LÃ MAI NƯƠNG

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Lã mai nương - Chương 21 - Chương 25

Chương 21: Nam Sơn trấn, Miêu Thúy Hoa cần thiền sư giúp sức Mai Hoa Thung, Lý Ba Sơn cậy sức gặp cao tay

Nói về thân mẫu Phương Thế Ngọc là Miêu Thúy Hoa, sau khi thấy Lý Ba Sơn cố chấp đòi Thế Ngọc thượng đài đấu võ để báo thù cho Lôi Lão Hổ, Thúy Hoa bèn lên Trung Sơn Thiếu Lâm tự định ý cầm Chí Thiện thiền sư xuống giúp sức, hoặc tìm giải pháp hòa giải đôi bên.

Đứng về phương diện kẻ thù, nàng biết rằng dù có nhờ cả toàn bang Quảng Đông nói với họ Lý cũng chẳng được nào, chi bằng Lý Ba Sơn đã cậy mình tài nghệ cao siêu thì nàng thỉnh sư bá Chí Thiện, là người công phu điêu luyện danh vang giới võ nghệ thời bấy giờ, may ra Lý Ba Sơn nể sợ bỏ qua việc rắc rối thù hiềm do vụ Vô Địch đài gây nên.

Khi lên đến chùa Thiếu Lâm, chư tăng đều biết nàng là dòng dõi Miêu Hiểu, nên niềm nở thăm hỏi. Thái Minh tăng, vị hòa thượng trưởng tràng thường thay thế Chí Thiện sư trưởng trong khi Người đi vắng, thấy Miêu Thúy Hoa đi một mình vẻ mặt lo âu thì lấy làm lạ hỏi rằng :

- Năm năm nay không thấy sư muội lên Tung Sơn, nay đến bắt thăm thế này chắc có chuyện chi cần kíp? Miêu sư thúc đâu không cùng đi?

Câu hỏi vô tình của Thái Minh khiến Thúy Hoa xúc động nhớ tới cha già thân mến đã quá cố, và hiện nay chính thân nàng đang bôn tẩu dặm trường mong cứu kịp đứa con trai độc nhất thân yêu.

Nàng bịn rịn :

- Gia phụ mất hồi đầu năm nay rồi. Quả thiệt tôi lên đây có chút việc cần, Sư bá có nhà không?

Thái Minh mời Thúy Hoa lên phương trượng, vừa đi vừa nói :

- Sư trưởng vân du từ đầu tháng trước, không biết ngày nào mới về. Việc chi cấp bách vậy, có thể cho bần tăng biết được không, may ra có giải pháp nào hay.

Thúy Hoa kể chuyện Phương Thế Ngọc đả Vô Địch đài, do đó gây oán chuốc thù với họ Lý cho Thái Minh tăng nghe. Minh tăng bảo :

- Cớ sự bây giờ đã như vậy, bần tăng khuyên sư muội nên cố công vào Bạch Hạc sơn yêu cầu Ngũ Mai đại sư bá tiếp tay. Chính bần tăng cũng muốn giúp sư muội trong vụ này, thiệt ra bản lãnh Lý Ba Sơn không ghê gớm như người ta tưởng đâu, nhưng bần tăng sợ hành động ấy ngoài sự hiểu biết dặn dò của Sư Trưởng, e phương hại tới tiếng Thiếu Lâm tự. Trái lại, với Ngũ Mai địa sư bá thì sự can thiệp có tánh chất quan trọng hơn. Lý Ba Sơn có lẽ nể sư bá, bỏ qua việc thù hiềm. Như vậy sẽ tránh được sự đụng độ giữa các võ phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Tây Khương mà không có ích lợi cho bên nào cả. Sư muội nên nghe lời bần tăng.

Miêu Thúy Hoa suy nghĩ hồi lâu :

- Từ đây vào Vân Nam đường xa dặm thẳng, hèn kỳ chỉ có ba tháng, mọc cánh cũng không đi về kịp, biết làm thế nào bây giờ?

Thấy Miêu Thúy Hoa nhăn nhó lo sợ, Thái Minh Tăng ái ngại mà rằng :

- Sư muội cũng bình tâm vào Bạch Hạc sơn thỉnh sư bá, bần tăng sẽ cấp tốc phái người đi tìm Sư trưởng tại những nơi người thường lui tới thăm nom. Nếu gặp Sư trưởng sẽ theo lời trong thơ của bần tăng đi thẳng Hàng Châu, như vậy tiện hơn.

Nghe Thái Minh Tăng nói hữu lý, vả lại không còn biện pháp nào hơn, Miêu Thúy Hoa thấy trời đã ngả về chiều, rán đi cũng lỡ độ đoạn đường, bèn ngủ lại chùa sáng hôm sau lên đường sớm.

Miêu thị cấp tốc tranh thủ thời gian đi Vân Nam.

Trưa hôm ấy, Miêu thị đang giục giã ngựa chạy dọc theo dãy Trung Nam Sơn cao vút ngàn mây bỗng có tiếng người sang sảng gọi :

- Miêu Thúy Hoa!...

Nàng giựt mình đánh thót một cái, ghì ngựa, nhìn quanh.

Tiếng gọi lớn vừa rồi còn âm vang. Miêu thị thấy ngay một vị thiền sư ngồi chênh vênh trên một mỏm đá cao bên sườn núi. Nàng ngạc nhiên giây lát rồi vui mừng ngay vì vừa mới nhận ra vị thiền sư đó không phải ai xa lạ mà chính là người nàng đang cố công tìm kiếm: Ngũ Mai sư bá.

Miêu thị quỳ xuống lạy chào. Ngũ Mai đỡ dậy :

- Điệt nữ đi đâu qua đây mà có vẻ vội vàng không kịp nhìn trước ngó sau thế?

- Bạch sư bá, con vào Bạch Hạc sơn, nhưng may mắn được gặp người nơi đây...

- A!... Vào Bạch Hạc sơn kiếm ta? Có chuyện chi điệt nữ khá trình bày.

Miêu Thúy Hoa đem chuyện đả Lôi đài ở Hàng Châu kể tỉ mỉ cho Ngũ Mai nghe và nói tiếp :

- Hiện thời Lý Bá Sơn thẳng tay can thiệp, phân trần giảng giải thế nào cũng không nghe, con đành thỉnh cầu sư bá tới Hàng Châu can thiệp.

Ngũ Mai suy nghĩ giây lát :

- Từ Hàng Châu vào Tung Sơn gần hơn sao điệt nữ không đến Thiếu Lâm thỉnh cầu nhị sư bá Chí Thiện, dại dột vào Vân Nam xa với làm chi?

- Nhị sư bá vân du vắng. Thái Minh sư huynh khuyên con vào Bạch Hạc thỉnh đại sư.

Ngũ Mai vẻ mặt nghĩ ngợi :

- Giúp đỡ các con, lúc nào ta cũng sẵn lòng. Hiềm vì Lý Bá Sơn tánh tình ngang ngược, ít biết lẽ phải, gặp ta lỡ y hỗn hào, không chịu được ta phải ra tay, sợ sẽ động chạm đến hòa khí của môn phái.

Miêu Thúy Hoa sợ Ngũ Mai không chịu nhận lời, năn nỉ :

- Sư bá thương tình cấp cứu Phương Thế Ngọc. Với sự hiện diện của người con chắc họ Lý sẽ nể nang mà chịu hòa giải.

Ngũ Mai nói :

- Việc Lý Ba Sơn chịu hòa giải hay không chẳng đáng quan tâm, nhưng ta đang thắc mắc suy tính về sự giao hảo từ trước đến nay giữa các môn phái, nên muốn tìm một giải pháp khác hơn là năn nỉ với y đó thôi.

Suy nghĩ giây lát, Ngũ Mai chép miệng :

- Ta có ý muốn gặp Bạch Mi đại sư, nhưng từ đây vào Tây Khương cũng rất diệu vợi mà chưa chắc đã hội kiến... Thôi điệt nữ đã có lòng lặn lội vào tới đây lẽ nào ta làm ngơ? Giờ đây không còn cách nào hơn là cùng đi Hàng Châu rồi sẽ tùy cơ ứng biến.

Thấy Thiền sư chịu nhận lời giúp đỡ, Miêu Thúy Hoa rất đỗi vui mừng vái tạ. Hai người một thấy một trò đi suốt ngày đêm về tới Hàng Châu thì vừa vặn hết hạn kỳ.

Nguyên Ngũ Mai, Chí Thiện là hai hảo đồ của Hồng Mi đại sư, trưởng chùa Thiếu Lâm. Hai người này theo Hồng Mi thế phát ngay từ lúc nhỏ. Ngũ Mai vốn người họ Hoàng ở Bạch Hạc thôn tỉnh Vân Nam, theo Hồng Mi đại sư trước Chí Thiện gốc người Tân Mật huyện, họ võ, mới thế phát vào chùa. Bởi vậy, vừa kém tuổi vừa gọc sau, Chí Thiện phải đứng vào hàng sư đệ, tuy sau này hai người Công phu khổ luyện đồng sức đồng tài.

Mãi sau, Miêu Hiển mới nhập học theo hàng môn đồ không thế phát. Hồi đó Miêu Hiển đứng đầu các môn đồ ngoại nhập nên được Hồng Mi đại sư và hai vị trưởng tràng Ngũ Mai, Chí Thiện quý mến. Thành tài, Miêu Hiển từ thầy, bạn xuống núi về Miêu động ở Quảng Đông lập gia đình, Khi Hồng Mi đại sư viên tịch, theo cấp bực đáng lẽ Ngũ Mai được thay thế đại sư điều khiển Thiếu Lâm tự, nhưng vì việc gia đình, Ngũ Mai phải về Bạch Hạc thôn thu xếp trang trại, vào núi Bạch Hạc tu luôn tại đó. Dĩ nhiên Chí Thiện là người duy nhất xứng đáng để được toàn thể nhân viên trong chùa bầu làm sư trưởng phái Thiếu Lâm.

Ngũ Mai vốn thuộc nữ giới, muốn trụ trì ở gần nhà, vả lại cũng ham mến cảnh Bạch Hạc sơn nên nhường chức sư trưởng Thiếu Lâm cho sư đệ Chí Thiện.

Ngũ Mai tánh ưa thích vân du khắp chốn hải hồ mà vị trí Sư trưởng Thiếu Lâm tự trách nhiệm rất nặng nề, không mấy được rời nhà chùa, trừ khi nào đào luyện được một trưởng tràng có đủ tư cách về cả hai phương diện: đạo hạnh và công phu.

Quy luật Thiếu Lâm tự thật nghiêm khắc, nhất là đối với tăng đồ. Tuy nhà chùa là một võ phái, ngoài giờ tập luyện công phu, toàn thể chư tăng vẫn phải người nào nhận phận sự ấy, không được xao nhãng kinh kệ nhật tụng. Đạo hạnh cao, kinh pháp làu thông, vị tăng Thiếu Lâm tự được Sư trưởng tùy tài phân cấp bực từng người thuộc phương diện Đạo giới.

Một vị tăng võ thuật cao nhưng đạo hạnh kém, không thể vượt bực lên cấp trên nhằm chức Trưởng tràng, hoặc đạt trình độ được Sư trưởng cho phép đi nơi khác điều khiển một ngôi tiểu tự. Trái lại vị tăng đạo có đứng hạnh cao nhưng kém phần võ thuật cũng chịu chung một ảnh hưởng.

Bởi quy luật Thiếu Lâm tự nghiêm khắc đến như vậy nên chư tăng luôn luôn cố gắng hòng được vượt bực. Tỉ dụ một tăng nhân muốn vượt cấp bực trong chùa, trước hêt sphải chịu qua một khóa thi về kinh pháp.

Đạt về kinh pháp rồi, tăng nhân đó phải chịu cuộc sát hạch về võ công.

Sát hạch võ công chia làm hai cấp:

Cấp thức nhất, thảo luận về phương pháp khổ luyện, côn phu toàn thể.

Qua được kỳ khảo luận, tăng nhân dự thí phải thực hành bằng hai lối. Lối thứ nhất là biểu diễn công phu đã thâu nhận được trong thời ký theo học.

Biểu diễn hoàn toàn rồi, tăng nhân dự thí đó phải song đấu với vị đống đạo thuộc cấp trên mình. Nếu đấu ngang tay không hề bị suy kém trong hai trăm hiệp từ quyền thuật đến khí giới, tăng nhân đó được sư trưởng phê chuẩn trúng cách lên cấp trên.

Trái lại, tăng nhân dự thí do công phu cá nhân ngấm ngầm khổ luyện thắng người cấp trên, sẽ được vượt bực. Nhưng đó là trường hợp hãn hữu, đấu ngang tay cũng đã khó lắm rồi, vì lẽ vị tăng ở cấp trên lúc nào cũng chăm tập luyện để giữ vững địa vị của mình.

Cứ tuần tự như thế tiễn mãi, chừng nào tăng nhân vượt hết cả cấp bực, kể từ lúc quy y thế phát cho đến khi thành một vị đại tăng vượt hết mọi bực đạo hạnh và công phu, thì sẽ được sư trưởng tính thời gian quy y nhắc lên bực trưởng tràng.

Thí dụ, hai vị tăng đồng tài đồng sức, vị nào quy y lâu hơn sẽ được lãnh vị trí Trưởng tràng, khả dĩ thay thế nổi sư trưởng điều khiển toàn thể Thiếu Lâm tự trong khi người đi vân du, hoặc giả vì một lý do gì khiến người vắng mặt.

Khi sư trưởng viên tịch, vị trưởng tràng sẽ được toàn thể nhân viên trong chùa suy tôn lên hàng đại sư thế người đã mất. Đạt địa vị ấy, phần nhiều vị trưởng tràng đều đứng tuổi. Đó là nghiêm luật đối với nội môn đồ, nghĩa là các tăng nhân.

Phần ngoại môn đồ thì khác. Người trần đến xin nhập học dĩ nhiên là có đủ các hạng người và các hạng tuổi. Họ phải qua một thời gian khảo sát đức hạnh mới được thiệt thọ tòng học. Ngoại môn đồ chuyên chăm chú về võ thuật, chia ra làm ba cấp: sơ, trung, thượng. Họ học võ để tự vệ, để ra đời xuất thân thí võ nhập ngành võ quan, mở võ đường, làm nghề bảo tiêu. Phần đông ai cũng có nhiệm vụ các nhân, hoặc gia đình nên họ thường theo cấp bực trung đẳng tương đương năm, sáu năm học tùy theo khả năng là xin từ thầy xuống núi xuất thân lập nghiệp, kiếm đường tiền thủ.

Không mấy ai theo nổi tới cấp Thượng thừa, ngang bằng với các vị trưởng tràng đồng môn quy y, nghĩa là phải ở luôn trong chùa, theo hầu sư trường suốt thời gian mười năm hay trên nữa. Bởi có nhiều người hấp tấp, bồng bột, mới theo học được vài ba năm, tưởng mình đã đủ tài thi thố trong thiên hạ nên từ biệt thầy về nhà.

Cử chỉ ấy trái với luật lệ nhà chùa, rất đỗi phật ý sư trưởng. Ra đời với sức luyện tập còn non nớt, dĩ nhiên môn đồ không đủ sức tự vệ làm mất thanh danh môn phái.

Nếu được sư trưởng ưng thuận cho xuống núi, vì xét không thể giữ lại được, người ấy sẽ bị ra trước ban Hội đồng đại tăng, và trước sự hiện diện toàn thể môn đồ Nội, Ngoại Sư trưởng tuyên bố không nhận làm môn đồ Thiếu Lâm tự nữa. Khi xuống núi, kẻ ấy phải ra lối sau chùa.

Các môn đồ học tới Trung đẳng thường ngang sức ngang tài, muốn hồi hương tuy không bị sát hạch gắt gao như những Nội đồ tranh cấp bực trưởng tràng, nhưng phải qua lần khảo thí đồng đều: đấu Mộc Nhân, Mộc Mã. Mộc Nhân, Mộc Mã đúng với nghĩa những người, ngựa chế ra bằng gỗ, lớn bằng cỡ thật, bên trong đặt cơ quan tự động được, đặt thành hai hàng quay mặt vào nhau trong một hành lang rộng rãi có mái che mưa.

Giữa hai hàng Nhân, Mã ấy có chỗ đủ cho một người đi lọt. Mỗi một Mộc Nhân tự động đánh ra một thế võ hoặc quyền cước, hoặc cầm khí giới. Mỗi Mộc Mã có Mộc Nhân gắn trên lưng, cũng được cơ quan chuyển động tại chỗ như thật và Mộc Nhân kỵ sĩ cầm khí giới đánh xuống một thế võ nhất đĩnh. Tổng cộng có một trăm lẻ tám cặp giàn cả hai bên dọc theo hành lang.

Khi vị tăng phụ trách khu vực ấy vận động cơ quan tức khắc Mộc Mã chuyển động đánh ra tới tấp. Sư trưởng ra lệnh, từng người một phải nhảy vào giữa giữa hàng Nhân, Mã đang loạn đả, trổ tài bình sanh đã thâu nhận được trong thời gian tòng học trên chùa, hoặc gạt đỡ, hoặc né tránh miễn sao cho khỏi trúng đòn, lanh lẹ qua hai hàng Nhân, Mã loạn đả ấy thoát ra đầu bên kia hành lang.

Môn đồ nào thoát ra dễ dàng được coi là trúng cách, có thể xuất sơn. Người nào bị đánh quỵ hoặc trúng đòn dù nhẹ cũng phải lưu lại chùa tập luyện một thời gian, tới khi nào sát hạch qua nổi hành lang Mộc Nhân, Mộc Mã mới được ra khỏi chùa. Nhờ lối sát hạch thực hành thận trọng ấy của nhà chùa, nên các môn đồ Thiếu Lâm đều có bản lãnh chắc chắn không đến nỗi nhục danh môn phái.

Mộc Nhân, Mộc Mã do Đạt Ma sư tổ chế biến ra trên giấy tờ từ khi người khai lập phái võ Thiếu Lâm. Về sau, người xin nhập học mỗi ngày một đông nên sư trưởng Huyền Không dưới thời Văn Tông thời Nguyên, mới thực hành để khảo thí môn đồ. Khởi đầu, các cơ quan đều thô sơ, về sau các sư trưởng chế hóa, chuyển biến thêm, các cơ quan Nhân, Mã được coi là hoàn toàn từ thời Minh Thành Tổ về Tân Thanh, là hai triều đại mà nền võ thuật Trung Nguyên được coi như là hưng thịnh nhất.

Ngoại đồ theo học tới cấp thượng thừa rất hiếm. Người nào chủ tâm theo tới trình độ ấy, sau khi vượt bực trung đẳng bằng cách đả Mộc Nhân, Mộc Mã, đều phải chịu lối sát hạch chung với các nội đồ cho tới khi thành đạt.

Ba phái võ thâu nhận nhiều môn đồ, ngoại trừ Thiếu Lâm, là Không Động, Võ Đang và Tây Khương. Vì không tuyển lựa gắt gao như Thiếu Lâm tự, nên võ phái này tuy cũng đào tạo được nhiều nhân tài, nhưng phần nhiều kém về phương diện hạnh kiểm nên họ hay gây rối, đụng độ với các đồng đạo thuộc phái khác.

Ngoài ra các võ phái khác như Sơn Đông (Bắc Thiếu Lâm), Côn Luân, Nga Mi, Bạch Hạc, phần nhiều không chịu thâu nhận môn đồ theo lối đại quy mô như ba phái trên.

Số môn đồ được chọn lựa kỹ càng theo tới trung đẳng. Còn lại những ai theo học tới cao độ Siêu đẳng, phần nhiều là được đại sư trưởng phải lựa chọn trong khi vân du đưa về núi ngay từ lúc còn nhỏ tuổi để đào luyện cho tới khi thành tài khả dĩ thay thế đại sư sau này. Các môn đồ cấp độ siêu đẳng thưởng hoặc ở lại chùa thế phát hoặc trở thành kiếm khách giang hồ, võ sư, tiêu sư tài danh, nhưng không ai chịu gò bó trong giới quan trường, võ tướng.

Nói về Ngũ Mai thiền sư và Miêu Thúy Hoa, khi đã về đến hội quán Quảng Đông tại Hàng Châu thì Phương Thế Ngọc đã được lành mạnh như trước.

Bang trưởng Trần Ngọc Thơ và Phương Đức mừng rỡ đón tiếp.

Phương ông nói với Thúy Hoa :

- Thấy hiền thê mãi không về, tôi đã bắt đầu lo sợ không hiểu tình hình sẽ biến chuyển tới đâu, Miêu Thúy Hoa kể việc lên Tung Sơn không gặp Chí Thiện, sau lại tới Trấn Nam sơn thì may mắn gặp Ngũ Mai sư bá. Phần Ngũ Mai thấy Phương Thế Ngọc anh hùng, cử chỉ đàng hoàng thì lấy làm quý mến, bảo tiểu khách vạch vết thương ở ngực ra xem. Ba vết đinh ở ngực thành sẹo nhỏ ngay phía trên ngực bên tả. Thiền sư nói :

- Con tránh được thế đá Bàn Long chệch sang ngực tả trúng bắp ngực là một điều đáng mừng đó. Tuy Thiết Đinh hài không dài xâm nhập vào tim nhưng cũng bị tổn hại vì sức đá mạnh nhằm chỗ nghiệt. Điều may thứ hai nữa là Lý Tiểu Hoàn không tẩm độc dược vào đinh hài, nếu có thì hết phương cứu chữa, vì không có linh dược chống đọc tại chỗ.

Nói đoạn, thiền sư lấy trong túi bát bảo mấy hườn thuốc Hoàn Căn bảo Thế Ngọc uống ngay và cho một gói thuốc bọc sáp trừ độc phòng bị sau này.

Bang trưởng Trần Ngọc Thơ sai người sửa soạn căn phòng rộng rãi để Đại sư tạm trú. Miêu Thúy Hoa hỏi thiền sư :

- Bạch sư bá, có nên báo cáo trước cho bên Lý Tiểu Hoàn biết ta đã sẵn sàng không?

Ngũ Mai lắc đầu :

- Không! Hạn kỳ còn hay hết cũng mặc họ, điệt nữ không nên đả động tới. Ta mong rằng trong thời gian ba tháng qua, cha con Lý Bá Sơn nguôi giận, biết nghĩ lại bỏ qua vụ này đi là một điều hay, hay cho cả đôi bên.

Bằng mà cha con Lý Tiểu Hoàn không suy nghĩ, nhất quyết gây lại mối lửa hận thù thì tất họ sẽ kéo đến đây tìm Phương Thế Ngọc, ta sẽ nhân đó tùy cơ ứng biến.. Như thế không mang tiếng háo chiến.

Hạn kỳ đã hết. Toàn thể hội quán Quảng Đông và dân Hàng Châu hồi hộp chờ tin tức cuộc tái đấu của họ Lý, Phương.

Nhưng một ngày qua, ba ngày qua, không hề xảy ra chuyện gì cả. Phương Đức đã mừng thầm có lẽ êm chuyện, chuyến này nhất quyết về quê ít lâu để tránh mọi hậu quả, sau sẽ hay. Phần Ngũ Mai thản nhiên như thường. Thiền sư nhân việc nhàn rỗi chỉ dẫn cho Phương tiểu khách nhiều đường hay thế lạ. Nhờ có căn bản luyện tập từ nhỏ, Thế Ngọc thâu nhận rất mau lẹ. Thiền sư ngợi khen bảo rằng :

- Với tài sức này, hiền điệt đừng để phí thì giờ quý báu, nên lên Thiếu Lâm theo Chí Thiện sư bá một thời gian.

Nếu ở gần, chính ta sẽ thâu nhận con, ngặt vì Vân Nam đường sá xa xôi, núi sông hiểm trở, mẹ con có muốn thăm con cũng không tiện. Với căn bản hiện thời, con không cần phải ở lâu trên núi. Gần Chí Thiện một năm là đủ lắm rồi.

* * * * *

Trong thời gian ba tháng chờ đợi Phương Thế Ngọc bình phục và quyết định của Lý Bá Sơn trong vụ báo thù cho Lôi Lão Hổ, vua Càn Long rời Triệu Gia lầu đi du ngoạn nơi khác.

Trước khi lên đường, nhà Vua phía Chu Nhật Thanh đến Kim Long lữ quán triệu Thị lang Hòa Thân và Thiết Diện Hổ căn dặn về vụ lôi đài :

- Ngọn lửa đã nhón, hai khanh chớ để mau tàn. Nếu dịp này không tiến mạnh thi hành chương trình, Trẫm e khó tái nhóm sau này. Vắng Trẫm cũng như có Trẫm, hai khanh hãy cố tâm thành tựu, công ấy rất lớn. Trẫm cho toàn quyền định đoạt.

Càn Long rời khỏi Hàng Châu.

Thiết Diện Hổ e để lâu Lý Bá Sơn nguôi giận, nên thường tới nhà Lý Tiểu Hoàn ở Nhưởng Cung lộ thăm nom cha con họ Lý.

Thiết Diện Hổ tính toán đủ mọi cách tra dầu vào lửa suốt thời gian chờ đợi Phương Thế Ngọc bình phục.

Ngày qua tháng lại, chẳng bao lâu hạn kỳ đã hết.

Một hôm, Lâm Minh, tên môn đồ của Lôi Lão Hổ có nhiệm vụ dò xét, canh phòng quanh khu Quảng Đông hội quán, về báo Lý Bá Sơn :

- Thưa võ sư, Miêu Thúy Hoa đã trở về Hội quán hồi đầu giờ Tị, cùng đi với một vị thiền sư cưỡi con lừa cao lớn.

- A! Thiền sư người thế nào? Nam hay nữ?

- Thưa, tiểu đồ không phân biệt là nam hay nữ, vóc dáng người to lớn, đầu cọa nhẵn bóng.

Lý Ba Sơn gật đầu :

- Được, cho ngươi lui và cứ tiếp tục dò la tin tức coi. Nếu hỏi được đạo hiệu vị thiền sư càng hay.

Chờ Lâm Minh đi khỏi, Lý Ba Sơn nói với Tiểu Hoàn :

- Theo lời Lâm Minh, vóc dáng ấy chắc là Chí Thiện sư trưởng Thiếu Lâm. Hừ! Cha không muốn gây lớn, nhưng khó tránh được vụ này khỏi bành trướng!

Hạn kỳ đã hết, Thiết Diện Hổ lại đến thăm cha con Lý Bá Sơn nghe tin tức và được họ Lý cho biết Miêu thị đã có viện binh. Y mừng thầm cơ sự biến chuyển đúng theo chương trình dự tính. Tuy vậy y vẫn đạo đức :

- Dù sao, tiểu đệ khuyên sư huynh thận trọng. Bản lãnh Chí Thiện không vừa đâu.

Chạm lòng tự ái, Lý Ba Sơn quắc mắt :

- Sư đệ kỳ quá! Luôn luôn tưng bốc sức mạnh của đối phương là thế nào?

Thiết Diện Hổ nhấn mạnh :

- Sư huynh đừng giận. Chí Thiện tới nơi can thiệp không phải là chuyện chơi! Chẳng nên coi thường. Thiệt tình tiểu đệ thấy ngài ngại thế nào ấy.

Bực mình, Lý Ba Sơn lấy hồ rượu trên án tự rót đầy ly uống cạnh :

- Được! Mặc sư huynh xử sự. Chí Thiện bất quá cũng như mình, cùng một công phu tập luyện, chỉ khác nhau ở môn phái. Sư đệ tưởng y cao tay hơn ta chăng?

Thiết Diện Hổ mỉm cười nha hiểm :

- Tiểu đệ không bao giờ nghĩ thế. Nhưng chỉ nhắc sư huynh nên thận trọng. Hạn kỳ đã hết, bao giờ sư huynh tìm gặp mẹ con Phương Thế Ngọc?

Lý Bá Sơn suy nghĩ giây lát :

- Nay dựa vào hậu thuẫn của Chí Thiện, có lẽ chúng tìm ta trước. Hãy thử chờ xem sao. Qua vài ngày, không thấy gì, ngu huynh sẽ quyết tìm chúng.

Ngày nọ qua ngày kia, bên Quảng Đông hội quán vẫn im lìm, mà theo tin tức Lâm Minh mang về, Miêu Thúy Hoa đã về tới nơi rồi.

Không chờ nữa, Lý Ba Sơn viết một phong thơ sai tiều đồ đem đến Hội quán, chánh thức nhắc lại việc giao đầu và hẹn sáng hôm sau Miêu Thúy Hoa, Phương Thế Ngọc phải đến Lôi đài.

Theo lời Ngũ Mai, Miêu Thúy Hoa hồi âm, lời lẽ kính cẩn, khiêm tốn xin lỗi Lý Ba Sơn, yêu cầu bỏ qua vụ này.

Nhận được phúc đáp, Lý Ba Sơn cười gằn đưa cho Tiểu Hoàn xem, đoạn bảo sứ giả Hội quán :

- Ngươi về bảo mẹ con Miêu thị hay rằng ta không ưng thuận. Sáng mai đúng giờ hẹn, chúng phải đến Lôi đài lãnh tội. Và bất tất thơ từ đi lại làm chi nữa!

Phần Lý Tiểu Hoàn thân ra lôi đài đốc thúc môn đồ dọn dẹp trang hoàng chờ ngày hôm sau giao đấu. Dân chúng vốn đã chờ sẵn, theo dõi vụ Vô Địch đài, quá hạn kỳ thấy hai bên cùng im lìm, đang hoang mang không hiểu vì lẽ gì, thì tin Nữ Bá Vương thân ra sửa sang Lôi đài được chuyển khẩu loan khắp Hàng Châu.

Đúng ngày giờ hẹn, cha con họ Lý bệ vệ thượng đài. Miêu Thúy Hoa và Phương Thế Ngọc đai nịt gọn ghẽ cùng toàn bang Quảng Đông đi tới nơi. Hai mẹ con không thượng đài, nhưng cùng mọi người đứng cả phía trước, cách đài ba trượng.

Đây là lần đầu tiên Lý Ba Sơn trông thấy Phương Thế Ngọc, liền hỏi Tiểu Hoàn :

- Thế Ngọc là tên vị thành niên đi cạnh Miêu Thúy Hoa, phải không?

- Dạ. Chính nó.

Ba Sơn nghĩ thầm: “Thiếu niên anh hùng mạnh mẽ thiệt. Nhưng quá lắm là đánh tay ngang chớ làm chi hạ nổi Lôi Lão Hổ? Có lẽ tiểu tử này được luyện từ nhỏ chăng? Ủa. Sao chúng ngừng cả lại kia. Chí Thiện đâu không thấy mặt?”

Nghĩ đoạn, họ Lý vỗ tay gọi tiểu đồ bảo dùng loa thỉnh mẹ con Thế Ngọc thượng đài. Hai mẹ con Thế Ngọc vẫn im lặng đứng nguyên một chỗ, nhìn lên đài nhận xét. Lý Ba Sơn tức mình đứng ra trước đài gọi :

- Miêu Thúy Hoa! Hay tới đây ta bảo!...

Miêu thị vẫn đứng nguyên trừng trừng nhìn lên đài trước sự ngạc nhiên của khán giả. Không nén nổi giận, Lý Ba Sơn nhảy phắt xuống đài quát :

- Mẹ con ngươi đã không thượng đìa chịu tội thì ta tới nơi vậy! Chạy đi đằng trời cũng không thoát!

Ba Sơn hùng hổ sấn tới trước mặt mẹ con Thế Ngọc, đưa tay túm ngực áo Thế Ngọc thì tiểu khách điềm nhiên gạt mạnh, lùi lại mấy bước cung kính nói :

- Lão sư thúc không nên bạo động!

Bị gạt cái bất ngờ, Lý Ba Sơn giận sôi sùng sục, thét lớn :

- Tặc tử, coi đây!

Vừa lúc ấy, một vị cao tăng từ đám đông điềm đạm tiến tới đứng ngăn hẳn đôi bên mà rằng :

- Kìa, Lý sư đệ làm gì ở đây mà coi mòi giận dữ thế này?

Lý Ba Sơn định thần nhận ra Ngũ Mai thiền sư, nghĩ thầm: “Té ra là Ngũ Mai chớ không phải Chí Thiện. Ờ, ta quên khuấy đi mất, hai người vóc dáng như nhau”.

Cực chẳng đã, họ Lý chắp tay chào :

- Kính chào sư tỉ, người giáng lâm hồi nào, qua đây có việc chi?

Ngũ Mai tươi cười :

- Tôi vừa từ Quế Lâm lên Hàng Châu thấy có đám đông liền rẽ vào coi, mới hay là... sư đệ thủ đài. Thiệt không ngờ. Giận dữ điều chi mà sư đệ đánh người vậy?

Ngũ Mai vờ nhìn hai mẹ con Thế Ngọc, đoạn nói tiếp :

- Kìa! Miêu điệt nữ, làm gì ở đây? Thiếu niên này là ai?

Miêu Thúy Hoa - hành động theo kế hoạch của Ngũ Mai - vái chào thiền sư :

- Thưa sư bá, mẹ con điệt nữ hôm nay phải cùng Lý sư thúc đây thượng đài đấu võ.

Ngũ Mai giả đò ngạc nhiên nhìn Lý Ba Sơn :

- Lẽ nào lại ngược đời như thế? Dù dị phái, tình đồng đạo vẫn phải được tôn trọng như thường! Thật vậy không sư đệ?

Lý Ba Sơn cười gằn, chỉ Thế Ngọc :

- Đúng lẽ ra thì có tôn tư trật tự thiệt đấy, nhưng lúc tên tiểu tử kia hạ sát tế tử ta có nghĩ tới tình đồng đạo hay không?

Ngũ Mai vẫn thản nhiên :

- Thật vậy ư? Nhưng lệnh tế làm gì ở đây mà bị tiểu tử hạ sát?

- Tế tử tôi trấn lôi đài. Còn tên Phương Thế Ngọc là kẻ thượng đài...

Ngũ Mai ngắt lời :

- À, ra vậy đó! Đường quyền, ngọn cước vô tình, lỡ tay là một sự kiện khó tránh được trong lúc giao đấu.

Lý Ba Sơn phản đối :

- Đâu phải chuyện lỡ tay! Phương tặc tử ngầm đi Diệp kiếm hại hạ sát đài chủ. Nếu chỉ so tàu không thôi thì sự thua, được, nguy đến tánh mạng cũng bất thành vấn đề.

Ngũ Mai điềm đạm :

- Bần ni mới tới Hàng Châu đã nghe thấy thiên hạ thì thào bàn tán về Lôi Lão Hổ trấn đài mạt sát dân Tô, Hàng, đả tử nhiều người đã chịu thua rồi mà không thoát chết, phải chăng họ Lôi là lệnh quý tế?

Lý Ba Sơn thừa đoán chính Miêu thị đã thỉnh được Ngũ Mai về Hàng Châu can thiệp nên nghĩ thầm: “Con mụ vãi và này khéo vờ vĩnh! Ngươi đã tới đây can thiệp tiếp tay cho đối phương của ta, muốn giở trò gì thì cứ việc, còn luồn lọi như rắn làm chi! Ai chớ, Lý Ba Sơn này thì ngươi không nạt nộ nổi đâu!”Nghĩ đoạn, họ Lý đáp :

- Phải, chính Lôi Lão Hổ là tế tử của tôi. Thiên hạ đồn thế nào, nơi đây không phải là chỗ luận bàn. Yêu cầu nữ tỉ tránh ra để tôi hỏi tội tên tiểu tử sát nhân này.

Dứt lời, Lý Ba Sơn sấn tới định đánh cùng Phương Thế Ngọc nhưng Ngũ Mai đã dang hai bàn tay ngăn lại :

- Yêu cầu Lý sư đệ nể lời bần ni, điều tra kỹ càng vụ này trước khi kết tội một người. Thiệt ra sư đệ có mục kích trận đấu không? Đừng quên rằng Lão Hổ là một vị giáo đầu trấn đài đầy đủ kinh nghiệm, trái lại Phương Thế Ngọc dù sao cũng còn vị thành niên.

Nếu những gia đình có người thượng đài bị Lão Hổ thuận tay đả tử không vì lẽ nọ điều kia đòi thường mạng thì sư đệ cũng nên bỏ qua việc Thế Ngọc vì tự vệ lỡ tay, chấm dứt vụ Lôi đài kẻo thiên hạ bình luận không hay về giới võ nghệ chúng ta. Thiệt tình yêu cầu, sư đệ nên nể bần ni.

Lý Ba Sơn cười gằn :

- Sư tỉ là người tu hành, chẳng nên can thiệp vào thế sự làm chi. Hoặc giả sư tỉ tới đây với mục đích nào khác, xin vui lòng nói thẳng, chớ để Lý mỗ này có cảm tưởng là người cốt ý đến Hàng Châu can thiệp cho phe tên tiểu tử.

Ngũ Mai mỉm cười :

- Bần ni thuộc giới tu hành, không màng thế sự thiệt, nhưng nội vụ thuộc phạm vi giới võ nghệ. Mẹ con Thế Ngọc là đồng phái thuộc hạng môn đồ, còn sư đệ ở trong tình đồng đạo, cả hai phe cùng thân, thiết tưởng nếu bần ni can thiệp cũng không có gì quá đáng để sư đệ trách cứ.

Hành động của bần ni không ngoài mục đích phụng sự tình hòa hảo giữa các môn phái. Sư đệ là bực lão thành nên suy xét cho kỹ.

Lôi Lão Hổ bị đả tử cũng như bao nhiêu người đã bị Lão Hổ đả tử, tất không vì cuộc báo oán vu vơ này mà hồi sanh nhân thế, chi bằng dẹp hẳn cho rồi vụ Lôi đài, bần ni sẽ bắt Thế Ngọc tạ lỗi với sư đệ có hơn không!?...

Vốn tánh cố chấp, Lý Ba Sơn khi nào chịu nghe theo lời lẽ hơn thiệt của lão ni dị phái, nhưng tính đánh Thế Ngọc tất bị Ngũ Mai cản trở, bèn nghĩ ngay ra một kế gian hiểm để hạ sát Thế Ngọc ngay tại chỗ.

Họ Lý nói :

- Được, sư tỉ đã can ngăn, tôi ưng thuận nhưng tặc tử phải tạ lỗi ngay nơi đây trước công chúng.

Ngũ Mai mừng rỡ :

- Có thế chớ! Xử sự đàng hoàng như sư đệ bần ni rất khâm phục.

Dứt lời, Thiền sư quay lại bảo Miêu Thúy Hoa :

- Điệt nữ nghe rõ đó chứ? Thế Ngọc hãy ra lạy tạ Lý sư thúc đi, ta coi.

Miêu Thúy Hoa lo sợ Lý Ba Sơn trở mặt thừa dịp con nàng quỳ lạy sẽ ra tay hạ sát chăng, nhưng trông cặp mắt quả quyết sáng như điện của Ngũ Mai thiền sư, nàng không dám cưỡng lời. Phương Thế Ngọc không đợi mẹ nhắc, tức thì dõng dạc tiến đến trước mặt Lý Ba Sơn đang đứng dang chân, hai tay chống lên mạn sườn, lạnh lùng nhìn kẻ thù. Ngũ Mai đi kế bên Thế Ngọc giám sát cuộc tạ lỗi.

Phương tiểu khách quỳ xuống đất cách Lý Ba Sơn độ hơn sải tay cúi đầu tam bái...

Mọi người hồi hộp theo dõi, nhất là Miêu Thúy Hoa, Phương Đức và toàn thể nhân viên trong hội quán Quảng Đông, ai nấy đều rùng mình lạnh gáy lo cho Thế Ngọc. Trong trường hợp này, Ba Sơn chỉ phóng một cước trúng mặt thì rồi đời trang thiếu niên anh hùng.

Thế Ngọc vẫn thong thả lễ tới nhị bái. Chàng chú ý đề phòng bất trắc... Thì việc phải đến đã đến. Cơ sự chỉ xảy ra trong chớp mắt khiến ai nấy đều bàng hoàng!

Bất thình lình, Lý Ba Sơn thét lớn :

- Chết này!...

Đồng thời họ Lý phóng chân tả đá một cước ngay mặt Thế Ngọc đang quỳ lạy. Miêu Thúy Hoa kinh hoàng nhào tới, thục mạng đinh lăn mình đè lên bàn chân độc ác của Ba Sơn cứu đứa con độc nhất thân yêu. Phương Đức xây xẩm mặt mày lảo đảo muốn té. Trần Ngọc Thơ và con là Ngọc Thành đứng bên vội đỡ lấy Phương ông.

Tiếp theo tiếng thét của Lý Ba Sơn là tiếng quát dằn giọng của Ngũ Mai :

- Bậy quá!

Thiền sư xoạc chân hữu ra chèn đúng bắp vế tả Lý Ba Sơn, đồng thời đưa bàn tay ra xô mạnh họ Lý bật chéo sang bên, thành thử ngọn cước đáng lẽ gieo chết chóc của Lý Ba Sơn lại phóng vượt vào khoảng không.

Về phần Phương Thế Ngọc cũng không kém phần ranh mãnh. Chàng không tin Lý Ba Sơn thật tình muốn cho chàng tạ lỗi. Nét mặt vừa hung dữ tối sầm thâm hiểm kia đủ bộc lộ tâm tính con người nham hiểm. Bởi thế khi vái, Thế Ngọc làm điệu bộ thản nhiên kỳ thật chàng hết sức chú ý tới cặp cước của Lý Ba Sơn.

Dù hạ quyền hay phóng cước, Ba Sơn cũng phải xê dịch mới tới chỗ chàng quỳ xa hơn một sải tay.

Đồng thời với tiếng thét, ngọn cước của Ba Sơn phóng lẹ và đồng thời Thế Ngọc cũng đảo người nhảy vút qua bên tránh đòn... Chàng thấy kịp mẫu thân chàng nhào tới chân họ Lý bèn vươn tay cắp lấy ngang lưng Miêu thị lăn đi một vòng. Hai mẹ con cùng vùng dậy nhìn ngoái lại, e bị đuổi theo thì chỉ kịp thấy Ba Sơn bị Ngũ Mai độn chân hất ra bất ngờ đẩy sang hẳn một bên.

Thiền sư chắp tay vái Lý Ba Sơn :

- Xin lỗi sư đệ, bần ni không muốn như vậy nhưng e sư đệ quá giận lỡ chân gây án mạng là chuyện không nên.

Trái với thái độ điềm đạm của Ngũ Mai, Lý Ba Sơn mặt tái ngắt, nổi giận đùng đùng chỉ mặt Ngũ Mai mắng lớn :

- Hay cho sư tỉ cố ý can thiệp vụ này. Đối với sư tỉ dễ thường chỉ có Phương tặc tử là người, còn tế tử của ta là giấy sao?

Ngũ Mai ôn tồn :

- Sư đệ đừng quá giận mất khôn. Tại không giữ lời hứa quân tử nên bần ni buộc lòng ngăn cản đó thôi. Thiệt tình không vì phe đảng nào cả.

Lý Ba Sơn thét như sấm :

- Chớ có nhiều lời! Nếu sư tỉ đến Hàng Châu cố ý che chở bênh vực Phương tiểu tử thì cứ việc ngang nhiên giao đấu, ta không sờn lòng, nhưng đừng có thái độ úp mở như vậy.

Ngũ Mai cười lạt :

- Thế nào là thái độ úp mở? Tiên sinh là người lớn lẽ nào lừa một thiếu nhi đang quỳ bái kính trọng mình mà can đảm phóng cước định sát hại ư? Bần ni giúp tiên sinh thoát khỏi tiếng xấu ấy mà còn cố chấp oán hận nữa sao?

Bị nhiếc, Lý Ba Sơn mặt đỏ gay gắt, mắc cỡ trước công chúng, chỉ mặt Thiền sư mắng lại :

- Tên tiểu tử là kẻ thù của gia đình ta muốn thoát thân nên ta lập mưu hạ y, không có chi lạ. Còn việc tăng ni là hạng người tu hành, cớ sao tới đây can thiệp? Đã vậy có tài chi cứ việc trổ coi!...

Ngũ Mai nói :

- Phàm người hào khí, bất cứ giới nào thấy sự bất bình không thể bỏ qua. Huống hồ Phương Thế Ngọc là hàng tôn điệt, bần ni can thiệp không ngoài mục đích giữ tình giao hảo giữa các môn phái. Nếu bản ai cũng như ai, xử sự trái lương tâm, hà tất bắt Thế Ngọc tạ lỗi với tiên sinh, tuy y không có lỗi? Bần ni phân trần biện bạch nhiều rồi, mong tiên sinh chớ vượt quá giới hạn lẽ phải. Tiên sinh là hàng tiền bối, nội thúc, cư xử như vậy, kẻ dưới kính nể sao được.

Bị Ngũ Mai giáo huấn cho một hồi, Lý Ba Sơn tức điên ruột, quát lớn :

- Vãi già hà tất nhiều lời! Đã xuống đây can thiệp cứ việc trổ tài. Ngươi binh vực Thế Ngọc, quyết dành lẽ phải phần ngươi, hãy lên đây cùng ta phân cao hạ. Lên đây!

Dứt lời, Ba Sơn xoay mình nhảy vút lên Lôi đài, Lý Tiểu Hoàn nhảy theo. Ngũ Mai nghĩ thầm: “Quả thật tên Ba Sơn này tánh tình khó thương, bất chấp lý lẽ.Ta không thượng đài, y cho là nể sợ sẽ làm tàn hơn nữa, theo đuổi truy sát mẹ con Thúy Hoa, chi bằng đánh cho y một trận cho biết tay!”

Nghĩ vậy, Thiền sư từ tốn leo bực thang lên đài, Mẹ con Miêu thị cũng theo sau giám trận. Lý Ba Sơn chống nạnh tay lên ba sườn, cao lớn, hung dữ đứng bên hướng Đông. Ngũ Mai bỏ áo cà sa liệng cho Thúy Hoa, bên trong vận sẵn võ phục áo cài chéo vạt, quần cho vào trong vớ vải thô kiểu nhà chùa. Hai tay áo rộng, ngắn lộ hai cổ tay tròn chắc nịch. Thiền sư điềm đạm bước đứng sang hướng Tây, nghiêm chỉnh, cân nhắc nói nhỏ :

- Lý tiên sinh nhất quyết bất chấp lẽ phải chớ?

Thay vì từ tốn, Lý Ba Sơn quắc mắt :

- Nói nhiều rồi, câm miệng đi!

Dứt lời, họ Lý hoa tay đạo quyền, bộ pháp nhà nghề, hùng dũng dữ dội

Dưới đài hồi nãy nhốn nháo bao nhiêu, nay trái lại im phăng phắc bấy nhiêu theo dõi trận đấu hứa hẹn hào hứng, bất ngờ của một tăng, một tục ở cấp bực thượng thừa.

Dân chúng im lặng theo dõi, nhận xét từng bước đi, từng cái ngoắc tay hất đầu của hai đối thủ thượng thặng.

Ngũ Mai thiền sư nhìn qua họ Lý, niệm nhỏ Nam mô phật, đoạn hoa quyền chuyển cước dượt mấy đường dẻo tuyệt đẹp trở về bái tổ theo đúng khuôn phép, lịch sự của môn phái Thiếu Lâm danh tiếng.

Biết Ngũ Mai, Chí Thiện là đệ nhất môn đồ của Hồng Mi lão tổ, Lý Ba Sơn tuy đứng vào hàng đệ nhất cao đồ phái Tây Khương, cũng hết sức thận trọng, chú ý từng cử chỉ nhỏ nhặt của đối phương.

Sau mấy đường quyền dạo giáo đầu, Lý Ba Sơn chuyển mình bái tổ hành thế “Mãnh Hổ Cầm Dương” oai hùng dữ dội, quắc mắt nhìn đối phương. Ngũ Mai thản nhiên, điềm đạm, tỏa bộ chảo mã, tay hữu nắm lại thu về bên sườn, tay tả xòe cương đao thâu về trước ngực, lưng hơi cong nhã nhặn cúi đầu theo thế “Quan Âm Thủ Kính” :

- Xin mời Lý tiên sinh cứ việc ra tay.

Ba Sơn lặng lẽ nhảy chồm lên như mãnh hổ vồ mồi, đưa bàn tay thọc vào cổ địch, đồng thời tay hữu hạ Thôi Sơn Thủ vào đỉnh đầu Thiền sư. Đó là ngọn Suy Sơn Trưởng.

Ngũ Mai rút chân Tả Kinh Bộ về phía sau, chuyển bộ cước thành Đinh tấn vững như thành đá, khoát tay tả gạt bật đòn yết hầu, đưa tay hữu thành thước thợ lên đỉnh đầu chịu trái đấm Suy Sơn tuy nặng nề như đại phủ nhưng nện trúng một chiếc... đe toàn thép.

Thiền sư nói nhẹ đủ nghe :

- Nhường Lý tiên sinh một đòn!

Lầm lì, Lý Ba Sơn thâu hai tay lại bên sườn, cất chân hữu đạp thốc một ngọn “Thiết Cước Quy Hồn” vào bụng địch. Lẹ như cắt, Ngũ Mai xoay mình sang bên nhường ngọn độc cước đạp vuột vào không khí.

- Nhường tiên sinh hai đòn!

Đánh trượt, Ba Sơn nổi giận đùng đùng dậm chân đạp “Thiết Cước Quy Hồn” xuống sàn đài đánh rầm một tiếng, đưa luôn cả nắm Thôi Sơn đánh thốc vào ngực Thiền sư cực kỳ dũng mãnh. Đó là ngọn “Song Long Triều Nguyệt”.

- Nhường ba đòn. Coi đây!

Ngũ Mai tọa mã ngồi thụp hẳn xuống nhường hai cánh tay rắn chắc của đối phương chặt trượt qua đầu, và tức thì chắp hai bàn tay lại như người lễ phật, toàn thân bật đứng hẳn lên, đưa thốc hai bàn tay đánh bật hẳn hai cánh tay địch sang bên, khiến Lý Ba Sơn mất thăng bằng phải lùi lại liên tiếp mấy bước. Thừa thêm, Ngũ Mai dẻo dai tiến theo như vượn, gài chân tả vào giữa hai gối địch, hạ trung bình tấn đánh thọc luôn quyền tả vào ngang bao tử đối phương theo thế Tọa Mã Độc Quyền. Ngọn quyền Tọa Mã vừa độc dữ vừa lanh lẹ, Lý Ba Sơn bị chận, không còn cách gì hơn là thoái luôn mấy bước nữa mới khỏi trúng đòn.

Dưới đài khán giả vỗ tay ầm ầm hoan hô hảo thủ.

Mà quả vậy, hai đối thủ đúng là bậc thượng thặng. Mỗi động tay là phóng ta một đường quyền danh giá hảo thủ, mỗi bước chân là một bộ pháp tuyệt diệu của nhà nghề, chỉ sơ hở chân tơ kẽ tóc là mắc phải thế nghiệt nguy đến tánh mạng ngay.

Kẻ tám lượng, người nửa cân, tướng ngộ lương tài, đòn ra như gió giựt mưa rào, Lý Ba Sơn hầm hè, lúc la thét dữ dội không khác chi mãnh hổ cầm dương. Trái lại, Ngũ Mai thiền sư im lìm đánh đỡ, công phá, uyển chuyển như giao long bộ thủy.

Trận đấu diễn ra ngoạn mục, hào hứng, khốc liệt, người xem mê mải theo dõi thích thú. Nhưng không phải ai cũng vậy, nhiều người nhắm cả mắt lại không dám nhìn những loạt tấn công dồn dập, nguy hiểm, ghê gớm của bên nọ hoặc bên kia.

Lý Ba Sơn quyết hạ đối thủ cho kỳ được, sử dụng toàn đòn nghề, thế hiểm. Trước hết Ba Sơn muốn báo thù cho Lôi Lão Hổ, hơn nữa, hạ được Ngũ Mai, danh tiếng Lý lão sư sẽ vang như cồn trong giới võ nghệ. Một đàng, Ngũ Mai thiền sư vạn bất đắc dĩ mới buộc lòng phải thượng đài.

Thiền sư hiểu rõ tình thế lưỡng nan của mẹ con Miêu thị, nên cố gắng giảng hòa không xong, đành phải thượng đài dùng võ lực cản võ lực, may ra Lý Ba Sơn thấy thắng không nổi sẽ đổi ý thu xếp giảng hòa chăng.

Thiền sư là bậc thượng thặng, tiền bối thuộc phái Thiếu Lâm, lẽ nào nhắm mắt bước qua mặc cho Lý Ba Sơn, người phái Tây Khương làm mưa làm gió, sát hại Phương Thế Ngọc? Thế Ngọc bị hại tất Miêu Thúy Hoa, mẫu tử tình thâm, không thể bỏ qua. Nàng sẽ liều mạng báo thù! Mà liều mạng trước cha con Lý Ba Sơn và có lẽ còn bao nhiêu lẻ khác nữa, là táng mạng.

Trước tình thế ấy, Thiền sư nhất định phải can thiệp đến nơi đến chốn, bằng bất cứ giá nào. Một vị đại sư Thiếu Lâm đi qua một nơi mà người của Thiếu Lâm đang lâm nguy vì chính nghĩa, bỏ qua sẽ bị kẻ dị phái chê cười.

Cho nên trong trận đấu, Thiền sư cầm cự, trổ tài cho Lý Ba Sơn phải thầm phục nể nang chịu điều đình. Hơn nữa, Thiền sư còn muốn cho Ba Sơn từ nay biết kiêng nể môn đồ Thiếu Lâm tự. Người ung dung chiến đấu dữ dội chống một đối thủ hữu tài, hữu lực nhưng không hằn thù. Mỗi khi Lý Ba Sơn trổ thế hiểm, Thiền sư trả đòn bằng những thế gỡ tuyệt diệu và trả đòn ngay tức thì buộc đối phương phải thoái bộ luôn luôn nhường mặt trận, lấy lợi thế về phần mình.

Dồn địch thủ tới nước bí. Thiền sư tự thoái bộ nhường Lý Ba Sơn có lối thoát để lấy ơn. Nhưng Thiền sư đã làm một việc thừa!

Thừa, vì Ba Sơn không những không biết ơn tình rộng lượng, quân tử của đối thủ mà trái lại còn hiềm ghét hơn.

Thói đời, kẻ tiểu nhân bao giờ cũng vậy!

Đánh lâu không thắng. Ba Sơn nghĩ thầm: “Cứ đấu dai dẳng thế này bất lợi lợi. Mụ vãi này tài lực cao lắm, chi bằng ta lập thế trên buộc mụ lâm chiến mới hòng thủ thắng được!”

Nghĩ đoạn, Lý Ba Sơn đánh dồn một quyền rồi nhảy ra khỏi vòng chiến quát lớn :

- Khoan tay!

Ngũ Mai cũng thâu quyền hỏi :

- Sao? Lý tiên sinh muốn... nghỉ tay chăng?

Ba Sơn gườm gườm nhìn kẻ thù :

- Sợ chi mà phải nghỉ tay? Đấu ba trăm hiệp nữa cũng không sao, nhưng ta không muốn phí thời giờ. Nghe nói đây, nếu không ưng chịu thì cứ việc phản đối, nghe?

Ngũ Mai mỉm cười :

- Cứ nói đi, thế nào bần ni cũng theo được.

Lý Ba Sơn nói :

- Kể từ hôm nay, nghỉ tay bốn ngày. Lập xong Mai Hoa Thung ta sẽ tái phân cao thấp?
Ngũ Mai chắp tay :

- Mô Phật! Lý tiên sinh định tiếp tục chiến đấu đại quy mô sao mà lập Mai Hoa Thung?

Lý Ba Sơn cười gằn :

- Nhà chùa còn ngạc nhiên nữa ư? Đã lên nổi Lôi đài há không lên nổi Mai Hoa Thung sao? Nếu e ngại, cứ việc nói, ta sẽ chấp thuận ưng tha.

Ngũ Mai quắc mắt :

- Ô hay! Ngần ấy tuổi đầu chồng chất mà nói lảm nhảm chi vậy? Ai xin tha? Đã không tự lượng muốn lập Mai Hoa Thung thì cứ việc. Bần ni chỉ e có kẻ hối bất cập thôi!

Nói đoạn, Ngũ Mai cùng mẹ con Phương Thế Ngọc xuống đài cùng mọi người về Hội quán Quảng Đông.

Trong bốn ngày rỗi rãi, Ngũ Mai thiền sư tiếp tục truyền dạy các thế võ bí hiểm cho Phương Thế Ngọc.

* * * * *

Xin nói về phép đánh Mai Hoa Thung.

Đó là một thế trận mà lối bầy rất nguy hiểm dành riêng cho những võ nghệ gia cao siêu thách thức nhau lên thung giao đấu.

Nhiều người không theo đến nơi đến chốn ngành võ thuật nên khi nghe đến hai chữ Mai Hoa thì tưởng ngay thung được trình bày theo bộ pháp lối Mai Hoa quyền lục thập tứ thế. Thực ra bộ pháp Mai Hoa Thung chính là bộ pháp La Hán quyền của phái Thiếu Lâm Nam Bắc (Sơn Đông) có một trăm lẻ tám thế quyền, cước. Phái Tây Khương thấy hai trăm lẻ tám đường dài quá nên thu gọn lại còn tám mươi tư thế và biến hóa thành một bài riêng biệt gọi là Lôi Trấn quyền.

Mai Hoa Thung bộ pháp vuông vắn tính theo bốn phương, tám hướng. Thay vì dạo quyền trên mặt đất, mỗi chỗ có bước chân ghi trong bản đồ bội phép, có đóng một cây sào cao hẳn lên trên mặt đất. Cọc đó bằng cây, bằng tre hay bằng sắt tùy người thiết lập thung Mai Hoa. Mỗi cọc, mệnh danh là trụ bộ, gồm có sáu cọc chụm lại: một cây lớn ở chính giữa, năm cây nhỏ ở chung quanh. Toàn thể trông như một bông Mai năm cánh, bởi vậy mới thành tên Mai Hoa Thung.

Ô Thung có một trăm lẻ tám trụ bộ, mỗi trụ bộ cách nhau hai thước theo bộ vị. Nhưng người thiết lập thung có thể rút ngắn bớt đi chiều dài cách nhau giữa hai trụ bộ hoặc tăng thêm lên tùy theo bản lãnh cá nhân. Mai Hoa Thung càng rộng lớn bao nhiêu càng nguy hiểm bấy nhiêu, trông thấy diện tích của thung, người ta có thể thấy được bản lãnh người thiết lập nó.

Chiều cao của thung cũng vậy, lẽ tất nhiên càng cao càng nguy hiểm. Về phần trụ bộ, cột đóng xuống đất càng nhỏ mảnh bao nhiêu thì công phu luyện tập Khinh Thân Pháp của chủ thung cao bấy nhiêu.

Có hai lối lập Mai Hoa Thung. Thứ nhất: đơn thung, nghĩa là chỉ có trụ bộ trồng trên mặt đất. Thứ nhì: trâm thung, nghĩa là thay vì để đất trơn dưới các thủ bộ và chung quanh Mai Hoa Thung, người ta đóng cọc vót nhọn hay cọc sắt chổng ngược. Nếu người đấu trên thung lỡ trượt chân hay bị đánh té sẽ bị các cọc nhọn xiên vào thân thể như kẻ bị bàn chông xiên vậy. Cũng có khi người ta đào hố lập Mai Hoa Thung, trụ bộ cao bằng mặt đất, dưới hố cắm chông. Từ mặt đất liền vào đến thung xa đến trượng rưỡi. Đấu thủ bị đối phương đàn áp khó lòng nhảy nổi từ thung vào đất liền để chạy, nên đành thất thế chịu trận cho đến khi thất thế trúng đòn sa xuống hố chông nếu không đứng ngay trên thung bái hàng.

Nhưng bái hàng là chuyện ít có vì đối thủ Mai Hoa Thung phần lớn là hàng cao thủ, đại sư. Đấu thủ nào thua chạy không kịp - để tập luyện, chờ dịp khác báo thù - thì phần nhiều đều vì danh dự môn phái, danh dự cá nhân, cố gắng chịu trận đến cuối cùng, lực tàn, bị đối phương đánh rớt xuống mặt chông, chết ngay tại trận.

Mai Hoa Thung nguy hiểm như vậy.

Lý Ba Sơn sở dĩ chọn thứ trận nguy ác này thách đấu cùng Ngũ Mai vì họ Lý là một nhân vật kỳ khôi Tây Khương phái, chuyên luyện trận Mai Hoa. Hơn nữa, Ba Sơn biết lối đánh Mai Hoa của Thiếu Lâm tự quen đánh rộng, thì với thế trận Mai Hoa biến cải thâu hẹp của Tây Khương chắc chắn Ngũ Mai sẽ bỡ ngỡ, do đó họ Lý sẽ tạo được nhiều cơ hội hạ đối thủ hơn.

Còn một điều nữa mà chính Ba Sơn nham hiểm đã tính để hại Ngũ Mai bằng bất cứ phương pháp nào. Đó là đủ thì giờ cho Lý Tiểu Hoàn ám hại Thiền sư dị phái.

Hôm giao đấu trên Lôi đài, Lý Tiều Hoàn áp trận, nhận xét thấy cha nàng nếu chẳng ngang tay thì cũng khó bề thủ thắng, nên đã lo ngại. Tới khi Ba Sơn hoãn chiến, thách Ngũ Mai đấu Mai Hoa Thung, Tiểu Hoàn còn ngạc nhiên hơn nữa, không hiểu cha nàng tính thế nào mà lại thách thức trái ngược như vậy.

Về đến nhà nàng thắc mắc hỏi ngay :

- Thân phụ thách Ngũ Mai lên Thung giáp trận có định ý gì khác nữa không? Con thấy ngài ngại thế nào ấy!

Lý Ba Sơn điềm nhiên hỏi :

- Ngại gì hà con?

Tiều Hoàn ngần ngừ, giây lát mới đáp :

- Thiết tưởng Ngũ Mai là hàng đại sư Thiếu Lâm, chắc chắn phải rõ rành các trận thế Mai Hoa, thân phụ thách đấu như vậy có lẽ bất lợi.

Lý Ba Sơn cười vang :

- Con tưởng ta không thắng nổi mụ vãi đó trên Lôi đài thì sao thắng nổi trên thung?

Thấy cha đoán trúng ý, Tiểu Hoàn im lặng, Lý Ba Sơn nói :

- Trên đất liền dễ dàng, Ngũ Mai không chú ý đến trụ bộ đủ tinh thần chống đánh, chớ trên thung thì khác, mụ phải chú ý đến cước bộ nhiều thì hiệu lực xung trận của mụ ta tất phải bớt đi rất nhiều.

Tiểu Hoàn phản đối :

- Nhưng phụ thân cũng đứng trên thung như Ngũ Mai chớ được đứng ở đất liền đâu?

Ba Sơn gật đầu mỉm cười mà rằng :

- Cha hiểu con định nói gì rồi, nhưng cha lập Mai Hoa trận đồ theo phương pháp Tây Khương, tất Ngũ Mai phải bỡ ngỡ hơn thế trận Thiếu Lâm tự. Mụ vãi ấy đã bất cẩn không ra điều kiện lập Mai Hoa theo trận đồ thường lệ. Con hiểu chưa?...

* * * * *

Nói về bên Quảng Đông hội quán, trước ngày lâm trận, Ngũ Mai căn dặn Miêu thị và Thế Ngọc :

- Các con hiểu tánh chất Ba Sơn rồi chớ gì? Đối với Thế Ngọc là hàng tôn đồ y còn không biết nhường nhịn, tiểu nhân thì riêng đối với ta chắc chắn y sẽ quyết liệt dùng đủ mọi âm mưu ám toán. Mẹ con phải hết sức coi chừng Lý Tiểu Hoàn. Nó có thể bất chợt phóng ám khí. Ta tự đến Mai Hoa Thung với mọi người trong hội quán. Con và Thế Ngọc trộn vào đám khán giả tìm cách đứng gần Lý Tiểu Hoàn mà phòng bị. Nếu nó sanh sự thì cứ việc đánh, đánh cầm chừng cho đến cuối trận Mai Hoa ta sẽ liệu sau.

Sáng hôm sau, thành Hàng Châu nhộn nhịp như một ngày đại hội. Dân chúng dậy thật sớm lũ lượt từ các ngả đường kéo ra Thanh Ba môn.

Đúng giờ, Lý Ba Sơn cưỡi ngựa dẫn mười tên tiểu đồ đến Mai Hoa Thung. Y vận võ phục toàn đen, đầu quấn khăn, bỏ múi sau lưng, chân quấn xà cạp, dận võ hài mỏng gót, ngoài choàng áo dài, cao lớn hùng dũng. Họ Lý xuống ngựa trao cho bọn tiểu đồ theo hầu, nhảy vụt lên Mai Hoa Thung truyền qua các trụ bộ, nhìn qua một lượt lấy làm đắc ý. Lão sư nhảy qua bốn lần chông xuống nơi bày án kéo kỷ ngồi.

Giữa lúc đó, Ngũ Mai thiền sư đến nơi, trang phục như mấy hôm trước.

Lý Ba Sơn thấy địch thủ đi với mọi người trong Hội quán, vắng mẹ con Thế Ngọc thấy làm lạ.

Ngược lại, Ngũ Mai kín đáo nhìn thấy vắng Lý Tiểu Hoàn thì cũng ngạc nhiên không ít. Thiền sư chắc rằng thế nào Tiểu Ngọc cũng quanh quẩn gần bên thân phụ nàng. Nhìn kỹ một lần nữa, quả nhiên thấy vắng nàng thật.

Bọn tiểu đồ của Lôi Lão Hổ võ phục đồng đều nghiêm chỉnh đứng thành hai hàng canh phòng, bao phủ toàn thể Mai Hoa Thung. Quan quân chỉ giữ trật tự bên ngoài...

Phần Miêu thị và Thế Ngọc lẫn vào đám khán giả đứng gần lối ra vào thung, thấy Lý Bá Sơn đơn thân nhập thung thì không khỏi ngạc nhiên. Miêu thị ghé tai Thế Ngọc nói nhỏ :

- Lý Tiểu Hoàn không đi cùng Ba Sơn tất lẫn khuất trong đám khán giả như mẹ con ta rồi. Nàng hành động như vậy chắc có gian ý như Thiền sư tiên đoán. Tìm sao ra được bây giờ!

Thế Ngọc không do dự :

- Nhìn qua cách sắp đặt đủ hiểu Tiểu Ngọc không cần phải lẫn trong đám dân chúng. Nếu nàng hóa trang lẫn trong bọn tiều đồ canh phòng cũng đủ mọi người khó tìm ra và được đứng gần các hàng chông hơn hết. Mẹ con ta thủ len lỏi nhận xét xem.

Miêu thị khen phải, cầm tay Thế Ngọc len lỏi đi vòng đến chỗ bày án kỷ có Lý Ba Sơn ngồi, nhận xét không có toại ý bèn tiếp tục đi nữa.Vừa được một quãng ngắn bỗng Thế Ngọc mừng rỡ giựt tay Miêu thị mà rằng :

- Mẫu thân hãy thử nhìn tên tiểu đồ đứng hàng thứ nhì đầu quấn khăn như đồng bọn nhưng lộ gáy trắng nõn nà khác hẳn với những tên đứng hai bên. Từ nãy con chỉ nhìn gáy chúng thấy tên nào cũng đen thui, riêng tên này trắng quá!

Tuy không thấy rõ mặt, Miêu thị cũng ngờ ngay.

Mẹ con nàng bèn len lỏi đến ngay phía sau. Bây giờ Miêu thị trông thấy toàn thân tên tiểu đồ có nước da trắng nõn nà ấy. Tên này đai lưng có đáy mà hông lớn đặc biệt. Dù nam trang cao lớn như mọi người nhưng thân hình phụ nữ nở hông khó mà giấu nổi mắt Miêu thị. Ngay cả mớ tóc quấn trong khăn cũng dày hơn. Cả hai mẹ con đều nhận ra tên tiểu đồ ấy không phải ai xa lạ chính là Nữ Bá Vương. Không nghi ngờ gì nữa. Miêu thị và Phương Thế Ngọc đứng lẫn sau hai khán giả sau đó phòng ngừa.

Ngũ Mai thiền sư điềm tĩnh đứng gần Mai Hoa Thung. Lý Ba Sơn đứng phắt dậy, liệng áo khoác lên thành kỷ, ngạo nghễ :

- Nhà chùa đã sắn sàng chưa?

Ngũ Mai chắp tay lên ngực :

- Mô phật, khởi trận lúc nào cũng được, nhưng bần ni xin nhắc để Lý tiên sinh hay rằng cách giàn đồ canh phòng gần thung bất hợp lệ. Bần ni muốn biết tiên sinh muốn canh phòng, ngăn ngừa ai?

Lý Ba Sơn cười khẩy :

- Hàng đại sư mà e sợ chúng tiểu đồ ư?

Ngũ Mai trả đũa :

- Chúng tiểu đồ thật, nhưng kẻ đánh trộm dù vô giá trị vẫn nguy hiểm như thường! Bởi lẽ quân tử phòng thân nên bần ni mới hỏi. Nhưng thôi! Không sao cả. Cần tiểu tâm chút đỉnh, lo gì!... Lý tiên sinh đã nghĩ kỹ chưa? Giờ này muốn triệt Mai Hoa trận đi còn kịp, kẻo thêm hối hận cho cả... hai bên!

Lý Ba Sơn nổi nóng :

- Ta không đấu khẩu với ngươi. Có giỏi lên Mai Hoa Thung phân tài cao hạ Ngũ Mai nghiêm nghị đưa tay mời :

- Lên trước đi, tiên sinh là người thủ trận.

Lý Ba Sơn lặng lẽ phi thân qua hàng chông sắt bên ngoài, đứng chân co chân duỗi trên trụ bộ, hai cánh tay xòe ra như con đại bàng vũ cánh, dữ dội, quắc mắt nhìn Ngũ Mai đứng phía sau, đoạn đảo mình nhảy vút vào trụ bộ trung ương đứng thẳng người, hoàng hai tay, bàn tay tả xòe Cương Đao thủ, bàn tay hữu nắm đấm Thôi Sơn bái tổ.

Lý Ba Sơn chuyển mình xử bài Lôi Trấn quyền, bài quyền đặc sắc Tây Khương thích hợp Mai Hoa Thung. Quyền ra như vũ bão. Cước phóng tựa chớp giựt mưa sa, gân cốt chuyển răng rắc, sức khỏe dư ngàn cân, lão sư Lý Ba Sơn phóng mình đảo khắp thung dạo hết tám mươi ba đường Lôi Trấn quyền theo đúng phép tắc cao luyện của nhà nghề, ngừng chân bái tổ đoạn phóng mình xuống đất nhẹ như én liệng, mặt không bốc đỏ, ngực không thở mạnh, điều hòa như thường.

Khán giả vỗ tay hoan hô nhiệt liệt vang động cả khu Thanh Ba.

Thấy Lý Ba Sơn biểu diễn xong, Ngũ Mai thiền sư chắp tay lên ngực vận dụng Kinh Thân Pháp bước lên mũi chông sắt từ tốn đặt chân từ mũi nhọn nọ sang mũi nhọn kia vào tới Mai Hoa Thung cất mình nhảy lên trụ bộ lẹ làng như én liệng...

Khán giả ghê rợn, kinh hồn hang nghênh nhiệt liệt vang động tự sóng cồn. Chính Lý Ba Sơn cũng phải khen thầm lối ra oai tự nhiên nhưng thiệt hay của nhân vật thượng đẳng Thiếu Lâm tự. Lão sư kín đáo khẽ quay đầu đưa mắt nhìn về phía tả. Mọi người mải theo dõi Ngũ Mai thiền sư trên thung nên không một ai thấy cái nhìn ra hiệu của Lý Ba Sơn, nhưng nhãn hiệu ấy không qua được mắt hai người: mẹ con Phương Thế Ngọc.

Thật vậy, Miêu thị và Thế Ngọc chăm chú quan sát lão sư họ Lý nhận thấy cử chỉ ấy, và đồng thời nhận luôn thấy tên tiểu đồ “gái trắng nõn nà” nọ khẽ gật đầu...

Ngũ Mai thiền sư đứng thẳng người trên trụ bộ trung ương khoát tay nhẹ nhàng đảo bốn thế bái tổ Đồng Tử Bái Quan Âm xoay mình khắp bốn phương, chân liên tiếp đổi bốn thứ tấn Trung bình, Chảo mã, Đinh và Độc cước. Mỗi lần đổi tấn là một lần đổi trụ bộ. Đó là lối nhập bài quyền La Hán rất đặc sắc của chùa Thiếu Lâm.

Lần lượt, chậm chạp, dẻo dai, đi xong bốn thế tổ khác nhau, Ngũ Mai chuyển mình khởi diễn La Hán quyền một trăm lẻ tám thế võ thiệt rùng rợn, lúc nhẹ nhàng chơi vơi như chiếc én là cánh lưng trời,khi rầm rầm dữ dội tựa mãnh hổ băng sơn, giao long động thủy, quyền ra, cước phóng phân đủ bốn phương, tả hữu, tiền hậu, tiến thoái phép tắc, oai phong nhuệ khí đằng đằng. Mỗi ngọn quyền là một thế của danh gia, mỗi cước phóng ra là một ký thuật của nhà nghề.

Đảo hết một trăm lẻ tám thế La Hán quyền, dạo khắp Trụ Bộ trên Thung Mai Hoa, Thiền sư chắp tay bái tổ, thần sắc không đổi, hơi thở nhẹ nhàng, chuyển mình phi thân trụ bộ trung ương qua giàn chông xuống đất trước sự cổ vũ vang động của khán giả muốn bể cả toàn khu Thanh Ba.

Lý Ba Sơn cố mỉm cười, thật ra vị lão sư ấy đã thất kinh táng đởm về lối biểu diễn La Hán quyền trên Mai Hoa Thung của đối phương.

Lão sư không ngờ trên thung cải đổi của Tây Khương mà Ngũ Mai biểu diễn không chút loạng choạng, ngượng ngập, trái lại Thiền sư vẫn oai hùng đáng sợ như trên thung của phái Thiếu Lâm.

Ngũ Mai điềm tĩnh hỏi Ba Sơn :

- Bây giờ giao đấu... hay thôi?

Lý Ba Sơn cố cười lạt :

- Trận đã lập ra chờ đấu thủ, lẽ nào lại thôi?

- Tiên sinh định đấu đến lúc đến lúc phân tài cao hạ hay đấu đến kỳ cùng kiệt sức?

Ba Sơn liều mạng :

- Hạng người như chúng ta vì danh dự môn phái, danh dự cá nhân không bao giờ đấu dở dang! Chỉ có một mất một còn!

Trước khi phi thân lên Mai Hoa Thung, họ Lý đưa mắt nhìn qua Lý Tiểu Hoàn. Cái nhìn ấy đã không thoát khỏi cặp mắt sáng ngời như sao băng của Ngũ Mai, và Thiền sư theo hướng nhìn của Ba Sơn nhận ngay ra Nữ Bá Vương trong bộ võ phục đồng đều các tiểu đồng, đồng thời thấy luôn Miêu thị, Thế Ngọc đứng phía sau nàng.

An tâm, Ngũ Mai theo Lý Ba Sơn lên thung sửa soạn khởi đấu.

Ngũ Mai bản tánh từ bi, tâm trí nhẹ lâng lâng thoát tục, không bao giờ bị tánh nóng ngự trị, nhận xét tình thế vô cùng rõ rệt. Khởi đầu, thoạt nhìn trận thế Mai Hoa, Thiền sư đã nhận ngay ra đồ pháp đã bị biến đổi thiết lập theo bộ pháp Tây Khương, và hiểu thâm ý của Lý Ba Sơn.

Trên Mai Hoa Thung, người trổ La Hán quyền diễn đạt đủ mọi khía cạnh của bài quyền nổi danh ấy cũng không ngoài mục đích tỏ cho đối phương nhận thấy chân tài và thực lực khổ luyện của mình, mong rằng Lý Ba Sơn kinh sợ dàn hòa, dẹp Mai Hoa Thung, bỏ mối thù không chính đáng với Phương Thế Ngọc.

Ngờ đâu lão sư họ Lý chấp nê, khăng khăng quyết đấu, tin tưởng ở mưu mô ám toán do Lý Tiều Hoàn tiếp tay.

Ba Sơn nhảy lên thung rồi, Thiền sư chép miệng lắc đầu, buồn thay cho thái độ ngang bướng ngu ngốc, quá ư chấp nhặt của đối thủ. Người lặng lẽ niệm Phật trong giây lát và sau đó phi thân lên trận.

Trong phân khắc nghiêm trọng này, Thiền sư không còn là một nhà tu hành nữa. Tình thế do Lý Ba Sơn tạo ra đã biến người thành một viên hổ tướng lâm trận quyết đấu, đấu để tự vệ, đấu cho thiên hạ biết Thiếu Lâm danh bất hư truyền.

Ngũ Mai lâm trận oai phong như thần tướng.

Chờ địch thụt vừa đáp xuống trụ bộ trên thung, Lý Ba Sơn bỏ hết luật lệ lịch sự thông thường, thét lên một tiếng vang dậy như sét đánh ngang trời, nhào tới đã quét một thế “Toàn Phong Tảo Lạc Diệp” định thừa lúc Ngũ Mai mới tới trụ bộ thì đá lộn bật xuống thung.

Họ Lý ác ý như vậy là một chuyện nhưng Ngũ Mai đâu phải người chịu để hạ dễ đến như thế. Tức thì, Thiền sư nhảy vút lên cao tránh đòn, đồng thời thọc luôn Cương Đao Thủ vào yết hầu họ Lý khiến Ba Sơn phải đổi trụ bộ tránh đòn độc. Thiền sư theo sát tống luôn trái đấm Mãnh Hổ Xuất Động vào gáy đối thủ.

Không kém. Ba Sơn hoành tay tả gạt, hai cánh tay toàn thép va vào nhau bật lên một tiếng bịch nặng nề, âm thầm, đoạn Ba Sơn lấn lên một bộ, đưa ngược cánh tay Phượng Dực (Cùi chỏ) vào ngực đối phương. Lẹ tựa chớp, Ngũ Mai tạo bộ tránh đòn, hoành tấn trung bình đấm luôn tả thôi sơn nhằm rún Ba Sơn. Đó là thế Thiết Thủ Yểm Đan Điền bắt buộc họ Lý phải thoái bộ lần nữa.

Hai bên xáp trận dùng toàn đòn ngắn, đánh xáp lá cà sử dụng toàn độc thủ, chỉ sơ hở chân tơ kẽ tóc là trượt chân lao mình xuống bàn chông sắt lởm chởm trên mặt đất ngay.

Lúc tiến khi lui, cả hai người nhịp nhàng khuôn phép đảo mắt toàn diện Mai Hoa Thung. Ngũ Mai vừa đấu vừa lưu ý phòng bị mỗi khi thế trận chuyển về phía Lý Tiểu Hoàn. Tuy Người rất tin vào tài nghệ, tin tưởng ở mẹ con Miêu thị và Phương Thế Ngọc, Thiền sư chuyển trận không bao giờ chịu xoay lưng về phía có Tiểu Hoàn.

Thấm thoắt trận đấu đã diễn ra được trăm hiệp, Lý Ba Sơn đổ mồ hôi toát đầy mình.

Lão sư cố chuyển thế trận buộc Ngũ Mai phải xoay lưng về phái Tiểu Hoàn một lần nữa. Được dịp may vạn nhất, Tiểu Hoàn nhảy vút ra giơ tay phóng phi tiêu, đồng thời miệng thét :

- Vãi già chết này!...

Nhưng lúc ấy, ngọn tiêu chưa kịp dời khỏi tay Tiểu Hoàn thì một bàn tay sắt bí mật từ phía sau đã đánh trúng vào cổ tay nàng, khiến ngọn tiêu văng xuống đất, tiếp theo là một tiếng quát :

- Không được ám toán! Có ta đây!

Tiểu Hoàn giựt mình vội quay lại thì nhận ngay ra là Phương Thế Ngọc. Nàng đang yên chí thế nào cũng giúp được phụ thân với ngọn tiêu thần diệu của nàng, chẳng ngờ bất chợt bị cản trở. Mũi tiêu ấy trúng Ngũ Mai thì âm mưu ám toán dù mọi người có biết, cha con nàng cũng không cần dư luận. Trái lại, mũi tiêu chưa bay khỏi tay nàng đã bị Thế Ngọc cản lại, trước mặt số đông khán giả, dĩ nhiên ai ai cũng biết và sẽ lan truyền. Hại người chẳng thành, nay lại còn mang tiếng hèn hạ.

Oán thù gặp oán thù, Nữ Bá Vương nổi giận đùng đùng, hoa đoản đao nhảy bổ tới chém Thế Ngọc, những tưởng một nhát là đủ xẻ đôi kẻ thù. Thế Ngọc lùi bước tránh đòn. Lý Tiều Hoàn theo riết chém thục mạng. Thế Ngọc lùi dần đến chỗ bày kỷ và án, bất chợt vác cả chiếc gỗ gụ nặng nề tiến lên chống đỡ, chế nhạo :

- Chuyến này người hết dùng Bàn Long cước nhé.

Đứng ngoài, Miêu Thúy Hoa tin ở tài sức Thế Ngọc nên không can thiệp. Tuy vậy nàng cũng liệng cây thiết giản cho Thế Ngọc bắt lấy. Thế là hai trận chiến cùng tiếp diễn.

Nói về trên Mai Hoa Thung, Lý Ba Sơn trông thấy Tiểu Hoàn lạ lùng nhảy ra phóng phi tiêu thì đã khấp khởi mừng thầm, sửa soạn hạ độc thủ kết quả tánh mạng đối phương. Cái mừng của Ba Sơn chỉ như đốm lửa gần tàn lóe lên trong nháy mắt để rồi tàn hẳn. Ngọn tiêu do Thế Ngọc gạt băng xuống đất không những làm tiêu tan hy vọng của lão sư họ Lý, mà trái lại còn đem cả sự hoang mang sợ hãi tột bực đến cho con người thâm ác ấy nữa. Trận đấu diễn ra dư trăm hiệp, Lý Ba Sơn thấy thấm mệt.

Đã mệt lại thêm hoang mang, Lý Ba Sơn bất giác tứ chi bủn rủn, mất tự tin, thoát bộ giữ Thung. Suy tính đã chán không có lối thoát, Lý Ba Sơn vận dụng toàn lực phóng mình lao thẳng vào ngực Ngũ Mai, đồng thời chụm cả hai nắm đấm Thôi Sơn tả, hữu đánh quật ngược vào cổ địch thủ, đó là thế “Sư Tử Giao Đầu”. Lý Ba Sơn định bất ngờ đánh bật Ngũ Mai ra khỏi Trụ Bộ trong lúc Ngũ Mai đang mải đuổi theo mình.

Tuy rượt theo nhưng Thiền sư vẫn sẵn sàng chờ phản ứng của địch thủ, bởi vậy khi Lý Ba Sơn vừa cất chân ra khỏi Trụ Bộ thì Người hiểu ngay họ Lý dùng đòn gì. Tức thì, Ngũ Mai ngồi thụp xuống, nhường cho Lý Ba Sơn phóng mình đánh hụt ở phía trên. Nhưng cùng lúc họ Lý đánh hụt, toàn thân chơi vơi trong khoảng không, Ngũ Mai đứng phắt dậy, đưa ngược hai tay lên đầu đẩy mạnh theo thế “Đại Hỏa Thiêu Thiên”. Sức đẩy ấy của Thiền sư có thể chuyển cả ngàn cân. Lý Ba Sơn dù lực lưỡng đến đâu cũng bị văng bổng lên như một trái cầu.

Lý Ba Sơn hoảng quá nhìn xuống đất thấy mũi chông sắt nhọn hoắt, cắm ngược sáng loáng bèn rú lên kinh khủng...

Toàn thân họ Lý dốc ngược, gieo đầu xuống trước húc thẳng vào các ngọn chông nghe “phập” một tiếng rùng rợn. Mũi chông sắt xiên thẳng vào đỉnh đầu suốt tới cổ, vào vai suốt tới ngực. Ba Sơn chết ngay, chân chổng lên trời, tứ cho rũ xuống đất, huyết tuôn ra như suối...

Thế là hết một đời hảo hán khổ luyện đã tới bực thượng thừa mà không biết nghe lẽ phải, tự kiềm chế, suy xét, đến nỗi uổng mạng trên bàn chông do chính mình có ác ý đặt ra những mong hại người. Tiếc thay!...

Nói về Lý Tiểu Hoàn đang đấu chiến với Phương Thế Ngọc, thì tiếng rú lớn khủng khiếp đến lạnh gáy của Lý Ba Sơn trên Mai Hoa Thung, khiến cả hai đấu thủ cùng giựt mình nhảy lùi khỏi vòng chiến nhìn lên Thung.

Trước thảm cảnh Lý Ba Sơn bị chông sắt xiên ngực chết cứng, Lý Tiểu Hoàn đau khổ, sắc diện tái ngắt.

Nàng la thét tựa một kẻ điên rồ quên như không có Phương Thế Ngọc đứng gần đấy nữa, nàng vác đao chạy lẹ đến cửa Mai Hoa Thung đón Ngũ Mai thiền sư vừa nhảy xuống đất chỉ mặt xỉ vả :

- Con vãi già này đã hạ sát phụ thân ta, có giỏi hạ ta nốt đi coi nào!...

Dứt lời, nàng liều mạng nhào tới chém một đao vào mặt Ngũ Mai.

Thiền sư né nhảy ra xa quát :

- Tiểu Hoàn! Không được hỗn! Phụ thân ngươi tự mua lấy cái chết, ta khuyên can hết lời không biết nghe, nay còn oán thán nỗi gì?

Nàng xô vào liều mạng chém bừa, những muốn phân thây Ngũ Mai thiền sư ra moi gan, móc ruột mới hả lòng căm giận.

Biết Tiểu Hoàn chẳng nghe nào, Ngũ Mai đứng sững lại, không né nữa. Lưỡi dao sáng loáng hạ xuống gần trán, bỗng Ngũ Mai lẹ như cắt nhảy sang bên, đồng thời dùng bốn ngón tay tả đánh bật vào cổ tay Tiểu Hoàn khiến nàng buốt tay rời thanh đao văng xuống đất, cổ tay đau buốt.

Tiểu Hoàn vì xuất lực quá nhiều và xúc cảm về cái chết thê thảm của Lý Ba Sơn, nên tâm thần bỗng nhiên hỗn loạn, mặt mày xây xẩm té xỉu úp mặt trên đất.

Bọn tiểu đồ vội xúm lại khiêng sư mẫu đặt lên mặt án.

Ngũ Mai và mẹ con Thế Ngọc tiến tới xem. Thiền sư cầm cổ tay Tiểu Hoàn chẩn mạch :

- Không hề chi đâu. Kiệt lực và bị cảm xúc nên ngất đi thôi. Khiêng về nhà đổ nước gừng cho uống sẽ tỉnh.

Nói đoạn, Thiền sư lấy trong túi áo dài ra một hoàn thuốc nhỏ bỏ vào miệng Tiểu Hoàn, rồi cùng mẹ con Phương Thế Ngọc và mọi người trở về Hội quán.

Nói về Lý Tiểu Hoàn được chúng tiểu đồ thuê kiệu đem về đến nhà thì hãy còn mê man chưa tỉnh.

Thiết Diện Hổ đã về trước chờ ở đó.

Y bế Lý Tiểu Hoàn đặt lên giường, tự tay tháo vỏ hài và đai lưng, cởi khuy áo cho nàng dễ thở.

Tiểu Hoàn lần lần tỉnh dậy, miệng bập bẹ kêu phụ thân.

Trí nhớ lần lần trở lại với nàng và cảnh Mai Hoa Thung rùng rợn với Lý Ba Sơn bị chông cắm chổng ngược tái hiện trước mắt nàng...

Bất giác hai dòng lệ tuôn rơi, Tiểu Hoàn nức nở úp mặt xuống gối khóc không ra tiếng.

Hồi lâu, nàng ngồi phắt dậy lau sạch nước mắt và thề quyết báo thù chồng, thù cha :

- Từ nay không những đối với Ngũ Mai, mẹ con Thế Ngọc mà với toàn thể phái Thiếu Lâm, Lý Tiểu Hoàn này chẳng đội trời chung!

Đắc ý, Thiết Diện Hổ khai thác triệt để mối thù của Lý Tiểu Hoàn, biến thành mối thù giữa các võ phái. Thiết Diện Hổ đã thuyết phục Lý Tiểu Hoàn chở thi hài Lý Ba Sơn về Tây Khương nói khích Bạch Mi sư tổ để người chú ý cuộc phục thù này. Đồng thời, Thiết Diện Hổ dùng tài chánh xuôi giục Lý Tiểu Hoàn tiếp tay phá Hổ Lôi đài và Mai Hoa Thung, vận động cuộc phục thù chuyển sang khu vực khác quan trọng hơn.

Xong xuôi đâu đấy, Thiết Diện Hổ ra về lập lại cách thu xếp công việc với Lý Tiểu Hoàn cho Thị lang Hòa Thân nghe.

Hòa Thân nói :

- Tướng quân lo liệu như thế rất trúng ý tôi. Cái chết của Lý Ba Sơn đau đớn cho Tiểu Hoàn thật nhưng rất ích lợi cho chương trình hành động của chúng ta. Tướng quân tính bao giờ lên đường vào Hồ Nam?

- Lý Tiểu Hoàn đi khỏi thì tôi cũng đi ngay. Tướng công cùng đi không?

- Tôi đi sao được? Phải chờ Thánh thượng ở đây xem người có trở lại cần sai bảo gì chăng? Nhất định ta phải hoàn tất chương trình do Thánh thượng ban truyền. Công ấy lớn lắm. Tôi sẽ cất nhắc cho tướng quân lên cấp cao và sẽ hài lòng về đủ mọi phương diện. Thánh thượng thưởng phạt rất công minh và rộng rãi về mặt tài chánh.

Thiết Diện Hổ mừng rỡ :

- Tướng công an tâm, nếu không có sự gì đặc biệt cản trở, tôi chắc chắn thành công. Cứ xem như việc Lý Ba Sơn đấu với Ngũ Mai, Tướng công đủ hiểu. Sắp đặt nổi trận đấu giữa hai nhân vật siêu đẳng ấy không dễ dàng.

Hòa Thân đứng lên vỗ vai Thiết Diện Hổ, cười khà :

- Nào, chúng ta đi uống rượu, ngồi nhà mãi buồn quá!

Chương 22: Trên đường Tây Thiền tự, tiểu khách đánh bọn Cơ phòng Bắt gian vương quỷ kế, Lâm Thắng cầu cứu thiền sư

Nói về Ngũ Mai thiền sư và mẹ con Phương Thế Ngọc cùng mọi người trở về Quảng Đông hội quán. Dân Quảng Đông ai cũng vui mừng về vụ Thiền sư đại thắng Lý Ba Sơn trên Mai Hoa Thung.

Trái lại, Thiền sư nét mặt rầu rầu không vui.

Người gọi Miêu thị, Thế Ngọc vào phòng, nét mặt nghiêm trọng hỏi rằng :

- Miêu điệt nữ, giờ đây vụ Lôi đài thế là chấm dứt, con định thế nào?

Miêu thị chắp tay thưa :

- Bạch sư bá, con về Triều Dương và có ý thỉnh sư bá cùng đi.

Ngũ Mai lắc đầu :

- Không, ta về Hàng Châu và can thiệp vụ lôi đài thế này là quá nhiều rồi. Với cái chết của Lý Ba Sơn hậu quả sẽ rất phiền phức, lớn lao. Con phải gởi Thế Ngọc lên Thiếu Lâm tự cho Chí Thiện trực tiếp dạy thêm ít lâu nữa. Riêng phần con chớ xao lãng việc luyện tập thường nhật, tổ chức việc canh phòng trong nhà, ta e kẻ thù sẽ tìm đến tận nơi ám toán đó. Sửa soạn trước vẫn hơn.

Miêu Thúy Hoa nói :

- Lời vàng ngọc của sư bá ban dạy, con nguyền nhất nhất tuân theo. Thật ra con rất buồn về vụ Lôi đài lại xảy ra quá lớn lao đến nỗi phiền toái cả sư bá.

Ngũ Mai thở dài :

- Nếu Ba Sơn biết nghe lời ngay lẽ phải đâu đến nỗi mạng vong? Y cố tình tử chiến, lao đầu đánh lẹ quá, nếu ta lách né thì y cũng lăn xuống chông sắt, bởi vậy ta đã cố hắt bổng y lên định lấy trớn đưa hẳn y ra khỏi khu vực cắm chông. Không hiểu Ba Sơn dụng ý thế nào mà không những không ra khỏi Mai Hoa Thung, ngay đến việc đảo người đưa chân đáp xuống Trụ Bộ cũng không nổi, vì thế mới táng mạng. Mũi tên khởi chiến đã phát đi rồi không sao lấy lại được nữa. Giờ đây toàn thể chúng ta phải hoàn toàn sửa soạn, sẵn sàng chờ đón các trận giao tranh có thể xảy ra bất chợt không cứ thời gian nào.

Miêu Thúy Hoa hỏi :

- Sau đây sư bá định vân du nơi nào?

- Ta lên Tung Sơn ngay để cho Chí Thiện sự đệ hay tự sự. Hậu quả vụ Mai Hoa Thung có lẽ sẽ tập trung cả vào Thiếu Lâm tự. Nếu cần, ta sẽ ở lại đó liệu bề cùng Chí Thiện đối phó tùy theo sự biến chuyển của tình thế. Nếu Chí Thiện vân dung vắng, ta sẽ chờ ở Tung Sơn. Con có gặp thì nên nói cho Người biết liệu trở về núi gặp ta.

Miêu Thúy Hoa nhất nhất vâng lời.

Ngũ Mai thiền sư đi khỏi, Phương Đức cũng từ tạ mọi người để đem vợ con về Triều Dương.

Về đến nhà, hai con trai lớn là Hiếu Ngọc, Mỹ Ngọc ra đón, cả nhà mừng rỡ đoàn tụ.

Phương Đức bảo vợ dọn về Triệu Khánh ở ít lâu để tránh bọn Lý Ba Sơn.

Miêu thị cũng thuyết phục chồng cho gởi ba đứa con đến Thiếu Lâm tự trau dồi và học thêm võ nghệ. Phương ông ưng thuận cho ba con lên Thiếu Lâm tự. Miêu Thúy Hoa sửa soạn hành trang đầy đủ cho ba con vào chùa.

Mấy hôm sau, ba người vào hậu sảnh từ tạ song thân đeo hành lý ra đi.

Ngày đi đêm nghỉ, từ Triệu Khánh sang Quảng Châu, đường đồng bằng dễ đi, chẳng bao lâu tới nơi thì trời đã nhá nhem tối. Hiếu Ngọc rủ hai em vào tửu quán trọ qua đêm.

Hôm sau, ba anh em ra Đông Môn Tiểu Dương lộ để đến Quang Hiếu tự tìm Chí Thiện thiền sư.

Thái Trí hòa thượng Trường tự là môn đồ Thiếu Lâm, thấy ba người lạ mặt liền hỏi :

- Quý vị tìm sư Trưởng có việc chi?

Phương Thế Ngọc đáp :

- Bạch sư phụ, chúng đệ tử tìm Sư trưởng xin theo học.

Thái Trí nghi ngờ nhìn ba người :

- Quang Hiếu tự cũng nhận đồ đệ tại sao phải tìm Thiền sư?

- Chúng đệ tử có phong thơ cần trao tận tay Sư trưởng. Bức thơ đó của Miêu gia.

- A! Miêu Hiển phải không?

- Dạ.

Thái Trí hòa thượng chỉ tay sang phía Tây mà rằng :

- Các ngươi may mắn lắm đó. Sư trưởng hiện ở Tây Thiền tự, Chi Lục lộ. Sang đó sẽ gặp Người ngay. Nếu cần, bần tăng cho tiểu tăng dẫn đường.

Hiếu Ngọc đáp :

- Cám ơn sư phụ, đệ tử biết đường đi rồi.

Nói đoạn, ba anh em Phương gia từ tạ Thái Trí tìm đường đi sang lối Tây môn.

Ba anh em đi vòng qua đường nọ phố kia, tới Cơ phòng lộ thì chợt thấy một thiếu phụ trang phục bình thường đang dắt một tiểu nhi trạc mười một, mười hai tuổi vừa chạy vừa khóc. Đuổi theo sau mẹ con thiếu phụ là hai người mặt mũi đỏ gay có lẽ vừa uống rượu xong.

Một người nói lớn :

- Đánh chết nó đi anh em ạ, nó dám chửi mình, hỗn xược quá!

Hai người đuổi kịp mẹ con thiếu phụ, giằng tiểu nhi vuột khỏi tay thiếu phụ và một người đưa tay định tát vào mặt đứa nhỏ... Nhưng bàn tay đó chưa kịp hạ xuống thì Phương Thế Ngọc đã lẹ như cắt nhảy chồm tới gạt sang một bên :

- Khoan! Sao lại đánh tiểu nhi? Việc gì cũng còn có nơi phân xử chớ!

Bị cái gạt do tay Thế Ngọc cứng như sắt, người nọ ôm tay nhăn nhó. Ba anh em Phương gia thừa dịp đứng chắn vào giữa ngăn hẳn hai người nọ và mẹ con thiếu phụ. Người không bị đau tay hùng hổ quát :

- Ba tên này là hạng nào mà dám can thiệp vào việc của chúng ta, đánh chết nó đi anh em ơi!

Dứt lời, người ấy xô tới đấm luôn một quyền nhằm mặt Thế Ngọc.

Thế Ngọc gạt luôn cái nữa khiến người ấy chao hẳn thân đi mấy vòng té sấp xuống mặt lộ, kêu la ầm ĩ.

Đồng thời, từ đâu đó có hai mươi người tay đao, tay côn võ trang đầy đủ, xông tới bổ vây ba anh em họ Phương vào giữa.

Thế Ngọc la lớn :

- Nhị huynh bảo vệ mẹ con người này, mặc tiểu đệ cho chúng một bài học hay quen thói bắt nạt kẻ hèn yếu!

Thế Ngọc nhảy thẳng đến trước mặt tên đầu đoàn bắt cây mộc côn và đạp luôn cho gã một cái lộn ngược vào đồng bọn.

Chàng hoa côn đánh dạt bọn người sang một bên. Phương Hiếu Ngọc cũng đoạt mộc côn của đối phương xung trận.

Hiếu Ngọc, Thế Ngọc xung trận dữ dội như hai con cọp đói, hung hãn, thiệt ra hai chàng cốt nạt nộ cho đối phương thấy mươi tên đồng bọn bị đòn đau phải sợ hãi rút lui. Biết không địch nổi hai thanh niên hung thần, bọn đông người hò nhau chạy rùng rùng náo loạn cả khu phố.

Thừa lúc nhốn nháo, Phương Hiếu Ngọc không muốn bận bịu lôi thôi ra vào chốn công môn, bèn bảo Mỹ Ngọc đem mẹ con thiếu phụ chạy trước ra Tây môn, còn chàng và Thế Ngọc giả đò đuổi đánh rốc một trận nữa rồi cũng lẫn vào đám đông người đi mất. Lúc Hiếu Ngọc và Thế Ngọc đến Tây môn Chi Lục lô thì đã thấy Mỹ Ngọc cùng mẹ con thiếu phụ ngồi chờ dưới gốc cổ hòe cành lá rườm rà che rợp mái tam quan.

Thế Ngọc nhìn lên Tam quan xây bằng đá phiến thấy có đục nổi ba đại tự “Tây Thiền Tự” kiểu triện. Thiếu phụ dắt tay con quỳ lạy Hiếu Ngọc, Thế Ngọc tạ ơn cứu mạng. Hai người vội đứng lánh sang bên, Hiếu Ngọc nói :

- Giúp đỡ người yếu thế là lẽ thường, mời nương tử đứng lên kẻo anh em tôi áy náy vô cùng. Nguyên do câu chuyện thế nào? Tại sao lại bị người ta đuổi đánh như vậy?

- Thưa, câu chuyện dài lắm, thiếp xin kể rõ ràng...

Nguyên ở đất Dương Thành gần Quảng Châu, có một người tên là Hồ Thành lên Quảng Châu thuê một căn nhà nhỏ ở cùng vợ là Đỗ thị và vợ chồng con trai mệnh danh Á Kiền và Hà Kim Mai, chuyên buôn tạp hóa. Đến mùa gặt năm ấy, Đỗ thị cùng vợ chồng Hồ Á Kiền về Dương Thành thâu ít lúa ruộng cấy rẽ, tới khi trở lên Quảng Châu thì đã thấy Hồ Thành nằm rên khừ khừ trên giường, mặt mày thâm tím, hàng hóa mất sạch.

Hồ Á Kiền kinh hoàng, vội quỳ xuống bên giường thăm hỏi.

Hồ Thành thở nặng nhọc, trào máu miệng bập bẹ được mấy câu :

- ... Chết mất... bọn Cơ phòng.

Trăng trối tới đây, Hồ Thành ho lên mấy tiếng cực nhọc, ngoẻo đầu trúc linh hồn. Hồ Á Kiến khóc sướt mướt, làm đơn trình quan xin khám nghiệm tử thi.

Chẳng dè bọn Cơ phòng núp sẵn đâu đó chờ Á Kiền vừa ra khỏi nhà được vài chục thước, liền áp đánh Á Kiền một trận nhừ tử. Chúng lục soát trong túi Á Kiền đoạt lá đơn và đe dọa sẽ đánh chết nếu còn trình báo lôi thôi.

Đỗ thị thương con vội vàng cùng nàng dâu chôn cất ngay Hồ Thành và cùng về thẳng Dương Thành lo phục thuốc cho Hồ Á Kiền. Nằm đến hai tháng mới lành bệnh, Á Kiền hằn học, uất ức thề quyết báo phụ thù.

Nhưng thân hình mảnh khảnh, tướng học trò bẻ gà chẳng nổi thì báo với hận sao nổi bọn Cơ phòng hung hãn tựa hùm beo?

Á Kiền chợt nhớ hồi còn ở Quảng Châu được nghe nói Tây Thiền tự, chi phái Thiếu Lâm, có thâu nhận môn đồ truyền dạy võ nghệ, chàng bèn lẳng lặng ra đi sợ mẹ và vợ con can ngăn.

Lên tới Quảng Châu, Hồ Á Kiền tìm thẳng đến Tây Thiền tự xin ra mắt vị Trưởng tự, Tam Đức hòa thượng. May cho họ Hồ gặp dịp Chí Thiện thiền sư tới nơi thăm đồ đệ là Tam Đức. Thấy Á Kiền kể lể sự tình xin theo báo thù cha, Thiền sư thương tình nhận y làm đồ đệ và đưa về Tung Sơn truyền võ nghệ, Á Kiền đi được hơn một năm, Đỗ thị buồn cảnh gia đình, cũng mãn phần. Năm ấy con trai y là Hồ Á Đức mới lên bảy tuổi.Hà Kim Mai lo tang ma cho mẹ chồng, lúc xong việc thì gia tài cũng gần khánh kiệt.

Luôn mấy năm mỏi mắt trông chồng nhưng bóng chim tăm cá, Á Kiền vẫn biệt dạng vô tin tức, họ Hà thì ngày càng túng thiếu, chợt nhớ có người bà con nhà chồng ở Tôn Hội Hà lộ trên Quảng Châu, hai mẹ con nàng liền thu xếp lên Quảng Châu vay món tiền sinh nhai tại quê nhà.

Hơn ba năm rời thành thị, Hà Kim Mai loạng choạng thế nào mà đi nhằm ngay phố có cơ sở Cơ phòng, có mấy tên Cơ phòng nhận được mặt biết nàng là vợ Hồ Á Kiện bèn thả lời ong bướm.

Hà thị sợ hãi không dám hé răng lủi thủi dắt con bước lẹ.

Lúc đó Hồ Á Đức đã mười một tuổi, khôn ngoan, thấy hai người lạ cố theo trêu chọc mẫu thân, y liền cáu tiết phỉ nhổ chửi mấy câu. Bọn Cơ phòng nổi giận quát mắng :

- Thằng ôn con này “phạm thượng”! Ông cha mày còn bị chúng ông đánh cho táng mạng nữa là mày, miệng còn hôi sữa!...

Hà thị sợ hãi vội lôi Hồ Á Đức chạy thục mạng, đang khi nguy ngập thì gặp cứu tinh...

Nghe Hà thị kể gia cảnh đến đây, ba anh em Phương gia cùng mủi lòng thương cảm.

Phương Thế Ngọc dậm chân, nắm tay mà rằng :

- Biết thế hồi nãy đánh cho bọn côn đáng chết mấy tên mới đáng tội chúng. Tức cha chả là tức!

Hiếu Ngọc gạt đi :

- Tam đệ chớ nóng nảy! Gây hấn nơi xa lạ này có ích lợi gì? Cứu được người là hay rồi, còn nhớ song thân dặn bảo gì không?

Nói đoạn chàng quay lại hỏi Hà thị :

- Hiện giờ nương tự hoàn toàn không biết tin tức gì về lệnh lang quân?

- Thưa không, Hồ lang bặt vô âm tín từ ngày đó đến nay.

Hiếu Ngọc mở bọc hành lý lấy hai đĩnh bạc đưa cho Hà thị :

- Nương tử hãy cầm lấy số bạc này và tức khắc trở về Dương Thành sanh nhai. Đừng luẩn quẩn ở Quảng Đông nữa lỡ tái gặp bọn Cơ phòng thì khốn to.

Hà thị cực chẳng đã nhận số bạc.

Hà thị bảo Hồ Á Đức lạy tạ anh em Phương gia rồi giắt nhau trở gót Dương Thành. Còn ba anh em họ Phương thì vào Tây Thiền tự. Vừa tới sân trước đại điện thì gặp một vị hòa thượng đủng đỉnh bước ra.

- Mô Phật, ba vị tráng sĩ vãng cảnh chùa?

Anh em Phương gia kính cẩn đáp lễ, Hiếu Ngọc nói :

- Mô Phật, chúng đệ tử từ Triệu Khánh tới đây muốn hỏi thăm Chí Thiện sư trưởng.

- A! Quý danh là chi? Hỏi thăm Sư trưởng có việc gì?

Hiếu Ngọc đáp :

- Đệ tử là Phương Hiếu Ngọc và đây là nhị đệ Mỹ Ngọc, tam đệ Thế Ngọc, có một phong thơ đệ trình Thiền sư.

Hòa thượng hỏi :

- Thơ của ai vậy? Bần tăng có thể biết được chăng?

- Thưa, thơ của Miêu gia tục danh Thúy Hoa.

Hòa thượng tươi hẳn nét mặt, sáng ngời long lanh như điện :

- A, Miêu sư muội! Ba vị tráng sĩ là thế nào với Miêu gia?

- Họ Miêu là kế mẫu chúng đệ tử, còn Thế Ngọc đây là đích tử.

- Nếu vậy chúng ta là người nhà rồi. Bần tăng đạo hiệu Tam Đức, Trưởng tự Tây Thiền. May mắn, sư trưởng vừa vân du tới đây nghỉ chân được vài ngày, hiện giờ đang ở hậu điện. Xin theo bần tăng.

Ba anh em Phương gia kính cẩn theo sau hòa thượng.

Vào tới hậu điện, anh em Phương gia thấy một vị hòa thượng bệ vệ vóc dáng cao lớn y hệt Ngũ Mai nhưng ít tuổi hơn. Hòa thượng có cặp mắt long lanh như hai vì tinh tú, mũi cao, cằm lớn, cổ to vai rộng, thoạt nhìn cũng đủ hiểu là người dũng lực vô song. Người vận áo thụng màu thẫm xẻ bên, lộ ra quần đồng màu, gài trong đôi ống vớ bằng vải trắng thắt dây vải đen trông thiệt gọn gàng. Hai chân vận thiên hài vải đen tuyền.

Vị hòa thượng đó cổ đeo tràng hạt, hai tay chắp ra sau lưng, đang đi đi lại lại trên hành lang hậu điện. Thấy Tam Đức cùng ba thanh niên tráng sĩ đi tới, hòa thượng ngừng bước chăm chú nhìn. Anh em Phương gia đoán ngay là Chí Thiện thiền sư, Trưởng phái Thiếu Lâm. Tam Đức nói nhỏ :

- Sư trưởng đứng trên hành lang kia kìa.

Vào tới nơi, Tam Đức hòa thượng chắp tay thưa :

- Bạch sư phụ, ba tráng sĩ đây là người nhà Miêu Thúy Hoa, ái nữ của Miêu sư thúc từ Triệu Khánh phủ đem thơ đến hầu.
Anh em Phương gia tiến lên hành lang, đồng loạt quỳ lạy yết kiến. Hiếu Ngọc đệ trình phong thơ. Sư trưởng cầm thơ nói :

- Cho các hiền điệt đứng dậy.

Anh em Hiếu Ngọc kính cẩn, khép nép đứng sang bên. Sư trưởng đọc thơ xong nhìn qua rồi chỉ từng người một mà rằng :

- Đây là Hiếu Ngọc, Mỹ Ngọc và Thế Ngọc phải không?

Thế Ngọc lẹ miệng thưa :

- Bạch sư phụ, phải rồi ạ.

- Các hiền điệt khá theo ta vào đây.

Anh em Phương gia theo Sư trưởng vào Thiền phòng nơi đầu điện. Người ngồi xuống bực đá trải bồ đoàn và chỉ hàng ghế bên bảo anh em Thế Ngọc ngồi xuống.

- Các hiền điệt theo lời mẫu thân xin tòng học tu chỉnh Quyền pháp?

- Dạ.

Thế Ngọc toan theo lời mẹ dặn, trình Sư trưởng vụ Vô Địch đài và Mai Hoa Thung ở Hàng Châu thì Người đã hỏi :

- Mấy vụ giao tranh Hàng Châu thế nào? Thế Ngọc kể rõ ràng ta nghe.

Thế Ngọc bèn tường thuật các việc xảy ra ở Hàng Châu và nói tiếp :

- Bạch sư phụ, hiện thời Ngũ Mai sư bá còn chờ Người trên Tung Sơn.

Sư trưởng gật đầu :

- Việc đó không sao, Sư bá còn chờ tới khi ta trở về Tung Sơn.

Thế Ngọc thuật luôn vụ chống đánh bọn Cơ phòng cứu mẹ con Hồ Á Đức.

Sư trường giật mình hỏi :

- Hiền điệt nói sao? Phải chăng Hồ Á Đức là Hồ Á Kiền người đất Dương Thành?

Thế Ngọc đáp :

- Thưa phải. Hà thị có kể chuyện gia đình đáng thương cho chúng con nghe.

- Hiện nay người đó đâu rồi?

- Thưa, chúng con tặng tiền bạc cho mẹ con Hà thị về Dương Thành rồi. Bạch sư phụ có gì can hệ không?

Sư trưởng chậm rãi :

- Hồ Á Kiền đang theo học trên Thiếu Lâm. Y nhập môn hơn ba năm rồi, tình cảnh rất đáng thương. Ta không ngờ y bỏ vợ con ra đi. Đã mấy lần y xin phép về nhà báo thù nhưng ta không ưng thuận.

Thế Ngọc thưa :

- Đánh bọn Cơ phòng không có gì khó khăn, thiết nghĩ Hồ Á Kiền dư sức báo thù sau thời gian tập luyện dư ba năm.

Sư trưởng ngước mắt nhìn thiếu niên họ Phương :

- Đành rằng đánh bọn Cơ phòng không khó khăn gì, lỡ chúng mượn võ sư chống trả thì sao? Chúng sẽ bỏ tiền ra mua chuộc võ sư cao cấp dị phái chống đối Thiếu Lâm, thành thử sau vụ Lôi đài Hàng Châu, ta đang tính cách dàn hòa chưa xong mà còn để xảy ra vụ Cơ phòng nữa chẳng quá thất sách lắm ru? Còn hy vọng dàn xếp được ngày nào vẫn phải cố gắng như thường, và chỉ dùng võ lực chống đối khi nào không còn lối thoát nữa.

Sư trưởng vừa dứt lời thì Tam Đức hòa thượng bước vào hỏi :

- Thưa Sư phụ, có cần thu xếp phòng ở cho ba tráng sĩ này không?

Sư trưởng gật đầu, đoạn Người chỉ Tam Đức mà bảo anh em Thế Ngọc :

- Tam Đức hòa thượng đây là đồ đệ của ta, các hiền điệt tuy theo môn phái từ lâu, nhưng nay mới chánh thức nhập Thiếu Lâm, vậy phải hành lễ nhập môn, chịu luật lệ quy chế Thiếu Lâm tự mới tiện chánh thức xưng hô.

Tam Đức nói :

- Ba tráng sĩ theo bần tăng về phòng tắm gội thay áo cho sạch sẽ để chịu lễ ngay từ hôm nay.

Sửa soạn xong xuôi, ba anh em Phương gia lên đại hùng bảo điện chịu lễ.

Ba người quỳ trước bàn thờ Đạt Ma sư tổ, đèn nến sáng choang, hương trầm nghi ngút. Chí Thiện sư trưởng vận cà sa ngồi bên hữu bàn thờ, người thẳng như pho tượng. Tam Đức trưởng tự, đứng bên tả đọc các điều lệ cho ba vị tân đồ nghe.

Chờ Tam Đức đọc xong, anh em Phương gia hành tam bái trước bàn thờ Sư tổ, tuyên thệ nhất nhất chịu theo quy tắc Thiếu Lâm tự đặt danh dự môn phái lên trên hết, sống theo chánh nghĩa, nếu phản bội sẽ chịu sự hành phạt của nhà chùa. Thề xong, ba người quay lại quỳ lạy Chí Thiện sư trưởng xưng hô “Sư phụ”. Đoạn ba người vái Tam Đức kêu bằng sư huynh.

Chí Thiện cho ba anh em họ Phương biểu diễn cho Người xem rồi nói :

- Với sức họa hiện tại, ba đồ đệ chỉ cần ở bên ta hai tháng trời là đủ, không cần phải lên Tung Sơn, nhưng ta sẽ đem các con về chùa. Một môn đồ Thiếu Lâm dù tài nghệ cao siêu đến bực nào mà không biết rõ cảnh Tung Sơn, cũng chưa thể gọi là hoàn toàn được. Từ nay trở đi, các đồ đệ ngày ngày tập luyện dưới sự điều chỉnh của ta, khi về đến Thiếu Lâm tự đỡ mất thì giờ. Chờ ít ngày nữa sẽ lên đường.

Anh em Phương gia mừng rỡ, nhất nhất tuân lời.

Chiều hôm ấy, Sư trưởng đang chỉ bảo anh em Phương gia mấy thế bí truyền về Côn pháp thì chợt có tiểu đồ vào báo :

- Bạch Sư trưởng, có người xưng danh là Lâm Thắng xin yết kiến.

Sư trưởng quay lại bảo Thế Ngọc :

- Hiền đồ ra xem thế nào, dẫn y vào khách phòng ta sẽ ra đó sau.

Lát sau, Sư trưởng ra tới nơi thấy một thanh niên hảo hán trạc hai mươi lăm tuổi, diện mạo chân phương, y phục vấy bụi, đứng ngoài hành lang cùng Phương Thế Ngọc. Người đó rơm rớm nước mắt phục lạy Thiền sư :

- Bạch sư trưởng, xin Người cứu giúp cho, sư phụ tiểu đồ là Hoàng Khôn hiện đang lâm cảnh lao lung.

Thiền sư giật mình :

- Hoàng Khôn làm chi mà vương cảnh lao lung.

- Thưa, hiện thời đang bị giam tại Ác Dương huyện trong tử lao, cổ đeo gông ba tạ, châm cùm ba tạ, không hy vọng thoát nổi lao lung.

Chí Thiện dậm chân, cau mặt :

- Nhưng ta muốn hiểu rằng người nào đã đeo nổi mấy thứ đó vào cổ và chân y chớ! Hoàng Khôn đâu phải vậy vô tri vô giác! Bắt Hoàng Khôn đâu có dễ dàng như thế được? Ta biết tâm tính nó chân phương nhất mực, làm gì nên tội.

Nguyên Hoàng Khôn tự Tĩnh Ba là một cao đồ của Thiếu Lâm tự.

Được nhập học từ lúc còn ít tuổi, Hoàng Khôn ở luôn trên Thiếu Lâm tự cho đến lớn nên đạt mức cao đồ. Tánh tình quảng giao, hiền hậu, Hoàng Khôn được thầy, bạn rất đỗi quý mến.

Hồi mới từ Tung Sơn về, không muốn song thân phiền muộn, Khôn lấy vợ là Cam Phụng Ái, nhưng chẳng mê luyến cảnh tay ấp má kề, ngày ngày chỉ tụ họp bè bạn luyện tập côn quyền. Cam thị đành sống âm thầm, bầu bạn cùng Cam Ngọc Lan, cô em đồng phụ dị mẫu của nàng.

Khi cha mẹ quy tiên, Hoàng Khôn tiêu tán hết sự nghiệp, Cam Mộng Ái không chịu nổi cảnh bần hàn nên thường nặng lời trách cứ chồng, khiến gia đình chẳng mấy khi được êm ả.

Suốt thời gian, kể từ khi ở Tung Sơn về, Hoàng Khôn có thâu một đồ đệ là Lâm Thắng. Học thành tài, Lâm Thắng mở ngay tại nhà một ngôi Võ đường thâu nhận học trò sanh nhai.

Sau Hoàng Khôn nhờ Lâm Thắng giúp phương tiện đến điều khiển ghe đánh cá cho tiệm Hoàng An ở Hải Dương. Trong khi ấy, Mộng Ái và Ngọc Lan ở nhà thông dâm cùng tên Mã Xuyến, con của một cường hào giàu nhất huyện Ác Dương. Một hôm, Lâm Thắng bắt gặp chúng đang tình tự tại nhà Mộng Ái. Hai chị em Mộng Ái ôm Lâm Thắng lại để Mã Xuyến chạy thoát. Lâm Thắng định chờ Hoàng Khôn về sẽ mách cho sư phụ rõ. Nhưng Mộng Ái nhờ tên mai mối của Mã Xuyến là hai mụ Trương Thiện Duyên và Lý Tịnh Duyên ở Nga Mi am, bày kế mách với Hoàng Khôn rằng Lâm Thắng toan cưỡng bức hai chị em nàng. Hoàng Khôn hiểu lầm, vội tìm Lâm Thắng trị tội. Lâm Thắng không biện bạch được lời nào đành chạy trốn.

Tên Mã Xuyến hay cớ sự, nhờ hai mụ mai mối lập mưu mua chuộc tên cai ngục, buộc tên hải đạo Viên Tất Quý vừa bị bắt, khai cho Hoàng Khôn là đồng đảng hải tặc thường đi lại với Hà Lão Ưng, đầu lãnh thủy tặc Hải Dương, Tri huyện Ác Dương là Điêu Tấn Bình vội vàng sai Sầm An và Kỳ Tường, dùng thuốc mê pha rượu phục Hoàng Khôn uống say bắt được. Hoàng Khôn bị mang gông, đeo xích nặng, tra tấn nhục hình nên đành nhận tội bừa chờ dịp thoát thân.

Lâm Thắng hay tin Hoàng Khôn bị bắt và mình bị tầm nã nên vội sang Quảng Châu cầu cứu cùng Chí Thiện thiền sư.

Chương 23: Động lòng hiệp nghĩa, Cam, Lã ra tay cứu đồng đạo Uất hận ngập trời, dũng sĩ hạ sát kẻ tà gian

Vụ Hoàng Khôn bị bắt về tội thông đồng với thủy khấu được loan truyền khắp huyện Ác Dương, khiến ai nấy đều công phẫn, thương cho cảnh ngộ nạn nhân oan ức.

Nhưng thiên bất dung gian!...

Ngay lúc Hoàng Khôn bị bọn trưởng sai dịch Sầm An, Kỳ Tường lừa mời uống rượu hòa sẵn thuốc mê ở tửu quán rồi đóng gông, cùm gọi sai dịch khiêng ra tù xa, thì có hai nam nữ thực khách mới từ xa đến ngồi dùng bữa trong góc thực phòng trông thấy.

Thanh niên vóc người cao lớn, tóc búi ngược, diện mạo phương phi tuấn tú, cổ to vai rộng, thoạt coi ai cũng thừa đoán là người kiêu dũng, sức lực tiềm tàng. Thiếu nữ là một tuyệt sắc giai nhân, dong dỏng cao, dáng điệu gọn gàng. Nàng có một sắc đẹp anh thư cân quắc, dịu dàng với khuôn mặt trái xoan, chiếc mũi dọc dừa, nhưng nghiêm nghị với cặp mắt phượng nhãn xếch ngược long lanh.

Cả hai cùng vận võ phục màu chàm, chân dận ủng đen, lưng gài trường kiếm mà hai mối tua xanh đỏ thỉnh thoảng lại nhẹ bay trước gió.

Thanh niên nói :

- Sư muội thử coi, câu chuyện có động trời không? Theo dư luận, tráng sĩ nọ không phải là kẻ gian ác hại người.

Thiếu nữ gật đầu :

- Tiểu muội cũng thắc mắc về vụ bắt tráng sĩ ấy quá, sư huynh thử mời chủ quán vào hỏi chuyện xem sao.

Thanh niên khen phải. Chàng liền hối bảo mời chủ quán đến nói chuyện. Chủ quán lật đật từ trong bước ra tiến đến chỗ hai người.

- Nhị vị quan khách có điều chi dạy bảo?

Thanh niên nói :

- Chúng tôi từ xa đến đây không hiểu phong tục xứ này thế nào, nhưng vụ bắt người vừa rồi, tiên sinh nghĩ sao? Tráng sĩ bị bắt ấy là ai vậy? Coi có vẻ gã bị tội nặng lắm thì phải?

Chủ quán chép miệng thở dài :

- Tôi có ngờ đâu cơ sự xảy ra như vậy. Tưởng câu chuyện bắt bớ cũng chỉ qua loa thôi, tôi có việc phải ra phố, dè đâu lúc trở về trông thấy phạm nhân mới hiểu là câu chuyện tày đình, bất ngờ. Nhị vị từ xa qua đây không biết là phải, nhưng chúng tôi là người xứ này ai mà chẳng biết Hoàng Khôn, một tay võ dõng, môn đồ Thiếu Lâm tự!...

Nghe ba tiếng “Thiếu Lâm tự”, hai thanh niên vội đưa mắt nhìn nhau trao đổi sự ngạc nhiên.

Thanh niên hỏi chủ quán :

- Tráng sĩ Thiếu Lâm tự ấy can tội gì thế?

Chủ quán lắc đầu :

- Nào tôi có biết. Nhưng sáng nay, lúc hai trưởng sai nha đến đây nói trước với tôi rằng họ sẽ lừa bắt một tên thủy tặc lợi hại, cần phải giả đò đãi rượu, dè đâu tên thủy tặc ấy là Hoàng Khôn, người nổi tiếng hiền lành trong huyện Ác Dương này.

Thanh niên hỏi :

- Hoàng Khôn có gia đình không? Tiên sinh chắc chắn gã là môn đồ Thiếu Lâm tự?

- Trời ơi! Khắp vùng này người nào chẳng biết y là cao đồ của vị Thiền sư trên Thiếu Lâm? Đồ đệ của y là Lâm Thắng còn mở nổi võ đường ở kế bên Trạng Nguyên đình trong huyện này, danh tiếng nổi như cồn, huống hồ họ Hoàng?... Nhưng nhắc tới gia đình y, nghĩ thêm buồn!

- Sao vậy, thưa tiên sinh?

Chủ quán suy nghĩ giây lát, đoạn thuật lại gia đình Hoàng Khôn cho hai vị khách nghe, rồi kết luận :

- Tôi biết rõ Lâm Thắng cũng như Hoàng Khôn. Có lẽ nguyên ủy thế nào ngoài sự hiểu biết của mọi người, chứ Lâm Thắng mà biết chuyện ấy, tôi dám chắc y không tha bọn khốn khiếp...

Giữa lúc đó khách hàng vào quầy hỏi, chủ quán từ tạ hai người lật đật ra tiếp khách. Hai thanh niên nam nữ cũng trả tiền lên ngựa ra đi.

Họ là nhân vật nào mà khi biết Hoàng Khôn là môn đồ Thiếu Lâm tự, lại đặc biệt chú ý như vậy.

Thưa, họ không phải là người xa lạ. Thanh niên hảo hán chính là Thôi Sơn Thái Bảo Cam Tử Long và vị nữ anh thư là Trại Nhiếp Ẩn Lã Mai Nương.

Song hiệp vâng lệnh sư phụ Chiêu Dương thiền sư và Lã Tứ Nương xuống vùng Giang Nam quan sát tình hình vụ đả Lôi đài ở Hàng Châu và sau nữa tìm kẻ phụ thù của họ Cam.

Tới Hàng Châu, Song hiệp vào trọ ở Tam Thiên đại điếm, gọi tửu bảo hỏi thăm lối ra cửa Thanh Ba.

Mấy tháng trước đây vốn có nhiều viễn khách đến trọ xem đả lôi đài, người nào cũng hỏi thăm đường ra Thanh Ba môn nên tửu bảo quen miệng hỏi Tử Long :

- Thưa, quý khách định ra cửa Thanh Ba xem đả Vô Địch đài?

- Phải!

- Thế thì không may quá, Vô Địch đài bị dẹp đi rồi, Mai Hoa Thung cũng vậy.

Cam Tử Long ngạc nhiên :

- Mai Hoa Thung? Ai đánh trên thung?

Tên tửu bảo nhanh nhẩu :

- Thưa, Ngũ Mai lão ni và Lý Ba Sơn lão sư.

- Kết quả thế nào?

- Thưa, Lý Ba Sơn bị táng mạng vì chông sắt. Con gái là Nữ Bá Vương Lý Tiểu Hoàn đem quan quách đi từ lâu rồi. Con trông thấy họ khiêng quan tài bỏ lên xe chở đi, đông lắm.

- Ngươi có nghe nói Lý Tiểu Hoàn đem thi hài thân phụ nàng đi đâu không?

- Thưa không, nhưng trông kiểu cách đem theo nhiều hành trang, con đoán là họ đi xa lắm.

- Còn Phương Thế Ngọc thì ra sao? Còn ở Quảng Đông hội quán không?

- Không ạ. Gia đình Phương gia đi trước Nữ Bá Vương.

Lúc về phòng, Mai nương nói với sư huynh nàng :

- Lúc đó ở Bạch Vân tự ra đi, tiểu muội biết ngay là thế nào cũng trễ, nhưng hoàn toàn không ngờ có trận đánh trên Mai Hoa Thung giữa Ngũ Mai lão ni và Lý Ba Sơn.

Trận Mai Hoa Thung tuy không lai rai như Vô Địch đài nhưng hậu quả xung đột sẽ lớn lao hơn vụ Thế Ngọc-Lão Hổ nhiều.

Cam Tử Long trầm ngâm :

- Thiền sư và Đại sư cũng không ngờ tới cuộc giao đấu đến lưu huyết giữa Ngũ Mai và Lý Ba Sơn. Tây Khương phái khi nào chịu nỗi nhục ấy. Chắc chắn thế nào môn phái ấy cũng báo thù cứu vãn danh dự.

- Chúng ta đến Quảng Đông hội quán hỏi thăm tin tức Phương Thế Ngọc và hỏi rõ luôn thể về vụ Mai Hoa Thung?

Cam Tử Long đồng ý.

Song hiệp ra phố tìm đường đến Quảng Đông hội quán hỏi thăm Phương Thế Ngọc, mới hay gia đình họ Phương đã về bên Triều Dương.

Song hiệp không thăm thú đất Hàng Châu hoa lệ, sáng hôm sau theo đường đi Triều Dương. Đến nơi, hai người đến Vạn Xương hiệu thì viên quản lý cho hay gia đình họ Phương đã hồi hương về Triệu Khánh phủ ở Tây môn ngoại. Cam, Lã giã từ viên quản lý Vạn Xương hiệu thẳng xuống Triệu Khánh phủ.

Song hiệp theo đường bộ bỏ đất Giang Tây vào Phúc Kiến, chẳng bao lâu đến Triều Châu, vào Vạn Thắng khách điếm dùng bữa, ngờ đâu lại gặp ngay lúc Hoàng Khôn bị hai trưởng sai nha Sầm An, Kỳ Tường bắt, cùm xích đem về huyện.

Động lòng trắc ẩn, Song hiệp dò hỏi Hoàng Khôn, biết được việc chị em Mộng Ái thông gian với tên Giải Nguyên Mã Xuyên, liền sự đoán là chắc có ẩn tình gì trong sự bắt bớ này.

Nội khí xung thiên, Cam, Lã muốn can thiệp cứu bạn đồng đạo. Nhưng trước khi hành động, hai người muốn biết rõ nguyên ủy và gặp Lâm Thắng trước đã, nên khi ra khỏi Vạn Thắng khách điếm, hai người hỏi thăm đường đến Trạng Nguyên đình. Đến phố ấy, Song hiệp trông thấy ngay căn nhà rộng rãi, mặt tiền có biển đề “Lâm Thắng Võ Đường”. Nhà ở gần cầu, cửa đóng chặt.

Cam, Lã xuống ngựa, gõ cửa mãi cũng không thấy ai thưa.

Hai bên lối xóm thấy cặp thanh niên tráng sĩ, anh thư gọi mãi cửa nhà Lâm Thắng, thì một lão trượng tiến tới, hỏi thăm rồi dắt vào nhà trình cùng Lâm mẫu, mẹ của Lâm Thắng. Nghe Song hiệp hỏi thăm Lâm Thắng, Lâm mẫu ngần ngừ giây lát :

- Con lão đi Quảng Châu không biết ngày nào về. Nhị vị có điều gì cần dạy bảo không?

- Thưa có một việc hết sức quan trọng, tiếc rằng Lâm huynh không có nhà.

Lâm mẫu lo lắng :

- Tráng sĩ có thể cho tôi biết việc gì không?

Mai Nương đỡ lời Tử Long :

- Nói thật với bá mẫu rằng sư phụ của lệnh lang là Hoàng Khôn bị bắt giải huyện trưa nay rồi. Chúng tôi nghi ngờ không hiểu tại sao họ Hoàng mang tội? Muốn biết rõ không gì hơn bằng hỏi lệnh lang và báo lệnh lang biết tin ấy để lo liệu cho Hoàng Khôn.

Lâm mẫu giựt mình :

- Nhị vị có chắc rằng Hoàng tiên sinh bị giải huyện thiệt không?

Mai Nương nghiêm nét mặt :

- Chúng tôi mục kích việc ấy và nhiều người khác trông thấy. Thiên hạ bàn tán rằng có lẽ Hoàng Khôn bị vợ y thông đồng cùng tên Mã Xuyến âm mưu hãm hại. Họ còn nói hơn rằng chỉ có lệnh lang mới may ra cứu được Hoàng tiên sinh mà thôi. Anh em tôi là khách qua đường, thấy điều oan khuất không lẽ bỏ đi, nên hỏi thăm đường đến quý xá báo tin, nhân tiện hỏi xem sự thể có thiệt như vậy không?

Lâm mẫu run rẩy :

- Trời ơi! Không ngờ cơ sự lại nguy hiểm cho Hoàng tiên sinh đến nước ấy ư? Thế mà con tôi không nói gì cho tôi biết cả. Nhị vị đã biết rõ sự thể, tôi cũng xin nói thật.

Lâm mẫu thuật lại việc Hoàng Khôn đến tận Võ đường, tìm chém Lâm Thắng và việc Thắng thuật vụ y bắt quả tang Mộng Ái, Ngọc Lan thông gian cùng Mã Xuyến tại gia trung họ Hoàng cho Song hiệp nghe.

Lâm mẫu nói tiếp :

- Vì Hoàng tiên sinh đến đây gây lộn, Lâm nhi mới kể cho tôi biết vụ Mộng Ái, Mã Xuyến. Chắc nó chờ Hoàng Khôn về mới mách vụ vô luân kia, chẳng dè chị em Mộng Ái hành động trái ngược, xúc siểm họ Hoàng thế nào đó nên y ngộ nhận, cả nghe nên tìm Lâm nhi gây sự.

Thiệt ra từ trước đến nay, thầy trò rất tương đắc.

Nghe Lâm mẫu kể chuyện, Song hiệp hiểu ngay nguyên ủy vụ án Hoàng Khôn.

Lã Mai Nương nhìn Cam Tử Long, đoạn bảo Lâm mẫu :

- Hoàng Khôn bị bắt oan rồi. Trước khi mắc mưu sâu độc của bọn gian phu, dâm phụ, Hoàng tiên sinh trúng kế “phản gián” của chị em Mộng Ái nên mới tới đây chém lệnh lang.

Lâm mẫu nói :

- Hiện thời Lâm nhi không ngại thì giờ cuối năm, đường xa vạn dặm thẳng, mới ra đi sang Quảng Châu tìm Chí Thiện thiền sư nhờ phân giải vụ Hoàng tiên sinh hiểu lầm. Hiện thời không còn phương kế nào hơn là chờ Lâm nhi trở về cùng Thiền sư.

Cam Tử Long trầm ngâm :

- Chờ Thiền sư và Lâm đại ca về đến huyện này không khéo mọi sự đã trễ rồi. Trông kiểu cách Hoàng Khôn bị gông cùm cũng đủ hiểu bị ghép vào trọng tội.

Lâm mẫu nói thêm :

- Nhị vị tất có lý do mới chú ý tới sự bất bình, oan khuất này, chi bằng xin tự ý hành động giúp kẻ hàm oan.

Hiện nay nhị vị đã cư ngụ nơi nào chưa, nếu không thì mời ở lại tệ xá tiện nghi rộng rãi. Lâm nhi lúc này đi vắng, môn đồ cũng nghỉ cả, mình tôi ở nhà lo sợ bất an, nhị vị ưng ý nán lại, nhờ đó tôi an tâm được phần nào.

Song hiệp tính chuyện cứu Hoàng Khôn, trọ tại khách điếm không tiện bề hành động, nên ưng thuận nhận lời mời của Lâm mẫu.

Cam, Lã đặt hành lý xuống kỷ, ra cửa dắt ngựa theo nữ tỳ vào tàu ngựa ở vườn sau, tháo yên cương cho hai tuấn mã ăn uống đàng hoàng rồi mới lên nhà trên. Lâm mẫu đã cùng nữ tỳ dọn dẹp sửa soạn phòng và mời khách nghỉ ngơi rất đỗi mật thiết. Không để mất thì giờ, Cam Tử Long để Lã Mai Nương ở nhà chuyện trò với Lâm mẫu, tự mình ra phố thăm dò tin tức về vụ án Hoàng Khôn.

Khi biết rõ đầu đuôi mọi việc, Tử Long thuật lại cho Mai Nương và Lâm mẫu nghe, lão mẫu kêu trời luôn miệng. Nhân dịp ấy, Tử Long trao tiền nhờ Lâm mẫu mua chuộc bọn cai ngục, xin cho vào thăm và gửi đồ ăn cho Hoàng Khôn, luôn tiện hẹn ngày giờ vào cứu Hoàng Khôn thoát ngục. Hai tên cai ngục là Vương Qua và Đặng Bách ham tiền, bằng lòng cho Lâm mẫu vào thăm Hoàng Khôn.

Lâm mẫu cùng nữ tì đến nhà Vương Qua, rồi cùng họ Vương đi lối sau vào ngục thất trong huyện. Tới ngục môn, Vương Qua bảo Lâm mẫu chờ chốc lát để y vào nói với Trưởng ngục Đặng Bách. Hồi lâu, Đặng Bách cùng ra đưa Lâm mẫu đi quanh co vào nơi giam trọng tội.

Vào đến căn ngục trong cùng, Lâm mẫu thấy ngay Hoàng Khôn ngồi ngay bên cửa gióng sắt, vẻ mặt chán nản, nghĩ ngợi.

Đặng Bách bảo Hoàng Khôn :

- Lâm mẫu vào thăm và cho thức ăn đây, có phước lắm mới được đặc cách như thế đấy nhé. Chúng tôi mở gông cho tiên sinh được thoải mái ăn uống, nhưng đừng có nhân dịp làm càn để chết cho anh em tôi nhé.

Dứt lời, Đặng Bách mở khóa cửa ngục và tháo gông cho Hoàng Khôn.

Lâm mẫu nước mắt rưng rưng bước vào ngục thất, ngồi xuống bên Hoàng Khôn. Trải giấy và đặt các món ăn cùng hồ rượu trong giỏ tre ra. Lâm mẫu nghẹn ngào :

- Mời tiên sinh ăn uống đi cho có sức. Lâm nhi không ngờ xảy ra vụ oan khuất này nên đã đi Quảng Châu cầu Chí Thiện sư tổ về đây giải quyết nội vụ.

Hoàng Khôn thờ dài :

- Tôi ngu ngốc, nóng nẩy trúng kế phản gián của Mộng Ái, Ngọc Lan, ngờ oan cho Lâm Thắng. Bây giờ suy nghĩ ra thì quá trễ rồi, thiệt đáng đời cho tôi, ân nhân vào đây làm gì cho mất công?

- Sự lầm lẫn ấy không có gì đáng kể, mẹ con tôi không hề oán hận tiên sinh.

Lâm mẫu liếc nhìn thấy hai viên trưởng ngục đứng ngoài không chú ý đến câu chuyện của hai người, bèn nói lẹ nhắn Hoàng Khôn :

- Từ đêm mai trở đi tiên sinh nên chú ý, thế nào cũng có đôi thanh niên nam nữ hiệp khách vào cứu. Chăm lo ăn uống, nghỉ ngơi cho có sức. Hoàng Khôn toan hỏi danh tánh hai hiệp khách nọ nhưng thấy hai viên trưởng ngục chú ý nhìn chàng, nên lại thôi, chỉ khẽ gật đầu tỏ ý đã hiểu.

Khôn lẳng lặng ngốn một chập như vòi voi cuốn lá hết nhẵn thức ăn. Lâm mẫu thâu hết chén đĩa bỏ vào giỏ tre đậy lại sửa soạn ra về. Hai viên trưởng ngục định vào đóng họ Hoàng lại như cũ nhưng Lâm mẫu nói ngay :

- Tôi đã có lời thưa với nhị vị rồi mà còn gông con người hiền lành kia làm chi? Cùm chân cũng đủ rồi!...

Đặng Bách bảo Hoàng Khôn :

- Tiên sinh nghe Lâm mẫu nói đấy chớ? Đừng để cho chúng tôi mang lụy nhé! Bây giờ tối rồi không sao, nhưng sáng mai chịu khó đeo gông lại, chiều tối mở ra cho, nghe?

Hoàng Khôn nói mấy lời cám ơn hai viên ngục trưởng, đoạn ngồi dựa lưng vào tường nhắm mắt lại suy tính.

Chàng giận mình đã quá hồ đồ nóng nẩy, không suy trước nghĩ sau.

Hoàng Khôn càng nghĩ càng bực bội, khó chịu.

Chàng muốn trở về nhà ngay hạ sát bọn dâm phu dâm phụ và đồng lõa của chúng.

Chắc trong lúc này, chúng tha hồ lộng hành. Chàng thì nằm tròn trong thất, tội đáng giải ra phủ đường xử trảm, còn Lâm Thắng thì bỏ đi mất dạng. Gạt hai người ra khỏi vòng rồi, lẽ nào chúng chẳng giao hoan?

Hoàng Khôn hé mắt nhìn hai chân bị cùm mà nực cười. Lúc này, hai tay được tự do, chiếc cùm sắt và chiếc cửa gióng sắt kia có nghĩa lý gì đối với chàng! Muốn về nhà giết mấy đứa khốn khiếp ấy không khó. Vượt ngục thì dễ, nhưng Lâm mẫu đã dặn chàng rán chờ người tới cứu. Như vậy đỡ hại cho bọn ngục trưởng, ngục tốt khỏi bị huyện quan ghép vào tội bất cẩn để tù vượt ngục.

Quái! Hai thanh niên hiệp khách nào định mạo hiểm vào đây cứu ta?

Chàng chưa từng quen nhân vật nào như vậy cả. Nhưng thôi! Mai hay mốt họ sẽ vào đây và chàng sẽ có dịp dự kiến.

Hoàng Khôn nghĩ miên man. Thỉnh thoảng, cơn gió mạng rít lên từng hồi thê thảm. Trong phố, mọi nhà đóng cửa đi ngủ từ lâu, ngoại trừ những nơi ca lâu, kỹ viện.

Từ nhà họ Lâm, Song hiệp thoăn thoắt chạy ra khỏi khu phố, phi thân lên nóc nhà chạy một mạch đến nhà họ Hoàng mà lúc ban chiều Cam Tử Long đã hỏi dò địa chỉ và đi qua thăn thú.

Đứng trên nóc nhà kế cận. Tử Long chỉ căn nhà lầu rộng rãi của Hoàng Khôn cho Lã Mai Nương coi.

Nàng hỏi nhỏ :

- Nhà ấy còn đèn để sáng, anh le lói rọi qua kẽ cửa, Sang đó xem sao, sư huynh?

Cam Tử Long ghé tai Mai Nương :

- Chị em Mộng Ái giờ này còn để đèn sáng thế kia, có lẽ chúng đang ăn mừng loại trừ được thầy trò Hoàng Khôn rồi chăng? Bọn khốn khiếp này coi trời bằng vung! Đáng ghét quá!

Cam, Lã lẹ bước, tiến đến nơi nhìn qua biết có sân sau, bèn chuyền xuống sân nhẹ nhàng không một tiếng động. Cánh cửa thông ra sân và cào bếp còn hé mở, ánh đèn lọt ra ngoài. Song hiệp nhận xét không thấy ai dưới bếp, liền nhón bước đến bên cửa ghé nhìn, nhưng vướng bức tường chéo xây nửa chừng nên không nhìn được vào thẳng gian phòng đang có tiếng người cười nói luôn miệng. Hai người đang phân vân chưa biết tính thế nào thì có tiếng chân từ căn phòng sáng đi ra phía cửa.

Cam Tử Long vội cầm tay Mai Nương chạy ra sân, phi thân lên hành lang lầu tối om, nằm ép xuống sân ghé đầu nhìn xuống bếp. Thì ra người xuống bếp là nữ tì, lấy mấy thứ vật dụng rồi lại lên nhà ngay.

Cam, Lã nhìn vào căn lầu thấy có cửa ra vào liền nhỏm dậy mở thử. Cánh cửa không khóa hé ra ngay.

Hai người đứng áp lưng vào hai bên mé cửa nghe ngóng không thấy động tĩnh mới lẹ bước tiến vào. Bên trong là căn phòng ngủ ngăn đôi bởi vách van móng và có lói thang lầu xuống nhà dưới. Tiếng cười nói từ dưới nhà vọng lên lầu nghe còn rõ hơn cả khi Song hiệp nghe ở cửa ăn thông xuống bếp.

Mai Nương chỉ tay ra lối thang lầu hất hàm tỏ ý hỏi Tử Long xuống lối đó xem sao. Tử Long gật đầu ưng thuận.

Hai người nhẹ bước xuống được non nửa thang có vách ván đóng dọc theo lan can thang lầu thì trông thấy ngay bốn phụ nữ, hai già, hai trẻ đang uống rượu mua vui, lả lướt, cười nói oang oang cùng một người đàn ông trai lơ.

Qua câu chuyện đối đáp nhau của họ, Cam Lã biết thêm được hai tên trung gian mai mối là Lý Tịnh Duyên và Trương Thiện Duyên ở Nga Mi am và tên công tử gian dâm Mã Xuyến. Biết vậy, Song hiệp trở ra về.

Sáng hôm sau, Cam, Lã viếng Nga Mi am, tình cờ gặp và biết mặt Mã Xuyến trong khi y đến đấy để bàn chuyện Hoàng Khôn.

Tối hôm ấy trong ngục thất huyện Ác Dương, Hoàng Khôn ngồi dựa lưng vào tường bên gióng sắt, nhắm mắt dưỡng thần và nghe ngóng.

Thường lệ, đêm nào cũng vậy, dù mưa hay lạnh, bọn ngục tốt lúc một người, lúc hai ba người, đi vòng một lượt kiểm soát trật tự rồi mới trở ra vọng canh ngoài cổng ngục.

Trước mặt dãy ngục thất là một bức tường đá cao, mặt tường cắm đầy mảnh kính. Bức tượng đá đó ngán đôi ngục thất và huyện đường. Phía sau ngục là trại quân xây gạch, rải rác đến tận chân tường huyện thành.

Trời tối như mực, gió thổi xào xạc, khua những chòm cây um tùm quanh khu ngục tối. Các tội nhân, giấc ngủ nặng nề mệt nhọc, có kẻ ngáy pho pho, thỉnh thoảng lại trỗi dậy mê hoảng, la hét khiến xích cùm sắt va chạm loảng xoảng.

Cũng có kẻ nằm im không nhúc nhích khiến ngục tốt tưởng họ ngủ say nếu họ không thở dài sườn sượt.

Nhắm mắt định thần, Hoàng Khôn nghe rõ từng tiếng động nhỏ một. Từ chiều qua đến nay, chàng hoàn toàn bình thản, không hề buồn tức như mới bị bắt oan uổng nữa. Chàng nghĩ đến hai thanh niên hiệp sĩ can thiệp đến vụ này. Chàng muốn biết hai người ấy là ai, thuộc võ phái nào? Chắc không phải Thiếu Lâm vì nếu đồng phái, họ đã biết danh hiệu của chàng.

Theo lời Lẫm mẫu nói hôm qua, lát nữa hai nam nữ hiệp sĩ ấy sẽ tới đây cứu chàng và chàng sẽ có dịp biết mặt, khỏi thắc mắc nữa.

Canh hai gõ đã lâu rồi. Các vọng canh ở bốn góc huyện nha cầm canh từng khắc một, vì đã gióng mỏ tới ba lần.

Còn một khắc nữa sẽ tới canh ba. Giờ quyết liệt sắp điểm rồi. Theo kinh nghiệm, Hoàng Khôn dự đoán hai thanh niên nam nữ hiệp sĩ nọ sẽ hoạt động vào khoảng canh ba, hay trước sau một chút ít. Đêm nay trời tối nhiều, mây đen bao phủ lại không mưa, một đêm hoàn toàn đắc ý khách dạ hành.

Bỗng trên mái có tiếng lạch cạch rất nhỏ... Hoàng Khôn vội ngồi thẳng người lên chú ý nghe ngóng. Nhưng ngay lúc ấy, tiếng động nhỏ chuyển thành lớn, ngói xa động mạnh và tiếng mèo “ngao ngao” kêu gọi lên nhiều lần với tiếng gầm gừ dữ tợn.

Hoàng Khôn thở dài, dựa lưng vào tường như cũ, lẩm bẩm :

- Khỉ quá! Mấy con mèo!...

Chàng chợt nhớ rằng chàng vẫn ghét nuôi mèo, vì giống vật ấy có tiếng kêu đáng ghét khi chùng tới kỳ biết lớn.

Tùng!... Tùng!... Tùng!...

Trống lầu đã điểm ba ngân vang trong đêm trường tịch mịch. Từ ngục môn, tiếng mở then sắt dội vào: bọn ngục tốt vào kiểm soát theo thường lệ. Hoàng Khôn nằm hẳn xuống chân tường, vờ ngủ, tay vắt ngang đầu cố ý che mắt lim dim nhận xét.

Hai ngục tốt đao tuốt trần, một tên cầm đèn đi trước, tên đi sau cầm chùm chìa khóa lớn đủng đỉnh giơ cao đèn soi từng căn ngục một.

Giữa lúc ấy tiếng cùm, xích loảng xoảng ở căn ngục kế cận ngục giam Hoàng Không, tiếp theo là lời chửi rủa cục súc của Viên Tất Quý, tên thủy khấu thiệt thọ đã cung khai cho Hoàng Khôn :
- Khuya khoắt thế này chúng bây còn vào đây nheo nhèo làm mấy giấc ngủ của lão gia? Bước ngay! Lão gia giết chết bây giờ!...

Tên ngục tốt cầm đèn rút ngọn roi da ở lưng ra nạt nộ :

- Tên tử tù này hỗn xược. Thủ cấp sắp rụng rồi còn muốn ngủ nhiều nữa hả!...

Viên Tất Quý nổi điên, vùng dậy lê ra cửa sắt lay rầm rầm :

- Bọn tham quan ô lại chúng bây tưởng lão gia sợ hả?

Tên ngục tốt giận quá quắt luôn mấy roi qua gióng cửa sắt :

- Đồ tặc đạo! Đồ tử tù!

Viên Tất Quý hai tay nắm lấy hai gióng sắt, cười ha hả :

- Quất nữa đi lão gia coi! Mỏi tay chưa con?...

Thấy động, ngục trưởng Vương Qua vội chạy vào :

- Việc gì ầm ầm lên vậy?

Ngục tốt ngừng tay roi, đáp :

- Tên tử tù này chửi bậy. Đánh chết nó đi cho rồi!

Viên Tất Quý cười :

- Ngục trưởng ơi, đêm hôm khuya khoắt thế này, chúng vào đây kiểm soát còn léo xéo nói chuyện làm mất giấc ngủ của mọi người. Muỗi như ong thế này ngủ được đã là chuyện vạn nan, nhưng cũng không xong, chúng còn phải khua người ta dậy mới vừa lòng! Không chửi sao được?

Vương ngục trưởng tiến đến sát bên cửa ngục thất :

- Viên Tất Quý! Không được nhiều lời. Đừng quên rằng ta đã rộng rãi nhiều lần với ngươi. Biết điều ngủ ngay đi, không được lộn xộn nữa!

Trước khi quay vào, Viên Tất Quý nói :

- Có thế chứ! Ngục trưởng nói vậy còn nghe được, chớ bọn tiểu tốt vô danh kia khó thương quá.

Dứt lời, tên thủy khấu bướng bỉnh lê cùm xích trở vào cuối căn ngục. Vương Qua cũng bảo hai ngục tốt trở ra ngoài.

Sự yên lặng nặng nề trở lại như trước trong khu ngục thất. Lúc đó. Canh ba điểm đã lâu.

Hoàng Khôn nhẹ nhàng ngồi nhỏm dậy. Chàng bực mình về vụ lộn xộn vừa rồi.

Biết đâu hai bị hiệp khách đã chẳng đến rồi thấy trong ngục ầm ĩ nên bỏ đi chờ đêm mai.

Hoàng Khôn lẩm bẩm trong cổ họng :

- Tệ quá! Thằng Viên tặc này đáng chết, tánh tình hung hãn vẫn nguyên chất. Mi làm ta phải kéo dài thêm một ngày nữa trong căn ngục hôi hám này đó. Nếu mi không bị xử trảm thì sau này ta sẽ định cho mi!

Chàng thở dài nhìn mấy con chuột cống lớn lởn vởn trong ánh sáng lờ mờ dưới rảnh nước ở chân tường đá. Bỗng một con moi được miếng mồi dưới cống lên, loay hoay toan ăn thì mấy con khác xô tới tranh ăn. Chúng cắn nhau chí chóe rồi đuổi nhau chạy ra phía ngục môn.

Tức bực, Hoàng khôn ngả mình nằm ngửa lên mảnh ván trên mặt đất. Từ xa, tiếng mỏ điểm khắc vọng tới. Hoàng khôn nhìn lên mái nhà, lẩm bẩm :

- Canh ba một khắc...

Nhưng chàng bỗng ngừng lời ngay, đăm đăm nhìn lên mái đen tối.

Quái lạ! Hình như có một lỗ hổng, ánh sáng lờ mờ xuyên qua nếp mái phái trong. Hoàng Khôn rùng mình: một luồng gió lạnh ngắn lọt qua lỗ hổng trên mái lùa xuống ngục thất.

Tiếng chuộc rúc nhẹ trên mái khiến Hoàng Khôn chú ý nhìn hơn nữa.

Giữa lúc ấy, một vậy gì lóng lánh luồn qua lỗ bống tranh tối tranh sáng trên mái, mà Hoàng Khôn nhận ngay ra là lưỡi trường kiếm.

Khôn mừng rỡ biết là cứu tinh đã tới. Chàng giơ tay ra tỏ rằng đã hiểu và ngồi nhỏm dậy.

Một bóng đen thả hai chân xuống trước, hai tay bám vào rui nhà đoạn nhảy nhẹ nhàng xuống căn ngục tối om.

Hoàng Khôn định thần nhận ra chàng thanh niên hiệp sĩ lực lưỡng uyển chuyển.

Chàng ta tiến đến bên tù nhân hỏi nhỏ :

- Hoàng Khôn?...

Họ Hoàng trả lời phải và hỏi lại vị kiếm khách là ai. Tráng sĩ đáp :

- Bắc phái Cam Tử Long đây. Bẻ được khóa cùm chân không?

- Được! Tôi chỉ chờ ân nhân tới mới hành động. Xin chờ một chút. Vị kia đâu?

- Lã sư muội chờ trên nóc ngục. Lẹ lên kẻo trễ rồi. Cần tôi giúp không?

- Được, mặc tôi.

Hoàng Khôn cúi xuống vận dụng toàn lực ra tay vặn mạnh, nhưng hết sức thận trọng, chiếc khóa đồng cực lớn ở giữa chiếc cùm. Trước thần lực của hai bàn tay thép ấy, then khóa đồng vuột ra.

Khôn nhẹ tay bỏ chiếc khóa vô dụng đó xuống đất, nhất phiến cùm sắt và rút hai chân ra. Chàng xoa nắn cổ chân, đoạn đứng thẳng người lên vái tạ ân nhân. Cam Tử Long khen thầm họ Hoàng dũng mãnh, chàng liền nói :

- Xin miễn lễ, thì giờ cấp bách. Tôi lên mái trước thò tay xuống kéo đại ca lên.

Cam Tử Long tiến đến dưới chỗ mãi ngói bị dỡ, nhún mình nhảy vút lên bám vào cây xà ngang, du người lên chui ra ngoài.

Càng lúc ấy, sau khi đã lượm bộ áo của Lâm Thắng do Lâm mẫu đem vào ngục cho chàng thay đổi hôm qua, Hoàng Khôn đến dưới lỗ hổng nhìn lên mái ngói thì vừa lúc hiệp khách họ Cam đưa tay xuống đón.

Tin tưởng, Khôn nhún mình nhảy lên. Tử Long bắt trúng cổ tay Hoàng Khôn kéo từ từ ra khỏi mái.

Trong bóng đêm lờ mờ, họ Hoàng thấy một thiếu nữ dáng dấp đặc biệt, lưng đeo trường kiếm đứng trên mái ngục liền chắp tay chào, thiếu nữ đáp lễ, nói nhỏ xưng danh.

- Lã Mai Nương, nữ điệt của Đại sư Lã Tứ Nương.

Hồi nãy nghe hai tiếng “Bắc phái” và lúc này nghe danh từ Lã Tứ Nương, lại nhận thấy lối hành động giản dị của hai kiếm khách, Hoàn Không biết ngay là gặp trúng hai cao đồ của Bắc phái Sơn Đông và Nga Mi sơn.

Tử Long hỏi nhỏ Hoàng Khôn :

- Đại ca biết lối vào huyện đường không?

- Có. Bây giờ đi đâu?

- Dẫn tới huyện đường rồi mặc chúng tôi, đại ca về thẳng nhà Lâm Thắng tạm trú.

Hoàng Khôn gật đầu phóng mình vượt mái chạy trước. Song hiệp theo sau.

Ba bóng đen thấp thoáng trong màn đêm, lướt trên mái ngói không một tiếng động nhỏ, ra khỏi khu ngục thất đáp xuống một khu đất trống, chạy dọc theo chân tường đá một quãng dài.

Hoàng Khôn ngừng chân, thì thào :

- Bên kia tường là huyện đường, phía trước có cột cờ. Hậu trường tiếp giáp ngay phía sau. Hai đầu tường đều có vọng lâu canh phòng. Lúc ra, nhị bị vượt bức tường này chạy về hướng Đông nam đây sẽ tới huyện thành và ra ngoài phố.

Tử Long đáp :

- Tôi biết lối ra rồi. Bây giờ đại ca về thẳng chờ chúng tôi ở nhà Lâm Thắng.

- Được lắm, tôi đi đây!

Chờ Hoàng Khôn chạy khỏi, Song hiệp phi thân vượt tường đá sang bên huyện nha, theo lời chỉ điểm của Hoàng Khôn lần vào khu hậu đường.

Nằm rạp trên mái nhà, Song hiệp nhận xét xem phòng ngủ của huyện quan có thể ở nơi nào, Lã Mai Nương chỉ một mái lầu cao và tráng lệ hơn hết. Cam Tử Long đồng ý.

Hai dạ hành khách vào tới nơi, đáp mình xuống mái ngói ống, leo qua lan can vào hành lang. Đi quanh thượng lầu nhận xét một lượt. Cam Tử Long nhảy lên thành của một cửa cuốn nhìn vào. May thay, cửa kính trắng trơn nên chàng trông được vào trong phòng trần thiết sang trọng.

Trong ánh sáng mờ mờ của chiếc đền lồng treo trong góc tường, chàng nhân ra đó là căn phòng ngủ màn treo trướng rủ rất trang nhã. Trên mặt gạch hoa, bên giường thất bảo có hai đôi hài thường để song song.

Không cần quan sát hơn nữa, Tử Long nhảy xuống hành lang ghé tai bảo Mai Nương :

- Chắc trúng phòng ngủ của y rồi, có hai đôi hài nam nữ bên giường. Ta thử coi.

Hai người kéo khăn choàng cổ che bắn lên mặt kín từ sống mũi đến cổ, đoạn Tử Long leo lên thành cửa sổ rút mũi trủy nhẹ nhàng nậy theo. Lát sau, cánh cửa bật ra, Tử Long ra hiệu cho Mai Nương rồi nhảy vào trong phòng tiếng thẳng đến bên giường có người nằm. Lã Mai Nương khép cửa sổ lại, theo sau.

Tử Long đưa mũi trường kiếm vén cửa màn lên. Trên giường, một người đàn ông trạc tứ tuần, tóc dóc bím, miệng há hốc thở phì phò. Phía trong là một phụ nữ xoay mặt vào trong tường không rõ mặt.

Tử Long mắc cửa mùng lên móc bạc, đoạn ép lưỡi kiếm sáng loáng lạnh giá lên má người đàn ông khiến y giựt mình, trừng mắt tung mền vùng dậy toan kêu, như Tử Long nạt ngay :

- Điêu Tấn Bình! Biết điều thì ngồi yên nghe ta hỏi!...

Bị động, người đàn bà cũng hoảng hốt vùng dậy, ngồi lùi vào góc giường, len lét nhìn hai người lạ, kiếm tuốt trần lóng lành.

Điêu Tấn Bình - vì chính là y - run lập cập nói không thành câu :

- Người là ai, vào đây làm gì?

Tử Long dí mạnh lưỡi kiếm vào má huyện quan :

- Nghe ta hỏi và trả lời cho rành mạch. Mã Xuyến đã cho ngươi bao nhiêu tiền để bắt Hoàng Khôn?

Điêu Tấn Bình thất sắc :

- Thưa Đại vương quả tình tôi không hề quen biết người ấy. Còn Hoàng Khôn nhận tội hẳn hòi...

Tử Long ngắt lời, dằn giọng, liếc xoẹt lưỡi kiếm lên má tham quan :

- Lúc này nhà ngươi còn chối leo lẻo! Ta hãy mượn cái tai của ngươi trước đã! Quân này không trừng trị không xong!...

Điêu Tấn Bình vội ôm chặt lấy hai tai, lưỡi ríu lại :

- Thưa Đại vương, tôi xin nói thật...

- Chúng ta là Dạ Du Công Lý Thần chớ không đại vương đại bà gì hết. Nói đi ta nghe...

- Thưa, tôi có quen với Mã Xuyến thật, nhưng không ăn bạc chi của y. Họ Mã đi lại với tôi đã lâu, nên mấy hôm nọ y mách rằng Hoàng Khôn thông đồng với bọn thủy khấu, mà một tên trong nội bọn là Viên Tất Quý bị bắt giam để điều tra tại bổn huyện từ lâu. Tôi muốn kết thúc vụ án ấy nên cho sai nha bắt họ Hoàng về huyện. Hoàng Khôn tự cung khai, tôi không hề ép uổng chi cả...Tử Long quắc mắt như hai tia lửa chiếu thẳng vào mặt viên tham quan khiến y chớp mắt lia lịa :

- Ngươi gian ngoa tột bực, ta điều tra rõ ràng rồi, chối sao được? Ngươi dùng kìm sắt nung đỏ uy hiếp và tự viết tội trạng đưa cho Hoàng Khôn ký vào đó. Ngươi thừa hiểu rằng Hoàng Khôn có thể bị xử trảm với cung trạng ấy mà vẫn cứ xử án hồ đồ. Lương cao bổng hậu, phụ mẫu chi quan mà ngươi xem rẻ tính mạng người ra thế ư? Nhất là Hoàng Khôn, trong huyện này mọi người đều biết y đức độ thực thà, chỉ riêng có một mình ngươi cho y là giặc thôi! Mã Xuyến đã đút lót bao nhiêu tiền, nói ngay!

Huyện quan cuống quít :

- Tôi không dám chối cãi những điều vừa rồi, nhưng quả tình tôi chỉ cốt kết thúc vụ án chớ không hề nhận bạc của Mã Xuyến, xin người hiểu cho. Từ nay tôi xin hối cải, nếu trái lời, người trừng phạt tôi cũng kịp thì giờ.

Về khoản hối lộ này, Cam Tử Long biết là Điêu Tấn Bình nói thật, bèn hỏi :

- Ngươi đã gửi phúc trình lên Phủ chưa?

- Thưa chưa, sáng hôm nay hồ sơ mới bổ túc xong nên không kịp gửi đi sớm.

- Được lắm! Ngươi thân bút một bổn nhận Hoàng Khôn vô tội nên trả lại tự do cho y. Ta chờ đây lấy ngay.

Điêu Tấn Bình lật đật đi thẳng ra án thư thắp đèn, thảo một “phóng thích lệnh” đưa cho Cam Tử Long coi.

Họ Cam đón lấy đọc qua, đoạn bảo Tấn Bình :

- Đóng dấu vào đây cho đàng hoàng. Mau!

Điêu Tấn Bình vội vàng áp triện trên lệnh phóng thích và trả lại cho Cam hiệp sĩ.

Tử Long tiếp lấy tờ giấy nhìn qua, gấp lại bỏ vào túi bát bảo mà rằng :

- Muốn giữ nguyên vẹn thủ cấp thì hãy nghe ta nói đây: ta đã đưa Hoàng Khôn ra khỏi ngục thất rồi. Ngươi và các bộ hạ tùy thuộc phải giữ việc này cho thật kín đáo. Trong ba ngày nữa sẽ hiểu biết nguyên do tại sao Mã Xuyến đá lập kế xúi ngươi hại Hoàng Khôn là người vô tội. Ngươi phải thâu hồi trát truy nã Lâm Thắng bị ngờ oan như sư phụ của y. Nếu thi hành lệnh này không trúng ý muốn của ta, dù ngươi có thăng thiên hay độn thổ cũng không thoát khỏi lưỡi kiếm công lý này, nghe?

Được lời như cởi tấm lòng, Điêu Tấn Bình mừng rỡ thoát chết vâng dạ luôn miệng.

Tử Long bảo :

- Cho ngươi đi vào giường, không được quay đầu lại, lẹ lên!

Viên tri huyện hành động theo lời, đi tới giường vén mùng ngồi xuống nhìn ra phía sau thì chỉ thấy cánh cửa sổ mở toang, hai dạ du thần đã biến đi đâu mất rồi, bèn quay lại hỏi nàng hầu hãy còn ngồi thùm lùm trong mền chưa hết run rẩy :

- Họ đi đâu cả rồi?

- Thiếp thấy họ mở cửa sổ, lao mình ra ngoài như hai con én liệng, đi mất rồi.

Điêu Tấn Bình thở phào hú vía, đứng dậy lật đật đóng cánh cửa sổ và toan lên giường đi nằm nữa thì chợt nhớ ra câu hai kiếm khách vừa rồi nói là đã cứu Hoàng Khôn ra khỏi ngục thất. Y vội vàng xốc áo lại tử tế, toan mở cửa phòng đi ra phái quân hầu xuống ngục thất xem tình hình thế nào thì chợt có tiếng chân chạy sầm sập ngoài hành lang.

Tấn Bình lùi lại, với tay lên tường lấy thanh đao phòng thân thì vừa lúc người bên ngoài gõ cửa. Y hỏi lớn :

- Ai?

- Con, Phương Tam đây. Có viên ngục trưởng Vương Qua sang đây có việc cấp báo đại nhân.

- Vương Qua đâu?

- Thưa, y chờ ở dưới lầu.

Điêu Tấn Bình dự đoạn là Vương Quan sang cấp báo về việc Hoàng Khôn vượt ngục, bèn đi thẳng xuống lầu vào thư phòng tư, truyền lệnh cho Vương Qua vào hầu.

Viên ngục trưởng họ Vương mặt tái ngắt, run lập cập, quỳ lại như tế sao, tường trình việc Hoàng Khôn vượt ngục.

Tường trình xong, Vương Qua yên trí thế nào cũng bị thượng quan nổi trận lôi đình hạ lệnh trói, hạ ngục thay tù nhân họ Hoàng, ngờ đâu chẳng thấy huyện quan phán quyết gì cả. Viên ngục trưởng ngạc nhiên từ từ ngửng đầu liếc nhìn lên án thấy thượng quan im lìm, thản nhiên, suy nghĩ hồi lâu mới chậm rãi hỏi :

- Ngươi đã báo động chưa? Có nhiều người biết không?

- Thưa chưa, con còn chờ lệnh đại nhân vì báo động cũng vô ích. Với bản lãnh ấy Hoàng Khôn đã đi xa rồi.

- Bây giờ canh mấy rồi?

- Thưa canh tư vừa đổ hồi được một lát.

- Thôi được, cho ngươi rút lui, nhưng phải bảo luôn mấy tên kia hoàn toàn giữ kín vụ này.

Vương Qua vâng dạ lùi bước, vừa đi vừa hú vía không hiểu tổ tiên nhà họ Vương đã tu từ kiếp nào mà nay được hưởng phước lớn như vậy.

Nói về Song hiệp về đến nhà Lâm Thắng thì Hoàng Khôn đã được Lâm mẫu đun sẵn nước nóng cho tắm rửa sạch sẽ, lấy dao sửa lại bộ râu cho gọn gàng.

Thấy Song hiệp trở về, Hoàng Khôn đứng lên kính bái nói mấy lời cảm ơn.

Trông dáng điệu, cốt cách của Song hiệp và lối hành động vừa rồi Hoàng Khôn rất phục hai vị cao đồ Bắc phái danh bất hư truyền.

Phần Cam, Lã lúc này cũng trông rõ sắc diện, tướng mạo anh hùng của đệ nhất cựu môn đồ Nam phái Thiếu Lâm tự, hai người đồng ý thầm khen.

Lâm mẫu lo lắng hỏi Song hiệp :

- Sáng rõ tất thế nào huyện quan cũng hạ lệnh khám xét toàn huyện vì vụ vượt ngục này.

Lã Mai Nương nói :

- Mọi sự đề được thu xếp ổn định, bá mẫu khá an tâm. Huyện quan không dám tra cứu vụ này đâu.

Nói đoạn nàng thuật lại việc vào hậu đường gặp tri huyện Điêu Tấn Bình cho mọi người nghe. Cam Tử Long cũng lấy trong túi bát bảo ra tờ Phóng thích lệnh trao cho Hoàng Khôn.

Hoàng Khôn tiếp lấy tờ giấy mà rằng :

- Trong khi chờ nhị vị, tôi đã được Lâm mẫu cho biết việc vô phúc xảy ra trong gia đình tôi mà vì quá tin tưởng một cách ngu xuẩn tôi xa lưới gian phu dâm phụ. Từ nay, tôi mong rằng nhị vị vui lòng nhường lại cho tôi nhiệm vụ công minh thưởng, phạt ấy đối với những kẻ dã tâm.

Lã Mai Nương nói :

- Anh em tôi cũng nghĩ như vậy, xin đại ca tùy nghi hành động.

Chiều hôm ấy, Song hiệp và Hoàng Khôn ngồi uống rượu suông đàm luận. Lã Mai Nương hỏi họ Hoàng :

- Đại ca định cư xử thế nào đối với bọn tội ngập trời ấy?

Hoàng Khôn suy nghĩ giây lát :

- Tôi tính tạm trừng phạt cho chúng phải kinh sợ, sau trao cho Điêu Tấn Bình mời y xét xử những án phạm luân ấy ra sao. Nếu không được ông minh ta sẽ liệu sau.

Cam Tử Long khen phải :

- Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với Hoàng đại ca. Được như vậy dân toàn huyện Ác Dương mới hiểu rõ vụ án lấy đó làm gương. Riêng phần Điêu Tấn Bình, phải xử một vụ án trí ngược lại cũng là một hình phạt gián tiếp cho y.

Đêm nay trong khi đại ca bận việc ở lệnh xá và bên Nga Mi am, chúng tôi cũng có chút việc phải tính toán cho xong.

Hoàng Khôn hỏi :

- Cam đại ca và Lã tiểu thư định đến nhà Mã Xuyến?

- Phải. Mượn tên cường hào ác bá ấy ít bạc chi dùng và cứu độ dân nghèo. Nó dư bạc vàng xài phí, hại lương dân, không lấy cũng uổng.

Nghỉ ngơi đến gần canh hai, ba người đai nịt dạ hành. Hoàng Khôn vận võ phục của Lâm Thắng vừa vặn như in.

Khôn về thẳng nhà, chàng phi thân lên nóc nhà, chuyền xuống sân trong tiến thẳng đến cửa nhà dưới, nhẹ tay bẻ khóa rồi lẻn vào trong nhà khép cửa lại như cũ. Trong góc nhà, một ngọn đèn dầu bấc hạ nhỏ tỏa ánh mờ mờ. Nhìn qua căn phòng khách, Hoàng Khôn tiến thẳng đến tường đông với tay lấy thanh đoản đao của mình đeo ra sau lưng.

Buộc giải đao xong, chàng toan lên lầu bỗng từ phía trên có tiếng cười hú hí vọng xuống. Hoàng Khôn nhận ra là tiếng hai chị em Mộng Ái.

Cùng lúc ấy, chàng chợt thấy chiếc áo dài bông kiểu đàn ông treo trên mắc áo và chiếc Tây qua mãi úa ngay trên đầu áo. Hoàng Khôn hiểu ngay. Một là đến đây thông dâm cùng chị em Mộng Ái để áo mão lại, hai là hiện thời tên dâm phu đang ở trên lầu. Mã Xuyến đến đây từ sớm, cùng hai dâm nữa dùng bữa chiều, rượu chè no nên rồi mới lên lầu giở trò ân ái.

Không nhón nhén nữa, Hoàng Khôn đàng hoàng lên thang lầu và cảnh tượng dâm loạn ngổn ngang trên giường ba cây thịt lõa thể giữa đống chăn mềm khiến máu chàng sôi lên sùng sục.

Thấy Hoàng Khôn bỗng dưng lù lù về như ma hiện hình, Mộng Ái và Ngọc Lan tái sắc vội lùi lên đầu giường, ôm vội chiếc mềm nỉ che ngang ngực, cùng thất thanh la :

- Hoàng lang!...

Trong lúc ấy, gian phu Mã Xuyến trần như nhộng, nhảy phắt xuống sàn lầu với chiếc ghế đẩu gần đó liệng thẳng vào mặt Hoàng Khôn.

Không tự chủ được nữa, trước cảnh dâm bôn ti tiện. Hoàng Khôn cười gằn khiến chị em Mộng Ái phát rợn tóc gáy :

- Mã Xuyến, liệu ngươi đã học được mấy thế quyền? Luyện tập được bao hơi sức, hả con? Chết này!...

Dứt lời chàng đưa tay tả gạt bể chiếc ghế đẩu, các mảnh vụn rớt bắn cả lên giường nơi hai dâm nữ đang líu ríu run rẩy ôm chặt lấy nhau. Thấy Hoàng Khôn lợi hại quá chừng, dũng mãnh hơn hùm beo, Mã Xuyến hốt hoảng chưa kịp quay người chạy thì bị luôn Hoàng Khôn quạt cho một cái tát trúng mặt như chầy sắt, giáng mạnh đến nỗi y bật hẳn người lên văng vào tường gạch, chẳng may đầu chúi đi trước húc trúng góc tường bể nát óc, phòi ra lênh láng, toàn thân giãy đành đạch.

Thế là hết đời tên ác bá chuyên hại người lành. Trước cảnh kinh khủng ấy, chị em Mộng Ái quên cả mình đang lõa thể, buông mềm che thân ra chắp hai tay lạy Hoàng Khôn như tế sao. Mộng Ái bẻo lẻo :

- Trăm lạy Hoàng lang, thiếp bị người ta cám dỗ, mong Hoàng lang nghĩ đến tình chăn gói tha cho lần này, thiếp nguyện cắn cỏ ngậm vành... chung thủy hầu hạ suốt đồi.

Nghe lời giả dối trí trá của dâm phụ, Hoàng Khôn cười gằn :

- Hứ! Chị em khốn kiếp nhà mi có nghĩ dến ta khi chúng nó khai trên huyện là ta liên lạc đồng lõa với thủy khấu không? Bọn mi tưởng hé lưỡi rắn ra nhả độc là đủ đưa ta vào vòng tử tội, để được ngang nhiên thông gian với Mã ác bá kia ư? Ta không thèm sát mạng cẩu trệ của chúng mi đâu. Nhưng ta cũng ghi cho hai thể xác ô nhục của chúng mi một kỷ niệm bất diệt, Dứt lời chàng rút phắt thanh đoản đao sáng loáng ra. Mộng Ái và Ngọc Lan sợ hãi thụt lụi lại, nhưng Hoàng Khôn đã vươn tay túm Mộng Ái vật ngửa đầu lên, đưa luôn hai nhát thiến rụng hai tai dâm phụ. Mộng Ái sợ quá hét lên ngất lịm. Ngọc Lan cuống cuồng vùng xuống giường toan chạy nhưng Hoàng Khôn túm Được tóc, dúi đầu dâm nữ xuống sàn lầu :

- Ta phục bạc gì chị em nhà mi? Hùa nhau thông gian, bây giờ nên theo nhau vào tử địa!

Hai lát đao loang loáng đưa rụng tai dâm nữ. Cũng như Mộng Ái, Ngọc Lan ngất lịm.

Hoàng Khôn xách hai chị em Mộng Ái để úp lên xác Mã Xuyến đoạn lấy dây lưng của chúng trói tròn lại.

Điềm tĩnh, chàng mở rương lấy mấy thứ y phục của chàng và tiền bạc, bọc lại đeo lưng lên vai rồi xuống lầu. Hoàng Khôn không đi lối trước, chuyền qua các nóc nhà ở phía sau chạy một mạch đến Nga Mi am. Treo bọc áo lên một cành cây cao gần cổng am, Hoàng Khôn vượt tường đứng lên nóc am nghe ngóng.

Trong phòng đèn sáng trưng, hai mụ tú bà đang ngồi trên trường kỷ kê giáp tường, nét mặt nhớn nhác như vừa bị xúc động bởi một sự gì.

Rồi hai mụ cãi nhau về vụ tiền bạc để trong rương không cánh mà bay mất, uổng công trình dụ dỗ Mộng Ái và Ngọc Lan cho Mã Xuyến cũng như bày kế cho Mộng Ái hại Lâm Thắng cùng Hoàng Khôn.

Đứng ngoài, Hoàng Khôn nghe rõ mồn một câu chuyện giữa hai mụ Trương, Lý. Thì ra chúng đã hợp lại bày mưa tính kế hãm hại chàng.

Không cần nghe hơn nữa, Hoàng Khôn đi thẳng ra lối cửa phòng khẽ gõ lên tấm cửa gỗ.

Trong phòng, hai mụ Trương, Lý lắng tai nghe. Mụ Trương lên tiếng hỏi :

- Ai đó?

Lát sau không thấy tiếng trả lời, mụ Trương liền đứng lên vào góc phòng cầm dao găm bảo mụ Lý cầm đèn mở cửa phòng ra soi xem có sự gì không.

Thừa dịp hai người mở cửa soi đèn quanh nhà, Hoàng Khôn bám trên xà phía ngoài hiên nhảy xuống êm ru, lẻn vào phòng đứng úp sau tấm mùng.

Không thấy gì, Trương, Lý lẩm bẩm rủa độc mấy câu, lẹt xẹt trở về phòng cửa đóng then cài lại như cũ.

Mụ Trương dựng con dao quắm vào chỗ cũ trong khi Lý Tịnh Duyên để đèn lên án thư, lúc quay lại cả hai cùng giựt mình, mặt tái mét. Chúng đành đứng chết trân tại chỗ, toàn thân run lẩy bẩy.

Hoàng Khôn hai tay chống nạng lên sườn, mắt trợn trừng trừng, dữ dội tựa hung thần.

Lý Tịnh Duyên định thần, cố ra vẻ tự nhiên, thân mật.

Nhưng Hoàng Khôn mắng cho một hồi, rồi tiếp :

- Tên ác bá Mã Xuyến, chị em con Mộng Ái hại ta vì tham dâm. Còn hai đứa bây đội lốt thủ am, buôn thành bán thánh, hại ta vì tham bạc vàng châu báu. Bọn bây dám hại người hiền lương để thỏa mãn thú tánh cá nhân. Tất cả đều đáng tội chết mổ ruột phanh gan. Ta mới hạ bọn gian phu dâm phụ, và bây giờ tới đây không ngoài mục đích muốn xem lá gan của hai đứa bây lớn chừng nào?...

Nói đoạn Hoàng Khôn rút phắt đoản đao ra liếc đi liếc lại lưỡi đao sáng loáng trên bàn tay.

Trương Thiện Duyên và Lý Tịnh Duyên run như cầy sấy, sắc mặc trước còn sạm lại, sau thành trắng bệch. Hoàng Khôn đã nhẹ nhạc tiến tới gần, đưa mấy nhát đao loang loáng cắt rụng tai chúng, máu chảy vọt ra nhuộm đỏ cả mặt lẫn vai hai mụ khẩu phật tâm xà. Thiện Duyên, Tịnh Duyên phần đau, phần sợ, ngất lịm không kịp la. Hoàng Khôn tìm dây, trói gò hai mụ lại làm một, xách ra ngoài cổng am, móc ngay vào đầu máy ngói cong cong.

Không trở vào am nữa, Hoàng Khôn nhảy lên cành cây hồi nãy để lấy bọc y phục, nhưng lạ thay, bọc ấy đã biến đi đâu mất Họ Hoàng ngẩn ngơ tưởng mình lên lầm cây, nên chăm chú nhận xét.

Giữa lúc ấy một viên đất nhỏ ở đâu vay đến chọi trúng vai chàng.

Khôn giật mình nhìn thẳng về phía mà chàng nghe là có người liệng đất tới. Bỗng có tiếng động nhẹ phía sau. Hoàng Khôn quay phắt lại thì vừa kịp bắt bọc y phục của chàng do một bóng đen đứng trên mặt tường Nga Mi am liệng tới. Chàng nhận ra bóng đen là Lã Mai Nương, bèn vừa đeo bọc áo lên vai vừa nói :

- Lã tiểu thư cợt mãi! Còn Cam đại ca núp tên cây nào đó, xuống đi!

Tử Long buông mình từ trên cây xuống đất, chàng hỏi :

- Xong việc chưa? Hai mụ bị treo kia sống hay chết?

Hoàng Khôn hỏi :

- Cho chúng sống mới nhục chớ! Chỉ lấy của mỗi đưa một cặp tai thôi.

Cam Tử Long chỉ chiếc bọc trên vai Mai Nương và bọc trên vai chàng mà rằng :

- Tên gian phu họ Mã không có nhà. Chúng tôi mượn gã ít bạc đây. Mượn luôn cả số bạc của Trương, Lý.

Hoàng Khôn phì cười :

- Thảo nào hai con mụ khả ố ấy than vãn mất bạc gần chảy máu mắt. Còn tên gian phu hết thở rồi.

- Ủa! Hoàng địa ca gặp nó ở đâu?

- Tôi trở về nhà định hành tội con Mộng Ái trước thì gặp luôn cả ba tên gian phu, dâm phụ...

Lã Mai Nương ngắt lời :

- Hoàng đại ca hạ luôn cả chị em Mộng Ái sao?

- Không. Chúng nó cũng rụng tai như hai mụ Trương, Lý. Bây giờ ta về chớ? Nhị vị còn đi đâu nữa không?

- Chúng tôi đã lên huyện, sau qua trang trại Mã Xuyến rồi trở về đây đón đại ca.

Hoàng Khôn ngạc nhiên :

- Nhị vị lên huyện làm gì?

Cam Tử Long đáp :

- Liệng thư cho Điêu Tấn bình biết để sáng hôm nay y phái nha dịch đến từng nhà đem bọn gian tà về huyện. Về mặt luân lý, mỹ tục, vụ án này lớn lắm, huyện quan phải minh xét đặng làm gương cho dân chúng. Nếu y xử án mập mờ thì để tên tham quan giá áo túi cơm ấy sống làm gì?

Hoàng Khôn khen phải, cùng Song hiệp trở về nhà Lâm Thắng.

Sáng hôm sau, Mai Nương, Tử Long vận thường phục đến Nha môn xem động tĩnh.

Dân chúng khu phố trước cửa huyện túm năm, tụm ba, chuyện trò bàn tán, ai cũng hài lòng về bản án rất công minh: Mộng Ái, Ngọc Lan và hai mụ tú bà bị lưu đày, Mã Xuyến chết là đáng tội.

Ngoài ra Điêu tri huyện còn tuyên bố Hoàng Khôn, Lâm Thắng vô tội, trả tự do cho họ Hoàng và bỏ việc truy nã họ Lâm. Từ đó, Tấn Bình trở thành một liêm quan chân thành công minh, được dân huyện Ác Dương rất mến chuộng. Âu cũng nhờ công cảnh tỉnh của Song hiệp mà con người trước kia hồ đồ bất công nay đã thành một vị lương quan.

Sau vụ án, Hoàng Khôn công khai ra phố. Chàng bán hết đồ đạc, thâu thập mấy thứ vật dụng cần thiết trả lại nhà cho sở hữu, rồi trở về nhà Lâm Thắng ở theo lời mời của Lâm mẫu.

Về phần Song hiệp, đáng lẽ đã đi Quảng Châu tìm yết kiến Chí Thiện thiền sư và sang Triệu Khánh phủ gặp Miêu Thúy Hoa, nhưng Hoàng Khôn ngăn lại chờ tin Lâm Thắng.

Song hiệp nghe lời Hoàng Khôn ở lại. Trong khi nhàn rỗi, Lã Mai Nương giúp Lâm mẫu sửa soạn trong nhà hoặc ra phố mua các thứ cần dùng đón Tân Xuân, Ngoài ra, Song hiệp còn chia số vàng bạc lấy được ở nhà Mã Xuyến và Nga Mi am ra làm năm phần. Giúp Hoàng Khôn một phần để tái lập gia đình vì chàng thất ngẫu, tặng một phần bạc cho Lâm mẫu để đền công thiệt thòi về tinh thần cũng như vật chất xảy ra cho nhà họ Lâm vì vụ Mộng Ái, nhưng Hoàng Khôn và Lâm mẫu đều từ chối.

Cam, Lã giữ lấy một phần bạc lấy của Mã Xuyến chỉ dùng hành hiệp còn bao nhiêu gói lại, ghi tổng số và biên mấy chữ gài vào trong bọc. Ngay đêm hôm ấy, Song hiệp rủ Hoàng Khôn lẻn vòa nha huyện treo gói bạc lên xà nhà trước công đường.

Sáng hôm sau, Điêu Tấn Bình đăng đường thấy vậy bèn sai người lấy bọc đó xuống mở ra coi thấy toàn bạc đỉnh và mảnh giấy đề:

“Ôi! Yêu cầu Điêu đại nhân phát ngay tổn số bạc vô nghĩa này cho dân nghèo trước tết.

Dạ Du Thần ký”.

Điêu Tấn Bình dự đoán là các hiệp khách can thiệp vào vụ án Hoàng Khôn, đã lấy số bạc ấy tại nhà Mã Xuyến và Nga Mi am, bèn lập tức tổ chức cuộc chẩn tế ngay tại huyện nha.

Hành động này khiến dân Ác Dương ngạc nhiên không hiểu tại sao cuối năm nay, không những vị quan phụ mẫu ấy đã xử nổi một vụ án công minh hài lòng toàn dân trong huyện, mà còn làm một việc thật nhân đạo đối với dân nghèo trong dịp đầu xuân sắp tới.

Nói về Chí Thiện sư trưởng sau khi nghe Lâm Thắng trình bày tự sự và yêu cầu người cất công đi Ác Dương huyện khuyên can Hoàng Khôn, sư trưởng cau mày suy nghĩ và bảo Lâm Thắng rằng :

- Hoàng đồ đệ xưa nay ít nói, nhu mì, sao lại có thể nóng nẩy hồ đồ đến thế được! Không khéo y mắc mưu kế của bọn tà dâm và mắc vòng lao lung.

Nói đoạn, sư trưởng truyền tiểu đồ thỉnh Thái Trí hòa thượng bảo cho biết vụ Hoàng Khôn, rồi cung ba anh em Phương gia và Lâm Thắng trở về Tây Thiền tự sửa soạn đi Ác Dương cứu Hoàng Khôn.

Chương 24: Nóng báo thù nhà, Hồ Á Kiền trốn thầy xuống núi Tưởng lầm chở bạc, Bệnh Nhị Lang chặn đánh quan tài

Ra khỏi Quảng Châu được mươi dặm, đường sá lầy lội khó đi. Chí Thiện bảo môn đồ thuê thuyền qua Kỳ Lãnh cương đến Long Xuyên hội vào cửa Tiểu Giang. Từ đó, năm thầy trò lên bộ đi Ác Dương huyện cách bến có mấy ngày đường.

Chí Thiện sư trưởng hỏi đồ đệ :

- Trong khi đi đường các con có để ý đến các thương thuyền tấp nập qua lại ven biển không?

Phương Thế Ngọc đáp :

- Bạch sư phụ, số thuyền thương, chài đi lại quá nhiều, nhưng không hiểu tại sao con có cẩm tưởng như thuyền nào cũng là thuyền giặc cả.

- Lý do gì đã khiến hiền đồ nghĩ như vậy?

- Diện mạo các thủy thủ phần nhiều dữ tướng quá.

Phương Hiếu Ngọc nói :

- Tam đệ xét người đi biển như vậy không được. Gió nắng biển khơi khiến da dẻ các thủy thủ người nào trắng thì đỏ ra, người nào vàng thì sạm lại và ai đã đen sẵn thì đen thêm, họ lại vạm vỡ khỏe mạnh, bởi vậy tam đệ tưởng họ dữ tợn chớ gì? Trái lại thuyền giặc và thuyền buôn có điểm khác nhau đặc biệt. Khấu thuyền đóng y hệt chiến thuyền, các tay chèo đặt sau thành thuyền, hạng lớn có ít nhất ba lá buồm. Hạng trung bình phải hai buồm. So với khấu thuyền, thương thuyền to lớn kềnh càng, thành thuyền thấp hơn nhiều, chèo lái ở cả trên mặt thuyền và chỉ có một cánh buồm lớn. Sở dĩ ngu huynh nhận ra các điều ấy là do trước đây thường đi tải hàng từ Triệu Khánh lên Triều Dương bằng đường biển, nên được các thủy thủ lão luyện chỉ dẫn cho biết.

Chí Thiện nói :

- Hiếu Ngọc nhận xét rất đúng. Chuyến này đi ta nhận thấy một hải thuyền như vậy, trên thuyền có một người quen mặt nhưng không nhớ ra là ai và đã gặp ở đâu rồi.

Phương Thế Ngọc vội hỏi :

- Bạch sư phụ, phải chăng là chiếc thuyền ba cánh buồm, sơn đen tuyền, vượt gần sát thuyền ta trưa hôm kia? Người mà sư phụ chú ý tới đứng dựa tay lên thanh thuyền, râu quai nón, sắc diện đỏ gay, trừng trừng nhìn sang thuyền ta, phải không?

Chí Thiện vỗ vai Thế Ngọc khen :

- Đồ đệ nhận xét khá lắm, chính hắn đó.

Năm thầy trò mải chuyện vãn bất giác đã tới Ác Dương huyện trong buổi chiều tàn.

Yên trí có sư trưởng đi cùng, Lâm Thắng dẫn mọi người về thẳng khu Trạng Nguyên đình đến thẳng võ đường. Lâm mẫu từ sân sau lên nhà trên mừng rỡ la lớn :

- A! Lâm nhi đã về! Mẹ mỏi mắt trông chừng tưởng thế nào sang Giêng con mới về tới nhà. Những vị này là ai đây?

Lâm Thắng thưa rằng :

- Đây là Chí Thiện sư trưởng và ba vị đây là Phương gia tam tuấn Hiếu Ngọc, Mỹ Ngọc, Thế Ngọc.

Lâm mẫu bái kiến Chí Thiện, đáp lễ ba anh em Phương gia, đoạn chỉ Lã Mai Nương :

- Đây là nữ hiệp Lã Mai Nương đã dự phần cứu Hoàng Khôn tiên sinh. Hiện thời họ Hoàng đang đàm luận cùng Bắc hiệp Cam Tử Long ở sân sau.

Dứt lời, Lâm mẫu vội kêu nữ tì bảo mời Cam Tử Long và Hoàng Khôn lên khách sảnh. Cam, Hoàng, hai người vội vã tới nơi, Hoàng Khôn mừng rỡ quỳ lạy Chí Thiện :

- Sư phụ giáng lâm, đệ tử không biết tiếp đốn, quả đáng tội muôn vàn.

Chí Thiện đỡ bảo đồ dậy :

- Đã không biết thì không có tội, hiền đồ khá an tâm.

Trong khi Hoàng Khôn bái kiến sư trưởng Thiếu Lâm tự, Lã Mai Nương đã nói qua tình hình Cam Tử Long nghe. Hai người cũng tiến tới bái kiến Chí Thiện, xưng danh tánh.

Sư trưởng hân hoan đỡ Song hiệp dậy mà rằng :

- Cho nhị vị hiền điệt bình thân. Chẳng hay Chiêu Dương thiền sư và Lã đại sư được mạnh không? Năm kia Chiêu Dương sư huynh có nói chuyện cho nghe về Cam lão anh hùng bị sát hại. Còn Lã đại sư, có lẽ người ít xuất ngoại lắm? Nhị vị hiền điệt xuống Nam ngoài việc du hiệp ra còn chuyện gì khác không?

Cam Tử Long đáp :

- Đệ tử được sư muội Lã Mai Nương đây đi giúp để tìm kẻ thù. Nghe nói tên gian đạo ấy hiện đang quẫn quất dưới Nam nên chúng đệ tử theo xuống đây tìm kiếm. Lúc đi qua Hàng Châu, đệ tử nghe mọi người còn bàn tán về vụ Vô Địch đài và Mai Hoa Thung nên tò mò hỏi địa chỉ Phương gia xuống thăm. Chẳng dè khi vừa tới huyện này thì gặp Hoàng đại ca đây lâm nạn.

Hoàng Khôn đỡ lời Song hiệp, thuật vụ hai người tiếp cứu, hạ sát Mã Xuyến, cắt tai chị em Mộng Ái và hai mụ Trương Lý cho sư trưởng nghe.

Sư trưởng chỉ ba anh em Phương gia mà rằng :

- Đây là ba anh em họ Phương. Người nhỏ tuổi đây là Thế Ngọc, cả ba theo bần tăng về Tung Sơn điều chỉnh lại công phu luyện tập. Chính bần tăng cũng thấy ngại về vụ Vô Địch đài và Mai Hoa Thung sẽ có nhiều hậu quả tranh giành thù hiềm, khích bác giữa các môn phái nay mai đây. Rồi đây đồng đạo tàn sát lẫn nhau. Đáng buồn cho tình trạng giao hảo giữa các võ phái quá. Trong lúc này người Mãn Thanh còn đang chà đạp lên cổ Hán tộc, các chí sĩ cách mạng phần nhiều do các Võ phái đào tạo nên, chưa xua đuổi được quân Mãn ra khỏi bờ cõi thì các môn đồ võ phái đã lâm vào cảnh huynh đệ tương tàn, chán ngán biết chừng nào! Bần tăng khuyên các con nên hết sức thận trọng tránh mọi sự gây hấn do môn đồ các phái khác, may ra còn có cơ dập tắt các nguy hại hiềm thù. Người của Võ Đang và Tây Khương khiêu khích quá! Ta ngờ có điều uẩn khúc. Xưa nay lỡ các môn đồ lầm lỡ đụng độ các sư phó vẫn thường hòa giải trong tinh thần tương thân tương ái. Hiện thời, tình hình căng thẳng, không còn đường lối xử trí nữa.

Quay sang Hoàng Khôn, Thiền sư nói :

- Thầy đến đây là vì việc của hiền đồ, nay vụ án đó đã xong, thầy phải đi gấp về Tung Sơn, nơi Ngũ Mai sư bá đang chờ.Vả lại anh em Phương gia cần được điều chỉnh công phu ngay, trễ ngày nào thiệt ngày ấy rồi. Hiện nay con đơn thân nhất cảnh, nếu không muốn hoạt động ngoài đời nữa, cứ việc trở lại chùa giúp thầy đào tạo mầm non.

Hoàng Khôn vâng lời chấp tay bái tạ.

Sư trưởng bảo luôn Song hiệp :

- Bần tăng mừng cho Bắc phái đào tạo được nhị vị hiền điệt kiếm khách giang hồ. Đó là một sự hãnh diện cho võ giới và phái Thiếu Lâm, Nga Mi. Chừng nào qua Tuyền Châu, hai hiền điệt ghé thăm Thiếu Lâm tự?

Cam, Lã nhận lời, bái từ Chí Thiện cùng ba anh em Phương gia.

Riêng Thế Ngọc quyến luyến Song hiệp vô cùng.

Chí Thiện sư trưởng và ba anh em Phương gia mải miết ngày đi đêm nghỉ, đến mồng mười tháng Giêng đến Đăng Phong huyện thì trời vừa tới.

Bốn thầy trò ra lối Tây môn vào Môn Sinh Tửu Quán trọ một đêm, sớm hôm sau mới lên Thiếu Thất sơn vào chùa Thiếu Thất.

Môn Sinh quán này cũng có một tiểu tử liên hệ đến Tung Sơn Thiếu Lâm tự.

Nguyên tửu quán này vẫn cha truyền con nối, có từ đời tiền Minh cho đến nay. Chủ quán họ Hồng tên Gia Hoàn, từ bao nhiêu đời tổ tiên đến hiện tại cùng là môn đồ Thiếu Lâm tự.

Đối với môn đồ thành tài từ chùa ra về thì, sau nhiều năm cơm chay kham khổ trên chùa, tâm lý con người ta là “đánh chén” một bữa thật say sưa cho đỡ thèm, mà cũng là bữa tiệc giã từ khu vực mà trước kia - hồi tưởng lại - họ bỡ ngỡ như mọi người thường, không biết lấy một ngọn quyền, một thế cước.

Trái lại, bây giờ con người ấy ra đi với tấm thân vạm vỡ, cường tráng của một dũng sĩ bản lãnh tuyệt luân, với danh từ “Môn đồ Thiếu Lâm tự” được chánh thức hạ sơn.

Còn đối với người đến xin học, họ đều biết nếu được thâu nhận thì những chuỗi ngày, tháng, năm dài dằng dặc sau đây, họ sẽ phải theo quy luật chay tịnh của nhà chùa.

Hồng Gia không những là môn đồ Thiếu Lâm mà còn là người xứ sở, hiểu tâm lý đó nên lập Môn Sinh quán treo chiêu bài ở khắp bốn cửa ngoại thành để cho những người mới biết đường tìm đến ăn, trọ trước khi vào chùa.

Nếu các môn đồ đồng khóa cùng hồi hương trong một buổi thì Môn Sinh quán là nơi để họ chuốc chén từ biệt sau nhiều năm chung sống, hẹn non xanh chẳng đổi, nước biếc còn dài, hứa ngày hậu hội.

Từ mấy thế kỷ nay, trải qua bao thế sự thăng trầm, quán môn sinh vẫn trơ trơ tuế nguyệt và quán chủ vẫn người họ Hồng truyền nghiệp. Ngoài mấy môn quyền, cước, họ Hồng đặc biệt thông thạo Kiếm pháp nổi danh khắp vùng Giang Nam. Thiên hạ không hiểu gọi là môn “Hồng gia Kiếm”. Thiệt ra Kiếm pháp nổi danh của họ Hồng phát tích từ Thiếu Lâm tự và “Hồng Gia Kiếm” tức là Thiếu Lâm kiếm pháp.

Chí Thiện sư trưởng về đến chùa, các môn đồ tăng lục tục kéo nhau ra đón chào hân hoan.

Thời ấy, trưởng tràng là tăng nhân đạo hiệu Thái Minh hòa thượng. Sư trưởng hỏi ngay :

- Ngũ Mai sư bá còn đây không?

Thái Minh đáp :

- Bạch sư phụ, sư bá hiện còn ở trong nội điện.

- Người tới đây lâu chưa?

- Thưa, được trên một tháng rồi. Sư phụ về vừa kịp thời vì sư bá chờ lâu quá đang định lên đường.

Chí Thiện giới thiệu ba anh em Phương gia với Thái Minh hòa thượng. Đoạn sư trưởng vào thẳng hậu đoạn gặp Ngũ Mai.

Thái Minh bảo Thế Ngọc :

- Thế ra hiền đệ là vị tiểu anh hùng thắng Đài chủ Vô địch ở Hàng Châu?

Thái Minh quay lại bảo bọn môn đồ :

- Các sư đệ hãy tụ tập cả ở võ sảnh, bần tăng sẽ tới sau.

Nói đoạn Thái Minh dẫn anh em Phương gia về sau chùa nhận nơi ở, sau đó cùng sang bên võ sảnh.

Hồi ấy trên Thiếu Lâm tự, ngoại trừ các “nội đồ” thế phát, trong số các “ngoại đồ”, những người dưới đây được chia làm ba hạng.

Hạng quá bực Trung đẳng đã theo học dư bảy năm:

Lý Cẩm Luân, người Tuyền Châu, Phúc Kiến.

Hồng Hy Quan, người Hán Khẩu, thuộc Hồ Bắc.

Tạ Á Phúc, người Trường Sa, Hồ Nam.

Ba môn đồ này đồng niên, được coi là khá nhất trong hồi bấy giờ.

Đổng Thiên Cân, người Nam Ninh, Quảng Tây.

Lương Bá Tòng, người Liễu Châu, Quảng Tây.

Liễu Bách Thăng, người Hải Châu, Giang Tô.

Thạch Thiên Long, người Kỳ Châu, huyện Giang Tây.

Cam Thượng Ân, người Anh Đức, huyện Quảng Đông.

Chu Thế Hùng, người Trần Giang.

Sáu môn đồ này học hơn năm năm, được liệt vào hàng trung đẳng.

Hạ Hầu Bá, người Khai Phong phủ.

Nhạc Bình, người Tô Châu.

Vương Tứ Nghi, người Tô Châu.

Gia Cát Quảng, người Dương Châu.

Hạn Kiềm Hái, người Hán Dương.

Lý Văn Quân, người Động Đình hồ.

Hồ Á Kiến, người Dương Thành, Quảng Đông.

Tám môn đồ này theo học dưới ba năm, liệt vào dạng dưới trung đẳng.

Nay thêm Phương Hiếu Ngọc, Phương Mỹ Ngọc và Phương Thế Ngọc. Tuy ba anh em Phương gia không theo học trên chùa từ lúc khởi đầu luyện tập, nhưng được Miêu Hiển luyện cho lâu ngày, bản lãnh cao siêu theo kịp Lý Cẩm Luân, Hồng Hy Quan và Tạ Á Phúc.

Riêng Phương Thế Ngọc nhỏ tuổi nhất, được Miêu Thúy Hoa tập luyện cho từ nhỏ, nên về cân lực có phần đặc biệt, hy vọng vượt những người trên khi tới tuổi trưởng thành.

Gặp Hồ Á Kiền, ba anh em Phương gia thấy Kiền vóc người mảnh khảnh, dáng điệu thư sanh, nhưng được cái khá lanh lẹ nhờ sự chăm chỉ luyện tập.

So với các bạn đồng hành, Hồ Á Kiền chịu khó nhất và được sư trưởng và Thái Minh chú ý. Đối với chàng, mối thù bọn Quân Cơ phòng sát phụ lúc nào cũng canh cánh bên lòng.

Sau ba năm theo học, Hồ Á Kiền đã mấy lần xin phép sư trưởng xuống núi hồi hương báo thù cho cha. Yêu cầu của Á Kiền trái với quy định Thiếu Lâm tự, không được chấp nhận.

Không biết làm thế nào, Á Kiền đành ở lại. Chàng âm thầm buồn bã. Nhưng cũng từ đó, chàng lầm lì ít nói, nhưng điên điên khùng khùng.

Mới đến, Thế Ngọc không biết, nên khi gặp Hồ Á Kiền là tiểu khách kể chuyện Hà thị và Hồ Á Đức cho Á Kiền nghe.

Như kẻ bị dội gáo nước lanh lên sống lưng giữa mùa đông rét mướt. Hồ Á Kiền tái sắc, mặt tím sạm lại. Y biết thành tích của Phương Thế Ngọc ở Hàng Châu và công phu luyện tập rất dài của tiểu anh hùng hơn mình nhiều nên kính trọng hỏi rằng :

- Sao đại ca biết hai người ấy là vợ, con tôi?

Thế Ngọc vô tình thuật lại chuyện can thiệp đánh bọn quân Cơ phòng giải cứu và sau đó tặng bạc cho Hà thị, Á Đức về quê.

Nghe xong chuyện, Hồ Á Đức mồ hôi phát ra như tắm, toàn thân run lẩy bẩy, mặt biến sắc.

Thế Ngọc sợ hãi vội hỏi :

- Kìa! Hồ đại ca sao vậy?

Á Kiền trấn tĩnh ngay, mỉm cười :

- Không sao. Nghe đại thuật chuyện tôi cảm như chính tôi được dự trận giải cứu đánh bọn Cơ phòng tan nát, sướng tay nên run bật lên như vậy. Hả quá!... Nhưng tiện nội có nói lên Quảng Châu làm gì không?

Thế Ngọc đáp :

- Hình như tẩu nương lên Quảng Châu tìm người bà con hỏi tiền nong chi đó, nhưng anh em tôi đã tặng bạc để tẩu nương kiếp về thẳng Dương Thành, kẻo gặp bọn Cơ phòng lần nữa lôi thôi nguy hiểm.

Hồ Á Kiền vái Thế Ngọc mà rằng :

- Ơn cứu tử và giúp bạc ấy không khi nào Hồ mỗ này dám quên.

Thế Ngọc vội giữ lấy hai vai Á Kiền :

- Ấy chết, sao lại hành động thế? Giúp người ngoài còn được nữa là người nhà bọn đồng môn.

Từ hôm biết chuyện gia đình, Hồ Á Kiền như đống tro than đã gần tàn lại được nhóm lên cháy bùng bùng.

Chàng đếm từng giờ, tính từng ngày, mong mỏi tới thời kỳ hồi hương gây sự với bọn Cơ phòng, đánh cho chúng một trận thịt nát xương tan mới hả lòng căm tức.

* * * * *

Ngũ Mai lão ni đang tụng niệm trước bàn thờ Đạt Ma sư tổ, giọng niệm vang vang lẫn với tiếng chày kình âm u đều đều trong kinh phòng vắng vẻ tranh tối tranh sáng, đượm hương trầm.

Đọc đến câu cuối cùng, lão sư buông chày kình, lễ năm lễ, đoạn ngồi nguyên như cũ, cất tiếng hỏi :

- Sư trưởng mới về đó ư?

Chí Thiện chắp tay lẳng lặng đứng sau bệ thờ từ nãy, chờ Ngũ Mai sư bá tụng xong bộ Kinh Dược Sư, người nói :

- Dạ, tôi mới về, và vào hầu sư bá ngay.

Ngũ Mai từ từ đứng dậy, cùng Chí Thiện sư trưởng thi lễ. Ngũ Mai hỏi :

- Phương Thế Ngọc có theo về chùa không?

Chí Thiện khẽ gật đầu :

- Có, cả hai anh của y là Hiếu Ngọc và Mỹ Ngọc.

- Miêu Thúy Hoa có lên không?

- Không, anh em Thế Ngọc từ Triệu Khánh lên Tây Thiền tự cầm thư giới thiệu của thân mẫu chúng.

- Chắc Thế Ngọc đã thuật vụ Hàng Châu cho Sư trưởng nghe rồi?

- Có thế.

Ngũ Mai trầm ngâm giây lát :

- Trận Mai Hoa Thung rất đáng tiếc, nhưng tôi dám chắc nếu ở trong tình thế ấy, Sư trưởng cũng hành động như tôi?

- Thưa, việc đó quả khó tránh trước một đối phương cố chấp, ngạo mạn, không chịu hiểu như Lý Ba Sơn.

Nhìn Chí Thiện, Ngũ Mai nói :

- Cho đến nay, tôi vẫn không hiểu thái độ ấy của Ba Sơn. Tuy không năng gặp y nhưng hình như xưa nay họ Lý không đến nỗi cố chấp, gàn bướng, bất cần đồng đạo như vậy.

- Tôi ngại một điều là vì bất cứ lý do gì, các võ phái chúng ta xâu xé, tàn hại nhau thì chỉ thêm làm trò cười cho quan dân nhà Thanh, vì từ ngày Thuận Trị vào Quan nội lập quốc, xâm chiếm Trung Nguyên, Vua tôi nhà Thanh vẫn hiểu rằng các võ phái là nơi đào tạo nhân tài, chí sĩ cách mạng rồi tung họ ra khắp đất nước Trung Hoa. Những người đó là phần tử gây rối cho việc cai trị của người Mãn không ít.

- Sư trưởng muốn nói rằng triều đình Mãn Thanh để ý các võ phái vì cho đó là lò sản xuất cách mạng diệt Thanh hưng Hán? Nói ngược lai, Thanh triều cho rằng các võ phái chống đối họ?

Chí Thiện gật đầu :

- Là lò sản xuất thì đúng hơn là chống đối.Ngũ Mai giơ hai tay ra như phân bua :

- Phải đâu như bây giờ các võ phái mới sản xuất nhân tài?

- “Đành là từ cả ngàn năm rồi, nhưng hiện tại sự đào tạo sản xuất nhân tài ấy có hại về mặt chánh trị riêng đối với triều Mãn Thanh.

Thời Khang Hi, các vụ Phiên trấn, Thiên Địa hội, thời Ung Chánh vụ Hưng Minh, các nhân vật hoạt động mạnh mẽ trong các trấn, hội gây nên phong trào Bài Thanh sôi nổi ấy, số đông là cựu môn đồ Thiếu Lâm tự.

Khanh Hi và Ung Chánh sở dĩ làm tan nổi các phiên, hội đối lập, phần lớn đều do công lao của ban “mật vụ” đã trà trộn đó gây sự chia rẽ, nghi kỵ lẫn nhau giữa các đảng viên, để rốt cuộc bị các lực lượng Mãn Thanh càn quét.

Do ban “mật vụ” triều Thanh đã biết chí sĩ Hán tộc có bản lãnh xuất thân từ đâu, tất nhiên phải để ý đến các võ phái. Cho đến nay, Vua quan Mãn Thanh không dám triệt hạ một số võ phái nổi danh là do còn e lòng căm phẫn báo thù của các hàng sư trưởng, cao đồ. Ngoài ra còn một số lý do nữa khiến bọn Mãn Thanh không dám trực tiếp đụng đến võ phái là vì trụ sở võ phái đều là thiền tự phật giáo. Chúng e gây căm phẫn trong giới tu hành.

Đã không dám hành động trực tiếp, Vua, quan nhà Thanh há dại gì mà không đặc phái ban mật vụ hoạt động gián tiếp hại ta? Thí dụ như gây mâu thuẫn giữa các võ phái để đồng đạo đi đến chỗ tương tàn.

Tôi nghi thái độ kỳ dị của Lý Ba Sơn và Lôi Lão Hổ. Nếu họ Lôi không lập võ đài khiêu khích như phỉ nhổ vào mặt dân Tô Châu, Hàng Châu, Quảng Đông thì đâu có xảy ra vụ xung đột lưu huyết đáng tiếc vừa qua? Lập lôi đài là chuyện thường có, nhưng tại sao Lôi Lão Hổ phải dựng biển có tánh cách khiêu khích phỉ báng mọi người?

Hành động ấy có lợi gì cho Lôi Lão Hổ? Vì lẽ gì quan sở tại im lặng trước thái độ kiêu căng côn đồ ấy? Tại sao Lý Ba Sơn khăng khăng cố chấp đòi báo thù cho rể y?

Vì tham bạc mà vợ chồng Lôi Lão Hổ đã mù quáng lập lôi đài chăng? Số bạc đó tất phải cực lớn mới khiến chúng mất hết lý trí đem tài nghệ ra làm liều. Vậy số tiền đó xuất phát từ đâu? Ai cung đốn? Cũng như việc Lý Ba Sơn cố chấp đồi báo thù cho tế tử. Ai đã nhúng tay gây lớn đám lửa hận thù ấy?

Mỗi khi suy xét cân nhắc kỹ càng tôi đều nghĩ đến ban ‘mật vụ’ của Thanh triều”.

Nghe Chí Thiện biện luận một hồi, Ngũ Mai nói :

- Tôi đồng ý với sư trưởng và rất tiếc đã không tránh nổi vụ Mai Hoa Thung.

Chí Thiện cười mà rằng :

- Sư bá tránh sao được? Nếu chẳng may tôi ở trong trường hợp ấy cũng đành giao tranh thôi. Chúng ta là người bị thụ động mà! Muốn cứu vãn tình thế, thiết tưởng không có gì hơn là triệu tập một cuộc hội họp cấp sư trưởng, bàn luận tìm hiểu nhau mới đem lại tình hòa hảo cho các võ phái được, sư bá nghĩ có nên chăng?

Ngũ Mai suy nghĩ giây lát, chép miệng :

- “Khó lắm! Khó về vấn đề thời gian. Thí dụ như Tung Sơn Thiếu Lâm đứng lên triệu tập. Từ đây vào Tây Khương gặp Bạch Mi, lên Cam Túc vào Không Động gặp Thạch Phủ Kính, lên Thanh Hải vào Côn Luân gặp Lư Dương Minh, vạn dặm trường hành, không kịp mất. Vào Tứ Xuyên lên Nga Mi sơn, lên Không Động gặp Mã Dương cương, đi Võ Đang sơn mời Chu Tâm, Chiêu Dương, Lã Tứ Nương, Phùng Đạo Đức còn tạm được, chớ các nơi kia xa xôi quá đỗi.

Sau khi Lý Ba Sơn tử nạn, nghe nói Lý Tiểu Hoàn đã quàn thây cha đem về Tây Khương trình Bạch Mi định đoạt, từ bất đến nay, có lẽ Tiểu Hoàn đến nơi, và Bạch Mi đã định đoạt đối phó hay báo thù ra sao rồi, tôi e triệu tập cuộc hội họp cao độ không kịp.

Ngoài ra còn Phùng Đạo Đức nữa! Cái chết của Lôi Lão Hổ làm y khó chịu không ít vì Lão Hổ là đồ đệ độc nhất của Phùng Đạo Kính bên Chí Huyện, con trai Lão Hổ là Lôi Đại Bàng đang theo học trên Võ Đang. Các sự kiện ấy hợp lại đủ để Bát Tý Na Tra không nhận lời gặp chúng ta được.

Không những thế mà thôi, như sư trưởng dự đoán, nếu ban mật vụ của Càn Long nhúng tay vào thì tình thế này thuận lợi cho chúng đổ thêm dầu vào lửa. Phòng bị đã đành nhưng chúng ta cần phải chuẩn bị mới được!”

Hai vị thiền sư bàn luận về tình hình hồi lâu, lúc trở ra tiền điện thì tăng đồ vào báo cáo với Chí Thiện rằng có Mạnh Sơn tăng yết kiến.

Mạnh Sơn thấy hai thiền sư đạo mạo đi xuống, vội quỳ bái kiến :

- Mô phật, Mạnh Sơn tăng, đồ đệ Bạch Vân tự kính chào nhị vị sư trưởng.

Chí Thiện đỡ Mạnh Sơn dậy :

- Hiền đồ đứng lên, người nhà cả, bất tất dùng đại lễ. Hiền đồ từ đâu qua đây?

Mạnh Sơn tăng lấy trong ngực áo ra một phong thơ kính cần đưa trình Chí Thiện :

- Ngu đồ từ Sơn Đông xuống thẳng đây do lệnh của gia sư, đưa trình người bức thơ này.

Chí Thiện tiếp thư, nhìn qua phong bì rồi cùng Ngũ Mai bước vào thiền phòng ngồi xuống trường kỷ. Chí Thiện chỉ Ngũ Mai, bảo Mạnh Sơn tăng :

- Vị này là Ngũ Mai sư bá. Cho phép hiền đồ tự nhiên ngồi xuống bục nghỉ ngơi kẻo đi xa mệt nhọc.

Mạnh Sơn tăng khép nép ngồi xuống. Chí Thiện bóc thư đọc hồi lâu rồi đưa cho Ngũ Mai. Hai thiền sư nhìn nhau rồi khẽ gật đầu.

Trong thư, Chiêu Dương và Lã Tứ Nương nói đại khái về vụ Hàng Châu, nhưng nhấn mạnh về điểm lưu ý sư trưởng Thiếu Lâm tự nên thận trọng để tránh xích mích giữa các võ phái. Phần tái bút, Chiêu Dương có nói rằng đã sai đồ đệ Võ Sơn tăng đi Võ Đang sơn trình một bức thư khác cho Bát Tý Na Tra Phùng Đạo Đức.

Ngũ Mai nói với Chí Thiện :

- Đạo hữu Dương Chiêu và Lã Tứ Nương góp ý khi trong khi chưa xảy ra việc Lý Ba Sơn lập Mai Hoa Thung. Nay trễ rồi, bức thư gửi cho Phùng Đạo Đức không chắc đã hiệu nghiệm theo ý muốn. Nhưng dù sao bức thư ấy cũng là một tiếng vội vang từ Sơn Đông xuống, cho Phùng Đạo Đức hay rằng sư trưởng Bắc phái để ý đến vụ Hàng Châu và lưu ý giới Võ Đang sơn về hậu quả không hay có thể xảy ra cho Vô Địch đài.

Nói đoạn, Chí Thiện hỏi Mạnh Sơn tăng :

- Võ Sơn hiện thời vào Hồ Nam, vậy chừng nào hai hiền đồ trở về Mã Dương cương? Có hẹn nhau ở đâu không, hay mạnh ai nấy đi?

Mạnh Sơn tăng đứng lên đáp :

- Bạch sư trưởng, đệ tử hẹn Võ Sơn về Thiếu Lâm rồi cùng đi Sơn Đông phụng lệnh.

Chí Thiện mừng rỡ :

- Hay lắm! Như vậy ta sẽ biết được thái độ Phùng Đạo Đức đối với vụ này ra sao. Từ nay hiền đồ yên tâm ở lại chùa chờ Võ Sơn.

Chí Thiện nhắc lại việc gặp Lã Mai Nương và Cam Tử Long tại huyện Ác Dương cho Mạnh Sơn nghe.

Mạnh Sơn hỏi :

- Bạch sư trưởng Cam, Lã hai người có nói là sẽ đi nơi nào khác chăng?

- Nếu không có gì cản trở hai nam, nữ kiếm khách sẽ xuống viếng Quảng Châu rồi qua Triệu Khánh phủ thăm Phương gia trang. Tiện đây hiền đồ sẽ gặp ba anh em họ Phương bên võ sảnh.

Đáng lẽ thì sau khi bội đàm cùng Chí Thiện, Ngũ Mai trở về Vân Nam ngay, nhưng muốn chờ Võ Sơn tăng để biết tin Võ Đang sơn nên Người nán lại Thiếu Lâm tự.

Trong thời gian ấy, hai vị thiền sư luân phiên điều chỉnh công phu cho ba anh em Phương gia, thành thử ba người ấy - nhất là Thế Ngọc, nghệ thuật tấn tới vô cùng.

Chí Thiện cũng đặc biệt chú ý đến ba ngoại đồ mà bản lĩnh được coi là cao hơn cả trong số các môn đồ cũ. Đó là Hồng Hy Quan, Lý Cẩm Luân và Tạ Á Phúc.

Thái Minh Tăng cũng nhận được mật lệnh cấp tốc luyện tập cho cấp trung đẳng để nhân dịp này khảo sát Mộc Nhân, Mộc Mã.

Lúc bất giờ các môn đồ thế phát, ngoại trừ Thái Minh hòa thượng là trưởng tràng, có Thế Chi Tăng, Mục Dương Tăng được liệt vào hàng cao đồ. Sau đến Kiền Không Tăng, Giác Bảo Tăng, Pháp Bình Tăng, Thiên Trụ Tăng, bốn người này đồng hạng Hồng Hy Quan, Lý Cẩm Luân, Tạ Á Phúc.

Được tin có kỳ sát hạch Mộc nhân, Mộc mã vượt cấp bực, các học trò đua nhau tập dượt, ai nấy đều hy vọng thành công.

Hơn một tháng sau, Võ Sơn tăng về tới Thiếu Lâm tự ra mắt Ngũ Mai, Chí Thiện.

Sư trưởng hỏi :

- Thái độ của Phùng đại sư thế nào?

Võ Sơn thưa :

- Đại sư lầm lì không hề phát biểu ý kiến. Đọc thư xong, đại sư bảo đệ tử ở lại Võ Đang sơn hai ngày để chờ phúc đáp. Nhưng sau thời gian ấy, người bảo đệ tử trở về, nhắn suông rằng “Về nói với lệnh sư rằng ta đã đọc kỹ bức thư”. Ngoài ra, đại sư không nói hơn một câu nào khác.

- Hiền đồ quan sát thấy có gì lạ không?

- Thưa, bàn thờ Lôi Lão Hổ không biết được đưa về Võ Đang sơn từ bao giờ, nhưng thấy bày trong phòng Lôi Đại Bàng. Ngày ngày Đại Bàng vận tang phục nguyền lạy trước bàn thờ, phải chăng y thề nguyền phục hận? Hiện tại trên Võ Đang sơn tổng cộng có mười bốn môn đồ, trưởng tràng là Lôi Đại Bàng, bản lãnh quả rất đáng kể. Sau họ Lôi có Mã Mạnh Thái và Tào Thiên Báo.

- Hiền đồ có thể quy định cấp bực của những người ấy theo thể thức của Thiếu Lâm không?

- Thưa sư trưởng, không thể căn cứ vào đâu mà so sánh đúng được, bởi lẽ các môn đồ Võ Đang sơn tập luyện trong sân xây kín, cấm không cho người lạ ra vào. Thấy Phùng đại sư và mọi người quý mến, kính trọng Lôi Đại Bàng và căn cứ vào cách xưng, đệ tử đoán cấp bực và tánh cách quan trọng của từng người một.

Chí Thiện gật đầu.

Sáng hôm sau, trước giờ khảo thí Mộc nhân, Mộc mã, Chí Thiện sư trưởng đang ngồi ở Thiền phòng kiểm điểm các danh sách môn đồ nội ngoại đến thời kỳ phải qua Mộc nhân, Mộc mã, thì Hồ Á Kiền vào tới nơi quỳ lạy xin khảo thí sớm để được hạ san báo thù cha.

Nhưng vì Hồ Á Kiền mới học được ba năm, chưa đủ sức khảo thí mà luật lệ Thiếu Lâm không cho phép, nên Chí Thiện không chấp nhận khuyên y cố học hai năm nữa.

Biết không thế năn nỉ hơn được nữa, Hồ Á Kiền vái sư phụ, buồn bã trở ra.

* * * * *

Sáng hôm hai mươi tám tháng hai, các môn đồ Thiếu Lâm tự tề tựu đông đủ trong sân trước khu Mộc nhân, Mộc mã.

Linh vị Đạt Ma sư tổ được bầy trên áng trầm hương nghi ngút. Các môn đồ lớn nhỏ túm năm tụm ba chuyện trò.

Vào khoảng giữa giờ Thìn, ba tiếng chuông ngân nga từ đại hùng bảo điện vọng tới, báo hiệu sư trưởng Thiếu Lâm phái và Ngũ Mai sư bá sắp tới. Tức thì các môn đồ sắp hàng theo cấp bực đứng trước bàn thờ Đạt Ma sư tổ.

Trên cùng là trưởng tràng Thái Minh hòa thượng. Sau Thái Minh là Thế Chí và Mục Dương hòa thượng. Hai người này được liệt vào hạng cao đồ, dưới Thái Minh một trật.

Hàng thứ ba, tục lẫn lộn thuộc cấp trên trung đẳng. Kiền Không Tăng, Hồng Hy Quan, Lý Cẩm Luân, Tạ Á Phúc, Phương Hiếu Ngọc, Phương Mỹ Ngọc và Thế Ngọc.

Hàng thứ tư, ngoài sáu vị tăng đồ, có Đồng Thiên Cân, Lương Bá Tòng, Liễu Bách Thắng, Thạch Thiên Long, Cam Thượng Ân, Chu Thế Hùng. Hàng này thuộc cấp trung đẳng. Chính mười hai vị môn đồ này sáng nay thử đả Mộc nhân, Mộc mã.

Hàng thứ năm cũng tăng tục lẫn lộn, thuộc cấp trên sơ đẳng, ngoại trừ tám tăng đồ, có Vương Tử Nghi, Hạ Hầu Bá, Nhạc Bình, Gia Cát Quảng, Hàn Kiếm Hải, Lý Văn Quân, La Hán Thành và Hồ Á Kiền. Họ Hồ liệt vào hạng nhất nhì trong cấp đẳng này.

Mọi người hàng ngũ chỉnh tề, im phăng phắc.

Hai vị thiền sư đi hàng chữ nhất, trịnh trọng tới nơi, đứng lên hàng trên Thái Minh hòa thượng. Chí Thiện sư trưởng tiến đến bàn thờ Đạt Ma sư tổ thắp ba nén nhang, đoạn lùi bước về chỗ cũ, cùng Ngũ Mai hành lễ tam bá. Các môn đồ cùng quỳ xuống sân lễ theo.

Lễ xong, hai thiền sư quay mặt đứng thẳng người đối diện với các môn đồ đang quỳ. Họ hành thêm một lễ bái sư rồi đồng đều đứng dậy.

Chí Thiện sư trưởng và Ngũ Mai từ tốn bước đến bên bàn thờ Sư tổ, ngồi xuống bành kỷ ở hai bên tả, hữu.

Các môn đồ theo thứ tự đứng cả ra phía sau, ngoại trừ Thái Minh, Thế Chí, Mục Dương, ba hòa thượng phụ trách việc mở hay hãm máy Mộc nhân, Mộc mã và cấp cứu các môn đồ dự thí đuối sức bị thương tích, ba vị này đứng sang bên hữu bàn thờ sư tổ, kế bên Sư trưởng Thiếu Lâm.

Mười hai môn sinh, tăng, tục dự thí đứng riêng ra thành hàng chứ nhất ở bên tả. Chí Thiện đứng dậy cất tiếng vang như chuông đồng :
- Hỡi các hiền đồ! Người nào cũng đã từng trông thấy cảnh khảo sát bằng Mộc nhân, Mộc mã, nhưng thầy cũng nhắc lại rằng :

- Thứ nhất, ai qua một trăm lẻ tám hàng Mộc nhân, Mộc mã một cách dễ dàng mới thiệt có công phu.

- Thứ nhì, lỡ đang chống đỡ mà kiệt sức thì phải nằm xuống để người ngoài hãm máy tiếp cứu.

- Thứ ba, ai bị trúng một đòn, phải luyện tập và sẽ khảo sát lại sau ba tháng, hai đòn sáu tháng, từ ba đòn trở đi luyện lại một năm.

- Riêng phần ba anh em Phương Gia, Hiếu Ngọc, Mỹ Ngọc, Thế Ngọc bản lãnh thuộc cấp trên, nhưng vì chưa thử Mộc nhân Mộc mã, vậy cũng nên khảo sát công khai một lần cho biết. Giờ đây, các hiền đồ nên chuẩn bị.

Nói đoạn, Sư trưởng ngồi xuống bành kỷ và ra hiệu khởi sự. Thái Minh, Thế Chí, Mục Dương, ba hòa thượng tức thì vận động cơ quan đặt ở đầu dãy hành lang. Một trăm lẻ tám bộ Mộc nhân, Mộc mã bắt đầu chuyển động trước còn chậm chạp, về sau mỗi lúc một lẹ hơn, phát ra những tiếng động ầm ầm.

Thái Minh hòa thượng vẫy tay ra hiệu cho ba anh em Phương gia.

Thế Ngọc nói với Hiếu Ngọc và Mỹ Ngọc :

- Nhị vị hiền huynh cho phép tiểu đệ nhập trận trước.

Tức thì, tiểu anh hùng họ Phương tiến ra xá hai vị Thiền sư, đoạn né đòn của từng cơ quan một. Ra thoát đầu bên kia là thành công.

Thế Ngọc bình tĩnh gật đầu rồi nhảy vút vào trong hành lang nhập trận loạn đả. Chàng nhịp nhàng khi né, lúc đỡ, Bộ pháp và Quyền pháp như ăn khớp với Mộc nhân, Mộc mã. Mỗi khi cần đánh lại, Thế Ngọc lại vỗ bàn tay hay điểm mũi cước vào bộ phận của cơ quan trúng đòn của chàng, mọi người trông rất rành mạch. Lần lượt Thế Ngọc đảo qua hết một trăm lẻ tám Mộc nhân, Mộc mã rất dễ dàng và ra cửa Xuất. Chàng chạy tới vái trình hai vị Thiền sư rồi trở về chỗ đứng như cũ. Chí Thiện nhìn Ngũ Mai nở nụ cười đắc ý.

Đến lượt Hiếu Ngọc, Mỹ Ngọc. Hai anh em cùng nhập trận, Hiếu Ngọc khởi đấu trước, Mỹ Ngọc theo sau. Cả hai cùng đạt ý, chống, đỡ đánh hết và ra tới cửa Xuất. Tiếp theo, đến lượt sáu tăng đồ thuộc cấp bực phải chánh thức khảo thí hôm nay. Theo đúng lệ luật, họ phải nhập trận từng người một, người nọ thành công mới tới người kia. Trong sáu vị tăng đồ ấy có Lâm Không Tăng bị trúng một đòn nơi bả vai và một ở bên hông tả. Lâm Không bị loại, phải luyện thêm sáu tháng nữa mới được khảo sát lại.

Sau phần nội đồ thế phát, đến lượt các ngoại đồ. Đồng Thiên Cân nhập trước. Lần lượt đến Lương Bá Tòng, Liễu Bách Thắng. Ba người này thành công. Nhưng giữa lúc mọi người còn đang chăm chú nhìn Thạch Thiên Long sửa soạn nhập trận thì, một môn đồ nào đó lẻn vòng ra phía sau và nhảy vút vào khu Mộc nhân Mộc mã mà thử sức chống đánh thoăn thoắt.

Ai nấy đều sửng sốt nhận ra là Hồ Á Kiền. Chí Thiện sư trưởng đứng phắt lên cằn nhằn :

- Hồ Á Kiền không nghe lời thế nào cũng bị bể đầu bể sọ!...

Nhưng Á Kiền chống đánh nhịp nhàng, đúng phép qua được tám cơ quan rồi.

Thái Minh vội chạy xuống hỏi ý kiến Sư trưởng, Chí Thiện nói :

- Hãm cơ quan lại gọi Hồ Á Kiền trở ra. Thế nào y cũng bị trúng thương nặng.

Ngũ Mai ngăn :

- Y khởi trận khá lắm. Nên mặc y thử coi chừng nào bị đòn sẽ hãm cơ quan lại cũng vừa. Như vậy, hành động của Á Kiền sẽ là một bài học chung cho các môn đồ hạ cấp mà liều lĩnh.

Chí Thiện bảo Thái Minh theo lời Ngũ Mai sư bá.

Nói về Hồ Á Kiền giao đấu thoát khỏi hơn ba mươi bộ nhân, mã thì chân tay đã thấy rã rời, mồ hôi toát ra như tắm. Chàng đâm ra hoang mang, hoa mắt, hoảng hốt giữa rừng Mộc nhân, Mộc mã vô tình, cử động ầm ầm, đòn đánh tới tấp, không biết đường lối nào mà tiến, mà gạt đỡ chống né nữa. Đang lúc kinh sợ, Á Kiền hổng bị một Mộc nhân đạp trúng đùi lăn vào chân một bộ Mộc mã, bị hai vó ngựa bổ xuống trúng vai và ngực, tiếp đến bị Mộc nhân ngồi trên ngựa hạ xuống một côn nhằm đầu...

Đau quá, Á Kiền cố sức lăn sang bên thì, may thay côn hạ trúng đùi bên hữu, Á Kiền ngất lịm.

Những sự kiện ấy xảy ra trong khoảnh khắc nên khi Thái Minh hòa thượng cùng Thế Chí, Mục Dương hãm kịp các cơ quan thì Á Kiền đã nhừ đòn rồi.

Ba hòa thượng này vội vào xem xét thấy Hồ Á Kiền trúng đòn đau bị ngất, Mục Dương liền bế chàng lên, đem về nội phòng săn sóc.

Cuộc khảo thí được tiếp tục.

Mộc nhân, Mộc mã lại bắt đầu chuyển động và chuyến này đến phiên Thạch Thiên Long. Họ Thạch bị trúng hai đòn như Lâm Không tăng, phải luyện lại sáu tháng. Sau y là Cầm Thượng Ân bị trúng một đòn. Người sau cùng dự thí là Chu Thế Hùng, cùng sức với Đồng Thiên Cân, ra thoát khảo trường dễ dàng.

Cuộc khảo thí chấm dứt, Chí Thiện vào ngay nội phòng xem tình hình Á Kiền. Thấy Sư trưởng tới thăm, Á Kiền nhỏ lệ khóc, Chí Thiện thương hại :

- Thầy biết đồ đệ nóng ruột báo thù, nhưng phàm các môn học nào cũng vậy, văn cũng như võ, phải tuần tự nhi tiến, cấp bách vượt bực không khi nào thành công chắc chắn.

Sau cuộc đả Mộc nhân Mộc mã vài hôm, Ngũ Mai thiền sư trở về Vân Nam thu xếp công việc Long Sơn tự, hẹn cùng Chí Thiện sẽ trở lại xem tình hình Tây Khương và Võ Đang phản ứng thế nào về vụ Hàng Châu.

Một tháng sau, Hồ Á Kiền mới thật là lành mạnh, luyện tập điều hòa như trước. Nghĩ đến lối khảo thí Mộc nhân Mộc mã, chàng còn rùng mình rởn gáy.

Hai năm nữa. Hai năm đằng đẵng vô tận! Biết bao giờ mới nuốt hết thời gian đằng đẵng ấy, thê nhi ở Dương Thành không biết sanh tử thế nào!

Tâm can Hồ Á Kiền lúc nào cũng như bị hỏa thiêu nung nấu. Chàng buồn bã, ghê sợ Thiếu Lâm tự.

Từ hôm ấy, Hồ Á Kiền tự liệu không thể tiếp tục theo học trên Thiếu Lâm tự cho hết khóa, nên ngày ngày tính kế trốn về nhà.

Hiềm một nỗi suốt ngày đêm, sự canh phòng, do các tăng đồ lãnh trách nhiệm, rất cẩn mật khó bề đi thoát. Nguyên từ ngày người Mãn mở mang bờ cõi vào chiếm đóng Trung Nguyên, dựng nên triều Mãn Thanh, dân Hán uất ức theo học võ nghệ rất đông, các Sư trưởng Thiếu Lâm sợ người Mãn phái nội bọn cải trang vào Chùa giả theo học để quấy phá, nên từ cuối đời Thuận Trị, Sư trưởng bỏ tiền ra xây các vọng lầu canh phòng ở mấy nơi hiểm yếu dẫn vào Tung Sơn.

Theo luật lệ nhà Chùa, người nào được Sư trưởng chánh thức nhận cho theo học, trước khi khởi công luyện tập đều được Nội đồ cao cấp hướng dẫn cho quan sát khắp vùng Thiếu Thất sơn, để khả dĩ có một ý niệm về khu vực mà môn đồ đó sẽ trú ngụ trong nhiều năm trời.

Trong thời kỳ tòng học, không một Ngoại đồ nào được nhân lúc nhàn rỗi, xin phép hay tự ý xuống núi hay rong chơi quanh sườn núi, ngoại trừ những buổi được Sư trưởng hay vị Trưởng tràng dẫn xuống Lộng Nguyệt hồ hay Lạc Nhạn đầm học thủy công, là các môn đồ được ra khỏi bức trường thành Thiếu Lâm tự [1]

Tung Sơn là dãy núi thiên hiểm ở giữa vùng giáp giới ba tỉnh Phúc Kiến, Hồ Nam và Giang Tây, nhưng thuộc phần đất Tuyền Châu, Phúc Kiến trong địa giới hai huyện Đăng Phong và Tân Mật.

Trong dãy Tung Sơn có ngọn núi cao nhất hiểm trở vô cùng tên, là Thiếu Thất sơn, cao một ngàn bốn trăm trượng.

Thiệt ra, dân hai huyện Đăng Phong, Tân Mật ít khi được trông thấy đỉnh ngọn Thái Thất sơn.

Hầu hết suốt tháng, quanh năm, mây tụ dày đặc bao phủ lấy ngọn núi ấy, hết đợt nọ tới đợt kia không mấy khi tan hẳn.

Tuy vậy, cũng có một đôi khi - và chỉ trong khoảnh khắc - trời quang xanh ngắt, gió lộng Tây Phương thổi bạt những đợt mây thường trực ấy rời khỏi đỉnh ngọn Thái Dương qua hướng Đông, đỉnh núi lộ hẳn ra xanh biếc rõ rệt giữa khoảng không trong vắt.

Dân chúng hai huyện lân cận không khỏi líu ríu gọi nhau rủ xem, coi đó là một kỳ tượng hãn hữu.

Người ta nhận ra đỉnh Thái Thất sơn y hệt một cái sọ người khổng lồ, bởi vậy mới đặt tên là Hoa Cái Phong. Nhiều người mê tín vội vàng bày cả hương án ra thắp nhang quay về hướng Thái Thất sơn lễ bái, khấn khấn cầu cầu, rầm rì...

Nhiều bà thành kính cúi đầu khấn tràng giang đại hải, tới lúc ngưỡng lên chiêm ngưỡng kỳ tượng thì Hoa Cái Phong đã hoàn toàn bị mây phủ kín.

Dãy Tung Sơn kéo dài từ phía Bắc đến Thái Thất thì tắc quãng bởi một thung lũng nhỏ. Đầu thung lũng bên kia là ngọn Thiếu Thất sơn đứng trơ trọi một mình, nhưng tiếp giáp với dãy núi khác thuộc phần đất Hồ Nam chạy dài về hướng Tây nam.

Thiếu Thất sơn cao tám trăm trượng, đỉnh núi thiên nhiên bằng phẳng, tròn như mặt chiếc nia, diện tích rộng lớn y hệt có bàn tay vô tình nào đã gạt văng mất chóp núi vậy.

Dường như Thiếu Thất sơn tuy vằn vòe nhưng tương đối dễ đi. Chung quanh và trên mặt núi mọc toàn giống cây trái và thông cổ thụ gốc lớn hàng ôm.

Thiếu Thất sơn ở phía Tây bắc huyện Đăng Phong và chỉ cách huyện này có mấy dặm đường.

Chính Thiếu Lâm tự được xây dựng ở trên Thiếu Thất sơn, nhưng thiên hạ quen gọi là Tung Sơn nên hai tiếng Thiếu Thất ít được nhắc tới.

Thiếu Lâm tự thành lập từ đời Lương Võ Đế, sau trải bao thế sự thăng trầm, ngôi chùa nhỏ đó bị bỏ hoang.

Đến đời mạt Đường, Đạt Ma sư tổ gốc người Tây Tạng qua Trung Quốc truyền giáo và truyền luôn môn võ thuật canh tân thực hành do Người, căn cứ vào nền cổ thuật đã chế biến, tìm tạo ra.

Sau khi truyền dạy Ba Mươi Hai đường Hồng quyền cho Triệu Khuông Dẫn, Đạt Ma vân du khắp đất Trung Nguyên, lúc qua Đăng Phong huyện thấy cảnh Tung Sơn ưng ý bèn dùng công phu luyện tập lên thám hiểm cả hai ngọn Thái Thất và Thiếu Thất.

Trên Thiếu Thất, Đại sư tìm ra Thiếu Lâm tự trong cảnh hoang tàn, nên có ý muốn xây dựng lại ngôi tiểu viện ấy thành một đại tự vừa tu hành vừa truyền kỹ thuật Công Phu cho thiên hạ. Gần chân núi Thiếu Thất, có một thạch động ăn sâu vào lòng núi. Đạt Ma khám phá ra thạch động ấy và tu luyện tạm tại đó trong mười năm trời trước khi kiến thiết chùa Thiếu Lâm. Cũng trong thời gian ấy, người môn đồ đầu tiên của Đạt Ma là Triệu Khuông Dẫn thành lập Đế nghiệp.

Nguyên khi đã học đầy đủ bài Hồng quyền, Triệu Khuông Dẫn liền chu du thiên hạ giao kết anh hùng, nổi danh với tài sử dụng ba mươi hai thế quyền, cước đặc sắc ấy. Khí thế nhà Đường đã suy, Khuông Dẫn lập nên nghiệp đế khởi đầu kỷ nguyên nhà Tống tự xưng Thái Tổ.

Bài Hồng quyền do Tống Thái Tổ sử dụng được anh hùng thiên hạ chuyển danh là Thái Tổ Quyền. Đạt Ma tới thăm, Tống Thái Tổ nhớ ơn sư phụ bèn cung cấp đủ thứ để Đại sư xây dựng Thiếu Lâm tự theo bản đồ mới do Đại sư họa thành.

Dư tiền tài, Đạt Ma đích thân đốc thúc thợ thuyền đủ các ngành khởi công xây dựng Thiếu Lâm tự. Trong thời kỳ hơn mười năm trước, Đạt Ma lấy giống một thứ cây bên Tây Tạng gọi là Thiết Mộc về trồng ở Thiếu Thất sơn. Tới khi khởi công xây dựng chùa mới, thì giống Thiết Mộc đã cao lớn um tùm mọc thành rừng khắp chung quanh Thiếu Thất.

Thiết Mộc rắn như sắt, bền bỉ không sợ mối, mọt. Những phần nào bằng gỗ trong công cuộc xây dựng, Đạt Ma đều dùng toàn thứ gỗ quý ấy cả.

Ròng rã mười năm trời, Đại sư hoàn thành chùa Thiếu Lâm theo ý muốn của Người. Các thứ cây vô dụng mọc ở Thái Thất sơn đều bị phá bỏ, thay thế bằng Thiết Mộc và đại thông. Đường lên núi được sang sửa, những khúc khó khăn đều được xây thành bực dành cho khách bộ hành.

Trong chùa, các Phật tượng hoàn toàn bằng gỗ trầm hương. Đại sư đúc năm chiếc chuông đủ cỡ lớn, nhỏ. Chiếc lớn nhất cao một trượng rưỡi, nặng dư ba ngàn cân vừa đồng vừa vàng, treo trên Tam quan. Sức nặng ấy được trục treo lên một cây xà ngang bằng cả một cây Thiết Mộc lớn hai ôm trên lầu nhì Tam quan.

Mỗi khi đánh chuông, hai vị tăng lực lưỡng dùng chầy Thiết Mộc treo bằng thừng lên xà nhà, đưa đầu chày bọc da vào mắt chuông, tiếng đồng ngân vang, dân hai huyện Đăng Phong, Tân Mật đều nghe rõ.

Từ thời Đạt Ma sư tổ, sáng chiều hai buổi, tiếng chuông chiêu mộ ngân vang khắp bốn phương trời...

Năm khởi công xây dựng lại Thiếu Lâm tự, Sư tổ đúng một trăm lẻ hai tuổi mà sức lực còn rất mạnh mẽ, da dẻ hồng hào tính quắc thước như người mới độ lục tuần.

Đúng ba mươi tám năm sau và cũng là cuối đời Tống Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa, Đạt Ma viên tịch, hưởng thọ một trăm bốn mươi tuổi, trong lúc Người tham thiền trong Thạch động.

Mọi người trên chùa không thấy Sư tổ trở về liền xuống thạch động tìm. Lúc đến nơi, họ thấy Sư tổ ngồi nguyên như bức tượng thì tưởng Người còn đang định thần, nên quỳ mọp cả xuống sau lưng. Hồi lâu, vị trưởng tràng là Nhất Lâm hòa thượng ngửng đầu nhận xét, thấy Sư tổ không thở nữa, vội vàng đứng dậy cầm cổ tay chẩn mạch mới biết là Người đã viên tịch, toàn thân lạnh cứng.

Lúc đó trời đã tối, trong Thạch động còn tối hơn, một vị tăng đốt đuốc lửa cắm vào vách đá. Ánh lửa chập chờn soi sáng, phản chiếu trên những chiếc đầu nhẵn bóng láng như gương và nét mặt lầm lì của chư tăng đang rì rầm tụng niệm cầu cho hồn Đạt Ma sư tổ sớm ngựa Phật đài.

Nhất Lâm hòa thượng gỡ chuỗi tràng hạt trong tay Sư tổ, đồng thời bật ra một phong thư nhỏ. Hòa thượng vội nhìn qua thấy đề vỏn vẹn có mấy chữ Hỏa táng bần tăng xong hãy đọc, liền đưa bức thư đó cho Tri Khách tăng giữ.

Hỏa táng xong, toàn thể môn đồ đồng ý bỏ mớ tro vụn vào quách đá chôn trong cùng thạch động và khắc linh vị Sư tổ ngay trên vách đá nơi Người, lúc sinh thời, vẫn nhập định tham thiền.

Nhất Lâm hòa thượng được toàn thể môn đồ Thiếu Lâm theo di chúc của Sư tổ tôn lên làm Sư trưởng, vị Sư trưởng đầu tiên của ngôi đại thiền viện hữu danh ấy. Nhất Lâm sư trưởng đặt tên hang đá là Trấn Võ Động.

Giữa khoảng hai trái núi Thái Thất và Thiếu Thất, trong thung lũng nhỏ, có một thủy hồ tròn như mặt trăng, nước trong vắt tựa pha lê, sâu tới bốn trượng.

Những đêm trăng, đứng phía sau ngọn Thiếu Thất nhìn xuống thung lũng, người ta thấy mặt hồ sáng loáng và có cảm tưởng như thể gương Nga mê luyến cảnh núi rừng mà rót xuống giữa thung lũng nhỏ bé ấy từ hồi nào... Bởi vậy Nhất Lâm sư trưởng mới đặt tên Lộng Nguyệt hồ. Lộng Nguyệt hồ ở ngay sau núi Thiếu Thất, nước lại trong xanh, mặt hồ tròn vành rộng rãi, Nhất Lâm sư trưởng cứ một tháng ba lần, đem các môn đồ đi đường tắt sau núi, xuống đó dạy luyện thủy công.

Ngay bên tả lối vào Thiếu Thất sơn, cách độ nửa dặm, có một cái đầm cực lớn nhiều mẫu, quanh bờ lau sậy um tùm.

Những buổi xuân thì gió êm sóng lặng, mặt hồ trong như khối pha lê, bầy nhạn tha hương bay soi mình thấy bóng, ngờ là đồng bạn, liền nhào xuống mặt hồ khiến nước vọt trắng xóa tựa thủy ngân, vô cùng ngoạn mục. Nhân vậy người ta đặt tên là Lạc Nhạn đầm.

Đến đời Minh Thành Tổ, Sư trưởng Thiếu Lâm, pháp hiệu Chiêu Đức mở mang toàn khu Lạc Nhạn đầm, phát nhẵn các khóm lau sậy trên bờ đầm thuộc phía Thiếu Thất sơn, trồng nhiều chặng tòng dương lả lướt mịn màng soi bóng bên bờ rất nên thơ Sư trưởng còn cho dựng Lục Lăng đình, xây bờ neo du thuyền, tao nhân mặc khách đến nhàn du quanh đầm Lạc Nhạn.

Cảnh sắc Tung Sơn và vị trí Thiếu Lâm tự là thế, quy luật thép vẫn được y nguyên truyền thống, nhưng về hình thức, các vị Sư trưởng kế tiếp nhau canh tân hóa tùy theo thời đại, và cho đến đời tiền Thanh thì xây thêm các vọng lâu canh phòng, trấn khắp nẻo hiểm yếu vào chùa.

Hồ Á Kiền suy tính, tưởng tượng, phác họa trong trí não lối trốn ra khỏi chùa Thiếu Lâm. Chàng tính đi nẻo Đăng Phong huyện không xong, ngày cũng như đêm khó lòng thoát khỏi các vọng canh. Riêng phía sau núi, nhờ địa thế hiểm yếu của ngọn Thái Thất sơn chặn lối vào Thiếu Thất, nên chỉ có một vọng canh xây ngay ở lối tắt dưới chân núi. Tránh được vọng lâu đó, đi ra Lộng Nguyệt hồ, sang phía Thái Thất sơn men theo rừng rậm đầy ác thú, lẩn ra huyện Tân Mật mới thoát.

Tính toán thiệt kỹ, nhất định thi hành chương trình trốn về quê hương, Hồ Á Kiền cố ăn uống, nghỉ ngơi, luyện tập cho thân thể hoàn toàn bình phục, bí mật tích trữ lương khô và chờ đến đêm cuối tháng trời tối mịt mù, lẻn ra phía sau chùa Thiếu Lâm chui qua cống đục lưới sắt mà đi.

Hồ Á Kiền đã tính đúng. Chàng lẩn lút qua các bụi cây, lẻn ra Lộng Nguyệt hồ, băng ven rừng rậm ra tới Tân Mật huyện, lạc lõng mất hơn hai ngày đêm.

Sáng hôm sau, các bạn đồng môn dậy sớm hợp thành đoàn để ra võ sảnh thao luyện, không thấy Á Kiền.

Sau đó, tới sân luyện võ, Thái Minh hòa thượng điểm danh, thấy vắng Á Kiền liền phái Hạ Hầu Bá về phòng ngủ lục soát, mới biết là y đã đem cả trang phục và lấy cây Mai Hoa thương của nhà chùa trao cho y trốn mất.

Thái Minh lập tức lên thiền phòng tường trình cùng Chí Thiện, một mặt nhờ hai hòa thượng Thế Chí, Mục Dương tìm kiếm lối Hồ Á Kiền đã trốn khỏi nhà chùa.

Nghe tin ấy, Sư trưởng cau mày, dậm chân mà rằng :

- Ta biết là Á Kiền muốn về quê, nhưng không ngờ y dám trốn khỏi Thiếu Lâm sau khi Mộc nhân, Mộc mã đánh quỵ. Hừ! Không khéo Á Kiền lại gây tai họa với tài sức dở dang của y đây!...

Sư trưởng bảo Thái Minh :

- Á Kiền chưa đủ tài phi thiềm tẩu bách vượt được tường cao nhà chùa, tất y chui qua các cống nước, hiền đồ thử hướng sự tìm kiếm theo các ngả đó sẽ biết ngay.

Thái Minh chưa kịp đáp lời thì hai hòa thượng Thế Chí và Mục Dương đã trở về báo rằng Hồ Á Kiền phá lưới sắt chui qua cống nước sau Chùa ra ngoài.

Chí Thiện đi đi lại lại, đoạn nói :

- Á Kiền ranh mãnh tính rằng lối sau Chùa chỉ có một vọng lâu nên y tránh nơi đó ra lối Lộng Nguyệt hồ, qua Thát Thất liều mạng băng rừng qua Tân Mật huyện. Chắc chắn như vậy rồi!

Thái Minh nói với Sư trưởng :

- Sư phụ hạ lệnh cho người đuổi theo Hồ Á Kiền còn kịp, bắt y lại sau sẽ hay.

Chí Thiện lắc đầu :

- Vô ích! Giờ này y tới khu rừng rậm bên Thái Thất sơn rồi.

- Hồ Á Kiền tất phải về Quảng Châu gây sự với bọn Cơ phòng vậy sư phụ nên phái ngay người về Quảng Đông báo với Tam Đức và Thái Trí biết để liệu đường ngăn cản.

Sư trưởng gật đầu :

- Báo cho Tam Đức, Thái Trí là biện pháp hay, nhưng ngăn Á Kiền báo phụ thù - một mối thù có thật - sao được? Y tìm thầy học võ để báo thù nay trốn khỏi nhà chùa cũng vì nóng báo thù.

Nghĩ việc Á Kiền không biết suy tính bỏ trốn thì giận thực nhưng chẳng qua y cũng chỉ là con người bằng xương bằng thịt, biết buồn khổ, đau thương, sự trốn tránh bỏ chùa ra đi của Á Kiền chỉ là một hành động vô lương trí, nóng nẩy phải không?

- Dạ, sư phụ dạy chí phải.

- Hiền đồ hãy vì ta biên thư cho Tam Đức, Thái Trí hay và liệu phái người lập tức đi Quảng Châu. Tập luyện xong, lát nữa viết thư cũng được. Ngoài ra, ta muốn xây một vọng canh ở Lộng Nguyệt hồ, hiền đồ liệu trù tính việc đó.

Thái Minh vâng lời trở ra võ sảnh đường. Sư trưởng cũng lững thững ra sau chùa quan sát chỗ Hồ Á Kiền chui ra khỏi cống bịt lưới sắt.

* * * * *

Nói về Nữ Bá Vương Lý Tiểu Hoàn cùng bọn tiểu đồ áp tải quan tài Lý Ba Sơn về Tây Khương trình Bạch Mi đạo nhân, qua thiên sơn vạn thủy thiệt cực nhọc khó khăn.

Vượt Tây Xuyên, qua Trùng Khánh được ba ngày đường, vào địa phận Ma Bình huyện, đoàn người đi tới một khu hoang vắng.

Tiểu Hoàn bị Bệnh Nhị Lang Triệu Tần, tướng cướp ở Tú Hoa sơn đón đánh vì y ngờ quan tài đựng vàng bạc châu báu. Nhưng không cự nổi Lý Tiểu Hoàn, Bệnh Nhị Lang đành chạy trốn vào rừng. Chợt có Cửu Đầu Đà, đồng bọn của Bệnh Nhị Lang, học trò của Lý Ba Sơn nhận ra là người nhà, mời Tiểu Hoàn lên Tú Hoa sơn nghỉ, hôm sau Lý Tiểu Hoàn mới tiếp tục lên đường.

Nói về Bạch Mi đạo nhân, đang luyện võ cho các đồ đệ là Ngô Kiếm Thọ, Ngụy Tiết Khánh, Tống Kế Tổ và Lương Trí Vinh, do đệ tam môn đồ phái Tây Khương và Bạch Võng chỉ bảo, tại ngôi La Hán tự trên Triều Vân sơn, bỗng nghe nóng ruột lạ lùng, ngồi đứng không yên. Chợt có Lý Tiểu Hoàn vào òa lên khóc, quỳ lạy Sư tổ.

Thấy nàng vận đại tang phục, Bạch Mi giựt mình bảo nàng đứng dậy, hỏi han tự sự. Nghe xong câu chuyện, Bạch Mi lặng người ngồi như thạch tượng.

Trong khi kể chuyện cho Sư tổ nghe, Tiều Hoàn đã cố ý bỏ quên vụ Lôi Lão Hổ nhận tiền của Thiết Diện Hổ lập Vô Địch đài thách thức, nhạo báng anh hùng thiên hạ.

Vả lại, dù nàng có nới tới chuyện đó chăng nữa, Đạo nhân cũng bất chấp. Nguyên tắc của Bạch Mi là hạ sát Lý Ba Sơn - lão môn đồ phái Tây Khương và là đồ đệ đầu tiên của mình - tức là khinh miệt toàn phái. Không thể tha thứ Ngũ Mai được, và đồng phái Thiếu Lâm cũng vậy.

Một nguyên nhân nữa thúc đẩy Bạch Mi tức giận đến cực độ. Nguyên xưa nay, Thiếu Lâm phái vẫn nổi danh hơn Tây Khương, Ngũ Mai đả tử Lý Ba Sơn trên Mai Hoa Thung, chắc không ngoài mục đích phô trương một cách cụ thể cho toàn dân Hàng Châu thấy rõ rệt phái nào hơn phái nào.

Bạch Mi biết dũng lực, bản lãnh của từng đồ đệ một.

Ngoài đệ nhất môn đồ Lý Ba Sơn, trong số tân môn đồ có Cao Tấn Trung, Mã Hùng, Phương Thất, Bạch Dũng, Tống Kế Tổ, Lương Trí Vinh, Tiêu Khiết, Văn Thành Quý, Ngô Kiếm Thọ, Ngụy Tiết Khánh là các ngoại đồ.

Cao Tấn Trung, Mã Hùng, Thiên Lũy còn cao hơn Lý Ba Sơn về bản lãnh cũng như dũng lực, nhưng quen gọi họ Lý là sư huynh. Đứng cấp thứ nhì có Phương Thất và nội đồ pháp hiệu Giác Bình. Sau tới Bạch Dũng, Tống Kế Tổ, Lương Trí Vinh và các môn đồ cả tăng lẫn tục khác.

Nói về Lý Tiểu Hoàn khóc lóc thảm thiết yêu cầu Sư tổ Tây Khương định đoạt và phái người báo thù cho cha và chồng nàng, Bạch Mi vùng dậy, lầm lì, khoanh hai tay ra sau lưng đi vòng quanh gốc cổ tòng. Hồi lâu, Bạch Mi nói :

- Việc cần làm trước nhất là mai táng cho thân phụ nữ điệt, rồi chờ ta quyết định.

Bạch Mi bàn với Thiên Lũy cần phải phái mấy người ngoại đồ cao cấp xuống Vân Nam gặp Mai Nương hỏi chuyện trước khi sang Quảng Đông tìm Phương Thế Ngọc.

Cao Tấn Trung, Mã Hùng, Phương Thất và Bạch Dũng được tuyển lựa đi Vân Nam, Quảng Đông nhưng ba người đều đi Trùng Khánh chưa về nên Bạch Mi đành bảo Lý Tiểu Hoàn nán lại La Hán tự đợi họ cùng đi.

Phần Lý Tiểu Hoàn thấy Bạch Mi ưng thuận trông nom tới vụ báo thù rồi, nàng an tâm xin phép Sư tổ trở về Võ Đang sơn để gặp con trai là Lôi Đại Bàng rồi sẽ xuống Quảng Châu chờ Cao, Mã, Phương ở Thanh Thiên quán, Nam môn Quảng Châu, trước khi đi tìm mẹ con Phương Thế Ngọc.

Bạch Mi ưng thuận.

Lý Tiểu Hoàn đi được hơn nửa tháng, bọn Cao Tấn Trung mới trở về La Hán tự.

Xưa nay, các môn đồ Tây Khương vẫn hoa chân múa tay muốn cùng môn đồ Thiếu Lâm tự so tài cao thấp để định đoạt ngôi thứ trong võ giới. Bây giờ bỗng dưng được lãnh nhiệm vụ tìm các nhân vật phái Thiếu Lâm, họ lấy làm sung sướng hả hê.

Chương 25: Đêm khuya trộm ấn, dạ khách hành muốn hại thượng quan ước đèn khiêu khích, Hồ Á Kiền thách bọn Cơ phòng

Nói về Song hiệp Bắc phái Lã Mai Nương và Cam Tử Long ăn tết Nguyên Đán ở nhà Lâm Thắng, đến qua Rằm tháng Giêng mới từ tạ mọi ra đi, định ý xuống thăm thú Quảng Châu rồi sang Triệu Khánh Phủ tìm Miêu Thúy Hoa.

Một hôm tới Nam Hải huyện thì vừa xế chiều. Hai người đi qua An Quyền lộ thấy Vĩnh Thăng lầu vừa ý, liền vào lấy phòng trọ trên lầu.

Đêm đã khuya mà Tử Long cứ trằn trọc mãi. Mối thù chưa trả. Tăng tặc biết đâu mà tìm. Nếu không có Mai Nương theo giúp, sớm khuya bầu bạn thì...

Mai Nương!...

Nàng quả là một giai nhân tuyệt sắc, cân quắc anh thư hiếm có trên đời! Lúc tay vung trường kiếm xông xáo giữa nơi muôn nguy vạn hiểm, nàng hùng dũng chẳng khác chi vị nữ thần tướng khiến quân địch phải kinh sợ, hãi hùng. Khi bình thường, nàng kiều diễm khả ái, dịu dàng y hệt một thiên kim tiểu thư cổng kín tường cao chuyên việc đường kim mũi chỉ.

Mấy năm nay rồi, nàng lãng phí tuổi xuân theo giúp chàng tìm kẻ phụ thù trong muôn vạn dặm, khắp nẻo giang hồ. Liệu rồi đây nàng có theo chàng mãi được không? Hay là Lã đại sư một ngày kia, sẽ gọi nàng về vì một lý do gì khác? Nếu vậy, đời chàng sẽ buồn tẻ biết nhường nào!

Nói với mẫu thân chàng hỏi Mai Nương cho chàng ư? Chắc Cam mẫu sẽ rất vui lòng. Nhưng còn Lã đại sư, người thân duy nhất của Mai Nương định đoạt và lúc này chàng không thể dự đoán được Đại sư sẽ định đoạt cuộc đời Mai Nương thân ái ra sao.

Một lý do nữa bắt buộc chàng lúc này đành âm thầm với một mối tình nồng nàn kín đáo ấy. Đó là mối đại thù kia chưa trả được, lẽ nào đã tính tới chuyện lập gia đình sao?

Tên Tăng Tòng Hổ kia còn sống ở trên đời, nhởn nhơ đi lại đó đây, vong hồn phụ thân chàng còn chưa siêu sinh và chính chàng cũng chưa có quyền được hưởng cảnh an nhàn êm ấm gia đình tại Cam gia trại bên người vợ dịu hiền... như Mai Nương.

Mai Nương nàng hỡi! Ta thương yêu nàng biết nhường nào! Ngày qua tháng lại bất giác đã mấy năm trường đằng đẵng, ta hằng âm thầm ấp ủ bóng hình ai...

Chẳng hay Mai Nương có thấu tình? Hay nàng chỉ là vị anh thư cân quắc, biết hoa ba thước kiếm lấy đầu kẻ tà gian trong chớp mắt, nhưng sắt đá vô tình thờ ơ lạnh nhạt trước con tim đang rộn rã vì ai?

Thấy nóng nực quá, Tử Long nhẹ nhàng trỗi dậy, rón rén mở cửa lên sân thượng.

Chàng đứng giữa sân thượng lặng lẽ ưỡn bộ ngực nở nang hô hấp theo phương pháp Tẫy Tủy Cân Tùng!... Tùng!... Tùng!... Xa xa trống huyện vừa điểm canh ba. Hô hấp đã đủ, Cam Tử Long đang định ra thẳng lan can, bỗng thính giác rất tinh của chàng thâu được tiếng động nhẹ phía sau lưng, chàng quay phắt lại thì nhận ra Lã Mai Nương. Chàng sung sướng hỏi :

- Tưởng sư muội ngủ say?

Nàng thản nhiên đáp :

- Tiểu muội vừa tỉnh giấc vì tiếng trống canh ba. Xây mình lại không thấy sư huynh đâu, cửa lại mở hé, tưởng là đã xảy ra chuyện chi nên lên đây tìm.

Trước cặp phượng nhãn long lanh, Tử Long sợ Mai Nương nhìn thấu tâm trí của mình nên nói tránh :

- Nằm giường đệm ngu huynh nóng nực quá chợt tỉnh giấc, nên lên đây thở không khí mát lạnh cho dễ chịu đôi chút...

Chàng bỗng im lặng, cầm tay Mai Nương kéo nàng ngồi thụp xuống nền gạch, tay kia đưa lên miệng ra hiệu nàng im lặng.

- Có người vừa nhô lên nóc căn nhà gần đây, căn nhà ở giữa khu vườn nhỏ kia kìa.

Nàng nói :

- Trên lưng bóng đen phảng phất có đeo võ khí?

Tử Long gật đầu và chạy vội xuống thang lầu lấy kiếm.

Trong khi ấy, Mai Nương chít lại ống quần, thắt đai lưng và cột chặt dây lụa quấn tóc thiệt gọn gàng.

Không còn cách gì hơn, Mai Nương vội ngồi thụp hẳn xuống núp sau bức lan can. Bóng đen vượt qua sân thượng tửu lần thiệt lẹ, vả lại vô ý nên y không trông thấy nàng.

Y chuyền từ sân thượng tửu lầu sang nóc nhà bên rồi vùn vụt Mai Nương đứng lên nhìn theo.

Cam Tử Long lên sân thượng cầm theo hai trường kiếm. Mai Nương đỡ lấy thanh Yểm Nhật đeo lên vai, chỉ tay về phía dạ hành khác vừa qua :

- Người đó vừa vượt qua đây, đang chạy kia kìa.

Song hiệp tức thì đuổi theo dạ khách, thấy y lẩn vào Nha huyện trộm hộp ấn tín của Tuần Phủ Quảng Châu Tăng Thất Trung đang khi người kinh lý qua Nam Hải. Tên dạ khách lấy ấn tín về giấu tại nhà y ở cạnh Vịnh Thăng tửu lầu. Song hiệp nom theo, rình nghe y khoe hộp ấn tín cùng em dâu là Cam Đại Tẩu và bảo Cam Đại Tẩu sửa soạn ghe thuyền để cướp bạc thuế của Tăng Thất Trung. Sáng hôm sau, dạ khách qua tửu lầu uống rượu bị Cam, Lã nhận mặt, dò hỏi chủ quán mới hay y tên Trình Kiển Hoành, hiện giữ chức Thiên Tổng trong Nha huyện. Cam, Lã thấy Trình Kiển Hoành có bộ tướng lưu manh đạo tặc, nên hai người vào thẳng Nha huyện báo tin trên cho Tuần phủ Tăng Thất Trung hay. Thất Trung vội lập mưu lưu Kiển Hoành lại Nha, cho quân xét nhà lấy lại ấn tín, còn Cam Đại Tẩu thì trốn thoát cùng chống là Trình Thái Luân, em trai của Trình Kiển Hoành.

Nguyên trước kia Trình Thái Luân can tội cướp, bị Tăng Thất Trung bắt được. Trình Kiển Hoành lập kế cướp tù xa cứu em, nên nay y oán giận Tăng Thất Trung, trộm ấn tín và định cướp tiền thuế cho Thất Trung bị tội, không ngờ Song hiệp can thiệp cứu nguy Tăng Thất Trung và Trình Kiển Hoành bị bắt như đã nói trên.

Giờ Mùi hôm sau, Cam, Lã lên đường đi Quảng Châu, đến Tây Thiền tự và Quang Hiếu tự lễ Phật và làm quen với hai vị hòa thượng đồng đạo là Tam Đức, Thái Trí. Song hiệp thuật vụ Hoàng Khôn lâm nạn bên Ác Dương huyện cho hai hòa thượng nghe và cho biết đã cứu Hoàng Khôn trước khi Sư trưởng tới nơi. Tử Long dò hỏi tin đạo tặc Tăng Tòng Hổ, nhưng Thái Trí và Tam Đức đều không biết. Thái Trí bảo Tử Long ngày mai đến chùa, người sẽ giới thiệu một người bạn lên Bào Ngũ Bình, gốc người Quảng Đông, tựu chức tại Hàng Châu, may ra trong lúc Lôi Lão Hổ lập võ đài ở Hàng Châu, Ngũ Bình có biết tin Tăng Tòng Hổ không. Nhưng Tử Long không tiết lộ tông tích mình và dò xét Ngũ Bình rất kín đáo vì sợ y quen thân Tăng tặc đạo.

Sáng hôm sau, khi Mai Nương, Tử Long đến Quang Hiếu tự thì Bào Ngũ Bình đã tới trước từ lâu, đang nói chuyện với Thái Trí hòa thượng trong thiền phòng. Thái Trí giới thiệu đôi bên. Song hiệp kín đáo nhận xét thấy Bào Ngũ Bình là một người khả dĩ tin được.

Câu chuyện giữa bốn người hướng vào vụ đả Lôi đài ở Hàng Châu.

Lã Mai Nương nói với Bào Ngũ Bình :

- Đáng tiếc, lúc anh em tôi đến Hàng Châu thì trận đả Lôi đài đã chấm dứt, giá đi sớm thì đã được thưởng thức nhiều trận đấu gay go, hào hứng.

Bào Ngũ Bính đáp :

- Tiểu thư chớ lo. Vụ đả Lôi đài chưa chấm dứt đâu. Người tổ chức Lôi đài còn quanh quẩn ở Hoa Nam. Nếu nhị vị còn ở Quảng Châu, tôi sẽ giới thiệu với y, tha hồ theo dõi các trận thượng đài có tổ chức hẳn hoi.

Câu nói thực thà, vô tình của Bào Ngũ Bình khiến Cam, Lã rất đỗi ngạc nhiên. Hai người chỉ biết rằng người tổ chức Lôi đài là cố Đài chủ Lôi Lão Hổ và người lập Mai Hoa Thung là Lý Ba Sơn, lẽ nào còn có đệ tam nhân nữa? Kỳ thay.

Nghĩ vậy, Lã Mai Nương liền hỏi :

- Nhân vật tổ chức Lôi đài ấy là ai vậy, thưa tiên sinh?

Bào Ngũ Bình đáp ngay :

- Thiết Diện Hổ tướng quân

Mai Nương ngạc nhiên hơn nữa, nàng kín đáo đưa mắt nhìn Tử Long, đoạn hỏi thêm :

- Tướng quân Thiết Diện Hổ là tước hiệu, nhưng đích danh là gì?

- Không, Thiết Diện Hổ là tên thiệt chớ không phải tước hiệu. Tôi đã từng biết mấy người đồng họ ấy.

Sợ lộ chuyện, Mai Nương nói lảng sang chuyện khác.

Bào Ngũ Bình cũng kiếu từ ra về sau.

Cam Tử Long nói với Thái Trí :

- Tôi vẫn yên trí là Lôi Lão Hổ tổ chức Lôi đài, chớ lẽ nào có đệ tam nhân đứng tổ chức. Vậy ra Lôi Lão Hổ chỉ là tay sai giữ chức Đài chủ thôi ư?

- Người này hay người nọ tổ chức Vô Địch đài là chuyện thường có. Điểm mà bần tăng thắc mắc nhất là người tổ chức lại là một vị tướng - nhân vật của triều đình - thế mới khó hiểu chớ!

Mai Nương hỏi :

- Sư huynh có hỏi dò Tăng tặc đạo với Bào Ngũ Bình không?

Thái Trí gật đầu :

- Có. Nhưng y không nghe nói đến tên độc cước đại đạo ấy bao giờ cả. Họ Bào hứa rằng khi nào nghe tin sẽ báo cho bần tăng biết ngay.

Song hiệp từ tạ trở về Thanh Thiên quán, Mai Nương nói với Tử Long :

- Tiểu muội muốn biết mặt tên Thiết Diện Hổ xem y là hạng người nào mà đứng ra tổ chức vụ Lôi đài Hàng Châu. Bây giờ, ta sang Triệu Khánh phủ thăm Miêu Thúy Hoa rồi trở lại Quảng Châu một lần nữa xem sao? Nếu không thấy gì lạ, chúng ta phải lên Giang Nam, chớ ở đất Quảng Châu này vô ích quá.

Tử Long khen phải :

- Ta sẽ qua Võ Đang sơn xem sao, là người của phái Sơn Đông, ta có thể thăm Phùng Đạo Đức xem tình hình bên ấy thế nào.

Suy nghĩ giây lát, Mai Nương phản đối :

- Thăm Võ Đang sơn chỉ để thỏa mãn hiểu biết về vụ bất hòa khí giữa ba phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Tây Khương thôi. Việc chánh yếu vẫn là sự truy tầm kẻ thù của Cam gia, nếu ta lộ danh e Tăng Tòng Hổ sẽ tìm cách trừ ta cho khỏi hậu họa, hoặc là nó trốn tránh đi xa, chúng ta còn biết đường nào tra cứu nữa.

Tử Long gật đầu :

- Sư muội suy luận xác đáng, ngu huynh xin bái phục. Qua Triệu Khánh phủ, lúc trở về sẽ hay.

* * * * *

Nói về Hồ Á Kiền trốn khỏi Thiếu Lâm tự, lẩn hồi về đến Quảng Đông, qua Dương Thành thăm vợ con.

Vợ Á Kiền là Hà thị thấy chồng về, thân hình mạnh mẽ hơn trước nhiều thì mừng rỡ thăm hỏi và kể lể việc bị bọn quân Cơ phòng áp bức mẹ con nàng, may nhờ anh em Phương gia cứu thoát.

Vốn đang căm hờn lại nghe nhắc chuyện cũ, Á Kiền uất hận, đùng đùng nổi giận.

Chàng nói :

- Ta đi Quảng Châu ngay bây giờ đánh cho chúng một trận tơi bời mới hả lòng thù hận bao năm!

Hà thị lo sợ can ngăn khuyên giải. Á Kiền ngắt lời :

- Đó là việc của ta, nàng khỏi lo.

Hà thị sợ hãi nín thinh. Nhờ số tiền của anh em Phương gia cứu trợ, Hà thị mở tiệm chạp phô ngay ở Dương Thành, đồng ra, đồng vào đủ ăn. Nhờ đó, họ Hồ có tiền, thu xếp hành trang từ giã vợ con, lân bang, lên Quảng Châu. Thoạt tiên, Á Kiền không muốn tới thăm Tây Thiền tự và Quang Hiếu tự, sợ hai hòa thượng Tam Đức, Thái Trí căn dặn quở trách, nhưng sau chàng nghĩ Tam Đức, Thái Trí biết nỗi lòng đau khổ của mình nên có lẽ đối xử với chàng không đến nỗi quá gắt gao. Tội chi không vào chùa ở cho đỡ tốn tiền quán trọ!

Nghĩ vậy, Á Kiền đến thẳng Tây Thiền tự thì gặp luôn cả Thái Trí hòa thượng hôm đó đến thăm sư huynh Tam Đức.

Thấy Á Kiền đeo hành lý lù lù đi vào thiền phòng, hai hòa thượng đều ngạc nhiên nhìn nhau.

Tam Đức hỏi :

- Ủa! Hồ sư đệ đi đâu thế này? Hết hạn học rồi hay sao?

Hồ Á Kiền vái chào, đặt hành lý xuống kỷ, chàng đáp :

- Tôi ở Dương Thành lên đây yết kiến nhị vị sư huynh.

- Nhưng khóa học đã hết đâu? Lẽ nào Sư trưởng cho phép sư đệ về ngang vậy?

Biết giấu diếm cũng chẳng được nào, Á Kiền quỳ xuống lạy hai đại sư huynh, khóc lóc kể lể việc vợ con ở nhà túng thiếu, lên Quảng Châu nhờ bà con thì bị bọn Cơ phòng ức hiếp, chàng nóng báo thù đành trốn Sư Trưởng xuống núi hồi hương.

Thái Trí và Tam Đức thương tình Hồ Á Kiền, nhưng không dám phạm qui tắc nhà chùa, nên giúp Á Kiền hai đĩnh bạc khuyên Á Kiền về Dương Thành cho vợ con sanh nhai, để tiếp tục trở lại Thiếu Lâm tự học thêm cho thành tài.

Biết tánh Tam Đức và Thái Trí rất cang cường như Sư trưởng, Hồ Á Kiền nhận bạc từ tạ đi luôn.Chàng nghĩ lung lắm. Lời cương quyết của Tam Đức và Thái Trí lúc nào cũng văng vẳng bên tai. Chàng lẩm bẩm :

- Có lẽ nên trở lại Thiếu Lâm tự thật! Bản lãnh còn đang dang dở lỡ gặp võ sĩ cao cường thì sao? Nguy hiểm cho tánh mạng, hại thanh danh môn phái!... Hai năm nữa có là bao? Ờ, trở lại Thiếu Lâm, nhất định rồi. Chắc Sư trưởng chỉ khiển trách qua loa, tái thâu một môn đồ hối cải...

Chàng vừa đi vừa nghĩ ngợi liên miên, hết phố nọ qua phố kia, không để ý người qua kẻ lại, bất giác tới khu giáp Tây pháo đài hôm đó có bọn Cơ phòng ngồi trong tửu quán gần đấy.

Một tên Cơ phòng là Trương Viên có dự vụ đánh chết Hồ Thành mấy năm trước, thấy thanh niên đeo hành lý đi qua cửa quán liền vỗ vai bạn là Lý Hòa mà rằng :

- Kìa! Lý đại ca coi, thằng nhỏ kia có phải là con Hồ Thành không?

Lý Hòa gật đầu, đứng dậy tiền về phía Á Kiền...

Sáu bảy tên Cơ phòng cùng uống rượu với Hòa bỏ thổi chạy theo hộ vệ. Hồ Á Kiền đang mải miết suy tính rất lung về vấn đề trở lại Tung Sơn hay không đi nữa, chợt giựt mình vì tiếng chân bước mạnh ngay phía sau lưng. Chàng quay phắt lại thì vừa lúc Lý Hòa vỗ tay lên vai chàng.

Lý Hòa nhăn nhở sặc sụa hơi rượu :

- Này, Hồ tử, nhận ra chăng? Mấy năm nay mới trở về Quảng Châu mà không biết quỳ bái bá phụ ư?

Nghe luận điệu hỗn xược ngang ngược, Hồ Á Kiền không khỏi tức giận, nhưng cho là người lạ quá chén say rượu nói càn :

- Ta quen thuộc chi với nhà ngươi? Say nói càn! Đi đi!...

Lý Hòa trợn mắt, cười khẩy :

- Hồ tử! Bộ ngươi đui sao mà cho là ta say rượu? Không nhận ra bá phụ đây là phó viên Cơ phòng Cầm Châu Đường sao? Ta còn nhớ bộ mặt ái nam ái nữ của ngươi trước kia vẫn ra chợ dẹp hàng hóa cho tên Hồ Thành mà!... Biết điều vào hầu rượu ta trong quán, mau!

Không cần chờ Lý Hòa nói hơn nữa, chỉ hai tiếng Cơ phòng là đủ khiến Hồ Á Kiền hết nghĩ ngợi trở về thực tế.

Chàng đùng đùng nổi giận, sắc diện tái ngắt, cặp mắt trợn trừng trừng nguy hiểm. Á Kiền mắng lớn :

- Thì ra ta đang cố quên đồ cẩu trệ chúng bây mà bây tự dẫn thân đến miệng cọp, có chết cũng không oán, các con nhé!

Hồ Á Kiền bèn vung tay hữu tát trái một cái như trời giáng vào mặt kẻ thù.

Lý Hòa lộn bật người ra phía sau, đầu môi bị dập, miệng phun máu đỏ lòm. Nhưng y vùng dậy được ngay, tay ôm mặt, tay chỉ Á Kiền, hô lớn :

- Anh em đâu, bắt tên Hồ cẩu này cho ta!

Tức thì, bọn Cơ phòng kẻ đao, người côn xông vào vây tròn lấy Á Kiền. Suốt mấy năm trường khổ luyện, họ Hồ chỉ chờ có dịp này đánh kẻ thù, Á Kiền đảo mắt nhìn quanh nhận xét, thấy chỉ vỏn vẹn có tám tên Cơ phòng. Chàng bình tĩnh khoanh tay cười lớn :

- Bọn bây đi đâu cả mà hôm nay chỉ có mấy tên cẩu trệ quèn này tới đây để tự sát đó ư?

Bị mất thể diện trước dân phố, Lý Hòa tay ôm mặt, tay chỉ Á Kiền hô :

- Đánh đi! Bắt sống nó về trụ sở cho ta hỏi tội, mau!

Đồng bọn Cơ phòng ùa vào, Trương Viên hăng hái nhào tới trước.

Lúc mới khởi đánh, Trương Viên đinh ninh rằng chỉ hạ một côn là Hồ Á Kiền đủ bể đầu té quỵ. Chẳng dè đâu tình thế trái ngược hẳn lại, trong chớp mắt cây côn đã nằm gọn trong tay Á Kiền và bị giựt mạnh. Trương Viên mất thăng bằng chúi người về phía Á Kiền để lãnh luôn một cái đá nên thân, té còng queo trên mặt đất, đau quá rên la om sòm.

Thừa dịp lợi thế, Á Kiền xốc tới đánh luôn một trận tơi bời. Biết không đủ sức áp đảo Á Kiền, Lý Hòa đứng xa hô lớn :

- Chạy đi anh em ơi, hôm khác sẽ đánh báo thù!...

Dứt lời, y rê chân tay. Bọn Trương Viên không chờ để nhắc tới hai lần hò nhau chạy nốt.

Dân phố thấy Hồ Á Kiền thắng trận, ai nấy đều vui vẻ bàn tán xôn xao.

Trước khi xảy ra trận đánh vừa rồi, Á Kiền còn phân vân chưa quyết định theo lời Tam Đức hòa thượng ở lại, hay đi Tung Sơn bái lỗi Sư trưởng tiếp tục khóa học cho đến lúc thật thành tài sẽ hạ sơn báo thù.

Bây giờ thì trái hẳn lại. Chàng nhất quyết ở lại Quảng Châu tàn sát bọn Cơ phòng cho hả lòng căm giận. Lửa thù bao năm nay ngầm cháy trong tâm chàng, nay đã hoàn toàn bùng lên với trận thắng đầu tiên.

Chàng định tâm đánh Cơ phòng tử một trận thiệt đích đáng cho hả lòng căm hờn. Sau đó chàng sẽ trở về Dương Thành buôn bán cùng gia đình độ nhật, không nói tới chuyện võ biền nữa.

Học võ để đả Cơ phòng tử, mục đích đó nay đã đạt, vậy cần chi trở lại giam mình trong kỷ luật thép của Thiếu Lâm nữa?

Vừa đi vừa suy nghĩ, Hồ Á Kiền mỉm cười sung sướng vì đã quyết định được con đường cần phải noi theo rồi. Thấy đói, khát chàng đi đến một phố thưa người vào tửu quán lấy phòng trọ, gọi cơm, rượu ăn uống no nê.

Sở dĩ Á Kiền mướn phòng trọ mà không đến nhà những người quen thuộc trước kia là vị chàng e bị họ ngăn cản, thêm phần nản chí.

Tính toán kỹ, chàng định trêu học, khiêu khích khiến bọn Cơ phòng Cẩm Châu Đường thiệt tức tối, cho mọi người biết rằng chàng sẽ đánh chúng báo huyết thù. Có thể mới hả lòng căm giận.

Nghĩ sao làm vậy, Hồ Á Kiền đến tiệm làm đèn đặt mười chiếc đèn lồng phất giấy trắng và mười tấm biển giấy, đoạn tự tay viết lên mỗi chiếc đèn, mỗi tấm biển một đại tự, lần lượt như sau:

Hồ Á Kiền Đả Cẩm Châu Đường Cơ Phòng Tử

Sau đó, chàng nhờ ngay chủ nhân tiệm đến mướn hộ hai mươi người để rước những đèn, biển ấy đi qua các phố có bọn Cơ phòng Cẩm Châu Đường.

Chủ tiệm lắc đầu, thè lưỡi :

- Làm đèn và biển thế này là quá lắm rồi, dù Hồ đại ca cho cả trăm nén vàng cũng không một người phu nào dám nhận việc rước đèn biển khiêu khích bọn tàn bạo ấy, mất mạng như thường.

Biết nói nhiều cũng vô ích, Hồ Á Kiền chợt nghĩ ra một kế hiệu lực hơn. Chàng ra chợ tìm đến bọn hành khất vẫn thường tụ tập, cho chúng ăn uống say sưa rồi thuê tiền làm việc ấy. Không do dự, tên đầu đàn hành khất nhận lời ngay.

Y vỗ ngực la :

- Việc thế, chứ hơn nữa, Tiểu Thất này cũng chẳng từ.

Thế là sau hai hôm xảy ra trận đánh ở khu Tây pháo đài, chiều hôm ấy, bọn hành khất rước đèn, rước biển rầm rộ kéo qua các phố Kiên Sa Nang, Tân Kiều, Hàn Cơ, Thanh Tử, Y Linh miếu, Tây pháo đài, nơi có trụ sở và chi nhánh Cơ phòng tử Cẩm Châu Đường.

Nói về tên đầu đoàn Lý Thăng đang tực bức về chuyện của Lý Hòa, Trương Viên và đồng bọn bị thất trận hôm nọ, bàn tính việc tầm nã Hồ Á Kiền đánh cho kỳ thác như Hồ Thành năm xưa, chợt có người chạy vào báo :

- Thưa Lý đại ca, có bọn hành khất rước đèn, rước biển đề câu hỗn xược hăm đánh chúng ta.
Tức thì Lý Thăng đẩy ghế đi vội ra cổng trụ sở.

Bọn Cơ phòng hầm hè :

- Trước khi kéo cánh bắt Hồ Á Kiền, ta hãy đánh nhừ tử bọn hành khất này đã, sau đó sẽ hay! Bêu riếu thế này chịu sao được!

Lý Thăng ngăn lại :

- Chư vị hiền đệ phải theo tôi, hành động như thế không được. Thiên hạ biết rằng chính Hồ Á Kiền đã gây sự trước, sau này ta có hạ sát y cũng không còn ai chê trách được nữa. Nhưng không được đụng chạm đến đám hành khất trong trấn. Chúng đông đến mấy ngàn tên, nếu đả tử một đứa, chúng dám kéo toàn thể đến trụ sở ăn vạ thì phiền. Mặc chúng, mai sẽ hay!

Lý Thăng tức thì họp bàn cùng đồng bọn. Y nói :

- Á Kiền hiện thời không còn là tên trói gà không nổi năm xưa nửa, nhưng là một người có bản lãnh hẳn hoi, công khai nhục mạ chúng ta bằng cách rước đèn, nêu biểu ngữ. Nếu không hạ thủ được tên Á Kiền ta sẽ mất hết uy tín. Vậy ta phải đả tử Hồ Á Kiền bằng bất cứ giá nào. Vậy ai dám đánh, ai sợ, khá cho tôi biết ngay để còn liệu bề mướn người có bản lãnh khả dĩ chống nổi Hồ Á Kiền.

Lý Hòa đỏ mặt đứng lên nói :

- Hôm rồi, chúng tôi không ngờ nên bị với Á Kiền, nay ta tổ chức trận đánh hẳn hoi, lo gì không thắng? Đại huynh không nên tạm thua một trận nhỏ mà mạt sát anh em.

Lý Thăng cười khẩy :

- Tôi lãnh trách nhiệm điều khiển anh em, nếu không tiên liệu, việc này đến tai Lý Quế Phương tiên sinh, tất ta được nghe quở trách rồi đó. Chủ nhân đâu có quở trách dằn mặt anh em, nhưng quở trách tôi, vậy yêu cầu mọi người đừng cho rằng tôi quá gắt gao.

Trước lý lẽ của Lý Thăng, Lý Hòa im lặng và nhìn chòng chọc vào bọn Ngũ Ngưu đang ngồi cả trong phòng.

Nguyên trong bọn Cơ phòng tử Cẩm Châu Đường có năm tên du đãng có dũng lực, biết sử dụng côn quyền, khá hơn hết cả là Quách Tấn Vỹ, Triệu Yết, Châu Đạt, Hà Mãng và Hoàng Đắc Cảnh, dữ như hung thần khiến mọi người đều sợ chúng, nên đặt tên cho là Ngũ hung ngưu, ngụ ý gọi chúng là năm con trâu điên.

Thấy anh em họ Lý tranh luận về vụ Hồ Á Kiền, tên đầu đàn Ngũ ngưu là Quách Tấn Vỹ, vốn thân với Lý Hòa, bèn cất lời bảo Lý Thăng :

- Can chi trưởng huynh phải bận tâm về việc nhỏ nhen này? Sáng mai anh em tôi sẽ lùng kiếm đả tử Hồ Á Kiền là xong việc!

Sáng hôm sau, trong khi bọn Cơ phòng tử ở trụ sở Tây pháo đài còn đang nai nịt gọn ghẽ để đi tìm Hồ Á Kiền, thì Kiền đã vác côn đến nơi, bảo tên canh cổng :

- Mi hãy vào gọi đồng bọn ra đây chịu chết và nói là Hồ Á Kiền đã tới. Lẹ lên!

Tên canh cổng không dám chậm trễ vội vàng trở vào báo Lý Thăng.

Tức khắc, Thăng cầm đao cùng Ngũ ngưu và hai mươi tên đồng bọn võ trang đầy đủ hùng hổ đi ra.

Thấy Hồ Á Kiền đơn thân, Lý Thăng liền át giọng :

- Á Kiền! Cớ sao ngươi vô lối gây sự với chúng ta là thế nào? Biết nghĩ lại thì hãy liệu lời tạ tội đi, ta sẽ bỏ qua, chần chừ sau này e hối bất cập!

Á Kiền trợn mắt mắng lớn :

- Bọn cẩu trệ chúng bây đã nếm mùi thất trận, nếu biết điều trói tên sát hại phụ thân ta năm xưa ra đây, ta sẽ đại lượng tha cho toàn bọn mà chỉ bắt tội tên chánh phạm. Bằng như hèn mạt leo lẻo chối tội, ta sẽ hạ sát cả bè lũ khốn khiếp chúng bây, nghe chưa?

Bị Á Kiền hô đích danh sát nhân, Lý Thăng không lẽ chối cãi thì còn ra thể diện chi nữa? Y bèn đáp :

- Người đả tử Hồ Thành là ta! Phụ thân ngươi không biết nghe lẽ phải, bướng bỉnh hỗn xược nên mới thành cớ sự như vậy. Lẽ nào ngươi lại theo con đường đó nữa sao?

Thù nhân đứng lù lù trước mặt, Hồ Á Kiền nộ khí xung thiên, chỉ mặt Lý Thăng quát :

- Nhận tội sát nhân còn bẻm mép viện lễ nọ cớ kia! Coi đây!...

Dứt lời, Hồ Á Kiền nhảy vụt tới hoa côn đánh Lý Thăng, nhưng Ngũ ngưu Quách Tấn Vỹ, Triệu Yết, Châu Đạt, Hà Mãng, Hoàng Đắc Cảnh đã lẹ chân tiến lên chận ngang.

Quách Tấn Vỹ nạt :

- Á Kiền! Không được bạo động nơi đây! Muốn đấu thì ra bãi cỏ phía kia?

Thâu côn lại, Á Kiền cười khẩy :

- Được lắm! Các ngươi hãy đi trước. Bữa nay chớ hòng thoát thân, nghe!

Chàng cầm ngang cây côn chờ bọn Cơ phòng đi khỏi rồi mới theo sau. Dân chúng khu Tây pháo đài cũng rủ nhau theo xem. Ra tới bãi cỏ, bọn Cơ phòng dẫn thành vòng bán nguyệt. Ngũ ngưu nhất quyết che chở Lý Thăng nên đứng chắn ngay phía trước.

Quách Tấn Vỹ tiến lên hỏi Á Kiền :

- Ngươi muốn đấu từng người một, hay là...

Á Kiền ngắt lời Tấn Vỹ :

- Ta đến đây để đả tử toàn bọn chúng bây chớ không thèm đấu nghe? Coi đây!

Dứt lời, chàng lăn xả vào quật ngang một côn ngang sườn Tấn Vỹ.

Khinh thường địch thủ vóc dáng thư sanh, Tuấn Vỹ đưa đao gạt côn địch, chẳng dè ngọn côn vụt mạnh quá, toàn thân y rung chuyển, cánh tay tê buốt, toan nhảy sang bên tránh sức tấn công như vũ bão ấy, thì đã bị Á Kiền thúc luôn một đốc côn trúng ngực khiến Tuấn Vỹ kêu rống lên đau đớn, cây thịt nặng nề đổ lật ra bãi cỏ.

Tứ ngưu Triệu Yết, Châu Đạt, Hà Mãng, Hoàng Đắc Cảnh vội xông vào vây chặt lấy đối phương. Như Quách Tấn Vỹ, bốn tên này dù lực lưỡng khỏe mạnh, song chẳng qua chỉ là bọn côn đồ ô hợp chống sao lại Hồ Á Kiền.

Đứng ngoài, tên đầu đàn Lý Thăng hò đồng bọn xông xả vào giúp Tứ ngưu.

Á Kiền vừa đánh vừa la :

- Bây vào càng đông càng hay!...

Nhằm tên Hà Mãng, chàng vụ chéo lại một côn trúng mặt. Đỡ không kịp, họ Hà bị bể xương quai hàm, lăn cù ra bãi cỏ ôm mặt rên la inh ỏi.

Triệu Yết tưởng Hồ Á Kiền hạ côn kết liễu cuộc đời Hà Mãng, vội xiên một mũi giáo nhằm sườn địch thủ. Á Kiền quay phắt lại gạt mạnh khiến ngọn giáo ấy vuột khỏi tay Triệu Yết. Hai tay tê buốt, tên này phát hoảng xây mình toan chạy, nhưng bị luôn một côn nữa lia tới trúng bắp chân...

Một tiếng rắc khô khan dội lên tiếp theo là tiếng kêu rống của Triệu Yết. Tên này bị gãy xương ống chân, đau quá ngất lịm theo Hà Mãng.

Thấy Hồ Á Kiền hung hãn quá, Châu Đạt và Hoàng Đắc Cảnh chùn tay lùi bước, nhưng chỉ trong giây lát cả hai cùng bị trọng thương lăn ra bãi chiến.

Rảnh tay, Hồ Á Kiền xông bừa vào lũ hai mươi tên Cơ phòng hoa côn vù vù đánh trận. Bọn Cơ phòng phát hoảng hò nhau chạy. Lý Thăng, Lý Hòa, Trương Viên đứng ngoài cũng vội chạy trốn.

Á Kiền nhảy tới chận một chân lên ngực Lý Thăng, giơ côn quát :

- Oan gia tương báo, đồ cẩu trệ tưởng chạy thoát tay ta sao?

Tưởng Á Kiền hạ côn đánh bể sọ, Lý Thăng vội chấp tay leo lẻo xin tha mạng.

Trông diện mạo gian ngoa, hung ác của kẻ thù, Á Kiền nộ khí xung thiên. Thì ra bọn tham sanh úy tử này chỉ chuyên cậy đông người hà hiếp kẻ hiền lương, nhưng trong lúc nguy hiểm thì chúng còn hèn hạ hơn ai hết.

Trong giây phút, nét mặt Hồ Thánh xanh xao phờ phạc, đau đớn trong lúc lâm chung thoáng hiện ra trước mắt Hồ Á Kiền. Viễn ảnh ấy có hiệu lực làm sôi máu hận thù nung nấu trong huyết quản.

Không nghĩ hơn nữa, Á Kiền dằn giọng :

- Khi hạ tay thảm đả phụ thân ra, người có nghĩ tới lời van xin của người bị ức hiếp không?

Nhìn sắc mặt của Á Kiền chuyển từ đỏ hồng sang tái lợt, cặp mắt trợn trừng dữ dội. Lý Thăng cảm thấy như Tử thần đang dậm chân lên ngực y mỗi lúc mỗi thêm mạnh. Y mở miệng toan năn nỉ hèn hạ van xin tha chết nữa, nhưng miệng y há mỗi lúc một rộng thêm, lưỡi thè hẳn ra ngoài môi, hai mắt trợn ngược như muốn lòi ra khỏi má, sắc diện chuyển từ đỏ gay sang tím bầm, đầu y ngả sang một bên.

Hồ Á Kiền nhấc chân ra khỏi ngực Lý Thăng, hất xác kẻ thù úp sấp mặt xuống cỏ.

Quanh bãi cỏ, người ta bu lại xem khá đông đảo.

Á Kiền liệng cây côn, lững thững đi ra. Dân phố dàn sang hai bên nhường lối cho chàng đi. Ai nấy đều hân hoan.

Được bọn Cơ phòng báo có tên côn đồ Hồ Á Kiền đến gây sự tại trụ sở Cẩm Châu Đương, phủ quan Quảng Châu là Lục Thọ Vân vội phái. Giáo đầu Nghiêm Trung đem quân bản hộ đến khu Tây pháo đài can thiệp.

Tới nơi, Nghiêm giáo đầu thấy người nằm ngổn ngang trên bãi cỏ và Hồ Á Kiến đứng sừng sững bên đường bèn hỏi lớn :

- Tên Hồ Á Kiền chạy rồi, phải không?

Hồ Á Kiền thản nhiên đáp :

- Không, người hạ sát Lý Thăng và đả thương bọn Cơ phòng Cẩm Châu Đường là tôi.

Ngạc nhiên, Nghiêm Trung nhìn kỹ lại. Á Kiền, thấy chàng mảnh khảnh vóc dáng cho sanh, không thể tin được rằng con người ấy đã dám đả tử và đả thương bấy nhiêu người ấy.

Nghiêm giáo đầu nghiêm giọng :

- Vụ này không phải chuyện chơi. Thanh niên hãy theo ta vào đây xem xét tử thi.

Á Kiền nói :

- Giáo đầu khá an tâm, Á Kiền này là con Hồ Thành bán hàng ngoài chợ năm xưa ai ai cũng biết mặt quen, tôi không trốn lẫn đâu mà ngại.

- A. Con trai Hồ Thành, bán tạp hóa phải không?

Á Kiền lẳng lặng gật đầu.

Nghiêm giáo đầu truyền lệnh quân lính tạm trói chàng lại trong khi xem xét tử thi Lý Thăng và bọn Cơ phòng trúng trọng thương. Họ Nghiêm còn hỏi những người đã mục kích trận đánh để lấy chứng cứ lập biên bản trình thượng cấp.

Về tới phủ nha, Nghiêm giáo đầu tường trình tự sự với phủ quan Lục Thọ Vân. Hồ Á Kiền khai rất minh bạch việc phụ thân chàng bị bọn Cơ phòng đã tử hơn ba năm trước và riêng phần chàng học tập võ nghệ quyết báo thù.

Trong khi lục vẫn cả hai bên nguyên bị và các nhân chứng, Lục Thọ Vân, phái giáo đầu thân tín Nghiêm Trung đi điều tra. Bản phúc trình của họ Nghiêm phù hạp với khẩu cung của Á Kiền. Vốn người chí hiếu, phủ quan khen thầm Hồ Á Kiền là hiếu tử nên hạ lệnh trả lại tự do cho chàng.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau