LAM Y NỮ HIỆP

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Lam y nữ hiệp - Chương 21 - Chương 25

Chương 21: Tìm dấu ngựa rừng trong Xuyên Lâm ổ Hàng phục Hồng mã, Kim Đao Tướng trổ tài

Tuy trong trang có cả tầu ngựa tốt, nhưng Quan Long không ưng ý về màu sắc của một con nào cả. Chàng muốn có một tuấn mã màu đỏ thẫm như chu sa, nghĩa là đúng màu sắc của Xích Thố thuở xưa.

Kể từ trước tới nay đã trải bao đời rồi, nhưng chỉ có Đại đao Quan Thắng đời Tống và nay đến Kim đao Quan Long là giống y hệt nội tổ Quan Võ. Cũng vì lẽ ấy, Quan Long cầu kỳ chọn một con ngựa giống Xích Thố để dùng.

Trong mỗi năm các lái buôn ngựa cũng có đi qua Quan gia bảo vài chuyến. Họ buôn đủ các giống ngựa hay như ngựa Châu Tượng, Kỳ ký, Hoa Lưu, Lý Cân... Quan Long thường dặn họ kiếm cho một tân Xích Thố, đắt bao nhiêu tiền cũng mua.

Đã vài lần, bọn lái đem ngựa tới. Quan Long không ưng ý con nào cả. Hoặc lợt quá, sẫm quá, có con được màu thì bờm và lông đuôi lại không dài và đen, hoặc có điểm một vài đốm khác nhau. Kiếm sao được con ngựa đầu cất cao, cổ dồ, ức nở, mình ngắn, vó thon, mao trường và đen tuyền bây giờ!

Mỗi khi tập luyện, Quan Long cảm thấy y hệ nội tổ với cây Thanh Long Yển Nguyệt đao mà cỡi ngựa màu sắc khác nên mất hẳn hứng thú hào hùng. Bởi vậy chàng có ý buồn.

Một hôm có người lái ngựa quen thân từ đất Thục chăn đoàn ngựa ra khu vực duyên hải bán. Người ấy nán lại Quan gia bảo, vào yết kiến Quan Long.

Họ Quan mừng rỡ chào hỏi :

- Sao hơn một năm nay mới thấy qua đây hả Thái tiên sinh?

Người lái ngựa họ Thái tên Đình Hoàng nói :

- Cũng vì Trang chủ nên lâu nay tôi mới đi được một chuyến này đó! Tiếc quá! Tiếc quá!

Quan Long ngẩn người ra, không hiểu :

- Tại sao lại tại tôi? Mà tiếc chi mới được chứ?

Thái Đình Hoàng vỗ đùi đét một cái và tặc lưỡi :

- Tại con Xích Thố của Trang chủ, vậy không phải là tại Trang chủ thì là gì nữa, hả trời.

Quan Long vẫn ngơ ngác :

- Kỳ thật! Tôi đã làm chi có Xích Thố mà nói tại tôi, oan uổng quá!

- Tại con Xích Thố ở trong thung lũng vùng Xuyên Lâm kia... Tôi muốn bắt nó cho Trang chủ nên mới mất nhiều thì giờ thế này đó. Ngót một năm trời cũng không bắt nổi.

- Nó là giống ngựa rừng?

- Dạ, bọn lái ngựa chúng tôi thì vừa gây giống ngựa nuôi lớn để bán, nhưng cũng phải bắt ngựa rừng nữa để khỏi phải tốn công nuôi. Giống này sống có đoàn hàng mấy trăm con, tùy theo đoàn nhiều, đoàn ít, bắt được thì có lời nhiều hơn giống ngựa nuôi...

- Vùng Xuyên Lâm thuộc về đâu?

- Cách Trùng Khánh phủ độ ba trăm dặm thung lũng hoang vu ấy ở dưới chân Phi Long lãnh. Tháng sáu năm ngoái, có người mách cho tôi là trong Phi Long lãnh có bày ngựa rừng lớn, chúng tôi bèn kéo nhau tới đó định bẫy, nhưng đoàn này khôn lắm, mất nhiều thì giờ chưa có kết quả chi cả.

Quan Long ngẫm nghĩ giây lát hỏi :

- Như vậy thì can chi tới tôi?

- Sao lại không? Con mãnh mã đầu toàn màu đỏ tía, bờm và đuôi đen tuyền, rất xứng danh là Xích Thố. Bởi vậy tôi cốt ý bắt nó cho Trang chủ dùng.

Nghe Thái Đình Hoàng nói tới đâu, cặp mắt Quan Long sáng long lanh lên đến đấy, mừng rỡ ra mặt chàng hỏi :

- Đúng như vậy chứ? Chắc chắn không?

Thái Đinh Hoàng tặc lưỡi :

- Đó là nghề của tôi mà Trang chủ còn nghi ngờ đến như vậy! Từ trước tới nay tôi đã bán cho Trang chủ con ngựa nào hư hay phản chưa?

Quan Long cả cười, vỗ vai họ Thái :

- Hỏi vậy cho chắc chắn, tính tôi cẩn thận. Đừng giận nhé, Thái tiên sinh?

Họ Thai cũng mỉm cười :

- Tôi đâu dám giận Trang chủ, nhưng chỉ tiếc không bắt nổi con mãnh mã hung hãn ấy thôi.

- Đoàn ngựa rừng ấy có đông không?

- Độ trên một trăm con đủ các màu sắc, coi sướng mắt lắm.

- Con mãnh mã ấy hung hăng như thế nào?

- Tôi cho quây lưới bắt mà hai lần nó bỏ hai vó trước phá rách toang lưới chạy mất. Lần thứ ba, đặt lưới thép. Trang chủ có đoán được nó làm thế nào thoát thân không?

Mắt sáng ngời, Quan Long đáp liền :

- Nó phóng qua đầu lưới!...

Thái Đinh Hoàng gật đầu :

- Chính thế! Nó lùi lại mấy bước phóng qua đầu lưới như tên bắn, rồi tìm chúng tôi cắn đá. Bữa đó hai tên công nhân của tôi bị táng mạng về cặp vó của con mãnh mã ấy bổ trúng đầu bể nát như hột gà óp. Mọi người sợ hãi, mạnh ai nấy chạy. Con ác mã ấy quay lại nhào bừa cho đỗ lưới đánh tháo cho đồng bọn đi mất... Tiếc quá!

Dồn chúng lại vào khu có lưới rất khó khăn. Bắt đã chẳng được, hiện giờ cả đoàn "dông" đi đâu mất rồi. Tôi tính đi chuyến này, trở về sẽ tìm bắt kỳ cho được mới nghe.

Quan Long chậm rãi nói :

- Tôi bàn thế này. Tiên sinh bán xong bầy ngựa trở về đây. Tôi cũng vào Tây Thục và cùng đi đến Phi Long lãnh tìm bầy ngựa rừng đó với tiên sanh. Bao nhiêu tổn phí tôi chịu cả. Được không?

- Vấn đề phí tổn không cần nói tới vì Trang chủ chỉ cần có con Xích Thố. Nếu bắt được Xích Thố, thế cả đoàn ngựa kia thuộc về tôi cả, phải không?

Qua Long gật đầu :

- Chính vậy. Tùy ý tiên sinh muốn sao cũng được, tôi chỉ cần có Xích Thố thôi.

- Đã vậy, tôi sẽ trở về đón Trang chủ đi Tây Xuyên một phen.

Quan Long mời Thái Đinh Hoàng ở lại uống rượu, hôm sau mới kéo bầy ngựa ra vùng duyên hải bán.

Hơn hai tháng sau, Thái Đình Hoàng trở lại. Quan Long đã sửa soạn sẵn, từ biệt vợ con lên ngựa cùng bọn lái ngựa đi đường bộ qua Hán Dương vào đất Ba Thục, thẳng đường đi Trùng Khánh phủ. Nghỉ lại thị thành đó mấy ngày xem phong cảnh. Thái Đình Hoàng cho đồng bọn về trước sửa soạn cuộc săn ngựa, rồi sẽ về sau cùng Quan Long. Họ Thái cư ngụ tại Phù Linh huyện đã lâu và hành nghề lái ngựa gia truyền.

Ở Phù Linh huyện cũng có mấy tay lái nữa nhưng họ Thái lành nghề hơn cả nên hầu như là giữ độc quyền buôn sỉ, bán lẻ đủ cả các ngành. Đến đời Thái Đình Hoàng, công việc sanh nhai còn phấn chấn hơn cha ông khi xưa, nên Đình Hoàng còn lập thêm một cơ sở dạy ngựa thiệt thuần thục để bán ngựa dạy săn cho các khách hàng không thạo về môn giáo mã và kỵ mã. Bởi vậy khu nhà của họ Thái nếp nọ, nếp kia rất rộng rãi, sân trước sân sau, tầu ngựa hàng dãy chia ra nhiều loại. Loại mới bắt hay mới mua. Loại đang luyện tập, loại đã thuần thục, loại đem bán ra phần nhiều đã được luyện qua loa. Những con nào có tướng phản chủ đều được chọn lọc rất kỹ lưỡng và loại ngay. Khi nào tải hàng một trăm con đi xa bán theo lời yêu cầu của khách hàng thì Thái Đình Hoàng mới thân chinh đi. Còn thì phần nhiều các lái nhỏ tìm đến mua sỉ tại chỗ chở đi nơi khác bán ăn tiếp.

Trong khu trang trại của Thái Đình Hoàng trừ gia đình họ Thái ra, còn có những tay chuyên môn phụ tá với Đình Hoàng. Người nào cũng khỏe mạnh, sành sỏi và đều biết dăm ba miếng côn quyền. Những lúc đi xa, giao dịch buôn bán với người ngoài, họ thường dùng tiếng lóng riêng của lái ngựa để nói với nhau. Thái Đình Hoàng dọn một căn phòng thật chu đáo cho Quan Long ở, tiếp đãi vào bực thượng khách. Trừ một vài người theo Thái Đình Hoàng đã có dịp qua Quan gia bảo biết mặt Quan Long không kể, còn những người khác khi thấy họ Quan giống hệt Hán Thọ Đình Hầu, thì đều chăm chú nhìn ngạc nhiên hiện ra mặt. Họ ngạc nhiên là phải, vì người xứ Ba Thục nhà nào cũng lập bàn thờ vị danh tướng nhà Thục ấy.

Thái Đình Hoàng mời Quan Long đi xem các sở do y lập ra. Họ Quan khen ngợi vô cùng và rất cảm phục Thái Đình Hoàng đã có sáng kiến canh tân hóa cách thức nuôi ngựa trong trang trại.

Trong khi nghỉ ngơi mấy hôm, Thái Đình Hoàng sai người vào Phi Long lãnh kiếm dấu vết bầy ngựa do Xích Thố dẫn đầu.

Người đi không lại về rồi chẳng thấy chi hết, về báo cho họ Thái hay.

Quan Long hỏi họ Thái :

- Phi Long lãnh gần hay xa?

- Cách Phù Linh huyện này độ năm mươi dặm đường.

- Nếu vậy ta phải đem lương thực cho đầy đủ, đóng trại ngay tại thung lũng Xuyên Lâm, hoặc đi sâu vào các hóc hiểm Phi Long lãnh may ra kiếm được vết tích đoàn ngựa chăng? Mất dịp bắt Xích Thố thì uổng công và đáng tiếc quá! Sớm mai ta lên đường.

Thái Đình Hoàng đồng ý, truyền lệnh cho các người phụ tá sửa soạn lưới dây và lương thực cho thiệt đầy đủ.

Quan Long nói :

- Muốn mang lưới theo thì tùy ý, nhưng riêng tôi chẳng cần dùng tới. Tôi có bửu bối lợi hại hơn nhiều.

TháiĐình Hoàng ngạc nhiên :

- Ủa! Bảo bối chi vậy?

Quan Long mỉm cười, lẳng lặng về phòng lấy ra một cuộn dây thừng tết rất kỹ, vừa mềm vừa chắc, lớn bằng ngón tay út, một đầu thắt nút lại, còn đầu kia thì buộc chiếc móc sắt đầu tròn.

- Sự ích lợi của sợi dây này như thế nào?

- Tiên sinh cứ cho một con ngựa không yên cương ra sân, tôi thử cho mà coi.

Thái Đình Hoàng bảo người nhà ra tàu lấy ngựa. Lát sau, tên gia nhân dắt ngựa vào sân. Con ngựa này còn dở dang nên chưa được thuần lắm. Quan Long khoác cuộn dây vào tay trái còn tay mặt thì cầm đầu dây có móc sắt.

Thấy người đến gần, con ngựa đứng không yên, bắt đầu cất vó xoay đi, xoay lại, hí lên mấy tiếng.

Quan Long lựa chiều đi vòng quanh, rồi bắt thần, cầm đầu dây có móc sắt hoa lên mấy vòng. Con ngựa hoảng quá, vùng chạy hai vó sau luôn luôn đá hậu. Quan Long, tay vẫn vung tròn đầu dây, lấy đà liệng mạnh. Cuộn giây tung ra ra như một vệt chớp dài, đầu giây quấn tròn lấy cổ con ngựa, chiếc móc sắt móc chặt lấy sợi dây thành ra buộc nút lấy cổ ngựa. Quan Long lựa tay rút dây khiến đầu nút siết chặt lại. Sợi dây do tay họ Quan đến cổ ngựa căng thẳng. Mới đầu, con ngựa còn vùng vẫy giật mấy cái, nhưng càng giật nút dây càng thắt chặt, nên nó đành đứng im. Quan Long lần đầu dây tiến đến sát con ngựa một tay vỗ vào cổ nó, một tay tháo chiếc móc sắt. Con ngựa được thả lỏng vùng ra chạy xuống phía cuối sân. Thái Đình Hoàng và mấy người đứng trong sân xem hoan hô lối bắt ngựa tài tình của họ Quan.

Quan Long cuộn dây lại theo một phương pháp riêng :

- Tôi chỉ lo đoàn ngựa rừng ấy bị động kéo đi miền khác thôi. Nếu chúng còn ở vùng này thế nào tôi cũng bắt kỳ được con mãnh mã đáng giá đó.

Hôm sau, Quan Long theo bọn Thái Đình Hoàng vào Phi Long lãnh. Mãi trưa, đoàn người ngựa mới tới thung lũng Xuyên Lâm. Thung lũng này khá rộng lớn, cây cao bóng mát, cỏ xanh mướt cao không quá bắt chân. Một bên là Phi Long lãnh, núi đá gồ ghề cao ngất, một bên là dãy đồi thấp thoai thoải, rừng cây lan tràn khắp mặt đồi làm biến vòng vèo như một đoàn trâu khổng lồ nằm úp xếp theo hàng chữ nhất. Gió thổi nhè nhẹ, mùi hoa rừng cỏ nội bốc thơm ngào ngạt.

Thái Đình Hoàng chỉ chân ngọn Phi Long lãnh :

- Có một làn suối lớn phát xuất từ dãy núi Phi Long băng qua đầu bên kia thung lũng, chảy theo dãy đồi bên tả, thành thử quanh năm khu nội cỏ này đều có nước, vì vậy nơi đây cỏ xanh mướt như tấm thảm nhung.

Quan Long cho ngựa đi ngang với Thái Đình Hoàng, chăm chú nhận xét xem có vết tích gì trên mặt cỏ không :

- Thái tiên sinh gặp đoàn ngựa rừng ở khu nào? Lâu rồi, dấu tích chắc bị cỏ lấp hết.

- Lần đầu ở gần ngọn đồi thứ ba bên kia, chuyến sau thì ngay gần chân núi chỗ rẽ sang bên hữu có gốc cây cao lớn kia kìa. Tại đây, dù đoàn ngựa lớn đi đến đâu dầy xéo đến đó, nhưng chỉ trong vòng mươi ngày là cỏ mọc lấp ngay.

Lát sau, đoàn người đi tới gốc cây cao lớn, bóng lá um tùm. Quan Long nói :

- Tiên sinh cho đóng trại ở đây vừa có bóng mát, vừa ở bên suối tiện dụng hơn cả.

Thái Đình Hoàng đồng ý, ghìm ngựa lại bảo mọi người :

- Hạ trại đi và sửa soạn cơm nước. Ta đi cùng Quan trang chủ, lát nữa quay về.

Quan, Thái hai người cho ngựa kiệu nhỏ đến chỗ thấy đoàn ngựa năm trước. Nơi đó, cỏ mọc xanh rì, không một chút dấu vết nào cả.

Hai người lại phi ngựa chạy vòng khắp thung lũng Xuyên Lâm, chú ý tìm kiếm, nhưng phí công, nơi nào cũng cỏ rậm cây xanh, như từ ngày xưa chưa có một kẻ phàm trần nào bước tới.

Thái Đình Hoàng lắc đầu nói :

- Tôi e bầy ngựa này đi nơi khác mất rồi.

Hai người ghì ngựa lại đi trước một. Quan Long nghĩ ngợi giây lát :

- Vừa rồi chúng ta vừa chạy vòng cả hai bên đồi núi, Thái tiên sinh có để ý tới sự gì lạ không?

Thái Đình Hoàng ngẩn mặt, nhìn họ Quan có ý hỏi sự lạ đó là gì.

Quan Long giải thích :

- Trong khi đi đường, tôi nhận thấy núi non hiểm trở, rừng cây bát ngát rậm rạp, ắt hẳn không phải là nơi trú ẩn của bầy ngựa hoang ấy, vậy chúng không do lối đi độc nhất đó vào nơi thung lũng có nội cỏ ngon lành này.

- Ngoài ra, ba bề thung lũng đều bị núi đồi bao bọc, vậy bầy ngựa đã đến và biến mất bởi lối nào?

Thái Đình Hoàng nghe Quan Long phân tích rõ ràng, đành im lặng không tìm được câu trả tiếp :

- Quan Long nói tiếp :

- Phi Long lãnh đây là cả một dãy núi trùng trùng, điệp điệp bắt đầu từ Xuyên Lâm ổ này. Hồi nãy, tôi nhận thấy nơi đầu trong thung lũng chỗ đồi và núi giáp với nhau, hình như có một con đường mòn, tuy chênh vênh, nhưng khả dĩ đi được, vậy tiên sinh đã thử vượt qua lối đó bao giờ chưa?

Chưa! Vì tôi không hề nghĩ rằng ngã đó có lối đi. Ngay lúc đầu tôi vẫn nói phía trong thung lũng bị núi rừng vít chặt.

Quan Long nói :

- Bây giờ, ta về trại, cơm nước xong xuôi, nếu tiên sinh không mệt nhọc, ta sẽ cho mấy người đi theo thám hiểm lối đi đó xem thế nào.

Thái Đình Hoàng cười :

- Như Trang chủ đã biết, tôi đi luôn đường trường phong sương dầu dải đã quen rồi, mới đi thế này đã mệt sao được!

Dưới bóng cây lớn, mấy căn lều vải được dựng lên rất gọn gàng. Đoàn người lăng xăng làm những việc cần thiết. Bầy ngựa tháo yên cương tung tăng ăn cỏ non bên bờ suối. Có con đứng hẳn xuống lòng suối uống một hơi dài, rồi cất đầu lên hí vang lừng.

Cơm nước xong, trời đã xế chiều. Quan Long nhìn trời mây rồi nói với Thái Đình Hoàng :

- Xét lại thấy trễ rồi. Để tôi vào thăm qua loa xem thế nào, sớm mai sẽ hay. Tuy đêm nay có trăng, lỡ phải ngủ trong núi cũng chẳng ích lợi chi.

Thái Đình Hoàng đứng dậy, thắt lại đãi lưng :

- Tôi cũng đi với Trang chủ.

Hai người lên ngựa phi một mạch tới chỗ giáp giới Phi Long và dãy đồi rừng cây rậm rạp.

Đá lởm chởm, lối đi hẹp. Những cành gai dóng sậy vươn ra ngáng cả khúc đầu đường. Móng ngựa sắt đạp trên đá lộp cộp vọng vang cả khu hoang vắng. Quan Long đi trước tuốt kiếm phạt đứt các cành cây, mở đường. Vất vả mất vài trăm bước đầu, nhưng đường mòn dốc lần lần, bụi rậm ven rừng không vươn tới nữa, lau sậy mỗi lúc một thưa, nhường chỗ cho vách đá nhấp nhô...

Thái Đình Hoàng nói :

- Đường mòn này ven theo sườn núi lên cao, bầy ngựa rừng có lẽ không qua đây!...

Quan Long suy nghĩ, chưa biết nói thế nào thì chợt trông thấy vật gì, ghìm ngựa lại quan sát kỹ.

Thái Đình Hoàng toan hỏi, thì Quan Long đã nói :

- Tiên sinh nhìn thử xem có phải dấu móng ngựa in trên đám cỏ này không?

Dứt lời, họ Quang xuống ngựa tiến đến chỗ có rêu phía trước nhận xét. Thái Đình Hoàng cũng bỏ ngựa đến xem.

Trên đám rêu lớn quả nhiên có nhiều vết chân ngựa tuy đã mờ đi nhiều.

- Đúng dấu móng ngựa đây, nhưng mờ quá. Kỳ thật, không ngờ bầy ngựa qua đây!

Quan Long cười lớn :

- Thế mà chúng đã qua đây thiệt. Tất thế nào cũng có dấu khác rõ rệt hơn.

Hai người lại lên ngựa đi rất chậm. Đường mòn mỗi lúc một rộng thêm và dốc thêm.

Tới một quãng có nhiều cát sỏi, Quan Long reo to :

- Kìa! Lại vết móng ngựa! Rõ rệt lắm không còn nghi ngờ chi nữa!

Quan Long và Thái Đình Hoàng cùng châu đầu nhận xét. Thái Đình Hoàng nói :

- Có vết ngược lẫn vết xuôi. Các vết ngược phủ hẳn lên vết xuôi ta có thể kết luận rằng bầy ngựa đã qua lối này xuống Xuyên Lâm ổ, và chúng cũng ra khỏi thung lũng ấy do đường này, phải không Trang chủ?
- Lập luật như vậy đúng, tôi đồng ý. Bây giờ chỉ còn có việc trở về trại vì sắp tối rồi. Sáng mai, ta cứ theo đường này đi sâu vào xem sao.

Hai người vui mừng trở về trại.

Thái Đình Hoàng nói :

- Nếu không nhờ sáng ý của Trang chủ thì có lẽ không bao giờ tôi vào tới đây kiếm bầy ngựa quý kia.

- Chưa đáng mừng đâu, tôi còn e chúng đã dò đường đó đi nơi khác mất tích.

- Dù sao tôi cũng quyết theo dấu vết tìm cho kỳ thấy cả bầy mới nghe!

Đêm hôm ấy trăng sao vằng vặc, trong vòm trời lam huyền vẫn nhẹ, mấy đợt mây trắng lơ lửng bay về phương xa. Ngọn Phi Long lãnh ngạo nghễ vươn mình trong trời khuya. Nhờ ánh trăng vàng độn phía sau núi, ngọn núi ấy quả giống hệt đầu con rồng đang vươn mình trong không trung. Đoàn người tùy tòng kẻ ngồi, người nằm quanh đống lửa trại chập chờn...

Như đã quen với cuộc đời du mục, một người đem theo cả cây đờn tỳ bà, dựa lưng vào đống yên ngựa, gãy lên những điệu nhạc mê ly. Một người nữa gõ ống bương thay trống bậy bùng, man dã nhịp theo điệu đờn lãng tử lả lướt êm ru.

Hai anh em du mục tốt giọng đồng ca. Tiếng ca tuy nhè nhẹ nhưng cũng đủ vang vội cả khu Phi Long hoang vắng:

"Lạc vào Xuyên Lâm ổ,

Hồn bay theo tiếng gió,

Chênh vênh vành trăng bạc,

Cỏ thơm độn gối nằm...

Mái lều hoa đương lợp,

Bầy tinh tú chơi vơi.

Gío reo trên mặt suối,

Chim đêm hót xa vời,

Anh hùng tay kiếm chống,

Vó ngựa đập vang vang...

Bốn phương hồn lặng về đâu tá?

Lặng lẽ non sâu, vắng bóng người!"

Sáng hôm sau, để lại hai người coi trại, còn thì tất cả theo Quan Long, Thái Đình Hoàng vào thám hiểm con đường mòn mới tìm ra. Đoàn người ngựa đi tới chỗ tìm thấy dấu chân ngựa hôm qua và tiến sâu vào trong núi. Đường đá vẫn gồ ghề, vách núi chênh vênh, chỉ khẽ trượt chân là lao xuống vực. Được cái là con ngựa nào cũng khỏe mạnh, leo đường núi rất vững chắc.

Khởi hành từ đầu giờ Mão sang đến giữa giờ Thìn, đường không dốc nữa và mỗi lúc một rộng lớn hơn khúc đầu. Nơi nào có rêu hay cát sỏi nhiều thì cũng có in dấu chân ngựa như đã thấy. Đường đi bằng phẳng được khúc dài rồi lại bắt đầu lên dốc. Quan Long dừng ngựa nhận xét kỹ ngay ở khúc này có một lối xuống dốc khả dĩ đi được, bèn nói với Thái Đình Hoàng.

- Không lẽ leo dốc mãi! Đây có lối xuống, chắc bầy ngựa theo ngã này.

Thái Đình Hoàng nói :

- Trong bọn bộ hạ theo đây, có người sành leo núi và kiếm dấu vết lắm. Để tôi cho y đi tiên phong, chúng ta có thì giờ nhìn phong cảnh hơn.

Nói đoạn, họ Thái gọi :

- Lý Thôi! Bỏ ngựa cho người đoạn hậu dắt theo. Ngươi theo lối nhỏ này đi tiên phong, cố tìm các dấu chân ngựa nhé!

Lý Thôi vâng lệnh lanh lẹ tiến lên trước.

Đoàn người ngựa lại bắt đầu chuyển động theo sự hướng dẫn của Lý Thôi.

Đi được một quãng đường dài, Lý Thôi nói lớn vọng về phía sau :

- Có nhiều vết chân ngựa trên cát.

Quan Long và Thái Đình Hoàng mừng rỡ nhìn nhau.

- Hay lắm! Cứ tiến đi.

Đường đi lại bắt đầu vướng bởi lau sậy và các bụi cây nhỏ. Lý Thôi đi trước dùng đao phát mở đường. Thái Đình Hoàng cho thêm một mục tử nữa lên trước giúp họ Lý. Đường xuống dốc dần dần, sang đầu giờ Tỵ thì mọi người xuống tới chân núi, và bắt đầu nhập một thung lũng cây cỏ tươi tốt y hệt bên Xuyên Lâm ổ.

Quan Long đắc ý nói :

- Có thế chứ! Cuộc đi này chẳng uổng công!

Bỗng đoàn ngựa, con nào cũng cất đầu, cất vó cao, thở mạnh như cảm thấy sự chi lạ.

Thái Đình Hoàng nói :

- Ngựa đánh hơi thấy lạ.

Mọi người ai nấy đều chăm chú nhìn khu đất mới tới hãy còn che khuất bởi sườn Phi Long lãnh. Bỗng nhiên có tiếng chuyển động, ầm ầm nhu muôn vạn tiếng sấm nổ tuy nền trời vẫn xanh lơ quang đãng.

Thái Đình Hoàng vội nói lớn :

- Nép cả vào sườn núi. Có bầy ngựa chạy.

Mọi người vội vàng rẽ ngựa núp cả vào các hốc đá và bụi cây um tùm. Tiếng ầm ầm mỗi lúc một lớn khiến mấy con ngựa phải xôn xao, đứng không yên chỗ.

Thế rồi, từ góc núi bên kia, một bầy ngựa độ năm mươi con phi như gió, cỏ rạp cả xuống đất, bụi cát bay mù, tiến ra theo địa thế vòng vèo của thung lũng. Dẫn đầu là một con Bạch Mã cao lớn bờm và đuôi đen mướt.

Quan Long nói :

- Kìa! Sao lại Bạch Mã dẫn đầu?

Thái Đình Hoàng cũng ngạc nhiên :

- Chắc là con mãnh mã màu đỏ làm sao rồi. Ta tiến theo bầy ngựa này xem sao.

Mọi người vừa thúc ngựa ló ra thì tiếng ngựa đạp đất ầm ầm lại từ xa vang tới thành thử ai nấy phải vội vàng núp vào chỗ cũ xem sự thể thế nào. Một bầy ngựa nữa tiếng ra, đông hơn bầy trước, hồng mã bờm đen dài sượt dẫn đầu. Xích Thố cao lớn phóng như bay, hùng dũng bốn vó như chỉ chạm nhẹ xuống mặt đất lại cất lên liền. Bầy ngựa chạy theo cũng không kém, con nào cũng khỏi mạnh dị thường.

Xích Thố chạy theo lối của đoàn Bạch Mã hồi nãy.

Mọi người mãi nhìn, chờ bầy ngựa hoang chạy khuất mới nhô ra.

Thái Đình Hoàng nói :

- Bầy Xích Thố đấy. Thì ra, bây giờ lại có hai bầy khác nhau! Con Bạch Mã cũng đẹp lắm.

- Nhưng hỏng vì bộ bờm và đuôi đen. Tôi ưa bạch tuyền. Nào! Bây giờ phải mạo hiểm mới được. Ta theo xem chúng chạy đi đâu chứ?

Không chờ trả lời, Quan Long thúc ngựa chạy trước theo ven sườn núi, phòng khi cần cấp sẽ có thể núp ngay vào sau các phiến đá lớn. Ta khỏi góc núi, thung lũng rộng lớn không kém chi bên Xuyên Lâm ổ, và một cảnh lạ kỳ đang diễu ra ngay trước mắt mọi người. Bầy Bạch Mã choán phía bên kia thung lũng, còn phía bên này là bầy Xích Thố. Cả hai bầy, con nào cũng quay đi nhảy lại lăng xăng, cất vó trước, đá vó sau, hí vang rầm như những kiện tướng ra trận dương oai, diệu võ lúc sắp giao đấu. Xích Thố và Bạch Mã đứng tách hẳn đoàn ra như hai viên chủ tướng, rung bờm, vắt đuôi, bốn vó thon cao xoay đi xoay lại thật kiêu hùng.

Bọn Quan Long, Thái Đình Hoàng vẫn theo sườn núi đi lần ra khúc giữa quan sát hai bầy ngựa. Thái Đình Hoàng nói :

- "Các bầy ngựa rừng kỳ cục lắm. Mỗi bầy theo sự hướng dẫn của một con đầu đoàn. Con đầu đoàn phải luôn luôn tỏ ra mình có sức mạnh. Nếu con đực nào trong đoàn quật cường thì con đầu đoàn phải đàn áp bằng cách cắn, đá cho tới lúc con kia phải chạy chịu thua hay bị táng mạng mới thôi. Những con cái của con ngựa bị chết sẽ thuộc về phần con chiến thắng.

Trong một bầy ngựa có nhiều con đực. Mỗi ngựa đực có tới bốn, hay năm hay sáu con cái, thuộc quyền sở hữu của nó. Nếu "gia đình" nào không phục con đầu đoàn thì cứ việc tách khỏi đoàn sống biệt lập. Nhưng sống biệt lập là cả một sự phiêu lưu nguy hiểm mỗi khi gặp loài hổ báo mà con đực không chông trả nổi. Bởi vậy, ít "gia đình" dám lìa đoàn.

Khi con đầu đoàn già yếu, thường bị các "tay em" đang thời, đang sức cưỡng lại và thách thức. Trong trường hợp này, con đầu đoàn dù biết sức mình kém yếu cũng vẫn can đảm nhận đấu và đấu cho đến lúc kiệt sức không đứng nổi nữa nằm dài xuống đất đưa đầu ra cho đối thủ cất cao hai vó trước bổ mạnh xuống bể sọ, chết tại chiến trường một cách can đảm anh hùng.

Sau khi đã hạ sát xong con đầu đoàn, con chiến thắng vẫn đứng giữa chiến trường lộng hí, nhào, nhảy, quẫy đuôi, tung bờm, như có ý thách thức kẻ nào dám ra tranh đấu "chức" đầu đoàn với nó nữa không.

Nếu không còn con đực nào nhận đấu nữa, tự khắc chức đầu đoàn về con chiến thắng, và no vừa phi vừa hí quanh bầy ngựa mấy vòng, và từ đó lãnh đạo dẫn đầu như con đầu đàn cũ vừa táng mạng.

Khi một đoàn ngựa rừng đang chiếm cứ khu đồng cỏ nào mà có đoàn khác đến tranh giành thì thế nào cũng phải có cuộc tương tranh giữa hai con đầu đoàn.

Cuộc tương tranh phải một mất một còn. Con đầu đoàn nào bị chết thì đoàn ấy tự ý sát nhập vào đoàn chiến thắng và chịu theo trưởng đoàn mới như không có sự gì xảy ra cả.

Đó, có lẽ là trường hợp của Xích Thố đang sắp sửa tranh đấu với Bạch Mã bây giờ!"

Quan Long nghe Thái Đình Hoàng dẫn giải một hồi về tư chất của ngựa rừng, rất phục họ Thái hiểu rộng biết nhiều về môn này.

- "Thái tiên sinh, trong hai con Xích Thố, Bạch Mã đồng lực đồng tài, tôi e cho Xích Thố quá.

Trang chủ nhận xét kỹ lại, Xích Thố nhỏ con hơn nhưng ức lớn, bốn vó tròn thon rất mạnh và lẹ hơn. Còn Bạch Mã, mới thoạt trông, ai cũng tưởng lớn hơn Xích Thố, kỳ thật chỉ có lớn eo, bốn vó lại to, tất thế nào cũng chậm chạp hơn Xích Thố. Theo tướng ngựa, điểm này bất lợi lắm. Dù sao, con Bạch Mã cũng là đẹp lắm.

Chúng ta nên nép cả vào đây chờ xem kết quả trận đấu ra sao đã. Bây giờ nhất định không thể hành động thế nào hơn là đóng vai khán giả tạm thời..."

Giữa thung lũng, hai đoàn ngựa càng hí vang động như cổ võ chủ soái ra quân.

Bạch Mã quay cuồng chồm lên mấy cái rồi nhắm hướng Xích Thố phi thẳng đến mạnh mẽ vô cùng.

Bên này, trái lại, Xích Thố không vùng vẫy, nhưng oai dũng đứng chờ, cất mũi cao thở mạnh.Khi nhận thấy Bạch Mã cất vó phi thì Xích Thố cũng bật lên vùn vụt như tên bắn nhắm thẳng Bạch Mã phóng tới... Ai cũng tưởng hai con mãnh mã ấy sẽ va mạnh vào nhau và cũng té bật ngửa ra phía sau. Nhưng không! Chúng chồm đứng hai chân sau, bổ hai vó trước vào ức vào cổ, ghé đầu đẩy mạnh cho đến lúc Bạch Mã mất thăng bằng phải đứng hai vó xuống đất. Nhè lúc ấy, Xích Thố nhắm đầu Bạch Mã bỏ cả hai vó trước thiệt mạnh. Bạch Mã né sang bên tránh kịp. Trượt đòn Xích Thố phải động hai chân trước xuống đất.

Thừa thế, Bạch Mã cất vó hậu đá vô bụng Xích Thố. Lanh lẹ, Xích Thố nhảy tránh sang bên và chồm luôn hai vó trước lên cao bổ xuống sống lưng Bạch Mã, Bạch Mã né kịp. Cả hai con cùng chạy xa nhau ra mấy bước rồi quay ngoắt lại chồm lên nhau như lúc ban đầu. Trận đấu rất ác liệt, bụi bay mịt mù. Tiếng chân dậm thình thịch xuống đất, vó đập trúng nhau cồm cộp, hơi thở phì phò. Chờ Bạch Mã nhào xuống trước, Xích Thố quất luôn đuôi vào mắt địch thủ, đồng thời phóng luôn hai vó sau trúng cổ Bạch Mã. Trúng đòn cổ Bạch Mã bị toạc ra máu bắt đầu chảy. Rống lên, Bạch Mã quay cuồng chống trả mãnh liệt, nhưng Xích Thố lanh lẹ vô cùng tránh hết đòn. Hụt nhiều đòn, Bạch Mã đâm ra mệt nhọc chậm chạp hơn, tuy cũng hãy còn đủ sức khỏe trả đòn.

Ngọn đuôi của Xích Thố rất lợi hại, luôn luôn quất trúng mắt địch thủ khiến Bạch Mã tối mắt lại, bị trúng luôn hai vó hậu vào bụng té lăn ra mặt đất. Chưa kịp đứng hẳn dậy thì bị luôn hai vó trước của Xích Thố chồm cao lên dộng mạnh xuống như hai cái chày... bốp. Trúng đòn nặng vào giữa gáy, Bạch Mã rống lên đau đớn... Xích Thố hí lên mấy tiếng đắc thắng, chồm cao lên thực mạnh hai vó trước xuống nhằm đầu đối thủ. Không còn sức lánh nữa, Bạch Mã nằm êm chịu đòn, đầu bể nát, máu phọt ra như suối giãy chết. Đắc thắng, Xích Thố chạy quanh xác Bạch Mã, hí vang, nhào lên, nhào xuống mấy cái như muốn thách bày ngựa bên kia, nhưng kỳ thay, bày ngựa đối phương đã đứng im chứ không xôn xao như trước nữa...

Thái Đình Hoàng nói :

- Bầy Bạch Mã chịu hàng thuận rồi, Xích Thố sắp dồn hai bầy vào với nhau cho mà coi.

Quả vậy! Xích Thố phi như bay chạy quanh bầy ngựa mới chinh phục được mấy vòng.

Đoàn Bạch Mã chuyển động chạy sang tự sát nhập vào đoàn Xích Thố, Xích Thố phi vòng quanh thung lũng cho bày ngựa trên một trăm con chạy theo. Lát sau chúng ngừng lại, ăn cỏ như không có việc gì vừa xảy ra cả.

Quan Long nói :

- Đến lượt tôi làm quen với Xích Thố đây. Con này có miếng quất đuôi hay thật.

Dứt lời, chàng phóng ngựa ra giữa thung lũng, tay tả cầm sẵn cuộn thừng, tay hữu cầm đầu dây có móc sắt, điều khiển ngựa bằng vế đùi. Quan Long cho ngựa chạy nước kiệu trước mạnh, sau nhỏ quanh Xích Thố, cách tới chín mười trượng. Bầy ngựa cùng cất đầu lên đánh hơi, nhưng giây lát lại cúi xuống ăn cỏ như thường, trừ có Xích Thố vẫn cất đầu cao, hí nhẹ, bờm và đuôi bay theo chiều gió, trông như bực thần mã.

Quan Long mỗi lúc một gần tới Xích Thố. Trước còn đứng yên nhìn, tới lúc thấy cặp người ngựa lạ đến gần, Xích Thố bèn vùng lên phi thiệt lẹ.

Quan Long cũng thúc ngựa rượt theo. Con tuấn mã của họ Quan cũng hay lắm phi như tên bắn không nhường bước Xích Thố chút nào cả. Chạy vòng khắp thung lũng, lúc quặt tả, khi quặt hữu, có lúc đứng dừng hẳn lại, Xích Thố cố điều khiển cuộc chạy như có ý tinh khôn muốn làm cho ngựa lạ lỡ bước để bỏ xa.

Quan Long cũng tinh ý dự đoán được lối chạy của Xích Thố nên chàng điều khiển ngựa không bỏ lỡ bước nào hết. Tuy vậy, chàng vẫn để phòng phi ngựa cách Xích Thố độ hai trượng để phòng bị miếng đòn đuôi lợi hại. Rượt như vậy một hồi khá lâu, Quan Long nhắm hai vó sau của Xích Thố, tung dây quấn chặt. Đang phi mạnh, bị dây chằng vướng vó sau, Xích Thố mắt đà, té lộ đi mấy vòng.

Quan Long giật mạnh cho móc sắt tuột ra, thâu dây lại và thừa dịp ấy tiến lên, chờ Xích Thố đứng dậy, chàng phóng dây quấn chặt cổ con mãnh mã và đồng thời từ ngựa mình nhảy vụt sang lưng Xích Thố siết chặt dây lại. Xích Thố vùng lên hí vang, dữ tợn, cất hai vó trước thiệt cao cố ý hất Quan Long xuống đất.

Nhưng, cầm chặt mối dây, hai đùi như hai gọng kềm cặp chặt lấy bụng ngựa, nên không bị té. Dộng hai vó trước xuống đấy, Xích Thố vùng ra phi nước đại như muốn làm Quan Long mất thăng bằng. Nắm chắc mối dây và bờm ngựa, Quan Long cúi xuống cổ ngựa mặc cho nó chạy. Bỗng Xích Thố dừng hẳn lại, cúi đầu xuống đất, hất hai vó sau lên cao nhiều lần muốn quật Quan Long ra phía trước, nhưng vô ích, họ Quan dính liền trên lưng Xích Thố, hai đùi cặp chặt như chiếc đai vào bụng ngựa, tay siết chặt mối giây. Hồi lâu người và vật thử sức nhau, Xích Thố không thể nào hất Quan Long té nên đành chạy thẳng. Phần bị Quan Long không nới tay, Xích Thố khó thở, chạy yếu dần, không quật cường hung hãn như lúc ban đầu.

Mặc cho mãnh mã chạy, Quan Long nới dần mối dây tay kia vỗ nhẹ vào cổ ngựa, miệng thét mấy tiếng :

- Xích Thố! Xích Thố! Không được hung hãn!

Tuy vẫn từ từ nới mối dây, Quan Long thúc nhẹ chân vào hông ngựa, Xích Thố phi lẹ hơn, kiệu rất êm như một con ngựa được luyện tập thuần phục rồi. Quan Long nới hẳn mối dây hai đùi điều khiển đường chạy, Xích Thố theo đúng như ý muốn. Quan Long mừng rỡ không ngờ hàng phục được Xích Thố theo đúng như ý muốn, mau lẹ như vậy. Chàng điều khiển ngựa chạy từ từ quanh bầy ngựa rừng mấy vòng rồi rẽ Xích Thố ra chỗ bọn Thái Đình Hoàng, Xích Thố đi bước một như ngựa đã thuần, không hề tìm cách bạo động. Chưa tin hẳn, Quan Long cho ngựa đi thong thả, quanh nơi co người mấy vòng rồi mới nhảy xuống đất.

Bọn mục tử thạo nghề đã tháo yên cương con ngựa cũ của Quan Long cầm ra đóng cho Xích Thố, trong khi Quan Long vẫn giữ mối dây nới lỏng trên cổ nó, Xích Thố xoay đi, xoay lại muốn cưỡng. Quan Long vỗ vào cổ, nói mấy câu, nó đứng yên ngay như họ Quan là chủ nó đã từ lâu rồi. Thái Đình Hoàng đứng ngoài cũng phải lấy làm lạ nghĩ thầm có lẽ Quan Long và Xích Thố là hiện thân của Quan Vân Trường và con bảo mã thời Tam Quốc, chớ không khi nào một con ngựa rừng đã thuần tánh mau lẹ như vậy. Yên cương đã đón xong Quan Long nhảy lên ngồi buông lỏng cương cho Xích Thố chạy kiệu nhỏ, kiệu lớn nhiều vòng rồi mới trở về chỗ mọi người đứng.

- Thái tiên sinh ạ, trời gần tối rồi, đêm nay đốt lửa ngủ lai đây sáng mai hãy trở ra Xuyên Lâm ổ sớm.

- Tôi cũng nghĩ như vậy, chúng ta ngủ ở dưới hốc đá kia kìa.

Dứt lời, Thái Đình Hoàng bảo bộ hạ tìm suối lấy nước cho ngựa uống. Đoàn mục tử, kẻ việc nọ, kẻ việc kia, lanh lẹ vô cùng, không bao lâu, chúng đã gây được đóng lửa, nấu ăn với các vật dụng đem theo. Để nguyên cả yên cương, Quan Long buộc Xích Thố vào cây nhỏ và nằm liền ngay gần đó.

Sáng hôm sau Quan Long cưỡi Xích Thố len lỏi vào giữa đám ngựa rừng sau đó chàng rẽ ngựa vào đường núi. Quả nhiên bầy ngựa chạy theo Xích Thố và khi tới đường hẹp trong núi chúng nối đuôi đi hàng một. Bọn Thái Đình Hoàng đi áp hậu. Trưa hôm ấy về tới Xuyên Lâm ổ.

Thái Đình Hoàng ra lệnh nhổ trại, cùng Quan Long đi trước, dẫn bầy ngựa rừng về Thái gia trại ở Phù Linh huyện. Thái Đình Hoàng gọi thợ chuyên môn trong trang trại sửa lại bờm, đuôi và lông hai vó sau cho Xích Thố.

Thấy người lạ Xích Thố không chịu, cắn đá, thợ không dám lại gần. Quan Long phải đứng bên giữ, vất vả lắm người thợ mới làm xong phận sự. Sửa sang xong, Xích Thố đẹp và kiêu hùng hơn trước nhiều, lông bóng mượt, sắc đỏ thẫm như chu sa, ức to, cổ rộng, người trong trại cũng trầm trồ khen ngợi.

Thái Đình Hoàng nói với Quan Long :

- Chúc mừng Trang chủ thâu phục được con thần mã trúng ý. Tôi có một bộ yên cương mới đồng màu với sắc Xích Thố và có lẽ rất vừa xin kính tặng Trang chủ.

Nói đoạn, họ Thái sai gia nhân vào nhà trong lấy bộ yên đỏ ra đóng thử cho Xích Thố thì vừa vặn như in.

Quan Long rất lấy làm đắc ý, nói mấy lời cảm ơn.

Thái Đình Hoàng cười :

- Sá chi món quà nhỏ mọn ấy! Trang chủ vừa cho tôi cả bầy ngựa rừng trên một trăm con đó sao?

Tối hôm ấy, Thái Đình Hoàng bày tiệc ăn mừng cuộc thâu phục Xích Thố và cũng là mừng một chuyến buôn lời nhiều mà không mất vốn.

Nghe lai lịch và chuyện thâu phục Xích Thố, anh em họ Chu rất lấy làm thích thú, Ba người uống rượu ở Mã Thạch Quán đến trưa mới về nhà. Trong bữa tiệc tối hôm ấy, anh em Chu gia yêu cầu Quan Long vâng lời, xắn áo, truyền hai tên gia nhân vào vác cây đao thờ ra trước bàn tiệc, Quan Long xách đao bái tổ, thoái bộ lại ba bước, đem tận lực bình sanh ra biểu diễn bài Long Đao lịch sử ấy. Lưỡi đao lượn khắp bốn phương, tám hướng, làn đao quay trong vùn vụt như chớp giật mưa gào dương đông kích tây, dữ trên đánh đuổi, Quan Long xông xáo chẳng khác chi mãnh hổ, người và đao quyện lấy nhau, trông vừa ngoạn mục vừa dữ dội vô cùng, quả không hổ danh con nhà tướng.

Anh em Chu gia khen ngợi không ngớt miệng.

Biểu diễn xong bài đao, Quan Long trở lại bàn tiệc, mặt không biến sắc, hơi thở vẫn đều hòa nhẹ nhàng như thường.

- Chu đại ca thực thà thấy bài đại đao họ Quan thế nào?

Chu Đức Kiệt cả cười :

- Hiền đệ còn khách khí hỏi ngu huynh như vậy sao? Quả rất xứng đáng danh tướng môn, tài đánh đao của hiền đệ liệu trên đời này có được mấy người? Chẳng trách khi xưa lệnh nội tổ lấy đầu Nhan Lương, Văn Xú không đầy nháy mắt.

- Ấy cũng nhờ ở tay đao lẹ hơn chớp giật và hộ vó Xích Thố lướt như bay đó sao? Chừng nào quốc gia hữu sự, Quan hiền đệ ắt phải tay phò Vua, giúp nước, với tay đao bách chiến bách thắng ấy, hiền đệ thế nào chẳng thừa sức ghi nhiều chiến công hiển hách chốn sa trường?.. Ngu huynh xin mừng hiền đệ làm ly rượu bái phục này.

Dứt lời, Chu Đức Kiệt cung kính hai nâng ly rượu lớn đưa mời Quan Long.

- Đại ca cho thì uống, võ nghệ của ngu đệ chẳng qua chỉ là việc múa rìu qua mắt thợ trước lòng bao dong của đại ca thôi!

Quan Long đỡ lấy ly rượu uống cạn.

Chu Đức Kiệt nghiêm nét mặt nói :

- Ngu huynh thiệt tình ca ngợi đó! Nói tới hai chữ võ nghệ thì quá rộng nghĩa với sự bành trướng tiến triển về khí giới trường đoản, và quyền cước cùng các môn nội ngoại công phu của thời đại này. Nhưng trên chiến trường tung hoành trong đám quân trăm vạn, hổ tướng ngàn viên, thì hiền đệ tất là một viên mãnh tướng khiến địch quân phải kinh hồn táng đởm. Ngu huynh không dám nói sai.

Lam Y nghe hai người đàm luận thì có vẻ suy nghĩ.

Quan Long thấy vậy hỏi :

- Chu muội nghĩ chi vậy? Ý kiến của hiền muội thế nào?

Nàng mỉm cười đáp :

- Bất tất phải bàn cãi về tài dũng tướng của Quan đại ca nữa. Ý kiến của gia huynh đã đầy đủ. Vừa rồi, ngu muội nghĩ về hai thứ khí giới trường và đoản thôi.

- Nhị vị hành hiệp, thường dùng đoản khí, vậy có sở trường về khí giới trường không?

- Có chứ. Như gia huynh ưa dùng đại đao và rất phục Hán Thọ Đình Hầu. Còn ngu muội thích đánh bát xà mâu như Trương Dực Đức hay Lâm Xung thuở trước.

- Nhà có đủ khí giới, chắc cây mâu không vừa tay hiền muội. Chi bằng sẵn cây Yển Nguyệt Long Đao tốt đây, mời Chu đại ca biểu diễn thử cho ngu đệ được học hỏi thêm về môn đao pháp.

Mỉm cười, Chu Đức Kiệt đứng lên :

- Xin vâng, nhưng chớ cười tài hèn múa rìu qua mắt thợ nhé!

Hai gia nhân hãy còn dựng cây đao chờ đó. Chu Đức Kiệt đón lấy, nhảy ra trước bàn thờ Quan Võ biểu diễn bài Yển Nguyệt Long Đao của họ Quan. Làn đao loang loáng như tuyết tỏa, sương tan, bật thành tiếng gió rít như lụa xé. Múa một bài đao gia truyền của họ khác mà đạt tới mực ấy thì quả thế gian này ngoại trừ Quan Long, chỉ có một mình chàng.

Quan Long giật mình ngơ ngác không hiểu tại sao bài đao gia truyền của họ Quan lại được Chu Đức Kiệt biết biểu diễn một cách bảo công phu không sai mảy may nào cả. Hay là họ Chu có trí nhớ, thâu nhận được hết bài đao tuyệt kỹ ấy trong lúc chàng phô diễn đao pháp hồi nãy?

"Không!".

Dù sáng trí đến mấy cũng không thể nhìn một lần mà theo nổi một bài đao như vậy được. Tất có nguyên do gì. Liếc nhìn thấy Quan Long vẻ mặt nghĩ ngợi. Lam Y hiểu ý chỉ mỉm cười rất tự nhiên. Biểu diễn xong bài đao, Chu Đức Kiệt bái tổ trước bàn thờ, cắm đao vào giá, rồi mới trở lại bàn tiệc.

Quan Long vội hỏi :

- Đại ca có thể cho tiểu đệ biết nguyên do việc học đao pháp nhà họ Quan ra sao không?

- Trước khi trả lời, ngu huynh muốn biết ý kiến của hiền đệ về lối biểu diễn vừa rồi ra sao đã.

- Nếu có một danh sư nào trông thấy đao pháp của chúng ta khi sử dụng bài Yển Nguyệt Long Đao, chắc phải lầm đại ca là con trưởng nhà họ Quân này rồi.

Chu Đức Kiệt nhìn thẳng vào mặt Quan Long giây lát rồi nói :

- Chính gia thúc phụ và cũng là sư phụ của ngu huynh đã truyền lại bài Long đao này. Người có cho ngu huynh biết đó là đao pháp của Quan Võ thuở trước, chớ không nói vì lẽ gì. Người sử dụng nổi bài đao ấy, ngờ đâu bữa nay lại gặp Quan hiền đệ là chân chủ lối đao pháp huyền diệu ấy, Hay là...

Chu Đức Kiệt chợt im lặng, sự nghĩ ngợi hiện trên nét mặt.

Lam Y mắt sáng long lanh chăm chú nhìn anh.

Quan Long nóng ruột hỏi :

- Hay là... sao hả đại ca?

Chu Đức Kiệt trầm ngâm :

- Hay là mấy đời về trước chúng ta đã có họ xa với nhau? Trong cuốn gia phả nhà họ Chu có ghi nhủ danh bà nội tổ của ngu huynh họ Quan tên Thái Cẩm, nhưng không ghi sanh quán ở nơi nào! Gia phụ và gia thúc có nói rằng nội tổ là một trang cân quắc võ nghệ tuyệt luân. Biết đâu hồi xưa Người không phải là một nhân vật có liên hệ với họ Quan của hiền đệ?

Quan Long vui mừng ra mặt, đứng lên vái Chu Đức Kiệt :

- Thế ra biểu huynh và biểu muội đây mà ngu đệ không biết! Chúng ta có họ với nhau chắc chắn rồi.

Dứt lời, Quan Long đến bàn thờ lấy xuống một chiếc hộp bằng gỗ trầm chạm trổ rất công phu đem lại đặt trên chiếc kỷ, mở ra lấy một cuốn sổ mở ra đưa cho anh em họ Chu coi.

- Biểu huynh và biểu muội xem kỹ, Quan Thái Cẩm là chị ruột của tứ đại nội tổ. Bà xuất giá năm mười tám tuổi, kết duyên cùng người họ Chu tên Đức Điền người Bắc Trực Lệ. Không ghi rõ hơn nữa.

Anh em Chu gia cũng mừng rỡ vô cùng.

Chu Đức Kiệt nói :

- Tên và thế hệ trùng nhau là chắc chắn đúng rồi. Cũng vì anh em ta có mối tình liên lạc nên Hán Thọ Đình Hầu linh thiêng báo mộng xui giục cho ta gặp nhau đó.

Lam Y cười ròn rã :

- Ngu muội kết luận thế này: Tứ đại nội mẫu là người họ Quan, xuất giá năm mười tám tuổi mà là vị cân quắc anh thư, tất hẳn phải biết bài Yển Nguyệt Long Đao gia truyền của dòng họ mình. Sau đó, bà mới truyền lại cho con và từ con đến cháu là thế. Như vậy họ Chu sở trường cả hai môn Đao pháp gia truyền trường và đơn, phải không nhị vị hiền huynh?

Chu, Quan hai người cùng gật đầu khen phải. Quan Long cất cuốn gia phả vào hộp rồi sai nữ tì vào mời phu nhân ra. Lát sau Tôn thị dắt Quan Hổ đi ra. Quan Long đem chuyện vừa rồi nói cho vợ nghe. Tôn Thị vốn người hiền thục, nghe chồng nói cũng vui mừng, cùng anh em Chu gia giao bái nhận họ.

Lam Y nói :

- Bây giờ đã là người họ rồi. Chắc Quan tẩu tẩu chẳng hiềm chúng tôi là võ biền, cùng ngồi đàm đạo cho vui...

Quan Long bảo Quan Hổ quỳ lạy anh em Chu gia kêu là bá phụ và cô mẫu. Tuy mới lên sáu tuổi, nhưng Quan Hổ đã rất đĩnh đạc, khỏe mạnh không hổ dòng dõi tướng môn.

Chu Đức Kiệt hỏi Quan Long :

- Vài bữa nữa biểu đệ nên cùng ngu huynh đi Kim Lăng chơi, xem đấu mã luôn thể.

Tôn thị cũng nói :

- Anh em mới gặp nhau, phu quân nên đi chơi một phen. Xong hội lại mời biểu huynh biểu muội về Quan gia chơi vài tháng sẽ hay.

Lam Y nói :

- Vì đã trót hẹn với mấy người bằng hữu nên phải đi, tuy vậy thế nào gia huynh và ngu muội cũng sẽ có dịp trở qua Mã Thạch cương và khi đó ở nhiều ngày, chị em ta sẽ có nhiều thì giờ đàm đạo...

Trước kia, Quan Long không muốn đi Kim Lăng xem hội một mình, nay có thêm anh em họ Chu nên chàng đổi ý muốn đi một chuyến xem sao. Hơn nữa, chàng sẽ kết giao với các anh hùng bằng hữu của họ Chu luôn thể. Chàng bảo Tôn thị :

- Được! Tôi đi cùng biểu huynh, biểu muội đi Kim Lăng ít ngày, việc nhà hoàn toàn trông cậy ở sự điều khiển của hiền thê. Nhất là chớ chiều thằng Hổ dong túng nó vào trong thôn đánh nhau với trẻ khác nhé!

Quan Long hỏi với anh em Chu gia :

- Sáng ngày một, chúng ta lên đường mới kịp. Biểu huynh hẹn tụ hội với các vị anh hùng ở khu nào tại Kim Lăng?

Chu Đức Kiệt nói :

- Nơi chỉ định cho cuộc tụ họp là Hoa Vương Lầu. Hiền đệ có thuộc Kim Lăng không?

- Tửu lầu đó gần phủ Thuận Vương, rộng lớn, sang trọng lắm. Theo ý ngu đệ, ta chẳng nên tụ hội tại nơi quá ư lộ liễu ấy.

- Ủa! Tại sao vậy?

- Nghe nói Thuận Vương tổ chức một hệ thống do thám khá lớn láo để dò xét những nơi trà thất, tửu lầu. Chi bằng đến ngụ tại nhà một người bạn của tiểu đệ, kín đáo hơn.

Lam Y nói :

- Hôm ở Dương Châu mọi người cũng đồng ý họp nhau ở Hoa Vương lầu cho dễ tìm. Sau đó sẽ kiếm tửu quán nào vắng vẻ để trọ. Số bạn bè có tới mươi người, liệu đến nơi tư gia có tiện không? Chưa kể ngựa nữa đó.

Quan Long cười vang :

- Biểu muội đừng lo. Nơi mà chúng ta sẽ tới đây là một trang trại có thể chứa được nhiều thực khách. Chủ trang là Cao Thiệu Đàm tự Lăng Quân năm nay ngoại tứ tuần, vốn nhà nho nhã, tánh tình hào sảng rất ưu thích kết giao với anh hùng, quân tử trong thiên hạ. Giàu có từ bao đời rồi, ruộng nương thẳng cánh cò bay, Cao Thiệu Đàm ưa làm việc nghĩa cho nên được lòng rất nhiều người, ai ai cũng kính nể. Chúng ta ở đó yên trí lắm. Năm ngoái, họ Cao đi Dương Châu có nán lại đây ít ngày, mà lần nào đi Kim Lăng, ngu huynh cũng ở nhà y.

Chu Đức Kiệt nói :

- Được rồi, tới Kim Lăng sẽ hay. Trong bọn anh hùng, chuyến này có Trại Mạnh Thường Âu Dương Tòng Thiện là một tay lão bối anh hùng, quảng giao, danh vang thiên hạ, chưa hiểu người ấy định ở đâu.

Quan Long vội hỏi :

- Có phải vị tiền bối anh hùng đó người Tô Châu không?

Chu Đức Kiệt gật đầu :

- Chính người ấy đó.

Nếu vậy chắc chắn lão anh hùng sẽ đến Cao gia trang rồi. Tiểu đệ chưa được gặp mặt nhân vật ấy chuyến nào, nhưng Lãng Quân nói tới người ấy nhiều lần. Lần nào Âu Dương Tòng Thiện lên Kim Lăng cũng ngụ lại nhà họ Cao.

- A há! Thế thì còn chi bằng!

Chương 22: Nhập chốn thâm cung, si mê Hoàng hậu Mưu đoạt ngôi trời, nạp tướng đồn binh

Thuận Vương tục danh là Chu Vĩnh Thái, vốn là em họ đương kim Minh triều Hoàng đế Vĩnh Lạc.

Khi trước Tĩnh Vương Chu Trường Đức thân sinh của Thuận Vương vốn là một người đa tình, thấy Mai Hương hoàng thái hậu nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn nên phải lòng thường ước ao được cùng người ngọc chung vui một đêm, hôm sau dù có chết cũng hả lòng.

Lợi dụng tình thân mật gia đình và quyền cao chức trọng, Tĩnh Vương luôn luôn ra vào nơi cung cấm, tìm cách gặp mặt người yêu kỳ được mới nghe.

Mai Hương hoàng hậu (lúc đó là Hoàng hậu) tánh tình đoan trang thùy mị nhận thấy Tĩnh Vương là kẻ si tình không đúng đắn, lợi dụng đức tánh thẳng thắn của Hoàng đế trong những buổi yến tiệc gia đình nơi thâm cung, đã một đôi lần thử lời ong bướm. Lần nào Tĩnh Vương cũng bị Mai Hương hoàng hậu nghiêm nghị cự tuyệt, và nhắc cho y khỏi quên bổn phận quân thần.

Hoàng hậu cũng không dám mách thẳng với Hoàng đế việc đó, e xảy ra sự xích mích giữa hai anh em có phương hại cho Hoàng gia và triều chánh. Dù sao, Chu Trường Đức cũng là Thân Vương, bề ngoài cần phải giữ uy tín với bách quan. Nhưng ái tình chẳng thuốc mà say, càng bị Mai Hương hoàng hậu lãnh đạm cự tuyệt bao nhiêu, Tĩnh Vương càng mê luyến si ngây bấy nhiêu, nhất quyết tìm cách gặp mặt người ngọc để tỏ tình một lần chót. Nếu nàng vẫn khăng khăng cự tuyệt, Tĩnh Vương quyết bạo hành thỏa mãn lửa tình bồng cháy khó bề dập tắt.

Hoàng đế vốn giàu tinh thần thượng võ, hơn nữa là một tay thiện xạ thường cùng bách quan tổ chức các cuộc săn bắn ngoài khu vực Yên Kinh. Chuyến săn nào cũng có Tĩnh Vương Chu Trường Đức túc trực bên nhà vua.

Một hôm biết trước dự định cuộc săn bắn của Hoàng đế, Chu Trường Đức cáo lỗi không dự viện lẽ bất an. Nhà vua cũng không ép và truyền ngự y đến Vương phủ chẩn mạch hốt thuốc. Khi ngự y tới, Tĩnh Vương nói rằng trong người mệt mỏi xoàng, không cần phải dùng thuốc uống mấy chỉ nhân sâm sẽ mạnh ngay. Vô tình ngự y ra về, Tĩnh Vương vội vàng vào Hoàng cung quyết thi hành ý định. Không qua chánh môn, Tĩnh Vương đeo đoản kiếm nhập thâm cung theo cửa riêng. Quen với lối đi lại thân mật của vị thần vương ấy, ngự lâm quân và bọn thái giám chỉ hỏi qua loa và để cho Tĩnh Vương vào nội cung, nơi Hoàng hậu Mai Hương ngự.

Thấy Tĩnh Vương một mình nhập cung, trưởng đoàn cung nữ lạy chào xong, hỏi :

- Chẳng hay có việc chi cấp bách mà Vương gia vào nội cung không báo trước cho Hoàng hậu hay? Chắc Ngài sẽ không bằng lòng.

Tĩnh Vương xua tay :

- Chà! Nếu việc không cơ mật thì ta vội vã vào đây làm chi cho mất công? Hoàng hậu đâu?

Trưởng đoàn cung nữ tên là Phượng Bình Nhi vốn là một người túc trí đa mưu. Xưa nay, nàng đã nhiều phen để ý đến thái độ ngạo mạn của Tĩnh Vương, nhưng nàng cũng thấy Hoàng hậu, người đoan trang đáng kính, nên tự hiểu ngấm ngầm theo dõi Tĩnh Vương mỗi khi y vào cung, viện lẽ nọ điều kia để được Hoàng hậu tiếp đón.

Chuyến này, Hoàng đế đi săn vắng, Tĩnh Vương túc trực bên vua trong cuộc ngự xa, nay bỗng nhiên thấy y đột ngột vào cung tìm gặp Hoàng hậu thì lẽ cố nhiên Phượng Bình Nhi phải dự đoán và nghi ngờ ngay. Nàng hỏi :

- Tiện thiếp tưởng Vương gia theo Thánh hoàng ngự xạ hôm nay?...

Đã vội vàng lại bị Phượng Bình Nhi cản hỏi lôi thôi, Tĩnh Vương giận lắm, nhưng cố nén tâm cười :

- Chuyến này có khác những lần trước đâu mà người lấy làm lạ! Ta thân thể bất an. Đang nằm nghỉ, chợt nhận được mật báo, nên ta muốn trình bày với Hoàng hậu trước khi quyết định. Ngươi vào ngay báo với Người rằng ta xin triều kiến. Gấp lắm nhé!

Nhìn cặp mắt Tĩnh Vương, Phượng Bình Nhi lượng đoán ngay vì Vương gia này không nói thiệt.

- Xưa nay, Hoàng hậu ít khi tự tham dự việc triều trung mà không có Thánh thượng ở bên, khá xin Vương gia, hoặc đình vụ này lại chờ Thánh thượng trở về, hoặc xin Ngài sang bên Tể tướng phủ hiệu triệu chư quan thường trực quyết định, như vậy danh chánh ngôn thuận hơn. Tiện thiếp có trách nhiệm tra cứu sự xuất nhập trong cung Hoàng hậu, vậy cũng xin Ngài lượng tính hiểu cho.

Đã gấp gặp mặt người đẹp cho thỏa tình mong ước thi hành loạn kế, lại bỗng dưng bị một tên Trưởng đoàn cung nữ vô danh tiểu tì cản trở làm mất bao nhiêu thì giờ vàng ngọc. Tĩnh Vương nổi giận đùng đùng, tay mân mê chuôi kiếm. Tuy vậy, y thấy cặp mắt phượng lanh lanh cương quyết của Phượng Bình Nhi thì cũng chột dạ vì Phương nữ có quyền nơi cung cấm của Hoàng hậu, dù quyền cao chức trọng biết mấy mà không có sắc lệnh của Hoàng đế hay Hoàng hậu thì cũng chẳng qua nơi cấm phòng này.

Tĩnh Vương dịu giọng :

- Phượng Bình Nhi! Ngang bướng làm trì trễ công việc người có biết là đắc tội không. Ta mệt mỏi cần xong việc rồi mau mau về phủ nghỉ. Khá vào báo cho Hoàng hậu nghe.

Phượng Bình Nhi nghĩ thầm:

"Y muốn gặp Hoàng hậu cũng được, ta sẽ đứng đó, dù y bạo dạn biết mấy cũng chẳng dám càn dở. Nếu nhất quyết ngăn cản như vầy, lỡ ta đoán sai, làm trì trễ quốc sự, e mang tội tầy đình".

- Xin tuân lệnh. Vương gia hãy nán chờ tiện thiếp vào báo ngay, xem Hoàng hậu định đoạt thế nào.

Nói đoạn, nàng bảo mấy cung nữ ở lại đó mặc nàng tự kỷ vào hậu cung báo.

Xưa nay, Mai Hương hoàng hậu vẫn quý mến Phượng Bình Nhi vì tánh tình cương trực trung thành của nàng, được coi như một người em, Phượng Bình Nhi càng ra sức phụng sự, công việc trong hậu cung răm rắp đâu vào đấy, trên được Hoàng đế và Hoàng hậu sùng ái, dưới được bọn cung nữ và thái giám kính nể.

Hôm ấy, Mai Hương hoàng hậu đang ngồi tựa kỷ đọc cuốn Xuân Thu Chiến Quốc, thì Phượng Bình Nhi vào quỳ tâu :

- Muôn tâu mẫu hậu, có Tĩnh Vương xin vào hầu.

Mai Hương hoàng hậu dịu dàng :

- Phương Bình Nhi! Đã bao lần ta cho phép em được tự nhiên, đừng có ra quỳ vào lạy. Chị em ta thường ngày trông thấy nhau, thủ lễ như vậy mất cả tự nhiên. Vậy từ nay, em bằng nghe lời ta. Trừ phi có Thánh thượng nhập cung, nghe chưa?

Phán xong, chợt nghĩ đến Tĩnh Vương xin yết kiến, Mai Hương hoàng hậu hơi căn đôi mày liễu :

- Thân Vương có nói chi thêm không? Người xin yết kiến với tư cách gì?

- Bẩm thưa Hoàng hậu, Tĩnh Vương nói có việc cơ mật quốc sự cần trình qua với Hoàng hậu vì Thánh thượng ngự xa chốn kinh thành.

Ngẫm nghĩ giây lát, Mai Hương hoàng hậu truyền :

- Mời Thân Vương vào phòng ngự, chúng em cũng nên quanh quẩn kín đáo gần đó, không được đi xa nghe?

- Dạ xin tuân lệnh.

Mai Hương uể oải đứng lên ra trước gương, sửa lại mái tóc mây đen huyền làm nổi hẳn khuôn mặt trái xoan xinh đẹp với nước da trắng như ngà của nàng.

Hai cung nữ lấy chiếc lam bào thêu long đem đến. Mai Hương xỏ tay áo chờ cung nữ cài khuy xong, nàng nghiêm chỉnh bước ra ngự phòng, hai cung nữ theo sau.

Một cung nữ khác đã chạy ra báo trước cho khách biết có Hoàng hậu tới. Ngự phòng trang hoàng theo thể thức điện Ngự triều của đức Vua.

Cung nữ hô lớn :

- Hoàng hậu đã tới.

Rèm gấm hồng đều vén lên, Hoàng hậu đủng đỉnh bước ra vừa lộng lẫy uy nghi với chiếc lam bào xanh biếc.

Trông thấy người ngọc, Tĩnh Vương sung sướng hồi hộp, tim đập như trống trận.

Tĩnh Vương vái dài (Các thân vương khi ra vào nơi cung cấm được miễn lạy) đưa mắt nhìn Mai Hương :

- Kẻ hạ thần vào đây làm rộn chốn thâm cung trong lúc Hoàng hậu đang nghỉ ngơi, thiệt đáng tội muôn vàn. Chẳng hay Ngài có được khang an không?

Khẽ gật đầu chào lại, Mai Hương hoàng hậu khẽ cười để lộ hàm răng trắng ngà, cất tiếng nhẹ nhàng uyển chuyển.

- Nhờ ơn Thánh thượng, quốc gia thái bình, tôi cũng được hưởng lây sự bình an khang hảo. Vương gia có việc chi cần dạy bảo? Xin mời an tọa.

Dứt lời, Mai Hương hoàng hậu uyển chuyển tiến ngự trên long ỷ.

Tĩnh Vương ngồi xuống chiếc ghế ở bệ dưới :

- Muôn tâu Hoàng tỉ, việc mà kẻ hạ thần trình bày đây tối ư cơ mật, thiết tưởng...

Tĩnh Vương ngừng nói, đưa mắt nhìn mấy tên cung nữ đang đứng hầu.

Hiểu ý, Mai Hương hoàng hậu mỉm cười, bảo cung nữ :

- Cho các ngươi lui bước. Chừng nào cần, ta sẽ gọi :

- Bọn cung nữ vội vàng kín đáo đi lùi, biến vào sau các rèm cửa nặng nề bằng gấm thêu hoa.

Chờ cho bọn cung nữ đi khỏi, Tĩnh Vương nói :

- Hôm nay đáng lẽ phải theo Hoàng Huynh săn bắn, nhưng thần bất an, cáo bệnh ở nhà.

Dùng lối xưng hô thân mật như vậy. Tĩnh Vương dụng ý để Mai Hương cũng phải gọi mình với danh từ thân hơn. Nhưng nàng rất bình tĩnh, nghiêm nghị :

- Vương gia đang lúc không được khang kiện, nhập cung, tất có điều hay dạy bảo, vậy xin cứ tùy tiện kẻo phí thì giờ quý báu.

Trước nét mặt đẹp nhưng cương nghị của Mai Hương hoàng hậu, Tĩnh Vương thấy ngài ngại, nhưng tên đã đặt lên dây rồi, không bắn cũng chẳng được, nên đánh bạo :

- Bữa nay kẻ hạ thần vào đây không với tư cách của Tĩnh Vương xin ra mắt Minh triều Hoàng hậu, mà với tư cách của Chu Trường Đức sau bao đêm tương tư hồn mộng, lửa tình nung nấu can trường, thương nhớ một Mai Hương khắc khoải sầu lạnh lẽo chốn thâm cung.

Nghe giọng nói si tình đốn mạt của Chu Trường Đức Mai Hương đỏ mặt nghiêm nghị dằn giọng :

- Ta yêu cầu Vương gia ra khỏi nơi này ngay và khuyên Ngài đừng mơ tưởng hảo huyền kẻo sau này hối không kịp đó.

Trước thái độ cứng rắn nghiêm nghị đoan trang của Mai Hương, Chu Trường Đức nhận thấy đang đứng trước một tình thế tiến thối lưỡng nan, không bạo động không được.

Nghĩ vậy, Chu Trường Đức đứng lên tiến tới bực điện bày long ỷ, nơi Mai Hương hoàng hậu đang ngồi. Nhưng khi vừa đặt chân lên bực thứ nhất thì có tiếng lanh lảnh vang lên ở phía sau.

- Muôn tâu Hoàng hậu có lệnh chỉ truyền dạy?

Giật mình, Chu Trường Đức quay lại thì không phải ai xa lạ, người vừa nói đó là Phượng Bình Nhi gọn gàng trong bộ võ phục, đeo bảo kiếm bên sườn. Sau Phượng Bình Nhi có mười cung nữ đồng phục, kiếm tuốt trần sáng loáng.

Tuy có học qua năm, ba thế võ, nhưng vốn người trác táng, tự lượng không địch nổi đoàn cung nữ phòng vệ của Mai Hương hoàng hậu, Chu Trường Đức không ngờ con người tuyệt sắc như Mai Hương kia mà lại quyết liệt, thờ ơ, lãnh đạm trước mối tình say đắm của mình như vậy. Biết tính sao bây giờ!

Liều thân, bạo hành với Mai Hương không nổi vì sẽ vấp phải bức trường thành cung nữ phòng vệ kia, mà ra về thì chắc chắn hậu quả sẽ không hay. Mai Hương sẽ tường trình với Hoàng đế vụ này, tránh sao khỏi đổ vỡ?

Tĩnh Vương đang băn khoăn khó nghĩ, thì Mai Hương hoàng hậu đã mỉm cười, bảo phượng Bình Nhi :

- Vương gia bàn việc cơ mật đã xong, các ngươi khá tiễn Người ra khỏi Hoàng cung để mau về nghỉ kẻo nhọc thể bất an.

Trước sự đuổi khéo và kín đáo của Mai Hương hoàng hậu, Tĩnh Vương không biết làm thế nào hơn là xá dài, bái từ Hoàng hậu ra về.

Phượng Bình Nhi đưa Tĩnh Vương ra Hoàng cung, trở về phục lệnh.

- Em thừa biết cái dã tâm của Tĩnh Vương nhưng cũng nên kín đáo, nếu để Hoàng thượng biết việc này thì hậu quả không hay cho y. Gây một mối thù giữa người trong Hoàng tộc là một việc chẳng nên làm. Em hiểu chưa?

Phượng Bình Nhi nhất nhất vâng tiếp.

Từ đó Tĩnh Vương bẽ mặt thường cáo lỗi không dự các bữa yến thân mật trong Hoàng cung, hơn nữa còn đem lòng thù oán cho rằng chính nhà Vua là bức tường phân cách mình với Mai Hương. Nếu không có nhà Vua, vị tất Mai Hương kia đã hững hờ với mối tình si mê của mình.

Về phần Mai Hương cũng rất tâm lý, nàng lo sợ Tĩnh Vương đem tâm hãm hại Hoàng đế, nên nàng bịa lời khuyên Vua bổ nhiệm Tĩnh Vương xuống một trọng trấn miền Nam, Như vậy, Tĩnh Vương có một phận sự trước triều đình, và với thời gian cùng với sự cách trở quan san vạn dặm, lửa lòng y sẽ tắt và tắt hơn cả mối thù bất chánh.

Không hề nghi ngờ, Hoàng đế khen phải hạ chiếu chỉ bổ Tĩnh Vương xuống đất Giang Nam. Tĩnh Vương ra đi, căm tức, hậm hực, cho rằng nhà Vua đày mình xuống miền Nam để báo thù vụ mạo thượng trong cung bữa nọ. Vị Vương gia đó thề chỉ trở về Yên Kinh với tư cách một vị tân Hoàng đế chớ không chịu kém nữa. Mối thâm thù mà Tĩnh Vương tự tạo ra đối với nhà Vua ngày một sâu rộng và cũng là đầu mối vu hoán ngôi tạo phản sau này.

Lúc đó vào giữa thời toàn thịnh của Minh triều. Tĩnh Vương có mưu phản cũng không phải dễ dàng. Trước hết, cân được lòng dân và các quan lại trong triều, sau nữa phải đầy đủ binh hùng tướng mạnh. Tạo được một lực lượng đầy đủ như thế giữa lúc quốc gia đang vững chắc, muôn dân đang hưởng đời sống an bình, quả là điều vạn nan. Bởi vậy, hết năm nọ sang năm kia, Tĩnh Vương cũng chẳng mưu đồ nổi đại sự, cho đến khi tuổi đã cao thì dự tính kia hoàn toàn vô vọng. Tĩnh Vương có ba người con trai là Chu Vĩnh Thái, Vĩnh Bình, và Vĩnh An, cùng ở cả với cha tại Kim Lăng.

Chu Vĩnh Thái khá nhất được Tĩnh Vương tin cậy hơn cả. Tĩnh Vương bịa ra một chuyện thâm thù với dòng trên họ Chu tức là nhà Vua dạy lại cho các con mưu đồ hoán ngôi sau này báo huyết hận. Hoàng đế băng hà truyền ngôi cho Thái tử Trường Chinh lấy hiệu là Vĩnh Lạc hoàng đế. Ít lâu sau, Tĩnh Vương cũng quy tiên, Chu Vĩnh Thái được tập ấm thay cha lãnh tước Thuận Vương. Chu Vĩnh Binh được bổ nhậm phủ Trường Sa, còn Chu Vĩnh An thì bổ nhậm Hàng Châu.

Sở dĩ Thuận Vương vận động cho hai em đi hai nơi đó là có mục đích gây thanh thế tiện việc chiêu binh tướng cần dụng cho sự mưu phản sau này. Không được thượng võ, cương quyết như Tiên Đế, Vĩnh Lạc hoàng đế hiền đức quá đến nỗi thành nhu nhược. Nhất là từ khi Mai Hương hoàng hậu quy tiên, các bầy tôi trung thành cứ về già, kẻ mất, người cáo lão điền viên, triều chánh thay đổi rất nhiều.

Gian thần chuyên quyền, thành thử con các bầy tôi trung thần trước kia được tập ấm phò Vua đâm ra chán nản. Kẻ bực tức từ quan, người bị quyền gian hãm hại. Quan Thái Sư Trần Chí Hòa cậy thế con gái sung quý phi được Thiên tử sủng ái, lộng hành chuyên quyền, yểm nhẹm nhiều việc mà Vĩnh Lạc không hay biết chi hết. Các quan trong triều và ở các nơi, ai chịu luồn lọt Trần thái sư thì giữ vững được tước vị. Trái lại, kẻ trung can thì hoặc bị đuổi đi những nơi xa xôi nguy hiểm hoặc bị cất chức đuổi về.

Dân chúng bị sách nhiễu lầm than cùng cực, trong nước giặc cướp nổi lên như rươi, xưng hùng, xưng bá, chiếm cứ nhiều khu thiên hiểm anh hùng giang sơn nhất khoảnh.

Nhân cơ hội ấy, Thuận Vương Chu Vĩnh Thái một mặt thâm giao với Trần thái sư và bọn quyền thần trong triều, một mặt liên kết với các quan hàng tỉnh, bè lúc của gian thần, và ngấm ngầm chiêu nạp bọn lục lâm tặc đạo để lấy chỗ đồn binh, nạp tướng. Thế lực Thuận Vương ngày càng lớn mà trong triều Vĩnh Lạc hoàng đế vẫn u mê không hay biết gì hết, tưởng muôn dân được hưởng Thái bình với lòng hiền đức của nhà Vua. Tuy vậy, cũng còn một số trung thành nhờ có sẵn binh quyền trong tay hành động gần như tự trị, và cũng nhờ có lực lượng ấy nên bọn gian thần không dám ư thao túng. Đó là quan Bình Bắc đại nguyên soái Mã Thành Long đóng đại binh theo hình tam giác ở miền Bắc tại Đồng Quan, Cư Dung quan và Nhạn Môn quan.

Mã Thành Long vốn dòng dõi tướng môn cháu của Mã Địch Quốc một trong những vị khai quốc công hầu khi xưa đã từng theo Minh Thái Tổ đánh đuổi quân Nguyên đem lại nền tự do độc lập cho Hán tộc. Người thứ hai là quan Trấn thủ Tứ Xuyên Hà Thiên Hùng, nội điệt của tướng tiên phong hồi lập quốc Hà Thiên Hùng. Người thứ ba tức Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục đóng thủy trại tại Trấn giang thành, dòng dõi của vị công thần thủy lực Đàm Bá Thành khi xưa.

Từ ngày Thái Minh Tổ lập quốc đến nay, ba họ Mã, Hà, Đàm đời nào cũng dày công hãn mã, triều đình sủng ái nhất mực. Nguyên soái Mã Thành Long có hai con trai là Mã Thành Hổ, Mã Thành Báo va một con gái là Mã Kim Loan.

Cả ba anh em họ Mã cùng đang thời niên thiếu, dòng dõi tướng môn, người nào cũng võ nghệ cao cường, sức khỏe trấn áp tam quân.

Mã Thành Hổ hai mươi bảy tuổi, thiện dụng ngọn giáo sắt, mặt đẹp như ngọc, da trắng, môi đỏ tựa thoa son, nên trong quân ai cũng gọi là Ngọc Diệp Hổ. Tuy lớn tuổi rồi, Mã Thành Hổ chưa lập gia đình, chỉ suốt ngày luyện tập võ nghệ cùng hai em và chư tướng, hoặc săn bắn trong rừng rậm, núi sâu. Trái lại với anh, Mã Thành Báo da ngăm đen, râu quai nón mọc tua tủa như rễ tre, mắt to mày xếch, tánh tình nóng nảy, vóc ngươi lực lượng, hai cánh tay mạnh tới bẩy, tám trăm cân. Mã Thành Báo thiện dụng cây đại phủ nặng nề, trên chiến trường xông xáo giữa đám địch quân trăm vạn như vào chỗ không người. Không bao giờ chịu vận đai giáp. Mã Thành Báo chỉ ưa vận chiếc áo bào đỏ tím hoa đeo lớn như chiếc bát. Bởi vậy, ba quân mới tặng chàng tước hiệu Hoa Ban Báo. Hoa Ban Báo năm ấy hai mươi bốn tuổi mà cũng như Ngọc Diện Hổ, chưa có bạn sửa túi nâng khăn. Mã Kim Loan là con út mười bảy tuổi, mặt hoa da phấn, xinh đẹp bội phần, nhưng vì con nhà tướng nên từ cử chỉ đến cách đi đứng y hệt con trai. Năm mười ba tuổi, Mã Kim Loan được cha cho phép theo một ni cô đạo hiệu Chiêu Vân, trụ trì tại Ngũ Phật tự ở Lai Bình Loan, bên kia cửa ải Cư Dung, vào núi học tập kiếm pháp và phi hành thuật. Ba năm sau, nghệ thuật đã tinh vi, ni cô Chiêu Vân ban cho đồ đệ cặp song kiếm và dẫn nàng về tận nơi doanh trại trả lại cho vợ chồng Mã nguyên soái.

Một hôm, Mã Thành Hổ và Mã Thành Báo cùng theo cha ra võ trang xem chư tướng luyện tập võ nghệ. Như thường lệ, Mã Kim Loan cũng được Nguyên soái cho theo xem.

Thấy con gái từ ngày ơ Ngũ Phật tự trở về ít nói hơn trước và cũng chỉ luyện tập như thường chớ không trổ tài nghệ chi đặc sắc cả, Mã nguyên soái bèn nhân dịp ấy, bảo Mã Kim Loan :

- Bữa nay, nhân trước mặt tam quân, con đã học được võ thuật gì đặc sắc thiết tưởng cũng nên trổ tài một phen trước là cho cha anh xem, sau là để chư tướng cùng tam quân biết tài lực chớ? Con chẳng lạ gì thông lệ trong quân: nếu tướng bất tài thì khó điều khiển chúng!... Ta trông cậy ở con để gây thêm uy tín dòng họ Mã đó.

Nghe cha nói, Ngọc Diện Hổ và Hoa Ban Báo nhìn Mã Kim Loan, mỉm cười :

- Từ ngày theo sư phụ Chiêu Vân luyện tập lối công phu nhà nghề của bực kiếm khách, Mã Kim Loan đã luyện luôn được cả đức trầm tĩnh, kín đáo.

Nhưng hiện tại nàng vẫn theo cha hàng ngày ra vào nơi hổ tướng, biết đâu một ngày kia nàng sẽ chẳng theo cha anh xông xáo chốn sa trường? Chi bằng cũng nên tiện dịp này trổ tài nghệ thuật riêng cho mọi người hiểu nàng chẳng phải là kẻ hữu danh vô tài!

Nghĩ đoạn, Mã Kim Loan thưa :

- Cha đã dạy, con đâu dám trái lời. Vậy xin cha cho mấy đại đội xạ quân ra ngay trước võ đài để con sử dụng.

Mã nguyên soái mừng rỡ, ra lệnh cho phát âm viên truyền gọi ba đại đội cung thủ và báo cho ba quân biết Mã tiểu thư biểu diễn võ nghệ.

Phát âm viên vâng lệnh cầm loa hô lớn :

- Bớ tam quân! Mã tiểu thư được lệnh Mã nguyên soái biểu diễn võ nghệ. Cần ba đại đội cung thủ chỉnh tề hợp ngay dưới khán đài.

Ba quân nghe lệnh, vui mừng, vỗ tay hoan hô, cổ võ vang động cả võ trường. Chỉ trong khoảnh khắc, ba đại đội cung thủ đã đứng thành hàng trước khán đài.

Mã Kim Loan gài song kiếm chéo trên lưng, ra trước hổ trường vòng tay vái Mã nguyên soái, rồi chuyển đi ra trước khán đài, nhảy phóng xuống trước đoàn quân cung thủ. Mọi người mục kích nàng liệng mình xuống võ trường, lẹ làng như chiếc lá rụng. Tràng pháo tay lại vang động. Ai nấy đều chăm chú xem viên nữ tướng tương lai ấy lại hành động thế nào. Mã Kim Loan dàn đám quân cung thủ thành hình tròn, loạt quỳ, loạt đứng.

Khi trên đài ra lệnh, các người cứ nhằm ta mà bắn. Bắn chừng nào hết cả ống tên thì ngừng tay, nghe?

Ba đại đội dạ rân.

Mã Kim Loan đứng ra giữa, tuốt song kiếm đứng thẳng, mặt hướng lên khán đài nơi Mã nguyên soái ngồi cùng các vị tướng quân và mấy vị văn quan. Hai lưỡi kiếm phản chiếu ánh mặt trời lóng lánh. Mã Kim Loan nhìn Ngọc Diện Hổ gật đầu. Biết ý, Mã Thành Hổ bảo phát âm viên ra lệnh bắn.

Đoàn cung thủ nhằm đúng người Mã Kim Loan bắn như mưa rào, nhưng nàng đã hoa kiếm múa vùn vụt, làn kiếm sáng loáng bao bọc lấy nàng như tuyết tỏa, sương ta, như muôn ngàn cánh hoa lê rụng tơi bờị. Giây lát, đoàn cung thủ đã bắn hết tên đều tản cả hai bên. Mọi người đang chú ý nhìn, Mã Kim Loan đã ngừng tay kiếm. Quanh chỗ nàng đứng, tên bị gạt xuống chất thành một đống tròn như vẽ. Tiếng hoan hô lẫn pháo tay nổi dậy khắp tứ phía. Trên đài, Mã nguyên soái hân hoan nghe những lời ca tụng của chư tướng.

Gài kiếm vào vỏ, Mã Kim Loan cất mình chạy vùn vụt ra tới chân cột cờ, nhún mình phi thân đứng hẳn lên ngọn, chân co chân duỗi, hai tay xòe ra như con đại bằng, quay khắp bốn phía rồi mới liệng mình xuống đất lướt như chiếc én buổi đầu xuân. Đoạn nàng phi hành như bay lên khán đài, nghiêm chỉnh đứng trước mặt Mã nguyên soái, hơi thở nhẹ, mặt không biến sắc.

Mã nguyên soái sung sướng vui mừng nói :

- Cho con về chỗ.

Sau cuộc biểu diễn ấy, trên thì chư tướng dưới có tam quân, ai nấy đều khâm phục tài nghệ của Mã Kim Loan, và cũng từ đó suốt trong quân, cô gái họ Mã có tước hiệu Phi Vân Yến. Thời gian này cùng chặp với cuộc Nam du của Lam Y nữ hiệp và Đơn Đao Chu Đức Kiệt.

Từ ngày phải thuyên chuyển xuống Kim Lăng, Tĩnh Vương hoàn toàn không hành động được theo ý muốn, vì hồi ấy Minh triều toàn thạnh.

Theo lời trăng trối của cha lúc lâm chung, Thuận Vương Chu Vĩnh Thái mới dùng của cải súc tích, lợi dụng tình thế đã vững chắc của mình giao dịch rộng, và nhất là dân tình oán hận đám quan tham, lại nhũng để bành trướng thế lực nạp tướng chiêu binh.

Chánh sách dùng người của Thuận Vương là chỉ cần người có dũng lực, võ nghệ cao cường, gác bỏ ra ngoài vấn đề đức độ. Cho nên, những tay lục lâm thảo khấu cũng được dong nạp. Thuận Vương thường hứa với chúng chừng nào chiếm được thiên hạ, lên ngôi cửu ngũ, sẽ phong cho chúng quyền cao tước hậu. Trái lại, bọn cường khấu, anh hùng đại đạo dựa vào thế lực lớn của Thuận Vương, hành động công khai, cướp của giết người mà vẫn được quan lại làm ngơ.

Vị Vương gia khôn ngoan ấy lập cả một chương trình hành động rất lớn lao.

Lập lôi đài hoặc ở Kim Lăng hoặc ở nơi nào có bè cánh để thâu nạp người tài, hay tìm cách hạ sát những anh hùng ra mặt đối lập với mình. Luôn luôn mở các hội vui có tính cách đua tài về võ thuật để câu anh hùng tứ xứ. Phái bộ hạ thân tín đi các nơi lập chùa chiền miếu mạo, giả tu hành để lấy chỗ đồn tướng tụ binh. Chiêu nạp bọn cường khấu sơn lâm, hay phát bộ hạ đi lập trại đồn quân dưới hình thức tặc đạo.

Trong mấy chục năm trời, vây cánh của Thuận Vương mỗi ngày một lớn, tích thảo đồn lương ngày một nhiều. Một số lớn quan lại miền Giang Nam đều quy thuận Thuận Vương, chờ ngày khởi binh chống lại triều đình đoạt ngôi cửu ngũ.

Thấy thanh thế đã mạnh, Thuận Vương ngang nhiên cho xây dựng lại Vương phủ theo thể thức cung nhà vua tại Yên Kinh, đi kiệu Cử Long, tán vàng, long bạc, dùng nghi vệ của một bực Hoàng đế.

Thuận Vương còn cho may sẵn cả bào long cổn, mão cửu thiên, chỉ chờ dịp khởi binh thâu phục thiên hạ là chánh thức lên ngôi Hoàng đế.

Các quan tùy tòng và tướng tá tay chân cũng được phong trước sẵn. Tuy chưa ra mặt, nhưng họ được ưu đãi ngang hàng với các quan tại triều.

Phần văn quan không phải ai xa lạ, chính là mấy viên quan vẫn ăn lương cao lộc hậu của Yên Kinh được bổ nhậm Kim Lăng, nay mưu phản ngầm theo Thuận Vương hòng sau này chiếm phần ngôi cao cả với tân vương: Thủ phủ quan, Bành Giang Hiếu, Thống đốc Kim Lăng, và hai phụ quan Ôn Hành Nhân, Võ Phong Thuần.

Bên võ tướng mới là phần tử đáng kể.

Thuận Vương rất tự hào đã thâu dụng được nhiều nhân tài, nên thường nói trong khi tửu hứng :

- Với những con người sắt ấy ở quanh Cô gia thì triều đình Yên Kinh đứng vững sao nổi! Bộ Ngũ Hổ Tướng của ta có thể gọi là vô địch. Ngay đến Ngũ hổ của Ba Thục hay Tống triều thuở trước cũng chẳng bằng!

Thuận Vương nói câu này có ý khinh thường cả Ngũ Hổ Tướng Ba Thục là Quan, Trương, Triệu, Mã, Hoàng đã từng phò Lưu Huyền Đức định lập lại triều Hán, và Ngũ hổ đời Tống Nhân Tôn: Địch, Thạch, Trương, Lý, Lưu, đã từng đánh bại quân Tây Hạ, chinh phục Tây Liêu lấy Chân Châu Kỳ về cho vua Tống, phá tan Nam quân Nùng Chí Cao đem lại an cư lạc nghiệp cho miền Hoa Nam. Mà thiệt vậy, Ngũ Hổ Tướng của Thuận Vương toàn là những tay hảo hớn giang hồ hắc đạo có công phu luyện tập rất đáng kể bản lãnh liệt vào hạng siêu việt khuấy nước, chọc trời, coi binh tướng trong triều Yên Kinh chẳng vào đâu. Đó là :

- Phi Thiên Hổ Hoàng Bách Thắng, đứng đầu Ngũ hổ lãnh ấn Bình Bắc đại nguyên soái.

- Quá Sơn Hổ Triệu Đại Bằng.

- Cẩm Mao Hổ Dư Đông Bích.

- Thanh Diện Hổ Tống Võ Cường.

- Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo.

Hoàng Bách Thắng năm ấy ba mươi sáu tuổi, vóc người to lớn đầu gấu lưng hùm, hai cánh tay có sức khỏe ngàn cân, thiện dụng cây trượng bát xà mâu mã, chiến cũng như bộ chiến đều hay. Y là đệ nhất đồ đệ của Thiên Không hòa thượng trên La Phù sơn cõi Lãnh Nam.

Quá Sơn Hổ Triệu Đại Bằng thiện dụng cây đại đao ba mũi, và Cẩm Mao Hổ Dư Đông Bích thiện dụng đinh ba là hai đồ đệ siêu đẳng của Thiết Cước đạo nhân trong Động Đình hồ.

Hai người này cùng ba mươi hai tuổi nổi danh trong giới hắc đạo miền Nam, đi tới đâu gieo rắc khủng khiếp đau thương đến đó khiến dân chúng cứ nghe tên không thôi cũng khiếp sợ như tử thần đã tới sau lưng.

Thanh Diện Hổ Tống Võ Cường ba mươi tuổi, mặt mũi sần sùi nổi những lằn gân xanh lè, cao lênh khênh, gầy đét, nhưng toàn thân cứng như thép, thiện dụng cây Ngô Công côn bằng sắt rất nặng nề. Ít nói, tánh nóng như lửa, giết người không biết ghê tay. Không ai hiểu lai lịch của họ Tống, chỉ biết y gốc tích người Trung Quốc, nhưng lúc bé lưu lạc sang Tây Tạng. Mãi đến sau này mới trở về đất nước xứ sở chuyên bảo vệ cho các đoàn khách thương mang hàng hóa từ miền Tây Trung Quốc vào đất Tây Tạng bán.

Về sau, Tống Võ Cường theo lời Tôn Hoàn là quân sư của Thuận Vương về Kim Lăng đầu bôn và được trọng dụng ngay.

Khi mới về Kim Lăng ra mắt Thuận Vương, các bộ hạ khác thấy tướng mạo y xấu xí gầy ốm nên có vẻ khinh thường.

Họ Tống biết vậy nhân thể muốn trổ tài cho Thuận Vương coi và làm khiếp đởm các người khác, y bèn nhằm chiếc khánh bằng đá lớn như mặt bàn nhảy lên đấm một trái Thôi sơn...

Chiếc khánh đá dày dặn bị bể tan ra từng mảnh khiến mọi người đều khen Tống Võ Cường thần lực. Thuận Vương cũng mừng rỡ biệt đãi y ngay.

Đệ ngũ hổ là Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo năm ấy hai mươi lăm tuổi, vốn là con trai cả của tay thảo khấu anh hùng Hầu Văn Lượng, tước hiệu Thác Tháp Thiên Vương, chiếm cứ cả một vùng Thập Vạn Đại Sơn ở ranh giới Lưỡng Quãng.

Hầu Văn Bảo thiện dụng cặp song phủ nặng mười hai mươi cân, xông vào giữa muôn quân như vào nơi không người. Sắc mặt đen sì, râu quai nón dìm ra như rễ tre, cổ to, ngực lớn, hai cánh tay bắp thịt nổi lên như thừng chão. Hầu Văn Bảo ra quân không chịu mặc giáp, chỉ vận chiếc áo đen hở ngực, ngắn tay, chân quấn xà cạp, dận hải xảo.

Bạt Sơn Hổ còn có tài phong búa bách phát bách trúng. Cây búa nặng nề ấy do cánh tay sắt của Hầu Văn Bảo phát ra bổ trúng người, thì địch thủ dầu có anh hùng sức khỏe biết mấy cũng phải táng mạng ngay tức thì...

Thuận Vương từ ngày thâu nạp được Hoàng Bách Thắng, Triệu Đại Bằng, Dư Đông Bích, Tống Võ Cường thì có ý lập Ngũ Hổ tướng đã lâu, song còn thiếu một người đệ ngũ, bèn bàn với Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn.

Lúc đó Phi Không cũng đã đầu bôn Thuận Vương rồi, hàng ngày đi lại thân thiết với quân sư.

Tôn Hoàn đem chuyện Thuận Vương muốn thành lập Ngũ Hổ tướng. Phi Không nói :

- Tôi có quen một người võ nghệ siêu quần sức lực có thể liệt vào hạng vô địch, trong giới cường khấu ai cũng biết tiếng, nếu được người ấy phò tá thì hay lắm.

- Y năm nay bao nhiêu tuổi? Ở đâu?- Y năm nay ngót năm mươi rồi, hùng cứ ngọn Thập Vạn Đại Sơn ở giáp Lưỡng Quãng.

- Nếu thế thì khi nào y chịu về đây ở? Ta nên tìm cách liên lạc và chiêu nạp để y đòn binh nơi đó còn hay hơn.

Phi Không cười lớn :

- Nếu y ưng thuận đầu bôn Kim Lăng thì ta sẽ thành công cả hai việc: tìm được Đệ ngũ hổ và gây được một vây cánh nữa ở Thập Vạn Đại Sơn...

Tôn Hoàn nheo mắt lại không hiểu, Phi Không mỉm cười nói tiếp :

- ... Như quân sư đã biết, Thập Vạn Đại Sơn là một nơi thiên hiểm hiện do Thác Tháp Thiên Vương Hầu Văn Lượng hùng cứ, danh tiếng lẫy lừng. Hầu Văn Lượng võ nghệ xuất chúng, lực năng cử đỉnh thế khả bạt sơn, trong giang hồ ai cũng biết tiếng. Y có người con trai lớn là Hầu Văn Bảo tài nghệ chẳng kém gì cha, thiện dụng cặp song phủ lợi hại vô cùng. Vì lẽ ấy, tôi muốn chiêu nạp Hầu Văn Lượng gây thêm thanh thế cho Vương gia và dụ Hầu Văn Bảo về Kim Lăng nhập bộ Ngũ Hổ tướng thì không còn gì xứng đáng bằng.

Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn nghe nói cả mừng, vỗ vai Phi Không gia sẽ trọng thưởng... gái đẹp rượu ngon, muốn chi cũng được.

Phi Không cười híp mắt :

- Xin vâng. Từ ngày về đầu bôn, tôi cũng chưa có công lao chi cả để đền ơn tri ngộ. Chuyến này tôi sẽ cố, may ra thì thành công.

Hòa thượng sửa soạn lên đường ngay cho kẻo chúa công trông đợi.

Hầu Văn Lượng vẫn coi Phi Không như sư huynh, hai bên giao dịch thân mật. Phi Không chắc chắn thế nào cũng thành công, nên mới nhận đi để gây thêm uy tín với Thuận Vương. Kể ra Thuận Vương rất trọng đãi Phi Không vì lẽ y là một tay giang hồ thần võ. Và là sư thúc của Vô Địch tướng quân Hoàng Bách Thắng. Với Phi Không, Thuận Vương còn hi vọng thâu nạp được nhiêu đầu đà về làm bộ hạ cần dùng cho việc chinh phục thiên hạ sau này. Quả nhiên, như Phi Không dự tính, Thác Tháp Thuận Vương Hầu Văn Lượng nhận lời liên lạc với Kim Lăng. Họ Hầu cùng đi với Phi Không về Kim Lăng hội kiến với Thuận Vương. Hai bên đều thỏa thuận mọi điều kiện. Thuận Vương sắc phong cho Hầu Vãn Lượng chức Thập Vạn Hầu, chờ sau này bình xong thiên hạ, dời đô lên Yên Kinh, sẽ thăng thưởng sau. Hầu Văn Lượng lãnh sắc phong trở về sơn trại cho Hầu Văn Bảo xuống Kim Lăng gia nhập Ngũ Hổ.

Thế là thành lập xong Ngũ Hổ tướng. Thuận Vương luôn luôn thân chinh ngự khán các cuộc diễn binh tập luyện ba quân tại võ trường.

Phi Thiên Hổ Hoàng Bách Thắng tỏ ra có tài thao lược song toàn đáng mặt đại tướng. Còn bốn tướng kia, mỗi người một vẻ oai hùng sát khí đằng đằng.

Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn hoạt bát, mưu mẹo, binh thư đồ trận làu thông, ngoài ra còn rất thạo về môn nhâm độn, tà thuật Bạch Liên giáo.

Bạch Liên giáo là một giáo đạo chuyên về bàng môn tả đạo (tức tà thuật khởi xuất ở Trung Quốc từ Nguyên triều, tại đất Loan Thành, sanh quán của Bạch Liên giáo tổ Hàn Sơn Đồng).

Hàn Sơn Đồng là con của Hàn Thế, tự nhận là dòng dõi vua Huy Tôn nhà Tống.

Lập nên giáo giới Bạch Liên, Hàn Sơn Đồng có ý gây thế lực và phong trào bài Nguyên (quân Mông Cổ chiếm cứ Trung Quốc lập thành Nguyên triều) hưng Hán.

Các giảng đường trước hết dùng để truyền giáo thuật và truyền bá tinh thần cách mạng lật đổ Nguyên triều.

Như nước ngấm lần lần, Bạch Liên giáo được phổ thông khắp cõi Trung Nguyên, nhưng tinh thần dân chúng thấp kém, dị đoan, nên mục đích cách mạng của giáo phái bị phổ biến sai lạc. Bởi vậy, về sau giáo thuật lấn áp hẳn mục đích cách mạng, và cũng vì lẽ ấy, khi Hàn Sơn Đồng tạ thế, Bạch Liên giáo bước hẳn sang con đường tà thuật lợi dụng tính dị đoan của dân chúng làm nhiều điều hỗn loạn dâm bôn, khiến bọn Giang Hồ Hiệp Khách nhiều phen phải ra tay trừ khử.

Khi Chu Nguyên Chương dấy quân diệt Nguyên triều, cùng các tướng Mã Địch Quốc, Thường Ngộ Xuân, Đám Bá Thành, Hà Thiên Hùng và Từ Đạt vây trận cuối cùng đoạt Yên Kinh (tức Bắc kinh ngày nay) giải phóng cho dòng dõi Hán tộc khỏi ách quân Nguyên đô hộ, họ Chu lên ngôi Thái Tổ lập triều Minh, thì con của Hàn Sơn Đồng là Hàn Lâm Nhi thay cha lên ngôi Giáo chủ Bạch Liên.

Trong thời gian Chu Nguyên Chương và chư tướng thâu đoạt lại giang san, Hàn Sơn Đồng có đem bộ đội theo giúp họ Chu lập nên công trạng đáng kể, nhưng đất đai nước nhà vừa thâu hồi được thì Hàn Sơn Đồng lâm bệnh từ trần, Chu Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế thì Hàn Lâm Nhi, con Hàn Sơn Đồn, cũng thay cha giữ chức Giáo chủ cầm đầu toàn thể bộ đội Bạch Liên giáo. Có lẽ cũng tưởng mình là Vua có công lớn trong việc hưng Hán diệt Nguyên, nên Hàn Lâm Nhi yêu cầu Minh Thái Tổ cắt đất chia đôi để cùng trị vì thiên hạ.

Giang san vừa thâu hồi được, còn nhiều việc cải cách phải thi hành để củng cố đất nước sau một trăm sáu mươi hai năm bị giặc Mông Cổ đô hộ, mà bị một Giáo chủ ngông cuồng đòi cắt đất xưng Vương thì quả là một việc quá sức tưởng tượng. Minh Thái Tổ bác lời yêu cầu của Hàn Lâm Nhi, một mặt phái Đại nguyên soái Mã Định Quốc cất quân diệt tan bộ đội Bạch Liên giáo, bắt Hàn Lâm Nhi xử trảm, thống nhất san hà.

Từ đó, trong dân gian, tuy dư đảng Bạch Liên hãy còn nhưng hoạt động trong vòng tà giáo mê hoặc mọi người lấy tiền chớ không mon men vào địa phận chính trị nữa. Đến đời minh Vĩnh Lạc, Giáo chủ Bạch Liên Cố Duy Thanh có dạy được nhiều đồ đệ vừa về võ thuật vừa về tà giáo. Bọn đồ đệ ấy tản mác đi các nơi truyền giáo gây lai thanh thế cho giáo phủ. Trong đó có Tôn Hoàn là người thư nhì đầu bôn cho Thuận Vương. Tôn Hoàn còn liên kết với sư muội của y là Đường Trại Nhi hoạt động ở Nam Xương phủ, tỉnh Giang Tây. Đường Trại Nhi còn ít tuổi, mặt hoa da phấn xinh đẹp bội phần, võ nghệ khá và tà thuật giỏi nhưng rất dâm dâm dật... Đó là chuyện sau.

Ngoài Ngũ Hổ tướng đóng ngay tại Kim Lăng, Thuận Vương còn có viên tướng tiên phong dũng mãnh dị thường họ Điêu tên Thiêu Phượng, hỗn danh Trại Nguyên Khánh vì chàng sử dụng cặp bát giác đồng chùy mạnh như cuồng phong bão táp.

Điêu Thiên Phượng đầu bô Thuận Vương từ năm hai mươi bốn tuổi ngay sau khi thành lập Ngũ hổ tướng, được Thuận Vương rất trọng đãi sắc phong cho ấn tiên phong.

Họ Điêu tâu :

- Vương gia cho lãnh trọng chức thiệt hân hạnh cho kẻ hạ thần về đầu bôn. Nhưng hạ thần e ba quân không phục, nên yêu cầu Vương gia cho triệu tập đủ các hàng binh tướng tại võ trường thử sức cùng hạ thần, nếu đủ tư cách chừng đó mới dám nhận. Như vậy danh chánh ngôn thuận hơn.

Thuận Vương nghe Điêu Thiên Phượng nói phải, vả lại cũng muốn thưởng thức xem thực lực của y thế nào, nên ra lệnh cho các hàng binh tương biết ngày thao diễn để chọn lựa tướng tiên phong, nhân tiện khai mạc giáo trường mới luôn thể.

Võ trường cũ chật hẹp không tiện cho các cuộc thao diễn binh tướng mỗi ngày một đông của Thuận Vương, Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn dâng ý kiến xây dựng giáo trường mới ở ngoài thành Kim Lăng, theo bản đồ chính tay quân sư lập thành. Thuận Vương chấp nhận đề nghị ấy trao toàn quyền cho Tôn Hoàn cáng đáng việc canh tân đó. Tôn Hoàn đôn đốc thợ thuyền xây dựng suốt trong bốn tháng trời mới hoàn thành một đấu trường rộng lớn tân kỳ, lấy tên là Kim Lăng đại giáo trường. Tân giáo trường vừa xây dựng xong thì Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng cũng vừa tới đầu bôn. Vì lẽ đó, Thuận Vương mới có ý khai mạc giáo trường bằng cuộc tranh ấn tiên phong.

Hôm đó cờ xí rợp trời cắm khắp chung quanh giáo trường. Trên khán đài treo đèn kết hoa rực rỡ muôn phần. Quân lính nhung trang gọn ghẽ, gươm đao tuốt trần sáng loáng giữ trật tự khắp trong và ngoài giáo đường, tránh cho dân chúng được phép vào xem khỏi hỗn độn, chen lấn. Từ cổng chính giáo trường đến cửa Bắc thành Kim Lăng, hai hàng binh sĩ nghiêm chỉnh chống giáo đứng chờ Thuận Vương và các quan tùy tùng.

Đúng giờ ấn định, cờ mở trống rung, lính phát ngôn bắc loa báo Vương gia sắp tới. Mở đầu bằng viên tướng chỉ huy ba đại đội Ngự lâm quân cỡi ngựa đi đầu, đoàn quân đi hàng sáu rất đều và tề chỉnh, tay tả đeo khiên, tay hữu cầm đao tuốt trần. Kế đến Thuận Vương, y phục nửa văn nửa võ, tay giáp tay bào đội mũ đầu mâu, cỡi ngựa trắng đi giữa, Bên tả là Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn, bên hữu, Vô Địch tướng quân Bình Bắc đại nguyên soái Hoàng Bách Thắng lực lưỡng, vận giáp sắt, bào gấm đen hoa bạc, đầu đội mão đầu mâu ngù đỏ, chân dận ủng đen đầu hổ, lưng đeo trường kiếm oai phong lẫm liệt, cỡi ô mã to lớn. Đi sát ngay sau là hai thế từ Chu Trấn Quốc và Chu Bảo Quốc theo học võ trên La Phù sơn theo lời giới thiệu của Nguyên soái Hoàng Bách Thắng, mới hạ sơn về Kim Lăng.

Chu Trấn Quốc đeo giáp vàng, bào vàng cỡi ngựa hoàng thổ, ba quân quen gọi là Kim thế tử.

Chu Bảo Quốc đeo giáp bạc bào trắng cỡi ngựa trắng nên có mỹ danh Ngân thế tử. Hai anh em cùng đẹp tướng oai dũng.

Đi tiếp sau hai Chu thế tử là bốn vị hổ tướng: Quá Sơn Hổ Triệu Đại Bằng, Cẩm Mao Hổ Dư Đông Bích, Thanh Diện Hổ Tống Võ Cường và Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo. Bốn vị tướng quân này đai nịt giáp sắt bào đen, lưng đeo trường kiếm y hệt Nguyên soái Hoàng Bách Thắng. Bởi vậy Ngũ hổ tướng mới có tên Ngũ hắc hổ. Người nào cũng oai phong hùng dũng sát khí hiện ra mặt, cỡi toàn ngựa đen con nào cũng là giống chiến mã to lớn dị thường. Hàng văn quan đi sau bốn hổ tướng.

Sau cùng, đi sắp hàng năm, có trên sáu mươi viên tướng tá tùy tòng, người nào cũng bào giáp gọn ghẽ, cỡi chiến mã lẫm liệt. Đoàn người ngựa rất đỗi oai phong hùng mạnh kéo vào giáo trường giữa tiếng hoan hô rầm rầm của dân chúng. Đến trước khán đài, tướng nào quân ấy đã chờ ở đó đỡ dây cương dắt ngựa ra phía sau. Quan khách vừa an vị đâu đấy, thì một hồi trống vang động báo hiệu các tướng tranh ấn tiên phong đến.

Một đoàn mãnh tướng giáp mã gọn gàng dóng ngựa đi hàng hùng dũng tiến vào giáo trường. Người ta đếm được mười sáu tướng mỗi người một màu bào khác nhau.

Đoàn nhân mã oai hùng ấy tiến đến trước khán đài đứng hằng giơ tay chào.

Xướng ngôn viên trên đài bắc loa giới thiệu :

- Đây là mười sáu vị tướng quân của bản thành và các nơi về dự tranh ấn tiên phong.

Một hồi trống, chiêng rung động chào lại chư tướng. Tiếp theo là tràng pháo tay của các từng lớp khán giả khen ngợi hoan hô.

Xướng ngôn viên nói :

- Mời chư tướng về trại bên đông.

Các tướng buông tay xuống, chỉnh đốn phóng ngựa về một dãy lều vải ở phía đông giáo trường. Trên nóc lều cắm cờ hiệu theo màu sắc riêng, thêu tước vị và tên họ của từng tướng một. Mỗi lều có mươi tên quân thuộc giữ ngựa hầu hạ mỗi khi cần đến. Từ cung mã đến võ khí, thứ nào cũng có đôi, phòng hờ khi cần đến thì có ngay.

Một hồi trống nữa vại vang động ở cổng giáo trường. Mọi người chăm chú nhìn ra, thấy một viên mãnh tướng phi ngựa vùn vụt nhập trường.

Viên tướng đó vóc người vạm vỡ, đầu quấn khăn võ già tréo một chiếc lông chim đại bàng, mặc bào trần màu đỏ thẫm thêu bông đen, quần và ủng đen thêu bông đỏ. Tay áo săn ngược để lộ hai cánh tay chắc nịch, lông lá xồm xàm. Ngực áo cũng phanh ra hở bộ ngực nở nang, lông dai mượt như lông gấu. Mới nhìn qua, ai cũng nhận thấy viên mãnh tướng ấy có sức mạnh tiềm tàng kinh khủng. Hợp với chủ, con ngựa mình trắng loang đen, bờm và đuôi trắng toát như cước, ức dồ, đầu cất cao, yên cương đen tuyền dát bạc lóng lánh, hai bên ức gài cặp bát giác đồng chùy đúng tầm tay. Pháo tay vang dậy khắp võ trường chào đón viên hổ tướng oai hùng ấy. Đó là Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng.

Họ Điêu phóng ngựa như bay tới trước khán đài ghìm mạnh. Con tuất mã bị ghìm bất thình lình, cất cao hai vó trước đứng dựng ngược hí vang lừng, quay đi mấy vòng mới chịu đứng yên. Nghiêm chỉnh dữ dội như pho tượng đồng, Điêu Thiên Phượng giơ thẳng tay chào Thuận Vương và quan khách trước khán đài.

Xướng ngôn viên loan :

- Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng, người treo ấn tiên phong thách thức cuộc tranh hùng hôm nay!

Hồi chiêng trống vang lừng chào lại.

Xin mời Điêu tướng quân về trại bên Tây sửa soạn.

Điêu Thiên Phượng rẽ phắt ngựa sang hướng Tây, phi vùn vụt như bay về lều riêng giữa muôn vạn tiếng hoan hô vang dậy cả góc trời.

Trên khán đài, Thuận Vương cười đắc ý liếc nhìn mọi người.

- Quân sư thấy người ấy thế nào?

Tôn Hoàn hân hoan :

- Tâu Vương gia, nhờ hồng phúc của Ngài, Trời mới sai viên thần tướng đó xuống hạ giới giúp Ngài bình thiên hạ thâu phục san hà lên ngôi cửu ngũ đó.

Thuận Vương vuốt râu ghé sang bên Vô Địch tướng quân Đại nguyên soái hỏi :

- Theo mắt nhà nghề, Nguyên soái thấy Trại Nguyên Khánh thế nào?

Nghiêm nghị, Hoàng Bách Thắng buông mấy tiếng :

- Dám bẩm Vương gia, người này dùng được!

Thuận Vương mỉm cười phất tay áo ra phía xướng ngôn viên.

Người này như đã thuộc lòng chương trình bắc loa loan :

- Xin chư vị tướng quân sẵn sàng cung tiễn. Bắt buộc phải ngự mã bắn tên. Ai bắn trúng hồng tâm luôn ba phát sẽ được chấm nhất.

Đang ồn ào bàn tán trong giáo trường bỗng yên lặng như tờ, ai nấy đều hồi hộp theo dõi cuộc tranh đấu.

Bầu trời xanh ngắt, gió thổi nhẹ nhưng cũng đủ bay muôn vạn lá cờ gài quanh giáo trường. Mười bảy chiếc hồng tâm dựng sẵn theo bàng chứ nhất cách mặt khán đài hai trăm bước.

Trên đài loan :

- Cuộc xạ tiễn bắt đầu. Mời số Một, Nam Xương Lý Tấn Thành ra đấu trường!

Từ lều số Một bên đông, một tướng giáp bào màu nâu phóng ngựa ra như bay, lượn qua khán đài.

Tùng! Tùng! Tùng! Ba tiếng trống hiệu vang lên. Lý Tấn Thành rẽ ngựa chạy theo dọc vạch vôi trắng cách đích số một một trăm năm mươi bước, phát luôn ba mũi tên.

Xướng ngôn viên có trách nhiệm ghi điểm ở khu đặt hồng tâm, loan to :

- Hai mũi trúng đích, một mũi hơi lệch sang bên tả.

Tràng pháo tay vang dậy.

Lý Tấn Thành ngả cung vòng qua khán đài về lều riêng.

Trên đài lại loan :

- Thỉnh đệ Nhị, Hàng Châu Khương Quỳnh ra đấu trường.

Một tướng bào thiên thanh từ lều số Hai phi ngựa ra trước khán đài, và cũng như đệ Nhất chạy theo vạch vôi bắn ba mũi tên.

Xướng ngôn viên coi hồng tâm loan :

- Trúng đích cả ba phát, nhưng chệch, không đều.

Tùng! Một tiếng trống ghi hảo điểm. Tiếng hoan hô vang dậy khắp giáo trường.

Khương Quỳnh hớn hở vòng ngựa qua khán đài về lều cá nhân. Và cứ lần lượt như vậy cho đến tướng đệ Thập Lục.

Người chệch cả ba mũi tên, kẻ chệch hai hay một. Cũng có người trúng cả, được ghi hảo hai điểm bằng một tiếng trống, nhưng vẫn lệch lạ không được đều theo điều kiện "ưu điểm". Nhưng dù sao, với tài xạ tiễn ấy, khi ra trận cũng thừa sức bắn trúng đối phương rồi.

Loa trên khán đài vang lên :

- Lần chót, thỉnh Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng ra đấu trường.

Tiếng vó ngựa đập trên mặt đất như trống rền, họ Điêu tay cầm thiết cung phi ngựa sát khán đài.
Thuận Vương lo lắng ra mặt, nói với Quân sư và Nguyên Soái :

- Mười sáu tướng vừa rồi mà chưa ai được lãnh ưu điểm! Họ Điêu có tài cũng chỉ đến ghi một tiếng trống thôi!

Thần Cơ quân sư nghiêm trọng im lặng. Còn Vô Địch tướng quân Hoàng Bách Thắng chỉ khẽ gật đầu mỉm cười :

- Điêu Thiên Phượng lướt luôn hai vòng ngựa dưới khán đài rồi bắn luôn ba phát tên vào cỡ cách hồng tâm hai trăm bước.

Ba mũi trúng cả hồng tâm hàng ngang!

Tiếng vỗ tay hoan hô vang dậy lẫn với ba tiếng trống đổ ưu điểm.

Thuận Vương mừng quá, khen :

- Cô gia biết mà! Điêu tướng quân quả là nhân tài!

Hoàng Bách Thắng chỉ tay :

- Kia! Vương gia coi...

Thuận Vương vội nhìn xuống đài thấy Điêu Thiên Phượng đang phi ngựa chạy vòng, lúc gần tới khán đài, y đứng hẳn người lên hai bàn đạp luôn ba mũi tên nữa, chờ ngựa chạy qua hẳn mặt khán đài mới ngồi xuống yên.

Xướng ngôn viên phía hồng tâm loan to :

- Trúng theo hàng dọc cả ba mũi. Mũi tên cũ ở giữa bị chẻ đôi!.

Tùng! Tùng!Tùng! Ba tiếng trống nữa ghi ưu điểm ưu điểm giữa tiếng hoan hô của khán giả. Điêu Thiên Phượng rẽ ngựa vào gần khán đài cúi đầu chào, rồi phi thẳng về lều cá nhân bên hướng Tây. Thuận Vương vỗ tay tỏ ý ban khen riêng cho họ Điêu.

Về tới lều, Điêu Thiên Phượng nhảy xuống ngựa. Một tên quân đỡ dây cương, trong khi tên khác dâng chiếc khăn bông vò nước nóng. Thiên Phượng đỡ lấy lau mặt, lau tay. Một tên khác dâng ly rượu đầy giải lao. Thiên Phượng uống một hơi hết. Trong khi đó ở các lều bên Đông, mười sáu tưởng cũng xôn xao về tài xạ tiễn của Trại Nguyên Khánh.

Khương Quỳnh nói với mấy người :

- Phải nhận là y bắn khá hơn ta thiệt. Nhưng còn phần võ nghệ chưa biết thế nào! Sẽ xem!...

Lý Tấn Thành hằn hộc :

- Không lẽ chúng ta thua y cả sao? Nếu một chọi một không được thì ta họp lại quần cho y mộc trận thất điên bát đảo! Anh em chịu không?

Tướng Trần Gia Đồ cũng ở Hàng Châu nói :

- Không được! Theo luật lệ, một chọi một thôi. Trừ phi y thách thức cả bọn ta thì lại là lẽ khác!... Dù sao cũng đánh cho y biết tay chờ sợ chi? Một được, hai thua mà!

Khương Quỳnh lắc đầu :

- Được đã đành, nếu thua cả thì sẽ mất thể diện với đủ mọi người đó!.

Mười sáu tướng đang bàn tán thì từ khán đài kêu loa vang :

- Chư tướng tranh ấn tiên phong, hãy sửa soạn đấu với Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng.

Ai nấy đều tản ra trở về lều lên ngựa. Quân dâng lên Lý Tấn Thành cặp roi sắt.

Phí lều bên Tây, Điêu Thiên Phượng cũng lẹ làng lên ngựa. bốn quân bê hai ngọn chùy bát giác bưng lên, Điêu Thiên Phượng đỡ lấy cầm chập vào một tay, còn tay kia thì quấn cương ngựa quanh trụ yên một vòng.

Xin mời Điêu tướng quân và Lý tướng quân bên lều đệ Nhất nhập trận!

Hai viên mãnh tướng cùng thúc ngựa phi tới vòng vôi tròn trước khán đài. Tám vó ngựa đạp xuống đất rắn bật thành ầm ầm như sấm vang. Hai ngựa vừa giao nhau, Lý Tấn Thành hoa roi vụt luôn một ngọn ngang đầu họ Điêu. Thái Thiên Phượng cúi xuống tránh ngọn roi đó. Cả hai ngựa cùng chạy quá trớn ra ngoài vòng vôi... Nhưng quay lại ngay nhập trận, Lý Tấn Thành đánh hụt đòn đầu nổi giận hạ độc thủ, tay tả nhầm đầu quật tréo tay hữu nhằm co lưng đối phương quật ngang. Hai đòn đồng thời được tung ra mạnh mẽ, nguy hiểm theo thế Chung Cổ Bình Tiên.

"Rầm!".

Một tiếng chát chúa vang lên. Khán giả hồi hộp nhìn kỹ. Điêu Thiên Phương chuyến này không né, vung cặp bát giác đồng chùy gạt trúng cặp roi sắt văng cao lên trên không rớt ra xa đến năm sáu trượng... Lý Tấn Thành toạc hổ khẩu vai, hai cánh tay tê buốt, nhăn nhó, vội thúc ngựa chạy về lều. Quân tùy thuộc đỡ xuống ngựa. Y sĩ phụ trách vội chạy tới săn sóc. Một tên thuộc hạ chạy ra vòng đấu lượm lặt cặp roi về. Mọi người nhận thấy hai cây roi cũng bị cong veo.

Toàn thể giáo trường như muốn vỡ vì những đợt hoan hô liên miên vang dậy. Trên đài, các quan đều run rẩy trước hiệp đấu rùng rợn.

Nét mặt nghiêm trọng, Thuận Vương hỏi ý kiến Vô Địch tướng quân :

- Nguyên soái coi có nên cho tiếp tục trận đấu hay thôi? Cô gia xảy ra cuộc vong mạng thì thiệt mất một người bộ hạ.

Hoàng Bách Thắng lắc đầu :

- Đó là mặt trái của nghề võ tướng tránh sao được? Xin Vương gia cứ cho tiếp tục. Kẻ nào nhát gan đừng lên ngựa.

Giữa lúc ấy, bỗng nổi lên một hồi trống vang báo có khách tới cổng giáo trường.

Một vị nữ tướng trạc mười bảy tuổi, mặt hoa da phấn như tiên nga, đôi mày liễu xếch ngược vận bạch giáp lam bào, tay cầm ngọn thiên phương hạo kích, cưỡi con Bạch Mã tiến vào giáo trường. Theo sau là một toán người nữ binh phóng ngựa thành hàng đôi. Trên khán đài và quần chúng đều nghiêng đầu nhìn.

Quân sư Tôn Hoàn ghé đầu, nói nhỏ với Thuận Vương.

- Lan Anh quận chúa tới.

Thuận Vương kinh ngạc, ghé hỏi hai Thế tử ngồi phía sau.

- Ủa! Ta đã tưởng Lan Anh không đến dự cuộc tranh ấn tiên phong. Đến trễ thế này chắc có chuyện chi chăng.

Phải viên nữ tướng trẻ tuổi vừa tới là Quận chúa Chu Lan Anh Điêu Thiên Phượng ngạc nhiên dừng ngựa nhìn, khen thầm vẻ cân quắc anh hùng của người mới tới.

- Chao ôi! Đẹp! Tuyệt đẹp! Ước chi ta cùng nàng giao đấu một trận mới thỏa tình! Con cái nhà ai thế này.

Chợt nhìn lá cờ hiệu do một nữ binh cầm, Điêu Thiên Phượng đọc "Chu Lan Anh quận chúa". Chàng giật mình thúc ngựa về lều thì gặp ngay cặp thứ ba của thiếu niên nữ tướng đó nhìn.

Về phần Quận chúa tới trễ, vừa ra khỏi cổng thành tiếng reo hò đã vang từ giáo trường tới tai nàng. Nóng ruột phóng ngựa phi thật lẹ nhập võ trường. Liếc nhìn thấy toàn thể giáo trường, mọi người đang chăm chú nhìn mình, và trước khán đài, một viên dũng tướng bào đỏ, tay cầm bát giác đồng chùy... Nàng khen thầm viên tướng ấy oai hùng thật, nhưng khi thấy diện mạo hung dữ như Thiên lôi của y thì nàng vội đảo mắt nhìn thẳng lên khán đài. Bởi vậy, Điêu Thiên Phượng mới vô tình được hưởng khóe phượng thứ ba của nàng Quận chúa anh thư bạch giáp lam bào đó.

Tới trước khán đài, Chu Lan Anh liệng họa kích cho nữ binh, gọn gàng nhảy xuống ngựa, uyển chuyển theo bực thang thượng đài. Quỳ một gối trước mặt Thuận Vương, nàng thỏ thẻ giọng oanh vàng.

- Thân mang giáp trụ không hành đại lễ được, kính mong Phụ vương lượng thứ.

Thuận Vương đỡ nàng dậy.

- Cho phép con tự nhiên. Ta đã ngờ là con không đến dự lễ?

Chu Lan Anh đứng dậy :

- Bẩm Phụ vương, con bất chợt dở chút việc tổng cung nên đến trễ, thiệt đáng tội muôn vàn.

Thuận Vương mỉm cười :

- Cho con an tọa bên các anh con.

Chu quận chúa nghiêng đầu thi lễ cùng Quân sư, Hoàng nguyên soái và các hàng văn võ quan tướng tá. Mọi người đều cung kính đứng lên đáp lễ.

Chu Lan Anh gọn gàng thẳng thắn, vòng ra hàng ghế sau ngồi bên Thái tử Chu Bảo Quốc. các tướng tá và văn võ bá quan ai cũng có lần biết mặt Quận chúa, riêng đệ Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo tuy đầu bôn được trên một năm nay, mà chưa có dịp nào được hân hạnh gặp nàng.

Nghe tiếng đồn về nhan sắc hãn hữu và tài võ nghệ siêu quần của Chu quận chúa, Hầu Văn Bảo vẫn ao ước được gặp xem có danh bất hư truyền không?

Bỗng dưng bữa nay thấy mặt, vị đệ ngũ hổ thiếu niên tướng quân hồn xiêu phách lạc, tự nghĩ.

- Trời ơi, đẹp thiệt! Cái đẹp quí phái anh thư cũng đáng để tôn thờ... Hừ! Thế mà vừa rồi tên mãng phu họ Điệu dám dừng ngựa lại trâng tráo nhìn nàng! Thắng mấy viên tiểu tướng quèn kia, y đã tưởng mình là thiên tướng nhà trời, mục hạ vô nhân! Nếu không vướng chân Ngũ hổ này ta sẽ cho y một bài học song phủ xem ấn tiên phong về tay ai!...

Càng nghĩ, mặt họ Hầu càng đỏ gay gắt, bất giác nghiến răng kèn kẹt, khiến Thanh Diện Hổ Tống Võ Cường ngồi bên cạnh ngạc nhiên hỏi nhỏ.

- Hầu hiền đệ trúng phong hay sao mà run rẩy nghiến răng vậy.

Như tỉnh cơn mê, Hầu Văn Bảo trấn tĩnh.

- Ngu đệ cảm thấy như tự mình đánh trận vừa rồi, hào hùng quá nên vô tình để lộ ý tưởng, Tống đại ca chớ cười nhé.

Tống Võ Cường lắc đầu mỉm cười, yên lặng, vì tiếng loa đã vang dậy.

- Thỉnh Điêu tướng quân và Khương tướng quân sửa soạn nhập đấu.

Chu Lan Anh hỏi Thế tử Trấn Quốc.

- Điêu Thiên Phượng là viên mãnh tướng cầm bát giác đồng chùy đó, phải không hiền huynh?

Chu Trấn Quốc gật đầu :

- Chính y đó. Phụ vương thâu nạp được y là một việc rất đáng kể.

Chu Lan Anh đưa mắt nhìn hai bên lều, thấy hai tướng cùng lên ngựa sẵn sàng chờ lệnh. Tùng! Tiếng trống hiệu vừa phát ra, tám vó ngựa chồm lên phi thẳng ra phía trước. Khương Quỳnh buông cương ngựa cặp chặt cây giáo sắt vào nách, phóng ngựa như bay nhằm ngực đối phương thọc tới. Điềm tĩnh nhưng dữ dội, Điêu Thiên Phượng cũng phi ngựa nhắm thẳng mũi giáo đó phi tới như thách thức... Khán giả hồi hộp, trống ngực đập mạnh hơn trống trận đang thúc giục vang dậy ở bên khán đài...

- Choang! Ngọn giáo sắt cong gập hẳn lại dưới sức gạt nặng nền của đồng chùy. Khương Quỳnh toạc hổ khẩu văng mình lăn xuống đất.

Con ngựa mất chủ hoảng hốt chồm lên hí vang, nhưng đã bị con Lôi Phong của Điêu Thiên Phượng chồm tới bổ luôn hai vó trước trúng ức ngã lộn sang bên, thiếu chút nữa đè phải Khương Quỳnh. Họ Khương nhăn nhó ôm sườn không dậy được. Bọn bộ hạ thuộc ở lều Nhi vội chạy ùa đến khiêng Khương Quỳnh về lều, trong lúc mấy tên khác dắt ngựa và lượm cây giáo bị cong. Thì ra, họ Khương cặp cây giáo chặt quá, cố tình xã một mũi trúng ngực đối phương, dè đâu Điêu Thiên Phượng sức mạnh như thần gạt mạnh đến nỗi bị gãy mấy lóng xương sườn.

Khán giả thấy Điêu Thiên Phượng hạ hai tướng đối thủ dễ dàng như vậy, đều lắc đầu thè lưỡi khen họ Điêu có sức mạnh vô địch, quả xứng đáng hỗn danh Trại Nguyên Khánh.

Thuận Vương bảo nhỏ Tôn Hoàn :

- Khi xưa Bùi Nguyên Khánh cũng chỉ mạnh đến thế là cùng.

Hạ xong Khương Quỳnh, Điêu Thiên Phượng liếc nhìn lên khán đài có ý tìm Lan Anh quận chúa rồi mới quay ngựa trở về lều.

Trên khán đài, Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Báo chú ý thấy vậy nên bực mình ngồi không yên chỗ. Nhất là chàng nhận thấy Quận chúa thích chí, vỗ tay hoan hô kẻ chiến thắng.

Sau mấy đợt hoan hô vang dậy, giáo trường bỗng trở nên nghiêm trang vì ai cũng nhận thấy cuộc tranh tài mỗi lúc một thêm hào hứng, nhưng quả rất nguy hiểm, có thể hại tới sanh mạng người được...

"Tùng!..."

Tiếng trống gọi đấu lại vang lên. Trần Gia Đồ nhận ra họ Điêu có sức mạnh vô địch nên không dám xem thường như Lý Tấn Thành và Khương Quỳnh.

Chàng cũng cặp cây đinh hai vào sườn, phóng ngựa tới vòng đấu.

Ai cũng đoán Trần Gia Đồ sẽ bị đòn theo họ Khương.

Nhưng không! Ngựa hai bên vừa tới vòng đấu thì Trần Gia Đồ sẽ phất ngựa sang bên tả nhường ngựa họ Điêu quá trớn mấy bước.

Thừa thế, Trần Gia Đồ đâm luôn mũi chĩa đôi vào hông đối thủ.

Đòn đánh tuy lẹ, nhưng họ Điêu đoán được ý định của Trần Gia Đồ nên gạt nhẹ khí giới địch sang bên.

Trần Gia Đồ bị gạt rung cả hai cánh tay, khen thầm quả đối phương dũng lực vô song, nên cố tránh không động chạm tới cặp chùy của họ Điêu mà chỉ dùng đòn lẹ.

Nhưng Điêu Thiên Phượng không những mạnh mà còn lanh lẹ vô cùng. Trong khi Trần Gia Đồ còn đang chơi vơi vì hai cánh tay bị tê buốt, chàng áp ngựa tới sát địch thủ quất tréo một chùy.

Đòn đánh gần vừa lẹ vừa mạnh, không dám đỡ cũng chẳng dám gạt, Trần Gia Đồ vội nhào xuống ngựa thoát thân, để con ngựa chịu đòn thế.

Trúng một trùy nặng như núi Thái Sơn đúng giữa lưng, con ngựa khuỵu bốn vó lăn ra đất hí lên mấy tiếng, nhưng cũng vùng đứng lên được chạy vùng ra xa.

Sở dĩ con vật không chết là nhờ ở bộ yên dày độn trên lưng, trái lại xương sống sẽ bị nát vụn.

Còn đứng trong vòng chiến, Trần Gia Đồ nhảy tới xiên một mũi vào đùi Điêu Thiên Phượng.

Ngọn chùy vụt xuống như chớp, Trần Gia Đồ chỉ kịp buông tay chạy ra khỏi chỗ vạch vôi tỏ ý chịu thua. Cây đinh hai bị chùy vụt trúng cong, gập lại văng tới chân khán đài.

Tiếng trống điểm dứt cuộc đấu thứ ba.

Trái với thường lệ, họ Điêu đứng giữa vòng chiến hướng sang bên Đông hô lớn.

- Hỡi chư vị Tướng quân! Nếu còn muốn dành ấn tiên phong xin mời cả ra đây cùng Điêu mỗ đấu một lượt cho đỡ mất thì giờ.

Các tướng Đông thấy họ Điêu quá ư dũng mãnh, tự liệu một đấu một tất không chịu nổi, chi bằng nhân dịp y thách thức, hợp nhau lại đấu một trận xem sao.

Thế là tất cả cùng lên ngựa cầm khí giới kéo rốc tới trước khán đài vây tròn Điêu Thiên Phượng vào giữa.

Các võ khí va vào nhau chí chát lắm khi tóe lửa ghê người.

Điêu Thiên Phượng hoa cặp bát giác đồng chùy như bay dương đông kích tây, xông xáo như mãnh hổ giữa bầy hổ, đi đến đâu đối phương dạt ra đến đấy.

Tuy hung hăng, họ Điêu cũng không muốn mất cảm tình với mọi người, gây mối thù oán vô ích lợi, nên chàng ra sức đánh, nhè khí với của đối phương, trúng cái nào, cái ấy bị văng liền ra xa.

Trận hỗn đấu tiếp diễn kịch liệt.

Các tướng bị loại lần đầu chỉ còn bốn người cố đánh, Điêu Thiên Phượng ra sức đàn áp khiến họ phóng ngựa chạy cả ra ngoài vòng chiến.

Một hồi chuông trống vang lừng chấm dứt cuộc chiến.

Các bại tướng lần lần đều kéo về bên Đông. Riêng mình Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng đứng lại giữa đấu trường như một vị thần tướng.

Tiếng xướng ngôn viên gọi lớn.

- Vương gia truyền lệnh còn tướng nào bất phục muốn tranh ấn tiên phong, xin thỉnh vào cùng Điêu tướng quân.

Giây lát, xướng ngôn viên lại nói :

- Thỉnh Điêu tướng quân thượng đài lãnh ấn.

Điêu Thiên Phượng gài cặp chùy vào hai bên hông ngựa, ném dây cương cho mấy tên bộ hạ đã tá túc gần đó, từ tốn lên đài, quỳ trên đệm da hổ trước mặt Thuận Vương.

Quân sư Tôn Hoàn dâng hộp ấn và lá cờ. Thuận Vương tiếp lấy đứng dậy.

Mọi người trên đài cũng nghiêm chỉnh đứng theo.

Tiến lên mấy bước, Thuận Vương tuyên bố.

- Kể từ bữa nay, thất nguyệt đệ nhị thập tứ nhất, Giáp Dần niên, Cô gia Thuận Vương, Kim Lăng Trấn thủ quan, sắc phong Tướng quân Điêu Thiên Phượng chức Tiên phong trong bộ đội Chu gia Vĩnh Thái.

Kính cẩn, Điêu Thiên Phượng cúi đầu lãnh ấn, cờ.

- Mạt tướng, Điêu mỗ, nguyền cùng Thiên Địa, phụng sự Chúa công cho đến cuối cùng dù thịt nát xương tan cũng cam lòng.

Thuận Vương lùi về ghế ngồi.

Điêu Thiên Phượng đứng dậy bái Quân sư Tôn Hoàn và Đại nguyên soái Hoàng Bách Thắng.

Trước khi xuống đài, chàng không quên đưa mắt nhìn Quận chúa Lan Anh khiến Bạt Sơn Hổ Hồ Văn Báo nổi giận, sắc mặt đỏ gay.

Tiếng loa loan lớn cho mọi người biết.

- Điêu tướng quân đã chánh thức nhận lễ tiên phong.

Ba hồi chiêng trống chấm dứt lễ khai mạc tân giáo trường và cuộc tranh ấn tiên phong.

Sau khi Thuận Vương và đoàn tùy tùng ra khỏi giáo trường, dân chúng mới kéo nhau về lũ lượt như nước vỡ bờ. Ai nấy đều bàn tán khen ngợi thần lực của Điêu tướng quân.

Đầu bôn dưới trướng Thuận Vương còn có hai tay giang hồ hắc đạo cự phách nữa là Ân Định và Bao Chí Cường.

Ân Định võ nghệ cao cường có tài đánh cửu tiết nhuyễn tiên (thứ roi sắt có chín khúc nhập lại) và tài kỵ mã.

Bởi vậy họ Ân mới có tước hiệu Phi Phong Ngô Công. Trong khi ngựa đang phi nước đại, Ân Định có thể luồn qua bụng ngựa từ bên nọ sang bên kia, phóng cửu tiết nhuyễn tiên bất người đánh trúng địch thủ rồi thu roi cầm gọn trong tay như thường.

Thấy Ân Định có tài đặc biệt, Thuận Vương giao phó cho y nhiệm vụ tập luyện đoàn kỵ mã quân tại Kim Lăng.

Còn Bao Chí Cường có tài đánh quyền giang hồ lão luyện theo Hầu phái ở Quý Châu được Thuận Vương cho nhậm chức Tổng Võ Sư Đoàn dạy toàn thể hai vạn cấm quân ở Kim Lăng và trông coi tổ chức các lôi đài để thâu nạp anh hùng tứ xứ về đầu bôn.

Vì Bao Chí Cường giỏi quyền cước nên giới giang hồ tặng cho y tước hiệu Thần Quyền Vô địch.

Về phía tăng ni, ngoài bọn Kim Cương tự ra, còn có nhiều đầu đà về đầu bôn Kim Lăng. Bọn này lãnh nhiệm vụ tuyên truyền gây thanh thế cho Thuận Vương và dụ dỗ người đồng giới, đồng đạo về quy thuận.

Ngoài các vị tướng tá, Thuận Vương còn có ba người con đáng liệt vào giới anh hùng thượng mã.

Chương 23: Núi Long Sơn tự, Thượng Thái truyền nghề Đại hội Kim Lăng, anh hùng quần tụ

Tuy dòng dõi kim chi ngọc diệp, sanh trưởng ở nơi lầu son gác tía, không như cha ông quen thói xa hoa, rượu ngon hầu đẹp, hai vị Thế tử Chu Trấn Quốc, Chu Bảo Quốc và Quận chúa Chu Lan Anh có tinh thần thượng võ từ lúc nhỏ.

Trấn Quốc, Bảo Quốc vốn là con sinh đôi, mi thanh mục tú, giống nhau như hai giọt nước, khó mà phân biệt được ai là anh, ai là em.

Bởi vậy, Thuận Vương Phi mới xâu tai cho hai người, mỗi người mỗi bên tả, hữu cho dễ nhận.

Về y phục cũng vậy, Vương phi cho Trấn Quốc, vận màu vàng tía còn Trấn Quốc, Bảo Quốc dùng màu trắng xanh. Thành thử ai cũng gọi là Kim thế tử và Ngân thế tử.

Ngoài giờ học chữ, hai anh em chỉ ưa múa côn, đánh quyền, cùng các trẻ khác trong cung điện đưa nhau ra vườn Ngự uyển tập trận, đánh giặc suốt ngàn.

Thấy hai con có khiếu võ, Thuận Vương cho võ sư vào cung với giáo sư chia chương trình dạy học, truyền võ nghệ cho hai trẻ.

Được hai năm thì Vô Địch tướng quân Hoàng Bách Thắng về đầu bôn.

Họ Hoàng thấy Trấn Quốc, Bảo Quốc lanh lẹ thông minh, đem lòng yêu mến, truyền võ nghệ của phái La Phù sơn cho.

Dạy được hai năm, về sau Hoàng Bách Thắng bận nhiều việc vì quân đội Kim Lăng đang ở thời kỳ ấu trĩ cần phải bành trướng, họ Hoàng bèn khuyên Thuận Vương cho Trần Quốc và Bảo Quốc lên La Phù sơn theo học Thiên Không.

Thuận Vương ưng ý ngay, những mong hai Thế tử sẽ anh hùng xuất chúng như Hoàng nguyên soái.

Hoàng Bách Thắng đang sắp sửa cùng hai trẻ lên đường xuống cõi Lĩnh Nam thì mau thay Thiên Không đại sư vân du qua Kim Lăng ghé thăm học trò.

Thuận Vương tiếp đãi rất ân cần nhân vật hữu danh ấy và ngỏ ý muốn cho hai con theo lên núi học võ.

Thiên Không ưng thuận ngay. Sau ít ngày lưu lại chơi đất Kim Lăng, Thiên Không cho Trấn Quốc và Bảo Quốc theo thẳng về núi chớ không qua Dương Châu thăm Phi Không, cho nên đại sư không biết nếp sống hoang dâm vô độ của sư đệ ở Kim Cương tự.

Anh em Thế tử đã được Hoàng Bách Thắng lưu ý dạy bảo trong một năm đầu nên lúc theo Thiên Không đại sư lên La Phù sơn, hai người tập luyện rất mau lẹ.

Tới năm mười tám tuổi, tổng cộng theo học được đúng năm năm, công phu võ nghệ của Trấn Quốc, Bảo Quốc đã đạt mức độ cao siêu, Thiên Không bèn cho hai đồ đệ hạ sơn.

Khi anh em Chu thế tử ở Kim Lăng theo thầy ra đi thì Lan Anh quận chúa còn nhỏ tuổi. Nay trở về không thấy em đâu liền hỏi tự sự.

Vợ chồng Thuận Vương sung sướng trông thấy hai con trai đã lớn, nghiễm nhiên trở thành hai tay hảo hán, mỹ mạo ngồn ngộn như đôi hạc trắng.

Thuận Vương hỏi :

- Hai con lên La Phù sơn được trên hai năm, thì bỗng dưng một sang nọ Lan Anh mất tích.

Cung nữ lượm được ở đầu giường mảnh giấy có ghi mấy chữ: "Bần đạo đem Quận chúa đi truyền võ nghệ, chừng nào thành tài sẽ cho hạ sơn về giúp Vương gia lập nghiệp Đế".

Vị tu sĩ nào đó không ký tên hoặc để địa chỉ, nên ta không thể cho người đi tìm kiếm được. Đành chờ xem sao. nay hai con trở về, ta và mẹ con cũng đỡ buồn được phần nào tuy còn vắng mặt em con, chớ trước đây, cung điện rộng thênh thang mà chỉ có hai vợ chồng già, buồn không kể xiết. Đã có lúc ta muốn cho người lên La Phù sơn xin phép Thiên Không đại sư cho các con trở về Kim Lăng, nhưng nghĩ đến tiền đồ của các con sẽ thay ta, nên đành nén tâm rán chịu chờ đến ngày nay, hai con thành tài trở về.

Trấn Quốc nói :

- Vương phụ và mẫu thân cũng chẳng nên buồn, vài năm nữa thế nào em con cũng trở về. Lúc đó sẽ nghiễm nhiên là một Quận chúa đã lớn, tài mạo song toàn có thể giúp Vương phụ trong cuộc trường chinh, thiết tưởng sự chờ đợi này cũng chẳng uổng công.

Thuận Vương khen phải, rồi đem tình hình quân đội hiện kể cho hai Thế tử nghe.

Công việc làm trước nhất của Trấn Quốc và Bảo Quốc là hạ lệnh cho viên quan phụ trách việc đúc võ khí, lựa chọn lấy mấy người thợ chuyên môn thiệt giỏi để đúc hai cây thuyền thương theo phương pháp riêng do Thiên Không sư phụ truyền lại, và lựa chọn mấy con chiến mã cực tốt vừa ý muốn. Sau nữa là việc sửa soạn mấy bộ khôi giáp cho thiệt vừa.

Trấn Quốc và Bảo Quốc còn tình nguyện hàng ngày làm việc dưới trướng Hoàng nguyên soái để thêm kinh nghiệm.

Hoàng Bách Thắng vốn sẵn lòng quí mến hai người nên dạy bảo cho cả hai thấu triệt cách thức tổ chức quân đội, luyện tập chư tướng thế nào.

Chẳng bao lâu Trấn Quốc, Bảo Quốc đã trở thành hai viên thiếu niên hổ tướng thao lược gồm tài.

° ° °

Ở phía tây tỉnh Vân Nam, thuộc Quan Đồ huyện, rừng rậm núi cao có ngọn Long Sơn sừng sững, vách đám chơm chởm, suốt tháng quanh năm lúc nào cũng có mây phủ lấp đỉnh núi nên chưa ai có ước lượng được chiều cao của núi ấy là bao nhiêu.

Thoạt nhìn, ai cũng tưởng ngọn núi ấy đá thiêu hiểm ấy không có đường lên, nhưng trái lại thỉnh thoảng vẫn có một vài cổ ngựa thồ do thổ dân miền ấy tải mấy thứ thực vật theo con đường nhỏ khúc khuỷu quanh co từ phái sau lên một ngôi chùa xây bằng gạch xanh ở lưng chừng núi.

Vị Thiền sư trưởng tự ấy là một vị lão ni cô, không ai ước lượng nổi đã bao nhiêu tuổi.

Chỉ biết vị Thiền sư ấy tóc đã bạc như cước, da dẻ hồng hào, ít nếp nhăn, cặp mặt sáng ngời lóng lánh như hai vị tinh tú, tai to má dầy, thùy châu trề xuống gần chạm vai. Vóc người tầm thước, nhưng đầy đặn khỏe mạnh tỏ ra có một sức mạnh tiềm tàng đáng kể.

Vị lão ni cô ấy không phải ai xa lạ, chính là Thượng Thái đệ nhất môn đồ của Nhất Khánh thiền sư.

Nhất Khánh và Trí Dũng thiền sư (sư phụ của Chiêu Đức sư trưởng Thiếu Lâm tự hiện thời) là bạn đồng môn, Trí Dũng đứng hàng trên.

Nhất Khánh đi chu du thiên hạ ưa thích cảnh Long Sơn lên thám hiểm thấy Long Sơn tự bỏ phế bèn bỏ tiền ra sửa chữa, trụ trì luôn tại đó.

Nhất Khánh thiền sư thọ chín mươi mốt tuổi mới tịch.

Đệ nhất đồ đệ là Thượng Thái lên thay.

Các ni cô trong Long Sơn tự không có bao nhiêu, trên dưới mười người. Người nào cũng có võ nghệ chân truyền, tuyệt luân.

Tuy ở riêng chùa, nhưng cùng môn phái Thiếu Lâm tự nên cách thức luyện tập ở đéo nhất nhất y hệt bên Tung Sơn.

Theo thường lệ, sáng nào mọi người cũng tập luyện ở sân sau chùa.

Thượng Thái thiền sư ngồi trên bồ đoàn dưới hiên chùa quan sát toàn thể.

Bà chăm chú nhìn nữ đồ đệ trẻ tuổi và xinh đẹp nhất trên sân đang từ từ hô hấp luyện sáu mươi tư thế nội công.

Người này trạc tuổi trăng tròn, vận võ phục màu nâu, màu của nhà chùa, tóc để dài quấn ngược lên đỉnh đầu :

- Thượng Thái khẽ gật đầu mỉm cười, gọi bảo thiếu nữ.

- Lan Anh con! Thử phi hành thuật ta coi nào.

Vừa luyện xong bài tấn nội công, Chu Lan Anh vì chính nàng được Thượng Thái thiền sư đem về truyền dạy võ nghệ - chắp tay phi thân lên cành cây lớn ở gần sân.

Thiền sư nhìn theo quan sát xem lá cây có bị rung động không?

Từ cành cây, Chu Lan Anh phóng người chuyền xuống mái ngói, rồi từ từ chạy lại trên mái ngói, có lúc nàng nhảy vọt lên cao rơi xuống ngói như chiếc lá rụng.

Thiền sư vỗ tay ra hiệu xuống.

Lan Anh đáp người xuống sân ngay trước thềm nhà.

- Được rồi. Một năm nữa con sẽ về Kim Lăng. Từ nay trở đi, bất cứ giờ giấc nào ta sẽ thử con. nên thận trọng.

Chu Lan Anh vâng lời lui ra, tiếp tục tập luyện các môn khác.

Đêm rằm tháng Tám, chị Hằng lơ lửng trên không trung giải ánh sáng vàng khắp vùng rừng núi nhấp nhô. Gió quanh quất lùa trong rừng thông bật lên tiếng vi vu buồn rượi...

Ngồi dựa lưng vào thành đá bên sườn núi nơi cách cửa phòng nàng độ vài trượng, Chu Lan Anh say sưa ngắm cảnh non cao hùng vĩ, rừng biếc bao la đẹp như bài thơ dưới ánh trăng vàng lung linh.

Bấm đốt ngón tay, nàng lẩm nhẩm nói một mình.

- Thời gian trôi lẹ thiệt! Quanh đi, quẩn lại, mới ngày nào mà nay đã sáu thu tròn.

Bất giác nàng mỉm cười nghĩ lại sáu năm về trước.

Hồi đó mới lên mười, nàng chạy tung tăng đùa nghịch trong cung điện rộng thênh thang giữa đám cung nữ hân hoan đêm Trung Thu Vọng Nguyệt.

Đêm ấy nàng thức khuya lắm, theo Vương phi ra Ngự Uyển, nơi có bày cỗ thưởng trăng, đèn treo, hoa kết muôn hồng ngàn tía làm nổi bật cung nữ áo màu xiêm trắng, giải lụa phất bay dưới làn gió nhẹ, xa trông chẳng khác chi Tiên nga nơi cung quảng.

Thế rồi, nàng mỏi mệt ngủ thiếp đi lúc nào không biết trong tay mẹ, để sáng hôm sau bừng mắt dậy hết sức ngạc nhiên, sợ hãi trong một căn phòng thô sơ...

Kìa đây cũng đệm cũng mền đủ ấm, nhưng không phải những thứ gấm lụa nàng thường dùng quen mắt...

Quay sang bên định nhỏm dậy xem sao, thì thấy bên giường, một vị lãi ni sắc diện hồng hào, hiền từ như Đức Phật, đang mỉm cười âu yếm nhìn nàng :

- Lan Anh con đã dậy đó ư?

Nàng mếu máo muốn khóc, nhưng với một giọng ấm áp, lão ni vuốt tóc nàng :

- Đừng sợ hãi con ạ! Gần thầy cũng như cạnh mẹ... Ta là sư phụ của con đó.

Thấy lão ni hiền hậu nàng đỡ sợ trấn tĩnh lại, nhưng vẫn không khỏi láo liên nhìn khắp căn phòng.

Mở mền ra bế nàng vào lòng, lão ni nhẹ nhàng nói :

- Con sẽ mến nơi non cao am vắng thanh tịnh này như ở cung điện đất Kim Lăng.

Vững tâm hơn lúc mới tỉnh dậy, nàng thỏ thẻ :

- Thưa sư phụ đây là đâu? Mẫu thân đâu? Gọi mẫu thân hộ con đi...

Lão ni vỗ về :

- Mẫu thân ở Vương phủ không lên đây. Nơi đây là một ngôi thiền tự xa... xa lắm. Ta đem con về đây để truyền võ nghệ như các anh con vẫn học ấy mà.

Nghe lão ni nói đến võ nghệ, nàng chợt nhớ đến Trấn Quốc và Bảo Quốc thường ngày tập luyện võ nghệ do một võ sư chỉ bảo... Chính nàng cũng tập theo hai anh, nhưng không được chuyên cần, buổi tập, buổi nghỉ.

- Đại huynh và sư huynh không lên đây sao hả sư phụ.

Lão ni mỉm cười lắc đầu :

- Không. Trấn Quốc và Bảo Quốc cũng lên núi như con, nhưng không ở đây. Con chịu khó ở lại học, chừng nào trở về sẽ giỏi... giỏi hơn cả sư phụ ở Vương phủ.

Nàng chợt nhớ một hôm võ sư nhảy lên mặt tường cao, và từ đó vẫn ước ao nhảy cao được như vậy.

- Thưa sư phụ, luyện võ nghệ ở đây con có thể nhảy cao lên mặt tường không?

- Con sẽ nhảy cao hơn thế nữa, bay nhẹ nhàng như con chim... Thôi, con đừng sợ nhé, ta thương quí con lắm.

Lão ni bế gọn nàng trong tay, vuốt ve làn tóc tơ. nàng nín thinh.

Giữa lúc ấy, một lão phụ vẻ mặt hiền lành bước vào. Người ấy nói :

- A, Lan Anh đã dậy đó à? Nào ra đây tôi rửa mặt cho và ăn điểm tâm kẻo đói.

Nàng lo lắng nhìn lão ni.

- Con đừng sợ. Đây là Lý mẫu sẽ trông nom con. Muốn gì con cứ hỏi nhé. Bây giờ, con theo Lý mẫu ra rửa mặt ăn sáng nghe?

Nàng ngoan ngoãn theo Lý mẫu ăn sáng xong rồi lại cùng lão ni tung tăng đi xem khắp trong chùa.

Vào tới sân trong, nàng thấy chín mười người ni cô già có, trẻ có, đang tập luyện võ nghệ.

Mọi người kính cẩn cúi chào Lão ni và xúm lại vui vẻ hỏi chuyện nàng.

Một ni cô bế nàng đứng lên, bảo :

- Sư muội ở lại chùa, tập võ vui lắm. À, có muốn lên kia nhìn chung quanh không?

Ni cô vừa nói vừa chỉ nóc mái chùa.

Nàng gật đầu, Ni cô bảo nàng nhắm mắt lại. Nàng làm theo, thấy gió vù bên tai rồi lại như thường.

- Nào, bây giờ, sư muội mở mắt ra coi.

Nàng mở mắt nhìn thì thất ni cô đứng chót vót trên nóc cao vời vợi. Cảnh núi rừng bát ngát hiện ra trước mắt nàng...

Dưới sân, mọi người vẫy nàng và vỗ tay cười :

- Ni cô hỏi :

- Sư muội thích không? Ít nữa, sư muội cũng nhảy được như ta và chạy khắp ngọn núi này. Ngọn núi lia.

Nàng thích quá gật đầu :

- Ni cô bế nàng đi từ đầu nọ sang đầu kia trên nóc cho nàng xem rồi bào nàng ôm chặt lấy cổ và nhắm mắt lại.

Lúc mở mắt ra thì đã thấy đứng dưới sân với mọi người rồi.

Từ đó, nàng ở lại chùa. Lâu dần, nàng bắt quen, vui vẻ như thường...

Ngoài thì giờ học võ, lão ni Thượng Thái còn dạy nàng học chữ và kinh kệ phổ thông.

Một năm sau, nàng thấy khỏe mạnh hơn khi còn ở Vương phủ nhiều, việc gì cũng tự làm lấy, chớ không ỷ lại như trước nữa.

Thấm thoắt sáu năm trường!

Từ một cô gái nhỏ bé, nay nàng đã nghiễm nhiên thành một thiếu nữ xinh đẹp khỏe mạnh, trong tay sẵn có bản lãnh tuyệt vời.

Cảnh vật nơi cung điện trong Vương phủ Kim Lăng đối với nàng, nay chỉ là một bóng hình phai lợt, tuy nàng vẫn canh cánh nhớ mẹ...

Nàng nhớ Vương phi vì ngay từ thuở thơ ấu, nàng gần mẹ, được chiều chuộng nhiều hơn là Vương phụ chỉ thỉnh thoảng mới hỏi tới nàng.

Hiện thời, cảnh Phật đường yên tĩnh giữa miền sơn cước hoang vu, bạn bầu với những tu sĩ tánh tình hiền đức, học thức uyên thâm, nàng cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng sung sướng hơn trên lụa dưới là, nơi cung điện lầu vàng các ngọc lộng lẫy nguy nga.

Chu Lan Anh nhìn cảnh trăng sơn cước, trí óc liên miên nghĩ ngợi :

- Sư phụ dặn ta nên thận trọng phòng khi người thử thách, mà quá nửa năm nay rồi cũng chẳng thấy gì. Lạ thiệt!

Bỗng cơn gió từ khe núi thổi tới, nàng rùng mình trở vào phòng lấy áo choàng.

Vừa đi được mấy bước thì chợt nghe có tiếng chân chạy nhẹ phía sau. Nàng vội quay phắt lại.

Hai người bịt mặt vận dạ hành đen tay kiếm tuốt trần, từ sườn núi chạy tới.

- Lan Anh! Hãy dừng bước, mi chạy đâu cho thoát! Coi kiếm ta đây...

Chu Lan Anh vội vàng nhảy vụt vào phòng với thanh kiếm treo tường tuốt ra liệng bao kiếm lên giường, rồi đứng chắn ở cửa phòng :

- Các ngươi là ai, ta có thù chi mà tới đây gây chuyện?

Một trong hai người quát lớn :

- Tiện tì còn chối leo lẻo để tránh cái chết. Mau ra đây cho ta lấy thủ cấp về người đã bị cha ngươi sát hại!

Chu Lan Anh nghĩ thầm:

"Quái! Cha ta sát hại ai? Định báo thù sao chúng không xuống Kim Lăng, mà lại tìm ta ở nơi sơn cốc này! Mặc, hãy đánh cho chúng biết tay kẻo ngạo mạn quá!"

Nghĩ đoạn, nàng nhảy vụt ra khỏi hiên nhà.

Người kia nói :

- Nơi này chật hẹp quá! Có giỏi lên đây.

Hai người phi thân lên nóc nhà loang loáng như hai bóng ma.

Chu Lan Anh phi thân lên theo, hơ kiếm nhằm chân tình địch quơ mạnh.

Hai người lạ vừa đặt chân xuống đỉnh nóc nhà thì bị luôn nhát kiếm lẹ làng ấy. Không nhảy tránh, một người chống kiếm đỡ, còn người kia chém luôn một nhát xuống ngang vai.

Lan Anh thâu kiếm về gạt và nhân dịp đối phương hở trung bộ, thọc luôn một mũi kiếm vào bụng theo thế Bạch Xà Nhập Động khiến người ấy nhảy lùi mấy bước tránh đòn.

Nhưng người thứ hai đã áp tới co chân đạp vào sườn Lan Anh.

- Nàng hồi bộ, đưa tay tả gạt ngọ đạp ấy đồng thời tay hữu thích luôn mũi kiếm vào cổ hoạn đối phương. Đòn đánh vừa lẹ vừa nguy hiểm. Người kia vội đưa kiếm lên gạt. ba người ba cây kiếm quấy tròn lấy nhau chiến đấu rất hăng hái, không ai chịu nhường ai. Ba lưỡi kiếm hòa lên thành ba đạo hào quang rít lên như tiếng gió gào, va vào nhau chí chát lóe lửa. Trận tranh hùng ác liệt diễn ra dư trăm hiệp, bất phân thắng phụ.

Chu Lan Anh càng đánh càng dẻo dai, tả xung hữu đột đông kích tây công kiếm pháp vô cùng nhập điệu.

Nàng nghĩ.

- Quái lạ! Sư phụ và các vị sư tỉ đâu mà không lên trợ chiến. Khí giới gạt vào nhau vang dậy cả toàn khu, chẳng lẽ không một ai nghe thấy sao?

Bỗng hai kẻ lạ mặt gạt kiếm Lan Anh :

- Khá lắm! Bấy giờ không thắng nổi nhưng lần sau chúng ta sẽ tới lấy đầu!

Dứt lời chúng phi thân sang nóc đại điện chuyền xuống sân trước băng cổng chạy vào bóng tối mất hút. Chu Lan Anh đuổi theo ra tới đó quanh quẩn tìm kiếm một hồi rồi mới phi thân vào chùa vô phòng riêng. Chị Hằng lơ lửng giữa không trung là nhân chứng độc nhất trận đấu ác liệt vừa qua. Sương rừng khí núi bốc lên đã cao hòa với ánh trăng xuống tạo thành một lớp phần đục bao phủ khắp ngàn cây...

Chu Lan Anh đóng chặt cửa phòng lại, tra kiếm vào bao để xuống đầu giường. Nàng vừa thay áo vừa nghĩ.

- Hai kẻ lạ mặt nào nam chẳng ra nam, nữ chẳng ra nữ, tới tận nơi đèo heo hút này kiếm ta để báo thù là nghĩa lý gì! Cả chùa đi đâu vắng ngắt? Đành rằng ngủ sớm, nhưng không lẽ ngủ say đến nước mê mệt thế ư?

Chợt nhớ ra điều gì, nàng lẩm bẩm.

- Hay là sư phụ thử ta đây? Ồ, kiếm pháp của hai người hồi nãy đặc Thiếu Lâm tự. Nhưng cứ gì đồng môn, đồng phái mà chẳng thì ghét lẫn nhau.

- Được rồi, mai chú ý xem thái độ sư phụ và các sư tỉ thế nào sẽ biết ngay khó gì!

Chu Lan Anh nghĩ đoạn mỉm cười, tắt đèn lên giường đi ngủ.

Hôm sau, nàng dậy sớm như thường, ra sân cùng mọi người tập luyện.

Thượng Thái thiền sư vẫn ngồi nghiêm chỉnh quan sát, điềm nhiên như không biết chi về trận tranh đấu đêm qua trên chùa.

Chờ mọi người luyện tập xong giải tán, Chu Lan Anh cũng xách kiếm, kích về phòng, Thiền sư gọi lại hỏi :

- Con có biết đêm qua đấu chiến cùng thù nhân nào không?

- Bẩm không, tự xét con lớn lên ở trên Long Sơn thì còn có thù hiềm với ai nữa! Hai tên thích khách đêm qua nói có thù với cha con nhưng không hiểu chúng làm thế nào biết con ở Long Sơn mà tìm đến nơi được.

- Con có nhận xét việc chi khác thường không?

Ngẫm nghĩ giây lát, Chu Lan Anh nói :

- Họ bịt mặt nên không nhận biết được ai cả, song lối đánh như người đồng phái vậy...

Nàng vừa dứt lời thì có tiếng quát ở phía sau.

- Chu Lan Anh hãy ra đây cùng ta tỉ thí.

Vội quay lại nhìn, Lan Anh thấy hai người vận dạ bành và bịt mặt đêm qua.

Hai người đó cười khanh khách, kéo khăn che mặt xuống. Lan Anh nhận ngay ra là đệ nhất và đệ nhị sư tỉ.

Bây giờ Lan Anh mới hiểu, nhìn hai người nguýt dài.

- Đêm qua thiếu chút nữa ngu muội táng mạng về tay kiếm của nhị vị.

Long Sơn tự đệ nhất môn đồ là Trí Thông cười khanh khách.

- Sư muội trả đòn khiến tôi đỡ gạt trối chết còn muốn gì nữa.

Đệ nhị môn đồ Trí Viễn nói :

- Thiệt vậy đó, đời ai lại đùa nhau mà đánh nhau toàn đòn chí tử. Hiếu sát thật.

Chu Lan Anh cũng mỉm cười :

- Nhị vị sư tỉ đến bất ngờ khiến ngu muội hết hồn còn trách ai hiếu sát nữa.

Thượng Thái thiền sư chậm rãi bảo Lan Anh :

- Chính ta cho nhị vị sư tỉ thử Lan Anh. Từ nay con có thể hạ sơn được rồi.

Nghe nói tới hai tiếng hạ sơn, Lan Anh ngẩn ngơ :

- Bẩm sư phụ, con lớn lên giữa nơi am thanh cảnh vắng, quen với nếp sống thiền môn u tịnh, xin sư phụ cho con thế phát để sớm hôm được theo người tụng niệm trước Phật đài.

Thượng Thái vẫy tay ra hiệu cho Trí Thông, trí Viễn lùi bước, rồi bảo Lan Anh :

- Con ngồi xuống đây ta bảo.

Dựng cây phương thiên kích vào bên cột hè, Chu Lan Anh chống kiếm ngồi dưới chân sư phụ.

- Lan Anh con! Muốn gì cũng phải có duyên kiếp mới được. Duyên thiên tiên, nợ trần tục mà đối với con, nợ trần rất nặng nề thì con định khoác áo từ bi lánh trần ai sao được.

- Cuộc đời của con nay mới kể như bắt đầu, vậy nói chuyện yếm thế chắc không hợp lúc.

- Đành rằng nghĩa thầy trò khăng khít nhưng tình mẫu tử khó quên, thế nào con cũng phải về Kim Lăng, Võ thuật con đã thâu nhận được suốt sáu năm trường trên Long sơn này, sẽ giúp con rất nhiều trong tương lai.

- Chồng con sẽ là một người quan cao lộc trọng cũng như con sẽ là mệnh phụ của triều đình, nếu con không trái mệnh trời.

Lan Anh chú ý nghe.

Thượng Thái thiền sư hỏi gặng.

- Con nghe không! Mệnh con rất lớn sau này nếu con không trái mệnh Trời.

- Dạ bẩm sư phụ, nghĩa là thế nào?

Thiền sư chậm rãi :

- Lẽ cố nhiên, ta đưa con về đây lúc con còn thơ ấu nên không hiểu chi cả về Kim Lăng, Nay đã khôn lớn, con cố ghi nhớ những lời ta dạy theo cho đúng và chẳng nên tiết lộ cùng ai.

- Trước hết, Thuận Vương cũng đang mưu phản Triều đình, cốt ý chiếm ngôi Hoàng đề. Về tới Kim Lăng, nhác nhìn qua tình hình, con sẽ hiểu ngay...

Chu Lan Anh giật mình biến sắc.

- Cha con sẽ mưu phản Triều đình? Sống trong lụa là vàng bạc không thiếu có khác chi Vua, mà Cha con mưu phản để ô danh lưu lại ngàn thu.

Thiền sư gật đầu :

- Đúng vậy! Sự thật phũ phàng như thế đó, con ạ. Hành động này của vị Vương gia sẽ gây nên cuộc huynh đệ tương tàn, âu đó cũng là vận nước phải trải qua một thời kỳ điêu linh.

Chu Lan Anh lo lắng.

- Thưa, không có cách nào gián tiếp ngăn nổi cha con để tránh cuộc can qua tai hại đó sao?

- Kim Lăng ngày nay là cả một bức thành đồng vách sắt, binh hùng tướng mạnh. Cung điện chi chít, cơ quan đầy rẫy, đặt hết vòng trong, vòng ngoài phòng thích khách. Sự đột nhập cung điện ấy không dễ dàng. Phải qua năm cửa ải do Ngũ Hổ tướng trấn giữ mới vào tới trung tâm. Dưới quyền mỗi hổ tướng còn có nhiều viên tướng khác phụ tá vô cùng mạnh mẽ. Trừ phi...

Chu Lan Anh nghiêm trọng.

- Trừ phi... sao thưa sư phụ.

Thiền sư dịu nét mặt, để tay lên vai đồ đệ :

- Trừ phi có một người tay chân của Thuận Vương hiểu rõ bản đồ nơi cung điện ấy làm nội ứng. Theo ta dự đoán, có mấy người khả dĩ biết hết đường đi, lối lại trong cấm thành. Đó là quân sư Tôn Hoàn, người đã lập thành bản đồ xây dựng ấy, anh em Thế tử Trấn Quốc, Bảo Quốc, Vô Địch tướng quân Hoàng Bách Thắng, và người cuối cùng nữa là... là con.

Chu Lan Anh giật mình.

- Rời Kim Lăng từ năm lên mười, cho tới nay vẫn ở đây hầu sư phụ, làm thế nào con biết được việc tối ư quan trọng ấy.

Thiền sư mỉm cười :

- Chừng nào hạ sơn, về tới Kim Lăng, Thuận Vương sẽ trao cho con nhiệm vụ canh phòng nơi trung tâm cung điện như Trấn Quốc và Bảo Quốc. Do đó, con sẽ biết bản đồ toàn thể năm cửa ải đó.

Chu Lan Anh lo nghĩ :

- Thưa sư phụ, bên Trung bên Hiếu con biết chọn bên nào? Trong trường hợp khó khăn của con, hành động thế nào cũng là phải và cũng là trái, khó nghĩ lắm. Chi bằng sư phụ cho con thế phát theo hầu người tại đây để khỏi vướng sầu tụy lục... Như vậy, có lẽ hay cho đời con, hơn là trở về Kim Lăng sống trong cảnh lưỡng nan.

Nói tới đây, Chu Lan Anh rơm rớm nước mắt khóc.

Thiền sư kéo nàng vào gần bồ đoàn.

- Số là ta chưa nói hết, nếu con biết rõ sự thật về tông tích của con, chắc con không buồn nữa.

Chu Lan Anh ngơ ngác không hiểu.

Thượng Thái thiền sư nói tiếp :

- Lan Anh! Con không phải họ Chu! Thuận Vương và Vương phi nuôi con từ khi còn bế ngửa, nhưng không sanh ra con.

Lan Anh nghi ngờ hỏi :

- Thế con họ gì? Cha mẹ con ở đâu?

Thiền sư buông xỏng.

- Họ Nhạc. Nhạc Lan Anh, dòng dõi Trung Hiếu Vương Nhạc Phi khi xưa...

Lan Anh úp tay vào mặt khóc òa lên.

Thượng Thái thiền sư vuốt tóc nàng, an ủi.

- Dòng máu trung thần chảy trong huyết quản con, con nên vui, chớ sao lại buồn! Ta mừng cho con đó... Con còn nhớ người nhũ mẫu ở Kim Lăng không.

Lan Anh chùi nước mắt.

- Con còn nhớ. Nhũ mẫu của con họ Vương và lúc còn nhỏ con thường gọi là Vương Má má.

Thiền sư gật đầu :

- Ừ. Tên người ấy là Vương Ý Lan. Hiện còn chờ con tại cung điện Kim Lăng. Hỏi người ấy con sẽ biết rõ hết lai lịch. Con nên bí mật và hết sức thận trọng, kẻo bị hại bởi Thuận Vương đó... Sang xuân, ta sẽ cho con hạ sơn. Mọi việc sau này, con nên tùy nghi hành động theo lương tri.

Nhạc Lan Anh toan hỏi thêm nữa, nhưng Thiền sư đã nhắm mắt lại tham thiền.

Hiểu ý, nàng nhón nhén đứng lên xách kiếm và họa kích về phòng.

Tháng Chạp năm ấy, một hôm trời đã xế chiều. Nhạc Lan Anh đang cùng mấy sư tỉ đang thơ thẩn ngoài cổng chùa thì có một vị đạo trưởng tiên phong đạo cốt dong dỏng cao, tóc búi ngược, lưng đeo báu kiếm, thong thả theo đường mòn lên chùa.

Mấy ni cô vội bẩm Nhạc Lan Anh quỳ cả xuống lạy.

- Sư bá giáng lâm, chúng con không biết xuống đón, thiệt đắc tội muôn vàn.

Cất giọng tràm trầm, đại trưởng nói :

- Bất tất phải dùng đại lễ, đứng cả dậy mau! Sư trưởng có nhà không?

- Dạ có. Thiền sư ở hậu sảnh, kính mời sư bá vào.

Vị đạo trưởng vừa bước xuống cổng chùa thì Thượng Thái thiền sư đã từ trên đại điện bước xuống sân nói lớn :

- Lâu lắm mới gặp, chẳng hay đạo hữu từ đâu qua đây? Biết trước sẽ có khách phương xa, nhưng không đoán ra là ai cả.

- Bần đạo từ Thành Đô tới! Chuyến này định sang thăm Đông thăm Chiêu Đức sư trưởng, nên xuống thẳng đây đón đạo hữu cùng đi.

- Bần tăng cũng đang định sang giếng sẽ viếng Tung Sơn một phen. Âu là ta cùng đi. Đạo hữu nán lại bản tự nghỉ ngơi, qua tết lên đường luôn thể.

- Bần đạo xin vâng lời. Chẳng mấy khi được qua Tết ở Long sơn... Hình như đạo hữu mới thâu nạp một đồ đệ nữ, phải không?

- Dạ sang giêng này tệ đồ cũng hạ sơn.

Dứt lời, Thiền sư gọi Nhạc Lan Anh tới, chỉ vị đạo trưởng nọ.

- Đây là Đức Võ Thượng Nhân ở Quan ngoại tới. Con có phước lắm mới được gặp đó.

Nói đoạn, Thượng Thái mời Đức Võ Thượng Nhân xuống thiền phòng kể lai lịch Nhạc Lan Anh cho nghe.

Thượng nhân ở lại Long Sơn sang hạ tuần tháng giêng năm sau mới cùng Thượng Thái và Nhạc Lan Anh xuống núi.

Thượng Thái trao việc điều khiển Long Sơn tự cho ni cô Trí Thông.

Phải rời nơi thiền am quen thuộc, nơi mà nàng đã trưởng thành dưới bóng từ bi, để trở về sống nơi gò bó trong cung điện Kim Lăng, không họ hàng và khăn gói, tay cầm họa kích, nàng tần ngần nhìn căn phòng mộc mạc, xinh xắn, ấm cúng mà tại đó nàng đã sống sáu xuân trường. Kìa phiến thạch bàn nhẵn lì ở bên sườn búi, nọ gốc thông cổ thụ trước phòng, nơi mà nàng vẫn ưa ngồi khi nhìn trăng vàng giải ánh khắp ngàn cây hoặc lúc nghe làn gió nhẹ lùa trong lá thắm. Những thứ đó, nàng sẽ rời nó để đi tới một nơi mà nay đã hoàn toàn xa lạ với nàng. Mấy ngày trước khi hạ sơn, Lan Anh thơ thẩn khắp đó đây trong Long Sơn tự, như cố ý ghi nhớ lấy từng ly từng tí trong ký ức nàng. Chuyến này ra đi vạn dặm, biết bao giờ nàng mới trở lại chốn thiền âm u nhã này.

Hôm theo thầy hạ sơn, mọi người ra tiễn đưa ngoài cổng chùa, Nhạc Lan Anh rưng rưng mắt lệ, nghẹn ngào nói chẳng lời từ biệt. Nàng cầm tay Lý mẫu tần ngần không muốn lên đường, đến nỗi Thượng Thái thiền sư phải quay lại giục hai người mới rời tay hẹn ngày tái ngộ.

Kẻ đi muôn dặm quan san.

Người chờ khuất bóng, lòng man mác sầu.

Ngày đi đêm nghỉ ngao du, mấy tháng sau ba người mới tới Kim Lăng.

Thượng Thái bảo Lan Anh :

- Thầy trò ta chia tay nhau. Con cứ về thẳng Vương phủ và nhớ lời dạy bảo tức là không phụ ta. Dòng dõi tướng quân, con nên cương quyết, ủy mị theo thói nữ nhi thường tình làm chi. Thế nào thầy trò ta cũng còn hậu hội. Đi đi con! Không biết đường, hỏi thăm, ai cũng biết Vương phủ ở đâu.

Nghe lời nghiêm nghị rắn rỏi của sư phụ, Lan Anh không dám lộ hơn tình. Nàng quỳ lạy từ biệt Thượng Thái và Đức Võ, hăng hái vào thành.

Phố xá đông đúc, người đi kẻ lại sầm uất, nhà cửa san sát khác hẳn với cuộc sống u tĩnh trên Long Sơn.

Lan Anh nhất định không hỏi thăm. Nàng vác kích đi lang thang, ngây ngô định ý cứ nơi nào có dinh thự lớn nhất là đến.

Khách qua đường thấy thiếu nữ xinh đẹp vận võ phục, lưng đeo kiếm và hành lý, vai vác kích thì ai cũng lấy làm lạ chăm chú nhìn. Họ cho nàng là cô gái giang hồ mãi võ từ xa đến địa hạt Kim Lăng kiếm ăn.

Không chú ý, Nhạc Lan Anh ngó ngàng, ngó dọc, hết phố nọ qua phối kia. Hồi lâu, nàng đi đến một nơi tường cao, hào sâu các nóc điện lầu các nguy nga nhô lên khỏi mặt đường, trùng điệp. Nhằm cổng chính, Lan Anh tiến thẳng tới đọc hai chữ "Vương phủ" đắp bằng đá xanh. Trước cổng, mấy tên lính cạnh vác dao đi đi lại lại nghiêm chỉnh. Nhưng cũng có mấy tên không phải phiên canh, bắc ghế ngồi dưới chân tường.

Thấy Nhạc Lan Anh dòm dòm ngó ngó, một tên lính bả lả hỏi :

- Kìa, cô em, dòm ngó kiếm... ai thế?

Lan Anh cười thầm, giả đò không nghe thấy làm thinh...

- Cô em xinh đẹp nhường này mà điếc hả... Kiếm ai thế? Người nào được cô em kiếm, thiệt tốt phước quá! Ngoan nói thiệt anh nghe nào?

Dứt lời, tên lính xun xoe, suýt xoa, nuốt nước miếng ừng ực phát tức cười.

- Hỏi ai à? Tôi muốn hỏi một người lớn ở trong này này.

Tên kia run rẩy.

- Ai, ai thế... hả cô em?

Lan Anh cố nhịn cười :

- Tôi muốn hỏi người nào phụ trách đoàn lính canh ở đây... Làm ơn...

Ngắt lời, Lan Anh tên lính đó cười ngất.

- Thế thì phước cho tôi quá! Hì... hì. Chính tôi đây. Cô em cứ trông sắc áo của tôi cũng đủ biết... tôi là ai rồi. Hì... hì...

Thấy đôi mắt trợn tròn, rồi cười sằng sặc.

- Gớm cô em này ghê quá. Nhìn cao thế. Nhị vị Thế tử đâu có quen với cô em? Ai ngờ ăn mặc như vậy mà cũng nhiều tham vọng nhỉ.

Mấy tên lính đứng gần bức thành phá ra cười như nắc nẻ.

Nhạc Lan Anh nghiêm nét mặt.

- Thầy đội có trả lời tôi hay không? Nên cẩn thận kẻo có hậu quả xấu đó!

Thầy đội cười ngất.

- Gớm! Cô em này lại biết dạo nạt nữa! Ghê thiệt! Ghê thiệt! Đây nhé, nhị vị Thế tử ở cả trong cung, đang tiếp các tiểu thư thiên kim xa lụa là, vàng ngọc giắt đầy người. Cô em nghe rõ chưa?

Nhạc Lan Anh mỉm cười :

- Ồ, nghe rõ rồi, nhưng tôi vẫn cần gặp Thế tử, thầy đội vào báo giùm mau.

Thầy đội tiến tới gần lả lướt :

- Cô em lẵng nhẵng quá, ta đã bảo mà không biết nghe. Thế tử nào tiếp cô em? Họa chăng chỉ có ta... ưa cô em.

Dứt lời, thầy đội đưa tay vuốt má Nhạc Lan Anh...

"Bốp... bốp..."

Bàn tay thầy đội chưa đụng tới người đẹp, thì bị hai cái tát như trời giáng bật hẳn người lại phía sau. Thầy đội điếng người giây lâu, không nói lên lời, hai tay ôm máu ở hai bên rỉ rỉ chảy ra.

Mấy tên lính thấy thầy đội bị tát đau đều xô cả lại.

Nhạc Lan Anh quát :

- Đồ bọ, chúng bây muốn chết cứ trêu vào bản cô nương!

Thấy một thiếu nữ nhỏ nhắn mà dám động đến cổng Vương phủ dòm ngó rồi hành hung đội trưởng, tám tên lính cùng xô cả tới.

Viên đội trưởng tay bưng miệng đầy máu, la lớn :

- Các người bắt con tiện tì này cho ta mau! Hỗn xược quá! Đùa có một chút thôi, mà nó dám đánh thiệt.

Bọn lính dạ rân. Ba tên trong phiên canh vác giáo, còn năm tên kia tuốt đao xông cả tới, quát tháo om sòm.

Nhạc Lan Anh cười nhạt :

- Lính tráng như bọn bây chỉ là đồ giá áo túi cơm, đàn áp kẻ yếu hèn chớ cô nương đây không sợ đâu nhé. Nào, tên nào có giỏi thì vào đây. Ta chấp cả lũ! Cho vào trại gọi thêm người ra đây, mau!

Tức quá, tám tên lính nhảy ùa vào đánh thiếu nữ, khiến mọi người qua đường dừng bước lại xem cũng phải lo thay cho con người ngọc xinh đẹp nhường kia, thì chống sao nổi bọn lính tráng như hùm beo ấy.

Nhưng Nhạc Lan Anh đã hoa tròn họa kích phương thiên một vòng.

Bọn lính đứa té ngửa ra đằng sau, đứa bị văng mất khí giới, ôm đầu chạy vào Vương phủ.

Thấy thiếu nữ dữ dội quá, tên đội trưởng cũng chạy ùa vào trong cổng phủ theo bọn lính.

Giữa lúc ấy, có tiếng vó ngựa từ trong phủ vọng ra. Ai nấy chú ý nhìn, thấy có hai người phi ngựa tới, theo sau là hai tên lính hầu.

Bọn lính la lớn :

- Kìa, nhị vị Thế tử.

Các người đang đứng xem ở cổng phủ đều tản mát ra xa.

Chu Trấn Quốc, Chu Bảo Quốc phi ngựa tới nơi thấy bọn lính tên nào cũng y phục xốc sếch, khí giới văng bừa bãi trên mặt đất, thì lấy làm lạ...

Lạ hơn nữa là thấy một thiếu nữ xinh đẹp, khí sắc hào hùng, vận võ phục màu nâu, lưng đeo kiếm và khăn gói, tay chống kích đàng hoàng đứng nhìn.

Trấn Quốc hỏi lớn :

- Đội trưởng đâu! Các ngươi bỏ phiên canh sao vậy? Vì lẽ gì?

Bọn lính vội quỳ cả xuống đất tay chỉ thiếu nữ. Viên đội trưởng nói :

- Bẩm nhị vị Thế tử, con bé kia định xông vào trong cổng phủ, chúng con cản lại dè đâu nó dữ quá, chúng con địch không nổi...

Hai Thế tử nhìn quan sát.

Bảo Quốc cười lạt, bảo bọn lính :

- Chúng bây nói gian. Nếu người ta định đánh tan bọn bây để xông vào trong phủ thì khi bây thua chạy rồi, người ta còn đứng kia làm chi? Chắc có điều gì gian dối. Ta điều tra ra sẽ mất đầu cả lũ.

Bọn lính run sợ đứng cả lên. Trấn Quốc dặn nhỏ tên lính theo hầu. Tên này vâng lệnh quay ngựa trở vào.

Hai Thế tử thúc ngựa ra khỏi phủ môn, cả hai cùng đăm đăm nhìn thiếu nữ.

Nhạc Lan Anh nhận ngay ra Trấn Quốc và Bảo Quốc từ hồi nãy, vì hai chàng tuy có lớn nhưng nét mặt khống thay đổi quá nhiều đến nỗi không nhận được. Vả lại vào La Phù sơn theo học Thiên Không hòa thượng, anh em Thế tử cũng lớn rồi, Lan Anh quen mặt nhận được ngay. Trái lại, khi hai chàng rời Kim Lăng vào núi, Lan Anh mới có bảy, tám tuổi mà nay nàng lớn hẳn, từ nét mặt đến vóc người đều hoàn toàn thay đổi, thì không ai nhận ra được cũng phải.

Thấy hai người đăm đăm, chăm chú nhìn mình, Lan Anh cười thầm, nhưng vẫn hiên ngang đứng yên, nhìn lại. Nàng nghĩ: "Hai người này đã trở thành hai thanh niên hảo hán trông bề ngoài rất có tư cách. Tiếc thay, họ đã đứng về phía phản bội triều đình!"

Trấn Quốc cất tiếng hỏi :

- Cô nương từ đâu đến đây? Tìm ai mà lại đánh lộn với lính canh phủ môn vậy?

Nghiêm nét mặt, Lan Anh đáp :

- Tôi từ xa đến đây tìm cha, mẹ và hai anh tôi ở trong này, không ngờ bọn lính canh này khinh bạc, nên tôi dạy cho chúng một bài học cần phải nghiêm chỉnh trong quân đội đó. Thiệt là không ngờ! Không ngờ!...

- Cô nương không ngờ sao?

Tôi không ngờ một Vương phủ lớn lao như vầy mà quân đội lại nhốn nháo, xằng bậy đến thế.

Anh em Trấn Quốc, Bảo Quốc đỏ mặt...

Bảo Quốc nói :

- Kẻ làm tội sẽ bị nghiêm phạt theo quân lệnh. Cô nương là người đã biết nghề cung kiếm thiết tưởng chẳng nên căn cứ vào một kẻ xằng bậy mà xét đoán cả mọi người trong phủ này. Nếu không tin, xin mời theo chúng tôi điều tra và định đoạt tội lỗi cho bọn quân lính phạm pháp như thế nào!... Nhưng người nhà cô tên chi, tôi sẽ kiếm giùm...

Đảo khóe mắt long lanh. Nhạc Lan Anh buông sảng mấy tiếng :

- Người nhà tôi là chủ nhân toàn thể phủ thành cung điện này, nhờ nhị vị tướng quân vào kiếm giúp.

Bảo Quốc nhìn Trấn Quốc và trái lại, Trấn Quốc cũng ngẩn người nhìn lại Bảo Quốc không hiểu.

Giây lát nhận ra bộ võ phục màu nâu sẫm của thiếu nữ đầy bụi lại gói hành lý đeo trên vai rõ ra nàng từ xa lắm về đây, tiếng nói dễ nghe thanh tao quý phái, hai chàng chợt hiểu.

Trấn Quốc hỏi :

- Cô nương có thể cho chúng tôi biết quý tánh cao danh là gì không?

- Tôi họ Chu.

Mừng rỡ, hai Thế tử nhảy cả xuống ngừa lại gần :

- Chu Lan Anh! Không nhận ra ngu huynh sao? Trấn Quốc, Bảo Quốc đây mà.

Lan Anh giả đò ngẩn mặt ra nhìn kỹ, chỉ hai chiếc khuyên vàng ở tai hai người, rồi quỳ lạy :

- Té ra nhị vị hiền huynh mà ngu muội không nhận ra ngay, đắc tội muôn vàn. Chẳng hay Phụ vương và Vương mẫu có được an khang không?

Hai Thế tử cùng đỡ nàng dậy :

- Chúng ta xa nhau từ hồi còn thơ ấu nay lớn cả rồi, từ nét mặt đến dáng người cùng thay đổi thì nhận ra sao được. Ngay như ngu huynh đây cũng đành chịu, không nhận ra được hiền muội nữa là!... Hiền muội lớn hẳn xinh đẹp bội phần, chắc song thân thấy vậy cũng vui lòng lắm. Ta vào phủ kẻ mất nhiều thì giờ quá rồi.

Bảo Quốc dắt ngựa của chàng tới :

- Hiền muội lên ngựa này, để ngu huynh cỡi tạm ngựa của quân hầu cũng được.

Ba người vừa lên ngựa thì một đội quân từ trong phủ kéo ra tới phủ môn răm rắp đứng thành hàng chào.

Trấn Quốc gọi viên tiểu tướng :

- Tướng quân bắt toàn thể tiểu đội canh phủ môn giam về trại để ta định đoạt sau, và cắt một đội khác canh phòng phủ môn cho nghiêm chỉnh. Phạm quân luật sẽ xử trảm!

Viên tiểu tướng vâng lệnh, cúi chào, quay đi thi hành phận sự.

Anh em Thế tử nhìn Lan Anh mỉm cười, có ý hỏi thầm nàng đã trông thấy quân luật trong phủ nghiêm minh chưa. Lan Anh cũng mỉm cười, thuật lại việc xảy ra hồi nãy cho Trấn Quốc, Bảo Quốc nghe.

- Ngu muội cố ý nhìn ngó hỏi thăm để xem mấy tên canh phòng nghiêm chỉnh không, ngờ đâu chúng lại hỗn xược như vậy.

Trấn Quốc nói :

- Quân lính như vậy đáng chém đầu!

Lan Anh vội nói :

- Yêu cầu huynh nghiêm phạt chúng thôi. Ngu muội không muốn có sự đổ máu ngay ngày đầu trở về nhà, hiền huynh hứa đi!

Ngẫm nghĩ giây lát, hai anh em Thế tử gật đầu :

- Hiền muội nói phải. Ngu huynh xin hứa theo ý hiền muội, cho chúng khỏi chết lần này.

Mải miết nhìn các từng lớp cung điện trùng trùng, điệp điệp, Nhạc Lan Anh nói :

- Trông Vương phủ khác trước nhiều. Hình như là mới xây cất lại, hay ngu muội hoa mắt sau nhiều năm sống trong thâm sơn cùng cốc?

Chu Trấn Quốc nói :

- Hiền muội nói đúng. Trong thời gian hiền muội xa vắng, Phụ vương đã xây cất và canh tận lại các điện đài rất nhiều. lạ mắt là phải.

- Nhị vị hiền huynh có phụ trách việc gì không?

- Có chớ! Ngu huynh và Bảo Quốc làm việc dưới trướng Hoàng nguyên soái có nhiệm vụ bảo về khu điện có Phụ vương và Vương mẫu đang ở. Chuyến này, hiền muội về, thế nào cũng được cùng ngu huynh lãnh nhiệm đó.

Nhạc Lan Anh nín thinh, chú ý nhận xét mọi nơi. ba người cho ngựa chạy kiệu nhỏ vòng vèo theo đường gạch, qua năm khu cung điện lầu các nhấp nhô.

Mỗi khu cách nhau bởi một thạch môn, tường cao vời vợi, có địch lâu, quân lính bồng giáo canh phòng nghiêm ngặt. Trên mỗi cổng có ghi tước hiệu cửa của từng trưởng trấn ải một.

Cửa đệ nhất ghi Bạt Sơn Hổ. Cửa đệ nhị ghi Thanh Diện Hổ. Thứ ba ghi Cẩm Mao Hổ. Thứ tư ghi Quá Sơn Hổ. thứ năm ghi Phi Thiên Hổ.

Qua năm cổng ấy mới vào tới khu đệ lục trên địch lâu đề Kim Ngân thế tử, là khu trong cùng có vợ chồng Thuận Vương ở.

Nhạc Lan Anh nghĩ thầm.

- À, ra đây là năm quan ải do Ngũ Hổ tướng trấn giữ đó. Nghiêm chỉnh, kiên cố kín đáo thật.

Bảo Quốc hỏi :

- Hiền muội nghĩ gì vậy.

Tự nhiên, Nhạc Lan Anh mỉm cười :

- Trông thấy thành quách kiên cố, lầu các mọc như nấm, ngu muội nhớ đến hồi đứng trên Long Sơn nhìn bao quát chung quanh, đồi núi nhấp nhô, trùng điệp thiết tưởng người nào sa lạc vào ấy, tất khó kiếm đường ra nữa.

- Hiền muội ví dụ đúng đó. Trong Vương phủ này, nếu không thuộc đường lối, cứ quanh co cả năm cũng chẳng ra được.

Trấn Quốc cười tiếp lời Bảo Quốc :

- Và còn rất nhiều cơ quan bí mật, khiến kẻ lạ táng mạng dễ như chơi.

Nhạc Lan Anh lè lưỡi :

- Ôi! Nếu vậy thì ngu muội đành chịu cung cấm, không dám ra khỏi tòa... Tử Cấm thành này.

- Không sao! Đối với hiền muội thì lại khác, cứ coi bản đồ thuộc các con đường Sinh lối Tử ngay.

- Ai đặt ra bản đồ ghê gớm đó vậy.

- Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn. Y thiệt là người nhà Trời sai người giúp Phụ vương.

- Cần chi mà Phụ vương phải lập tòa cung điện ghê gớm thế.

- Rồi hiền muội sẽ am tường...

Nhạc Lan Anh lảng ra chuyện khác :

- Nhũ mẫu của ngu muội trước, còn ở trong cung không?

- Còn đủ. Cả những nữ tì. Vương nhũ mẫu thường nhắc tới hiền muội suốt ngày, u sầu buồn bã có phần hơn cả phụ mẫu thân.

Ba anh em vừa đi vừa nói chuyện hồi lâu vào tới khu cung điện đệ lục. Qua đệ lục môn, ba người đi thẳng vào phía trong, quân hầu chạy ra đỡ lấy cương ngựa.

Bảo Quốc hỏi :

- Vương gia có trong cung không?

Tên quân hầu đáp :

- Chắc có, vì tiểu tốt không thấy người ra lệnh thắng ngựa hay kiệu chi cả.

Lan Anh theo hai Thế tử qua lớp hoa viên thơm cỏ lạ. Nàng cố nhớ những đường lối xưa cũ...

Gia nhân thấy hai vị Thế tử đi cùng một thiếu nữ tuy y phục mộc mạc nhưng nhan sắc kiều mị lạ thường. Hơn nữa, dáng người lanh lẹ, khỏe mạnh, lưng đeo kiếm, tay cầm họa kích, càng khiến họ ngạc nhiên hơn, tưởng đó là nữ võ sĩ nào về đầu bôn mà được hai vị Thế tử giới thiệu.

Qua mấy lớp cung điện, hành lang, ba anh em mới vào tới lớp trong.

Chu Trấn Quốc hỏi gia nhân.

- Vương gia ở phòng nào.

- Bẩm Thế tử, Người ở hậu cung.

Lát sau, ba người vào tới nơi. Thuận Vương đang trò chuyện cùng Vương phi.

Hai Thế tử cúi đầu vái chào cha mẹ, nhưng Lan Anh vội dựng hoa kích vào tường tiến tới trước mặt vợ chồng Thuận Vương, quỳ xuống lạy chào.

- Lan Anh con đã về, chẳng hay song thân có được vinh an khang hảo không?

Vợ chồng Thuận Vương vội cúi xuống đỡ nàng dậy.

- Ủa, Lan Anh đó à! Sáu năm trời đằng đẵng khiến con khôn lớn khác hẳn nét xưa, khiến ta không nhận ra được nữa.

Vương phi ôm lấy nàng khóc.

- Ngày ngày, mẹ dựa cửa chờ trông... Nhiều khi đã tưởng vị lão ni nào đó bắt cóc không cho con về nên cũng đã bắt đầu tuyệt vọng. Ngờ đâu lại có cuộc trùng phùng, mẹ ở hiền gặp lành nên mới có phước được như ngày nay con trở về đó.

Lan Anh cũng gục đầu vào vai Vương phi khóc thút thít.

- Con bất hiếu ra đi không một lời từ biệt để song thân phải buồn bã nhớ thương, thiệt đáng tội muôn vàn.

Thuận Vương nói :

- Lỗi đâu ở con! Nhưng sự được theo lão sư luyện tập võ nghệ ấy biến con thành vị nữ anh hùng cân quắc hiên ngang... thôi, khóc lóc làm chi! Phải ăn mừng mới được.

Vương phi và Lan Anh chùi ngấn lệ.

- Thuận Vương truyền cho ba con ngồi xuống đôn gấm.

Vương phi ngắm nghía Lan Anh :

- Con tôi lớn quá và kiều diễm bội phần nhưng phải thay đổi y phục mới được. Phòng ốc mẹ vẫn để nguyên chờ con trở về.

Nhận ra sự thật thà của Vương phi, Lan Anh cảm động và càng thắc mắc muốn biết lịch sử gia đình mình. Nàng bèn từ tốn đem chuyện từ lúc bị sư phụ đem đi đến ngày nay, kể cho mọi người nghe.

Thuận Vương và hai Thế tử chăm chú nghe chuyện rất lấy làm thích chí. Riêng có Vương phi nghe Lan Anh nói tới Long Sơn thuộc huyện Quan Đồ tỉnh Vân Nam xa lắc xa lơ thì vẫn có ý thương xót Lan Anh phải cực khổ trong sáu năm trường trên chốn thâm sơn cùng cốc ấy.

Thị nữ dâng nước sâm lên.

Nhũ mẫu Vương Ý lan nghe nói Lan Anh đã về, lật đật cùng các thị nữ mới, cũ kéo nhau lên chào mừng.

Lan Anh đứng lên ôm choàng lấy nhũ mẫu mừng mừng tủi tủi nói chẳng ra tiếp :

- Trời ơi! Em tôi lớn như thế này ư! Mới ngày nào còn ẵm ngửa mà nay cao lớn hơn tôi rồi... Tôi đã tưởng em không về nữa... hì.. hì... hì.

Tiếng khóc nức nở của Vương Nhũ mẫu trái ngược hẳn với giọng cười lúc chợt trông thấy Nhạc Lan Anh lúc ban đầu.

Vương phi nói :

- Vương má má đưa Quận chúa về phòng và cho gọi thợ trong cung cấp tốc may cắt các y phục cần dùng.

Lan Anh đứng lên vái lạy Thuận Vương và Vương phi cùng Trấn Quốc, Bảo Quốc rồi cùng Vương Nhũ mẫu về phòng.

Trấn Quốc đưa cây họa kích phương thiên cho Lan Anh :

- Sáng nào ngu huynh cùng Nhị đệ cũng luyện tập ở võ sảnh. Chừng nào hiền muội rảnh tay, xin đến đó cho ngu huynh lãnh giáo tài nghệ Long Sơn tự.

Lan Anh tiếp cây họa kích.

- Xin vâng lệnh hiền huynh. Ngu muội cũng muốn thưởng thức nền võ thật danh tiếng của Lĩnh nam La Phù sơn.

Về tới phòng riêng, Lan Anh nhìn quanh thấy cách bài trí nhất nhất vẫn như xưa, ngày cả mấy món đồ chơi mà nàng ưa thích nhất cũng hãy còn để nguyên chỗ cũ.

- Vương má má ơi, bảy năm tròn rồi mà căn phòng này không hề thay đổi.

Nhũ mẫu hiền từ nhìn Lan Anh :

- Vẫn y nguyên theo lệnh của Vương phi, để chờ Quận chúa hồi gia. Chỉ riêng có già này mới được phép dọn dẹp nơi đây.

Nhạc Lan Anh dựng cây kích vào góc phòng, treo kiếm lên tường gần đầu giường, liệng bọc hành lý xuống ghế bành đệm nhung, đoạn tiến tới cầm hai tay nhũ mẫu nói :

- Em không muốn Vương má má xưng hô bằng hai tiếng Quận chúa nghe mất cả thân mật... Nhưng nên gọi em bằng "em bé" như trước...

- Ý không được, tưởng còn nhỏ lắm hả? Con Vua cháu chúa xưng hô như vậy, người ngoài nghe thấy bất tiện. Ngay cả Vương gia và Vương phi cũng không ưng ý.- Trong chốn tư phòng này còn ai vào đây mà lo người ta không ưng hay chẳng thuận. Gọi em bằng... Nhạc tiểu thư cũng được!

Nhũ mẫu giật mình, lùi lại mấy bước.

Lan Anh bước theo.

- Gọi... Nhạc tiểu thư, nghe chưa Vương má má...? Nhạc tiểu thư... hả.

Để tay lên miệng, nhũ mẫu suỵt miệng.

- Nói nhỏ chớ. Tai vách mạch rừng, lỡ miệng có phương hại đó...

Nhạc Lan Anh cười vang.

- Vương má má coi! Lan Anh này hiểu cả.

- Trời ơi! Ai đã nói gì với Quận chúa.

- Ai đã nói? Người đó không phải ai khác. Chính là sư phụ của em: Thượng Thái thiền sư.

Vương nhũ mẫu ôm đầu, ngồi xuống hàng ghế đôi hàng lệ chảy ròng ròng. Nhạc Lan Anh nói :

- Má má ơi, Sầu lệ làm chi, tĩnh trí nghĩ lại rồi kể chuyện cho em nhé.

Có tiếng gõ cửa phòng. Vương nhũ mẫu giật mình lo sợ đứng hẳn dậy...

Nhạc Lan Anh nói lớn :

- Ai đó.

Có tiếng thị nữ nói vọng vào.

- Vương phi sai con mang xiêm y của người đến để Quận chúa dùng tạm.

- Cho vào.

Thị nữ Tố Hương đẩy cửa bước vào hai tay bê một bọc nhiễu đỏ lớn đặt lên mặt kỷ.

- Con đã nấu nước trầm, mời Quận chúa sửa soạn tẩy thân.

Lan Anh gật đầu :

- Được rồi, cho người lui bước. Đã có nhũ mẫu ở đây rồi.

Chờ thị nữ ra, Nhạc Lan Anh ướm thử mấy bộ xiêm y rồi sang phòng bên.

- Trong khi em đi tắm. Má má bỏ giùm y phục vào tủ và nghĩ kỹ lại câu... chuyện rồi kể cho nghe nhé.

° ° °

Mười sáu năm về trước...

Về phía Tây nam cách Kim Lăng độ hai trăm dặm có một nơi gọi là Võ Hồ rất hữu tình. Không có núi cao, nhưng đồi nhỏ chập chùng, cây cỏ xanh biếc um tùm. Giữa những khoảng đồi cây ấy, một vũng hồ nước trong vắt như gương. Cái đặc biệt của Võ Hồ là có một thứ cáo nhị thể đen và vàng, lông dài óng ánh rất đẹp. Kế bên hồ có một khu trại nhỏ xinh xắn.

Chủ trại họ Nhạc tên Hoành, tự Kiến Thủy chuyên trồng trọt chăn nuôi. Vợ Nhạc Hoành, Miêu thị tên Thúy lan năm ấy hai mươi bảy tuổi, kém chồng mười sáu tuổi, là người hiền đức có nhan sắc thùy mị. Miêu thị giúp chồng trong mọi công việc ở trại tỏ ra là một nội trợ rất can đảm.

Ngoài vợ chồng họ Nhạc ra, trong trại chỉ còn một góa phụ họ Vương theo vợ chồng Nhạc Hoành từ khi còn thiếu thời, nay đã có tứ tuần. Vóc người vạm vỡ, khỏe mạnh, Nhạc Hoành ăn vận cư xử theo kiểu điền giả, yếm thế. Tuy vậy, trong các cử chỉ của họ Nhạc vẫn bộc lộ một thứ gì quí phái tỏ ra chàng có lịch sử gia đình đáng kể.

Ngoài công việc trong trại, Nhạc Hoành thường vác cung, chống giáo đi săn nhị thể đem về lột da phơi khô bán cho vài người quen từ Thái Bình huyện về mua cất. Đó cũng là mối lợi của gia đình họ Nhạc vì thứ cáo nhị thể này khắp đất Trung Quốc chỉ có ở Võ Hồ. Giống cáo này khôn và lanh lẹ dị thường. Không đi bầy đông, chỉ vài ba con là cùng. Hơn nữa, chúng biết đánh hơi người, cho nên tiến tới gần chúng để bắn là cả một vấn đề nhiêu khê, nếu không quen thì nhà liệp hộ dù tài biết mấy cũng chỉ đi không về rồi.

Tại Võ Hầu còn có một giống thú nữa là thỏ rừng sanh sản rất nhiều. Thiệt đúng câu trời sanh voi, sanh cỏ. Thỏ rừng là món ăn thường ngày của cáo nhị thể thì lại sanh đúng vào nơi có giống cáo này. Vì hiếm, da cáo nhị thể có giá đắt lắm, nhất là bộ da nào không bị tên xuyên thủng. Giống thú đó tuy lanh lẹ nhưng tay cung của Nhạc Hoành cũng chẳng vừa: bách phát, bách trúng. Phát tên nào cũng trúng giữa ức, nghĩa là trúng đường đao rạch khi lột da cáo. Cáo nhị thể không bao giờ đứng nguyên chỗ, mà phát tên nào cũng trúng giữa ức, đủ hiểu tài xạ tiễn của Nhạc Hoành cao tới bực nào.

Sáng nào, Nhạc Hoành cũng dậy sớm luyện giáo pháp ngay sân sau nhà, rồi mới bắt tay vào việc khác. Ngọc giáo của Nhạc Hoành hoa văn lên vùn vụt như gió táp mưa gào, làn giáo tơi bời bao phủ tứ phía chẳng khác chi muôn ngàn hoa lê bay rụng.

Những khi hết công việc, họ Nhạc thường uống rượu đọc sách, hoặc đàm luận cùng với Miêu thị rất tương đắc. Cảnh sống gia đình vỏn vẹn có ba người trong khu trại xinh xắn hết sức êm đềm. Nhưng Miêu thị lúc nào cũng đượm vẻ âu sầu vì muộn mằn chưa con.

Nhạc Hoành biết vậy thường khuyên vợ, chẳng nên quan tâm đến vấn đề sớm muộn, mà thí dụ nếu không sinh nở cũng không sao. Nhưng Miêu thị vẫn thắc mắc cho rằng không con là đắc tội với tổ tiên.

Lấy nhau từ năm mười sau tới năm ấy hai mươi bảy, Miêu thị thấy khác trong người, liền nhỏ nhẹ báo với Nhạc Hoành biết là nàng đã thọ ban. Hai vợ chồng rất đỗi mừng rỡ.

Những khi Nhạc Hoành nhàn rỗi đọc sách, Miêu thị thường ngồi kế bên.

- Thiếp cầu nguyện có con trai thiệt giống phu quân mới toại nguyện.

Nhạc Hoành mỉm cười :

- Trai hay gái cũng là huyết mạch của vợ chồng, bộ sanh con gái thì không yêu quí sao? Nếu sanh con gái ta sẽ dạy cho nó biết võ nghệ cũng mà như con trai. Xưa Hoa Mộc Lan là phận nữ nhi mà cũng tay kiếm, tay sang, xông pha nơi chiến trường lập lên biết bao nhiêu công trận hơn nam nhi. Có con gái được như vậy, há chẳng hãnh diện lắm sao?

- Nói vậy thôi hiền thê ạ. Công hầu, vương bá làm chi? Tổ tiên họ Nhạc nhà ta đây, trước kia phò Tống vương chống giặc Kim, công lao hãn mã lớn biết nhường nào, rút cuộc cũng bị xử giáo tại Tây Hồ, oan ức biết bao! Chẳng qua thờ phải hôn quân vô đạo, nhu nhược chỉ ưa nghe sàm nịnh để trung thần uổng mạng.

Gia đình họ Nhạc - Một vị Vương tước đã có công phạt Bắc trong nhiều năm trời - vì đó mà tan nát điều tàn.

- Như vậy, thà sống ở nơi thôn dã, xa lánh hẳn mọi người, vui thú điều viên có hơn không? Tuy ẩn dật mà cũng còn chưa chắc đó... Giống người tham tàn ưa xâm lăng, sát hại lẫn nhau, không biết thế nào nói trước được.

- Ta không đem tài sức ra để giành lấy một chức quan của triều đình cho vinh thân phì gia, vợ con đỡ vất vả tay chân lấm tay bùn, cũng vì lẽ thấy tiên tổ nhà mình bị hàm oan mà đâm ra yếm thế. Chắc hiền thê hiểu, không trách ta để hiền thê vất vả tối ngày giữa nơi cô quanh này?

Miêu thị cảm động, rơm rớm nước mắt :

- Thiếp phận nữ nhi, tam tòng tức đức xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử... thiếp đồng ý sống thế này, hạnh phúc an nhàn hơn, miễn là lúc nào cũng được nương bóng tùng quân nâng khăn sửa túi. Việc làm thường ngày là bổn phận con người, đầu đội trời chân đạp đất, sao gọi là nặng nhọc được.

Nhạc Hoành âu yếm nhìn Miêu thị.

- Hiền thê quả là người đức độ khiến ta quí mến vô cùng...

Chín tháng sau, Miêu thị nở nguyệt khai hoa, hạ sanh một con gái bụ bẫm kháu khỉnh cô cùng... Nhạc Hoành đặt tên là Nhạc Lan Anh, ngụ ý quí mến Miêu Thúy Lan nên dùng chữ lan đệm tên con gái.

Từ đó trong khu trại nhỏ nhắn ấy có thêm tiếng trẻ thơ, gây thêm hạnh phúc cho gia đình họ Nhạc. Vương Ý Lan trông nom Lan Anh giúp Miêu thị.

Nếu cuộc sống cứ trôi theo nếp êm ấm thì làm gì có chuyện. Nhạc Lan Anh lớn như thổi, bụ bẫm xinh đẹp khác thường, được ba người lớn nâng niu chiều chuộng vô cùng... Ngờ đâu, lúc nàng được tám tháng thì một trận phong ba đã xảy ra trong gia đình họ Nhạc.

Một hôm bình minh đẹp đẽ, gió mát phây phẩy, mặt nước Võ Hồ lăn tăn phản chiếu bóng trời xanh... Nhạc Hoành đeo cung tên cầm giáo bảo Miêu thị :

- Bữa nay đẹp trời, hiền thê ở nhà trông con, ta thử đi xem có gặp mồi không nhé.

Nói đoạn, họ Nhạc vuốt tóc vợ, cúi hôn con.

Lúc ngẩng đầu lên thì nhận thấy vẻ mặt băn khoăn của Miêu thị.

- Hiền thê sao vậy? Tinh thần bất an chăng? Nếu vậy, ngày khác đi săn cũng được.

Miêu thị lắc đầu :

- Thiếp vẫn mạnh như thường, nhưng đêm rồi mê thấy khu trại này cháy lớn, nên tự nhiên cảm thấy hồi hộp lo âu, e sợ thế nào ấy...

Nhạc Hoành cả cười :

- Chà! Mộng mị tin sao được? Hiền thê chẳng nên chú ý tới làm gì cho mệt mỏi thần trí. Ta đi bữa nay sẽ về sớm. Đẹp trời không săn uổng mồi.

Miêu thị nhìn chồng ra đi, tuy không dám nói ra nhưng lòng vẫn băn khoăn e ngại, bế con dựa cửa nhìn họ Nhạc đi khuất ngàn cây mới trở vào.

Người thiếu phụ trẻ đẹp đức độ ấy có ngờ đây cuộc chia tay buổi ấy là vĩnh việt chia ly...

Chồng đi khỏi, Miêu thị càng thấy nóng ruột bội phần. Nàng trao Lan Anh cho Vương Ý Lan.

- Bế em tôi đi làm việc cho đỡ băn khoăn. Không hiểu tại sao tôi cảm thấy có sự không hay xảy ra cho gia đình này.

Vương Ý Lan nhìn chủ thương hại :

- Có một nhà ta ở khu Võ Hồ thì làm gì sợ chuyện chẳng lành nữa. Chắc phu nhân quá nghĩ nên đâm ra lo lắng vô cớ đó thôi.

Miêu thị lắc đầu :

- Không phải! Tôi có cảm tưởng rất rõ rệt như vậy và bây giờ thì hối hận đã không cương quyết ngăn cản để tướng công ra đi. này Vương già ôi, dù sao tôi cũng dặn trước điều này: Nếu vạn nhất vợ chồng bạc phước, lâm nạn thì già trông nom nuôi nấng Lan Anh cho thành người nhé. Nó là hạt máu độc nhất của dòng họ nhà tôi. Già hứa đi.

Vương Ý Lan khóc :

- Phu nhân không nên ưu tư quá đáng như vậy. Tướng công đi săn như thường lệ, chốc lát được mồi trở về...

- Không! Già hứa trông nom Lan Anh cho đến cùng đi. Hứa cho tôi an lòng!...

Vương Ý Lan gạt nước mắt.

- Khổ quá! Vâng, họ Vương tôi xin hứa coi Lan Anh như con đẻ, nuôi nấng nó cho đến cùng. Vạn nhất có sự không hay, Vương tôi không bao giờ rời Lan Anh dù phải thác.

Miêu thị tháo sợi dây đeo vào cổ Vương Ý Lan :

- Sợi dây ngọc này là món bảo vật của tướng công tặng tôi khi vợ chồng mới kết nghĩa trăm năm. Vương già hãy giữ lấy, Lan Anh lớn lên sẽ đeo nó.

Vương Ý Lan không phản đối, cũng bị lây cái lo sợ ưu tư của chủ. Miêu thị vuốt má mọng như trái đào của Lan Anh, rồi xăn tay áo bước ra khỏi nhà lăng xăng cho gia súc ăn.

Tới gần trưa, mọi việc xong xuôi, Miêu thị ra gốc cây cam hái mấy trái chín định đem vào nhà chờ chồng về ăn thì bỗng nàng rùng mình cảm thấy như có người lạ nhìn. Nàng nhớn nhác nhìn quanh thì quả nhiên có ba người đàn ông lạ mặt, vận võ phục đứng ở bụm cây dâu bên hàng rào nhìn mình không chớp mắt. hai người ở hai bên nét mặt hung dữ gớm ghiếc. Người đứng giữa hiền lành, trạc ba mươi lăm, ba mươi sáu tuổi, nhưng nét dâm đãng trai lơ hiện ra mặt. Cả ba người nào cũng đeo kiếm cầm cung.

Miêu thị bỏ không hái cam nữa, quày quả đi vào nhà, thì một trong ba người gọi lớn.

- Này, đi săn qua đây khát quá, bán cho tôi mấy trái cam nào!

Đi thẳng vào nhà, Miêu thị đặt giỏ cam xuống mặt thồi.

Tiếng ở ngoài rào la lớn :

- Ô hay! bàn hay không cũng phải nói chớ. Kiều mị như vậy mà khinh người thế.

Miêu thị bế Lan Anh bảo Vương thị ra trả lời không bán, cho bảo người đó đi nơi khác.

Vương Ý Lan bước ra vườn cây :

- Cam này không bán, xin quí vị đi nơi khác.

Người đứng bên tả nói :

- Chúng tôi đi săn cáo, lạc đường tới đây, khát quá, không bán cam thì cho uống nước vậy?

Vương thị lắc đầu :

- Phiền ba vị đi nơi khác, nhà này vắng đàn ông, bất tiện lắm.

Người đứng giữa đưa mắt nhìn hai người kia.

- Ai làm gì mà tiện với bất tiện! Phá cổng vào xem có bất tiện không.

Dứt lời y hất hàm.

Hai tên kia xăm xăm tiến ra lối cổng tre.

- Vương gia truyền lệnh phá cổng. Thiệt là lỗi tại các người mùa thôn dã không biết điều nhé.

Dứt lời, một tên co chân đạp tung cánh cổng tre đơn sơ.

Vương Ý Lan hoảng hốt.

- Các người phá cổng nhà người, lát nữa tướng công ta về đừng có trách.

Ba người đi thẳng về nhà, không thèm để ý đến câu nói của Vương thị nữa.

- Đến Vua còn chẳng coi ra gì, nữa là thứ tướng công quê mùa nhà mụ à!

Vương Ý Lan vội chạy theo vào nhà.

Ba người xông hẳn vào nhà, thấy thiếu phụ bế đưa hài nhi đứng giáp vào tường. Đưa cung, tháo bao tên và kiếm liệng cho hai tên nọ, người có danh hiệu là Vương gia nhăn nhở khả ố, tiến tới chỗ Miêu thị đứng.

Miêu thị lùi lại đưa Lan Anh cho Vương Ý Lan, nghiêm nghị dõng dạc nói :

- Các người sức dài vai rộng uy hiếp phụ nữ cô đơn không biết hổ người với hai tiếng nam nhi sao? Muốn ăn cam thì cứ việc ra vườn mà lấy.

Vị Vương nọ cười hềnh hệch, mắt đỏ ngầu nhăm nhở :

- Ta đâu có khát cam ngoài vườn! Họa chăng khát sắc đẹp thùy mị của thiếu phụ thôn dã thì có. Hì... hì... thôi, ưng thuận đi, muốn thứ gì ta cũng cho... hì... đẹp quá! Ái khanh ơi!... Đẹp quá!

Nổi giận, mặt đỏ bừng bừng, Miêu thị lùi sau phía tường phía đông, rồi bất chợt với tay lấy thanh đoản kiếm trên tường xuống tuột ra cầm lăm lăm trong tay.

Vương Ý Lan thấy nguy, tuy đang bế Lan Anh trong tay cũng chạy tới kéo tay áo người nọ.

Tức mình, vị Vương gia ấy đẩy mạnh, Vương Ý Lan mất thăng bằng té lăn ra mặt đất tay vẫn ôm chặt Lan Anh, nhưng Lan Anh sợ quá khóc thét lên. Đau xót, Miêu thị không dè dặt nữa xông tới nhắm bụng vị Vương gia ấy đâm một lát kiếm, miệng la :

- Đồ khốn kiếp, uy hiếp cả đàn bà lẫn trẻ thơ!

- Dễ dàng, người đó tránh nhường tay kiếm của Miêu thị trượt ra ngoài :

- A ha! Can đảm quá! Đâm nữa ta coi nào!

Miêu thị thấy Vương Ý Lan đã bế Lan Anh đứng dậy, liền lùi lại nói :

- Bế Lan nhi vào phòng, mặc chúng tôi.

Vương thị lén lén đi vòng ra phía sau. Miêu thị, miệng kêu Trời mãi sao Nhạc chủ nhân không về?

Người nọ từ từ tiến tới chỗ Miêu thị đứng :

- Ưng thuận đi, chịu khó ưng thuận một lần thì chuyến sau sẽ không còn biết ngượng ngùng nữa! Báu vật thế này mà ở nơi thôn dã, phí cả sắc nước hương trời... hì... hì...

Miêu thị lùi bước đến sát tường, nàng lộn tiết vì câu khả ố của tên nọ :

- Đồ súc sanh khốn kiếp! Vương với giả gì chúng bay! Tuy thôn dã nhưng không sống ô nhục như chúng bao trên vàng dưới ngọc.

Nàng cốt ý kéo dài thời gian hòng chờ chồng về, nên thỉnh thoảng lại liếc nhìn phía ngoài...

Tên nọ vẫn tiến tới :

- A! Chờ chồng về phải không? Y trở về thì ái khanh đã ô uế với ta rồi!

Cùng đường, Miêu thị đành đứng yên không dám đi vòng ra phía cửa ra vào, e hai tên bộ hạ đoạt kiếm thì còn nguy cơ mau hơn nữa. Nàng run rẩy khấn thầm cho Nhạc Hoàng về mau chóng. Lúc này thời gian trôi lâu quá. Nàng cảm tưởng như qua một thế kỷ rồi mà chồng chưa về cứu nguy. Chờ tên gian ác tới gần, nàng liều mạng đâm lát kiếm nữa. Tuy khỏe mạnh quen xốc vác việc trong trại, nhưng có bao giờ nàng biết cầm kiếm đâm người thì tránh sao được nổi sơ hở.

Tên kia lánh sang bên tránh khỏi, nàng vội thâu kiếm về và đâm luôn lát khác.

Giữa lúc ấy có tiếng động ở cửa... Miêu thị tưởng chồng về, vô tình ngước mắt nhìn ra thì bị luôn tên gian ác tới đoạt kiếm đẩy ép nàng vào tường... vặn cổ tay kiếm rớt xuống đất xoảng một tiếng. Vương thị la lớn, Lan Anh cũng sợ quá khóc thét lên...

Miêu thị cố la :

- Bế Lan nhi vào phòng!

Sức tên Vương gia gian ác đàn áp càng tăng. Miêu thị mím môi cố sức kháng cự nhưng không sao nổi tên dâm thần ấy sức mạnh tăng gấp bội... Tay hữu y ôm chặt lấy eo lưng của nàng, tay tả kéo đứt vạt áo trễ xuống mặc cho Miêu thị đấm đá và cào cấu vô ích. Lần lần, y ấn nàng xuống chiếc trường kỷ kê giáp tường...

Miêu thị cố sức, thở hổn hển, mặt trước còn đau nhừ, sau tái ngắt... Nành cố ngước mắt nhìn ra cửa, thì ra tiếng động hồi nãy là do hai tên bộ hạ đóng cửa lại, mà nàng cứ tưởng chồng về. Nàng bị ấn mạnh xuống kỷ.

- Đồ khốn kiếp! Thà chết chớ ta không chịu ô nhục... Nhạc lang hỡi, thiếp đã cố nhưng kiệt sức rồi, xin hẹn kiếp sau.

Miêu thị cắn lưỡi mạnh, nhổ huyết phun bật vào mặt tên gian ác khiến hắn phải buông nàng ra để chùi mặt. Vương Ý Lan từ căn phòng trong chạy ra tay cầm dao, nhưng không kịp. Miêu thị đã lăn ra đất quằn quại mấy cái rồi nằm im hết động đậy. Vương thị òa lên khóc liều mạng xông vào đấm tên nọ, nhưng đã bị gã này bắt được cổ tay vặn tuột dao rớt xuống đất rồi té lăn vào góc nhà.

Giữa lúc ấy, một trong hai tên bộ hạ đứng ở cửa ra vào chạy vội tới nói nhỏ mấy câu :

- Tâu Vương gia có người vác giáo đi gần tới cổng trại.

- Cứ hạ hắn đi, bất tất trái phải. Lẹ lên, còn ra khỏi nơi đây.

Dứt lời tên Vương gia gian ác nọ xốc Vương thị đẩy vào trong phòng trong, khép trái cửa lại.

Nhạc Hoành vác giáo, tay hữu cầm chùm đuôi ba con cáo nhị thể bước vào cổng trại.

Chàng giật mình vì thấy cánh cổng mở toang. Nhìn vào nhà, cửa giữa đóng chặt chàng nghĩ thầm :

- Có lẽ chờ lâu không thấy chàng về nên Miêu thị, Vương Ý Lan ở cả trong nhà. Nhưng tại sao lại để cổng ngỏ thế này?

Miêu thị là người rất cẩn thận, từ bao năm nay không hề sơ suất, nhưng chẳng lẽ lại quên đóng cổng sao?

Ôi! Cái then cửa bằng tre bị bung ra kìa! Chắc có xảy ra sự bất trắc rồi!

Chàng tái mặt. Bao nhiêu năm nay, không hề có chuyện cướp bóc trong vùng hoang vắng này, chẳng lẽ...

Nhạc Hoành không dám nghĩ thêm nữa, tiến vào phía trong cổng xem, nhìn dấu vết...

- Phập! Phập!

Hai mũi tên từ trong khe cửa bay ra lẹ như chớp trúng bụng Nhạc Hoành, ngập non một nửa.

Trợn mắt, Nhạc Hoành liệng luôn ba xác cáo nhị thể trúng cửa giữa tung cả hai cánh ra. Đồng thời, chuyển giáo sang tay hữu, tay tả rút bật cả hai mũi tên ra liệng xuống đất máu vụt từ vết thương ra như suối. Rút khăn quấn tóc, chàng bịt chặt lấy vết thương... Vừa lúc ấy, hai mũi tên nữa bay vụt ra, Nhạc Hoành nghiến răng, cầm lấy giáo gạt tên rớt xuống đất, rồi chạy như bay vào trong nhà.

Hai tên bộ hạ rút kiếm xông cả lại chém.

- Ác tặc! Coi giáo ta đây!

Nhạc Hoành vung tròn ngọn giáo gạt phăng hai thanh kiếm, đâm luôn hai nhát lẹ như chớp. Bị trúng thương ngập bụng, ruột lòi lòng thòng ra ngoài, hai tên bộ hạ đổ vật ra đất, máu phun như suối giãy chết rên rỉ nghe rợn người. Nhạc Hoành cười lớn, nhìn vào cửa phòng thấy tên Vương gia gian ác đứng sát vách tường tay lăm lăm cầm đoản kiếm.

Trên mặt gạch, Miêu thị nằm cứng đờ, mặt mũi đầy máu, mắt mở trừng trừng như còn sống, đượm vẻ căm hờn...

Uất hận, Nhạc Hoành hiểu cả. Chàng trút hết tinh thần để tưởng tượng việc đã xảy ra trong khu trại, trong căn nhà xinh đẹp gọn gàng của chàng. Máu từ vết thương nặng ở bụng chảy ra thấm ướt cả chiếc khăn mà chàng đang ấp vào bụng. Sau khi dùng sức chạy vào nhà và đâm chết hai tên bộ hạ, mất máu nhiều, Nhạc Hoành tái mặt hai chân bắt đầu run lẩy bẩy, và bây giờ nhận thấy vết thương nặng ấy làm chàng đau đớn vô cùng. Nhưng chàng cố nhịn không cho sự đau đớn biểu lộ ra nét mặt, mắt vẫn gườm gườm nhìn tên gian ác đang lo sợ cầm kiếm dựa lưng vào vách ván...

Bỗng Vương thị bế Lan Anh đứng lấp ló bên phòng mếu máo :

- Tướng công ôi, phu... phu nhân tự sát để... để giữ trọn... tiết trinh, hãy hạ tên giặc này đi để phu... nhân được thỏa vong linh... nơi chín suối.

Sung sướng hiện ra trên sắc mặt tái mét, Nhạc Hoành cười vang khiến tên gian ác giật mình nhích ngang một bước.

- A! Ra phu nhân giữ vẹn lòng trong trắng! Thúy Lan em hỡi, có khôn thiêng hãy trông ta hạ tên tử thù này!...

Máu chảy nhỏ giọt xuống nơi chàng đứng, Nhạc Hoành vận dụng tàn lực giơ ngọn giáo lên ngang vai phóng mạnh và đồng thời té lăn ra đất, tay rời vuông khăn đẫm máu...

Ngọn giáo bay vút trúng phía trên ngực xiên ra phía sau gài hẳn tên gian ác nọ vào vách ván.

Tên đó rú lớn một tiếng, rời đoản kiếm, ngoẻo đầu sang bên, ngất lịm.

Thiệt ra, Nhạc Hoành nhằm tim kẻ thù khi phóng ngọn giáo ấy, nhưng chàng hoa mắt lên nên đi chệch.

Vương thị khóc vang, bế Lan Anh chạy vội ra chỗ chủ nhân nằm nghiêng, quỳ xuống :

- Tướng công ơi! Tướng công trúng thương hồi nào vậy? Khổ quá, trời hỡi trời!

Vương thị vội đứng lên đặt Lan Anh xuống kỷ, nhưng Nhạc Hoành đã mở mắt ra.

- Đem... đem Lan Anh... lại... lại đây, mau!

Vương thị khóc rưng rức bế Lan Anh đến nơi ngồi thụp xuống :

- Tướng công ơi!

Nhạc Hoành cố sức chống tay nhỏm người lên cố nói, lưỡi đã bị cứng :

- ... Cố... cố nuôi... nuôi em... khôn lớn... báo thù... hứa đi!...

Vương thị khóc nức nở :

- Con xin hứa!

Đưa tay run rẩy, mắt lờ đờ, Nhạc Hoành sờ má Lan Anh khiến má hài nhi vấy máu cha :

- ... Lan Anh... con... ơi, cha... đi... đây! Thúy Lan... nàng hỡi... hãy chờ ta...

Dứt lời, họ Nhạc khuỵu tay xuống, tắt thở, thọ bốn mươi ba tuổi. Vương thị đau đớn, gọi réo lên, lay vai Nhạc Hoành nhưng người trai cuối cùng của dòng họ trung trực ấy chỉ là cái xác không hồn. Giữa lúc ấy, bên ngoài có tiếng ngựa hí vang và nhiều tiếng người xôn xao. Vương thị giật mình bế xốc Lan Anh đứng lên thì có người đi vào sân ngoài.

- Có ai ở nhà không?

Vương thị sợ hãi bế Lan Anh chạy vội vào trong, hé mắt nhìn thấy mấy người quân phục đeo đao bước vào trong nhà.

Họ chùn cả lại khi thấy cảnh tàn sát trong nhà. Một người nói :

- Ra nói cho Vương gia biết mau!

Tên thuộc hạ vâng lời, lanh lẹ quay gót chạy ra khỏi nhà. Lát sau, bọn người kéo vào đông, đi đầu là một người trạc tuổi tứ tuần, vóc người mảnh khảnh lưng đeo cung tên, eo gài kiếm.

Người đó nhìn qua một lượt, rồi truyền lệnh :

- Quân bây! Rút giáo, đỡ đệ tam Vương gia xuống. Nhẹ tay, nghe!

Bốn tên quân hầu tiến lên, nhưng một người có tuổi, râu ba chòm đen lánh, đứng phía sau tiến tới nói lớn :

- Hãy khoan, để tôi coi đã.

Người đó là Đỗ y sĩ theo đoàn nhân mã này đề phòng. Họ Đỗ bước tới chỗ đệ tam Vương gia nhận xét kỹ, cầm cổ tay chẩn mạch rồi nói :

- Hãy còn sống. Hai người đỡ chân Vương gia để tôi rút ngọn giáo ra.

Hai tên quân vội độn tay xuống dưới đùi hẳn đỡ tam Vương gia. Đỗ y sĩ cầm cán giáo nghiến răng rút mạnh. Ngọn giáo bật hẳn ra nhưng viên y sĩ cùng té ngửa ra phía sau.

Người bị thương vừa tĩnh la lên hai tiếng "chao ôi!" và giũ xuống nhưng hai tên quân hầu đứng gần đó, đỡ ngay, khiêng đặt nằm xuống trường kỷ.

Đỗ y sĩ săn sóc người bị thương trong khi vị Vương gia vào sau bảo quân hầu vào khám xét trong phòng ngủ.

Lát sau chúng dẫn Vương thị bế Lan Anh ra.

Vương thị run sợ, mặt tái mét, láo liên đưa mắt nhìn từ người nọ đến người kia.

Vị Vương gia đó ôn tồn bảo.

- Nhà người không cần phải lo sợ. Ta không sát hại đâu, nhưng cơ sự thế nào? Thuật lại rõ ràng để ta còn liệu.

Vững tâm hơn, Vương thị thong thả thuật lại những việc đã xảy ra không bỏ sót mảy may.

Nghe chuyện tới đâu, vị Vương gia gật đầu tới đó, rồi hỏi :

- Được lắm. Ta hiểu rồi. Việc đáng tiếc ấy đã xảy ra trong khi không có sự hiện diện của ta. Nay vợ chồng họ Nhạc đều tử nạn rồi, một mình người không ở được nơi hoang vắng này với đứa nhỏ chưa đầy năm. Vậy nên nghe ta về Kim Lăng muốn thứ gì được thứ đấy, ta xin lãnh phần trách nhiệm nuôi con họ Nhạc và gây dựng cho nó sau này. Nhà ngươi tứ cố vô thân, vậy cứ tiếp tục trông nom đứa nhỏ, ta hứa sẽ hậu đãi hai người. Kể từ giấy phút này, đứa nhỏ là con ta đổi Nhạc ra họ Chu và ai cũng phải gọi Lan Anh là Quận chúa. Nghe chưa.

Vương thị nghĩ thầm "Ở nơi hoang vắng này một mình chắc chắn là chẳng xong rồi, chi bằng ta cứ nhận đem Lan Anh về Kim Lăng nuôi nấng, chừng nào lớn lên sẽ hay". Như vậy ta còn có dịp dò hỏi tên kẻ thù sống sót là ai, thiệt là nhất cử lưỡng tiện.

Nghĩ đoạn, Vương thị nói :

- Tâu Vương gia, kẻ ngu hèn này chỉ sợ không được sống an ổn nơi Kim Lăng thôi.

Vị Vương đó mỉm cười :

- Ai dám xâm phạm nơi cung điện của ta mà sợ không an ổn.

Vương thị nghi ngờ đưa mắt ra chỗ Đỗ y sĩ và các tên bộ hạ đang cho thuốc và băng bó kẻ bị thương.

Hiểu ý, Vương gia lắc đầu :

- Cứ nghe ta, không có chi trở ngại cả. Về tới Kim Lăng sẽ biết.

Vương thị nghe lời, cúi đầu im lặng, nhưng trông thấy xác vợ chồng họ Nhạc, bất giác nghĩ đến tình thầy trò chung thủy thì lại òa lên khóc, khiến Lan Anh cũng nhớn nhác lại bọn người lạ mặt khóc theo.

Vương gia vuốt má Lan Anh thấy vấy máu hỏi Vương thị :

- Đứa nhỏ cũng bị thương sao.

- Bẩm không!... máu vấy vào đó thôi.

Nghĩ tới lúc chủ nhân vuốt má Nhạc Lan Anh trước khi vĩnh biệt, Vương thị lại nức nở khóc lớn.

- Từ lúc xảy ra tai nạn đến giờ, Quận chúa đã ăn gì chưa.

Vương thị lắc đầu :

- Bẩm Vương gia, trước thảm cảnh này thì chỉ có lo sợ và đau buồn thôi chớ không nghĩ tới đói.

Muốn tránh không cho Vương thị nhìn mãi cảnh tàn sát, Vương gia bảo.

- Bế Quận chúa vào trong phòng, sửa soạn hành trang, muốn đem theo gì cũng được, chừng nào ta lên đường sẽ theo đi.

Vương thị vâng lời, bế Lan Anh vào phòng trong, khép cửa lại.

Gọi tướng quân hầu cận tới, vị Vương gia truyền lệnh :

- Đào hai huyệt ở nơi đẹp nhất trong khu vườn, chôn vợ chồng chủ nhân trại này. Khâm liệm cho tử tế. Còn hai tên hạ thuộc của đệ tam Vương gia thì chôn ở ngoài mé hồ. Nghe chưa?

- Dạ.

Truyền lệnh hỏa đầu sửa soạn ngay thức ăn thiệt tốt cho đứa nhỏ và người nhũ mẫu. Còn Đệ tam vương sau khi buộc thuốc xong xuôi cho cáng về trại trước. Chừng nào rồi việc ở đây, ta cũng lên đường và thu xếp về thẳng Kim Lăng không tiếp tục săn nữa.

Viên thuộc tướng vâng lệnh quay ra.

Định đoạt mọi việc đã xong vị Vương đó mới hỏi Đõ y sĩ :

- Vết thương thế nào.

- Tâu Vương gia, vết thương đó nặng, nhưng không nguy vì mũi giáo không động tới phổi. Đệ Tam Vương sẽ lành mạnh như thường sau vài tháng điều trị và dưỡng bệnh, Hiện thời vết thương đã được buộc thuốc cẩn thận và hạ thần cho bệnh nhân một liều tê cho đỡ đau lúc đi đường.

- Được lắm, ta may mắn mới có Hoa Đà tái thế phụ việc.

- Vương gia dạy quá.

Chờ viên y sĩ lùi bước, vị vương đó chắp hai tay sau lưng, đi vòng khu trại nhỏ xem xét. Vừa đi vừa nghĩ.

- Tam đệ bậy quá! Không bao giờ chừa được tánh háo sắc. Nếu ta biết có đàn bà đẹp ở nơi hoang vắng thì đã không cho y đi một mình. Số y chưa đến lúc tận nên Nhạc Hoành phóng ngọc giáo khi đã kiệt lực quá rồi, nếu không chắc phải trúng tim! Tài thiệt! Bị trúng hai mũi tên trúng bụng, huyết chảy đầm đìa, tay cầm khăn bịt bung, tay cầm giáo chạy vào nhà, chỉ trong chớp mắt hạ luôn được hai kẻ thù và còn phóng giáo định giết người thứ ba! Chân tài! Tiếc rằng không có họ Nhạc đầu bôn dưới trướng! Nghĩ bao nhiêu, ta càng giận tam đệ đã làm thiệt của ta một kỳ tài! Đáng tiếc! Đáng tiếc!

° ° °

.. Nhạc Lan Anh chùi ngấn lệ còn vương trên khóe mắt. Nàng mở nút cổ áo, kéo sợi dây ngọc ra nhìn, kỷ niệm độc nhất của cha mẹ nàng và cũng là món bảo vật độc nhất được chứng kiến cảnh tàn sát rùng rợn ở Võ Hồ sáu năm về trước. Nghĩ đến kẻ thù, nàng cảm thấy máu trong người sôi lên, khóe hạnh tròn xoe, mày liễu dựng ngược, hai hàm răng ngọc nghiến kèn kẹt... nàng muốn cất bước lên đường ngay chỉ nẻo Hàng Châu, bắt Chu Vĩnh An đưa về Võ Hồ mổ bụng moi gan tế trước mộ cha mẹ nàng mới hả dạ.

Vương thị chưa kịp khuyên can hãy dẹp bớt thịnh nộ chờ dịp thuận tiện sẽ ra tay thì bất giác Nhạc Lan Anh căm hờn quá, bóp nát chiếc ly xứ Giang tây mà nàng đã uống cạn trà từ hồi nào...

- Tiểu thư chẳng nên nóng nảy quá e lộ chuyện. Tên gian vương kia khỏe mạnh ta sẽ tìm dịp thuận tiện báo gia thì cũng chẳng muộn. Y đã vậy, nhưng Thuận Vương cư xử với tiểu thư và tôi rất đứng đắn, biết giữ lời hứa đáng khen.

Nhờ có Thuận Vương bảo đảm cuộc sanh sống, tiểu thư mới có dịp được Thượng Thái lão ni đem về Long Sơn tự truyền thụ võ nghệ và mới có ngày nay... Thù máu phải gội rửa bằng máu là lẽ cố nhiên, dù sao cũng nên tính toán kỹ rồi sẽ hành động sau, nóng nảy không có lợi, và cũng chẳng xứng đáng với một người có bản lãnh tuyệt kỹ, cần phải điềm tĩnh như tiểu thư.

Nhạc Lan Anh suy nghĩ hồi lâu :

- Vương má má dạy chí phải, em xin nghe theo. Lời của má má là lời của song thân lúc còn sanh thời, lẽ cố nhiên em phải nghe theo. Ơn Thuận Vương sẽ trả, nhưng mối huyết hận kia, em thề sẽ báo bằng máu Vĩnh An. Chừng đó mới an tâm. Nhưng còn một điều.

- Điều chi vậy?

- Làm thế nào mà Thượng Thái sư phụ biết lịch sử gia đình họ Nhạc, đưa em lên núi truyền dạy võ nghệ? Vương má má nghĩ kỹ xem hồi trước, song thân có nói gì không? Có ai thường lui tới gia trại.

Ngẫm nghĩ hồi lâu, Vương thị nói :

- Hồi mới đến giúp việc trong, phu nhân có nói tới một bà cô trong họ Nhạc đi tu, không hỏi cặn kẽ nên không thể nói chắc được Thượng Thái lão ni là bà cô đó chăng? Suốt trong thời gian trên ba mươi năm, tôi nhớ rõ không có nhà tu hành nào đến khu trại ở Võ Hồ cả.

- Có dịp tái kiến cùng sư phụ, em sẽ hỏi cặn kẽ lại mới được! Mười bảy năm nay, mộ phần song thân không người coi sóc chăm nom, đất lún cỏ cao, có lẽ mất hết dấu tích.

Nói tới đây, Nhạc Lan Anh lại úp mặt vào tay khóc.

Vương thị ngồi xuống bèn vỗ về an ủi.

- Chừng nào tiện dịp, chúng ta cùng đi Võ Hồ viếng mộ phần. Dầu đất có lún, tôi cũng nhớ ra. Phần mộ ở ngay dưới gốc cây cam lớn. Tôi đã chú ý nhìn kỹ trước khi theo Thuận Vương về Kim Lăng.

- Từ này đó kẻ thù có về Kim Lăng chuyến nào không?

- Có y có về mấy lần nhưng tôi không gặp mặt. Nghe nói vậy thôi, y trấn thủ ở Hàng Châu. Vợ chồng Thuận Vương căn dặn tôi không được tiết lộ vụ tàn sát Võ Hồ cho tiểu thư biết, giấu hẳn tông tích họ Nhạc. Từ nay chúng ta nên thận trọng kẻo tiết lộ.

Chùi nước mắt, Nhạc Lan Anh đứng lên đi đi lại lại trong phòng :

- Chừng nào em phanh thây tên Vĩnh An ra tế song thân, bấy giờ mới ăn ngon ngủ yên được.

Hôm sau Lan Anh ra hầu Thuận Vương và Vương phi như thường. Hai người này chỉ có ơn chớ không có oán với gia đình nhà nàng, vì vậy nhìn mặt, nàng không thấy oán hận chút nào.

Thuận Vương bảo Lan Anh :

- Nay con thành tài, thiền sư cho hạ sơn, thiết tưởng cũng nên giúp ta trong việc binh nhung, chẳng hay con ý kiến thế nào.Kính cẩn, Lan Anh nói :

- Đó là một hân hạnh cho con, nếu không gọi là bổn phận. Khi còn ở Long Sơn, con vẫn hằng mong sẽ được Phụ vương tuyển dụng.

Thuận Vương vui mừng.

- Có ái nữ anh hùng như con hãnh diện cho ta biết chừng nào! Con sẽ lãnh nhiệm vụ canh phòng nơi cung điện này cùng với hai anh con. Trong thời kỳ con vắng mặt, ta đã sửa đổi lại và mở rộng các từng lớp trong Vương phủ. Vậy con phải nghiên cứu bản đồ cung điện với Trấn Quốc, Bảo Quốc mới được. Ta sẽ truyền lệnh cho chúng biết việc con theo lệnh ta tham dự việc canh phòng này. Ngoài ra, ta còn ban riêng cho con, một lệnh bài xuất nhập tự do bất cứ giờ giấc nào trong Ngũ Ải. Lệnh bài ấy chỉ có năm người có Trấn Quốc, Bảo Quốc, Quân sư, Nguyên soái và con, thế thôi.

Vương phi ngắt.

- Con gái mới về, Vương gia đã vội trao trách nhiệm bắt nó làm việc ngay. Luôn sáu năm trời xa cách, nên cứ để cho nó nghỉ ngơi hưởng sự an nhàn đã chớ, thiếp không ưng để nó làm việc ngay đâu.

Thuận Vương vuốt râu cười :

- Chà! Nói vậy thôi, chớ lúc nào Lan Anh muốn bắt đầu làm việc cũng tùy ý nó, ta đâu có ép Vương phi phải... binh vực ngay.

Lan Anh tươi cười :

- Thưa vương mẫu, Phụ vương dạy chí phải. Con làm việc đã quen e nhàn rỗi sống trong lụa là, trướng gấm màn the sẽ đâm ra ỷ lại lười biếng. Dầu sao, con cũng xin để một phần thì giờ để thần hôn định tỉnh song thân, bù lại những năm vắng nhà, cho tròn phận gái.

Thuận Vương gật đầu lia lịa :

- Lời trung hiếu của con ta nghe được lắm. Có thế mới không hổ là con của cha! Khá khen đó. Ta rất mãn nguyện có con gái anh thư cân quắc như con! Hà... hà...!

Từ đó Nhạc Lan Anh tham dự vào việc canh phòng trong Vương phủ tổ chức rất kiên cố. Chẳng bao lâu, nàng đã thuộc hết bản đồ đường đi lối lại trong Ngũ Ải.

Ngày ngày, nàng cùng hai Thế tử ôn văn, luyện võ, cưỡi ngựa bắn cung, ba anh em tuy cùng tranh tài thi sức không ai chịu nhường ai, nhưng rất tương đắc.

° ° °

Nói về Lam Y nữ hiệp cùng Chu Đức Kiệt và Kim Đao Quan Long từ Mã Thạch sơn Quan gia bảo đi Kim Lăng, chẳng bao lâu đã tới phủ thành tìm đến Cao gia trang.

Nơi trang trại này rộng lớn, nhà cửa san sát ở ngay Tây Môn. Trang chủ Cao Thiệu Đàm nghe báo Quan Long tới thăm, rất đỗi mừng rỡ, thân ra tận trang môn đón. Họ Cao thấy tướng mạo phi phàm của anh em Chu gia thì cảm phục vô cùng.

Phần Chu Đức Kiệt và Lam Y cũng vậy. Hai người kính trọng tư cách nhàn nhã phong lưu của họ Cao.

Quan Long nói mấy lời giới thiệu.

Cao Thiệu Đàm vui mừng.

- Nghe đại danh như sóng cồn, nay được diện kiến mới biết danh bất hư truyền.

Chu Đức Kiệt vái dài.

- Anh em tôi là bậc hậu sanh, Trang chủ quá khen như vậy khiến chúng tôi e thẹn vô cùng.

Họ Cao cười vang.

- Hậu sanh khả úy chớ! Lần trước du hành qua đây, lệnh thúc phụ (chỉ Đức Võ Thượng Nhân) có hẹn kỳ này năm sau sẽ trở lại, nên tôi cũng đang chờ được tái kiến... Kìa, mời ba vị vào nhà.

Mấy tên trang đinh đỡ cương ngựa dắt vào hậu trang... Ba người đeo hành lý lững thững theo Cao Thiệu Đàm qua nhiều lớp nhà vào tới căn nhà lớn nhất ở trung tâm trang trại. Thấy trang trại rộng rãi ngăn nắp, anh em Chu gia khen thầm.

Cao Thiệu Đàm nói :

- Ba vị từ Kim Lăng tới, chuyến này mới có dịp xem kỹ mã hội do Thuận Vương tổ chức, vui nhưng cũng nắm chắc phần hồi hộp. Người dự thi đã khá đông, niêm yết ngay ở phủ môn cho dân chúng theo dõi trước cuộc đua.

Quan Long nói :

- Đáng lẽ tôi không lên Kim Lăng, nhưng nhân dịp có Chu biểu huynh và biểu muội qua Quan gia bảo nên cùng đồng hành cho vui.

Cao Thiệu Đàm ngạc nhiên.

- A! Thế ra ba vị là cô cửu với nhau cả. Trước đây tôi không thấy nhắc tới.

Chu Đức Kiệt cười :

- Có họ từ mấy đời rồi, bây giờ vô tình mới nhận nhau, Trang chủ ạ.

Quan Long bèn đem sự liên lạc giữa hai dòng họ Chu, Quan kể cho Lăng Quân nghe.

Ba người vào đại sảnh dùng trà, được vài tuần, Cao Thiện Đàm nói :

- Tôi đã cho sửa soạn phòng ốc, quí vị từ xa tới, xin mời về phòng thay y phục nghỉ ngơi kẻo mệt.

Trước khi chia tay ai về phòng nấy, Chu Đức Kiệt nói với họ Cao.

- Chúng tôi có hẹn với mấy người anh em họp nhau ở Hoa Vương lầu, vậy thế nào cũng phải tới đó tìm mới được.

- Tửu lầu đó là một trong những quán lớn nhất ở Kim Lăng, kế bên ngay Vương phủ. Giờ đây chiều rồi, hiệp khách hãy về phòng nghỉ ngơi, lát nữa dùng bữa tối. Sáng mai, chúng ta cùng đi tìm mọi người ở Hoa Vương lầu rồi mời cả về tệ trang cho tiện. Như vậy có được không?

Chu Đức Kiệt gật đầu nói mấy lời cảm ơn.

Hôm sau, bốn người đi bộ vào thành.

Anh em Chu gia nhận thấy phủ thành Kim Lăng, tường cao, hào sâu, quân lính canh phòng rất chỉnh tề.

Lam Y nói :

- Thành trì này ở trong tình trạng giới nghiêm hay sao mà phòng bị cẩn mật thế này? Dân chúng có được bình an không?

Cao Thiệu Đàm đáp :

- Trước kia, sự cẩn mật không được phòng vệ nghiêm như hiện tại. Từ ngày Thuận Vương xây đấu trường mới và sửa sang mở rộng Vương phủ, quân đội được tổ chức chu đáo hơn thì việc canh phòng lúc nào cũng nghiêm như ở trong tình trạng giao tranh. Mới đầu, nhân dân lấy làm sợ hãi, nhưng Thuận Vương đề bản hiểu dụ, và cho nhiều người đi giải thích sự nghiêm mật là bổn phận của binh gia, cho nên dần thiên hạ đang thái bình, binh sĩ không có quyền sao lãng bổn phận, và yên tâm làm ăn như thường.

Lam Y mỉm cười :

- Vị Vương gia này kể cũng có tài và khôn khéo lắm đấy chứ.

Cao Thiệu Đàm gật đầu :

- Chính vậy! Đó là ý kiến của mọi người. Quân binh được tập luyện theo một kỷ luật thép dưới quyền điều khiển của Ngũ Hổ tướng, hai vị Thế tử và Quận chúa Lan Anh.

Lam Y vội hỏi :

- Quận chúa Lan Anh nào vậy hả, Cao tiên sinh?

- Chu Lan Anh con ruột của Thuận Vương. Nghe nói nàng được theo học võ nghệ của một dị nhân...

Cao Thiệu Đàm vỗ trán nói tiếp :

- Già rồi lẫn có khác! Người nói Quận chúa Chu Lan Anh vào núi học võ nghệ, không phải ai xa lạ. Chính là lệnh thúc phụ đó. Lần rồi Thượng nhân có cùng một lão ni nán lại tệ trang một ngày, một đêm rồi lại lên đường ngay.

Lam Y nhìn Chu Đức Kiệt nhắc lại ba tiếng :

- Chu Lan Anh!

Cao Thiệu Đàm hỏi :

- Nữ hiệp quen biết người ấy sao?

- Không, tôi mến mỹ danh ấy quá. Chẳng hiểu người có được kiều diễm như tên không?

- Những người được xem cuộc tranh ấn Tiên phong năm ngoái đều trông thấy nàng, và đồng ý Lan Anh quận chúa là một tuyệt sắc anh thư.

Quan Long hỏi :

- Cao tiên sinh không đi coi cuộc tranh tài đó sao.

- Không. Bởi vậy tôi rất tiếc. Bữa đó bị đau nhiều, y sĩ cấm không cho tôi đi. Nghe kể chuyện lại cuộc tranh tài và sôi nổi vô cùng.

Anh em Chu gia chú ý ngắm nhìn cảnh thị trấn, nhà cửa đền đài, mái ngói cong cong, lầu son gác tía. Phố xá buôn bán sầm uất, người đi kẻ lại tấp nập chẳng kém gì Yên Kinh. tại các ngã ba, ngã tư đường, nhiều người xúm lại đọc những điều viết chữ đen.

Cao Thiệu Đàm chỉ tay nói :

- Đó là những bản danh sách các đấu thủ gần xa, sẽ dự cuộc tranh tài kỵ mã và xa mã sắp tới.

Bọn Chu, Quan chọn chỗ ít người nhất len vào đọc.

Bảng danh sách và điều lệ ghi đại khái có hai cuộc thi: Kỵ mã và mã xa. Hàng bên tả ghi tên các đấu thủ kỵ mã. Hàng bên hữu các đấu thủ mã xa. Các xe thì đều do Vương phủ cấp. Mỗi xe cột tứ mã. Các đấu thủ phải có ngựa riêng của mình. Mỗi công quán lớn lợp lá có nơi ăn ngủ hẳn hoi, và một tàu ngựa lớn chia ra thành từng khu có đánh số "Đệ nhất", "Đệ nhị", "Đệ tam"... theo số các đấu thủ ghi tên thứ tự. Đấu thủ hay các người theo đấu thủ phải tự chăm lo cho ngựa của mình.

Ngoài ra, phần chú thích có ghi nếu xảy ra sự rủi ro, cơ quan cứu thương của Vương phủ sẽ chăm lo cho các đấu thủ bị thương tại chỗ, và trả ngay cho các người tùy tùng của đấu thủ. Nếu có sự rủi ro về sanh mạng, thân nhân đấu thủ không được vịn vào bất cứ lẽ gì để bắt đền mạng. Trái lại, các đấu thủ Nhất, Nhị, Tam đều được trọng thưởng. Những đấu thủ ưu hạng ấy nếu đầu quân Kim Lăng sẽ được trọng dụng tùy theo cấp bậc. Nhưng, dù thua cuộc, các đấu thủ muốn nhập hàng ngũ Kim Lăng cũng vẫn được thâu nạp ngay.

Đọc xong, bỏ đám đông người đi ra, Chu Đức Kiệt hỏi Cao Thiệu Đàm :

- Công quán riêng cho các đấu thủ ở đâu?

- Ở ngoài Nam môn.

Quan Long hỏi :

- Có người của Vương phủ dự đấu không.

- Có chớ! Trên bản danh sách, những tên nào có chấm đen ở đầu danh là nhân viên của Thuận Vương đó.

Quan Long nhìn mọi người, cười lạt im lặng. Anh em Chu gia và họ Cao cùng mỉm cười :

- Đi khỏi khu quán chợ, bốn người tiến về phái Đông môn tới một khu dinh thự nguy nga hết tầng nọ tới lớp kia, xung quanh tường cao bao bọc cổng có lính canh nghiêm trang. Ngang trên mái cổng đá khắc hai đại tự Vương phủ.

Chu Đức Kiệt nhìn Lam Y.

- Kiên cố và nghiêm mật hả hiền muội.

Lam Y mỉm cười im lặng. Lát sau, nàng hỏi Cao Thiệu Đàm :

- Sắp tới Hoa Vương lầu chưa.

- Vòng qua khúc đường này ra đầu phố đông đúc kia thì tới nơi.

Quả nhiên, Hoa Vương lầu đứng sừng sững như tòa lâu đài lớn trông ra hai mặt đường. Thực khách ra vào tấp nập và toàn là người sang trọng.

Quan Long nói :

- Bọn ta vào đây uống rượu, thong thả chờ coi đã có bằng hữu nào tới chưa.

Chu Đức Kiệt khen phải.

Lam Y hỏi :

- Ngồi dưới hay lên lầu thượng.

- Lên lầu chớ! Ngồi ngay ở thồi ngoài hè lầu ngắm trông phố xá cho tiện.

Ba anh em Chu, Quan giơ tay mời Cao Thiệu Đàm vào trước rồi tự mình theo sau. Thấy người lạ vào, mọi người đều chăm chú nhìn. Viên quản lý lầu là Đặng Kim Phùng chạy ra đon đả chào họ Chu và mọi người.

- Ít lâu nay không được thừa tiếp Trang chủ, chẳng hay có được mạnh giỏi không?

- Cám ơn. Bận việc nhà nên ít phiếm hành. Nhân có mấy người bạn ở xa tới Kim Lăng xem kỵ mã hội, bữa nay mới được rảnh đi chơi. Đắt hàng không hả tiên sinh?

- Ơn trời cũng khá. Phòng ốc chật hết, phần đông là các quí khách từ xa về dự hội. Xin mời quí vị lên lầu, còn chỗ ngồi tốt lắm.

Cao Thiệu Đàm đi trước gật đầu đáp lễ mọi người ở thồi nọ, thồi kia. Anh em Chu gia khen thầm họ Cao giao du rộng rãi.

Thực khách thấy tướng mạo phi phàm của Lam Y, Chu Đức Kiệt và nhất là diện mạo của Quan Long, thì tưởng là Hán Thọ Đình Hầu Quan Võ tái sanh nên đều kinh ngạc, nhìn không chớp mắt.

Lên tới trên lầu rộng sau gian, trang hoàng cực kỳ lộng lẫy. Ngoài những gian công cộng còn có các cửa vòng chạm trổ trúc chi hoặc mai chi ngăn thành các phòng ăn xinh xinh duyên dáng. Đưa mắt nhìn khắp một lượt, anh em Chu gia nhận ngay ra Thiết Phiến Cô Âu Dương Bích Nữ, Thần Mã Truy Phong Âu Dương Tòng Đức và Thiên Lý Mã Tào Chí, ba người ngồi ở hè lầu bên gian thứ năm bên mấy chậu hoa phù dung. Chu Đức Kiệt giơ tay vẫy thì vừa vặn Âu Dương Bích Nữ cũng đẩy ghế đứng lên vẫy tay ra hiệu.

Bốn mắt gặp nhau, Bích Nữ sung sướng mừng rỡ ra mặt. Chu Đức Kiệt chớp mắt mấy cái quay lại nhìn Lam Y.

- Gì thế hả hiền huynh?

- Ủa! Hiền muội không nhận ra Âu Dương Tòng Đức đang vẫy tay ra hiệu ở đằng kia sao?

Lam Y mỉm cười :

- Thiết Phiến Cô Bích Nữ đó chứ! Kìa, Tòng Đức bây giờ mới đứng lên cùng Tào Chí.

Chu Đức Kiệt vội quay đi với Quan Long và Cao Thiệu Đàm :

- Mời nhị vị lại đằng này. Có mấy anh em quen đang ở gian thứ năm kia rồi.

Nói đoạn, chàng đi trước dẫn đường.

Sau một hồi giới thiệu, Tào Chí truyền lệnh tửu bảo dọn thồi lớn.

Lam Y cầm tay Bích Nữ ôn tồn hỏi :

- Hiền muội tới Kim Lăng lâu chưa?

Bích Nữ đon đả :

- Mới chập tối hôm qua, vào trọ thẳng Hoa Vương lầu chờ hiền tỉ. Gặp nhau ngay, ngu muội... mừng quá!

Siết chặt tay Bích Nữ, Lam Y ranh mãnh :

- Chu huynh... và tôi mong nhớ quá chừng, nên lúc mới lên lầu thì... Chu huynh nhận ra... hiền muội ngay trước nhất!

Bích Nữ, má hường hường như trái đào càng thêm kiều diễm, mỉm cười quay lảng đi nơi khác. Lam Y buông tay nàng kéo ghế cùng ngồi.

Cao Thiệu Đàm ngồi khách vị theo lời mời của Chu Đức Kiệt. Hai bên tả, hữu họ Cao là Quan Long và Tào Chí, kế đến Âu Dương Tòng Đức.

Lam Y tự ngồi xuống bên Quan Long, kéo tay Bích Nữ ngồi kế bên mình, thành thử Chu Đức Kiệt ngồi lọt vào giữa anh em Âu Dương. Chu Đức Kiệt nhận thấy những dụng ý của Lam Y, nhưng chính chàng cũng phải lạ cho mình là xưa đến nay trên bước giang hồ, chàng đã gặp nhiều phụ nữ mà chưa bao giờ chàng cảm thấy thứ cảm giác lạ lùng, khiến chàng rung động tới tâm can khi ngồi kế bên cô gái anh thư của Thiếu Lâm tự.

Nói về võ nghệ, chàng đã có dịp thưởng thức kỹ thuật của Âu Dương Bích Nữ. Tuy nàng chưa có dịp trổ hết tài võ, thần lực nhưng với kinh nghiệm xét người, chàng biết nàng là một nhân vật kịch liệt đáng kể, có thể liệt vào hàng Lam Y nữ hiệp Chu Tú Anh.

- Vì vậy, chàng mến tài của ba cô gái cân quắc anh thư họ Âu Dương đó chăng, nên hôm nay ngồi bên nàng, chàng bỗng dưng cảm thấy thứ cảm giác kỳ lạ rung động cả tâm hồn thể xác, mà một hiệp khách giang hồ thẳng thắn như chàng chưa hề biết tới kể từ lúc thành nhân.

Nhác nhìn qua nét mặt anh mình, Lam Y đoán hiểu ngay tâm trạng của Đức Kiệt, nên nàng nhắc :

- Kìa! Hiền huynh đứng chủ tiệc gọi món ăn đi chớ?

Chu Đức Kiệt cố điềm đạm :

- Quý vị đây đang nói chuyện vui và dùng trà, ngu huynh tưởng còn sớm.

Nói đoạn, chàng vẫy tay cho tửu bảo lại gần :

- Lấy mấy hồ Mai Quế lộ và các thức ăn đặc biệt nhất của Kim Lăng ra đây.

Tửu bảo lễ phép trình thực đơn.

- Bất tất! Ngươi cứ lấy các món đặc biệt lên, nghe!

Âu Dương Bích Nữ vội cầm tay Lam Y hỏi :

- Hiền tỉ có đồng ý với tôi dùng thứ rượu khác không?

Lam Y gật đầu :

- Phải đó. Chị em mình dùng thứ rượu nhẹ như Thanh Mai tửu chẳng hạn, có được không?

- Xin đồng ý. Nhường Mai Quế lộ cho các ông ấy.

Tửu bảo nghe vậy thưa ngay :

- Hoa Vương lầu có các thứ rượu vừa nhẹ lại vừa đậm giọng chế với trái mơ vàng đặc biệt của xứ này, nhị vị khách quan dùng chắc vừa ý.

Cao Thiệu Đàm nói :

- Phải rồi. Ngươi lấy Hoàng Mai tửu để nhị vị tiểu thơ dùng. Còn Mai Quế lộ thì lấy thứ thâm niên, nghe?

Tửu bảo vâng dạ quay đi. Chu Đức Kiệt hỏi thăm tin tức bên Dương Châu và tin anh em họ Phàn.

Tào Chí nói :

- Khi nhị vị lên đường thì tiểu đệ đón nhạc mẫu về tệ trang cùng ở với gia mẫu, nên tiện nội cũng được an tâm. Tiệm Đạt Hưng giao cho Lý quản gia điều khiển. Anh em Phàn biểu huynh ở chơi vài ngày rồi cùng về Trấn Giang. Hẹn sẽ đi Kim Lăng họp mặt mà sao bữa nay còn chưa tới.

Âu Dương Tòng Đức nói :

- Có lẽ ngày mai, cùng lắm sang ngày mốt, mọi người sẽ tới đông đủ. Như chúng ta cũng mới đến Kim Lăng chiều qua, can chi đại ca nóng ruột?

Mọi người đều khen phải. Tửu bảo bê rượu và thức ăn lên, rót rượu. Bảy người nâng chén mời nhau.

Rượu được vài tuần, Chu Đức Kiệt đem chuyện diệt trừ hắc điếm ở Sơn Phu và hỏa thiêu Xích Hoa viện kể rõ ràng cho các vị anh hùng nghe. Lam Y cũng kể tiếp thấy cơn mộng Hán Thọ Đình Hầu dẫn đường đi Quan gia bảo, hội kiến với Kim Đao Quan Long và do đó mới nhận ra sự liên hệ giữa hai họ Chu, Quan mấy đời trước.

Nghe chuyện ai nấy đều lấy làm thích thú, Lam Y nói thêm với Tào Chí và anh em Âu Dương :

- Quan biểu huynh là người sành ngựa và khắc phục được con Xích Thố rất đặc biệt chẳng khác gì con Xích Thố của tổ tiên khi trước.

Và nàng bảo Quan Long :

- Tào đại ca đây và nhị vị Âu Dương gia là nhân vật có kỹ thuật cực kỳ điêu luyện về cách nuôi, dạy kỵ mã. Ngựa của ba vị dùng toàn là giống tuấn mã phi thường.

Quan Long đem chuyện hàng phục Xích Thố ở Phi Long Lãnh kể lại cho Cao Thiệu Đàm, Tào Chí và Tòng Đức nghe.

Xưa nay, Âu Dương Bích Nữ thường xử sự như nam nhi, rất thẳng thắn, không hề ngượng nghịu. Vốn có sẵn bản lãnh điêu luyện, Bích Nữ có đức tin mạnh mẽ.

Bên Tô Châu, nơi trang trại nhà nàng, các hảo hán giang hồ qua lại không ngớt, nhiều người để ý tới sắc đẹp của nàng lân la muốn cầu thân, nhưng nghĩ tới việc tất thế nào nàng cũng yêu cầu đấu võ, thì ai nấy đều ngần ngại nên lại thôi. Cũng có lẽ ngông cuồng, hăng tiết sau năm ba chén, yêu cầu được mỹ nhân đấu võ, Bích Nữ thể tình Mạnh Thường Quân nhận lời. Nhưng sau vài hiệp thử tài, đối phương tự hiểu gặp trúng tay hảo hán thủ nên tìm cách thoái lui êm ả.

Tuy không ưa các nhân vật ấy, Bích Nữ củng cố nhẫn nại tha cho họ để giữ gìn danh tiếng Trại Mạnh Thường trọng tân khách của cha. Bởi vậy, riêng đối với nàng, nàng có cảm tưởng là giới thanh niên ngông cuồng nhiều hơn là tài ba xuất chúng. Trái lại, từ khi gặp Chu Đức Kiệt, điềm tĩnh, ít nói, cử chỉ cân nhắc đáng kính, hơn nữa, với tướng mạo phi phàm quân tử, Bích Nữ thấy có cảm tình và kính phục ngay. Khởi đầu, nàng mến Lam Y rồi từ Lam Y nàng chú ý tới Đức Kiệt, nàng ưa nghe giọng sang sảng như chuông vàng mỗi khi chàng cất tiếng và cũng thứ tiếng ấy, nhiều lúc hạ nhẹ êm dịu như tấm thảm cỏ xanh mướt buổi đầu Xuân. Căn cứ vào danh tiếng của Nữ Hiệp Áo Lam, nàng dự đoán ngay tài nghệ siêu quần bạt chúng của chàng trai đất Bắc. Thế rồi từ đó, trong nhiều buổi chung đụng, nhất cử, nhất động của họ Chu đều được Kỳ Nữ Tô Châu ghi nhận.

Nàng còn nhớ buổi diễn võ ở Tào gia trang, khi trao cương ngựa Bạch Hồng cho chàng mượn, chẳng hiểu vô ý hay hữu tình, đôi bàn tay chỉ chạm nhẹ phải nhau mà toàn thân nàng run bật hẳn lên bởi một cảm giác đê mê khó hiểu... Chẳng hiểu yêu là thế nào, nhưng điều chắc chắn là nàng có cảm tình với con người mã thượng giang hồ ấy. Bữa nay, ngồi bên nhau, thứ cảm giác kỳ lạ kia lại đến với nàng! Và tự nhiên nàng e dè thẹn thùng mỗi khi chạm phải luồng mắt vừa dịu dàng vừa mãnh liệt của con người trầm tĩnh ấy! Nàng thẹn, đôi má đỏ hồng, chẳng khác chi một tiểu thơ khuê các kín cổng cao tường, năm, tháng chỉ biết bầu bạn cùng đường kim mũi chỉ chốn phòng the.

Mọi người nói chuyện vui vẻ. Bích Nữ đâu có nghe. Nàng lơ đãng suy nghĩ, tự xét tâm trạng và nhận thấy cảm tình của mình hướng hẳn về Chu Đức Kiệt.

Tuy nói chuyện, Lam Y vẫn chú ý đến trạng thái của Bích Nữ. Nàng vỗ nhẹ vào vai bạn gái :

- Nghĩ gì mà thần người ra vậy?

Giật mình, Bích Nữ mỉm cười chữa thẹn :

- Nghe chuyện Phi Long lãnh, tiểu muội ước ao được du hiệp như quý vị để được vãng cảnh san hà.

Lam Y cười :

- Chuyện này tôi xin phép bá phụ cho hiền muội đi cùng cho vui nhé?

- Thế thì còn gì hay bằng nữa!...

Bảy người nhắm nhót, chuyện trò vui vẻ.

Bỗng một đoàn người ngựa trên dưới hai mươi, từ đầu đường rẽ tới.

Âu Dương Tòng Đức nói trước :

- À, Thiết Xích Tử, gia phụ và các vị anh hùng thực khách bên Tô Châu tới. Để tôi xuống mời lên đây.

Chu Đức Kiệt cũng đẩy ghế đứng lên :

- Đi! Anh em cùng xuống mới phải.

Phía dưới, đoàn người, Tô Châu nhìn lên hè lầu. Thiết Xích Tử, Trại Mạnh Thường Âu Dương Tòng Thiện, Cái Thiên Ô Vân Âu Dương Tòng Cát cùng vẫy tay gọi Lam Y, Bích Nữ, Cao Thiệu Đàm và Quan Long, Tào Chí đứng ở lan can nhìn xuống.

Thấy khách tới đông, bọn tửu bảo lố nhố chạy ra đón.

- Các vị anh hùng người nào cũng đeo hành trang và khí giới, buộc ngựa vào hàng cột dài trồng ở ven đường.

Chu Đức Kiệt và Tòng Đức xuống tới nơi chào hỏi rồi mời cả lên lầu. Cao Thiệu Đàm gọi tửu bảo kê mấy thồi liền nhau rồi cùng bọn Lam Y ra đầu thang tiếp đón.

Âu Dương Bích Nữ cúi xuống lạy phụ thân.

Tòng Thiện xua tay :

- Nơi công chúng, cho phép con bỏ đại lễ.

Bích Nữ theo lời vái chào mọi người.

Cao Thiệu Đàm nói với Âu Dương Tòng Thiện :

- Dùng bữa ở tửu lầu xong, xin mời tất cả về tệ trang thuận tiện hơn.

- Ngu huynh cũng có ý ấy, song Thiết Xích Tử muốn qua Hoa Vương lầu trước, xem có gặp nhị vị Chu hiệp rồi mới đến Cao gia trang sau.

Bích Nữ sung sướng, đặc biệt giới thiệu Lam Y nữ hiệp và Chu Đức Kiệt với cha, anh :

- Tòng Thiện, Tòng Cát đã được nghe Thiết Xích Tử kể chuyện Kim Cương tự và thành tích hành hiệp của anh em Chu gia, nay được cùng nhau diện kiến mới biết người thật còn hùng dũng hơn sự miêu tả nhiều.

Âu Dương Tòng Thiện nói :

- Ta rất mừng các con được giao tiếp với các vị hiệp khách đây. Nên theo đó làm gương.

Về phần Lam Y và Chu Đức Kiệt cũng hoan hỉ khi thấy Trại Mạnh Thường uy nghi bệ vệ đáng mặt đệ nhất môn đồ của Trí Dũng thiền sư phái Thiếu Lâm. Hổ phụ sanh hổ tử có khác. Tòng Cát và Tòng Đức giống nhau như đúc, cả hai cùng oai hùng, dẻo dai như hai con báo tỏ ra có sức lực ghê gớm. Mắt xếch mà lớn, mũi dọc dừa, tay dài, môi đỏ, cổ to, vai rộng, eo lưng chẽn hẳn lại tỏ ra có một sức lực tiềm tàng đáng sợ. Có một điều kỳ mà Âu Dương Tòng Thiện và Tòng Cát phải ngạc nhiên là Bích Nữ giống hệt Lam Y từ khuôn mặt, sắc da đến vóc người. Kẻ lạ chẳng khỏi nhầm lẫn hai nàng là chị em sanh đôi hay ít ra cũng là chị em ruột.

Từ xa vừa tới ai nấy đều đói ngấu, gặp rượu ngon nhắm tốt, xúm vào ăn ăn, uống uống như hùm, chuyện trò tựa pháo ran. Bữa tiệc kéo dài tận chiều.

Tào Chí vẫn tỏ vẻ nóng ruột chưa thấy Phàn Thế Hùng và Phàn Mộng Liên tới Kim Lăng...

- Quái thiệt! Tôi đã căn dặn hai người ấy đi sớm đến Kim Lăng trước kỳ hội vài ngày.

Lam Y nói :

- Còn hai hôm nữa mới tới kỳ hội. Tào huynh nóng ruột có ích lợi chi?

Không biết trả lời sao, Tào Chí đành ngồi im, cố vui gượng theo mọi người, nhưng cũng chẳng dẹp hết nổi bồn chồn trong dạ. Tiệc đã tan, mọi người sửa soạn về Cao gia trang, Tào Chí nói :

- Quý vị đi trước, tôi ở lại Hoa Vương lầu chờ anh em họ Phàn rồi cùng tới yết kiến.

Dứt lời, chàng hối tửu bảo thắng ngựa của Tòng Đức và Bích Nữ dắt sẵn ra đường. Chu Đức Kiệt ra quầy lầu thượng tính tiền thì vừa lúc ấy, một bọn bẩy người lên lầu.

Hai người đi đầu ra lối con quan, võ phục sang trọng. Người vận bào vàng ốm nhom, da mặt vàng khè như nghệ. Tuy còn trẻ, trạc ngoài ba chục tuổi, nhưng nét mặt nhăn nheo. Tóc đỏ như râu ngô búi ngược lên đỉnh đầu chụp chiếc mũ nhỏ Phụng tiên có giải buộc xuống cầm. Nếu không thấy cử chỉ lanh lẹ và cặp mắt lồi xếch ngược sáng ngời như hai vì tinh tú, thì ai cũng cho là người đó mới ốm dậy.

Một sự nữa khiến thực khách phải kinh sợ là gã ốm nhom ấy xách nhẹ nhàng cặp Thiết chùy sơn đen to lớn dị thường! Trông hình thức cặp chùy ghê gớm ấy, nếu bằng sắt thiệt thời ít ra cũng nặng tới sáu bảy trăm cân. Không hiểu Lý Nguyên Bá thời Đường khi xưa có sức mạnh thế nào để sử dụng cặp chùy ngàn cân, nhưng cặp chùy của gã ốm ho "hoàng diện" này cũng kềnh càng ghê gớm lắm. Trông gã hình dáng tiều tụy như vậy mà xách cặp chùy quá lớn nhẹ nhàng như không, bọn thực khách thì thào với nhau nghi là chùy đó rỗng, hay bằng... cây! Chớ không ai dám tin con người ấy có sức mạnh bạt sơn như vậy!

Như đoán biết ý nghĩ của mọi người, gã "hoàng diện" đó la lớn :

- Tửu bảo! Bộ tửu lầu lớn như vậy mà không còn thồi nào khả dĩ chứa nổi bảy mạng này sao? Hay là muốn ta liệng quầy hàng xuống đường để lấy chỗ ngồi đây?

Nói đoạn, gã ta để cặp chùy xuống rung chuyển cả mặt bàn, khiến mọi người sợ hãi lắc đầu, thè lưỡi công nhận chùy đó là thứ... thiệt! Ngờ đâu, con người ốm ho ấy lại có sức mạnh phi thường!

Mấy tên tửu bảo bận khách vội vàng chạy tới khúm núm :

- Xin công tử tha lỗi, chúng con kê thêm thồi ra chỗ rộng kia được không?

Gã "hoàng diện" khẽ gật đầu, nhưng vẫn đưa mắt nhìn quanh :

- Lẹ tay lên, kẻo ta phá tan thành Kim Lăng, rồi trở về Tây Xuyên cho quan dân các ngươi tới đó mà tìm ta hạch tội!

Thiếu niên đi cùng vận áo bào điều, giắt cặp giản, khuyên :

- Biểu huynh chẳng nên nóng nảy. Phải để thì giờ chúng mới hầu kịp. Nhà hàng đông khách tránh sao nổi sơ suất được!

Năm người đi theo trang phục theo kiểu gia tướng, lưng tên nào cũng đính miếng vải đỏ hình vuông thêu chữ "Hà". Thồi đã bày xong, gã thanh niên hoàng diện bảo :

- Cho phép các ngươi ngồi ăn tự nhiên, muốn dùng gì cứ gọi :

- Nói đoạn, thanh niên cúi xuống lượm song chùy để vào bên thồi y ngồi. Bảy người xúm lại ăn uống như hùm đói.

Âu Dương Tòng Thiện đưa mắt nhìn mọi người :

- Nhân vật kỳ khôi đó chứ nhỉ? Họ từ Ba Thục về Kim Lăng dự cuộc đua chăng?

Thiết Xích Tử gật gù nói :

- Năm tên gia tướng có chữ Hà trên lưng, có lẽ bọn này là người nhà quan trấn thủ Tứ Xuyên Hà Thiên Thọ chăng?

Một vị thực khách có tuổi của Âu Dương trang tên Tào Gia Quế đã từng đặt gót giang hồ khắp nơi, nói :

- Hà tổng trấn có hai con trai và một người cháu nghe nói anh hùng lắm, tôi không biết mặt.

Bọn anh hùng nán lại xem gã "hoàng diện" hành động ra sao.

Bầy người ăn uống một hồi như vòi voi cuốn lá. Gã ốm nhom đó ăn khỏe khiến mọi người ngạc nhiên. Giây lát ăn xong, gã gọi tửu bảo tính tiền, liệng mấy lạng bạc lên mặt thồi, đẩy ghế đứng lên.

- Người có biết Vương phủ ở đâu không?

Tên tửu bảo khép nép :

- Bẩm có. Công tử đi hết con đường này, rẽ sang tay tả, độ vài trăm thước thì tới ngay.

Lượm cây thiết chùy, gã bảo mấy người đi theo :

- Mau vào phủ kẻo trễ.

Bọn Âu Dương Tòng Thiện đứng cả ra lan can nhìn xuống, thầy bảy người lên bảy con ngựa đi thẳng theo đường vào phủ Thuận Vương.

Cao Thiệu Đàm nói với mọi người :

- Nhị vị Chu hiệp, Quan nghĩa sĩ và tôi đi chân, thủng thẳng về sau, quí vị anh hùng sẵn ngựa xin cứ về tệ trang cho đỡ mất thì giờ.

Âu Dương Bích Nữ nhân dịp nói ngay.

- Nhường Cao bá phụ cởi ngựa của cháu đi cùng gia phụ về nhà mới tiện. Cháu đi bộ cùng Chu nữ hiệp cho vui.

Cao Thiệu Đàm chưa biết xử trí ra sao thì Lam Y hiểu ý, tán thành ngay. Mọi người cùng xuống lầu.

Cao Thiệu Đàm hỏi :

- Ngựa này của Âu Dương tiểu thư, có dữ không.

Bích Nữ chỉ Bạch Hồng mã.

- Con hai màu kia. Bá phụ cứ vững tâm lên yên, cháu giữ cương, nó sẽ đi ngay.

Nàng đi tới chỗ buộc Bạch Hồng mã vỗ lên cổ mấy cái.

- Đi trước nhé, ta sẽ về sau, nghe.

Nàng giữ cương cho họ Cao lên đâu đấy, vỗ vào mông ngựa nói :

- Đi.

Bạch Hồng mã dướn kiệu nhỏ theo đoàn người ngựa về trang.

Lam Y nói với Tào Chí.

- Tào huynh ở lại đây chờ anh em Phàn gia. Cao gia trang ở ngoài Tây Môn hỏi thăm tới ngay.

Tào Chí gật đầu cùng mọi người chia tay. Trời đã sẩm tối, nhà nào nhà ấy đều lên đèn sáng trưng. Bích Nữ, Lam Y, Đức Kiệt, Quan Long, bốn người đủng đỉnh qua các khu phố ra khỏi Tây Môn. Về tới Cao gia trang, anh em Chu gia mừng rỡ vì thấy Đức Võ Thượng Nhân đang ngồi ở đại sảnh cùng mọi người. Tiến tới trước mặt Thượng nhân hai người quỳ lạy.

- Thúc phụ giáng lâm từ hồi nào và từ đâu tới đây.

Thượng nhân đỡ hai người dậy.

- Ta tới đây khi mọi người còn ở nội thành. Trước khi xuống Nam, ta có qua thăm nhà ở Bình Dương, mọi việc bình thường.

Chu Đức Kiệt đem việc có liên hệ giữa hai họ Chu, Quan thư lại cho Thượng nhân nghe và chỉ Quan Long.

- Đây là Quan biểu đệ.

- Đức Võ Thượng Nhân.

- Ta rất hãnh diện có một người ngoại điệt anh hùng dũng võ Hán Thọ Đình Hầu.

Tối hôm đó, Lam Y và Chu Đức Kiệt đến trại phòng của Đức Võ trình bày vụ đánh Kim Cương tự, vụ làng Sơn phu và những điều nói về Thuận Vương.

- Vây cánh của Thuận Vương rải rác khắp nơi, sự dụng độc còn nhiều. Do đó, oán thù càng lớn, hai con tiểu tâm phòng bị. Cuộc mưu phản đã rõ rệt, riêng có triều đình nhà vua hãy còn mơ hồ.

Chu Đức Kiệt hỏi :

- Thúc phụ có nghe tên Nhạc Lan Anh bao giờ không.

- Nhạc Lan Anh hay Chu Lan Anh quận chúa cũng là một người. Môn đồ của Thượng Thái thiền sư trên Long Sơn, quan đồ huyện, Tây Bắc Vân Nam. Người ấy rất hữu ích sau này. Nếu gặp, cứ nói tên ta hay tên sư phụ của y, tức khắc có sự giúp đỡ.

Đức Võ nhắc sơ lại tiểu sử Nhạc Lan Anh cho hai người nghe.

Lam Y hỏi :

- Thúc phụ qua Kim Lăng có việc chi khác nữa không?

- Ta đi Tô Châu ghé thăm Trại Mạnh thường, không ngờ y xuống Kim Lăng rồi, nên ta theo xuống đây nhân dịp coi kỵ mã hội luôn thể. Sau đó, ta xuống cõi Lĩnh Nam hái thuốc rồi lại trở về Bắc thăm dãy Côn Luân Sơn.

Đức Võ Thượng Nhân đứng dậy mở bọc hành trang lấy ra một gói thuộc hoàn và một cuốn sách đưa cho Lam Y.

- Đây là thứ thuốc mỗi hoàn chữa thương tích và độc dược, thứ nào cũng đã ghi sẵn, hai con giữ lấy mà dùng. Còn cuốn sách này, ta ghi chú nhiều điều về Thái Dương kiếm. Các con nên đọc và nhận xét kỹ. nên có sáng kiến, cứ việc tham khảo rồi trình ta coi. Cuộc du hành này ta lâu tới hai năm. Các con cứ tính đúng hai mươi bốn tháng trở về Cửu Huyền sơn. Ngày đó, ta sẽ trao cho bản sao về cuốn phương pháp Linh Đan Độc Luyện mà nghiên cứu. Văn ôn, võ luyện, dầu hiện thời các con đạt đến bậc siêu đẳng cũng vẫn phải luyện tập như thường mới hòng tiến xa hơn nữa. Rừng văn, biển võ, con nghe chưa?

- Dạ chúng con vẫn chăm chỉ như hồi còn ở Cửu Huyền sơn.

Hôm sau, nhân dịp Chu Đức Kiệt mãi thù tiếp các hảo hán. Lam Y đem việc muốn thúc giục Chu Đức Kiệt lập gia đình để nối dõi Chu gia cho Thượng nhân nghe. Nhân tiện, nàng hỏi luôn Người về Bích Nữ.

- Âu Dương Bích Nữ phải không? Nếu y chịu thì còn chi bằng, rất xứng đôi vừa lứa. Được, con an tâm. Để ta nói qua với Âu Dương Tòng Thiện nhờ y tác thành cho. Nhưng còn ý kiến của Chu Đức Kiệt thế nào?

- Con chưa rõ lắm, nhưng dù sao cũng phải thành.

- Ta sẽ nói với Trại Mạnh Thường, còn duyên phận là điều thiên định nhé.

Đức Võ Thượng Nhân bấm đốt ngón tay lẩm bẩm nói một mình.

- Bích Nữ Kỷ Mùi, Thiên thượng hỏa theo nạp âm ngũ hành, Đức Kiệt ba mươi ba Quý Dậu là Kiến phong kim... Hừ! Cao số thiệt.

Tính tới đây, Đức Võ tiếp tục bấm trên ngón tay, nhưng tính thầm chớ không thành tiếng.

Lam Y thắc mắc.

- Thúc phụ dạy sao.

Đức Võ chậm rãi.

- Không sao cả!... Lấy được.

- Anh em con muốn học môn Nhâm Độn Lục Giáp, chừng nào thúc phụ truyền dạy.

Đức Võ mỉm cười, vuốt râu hồi lâu.

- Các con hãy còn ít tuổi. Học môn đó quá sớm. Chừng nào tạm ngừng giang hồ hành hiệp, ta sẽ truyền dạy. Trên đời phàm làm việc gì cũng phải tuần tự đúng thời giờ của nó, tham lam vội vàng khó thành tựu lắm! Xưa kia theo Huyền Vân trưởng lão, ta không được phép tiến quá lẹ như các con đâu. Chưa quá ba chục tuổi mà các con đã thuộc và áp dụng nổi Nhân Thần Pháp (tức là điểm nổi ba mươi thứ nguyệt trên thân thể người ta) là một sự đi ra ngoài qui luật của võ thuật rồi đó! Trong lúc này, điều ta mong hơn hết ở anh em con là sự am hiểu các tánh dược, cách chế hóa và kỵ chất ghi đầy đủ trong cuốn sách ta đã cho trước khi lên đường hành hiệp. Vậy đọc hết chưa.

- Anh em con thuộc lòng ba cuốn đó rồi.

- Được lắm, ta sẽ truyền cho phép luyện đan.

Hai người đang nói chuyện, Đức Kiệt bước vào.

- Bẩm thúc phụ, có hai người bạn nữa hẹn tụ hội tại Kim Lăng mà bữa nay còn chưa tới, có lẽ họ bị cản trở chăng.

Bấm theo lối Khổng Minh Độn Giáp, Đức Võ lắc đầu :

- Đừng tốn công chờ vô ích! Họ không tới đâu, ta không hài lòng về quẻ này.

- Sao vậy, thưa thúc phụ.

- Con có nhớ ngày sanh tháng đẻ của họ không.

- Không.

- Thế thì nói rõ sao được! Hôm nay ngày Thất sát, chạm quẻ Vô Vong..., độc bất hảo.

Đức Kiệt đưa mắt nhìn Lam Y lo lắng.

Đức Võ hỏi :

- Mọi người đâu cả rồi.

- Các hảo hán theo Trại Mạnh Thường từ Tô Châu đến, thì đã chia nhau du ngoại rồi. Chỉ còn Cao trang chủ, Âu Dương gia và Quan Long ở nhà thôi.

Giữa lúc ấy, một tên trang đinh tiến đến, kính cẩn nói :

- Trang chủ con mời Thượng nhân lên đại sảnh dùng trà.

- Được cho ngươi lui ra, ta sẽ lên ngay.

Anh em Chu gia theo Đức Võ lên nhà. Mọi người đã ngồi chờ đó rồi. Lam Y đem việc Đức Võ Thượng Nhân vừa bói quẻ nói cho anh em Âu Dương gia nghe.

Đức Tòng nói :

- Chúng ta vào thành tìm Tào đại ca, nói cho y biết và mời y về đây luôn thể.

Chu Đức Kiệt nói :

- Ta cứ vào thành nhưng không chắc Tào đệ đã chịu nghe.

Bích Nữ vào đại sảnh xin phép Trại Mạnh Thường theo bọn Chu gia vào thành. Anh em Chu gia, ba anh em Âu Dương, Quan Long, sáu người vận vũ phục, ngoài vận áo bào kéo vào thành, đi lang thang khắp phố phường mới đến Hoa Vương lầu. Tào Chí đứng bên lan can nhìn xuống đường lo buồn ra mặt.

Sáu người kéo lên lầu trên, ngồi chỗ hôm qua còn trống.

- Tôi trong chờ các quí vị quá. Từ sáng đến giờ, không dám rời khỏi tửu lầu.

Âu Dương Tòng Đức hỏi :

- Bộ Tài đại ca mất ngủ hôm qua hay sao mà trông sắc diện không được như thường.

- Quả vậy suốt đêm thao thức không hề ngủ say trọn giờ.

Chu Đức Kiệt nói :

- Chà! Chắc tào đệ lo lắng vì anh em Phàn gia tới trễ nên mất ngủ đó.

- Có một điều lạ lắm, muốn thưa cùng quí vị, mong giải thích giùm.

- Ồ! Điều chi vậy.

Ngập ngừng hồi lâu, Tào Chí nói :

- Hôm nay khi các vị ra thành rồi, tôi đi nằm sớm. Vì mệt quá nên ngủ thiếp lúc nào không rõ.

Bỗng cửa sổ mở toang ra, một người không rõ là nam hay nữ, tóc xòe ra che lấp mặt, máu me đầy áo, vào phòng ra đi đến bên đầu giường khóc sướt mướt, nói qua tiếng nấc "yêu cầu báo thù, tên hổ mang hại tôi rồi!". Giật mình, tôi vùng dậy định vén màng xuống giường, thì người đó vùng ra chạy... Giật mình tỉnh dậy thì hóa ra vừa mộng mị chiêm bao, nhưng cánh cửa sổ mở toang, gió mạnh thổi bay rèm... Và ly kỳ, tôi có cảm tưởng như quả có người nào vừa mới vào phòng tôi thật. Tôi bèn xem xét khắp mọi nơi trong phòng, nhưng vô hiệu, nếu là kẻ trộm thì bọc hành trang để ngay ở mặt kỷ lấy đi rồi. Đằng này, trái lại mọi vật và tiền bạc đề còn y nguyên, từ đó tôi thao thức nghĩ vẩn vơ không chợp mắt được nữa.

Anh em Chu gia lo lắng nhìn nhau, tuy không lộ vẻ lo âu ra mặt.

Âu Dương Tòng Cát nói :

- Chiêm bao, mộng mị tin sao được! Chắc hôm qua, đại ca nghĩ ngợi nhiều sau một cuộc hành trình mệt nhọc, nên mới hoảng hốt đó thôi.

- Rõ ràng lắm, việc như có thật, tiếc nỗi không nhận nỗi người tóc xõa đó là ai, mà lại yêu cầu báo thù là thế nào? Khó hiểu quá.

Từ khi nghe rõ câu chuyện, Anh em Chu gia và Quan Long vẫn yên lặng suy nghĩ, không ai dám đoán này nọ.

Hồi lâu, Bích Nữ hỏi :

- Theo ý riêng của Tào huynh nghĩ thế nào.

Lo âu ra mặt, Tào Chí đáp như kẻ mất hồn.

- Tôi lo tệ trang ở bên Dương Châu có xảy ra chuyện gì trong lúc vắng tôi chăng? Hiện thời, tôi rất đáng vị trách vì không suy xét rộng. Tiện nội chỉ (Hạ Thái Phượng) vừa thoát khỏi miệng cọp chưa được bao lâu mà tôi đã vội ra đi ngay thì quả là một điều rất hớ hênh. Lỡ đồng bọn ác tăng đến báo thù, ở tệ trang không ai chống lại nổi...

Dứt lời chàng ngồi thần người ra, bất đồ đánh rơi chiếc ly rượu đang cầm trong tay bể tan từng mảnh. Tào Chí giật mình mặt buồn rười rượi chỉ sự vỡ ly là điểm gở. Lam Y nghĩ đến quẻ đoán của Đức Võ Thượng Nhân nên cũng nghi hoặc là có điều không hay đã xảy ra.

Xưa nay, Quan Long không tin việc thần bí nhưng từ bữa mộng thấy Quan Võ báo mộng đón Anh em Chu gia đúng như hệt rồi cũng có ý tin, nhưng không dám phát biểu ý kiến. Trái với các thồi khác ồn ào, bảy người cùng im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng.

Phá tan bầu không khí nặng nền ấy trước nhất, Lam Y nói :

- Chúng ta ở đây cho đến chiều, rồi kéo cả về Cao gia trang. Ngày mai vào hội rồi, chờ đến chiều tối, nếu Phàn Thế Hùng và Phàn Mộng Liên vẫn vắng mặt tức là không đến nữa.

Mọi người khen phải.

Tào Chí nói :

- Tôi cũng đành vậy, chớ biết thế nào.

Giữa lúc ấy, Thiết Xích Tử đi tới.

- Gớm, quí vị say sưa thế này mà còn quên con trùng rượu này à.

Âu Dương Tòng Đức hỏi :

- Ủa! Trương tiên sinh vào thành từ hồi nào.

Thiết Xích Tử cười vang.

- Mới tới. Các người ấy ở nhà chuyện trò chỉ dùng trà suông nhạt nhẽo quá không chịu được, nên lẻn ra đây. Mai Quế lộ đó.

Trông bộ tịch khát rượu của Thiết Xích Tử, ai nấy đều tức cười. Chu Đức Kiệt gọi tửu bảo lấy bốn cân Mai Quế lộ hảo hạng và thịt dê tái.

Nói đoạn, Thiết Xích Tử nhìn Lam Y cười khúc khích. Lam Y cũng hiểu ý cùng cười theo, đưa mắt nhìn Âu Dương Bích Nữ.

Ăn uống một hồi no say, Thiết Xích Tử hỏi Tào Chí :

- Coi bộ Tào hiền điệt giận ông mối này hay sao mà kém vui vậy.

- Cháu đâu dám hỗn xược như vậy, nhưng quả đang lo khiến ai nấy đều buồn lây.

- Ủa buồn điều chi.

Âu Dương Tòng Cát kể lại giấc mơ đêm qua của Tào Chí cho Thiết Xích Tử nghe. Thiết Xích Tử cũng nhận ra rằng, Tào Chí để Hạ Thái Phượng ở lại nhà một mình là điều thất sách sau trận đánh Kim Cương tự.

Tào Chí càng thấy nóng ruột. Hồi lâu, chàng nói :

- Hay là tôi về ngay Dương Châu chớ không còn tâm địa nào ở lại Kim Lăng vui thú được. Hay ít ra cũng phải có tin nhà thì mới an tâm được. Ai đưa được tin lành lúc này, Tào mỗ xin lạy sống ba lạy và dâng một bữa rượu.

Tào Chí chưa nói hết câu thì Chu Đức Kiệt đẩy ghế đứng lên, bước ra khỏi bàn tiệc, vừa đi vừa nói :

- Để ngu huynh đem tin lành về cho Tào đệ nhé! Chờ đó.

Chu Đức Kiệt bước vội xuống lầu trước sự ngạc nhiên của mọi người.

- Ai nấy đứng cả ra lan can nhìn xuống đường, thấy Chu Đức Kiệt ra khỏi tửu quán chạy khỏi đó mấy nhà gọi một hảo hán, y phục đầy bụi, vai quàng khăn gói, lưng giắt cây roi sắt, đang cỡi ngựa đi lững thững bên đường.

Hảo hán vội xuống ngựa thi lễ cùng họ Chu và dắt ngựa quay về tửu lầu...

Lam Y nói :

- Chuyến này chắc gia huynh đem được tin bên Dương Châu về chào Tào nhân huynh rồi.

Nàng trở vào bàn tiệc. Mọi người theo, định nhờ Lam Y giải thích thì Chu Đức Kiệt cùng vị hảo hán nọ lên tới nơi.

Chủ vị hảo hán đó, Chu Đức Kiệt nói :

- Đây là Kiến Phàn Khoái Vân Báo, tiểu sư trưởng của Bảo phiêu cuộc ở An Hà lộ thành. Vân hảo hán là em ruột Vân giáo đầu bên Bình Dương, bản quán bên Sơn Đông.

Nói đoạn, chàng giới thiệu từng người một với Vân Báo.

Đứng trước toàn những nhân vật có thành tích cao trong nền võ thuật hiện đại, Vân Báo rất hân hoan.

Chu Đức Kiệt nói :

- Bây giờ mời Vân huynh xơi rượu, và tôi nhường lời cho gia muội.

Chàng nhìn Lam Y mỉm cười.

Lam Y thủng thẳng nói :

- Gia huynh ác nghiệp, làm ra bộ bí mật bắt tôi nói một câu chuyện quá giản dị. Nguyên trên đường từ Làng Sơn phu đi Mã Thạch cương, chúng tôi có gặp Vân tiêu sư đi bảo vệ cho một đoàn khách thương từ Kim Lăng đi Dương Châu. Nhân dịp nghỉ dùng bữa trưa ở khúc đường có dựng tấm bia "Cầm Thảo Khấu", chúng tôi có giới thiệu với Vân tiêu sư qua thăm Tào gia trang... Cũng vì lẽ đó nên trong khi nói chuyện hồ nãy, gia huynh nhìn xuống đường bất chợt thấy Vân tiêu sư đi qua, bèn chạy xuống mời lại để hỏi thăm tin Dương Châu cho Tào nhân huynh.

Vân Báo nói :

- Tới Dương Châu, tôi đến Tào gia trang thăm viếng Tào nhân huynh. Nhưng chỉ có Tào Mẫu, nhạc mẫu và phu nhân ở nhà. Các vị đó có nhắn tôi, nếu trở về Kim Lăng gặp Tào nhân huynh thì nhắn hộ là gia đình được bình an. Vì muốn trở về Kim Lăng, cho kịp ngày đại hội, tôi trao nhiệm vụ cho ba tiêu sư thuộc quyền, và phi ngựa gấp về Kim Lăng. Vừa vào thành chưa kịp về nhà, đi ngang qua đây thời gặp Chu đại hiệp.

Nghe nói gia bình được bình an, Tào Chí mừng rỡ, tiến đến trước mặt Vân Báo vái dài cám ơn, và quỳ lạy Chu Đức Kiệt.

Chu Đức Kiệt vội cản lại.

- Ô hay! Việc của hiền đệ cũng là bổn phận của ngu huynh, bất tất phải lạy lục khiến ta giận bây giờ. Hiền đệ phải lo gấp khoản đãi Vân tiêu sư mới trúng lý.

Tào Chí đứng dậy vui vẻ gọi tửu bảo bày tiệc khác khoản đãi mọi người.

Thiết Xích Tử nhăn nhó :

- Thế này thì Trương mỗ lại phải... uống thêm nữa, khổ thiệt!...

Ai nấy đều vui cười theo họ Tào.

Sẩm tối, mọi người mới ra về. Tào Chí trả tiền trọ, đeo hành trang dắt ngựa đi theo.

Vân Báo từ giã :

- Quý vị còn ở lại Kim Lăng du ngoạn, thế nào cũng ghé bảo tiêu cục cho Vân mỗ tôi được vinh dự lây nhé.

- Vì mai là ngày đại hội nên cửa thành đóng trễ hơn thường ngày trái lại, sự canh phòng nghiêm ngặt hơn.

Về gần tới Cao gia trang, Lam Y thừa dịp bên Thiết Xích Tử, hỏi nhỏ :

- Hồi nãy, tiên sinh nói ngụ ý về vụ gia thúc Đức Võ Thượng Nhân có nói riêng về việc chi đó với Trại Mạnh Thường phải không?

Thiết Xích Tử gật đầu :

- Thượng nhân và Trại Mạnh Thường bàn tán công việc Chu hiệp và Bích Nữ trước mặt chúng tôi để tham khảo ý kiến mọi người luôn thể.

- Kết quả thế nào?

- Lẽ cố nhiên là tốt. Trại Mạnh Thường rất hãnh diện có một hảo tế như lệnh huynh và đồng ý với Thượng nhân để mặc tình cảm của ba người trai hiệp khách, gái anh thư ấy theo thời gian nẩy nở, chớ không có vội vàng hầu ép uổng... Nghe tin đó, Trương mỗ này rất mừng và cho là một việc nên tán thành...

Lam Y và Thiết Xích Tử vội im lặng vì Bích Nữ đến gần.

Nàng đon đả nói :

- Ghê thiệt! Nhị vị đang bàn tán gì vậy mà khi thấy Âu Dương Bích Nữ này lại im vậy?

Lam Y đáp ngay :

- Nói chuyện với Trương tiên sinh thì ngoài vấn đề... uống rượu mừng ra, còn chuyện chi hay hơn nữa?

Chương 24: Vô Địch tướng quân hiện thân dạy võ Kỳ tài kỵ mã, Trại Nguyên Bá lên đường

Nói về quan Trấn thủ Tứ Xuyên Hà Thiên Thọ vốn là dòng dõi Tiên phong tướng Hà Thiên Hùng, trước kia theo Minh Thái Tổ lập quốc. Cũng như ông cha khi xưa, Hà Thiên Thọ là một tôi lương đống của triều đình và cũng là một hổ tướng hữu danh nên được đặc phái trấn thủ đất hiểm Ba Thục, đóng quân ngay tại thủ phủ Thành Đô.

Từ hồi triều Minh được thành lập đến nay, họ Hà nổi danh vô địch trong chốn ba quân, với ngón chùy pháp gia truyền đã từng sát hại không biết bao nhiêu địch tướng trên chiến trường.

Hà trấn thủ có hai con trai: Hà Thiên Tường và Hà Thiên Khánh. Hà Thiên Tường hai mươi lăm tuổi, giống cha như đúc, tai to mặt lớn, dáng dấp lực lưỡng có sức khỏe ba quân phải sợ phục. Dùng cặp chùy đồng sáu mũi, Hà Thiên Tường chưa biết nhường một tướng thuộc hạ nào của cha trên diễn võ trường. Ngoài sức khỏe và tài đánh chùy ra, Hà Thiên Tường tướng mạo đẹp đẽ hùng hào, nên ba quân tặng cho mỹ hiệu là Ngọc Kỳ Lân. Trái lại với anh, Hà Thiên Khánh kém Thiên Tường hai tuổi, diện mạo và thân hình ốm nhom, sắc mặt vàng như nghệ, thành thử Thiên Tường đẹp tướng bao nhiêu thì Thiên Khánh xấu tướng bấy nhiêu.

Khi hai con còn nhỏ, Hà Thiên Thọ bảo vợ :

- Thằng Thiên Tường sau này khả dĩ nối dõi được họ Hà nhà ta, nhưng thằng Thiên Khánh thì hỏng! Nó ốm yếu quá trông chẳng còn ra hình người!... Kỳ thật, họ Hà chưa bao giờ có một người con dáng dấp lẻo khẻo như nó.

Phu nhân thấy chồng hay than phiền về Thiên Khánh, thì có ý buồn :

- Đẻ con ra cũng phải có đứa thế nọ, thế kia, phu quân chê làm chi nữa cho thêm tủi đứa con yếu hèn? Ngón tay cũng có ngón dài ngón ngắn nữa là!

Nể vợ, Hà Thiên Thọ cố tỏ vẻ tự nhiên, nhưng vẫn không khỏi buồn riêng.

Năm lên bảy tuổi, Hà Thiên Tường đã được cha cho võ sư bắt đầu dạy các môn võ thuật thường thức. Vốn tính nghịch ngợm, Thiên Tường, ngoài giờ học chữ, hoa côn múa gậy cùng các trẻ đồng tuổi, con chư tướng, chạy nhảy suốt ngày, và tỏ ra có sức khỏe hơn cả bọn trẻ. Hà Thiên Tường rất thông minh, học đến đâu, biết tới đó, võ sư rất lấy làm hài lòng ca tụng với quan Trấn thủ luôn.

Biết vậy, Hà Thiên Tường mừng thầm. Tuy cho con theo học võ sư nhưng Hà Trấn thủ rất chú ý đến chương trình học tập và sự tiến triển của Thiên Tường, chừng nào qua thời kỳ thường thức, thì sẽ tự mình truyền dạy.

Trong khi Thiên Tường cùng bầy trẻ nô đùa hay theo võ sư tập võ, Thiên Khánh chỉ đứng nhìn chớ không hề ham đua theo anh chạy nhảy. Đã nhiều phen võ sư và Hà Thiên Thọ thúc giục, dỗ dành, Thiên Khánh cũng cứ lì không buồn nhúc nhích. Cho là bản chất của đứa trẻ yếu đuối như vậy, Thiên Thọ không ép nữa mặc ý Thiên Khánh muốn làm gì thì làm, không thôi thúc như trước nữa.

Khởi đầu, Thiên Khánh còn đứng nhìn võ sư dạy Thiên Tường học, hoặc xem Thiên Tường đánh trận giả với bầy bạn, về sau Thiên Khánh lẩn không coi nữa, vào nhà mở sách học bài, như đứa trẻ không ưa võ nghệ. Hà Thiên Thọ cũng yên trí Thiên Khánh thích văn hơn võ, trái hẳn dòng máu tướng môn.

Hà phu nhân thấy Thiên Khánh hầu như bị hắt hủi, thì có ý thương và chú ý đến con hơn. Phu nhân nhận thấy con trai thứ có nhiều điểm lạ kỳ.

Tuy xấu tướng, tóc lơ thơ vàng hoa, ốm nhom. Thiên Khánh vốn ăn ngủ điều hòa, không bao giờ đau bệnh. Y còn một tật nữa là lúc lầm lì y ít nói thiệt, nhưng nếu gia nhân trái ý, y nóng nảy cáu giận như lửa. Bởi vậy, Hà phu nhân có cảm tưởng Thiên Khánh dị kỳ hơn là đứa trẻ thường.

Dinh Tổng trấn rất rộng rãi, ngay sau hậu viên có khu đất ở giáp tường. Gọi là trống là vì không có người ở, kỳ thiệt tai cây cổ thụ um tùm và có một ngôi cổ miếu ba gian, không biết được thiết lập từ hồi nào.

Khi Hà Thiên Thọ mới đáo nhậm chức Trấn thủ Tứ Xuyên thế vị quan trước, thì chỉ biết rằng theo cổ lệ ngôi miếu đó rất linh thiêng, nên từ đời nọ sang đời kia, các Trấn thủ quan vẫn tiếp tục cho gia nhân hương khói và một tháng đôi tuần cũng lễ.

Ngoài tuần rằm, mồng một, bọn gia nhân được lệnh ra miếu dẹp bày lễ vật để Hà phu nhân hành hương, thì không một ai dám lai vãng tới đó nữa, vì lẽ cây cao bóng cả âm u đượm vẻ bí mật rờn rợn... Cửa miếu treo một bức hoành chạm ba đại tự "Triệu Vương Miếu", dưới đề bốn chữ nhỏ "Vô Địch Tướng Quân". Trong miếu, ngay trên bệ thờ trung ương, chỉ có một pho tượng lớn bằng người thiệt, hình dung vị tướng quân, dạng người ốm yếu, tay cầm chùy lớn. Tượng mặc áo bào trận không giáp, lưng quấn lá đốp, chân dận võ hài. Thoạt trông không thấy pho tượng ấy có gì lạ, nhưng nhìn lâu người ta có cảm tưởng như tinh thần hoàn toàn bị thâu hút bởi cặp mắt mở trợn trừng trừng và nét mặt dữ tợn, đanh ác lần lần hiện hẳn ra như muốn moi tim xé ruột kẻ đang vô lễ đứng nhìn.

Có lẽ cũng vì lẽ ấy nên các gia nhân, trừ một tháng đôi tuần phải kéo nhau ra miếu dọn dẹp, ai cũng ngán không dám bước chân tới khu cổ miếu ấy nữa. vì thế khu đất tự nhiên thành cấm địa hoang vu. Các người trong dinh nói rằng, những đêm mưa gió tối trời, ở khu cổ miếu vọng ra tiếng la hét, chân bước sầm sập, tiếng võ khí va vào nhau chí chát lạnh người y hệt tiếng xung phong sát phạt trên chiến trường, và sau cùng là tiếng rên là của tử sĩ lần lần chìm đắm trong những đợt gió lùa rít trong đám lá dày nặng trĩu nước mưa... Họ bảo nhau đó là hồn tử sĩ qui tụ trong tòa cổ miếu đã diễn lại cảnh giết chóc khi xưa trong những đêm trở trời âm u rùng rợn.

Trong bọn gia nhân có tên Trương Tất có sức khỏe và bạo dạn hơn cả, cho rằng đêm tối mưa gào, gió thét, nên những anh nhác gan tưởng tượng ra việc ma quỷ xuất hiện trên khu đất cây cao lá rậm ấy, chớ thiệt ra làm gì có thứ chuyện huyền bí ấy giữa nơi thị trấn lớn như Thành Đô này, và nhất là khu đất có ma quỷ đó lại ở ngay kế cận hậu hoa viên dinh Tổng trấn. Vì ý của Trương Tất nghịch với mọi người nên mới có sự thách thức giữa đêm tối hôm nọ.

Lý Vĩnh nói :

- Trương đại ca à! Có giỏi thì đêm nay thử tài can đảm cho chúng tớ coi nào.

Dứt lời, Lý Vĩnh và mọi người cùng mỉm cười nghi ngờ, tánh mạnh bạo của họ Trương.

Nhân thấy sự trêu chọc ngầm ấy, Trương Tất xoa tay, hất hàm hỏi :

- Các chú muốn ta thử bằng cách nào.

Gia nhân Tiết Quỳ nói :

- Bằng cách nào tùy ý đại ca, miễn là tỏ táng bạo dạn cho bọn tiểu đệ xem có thiệt không hay là chỉ... đại ngôn thôi.

- Ai thèm đại ngôn với các chú, vậy các chú đánh cuộc gì nào.

Gia nhân Hồ Vạn cười lớn.

- Thì ít nhất, đại ca phải cho biết hành động thế nào đã chứ! Cha nội chưa chi đã cá.

Trương Tất cáu kỉnh.

- Đêm nay tối trời chứ gì? Ta ra cổ miếu ngủ cho coi! Nhưng trước hết phải đặt bữa rượu ta uống chơi cái đã. Cơm nước ban chiều tiêu hết rồi. Mà mỗi chú phải quỳ dâng cho ta uống một ly rượu lớn. Ha!... ha!...

- Trương mỗ này quân tử chỉ có nhất ngôn. Nếu không đem "nhậu" ra đây thì khỏi thách! Ta không có dại làm trò chơi không công cho các chú xem! Nghe chưa.

Tiểu Quỳ nói :

- Hồ đại ca khỏi tranh luận thêm mất thì giờ. Sá chi một bữa nhậu xơi! Để tôi ra phố mua mấy ngón thiệt ngon về đây mời Trương đại ca xơi.

- Được lắm! Nhậu xong, đầu canh ba mỗ cũng sang ngủ bên miếu cho mà coi ai bạo, ai nhác!

Tiểu Quỳ đứng lên xách giỏ ra phố.

Hồi lâu, y trở về lễ mễ bê một giỏ đầy thức ăn và mấy cân hảo tửu.

Mấy người xúm vào nhậu nhẹt ba hoa đến ngót canh ba.

Lý Vĩnh nói :

- Nào, bây giờ liệu Trương đại ca còn nhận lời thách nữa không? Nếu thấy ngại thì thôi cũng chẳng sao!

Trương Tất ngất ngưởng vỗ bụng lè nhè :

- Cơm no, rượu say rồi, còn ngồi đây nữa làm chi! Nếu các chú can đảm thì theo ta ra hậu huệ viên nhìn cho rõ, ta mở cửa vườn sang miếu, kẻo bảo ta lại ăn gian, nghe?

Nói đoạn, Trương Tất khoác áo, ôm mền đi thẳng ra hậu hoa viên. Bọn gia nhân theo sau cách họ Trương một quãng dài.

Lát sau, ra tới hoa viên, Trương Tất vẫn tiến, đi vòng quanh các bụi cây, nhắm lối cửa sang miếu bước tới.

Đứng xa xa, Hồ Vân bảo mọi người :

- Ủa, thằng cha Trương nó sang bên miếu! Tưởng nói chơi, ai ngờ nó làm thiệt!

Tiết Quỳ nói :

- Hay là... hay là...

- Hay là sao?

Hay là gọi nó trở lại đi, ai lại để y sang miếu như vậy trong đêm tối như trong mồ thế này?

Lý Vĩnh nói :

- Chẳng cần gọi, lúc tới cửa sang khu miếu, nó cũng phải trở lại! Các người tưởng y can đảm thiệt đó sao?

Chưa ai kịp trả lời thì ở phía trước. Trương Tất đã kéo then cửa sau vườn, bước thẳng sang khu miếu hoang vắng âm u rùng rợn. Bọn người đi sau, nghe rõ ràng họ Trương đóng sập cửa lại, trợn mắt thè lưỡi, nhìn nhau...

Đứng nguyên chỗ, chờ hồi lâu không thấy bên miếu động tĩnh gì cả, Hồ Vân cất tiếng nói trước nhất :

- Về chớ! Còn đứng ì ra đây làm chi? Sáng sớm sẽ ra đón Trương đại ca. Y đã nói là ngủ đêm nay bên miếu mà!

Không biết làm thế nào, mọi người đều kéo nhau trở về. Vừa về tới nhà, mây đen bỗng từ đâu kéo đến phủ đầy trời, sấm chớp ầm ầm, gió nổi từng cơn mãnh liệt... và năng hột nước đổ xuống như thác. Bỗng từ bên khu miếu hoang vắng, lại văng vẳng nổi lên thứ tiếng ba quân sát phạt trên chiến trường, mà bọn gia nhân vẫn nghe thấy trong những đêm mưa gào, gió thét...

Bọn Lý Vĩnh, Hồ Vân, Tiết Quỳ kéo mền lên tận cổ thì thào bảo nhau :

- Biết trước mà! Khu đất ấy có ma, Trương đại ca tự đắc, chắc được một mẻ hết hồn!

Rượu ngấm, chúng ngủ quên đi lúc nào không biết. Sớm hôm sau, bừng mắt dậy, mấy người chợt nhớ đến cuộc thách thức đêm qua, vội bảo nhau đi coi xem Trương Tất đã về chưa. Nhưng họ Trương chưa về!

Mưa tạnh từ lâu. Buổi bình minh lại quang đãng đẹp như bông hoa buổi sáng.

Bọn Hồ Vân kéo nhau ra tận hoa viên xem xét. Cánh cửa thông sang bên khu miếu mở toang. Có lẽ vì gió đêm qua thổi mạnh và Trương Tất chỉ có khép cửa lại, then cài ở bên kia tường, phía hoa viên.

Lý Vĩnh nói :

- Sáng rồi mà Trương đại ca mãi chưa buồn về, chúng ta cùng sang bên miếu xem sao và gọi y về, lỡ Tướng công hay chuyện quở thì khốn cả lũ.

Đồng lòng, mấy người kéo nhau nhón nhén qua cửa bước vào khu cổ miếu. Cỏ, đất hãy còn ẩm ướt vì trận mưa lớn lúc ban đêm. Trên mặt cỏ hãy còn đượm trắng hơi sương. Thân cây lớn hàng ôm, vỏ rễ xù xì, hết từng cặp nọ đến cặp kia, giao với nhau kết thành một bức tường kiên cố, che lấp hẳn tòa cổ miếu nằm tròn ở giữ khu đất hoang vu. Tuy bên ngoài trời đã sáng, nhưng ánh sáng yếu ớt ban mai chưa đủ rọi qua lớp lá dày đặc, nên bọn người nhìn qua các kẽ cây hãy còn thấy phía trong mờ tối...

Bọn Hồ Vân nét mặt nghiêm trọng, im lặng theo nhau đi vòng, luồn qua các kẽ cây đi sâu cào vùng đất vắng. Không ai bảo ai, nhưng người nào cũng thấy rờn rợn lạnh gáy...

Bỗng "soạt" một tiếng! Hồ Vân đi trước hoảng hốt giật mình lùi lại mấy bước, khiến hai người đi sau chửng hửng hè nhau định chạy... Hồ Vân nhìn kỹ nói :

- Không, con tắc kè đó mà! Nó bị động chạy lướt trên lá, chui vào hốc cây kia kìa!

Tiết Quỳ nói nhỏ, trách :

- Thế mà làm chúng tớ hết hồn!... Quái, không thấy Trương đại ca đâu cả.

Lý Vĩnh nói :

- Y ngủ trong miếu chớ dại gì nằm ngoài này. Lẹ bước lên kẻo bên ngoài sáng bạch rồi đấy. Tướng công biết chúng mình giỡn chơi nhau thế này thì phạt cả lũ.

Qua mấy lớp cây nữa, bọn người tiến tới khu đất trống trước tòa cổ miếu.

Dừng bước, Hồ Vân nói :

- Cùng vào miếu nhé!... Tớ không... thích vào trong ấy một mình đâu!

- Được đi trước đi! Chúng tớ theo sau.

Leo qua mấy bực thềm đá, bọn Hồ Vân cùng vào trong miếu, nhưng vội nắm chặt tay nhau chùn bước, cùng kêu lên "Ồ!"...

... Trương Tất nằm lăn trên mặt gạch cách cửa miếu độ vài bước, tứ chi dang ra, sắc mặt xám ngoét, môi mím chặt, mắt mở trừng trừng, đầu ngoẹo sang một bên. Chiếc mền đêm qua rớt ở cạnh. Trông cách nằm cứng đờ của Trương Tất, ai cũng đoán ra rằng y tắt thở rồi. Nhưng không ai dám thốt ra miệng.

Trên bệ thờ, tượng Triệu Vương lăm lăm cầm song chùy dữ dội, mắt quắc lớn trừng trừng nhìn bọn người như muốn mắng lớn, và nhào lộn xuống đập chết bọn hỗn xược dám vào miếu làm náo động.

Hồi lâu, Hồ Vân mới thốt ra lời :

- Thế kia, thì Trương Tất chết rồi còn gì! Phải thế nào chớ, đứng ì ra đây à?

Cả ba cùng nhón nhén đến gần họ Trương, mắt vẫn lấm lét nhìn tượng Triệu Vương e ngại.

Tiết Quỳ nói khẽ :

- Trương đại ca! Chúng tôi đây, dậy mau.

Hồ Vân cau mặt :

- Y hết thở rồi, còn gọi chi nữa!

Cả ba người cùng ngồi xổm sờ tay sờ mặt Trương Tất. Tử thi lạnh giá như đồng. Sợ hãi, ngơ ngác, ba người nhìn nhau thăm dò ý kiến...

- Phải nói thiệt và báo với Tướng Công, như vậy mai ra Người thương tình tha tội cho. Nói sai không được đâu.

Lý Vĩnh, Tiết Quỳ gật đầu. Ba người đứng cả dậy lẹ chân ra khỏi miếu, qua các lớp cây trở về hoa viên, vội vàng như bị ma đuổi.

Hà Thiên Thọ được báo cáo sự thể liền ra tận nơi và kết luận rằng Trương Tất uống rượu say quá, chưa lần được vào trong miếu thì đã mệt quá, nên ngất ngay gần cửa miếu, chiếc mền lăn ra một bên. Suốt đếm, họ Trương bị cảm lạnh tắt thở, chớ không có chuyện ma quỷ nào cả.

Bọn nô bộc nam, nữ trong dinh tuy không dám phản đối, nhưng cho rằng Trương Tất chẳng phải say rượu bị trúng phong, mà chắc chắn là bị ma quỷ và hồn oan của các tử sĩ lẩn quất ở các cây cao bóng cả quanh miếu bóp chết.

Vị thần miếu xưa kia sát hại nhiều người, nên hồn oan tử sĩ vẫn không tiêu tan vì thời gian, lẩn quất ở quanh miếu chờ báo oán, cho nên cứ những đêm mưa to gió lớn đều vọng lên những tiếng sát phạt ghê gớm, phải chăng đó là vị thần kia miên man chiến đấu cùng các oan hồn suốt từ bao thế kỷ cho đến nay vẫn còn tiếp tục hận thù?

Trương Tất táng mạng giữa đêm mưa gió phũ phàng, và cũng là đêm vọng lên những tiếng giao tranh của trận đấu muôn đời ấy.

Con người trần bằng xương bằng thịt lạc lõng giữa đám hồn ma say chiến, thì cứ hoảng sợ cũng đủ chết rồi, chớ chẳng cần đến bị chúng hiếp đáp nữa! Bởi vậy, bọn nô bộc còn sợ hãi hơn trước. Mỗi tháng đối tuần, chúng miễn cưỡng kéo nhau ra miếu dọn dẹp để Hà phu nhân hành hương, chớ thiệt ra chúng không hề bén mảng tới giáp tường ngăn đôi hậu hoa viên và khu đất bỏ hoang u uất đầy hồn ma gớm khiếp!

Hà phu nhân mong mánh nghe bọn tì nữ nói chuyện ma quỷ bên khu cổ miếu thì cũng biết vậy, nhưng tin rằng thần miếu linh thiêng lắm cầu được ước thấy. Mỗi khi hành hương, hai con Thiên Tường, Thiên Khánh đòi theo cùng. Hà phu nhân lắc đầu :

- Phụ thân ra lệnh không cho các con sang bên miếu, lỡ có rắn rất nguy hiểm lắm. Như trái lệnh cha, các con phải đòn và mẹ cũng bị vạ lây.

Hai trẻ nghe lời không hề đòi theo nữa, vả lại dinh thự rộng rãi, lớp nọ từng kia, hoa viên bao bọc rộng rãi, chẳng thiếu gì chỗ chạy rong chơi, Thiên Tường không còn nghĩ tới việc sang chơi bên cổ miếu.

Tuy lầm lì ít nói, Thiên Khánh lấy làm thắc mắc không hiểu vì lý do gì bị cấm đoán ngặt, không được qua chơi bên khu đất có nhiều cây cao đó. Hơn nữa, đã có lần, Thiên Khánh nghe lỏm bọn gia nhân nói chuyện nhỏ với nhau về ma quỷ bên tòa cổ miếu, nên lại càng tò mò muốn sang đó xem thế nào. Bởi vậy, buổi chính Ngọ, khi mọi người trong dinh nghỉ ngơi, Hà Thiên Khánh thường lẻn ra hậu viên thơ thẩn ngồi dưới bóng cây râm mát, đăm đăm nghĩ ngợi nhìn sang những ngọn cây đa cây đề, cây dương um tùm cao ngất bên kia tường hoa...

Ngồi chán như vậy, lúc nghe tiếng kiểng cuối giờ Mùi gọi mọi người trong dinh dậy làm việc, thì Thiên Khánh lại ba chân bốn cẳng chạy về nhà. Ngày nào cũng vậy, không ai hay biết chi cả nên một bữa nọ, Thiên Khánh quyết mạo hiểm mở lén cửa hậu, khép lại cẩn thận bước vào khu cấm địa. Thiên Khánh ngẩn người ra nhìn...

Kỳ thiệt! Chỉ cách nhau có một bức tường mà hai thế giới khác nhau. Một bên thì hoa viên gọn gàng đẹp đẽ đầy bông thơm cỏ lạ, còn bên cổ miếu thì chao ôi chẳng khác gì khu rừng già hoang vắng. Hà Thiên Khánh cảm thấy rờn rợn nhưng tính tò mò mãnh liệt hơn, nên dò dẫm len lỏi qua các kẽ cây bước trên lá khô sột sạt lần vào tới tòa cổ miếu Triệu Vương. Ngó nhìn trước, nhìn sau, Thiên Khánh tần ngần leo lên mấy bực đá nhìn qua khe cửa giữa. Bên trong tối om. Hai cánh cửa không khóa, chỉ có chiếc then cài vừa tầm tay. Thiên Khánh rút then, đẩy cửa miếu. Cánh cửa cọt kẹt từ từ mở ra. Tiếng kêu tuy nhẹ, nhưng giữa chốn hoang vu tranh tối tranh sáng nghe nó ghê rợn làm sao! Thiên Khánh đứng lì, ló đầu đưa mắt nhìn bao quát ba gian miếu và ngừng lại bức tượng thần trên bệ ở ngay chính giữa nơi trong cùng miếu.

Bức tượng coi linh động như người thật. Hai mắt bỗng đảo đi đảo lại, nét mặt đang dữ dội bỗng hiền dịu hẳn lại, miệng nở nụ cười, đứng thẳng người lên, gài song chùy vào đai lưng, giơ tay vẫy Thiên Khánh, cất tiếng nhè nhẹ ôn tồn :

- Hà Thiên Khánh! Vào đây con, đừng sợ, vào đây, ta chờ con đã lâu rồi!...

Thiên Khánh vẫn đứng sững nhìn.

- Vào đây! Ta với con có duyên thầy trò. Con muốn học võ không? Con sẽ giỏi, khỏe hơn cả mọi người! Hơn cả phụ thân, hơn võ sư, hơn cả Thiên Tường!... Vào đây... Mau!

Thiên Khánh nhớ lại lời cha thường mắng mình là lười biếng, yếu đuối kém... cả mọi người... Còn trên bệ kia, rõ ràng là một người hiền lành... một vị tướng quân thì đúng hơn!

Chắc tướng quân đó phải khỏe lắm. Không khỏe sao cẩm nổi cặp thiết chùy lớn hơn chiếc đấu kia! Lớn hơn cả cặp chùy của phụ thân. Chắc người ấy khỏe và giỏi lắm... Ờ! Phải học mới được, học cho phụ thân, võ sư, Thiên Tường phải ngạc nhiên...

Nghĩ liên miên, trong khi vẫn không rời mắt khỏi vị tướng quân đang chống hai tay lên sườn, mỉm cười nhìn mình. Thiên Khánh không do dự nữa, bước qua ngưỡng cửa miếu đi vào...

Người đứng trên bệ cũng xuống đón, xoa đầu Thiên Khánh :

- Con thông minh lắm, hãy quỳ xuống lạy sư phụ đi.

Thiên Khánh ngoan ngoãn nghe theo, quỳ xuống lạy.

Tướng quân rút trong ngực áo ra một viên thuốc đỏ như son đưa cho Thiên Khánh :

- Con nuốt hoàn thuốc này đi, sẽ có sức khỏe vô địch.

Thiên Khánh đón viên thuốc bỏ vào miệng thấy thơm thơm như mùi trầm nuốt chửng.

- Con hãy ngồi xuống bệ kia, nếu khó chịu cứ việc nằm.

Thiên Khánh nuốt viên thuốc được hồi lâu thấy toàn thân nóng ran lên, run rẩy choáng váng, muốn té, hai chân đứng không vững nữa.

Vị tướng quân vội ẵm Thiên Khánh đặt nằm trên bệ đá, thoa nắn khắp người.

Hồi lâu, cơn nóng bớt dần, Thiên Khánh thấy tỉnh táo dễ chịu lạ thường, ngồi vùng dậy.

Vị tướng quân hãy còn ngồi bên, mỉm cười chỉ tay ra cửa miếu :

- Thiên Khánh! Đồ đệ hãy nhấc con sư tử đá ngoài kia coi nào!.

Cảm thấy người mạnh mẽ lạ thường, Thiên Khánh nhảy phắt ra khỏi cửa miếu, cúi xuống nắm hai chân con sư tử đá chầu ở trước cửa miếu lay mấy cái rồi nhấc bổng hẳn lên qua đầu, đi đi lại lại mấy vòng rồi đặt xuống chỗ cũ dễ dàng như nhấc vật bằng bông hoa vậy.

Tướng quân đứng ở thềm đá cười ha hả :

- Khỏe lắm! Khỏe lắm! Đồ đệ hãy đứng sang bên, coi ta biểu diễn song chùy đây!

Thiên Khánh vội nhảy sang bên thì vừa lúc tướng quân rút song chùy phóng người ra như bay, biểu diễn chùy pháp vô cùng linh động.

Cặp chùy lượn bay khắp bốn phương, tám hướng lẹ biến như luồng hắc khí, bật thành tiếng gió vù vù táp cả vào mặt, khiến Thiên Khánh phải lùi lại thêm mấy bước. Các lá khô ở mặt đất bị luồng chùy tạt mạnh cuốn bay tỏa ra tứ phía như gặp phải trận cuồng phong vậy.

Thích chí, Thiên Khánh vỗ tay reo vang :

- Hảo võ nghệ! Hảo võ nghệ!.

Tướng quân thâu chùy lại hồi bộ, bái tổ dữ dội như thiên thần :

- Bài Triệu Vương Chùy đó. Đồ đệ muốn học không?

Thiên Khánh vội quỳ xuống đất :

- Trăm lạy sư phụ, con xin theo học.

Gài chùy vào đai lưng, Tướng quân đỡ Thiên Khánh dậy :

- Được rồi, mai chính Ngọ, đồ đệ trở lại đây, ta sẽ truyền dạy cho.

Dứt lời, Tướng quân đi thẳng vào miếu đóng cửa lại.

Thiên Khánh vội chạy theo định hỏi nữa nhưng trượt chân choàng dậy, thì ra một giấc chiêm bao, thấy mình đang nằm dưới chân sư tử đá trước cửa miếu. Đứng vùng dậy, vươn hai tay gân xương chuyển răng rắc. Thiên Khánh nhìn quanh thấy dấu tích tướng quân diễn chùy, lá khô bay tung ra chung quanh hãy còn y nguyên như trong mộng. Chống tay vào sườn, Thiên Khánh đi đi lại lại, cảm thấy mạnh khỏe nhẹ nhàng khác hẳn trước. Chợt nhớ việc cử thạch sư tử, Thiên Khánh hít mạnh hơi lấy sức nhảy chồm tới nắm chắc hai chân thạch sư tử nhấc bổng hẳn lên qua đầu, chạy quanh khoảng đất trống bốn vòng, rồi lại đặt sư tử xuống chỗ cũ. sung sướng, Thiên Khánh ngó lên cửa miếu thấy đề "Triệu Vương Miếu - Vô Địch Tướng Quân". Hai cánh cửa miếu vẫn đóng chặt.

Thiên Khánh lẩm bẩm :

- Vô địch thiệt! Thế này thì vô địch thiệt.

Cảm thấy từ sức khỏe đến tinh thần đều khác hẳn trước, Thiên Khánh quỳ xuống lạy tạ trước cửa miếu, rồi theo đường về hoa viên, gài cửa chặt chẽ như cũ. Trong dinh không một ai hay việc Thiên Khánh lần sang khu cấm địa. Định bụng không cho nhà biết, Thiên Khánh tự nhiên như thường để mọi người khỏi nghi ngờ.

Trưa hôm sau, chàng lại lẻn ra hậu dinh, chạy như bay tới cửa dâu đưa tay định kéo then cửa thì chợt nghĩ :

- Hai chân ta lẹ làng, dẻo dai, cứng cáp quá, thử băng qua tường xem sao?

Nghĩ sao làm nấy, lùi lại mấy bước, Thiên Khánh nhảy vụt lên mặt tường hoa viên băng mình qua bên kia nhè như chim én. Sung sướng quá, Thiên Khánh len lỏi qua các hàng cây cổ thụ tiến vào khu trống trước miếu, thì thấy Tướng quân ngồi chờ trên thềm đá trước cửa miếu rồi, Thiên Khánh vội vàng quỳ lạy.

Tướng quân xua tay :

- Thì giờ ít ỏi, cho đồ đề tự nhiên.

Dứt lời, người đứng lên cầm tay học trò bảo :

- Đồ đệ nhảy theo ta và nhớ lấy phương pháp.

Nói đoạn, Tướng quân phi thân lên nóc miếu. Thiên Khánh trông cách thức nhảy theo, không sai mảy may.

Tướng quân chuyển từ nóc miếu lên cành cây lớn, Thiên Khánh sẵn sàng, theo liền. Hai người như hai con vượn chuyền từ cành nọ sang cành kia, xuống đất rồi lại đáp lên nóc miếu, cứ như vậy vài lần.

- Đồ đệ thực hành một mình ta coi nào.

Thiên Khánh tức khắc theo tiếp :

- Tướng quân đứng nhìn khen :

- Được lắm, được lắm!... Nào, bây giờ ta bắt đầu chuyền chùy pháp. Nhìn đây! Nhận xét cho kỹ!

Dứt lời, Tướng quân rút song chùy diễn giảng từng thế từ thế chuyển sang thế biến và trái lại, tổng cộng bài Triệu Vương chùy có ba mươi tư thế. Lạ thay, Thiên Khánh học tới đâu nhớ tới đó, sử dụng cặp chùy của sư phụ y hệt không sai mảy may.

Tướng quân bằng lòng nói :

- Khá lắm! Học thế này không mấy chốc. Nhưng thôi, mai lại tới, nghe?

Thiên Khánh vâng dạ, bị luôn Tướng quân đẩy mạnh rồi chạy vụt vào miếu. Bừng tỉnh dậy, Thiên Khánh vẫn thấy mình đang nằm dựa lưng vào Thạch sư nghĩ vẩn vơ :

- Quái lạ, lúc băng qua tường sang khu đất này, ta thức rõ ràng và chính mắt nhìn thấy sư phụ ngồi chờ ta ở thềm miếu sao lại nằm đây?

Cố luận cũng không ra manh mối, chợt nghĩ đến bài Triệu Vương chùy, chàng vội bẻ hai cành cây diễn lại, thuộc lòng không sai mảy may. Thiên Khánh lững thững ra về, nhảy lên mặt tường ngõ kỹ không thấy ai mới trở về phòng như trước.

Từ đó, luôn năm ngày trời, bữa nào cũng chính Ngọ, Thiên Khánh cũng sang bên cổ miếu, lần nào, Tướng quân cũng ngồi chờ sẵn ở thềm đá và lúc học xong, chàng thấy mình nằm ngủ vừa tỉnh dậy ở chân con Thạch sư. Tướng quân truyền dạy từ đầu bộ đến đấu mã và cuối cùng là song đấu cùng người Tướng gặp tay ngang.

Hôm cuối cùng, sau khi cùng nhau song đấu. Tướng quân nói :

- Đồ đệ học hết tài nghệ của ta rồi, khỏi phải tới đây nữa. Từ nay âm dương cách biệt, có nhớ đến ta thì cứ hương khói như thường lệ chớ để miếu hoang tàn. Cần nhất giữ kín không được lộ liễu việc ta truyền nghệ. Không được cậy sức hại người lương thiện. Trái lại sẽ mất hết linh nghiệm nghe?

Thiên Khánh lạy tạ, hứa xin nhất nhất vâng theo lời dạy bảo.

Từ bữa ấy, Thiên Khánh về nhà, sáng nào cũng dậy thật sớm trước mọi người, lên lấy cặp chùy của cha ra hoa viên ôn luyện. Chàng tập luyện xong, cất chùy về chỗ cũ lẻn về phòng leo lên giường ngủ say như thường. Tuần, rằm nào cũng vậy. Thiên Khánh chờ mẫu thân hành hương xong, mới lẻn sang bên cổ miếu mở cửa vào thắp hương lễ bái. Chàng thấy vị Tướng quân dạy chàng trong mộng giống hệt thần tượng nên rất đỗi cảm phục, định bụng sau này sẽ xây dựng miếu mạo thật lớn để báo ơn thầy. Tuy mặt ngoài vẫn ra chiều thờ ơ với sự tập luyện võ nghệ, kỳ thiệt trong khi đứng xem cha truyền thụ chùy pháp gia truyền cho Thiên Tường, chàng đều thâu nhận được hết. Cuộc sống cứ đều đều như vậy cho đến năm chàng mười lăm và Thiên Tường mười bảy tuổi.

Theo tục lệ Thành Đô thì năm nào tới tết Trung Thu, quan Tổng trấn cũng mở tiệc mời các hàng quan văn võ dự tiệc thưởng trăng và nhân dịp có cuộc biểu diễn võ thuật do các tướng tùy thuộc hay nhân thân của họ. Cuộc diễn võ thuật dưới ánh trăng thu trong vắt thiệt là hào hứng, cho nên ai ai củng cố luyện tập để bữa đó được phô trương tài nghệ.

Năm ấy là năm Kỷ Mão, tiệc bày ngay ở dưới ánh trăng bên Nam Hưng các ở tiền hoa viên. Dinh quan Tổng trấn cũng như mọi nhà, nơi nào cũng treo đèn kết hoa, tiếng trống múa tưng bừng, dồn dập ở khắp các nẻo đường. Chị Hằng lơ lửng trong không trung, rải ánh vàng trên mọi nẻo Thành Đô. Bữa tiệc thưởng trăng trong dinh đã tưng bừng, năm ấy còn hào hứng thêm vì hiện diện của một vị võ trang từ yên Kinh qua thăm đất Ba Thục, được Hà Thiên Thọ lưu lại dự tiệc Trung Thu. Vì Võ trạng đó họ Hoàng tên Cái, tự Vân Long tước hiệu Song Chùy tướng, hai mươi lăm tuổi, người Kế Châu, cao lớn vạm vỡ và có tài đánh song chùy. Đỗ Võ trạng nguyên năm hai mươi ba tuổi, Hoàng Cái được triều đình sử dụng vào chức Kinh Lược quan, thường được Nhà vua đặc phái đi quan sát khắp nơi trong nước. Hoàng Cái vốn là cháu vợ quan Thái sư Trần Chí Hòa, nên tuy mới đỗ mà đã được trọng dụng ngay là do Trần thái sư cất nhắc. Ỷ vào thế lực của Trần Chí Hòa, kiêu căng vì trọng trách, cậy tuổi trẻ tài cao, nên họ Hoàng rất hống hách, mục hạ vô nhân.

Tuy vậy, năm ấy vào Ba Thục, Trần thái sư đã dặn trước :

- Hà Thiên Thọ ở Thành Đô vốn là con cháu công thần khai quốc, tuy giữ chức trấn thủ nhưng thực ra là Uy Dũng Hầu, vậy chức cũng lớn mà nhiệm vụ cũng chẳng nhỏ, cháu nên thận trong từ lời nói đến cử chỉ. Kết bạn hơn gây thù, họ Hà nắm trọn binh quyền miền Tây điều khiển cả ngàn tướng, cháu liệu kết giao chẳng nên thóc mách.

Hơn nữa, Hà Thiên Thọ là tay anh hùng võ dũng danh, vang bốn bể, vậy cháu khá nghe ta bỏ chức tước và sức mạnh ra bên, chỉ nghĩ đến việc thân hữu thôi.

Ngoài mặt, Hoàng Cái vâng dạ, nhưng y nghĩ thầm :

- Dượng ta cẩn thận quá! Ta đây cũng đường đường chức quan Kinh Lược chớ có nhỏ đâu, hơn nữa còn thay mặt triều đình đi tra cứu mọi nơi trong nước, phòng thử họ Hà dù nắm trọn binh quyền miền Tây trong tay thì đã làm chi nổi ta?

Còn về lực, chẳng hiểu Hà Thiên Thọ có ba đầu sáu tay hay không, nhưng sức mạnh và tài nghệ ta đoạt nổi Võ trạng đâu có phải là của để cho y khinh thường được! Nếu y muốn thử sức, ta đâu cũng thử cho mà coi, có lo gì!

Tuy nghĩ vậy, Hoàng Cái nhận thấy Thái sư mưu cao, hiểu biết hơn mình nên nghe theo, tùy cơ biến liệu.

Phần Hà Thiên Thọ cũng thừa biết việc Hoàng Cái là cháu vợ quan Thái sư hống hách, lại đỗ Võ trạng, coi người không bằng nửa con mắt. Các sự kiện đây chỉ là việc tư. Cho nên Hà tổng trấn tiếp đãi quan Kinh Lược rất long trọng niềm nở không hề sơ hở chút nào.

Hoàng Cái thấy Hà Thiên Thọ uy nghi lẫm liệt xứng đáng dòng dõi công hầu võ tướng nên khen thầm, theo lời Trần thái sư căn dặn lúc khởi hành, nhã nhặn gây cảm tình. Với sự hiện diện của quan Kinh Lược võ trạng nguyên, bữa tiệc thưởng trăng trong dinh Tổng trấn có phần long trọng hơn mọi năm nhiều.

Hoàng Cái nói với Hà Thiên Thọ :

- Bữa tiệc Trung thu có tư cách tư gia, nếu ai nấy đều câu nệ sẽ bị mất vui. Chúng ta là bạn đồng liêu và xuất thân con nhà võ vậy xin bỏ tất cả công lệ, mới mong giữ gìn xuống vui được hoàn toàn.

Hà Thiên Thọ đáp :

- Xin vâng. Tôi sẽ báo riêng cho mọi người biết để họ được tự nhiên. Chắc họ hoan nghinh ý kiến bình dân của Kinh Lược quan lắm.

- Nghe đồn quan Tổng trấn có tài sử dụng chùy pháp danh vang như sóng cồn, nên tôi vẫn hằng ước ao được gặp để lãnh giáo cho rộng tầm học hỏi. Chính tôi cũng ưa sử dụng món võ khí ấy lắm, đi đâu cũng đem cặp chùy vừa tay. Chăng hay ngài nghĩ thế nào.

- Tôi rất hoan nghinh, chỉ e tuổi già sức yếu, lâu năm không có trận mạc, được triều đình để ở ngôi cao, nên sự luyện tập có phần trễ nãi, ví sao được với sức trẻ tam thập của Võ trạng nguyên.

Vỗ vai họ Hà một cách thân mật, Hoàng Cái cười khanh khách.

- Chà! Chỗ anh em cả mà lão huynh còn dùng lời khách khí đó sao? Lãnh hội chùy pháp cùng nhau mua vui với chư tướng, chẳng lẽ chúng ta lại ăn thua với nhau sao.

Hà Thiên Thọ mỉm cười im lặng.

Hoàng Cái hỏi thêm :

- Lão huynh được mấy vị lệnh lang và đã có ai lớn chưa.

- Vợ chồng tôi muộn mằn, hiếm hoi, chỉ có hai con trai. Thằng lớn năm nay mười bảy tuổi, và thằng nhỏ mười lăm.

- Chắc cả hai cùng theo nghề võ? Hổ phụ sanh hổ tử chứ.

- Cháu lớn Thiên Tường có võ vẽ theo đòi đôi chút khả dĩ còn dùng được, nhưng cháu Thiên Khánh thì...

Hà Thiên Thọ thở dài im lặng.

- Thiên Khánh thì sao? Bây giờ còn ít tuổi, lớn sẽ thay đổi chớ, lo gì!

- Đâu có thế, nó ốm nhom không ra hồn người, lười biếng, trói gà không nổi, chứ đừng nói chi tới sự luyện võ nữa.

Hoàng Cái ngẫm nghĩ giây lát.

- Chắc tại lão huynh thấy tạng người gầy ốm của lệnh lang nên không cho theo học đòi nghề nhà chứ gì! Được chuyên luyện y sẽ khỏe mạnh nở mang.

Hà Thiên Thọ lắc đầu :

- Nó biếng nhác không xứng đáng với con nhà tướng. Tôi xấu hổ vì đứa con bất hiếu ấy lắm. Để tôi cho gọi chúng ta bái yết, nhân huynh sẽ nhận xét thấy ngay.
Dứt lời, Hà Thiên Thọ cho lính hầu vào hậu đường mời nhị vị công tử ra. Lát sau, Thiên Tường cùng Thiên Khánh bước ra lạy chào. Hoàng Cái đỡ dậy nhìn kỹ. Quả nhiên, anh em đồng phụ đồng mẫu mà khác nhau một vực, một trời. Thiên Tường vóc người vạm vỡ, y hệt cha. Tuy mới mười bảy tuổi mà cao lớn hơn cả người đã thành niên. Trái lại, Thiên Khánh loắt choắt nhỏ bé, đã gầy ốm hom hem lại còn xấu tướng, riêng có cặp mắt sáng ngời như hai vì tinh tú.

Hoàng Cái cầm tay Thiên Khánh nói :

- Hiền điệt nên chịu khó luyện tập võ nghệ như Thiên Tường sẽ thấy khỏe mạnh dễ chịu hơn bây giờ nhiều... À, để ta xin phép phụ thân cho cùng dự tiệc đêm nay, xem chư tướng biểu diễn võ nghệ, hiền điệt sẽ thấy hào hứng muốn đua đòi ngay.

Thiên Khánh cúi đầu im lặng.

Vỗ vai Thiên Tường, Hoàng Cái khen :

- Còn hiền điệt thì khỏi phải nói, rất xứng danh dòng dõi tướng môn, hiền điệt dùng song chùy nặng bao nhiêu.

Thiên Tường đứng thẳng người :

- Dạ, ngu điệt sử dụng cặp chùy của gia phụ.

- Nghĩ là nặng bao nhiêu?

- Dạ, ba trăm năm mươi cân đúng.

Hoàng Cái cau mày.

- Ủa! Nặng bằng song chùy của ta rồi. Khen hiền điệt khá mạnh đó. Đêm nay, hiền điệt biểu diễn chùy pháp coi.

Hai anh em Hà lạy chào, lui về hậu đường.

Chờ hai thiếu niên đi khỏi, Hoàng Cái nói với Hà Thiên Thọ.

- Có một người như đại công tử cũng hiếm lắm rồi. Huống chi lão huynh còn muốn có hai! Tham quá.

Tối hôm đó, tiệc họp bắt đầu từ giờ Tuất lúc trăng đã lên được hai trượng, các quan khách về bên võ, người nào cũng vận võ phục nhẹ bên trong, ngoài khoác áo bào. Các bàn tiệc bày theo hình chữ khẩu, dành một khoảng trống lớn ở giữa để múa lân và diễn võ. ba đám múa lân đặc sắc do quân đội tổ chức được lựa chọn để biểu diễn tranh giải Kinh Lược và Tổng trấn đêm ấy. Tiếng trống, chiêng lẫn với tiếng pháo nổ rền tưng bừng náo nhiệt. Đoàn Lân Thần sư chồng cao bốn từng người rồi leo lên một tre dài đoạt giải quan Kinh Lược treo tận đỉnh nóc Nam Hương các, được chấm nhất về khéo léo và can đảm. Sau cuộc múa lân là biểu diễn võ nghệ. Các tướng có tài hay, thuật lạ đều lần lượt phô bày, từ quyền thuật đến thập bát ban võ khí thứ nào cũng hấp dẫn hứng được toàn thể tán thưởng.

Sau mỗi bài biểu diễn võ nghệ là một lần rượu chúc mừng lẫn nhau.

Hoàng Cái nói nhỏ với Hà Thiên Thọ :

- Lão huynh cho lệnh lang Thiên Tường diễn chùy pháp coi.

Hà Thiên Thọ ưng thuận ngay, truyền lệnh cho Thiên Tường ra giữa sân. Cởi áo bào liệng cho quân hầu, Hà Thiên Tường hùng dũng ra sân. Chàng vận áo ngắn già tréo vạt ngắn tay, quần chít ống chân vận võ hài mỏng gót. Cổ to, ngực nở, vai rộng, hai cánh tay bắp thịt nổi như chào, cầm song chùy lững thững bước giữa tràng pháo tay hoan hô. Thiên Tường nhã nhặn chào cử tọa, vung tay, cất chân dạo lên vài đường chùy thiệt uyển chuyển bái tổ và nhập luôn bài nghề Sư Tử Hí Cầu. Cặp chùy khá nặng nề chập chờn lên xuống lúc uyển chuyển như thanh lân vờn ngọc, lúc dồn dập chẳng khác bão táp mưa sa bật lên thành tiếng gió, uốn vù vù ghê rợn. Hoàng Cái khen ngợi luôn miệng.

Trừ quan Kinh Lược mới tới, còn khắp các hàng tướng tá lớn nhỏ ai nấy đều biết sức lực và tài nghệ của Thiên Tường từ mấy năm nay rồi. Biểu diễn xong bài Sư Tử Hí Cầu, trong khi cử tọa đang vỗ tay khen ngợi thì Hà Thiên Tường đã lên tiếng mời bốn vị tướng quân vẫn thường tập hỗn đấu ra sân cùng biểu diễn cho vui. Bốn người đó vui vẻ vác binh khí cùng ra sân vây tròn lấy Thiên Tường đấu một trần cực kỳ khốc liệt. Xông xáo như mãnh hổ giữa quần hổ. Thiếu niên họ Hà xung đông kích tây, cặp chùy vun lên gạt đỡ, đánh quật tơi bời, khiến bốn địch thủ không thể nào tới gần được. Trận đấu tuy dữ dội nhưng là cuộc biểu diễn mua vui nên Hà Thiên Tường không dùng tận lực đàn áp đánh bật võ khí của bốn tướng mà chỉ gạt đỡ nhẹ thôi.

Hỗn đấu hồi lâu, Thiên Tường nhảy ra ngoài vòng chiến nói lớn :

- Xin chịu thua quí vị, và ngừng tay nghỉ ngơi.

Bốn tướng kia cũng thâu khí giới lại, chào cử tọa rồi về chỗ.

Trông chùy pháp của Thiên Tường, Hoàng Cái nhận thấy ngay họ Hà đã đạt tới mức độ cao siêu về món võ khí. Trông con, nhận xét được cha, Hà Thiên Thọ tất chẳng phải tay vừa. Nhưng chùy là thứ võ khí nặng nền mà dù là con nhà tướng, Hà Thiên Thọ năm nay tuổi đã ngót lục tuần thì muốn khỏe giới đến đâu, chắc sức lực phải suy bại, chẳng vượt nổi tuổi tam thập của mình. Tuy Thái sư căn dặn nên giao hảo với họ Hà, nhưng thiết tưởng cũng nên nhân dịp này cho y biết mình không phải là con người xoàng. Có vậy y mới kính phục hơn và biết rằng về chùy pháp, hiện tại còn có họ Hoàng nữa chớ chẳng riêng gì một họ Hà.

Nghĩ vậy, Hoàng Cái nói với Hà Thiên Thọ :

- Trông thấy mọi người trở tài diễn võ phô bày công phu khổ luyện, tôi thấy ngứa ngáy cả người muốn cùng lão huynh ra đấu chơi vài hiệp cho vui, có được không.

Hà Thiên Thọ cười vang :

- Trên sân diễn võ, ai cũng như ai, chúng ta diễn võ được lắm chớ.

Dứt lời, Hà Thiên Thọ nói lớn cho mọi người cùng nghe :

- Quan Kinh Lược vốn là Võ trạng nguyên nên hào hứng muốn cùng bản chức đấu giao hữu bữa nay để được múa vui cùng chư tướng luôn thể.

Nghe Hà tổng trấn tuyên bố, ai nấy đều vỗ tay hoan hô vang động cả khu tiền viên. Hà Thiên Thọ sai quân vào nhà khiêng hai cặp chùy ra. Mỗi cặp nặng ba trăm năm mươi cân nên ba tên quân xúm lại ì ạch khiêng từng quả chùy ra một, coi phát tức cười. Hoàng Cái đứng dậy bước ra sân trước, Hà Thiên Thọ cũng ra khỏi bàn tiệc.

Giữa lúc ấy, Thiên Tường bước tới phía sau nói nhỏ mấy điều. Hà Thiên Thọ lắc đầu mỉm cười, ra thẳng giữa sân. Hoàng, Hà, hai người cùng cao lớn, kẻ tám lượng người nửa cân, chỉ khác nhau ở chỗ Hoàng Cái mới ba mươi tuổi đang xuân còn Hà Thiên Thọ thì đã gấp đôi tuổi. Tuy vậy sự chênh lệch về tuổi tác không có nghĩa rằng Hà Thiên Thọ bị kém sức nhất là đối với một người rất chăm chỉ luyện tập như họ Hà. Duy có một điều... Một điều mà Thiên Tường nói nhỏ với cha lúc vừa rồi.

Nguyên trước đây, khi Hà Thiên Thọ cầm quân đi dẹp rợ Tây Phương, bị trúng một mũi tên độc nơi bắp vai hữu. Tuy điều trị kịp thời, nhưng độc dược đó ngấm lẹ nên mỗi khi dùng sức quá nhiều, Hà Thiên Thọ thấy vai trái mỏi nhừ, tay chùy có phần chậm chạp hơn. Bởi vậy, Thiên Tường nhắc lại cho cha nhớ điều đó khi chàng nhận thấy Hoàng Cái là người có sức mạnh, căn cứ vào cặp chùy của y quen sử dụng.

Hà Thiên Thọ không lấy điều đó làm quan tâm, cho rằng đây là trận giao đấu múa vui... Hoàng Cái cúi xuống cầm cặp chùy sơn đo, vương tay mấy cái, gân chuyển răng rắc, rồi đứng sang phía Đông.

Hà Thiên Thọ cũng lượm song chùy sơn đen, qua đứng sang hướng Tây.

- Xin mời lão huynh ra tay trước, tôi tôn trọng người cao niên.

Hà Thiên Thọ mỉm cười :

- Nhường nhân huynh là khách hạ tay trước.

Hai bên cùng có tư cách lễ phép. Không nhường nữa, Hoàng Cái vờn qua mấy đường chùy rồi nhảy xô thẳng vào đánh chẳng khác chi mãnh hổ bắt mồi. Hà Thiên Thọ cũng nhảy tới hoa chùy gạt phắt khí giới của đối thủ sang bên. hai cặp chùy đánh trúng nhau rất mạnh, khiến mọi người kinh sợ, lo lắng... hai người cùng chùn tay, nhảy lùi cả lại phái sau, khen thầm đối phương sức mạnh... nhưng Hoàng Cái đã quay luôn trở lại quật tréo một chùy song tả, trong khi tay hữu đánh ngược trở lên một đòn nữa. Đó là thế Song Yến Quy Sào.

Lẹ như cắt, Hà Thiên Thọ nhảy sang ngang quật một đòn nhằm hông đối thủ. Hoàng Cái khen thầm họ Hà lanh lẹ, vội quay người đưa ngang chùy bên hữu gài ngọn chùy bên tả của Thiên Thọ, đồng thời quật chùy tay tả tréo xuống vai địch thủ, Nhưng bị Thiên Thọ gài lại, thành ra người đứng gần nhau quá, bốn tay chùy đều vương, dùng sức mạnh cố ý đẩy bật nhau ra. Bên nào cũng mạnh đẩy không được thành ra cả hai cũng tận lực dồn lên dồn xuống mà vẫn không gỡ nổi.

Mọi người ở bàn tiệc đều khen cờ gặp tay ngang vỗ tay rầm rầm hoan hô thật lực.

Cuối cùng, Hoàng Cái nhè lúc Thiên Thọ mãi vận tòa lực gồng hai tay co đẩy, co chân nhằm bụng họ Hà đạp mạnh khiến cử tọa đều lo thay cho chủ tướng... Nhưng không, Hà Thiên Thọ cũng mau lẹ cất chân tả co nép vào bụng dư đầu gối gạt ngang thành thử Hoàng Cái đạp trật ra ngoài bị mất đà. Thừa thế, Thiên Thọ rút chùy ra tay hữu đưa luôn một đòn ngược lên mặt Hoàng Cái, tay tả đập một đòn bổ thượng nhằm vai địch thủ.

Đó là thế Hổ Giáng Long Phi rất mạnh vô cùng nguy hiểm, hét lớn một tiếng Hoàng Cái nhảy vụt về phía sau tránh đón độc ấy.

Từ bàn tiệc vang lên những tiếng hoan hô dậy đất.

Bực mình vì thế đánh ấy, vả lại không lẽ để một đối thủ có tuổi đàn áp nổi mình thân danh Võ trạng nguyên, Hoàng Cái tức mình vung chùy đánh dồn dập nhất quyền dùng sức trẻ đàn áp đối phương. Hà Thiên Thọ biết vậy rất nên tiểu tâm, song bắp tay đã bắt đầu thấy mỏi ở vết thương cũ sau khi dồn tận lực dồn nhau với Hoàng Cái vừa rồi. Nhận thấy đối phương tự nhiên yếu và trống mặt hữu, Hoàng Cái nhìn phía đó đánh tới tấp thiệt mạnh khiến, Hà Thiên Thọ vẫn định tránh sự dùng tay hữu thì lại bắt buộc luôn luôn phải dùng trùy bên hữu gạt những ngọn đánh rất nặng nề của địch thủ. Bởi vậy, đã mỏi sẵn vai hữu phải làm việc nhiều càng mỏi thêm, nhức nhối khó chịu, mỗi lúc một yếu rất rõ rệt.

Lúc bấy giờ ở bàn tiệc, chư tướng mới nhận thấy thế. Thiên Tường biết từ lâu nên lăm lăm cầm song chùy chờ dịp quyết liệt là xông vào đỡ đòn thay cha. Tuy bị Hoàng Cái dùng sức đàn áp mặt hữu, Hà Thiên Thọ vẫn cố gắng đánh đỡ, bắp vai trái mỏi nhừ, đánh lùi dần dần quanh bàn tiệc. Mọi người hồi hộp...

Thiên Khánh cũng lần ra đứng bên Thiên Tường đăm đăm nhìn trận đấu mỗi lúc một chênh lệch, Hà Thiên Thọ vẫn lùi, tay hữu cầm chùy trề hẳn xuống và chỉ dùng có một tay tả chống đòn mạnh như Thái Sơn úp xuống của đối phương. Hoàng Cái không có ý định sát hại Hà Thiên Thọ nhưng muốn đánh văng khí giới của đối thủ đi hoặc đàn áp đến khi nào Thiên Thọ phải xin ngừng mới thôi. Họ Hà vẫn lùi, cả hai tay cùng rời rạc ê ẩm đau buốt. Miệng thở hồng hộc.

Biết là địch thủ yếu lắm rồi, Hoàng Cái quyết đánh văng chùy của đối phương để kết liễu trận đấu nên dùng toàn bộ lực bổ cao song chùy nặng nề xuống đầu Thiên Thọ, theo thế Song Long Triều Nguyệt...

Bỗng một tiếng thét vang như sấm.

- Coi đây!

Mọi người chưa kịp nhận xét ra sao vừa lo thay cho Hà Thiên Thọ, vừa ngạc nhiên tưởng tiếng thét đó do Hoàng Cái phát ra. Thiên Tường lăm lăm cầm chùy sắp sửa nhập trận thì bị luôn ai đó tuột chùy khỏi tay rồi phóng mình vào trận đấu gạt cặp chùy của Hoàng Cái chỉ còn cách đầu Thiên Thọ độ hai tấc.

- "Chát!"

Hai cặp chùy trúng nhau thiệt mạnh, tia lửa bật ra như sao sa... Hoàng Cái tê buốt cả hai cánh tay, buộc phải lùi lại mấy bước.

Lúc bấy giờ mọi người mới định thần nhận ra bóng người vừa gạt cặp chùy mạnh mẽ của Hoàng Cái chính là Thiên Khánh nhỏ bé loắt choắt như con vượn bên cạnh người khổng lồ.

Ai nấy đều ngạc nhiên vô cùng tưởng mình đang ngủ mê.

Họ còn kinh ngạc hơn khi thấy Hoàng Cái bị đao cả người về phía sau vì cái gạt vừa mạnh mẽ vừa bất ngờ. Vừa đỡ xong cặp chùy của Hoàng Cái, Hà Thiên Khánh nói luôn.

- Xin lỗi quan Võ trạng, cho phép ngu điệt đấu thay gia phụ.

Dứt lời, Thiên Khánh hoa chùy vun cút như gió nhảy theo Hoàng Cái đánh tới tấp.

Tránh sang một bên, buông chùy cho Thiên Tường lúc đó đã chạy đến cạnh, Hà Thiên Thọ đưa tay nắm vai hữu nhăn nhó.

- Thế này nghĩa là gì? Thiên Khánh mà sử dụng nổi chùy của Thiên Tường! Và dám đỡ ngọn đòn vừa mạnh, vừa hiểm vừa rồi.

Nhưng cha con họ Hà còn ngạc nhiên hơn nhiều nữa.

Nói về Hoàng Cái bị cái gạt đầu tiên rung chuyển cả hai tay, người mất thăng bằng đảo ra phía sau, nghĩ thầm.

- Thiệt không ngờ cái thằng nhỏ mười lăm tuổi ốm nhom thế này mà có sức khỏe như Lý Nguyên Bá tái sanh. Hồi nãy, cha nó đã chẳng than phiền vì nó biếng nhác yếu đuối, trói gà không nổi đó ư? Sự thật nó mạnh hơn cọp, võ nghệ tuyệt luân.

Hoàng Cái không kịp nghĩ nữa, vì Thiên Khánh đã nhào tới vụt luôn mấy chùy. Không dám khinh thường, Hoàng Cái vận dụng toàn lực đối phó, không lẽ chịu thằng ốm nhom thế này thì còn mặt mũi nào nhìn mọi người!

Chát!... Chát!... Chát!... Hoàng Cái đỡ ba ngọn chùy liên tiếp vừa mau lẹ vừa nặng nề của Thiên Khánh, toàn thân bị rung chuyển, cánh tay tê dại cơ hồ buông mấy khí giới. Không dám đứng nguyên chỗ, họ Hoàng lùi dần để kéo dài thì giờ. Thiên Khánh không tha, tiến theo vụt tráo cả hai chùy xuống hai đầu vai địch thủ. Đó là thế Bạch Viên Hiến Quả, một ngọn đòn cực kỳ mạnh và nguy hiểm trong bài Triệu Vương chùy. Định chạy vọt ra phía sau tránh đòn cho khỏi phải đỡ, Hoàng Cái lại e mọi người chê cười. Chẳng chi cũng là Võ trạng nguyên, cao lớn vạm vỡ mà phải chạy trước mặt đứa ốm nhom thì còn ra thể thống chi nữa! Đành liều mạng đứng lại, Hoàng Cái vận dụng toàn lực, liều mạng đỡ đòn. bốn ngọn chùy đập trúng nhau bật lên tiếng chát chúa rùng rợn.

Hoàng Cái kêu lớn :

- Chao ôi!

Song chùy rời khỏi tay, rách hổ khẩu, họ Hoàng vội vàng bỏ chạy.

Hà Thiên Thọ từ chỗ bàn tiệc vội quát mắng lớn Thiên Khánh :

- Súc sinh! Không được đuổi theo nữa! Đấu võ múa vui chớ mi định hại người thiệt hay sao?

Khi Hoàng Cái mất khí giới, bỏ chạy, Thiên Khánh vẫn đứng nguyên tại chỗ nhìn theo tới khi nghe thấy cha mắng quở, liền trả tiếp :

- Có có rượt theo Hoàng bá phụ đâu.

Thiệt ra thì Hà Thiên Thọ rất vui mừng không ngờ Thiên Khánh tài giỏi hơn cả cha anh, nhưng cũng giả đò mắng át đi để Hoàng Cái đỡ mắc cỡ.

Mọi người vội vàng săn sóc vết thương ở hai tay của Hoàng Cái.

- Thiệt tôi không ngờ lệnh lang có dũng lực và tinh thông chùy pháp đến thế. Đáng mặt thiên tài của Lý Nguyên Bá tái sanh chăng?

Hà Thiên Thọ đáp :

- Chuyến này là lần đầu tiên tôi được thấy y trổ tài. Quả thiệt tôi cũng không ngờ và cũng không hiểu nó học võ nghệ ở đâu nữa. Nhân huynh có nhận ra chùy pháp của y khác lối chùy pháp họ Hà tôi không?

Ngẫm nghĩ giây lát, Hoàng Cái gật đầu :

- Ờ, quả vậy đó, hai phép đanh chùy khác nhau thật!

Nhưng họ Hoàng thầm nghĩ :

- "Hay thằng cha này bịa vẻ ra việc chê trách Thiên Khánh để ta không ngờ, và nhân trước mặt mọi người làm mất thể diện ta chăng? Thiệt ra ngón chùy của Thiên Khánh mới thiệt thọ là chùy pháp nhà họ Hà. Tài thiệt, trêu vào bọn này không được!"

Mọi người không ai reo hò vì họ ngạc nhiên hơn là vui mừng.

Từ nãy, Hà Thiên Khánh vẫn đứng sừng sững ở giữa vòng chiến mỉm cười, mắt đăm đăm nhìn mọi người.

Hà Thiên Thọ gọi lớn :

- Thiên Khánh, không vào đây còn đứng đó muốn đánh ta nữa sao!

Lúc đó, Thiên Khánh mới tung cặp chùy lên cao tới bốn trượng. Cặp chùy nặng nề ấy rớt xuống đất đánh thịch chuyển cả mặt đất. Ai nấy đều kinh ngạc về thần lực của con người ốm nhom ấy.

- Chùy này nhẹ quá, xài không vừa tay, phải kiếm cặp khác mới được!

Vừa nói vừa bước tới trước mặt Hoàng Cái :

- Bá phụ tha lỗi cho ngu điệt, có ngờ đâu thế đòn tầm thường ấy là tổn thương bá phụ!

Nghĩ lại lúc mình cũng ỷ sức dồn dập Hà Thiên Thọ khi nhận thấy Thiên Thọ bị yếu vai bên hữu, Hoàng Cái bất giác đỏ mặt ngượng nghịu :

- Hiền điệt không có lỗi. Thiệt ra hiền điệt cũng đã nhân nhượng ta nhiều lắm đó. Với tài lực ấy hiền điệt sẽ là một lương đống của triều đình. Sắp có khoa thi Võ trạng, chắc chắn hiền điệt sẽ đứng đầu bảng dễ như chơi. Ta khá khen đó.

Hà Thiên Thọ vui mừng khôn xiết, cầm tay Hoàng Cái dắt vào tiệc rượu bỏ dở. Thiên Tường kéo Thiên Khánh ngồi kế bên mình hỏi :

- Ngu huynh rất mừng vì có một đứa em tài giỏi như hiền đệ, nhưng học võ bao giờ và học ở đâu mà giỏi thế?

Thiên Khánh để tay lên miệng :

- Suỵt! Không tiết lộ thiên cơ được!

Dứt lời, cười hăng hắc. Thiên Tường cũng cười theo không hỏi nữa.

Từ đêm Trung Thu năm đó, mọi người đặt cho Hà Thiên Khánh tước hiệu Trại Nguyên Bá.

Mấy hôm sau, Hoàng Cái lên đường về Yên Kinh. Khi chia tay, Hoàng Cái nói :

- Tôi sẽ đem việc nhị vị công tử trình bày với Hoàng thượng chắc thế nào cũng được trọng dụng.

Hà Thiên Thọ đáp :

- Họ Hà nhà tôi rất cảm ơn đó, song Thiên Khánh nhỏ tuổi quá, tánh tình chưa được thuần, nhân huynh cứ để tự nhiên. Nếu nó có tài còn cần phải có đức nữa mới có thể xuất chánh được. Nhân huynh thứ cho tôi dạy bảo nó vài năm nữa rồi sẽ hay.

Khách đi khỏi, Hà Thiên Thọ mới rỗi rãi bảo Thiên Khánh biểu diễn cho xem và bắt song đấu với Thiên Tường.

Tuy đã khỏe lắm, đáng liệt vào hàng hổ tướng, Thiên Tường vẫn phải nhường em về phần dũng lực, và về chùy pháp cũng kém hẳn một bực. Dùng chùy nào, Thiên Khánh cũng kêu nhẹ. Hà Thiên Thọ bèn sai thợ đúc hẳn một cặp chùy sắt vừa tay cho Thiên Khánh, nặng đúng năm trăm mười chín cân tám lượng. Trong khi tập luyện, Thiên Khánh dạy Thiên Tường bài Triệu Vương Chùy nên chùy pháp của Thiên Tường nhờ đó thay đổi tấn tới hơn trước nhiều, trong quân không một tướng nào chịu nổi quá mười hiệp đấu.

Hà Thiên Thọ hỏi Thiên Khánh :

- Bộ chiến đã vậy, còn mã chiến, chắc con chưa tập luyện.

Bí mật, Thiên Khánh đáp :

- Con chưa hề tập mã chiến, nhưng phụ thân cho phép thử coi. Có dễ không, hả phụ thân.

- Hừ! Con nhà võ mà hỏi ngớ ngẩn như thế sao? Dễ hay khó đều do sự chuyên luyện có phương pháp. Có căn bản võ thuật như con, luyện chiến mã cũng không khó.

Hà Thiên Thọ sai gia nhân đóng hai chiến mã của mình và của Thiên Tường đem tới, Thiên Tường hỏi :

- Hiền đệ muốn cỡi con nào?

- Con nào cũng được!

Thiên Tường nhảy lên con Tuyết Hoa của mình diễn quanh sân mấy vòng.
Hà Thiên Thọ bảo :

- Thiên Khánh, để cha giảng qua mấy điều về phương pháp ngự mã và tánh nết của giống thú này đã...

Thản nhiên, Thiên Khánh đáp :

- Con cứ hành động y hệt trưởng huynh là được chớ gì.

Thiên Thọ cười khẩy :

- Được, tùy ý con.

Thiên Khánh đỡ lấy cương con Đồ Lư, vỗ vào cổ con ngựa mấy cái, dắt đi quanh sân. Con chiến mã khỏe mạnh ấy cất bước cao, hất đầu mấy cái, hí vang như có ý muốn duyệt cùng Tuyết Hoa. Đi được hơn một vòng sân cho Đồ Lư quen hơi người dắt đã, Thiên Khánh mới bắt chợt chạy kiệu nhỏ quanh sân rộng. Nhớ lại phương pháp kỵ mã do Vô Địch tướng quân xuất thần dạy bảo, Thiên Khánh điều khiển con Đồ Lư một cách dễ dàng khiến cha, anh đều rất ngạc nhiên tưởng chàng là một thiên tài, chớ có biết đâu cũng phải học mới biết được! Trước chậm sau nhanh, Thiên Khánh cho Đồ Lư phi vùn vụt quanh sân đất nền rộng rãi chung quanh có trồng cây cao. Chàng điều khiển Đồ Lư chạy vòng vèo đan vào dãy cây lớn, khi hết hai vòng, Thiên Khánh quật ngay ngựa trở lại, thút gót vào bụng nhắm hòn giả sơn bổ tới... bốn vó ngựa đập xuống đất như tiếng trống rên hồi.

Thiên Thọ và Thiên Tường ngẩn người ra nhìn chưa đoán được Thiên Khánh làm gì, nhưng cũng kêu cả lên một tiếng.

- Ồ! Hãm lại, chết bây giờ!

Như người điếc, Thiên Khánh phóng Đồ Lư đến thẳng ngọn giả sơn hét lớn :

- Phi!

Con Đồ Lư chồm lên phóng mình như bay qua ngọn giả sơn sang bên kia chạy thêm vài chục thước nữa mới đứng lại.

Cha con Thiên Tường vỗ tay la lớn :

- Hay quá! Thiệt không ngờ.

Nhưng Thiên Khánh đã vòng ngựa lại vẫy gọi Thiên Tường.

Thiên Tường quặt ngựa chạy theo.

- Trưởng huynh cho phép ngu đệ theo một bài chiến mã nào.

Dứt lời, Thiên Khánh rút song chùy ra cầm lăm lăm, nhè Thiên Tường phóng ngựa tới. Biết là Thiên Khánh hỏi đấu, Thiên Tường cũng rút chùy ra đón đường... Hai thiếu niên huynh đệ ráp trận đánh rất dữ dội không ai chịu nhường ai. bốn trái chùy dồn nhau lắm lúc bật ngựa, hai con chiến mã cũng hí vang rền... Trận đấu trên mình ngựa của hai thiếu niên đáng mặt mãnh tướng, cùng dùng chùy nặng quả kinh hồn, rùng rợn chẳng khác chi hai viên tướng tử thì bất chợt gặp nhau trên đấu trường.

Hà phu nhân, được chồng bảo cho biết trước nên cũng dẫn thị nữ ra xem vừa đúng lúc Thiên Tường, Thiên Khánh cùng xung đột kinh thiên động địa. Thấy chồng con và bọn gia nhân đờ người ra mải miết nhìn trận đấu hung dữ ấy. Hà phu nhân vội nói :

- Ồ! Phu quân để anh em nó đánh nhau chết à? Cho lệnh tan cuộc đi! Ruột thịt mà thù nhau ghê quá! Quả là huynh đệ tương tàn.

Đang mải theo dõi trận tập dượt hào hứng của hai thiếu niên, bỗng nghe vợ nói bậy, Thiên Thọ quơ tay bảo :

- Nói bậy nào! Tương tàn cái gì? Chúng đang song đấu tới lúc thiệt hay thì...

Nhưng Hà Thiên Thọ không kịp nói hết câu, vì giữa lúc ấy, Thiên Tường rẽ ngựa chạy bỏ cuộc, liệng song chùy xuống đất nói lớn :

- Xin chịu thua, buốt nhừ cả hai tay.

Thiên Khánh ghìm ngựa lại cười :

- Thiệt không? Nghỉ tay đấu nữa.

Thiên Tường lắc đầu :

- Thiệt chứ lị! Ngu huynh chịu nổi hiền đệ đúng trăm hiệp cũng đáng kể là vô địch rồi. Muốn đấu nữa thì mời phụ thân.

Quay về Thiên Thọ, Thiên Khánh hỏi :

- Nào, mời phụ thân chỉ giáo cho con vài đường chùy.

Hà Thiên Thọ vuốt râu cười lớn :

- Thiên Tường còn bỏ cuộc thì thân già này với cánh tay bị bại, còn đấu với tên nghịch tử làm chi cho mệt! Thôi nghỉ tay, xuống ngựa đi! Với cặp chùy của ngươi cũng đủ làm chết con Đồ Lư của ta rồi! Thay áo đi, vào hậu đường ta có điều cần hỏi.

Nói đoạn, Hà Thiên Tường bảo vợ.

- Nào, về hậu đường. Hai thằng quỷ con đó đấu dữ dội như hai thiên tướng, hiền thê đã thấy chưa? Hà... hà!... hà!

Phu nhân mỉm cười :

- Tôi còn nhớ trước đây, phu quân thường than phiền vì thằng nhị lang yếu ớt vô dụng không xứng đáng dòng máu họ Hà! Oan con biết nhường nào.

- Ai có ngờ! Lý Nguyên Bá xưa kia bất quá cũng đến thế thôi.

- Trông thấy con, tôi lại nhớ đến trước kia hồi chưa lấy nhau, phụ thân tôi chấm phu quân làm tử tế vì phu quân đã thắng cả mọi người. Cặp chùy của phu quân đã thiệt vô địch, y hệt thằng Thiên Tường ngày nay.

Nhìn vợ, Hà Thiên Thọ nheo mắt hỏi :

- Nhắc lại cái thời xa xưa ấy khiến ta thêm bực. Chức Vô địch của ta bị hai thằng nghịch tử Thiên Tường, Thiên Khánh đoạt mất rồi còn đâu! A, nhưng hồi ấy hiền thê ngồi ở đây mà trông rõ vậy.

- Núp ở rèm, sau mẫu thân, chớ ai dám ra mặt, thẹn chết người.

Hà Thiên Thọ lắc đầu :

- Thảo nào, ta liếc lên chỗ nhạc gia ngồi mãi mà chẳng thấy người ngọc đâu cả rồi! Ghê thật, thấm thoắt đã ba mươi năm trường.

- Vâng, ba mươi năm trường.

Hà Thiên Thọ bước chậm rãi hỏi phu nhân.

- À này, ta còn nhớ các công tử, vương tôn đối lập với ta hồi ấy vừa giàu, vừa đẹp lại vừa trẻ, tại sao hiền thê lại ưng ý ở nơi ta.

Hà phu nhân cúi nhìn đất.

- Tuổi tác, giàu sang có chi đáng kể! Hồi đó tuy phu quân hơn tuổi họ nhiều, nhưng đã ai tài bằng viên thượng tướng đã từng đánh trăm trận như phu quân chưa? Lúc phu quân hùng dũng tiến vào võ sảnh, tôi biết ngay thế nào cũng được sửa túi nâng khăn, nương nấp bóng tùng của con người phi thường ấy.

Hà Thiên Thọ trách vợ.

- Ủa! Thế mà đợi tới bây giờ mới nói.

- Thì có bao giờ phu quân hỏi đâu mà dám thưa.

- Hừ! Giá được nghe cầu này từ hồi nãy thì ta quyết thượng mà đấu cùng thằng Thiên Khánh một trận đó. Tệ quá, phụ nữ làm gì cũng chậm.

Hà phu nhân mỉm cười :

- Phu quân vô lý quá và độc đoán! Nếu đấu với Thiên Khánh thì thua rồi...

- Hừ! Thua ta cũng đấu! Hiện giờ ta thấy trẻ hẳn lại như ba mươi năm về trước.

Hai vợ chồng Tổng trấn vừa thủng thẳng đi vừa nói chuyện, bất giác đã về tới hậu đường. Lát sau anh em Thiên Tường, Thiên Khánh cũng dắt nhau đến.

Hà Thiên Thọ nói :

- Cho hai con ngồi.

Thị nữ dâng trà.

- Bây giờ Thiên Khánh đã nhất định kể lại cho ta và mẫu thân con nghe trường hợp luyện võ như thế nào chưa.

Xét thấy nói thiệt cũng không có hại gì một khi mọi người ai ai cũng biết là mình có tài nghệ. Thiên Khánh bèn kể lại tỉ mỉ việc thần nhân truyền dạy võ nghệ mấy năm trước cho cha mẹ và anh nghe.

Hà Thiên Thọ gật đầu :

- Ta cũng nghi như vậy, nhưng không dám nói chắc.

Suy nghĩ giây lát, Hà Thiên Thọ nói tiếp :

- Ta sẽ tu bổ thần miếu thay con, và vẫn tôn trọng sự u tĩnh bên khu miếu như xưa... Nhưng không hiểu vì nguyên do gì lại có người lập miếu thờ Vô Địch tướng quân Lý Nguyên Bá ở Thành Đô.

Trong bộ "Thịnh Đường Anh Hùng sử" chép rằng Vô Địch tướng quân có một gia tướng chuyên hầu về chùy, mã của Ngài. Gia tướng ấy họ Thường không ghi tên gì, nhưng sao đổi ra họ Lý tên Hào.

Khi Vô Địch tướng quân mạng vong, Lý Hào vè sanh quán của y ở Ba Thục. Vậy có lẽ Lý Hão là người Thành Đô chăng? Và chính y đã xây dựng miếu mạo, thờ cựu chủ chăng? Trong khi tu bổ thần miếu, ta sẽ đích thân điều khiển công nhân để tiện bề tra cứu luôn thể.

Thiên Khánh nói :

- Thần nhân có dạy rằng "không được làm huyên náo khu miếu thờ".

- Con khỏi lo. Đối với khu đất bất khả xâm phạm ấy, ngôi miếu ba gian vừa lớn, rồi vậy chỉ cần sửa qua loa trong miếu, cũng như ngoài miếu cho được gọn gàng hơn. Ngoài ra không hề động chạm tới bất cứ thứ gì trong khu vực ấy.

Việc cần thi hành ngay bây giờ là chọn cho con một con chiến mã. Con khá cùng Thiên Tường ra tàu ngựa lựa xem có ưng ý con nào không.

- Tuy được Vô Địch tướng quân hiện thân truyền nghệ nhưng con chưa biết phương pháp tinh vi nuôi dạy ngựa, xin phụ thân chỉ dẫn cho con được thấu đáo triệt phương pháp ấy.

- Con muốn tự đào tạo lấy một bầy ngựa chiến, nuôi chúng từ lúc chúng còn nhỏ để lớn lên mới dùng. Bây giờ cỡi tạm con nào cũng được.

Với tay lên án thư lấy một cuốn sách đưa cho Thiên Khánh, Hà tổng trấn nói :

- Trước hết hãy đọc, nghiên cứu cuốn Mã Đồ này. Chừng nào thuộc hai bài đầu, ta sẽ dạy phép thực hành. Từ kỵ mã tới xa mã đều có ghi cả trong sách đó.

- Lấy đâu ra này ngựa non bây giờ thưa cha.

- Con có để ý tới màu sắc không :

- Có chứ! Con muốn nuôi bầy Thất Mã, Ba con Hắc, Hồng, Mai hoa để cỡi và bốn con Bạch đế thắng tứ mã xa.

- Được, con khá theo Thiên Tường sang bên trại ngựa, đưa lệnh tiễn này cho Trần tướng quân, người phụ trách việc chăn nuôi và gây giống ngựa, yêu cầu lựa chọn mấy con thiệt tốt. Nếu y có đủ, cho người về báo để ta sang coi.

Trong trường hợp y không cung cấp đủ số ngựa theo ý muốn, ta sẽ biên thơ sai người sang Trùng Khánh phủ hỏi Thái Đình Hoàng chắc thế nào cũng toại ý.

Giờ đây, ta ra công đường làm việc. Các con muốn kiếm cứ việc tới đó.

Anh em Thiên Tường, Thiên Khánh đứng dậy từ tạ cha mẹ, sang trại quân. Hà tổng trấn cũng mặc áo ra soái đường.

Nói về Thiên Tường dẫn Thiên Khánh sang trại nuôi ngựa đưa trình lệnh tiễn của quan Tổng trấn cho tướng quân Trần Dự, và nói việc muốn kiếm ngựa tốt. Họ Trần vốn là tay chuyên môn về ngựa trong trại quân, xưa nay thường giao dịch với Thiên Tường nhưng ít gặp Thiên Khánh.

Niềm nở tiếp đãi hai anh em, Trần Dự nói :

- Từ bữa tiệc đêm Trung Thu tới nay, bây giờ tôi mớ có dịp mừng riêng đệ nhị công tử. Quan Tổng trấn có đại phước mới sanh nổi hai công tử anh hùng xuất chúng như vậy.

Anh em họ Hà nói mấy lời cám ơn và bày tỏ ý nguyện tìm ngựa tốt. Trần Dự cười lớn :

- Tưởng chuyện gì chớ việc đó không đáng kể. Trại ngựa trong quân há không lớn hơn tư gia của Thái Đình Hoàng bên Trùng Khánh sao? Nếu nhị vị công tử muốn dùng đến giống ngựa xứ khác, Trần mỗ này cũng cung cấp được, nhưng tại sao không dùng ngựa Tứ Xuyên? Theo tôi đi coi. Cứ nhìn cũng đủ thích mắt rồi.

Dứt lời, Trần Dự đi giữa, cầm tay anh em họ Hà, dắt đi coi khắp trại ngựa. Trại chia ra nhiều khu rất ngăn nắp sạch sẽ.

Bây giờ, nhị công tử cần một tuấn mã để dùng ngay, tôi xin hiến con ngựa vàng bốn chân trắng và dọc mũi trắng kia kìa. Nó được đúng năm tuổi, hay đủ mọi phương diện. Công tử cỡi thử coi. Không vừa ý điều gì cứ cho Trần mỗ biết.

Dứt lời, Trần Dự sai quân thắng con ngựa vàng đó cho Hà Thiên Khánh cỡi thử. Thiên Khánh nhảy lên ngựa cho chạy mấy vòng thấy nước kiệu êm ru thì mừng lắm, nói với Trần Dự :

- Tướng quân cho tôi con ngựa này, Nó có tên chưa.

- Ngựa này do tôi nuôi dạy đều có tên hết. Con này tên Hoàng Vân. Công tử giữ lấy mà dùng. Bây giờ ta ra xem bầy ngựa con.

Trần Dự dẫn anh em họ Hà đến khu nuôi ngựa nhỏ.

Trần Dự giải thích.

- Công tử coi, có ba khu Thượng, Trung, Hạ. Ngựa nhỏ, tôi cũng chia thành ba hạng đã chọn lọc. Lẽ cố nhiên khu Thượng có toàn ngựa tốt vừa về giống, vừa về tướng. À, công tử cần dùng mấy con chi.

Thiên Khánh đáp :

- Bảy con. Bốn con Bạch Mã để dùng kéo xe tứ mã, còn ba con Hắc, Hồng, Mai hoa để cỡi.

- Được. Tôi còn đủ cả. Con Mai Hoa mình vàng rất đẹp kia có cái xoáy chính giữa hai mắt. Trong sách Mã Đồ ấy là Tý Mã Ngọ và có tên nữa gọi là Thần Mã Triều Vân.

Ba người leo lên giống chuồng ngựa ngồi. Trần Dự chỉ cho quân hầu lựa từng con ngựa một bắt đem ra sân. Cổ con nào cũng đeo biển gỗ ghi ngày tháng năm sinh và giống ngựa. Trần Dự nói :

- Công tử nên làm bảy cuốn gỗ ghi các tật riêng của từng con một để rèn luyện lần lần cho chúng. Có điều chi muốn biết về mã tánh, sang đây tôi sẵn lòng chỉ dẫn.

Thiên Khánh nói :

- Tôi sẽ tới quấy rầy tướng quân luôn luôn.

Nói đoạn, hai anh em từ ta về dinh. Trần Dự cho quân dắt ngựa đi theo.

Từ đó, Thiên Khánh học hỏi về môn nuôi, luyện tập ngựa rất tỉ mỉ và trở thành một người sành sỏi. Chàng thuộc lòng cuốn Mã Đồ. Còn về phương diện thực hành thì chàng vừa học hỏi của cha, vừa theo đòi Trần Dự. Được nuôi luyện đến nơi, đến chốn, bảy con ngựa tinh khôn đặc biệt, biết theo mệnh lệnh của Thiên Khánh như người vậy. Con nào cũng cao lớn hùng vĩ khiến người sành ngựa nhìn không chán mắt. Ngoài ra, Thiên Khánh thường dóng xe tứ mã cùng Thiên Tường đi ra khỏi thành chơi. Thứ xe tứ mã này chỉ có hai bánh xe, thân xe hình bán nguyệt, vành cao lên ngang hông người đứng cầm cương.

Khi ra khỏi thành, Thiên Khánh cho ngựa chạy như gió, băng rừng vượt suối, bốn con ngựa kéo chiếc xe nhỏ hai bánh chỉ đủ chỗ cho hai người đúng nên nhiều khi xe lướt hẳn trên mặt đất như bay. Hoặc có khi hai anh em cùng cỡi rong chơi săn bắn thì thế nào Thiên Khánh cũng rủ Thiên Tường thi đua. Con Hoàng Mai của Thiên Khánh phi vùn vụt như tên, gò thấp mô cao đều băng băng nhảy qua hết. Không kém, Thiên Tường cũng theo sát không rời nửa bước, nhưng khi con Hoàng Mai nghe tiếng roi da của chủ quất gió kêu "đen đét" thì bỗng nhiên trội hẳn tốc lực phóng như biến bỏ hẳn Thiên Tường lại sau rất xa.

Anh em họ Mã luyện tập lẫn với nhau như vậy nên ngoài sức khỏe thiên phú, tài kỵ mã cũng trội hơn ba quân, không một tướng nào theo kịp. Cả hai cùng thành công về phương pháp luyện tập, điều khiển ngựa phần lớn là nhờ Trần Dự cố công dạy bảo, nên khi thấy Thiên Tường, Thiên Khánh thành công, Trần tướng quân rất lấy làm hãnh diện có hai đồ đệ kỳ tài.

Việc Thuận Vương mở hội kỵ mã ở Kim Lăng được loan đến tận Thành Đô.

Hà Thiên Khánh ngỏ ý muốn đi dự và du lịch Kim Lăng luôn thể.

Hà tổng trấn nói :

- Con còn ít tuổi chưa hiểu tình thế ra sao, nhưng Thuận Vương có ý mưu phản triều đình, nên mục đích lập hội không phải chỉ để vui chơi, y muốn thâu nhận người tài hoặc trừ bớt đi. Vậy cuộc đi đua hẳn là không công bằng và có nhiều mưu mô xảo trá hại kẻ anh tài. Con dự hội làm chi?

Thiên Khánh cương quyết :

- Nếu Thuận Vương hành động gian giảo như vậy thì nên phá tan mưu mô thấp hèn của y. Con quyết dự cuộc, nếu chúng quả muốn hại người thì con sẽ phá tan đấu trường cho chúng coi. Không lẽ để cho gian vương quá ư lộng hành coi rẻ thiên hạ như vậy sao!

Nghe con nói trúng lý và hồi tưởng khi xưa còn ít tuổi, nếu gặp những cuộc thi tài chướng tai gai mắt này tất chẳng bỏ qua, nên Hà tổng trấn suy nghĩ hồi lâu rồi nói :

- Được, con đã muốn đi Kim Lăng, ta cũng cho phép, nhưng phải để ta sắp đặt và con phải hứa để tuân theo kế hoạch của ta nghe?

- Dạ, con xin hứa.

- Chừng nào con định lên đường?

- Thưa phụ thân, sáng sớm ngày mười hai con sẽ khởi hành mới kịp hội kỳ.

- Con dự thi môn nào?

- Cả hai môn Kỵ mã và Mã xa.

- Không được. E tổn sức chăng?

- Không có gì đáng gọi là mệt cả, phụ thân.

- Thiên Tường có cùng đi không?

- Trưởng huynh cũng muốn đi, song còn đang bận việc bên trại nên bảo con sang nói trước với phụ thân.

Suy nghĩ hồi lâu, Hà tổng trấn nói :

- Cả hai con cùng đi mới được. Có thể ta mới an tâm.

Hà tổng trấn và Thiên Khánh đang nói chuyện thì Thiên Tường bước vào. Hà Thiên Thọ hỏi :

- Thiên Tường con đã nhất định đi Kim Lăng cùng Thiên Khánh chưa?

- Con về đây cũng vì việc đó.

Chậm rãi, Hà tổng trấn dằn mạnh từng tiếng một :

- "Các con đừng quên rằng các cuộc thi do Thuận Vương tổ chức thế nào cũng có sự gian lận nguy hiểm tới tánh mạng người ta. Cần phải hết sức tiểu tâm.

Trước hết, đừng ghi tên thật, e chúng biết rõ nguồn gốc và gia đình nhà ta mà manh tâm hãm hại. Người ngựa, phải chú ý kẻo bị thuốc trước khi vào đua! Trong khi đua, phòng bị kẻ hại ngầm. Dù được hay thua, không nên lưu luyến tiệc tùng với bọn chúng.

Từ đây đi Kim Lăng, đại lộ vào thẳng Tây Môn. Cách Tây Môn chừng năm dặm có một gò đất nhỏ. Ta sẽ cho ba tiểu đội nhân mã hóa trang làm khách thương đón các con tại nơi đó. Phòng khi có biến, các con cứ việc chạy qua khu gò đất ấy, sẽ có tiếp ứng.

Ngoài ra còn ba tiểu đội nữa do ba tướng Liễu Thanh, Tôn Khương và Triệu Chấn giả làm thường dân ở quanh quẩn bên Tây Môn ngay hôm đua, phòng khi có biến, bọn chúng đóng cửa thành thì quân tướng của ta sẽ tạm đoạt cửa đó mở đường cho các con chạy ra khỏi Kim Lăng.

Dấu hiệu của quân nhà ta là chiếc khăn xanh màu lục quấn cổ.

Tuy có sắp đặt phòng bị, ta khuyên các con nên gắng công tránh sự xung đột. Nên nhớ điều quan trọng này nữa: quân, tướng của Thuận Vương đều là hàng người có bản lãnh, chẳng lên khinh địch. Căn cứ của các con ở tận Thành Đô, đường xa vạn dặm, Kim Lăng là nơi cơ sở của Thuận Vương. Nói riêng về nhân số, các con đã bất lợi rồi đó.

Nghe rõ lời ta dạy bảo chưa?"

Thiên Tường thưa :

- Lời phụ thân truyện dạy, chúng con xin ghi lòng tạc dạ.

Hà tổng trấn nhìn Thiên Khánh :

- Riêng phần con không được nóng tánh như lúc còn ở nhà, nghe?

- Dạ, con hiểu.

- Nhưng còn có một điều đáng lo.

Anh em Thiên Tường ngạc nhiên nhìn nhau. Thiên Khánh vội hỏi :

- Phụ thân lo điều chi? Nguyên do sự e ngại đó có phải là hai cặp chùy nặng quá e không có cách gì đem vào đấu trường được để phòng ngộ đến thì có khí giới dùng phải không.

Hà tổng trấn gật đầu :

- Chính vậy đó. Để ta nghĩ kế. Sáng mai, đầu giờ Thìn, hai con khá sang trại quân họp mặt cùng các tướng, ta cho lệnh triệu ngay bây giờ. Thôi, hai con lui ra.

Từ tạ cha đi ra, Thiên Khánh bảo Anh :

- Kế hoạch của phụ thân rất châu đáo nhưng về khoản giấu tên họ để dự thi thì ngu đệ không chịu.

Thiên Tường gật đầu :

- Ngu huynh đồng ý về điểm ấy, nhưng chừng nào tới Kim Lăng sẽ định đoạt. Phụ thân ở xa chỉ định liệu được việc đại cương, chúng ta đến tại chỗ mới có thể tham biến được.

Sang hôm sau, Hà tổng trấn chủ tọa cuộc hội họp sáu tướng có nhiệm vụ đi cùng Thiên Tường, Thiên Khánh. Ngoài Liễu Khanh, Tôn Khương, Triệu Chấn, có Lý Thường Huy, trần Đức, Điển Chiêu là ba tướng chỉ huy ba tiểu đội ngoài cửa Tây thành Kim Lăng. Anh em họ Hà ngạc nhiên khi thấy cháu Hà phu nhân là Viên Bá Lượng cũng có mặt tại đó...

Hà tổng trấn bảo hai con :

- Các tướng quân đây đã hiểu rõ ràng bổn phận của từng người một rồi. Viên điệt đây cũng đi cùng các con, và sẽ giới thiệu cho biết một nhân vật ở Kim Lăng, tại nhà nhân vật đó chắc chắn thế nào cũng có nhiều tay anh hùng khả dĩ giúp nổi việc giấu hai cặp chùy nặng nề ấy ngay ở đấu trường được.

Thiên Tường nói :

- Được, Viên biểu huynh đi cùng càng vui.

Hà tổng trấn quay lại căn dặn các tướng :

- Sáng sớm ngày mười một, các tướng quân lên đường, giả làm khách thương như đã bàn định hồi nãy. Tụ họp nhau ở gò đất Tây Môn thành Kim Lăng chờ anh em Thiên Tường đi qua rồi hãy phân chia công tác.

Yêu cầu thi hành đúng, bản chức chúc chư tướng thượng lộ bình an. Khi trở về sẽ ăn mừng.

Chư tướng vui mừng từ tạ để sửa soạn lên đường.

Sáng ngày mười hai, anh em họ Hà và Viên Bá Lương đem theo năm gia tướng, và sáu con tuấn mã chuyên luyện thẳng đường đi Kim Lăng.

Trên đường gặp mưa lũ, bọn anh em Hà gia trễ mất ba ngày.

Gặp các tướng ở gò đấy, phân công xong mọi người vào thành.

Hà Thiên Tường nói :

- Viên biểu huynh đi cùng nhị đệ và gia tướng vào Vương phủ ghi tên dự thi nhưng chẳng nên ở lại trại của họ. Chọn hàng quán nào vắng vẻ cùng ở thi hơn. Ngu đệ ghi tên sau cho họ không nghi ngờ chúng ta cùng bọn.

Viên Bá Lương gật đầu :

- Được, ngu huynh biết rõ Kim Lăng lắm. Ở ngay Tây Môn có Hoàng Diệp tửu quán sạch sẽ vắng vẻ ở được.

Thiên Khánh nói :

- Nghe đồn Kim Lăng có Hoa Vương lầu sang trọng lắm, đang đói đây ta kéo đến đó ăn một bữa đã rồi sẽ hay.

Thiên Tường chiều em :

- Cũng được. Biểu huynh cùng nhị đệ và gia tướng cứ việc đến Hoa Vương lầu dùng bữa trước. Tôi vào Vương phủ ghi tên rồi chờ ở Hoàng Điệp quán, chịu không?

Thiên Khánh cười :

- Đi với trưởng huynh dễ chịu quá...

Thiên Tường nheo mắt nhìn em :

- Đánh nhau với ai đâu mà nóng với chẳng nóng.

Hai bên chia tay. Hà Thiên Tường rẽ ngựa theo lối chỉ dẫn của Viên Bá Lương ra Hoàng Điệp quán lấy phòng để song chùy lại đó rồi mới tìm đường vào Vương phủ trước Thiên Khánh. Bởi vậy, Chu Đức Kiệt và Lam Y nữ hiệp chỉ gặp Hà Thiên Khánh, Viên Bá Lương trên Hoa Vương lầu mà không thấy Hà Thiên Tường.

Chương 25: Quyết hại anh hùng, Ân Định mạng vong Trổ tài trùy pháp, Trại Nguyên Khánh kinh hồn

Bọn Âu Dương Tòng Cát, Tòng Đức, Quan Long, Tào Chí phụ trách phần Đông nhận xét không có sự gì lạ trong các tai nạn té ngựa này. Phần vì ngựa chạy đã đuối sức, phần vì mất thăng bằng trong khi tranh nhau vượt qua lối nhỏ nên kỵ sĩ bị té.

Nghe các người ngồi trên cây la lên :

- Ồ! Có người bị thương nặng, ngựa dẫm gãy chân rồi.

Mọi người đứng ở hàng ngoài xô nhau chen lấn cổ nhìn xem, vừa đúng chỗ bọn Tòng Cát đứng ở vòng trong cùng. Bị lớp người ngoài thúc đẩy nhiều quá, bốn hảo hán dang hẳn tám cánh tay cứng như sắt cản lại. Đẩy không chuyển, lớp người đứng ngoài đành thôi, nhờ vậy các người đứng trong khu vực có bốn hảo hán được yên ổn theo dõi cuộc đua rất gay go hào hứng, và quan quân giữ trật tự rảnh tay không chật vật như đồng nghiệp ở gần đó.

Bấy giờ đoàn đua chỉ còn có mười cặp người ngựa. Họ chạy rải rác lại ba con một toán chớ không quấn lại thành khối như vòng đầu. Vượt qua khu nam, ba số ba, mười sáu và mười chín thay phiên nhau dẫn đầu. Hai kỵ sĩ áo vàng số bảy và tám vẫn chạy rảnh rang sóng đôi cùng. Con ngựa nào cũng đẫm mồ hôi loang cả lông, có con sùi cả bọt mép trắng xóa. Chạy tới khu Bắc, các số dưới lần lần bắt đầu lăn, chạy ngang rồi vượt qua số ba, mười sáu và chín.

Về gần khu Nam, chỗ rẽ vào khán đài, giựt giải, các kỵ sĩ thúc ngựa tận lực, vượt bực ăn giải, roi quật vun vút. Kỵ sĩ đeo cờ số mười một giựt cương ngựa phi như tên bắn vượt lên đầu. Kỵ sĩ số bốn theo sau cách số mười một ngót hai trượng. Trong khi đó, ba con ngựa vẫn chạy đầu từ lúc khởi cuộc đua đuối sức tụt lần lần xuống. Tới khu Nam, kỵ sĩ số mười bốn rẽ ngựa vào lố trong, với tay giựt cây cờ "Thắng" cắm ở giữa lối đi, phi thẳng về vạch vôi ăn giải trước khán đài, giữa tiếng vỗ tay hoan hô ầm ầm của khán giả như muốn làm bể đấu trường.

- Hai kỵ sĩ số bốn và mười về nhì, ba.

- Như từ lúc khởi xuất, hai kỵ sĩ áo vàng về đích lần với đợt cuối.

Chu Đức Kiệt bảo Lam Y và Âu Dương Bích Nữ :

- Hai người áo vàng không cố gắng, có lẽ họ là người của Vương phủ giám sát cuộc đua.

Âu Dương Bích Nữ lắc đầu :

- Tiểu muội đồng ý họ là người của Thuận Vương nhưng không phải là giám thị cuộc đua.

- Tại sao? Ngựa của họ còn dư sức mà không chịu cố gắng đoạt giải.

- Vì các kỵ sĩ khác đã ký giấy đầu bôn Vương phủ, nên họ không cần tranh đấu tận tâm.

Lam Y nói :

- Tôi đồng ý với Âu Dương muội ở điểm này. Chu huynh thua đại đa số của bọn tôi rồi.

Từ khán đài lại vọng lên tiếng trống gọi đoàn đua thứ hai.

Đoàn này theo hàng một nhập đấu trường. Tổng cộng có hai kỵ sĩ trong số có hai người áo vàng. Cuộc đua khởi đầu cũng như đoàn trước. Các kỵ sĩ tận tâm ganh đua. Ba số mười tám, năm, và mười ba về nhất, nhị, tam; hai kỵ sĩ áo vàng đeo cờ "Thập nhất" và "Sơ tứ" về theo đợt sau cùng. Trừ ra, một số bị té ngựa ở các nơi có ụ đất, không hề có sự gì gian dối hay đáng tiếc xảy ra cả. Các kỵ sĩ giựt giải nhất, nhị, tam đều lên khán đài lãnh thưởng hàng cuộn gấm vóc, lụa là và vàng bạc do chính tay Thuận Vương. Lần lượt như vậy cho tới vòng đua thứ năm, tổng cộng có hai mươi kỵ sĩ, trong bọn có Ngọc Kỳ Lân Hà Thiên Tường có y phục màu xanh đeo cờ "Sơ nhị", cưỡi con Tuyết Hoa mã thập phần hùng dũng. Ngoài ra, còn có sáu kỵ sĩ áo vàng khỏe mạnh dữ dội cưỡi sáu con tuấn mã cực kỳ hung hãn. Lúc đoàn ngựa theo hàng chữ nhất để khởi đua, bọn Chu Đức Kiệt nhận thấy sau người đeo cờ "Sơ Nhất" đến Hà Thiên Tường và kế tiếp luôn có đến sáu kỵ sĩ áo vàng rồi mới tới các người khác.

Chu Đức Kiệt nói :

- Họ dàn ngựa vây chặt chẽ Hà Thiên Tường. Trông ngựa nào cũng khỏe, nhưng phần thắng hay gọi là thoát hiểm thì đúng hơn, sẽ về phần kỵ sĩ nào gan dạ, nhiều mánh lới và con ngựa nào được chuyên luyện hợp với chủ nhất.

Âu Dương Bích Nữ nói :

- Trong đoàn này, người bị bao vây nguy hiểm nhất là Hà Thiên Tường.

Chu Đức Kiệt lắc đầu :

- Còn kỵ sĩ đeo cờ "Sơ Nhất" hiền muội không tính sao?

Lam Y cầm tay Âu Dương Bích Nữ ghé tai bảo :

- Chuyến này thì Âu Dương muội thua Chu huynh rồi. Tôi đồng ý kỵ sĩ "Sơ Nhất" cùng chung số phận với Hà Thiên Tường đó. Chẳng mấy khi được đứng trung gian cho hai người, khoái quá.

Âu Dương Bích Nữ im lặng, má đỏ ửng như trái đào.

Nhìn lén Lam Y, Chu Đức Kiệt hỏi :

- Phụ nữ hay thì thầm, nói chi vậy.

- Bí mật lắm hiền huynh ạ.

Âu Dương Bích Nữ vội nói lảng :

- Coi kìa! Mới khởi đầu đã thấy gay go rồi!

Quả nhiên, hai mươi con ngựa cùng chồm lên chạy. Đồng loạt, sáu kỵ sĩ áo vàng phóng mạnh trở sang bên như cố ý cản kỵ sĩ "Sơ Nhất" áo đỏ và Hà Thiên Tường. Nhưng Hà Thiên Tường ghìm Tuyết Hoa mã chồm cao lên mấy cái khiến sáu kỵ sĩ áo vàng xô trượt. Nhờ đó, kỵ sĩ áo đỏ bứt ngựa sang hữu phóng vượt lên trên đợt đầu đà đã chạy xa tới trên mười trượng. Không lẽ quay ngựa lại e quá lộ liễu, bọn áo vàng cũng thúc ngựa phóng theo. Hà Thiên Tường cho Tuyết Hoa mã chồm cao mấy lần nữa rồi mới chạy tách hẳn mười chín con ngựa chạy trước.

Toàn thể đấu trường hồi hộp im phăng phắc theo dõi cuộc đua mà họ có cảm giác là gay go dữ dội. Tuy vậy, không ai dự đoán được sự cố ý điều khiển ngựa đua của các kỵ sĩ tương phản, ngoại trừ bên Thuận Vương và các hảo hán giang hồ.

Đoàn ngựa phóng ra tới vòng ngoài. Ba kỵ sĩ áo vàng mải miết rượt theo kỵ sĩ áo đỏ, trong khi ba người áo vàng khác ghìm ngựa chạy chậm lại chờ Hà Thiên Tường chập lại thành đợt sau cùng.

Kỵ sĩ áo đỏ phi ngựa như tên bắn vượt mọi người, rồi dẫn đầu. Theo sát là ba kỵ sĩ áo vàng.

Qua ụ đất thứ nhất, thứ nhì, kỵ sĩ áo đỏ dẫn chạy trước thoát dễ dàng. Từ ụ đất thứ ba bỗng con tuấn mã đó giật mình chồm hết hai chân sau lên, khiến kỵ sĩ áo đỏ lao đao, nhưng trấn tĩnh được ngay và vượt qua lối nhỏ như thường.

Bọn Trịnh Bái phụ trách nơi này nhận thấy một trong ba kỵ sĩ áo vàng quất ngay một roi trúng vế ngựa của kỵ sĩ áo đỏ, nên con ngựa đau quá, giật mình thiếu chút nữa hất chủ xuống đất nếu kỵ sĩ áo đỏ kém tài té ngựa đã vậy, nhưng không tránh được ba con ngựa chạy sát theo sau dẫm chết. Thoát hiểm, dũng sĩ áo đỏ phóng ngựa chạy, ba người áo vàng ráo riết đuổi theo.

Ở phía sau, ba kỵ sĩ áo vàng cho ngựa chạy chậm lại chờ Hà Thiên Tường. Biết chúng có ý hoặc cản trở, hoặc hãm hại mình, Hà Thiên Tường vẫn là người được luyện cẩn thận về kỵ mã thuật và có nhiều mánh lời do Hà tổng trấn và tướng quân Trần Dư truyền cho, nên cũng tìm kế đối phó ngay. Chàng cho Tuyết Hoa mã chạy chậm hơn nữa, khiến cho kỵ sĩ áo vàng cũng phải ghì ngựa lại theo đà ấy. Đợt ngựa thứ nhất, đã vượt qua lối nhỏ ở ụ đất.

Chờ ba kỵ sĩ áo vàng vừa tới ngang hàng mình, Hà Thiên Tường liền bất chợt vỗ nhẹ vào cổ ngựa. Tuyết Hoa mã liền chạy vọt lên, bỏ hẳn ba người áo vàng lại phía sau. Chàng thong dong vượt qua ụ đấy thứ nhất, nhì và thứ ba. Lúc gần chạy tới ụ thứ tư, bọn áo vàng mới đuổi kịp, Vì cần phải giữ sức ngựa nên Hà Thiên Tường cũng không cần thúc Tuyết Hoa mã chạy lẹ.

Thấy bọn áo vàng tới gần phía sau, Hà Thiên Tường bèn chú ý đề phòng vì thế nên khi tên áo vàng chạy ở phía sau giữa giờ roi nhắm hông Tuyết Hoa mã quật mạnh, thì Hà Thiên Tường biết ngay gạt mạnh, rồi hơi ngả người, tiện tay quật lại một roi trúng mõm ngựa địch thủ đét một tiếng. Bị đau, con ngựa đó hí vang chồm ngược lên hai vó trước, quay đầu lại khiến kỵ sĩ áo vàng lộn nhào xuống đất. Thừa dịp, Hà Thiên Tường phóng ngựa qua lối nhỏ ụ đất thứ tư. Biết gặp phải đối thủ lợi hại, hai kỵ sĩ áo vàng cẩn thận đuổi theo quyết báo thù cho bạn.

Khán giả thấy kỵ sĩ áo xanh Hà Thiên Tường, ngựa hay đèo giỏi, nên hoan hô vang dậy cả đấu trường.

Nhưng lát sau, một tai nạn rùng rợn xảy ra, khiến toàn thể đấu trường chìm trong hồi hộp, yên lặng như khi mới khởi đầu cuộc đua.

Nguyên kỵ sĩ áo đỏ tên Lâm Bích, con thứ của Trại chủ Lâm Thanh, người Tân Giang huyện thuộc Hồ Bắc, vốn là kỵ sĩ có tài chân chính, dự đua những tưởng đem ngựa thật hay, thuật giỏi ra tranh đấu, so sánh tài nghệ cá nhân với thiên hạ, chớ không ngờ tới mưu mô hiểm độc của Ban tổ chức Vương phủ Kim Lăng, cho nên ngoài tài kỵ mã, chàng không đủ tư cách để phòng thân đối đầu với bọn bộ hạ ác độc của Thuận Vương.

Thúc ngựa chạy như bay thoát khỏi ụ đất thứ bảy ở vòng đầu, thì ba kỵ sĩ áo vàng đuổi kịp Lâm Bích. Hai người vượt hẳn lên trước, còn một người giữ ngang bằng với họ Lâm. Từ ụ thứ tám, ở phía Nam, hai kỵ sĩ áo vàng đồng vượt qua lối nhỏ mà bề ngang chỉ vừa cho hai kỵ sĩ hoặc một xe tứ mã chạy lọt. Lâm Bích theo sát phía sau cùng kỵ sĩ áo vàng thứ ba.

Thừa dịp họ Lâm mải miết tranh đua, kỵ sĩ áo vàng này quật luôn một roi trúng ngay hai mắt đối thủ.

Đau quá, Lâm Bích choáng váng chảy máu mắt, rời cương ngựa đưa hai tay lên mắt, thì bị xô mạnh té luôn xuống ngựa giữa lối nhỏ. Đợt ngựa chạy sau tránh không được, chà đạp lên nạn nhân không kịp kêu lên một tiếng.

Chạy cách đợt ngựa thứ hai đến bốn, năm trượng, Hà Thiên Tường thấy xác Lâm Bích nát bấy nằm ngang lối đi, liền thúc lớn giục ngựa:

"Qua!".

Tuyết Hoa mã phi như bay, nhảy qua ụ đấy, trong khi hai kỵ sĩ áo vàng theo sát ngựa chạy qua lối nhỏ dẫm bừa lên thây Lâm Bích.

Lúc đó, nhân viên cứu thương mới dám kéo ra khiêng xác chết vào bên vòng đua. Tai nạn xảy ra trong chớp mắt, một số khán giả, nhất là những người leo lên cây, đều thấy rõ ràng.

Chu Đức Kiệt nghiến răng tức giận :

- Đây là cuộc mưu sát trắng trợn các anh tài chứ không phải là cuộc đấu mã nữa.

Đập hai tay vào nhau, Âu Dương Bích Nữ nói :

- Mỗi lúc chúng qua đây, nhị vị còn chờ chi không tặng mỗi tên áo vàng một mũi phi đao.

Lam Y nữ hiệp tím mặt im lặng.

Ám hại xong Lưu Bích, ba kỵ sĩ áo vàng bèn cho ngựa chạy chậm lại, nhập bọn với đồng bọn ở phía sau, vây tròn Hà Thiên Tường ở giữa.

Biết chúng quyết tâm ngăn cản, hãm hại mình, Hà Thiên Tường liền áp dụng đấu pháp khác.

Chàng buông cương ngựa, nhằm sườn bên đấu thủ chạy gần nhất bên tả đâm mạnh một trái "Thôi Sơn", tên đó kêu lên một tiếng "chao ôi!", té nhào xuống đất lăn mấy vòng. Kỵ sĩ áo vàng bên hữu giơ roi định quật vào mặt họ Hà, nhưng lẹ hơn, Thiên Tường thoi luôn trái đấm bên hữu nữa như chùy giáng, khiến y cũng nhào nốt, bị ngựa của tên đồng bọn chạy phái sau dẫm trúng màng tang bể sọ phọt óc chết ngay. Vừa lúc ấy, đoàn ngựa chạy tới ụ đất, Hà Thiên Tường nhường hai kỵ sĩ áo vàng vượt lối nhỏ trước.

Tên đối thủ chạy sau thúc ngựa lên nhằm gáy Thiên Tường vụt mạnh. Cúi áp đầu xuống cổ Tuyết Hoa, nhường ngọn roi đó bay vút qua đầu, Thiên Tường chạy qua lối nhỏ, nhưng lại bị hai kỵ sĩ chạy trước đồng thời quất hai ngọn roi vào mắt ngựa. Thừa dịp ấy, Thiên Tường dụng tận lực kéo mạnh, khiến cho hai đấu thủ mất thăng bằng lộn ngược ngã ngựa. Tuyết Hoa mã chồm qua hai tên đó mà vụt tiến đuổi theo đợt ngựa chạy phía trước. Căm hờn, kỵ sĩ áo vàng độc nhất còn lại cũng giật ngựa phóng theo báo thù.

Hết vòng thứ hai, Thiên Tường mới bắt kịp đợt ngựa trước. Kỵ sĩ áo vàng vẫn cố đuổi theo, cách Thiên Tường chừng một sải ngựa, lăm lăm tìm dịp báo thù.

Đoàn ngựa còn đúng mười lăm con. Mỗi khi tới các ụ đất, các kỵ sĩ phải nhường nhau thoát qua lối nhỏ, nên đọt ngựa bắt buộc phải chạy dài ra. E rượt bắt theo lối bình thường, thì bị kỵ sĩ phía sau đuổi kịp, nên mỗi khi đến ụ đất. Hà Thiên Tường lại cho ngựa nhảy qua.

Tuyết Hoa mã phóng mình luôn qua ba ụ đấy như bay, coi rất đẹp mắt!

Khán giả hoan hô dậy đất.

Không kém, kỵ sĩ áo vàng cũng phóng ngựa nhảy theo quyết bắt kịp địch thủ. Hai người vượt hẳn đoàn ngựa, dẫn đầu tới trên mười trượng.

Tuyết Hoa mã tới tốc độ mỗi lúc một lẹ. Lúc về tới lối rẽ vào khán đài thì đã bỏ kỵ sĩ áo vàng đến trên bảy, tám sải!

Hà Thiên Tường với tay rút cây cờ "Thắng", phi ngựa vào trước khán giả đạt giải nhất, giữa tiếng cổ võ ầm ầm của khán giả. Như chạy chưa thỏa, Tuyết Hoa mã lúc bị chủ ghì cương đứng lại, còn chồm lên mấy lần, hí vang rồi mới chịu đứng yên.

Dụ dỗ không chịu đầu bôn, mà còn hạ sát luôn mấy thủ hạ của Kim Lăng, nên Hà Thiên Tường bị Thuận Vương ghét cay ghét đắng. Tuy vậy, ngoài mặt Thuận Vương vẫn vờ vĩnh vui vẻ trao thưởng cho kẻ thắng cuộc. Phát giải thưởng xong xuôi, Thuận Vương ghé tai Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn nói nhỏ mấy lời.

Tôn Hoàn gật đầu thưa :

- Xét tài lực của tên Lý Bá Xuyên thắng giải vừa rồi thì rất phù hạp với tin mật báo.

Y đổi tên giải dự thí, thiệt ra y là anh của Hà Thiên Khánh, và cả hai cùng là con của Hà tổng trấn Thành Đô.

Thuận Vương suy nghĩ giây lát :

- Nếu thế thì cứ như vậy... mà hành động. Kế hoạch số hai, Quân sư lãnh nhiệm vụ đó nhé.

- Xin tuân lệnh Vương gia.

Tôn Hoàn tiến sang chỗ Nguyên soái Hoàng Bách Thắng nói nhỏ mấy lời rồi lui về như trước.

Lát sau, tứ hổ Triệu Đại Bàng, Dư Đông Bích, Tống Võ Cường, Hầu Văn Bảo và tướng Tiên Phong Điêu Thiên Phượng cũng lần lượt rút xuống phía sau khán đài.

Ngồi hàng ghế sau với hai thế nữ, Nhạc Lan Anh lắng tai nghe lỏm được lời mật bàn của Thuận Vương với Tôn quân sư. Sau đó khi thấy năm tướng xuống lối sau khán đài, thì nàng dự đoán ngay họ mưu mô hại tay kỵ sĩ tài ba vừa đoạt giải. Nhớ lời dạy của Thượng Thái thiền sư, Nhạc Lan Anh toan tính giúp chàng kỵ sĩ vừa rồi thoát hiểm... Nhưng giúp bằng cách thế nào bây giờ?

Giữa một nơi binh tướng của Thuận Vương, hành động giúp vị hảo hán đó không phải dễ dàng! Tuy vậy, Nhạc Lan Anh trầm tĩnh nghĩ kế vì dù sao cũng còn một cuộc đua xe tứ mã nữa, chắc các tướng phải chờ cuộc đua này chấm dứt mới hành động để tránh sự khinh động của khán giả.

Nói về Hà Thiên Tường lãnh giải thưởng xong, chàng xuống thẳng nơi nhà giải lao ở phía sau khán đài.

Thừa dịp mọi người nhốn nháo, Thiên Tường căn dặn bộ hạ phụ trách việc giữ ngựa.

Lau mồ hôi, cho Tuyết Hoa mã uống nước và phải để y nguyên yên cương.

- Nếu có bạo động, chừng ta lên ngựa rồi, các người lẩn luôn vào đám người đi xem thoát khỏi đấu trường, tụ tập tại gò đấy đã được chỉ định rồi về thẳng Thành Đô.

Bọn bộ hạ nhất nhất vâng lời.

Tiếng trống giục đoàn xe tứ mã xa nhập đấu trường. Lát sau, đoàn dự thí xe tứ mã kéo vào. Tổng cộng hai mươi lăm cỗ xe thắng tứ mã, kiểu hai bánh. Thùng xe kín phía trước, phía sau là lối lên để trống, vừa đủ chỗ cho hai hay ba người đứng. Toàn thân xe bọc sắt sơn màu khác nhau. Cuối thành xe bên tả cắm lá cờ lớn đề số thứ tự, đủ sức cho khán giả theo dõi sự hơn kém từ xa. Mỗi xa trưởng có một bộ hạ cỡi ngựa theo sát vào đấu trường phòng khi cần dùng.

Hà Thiên Khánh đứng xe số "Đệ Tứ" màu xanh, thắng bốn con bạch mã cực kỳ khỏe mạnh tương phản hẳn với xa trưởng vóc người dong dỏng ốm nhom, khiến khán giả vừa tức cười, vừa lo thay không hiểu con người ấy có đủ sức điều khiển bốn con tuấn mã cao lớn trong cuộc đua thập phần nguy hiểm.

Nhất là lại so tài với Phi Phong Ngô Công Ân Định, giáo đầu huấn luyện kỵ mã thuật trong quân đội Vương phủ Kim Lăng.

Ấn giáo đài đội mũ bịt sắt, vẫn áo trấn thủ bằng da để hở đến tận vai, hai cánh tay chắc nịch, bắp nổi lên như thừng chão. Cổ to vai rộng, mắt lồi, mũi sư tử, sắc diện đỏ gay, hung dữ như ác thần.

Đứng trên chiếc xe sơn vàng, Ân Định vẻ tự đắc, giơ tay chào đáp lại tiếng cổ võ hoan hô của từng lớp khán giả. Lá cờ đề số "Đệ Nhất" bay phất phơ trước gió.

Về sau khán đài, Hà Thiên Khánh giả đò cương ngựa bị trục trặc đánh ra phía sau sửa lại.

Thiên Tường biết ý đón trước ở căn lều lá dành riêng cho Thiên Khánh. Nhân lúc không ai để ý, Thiên Khánh bỏ chiếc túi đựng hai cặp thiết chùy vào trong lều có bộ hạ coi giữ.

Thiên Tường hỏi em :

- Viên biểu huynh đâu?

- Ở trại ngoài giữ Hoàng Mai mã. Nếu có động, hiền huynh phải mở đường cùng thoát ra lối cửa Nam, tới trại ngoài họp cùng Viên biểu huynh mới chạy ra hướng Tây được.

- Bọn xa trưởng nào dùng màu vàng nghệ là người của Vương phủ Kim Lăng. Chúng dùng đủ cách để triệt hạ đối phương, hiền đệ cẩn thận.

- Tiếng đồn ra đến ngoài rằng vòng đua thứ năm vừa rồi có mấy người tử nạn. Hiền huynh tuy đoạt giải nhưng đã hạ chúng mất năm người. Vậy ngay sau cuộc đấu xe tứ mã này, anh em ta liệu tẩu thoát ngay kẻo không kịp.

Dứt lời, Thiên Khánh lên xe lái ra phía trước, sắp hàng cùng các đấu thủ khác trước vạch vôi.

Phó lệnh khởi đua nổ chói tai, đoàn xe tứ mã thi nhau chạy trước, tiếng mấy trăm vó ngựa đạp xuống đất ầm ầm như sấm động.

Xe "Đệ Tứ" của Hà Thiên Khánh chạy hàng thứ tám. Xe "Đệ Nhất" của Ân Định theo sát phía sau chạy hàng thứ chín.

Vì lối nhỏ ở các ụ đất chỉ vừa chỗ cho một xe vượt qua, nên các xa trưởng chỉ có thể vượt qua ở khoảng giữa hai ụ để rồi lại phải tuốt dài theo hàng dọc khi vượt qua lối nhỏ.

Cho ngựa chạy đều đều, Thiên Khánh chú ý nhận xét các ụ đất ở vòng đầu. Chàng nhận thấy ụ đất không cao, mặt ụ thoai thoải, nếu khéo léo có thể bỏ lối nhỏ vượt qua mặt ụ được. Vả lại, chàng đã quen dượt xe tuấn mã qua các mô đất ở Thành Đô, nên định tâm sẽ băng qua ụ đất nếu cần.

Tại vòng đầu, có năm xe ham vượt và lái không khéo, mắc đầu trục bánh xe vào nhau, nên bị đổ lăng kềnh chỏng trên mặt đất. Hai đấu thủ bị xe lật đè phải gãy chân.

Thấy nguy hiểm quá, nhiều đấu thủ không dám vượt qua, hoặc tới lúc sắp vượt thì gặp u đất nên đành bị chèn đẩy lại sau...

Ngồi trên khán đài, Nhạc Lan Anh nóng ruột chưa nghĩ ra được cách gì báo cho kẻ đoạt giải vòng đua thứ năm tẩu thoát.

Khi đoàn xe tứ mã hết vòng đầu, nàng chợt nghĩ ra một kế, liền hỏi hai Thế tử :

- Bốn tướng trong Ngũ hổ và Điêu tiên phong bỏ đi đâu không thấy trở lại vậy, nhị vị hiền huynh.

Chu Bảo Quốc nói nhỏ :

- Hồi nãy, Tôn quân sư phái họ ra giúp chư tướng trấn các cửa đấu trường...

- Ủa! Để làm gì vậy?

- Có lẽ đề phòng không cho kỵ sĩ đoạt giải vừa rồi tẩu thoát. Hiền muội không nhận ra người ấy đã hại mạng mấy kỵ sĩ hoàng y sao?

- Trong khi tranh đấu, ai tài cao người ấy thắng sao không dụ y đầu bôn có hơn không?

Chu Trấn Quốc ghé vào tai Lan Anh :

- Đó là lệnh của Phụ vương. Có lẽ y không chịu đầu bôn nên mới phải dùng biện pháp khác.
Thừa dịp ấy Nhạc Lan Anh nói luôn :

- Nếu vậy để tiểu muội ra sau đài xem nữ binh có sẵn sàng kích mã không, kẻo khi cần đến lại không kịp.

Dứt lời, nàng đứng lên ngay, hai Thế tử định nói thêm cũng không kịp, nên để mặc nàng tự ý.

Hai nữ binh chuyên giữ kích, mã cho Lan Anh tên Tố Vân và Tố Muội vốn là người tâm phúc do nàng đào tạo lên, có thể bảo nhảy vào lửa, chúng cũng không từ nan, nên được nàng rất đỗi tin cậy.

Tới căn nhà để ngựa, Nhạc Lan Anh hỏi Tế Vân :

- Ngươi có thấy viên kỵ sĩ thắng giải vòng đua thứ năm ở quanh đây không?

- Bẩm Quận chúa, chàng ta vừa đi qua đây sang đầu dãy lều lá kia kìa.

- Để Tố Muội ở lại giữ ngựa, còn ngươi khá bí mật tiếp xúc ngay với y nói rằng: "Liệu lẩn vào đám đông tẩu thoát ngay, chờ xong cuộc đua xe sẽ nguy tánh mạng. Đi ngay, không nên tiếc con ngựa làm chi. Hiểu chưa?"

Tố Vân gật đầu :

- Con hiểu rồi, xin Quận chúa an tâm thượng đài, ở lâu đây bất tiện.

Lan Anh mỉm cười quay đi.

Nói về Hà Thiên Tường vừa theo dõi vòng đua đầu tiên của đoàn xe tứ mã, nóng ruột quay về lều lá nhìn tình hình rồi định trở ra tiếp tục xem nữa, thì chợt thấy một nữ binh xinh đẹp đi vòng ra phía sau lều. Nghi ngờ, chàng đứng sững lại nhìn theo. Ngó quanh thấy mọi người đều đứng ở vòng ngoài mải miết xem cuộc đua xe. Trừ ra mấy tên bộ hạ giữ ngựa của kỵ sĩ thắng cuộc, Tố Vân bèn khẽ gật đầu vẫy tay ra hiệu gọi Thiên Tường. Họ Hà ngơ ngác không hiểu vì lẽ gì người con gái lạ mặt này lại vẫy tay gọi mình, nhưng chợt nghĩ ra đó là một nữ binh của Thuận Vương mà lén lút muốn gặp mình tất phải có điều gì can hệ, nên chạy tới.

Tố Vân tay khẽ gật đầu chào :

- Một nhân vật hữu danh muốn cứu tráng sĩ, sai tôi cấp báo cho người biết nên liệu đường trà trộn vào dân chúng tẩu thoát ngay kẻo nguy tới tánh mạnh. Hiện nay, các cửa đấu trường đều bị canh phòng nghiêm mặt. Tráng sĩ chẳng nên tiếc con ngựa quí kẻo lát nữa hối không kịp. Thôi, kính chào tráng sĩ và chúc người gặp mọi sự may mắn, tôi đi đây.

Hà Thiên Tường gặng hỏi :

- Đa tạ lời vàng ngọc dạy bảo xin cô nương, vui lòng cho tôi biết ơn ân nhân để ghi lòng tạc dạ sau này.

Tố Vân xua tay :

- Rất tiếc không thể nói được. Thôi, chúc tráng sĩ thượng lộ bình an, chẳng nên lưu luyến đất Kim Lăng này làm chi. Tôi đi kẻo e nhỉ mục quan chiêm.

Dứt lời, Tố Vân lẹ làng lẩn vào sau các lều lá đi mất. Hà Thiên Tường đứng đờ ra đó nghĩ ngợi :

- Hừ! Kỳ thiệt! Ai muốn giúp ta đây? Một nữ binh. Chủ nhân của y tất là người đàn bà! Người đó lại là một nhân vật hữu danh của Vương phủ Kim Lăng! Ai vậy?...

Thiên Tường đi ra chỗ đông người xem cuộc đua xe tứ mã đã tới độ nào.

Chàng nghĩ liên miên :

- Một nhân vật hữu danh mà lại là người thuộc nữ phái... hay là... ta nghe đồn Thuận Vương có người con gái anh dũng, tài sắc vẹn toàn... hay là chính nàng. Không! Không có lẽ! Dù nhân từ tới mức nào, vị Quận chúa ấy cũng không thể nào phản bội cha, anh để cứu mạng một kẻ xa lạ. À, hay là thử đi suốt dãy lều này quan sát, may ra tìm được một tia sáng trong vụ này chăng.

Vừa đi vừa chú ý nhìn kỹ từng căn một, quả nhiên Hà Thiên Tường thấy trong căn nhà lá ở đầu bên kìa có hai nữ binh, một người hồi nãy và một người lạ mặt, đang thì thầm chuyện trò. Một bạch Mã trắng như tuyết, yên cương sẵn sàng cột ngay trong lầu. Bên bạch mã, dựng một cây phương thiên họa kích gù đỏ như máu. Lần vào chỗ kín đáo, Hà Thiên Tường nhận kỹ con Bạch Mã và cây phương thiên kích giây lát, rồi trở về chỗ gần lều mình theo dõi cuộc đua xe tứ mã. Chàng thấy nóng ruột bừng bừng, giờ hành động sắp tới rồi.

Trở lại cuộc đua xe tứ mã. Qua hết vòng đầu rồi, Hà Thiên Khánh vẫn chạy trước xe Ân Định một bực. Hai người như còn dò tài sức nhau nên chưa ai chịu thi thố mánh lới để vượt bực đoạt giải.

Bỗng chiếc xe "Đệ Lục" sơn màu đỏ đang chạy trước xe Hà Thiên Khánh chậm hẳn lại, khiến Thiên Khánh hoặc phải vượt qua, hoặc cũng phải chậm lại nếu không muốn vượt.

Thấy ụ đất còn xa, Thiên Khánh tính đường vượt để tách khỏi Ân Định cứ lai rai theo sau.

Láng xe sang bên tả, chàng giựt cương thúc ngựa chạy mau. Xe "Đệ Tứ" vùn vụt lấn đường lên ngang với xe "Đệ Lục".

Nhưng đồng thời, Ân Định cũng thúc ngựa chạy vọt lên ngang hàng nơi xe họ Hà. Và cùng lúc ấy, chẳng hiểu vô tình hay cố ý, xe "Đệ Lục" cũng không nhường xe "Đệ Tứ" của Hà Thiên Khánh, giữ mực chạy ngang hàng, thành thử cả ba xe cùng chạy hàng chữ nhất.

Ân Định trợn mắt nhìn Hà Thiên Khánh nhe bộ răng hềnh hệch cười ghê rợn.

Lúc nhìn xa trưởng xe "Đệ Lục", Thiên Khánh thấy người này nét mặt cũng hung ác. Hắn nhìn chàng nói lớn hẳn ắt hẳn tiếng vó ngựa đập trên mặt đất như sấm động :

- Thế này thì mi chết rồi, con ạ!

Dứt lời, hắn rẽ ngựa cho chạy tréo đến gần xe "Đệ Tứ". Đồng thời, Ân Định cũng rẽ sát vào Hà Thiên Khánh hiểu ngay tên xa trưởng áo đỏ ở xe "Đệ Lục" là đồng bọn của Ân Định, và cả hai tên đang thi hành ác kế dùng hai xe ở hai bên chèn ép bốn con ngựa của Thiên Khánh vào giữa. Bầy ngựa sẽ hoảng sợ chồm lên làm lật xe, hất xa trưởng xuống đất.

Không dám chậm trễ, Hà Thiên Khánh vội giựt cương, quát lớn:

"Mau!"

Bốn con tuấn mã như tuyết phi vùn vụt lẹ như tên bắn tiến lên trước, bỏ hẳn hai xe "Đệ Nhất" và "Đệ Lục" đến hai sải tay. Lúc đó, cả hai xe cũng vừa tới ụ đất, Hà Thiên Khánh mừng lắm, hơi lánh xe chèn sang bên hữu khiến bốn con ngựa của xe đỏ phát hoảng chạy chênh sang bên. Với tốc độ ấy, xa trưởng áo đỏ không ghìm được ngựa nữa, đành cho xe chạy vọt tréo lên ụ đất, trong khu xe "Đệ Tứ" của Hà Thiên Khánh đàng hoàng phóng qua lối nhỏ. Xe đỏ "Đệ Lục" mất thăng bằng vì chạy tréo bị lật úp trên mặt ụ đất. Xa trưởng áo đỏ nhảy ra không kịp bị úp trong xe lật ngược và bị đoàn ngựa lôi đi tới sáu bảy trượng mới dừng lại.

Ân Định đoán được đòn của Thiên Khánh nên cho ngựa chạy thẳng lên ụ đất phóng qua bên kia. Lúc Thiên Khánh ra khỏi lối nhỏ thì Ân Định cũng vừa xuống tới bình địa, nên hai xe vẫn chạy song song ngang nhau. Hà Thiên Khánh khen thầm đối phương, nhưng tiểu tâm phòng bị, sẵn sàng đối phó vì biết Ân Định không khi nào chịu vậy. Bổn tánh ưa mạo hiểm, nên tuy phải lo đối phó với một địch thủ hữu tài và ở ngay trên đất địch, Hà Thiên Khánh vẫn cảm thấy say sưa thích thú đặc biệt.

Trái lại, mọi người nhận rõ tình thế thì ai nấy lo lắng đều lo anh chàng xa trưởng ốm nhom.

Hà Thiên Khánh chú ý nhận xét xem ngoài xe màu đỏ vừa bị loại khỏi vòng đua, còn có xe nào khác thuộc về đồng bọn của Kim Lăng nữa không.

Không! Các xa trưởng khác đua như thường không có ý ác độc.

Gần hết vòng thứ nhì thì hai xe "Đệ Nhất" của Ân Định và "Đệ Tứ" của Hà Thiên Khánh hoàn toàn dẫn đầu. Hai xe đó vẫn chạy song song không chịu nhường nhau lấy một thước nhỏ. Lúc lợi thế thì hoặc họ Ân hoặc họ Hà thay phiên nhau lọt qua lối nhỏ, và một xe thì bắt buộc phải vượt trên ụ đất để cố khỏi bị lấn đất. Mỗi lần tới ụ đất là một lần khán giả hồi hộp vì cả hai xa trưởng cùng tìm cách chèn để hại nhau mất thăng bằng, đổ nhào đến bị táng mạng như xa trưởng áo đỏ.

Đoàn xe rầm rộ phóng qua phía Nam. Hai xe "Đệ Nhất" và "Đệ Tứ" dẫn đầu bỏ đợt chạy sau đến hai sải tay.

Hà Thiên Khánh, Ân Định chạy sát quá, bỗng hai đầu trục xe bằng sắt xiết phải nhau bật ra tia lửa. Sợ gãy đũa xe nên cả hai đều phải nhích sang hai bên. Nhưng không! Ân Định nhích ra để lấy đà xô vào cho mạnh thêm.

Thấy xe mình bị rung chuyển trước sức xô của xe Ân Định, Hà Thiên Khánh mới nhận ra xe của đối phương hoàn toàn bằng sắt. Chàng bèn dùng roi nhắm mặt Ân Định quất mạnh mỗi khi y định ý xô vào. Thấy tay roi của Thiên Khánh khá hay có thể trúng mắt được. Ân Định không dám khinh thường xô vào nữa, nhưng y cũng dùng roi quất lại. Hai ngọn roi da dài phóng ra nổ dòn như pháo, không ai chịu kém ai. Qua nữa dòng thứ ba, nhè lúc xe của Thiên Khánh vừa từ trên ụ đất xuống, Ân Định liền quất một roi định quấn lấy cổ con ngựa bên tả ở hàng nhì của Thiên Khánh kéo ngược lại. Nếu trúng, con ngựa đó bị mất thăng bằng có thể gây nguy hiểm có thể gây nguy hiểm cho xe Thiên Khánh.

Tức giận, Thiên Khánh mắng lớn :

- Đồ cẩu trệ, muốn hại cả súc vật sao?

Ân Định trợn mắt :

- Và hai cả mi nữa.

- Được lắm! Sẽ biết tay ta. Coi chừng!

Hai xe về gần hết vòng bám Hà Thiên Khánh nhè vó trước con ngựa đầu của xe Ân Định quất vòng một roi. Ngọn roi quấn chặt vào cổ chân con vật đó và Thiên Khánh giựt mạnh. Chạy không được trong lúc hai ngựa ở dưới dồn lên thành thử con ngựa đầu khuỵu vó trước. Ân Định phóng roi gạt chậm mất một chớp mắt nên không kịp đỡ... Cả đoàn ngựa mất thăng bằng vì vướng con ngựa trước bị ngã, nên nhào luôn kéo cả chiếc xe lật úp chụp lên Ân Định, thành xe va trúng đầu họ Ân bể nát chết không kịp kêu, xác bị lôi đi một quãng dài.

Toàn thể đấu trường nhao, lên nhất là trên khán đài.

Biết giờ phút nghiêm trọng đã điểm với cái chết của Ân Định, Hà Thiên Khánh phóng thẳng xe vào trước khán đài.

Trên đài, Thuận Vương phẫn uất từ lúc thấy Phi Phong Ngô Công Ân giáo đầu táng mạng, nghiến rằng truyền đài quan :

- Chừng nào tên đó ngừng trước đài, thì phát luôn trống lệnh đóng cửa đấu trường. Phải bắt kỳ được, ta mới hả giận.

Nguyên soái Hoàng Bách Thắng, hai Thế tử và các đầu đà đứng cả dậy.

Thiên Khánh vẫn phóng mạnh khiến mọi người phụ trách việc kiểm điểm chạy dạt cả sang một bên. Thừa dịp mọi người còn đương hoang mang, chàng phóng xe ra phía sau khán đài, Hà Thiên Tường chờ sẵn đặt cặp thiết chùy của Thiên Khánh vào trong xe, rồi tự mình nhảy lên Tuyết Hoa mã gài chùy sẵn chạy trước, Thiên Khánh theo sau.

Nói thì lâu, nhưng việc xảy ra trong chớp mắt. Đợt xe đua về sau, lúc bấy giờ mới rầm rộ ganh nhau chạy về khán đài, thành thử lối ra cửa Nam đấu trưởng gần nhất bị nghẹt hẳn. Anh em họ Hà, kẻ trước người sau, phi thẳng ra cửa Đông... Giữa lúc ấy, từ khán đài, vang lên ầm ầm những hồi trống báo động khiến khán giả sợ hãi, hoang mang, nhốn nhác xô đẩy nhau tìm lối ra. Những kẻ yếu sức bị chà đạp la ó vang trời...

Nói về khu Đông môn, khi hiệu báo động dóng lên thì cửa đấu trưởng đã đóng chặt.

Quan Long, Tào Chí hai anh em Âu Dương Tòng Cát, Tòng Đức thấy họ Hà không chạy ra hướng Nam vội bảo nhau.

Tất họ chạy ra lối này gần hơn cả.

Khán giả mất trật tự làm vướng lối đi. Lúc bốn hảo hán tiến tới nơi thì cửa đã đóng chặt.

Binh tướng Kim Lăng đứng trấn đầy cả khu cửa.

Thanh Diện Hổ Tống Võ Cường cầm Lang Nha bổng và Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo cầm Song phủ hùng dũng cời ngựa đứng giữa đám bộ tướng.

Thấy bốn người xông xáo tới định đi lối cửa, Tống Võ Cường nói lớn :

- Mấy người định đi đâu thế này?

Âu Dương Tòng Cát đi đầu, trả lời :
- Đi ra cửa chớ còn đi đâu! Bộ không cho mọi người ra về sao mà đóng cửa như vậy.

Hầu Văn Bảo trợn mắt nạt :

- Nói năng cho có lễ độ! Lát sau sẽ được về.

Quan Long nạt lại :

- Nhưng chúng ta muốn về ngay thì sao?

Tống Võ Cường quát :

- Thì hãy để thủ cấp lại đây, chớ sao! A! Bốn tên này hỗn xược! Chư tướng bắt lấy chúng cho ta, mau.

Như hổ báo, đoàn binh tướng Kim Lăng xông vào bắt bốn người. Anh em Âu Dương rút đơn đao, Tào Chí, Quan Long cũng rút đoản đao giấy trong áo ra.

Vừa mới giáp chiến sau bảy bộ tướng Vương phủ đã bị trúng thương, bật cả lại phía sau.

Hầu Văn Bảo nổi giận thét chư tướng xông vào.

Âu Dương Tòng Đức bảo Tòng Cát và Quan Long, Tào Chí :

- Ba vị hiền huynh chặn chúng ở đây, tiểu đệ ra phá cửa.

Dứt lời, chàng ồ ạt tiến lên, nhảy qua đầu mọi người phóng ra lối, nhưng cũng bị quân tướng canh cửa chận lại.

Ba tướng Thành Đô là Liễu Thanh, Tôn Khương, Triệu Chấn cùng ba tiểu đội của trang làm thường dân đi xem, cũng rút khí giới nhảy vào loạn giúp bốn bị hảo hán lạ mặt phá Đông môn. Thấy tình thế xoay chiều khác, Tống Võ Cường, Hầu Văn Bảo vội thúc ngựa dự chiến.

Giữa lúc hai bên còn đang nhốn nháo, loạn đả, thì anh em họ Hà ra. Thấy cửa đóng chặt, quân nhà và mấy vị hảo hán đang hỗn chiến, Hà Thiên Tường e chờ lâu bất lợi, liền rẽ ngựa ra Nam môn.

Thiên Khánh chờ xe chạy theo sau.

Tống, Hầu hai hổ tướng nhận ra hai người, bèn hô lớn :

- Cố bắt lấy tên giặc này, để ta đuổi bắt hai tên kia nộp cho Vương gia.

Dứt lời, Tống Võ Cường, Hầu Văn Bảo nhảy ra khỏi vòng chiến thúc ngựa đuổi theo anh em Hà gia.

Thật ra thì anh em Âu Dương và Quan, Tào có coi bọn hộ tướng Kim Lăng ra mùi gì. Họ chỉ cốt mở được Đông môn cho anh em Hà gia chạy thoát, nhưng tới khi thấy họ Hà bỏ ra hướng nam và hai hổ tướng Tống, Hầu cũng bỏ trận đuổi theo, cả bốn bèn đánh cầm chừng giúp quân Thành Đô mở được Đông môn, cho mọi người ở khu vực ấy ra thoát rồi mới rút lui.

Từ Bắc và Tây môn, Cầm Mao Hổ Dư Đông Bích và Quá Sơn Hổ Triệu Đại Bằng thấy Hà Thiên Tường, Thiên Khánh từ Đông môn băng ra Nam môn có Tống, Hầu hai tướng đuổi theo thì bèn thúc ngựa chạy tới hợp lực bắt.

Vì lẽ đó bọn Tào Gia Quế và Trịnh Bái không phải mất công nhiều.

Nói về Lam Y nữ hiệp, Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ ngồi trên cây ở phía Nam đấu trường.

Ba người theo dõi các cuộc đua từ đầu chí cuối và nhận xét tình hình.

Ngay từ lúc Ân Định táng mạng, Lam Y nói với hai người :

- Cuộc xung đột cầm chắc rồi, hiền huynh và Âu Dương muội nghĩ sao.

Chu Đức Kiệt nói :

- Khi phân công cho mọi người, Âu Dương bá phụ chắc đã có ý riêng nên trao nhiệm vụ Nam môn cho ba chúng ta, và Đông môn cho Tòng Cát, Tòng Thiện và Quan Long.

Hai cửa này gần khán đài hơn cả và lẽ cố nhiên, anh em Hà gia phải qua lối cửa gần nhất.

Hơn nữa, Nam môn là chánh môn nên hình thức có khác. Gióng sắt nặng nề, cửa rút ngược lên trời chớ không phải cửa đóng có hai gióng chặn ngang như Đông, Tây và Bắc môn.

Nếu có động, đoàn quân đứng trên nóc cổng kia sẽ thả xích sắt hạ cổng xuống. Vậy ngu huynh muốn phân công như thế này.

Âu Dương Bích Nữ nóng ruột hỏi :

- Chu huynh phân công thế nào? Âu Dương Bích Nữ này nhất nhất tuân lệnh dù công tác khó khăn cũng không hề quản ngại.

Đưa mắt nhìn Âu Dương Bích Nữ, Chu Đức Kiệt mỉm cười :

- Ngu huynh nghĩ trong ba chúng ta nhiệm vụ nào cũng nặng nề như nhau?

Trông hai mươi quân đứng trên mặt Nam môn cạnh cái trục lớn kia! Chúng có phận sự kéo tấm cửa gióng sắt nặng nề đó lên hay hạ xuống cũng vậy. Lát nữa, chúng sẽ hạ cửa xuống ngăn lối của anh em họ Hà. Điều khiển cái trục ấy, Thuận Vương phải dùng tới sức hai mươi tên quân lực lưỡng nọ. Vậy, Âu Dương hiền muội phải đàn áp chúng, tự lực điều khiển cái trục ấy để kéo cửa sắt lên một khi cửa đã hạ xuống. Được không?

Âu Dương Bích Nữ gật đầu :

- Ngu muội hiểu rồi.

Chu Đức Kiệt nói tiếp :

- Nếu họ Hà chạy ra lối này, tất có tướng tài đuổi theo hiệp lực cùng viên hổ tướng Tiên Phong đang ngạo nghễ trấn nơi gần Nam môn kia kìa.

Lam Y ngắt lời anh :

- Tiểu muội lãnh nhiệm vụ ngăn cản bọn sài lang ấy cho họ Hà thoát ra khỏi đấu trưởng phải không :

- Đúng như vậy! Còn phần của nguy huynh thì hãy còn trong vòng dự đoán nên chưa dám nói chắc. Dù sao, cũng phải cần cố sức tiếp tay nhị vị hiền muội... Ngay từ lúc này, chúng ta cần chú ý dự phòng, chớ không đóng vai khán giả được nữa.

Ba người liền lấy khí giới, đai nịch gọn ghẽ chuẩn bị. Tới khi trống báo động thúc liên hồi, những người xem sợ hãi kéo ùa ra lối Nam môn, binh lính giữ trật tự can không nổi, Điêu Thiên Phượng liền quát lớn hạ lệnh hạ cửa xuống bất cần sóng người cuồn cuồn kéo qua cửa ra ngoài... Thiên Phượng bị mọi người xô lấn bèn hô các tướng cản đẩy lùi cả lại, nhưng đã có một phần khán giả tràn được tới cổng giữa lúc tấm cửa gióng sắt nặng nề đang hạ xuống.

Đang khi thập phần nguy hiểm, bỗng có ba người từ đâu phi tới như bay... Đó là anh em Chu gia và Âu Dương Bích Nữ. Chu Đức Kiệt vận nội ngoại công phu, tọa bộ chắc như Thái Sơn, giơ hai tay đỡ hẳn tấm ra nặng nề không cho hạ xuống nữa. Thừa dịp ấy, đợt người đã ra đến liền kéo nhau chạy thoát ra ngoài, trong khi Lam Y, Thái Dương kiếm tuốt trần sáng loáng, càn quét bọn bộ tướng Kim Lăng, không cho tên nào tới gần nơi Chu Đức Kiệt đang ra sức đỡ tấm cửa ngàn cân...

Thấy hai kẻ lạ mặt dũng mãnh phi thường, Điêu Thiên Phượng nổi giận đùng đùng thúc ngựa hoa chùy xuống tới bổ thẳng xuống đầu Lam Y.

Nói về Âu Dương Bích Nữ phi thân lên mặt cửa nam, tung song cước là văng hai tên quân luôn xuống dưới cổng phía ngoài đấu trường, đồng thời nàng hoa hai trái đấm thôi sơn đánh bật hai tên khác nhào xuống phía cổng cửa. Chỉ trong chớp mắt, bốn tên đã bị loại khỏi mặt công. Còn mười sáu tên thấy chàng mỹ mạo nam tử vì Âu Dương Bích Nữ mặc giả trai, từ đâu nhảy tới hung hãn quá, chúng bèn bỏ tay trục mặc cho tấm cửa nặng nề động xuống, khí giới ra hô nhau đánh. Nhưng không để cho chúng kịp hành động, Âu Dương Bích Nữ lẹ như cắt, bắt được tay một tên quân bẻ trẹo sa phía sau, đoạn một tay nắm gáy, một tay nắm dây lưng nhắc bổng lên lao thẳng vào đám đông. Bảy tám tên mắt thăng bằng, té nhào xuống dưới cổng. Rút cây thiết phiền, Âu Dương Bích Nữ nhảy tới hoa đánh tới tấp mấy tên còn lại.

Biết thân không địch nổi hung tính, chúng hè nhau nhảy bừa cả xuống đất. Giữa lúc ấy, hai bộ tướng có bản lãnh cầm đao phi thân lên đầu cổng địch chống đánh. Chúng vừa đặt chân tới mặt gạch thì bị Âu Dương Bích Nữ quét luôn một ngọn đá Hoàng Sà Địa Tảo.

"Chao ôi!".

Cả hai chỉ kịp kêu lên một tiếng thì bị lộn đầu té cả xuống. Nóng ruột vì Chu Đức Kiệt một mình đỡ tấm cửa sắt nặng nề giữa cuộc loạn chiến, Âu Dương Bích Nữ làm chủ tình thế trên mặt Nam môn vận động toàn lực cuốn trục xích sắt, kéo hẳn tấm cửa lên như cũ và đóng chốt lại.

Khi đó là lúc Điêu Thiên Phượng thúc ngựa tới đánh Lam Y.

Chu Đức Kiệt thấy hai tay nhẹ lần lần cánh cửa rút hẳn lên cao, biết là Âu Dương Bích Nữ đã làm chỉ tình thế trên đầu cổng, nên chàng vội rút Thất Tinh đao càn quét bọn quân tướng Kim Lăng không cho chúng kịp bao vây Lam Y vào giữa.

Về phần Lam Y, nàng nhảy vút sang bên né tránh ngọn chùy và hai vó ngựa trước của đối phương.

Đánh hụt, Điêu Thiên Phượng vội ngồi thẳng người lên, quay ngựa định giáng ngọn chùy nữa, thì Lam Y đã nhảy vọt lên cao nhằm đầu họ Điêu, chân tả đá búng vào màng tang, đồng thời gót chân hữu giáng ngược lại vào gáy địch thủ. Đó là thế đá Song Tước Đồng Phi tối ư nguy hiểm và rất khó dùng của Bắc phái. Tung Sơn Thiếu Lâm tự cũng có ngọn cước khổ luyện này nhưng đặt tên là Tả Hữu Hồi Cung.

Không dè địch thủ lợi hại tới bực siêu đẳng về môn quyền cước ấy, Điêu Thiên Phượng vội vàng cúi rạp người xuống núp hẳn bên cổ Lôi Phong mã, nhường cho Lam Y bay vọt qua đầu. Giữa lúc ấy, hai anh em họ Hà vừa ập tới.

Điêu Thiên Phượng vội giựt ngựa, bỏ Lam Y, nhảy vọt ra chận đường :

- Tặc đồ chạy đi đâu, hãy coi chùy của Trại Nguyên Khánh.

Hà Thiên Tường lầm lì vung chùy lên giáo đấu. Bốn ngọn chùy rập trúng nhau chát chúa nảy lửa. Hai con tuấn mã cũng chùn cả lại. Thừa dịp tốt, Hà Thiên Khánh lái xe tứ mã chạy bừa vào chỗ trống băng ra khỏi đấu trường. Không ham chiến, Thiên Tường cũng thúc ngựa chạy teo ra khỏi Nam môn.

Triệu Đại Bằng, Dư Đông Bích, Tống Võ Cường và Hầu Văn Bảo cũng áp tới hiệp cùng Điêu Thiên Phượng phóng ngựa theo. Nhưng Âu Dương Bích Nữ đã rút chốt thả bừa tấm cửa gióng sắt xuống.

Tấm cửa nặng nề gieo xuống rung chuyển cả mặt đất nhốt bọn Kim Lăng trong đấu trường.

Lam Y, Chu Đức Kiệt phi thân lên mặt Nam môn, vẫy tay chào năm hổ tướng Kim Lăng rồi cùng Âu Dương Bích Nữ nhảy ra ngoài biến mất.

Năm tướng tức giận quát quân sĩ leo lên mặt tường kéo cửa vượt ra ngoài đuổi theo.

Nhưng anh em Hà gia đã đi được quãng đường dài.

Tới chỗ Viên Bá Lương chờ, Hà Thiên Khánh hãm xe tứ mã cầm song chùy, nhường xe cho họ Viên nhảy lên Hoàng Mai mã.

- Viên biểu huynh chạy trước ra ụ đất ở Tây môn thành, mặc bọn tiểu đệ đoạn hậu.

Viên Bá Lương thúc ngựa chạy liền.

Hà Thiên Khánh cười lớn :

- May quá! Bọn ta thoát khỏi đấu trường dễ dàng là hoàn toàn nhờ ở tài xuất chúng của nhị vị Chu gia kiếm khách và cô gái Tô Châu đó.

Hà Thiên Tường hỏi :

- Trời chưa tối hẳn, đánh cho chúng một trận rồi mới chạy chớ.

- Đánh cho chúng biết tay chớ sao.

Hai người cho ngựa chạy chậm chờ đối phương.

Giữa lúc ấy, bọn Chu Đức Kiệt ba người phi hành tới kịp.

Chu Đức Kiệt gọi :

- Kìa! Nhị vị công tử còn chờ chi ở đây nữa.

Thiên Tường, Thiên Khánh cúi đầu chào :

- Công ơn của ba vị rất lớn, chừng nào qua Thành Đô, xin ghé tệ phủ để chúng tôi được bái kiến... Anh em tôi muốn đánh nhầu với tặc tướng một trận rồi mới đi. Ba vị cứ an tâm.

Chu Đức Kiệt cười lẳng lặng vẫy tay chào, rồi kéo Lam Y và Âu Dương Bích Nữ phi hành lẩn vào đám cây bên đường.

Tiếng vó ngựa đuổi ở phía sau đã tới gần. Anh em Hà gia quay ngựa lại sẵn sàng nhập trận. Dưới bóng hoàng hôn chập choạng, bụi cát bay mù, một toán nhân mã phóng tới.

Năm tướng Triệu, Dư, Tống, Hầu, Điêu dẫn đầu.

Điêu Thiên Phượng phi ngựa lên trước :

- Hai tên đạo này chạy đâu cho thoát.

Hà Thiên Khánh cười gằn :

- Như các ngươi thấy, ta chờ đó, đâu có thèm chạy.

Dứt lời, chàng múa chùy đáp ngựa tới đánh. Hai thiết chùy nặng nền nhằm đầu họ Điêu giáng xuống.

Thiên Phượng khinh thường vung chùy lên đỡ.

Chát! Chát! Chùy đập trúng nhau vang dội.

Điêu Thiên Phượng rùng mình, chồn cả hai cánh tay. Lôi Phong mã lùi hẳn lại.

Hà Thiên Khánh giáng luôn hai chùy nữa. Không lẽ chịu thua ngay trước mặt mọi người e mất thể diện, Điêu Thiên Phượng vận dụng toàn lực đưa bát giác đồng chùy đỡ.

"Chát! Chát!".

Toát mồ hôi, hai cánh tay tê buốt. Họ Điêu toàn thân run rẩy cơ hồ muốn té ngựa.

Thật không ngờ tên ốm này lại mạnh đến nước ấy! Hà Thiên Khánh cười ha hả chùy xã luôn hai nhát nữa, nhưng Điêu Thiên Phượng không dám đỡ nữa, thúc ngựa chạy...

Thoạt đầu, bốn tướng Triệu, Dư, Tống, Hầu cũng tưởng Điêu Thiên Phượng dư sức hạ đối phương nên cố ý trễ xem sao, sau sẽ vây bắt Thiên Tường cũng vừa. Ngờ đâu, Thiên Khánh dũng mãnh y hệt Lý Nguyên Bá thuở xưa mới dùng có bốn chùy mà họ Điêu đã đại bại, nên Hầu Văn Báo giục ngựa tiến lên hơ song chùy phủ quát :

- Tặc tướng không được hung hãn, coi phủ ta đây.

Hà Thiên Khánh phì cười :

- Chấp cả bốn con nữa, mau vào đây cho cha dạy bài hỗn đấu.

Dứt lời, chàng múa tít song chùy nhảy Hoàng Mai mã vào đánh tràn. Bảo nhảy ngựa sang bên, không đỡ hai ngọn chùy nặng nền, lia một phủ vào ngang sườn địch thủ trong khi ba tướng Triệu, Dư, Tống cũng áp tới bao vây Hà Thiên Khánh vào giữa. Thiên Khánh múa tít song chùy đánh bật cả bốn món binh khí dạt sang bên, gây nên một trường chiến đấu vô cùng dữ dội. Bọn lãm tướng đông đảo cũng hô nhau vây trong Hà Thiên Tường đánh thục mạng. Khí giới va chạm nhau chí chát, nảy lửa khủng khiếp.

Giữa khi đó, hai đạo binh từ hai cánh tả, hữu xa xa kéo tới, tiếng reo hò vang dậy. Anh em họ Hà không chủ tâm kéo dài trận đấu e binh tướng Kim Lăng kéo đến đông bất lợi, nên quật thêm đường chùy nữa rồi thúc ngựa ra khỏi vòng chiến :

- Cha tha cho các con nghe! Lần sau sẽ lấy đầu!

Đoạn hai người cùng phi ngựa chạy như bay ra phía Tây. Binh mã Kim Lăng rầm rộ đuổi theo sau. Màn đêm hạ lần lần, bóng tối mỗi lúc một thêm dày đặc. Đuổi tới khu đồi đất, rừng cây bao phủ, hai anh em Hà gia biến đâu mất trong đêm tối.

Bỗng tiếng trống chiêng hai bên rừng và tiếng quân hò reo vang dậy. Pháo hiệu nổ đùng đùng, mấy loạt tên vun vút bắn ra khiến nhiều kẻ nhiều kẻ trúng thương té ngựa. Binh tướng Kim Lăng không ngờ có phục binh nơi này nên đều hoảng sợ, không hiểu địch quân nhiều hay ít thế nào, e lạc hãm trùng Vĩnh An... Triệu Đại Bàng vội hô lớn thâu quân trở lại phía sau, phập phồng, đốt đuốc rồi mới chia ra từng toán tiến sâu vào lục soát khắp khu rừng cây, nhưng mất công vô ích, quân địch đã im lặng rút biến đi đâu mất từ lâu. Biết có đuổi theo nữa cũng chẳng ích lợi gì, các tướng đành thâu quân kiểm điểm thấy vài chục quân mã trúng thương, bèn băng bó tạm thời rồi kéo nhau rút cả về thành Kim Lăng báo cáo.

Tuy đắc thắng, quân tướng Thành Đô yên lặng rút ra khỏi khu vực nguy hiểm, chia ra từng toán nhỏ giả làm khách thương, kéo thẳng về Tây Xuyên.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau