lão mẫu còn nghiệt hơn đại ca, vậy không nên để cho người ấy tưởng anh em ta biếng nhác.

Hầu Văn Lượng mỉm cười, vỗ vai Hứa Khải Liêm :

- Đã vậy, tùy ý hiền đệ, ngu huynh không nghiệt với anh em đâu nhé.

Hứa Khải Liêm vác giáo ra khỏi đại sảnh. Lát sau, Tần thị và Đới Ngọc Hoàn theo Hầu Văn Lượng chỉ dẫn cho quan sát toàn khu. Tần thị khen có nhiều có sáng kiến hay.

Hai bên sườn núi, vách đá nhô ra, chênh vênh, hiểm tuấn lạ thường nếu không phải là tay tuyệt kỷ về môn phi thiềm tẩu bích tất không thể nào do hai ngả ấy vào đại trại được.

Tần thị nói :

- Hai bên vách núi này để cung thủ phòng vệ, mỗi bên chỉ cần độ hai chục tên thừa đủ.

Hầu Văn Lượng lẳng lặng lấy chiếc tu hít trong túi ra thổi nhẹ hai tiếng dài, một tiếng ngắn làm hiệu. Tức thì, từ các hốc đá gần đấy mấy đầu mục nhô ra, nhìn ngược lên phía trên. Một tên hỏi :

- Đại vương sai khiến?

- Không. Ta xem các ngươi có tỉnh ngủ hay không đó thôi.

Bọn chúng lẳng lặng biến mình vào chỗ cũ.

Hầu Văn Lượng giải thích :

- Hai sườn núi có nhiều hốc đá. Mỗi hốc tôi đặt ba cung thủ bắn giỏi, chọn lọc.

Nói đoạn, Hầu Văn Lượng dẫn Tần thị và Đới Ngọc Hoàn ra phía hậu trại tới một khe núi vừa người đi. Họ Hầu đi trước dẫn đường. Ba người len lỏi, vòng vèo tới một hang đá rộng rãi, phía trên, vách đá nhô hẳn ra như mái hiên. Trong hang để toàn các bì gạo thóc và lương khô. Bốn tên thấy đại đầu lãnh tới, răm rắp đứng thẳng người chào.

Hầu Văn Lượng bảo chúng :

- Cho các ngươi tự nhiên.

Nói đoạn, Hầu Văn Lượng dẫn hai người vào hang đi quanh xem xét. Lương thực được chất lên các khung cây chắc chắn, cách nền đá hơn một thước. Trong hang sạch sẽ khô ráo đặc biệt, cách này đặt khung cây chất lương thực thành hàng lối ngăn nắp vô cùng.

Hầu Văn Lượng nói :

- Đây là một trong những kho lương thực tích trữ. Từ đây, cứ đi mãi có tất cả mười hang xấp xỉ như hang này và cùng được tổ chức y hệt. Người trong trại gọi là Thập Loa cốc.

Tần thị hỏi :

- Khi Trại chủ mới đến đây các hang đều sẵn sàng như bây giờ sao?

- Thập Loa cốc thiên nhiên. Dĩ nhiên không được sạch sẽ vì đó là những hang dơi. Chúng ở thành đàn hàng vạn con. Tôi cho phá tổ, đốt mái, hơn một năm mới trừ hết giống đó. Từ hồi đầu bôn Thuận Vương tôi tổ chức thành kho thực vật, tiện biết nhường nào.

- Đường nhỏ này dẫn tới đâu?

- Mới đầu, đường này không dễ đi như hiện tại. Phá phách xây đắp mới được như ngày nay. Vào tới hang thứ mười thì đường nguyên như cũ, len lỏi, cheo leo, vắt vẻo qua năm ngọn núi, người đi sẽ xuống dốc lần lần và bắt vào con đường mà tôi đã vượt qua khi từ ranh giới Lưỡng Quảng mạo hiểm đến đây. Trong trường hợp vạn nhất, sơn trại bị thất thủ, mọi người đều có thể rút chạy qua lối này, chất hai thùng thuốc pháo, đốt pháo cho đổ vách đá xuống, đường sẽ bị nghẽn ngay, trừ phi biết bay mới vào nổi bên trong.

Ba người vừa rời khỏi hang đá. Hầu Văn Lượng dẫn Tần thị và Ngọc Hoàn đi sâu vào chút ít chỉ mấy phiến đá phẳng lì mà rằng :

- Lão mẫu và cô nương ngồi xuống đây nghỉ chân nói chuyện.

Ba người cùng ngồi. Tần thị nhìn xuống sườn núi thăm thẳm. Xa xa ở phía dưới cây rừng chi chít um tùm. Tiếng vượn kêu chim hót vọng lên kỳ lạ.

Gió thổi phần phật nhẹ lùa mấy khóm lá xào xạc chung quanh, khiến họ quên cả bản thân sơn tặc đang lo lắng tìm phương pháp duy trì chốn dung thân.

Tần thị phá tan yên lặng trước nhất :

- Trên sơn trại hiện thời tổng số bao nhiêu lâu la?

Hầu Văn Lượng trầm ngâm :

- Tất cả hai trăm ba mươi lăm người kể cả ba đầu lãnh.

- Vậy thôi ư!

- Có vậy thôi. Dưới thời Thuận Vương tổng số lớn lắm. Đây là một nơi đồn trú quan trọng của vị vương gia ấy. Khi được lệnh gửi quân về Kim Lăng, tôi cho đi hết chỉ giữ nguyên thành phần rất ít thuộc về sơn trại.

Nhìn hai người ngạc nhiên im lặng, Hầu Văn Lượng nói tiếp :

- Xưa nay, tôi vẫn không chủ trương tụ tập nhiều lâu la trong đời sơn trại. Có việc gì đây? Ăn nhiều, tốn của, luôn luôn phải kéo quân đi cướp phá các thôn, trang châu huyện mới cung cấp nổi số lương cần thiết nuôi nhiều miệng. Lão mẫu thử tính coi. Với một sơn trại được tổ chức đầy đủ gọn gàng như Đại sơn, tôi thấy cần chiêu nạp nhiều đầu lãnh hơn là số quân. Lúc giao tranh, tướng đánh nhiều hơn là số quân đông. Khi giữ nhà cũng vậy. Đầu lãnh vẫn được nhiều việc hơn. Nói tóm lại, chỉ nên nuôi quân cho đủ canh phòng các nơi thủ hiểm và làm việc trong trại. Ta thủ hiểm chớ không cần dàn thành mặt trận như quan quân đi chinh phục. Du kích chiếm căn cứ về phẩm chớ không về lượng. Điều lo nhất bây giờ là làm thế nào chiêu thâu nạp được một số đầu lãnh võ nghệ cao cường.

Tần thị nói :

- Và lập tửu quán địa đầu do thám kẻ qua người lại thuộc khu Đại Sơn. Ít nhất cần năm, sáu đầu lãnh nữa.

Hầu Văn Lượng gật đầu :

- Lão mẫu nói trúng tâm can tôi. Quen biết nhiều, không hiểu lâu nay tại sao các bạn đồng đạo ít qua thăm. Nếu họ tới thế nào tôi cũng ân cần mời giữ. Họ lang bạt, bóng chim tăm cá, biết tìm kiếm phương trời nào bây giờ? Nay thêm lão mẫu và Đới cô nương, tôi muốn cất công liều đi một chuyến. Chỉ e một điều, lỡ quan quân bất thần kéo tới chinh phạt trong khi tôi vắng nhà thì sao?

Tần thị nói :

- Hay là tôi về chốn cũ tìm bọn hảo hán quen thuộc nhủ họ về đây?

- Sanh quán của lão mẫu ở đâu?

- Đất Võ Giang, thuộc Xuyên Vỹ huyện bên Quý châu. Trại chủ nói phải. Tôi đồng ý ở điểm cần đầu lãnh kiệt hơn là số quân. Trong trận đánh trong Vương phủ Kim Lăng thì đủ hiểu.

Hầu Văn Lượng suy nghĩ hồi lâu :

- Nếu cần phải đi thì chính tôi sẽ thân xuất sơn, nhờ lão mẫu trông coi toàn thể trong sơn trại, Mẫu Đại Trùng, Hứa Khải Liêm bản lãnh đáng kể duy có Hứa Khải Liêm hay lông bông về vấn đề nữ sắc, lão mẫu cần để ý kẻo va đi xa gây vạ. Thiệt tình bọn đô đầu phủ, huyện hay châu đến đây, tôi không sợ nhưng chỉ e bọn giang hồ thuộc phe Lam Y nữ hiệp giúp quan quân chinh phạt điều ấy mới đáng lo.

Tần thị chép miệng :

- Nói đến anh em Lam Y quả không có bờ bến nào cả. Cây thiết trúc trượng trước kia của tôi xưa nay làm ghê hồn địch thủ đã nhiều, nhưng bọn Lam Y coi như không. Lam Y dùng trường kiếm, anh nó sử dụng đơn đao, cả hai cùng có lối vung trận ào ào biến hiện bất ngờ. Tay chân rất đều. Nhiều khi đang võ khí bên tay hữu, chúng chuyển sang tay tả, khiến đối thủ bị trái tay không thể ngừa nổi đòn tấn công nữa. Tôi được đấu hai lần với chúng nên nhận xét rất rõ. Theo kinh nghiệm, khi đấu bằng võ khí không có ai dùng cả quyền lẫn cước được hiệu nghiệm. Trái lại, anh em Lam Y có thể sử dụng cả võ khí lẫn quyền, cước trong khi đấu, cho nên trận đánh nhiều hiệp bất ngờ, bất ngờ cho đối phương. Đành rằng công phu luyện tập của chúng rất cao siêu đáng liệt vào bực thượng thừa, nhưng phương pháp "hoặc tả, hoặc hữu" và "Tam dụng" ấy đã đưa lại phần thắng lợi không nhỏ.

Chỉ Đới Ngọc Hoàn, Tần thị nói tiếp :

- Đới Ngọc Hoàn đây cũng đã hai lần gặp Lam Y. Ở Sơn Phu thì bị gãy chân và lần sau này gặp ngay mới đây trong Vương phủ.

Đới Ngọc Hoàn nói :

- Lần đầu chưa hiểu Lam Y thế nào, nên khi giáp chiến không thấy sợ. Giao tranh vài hiệp đầu, tự nhiên cảm thấy khó chịu về phương pháp xung trận của nó, tự khắc thần trí hoang mang, bất định. Gặp nó lần thứ nhì, thú thật rằng điệt nữ hoảng hốt lo sợ ra mặt khi biết phải đụng độ cùng nó, tuy bề ngoài vẫn phải nói cứng.

Hầu Văn Lượng trầm ngâm :

- Nói tóm lại, nếu gặp bọn Lam Y thì nên dùng mẹo mực tranh thắng bại, trông cậy vào sự diện kiến giao đấu tất bị nguy hiểm.

Tần thị gật đầu :

- Chính thế. Không đánh lại được nó trận nào, bực quá! Trong đời tôi quá thất thập, lần đầu bị ức như vậy.

- Chúng là người xứ nào, lão mẫu nhận ra không?

Tần thị suy nghĩ :

- Căn cứ vào thổ âm, anh em Lam Y là người Sơn Đông thì phải. Thuận Vương nói chúng thuộc họ Chu, chắc anh em Lam Y là dòng dõi họ Chu ở Bình Dương đó.

Tần thị hỏi :

- Trại chủ quen biết chúng?

- Không! Nếu biết đã không lo. Phỏng đoán là bọn Lam Y vậy thôi. Danh tiếng Đơn đao pháp Chu gia đất Bình Dương, Sơn Đông trấn khắp miền Đông bắc. Lên tới Giang Tô là có nhiều người biết tiếng Chu gia. Sở dĩ tôi nghe danh vì có họ Lưu tên Đức Quan, sanh quán tại Ý Châu nơi giáp giới hai tỉnh Giang Tô và Sơn Đông. Họ Lưu cũng thạo môn đơn đao, thường đeo chiếc đai lưng bằng vàng chói lọi nên thành hỗn danh Kim Đới Lãng Tử. Y là tay anh hùng độc cước chuyên đơn thân hành động, biến hiện bất chừng, sử dụng thanh đơn đao thập phần khủng khiếp, khiến các tiêu sư trong vùng Giang Tô, Sơn Đông và Hà Nam nhiều lần phải ngán gã. Tuy vậy, Lưu Đức Quan rất sợ một tiêu sư họ Chu tên Đức Văn người Sơn Đông, Bình Dương huyện và cũng là người có môn đơn đao gia truyền cao hơn lối đao của họ Lưu quá nhiều bậc. Đức Quan còn trẻ mà e sợ một người có tuổi như Chu Đức Văn, đủ hiểu họ Chu có thành tích thế nào. Nay anh em Lam Y họ Chu sinh quán tại Sơn Đông, sử dụng đơn đao tuyệt kỹ tất là con cháu Chu Đức Văn chớ chẳng sai.

Tần thị hỏi :

- Kim Đới Lãng Tử bây giờ ở đâu, Trại chủ có biết không?

- Trước kia, gã thường hoạt động ở vùng ranh giới Giang Tô, Hà Nam. Trong vùng ấy, gã hay đụng chạm với Chu Đức Văn, nên phát ngán, bỏ sang Khai Phong phủ và nổi tiếng ở dải đất Hoàng Hà. Chẳng ngờ một hôm lớ ngớ thế nào đụng ngay phải Chu Đức Văn đơn thân quá giang. Họ Chu bảo Đức Quan: "Tôi ngỡ đại ca đi xa rồi, chẳng hóa ra còn lẩn quẩn nơi đây ư. Nên hiểu rằng tôi thường qua đây! Cho đến nay, tôi không muốn 'nói chuyện' với anh em vì biết rằng anh em vạn bất đắc dĩ mới 'làm nhộn' khách thương. Nên nhớ lời khuyên hôm nay. Đi nơi khác đi! Thiên hạ thiếu gì nơi? Và đừng làm tôi nổi giận". Theo sự hiểu biết của Lưu Đức Quan thì tiêu sư họ Chu bổn tánh ôn tồn, ít khi rút đơn đao ra khỏi vỏ, nhưng lời nói lạnh như tiền. Y không phá ai cả, và cũng đừng ai mon men phá y mà mang khốn. Y đã không muốn gặp ai thì người ấy phải đi. Bởi vậy, Lưu Đức Quan bỏ miền Khai Phong, Hoàng Hà đi liền nơi khác. Từ đó Kim Đới Lãng Tử lưu động nay đó mai kia, và gặp tôi. Hồi mới xây dựng sơn trại này, tôi mời gã ở lại cộng sự nhưng gã quen hồ hải tang bồng nên ở chơi ít lâu rồi lại ra đi. Cách đây hai năm, Lưu Đức Quan còn qua vùng này, lên núi ở lại mươi ngày. Cho đến nay bặt tin tức. Nếu ta được gã cộng sự trong tình thế này mới thiệt hay.

Tần thị nói :

- Thêm người tài ba một việc tốt rồi. Tuy vậy giá có Lưu Đức Quan cũng chưa phải là lý do để ta an tâm không e ngại bọn Lam Y nữ hiệp.

- Dù sao, Lưu Đức Quan cũng kinh nghiệm nhiều, với thời gian tay đao của gã chắc không đến nỗi nào so với đao pháp của Chu gia. Nếu thiệt ra anh em Lam Y là dòng dõi Chu Đức Văn, biết đâu con chẳng kém cha? Lưu Đức Quan chỉ ngán có một mình Chu Đức Văn mà thôi à.

Tần thị mỉm cười :

- Chưa bao giờ tôi tâng bốc kẻ địch, không hiểu trước kia Chu Đức Văn "hay" tới đâu, nhưng với tuổi tôi, suốt mấy mươi năm hoạt động đụng độ với không biết bao nhiêu người mà tôi chưa từng thấy tay đao, kiếm nào có đấu pháp kỳ diệu như bọn Lam Y. Hồi ở Sơn Phu, tôi gặp riêng hai anh em nhà ấy, kỳ vừa rồi đánh trong Vương phủ Kim Lăng, có một thiếu nữ cùng nhập với Lam Y. Tài sức thiếu nữ ấy cũng thiệt ghê gớm, Thiếu Lâm tự chánh tông.

Ba người đang nói chuyện vãn bỗng có tiếng chân chạy thình thịch tiến tới.

Một lâu la chạy đến thưa :

- Có Lưu đầu lãnh qua thăm sơn trại, mời đại vương về ngay. Đầu lãnh hiện chờ ở đại sảnh. Hứa đầu lãnh đi tuần quanh núi nên không gặp.

Hầu Văn Lượng cau mặt :

- Lưu đầu lãnh nào? Ta đã ra lệnh bất cứ ai cũng phải chờ ta định đoạt mới được mời lên sơn trại, tại sao ngươi dám trái lời, muốn phạt trượng hẳn?

Tên lâu la sợ hãi :

- Thưa đại vương, chúng con ngăn cản nhưng Lưu đầu lãnh nhất định ùa vào. Sau đó, con nhận ra vị đầu lãnh thân hữu với đại vương, đã từng ở chơi Sơn trại cách đây hai năm, nên đành đi theo vào và báo đại vương hay.

Hầu Văn Lượng bỗng nhiên tươi cười, nói với Tần thị và Đới Ngọc Hoàn :

- À! Lưu Đức Quan! Thiêng quá, vừa nhắc tới xong thì y tới, may mắn biết chừng nào. Mời nhị vị về sảnh.

Dứt lời, Hầu Văn Lượng quay bảo tên lâu la đang nửa mừng, nửa lo :

- Chuyến này ta tha tội, nhưng nếu tái phạm thì đừng có trách nghe.

Tên lâu la thoát đòn vái tạ, đi sau ba người trở về đại sảnh.

Tới nơi, Hầu Văn Lượng quả nhiên thấy Kim Đới Lãng Tử đang đi đi lại lại trước thềm đá.

Họ Lưu trạc ngũ tuần, vóc người tầm thước lún phún để râu mép và cằm, trầm hẩm khỏe mạnh, lưng đeo thanh đơn đao vỏ đồng, tua đen.

Đi lẹ tới, Hầu Văn Lượng giơ hai tay niềm nở :

- Chao ôi! Lưu hiền đệ! Hai năm ở đâu mà không qua chơi! Mạnh giỏi chớ?

Lưu Đức Quan cũng vồ vập cầm vai Hầu Văn Lượng lắc mạnh :

- Phải hai năm rồi. Đệ từ Trường Châu qua đây, nhân không có việc gì quan trọng nên rẽ lên sơn trại thăm đại ca. Làm gì mà canh phòng dữ vậy?

Hầu Văn Lượng giới thiệu Tần thị và Đới Ngọc Hoàn với Lưu Đức Quan, đoạn mời mọi người an tọa.

Họ Hầu rầu rầu mặt kẻ tình hình hiện tại trên sơn trại và việc Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Báo tử trận trong vương phủ Kim Lăng cho khách nghe.

Lưu Đức Quan sửng sốt, nói mấy câu chia buồn. Hầu Văn Lượng nói tiếp :

- Vừa nhắc chuyện hiền đệ với Tần lão mẫu đây. Chuyến này chắc hiền đệ không nỡ chối từ, nán lại Đại Sơn giúp Ngu huynh một tay.

- Trước kia khác, nay khác, lẽ nào hiền đệ từ chối không giúp đại ca trong lúc khó khăn này? Từ ngày rời Đại Sơn, tiểu đệ sang Quảng Đông và ở liền đó cho tới nay. Đại ca con nhớ Chử Thiện và Đặng Kim Thanh không?.

Hầu Văn Lượng đáp ngay :

- Có phải Tiểu Bá Ôn và Hắc Thủy Giao không? Hai người cùng lên núi với hiền đệ chuyến trước? Thế sao?

Lưu Đức Quan gật đầu :

- Chính vậy. Có lẽ họ cũng sẽ về đây. Khi ở Trường Châu ra đi, tiểu đệ gặp Chử, Đặng hai người ở Dương Châu nên rủ về Đại Sơn thăm đại ca.

Hầu Văn Lượng vội hỏi :

- Chử, Đặng trả lời sao?

- Có chớ! Họ nói sẽ đi sau vì còn bận chút việc bên Văn Lương huyện. Xong việc sẽ qua Cẩn Châu ngay. Đại ca liệu lời giữ họ ở lại cộng tác luôn thể.

Hầu Văn Lượng xoa tay :

- Có hiền đệ, ngu huynh đã như người bắt được vàng, nay thêm Chử Thiện, Đặng Kim Thanh nữa thì may mắn quá. Ngu huynh lo rầu thiếu bằng hữu cộng tác từ hồi Thuận Vương sơ hở làm hỏng việc lớn. Công trình bao năm nay đều tan thành mây khói, nghĩ mà tiếc!

Lưu Đức Quan cười lớn :

- Tiếc mà chi? Ta phải để thì giờ, tâm trí vào việc trang phòng Đại Sơn chứ? Nhưng đại ca có thể nói chắc rằng anh em Lam Y quả thiệt là dòng dõi Chu Đức Văn?

Hầu Văn Lượng chỉ Tần thị và Đới Ngọc Hoàn :

- Thiệt ra thì ngu huynh không biết hai người đó, duy Tần lão mẫu đã hai lần so thiết trúc trượng cùng chúng rồi. Đới cô nương đây cũng vậy. Không chuyến nào hiền đệ trở về Bắc sao, mà không nghe nói tới chúng?

Lưu Đức Quan trầm ngâm giây lát :

- Có về qua các chốn cũ mấy lần và cũng đã từng nghe đại danh Lam Y nữ hiệp, song không ngờ anh em Lam Y là dòng dõi Chu Đức Văn. Chỉ biết rằng kiếm pháp và đao pháp của chúng ghê gớm lắm. Thế thôi.

Tần thị kể lại việc hai lần gặp Lam Y và những điều nghe thấy, trông thấy về anh em kỳ hiệp ấy cho Lưu Đức Quan nghe.

Họ Lưu nói :

- Việc phòng bị là bổn phận của chúng ta, nhưng xin nói thật chẳng nên đụng độ với anh em Lam Y, như trước kia tôi tránh Chu Đức Văn, có sao đâu.

Hầu Văn Lượng bực mình :

- Lưu hiền đệ cũng tin rằng bọn Lam Y là dòng dõi Chu Đức Văn?

- Đệ biết Lam Y qua lời nói của Tần lão mẫu và đại ca, nên cũng nghĩ như vậy mà phát biểu ý kiến. Nếu trông thấy chúng, đệ có thể phân biệt được ngay. Con thế nào chẳng giống cha?

Tần thị hỏi Lưu Đức Quan :

- Vóc dáng tiêu sư Chu Đức Văn thế nào?

Lưu Đức Quan không do dự :

- Cao lớn uyển chuyển như con báo, mặt tựa mỹ ngọc, mi thanh, mục tú, râu năm chòm cao nhẵn, đẹp tướng như Thường Sơn Triệu Vân, thời Tam Quốc. Hai tay tả, hữu dùng đơn đao đều như nhau. Riêng tôi chưa từng được hân hạnh cùng y giao đấu bao giờ. Nói thiệt, tôi cũng không dám tiếp chiến y, nhưng đã có dịp xem trộm Chu Đức Văn đánh mấy người bên Trực Lệ, khủng khiếp thật.

Tần thị nhìn Đới Ngọc Hoàn. Hai người lặng lẽ gật đầu khiến Hầu Văn Lượng thắc mắc :

- Tần lão mẫu và Đới cô nương có chuyện gì mà gật đầu vậy?

Đới Ngọc Hoàn đáp :

- Người anh Lam Y giống hệt hình dáng Chu Đức Văn như Lưu lão thúc vừa tả, hôm ở Sơn Phu, tiểu nữ đã có dịp ngồi cùng thồi với y, nhìn kỹ. Phải không lão mẫu?

Tần thị gật đầu.

Lưu Đức Quan hỏi Hầu Văn Lượng :

- Tiết Cẩn Hoa đầu lãnh đâu rồi?

- Y đang đi xem xét mọi việc trong Sơn trại.

- Đệ tưởng Cẩn Hoa bỏ đi rồi. Hiện thời chúng ta sáu người. Nếu Chử Thiện, Đặng Kim Thanh đúng hẹn, tổng cộng sẽ có tám người, yên trí được về mặt quan quân. Hẳn Hầu đại ca bớt lo hơn trước.

- Dĩ nhiên rồi. Một ngày trời, bỗng dưng sơn trại có thêm được ba hảo đầu lãnh, đâu phải chuyện dễ dàng.

Từ hôm đó, Hầu Văn Lượng bàn bạc với mọi người, cắt đặt lại các công việc trên sơn trại, canh phòng thêm nghiêm ngặt hơn nữa.

Ngoài ra, họ Hầu còn theo ý kiến Tần thị và Lưu Đức Quan, lập hai ngôi tửu điếm ở hai địa đầu lối vào sơn trại Một điếm ở lối Cẩn Châu tới do Mẫu Đại Trùng Tiết Cẩn Hoa đảm nhiệm.

Một điếm ở trên đường Định Châu thuộc Phúc Kiến. Điếm này Hầu Văn Lượng nhờ Tần thị và Đới Ngọc Hoàn trông coi, chờ chừng nào có thêm đầu lãnh sẽ mời Tần thị về sơn trại, thích hợp với bản lãnh hơn.

Thiệt ra, Hầu Văn Lượng muốn đặt Hứa Khải Liêm vào chân Tần thị xuống coi tửu điếm cùng Đới Ngọc Hoàn, nhưng sau khi suy tính thấy không được, e Hứa Khải Liêm háo sắc thấy Đới Ngọc Hoàn diễm dáng mỹ miều, động tình, làm bậy xao lãng bổn phận làm tai mắt cho sơn trại chăng.

Hứa Khải Liêm cũng muốn xuống tửu điếm vì ở sơn trại bị Hầu Văn Lượng kiểm soát gắt gao quá, gần lửa rát mặt.

Hầu Văn Lượng theo phương hướng, đặt tên điếm hướng Cẩn Châu là Tây Phương lữ điếm, còn ngôi điếm bên đường Định Châu lấy tên là Đông Phương. Hai ải đệ nhất và đệ nhị đặt dưới quyền Hứa Khải Liêm. Mọi việc cắt đặt xong xuôi thì vừa lúc hai người bạn giang hồ hắc đạo của Lưu Đức Quan và Hầu Văn Lượng tới nơi.

Tay bắt mặt mừng, Hầu Văn Lượng yêu cầu Chử Thiện và Đặng Kim Thanh ở lại giúp sức. Hai người nhận lời ngay.

Chử, Đặng vốn là hai bạn thân thiết, hoạt động tay đôi trong vùng Lưỡng Quảng, thường xuất hiện trên đường từ Liễu Châu đến trường Châu. Chử Thiện lùn không đầy bốn thước, nhưng to ngang quen sử dụng cây côn sắt hổ đầu, bản lãnh rất khá, lanh lẹ vô cùng, nổi danh trong giới lục lâm là Nụy Cước Hổ.

Trái với vóc dáng mập lùn của bạn thiết, Đặng Kim Thanh cao lênh khênh gầy guộc, tóc đỏ hoe, mặt vàng mét như kẻ mới ốm dậy, kỳ thiệt bẩm sanh hình vóc như vậy, nhưng không bao giờ đau ốm, dũng lực đáng kể, thiện dụng cặp giản.

Giới đại đao gọi Đặng Kim Thanh là Bệnh Nhị Lang. Họ Đặng còn có tài phóng phi tiêu bách phát bách trúng, nổi tiếng ưa dùng đòn ngầm, miễn sao hạ được địch thủ thì thôi.

Các bạn đồng nghiệp giao dịch với Bệnh Nhị Lang Đặng Kim Thanh đều nhất mực nể hay sợ y, không bao giờ dám xích mích cùng y, chỉ vì e họ Đặng "thù dai" thì rất phiền.

Tuy vậy, Kim Thanh rất biết nhường nhịn, ít khi nóng giận. Ai biết tánh y, giao thiệp dễ dàng, ưa giúp đỡ, dù công chuyện khó khăn đến đâu, Kim Thanh cũng không từ nan. Đối với Lưu Đức Quan, Kim Thanh kính trọng như bậc anh cả, phần nể vì tài đơn đao, phần kính vì họ Lưu đứng đắn. Hai người Chử, Đặng sở dĩ quen thuộc với Hầu Văn Lượng là cũng do Lưu Đức Quan giới thiệu.

Trước kia, Hầu Văn Lượng thấy cả hai cũng có tài võ nghệ nên định giới thiệu về Kim Lăng cho Thuận Vương, ngôi cao bổng hậu. Quen với đời sống phiêu bạt, lưu động nay đó mai đây. Chử, Đặng cũng chối từ không tham dự. Đó là một điều may mắn cho họ, nếu không thì có lẽ lúc này cả hai cùng hoặc bị tử trận, hoặc bị bắt giải về Yên Kinh cùng đồng bọn Kim Lăng tặc tướng rồi...

° ° °

Nói về Tam hiệp, Thiết Xích Tử cùng Trương Nghĩa, người nhà của quan Trường Sa, rời phủ thành xuống lối Cẩn Châu.

Tới đâu bốn người hỏi thăm đường vào Thập Vạn Đại Sơn.

Con đường này khá lớn vì là lối thông thương thuyết huyết mạch từ Cẩn Châu qua Định Châu, thuộc địa phận Phúc Kiến.

Khách thương qua lại không ít. Họ đi thành đoàn đông, nhờ các phiêu cuộc ở Cẩn Châu hay Định Châu bảo vệ Sự bảo vệ này không có nghĩa là định đối đầu với Thác Tháp Thiên Vương hùng cứ Đại Sơn, nhưng để đối đầu với các lục lâm lẻ tẻ khác Riêng với Hầu Văn Lượng dưới thời Thuận Vương không những lực lượng đã mạnh mà uy thế cũng ghê gớm, huyện quan Cẩn Châu cũng phải e nể nữa là các tiêu sư tầm thường Bởi thế, nhiều người biết mình, trăm trận đánh trăm được, các tiêu sư đều chẳng ai bảo ai, mà đều dùng mánh khóe "ngoại khoa" giao dịch, thương lượng ngầm với sơn khấu Thập Vạn, yêu cầu ngơ việc chặn đường mãi lộ, cho các thương đoàn được qua lại trót lọt Tùy theo sự hàng hóa nhiều ít, khi đi qua đại sơn, Hầu Văn Lượng phái người ngầm kiểm điểm, bắt các tiêu sư nộp một số bạc bách phần tương đối Các tiêu sư không kém, "mánh lới" cùng với bọn đầu mục có phận sự kiểm điểm thương đoàn, "vi thiềng" và đóng ít tiền đi. Bọn đầu mục thấy phát tài, chịu điều đình ăn thông với tiêu sư, Hầu Văn Lượng và các đầu lãnh ở trên núi biết đâu mà dò Lúc đó nhờ số bạc do Thuận Vương cung cấp nuôi binh, Hầu Văn Lượng mãi trông coi các việc khác hệ trọng hơn là sự thâu "mãi lộ ngầm" của tiêu sư, nên các tiêu sư thả cửa ăn thông với bọn đầu mục Đại lộ quan trọng giữa hai miền Cẩn Định song bị Đại sơn án ngữ ngay vào quãng gần giữa, thành thử chỉ có lữ điếm ở hai bên đầu đường. Phần giữa gần sơn trại quá, không một ai dám thành lập tửu quán, sợ bị sơn khấu quấy nhiều. Vả lại, Thác Tháp Thiên Vương cũng ra lệnh cấm nhặt, bắt bộ hạ dò thám, tuần tiễu khắp vùng lân cận, nếu kẻ nào dại dột mon men đến đó, thì bắt ngay sơn trại điều tra. Hầu Văn Lượng còn cấm các tiều phu không được vào núi đốn củi tìm cây Sau khi em Thuận Vương trấn nhiệm Trường Sa bị triệu hồi Yên Kinh và tân quan thay thế, Hầu Văn Lượng còn nghiệt nữa về đủ phương diện. Bọn đầu mục bị kiểm soát chặt chẽ, không thể thông đồng với các tiêu sư được như trước nữa. Phiêu cuộc phải nạp đủ số tiền tương đối với thương đoàn qua khu vực Đại Sơn, một phân bạc cũng không thiếu Hai người, Hoàng Trọng Hà và Tôn Vương không thận trọng, trá hình làm tiều phu vác rìu vào rừng sâu thuộc phạm vi Đại Sơn vờ đốn củi, dò thám tình thế hiểm tuấn của ngọn núi nên sa lưới sơn khấu ngay Hoàng, Tôn không còn chối cãi được nữa. Đời ai lại dám đi một mình vào một khu hoang sơ như Đại Sơn đẵn củi.

Đẵn bán củi cho ai? Nhất là quanh vùng thiếu chi rừng hoang đốn củi mà lại tới đó.

Hoàng, Tôn hấp tấp không hiểu tình hình đã vội "lạc lõng" ngay vào giữa khu vực nguy hiểm, nên để bại lộ việc phủ quan Trường Sa định chinh phạt thảo khấu.

Sự sơ hở của phủ quan phái người bất đắc lực đi do thám một việc quan trọng, sự kém cỏi vụng về Hoàng Trọng Hà và Tôn Vương trong công tác đã làm giật mình cho Hầu Văn Lượng, khiến họ Hầu vội vàng củng cố lực lượng thủ Đại Sơn. Trong trường hợp, nếu ý định đảng khấu không bị tiết lộ, tất việc hành quân không đến nỗi khó khăn trước một đối phương không phòng bị.

Tam hiệp và Thiết Xích Tử đi hết ngày hôm đầu sau khi rời Cẩn Châu, nghỉ lại tửu quán bên đường.

Chu Đức Kiệt hỏi chủ quán :

- Từ đây qua Thập Vạn Đại Sơn còn bao nhiêu xa nữa.

Chủ quán nhìn mấy người, đoạn trả lời :

- Còn hai ngày đường nữa thì qua Đại Sơn. Sáng mai khách quen lên đường, đi một mạch không bị sự cản trở thì hoặc sẩm tối ngày mốt, hoặc sáng sớm ngày thứ ba thế nào cũng tới nơi. Nội ngày mai còn đi qua các thôn trang như dọc đường từ Cẩn Châu đến đây, sáng ngày thứ ba, làng mạc và tửu điếm thưa lần lần.

- Tại sao vậy?

- Có một bọn cường khấu chiếm đóng Đại Sơn từ lâu rồi, nếu không ai dám ở gần khu vực ấy cả.

- Nghĩa là sang ngày thứ hai, ba, tư chúng tôi phải chuẩn bị vì không có lữ quán trúng độ đường.

- Dạ, trước kia thì như thế đó. Song ít bữa nay, đoàn khách thương ở Định Châu về qua đây cho chúng tôi biết rằng có hai tân tửu quán mới thành lập ở ngay khu Đại Sơn sạch sẽ và đàng hoàng lắm. Quý khách không sợ lỡ độ đường nữa.

- Người nào dám dựng tửu điếm gần sơn trại cũng gan dạ lắm nhỉ?

Chủ quán gật đầu :

- Gan dạ thiệt đó! Nhưng không nghe nói xảy ra chuyện gì cả, tức là an ninh. Có lẽ bọn sơn khấu không chú ý tới mồi nhỏ? Dù sao quý vị cũng nên tiểu tâm.

Hôm sau, năm người lên đường. Phong cảnh thiệt đẹp. Đồi núi chen chúc, thỉnh thoảng lại có thôn xóm xa, gần dựng bên suối nước trong veo.

Lam Y nói :

- Phong cảnh nơi đâu y hệt miền Bắc, ngắm không chán mắt.

Thiết Xích Tử nói :

- Hồ Nam là phần đất thuộc Trung Hoa cổ kính sông dài, suối rộng, rừng núi hùng vĩ chập chùng không khác chi đất Bắc, chẳng nên so bì với vùng Giang Nam và mấy nơi duyên hải.

- Hôm qua nghe chủ quán nói chuyện với gia huynh về tửu điếm gần Đại Sơn, tiên sinh có ý tưởng gì không?

Thiết Xích Tử gật đầu :

- Có chứ! Các vị tất không lạ gì việc sơn khấu thường phái nhân viên "Nhỡn Mục điếm" để tiện bề dò xét kẻ qua, người lại, quan sát thấy sự gì lạ hay nguy thì báo về cho sơn trại ngay. Hai điếm mới thành lập lấy phần tổ chức của cường khấu Đại Sơn đó.

Âu Dương Nữ nói :

- Chắc chắn như vậy. Nếu lập tửu quán sinh nhai được trong vùng Đại Sơn thì từ trước đến nay đã bao người làm rồi, lẽ nào chờ đến bây giờ bỗng nhiên mọc ra hai quán như tự trên không rớt xuống thế! Ta sửa soạn kế hoạch đi thì vừa. Tiên sinh, cô muội và Chu huynh lập sẵn chương trình hành động chưa?

Lam Y nói :

- Tiểu muội biếng nghĩ lắm. Xin nhường ba vị. Dù thế nào, chiều nay cũng phải để Trương Nghĩa ở lại tửu quán. Đem y vào Đại Sơn e lịch kịch lắm, thêm khó cho sự hành động.

Mọi người khen phải. Chu Đức Kiệt nói :

- Đối với Hầu Văn Lượng không những ta là khách qua đường, qua ngưỡng cửa trại giặc, mà còn là kẻ thù.

- Họ Hầu tất phải biết tin con y là Bạt Sơn Hổ tử trận trong Vương phủ mà điều khiển trận chiến là chúng ta. Mối thù đó...

Âu Dương Nữ nhìn Đức Kiệt :

- Tiểu muội đang tự hỏi kẻ nào biết được việc chúng ta điều khiển trận đánh trong Vương phủ Kim Lăng mà báo cáo cho Hầu Văn Lượng.

- Chà! Thiếu gì? Hoặc là bọn thủ hạ của Hầu Văn Báo, hoặc bọn đầu đà, và có lẽ và Tần thị và Hoa cô nương Đới Ngọc Hoàn.

Thiết Xích Tử gật đầu :

- Chu hiệp nói phải. Như hồi ở Sơn Phu, sau khi thất bại, Tần thị đã chẳng về nương nhờ Kim Lăng là gì? Nay thất bại nữa, lẽ nào chúng không về Đại Sơn nương thân chờ thời.

Chu Đức Kiệt nói :

- Bản lãnh như Tần thị không tầm thường hai lần chiến, hai lần bại nên mụ tặc đạo ấy và Đới Ngọc Hoàn nương náu ở Đại Sơn, tất kể chuyện chiến đấu trong Vương phủ. Do đó, Hầu Văn Lượng thấy e nể bọn ta hơn vì y suy xét rằng Kim Lăng tướng mạnh quân đông, ta còn chẳng sợ nữa là nơi sơn trại thảo khấu.

Mỉm cười, Âu Dương Nữ hỏi Đức Kiệt :

- Chu huynh định nói gì? Chúng e nể thì sao? Mà không e nể thì cũng sao.

- Ngu huynh tính thế này... thế này... Được không hả Trương tiên sinh và nhị vị hiền muội?

Thiết Xích Tử khen phải :

- Hành động lối ấy tôi ưa lắm. Thiệt ra rất đàng hoàng. Tiên lễ hậu binh. Nếu chúng không chịu, ta cứ việc "hậu binh" giữa ban ngày lo gì Lam Y đồng ý :

- Kế đó nghe được. Trong trường hợp chúng trở mặt, ta sẽ áp dụng lối "Đơn đao Giang Đông phó hội vậy".

Chiều hôm ấy vào quán trọ, Chu Đức Kiệt dặn Trương Nghĩa :

- Bây giờ sắp sửa thâm nhập vùng Đại Sơn đem ngươi đi theo không tiện, ngay như chúng ta cũng để cả hành trang lại quán. Ngươi khá coi giữ cẩn thận, ở lại đây cho đến khi ta trở lại nghe.

- Dạ tôi hiểu rồi, quý vị có thể trông cậy ở tôi.

Hồi đó, tiết cuối Thu, trời hơi lạnh. Ngoài y phục mang sẵn trên người, mỗi người chỉ đem theo một chiếc áo trấn thủ và mấy thứ cần dùng phòng khi cắm trại, còn thì để lại tửu quán.

Không vướng víu, Tam hiệp và Thiết Xích Tử cho ngựa đi lẹ hơn, nên xế chiều hôm thứ ba thì đi tới một bơi rừng bạt ngàn, trùng điệp, hùng vĩ. Xa xa dựa bên suối, một tửu điếm rộng rãi khang trang, lá chiêu bài vàng Chử đỏ gài trên thân cây đại thọ trước cửa điếm.

Chu Đức Kiệt dặn Thiết Xích Tử :

- Cẩn thận sự xưng hô nhé! Chúng ta là bạn đồng hành. Ba anh em tôi dùng hai Chữ "tiên sinh" như thường, nhưng đối với chúng tôi, tiên sinh đừng dùng Chữ "Hiệp" lộ liễu quá.

Thiết Xích Tử mỉm cười :

- Dạ, tôi hiểu rồi, đại ca ạ. Coi kìa, bọn tiểu nhị nghe tiếng vó ngựa đã ùa ra đón khách... Ồ, lại có cả một bà lực lưỡng nhường kia! Mới nhìn đã thấy vui mắt rồi!

Lam Y bình phẩm :

- Hừ! Tửu điếm ở giữa nơi sơn cước mà có thứ phụ nữ này đáng nghi quá. Chúng ta giả đò đi thẳng xem thế nào, nhé.

Một tên tiểu nhị chạy thêm ra mấy bước gọi :

- Mời quý khách ngừng bước nghỉ thôi. Gần đây không có tửu điếm nào nữa đâu. Đi thêm sẽ lỡ độ đường.

- Thiệt vậy không? Hay ngươi trí trá để rước khách?

Tiểu nhị chỉ tay về tửu điếm :

- Lẽ nào chúng tôi dám trí trá, vả lại bổn điếm khang trang nhường này, quý khách không vừa ý sao?

Nhìn qua tửu điếm một lần nữa, rẽ ngựa đến trước cửa nhảy xuống trao cương cho tiểu nhị.

Thiết Xích Tử lững lờ nhìn lá chiêu bài gài ở thân cây đại thọ :

- Tây Phương điếm!

Mẫu Đại Trùng Tiết Cẩn Hoa vì chính mụ đăm đăm nhìn bốn con tuấn mã, khen thầm ngựa quý, đoạn đon đả đón khách :

- Mời quý khách quá độ vào bổn điếm nghỉ ngơi. Cơm rượu, ngon lành, hỏa đầu giỏi, khang trang sạch sẽ, chắc quý vị sẽ được vừa lòng.

Vừa nói, Mẫu Đại Trùng vừa nhận xét bốn người mới đến và hỏi tiếp :

- Quý vị từ đâu qua đây? Đang đi Định Châu phải không?

Chu Đức Kiệt đáp :

- Từ Trường Sa qua đây, và không đi Định Châu.

Câu nói của chàng có sức mạnh khiến cho Mẫu Đại Trùng mất bình tĩnh. Ai cũng nhận thấy sự ngạc nhiên thoáng hiện trên nét mặt tinh quái của mụ ta Nhận thấy cái hở xúc động của mình vì hai tiếng "Trường Sa", Mẫu Đại Trùng nói lảng :

- Quý khách lấy mấy phòng?

- Hai phòng liền nhau, hay một phòng lớn cũng được.

Mẫu Đại Trùng dẫn bốn người vào nhận căn phòng lớn nhất.

Cất hành lý, rửa mặt xong xuôi, tất cả cùng trở ra thực phòng lựa thồi, gọi thức ăn.

Tiểu nhị hỏi Thiết Xích Tử lớn hơn cả :

- Quý khách dùng rượu không?

- Có lấy hai hồ rượu hảo hạng.

Tiểu nhị trở vào, lát sau bưng các món ăn, rượu và bốn chiếc ly bàu ra thồi. Y rót rượu hầu.

Chờ tiểu nhị rót sang ly thứ hai. Chu Đức Kiệt úp hai chiếc ly của Lam Y và Âu Dương Nữ xuống thồi nói :

- Hai ly đủ rồi, hai người không uống.

Giữa lúc đó, Mẫu Đại Trùng ngồi ở quầy hàng vội lên tiếng bảo tiểu nhị :

- Sao ngươi lại lấy lầm thứ rượu không được ngon thế này? Ta nghe rõ ràng quý khách gọi rượu tốt mà.

Dứt lời, mụ bước lẹ đến thồi bốn người nói mấy câu xin lỗi, tự tay rót hai ly rượu đầy vào hồ thiếc, rồi mắng tiểu nhị :

- Chứng nào vẫn tật ấy, hay quên. Vào lấy rượu ở bình sứ ra đây!

Mụ quắc mắt nhìn tên tiểu nhị đang luống cuống không biết hành động thế nào cho trúng ý chủ nhân.

- Thưa, hồ thiếc mà... hồi nãy...

Mẫu Đại Trùng át giọng :

- Lấy ngay rượu ở bình sứ ra đây, đó mới là rượu ngon! Lẹ lên, lấy thêm cả ba chiếc ly khác nữa. Mau!

Tiểu nhị luống cuống cầm hai ly dở và hai hồ rượu thiếc vào nhà trong. Lát sau, y bê hai bình sứ và mấy ly sạch bầy trên khay tươm tất trở ra Mẫu Đại Trùng tự tay rót rượu mời Thiết Xích Tử, Chu Đức Kiệt và rót đầy ly thứ ba, uống một hơi cạn.

- Bây giờ mới là rượu hảo hạng, mời quý khách dùng cho khỏe người kẻo đi đường xa mệt nhọc. Tên tiểu nhị này đãng trí hay sơ suất, người vui lòng tha lỗi.

Lam Y nhìn ba bạn đồng hành, mỉm cười, cầm bình rượu rót đầy ly cho Âu Dương Nữ, cho nàng và rót luôn vào ly của Mẫu Đại Trùng đoạn kéo ghế mời ngồi.

- Chủ quán cũng là chỗ bạn gái, ngồi đây nhắm nháp nói chuyện cho vui.

Mẫu Đại Trùng đàng hoàng ngồi xuống ghế, không chút câu nệ :

- Tiết Thu ở giữa miền rừng núi khá lạnh, quý khách có muốn hâm rượu, tôi sẽ sai đem lò lửa lên.

Lam Y lắc đầu :

- Uống thế này vừa ngon, hà tất phiền thêm. Nào xin mời...

Nàng và Âu Dương Nữ nưng ly. Mẫu Đại Trùng uống theo. Thiết Xích Tử đang khát, hối tiểu nhị đổi ly lớn, uống luôn một chập như trâu vục nước hết nhẵn cả hai bình, đoạn gọi luôn hai bình khác, tự rót mời Mẫu Đại Trùng.

Viên nữ đầu lãnh lăn lóc đã nhiều giữa bọn thảo mảng cường tặc cũng phải ngạc nhiên về tửu lượng vô song của Thiết Xích Tử càng uống càng tỉnh không biết say. Mụ còn sợ hơn nữa về mánh lới giang hồ lão luyện đổi rượu của bốn vị quý khách. Mụ chú ý đến hai thanh trường kiếm của Lam Y, Âu Dương Nữ và cây Thiết Tinh Đơn Đao của Chu Đức Kiệt và ba vòng thiết xích đen sì của Trương Tam Sơn. Mẫu Đại Trùng tự nhủ: "Hẳn đây là những món bảo khí hữu dụng của nhà nghề, khác xa với những thứ võ khí thông thường của khách trường hành mang theo phòng thân!" Tuy chưa biết bốn người đó thuộc nhân vật nào, những linh tính báo cho mụ biết rằng họ chẳng phải thường nhân. Bởi vậy, Mẫu Đại Trùng nảy ý kiến bắt họ giải sơn trại, đoạt các món võ khí mà mụ cho là hảo hạng và bốn con tuấn mã lực lưỡng đầy sinh khí.

Trong khi bốn người rửa mặt, Mẫu Đại Trùng thừa dịp dạy tên tiểu nhị nếu khách gọi rượu sẽ bỏ thuốc mê vào hồ thiếc đem ra. Tiểu nhị thi hành đúng lệnh chủ. Chẳng dè, "cao cờ" gặp "cờ cao". Lối dùng rượu "lanh ly" của Chu Đức Kiệt đã đánh sai lạc cả mưu mô của viên nữ đầu lãnh cường sơn.

Khách hiện diện bốn người, hai nam hai nữ trung hào kiệt Lão hán đeo xích sắt và anh chàng tuấn tú kiêu dũng kia "đổ" vì rượu có thuốc mê ngấm mạnh đã đành, nhưng còn hai nữ kiệt không uống, biết rượu hãm thuốc mê dĩ nhiên hai cây trường kiếm ghê gớm kia sẽ chẳng chịu nằm gọn trong vỏ.

Bỗng dưng gây ra một trận xô xát ích lợi để làm gì?

Không bắt nổi, thà rằng để họ đi còn hay hơn. Lập Tây Phương điếm, đại đầu lãnh Hầu Văn Lượng chỉ có một mục đích phòng ngừa bắt các thám tử Trường Sa và bọn Lam Y nữ hiệp nếu họ đến quấy rầy sơn trại.

Hai tay cân quắc anh hùng kia, một vận võ phục sắc lam thật, một võ phục tím huyền nhưng không chắc thiếu nữ lam y đã hẳn là Lam Y nữ hiệp. Phụ nữ dùng nhiều sắc áo, biết đâu người ấy đã chẳng vô tình mang trúng màu sắc của vị Nữ hiệp lừng danh thời đại ấy.

Tính kỹ hơn, bốn người lướt qua ngựa qua điếm định đi thẳng, chẳng muốn dừng chân. (Đây cũng là một mánh lới đánh lạc sự nghi ngờ của lục lâm tặc điếm do Tam hiệp sắp đặt từ hôm trước), nếu chính mụ, Mẫu Đại Trùng không hò bọn tiểu nhị chạy ra đón khách.

Suy tính như vậy, nên Mẫu Đại Trùng vội vờ vĩnh mắng át tên tiểu nhị thay "rượu" lành cho khách uống. Mụ còn đích thân uống trước một ly cho khách khỏi nghi ngờ.

Bốn tay giang hồ hiệp khách thừa biết như vậy, cười thầm. Cẩn thận hơn nữa, Lam Y e nữ chủ quán ngậm trước thuốc giải mê nên nèo Mẫu Đại Trùng đồng ẩm. Nàng thừa hiểu đang cụng ly cùng cường khấu ở giữa khung cảnh Đại Sơn của dãy Thập Vạn hiểm tuấn.

Tuy vậy, Mẫu Đại Trùng còn thắc mắc ở điểm hành lý "quá nhẹ" của bốn quái khách trường hành.

Đường xa, dặm thẳng, lẽ nào mỗi người chỉ mang theo một bọc áo nhỏ xíu? Vô lý quá! Họ đã chẳng nói là từ Trường Sa phủ qua đây đó ư? Hay là họ khôn khéo và mưu tính gì đây?

Mẫu Đại Trùng hỏi :

- Quý khách từ Trường Sa qua đường này không đi Định Châu thì đi đâu? Con lộ này dẫn tới Định Châu thuộc đất Phúc Kiến.

Lam Y nói :

- Chẳng giấu gì chủ điếm, chúng tôi thuộc đoàn mãi võ lớn lưu động từ Bắc chí Nam. Mới đây diễn Trường Sa. Đi tới đâu may mắn cũng được thập phương tử quý mến hoan nghênh, số tiền thâu khá nhiều. Chẳng dè, trong đoàn có mấy kẻ tham lam, ẵm trọn túi bạc dông nhất. Còn lại ba anh em tôi và gia thúc (Lam Y chỉ Thiết Xích Tử). Chúng tôi theo vết bọn manh tâm xuống Cẩn Châu. Sau mấy ngày thăm dò, có người nói là có một bọn chúng đi đường này. Họ tả hình dáng, y phục rất trúng nên chúng tôi vội bỏ cả hành lý ở lữ quán Cẩn Châu đuổi theo. Chẳng ngờ đường quá dài, lạc lõng tới đây, Đại Nương có thấy bọn sáu người qua khu này không?

Lam Y đóng kịch khéo khiến Mẫu Đại Trùng lúc đó tưởng thật.

Mụ đáp :

- Không. Tôi có mặt ở tửu điếm cả ngày mà không thấy toán người nào có vẻ thuộc mãi võ đoàn đi qua cả. Hay là người ta chỉ lầm đường cho cô nương? Mãi võ đoàn thuộc tỉnh nào?

Lam Y không do dự :

- Tế Nam phủ, Sơn Đông. Phiêu bạt hơn năm nay rồi mà chưa hồi cố hương, nghĩ đến buồn. Bây giờ còn vẻn vẹn bốn người, không lẽ cứ tiếp tục hành nghề mãi kiếm tiền độ đường mới hòng về được hương quán. Chán nản quá, gia thúc bàn muốn giải nghệ. Mà giải nghệ thì sinh nhai bằng cách nào?

Mẫu Đại Trùng nghĩ thầm:

"Trông bọn này cũng chẳng phải tay vừa. Chi bằng đang lúc sơn trại cần nhiều người, ta rủ chúng ở lại Đại Sơn tụ họp, hay biết nhường nào".

Mụ thở dài ra dáng ái ngại :

- Trước kia, tôi cũng phiêu bạt mãi võ khắp nơi, tốn công, hại sức mà rút cuộc chẳng ăn thua nên xoay nghề khác, mới đây, gặp được người quen giúp vốn mở ngôi tửu điếm này và được an thân.

Âu Dương Nữ nói :

- Đại nương may mắn gặp người quen, chớ chúng tôi biết quen ai nơi đất khách quê người này? Ai hơi đâu bỏ tiền ra giúp đỡ? Ăn xài quen rồi, mai mốt đây chẳng biết ra sao thế nào?

Mẫu Đại Trùng tóm trúng cơ hội :

- Vị ân nhân của tôi ở gần đây, nếu quý vị cần giúp, tôi sẽ vui lòng giới thiệu. Người ấy cũng là một tay thảo dã anh hùng, hào phóng lắm.

Chu Đức Kiệt nói :

- Chúng tôi những bốn miệng ăn ai chứa nổi, chỉ e phiền Đại nương thêm khó chịu cho lệnh ân nhân.

Mẫu Đại Trùng đẹp ý :

- Không sao! Không sao, tôi chỉ e quý vị không chịu theo lời...

Nói tới đây, mụ bỗng im bặt. Mụ đâm ra ngờ vực, không hiểu sao nên hay không nên? Bốn người này có thật là những tay giang hồ mãi võ không? Khó lượng đoán quá! Coi chừng kẻo bị Thác Tháp Thiên Vương quở trách.

Lam Y thừa biết viên nữ đầu lãnh Đại Sơn đang suy tính gì. Nàng kín đáo đưa mắt nhìn Âu Dương Nữ đoạn hỏi Mẫu Đại Trùng :

- Dù là người có bản lãnh, can trường một mình điều khiển lữ điếm giữa khu hoang độc này, đại nương không thấy thoái chí sao? Tôi phục lắm đó...

Bị xoi mói đúng chỗ, Mẫu Đại Trùng trả lời bâng quơ :

- Chà! Mới đầu cũng thấy ngại, sau ở mãi cũng quen.

Âu Dương Nữ hỏi :

- Nghe nói khu vực này có toán sơn khấu chiếm đóng, chúng không quấy nhiễu đại nương ư?

Mẫu Đại Trùng thản nhiên :

- Tiểu điếm này còn có gì đáng giá cho bất cứ ai để ý tới nữa? Tiền bạc thì không có nhiều, vật dụng trong quán sơ sài không đáng kể, cường khấu đâu thèm ngó tới.

- Dù sao, bọn sơn tặc ấy nay mai cũng bị chinh phạt. Khách thương sẽ qua lại con lộ này được dễ dàng và thôn dân lân cận sẽ khỏi sống trong cảnh lo sợ ngày đêm Thiết Xích Tử vờ mắng át Âu Dương Nữ :

- Chà, điệt nữ lắm lời quá! Đảng khấu làm việc bí mật quân sự, không thuộc bổn phận ta, bép xép làm chi.

Mẫu Đại Trùng giật mình nhưng trấn tĩnh được ngay. Mụ thắc mắc, vờ vĩnh :

- Nói chuyện với tôi thì có gì đáng ngại? Tôi cũng mong quan quân thành công, khách thương qua lại đông đảo, bổn điếm mới hòng phát tài chớ!... Tin đó có chắc chắn không hả tiên sinh. Đã là bí mật quân sự làm thế nào mà chư vị biết được?

Ngần ngừ giây lát, Thiết Xích Tử đáp :

- Tiểu nữ dã trót lỡ lời, tôi cũng chẳng dấu diếm làm chi. Nguyên chuyến vừa rồi ở Trường Sa, chúng tôi nhận thấy quan quân được điều động từ các nơi đến rất đông. Nhờ sự hành nghề mãi võ, chúng tôi len lỏi đây đó, làm quen được với mấy viên bộ tướng mới hiểu rằng đại quan trấn thủ Trường Sa không những huy động bản bộ quân, mà còn được sử dụng các bộ đội Hán Dương, Ngân Khánh, đến giúp tảo trừ tặc khấu Thập Vạn Đại Sơn. Đoàn quân hùng hậu ấy mà tới đây, thì dù sơn tặc đầy đủ biết mấy cũng chẳng chống cự nổi.

Giọng nói, nét mặt thực thà của Thiết Xích Tử khiến Mẫu Đại Trùng tin ngay.

Nữ đầu lãnh cố gợi chuyện :

- Trước khi khai trương bổn điếm, các hảo hán Đại Sơn đã lập sơn trại từ nhiều năm rồi, lẽ nào bây giờ quan quân mới nói tới chuyện chinh phạt. Chắc hẳn phải có chuyện gì?

Chu Đức Kiệt nói :

- Có lẽ bọn tặc đạo trêu chọc chi đó, nên đại quan trấn nhậm Trường Sa mới quyết định một việc lớn lao như công cuộc trừ đảng khấu sắp tới đây.

Lam Y cười :

- Đã đi ăn cướp cũng còn hay dở đói! Nay mai mới biết thân.

Mẫu Đại Trùng cố thản nhiên ngồi im. Mụ nghĩ tới Hầu Văn Lượng bắt giam hai nhân viên của Trường Sa phủ: Hoàng Trọng Hà và Tôn Vương. Trà nước xong, trời đã tối mịt.

Mọi người sửa soạn vào phòng nghỉ ngơi. Chu Đức Kiệt bảo tiểu nhị dẫn xem tàu ngựa. Tửu điếm khá rộng rãi, phòng ốc, bếp nước, sân vườn sau ngăn nắp. Một dòng nước nhỏ chảy từ khe núi phía sau điếm qua vườn. Cổng hậu đóng chặt. Trong tàu, ngoài bốn con ngựa của bốn người mới tới, còn có hai con khác nữa.

Bọn tiểu nhị lăng xăng dọn dẹp, sửa soạn qua đêm.

Đức Kiệt trở về phòng, đóng cửa lại.

Chàng đến bên Lam Y, và Âu Dương Nữ đang tì tay lên thành cửa sổ nhìn ra ngoài trời sương lam phủ mờ mờ.

Lam Y nói nhỏ :

- Tĩnh tai nghe động tĩnh, mụ chủ quán chẳng ngồi yên đêm nay đâu.

Nói đoạn, nàng khép cửa sổ, Âu Dương Nữ quay vào tắt đèn.

Thiết Xích Tử ngồi lù lù trong góc giường mắt nhắm nghiền như pho tượng. Trong điếm, mọi người cũng đã đi ngủ, hoàn toàn im lặng.

Đêm sơn cước thiệt âm thầm lặng lẽ. Độ chừng khoảng ngót canh hai, chợt có tiếng động bất thường từ đâu vọng nhẹ tới. Thiết Xích Tử mở choàng mắt trừng trừng nhìn Tam hiệp vừa đứng phắt dậy.

Chu Đức Kiệt ghé tai bảo nhỏ Lam Y, Âu Dương Nữ :

- Tiếng mở cổng sau. Theo xem!

Dứt lời, chàng quay ra nơi Thiết Xích Tử vẫn ngồi y nguyên :

- Tiên sinh ở lại, bọn tôi ra xem có chuyện gì.

Im lặng, Thiết Xích Tử vẫy tay ra hiệu bảo mọi người tùy tiện.
Lẹ làng như ba con vượn, Tam hiệp mở cửa sổ nhảy ra ngoài, phi thân lên nóc điếm nằm sát xuống mái quan sát, mỗi người nhìn ra một phía. Bỗng Đức Kiệt đập vai Lam Y, Âu Dương Nữ chỉ ra hướng chênh chếch phía sau tửu điếm. Hai người nhìn theo. Trong màn sương lam ngắt, một bóng đen đi rất lẹ vòng phía hữu ra mặt tiền. Tam hiệp nhận ra là Mẫu Đại Trùng. Mụ ngoái đầu nhìn toàn thể khu tửu điếm, rồi vùn vụt chạy thẳng tho mặt đường.

Chờ chủ quan khuất sau bóng cây, Lam Y nói nhỏ :

- Theo xem, chắc mụ ta lên sơn trại.

Tam hiệp nhảy xuống đất êm ru, len lén ra mặt lộ, lẩn sau các gốc cổ thụ um tùm cành lá như những con quỷ khổng lồ.

Mẫu Đại Trùng còn chạy phía trước ngay lộ. Tam hiệp theo dõi không một tiếng động. Võ phục sẫm màu, ba người hòa mình trong bóng tối giữa ngàn cây thoăn thoắt như ba con vượn.

Không nghi ngờ, Mẫu Đại Trùng chạy được một quãng chừng bốn, năm trăm sải liền rẽ sang phía hữu.

Sợ mất hút, Tam hiệp lẹ chân chạy tới nơi, núp sau đại thụ nhìn theo. Đó là con đường nhỏ dẫn tới một trái núi cực kỳ hiểm tuấn với những mô đá nhấp nhô, thành đá chênh vênh ẩn hiện trong bóng cây.

Mẫu Đại Trùng vẫn lù lù ở phía trước. Mụ đi lẹ không chạy nữa.

Được một quãng ngắn, bỗng có tiếng quát nhỏ, tuy nhỏ những cũng đủ vọng đến tai Tam hiệp giữa chốn sơn lâm yên lặng âm u :

- Ai đó?

- Ta đây, Tây Phương điếm.

- Mời đầu lãnh qua.

Mẫu Đại Trùng rẽ luôn vào sau các mô đá, khuất bóng.

Lam Y nhìn bao quát, chỉ tay lên các mô đá lớn :

- Chuyển vòng qua các mô đá mới theo được.

Tức thì, lẫn trong bóng tối, băng qua mặt tiểu lộ, Tam hiệp phi thân lên mỏm đá thứ nhất, chuyển theo hướng mà ba người phỏng đoán lối đi của viên nữ đầu lãnh Đại Sơn. Ước chừng đã qua hẳn nơi có lâu la canh phòng, Tam hiệp ngồi thụp trên mỏm đá lớn nhận định. Quả nhiên có lối nhỏ lên dốc.

Mẫu Đại Trùng vẫn lẹ bước phía trước. Kẻ trước, người sau, theo nhau, vòng vèo. Đường mòn dẫn tới một cổng đá lớn có vọng lâu. Bên trong ánh đèn le lói.

Lần này, Mẫu Đại Trùng lên tiếng trước.

- Hứa đầu lãnh thức hay ngủ. Tôi quá quan với việc gấp.

Một thứ tiếng ồ ồ đáp lại :

- Có việc gì không? Về sơn trại khuya thế này?

- Không tiện về sớm. Giờ này mới đi được.

- Món bở hả?

- Bở cái gì! Có tin qua trọng, cần gặp Hầu đại ca ngay định đoạt.

Sau mấy câu trao đổi, có tiếng cổng mở, đóng rồi cảnh vật lại âm u yên lặng như thường.

Lam Y châu đầu cùng hai bạn đồng hành bàn tính. Nàng nói :

- Chúng xây dựng thành ải nơi đây. Phải vượt thành mới vào được. Đêm khuya thế này chắc bọn sơn tặc chỉ canh phòng nơi cổng, chớ không phân tán ra hai bên thành đá đâu. Thử xem!

Tam hiệp lặng lẽ chuyền trên các mô đá cao vào tới thành đá xây liền với vách núi. Quả như Lam Y tiên đoán, không có quân canh trên mặt thành. Ba người phi thân lên mặt tường nằm xuống nhìn vào trong.

Mẫu Đại Trùng đã đi khuất. Tam hiệp quan sát hai bên vách đá thiên nhiên cao sừng sững. Khu trống ở giữa hai vách đá là bức tường thành dài rộng kiên cố, bên trong và bên ngoài ăn thông bởi cái cổng mà viên nữ đầu lãnh vừa qua. Phía trong cũng có nhiều mô đá lớn nhỏ.

Tam hiệp chuyền xuống mặt đất len lỏi lần vào phía trong. Ba người thấy tốp lâu la canh phòng trên vọng lâu trông thấy, nên không dám chuyền trên các mỏm đá. Đường thoai thoải dốc.

Lát sau, tới khúc tay tả, Tam hiệp bắt kịp Mẫu Đại Trùng đang đi phía trước mặt.

Đồng thời, có tiếng chân toán lâu la tuần phòng, sáu tên đao tuốt trần.

Gặp Mẫu Đại Trùng chúng ngập ngừng bước chào, rồi lại tiếp tục đi.

Chờ toán tuần phòng đi khỏi, Tam hiệp bắt đầu tiến thì vừa lúc viên nữ đầu lãnh rẽ sang phía tay hữu.

Âu Dương Nữ nói nhỏ :

- Địa thế này chắc còn ải môn nữa mới vào tới sơn trại.

Lam Y đáp :

- Phải đấy. Đường bắt đầu dốc nhiều.

Kẻ trước, người sau, vòng vèo lên dốc, quanh co mãi mới tới đệ nhị ải môn.

Chuyến này, kinh nghiệm hơn, Tam hiệp lẩn mình trong bóng tối, chuyền trên các mô đá đến tận chân tường thành, nơi xa cổng trại, đứng áp lưng vào tường nghe ngóng, không thấy gì lạ mới phi thân lên mặt thành. Lúc đó, Mẫu Đại Trùng đã vào cửa quan.

Phía trong là sơn trại, nếp dọc, nếp ngang, sân đá thiệt rộng lớn.

Vào trước, Tam hiệp nằm áp trên mái nhà ngang, nhìn Mẫu Đại Trùng băng qua sân. Một tên lâu la cầm đèn lồng đi trước.

Mụ lên thẳng khu đại sảnh, đi vòng ngoài hành lang vào phía sau tới căn nhà lớn ở trung tâm sơn trại.

Tam hiệp chạy xuôi theo mái nhà ngang, ước lượng từ đó sang mái đại sảnh không vừa tầm chân bèn nhảy xuống sân, chạy vụt vào góc đại sảnh, phi thân lên nóc êm ru, lần vào phía trong thì vừa lúc Mẫu Đại Trùng đứng giữa cửa căn phòng đầu cùng một người nữa cao lớn.

Mụ bảo tên lâu la cầm đèn :

- Cho phép người lùi bước, không phải chờ nữa.

Tên lâu la đi trở ra.

Tam hiệp toan chuyển sang nóc căn nhà trung ương thì toán tuần phòng từ đầu căn nhà bên hữu đi tới. Chúng im lặng đi qua phía dưới, tiếng giày lệt xệt.

Chờ bọn tuần canh đi khỏi, Chu Đức Kiệt thì thào :

- Chắc đầu bên căn nhà kia, nơi có ánh đèn là phòng đại đầu lãnh. Qua đó, rút ngói nghe đi.

Đồng ý, ba người phi thân sang mái ấy, Lam Y nằm áp xuống nhẹ tay rút ngói.

Chu Đức Kiệt, Âu Dương Nữ chăm chú nhìn, lát sau thấy ánh sáng lờ mờ xiên qua mái bởi một kẽ ngói, thì biết là Lam Y đã hành động xong. Lam Y ghé tai nghe, trong khi Đức Kiệt và Âu Dương Nữ cũng nằm rạp xuống mái nhìn quanh.

Trong căn phòng phía dưới, ngọn đèn dầu pha lê đặt trên kỷ bên tường soi sáng khắp mọi nơi. Sự bày biện đơn giản nhưng sang trọng và thiệt gọn mặt. Mẫu Đại Trùng và người hồi nãy ngồi bên án thư nói chuyện. Không ngờ là bị theo dõi, hai sơn tặc bình tâm nói lớn như thường thành thử Lam Y nghe rõ mồn một câu chuyện dở dang...

Viên nữ đầu lãnh đang kể rõ việc bốn người tới trọ tại Tây Phương điếm và mọi sự cho người nọ nghe. Mụ kể rất rành mạch không thiếu sót chút gì, thỉnh thoảng lại dùng danh từ "Hầu đại ca" nên Lam Y biết đại hán ấy là Hầu Văn Lượng.

Nghe tới đoạn mụ định dùng thuốc mê bắt bốn người giải về sơn trại, Lam Y cười thầm:

"Bọn bây lừa nổi chúng ta còn khó lắm!".

Kể chuyện xong, Mẫu Đại Trùng hỏi :

- Bây giờ đại ca tính sao? Khó bắt lắm. Công việc cấp bách chỉ có đêm nay, qua ngày mai muốn làm gì càng khó khăn thêm.

Hầu Văn Lượng nhíu cặp lông mi chổi xệ :

- Sao đầu lãnh không thử dùng "muội hương".

- Cho thuốc mê vào rượu, chúng còn chẳng mắc mưu nữa là dùng muội hương, thế nào chúng cũng phòng bị. Chúng mà biết thì không thể nào tránh được xô xát, không ích lợi gì cho ta cả.

- Tôi nghi ngờ chúng là gian tế có ý dò xét cho thủ phủ Trường Sa.

- Không dám nói chắc. Vì ta nghi ngờ nên trông họ giống đủ mọi thứ người: Do thám cho Trường Sa, mãi võ hiệp khách... Bởi vậy, đã có lúc, tôi muốn dụ họ lên sơn trại, song lại e tự vạch áo cho người xem lưng.

Hầu Văn Lượng xua tay :

- Đầu lãnh đừng tự ý mời chúng lên đây. Nếu chúng thực tình nghe danh sơn trại, thì tự khắc đến đầu bôn mới đúng lý. Hay là...

- Hay là sao?

- Ta phái quân tướng xuống giúp đầu lãnh áp tới bắt trong khi chúng đang ngủ say?

Mẫu Đại Trùng lắc đầu :

- Tôi không chủ trương dùng võ lực. Chắc chắn họ sẽ chiến đấu tới cùng. Phần thắng chưa chắc đã nghiêng về ai. Tức là bất lợi cho ta rồi. Đại ca chớ khinh thường, họ không như hai tên gian tế bắt được trước đây đâu. Theo ngu ý, họ không là do thám tử của Trường Sa, vì lẽ đã vô tình nói cho ta biết sự huy động của bộ đội Trường Sa. Đó mới là việc đáng lo. Tôi vội về sơn trại báo riêng cho đại ca biết cũng vì lý do ấy. Đại ca cần phải định đoạt việc giam giữ hai tên thám tử của phủ thành. Theo ý bốn người nọ, Trường Sa huy động quân đội muốn đánh sơn trại cũng vì một lẽ riêng. Lẽ riêng ấy há chẳng phải là việc ta giam cầm hai người nọ sao?

Hầu Văn Lượng cau mặt :

- Bắt được gian tế không cầm tù thì còn làm thế nào hơn? Tôi không hạ lệnh chém là may rồi.

Mẫu Đại Trùng suy nghĩ giây lát :

- Tôi khuyên đại ca đối đãi với hai tên gian tế cho tử tế. Cho ăn, cho mặc và liệu bề phóng thích ngay. Trì trễ ngày nào có hại cho ta ngày đó. Nếu sau này lỡ xảy ra chuyện gì, đại ca đừng có trách tôi không bày tỏ ý kiến. Hiện thời, tôi đã nói hết lời.

Dứt lời, Mẫu Đại Trùng đứng lên muốn ra về tửu điếm.

Hầu Văn Lượng đưa tay ra hiệu :

- Hãy khoan! Tôi còn muốn hỏi điều này.

- Đại ca cứ dạy.

- Đầu lãnh có ngờ trong bọn bốn người ấy có anh em Lam Y nữ hiệp không?

Người tráng sĩ, hai thiếu nữ, có lẽ họ là ba người mà Tần mẫu Ngô Công đã gặp ở Kim Lăng?

Nói tới đây, Hầu Văn Lượng tươi tỉnh vì đã tìm được giải pháp. Y nói tiếp :

- Hay là sáng mai, tôi phái Tần lão mẫu và Đới Ngọc Hoàn đến Tây Phương điếm nhận mặt xem sao?

Mẫu Đại Trùng đáp :

- Đới Ngọc Hoàn ở bên Đông Phương điếm, sáng mai kéo được y về e trễ mất, chi bằng phái Tần thị xuống là đủ rồi. Nhưng đại ca cần phải căn dặn lão mẫu một điều.

- Điều gì?

- Đại ca thừa biết Tần lão mẫu và Đới Ngọc Hoàn có mối đại thù cùng Lam Y chứ gì?

Hầu Văn Lượng gật đầu :

- Phải. Một người thù giết con, một người thù giết phụ mẫu, ngay như tôi cùng thù ba người ấy, nhất là anh em Chu gia, vì cái chết Hầu Văn Báo.

- Thù trúng chỗ hay không, tôi không dám bình luận, như hiện tại, ta phải đặt tình trạng Đại Sơn lên trên hết mọi việc. Một khi nói tới quyền lợi chung của sơn trại, thì các mối tư thù đều phải được gác bỏ sang bên. Lam Y hạ sát con của Tần thị và song thân Ngọc Hoàn là do phải tự vệ trong vụ hắc điếm. Còn Bạt Sơn Hổ thân làm võ tướng, giữ chân đệ ngũ hổ, trong việc chiến trận sanh tử là thường, đại ca không nên quy cả mọi hiềm thù vào bọn Lam Y, vì nếu là anh em Lam Y không dự trận thì bộ đội của Triều đình cũng không bỏ vụ đánh Kim Lăng. Lấy việc tư làm công tôi e hỏng cả đại sự.

Hầu Văn Lượng cau mặt khó chịu :

- Nghĩa là đầu lãnh muốn tôi và mọi người đừng đả động gì tới bốn người nếu trong ấy có Lam Y?

- Đúng thế. Suy nhận ra thì hiểu. Một khi chúng đã dám tới đây. Một sơn trại hữu danh, mà chỉ đi vỏn vẹn có bốn người, tất chúng phải tin tưởng một vào bản lãnh của chúng bất chấp cả toàn thể Đại Sơn. Hai là chúng có hậu thuẫn ghê gớm, dù ta không muốn nhượng bộ, cũng sẽ phải nhượng bộ. Bởi hai lẽ này, tôi thấy cần đặt quyền lợi của sơn trại Đại Sơn lên trên hết. Nhưng lúc này, Kim Lăng đã đổ, ta cô thế, không nên hành động khiến quan quân phải chú ý tới chúng ta.

Đại ca từng nghe thuật vụ đánh Kim Lăng vương phủ chớ gì. Trong khi các anh hùng hào kiệt hành động ngay tại trung tâm Kim Lăng thì bộ đội triều đình đã bao vây khắp mọi nơi... Biết đâu kế hoạch đó không được áp dụng lần thứ hai với khu vực Đại Sơn này.

Nghe Mẫu Đại Trùng thuyết một hồi, Hầu Văn Lượng nhận là mụ nói có lý, và đặt quyền lợi Đại Sơn lên trên hết. Họ Hầu bảo Mẫu Đại Trùng hãy nán lại giây lát để y kịp suy nghĩ.

Trong khi Hầu Văn Lượng chắp tay ra sau lưng, đi đi lại lại trong phòng, Mẫu Đại Trùng lấy cây điếu đặt trên án nhồi thuốc bào rít một hơi.

Lát sau, Hầu Văn Lượng đứng sững lại trước mặt, Mẫu Đại Trùng mà rằng :

- Được lắm. Sáng mai, tôi sẽ nhờ Tần lão mẫu xuống tửu điếm nhận diện xem có Lam Y trong bọn bốn người khách trọ không, và cam đoan không cho Tần thị gây chuyện. Còn việc thả hai tên thám tử của Trường Sa, tôi sẽ cứu xét ngay. Đầu lãnh trở về kẻo trễ.

Trên nóc nhà, Lam Y không cần nghe thêm nữa và cũng không cần áp viên ngói lại như cũ, ra hiệu cho Chu Đức Kiệt, Âu Dương Nữ theo nàng.

Ba người theo lối cũ trở ra đại sảnh.

Lam Y móc túi dạ hành lấy ngọn Liễu Diệp phi đao cắm chặt vào cánh cửa đại sảnh rồi cùng Đức Kiệt, Âu Dương Nữ theo đường cũ trở về tửu điếm đẩy cửa sổ nhảy vào phòng.

Thiết Xích Tử đang ngả lưng trên giường ngồi nhỏm dậy nói :

- Tam hiệp về trễ thế.

Lam Y nhắc lại câu chuyện nghe lỏm được giữa Hầu Văn Lượng và mụ chủ quán kể cho mọi người nghe.

Âu Dương Nữ hỏi :

- Sáng mai, Tần thị khỏi xuống tửu điếm nhận diện vì chiếc phi đao gài ở đại sảnh, cô muội hành động thế nào?

Lam Y đáp :

- Chúng ta sẽ hành động thế này... thế này... được không?

Ba người đồng ý khen phải.

Sáng hôm sau, Tam hiệp, Thiết Xích Tử dậy sớm ra thực phòng điểm tâm.

Mẫu Đại Trùng cũng đã ngồi ngoài quầy hàng. Mụ hỏi :

- Quý vị có được ngon giấc không?

Thiết Xích Tử cười ha hả :

- Tôi uống rượu say, ngủ giá trời kia có sụp đổ cũng không biết.

Âu Dương Nữ nói :

- Ba anh em tôi trái lại, trằn trọc không ngủ được. Đã vậy lại còn tiếng chân thú rừng đi quanh tửu điếm rình mồi nên càng mất giấc.

Viên đầu lãnh nghi ngờ :

- Thú rừng nào? Từ ngày khai trương tửu điếm này chưa bao giờ có chuyện đó.

- Chắc đại nương ngủ say không để ý đó thôi. Đêm qua, thú rừng về hai lần. Chuyến đầu vào quãng giữa canh hai, chuyến thứ nhì không quá canh ba. Nghe tiếng chân nhỏ lắm. Nó đi quanh tửu điếm một vòng rồi mới dông thẳng.

Mẫu Đại Trùng càng nghi ngờ dữ, chăm chú nhận xét. Mụ nghĩ thầm:

"Giờ đó mình vào sơn trại và từ sơn trại trở về điếm, không ngờ mấy đứa này thính tai đến thế sao".

Lam Y mỉm cười :

- Đại nương nghĩ thầm gì mà thần người ra thế?

Mẫu Đại Trùng giật mình, nói chống :

- Tôi nghĩ đến chuyện thú lớn ra tới đây, có lẽ phải tìm cách bẫy thú mới khỏi nguy hiểm.

- Không bẫy thì có ngày nguy thiệt đó.

Mẫu Đại Trùng nóng ruột không hiểu vì lẽ gì mà sáng bạch rồi Hầu Văn Lượng chưa cho Tần thị tới nhận diện.

Nhác nhìn, Tam hiệp thừa hiểu mụ đang suy tính sự gì.

Chu Đức Kiệt gọi tiểu nhị sai thắng ngựa và chàng cũng theo ngay chúng ra tầu ngựa.

Mẫu Đại Trùng hỏi Lam Y :

- Quý khách lên đường ngay bây giờ?

- Phải.

- Về Cẩn Châu chăng?

- Không. Đuổi theo nốt ngày hôm qua xem có bắt kịp bọn lấy tiền bạc của chúng tôi không.

- Làm chi mất công vậy? Chúng không qua đường này. Vả lại phía trước kia lâu la Đại sơn chặn đường.

Lam Y cười khanh khách vỗ vào bọc hành lý nhỏ đeo trên lưng :

- Lo gì! Tiền bạc không còn mấy tí, tôi muốn cho cả chúng cho rồi. Không lẽ bắt chúng bắt chị em tôi lên sơn trại cho đại vương phong làm áp trại phu nhân sao?

Mẫu Đại Trùng càng nóng ruột, không hiểu vì lẽ gì Tần thị chưa xuống tới nơi. Mụ tự nhủ:

"Chà! Mặc kệ! Hơi đâu mà bận tâm! Báo cho biết trước, Hầu đại ca trì trễ không trách cứ nổi ta".

Chu Đức Kiệt trở ra trước cửa điếm dắt bốn con tuấn mã.

Lam Y trả tiền hàng, Mẫu Đại Trùng cố neo :

- Nếu không đuổi kịp bọn kia, quý vị nên trở về đây, tôi sẽ giới thiệu người quen, bổ ích lắm, đỡ phải phiêu bạt mãi võ.

Lam Y lên ngựa ngoái cổ lại nói :

- Được lắm! Chuyến đó sẽ liệu sau.

Nói đoạn, nàng thúc ngựa bạch mã theo kịp ba người, Âu Dương Nữ nói :

- Mụ đầu lãnh mải nhận diện chúng ta nên không chú ý tới đến mấy chữ Lam Y trên đầu dải đai lưng.

Mẫu Đại Trùng đứng ở cửa điếm trông theo bốn người đi khuất khỏi dãy cây mới trở về biên giấy, sai lâu la tiểu nhị cầm về đại trại.

Nói về Hầu Văn Lượng sáng hôm sau dậy sớm như thường lệ, đai nịt gọn gàng lên đại sảnh tụ họp cùng các đầu lãnh trước khi người nào việc nấy.

Bỗng tên lâu la chuyên việc mở cửa đại sảnh dọn dẹp, hớt hơ hớt hải chạy tới gõ cửa tư phòng.

- Bẩm Đại vương ra mau, có sự lạ!...

Họ Hầu vội mở cửa phòng, hỏi :

- Việc chi mà rộn lên thế?

Tên lâu la run rẩy, mặt tái mét :

- Bẩm Đại vương, lạ lắm... lạ lắm...!

Hầu Văn Lượng vội giận ngắt lời :

- Có nói ngay không? Ta cắt lưỡi bây giờ...

- Thưa có... có một ngọn... một ngọn phi đao... gài... gài trên cửa đại sảnh...

- Bậy nào!

- Bẩm... bẩm... có thiệt... con không, không...

Bỏ tên lâu la ríu lưỡi đứng đó, Hầu Văn Lượng lẹ bước ra khỏi phòng lên thẳng đại sảnh.

Quả nhiên, có lưỡi phi đao sáng ngời cắm trên cánh cửa thiệt. Giải đao màu lam phất phơ trước gió sớm.

Rút phi đao xuống đấy, Hầu Văn Lượng đọc vội hai Chử Lam Y viết bằng sơn trắng nổi bật trên giải lụa lam sẫm.

Đờ người, Hầu Văn Lượng thốt ra một câu :

- Lam Y!...

Nhìn quanh thấy mấy tên lâu la đứng quanh đó đang há hốc miệng ra sợ hãi nhìn mình. Họ Hầu gắt :

- Bây còn nhìn gì nữa? Muốn sống thì gõ kiểng thỉnh các đầu đà lên sảnh ngay!

Dứt lời, Hầu Văn Lượng đẩy cửa sảnh ngồi phịch xuống ghế giữa, lật đi lật lại ngọn phi đao sáng loáng, nét mặt đăm đăm, đoạn liệng ngọn đao keng một tiếng lên mặt án, ngây người nhìn thẳng ra sân.

Tuy chưa đến giờ tụ họp, nghe tiếng kiểng "cấp thỉnh", Lưu Đức Quan, Tần thị, Đặng Kim Thanh cùng bọn đại đầu mục vội vàng chạy lên đại sảnh.

Hầu Văn Lượng bực mình gắt :

- Giờ này Hứa Khải Liêm và Chử Thiện còn chưa về ư?

Hai đầu lãnh này có phận sự trấn ngoài ải đệ nhất và đệ nhị vừa về tới sơn trại, thấy lâu la nói "cấp thỉnh", liền vội vàng kéo nhau lên sảnh.

Năm người cùng ngơ ngác nhìn lần lượt ngọn phi đao và đại đầu lãnh. Ai nấy đều im lặng không dám phá tan bầu không khí nặng nề đang bao trùm toàn thể.

Nhìn từng người một, Hầu Văn Lượng đưa tay mời mọi người an tọa. Y dằn giọng chỉ ngọn liễu điệp phi đao trên án :

- Quý vị đầu lãnh hãy coi xem lưỡi phi đao này của ai?

Lưu Đức Quan với tay lấy ngọn liễu điệp phi đao rồi chuyền cho Đặng Kim Thanh ngồi kế bên, và sau cùng đến Tần thị ngồi bên tả Hầu Văn Lượng.

Sắc mặt tái sẵn, Tần thị càng tái thêm. Mụ đặt lưỡi dao xuống chỗ cũ, nhăn nhó, khó chịu.

Hầu Văn Lượng chậm rãi :

- Thế là Lam Y đã tới! Chúng ta đang lo củng cố phòng nó thì nó đã không... phụ lòng trông đợi mà... đáp lễ ngay!

Nhìn quanh một vòng, Hầu Văn Lượng nhận xét như muốn biết rõ ảnh hưởng của câu y vừa nói ngấm nhuần trên nét mặt từng người. Các đầu lãnh cúi đầu đăm đăm nhìn ngọn liễu điệp phi đao nằm trên án. Bầu không khí trong đại sảnh đã nặng nề mỗi lúc một khó thở thêm.

Tiếng của Hầu Văn Lượng cất lên mạnh như tiếng đồng la đập thẳng vào tai cử tọa :

- Canh phòng cẩn mật như lúc này, Lam Y vào cũng như ra êm ả, không một ai hay biết, đường núi độc đạo, quá đợt quân canh vượt hai cửa ải... Hừ! Vừa khinh miệt, vừa hào nhã thật!... Đối với Lam Y, mạng hèn mọn của toàn thể chúng ta không đáng để nàng hạ kiếm! Nàng không thèm chấp chớ không phải nàng không muốn giết! Quý vị đã nghe rõ và hiểu nhiều ý nghĩa vụ gài đao nơi đại sảnh chưa?.

Các đầu lãnh tím mặt im lìm.

- Không còn lối nào khác dẫn tới sơn trại ngoài sự phải qua con độc đạo có canh phòng. Vậy đêm qua, nhị vị đầu lãnh Hứa Khải Liêm và Chử Thiện phụ trách việc trấn ải môn canh phòng như thế nào, giải thích tôi nghe?

Hai đầu lãnh bị gọi đích danh đưa mắt nhìn nhau.

Chử Thiện nói :

- Đêm qua tôi thức suốt chớ không hề chợp mắt. Lúc nữ đầu lãnh Mẫu Đại Trùng về sơn trại gọi cổng, tôi biết và trả lời ngay.

Được trớn của Chử Thiện, Hứa Khải Liêm cũng nói như vậy.

Hầu Văn Lượng xua tay mà rằng :

- Tôi không nói tới việc nhị vị thức hay ngủ. Nhưng muốn nói việc phân phối quân canh phòng. Hẳn là đã khinh thường, nghĩ rằng đêm tối giữa chốn rừng núi hoang vu này, còn ai lẻn vào sơn trại nữa, nên nhị vị đã buông lơi hai dãy vách đá ở hai bên ải môn. Lam Y đã do đúng chỗ nhị vị sơ hở đột nhập sơn trại. Có thế không?

Hứa Khải Liêm, Chử Thiện im lìm.

Hầu Văn Lượng nói tiếp :

- Tôi yêu cầu tất cả các vị đầu lãnh từ nay hết sức thận trong trong việc canh phòng đêm cũng như ngày. Trong vụ xảy ra đêm qua thì hiểu, bảo vệ sự an ninh đây có tánh cách chung cho toàn thể sơn trại là nơi căn cứ của anh em chúng ta. Vậy bất cứ người nào cũng phải cố gắng như đã nhiều lần tôi bày tỏ. Trong tình thế hiện tại, uy thế nhờ Kim Lăng và thủ trấn Trường Sa đã đổ, ta chỉ còn trông cậy vào lực phòng vệ. Tôi nhắc lại bổn phận phải làm của tất cả chúng ta, có thế thôi. Cũng như tôi, hẳn quý vị đã nghe đại danh Lam Y. Nay nàng đã "quá bộ" tới đây, chắc còn trở lại nữa. Tôi muốn bàn việc đối phó. Đêm qua, Lam Y cùng ba người nữa trọ tại Tây Phương điếm. Mẫu Đại Trùng nghi ngờ không biết thực hư nên trở lại sơn trại báo tôi hay mấy việc quan trọng. Tôi định nhờ Tần lão mẫu sáng nay xuống tửu điếm nhận diện, nhưng khỏi cần vì ngọn liễu điệp phi đao này cũng đủ báo danh rồi.

Tần thị nói :

- Nếu Lam Y qua trọ tửu điếm, Mẫu Đại Trùng không dùng thuốc mê hay muội hương mà bắt có dễ dàng không?

Hầu Văn Lượng cười khẩy :

- Mẫu Đại Trùng không dại gì mà không biết cách sử dụng lối món ấy. Lão mẫu còn nhớ việc bên Sơn Phu chớ? Dùng lối lặt vặt ấy lừa không nổi bọn Lam Y. Chúng khôn khéo đã thừa dịp Mẫu Đại Trùng về sơn trại, theo dõi và đột nhập gài liễu điệp phi đao báo danh.

Đặng Kim Thanh nói :

- Đại ca cho chúng tôi kéo xuống tửu điếm bắt nàng.

Hầu Văn Lượng lắc đầu :

- Nếu việc chỉ dễ dàng như thế, tôi đâu phải lo lắng khi nhắc đến bọn Lam Y.

- Nàng đến địa phận Thập Vạn Đại Sơn vào hẳn sơn trại, tức là có chuyện liên can tới chúng ta rồi. Nếu càng e ngại chúng ta đông hơn thì đã không lộ hình tích. Tôi hiểu có xuống tửu điếm chắc không bắt nổi, nên tôi bỏ ý nghĩ viển vông đó đi.

Tần thị bực mình :

- Lam Y bản lãnh tuyệt vời, tôi không dám phản đối, song chẳng nên tâng bốc nó như thần thánh đến nước bó tay ngồi im chịu đòn. Từng này người chúng ta không đánh nổi nó hay sao? Trại chủ mặc tôi cùng anh em xuống tửu quán tróc nó về đây báo thù.

Hầu Văn Lượng nghiêm nét mặt :

- Thiết tưởng người hiểu biết Lam Y nhiều nhất là lão mẫu mới phải. Vương phủ Kim Lăng có dư lực lượng không? Sao không bắt nổi nàng? Trái lại, kẻ bị chết, người bị bắt ráo trọi, đừng nói chi số người không đáng kể của chúng ta. Nếu lão mẫu nói tới thù ư? Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Báo tử trận trong Vương phủ, tôi đã quên nó đâu? Nhưng liệu xem chúng ta có đủ tư cách báo thù hay không? Hay là dở thói ra thì toàn thể sơn trại sẽ tan nát ngay? Bởi vậy tôi đang tính nói với lão mẫu bỏ mối thù riêng sang bên và chỉ tôn trọng quyền lợi chung của toàn thể sơn trại.

Tần thị trố mắt yên lặng. Mụ thừa hiểu, nhưng vì thù ghét Lam Y quá đáng nên mụ muốn liều mạng thử xem sao.

Điềm đạm từ nãy chỉ ngồi nghe, nhận xét, Lưu Đức Quan lên tiếng :

- Theo ý Hầu đại ca, Lam Y tới đây có mục đích gì?

Nhìn họ Lưu, Hầu Văn Lượng nói :

- Lam Y đến thẳng Đại Sơn, vào tửu điếm thuộc thành phần Đại Sơn tức là nàng chủ tâm rồi. Không thể lấy mánh khóe giang hồ lục lâm lừa nổi nàng. Nàng không e sợ mới vào hang hổ. Từ tửu điếm, nàng lên sơn trại, không đốt phá, không nhờ dịp bất ngờ gây chiến, lợi thế cho nàng biết bao? Chỉ gài lai mũi đao báo danh thay vì danh thiếp đoạn hiền lành ra đi, tức là con người ấy không có ý xâm phạm căn cứ của chúng ta, cũng như y không muốn cùng ta đấu chiến nên ta không dở dói dùng võ lực chống đối nàng. Lam Y đến Đại Sơn không có ý gây hấn, tất phải có mục đích hòa bình chi đó, lẽ nào nàng rảnh thì giờ tới đây biểu diễn nghệ thuật trêu chọc chúng ta hay sao?

Lưu Đức Quan hỏi :

- Đại ca giải thích tánh cách hành động của Lam Y, nhưng chưa nói tới mục đích của cuộc viếng thăm Đại Sơn của nàng.

Hầu Văn Lượng cười mà rằng :

- Hiền đệ đòi hỏi nhiều quá. Tôi biết sao được con người ấy muốn gì? Nhưng hiểu rằng nàng có chuyện chi đó mới đến thăm sơn trại.

- Tôi rất tiếc không gặp bọn Lam Y xem có phải dòng họ tiêu sư Chu Đức Văn ở Sơn Đông không. Nếu là dòng họ thiệt chẳng nên đánh.

- Hừ! Đừng có tiếc, bọn ấy chưa đi khỏi đây đâu.

Đặng Kim Thanh hỏi họ Hầu :

- Trong trường hợp Lam Y bạo gan tới sơn trại, đại ca định xử trí thế nào?

Hầu Văn Lượng thản nhiên :

- Khách đến thì phải tiếp cho đàng hoàng tử tế chớ sao?

- Tại sao ta không sửa soạn phục binh đao phủ và cung thủ hạ đồng loạt, đỡ phải chiến đấu có hơn không?

Hầu Văn Lượng thở dài :

- Tôi đã nói là không được. Những người ấy rút đao kiếm còn lẹ hơn tên bắn. Phải tiếp ở đại sảnh, phục binh xa quá, đánh không kịp. Thà đừng dở thói đó cho xong. Họ dám vào thẳng đây, biết đâu không có vòng quan binh đã thắt chặt bên ngoài sơn trại rồi.

Đặng Kim Thanh không nói gì, nhưng vẻ bất mãn hiện rõ trên mặt y.

Tần thị cũng đăm đăm, khô khan, sắc diện tím bầm, nhìn thẳng xuống sàn gạch.

Hầu Văn Lượng gọi hai đầu mục bảo :

- Hai người cấp tốc xuống ngay tửu điếm triệu nhị đầu lãnh Đới Ngọc Hoàn và Mẫu Đại Trùng lên ngay, hữu sự.

Dứt lời, Hầu Văn Lượng nói với các đầu lãnh hiện diện :

- Quý vị nên tề chỉnh, truyền lệnh lâu la sẵn sàng chờ tôi sai bảo.

Khi đó, trời đã sáng hẳn. Khí núi lẫn sương đêm còn bao phủ khắp Đại Sơn.

Hầu Văn Lượng rũ áo đứng dậy về phòng điểm tâm.

Các đầu lãnh, người nào việc ấy, mỗi người một ngả. Duy có Hứa Khải Liêm, Chử Thiện vừa qua đêm canh phòng nên được nghỉ ngơi.

Đáng lẽ hôm đó tới phiên Lưu Đức Quan và Đặng Kim Thanh canh phòng hai ải môn, nhưng theo lệnh Hầu đại vương, Lưu, Đặng cùng ở lại sơn trại.

Sang cuối giờ Mão, Đới Ngọc Hoàn về sơn trại trước.

Hầu Văn Lượng bảo riêng nàng :

- Tôi vội triệu cô nương về sơn trại là vì bọn Lam Y lẩn quất trong khu vực này, e thù địch gặp nhau, cô nương nóng nảy gây chuyện lớn có thể bị thiệt mình. Vụ Lam Y này do tôi định đoạt, yêu cầu toàn thể các đầu lãnh không tự ý hành động. Cô nương hiểu chưa?

Đới Ngọc Hoàn không hiểu thái độ của đại đầu lãnh ra sao, nên cứ vâng lời rồi trở ra tìm Tần thị hỏi chuyện.

Từ hai năm nay, hai người luôn gần nhau. Tần thị tứ cố vô thân, coi Đới Ngọc Hoàn như cháu ruột. Đới Ngọc Hoàn cũng vậy, lang thang côi cút sau trận đánh bên Sơn Phu hắc điếm, nàng lấy làm may lại được gặp Tần thị săn sóc trông nom nàng không khác chi bà nội thương cháu ruột. Họ đồng cảnh, đồng thuyền nên dễ mến nhau là thế.

Nghe Đới Ngọc Hoàn hỏi về tình hình sơn trại và Lam Y tới khu vực Đại Sơn từ bao giờ, Tần thị lúc đó đang ngồi trên phiến đá nhìn xuống sườn núi, mụ bực mình đáp :

- Chà! Điệt nữ hỏi làm chi thêm bực tức? Hầu Văn Lượng nghe chuyện Lam Y nhiều quá nên đâm ra nhát gan không dám đương đầu cùng bọn chúng nữa. Y coi Lưu Đức Quan như quân sư. Họ Lưu nói gì cũng nghe mà câu chuyện của Đức Quan không có gì lạ hơn là tài đơn đao pháp của Chu gia. Ta phát ngán, điệt nữ ạ! Nhiều lúc muốn bỏ đi ngay.

Mụ thuật việc Lam Y lén nhập sơn trại gài phi đao báo danh cho Đới Ngọc Hoàn nghe.

- Ồ...! Thế bọn chúng cũng táo gan lắm đấy chứ? Chẳng trách Hầu đại vương giật mình lo sợ. Thiên hạ mênh mông mà thiệt chẳng đủ rộng. Ta đi đâu cũng luôn gặp Lam Y. Lánh về nơi sơn cốc hiểm trở này chưa được bao lâu, con yêu nghiệt đó lại xuất hiện. Nhắc tới nó muốn lắm lúc điên đầu.

Tần thị nói :

- Dễ giải quyết lắm, có chi khó đâu? Tỉ dụ, bọn chúng gan liều vào sơn trại lần nữa, Hầu Văn Lượng cho mai phục quân cung thủ sau các mỏm đá lớn đầy dẫy bên đường vào, chừng nào thấy người lạ là cứ việc bắn. Bọn Lam Y dù có cánh, bay cũng chẳng kịp.

- Lão mẫu đã đưa ý kiến ấy ra chưa?

Tần thị lắc đầu thở dài :

- Chưa kịp nói, y đã chặn họng luôn bằng câu "không được thù cá nhân", ta bực mình mặc kệ. Vả lại có nói, y cũng chẳng nghe đâu.

Đới Ngọc Hoàn suy tính giây lát nói :

- Hay là ta cứ việc tự ý lẻn nấp sau các hốc đá, chừng nào chúng vào thì hạ sát.

- Không được! Biết chúng tới lúc nào? Ngày hay đêm? Hầu Văn Lượng thấy ta vắng mặt sẽ phái người đi lùng, trách cứ thì còn ra thể thống chi nữa. Phục kích kiểu ấy phải nhiều tay cung thủ mới hiệu nghiệm. Tên bay tứ phía bất ngờ, chúng mới không kịp đề phòng. Riêng hai tay cung chúng mình thì vừa nghe dây cung bật, chúng có thể nhào lánh ngay. Thôi, mặc kệ muốn ra sao thì ra. Xong chuyện này chúng ta sẽ đi nơi khác lập tửu điếm sinh sống riêng, tự do tự tại hơn. Sống trong cảnh này là nương nhờ người ta chớ không có tánh cách tự nghĩa nữa. Hầu Văn Lượng nhát gan, có ngày chết cả trong núi đó.

Trong khi Tần thị và Đới Ngọc Hoàn tâm sự với nhau thì Hầu Văn Lượng và Lưu Đức Quan cũng không bỏ trống thì giờ.

Họ Hầu sai lâu la mời Lưu Đức Quan đến tư phòng thăm hỏi ý kiến.

- Hiền đệ có dự đoán gì về sự hiện diện của bọn Lam Y trong khu vực Đại Sơn không?

Lưu Đức Quan đáp :

- Có chứ. Suy rộng ra chút ít thì sẽ hiểu. Từ trước tới nay chưa bao giờ trại này đụng độ với bọn Lam Y, tức là không phải vì thù hiềm hay muốn lập công, mà chúng tới đây. Trong thiên hạ, nhan nhản sơn trại nào chúng đi kiếm từng nơi một để gây chuyện với mọi người sao?

Hầu Văn Lượng hỏi :

- Theo ý hiền đệ, Lam Y đến Đại Sơn vì lẽ gì?

Lưu Đức Quan không do dự :

- Chắc không ngoài vụ hai tên thám tử Trường Sa.

- Thả chúng thì có khác chi thả hổ về rừng?

- Không thả không xong chớ! Khi đó mới là thực sự ra mặt chống chọi không những với Lam Y mà còn cả với quan quân nữa. Bởi vậy, ngay từ khi mới đến, tiểu đệ đã nói với đại ca nên liệu đối xử với hai tên đó thiệt tử tế cũng không ngoài mục đích phòng ngừa tình hình hiện tại. Thế nào nội nhật, bọn Lam Y cũng tới. Đại ca nên tiếp cho thiệt oai nghiêm đàng hoàng và cần nhất đừng gây hấn. Được như vậy mới là thượng sách.

Hầu Văn Lượng thân mật vỗ vai Lưu Đức Quan mà rằng :

- Hiền đệ và Tiết Cẩn Hoa quả là hai người cộng sự đáng quý. Cơ sự sẽ rối nát nếu ngu huynh không có lời bàn trúng lý lẽ của nhị vị.

Hai người còn đang bàn định thì quân vào báo :

- Bẩm đại vương, có bốn người xin lên sơn trại yết kiến. Hiện còn chờ cả dưới chân núi. Hai đàn ông và hai thiếu nữ, hoàn toàn võ trang.

Hầu Văn Lượng đưa mắt nhìn Lưu Đức Quan, đoạn nói :

- Cho mời vào. Các ngươi phải đàng hoàng, không được lấc cấc láo nghe? Họ cưỡi ngựa hay đi chân? Có xưng danh không?

- Thưa, họ cưỡi ngựa. Một thiếu nữ xưng danh là Lam Y nữ hiệp.

- Nếu vậy, giữ ngựa lại dưới chân núi, không được xâm phạm gì nghe.

- Dạ!

Tên lâu la đi khỏi, Hầu Văn Lượng bảo họ Lưu :

- Hiền đệ ra khỏi đại sảnh tụ tập mọi người, y phục đai nịt cẩn đắc, võ trang đầy đủ, dàn quân cho thiệt nghiêm chỉnh, ngu huynh sẽ ra ngay.

Nói về Tam hiệp, Thiết Xích Tử theo đường cũ rẽ ngựa đến thẳng lối vào sơn trại.

Một toán lâu la núp bên đường nhảy xổ ra chặn đường gươm đao tuốt trần.

Một tên quát :

- Ngừng lại! Sao đường lớn không đi, rẽ vô đây làm gì?

Chu Đức Kiệt nói :

- Các ngươi làm gì mà chặn đường thiên hạ? Ta muốn đi đâu thì đi chớ?

Tên đầu mục quát :

- Đi đâu tùy ý, nhưng đường nhỏ này là cấm địa. Trở ra ngay!

- Ô hay! Các ngươi nói lạ, ta lên thăm đại đầu lãnh, cũng ngăn lối sao? Liệu thần hồn kẻo lãnh phạt trượng đó.

Tên đầu mục nhìn bốn người, giây lát mới hỏi :

- Đại đầu lãnh làm chi? Coi chừng lầm núi?

Chu Đức Kiệt mỉm cười :

- Tên Hầu Văn Lượng và đây là Thập Vạn Đại Sơn.

Đầu mục thấy nói trúng, bèn hạ giọng :

- Đã vậy, xin cho biết và chịu khó chờ đây, có lệnh mới được vào.

Lam Y bảo tên đó :

- Ngươi khá thông báo ngay là có Lam Y nữ hiệp tới thăm. Nhớ dặn Hầu Văn Lượng đừng để ta chờ lâu nghe!

Tức khắc, đầu mục quay lại dặn nhỏ một tên lâu la kíp phi mã vào đại trại. Trong khi ấy, Tam hiệp và Thiết Xích Tử xuống ngựa, cột cương vào cành cây bên lộ. Bọn lâu la vẫn đứng phòng hờ, tò mò nhìn bốn người lạ.

Lát sau, có một tên lâu la từ sân trại xuống. Viên đầu mục hỏi :

- Vưu Tứ đi đâu vậy?

Đến gần bạn, Vưu Tứ nói nhỏ mấy câu rồi đi thẳng ra đầu đường rẽ về phía tửu điếm thuộc Mẫu Đại Trùng.

Chờ một hồi lâu nữa, tên lâu la được phái lên sơn trại báo khách hồi lâu mới phi mã trở xuống.

- Đại vương tôi thỉnh quý vị lên đại trại. Xin theo tôi. Để ngựa lại đây!

Dứt lời, tên đó nói nhỏ với viên đầu mục mấy câu, rồi chạy lên trước dẫn đường.

Lúc tới khúc có nhiều mỏm đá ở hai bên lối đi, Lam Y và Âu Dương Nữ phi thân lên đầu mỏm đá bên tả chuyền vào. Đồng thời, Chu Đức Kiệt và Thiết Xích Tử cũng chuyền trên các mỏm đá bên phía hữu.

Tên lâu la ngừng bước, ngơ ngác nhìn.

Chu Đức Kiệt biết y không hiểu bốn người sở dĩ hành động như vậy là vì e bọn sơn tặc phục binh ở hai bên đường. Chuyền trên các mỏm đá cao, mọi người sẽ quan sát được toàn diện.

Tới cửa ải thứ nhất, Tam hiệp và Thiết Xích Tử nhảy xuống đường qua cửa như thường. Nhưng từ ải thứ nhất vào tới ải trong, bốn người vẫn áp dụng lối chuyền qua các mỏm đá vào đại trại.

Trên sân rộng lâu la đứng nghiêm chỉnh thành hàng hai gươm đao tuốt trần, thương giáo sáng quắc dàn ở hai bên vào đến đại sảnh. Quân canh cổng trại đánh một tiếng cổng báo khách.Một tiếng cồng khác từ trong sảnh vang lên, viên đầu mục phụ trách ở đó, lễ phép cúi đầu mời.

- Mời quý vị tiến sảnh!

Lam Y đi giữa, Chu Đức Kiệt đi bên hữu, Âu Dương Nữ đi bên tả, Thiết Xích Tử đoạn hậu. Cả bốn ung dung nhàn nhã, thản nhiên tiến vào giữa hai hàng lâu la dữ tợn.

Trên sảnh, Hầu Văn Lượng ngồi chính giữa, bên hữu có Lưu Đức Quan, Đặng Kim Thanh, Chử Thiện. Bên tả có Tần thị, Hứa Khải Liêm, Đới Ngọc Hoàn.

Tam hiệp thừa biết chúng dàn binh "tự trình bày" cho thêm phần oai vệ. Thực lực của bọn sơn tặc này cũng không có gì đáng ngại, nếu chúng chỉ nguyên vẹn có thế này thôi. Tổng cộng, chúng có tám tướng kể cả đại vương sơn trại.

Hiện thời, có một ghế trống, Tam hiệp liên tưởng đến nữ chủ quán Tây Phương điếm.

Kìa! Có cả Tần thị và Đới Ngọc Hoàn. Thì ra chúng kéo cả về đây sau khi được tha mạng ở Kim Lăng. Nét mặt Tần thị khó đăm đăm, căm hờn như muốn nuốt sống kẻ thù đang đi lù lù trước mặt.

Trái lại với Tần thị, Đới Ngọc Hoàn chầm chậm nhìn Chu Đức Kiệt và Âu Dương Nữ đi bên Lam Y. Có lẽ hai người đính hôn với nhau rồi trông khác lắm. Đới Ngọc Hoàn liên tưởng đến hôm Đức Kiệt và Lam Y vào tới Sơn Phu quán. Ngay phút đầu, nàng mê tít vẻ tuấn kiệt của anh họ Chu. Bây giờ, trông chàng vẫn ưa nhìn quá đi mất! Thù Lam Y chớ không tài nào nàng thù ghét nổi con người này! Ước gì bắt sống được chàng... trông thiếu nữ đi bên Lam Y mới thiệt đáng ghét, nhưng Đới Ngọc Hoàn mong được ở địa vị nàng. Đới Ngọc Hoàn nghĩ liên miên tới Đức Kiệt giữa bầu không khí nặng nề bao trùm khu đại sảnh.

Mỗi người nghĩ một cách. Lưu Đức Quan giật mình khi trông thấy bốn khách lạ từ cổng trại tiến vào. Họ Lưu có cảm tưởng như chính vị tiêu sư hữu danh vùng Sơn Đông, Trực Lệ xưa kia, Chu Đức Văn đích thân vào sơn trại. Chắc bọn này là dòng dõi Chu gia rồi. Không còn nghi ngờ nữa. Từ nét mặt đến hình dáng, ngay cả lối tóc bới ngược để trần, Chu Đức Kiệt là hiện thân của thân phụ chàng.

Kìa thanh đơn đao nữa. Thường thường ai cũng đeo đao tréo sau lưng, cán đao nhô lên vai hữu cho tiện rút. Trái lại nhà họ Chu đeo cán đao sang vai trái vì sử dụng được cả hai tay như nhau. Lối buộc dây đeo cũng khác người. Hai giải tréo trước ngực nhưng còn thêm một dải vòng lưng thắt múi ra trước bụng.

Chính Lưu Đức Quan cũng bắt chước lối buộc của tiêu sư họ Chu và nhận ra rằng thanh đao được nịt vào người, xây sở rất dễ dàng chớ không lỏng lẻo như chỉ buộc hai dây trên vai.

Cô gái áo lam chính giữa và cô đi bên trông thực căn quắc anh thư. Hai thiếu nữ cùng đẹp, đẹp quắc thước anh hùng khiến người "biết nhìn" phải cảm phục kính nể, chớ không có ý nghĩ đen tối quàng xiên như phàm phu tục tử. Còn người có tuổi đi phía sau! Nếu người đó đi một mình, không ai để ý đến thật. Trái lại, cùng đi với Lam Y, Lưu Đức Quan nhận ngay ra là một tay quái hiệp...

Trong đời phiêu bạt, họ Lưu đã từng gặp hạng người ấy rồi.

Phần Hầu Văn Lượng đã biết rõ thành tích của bọn Lam Y, nay được đối diện mới biết lời đồn quả thiệt không sai. Khí phách anh hùng của toàn thể bốn người đang ung dung, đi giữa khu địch thù, thoạt trông là thừa hiểu rồi. Họ không khinh địch, nhưng tin ở tài sức cá nhân và đồng đội của bốn người.

Kìa, họ bước thong thả, đưa mắt nhận xét nhìn quanh, quan sát khắp nơi, dù nhất cử nhất động cũng không qua nổi cặp mắt sáng ngời ấy.

Họ sẵn sàng phản ứng. Tam hiệp và Thiết Xích Tử vào tới gần thềm của đại sảnh đều đứng dừng lại.

Lam Y nhìn thẳng vào mặt Hầu Văn Lượng trong khi Chu Đức Kiệt, Âu Dương Nữ Thiết Xích Tử lần lượt đưa mắt quan sát toàn khu.

Hầu Văn Lượng cất tiếng hỏi :

- Vị nào là Lam Y nữ hiệp?

Lam Y đáp :

- Tôi đây!

- Nữ hiệp lên sơn trại gặp tôi có việc chi không?

- Không những là có việc mà là việc hệ trọng cho sơn trại.

- Xin cứ nói, tôi nghe.

Lam Y nhìn quanh một lượt, đoạn nói :

- Đầu lãnh là chủ, tôi là khách, phải chăng lối tiếp đãi của quý tại lúc nào cũng dàn bày như hôm nay. Nếu là một thói quen đối với bất cứ một ai thì cứ việc để y nguyên. Trái lại, nếu đầu lãnh định ra uy tầm thường như vậy, xin vui lòng dẹp đi. Ta sẽ ôn tồn nói chuyện sau.

Câu nói có hiệu lực như một ngọn roi quất vào mặt toàn thể từ đầu lãnh đến lâu la khiến ai nấy đều xôn xao, ngoại trừ Hầu Văn Lượng và Lưu Đức Quan.

Hầu Văn Lượng mỉm cười mà rằng :

- Nếu Hiệp Nữ thấy vướng thì tôi xin chiều ý.

Lam Y cười khẩy trả miếng :

- Cả một Vương phủ Kim Lăng còn chẳng thấy vướng nữa là nơi "tiểu trại" này.

Chỉ Tần thị và Đới Ngọc Hoàn, Lam Y nói tiếp :

- Đầu lãnh không tin, xin cứ hỏi hai người này đã được ai "tha về" nên hôm nay mới còn ngồi nơi kia.

Tần thị nổi giận đứng vùng dậy như muốn xô xuống quyết sống cùng kẻ thù, nhưng Hầu Văn Lượng đã giơ tay ngăn lại.

- Khoan! Đừng bạo động!

Lam Y nói tiếp :

- Sự hiện diện của hai người này ở đây có hại cho cuộc đàm phán, vậy tôi yêu cầu thứ nhất hạ lệnh cho mọi người ra khỏi khu đại sảnh, thứ nhì tiếp đãi cho đàng hoàng. Tôi đến đây với tư cách một người khách, mong đầu lãnh nên giữ địa vị chủ nhân ông mà đối đãi. Trái lại, tiếp khách kiểu này thói thường của sơn trại, đầu lãnh cứ nói, tôi sẽ vui lòng bất phép.

Chạm lòng tự ái, nhưng thấy Lam Y dõng dạc nói phải. Hầu Văn Lượng bèn đáp :

- Được lắm, nếu Nữ hiệp muốn được an tâm hơn, tôi sẽ chiều ý. Nhưng có gì bảo đảm lời nói của Nữ hiệp về phương diện an ninh của tôi?.

- Người anh hùng không bao giờ hành động ám muội. Chúng tôi đứng giữa sơn trại còn chẳng e ngại, huống chi đầu lãnh tiếp khách tại gia?

Tắc kỳ ngôn lộ, Hầu Văn Lượng đứng lên, yêu cầu các đầu lãnh, lâu mục ra khỏi đại sảnh, dẹp hai hàng lâu la sang hai bên sân.

Các đầu lãnh đều hậm hực khó chịu về thái độ nhu nhược của Hầu Văn Lượng. Họ không nhận thức được cái nguy mà chỉ biết rằng về "lượng" họ đông hơn, về thế họ lợi hơn, vì bốn kẻ địch đang nhấn mình giữa khu trung tâm sơn trại. Họ đã quên mất cái phẩm và thế vô hình bao quát của đối phương.

Đối với Đặng Kim Thanh, Chử Thiện và Hứa Khải Liêm chỉ văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình về Tam hiệp, thì còn có thể tha thứ được. Nhưng Tần thị và Đới Ngọc Hoàn đã hai lần kinh nghiệm về tài sức đối thủ mà vẫn u mê, ngu muội, bực tức về cách xử sự của tháp Thiên vương quả hết chỗ nói.

Chẳng trách với bản lãnh khá cao, Tần thị đánh đâu thua đấy. Do được Lam Y tha chết, cho chạy trong trận đánh Vương phủ Kim Lăng mụ vẫn "ngang nhiên" chạy để hiện thời giở thói ngang ngạch, quật cường quả là mù quáng vậy. Với năm mươi năm kinh nghiệm, lăn lóc trong chốn lục lâm, Tần thị vẫn "dở" đến nước ấy, tất mụ chỉ quen đàn áp, xông xáo trong đám lục lâm hạ tầng, cho nên nay giao tiếp với chỗ rộng rãi hơn, Tần thị luôn luôn đi từ cái khờ nọ đến cái dại kia, mà vẫn chưa biết dại.

Hầu Văn Lượng cũng sống trong giới lục lâm đại đạo. Y đã mất người con độc nhất - Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Báo - trong trận đánh ở Kim Lăng, lòng căm thù anh em Chu gia còn ghê gớm hơn Tần thị rất nhiều vì Bạt Sơn Hổ là một tướng tài, kiệt hơn Lã Ưùng Đăng, con của Tần thị bị tử trận trong vụ hỏa thiêu Xích Hoa viện bên Sơn Phu rất nhiều.

Họ Hầu vẫn dằn nỗi mối thù cay độc ấy để tiếp "ngoại giao" Tam hiệp ngay tại nơi sơn trại thuộc quyền sát phạt của y, tức Hầu Văn Lượng biết suy tính, hiểu tình thế hơn, mà không dám làm một việc quá sức mình.

Sở dĩ Hầu Văn Lượng và toàn thể sơn trại Đại Sơn được tồn tại là cũng nhờ ở sự tri nhân tri giả vậy.

Thấy mọi người xôn xao e họ công phẫn hỏng đại sự, Lưu Đức Quan ngăn ngừa ngay :

- Xin Tần lão mẫu và quý vị hiền đệ bình tâm, nhốn nháo lúc này không nên, mặc đại đầu lãnh hành động. Chúng ta thuộc quyền Hầu đại ca chỉ có bổn phận phải theo. Bốn người kia là khách, ta là chủ, dù sao cũng phải "lịch sự" trước mới được.

Nhờ có Lưu Đức Quan ổn định mọi người bên ngoài, Hầu Văn Lượng mới an tâm tiếp khách trong đại sảnh. Việc này không phải ngẫu nhiên Hầu, Lưu hai người đã bàn định với nhau từ hồi sáng sớm rồi.

Tam hiệp và Thiết Xích Tử đứng nguyên chỗ, chờ mọi người bên Đại Sơn dẹp hết sang hai bên, rồi mới từ từ vào đại sảnh theo lời mời của viên đại đầu lãnh. Phân ngôi khách chủ, Lam Y nữ hiệp ngồi đối diện với Hầu Văn Lượng cùng phía với Âu Dương Nữ. Chu Đức Kiệt Thiết Xích Tử ngồi tréo sang hai bên họ Hầu. Như vậy, hai nữ hiệp có thể phòng ngừa phía sau cho Chu Đức Kiệt, Thiết Xích Tử. Trái lại hai người này cũng vậy.

Hầu Văn Lượng thừa hiểu đối phương không tin mình, bèn tự tháo ngọn Thác tháp, võ khí ưa dùng, đặt ngang trên án.

Y hối lâu la dưng trà, tự rót ra một ly uống trước, sau đó mới mời khách.

- Quý vị thân lên sơn trại có điều chi dạy bảo?

Lam Y nói :

- Thấy đại đầu lãnh là người hiểu biết, chúng tôi vui mừng cảm phục. Sự việc rất giản dị. Trước đây, quý trại bắt được hai nhân viên của Trường Sa phủ, phải không? Một người bị bắt trước và một bắt sau.

Nhìn Lam Y giây lát như muốn thăm dò sự hiểu biết của vị Nữ hiệp kỳ tài ấy, Hầu Văn Lượng gật đầu :

- Có thế.

- Hai người đó còn sống không?

- Không những còn sống mà còn được đối đãi đàng hoàng.

Lam Y mỉm cười :

- Hay lắm. Cử chỉ ấy giúp đầu lãnh tiến được một bước dài rồi. Tôi nhấn mạnh rằng họ là thân tín của quan tân trấn thủ Trường Sa. Vị đại quan này muốn thấy hai người đó được trở về nhà. Trái lại, tân quan sẽ trả bất cứ giá nào miễn là lấy được họ về, dù sống hay chết.

- Nghĩa là Nữ hiệp tới đây với mệnh lệnh của trấn thủ Trường Sa "lấy" họ về?

- Đầu lãnh đừng cố ý lầm lẫn. Chúng tôi không hề biết mệnh lệnh của ai cả và bất cứ trong trường hợp nào. Hành động theo công lý là mục đích duy nhất của chúng tôi và của toàn giới Giang Hồ Hiệp Khách. Nếu đầu lãnh giữ vững lập trường tôi lặn lội tới quý trại với mệnh lệnh Trường Sa thì tôi xin kiếu từ, không dám "giúp" đầu lãnh nữa.

Nói đoạn, Lam Y nữ hiệp cùng ba người đứng cả dậy.

Hầu Văn Lượng vội chịu nhún :

- Xin đừng nóng nảy. Tôi lỡ điều gì, Nữ hiệp cứ thẳng tình giảng giải. Đã là hảo hán, đầu đội trời, chân đạp đất, tay vung ba thước kiếm vạch ra một lối đi trong thiên hạ, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, đã tương kiến lúc này, can chi ta bỏ lỡ dịp tìm hiểu biết nhau.

Thấy Hầu Văn Lượng tánh tình hào sảng, bốn người ngồi xuống như cũ.

Lam Y nói :

- Mới đây, có việc qua Trường Sa, do một việc dính líu tới quan Trấn thủ phủ thành, vị quan ấy đã nhờ chúng tôi giúp việc xuất quân chinh phạt Đại Sơn, đòi hai người bị cầm về. Chúng tôi chỉ nhận giúp tự ý lấy họ về xét rằng người nào cũng có gia đình trông đợi. Xét về phương diện Đại Sơn, tôi thấy cầm giữ họ bất lợi, nên chúng tôi không quản ngại tới đây làm một việc nhất cử lưỡng đắc. Hai người kia được tái hội gia đình, mà quý trại đây cũng tránh được phần... binh lửa.

Hầu Văn Lượng nói :

- Nữ hiệp và quý vị hồ hải đã nhiều, tất dư hiểu lệ luật sơn trại. Vì vấn đề an ninh tôi phải bắt hai người ấy, và cũng muốn gìn giữ an ninh cho sơn trại, tôi đã cầm họ lại phòng sau này có con tin trao đổi. Nay Nữ hiệp đã yêu cầu thả họ về, hành động ấy quá chênh lệch có hại cho Đại Sơn.

- Đầu lãnh nhìn tình thế qua một khía cạnh thôi. Thả hai nhân viên Trường Sa, đầu lãnh tỏ ra có thiện chí không đương nhiên chống trả triều đình và phạm tới lòng tự ái của Trường Sa. Riêng một điều ấy cũng đã đủ cho Trường Sa ngưng việc xuất quân ít nhất trong một thời gian dài. Đầu lãnh sẽ nhân cơ hội đó củng cố sơn trại, phòng vệ chắc hơn bây giờ nhiều lợi biết nhường nào? Hai người kia được về với gia đình, tất sẽ ca tụng tấm lòng nhân ái của đầu lãnh, Trường Sa sẽ bớt nghĩ tới nơi đèo heo hút gió này, và biết đâu không bỏ hẳn việc phát quân?.

Hầu Văn Lượng suy nghĩ giây lát :

- Nữ hiệp không thể bảo đảm hoàn toàn về vụ chinh phạt Đại Sơn nếu tôi thả hai mật vụ viên về Trường Sa?

Lam Y cười mà rằng :

- Đầu lãnh đòi hỏi quá sức chúng tôi. Nếu e sợ quan quân chinh phạt, đầu lãnh nên thiêu hủy sơn trại trở lại đời sống bình thường như mọi người. Bổn phận quan quân là diệt trừ đảng khấu, tôi can thiệp sao nổi. Hiện thời, tôi chỉ biết với sự trung gian có thể dành cho quý trại một thời gian khá lâu để đầu lãnh tùy nghi lo liệu, hơn nữa đầu lãnh còn có hy vọng là nội vụ sẽ êm... Riêng phần tôi, khuyên đầu lãnh đừng bỏ cơ hội này mà lợi bất cập hại.

Trước lời lẽ cứng rắn vừa ôn tồn hợp tình hợp lý của Lam Y nữ hiệp, Hầu Văn Lượng tự xét phải theo chớ không thể hành động được nữa.

- Tôi tin ở Nữ hiệp và quý vị. Vậy Nữ hiệp muốn lãnh hai người đó bây giờ thế này sao?

- Tôi lãnh họ ngay. Sớm ngày nào có lợi cho đầu lãnh ngày đó.

Tức thì, Hầu Văn Lượng vỗ tay truyền gọi mục truyền lệnh :

- Ngươi ra nói với Lưu đầu lãnh xuống ngục thất tha hai người bắt trước đây, và đưa họ lên đại sảnh. Sửa soạn cho họ đủ hành trang, tiền bạc ăn đường. Cấp tốc!

Hồi lâu, đầu mục dẫn hai người bị bắt tới.

Lam Y thấy cả hai đều khỏe mạnh, bèn hỏi :

- Hai người là Hoàng Trọng Hà và Tôn Vương?

Hoàng Trọng Hà đáp :

- Dạ, chính chúng tôi.

Hoàng, Tôn hai người khúm núm nói mấy lời cảm ơn. Tam hiệp, Thiết Xích Tử đứng dậy cáo từ, có cả Mẫu Đại Trùng đứng lác đác ở hai bên sân chuyện trò. Mẫu Đại Trùng đứng với Lưu Đức Quan, Tần thị với Đới Ngọc Hoàn và Hứa Khải Liêm, Đặng Kim Thanh với Chử Thiện.

Chu Đức Kiệt, Thiết Xích Tử đi kèm hai bên Hoàng Trọng Hà và Tôn Vương. Lam Y, Âu Dương Nữ rảnh rang đi sau. Đoàn người ra tới khu thềm đại sảnh.

Hầu Văn Lượng nói với bốn hiệp khách :

- Quý vị hãy dừng chân cho tôi dẹp bọn mọi người hãy qua sân.

Đoàn người ngừng lại, Lam Y bảo Hầu Văn Lượng :

- Đại đầu lãnh e các tướng hành động khó dễ chớ gì? Quân lệnh bất nghiêm như vậy giữ sao nổi sơn trại? Cuộc thăm viếng đây lại là cơ hội để đại đầu lãnh thử nghiệm xem quân lệnh của đầu lãnh có được tôn trọng hay không.

Hầu Văn Lượng tái mặt :

- Hầu mỗ xin thân đưa quý vị ra tới tiền trại.

Lam Y nữ hiệp mỉm cười :

- Khỏi cần! Vào được thì ra được không dám phiền hà đầu lãnh quá nhiều.

Nói đoạn, nàng vẫy tay ra hiệu bảo Đức Kiệt, Thiết Xích Tử cứ việc tiến.

Hầu Văn Lượng đành đứng lại trên thềm gọi vội Lưu Đức quan, Mẫu Đại Trùng :

- Nhị vị đi trước dẫn đường quý khách xuống sơn trại, mau!

Tức thì, hai người này chạy vội lên phía trước dẫn đường.

Đoàn người vừa qua được nửa sân tới gần chỗ Tần thị chống thiết trúc trượng đứng cùng Đới Ngọc Hoàn phía bên tả, và Đặng Kim Thanh, Chử Thiện đứng bên hữu.

Bốn người này chỉ cách đoàn hiệp khách đang đi ở giữa sân độ chừng sáu bảy sải tay.

Hầu Văn Lượng đứng trên thềm chống tay lên sườn, trừng trừng nhìn họ...

Nhưng Tần thị đã phóng mình tới quật lẹ một thiết trượng lên đầu Chu Đức Kiệt lúc đó đi gần mụ nhất.

- Coi trượng ta đây! Chết này!

- Hỗn!

Tiếp theo tiếng quát ấy, một làn đao xanh lè vung lên như chớp giật. Cây thiết trượng của Tần thị bị tiện đứt đôi rớt "xoảng" một tiếng xuống sân gạch, đồng thời lưỡi đơn đao Thất Tinh xẹt qua đầu mụ hớt đứt băng búi tóc xuống mặt Tần thị. Mụ sợ hãi chạy lùi về phía Đới Ngọc Hoàn, thì giữa lúc ấy Đặng Kim Thanh phóng luôn một ngọn phi đao nhằm lưng Lam Y nữ hiệp. Quay phắt lại với tay bắt ám khí, Âu Dương Nữ rút trường kiếm "soạt" một tiếng, trừng trừng nhìn toàn thể bọn sơn tặc, sẵn sàng thọ địch. Nhưng một mũi phi đao nữa do họ Đặng phóng ra xẹt lẹ tới mặt Lam Y. Nàng đưa tay bắt luôn ám khí thứ hai ấy, thì mũi thứ ba đã bay tới bụng. Nàng phóng cước tả đá "búng" ngang mũi phi đao bật văng ra góc sân.

Đặng Kim Thanh đưa tay toan phóng ám khí nữa thì lẹ như cắt, Thiết Xích Tử quát vang tựa sấm động nhào tới vung thiết xích "xoảng" một tiếng quấn trúng cổ tay Đặng tặc, giựt mạnh.

Đặng Kim Thanh kêu rộ lên một tiếng, toàn thân y bị rút lên khỏi mặt sân văng đến trước mặt Thiết Xích Tử, lăn lóc ôm cổ tay gẫy lìa, rên la không ngớt miệng.

Tất cả mọi sự chỉ xảy ra trong giây phút khiến Hầu Văn Lượng nhìn thấy hẳn hoi mà không kịp can thiệp.

Y chạy tới ra giữa sân mắng ầm ĩ bọn bộ hạ, mặt mũi đỏ bừng mắc cỡ cùng bốn vị hiệp khách.

Không để cho Hầu Văn Lượng kịp xin lỗi, bốn hiệp khách đã tức thì tiến qua sân ra cổng trại.

Từ đó xuống đến dưới núi, Lam Y và Âu Dương Nữ nhường Chu Đức Kiệt, Thiết Xích Tử bảo vệ Hoàng Trọng Hà và Tôn Vương. Hai nàng chuyền trên các mỏm đá phòng ngừa phục binh.

Lưu Đức Quan, Mẫu Đại Trùng đi trước dẫn đường có nói, bốn người cũng chẳng nghe nào sau vụ đánh trộm vừa rồi.

Xuống tới chân núi, Lam Y bảo Mẫu Đại Trùng và Lưu Đức Quan :

- Tôi gửi lời nhị vị đầu lãnh cảm ơn Hầu đại vương đã tiếp đón chúng tôi thiệt nồng hậu.

Mẫu Đại Trùng nói :

- Mọi người đã tự ý hành động ngoài ý muốn của đại đầu lãnh chúng tôi...

Lam Y nhảy phắt lên ngựa. Chu Đức Kiệt đèo Hoàng Trọng Hà, Thiết Xích Tử đèo Tôn Vương.

Trước khi dóng ngựa cùng Âu Dương Nữ ra mặt đại lộ, Lam Y phóng hai mũi phi đao bắt được hồi nãy của Đặng Kim Thanh cắm phập vào gốc cây gần đó mà rằng :

- Nhị vị đầu lãnh trả lại cố chủ, với cổ tay gãy lìa ấy liệu y còn sử dụng nổi ám khí sau lưng ngươi không!...

Nàng cười ròn rã, vẫy tay chào thúc ngựa đi thẳng.

Hôm sau về tới quán trọ nơi để Trương Nghĩa chờ, Chu Đức Kiệt biên một phong thơ đưa cho Hoàng, Tôn hai người :

- Nhị vị cùng Trương Nghĩa về thẳng Trường Sa đưa phong thơ này cho Hoàng Đại quan. Nên thận trọng đường trường, đừng trì trễ. Trường Sa trông chờ nhiều lắm đó.

Hoàng Tôn vái tạ ơn bốn hiệp khách đã cứu mạng, đoạn đeo hành lý tức tốc lên đường nhằm nẻo Cẩn Châu.

Ba người ấy đi khỏi, Thiết Xích Tử nói :

- Bây giờ ta cũng qua Cẩn Châu mới có đường về Võ Đang sơn.

Ở lại quán trọ một ngày, Tam hiệp, Thiết Xích Tử trở bước Cẩn Châu đi đường hướng Đông Bắc lên Võ Đang sơn.

Ngày đi đêm nghỉ, chẳng bao lâu tới nơi thì trời đã xế chiều. Lúc đó, Trương Tam Vân vừa ở Võ Đang sơn về đến cổng trang, chợt trông thấy bốn kỵ sĩ dóng ngựa từ xa tới, liền đứng lại nhìn.

Nhận ra Thiết Xích Tử cùng đi với một nam, hai nữ, Tam Vân nghĩ thầm :

- Quái, sao trưởng huynh chuyến này về sớm vậy?

Bốn người tới nơi xuống ngựa, Thiết Xích Tử giới thiệu Tam hiệp.

Trương Tam Vân thi lễ mà rằng :

- Nghe đại danh qua lời của gia huynh từ lâu, nay mới được diện kiến, thật quý hóa vô cùng.

Tam hiệp đáp lễ, nói mấy lời khiêm tốn. Trông mà nực cười, Trương Tam Sơn thô kệch bao nhiêu thì Trương Tam Vân, trái lại, nho nhã bấy nhiêu. Mi thanh, mục tú, nước da trong sáng, Tam Vân để râu ba chòm đen lánh dài ngang đai lưng vận bào xanh, chân dận thảo hài, y hệt nho sinh.

Gia nhân ra đón ngựa, Trương Tam Vân mời khách vào trang. Không thấy hai con đâu, Trương viên ngoại hỏi gia nhân :

- Công tử và tiểu thư đi đâu vắng nhà?

- Thưa, thiếu gia và tiểu thư đi săn chiều mới về.

Tam Vân hỏi Thiết Xích Tử lúc đó vừa vào chào mẫu thân xong trở ra :

- Sao chuyến này trưởng huynh về sớm thế?

- Ngu huynh vừa ở Trường Sa qua Thập Vạn Đại Sơn, bây giờ mới về đây đó.

- A, có việc chi qua Trường Sa. Có ghé thăm vợ chồng Tam Nương không?

- Chính vì việc của Tam nương, ngu huynh mới đi Trường Sa.

Thiết Xích Tử đem việc nhờ Tam hiệp đi Trường Sa giúp vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm, trừ thủy khấu ở khu hoang địa, sau đó qua sơn trại Đại Sơn, kể lại một lượt cho Trương Tam Vân nghe.

Trương Tam Vân nói :

- Nay đã có công về nhà lại nhân dịp Tam hiệp qua chơi, trưởng huynh nên nghỉ ngơi lâu lâu rồi hãy đi. Như vậy tiểu đệ có thì giờ đàm đạo cùng quý vị hiệp khách.

Thiết Xích Tử đáp :

- Tam hiệp và ngu huynh chỉ nán lại được vài ngày, rồi lại lên đường ngay. Chuyến này ngu huynh theo Trại Mạnh Thường và Tam hiệp lên Yên Kinh.

Chu Đức Kiệt nói :

- Có giải pháp này hay hơn cả. Trương tiên sinh vẫn ở lại nhà được nhiều ngày hơn và vẫn lên kịp Yên Kinh với chúng tôi.

Thiết Xích Tử vội hỏi :

- Giải pháp nào?

- Từ Võ Đương chúng tôi qua Thiếu Lâm tự thăm Chiêu Đức thiền sư, sau đó mới về Tô Châu cho kịp khởi hành lên bắc. Tiên sinh ở lại nhà ít lâu liệu tính ngày đi thẳng Tô Châu trước và báo cho nhạc phụ biết rằng ba chúng tôi sẽ về sau. Có được không?

- Như thế càng hay. Gia đệ luôn luôn trách tôi không chịu ở nhà, trăm lần y cả trăm. Y còn trách tôi uống rượu nhiều mới khổ chứ. Quý vị xem, từ nãy đến giờ ngồi nói chuyện dùng trà suông, trùng rượu đục sắp thủng bao tử mà không có lấy một bụm rượu uống.

Mọi người phì cười. Trương Tam Vân nói :

- Huynh trưởng đi đã uống nhiều hơn khiếp quá.

Nói đoạn, Trương Tam Vân hối gia đình dọn lẹ tiệc rượu đem lên. Trong khi chờ rượu, Viên ngoại mời Tam hiệp vào tư phòng cất hành trang và thay áo rửa mặt.

Lát sau, năm người vừa khởi sự uống rượu chưa xong tuần đầu, thì Trương Tam Võ, và Trương Nhị Nương, con trai và con gái của Trương Tam Vân đi săn về.

Tam Võ vác trên vai một con nai khá lớn. Gia nhân chạy ra đỡ lấy mồi săn.

- Thưa thiếu gia và tiểu thư. Đại bá đã về, có đem theo ba người khách nữa.

Trương Tam Võ hỏi :

- Ngươi đã báo cho Viên ngoại biết chưa?

- Thưa, vừa lúc ấy. Viên ngoại cũng ở Võ Đang sơn xuống. Hiện thời mới ngồi vào thồi rượu xong.

Nhị Nương bảo các gia nhân :

- Nếu vậy hay lắm, các ngươi khá làm thịt luôn con vật này và bảo hỏa đầu làm luôn món nhắm đem lên thồi tiệc nhé.

Nói đoạn anh em họ Trương kéo nhau lên khách sảnh tiến vào thực phòng ra mắt bá phụ Trương Tam Sơn.

Trương Tam Vân bảo hai con :

- Các con khá đến chào Tam hiệp mà con vẫn ao ước được diện kiến đi.

Tam Võ và Nhị Nương mừng rỡ, cung kính đến trước mặt Tam hiệp vái chào, ba người thấy anh em Tam Võ khôi ngô tuấn tú cân quắc anh thư thì khen thầm. Tam Võ trạc hai mươi một, hai mươi hai, còn Nhị Nương trạc mười tám, mười chín tuổi.

Lam Y nữ hiệp kéo ghế bảo Nhị Nương ngồi vào chỗ giữa nàng và Âu Dương Nữ, Chu Đức Kiệt cũng mời Tam Võ ngồi kế bên chàng.

Thiết Xích Tử cười ha hả :

- Điệt nhi, điệt nữ ưng ý nhé? Hai người ao ước biết mặt nên ta thỉnh Tam hiệp về đó.

Trong thời gian mấy ngày, Tam hiệp ở chơi Trương gia trang, thăm viếng Võ Đang sơn, Tam Võ và Nhị Nương quấn quýt lấy ba người khi đàm luận, lúc luyện võ, hỏi han nhiều chuyện. Vì là con nhà võ chính tông nên bản lãnh Tam Võ và Nhị Nương được chân truyền. Bốn hôm sau, Tam hiệp từ tạ lên đường. Ba cha con Tam Vân mến khách lưu lại không được bày tiệc tiễn hành ngoài Mai Hoa đình, lưu Tam hiệp lại một ngày mới chia tay.

Khi đó tiết trời cuối thu bắt đầu lạnh, Tam hiệp vận áo ấm theo đường lên hướng Đông bắc tiến vào địa phận Tuyền Châu ở phía bắc Hồ Nam ranh giới giữa ba tỉnh Phúc Kiến, Giang Tây, và Hồ Nam. Tuyền Châu thuộc phần đất Phúc Kiến, núi non trùng điệp, rừng cây xanh bạt ngàn.

Vào tới địa phận Tuyền Châu, Âu Dương Nữ hướng dẫn Lam Y và Chu Đức Kiệt sang Đặng Phong huyện nghỉ lại một đêm.

Huyện này khá lớn nhà cửa san sát, buôn bán tấp nập sầm uất lạ thường. Tiếng rằng thuộc phần đất Phúc Kiến, nhưng dân cư lẫn lộn hai xứ Hồ Nam, Giang Tây.

Âu Dương Nữ dẫn anh em Chu gia đến "Môn Sanh quán" ở bắc môn huyện thành.

Nàng giải thích :

- Quán này lấy tên "Môn Sanh" không phải vô nghĩa. Chủ quán họ Hồng tên Gia Đức, năm nay trạc tuổi phụ thân ở nhà, vốn là môn sanh Thiếu Lâm tự. Lão đại bá thân sanh ra Hồng Gia Đức, năm nay tuổi dư bát thập cũng xuất thân Thiếu Lâm tự. Họ Hồng ở Phúc Kiến đời đời buôn bán ở Đặng Phong huyện.

Người mới đến Đặng Phong huyện hỏi đường lên Thiếu Lâm tự đều được mọi người chỉ đến "Môn Sanh quán". Người cũ về thăm nhà, vấn an sư phụ dĩ nhiên cũng qua đó trọ trước khi vào núi. Hai Chữ "Môn Sanh" của tửu quán này do lão đại bá Hồng Gia Cường đặt ra từ lúc người còn thiếu thời.

Ngày nay cứ hỏi đến Môn Sanh quán thì toàn Đặng Phong huyện ai ai cũng biết, kính cẩn nhìn người hỏi đường vì họ tin rằng đó là người của Thiếu Lâm tự, hoặc đến xin theo Thiếu Lâm học nghề.

Trước đây, năm nào phụ thân và tiểu muội đến viếng Tung Sơn, chuyến nào cũng ngụ lại Môn Sanh quán. Hồng Gia Đức cùng học một khóa với phụ thân và đồ đệ thuộc hàng thứ mười của khóa ấy.

Tam hiệp xuống ngựa trước cửa quán núp dưới bóng cây mấy rặng liễu xanh rờn.

Tiểu nhị chạy ra đón khách và nhận ra ngay Âu Dương Nữ :

- Kính chào Âu Dương tiểu thơ. Bữa nay Đại công chủ (Âu Dương Tòng Thiện) không cùng đi?

Ném cương ngựa cho tửu bảo, Âu Dương Nữ đáp :

- Gia phụ bận việc không đi. Hồng Gia thúc có nhà không?

- Thưa có, mời tiểu thư vào quán.

Tam hiệp giở hành trang trên ngựa ra, qua sân rộng bước lên thềm quán thì vừa lúc Hồng Gia Đức rảo bước đi ra.

Âu Dương Nữ chắp tay vái :

- Kính chào thúc thúc được an khang? Năm nay gia phụ có việc lên Bắc nên không cùng đi.

Dứt lời, nàng giới thiệu Lam Y và Chu Đức Kiệt với họ Hồng :

- Đây là nhị vị hiệp khách Sơn Đông, đích điệt của Đức Võ Thượng Nhân đó.

Anh em Chu gia vái chào. Hồng Gia Đức đáp lễ :

- À, ra nhị vị đây là Lam Y nữ hiệp và Chu Đại hiệp đó? Hồi đầu năm, Sư trưởng (Chiêu Đức thiền sư) viễn du về có nói tới quý vị. Hỏi thế này không phải, nhưng theo lời Sư trưởng thì hình như hai người họ Chu và Âu Dương thông gia với nhau thì phải?

Âu Dương Nữ đỏ mặt e thẹn khẽ gật đầu.

Lam Y vui vẻ đáp :

- Thưa tiên sinh đúng vậy đó. Âu Dương tiểu thơ đây và gia huynh Chu Đức Kiệt đã đính hôn từ cuối năm ngoái. Sang Xuân này sẽ thành hôn.

Âu Dương Nữ thẹn thùng đỏ mặt gay gắt.

Hồng Gia Đức mỉm cười :

- Càng hay chớ sao! Mối duyên này thắt chặt tình hữu nghị giữa Thiếu Lâm với bắc phái. Đức Võ Thượng Nhân và Sư trưởng thân mật khác gì anh em đồng môn!... Nào xin mời tất cả vào quán rửa mặt nghỉ ngơi, sẽ chuyện trò sau.

Tam hiệp vào quán lấy phòng trọ, sửa soạn xong xuôi trở ra thực phòng dùng bữa trưa. Hồng Gia Đức thân với gia đình Âu Dương đãi rượu.

Họ Hồng hỏi Chu Đức Kiệt :

- Ba vị hiền điệt ở Tô Châu về thẳng đây hay du ngoạn các nơi khác?

- Thưa thúc thúc, chúng tiểu điệt từ Tô Châu vào trường Sa, sau qua Thập Vạn Đại Sơn ngược lên Võ Đang sơn mới về Đặng Phong huyện.

- Ủa, đi vòng dữ a.

Âu Dương Nữ đỡ lời họ Chu, thuật lại vụ giúp Thiết Xích Tử và Trường sa, nhập sơn trại Đại Sơn cho Hồng Gia Đức nghe.

Họ Hồng lấy làm thích thú khen ngợi luôn miệng.

- Mọi năm, nếu Trại Mạnh Thường sư huynh không về chơi Tung Sơn được, thường sai phái Tòng Cát, Tòng Đức đi thay, có lẽ sắp về cả đây.

Âu Dương Nữ đáp :

- Nhị vị gia huynh chuyến này cùng theo phụ thân lên Yên Kinh. Tiểu nữ qua Tung Sơn với nhiệm vụ báo cho Sư trưởng hay.

- Năm nay số môn đồ nhập và mãn khóa có nhiều không?

Hồng Gia Đức nói :

- Kể từ cuối năm ngoái đến giờ, số người xin nhập môn tăng nhiều phần, nhưng sau thời gian thử thách, Chiêu Đức sư huynh lọc được mươi người. Còn số mãn khóa có mười lăm người thì năm người được chánh thức hạ sơn, mười môn sanh kia phải ở lại với khóa sau. Tháng trước, Ngũ Chấn sư huynh cùng từ Tam Vân tự Quảng Châu về chơi mới đi được ít ngày.

Xong bữa, Âu Dương Nữ hướng Lam Y, Chu Đức Kiệt thăm thú huyện Đăng Phong. Lúc trở về thì vừa lúc gặp đại lão bá Hồng Gia Cường vừa đi thăm bà con ngoại huyện lững thững về nhà.

Tam hiệp bèn cung kính lạy chào.

Hồng Gia Cường năm ấy bát tuần, trầm hầm khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, râu tóc bạc phơ, tóc bạc như cước.

Âu Dương Nữ nói riêng với anh em Chu gia :

- Đại lão bá vẫn tập luyện hàng ngày, sử dụng cây Hồng côn tuyệt kỷ.

Lam Y hỏi :

- Hồng Gia Đức thúc thúc không có con trai sao?

- Có ba người: Hồng Gia Mạnh, Gia Cương và Gia Đông. Không hiểu tại sao vắng nhà.

Hồng Gia Đức nghe thấy, nói :

- Chúng mới ra cửa bể Sán Đầu lấy hàng, chừng hai mươi ngày nữa mới về được.

Sáng hôm sau, Tam hiệp sửa soạn vào Tung Sơn.

Tung Sơn ở về hướng Bắc cách huyện Đăng Phong tám dặm, chu vi hơn một trăm bốn mươi dặm. Tung Sơn gồm có hai dãy núi. Dãy phía đông là Thái Thất sơn, dãy phía tây là Thiếu Thất. Thái Thất sơn ở chính giữa Đăng Phong huyện cao hơn hai ngàn tám trăm trượng, vách đá nhấp nhô lởm chởm rừng cây chỉ mọc phía chân núi.

Thiếu Thất sơn ở hướng Tây bắc tiếp giáp với Đăng Phong huyện, cao tám trăm sáu mươi trượng. Phân tách ra như vậy, nhưng người không tìm hiểu thường gọi chung cả là Tung Sơn.

Thái Thất sơn hiểm độc hơn Thiếu Thất. Đỉnh núi chót vót luôn bị bao phủ bởi mây ngàn trắng xóa. Trái lại, ngọn Thiếu Thất u nhã hơn bao phủ bởi rừng Thiết mộc, (thứ cây trái đã dẫn giải trong một đoạn trước pho L. Y. N. H) Đỉnh Thiếu Thất sơn không có chóp núi, phẳng lì thiên nhiên, rộng rãi trên năm ngàn trượng vuông, và cũng là nơi ngôi chùa danh tiếng Thiếu Lâm tự được xây dựng, nào tam quan, đại điện tiền hầu, nào thiền cung, trai cung, nào võ sảnh, võ phòng, dãy dọc, dãy ngang. Lối lên Thiếu Thất từ đời nọ qua đời kia được sửa sang cẩn thận nên rất dễ đi. Khách thập phương thường niên lên chùa dâng hương không ít.

Dưng hương và ngoạn cảnh. Trên đường mòn từ Thiếu Thất sang Thái Thất sơn, khoảng giữa có Lộng Nguyệt hồ. Hồ này sâu tới bốn trượng, hình tròn như mặt trăng, hình trong, hoa dại mọc chung quanh càng thêm tăng vẻ đẹp thiên nhiên của cảnh vật. Thường nhật đứng lên trên Thiếu Thất sơn, nhìn xuống người ta cảm tưởng như nước hồ xanh rêu, đồng màu với cỏ cây, nếu không được chỉ dẫn cũng khó phân biệt được đâu là hồ, đâu là cây cỏ. Khi du khách dưng hương lễ Phật, theo đường phía sau chùa xuống vãng cảnh kỳ hồ, không khỏi lấy làm lạ vì nước hồ trong vắt như lưu ly.

Những đêm trăng sáng, từ mười hai, mười ba đến ngày hai mươi mỗi tháng, từ Thiếu Lâm tự nhìn xuống thì lạ thay toàn thể mặt hồ phản chiếu ánh trăng vàng, trong vanh y hệt cả vành trăng lớn từ không trung rớt xuống nằm giữa đường sang Thái Thất sơn. Bởi vậy thành tên Lộng Nguyệt hồ do các sư trưởng tiền triều truyền lại. Trong bộ "Võ Thuật Tùng Thư" đoạn nói về Thiếu Lâm tự có ghi rõ Lộng Nguyệt hồ thành tên từ đời Nam Tống nhưng không ghi rõ do vị Thiền sư nào đặt tên.

Ở hướng Nam ngọn Thiếu Thất cách chân núi chừng trên một dặm, có một đầm nước rộng tới mươi mẫu. Quanh đầm lau sậy mọc đầy, nhưng phía giáp với triền núi. Sư trưởng Thiếu Lâm tự phái các môn đồ xuống sửa sang thiệt quang đãng, để du khách có nơi ngự thuyền. Bên đầm có một ngôi đình hoa bát giác thiệt lớn lợp đá xanh góc mái cong cong, làm chỗ nghỉ chân cho khách thập phương thưởng ngoạn cảnh đầm. Gần đình bát giác, là mấy gian nhà cỏ của gia đình người thủ trụ.

Người thủ đình này được Sư trưởng cho phép trông coi một đoàn mươi chiếc thuyền hoa. Khách dưng hương ngự thuyền tuy không phải muốn, nhưng ai nấy đều hảo tâm tặng tiền nước, nên thủ đình nhờ đó sống dư dả cùng gia đình, tự ý sửa sang ven đầm trồng những rặng liễu xanh rờn đẹp mắt.

Mỗi năm tới mùa thu, trời xanh quang đãng, có từng bày nhạn bay qua thường lầm mặt hồ lộng với trời xanh nên có bầy sà hẳn nhào xuống nước tưởng mặt đầm trong sáng như gương là vòm trời thứ hai. Bởi vậy trải qua nhiều đời, Trí Dũng thiền sư, sư phụ của Âu Dương Tòng Thiện cũng đặt thành tên Lạc Nhạn đình.

Trong thời gian họ Âu Dương từ cha chí con, theo học võ nghệ trên Thiếu Lâm tự, Tòng Thiện tiền lắm bạc nhiều, bỏ ra sang sửa, khai phá, lập nhiều công đức đối với nhà chùa, cho nên thời ấy nói tới Âu Dương thì từ môn đồ lão ấu cho đến cả khách dưng hương quen thuộc đều biết rõ.

Về môn học thủy công, sư trưởng Thiếu Lâm tự thường cho môn đồ tập luyện lúc ở Lạc Nhạn đầm, khi ở Lộng Nguyệt hồ. Lạc Nhạn đầm thuộc mặt tiền, nhiều du khách, tập thủy công có phần không tiện nên thời Chiêu Đức thiền sư, người chuyên cho đồ đệ luyện thủy công ở Lộng Nguyệt hồ sau núi.

Đi men Lạc Nhạn đầm vòng sang hướng Đông nam, có một lối xây thành bực đá vòng vèo lên sườn Thiếu Thất sơn, cách mặt đất độ trăm trượng, du khách tới Trấn Võ động. Động đá này ăn sâu vào trong núi, nên trong có một phiến đá lớn thiên nhiên, vuông vắn nhắn lì. Vách đá cũng nhẵn như mài. Trên phiến đá lớn ấy nơi giáp vách động, bày một lư hương bằng đồng đen lớn cắm đầy chân nhang mới cũ. Trên vách đá, nơi giáp với lư hương khắc một hàng chữ đề: "Đạt Ma thiền sư Tham thiền chi linh vị".

Nói về Trấn Võ động, pho Võ Thuật Tùng Thư có ghi đoạn sau đây:

Xưa kia, vị thần tăng Đạt Ma vân du tới Tung Sơn Thiếu Thất, thấy cảnh sắc hùng vĩ, u nhã nên dừng gót giang hồ ở đây.

Trước kia xây dựng ngồi chùa Thiếu Lâm tự, Đạt Ma sư tổ ở ngay trong Trấn Võ động. Nơi bày lư hương tức là chỗ vị thần tăng ngày ngày tham thiền nhập định suốt trong thời gian Thiếu Thất sơn còn phôi thai.

Ngày nay, các môn đồ thường nhật xuống thắp nhang thờ trong động, những hôm trời tối âm u, đã nhiều người phảng phất thấy bóng vị thần tăng hiện trên vách đá, lung linh mờ tỏ nhưng họ quả quyết là trông thấy rõ rệt hình dáng Sư tổ tham thiền nhập định.

Khách thập phương hành hương cũng vậy. Đã có người từng trông thấy bóng vị Thần Tăng phảng phất hiện trên vách đá nên lời đồn lan rộng khắp nơi, khách dưng hương vào Thiếu Lâm tự cầu phúc đông đảo vô cùng.

Từ thời Trí Dũng, thiền sư phải cắt đặt hai vị hòa thượng ở thường trực trong Trấn Võ động luôn luôn hương khói, chớ không sai phái môn đồ ngày hai lần lên nhang như các thời trước nữa.

Kể từ ngày Đạt ma sư tổ ngừng gót giang hồ lại Trấn Võ động, Thiếu Thất sơn xây dựng Thiếu Lâm tự cải tổ ngôi chùa thành lớn hơn buổi sơ khai, tổng cộng có tới chín năm trời, vị Thần Tăng ấy luôn luôn ngồi nhập định ở nơi đặt lư nhang hiện tại.

Đó là lịch sử Trấn Võ động trong Thiếu Thất sơn mà thiên hạ quen miệng gọi riêng là Tung Sơn. Thiệt ra danh từ Tung Sơn là chỉ định toàn thể cả hai dãy núi Thái Thất (cao nhất) và Thiếu Thất.

Sở dĩ Thiếu Lâm tự Đạt Ma sư tổ xây cất trong Thiếu Thất sơn vì ngọn núi này bằng phẳng tiện lợi hơn. Nhờ địa thế rộng lớn ấy nên từ đời nọ qua đời kia, các vị sư trưởng luôn luôn cải cách hoặc xây dựng thêm thành thử chùa Thiếu Lâm trở nên một trong nhưng ngôi chùa lớn nhất Trung Nguyên, hơn cả Ngũ Đài sơn.

Thiếu Lâm tự có một lịch sử lâu dài như vậy, dĩ nhiên phải qua nhiều đời sư trưởng.

Trong nghĩa trang, nơi an nghỉ ngàn năm của các hòa thượng trụ trì và những người khác giúp việc nhà chùa, ở chân Thất Thái Sơn trông về hướng Nam. Khách dưng hương thường qua bên đó lễ phần mộ Đạt Ma sư tổ.

Theo luật lệ nhà chùa, các tiểu tăng trụ trì khi từ giã cõi trần đều được hỏa táng bên Thái Thất sơn, thể xác còn lại chỉ là đống tro và chôn nổi trong mộ phần. Cũng vì Thiếu Lâm tự có nhiều thân chủ, nên khu luyện võ của các môn đồ được ngăn ra riêng biệt không bận rộn vì du khách lễ chùa.

Trong khu bảo điện thập phần rộng rãi, cột cây súc lớn hàng ôm, có thờ tượng đức Thích Ca Mâu Ni, cao mười bốn thước. Pho tượng lớn thứ hai là Đức Di Lặc, thếp vàng nuột, ngồi hai tay ôm bụng phệ hở rốn ra mà cười. Tiếp đến tượng Thập Bát Kim Cương và trăm linh tám vị La Hán cỡ lớn bằng người thật. Thập Bát Kim Cương đứng theo mười tám thế võ của bài Kim Cương lôi quyền. Trăm linh tám vị la hán cũng vậy, mỗi pho tượng biểu danh một thế võ, họp lại thành bài La Hán quyền, một bài võ danh nổi tiếng của chùa Thiếu Lâm tự. Tượng hai ông Thiện, Ác đặt ngay bên hiên rộng lớn Đại Hùng bảo điện. Phía trong bảo điện, là khu thờ đức Đạt Ma sư tổ. Tượng đức Đạt Ma tham thiền cao bảy thước sơn son thếp vàng. Một bên bày linh vị sư trưởng, một bên linh vị chư tăng.

Tam Quan xây toàn thạch. Trên tầng thứ nhất bắc ngang hai cây xà bằng gỗ súc chịu được sức nặng của mỗi cái chuông lớn cao mười hai thước nặng ngàn bốn trăm cân. Chuông này có bốn núm vú. Khi đánh chuông, bốn vị tăng phụ trách khu Tam Quan phải dùng bốn chiếc chầy bằng cây, đầu bịt da treo thòng từ xà nhà ròng xuống lần lượt dộng vào trái chuông khổng lồ ấy. Tiếng chuông vang động quanh vùng, dội khắp trong dãy núi Thiếu thất, Thái thất vang đến tận Đăng Phong huyện và các thôn ở quanh vùng.

Tam hiệp vào đến Thiếu Thất sơn bèn rẽ ngựa lên núi. Đi tới đâu, Âu Dương Nữ giải thích tới đó cho Lam Y và Chu Đức Kiệt nghe. Đường núi đi vòng. Khi sang tới hướng Nam, Âu Dương Nữ chỉ tay mà rằng :

- Hiền huynh và cô muội coi kìa. Mặt nước sáng như gương kia là Lạc Nhạn đầm. Mỗi mùa thu, đứng trên núi trông bày nhạn bay qua rồi bỗng nhiên chúng nhào xuống mặt đầm, quả là một cảnh hiếm có.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Có con nào lên được không?

- Hiền huynh biết rằng chiếc nhạn khi bay thì hai cánh thả xuôi, như cánh chiếc tên thành thử chúng lao đầu xuống nước sâu quá bị ngụp mất tới quá nửa.

- Nhạn là giống sơn điểu không chịu nước, những con nào bay lên được. Rốt cuộc chẳng được bao xa, và nhào nữa để chẳng bao giờ lên được nữa.

Lam Y vui vẻ ròn rã :

- Chúng ta lên Thiếu Lâm tự trúng mùa, chắc sẽ được xem cảnh lạc nhạn.

Âu Dương Nữ gật đầu :

- Phải đó! Chúng nhằm mùa này đây.

Ba người thủng thẳng buông lỏng cương ngựa ngắm cảnh sắc tuyệt vời, lòng nhẹ lâng lâng thoát tục.

Lam Y nói :

- Mỗi chuyến gặp cảnh đẹp đăng sơn, ngu muội cảm thấy sung sướng thư thái và chẳng quên được kỷ niệm xưa. Rừng cây bạt ngàn, đá núi chênh vênh nhắc lại cả quãng đời ấu xa nhà giữa chốn sơn cao vực thẳm, phần nhớ cha, anh, phần lo thân thế. Cũng may Đức Võ thúc thúc chăm lo cho như một người con, vừa khuyên bảo, vừa truyền nghệ mới nguôi được sầu hoài hương, thọ đạo chuyến đầu suốt sáu năm trường đằng đẵng.

Chu Đức Kiệt thở dài :

- Ba năm nay xa cách quê hương, phần mộ song thân đã đành có người trông nom hương khói, nhưng tâm can vẫn thắc mắc không khuây.

Âu Dương Nữ cảm động khi nghe anh em họ Chu nhắc nhở chuyện xưa mà chẳng khỏi cạnh lòng phận gái rồi đây theo chồng, xa cách song thân, gia đình Nam Bắc xa xôi.

Nhát nhìn thấy Âu Dương Nữ chiêu đăm, Lam Y biết câu nàng vừa nói ảnh hưởng, xúc động cô gái họ Âu Dương.

Nàng tươi cười nét mặt cười vang :

- Gớm, mới có thế mà hiền tẩu đã chạnh lòng mất vui! Chúng ta là khách giang hồ, nay đó mai kia thì sự xa xôi, chẳng thành vấn đề. Khi cần gặp cứ đi là tới, lo gì? Thời gian hoàn toàn trong tay ta mà.

Bị đoán trúng tâm lý, Âu Dương Nữ hơi đỏ mặt, bắt chước Lam Y cười ròn rã vui vẻ như thường. Nàng nói :

- Chuyến này khi rời Yên Kinh, chúng ta về Bình Dương huyện và thăm thú đất Sơn Đông.

Chu Đức Kiệt âu yếm nhìn Âu Dương Nữ, nhưng vội quay đi ngay vì bốn mắt vừa gặp nhau trong khoảnh khắc.

Lam Y sung sướng nhìn hai người. Đó là ước vọng của nàng. Bao lâu nay, nàng ao ước dòng họ nhà nàng có người nối dõi. Mộng đó giờ đây đã gần thành hiện thực. Lam Y nói lớn như muốn xua đuổi nét buồn khoảnh khắc vừa bao phủ ba người.

- Chà! Toàn thể gia đình là chúng ta đây, luôn có nhau mà, buồn cái nỗi gì!

Dứt lời, nàng cười vang khiến hai người cũng cười theo. Ba người đi tới hướng Bắc đến một khu quang đãng trông thẳng Thái Thất sơn. Âu Dương Nữ xuống ngựa, buông cương thả cho ăn cỏ quanh đó. Lam Y, Chu Đức Kiệt hành động theo. Gần đấy có mấy gốc lão tòng hình thế tuyệt đẹp. Tam hiệp ngồi lên tảng đá lớn bên gốc tòng. Âu Dương Nữ chỉ định trơ đá của Thái Thất sơn mà rằng :

- Hiền huynh và cô muội hãy nhìn kỹ xem giống hình gì?

Anh em Chu gia ngắm kỹ giây lát, không ai bảo ai mà cùng nói :

- Sọ người!

Âu Dương Nữ gật đầu :

- Phải đó. Và đám mây trắng che phủ hẳn phía trên giống thứ gì?

Lam Y nói ngay :

- Giống hệt mớ tóc trắng xóa dính trên đỉnh sọ người.

Bởi vậy đỉnh ngọn Thái Thất sơn có tên là Hoa Cái phong. Đứng đâu cũng nhận ra nếu không đứng nguyên chỗ này. Dù rằng đứng ngay trên đỉnh Thiếu Thất sơn, cũng nhìn về một phương hướng như chúng ta đang nhìn đây cũng không thể nào nhận thấy Hoa Cái phong, ngoại trừ riêng một chỗ này. Thế mới lạ chứ?

Trong cuốn Cổ thư của riêng phái Thiếu Lâm tự truyền lại từ ngày thành lập chùa do các vị Sư trưởng giữ, truyền từ đời nọ cho đời kia có ghi rằng phía dưới Hoa Cái phong hướng Tây bắc có Tiên Cô động lấp sau rừng cây.

Hồi nãy mới ra khỏi Đăng Phong huyện, ta có cảm tưởng như rừng cây chỉ mọc dưới chân Thất Sơn. Nhưng bây giờ khác hẳn, đứng đây, ta thấy rừng cây lan tràn lên tới gần Hoa Cái phong.

Chu Đức Kiệt nói :

- Hiền muội nói phải. Vì từ phía Đăng Phong huyện, tầm mắt bị toàn thể Thiết Thất Sơn che lấp, người ta chỉ thấy có Hoa Cái phong nhô lên qua Thiếu Thất, nên tưởng như không có cây mọc bên Thái Thất, nhưng Tiên Cô động có gì?

Âu Dương Nữ lắc đầu :

- Đạt Ma sư tổ ghi sơ lược về Tiên Cô động trong cuốn Cổ thư nhưng cho đến nay chưa có vị Sư trưởng nào chú thích thêm điều gì về ải động ấy cả, tuy rằng có tổ chức đăng sơn tìm kiếm.

Rừng cây chi chít, rễ cây đan vào nhau chằng chịt lẫn gai, lá cây dày đặc, càng vào sâu càng tối om không còn biết Đông, Tây, Nam Bắc là đâu nữa có lẽ Tiên Cô động bị cây lấp lối đi rồi nên không ai thấy. Hoặc giả là không có chăng?

Chu Đức Kiệt không chịu :

- Đã ghi trong Cổ thư là chuyện đại, nhất là do Đạt Ma sư tổ ghi chép đâu phải chuyện chơi? Không thể nào không có được.

Âu Dương Nữ nói :

- Về Tiên Cô động, năm thứ hai đời Nguyên Võ Tông, vị Huyền Không sư trưởng thời ấy có ghi một đoạn như tiểu muội kể đây.

Năm Võ Tông đệ nhị nguyên niên, có một vị đạo sĩ không biết là bao nhiêu tuổi, đạo hiệu Khinh Hạc, da đỏ bóng lên như trái táo, cao lênh khênh lên Thiếu Lâm tự ngủ nhờ một đêm.

Sáng hôm sau, Khinh Hạc đạo sĩ hỏi thăm Huyền Không sư trưởng lối sang Thái Thất sơn.

Sư trưởng nhìn đạo sĩ hồi lâu :

- Đạo trưởng sang Thái Thất làm gì?

Khinh Hạc điềm nhiên đáp :

- Bần đạo phảng phất mê thấy có vị tiên cô bạch y dẫn đường vào động trong Thái Thất nên muốn vào đó thăm thử xem sao.

Huyền Không sư trưởng mỉm cười khuyên vị đạo sĩ nên bỏ ý định đó đi.

Khinh Hạc hỏi :

- Bần đạo chỉ yêu cầu Sư trưởng cho biết hai điều. Thứ nhất, bên Thái Thất sơn có Tiên Cô động hay không? Thứ nhì lối vào Thái Thất?

Huyền Không chăm chú nhìn đạo sĩ y thể một quái nhân :

- Tiên Cô động hữu thanh nhưng vô hình, bần tăng khuyên đạo trưởng bỏ ý định khám phá đó đi.

- Tại sao Sư trưởng không muốn bần đạo tìm hiểu?

- Đạo trưởng nên biết rằng hiện thời người đang đứng trên phần đất Thiếu Lâm tự, Thái Thất thuộc phần Tung Sơn, Thiếu Lâm tất bần tăng hiểu vụ Tiên Cô động hơn ai hết.

Khinh Hạc đạo sĩ cứng cổ :

- Vị tất! Nếu hiểu hơn ai hết thì phải biết Tiên Cô động.

E Khinh Hạc đạo sĩ không hiểu ý nghĩa câu mình nói, Huyền Không sư trưởng giảng giải:

- Bổn tự đã tổ chức nhiều lần thám thính. Không những hiện đại mà ngay từ các thời đại trước cũng đã có những cuộc thám hiểm tương tự như vậy, rút cuộc vô hiệu quả và còn tai hại là khác nữa. Bởi vậy, bần tăng khuyên Đạo trưởng đừng cố công vô ích.

- Đoàn tổ chức có những ai?

Huyền Không sư trưởng mỉm cười :

- Nhân viên thám hiểm toàn bộ là "người của Thiếu Lâm tự".

- Đại sư quên không nói thám hiểm gì mới được chớ?

- Thám hiểm Tiên Cô động.

Khinh Hạc tươi hẳn nét mặt :

- A! Nếu vậy cái kỳ động ấy không còn ở trong khu vực "giấc mơ" mà là việc có thật rồi.

Huyền Không bực mình :

- Cả đoàn thám hiểm Thiếu Lâm suốt bao đời nay còn chẳng đạt nổi kết quả tốt nữa là Đạo trưởng đơn thân xông xáo? Bần tăng chỉ biết khuyên như vậy, nếu Đạo trưởng khăng khăng mực không ngại hiểm nguy thì xin cứ việc tiến hành.

Khinh Hạc đắc chí cười ha hả :

- Một việc hữu hình như thế, lại thêm có Bạch y tiên cô thỉnh tay lẽ nào bần đạo bỏ cho được! Vậy xin Sư trưởng vui lòng chỉ lối vào Thái Thất.

Huyền Không thiền sư trả lời :

- Đạo trưởng quyết tâm đi lẽ nào bần tăng giữ mãi! Vậy hãy vui lòng nán lại chốc lát để bần tăng kịp sửa soạn lương khô thân tặng. Rừng hoang dày đặc, đạo trưởng phải đem theo các dụng cụ cần thiết chớ.

- Sư trưởng đã có tâm giúp đỡ, bần đạo vui lòng nhận lương khô. Còn dụng cụ thì chỉ xin lãnh một thanh đoản đao.

Huyền Không thiền sư hối tiểu tăng lấy lương khô bầu nước, đá lửa, một cuộn đuốc và một thanh giới đao, đích thân đưa tặng Khinh Hạc mà rằng :

- Một lần cuối, bần tăng tha thiết mong đạo trưởng bỏ ý định vào Thái Thất sơn. Nên nhớ rằng đây là một trong năm ngọn núi cao nhất Trung Nguyên.

Khinh Hạc lãnh tặng vật và thay vì câu trả lời, đạo sĩ hỏi đường vào Thái Thất sơn.

Huyền Không thiền sư đành dẫn Khinh Hạc đạo sĩ ra phía sau núi chỉ đường qua Lộng Nguyệt hồ vào Thái Thất sơn.

Sư trưởng Thiếu Lâm tự tiễn biệt đạo sĩ như thể tiễn một người đi không bao giờ về nữa.

Người dặn với :

- Nếu Đạo trưởng bị trở ngại, cứ trở về đây nhé.

Khinh Hạc vẫy tay chào đi thẳng. Huyền Không có ý chờ, một ngày, hai ngày, ba ngày, tưởng thế nào vị đạo sĩ kỳ dị ấy cũng thoái chí trở về, chẳng dè Khinh Hạc đi biệt tích. Muốn tránh thắc mắc, Huyền Không tổ chức các môn đồ theo người đi kiếm lục lạo khắp những nơi mà chân người có thể len lỏi tới được. Nhưng vô hiệu, Khinh Hạc hoàn toàn mất tích. Một số người trong chùa đồ rằng có lẽ Khinh Hạc là một vị đại tiên đã tìm thấy Bạch y tiên cô ngộ đạo thiệt thọ chăng. Trái lại, một số đồng ý với Thiền sư cho rằng thám hiểm Tiên Cô động chỉ là một ảo ảnh. Khinh Hạc đã chết bỏ xác trong rừng hoang rồi. Thuyết nào cũng có nghi vấn và câu chuyện Khinh Hạc chìm lắng trong lịch sử Tiên Cô động của nhà Chùa.

Anh em Chu gia nghe Âu Dương Nữ kể chuyện xong vị đạo sĩ kỳ dị vào Tiên Cô động lấy làm ngậm ngùi, không biết phê bình ra sao cả.

Lam Y hỏi :

- Từ ngày ấy không còn vị nào thám hiểm Thái thất sao?

Âu Dương Nữ lơ đãng nhìn lên Hoa Cái phong, chậm rãi :

- Có chứ! Một vụ thám hiểm do người ngoài tổ chức sau vụ Khinh Hạc đạo sĩ ngót hai năm sau.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Và chuyến này nhân viên đoàn thám hiểm cũng là giới đạo mơ Tiên?

Âu Dương Nữ lắc đầu :

- Không. Gọi là đoàn thì quá đáng vì họ chỉ có... hai người, và hai người thường không thuộc đạo, giáo nào cả. Họ gốc người Quảng Chi di cư lên Tuyền Châu đã lâu năm, sau lại vào Tân Mật huyện, giáp ngọn Thái Thất sơn. Cả hai cùng trạc tam tuần trang phục theo lối võ trang khỏe mạnh.

Một người họ Lý tên Thành, còn người kia là Vương Đắc Thông. Lý Vương rủ nhau lên Thiếu Lâm tự xin phép Huyền Không thiền sư cho thám hiểm Thái Thất sơn Tiên Cô động. Thiền sư từ chối:

- Bần tăng không muốn cấm ai hỏi, song rất tiếc không thể làm hài lòng nhị vị.

Vương Đắc Thông phản đối :

- Trước kia, Sư trưởng còn thuận cho Khinh Hạc đạo sĩ vào Thái Thất sơn thám hiểm, lẽ nào chúng đệ đủ dụng cụ đăng sơn, địa bàn phong đăng, lương thực cần thiết mà Người từ chối ư?

Thiền sư nhất quyết lắc đầu :

- Chính vì bần tăng quá nể Khinh Hạc nên việc y mất tích ngày nay còn nặng nề trong tâm. Nếu hồi ấy bần tăng cương quyết như lúc này, có lẽ Khinh Hạc đạo sĩ còn sống. Thôi bỏ ý định điên rồ ấy đi kẻo lợi bất cập hại.

Biết cố nài nỉ cũng vô hiệu quả, Lý Thành, Vương Đắc Thốn đành ra về nhưng không thể bỏ được tánh hiếu kỳ ấy, hai người bèn sửa soạn dụng cụ đăng sơn thiệt đầy đủ lẻn vào chân núi Thái Thất, cố len lỏi vòng ra phía ngoài Lộng Nguyệt hồ là nơi có đường leo lên ngọn núi ghê gớm, đầy vẻ bí mật ấy. Đi vòng chân núi từ phía Tân Mật huyện vào đến gần Lộng Nguyệt hồ cũng hết trọn một ngày rồi. Sáng hôm sau, Lý, Vương khởi sự vào rừng, quyết khám phá kỳ được Tiên cô động.

Đến xế chiều, hai người thất thểu ra khỏi rừng, quần áo rách bươm, mày sứt đầy máu, đầu tóc rối bù, diện mạo phờ phạc. Họ lê bước vào chân ngọn núi Thiếu Thất, mệt quá đi không nổi nữa và té gục ngay ở đó. May thay, vừa lúc đó có mấy tăng đồ ở rìa núi Thiếu Thất trông thấy một người thất thểu đi qua Lộng Nguyệt hồ liền chạy vào báo cho Sư trưởng. Huyền Không vội chạy ra xem, nhưng vì cao quá, không thể nào nhìn rõ được. Hai người chỉ là hai chấm nhỏ li ti lúc chuyển lúc ngừng trên thảm cỏ xanh rờn bên Lộng Nguyệt hồ.

Xưa nay, nếu có người đi qua con đường nhỏ từ Thiếu Thất sang tất phải qua Thiếu Lâm tự và phần nhiều là du khách, sau khi phương tiện đường xuống phía sau chùa mới ra được Lộng Nguyệt hồ.

Thắc mắc, thiền sư liền phái ba tăng đồ bản lãnh đã khá cao rồi xuống xem. Ba người này chuyền thẳng xuống núi theo đường tắt, vừa tới nơi thì đúng lúc Lý Thành, Vương Đắc Thống kiệt sức té khuỵu xuống đó. Họ bèn cõng hai người lên Thiếu Lâm tự. Xuống dễ, lên khó, gia dĩ lại hai người, mãi tối mịt mới về tới chùa.

Thiền sư nhận ra Lý, Vương là hai người đã có lần lên núi xin phép được thám hiểm Thái Thất. Biết rằng họ đã trộm phép mình tự ý thực hiện chương trình đăng sơn, nhưng không hiểu họ đã làm thế nào lần mò được lên chân ngọn núi Thái Thất vì phải công phu lắm mới đi vòng được lối huyện Tân Mật. Thiền sư cho đồ đệ đem họ vào phòng dùng thuốc cấp cứu ở trên chùa ba ngày mới lành mạnh.

Lý, Vương thoát chết lên Phương trượng lạy tạ Thiền sư và thú thật cuộc phiêu lưu mạo hiểm đăng sơn. Thì ra, họ cố len lỏi qua rừng cây gai góc dầy đặc, luôn tay chặt, phát lấy đường đi. Càng vào sâu cành lá càng rườm rà tối mịt không còn chút ánh sáng, nhưng nhờ có ngọn phong đăng, họ cố tiến. Bất đồ đi tới một nơi đá mọc thẳng lên theo thế bích lại chắn ngang lối đi. Tuy có ngọn phong đăng chiếu sáng, nhưng sức sáng không đủ tỏa lên cao, Lý Thành, Vương Đắc Thống bảo nhau là đã tới chân núi rồi, nay chỉ còn việc... leo cao. Hai người nghỉ ngơi chốc lát và sát đầu bám vào thành đá leo lên. Đá rêu trơn như mỡ, cố leo lên được vài thước lại tụt xuống như trước.

Lý Thành bảo họ Vương :

- Đi vòng xem sao, tất sẽ gặp lối thoát dễ đi hơn.

Thì ra, đấy chỉ là tảng đá lớn mọc ở giữa đám cây chằng chịt, sức sáng phong đăng soi không thấu nên họ tưởng là đã tới chân núi. Đi vòng hồi lâu mới thoát qua tảng đá đó. Len lỏi không bao xa, họ gặp tảng đá thoai thoải dốc, dễ trèo hơn. Chuyến này, kinh nghiệm hơn Lý, Vương bảo nhau đi vòng tìm đường. Mãi cũng không thấy đường nào khác, mà kim địa bàn thì cứ chỉ thẳng về phía tảng đá ấy.

Vương Đắc Thống bảo họ Vương :

- Đây là chân núi rồi, đăng sơn thôi.

Hai người lại hì hục leo, được độ hơn một trượng, rêu trơn quá. Lý Thành ở trên té trước chạm phải Vương Đắc Thống theo sau, nên cả hai cùng lăn xuống mặt rừng. Ngọn phong đăng rớt theo tắt ụp tối mò.

Lý, Vương hoảng sợ, quờ quạng lần mò tìm mãi mới thấy.

Đánh lửa đốt phong đăng, hai người nhìn nhau lắc đầu, thoái chí.

Vương đắc Thống nói :

- Lý đại ca ơi, thôi, kẻo mục xương trong này mất.

Lý Thành nhìn bạn, y phục may bằng thứ vải dày đến thế mà rách tả tơi vì bị gai rừng móc thủng, chân tay sứt sát, rớm máu. Nhìn lại mình cũng vậy. Họ Lý rút trong bọc ra lấy ve thuốc bôi vào các vết thương cho bạn và mình.

Khí núi, hơi rừng ẩm ướt lạnh thấu xương. Tiếng thú lạ lùng, gớm khiếp từ từ phía vọng tới, khiến hai người có cảm tưởng như đang sống giữa địa ngục trần gian.

Nghỉ xả hơi, Lý Vương thất thểu len lỏi trong đường cũ trở rêu. Chẳng dè vừa đi được một quãng, thì bỗng nghe tiếng ào ào trên vòm lá gần đó. Cả hai cùng nghĩ bụng: "Quái, không gió sao lá cây động mạnh!". Sắc diện tái mét, Lý Vương cố nhận xét mới thấy một khúc mình con trăn lớn bằng thân cây nhỏ đang trườn trên cành cây... Thôi không ai bảo ai, hai người chạy bừa trở ra bất cần gai góc, văng mất cả đồ lề, vật dụng. Cũng may chạy đúng đường, hai người ra thoát khu rừng đen tối, kinh khủng! Thở hồng hộc, Lý Vương cố chạy một quãng ngắn nữa mới lăn cả ra mặt đất nằm đại hồi lâu, mới dắt nhau lần về phía Thiếu Thất sơn... Thiệt ra, Lý Thành, Vương Đắc Thống không đi được bao xa. Những tảng đá mà họ cố leo đó là thứ đá mọc ở rừng sâu chớ làm chi đã vào được tới chân Thái Thất. Trái núi này tứ phía vách đá bích lập không có lối lên, riêng từ hướng Lộng Nguyệt hồ đi tới, đứng xa trông thấy sườn núi thoai thoải khả dĩ đăng sơn được, thì lại vướng u lâm nguy hiểm.

Lam Y lơ đãng nhìn Thái Thất sơn, nàng nói :

- Đạt Ma sư tổ đã nói tới động Tiên Cô tất phải có, lẽ nào người chỉ một việc vu vơ ảo ảnh.

Chu Đức Kiệt gật đầu :

- Trải bao thế kỷ, cây rừng lan tràn lấp hẳn cửa động. Bây giờ, muốn kiếm ra, ít nhất phải đốt phá hết cây rừng. Trong trái núi cao lớn, hùng vĩ nhường kia, tìm cửa động quả thiệt vạn nan.

Bỗng chàng ngừng nói, lắng tai nghe. Lam Y cũng vậy.

Một tiếng chuông vang liên tiếp chấn động cả một vùng. Tiếng đó kéo dài, rền rĩ lịm dần trong gió thổi phần phật tung cả những khóm lá thiết mộc dày đặc. Lam Y ngơ ngác.

- Trên chùa đánh chuông chăng? Chuông lớn lắm hả tiểu muội?

Âu Dương Nữ lắc đầu :

- Không. Trên Tam Quan có chuông lớn thiệt, nhưng những hồi chuông bình minh hay thu không âm thanh ấm áp, truyền cảm nhẹ lâng lâng như ru hồn thế nhân.

Trái lại tiếng vang vừa rồi khởi đầu như núi đổ thác gầm, sau lại rền rĩ oán than tựa muôn vạn tiếng khóc vọng phu... Đó là tiếng sóng hồ lùa vào hốc đá bên phía bắc Thái Thất sơn.

Nguyên phía ấy, núi Thái Thất có một cái hồ diện tích có tới trăm mẫu. Nước ăn vào chân núi thành hang rộng, hốc sâu. Nhưng buổi êm trời, gió yên sóng lặng, mặt hồ trong vắt tựa khối pha lê. Nhưng gặp cơn gió lốc, đột nhiên sóng bốc cao, dồn vào hang núi ầm ầm như muôn vạn chuông khánh gõ vang khua động toàn khu. Khi sóng rút ra khỏi hang, không khí bị dồn ép trong hang cuộn theo bật lên tiếng rền rĩ oán than như chúng ta vừa nghe thấy.

Kìa, hiền huynh và cô muội coi kìa, gió còn lùa mạnh xào xạc trong khóm lá, bởi đây là chút dư phong từ phía Thái Thất lọt về đấy.

Bởi vậy người ta mệnh danh vùng nước bạc bên Thái Thất là Thạch Chung hồ.

Nghe Âu Dương Nữ giảng giải rõ rệt, tỉ mỉ về toàn khu Tung Sơn Thiếu Lâm tự, anh em Chu gia thấy quý mến nàng thêm về đức tánh chịu khó sưu tầm tìm hiểu. Nàng quả xứng danh là một cao đồ Thiếu Lâm phái.

Tam hiệp lên ngựa tiến bước, không bao lâu tới mộït ngọn suối róc rách chảy. Trong lòng suối ngâm đầy những khúc thiết mộc đủ cỡ.

Âu Dương Nữ chỉ những khúc cây ấy mà rằng :

- Những khúc cây này ngâm trong nước cho tới khi nào vỏ cây mục ra hết mới được Thiền sư cho đem về chùa tạc khí giới. Dùng ngọn Hồng côn nhẹ nhàng, đằm tay hơn các thứ côn khác nhiều, hơn hẳn Thiết côn một điểm.

Ba người vượt qua thạch kiều rẽ sang tay hữu đi vào khu vực tam quan thì vừa gặp hai vị tăng đeo mỗi người một bọc hành lý đi tới.

Đó là Khinh Thanh và Kỳ Dương Tăng. Nhận ra người quen, hai vị tăng đó dẹp vào bên đường chắp tay vái chào. Kỳ Dương Tăng nói :

- Mô Phật. Âu Dương tiểu thư chuyến này về Thiếu Lâm có một mình sao?

Tam hiệp xuống ngựa đáp lễ. Âu Dương Nữ nói :

- Mô Phật. Gia phụ và gia huynh mắc bận không về Tung Sơn được. Đây là Chu gia Bắc Hiệp. Sư trưởng có nhà không?

- Thưa có, hồi nãy Người nhắc tới Âu Dương lão bá luôn. Mời nhị vị và tiểu thư vào chùa, anh em bần tăng phải xuống Đăng Phong huyện tụng kinh bên Đằng gia trang.

Tam hiệp cúi đầu tiến bước. Chờ ba người đi khỏi, hai vị tăng mới tiếp tục xuống núi.

Qua tam quan, Âu Dương Nữ dẫn Lam Y, Đức Kiệt theo lối đi vòng sang bên tả vào phía sau chùa cho ngựa vào tầu giao cho hai tiểu tăng phụ trách khu ấy, rồi mới đeo hành lý lên thẳng thiền phòng.

Các tiểu tăng và môn đồ đều niềm nở chào hỏi.

Một người nói :

- Sư trưởng hiện đang ở sân giữa, mời ba vị tới đó.

Lam Y, Đức Kiệt theo Âu Dương Nữ đi vòng vào, qua mấy dãy nhà dọc tới sân lớn Chiêu Đức thiền sư ngồi xếp bằng tròn trên phiến đá bên gốc cổ tùng cực lớn, bóng tỏa mát giữa sân. Thiền sư thấy có cả anh em Chu gia cùng đi với Âu Dương Nữ liền đứng lên. Tam hiệp tiến tới lạy chào, thiền sư đỡ dậy, nói với anh em Chu gia :

- Chẳng mấy khi nhị vị hiền điệt qua chơi hân hạnh cho bổn tự biết nhường nào. Mời về phòng cất hành lý đã. Bần tăng chờ trên khách sảnh.

Nói đoạn, Chiêu Đức vỗ tay gọi tiểu tăng truyền lệnh sửa soạn phòng ốc cho ba người mới đến. Lát sau, Tam hiệp lên khách sảnh ngồi hàng dưới, hầu Thiền sư.

Chiêu Đức hỏi thăm Trại Mạnh Thường, Âu Dương Nữ thong thả trình bày mọi sự và nói luôn việc Minh Thành tổ tứ hôn Âu Dương Tòng Đức và Nhạc Lan Anh.

Thiền sư hân hoan :

- Tiếc quá, bần tăng không tiện dịp đi hội. Yên Kinh ở xa, không thể mỗi lúc rời chùa đi được.

Âu Dương Nữ đưa trình phong thư của Trại Mạnh Thường :

- Thưa sư phụ, trước khi khởi hành lên Bắc, phụ thân con có thiết đãi tiệc kính mời sư phụ thế nào cũng lên Tô Châu chủ lễ.

Thiền sư đón cây phong thơ mở ra xem, đoạn hỏi :

- Đức Võ Thượng Nhân không về dự sao?

Lam Y thưa :

- Gia thúc trước khi vào Côn Luân có dặn rằng sẽ cố về cho kịp đại lễ ở Tô Châu. Đệ tử tính ngày đi chắc thế nào cũng về trước ngày khởi lễ.

- Ba vị hiền đồ vãng cảnh chùa ít ngày rồi về trước sửa soạn, bần tăng sẽ đi sau. Nhân đây có hai món tặng vật mừng vợ chồng Tòng Đức và Chu Hiệp cùng Âu Dương hiền đietä, xin vui lòng nhận trước, tập luyện cho quen sử dụng.

Tam hiệp ngơ ngác không hiểu món tặng vật gì kỳ lạ phải tập luyện sử dụng ngay tại chùa.

Thiền sư biết vậy mỉm cười, đi thẳng về thiền phòng. Lát sau, Người cầm ba chiếc túi vải đỏ đựng một vật gì dài hơn cánh tay đặt lên trên án kêu đánh "cộp" một tiếng.

Thiền sư mở miệng túi rút ba cây đồng giản bóng loáng, mỗi cây một kiểu: vuông, lục lăng, chín đốt.

Người nói :

- Thứ giản này do bần tăng mới chế ra và tạo thành. Sau hai năm nghiên cứu, sự sử dụng hiện thời thập phần hoàn hảo. Giản này còn một kiểu bát giác, dành cho Tòng Đức. Trong ba cây trên án đây, hai cây là tặng vật nhân dịp vui mừng của Âu Dương hiền điệt cùng Chu đại hiệp. Cây thứ ba, bần tăng thân tặng Lam Y nữ hiệp để đánh dấu cuộc viếng thăm Thiếu Lâm tự lần thứ nhất.

Bây giờ tùy ý ba hiền điệt lựa chọn, bần tăng sẽ giảng giải sau, ba cây cùng một hiệu lực, chỉ khác nhau về hình dáng.

Âu Dương Nữ vui vẻ hai tay nưng ba thanh đồng giản hình thức cực kỳ trau chuốt, đồng cân lượng, đưa đến trước mặt Lam Y :

- Mời cô muội lựa trước.

Lam Y cười mà rằng :

- Thứ gì hiền tẩu cũng nhường, y hệt tánh cách hiền huynh như vậy.

Chiêu Đức thiền sư vui lây :

- Dĩ nhiên, huynh tẩu bao giờ cũng nhường cô muội, nhất là vị cô muội ấy lại là Lam Y.

Lam Y đứng lên vái Thiền sư :

- Đại sư ban cho, đệ tử xin bái lãnh.

Nói đoạn, nàng lựa cây chín đốt, xoay đi, xoay lại xem thấy đúc một hàng chữ chìm ở cán giản: "Liên Khúc Cửu Châu".

Âu Dương Nữ đến trước mặt Chu Đức Kiệt. Chàng đứng lên bái tạ Thiền sư, rồi lựa cây lục lăng đưa lại Âu Dương Nữ, còn chàng cầm lấy câu giản vuông.

Tam hiệp ngắm nghía ba cây giản. Đầu giản có ba lỗ nhỏ bằng đầu đũa, đầu giản có bốn nút, một chính giữa, ba nút ở bên đều đặn thành hình tam giác. Cây giản của Âu Dương Nữ có khắc dòng chữ: "Liên Châu Lục Lăng Đồng Giản". Cây giản của Chu Đức Kiệt khắc: "Liên Châu Phương Đồng Giản". Lam Y hỏi Chiêu Đức thiền sư :

- Bạch sư trưởng, cách sử dụng liên châu giản như thế nào?

Thiền sư đón lấy cây Liên Khúc Cửu Châu của nàng mà rằng :

- Ba vị hiền điệt coi kỹ. Trong lúc giao tranh, sử dụng thứ giản này vẫn mạnh mẽ như các thứ giản thường ngày. Duy trong lúc cấp bách, giản liên châu có công dụng như cây: "Đồng Sang: súng đồng" đáng lẽ bắn bằng đạn thì ta bắn bằng thứ tên nhỏ xíu như đây.

Thiền sư lấy trong tay áo cà sa ra một hộp đựng đầy tên nhỏ, cật bằng đồng lớn hơn chiếc trâm gài tóc dài độ hơn một tấc, để lên án thư. Người lấy ba mũi tên bỏ vào ba cái lỗ ở đầu giản, vỗ vào chân giản mấy cái cho tên tuột hẳn vào trong. Đoạn, Thiền sư đưa ngón tay cái bấm vào nút giữa, và xoay nút đó sang bên hữu nghe "cách" một tiếng Như thế này, ba mũi đã vào đúng ổ của nó trong cán giản rồi, sẵn sàng để bắn và trong lúc giao đấu, người dùng thứ giản tha hồ quật vụt không sợ tên văng đi mất. Nếu muốn bắn, cứ bấm ba cái nút nhỏ này. Bắn mũi một hay bắn "liên châu" cũng được.

Lam Y hỏi :

- Bạch sư trưởng sức mạnh của mũi tên bao xa?

- Trong vòng hai mươi bước, sức mạnh của mũi tên dù gần xa vẫn nguy hiểm như thường. Cơ quan đặt trong cán giản rất giản dị chắc chắn, không bao giờ hư được. Bần tăng thử lại đi thử lại nhiều lần bằng quất giản vào thân cây trai liên tiếp cả trăm cái thiệt mạnh, mà sức phát tên vẫn điều hòa như ý muốn.

Âu Dương Nữ nói :

- Thưa sư phụ, liên châu giản này nặng tới mười lăm cân?

Thiền sư gật đầu :

- Đúng mười lăm cân, không hơn, kém. Thứ đồng này được lọc rất kỹ không bao giờ bị lan. Chất lan đã được lọc hết. Hãy coi lối phát tên!

Nói đoạn, Thiền sư cầm giản đứng lên ra giữa sảnh hoa lên mấy vòng, rồi bất chợt bắn luôn một phát tên nhằm lưng chiếc ghế bằng gỗ thường dựng trong góc sảnh.

Mũi tên phát lại cắm phập vào lưng ghế sâu tới một đốt ngón tay. Người bắn luôn hai phát liên châu nữa, cũng vậy.

- Ba vị hiền điệt coi. Cách sử dụng giản dị lắm. Thử xem sẽ biết!

Thiền sư trao cây cửu khúc trả Lam Y. Tức thì, Tam hiệp nạp tên vào giản theo cách thức Thiền sư vừa chỉ bảo và lần lượt bắn thử vào lưng ghế, đoạn đến cả đó xem. Sức cắm sâu của từng mũi tên một đều đặn như nhau.

Thiền sư lần lượt rút bật cả mười hai mũi tên nhỏ ra, mũi nào cũng thẳng tắp không hề bị cong veo. Người cầm cây giản của Đức Kiệt tháo cái "hoa sen" ngắn cán và thân giãn.

- Các hiền điệt coi. Cán và thân giản có khớp khít khao, khớp này được bao bọc bởi cái hoa sen đầy đặn này thành toàn thể cây giản liền nhau chắc chắn như thể có một khối. Bây giờ, vặn cái khớp này, cán giản sẽ rời hẳn ra và ta trông thấy cơ quan phát tên ở bên trong. Lần đồng đúc bao bọc dầy như thế này, bần tăng cả quyết không khi nào sức gạt đánh trong lúc giao đấu có thể phương hại tới cơ quan giản dị phát tên đặt trong cán giản.

Tam hiệp nhận xét tỉ mỉ, khen thầm cách chế hóa tinh vi liên châu giản của Thiền sư.

Ba người sẵn có căn bản luyện tập nên sử dụng cách thức phát tên được như ý ngay.

Chiêu Đức lấy ba hộp tên khác đưa cho Tam hiệp :

- Mỗi hộp này đựng một trăm mũi tên, các hiền điệt bản lãnh cao siêu, chắc không bao giờ dùng hết. Chỉ cần thỉnh thoảng nhỏ mấy giọt dầu vào trong cán giản cho cơ quan đặt trong đó được trơn, có thế thôi.

Tam hiệp nhận mỗi người một hộp tên và lồng liên châu giản vào túi như cũ.

Âu Dương Nữ là cựu môn đồ quen thuộc rồi không kể. Thiền sư coi anh em Chu gia là nhân vật đã có thành tích giang hồ, là bậc thượng khách của nhà chùa, nên đích thân hướng dẫn đi thăm các nơi trong khu vực Thiếu Lâm tự, giới thiệu với chư tăng và các môn đồ.

Lúc bấy giờ tại Thiếu Lâm tự có hai vị hòa thượng đồng niên tứ tuần, y bát cao hơn cả, bản lãnh cũng đứng vào bậc trưởng tràng. Một vị đạo hiệu là Mã Định tăng, vị kia là Dã Vân tăng. Mã Định lực lưỡng, nở nang như hộ pháp. Trái lại, Dã Vân cao lênh khênh, mảnh khảnh như chiếc hạc, nhưng quắc thước lạ lùng. Hai vị hòa thượng này vẫn thay thế Chiêu Đức thiền sư trong khi người vân du đây đó.

Họ thay phiên nhau mỗi người một tuần trông coi khu vực thuộc thành phần nhà chùa, nghĩa là kinh lễ, truyền đạo cho chư tăng hàng dưới. Hết tuần, họ lại chuyển sang khu vực truyền võ nghệ cho các môn đồ cả tăng lẫn tục bên võ đường hoặc tự lực, hoặc dưới sự kiểm soát của Chiêu Đức thiền sư tùy trong trường hợp.

Cho nên, theo sự nhận định của toàn thể mọi người trong Thiếu Lâm tự thời bấy giờ, Mã Định Tăng, và Dã Vân Tăng là hai người có hy vọng sẽ được thay thế Thiền sư giữ ghế sư trưởng, khi Chiêu Đức tịch, nếu không có vị tăng nào khác vượt bậc.

Vượt được Mã Định và Dã Vân không phải là chuyện dễ dàng mà bất cứ nhân viên nào trong chùa cũng có thể đạt được.

Trước hết, hai hòa thượng này quy y từ nhỏ. Kinh kệ làu thông, đạo hạnh cực dày, đủ tư cách đảm nhiệm một ngôi đại thiền viện.

Về phần công phu, cả hai cùng khổ luyện trên mười năm từ quyền thuật, thập bát ban đến các môn phi hành, khinh thân, nội ngoại công, điểm huyệt đều thâu nhận được đầy đủ.

Nói về công phu khổ luyện, nhà chùa không cứ gì truyền riêng cho các môn đồ quy y với mục đích đào tạo người thay thế Sư trưởng viên tịch. Môn đồ không quy y đủ sức, kiên tâm chịu theo đến cùng bực cũng có thể ở lại chùa cho tới khi nào hoàn toàn thành công, thâu nhận, thực hành được hết các môn, pháp võ thuật. Đạt tới mức độ siêu đẳng này, môn đồ còn phải theo đủ về y khoa, nội y cũng như ngoại y thuộc ngành võ, mới có thể gọi là hoàn toàn.

Sau khi thành đạt, môn đồ không quy y sẽ được hạ sơn tùy ý. Đó là trường hợp của Trại Mạnh Thường Âu Dương Tòng Thiện và các con. Nhiều khi, các môn đồ này phần ở chùa đã lâu, mến cảnh, mến thầy, quy y luôn không huyền tục nữa. Nhưng không phải ai cũng đi tới mức siêu đẳng này. Thường thường các môn đồ không quy y chỉ ở lại chùa trong thời hạn năm, sáu năm, chuyên luyện các môn võ nghệ thực hành, đủ sức tự vệ là đến thời kỳ hết hạn học, xin từ thầy xuống núi về nhà lập nghiệp hoặc ra thi võ làm quan binh, hoặc đi buôn, hoặc mở phiêu cuộc nhận lãnh bảo đảm việc chuyên chở hàng hóa cho khách thương, hoặc mở võ đường thâu nhận học trò. Số môn đồ này không ít, cho nên hàng năm Thiếu Lâm tự tung nổi ra ngoài đời một số người "thuộc phái Thiếu Lâm" thuộc hàng bản lãnh võ sư.

Cũng bởi Thiếu Lâm là "lò" sản xuất võ sư, nên các vị Sư trưởng mới đặt ra cách khảo thí bắt buộc môn đồ nào muốn hạ sơn sau thời gian chuyên luyện võ nghệ thực hành phải qua hàng "Mộc nhân, Mộc mã" mới tới cửa Xuất sơn.

Qua được con đường khảo thí này, Sư trưởng an tâm rằng vị môn đồ hạ sơn ấy ít nhất đủ sức tự vệ, trong khi giao đấu không đến nỗi bị hạ ngay, làm mất tiếng môn phái. Với trình độ qua "Mộc nhân, Mộc mã" môn đồ xuất sơn được liệt vào hạng trên cỡ trung bình, khả dĩ tin cậy được việc "giao tiếp" với các ngươi của môn phái khác. Nhưng họ chưa được liệt vào mức thượng thặng tiêu biểu cho toàn phái Thiếu Lâm. Cách đào tạo luyện môn đồ của các võ phái khác cũng tương tự như vậy, song thường thường các môn phái khác không thâu nhận môn sinh đông như Thiếu Lâm nên cách tổ chức lựa lọc không được quy củ như môn phái này.

Dưới thời Chiêu Đức ở Thiếu Lâm, các võ phái danh tiếng như Côn Luân mà vị Sư trưởng tiền bối là Đức Võ Thượng Nhân tiêu biểu cho toàn thể Bắc phái. Nga Mi, Không Động, Võ Đang, Sơn Đông (tức Bắc Thiếu Lâm) chưa thành lập.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau