LAM Y NỮ HIỆP

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Lam y nữ hiệp - Chương 31 - Chương 35

Chương 31: Đả thiết ngưu, mỹ nam tử rời Tam Môn cốc Hạ Hoa mã, Dương Hoài Ngọc nhập Hàn gia trại

Họ Dương mỉm cười khẽ gật đầu :

- Chúc hiền muội mã đáo thành công!

Phượng Tiên đi thẳng xuống thềm, nhảy phắt lên con tuấn mã do Từ Trung giữ cương ở gần đó.

° ° °

Địch Lân và Lâm Diêm Bá phi ngựa đi trước, bọn bộ hạ theo sau, vó ngựa dồn dập như trống trận rền hồi, bụi cát bay mù.

Địch trại chủ cùng các bộ hạ đi khỏi rồi, trong trại chỉ còn có Từ Trung và đàn bà con trẻ.

Họ từ còn đứng dưới thềm đừ người ra khỏi đoàn kỵ sĩ vừa khuất khỏi cổng trại, Dương Hoài Ngọc tiến đến gần hỏi :

- Mã trại còn con ngựa nào không? Thắng cho tôi mượn một con.

Từ Trung ngạc nhiên :

- Thiếu gia cũng đi theo Trại chủ và Phượng Tiên cô nương.

Hoài Ngọc lắc đầu :

- Không, tôi không hiếu chiến và cũng không đủ sức để gây hấn, có lẽ Từ Trung ưa chuộng ôn hòa phải không.

- Dạ, thế mà mấy chục năm nay phải sống giữa một tình trạng luôn luôn báo động. Cũng quen đi.

Vỗ vai họ Từ, Hoài Ngọc nói :

- Nếu có trang trại, tôi mong có người lão bộc hiền lành như Từ Trung... Thế nào? Thắng ngựa cho tôi mượn?

- Dạ, còn con Lôi Điện và một con của tôi tuy không đẹp lắm nhưng mạnh và rất nhu.

Hoài Ngọc cười :

- Lẽ cố nhiên đóng cương tôi mượn con nhu!

Hai người cùng đi ra mã trại.

Từ Trung chải con ngựa của mình cho sạch sẽ và loay hoay đóng dây cương, thì chợt nghe thấy tiếng vó ngựa nhảy huỳnh huỵch ở trong sân dóng dỏng. Y ngạc nhiên vội chạy ra nhìn thì còn ngạc nhiên hơn nữa khi thấy Hoài Ngọc đang cưỡi con Lôi Điện không yên, tay cầm chiếc dây cương độc nhất buộc cổ ngựa. Con Lôi Điện bốc lên quật xuống thiệt dữ tợn, vụt chạy, vụt đứng cố ý hất té chàng kỵ sĩ, nhưng hai vế Hoài Ngọc bắt chặt lấy mình nó như hai gọng kềm thép khiến con ác mã không thể nào bật nổi. Từ Trung đờ người ra nhìn không ngờ. Vì chính Lâm Diêm Bá là tay kỵ sĩ giỏi nhất trại ngồi yên trên cương đàng hoàng mà chưa lần nào giữ được lâu như vậy.

Thời giờ qua, con Lôi Điện sùi cả bọt mép, không chồm cao được như trước nữa, nhưng nó không thôi, vẫn nhảy. Hoài Ngọc lấy ngựa ra gần cửa dóng, Lôi Điện thừa dịp chạy phóng ra phi nước đại vùn vụt như tên bắn.

Từ Trung chạy nhìn theo, nhưng Lôi Điện đã chạy khuất sau mấy dãy nhà.

Hoài Ngọc mặc cho ác mã phi thiệt lẹ vòng quanh trại.

Từ Trung lo sợ nếu họ Dương bị tai nạn thì lát nữa Trại chủ và Phượng Tiên sẽ quở trách y không biết can ngăn.

Như hồi sáng sớm, chính Trại chủ cũng không muốn họ Dương cưỡi Lôi Điện đó ư.

Hồi lâu, không thấy Hoài Ngọc trở lại, Từ Trung nóng ruột lên ngựa định đi tìm thì bỗng tiếng gió ngựa đã từ xa vang tới. Có lẽ Lôi Điện đã hất té Hoài Ngọc đâu đó rồi trở về chuồng chăng.

Nhưng không! Họ Dương vẫn ngồi nguyên trên mình ngựa, mà kỳ thay, con Lôi Điện phi rất bình thường như một con ngựa đã thuộc chủ, mồ hôi nhễ nhại, miệng thở ra khói.

Về tới nơi, Hoài Ngọc kéo giựt cương lại. Lôi Điện chạy từ từ rồi ngoan ngoãn đi bước một.

Từ Trung vội xuống ngựa vỗ tay reo ầm :

- Thiệt không ngờ thiếu gia lại có tài trị ác mã đến như vậy. Chuyến này Lâm trại trưởng sẽ hết chấp thách mọi người.

Hoài Ngọc rẽ ngựa vào trong sân, nhảy xuống dắt Lôi Điện vào trong tầu, tự mình lấy cỏ non cho nó ăn. Ống quần chàng ướt đẫm mồ hôi ngựa :

- Thiếu chút nữa tôi bị nó hất té! Lôi Điện ác quá.

Từ Trung mừng rỡ :

- Cả trại sẽ không ai ngờ tới sự phi thường này.

Hoài Ngọc vội để ngón tay lên môi :

- Suỵt! Kín đáo nhé! Tôi không muốn một ai biết việc này, Từ Trung có hứa không để lộ chuyện không?

Tuy không hiểu vì lý lẽ gì, Hoài Ngọc lại yêu cầu mình kín chuyện nhưng sẵn có cảm tình, Từ Trung cũng gật đầu :

- Thiếu gia đã dạy, tôi lẽ nào không tuân lời.

Hoài Ngọc tủm tỉm cười :

- Được! Bây giờ cho tôi mượn con ngựa hiền lành này đi dạo. Chừng nào Trại chủ và Phượng Tiên cô nương trở về thì cứ nói là tôi đi dạo cảnh nhé.

Từ Trung cẩn thận :

- Thiếu gia nên tiểu tâm kẻo vào lầm Hàn gia trại nguy hiểm vô cùng.

- Tôi biết rồi, đời ai lại dại như vậy.

Nói đoạn, Hoài Ngọc lên ngựa của Từ Trung về nhà thay y phục sạch sẽ rồi theo nẻo đường bên tả thong dong đi thẳng.

Nói về Địch Lân dẫn bộ hạ đi báo thù việc Hàn Gia Tam Mã dám vuốt râu hùm làm nhục tế tử Dương Hoài Ngọc ngay từ buổi đầu, khi họ Dương mới đặt chân tới Tô Châu và Tam Môn cốc.

Làm nhục họ Dương tức là khinh thường họ Địch.

Thù đó phải trả mới hả lòng căm giận. Nhân dịp này hạ quách ba tặc thù đó đi cho xong! Và hạ luôn cả Thiết Đan Tử Hàn Kỳ, như vậy cuộc tranh chấp về mấy ngọn đồi cỏ sẽ chấm dứt. Địch Lân không ngờ Hoài Ngọc, con vị võ sư thân hữu, lại nhu nhược đến nước ấy! Bên ngoài, họ Hàn nhạo báng, bên trong Lâm Diêm Bá khinh thường. Địch Lân thừa biết Diêm Bá thầm mong được sánh duyên cùng Phượng Tiên, nhưng đã trót hứa hôn với ái nữ cho họ Dương rồi thì lẽ nào bội ước? Thiệt ra, Địch Lân thấy Diêm Bá đường đường một đấng anh hùng rất xứng đáng vai khách đông sàng của Phượng Tiên.

Lòng tự ái bị thương tổn đến cực điểm, Địch Lân quyết dạy, biến Hoài Ngọc thành một con người cương quyết, có nghị lực để sau này còn thay thế mình điều khiển mọi việc trong trang trại.

Dù sao, Địch Lân cũng thấy tiếc việc hứa hôn Phượng Tiên cho Hoài Ngọc. Nếu không có lời hứa ấy cản trở, họ Địch quyết thâu nhận Diêm Bá làm tế tử thì có phải hiện thời đã được an nhàn đi dưỡng tuổi già, phó mặc vợ chồng Phượng Tiên điều khiển gia trại, gọn gàng biết bao?

Thần Đan Tử Hàn kỳ cũng ghét Địch Lân về tính tình hẹp lượng hay chấp nhất thù hận dai dẳng.

Trong thâm tâm, họ Hàn không muốn hạ sát Địch Lân chỉ vì mấy ngọn đồi thuộc phần đất họ Âu Dương.

Việc đó điều đình cũng có thể xong mà không cần dùng tới võ lực. Nhưng Địch Lân không bao giờ tỏ ra thái độ ôn hòa để hai họ khả dĩ đi tới mức độ giao hảo được.

So về của cải, họ Địch giàu có hơn họ Hàn về mọi phương diện, ngay đến số bộ hạ cũng đông đảo hơn.

Nhưng nói tới dĩ vãng, dù Địch Lân võ nghệ cao cường, cũng không nổi danh thảo mảng anh hùng như Hàn Kỳ hồi thiếu thời, đã từng nhất cung nhất mã làm khiếp đảm giới giang hồ đắc đạo với tài bách phát bách trúng, chẳng thua chi Dưỡng Do Cơ thời Chiến Quốc.

Nay về già, trở lại trại xưa mai danh ẩn tích với mấy đứa con và tên bộ hạ trung thành. Hàn Kỳ muốn sống an nhàn yên vui tuổi lão thì lại gặp ngay sự tranh giành không đáng của Địch gia trại.

Ba anh em Hàn Thao, Hàn Báo và Hàn Lượng lớn lên tập dượt nghề kỵ mã đặc biệt của cha, tuy không được oanh liệt như Hàn Kỳ lúc thiếu thời, nhưng nói riêng về tài nghệ, ba người cũng đáng được liệt vào hạng kỳ tài, xứng danh tước hiệu Hàn Gia Tam Mã. Phải mỗi tật là cả ba cùng hay ra Tô Châu rượu chè, gây sự đánh lộn nên bị liệt vào hạng côn quan. Hàn Kỳ nhiều lần quở trách, ba người vẫn chứng nào tật ấy.

Sáng hôm đó, Địch Lân dẫn bộ hạ nhập phần đất Hàn gia quyết tâm một mất một còn với họ Hàn, chẳng ngờ cả bốn cha con Hàn Kỳ cùng vắng nhà.

Tức bực, Địch Lân dẫn đầu phóng ngựa như bay, Diêm Bá và Phượng Tiên song song đi hàng hai cùng bọn thủ hạ phi ngựa thiệt lẹ quanh khắp trại thị uy rồi mới quay đi.

Khi ra tới cổng trại, Địch Lân dừng ngựa lại dương cung lắp tên nhằm chữ Hàn trên tấm biển gỗ bắn một phát trúng giữa rồi mới đi thẳng.

Được một quãng Địch Lân bảo Phượng Tiên và Diêm Bá :

- Chẳng lẽ về không, hay là ta ra Tô Châu, nếu gặp chúng thì đón đánh trên đường về.

Hai người đồng ý thế là cả đoàn cùng nhằm hướng Tô Châu.

Gần tới nơi, Địch Lân bảo Diêm Bá.

Trại trưởng nên chia người ra thành từng tốp một vào các tửu quán, nơi gần cổng thành la cà uống rượu không được đi xa, lúc cần, tập trung cho dễ. Thế nào chúng cũng về qua đường này.

May thay, bốn cha con Hàn gia ra Tô Châu, ăn tiệc tại nhà người quen rồi ngủ luôn ở đó nên bên họ Địch chờ đến tối không thấy gì, đành kéo nhau ra về.

Khi về tới nhà thì trong trại đã lên đèn, Địch Lân và Phượng Tiên ném cương ngựa cho gia nhân vào thẳng trong nhà. Hai cha con cùng ngạc nhiên không thấy Dương Hoài Ngọc bèn hỏi tì nữ.

Dương thiếu gia đâu :

- Thưa, thiếu gia đã lên ngựa đi đâu từ cuối giờ Thìn mà bây giờ chưa thấy về.

Phượng Tiên nhìn phụ thân có ý muốn hỏi định đoạt thế nào.

Địch Lân cau mày :

- Không lẽ y cỡi con Lôi Điện? Mà đi đâu giờ này còn chưa về mới được chớ.

- Thưa phụ thân, có lẽ Dương huynh mượn ngựa của Từ Trung.

Địch Lân chưa kịp nói thì Từ Trung đã tới nơi.

Họ Địch vội hỏi :

- Ngươi cho Hoài Ngọc mượn ngựa phải không?

- Dạ, phải.

- Y có nói là đi đâu không?

- Thiếu gia chỉ nói đi dạo thôi.

Địch Lân giãy nảy :

- Chết, không khéo y khờ khạo vào lầm Hàn gia trại thì uổng mạng. Khổ quá đa.

Phượng Tiên cũng cuống cuồng hỏi Từ Trung :

- Thiếu gia có nói gì khác nữa không?

- Dạ, thiếu gia dặn rằng nếu về trễ thì Trại chủ và cô nương đừng lo.

Phượng Tiên dậm chân :

- Hừ! Đừng có lo! Nói dễ nghe quá! Để chúng giết chết à! Hay là gặp bọn Hàn gia rồi cũng không biết chừng. Bởi thế suốt ngày hôm ấy không thấy cha con họ Hàn đâu cả.

Địch Lân ngồi xuống kỷ chống tay lên suy nghĩ. Giữa lúc ấy, Lâm Diêm Bá đi vào, ngạc nhiên thấy thái độ lo âu của hai người, Phượng Tiên kể lại tự sự cho họ Lâm nghe.

Diêm Bá cười khẩy :

- Can đảm thiệt! Tôi vẫn tưởng Dương thiếu gia hiền lành mãi.

Phượng Tiên nói :

- Hay là đi tìm? Dù sao Dương huynh cũng là người mới tới, chẳng lẽ bỏ mặc sao?

Diêm Bá đủng đỉnh :

- Thiếu gia có lọt vào tay Hàn gia nữa thì chẳng qua đến bị lột áo là cùng chớ họ sát hại mỹ nam tử ấy làm chi? Cô nương bất tất phải lo.

Phượng Tiên thừa biết họ Lâm không ưa Dương Hoài Ngọc vì nhiều lẽ, như trong trường hợp này không thể nghĩ tới vấn đề tranh chấp vì bất cứ vấn đề gì, mà cần phải cấp tốc tìm ngay họ Dương.

Nàng bèn thưa với cha :

- Con tự ý đi kiếm Dương huynh vậy, xin phụ thân khá bình an.

Địch Lân vốn biết tình con gái nên chỉ buông xõng mấy câu :

- Cần bao nhiêu gia tướng cứ việc đem theo?

Phượng Tiên liền bảo Từ Trung thắng ngựa và kêu hai người đắc lực tới đại sảnh. Từ nãy, Diêm Bá vẫn đứng nguyên chỗ xem Phượng Tiên xử sự, liền bỏ đi sau khi Từ Trung rời khỏi khách sảnh.

Địch Lân âu yếm hỏi Phượng Tiên :

- Con định đi đâu bây giờ? Phải suy nghĩ và có chuẩn đích mới được.

Không do dự, nàng nói ngay :

- Thưa phụ thân, con đường trước cổng trại chỉ có hai lối. Phía tay hữu ta vẫn thường đi qua Hàn gia trại ra Tô Châu. Còn phía tả thì dẫn đến đồi cỏ qua Âu Dương trang và cũng tới Tô Châu. Con chắc Dương huynh ở nhà một mình buồn quá nên đi ra lối đó thăm phong cảnh. Chàng mải miết vui chân qua Âu Dương trang, thấy lạ tò mò rẽ vào. Trại Mạnh Thường là người hiếu khách... Dễ hiểu lắm.

Nghe ái nữ biện luận một hồi, Địch Lân mỉm cười gật đầu :

- Ta đồng ý. Nhưng bây giờ tối rồi làm sao tới được Âu Dương trang cách đây mấy chục dặm đường, và còn thì giờ trở về nữa? Con định đi suốt đêm nay sao.

- Phụ thân cho phép con tự liệu, thế nào cũng trở về sớm.

Giữa lúc ấy, Từ Trung và hai viên bộ hạ vào tới khách sảnh.

Phượng Tiên liền đeo khí giới vái biệt Địch Lân, vẫy tay ra hiệu bảo bộ hạ theo mình. Nàng phóng ngựa đi trước ra khỏi công trại rẽ sang tay tả. Vừa được một quãng đường thì bỗng có một kỵ sĩ lù lù chắn ngang lối đi.

Người ấy quát :

- Ai? Đêm hôm qua đây làm chi?

Phượng Tiên tuốt phắt thanh đơn đao ra nhưng đồng thời trong ánh đêm lờ mờ, nàng nhận ra ngay Trại Thiết Ngưu Lâm Diêm Bá, liền hỏi :

- Lâm trưởng trại ra đây làm chi.

- Tôi chờ đây đã lâu để mời cô nương hồi trang. Việc đi tìm Dương thiếu gia, tôi xin đảm nhiệm.

Nói đoạn, họ Lâm gọi hai bộ hạ theo chàng phi ngựa đi thẳng không chờ Phượng Tiên trả lời.

Nghĩ tới thái độ của Lâm Diêm Bá, Phượng Tiên mỉm cười lắc đầu thương hại, rẽ cương ngựa đủng đỉnh về trại. Nàng bâng khuâng nghĩ liên miên về hai chàng trai trẻ xung đột như Nhật, Nguyệt hiện ở cả hai bên nàng.

Mới gần nhau chưa được hai ngày trời, nàng nhận thấy vị hôn phu của nàng tánh trái nết quá đến nỗi mỗi khi bên chàng, nàng thấy bị nhục nhã muôn phần. Tương lai nàng sẽ ra sao chỉ sống với người chồng kỳ dị ấy? Suốt đêm qua, nàng đã khóc, cầu nguyện cho họ Dương đừng nhắc nhở tới cuộc hôn nhân với phụ thân nàng. Nghĩ vẩn vơ, bất giác nàng đi về tới cổng trại.

Trang đinh canh phòng trên vọng lầu vội xuống mở cổng Phượng Tiên đi thẳng tới trước thềm nhà ném cương cho tráng đinh. Trong thực tế phòng còn sáng choang, Địch Lân đang uống rượu độc ẩm.

Liếc nhìn trên thồi, Phượng Tiên thấy bày sẵn chén, đũa cho hai người dùng. Địch Lân tươi cười ngước mắt nhìn ranh mãnh.

Phượng Tiên hỏi :

- Ủa! Phụ thân chưa dùng cơm chiều sao?

- Chưa vì ta chờ con.

- Nhưng con đã xin phép đi tìm Hoài Ngọc.

- Ta biết con sẽ trở về vì Lâm Diêm Bá không khi nào chịu để con đi đêm hôm xông pha như vậy. Thôi lên thay áo đi. Lẹ tí chút, đói bụng lắm rồi.

Nói về Dương Hoài Ngọc hồi ban sáng ra khỏi Địch gia trại, liền rẽ sang bên tay tả theo đường đi mãi.

Chàng chú ý nhận xét, càng đi xa hơn Tam Môn cốc bao nhiêu thì phong cảnh càng xanh tươi hơn bấy nhiêu.

Mải miết nhìn ngắm, họ Dương buông lỏng cương bất giác đi tới khu đồi cỏ xanh mướt lác đác có vài mươi con trâu tha thẩn ăn cỏ, mỏ cây đeo ở cổ rung lốp bốp. Đoàn mười anh mục tử nằm ngả nghiêng dưới bóng cây lớn. Nghe tiếng vó ngựa họ vùng đứng dậy nhìn chằm chặp.

Hoài Ngọc thúc ngựa tiến tới. Có lẽ nhận ra con ngựa của Từ Trung, đoàn mục tử định hỏi thì Hoài Ngọc biết ý đã xưng danh.

Một người ra dáng chỉ huy vái chào :

- Nghe nói thiếu gia qua thăm trại, chúng tôi đi sớm nên không được diện kiến mong người thứ lỗi.

Hoài Ngọc xuống ngựa cùng mọi người chào hỏi thân mật :

- Gia súc bên Hàn gia trại chăn nơi nào?

- Thường thường họ ở khu đồi thứ ba bên hướng Tây, nhưng bữa nay họ không tới.

- Họ đi qua cổng trại nhà sao.

- Không, họ đi vòng lối sau. Thiếu gia qua đây có chuyện chi dạy bảo không?

- Tôi lãng du, nhân tiện rẽ thăm anh em. Con đường trước mặt kia dẫn tới đâu.

- Cứ đi thẳng mãi sẽ qua Âu Dương trang. Qua đại trang sẽ vào Tô Châu. Bây giờ Chính ngọ rồi, mà từ đây thuộc phần đất của Âu Dương, không có phạn điếm, thiếu gia định dùng bữa ở đâu?

Hoài Ngọc tươi cười :

- Lãng du nên không tính đến chuyện ăn.

Chỉ mấy súc thịt xâu vào xiên nướng trên đống lửa, mùi thơm bốc ngào ngạt, viên chỉ huy nói :

- Nếu thiếu gia không quản ngại, mời người dùng tạm bữa du tử xô bồ này với chúng tôi. Bánh khôn thịt nướng đều có dư.

- Thế thì còn chi bằng!

Nói đoạn, Hoài Ngọc buông dây cương thả ngựa quanh đó ăn cỏ rồi cùng đoàn mục tử sà vào ngồi quanh đống lửa nhỏ.

Viên chỉ huy rút trong bọc một chiếc dĩa nhỏ đưa cho họ Dương trong khi một mục tử khác phân phát bánh khô, thịt nướng cho cử tọa. Mấy chiếc bầu thiếc đựng rượu, hoặc nước cũng được bày ra giữa để mọi người chuyền tay nhau uống.

Bữa ăn tuy xô bồ, nhưng thiệt vui vẻ trung và ngon lành.

Hoài Ngọc hỏi viên chỉ huy :

- Khu này rộng lớn, bầy trâu lèo tèo vài mươi con đáng kể gì mà đến nỗi hai trại Địch, Hàn phải thù ghét nhau. Thiếu gia mới tới Tam Môn cốc nên không hiểu. Mới đây, Trại chủ đã bán đi mấy lứa nên số gia súc với đi gần hết. Chừng nào các lái từ Lữ Châu hay Vũ Hồ ra giao hàng, số súc vật sẽ tăng lên gấp bội. Nhưng sự tranh chấp của hai bên không do đó mà ra. Theo thiển ý thì có lẽ bên nào cũng ao ước choáng khu đất xanh tươi này làm của riêng mình nên mới thù ghét nhau.

- Choán làm sao được? Đất của Âu Dương trang mà.

- Dạ, chính vậy! Trại Mạnh Thường là một vị lão anh hùng giàu có thiên ức vạn tải có nhã ý mặc cho hai họ sử dụng khu đồi cỏ này nuôi gia súc, quyết không bao bán riêng cho một bên nào.

Bên Hàn gia khiêu khích chúng tôi quá đáng nên tức giận mà đánh nhau. Thiệt ra bên mình cũng khiêu khích lại không kém gì họ, thành thử thù ghét nhau lai rai mãi.

Chuyện vãn hồi lâu, Dương Hoài Ngọc từ giã đoàn mục tử, phi ngựa lên đỉnh đồi xem địa thế rồi mới xuống đường nhằm lối Âu Dương trang.

Trông cảnh thế đất đai phì nhiêu của họ Âu Dương, Hoài Ngọc lấy làm thích chí, buông cương mải miết tới xế chiều thấy một trang trại cực kỳ lớn.

Trên chiếc cổng tam cấp treo ngang tấm biển đã khắc ba đại tự "Âu Dương trang". Dọc theo cột cổng cũng khắc sáu chữ, bên hữu "Trại Mạnh Thường", bên tả "Cầu bằng hữu".

Hoài Ngọc bèn rẽ ngựa vào, hỏi tráng đinh canh phòng :

- Lão anh hùng có nhà không? Tôi xin yết kiến.

Nhìn kỹ khách lạ, tráng đinh đáp :

- Thưa có. Xin ghi tên vào cuốn danh sách này rồi, mời người nhập trang.

Hoài Ngọc hành động theo thể lệ và được tráng đinh dẫn vào tới đại sảnh yết kiến Trang chủ.

Trông tướng mạo bệ vệ uy nghi của Âu Dương Tòng Thiện, Dương Hoài Ngọc rất đỗi thầm phục.

Phân ngôi chủ khách cùng ngồi, Trại Mạnh Thường hỏi :

- Thiền hữu từ đâu qua đây?

Hoài Ngọc kính cẩn thưa :

- Tiền điệt từ Nghĩa Hưng phủ qua Tam Môn cốc, nghe đại danh của bá phụ nên tới đây yết kiến :

- A! Tam Môn cốc! Nhưng thiếu hữu ở trại nào? Hàn hay Địch?

- Dạ, tiểu điệt ngụ tại Địch gia trại. Trại chủ Địch Lân là bạn đồng sư của gia phụ Dương Hoài Đĩnh.

- A, ra vậy đó! Trước kia lệnh phụ có qua bản trang chơi mấy ngày. Chẳng hay võ đường có đông khách không?

- Thưa bá phụ, gia phụ mất được mấy năm nay rồi. Hiện nay võ đường tạm đóng cửa vì tiểu điệt vắng nha.

- Té ra quen thuộc cả, thế mới biết thiên hạ tuy rộng lớn, nhưng cũng chưa đủ đường đất cho khách anh hùng lê gót giang hồ! Bữa nay hiền điệt qua chơi hay có điều chi khác nữa không?

- Dạ, tiểu điệt nghe nói có sự tranh giành giữa hai họ Địch, Hàn trên khu đồi cỏ thuộc phần đất quý trang, chẳng hay bá phụ có ý kiến chi về vụ đó không.

Trại Mạnh Thường vuốt râu cười ha hả :

- Chao ôi! Nói tới hai vị lão già ấy, lão phu thấy bực mình! Đất cỏ dư chỗ cho gia súc hai trại dùng mà họ gây lộn hoài khiến lão phu cảm tưởng là vì mối cựu thù nào khác nên hai họ cố ý tương tranh. Đã có lần lão phu thỉnh giảng cả hai bên tới tệ trang giảng hòa, nhưng họ Tỵ hiềm không tới.

- Nếu tình trạng này kéo dài, có lẽ lão phu buộc lòng phải dùng đến biện pháp cương quyết hơn để chấm dứt những vụ lưu huyết vô lý ấy. Hoặc là hai vị lão già ấy muốn ăn thua thử tai cao thấp, lão phu sẽ tới làm cầm trịch. Mới đây từ Kim Lăng về, lão nghe nói bọn mục tử đánh nhau một trận khá lớn nên rất lấy làm phiền.

Hoài Ngọc hỏi :

- Bá phụ du hành phải chăng để xem kỵ mã do Thuận Vương tổ chức?

- Chính vậy. Mã hội thập phần hào hứng nhưng quá ư gay cấn.

Một già, một trẻ đang chuyện vãn thì Tòng Cát, Tòng Đức lên đại sảnh.

Trại Mạnh Thường giới thiệu và nhường cho hai con khoản đãi Dương Hoài Ngọc.

Họ Dương nói chuyện mãi lúc trời tối hẳn mới đứng lên cáo từ.

Tòng Cát giữ lại :

- Tối rồi, đường về Địch gia trại còn xa, chi bằng đại ca nghỉ lại tệ trang đêm nay, mai sẽ trở về cũng chẳng muộn.

- Lúc đi không báo trước, e Địch trại chủ thắc mắc cho người đi tìm, đêm nay có trăng, tiểu đệ đi được, không hề chi.

Lưu khách không được, anh em Tòng Cát đành tiễn Hoài Ngọc ra tận cổng trang hẹn ngày tái ngộ.

Họ Dương phi ngựa dưới ánh trăng xanh, về tới khu đồi cỏ thì vừa gặp Lâm Diêm Bá và hai bộ hạ đi tới.

Hoài Ngọc tươi cười :

- Kìa, Lâm trại trưởng đi đâu qua đây vậy?

Diêm Bá dừng ngựa, cười nửa miệng :

- Đại ca còn hỏi có đi đâu, nếu không phải là đi kiếm vị khác quý của Địch trại chủ! Ha... ha...

- Vậy à! Quý hóa quá! Nhưng tôi không cần nhũ mẫu từ năm lên ba, lẽ nào không biết đường đi mà phải mất công tìm kiếm.

Lâm Diêm Bá bị Hoài Ngọc trả đũa bất ngờ, cười gằn khiến kẻ yếu bóng vía phải ghê rợn :

- Dương đại ca anh hùng quá nhỉ? Trại chủ đâu có lo đại ca không biết lối đi.

Hoài Ngọc cười lớn.

Trại chủ lo cho tôi vì lẽ gì đến nỗi phiền trại trưởng mất công như vậy.

Diêm Bá gắt gao dằn giọng :

- Đây là Địch cô nương lo đại ca bị Hàn gia hổ vồ, tự đi kiếm. Tôi e thân gái dặm trường, nên đi thay đó.

- Hàn gia làm chi có hổ! Chúng chỉ có mã dù là tuấn mã! Khu Tam Môn cốc khô khan cằn cỗi này chỉ toàn có giống... ngưu do người chăn nuôi! Vậy có chi đáng sợ.

Diêm Bá quắc mắt cười gằn :

- A! Nếu hôm qua đại ca có thái độ này có phải là... đỡ phiền cho mọi người không.

Hoài Ngọc trừng mắt nhìn lại.

- Thái độ nào cũng vậy, phải dùng cho đúng chỗ và kín đáo mới gọi là hay! Như lúc này chẳng hạn. Trại trưởng muốn tôi giải thích thái độ riêng biệt ấy, thì tôi rất sẵn lòng, nhưng... cũng phải kín đáo mới được! Vì tôi biết nó chẳng hay ho gì cho thanh danh trại trưởng đâu!

Diêm Bá giận tái người, quay lại bảo hai bộ hạ :

- Hai ngươi hãy lùi bước ra xa chờ ta.

Chờ chúng đi khỏi, Hoài Ngọc mỉm cười bảo Diêm Bá :

- Bây giờ Dương mỗ xin mời Trại Thiết Ngưu cùng lên dinh bãi cỏ. Tuy kín đáo nhưng không cho người chứng kiến, ít nhất cũng phải để Hằng Nga soi tỏ, sau này còn có nàng tiên sinh ấy nhắc lại chuyện xưa mọi tuần trăng rằm một lần chớ.

Dứt lời, Hoài Ngọc phi ngựa lên đỉnh đồi.

Diêm Bá hầm hè tức giận theo sau.

Gió mát, trăng thanh, làn cỏ êm mướt như nhung. Hai thanh niên xuống ngựa.

Diêm Bá xắn tay áo lên để lộ bắp tay màu đồng chắc nịch lông lá xồm xoàm gớm khiếp. Chàng định bụng cho tên thư sinh ngông cuồng họ Dương phải khiếp đảm với đôi tay sức lực của mình.

Hoài Ngọc khoanh tay đứng nhìn tủm tỉm cười.

Diêm Bá hất hàm :

- Nào, xin mời.

- Khoan! Tôi còn điều kiện này.

Họ Lâm nóng ruột :

- Dằng dai mãi! Nếu sợ thì về cho mau lẹ. Nói đi. Sao?

Hoài Ngọc chậm rãi :

- Ta có mắt để nhìn, biết người biết ta. Tôi hiểu ý tình thầm kín của trại trưởng và lấy đó làm mừng. Cũng vì tôi mừng nên giấu kín vụ này cho... trại trưởng, chớ không phải cho tôi.

Nếu vậy trại trưởng thắng, lẽ cố nhiên tôi sẽ bỏ đi. Nhưng nếu trại trưởng bại, thì cũng vẫn phải... nhận lấy "cái sự nhường" hảo của tôi có chịu không?

- Được lắm! Thế nào tôi cũng nhận. Nào xin mời...

Miệng nói vậy, Diêm Bá đứng thẳng hai tay vào sườn khinh thường.

Hoài Ngọc lắc đầu cười :

- Đây là một trận thách đấu đàng hoàng xin trại trưởng nên giữ lễ độ con nhà võ để tránh tiếng võ phu. Có thế tôi mới giữ lời đấu.

Bực mình, nhưng Diêm Bá phải theo lý luận hợp cách của họ Dương.

Chàng dẻo dai, rắn chắc, dạo mấy đường quyền xuất đấu, gân xương chuyển răng rắc, chẳng khác chi mãnh hổ vờn mồi, rồi quay về bái tổ, hất hàm mời đối thủ.

Hoài Ngọc khen :

- Khá, coi được đấy.

Dứt lời, chàng đảo bộ nhịp nhàng, hai chân là trên mặt cỏ nhung êm dịu, hai tay hoa quyền lên xuống chập chờn huyền ảo, toàn thân dẻo dang như giao long vờn sóng, miệng nói :

- Coi chừng...

Rồi biến thế xô lẹ nhập nội tưởng chừng đánh như chớp khiến Diêm Bá hét lên một tiếng đảo cánh tay gạt mạnh... hụt! Nhưng lại rút lẹ ngay thành thử họ Lâm chần chờ chưa kịp đón sức tấn công của đối phương, thì đã bị luôn Hoài Ngọc xô tới lần thứ hai quất luôn hai trái Thôi sơn Song Thủ Đồng Giao vào mặt và vào mỏ ác.

Đòn đánh cực kỳ mãnh liệt, Diêm Bá biết ngay gặp hảo thủ, kinh ngạc thầm khen, dùng thế Mỹ Nhân Chiếu Kính, xòe hai bàn tay gạt quyền địch trên mặt, đồng thời đảo cùi chỏ đánh bật quyền dưới. Nhưng Hoài Ngọc đã lẹ làng thâu hai tay quyền về, chuyển bộ đạp luôn cạnh bàn chân vào ống chân địch theo thế Lão Hô Triệu Vân. Diêm Bá thấy kịp nhảy sang bên né khỏi, không chịu kém, xô luôn vào hoành tấn, dang tay thọc mạnh một trái nhằm sườn địch. Hoài Ngọc đưa tay gạt và luồn tay Diêm Bá kéo văng ra phía mặt, đồng thời đưa chân gạt ngược lại thiệt mạnh.

Trúng đòn, Diêm Bá theo đà ấy nhộn lào lăn trong đi hai vòng trên mặt đất như chiếc bánh xe và đứng ngay dậy được, hầm hè tức giận.

Hoài Ngọc khen :

- Khá lắm! Đánh nữa hay thôi.

- Ăn thua gì! Coi đây.

Dứt lời, Diêm Bá xông thẳng tới mạnh tựa trâu lăn, co cánh tay cửu thích cùi chỏ vào ngực Hoài Ngọc Biết là thế Phượng Dực Đả Loan Đài. Biết Diêm Bá dùng toàn lực mạnh lắm, Hoài Ngọc lanh lẹ nhảy né sang bên, thì bị đối phương quật trái lại một trái đấm tay tả theo thế Diệp Để Tán Hoa.

Dùng ngọn quyền này, Lâm Diêm Bá chắc ăn mười mươi vì thế đánh vừa gần vừa mạnh.

Không ngờ, Hoài Ngọc lẹ như thần hầu, tương kế tựu kế, hơi cúi thấp người xuống bắt trúng cổ tay địch, một lần nữa rút mạnh, đồng thời dùng mông đánh bật hẳn người Diêm Bá lên, độn vai quật nhào ra phía trước.

Sợ gãy tay, họ Lâm không dám cưỡng nên bị văng qua đầu Hoài Ngọc quật lưng xuống mặt cỏ huỵch một tiếng.

Mặt đất như bị chuyển dưới sức nặng của Diêm Bá.

Tuy bị đau, nhưng Diêm Bá cũng đứng dậy được ngay, hầm hè nhìn đối phương như muốn nuốt sống cho hả giận.

Hoài Ngọc hất hàm thách :

- Nhập nội nữa coi nào.

Không chịu, Diêm Bá nhảy tới hoa quyền đánh tới tấp, trí mạng.

Hoài Ngọc cũng trả đòn.

Không ai chịu nhường ai, bốn cánh tay lên xuống chập chờn, lúc đánh lúc gạt huyền ảo vô cùng. Bốn chân đạp rầm rập trên mặt đất, tiến thoái nhịp nhàng.

Dưới ánh trăng thanh, hai thanh niên quyết phân tài cao thấp nên trận đấu vô cùng hào hứng.

Tiếc rằng trận đấu quyền thuật tuyệt hảo này chỉ có vị khán giả độc là Hằng Nga tròn vạnh lơ lửng giữa không trung.

Quyết dùng lực để thắng, Diêm Bá ra đòn mạnh mẽ chí tử.

Hoài Ngọc thở hồng hộc lùi dần, đối phương theo sát.

Bỗng họ Dương loạng choạng như bị mất sức rồi té ngồi xuống mặt cỏ.

Diêm Bá mừng rỡ xông thẳng vào vòng hai tay cúi xuống nhằm mặt địch thủ tát hai mang tai, dữ dội.

Một tiếng rú lên vang động cả khu đồi vắng vẻ.

Một bóng người quật lộn xuống xoài trên mặt đất, quằn quại...

Hoài Ngọc lẹ làng quật chân lên đứng dậy.

Thì ra họ Dương giả đò yếu sức cho Diêm Bá ham đòn tấn công không dè dặt nữa.

Trong khi họ Lâm vòng tay đánh rập cả hai quyền vào mang tai đối phương thì Hoài Ngọc đã chắp hai tay lại thúc vào giữa chặn hai trái đấm cực kỳ mạnh mẽ của địch thủ, đồng thời ngả hẳn lưng xuống cỏ thúc ngựa song cước lên bụng, khiến Diêm Bá sa cơ hứng đòn bị hất bổng lộn ngược rồi quật lưng xuống đất đau đớn, quằn quại không dậy nổi nữa như hai chuyến trước...

Hoài Ngọc cúi xuống đỡ Diêm Bá dậy, thoa nắn một hồi, họ Lâm mới trệu trạo đứng hẳn lên được.

Diêm Bá cung xá :

- Tiểu đệ xin chịu đại ca ở ngọn Hầu Viên Đảo Quái này. Xưa kia, Địch trại chủ dạy mãi ngọn này nhưng tiểu đệ thiếu dẻo dai nên vụng về không xử nổi. Đại ca đáng mặt võ sư. Xin chịu thua.

Hoài Ngọc xá lại :

- Tiểu đệ chỉ yêu cầu Lâm đại ca giữ lời hứa hồi nãy thôi. Ta hãy quên hẳn vụ đấu quyền này. Giữa hai chúng ta vẫn có điểm không hợp nhau vì tiểu đệ... nhu nhược đến thành hèn nhát chịu nhục.

Diêm Bá vội nói :

- Không được, tiểu đệ không thể nào...

Hoài Ngọc ngắt lời :

- Anh hùng đã hứa phải như dao chém đá, mong đại ca chớ khinh thường nuốt lời. Thôi ra về trại kẻo mọi người lo sợ.

Nói đoạn, Hoài Ngọc lên ngựa.

Diêm Bá lầm lì lên ngựa theo, Hoài Ngọc nói thêm :

- Đại ca quên rằng Địch trại chủ chỉ trông cậy ở một mình đại ca để điều khiển toàn trại và đối chọi với bên trại Hàn gia.

Chờ Diêm Bá thúc ngựa xuống đồi. Hoài Ngọc mới xuống theo.

Địch Lân và Phượng Tiên còn chong đèn ngồi chờ.

Diêm Bá và hai bộ hạ đi thẳng về tư phòng ở căn nhà ngang, dắt theo luôn cả con ngựa của Từ Trung mà Hoài Ngọc vừa nhảy xuống.

Địch Lân trách nhẹ :

- Hiền điệt bất ngờ đi đâu khiến lão phu chẳng an tâm chút nào.

Hoài Ngọc vòng tay xá dài :

- Mượn ngựa của Từ Trung, tiểu điệt vui chân đi đến tận Âu Dương trang được lão anh hùng giữ lại uống rượu quá chén, tối mịt mới trở về thì gặp Lâm trại trưởng giữa đường. Thúc phụ và Địch hiền muội đại xá cho.

Phượng Tiên hối nữ tỳ dọn thồi ăn.

Hoài Ngọc sửng sốt :

- Thúc phụ và Địch muội muội chưa dùng cơm chiều sao.

Phượng Tiên đáp :

- Vì lo âu lúc nãy ăn ít nên nấu cháo chờ Dương huynh về ăn luôn thể.

- Nếu vậy sao không mời trại trưởng cùng ăn.

- Mặc y, có mời chắc cũng chẳng lên đâu.

Địch Lân hỏi Hoài Ngọc :

- Trại Mạnh Thường có nói gì với hiền điệt không?

- Lão anh hùng nhắc đến việc trước đây có lần mời thúc phụ qua bên Âu Dương trang mà thúc phụ không đi, có vậy thôi.

- Ta tới đó sao được! Nếu y mời ta biết đâu mà không mời cả Hàn Kỳ! Vì lẽ đó nên lão phu không tới.

Nhân tiện, Địch Lân đem việc không gặp cha con Hàn Kỳ ở nhà trong vụ đi báo thù hồi sáng cho Hoài Ngọc nghe :

- Tiểu điệt vẫn không tán thành vụ xuất chinh ấy. Nếu cứ viện lẽ nọ kia báo thù thì hết ngày nọ qua tháng kia tìm cách trả miếng nhau, còn thì giờ đâu tính chuyện doanh thương sao.

Phượng Tiên cười lạt :

- Suy luận như Dương huynh thì cứ mặc tình Hàn gia thao túng. Nếu vậy chỉ vài lần là chúng tràn qua ở luôn bên trại nhà.

- Đâu có phép như thế được! Bằng cớ là từ bao năm nay, bên họ Hàn chưa ra khỏi địa phận của họ.

- Như vậy là chúng sợ ta đánh chớ sao.

- Bởi lẽ đó ngu huynh thấy không cần chấp nhất những điều nhỏ mọn.

Phượng Tiên bực tức :- Chúng biết đâu ra không chấp hay là cho rằng ra nhút nhát chịu hèn.

- Ai lại rỗi hơi chấp một kẻ không hiểu tình thế bao giờ.

Nghe hai trẻ tranh luận, Địch Lân cười bảo Phượng Tiên.

Con bất khá tranh luận với Dương hiền điệt là người mới đến Tam Môn cốc. Phải ở đây lâu mới biết tánh cách côn quang của cha con Hàn gia.

° ° °

Nói về Hàn Gia Tam Mã hôm trêu chọc Dương Hoài Ngọc xong rồi kéo về thẳng trại.

Hàn Kỳ đang chỉ bảo công nhân xây lại chiếc cổng trại, thấy ba con tới lều liền cau mặt bảo :

- Các ngươi vào cả trong nhà ta hỏi?

Tam Mã lấm lét nhìn nhau, xuống ngựa theo phụ thân vào đại sảnh.

Hàn Kỳ chỉ mấy chiếc kỷ :

- Cho phép bọn bất hiếu bất mục các ngươi ngồi xuống. Đời ai lại để cha già làm việc quần quật suốt ngày, còn các ngươi sức dài vai rộng thì bỏ trại ra Tô Châu rượu chè đàng điếm tối đến lại vác xác về ngủ, có biết thế là bất hiếu bất mục không?

Tam Mã lẳng lặng cúi mặt nhìn mũi hài.

Hàn Kỳ gắt :

- Bây nốc rượu nhiều quá nên đứa nào cũng cấm khẩu rồi phải không?

Nói đoạn, Hàn Kỳ nghiêm nghị nhìn chòng chọc ba con trai hồi lâu :

- Thao nhi! Ngươi năm nay ngót nghét tam thập rồi mà chính ngươi còn đầu trò lôi kéo cả hai thằng Bào, Lượng lông bông bất hiếu chi tử cho có bạn phải không? Bữa nay các ngươi đi đâu về trễ vậy?

Hàn Thao lắp bắp :

- Thưa phụ thân, chúng con ra Tô Châu.

Hàn Kỳ gắt :

- Bộ Tô Châu đối với các ngươi xa lạ lắm sao mà ngày nào cũng phải ra đó vãng cảnh.

Thao đưa mắt nhìn Bào, Lượng cầu cứu.

Hàn Lượng vội thưa :

- Chúng con về sớm nhưng trên đường về gặp một việc nên thành ra trễ.

- Hừ! Còn một việc chi nữa trên con đường vắng vẻ khô khan ấy! Ngươi định gạt cả cha già phải không.

Hàn Bào thưa :

- Tam đệ nói thiệt đó ạ!

- Nói ta nghe việc chi! Hay là gặp Trại Thiết Ngưu Lâm Diêm Bá nên các ngươi phải... tạm lánh vào khe đồi sỏi, bây giờ mới dám vác mặt về đây.

Hàn Thao ngửng mặt nói :

- Thưa phụ thân quả có việc thực sự. Chúng con không gặp Diêm Bá nhưng gặp một người khác có lẽ còn hơn Diêm Bá về địa vị. Vả chăng, có gặp Trại Thiết Ngưu nữa thì đường y, y đi, đường con con đi sợ chi nó mà phải trốn tránh.

Hàn Kỳ cười lạt :

- Các ngươi can đảm quá! Ta khen đấy.

Chạm lòng tự ái, Hàn Thao cãi :

- Quả thật như vậy, thưa phụ thân, và chúng con đã hành động thiệt khoái trá.

Hàn Kỳ mỉm cười, nghi ngờ :

- Nói thử ta nghe xem có được không nào.

Hàn Thao hất hàm bảo Hàn Lượng :

- Tam đệ nói giỏi hãy thuật lại cho phụ thân nghe, chia vui cùng chúng ta.

Hàn Lượng bèn đem việc gặp Dương Hoài Ngọc ở gần chợ Tô Châu và sau đó, trên đường về Tam Môn cốc kể rành mạch cho phụ thân nghe.

Nghi ngờ Hàn Kỳ hỏi :

- Sao các ngươi biết họ Dương là tế tử của Địch Lân? Nói sai đừng có trách ta khắc nghiệt nghe.

Hàn Lượng đáp :

- Vì huynh trưởng bảo vậy.

Hàn Kỳ chép miệng, lắc đầu :

- Các ngươi nghe lời Thao nhi thì thật là buồn cười.

Hàn Thao vội cãi :

- Thưa phụ thân, con nghe đồn Địch Phượng Tiên có hôn phu, nay thấy nó ngồi cùng xe với người lạ, tất phải là hôn phu nó mới dám ngồi chớ! Bởi vậy, con mới làm nhục họ Dương cho Địch Lân phải xấu hổ :

- Ta không hãnh diện về hành động đó của các ngươi chút nào. Hành động có tánh côn đồ ấy.

Tam Mã nghe thân phụ nói sửng sốt nhìn nhau.

Hàn Kỳ nói tiếp :

- ... Nếu họ Dương vui vẻ tự nhiên cười nói tức y điềm đạm hòa bình không thèm chấp thái độ côn quang của bọn con trai họ Hàn. Thiệt ra y không sợ hay hèn nhát như các ngươi tưởng đâu!

Người hèn nhát mà ở trong trường hợp bị nạt nộ, liệu có cười nổi không? Các ngươi ngu ngốc không biết suy xét, tâm lý chút nào! Các ngươi có đại thắng nữa, cùng mang tiếng Hàn Gia Tam Mã uy hiếp một thiếu nữ và một thơ sanh, cậy đông hiếp yếu. Mà thua thì nhục đó vô bờ bến. Cho nên ta lấy làm cảm ơn họ Dương đã không nỡ hạ giá họ Hàn trước mặt người con gái họ Địch. Tưởng tượng xem, một người rành nghề võ và thù dai như Địch Lân liệu có chịu gả cô ái nữ độc nhất cho một thơ sanh trói gà chẳng nổi chăng? Các ngươi vừa thoát chết mà không hay đó! Thân nam nhi ngang tàng bảy thước như các ngươi mà không làm xiêu lòng nổi một cô gái võ dũng đẹp như hoa ở ngay kế bên, kể cũng khá hèn kém đó.

Bị thân phụ dồn cho một hồi, Tam Mã đờ người ra suy nghĩ tức giận.

Hàn Thao nói :

- Phụ thân tôn giá trị của đối phương lên nhiều quá. Biết vậy con bắt tên họ Dương ấy về đây xem họ Địch dám làm chi ta nổi.

- Thao nhi! Ta không tôn giá trị ai hết, nhưng chỉ biết mình biết người thế thôi.

- Nếu các ngươi bắt nổi Dương Hoài Ngọc về đây thì trại nhà sẽ bị Địch Lân cùng bộ hạ áp đảo tàn phá ngay.

- Ta sẽ phục kích cho chúng một trận chớ lo gì.

Hàn Kỳ lắc đầu :

- Cứ ở chết xó trong khu này mà ngày ngày phục kích mãi sao? Không làm ăn không đi đây đi đó vì công việc.

- Các ngươi coi Hàn gia là một nơi sơn trại chuyên về cướp bóc đánh nhau, chớ không phải là một nơi buôn bán gia súc nữa.

- Bất tuân lời ta thế nào cũng bị trận đòn nhừ tử mới thôi. Lúc đó rửa cũng không hết nhục.

Tam Mã cúi đầu im lặng.

Hàn Kỳ nói :

- Ngày mai, Lư viên ngoại lễ tứ tuần đại khánh mời ăn. Các ngươi khá ở nhà theo ta. Phải y phục chỉnh tề nghe.

Nói đoạn, Hàn Kỳ đứng lên vào nhà trong.

Hôm sau, mãi khuya, cha con Hàn gia ăn tiệc ở nhà Lư viên ngoại trở về, biết việc Địch Lân, Lâm Diêm Bá, Phượng Tiên kéo thủ hạ đột nhập trang trại, ba anh em Tam Mã nổi giận đùng đùng muốn kéo thủ hạ đi báo thù ngay, nhưng Hàn Kỳ ngăn lại nói rằng :

- Chúng kéo tới đây mà không phá phách chi cả là cốt ý tìm các ngươi đó. Từ nay khá thận trọng hơn trước kẻo chết không kịp ngáp. Chúng có phá trại đâu, báo thù cái nỗi gì? Ta lo cho các ngươi bị đòn lắm. Ráng nghe ta ở nhà ít ngày, quân tử phòng thân đừng coi thế làm nhục.

Tuy khó chịu, Hàn Gia Tam Mã không dám cưỡng lời cha, bỏ hẳn việc ra Tô Châu trong nhiều ngày.

Vì thế Địch Lân và Lâm Diêm Bá đã mấy lần ra Tô Châu mà không hề gặp ba anh em Hàn gia.

Câu chuyện báo thù làm nhục Dương Hoài Ngọc do đó nguội dần.

Bên Địch gia trại, Hoài Ngọc vẫn tự nhiên như thường nhưng với những sự đã xảy ra hôm chàng mới đến Tô Châu và Tam Môn cốc, sau đó những lý luận hòa bình của chàng đã khiến Phượng Tiên coi chàng như là quá nhu nhược, nhát gan.

Địch Lân cũng buồn về tánh tình của tế tử tương lai, nhưng mặc Phượng Tiên lựa chọn xử trí.

Phần Dương Hoài Ngọc sau nhiều ngày nhận xét kỹ lưỡng, chàng nhận thấy rõ ràng mối cảm tình của Phượng Tiên đối với Lâm Diêm Bá ngày một nồng nàn hơn, nhất là từ hôm Hàn Gia Tam Mã trêu chọc mà chàng không chịu ứng đối lại.

Ngày tám năm về trước, chàng đã biết không thể nào Phượng Tiên sẽ hợp với chàng cho nên chuyến đi thăm họ Địch này, chàng tự buộc phải đi vì tinh thần lời hứa của phụ thân chàng và Địch Lân.

Theo ý chàng, thà để ngang trái còn hơn là cứ gò bó câu nệ theo lời hứa hôn của hai ông già, xum họp với nhau để rồi suốt đời trái tánh trái nết, mất cả hòa thuận.

Chàng muốn lấy một người vợ dịu hiền như Phương Tú Kiều, chẳng hạn.

- Nghĩ vậy thôi, thiệt ra lấy sao được, vì Tú Kiều và Phượng Tiên là đôi bạn gái rất thân tình.

Một hôm vợ chồng Từ Trung ra Tô Châu, Phượng Tiên nhân tiện gởi mấy món bánh ngọt tự tay nàng làm ra biếu Phượng thái và Tú Kiều.

Xưa nay, Tú Kiều cũng rất mến gia đình Từ Trung nên hôm đó vợ chồng họ Từ tới nơi, Tú Kiều mừng rỡ rối rít hỏi thăm và giữ hai người đó ở lại dùng bữa trưa.

Ăn xong, nhân khi vắng vẻ nhàn rỗi, Tú Kiều hỏi họ Từ :

- Chừng nào làm lễ cưới, chắc Địch gia trại treo đèn kết hoa, vui vẻ lắm nhỉ, sửa soạn chưa?

Từ Trung nói :

- Thưa tiểu thư, chưa thấy đả động gì tới việc đó cả, Dương thiếu gia tánh tình hiền hậu lắm, nhưng hình như trái tánh trái nết của Địch cô nương.

Tú Kiều ngạc nhiên :

- Ủa sao vậy?

- Thưa tiểu thư, có gì đâu! Địch cô nương thì cương quyết có nghị lực, trái lại Dương thiếu gia hiền lành quá, không chịu tỏ ra cho hôn thê biết mình là một trang hảo hán võ dũng tuyệt luân, nên có phần nào phật ý cô nương.

- Hay là họ Dương nhu nhược thật.

- Thưa không! Thiếu gia giấu tài nghệ của mình...

- À! Từ đại ca nhận xét hay là đoán.

- Dạ, thấy hẳn hoi! Và đặc biệt lắm!

- Thế nào?

- Thiếu gia hàng phục nổi Lôi Điện mã.

- A!... a... a... Có bị té không?

- Không té lần nào cả mới hay chớ!... Nhưng thiếu gia bắt phải giấu mọi người trong trại! Bây giờ xin phép tiểu thư chúng tôi ra phố.

- Lát nữa Từ về thẳng trại hay còn trở lại đây.

- Về thẳng cho sáng sủa!

- Tôi gửi thăm Địch thơ thơ và mời bữa nào qua Tô Châu.

Vợ chồng Từ Trung kéo nhau ra phố mua sắm vui vẻ rồi về Tam Môn cốc.

Mấy hôm sau, hai cha con họ Địch đi Tô Châu có việc, hỏi Hoài Ngọc có đi cùng không. Họ Dương viện lẽ sang Âu Dương trang từ chối không đi. Chờ lúc mọi người đi khỏi rồi, Dương Hoài Ngọc mượn ngựa của Từ Trung. Người công nhân trung thành ấy nói :

- Thiếu gia có đi liệu về sớm kẻo Trại chủ và Phượng Tiên cô nương lo ngại.

Hoài Ngọc cười :

- Từ ca khỏi lo! Hôm mới đến đây còn không xảy ra chuyện gì nữa là bây giờ đã thông thuộc đủ mọi thứ.

Nói đoạn, Hoài Ngọc lên ngựa ra khỏi trại, theo đường bên hữu sang thẳng bên Hàn gia trang. Vào tới cổng thành, Hoài Ngọc thấy một gia đinh đang quét, liền hỏi :

- Trang chủ và Tam Mã có nhà không?

Nhìn qua khách lạ, gia đinh đáp :

- Trang chủ tôi đi vắng có lẽ sắp về. Tam Mã có nhà, xin quý khách cho biết đại danh để tôi về báo :

- Ngươi cứ về nói rằng có người bên Địch gia trại tới.

Tên gia đinh ngạc nhiên chạy vội vào trong trại. Lát sau, Tam Mã cầm khí giới đi ra thấy Hoài Ngọc cỡi ngựa ở giữa cổng thì cùng cười ầm cả lên.

Hoa mã Hàn Thao hất hàm nheo mắt hỏi :

- Mỹ nam tử tới đây có việc chi? Bị chê rồi phải không? Phải biết ở xứ này đẹp không đủ, còn phải anh hùng nữa.

Dứt lời, toàn bọn phá ra cười.

Hoài Ngọc điềm đạm :

- Hàn Thao! Ta tới đây là khách, ít nhất cũng phải dùng lễ mà tiếp cho khỏi mang tiếng họ Hàn là vô lễ nghĩa như mọi người đồn đại chớ.

Hàn Thao đang cười ha hả bỗng cau mặt :

- Tiếp đãi người bên họ Địch thì chỉ có thế thôi? Nếu muốn hơn, ta e ngươi sẽ bị nhừ đòn không lết về tới trại được đó! Mỹ nam tử tới đây có việc chi, nói mau là muốn xin một bài học như bữa nọ.

- Ngươi lầm! Ta tới đây không phải vì danh nghĩa họ Địch. Nếu bên Địch trại chủ muốn vào đây thì họ sẽ tới thành phần khác như hôm nọ chẳng hạn. Các ngươi có dám làm gì họ đâu. Còn riêng phần ta, nếu sợ các ngươi ta đã không chân tay không tới đây.

Hàn Thao tức giận quát :

- Dương Hoài Ngọc! Biết điều thì đi ngay! Kẻo hối không kịp.

Hoài Ngọc cười lạt :

- Ta đến đây cũng như ta đi khỏi, không ai có quyền bắt buộc ta nổi.

- Nhưng ta bắt mi đó.

- Mi chỉ là con ngựa tật thôi chớ gì mà phách lác, không e mọi người cười cho sao.

Hàn Thao cả giận nhảy tới định lôi Hàn Thao xuống ngựa, nhưng vừa gần tới nơi thì bị Hoài Ngọc thúc ngựa xông thẳng vào khiến y phải né sang bên.

Không tha, Hoài Ngọc thúc mạnh hai hót chân vào bụng ngựa khiến con vật bị đau chồm lên bổ thẳng vào đầu Hàn Thao.

Hàn Thao vội tháo lui. Hoài Ngọc lại cho phóng thẳng vào chỗ hai anh em Hàn Bào, Hàn Lượng khiến hai người cũng phải chạy dạt sang bên.

Bọn tráng đinh thấy động cũng cầm khí giới kéo ra đứng vòng tròn xa xa.

Hoài Ngọc thừa thế thúc ngựa xông bừa vào, và trong khi bất ngờ đoạt luôn được một ngọn giáo rồi quay ngựa ra khỏi cổng trại.

Hàn Thao hô đuổi.

Nhưng Hoài Ngọc đã nhảy xuống ngựa cầm ngang ngọn giáo tươi cười :

- Nào, hôm nay ba con ngựa tật này thử trổ tài võ nghệ bình sanh cho Dương mỗ coi! Hay chỉ giỏi côn quang về giáo dục thôi?

Bị mỉa mai gần như là chửi, Hàn Gia Tam Mã tức giận hò nhau xông tới một loạt.

Nhưng Hoài Ngọc đã vung tròn ngọn giáo đánh bật chúng trở lại và mắng :

- Các ngươi hèn ở chỗ hay cậy đông người.

Hàn Thao vội quát :

- Nhị đệ hãy lui ra nhường mỹ nam tử này cho ta.

Dứt lời, y hoa đơn đao nhảy bổ vào đánh họ Dương thế rất dữ dội.

Hoài Ngọc ung dung gạt đỡ, không cho Hàn Thao tới gần.

Hàn Thao vừa đánh vừa nhạo :

- Khá thật! Mới tới Địch gia trại có ít ngày mà đã biết cưỡi ngựa, múa giáo! Phượng Tiên dạy phải không?

- Không cần biết nhưng ta mới học được cả môn lấy thủ cấp nhà ngươi hôm nay.

Tưởng ồ ạt nuốt chửng ngay địch thủ, Hàn Thao không ngờ họ Dương trả đòn rất từ tốn lẹ làng và lợi hại.

Hai người ập lại đánh nhau một trận.

Bỗng, Hàn Thao lùi lại mấy bước rồi xông thẳng tới chém xả một dao vào ngang hông địch thủ thế đánh rất dữ dội.

Hoài Ngọc đưa dốc giáo gạt văng lưỡi đao sang bên, đồng thời thích luôn một mũi giáo vào cổ đối phương :

- Chết này!

Hàn Thao vội né sang bên, ngọn giáo đi trượt qua vai, nhưng chưa kịp trở tay, thì họ Dương đã thúc luôn mũi giáo nữa vào mặt linh động vô cùng.

Ngọn giáo nhẹ nhàng biến hiện xuất quỷ nhập thần, lúc bên tả, lúc bên hữu, khí trên khí dưới, khiến Hàn Thao mồ hôi toát ra như tắm, chỉ lo đỡ gạt cũng đủ mệt rồi.

Bỗng ngoài vòng chiến có tiếng vỗ tay, la lớn :

- Song phép tuyệt hay!

Hoài Ngọc vừa đánh vừa chú ý nhìn thấy một lão hán quắc thước vừa cưỡi ngựa tới đứng coi.

Chàng liền hoa giáo đánh liền liền, tận lực.

Hàn Thao thở hồng hộc gạt đỡ không kịp, bắt buộc phải lùi, lùi mãi tới ngay sát cạnh Hàn Thao mà không biết.

Lão Trại chủ quát :

- Thằng súc sanh này võ nghệ tầm thường còn cố đấu cái nỗi gì! Ngừng tay ngay.

Đoạn hướng vào Dương Hoài Ngọc, Hàn Kỳ nói :

- Xin nghĩa sĩ hãy vì lão phu tha cho tên bất hiếu này.

Hoài Ngọc thâu ngay giáo lại.

Hàn Bào, Hàn Lượng vác đao chạy tới định áp đánh họ Dương, nhưng Hàn Kỳ nạt ngay :

- Lại hai tên này nữa! Võ nghệ của hai ngươi có bằng Hàn Thao không mà muốn đấu? Ngu xuẩn đến như ba đứa bây là cùng. Biết điều kẻo đi nơi khác kẻo ta nổi nóng thì không ra gì ngay!

Bị cha quở mắng, bọn Tam Mã kéo nhau đi mất.

Mọi người trong trại nán lại xem Trại chủ cư xử thế nào.

Hoài Ngọc cắm cây giáo xuống đất, vái Hàn Kỳ :

- Tiểu tử Dương Hoài Ngọc kính chào Hàn trại chủ.

Hàn Kỳ đáp lễ :

- À! Ra đây là Dương nghĩa sĩ! Lão phu biết ngay là mấy thằng bất hiếu tử của lão không biết nhìn người. Xin mời nghĩa sĩ vào đại sảnh đàm đạo.

Hàn Kỳ cầm tay Hoài Ngọc cùng lên đại sảnh phân ngôi chủ khách cùng ngồi :

- Lão phu không biết vụ bọn Tam Mã dám phạm hổ oai hôm nghĩa sĩ mới tới Tam Môn cốc. Về sau chúng trình bày tự sự thì lão biết ngay chúng hữu nhân vô châu, và yên trí nghĩa sĩ không thèm chấp thái độ côn quang ấy.

Hoài Ngọc đáp :

- Lão tiên sinh dạy chí phải. Hôm nay tiểu tử tới đây yết kiến tiên sinh với mục đích cá nhân giao hảo, chẳng dè gặp Tam Mã gây chiến, chưa được bao lâu thì lão tiên sinh trở về.

- Nghĩa sĩ qua đây còn có mục đích khác nữa không?

- Về cá nhân, tiểu tử mong được giáo kiến tiên sinh trước khi rời khỏi Tam Môn cốc. Sau nhiều ngày bên Địch gia trại, tiểu tử suy xét thấy không có sự kiện nào đáng để hai trại Hàn, Địch phải luôn luôn coi nhau như kẻ thù. Tiểu tử mong tiên sinh dạy cho mấy lời và dám hỏi người có ý kiến gì về sự sống hòa thuận giữa đôi bên chăng?- Hỏi lão phu những câu này, tất là nghĩa sĩ đã thừa hiểu thực trạng của hai bên. Bên Địch gia thì hay chấp nhất không cần tìm hiểu phải trái. Còn bên lão phu, có ba tên nghịch tử luôn luôn phá rối. Mối bất đồng ở chỗ đó. Như hôm nọ, nếu lão phu cũng kéo bộ hạ sang Địch gia trại hay là phục kích báo thù, chắc hai bên đã quyết liệt đi đến hồi gay go không đội trời chung rồi. Căn cứ vào sự kiện ấy mà suy luận các việc khác, tất nghĩa sĩ thừa hiểu rồi.

- Nghĩa là lão tiên sinh sẵn sàng sẽ chấp thuận cuộc sống chung nếu có một sứ giả hòa bình.

Hàn Kỳ gật đầu :

- Sứ giả hòa bình ấy như nghĩa sĩ chẳng hạn, và lẽ cố nhiên cuộc sống chung phải được xây dựng trên nguyên tắc công bằng. Phải không?

- Chính vậy. Tiểu tử sẽ cố gắng mong để lại Tam Môn cốc một kỷ niệm hòa bình trước khi ra đi.

- Việc ấy, lão phu thấy khó khăn chớ không dễ dàng đâu, nhưng nghĩa sĩ cố gắng được phần nào hay phần ấy.

- Để đánh dấu ưu điểm này, lão phu muốn lưu nghĩa sĩ lại dùng bữa trưa nay, được không?

Hoài Ngọc cười :

- Tiểu tử không hề bị ảnh hưởng nào chi phối, tại sao không được!

Hàn Kỳ khoan khoái, hối tranh đinh bày rượu.

Hoài Ngọc nói :

- Yêu cầu lão tiên sinh cho phép Tam Mã cùng uống rượu đàm luận cho vui.

- Nghĩa sĩ cho phép lão báo điều đó vì ba tên tặc tử đó nát lắm.

- Về kỵ mã thuật, tiểu tử nhận thấy ba vị đại ca ấy quả đáng mặt kỳ tài.

Hàn Kỳ gật đầu :

- Phải. Chúng chỉ đáng kể khi ngồi trên yên ngựa thôi.

- Đạt tới ưu điểm ấy không phải dễ dàng, lão bá chẳng nên bản tánh quá.

- Ấy là lão phu nghiêm khắc mà chúng còn thao túng như vậy đó.

Một già, một trẻ đàm luận kim cổ đến xế chiều, Hoài Ngọc mới từ tạ ra về.

Hàn Kỳ tiễn ra tới cổng trại ân cần :

- Lão mong sẽ có dịp được thừa tiếp nghĩa sĩ sau này.

Hoài Ngọc kính bái Hàn Trại chủ, rồi lên ngựa ra về tới nhà Địch Lân, Phượng Tiên và Lâm Diêm Bá cũng vừa từ Tô Châu về đến nơi.

Địch Lân hỏi :

- Hiền điệt đi đâu về đấy.

Hoài Ngọc điềm nhiên :

- Thưa thúc phụ, tiểu điệt từ bên Hàn gia trại về đây.

- À!...

Phượng Tiên và Diêm Bá lấy làm ngạc nhiên.

Họ Dương giấu biệt việc đánh bại Hoa Mã Hàn thao, nhưng kể lại các lời lẽ của Hàn Kỳ cho ba người nghe.

Địch Lân hỏi gặng :

- Hiền điệt có gặp Hàn Gia Tam Mã không?

- Thưa có. Cả ba người ấy cùng có nhà.

- Chúng có phản ứng gì không?

- Ngoài việc chúng xin lỗi tiểu đệ về vụ bỡn cợt hôm nọ, không có sự gì đáng tiếc xảy ra cả!

Nghe chuyện, Phượng Tiên và Diêm Bá cùng nghi ngờ, nhưng mỗi người nghi một khác vì Diêm Bá thừa hiểu Hoài Ngọc dư sức đánh bại Hàn Gia Tam Mã :

- Trong trường hợp Hàn Kỳ có thiện chí giảng hòa, phần thúc phụ nghĩ thế nào?

- Từ trước đến nay, trong mọi vụ tranh chấp, Hàn gia có tánh cách gây chiến nên ta phai dùng võ lực đối lại. Bây giờ nếu Hàn Kỳ muốn hòa bình ta sẽ trả lời theo hành động thiện chí của y. Trước khi hiền điệt tới đây, ta có biên thơ nhờ Trại Mạnh Thường cầm chịch chấm dứt vụ tranh chấp này bằng một trận đấu công khai giữa hai lực lượng, hay là giữa Hàn Kỳ và ta. Hiện chưa có trả lời.

Hoài Ngọc nghĩ thầm:

"Muốn giảng hòa, ít ra cả hai phe cùng dẹp lòng tự ái mới mong thành toại được, lẽ nào buộc người ta phải cầu mình trước".

Hôm sau, Hoài Ngọc sửa soạn mấy thứ y phục cần thiết và bảo Từ Trung gióng ngựa.

Địch Lân hỏi :

- Hiền điệt đi đâu?

- Tiểu điệt có hẹn với Trại Mạnh Thường lão anh hùng, xin phép thúc phụ sang đó vài ngày.

- Liệu trở về kẻo ta mong nhé!

Trưa hôm ấy họ Dương tới Âu Dương trang, vừa dịp Tam hiệp là Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ mới hồi trang được mấy ngày.

Trại Mạnh Thường cùng các con đang uống rượu trên đại sảnh bèn giới thiệu Hoài Ngọc với mọi người.

Lão anh hùng nói :

- Ta đang kể chuyện Tam Môn cốc cho ba người mới về nghe, chắc hiền điệt tới đây cũng không ngoài vụ đó.

Hoài Ngọc đáp :

- Dạ, chính phải. Hôm qua tiểu điệt đã gặp Hàn Trại chủ.

Chàng kể lại một lượt việc Hàn Kỳ cho lão anh hùng nghe, và nói thêm :

- Theo ngu ý, thiết tưởng bá phụ nên tụ họp cả Hàn, Địch hai người tại đây. Ai từ chối không đến tức là kém thiện chí, lúc đó bá phụ sẽ thẳng tay giải quyết. Âu cũng là phước đức tránh cho hai bên khỏi lưu huyết vô ích sau này.

Trại Mạnh Thường gật đầu :

- Từ trước đến nay, đứng giảng hòa hai phe Địch, Hàn vẫn là mục đích của lão phu. Được lắm để thử chuyến nữa xem sao.

Lão anh hùng dạy lại bảo Tòng Cát :

- Lát nữa, con thay ta viết thư mời Địch Lân, Hàn Kỳ ấn định trưa ngày mốt sẽ hội họp cả ở đây xem họ định liệu thế nào.

Tòng Cát vâng lời đem việc hai đoàn mục tử phạt ở khu đồi cỏ ba hôm trước kể cho Hoài Ngọc nghe.

Cơm nước xong, Tòng Cát thảo hai bức thơ sau, sai tráng đinh tức tốc phi mã cầm vào Tam Môn cốc. Thơ rằng:

"Âu Dương Tòng Thiện gởi nhị vị chủ Tam Môn cốc nhã giám.

Tháng tám ngày bốn giờ Tỵ, thân thỉnh nhị vị bằng hữu vui lòng đến bổn trang, trước là xơi rượu cùng nhau nhàn đàm, sau là nói về khu đồi cỏ.

Mong rằng nhân dịp này nhị vị Trại chủ giúp tôi trung gian được hiệu nghiệm thơ, và mở đường cho ba người bạn già chúng ta được gần nhau hơn trước.

Kính thỉnh".

Quả nhiên đúng ngày giờ chỉ định, Hàn Kỳ đem theo hai viên bộ hạ tới trước và thân tặng Trại Mạnh Thường một cặp sừng trâu cực kỳ lớn hiếm có.

Trại Mạnh Thường mừng rỡ giới thiệu mọi người với họ Hàn.

Thấy Chu gia song hiệp và ba anh em Âu Dương người nào cũng hùng dũng uy nghi, lại nghe tin hai họ kết thân, Hàn Kỳ tấm tắc khen phục vô cùng.

Hàn Kỳ hỏi riêng Dương Hoài Ngọc :

- Cuộc hội họp hôm nay phải chăng là do nghĩa sĩ tạo thành.

- Tiểu tử chỉ nhắc lại qua loa là Trại Mạnh Thường đứng chủ trương ngay. Đây là một vụ cũ rồi.

Hàn Kỳ hỏi riêng Dương Hoài Ngọc.

Mọi người đều họp mặt đông đủ trên đại sảnh dùng trà, Trại Mạnh Thường thân mật chuyện trò cùng Hàn Kỳ, hỏi về các vấn đề trong Tam Môn cốc.

Người lo âu nhất trong đám đông là Dương Hoài Ngọc.

Chàng nóng ruột tới nửa giờ Tỵ rồi, chưa thấy Địch Lân tới. Hay là cũng như chuyến trước kia họ Địch không mong muốn gặp Hàn Kỳ? Lẽ nào như vậy được! Ít nhất cũng phải viết thư từ chối mới là người có lễ độ chứ.

Không chịu được nữa, chàng ra ngoài hành lang nhìn thẳng ra cổng trang chờ thì vừa lúc Địch Lân đi cùng Lâm Diêm Bá và một bộ hạ cưỡi ngựa rẽ vào.

Hoài Ngọc cả mừng bước xuống thềm đón :

- Tiểu điệt đang lo thúc phụ trễ giờ.

Địch Lân mỉm cười :

- Lo gì trễ! Chắc hiền điệt ngờ lão phu không đến.

Trại Mạnh Thường và các con cùng xuống thềm đón tiếp.

Thi lễ xong, Địch Lân đưa tặng Trại Mạnh Thường cặp sừng bạch ngưu rất hiếm có.

Lão anh hùng sai gia nhân treo luôn hai cặp sừng của hai họ Địch, Hàn đối diện nhau trên thực phòng.

Địch Lân nói với Lam Y nữ hiệp và Đơn Đao Chu Đức Kiệt :

- Nghe danh không bằng gặp mặt. Hiệp công của nhị vị lừng danh khắp Tô Châu lão không ngờ Chu đại hiệp lại là tế tử của đại gia đình Âu Dương xứng đáng vô cùng.

Anh em Chu gia đáp mấy lời khiêm tốn. Trại Mạnh Thường mời mọi người vào cả trong thực phòng dự tiệc, tự mình ngồi giữa, Địch Lân và Hàn Kỳ ngồi kế hai bên, sau đến các người trong nhà và Dương Hoài Ngọc, Lâm Diêm Bá.

Trại Mạnh Thường dõng dạc nói lớn :

- Hôm nay tôi được hân hạnh đứng trung gian giảng hòa những sự xích mích hiểu lầm từ trước đến nay giữa hai gia trại của nhị vị bằng hữu họ Địch và họ Hàn đây. Theo ý riêng tôi, đầu mối sự bất hòa này đều do các bộ hạ và đoàn mục tử quá khích đã gây ra, và phần nữa là do nhị vị Trại chủ không bao giờ gặp nhau để trao đổi ý kiến hoặc phân trần, tranh mọi sự bất hòa.

Khu đồi cỏ thuộc về tôi, nhưng từ trước, tôi vẫn ưng thuận để gia súc cả hai trại Địch, Hàn tới đó ăn cỏ. Muốn tránh sự lẫn lộn giữa hai bầy gia súc ấy, đầu mối cuộc bất hòa của các mục tử hai trại thiết tưởng không còn gì hơn là dùng sơn màu khác nhau, bôi lên sừng trâu. Việc này tuy có mất công chút đỉnh nhưng giữ được tình giao hảo đôi bên.

Từ hôm nay, tôi mong nhị vị bằng hữu Trại chủ đây quên các việc đã qua để bắt đầu một kỷ nguyên thân thiện hợp tác, đem lại sự an vui cho toàn thể nhân công hai trại. Vậy nhân dịp này, chúng ta cạn ly rượu mừng sự giao hảo giữa hai trại Địch Hàn... Nào, xin mời.

Trại Mạnh Thường nâng ly rượu đầy, đứng lên uống một hơi cạn. Cử tọa uống theo rồi vỗ tay hoan hô.

Hàn Kỳ và Địch Lân cảm động, đẩy kỷ đứng lên giao bái.

Họ Hàn nói :

- Giờ phút này, tôi mong chờ đã từ lâu nay mới toại nguyện. Mong lão huynh bỏ qua dĩ vãng không vui đi cho.

Địch Lân cũng nói :

- Địch mỗ cũng xin được Hàn lão huynh liệt vào hàng bằng hữu. Bây giờ đến lượt chúng ta nâng ly cảm ơn Âu Dương anh hùng đã nhận đứng trung gian trong vụ này.

Một tuần rượu mừng nữa được uống cạn.

Hàn Kỳ chỉ Dương Hoài Ngọc nói lớn :

- Chúng ta cũng không nên quên ơn đại công của Dương nghĩa sĩ, sứ giả hòa bình. Nhờ tánh tình điềm đạm của nghĩa sĩ, hai bạn già chúng ta mới có sự vui vẻ hôm nay. Vậy xin uống mừng nghĩa sĩ họ Dương.

Mọi người vỗ tay khen ngợi và uống rượu nữa.

Nhân dịp vui vẻ, Hàn Kỳ đem việc Dương Hoài Ngọc bị Tam Mã khinh thị đùa giỡn hôm mới tới, và cách đây mấy ngày, Hoài Ngọc đã đánh Hoa Mã Hàn Thao một trận tơi bời.

Hàn Kỳ nói tiếp :

- Khi mấy tên bất hiếu tử của tôi kể chuyện làm nhục Dương nghĩa sĩ, tôi biết ngay họ Dương là người điềm đạm đến hôm nghĩa sĩ đánh cho họ Mã một trận tơi bời khiến thằng Thao không còn lối cuống cuồng mất cả khăn, tôi buồn cười quá, phạt không cho y ngồi cùng thồi ăn từ mấy bữa nay... Sang phép của Dương nghĩa sĩ, thiệt là hay.

Cử tọa nghe nói chuyện Hàn Thao đều cười ồ lên, và nhìn về phía Hoài Ngọc tỏ ý khen ngợi.

Địch Lân ngẩn ngơ hồi lâu :

- Tối hôm ấy, sau khi nghe tiên nữ Phượng Tiên thuật lại vụ ấy, tôi tức điên ruột, tự vấn suốt đêm sao Hoài Ngọc lại có thể điềm đạm nhường nhịn tới mức độ ấy được! Nhường nhịn hay hèn nhát!

Khó hiểu quá, vì tôi biết bản lãnh của võ sư Dương Hoài Đĩnh, thân sanh của Hoài Ngọc, nhất là phép đánh giáo gia truyền của Dương gia từ đời Tống thì lại càng hoàn mỹ ghê gớm nữa.

Bây giờ tôi mới hiểu là y gan lì. Nếu hôm nay, Hàn lão huynh không kể chuyện y đánh Hoa Mã thì tôi cũng đành chịu không biết gì cả.

Trại Mạnh Thường cười ha hả :

- Dương hiền điệt có như vậy thì bữa nay nhị vị hiền hữu mới có nhiều chuyện vui kể chớ.

Mọi người cười theo. Bỗng một người nói :

- Tôi cũng muốn kể một chuyện.

Ai nấy đều nhìn lại thì ra đó là Lâm Diêm Bá.

Địch Lân vội giới thiệu :

- Lâm Diêm Bá là trại trưởng Địch gia trại, có sức khỏe vật nổi trâu mộng nên đoàn mục tử bướng bỉnh gọi là Trại Thiết Ngưu.

Mọi người thấy họ Lâm cổ to vai rộng vạm vỡ thì biết là người có dũng lực tự nhiên.

Trại Mạnh Thường hỏi :

- Có chuyện chi vậy, Lâm hiền điệt?

Dương Hoài Ngọc ngồi kế bên, bèn đá nhẹ vào chân họ Lâm, ra hiệu bảo đừng kể chuyện đấu quyền trên đồi cỏ.

Lâm Diêm Bá mỉm cười nhìn Hoài Ngọc rồi nói lớn :

- Thưa quí vị, Dương huynh vừa đá chân ra hiệu không muốn tôi kể một câu chuyện đấu quyền trên đồi cỏ xảy ra cách đây độ nửa tháng, mà người chiến thắng là Dương huynh và kẻ chiến bại là tôi. Hôm ấy, Dương huynh sang Âu Dương trang yết kiến lão anh hùng đây...

Trại Mạnh Thường ngắt lời :

- Phải, lần trước Dương hiền điệt qua đây đêm mười bốn có trăng vằng vặc. Trận đấu thế nào?

Lâm Diêm Bá nói :

- Thưa vâng, tiểu điệt xin kể.

Chàng đem chuyện hai người đấu quyền dưới bóng trăng kể rành mạch. Ai nấy đều lấy làm thích thú.

Diêm Bá nói tiếp :

- Dương huynh quật tôi hai lần khá nặng, nhưng đến lần thứ ba tôi đành chịu ngọn Hầu Viên Đảo Quái tuyệt kỹ, tưởng gãy xương sống.

Nghe nói, năm anh em Chu gia và Âu Dương nhìn nhau cười khúc khích.

Bây giờ, Địch Lân mới hiểu rằng tuy bề ngoài điềm đạm, thiệt ra Hoài Ngọc hoạt động ngầm.

Hàn Kỳ vuốt râu khoái chí cười tủm tỉm.

Lam Y nữ hiệp hỏi Tòng Cát :

- Đại huynh có gặp Hàn Gia Tam Mã bao giờ không.

Tòng Cát lắc đầu :

- Không, có lẽ vì Tam Mã thường đến những nơi mà ngu huynh không bao giờ bước chân tới. Tuy vậy có nghe danh ba người ấy có tài kỵ mã.

- Bữa nào chúng ta viếng Hàn gia trại, thế nào cũng yêu cầu họ biểu diễn kỵ mã thuật cho xem mới được! Nhớ hồi ở Dương Châu, Nhị ca Tòng Đức, Âu Dương tẩu tẩu và Tào Chí có biểu diễn cho xem kể cũng đã đặc sắc lắm.

Tòng Đức nói :

- Trong thời kỳ ở đây, Chu đệ và hiền muội nên dượt môn đó. Có bản lãnh như hai người, luyện kỵ mã thuật thành ngay.

- Nếu thế, từ mai xin làm lễ bái sư ngay, được không?

- Được lắm! Trưởng huynh Tòng Cát, tam muội và ngu huynh rất đều nhau, ai chỉ bảo cũng được.

Chu Đức Kiệt mỉm cười nói với mọi người :

- Lam Y tham lắm, môn nào cũng muốn biết. Như chuyến sau này ở Ngọc Nhi châu và Phù Dung viện, đóng vai công tử cốt ý bắt tặc đạo cho xong chuyện mà gia muội cứu nhất định náo hoa phòng khiến bọn đào nương mê tít tung thang, tưởng mình là tay thiếu gia công tử quen xóm trêu hoa thế có bực không.

Mọi người nghe chuyện đều khoái chí cười vang.

Tiệc rượu kéo dài đến xế chiều mới tan.

Địch, Hàn hai Trại chủ bái biệt Trại Mạnh Thường ra về.

Địch Lân hỏi Dương Hoài Ngọc :

- Hiền điệt về trại luôn thể chớ.

Hoài Ngọc đáp :

- Dạ, tiểu điệt cùng đi, nhiệm vụ hòa bình tới đây là hết.

Về tới trại, thì đêm đã khuya, Phượng Tiên chong đèn đọc sách chờ, Địch Lân âu yếm hỏi :

- Khuya rồi con chờ làm chi cho mất công.

- Con nóng ruột không biết kết quả cuộc hội họp ra sao. Thiếu chút nữa con đem gia tướng đến Âu Dương trang rước phụ thân về.

Địch Lân cười :

- Trong khi con ở trong tình trạng lo âu cho ta thì ở bên trang trại Âu Dương mọi người dụ tiệc vui vẻ. Kết quả hoàn hảo ngoài ý ta mong muốn. Ta tiếc không đem con đi theo vì bên đó cha đã gặp cả Chu gia song hiệp.

Phượng Tiên ngạc nhiên :

- Là ai vậy?

- Ủa! Con quên đã có lần ta thuật cho con nghe đại danh Lam Y nữ hiệp và Đơn Đao Chu Đức Kiệt miền Bắc sao?

- A! Con nhớ ra rồi. Chắc nhị vị đó qua thăm Trại Mạnh Thường.

- Hơn thế nữa, vì Đức Kiệt là tế tử của Trại Mạnh Thường.

- A! Nghĩa là Chu hiệp ấy duyên cùng Âu Dương Bích Nữ.

- Chính vậy! Thiệt là đẹp đôi về tài cũng như sắc. Thể nào ta cũng mời tiệc trả lễ họ Âu Dương, con sẽ có dịp biết mặt ba anh em nhà ấy và song hiệp Chu gia.

Hôm sau, như thường lệ, cha con họ Địch dậy sớm chờ Dương Hoài Ngọc điểm tâm. Nhân dịp họ Dương chưa xuống, Địch Lân đem việc hội họp hôm trước kể cho Phượng Tiên nghe và nói tiếp :

- Thiệt ta không ngờ Hoài Ngọc lại kín đáo và điềm tĩnh đến như vậy. Cho tới nay cha con ta và mọi người cùng hiểu lầm y rất đáng tiếc. Thiệt ra y là người quả cảm can trường.

Phượng Tiên im lặng nghĩ đến việc mình đã nhiều lần có thái độ khiếm nhã với họ Dương.

Nàng hối hận bụng lúc nào vắng người sẽ ngỏ lời xin lỗi.

Địch Lân nói :

- Không những là ta mà tất cả mọi người trong hai trại cũng biết ơn vì tánh tình điềm đạm hiếm có của Hoài Ngọc... Ủa! Sao bữa nay lại dậy trễ thế.

Phượng Tiên nói :

- Có lẽ mấy hôm lo công việc nên nhọc mệt. Thôi để cho Dương huynh nghỉ ngơi, lát nữa điểm tâm sau cũng không sao.

Địch Lân khen phải, cùng Phượng Tiên điểm tâm trước.

Vừa hay Lâm Diêm Bá đẩy cửa bước vào.

Phượng Tiên hỏi :

- Sao trại trưởng lên điểm tâm trễ vậy?

Diêm Bá nói :

- Vì tôi mắc giảng giả cho các mục tử biết việc xử hòa với bên trại Hàn Kỳ căn dặn chúng từ nay không được gây sự với bên Hàn gia nữa. Sau đó, tôi cho dùng sơn xanh đánh dấu lên sừng trâu nhà theo đúng lối của Trại Mạnh Thường.

Địch Lân hỏi :

- Đánh dấu xong chưa?

- Dạ, hiện sắp xong, tiểu điệt lên mời bá phụ và Địch cô nương xem!

Địch Lân và Phượng Tiên đẩy kỷ đứng lên đi ra cửa.

Diêm Bá ăn qua loa mấy miếng, hỏi nữ tì :

- Dương thiếu gia đâu?

- Dạ, thiếu gia ngủ trễ nên chưa xuống điểm tâm!

Họ Lâm cầm theo hai chiếc bánh bao, vừa đi vừa ăn, xuống trại gia súc. Tới nơi thì Địch Lân đang họp bàn mục tử giảng giải thêm.

- Từ nay trở đi, kẻ nào cố ý gây rối để ta mang tiếng với bên Âu Dương và Hàn gia trại sẽ bị nghiêm phạt.

Nếu bên Hàn gia có hành động đáng tiếc, các ngươi không được tự quyền xử trí tại chỗ, mà phải báo cáo cho ta hoặc trại trưởng hay.

Bọn mục tử dạ rân và bắt đầu lùa trâu ra đi.

Địch Lân hỏi Diêm Bá :

- Hiện còn bao nhiêu trâu nữa?

- Dạ, còn đúng hai trăm năm mươi con.

- Ba hôm nữa sẽ bán nốt bày này cho Kiều viên ngoại. Các lái ở Lữ Châu sang thượng tuần tháng sau sẽ lùa bầy khác tới. Chỉ còn vài ngày nữa. Bán xong nghỉ ngơi rồi lại bắt tay vào làm việc là vừa.

- Nếu vậy mai mốt ra Tô Châu cần mua thêm sơn màu xanh trong kho không còn đủ dùng cho bầy trâu sắp tới.

Nói đoạn Diêm Bá bỏ đi xem việc khác, còn cha con Địch Lân trở về nhà.

Lúc đó sang cuối giờ Thìn rồi mà Hoài Ngọc chưa xuống tới nhà dưới.

Địch Lân lấy làm lạ :

- Kỳ thay! Chưa chuyến nào Hoài Ngọc dậy trễ hơn ta, hay là y đau? Để ta lên phòng y xem sao?

Địch trại chủ bèn lên lầy gõ cửa phòng họ Dương.

Cánh cửa chỉ khép hờ, hé ra ngay.

Địch Lân ngó đầu vào nhìn thì ngạc nhiên đẩy tung cánh cửa ra vì trong phòng trống không.

- Phượng Tiên! Phượng Tiên!

Không hiểu có việc gì, nghe tiếng phụ thân gọi, nàng vội chạy lên thang lầu, hoài nghi thấy nét mặt khác thường của Trại chủ :

- Phụ thân gọi con có việc gì.

Địch Lân chỉ tay vào phòng Hoài Ngọc.

Phượng Tiên vội quay hỏi thị nữ :

- Trong khi Trại chủ và ta xuống trại gia súc, ngươi có thấy thiếu gia trở dậy rồi không?

- Thưa không, con tưởng thiếu gia còn say giấc.

Địch Lân vào phòng nhìn quanh, chợt thấy bức thư gấp để trên án thư đè dưới cuốn sách.

Địch Lân cầm lấy đọc. Ngoài bì đề ngày giờ và hàng chữ gởi cho họ Địch, chữ viết rất tốt.

"Kính gửi Địch thúc phụ nhã giám".

Địch Lân vội mở thư ra đọc.

"Sau nhiều ngày sống êm đềm tại trại nhà, và nhất là sau cuộc giao hảo với bên Hàn gia trại, tiểu điệt thấy không còn lý do gì để kéo dài thời gian an nhàn ở nơi đây trong khi còn nhiều việc cần phải làm chờ đợi tại Nghĩa Hưng phủ.

Biết trước thế nào thúc phụ cũng giữ lại, nên tiểu điệt đành phải đường đột ra đi. Thiệt là đắc tội, dám xin thúc phụ thể tình, nhận lời chúc trường thọ khang an của tiểu điệt.

Dương Hoài Ngọc, kính bái".

Đọc xong, Địch Lân đưa thư cho Phượng Tiên coi, rồi chắp tay ra sau lưng đi đi lại lại trong phòng, ra chiều suy nghĩ lung lắm.

Lát sau, Địch Lân hỏi Phượng Tiên :

- Con có sơ suất điều gì khả dĩ Hoài Ngọc phật lòng bỏ đi không?

- Thưa không. Ngoài việc mà trước đây mọi người cũng hiểu tánh tình Dương huynh, không có sự gì đáng tiếc cả.

Miệng nói vậy, nhưng nàng nghĩ thầm: Hay là Hoài Ngọc nhận thấy mối tình thầm kín của Lâm Diêm Bá đối với ta mà chàng có ý nhường chăng?

- Kỳ thay anh chàng họ Dương này! Không biết chinh phục hôn thê của chính mình mà lại nhường là thế nào! Lúc này ta bị chàng chinh phục rồi, thì chàng lại bỏ ra đi.

Đã thế, ta quyết ở vậy chờ, chừng nào chàng hồi tâm trở lại sẽ hối hận về việc đột ngột bỏ đi này.

Địch Lân liếc nhìn Phượng Tiên :

- Con nghĩ gì thế :

- Thưa phụ thân, con nghĩ chắc Dương huynh chưa đi xa vì chàng đi bộ.

Địch Lân lắc đầu :

- Y không đi bộ đâu, thế nào cũng mượn ngựa Từ Trung. Cho người đi kêu họ Từ ta coi nào.

Phượng Tiên hối gia nhân đi gọi Từ Trung.

Lát sau Từ Trung tới phòng khách, vì cha con họ Địch đã xuống cả dưới nhà. Địch Lân hỏi :

- Dương Hoài Ngọc có mượn ngựa của ngươi không?

Từ Trung ngơ ngác không hiểu trước nét mặt nghiêm trọng của chủ trại và Phượng Tiên :

- Thưa có. Lúc tờ mờ sáng, thiếu gia lấy ngựa nói là đi Tô Châu.

- Được rồi, ngươi xuống mã trại thắng xe và ngựa, và bảo trại trưởng sửa soạn đi Tô Châu ngay.

Từ Trung đi khỏi, Phượng Tiên nói với cha :

- Phụ thân định tìm Dương huynh? Con không đi đâu!

- Đuổi sao kịp một người đi ngựa tờ mờ sáng! Ta đi mua mấy thứ cần dùng và nhân tiện lấy lại con ngựa của Từ Trung. Chắc Hoài Ngọc để ngựa ở đó.

- Nếu vậy, thì con cùng đi!

Trưa hôm ấy ba người tới Tô Châu đi thẳng đến nhà Phương Tú Kiều.

Con ngựa của Từ Trung buộc ở gốc cây trong sân trước.

Địch Lân hỏi Phượng Tiên :

- Con thấy ta nói trúng không? Hoài Ngọc qua đây gởi ngựa rồi mới đi.

Như thường lệ, Địch Lân, Lâm Diêm Bá gởi ngựa ở nhà họ Phương rồi đánh xe ngựa đi mua hàng cho Phượng Tiên.

Chuyến này, nàng không đi mà ở luôn nhà Tú Kiều.

Phương nữ tay bắt mặt mừng hỏi bạn :

- Thơ thơ ra Tô Châu trễ vậy? Sao sáng nay không cùng đi với Dương đại huynh.

Phượng Tiên không dấu diếm :

- Thì chính vì việc Dương huynh bỏ đi nên cả nhà mới kéo ra đây, nếu không vài ngày nữa mới phải đi mua hàng tạp dụng.

Tú Kiều ngạc nhiên :

- Ủa! Thế ra sáng nay Dương đại huynh tự ý bỏ đi? Vào khoảng cuối giờ Mão, có người gọi cổng. Gia nhân ra mở thì Dương đại huynh gởi ngựa lại đây nói rằng đi xa có việc, người trong Địch gia trại tới lấy ngựa về. Tiếc quá! Nếu tiểu muội gặp thì có lẽ được biết rõ hơn.

Phượng Tiên chép miệng :

- Khó hiểu Dương huynh quá.

Phương Tú Kiều im lặng nghe.

Phượng Tiên kể các việc xảy ra từ hôm Dương Hoài Ngọc mới tới cho bạn nghe rồi thở dài.

Phương Tú Kiều nói :

- Thấy thơ thơ ít ra Tô Châu, tiểu muội yên trí là nhị vị đồng thanh tương ứng ca khúc phụng cầu, chỉ còn chờ ngày lành tháng tốt hoan hợp duyên ưa. Ngờ đâu lại có sự ngang trái như vậy! Nghe tin này, tiểu muội buồn quá.

Phượng Tiên chăm đăm nhìn qua cửa ra lối sau vườn :

- Việc chi mà buồn! Trái lại nên coi đó là may mắn, vì chúng ta được gần nhau mãi mãi, và riêng phần Phượng Tiên này cũng không phải rời Tam Môn cốc.

Tú Kiều mỉm cười :

- Thơ thơ định nối nghiệp bá phụ làm nữ chủ trại phải không.

Phượng Tiên cười theo :

- Thì từ nhỏ đến nay chỉ quen có mỗi thứ việc trang trại thôi mà!... À, hôm nay xin phép bá mẫu vào Tam Môn cốc chơi vài ngày đi!

- Dạ, nhưng giờ này chưa thấy bá phụ trở về đây, có lẽ đi trễ lắm.

Xẩm tối hôm ấy Địch Lân và Lâm Diêm Bá mới về đến nhà Tú Kiều, Phượng Tiên đem việc mời bạn về trại nói với thân phụ nghe.

Địch Lân nói :

- Nếu vậy, bây giờ trễ rồi, sáng mai ta sẽ đi. Con ngủ đây với Tú Kiều. Ta gởi xe hàng hóa ở đây, mai sẽ tới đón.

Tú Kiều nói :

- Bá phụ và trại trưởng nghỉ đêm ở tệ xá cũng được, nhà rộng lo gì.

- Thôi mặc lão phu tùy tiện. Mai sang giờ Thìn sẽ khởi hành.

Sáng hôm sau, Phượng Tiên và Tú Kiều ngồi xe đi trước. Địch Lân, Lâm Diêm Bá cỡi ngựa theo sau. Vừa ra khỏi địa trấn được quãng đường nhỏ, bỗng thấy một người trạc tuổi tam tuần trở lại chống gậy, chân bước khập khễnh như kẻ bị thọt đi trên đường...

Chương 32: Nhờ hiệp khách phận hàn, Tề quân tặng báu kiếm Vào hành thích dâm vương, Tam hiệp trổ tài cao

Người ấy vận bào lục đã bạc màu, giắt hai vạt lên đai lưng cho khỏi vướng, quần đen chịt ống, chân dận hài thêu, lưng đeo học hành lý, và thanh trường kiếm giải đỏ tươi như máu. Tóc búi ngược nét mặt tuy còn trẻ, nhưng bộ râu ba chùm đen lánh dài quá ngực, khiến người khách bộ hành ấy già thêm đến mười tuổi nữa. Khuôn mặt dài, xương xương, mũi cao và thẳng, mi thanh mục tú long lanh tựa sao băng. Thoạt nhìn ai cũng biết khách bộ hành đó từ phương xa tới dù chẳng có bọc hành lý trên lưng.

Trong Tam Môn cốc chỉ có hai trang trại nuôi gia súc, trừ những người lui tới giao dịch buôn bán quen thuộc với hai Trại chủ, ngoài ra không có một ai xa lạ qua lại khu vực này cả. Bởi vậy, khi mới thấy người thọt chân bước thấp bước cao, trên đường khô khan đầy sỏi đá, hai cha con họ Địch và Lâm Diêm Bá lấy làm lạ lùng, không ai bảo ai mà cũng nhìn nhau thăm dò ý kiến.

Họ chắc chắn cũng không phải khách của bên Hàn gia trại nữa, vì không có ai lại dại đi bộ vào Tam Môn cốc, để điều đình mua hay bán gia súc với họ Hàn, Địch. Những người ấy không đi ngựa thì dùng xe.

Đang tập tễnh chống gậy đi giữa đường, chợt nghe thấy tiếng vó ngựa ở phía sau, người thọt chân vội tránh bên ven đường, ngừng bước chống gậy chăm chú nhìn.

Đoàn người ngựa cũng nhìn lại nhận xét. Chờ ngựa đi qua hắn ít bước, Địch Lân mời dừng ngựa hỏi :

- Tiên sinh từ phương xa tới, tìm kiếm ai trong khu này?

Người kia đưa mắt nhìn Địch Lân qua Lâm Diêm Bá rồi tới Phượng Tiên và Tú Kiều, như kẻ không nghe thấy câu hỏi của họ Địch.

Địch Lân cũng mặc xem người đó định làm gì.

Giây lâu, nhìn hầu như đã chán mắt, người lạ mới cất giọng ấm áp :

- Dạ, tôi từ Bắc Hà tới. Phải chăng người là Trại Mạnh Thường.

Nói đoạn người ấy lại đăm đăm nhìn họ Địch không chớp mắt.

Địch Lân cười ha hả :

- Lão phu biết ngay là khách lạ lầm đường mà!... Không, tôi không phải Trại Mạnh Thường, nhưng có quen với người ấy. Tiên sinh cần điều chi, tôi xin giúp.

Người thọt chân bèn khoanh tay vái chào bộ tịch rất đường hoàng :

- Đa tạ lão tiên sinh có lòng giúp, tôi chỉ cần biết đường vào Âu Dương trang thôi.

Địch Lân xuống ngựa đáp lễ :

- Đây là con đường khi chính Đông vào Tam Môn cốc có bản trại, và một trại nữa nuôi gia súc. Còn đường vào khu đại trang của Trại Mạnh Thường thì ở lối Đông Bắc. Giờ đây hãy còn sớm, đường không xa mấy, chúng tôi sẵn ngựa xe nếu tiên sinh không nề hà, tôi sẽ chờ người tới tận nơi.

Người thọt chân tươi nét mặt :

- Như vậy phiền lão tiên sinh đi lại mất cả ngày giờ?

- Không, chỉ xa hơn chút đỉnh thôi. Lối đó đi vòng cũng tới bổn trại. Tiên sinh muốn dùng ngựa hay ngồi xe.

Nhìn qua hai thiếu nữ trên xe, người ấy đáp :

- Lão tiên sinh cho tôi ngồi ngựa được không.

- Tiên sinh tự cầm cương lấy!

- Dạ, thế cũng được.

- Nào, xin mời.

Người đó tấp tểnh đi đến bên con ngựa.

Địch Lân nhận thấy y bị thọt nhiều bèn đổi ý :

- Hay là mời tiên sinh lên xe, tôi cầm cương. Hai tiện nữ đây cũng biết kỵ mã.

Nghe vậy, Phượng Tiên và Tú Kiều cùng xuống xe nhường chỗ.

Địch Lân toan đỡ người lạ lên xe, nhưng y đã nói :

- Khỏi phiền lão tiên sinh, tôi lên được.

Nói đoạn, y chống tay vào thành xe nhảy một chân lên xe khá lẹ làng rồi dựng cây gậy sang một bên.

Địch Lân chờ Phượng Tiên và Tú Kiều lên ngồi chung ngựa của mình, rồi mới lên xe cầm roi quất bốp một tiếng, thúc ngựa quay trở ra đầu đường, rẽ lên hướng Đông bắc.

Chị em Phượng Tiên và Lâm Diêm Bá theo sau.

Trong khi đi đường, Địch Lân hỏi khách lạ :

- Tiên sinh đi ngựa hay xe từ Hà Bắc xuống Tô Châu?

- Dạ, tôi đi xe theo các đoàn khách thương.

- Đường đi có bình an không?

- Có mấy nơi nguy hiểm, nhưng nhờ tiêu sư kinh nghiệm nên đi thoát.

Địch Lân nhìn người nọ :

- Nếu tiên sinh thuê xe vào Âu Dương trang đã không đến nỗi lầm đường.

- Người ta chỉ lối cho tôi đi và bảo là gần nên tôi mới đi chân.

- Chao ôi! Gần thì cũng bảy, tám dặm đường.

- Tôi may mắn nên được gặp lão tiên sinh giúp cho phương tiện tới nơi. Chắc người cũng thân giao với lão anh hùng Trại Mạnh Thường.

- Có chớ! Nhưng chẳng nói gì tôi, cả thị trấn Tô Châu này và hơn nữa, toàn cõi Giang Nam ai ai cũng nghe danh Trại Mạnh Thường. Trong trang lúc nào cũng có vài trăm miệng thực khách từ khắp bốn phương trời qua đó đủ các hạng người giang hồ hảo hán, quái khách dị nhân chẳng thiếu một ai.

Hai người thủng thẳng chuyện trò, không mấy chốc đã tới Âu Dương trang.

Khách lạ xuống xe từ biệt Địch Lân rồi đứng sang bên đường chờ đoàn người ngựa đi khỏi mới chống gậy chập chững tiến tới cổng trang.

Tráng đinh thấy người thọt chân, lưng đeo trường kiếm thì tò mò nhìn. Khách lạ cũng nhìn quanh hồi lâu mới từ từ đi vào. Tráng đinh trình cuốn sổ ghi danh.

Người nọ lật mấy trang sổ đọc qua rồi cầm bút ghi "Lư Cầu Kiều Tề Quân Bảo", nét chữ rắn rỏi lạ thường.

Ghi danh xong, Tề Quân Bảo bảo :

- Tôi muốn gặp Chu gia song hiệp, hiện có mặt tại đây chớ.

Tráng đinh đáp :

- Xin quý khách theo tôi nhập trang, chừng nào gặp Trang chủ sẽ biết rõ.

Họ Tề điềm đạm :

- Làm ơn vào báo trước, tôi tự kỷ vào sau.

Thấy thái độ dị kỳ của tân khách, tráng đinh lấy làm lạ nhìn kỹ rồi bảo một tráng đinh khác :

- Vào đại sảnh báo với Trang chủ đi.

Chờ tên tráng đinh đó đi khỏi hồi lâu, Tề Quân Bảo mới đủng đỉnh chống gậy đi vào.

Lúc đó Trại Mạnh Thường đang ngồi ở hậu đường, đàm luận cùng Chu gia và ba con thì tráng đinh vào báo :

- Thưa Trang chủ, có khách lạ họ Tề ở Lưu Cầu Kiều muốn gặp Chu thiếu gia và Nữ hiệp.

Trại Mạnh Thường cau mày hỏi :

- Sao các ngươi không theo thường lệ mời vào ngay.

- Thưa, Tề tân khách nhất định nhờ vào báo trước.

- Người đó thế nào?

- Thưa tân khách mi thanh mục tú, đeo trường kiếm nhưng... thọt chân.

Lão anh hùng nhìn anh em Chu gia có ý hỏi. Lam Y và Chu Đức Kiệt nhìn nhau, lắc đầu tỏ ý không quen ai họ Tề ở Lưu Cầu Kiều mà thọt chân cả.

Âu Dương Tòng Cát nói :

- Thì cứ ra xem là ai đã, rồi sẽ hay.

Sáu người cùng đẩy kỷ đứng dậy, ra đại sảnh, bước xuống thềm nhìn họ Tề đang lững thững đi vào. Cách nhau độ mươi bước, Tề Quân Bảo ngừng lại dương cặp mắt sáng như sao mai, nhìn từ người nọ đến người kia hồi lâu mới lên tiếng :

- Vị nào là Chu gia song hiệp.

Từ này, sáu người lấy làm lạ, về thái độ kỳ dị của tân khách, nhưng cũng mặc xem họ Tề hành động thế nào.

Thấy hỏi đến tên mình, anh em Chu gia thận trọng tiến lên hai bước cùng đáp :

- Chúng tôi đây.

Tề Quân Bảo lại trừng trừng nhìn hồi lâu rồi bỗng quái tài tay hữu rút phắt thanh trường kiếm co chân hữu bị thọt lên, toàn thân dồn cả vào chân tả, giơ kiếm ngang mặt rồi lại đăm đăm nhìn, sắc diện tái đi lạnh như tiền.

Thanh kiếm bị rút soạt ra khỏi vỏ, long lanh sáng ngời tia ra muôn vạn hào quang dưới ánh Thái Dương le lói, khi kiếm lạnh ngắt như giá băng.

Không ai bảo ai, sáu người cùng lùi lại mấy bước tưởng vị kiếm gia nào có thù tới gây sự đây!

Nhưng không! Tề Quân Bảo vẫn đứng y nguyên độc cước như con hạc đậu trên mỏm đá vậy. Bỗng họ Tề cười ha hả, ghê rợn, lao thanh trường kiếm cắm phập xuống đất cách nơi Chu gia song hiệp vài bước, giãi kiếm đỏ lừ phe phẩy trước gió thu man mát.

Buông chân chưa thọt xuống, Tề Quân Bảo đưa tay hữu chỉ kiếm hất hàm hỏi anh em Chu gia như thách thức :

- Xin mời coi kiếm gì đây.

Không do dự, Lam Y nữ hiệp nhìn quanh một vòng, lúc đó mọi người trông thấy lạ đều kéo tới đứng xem đông đảo, bước tới rút cây trường kiếm lên, lật đi lật lại nhận xét, đoàn nàng tiến thêm mấy bước nữa đảo kiếm hoa lên mấy đường linh diệu toàn thân uyển chuyển tựa giao long, lưỡi kiếm rít lên từng hồi bao phủ quanh mình nàng lạnh lẽo như sương lam một buổi chiều tà sơn cước.

Tề Quân Bảo tươi hẳn nét mặt, mê man nhìn vị cân quắc giai nhân thử kiếm.

Nữ hiệp ngừng tay thâu kiếm giữa những tiếng hoan hô vang dậy, xem lại một lần nữa, nhìn thẳng vào mặt Tề, buông xõng :

- Trảm Lư hùng kiếm.

Nghe vậy, Tề Quân Bảo tháo dây đeo kiếm quỳ xuống tam bối, hai tay nâng lên ngay trán :

- Từ nay, báu kiếm này đã có chủ, Tề mỗ xin người nhận lấy và cho phép tôi thưa một điều...

Lam Y đỡ Tề Quân Bảo dậy, nhưng y lắc đầu :

- Xin người nhận kiếm linh này đã! Tôi từ Bắc xuống Nam chỉ có một việc đó.

Lam Y đỡ lấy bao tra kiếm vào vỏ. Tề Quân Bảo liền đứng lên, Lam Y chỉ họ Âu Dương giới thiệu từng người một.

Họ Tề nghiêm chỉnh thi lễ và nói với Trại Mạnh Thường :

- Tự nhiên tới quý trang khinh động, mong lão anh hùng đại xá.

Trại Mạnh Thường vui vẻ khoác tay Quân Bảo dìu lên đại sảnh :

- Khách quý đến nhà là nguyện vọng của lão phu, xin mời vào nhà đã, sẽ nói chuyện sau.

Bảy người cùng vào đại sảnh, phân ngôi chủ khách, gia nhân dâng trà.

Lam Y nữ hiệp đặt thanh trường kiếm lên giữa án, chỉ hai chữ "Trảm Lư" bằng vàng dát trên vỏ kiếm đồng Hoài Ngọc sạm màu khói, và chữ Hùng cũng bằng vàng ở chuôi kiếm cho mọi người xem.

Trại Mạnh Thường nhấc kiếm lên ra khỏi vỏ tấm tắc khen ngợi và chuyền tay cho ba anh em Tòng Cát xem.

Âu Dương Bích Nữ xem kiếm sau chót, khen ngợi luôn miệng mãi mới đặt kiếm xuống mặt án.

Lam Y nhìn nàng tủm tỉm cười, ngụ ý gì mà cô gái Thiếu Lâm tự chưa hiểu.

Chu Đức Kiệt nhìn Tề Quân Bảo :

- Sao tiên sinh biết anh em tôi ở Âu Dương trang mà xuống tận đất Giang Nam này tìm.

Tề Quân Bảo chậm rãi :

- Đại danh nhị vị ở Hoa Bắc, ai ai cũng biết, nên tôi mạo muội vào Bình Dương huyện xin yết kiến để cậy nhờ một việc tối ư quan trọng cho đời tôi.

- Tiên sinh biết sanh quán chúng tôi ở Bình Dương huyện.

Họ tề gật đầu :

- Dạ, nhờ sự ngẫu nhiên. Nhị vị có quen biết một người nào tên là Lôi Vân Long không? (muốn biết Lôi Vân Long là nhân vật nào, bạn đọc thân mến hãy coi lại Giang Hồ Kỳ Văn từ số đầu).

Chu Đức Kiệt nhìn Lam Y rồi đáp :

- Có, Tề tiên sinh cũng biết người đó.

- Tôi đã nói là do một sự ngẫu nhiên. Nguyên do cách đây độ hai năm, một buổi chiều mùa hạ, mưa gió tầm tã, có hai người khách lạ, vào khu trại nhỏ của tôi xin trú mưa.

- Bản trại ở đầu phía Bắc Lư Cầu kiều chắc nhị vị thừa biết khu đó?

Đức Kiệt gật đầu :

- Chúng tôi đã qua lại nơi ấy mấy lần. Khu Bắc phần nhiều là trang trại, chớ không tấp nập như nơi trung tâm.

- Dạ, chính thế. Bởi vậy hai người khách lạ cố đi tới đó có lẽ bị thương mưa nặng hột quá nên rẽ vào tệ gia trú mưa.

Người trẻ tuổi trạc ngoại tam tuần dong dỏng cao, quắc thước, khỏe mạnh. Còn người kia là đạo sĩ trạc năm mươi, năm mươi sáu tuổi, béo mập, diện mạo không được hiền từ.

Theo cách xưng hô thì hai người đó là sư đệ. Người học trò Lôi Vân Long, đạo sĩ tên gì không rõ, nhưng vận bào bát quái...

Lam Y nữ hiệp nhìn mọi người giải thích :

- Đó là Bát Quái đạo sĩ, sư phụ của Lôi Vân Long... Thế rồi sao nữa hả Tề tiên sinh.

Tề Quân Bảo nói tiếp :

- Lúc đó trời đã tối, mưa vẫn nặng hột, tôi khoản đãi hai người. Trong khi chuyện trò, họ có nhắc tới nhị vị và tỏ thái độ không được quân tử, bởi vậy sau khi họ mời về tư phòng, tôi cố ý rình nghe xem hai người ấy nói những gì nữa...

Lôi Vân Long nói :

- Hai anh em Lam Y nổi danh hành hiệp mà bao nhiêu lâu nay đệ tử tìm kiếm cũng không hề gặp thế mới lạ kỳ.

Đạo sĩ suy nghĩ hồi lâu :

- Hay là chúng ta về cả Bình Dương huyện.

- Không đệ tử mới về Sơn Đông mà không gặp.

Hôm sau hai người từ tạ ra đi.

Tề Quân Bảo nhắp hụm trà, nói tiếp :

- Riêng phần tôi, từ ngày được nghe danh nhị vị cũng muốn được diện kiến, để yêu cầu một việc, nhưng nhị vị như cặp nhạn phương trời, lần nữa mãi, mấy tháng trước đây, tôi sang Bình Dương huyện hỏi thăm tới quý trang thì Vương quản gia cho hay là nhị vị đã xuống Giang Nam từ hồi đầu năm.

Thăm dò mãi có người khuyên nên đến trang trại Âu Dương lão anh hùng là nơi có nhiều giang hồ hảo hán qua lại, may ra biết tin tức gì chăng, và quả nhiên tôi đã gặp cái may hãn hữu ngay hôm nay.

Lam Y hỏi :

- Thế còn thanh trường kiếm này.

Nhìn thanh kiếm báu, Tề Quân Bảo khẽ gật đầu :

- Dạ, tôi xin nói tiếp. Cây Trảm Lư này của nội tổ tôi là Tề Kim Báo, xưa kia theo Mã Định Quốc. Nguyên soái bình thiên hạ đoạt được của tướng Kim. Truyền đời đời gia phụ, Tề Minh Châu bỏ học võ cần công chẳng hành, danh chẳng đạt, làm một chức quan nhỏ dưới quyền Tỉnh Vương Chu Trường Đức. Chẳng ngờ đệ tam Thế tử của Tĩnh Vương là Chu Vĩnh An tánh tình dâm dật, thấy gia mẫu nhan sắc nên tìm cách hãm hại gia phụ những mong đoạt vợ người. Lúc đó tôi còn nhỏ tuổi, gia mẫu bèn giao phó tôi và cây báu kiếm cho người cửu phụ lánh về Lư Cầu kiều, trối trăng lại phải báo thù và tuẫn tiết theo gia phụ. Nhưng không may cho tôi, năm mười ba tuổi, lâm bệnh suốt một năm trời, khi khỏi thì chân hữu bị thọt không sao lành được nữa. Kẻ thù vẫn ngang nhiên sống trên nhung lụa bổ nhiệm Tổng đốc Hàng Châu, riêng tôi, tấm thân tàn phế biết hành động ra sao cho thỏa oan hồn mẹ, cha dưới cửu tuyền? Lần nữa mãi sau đây nghe đại danh nhị vị thiên hành hiệp, tôi ao ước được gặp kính dâng báu kiếm, bái thỉnh khách anh hùng vì họ Tề chúng tôi rửa mối thù huyết hận. Bởi vậy hôm nay, Tề Quân Bảo tôi ngông cuồng dâng kiếm thì quả nhiên danh bất hư truyền, hiệp khách anh hùng nhận ngay ra được báu vật. Chủ cây kiếm ấy, xứng đáng vô cùng.

Nói đoạn, Tề Quân Bảo đứng dậy tấp tểnh đến trước mặt anh em Chu hiệp quỳ lạy khóc rưng rức, khiến ai nấy đều cảm thương, hùng khí nổi lên muốn bắt ngay gian vương tán ác, moi gan xé ruột báo thù thay cho họ Tề.

Chu Đức Kiệt đỡ Quân Bảo :

- Tiên sinh khá an lòng anh em tôi sẽ vì người báo thù. Công tiin sanh lặn lội ngàn dặm tới đây tất không uổng, vậy hà tất ưu phiền.

Lam Y nói :

- Chúng tôi hành hiệp có ba người. Chu huynh đã có Thất Tinh đao, phần tôi có Thái Dương kiếm đều do sư phụ Đức Võ Thượng Nhân trao tặng. Riêng Âu Dương tẩu tẩu Bích Nữ đây còn thiếu gươm linh, vậy hãy nhận luôn cả sứ mạng báo thù giúp Tề Quân.

- Thanh báu kiếm Trảm Lư quả có mối duyên kiếp lạ lùng với Âu Dương, và ngay cả đến mối thù của Tề Quân cũng có một sự liên lạc vô cùng mật thiết.

Mọi người nghe Lam Y nói vậy đều ngạc nhiên nhìn nhau.

Nữ hiệp hướng sang Chu Đức Kiệt :

- Hiền huynh chắc thừa hiểu ngu muội muốn nói gì.

Đức Kiệt gật đầu cất giọng trầm trầm.

Hồi theo gia sư học đạo trên Cửu Huyền sơn ngoài cửa Quan, anh em tôi được đọc cuốn Cổ Kim Bảo Kiếm Tùng Thư do tổ sư Huyền Vân trưởng lão truyền lại.

Vốn chuyên về kiếm thuật, gia sư đã đạt được phương pháp luyện thép được đúc báu kiếm không thua gì những cây danh kiếm ngàn xưa, Lợi Giả Thủy Đoạn Giao Long, Bộ Hoa Tây Tượng Trảm Thiết Nhị Nể. Kết quả của công phu nghiên cứu ấy là thanh Thái Dương trường kiếm của gia muội Tú Anh đang dùng.

Thời Xuân Thu Chiến Quốc có mười tám thanh kiếm báu, chia làm hai thời kỳ luyện đúc.

Mười cây trước là Long Tuyền, Thái A, Bạch Hồng, Từ Điện, Can Tương, Mạc Gia, Ngư Trường, Cản Khuyết, Trảm Lư Hùng, và Trảm Lư Thư.

Đến Việt Vương Câu Tiễn đem Kiếm gia họ Hoàng tên Giả lên Côn Ngô Sơn dùng bạch ngưu, bạch mã tế thiên, địa, đúc thêm tám bảo kiếm nữa là Đoạn Thủy, Yểm Nhật, Huyền Tiên, Chuyển Phách, Chân Cương, Diệt Hồn, Khước Tà, Kinh Nghê.

Thanh nào cũng sắc bén chém sắt dễ dàng như chém tre, đặt sợi tóc lên lưỡi kiếm thổi đứt, sắc kiếm long lanh như tỏa hào quang, lãnh khí rợn người, không bao giờ vấy máu đáng kể như danh cụ xuất xứ.

Hôm nay, nói riêng Thái Lý Sơn ở giáp giới hai nước Hàn và Sở, có một thuật gia nổi tiếng về môn luyện thép, và đúc kiếm báu họ Âu Dương tên Nghĩa tự là Thạch Bằng, vợ là Lý thị người nước Hàn.

Vợ chồng Âu Dương Nghĩa sanh được hai con trai, đứa lớn đặt tên là Thái, đứa thứ nhì là Tòng. Cả hai đều còn nhỏ tuổi.

Âu Dương Nghĩa chế được phương pháp luyện vàng, bạc và thép thâu tinh hoa Nhật, Nguyệt bốn phương, tám hướng, đúc được Thư kiếm và Hùng kiếm sắc bén vô cùng, chém sắt đá như bùn.

Khi hoa lên, làn Thư kiếm màu trắng xanh và làn Hùng kiếm màu lam lợt. Tuốt ra khỏi bao, để hai lưỡi thư, hùng gần nhau, thì phát ra thứ âm thanh vi vu nhè nhẹ tựa thông reo.

Dãy Thất Sơn chạy dọc biên giới Hàn Sở một khúc dài trên hơn hai chục dặm, nên phân nửa thuộc Hàn, phân nửa thuộc Sở. Chia ra như vậy, thiệt ra dân sơn cước trong dãy Thất Lý sơn sống hoàn toàn độc lập, không có quốc gia nào cả, chẳng theo Hàn và cũng không ngả về Sở.

Hồi đó, Sở Bình Vương là một tay kiếm đại tài, có ý thâu gom thiên hạ, đích thân chinh chiến nên muốn được kiếm báu phòng thân.

Sở Vương bèn cho người đi khắp mọi nơi tìm danh nhân đúc kiếm đem về Sở.

Mật sứ viên là Văn Công đi khắp nước nọ, nước kia trong mấy năm trời tìm thuật đưa về cho Sở Vương, nhưng tuyệt nhiên không kiếm được người nào sở dĩ đúc nổi kiếm báu theo ý muốn của vua Sở.

Văn Công buồn rầu, trở về thì Sở Vương quở trách, mà đi nữa thì thập bát chư hầu đã qua hết rồi, còn biết tìm kiếm danh nhân nơi đâu?

Một hôm lang thang về tới đầu dãy núi Thất Lý sơn, Văn Công do dự không biết nên về hay nên đi nữa, bèn ngồi thần người ra trên phiến đá rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

Lúc hoảng hốt tỉnh dậy, Văn Công cảm thấy như đã có người nào vừa qua đây ngó trước ngó sau, thì thấy một mảnh giấy vàng phất phơ trên càng cây thấp sà xuống phía sau phiến đá. Văn Công lấy làm lạ cầm lấy mảnh giấy thấy ghi có hàng chữ: "Trung ương Thất Lý đắc hữu kiếm thuật gia Âu Dương chi mệnh danh", nét chữ mềm mại như rồng bay phượng múa.

Chạy đâu đó nhìn chẳng thấy bóng người, kêu lớn lên mấy tiếng thì chỉ âm vang vách núi đập lại, nhưng Văn Công vẫn lấy làm mừng rỡ cho rằng gặp tiên chỉ bảo giúp mình vào khu trung ương dãy núi Thất Lý sơn, tìm thuật gia họ Âu Dương đem về Sở đúc kiếm.

Quỳ xuống bái tạ tiên nhân đã chỉ điểm giúp mình, Văn Công đeo hành lý thất thểu đi theo dãy núi hỏi thăm.

Quả nhiên có họ Âu Dương thật ở ngay khu trung tâm dãy núi Thất Lý.

Nhìn kỹ địa điểm, Văn Công về thẳng nước Sở ra mắt nhà vua, trình bày tự sự.

Sở Vương mừng lắm hậu thưởng cho Văn Công, và cho cầm đầu một phái đoàn vào núi Thất Lý rước cho kỳ được họ Âu Dương về Sở.

Chuyến này đi đông người lại có ủy nhiệm thơ của Sở Vương, Văn Công không do dự nữa đến thẳng nhà Âu Dương nghĩa.

Khi gần tới nơi, Văn Công bảo bọn tùy tùng :

- Ta có lệnh của Quốc vương đi mời chủ nhân khu nhà kia. Nếu y không chịu đi theo, ta sẽ ra hiệu các ngươi cứ việc xông vào bắt đem đi. Tuy vậy, không được bạo động đánh đập người ta nhé.

Văn Công cho đoàn tùy tùng đứng ở nơi khuất, rồi ung dung bước tới gọi cổng.

Thư đồng chạy ra lễ phép chào khách lạ.

Văn Công hỏi :

- Âu Dương tiên sinh có nhà không?

- Thưa có, người cho biết quý danh để con vào báo.

- Ngươi cứ nói là có người bạn nước Sở?

Thư đồng mở cửa mời khách vào rồi lon ton chạy vào trong nhà.

Đủng đỉnh dạo quanh mấy luống bông trong thửa vương xinh xắn trước mấy căn nhà mái rơm tao nhã, Văn Công nghĩ thầm:

"Công hầu vương bá mà chi, đời sống ẩn dật trong thâm sơn thiệt là an nhàn sung sướng".

Văn Công đang mông lung với cảnh vật nên thơ, thì một người trạc ngót tứ tuần tóc búi ngược, dong dỏng cao, nét mặt thanh tú, râu năm chòm đen lánh, dài xuống quá ngực, vận áo dài lụa xanh, dây lưng đen, từ trong nhà bước ra ngoài hành lang vái chào.

- Tôn ông muốn gặp tôi, phải không.

Văn Công đáp lễ :

- Tôi là Văn Công từ Thọ Xuân (kinh đô nước Sở) tới đây để trao lại hầu tiên sinh một bức văn thơ.

- Xin mời tôn ông vào nhà.

Chia ngôi chủ khách xong, Âu Dương Nghĩa hỏi :

- Kẻ ẩn dật sơn dã này còn có việc chi ở ngoài đời khiến tôn ông phải tốn công tới đây.

Văn Công lấy trong ngực áo ra một bức thư đưa cho Âu Dương Nghĩa :

- Lá thơ này do chính tay Sở Vương tự thảo, tiên sinh đọc sẽ rõ.

Âu Dương Nghĩa nhìn Văn Công dò ý, đỡ lấy bức thơ, bóc vội ra đọc.

"Thư rằng.

Sở Bình Vương gởi Âu Dương ẩn sĩ nhã giám.

Nghe danh hiền sĩ, Trầm muốn thân tới Thất Lý sơn bái thỉnh. Song lẽ công việc triều chính bộn bề không thể rời kinh thành, nên nhờ Văn khanh thay mặt thỉnh cầu hiền sĩ về triều cùng Trẫm thảo luận một việc trọng hệ. Mong hiền sĩ thể tình thu xếp lên đường ngay cùng Văn khanh. Chớ để Trẫm mong chờ.

Nay thỉnh".

Đọc xong, Âu Dương suy nghĩ biết không đi tất chẳng xong, vì không lẽ Văn Công đi có một mình. Lời lẽ trong thư tuy khiêm tốn nhưng ẩn một mệnh lệnh triệu gấp, chối từ sao nổi! Mình thì là một người biết đúc kiếm chớ đâu có tài tế thế an bang đến nỗi Sở Vương phải hạ mình cầu thỉnh.

Chắc mệnh lệnh đây không ngoài việc bắt ta đúc kiếm báu. Nghe nói Sở Vương uy dũng thiệt, nhưng tàn ác vô cùng mà vào tay người ấy thì có khác chi cọp thêm nanh vuốt tất hại nhiều cho thiên hạ. Thôi, việc tới đâu hay tới đó, bề nào cũng phải đi, sẽ tùy cơ ứng biến.

Từ nãy Văn Công vẫn im lìm ngồi chờ.

Âu Dương Nghĩa bèn nói :

- Phiền tôn ông ngồi dùng trà, tôi vào nhà trong thu xếp hành trang.

Văn Công gật đầu mỉm cười :

- Nếu vậy thì hay lắm, xe ngựa chờ cả ngoài kia rồi...

Tức thì Âu Dương Nghĩa vào nhà trong dặn dò vợ con. Rồi vác bọc hành lý cùng Văn Công ra khỏi nhà.

Văn Công vỗ tay mấy cái. Đoàn người ngựa võ trang đầy đủ từ góc núi tiến tới.

Họ Văn mời Âu Dương Nghĩa lên xe rồi ra lệnh trực chỉ kinh thành Thọ Xuân.

Về tới kinh đô, Văn Công lưu Âu Dương Nghĩa ở dinh mình khoản đãi và ngay ngày hôm sau vào triều kiến Sở Vương.

- Muôn tâu bệ hạ, ngu thần đã mời được Âu Dương Nghĩa về đây rồi, hiện y đang ở trong dinh.

Sở Vương cả mừng :

- Công lao của khanh rất lớn. Trẫm sẽ hạ chỉ đặc cách thăng hai trật và hậu thưởng. Nay khanh khá triệu y vào thẳng hậu cung để Trẫm xem mặt gấp.

Văn Công tạ ơn, tức tốc về dinh đưa Âu Dương Nghĩa vào chầu.

Sở Vương thấy Âu Dương Nghĩa tướng mạo tuy khô khan nhưng điềm đạm quắc thước, lấy làm đẹp ý, phán :

- Miễn đại lễ cho Âu Dương khanh, vừa mới đi đường xa mệt nhọc. Đáng lẽ phải để khanh nghỉ ngơi ít bữa, nhưng Trẫm mong gặp hiền sĩ cho thỏa lòng mong chờ, tưởng hiền khanh chẳng nên thế làm buồn.

Nhác thấy Sở Vương uy nghi, hung dữ, Âu Dương Nghĩa vòng tay tâu :

- Ngu thần quen sống nơi sơn dã không biết lễ phép chốn triều trung, cúi mong Bệ hệ thứ cho mọi điều sơ suất.

Sở Vương truyền mời hai người ngồi. Nội thị dâng yến.

Sở Vương mỉm cười hỏi Âu Dương Nghĩa :

- Chẳng hay hiền khanh đã hội được ý trẫm thỉnh về đây có mục đích gì không?

- Muôn tâu, kẻ hạ thần đang phân vân tư vấn mà chưa tìm được câu trả lời.

Vuốt râu đắc ý, Sở Vương cười ha hả :

- Dễ hiểu lắm! Trẫm là người ưa dùng kiếm, nghe danh hiền khanh là một thuật gia có tài đúc nổi báu kiếm, nên muốn nhờ hiền khanh giúp trẫm luyện một cặp Thư, Hùng trước là phòng thân, sau là bình thiên hạ, công ấy của khanh ắt không nhỏ.

- Dạ, ngu thần xin cố sức, song lẽ...

- Sao!

- ... Muôn tâu thì giờ luyện kiếm mất khá lâu và ngu thần phải về Thất Lý sơn mới có thể hoàn thành được.

- Cái đó không ngại. Trẫm chấp nhận điều kiện ấy. Nhưng ước chừng bao lâu?

- Muôn tâu, phải trên một năm mới hoàn thành nổi hai cây Thư, Hùng.

- Trên một năm, chớ nếu ba năm Trẫm cũng kiên tâm chờ đợi. Khanh cần dùng thứ gì, cứ việc bảo Văn Công lấy trong kho. Trẫm đặc cách cho khanh tùy nghi sử dụng.

- Muôn tâu, ngu thần cần hai mươi cân thép cực hảo, mười nén vàng y, năm nén bạc nguyên chất và mười cân đồng bạch hảo hạng.

- Được lắm!

Đưa mắt nhìn Văn Công, Sở Vương nói tiếp :

- Trẫm sẽ truyền lệnh cho viên quan coi kho. Còn việc giúp đỡ Âu Dương khanh. Trẫm hoàn toàn trông cậy ở Văn khanh khá mau lẹ, hồi triều kẻo Trẫm mong chờ.

Nói đoạn, Sở Vương truyền nội thị lấy nghiên bút ngự phê thăng thưởng hai người, cho phép Văn Công nghỉ ba ngày, thu xếp việc nhà rồi sẽ cùng Âu Dương Nghĩa trở về Thất Lý sơn.

Trong ba ngày, hôm nào Sở Vương cũng mời Âu Dương vào cung đãi yến cực kỳ hậu hĩ.

Âu Dương Nghĩa thừa hiểu Sở Vương sợ mình bỏ trốn nên cho Văn Công theo coi chừng. Thế là từ nay tấm thân an nhàn tự tại, bỗng trở thành cá chậu, chim lồng.

Sáng hôm thứ tư, Văn Công điểm quân tải đủ lương thực lên nhiều xe rồi cùng Âu Dương Nghĩa trực chỉ nẻo Thất Lý sơn.

Về tới nơi, Âu Dương Nghĩa bắt tay vào việc đúc kiếm ngay.

Còn Văn Công thì truyền quân đóng trại ở cách Âu Dương chừng vài trăm thước canh phòng cực kỳ nghiêm ngặt.

Âu Dương Nghĩa đúc hai cây đặt tên là Thư Hùng, Trảm Lư và một cây kiếm thường cách thức ý hệt thanh Hùng kiếm.

Hai chữ Thư Hùng bằng vàng dát ở chuôi kiếm, còn chữ Trảm Lư thì dát ở bao bằng đồng.

Hai năm sau mới hoàn thành, Âu Dương Nghĩa bảo vợ là Lý thị :

- Như hiền thê đã hiểu, việc đúc kiếm cho Sở Vương là ngoài ý muốn của ta. Nay công việc đã hoàn thành lẽ ra chỉ trao kiếm cho Văn Công mang về kinh sư Thọ Xuân cũng được, thì Sở Vương mời ta cùng đi.

- Sở Vương vốn tham tàn, nay được báu kiếm tất y sợ ta đúc kiếm cho người khác, nên nữa thế nào cũng hại ta. Vậy chuyến đi này vị tất đã hòng ngày về, có lẽ vợ chồng ta từ đây vĩnh biệt. Sau bao năm chăn gối, ta có được hai con trai, hiền thê khá trông nom chúng nên người để báo thù sau này, lấy được thủ cấp Sở Vương mới hả giận.

Âu Dương Nghĩa ái ngại thương cảm nhìn Lý thị khóc sướt mướt hồi lâu mới nghẹn ngào nói tiếp.

- Ta để lại nhà cây Hùng kiếm khi ta đi khỏi, hiền thê nên đem con và kiếm về quê ngoại vì ta e Sở Vương hại ta, nhưng sẽ nhổ cỏ nhổ rễ để tránh mối lo hiềm thù. Không thể nào có nổi cây báu kiếm thứ hai nữa, hiền thê khá giữ gìn cẩn thận cho con sau này báo thù. Chuyến đi đây lành ít dữ nhiều. Vậy sau khi ta đi rồi, hiền thê khá nghe lời kíp thi hành những điều căn dặn, dù có chết ta cũng được an tâm là dòng Âu Dương còn có kẻ nối dõi tông đường.

Lý thị khóc sướt mướt không nói lên lời.

Âu Dương Nghĩa gọi hai con âu yếm đặt ngồi lên đùi :

- Các con ở lại khá ngoan ngoãn nghe lời mẫu thân dạy bảo cho người được vui lòng nhé...

Âu Dương Thái năm đó ngót sáu tuổi, liền hỏi cha :

- Phụ thân còn đi đâu nữa, sao không ở nhà với mẫu thân con? Bao giờ về!

- Cha con đi có việc, lâu năm mới về, các con phải chăm chỉ học hành, nghe lời thân mẫu dạy bảo.

- Dạ, con chăm học nhưng sao mẫu thân lại khóc nhiều thế, thưa cha.

Âu Dương Nghĩa lòng đau như cắt, vuốt tóc trẻ thơ ngây :

- Thôi, con còn nhỏ dại chớ hỏi nhiều, lớn lên sẽ biết.

Âu Dương Tòng lên bốn, từ nãy vẫn há miệng nghe, u ơ hỏi cha :

- Phụ thân nhớ mua bánh về cho mẫu thân và chúng con ăn nhé :

- Ờ!... Cha sẽ mua... Thôi hai con ra sân chơi đi.

Âu Dương Nghĩa thần người ra nhìn hai con dắt tay tung tăng chạy vào sau nhà.

Lý thị òa lên khóc, quỳ trước chồng tam bái :

- Từ nay kể như âm dương cách biệt, xin chàng hãy chứng kiến cho lòng thiếp qua mấy lạy này. Vì hai hột máu dòng họ Âu Dương còn thơ ấu, thiếp phải tạm kéo dài chuỗi ngày tàn. Chàng sống khôn thác linh rán chờ thiếp chốn cửu tuyền.

Nàng nức nở gục xuống chân chồng.

Âu Dương Nghĩa đau đớn căm hờn xõa tóc rút Trảm Lư hùng kiếm cắt mớ tóc buộc vào chuôi kiếm gác lên đầu Lý thị rồi lẳng lặng bước ra khỏi phòng lấy hai thanh kiếm xuống thẳng trại quân Văn Công.

- Xong rồi, chúng ta có thể lên đường.

Văn Công mừng rỡ hối quân giở trại tức khắc khởi hành. Ngày đi đêm nghỉ, hơn một tháng sau về tới kinh thành Thọ Xuân.

Được tin Sở Bình vương cho mời hai người vào ngay trong nội sang đãi yến. Âu Dương Nghĩa quỳ dâng hai tay trường kiếm lên Sở Vương :

- Muôn tâu, nhờ đức lớn của Bệ hạ, ngu thần đã hoàn thành được hai cây Thư Hùng, Trảm Lư trường kiếm, dám mong với báu kiếm này. Bệ hạ sẽ bình thiên hạ, an trị muôn dân.

Sở Vương sung sướng nhìn cặp trường kiếm, thận trọng hỏi :

- Chẳng hay trước khi đem dùng, cặp kiếm báu này có tánh cách gì khác thường không?

- Muôn tâu, báu kiếm chém sắt như bùn. Bệ hạ dùng Thư trước thử xem, chừng nào cây Thư được khai kiếm uống máu người rồi sẽ thử tới cây Hùng thì không phải khai kiếm bằng huyết nữa. Lúc đó, Bệ hạ để hai lưỡi kiếm gần nhau tự khắc sẽ có tiếng run nhè nhẹ tựa hồ giọng huyền Thiên Thai... Nếu là kiếm giả tất không có tánh linh đó.

Sở Vương mừng rỡ nhìn chằm chặp vào mặt Âu Dương Nghĩa. Đoạn phá lên cười, tiếng cười lanh lảnh ghê sợ khác thường khiến bọn nội thị hầu tiệc khiếp đởm đưa mắt nhìn nhau. Ngay như Văn Công cũng thấy rùng mình vì trận cười sằng sặc như dao bén, quỷ quái như tiếng má từ âm tự bốc lên. Họ Văn khiếp đảm, cảm thấy việc chỉ hệ trọng kinh khủng sắp xảy ra tới nơi.

Tiệc yến kéo dài tới đầu canh một mới tan.

Sở Vương truyền nội thị đem văn phòng tứ bảo đến phê một đạo chỉ đặc cách phong Âu Dương Nghĩa lên chức Trung Đại phu trưởng ban đúc Ngự khí, rồi vuốt râu tự tay đưa cho Âu Dương mà rằng :

- Văn khanh có công tìm ra người tài đã đặc cách trật rồi nay Trẫm cũng đặc cách phong tước lớn để đền ơn Âu Dương khanh, và kể từ lúc này hiền khanh là người của triều ca Sở quốc.

Âu Dương Nghĩa quỳ lạy đón lấy đạo chỉ cắp vào ngực áo, nhưng Sở Vương phán :

- Khanh khá mở chiếu đọc ngay mới biết mình đã lãnh tước gì chớ.

Âu Dương Nghĩa lãnh đạm mở chiếu ra đọc lớn, rồi lạy tạ về chỗ ngồi.

Sở Vương cười ha hả :

- Âu Dương khanh đã vui lòng chưa?

- Dạ...

Sở Vương nhìn bọn nội thị phán :

- Các ngươi sang võ phòng bày giá võ khí ra chính giữa, đêm nay, Trẫm cao hứng muốn thử xem còn đủ dũng lực đáng làm chủ cặp báu kiếm này không.

Nội thị dạ rân, sang mở cửa phòng, nơi mà Sở Vương thường luyện võ trong cung.

Lát sau nội thị trở vào tâu :

- Tâu Bệ Hạ, võ phòng sẵn sàng rồi ạ.

Sở Vương đứng lên đưa tay mời Văn Công và Âu Dương Nghĩa :

- Nhị vị hiền khanh hãy theo Trẫm và nhận xét xem sức Trẫm thế nào?

Dứt lời, Sở Vương đi trước, Văn Công và Âu Dương Nghĩa theo sau.

Sở Vương cởi long bào cổn vắt lên lưng kỷ.

Văn Công và Âu Dương Nghĩa ngồi ở kỷ hai bên đấu án thơ.

Sở Vương tiến tới bên án cầm lấy thanh Thư kiếm, lạnh lùng hỏi Âu Dương Nghĩa :

- Hồi nãy khanh nói là có thể cây Thư trước phải không?

- Dạ!

Tuốt ra khỏi bao, Sở Vương lật đi lật lại lưỡi kiếm nhận xét rồi đi ra khỏi phòng hoa lên mấy đường, ánh kiếm loang loáng.

Thét lên một tiếng khiến mọi người giật mình, Sở Vương nhằm cây đại phủ cán sắt gài trên giá, chém mạnh :

- Soạt...

Cán đại phủ bị tiện đứt đôi, lưỡi phủ rớt xuống gạch kêu loảng xoảng. Thích chí, Sở Vương vẫn múa kiếm chém luôn một lát nữa tiện đứt đôi ngọn giáo dễ dàng.

Sung sướng, Sở Vương biểu diễn thành bài kiếm lùi dần lại nơi án thư, rồi nhân lúc xuất kỳ bất ý khai kiếm chém rụng đầu Âu Dương Nghĩa lăn lông lốc trên sàn gạch bông. Thây đổ ngả trên kỷ, máu từ cổ phun vọt lên như cầu vồng.

Văn Công giật nảy người, vội vàng chạy ra núp sau chiếc cột lớn, mặt xám ngắt.

Bọn nội thị tưởng Sở Vương say rượu giết càn cũng vội ùa chạy.

Nhưng Sở Vương ngừng tay kiếm nói lớn :

- Văn khanh và các ngươi đừng sợ, Trẫm hạ Âu Dương Nghĩa vì một lý do khác và nhân thể khai kiếm báu.

Nói đoạn, Sở Vương thản nhiên nhìn lưỡi kiếm thấy không dính máu thì khen thầm là bảo vật.

Tra Thư kiếm vào vỏ, Sở Vương rút cây Hùng kiếm, đoạn đi ra chỗ giá binh khí, múa lên vài đường nhưng lấy làm lạ nghĩ thầm :

- Quái, sao lưỡi kiếm này không phát lãnh khí như cây Thư.

Nghĩ vậy, nhà Vua liền nhằm lưỡi thanh đại đao, hao kiếm chém xuống.

Hai thứ kim khí chạm phải nhau chát chúa, tóe lửa nhưng lưỡi đao vẫn y nguyên, Sở Vương ngờ rằng mình chém nhẹ tay quá, bèn tận lực hạ luôn một nhát nữa.

Cũng như lần đầu không có hiệu quả!

Bực mình, nhà vua thâu kiếm lại nhìn thì càng thất vọng luôn.

Lưỡi kiếm nhụt và mẻ mất mấy miếng y hệt như kiếm thường.

Sở Vương suy nghĩ chợt hiểu ra là Âu Dương Nghĩa lừa mình chỉ đưa có một cây Thư kiếm, còn cây Hùng Kiếm là thứ giả, bởi vậy y mới dặn thử Thư kiếm trước, khai kiếm rồi hãy thử cây Hùng.

Sở Vương càng nghĩ càng căm tức. Tại sao Âu Dương Nghĩa lại tráo kiếm.

Dễ hiểu lắm! Vì y đoán biết mình sẽ giết hắn, nên hắn làm ra thất vọng :

- Giờ đây, y chết rồi thì còn ai đúc kiếm khác cho ta nữa.

- À! Không lẽ nào Âu Dương Nghĩa chỉ đúc một cây Thư kiếm. Chắc thanh Hùng kiếm còn lại trong nhà y ở Thất Lý sơn. Ta phải thân chinh đi lấy mới được.

Nghĩ đoạn, Sở Vương liệng thanh kiếm nhụt xuống gần thủ cấp Âu Dương Nghĩa rồi gọi :

- Văn khanh.

Từ này, Văn Công và bọn nội thị ai nấy đều nơm nớp lo sợ không hiểu rồi đây Sở Vương sẽ nhằm người nào mà khai thứ kiếm quái ác ấy nữa, nên Văn Công giật mình đánh thót một cái từ từ bước ra khỏi chỗ ẩn nấp :

- Muôn tâu, Bệ hạ có điều chi dạy bảo.

Trông thấy thái độ sợ sệt của Văn Công, Sở Vương phát tức cười :

- Khanh là thủ túc của Trẫm việc chi mà sợ? Âu Dương Nghĩa đã lừa ta. Y tráo cây Hùng kiếm giả. Sớm mai, Trẫm thân chinh đi Thất Lý sơn khám xét nhà y tìm thanh Hùng Kiếm thật. Văn khanh khá sửa soạn vệ quân. Tất cả trá hình thành khách thương để mọi người khỏi chú ý đến ta.

Văn Công lạy tạ lui về dinh. Sở Vương cũng cầm thanh Thư kiếm trở về hậu cung an nghỉ.

Hôm sau, Sở Vương và Văn Công lên đường đem theo hai mươi viên tùy tướng kéo dốc vào Thất Lý sơn. Văn Công cưỡi ngựa dẫn đường. Lúc tới nơi, thì toàn khu nhà Âu Dương Nghĩa trước kia gọn gàng xinh xắn như vậy mà nay chỉ còn là đống tro tàn. Những luống bông, đẹp đẽ đã bị cỏ mọc lấn khắp mọi nơi.

Sở Vương và Văn Công xuống ngựa trong khu đất bước lên những miếng tường nhà đổ nát tần ngần xem xét. Mấy con sóc núp dưới đống gạch vụn bị động chạy vụt vào các bụm cây bên vách núi.

Sở Vương khẽ gật đầu nói một mình :

- Âu Dương đoán được ý ta nên đã sửa soạn đủ cả trước khi đi! Đáng tiếc.

Quay lại nhìn Văn Công đứng ở phía sau, Sở Vương hỏi:

- Trước khi rời Thất Lý sơn, văn khanh có nhận thấy gì khác ở Âu Dương Nghĩa không?

- Muôn tâu y rất thản nhiên nên ngu thần không nghi ngờ chi cả.

- Đã đành, ngay đến Trẫm đã dự tính trước mà còn nhầm. Mất công mà không toại ý. Thôi về khanh.

Nói về Lý thị, khi Âu Dương Nghĩa vừa đi được ít ngày, tức khắc thu xếp mọi vật trong nhà cùng người lão bộc là Trương Đức đem hai con trai và tiểu đồng về quê ở Kinh Luân huyện thuộc nước Hàn. Trước khi đi, Lý thị bảo Trương Đức hỏa thiêu nhà cũ rồi mới lên đường. Ngoảnh lại trông ngọn lửa bốc cao thiêu rụi nơi tổ ấm trong khi người chồng thân yêu xa vắng nơi quê người không biết sống chết thế nào, Lý thị lòng đau như cắt, lệ mờ khóe mắt trung trinh.

Về quê ngoại được mấy ngày, một đêm mưa gió lạnh lẽo, nàng chong đèn ngồi bên giường khâu áo cho con và thỉnh thoảng âu yếm nhìn hai trẻ nhỏ ngây thơ ngủ say sưa. Trông con nhớ đến chồng, nàng gạt lệ đau thương. Nàng khâu, khâu mãi đến khuya bất giác, mệt mỏi quá, ngủ gục bên con lúc nào không biết. Bỗng gió thổi tung hẳn cánh cửa phòng, Lý thị giật mình vội vã chồi dậy định ra đóng cửa thì một người tóc rối bời rủ xuống mặt từ ngoài sân đen tối lù lù bước vào. Người đó tiến đến bên ngọn đèn dầu leo lắt đứng thẳng nhìn mẹ con Lý thị. Nhờ ánh đèn, nàng kinh ngạc nhận ra nét mặt âu sầu của chồng, người chồng yêu quý mà hàng ngày nàng đếm từng phút giây đợi từng giờ...

Nhưng lạ thay! Coi kìa, sao cổ chàng lại có một vệt đỏ chạy quanh máu từ vệt ấy vẫn còn thấm lần lần nhỏ giọt xuống án. Sắc mặt chàng trắng bệch.

Lý thị gọi :

- Lang quân.

Mừng mừng tủi tủi, nàng đưa tay định ôm lấy chồng thì Âu Dương Nghĩa vội vàng lùi lại ra hiệu bảo nàng ngồi nguyên ở giường.

Nghi hoặc, Lý thị gọi nữa :

- Kìa, lang quân! Làm sao vậy.

Âu Dương Nghĩa lẳng lặng nhúng tay vào ly nước để bên ngọn đèn viết ba chữ lên mặt bàn.

Viết xong chàng vẫy tay ra dáng từ biệt vợ con lùi dần ra cửa.

Lý thị thấy chồng bỏ đi, hoảng quá, vùng dậy đuổi theo nhưng một luồng gió mạnh thổi thuốc vào phòng bung cả rèm cửa khiến nàng lạnh quá tỉnh dậy, ngơ ngác nhìn quanh... Không, ngoài trời im lặng như tờ, không hề mưa gió... Then cửa cài chặt, căn phòng ấm cùng như thường. Trên giường, ngay bên nàng hai trẻ nhỏ vẫn ngủ say, hơi thở đều đều.

Ồ, thì ra một giấc chiêm bao! Nàng mệt quá, ngủ thiếp đi mở thấy chồng về, tay nàng còn cầm chiếc áo khâu dở dang.

Nhưng kỳ thay, sao tóc chàng rũ rượi, sắc mặt trắng bệch, đầu tử khí, cổ vấy máu... Sao? Hay là... Chợt nhớ ra điều gì Lý thị vùng đứng dậy lên nhìn xuống chiếc mặt bàn nhỏ nơi mà vừa đây chồng nàng nhúng tay vào ly nước viết mấy dòng chữ... Ồ! Nét chữ hãy còn rành rành trên mặt bàn. Lý thị cúi xuống đọc:

"Sở Vương sát!"

Nàng hiểu ngay. Chồng nàng chết rồi nên linh thiêng về báo mộng cho mẹ con nàng biết kẻ sát nhân là Sở Vương tàn ác.

Đau đớn quá, Lý thị lăn ra giường vùi đầu xuống mền khóc không ra tiếng...

Âu Dương Thái chợt tỉnh ôm chầm lấy cổ mẹ thỏ thẻ :

- Mẫu thân à, con thấy phụ thân về bảo con báo thù, dặn con hỏi mẫu thân tên kẻ thù là gì...

Lý thị gạt nước mắt ôm lấy con, nói nhỏ :

- Lớn lên con sẽ biết...

- Ồ, sao mẫu thân lại khóc kìa!

- Ngủ đi con, kẻo em nhỏ mất giấc bây giờ, nằm xuống đây ngủ đi, mẹ thương.

Âu Dương Thái ngoan ngoãn theo lời mẹ.

Lý thị không khóc nữa. Bây giờ nàng đã biết sự thật, qua giấc chiêm bao, nhưng nàng căn cứ ba chữ mà chồng nàng đã hiện về báo thù viết trên bìa còn rõ rành rành! Mẹ con nàng phải tính cách báo thù.

Hôm sau, Lý thị phát tang lấy chiếc bàn nhỏ kê giữa nhà làm bàn thờ. Kỳ thay, ba chữ "Sở Vương sát" viết bằng cặn nước trà mà nay thẫm lại, rõ rệt như viết bằng sơn lau chùi cũng không đi được.

Lý thị lấy cây Trảm Lư hùng kiếm vẫn có mớ tóc buộc ở chuôi dựng trên bàn thờ, sớm tối thắp hương cầu nguyện.

Một hôm, Lý thị đang ngồi dạy hai con học thì bỗng nghe thấy tiếng trẻ trong thôn reo ầm ầm ngoài cổng và có tiếng hát.

"Ai ơi muốn báo thù chồng.

Cho con học tập gánh gồng theo ngay.

Ai ơi muốn báo thù cha.

Theo về Thất Lý lạy ta làm thầy".

Giọng hát ấm áp như tiếng chuông vàng. Lý thị lấy làm lạ không hiểu cây ngụ ý gì bèn giắt hai con đi ra cổng nhà xem.

Thì ra người có giọng tốt ấy là vị đạo nhân râu tóc trắng như cước, sắc diện hồng hào, vận đạo bào thiên lý, lưng đeo bầu nước, chống gậy trúc đi vừa nghêu ngao hát mấy câu trên.

Bọn trẻ trong thôn lấy làm lạ nên kéo nhau theo sau xem.

Đạo nhân hát một lần nữa.

Lý thị nghe rõ ràng lấy làm kỳ lạ bèn bảo Âu Dương Thái :

- Con hãy chạy ra mời đạo nhân vào nhà.

Âu Dương Thái vâng lời chạy tới trước mặt lão đạo nhân vái chào :

- Kính thưa sư phụ, gia mẫu mời người vào nhà lãnh giáo.

Đạo nhân dừng bước nhìn kỹ tiểu thị :

- Nhà con ở đâu?

Âu Dương Thái chỉ tay về phía nhà mình :

- Thưa sư phụ nhà con ở kia, mời người theo con.

Đạo nhân khẽ gật đầu, bảo :

- Con đi trước, ta theo sau ngay. Nhưng con tên là gì?

- Tên con là Âu Dương Thái.

Tiểu nhi nói đoạn đi trước, dẫn đường, đạo nhân mỉm cười theo sau.

Qua cổng vào tới nhà ngoài, Lý thị giắt tay Âu Dương Tòng lạy chào :

- Mẹ con ngu muội không hiểu câu hát của sư phụ, xin người vui lòng chỉ dẫn cho.

Lão đạo nhân lặng lẽ nhìn Lý thị và hai tiểu nhị vận đồ tang chỉ :

- Bàn thờ lệnh phu quân đâu.

Lý thị rơm rớm nước mắt :

- Thưa sư phụ, ở nhà trong.

- Bần đạo có thể vào bái linh hồn người được không?

- Dạ, nhưng xin sư phụ chước đi cho.

Lão đạo nhân cầm tay Âu Dương Thái đi thẳng vào nhà trong, đứng trước bàn thờ lặng lẽ nhìn hồi lâu rồi châm mấy nén nhang, cầm lấy cây Trảm Lư nhìn qua, đưa cho Âu Dương Thái mà rằng :

- Tiểu nhi muốn báo thù cha hãy đỡ lấy kiếm linh này lạy trước bàn thờ.

Âu Dương Thái rất tinh khôn, theo lời lão đạo nhân đứng bên lẩm bẩm nhỏ những gì không nghe rõ.

Trong giờ khắc nghiêm trọng, Lý thị cũng cùng Âu Dương Tòng quỳ xuống bên bàn thờ khấn vái linh hồn chồng chứng minh.

Lão đạo nhân khấn xong bảo mẹ con Lý thị đứng dậy, đỡ lấy cây trường kiếm tháo mớ tóc của người xấu số đặt lên bàn thờ và nói rằng :

- Bần đạo là Thất Lý đạo nhân tu ở trên đỉnh núi cuối dãy Thất Lý sơn. Trước đây linh cố phu quân đã có nhiều lần tới đó cùng nhau đàm đạo. Một hôm, bần đạo xuất sơn vân du vừa đi đến đầu Thất Lý sơn thì thấy người nước Sở đi cầu hiền đãi bén mách bảo những mong Sở Vương biết tài kẻ sĩ thâu dụng lệnh phu quân, ngờ đâu khi trở về qua nơi nhà cũ thấy đã bị hỏa thiêu. Bần đạo liền qua Sở thăm dò mãi mới tìm được Văn Công là xứ của Sở Vương. Bần đạo lập mưu khiến họ Văn phải thú thật việc Sở Vương đã manh tâm hãm hại lệnh phu quân. Nhớ rằng trước kia đã có lần lệnh phu quân cho biết rằng quê ngoại ở Kinh Luân huyện bên nước Hàn, nên Bần đạo tìm tới đây có ý muốn thâu lệnh lang làm đồ đệ để sau này đủ tư cách báo thù. Tự xét, Bần đạo thấy có phần trách nhiệm trong việc Sở Vương sát hại Âu Dương hiền sĩ vì chính bần đạo mách bảo Văn Công tới nhà Âu Dương. Nay thâu lệnh lang làm đồ đệ, bần đạo thấy lương tâm áy náy phần nào.

Âu Dương Thái nghe lão đạo nhân thuật lại chuyện xưa, bèn quỳ xuống lạy mẹ cho phép theo người về núi học đạo sau này báo thù.

Lý thị rất đỗi thương con còn nhỏ dại đã mồ côi cha, nay lại xa mẹ, nhưng biết làm sao? Nếu không cho con bái sư vào núi thì còn chờ việc nào tốt hơn nữa.

Lý thị chợt nhớ ra điều gì, liền giắt con đứng lên :

- Việc báo thù là bổn phận của mẹ con ta, Mẹ rất mừng thấy con chí khí, vậy để mẹ thưa lại một điều với sư phụ đây xem người dạy thế nào.

Thất Lý đạo nhân hỏi :

- Chẳng hay phu nhân có điều chi thắc mắc.

Lý thị nói :

- Mẹ con đệ tử vốn cư ngụ ở Thất Lý sơn đã lâu rồi, nay trở về, nhân tiện trông nom Âu Dương Thái theo sư phụ học hành có được không?

- Cũng được, nhưng không nên ở nơi nhà cũ vì Sở Vương hiện thời còn sống. Chi bằng lên cả trên núi ẩn danh mới được.

Lý thị bèn giắt Âu Dương Thái quỳ lạy đạo nhân :

- Kham khổ thế nào cũng được, miễn là Thái nhi có chốn học hành và mẹ con không phải xa cách nhau, vậy xin sư phụ hãy nhận lễ biết ơn của mẹ con đệ tử.

Thất Lý đạo nhơân đỡ mẹ con Lý thị dậy :

- Phu nhân liệu thu xếp hành trang, ba ngày nữa bần đạo sẽ trở lại đây rước đi.

Dứt lời, đạo nhân ra đi.

Lý thị bàn với lão bộc Trương Đức và người nhà rồi thu xếp cùng đạo nhân trở lại Thất Lý sơn dựng một ngôi nhà cỏ ở gần am thiên tạm trú trong thời gian hai anh em họ Âu Dương cùng thọ giáo.

Mười năm sau, lúc bấy giờ nước Sở đã mạnh, Bình Vương thi hành chương trình bình thiên hạ. Mục tiêu đầu tiên là diệt Hàn lấy lối đi.

Đoàn viễn chinh quân đóng trại trùng trùng điệp điệp cả ngoài kinh thành Thọ Xuân, chỉ còn chờ ngày lành là Sở Vương ra tế cờ thân chinh.

Ngay dịp đó, một hôm bỗng có hai đạo sĩ một già râu tóc bạc phơ Tiên Phong đạo cốt, đai giắt hồ lô, một trẻ trạc độ mười chín đôi mươi, mi thanh mục tú, lưng đeo trường kiếm, đủng đỉnh đi đến trước Ngọ môn cười sằng sặc xong rồi lại khóc một lúc.

Vệ Quân lấy lạ bèn chạy ra hỏi :

- Hai đạo sĩ điên rồi này sao lại tới chỗ cấm địa này mà cười cười khóc khóc? Biết điều đi nơi khác ngay.

Lão đạo sĩ điềm đạm nói :

- Bộ các ngươi thì biết gì mà hỏi lôi thôi! Ta muốn đi thì đi muốn đứng thì đứng, cấm làm sao được? Tiếc thay cho vị minh quân sắp xuất chinh mà ngu tối không hiểu gì cả...

Một vệ quân trừng mắt quát :

- Mấy nhà tu hành gàn dở này đi ngay, coi chừng phạm tội khi quân rụng đầu đó nghe.

Hai đạo sĩ vẫn đứng nguyên chỗ tiếp tục việc "khóc, cười".

Vệ quân bực mình đẩy hai người ra chỗ khác, nhưng lạ thay cả hai càng đứng vững như núi, lay không chuyển.

Viên trưởng đoàn lấy làm kỳ dị nghĩ thầm, chưa biết chừng hai đạo sĩ là bậc dị nhân có ích cho việc xuất chinh của Nhà vua, bèn vội vàng vào báo tự sự cho Sở Vương.

Lúc đó thì nhà vua đang sắp sửa dùng Ngọ phạn, nghe báo lấy làm lạ, tò mò truyền vệ quân điệu hai đạo sĩ đó vào nội điện.

Sở Vương nghĩ thầm :

- Quả nhân vẫn muốn thâu những bực dị nhân có thể giúp ích cho cuộc trường chinh sắp tới đây, biết đâu không phải là hai người này.

Nghĩ vậy, Nhà vua liền truyền hoãn dọn bữa, chờ xem bọn đạo sĩ làm gì.

Lát sau, vệ quân dẫn đạo sĩ vào tới nơi. Hai người nhìn Sở Vương không chớp mắt hồi lâu bỗng quỳ cả xuống bái kiến, Lão đạo sĩ nói :

- Cúi xin minh quân tha tội mạn thượng cho, nhưng bần đạo vân du khắp thiên hạ mà đến nay mới thấy Thánh thượng quý tướng dáng ngôi Hoàng đế trị vì thiên hạ thâu gồm chư hầu về một mối giang san, hiềm có một điều...

Trúng tâm lý, Sở Vương khoan khoái thân đỡ hai đạo sĩ dậy, ban kỷ cho ngồi, ngắm nghía nhận xét thấy hai đạo sĩ quả rất đạo mạo tiên cốt, lấy làm đẹp ý hỏi rằng :

- Nhị vị đạo hiệu chi, từ đâu qua đây? Có thuật chi giúp quả nhân trong cuộc thân chinh này?

Lão đạo sĩ nói :

- Muôn tâu, bần tập tu ở Thái Hàng sơn, đạo hiệu là Kiếm Phong, còn ngu đồ là Kiếm Vân, nay y đã tứ tuần...

Sở Vương ngạc nhiên ngắt lời :

- Tứ tuần! Sao còn trẻ như người mới đôi mươi vậy?

- Muôn tâu, bần đạo nghiên cứu thuật trường sanh bất lão, mãi sau này mới đạt được kết quả nên thử áp dụng cho Kiếm Vân, bởi vậy y mới được trẻ mãi từ năm mười tám cho đến nay không hề thay đổi.

- Riêng phần bần đạo thì chỉ được trường sanh chớ không được trường thiếu. Năm nay ngót chín mươi ba tuổi mà còn tinh tường khỏe mạnh như thế là nhờ thuật đó.

Sở Vương mừng rỡ :

- Tiên trưởng có thể giúp quả nhân được không?

Muôn tâu, chuyến này từ Nam Hải qua Sở cũng vì coi thiên văn thấy Đế tinh chói sáng ở đây, nên bần đạo cũng có ý giúp Bệ hạ đúng vận mạng người có tướng tinh được hưởng thì sẽ thất đức, nên bần đạo phải thận trọng.

Sở Vương gật đầu ngẫm nghĩ giây lát :

- Cớ sao tiên trưởng lại khóc, cười trước Ngọ môn vậy :

- Muôn tâu nếu không mạo muội thì làm sao được vào bệ kiến ngay.

Sở Vương đắc ý mỉm cười :

- Bây giờ Trẫm phải theo điều kiện gì để được hưởng trường sanh bất lão.

- Thưa rất khó và cũng rất dễ tùy theo trường hợp của từng người. Trước hết, bần đạo cần có một chiếc vạc dầu cỡ trung bình, sau là hai chiếc sọ người.

Sở Vương giật mình hỏi :

- Sọ người!

Lão đạo sĩ khẽ gật đầu chậm rãi :

- Muôn tâu, chính vậy. Hai sọ người. Một cái của tên tử tù và một cái của thuật gia đúc võ khí. Có vậy thôi. Sở dĩ bần đạo nói là khó vì kiếm đâu ra sọ thuật gia đúc võ khí.

Sở Vương liên tưởng đến đầu Âu Dương Nghĩa năm xưa, bèn gật gù phán rằng :

- Được, Trẫm có thể cho kiếm ngay được. Chừng nào tiên trưởng thi hành? Trẫm sắp xuất chinh, không chờ được lâu.

- Muôn tâu, ngay đêm nay, giờ Tý trong một căn phòng kín đáo chỉ có Bệ hạ và chúng bần đạo.

Sở Vương ưng thuận, lưu hai đạo sĩ lại trong cung ban tiệc chay và ngay chiều hôm đó đòi Văn Công vào chầu truyền lệnh lấy sọ Âu Dương Nghĩa và sọ một tên tử tù.

Văn Công lúc đó thăng tới chức Tư Mã Đại Phu lấy làm ngạc nhiên hỏi nhà vua, nhưng Sở Vương giấu nhẹm, không trả lời rõ.

Tuy vậy, chung quanh võ phòng là nơi đặt vạc dầu, Sở Vương cũng cắt đặt vệ quân canh phòng nghiêm ngặt.

Đêm hôm ấy, hai đạo sĩ thiệt ra là Thất Lý đạo nhân và Âu Dương Thái vận đạo bào trông coi đun vạc dầu cho thiệt sôi.

Trên án thư gần đó để chiếc khay bày hai đầu lâu phủ vải trắng.

Đúng giờ Tý, Sở Vương vận thường phục tới. Thất Lý đạo nhân nói :

- Muôn tâu, bệ hạ tự tay bê chiếc khay này bày lên án thờ và thắp hương khấn theo nguyện vọng của bệ hạ.

Sở Vương lặng lẽ theo lời.

Chờ nhà vua khấn xong, Thất Lý đạo nhân và Âu Dương Thái cũng quỳ xuống trước bàn thờ, cũng khấn lẩm nhẩm hồi lâu, lão đạo nhân đứng lên giả đò đọc chân ngôn thần chú bùa trên hai đầu lâu, rồi mở hẳn vuông vải trắng ra thấy đề ở chiếc sọ bên tả Hoàng Vượng. Còn chiếc bên hữu thì đề Âu Dương Nghĩa.

Uất hận trào lên tận cổ Âu Dương Thái cố dằn lòng điềm tĩnh hành lễ theo mưu kế do Thất Lý đạo nhân vạch sẵn.

Trước hết, Âu Dương Thái trịnh trọng bê chiếc đầu lâu Hoàng Vượng nhẹ tay thả vào vạc dầu.

Thất Lý đạo nhân nói với nhà vua :

- Tâu bệ hạ, chừng nào bần đạo rắc thuốc làm phép, nếu có khói bốc lên thì bệ hạ khá cúi đầu trên mặt vạc dầu hô hấp lấy thứ khói đó cho ngấm vào lục phủ ngũ tạng. Hết khói mới ngừng để chờ giai đoạn thứ hai.

Nói đoạn, lão đạo nhân dốc hồ lô đổ ra mấy hoàn thuốc trắng, liệng từng hoàn một vào vạc dầu, lẩm nhẩm đọc chân ngôn, tay bắt quyết.

Quả nhiên, lát sau, một lần khói trắng từ chiếc đầu lâu lững lờ bay lên. Sở Vương đứng chờ sẵn bên vạc dầu liền cúi xuống thật tình hô hấp làn khói kỳ diệu ấy để được... trường sinh bất tử.

Thừa dịp nhà vua đang mải miết với làn khói... nhiệm mầu, Âu Dương Thái lẹ như chớp, tuốt Trảm Lư hùng kiếm quát lớn :

- Ác vương, coi con Âu Dương Nghĩa báo thù.

Một làn kiếm hoa lên, đầu Sở Vương rụng xuống vạc dầu đang sôi sùng sục thịt bị bở hẳn ra, rữa rất mau lẹ. Còn xác thì đổ sang bên, máu phun như suối.

Theo kế hoạch thì Âu Dương Thái phải lặng lẽ hạ sát Sở Vương nhưng trong lúc trông thấy đầu lâu của người cha thân yêu, chàng thanh niên uất hận không dằn được lòng nữa, mới quát lớn để cho kẻ thù biết là dòng họ Âu Dương báo thù.

Biết Âu Dương Thái nóng giận làm lộ chuyện, Thất Lý đạo nhân vội vàng sắn đạo bào lên, bọc đầu lâu Âu Dương Nghĩa vào tấm vải trắng toàn mở cửa đi ra, thì viên Vệ tướng có trách nhiệm canh phòng bất trắc ở ngoài cửa chợt nghe thấy tiếng quát, nên tự ý mở cửa ló đầu nhìn vào thấy Sở Vương bị sát hại, y tuốt đao nhảy xổ vào định bắt sống hai đạo sĩ. Chẳng ngờ Âu Dương Thái đã lẹ tay hơn đưa luôn lát kiếm trúng cổ, đầu vệ tướng bắn luôn vào vạc dầu rữa nát trong nháy mắt như đầu Sở Vương. Thất Lý đạo nhân vội kéo tay Âu Dương Thái chạy ra ngoài đóng cửa lại cẩn thận rồi băng mình vào bóng tối đi thẳng.

Đồng bọn vệ quân đi tuần quanh khu điện ấy, lúc trở về không thấy viên Vệ tướng đâu cả lấy làm lạ, tìm quanh quẩn cũng vô hiệu nghiệm, bèn đánh bạo mở cửa vô phòng nhìn vào. Thấy Sở Vương và viên Vệ tướng bị ám sát, chúng hoảng hồn chia nhau ra, kẻ vào nội cung đánh phèng la báo động, kẻ đi lùng bắt thích khách...

Nhưng bắt sao được! Thầy trò Âu Dương Thái đã cao chạy xa bay ra khỏi hoàng cung, nhằm nẻo Thất Lý sơn.

Khi toàn thể hoàng cung và bách quan được báo vào tới võ phòng thì trong vạc dầu chỉ trơ ra ba chiếc đầu lâu trắng hếu, không ai phân biệt nổi đâu là đầu Sở Vương, đầu Vệ tướng hay là đầu Hoàng Vượng đâu nữa. Bách quan đành bàn kế là phải chôn cả ba chiếc sọ với xác Sở Vương. Bởi vậy, người sau khi nhắc tới nước Sở đều nói: "Sở quốc tôn hữu tam mộ đầu".

Sở Vương đã mất, cuộc xuất chinh đành bỏ dở. Nhờ cuộc báo thù của họ Âu Dương, bao nhiêu sanh linh liệt quốc đỡ bị vong mạng vì chinh chiến.

Nói về thầy trò Âu Dương Thái về tới Thất Lý sơn, Lý thị mừng rỡ vì mối thù huyết đã báo phục, nhưng khi trông thấy đầu chồng thì người tiết phụ ấy lăn ra khóc thương thảm thiết đến chảy cả nước mắt.

Âu Dương Thái bàn với mẹ đem chôn đầu cha ở sau ngôi nhà cũ, và cất luôn một ngôi nhà khác lên nền móng xưa để ba mẹ con cùng ở.

Về sau, Thất Lý đạo nhân mất, Âu Dương Thái tình nguyện thể phát nối nghiệp sư phụ tu luyện thiền am, lấy pháp hiệu là Âu Dương đạo nhân.

Nhiều năm sau, Lý thị mất, Âu Dương Tòng đeo Trảm Lư hùng kiếm đi chu du thiên hạ và không thấy ai nói tới nữa vì tiểu sử cây báu kiếm đến đây là hết...

Nghe Chu Đức Kiệt kể chuyện tới đây mọi người đều lấy làm thích thú.

Nhấp ly nước trà do Âu Dương Bích Nữ rót, Đức Kiệt nói tiếp :

- Không hiểu tại sao thanh Hùng kiếm này lại lạc ra khỏi họ Âu Dương. Đến đời Đường, Tần Vương Lý Thế Dân ham cây Hùng kiếm ấy cho viên kiện tướng dày công hãn mã phò họ Lý là Chu Đức Qui tức là nội tổ nhà họ Chu chúng tôi.

Chu gia giữ mãi báu kiếm này, đến đời Chu Tam Úy thời Nam Tống bỏ võ theo văn, thì tặng cho Nhạc Phi báu kiếm còn lưu lạc một thời gian mới về tay họ Tề Quân. Và bây giờ lại về tay Chu gia chúng tôi, nhưng theo ý gia muội Lam Y có lẽ muốn hoàn lại họ Âu Dương, tặng cho Bích Nữ.

- Nhà ta người nào cũng có Tòng, phải chăng là dòng dõi của Âu Dương Tòng thời Xuân Thu Chiến Quốc thưa nhạc phụ.

Trại Mạnh Thường trầm ngâm nói :

- Trở về nước không biết được, nhưng từ tàn Đường về đây thì thế hệ nào, họ Âu Dương cũng có chữ Tòng.

Lam Y nói :

- Còn một sự liên lạc khá dị kỳ nữa.

Âu Dương Tòng Cát hỏi :

- Điều chi vậy?

Lam Y nhìn mọi người, chậm rãi nói :

- Thanh Trảm Lư hùng kiếm trước đây đã được Nhạc Phi dùng. Hiện nay dòng họ Nhạc còn có Nhạc Lan Anh ở Kim Lăng. Song thân Lan Anh là Nhạc Hoành và phu nhân cũng bị tên gian vương hãm hại.

- Đến nay, Tề tiên sinh cũng có thù với Vĩnh An mà lại trao cây Trảm Lư cho chúng tôi báo oán hộ, phải chăng việc báu kiếm xưa kia đã do cao tổ nhà họ Nhạc dùng, nay sẽ uống máu kẻ gian ác sát hại con cháu họ Nhạc, chẳng là một sự liên lạc kỳ dị hay sao.

Lam Y nói đoạn, hay tay cầm lấy cây Trảm Lư đưa đến trước mặt Âu Dương Bích Nữ :

- Ngu muội vẫn ao ước tặng tẩu tẩu một bảo vật vô giá, vậy xin nhận lấy kiếm báu này và lãnh luôn trách nhiệm rửa hận cho Tề tiên sinh và họ Nhạc luôn thể.

Âu Dương Bích Nữ hân hoan đỡ lấy kiếm :

- Điều này còn cần có sự ưng thuận của Tề tiên sinh.

Tề Quân Bảo đứng lên cung xá :

- Tôi vừa được nghe lệnh hôn phu Chu đại hiệp thông kim báo cổ lai lịch Trảm Lư kiếm thì nay tiểu thư làm chủ Hùng Kiếm cũng rất xứng đáng. Mục đích của tôi là cốt sao trả được thù nhà.

Âu Dương Bích Nữ nghiêm nghị đáp :

- Tiên sinh có thể tin được ở tôi. Tôi sẽ vì đại danh của Lam Y nữ hiệp hoàn tất vụ này.

Lão anh hùng Trại Mạnh Thường nói :

- Từ trước tới nay, chủ trương của võ Thiếu Lâm tự là công phu căn bản chớ không có sưu tầm bảo khí. Nay tiện nữ nhận được báu kiếm quả là ngoài sự mong ước của môn đồ Thiếu Lâm. Nhân lúc này trước sự hiện diện của Tề Quân Bảo, người con gái của dòng họ Âu Dương cũng nên thử vài đường kiếm xem sao, trước là múa vui sau là kiểm soát lại công phu luyện tập xem có đủ khả năng dùng thứ kỷ vật ấy không.

Âu Dương Bích Nữ mỉm cười đứng lên trước sự hoan hô của mọi người.

Lam Y mỉm cười đẩy kỷ đứng lên theo :

- Đã vậy, tôi xin cùng Âu Dương tẩu tẩu bạt kiếm mới làm nổi bật được công phu luyện tập tiềm tàng của môn phái.

Chu Đức Kiệt đưa mắt nhìn Tòng Cát, Tòng Đức mỉm cười.

Âu Dương Tòng Cát nói :

- Không ngờ lại được xem hai kỳ nữ Nam, Bắc tranh hùng, Tề tiên sinh may mắn lắm đó.

Trại Mạnh Thường nói :

- Nếu vậy ta nên ra võ sảnh rộng hơn, hợp hơn.

Lam Y nữ hiệp trở về phòng lấy Thái Dương kiếm.

Tòng Đức sai thể nữ vào báo với Âu Dương phu nhân biết cuộc giao đấu giữa Âu Dương Bích Nữ và Lam Y, và thỉnh phu nhân ra xem.

Một mặt chàng cho gia nhân báo với các thực khách trong trang biết.

Thế là chỉ trong nháy mắt toàn thể mọi người trong trang đã kéo đến tụ tập đông đủ tại nơi võ sảnh rộng rãi, dự cuộc so kiếm hãn hữu đó.

Lão anh hùng Trại Mạnh Thường và phu nhân đứng giữa Tòng Cát, Tòng Đức đứng bên tả, Chu Đức Kiệt và Tề Quân Bảo đứng bên hữu. Mọi người dàn cả hai bên bao bây khắp võ sảnh.

Lam Y vận võ phục đen tuyền, lưng cài trường kiếm Thái Dương.

Âu Dương Bích Nữ vận võ phục đỏ sẫm bông trắng, gài Trảm Lư hùng kiếm.

Cả hai cùng đẹp lộng lẫy, cái đẹp của bực anh thư cân quắc, theo nhau bước vào võ sảnh giữa tràng pháo tay vang dậy.

Lam Y đứng sang hướng Bắc, Âu Dương Bích Nữ xoay lưng về hướng Nam.

Trại Mạnh Thường thấy mọi người đã sẵn sàng, liền vỗ tay ra hiệu khai đấu.

Hai hiệp nữ cùng đến trước mặt lão anh hùng cung bái, rồi trở về bộ vị cũ. Lam Y nói :

- Xin mời Âu Dương tẩu tẩu:

Cô gái Thiếu lâm hé miệng tươi như bông phù dung, lộ hàm răng ngà đều đặn :

- Kính mời hiền muội.

Cả hai cùng nhịp nhàng tiến ra giữa sảnh đảo quyền bái chào.

Cử tọa im phăng phắc theo dõi.

Chào nhau xong, hai hiệp nữ cùng đảo người đi một vòng, rút phắt cây báu kiếm, lưỡi sáng long lanh.

Lam Y đảo Bắc Cước Ngọc Hoàn Bộ chuyển sang Chảo Mã Tấn cầm ngược kiếm bái tổ.

Âu Dương Bích Nữ thoăn thoắt đưa chân theo Tung Sơn Mai Hoa cước tiến tới, hai tay cặp ngang lưỡi Trảm Lư rồi đảo sang Chảo Mã Tấn bái tổ, chào lại.

Một người như hồng loan, một người như lam phượng, đứng im như tượng thạch, tuyệt đẹp.

Sau giây phút bái tổ theo luật lệ khởi đấu, hai hiệp nữ anh hùng cùng nhảy lùi lại ba bước. Lam Y đảo sang độc tấn, chân tả co lên, tay hữu cầm kiếm dốc xuống, tay tả xòe ra đón lấy lưỡi kiếm theo thế Anh Hùng Độc Lập vừa đẹp vừa dữ như mãnh sư hí cầu.

Tung hẳn cây Trảm Lư lên cao, Âu Dương Bích Nữ nhẹ nhàng bắt lấy chuôi kiếm thấp hẳn xuống tấn Mã tử, toàn thân dồn xuống chân hữu, chân tả duỗi dài, thâu tay hữu vào sườn, đưa mũi kiếm ngược lên cao, tay tả xòe ra áp vào lưỡi kiếm. Theo thế Hoàng Long Thám Chảo uyển chuyển như rồng vờn sóng cả.

Dù người chưa hề luyện võ, trông thấy hai danh đồ Nam Bắc khởi đấu cũng phải nhận thấy ngay là hảo thủ chân truyền.

Một bên Lam Y khởi bài Thái Dương Ngũ Môn Độc Kiếm, một bên Âu Dương Bích Nữ áp dụng bài danh kiếm Thiếu Lâm Bát Bộ Liên Hoa.

Bỗng lẹ như chớp, hai nữ danh thủ đảo bộ nhào vào tranh đấu. Hai lưỡi kiếm gạt đỡ chạm nhau bật lên những tiếng lảnh ghê rợn! Cây Thái Dương tỏa ra làn bạch quang lấp lánh, quay tròn lấy bóng Lam Y uyển chuyển nhịp nhàng. Thanh Trảm Lư rít lên tỏa làn điệu tử điện huyền ảo kinh hồn, bao bọc lấy hồng y Âu Dương Bích Nữ hùng dũng vô song.

Càng đánh càng hăng, hai đấu thủ xoắn lấy nhau, biến hiện vô cùng. Hai làn kiếm mỗi lúc một tỏa rộng, lúc rít lên như lụa xé, khi vi vu như tiếng sáo thông reo, lãnh khí tỏa rộng khiến cử tọa đều rùng mình rợn gáy.

Cơ gặp ngang tay, tương phùng địch thủ, mỗi thế kiếm là một công phu khổ luyện, siêu đẳng của nhà nghề. Long tranh hổ đấu không mấy hai danh thủ đã đấu dư hai trăm hiệp bất phân thắng phụ.

Trại Mạnh Thường bây giờ mới tận tình thưởng thức tài nghệ của nữ hiệp áo lam, khen ngợi luôn miệng quả là danh bất hư truyền, trên đời ít người sánh kịp. Nhưng lão anh hùng cũng sung sướng khi thấy họ nữ Âu Dương không sút kém đám bậc danh tài, không phụ công lao tuy khổ truyền của Chiêu Đức sư trưởng Thiếu Lâm tự và cũng của chính mình. Biết bản lãnh của ái nữ đã đạt tới bực siêu đẳng lại thêm tánh tình ương ngạnh lão anh hùng phải phục, vẫn lo khó chọn bực giai tế xứng đáng khả dĩ cho nàng phải phục tùng thì may thay, tình Bắc duyên Nam gặp ngay đại hiệp Chu gia.

Trại Mạnh Thường nói lớn :

- Hai con hãy ngừng kiếm, biểu diễn thế là đủ rồi.

Nghe lệnh, Lam Y và Âu Dương Bích Nữ liền hồi kiếm về bái tổ, mặt không biến sắc, hô hấp điều hòa.

Lam Y nhìn Âu Dương Bích Nữ nói trêu :

- Xin phục tẩu tẩu, Chu huynh dù khó tánh đến đâu cũng không còn điểm nào chê trách được nữa.

Cử tọa vui mừng vỗ tay khen ngợi ầm ầm.

Âu Dương Bích Nữ tra kiếm vào bao, hai má đỏ ửng kiều diễm lạ thường, khẽ lườm cô em chồng rồi khép nép đứng vào bên mẫu thân. Lam Y hỏi Tề Quân Bảo :

- Tiên sinh thấy thế nào.

Họ Tề hân hoan :

- Tài ấy kiếm ấy, xứng đáng quá! Tề mỗ tôi coi như mối huyết thù đã được hoàn toàn bái phục.

Mọi người tan rã đâu về đấy.

Trại Mạnh Thường và phu nhân mời Tề Quân Bảo cùng các con trở về đại sảnh dùng bữa.

Lão anh hùng hỏi họ Tề :

- Tiên sinh ở lại tệ trang cùng lão phu đàm luận, chừng nào báo phục xong sẽ về.

- Thưa, nay đã chọn được mặt gửi vàng, tiểu tử sẽ nán lại bầu bạn lão bá vài ngày nữa rồi trở về Lư Cầu kiều. Việc nhà bộn bề không thể đi lâu được hơn nữa.

Biết không thể giữ được, Trại Mạnh Thường cũng không nài ép.

Mấy hôm sau, họ Tề bái biệt mọi người ra đi.

Âu Dương Tòng Đức thân đánh xe tứ mã đưa họ Tề quân ra tận Tô Châu, tìm đoàn xe chắc chắn chở hành khách lên Bắc gởi gấm cẩn thận rồi mới trở về.

Tề Quân Bảo đi khỏi được hai hôm thì Hàn Kỳ trong Tam Môn cốc biên thiệp mời vợ chồng Trại Mạnh Thường, ba anh em Âu Dương và Chu gia song hiệp, vào Hàn gia trại dự tiệc. Họ Hàn mời cả cha con Địch Lân và Lâm Diêm Bá vì sau cuộc giảng hòa ở Âu Dương trang, hai họ Địch Hàn đi lại với nhau rất thân mật. Hàn Kỳ chịu nhún, bắt Hàn Gia Tam Mã xin lỗi Địch Phượng Tiên về vụ giỡn Dương Hoài Ngọc.

Từ ngày biết rõ tánh tình Hoài Ngọc, Địch Phượng Tiên cũng hể hả không nóng giận như trước, vậy cũng vui lòng bỏ hết các sự xích mích đã qua.

Về phần Tam Mã cũng vậy, Hàn Kỳ đem việc gặp năm người con Trại Mạnh Thường là nhưng nhân vật có bản lãnh siêu việt mà tánh tình thì ôn hòa nhã nhặn ra khuyên dạy, Tam Mã lấy làm thích thú và muốn kết giao, yêu cầu cha mời tiệc để sớm được gặp họ. Thiệt ra, ba anh em Hàn gia cũng không đến nỗi nào.

Trước kia, hai trại còn thú ghét nhau, Tam Mã lúc nào cũng sống tình trạng căng thẳng, nên hễ gặp dịp là tìm cách gây sự với đối phương, thành thử dưới mắt họ Địch, lẽ cố nhiên Tam Mã là những kẻ vô loại côn đồ.

Hôm đại tiệc, Hàn Kỳ tiếp đãi quan khách rất niềm nở.

Hà thái thái ngồi riêng thồi với Âu Dương phu nhân, Lam Y, Bích Nữ và Phượng Tiên.

Tòng Cát, Tòng Đức vốn quảng giao bèn kết thân và mời Hàn Gia Tam Mã sang chơi bên Âu Dương trang, yêu cầu ba người trổ tài kỵ mã.

Mấy hôm sau, Địch Lân cũng đãi tiệc mời bên Âu Dương và toàn thể nhân viên bên Hàn gia trại.

Bên đó, bên thồi tiệc phụ nữ có thêm Phượng Tú Kiều.

Âu Dương phu nhân thấy tư cách nhàn nhã thùy mị của cô gái họ Phượng thì lấy làm quý mến, có định ý riêng nên dặn Bích Nữ mời Địch Phượng Tiên bữa nào sang Âu Dương trang.

Về đến nhà, phu nhân gọi con gái vào tư phòng bảo rằng :

- Trai khôn lấy, vợ gái lớn gả chồng, nay con là người nhà họ Chu rồi đây sẽ phải theo chồng. Hai anh em con đã lớn tuổi mà chưa có người nào lập gia đình, mẹ áy náy không an tâm. Từ trước tới nay nhiều nơi mối lái, hai anh con cũng không ưng thuận nơi nào cả. Mẹ muốn hỏi Lam Y cho Tòng Cát nhưng ngặt một nỗi là phải kiêng cử việc trao đi con gái giữa hai họ để tránh điểm bất thường. Vậy việc ấy coi tựa như không thể thành tựu được, tuy mẹ rất tiếc Lam Y. Nay mẹ ưng ý Phượng gia nữ, muốn hỏi nó cho Tòng Cát và con thử dò ý anh con xem sao. Riêng ý con nghĩ thế nào?

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Từ ngày hứa hôn với Chu lang, con cũng rất thắc mắc về việc thân hôn định tỉnh song thân. Cha già, mẹ yếu, một mai con ra đi quả không an lòng chút nào. Nay mẫu thân đã dạy như vậy, để con dò ý trưởng huynh xem thế nào. Dù sao, một trong hai người, hoặc trưởng huynh, hoặc nhị huynh an bài gia thất, con mới có thể hợp hôn với Chu lang được.

Nói đoạn, nàng mắt huyền rớm lệ.

Hôm sau, trong khi vắng vẻ, Âu Dương Bích Nữ nói chuyện riêng với Tòng Cát. Nàng hỏi :

- Hôm rồi, tại Địch gia trại, huynh trưởng có để ý tới việc gì không?

Tòng Cát mỉm cười ngạc nhiên :

- Tam muội hỏi ngu huynh như vậy là thế nào? Bên Địch gia trại cũng như Hàn gia trại có chi lạ.

- Không, ngu muội muốn nói rằng huynh trưởng có để ý tới nhân vật nào hôm dự tiệc tại Địch gia trại.

Tòng Cát suy nghĩ giây lát :

- Có mấy người thì cũng quen thuộc cả. Hiền muội thấy ai lạ? Nhân vật ấy là nam hay nữ.

Âu Dương Bích Nữ hỏm hỉnh :

- Bên thồi tiệc phụ nữ đó.

Tòng Cát ngẩn người ra, hỏi lại :

- Địch Phượng Tiên hả, ngu huynh đã gặp nàng hôm ở Hàn gia trại.

Âu Dương Bích Nữ lắc đầu :

- Ngoại trừ Phượng Tiên vì nàng đã có hôn phu rồi.

Tòng Cát gật gù :

- A! Hiền muội định nói về cô gái Phượng gia?

- Chính vậy! Người dịu dàng thinh sắc đó chớ? Lấy chồng, người ấy tất là hiền nội trợ biết phụng dưỡng... cha mẹ chồng.

Tòng Cát lưỡng lự :

- Ờ, hiền muội đoán có lẽ đúng, tiếc rằng nàng không uy võ như Chu Tú Anh.

Âu Dương Bích Nữ mỉm cười :

- Trời ơi! Trên đời này mấy người được như Lam Y nữ hiệp? Trưởng huynh không nên bì như vậy.

Tòng Cát hỏi vặn :

- Nói gì trên đời này xa xôi đâu đâu! Ngay tại đây, như hiền muội không ngang với Chu Tú Anh đó sao?

Âu Dương Bích Nữ lắc đầu :

- Hôm thử Trảm Lư trường kiếm chắc trưởng huynh không nhận xét kỹ càng. Lam Y nữ hiệp vượt bực, nhưng nhã nhặn dấn cầm chừng để khuyến khích tiểu muội đó. Nếu là kẻ thù, đấu tay đôi như vậy, vị tất tiểu muội chịu nổi trăm hiệp với nàng, chớ đừng nói hai trăm nữa!

- Nói bậy nào! Ngu huynh nhận xét rất rõ ràng. Thoát khỏi mắt này sao được. Nhưng có sao đâu? Hai người tài giỏi cùng ở một nhà như hiền muội và Lam Y là một chuyện hay. Ngu huynh mừng thay cho Chu gia... Nào, bây giờ trở lại chuyện cô gái họ Phương. Hiền muội định nói gì?

Âu Dương Bích Nữ dịu nét mặt lại :

- Tiểu muội là em út trong gia đình đâu dám phạm thượng khuyên ngược lại trưởng huynh, Tiểu muội chỉ diễn tả lại ý mong muốn của lão mẫu.

Chẳng nói ra trưởng huynh và ngay cả nhị huynh cũng thừa hiểu song thân tuổi hạc đã cao, gia sản lớn có người trông nom giúp đỡ và hơn nữa, cũng mong có cháu nội để an tâm về sự nối dõi tông đường. Nay nhị vị hiền huynh cũng tam thập cả rồi mà chưa lập gia đình. Song thân lấy làm nghĩ ngợi tuy không nói ra miệng. Nay thấy Phượng thơ thơ tánh tình dịu hiền, mẫu thân có ý muốn hỏi cho trưởng huynh cà có bàn định với tiểu muội. Bởi vậy tiểu muội mới thử ý trưởng huynh xem sao. Mẫu thân nghĩ nhiều lắm. Người lo lắng không vui.

Tòng Cát suy nghĩ hồi lâu :

- Ngu huynh nói thật cho hiền muội biết. Ta đã có ý nói với song thân hỏi Chu Tú Anh ngay từ hồi đầu mới gặp nàng tại Kim Lăng. Chẳng ngờ Đức Võ Thượng Nhân lại tới hỏi trước với phụ thân hỏi hiền muội cho Đức Kiệt, thành thử ngu huynh đành dẹp mối tình u uất ấy sang bên. Từng này tuổi đầu làm gì mà ngu huynh không hiểu sự tối kỵ trong việc đổi anh em hai họ? Bởi vậy ngu huynh không muốn tiến hơn nữa, và trái lại rất mừng cho hiền muội và Đức Kiệt quả rất xứng đôi vừa lứa.

Đức độ, tuấn kiệt, hào hùng, có chồng như vậy, hiền muội nên xử sự sao cho khỏi phụ lòng chàng. Đó là lời khuyên duy nhất của ngu huynh.

Đã không duyên không nợ cùng Chu Tú Anh, hiền muội thử coi, thì phu phụ vẫn không thành! Ngu huynh biết an phận thủ thường. Nàng như cánh chim bằng hạt gió hành hiệp bốn phương, thì dù ngu huynh đây có là chiếc lồng vàng cẩn ngọc lung linh cũng chẳng xao xuyến nổi con người đẹp tựa tiên nga nhưng phần tình ái thì băng giá lạnh lùng!

Âu Dương Bích Nữ nhìn anh ái ngại hồi lâu mới cất tiếng hỏi :

- Còn Phương Tú Kiều, hiền huynh nghĩ thế nào?

Tựa lan can, Tòng Cát bâng khuâng sầu hận lơ đãng nhìn khóm lan rung rinh giỡn gió bên ngọn giả sơn uốn éo, ẩn hiện mấy nhịp phi kiều thơ mộng quanh co...

Chàng hình dung Nữ hiệp áo lam kiều diễm tuyệt vời, anh thư nhất mực, đang chống kiếm đứng trên cầu, hờ hững nhìn thấy chiếc lá bạc hững hờ trong hồ nước bát giác trong veo.

- Còn Phượng Tú Kiều, hiền huynh nghĩ thế nào?

Tòng Cát giật mình trở về thực tế, hai má đỏ bừng tưởng như cô em thân mến vừa nhìn thấu suốt được mộng lòng ảo ảnh của mình.

Chàng mỉm cười nhìn Bạch Nữ :

- Hiền muội thưa với mẫu thân rằng ngu huynh ưng thuận Tú Kiều. Mai mối sớm ngày nào hay ngày đó, vì hiền muội còn phải sửa soạn cùng Chu lang và Lam Y sang Hàng Châu khai Trảm Lư hùng kiếm.

Được lời như cởi tấm lòng, Âu Dương Bích Nữ sung sướng đon đả trở vào phòng thưa lại cùng phu nhân.

Nhìn theo cô em đi khuất nẻo hành lang, chàng tuấn kiệt họ Âu Dương thơ thái trở lại với bóng hình nàng Lam Y kiều diễm trên đợt phi kiều, lơ đãng nhìn chiếc nhạn chân trời le bóng...

Mấy hôm sau, quả nhiên Địch Phượng Tiên sang Âu Dương trang thăm hai cô bạn mới.

Nhân dịp, Âu Dương phu nhân và Bích Nữ nói riêng với Phượng Tiên nhờ nàng làm mai mối.

Phượng Tiên mừng thầm cho bạn, nhận lời ngay và cấp tốc cùng thân phụ ra Tô Châu, Phượng Tú Kiều tay bắt mặt mừng đón bạn.

Phượng Tiên ranh mãnh chào bạn :

- Ngu tỉ có lời mừng hiền muội đó...

Tú Kiều ngạc nhiên nhìn Địch Lân và bạn :

- Ủa! Có điều chi mà chúc với mừng.

Địch Lân tủm tỉm cười im lặng. Phượng Tiên nói tiếp :

- Sao lại không đáng mừng. Nhưng lát nữa sẽ hay. Gia phụ có một chuyện tối ư cần kíp muốn thưa riêng cùng bá mẫu. Còn chị em ta vào tư phòng cùng nói... chuyện riêng.

- Hiền tỉ ác quá, giỡn hoài.

Nói đoạn, nàng vào hậu phòng thưa với mẹ việc Địch trang chủ muốn gặp hỏi việc chi cần kíp. Phương thái thái vội vàng khoác áo dài, cùng con gái ra khách phòng thi lễ cùng họ Địch.

Phượng Tiên kéo Tú Kiều về tư phòng :

- Ngồi đây! Đến lượt chúng ta bàn đại sự cơ mật...

- Trời ơi! Đại sự cơ mật? Nguy cấp không?

- Cấp chớ sao lại không.

- Trời!...

- Nhưng không... nguy.

- A!... Hiền tỉ khiến tiểu muội hết hồn! Nói ngay đi nóng ruột quá chừng.

Địch Phượng Tiên bắn giọng, chậm rãi. Tú Kiều ngẩn ngơ chăm chú chờ nghe.

- Hiền muội còn nhớ hôm tiếp tân trong Địch gia trại không?

Địch Phượng Tiên nheo mắt :

- Không cấp thì ai nói làm gì! Hãy cố nhớ và trả lời những cây hỏi đây... Hiền muội có nhìn rõ mặt Chu đại hiệp, hôn phu của Âu Dương Bích Nữ không :

- Có, chính hiền tỉ chỉ cho tiểu muội coi mà! Còn chớ rõ mà hôm ấy, ngu muội lầm họ Chu với vị tuấn kiệt đi bên, người vận bạch bào, y hệt anh em ruột.

Địch Phượng Tiên gật đầu :

- Đó! Phải rồi. Họ Chu vận bào lục bông trắng. Vị tuấn kiệt đi bên và lúc nào cũng đứng liền nhau, vận bạch bào bông lục, dáng dấp như nhau, cao lớn bằng nhau... Nhưng thật sự, hiền muội có phân biệt được hai người ấy không cái đã.

Ngẩn ngơ không hiểu, Tú Kiều cũng trả lời :

- Tuy hai người ấy tương tự nhau, nhưng nếu có gặp vẫn phân biệt được như thường. Có việc chi vậy?

Người vận bạch bào đó là Âu Dương Tòng Cát, trưởng nam của lão anh hùng Trại Mạnh Thường và là cao đồ Thiếu Lâm tự, đáng mặt trang tuấn kiệt đời nay...

Tú Kiều ngắt lời :

- À, tiểu muội hiểu rồi! Chắc hai nhân vật ấy xích mích với nhau phải không?

Phượng Tiên lắc đầu mỉm cười :

- Đâu có chuyện ấy, hiền muội ngốc quá! Có vậy mà không đoán ra. Đây nhé, nghe cho rõ. Vị tuấn kiệt nhà Âu Dương để ý tới hiền muội đó.

Tú Kiều dãy nẩy :
- Ý, hiền tỉ nói bậy nào...

Phượng Tiên nguýt Tú Kiều :

- Sao lại bậy! Gái lớn lấy chồng là lẽ tất nhiên! Một trang nam nhi tài tuấn anh hùng trưởng nam một họ lớn nhất đất Giang Nam ai ai cũng biết tiếng, để ý thương mến hỏi hiền muội làm vợ...

Phượng Tú Kiều e thẹn vân vê tà áo im lặng.

Phượng Tiên mỉm cười nói tiếp :

- Bữa nay gia phụ và ngu tỉ ra Tô Châu là theo lời yêu cầu của Âu Dương lão anh hùng và phu nhân để bắt nhịp cầu Ô Thước, nối liền mối lương duyên hai họ cho hiền muội và trang tuấn kiệt bạch hào ấy đồng nghĩa ca khúc phụng cầu hoàn... Ngu tỉ xin chúc mừng hiền muội hảo cầu.

Nói đoạn, Phượng Tiên đứng dậy vái Tú Kiều.

Phượng nữ vội vàng đỡ lấy tay bạn dìu xuống ngồi bên :

- Ngồi xuống đây nói chuyện nào, làm tiểu muội thẹn... chết đi được.

Phượng Tiên đổi nét mặt nghiêm nghị như thường :

- Thôi, không giỡn nữa. Việc họ Âu Dương hỏi để kết thân là việc hay và tối ư quan trọng. Thiết tưởng không còn nơi nào hơn nữa.

Hiền muội chẳng nên do dự coi thường. Hôn nhân là việc hệ trọng, hiền muội may mắn hơn ta nhiều. Hiền muội nghĩ sao.

Phượng Tú Kiều suy nghĩ hồi lâu, bẽn lẽn đáp :

- Một khi Địch bá phụ và hiền tỉ lo liệu cho tất không phải việc tầm thường, song lẽ còn gia mẫu, người đặt đâu, tiểu muội ngồi đấy.

- Nghĩa là riêng phần Hiền muội thì chịu rồi chứ gì.

- Dạ...

- Nếu vậy cuộc hôn nhân này có thể coi như thành tựu, chắc bá mẫu thế nào cũng chấp nhận. Đẹp đôi lắm, anh hùng với gái thuyền quyên, tình loan duyên phượng, ca khúc bạc đầu. Này, nhớ biếu quà mai nhân đấy nhé.

Tú Kiều thẹn thùng im lặng.

Hai chị em thủ thỉ chuyện trò đến trưa, nữ tì vào phòng mời ra dùng bữa, ngồi cùng thồi với Phượng thái thái và Địch trại chủ.

Địch Lân bảo Phượng Tiên :

- Việc hôn nhân của Tú Kiều đã được thái thái chấp nhận sau khi so đôi tuổi hai người. Từ lễ vấn danh đến hôn lễ chỉ trong một thời gian ngắn, con liệu thu xếp ở hẳn đây ít ngày giúp thái thái và Tú Kiều kẻo không kịp. Lát nữa ta sẽ về thẳng Âu Dương trang báo tin mừng.

Phượng Tiên nghe thân phụ nói hân hoan vô cùng.

Chiều hôm ấy, Địch Lân về tới trang trại Âu Dương báo tin. Trại Mạnh Thường và phu nhân mừng rỡ loan tin cho toàn thể trong trang được biết, một mặt lão anh hùng tức tốc biên thơ sai tráng đinh thân tín đi Phúc Kiến lên Thiếu Lâm tự báo thiệp cùng sư trưởng Chiêu Đức.

Trại Mạnh Thường nói riêng với Địch Lân :

- Lão huynh đã ra công tác thành cho Tòng Cát nay còn việc này riêng phân tôi và tiện nội sau khi bàn định rất lấy làm thắc mắc.

- Việc chi vậy? Xin lão huynh cứ dạy.

- Phương thái thái mẹ góa con côi, lo việc một mình chắc có nhiều điều chi bất tiện, chi bằng nhờ lão huynh thưa lại với thái thái cho phép chúng tôi lo liệu cả cho tân giai nhân và sau cuộc hôn nhân sẽ xin mời thái thái về ở cả bổn trại để cho vợ chồng Tòng Cát được sớm hôm thần hồn định thần tính cho phải đạo rể hiền con quý. Được vậy, chúng tôi mới an lòng. Đó là một điều thỉnh cầu nhờ cả ở lão huynh. Phương thái thái ưng thuận, vợ chồng chúng tôi sẽ ra Tô Châu yết kiến sau. Chẳng hay lão huynh nghĩ sao.

Địch Lân vui mừng gật đầu :

- Đó là hảo ý mà tôi cũng nghĩ tới. Chắc Phương thái thái không nề hà để được gần thân gia và con mến, rể hiền. Tôi sẽ dàn xếp để Phương thái thái về đây trước ngày cử hành hôn lễ cho cả hai gia đình đều được vui vẻ.

Trại Mạnh Thường cả mừng :

- Được như vậy thì còn gì bằng nữa. Trăm sự nhờ lão huynh.

Mọi việc thu xếp đều được như ý định của lão anh hùng. Âu Dương phu nhân sai người dọn dẹp trang hoàng sẵn một căn nhà riêng cho gia đình họ Phương ở ngay khu trung tâm trong đại trang.

Nói về Lam Y nữ hiệp khi hay tin Âu Dương Tòng Cát sánh duyên cùng Phương Tú Kiều thì nàng rất đỗi mừng thầm. Nàng thừa hiểu mối tình thầm kín của Tòng Cát đối với nàng ngay khi còn ở Kim Lăng, nhưng trước thời gian đó, nàng nhận thấy mối cảm tình sâu đậm giữa anh nàng với Bích Nữ, nên gạt bỏ hết vấn đề cá nhân. Nàng cố công vun xới cho mầm tính ái giữa cô gái Thiếu Lâm và người anh hùng duy nhất đáng kính của nàng ngày đêm thêm đâm chồi nảy lộc.

Bất hiếu kiêu tam, vô hậu vi đại! Đức Kiệt là người con độc nhất của dòng họ Chu gia cần phải có người nối dõi, trước là khỏi mang tội bất hiếu vô hậu với tổ tiên, sau là để truyền thống danh tiếng gia truyền về môn đơn đạo của Chu gia đất Bình Dương, Sơn Đông. Mối tình ấy đã trở thành duyên phu phụ, chỉ chờ ngày hợp cẩn. Nhưng mối tình ấy cũng là cả một bức tường thành ngăn đôi nàng và trang tuấn kiệt Âu Dương, danh đồ Thiếu Lâm tự. Vì tình huynh muội, Lam Y cương quyết kiềm chế được lòng mình ngay từ lúc sơ khởi, nên nàng không thấy đau buồn như Âu Dương Tòng Cát.

Nàng đã vậy nhưng còn chàng phong lưu mã thượng Tòng Cát thì sao? Bởi thế, nàng đêm ngày cầu mong cho Tòng Cát an bài gia thất, khỏi vương vấn một mối tình vô vọng.

Hôm tin vui mừng được loan ra, Lam Y nữ hiệp gặp Tòng Cát chúc mừng :

- Tiểu muội có lời mừng hiền huynh. Phương tẩu tẩu là người nết ba hiền đức tài sắc song toàn.

Âu Dương Tòng Cát nghĩ thầm:

"Chà! Người đã không thèm để ý tới ta thì thôi nay lại còn vờ vĩnh chúc mừng cái nỗi gì! Còn ngươi nữa chừng nào mới có chồng! Chỉ e lấy phải một tên hèn kém, thì tha hồ đóng cửa mà dạy bảo. Đáng kiếp oan gia".

Hờn giận thì vậy, nhưng khi thấy cặp mắt phượng long lanh chan chứa ẩn tình nhìn mình thì cơn giận tiêu tan ngay, nhường cho một mối u buồn, thứ buồn ngất ngây tiếc thương một sự gì nay đã hoàn toàn vô vọng.

Chàng cất tiếng nhẹ nhàng :

- Sau bao nhiêu năm tìm kiếm đợi chờ một người hoàn toàn vừa ý, thì nay bỗng nhiên ngu huynh lấy luôn cô gái mới thoáng biết vừa mặt độc có một lần. Vô duyên đối diện bất tương phùng là thế đó. Chu hiền muội ạ!

Lam Y tự nhiên :

- Hiền huynh chẳng nên nói như vậy tội nghiệp cho tẩu tẩu Tú Kiều! Tình yêu sẽ tới nơi sau nếp thương sao cả. Xưa kia các bậc tiền bối không cần phải quen biết nhau trước mà vẫn bách niên giai lão, sanh con đẻ cái đầy đàn, dựng nên cơ nghiệp muôn đời, ức như lão bá nhà ta đây chẳng hạn.

Tòng Cát cười nửa miệng :

- Ví như vậy biết nói sao cho hết được. Còn hiền muội, chừng nào mới cho ngu huynh say bữa rượu mừng đây! Ý trung nhân của hiền muội hẳn phải là trang tuấn kiệt đệ nhất anh hùng, mà chúng ngu huynh đây đều thua kém. Con người ấy hiện còn ở phương trời nào.

Thản nhiên trước câu mắng nhẹ, Lam Y mỉm cười ngắt lời :

- ... Hay là chưa sanh! Hoặc đã thành thân rồi thì lại không oan trái nên chẳng thành nghĩa vợ chồng!...

Dứt lời, nàng cười như nắc nẻ đon đả quay đi, vừa đi vừa hỏi :

- Hiền huynh có ra Tô Châu mua hàng không? Tiểu muội rủ người cùng đi quà mừng tân lang đây.

Tòng Cát lắc đầu thở dài :

- Từ nay ngu huynh là người có bổn phận rồi, không dám tranh đua nữa.

Chàng ngẩn ngơ lặng lẽ nhìn tấm thân đều đặn tuyệt đẹp của Hiệp nữ kỳ tài đi khuất khỏi nẻo tường hoa.

Hôm ấy, anh em Chu gia cùng Âu Dương Bích Nữ và Tòng Đức đem theo hai giai nhân đi hai xe ngựa ra Tô Châu mua các thứ cần dùng cho cuộc hôn lễ và lễ vật mừng Tòng Cát.

Tới trưa bốn anh em đi qua phố lớn, Tòng Đức chỉ một tửu lầu ba tầng cực rộng lớn, cực kỳ sang trọng.

- Đói bụng rồi, vào Thiên Hương lầu uống rượu đã.

Rút tiền đưa cho hai giai nhân đi theo, Tòng Đức bảo :

- Các ngươi liệu dùng bữa trưa nhé. Thay phiên nhau coi xe cho cẩn thận.

Bốn người bước vào tửu lầu. Viên quản lý thấy bọn Âu Dương tới, đon đả chạy ra chào hỏi :

- Lâu nay không thấy thiếu gia và tiểu thư qua chơi.

Tòng Đức nói :

- Chúng tôi bận chút việc nhà nên ít ra Tô Châu. Quý tiệm phát tài chớ.

Chỉ thực khách đông đảo, viên quản lý nói :

- Ơn trời, bổn tiệm vẫn thường thường như thế này. Xin mời thiếu gia lên lầu còn nhiều chỗ tốt lắm.

Tòng Đức chỉ Chu Đức Kiệt giới thiệu là hôn phu của Bích Nữ.

Viên quản lý trầm trồ cung xá :

- Nếu vậy quý trang phùng song hỷ rồi. Chúng tôi mới nhận được thiệp báo hỷ về việc thiếu gia Tòng Cát lập gia đình, chừng nào đến lượt tiểu thư ở riêng.

Tòng Đức đáp :

- Vụ hôn nhân của gia muội chưa định ngày, nhưng chắc cũng không lâu đâu.

Nói đoạn, chàng đưa tay mời ba người lên lầu ba chọn chỗ an tĩnh ngồi. Họ Âu Dương quen thuộc khắp Tô Châu, từ nghèo đến giàu ai ai cũng cất tiếng và mong được kết nạp với đại danh gia ấy. Ngay cả đến nhưng tửu bảo làm việc trong các đại, tiểu tửu lầu cũng thuộc mặt anh em Âu Dương. Cho nên khi bốn người vừa tới nơi thì chúng đã ân cần dành chỗ tốt kéo ghế mời ngồi.

Tòng Đức gọi mấy món chuyên của Thiên Hương lầu.

Tửu bảo hỏi :

- Thiếu gia vẫn dùng Hồ Đào tửu.

- Ồ, lấy hai hồ thứ rượu đó lên đây.

Bốn người đang ăn uống vui vẻ, thì chợt nghe thấy ở căn phòng trung ương có tiếng người nói bô bô giọng Hồ Bắc :

- Dọn rượu mau! Lấy năm cân Hồ Đào thượng hảo hạng và có món chi ngon thì lấy ra đây. Đói quá chừng!

Lam Y mỉm cười nhìn mọi người :

- Gớm ông khách nào mà đòi uống những năm cân hồ đào tửu như vậy? Có lẽ Thiết Xích Tử đệ nhị đây.

Nghe Lam Y nói tới Thiết Xích Tử, Âu Dương Bích Nữ phì cười :

- Ông ta uống ghê thật! Mà bản lãnh cũng hay, xứng danh quái hiệp.

Chu Đức Kiệt nói :

- Thiên hạ rộng rãi bao Lam Y, càng đi càng học hỏi thêm và gặp lắm nhân vật kỳ tài. Chưa biết chừng ông khác năm cân rượu ngoài kia cũng là tay đại giang hồ.

Tòng Đức đứng lên dòm qua khe tấm bình phong, thấy tổng số đông thực khách có một người trạc ngoài ngũ tuần, vóc người loắt choắt ngồi một mình một thồi nhỏ trên bầy năm hồ rượu lớn và la liệt những thức ăn, lại có cả chiếc vòng sắt dựng bên.

- Người đó ăn uống ngốn khỏe như vòi voi cuốn lá.

Tòng Đức vội trở lại chỗ ngồi.

Đúng như lời Lam Y muội. Ông năm hồ rượu đó là Thiết Hoàn Tử Hồng Trường Hải, người Hán Dương bên Hồ Bắc.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Thiết Hoàn Tử?

Tòng Đức gật đầu :

- Hồng Trường Hải cũng là tay giang hồ kỳ hiệp, có tài sử dụng chiếc vòng sắt lớn bằng miệng thúng. Ông ta có thể bất chợt lúc nào cũng liệng chiếc vòng sắt chụp vào đầu khiến địch thủ chỉ sơ ý trong nháy mắt là bị gãy cổ. Bởi vậy giới giang hồ mới tặng cho họ Hồng hổn danh Thiết Hoàn Tử.

- Nhị vị có quen với Hồng Trường Hải.

- Ông ta là bạn thân của gia phụ. Chuyến này qua Tô Châu chắc thế nào cũng ghé thăm trang trại nhà.

- Nếu vậy, ta mời nhân vật qua thồi mình uống rượu.

Tòng Đức mỉm cười :

- Để Hồng thúc thúc ăn xong đã. Chúng ta dùng bữa sắp xong rồi, mà tiếp rượu nhân vật ấy chắc phải bò mới về nổi nhà.

Tòng Đức vẫy tay gọi tửu bảo :

- Ta trả tiền thế cho ông khách ngồi thồi uống năm hồ rượu bên kia, nghe. Khi ông ta hỏi ai ngươi cứ nói là có Âu Dương trả rồi.

Tửu bảo vâng dạ lui ra. Tòng Đức nói tiếp với Đức Kiệt và Lam Y :

- Hồng thúc thúc vóc người nhỏ bé mà môn nội ngoại công phu rất đầy đủ. Địch thủ không ngờ họ Hồng có sức, khinh thường nên dễ bị thiết hoàn quật gãy cổ lắm.

Bích Nữ nhắc :

- Nhị huynh quên không nói rằng Hồng thúc thúc còn là một họa sĩ chuyên môn dùng thần khí họa cảnh "lão Tòng An Thái Dương".

Tòng Đức gật đầu :

- Nghe nói nhưng chưa được coi. Chuyến này may ra gặp hôn lễ Tòng Cát, Thiết Hoàn Tử sẽ cao hứng trổ tài riêng ấy cũng biết chừng.

Nói về Hồng Trường Hải khi ăn uống một chặp đã no nê, khiến thực khách ngồi quanh đó phải ngạc nhiên về tửu lượng, bèn vỗ bàn gọi tửu bảo :

- Bồ Đào tửu của tiệm này tuyệt ngon! Bao nhiêu tiền tất cả?

Tửu bảo thưa :

- Dạ đã có người trả rồi.

- Ủa! Ai sẵn lòng trả thế cho ta vậy?

- Thưa đó là Âu Dương gia.

- A! Họ Âu Dương còn đây không? Ta đang muốn gặp.

- Còn ngồi sau bức bình phong kia ạ.

Hồng Trường Hải vác thiết hoàn lên vai lững thững bước sang phòng bên đi vào sau bình phong.

Bọn Tòng Đức đứng cả dậy vái chào :

- Biết thúc thúc ngồi đấy, nhưng tiểu điệt không theo được tửu lượng thúc thúc nên bây giờ mới dám bái kiến, mong người lượng thứ cho.

Thiết Hoàn Tử cười vang hỏi Tòng Đức và Bích Nữ :

- Hiền điệt nữ đến đây hồi nào?

Tòng Đức đáp :

- Tiểu điệt ngồi đây từ trước rồi, nghe thúc thúc gọi năm hồ rượu nhìn ra mới biết là người nhà.

Nói đoạn chàng giới thiệu :

- Đây là Lam Y nữ hiệp Chu Tú Anh và Đơn Đao Chu Đức Kiệt, hôn phu của gia muội :

- A! Bấy lâu nay nghe đại danh mới được tương kiến thiệt là hữu hạnh.

Quay sang Bích Nữ, Thiết Hoàn Tử nói tiếp :

- Lão có lời mừng điệt nữ, chừng nào cho uống rượu đây.

Tòng Đức đỡ lời :

- Bẩm thúc thúc, chuyến này còn uống rượu của gia huynh trước đã, rồi mới đến lượt gia muội.

Thiết Hoàn Tử tặc lưỡi liếm môi :

- Hay quá! Tôi tới Tô Châu vừa đúng dịp. Nếu không gặp hiền điệt ở đây thì ta cũng vào Âu Dương trang thăm lão hữu Trại Mạnh Thường. Chẳng hay người có mạnh không.

- Dạ, ơn trời, gia phụ được như thường. Thúc thúc từ đâu qua đây?

- Ta từ Yên Kinh xuống. Gặp dịp Mã nguyên soái hồi triều thành bất ngờ được xem cuộc diễu binh lớn đặc biệt ở trước Ngọ môn. Bây giờ quý vị hiền điệt đã định trở về chưa.

Tòng Cát đáp :

- Ngu điệt về bây giờ, mời thúc thúc cùng đi. Có xe chờ ngoài kia.

Năm người về tới Âu Dương trang, Trại Mạnh Thường thấy có cả Thiết Hoàn Tử, vui mừng quá đỗi :

- Ủa! Lão Vương tửu này ở đâu bò về đây thế này.

Thiết Hoàn Tử vuốt râu cười ha hả :

- Đang nhàn du trên đất Bắc nhưng đánh hơi thấy mùi rượu ở quý trang nên lần về đòi say đó.

Trại Mạnh Thường cười lớn, khoác tay bằng hữu vào đại sảnh :

- Tưởng đòi ăn gan rồng, chớ rượu thì lúc nào cũng có sẵn hàng lu chờ lão đệ.

Hôn lễ Tòng Cát đã sửa soạn xong. Lễ vật do các thân hữu của họ Âu Dương đem tặng đầy kho. Ngày nào cũng tiệc tùng linh đình.

Hôm đầu đãi các quan sở tại Tô Châu với sự hiện diện của Đề đốc Lương Cảnh Phiên. Đúng bảy hôm mới vãn khách và tới kỳ hôn lễ.

Đêm tân hôn, các anh em nhà và một số đông bằng hữu nam nữ của anh em Âu Dương và Tú Kiều đua nhau náo tân phòng đến quá canh ba, Tòng Cát mới được phép lảo đảo về tư phòng cùng giai nhân hiệp cẩn.

Phương Tú Kiều mặc áo gầm đỏ thêu kim tuyến, đầu còn phủ nguyên khăn hương thẹn thùng ngồi nép mình bên giường thất bảo. Thị nữ dâng tấm khăn vò trầm hương nóng hổi lên Tòng Cát.

Tân lang lau mặt, thấy tỉnh tảo hơn trước, bèn vén rèm hoa ngồi xuống bên giai nhân tuyệt sắc, Chàng nhẹ nhàng bỏ tấm lụa phủ mặt cô dâu sang bên :

- Đã là vợ chồng trăm năm đầu bạc, hiền thê sao lại thẹn thùng! Xin lỗi hôm qua bị mọi người ép uống quá chén hơi say, nhưng cũng chẳng bằng ly rượu đượm hương tinh hợp do bàn tay ngọc của hiền thê dâng tặng. Nào ra đây...

Tân giai nhân thẹn chín người, sắc diện hồng hào kiều diễm bội phần.

Nàng vẫn ngồi nguyên chỗ cúi đầu nhìn mũi giày, tay mân mê tà áo.

Tòng Cát đa tình khẽ cầm lấy bàn tay người ngọc dìu ra thồi tiệc hợp cẩn :

- Đêm nay, nhất khắc thiên kim... Mời hiền thê...

Tú Kiều rón rén theo tân lang, kín đáo liếc nhìn chàng tuấn kiệt nổi danh võ dũng với tước hiệu Cái Thiên Ô Vân, không ngờ chàng lại dịu dàng như một văn nhân hiếu sắc đa tình...

Nàng nhẹ tay cầm hồ ly rượu lưu ly rót đầu chén ngọc nâng mời :

- Thiếp phận gái liễu bề từ nay được núp bóng tùng quân cao cả, chỉ e không đủ tài đức sửa túi nâng khăn giữ mãi mãi được khách anh hùng.

Tòng Cát đỡ chén ngọc uống cạn, tự rót chén đầy, quàng vai Tú Kiều :

- Qua mời hiền thê cũng cạn ly này và nhận luôn cả mối tình say đắm...

Tú Kiều trìu mến nhìn chồng :

- Có thiệt không, thưa phu quân.

Tòng Cát mỉm cười :

- Hiền thê nghi ngờ qua sao.

Tân nương nũng nịu :

- Nhưng... không...

- Nhưng sao?...

- Hồi nãy trên thồi tiệc náo... tân lang, thiếp nhận thấy Nữ hiệp Lam Y kiều diễm bội phần và... và...

- Và thế nào?

- ... Và nàng ta náo... phu quân nhiều quá nên thiếp hơi lấy làm lạ.

- Chà! Nàng là tay võ dũng xử sự quang minh như Nhựt, Nguyệt hiền thê chẳng nên bận tâm lưu ý. Uống đi cho mừng nào!

Tú Kiều đỡ lấy ly rượu men tình uống cạn, sắc diện hồng hào, thêm trong ánh đèn huyền ảo khiến khách anh hùng ngây ngất si mê. Tòng Cát đặt ly ngọc xuống bàn, bế bồng nàng lên tay sắt nhẹ nhàng như đóa bông hương tỏa ngập hương yêu.

Chàng từ từ đặt nàng xuống giường...

Bọn thị nữ vội đưa mắt bảo nhau lẹ tay dẹp thồi tiệc rồi khép chặt cửa tân phòng.

Trai anh hùng kề má thuyền quyên, đêm xuân ngàn vàng khôn chuộc hương tình loan phượng ngây ngất vơi đầy...

Lễ thành hôn Tòng Cát được mươi hôm, Lam Y, Âu Dương Bích Nữ và Chu Đức Kiệt xin phép Trại Mạnh Thường sửa soạn đi Hàng Châu.

Trại Mạnh Thường căn dặn :

- Hành động chuyến này có tính cách rất quan trọng, các con có biết tại sao không?

Chu Đức Kiệt đáp :

- Thưa nhạc phụ, phải chăng vì mục tiêu là một vị Tổng đốc, hơn nữa vị quan cao cấp ấy thuộc hoàng phái.

- Chính vậy. Tội trạng của y không rõ rệt tuy có thật. Vụ y hãm hại vợ chồng Tề Minh Châu, cũng như vụ nhà họ Nhạc là một chuyện đã trên hai mươi năm và ít nhất cũng mười tám, mười chín năm rồi. Trừ gia đình đương sự, một bên là Tề Quân Bảo, một bên là Nhạc Lan Anh, không còn một bằng cớ nào khả dĩ đem nổi hai vụ huyết án ấy ra ánh sáng công lý. Vậy Lam Y và Bích Nữ khi hành động nên giả trai cho khỏi lộ hình tích nữ giới, e khi Thuận Vương hay tin em y bị ám sát đoán được kẻ chủ mưu là Lam Y nữ hiệp, vì y sẽ căn cứ vào mấy vụ Kim Cương tụ, Xích Hoa viện, Kỵ mã trường Kim Lăng. Đó là lão phu chưa kể các vụ án khác mà Lam Y nữ hiệp đã để lại dấu tích nàng hiện đang hành động trong vùng Giang Nam. Chừng nào Thuận Vương chưa dấy binh làm phản, lời nói của y bên Đức Vua vẫn còn hiệu nghiệm như thường, nghĩa là tên gian vương đó có thể xin phép Triều đình mở cuộc truy nã toàn thể kẻ đã sát hại Chu Vĩnh An.

Đành rằng trong trường hợp ấy, chúng ta sẽ có biện pháp đối phó lại không khó khăn gì, nhưng lão phu đang dự tính một việc khá hệ trọng khả dĩ ngăn cản nổi Thuận Vương khỏi dấy động can qua, phương hại tới sanh linh tánh đất Giang Nam phải lầm than vì chinh chiến.

Lão không dám cam đoan, nếu dự tính đó thành tựu thì sự kết quả sẽ rất hữu ích, cho toàn thể dân chúng miền này. Các con khá nghe lời và thận trọng. Hành động xong trở về Tô Châu ngay.

Nghe lão anh hùng khuyên dạy, Tam hiệp nhất nhất vâng lời.

Hai hôm sau, ba người lên đường nhằm hướng Hàng Châu.

Nói về Chu Vĩnh An, em thứ hai Thuận Vương đặc nhậm chức Tổng đốc Hàng Châu.

Không được như Thuận Vương, Chu Vĩnh An rất ham mê tửu sắc ngay từ hồi còn thanh niên.

Năm ấy năm mươi ba tuổi mà chứng nào vẫn tật ấy, ham nữ sắc hầu như là một chứng bệnh nan giải của vị Vương gia đó.

Tổng đốc phu nhân là con quan Vương học sĩ, bổn tánh cực kỳ ghen tuông, thành thử Vĩnh An dù có máu Tề Tuyên cũng chỉ ngấm ngầm chớ không dám ra mặt nạp tì thiếp, nên bệnh hiếu sắc của Tổng đốc không có bề giải quyết công khai.

Bởi vậy Chu Vĩnh An chiêu nạp ba tay vệ sĩ Ngụy Văn Lượng biệt hiệu Cửu Đầu Quỷ, Tào Chiếm biệt hiệu Hắc Sát Quỷ Tưởng Khắc Trạch, biệt hiệu Vô Thường Quỷ, người nào cũng có sức mạnh vô địch, võ nghệ tinh thông, tài phi thiểm tẩu bích xuất quỷ nhập thần, chuyên hành động cho Chu Vĩnh An.

Hành động riêng đây có nghĩa là phụng sự cả tánh hiếu sắc của Chu Vĩnh An. Lương cao bổng hậu, ba tên Ngụy, Tào, Tưởng chỉ có mỗi trách nhiệm độc nhất là dò la nơi nào có phụ nữ đẹp, tìm cách bắt cóc đem về nơi lầu riêng cho Chu Vĩnh An thỏa mãn sắc dục rồi lại đem trả hay là thả nạn ra một nơi mặc họ tự ý tìm đường về. Trong khi hành động, Tam quỷ thường dùng khăn đen bịt mặt cho khỏi bị nhận diện. Ngay Chu Vĩnh An cũng vậy, nhưng lúc ép liễu nào hoa đều đeo mặt nạ. Chu Vĩnh An xây dựng riêng tòa lâu đài Hải Hoa ở ngay bờ biển, trước cửa vịnh Hàng Châu để dùng vào việc nguyệt hoa này, nên Vương phi không hề hay biết những hành động ma quỷ của chồng.

Hải Hoa đài được xây cất hoàn toàn bằng đá, tường cao vời vợi, có đoàn vệ sĩ đặt dưới quyền điều khiển của Tam quỷ ngày đêm canh phòng cực kỳ nghiêm ngặt.

Trong lâu đài kiến trúc tráng lệ, phòng nọ phòng kia trần thiết huy hoàng vương giả.

Hàng Châu là một thị trấn lớn phồn thịnh, lắm tay Vương tôn công tử đàng điếm ăn chơi và cũng là một xứ mà phần đông phụ nữ có sắc kiều diễm tự nhiên, nổi tiếng kỳ nữ thanh sắc vào bậc đệ nhất Trung Quốc.

Từ ngày Chu Vĩnh An được bổ nhiệm ở đó đến nay, gian dâm không biết bao nhiêu đàn bà con gái mà không một ai ngờ thủ phạm các vụ tà dâm ấy lại là vị đường quan đầu tỉnh.

Khi Tam hiệp gần tới Hàng Châu thì trong thị trấn, ở Thanh Kiều lộ có đại phú gia tục danh Trần Hữu cưới vợ cho con trai thứ là Trần Hoàng.

Tân giai nhân họ Liễu tên Ngọc Kim, trưởng nữ của đại thương gia Liễu Thanh Giang, năm ấy tuổi vừa đôi chín, nổi tiếng hoa khôi trong trấn. Cũng vì tiếng hoa khôi nên nàng Ngọc Kim không lọt qua mắt Vô Thường Quỷ Tưởng Khắc Trạch.

Hôm Liễu gia nhận sính lễ thì bất chợt Tưởng Khắc Trạch đi ngang qua nhà, thấy một đoàn trên năm chục thạp đựng đầy đồ lễ vật dẫn đầu bởi đoàn nhạc nào kèn, nào trống phách tưng bừng.

Theo sau các thạp lễ vật ấy có tới hai chục cỗ kiệu hoa sang trọng mà các nhân vật ngồi trong kiệu trang phục rất lộng lẫy ra vẻ đại phú gia.

Nẩy ra một ý kiến riêng, Tưởng Khắc Trạch liền ngừng bước theo trà trộn vào đám đông người hiếu kỳ quan sát. Y nhằm cổ kiệu kết bông lộng lẫy đứng sát bên xem. Kiệu đỗ, Trần Hoàng xúng xính trong bộ trang phục gấm đỏ dát kim tuyến bước xuống giữa những tiếng pháo nổ rền trời dậy đất.

Tân lang họ Trần giật mình khi thấy bộ mặt đen sì tàn ác của Vô Thường Quỷ đang trố mắt nhìn mình. Chàng nghĩ thầm: gớm, sao lại có kẻ diện mạo hung ác đến thế là cùng! Nghĩ vậy nhưng họ Trần cũng cho là thường tưởng rằng đó là một kẻ hiếu kỳ thấy đám hỏi thì xô vào xem như mọi người.

Người bạn Trần Hoàng là Kỳ Tường Bào lúc đó cũng vừa xuống kiệu thấy tân lang ngẩn người ra bèn hỏi rằng :

- Có việc chi vậy, hả hiền đệ.

Trần Hoàng ghé tai họ Kỳ :

- Đại ca coi thằng cha hiếu kỳ đứng sát bên kiệu dòm ngó kia diện mạo hung ác ghê gớm quá.

Kỳ Tường Bào kín đáo nhận diện Vô Thường Quỷ rồi cầm tay Trần Hoàng cùng đi vào nhà họ Liễu :

- Ờ, thằng cha đó giống hệt quỷ sứ ở địa ngục mới lên.

Chờ mọi người vào cả nhà gái rồi, Tưởng Khắc Trạch mới mon men làm quen với kiệu phu dò hỏi :

- Đám ăn hỏi lớn quá nhỉ? Trên hồng phướn đề hai chữ Trần, Liễu chẳng hay họ nào là nhà trại, họ nào là nhà gái vậy.

Tên kiệu phu ra vẻ thông thạo :

- Liễu gia là nhà gái, đại thương gia Liễu Thanh Giang đó! Còn nhà trai là bên địa phú gia Trần Hữu ở Thanh Kiều lộ. Chắc đại ca không phải người thị trấn này.

Tưởng Khắc Trạch làm ra vẻ ngớ ngẩn :

- Phải rồi, tiểu đệ ở Triều Châu mới lên, vả lại chưa bao giờ được xem đám sính lễ lớn như vậy!... Tân lang sang trọng mà hảo nam tử quá, chẳng hiểu tân giai nhân có được xứng đôi không?

Nguýt dài con người man dại, kiệu phu bĩu môi :

- Hỏi ngớ ngẩn quá! Tân nương là Ngọc Kim tiểu thư nổi tiếng hoa khôi sắc nước hương trời, nếu không thì Trần công tử tôi đâu có thèm ngó tới, chứ đừng nói chuyện lấy làm vợ nữa.

Tưởng Khắc Trạch thích chí :

- Vậy ư! Tiệc tùng chắc lớn lắm nhỉ? Chừng nào bắt đầu vào tiệc, tiểu đệ phải đến Trần gia xin một bữa cho khoái khẩu mới được.

- Ăn uống linh đình trong ba ngày, kể từ hôm nay. Lúc nào cũng có thừa tiệc đãi người ngoài. Đại ca muốn hưởng các món ăn nổi danh Hàng Châu thì cứ tới Trần gia hỏi thăm Lý mỗ này "đại kiệu phu" của gia đình ấy, mỗ sẽ dành riêng cho mình đại ca một thồi, tha hồ mà nhậu.

Tưởng Khắc Trạch sung sướng :

- Trời ơi! Thiệt vậy ư? Quý hóa quá. À, Trần gia ở... cái gì... lộ nhỉ.

Kiều phu nguýt dài thêm cái nữa :

- Thanh Kiều lộ! Trước cổng nhà có con thạch sư. Nhớ kỹ lại, kẻo hỏng ăn.

Tưởng Khắc Trạch chào kiệu phu :

- Nhớ lắm rồi... thế nào cũng... chắc ăn.

Kiệu phu vênh váo dặn thêm :

- Ngày thứ tư cưới, bận lắm. Nên đến trước nghe.

Vô Thường Quỷ đắc ý khúc khích cười quay đi.

Về tới Hoa Hải đài, Tưởng quỷ đem chuyện tân giai nhân họ Liễu kiều diễm nói lại với Ngụy Văn Lượng và Tào Chiếm.

Cửu Đầu Quỷ họ Ngụy nhe bộ rằng nhọn hoắt cười lớn :

- Chà! Chuyến này Vương gia lại được hưởng... vưu vật hiếm có rồi. Chắc chắn sẽ được thưởng nhiều tiền, âu cũng là nhờ đại công của tam đệ! Lâu nay không kiếm được món nào hay, Vương gia có vẻ cáu kỉnh lắm.

Tào Chiếm hỏi :

- Nhị đại ca dự mưu thế nào.

Tưởng Khắc Trạch cả cười :

- Tiểu đệ đã tính kỹ rồi. Ta làm thế này... thế này... Được không?

Tào Chiếm vỗ tay khen :

- Thiệt là mưu thần chước quỷ! Hay lắm. Ta sẽ đi mấy người.

Ngụy Văn Lượng nói :

- Hai người thôi. Tào nhị đệ cùng đi với Tưởng tam đệ.

... Đêm tháng mười một gió bấc thổi từng cơn, tiết trời lạnh căm căm. Ngay từ chập tối, ngoài đường đã ít người qua lại, nhà nào nhà ấy đều đóng cửa kín mít, trừ những nơi ca lâu tửu quán còn đờn hát xênh xang, ánh đèn le lói lọt qua cửa kính ngũ sắc ra đường.

Tại Thanh Kiều lộ, nhà Trần phú gia đèn nến sáng trưng, người ra kẻ vào rầm rập lúc đó cũng đã vãn. Nhưng trong nhà thồi tiệc gia đình và thân hữu náo tân phòng hãy còn rất sôi nổi.

Hai bóng đen to lớn thoăn thoắt qua các nẻo đường đến Thanh Kiều lộ.

Một người nói :

- Kia rồi, nhà có con thạch sư ở cổng và có nhiều ánh đèn... Cứ trông ngót mười cỗ kiệu còn thờ ở cổng cũng đủ biết trong nhà còn khách.

Người kia nói :

- Đi vòng ra lối sau, phía tiền đông người quá.

Hai bóng đen liền quay trở lại cách nhà có con thạch sư độ ba nhà, nhằm nơi bóng tối phi thân lên mặt tường, chuyền lên nóc lần ngược trở lại phía sau khu hồi nãy quan sát thấy ba dãy nhà dựng theo kiểu chữ "Môn" sân lớn ở giữa, vườn cây bao bọc xung quanh.

Chắc quý bạn đọc thừa hiểu hai bóng đen đó là Hắc Sát Quỷ Tào Chiếm và Vô Thường Quỷ Tưởng Khắc Trạch lần đến nhà họ Trần giữa đêm tân hôn để thi hành quỷ kế đó.

Tưởng Khắc Trạch kéo tay Tào Chiếm nhảy xuống vườn nhà họ Trần, lanh lẹ tiến theo các gốc cây vào gần nhà mới phi thân lên nóc, đi sát dọc theo sườn mái ẩn trong bóng tối lần vào khu trung tâm.

Bò gần hết dãy nhà bên tả, Tào, Tưởng chợt nghe thấy tiếng chân bước và giọng đàn bà nói léo xéo :

- Tân lang và tân nương còn đang bị "đại náo" trên khách sảnh, cả hai cùng say mèm chắc gì uống nổi rượu hợp cẩn nữa.

Người khác nói :

- Ta cứ theo lệ đem rượu vào bày biện, lo chi uống hay không uống? Cả hai cùng chưa say lắm đâu! Giả đò đấy... chớ ai dại dột lại say sưa như vậy.

Mừng quá song quỷ bò lần theo tiếng hai thị nữ đi ở dọc hành lang, tới đầu dãy nhà giữa thì có tiếng mở cửa.

Tào Chiếm bèn khẽ kéo ngói nhìn xuống, thấy hai thị nữ đang bày biện thồi rượu hợp cẩn trong tân phòng. Chúng vừa làm việc vừa léo xéo nói chuyện.

Họ Tào ghé nói vào tai bạn :

- Tân phòng đây rồi. Ta chờ thế nào chúng cũng phải trở vào.

Một cơn gió lạnh thấu xương hồi qua rung xào xạc mấy khóm lá ngả bên mái ngói khiến hai người rùng mình.

Tùng! Tùng! Tùng!

Từ khu trung tâm thị trấn Hàng Châu trống lầu vừa điểm canh ba.

Lát sau quả nhiên năm sáu thị nữ cầm đèn lồng đỡ Trần Hoàng và tân giai nhân về động phòng...

Nằm trên nóc nhà, Tào Chiếm và Tưởng Khắc Trạch theo dõi mọi việc ở phía dưới...

Hơn khắc canh sau, tân giai nhân cởi áo lên giường.

Bọn thị nữ vội vàng dọn dẹp, kéo nhau ra ngoài khép cửa tân phòng lại.

Chúng khúc khích cười :

- Bây giờ chắc chắn là an thân được nghỉ hẳn hoi!... Nào đi ngủ, mệt quá!

Tưởng Khắc Trạch ngồi nhỏm dậy trong lúc Tào Chiếm ghé mắt nhìn qua mái ngói thấy tân lang vừa bỏ áo vắt vào thành ghế, bèn ra hiệu cho họ Tưởng biết.

Khắc Trạch liền nhảy xuống đất, lần vào hành lang đến gõ cửa tân phòng gọi khẽ :

- Trần đại ca, lẹ lên có việc cần!

Đang sắp sửa lên giường thả hòn theo mộng vu sơn, Trần Hoàng tưởng người nhà gọi, không nghi ngại rút then mở cửa ló đầu ra nhìn không thấy ai.

Chàng lấy làm lạ, bước hẳn ra ngoài toan hỏi lớn, nhưng như có lính tính báo trước, chàng vội quay hẳn người lại thì vừa kịp giật nảy mình nhận ra tên quỷ sứ đã trông thấy hôm rồi ở bên kiệu.

Tưởng Khắc Trạch lẹ như chớp đánh mạnh sườn tay vào gáy Trần Hoàng.

Như bị chiếc chày sắt đánh trúng, Trần Hoàng - thương thay, gục ngay xuống hành lang lặng thở...

Lúc đó Tào Chiếm cũng đã nhảy xuống đấy vội xông ngay vào tân phòng cùng Tưởng Khắc Trạch khép tạm cửa phòng lại.

Tân giai nhân nghe tiếng cửa khép thì tưởng là Trần Hoàng nên quay mặt vào tường.

Bất đồ một bàn tay sắt bịt chặt lấy miệng nàng rồi nhét giẻ đầy miệng. Liễu Ngọc Kim chả kịp trông thấy hai tên mặt mũi hung ác gớm khiếp là ngất lịm.

Tưởng Khắc Trạch mở rộng miệng túi vải lớn đem theo trong khi Tào Chiếm bế xốc tân giai nhân bỏ vào.

Hai người dùng phi hành lanh lẹ chập chờn như bóng ma ra khỏi Hàng Châu, tiến về khu bở biển về Hoa Hải đài.

Ngụy Văn Lương thức chờ, thấy Tưởng Khắc Trạch vác một bọc lớn về thì vui vẻ hỏi :

- Hoàn hảo chớ.

Họ Tưởng gật đầu :

- Đã đành! Tiên nữ giáng trần trong túi này nè.

Tam quỷ bảo nhau đem Liễu Ngọc Kim vào căn phòng cực kỳ lộng lẫy, rút giẻ trong miệng ra rồi trao nàng cho một mụ già mập họ Chiêu săn sóc.

Ngụy Văn Lương bảo mụ họ Chiêu :

- Săn sóc cho cẩn thận nhé! Sáng mai lúc tan hầu, Vương gia sẽ tới đây.

Mụ Chiêu toét miệng ra cười :

- Được, ba vị hiền đệ cứ an tâm, ta quen làm việc này từ ba mươi năm nay rồi, khỏi dặn đi dặn lại nhiều lời.

Tam quỷ lẳng lặng ra khỏi phòng.

Chiêu bà đặt Liễu Ngọc Kim lên giường kéo mền đắp đến tận ngực cho nàng. Lát sau, Liễu Ngọc Kim bừng mắt dậy, ngơ ngác nhìn quanh. Đang bỡ ngỡ chưa kịp nói thì bỗng nhận ra một mụ béo mập ngồi trong góc phòng nhìn mình mỉm cười, cái cười nhăn nhở đáng ghét vô cùng.

Mụ Chiêu mập cất tiếng tè rè như lệnh vỡ :

- Cô em đã dậy đó à! Lạ lắm hả? Có đói không? Ăn yến tần nhé!

Liễu Ngọc Kim run rẩy sợ hãi, nhớ lại những việc mới xảy ra trong tân phòng :

- Đây là đâu?

Nhưng nàng giật mình vì chợt nghe thấy tiếng sóng biển ào ào vỗ...

- Chao ôi! Đây là đâu? Ai đưa tôi tới chốn này? Trần lang đâu?

Mụ Chiêu cười hềnh hệch, toàn thân run lên như núi thịt, đi lạch bạch ngồi ghé xuống bên giường, nơi Liễu thị đang kéo mền ra ngòi nhổm dậy :

- Cô nương có đói không? Ăn một chút yến tần nhé.

Thấy bộ mặt của Mụ Chiêu mập ú như con heo, son phấn chét đầy. Liễu thị ghét phát tởm :

- Tôi không đói! Sao lại bắt tôi đến đây? Có mục đích gì?

- Rồi sẽ biết. Nhưng phải ăn chút đỉnh cho khỏi đói lòng mới được.

Liễu Ngọc Kim ngẫm nghĩ chắc chắn có sự không hay xảy ra rồi. Nàng nhớ việc hai tên diện mạo hung dữ lẻn vào phòng bịt miệng bắt và nàng ngất đi cho tới vừa đây mới tỉnh. Ờ, phải ăn để lấy sức phòng bị lúc hiểm nghèo. Cùng lắm là đến liều thác để giữ vẹn danh tiết chớ sao?

Nghĩ đoạn nàng nói :

- Ờ, cho tôi ăn ngay, đói lắm. Nhưng tên a má là gì?

Mụ Chiêu mỉm cười đắc chí :

- Chiêu má má. Cô nương biết điều như vậy là phải lắm. Những mà bướng bỉnh chỉ thêm tội thân mà cũng chẳng được ích lợi gì. Biết... chiều chuộng bảo sao nghe vậy, sẽ được sung sướng, muốn gì cũng có nghe chưa? Nào! Chờ chút xíu, có ăn ngay.

Mụ Chiêu đứng lên, lạch bạch mở cửa ra khỏi căn phòng rộng rãi trần thiết lịch sự trang nhã.

Thừa dịp, Liễu thị chạy ra chỗ cửa sổ định nhìn ra ngoài, nhưng cửa chớp, cửa kính cùng đóng chặt, ở giữa lại buông rèm kín mít. Bên ngoài hoàn toàn yên lặng, ngoài tiếng vỗ rì rào xa xa... Thì ra trong lúc mình ngất lịm, chúng đã đem mình đi xa, ra tới bờ biển! Lại Mụ Chiêu mới đáng ghét, đặc điểm dáng điếm về già! Theo lời mụ nói vừa rồi, tất nơi này là chỗ giam cầm phụ nữ hoặc của bọn giặc hoặc của lũ bán phấn buôn son. Trời ơi! Ngờ đâu cái đêm tân hôn hạnh phúc tràn ngập những tưởng được cùng Trần Lang vui vầy duyên cá nước, đầu bạc trăm năm, lại chuyển hướng thành bất hạnh đôi lứa đôi nơi. Không hiểu chàng có biết mình ở nơi đây đến tiếp cứu không? Hay là chàng cũng lâm nạn nguy hiểm tới tánh mạng rồi?... Nghĩ đến cha mẹ già yếu hay tin con gái bị mất tích lạc loài chẳng biết người có chịu nổi đau đớn mà không bệnh hoạn! Càng nghĩ, Liễu thị càng đau xót, căm hờn kẻ nào đang tâm phá tan hạnh phúc của nàng.

Song thân nàng và nàng cũng vậy, tánh tình hiền lành phúc hậu suốt đời không hề tàn ác mà sao lại gặp tai nạn sanh ly bạc phúc đến như vậy, chẳng hóa ra ông Xanh bất công lắm sao.

Liễu thị trở lại bên giường ngồi, thẩn thờ suy nghĩ. Nàng muốn khóc cho hả lòng, nhưng Mụ Chiêu có lẽ sắp trở lại mà nàng thì không muốn để con người khả ố ấy trông thấy phút mềm yếu của lòng. Nàng quyết liều mạng giữ vẹn tiết trinh, thà thác vẹn danh còn hơn sống nhục.

Tiếng cửa xịch mở ra. Chiêu má má đi trước, theo sau là a hoàn bê chiếc khay đựng mấy món ăn ngon lành nóng hổi đặt lên mặt án ở gần giường rồi tên a hoàn lẳng lặng đi khép chặt cửa lại.

Mụ Chiêu nói :

- Cô nương ăn đi. Trước lạ sau quen, cần gì.

Lẳng lặng, Liễu Ngọc Kim tiến tới kéo ghế ngồi ăn tự nhiên. Nàng đói, đói thực sự vì suốt đêm cưới phần vì bận rộn phần vì e thẹn nàng ăn không đủ no.

Liễu thị ăn xong, mụ Chiêu gọi a hoàn dọn dẹp lấy khăn vò nước nóng dâng lên cho nàng dùng.

Ngọc Kim nói với mụ Chiêu :

- Tôi không có áo dài vận thế này khó coi lắm.

Chiêu má má chỉ chiếc rương cần mã não trong góc phòng :

- Trong rương có đủ y phục các kiểu và các cỡ, cô nương muốn dùng thứ nào cứ việc lấy. Toàn thứ thượng hảo hạng. Sáng mai trở dậy, khăn nước sẵn sàng trong căn phòng nhỏ kế bên đây, sẽ có a hoàn đem nước nóng vào. Bây giờ chúc cô nương ngủ ngon, mụ phải đi nghỉ đây, thức gần suốt đêm rồi.

Mụ Chiêu cúi đầu chào ngoại giao cố ra vẻ lịch sự rồi mới lạch bạch ra cửa. Chỉ chiếc dải nhung đỏ ở bên cửa, mụ Chiêu dặn thêm :

- Nếu cần điều chi cô nương cứ giựt chuông. A hoàn sẽ vào ngay. Ngủ lấy sức đi, mai có người tới thăm.

Nói đoạn mụ cười tít mắt quấy quả đi ra khóa trái cửa lại.

Liễu Ngọc Kim thở phào nhẹ nhõm vì đỡ phải cái tội nhìn mãi bộ mặt heo nái nhăm nhở của mụ Chiêu.

Nàng vội vàng đi quanh phòng sang phòng nhỏ kế bên, tìm kiếm xem thứ khí giới gì khả dĩ lúc lâm nguy có thể tự vệ hay tự sát được.

Nhưng nàng thất vọng, vì tuyệt nhiên không có một vật gì khả dĩ dùng làm khí giới được.

Nản quá, nàng nằm lăn ra giường úp mặt vào gối thút thít khóc rồi ngủ lịm đi lúc nào không biết. Khi bừng tỉnh thì đã thấy Chiêu má má bắt ghế ngồi bên giường đang nhìn nàng tủm tỉm cười.

- Qua giờ Thìn rồi, bồn tắm đã sẵn sàng trong phòng bên, mời cô nương vào sửa soạn rồi dùng điểm tâm.

Như kẻ không hồn, nàng lẳng lặng vùng dậy đi sang phòng bên cài cửa lại. Bồn nước nóng khỏi tỏa nghi ngút bốc thơm nức mùi hương trầm. Xiêm y gấm lụa sẵn sàng, vắt trên lưng kỷ. Tắm xong, nàng mặc nguyên áo quần cũ, bới lại làn tóc mây và vận thêm chiếc áo dài rồi mở cửa bước ra ăn điểm tâm. Mụ Chiêu chờ a hoàn dẹp mọi thứ rồi lẳng lẽ rút lui.

Liễu Ngọc Kim thẩn thờ ngồi xuống kỷ nghĩ ngợi.

Hồi lâu, bỗng cửa ra vào xịch mở, một người đàn ông y phục sang trọng vóc người tầm thước đeo mặt nạ đen bước vào.

Nàng giật mình, tim đập rộn ràng, như trống trận, đứng vội dậy vòng ra sau kỷ như muốn nhờ tấm vách mong manh ấy che chở ngăn cách nàng và kẻ lạ nọ.

Tuy người ấy mang mặt nạ che kín hẳn từ mũi lên đến trán, nhưng nàng cũng nhận ra y trạc ngoại ngũ tuần với chòm râu lơ thơ.

Người đó từ từ bước tới rồi đứng sững lại cách họ Liễu độ hơn trượng, đưa mắt long lanh nhìn ngắm nàng, mỉm cười đắc ý :

- Chà! Tuyệt sắc giai nhân...!

Tiến thêm mấy bước nữa, người đó lại ngừng bước :

- Ái khanh có ngon giấc không? Ta bận việc tới hơi trễ, nên thể tình về sự chậm chạp đó nhé?

Liễu Ngọc Kim sợ hãi, tứ chi run lẩy bẩy, mặt biến sắc, giữ chặt lấy thành kỷ chạm.

Bây giờ thì nàng hiểu rõ rồi.

Người lạ mặt nọ là chủ nơi này và đã cho bộ hạ bắt cóc nàng đem về đây tìm cách đường ép liễu nài hoa.

Càng nghĩ càng giận, sắc mặt đỏ bừng, toàn thân nàng bốc nóng, hết run rẩy, sẵn sàng quyết tâm đối phó dù phải chết.

- Tiên sinh là ai? Sao lại bắt tôi đến đây? Không sợ phép quan luật nước sao.

Người kia cười ha hả :

- Nơi đây là sơn hà riêng biệt của ta, sợ chi phép quan luật nước. Ta mến sắc kiều diễm của ái khanh nên mời ái khanh về đây với mục đích gì, chắc bây giờ đã thừa hiểu.

Giận quá, Liễu Ngọc Kim căm hờn :

- Tiên sinh nên dành lời đó cho những kẻ đàng điếm. Tôi sẽ liều chết, đừng hòng áp bức.

- Sắc nước hương trời như nàng liều chết làm chi thêm uổng. Chiều chuộng ta, ái khanh muốn gì ta cùng chiều, nghe? Thì giờ quý báu, nhất khắc thiên kim, ái khanh đừng phí phạm...

Dứt lời, người đó cởi bỏ áo bào liệng ra góc phòng, rồi tiến đến gần nàng đưa hai tay định choàng lên vai.

Liễu Ngọc Kim lùi bước đứng giáp lưng vào tương.

Người kia từ từ tiến đến gần quờ tay ôm... hụt, vì họ Liễu đã lùi bước ven tường định chạy quanh phòng.

- Ái khanh không biết điều chút nào, ta ngưỡng mộ sắc khuynh thành đem ái khanh về đây vui vầy cá nước, sao lại chối từ?... Chối từ cũng không được! Mà chạy... ái khanh định chạy đi đâu?

- Đồ cẩu trệ! Ta quyết liều chết với mi.

Lẳng lặng làm thinh trước câu chửi, người đó tiến lẹ quơ tay ôm chầm lấy cô gái tiết nghĩa.

Nàng vung mạnh tay vì đồng thời giựt lùi, nhưng người kia tím tuột vai áo kéo trễ xuống hở hẳn chiếc cổ ba ngấn tròn trĩnh trắng như ngà.

Liễu Ngọc Kim vội vàng xốc áo lại chạy lùi ra xa...

Người lạ mặt đỏ gay gắt, thở rộn ràng, sầm sầm tiến tới như lão hổ ham mồi.

Gót sen nhỏ bé, Liễu thị chạy sao kịp nên bị kẻ lạ rượt theo ôm chầm lấy đôi vai ấm áp mềm mại kéo ghì hẳn vào ngực, dùng sức lôi lại bên giường.

Liễu thị ra sức cấu xé, chống cự kịch liệt. Nàng vùng vẫy tuột cả vai áo, lộ làn da mỡ đọng nõn nà...

Kẻ lạ thích chí cười ghê rợn, ghì chặt, một tay kéo tuột áo dài của thiếu nữ.

Ngọc Kim dùng toàn lực vùng vẫy và thừa dịp người lạ lỏng tay, nàng ghé miệng cắn thiệt mạnh vào vai khiến kẻ nọ đau quá buông tay tát bốp vào mặt nàng.

- Đồ xuẩn! Ta chiều chuộng như vậy mà người muốn bạo hành ư! Được lắm! Ngươi sẽ phải nằm để tiếp ta đền bù lại lúc nãy, nghe chưa.

Y vừa nói vừa thoa chỗ vai bị cắn đau. Giận dữ, y trở bước lượm áo bào khoác lên vai, tiến ra cửa giựt giải nhung gọi chuông.

Mụ Chiêu má má mở cửa bước vào, sợ hãi thưa :

- Tướng công có điều truyền dạy.

Chỉ Liễu thị, người lạ nói :

- Con này quật cường, ta hẹn cho mụ ba ngày phải dậy dỗ cho nó hiền lành ngoan ngoãn bảo sao nghe vậy. Đêm thứ tư ta sẽ trở lại, nghe chưa.

Chiêu má má khúm núm muốn cúi thấp hơn nữa, nhưng xác thịt mập mạp quá, nên chỉ hơi khẽ cúi được cái đầu :

- Dạ, kẻ tiểu nhân này xin cố sức để tướng công được đẹp ý...

Kẻ lạ quắc mặt nhìn Liễu thị như đe dọa lần cuối cùng rồi phăng phăng bước ra khỏi phòng đóng sầm cửa lại.

Chiêu má má chép miệng, lắc đầu nhìn họ Liễu :

- Sao cô nương lại dại dột thế? Khối người muốn được... hầu hạ chủ nhân đây mà còn không được toại nguyện, riêng phần cô nương được người để ý thương yêu thì lại làm phách, tiết với trinh! Rõ chán quá, chẳng tâm lý chút nào! Cứ chiều chuộng người đi, muốn cúi vàng, non bạc cũng có, toàn gia sẽ được hưởng lây... Xuẩn ơi là xuẩn!

- Nếu trở lại tuổi đôi mươi, như cô em thì mụ sẽ hành động trái ngược lại. Uổng quá.

Nghe mấy lời hèn hạ thô bỉ của "con heo cái" nọ, Liễu thị không nén được cơn tức :

- Câm miệng đi! Mụ nói nghe tởm quá.

Chiêu má má cười hềnh hệch khiến đống thịt run lên ầm ầm :

- Đã xuẩn lại còn già họng! Cô em muốn được bạo hành chăng! Lúc đó thì đừng có trách là ta không biết khuyên dạy.

Liễu thị xốc áo ngồi xuống bên giường lặng thinh.

Chiêu má má nói tiếp, giọng đe dọa :

- Ngồi đó mà suy nghĩ hơn thiệt cho đến chiều, ta sẽ trở lại nghe.

Nghe giọng trịnh thượng đe dọa của mụ Chiêu, Liễu Ngọc Kim nổi nóng.

- Chiều mụ trở lại thì làm gì nổi ta, hỡi đồ giá áo túi cơm vô liêm sỉ! Thằng cẩu trệ kia ta cò chẳng sợ nữa là bộ tôi đòi chúng bay.

Nếu cái nguýt dài mà làm chết được người thì Liễu Ngọc Kim đã chết ngay khi đó, vì Chiêu má má trợn đôi mắt ti hí nhìn nàng rồi nguýt dài trước khi lạch bạch chuyển động cây thịt ra khỏi của phòng...

Nói về nhà họ Trần ở Thạch Kiều Lộ đêm tân hôn.

Kia Vô Thường Quỷ Tưởng Khắc Trạch và Hắc Sát Quỷ Tào Chiếm bắt cóc giai nhân đem đi được một lát thì có bọn nữ tì dọn dẹp mấy thứ lặt vặt đi ngang qua sân ở gần tân phòng.

Chúng đang khúc khích cười bàn tán với nhau thì bỗng nhận ra cửa tân phòng mở rộng, ánh đèn le lói ra ngoài.

Một nữ tì tên Tiểu Ái nói :- Kìa! Các chị nhìn xem, sao đêm hợp cẩn mà cửa tân phòng lại mở rộng là thế nào? Kỳ quá à!

Hai nữ tì Nhật Hoa và Tố Liên cũng ngừng bước nhìn, Nhật Hoa nói :

- Ờ nhỉ! Không lẽ Trần công tử để ngỏ cửa tân phòng, trời lạnh thế này chớ nóng nực gì cho cam! Ta lại đó xem sao.

Ba người liền vượt qua bực đá lên hành lang, tiến về phía tân phòng.

Lúc gần tới nơi, chúng nhận ra có người nằm xoài úp mặt trên mặt gạch hoa thì cả ba giật mình nhận ra là tân lang.

Sợ quá, Tiểu Ái chạy vùng ra khu đại sảnh kêu lớn :

- Chao ôi! Có biến! Có biến! Cấp cứu!...

Trong phòng khách, các thân hữu và người nhà còn đang vui vẻ yến ẩm chợt nghe tiếng kêu thất thanh, ai nấy đều vội vàng chạy ra hành lang xem sự gì.

Tiểu Ái Nhật Hoa và Tố Liên mặt tái mét thở không ra hơi chạy tới.

Tràn phú ông vội hỏi :

- Có việc gì ghê gớm mà bây la vậy?

Tiểu Ái ríu cả lưỡi chỉ về phía tân phòng :

- Trần... Trần công tử... bị... bị chết... nằm ngoài... ngoài cửa phòng.

Trần hữu và mọi người nghe vậy đều hoảng hồn kéo ùa ra phía tân phòng. Bạn thân của Trần Hoàng là Kỳ Tường Bảo lẹ chân chạy trước.

Tới nơi Kỳ Tường Bảo lật ngửa Trần Hoàng lại, đặt đầu lên khuỷu tay và cúi xuống nghe ngực :

- Người hãy còn nóng, tim đập tuy yếu. Vị nào giúp tôi khiêng Trần đại ca vào trong phòng và lấy dầu nóng thoa bóp nào.

Mọi người liền khiêng Trần Hoàng vào phòng đặt lên giường. Người nhà cầm đầu nóng tới, Kỳ Tường Bảo và hai anh em Trần Hoàng đích thân thoa bóp nạn nhân.

Trần thái thái la khóc ầm ĩ, nhưng Trần Hữu khuyên giải, sai nữ tì vực về hậu phòng, một mặt sai phu kiệu cấp tốc đi rước lang y quen thuộc về chẩn mạch cho Trần Hoàng.

Kỳ Tường Bảo nói với Trần Hữu :

- Lạ một điều là tân giai nhân không có mặt trong phòng, lão bá hãy kiểm soát xem có bị mất mát gì không và cho người đi tìm khắp trong nhà ngoài vườn xem sao.

- Nơi nào thứ ấy vẫn y nguyên, lão phu xem rồi chỉ trừ có vợ Trần Hoàng là vắng mặt để lão tìm cho.

Kỳ Tường Bảo xem xét khắp người nạn nhân không hề có dấu tích chi cả, ngoại trừ nơi gáy bị tím bầm một mảng lớn.

Trần Hoàng vẫn thiêm thiếp như người ngủ say.

Danh y Trương Thạch Công nổi tiếng Biển Thước Hàng Châu và cũng là người vẫn trông coi thuốc men cho cả hai gia đình Trần, Liễu tới nơi tay xách túi thuốc. Mọi người giãn ra nhường chỗ cho lương y.

Trương Thạch Công ngồi xuống bên giường chẩn mạch cho Trần Hoàng hồi lâu, xem xét vết thương nói rằng :

- Vết thương phạm thần kinh lại thêm, sợ hãi quá nên ngất đi. Tuy vậy không hại tánh mạng, quý vị an tâm.

Nói đoạn, Trương Thạch Công lấy ở túi vải ra gói thuốc bột đưa cho anh của Trần Hữu.

- Hòa thuốc "Hoàn Thần" này với nước ấm cạy miệng cho đệ tam công tử uống ngay lát sau sẽ yên tĩnh. Hai, ba người ở lại trong phòng này được rồi, còn tất cả ra ngoài cho thoáng khí.

Lúc đó bọn gia nhân đốt đuốc chia nhau đi tìm Liễu Ngọc Kim không thấy, bèn về báo với Trần lão ông. Trần Hữu hợp mọi người lại bàn tán, mỗi người đoán một cách không hiểu ra sao. Rốt cuộc, lão ông đành sai người sang bên nhà họ Liễu báo tin.

Trong tân phòng, Kỳ Tường Bảo cùng hai con trai lớn họ Trần săn sóc cho nạn nhân. Uống thuốc được hồi lâu, tứ chi Trần Hoàng đã nóng đều và nạn nhân lờ đờ mở mắt nhưng lại nhắm nghiền.

Ba người mừng quá, Kỳ Tường Bảo cầm tay bạn khẽ gọi :

- Trần đại ca lai tỉnh! Lai tỉnh!

Lát sau Trần Hoàng mở mắt nửa mệt mỏi nhìn ba người, môi mấp máy như muốn nói gì.

Cả con họ Trần gọi :

- Tam đệ lai tỉnh, mau...

Trần Hoàng khẽ quay đầu sang bên tả, nhưng nhăn mặt, lắc đầu rên rỉ :

- Chao ôi, đau quá.

Kỳ Tường Bảo gọi :

- Đại ca tỉnh hẳn chưa? Tiểu đệ đây mà.

Trần Hoàng mệt mỏi :

- Gớm, tên hung dữ hôm nọ.

Kỳ Tường Bảo hỏi dồn :

- Tên hung dữ nào? Gặp hôm nào?

- Gặp bên kiệu... bữa nọ? Chúng nó... Ác quá... ác quá.

Kỳ Tường Bảo chợt nhớ ra bốn người diện mạo hung ác đứng ngay bên kiệu hôm rồi, bèn hỏi :

- Tên đó vào đây à? Chính nó đánh đại ca và bắt tân nương đi à.

Mệt mỏi Trần Hoàng nhắm nghiền mắt lại hồi lâu mới lim dim mở ra phều phào nói :

- Nàng bị bắt đi rồi à? Tội nghiệp! Chính nó đã vào đây, tiểu đệ nhớ rõ lắm. Chính nó...

Trương Thạch Công và mọi người nghe báo Trần Hoàng đã tỉnh lại liền kéo vào phòng. Lương y chẩn lại mạch lần nữa :

- Qua khỏi rồi, chỉ còn mệt thôi! Để tôi lấy mấy vị thuốc này sắc ngay cho uống, sáng mai chắc chắn tính trạng sẽ khá hơn nhiều. Tam công tử cần tĩnh dưỡng ít ngày.

Lúc đó vợ chồng họ Liễu và mấy người con đã sang tới nhà họ Trần. Liễu bà khóc sướt mướt, mấy lần ngất đi khiến mọi người phải vực vào nằm trong phòng Trần phu nhân.

Trần Hữu cắt người nhà ở lại phòng săn sóc Trần Hoàng, một tốp canh phòng ngay ngoài hành lang. Còn tất cả ra ngoài khách sảnh.

Kỳ Tường Bảo đem việc Trần Hoàng nói tên hung dữ gặp hôm nọ thuật lại cho Trần Liễu hai họ nghe. Bàn đi tính lại hai họ xưa nay ăn ở hiền đức không lẽ có kẻ thù, vậy tên hung dữ nào đó tất phải là đạo tặc. Như vậy chỉ còn có cách là đi trình quan.

Bàn sao làm vậy, Trần Hữu tức khắc thảo một lá đơn chung cho cả hai tên ký tên vào đó, sáng hôm sau trình lên Tổng đốc phủ.

Trên quan nhận đơn, bảo hai họ Trần Liễu cứ sẽ về cho nhân viên đi điều tra, chừng nào có kết quả sẽ trát đòi lên phủ đối chất.

Thiệt ra họ đâu có ngờ thủ phạm lại chính là người của quan Tổng đốc bắt người đẹp cho quan hưởng.

Kỳ Tường Bảo say khi nghe Trần Hoàng khi đã tỉnh táo kể lại việc xảy ra đêm tân hôn thì lấy làm nghĩ ngợi suốt ngày đi lang thang khắp châu thành Hàng Châu với mục đích may ra lại gặp tên diện mạo hung dữ hôm nọ.

Qua ngày thứ hai, Tường Bảo đang đi thủng thẳng bên bờ Tây Hồ chợt thấy đám đông người đang đứng vòng trong vòng ngoài xem mãi võ, bèn tìm chỗ thưa người len vào coi.

Người mãi võ vóc dáng người tầm thước da ngăm đen dầy dặn dạn phong trần, đầu chút khăn vàng, võ phục đen, tay áo sắn cao lộ bắt thịt nở nang, chân quấn xà cạp, đi giày mỏng gót.

Một người nữa cũng cỡ ấy, tuy nét mặt non hơn, đứng khoanh tay lên sườn bên cạnh mấy món võ khí gác vào nhau như đại đao, giáo, thiết lãnh.

Hảo hán đứng giữa vòng lễ phép khoanh tay xá bốn phương, rao rằng :

- Anh em chúng tôi họ Cao từ Quý Châu lưu lạc giang hồ lên tới đây, nghe tiếng thị trấn Hàng Châu đất rộng người nhiều nên đem tài mọn hầu chư quân tử, mua vui, và mong được giúp chút ít tiền độ nhựt. Tự xét tài học không được bao nhiêu, nếu còn chỗ nào thiếu sót, mong chư vị quân tử vui lòng chỉ bảo, chúng tôi sẵn lòng lãnh giáo và lấy làm cảm kích vô cùng, và đây là bài Quý Châu quyền.

Nói đoạn, hảo hán đó chắp tay bái tổ rồi hoa quyền vùn vụt, đảo bộ sầm sập dào bài quyền Quý Châu cực kỳ dũng mãnh, tài nghệ quả đã tới mức nhập thần.

Biểu diễn một hồi, hảo hán đó hồi bộ thâu quyền về mặt không biến sắc, hơi không thở mạnh. Khán giả vỗ tay tán thưởng rầm rầm.

Vì hảo hán thứ hai liền vác cây giáo ra cúi đầu chào tứ phía :

- Thưa quý vị, tiểu tử xin trình diễn bài Mai Hoa Thương, nếu có đoạn nào sơ suất cũng xin chư quân tử miễn xá cho.

Dứt lời, y đứng chụm chân thẳng người, cầm đốc giáo hoa lên vài vòng thiệt mềm mại dẻo dai, ra tấn, bái tổ và khai diễn.

Ngọn giáo lúc lẹ lúc chậm biến ảo vô cùng đâm đông, thích tây, dứt nam, đánh bắc, làn giáo quây tròn lấy toàn thân hảo hán vừa dẻo vừa dữ dội.

Lát sau, đi hết bảy mươi hai đường giáo trở về bái tổ, hảo hán cắm giáo xuống chỗ cũ, nghỉ ngơi.

Trong khi đó vị hảo hán thứ nhất cầm nón đi quanh xin tiền.

- Mong chư vị quân tử vui lòng giúp cho chút ít để anh em tôi có tiền lộ phí.

Hảo hán đó đi tới chỗ Kỳ Tường Bảo đứng. Mọi người, ai nấy đều không nhiều thì ít, liệng tiền rào rào vào chiếc nón tre đao sơn dầu. Họ Kỳ cũng móc túi liệng mấy quan tiền vào nón, nhưng chàng ngạc nhiên khi chợt thấy người nào đó ở phía sau lưng liệng cả năm lạng bạc mới nguyên giúp người mãi võ. Người này cúi đầu cảm ơn.

Tường Bảo tò mò vội quay lại nhìn xem kẻ hảo tâm ấy là ai thì thấy một tráng sĩ trạc tam tuần, cao lớn phương phi, cùng đứng với hai thanh niên tầm thước đẹp đẽ uy nghi, như mủ ngọc. Cả ba hao hao giống nhau như anh em ruột, cùng vận áo bào đao đen, kiếm như bậc thế gia công tử.

Không nói tất bạn độc cũng thừa đoán ra đó là Tam hiệp từ Tô Châu tới. Lam Y và Âu Dương Bích Nữ cải nam trang. Tam hiệp đến Hàng Châu xế chiều hôm trước vào trọ ở Lưu gia tửu quán ngoài Nam môn thị trấn.

Hôm sau, ba người rủ nhau đi quan sát vừa tới bờ tây Hồ thấy có mãi võ bèn rẽ vào xem. Động lòng trắc ẩn trước cảnh sống của anh em người giang hồ mãi võ, Tam hiệp bèn tăng tiền giúp đỡ.

Sau khi cảm tạ vị khán giả hào phóng, hảo hán mãi võ lần lượt đi vòng quanh đưa nón xin tiền, Kỳ Tường Bảo nhìn theo thì bất chợt nhận ra sự gì...

Ở đầu phía bên kia, một người diện mạo hung dữ vừa lén vào xem. Tường Bảo ngờ ngợ hình như đã gặp kẻ đó ở đâu rồi! Nghĩ mãi, chàng chợt nhớ ra y chính là tên diện mạo hung dữ trông thấy đứng ở gần kiệu của Trần Hoàng hôm nọ.

Đêm hôm cưới, họ Trần cũng nhận rõ mặt kẻ hung ác này trước khi bị đánh ngất lịm, hung thủ ngay trước mặt kia, bỏ qua sao được.

Nhưng biết làm thế nào bắt được y? Chạy đi báo quan thì sợ tên đó đi nơi khác mất, mà tự kỷ hành động, Tường Bảo tự lượng sức mình không làm nổi, mà chưa biết chừng còn mang hại vào thân. Tên quỷ sứ đó đã chẳng đánh Trần Hoàng một cái vào gáy suýt chết đấy ư.

Bực quá, Kỳ Tường Bảo cuống cuồng chưa biết hành động thế nào, cho có hiệu quả thì chợt nghĩ ra ba vị công tử hùng dũng đứng ngay phía sau mình vừa thưởng tiền cho người mãi võ.

Họ Kỳ liền quay lại nhắm vào vị lớn tuổi hơn cả cúi đầu chào, Chu Đức Kiệt hơi lạ vì không nhận ra quen người vừa chào mình hồi nào thì Tường Bảo đã nói nhỏ :

- Xin lỗi, công tử thứ tôi đường đột, nhưng việc gấp quá.

Tam hiệp nhìn nhau, ngạc nhiên.

Đức Kiệt hỏi :

- Có sự gì túc hạ cứ nói, nếu giúp được tôi quyết chẳng từ nan.

- Nếu vậy xin mời công tử ra khỏi chỗ đông người này mới trình bày được.

Tam hiệp lấy làm lạ bèn cùng theo họ Kỳ ra khỏi vòng người.

Đi được chừng vài sải tay, Tường Bảo khoanh tay thi lễ xưng danh và nói rằng :

- Trong đám đông người xem mãi võ kia, tôi chợt nhận ra một tên can phạm trong vụ bắt cóc cô dâu đêm tân hôn, tự lượng sức không bắt nổi nên đành phải quấy rầy phiền ba vị tiếp tay liệu có được không.

Lam Y hỏi :

- Tên can phạm đó đứng ở đâu?

- Ngay phía trước mặt nơi chúng ta xem vừa rồi.

Âu Dương Bích Nữ nhìn hai bạn đồng hành, khẽ gật đầu mà rằng :

- Phải chẳng tên diện mạo hung dữ như quỷ sứ mới bu vào xem.

Kỳ Tường Bảo tươi hẳn nét mặt :

- Dạ, chính tên ấy đó. Trông nó hung dữ có vẻ khỏe mạnh tinh thông võ nghệ.

Chu Đức Kiệt nói :

- Không cần phải vội vàng, đứng đây ta có thể coi chừng người ấy được. Vậy câu chuyện thế nào, Kỳ đại ca có thể nói qua cho anh em tôi nghe được không?

Tường Bảo đáp :

- Dạ, được lắm.

Nói đoạn chàng kể rõ vụ gặp tên hung ác hôm lễ hỏi và vụ bắt cóc Liễu Ngọc Kim cho Tam hiệp nghe.

Lam Y nói :

- Chúng tôi là du khách từ xa tới vãng cảnh Hàng Châu, vậy Kỳ đại ca cứ xưng hô như bằng hữu cho tiện.

- Về vụ này ta không nên hấp tấp. Đã gặp tên gian ác đó ở đây trong khi nó vô tình, ta nên thản nhiên theo xem nó đi về đâu. Khi ấy sẽ hành động cũng không trễ. Vậy đại ca hãy tạm nhập bọn với chúng tôi cùng theo nó xem sao.

Tường Bảo trông thấy ba người có cốt cách anh hùng, xử sự lanh lẹ, thì lấy làm mừng và cảm thấy có thể tin cậy được.

- Dạ, ba vị tôn huynh dạy chí phải, tiểu đệ xin tuân theo.

Bốn người liền rủ nhau đứng gần vào vòng quanh để tránh sự nghi ngờ. Chu Đức Kiệt nói với Kỳ Tường Bảo :

- Ba anh em tôi họ Tề, tên Long, Hổ, Báo từ Bắc Kinh xuống đây ngoạn cảnh Giang Nam, hiện trọ tại Trần gia tửu quán ngoài Nam Môn.

- May gặp được ba vị tôn huynh giúp đỡ, nếu không thì vị tất tiểu đệ tự kỷ làm nổi việc này.

Tam hiệp chú ý quan sát quả thấy tên diện mạo hung ác có nhiều cử chỉ bất lương thiện.

Chu Vĩnh An nổi tiếng háo sắc, biết đâu vụ Trần Hoàng này lại không có liên lạc với tên dâm vương này.

Nếu vậy thì may quá, việc nọ dẫn tới việc kia, đỡ mất thì giờ dò hỏi. Trên đời phàm sự gì cũng do định mệnh, âu là số mệnh dâm vương đến ngày tận, nên Tam hiệp khi vừa tới Hàng Châu thì gặp ngay Kỳ Tường Bảo phát giác ra vụ Trần Hoàng theo dõi tên Vô Thường Quỷ Tưởng Khắc Trạch.

Hôm đó, Tưởng Khắc Trạch ra phố ăn sáng và mua mấy thứ lặt vặt. Lúc điểm tâm xong ở Tây Hồ mỹ quán, Tưởng Khắc Trạch đi ngang qua đó thấy đám mãi võ liền rẽ vào coi, chẳng ngờ phùng oan gia, bị Kỳ Tường Bảo nhận được mặt mà y lại không nhớ ra họ Kỳ.

Hồi lâu, Kỳ Tường Bảo bỏ đám mãi võ, lang thang vào trong phố mua sắm một bọc lớn tới Ngọ mới rẽ vào bá Vương Lầu uống rượu.

Tam hiệp và Kỳ Tường Bảo cùng vào theo tìm nơi kín đáo gọi rượu uống coi chừng Tưởng Khắc Trạch.

Sang cuối giờ Ngọ, họ Tưởng mới ở tửu lầu chuệnh choạng đi ra thuê kiệu đi.

Kỳ Tường Bảo toan gọi kiệu cùng đi theo thì Chu Đức Kiệt đã gạt lại :

- Không nên! Một lúc bốn chiếc kiệu đi theo sẽ bị nó chú ý. Kiệu phu đi cũng không lẹ lắm, theo kịp mà.

Theo sự chỉ dẫn của Tưởng Khắc Trạch, kiệu phu ra khỏi thị trấn Hàng Châu rồi đi mãi ra khu vực hải biên.

Nửa chừng, y xuống kiệu trả tiền, xách gói hàng lững thững đi, không hề để ý tới bọn bốn người theo sau phía xa xa, vì khu vực hải biên không hoàn toàn vắng vẻ, trái lại, cũng có kẻ đi người lại, lẫn vào đó có cả dân chài lưới đi biển đánh cá.

Sóng vỗ rì rào, gió cuộn trong rừng thông vi vu thành một nhạc điệu gợi cảm.

Bỗng xa xa có một tòa lâu đài đồ sộ xây toàn bằng gạch đá xanh, lầu mái cong cong chênh vênh nổi bật trên nền trời xanh ngắt.

Tưởng Khắc Trạch đi tới cổng đứng nói chuyện, một lúc với mấy tên gia nhân canh phòng rồi vào thẳng, đứng bộ tự nhiên tỏ ra y rất quen ra vào nơi đó.

Giả đò đứng nhìn trời mây sông nước, bên mỏm đá lớn, bốn người chú ý nhận xét.

Kỳ Tường Bảo mặt khó đăm đăm ra chiều nghĩ ngợi lung lắm.

Lam Y hỏi :

- Kỳ đại ca nghĩ gì vậy? Nhận thấy việc chi lạ phải không.

Kỳ Tường Bảo trầm ngâm khẽ gật đầu :

- Dạ, lạ thật, tiểu đệ không còn suy tính nổi nữa.

- Ủa, việc chi lạ vậy?

- Lạ lắm chứ. Nếu tôn huynh hiểu như tiểu đệ cũng sẽ ngạc nhiên.

Lam Y nghi ngờ nhìn Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ rồi hỏi họ Kỳ :

- Nói cho anh em tôi biết việc lạ đó được không.

Kỳ Tường Bảo chậm rãi :

- Tiểu đệ nhờ ba vị huynh không nói thiệt sao được! Nhưng chính tiểu đệ cũng lúng túng không biết nghĩ ra thế nào cả. Theo lời đồn, tòa lâu đài gần cửa sông kia là của một vị đại quan, không hiểu vì lẽ gì tên cao phạm trong vụ Trần gia lại ra vào nổi nơi đó.

- Kỳ đại ca nhận lầm tên vừa rồi chăng?

- Không, tiểu đệ cả quyết chính y, chắc chắn không sai.

- Dọc theo bờ biển này có thân ổ nào nữa không?

- Đây chỉ là một cửa đại giang hay là một cửa nhỏ ăn sâu vào trong đất liền, nên hai bên bờ có xóm chài lưới. Từ đây tới biển còn phải đi ít ra hai ngày đường nữa.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Thảo nào sóng đập khá dữ!... Nhưng Kỳ đại ca có biết tên vị đại quan chủ nhân lâu đài kia không.

Kỳ Tường Bảo gật đầu :

- Nghe đồn thôi chớ không dám cả quyết. Hình như chủ lâu đài là quan Đề đốc Hàng Châu!...

- Nghĩa là Vương gia Chu Vĩnh An?

- Dạ...

Tam hiệp nhìn nhau cùng mỉm cười.

Kỳ Tường Bảo nói tiếp :

- Nếu là lâu đài của quan Đề đốc, tại sao tên can phạm hung ác kia xuất nhập như người nhà vậy? Đó là điểm phi lý, tiểu đệ nghĩ mãi không hiểu.

Chu Đức Kiệt ôn tồn bảo họ Kỳ :

- Đại ca nghĩ mãi không ra, chớ anh em tôi thì hiểu rõ rồi. Thôi, ta quay về Hàng Châu, chừng nào có tin gì lạ chúng tôi sẽ báo về nhà họ Trần cho hay.

Kỳ Tường Bảo băn khoăn :

- Thế còn tên hung ác kia, bỏ nó ở đây chừng nào mới may mắn gặp được nữa? Thà rằng bắt nó trình quan ngay từ lúc xem mãi võ cho rồi.

- Mặt trái vụ án bắt cóc Liễu Ngọc Kim này ghê gớm lắm, đại ca không hiểu mới nói tới việc trình quan, tưởng rằng sẽ có kết quả hay. May cho đại ca gặp được chúng tôi ngăn cản kịp, trình báo không những chẳng ích lợi gì mà còn hại đến thân nữa đó! Hai họ Trần Liễu đã vô đơn thưa kẻ vô danh rồi đó, có thấy động tĩnh gì không.

Kỳ Tường Bảo suy nghĩ giây lát :

- Theo như ý tôn huynh trình báo vô ích, vì kẻ hung ác can phạm can phạm kia là người nhà quan Đề đốc Hàng Châu!...

Chu Đức Kiệt phì cười :

- Còn phải suy nghĩ gì nữa? Sự thật rành rành như bạch nhật, đại ca trông thấy ngay thị tiền. Nhưng thôi, an tâm trở về Hàng Châu đi và chịu khó giữ vụ này trong vòng bí mật. Tiết lộ ra, không được việc còn thêm hại. Bây giờ đại ca dẫn chúng tôi về qua nhà Trần Hoàng cho biết đường.

Kỳ Tường Bảo tin tưởng cùng Tam hiệp trở về Hàng Châu, xẩm tới mới qua Thạch Kiều Lộ, mời ba người vào chơi nhà họ Trần.

Tam hiệp từ chối. Đức Kiệt nói :

- Kỳ đại ca thể tình cho, và giữ bí mật. Đêm mai chờ anh em tôi tại đây.

Ba người về thẳng Trần Gia tửu quán ngoài Nam môn, dùng cơm tối xong lên thẳng trên lầu thay y phục dạ hành.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Ý nhị hiền muội về tòa lâu đài hồi chiều thế nào?

Lam Y nhìn Âu Dương Bích Nữ có ý nhường lời.

Biết ý, Âu Dương Bích Nữ đáp :

- Đường đường một vị Đề đốc Hàng Châu, Chu Vĩnh An không thể hành động ngoài pháp luật như việc bắt phụ nữ đem về cầm hãm ngay ở trong dinh được, nên phải có một nơi khác. Hẳn tòa lâu đài đó là việc tàng xuân của dâm vương. Bởi vậy, tiểu muội suy nghĩ thắc mắc từ nãy không hiểu gian vương đến đó vào những giờ giấc nào? Ngày hay đêm? Còn tên diện mạo hung ác chắc là thủ hạ của y, coi bộ tinh thông võ nghệ và lẽ cố nhiên biết phi thiềm tẩu bích mới có thể bắt cóc phụ nữ đem về cho Vĩnh An được. Đêm nay thám thính xem có Liễu Ngọc Kim bị giam cầm trong lâu đài không. Cứu được nàng ra thì e lộ chuyện gian vương không dám bén mảng đến đó nữa, mà không cứu ngay cũng tội nghiệp. Nhị vị có ý kiến nào khác không?

Lam Y nói :

- Vụ này khó tính trước lắm. Làm thế nào biết được giờ giấc gian vương, đón hạ sát ngay trong lâu đài đỡ mất thì giờ nhiều. Trái lại không gặp dịp may thì sẽ vào dinh Đề đốc chứ sao.

Chu Đức Kiệt nói :

- Khu lâu đài vắng vẻ, ta nên thám thính sớm một chút có lẽ hơn. Nào đi.

Ba người liền tức khắc đeo khí giới. Đức Kiệt đeo thêm bọc tiền bạc lên lưng, trong khi vắng mặt đạo chích lẻn vào lấy trộm.

Chàng nói giỡn :

- Không có cái món này thì không xong, mà có thì càng bận thêm về nó, ngay cả trong khi hành hiệp! Làm thủ quỹ cho nhị vị hiệp nữ cũng phiền toái lắm. Lúc nào cũng túi bạc kè kè!...

Lam Y và Âu Dương Bích Nữ nhìn chàng mỉm cười rồi ra thẳng cửa sổ phi thân xuống mặt tường, ra đường. Đức Kiệt khép chặt cửa lại xuống theo. Ba dạ hành khách chạy biến vào trong đêm tối vòng thị trấn Hàng Châu, ra tới bờ nước thì đã vào khoảng canh hai. Ngoái lại nhìn, toàn cõi thị trấn đã biến mất sau màn sương mờ mờ. Trời lạnh buốt.

Tòa Hoa Hải đài đồ sộ sừng sững ở phía xa, ánh lửa còn le lói tại một vài nơi, qua khuôn cửa sổ trên lầu.

Tam hiệp ngừng bước nhận xét kỹ thấy thỉnh thoảng có đốm lửa bật lòe lên ở cổng. Âu Dương Bích Nữ nói:

- Bọn canh cổng hút thuốc, còn thức, ta qua bên tả vậy.

Ba người lẳng lặng bước lẹ vòng sang bên tả, núp bên mõm đã lớn quan sát trên mặt tường.

Hoàn toàn yên lặng, ngoài tiếng gió thỉnh thoảng rít từng hồi và tiếng nước vỗ vào bờ bì bõm.

Canh phòng không nghiêm ngặt. Chúng yên trí rằng không còn ma nào tới đây nữa nên chỉ cầm chừng lấy lệ. Nào lên tường.

Ba người bèn lủi thủi tiến đến gần chân tường đá cao vời vợi. Âu Dương Bích Nữ phi thân lên trước đưa mắt nhìn quanh rồi ra hiệu cho Lam Y và Đức Kiệt nhảy lên. Cả ba cùng nằm sát xuống mặt tường rộng quan sát bên trong.

Lâu đài sừng sững choán giữa khu vườn cây cối trồng thành hàng ngăn nắp. Trên lầu, dưới lầu đều có hành lang chạy quanh. Trong cùng khu đất, ánh đèn còn le lói lọt qua khe cửa dãy nhà thấp xây gần tường và ẩn dưới những chòm cây um tùm.

Âu Dương Bích Nữ chỉ nơi có ánh đèn trên lầu ra hiệu lên đó. Tam hiệp cùng nhảy xuống đất băng qua khu vườn vào sát tòa lâu đài, nhảy qua lan can vào hành lang.

Chuyến này, Lam Y và Chu Đức Kiệt mặc Âu Dương Bích Nữ hành động nên hai người chỉ theo sau tùy cơ tiếp tay.

Biết vậy, Âu Dương Bích Nữ cũng tự ý điều khiển. Nàng đã rút được nhiều kinh nghiệm từ ngày theo anh em Chu gia ở Kim Lăng, còn về phần bản lãnh thì không cần phải bàn luận tới nữa. Không những nàng là cao thủ phái Thiếu Lâm tự mà còn là ái nữ của một danh sư phái võ ấy.

Chiêu Đức thiền sư là sư trưởng hiện thời trên chùa Thiếu Lâm, trước kia còn là sư đệ của lão anh hùng Trại Mạnh Thường. Nếu lão anh hùng thế phát thì chính người thay thế Trí Dũng đại sư điều khiển Thiếu Lâm tự, vì họ Âu Dương phần lớn tuổi hơn, phần nhập môn hai năm trước Chiêu Đức thiền sư, tuy trong khi cùng học hai nhân vật ấy vẫn thường đồng sức.

Bao nhiêu tài nghệ, ba anh em Âu Dương đều được hấp thụ ngay từ khi còn rất ít tuổi, chuyên luyện theo phương pháp đặc biệt chân truyền.

Lão anh hùng Trại Mạnh Thường tuy luyện tập cho ba con ở trang trại, nhưng khi Tòng Cát, Tòng Đức và Bích Nữ lớn lên đều được gởi lên chùa tiếp tục học theo luật lệ nhà chùa, dưới quyền điều khiển rất gắt gao của sư thúc Chiêu Đức. Tới lúc sư trưởng Thiếu Lâm thấy quả ba danh đồ ấy đã thành tài, có thể trả về Âu Dương trang được mà vẫn kiểm điểm lại sức học của ba người bằng cách bắt họ thoát khỏi khu "Mộc Nhân Mộc Mã" và luân phiên giao đấu cùng chính mình mới cho hạ sơn.

Xét như vậy đủ hiểu Âu Dương Bích Nữ đã có một căn bản rất vững chắc về võ nghệ tinh hoa, và công phu khổ luyện nhiều năm quả đã đạt mức cao siêu ít người sánh kịp.

Biết vậy, nên sau nhiều lần thử, anh em Chu gia xét thấy chỉ phải dìu dắt cho nàng thêm kinh nghiệm là trở thành nữ hiệp khách lỗi lạc hoàn toàn.

Đáng lẽ phi thân lên lầu tìm ngay nơi có ánh sáng, nhưng Âu Dương Bích Nữ tò mò thấy hành lang rộng rãi nên đi vòng sang phía bên kia xem có gì lạ không, Lam Y và Đức Kiệt đi theo. Ba người thoăn thoắt như bóng ma nhẹ nhàng không một tiếng động nhỏ.

Ở ngay gần cuối dãy hành lang, bên kia có thang lầu ngoài rộng rãi lát gạch bông, Tam hiệp liền theo lối đó đi lên. Bích Nữ tìm nơi cửa sổ có ánh đèn mờ mờ ghé mắt nhìn vào, nhưng giữa cửa sổ rèm buông tỏa kín nên không thấy gì. Cánh cửa rất kiên cố nếu cạy thì không tránh được việc gây ra tiếng động.

Ghé tai Lam Y nàng nói khẽ :

- Cửa chắc lắm, ta lên mái thôi.

Lam Y đồng ý.

Tam hiệp liền bước mặt lan can nhảy ra mái ngoài, rồi mới từ đó phi thân lên mái nhà, nhằm nơi đúng căn phòng có ánh sáng.

Âu Dương Bích Nữ nhẹ tay kéo viên ngói nhìn xuống.

Phòng rộng mênh mông bày biện sơ sài. Kéo rộng kẽ ngói hơn chút nữa, nàng thấy một phụ nữ đầu tóc lòa xòa nằm úp trên gối, và một mụ nữa có tuổi mập mạp ngồi trên kỷ bên giường đang xỉa xói nói:

Âu Dương Bích Nữ ghé tai nghe :

- ... Ba ngày hết hạn rồi... cứng đầu cứng cổ, mai chủ nhân tới... người không thoát khỏi cưỡng bức.

Người trên giường vẫn nằm im mặc cho mụ mập béo léo xéo nói.

Âu Dương Bích Nữ nhường chỗ cho Lam Y nghe. Lát sau chồi dậy bảo :

- Mụ mập ra khỏi phòng rồi, ta giở ngói xuống. Chu huynh đứng trên mái coi chừng nhé!

Dứt lời, nàng gỡ nhẹ mấy viên ngói thành một lỗ hổng lớn, chống tay vào hai bên rồi buông chân xuống cây xà ngang lớn trên góc căn phòng.

Âu Dương Bích Nữ cũng theo cách ấy xuống theo.

Người đàn bàn trên giường vẫn nằm úp mặt như trước nên không trông thấy.

Lam Y và Âu Dương Bích Nữ nhảy xuống mặt gạch nhè nhẹ như hai chiếc én rồi tiến ngay đến bên giường.

Bích Nữ mặc Lam Y, tiến sang phòng bên ghé đầu dòm vào thấy đó là căn phòng tắm. Bỏ đó, nàng tiến ra lối cửa lớn, đứng chặn phòng, khi có người vào.

Lam Y nhận ra người nằm, trên giường là một thiếu nữ xinh đẹp, có lẽ vì mệt mỏi nên đã ngủ thiếp đi hơi thở đều đều.

Nàng bèn đưa tay đập nhẹ lên vai đánh thức.

Thiếu nữ hoảng hốt quay phắt người lại kinh ngạc hé miệng, toan la nhưng Lam Y đã kịp bịt chặt lấy miệng, người ấy mà rằng :

- Đừng có la. Nàng là Liễu Ngọc Kim phải không? Tôi đến cứu đây.

Lúc đó, Liễu Ngọc Kim mới nhận ra người vừa gọi đúng mình tên mình là một thanh niên tráng sĩ xinh đẹp vận võ phục màu lam sẫm, lưng đeo bảo kiếm.

Yên trí hơn, nàng gật đầu. Lam Y buông tay ra :

- Dạ, tôi là Liễu Ngọc Kim. Tráng sĩ vào lối nào.

- Nàng đừng hỏi, trả lời thôi vì thì giờ gấp rút. Bị bắt được mấy hôm rồi.

Liễu Ngọc Kim đáp :

- Hôm nay nữa là ba ngày.

- Biết chủ nhân nhà này là ai không? Đã bị cưỡng bức chưa?

- Chưa, nhưng chúng hẹn mai sẽ trở lại, chắc không còn lối thoát nữa. Hình như chủ nhân là một người có thế lực.

- Tôi gặp Kỳ Tường Bảo nên mới biết chuyện dò la cứu nàng. Mặc áo vào, ta đi thôi, lẹ lên!

Không hiểu hay dở thế nào, nhưng cứ được ra khỏi căn phòng giam hãm này là may rồi, vả lại trong trường hợp này nàng không có quyền lựa chọn.

Mừng quá, Liễu Ngọc Kim vội bước xuống giường với chiếc khăn bịt qua loa mớ tóc xòa lại cho gọn và vận áo dài. Lúc đó, nàng mới nhận ra còn một thanh niên mỹ mạo đang đứng chắn ở gần cửa ra vào, bèn hỏi Lam Y :

- Ta ra lối cửa? Cửa đó khóa ngoài rồi.

Lam Y lặng lẽ chỉ tay lên nóc nhà.

Liễu Ngọc Kim nhìn theo thấy một lỗ mái ngói đủ một người chui lọt.

Thấy Ngọc Kim đã sửa soạn xong, Lam Y nói :

- Nàng nhắm mắt lại mặc tôi, đừng sợ nhé.

Dứt lời, Lam Y bế nhẹ Ngọc Kim lên tay phi thân lên cây xà ngang.

Âu Dương Bích Nữ chờ Lam Y nâng cao Ngọc Kim cho Đức Kiệt ở trên mái đỡ nàng qua lỗ hổng, mới phi thân lên theo, đu tay lên hai bên rồi chui hẳn lên mái ngói.

Nàng xếp ngói lại y nguyên như cũ rồi cùng Đức Kiệt nhảy xuống hoa viên.

Lam Y cõng Ngọc Kim, e nàng sợ nên chuyền xuống mái nhà dưới rồi mới nhảy xuống hoa viên. Ba người lặng lẽ băng qua vườn, vượt tường ra ngoài, dùng thuật phi hành về thẳng Hàng Châu.

Liễu Ngọc Kim úp mặt vào vai Lam Y nhắm nghiền mắt lại chỉ thấy gió lạnh quật vù vù bên tai. Nàng có cảm tưởng như đang bay, lúc vượt lên cao lúc nhào xuống thấp. Hồi lâu bỗng người cõng nàng ngừng hẳn lại đi thong thả :

- Liễu cô nương mở mắt ra được rồi và nhìn xem đây là đâu.

Ngọc Kim mở bừng mắt ngơ ngác đầu nhìn quanh, lát sau mới nhận ra đang đứng trước cổng nhà họ Trần có con làm bằng đá ở Thanh Kiều Lộ.

Nàng mừng rỡ nói khẽ :

- Thanh Kiều Lộ, đây là cổng nhà chồng tôi.

Lúc đó đã quá canh tư, bốn bề im lặng. Tam hiệp thấy cổng nhà họ Trần khóa chặt, bèn vượt tường vào trong đi thong thả qua sân rộng. Mấy con chó nằm trên hành lang thấy bóng người cùng xô ra sủa inh ỏi.

Hai tên gia nhân mở cửa cầm gậy chạy ra, theo sau là năm sáu người cùng võ trang quát hỏi :

- Ba tên nào kia, biết điều đứng lại.

Tam hiệp vẫn lặng lẽ tiến tới, nhưng Liễu Ngọc Kim lên tiếng :

- Tôi đây mà, Trần lang có nhà không.

Gia nhân giơ đèn lên soi. Hai người anh Trần Hoàng là Trần Phương và Trần Tống nhận ra cô em dâu thì vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, bảo gia nhân đuổi mấy con chó đi nơi khác cho khỏi sủa inh ỏi, và mời mọi người vào nhà.

Lúc đó Trần ông cũng đã cùng mấy người nhà thấy động khoác áo chạy tới.

Tam hiệp theo anh em họ Trần vào nhà, đặt Liễu Ngọc Kim xuống. Nàng run rẩy ứa lệ chỉ Tam hiệp mà rằng :

- Đây là ba vị ân nhân đã cứu tôi về. Chuyện dài lắm.

Cha con Trần gia vội thi lễ cùng Tam hiệp, mời vào hậu đường.

Trần Hữu sai nữ tì vực Liễu Ngọc Kim vào phòng Trần lão bà, nhưng nàng đã nói :

- Thưa phụ thân, con vui mừng được thoát nạn nên thành ra run rẩy vì cảm động thôi. Trước hết xin sai người báo cho song thân con được biết rằng con đã về để người đỡ đau buồn. Sau nữa, phụ thân cho con biết tin Trần lang.

Nàng chưa dứt lời thì Trần Hoàng đã tới nơi.

Liễu Ngọc Kim mừng quá khóc òa lên bước tới gục đầu vào vai chồng. Nàng đinh ninh rằng Trần Hoàng bị hai tên hung dữ đem đi rồi.

Họ Trần rưng rưng hạt lệ dìu vợ ngồi xuống kỷ :

- Câu chuyện xảy ra như thế nào, hiền thê khá kể rõ ràng cho cả nhà nghe.

Liễu Ngọc Kim lau nước mắt kể rành mạch mọi sự từ lúc bị bắt ngất đi cho đến lúc Tam hiệp cứu về.

Cha con họ Trần thấy ba vị hiệp khách uy dũng, đẹp như người trong tranh, lấy làm kính phục, bèn bước tới chỗ ba người đang ngồi quỳ xuống lạy tạ ơn, nhưng Tam hiệp vội đỡ cả đứng dậy.

Chu Đức Kiệt nói :

- Cứu người trong khi nguy hiểm là bổn phận của anh em chúng tôi. Quý vị bất tất phải hành lễ như vậy.

Trần Hữu hỏi :

- Quý vị hiệp khách làm thế nào biết được vụ này mà đến lâu đài cứu con dâu tôi ra.

Chu Đức Kiệt kể lại việc gặp Kỳ Tường Bảo nhận được mặt tên hung ác và nói tiếp rằng :

- Đáng lẽ đêm mai anh em tôi mới đi do thám, nhưng sau lại nghĩ rằng có lẽ tân giai nhân bị bắt giam trong lâu đài nên phải đi thám thính cứu ngay. Bởi vậy, chúng tôi chỉ hẹn Kỳ Tường Bảo đêm mai mới chờ ở đây.

- Việc này chưa xong đâu. Bị mất mồi ngon đã đành, nhưng chúng e sự bí mật của lâu đài bị tiết lộ nên thế nào cũng trở lại đây thám thính xem Liễu cô nương có về nhà không? Vậy tôi yêu cầu lão tiên sinh hạ lệnh cho người nhà giữ bí mật hoàn toàn vụ này trong ít ngày, chừng nào tôi bảo hết nguy hiểm thì sẽ sống bình thường.

Trần Hữu nói :

- Dạ, vạn sự trông mong cả ở hiệp khách, xin cứ ra lệnh sẽ tuân theo. Cốt sao cho hết nguy hiểm. Hoặc giả nếu cần phải dời cả gia đình đi nơi khác trong ít lâu tạm lánh cũng được.

Chu Đức Kiệt đáp :

- Không cần đến thế. Chỉ cốt giữ bí mật không được để lộ chuyện Liễu Ngọc Kim cô nương đã về đây. Nếu không giữ gìn kín đáo vụ này không những Liễu cô nương bị hại mà toàn thể gia đình này sẽ mắc họa lây.

Chúng tôi yêu cầu đừng báo cho Liễu gia biết việc Liễu Ngọc Kim cô nương đã được cứu về nhà vội, vài ngày nữa sẽ hay.

Ngay bây giờ dọn phòng khách cách xa tân phòng cho vợ chồng lệnh lang Trần Hoàng tạm ở, nhường căn phòng lại cho chúng tôi trong vài ngày.

Trần Hữu nghe nói ba vị hiệp khách chịu ở lại bảo vệ cho mình thì lấy làm mừng rỡ :

- Những điều đại hiệp vừa dạy, chúng tôi xin triệt để tuân theo. Các gia bộc đều là những người thân tín lâu năm.

Tam hiệp cùng đứng cả dậy. Đức Kiệt nói :

- Bây giờ chúng tôi về quán trọ chiều này sẽ trở lại.

Trần Hữu và mấy người quanh đấy có vẻ lo sợ.

Đức Kiệt nói :

- Để Ngọc Kim cô nương trong phòng kín thì không có sự gì đáng ngại trong ngày đầu. Rán nghe lời, chiều chúng tôi sẽ trở lại.

Nói đoạn, Tam hiệp từ giã họ Trần đi thẳng ra sân.

Mọi người đi ra nhìn theo thì đã không thấy đâu nữa rồi.

Về đến quán trọ, trong quán đã có người dậy sớm, Tam hiệp lặng lẽ phi thân vào phòng thay dạ hành đi ngủ lấy sức.

Nói về trong Hoa Hải đài, sáng hôm sau Chiêu má má trở dậy sai thị nữ :

- Sửa soạn cho con bé ăn điểm tâm đi. Để giờ Thìn cho nó tắm, lấy xiêm y mới cho hoàn bị để nó hầu tiếp lão gia trưa nay.

Nói đoạn, mụ đi rửa mặt chải đầu, thoa son phấn.

Lát sau, thị nữ đến nói với mụ :

- Điểm tâm sửa soạn xong rồi.

Chiêu má má liền lạch bạch cầm chìa khóa và mở cửa căn phòng rộng lớn, nơi đã giam giữ Liễu Ngọc Kim mấy ngày.

Trên giường trống rỗng. Chiêu má má ngạc nhiên, tưởng Liễu Ngọc Kim ở trong phòng bên bèn gọi lớn :

- Cô nương! Cô nương!

Tiếng vang trong phòng dội lại như nhái mụ Chiêu.

Gọi thêm mấy tiếng nữa, không thấy trả lời. Chiêu má má vội vàng chạy tới cửa căn phòng tắm ló đầu nhìn vào. Phòng trống rỗng.

Mụ ngẩn người ra nói một mình :

- Ủa, con bé này biến đâu thế này? Làm sao ra khỏi phòng này.

Mụ bảo thị nữ để khay điểm tâm xuống ván, giúp mụ chui xuống gầm giường xem "Cô nương" có núp dưới đó hay không, bụng mụ lớn quá cúi không nổi.

Thị nữ tuân lời, chui vào gầm giường tìm :

- Không có ai trong này cả.

Bấy giờ Chiêu má má mới thật hoảng hốt :

- Xem các cửa có đóng chặt không.

Tuy sai thị nữ như vậy, nhưng Chiêu má má cũng đích thân kiểm soát lại các cửa như thường.

- Cửa nào cũng đóng chặt, y nguyên lớp trong lớp ngoài.

Mụ đứng ở giữa phòng chống tay lên sườn :

- Quái! Con bé này chuồn đi đâu. Có cánh cũng chẳng ra khỏi phòng này.

Không biết làm thế nào hơn nữa, Chiêu má má bảo thị nữ xuống lầu gọi Tam quỷ.

Lát sau, Ngụy Văn Lương, Tào Chiếm và Tưởng Khắc Trạch cùng rầm rập chạy tới.

Ngụy Văn Lương hỏi :

- Việc chi vậy hả má má.

Mụ Chiêu phùng má trợn mắt la :

- Còn việc gì nữa à? Con bé biến đâu mất rồi.

- Cửa mở hay đóng?

- Các cửa ngách đều y nguyên, tôi và thị nữ vừa kiểm soát xong.

Tam quỷ cau mày dữ tợn nhìn nhau.

Tưởng Khắc Trạch lẩm bẩm :

- Lẽ nào lại thế được? Dù cửa có mở con bé xinh đẹp ấy cũng không ra thoát khỏi lâu đài tường cao vời vợi, cổng có canh phòng.

Tào Chiếm nói :

- Ta vào phòng xem sao đã.

Chiêu má má liền lạch bạch đi trước. Tam quỷ theo sau.

Tam quỷ kiểm soát thật kỹ càng, nhìn trên mái nhà không có gì lạ.

Ngụy Văn Lương bèn phi thân lên các xà ngang nhìn gần lớp mái ngói, Tào Chiếm và Tưởng Khắc Trạch cũng hành động theo như vậy.

Kiểm soát hồi lâu, không thấy gì khác, chúng nhảy xuống.

Sở dĩ Tam quỷ không nhận ra vết chân trên mặt xà ngang là vì trong phòng cửa đóng kín mít, ánh đèn le lói từ dưới lên càng thêm khó nhìn hơn nữa.

Chúng sơ suất không cầm đuốc soi kỹ vì không tin có người xuống qua mái ngói dày dặn cứu nổi họ Liễu.

Chiêu má má lo lắng :

- Làm thế nào bây giờ? Lát nữa lão gia tới biết nói sao.

Ngụy Văn Lương trừng mắt :

- Chắc má má quên không khóa cửa ra vào nên con bé đi thoát chớ gì.

Mụ Chiêu giãy nảy lên như đỉa phải vôi :

- Ngụy đại ca nói thế không lo khi chết phải kềm cặp lưỡi sao.

Tưởng Khắc Trạch nói :

- Dù con bé đó có ra khỏi phòng cũng không thể nào ra khỏi lâu đài được.

Tào Chiếm gật đầu :

- Trừ phi nó biết thăng thiên hay độn thổ. Từ trước tới nay chưa bao giờ xảy ra một vụ vô lý thế này.

Ngụy Văn Lương nói :

- Ta xuống lầu chia nhau rà lục soát các nơi xem sao, trong khi Chiêu má má và thị nữ tìm kiếm ở trên này xem có phòng nào ngỏ cửa không.

Bọn giao ngoan chia nhau đi các ngả huy động tất cả nhân viên canh phòng lâu đài tìm kiếm hồi lâu không thấy gì trở lại tụ họp cả dưới lầu.

Tam quỷ vò đầu vò tai lo ngại, Chiêu má má cũng nhăn nhó.

Ngụy Văn Lương đập hai tay vào nhau cằn nhằn :

- Mất con bé đó không cần, chẳng có nó sẽ có đứa khác, nhưng sự bí mật của lâu đài là cái khó trả lời chủ nhân. Nói thế nào bây giờ! Con bé họ Liễu ra khỏi nơi đây tất phải có lý do chớ. Nó tàng hình sao?

Tào, Tưởng nhị vị hiền đệ lên cả trên mái xem có vết tích gì không. Chắc có người tới cứu và người đó đã xuống phòng trên lầu bằng lối mái ngói.

Tào Chiếm và Tưởng Khắc Trạch đồng ý chạy phi thân lên mái.

Ngụy Văn Lương chỉ mụ Chiêu gắt :

- Một phần lớn tại má má! Nếu cứ ngủ cùng với con bé ấy như mọi khi thì nó biến đâu cho thoát? Tại sao chuyến này lại ngủ riêng.

Chiêu má má há hốc miệng :

- Con bé ấy kỳ cục lắm, nó đe dọa nếu nằm cùng giường với nó sẽ bị nó đạp nên mụ tưởng nằm riêng cũng không sao, các cửa đều khóa chặt ngoài lại canh phòng cẩn mật.

Tức mình Ngụy Văn Lương bỏ ra hoa viên đi quanh lâu đài xem xét các vết chân.

Từ trên nóc đài, Tào Chiếm gọi lớn :

- Ngụy đại ca, lên đây! Có sự lạ.

Ngụy Văn Lương tức thì phi thân lên mái thứ nhất, rồi từ đó mới lên nóc nhà trên cùng nơi Tào, Tưởng hai người đang đứng.

Tưởng Khắc Trạch chỉ tay vào tấm ngói có vết dở ra còn mới nguyên :

- Đại ca coi vết tích dở ngói kia kìa. Chỗ đó xuống đúng phòng giam con bé họ Liễu. Ngoài ra không có dấu chân nào khác.

Ngụy Văn Lương xem xét hồi lâu :

- Đích vậy rồi. Chúng vào ra lối này không nghi ngờ gì nữa. Tên nào vào tới đây cứu Liễu thị tất bản lãnh phi thường. Mái ngói rêu phủ nhẹ mà không để lại dấu chân.

Tào Chiếm gật đầu :

- Ờ, lúc vào đã vậy chớ khi ra cõng nặng Liễu thị trên lưng mà một chút vết mờ cũng không có, đủ hiểu thuật Đề và Án khí của y quả đã vượt bậc cao siêu, nhẹ hơn Chim hồng, chim Hộc, khi nặng tất chẳng kém Thái Sơn.

Tưởng Khắc Trạch hỏi :

- Lát nữa Vương gia tới sẽ trả lời thế nào đây.

Ngụy Văn Lương cười gằn :

- Các hiền đệ còn viện lẽ gì nữa? Với một bản lãnh vượt bậc như dạ hành khách đêm qua dù có đóng cả quân ở đây cũng vô ích. Chỉ phiền một nỗi là sự bí mật của lâu đài Hoa Hải được giữ kín từ bao lâu nay đã bị lộ liễu bởi dạ hành khách và Liễu thị. Vương gia tất sẽ trao cho anh em ta trách nhiệm giải quyết vụ này... Thôi, đi xuống.

Tam quỷ chuyền hai lần mái mới xuống tới đất, phương pháp phi thân cũng đã vào bậc đáng kể.

Trưa hôm ấy, Chu Vĩnh An vận thường phục đi kiệu tới. Gian vương hí hửng, yên trí sẽ được hường những phúc khoái lạc thần tiên bên người đẹp. Y còn có một cảm khoái man dã hơn nữa là được hưởng tân nương cướp tận tay đêm tân hợp.

Hai cánh cổng Hoa Hải đài mở lớn, nhường cho chiếc kiệu bề ngoài rất thường như các cỗ kiệu khác trong trấn Hàng Châu, do hai kiệu phu thân tín đắc lực khiêng vào. Theo sau là hai vệ sĩ thường trực trong dinh Đề đốc. Cả hai cùng vận thường phục, giắt ngầm khí giới. Cánh cổng đồ sộ nặng nề, do hai người đẩy lại từ từ khép chặt. Kiệu đỗ trước thêm hoa. Vĩnh An khẽ gật đầu trước lời chào kính cẩn của các nhân viên trong Hoa Hải đài rồi đi thẳng vào thư phòng.

Bọn Tam quỷ Ngụy, Tào, Tưởng và Chiêu má má cùng nhón nhén theo vào.

A hoàn dâng trà đặt lên án thư rồi lặng lẽ ra khỏi căn phòng.

Vừa thổi vừa uống cạn ly trà nóng ngạt ngào hương thơm, Vĩnh An đưa mắt nhìn mấy người vừa vào! Nhìn từ người nọ đến người kia hồi lâu, Vĩnh An chợt hỏi :

- Có sự gì không hay vậy? Trông sắc diện các ngươi, ta hiểu rồi.

Ngụy Văn Lương quỳ xuống chắp tay định nói nhưng Vĩnh An đã lên tiếng trước :

- Ta cho phép các ngươi ngồi cả xuống đôn, các người run rẩy khó coi lắm.

Bốn người khép nép ngòi xuống cẩm đôn. Ngụy Văn Lương thưa :

- Tâu Vương gia, Liễu thị không còn trong Hoa Hải đài nữa...

Vĩnh An tái sắc :

- Tưởng việc gì chớ việc Liễu thị ư? Làm sao nói mau.

Bốn người tái mặt. Họ Ngụy cố trấn tĩnh :

- Liễu thị đã thoát khỏi lâu đài từ đêm qua.

Vĩnh An gắt :

- Thoát bằng cách nào? Thăng thiên hay độn thổ? Hừ gớm thật.

- Tâu Vương gia, có thể gọi là thăng thiên vì nàng ta được một nhân vật nào đó cứu thoát qua lỗ mái bị dở.

Vĩnh An gắt gao :

- Trời lạnh, các ngươi và những tên có phận sự canh phòng ngủ quên đi mất phải không.

- Thưa không, việc canh phòng vẫn như bình thường vì đêm qua chính kẻ hạ nô này ngồi ở phòng canh ngoài cổng đài. Người cứu Liễu thị quả có bản lãnh phi thường...

- Lẽ cố nhiên! Có phi thường mới xảy ra cơ sự này! Nói ta nghe.

Ngụy Văn Lương kể lại vụ mất tích Liễu thị và nhấn mạnh về việc dạ hành khách không để lại dấu chân trên hoa viên cũng như trên rêu ngói.

Tự rót trà uống, Chu Vĩnh An lặng lẽ hồi lâu mới thủng thẳng lên tiếng.

- Sá cho con Liễu thị, nhưng vì nó mà sự bí mật của Hoa Hải đài bị phát giác mới là điều đáng quan tâm. Bây giờ tính sao.

Tam quỷ đưa mắt nhìn nhau, Vĩnh An nói tiếp :

- Các ngươi phải tức khắc thám thính nhà Liễu thị... khép miệng nó lại, hiểu ý ta muốn nói gì không?

- Dạ.

- Còn dạ hành khách kia thì sẽ tùy cơ ứng biến sau nghe! Chưa thanh toán xong vụ này, không được hành động ngoài sự chỉ định của ta.

- Dạ.

Chu Vĩnh An bực tức rủ áo đứng lên ra kiệu về thẳng Hàng Châu.

Đêm hôm ấy vào khoảng canh ba, dân chúng thị trấn Hàng Châu đang mơ màng ngon giấc điệp thì từ một quán trọ nọ bỗng có ba bóng đen xuất hiện chuyền trên các nóc nhà nhấp nhô nếp cao, nếp thấp, nhằm hướng Thành Kiều Lộ. Ba dạ hành khách đó không phải ai xa lạ mà chính là bọn Tam quỷ, Ngụy, Tào, Tưởng vào quán trọ từ ban chiều chờ đến khuya hành động. Tưởng Khắc Trạch và Tào Chiếm dẫn đường. Ngụy Văn Lương đoạn hậu. Tam quỷ nằm xoài trên mặt tường hoa nhà họ Trần nghe ngóng hồi lâu.

Bốn bề yên tĩnh, Tào Chiếm vẫy tay ra hiệu. Cả ba cùng nhảy xuống khu vườn sau lẫn qua bóng tối rồi phi thân lên nóc dãy nhà ngang, lanh lẹ chạy tới chỗ tân phòng mà chúng đã biết từ trước.

Tam quỷ nằm sát xuống mái ngói nghe ngóng. Tức thì, họ Ngụy bò ngược xuống rìa mái nhìn thấy phía dưới có ánh đèn lờ mờ chiếu sáng qua khe cửa. Y bèn vẫy tay ra hiệu cho Tào Tưởng rồi nhảy vụt xuống sân chuyền thẳng vào hành lang. Tào Chiếm xuống theo. Tưởng Khắc Trạch nằm trên nóc coi chừng.

Bốn bề im lặng như tờ. Trần gia có lẽ ngủ say. Ngụy Văn Lương hơi lạ ở chỗ một khu nhà rộng như vậy có sân lớn, vườn tược hẳn hoi mà không lẽ không nuôi chó đề phòng đêm hôm trộm đạo.

Tuy nghi ngờ, nhưng nóng hành động để chuộc tội với chủ nhân, vả lại đang ngon trớn, Ngụy Văn Lương áo tay vào khe cửa sổ nghe, mường tượng như có tiếng người ngủ say thở nhẹ đều đều trong phòng.

Y mỉm cười nham hiểm, nghĩ bụng đêm nay cặp tân lang và tân nương mới được động phòng nên ngủ say sau cuộc phượng đảo loan điên... Dịp may hiếm có, chẳng thẳng tay hành động còn chờ lúc nào hơn nữa! Hai tiếng "khép miệng" Liễu thị do chủ nhân dạy hồi sang còn để bên tai y. Nhưng khép miệng Liễu thị thì dễ, chớ làm thế nào khép miệng toàn gia họ Trần? Suốt ngày hôm nay chẳng lẽ Liễu thị và dạ hành khách ân nhân của thị không kể lại chuyện xảy ra ở lâu đài cho mọi người nghe sao? Việc tới đây hay tới đó! Hạ Liễu thị đã! Nếu cần thì... luôn cả Trần Hoàng. Nhà họ Trần biết điều, sợ mất mạng... tất sẽ im miệng!

Suy tính mau lẹ, Ngụy Văn Lương đưa tay khẽ ấn thử cánh cửa sổ! Ồ, may quá! Cánh cửa không cài then bên trong, khẽ hở ra. Họ Ngụy khép sang bên khuôn cửa nhìn vào.

Trong góc phòng, màn loan buông phủ kín, ở chân giường lộ ra hai cặp hài lớn, nhỏ... Đúng rồi, vợ chồng Trần Hoàng đang tay ấp má kề say sưa giấc điệp.

Không do dự nữa, Ngụy Văn Lương ra hiệu bảo Tào Chiếm đứng chờ rồi nhẹ tay nâng cánh cửa sổ cho khỏi kêu, mở rộng. Y vắt chân lên thành cửa, nhẹ nhàng nhảy vụt giữa phòng... Tào Chiếm lăm lăm cầm đao đưa mắt nhìn ba phía, coi chừng. Tưởng Khắc Trạch nằm dọc xuôi theo chiều mái ló đầu ngó xuống phía dưới xem đồng bọn hành động... Bỗng từ phía sau mái, một bóng đen nhấc bổng tới bên họ Tưởng êm ru lẹ đưa bàn tay thép bóp chặt lấy gáy Tưởng Khắc Trạch, khiến tên này chỉ kịp hộc khẽ lên một tiếng rồi toàn thân bị xách cổng lên khỏi mái ngói.

Cùng lúc tiếng hộc do Tưởng Khắc Trạch phát ra ấy, Ngụy Văn Lương vừa nhảy vào phòng.

Tào Chiếm giật mình, nắm chặt cán dao trừng mắt nhìn quanh, nhảy lên lan can ra sân xem có sự gì trên mái nhà thì ở trong phòng dội lên tiếng "hự".

Họ Tào hoảng hốt quay phắt người lại nhìn thẳng vào trong phòng, có chân định phóng người qua hành lang lên thành cửa sổ cuốn thì một bóng đen khác đã luôn ở mé ngoài lan can lúc nào không rõ, đưa tay nắm cứng chắc lấy cổ chân Tào Chiếm lôi tuột ra sân. Trong khi tên gian đạo còn đang chơi vơi, bóng đen bí mật nọ đã quật luôn tay xuống gáy y nặng nề như chày sắt. Tào Chiếm không kịp kêu, đau quá ngất lịm, thanh đoản đao rời khỏi tay rơi xuống sân đá xoảng một tiếng ghê rợn vang dội trong đêm tối.

Nói về Ngụy Văn Lương khi nhảy vào giữa căn phòng, ngó quanh rồi tiến thẳng đến bên giường, gạt rèm mừng sang bên nhất quyết hạ sát Liễu thị và Trần Hoàng.

Chẳng ngờ, khi vừa gạt được cửa mùng thì y bị luôn một cái đạp như trời giáng trúng ngực tim gan bể nát, chết không kịp la, cây thịt đổ huỵch xuống đất.

Âu Dương Bích Nữ vì chính nàng nằm chờ sẵn trên giường thay vì vợ chồng Trần Hoàng, vén rèm bước ra nắm đai lưng Ngụy Văn Lương xách ra sân, đặt xác chết Tào Chiếm.

Nàng hỏi Lam Y đứng gần đó :

- Tên kia cũng hết thở rồi chớ?

- Chắc vậy vì trúng huyệt gáy.

Giữa lúc ấy thì có tiếng Chu Đức Kiệt ở trên mái nhà hỏi :

- Dưới ấy xong việc rồi chớ.

Lam Y đáp :

- Hiền huynh xuống đi. Xong cả rồi.

Đức Kiệt xách Tưởng Khắc Trạch nhảy xuống sân đặt nằm cạnh hai tên Tào, Ngụy. Chàng nói :

- Nhị vị hiền muội nhìn xem có nhớ ra đã gặp tên này ở đâu không.

Lam Y và Âu Dương Bích Nữ nhìn qua nhận ra ngay :

- Tên diện mạo hung ác gặp ở chỗ mãi võ bên Tây Hồ.

Chu Đức Kiệt vỗ tay mấy cái ra hiệu. Bốn cha con Trần gia vội thắp đèn lồng chạy ra sân.

Trần Hoàng chỉ xác Tưởng Khắc Trạch :

- Chính tên này đã vào đây đánh tôi chết ngất đêm tân hôn.

Trần lão ông run rẩy chỉ bọn Tam quỷ nằm sõng sượt trên sân :

- Ba tên này tử thương cả rồi sao, Chu đại hiệp.

Đức Kiệt phì cười :

- Dạ chẳng lẽ để chúng tiếp tục hại người lương thiện.

Lam Y biết ý nói ngay :

- Trần tiên sinh chớ lo, anh em tôi đem chúng đi ngay bây giờ.

Âu Dương Bích Nữ góp ý :

- Trả những của này về lâu đài có lẽ đắc sách hơn cả.

Đức Kiệt gật đầu :

- Phải rồi, cảnh cáo chúng luôn thể.

Tam hiệp bèn hỏi Trần Hoàng lấy ba chiếc bao gạo lớn, bỏ xác Tam quỷ vào rồi mỗi người vác một bao lên vai ra Hàng Châu tiến tới lâu đài Hải Hoa.

Ba người theo lối cũ vượt tường phi thân lên thẳng trên lầy đi vòng hành lang đến một căn phòng có ánh sáng đoán là phòng của Chiêu má má, lẳng lặng dốc xác chết trong bao ra đặt ngồi dựa vào lan can trước cửa phòng.

Xong xuôi, Lam Y gõ cửa rồi cùng Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ nhảy lên mái trên nằm dốc xuống ghé mắt nhìn.

Quả nhiên, trong phòng có tiếng mở khóa, cánh cửa từ từ hé mở, a hoàn ló đầu ra nhìn mờ mờ thấy Tam quỷ ngồi dựa vào lan can, liền quay lại nói vọng vào phòng :

- Má má à, ba ông quỷ sứ say rượu mò lên đây rồi ngủ lăn ra kia rồi.

Mụ Chiêu lóe xóe :

- Được rồi, để ta ra coi. Đêm hôm thế này thì quá lắm.

Lát sau mụ Chiêu lạch bạch mắt nhắm mắt mở ngái ngủ mở rộng cửa bước ra hành lang.

Mụ khệ nệ cúi xuống lắc vai Ngụy Văn Lương :

- Nè đồ nỡm! Say như chết mò lên đây làm gì...

Vừa dứt lời, thì xác tên Cửu Đầu Quỷ đổ lăn đè lên chân mụ Chiêu, mắt mở trừng trừng dưới ánh đèn do a hoàn vừa cầm ra soi. Mụ Chiêu hoảng hồn hét lên cất tiếng toan chạy, chẳng dè vướng phải tay tử thi nên cây thịt bị té lăn ra hành lang, kêu như heo bị chọc tiết.

Tam hiệp không cần xem tiếp hơn nữa, ra khỏi Hoa Hải đài phi hành về quán trọ nghỉ ngơi.

Hôm sau, vào khoảng giờ Tỵ, ba người ngủ dậy rửa mặt chải đầu xong, thì Tiểu nhị lên phòng báo :

- Thưa khách quan, có người hỏi xin yết kiến.

Lam Y hỏi :

- Ai vậy, có danh thiếp không :

- Thưa không, đó là một thanh niên, hiện đang ngồi ở nhà dưới.

Chu Đức Kiệt liền xuống lầu nhận ra Kỳ Tường Bảo.

Thi lễ xong, họ Kỳ nói :

- Trần tiên sinh nhờ tiểu đệ tới đây mời quý vị đến xơi rượu. Đi ngay thì vừa, tiểu đệ chờ.

Đức Kiệt lên lầu nói cho Lam Y và Âu Dương Bích Nữ hay. Tam hiệp thay y phục chỉnh tề đeo kiếm xuống lầu, trao khóa phòng nhờ chủ quán giữ hộ rồi cùng Kỳ Tường Bảo lên bốn cỗ kiệu đã chờ sẵn đó. Khi sắp tới Thanh Kiều lộ, Đức Kiệt bảo mọi người xuống kiệu trả tiền, đi bộ đến nhà Trần gia.

Kỳ Tường Bảo ngạc nhiên :

- Sao ba vị không cho phu kiệu đến thẳng Trần gia có hơn không.

Lam Y đáp :

- Chúng tôi cẩn thận đề phòng cho Trần gia đó.

Lát sau trong khi thù tạc, Tam hiệp kể chuyện trả tử thi ba tên gian đạo về lâu đài cho mọi người nghe.

Trần Hữu nói :

- Tôi rất thắc mắc không hiểu chủ nhân lâu đài ấy là ai mà ác cảm với họ Trần chúng tôi như vậy.

Lam Y đáp :

- Họ không ác cảm. Tên diện mạo hung ác bất chợt biết Liễu thơ thơ là người có sắc diễm kiều nên bắt cóc về dâng cho chủ nhân của y. Tới lúc thơ thơ được cứu thoát khỏi tay vuốt hùm, chúng e bị lộ hành tích nên mới kéo đồng bọn tới định thủ tiêu chẳng dè mắc mưu chúng tôi. Cũng vì chưa biết đích xác chủ lâu đài là ai nên hãy tạm giữ kín việc Liễu hiện có mặt trong nhà này ít ngày. Chừng nào tới lúc thuận tiện, anh em tôi sẽ cho hay.

Cha con họ Trần nghe vậy mới an tâm.

Kỳ Tường Bảo hỏi :

- Từ hôm đến Hàng Châu có lẽ ba vị đại ca du ngoạn Tây Hồ chưa nhỉ.

Đức Kiệt lắc đầu :

- Gặp vụ vừa rồi nên chưa có dịp nhàn du.

- Nếu vậy sáng mai tiểu đệ sẽ xin hướng dẫn các vị du ngoạn Tây Hồ, lễ miếu Nhạc Trung Võ luôn thể :

- Thế thì còn chi bằng! Sáng mai đầu giờ Tỵ anh em tôi chờ đại ca ở Trần Gia tửu quán nhé.

Sở dĩ họ Chu có ý du Tây Hồ là để nhân dịp nghỉ ngơi giữ sức sau khi thức đêm luôn mấy bữa.

Nói về Đề đốc Chu Vĩnh An, khi hay tin ba vệ sĩ thân tín chuyên phụ trách việc Hoa Hải đài bị hạ sát, thì rất lo ngại, phiền muộn.

Vĩnh An chỉ định mấy vệ sĩ khác ra trông coi lâu đài thay thế Tam quỷ, nhưng tuyệt nhiên không đến đó nữa.

Ngoài ra, gian vương còn một dự tính điều tra vụ dạ hành khách đã cứu thoát Liễu thị. Nhưng điều tra bằng cách nào? Bản lãnh của nhân vật đó cao siêu, đi không ai biết về không ai hay, dùng mưu kế gì để truy nã? Ai dám đảm nhiệm cuộc truy tìm? Hoàn toàn khó khăn!

Cũng đã có lúc gian vương nghĩ tới việc bắt giam họ Trần thì sẽ biết hành tung của dạ hành khách bí mật kia. Nhưng dứt dây động rừng, tất người bí mật võ dũng ấy sẽ ra tay binh vực Trần gia. Như vậy có khác chi mua lấy cái khó vào người ngày đêm phải phòng bị mà vị tất đã phòng bị nổi, dù rằng dinh Đề đốc nhiều người và được canh phòng nghiêm cẩn.

Suy đi tính lại, Chu Vĩnh An kết luận cuộc điều tra tới khi khác thuận tiện hơn. Cũng bởi gian vương nghĩ như vậy nên họ Trần mới được sống yên ổn sau khi Tam quỷ bị táng mạng và Chu Tam hiệp cũng kịp thời trừ mối họa lớn cho dân Hàng Châu.

Sau mấy hôm thăm thú đó đây dưới sự hướng dẫn của Kỳ Tường Bảo, Tam hiệp nhận xét kỹ lưỡng dinh Đề đốc để hành động.

Vào trong dinh không khó nhưng biết Vĩnh An ngủ ở phòng nào trong một khu rộng lớn, lâu đài chi chít như bát úp. Sẽ tùy cơ ứng biến như vậy chớ biết làm sao? Vì thế nhằm đêm tối, Tam hiệp nhất quyết hành động để kịp giờ trở về Hàng Châu trước Tết Nguyên Đán.

Đai nịt gọn ghẽ, Tam hiệp chờ đúng canh ba, mới lặng lẽ rời quán trọ vượt thành vào đại trấn, trên mái nhà đến khu dinh Đề đốc.

Nhằm nơi tối nhất phía sau dinh, ba người vượt qua tường cao chuyền vào trong phi hành vùn vụt qua căn mái nhà thấp tiến thẳng vào khu trung ương, chợt trông thấy ánh đèn le lói ở đầu một dãy nhà thấp, Âu Dương Bích Nữ dằn đầu hướng về phía ấy.

Tới nơi, Tam hiệp nhảy xuống đất thoăn thoắt lẻn tới đầu nhà. Âu Dương Bích Nữ ghé mắt dòm qua khe cửa sổ thấy bốn tên quân đang mải miết đánh bạc trong căn phòng nhỏ. Âu Dương Bích Nữ chỉ tay vào phòng có ý bảo Đức Kiệt và Lam Y cùng vào căn phòng ấy uy hiếp mấy tên quân đánh bạc hỏi đường.

Nhưng cũng lúc ấy thì một tên đẩy ghế đứng lên :

- Đen quá! Thua mãi.

Tên khác hỏi :

- Đại ca thôi à.

- Thôi sao được? Còn phải đánh gỡ chứ! Ra đi tiểu giải đen đã! Cứ chia bài đi.

- Bọn này chờ đại ca trở về mới chia kẻo lại bảo ăn gian.

- Đâu có! Đen mà thua chớ tôi có nói gì đâu. Chờ đó, tôi trở vào ngay.

Nói đoạn y mở cửa bước ra ngoài, loạng choạng đi vì trời tối, chưa quen mắt.

Bỗng y giật mình, cổ bị một vật gì áp vào lạnh toát như giá băng khiến toàn thân y nổi gai ốc.

Một giọng nói khẽ kề bên tai :

- Biết điều im miệng kẻo mất đầu!

Y há hốc miệng không dám kêu và cùng lúc ấy mới nhận ra lưỡi kiếm sáng loáng kề bên cổ.

Đứng sau lưng y mấy người không rõ, nhưng chỉ biết là một cánh tay cứng ngắc đang giữ chặt lấy eo lưng y.

Run lật bật, y bỗng thấy người bị nhấc lên khỏi mặt đất "bay" bụt lên nóc nhà và cứ từ nóc nọ sang nóc kia "bay" mãi. Y rợn người nhắm nghiền mắt lại, hai bên tai gió thổi vù vù.

Lát sau cánh tay sắt đó buông y ra nhưng lưỡi kiếm lạnh băng vẫn áp vào gáy y :

- Mở mắt ra nhận xem đây là đâu?

- Đưa tay lên dụi mắt nhìn quanh thấy ba người trong bộ y phục đen huyền đứng bên y giữa một hoa viên cây cối um tùm.

Người cầm kiếm dí vào cổ y.

- Nói mau.

- Dạ, đây là...

- ... Nằm ở lầu nào.

- ... Chẳng biết rõ.

Ba người lẳng lặng lấy dây đem theo trói ghì y lại, cắt vạt áo nhét đầy miệng, đoạn treo y lên cành cây khuất sau khóm lá um tùm.

Xong xuôi, Âu Dương Bích Nữ cùng Lam Y, Đức Kiệt ra khỏi hoa viên băng qua tường lẫn trong bóng tối tiến tới căn điện lớn ba từng lầu. Bỗng có đoàn người cầm đèn lồng từ xa đi tới. Tam hiệp nhảy lên nóc nhà gần đấy nắm ép xuống mái. Đoàn sáu tên quân đi tuần qua phía dưới chân bước sầm sập. Ba người nhận rõ chiếc lầu lớn ở giữa khu hoa viên và quanh hoa viên còn có một lần tường thấp nữa.

Phía ngoài tường, mỗi góc đều có đặt chòi canh nghiêm ngặt. Lặng lẽ nhảy xuống đất, ba người lần đến gần tường phóng mình vào phía trong lẹ làng như ba chiếc én. Lần qua bóng tối, Tam hiệp vào đến tận chân phi thân lên mái rồi chuyền vào lầu nhì.

Nguyên lầu này ước lượng cũng có tới tám căn phòng lớn rồi, biết tìm Chu Vĩnh An phòng nào.

Âu Dương Bích Nữ chỉ tay ra hiệu hai đồng hành đi vòng quanh hành lang xem sao? Đi tới góc tường bên kia, chợt thấy một căn phòng sáng đèn, cửa ra vào hé mở. Đầu hành lang bên kia có thang lầu xuống nhà dưới.

Chợt có tiếng chân lên thang lầu và nói xì xào, Tam hiệp vội nhảy lên mấy chiếc xà ngang lớn nằm dọc theo mái ngói.

Hai thị nữ một cầm đèn, một bưng chiếc khay đựng mộ tô lớn đậy kín. Thị nữ áo xanh nói :

- Đêm nào vương gia cũng dùng yến thế này mà không bị mất giấc nhỉ.

Thị nữ áo đỏ nói :

- Quen rồi, vả lại vương gia đi ngủ sớm giờ này, tỉnh dậy đói là phải.

- Chỉ khổ chị em ta vào giờ này lạnh quá! Chừng nào xây được căn bếp ở lầu nhì mới đỡ khổ...

Hai thị nữ vừa đi vừa xì xào nói chuyện tiến tới căn phòng để ngủ.

Không để lỡ dịp may, Tam hiệp nhảy xuống phía sau hai thị nữ.

Âu Dương Bích Nữ vòng tay bịt miệng tên áo xanh, đồng thời tay kia đỡ luôn chiếc khay, e thị nữ hoảng sợ đánh rơi.

Cũng vậy, Lam Y bịt miệng thị nữ áo đỏ, và đỡ chiếc đèn lồng tắt phụt đi.

Đồng thời, Đức Kiệt giơ ngang Thất Tinh đao hăm :

- Muốn toàn mạng thì câm miệng. Trong phòng này có ai không?

Lam Y nới tay cho tên thị nữ bị nàng giữ nói :

- Không, phòng đó của hai chúng tôi.

Tức thì Lam Y và Âu Dương Bích Nữ đẩy thị nữ vào phòng. Đức Kiệt đỡ lấy khay yếm cầm vào theo sau, khép cửa lại.

Hai thị nữ tái mặt run rẩy, thấy ba người bịt mặt thì tưởng ngay là đạo chích cả gan dám vào tận dinh Đề đốc. Thị nữ áo đỏ nói :

- Có tiền để trong rương kia, ba đại vương tha cho chúng tôi...

Âu Dương Bích Nữ hỏi :

- Chu Vĩnh An ngủ ở đâu.

Thị nữ ngạc nhiên không kịp đáp thì mũi kiếm đã đi ngay vào cổ y :

- Có nói không hay muốn chết.

Phát hoảng, Thị nữ áo đỏ run lập cập :

- Dạ có, Vương gia nằm trong phòng lớn ở giữa lầu.

- Có ai trong đó không?

- Dạ không. Vương gia nằm một mình. Người nhà ở cả ba lầu.

- Biết điều thì đưa chúng ta vào ngay.

Hai thị nữ sợ hãi nhìn nhau. Người áo xanh nói :

- Thế này thì Vương gia giết chúng tôi mất.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Không sợ, ta không làm chi đâu mà lo! Đi!

Hai thị nữ cực chẳng đã phải bê khay yến đi trước, Tam hiệp cầm khí giới đi sát phía sau lưng. Âu Dương Bích Nữ nói :

- Nếu các ngươi trở giáo, sẽ mất đầu ngay.

Năm người qua cửa trong, vào một căn thư phòng trang hoàng sơ sài nhưng rất gọn mắt. Góc phòng đặt ngọn đèn lồng, khêu nhỏ đủ soi lối đi.

Qua thêm hai phòng nữa, thị nữ áo đỏ mới chỉ tay vào khuôn cửa phía trong cùng, nói khẽ :

- Qua cửa kia là tới phòng Vương gia. Giờ này chắc người đang thức.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Được các ngươi cứ vào như thường mặc ta.

Hai thị nữ tiến tới gõ nhẹ vào cửa rồi mở cửa bước vào.

Tam hiệp đi hàng một theo sau không một tiếng động.

Trên chiếc giường cẩn ngọc giáp giữa bức tường trong cuối phòng, Chu Vĩnh An còn nằm phủ mền, quay mặt vào tường.

Thị nữ áo đỏ đặt khay yến xuống, chiếc án nhỏ kê bên đầu giường :

- Tâu Vương gia, yến đã sẵn sàng rồi.

Đức Kiệt đứng chắn ở cửa. Lam Y đứng gần chân giường còn Âu Dương Bích Nữ đứng ngay sát gần đầu giường.

Tuy vậy, gian vương cố trấn tĩnh quắc mắt nhìn hai thị nữ :

- Sao lại thế này? Ba người nào kia? Ai cho phép vào đây?

Thị nữ sợ hãi xám cả mặt, len lét đứng sang bên cúi đầu im lặng.

Âu Dương Bích Nữ chỉ mặt Vĩnh An :

- Chúng ta tới đây để hỏi ngươi mấy điều về dĩ vãng. Ngươi có biết người nào là Kiều thị vợ của Tề Minh Châu cư ngụ tại Lư Cầu kiều không? Ngươi có nhớ cách đây ngót hai chục năm, ai đã làm hại gia đình Nhạc Hoành ở Thái Bình huyện vùng Vũ Hồ không?

- Ngoài ra còn rất nhiều vụ án khác không cần nói tới, nhưng ngươi hãy trả lời hai vụ nói trên đã.

Sắc mặt Vĩnh An chuyển từ tái mét sang tím ngắt, y run lẩy bẩy :

- Nói bậy! Các ngươi vu khống, thời kỳ ấy có lẽ các ngươi còn chưa ra đời hãy còn nhỏ dại.

Âu Dương Bích Nữ cười khẩy :

- Chính thế, nhưng chúng ta biết vì lẽ rất giản dị, là con của những người bị ngươi hãm hại.

- Các ngươi không có quyền vu cáo ta như vậy. Bằng chứng đâu?

- Dấu thẹo ở trên vai ngươi khi bị ngọn giáo của Nhạc Hoành lao trúng là bằng chứng hiển nhiên, ngươi có định gian ngoa gì nữa.

- Một vụ nữa gần đây hơn, chắc ngươi đã quên hết rồi? Đó là việc giam giữ Liễu thị trong lâu đài!... Hừ! Còn chối nữa hay thôi?

gian vương không ngờ dạ hành khách đến cứu Liễu thị lại chính là ba người này, và họ biết rõ cả tung tích hành động của mình mấy chục năm về trước, bởi vậy nên run sợ, mặt cắt không còn hột máu. Y mon men đưa tay lên đầu giường định giật giải lụa đỏ rung chuông báo động, nhưng lẹ hơn Âu Dương Bích Nữ nắm chặt lấy cổ tay y kéo tuột xuống giường :

- gian vương! Tội ngươi đã đầy rẫy, lưới trời khó thoát, đêm nay ta quyết mở đường cho ngươi về âm phủ đối chất cùng những oan hồn đó.

Trông lưỡi kiếm long lanh sắc như nước, gian vương run rẩy lồm ngồm lùi lạc mấy bước, líu lưỡi :

- ... Tôi còn vợ dại con thơ... từ nay xin hối cải.

Thấy gian vương hèn hạ quá, Âu Dương Bích Nữ nổi nóng :

- Ngươi ngần ấy tuổi đầu mà còn lấy vợ dại con thơ ra làm lá chắn, vậy khi làm tan nát bao nhiêu gia đình để thỏa mãn sắc dục, ngươi có nghĩ tới những nạn nhân của ngươi không?

- Lưỡi kiếm này trước của Nhạc Trung Võ, sau thuộc họ Tề nay ta dùng nó để trả hận cho những oan hồn đó nghe chưa? Ngươi đáng tội tam phân.

Dứt lời, nàng hoa nhẹ lưỡi kiếm đưa một lát vào cổ Vĩnh An. Gian vương không kịp chớp mắt thì thủ cấp đã rơi lăn lốc xuống sân gạch hoa, thây đổ sang một bên, huyết phun ra như vòi nước.

Hai tên thị tì sợ hãi rú lên rồi té lăn ra mặt đất.

Muốn tránh cho chúng khỏi bị nghi ngờ trong vụ hạ sát gian vương, Lam Y và Chu Đức Kiệt liền trói hai đứa lại bỏ sang phòng bên.

Âu Dương Bích Nữ toan ra theo nhưng hai người đã trở vào.

Lam Y lấy trong túi rút ra một gói thuốc bột màu lá cây rắc một ít lên cổ và thủ cấp gian vương.

Âu Dương Bích Nữ hỏi :

- "Mãng xà diệp" phải không?

Lam Y gật đầu bỏ gói thuốc vào túi :

- Xong việc rồi, đi.

Tam hiệp ra tới hành lang thì vừa vặn có tiếng đồng la khua báo động ở phía hoa viên, nơi tên quân đánh bạc bị treo lên cành cây hồi nãy.

Đức Kiệt nói :

- Bọn tuần phòng đi tìm thấy người của chúng trong hoa viên rồi. Ra phía này!

Ba người chuyền xuống các mái nhà khác thấp thoáng như các bóng ma, ra khỏi dinh Đề đốc, phi hành về quán trọ...

Đến lúc gần sáng, trong tư dinh Đề đốc phát giác ra vụ ám sát đại quan thì xác gian vương Vĩnh An chỉ còn là một bộ xương và một đống thây nước vàng lênh láng trong căn phòng bài trí sa hoa. Tại sao vậy? Đó là tại thứ bột "Mãng xà diệp" của Lam Y.

Chương 33: Gặp người bị nạn, trưởng lão tìm ra Tiêu Nhục Diệp Về kinh cấp báo, Mạnh Thường quyết hành động một phen

Thứ bột kỳ khôi này phát xuất do một sự tình cờ và người chế ra bột tất là Huyền Vân trưởng lão, sư phụ của Đức Võ Thượng Nhân.

Trong dãy Cửu Huyền sơn, ngoài cửa quan, trên con đường dẫn vào địa phận Mông Cổ, rừng rậm núi cao hóc hiểm, ít người lẻ tẻ qua lại, chỉ trừ những đoàn khách thương người Mông chở hàng trên lạc đà vào giao dịch với người Hán ở Trương Gia Khẩu.

Thuở ấy, Huyền trưởng lão vẫn còn ít tuổi, sư phụ vừa tịch viên xong, một mình tu đạo trên Bạch Sơn am.

Một hôm trong dãy Cửu Huyền, cha con tiều phu người Mông Cổ là Đắc Lạc và Đắc Thông từ ấp Vàm Linh Công thuộc bộ lạc Chấn Ma vào rừng kiếm củi.

Trưa hôm ấy, sau khi đã chặt xong mấy bó củi và măng trúc, cha con Đắc Lạc dỡ lương khô ra ăn rồi vun lá khô nằm dưới gốc cây ngủ say một mạch, định bụng gần chiều mời về. Trong lúc đang ngủ say, bỗng có tiếng động mạnh, khiến Đắc Lạc chợt tỉnh dậy. Nhìn quanh, Đắc Lạc giật mình sợ hãi vì cách đấy không bao xa, một con mãng xà màu xám vừa sà xuống. Đắc Lạc vội đánh thức Đắc Thông rồi hai cha con cầm dao quắm kéo nhau vào núp sau bụi rậm.

Định thần nhìn kỹ, Đắc Lạc thấy mãng xà ngóc đầu lên, lưỡi thè ra lia lịa, mắt sáng quắc nhìn trừng trừng về một phía. Lấy làm lạ, Đắc Lạc nhìn theo ra phía đó, thì cách đấy đôi mươi sải tay, một con nai lớn đang trơ trơ dại dột nhìn lại mãng xà như bị thôi miên, bởi luồng mắt sáng như sao của ác thú. Hai con thú nhìn nhau như vậy hồi lâu.

Đắc Lạc nhận thấy con mãng xà vẫn ngóc đầu nhưng thật ra nó đang trườn mình tiến rất thong thả tới phía con nai. Quả nhiên con nai rúm cả bốn cẳng lại không nổi nữa. Lúc hai con vật còn cách nhau độ năm sải, mãng xà bất chợt quăng khúc đuôi đập trúng đầu con nai quỵ xuống, rồi há miệng lấy mỏm nai ngập gần tới mắt.

Lúc đó con nai mới giãy nhưng lần lần suốt mình nó bị mãng xà quấn siết chặt, khi mãng xà giãn khúc ra thì nó hết thở.

Ác thú duỗi mình ra, mang bụng lớn từ từ nuốt ngập đầu con nai. Con nai lúc đó hoàn toàn bị ngộp thở không giãy giụa nữa. Nằm dài trên mặt cỏ, đuôi ve vẩy, mãng xà vừa nuốt vừa nghỉ.

Đắc Lạc chưa bao giờ được trông thấy cảnh lạ lùng đó nên hầu như quên hết sợ hãi, núp sau bụi rậm xem kỳ cùng.

Con mãng xà tuy lớn nhưng nuốt hết cả một con nai là chuyện bất ngờ.

Khi ác thú nuốt hết cổ con nai, Đắc Lạc yên trí thế nó cũng phải nhả mồi con nai lớn quá. Nhưng không, ác thú nhoài đầu trên cỏ nghỉ rồi tiếp tục nuốt như thường.

Đắc Lạc nhận thấy mang ác thú có bạnh ra khác thường thật, tuy vậy không thể nào lớn bằng thân con nai, ấy thế mà thân nai cứ bị lấn lần lần phần bị nuốt co rúm lại, phần còn ở ngoài thì lớn như thường.

Tới xế chiều, mãng xà hoàn toàn nuốt hết con nai, bụng nó phình lớn như thể bị độn ở khúc giữa. Nuốt xong mồi lớn, mãng xà quẩy khúc bò thẳng vào đám cỏ cách nơi no chụp được độ một hai chục sải tay. Tại đó, mãng xà ngẩng đầu lên, vục đầu xuống ngoạm nhiều mớ lá nuốt. Chừng đã thỏa thuê, ác thú trở lại chỗ cũ quấn mình vào gốc cây lớn rít mạnh như cuốn ép nát mồi lớn nuốt ra từng mảnh một. Độ một khắc xong, mãng xà duỗi mình khúc luôn lên cây quấn đuôi vào cành lớn, xà đầu xuống đu đi đu lại, đoạn há miệng đỏ như máu phun lần lần ra một đống xương nai trắng hếu.

Đắc Lạc nhận thấy chỗ bụng mãng xà phình ra hồi nãy vì mồi to quá, lúc ấy đã bình thường, con nai bị tiêu hóa đi rất nhanh chóng.

Phun hết xương nai rồi, mãng xà thè lưỡi thở phì phò, cất đầu vắt lên cây luồn qua cây khác đi thẳng.

Lúc đó, Đắc Lạc mới cùng con là Đắc Thông bỏ chỗ núp, chạy ra nhìn đống xương nai.

Đắc Lạc dùng dao bơi coi thấy đủ các đốt xương khúc, khúc nào cũng trắng tinh không vấy chút thịt nào cả, sạch sẽ như con nai đã bị luộc nát rồi mới bỏ hết gân thịt chì còn lại có đống xương.

Đắc Lạc bảo con :

- Ta vào chỗ mãng xà ăn cỏ xem sao.

Hai cha con lần vào đó, quả nhiên có một chỗ lạ bị mãng xà ăn, dấu tích hãy còn rõ ràng.

Đắc Thông nói :

- Phụ thân à, chưa bao giờ nghe nói mãng xà ăn cỏ, mà nó đã ăn rành rành đây này.

Đắc Lạc nhìn kỹ nhận thấy trong đám cỏ có một thứ lá tựa như lá liễu mọc lần, mà chính thứ đó còn để lại cuống chớ không phải cỏ.

Đắc Lạc lắc đầu bảo con :

- Mãng xà không ăn cỏ, chính nó đã nuốt thứ Tiêu Nhục Diệp này. Có lẽ tạo vật sanh ra thứ lá "tiêu" này mà riêng chỉ có giống mãng xà biết dùng.

Bằng chứng rất rõ ràng, ác thú nuốt hết con nai lớn thở không được bèn tìm cách nuốt thứ Tiêu Nhục Diệp, lát sau mồi đã bị tiêu hết và chỉ còn đống xương nhả ra kia kìa.

Tìm được thứ lá quý này quả là một điều may mắn, không thể ngờ được. Về làng, chớ có nói cho ai biết nhé.

Nghe cha nói vậy Đắc Thông chỉ biết có vâng lời.

Đắc Lạc khoái chí tìm nhổ một đống lá bó lại đem về nhà, phơi khô, bọc lại cẩn thận cất lên gác bếp để dành.

Hơn một năm sau, một ngày kia, Đắc Lạc thấy óc ách không tiêu, bần thần khó chịu.

Đắc Thông nói :

- Để con vào trong làng nói với lang y bốc thuốc phụ thân uống thang tiêu nhé.

Chợt nghe thấy tiếng "tiêu", Đắc Lạc mới nhớ ra nắm lá tiêu nhục đã phơi khô còn gác để dành trên mái bếp, y liền bảo Đắc Thông :

- Không cần, hốt thuốc thêm tốn tiền. Còn nhớ mớ lá tiêu không? Con khá lấy một dúm nhỏ sắc lên uống, chỉ chốc lát là khỏe ngay như con mãng xà hồi năm ngoái.

Đắc Thông vâng lời lấy lá tiêu sắc, gạn một chén đưa cho Đắc Lạc uống.

Uống xong, Đắc Lạc lên giường đi nằm :

- Trong khi ta nghỉ ngơi, con liệu vào rừng kiếm chút ít măng về nấu ăn đi.

Đắc Thông yên trí vác dao quắm đi đến quá trưa mới trở về.

Đặt gánh củi và bó măng lớn xuồng thềm nhà, Đắc Thông vui vẻ vào phòng :

- Phụ thân ơi! Bữa nay có măng trúc tuyệt non, chắc ngon lắm.

Không thấy Đắc Lạc trả lời, tuy vẫn nằm yên đắp mền lên đến cổ, quay mặt vào tường, Đắc Thông liền bước tới cầm vai gọi.

- Phụ thân! Quá trưa rồi, có dễ chịu không.

Nhưng y hoảng quá vội giựt tay lại, lẩm bẩm :

- Kỳ quá! Sao lại nát nhủn thế này? Bầy nhầy, ướt sượt.

Cùng lúc ấy, y nhận ra có nước chảy lủng bủng dưới gầm giường.

Đắc Thông bèn mở cửa ra thêm sáng, nhìn mặt cha, thì thấy không còn nét rõ ràng như trước nữa. Da thịt đã chảy ra như bùn. Đắc Thông kéo mền xuống chân giường. Áo quần Đắc Lạc thấm ướt hết.

Chỗ thịt vai mà Đắc Thông cầm phải lúc mới về, bẹp hẳn xuống cánh tay rã sang một bên... Ôi, kinh khủng! Đắc Lạc đang đi tiêu! Tiêu bởi uống Tiêu Nhục diệp.

Thời gian từ lúc Đắc Lạc vô tình uống thứ thuốc lá "tiêu" ấy cho đến khi Đắc Thông về cũng khá lâu mà thi thể không bị tiêu hẳn thành nước uống chỉ vì y uống rất ít, vả lại thuốc không hẳn vào máu, phải chờ lâu mới ngấm, cho nên thi thể y tiêu lần lần...

Hoảng quá, Đắc Thông ôm mặt khóc vang, tức bực chạy vùng ra khỏi cổng tre, chẳng ngờ trong lúc vô ý húc ngay phải vai một vị thanh niên đạo nhân vừa đi tới.

Đạo nhân vươn tay nắm tay vai áo Đắc Thông, giữ lại cứng ngắt, khiến y không nhúc nhích được nữa.

- Này chú, chạy đi đâu vội vàng đến nỗi đâm vào người ta như vậy.

Đắc Thông nhìn vẻ mặt quắc thước, chân phương của thanh niên đạo nhân rồi van nài :

- Xin người sanh phúc buông tôi ra để vào làng nhờ bạn bè phụ thân tôi đang chết chảy nước ra kia kìa.

Thấy lạ, đạo nhân nhìn vẻ mặt thật thà hoảng hốt của Đắc Thông :

- Đi đâu mà vội? Hãy vào trong nhà kể rõ chuyện cho bần đạo nghe, nếu giúp được bần đạo xin hết sức không nề hà chi cả.

Nghe bần đạo nói phải, Đắc Thông liền mời vào nhà quỳ lạy xưng danh, yêu cầu giúp đỡ. Đạo nhân nói :

- Bần đạo là Huyền Vân tu trên Bạch Sơn am trong dãy Cửu Huyền sơn. Hãy dẫn bần đạo vào coi lệnh phụ ra sao đã.

Đắc Thông liền dẫn Huyền Vân vào phòng quan sát thi thể Đắc Lạc.

Huyền Vân nói :

- Nào bây giờ kể cho bần đạo nghe đầu đuôi câu chuyện thế nào.

Đắc Thông kể rành mạch lại chuyện gặp mãng xà và Đắc Lạc uống nước lá tiêu.

Nghe đoạn, Huyền Vân nói :

- Khu rừng ấy thường ngày có người qua lại chớ?

- Thưa không.

- Thế tại sao đại ca lại cùng lệnh phụ vào đó lấy măng củi.

- Khu rừng đó có tiếng là nhiều ác xà lớn, nhỏ nên không ai dám vào đó. Hôm ấy, cha con đệ tử đi qua cửa rừng ngó vào thấy măng ngon liền bảo nhau vào lấy, cho rằng không vào sâu thì cũng chẳng sao, ngờ đâu lại gặp ngay cảnh mãng xà bắt nai nên mới xảy ra cơ sự không may này.

Huyền Vân ôn tồn bảo Đắc Thông :

- Việc lệnh phụ ngộ nạn, nếu cần phải trình báo với tù trưởng thì cứ nói là uống nhầm phải lá đốc, còn tuyệt nhiên giấu vụ vào rừng gặp mãng xà là lấy nhầm phải lá độc, nghe? Như vậy, cốt tránh bọn lưu manh gian tà dùng lá ấy mưu hại người hiền lương hiểu chưa?

- Dạ, đạo trưởng dạy chí phải.

Huyền Vân lấy ở túi ra mươi lượng bạc đưa cho Đắc Thông mà rằng :

- Cầm lấy tiền này lo việc ma chay cho lệnh phụ và nhớ kín chuyện nhé. Đưa gọi lá độc cho bần đạo bỏ đi.

Đắc Thông nhận bạc cảm tạ đạo nhân và đưa gói lá khô.

Huyền Vân mở ra xem nhận xét kỹ lưỡng rồi mới ra đi. Lúc đó, trời đã xế chiều, Đạo nhân vào trọ trong làng Vàm Linh Công.

Sáng hôm sau, Huyền Vân ra đi nhận rõ vị trí khu rừng độc, vào tìm hái thêm một bọc lớn lá tiêu đem về Cửu Huyền sơn nghiên cứu.

Sau khi thành công, Huyền Vân ghi thêm các chi tiết vào sau bộ Thiết Đả pha "Tiêu Nhị Phấn" do Tiêu nhục diệp hay mãng xã diệp chỉ ra thành bột truyền lại cho môn đồ để thủ tiêu nhân vật nào trong khi hành hiệp.

Nguyên thứ Tiêu nhục diệp chỉ mọc trong rừng có nhiều mãng xà. Đó là thứ là mà tạo vật sanh ra chỉ dành riêng cho giống mãng xà sẵn chất giải độc trong máu nên không bị tiêu nhục. Ngoài ra, bất cứ giống động vật nào nhiễm phải chất độc của mãng xã diệp thì đều hết phương cứu chữa.

Huyền Vân quen thân với Trí Dũng sư trưởng Thiếu Lâm tự. Hai nhân vật ấy mỗi khi chế hóa ra được thứ gì lạ thường gặp nhau tham khảo, bởi vậy phái Thiếu Lâm tự biết dùng Tiêu Nhục Phấn là do Huyền Vân trưởng lão truyền bá lại. Các sư trưởng giao kết với nhau, chỉ truyền men độc dược ấy cho những môn đồ đáng tin cậy, cho nên sau này cũng không mấy người dùng.

Anh em Chu gia được Đức Võ Thượng Nhân truyền lại cho cách luyện và dùng Tiêu nhục phấn là việc dĩ nhiên, nhưng Âu Dương Bích Nữ biết cách sử dụng thứ độc dược ấy cũng không có gì lạ. Anh em họ Âu há không phải là cao đồ chân truyền phái Thiếu Lâm tự đó sao?

Nói về Tam hiệp sau khi hạ sát xong gian vương liền về thẳng quán trọ nghỉ ngơi, mãi trưa hôm sau mới trở dậy. Ba người định dùng bữa xong thì vào thành nghe động tĩnh về vụ đêm qua. Nhưng Kỳ Tường Bảo đã lần đến hỏi thăm. Trông nét mặt phần ngơ ngác, phần hớt hơ hớt lãi của họ Ky, Tam hiệp nhìn nhau cố nhịn cười.

Lam Y hỏi :

- Chắc Kỳ Đại ca ngọc thể bất an?

Tương Bảo nhìn ba người rồi hỏi nhỏ :

- Có thể lên lầu nói chuyện được không?

Đức Kiệt phì cười :

- Có chớ, sao lại không? Đại ca ở lại đây uống rượu với anh em tôi nhé!

Nói đoạn, chàng dắt tay họ Kỳ lên lầu. Lam Y và Âu Dương Bích Nữ bảo tiểu nhị sửa soạn thồi rượu rồi lên sau.

An tọa xong, Kỳ Tường Bảo trịnh trọng nói đủ nghe :

- Có một chuyện ghê gớm lắm! Ba vị tôn huynh ạ! Ghê gớm lắm! Khắp trong trấn đều đồn đãi xôn xao...

Âu Dương Bích Nữ mỉm cười :

- Có điều gì quan trọng vậy?

- Quan quân chia nhau ra đứng ở khắp mọi ngả đường có ý nhận xét gian ngay chi đó. Ngoài ra người ta đông rằng quan Đề đốc bị ám sát đêm qua bởi một bọn đông người.

- Ồ, ghê qua nhỉ!...

- Dạ, còn một điều nữa ghê gớm là khi quan quân trong dinh Đề đốc phát giác ra vụ ám sát ấy thì tử thi Đề đốc chỉ còn là một bộ xương trong y phục thôi, da thịt tiêu tan hết. Hình như bị chém mất đầu vì chiếc sọ bị tách riêng ra một nơi với mớ tóc.

Lam Y gật gù kinh ngạc :

- Ghê gớm quá nhỉ! Vào nổi trong dinh Đề đốc đâu phải là chuyện chơi, như hôm nọ chúng ta vào cứu Liễu thị trong tòa lâu đài vắng vẻ!

- Thế ra tại Hàng Châu cũng có lắm nhân tài hiệp khách qua lại nhỉ?

Kỳ Tường Bảo nói nhỏ :

- Ồ, thế mà tiểu đệ cứ tưởng là ba vị tôn huynh đại hiệp đã trừ hại cho dân trấn này đấy!

- Đâu có! Vào dinh Đề đốc canh phòng cẩn mật hạ sát vị đại quan chắc là việc anh em tôi không làm nổi. Giả thử có hành động đi nữa thì việc gì giấu giếm đại ca phải không? Như đêm bắt ba tên gian đạo vào nhà họ Trần đó nề hà chi đâu?

Kỳ Tường Bảo gật đầu :

- Dạ nhưng thấy tình hình nghiêm trọng, quan quân có thể đi tới chỗ khám xét từng nhà một nên tiểu đệ cần phải báo trước cho ba vị tôn huynh liệu chừng. Nhân viên trong quán này không nói chuyện gì sao?

Lam Y lắc đầu :

- Không. Có lẽ họ không biết tin ấy hoặc giả biết mà không nói cũng vậy.

Nói chuyện đến đây tiểu nhị bê các món ăn lên bày lên thồi rót rượu.

Đức Kiệt nhìn qua thấy mọi thứ đều đã đầy đủ bèn bảo tiểu nhị :

- Cho người xuống nhà cần dùng thứ gì ta sẽ gọi sau.

Chờ tiểu nhị đi khỏi bốn người lại bàn tán như trước. Đức Kiệt nói :

- Dù sao ba anh em tôi cũng không nên vào thành, vậy nếu có việc gì lạ đại ca thông báo cho chúng tôi biết ngay nhé.

- Dạ, đó là bổn phận của tiểu đệ.

Vụ Đề đốc Hàng Châu bị ám sát chiều hôm ấy mới lọt ra tới ngoại thành, trong tửu quán ai nấy đều bàn tán xôn xao.

Hai hôm sau, Kỳ Tường Bảo trở lại Trần gia tửu quán cho Tam hiệp biết rằng trong thành cuộc khám xét không đến gắt gao lắm và quan quân đã phát giác ra xác ba tên gian đạo ở Hải Hoa Đài.

Tường Bảo nói tiếp :

- Người đàn bà mập béo đích danh là Chiêu má má đã bị giữ lại để điều tra cùng các nhân viên trong tòa lâu đài ấy. Hình như vị chủ nhân gian ác Hải Hoa Đài chính là quan Đề đốc.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Kỳ đại ca lượm các tin tức ấy ở đâu vậy?

- Tiểu đệ sở dĩ biết rõ như vậy là vì quen biết với một người làm trong dinh Đề đốc.

- Nhà họ Trần an vui chớ?

- Dạ. Đã có lúc tiểu đệ lo cho Trần gia sau khi vụ Hai Hoa Đài phát giác. Cũng may là ngoài ba tên gian đạo bị táng mạng, không còn một ai biết việc bắt cóc họ Liễu, nếu không thì thế nào Trần gia cũng bị dính líu phải ra vào chốn công môn.

Lam Y nói :

- Chúng tôi cũng lo như đại ca nên còn ở lại đây nghe ngóng. Từ nay Trần gia có thể sống an vui được nồi miễn là mọi người trong nhà đều kín chuyện. Sáng mai, anh em tôi lên đường, nhờ đại ca chuyển lời chào.

- Ba vị tôn huynh là ân nhân, Trần gia không được lưu tiếp cho đàng hoàng, chắc thế nào cũng ân hận lắm.

- Chà! Thiếu chi lúc gặp nhau!

Tam hiệp giữ Kỳ Tường Bảo ở lại thù tạc đến xế chiều mới về.

Sáng hôm sau, ba người dong ruổi lên đường. Về tới Tô Châu thì đã qua rằm tháng chạp. Tam hiệp về thẳng Âu Dương trang.

Lúc qua cổng trang trại, Âu Dương Bích Nữ hỏi mấy tên trang đinh coi cổng :

- Trang chủ có nhà không?

- Dạ, mọi người đều ở nhà. Hiện có đại khách mới tới.

- Ai vậy?

- Thưa, Thượng nhân và Sư trưởng đến được một ngày rồi.

Ba người vui vẻ vào đại sảnh xuống ngựa liệng cương cho trong đinh. Âu Dương Tòng Cát và Tòng Đức cùng ra đón ở thềm nhà.

Trông Lam Y và Âu Dương Bích Nữ còn trong phục giả trai, Tòng Cát mỉm cười vái dài :

- Mừng ba vị hiền đệ đã thành công!

Lam Y ngạc nhiên :

- Ủa! Đại huynh biết việc đó rồi sao?

- Sao lại không? Ba người về trễ, mà ngày nào chẳng có khách thương qua lại giữa hai thị trấn Tô, Hàng?

Tòng Đức nói :

- Nói chuyện sau, Sư trưởng, Thượng nhân và phụ thân đang chờ trong sảnh đường.

Tam hiệp vội vào lạy chảo. Chiêu Đức thiền sư nói :

- Đường xa mới về, các con hãy vào hậu đường thay trang phục, sau sẽ nói chuyện.

Ba người từ tạ vào hậu phòng chào Âu Dương phu nhân và Phương thái thái Tú Kiều rồi mới về tư phòng.

Lần đầu tiên, anh em Chu gia mới được giáp mặt vị Sư trưởng Thiếu Lâm tự. Tuy vóc người nhỏ bé nhưng đôi mắt sáng như sao mai, nét mặt thật cương quyết, mỗi khi nhìn tia mắt long lanh như rọi hẳn vào óc người nhìn, tỏ ra có một sức mạnh tiềm tàng ghê gớm về tinh thần cũng như thể chất.

Trông Đức Võ Thượng Nhân, cao lớn dáng điệu cực kỳ nhàn nhã thần tiên, ngồi bên Chiêu Đức thiền sư trưởng giới thiền môn, đứng đầu cả một võ phái lớn nhất thời bấy giờ, quắc thước nhưng từ bi, và Trại Mạnh Thường Âu Dương Tòng Thiện phì nộn hiên ngang, mỗi người một vẻ phi thường đáng kính.

Thay thường phục xong, Tam hiệp trở ra đại sảnh kể việc Hàng Châu cho ba vị tiền bối nghe.

Chiêu Đức thiền sư nói :

- Nhạc Lan Anh hay tin này sẽ tiếc không được đích thân báo thù cho cha nàng. Còn Thuận Vương ở Kim Lăng tất lo sợ phòng bị ráo riết.

Đức Võ Thượng Nhân nói :

- Ngay cả Vĩnh Lạc hoàng đế cũng xao xuyến vì gian vương là biểu đệ của Người.

Trại Mạnh Thường nói :

- Nhân nói tới Hoàng đế, tôi có một điều muốn bàn cùng đạo huynh Đức Võ và lão đệ Sư trưởng.

Đức Võ Thượng Nhân hỏi :

- Điều chỉ cần bàn mà liên can cả tới Hoàng đế?

- Xem tình hình này, Thuận Dương tất thế nào cũng dãy loạn mà nhà Vua không hề biết việc chi cả. Gian vương thông đồng với Thái sư Trần Chí Hòa, giấu nhẹm mọi việc đi chăng? Có lẽ!

Động tới can qua, dân chúng Giang Nam tất không tránh được nổi lầm than. Cho nên tôi tính phải hành động thế nào trình bày cho nhà Vua rõ tình binh hiện tại của Kim Lăng trấn và dự mưu kiếm ngôi, tranh thiên hạ của Thuận Vương.

Chẳng hay đạo huynh và sư đệ có ý kiến gì dạy bảo không? Hành hiệp cứu dân Giang Nam khỏi phái lầm than cũng là công đức lớn!

Chiêu Đức thiền sư nói :

- Không có gì hơn là lên Yên Kinh, nhập hoàng cung bí mật trình bày cùng Hoàng đế các hành động phiến loạn của Thuận Vương, Đức Võ đạo huynh có đồng quan điểm không?

Đức Võ Thượng Nhân gật đầu :

- Hiền đệ dạy chí phải, nhưng ai sẽ đảm nhiệm vụ này?

Trại Mạnh Tường nói :

- Ba chúng ta, Nếu nhị vị chấp thuận, ta sẽ cùng đi Yên Kinh một phen.

- Chừng nào đi?

- Sang Giêng. Chắc Đức Võ đạo huynh không có gì cản trở, nhưng Chiêu Đức sư đệ liệu có rảnh không?

Chiêu Đức thiền sư nói :

- Rảnh lắm chớ! Được tin hồng thiệp hiền điệt Tòng Cát lập gia đình, Bích Nữ hứa hôn cùng Chu hiệp, nhân gặp lúc tam sư đệ Ngũ Chấn qua Thiếu Lâm tự, tôi giữ y ở lại chùa tạm thay thế để đi Tô Châu ngay, chẳng dè nửa đường gặp Đức Võ đạo huynh ở Lĩnh Nam trở về nên cùng kéo thẳng đây. Vậy việc nhà chùa đã có Ngũ Chấn lo liệu giúp rồi.

- Nếu vậy thì hay lắm. Chẳng còn bao ngày nữa tới Nguyên đán rồi, sang thượng tuần tháng Giêng ta sẽ lên đường.

Chiêu Đức hỏi :

- Có ai đi theo nữa không?

- Tùy ý, trong năm anh em ai đi cũng được nhưng phải một người ở nhà điều khiển trang trại.

Nói đoạn, Trại Mạnh Thường quay lại hỏi :

- Các con, ai muốn cùng ta lên Bắc?

Năm người nhìn nhau có ý nhường nhịn. Thấy vậy, Lam Y nói ngay :

- Nhường nhịn nhau mãi, tiểu muội xin bàn thế này...

Tòng Cát hỏi :

- Lam Y muội bàn thế nào?

- Dễ tính lắm! Gia huynh và tiểu muội là người đất Bắc, vậy vấn đề du hành lên Bắc không qua tâm. Bích Nữ tẩu tẩu đây sẽ có dịp về Bắc. Ngoại trừ ba người vừa nói ra, chỉ còn có huynh trưởng Tòng Cát và nhị huynh Tòng Đức đáng theo đại sư lên Yên Kinh chuyến này hơn cả. Tính vậy được không?

Trại Mạnh Thường cười hà hả :

- Lam Y tính gọn lắm rồi. Tòng Cát và Tòng Đức sẽ cùng đi ưng ý không?

Tòng Cát thưa :

- Lam Y đã có ý nhường, lẽ nào chúng con từ chối. Mùa Xuân được viễn hành thăm đế kinh, thích thú nhất bực rồi. Hẳn là nhị đệ cũng nghĩ như ngu huynh?

Tòng Đức gật đầu :

- Nhất định rồi.

Âu Dương Bích Nữ hỏi Tòng Đức :

- Thiết Hoàn Tử Hồng Trường Hải đi rồi sao, hả nhị huynh?

- Chưa, Hồng thúc phụ gặp Địch trại chủ ở đây mời vào Tam Môn cốc chơi mấy ngày, mới đi hôm qua xong. Tiếc rằng không có Thiết Xích Tử tại đây để hai ông ma men ấy túy lúy càn khôn với nhau cho xứng đôi!

Nghe nói Thiết Xích Tử, Chiêu Đức Kiệt và Lam Y ngước nhìn Thượng nhân có ý hỏi thăm tin tức.

Đức Võ biết ý nói ngay :

- Trương Tam Sơn (tục danh của Thiết Xích Tử) hồi ở Kim Lăng cùng đi với bần đạo xuống Lĩnh Nam. Bần đạo vào La Phù sơn còn y thì chia tay cả miền duyên hải. Bởi vậy nên không cũng trở về đây. Nữa đường gặp Chiêu Đức hiền hữu mới hay việc các con đính hôn, bần đạo mừng rỡ tạm gác cuộc du hành vào Côn Luân Sơn, cùng Thiếu Lâm sư trưởng về Âu Dương trang.

Phần Âu Dương Bích Nữ nàng cũng kể chuyện họ Tề từ Lư Cầu kiều xuống Nam tặng Trảm Lư hùng kiếm cho Lam Y, nhưng Lam Y nhường lại, cho Chiêu Đức thiền sư nghe.

Thiền sư nói :

- A! Thảo nào hồi nãy ta thấy con đeo kiếm nên lấy làm lạ, thế ra cây chuyện như vậy đó? Lấy kiếm ta coi.

Âu Dương Bích Nữ vâng lời về phòng lấy trường kiếm đưa cho Sư trưởng xem.

Chiêu Đức thiền sư rút kiếm nhận xét kỹ, khen ngợi vô cùng :

- Ta mới tìm ra mấy đường kiếm rất lạ nhân dịp trước Tết rỗi rãi ta sẽ cùng các con và Chu gia song hiệp tham khảo.

Nghe Sư trưởng nói vậy, Âu Dương Bích Nữ, anh em Chu gia và Tòng Cát, Tòng Đức rất vui mừng.

Ba hôm sau, Thiết Hoàn Tử Hồng Trường Hải từ Tam Môn cốc trở về thấy mọi người đông đủ cả, bèn nói rằng :

- Hôm mỗ này qua lại đây nhiều lần mà chưa lưu chút kỷ niệm nào cả, nhân đây xin trổ tài mọn hiến Âu Dương lão huynh bức Cổ Tòng Ân Thái Dương treo ở sảnh đường chơi.

Trại Mạnh Thường khen :

- Hảo ý đó! Đã nhiều lần tôi muốn yêu cầu lão đệ cho xin bức họa đặc biệt đó nhưng sợ lão đệ không khởi hứng nên đành bỏ qua. Cần dùng dụng cụ gì?

Thiết Hoàn Tử nói :

- Một phiến lụa dày thiệt tốt, chiều ngang bằng chiếc chiếu, dài gấp rưỡi, năm chữ trang am ngay từ hôm nay, lọc kỹ. Một chậu mực cũng màu ngay từ bây giờ mới kịp. Và sau cùng là sáu hồ hảo tửu thứ thượng hạng.

Ngạc nhiên, Trại Mạnh Thường hỏi :

- Còn thiếu bút vẽ dùng những cỡ nào? Ngu huynh tò mò muốn biết lão đệ dùng rượu làm việc gì cho bức họa ấy?

- Hứ! Không cần bút họa nhưng cần rượu! Tôi cần đó, không có rượu thì bức họa sẽ chẳng ra gì đâu, lão huynh đừng có trách nhé! Chừng nào sắp xong mọi thứ, xin cho biết trước một ngày để còn dự bị.

Nghe Thiết Hoàn Tử nói đến rượu một cách thiết tha, mọi người nhìn nhau mỉm cười về cáo tật rượu của ông ma men.

- Lão đệ định vẽ ở đâu?

- Ở võ sảnh sàn gạch bông láng mịn như gương và rộng rãi.

- Mời mọi người đến xem cho vui, chẳng mấy khi ngu đệ cao hứng!

Trước hôm vẽ, Thiết Hoàn Tử nhịn ăn hẳn một ngày, chỉ thỉnh thoảng nhấp chút nước mưa và ngủ suốt ngày.

Hôm sau, ra võ sảnh, Thiết Hoàn Tử kiểm soát lại nào chu sa, nào mực, nào rượu hết thảy đều vừa ý.

Tấm lụa lớn đã được căng ra giữa sảnh.

Thiết Hoàn Tử nói với Trại Mạnh Thường :

- Giờ Tỵ mời mọi người lại xem, bây giờ xin phép cho tiểu đệ được ở một mình trong sảnh.

Biết Thiết Hoàn Tử là một dị nhân nhưng võ nghệ siêu quần, công phu luyện tập nội công đề khí đã đạt tới mức nhập điệu cao siêu,.

Thiết Hoàn Tử khép các cửa lớn nhỏ lại, lựa lấy ở giá khí giới, hay cây mộc ôn đều nhau, dễ ở bên tấm lụa, Đoạn ngồi xếp tròn trên mặt gạch bông. Thiết Hoàn Tử mở hồ rượu ra ngửi, mùi thơm ngào ngạt khiến ai không thích cũng phải thèm nhỏ dãi. Nốc thẳng một hơi, Thiết Hoàn Tử liệng hồ không đi, mở hồ thứ nhì nốc ừng ực như trâu uống nước.

- Tặc lưỡi khoan khoái, Thiết Hoàn Tử lẩm bẩm :

- Chà! Rượu ngon qua! Một ngày một đêm không uống, khát chết mất!...

Thế rồi cứ tì tì hết hồ nọ đến hồ kia, Thiết Hoàn Tử uống luôn một chặp hết nhẵn cả sáu hồ rượu tuyệt ngon thơm, đoạn loạng choạng lăn ngay ra đó ngủ khò khò.

Đúng giờ hẹn, Trại Mạnh Thường, Đức Võ Thượng Nhân, Chiêu Đức thiền sư, Tam hiệp, anh em Âu Dương cùng các thực khách và nhân viên trong trang tụ hợp cả ngoài sân trước võ sảnh, chờ xem Thiết Hoàn Tử trổ tài hội họa!

Đến giờ rồi Trại Mạnh Thường nóng ruột bèn tiến lên trước mở cửa ra xem. Mọi người theo sau, kéo cả vào trong sảnh mở các cửa ra cho sáng.

... Nhưng ai nấy đều ngạc nhiên vì nhà hội họa đang ngáy khò khò trên mặt gạch, hồ rượu không bị liệng lung tung mỗi nơi một cái.

Mọi người phát tức cười nhìn nhau, nghi ngờ.

Trại Mạnh Thường nhìn Thượng nhân và Thiền sư :

- Say khướt thế kia thì Trời Đất cũng không biết chớ đừng nói gì họa nữa.

Âu Dương Tòng Cát nói :

- Con đinh ninh là Hồng thúc thúc lấy rượu để pha chi đó vào chu sa hay mực họa, ngờ đâu là để... uống bí tỉ.

Ai nấy đều ồ lên cười. Vừa khi ấy Thiết Hoàn Tử trở mình nằm ngửa ra vươn vai, duỗi chân chuyển lắc.

Từ nãy giờ, mọi người chú ý đến kẻ say rượu nên không nhận ra chậu chu sa cũng bị vơi hẳn đi hai phần ba.

Lam Y chỉ tay bảo Đức Kiệt :

- Kìa chậu chu sa bị vơi gần hết!

Đức Kiệt gật đầu :

- Ờ, ngu huynh nhận thấy rồi. Dị nhân này có lẽ để hơi dùng thần khí chi đây chớ không họa như người thường đâu.

Âu Dương Bích Nữ đứng kề bên cũng nói :

- Mà đã vị tất là say, vươn vai, cất chân thế kia không có vẻ say li bì!

Lúc đó, Thiết Hoàn Tử mắt nhắm nghiền, hô hấp đều hòa.

Lát sau, bỗng quẩy mình đứng phắt hẳn dậy. Thiết Hoàn Tử xỏ chân vào đôi giày cỏ mới nguyên, vươn tay hô hấp mạnh, mắt đăm đăm nhìn vào quãng không như không hề để ý đến mọi người xúm quanh dãn rộng ra.

Tiến đến bên phiến lụa dày căng thẳng, Thiết Hoàn Tử dang tay, hít không khí, nhảy vào giữa phiến lụa, há miệng thổ ra toàn nước đỏ như huyết, khiến các thực khách và nhân viên trong trang đều giật mình. Ngoài trừ ba vị tiền bối về võ thuật và năm thanh niên nam nữ tuấn kiệt lúc đó đã nhận định thấy giá trị của Thiết Hoàn Tử.

Dị nhân thổ rất quy củ và có phương pháp. Nước đỏ vọt ra trên mặt lụa tròn như vừng Thái Dương đỏ ối. Thiết Hoàn Tử cúi xuống dùng tay hữu thoa cho vừng đỏ được tròn hoàn toàn hơn theo ý muốn, đoạn phun phì phì nước đỏ khắp xung quanh, gần thẩm, xa lợt thiệt khéo. Xong xuôi, Thiết Hoàn Tử nhảy ra ngoài gạch, cởi áo ngoài chùi tay lau miệng.

Chu sa có lẫn rượu, khô rất lẹ. Chờ một lát, Thiết Hoàn Tử nịt ống quần lên tới đầu gối, cầm hai cây mộc côn đi đến bên chậu mực thiệt xanh, chống côn xuống đất thành hai cái nạng, nhúng cả hai bàn chân vào mực ngập đến nửa cặp thảo hài...

Tay sẵn chống mộc côn thăng bằng cứng nhắc, Thiết Hoàn Tử co chân gợt nhẹ vào miệng chậu cho khỏi rớt mực rồi nhảy thẳng vào phiến lụa, co chân hoặc tả, hoặc hữu thành Hạc tấn, nhảy đi nhảy lại một hồi. Hai chân đập lẹ làng trên mặt lụa y hệt ngọn bút lông của nhà hội họa đại tài phóng họa cây tòng, thân và cành lá uốn éo khúc khuỷu, nét đậm, nét lợt cực kỳ mỹ thuật. Chừng nào hết mực ở thảo hài, Thiết Hoàn Tử lại chống hai cây côn đến nhúng thêm mực và tiếp tục họa xong cây lão tòng.

Xong nét chấm sau cùng, Thiết Hoàn Tử chống côn nhảy phắt ra sàn gạch, tụt bỏ đôi thảo hài thấm mực.

Gia đinh đã lấy sẵn nước rửa chân và giày mới.

Thiết Hoàn Tử sửa soạn xong, lúc trở vào thì đã thấy lão anh hùng Trại Mạnh Thường cho căng bức họa lên tường để mọi người thưởng thức.

Tác phẩm ấy cực kỳ linh động. Vừng Thái Dương đỏ lừ tỏa ra muôn vạn tia sáng lấp lánh hào quang, càng nhìn lâu, người xem có cảm tưởng như đang đứng trước cảnh thật, ánh thái dương chói lọi linh động dị thường.

Còn cây lão tùng thì vươn mình uốn éo án hẳn một gốc vừng thái dương, nét họa đơn sơ già dặn.

Nếu là một người lạ không được trông thấy Thiết Hoàn Tử thở chu sa và dùng chân đi thảo hài tạo ra bức họa hiếm có ấy, thì phải tưởng rằng đó là nét bút của nhà hội họa trứ danh.

Thiết Hoàn Tử nhúng ngón tay vào mực viết mấy chữ thảo vào góc bức họa Hán Dương, "Thiết Hoàn Tử, Hồng gia thân tặng".

Nét chữ cự kỳ bay bướm.

Trại Mạnh Thường vái Thiết Hoàn Tử :

- Không ngờ tài hội họa của lão đệ lại phát xuất do công phu luyện tập, tôi xin đa tạ và thay mặt cử tọa đây chúc mừng tài độc nhất vô nhị đó.

Thiết Hoàn Tử cười khà :

- Chà! Đi lại Âu Dương trang bao lâu nay, bây giờ mới được tặng lão huynh một bức họa kỷ niệm nhỏ mọn này có đáng giá gì mà chú trọng?

- Uống sáu hồ rượu lúc nãy ngon quá nhưng trả lại cả trên bức họa rồi. Nếu lão huynh thương tình, xin cho phép dùng rượu ngay kẻo trùng rượu đang đục thủng bao tử đây! Chà khát quá.

Mọi người nghe tửu vương nói đều khúc khích cười.

Trại Mạnh Thường vỗ vai Thiết Hoàn Tử :

- Tưởng gì khó chớ rượu thì đã bày sẵn trên sảnh đường rồi. Nào ta về uống thì vừa.

Thiết Hoàn Tử về tư phòng rửa mặt thay áo, trong khi Trại Mạnh Thường cùng Thượng nhân và Sư trưởng kéo cả về đại sảnh.

Lão anh hùng truyền lệnh cho thợ mộc trong trang đo kích thước bức họa làm hai cây trục để treo ngay trên sảnh.

Hôm ấy Đức Võ Thượng Nhân và Chiêu Đức thiền sư ngồi chung một thồi tiệc chay. Trại Mạnh Thường, Thiết Hoàn Tử cùng năm vị nam nữ anh kiệt ngồi chung thồi tiệc mặn kế bên.

Cuộc vui kéo dài đến quá giờ Mùi mới tan. Thiết Hoàn Tử say túy lúy càn khôn, Tòng Đức phải bế về phòng an nghỉ.

Mấy hôm sau hai cây trục bằng gỗ trầm hương tuyệt đẹp và nhẹ đã hoàn thành.

Bức họa quý của Thiết Hoàn Tử được treo ngay trên bức tường lớn trong cùng đại sảnh, dưới bức hoành phi bằng gỗ mun đen láy nạm thạch ngọc thành bốn chữ Quần Anh Tụ Hội".

(Bức họa Lão Tòng Án Thái Dương có nguyên chữ đề tặng của Thiết Hoàn Tử, đến thời Dân Quốc còn được để trong Bảo Tàng Viện Tống, Nguyên, Minh. Khi Nhựt gây hấn ở Lư Cầu kiều và đột nhập Bắc Kinh thì một phần lớn đồ quý trong Bảo Tàng Viện không kịp được dời về Nam Kinh nên rơi vào tay Nhựt quân, trong đó có cả bức cổ họa nói trên. Không hiểu bức họa đó phải là bức do Thiết Hoàn Tử tặng họ Âu Dương hay là bức khác mà cùng một tác giả).

Trong hạ tuần tháng chạp, thừa dịp nhàn rỗi, Chiêu Đức thiền sư đem mấy thế kiếm mới ra cùng Tam hiệp và Tòng Cát, Tòng Đức tham khảo cho thật hoàn bị. Nhờ vậy, năm anh em lại càng như rồng thêm cánh hổ thêm nanh, lợi hại vô cùng.

Trong trang, việc sửa soạn đón Xuân thiệt là nhộn nhịp. Lập đông từ hôm mười hai, trời lạnh căm căm. Trong huệ viên các thứ cây đều trổ nụ tươi tắn chờ Xuân tiết khai nhụy. Đó đây, những gốc đào, gốc mai xanh tốt rung rinh trước gió làm rụng mấy cánh bông trổ sớm lác đác trên mặt cỏ mượt tựa thảm nhung êm dịu.

Ngày ngày, ba vị lão bối cùng Thiết Hoàn Tử ngồi uống rượu ngoài Mẫu Đơn Đình đàm luận cổ kim và tính việc ngoài giêng đi Yên Kinh.

Thiết Hoàn Tử nói :

- Chừng nào các vị lên Bắc, tiểu đệ cũng vào Tứ Xuyên chơi, thăm bạn Nếu chuyến vừa rồi không ở Yên Kinh xuống đây thì tiểu đệ sẽ cùng đi, vui bao nhiêu. Tiếc quá!

Trại Mạnh Thường nói :

- Lão đệ nay đó mai đây, tiêu dao ngày tháng, vấn đề thời gian không có gì đáng kể, chi bằng cùng bọn tôi đi Yên Kinh, lúc về sẽ hay. Mấy khi gặp dịp được cùng nhau đồng hành?

Nghe Trại Mạnh Thường nói có lý, Thiết Hoàn Tử ưng thuận cùng lên Bắc ngay :

- Lão huynh đã dạy như vậy, tiểu đệ xin tuân theo, Khi ở Yên Kinh trở về, sẽ vào Tứ Xuyên cũng được.

Trại Mạnh Thường nói :

- Ngu huynh lên Yên Kinh có việc chớ không nhàn hành đâu. Hiền đệ ở kinh đô nhiều hơn may ra giúp ít được phần nào chăng?

- Việc chi vậy.

Trại Mạnh Thường đem ý định của mình nói cho Thiết Hoàn Tử nghe.

Thiết Hoàn Tử gật đầu :

- Lão huynh nghĩ như thế cũng chu đáo lắm, nhưng chốn Hoàng Cung lầu nọ các kia rộng lớn vô cùng, biết nhà Vua ở đâu mà tìm?

Suy nghĩ giây lát, Thiết Hoàn Tử nói :

- Tiểu đệ có quen gia đình một người làm thái giám trong Hoàng cung, chừng nào tới Yên Kinh, ta sẽ thăm dò xem sao.

- Được như vậy hay lắm!

Muôn hoa đua nở đón xuân về trong cảnh sắc tưng bừng náo nhiệt. Toàn thể Âu Dương trang như cả một bó bông khổng lồ. Trà đỏ, đóa hồng, mai trắng, cúc vàng lung linh trước gió Xuân, Ngoài Mẫu Đơn Đình, những chặng mẫu đơn Giang Nam, bách, hồng đua nhau nở bông, hương thơ, ngào ngạt chen lẫn với những giàn hồng muôn sắc.

Âu Dương phu nhân có tài đặc biệt về môn tỉa thủy tiên, bà dạy cho mấy tên a hoàn hầu cận, nên năm nào trong nhà cũng đầy thủy tiên nào là màu hồng, lá xanh bông trắng bày trong các bát cổ hoặc chậu xứ. Thứ hương hồng cao quý ấy tỏa lẫn với khói trầm nhẹ bó trên bàn thờ. Gia tiên đèn nến sáng rực.

Trước sau pháo màu hồng nổ đầu sân. Người lớn trẻ con xúng sính trong y phục mới muôn màu muôn sắc, chúc nhau những câu tốt lành.

Từ hôm mồng Một, còn từ mồng Hai trở đi, khách Tô Châu và các nơi lân cận đến thăm hỏi chúc tụng rất đông.

Một mình Trại Mạnh Thường đi đáp lễ không xuể nên Tam hiệp và Tòng Cát, Tòng Đức phải chia nhau đi mọi nơi chúc Tết.

Cúng rằm xong, qua hôm mười tám tốt ngày, Trại Mạnh Thường, Đức Võ Thượng Nhân, Chiêu Đức thiền sư, Thiết Hoàn Tử và Tòng Cát, Tòng Đức lên ngựa đi Yên Kinh.

Tam hiệp tiễn ra tới Tô Châu mới chia tay.

Lúc trở về chưa quá Ngọ, ba người rủ nhau vào Tô Châu chơi. Trừ các tửu lầu, chỉ mới có vài tiệm buôn khai trương, toàn thể thị trấn hãy còn đầy hương vị Tết. Trên khắp mọi nẻo đường, nào khách bộ hành, nào ngựa xa tải giai nhân dập dìu đi chơi Xuân trong cánh sắc tưng bừng của thị trấn danh phong nhã hoa hào.

Tuy vậy, cũng không thoát được lệ thường là có những bậc vương tôn công tử con đại phú gia nhân dịp đầu Xuân nhiều giai nhân ra phố phường, kiếm đường đón yến tìm oanh.

Từ các tửu lầu, ca viện vọng ra muôn điệu đờn ca khoan nhặt, nhịp nhàng.

Lầu nào cũng đầy thực khách, ai đến trễ khó kiếm được một thồi trống, tửu lầu lớn nhỏ mọc lên như nấm không kể siết.

Chu Đức Kiệt rủ Lam Y và Âu Dương Bích Nữ :

- Anh em ta đến Lăng Vân các uống rượu đi.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Đông lắm, chắc gì còn chỗ!

- Ta cứ tới xem sao, nếu không sẽ kiếm nơi khác vậy.

Ba người liền rẽ xe ngựa vào Kim Ân lộ tìm nơi đỗ xe.

Người coi xe quen mặt thấy người nhà Âu Dương trang tới vội chậu đến chào :

- Kính chào Thiếu gia và nhị vị tiểu thư du Xuân.

Đức Kiệt phong bao cho người ấy :

- Ta để xe đây nhé, chừng nào về sẽ đến lấy.

Tam hiệp đến thẳng tòa tửu lầu ba từng cao vời vợi choán hai mặt đường.

Viên quản lý đứng ngay ngoài cửa lầu đón khách.

Thấy Tam hiệp tới, y trịnh trọng chức mừng và hỏi :

- Hôm nay đệ nhất và đệ nhị thiếu gia không cùng đi.

Đức Kiệt đáp :

- Hai vị đó du hành lên Bắc rồi. Còn chỗ tốt không, tiên sinh.

- Dạ, trên lầu ba còn đúng một thồi, khách mới đi, xin mời ba vị lên cho.

Tam hiệp qua hai từng đợi, từng nào cũng đầy thực khách sang trọng cả nam lẫn nữ xiêm y lộng lẫy. Trái lại với Lam Y và Âu Dương Bích Nữ, hại nữ hiệp vận võ phục bằng gấm lam và gấm đỏ sẫm, ngoài mặc đại bào, chân dận hài thêu kim tuyến vừa gọn ghẽ vừa lộng lẫy mà không bớt vẻ anh thư hùng dũng. Hai sắc áo tuyệt đẹp ấy, Lam Y, Âu Dương Bích Nữ vẫn ưa dùng làm tôn nước da trắng hồng như bột gà bóc với khuôn mặt trái xoan của hai người.

Bữa đó Chu Đức Kiệt vận bộ võ phục và đại bào đồng màu lục vân trắng, tóc búi trần chân vận cặp ủng nhung đen, uy võ như Lử Bố tái sanh.

Các thực khách ai nấy đều chăm chú nhìn ba người đi vào, sự khen thầm và thèm muốn ước ao hiện trên mắt họ.

Bọn vương tôn công tử đàng điếm không biết Tam hiệp là người họ Âu Dương, thấy Lam Y Âu Dương Bích Nữ kiều diễm thì thầm nói với nhau những câu khinh bạc, nhưng lúc bất chợt gặp phải luồng mắt như điện quang của ba người chúng lại tự thấy yếu đuối, bẽn lẽn cúi đầu chớp mắt nhìn đi nơi khác để che đậy những ý nghĩ xấu của chúng.

Lên tới lầu ba, viên phụ trách ân cần mời Tam hiệp đến chỗ ngồi. Đức Kiệt gọi rượu thượng hảo và mấy món ăn.

Chờ tửu bảo đi khỏi, chàng nói :

- Cũng may hôm nay nhị vị hiền muội vân vệ phục làm nổi bật vẻ cân quắc anh thư, chớ nếu vận xiêm y tha thướt, tất thế nào cũng không tránh khỏi bị bọn công tôn khinh bạc đón đường trêu cợt, và có lẽ đến xảy ra ẩu đả mất!

Âu Dương Bích Nữ âu yếm nhìn Đức Kiệt :

- Thế còn hiền huynh oai hùng như Triệu Tử Long kế bên hộ tống thế này thì bỏ đi sao?

Lam Y ranh mãnh mỉm cười nhìn hai người :

- Tiểu muội để ý thấy mỗi chuyến có cậu công tử nào nhìn trộm hiền tẩu thì Chu huynh quắc mắt như thiên lôi nhìn lại khiến người ấy chi còn thiếu... đui mắt thôi đó!

Âu Dương Bích Nữ cười dòn dã :

- Bởi vậy nên không bao giờ tôi dám đi xa Chu huynh, e bị bắt nạt đó!

Đức Kiệt nhìn Âu Dương Bích Nữ, nửa đùa nửa thật.

- Ai dám trêu vào Thiết Phiến Cô, dữ như sư tử cái vậy! Ngu huynh còn nhớ hôm mới gặp hiền muội trên Thanh Dương hồ một mình đánh bọn Mộng Hoa Vương, Điệp Thoại Tân bên Dương Châu, trông thiệt dữ dội nhưng đáng mến quá. Ngu huynh không ưa thứ phụ nữ yếu đuối trang điểm kiều diễm thỏa mãn mỹ quan, nhưng chẳng qua chỉ làm bia cho bọn vương tôn khinh bạc trêu cợt mỗi khi họ ra khỏi nhà.

Lam Y khẽ nguýt Đức Kiệt :

- Hiền huynh hãy đến xem trong thiên hạ được mấy người như cô gái Thiếu Lâm?

Đức Kiệt phản đối :

- Hiền muội chớ cười ngu huynh chủ quan. Nói sơ sơ thôi, hiện tại bên mình ngu huynh cũng có hai vị nữ trung hào kiệt, khách mày râu đã mấy người theo kịp? Trong tỉnh Sơn Đông tính trung bình cứ mười phụ nữ thì có tới chín người biết côn quyền dù không đạt tới mực cao siêu, nhưng cũng đủ sức tự vệ chống lại bọn côn đồ lưu manh, bảo toàn danh tiết. Ngoài ra trên bước đường giang hồ, chúng ta đã chẳng từng gặp khoa nhiều bạn quần thoa tinh thông võ nghệ đáng kính phục đó ư? Ngu huynh không nói rằng bạn thoa quần nào cũng phải tinh thông võ nghệ mới đáng yêu quý nhưng theo ý thích cá nhân ngu huynh thiên về phía phụ nữ có công phu luyện tập hơn.

Lam, Y nhìn Âu Dương Bích Nữ :

- Đó tẩu tẩu coi! Thảo nào kén cá chọn canh mãi, ai Chu huynh cũng chê, đến ngay gặp hiền tẩu là một trong mấy cao đồ của Sư Trưởng và cũng là đệ nhất nữ môn đồ Thiếu Lâm tự, tài sắc vẹn toàn nên Chu huynh mới thấy con tim rung động cùng tẩu tẩu gá nghĩa trăm năm đó.

Âu Dương Bích Nữ đôi má ửng hồng, kín đáo nhìn vị hôn phu yêu mến đáng kính.

Chu Đức Kiệt cảm thấy nóng lòng dào dạt, hồi hộp, rung động trước cặp mắt long lanh tình tứ của co gái Thiếu Lâm diễm kiều.

Chàng biết Lam Y có công rất nhiều trong việc xây dựng cuộc hôn nhân của mình. Có tài sắc như Lam Y, không thiếu gì người mê luyến ao ước được đóng vai khách đông sàng. Đành rằng có nhiều người không lọt mắt xanh, nhưng, như gần đây, anh em họ Âu Dương há không phải là người đầy đủ tài ba xứng đáng với nàng sao? Chính vì để xây dựng cuộc hôn nhân giữa mình và Âu Dương Bích Nữ, nên nàng đã cố tâm hờ hững gần như vô tình với Tòng Cát, Tòng Đức. Vì chàng, Lam Y đã quên hẳn mình. Nàng đã quên hẳn mình và hầu như muốn gác bỏ hẳn việc lập gia đình để được luôn luôn ở bên người anh thân yêu độc nhất của nàng.

Mồ côi mẹ từ khi còn tấm bé, lớn lên lúc thành tài trở về thì cha cũng quy tiên không được gặp mặt. Gia đình chỉ còn vẻn vẹn có hai anh em chung sống trong trang trại rộng lớn ở Bình Dương huyện. Biết vậy, chàng hết sức chiều chuộng Lam Y, luôn luôn săn sóc nàng như cha săn sóc con, những mong bù đắp được phần nào tình phụ mẫu với cô em duy nhất thân yêu.

Giờ đây, mối lương duyên của chàng đã được định đoạt, nhưng tính sao cho Lam Y khỏi cảnh phòng không chiếc bóng!

Chu Đức Kiệt mãi nghĩ đến nỗi quên cả tửu bảo vừa bày xong tiệc rượu và đang chờ chàng cho phép rót rượu vào Lam Y lớn hay ly nhỏ.

Âu Dương Bích Nữ nhắc :

- Kìa, Chu huynh, tửu bảo chờ lệnh rót rượu.

Giựt mình, Đức Kiệt bảo tửu bảo :

- Cho ngươi tự tiện, ta rót rượu lấy. Cần gì sẽ gọi thêm, nghe?

Tên tửu bảo sang thồi khác. Đức Kiệt rót rượu vào ba ly nhỏ. Lam Y đăm chiêu nhìn anh :

- Vừa rồi hiền huynh nghĩ gì vậy?

Đức Kiệt cảm thấy như Lam Y đã đoán được chàng nghĩ những gì, toan nói lảng thì nàng đã nói tiếp :

- Tiểu muội biết hiền huynh vừa nghĩ gì rồi. Đành rằng tình anh em phải lo cho nhau nhưng trông thấy hiền huynh và tẩu tẩu đề huề, tiểu muội rất lấy làm mãn nguyện. Gia đình của tiểu muội trước có mình hiền huynh, nay thêm tẩu tẩu và ít nữa sẽ có cháu nhỏ. Song thân mất sớm, tiểu muội cầu mong được sum họp với nhau mãi mãi... Nào, mời hiền huynh và tẩu tẩu uống đi chớ?

Nàng nâng ly mời hai người. Đức Kiệt nâng ly âu yếm nhìn em.

Âu Dương Bích Nữ biết ý vui vẻ cụng ly :

- Xin mừng sự sum họp mãi mãi của gia đình chúng ta.

Tam hiệp cùng uống một hơi cạn chén.

Ba người vui vẻ chuyện trò, nhìn xuống đường xem người ta tấp nập đi qua lại nhàn du buổi đầu Xuân.

Âu Dương Bích Nữ hỏi Lam Y :

- Những đại trấn miền Bắc cũng nhộn nhịp lắm phải không?

- Lớn chớ, nhưng trạng thái khác nhau. Chúng ta đều qua chơi Tô Hàng và Dương Châu là ba thị thành nổi tiếng đất Giang Nam. Người nhiều, đất rộng, thương mại phồn thịnh, lầu các nguy nga, duy dân chúng qua lại trên đường có vẻ văn hiến nho nhã từ cử chỉ đến y phục. Trái lại, dân Bắc phần đông vóc người vạm vỡ cao lớn, dù biết võ hay không họ thường trang phục gọn gàng nên bề ngoài có vẽ hiền hơn.

Nói riêng về Sơn Đông là sanh quán của Chu huynh và tiểu muội, dân chúng hoàn toàn võ biền hơn các nơi khác từ người lớn đến trẻ nhỏ. Họ thích võ trang. Ra khỏi nhà là mang đoản khí khiến người xứ khác tới có thể tưởng tượng được rằng võ khí thuộc phần kiểu cách trang phục của người ta.

Thiệt ra không phải vậy. Không nhiều thì ít, họ đều biết võ nghệ. Mỗi khi ra khỏi nhà mà không võ trang thì họ cảm thấy thiếu, một thứ gì. Bởi vậy giàu cũng như nghèo, người ta chú ý nhiều đến cái đẹp và tốt của võ khí.

- Tỉ dụ như một người ưa dùng kiếm hay đao, họ thận trọng đến cả màu sắc của chiếc bao vải và dây. Đao là chưa nói về hình thức và phần chạm trổ, dát đồng bạc vàng hay ngọc. Cầu kỳ lắm!

Cứ trông võ khí ta có thể ước đoán chủ nó giàu có, trung lưu hay nghèo nàn. Nhưng cũng nhiều khi lầm vì có những kẻ nghèo mà đeo một thanh đao hay kiếm tốt và sang trọng.

Ít nữa trở về Sơn Đông, hiền tẩu sẽ mục khích sự kiện này ở bất cứ phủ huyện nào.

Âu Dương Bích Nữ lấy làm thích thú :

- Như vậy cũng đặc biệt đấy chớ. Người xứ lạ không biết võ nghệ tới đó tất phải hết hồn.

Lam Y cười :

- Nhưng người ấy sẽ có tinh thần thượng võ ngay sau một thời gian chung sống.

Chu Đức Kiệt nói :

- Uống đi chớ, hai chị em mãi chuyện trò nguội cả rồi.

Giữa lúc ấy, ở dưới đường có hai người đi xe ngựa tới.

Âu Dương Bích Nữ trông thấy trước vội nói :

- Kìa, Địch trại chủ và Phượng Tiên. Có lẽ hai cha con lên lầu.
Đức Kiệt nói :

- Vào đây chắc hết chỗ rồi, nếu nhị vị hiền muội đồng ý, ngu huynh sẽ mời họ ngồi chung.

Lam Y đáp :

- Càng vui. Để tiểu muội đứng ra lan can cho họ trông thấy.

Âu Dương Bích Nữ cũng đẩy ghế đứng lên cùng Lam Y bước ra khẽ lầu.

Gởi xe xong cha con Địch gia chợt nhìn lên lầu Làng Các thấy Tam hiệp đang vẫy tay gọi.

Phượng Tiên mừng quá, hai cha con lên lầu ba cùng Tam hiệp thi lễ.

Tửu bảo lấy thêm ghế, dẹp các món ăn cũ đi để bày tiệc mới.

Địch Lân hỏi :

- Quý vị ra Tô Châu chưa?

Đức Kiệt đáp :

- Thưa lão bá, hôm nay tiễn nhạc gia lên Yên Kinh nên tôi ra Tô Châu sớm.

- Hôm mồng bốn Tết gặp nhau, lệnh nhạc phụ có nói chuyện với tôi về vụ du hành này, nếu không bận việc nhà thì tôi đã cùng đi rồi. Đáng tiếc!

Trong khi Địch Lân và Chu Đức Kiệt chuyện trò, Địch Phượng Tiên cùng Lam Y và Âu Dương Bích Nữ tay bắt mặt mừng hỏi thăm nhau ríu rít.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Tú Kiều tẩu tẩu nhắc đến hiền tỉ luôn, chừng nào rỗi rãi xin cứ tùy tiện nhé.

Phượng Tiên đáp :

- Dạ, độ này không được rảnh lắm, ít khi ra khỏi trại chớ không phải vì ngại ngùng mà không đến hỏi thăm quý vị cùng Tú Kiều đâu.

Lam Y bảo Phượng Tiên :

- Tòng Cát đại huynh theo lão anh hùng đi Yên Kinh. Tú Kiều ở nhà một mình buồn, hiền tỉ nhân dịp này đến thăm chắc chắn chị ấy vui mừng lắm.

Địch Lân nghe vậy liền nói :

- Sáng mai con sang thăm Tú Kiều sớm, rồi mời quý vị đây cùng đi coi Giang Tả Cầu Hôn ở Tô Châu hí viện cho vui, toàn đào kép trứ danh thủ vở hay lắm.

Nghe phụ thân dạy như vậy, Phượng Tiên hỏi :

- Quý vị có đồng ý mai mời Tú Kiều đi coi hát không?

Âu Dương Bích Nữ đáp :

- Có chứ, gia mẫu dễ dàng lắm. Hiềm vì nỗi Tú Kiều tẩu tẩu hông võ biền như chúng ta nên chỉ gần nhau tùy từng lúc thôi.

Để ba thiếu nữ chuyện với nhau, Đức Kiệt hỏi Định Lân :

- Lão bá có được tin gì về Dương Hoa Ngọc không?

- Đầu tháng Chạp năm rồi tôi có nhận được thơ y hỏi thăm. Theo lời lẽ trong chợ, y có lẽ đang cửa võ đường ở Nghĩa Hưng và đi du lịch mấy nơi, thành thử tôi đánh gác bỏ ý định xuống Nghĩa Hưng để gặp y. Tôi vẫn Tiếc vụ y bất chợt bỏ đi. Sau này lỡ có gặp Hoài Ngọc, tôi cũng nói là lão bá mong chờ y nhé?

Địch Lân gật đầu :

- Tôi cũng đang định yêu cầu đại hiệp việc ấy.

Năm người ăn uống đã qua giờ Mùi, Tam hiệp trả tiền hàng từ giã cha con Địch gia về Âu Dương trang trước. Âu Dương Bích Nữ đem việc gặp Địch Phượng Tiên nói lại cho Tú Kiều nghe Nàng mừng rỡ được tin bạn vì đã hai ba tháng nay, Phượng Tiên không lại thăm.

Âu Dương Bích Nữ rủ Tú Kiều vào nói với Âu Dương phu nhân xin phép đi coi hát.

Phu nhân đang ngồi nói chuyện với Phượng thái thái ưng thuận mà rằng :

- Mẹ không ngăn cấm, nhưng Tú Kiều vốn chân yếu tay mềm, các con phải bảo vệ nó, đừng để xảy ra chuyện gì đáng tiếc, chồng nó về lại trách cứ mẹ nghe?

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Tẩu tẩu đi với con có cả Lam Y và Chu lang cùng đi, còn xảy ra chuyện gì đáng tiếc được nữa, thưa mẫu thân?

- Ấy là mẹ cẩn thận căn dặn con như vậy, có giữ có lành.

Hôm sau. Địch Phượng Tiên đi ngựa một mình đến sớm vào lạy Âu Dương phu nhân và Phương thái thái rồi ra đại sảnh họp mặt cùng mọi người.

Tú Kiều gặp Phượng Tiên như bắt được vàng :

- Từ ngày ở riêng đến nay, tôi mới gặp hiền tỉ được hai chuyến. Quên nhau rồi hả?

Phượng Tiên niềm nở cầm tay bạn thiết :

- Đâu có! Cũng như thường niên, trước Tết súc vật về nhiều, các lái qua lại mua bán rất đông nên bận rộn không bỏ thì giờ sang đây thăm hiền muội được. Hôm qua đã gởi lời nhờ Âu Dương muội và Lam Y nữ hiệp nói lại rồi mà? Ra Giêng rỗi rãi, chị em ta sẽ gặp nhau luôn. Thật nhé!

Phượng Tiên phì cười :

- Không thật thì nói dối ư?...

Mọi người cùng cười vui vẻ.

Âu Dương phu nhân sai a hoàn dọn cơm, rượu cho năm người ăn sớm để ra Tô Châu xem hát.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Phượng Tiên hiền tỉ ngồi xe với chúng tôi, nhường ngựa cho Chu huynh cỡi. Khi trở về, chúng tôi sẽ qua Tam Môn cốc rồi mới về nhà.

Suốt từ hôm đầu năm đến nay, rạp Tô Châu Hí Viện trình diễn toàn ngừng vở tuồng rất đặc sắc vui hay, mà các vai chánh đảm nhiệm bởi đào Hoàng Phi Giao và kép Tiểu Mộng Lân là hai tài tử hữu danh Nam Bắc thời bấy giờ, nên rạp hát lúc nào cũng đông nghẹt.

Giàu có, nghèo có ai ai cũng đi coi hát vui để đón lấy cái hên cho toàn niên. Các vị thiên kim tiểu thơ thường ngày kín cổng cao tường biết mấy, cũng nhân dịp này được theo hoặc cha mẹ, hoặc huynh đệ, điểm trang lộng lẫy, xiêm y là lụa gấm vóc cực kỳ sang trọng đi coi hát.

Bởi vậy các vương tôn công tử thứ chính hiệu cũng có rủ nhau đi coi hát thì ít, nhưng để ngắm người đẹp cho sướng mắt thì nhiều. Vì thế nên hay xảy ra những vụ áp bức kéo bè đảng trêu cợt các thiếu nữ không được bảo vệ chắc chắn. Gia dĩ có cả những trận xung đột ẩu đả do hai phe công tử vương tôn chỉ vì tranh nhau người đẹp...

Trước cửa Tô Châu Hí Viện là một công trường đất nền, trồng cây cối xanh tươi bóng mát. Các quán giải khát tạm thời nhân dịp tân niên mọc ra như nấm.

Khán giả trung lưu và hạ lưu trước khi vào rạp hay sau kho ở rạp hát ra đều kéo nhau ngồi ăn uống chuyện trò ba hoa, bình phẩm vở hát và tài năng của các tài tử thủ vở, kẻ khen người chê vô cùng sôi nổi. Ngoài ra còn những người không đi xem, nhưng cũng kéo nhau ra đấy nhậu nhẹt tranh luận về đủ mọi vấn đề. Không những vậy, bọn lưu manh vô lại được dịp trưng bày áo quần ra trước cửa rạp nghênh ngang đón nhìn các thiếu nữ hoặc thiếu phụ, lấm lét nhìn như quạ vào chuồng heo, tùy theo trường hợp thả lời bỡn cợt khả ố. Bên tả công trường là nơi các kiệu phu, xa phu tụ họp khá đông đảo, chờ khách khi tan rạp.

Ngay tại công trường, còn có những cuộc vui khác biểu diễn ngay ngoài trời. Số người xúm quanh xem cũng không ót. Đó là những trò múa roi, leo dây và mãi võ. Họ thường từ xa lưu động qua thị trấn, thấy nơi đông đảo thì ngừng lại trình diễn.

Bởi vậy, ở xóm công trường ấy có một bọn côn đồ cậy có sức khỏe và biết dăm ba miếng võ hoành hành, ngang nhiên bắt những người làm trò lưu động diễn ở công trường phải nộp bách phần tùy theo số tiền thưởng thâu được nhiều hay ít. Nếu không nộp, chúng sẽ áp bức khiến bọn làm trò phải dời đi nơi khác hoặc đánh cho một trận tơi bời rồi mới đuổi đi.

Đầu đảng vốn là tên vô lại họ Phùng tên Mậu Cảnh.

Mậu Cảnh trạc ngoại tam tuần, lực lưỡng diện mạo hung ác, lông mi chổi xuể, mắt ốc nhồi, mặt lúc nào cũng đỏ gay như người say rượu.

Y vốn là người Quảng Đông lưu lạc lên Tô Châu nhập bọn côn đồ, thấy làm ăn "được nên ở hẳn lại đó.

Trước còn đóng vai côn đồ phụ thuộc theo tên Hắc Lão Chủy, về sau họ Hắc bị binh thiên thời chết, Mậu Cảnh nhờ có sức khỏe trời cho, lại học được võ nghệ trong khi lưu lạc nên y quyết định địa vị của Hắc Lão Chủy.

Phùng Mậu Cảnh vác một hòn đá nặng tới hai trăm cân giơ lên khỏi đầu đi đi, lại lại trước bọn côn đồ rồi đặt nhẹ xuống đất mà rằng :

- Ai nhắc nổi cục đá này hoặc nặng hơn thì sẽ thế Hắc Lão Chủy. Nếu không thì chức có phải nhường cho ta. Kẻ nào muốn quật cường, ta sẵn lòng đấu chơi.

Trong bọn cũng có mấy tên có sức khỏe, theo Hắc Lão Chủy trước Phùng Mậu Cảnh nên chúng vẫn đinh ninh sẽ được đồng bọn tôn lên thế họ Hắc làm đầu đoàn, chẳng dè Phùng Mậu Cảnh cậy sức thách đố, chúng bèn sắn tay áo nâng thử cục đá nhưng chỉ khỏi mặt đất được hơn một thước là phải hạ xuống ngay.

Tuy vậy, chúng còn nghi ngờ bản lãnh của Phùng Mậu Cảnh nên thách họ Phùng đấu võ, nếu chúng bị thua mới hoàn toàn chịu phục và tôn lên thay Hắc Lão Chủy. Mậu Cảnh nhận lời ngay trước mặt đồng bọn, y đã lần lượt thắng mấy tên thách đấu.

Từ đó Phùng Mậu Cảnh đứng đầu bọn côn đồ khu công trường muốn kiếm chuyện.

Còn những người xa lạ qua đó làm ăn, cốt kiếm chút ít tiền thưởng rồi lại ưu động thì đều vui lòng chịu khó nói với chúng chịu thuế "bách phần" để phô diễn tài nghệ vài bữa, chừng nào không ăn khách nữa lại dời đi nơi khác, thành thử không ai rỗi hơi gây sự vì gây sự cũng yếu thế hay trình báo quan. Bởi những lẽ đó, Phùng Mậu cảnh kiếm ăn được, lâu ngày thành một thông lệ. Bất cứ đám làm trò hoặc bọn võ nào mới tới đều đã có các "tay em" chỉ lối đưa đường đến giao thiệp, trình diện với Phùng Mậu Cảnh để được phép làm ăn.

Bọn đàn em tôn trọng Mậu Cảnh gọi là Phùng gia gia, lâu dần mọi người cũng quen miệng gọi y với danh từ ấy, thành thử những ai mới tới cũng tưởng Phùng gia gia là một nhân vật có uy thế lắm, Công việc làm ăn của đảng côn đồ họ Phùng phát đạt, Mậu Cảnh bỏ tiền mua chuộc giao dịch với mấy nhân viên trong nha nên thế lực của y càng ngày càng vững vàng hơn cả hồi còn Hắc Lão Chủy.

Những ngày thường, sự kiếm ăn của đồng bọn Phùng Mậu Cảnh theo mức thương đều đều, nhưng những buổi tết nhất, hội hè thì con số thâu nhập tăng lên gấp bội.

Năm anh em Chu Đức Kiệt ra tới Tô Châu liền đi thẳng tới nhà họ Phương để xe và ngựa cho người nhà giữ, rồi mới thủng thẳng đi bộ đến Tô Châu Hí Viện.

Bọn vương tôn công tử giả hiệu là cà ở công trường chuyên môn trêu gái, hôm ấy thấy bốn chị em Lam Y người nào cũng xinh đẹp lạ thường, thì dù ngẩn người há hố, miệng ra nhưng lại thấy Chu Đức Kiệt uy dũng đi kế bên, nên không tên nào dám giờ trò bỉ ổi.

Trong bọn có tên nhận ra bèn bảo nhau :

- Họ nhà Trại Mạnh Thường Âu Dương đấy mày ơi, trêu vào thì bể mặt nát mũi đó! Anh chàng hùng dũng kia là hôn phu của cô gái họ ấy đấy.

Bởi vậy chúng đành đứng xa xì xào bàn tán thẩm mỹ vậy.

Đức Kiệt cũng lẫn vào đám đông lấy vé hát.

Người đi xem đông qua xô đẩy nhau lấy vé. Đức Kiệt không muốn chen lấn thành thử loay hoay mãi cũng không vào được chỗ bán giấy.

Một nhân viên gánh hát đứng gần đấy thấy chàng sang trọng bèn hỏi!

- Thiếu gia muốn lấy vé hát phải không?

Chàng gật đầu :

- Quả vậy, nhưng người ta chen lấn qua đông.

- Được thiếu gia cứ đứng ngoài để tôi vào trong lấy hộ cho.

- Cảm ơn, lấy giùm tôi năm vé thượng hạng.

Chàng nhìn giá vé chi trên bảng đưa tiền cho người ấy và tặng thêm hai lượng bạc.

Lát sau y ra đưa vé cho Đức Kiệt :

- Cũng may còn năm chỗ tốt thượng hạng đông nghẹt rồi.

Năm anh em qua cửa soát vé, lên thượng lầu. Hí viện rất lớn, hạng nào hạng ấy đều hết chỗ. Ban âm nhạc hát bộ ngồi ngay phía trước sân khấu tấu nhạc inh ỏi.

Đức Kiệt báo Lam Y và Âu Dương Bích Nữ :

- Lâu lắm không đi coi hát nên mất thói quen. Nhốn nháo qua.

Âu Dương Bích Nữ mỉm cười:

- Cũng may hí viện này có thượng lầu, ngồi dưới nhà còn nguy hơn nữa.

Lam Y hỏi :

- Lát Yên Kinh hàng năm có lưu diễn ở đây không?

Gánh này phần tử có Hoàng Phi Giao và Tiểu Mộng Lân cũng khá lắm, nổi tiếng miền Giang Nam năm nào cũng bắc du, không hiểu sao năm nay lại hát ở thị trấn.

Giờ mở màn đã tới. Toàn thể các vai trò sắp hàng trên sân khấu trình diện với khán giả và sau đó vở Giang Tả Cầu Hôn được trình diễn ngay.

Diễn viên xuất sắc, khán giả vỗ tay khen vở rạp!...

Lúc tan mọi người kéo nhau chờ ra về cuồn cuộn như nước chảy.

Anh em Chu Đức Kiệt bảo nhau chờ ra sau cùng, khỏi chen lấn.

Khi ra khỏi cửa rạp thì chợt thấy hai người một già, một trẻ múa côn và vừa lùi trước một toán đông đến vài chục người, kẻ nào cũng khí giới trường đoản đủ thứ.

Cuộc loạn đấu rất dữ dội, người xem đứng vòng trong vòng ngoài vây khắp nơi.

Hai người bị đánh có phần yếu thế lùi mãi đến bậc gạch lên rạp hát.

Lam Y thấy vậy vội nói :

- Hai người kia nguy mất! Họ tính lầm, không chạy ra lối đông người!

Nàng vừa nói vừa cởi khuy áo bào, nhưng Chu Đức Kiệt gạt đi.

- Hiền muội can thiệp không tiện, để mặc ngu huynh...

Nguyên hai người già, trẻ bị đánh kia là hai chú cháu người Hồ Nam chuyên giang hồ mãi võ. Người chú là Viên Thức tuổi ngũ tuần, tầm thước khỏe mạnh, cầm côn. Người cháu là Viên Mãng trạc hai mươi sáu, hai mươi bảy dáng dấp cũng như người chú, đánh giản.

Nhân buổi tân xuân, hai chú cháu từ Tân Giang huyện lên tới Tô Châu định nán lại mãi võ kiếm tiền, vì xưa nay có tiếng đồn là dân trấn này rất hào phóng ăn chơi không biết tiếc tiền. Lang thang khắp phố này đường kia, chú cháu họ Viên định kiếm nơi đất rộng biểu diễn thì chợt đi tới cổng trường hí viện.

Lúc ấy cũng có đám làm trò leo dây đang trình diễn, người bâu lại xem đông.

Viên Thức liền bảo cháu :

- Ta biểu diễn ở đây thôi, nơi này người đông, đất lại rộng.

- Thúc thúc dạy phải, trông tình hình này ta có thể mãi võ được nhiều ngày.

Thế là hai người kiếm chỗ có bón cây đặt bao hành lý và mấy thứ võ khí xuống. Viên Mãng lấy phèng la ra chưa kịp gỡ chiêu hàng thì có một gã vóc người ốm nhom, mặt tái mét, môi mỏng như sợ chỉ, mắt ti hí đi tới.

Gã đó cầm tay Viên Mãng :

- Đại ca tính chuyện mãi võ phải không? Từ đâu tới đây?

Nhìn thằng vào mặt gã ấy thấy đáng ghét quá, Viên Mãng gạt nhẹ tay y ra.

- Phải, tôi mãi võ. Đại ca hỏi làm chi?

Gã đó nheo mắt ti hí, nhếch cặp môi mỏng dính cười nham hiểm :

- Tôi là người của Phùng gia gia đây mà!

- Phùng gia gia nào tôi không hề quen biết y.

- Hì... hì... Ai mà quen được Phùng gia gia? Nhưng phải quen chớ!

- Thế là nghĩa lý gì? Tại sao lại phải quen? Y làm quan ư?

Gã đó lắc đầu, chép miệng :

- Phùng gia không làm quan nhưng chẳng khác chi quan của công trường này.

- Chịu, tôi không hiểu giọng bí mật của đại ca.

Nói đoạn Viên Mãng giơ phèng la toan gõ.

Gã kia vội chặng lấy phèng la mà rằng :

- Mang tiếng là kẻ giang hồ mãi võ mà đại ca chậm hiểu qua!

Lúc đó, Viên Thức bày mấy thứ đồ nghề đã xong bèn bước tới hỏi :

- Có chuyện chi vậy?

Ngửng đầu nhìn Viên Thức, gã kia nói :

- Có chuyện chớ, nếu không ai mất thì giờ làm gì?

Viên Mãng thuật lại chuyện Phùng gia gia cho chú nghe.

Ôn tồn, Viên Thức bảo gã ấy rằng :

- Đại ca chẳng nên đùa cợt nữa, chúng tôi nghèo phải mãi võ kiếm ăn, xin nghĩ lại.

- Chính vì muốn cho lão huynh được yên ổn làm ăn, tôi mới mách cho việc phải gặp Phùng gia gia đặng trình diện và ưng thuận nạp số tiền bách phần, nghe tôi mới ổn.

- Đó là thông lệ ở đây sao? Đại ca là ai?

- Chính thế. Tôi là Thử Diện Tử Man Quý, tại công trường này ai cũng biết.

Viên Thức phì cười, vỗ vai Thử Diện Tử :

- Bao nhiêu năm mãi võ, triều đình cũng không có lệ bắt chúng tôi nạp thuế nữa là Phùng gia gia nào tại nơi công trường này?

- Ấy thế mà trong nhiều năm nay, toán nào qua đây biểu diễn cũng vẫn phải chịu điều kiện ấy như thường, không tin hỏi mấy người làm trò leo dây kia mà coi.

- Phải có phép vua luật nước chớ! Đâu lại bắt buộc người ta được?

Viên Mãng đứng bên nóng ruột nói xen vào :

- Lên quan là cùng, mặc Phùng gia gia với thông lệ của y, mất thì giờ nhiều quá rồi.

Thử Diện Tử nhe cặp môi mỏng dính cười khẩy :

- Tôi đã tận tâm mách bảo, các người không tin thì tùy ý, nhưng đừng có phàn nàn nhé!

Viên Mãng bất bình nói với Viên Thức :

- Ta cứ biểu diễn đi, tên gia gia nào đó tới đây sẽ nói chuyện sau. Lo gì!

Thử Diên Tử nói :

- Bướng bỉnh thế có chết cũng đáng đời!

Nói đoạn y bỏ đi, nhưng bực mình, Viên Mãng bước tới túm lấy ngực áo y mắng :

- Bộ ngươi muốn hăm dọa ta đó sao? Chắc thằng gia gia ấy sai ngươi đến đây làm tiền hả!

Lúc đó, mọi người thấy lạ cũng đã bâu lại đông xem chuyện gì.

Xưa nay dựa vào thế của Phùng Mậu Cảnh, Thử Diện Tử chưa bao giờ bị mất thể diện. Nay bị tóm ngực áo trước công chúng, y đỏ mặt tía tai xoay mãi cũng không gỡ được nắm tay cứng nhắc của Viên Mãng khiến mọi người cười ồ, y bèn nạt lớn :

- Biết điều buông ra ngay! Võ lực của ngươi được bao nhiêu mà cậy tài?

- Ta không buông ngươi làm chi nổi?

Viên Thức tiến tới bảo Viên Mãng :

- Thôi, buông y ra, chấp y làm gì, hả hiền điệt?

Đẩy nhẹ một cái khiến Thử Diện Tử lăn ra đất, Viên Mãng xoay tay nói :

- Nể lời thúc thúc ta tha cho ngươi, nếu không thì cũng lãnh cái bạt tay cho chừa tánh hỗn xược theo đám ăn tàn ấy đi nghe! Coi bộ mặt chuột của ngươi ta phát tởm! Nhớp cả tay!

Mọi người đứng xem cười ồ lên khiến Mao Quý mắc cỡ vô cùng. Y lồm cồm ngồi dậy phủi bụi xốc áo, cố ra vẻ đạo mạo, giơ tay đe dọa :

- Đừng có chạy nghe! Ngươi sẽ biết tay ta, đồ khốn!

Viên Mãng xô lên như muốn túm đánh, Mao Quý vội vàng chạy mất.

Trở lại chỗ cũ, Viên Mãng lấy phèng la ra gõ chiêu khách.

Thiệt ra, chàng không cần phải chiêu bàng nữa vì mọi người bu lại xem chuyện xích mích vừa rồi cũng đã quá đông.

Ngưng gõ thanh la, Viên Mãng chấp tay chào tứ phía :

- Kính thưa chư vị quân tử, chúng tôi là kẻ lưu lạc giang hồ, biết chút ít võ nghệ, nhân buổi tân Xuân qua đây, xin hiến chư vị chút nghề mọn kiếm tiền độ nhựt, dám mong chư vị dong túng, thể tin cho.

Nói đoạn, chàng liệng phèng la cho Viên Thức, hoa quyền dạo mấy đường bái tổ, bộ pháp nhẹ nhàng tuyệt đẹp. Nhưng, kỳ thay mọi người kéo nhau tản mát, bỏ không xem.

Ngơ ngác và ức quá, Viên Mãng đứng thẳng lại nói lớn :

- Kính thưa quý vị...

Mọi người lẳng lặng đi hết chỉ trừ một vị lão trượng chống gậy đứng lại nhìn họ Viên.

Viên Mãng không biết xử trí thế nào, không ngờ dân Tô Châu nổi danh hào hoa phong nhã ưa văn, chuộng võ mà lại bỏ đi chỉ vì tiếc mấy quan tiền thưởng cho hai người mãi võ nghèo nàn.

Thấy lão trượng hiền lành đứng lại nhìn mình, chàng bèn chạy tới vòng tay cung kính :

- Thưa lão trượng, vừa rồi mọi người bỏ đi là vì không ưa chuộng võ nghệ hay là tại tiểu tử mới dạo quyền mà họ đã thấy dở kém, nên khinh miệt tan rã như vậy?

Lão trượng hiền từ hỏi :

- Xem như việc vừa xảy ra, lão đoán rằng đây là lần thứ nhất, hảo hán tới Tô Châu mãi võ tại công trường này phải không?

- Dạ, có thế.

- Hảo hán chưa tiếp xúc với Phùng Mậu Cảnh, và lẽ cố nhiên chưa ưng thuận nạp bách phần?

- Thưa cha Mậu Cảnh tức là Phùng gia gia chi đó, thưa lão trượng?

Lão trượng gật đầu :

- Chính y đó, Mậu Cảnh đứng đầu bọn côn đồ khá đông thao túng nơi công trường này. Ai muốn tới đây biểu diễn phải nói riêng với y hay bộ hạ của y và ưng chịu nạp bách phần về số tiền thâu được mới có thể ngang nhiên công diễn. Trái lại, chúng sẽ kiếm chuyện kéo cách gây gổ phá hoại, không biểu diễn nổi đâu.

Viên Mãng đem việc gặp Thử Diện Tử thuật lại cho lão trượng nghe.

Lão trượng nói :

- A, ra thế đó. Tên Thử Diện Tử là tai mắt của Phùng Mậu Cảnh ở thường trực tại đây. Bởi thế y mới tiếp xúc với hảo hán ngay từ lúc đầu. Nay có sự xảy ra như thế, tất bọn Mậu Cảnh đến đây tới nơi rồi. Vì vậy mọi người e có sự xung đột nên lảng tránh, chớ không phải chê hảo hán vô tài hay là tiếc tiền đâu. Lão khuyên hảo hán nên thu xếp đi khỏi nơi này kẻo chúng đông lắm. Lão cũng không dám nán lại nữa.

Nói đoạn, lão trượng chông gậy đi thẳng.

Tức giận, Viên Mãng quay lại nói với Viên Thức :

- Tiếp xúc với tên họ Phùng ấy còn có thể được, chớ nạp bách phần cho họ thì thiệt quá đáng. Thế ra nó sống trên lưng mình một cách vô lý như vậy sao?

Viên Thức cũng bực tức :

- Đánh thì đánh chớ sợ gì! Nhân dịp này ta cho chúng biết rằng không phải quỳ lụy tiền mồ hôi nước mắt cho chúng tọa hưởng đâu.

Hai chú cháu họ Viên bàn định xong liền rút sẵn cây côn và cặp giản ra còn thì bó các dụng cụ và hành lý lại bỏ vào bên gốc cây lớn.

Vừa xong thì từ phía đông, một toán chừng bảy, tám người đai nịt gọn gàng kéo tới. Đồng thời từ mấy góc công trường cũng có vài toán áp tới họp lại với nhau thành một bọn khá đông chừng vài chục tên võ trang đầy đủ, diện mạo hung hãn, ngạo mạn, mục hạ vô nhân.

Tên đi đầu lực lưỡng võ phục sang trọng tay cầm thiết tiên. Bộ võ phục đẹp đẽ đắt tiền y đang mặc đó cũng không làm giảm được nét côn đồ của y.

Hai chú cháu họ Viên chọn lựa địa thế, chống khí giới ngang nhiên chờ.

Bọn côn đồ kéo tới nơi, Thử Diện Tử Mao Quý lăng xăng đi đầu, tay cũng cầm thanh đao, chỉ mặt hai hảo hán mãi võ, vênh vang thét :

- Bớ hai tên xuẩn kia! Ta đã dạy mà các ngươi không biết nghe, nay gia gia hỏi tội đó. Biết điều quỳ lạy đi kẻo nhừ đòn bây giờ!

Viên Mãng nổi giận đùng đùng :

- Tên nào là Phùng Mậu Cảnh, hãy lên tiếng coi!

Mậu Cảnh tiến lên vỗ ngực :

- Mi đui hay sao mà không nhận ra lão gia?

Viên Mãng cười ha hả :

- Diện mạo ngươi cũng lưu manh chẳng kém bộ hạ của ngươi, thì ta nhận ra sao nổi? Muốn gì thì cứ việc. Ta sẵn lòng nghinh tiếp.

Mậu Cảnh chỉ mặt Viên Mãng mắng :

- Mang tiếng là giang hồ mãi võ mà không biết luật lệ thiên hạ, giang sơn nào anh hùng nấy.

- Các ngươi tới đất này không trình diện với lão gia thì kiếm tiền sao nổi? Không thức thời sao gọi là hảo hán được?

Viên Mãng cười gằn :

- Thức thời với người lương thiện chớ bất hảo như các ngươi, nói chuyện đó làm chi cho nhọc công!

Phùng Mậu Cảnh nổi giận thét :

- Anh em! Bắt sống hai tên này cho ta!

Vừa cậy thế đông người và cũng vừa muốn tưng công với gia gia. Thử Diện Tử Mao Quý múa đao nhảy vào chém Viên Mãng, chẳng ngờ thanh đao bị ngọn giản lợi hại của họ Viên gạt bay đi nơi khác, đồng thời giản thứ hai hạ xuống trúng sườn, khiến tên mặt chuột lăn ra đất đau quá, ôm sườn kêu inh ỏi. Sợ Mao Quý bị sát hại, Phùng Mậu Cảnh liền hoa đao xông vào chặn Viên Mãng. Đồng bọn côn quang, kẻ đao, người côn cùng áp tới cả một loạt vây đánh. Viên Thức múa tít cây côn nhào tới tiếp tay Viên Mãng, đánh bừa. Bọn côn đồ tuy không là tay hảo võ nghệ nhưng tên nào cũng có sức, hơn nữa chúng đông người, ồ ạt ẩu đả, không chịu nhường bước.

Nhất là Phùng Mậu Cảnh tay đao cũng không đến nỗi dở, lại ó sức khỏe trời cho, nên bám đánh Viên Mãng thiệt ráo riết.

Chú cháu họ Viên trổ hết tài nghề, dương đông, kích tây, đem sức học bình sanh ra quyết thắng, xung đột như hai con cọp dữ.

Thắm thoát đã có mấy tên côn đồ trúng thương lăn ra đất. Nhưng tên này quỵ, tên khác đã nhảy tới thế liền. Chúng liều mạng ẩu đả quyết giữ lấy uy thế và miếng cơm của chúng ở khu công trường hí viện. Người kéo ra xem đông như kiến. Khí giới va chạm nhau chí chát, tiếng hò hét vang dậy cả một khu. Đánh lâu thấm mệt, chú cháu họ Viên mồ hôi toát ra như tắm bảo nhau lùi dần. Bọn côn đồ hô lớn :

- Anh em ơi, hai thằng này mệt rồi, đánh quỵ mau!

Vừa hay lúc đó tan hát người trong hí viện ùa ra thấy đám đánh nhau lớn bèn dạt cả sang một bên công trường. Người nhát gan sợ chẳng phải đầu, phải tai kéo lẹ bước ra về, người tò mò hiếu sự bảo nhau đứng xa xa theo dõi trận chiến. Mệt lắm Viên Thức và Viên Mãng liệu bề không chống trả được nữa vừa đỡ vừa lùi, định bụng chạy vào trong rạp hát trốn tránh thì may thay, giữa lúc đang thập phần nguy hiểm, tánh mạng mong manh treo sợi tóc thì cứu tinh vừa tới.

Phùng Mậu Cảnh cùng đồng đảng theo sát đối thủ đang lâm nguy quyết bắt cho kỳ được hai người mãi võ. Trận đánh ồ ạt tràn tới gần bực gạch ở cửa hí viện.

Chú cháu họ Viên thở hồng hộc xem chừng không lên nổi mấy bực đá nữa...

Bỗng một người từ phía sau nhảy vụt qua đầu Viên Thức quơ tay giựt phắt lấy cây côn của họ Viên, nhập trận chặn hẳn đường tiến của bọn côn đồ. Đó là Chu Đức Kiệt vừa liệng áo bào cho Âu Dương Bích Nữ, xông tới cứu hai người bị đánh hoàn toàn kiệt sức.

Theo thế Tản Vân, Đức Kiệt chân vừa tới đất hoa côn lên hai vòng gạt băng khí giới của đợt người hùng hổ gần nhất. Bị cái gạt mạnh mẽ bất ngờ ấy, một loạt võ khí rời hẳn tay chúng, cánh tay chúng tê buốt, toàn thân rung động không dám tiến nữa. Đức Kiệt hoa côn lên một vòng nữa ép chúng phải lùi hẳn mấy bước. Đang thắng thế bỗng dưng bị kẻ lạ mặt ngăn cản. Phùng Mậu Cảnh tức giận lượm được thanh đao khác liều mạng nhảy bừa vào chém bổ một lát vào đầu Đức Kiệt.

Liệng cây côn lại phía sau trả Viên Thức, Chu Đức Kiệt tiến lên một bước đưa tay hữu chặn bắt trúng cổ tay địch năm ngón tay thép khép lại khiến Mậu Cảnh đau quá, kêu rống lên rời thanh đao ra. Đồng thời, Đức Kiệt đưa tay tả túm chặt lấy ngực áo địch trong khi tay hữu buông cổ tay địch và nắm lấy đai lưng nhắc bỗng hẳn Mậu Cảnh lên cao, quát :
- Mi muốn sống hay muốn chết?

Tên trùm côn đồ sợ quá e bị quật xuống đất thì nhừ tử nên vội kêu :

- Tôi biết sức tráng sĩ rồi, sanh phúc tha cho tôi.

Đức Kiệt nạt :

- Lúc mi cậy đông đuổi đánh hai người kia thì có nghĩ tới phúc đức không?

Nói đoạn, chàng quay đi hai vòng như chiếc chong chóng.

Mậu Cảnh hoa cả mắt thấy trời đất nhà cửa đảo lộn, phát hoảng :

- Xin tráng sĩ tha cho mạng tiểu nhân này. Xin tha.

Đức Kiệt biết tên đó đủ sợ rồi, liền liệng nhẹ y xuống đất lăn đi một vòng.

Phùng Mậu Cảnh mặt cắt không còn hột máu run rẩy như gà phải nước, trái hẳn với ngày thường vênh váo, hoa tay ưỡn ngực, la hét cậy sức khỏe vô địch.

Bọn côn đồ thấy ngay nhỡn tiền họ Phùng bị áp đảo như một trẻ nít vậy, tấm thân lực lưỡng lúc bấy giờ y hệt tàu lá héo, vẻ oai hùng thường ngày biến đâu mất hết, bèn đứng dạt cả sang một bên.

Mọi người hiếu kỳ thấy bọn côn đồ bị người lạ đàn áp rồi, thì an tâm kéo gần lại xem. Có người nhận ra năm người bèn thì thào bảo nhau :

- Kìa, họ nhà Trại Mạnh Thường Âu Dương và thiếu nữ kia ở Địch gia trại trong Tam Môn cốc đó mà. Thảo nào! Nhưng có vậy mới đáng cho bọn côn quang lưu manh. Như thế từ nay chúng mới hết thói nạt nộ mọi người!

Viên Thức, Viên Mãng thoát nguy, bước tới trước mặt Chu Đức Kiệt vái dài :

- Chú cháu tôi đội ơn cứu mạng, xin cho biết đại danh để chúng tôi ghi lòng tạc dạ.

Đức Kiệt đáp lễ :

- Bốn bể anh em cùng nhà, giúp nhau được là may sá chi việc nhỏ mọn ấy mà nhị vị phải quan tâm! Chẳng hay đầu đuôi câu chuyện thế nào? Sao lại ẩu đả như vậy? Những kẻ kia là ai?

Viên Thức xưng danh và kể lại mọi việc đã xảy ra.

Đức Kiệt gật đầu hiểu chuyện, quay lại nhìn toàn bọn côn đồ, thấy Mậu Cảnh trang phục sang trọng hơn cả bèn chỉ tay hỏi :

- Ngươi là đầu đảng lưu manh, xưa nay vẫn hoành hành chuyên áp chế người lạ đến kiếm ăn nơi công trường này phải không?

Len lét như rắn mồng năm, Phùng Mậu Cảnh nói nhu nhú trong miệng :

- Dạ, có như vậy ạ.

- Từ nay ngươi có biết tâm tu tỉnh ăn năn hối tội, kiếm cách sanh nhai lương thiện không? Vai to bắp lớn như ngươi, kiếm đâu không ra việc làm, cớ sao lại sống nghề mạt hạng này, muốn vào ngục phải không?

Mậu Cảnh im lặng nhìn mặt đất, Đức Kiệt hỏi :

- Bộ ngươi còn tiếc rẻ đời sống ăn không của tên trùm côn quang phải không? Như vậy ta giúp nhà ngươi vào ngục thất ăn năn hối tội, nghe?

Mậu Cảnh hoảng hồn vội thưa :

- Thưa tráng sĩ, từ nay tôi hứa xin giải nghệ, làm ăn lương thiện.

- Ta ở gần đây, sẽ cho người dò hỏi, nếu ngươi còn chứng nào tật ấy, quyết không tha thứ, nghe?

- Dạ xin hứa cải thiện và giải tán đồng bọn.

Chu Đức Kiệt hướng vào bọn côn đồ mà rằng :

- Đó, các ngươi nghe thấy chưa? Từ nay phải giải tán. Tên nào còn tiếc rẻ lưu luyến nghề cũ thì đừng có trách, biết không?

Bọn côn đồ len lét im lặng, cúi đầu. Phùng Mậu Cảnh cất tiếng bảo đồng bọn :

- Các anh em nghe đây, trước kia tôi tưởng có sức vô địch coi trời bằng vung, đã trót làm nên một nghề không xứng đáng với người con trai mang tiếng đầu đội trời chân đạp đất, lưng dài vai rộng. Từ nay, tôi kiếm việc khác sanh sống và tuyên bố giải tán anh em. Mong ai nấy đều cố gắng làm lại cuộc đời, chẳng nên lưu luyến nghề xưa mà có ngày mất mạng hoặc ngục tù.

Bọn côn đồ nghe vậy, tức khắc giải tán. Chúng lượm khí giới rải rác trên mặt đất rồi kéo nhau đi mỗi tên một ngả. Nhìn đồng bọn đi hết Mậu Cảnh quay lại vái Đức Kiệt :

- Nhờ tráng sĩ, tôi mới biết hối cải mọi sự lỗi lầm. Tráng sĩ là người đã tái tạo cuộc đời của tôi, xin người hãy tin rằng Phùng Mậu Cảnh này không phải là kẻ nuốt lời hứa đâu.

Dứt lời họ Phùng quày quả đi thẳng.

Chu Đức Kiệt hỏi Viên Thức :

- Hảo hán có bị mất mát hành lý không?

Vừa hay lúc đó Viên Mãng đã chạy ra gốc cây lớn nơi định diễn võ vác bọc hành trang và mấy thứ dụng cụ trở lại.

- Thưa, còn y nguyên, may quá!

Đức Kiệt mỉm cười :

- Từ nay, nhị vị tha hồ nán lại biểu diễn cho công chúng xem trong dịp Tân Xuân, không còn e ngại gì nữa, nhé!

Chàng móc túi lấy đĩnh bạc đưa cho Viên Thức :

- Gọi có chút quà mọn lưu tình, mong hảo hán đừng chối từ.

Trước cử chỉ rất tự nhiên và thân thiện của ân nhân, Viên Thức đành vui lòng nhận bạc, nói mấy lời cám ơn rồi cùng Viên Mãng thu xếp về quán trọ.

Đức Kiệt trở lại chỗ mấy chị em Lam Y mặc áo bảo, kéo về nhà họ Phương lên xe, ngựa ra khỏi Tô Châu đưa Địch Phượng Tiên về Tam Môn cốc.

Phượng Tiên định giữ mọi người lại Địch gia trại mời tiệc, nhưng Tú Kiều từ chối :

- Chỗ người nhà cả, xin để khi khác. Về trễ quá e nhị vị mẫu thân mong đợi. Thỉnh thoảng thơ thơ sang chơi nhé, đừng có biệt dạng như hồi cuối năm đấy!

Phượng Tiên cười phân bua :

- Các vị xem đó. Có chồng rồi có khác? Đứng đắn quá!

Ai nấy đều cười vang rồi bái biệt Phượng Tiên về Âu Dương trang.

Nội cỏ ngàn cây đó đây xanh ngắt, hoa muôn màu hương sắc lung linh, bầy chim non ríu rít trên cành, mây vàng ải Bắc tím chiều sơn thôn. Tuy Xuân đã về nhưng đường lên Bắc gió còn lạnh buốt, sáu người vận áo ấm vó câu dong ruổi tung lớp bụi đường ẩn cánh đào hồng, mai trắng. Người nào cũng có cảm giác dễ chịu của khách viễn du trên các nẻo đường đầy Xuân sắc, gió lộng ngàn hoa.

Trong đoàn sáu người chỉ có Đức Võ Thượng Nhân là người Bắc và Thiết Hoàn Tử tuy sanh quán ở Hán Dương nhưng lại thường qua đất Bắc nên đã quen thuộc với cảnh sơn thôn ẩn hiện giữa những đồi núi chập chùng. Trái lại, lão anh hùng Trại Mạnh Thường, Chiêu Đức thiền sư và anh em Tòng Cát, Tòng Đức đều là những người Giang Nam nên rất lấy làm khoan khoái ngắm cảnh bao la hùng vĩ.

Một hôm tới Yên Kinh thì trời đã về chiều và bắt đầu sang Hạ.

Xa xa, thành Yên Kinh lại cao lớn cực kỳ rộng rãi, hùng vĩ nổi bật ở chân trời tím ngắt. Trên vọng lâu, hai lá đại kỳ đuôi nheo bay phần phật trước gió. Tại bốn cửa thành và trên mặt thành, quân lính canh phòng nghiêm cẩn. Tường cao dày dặn, hào sâu rộng rãi bao bọc khắp chung quanh. Thành Yên Kinh chia ra làm bốn lớp riêng biệt rộng rãi.

Qua cổng thành tức là vào tới lớp ngoài, nơi của dân chúng ở và buôn bán. Đường sá chi chít rộng rãi, người qua kẻ lại đông đúc, phố phường buôn bán sầm uất, ca lâu tửu quán nơi nào cũng có, nhà cửa khang trang cao ráo ba bốn từng lầu.

Lớp thứ nhì là nơi dinh thự, công quán chỗ ở và văn phòng của các quan, lầu các điện đài nguy nga giữa những hoa viên đẹp đẽ.

Lớp thứ ba là Hoàng thành nơi Vua ngự và lâm triều. Sáng sáng, các quan phải qua lớp Ngọ môn vào chầu cùng nhà Vua bàn việc nước.

Lớp này thuộc phần ngự lâm quân canh phòng khắp bốn phía. Bên trong, đền đài, lầu vàng các ngọc chi chít. Thượng uyển mênh mông.

Lớp thứ tư ở ngay trung tâm Hoàng thành và là nội cung gồm các tam cung lục viện, cấm ngặt không một ai được tự do ra vào nếu không có lệnh của Hoàng đế triệu vời.

Cũng vì sự nghiêm ngặt ấy nên các quan thường gọi lớp thâm cung ấy là Thanh cung, ngụ ý là nơi Tử cấm âm u.

Bọn sáu người kéo nhau vào thành.

Thiết Hoàn Tử hỏi Trại Mạnh Thường :

- Lão huynh định trọ ở nơi phố phường đông đảo nhộn nhịp hay là muốn kiếm chỗ an tĩnh?

- Nơi nào có đủ hai phương tiện ấy? Ở phòng trong có vườn tược hẳn hoi thì được an tĩnh mà khi ra tới phố thì nhộn nhịp ngay.

Thiết Hoàn Tử gật đầu :

- Được lắm! Quý vị hãy theo tôi.

Đức Võ mỉm cười mà rằng :

- Bần đạo qua Yên Kinh luôn nhưng lần nào cũng ở nhờ nơi miếu mạo nên chịu không biết rõ như Thiết Hoàn Tử.

Đi vòng hết đường nọ tới phố kia hồi lâu Thiết Hoàn Tử dẫn năm người đến Trường Uyển lộ vào Phong Hạc lầu sang trọng cự kỳ diễm lệ.

Mặt tiền Phong Hạc lầu ở ngay phố buôn bán sầm uất, nhưng khi qua căn nhà lầu ba từng vời vợi là nơi tiếp khách ăn, phía trong còn có mấy lớp đình hoa nữa ở giữa khu hoa viên rộng rãi an tĩnh lạ thường.

Sáu người xuống ngựa ném cương cho bọn mã phu thường trực của Phong Hạc lầu.

Thiết Hoàn Tử bảo chúng :

- Dắt ngựa vào tầu săn sóc tử tế, chúng ta còn ở đây ít ngày.

Bọn mã phu ghi số đưa lại cho khách hàng :

- Quý vị giữ lấy số này để tránh sự lầm ngựa bữa nào ra đi.

Nói đoạn, chúng dắt sáu con tuấn mã vào cổng bên. Mấy tên tửu bảo thấy khách đến trọ vội chạy ra đỡ hành lý đi trước tới quầy viên quản lý lấy ba căn phòng lớn ăn thông nhau ở đình các ngoài hoa viên. Viên quản lý chào hỏi niềm nở, hai người dẫn khách vào nhận phòng.

Trại Mạnh Thường, Thiết Hoàn Tử chung một phòng. Chiêu Đức và Đức Võ một phòng, còn phòng thứ ba thì anh em Tòng Cát, Tòng Đức ở. Ba phòng thông nhau chung một khách phòng chiếm hẳn một trái lầu có hành lang rộng rãi trông thẳng ra hoa viên mát mẻ trang nhã. Sáu người thay y phục sạch sẽ rồi kéo nhau ra nhà ngoài lên lầu thượng. Lúc đó trời đã tối. Trong lầu đèn lưu ly thắp sáng trưng. Vì Phong Hạc là nơi sang trọng nên khách hàng toàn giới thượng lưu lịch sự. Tầng lầu nào cũng có nữ công tấu nhạc êm dịu vui tai. Sáu người kéo nhau ra khê lầu cao ngất nhìn khắp mọi nơi trong thành Yên Kinh, lầu mái cong cong nhấp nhô, đèn nến lấp lánh tựa sao sa.

Trại Mạnh Thường gật gù :

- Cảnh đế đô huy hoàng lộng lẫy thiệt, so với các tỉnh lớn miền Giang Nam mỗi nơi có một sắc thái khác nhau. Dù sao, Yên Kinh cũng phải trên nhiều bực vì phần có Hoàng cung, phần diện tích nội thành lớn hơn nhiều.

Chiêu Đức thiền sư nói :

- Còn một điểm nữa cũng khác hẳn Giang Nam. Toàn thể dân cư đều ở cả trong thành. Trái lại các thị trấn miền Nam nơi nào cũng có phần ngoại thành buôn bán sầm uất không thua gì phần nội thành.

Đức Võ Thượng Nhân gật đầu mà rằng :

- Sở dĩ thành quách đất Bắc dày dặn hơn và không có phần ngoại thành là vì giáp với biên quan. Nếu xảy ra chinh chiến dân gian ở cả nội thành, phòng vệ dễ dàng hơn. Từ Yên Kinh tới Vạn Lý Trường Thành không còn bao xa nữa. Tiếc thay đạo hữu và quý vị huynh đệ ít thì giờ, nếu không thì cùng qua Sơn Hải quan lên thăm Cửu Huyền sơn, dọc đường phong cảnh hùng vĩ nên thơ lắm.

Trại Mạnh Thường hỏi :

- Khi xong việc ở Yên Kinh, lão huynh không trở lại bản trại sao?

Đức Võ Thượng Nhân đáp :

- Chắc cũng không còn việc gì cần tới sự hiện diện của bần đạo nữa. Còn việc hôn nhân của Đức Kiệt tất phải để cuối năm hoặc Xuân sang năm. Bây giờ có về, thời tiết cũng không hạp nữa. Tính kỹ tháng hai sang năm hạp với tuổi cả hai người đó hơn. Thời gian ấy, bần đạo sẽ trở lại Âu Dương trang.

Sáu người trở vào chọn chỗ ngồi, gọi tửu bảo lấy hai tiệc chay.

Trại Mạnh Thường hỏi Thiết Hoàn Tử :

- Ngày mai lão đệ thử hỏi xem có kết quả gì về thì giờ của nhà Vua và nơi thường ngự ban đêm không. Cả khu điện đài trong Hoàng thành nhấp nhô cả trăm ngàn lớp thế kia, kiếm một người quả rất khó khăn nếu không chịu bạo động, mà việc này không thể áp dụng lối đó được.

Thiết Hoàn Tử nói :

- Tiểu đệ sẽ cố gắng. Trong thời gian dò hỏi, lão huynh cứ việc thăm thú Đế kinh chừng nào có tin tức rõ ràng mới có thể hành động được.

Hôm sau, mọi người sửa soạn ra phố xem cảnh thành Yên Kinh thì Thiết Hoàn Tử đi trước đến Thái hòa lộ thuộc lớp thứ hai đô thị tìm nhà Lý Tuyên người cùng làng ở Hán Dương.

Họ Lý năm ấy trạc ngũ tuần làm Tổng giám thì trong Hoàng cung. Lý Tuyên ăn ở ngay trong cung cấm nhưng vì còn cha già là Lý Tiến ở ngoài nên y cứ vài ngày về thăm y một lần, Thiết Hoàn Tử gõ cổng người nhà mở cổng nhận ra người quen bèn mời vào.

- Lý thái giám có nhà không? Lão gia gia mạnh giỏi chớ?

Người nhà đáp :

- Lão gia gia ở nhà trong đang sửa cây cảnh, còn Tổng thái giám không có nhà ạ.

Thiết Hoàn Tử theo gia nhân vào hậu đường nhìn ra khu vườn sau xinh đẹp. Râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào khỏe mạnh, Lý Tiến vận thường phục đang loay hoay cắt sửa mấy cây cổ thụ.

Gia nhân chạy ra báo :

- Thưa gia gia, có Hồng tiên sinh tới thăm, hiện đang ngồi trong hậu đường.

Lý Tiến bỏ kéo xuống bên chậu cảnh, xốc áo lững thững vào nhà. Thiết Hoàn Tử bước tới sụp lạy, Lý lão đỡ dậy :

- Sao lâu nay không thấy qua chơi, chuyến này hiền khế từ đâu về đây?

- Ngu điệt từ Giang Nam lên hôm qua. Hồi tháng tám năm ngoái, lúc ở đây ra đi là Ngu điệt xuống thẳng miền Nam đó Chẳng hay lão bá có được an khang không?

- Ơn trời ban sức khỏe, lúc nào lão phu cũng được như thế này. À, sao hiền khế không về ở đây như mọi lần?

- Thưa, ngu điệt còn có mấy người bạn nên về đây không tiện. Lý đại ca không về thăm nhà sao?

- Đáng lẽ nó về từ hôm qua, nhưng bận việc nên sai người ra báo là sáng mai mới về.

- Ngu điệt muốn gặp Lý đại ca có chút việc rất gấp, nhờ lão bá dặn hộ là sáng mai ngu điệt sẽ tới thăm.

Lý lão gật đầu :

- Được. Lão sẽ bảo nó chờ, nhưng hiền khế ở đây dùng bữa với lão cho vui, còn định đi đâu bây giờ? Trong nhà lúc nào cũng có rượu ngon, uống cho vui!

Nghĩ bụng có về nhà trọ cũng không được việc gì. Thiết Hoàn Tử liền đáp :

- Lão bá đã cho ăn, ngu điệt đâu dám chối từ, xin chờ Lý đại ca vậy. Nếu say, lão bá đừng quở nhé.

Lý lão cười ha hả :

- Có phải bây giờ lão mới biết hiền khế đâu! Trông thấy hiền khế, lão lại nhớ tới cố hương, hiềm vì nổi sức yếu không viễn hành được nữa.

Hai người chuyện giải khuây bất ngờ đã sang Ngọ, gia nhân bày thổi ăn ngay ơ hậu đường. Lý lão gọi lấy sẵn lên mấy bầu rượu lớn mặc sức Thiết Hoàn Tử uống kỳ say mới thôi.

Hôm sau, vào khoảng giờ Thìn, Tổng thái giám Lý Tuyên đi kiệu về tới nhà. Lạy cha xong, họ Lý cùng Thiết Hoàn Tử tay bắt mặt mừng.

Lý lão nói :

- Hồng hiền khế muốn hỏi con việc chi đó, liệu nói chuyện ngay đi kẻo mất thì giờ. Ta ra vườn sửa cây cho hai người tự do chuyện trò.

Nguyên Lý Tuyên và Thiết Hoàn Tử chơi thân với nhau từ khi lúc còn để trái đào. Về sau Thiết Hoàn Tử theo thầy học võ, còn Lý Tuyên vì trong người có tật nên được tuyển vào làm Thái giám.

Lúc đó, Lý Tiến còn ở lại Hán Dương.

Phần Thiết Hoàn Tử Hồng Trường Hải sau khi đã luyện tập được bản lãnh cao siêu, bèn bỏ làng lê gót giang hồ khắp đó đây. Một hôm qua Yên Kinh, bất chợt gặp Lý Tuyên.

Toan ngỏ ý muốn nhờ họ Hồng trở về Hán Dương hộ tống cho già lên cùng ở trên Đế Kinh. Không do dự, Trường Hải nhận lời ngay.

Lý Tuyên bỏ tiền dành dụm ra mua đất dựng nên khu nhà hiện đang ở, chờ bạn đưa cha già lên.

Quả nhiên nửa năm sau, Hồng Trường Hải hộ tống Lý Tiến lên Yên Kinh mướn phòng trọ, rồi nhắn Lý Tuyên ra đón về nhà riêng.

Từ đó hai họ Lý, Hồng còn thân nhau hơn trước nữa.

Ngoài tình bằng hữu ra, Tuyên còn rất kính họ Hồng vì biết y là hiệp khách giang hồ lỗi lạc. Mỗi khi du hành qua Yên Kinh, Hồng Trường Hải đều nán lại nhà họ Lý chơi nhiều ngày mới đi nơi khác.

Về phần Lý Tuyên vốn tánh cương trực, nên nhà vua quý mến tin cẩn cất nhắc cho lên chức Tổng thái giám trong nội cung cho tới ngày nay. Biết Hồng Trường Hải thích rượu hơn uống trà, Lam Y gọi gia nhân lấy rượu lên tự rót uống, rồi hỏi :

- Hiền đệ có điều chi muốn hỏi ngu huynh vậy?

Nhìn quanh không thấy gia nhân đứng hầu, Hồng Trường Hải nói :

- Việc này khó lắm tiểu đệ không dám chắc đại ca có giúp nổi không, nhưng không nhờ đại ca thì còn nhờ ai vào đây nữa?

- Việc gì thế? Cứ nói thẳng đi. Anh em ta còn thân mến nhau hơn ruột thịt. Hiền đệ ướm mãi khiến ngu huynh nóng cả ruột!

Uống một hơi hết ly rượu, Hồng Trường Hải chậm rãi :

- Việc này có tánh cách tối ư hệ trọng nguy hiểm, liên can tới cả sự an ninh quốc gia, cho nên nói lẹ không được. Yêu cầu đại ca kiên tâm, chú ý nhận xét cho kỹ lưỡng để... hiểu! Vì nếu không "hiểu" tất đại ca không dám giúp, dù là giúp tiểu đệ.

Lý Tuyên gật gù, im lặng nhận xét nét mặt nghiêm trọng của bạn.

Hồng Trường Hải hỏi :

- Lý đại ca, Hoàng đế có mấy người biểu đệ, đại ca có biết không?

- Sao lại không? Đó là ba người con của Tỉnh Vương: Vĩnh Thái tức Thuận Vương ở Kim Lăng, Vĩnh Bình Đề đốc Trường Sa, Vĩnh An Đề đốc Hàng Châu nhưng...

Hồng Trường Hải vội hỏi :

- Nhưng sao, hả đại ca?

- Nhưng Vĩnh An bị ám sát hồi tháng mười năm ngoái rồi. Hình như mất cả xác! Kẻ sát nhân hành động bí mật lắm, võ nghệ tuyệt luân không để chút dấu vết nào lại cả.

Vụ ấy gây ra luồng dư luận náo động cả triều đình.

Hồng Trường Hải làm ra vẻ ngạc nhiên :

- Ghê gớm quá nhỉ! Có phản ứng gì không?

- Lẽ cố nhiên Thuận Vương ở Kim Lăng không bao giờ chịu bỏ qua vụ này, tất đã dâng sớ xin triều đình triệt để điều tra. Trong triều, người quan tâm nhất đến vụ này là quan Thái sư Trần Chí Hoa, bạn thân của Thuận Vương. Hiền đệ du hiệp qua đất Giang Nam mà không biết vụ đó ư?

Hồng Trường Hải tự nhiên :

- Có nghe nói nhưng chỉ biết là vụ ám sát thôi, chớ làm thế nào nghe được đủ chi tiết như hiền huynh? Nhưng câu chuyện hệ trọng hôm nay cũng liên can tới các vị Vương gia đó.

Lý Tuyên tươi hẳn nét mặt :

- A! Hiền đệ cứ nói, ngu huynh chú ý nghe.

- Quan Thái sư họ Trần là hạng bày tôi thế nào trong triều đình?

- Gian hay trung, nhiều người đã biết, bất tất phải hỏi!

Hồng Trường Hải nghiêm nét mặt :

- Cần phải hỏi chứ! Vì có một điểm tâm lý. Từ cổ chí kim, thời đại nào cũng vậy, có hai phe trung thần và gian thần. Người tôi trung thì giao dịch mật thiết với nhau. Bọn gian nịnh đi với gian nịnh. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã mà! Phải không đại ca.

Lý Tuyên gật đầu :

- Chính vậy! Đó là một sự hiện rõ rệt không ai chối cãi được.

- Vậy thì, như vừa rồi, theo lời đại ca, quan Thái Sư chú ý nhất triều đình về vụ án Vĩnh An, và cũng là người liên lạc mật thiết với Thuận Vương ở Kim Lăng. Do các lý lẽ đó, tiểu đệ kết luận rằng Thuận Vương tuy là biểu đệ của Hoàng đế, nhưng lại thuộc bè đảng gian thần, có vậy không?

- Tuy không biết đích xác nhưng ngu huynh quả có đồng ý với hiền đệ về điểm ấy. Trái lại Hoàng đế không biết gì cả. Được luôn luôn hầu hạ bên người, ngu huynh hiểu rõ tâm trạng của người nhiều lắm.

- Có lẽ vì nhà vua mê luyến Trần quý phi nên cố tâm làm ngơ cho kẻ gian thần đứng đầu văn quan, phải không?

- Hoàng đế yêu thương Trần quý phi vì nàng ta sắc nước hương trời thiệt, nhưng gọi là mê thì chưa chắc đã đúng.

- Tại sao vậy?

Lý Tuyên chậm rãi :

- Tại không phải đêm nào Hoàng đế cũng ngự trong cung của quý phi. Người thường nằm riêng một mình trong điện Khánh Hòa.

Mừng thầm, Hồng Trường Hải ghi nhớ hai chữ Khánh Hòa, hỏi tiếp :

- Đại ca có nghe nói gì về Thuận Vương không?

- Không. Vì nếu có điều gì tất phải có báo cáo, mà các báo cáo đều qua tay Trần thái sư hoặc do tay Thái Sư xuất trình hay tường trình với Hoàng đế. Nếu Thái Sư giấu giếm, che đậy cho Thuận Vương thì Hoàng đế và các bậy tôi trung biết sao nổi.

Hồng Trường Hải tự rót rượu uống rồi ra vẻ suy nghĩ lung lắm.

Lý Tuyên chờ không được, hỏi gặng :

- Hiền đệ vốn là khách giang hồ giao thiệp rộng, biết nhiều, vậy có nghe tin gì hệ trọng không? Ngu huynh còn nhớ hồi nãy hiền đệ đề cập vấn đề an ninh quốc gia?

- Quả vậy, giới giang hồ hiệp khách biết nhiều điều tối ư hệ trọng thuộc phạm vi Thuận Vương. Trong triều, có lẽ chỉ quan Thái Sư là người duy nhất biết những điều ấy mà thôi!...

Im lặng giây lát, Hồng Trường Hải nhìn thẳng vào mắt Lý Tuyên :

- Đại ca có thể tưởng tượng được Thuận Vương đã chiêu nạp được Ngũ Hổ tướng hùng mạnh, chấp ấn Tiên Phong tướng quân, Tôn quân sư, chứa chấp bọn lục lâm đại đạo, thông đồng với cường sơn, thảo khấu phong chúng làm tướng, dùng các nơi đó chứa thảo đồn lương, chiêu binh mãi mã... để làm gì không?

Lý Tuyên giật mình :

- A! Thiệt vậy không?

- Đại ca đã thấy tiểu đệ nói sai bao giờ chưa?

- Trời ơi! Ghê gớm quá! Ngu huynh chỉ đoán là y thông đồng với gian thần, hành động tầm thường thôi, ngờ đâu y lại mưu đại sự, vậy mà Hoàng đế không biết tin tức gì cả!

- Vì trong triều, Thuận Vương nhờ có quan Thái sư che đậy nên ở ngoài, y lộng hành bất chấp cả quân vương.

Lý Tuyên tặc lưỡi :

- Thì ra giống gian thần này lòng tham không đáy! Thân phụ là Nhất phẩm triều đình, quan cao chức trọng được Hoàng đế lưu dùng, mà còn thông đồng phản bội được! Hừ, Thuận Vương tạo phản có thành công, bất quá cũng đến phong cho y đứng đầu bách quan như bây giờ thôi, chớ chẳng lẽ chia đôi san hà với y sao? Thiệt là không thể ngờ! Nhưng có chứng cớ gì xác thực nữa không?

Thiết Hoàn Tử gật đầu :

- Nơi Vương phủ Kim Lăng của Thuận Vương nay là cả một tòa thành ải do Ngũ Hổ tướng, Tiên Phong và các con y trấn đóng, xây dựng các cơ quan, hầu như là bất khả xâm phạm. Ngoài ra y còn dùng các nghi trượng của Hoàng đế, không còn giữ cấp bực Thân Vương nữa. Bây giờ Hoàng đế dù có muốn kiểm soát y cũng không phải dễ dàng.

Lý Tuyên thất sắc, rót rượu uống cạn luôn hai ly :

- Làm thế nào bây giờ? Hiền đệ muốn gặp ngu huynh bữa nay chỉ để nói cho biết vụ này thôi, phải không?

Hồng Trường Hải lắc đầu :

- Không đúng hẳn thế, vì đây chỉ là mở đầu câu chuyện cho một việc khác.

- Hiền đệ nói cả cho nghe đi, nóng ruột lắm!

- Thấy rõ tình hình nguy ngập của toàn dân Giang Nam khi Thuận Vương tạo phản, mà triều đình hiện thời không có một biện pháp nào chống đối, nên mấy nhân vật đức độ hữu danh trong giới giang hồ lên Yên Kinh với mục đích tìm phương cách đích thân bí mật yết kiến nhà Vua để trình bày tự sự, cốt ý không cho bọn gian thần biết e chúng báo tin cho nhau, thì nhà Vua khó bề hành động, trái lại Thuận Vương bị lộ chân tướng sẽ dấy binh tạo phản tức thì. Đại ca hiểu chưa?

Lý Tuyên gật đầu hỏi :

- Những nhân vật đó là ai vậy?

- Có ba người thuộc hạng công phu võ nghệ siêu đẳng vào bực nhất thời nay: Đức Võ Thượng Nhân tu ở Cửu Huyền sơn ngoài cửa Quan. Chiêu Đức thiền sư đầu phái Thiếu Lâm tự ở Tuyền Châu. Trại Mạnh Thường Âu Dương Tòng Thiện sư huynh của Chiêu Đức, và là một nhân vật mà khắp miền Giang Nam ai ai cũng biết tiếng.

- Ba nhân vật ấy hiện tới Yên Kinh?

- Dạ, và muốn nhập Hoàng cung tìm gặp nhà Vua để trình bày tự sự.

Lý Tuyên cười gằn :

- Làm sao cho Hoàng đế tin được và không khỏi tội khi quân đột nhập cấm thành? Trình bày một việc hệ trọng như vậy với Hoàng đế không phải dễ dàng như ta nói với nhau!

- Đành là như vậy. Nhưng với một chút tinh thần hiểu biết, nhà Vua sẽ thấy ngay lẽ phải. Trước hết những nhân vật ấy biết trọng đạo quân thần, không lẽ họ vô cớ đột nhập Hoàng thành để mắc tội khi quân sao? Có ích lợi chi cho họ?

- Tin ở lời hiền đệ nói thật, dĩ nhiên rồi, nhưng ngu huynh ăn thua gì trong câu chuyện các kiếm khách nhập Hoàng thành này?

- Sao lại không? Họ cần đến sự giúp đỡ của đại ca mới thành công được!

- Hiền đệ nói chi vậy? Thiệt thà ngu huynh không hiểu.

Hồng Trường Hải ôn tồn :

- Dễ lắm, có gì khó đâu mà không hiểu. Trong Hoàng cung điện điện tài như bát úp, các kiếm khách ấy, dù tài giỏi, làm thế nào biết được nơi Vua ngự và giờ giấc Vua ngự như thế nào? Vậy biết rõ hơn cả thì ai hơn đại ca?

Lý Tuyên nghiêm nét mặt :

- Nghĩa là hiền đệ muốn ngu huynh giúp họ bằng cách mách bảo những điểm bí mật ấy để những nhân vật kia vào thẳng nơi Hoàng đế ngự?

- Chính vậy!

- Hừ! Hiền đệ có biết rằng muốn bắt ngu huynh làm một việc quá sức mình không? Hoàng đế mà biết rõ thì họ Lý này sẽ lãnh tội tru di tam tộc!

Hồng Trường Hải phân giải :

- Nhà vua biết thế nào được! Lẽ nào những đại kiếm gia anh hùng ấy lại để lụy cho đại ca? Như vậy có khác gì chính tiểu đệ hại đại ca không?

Lý Tuyên lẳng lặng suy nghĩ. Biết họ Lý còn do dự tính toán, Hồng Trường Hải tấn công :

- Giúp họ, đại ca tỏ ra là một bầy tôi trung nghĩa ưu thời mẫn thế, ích quốc lợi dân. Đại ca cản được một vụ tạo phản có thể làm nghiêng ngửa san hà nguy hại tới ngai vàng. Đại ca sẽ tránh cho toàn dân Giang Nam khỏi bị đổ máu vì cuộc nội chiến tàn sát sanh linh bá tánh. Như vậy đại ca còn do dự nỗi gì? Ngoài sự cho biết nhà vua ngự ở đâu, giờ giấc nào, đại ca không còn tốn công nào khác hết.

Trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, Lý Tuyên nói :

- Ngu huynh hiểu hết lý lẽ của hiền đệ, tánh mạng toàn gia của ngu huynh ở cả trong tay hiền đệ đó!

Thiết Hoàn Tử mừng rỡ chờ nghe. Lý Tuyên nói tiếp :

- Như đã nói hồi nãy, Hoàng đế thường ngự một mình ở Khánh Hòa điện vào nhưng đêm ngày chẵn. Cứ tới đó sẽ gặp người.

- Nhưng điện Khánh Hòa ở đâu mới được chớ? Hoàng cung bao la...

- Đứng bất cứ trên một nơi cao nào trong Yên Kinh cũng trông thấy ngay nóc điện Khánh Hòa. Mái điện cao nhất ở ngay trung tâm Hoàng thành. Hoàng đế ngự trên lầu ba và tầng lầu này chỉ có hai phòng. Long sàng ở phòng hướng Bắc. Phòng bên là tiểu thư viện.

- Có quân ngự lâm canh phòng nghiêm nhặt không?

- Không. Ngự lâm quân canh phòng ở quanh Hoàng thành, vào sao được nơi đó. Hai từng dưới có Thái giám nội thị.

Hồng Trường Hải hỏi gặng :

- Giờ nào nhà Vua ngủ?

- Thường thường đọc sách khá khuya và lẽ dĩ nhiên để đèn sáng.

Hồng Trường Hải đứng dậy vái họ Lý mà rằng :

- Đại ca đã làm xong nhiệm vụ. Hãy tin ở lời tiểu đệ.

- Nhưng ngu huynh chỉ xin có một điều.

Hồng Trường Hải ngạc nhiên :

- Đại ca thắc mắc điều gì xin cứ dạy?

- Hành động cho khéo chớ để Hoàng đế bị kinh động, người đau tim.

- Tiểu đệ xin hứa. Đại ca không dạy thì các nhân vật kia cũng có bổn phận hành động cực kỳ khéo léo kín đáo.

Dùng bữa xong, Hồng Trường Hải vội vàng cáo từ cha con Lý gia.

Lý lão hỏi :

- Hiền tế ở chơi đã đi đâu vội vàng vậy?

- Thưa lão bá, tiểu điệt phải về quán trọ, vì muốn gặp Lý đại gia đây nên bỏ các bằng hữu ở quán hơn một ngày rồi. Ít bữa nữa sẽ trở lại.

Lý Tuyên đưa Hồng Trường Hải ra tận cổng, dặn dò. Họ Hồng nhất nhất tuân theo :

- Đại ca chú ý nghe ngóng vụ này nhé. Ta sẽ gặp nhau sau.

Về tới lầu trọ thấy mọi người không có ở nhà. Hồng Trường Hải bèn leo lên giường ngủ một mạch đến tận chiều, khi năm người trở về mới tỉnh dậy.

Trại Mạnh Thường cười :

- Hồng lão đệ lạc vào kho rượu nào bây giờ mới về? Được việc chi không?

Hồng Trường Hải khà một tiếng :

- Chà! Khát quá, uống đã mới nói chuyện được. Hay lắm!

Âu Dương, Tòng Đức hối tửu bảo bày rượu ngay trong phòng trọ cho dễ nói chuyện.

Hồng Trường Hải nốt một hơi hết mấy ly lớn, đoạn kể lại việc đã gặp viên Tổng thái giám họ Lý, cho năm người nghe.

Trại Mạnh Thường nhắc lại :

- Ngày chẵn, lầu ba điện Khánh Hòa, nơi cao nhất trong Hoàng thành?

Hồng Trường Hải gật đầu :

- Lão huynh liệu sửa soạn phân phát, mưu tính hành động thôi.

Trại Mạnh Thường quay sang bàn với Đức Võ Thượng Nhân và Chiêu Đức thiền sư hồi lâu mới nói rằng :

- Hôm nay ngày chẵn, nhưng trễ rồi không hành động được. Đến ngày mốt sẽ khởi sự. Tất cả sáu người chúng ta cùng đi. Nếu giáp được mặt Hoàng đế, Tòng Cát và Tòng Đức phải hết sức thận trọng nghe con?

Anh em Âu Dương vâng lời. Trại Mạnh Thường nói tiếp :

- Sự canh phòng chắc hẳn là nghiêm mật rồi, vậy chúng ta nên triệt để áp dụng thuật phi hành. Ngày mốt cuối tháng sẽ không có trăng, tiện bề hành động.

Đến hôm chỉ e định, sáu người dùng bữa chiều sớm, chờ tối hẳn mới đóng cửa phòng ngồi dưỡng thần.

Giữa một đô thị lớn như Yên Kinh, thiệt không ai ngờ trong mấy căn phòng trọ lại có bọn người đang sửa soạn nhập Hoàng cung! Đêm cuối tháng tối như mực. Như chiều người, mây mờ bao phủ khắp trời khiến đêm không trăng lại càng tối thêm. Quá canh hai, sáu người nhẹ nhàng mở cửa sổ nhảy xuống hoa viên chạy ra tường hoa, băng mình lên các nóc nhà nhắm phía Hoàng thành tiến tới.

Trong khu buôn bán, đó đây thỉnh thoảng còn có ánh đèn le lói lọt qua khe cửa, nhưng khi sáu dạ hành khách vào tới khu dinh thự thì cảnh đêm còn lặng lẽ hơn nhiều. Chuyền xuống đất, sáu người chạy hàng một lần theo bóng tối vào tới Hoàng thành. Ngự lâm quân đi đi lại lại, canh phòng nghiêm cẩn.

Trại Mạnh Thường dẫn đầu tìm một nơi tối nhất, dừng bước nhận xét. Lão anh hùng lượm một viên đá liệng chéo sang bên tả, đập đánh bộp vào tường thành rồi rớt xuống hào sâu. Thấy động, quân canh trên mặt thành vội kéo đến chỗ có tiếng động nhìn xuống, chẳng dè nhân dịp ấy, sáu dạ hành khách đã vùn vụt như tên bắn vượt tường vào Hoàng cung nằm lẩn xuống mái nghe ngóng, chờ lúc mấy tên quân canh trên mặt tường thành hết nhốn nháo mới bắt đầu nhằm nơi trung tâm thẳng tiến.

Sáu người thấp thoáng như sáu bóng ma chuyền trên các mái cong chi chít tựa bát úp, chỗ thấp nơi cao bất thường. Mỗi chuyến gặp đoàn thái giám canh phòng đi phía dưới, dạ hành khách lại ép mình xuống mái, thận trọng chờ họ đi khuất mới tiếp tục tiến. Tới một nếp đinh ba từng mái cong, mọi người ngừng cả lại, nhìn quanh nhận ra đã vào gần tới khu trung tâm. Không xa mấy, nóc điện Khánh Hòa trồi lên cao nhất, ánh đèn còn thấp thoáng trên lầu ba.

Trại Mạnh Thường nói nhỏ :

- Theo như lời Lý Tuyên, có lẽ Hoàng đế còn thức. Nào tiến!

Chuyến này đã nhận thấy mục tiêu, mọi người nhằm nơi có ánh đèn đó, lần lượt nhịp nhàng vượt qua các mái điện vào tới nơi chuyền thẳng lên nóc trên cùng, nằm áp xuống mái nghe ngóng. Trại Mạnh Thường nói nhỏ với Chiêu Đức và Đức Võ :

- Căn phòng phía Bắc.

Sáu người cùng lần sang hướng Bắc, Chiêu Đức rút ngói nhìn xuống, nhưng lắp trả ngay viên ngói về chỗ cũ :

- Vướng trần, không trông thấy gì cả. Xuống hành lang đi.

Lần lượt, mọi người chuyền xuống mái thứ hai, vượt lan can vào hành lang từng lầu nhất. Các cửa chánh đều đóng chặt. Trại Mạnh Thường thử cửa sổ thứ nhất: Gài bên trong, cửa sổ thứ hai cũng vậy. Sau người đành khom mình xuống tránh luồng ánh sáng từ trong phòng chiếu ra, lẻn sang cửa sổ hướng Tây. Ai nấy đều mừng rỡ vì cánh cửa mở toang nhưng rèm buông che kín khuôn cửa hình lục lăng. Trại Mạnh Thường khẽ vén rèm ghé mắt nhìn.

Trong căn điện rộng rãi đèn lưu ly sáng choáng, trang hoàng theo kiểu phòng ngủ, không một bóng người. Chiếc long sàn đồ sộ kê giáp tường mùng còn vén chưa có người nằm. Đích thị đây là Khánh Hòa điện, nơi ngự của Hoàng đế rồi. Phòng trống không người, tức là Người ngự ở bên thơ viện. Không do dự, Trại Mạnh Thường vén màn gấm nhảy vào phòng. Năm người lần lượt theo sau.

Phiến tường ngăn đôi hai căn phòng toàn bằng gỗ trầm hương chạm trổ tinh vi ngay chính giữa, chiếc cửa võng trúc mở thông hai bên với nhau. Trại Mạnh Thường rón rén dẫn đầu tới chỗ cửa võng ngó vào.

Hoàng đế vận thường phục màu xanh, ngồi trong chiếc kỷ đệm gấm lớn, đang đọc sách dưới ánh sáng cây đèn kế bên.

Hình như linh tính báo có kẻ lạ gần mình, Hoàng đế Vĩnh Lạc bỗng nhiên buông cuốn sách xuống kỷ, quay phắt lại nhìn ra phía cửa võng trúc.

Người giật mình, bỏ kỷ, chạy vội ra phía án thơ với tay lên tường lấy thanh trường kiếm tuốt phắt ra, trừng trừng nhìn sáu kẻ lạ vừa tăng vừa tục, đứng lố nhố ngay giữa cửa :

- Các ngươi là ai? Định hành thích...

Hoàng đế Vĩnh Lạc chưa nói hết câu thì Trại Mạnh Thường, Đức Võ, Chiêu Đức, Hồng Trường Hải đã tiến lẹ tới trước mặt quỳ lạy.

Chưa nhận thức được hành động của bốn người, Vĩnh Lạc tưởng họ xô đến hãm hại mình nên giơ kiếm thẳng tay chém xuống. Nhưng, kỳ thay tay kiếm mới hạ lưng chừng thì bỗng lưỡi kiếm bị cứng nhắc chặn đứng hẳn lại. Thì ra, Đức Võ Thượng Nhân đã lẹ làng đưa tay hữu xòe hai ngón cặp chặt lấy lưỡi kiếm như gọng kềm sắt :

- Muôn tâu Thánh thượng hãy an tâm, chúng ngu thần mạo muội nhập Hoàng cung không hề ác ý...

Nhà Vua cố sức rút kiếm ra mà không lung lay, lưỡi kiếm như bị một sức nặng ghê gớm đè chặt. Không làm thế nào được hơn nữa, Người vội lùi vào giáp chiếc án thư.

Chiêu Đức thiền sư cất giọng ấm áp :

- Muôn tâu xin Thánh thượng suy xét kỹ. Nếu chúng ngu thần có ác ý thì cuộc tàn sát đã hoàn thành từ lâu rồi.

Vĩnh Lạc nhận xét quả nhiên mấy kẻ lạ mặt nọ không có bộ tịch hành thích thiệt. Hơn nữa, hai ngón tay sắt của lão đạo sĩ nọ là một chứng cớ hùng hồn, tỏ rằng bọn người này bản lãnh không vừa, nếu họ có dã tâm định sát hại thì cuộc âm mưu đã hoàn tất rồi.

Nghĩ vậy, nhà Vua thấy thơ thái an tâm hơn :

- Không có ý hại Trẫm, các người đột nhập nơi cung cấm làm chi? Có biết như vậy là phạm tội khi quân không?

Trại Mạnh Thường dõng dạc :

- Tâu bệ hạ, chúng ngu thần đã không ngại phạm tội tầy đình ấy nhập nơi cấm thành giữa lúc đêm hôm khuya khoắt, tất phải có lý do gì hệ trọng thúc đẩy dám mong bệ hạ minh xét cho.

Nhà vua chăm chú nhìn từ người nọ đến người kia hồi lâu mới phán :

- Cho các ngươi bình thân và hãy xưng danh cho Trẫm nghe!

Bốn người lạy tạ xốc áo đứng dậy. Trại Mạnh Thường chỉ từng người một giới thiệu :

- Tâu bệ hạ, đây là Đức Võ Thượng Nhân, tu đạo tại Quan ngoại trong dãy Cửu Huyền sơn, một kiếm khách hữu danh. Vị này là Chiêu Đức thiền sư, trưởng phái Thiếu Lâm tự. Đây là hiệp khách giang hồ Hồng Trường Hải, tước hiệu Thiết Hoàn Tử. Còn ngu thần là một kẻ nông dân cư ngụ tại Tô Châu.

Vĩnh Lạc hoàng đế nhìn từng người một, thấy người nào cũng khí phách anh hùng thì có ý thầm phục. Cứ suy nguyên một việc họ đột nhập Hoàng thành vào tận điện Khánh Hòa lẹ làng không một tiếng động, đủ hiểu nếu không phải bực công phu võ thuật cự phách tất không thể hành động nổi. Nhà vua hất hàm hỏi :

- Còn hai thanh niên tráng sĩ đứng chắn cửa kia là ai?

Trại Mạnh Thường đáp :

- Muôn tâu, chúng là con của ngu thần.

Nói đoạn, Trại Mạnh Thường vẫy tay ra hiệu gọi anh em Tòng Cát vào quỳ lạy :

- Đây là Âu Dương Tòng Cát và Tòng Đức, trưởng và thứ nam của ngu thần.

Hai người lạy yết kiến xong, nhà vua truyền cho phép bình thân.

Đức Võ Thượng Nhân đặt thanh kiếm lên mặt án thư bên vua.

Lúc đó, đã hoàn toàn hết sợ. Vĩnh Lạc hoàng đế ngồi xuống kỷ phán rằng :

- Trẫm cho phép các hiệp khách và đại sư tùy ý ngồi xuống kỷ. Vào đây gặp Trẫm có mục đích gì?

Bốn người tạ Vua rồi ngồi xuống, riêng có anh em Tòng Cát đứng hầu phía sau.

Trại Mạnh Thường nói :

- Tâu bệ hạ, việc mà chúng ngu thần sắp trình bày ra đây tối ư cơ mật. Liên can tới sự hòa bình của quốc gia. Bệ hạ cho phép ngu thần được đặt câu hỏi.

Vĩnh Lạc hoàng đế gật đầu, chăm chú nghe.

Trại Mạnh Thường hỏi :

- Thưa Thánh thượng có biết tình hình toàn thể đất Kim Lăng ra thế nào không?

Nhà vua yên lặng nhìn Trại Mạnh Thường như đo dò ý kiến. Hồi lâu, Vĩnh Lạc đáp :

- Thuận Vương, biểu đệ Trẫm đóng ở Kim Lăng, nếu thấy điều chi lạ tất lập báo cáo về triều rồi.

Sau câu dò hỏi đầu tiên. Trại Mạnh Thường biết nhà Vua không hiểu gì về tình hình miền Giang Nam và thế lực của Thuận Vương, bèn nói thẳng :

- Muôn tâu, ngu thần muốn trình bày rằng một cuộc âm mưu tạo phản sắp đặt từ lâu nay đã hoàn thành, chỉ còn chờ dịp khởi sự chống lại chánh quyền, cùng triều đình giành thiên hạ. Người muốn cùng bệ hạ chia đôi sơn hà đó không phải ai xa lạ mà chính là Thuận Vương!

Vĩnh Lạc hoàng đế giật mình, cau mày :

- Các ngươi có hiểu đột nhập Hoàng thành là phạm tội khi quân tru di tam tộc, nay lại vu khống người của triều đình và Hoàng tộc thì thêm tội gì nữa không?

Trại Mạnh Thường cứng cổ :

- Kẻ ngu thần, vô thưởng hữu phạt, cất công vào tới đây yết kiến Bệ hạ để trình bày một vấn đề nguy hại cho quốc gia mà thần có đủ lý do biết rằng Bệ hạ không được tường. Vậy tội khi quân đối với chúng ngu thần bất thành vấn đề vì hai lẽ: Thứ nhất: Ngu thần đã làm một việc theo lẽ phải, song tránh cho dân chúng đất Giang Nam khỏi bị khói lửa can qua, tránh cho triều đình một cuộc phải đi chinh phạt chưa chắc thắng bại sẽ về ai, vì lực lượng địch khá lớn lao.

Thứ hai: Bọn ngu thần đã nhập được Hoàng cung thì việc đi ra chắc không khó, biến hiện bất thường, khinh thường cuộc truy cản của quan quân nên ngay lúc đầu chúng thần không hề ngần ngại xưng danh tánh cùng Bệ hạ.

Bệ hạ ở ngôi cao cả học rộng biết nhiều, lại có trăm quan phò tá, thừa hiểu rằng từ ngàn xưa tới nay kiếm khách giang hồ thế thiên hành đạo trừ gian khứ hại, hành động theo lẽ phải phục vụ chánh quyền không cần công thưởng và cũng không hề... biết sợ là gì!

Về việc Thuận Vương muốn bưng binh tạo phản giành thiên hạ với Thánh thượng, những kẻ thức thời miền Nam đều biết duy chỉ có bệ hạ vì không được báo cáo nên không hay gì cả. Ngu thần chỉ biết nói rằng Thuận Vương hiện nay có đủ mưu thần, võ tướng, binh lực, quân nhu lương thực đầy đủ, nghi trượng lên ngôi Cửu Ngũ đã sẵn sàng. Mọi việc chỉ còn chờ ngày là bùng khởi.

Nay Bệ hạ có muốn kiểm soát cũng không thể được và không kịp. Sở dĩ bệ hạ không được báo cáo tường trình là vì ngay trong triều, người đứng đầu bách quan liên kết với Thuận Vương nên bịt kín âm mưu tạo phản không tường trình cùng Bệ hạ. Biết sao nói vậy, kẻ ngu thần đã không lo cho bổn mạng nhập Hoàng cung phạm tội khi quân, để làm một việc hợp với lương tâm của kẻ công dân lúc nào cũng sẵn sàng phục vụ triều đình. Bệ hạ không tin, chúng thần nay ra về, và tùy ở nơi Người bắt tội.

Nói đoạn, Trại Mạnh Thường đưa mắt cho mọi người cùng rũ áo đứng lên vái nhà vua cáo biệt.

Nghe lời phân trần phải trái của lão anh hùng. Vĩnh Lạc hoàng đế nhận thấy lý lẽ rất cứng rắn nên để tâm suy nghĩ.

Thấy sáu người đứng lên muốn đi, nhà vua bèn xua tay :

- Khoan! Hãy ngồi đó để Trẫm suy tính. Nên hiểu Trẫm không là người hay cố chấp. Lực lượng của Thuận Vương hiện giờ thế nào?

Trại Mạnh Thường đáp :

- Vị Vương gia đó thâu nạp anh hùng võ tướng từ lâu rồi. Dưới trướng hiện có đủ hạng người, đứng đầu có Ngũ Hổ Tướng, Tiên Phong. Quân sư các vị Thế tử. Đó là chưa kể lục lâm đại đạo có tài phi thiềm tẩu bách được, kết nạp có cả hàng trăm người võ dũng. Lực lượng thảo mã đặt rải rác khắp nơi. Nay chỉ chờ dịp thuận tiện là khởi binh và có thừa sức chiếm miền Giang Nam trong nháy mắt.

Vĩnh Lạc tái mặt, đứng phắt dậy khoanh hai tay sau lưng đi đi lại lại trong thơ viện rộng lớn. Hồi lâu trở về lại như vũ, Vĩnh Lạc hỏi :

- Khanh nói người đứng đầu bách quan liên kết với Thuận Vương phải chăng đó là quan Trần thái sư?

Trại Mạnh Thường không do dự :

- Muôn tâu, chính người đó. Vì thế nên ngu thần lo lắng nếu Thánh thượng sơ hở, để quan Thái sư nghi ngờ rằng Người đã hiểu biết vụ âm mưu tạo phản này thì tức khắc Thái sư sẽ thông báo cho Thuận Vương biết. Như vậy cuộc hưng binh phản loạn sẽ được thực hiện ngay. Bên nào đánh trước sẽ thủ lợi thế không nhỏ.

- Các khanh tính thế nào giúp Trẫm!

Trại Mạnh Thường chậm rãi :

- Công việc là cả một sự bàn tình vô cùng lớn lao, sắp đặt hoàn bị mới mong thành công được. Nếu vội vàng, đại sự sẽ hỏng và còn thêm nguy hiểm vì cuộc khởi loạn sẽ cháy bùng lên ngay. Giờ đây, chúng ngu thần chỉ còn đủ thời gian ra khỏi Hoàng thành về quán trọ, không thể trình bày tường tận được.

Vĩnh Ngọc Hoàng đế suy tính hồi lâu :

- Âu là thế này, Trẫm có một người thân tín là viên Tổng thái giám họ Lý tên Tuyên, có nhà tư ở khu dinh thự. Ngày mai Trẫm sẽ cho y bí mật đón các khanh vào đây cùng Trẫm bàn định, có tiện không?

Trại Mạnh Thường đáp :

- Đối với chúng thần thì thế nào cũng xong, chỉ e lúc vào Hoàng cung tránh sao được sự kẻ nọ người kia trông thấy?

- Không sao, Trẫm sẽ truyền lệnh Lý Tuyên lấy y phục thái giám cho các khanh tiện bề trá hình, che mắt mọi người. Còn lúc vào Hoàng cung thì đã có lối đi riêng, không sợ mọi người dòm ngó.

- Muôn tâu, ngày mai vào giờ nào?

- Chính Ngọ, các khanh tụ họp ở nhà Lý Tuyên ở Thái Hòa lộ, khu dinh thự. Trẫm sẽ cho lệnh Lý Tuyên chờ đón ngay ở ngoài cổng nhà. Y sẽ cầm ống hút thuốc lào làm hiệu cho các khanh biết.

Nhà vua tả hình dạng Lý Tuyên và nói tiếp :

- Khi gặp người nào như vậy, các khanh nói câu mật hiệu Khánh Hòa, tức khắc họ Lý sẽ nhận ra ngay. Chớ để Trẫm mong chờ nghe!

Mọi người lạy tạ nhà vua, toan đi ra phòng ngoài. Vĩnh Lạc vẫy tay.

- Theo Trẫm ra cửa này cũng được.

Nói đoạn, nhà vua dẫn sáu người ra lối cửa chánh thư viện.

Ra tới hành lang sáu dạ hành khách lần lượt chuyền lên nóc điện lặng lẽ như bóng ma biến vào trong đêm tối.

Vĩnh Lạc hoàng đế nhìn theo lấy làm phục và mừng thầm rằng quốc gia hãy còn có những con dân trung thành đáng mặt của triều đình. Nhà vua đi đi lại lại trong phòng chiêu đăm suy nghĩ buồn bực phiền tức, không ngờ là một dòng máu rất gần của Hoàng gia mà Thuận Vương nở manh tâm bội phản định làm nghiêng ngửa ngôi Trời. Còn tên tặc thần Trần Chí Hòa, thân giữ chức cao cả đứng đầu bách quan, lương cao bổng hậu, giàu sang vào bực nhất, hơn nữa, có con gái tiến cung, được đặc ân đeo kiếm vào triều và không phải dùng đại lễ hầu vua mà còn liên lạc với phản tướng không nghĩ đến nghĩa quân thần. Nhưng, suy đi xét lại, Vĩnh Lạc nhận thấy mình quá ư nhu nhược nên mầm họa bắt dòng từ hoàng tộc mà ra. Trước khi trách người, hãy tự trách mình, nhà Vua quyết nhân dịp này hành động loại hết phần tử thúi nát, dẹp mầm phản loạn, đem lại an ninh cho thần dân và củng cố ngai vàng. Có được như vậy, sau này thác đi mới khỏi hổ thẹn cùng Tiên đế chốn cửu tuyền.

Chương 34: Hiến mưu lập kế, Trại Mạnh Thường quyết giúp Quân vương Điều động tướng binh, Mã nguyên soái hội diện Tổng trấ

Nghĩ đến cuộc phản loạn của Thuận Vương, đêm ấy nhà Vua không hề chợp mắt. Sáng hôm sau, Người dậy sớm truyền gọi Tổng thái giám vào hầu.

Từ trước tới nay, chưa bao giờ bị triệu gấp như vậy, Lý Tuyên Kinh ngạc, hồi hộp lo âu không hiểu có sự gì nguy bách. Họ Lý đoán rằng có lẽ bọn Hồng Trường Hải hành động vụng về để nhà Vua nghi ngờ chi đây nên triệu vào chất vấn. Vừa đi vừa lo, Lý Tuyên vào tới điện Khánh Hòa nhận thấy Hoàng đế đã gọn gang sửa soạn lâm triều, duy có cặp mắt sâu trũng lại như kẻ mất ngủ, đang lặng lẽ nhìn mình một cách kỳ quặc.

Lý Tuyên lo sợ, triều kiến xong khép nép đứng sang bên.

Vua lặng lẽ nhìn người bề tôi trung thành hồi lâu :

- Khanh vào cung được bao năm rồi? Còn nhớ không?

Mỗi tiếng nói là một nhát búa đập lên đầu, Lý Tuyên không hiểu càng lo sợ hơn :

- Muôn tâu, hạ thần năm nay năm mươi mốt tuổi, tính ra nhập cung vừa được ba mươi ba năm từ hồi còn Tiên đế.

Vua sẽ gật đầu :

- Tiên đế và chính Trẫm đây có bạc đãi khanh một ngày nào không?

Lý Tuyên nghĩ thầm: "Đúng Hồng Trường Hải làm bại lộ rồi!", toát mồ hôi :

- Muôn tâu, nhờ phúc ấm của tiền nhân, hạ thần rất được ưu đãi.

- Trẫm vẫn có thể trông cậy được ở lòng trung, nghĩa của khanh chớ?

- Dạ, dù Người có hạ lệnh cho nhảy vào nước, lửa, hạ thần cũng chẳng từ nan.

Lý Tuyên kín đáo nhìn, thấy Vua mỉm cười, mới tạm an tâm đôi chút.

Tiến lại gần, Vua nhìn thẳng vào mắt Lý Tuyên :

- Có một việc hết sức cơ mật, Trẫm muốn nhờ khanh hôm nay...

- Xin Người cứ dạy.

Vua hạ giọng, nói thiệt nhỏ mấy câu khiến Lý Tuyên tươi hẳn nét mặt :

- Dạ, xin Thánh thượng an tâm, thần sẽ hoàn bị việc này.

Vua dặn thêm :

- Khanh nên nhớ kỹ, trong sáu người đó, bốn người lớn hơn khanh một đầu người và hai người nhỏ chỉ đứng đến ngang tai.

- Bệ hạ có thể tin cậy được ở hạ thần.

Thấy Vua không truyền phán điều chi thêm nữa, Lý Tuyên quỳ lạy lui ra sửa soạn các thứ cần thiết, chờ sáng bạch ra khỏi Hoàng thành.

Nói về bọn Trại Mạnh Thường theo đường cũ về tới Phong Hạc lầu liền đi nghỉ, sáng hôm sau đầu giờ Tỵ mới kéo nhau đến nhà Lý Tuyên ở Thái Hòa lộ.

Họ Lý đã đứng chờ sẵn ở ngoài cổng, phì phèo hút thuốc lào.

Hồng Trường Hải nói với mọi người :

- Lão Tổng thái giám Lý Tuyên đang chờ bọn ta kia kìa. Chính người ấy đã chỉ lối cho ta nhập Hoàng cung, và có lẽ không ngờ là y có nhiệm vụ chờ đưa chúng ta vào gặp Vua trưa nay đó.

Sáu người đi tới nơi. Lý Tuyên lúc đó mới hết nghi ngờ khi nhận ra bạn thiết.

Hồng Trường Hải phì cười, hỏi nhỏ :

- Khỏi cần phải dùng mật hiệu Khánh Hòa chớ?

Lý Tuyên nói :

- Lão đệ lúc nào cũng cợt đùa! Ngu huynh thừa đoán ra làù ai rồi!

Sáu người theo Lý Tuyên vào tới nhà khách, Hồng Trường Hải mới giới thiệu mọi người.

Lý Tuyên thấy người nào cũng đạo mạo cốt cách nên kính trọng, nghĩ thầm: Thiệt không ai ngờ được sáu nhân vật này đêm qua đã nhập Hoàng thành gặp Hoàng đế và nay lại sắp gặp nữa! Thế mới hiểu thiên hạ sự, không biết thế nào mà lường được!

Lý Tuyên hỏi :

- Các vị dùng điểm tâm cả rồi chớ?

Hồng Trường Hải cả cười :

- Có lẽ đại ca tưởng chúng tôi định vào hoàng cung mới ăn sao?

Lý Tuyên nghiêm nét mặt :

- Chớ gì! Hoàng đế đã hạ lệnh cho ngu huynh dung toàn người tâm phúc hầu ngự thiện trưa nay để khoản đãi quý vị đó, có cả tiệc chay.

Hồng Trường Hải chép miệng :

- Tiếc quá!...

Lý Tuyên ngạc nhiên :

- Lão đệ nói sao? Tiếc gì?

- Còn tiếc gì nữa ư? Vua ban yến mà không được uống thả cửa như ở ngoài, như vậy có đáng tiếc không?

- Lão đệ khỏi lo, Ngu huynh sẽ tâu với Hoàng đế tải trạng rượu ấy để lão đệ biểu diễn cho Người coi, cho biết rằng trong thiên hạ có dị nhân quái khách.

Nghe nói, ai nấy đầu buồn cười. Lý Tuyên mời sáu người lần lượt vào tư phòng thay y phục thái giám. Nhờ được nhà vua tinh ý nhận xét vóc dáng của người nên y phục thái giám vừa vặn như in.

Hồng Trường Hải nói :

- Đời người thiệt lắm lúc bất ngờ! Bỗng dưng hôm nay thành thái giám cả lũ! Riêng đối với Sư trưởng Thiếu Lâm tự, giá lúc này có gặp môn đồ nào chắc người ấy cũng không nhận ra sư phụ nữa!

Mọi người nhìn nhau khúc khích cười. Lý Tuyên vỗ tay Hồng Trường Hải :

- Lão đệ giỡn mãi. Ta nhập cung đi kẻo Người chờ.

Sáu người ra đi cùng Lý Tuyên qua cửa riêng vào Hoàng thành xuống đường hầm bí mật, quanh co vào tận Khánh Hòa điện.

Thường nhật, các thái giám, nội thị về tựu khá đông tại nơi đây, nhưng Lý Tuyên theo kế của Vua cho họ đặc cách nghỉ bữa đó, chỉ dung có vài người hết sức thân tín. Tiệc bày ở thực phòng từng lầu nhì, nhà Vua ngồi hút thuốc chờ. Tuy ngạc nhiên về sáu người lạ xúng sính trong y phục thái giám mà được Hoàng đế trọng vọng đãi tiệc trong cấm cung, nhưng máy người thân tín, vốn quen tánh cách im lìm phục vụ, vẫn thản nhiên như không, chẳng ai hé răng bàn tán điều gì cả.

Hành lễ bái kiến xong, sáu người được nhà Vua thân mật mời vào tiệc ngay.

Tổng thái giám Lý Tuyên tâu nhỏ mấy điều, nhà vua gật đầu mỉm cười :

- Được, khanh cứ tự nhiên lấy rượu cho Hồng đại hiệp trổ tài "thiên bôi", và chính khanh cũng phải ngồi tiếp, Trẫm còn nhờ tới khanh nhiều việc.

Rượu được vài tuần, Vua phán :

- Tiếp theo câu chuyện đêm qua, Âu Dương khanh có thể cho Trẫm hay vì lẽ gì các khanh biết được việc Vĩnh Thái (tức Thuận Vương) muốn thoán nghịch không?

Trại Mạnh Thường nói :

- Muôn tâu, sở dĩ ngu thần biết rõ việc đó là vì giới hảo hán giang hồ thường tụ tập tại tệ trang, đã có phen đụng độ với mấy nơi sơn trại liên kết với Thuận Vương.

Hồi đầu năm ngoái, tế tử của ngu thần cùng người em gái của y đã khám phá ra vụ đầu đá Kim Cương tự bên Dương Châu là chi nhánh của phản đảng Kim Lăng. Tiếp sau vụ Kim Cương tự là vụ Xích Hoa viện ở Sơn Phu. Hiện nay hai nữ tặc chạy thoát khỏi Xích Hoa viện là Tần thị và Đới Ngọc Hoàn còn ở cả trong vương phủ Kim Lăng. Ngoài ra, việc Thuận Vương tuyển tướng Tiên Phong cách đây ba năm, và trong kỳ Kỵ Mã hồi năm ngoái, vị Vương gia ấy đã công khai phô bày lực lượng Ngũ hổ tướng, mọi người đều biết.Nói tới đây, Trại Mạnh Thường kể tường tận, việc đại chiến Kim Cương tự, hỏa thiêu Xích Hoa viên cho Vua nghe.

Nhà Vua hỏi :

- Lịnh tế, và em gái y là nhân vật thế nào, có cùng lên Yên Kinh không?

- Muôn tâu, hai người đó là Đơn Đao Chu Đức Kiệt và Lam Y nữ hiệp Chu Tú Anh, nổi danh trong giới giang hồ kiếm khách phương Bắc và hiện đang du hiệp tại Giang Nam. Cả hai cùng ở lại tệ trang.

- A! Hai vị đại hiệp ấy cùng họ Chu!

- Dạ, anh em Chu gia người Bình Dương huyện Sơn Đông và là cháu ruột của Đức Võ Thượng Nhân đây.

Vĩnh Lạc hoàng đế thấy khí sắc nhàn nhã thần tiên của Đức Võ và tướng mạo bệ vệ anh hùng của cha con Trại Mạnh Thường, vốn đã sẵn lòng quý mến, nay lại biết rõ mối dây liên lạc mật thiết của anh em Chu gia với các nhân vật siêu đẳng trong giới võ nghệ hữu danh ấy, thì rất hoan hỉ mà rằng :

- Rất tiếc vợ chồng Chu Hiệp và Lam Y không cùng khanh lên Yên Kinh cho Trẫm biết mặt. Đáng quý thay, những người không được hưởng lộc nước, cơm Vua thì lại giúp ích cho quốc gia xã hội. Trái lại, những kẻ quyền cao, chức trọng, hưởng bổng lộc của triều đình như bè lũ Thuận Vương thì chỉ là sâu mọt đục khoét, hại nước hại dân. Chuyến này Trẫm quyết loại hết bọn gian thần phản quốc!

Suy nghĩ giây lâu, Vĩnh Lạc hoàng đế hỏi :

- Các khanh là người biết rõ tình hình, vậy có mưu kế chi, khá trình bày Trẫm nghe?

Đức Võ Thượng Nhân và Chiêu Đức thiền sư nhìn Trại Mạnh Thường như có ý muốn nhường lời để thảo luận kế hoạch với nhà vua.

Hiểu ý, Trại Mạnh Thường đáp :

- Muôn tâu, chúng ngu thần này đã đồng ý với nhau về điểm tối ư quan trọng này: Nếu Thuận Vương được tin chắc chắn Bệ hạ đã biết rõ dự tính phản loạn của y, tất thế nào cũng hưng binh tạo phản ngay, chiếm Giang Nam thiệt mau lẹ làm căn cứ địa. Đồng thời bọn lục lâm cường đạo liên kết từ trước với Kim Lăng cũng nổi dậy chiếm các huyện lỵ, Biểu trấn lúc ấy bị cô thế. Tới khi hai đạo binh miền Bắc của Nguyên soái Mã Thành Long, miền Tây nam của Đế đốc Tổng trấn Hà Thiên Thọ điều động được về đến nơi thì phản binh đã thừa thì giờ củng cố vùng rộng lớn phì nhiêu. Với số binh tướng đầy đủ ấy, chúng thừa sức chống đánh binh triều đình.

Như vậy, cuộc chiến tranh sẽ chuyển thành thế tam giác Bắc, Ba Thục và Giang Nam, gồm cả Giang Đông, Giang Tây. Tức là thế quân của Thuận Vương còn lớn hơn cả Đông Ngô thời Tam Quốc tranh hùng. Chẳng hay, Bệ hạ có đồng quan điểm với ngu thần không?

Vĩnh Lạc hoàng đế khẽ gật đầu, trầm ngâm hồi lâu :

- Có thế! Nếu Trẫm hiểu xa hơn nữa, thì khanh có ý nói là triều đình không nên khinh suất động binh hỏi tới phản Vương, e y sẽ đánh trước bắt lợi cho ta và do đó cuộc tranh chiến có thể bị kéo dài?

- Muôn tâu, đó là sự thật hiển nhiên.

- Vậy ta phải hành động thế nào?

- Theo ý chúng ngu thần, không còn gì hơn bằng cách Bệ hạ mật tuyên cho Mã nguyên soái và Hà đề đốc điều động binh tướng thành nhiều toán nhỏ, bí mật kéo vào Giang Nam, tiến sâu vào gần Kim Lăng. Một mặt, hạ lệnh binh đoàn thủy quân lục chiến theo đường bể từ Thanh Đảo bên Sơn Đông kéo xuống hải phận Giang Tô, họp với đoàn quân do Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục ở Trấn Giang, mật kéo vào bao vây phía sau Kim Lăng. Với cuộc mật động này, triều đình sẽ có đủ lực lượng áp đánh phản binh ngay một khi Thuận Vương dấy loạn. Nhưng không phải là chỉ tính toán việc chủ chiến mà thôi, vì chẳng nhiều thì ít, dân chúng cũng sẽ bị hại lây. Bệ hạ nên bày đặt ra một vụ gì tỉ dụ như thi Võ trạng chẳng hạn, vời Thuận Vương đáo kinh sư giữ chức chánh giám khảo, cho vị Vương gia đó khỏi nghi ngờ và giữ luôn ở Yên Kinh không cho về Kim Lăng nữa. Đó là thế Điệu Hổ Ly Sơn. Trong trường hợp Thuận Vương cưỡng lệnh không chịu lai Kinh, Bệ hạ có thể tức tốc hạ lệnh cho các đạo quân, đã túc trực sẵn, bao vây Kim Lăng hỏi tội. Như vậy, Thuận Vương sẽ bị cô lập, mất hết liên lạc với các nơi khác, dù có mạnh đến đâu cũng không tài nào chống nổi với lực lượng hùng hậu của triều đình. Thiển kế như vậy, Bệ hạ hãy tính cùng Binh Bắc đại nguyên soái xem có thể dùng được không?

Nghe Trại Mạnh Thường thao thao bất tuyệt hiến kế, nhà Vua mặt rồng hớn hở, tấm tắc khen ngợi :

- Khanh có tài điều binh khiển tướng như thần, lược thao toàn vẹn, dáng mặt hưng quốc quân sư, Trẫm vốn trọng kẻ biền sĩ, muốn mời khanh cung nhị vị tôn sư đây chiêu nạp các hảo hán giang hồ về giúp triều đình, chẳng hay khanh nghĩ thế nào?

Trại Mạnh Thường vội đáp :

- Muôn tâu, hạ thần vốn là kẻ nông dân quen sống nơi điền dã, bày mưu thiết kế theo đại cương chớ không có tài đi sâu vào chi tiết như đại tướng chuyên môn. Hơn nữa, dưới trướng Mã nguyên soái và Hà đề đốc không thiếu gì nhân tài, dám mong Bệ hạ xét kỹ lượng tình cho kẻo hư đại sự. Còn việc chiêu nạp các giang hồ hảo hán về giúp triều đình, ngu thần sẽ xin hết lòng tiến cử, nhưng dù sao cũng phải dò ý họ xem có muốn xuất chánh hay không mới dám nói chắc.

Chiêu Đức thiền sư đưa mắt nhìn Đức Võ rồi nói :

- Muôn tâu Thánh hoàng, Đức Võ Thượng Nhân và bần tăng xuất gia tu hành từ lâu, quen kinh kệ nâu sòng dưa muối, không thể dự việc chinh chiến, thanh đao yên ngựa chém tướng cướp cờ, cúi xin Thánh hoàng thông cảm thể tình cho chúng bần đạo được nhờ.

Nhà Vua đặt ly rượu xuống án mà rằng :

- Các khanh không quản gian lao nguy hiểm đích thân nhập Hoàng thành trình bày cho Trẫm hay cuộc mưu phản của Thuận Vương, nay Trẫm nhờ đến các khanh giúp việc thì ai nấy đều chối từ cả là tại sao?

Thấy nhà Vua không vui Trại Mạnh Thường vội tâu :

- Bệ hạ tuyên lệnh chúng ngu thần đâu dám từ nan, song lẽ nếu chúng thần công khai theo Mã nguyên soái hành quân, tính kỹ ra sự đó có hại nhiều hơn là lợi, chi bằng Bệ hạ cho phép chúng thần được tự do hành động gián tiếp giúp tam quân, có lẽ còn hay hơn nhiều.

Liếc nhìn thấy nét mặt nhà Vua dịu lại, Trại Mạnh Thường nói tiếp :

- Tệ trang ở ngoại thị trấn Tô Châu ai ai cũng biết, Bệ hạ truyền mật lệnh bất cứ lúc nào ngu thần cũng sẵn sàng phục vụ. Hơn nữa, thần có một người bạn thâm giao họ Cao tên Thiệu Đàm tự Lãng Quân cư ngụ ngay ngoại thành Kim Lăng phía Tây môn, có thể giúp Mã nguyên soái bằng cách để chúng thần tụ tập tại Cao gia trang, phi thiềm tẩu bích vào tận Vương phủ Kim Lăng do thám, như vậy có lẽ lợi cho cuộc hành quân rất nhiều.

Nghe lời dẫn giải cực kỳ chu đáo của lão anh hùng, Vĩnh Lạc hoàng đế mặt rồng hớn hở :

- Khanh trình bày mưu kế thiệt trúng ý Trẫm. Trong thiên hạ còn có những bực hào kiệt như các khanh tận tâm giúp triều đình, chắc chắn mầm phản nghịch kia sẽ bị dập tắt. Lát nữa, Trẫm sẽ phê một đạo chiếu chỉ ban cho khanh được toàn quyền thay mặt Trẫm hành động bất cứ bằng phương diện nào, miễn sao cản được mưu phản nghịch có lợi cho Minh triều...

Trại Mạnh Thường đứng lên bái tạ lòng tin cậy của nhà Vua và thuật chuyện Chu Đức Kiệt, Lam Y nữ hiệp, Âu Dương Bích Nữ trước đã có phen vào tận Vương phủ Kim Lăng gặp Nhạc Lan Anh cho Vua nghe.

Vĩnh Lạc hoàng đế ngạc nhiên :- A, thế ra Lan Anh Quận chúa không phải là con ruột của Thuận Vương sao?

Trại Mạnh Thường thuật luôn vụ em Thuận Vương là Chu Vĩnh Bình đã sát hại gia đình họ Nhạc chỉ vì ham luyến sắc đẹp của thân mẫu Lan Anh cho Hoàng đế tường tận.

Nhà Vua hỏi :

- Sao khanh biết rõ vụ Vĩnh Bình hại nhà họ Nhạc như vậy?

- Sở dĩ ngu thần am tường vụ ấy là do Thượng Thái thiền sư trên Long Sơn tự ở Vân Nam, sư phụ của Nhạc Lan Anh, sư muội của Chiêu Đức đại sư đây. Hôm Lan Anh xuống núi có theo thầy cùng đi với Đức Võ Thượng Nhân về tận Kim Lăng.

Nhà Vua gật đầu, trầm ngâm hồi lâu :

- Hồi đầu năm nay, Thuận Vương dâng biểu tâu về vụ Vĩnh Bình Đề đốc Hàng Châu bị ám sát, chẳng hay khanh có biết vụ đó không?

Giấu nhẹm vụ hành động của Tam hiệp cuối năm ngoái ở Hàng Châu, Trại Mạnh Thường tâu rằng :

- Đề đốc Hàng Châu là người ham mê nữ sắc, chắc hẳn phải có nhiều kẻ thù, ngu thần nghe đồn về vụ ám sát nhưng không lấy đó làm lạ.

- Thuận Vương yêu cầu Trẫm ban hành lệnh truy nã gắt gao thủ phạm vụ ám sát Đề đốc Hàng Châu. Theo hồ sơ, hình như có ba người can vào vụ ấy.

- Muôn tâu, Thuận Vương yêu cầu gì, Bệ hạ cũng cứ phê phán theo, như vậy phản vương mới không nghi ngờ gì, mưu kế của ta dễ thành tựu hơn.

Nhà Vua suy nghĩ hồi lâu :

- Chư khanh còn việc chi khác ở Yên Kinh không?

- Thưa không, chúng ngu thần sẽ về ngay Tô Châu chờ lệnh của Bệ hạ.

- Mã nguyên soái về triều hồi cuối năm ngoái và hiện còn ở kinh đô. Trẫm sẽ tức khắc cùng y bàn định vụ Thuận Vương. Vậy trẫm yêu cầu khanh một điều.

- Xin Bệ hạ cứ truyền.

- Khanh tổ chức ngay cuộc do thám xem tình hình trong Vương phủ Kim Lăng thế nào. Sau khi điều động các binh đội, Mã Hành Long sẽ xuống Tô Châu gặp khanh liệu bề khởi sự. Như vậy được không?

- Dạ, thần xin tuân mạng.

Tiệc tan, nhà Vua phê luôn một đạo mật chỉ trao cho Trại Mạnh Thường.

Sáu người lạy tạ lui ra, theo Lý Tuyên ra khỏi Hoàng thành, về nhà tư của viên Tổng thái giám thay đổi y phục về Phong Hạc lầu. Nán lại Yên Kinh du ngoạn vài hôm, Đức Võ Thượng Nhân chia tay về Cửu Huyền sơn còn năm người thì lên đường về Tô Châu.

Sau cuộc hội đàm với Trại Mạnh Thường, Vĩnh Lạc hoàng đế tức khắc triệu Nguyên soái vào cung mật đàm về vụ Thuận Vương.

Mã Thành Long tâu :

- Chuyến này lai kinh, hạ thần có đem theo Mã Thành Hổ và Thành Báo, xin Bệ hạ thảo cho đạo mật chỉ để Thành Hổ vào Thành Đô tuyên chỉ cho Hà đề đốc điều động binh mã Tây Xuyên. Một mặt hạ thần về hành doanh tạm trao ấn kiếm cho phó soái Triệu Tấn, huy động một phần binh đội bí mật Nam tiến. Như vậy, không cần dùng tới binh mã Yên Kinh, e gian đảng thông báo cho Thuận Vương thì hư cả đại sự.

Nhà Vua ưng thuận :

- Khanh bán tính rất trúng ý Trẫm, sự trông cậy cả vào hiền khanh tự ý hoàn toàn hành động, cốt sao dập tắt được cuộc mưu phản đem lại an ninh cho dân chúng miền Giang Nam. Riêng phần Trẫm chỉ biết nhắn khanh một điều là nên liên hệ mật thiết với Trại Mạnh Thường Âu Dương Tòng Thiện. Do nhân vật ấy, khanh sẽ có sự giúp đỡ đắc lực của giới giang hồ hiệp khách.

- Mai đây theo kế của Tòng Thiện, Trẫm sẽ vời khanh và Trần Chí Hòa hội đàm dự tính tổ chức kỳ thi Võ trạng nguyên, cốt dụ Thuận Vương về Kinh làm chánh giám khảo theo kế "Điệu Hổ Ly Sơn", vậy khanh khá liệu lời để họ Trần không nghi ngờ. Nếu Thuận Vương trúng kế, binh đội của y sẽ như rắn không đầu, không cần đánh cũng phải tan, khanh chỉ huy động bao vây một trận nhỏ là bắt được toàn thể tặc tướng. Khanh nghĩ sao?

- Muôn tâu Thánh thượng, Trại Mạnh Thường hiến kế quả rất hợp thời, vậy xin cứ y đó thực hành là hơn cả. Ngoài ra, ngu thần nhất tâm hành động, mong bệ hạ tin tưởng, chớ lo nghĩ hao tổn tinh thần.

Nhà Vua đẹp lòng, phê một đạo chỉ cho Mã Thành Hổ mật truyền Hà Thiên Thọ theo đúng kế hoạch của Mã nguyên soái huy động binh tướng bao vây Kim Lăng.

Hai hôm sau, sau khi Vĩnh Lạc hoàng đế lâm triều, trao việc tổ chức cuộc thi Võ trạng cho Thái sư Chí Hóa, Mã nguyên soái biên riêng một phong thơ gởi Mã Thành Hổ cho Hà Thiên Thọ dặn rằng :

- Con tức tốc phi mã đem đạo mật chỉ và phong thơ này cho Hà đề đốc. Con thừa hiểu tánh chất cấp tốc và bí mật của công tác quân vụ này. Nói riêng với Hà bá phụ sẽ hội đàm cùng ta ở Âu Dương trang bên Tô Châu. Ai đến trước cứ việc ở đó chờ. Trong khi hành trình, dù gặp sự gì con cũng phải nén tâm tránh cho khỏi lỡ hạn kỳ. Chớ vi phạm quân luật nghe?

Mã Thành Hổ nhất định tuân lời :

- Thưa phụ thân, đến Thành Đô rồi con trở về Kinh phục lệnh?

- Không, con theo Hà bá phụ đi Tô Châu chờ ta xuống đó. Trở về Kinh làm chi cho mất công!

Mã Thành Hổ đi khỏi, Nguyên soái phê luôn một soái lệnh và biên một phong thơ nữa gọi thứ nam là Mã Thành Báo mà rằng :

- Trái với dự tính huy động binh đội thủy chiến Thanh Đảo, con lãnh trọng trách cầm soái lệnh và phong thơ này xuống thẳng Trấn Giang gặp Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục trình bày mọi sự. Sau đó, con cùng Đàm Bá Phục đi Tô Châu tìm Âu Dương trang ở ngoại thành và chờ ta, không được trì trễ.

Mã Thành Báo đi khỏi. Nguyên soái đi kiệu sang phủ Thái sư thản nhiên bàn định về kỳ hội thí Võ trạng, và từ biệt về Đại bản doanh viện lẽ chọn binh tướng về Kinh khảo võ.

Trần Chí Hòa dù gian ngoan đến đâu cũng không thể ngờ được rằng Hoàng đế bày mưu bắt Thuận Vương, nên biên biên mật thơ khuyên Thuận Vương nên lai Kinh để nhà Vua tin tưởng thêm và sau cuộc khảo thí sẽ lựa ngày dấy binh.

Cuộc điều động ba đạo quân tinh nhuệ, Đại bản doanh Mã nguyên soái, Thành Đô và Thủy sư lục chiến Trấn Giang được thi hành thập phần hoàn hảo trong vòng bí mật. Đạo quân nào cũng chia ra từng tốp nhỏ rải rác đóng trong các khu rừng quanh địa giới Kim Lăng. Các tướng lãnh chỉ huy đều vận thường phục kéo đến Âu Dương trang tụ họp.

Hà Thiên Thọ đem theo Ngọc Kỳ Lân, Hà Thiên Tường, Trại Nguyên Bá Hà Thiên Khánh. Đàm Bá Phục đem theo thứ nam là Lãng Lý Giao Đàm Bá Tuấn cùng đi với Hoa Ban Báo Mã Thành Báo. Mã Thành Long đem theo tam nữ Phi Vân Yến Mã Kim Loan. Ngoài họ Âu Dương ra, không một ai ngờ được rằng các người mới đến là những nhân vật cao cấp cầm đầu binh đội toàn quốc của Minh triều. Trái lại, ai cũng tưởng đấy là các hào kiệt giang hồ đến thăm lão anh hùng Trại Mạnh Thường.

Khi mọi người tề tựu đông đủ cả thì Tam hiệp Chu Đức Kiệt, Lam Y và Âu Dương Bích Nữ đi Kim Lăng liên lạc với Nhạc Lan Anh thăm dò tin tức Trại Mạnh Thường nói với Mã Thành Long :

- Tôi hẹn với Tam hiệp chờ ở Cao gia trang ngoại thành Kim Lăng, vậy mời quý vị xuống đó cho tiện việc chỉ huy.

Mã Thành Long nói :

- Xuống tới Cao gia trang thăm tin tức xong tôi phải trở về Yên Kinh ngay. Hiện thời, lệnh khảo thí đã được ban bố đi mọi nơi trong toàn quốc. Võ trường được sửa soạn gần hoàn thành, nếu vắng tôi e Trần Chí Hòa sanh nghi, cản không để Thuận Vương lai kinh chăng. Vậy tôi thảo sẵn kế hoạch đây, nếu Thuận Vương nghi ngờ hay bất cứ vì lẽ gì huy động binh tướng, thì ba vị nhân huynh Hà, Đàm, Âu Dương cứ tiến quân vây thành. Trong trường hợp phản Vương vô tình lai kinh bị triều đình giữ lại mà quân tướng của y tạo loạn thì điều cần nhất là không cho chúng chạy thoát. Nghe đâu toán bọn phản nghịch đều là những tay phi hành đại đạo, chúng có thể vượt thành đơn thân đào tẩu. Bắt được hết nội bọn mới thỏa lòng.

Hà Thiên Thọ nói :

- Chúng biết phi thiềm tẩu bích, ta cũng sẽ dung thuật đó trị lại. Quân vây khắp bốn mặt thành muốn thoát không phải dễ dàng. Hơn nữa, ta còn có sự giúp đỡ của Âu Dương lão huynh đây, nhân huynh chớ quá lo.

Mã Thành Long hỏi Trại Mạnh Thường :

- Nghe Thánh thượng nói Âu Dương huynh có quen biết nơi trang trại ngoại thành Kim Lăng, rất thuận tiện cho việc tụ họp của chúng ta phải không?

Trại Mạnh Thường gật đầu :

- Đó là Cao gia trang. Hôm Chu Đức Kiệt, Lam Y và Bích Nữ xuống Kim Lăng liên lạc với Nhạc Lan Anh, tôi đã có nhắn với Cao trang chủ rồi. Hiện Tam hiệp chờ chúng ta ở đó, và có lẽ có cả một vị anh hùng khác nữa.

- Ai vậy?

- Kim Đao Quan Long, dòng dõi Hán Thọ Đình Hầu Quan Vân Trường, ở Quan gia bảo bên Mã Thạch cương.

Mã nguyên soái nói với mọi người :

- Ngày mai chúng ta khởi hành sớm ngày nào hay ngày ấy.

Trại Mạnh Thường dặn phu nhân xem công việc nhà, đem theo Cái Thiên Ô Vân Tòng Cát và Thần Mã Truy Phong Tòng Đức.

Người nào cũng đem theo khí giới sở trường phòng lúc ra quân.

Chương 35: Triệu tập tướng binh, Kim Lăng cờ xí ngập trời Hoa viên gặp bạn, Lan Anh một phen bày tỏ

Nói về Thuận Vương Chu Vĩnh Thái khi được tin em thứ nhì là Vĩnh Bình, Đề đốc Hàng Châu bị hại liền tức khắc họp chư tướng, Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn và hai Thế tử Chu Trấn Quốc, Chu Bảo Quốc mật bàn. Riêng vắng mặt có Nhạc Lan Anh vì Thuận Vương cố ý không mời.

Thuận Vương nói :

- Cô gia nghi rằng thủ phạm không phải ai xa lạ mà chính là bọn Lam Y nữ hiệp đã nhiều lần tỏ ra chống lại với ta, chư khanh nghĩ sao?

Buông tập hồ sơ do ty Đề đốc Hàng Châu gởi về xuống bàn, Quân sư Tôn Hoàn nói :

- Theo bổn phúc trình thì cuộc điều tra cho biết thủ phạm là ba người đàn ông có khăn bịt mặt. Trái lại từ trước đến nay Lam Y chỉ hành hiệp có hai người, một nam một nữ không hề hóa trang. Như vậy, vị tất đã là bọn Lam Y. Vương gia ngờ vực nên tưởng là bọn chúng đó thôi.

Nguyên soái Hoàng Bách Thắng cười gắng :

- Không thể căn cứ vào bổn phúc trình đó được! Biết đâu bọn Lam Y không háa trang? Căn cứ vào kỳ Kỵ Mã hội, bọn Lam Y không trà trộn vào dân chúng đánh tháo cho đồng bọn thoát khỏi đấu trường là gì đó.

Quân Sư Tôn Hoàn phản đối :

- Hai việc khác nhau, Đề đốc Hàng Châu có thù hiềm với Lam Y đâu? Trong hồ sơ không ghi một sự kiện gì khả dĩ để cho ta suy luận rằng anh em Lam Y hành hiệp can thiệp cứu một kẻ nào và toan tính hành thích quan Đề đốc. Phải luận như vậy mới đúng lẽ. Nói đến nghi ngờ, lẽ cố nhiên chúng ta nghĩ ngay tới Lam Y, vì chỉ có anh em nàng từ trước đến nay đã phạm tới mấy chi nhánh của Kim Lăng.

- Theo ngu ý, cuộc ám sát này có tánh cách báo thù.

Tôn Hoàn giở tập hồ sơ ra tìm một tờ giấy đưa cho Hoàng Bách Thắng :

- Nguyên soái đọc đoạn lời khai của hai tên thị nữ, chúng vẫn nghe thủ phạm có nói tới hai họ Tề, Nhạc chi đó thì đủ hiểu.

Thuận Vương lẳng lặng ngồi nghe, thầm nghĩ vụ họ Tề không hiểu thế nào, nhưng giòng họ Vương cung, chẳng lẽ họ Nhạc còn một người nào khác nữa chờ tới bây giờ mới báo thù sao? Hoàn toàn bí mật!

Suy nghĩ hồi lâu, Thuận Vương nói :

- Bỏ qua việc ba tên thủ phạm, nhưng còn vụ xác nạn nhân bị tiêu thành nước, cô gia thấy khó hiểu quá.

Tiên phong Điêu Thiên Phượng nói :

- Tâu Vương gia, cũng không có chi là khó hiểu Mạt tướng nghe nói có một thứ thuốc tiêu nhục cho một số ít kiếm khách giang hồ vẫn dùng để tiêu xác kẻ địch sau khi hạ sát, vậy ta có thể kết luận được rằng ba tên thủ phạm tất là những nhân vật siêu phàm mới có thứ ghê gớm đó.

- Đề đốc Hàng Châu đã bị thủ tiêu, cô gia bỏ qua vụ đó đi và có một điều quan trọng hơn muốn bàn cùng chư khanh. Nhân tiện dịp này, cô gia chờ xem Vĩnh Lạc hoàng đế đối xử ra sao. Cô gia đã dâng biểu về triều yêu cầu Hoàng đế hạ lệnh truy nã hung thủ gắt gao khắp mọi nơi, nếu Hoàng đế thờ ơ lạnh nhạt, cô gia sẽ động binh luôn quyết lật đổ ngai vàng. Chư khanh thừa biết ta đủ sức vào Yên Kinh rồi phải không?

Hoàng Bách Thắng hớn hở :

- Tâu Vương gia, sau nhiều năm súc tích, luyện tập, tướng tá quân binh thuộc quyền Vương gia quả đã dư lực binh thiên hạ, thiết tưởng chẳng nên kéo dài mãi thêm mất thì giờ. Bọn mạt tướng hoàn toàn sẵn sàng đền đáp ơn ưu đãi của Người.

Quân sư Tôn Hoàn nói :

- Chờ bao năm nay còn được huống hồ nay lại vội vàng sao? Ta nên chờ xem nhà Vua đối xử về vụ Hàng Châu thế nào lúc đó sẽ khởi binh cũng không trễ. Bây giờ Vương gia chỉ cần hạ mật lệnh triệu quân đồn trú ở các sơn trại về Kim Lăng túc trực, chừng nào khởi chiến sẽ phân phát đi đánh mọi nơi cho mau lẹ. Thần đã thảo qua kế hoạch phát binh xâm chiếm các phủ huyện trình lên Vương gia coi thử, và thảo luận với Hoàng nguyên soái xem sao.

Nói đoạn, Tôn Hoàn lấy ở tay áo rộng ra một cuốn giấy kính cẩn nâng đưa, Thuận Vương Chu Vĩnh Thái mở ra coi.

Giữa lúc ấy, một người mở cửa căn phòng họp bước vào. Mọi người đều quay đầu nhìn thì ra là Quận chúa Lan Anh.

Bái lạy Thuận Vương và sẽ nghiêng mình chào mọi người lúc đó đã đứng cả dậy, Lan Anh dõng dạc :

- Hôm nay Phụ vương họp bàn, sao lại loại trừ không cho con dự thính như vậy? Vô tình đột ngột vào đây, mong Phụ vương xá tội. Nay con rút lui để khỏi vướng cuộc hội bàn.

Dứt lời, nàng quay trở ra, nhưng Thuận Vương vội gọi lại :

- Lan Anh con, hồi nãy nghe nói con đang thao luyện dượt ngựa ngoài võ trang nên ta không muốn rộn. Cuộc hội bàn cũng chỉ mới bắt đầu, con khá an tọa.

Biết Thuận Vương không nghi ngờ gì mình, nhưng chắc có nói tới vụ Chu Vĩnh Binh bị ám sát nên mới không mời, Lan Anh bèn trở lại kéo ghế ngồi bên hai Thế tử.

Thuận Vương thuật lại vấn đề đang bàn định cho nàng nghe, nhưng tuyệt nhiên không đá động tới vụ Hàng Châu.

Mở tờ phác hoạch kế tiến quân của Tôn Hoàn ra đọc một hồi, Thuận Vương nhìn họ Tôn nói :

- Chương trình hành quân này rất trúng ý cô gia, vậy Quân sư hãy họp bàn riêng với Hoàng nguyên soái xem có cần hoàn bị điểm nào không. Còn việc triệu tập binh tướng đồn trú tại các sơn trại về đây, Hoàng nguyên soái và Quân sư nên gấp thi hành, lương thực phải tải về cho đầy đủ, cuối xuân sang năm mọi sự phải được hoàn bị.

Thuận Vương hỏi Trấn Quốc là người phụ trách về việc doanh trại :

- Hiện trại quân có đủ chỗ cho quân tướng các nơi về lưu trú không?

Trần Quốc thưa :

- Tâu Phụ vương, doanh trại đồn quân trong nội thành chỉ có thừa chớ không thiếu, xin Phụ vương an tâm về vấn đề ấy.

Hoàng Bách Thắng nói :

- Các vị đầu đà hiện theo dưới trướng hàng ngày thao diễn cùng quân đội trong giáo trường cũng nên thay đổi y phục tăng đồ cho dân chúng khỏi dị nghị, mong Vương gia kíp ban lệnh đó để mạt tướng điều động cho dễ dàng.

Thuận Vương khen phải và truyền rằng :

- Cô gia hoàn toàn trông cậy vào Nguyên soái và Quân sư, để hết mùa Xuân sang năm thì bất chợt lúc nào cần là khởi chiến.

Cuộc hội họp hôm ấy chấm dứt. Mọi người rút lui, còn lại Thuận Vương, hai Thế tử Trấn Quốc, Bảo Quốc và Lan Anh. Thuận Vương nói :

- Gia đình của thúc thúc Vĩnh Binh còn ở cả Hàng Châu ta muốn nhờ Trấn Quốc, Bảo Quốc sang rước về đây, dù sao cũng là gia đình nhà ta, không thể bỏ qua được.

Anh em Thế tử ra quỳ trước mặt cha. Trấn Quốc nói :

- Phụ vương đã dạy con xin theo, dù phải nhảy vào nước lửa cũng không từ, nhưng có một điều mong Phụ vương cho phép trình bày.

Thuận Vương ngạc nhiên :

- Con có điều chi thắc mắc?

- Trước kia thấy Phụ vương chiêu tướng đồn binh, con nghĩ Người chỉ đi tới mức gây một hậu thuẫn mạnh mẽ không cần phải lấy binh khởi loạn. Hiện nay dù không cai trị cả Trung Quốc, Phụ vương cũng đường đường vương tước giữ trọng trách cai quản cả một khu phì nhiêu phồn thạnh, sống trong cảnh nhất Đế nhì Vương, hơn nữa lại là biểu đệ của Hoàng đế đương triều, sung sướng cao sang nhất mực thiết tưởng không nên nổi loạn phản triều đình, sau này mang tiếng với sử xanh...

Nghe Trấn Quốc nói tiếp :

- Tuy Hoàng đế là người nhu nhược nhưng không đến nỗi hoang dâm tửu sắc, phung phí quốc khố, thuế nặng, sưu cao để cho dân tình lầm than khổ sở. Trong triều, ngoài phe đảng Trần thái sư, Hoàng đế còn nhiều bầy tôi trung thần phò tá. Binh lực cũng không yếu. Mặt Bắc có Mã nguyên soái, Tây nam có Đại tổng trấn Hà Thiên Thọ, bên Đông có Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục, toàn là dòng dõi công thần, tài thao lượt xuất chúng, binh cường tướng mạnh không thiếu gì, đó là chưa kể tới ngừng sự giúp đỡ của giới hiệp khách giang hồ chân chánh hào kiệt nhan nhản trong thiên hạ. Con không phủ nhận lực lượng hùng mạnh của Phụ vương nhưng một khi dấy quân khởi loạn chống lại triều đình, dù ta tiến quân có mau lẹ cũng không thể nào vào ngay được Yên Kinh truất phế đương kim Thiên tử. Giỏi lắm chỉ chiếm cứ toàn cõi Giang Nam nhưng thế nào cũng đụng độ với ba đạo quân triều đình kia thì phần thắng chưa chắc sẽ thuộc về ai.

Đất Giang Nam một mặt lớn xây lưng ra biển, ta không có lực lượng thủy quân, làm sao chống nổi đoàn mãnh sư của Đề đốc Đàm Bá Phục? Quân triều đình sẽ dung đường biển xuống Nam hậu kích quân ta bất cứ ở điểm hải đầu nào. Lúc đó thọ định cả ba mặt, dân chúng Giang Nam bị ảnh hưởng tạo loạn sẽ oán than binh lực Kim Lăng là binh đội chủ chiến gây nội loạn, ảnh hưởng tai hại lớn lao nói không hết được.

Tóm lại, Phụ vương khởi chiến với một binh đội mà lực lượng chưa chắc đã hùng hậu hơn thế quân triều đình. Đối với dân chúng, quân Kim Lăng không có chánh nghĩa để mọi người phải ủng hộ theo ta, như vậy tính trước sao được cuộc thắng, bại?

Hồi nãy, con không thấy Hoàng nguyên soái và Tôn quân sư trình bày các điểm đó với Phụ vương. Hành quân mà bỏ qua ba chủ điểm Lực, Thế, Nghĩa thì nắm chắc thất bại trong tay. Nay còn đang tiền lắm bạc nhiều, còn có nhiều kẻ đem thân, đem sức ra phò tá ra luồn vào cúi, e sau này vì không tính kỹ, lâm vào cảnh bí thế, họ toàn là hạng phi hành đại đạo vô trách nhiệm, thấy hành binh bất lợi rũ áo ra đi, mạnh ai nấy tẩu thoát vào chốn thâm sơn trở lại cuộc đời lục lâm cường đạo, Phụ vương kiểm soát sau nổi và sẽ độc thân gánh hết trách nhiệm tạo phản, nguy hiểm biết chừng nào?

Lấy tình phụ tử, anh em con đồng ý trình bày lời hơn lẽ thiệt, dám mong Phụ vương thể tình tha thứ cho, nghĩ lại để khỏi nhơ danh hậu thế. Riêng phần chúng con, dù ở trong tình thế nào, bất quá đến da ngựa bọc xương đền công Phụ vương dưỡng dục sanh thành lá cùng!

Dứt lời, hai Thế tử quỳ rạp xuống mặt gạch hoa, chờ cơn thạnh nộ lôi đình của Vương phụ.

Đang hân hoan tin chắc ở võ lực của mình đã tốn bao nhiêu công của thì giờ mới tạo ra được để xây đắp mộng cướp ngôi cửu ngũ trị vì thiên hạ, nay bỗng dưng bị hai Thế tử ngăn cản, Thuận Vương nổi giận đùng đùng muốn hô binh tướng trói bắt hai người đem ra pháp trường xử trảm. Nhưng lời lẽ trình bày Trấn Quốc vừa minh bạch hữu lý, vừa thống thiết trung nghĩa khiến Thuận Vương giật mình nghĩ đến các điềm bất lợi và hậu quả nên đờ người ra không biết giải đáp thế nào cơ hồ quên cả hai Thế tử còn đang phủ phục chờ lãnh tội dám cả gan ngăn cản cuộc khởi binh giành thiên hạ của mình.

Thuận Vương đăm đăm nhìn thẳng hồi lâu mới lạnh lùng cất tiếng :

- Cho hai người về chỗ!

Kín đáo nhận thấy nét mặt suy nghĩ chiêu đăm vương phụ, hai Thế tử mừng thầm lời can gián của mình đã có hiệu quả, bèn vái tạ về ngồi bên Lan Anh như cũ.

Riêng phần Lan Anh, nàng xưa nay vẫn phục Trấn Quốc và Bảo Quốc về tánh chất thiệt thà trung nghĩa, cũng như nàng vẫn tiếc thay cho hai người ấy chẳng may lại thác sanh vào làm con một vị phản vương sau này bia miệng để đời. Nay bỗng dưng nàng thấy hai Thế tử can đảm không sợ tội, trình bày ý nghĩ của mình rất khúc chiết tỏ ra thao lược có thừa, Lan Anh mừng rỡ bội phần vì hai người cùng theo lập trường của nàng, không đến nỗi sau này phải cùng nhau so giáo đo gươm. Bởi vậy nàng bình tĩnh chờ xem Thuận Vương định đoạt ra sao.

Thuận Vương bỏ kỷ, đứng khoanh tay ra sau đi đi lại lại trong căn phòng rộng lớn bài trí cực kỳ hoa lệ, nét mặt vẫn chiêu đăm có vẻ nghĩ lung lắm, hầu như quên rằng trong phòng còn có ba người con đang lặng lẽ nhìn mình.

Hồi lâu, Thuận Vương đứng sững lại nhìn lần lượt từ người nọ đến người kia mà rằng :

- Ta sẽ nghĩ kỹ sau. Hãy hoãn việc đi Hàng Châu, ta cho người khác đi thay. Ba con giải tán.

Ba người mừng thầm lui bước.

Ra khỏi phòng, Lan Anh tươi cười :

- Nhị vị hiền huynh đã làm được một việc cực kỳ lớn lao đáng khen. Nếu Phụ vương nghĩ kỹ nghe theo thì tránh được biết bao nhiêu sanh mạng khỏi ở trong cảnh máu đổ đầu rơi. Tiếc thay, từ trước đến nay không bao giờ hiền huynh chịu ngỏ ý trung nghĩa ấy cùng tiểu muội.

Trấn Quốc nói :

- Ngu huynh phải mật bàn cùng Bảo Quốc từ lâu rồi, sở dĩ không muốn cho hiền muội hay là vì chưa chắc Phụ vương chịu nghe theo. Ngu huynh và Bảo Quốc bị Phụ vương làm tội đã chớ, chẳng lẽ còn kéo thêm hiền muội vào cuộc phiêu lưu mạo hiểm ấy có ích lợi gì đâu!

Lan Anh hỏi :

- Khởi cuộc họp bàn hồi nãy, Phụ vương nói chi vậy?

Trấn Quốc đáp :

- Người nói về vụ thúc thúc Vĩnh Bình bị ba kẻ lạ mặt ám sát bên Hàng Châu. Không hiểu tại sao Phụ vương muốn giấu hiền muội về vụ ấy. Cho nên lúc tới phòng họp, ngu huynh lấy làm lạ vì hiền muội vắng mặt.

Chu Bảo Quốc nói :

- Ngu huynh nhiều lúc không thể hiểu được thái độ của Phụ vương. Như việc thúc thúc Vĩnh Bính bị ám sát cần chi phải giấu hiền muội? Chẳng chóng thì chầy mọi người sẽ biết.

Nhạc Lan Anh biết rằng hai Thế tử không rõ cuộc đời tư của mình bèn trả lời cho qua câu chuyện :

- Có lẽ Phụ vương lo lắng thái quá nên nhiều khi quẫn trí, nhị vị đại huynh hậu kiếm lời cản ngăn may ra tránh được cuộc nội chiến hại bao nhiêu sanh mạng vô ích.

Về tới thư phòng, Lan Anh đem chuyện Vĩnh Bính bị ám sát tại Hàng Châu kể cho Vương nhũ mẫu nghe Nhũ mẫu mừng rỡ :

- Trời có mắt, có thế mới đáng tội gian vương. Tiểu thơ có nghe đồn gì hơn nữa không?

- Không tiện hỏi thêm nữa, chỉ biết chắc chắn y đã bị giết.

- Ông bà linh thiêng chắc cũng được vui lòng.

- Tiếc một điều là không phải chính tay tôi lấy đầu gian vương để tế viếng mộ phần.

- Thôi tiểu thơ ạ, miễn là y đã đền tội.

Lan Anh kéo ghế ngồi thừ ra nghĩ ngợi. Chu Vĩnh Bình là kẻ thù bất cộng đái thiên của nàng thật. Thuận Vương Chu Vĩnh Thái đối với cá nhân nàng không đến nỗi nào. Thấy nàng côi cút, Thuận Vương tự ý đem nàng về nuôi trên lụa dưới là, trông nom săn sóc rất mực nuông chiều như con ruột, nhờ vậy nàng mới có ngày nay, sống trong cảnh kim chi ngọc diệp. Đối với triều đình, Thuận Vương mưu phản muốn đoạt ngôi Thiên tử là kẻ có tội thật, nhưng phân tích rằng, vị Vương gia ấy không ham dâm tửu sắc, lạm dụng thế lực ức hiếp dân lành. Vậy một người cao quý tiền lắm bạc nhiều, quyền cao chức trọng, tham vọng cá nhân hầu như không có, vì lẽ gì lại có thể đi vào con đường âm mưu phản quốc để rồi sau này ô danh sử sách được. Khó hiểu, tất phải có lẽ gì bí ẩn mà nàng không biết. Nàng cũng không thể tìm hiểu được.

Hai vị Thế tử Trấn Quốc và Bảo Quốc là người có tư cách, xứng danh hoàng tộc, không như số đông vương tôn công tử thường thấy, ý thế hiếp người khiến người dân lành trong thị trấn phải ca thán, hai thanh niên ấy lúc nào cũng tỏ ra mình có đức độ quân tử hào hùng. Hai Thế tử đã chẳng can đảm dám cả quyết trình bày lợi hại, can ngăn vương phụ trong lúc hy vọng chiếm đoạt ngai vàng của Thuận Vương lên tới mực độ cao nhất.

Tuy Thuận Vương chưa tỏ ý nghe theo hay không, nhưng sự can ngăn ấy ít nhất cũng là một tiếng chuông cảnh tỉnh khiến kẻ mưu đồ phản quốc phải suy nghĩ nhiều. Trấn Quốc, Bảo Quốc hành động rất trúng ý nàng. Đã nhiều phen, nàng định can ngăn Thuận Vương nhưng lại bỏ qua, vì nàng tự hiểu có nói cũng bằng thừa. Phận gái, lại là dưỡng nữ, chắc không khi nào vương phụ chịu nghe. Sự trình bày dù rành mạch thống thiết đến đâu cũng không đủ hiệu lực như lời của hai Thế tử.

Bởi vậy, dù muốn đưa Thuận Vương ra khỏi con đường phản thần tội lỗi, nàng đành bó tay thúc thủ. Nếu trước kia không gặp Lam Y nữ hiệp yêu cầu nàng do thám tin tức trong Vương cung thì nàng đã nhất quyết bỏ đi hạ sát kẻ thù nhà, xong rồi trở về Long Sơn theo Thượng Thái thiền sư, tu luyện cho tới bậc cao siêu, chẳng màng chi việc đời trăm ngàn nổi lo buồn.

Đêm nào nàng cũng ra hoa viên chờ nơi giả sơn mà Lam Y nữ hiệp như bóng chim tăm cá, biệt dạng phương trời. Nữ hiệp quên nàng rồi chăng? Quên người con gái họ Nhạc đang sống đầy đủ trên nhung gấm trong chốn Vương cung thăm thẳm rồi chăng? Không! Con người ấy không khi nào nói rồi lại bỏ! Nàng biết nhìn người lắm. Nữ hiệp không tới tất chưa có chuyện gì cần phải gặp nàng. Chờ xem!

Nói về Thuận Vương, sau khi Trấn Quốc, Bảo Quốc và Lan Anh ra khỏi phòng họp, vẫn tiếp tục đi đi, lại lại suy nghĩ lung lắm.

Lời trình bày phân tích của Thế tử quả rất rành mạch xác đáng. Quân lực của ta khỏe thiệt, nhưng nhận xét đúng mực, căn cứ theo binh phép, thực lực của Kim Lăng rất có thể đạt mục đích chiếm cứ mau lẹ đất Giang Nam làm căn bổn trong giai đoạn thứ nhất, sau đó sẽ lần lần đánh ngược lên Bắc, chiếm đóng Yên Kinh lên ngôi Cửu ngũ bình thiên hạ. Nhưng đây thuộc giai đoạn thứ nhì bắt buộc phải trường chinh!

Theo lời phân giải Trấn Quốc, Bảo Quốc, việc tiến quân lên Bắc quả cũng đã đầy khó khăn, chớ đừng nói chi chiếm đóng Yên Kinh. Đụng độ với ba đạo quân, tất cả hai bên cùng không tránh nổi sự hao binh mòn tướng. Trong trường hợp ấy, sự xuất quân của Kim Lăng đã không danh chánh ngôn thuận thì bắt dân nhập ngũ thay thế các đoàn quân bị hao mòn sao được?

Bởi vậy, Trấn Quốc nói quân lực Kim Lăng khỏe, nhưng không chịu đựng được cuộc trường chinh vì không có hậu thuẫn của dân chúng là đúng lẽ có dạy trong binh pháp Tôn, Ngô. Dân Giang Nam đã khổ sở vì chiến tranh do ta gây nên, lẽ nào ủng hộ ta?

Trời! Nếu không hứa với Tiên vương sẽ nối nghiệp Người củng cố binh lực kéo dốc vào Yên Kinh để báo thù Tiên đế cho Người thì việc khởi quân này tất không thành. Chỉ vì một mối hận giữa người xưa và người xưa mà rồi đây ngọn lửa chiến tranh bùng nổ sẽ nghiêng ngả san hà, đầu rơi máu chảy, thịt nát xương tan! Tên đã đặt lên cung, không bắn cũng chẳng được! Nhưng ta thắc mắc một điều: Tại sao Hoàng Bách Thắng thân cầm đầu ba quân và Quân sư Tôn Hoàn lại không trình bày lợi hại cho ta hay?

Lẽ nào hai người ấy không hiểu binh pháp là gì!

Nhớ lại khi mới đầu quân, Tôn Hoàn hai người đã rất tinh tường giúp ta lập các binh đội, thao luyện binh mã nên Kim Lăng mới có đủ lực lượng hùng cường ngày nay. Họ lập họa đồ, tính việc dồn lương tích thảo, mưu đồ kế hoạch rất đỗi minh mẫn nên mới được tin dùng, lương cao bổng hậu, lẽ nào họ không rõ điểm bất lợi?

Hay là triệu họ vào đây nghĩ kế lại?

Nghĩ sao làm vậy, Thuận Vương tiến tới góc tường, định giựt giây chuông, gọi quân hầu truyền lệnh triệu Hoàng Bách Thắng và Tôn Hoàn, thì có tiếng gõ cửa.

Thuận Vương ngạc nhiên đứng sững lại :

- Ai đó? Cứ vào!

Cánh cửa chạm trổ nặng nề từ từ hé ra nhường lối đi cho Tôn Hoàn hai người. Đóng chặt cửa lại, Nguyên soái và Quân sư đứng nghiêm chỉnh :

- Chúng thần trở lại đây có làm bận rộn Vương gia không?

Thuận Vương đưa tay ra phía bàn tỏ ý mời hai người thân tín ngồi :

- Không! Cô gia đang muốn gặp riêng nhị vị hiền khanh.

Hoàng Bách Thắng nói :

- Phải chăng vì Vương gia không được toại nguyện về cuộc họp bàn hồi nãy nên định với chúng thần vào chất vấn?

- Chính vậy! Cô gia nghĩ tới ba đạo quân tinh nhuệ của Mã Thành Long, Hà Thiên Thọ và Đàm Bá Phục có thể khiến quân ta thọ địch ba mặt nên không an tâm chút nào cả. Dù ta dùng kế hoạch mau lẹ chiếm toàn cõi Giang Nam cũng khó bề Bắc tiến chiếm Yên Kinh. Trong trường hợp ấy, quân nhà sẽ lâm vào cuộc trường chinh ắt thế nào cũng thất bại. Thà rằng đừng khởi chiến cho xong?

Hoàng Bách Thắng chậm rãi nói :

- Tâu Vương gia. Người đã tin cẩn trọng dụng chúng thần trao cho ấn tín quyền binh cầm đầu toàn thể binh tướng Kim Lăng, lẽ nào thần lại sơ suất đến thế được? Trước cuộc họp bàn, thần và Tôn quân sư đây đã nhiều lần bàn riêng dự mưu lập kế có lợi cho cuộc xuất quân. Hiềm vì ban nãy đông người quá, không tiện trình bày cùng Vương gia một kế hoạch nho nhỏ này... Nếu kế đó thành tựu thì Yên Kinh sẽ bị rối ren hơn cả bị một đạo đại quân đánh phá. Khi đó ta cứ việc cất quân chiếm Giang Nam làm căn cứ địa và đánh giốc lên Yên Kinh. Ba đạo quân triều đình sẽ bị hoang mang thì lo gì ta không lợi thế.

Thuận Vương nghiêm nghị :

- Mưu kế gì ghê gớm vậy, trình bày mau cho Cô gia nghe, kẻo nóng ruột lắm!

Nhìn quanh căn phòng như e cả bốn bức tường đều có tai nghe, Hoàng Bách Thắng hạ giọng :

- Tâu Vương gia, đó là việc hành thích Thiên tử trước rồi xuất quân sau!

Giật mình, Thuận Vương trợn mắt nhìn thẳng vào mặt hai người hồi lâu :

- Hai khanh tính chuyện thật hay chế nhạo Cô gia đó?

Hoàng Bách Thắng lì lì nghiêm nghị :

- Khi nào chúng thần lại dám phạm tội tầy trời nhạo báng Vương gia? Ngoài mưu kế ấy, không còn cách nào hơn kéo lợi thế về bên ta. Thiên tử bị hành thích, triều đình tất phải trải qua một thời gian khá rối ren mới tôn được Đông Cung thái tử lên ngôi. Dù lên ngôi báu, tân vương cũng chưa đủ uy tín cho toàn dân trông cậy. Khi đó Vương gia không những là người gần nhất của Hoàng tộc, mà lại là người có tuổi, nhân dân đều biết tiếng, khởi quân với danh nghĩa vì dân vì tổ quốc thấy việc triều chánh hỗn loạn, nên phải ra tay gánh vác việc quốc gia trong khi triều đình nghiêng ngửa. Danh chánh, ngôn thuận, việc mà Vương gia còn đang phân vân lo âu đó!

Nghe mấy lời đanh thép vừa tàn bạo vừa hợp lý của Hoàng Bách Thắng, Thuận Vương ngồi đờ ra suy nghĩ.

Họ Hoàng nói tiếp :

- Vương gia bất tất nghĩ đến nhân nghĩa! Người muốn giành thiên hạ với đương kim Thiên tử thì nên nhất quyết thẳng tay tàn sát đối phương để đạt ý nguyện của mình! Như viên hổ tướng ra quân, nếu còn nghĩ tới nhân nghĩa, thương hại đối phương, một là bị địch thủ hại, hai là phải lui quân. Có vậy thôi.

Thuận Vương chậm rãi hỏi :

- Ai dám nhận việc lên Yên Kinh hành thích Thiên tử bây giờ! Nếu bản lãnh không cao siêu, ắt khó nhập Hoàng cung!

Hoàng Bách Thắng thưa :

- Về việc lựa chọn người, thần cũng đã nghĩ kỹ rồi.

- Hiện ở Kim Lăng có bốn vị hành gia bạn thân của Phi Không bên Kim Cương tự trước kia, người nào cũng võ nghệ tuyên luân có thể đảm đương được nhiệm vụ ấy.

- Hiền khanh định nói về Lôi Xích, Thạch Căn, Từ Nguyên và Thường Phi?

Hoàng Bách Thắng khẽ cúi đầu :

- Dạ, chính thần định tiến cử bốn người ấy đó. Thử nhiều lần, võ nghệ của họ cao lắm, phi thiềm tẩu bích như chơi.

- Đành rằng võ nghệ cao cường, nhưng ít ra cũng phải biết rõ ràng trong Hoàng thành, Thiên tử ngự nơi nào, giờ giấc nào... nói tóm lại là có chuẩn đích mới hòng gặp được Vua. Đã nhập Hoàng thành, phải đạt mục đích, nếu bị bắt thì hư hết đại sự.

Từ nãy, Tôn Hoàn im lặng nghe hai người bàn tán, bèn đỡ lời :

- Vương gia gởi họ vào dinh Trần thái sư yêu cầu Thái sư giúp họ về mặt dò hỏi giờ giấc của Thiên tử, nhưng giấu không cho Thái sư biết về ý định hành thích. Muốn Thái sư khỏi nghi ngờ, Vương gia nói đại khái là phái họ lên theo dõi các hành động của Thiên tử trong cung cấm. Chừng nào thành công, họ tức tốc nhựt dạ phải về Kim Lăng ngay để ta kịp khởi binh.

Thuận Vương vẫn ngần ngại :

- Có thể tin cẩn được ở những người ấy không?

Tôn Hoàn nhìn Hoàng Bách Thắng :

- Hoàng nguyên soái hiểu họ nhiều hơn, ngài nghĩ thế nào?

Họ Hoàng cả quyết :

- Tâu Vương gia, nếu không tin cẩn được tất thần không khi nào dám giới thiệu hay đề nghị trao cho họ trọng trách ấy. Vương gia khá an lòng.

Thuận Vương nghiêm nghị :

- Trong trường hợp lỡ bị bắt họ sẽ xử sự ra sao?

Hoàng Bách Thắng mỉm cười nham hiểm :

- Vào Hoàng thành hành thích Thiên tử mà bị bắt thì chắc lãnh tội xử giảo lăng trì rồi còn gì? Họ biết tự xử lắm!

- Nhưng, thưa Vương gia, trừ phi nhà vua có một đoàn vệ sĩ đại tài ngang hàng Lam Y nữ hiệp họa may mới cản, bắt nổi bốn người này. Còn đối với bọn Ngự lâm quân và thị vệ canh phòng trong Hoàng cung thì không đáng kể.

- Liệu có nên để cả bốn người đi không?

Hoàng Bách Thắng suy nghĩ giây lát :

- Đi đông bất tiện, hai người là vừa. Thần đề nghị dùng Lôi Xích và Thường Phi. Hai người này bản lãnh chẳng nhường gì Phi Không.

- Vả lại, nếu gặp khó khăn, họ vẫn đủ thì giờ rút lui để theo kế hoạch khác. Thiệt ra, chính thần muốn đích thân cáng đáng vụ này.

- Nguyên soái đi sao được! Lấy ai điều khiển tam quân? Việc phái Lôi Xích và Thường Phi lên Yên Kinh, theo ý khanh thì Cô gia phải nói thế nào với họ?

- Thần bàn định dò ý kiến họ trước khi họ yết kiến Vương gia.

Thuận Vương gật đầu :

- Cô gia tin cậy ở nhị hiền khanh. Có chi lạ báo cho Cô gia biết ngay.

Tôn Hoàn nói :

- Về vụ ta định phái người lên Yên Kinh, Vương gia nên giữ kín.

- Khanh bất tất phải căn dặn. Một việc quan trọng nhường ấy, thành hay bại, hậu quả rất lớn cho Kim Lăng. Cô gia cần tính kỹ xem thế nào mới nhất quyết.

Tôn Hoàn cáo lui.

Còn nhiều việc phải suy tính thận trọng, Thuận Vương không muốn trở về hậu cung ngay, lững thững quay vào ngôi duỗi dài trong chiếc kỷ lớn đệm gấm điều.

Kế hoạch hành thích Thiên tử, gây rối cho triều đình để mượn dịp dấy binh của Tôn Hoàn hay thiệt, nhưng nguy hiểm không nhỏ. Nếu không may, kẻ lãnh nhiệm vụ thích khách sa cơ, thì dù muốn hay không muốn, Kim Lăng sẽ ở vào tình thế công khai đối lập với Yên Kinh, chớ không thể kéo dài thời gian chờ cơ hội thuận tiện chắc chắn có lợi mới xuất binh.

Bốn đầu đà Lôi Xích, Thường Phi, Thạch Căn và Tử Nguyên về đầu Kim Lăng đã mấy năm nay, nhưng chưa hẳn là người thân tín, vậy chắc đâu họ dám hy sinh tánh mạng, tự sát để giữ kín công tác, một khi lỡ bị sa cơ? Đối với các bộ hạ của ta, nếu thắng trận đoạt nổi ngôi trời, họ sẽ là khai quốc công thần. Bằng như bại trận, thì ảnh hưởng cũng không đến nỗi lớn lao như ta sẽ bị tru di tam tộc. Nghĩ tới đây, bất giác lời can ngăn thống thiết của Trấn Quốc hồi nãy lại văng vẳng bên tai, Thuận Vương mỏi mệt ngáp dài, đăm đăm nhìn qua khuôn cửa sổ lắp kiếng màu.

Bỗng mây đen từ đâu kéo đến, thiên hôn địa ám, gió thổi trước còn vật vờ, sau mạnh lần lần... Mưa bắt đầu đổ hột rào rào. Cuồng phong rít lên như tiếng ma gào quỷ thét, hắt nước mưa lũ vào khuôn kính lốp bốp tưởng như muốn bể.

Vù!... Cơn gió mạnh bật tung cánh cửa sổ tròn vạnh như mặt nguyệt lùa vào phòng, lạnh ngắt. Nước mưa hắt đến tận chỗ Thuận vương đang ngã mình.

Giật mình, Thuận Vương bỏ kỷ đứng lên, đi thẳng ra chỗ cửa sổ toan đóng lại, bỗng nhiên một người khoác áo mưa ướt đẫm từ ngoài nhảy vụt lên thành cửa đứng chênh vênh rồi mới nhảy xuống mặt gạch hoa. Tưởng có thích khách, Thuận Vương vội vàng chạy trở vào đứng núp sau cây cột lớn sơn son thếp vàng, với tay lấy thanh kiếm treo gần đó. Nhưng, kỳ thay, Thích khách vạm vỡ kia không tiến, đứng sững tại chỗ như pho tượng đá, đăm đăm nhìn vị Vương gia đang sợ hãi.

Áo người ấy sũng nước chảy lan ra mặt gạch.

Thuận Vương an tâm hơn, định thần nhìn kỹ thấy kẻ lạ sắc diện hồng hào, râu ba chòm thưa thớt bạc trắng như cước, một tay nắm đốc kiếm đeo trên đai lưng thả xuống ngang hông, một tay chống lên sườn.

- Ủa! Phụ vương!...

Thuận Vương thốt ra câu ấy vì vừa nhận ra người nọ không phải ai xa lạ mà chính là Tĩnh Vương.

Buông thanh kiếm rớt xuống gạch xoảng một tiếng, Thuận Vương vội chạy lại phủ phục dưới chân người nọ :

- Phụ vương hồi cung không cho con biết để tiếp rước. Con tưởng người tịch từ lâu rồi, cơ hồ...

Tĩnh Vương vẫn đứng nguyên cất tiếng lanh lảnh như tiếng ma từ cõi âm vang lên :

- Cơ hồ quên hẳn ta rồi, phải không con?...

Ngửa mặt lên trần nhà, Tĩnh Vương cười ha hả, ghê rợn, khiến Thuận Vương nhức óc, vội ôm đầu vì sau mỗi tiếng cười, Thuận Vương có cảm tưởng như bị một nhát búa bổ trúng đỉnh đầu đau buốt.

Không thôi, Tĩnh Vương vẫn nhe răng vàng ệch cười hềnh hệch kinh khủng :

- A ha! Con đã quên cha! Quên luôn cả lời hứa cất binh phục thù! Ha!... ha...

Nghiến răng trợn mắt, Thuận Vương van lớn :

- Phụ vương! Con không quên! Binh tướng Kim Lăng hùng mạnh hơn bao giờ hết, gươm giáo sang choáng như rừng, cờ xí phấp phới ngập trời!

- Binh tướng ấy, gươm giáo ấy, cờ xí ấy để làm gì? Án binh bất động? Ha!... Ha!... Ha!...

Thuận Vương ôm đầu run rẩy :

- Phụ vương ôi! Xin đừng cười nữa! Nhức đầu quá! Không khởi chiến chỉ vì chưa có thời cơ!

- Hừ, chưa có thời cơ ư? Mỉa mai quá! Người anh hùng phải biết tạo ra thời cơ để tranh thiên hạ, hiểu chưa con? Nằm nguyên chỗ trên gấm dưới là ở Kim Lăng, lầu vàng các ngọc, thì thời cơ nào đến với con?

Anh hùng như vậy ư? Hay là sợ tướng hùm quân beo của Vĩnh Lạc chăng? Sợ thì thôi, cha hiểu lắm! Cha không muốn ép con nhận một việc quá sức mình. Giải tán quân đội đi, đỡ hao tổn tiền bạc và để cho chúng có cơ hội đi tìm chỗ khác tiến thân, Hay giải tán binh đội ngay, kẻo Vĩnh Lạc nó biết tin thì sẽ không xong! Ha!. Ha!...

Thuận Vương không chịu nổi những lời mỉa mai của Tĩnh Vương nữa, đứng vùng lên, tức giận, nhìn thẳng vào mặt vị lão vương, nghiến răng, dằn giọng :

- Thôi, Phụ vương bất tất nặng lời. Rồi đây sẽ xem quân đội Kim Lăng của Vĩnh Thái này dũng mãnh tới mức nào! Vĩnh Thái sẽ hạ sát Vĩnh Lạc mới khởi binh chiếm Giang Nam, tràn lên Yên Kinh. Nghe chưa, Phụ vương? Nghe chưa?...

Tĩnh Vương ngửng cười, nét mặt ngạo nghễ chuyển ra trầm tĩnh, nghiêm nghị, lầm lì nhìn thẳng vào mắt Thuận Vương :

- Thiệt vậy ư? Con dám hành động ghê gớm thế ư? Ờ, có thế mới xứng đáng dòng máu của cha! Đao bén, ngựa hùng, lúc nào cha cũng ở bên con, hướng dẫn con mã đáo thành công. Can đảm, can đảm để tỏ cho Tiên Đế và Vĩnh Lạc biết rằng không cha thì đã có con, nghe? Ta hài lòng tin ở con. Thôi ta đi dây!

Dứt lời, Tĩnh Vương quay trở ra nhảy ra cựa sổ vẫn mở toang từ nãy.

Thuận Vương vội vã đuổi theo với tay nắm lấy vạt áo kéo lại :

- Phụ vương, hãy dừng lại cho tôi hỏi điều này...

Nhưng Tĩnh Vương giựt mạnh vạt áo nhảy vụt ra ngoài trời giông bão đi thẳng.

- Vương gia!... Vương...

Thuận Vương giật mình lảo đảo, ú ớ bừng dậy ngơ ngác...

Cảnh mưa gió bão bùng biến đâu mất, căn phòng rộng lớn vẫn ấm cúng như thường, cửa sổ lắp kiếng màu vẫn y nguyên, và gần đó, hai tên a hoàn nét mặt sợ hãi cầm tay nhớn nhác gọi :

- Vương gia, lai tỉnh...

Uể oải chống tay ngồi dậy đưa tay vuốt trán thấy mồ hôi động hột :

- Các ngươi làm chi mà gọi om sòm vậy?

Hai a hoàn buông tay nhau ra, gọn gàng cúi đầu nhỏ nhẹ thưa :

- Tâu Vương gia, người mê sảng giữ quá, chúng con gọi mãi mới tỉnh.

- A!... Ta có nói gì không, các người vào đây từ bao giờ?

- Thưa có. Người ú ớ nói nhiều lắm, hình như có câu binh mã, chiến tranh gì đó.

- Vậy ư? Ta mệt quá nên tâm thần bất định mê sảng, quên hẳn không biết đã nói gì!

- Chúng con vào đây đã lâu. Chính Ngọ rồi mà Vương phi không thấy Người hồi cung nên nóng ruột sai chúng con mạo muội đi mời về.

- Sao biết ta ở đây mà vào?

- Thưa, chúng con gặp Kim thế tử mới biết Vương gia ở phòng họp, mong người tha lỗi.

Thuận Vương mỉm cười :

- Các người không có lỗi gì. Về trước nói Vương phi rằng ta sẽ hồi cung ngay. Nhưng không được nói việc ta mê sảng nghe?

- Dạ!...

Hai a hoàn lùi ra khỏi phòng, Thuận Vương vươn vai xốc áo đứng dạy nhìn quanh.

Nhớ lại nét mặt, y phục, tiếng cười của Tiên vương giữa cảnh mưa to gió lớn, Thuận Vương còn thấy rùng mình, lẩm bẩm :

- Quái! Lâu lắm rồi không thấy Tiên vương, bữa nay lại về là thế nào? Dù không còn trên thế, tiên vương vẫn còn mơ tưởng việc đoạt ngai vàng báo thù Tiên đế. Giọng Người nói khác hẳn xưa, lạnh giá như đồng! Chuyến sau họp xong ta quyết không dám nán lại trong phòng một mình lở ngủ quên như hôm nay mộng thấy Tiên vương thì thực đáng ngại.

Mệt mỏi, uể oải, Thuận Vương mở cửa phòng lững chững về cung, trí não quay cuồng văng vẳng lời khuyên của Chu Trấn Quốc, thiết kế của Hoàng Bách Thắng, Tôn Hoàn và lời vọng lên của Tiên vương.

Vương phi chờ ở thực phòng thấy nét mặt chồng mệt nhọc, bơ phờ, nên ngạc nhiên lo sợ, dặn hỏi :

- Phu quân làm thái quá nên mệt nhọc nhiều, phải giữ gìn sức khỏe mới được, chẳng gì cũng trung lão rồi! Các con đã trưởng thành, sao phu quân không bắt chúng thay thế đảm nhiệm công việc cho rộng thì giờ di dưỡng?

Thuận Vương đi qua trước tấm gương lớn, nhác thấy nét mặt mình phờ phạc thật, giật mình ngồi xuống kỷ. Vương phi tự tay rót nước sâm ra chén dâng lên. Không muốn để Vương phi phật ý, Thuận Vương đỡ lấy chén sâm uống một hơi hết, thần mặt suy nghĩ.

Hai tiếng trung lão do Vương phi vô tình thốt ra khiến Thuận Vương ưu tư vô hạn. Phải! Ngũ thập ngũ tuế rồi, giàu có muôn ức, vương tước cao sang nhất bực, nhất Đế nhì Vương, vậy nay còn muốn mưu đoạt ngai vàng!...

Không! Cần phải suy tính lại mới được!

° ° °

Ít lâu sau, biểu của Thuận Vương dâng triều thử lòng Thiên tử xin đặc cách truyền lệnh đi các nơi trong toàn quốc truy tầm ba kẻ vô danh đã ám sát Đề đốc Hàng Châu Chu Vĩnh Bình, được Vĩnh Lạc hoàng đế chấp thuận và cho phi mã quân hồi âm về Kim Lăng.

Kèm theo với đạo dụ ấy, Thiên tử còn thân bút viết một bức thơ dài, lời lẽ ôn tồn, ưu ái chia buồn cùng Thuận Vương và người em thứ hai của Thuận Vương là Đô Vương Chu Vĩnh An bổ nhiệm Trường Sa.

Hành động mềm mại này, do Trại Mạnh Thường hiến kế cho nhà Vua, khiến Thuận Vương suy nghĩ nhiều và âm thầm hối hận hành động của mình là trước đây hơn một tháng, đã phái hai đầu đà thân tín Lôi Xích, Thường Phi cấp tốc lên Yên Kinh mật sát Hoàng đế.

Thuận Vương còn nhớ lại rõ ràng hôm Hoàng Bách Thắng và Tôn Hoàn bí mật dẫn Lôi Xích, Thường Phi vào phòng họp...

Phiên họp hôm ấy chỉ vỏn vẹn cho năm người: Thuận Vương, Tôn Hoàn và hai đầu đà.

Lôi Xích, Thường Phi, trạc tứ tuần, lực lưỡng cực kỳ dũng mãnh. Nét mặt hung bạo nhưng cương quyết, cặp nhãn diều hâu vàng khè sắc như dao càng tỏ vẻ lầm lì, gan dạ của hai vị tăng mà tục ấy.

Thuận Vương nghiêm nghị :

- Nhị vị đại sư nhất quyết vì cô gia chớ?

- Dạ.

- Đại sư có nhận thức công tác này tối ư hệ trọng không? Sự thành bại của Kim Lăng đặt cả vào lòng dũng cảm của nhị vị!

- Dạ.

- Đạt được công tác quan trọng ấy, tức là nhị vị đại sư hoàn thành kế hoạch thâu thiên hạ của quân lực Kim Lăng được phân nửa. Và lẽ cố nhiên, nếu thất bại, nhị vị phải một mình cáng đáng lấy hậu quả tai hại?

- Dạ.

- Trong trường hợp sa cơ bị bắt, nhị vị đại sư hẳn đã hiểu phải hành động thế nào rồi.

- Dạ, tự sát. Chúng tôi quyết không khi nào phụ tấm lòng ưu ái của Vương gia, cũng như phải cư xử sao cho khỏi phụ công đề bạt của Hoàng nguyên soái và Tôn quân sư.

- Khi thành công rồi, nhị vị kíp gấp rút thời gian về ngay Kim Lăng cho cô gia liệu bề xuất quân. Vấn đề tranh thủ thời gian tối ư quan trọng.

- Thưa, Nguyên soái và Quân sư đã căn dặn kỹ càng rồi. Vương gia khá an lòng tin tưởng. Thuận Vương mừng rỡ quay sang bảo Tôn Hoàn :

- Đặt tiệc tiễn hành nhị vị đại sư dũng cảm ngay trong Vương phủ cũng không tiện giữ bí mật, vậy Cô gia yêu cầu Quân sư đặt một đại yến ngay trong dinh mà người dự chỉ là năm chúng ta, để cô gia chúc nhị vị mã đáo thành công.

- Thần xin tuân lệnh.

Vài ngày sau cuộc họp bí mật này, Lôi Xích và Thường Phi dùng phi mã ngày đêm lên Yên Kinh. Và cũng trong thời gian ấy, lực lượng của Kim Lăng rải rác ở các nơi hiểm được lệnh triệu về nội thành. Quân tướng cuốn cờ, bó giáp, lương thực đầy đủ về dưới hình thức khách thương, đời sống của dân gian vốn đã náo nhiệt cùng náo nhiệt bội phần.

Hoàng Bách Thắng vừa hoàn thành cuộc tập trung quân lực, ngày ngày thao diễn tại nội trường, thì Nguyên soái Mã Thành Long cũng bắt đầu điều động ba đạo quân tinh nhuệ mật đóng trong các rừng cây quanh ranh giới địa phận Kim Lăng. Thật là rừng gươm, biển giáo, khí thế đôi bên thập phần mạnh mẽ.

Các biến chuyện đều liên tiếp, mau lẹ theo tình hình, khiến Thuận Vương cuống cuồng bị thụ động không kịp suy nghĩ.

Hai Thế tử Trần Quốc, Bảo Quốc thấy vậy rất buồn lòng không ngớt lời can gián.

Thuận Vương ở vào tình trạng của kẻ lọt giữa hai giòng nước nên ầm ừ trả lời hai con :

- Điều động quân lực như vậy nhưng chưa chắc sẽ khởi qua. Huy động mới khó chớ, khi không cần tới giải giáp thiệt dễ dàng.

Hai Thế tử đành bảo nhau ngày ngày kiểm soát tình hình toàn diện và những khi thì giờ nghỉ ngơi, thường cùng Lan Anh bàn bạc toan tính đưa Thuận Vương ra khỏi tình trạng hiểm nghèo...

Nói về Lôi Xích và Thường Phi cấp tốc lên Yên Kinh tìm đến Thái sư Trần Chí Hòa trình mật thơ của Thuận Vương. Thái sư đờ người ra nghĩ thầm: Ta vừa gởi thánh chỉ vời Thuận Vương lại Kinh giữ chức Chánh giám khảo Võ trạng thì hai người này tới đây. Được lắm, y muốn gì ta cũng giúp, nhưng nếu khôn khéo thì y nên lai Kinh cho khỏi phật ý Thiên tử, hơn nữa, Thiên tử không nghi ngờ, y càng dễ dàng hành động.

Trần thái sư bèn để hai đầu đà ở ngay trong dinh mượn tiếng là nhờ hai hòa thượng có đức căn tư xa tới tụng kinh La hán để che mặt mọi người.

Trong thời gian Trần Chí Hòa thăm dò đích xác nơi vua thường ngự thì Lôi Xích và Thường Phi vốn là tay bợm nhậu giả đò ăn chay mãi trong phủ Thái sư không chịu nổi, bèn lần ra vườn ngoại ô nhậu thịt cầy cho đã miệng.

Khốn nổi đầu cạo bong loạng, thân vận cà sa, chân vận giày vải chẳng lẽ xong thẳng vào tửu quán chuyên môn gọi rượu và cái món phạm giới kia thì dù sao cũng khó coi quá, nên hai đầu đà một hôm cứ đi loanh quanh mãi ở đầu địa điểm Lư Cầu kiều, trông thấy mấy tửu điếm chuyên môn thịt cầy mà không dám vào.

Liếc nhìn những đùi cầy vàng bệch, béo gậy, treo lủng lẳng trong quầy hang, hai đầu đà nhểu nước miếng đầy miệng muốn vào đại ăn cho thỏa, nhưng thấy đông khách quá nên rụt rè bảo nhau đi nơi khác.

Lôi Xích nói :

- Bình nhựt không cần gì, hiện thời chúng ta đang lãnh công tác tối ư hệ trọng thì nên cẩn thận đôi chút, phố này còn lớn quá, đông người.

Thường Phi đồng ý :

- Qua các ngõ hẻm xem sao, nếu không thấy gì thì đành về phủ Thái sư vậy. Xui quá!

Qua mấy hẻm nhỏ, chợt Thường Phi trông thấy trước liền bấm tay Lôi Xích :

- Coi kìa! Kia có một tiệm chiêu bài xanh đó. Trông quầy hàng thì biết.

Lôi Xích nhìn theo gật đầu :

- Coi khá ngon đó! Vả lại chỉ có hai khách hàng đang ăn. Vô đây ăn lẹ lên rồi về kẻo Thái sư mong.

Hai đầu đà dắt nhau vào tiệm ăn thịt cầy. Những người trong tiệm đều giật mình, tưởng hai hòa thượng lực lưỡng nọ vào lầm nhà. Nhưng thản nhiên Lôi Xích và Thường Phi kéo ghế ngồi. Tiểu nhị lò dò đến, nghi ngờ.

Lôi Xích bí mật không gọi đích món ăn :

- Lấy mấy món ăn ra đây, lẹ lên!

Tiểu nhị giả đầu gãi tai :

- Nhưng... thưa sư phụ đây là tiệm... thịt cầy!

- Vì thế bần tăng mới vào! Tiệm này có chuyên môn không? Làm hai đùi lớn, cặp chả thiệt vàng và lấy mấy hồ rượu ngon, lẹ lên!

Lúc bấy giờ tiểu nhị mới hiểu rằng mình đang tiếp hai Lỗ Trí Thâm của Lương Sơn Bạc khi xưa tái sanh. Cố nhịn cười, y thưa :

- Bổn tiệm nổi tiếng chuyên môn nhất khu đầu địa điểm Lư Cầu kiều. Khách quen ăn đông về chiều, sư phụ dùng lòng, dồi không.

Thường Phi vội nói :

- Có chứ, phải lấy cho đủ! Lẹ lên có việc cần.

Sao bao ngày thèm thuồng, hai đầu đà uống rượu ngon, nhậu thịt cầy thiệt thỏa thuê. Hai khách hàng thấy vậy phát tức cười. Nhưng khi chợt gặp phải luồng mắt diều hâu dữ dội dưới cặp mày chổi xể họ lại quay vội đi chỗ khác tảng lờ như không. Nhiệm vụ chưa thành tựu, phạm giới trong vực hành động của mình, Lôi Xích Thường Phi tự hiểu đã không thận trọng, nhưng thèm quá biết làm thế nào? Hai đầu đà đành ăn uống mau lẹ rồi trả tiền đi thẳng, không dám quay đầu lại phía sau, tưởng tượng như có muôn vạn cặp mắt ngạc nhiên vừa chế giễu đang soi mói nhìn theo.

Cũng vì vậy, chúng mới không kịp chú ý một người! Người ấy diện mạo thanh tú, trạc ngoại tam tuần mà để bộ râu ba chòm dài mượt. Tóc trần bới ngược, vận thường phục màu lục tay chống gậy, thọt chân mà đi khá lẹ. Vừa tập tễnh đi tới xế cửa quan bên kia hẻm thì hai đầu đà đi ra.

Lúc đó, người qua lại hẻm không đông lắm. Ai nhìn theo Lôi Xích và Thường Phi chẳng qua thấy thầy tu từ quán thịt cầy đi ra thì tò mò nhìn chơi, có vậy thôi.

Nhưng người thọt chân chú ý tới hai đầu đà không vì lẽ ấy, mà vì tướng mạo cổ quái dáng điệu mạnh khỏe vóc người lực lưỡng của chúng. Người ấy lẩm bẩm :

- Chà! Lâu nay mới được gặp hổ mang! Chúng len lét đi lẹ không dám ngoái cổ lại vì sợ khách qua đường cười hay là có nguyên do gì? Theo thử coi!

Ra khỏi hẻm, hai đầu đà đi một quãng thì gặp xe ngựa bèn gọi chở về thành.

- A, chúng vào thành, thử xem nhân vật của chùa nào!

Nghĩ đoạn, người thọt chân liền vẫy chiếc xe khác bảo mã phu :

- Rán theo chiếc xe chạy phía trước kia nhé!

- Xe chở hai hòa thượng phải không?

Người nọ gật đầu chống tay bước lên xe :

- Theo cho tự nhiên kẻo họ để ý thì không nên.

Không bao lâu cả hai xe cùng vào thành Bắc Kinh.

Người thọt chân nghĩ thầm thế nào hai đầu đà cũng bảo mã phu chở về hướng có chùa chiền. Nhưng không! Xe đó qua hết phố nọ đến phố kia vào khu dinh thự đi mãi mới ngừng lại.

Hai người xuống xe trả tiền lững thững đi bộ.

Người thọt chân hành động theo. Tới một tòa dinh thự đồ sộ có thêu viên bao bọc, hai đầu đà qua cổng có lính canh phòng rất tự nhiên như là người nhà vậy. Người thọt chân đứng nép sau một gốc cây lớn nhìn theo ngạc nhiên.

"Đây là phủ quan Thái sư mà bọn này vào làm gì?".

Rình ngó hồi lâu không thấy chi lạ, người thọt trở gót về khu dân chúng vào quán gọi nước uống rồi thuê xe ra khỏi thành về Lư Cầu kiều.

Lôi Xích và Thường Phi đi thẳng ra dãy nhà ngang ở hậu hoa viên về phòng đóng cửa ngủ một mạch, nhá nhem mới dậy.

Thái sư Trần Chí Hòa cho gia nhân gọi hai người vào căn phòng. Nhác thấy hai người mặt mũi còn đỏ gay mùi rượu sặc sụa. Thái sư hỏi :

- Trưa nay nhị vị đi uống rượu đó ư? Ở đâu vậy?

Lôi Xích ngập ngừng nói :

- Ở đầu Lư Cầu kiều. Thái sư an tâm, chúng tôi không uống ở nội thành đâu.

- Nên giữ gìn cho khỏi mang tiếng Nếu không nhịn được, tôi sẽ sai người thân tín làm rượu đưa nhị vị về nhà y vừa kín đáo vừa tự do biết bao nhiêu. Đất Bắc Kinh này là nơi đế đô, hơi một chút là bị để ý ngay. Cẩn thận vẫn hơn.

Trần Chí Hòa vốn thừa biết hạng đạo giới giao thiệp với Kim Lăng như thế nào rồi. Thuận Vương chú trọng đến bản lãnh của họ hơn là đức độ của giới tu hành.

Bởi vậy họ Trần chỉ liệu lời khuyên bảo qua loa, nói nhiều không những chẳng được việc gì mà còn mất hòa khí giữa đôi bên.

Thái sư mời hai người ngồi :

- Nhị vị lãnh mật lệnh của Thuận Vương như thế nào?

Lôi Xích đáp :

- Thưa, nhập Hoàng cung nghe ngóng xem Thiên tử có mật bàn hay hành động gì khác hay không. Tình hình Kim Lăng hiện thời như thế nào, chắc Ngài thừa hiểu?

- Sở dĩ tôi hỏi như vậy là vì từ trước đến nay Thuận Vương vẫn hỏi ý tôi trước khi làm một việc gì thuộc khu vực kinh sư. Nhưng thôi, trong khi cấp bách, bỏ qua việc đó. Tôi tin rằng nhị vị tất có bản lãnh, Thuận Vương mới trao cho trọng trách lai kinh do thám trong Hoàng thành. Dù sao, tôi cũng nhắc lại yêu cầu nhị vị hết sức thận trọng. Để nhà Vua bị kinh động, nghi ngờ thì chỉ thêm khó khăn cho Kim Lăng, nguy hiểm cho tất cả chúng ta.

Thường Phi nói :

- Chúng tôi hiểu lắm. Thái sư có thể tin ở tài lực của anh em tôi. Chẳng hay ngài đã biết đích xác về giờ giấc của Vua chưa? Bản đồ nơi Hoàng thành như thế nào? Nhà cửa, lầu các nhiều thế kia biết phương hướng nào mà đi?

Trần Chí Hòa mở ngăn rút lấy một tờ giấy lớn trải ra mặt án thư, đoạn chỉ vào các hình họa thô sơ trên mặt giấy mà rằng :- Nhị vị nhận xét cho kỹ đây là họa đồ do tôi phát ra. Bổn phủ ở phía Đông bắc so với Hoàng thành, vậy khi nào do thám nhị vị cần chú trọng về phương hướng cho khỏi lầm các khu lầu khác, vừa nguy hiểm vừa mất thì giờ.

Trong họa đồ, tôi ghi rõ sự xa, gần giữa các khu có lầu các lớn cho dễ nhận. Hiện thời giờ giấc của Thiên tử đúng như đã ghi trên giấy. Nhị vị ngồi đây xem kỹ cho thuộc lòng chớ không thể đem họa đồ theo mình được.

Lôi Xích hỏi :

- Thiên tử có lập đoàn vệ sĩ giỏi võ thuật canh phòng?

- Vệ sĩ của Thiên tử là các thái giám nội thị, lẽ cố nhiên có tập luyện công phu chớ.

- Họ canh phòng như thường hay mắc thiên la, địa võng?

Trần Chí Hòa mỉm cười :

- Nhị vị quen với lối sống ở Kim Lăng mới hỏi như vậy. Hoàng thành là nơi tử cấm thiệt, canh phòng cẩn mật, nhưng không phải là lúc Quốc gia ở vào tình trạng chiến tranh nên không phòng bị ghê gớm như ở Vương phủ Kim Lăng.

Hai đầu đà nhận xét hồi lâu, thuộc lòng bức họa đồ Hoàng thành và các điểm ghi ngày giờ của nhà Vua. Trước khi về phòng, Lôi Xích hỏi Trần thái sư :

- Hình dáng Thiên tử thế nào?

- Ngoại ngũ tuần, phương phi tầm thước, râu tóc đen lánh.

Hỏi thế đủ rồi, Lôi Xích, Thường Phi từ tạ Thái sư về tư phòng.

Gia nhân bưng cơm chay lên.

Hai người ngán, ăn qua loa rồi ngồi đánh cờ đến khuya.

Thường Phi nói :

- Trong những điểm ghi ngày giờ của Vĩnh Lạc đáng chú ý nhất có mỗi điểm chỗ ngự một mình tại điện Khánh Hòa, sư huynh định bữa nào khởi sự.

Suy tính một giây lát, Lôi Xích đáp :

- Cuối tháng không trăng, quá canh hai đêm ngày mốt, ta nhập Hoàng cung không cần báo cho Thái sư biết. Hành động xong, ta rời Yên Kinh luôn.

- Không được! Người trong đình sang hôm sau không thấy ta lại vừa đúng dịp nhà Vua bị ám hại thì Thái sư sẽ bị trao tiếng.

- Một khi chúng ta thành công rồi, cần gì tai tiếng? Vua băng hà trong triều còn ai dám nghi ngờ Thái sư? Vả lại, ta ở Yên Kinh sáu ngày rồi, không nên trì trễ hơn nữa.

Lôi Xích chợt ngừng bặt ra hiệu cho Thường Phi đừng nói, đoạn chỉ tay lên nóc nhà. Hiểu ý, Thường Phi lắng nghe. Lôi Xích rón rén lại đầu giường, lấy thanh giới đao sáng loáng, nhẹ tay mở cửa ra thẳng ngoài hiên băng mình qua lan can ra hoa viên, và phi thân lên nóc nhà. Nhìn quanh, không thấy gì. Lôi Xích nhẹ nhàng không một tiếng đi từ đầu mái nọ sang đầu mái kia tìm kiếm. Thường Phi cũng đến giường mình lấy đao lẻn ra ngoài hoa viên đi vòng quanh dãy nhà ngang. Ngoài tiếng côn trùng, bốn bề yên lặng, Thường nhảy xuống đất trở về phòng. Vừa vào gần tới cửa hai đầu đà chợt thấy một con mèo đen tuyền chạy vụt qua đó. Lặng lẽ về phòng gài cửa lại, Lôi Xích nói nhỏ :

- Sư đệ có nghe thấy gì không?

Thường Phi lắc đầu :

- Hình như có tiếng động trên mái nhưng không chắc vì đang mãi nghe sư huynh nói chuyện.

- Rõ ràng có tiếng động y hệt bước chân kẻ nào rình trên mái.

- Có lẽ là con mèo đen vừa rồi. Nếu quả thật có dạ hành khách vào nổi nơi đây, chẳng lẽ họ nặng chân đến thế sao?

Lôi Xích chưa kịp trả lời thì tiếng mèo kêu ở trên mái nhà vọng xuống.

Thường Phi mỉm cười :

- Chúng ta đang mãi nghĩ việc phi hành vào Hoàng thành nhận lầm bước chân mèo. Đích thị con mèo đen hồi nãy gây tiếng động trên mái đó. Khi sư huynh phi thân lên mái, nó thấy bóng người nên vội xuống đất. Nay ta trở xuống nó lại lên mái như hồi nãy.

Lôi Xích im lặng.

Thường Phi lẩm bẩm :

- Lắm lúc thần hồn nát thần tánh đến tức cười!

° ° °

Trời tối như mực. Dân chúng Đế đô mơ màng giấc điệp. Gió thổi nhẹ lùa vào những khóm lá um tùm bật thành tiếng xì xào âm thầm bí mật. Hai bong đen thoăn thoắt chạy trên đường ra khỏi khu dinh thự tiến thẳng vào phía Hoàng thành. Tới nơi, họ lẩn dưới bong cây lặng lẽ quan sát. Đi vòng một quãng dài nữa, nơi có hai quân canh đang vác giáo song đôi đi đi lại lại thì thào chuyện trò hai dạ khách chờ lúc chúng xây lưng lai đi ra xa, mới băng mình vượt hào đứng nép mình vào chân thành.

Trên mặt thành, bước chân vẫn đều đều trở lại gần, qua nơi hai người núp và nhẹ dần. Như hai chiếc én liệng, Lôi Xích và Thường Phi vì chính hai đấu đá nhảy vụt lên tường cao rồi đạp xuống đất nội thành nhẹ nhàng không một tiếng nhỏ. Chờ hai quân canh qua một lần nữa, khi chúng đi khỏi, hai đầu đá liền phi hành mất hút vào khu dinh điện. Lôi Xích ghé tai bạn :

- Các mái điện liên tiếp dễ chuyền rồi, lên đi!

Hai đầu đà nhảy lên nóc điện gần nhất tiến thẳng vào khu trung ương. Khi lên cao, lúc xuống thấp tùy theo chiều cao của điện đài. Lôi Xích khoác tay ra hiệu ngừng tiến.

Cả hai đứng lại bên con rồng bằng sứ vẽ mình trên nóc điện mái ngói cong cong. Thường Phi nhắc lại câu: "Khánh Hòa điện cao nhất".

Lôi Xích nhận xét giây lát, rồi chỉ chênh chếch sang phía hữu.

- Có lẽ kia còn ánh đèn. Hôn quân đến ngày tận số rồi!

Hai đầu đà chạy vòng tránh một khu hoa viên rộng lớn cây cối um tùm, tiến vào khu có nóc điện ba từng cao hơn cả. Ẩn mình trong cụm lá cây cao, chúng lặng lẽ quan sát mặt tường hoa.

Trừ ánh đèn le lói trên lầu ba, hai từng dưới hoàn toàn chìm trong bóng tối. Không do dự, chúng rời cành cây xuống mặt tường chạy gần ra nơi gần má dưới hơn cả mới chuyền vào. Nằm ép xuống mái nghe ngóng không thấy động tĩnh, chúng phi thân lên nếp mái thứ nhì, rồi từ đó vượt lên mái thứ ba bò theo dốc mái lên tới lan can vào hành lang.

Tòa lầu rộng rãi vẫn lặng lẽ không có lấy một tiếng động nhỏ. Không ai bảo ai, hai đầu đà cùng lấy làm lạ không hiểu bọn thái giám vệ sĩ của nhà Vua canh phòng thế nào mà đến nỗi không hề thấy một bóng người! Ánh sáng lọt qua mấy khuôn cửa sổ lấp kiếng màu vàng lợt.

Chúng đi vòng ra phía sau thấy có thang lầu xuống từng dưới, rón rén tới một cửa sổ cao hơn đầu người, Lôi Xích vòng hai tay ra sau lưng ra hiệu báo Thường Phi trèo lên nhìn vào.

Thường Phi hành động theo, khẽ nhô đầu nhìn qua khuôn kiếng, đoạn xuống ngay. Y quơ tay ra hiệu không có gì. Tiến tới cửa sổ khác ở đầu kia, chuyến này Thường Phi, Lôi Xích không phải trèo vì cửa vừa tầm mắt. Chúng mừng rỡ vì bên trong có người!

Người đó ngồi xây lưng lại, trong chiếc kỷ lớn khoác thường phục màu xanh đầu choàng ấn khăn đồng màu, đang đọc sách bên một án thư chân quỳ thấp. Vị ngồi xoay lưng lại và cũng vì chiếc khăn phủ trên đầu lòa xòa, hai đầu đà không trông thấy râu tóc của nhân vật ngồi đó, nhưng theo lời Thái sư thì đây là nóc điện cao nhất trong Hoàng thành ở giữa khu trung ương, nhà Vua ngự trên lầu ba. Đúng Hoàng đế rồi, còn ai vào ngồi đọc sách ở nơi đây nữa!

Chúng thử đẩy cửa sổ kiếng, bên trong gài cứng ngắt. Hai người đành trở lại đầu điện bên kia, liền mở thử cửa ra vào. Lôi Xích nhẹ tay vặn nắm cửa. May quá, cánh cửa từ từ mở. Y ló đầu nhìn vào. Long sàng kê ngay chính giữa. Long bào vắt ngang trên kỷ trạm. Phòng ngủ vắng tanh, có cửa thông sang thơ phòng, nơi Vua đang ngự. Không còn nghi ngờ chi nửa, Lôi Xích bước vào, Thường Phi theo sau cửa khép lại. Chúng rón rén tiến tới chỗ cửa võng chạm cành trúc tuyệt đẹp, nép mình sang hai bên.

Vĩnh Lạc hoàng đế vẫn ngồi y nguyên, tay giở trang sách vừa đọc hết. Vướng chiếc khăn phủ lòa xòa, hai đầu đà không trông thấy râu tóc nhà Vua. Nhưng chẳng phải Hoàng đế đang ngự trên kỷ, còn ai vào đó nữa!

Lôi Xích hất hàm ra hiệu cho Thường Phi cùng tiến lẹ sang thơ phòng.

Nhà Vua đến giây phút tận số thiệt, nên không linh tính cảm thấy tử thần tới sau lưng.

Lôi Xích đến cách nơi Vua ngồi còn độ hai bước khẽ dằn giọng :

- Hôn quân! Mi tận số rồi! Coi đao ra đây!

Tức thi lưỡi giới đao sáng loáng giơ cao lên hạ chéo xuống cổ nhà Vua. Nhưng, kỳ thay, đồng thời, người ngồi trên kỷ, lẹ như cắt cúi rạp đầu ra phía trước. Lưỡi đao hạ mạnh, chém phập vào đầu lưng kỷ bằng gỗ mun chắc nịch, ngập quá nửa. Nhà Vua vừa né đòn, quật luôn chiếc khăn phủ trên đầu quấn chặt lấy cổ tay đầu đà thích khách giựt mạnh. Lôi Xích mất đà, cánh tay như bị sợi dây tam cố quấn chặt giựt nhào về phía nhà Vua. Y chỉ kịp nhận ra Thiên tử cao lớn, phương phi sắc diện hồng hào, râu tóc... bạc như cước, thì bàn tay tả xòe lối Cương đao thủ đã chặt mạnh xuống cánh tay y.

Tiếng rắc khô khao dội lên căn phòng tĩnh mịch. Xương tay thích khách gãy lìa. Lôi Xích đau buốt chưa kịp kêu thì trái đấm Thôi sơn bên hữu đả như chùy sắt do nhà Vua vung ra trúng giữa mặt y bể mắt, máu mũi, máu miệng hộc ra như tưới. Tấm thân to lớn của đầu đà bật ngửa ra phía sau vừa hứng đúng lưỡi giới đao của Thường Phi xả xuống định chém người nọ, dè đâu lại xả đôi vai tả của đồng bọn.

Lôi Xích không kịp la hồn đã lìa khỏi xác sau khi bị luôn ba đòn trong chớp mắt. Thường Phi luýnh quýnh rút đao ra, đưa chân tả đạp tử thi sang một bên cho khỏi vướng, đồng thời quơ trái lại một đao nhằm cổ Thiên tử.

Y rất đỗi ngạc nhiên không hiểu tại sao nhà Vua không giống hình dáng người mà Thái sư đã tả rõ ràng cho y và Lôi Xích nghe, hơn nữa sao lại giỏi võ đến mực độ vậy?

Thứ đòn giang hồ mà Thiên tử vừa áp dụng hạ ban quả thiệt rất cao siêu chớ không phải bất cứ ai cũng dung nổi. Chém bất ngờ, lợi thế, Lôi Xích còn bị chết không kịp ngáp nữa, ta bây giờ đấu hay thôi?

Sự thất bại rõ rệt quá rồi! Ở cũng chết, chạy chắc cũng không thoát, Thường Phi không có quyền lựa chọn nữa nên liều mạng.

Trước đây khi ở Kim Lăng ra đi với nhiệm vụ lớn lao hành thích Thiên tử y và Lôi Xích quả quyết hứa với Thuận Vương rằng nếu thất bại thì cam chịu chết chớ không được lộ chuyện. Tình thế hiện thời đã trái hẳn. Đầu hàng, thủ cấp của y cũng sẽ sót tại pháp trang hoặc tứ mã phân thây, thà rằng đánh để được chết lẹ như Lôi Xích còn hơn, còn không mang tiếng hèn hạ với Kim Lăng. Đời ai lại đầu hàng sẽ minh hạ sát hụt bao giờ! Quyết đánh!...

Lát đao quơ trái lẹ như gió, nhưng Thiên tử còn lẹ hơn gió thụp xuống tránh đòn, đồng thời xỉa luôn bàn tay Cương Đao Thủ đá chặt gãy lìa tay Lôi Xích vừa rồi trúng sườn Thường Phi. Gãy xương sườn, đầu đà đau nhói buốt lên tận cổ lảo đảo ba bốn bước, té vật ngửa ra sàn gạch hoa...

Thiên tử xốc áo lẹ chưa ra chỗ cửa võng trúc nhìn bên phòng ngủ, chắc chắn bọn thích khách chỉ có hai người bèn vỗ tay mấy cái ra hiệu. Từ phía sau chiếc tủ đứng lớn trong thơ phòng vừa xây ra trận chiến đấu mau lẹ nhưng kinh khủng, hai người bước ra nét mặt chưa hết kinh ngạc.

Thiên tử cúi đầu kính cẩn nói với người đứng trước :

- Muôn tâu, mọi sự xong rồi chắc không đến nỗi kinh động Bệ hạ?

Người đó tươi cười :

- Không! Trẫm hoàn toàn tin ở tài võ dòng cao siêu của Thượng nhân. Công ơn ấy Trẫm biết lấy gì đền đáp được?

Đức Võ Thượng Nhân khiêm tốn :

- Đó là bổn phận của hạ thần. Được Bệ hạ cẩn trao tánh mạng cho thần bảo vệ là một việc vinh dự đặc cách cho kẻ tu hành này rồi.

Chỉ hai đầu đà trên mặt gạch, Đức Võ nói tiếp :

- Trong hai tên này thì tên nằm trong tử nạn. Tên nằm ngoài còn sống đủ để điều tra.

Nhưng Thượng nhân ngừng bặt, vội tiến tới chỗ Thường Phi cúi xuống xem xét. Đầu đà này đã chết từ lúc nào rồi, tử thi còn thiết Xích Tử. Thấy miệng y trào máu, Đức Võ lấy làm lạ, nạy hàm dưới ra coi qua và hiểu ngay nguyên cớ :

- Tâu bệ hạ, tên này cắn lưỡi tự sát rồi. Uổng quá! Thần chỉ nhẹ tay đánh y trúng thương để điều tra, không ngờ y gan dạ như vậy.

Vĩnh Lạc hoàng đế xua tay :

- Bất tất! Biết như vậy đủ lắm rồi, cần chi tìm xa hơn nữa?

Quay lại, nhà Vua bảo người đứng sau :

- Lý khanh liệu cho đem mấy xác này đi.

Viên Tổng thái giám trung thành kính cẩn đi ra góc thơ phòng, giựt dải lụa đỏ gọi chuông báo hiệu xuống lầu dưới. Lát sau, mười Thái giám trung thành đai nịt gọn ghẽ, lưng đéo đoản đao vào lối cửa chánh do Lý Tuyên vừa mở. Như đã biết trước, họ không ngạc nhiên, im lặng bỏ hai tử thi vào bao khiêng đi, lau chùi sạch sẽ các vết máu và toan dẹp luôn cả chiếc kỷ lớn hãy còn cây giới đao cắm ngập trên thành kỷ.

Vĩnh Lạc hoàng đế tuyên :

- Bỏ thanh đao ra thôi, để nguyên kỷ đó Trẫm dùng làm kỷ niệm đại công cứu giá của Thượng nhân đêm nay.

Chờ các Thái giám vệ sĩ dọn dẹp xong, ra khỏi ngự phòng, Hoàng đế hỏi Đức Võ :

- Đêm nay còn chi đáng lo ngại nữa không?

- Tâu Bệ hạ không, chúng chỉ có hai người, thần đoán chắc như vậy.

- Bây giờ khanh có thể cho Trẫm biết vì lẽ gì khanh đoán Trẫm lâm nạn không?

- Thần vốn khảo cứu về môn diện tướng, chuyến trước nhận xét kỹ, thần thấy trên án đình của Bệ hạ có vừng hắc ám, tiên đoán có lẽ mưu hại nên tính thời gian thần về kịp. Nay vừng hắc ám đó biến hết rồi Bệ hạ an tâm.

- Gớm thiệt! Không ngờ Trần Chí Hòa đối với Trẫm lại gia tâm đến như vậy! Sáng mai lâm triều, Trẫm sẽ hạ lệnh bắt y trước mặt há quan mới được.

Đức Võ can :

- Bệ hạ đã tin được ở nơi thần, vậy cho phép thần được tỏ bày.

- Khanh cứ nói. Lúc này Trẫm cũng nghe theo lời khuyên nhủ của khanh.

Trong triều, tất thế nào Thái sư cũng có phe đảng, mà Bệ hạ chưa biết rõ là những ai. Nay họ Trần bị câu lưu, những người kia tất lo sợ là đủ thì giờ bí mật bôn đào. Chi bằng Bệ hạ nên cho các thám tử bí mật điều tra, dò xét xem những ai năng đi lại thân mật với họ Trần, như vậy sau này chỉ hạ một mẻ lưới lớn là bắt được hết nội bọn.

Hiện thời ta đang dung kế "Điệu Hổ Ly Sơn" dụ Thuận Vương về triều, tin Trần thái sư bị bắt sẽ vọng ngay tới Kim Lăng, dĩ nhiên Thuận Vương e ngại không khi nào dầm lại đáo kinh sư, và dù thất bại, vị vương gia đó cũng sẽ khởi phản ngay trong khi Mã nguyên soái đang điều động cuộc bí mật bao vây ranh giới Kim Lăng. Vậy việc câu lưu họ Trần bất lợi cho kế hoạch hiện thời của ta. Dám mong Bệ hạ nghĩ lại.

Hoàng đế suy tính giây lát :

- Khanh nói có lý, Trẫm tuân theo nhưng muốn yêu cầu khanh một điều.

- Xin Bệ hạ ban truyền.

- Trẫm muốn lưu hiền khanh trong cung ít lâu để giúp Trẫm toan tính đại sự, Trẫm biết khanh quen cuộc đời rộng rãi hồ hải muôn phương nhưng thế tưởng lúc này khanh hãy hy sanh chút ít thì giờ vì quốc gia, vì Trẫm, lưu lại Hoàng cung. Trẫm để riêng lầu nhì điện Khánh Hòa tùy khanh sử dụng. Nơi đây toàn người thân tín viên uyển rộng rãi u nhã, chắc hiền khanh không đến nỗi gò bó lắm. Chừng nào muốn ra ngoài Hoàng thành đã có Lý khanh đưa dẫn. Chắc khanh không nỡ chối từ?

Biết ý nhà Vua còn lo ngại sau vụ hành thích trượt vừa xảy ra, vả lại việc du ngoại Côn Luân Sơn không cấp bách, Đức Võ bèn nhận lời.

Hoàng đế mừng rỡ truyền Lý Tuyên sửa soạn ngay lầu nhì Khánh Hòa điện thành tư thất để Đức Võ Thượng Nhân sử dụng.

(Tới đây mời bạn đọc thân mến ngược dòng thời gian cùng tác giả để hiểu tại sao lại có vụ cứu giá may mắn ấy). Nguyên từ chuyến trước, hôm vào Hoàng cung cùng Trại Mạnh Thường dự tiệc yến, Đức Võ kín đáo nhận diện tướng của nhà Vua thấy có điểm bất thường nên tính toán ngay, tiên đoán Hoàng đế sẽ lâm nạn trong một thời gian sau. Bởi vậy, từ Yên Kinh lên Trương Gia Khẩu ra Quan ngoại không còn bao xa, Đức Võ về thăm Bạch Sơn miếu trong dãy núi Cửu Huyền ít ngày, rồi vội xuống Yên Kinh ngay. Khi qua Lư Cầu kiều, Đức Võ ngừng lại nơi trang trại của Tề Quân Bảo thăm hỏi. Người nhà vốn trước kia đã có dịp biết Thượng nhân, nên ai nấy đều kéo ra lạy chào.

- Tề quân đâu không có nhà? Bần đạo vô duyên quá nên không được tương kiến.

Người nhà đáp :

- Tề trang chủ lên đầu địa điểm Lư Cầu kiều thăm người bạn giờ này cũng sắp về rồi, xin người nán lại kẻo chúng con bị quở trách.

Không muốn đi ngay, Đức Võ lưu lại tề gia trang chờ. Quả nhiên, chiều hôm ấy Tề Quân Bảo đi xe ngựa về nhà.

Hay tin có quý khách, họ Tề vội tấp tểnh vào thẳng sảnh tường quỳ lạy ra mắt.

- Lâu nay không thấy người qua chơi, chẳng hay cơn gió lạ nào đưa người về đất Lư Cầu thế này, tiểu tử mỏi mắt trông chờ.

Đức Võ niềm nở đỡ Tề Quân Bảo dậy :

- À! Có chuyện hay lắm. Hiền khế được mạnh giỏi chớ?

Tề Quân Bảo mời Thượng nhân an vị :

- Ơn trời! Tấm thân tàn phế này được như thưởng cuối thu năm ngoái, ngu điệt Nam du và may mắn được diện kiến Lam Y nữ hiệp và Chu đại hiệp ở Âu Dương trang bên Tô Châu...

Đức Võ cười khà ngắt lời :

- Và tặng báu kiếm Âu Dương Bích Nữ yêu cầu trả hận xưa?

Tề Quân Bảo ngạc nhiên :

- Thượng nhân gặp Chu gia Tam hiệp rồi ư? Ngu điệt có lời mừng. Chu gia đại hiệp sánh duyên cùng Âu Dương tiểu thơ quả rất xứng đôi loan phụng.

- Bần đạo gặp họ rồi, cũng tại Âu Dương trang từ khi Tam hiệp ở Hàng Châu trở về. Vừa rồi bần đạo nói chuyện là thế đó. Hiền điệt chưa biết sao?

- Thưa chưa nhưng chắc Trảm Lư hùng kiếm đã uống máu kẻ thù.

Đức Võ gật đầu :

- Đúng vậy. Hiền điệt đã toại chí nguyện. Bần đạo có lời mừng.

- Thượng nhân bèn đem chuyện Tam hiệp đi Hàng Châu cứu Liễn Ngọc Kim, do đó khám phá ra vụ Hải Hoa lâu đài của gian vương Đề đốc Vĩnh Bình và trả hận cho hai họ Tề, Nhạc thế nào kể rõ ràng một lượt.

Tề Quân Bảo hân hoan cung bái Thượng nhân :

- Chừng nào gặp Tam hiệp, mong người chuyển lời cảm ơn của tiểu tử, và mong rằng Tam hiệp sẽ qua tệ trang cho tiểu tử được thân bái tri ân.

- Chắc ba người đó thế nào chẳng có dịp qua đây? Hiện thời họ đang mắc bận vụ mãnh tướng, đầu đà Kim Lăng.

Nghe đến hai tiếng đầu đà, Tề Quân Bảo ngẩn người nghĩ tới việc gặp hai đầu đà lực lưỡng ở tiệm thịt cầy ra hồi quá trưa.

Đức Võ lấy làm lạ hỏi :

- Hiền điệt nghĩ gì vậy?

Tề Quân Bảo kể chuyện vừa ở nhà người bạn ra thì gặp hai đầu đà trong hẻm vừa nhậu thịt cầy, mặt mũi đỏ gay cho Thượng nhân nghe, và nói tiếp :

- Có điều lạ là hai tên ấy về thẳng dinh Trần thái sư.

Đức Võ nghiêm nét mặt :

- Hiền điệt theo chúng vào Yên Kinh ư?

- Dạ, thấy họ dữ tợn dáng điệu kỳ dị, nên ngu điệt tò mò theo xem về ngôi chùa nào, chẳng ngờ chúng thuê xe vào thành đến dinh Thái sư rất đỗi tự do đàng hoàng, y như là kẻ đã từng giao dịch lâu ngày với Thái sư từ lâu rồi.

- A! Như vậy đó! Hay là...

- Thượng nhân liên tưởng đến bọn đầu đà thân tín của Kim Lăng, nên nghi ngờ ngay có lẽ Thuận Vương sai hai tên đó lên Kinh sư liên lạc cùng Trần Chí Hòa mưu tính sự gì chăng?

Thấy Thượng nhân có vẻ suy tính việc gì hệ trọng, Quân Bảo hỏi :

- Thượng nhân đã từng gặp hai tên ấy rồi sao?

- Không, nhưng có một việc kỳ lắm. Hiện thời chưa biết rõ nên không dám nói.

Biết tính Thượng nhân không ưa hỏi nhiều khi người không muốn nói, Tề Quân Bảo trọng sự yên lặng ấy, bèn hối gia nhân dọn phòng ốc để Thượng nhân nghỉ ngơi và dọn tiệc chay thiết đãi.

Cơm nước xong, hai người chuyện vào hồi lâu, Đức Võ suy tính nhất định vào phủ Thái sư do thám ngay đêm ấy, bèn hỏi thăm đường họ Tề.

Vốn rất thuộc đường nội thành, nên sau lời chỉ dẫn của Tề Quân Bảo, Thượng nhân hội ý nhận ra ngay dinh Trần Chí Hòa ở đâu.

Đức Võ xốc áo đứng lên :

- Bần đạo phải vào thành ngay, gấp lắm!

Tề Quân Bảo ngạc nhiên :

- Thượng nhân có trở lại đây không? Chẳng mấy khi người ghé tệ trang...

- Chưa nói trước được, nhưng bần đạo còn ở Yên Kinh một thời gian, rảnh việc sẽ về đây quấy quá cùng hiền điệt đào đạo.

Họ Tề đành vào phòng lấy hành lý, tiễn Thượng nhân ra tận cổng. Đức Võ lẹ bước đi được một quãng đường sắp vào khu phố Lư Cầu kiều, thì có tiếng xe ngựa chạy phía sau. Xa phu thấy người đi bên đường đeo hành lý, bèn hỏi lớn :

- Xe vào thành đây, còn một chỗ ngồi, đạo trưởng đi không? Chuyến cuối cùng đây.

Đức Võ giơ tay ra hiệu cho xe ngừng lại :

- Có phải chờ không?

- Đủ chỗ rồi, đi ngay mới kịp giờ đóng cổng thành, mời đạo trưởng lên xe.

Đức Võ lên xe. Xa phu cho xe chạy từ từ ra khỏi Lư Cầu kiều mới thúc ngựa chạy vùn vụt về thành Yên Kinh thì trời vừa tối hẳn. Các hành khách xuống cả khu phố chợ. Thượng nhân bảo xa phu :

- Đại ca có biết phủ quan Thái sư không?

- Thưa có, đạo trưởng muốn vào đó?

- Đi qua cho biết chỗ để mai vào hầu quan.

Xa phu cho ngựa chạy kiệu, hồi lâu đi tới một tòa dinh thự đồ sộ cực kỳ sang trọng :

- Kinh quan Thái sư đây nè, đạo trưởng ơi!

Đức Võ nhận xét cẩn thận, đoạn bảo xa phu đánh xe về Thái Hòa lộ. Lát sau tới nơi, Đức Võ trả tiền xe rồi đến thẳng nhà Tổng thái giám Lý Tuyên. May thay, hôm ấy họ Lý có ở nhà mừng rỡ tiếp đón :

- Một mình Thượng nhân lên Yên Kinh thôi ư?

Đức Võ mỉm cười :

- Xuống Yên Kinh thì đúng hơn, vì bần đạo ở Trương Gia Khẩu tới.

Lam Y gọi gia nhân làm cơm, nhưng Đức Võ ngăn lại :

- Bần đạo dung bữa ở Lư Cầu kiều rồi, xin ngủ nhờ thôi.

- Đã tới đây mà Thượng nhân còn ăn trước ở Lư Cầu! Chắc có việc chi bất thường?

- Quả vậy, mai mới biết đích xác được. Có lẽ sẽ nhờ đến tiên sinh.

Tối ngủ nhà đêm nay, sáng mai mới vào cung.

Lý Tuyên hối gia nhân dọn phòng riêng để khách ở.

Quá canh hai đêm ấy, Đức Võ đai nịt gọn ghẽ phi hành vào dinh Trần thái sư. Trong đại diện, đèn lửa đều tắt tối om. Đứng trên nóc nhà. Đức Võ thấy ánh sang le lói ở hậu viên, bèn chuyền tới đó. Ánh đèn phát ra từ một gian phòng đầu dãy nhà ngang.

Nhẹ nhàng, Đức Võ lẻn vào hành lang ghé mắt dòm qua khe cửa. Trong phòng, hai đầu đà lực lưỡng, hung ác vừa đối diện đánh cờ, vừa chuyện vãn. Đức Võ nghe rõ mồn một không sót câu nào, nghĩ thầm: Ta ngờ quả không sai. Hai tên này là thủ hạ Kim Lăng vâng lệnh Thuận Vương lên Yên Kinh ám sát Thiên tử. Bọn gian tặc này ghê gớm thật! Được, xem chúng sẽ giở những trò gì!

Nhân dịp muốn thử tài hai đầu đà, Đức Võ bèn phi thân lên mái nhà cố ý đi nặng chân đoạn nhẹ như cắt, chuyền hoa viên nhảy lên cây lớn ẩn mình trong khóm lá um tùm xem động tĩnh. Quả nhiên, lát sau, hai đầu đà thấy động kéo nhau ra xem xét tìm kiếm. Đức Võ nhìn kiểu cách hai người, biết công phu luyện tập của chúng vào bậc khá. Lôi Xích, Thường Phi tìm kiếm quanh nhà không thấy gì bèn trở vào phòng.

Đắc Võ chờ chúng đóng cửa xong xuôi mới từ trên cây nhảy xuống, vượt tường ra khỏi hoa viên trở về nhà Lý Tuyên đi nghỉ.

Sáng hôm sau, Lý Tuyên sửa soạn vào Hoàng cung.

Đức Võ nói :

- Lý tiên sinh tâu với Hoàng thượng, bần đạo có việc tối ư quan trọng xin yết kiến.

- Như cần, Thượng nhân khá cùng tôi vào cung ngay cũng được.

- Giờ này, Thiên tử còn lâm triều, xin cứ tâu hộ như vậy.

Viên Tổng thái giám suy nghĩ giây lát :

- Đã vậy, cuối giờ Mùi, Thượng nhân chờ tôi ở cửa hậu Hoàng thành, tôi sẽ đưa vào người còn nhớ cửa ấy không?

- Quên sao được! Đúng giờ, bần đạo sẽ có mặt tại đó. Cần phải trang phục thái giám nữa không?

Lê Tuân lắc đầu :- Không tôi đã điều chỉnh nhân viên hầu ở Khánh Hòa điện rồi.

Viên Tổng thái giám đi khỏi, Đức Võ ở nhà mưu tính cuộc cứu giá và đàm đạo cùng Lý lão ông. Đúng giờ, Đức Võ đến nơi hẹn Lý Tuyên đã chờ sẵn ở đó rồi, dẫn Thượng nhân theo đường cũ vào thẳng Khánh Hòa điện. Vĩnh Lạc hoàng đế chờ ở thơ phòng trên lầu ba. Vào đến nơi, Đức Võ toan quỳ triều bái thì nhà Vua đã phán :

- Miễn lễ cho hiền khanh và chớ câu nệ để Trẫm được thân mật hơn.

Đức Võ vái dài cảm tạ, nhà Vua chỉ cẩm đôn mời ngồi. Lý Tuyên toan rút lui, Hoàng đế giữ lại mà rằng :

- Lý khanh cùng ngồi đây không sao!... Thượng nhân có điều chi mách bảo Trẫm?

Đức Võ nhìn kỹ sắc diện Thiên tử rồi tâu trình vụ vô tình dò xét biết việc hai đầu đà do Kim Lăng phái lên Yên Kinh ở trong dinh Thái sư mưu đồ hành thích.

Nhà Vua tái sắc cau mặt rồng :

- Thế này thì chúng lộng hành quá sức! Để Trẫm phái Ngự lâm quân vây bắt Trần Chí Hoa và nội bọn điều tra, tru di tam tộc cho rồi!...

- Dám xin Bệ hạ chớ nóng giận hỏng đại sự, thần đã tới đây, quyết vì Bệ hạ bắt hai tên thích khách ấy để sau này dẫn chứng cùng gian đảng cho chúng khỏi chối tội. Thái sư thấy chúng không trở về tất nghi rằng bọn đầu đà không thi hành nỗi trọng trách xấu hổ bỏ đi chớ không ngờ chúng bị bắt đâu. Vậy đêm mai, thần xin thay thế Bệ hạ chờ chúng tới. Trong khi ấy, Bệ hạ và Lý tổng thái giám cứ an tâm núp sau chiếc tủ lớn kia, xem hạ thần bắt thích khách như thế nào.

Vĩnh Lạc hoàng đế nén giận, ưng theo kế hoạch của Thượng nhân :

- Được, Trẫm chuẩn theo lời khanh nhưng khanh ở luôn trong cung cùng Trẫm có được không? Lỡ chúng thay đổi chương trình, đêm nay vào hành thích thì sao?

- Thần đoán chắc đêm mai chúng mới hành động vì chúng dò biết đêm nay Bệ hạ không ngự tại điện Khánh Hòa.

Nhà Vua cau mặt :

- Sao chúng biết rõ được như vậy? Chắc Trần Chí Hòa lộ chuyện bầy mưu thiết kế cho hai tên gian đạo ấy chớ chẳng không!

- Muôn tâu, dĩ nhiên là thế rồi. Giờ đây thần cáo lui, chiều mai sẽ vào hầu.

- Khanh trở về tư thất cùng Lý Khanh?

- Dạ.

° ° °

Nói về Trần thái sư sang hôm sau dậy trước canh năm sửa soạn vào chầu Ngân Loan điện như thường lệ. Trước khi lên kiêu, Thái sư cho gia nhân xuống thơ phòng của Lôi Xích, Thường Phi kêu lên sảnh đường hỏi chuyện. Lát sau gia nhân trở lại báo :

- Bẩm Thái sư, nhị vị hòa thượng không có trong phòng. Cửa để hé, con tìm mọi nơi cũng không thấy.

Trần Chí Hòa giật mình :

- Thiệt như vậy không? Ngươi tìm kỹ chưa. Thử kiếm lại coi nào!

- Thưa, con tìm kỹ rồi. Chắc chắn không có ở trong dinh.

- Hành lý còn ở trong phòng không?

- Thưa không, khí giới cũng vậy. Đem đi hết.

Trần Chí Hòa nghĩ thầm: Hay là chúng bị bắt rồi? Do thám xong, ít nhất hai người ấy phải về đây trước canh năm. Mang theo hành lý, chẳng lẽ chúng đi thẳng? Họ Trần phân vân lo ngại, nhưng giờ đi chầu đã tới, y đành lên kiệu ra đi. Nét mặt khó đăm đăm, lo buồn. Trần Chí Hòa nghi ngờ không biết nghĩ thế nào cho xác đáng cả. Theo trong thơ của Thuận Vương, hai đầu đà lên Yên Kinh với nhiệm do thám Hoàng cung. Sau đêm đầu vào Hoàng thành mà không thấy về thì hoặc bị hại, hoặc bị bắt. Nhưng vì lẽ gì Lôi Xích, Thường Phi đem hành lý theo? Hay là chúng có mật vụ nào khác mà Thuận Vương không tiện cho ta biết? Ám sát Hoàng đế rồi đi thẳng chăng? Có lẽ, dù thế nào cũng nguy hiểm cho chính mình. Không thấy báo động, tất không có cuộc hành thích nhà Vua. Nếu hai đầu đà bị bắt trong Hoàng cung, chúng bị điều tra và khai ra thì họ Trần can tội phản nghịch, ba họ sẽ rơi đầu!... Nguy hiểm! Thiệt là nguy hiểm!

Vào tới Ngọ Môn, Trần thái sư xốc áo xuống kiệu vào sân rồng.

Bách quan đã về tụ đông đủ, tụm năm tụm ba trò chuyện. Trần Chí Hòa đáp lễ các bạn đồng liêu, rồi một mình đi bách bộ trong sân ruột nóng như cồn, mong Thiên tử lâm triều. Các quan vội vào Kim Loan điện xếp thành hai bên văn võ. Hai hàng tả thị vệ, hữu Thái giám dẫn đầu, Thiên tử vận Long bào cổn vũ đi giữa. Bước lên thềm ngọc dát vàng, Thiên tử đứng trước Long ỷ, Bách quan phủ phục tung hô vạn tuế. Riêng Trần thái sư được đặc cách cung bái.

Nhà Vua kín đáo nhận xét thấy nét lo âu thoáng trên mặt họ Trần thì hiểu ngay nguyên cớ. Vì hai tên đầu đà thích khách không trở về chớ gì? Trái lại, Trần thái sư liếc trộm thấy mặt rồng hoan hỉ khác thường, lấy làm lạ, không hiểu sao cả.

Triều bái xong, bách quan an tọa. Nhà Vua nhìn khắp hai hàng văn võ và cuối cùng nhìn thẳng vào mặt Thái sư. Trần Chí Hòa rùng mình, chớm hắt luôn mấy cái, nghĩ thầm: "Chắc có chuyện chi rồi!".

Giây lát, Thiên tử phán :

- Hình như Trần khanh quý thể bất an? Nếu vậy Trẫm cho miễn hầu, hôm nào khỏe hẳn hay.

Đứng lên cung tay cúi đầu, Trần Chí Hòa tâu.

- Thưa, không sao. Hạ thần ít lâu nay quả trong người không được bình thường, nhưng cũng còn đủ sức đi chầu không đến nỗi phải nghỉ.

- Ủa! Sao không cho Trẫm hay? Để tan chầu, Trẫm sẽ phái ngự y vào dinh chẩn mạch bốc thuốc đại bổ. Thái sư sẽ bình phục ngay. Hẳn là vì khanh mắc nhiều công chuyện tổ chức Võ trạng và sửa soạn võ trường nên bị lao lực chớ gì? Khanh quyền cao tước trọng tột bực rồi. Để sau cuộc thi Võ, Trẫm sẽ đặc cách khen thưởng lối khác vậy. Thấy khanh lầm việc quá sức, Trẫm ái ngại vô cùng!...

- Muôn tâu Bệ hạ, làm việc là bổn phận hạ thần. Bệ hạ quá khen khiến thần mắc cỡ với bạn đồng liêu. Tội thần quả đáng chết vì đã để Bệ hạ nhọc lòng suy nghĩ.

Vĩnh Lạc hoàng đế thản nhiên :

- Khanh là người có công với sơn hà, xã tắc sau nhiều năm phục vụ, lẽ nào Trẫm không có quyền ưu ái một công thần?... A, việc mở rộng võ trường tiến tới đâu rồi? Chừng nào hoàn thành?

Khai triều, Trần Chí Hòa giật mình thon thót mỗi khi nhà Vua hỏi đến sức khỏe và khen ngợi công lao của mình, nay Vua đổi sang câu chuyện khác, họ Trần khoan khoái thở phào như kẻ vừa cắt được sức nặng ngàn cân đè nén trên lồng ngực :

- Muôn tâu, việc đó mới xúc tiến mạnh mẽ chỉ trong vòng một tháng nửa là hoàn thành.

Vĩnh Lạc hoàng đế gật đầu :

- Kỳ này, với Thuận Vương đứng Chánh giám khảo thiệt rất tâm lý, chiếu chỉ đã được cấp tốc gửi xuống Kim Lăng.

- Được lắm, đã lâu Trẫm không có dịp gặp y chuyến này quyết mở đại hội chung vui.

Vua lần lượt thản nhiên nghe các quan khác xuất bản tâu trình cùng việc phê phán công minh, rồi bãi triều.

Trần Chí Hòa về phủ càng không hiểu vụ Lôi Xích, Thường Phi đã mất tích ra thế nào cả, nên kết luận rằng chúng tôi đã thử vào Hoàng thành, thấy khó khăn, tự liệu không hành động nổi, bèn lẻn về phủ lấy hành lý bỏ đi mất. Có lẽ chúng đã đại ngôn trước mặt Thuận Vương, chưa biết chừng không dám trở về Kim Lăng. Họ Trần bèn tháo mật thơ như sau, sai người thân tín đưa gấp xuống Kim Lăng. Thơ rằng:

"Trần mỗ thân gửi Chu huynh nhã giám.

Lôi, Thường thân hữu có qua Yên Kinh ghé thăm rồi được đúng chín hôm và yêu cầu giúp đỡ một vài việc. Tôi không hề quản ngại, chỉ dẫn y đến nơi đếu chốn. Trong thời gian ở lại vệ thắt, đã có lần y đi thưởng ngoạn cảnh và khi trở về túy tửu bất phân thiên địa. Lấy tình bằng hữu khuyên bảo y nên kiên chí làm việc. Dễ đâu ngay buổi đầu, y cuốn gói đi thẳng không một lời từ tạ. Có lẽ thấy công tác phó, phù phiếm thì dễ nên mắc cỡ bỏ đi chăng?

Nhân dịp kinh sư sắp tuyển Võ trạng nên kính thỉnh đại huynh bớt chút thì giờ vàng ngọc Bắc du để chúng ta có dịp đàm đạo. Trời thanh cảnh đẹp, đất Yên Kinh đẹp hơn xưa nhiều, tôi mong chờ đại huynh ngay từ bây giờ.

Kính thỉnh.

Trần mỗ ký".

Tại Kim Lăng, Thuận Vương lần thứ nhút nhận được công văn triệu lai kinh giữ chức Chánh giám khảo cuộc thi Võ trạng, đồng thời tiếp luôn bức thơ của Thái sư riêng mời lên Yên Kinh, bèn tức khắc mật họp với Vô Địch tướng quân Hoàng Bách Thắng và Tôn quân sư. Hai người hết sức can ngăn. Tôn Hoàn nói: "Đây là kế 'Điệu Hổ Ly Sơn' của nhà Vua lành ít dữ nhiều, thần đã thử bói, quyết khuyên Vương gia thận trọng".

Hoàng Bách Thắng thưa tiếp :

- Đồng ý với Quân sư, thần không chủ trương việc lai đáo Kinh sư, biết đâu cuộc khảo khí Võ trạng không là quỷ kế khiến Vương gia khỏi nghi ngờ tin tưởng lên Yên Kinh rồi sẽ bị giữ chặt lại đó? Sao nhà Vua không thỉnh Vương gia trong cuộc khảo thí trước kia?

Thuận Vương đáp :

- Trong công văn có nói tới điểm muốn các anh hùng kiệt sĩ Giang Nam nghe tên Cô gia hưởng ứng đông đảo kỳ khảo thí này, xét rằng mấy kỳ trước thí sinh phần nhiều là người các xứ khác, riêng phần Giang Nam èo tèo có vài người. Mà thật vậy, kỳ nào Cô gia cũng có đầy đủ danh sách thí sinh dự cuộc, sĩ tử đất Giang Nam quả không có mấy người.

Gia dĩ Thái sư chân liền tại Yên Kinh hiểu rõ tình hình trong triều hơn chúng ta cũng nhấn mạnh Cô gia nên nhận, Vua không nghi ngờ càng dễ dàng cho ta hành động tại Kim Lăng. Không lẽ Thái sư xưa nay vẫn cộng tác với Cô gia lại không suy tính đưa Cô gia vào hiểm địa sao?

Hoàng Bách Thắng quả quyết :

- Muốn thế nào chăng nữa, Vương gia không thể lai Kinh lúc này. Phải chờ xem Lôi Xích, Thường Phi hành động kết quả thế nào đã. Ở vào địa vị Vương gia, thần quyết từ chối không đi.

Cuộc mật bàn đến đây tạm ngưng vì còn chờ tin Yên Kinh về Lôi, Thường hai người.

Thuận Vương về hậu cung bàn riêng với hai Thế tử và Lan Anh quận chúa, luôn đó nói thật tất cả vụ mật hai đầu đà lên Yên Kinh với nhiệm vụ hành thích Thiên tử. Ba người im lặng hết sức về vụ hành thích Quân Vương, Chu Trấn Quốc nói :

- Con rất tiếc Vương phụ đã quyết định một việc tối ư lớn lao như vậy, mà không cho chúng con tham dự. Dù thế nào sự tình đã lỡ rồi. Nếu không có việc hành thích này, chúng con chủ trương khuyên người nên nhận chức Chanh giám khảo Võ trạng. Xét kỹ không có hại.

Thuận Vương hỏi :

- Con thử trình bày điểm vô hại ta nghe.

Trấn Quốc nhìn hai em rồi nhìn thẳng vào mắt Thuận Vương mà rằng :

- Đây, con không nói tới ưu điểm và chỉ chuyên nói tới điểm hại. Nguyên soái và Quân sư chủ trương rằng nếu Phụ vương theo chiếu chỉ lai kinh sư trúng kế "Điệu Hổ Ly Sơn" bị Thiên tử giữ lại Yên Kinh. Dù thế, Thiên tử cũng không vịn vào cớ nào bắt tội Phụ vương, trái lại chỉ để Phụ vương phục vụ tại trong triều. Như vậy không hơn là phạm liều bất tuân thượng lệnh bị khép vào tội "Nghịch mạng Thiên tử" ư? Xin Phụ vương cân nhắc xem đằng nào nặng nhẹ? Khởi binh đánh trước thì không chắc thắng. Nghịch mạng Thiên tử, triều đình xuất binh hỏi tội càng khổ cho ta hơn. Khi đó, lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan Phụ vương định trả lời ra sao?

Suy nghĩ hồi lâu, Thuận Vương nói :

- Trong trường hợp giữ ta lại Yên Kinh, Thiên tử bổ nhiệm người khác về Kim Lăng, con không nghĩ đến các nghi trượng ta ta đang dùng, các cơ quan kiên cố xây dựng trong Vương phủ, số binh tướng lớn hơn số do triều đình ấn định, bản phúc trình của tân quan gởi về triều đủ hại ta rồi! Con quên không tính tới các điểm đó ư?

Trần Quốc cả quyết :

- Trái lại con tính toán rồi. Có hai giải pháp. Thứ nhất Phụ vương cho Bảo Quốc, Ngũ hổ và Tiên Phong cải trang làm vệ tướng theo hầu. Nếu thấy sự gì lạ, Phụ vương phái Bảo Quốc cấp tốc phi mã về Kim Lăng, còn thừa thì giờ hủy bỏ hay chuyển các nghi, vệ hiện đang đóng đi nơi khác.

Thứ nhì nếu chư tướng không chịu theo, Phụ vương còn tin dùng họ được nữa, đừng nói chi đến chuyện khởi binh soán ngôi Trời mưu đồ đại sự? Âu đây cũng là một dịp để Phụ vương thử vàng, thau xem họ trung thành tới mức độ nào.

Về số quân phụ trội ở Kim Lăng nhất thời huy động được tất cũng nhất thời phân phái chúng về các điểm cũ như trước rất mau lẹ dễ dàng. Con thân đảm nhiệm việc đó. Các cơ quan xây dựng phòng bị kiên cố trong Vương phủ là lẽ dĩ nhiên. Phụ vương há không phải đường đường vương tước cần được phòng vệ chắc chắn chớ không thể hững hờ như cố thúc phụ Vĩnh Bình ở Hàng Châu để đến nỗi bị sát hại rất dễ dàng? Thiên tử không thể căn cứ vào điểm này hạch tội một người trong Hoàng tộc được. Con luận hạn như vậy, nhưng dù thế nào cũng phải chờ xem kết quả cuộc hành động của Lôi Xích, Thường Phi thế nào.

Nếu họ đạt mục đích, Phụ vương có ưu thế khởi binh. Trái lại, nếu họ thất bại, bị bắt điều tra, sẽ lộ hết việc bí mật của Kim Lăng, tình trạng của gia đình ta sẽ lâm vào thế cực nan. Nhưng Phụ vương vẫn có quyền đối chất hoàn toàn phủ nhận lời khai của người ấy, nói là chúng vu cáo chẳng hạn. Thiên tử vẫn không thể căn cứ vào lời khai của chúng để bắt tội Phụ vương.

Thuận Vương cau mặt :

- Tại sao vậy?

- Vì không lẽ nào Phụ vương phái người đi hành thích Thiên tử mà còn tự dẫn thân về triều để lãnh tội khi quân nữa ư? Bởi vậy, con chủ trương việc Phụ vương lai bách chỉ có lợi chớ vô hại.

Nghe Trần Quốc hùng biện lý lẽ vững chắc, Thuận Vương mừng thầm có người con thao lược, nhưng vị Vương gia ấy nghĩ lung lắm.

Trầm ngâm hồi lâu, Thuận Vương hỏi :

- Hoàng Bách Thắng và Tôn quân sư chủ chiến, ta làm thế nào thuyết phục họ lên Yên Kinh được?

Chu Trấn Quốc đáp :

- Ngũ hổ và Tiên Phong đều là những người công phu điêu luyện, nhân có cuộc thi Võ trạng, Phụ vương khuyến khích họ ra đấu trường tranh lèo, giựt giải. Thắng cuộc, họ xuất chánh làm quan phục vụ triều đình khá không hơn là làm quan ở Kim Lăng này mà còn phải lâm trận, chinh chiến vất vả mà vị tất đã thành tựu. Là kẻ anh hùng hào kiệt thì phải biết quyền biến không câu nệ, mới mong trị thiên hạ cũng như Phụ vương để mang tiếng Hoàng Sào, thiên hạ chê cười, bia tiếng để đời hậu thế mỉa mai.

Thuận Vương trầm ngâm gật đầu :

- Được, để chờ vài ngày nữa xem có tin gì lạ không, ta sẽ quyết định sau.

° ° °

Từ ngày tình hình Kim Lăng trở nên nhộn nhịp sau vụ Đề đốc Hàng Châu bị ám sát, thường đêm nào Nhạc Lan Anh cũng ra giả sơn xem Tam hiệp có nhập Vương cung cùng nàng thông tin tức không. Phần nàng cũng muốn biết tin tức bên ngoài để tự liệu, nhưng Tam hiệp như bóng tăm cá bặt vô âm tín khiến nàng mỏi mắt trông chờ.

Sang đầu mùa hạ, sang kia, Lan Anh theo thường lệ ra bên giả sơn thao luyện quyền kiếm. Múa xong một bài, nàng chống kiếm nhảy vụt lên đỉnh ngọn giả sơn đứng chơi vơi như chiếc hạc đầu non, khoan khoái hô hấp khí trời lành lạnh ban mai giữa cảnh sắc hoa viên muôn màu lung linh ngoạn mục, thì chợt thấy mãnh giấy nhỏ trắng tinh nằm gọn trong hốc đá dưới chân nàng. Mừng quá, Lan Anh nói một mình:

A!... Có lẽ Lam Y nữ hiệp vào đây đêm qua và để giấy như nàng đã hứa!

Cúi xuống lượm mảnh giấy chặn dưới viên đá nhỏ, Lan Anh nhẹ nhàng thả người xuống đất, ngồi sau giả sơn, nhìn quanh không thấy ai dòm ngó mới mở ra đọc. Lá thơ nhỏ bằng bàn tay chỉ vỏn vẹn có mấy chữ:

"Đêm nay, canh ba, nếu không mưa lớn".

Đúng Lam Y nữ hiệp rồi không sai! Từ bao lâu nay, Lan Anh khát vọng được tái ngộ vị nữ hiệp kỳ tài đã khiến cho Thuận Vương đến tướng tá nghỉ luôn luôn bàn tán tới nàng. Lan Anh quyết nhân dịp này sẽ dò xét xem ai đã ra tay hạ sát kẻ thù bất cộng đái thiên của họ Nhạc.

Suốt ngày hôm ấy, nàng đứng ngồi không yên, chỉ mong cho chóng tối để được gặp Lam Y. Vương nhũ mẫu thấy lạ tưởng Lan Anh đau :

- Tiểu thư sao vậy? Bận nhiều việc trong Vương cung, nên tinh thần bất an?

Lan Anh mỉm cười, thân mến bảo người lão bộc trung thành :

- Có sao đâu, việc Vương cung có bận nhưng chẳng đến nỗi nào! Đêm nay, tôi không ngủ sớm đâu.

Vương nhũ mẫu ngạc nhiên :

- Có việc chi nữa? Hai Thế tử đã ưng thuận canh phòng đêm khuya cho tiểu thơ đi ngủ sớm cơ mà?

- Phải rồi, nhưng đêm nay tôi có khách xa tới.

- Ai vậy?

Lan Anh cười khanh khách :

- Những ba người, tôi tiếp họ trong phòng này đó. Canh ba họ mới đến.

- Ô! Tiểu thơ giỡn mãi!

- Không giỡn đâu, ngồi xuống đây tôi nói cho mà nghe.

Lan Anh đem chuyện Lam Y nữ hiệp nói lại cho nhũ mẫu hay và dặn thêm :

- Hai Thế tử tuần phòng rảo riết, đứng ngoài giả sơn nói chuyện không tiện, nhũ mẫu đúng canh ba để cửa sổ hé nhỏ và bỏ bớt đèn trong phòng đi, tôi sẽ đón họ vào đây. Tối đến, lỡ ai hỏi, cứ nói là tôi khó ở đi nằm sớm rồi.

Vương nhũ mẫu gật đầu :

- Tôi sẽ thi hành đúng, tiểu thơ nên thận trọng nhé!

Lan Anh nguýt dài Vương nhũ mẫu :

- Gớm, còn phải dặn nữa. Làm như tôi còn nhỏ dại lắm ấy!

Đêm hôm ấy, Lan Anh chong đèn đọc sách đến quá canh hai bèn tắt hết đèn trong phòng, leo ngồi lên cửa sổ cuốn trông xuống ngọn giả sơn dưới hoa viên um tùm cây cối. Hai lần quân tuần phòng đảo quanh phía ngoài hoa viên. Từ ngoài vọng lâu xa xa, trống từ từ đổ canh ba. Các vọng canh khác nổi kiểng trả lời. Vọng số một gõ một tiếng, vọng số hai hai tiếng, tiếp tục lần lượt cả tám vọng, quân phòng đặt theo tám hướng quanh khu Vương phủ rộng rãi mênh mông.

Không thấy động tĩnh, Lan Anh chú ý nhìn trên các mái định xem Tam hiệp vào cung do hướng nào, nàng nóng ruột đeo kiếm nhảy xuống hoa viên theo các rặng cây quanh co ra tới giả sơn rộng rãi. Nàng ngơ ngác nhìn quanh không thấy gì, bốn bề yên lặng như tờ. Nghi hoặc, Lan Anh đi vòng ra phía sau giả sơn, thì Tam hiệp đã ngồi chờ đó từ hồi nào rồi.

Ba người cùng đứng lên thi lễ. Lan Anh vái chào :

- Kìa, ba vị đến đây từ lúc nào vậy? Khát vọng bao lâu nay mới được tái kiến.

Lam Y nữ hiệp tươi cười :

- Đến giả sơn từ lúc trống đổ canh ba.

- Tiểu muội có nhìn lên trên mái mà không thấy.

- Có truyền trên mái nhưng vào tới hoa viên thì đáp xuống đất ngay và lẩn theo bóng cây vào đây.

- Mời ba vị vào phòng hàn huyên cho tiện, ngoài này, tuần quân qua lại luôn luôn.

- Hiền muội đi trước dẫn đường chúng tôi theo.

Tức thì Lan Anh đi trước vòng theo các rặng cây vào tới đầu Lạc Dương đình, phi thân lên mái ngói vượt qua lan can vào phòng tối om.

Lam Y hỏi :

- Hiền muội không để đèn sao?

- Hồi nãy ngồi chờ nên tắt đèn, để tiểu muội đi lấy.

Nàng sang phòng bên cầm ngọn đèn dầu khêu tỏ trở lại. Âu Dương Bích Nữ với tay đóng cửa sổ lại. Tam hiệp nhìn quanh thấy căn phòng rộng rãi, trang hoàng thiệt gọn gang nhã nhặn. Lan Anh mời khách quý ngồi xuống bộ kỷ chạm trải nệm gấm đỏ kê trong góc phòng bên chiếc cuốn thư bầy mấy chồng sách cổ, và chiếc bình lưu ly cắm lơi mấy cành hồng trắng muốt. Bông nào cũng lớn bằng miệng bát, tỏa hương phảng phất dễ chịu.

Trên chiếc án chân quỳ bằng tử đàn hương bày chiếc bình sứ Giang Tây men trắng cắm hai bong hắc mẫu đơn đen mượt như nhung. Từ phòng bên, tiếng giày lẹp xẹp đi vào khiến Tam hiệp ngạc nhiên. Biết ý, Lan Anh nói :

- Đó là Vương nhũ mẫu nuôi tiểu muội từ khi còn bế ngửa.

Lặng lẽ, nhũ mẫu cúi chào khách lạ đặt khay trà và tuyết lê gọt sẵn thiệt tinh hảo lên án, rồi lùi bước im lìm như lúc nào. Lan Anh mời khách quý dùng trà và trái lê. Chu Đức Kiệt mỉm cười đưa tay mời Lam Y và Âu Dương Bích Nữ :

- Chủ nhân nhã ý đãi quả, dùng đi chớ? Mấy khi được tiếp đãi ngay trong Vương cung thâm nghiêm.

Lan Anh hỏi :

- Chu huynh và nhị vị thơ thơ hẹn gặp chắc có điều chi dạy bảo?

Lam Y gật đầu :

- Trước hết về qua đây, nhớ nhau vào thăm, sau là báo việc ở Hàng Châu hồi cuối năm ngoái. Chắc hiền muội thừa hiểu việc chi rồi?

- Vụ Vĩnh Bình bị ám sát? Tiếc rằng tiểu muội không được tự tay làm việc đó. Ba nhân vật hành động bên Hàng Châu, thơ thơ có biết là ai không?

- Hiền muội oán những người ấy?

- Không! Tiếc không được gặp để tạ ơn thôi. Nếu chờ thì biết đến bao giờ tiểu muội được ra khỏi nơi cấm thành này?

- Thiệt hiền muội không oán hận chứ?

- Ngu muội xin thề?

Đưa mắt nhìn Âu Dương Bích Nữ và Đức Kiệt, Lam Y chậm rãi :

- Ba người ấy hiện đang ngồi trước mặt hiền muội đấy, và người đã thay vì hiền muội lấy thủ cấp gian vương Vĩnh Bình là gia tẩu...

Lam Y đưa tay chỉ Bích Nữ, nói tiếp :

- Chính thanh báu kiếm đeo trên vai kia đã uống máu kẻ đại thù của hiền muội.

Lan Anh vội đứng lên cung xá ba người và hướng vào Âu Dương Bích Nữ toan lạy, nhưng Bích Nữ đã cầm tay Lan Anh ngăn lại :

- Sao hiền muội lại câu nệ như vậy? Đối với lệnh cố song thân, tôi như con cháu trong nhà. Sở dĩ hạ sát Vĩnh Bình vì tôi còn theo lời yêu cầu của một người nữa. Đối với gian vương, người ấy cũng có mối đại thù tương tự như hiền muội, cho nên chúng tôi hành động một việc thành hai.

Lan Anh ngồi xuống kỷ :

- Khi hay tin, tiểu muội đoán ngay là Tam hiệp, nhưng trong biên bản gởi về Kim Lăng lại ghi điểm ba người hành động bên Hàng Châu nam nhi, phải chăng nhị vị thơ thơ cải nam trang?

Lam Y gật đầu :

- Quả có vậy, vì chúng tôi không muốn Thuận Vương dự đoán được là ai.

- Nếu thế ba vị đã đạt được ý muốn vì Thuận Vương không hề nghi ngờ đến kẻ thù số một đương đầu với binh tướng Kim Lăng ở Nam môn Kỵ Mã trường hồi đó đã hạ thủ Vĩnh Bình.

- Thảo nào trong giấy truy nã hung thủ hạ sát vị đường quan của triều đình chỉ đề cập tới ba tên thanh niên tặc đồ!

- Ngoài ra Thuận Vương có phản ứng gì khác không?

- Riêng đối với Tam hiệp thì chỉ có vậy thôi. Còn phần đại sự, hiện nay các tướng lãnh Kim Lăng và Quân sư muốn khởi chiến tranh giành thiên hạ với triều đình Yên Kinh.

Chu Đức Kiệt nói :

- Sao hiền muội không bày tỏ điều hơn lẽ thiệt, rán can ngăn Thuận Vương quên mộng Hoàng đế đi có hơn không? Ngu huynh có cảm tưởng như Thuận Vương không đủ lý trí sáng suốt trong việc mưu phản Minh triều. Y bị ảnh hưởng của các tướng lãnh do chính y đã kết tạo thì đúng hơn.

Từ ngày xuống Nam, chưa bao giờ ngu huynh nghe thấy dân chúng than phiền riêng về cá nhân Thuận Vương hiếp đáp dân lành, giam hãm phụ nữ. Trái lại chỉ có bộ hạ do ý kết nạp đã dựa vào thế chủ nhân lộng hành tác yêu tác quái trong dân gian. Với binh tướng ấy, dù mạnh biết mấy mà không được lòng dân, thì giành thiên hạ với triều đình Yên Kinh sao nổi?

Lan Anh đáp :

- Các tướng lãnh chủ chiến, chỉ riêng có hai vị Thế tử Chu Trấn Quốc và Chu Bảo Quốc cực lực cản ngăn, phản đối cuộc khởi phản. Hai người ấy quả xứng danh Hoàng tộc. Nếu các tướng lãnh ai cũng như hai Thế tử, chắc chắn Thuận Vương sẽ thành người tốt.

Chu Đức Kiệt nói tiếp :

- Tại Yên Kinh, Hoàng đế tuy hơi nhu nhược, nhưng biết phục thiện theo lời ngay lẽ phải. Trong triều tuy bị Thái sư Trần Chí Hòa gian tâm lộng hành, thiệt ra về mặt binh bị khá mạnh mẽ, bầy tôi trung thành không ít, như Nguyên soái Mã Thành Long, Tổng trấn Hà Thiên Thọ, Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục đều là bực đại thần trung trực dòng giống công thần lập quốc.

Binh tướng thuộc quyền chỉ huy của ba nhân vật ấy đều thiện chiến, tinh nhuệ. Vậy lực lượng Kim Lăng chống chọi sao nổi với ba đạo quân mạnh mẽ ấy? Dù Ngũ hổ Kim Lăng có khởi binh mau lẹ chiếm cứ Giang Nam, ngu huynh dự đoán cũng chẳng tiến hơn được nữa. Trái lại sẽ bị ba đạo hùng binh của Mã, Hà, Đàm bao vây tỉa lần lần đến lúc suy nhược thì chỉ đánh một trận lớn là tan vỡ hết. Tài Vô Địch tướng quân của họ Hoàng bất quá mạnh như sư thúc y là Phi Không trước kia ở Kim Cương tự bên Dương Châu, hoặc giả hơn chút nữa là sư phụ Thiên Không của y ở Lĩnh Nam La Phù sơn là cùng tột chớ gì? Mạnh như Hạng Võ trước kia không được lòng dân, đối với quân tướng chỉ dùng oai võ chớ không có nhân tài, còn chết ở Ô Giang nữa là vô địch Hoàng Bách Thắng? Hiền muội nên bàn với Trấn Quốc, Bảo Quốc nhấn mạnh về điểm ấy cho Thuận Vương khỏi tin tưởng mù quáng khởi chiến hại mạng sanh linh, đó là điều nhân đức đáng làm, hiền muội chớ bỏ qua.

Lam Y nữ hiệp nói :

- Đối với triều đình, chúng tôi không nghịch cũng như không chống lại Thuận Vương, nhưng quyết không bao giờ tha bọn tham quan ô lại, ác bá cường hào, cậy uy thế cả mạnh hiếp yếu, trái ngược với tôn chiêu Hiệp Nghĩa Giang Hồ. Trước kia tưởng có mình hiền muội chống lại chủ trương phản nghịch của Thuận Vương, nay có thêm hai Thế tử đồng ý, thiết tưởng không đến nỗi cô lập lắm?

Nhạc Lan Anh chậm rãi :

- Trấn Quốc, Bảo quốc không biết chuyện gian vương Vĩnh Bình là kẻ thù của họ Nhạc, và vẫn yên trí tiểu muội là em gái ruột vì Thuận Vương và Vương phi rất chiều chuộng tiểu muội như thể có ý muốn sửa lại cái lỗi của Vĩnh Bình đã gây sóng gió tan nát gia đình họ Nhạc.

Đối với Thiên tử, Trấn Quốc, Bảo Quốc là người tôi trung cũng như đối với Thuận Vương, hai người là con chí hiếu. Thái tử can gián cha vì lẽ không muốn mang tiếng bất trung và nhận thức tình thế bất lợi của lực lượng Kim Lăng, chớ không khuynh hướng mù quáng chủ chiến như những thuộc hạ Thuận Vương. Nếu Thuận Vương bị dồn vào tình thế khó khăn, hai Thái tử lẽ cố nhiên sẽ liều mạng bảo vệ Phụ vương cho đến cùng. Bởi vậy, hai người mới cố tình cản ngăn cuộc khởi binh phản động, khuyên Vương phụ lai kinh nhận chức Chánh giám khảo Võ trạng để giữ được trung, hiếu vẹn toàn. Tiểu muội khâm phục thái độ của họ và không khỏi thắc mắc một điều.

Lam Y nói :

- Điều chi? Hiền muội cứ tỏ bày.

- Theo thiển ý, bao năm nay Thiên tử không hề triệu Thuận Vương lai Kinh, nay bỗng dưng gọi về, chẳng phải Người đã mong manh biết tin tức chi đó, chức Chánh giám khảo Võ trạng chẳng qua chỉ là một cớ điệu Thuận Vương ra khỏi căn cứ Kim Lăng để tránh mầm loạn, không hiểu sau này Thiên tử có rộng lượng cho vì Vương gia u mê nọ được an ổn ở Yên Kinh sẽ ân hận vô cùng vì họ đã tin tưởng, vô tình khuyên vương phụ vào nơi tử địa. Về thực tế, Thuận Vương có tội nhưng cuộc khởi loạn chưa thành hình nên có trường hợp gia giảm. Chẳng hay thơ thơ nghĩ sao?

Lam Y khen thầm Lan Anh hiểu sâu biết rộng, bèn đáp :

- Dĩ nhiên Thiên tử vốn đại lượng không bắt tội vì Thuận Vương tỏ lòng ngay thẳng theo mạng lệnh lai Kinh chầu Vua. Đánh kẻ bỏ đi chớ không ai nỡ hại người chạy lại. Nếu Thuận Vương chần chừ không nhất quyết chậm trễ nhựt kỳ để Thiên tử nổi giận huy động tướng binh xuống Kim Lăng hỏi tội, khi đó chắc chắn không còn phương cứu chữa. Ngay như chúng tôi thuộc giới Giang Hồ trung lập, nhưng biết rõ bộ hạ Thuận Vương phần đông thành tích bất hảo, lúc đó sẽ đứng về phe triều đình có chánh nghĩa dẹp tan phản loạn. Tướng tá Kim Lăng có căn bản võ nghệ sức khỏe thật, nhưng hẳn hoi được bao người. Tính sơ sơ cho hiền muội nghe nhé. Ngũ hổ tướng, Tiên Phong Điêu Thiên Phượng, hai Thế tử làm chủ chốt linh hồn của binh lực Kim Lăng, mã bộ chiến tướng được vài trăm người. Ngoài ra, bọn giang hồ hắc đạo theo Thuận Vương để lấy chỗ dong thân kể cả đầu đà hiện thân ở dưới trướng nhiều lắm là ba chục người bản lãnh khả dĩ dung được trong các trận đấu vặt tay đôi, chớ không thể tin cậy được khi lên ngựa ra quân lược thao gồm đủ?

- Nói riêng về đầu đà đã ai bằng Phi Không khi trước ở Kim Cương tự? Cho rằng Thiên Không trên hẳn Phi Không hai ba bực xuống giúp Kim Lăng vì tình môn đồ đi, nhân vật ấy cũng không thể làm lệch cán cân chiến đấu lấy phần thắng về cho Thuận Vương?

Nhạc Lan Anh rót trà nóng mời Tam hiệp.

Uống xong tuần trà, Lam Y nữ hiệp nói tiếp :

- Bây giờ tôi nói qua về lực lượng triều đình. Đại tướng chuyên môn điều khiển muôn quân lược thao gồm đủ có Nguyên soái Mã Thành Long. Sau họ Mã có Tổng trấn Hà Thiên Thọ và Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục. Riêng ba người này là ba bộ óc binh pháp như thần có thể điều khiển tam quân đánh bất cứ ở mặt nào. Dưới trướng Mã nguyên soái, trừ bộ tướng, mã tướng ngàn viên, còn có ba người con được liệt vào hàng thượng tướng, phi thiềm tẩu bích, mã chiến, bộ chiến chuyên phục vụ trong quân binh lầu thông. Đó là Ngọc Diện Hổ Mã Thành Hổ, Hoa Ban Báo Mã Thành Báo, nữ tướng Phi Vân Yến Mã Kim Loan bảo đồ của Chiêu Vân trên Ngũ Phật tự, Lai Bình Loan. Về đạo quân Tứ Xuyên thiện chiến, không cần kể tới các tướng thuộc hạ, tôi chỉ nói tới hai người con của Hà Thiên Thọ là Ngọc Kỳ Lân Hà Thiên Tường, Trại Nguyên Bá Hà Thiên Khánh. Hiền muội đã mục kích hai viên dũng tướng tài ba này trong kỳ Kỵ mã hội trước ở Kim Lăng?

Nhạc Lan Anh gật đầu, Lam Y tiếp :

- Còn cánh thủy quân kiêm lục chiến của quan Thủy sư họ Đàm, chính Chu huynh và tôi đã may mắn được xem diễn trận Trường Sa hồi đầu năm ngoái trên dòng Trường Giang, thiệt là trùng trùng điệp điệp uy võ vào bực bình thiên hạ. Con trai độc nhất của Đàm Bá Phục cũng vào bực anh hùng xuất chúng.

- Hiền muội liệu xem Ngũ hổ tướng Kim Lăng tuy khá thật, nhưng có chống cự nổi hàng ngũ triều đình như tôi vừa trình bày đây không? Bây giờ nói tới lực lượng giới Giang Hồ Hào Kiệt sẽ theo chánh đạo phục vụ dưới cờ Quốc gia. Chị em chúng ta là người một nhà hơn nữa hiền muội là môn đồ của Thượng Thái thiền sư đồng môn phái Thiếu Lâm với gia tẩu Âu Dương Bích Nữ đây, tất đã thừa hiểu trong ba người đại đồ đệ của sư tổ Trí Dũng và Nhất Khánh môn Thiếu Lâm có Trại Mạnh Thường Âu Dương Tòng Thiện, Chiêu Đức thiền sư hiện là Sư Trưởng Thiếu Lâm tự trên Tung Sơn và lệnh sư phụ Thượng Thái ở Long Sơn.

Không cần nói tới các bực tu hành chẳng màng tới chuyện trần ai, nhưng lão anh hùng Âu Dương Tòng Thiện, có ba người con liệt vào hang đệ nhất môn đồ Thiếu Lâm tự. Ba người đó sẽ phục vụ dưới cờ chánh nghĩa. Đó là Cái Thiên Ô Vân Âu Dương Tòng Cát, Thần Mã Truy Phong Tòng Đức và gia tẩu Thiết Phiến Cô Âu Dương Bích Nữ.

Căn cứ vào tài lực của gia tẩu, hiền muội đủ dự đoán nghệ thuật công phu của hai người anh. Với đại danh lão anh hùng Trại Mạnh Thường đứng giúp quân triều đình, và nhân danh anh em tôi, hào kiệt tứ phương sẽ kéo về phục vụ đông đủ, trong đó có Thiết Xích Tử Trương Tam Sơn, Thiên Lôi Tử Hồng Trường Hải. Với Thiết Xích Tử Trương Sơn, giới Giang Hồ sẽ có thêm các vị anh hùng hào kiệt nổi danh của Võ Đương, như Tiểu Bạch Long Trương Tam Võ, Tiểu Nhiếp An Trương Nhị Nương, và của Trường Sa như Nhất thái tử Hoàng Hoa Long. Nhị thái tử Hoàng Hoa Hổ. Bốn vị này là cháu gọi Tam Sơn bằng bá phụ.

Ngoài ra còn có một vị anh hùng độc đáo dòng dõi Hán Thọ Đình Hầu khi xưa là Kim Đao Quan Long, vốn dòng tướng môn hẳn người ấy không lạ chi nghề thanh đao yên ngựa khiển tướng ra quân.

Với lực lượng trên đây, tôi dám chắc là chỉ đánh một trận là thừa phá tan binh lực của Thuận Vương. Đã từng đánh Phi Không ở Kim Cương tự, nếu Thiên Không xuống núi đứng vào hàng ngũ Kim Lăng, một trong ba chúng tôi sẽ thử sức, quyết chiến với y một trận xem sao. Hiền muội bị bó buộc ở thâm cung, không có dịp giao tiếp với giới Giang Hồ Hiệp Khách, dĩ nhiên không hiểu rõ tình hình bên ngoài bằng chúng tôi, cho nên tôi phác trình thực lực bên triều đình với mục đích giúp hiền muội thông hiểu lực lượng "đối phương" để khi ngăn cản Thuận Vương, hoặc luận bàn với hai Thế tử, lời nói có nhiều hiệu lực hơn. Hiền muội nên nhấn mạnh rằng chỉ dùng một phần lực lượng của ba đạo quân Mã, Hà, Đàm để dẹp phản động chớ không cần tổng huy động.

Đồng ý với Chu huynh và gia tẩu Âu Dương Bích Nữ, thế thiên hành hiệp không phải lúc nào cũng kiếm tuốt khỏi đao đâm đâm, chém chém, nhưng nhiều khi chỉ dùng lời cũng đủ cứu được muôn vạn sanh linh. Hiền muội và hai Thế tử ngăn được Thuận Vương tức là đã có lòng nghĩa hiệp đưa bao nhiêu mạng người ra khỏi vòng tử địa đó.

Nhạc Lan Anh suy nghĩ giây lát :

- Theo ý tiểu muội, Thuận Vương chưa hẳn theo lời Hoàng Bách Thắng cũng như còn do dự theo lời Thế tử Trấn Quốc lai Kinh, là vì không biết rõ Yên Kinh sẽ cư xử thế nào. Nếu triều đình gây áp lực quá mạnh, tất Thuận Vương ở vào tình thế liều mạng khởi phản để tự bảo vệ. Trái lại được bảo đảm phần nào, Thuận Vương sẽ không ngần ngại theo lời bàn của Thế tử về Kinh. Nói tóm lại, đó là tình trạng của kẻ đã đặt tên giương cung rồi, bắn thì nguy mà hạ cung thời cũng không xong.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Nhạc hiền muội dò xét thêm về tình hình trong Vương phủ thế nào và cho chúng tôi hay, nếu giúp được sẽ không bao giờ từ nan.

- Tam hiệp vào đây nhiều không tiện, lỡ có điều gì cần thông báo, tiểu muội có thể gặp quý vị ở đâu?

Chu Đức Kiệt đáp :

- Ra lối Tây Môn, tìm đến Cao gia trang và hỏi đích danh chúng tôi. Giờ đây khuya rồi, xin tạm kiếu. Chúc hiền muội thành công.

Tam hiệp đứng dậy, Lam Y nói :

- Nếu hai Thế tử muốn diện kiến cũng được, hiền muội cứ mời cùng đi, chớ nề hà hỏng việc.

Nhạc Lan Anh đưa Tam hiệp ra đến chỗ giả sơn. Ba người kiếu từ lẩn mình vào rặng cây, phi hành về Cao gia trang. Hôm sau, Lam Y nói với Chu Đức Kiệt :

- Từ nay trở đi, có lẽ tình hình biến chuyển mau lẹ, hiền huynh nên ra công đến Quan gia bảo mời Quan biểu đệ về đây tụ họp, khi cần đến đỡ mất công thỉnh cầu. Tiểu muội và tẩu tẩu ở lại phòng khi Nhạc Lan Anh tìm gặp chăng.

Chu Đức Kiệt khen phải, tức khắc thắng Ô mã lên đường phóng một mạch, chiều hôm thứ ba thì tới địa phận Mã Thạch cương. Đức Kiệt rẽ ngựa vào Quan gia bảo, chợt có người gọi :

- Chu biểu huynh!

Đức Kiệt vội dừng cương ngoái cổ nhìn thì ra, người kêu đó không phải ai xa lạ mà chính là Kim Đao Quan Long đang đứng ở trước cửa tửu quán của Chúc gia. Chàng cả mừng rẽ ngựa vào tửu quán buộc dưới khóm trúc, cùng Quan Long thi lễ. Họ Quan tươi cười hỏi :

- Biểu huynh đi đâu qua đây có vẻ vội vã vậy? Chu biểu tỉ Lam Y đâu mà không cùng đi?

- Ngu huynh tới tìm hiền đệ có việc đây. Lam Y ở lại bên Cao gia trang.

Chủ quán Chúc Đạt bước tới chào hỏi :

- Anh em tôi đang uống rượu luận đàm, vừa nhắc đến đại hiệp, chẳng ngờ người lại qua đây. Xin mời vào cả trong quán.

Quan Long giữ ý muốn mời ngay Chu Đức Kiệt về nhà, nhưng họ Chu đã nói :

- Hà tất câu nệ, uống rượu ngay ở đây cũng được vừa tiện mà không lỡ bữa rượu vui của Chu đại ca.

Ba người vào quán ngồi chủ khách hàn huyên đến tối hẳn. Chu, Quan hai người cáo từ Chúc Đạt về Quan gia trại. Quan Long gọi vợ là Tôn thị và Quan Hổ ra chào.

Chu Đức Kiệt vỗ vai Quan Hổ :

- Chà! Mới cách đây một năm mà biểu điệt đã lớn hẳn.

Quan Long nói :

- Từ khi ở Kỵ mã hội Kim Lăng, biểu huynh đi được những đâu?

Chu Đức Kiệt đem mọi chuyện kể qua loa cho Quan Long nghe. Họ Quan gật đầu :

- Cuối năm ngoái, tiểu đệ đi Dương Châu ghé Tào gia trại có nghe nói việc Phàn Mộng Liên tử nạn. Vợ chồng Tào Chí cũng đã đi Thái An huyện thăm họ Phàn, nên thuật chuyện Tam hiệp báo thù cho Mộng Liên như thế nào.

Chu Đức Kiệt thuật vụ lão anh hùng Trại Mạnh Thường lên Yên Kinh và tình hình tổng quát về Kim Lăng cho Quan Long hay.

- Nhân dịp ngu huynh qua đây mời hiền đệ sang bên Cao gia trang cùng mọi người tụ họp nếu Thuận Vương khởi chiến, hiền đệ cũng nên giúp triều đình, trước là lộ diện anh hùng sau là tìm đường xuất chánh, chắc Thiên tử sẽ trọng dụng, ẩn dật làm chi cho mai một ngày xanh?

Quan Long vuốt râu mỉm cười :

- Biểu huynh dạy cũng phải, nhưng quả ngu đệ đã quen cảnh sống điền viên sơn dã không màng tới việc đời, lạnh nhạt với lợi danh vương bá công hầu. Nếu cần, ngu đệ sẵn lòng đứng về phía triều đình ôn lại vài đường đao trên chiến trường chơi. Nhưng muốn yêu cầu biểu huynh một điều.

- Hiền đệ cứ dạy.

- Mã Thạch cương cách Kim Lăng chỉ có vài ngày đường, nếu chiến tranh bùng khởi, tiểu đệ e cuộc chiến có thể bất ngờ lan tràn tới đây. Vậy biểu huynh cho phép tiểu đệ nán lại nhà nghe ngóng tin tức, nếu thấy tình hình khả quan, chiến tranh không lan rộng tức là không đến nỗi cần phải phòng thủ Quan gia bảo, tiểu đệ xin đơn thân độc mã kíp sang Kim Lăng hội chiến, như vậy có được không? Toàn thể Quan gia bảo trông cậy cả vào một tiểu đệ.

- Hiền đệ thận trọng như thế cũng phải, ngu huynh rất cảm thông. Vậy sớm mai, ngu huynh trở lại Cao gia trang kẻo Lam Y mong đợi.

- Thiệt tình, tiểu đệ muốn giữ biểu huynh lại ít ngày đàm đạo, nhưng nếu cần, xin biểu huynh tùy tiện. Anh em ta là khách tu mi không thường tình câu nệ.

Hôm sau, Chu Đức Kiệt từ biệt Quan Long trở về Kim Lăng thuật việc gặp Quan Long cho Lam Y và Âu Dương Bích Nữ nghe.

Lúc đó, Trại Mạnh Thường và Mã Thành Long, Hà Thiên Thọ, Đàm Bá Phục vừa tới Cao gia trang. Lão anh hùng giới thiệu Tam hiệp với mọi người. Thấy tướng mạo Tam hiệp cực kỳ uy dũng, ba vị tướng soái và các tiểu anh hùng ba họ Mã, Hà, Đàm đều hân hoan cảm phục. Về phần bạn gái, Lam Y, Âu Dương Bích Nữ cũng rất tương đắc với Mã Kim Loan. Tam hiệp đem việc vào thám Vương phủ gặp Nhạc Lan Anh và thuật tình hình bên Thuận Vương cho các bực lão thành nghe. Mã Thành Long nói :

- Biện pháp phòng ngừa đã thi hành xong, nếu Thuận Vương chịu lai Kinh, Thiên tử lẽ nào bắt tội y. Bổn soái có thể hứa đảm bảo cho y được. Tránh được việc huynh đệ tương tàn là điều cốt yếu.

° ° °

Sau đêm gặp Tam hiệp, Lan Anh tức thì họp riêng với hai Thế tử Trấn Quốc và Bảo Quốc. Nàng nói :

- Trong mấy lần bàn luận trước đây, tiểu muội ít phát biểu ý kiến vì cần suy nghĩ nhiều, vả lại trưởng huynh và nhị huynh can ngăn Phụ vương như vậy cũng đủ lắm rồi. Nhưng mấy hôm nay, nghĩ lại lời sư phụ dạy trước kia khi còn ở Long Sơn bên Vân Nam, tiểu muội thấy cái nguy của Kim Lăng, nếu xuất quân, còn rõ rệt hơn nhiều nữa.

Chu Trấn Quốc vội hỏi :

- Hiền muội muốn nói tới Thượng Thái thiền sư phải không? Người dạy thế nào? Cho ngu huynh biết đủ chi tiết để lấy thêm tài liệu can gián Phụ vương.

Lan Anh chậm rãi :

- Hiền huynh biết rằng Thượng Thái thiền sư thuộc phái Thiếu Lâm?

Chu Trấn Quốc gật đầu, im lặng chú ý nghe, Lan Anh nói tiếp :

- Không những vậy. Người còn là sư muội của Chiêu Đức sư trưởng Thiếu Lâm tự hiện thời do đó quen biết, liên lạc hầu hết với các nhân vật hữu danh giới giang hồ, nên hiểu biết nhiều chuyện về lực lượng của ba đạo quân lớn của triều đình. Trước khi tiểu muội hạ sơn, sư phụ có dạy rằng: Nếu Vương gia khởi binh, đồ đệ phải cố sức khuyên ngăn, trái lời khó lòng tránh được đại họa toàn gia. Tiểu muội suy nghĩ nhiều về câu nói của vị chân tu ấy.

Trấn Quốc hỏi :

- Sao hiền muội không ráo riết can ngăn Phụ vương?

- Ngu muội phận gái, lời nói không hiệu lực bằng nhị vị hiền huynh và Hoàng Bách Thắng cùng Tôn Hoàn, vì thế ngu muội rất dè dặt. Thượng Thái sư phụ còn tiết lộ cho biết về lực lượng của ba đạo quân triều đình và tiên đoán giới giang hồ hào kiệt sẽ đứng về phe triều đình chống lại quân ta.

- Thiền sư tiết lộ những gì?

Lan Anh lặp lại lời nói đêm qua của Lam Y nữ hiệp cho hai anh nghe.

Hai Thế tử gật đầu ngẫm nghĩ hồi lâu, Trần Quốc nói :

- Chuyến trước, ngu huynh cũng đã trình bày lực lượng của ba đạo quân Mã, Hà, Đàm cho Phụ vương nghe, nhưng không đầy đủ chi tiết như hiền muội vừa thổ lộ. Phải nói lại trước khi Phụ vương gặp Nguyên soái và Quân sư mới được. Thượng Thái thiền sư dạy chí phải. Cứ xem như Hà Thiên Tường và Hà Thiên Khánh trên Kỵ mã trường thì đủ hiểu.

Hai người ấy cả gan vào tận Kim Lăng thi tài, sau đó còn đánh nhầu một trận với mấy tướng của ta trước khi rút lui, đủ hiểu họ gan dạ thế nào. Bọn Lam Y nữ hiệp đại chiến Kim Cương tự, trổ thần lực chống Nam môn Kỵ mã trường, giỡn các tướng của ta bằng cách lấy ngù mũ của mấy viên Hổ tướng Kim Lăng, các vụ này thừa rõ họ coi thường lực lượng của ta rồi.

Lan Anh nói :

- Có một vấn đề khiến tiểu muội thắc mắc nghi ngờ. Đó là thái độ chủ chiến của Hoàng Bách Thắng và Tôn Hoàn. Không hiểu nhị vị hiền huynh có chú ý tới điểm ấy không?

Trấn Quốc, Bảo Quốc im lặng nhìn Lan Anh tỏ vẻ không hiểu nàng định nói gì.

Lan Anh chậm rãi nói tiếp :

- Phụ vương chủ chiến hay chủ hòa các tướng lãnh cao cấp ấy cũng không mất quyền lợi gì. Bị giải tán, họa chăng sẽ là một số tiểu tướng và quân đội mà Phụ vương đặt ở các nơi sơn trại, chớ số quân chánh quy Kim Lăng chắc được giữ nguyên vẹn. Như vậy, ngồi nhà mát, ăn bát vàng, lương bổng lãnh đủ, không phải dấn thân trong vòng tên đạn nguy hiểm ư? Phụ vương là Vương hay Đế can hệ chi tới các tướng tá cao cấp ấy? Địa vị hiện thời của họ và được sống trong cảnh thái bình an vui không hơn là viễn vọng khó thành sẽ được vào trụ bệ ở Yên Kinh, nhưng phải trải qua một cuộc chinh chiến gian lao mà chưa biết chừng có kẻ bị phơi thây nơi chiến địa?

Nói tóm lại, chủ chiến bất lợi cho họ hơn vì họ không có mục đích chi cả. Trước khi được Phụ vương thâu nạp, Ngũ hổ tướng, Tiên Phong, Đầu đà và một số người khác phục dưới quyền hai họ Hoàn, Tôn, đã làm gì và thuộc hạng người nào? Phải chăng họ là những tay giang hồ lãng tử thuộc giới hắc đạo?

Nhờ có bản lãnh khá, họ đầu quân theo Phụ vương không ngoài mục đích dành lấy một chức vị lớn bổng lộc điều hòa, lầu cao điện rộng. Nay đạt chí nguyện đó rồi, cần chi phải chủ chiến, dấn thân vào con đường chông gai gió bụi dài vô tận? Nếu nhị vị hiền huynh tự đặt mình vào địa vị của họ thời nhị vị nghĩ thế nào? Và hành động thế nào? Có cần phải chủ chiến nếu chủ nhân do dự không nhất quyết khởi binh?

Chu Bảo Quốc nói :

- Suy luận như vậy, nghĩa là hiền muội nghi ngờ thái độ của họ? Nghi họ có mục đích nào khác hơn là giúp Phụ vương tranh thiên hạ với Vĩnh Lạc hoàng đế?

Lan Anh gật đầu :

- Tiểu muội chắc chắn như vậy chớ không còn nghi ngờ nữa. Nhị vị hiền huynh tự vấn kỹ lại và tự trả lời xem sao?

- Họ không là sĩ tử xuất thân phò Vua giúp nước, nêu cao tên tuổi hòng sau này được bất diệt với sử xanh. Trái lại, họ lợi dụng danh nghĩa Phụ vương chọc trời khuấy nước dưới một hình thức lớn lao rộng rãi hơn vì bổn thân họ trước kia thuộc giới lục lâm cường đạo. Vậy không thể tin ở chí hướng của những người ấy, và bì họ với những bực khai quốc công thần Mã Định Quốc, Hà Thiên Hùng, Đàm Bá Thành khi trước phò Thái Tổ Chu Nguyên Chương đuổi rợ Mông Cổ ra khỏi đất Hán, lập nên Minh triều cho tới ngày nay. Ngay như Phụ vương sau này có đạt mục đích lấy Yên Kinh bình thiên hạ, lên ngôi Cửu ngũ cũng không tránh được ô danh cướp ngôi vua, huynh đệ tương tàn, và còn một điều nữa nguy hơn!...

Chu Trấn Quốc giật mình, ngồi thẳng người lên :

- Điều chi vậy?

Lan Anh nhìn thẳng vào hai mặt Thế tử :

- Tỉ dụ trong trường hợp bình xong thiên hạ, Minh triều Hoàng đế bị lật rồi, quyền bính quân lực ở cả trang tay Hoàng Bách Thắng, Tôn Hoàn lúc đó còn ai can ngăn họ không phản phúc lật đổ Phụ vương để lập nên một thế hệ triều chánh khác không? Họ có chủ nghĩa cá nhân dấy đoạn không tôn thờ chánh nghĩa tôn Phụ vương lên ngôi Hoàng đế. Hiện thời Phụ vương còn bị ảnh hưởng của hai người ấy, đừng nói chi tới lúc họ nắm được quyền lực toàn quốc trong tay nữa! Ngu muội nhất quyết rằng tình thế sẽ xoay chuyển như thế đó!

Chu Trấn Quốc đập mạnh hai tay vào nhau :

- Ủa! Mấy bữa nay ngu huynh cũng suy tính như vậy, nhưng chưa dám hé lời vì e còn vụng về sơ suất. Nay nghe hiền muội luận bình, đồng ý, mới chắc chắn là ngu huynh đã luận đúng.

Chu Bảo Quốc nói :

- Trưởng huynh và Tam muội đã đồng ý, tôi xin bàn điều này.

Trấn Quốc day phía Bảo Quốc :

- Hiền đệ tính sao?

- Thì giờ rất cấp bách, Phụ vương chỉ còn ít ngày nữa là phải nhất định lai Kinh hay từ chối. Mà từ chối là nghịch mạng Thiên tử sẽ bị coi là phản thần rồi. Vậy trong thời gian ngắn ngủi ấy, anh em ta thử do thám bên dinh Hoàng Bách Thắng và Tôn Hoàn xem họ có mật đàm, hoặc có sự gì lạ đáng nghi ngờ không?

- Hiền đệ bàn thế cũng phải, song ngu huynh e họ đã thừa thì giờ họp bàn trước và lâu rồi.

Lan Anh nói :

- Ta cứ thử xem sao. Nhưng bất cứ trường hợp nào cũng cần thuyết và hành động cho Phụ vương theo ý mình mới được, mặc dầu phải đối lập với Tôn, Hoàng hai người. Tuy vậy hành động thầm kín có lợi hơn.

Suy nghĩ giây lát, Lan Anh nói tiếp :

- Bây giờ chúng ta nên nói trước với Vương mẫu để người biết đường can ngăn Phụ vương và sau bữa trưa hãy trình bày hơn thiệt với Người.

Trấn Quốc nói :

- Và ngay từ đêm nay, chúng ta cùng thám thính dinh Tôn, Hoàn xem sao.

Lan Anh gật đầu :

- Canh một, tiểu muội chờ nhị hiền huynh tại tư phòng. Võ trang cẩn thận phòng hờ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau