LÃ MAI NƯƠNG

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Lã mai nương - Chương 16 - Chương 20

Chương 16: Quyền đả Quảng Đông toàn tỉnh, gây phẫn nộ anh hùng tứ xứ Cước kích Tô Hàng nhị châu, làm tức bực tiều khách ph

Tại Triều Dương huyện thuộc thủ phủ Nam Kinh, có một tiệm bán tơ lụa lớn dưới bảng hiệu Vạn Xương. Chủ nhân Vạn Xương hiệu là Phương Đức tự Tế Hanh năm ấy tuổi ngót lục tuần, tánh tình hiền hậu, sinh quán ở Quảng Đông.

Vợ Phương Đức họ Lý đồng hương với chồng, hạ sang được, hai trai. Trai lớn là Hiếu Ngọc, nhỏ là Mỹ Ngọc.

Năm Hiếu Ngọc mười tám tuổi và Mỹ Ngọc mười sáu tuổi, cảnh nhà neo người, vợ chồng Phương Đức bèn cười vợ đồng lương cho hai con, lấy dâu thay gái sớm tối hầu hạ trông coi việc nhà. Được bốn năm sau thì Lý thị lâm bệnh quy tiên.

Sau, Phương Đức được người đồng hương là Miêu Hiển, võ nghệ tinh thông, gả con gái mình là Thúy Hoa cho. Thúy Hoa tuy kém tuổi hơn Phương Đức nhiều nhưng nàng hấp thụ bản lãnh của cha nên cũng nổi danh là tay võ dũng. Nhân đó hai cha con họ Miêu truyền thụ võ nghệ cho Hiếu Ngọc và Mỹ Ngọc.

Họ Phương nguyên căn khí lực đầy đủ. Thúy Hoa là gái đang thời xuân sắc, mấy tháng sau đã có tin mừng. Tới kỳ mãn nguyệt khai hoa, nàng hạ sang được câu trai cực kỳ bụ bẫm khôi ngô. Phương ông đặt tên là Thế Ngọc. Đến hôm ăn đầy tháng, mời quan khách chật nhà, ai ai cũng khen Phương gia tốt phước lão bạn sanh châu. Cha con họ Miêu theo phương pháp Thiếu Lâm, tự dùng thuốc pha nước dấm Thiết sư tắm cho Phương Thế Ngọc. Sau đó tùy theo thời gian, hai người dùng tra vót mông vỗ khắp mình Thế Ngọc. Lần lần bỏ tre dùng đến gỗ, bỏ gỗ dùng đến thép, nhờ vậy gân cốt da thịt đứa nhỏ đầy đặn cứng rắn vô cùng. Tới khi Thế Ngọc biết đi, Thúy Hoa tự tay khâu giày cho con. Nàng tuần tự rát lên mặt giày những miếng chỉ nhỏ, cho Thế Ngọc trước còn đi không, sau chạy nhảy lên cát. Trên cát vốn đã khó đi, đứa nhỏ lại mang võ hài có chi càng thêm khó đi nữa, nhưng Thế Ngọc hồn nhiêu cố công chạy nhảy nô đùa, lâu dần thành quen. Số cân lượng chỉ gài ở võ hài cũng mỗi tuổi mỗi tăng. Nhờ đó, lúc Thế Ngọc đi hài nhẹ chạy nhảy lăng xăng trên mặt đất nhẹ nhàng vững chắc hơn những đứa trẻ đồng độ tuổi bội phần.

Năm Thế Ngọc lên ba thì phải hoàn toàn dùng võ phục do Thúy Hoa tự tay may lấy. Những lúc luyện tập, nàng bắt con xỏ hài gỗ cứng ngắt cơ hồ đi không nổi. Tới lúc Thế Ngọc đã đi quen, thân mẫu lại bắt đi trên cát. Chạy nhảy trên cát được như thường, Thúy Hoa đổi mộc hài thành thiết hài và cứ theo phương pháp tuần tự như trên tập luyện cho cậu quý tử. Thế Ngọc vô tình hồn nhiên dùng các thứ đó, có biết đâu nhờ vậy mà sau này chàng thành một cao đồ Thiếu Lâm tự nổi danh.

Năm sáu tuổi, Thúy Hoa cho Thế Ngọc đội mũ sắt, kỵ mã và bắt đầu nhảy cao. Trước còn nhảy lên các thềm vuông đều đặn, sau bắt đầu nhảy lên các viên đá lớn gồ ghề và bị mất thăng bằng. Giữ được thăng bằng rồi, Thế Ngọc phải nhảy lên các vật nhẹ như các miếng cây nhỏ mà Thúy Hoa đã cố ý sắp đặt cho thành cồng kềnh khó khăn, bắt buộc Thế Ngọc tự mình lấy luật thăng bằng tự nhiên. Cùng với các môn khác, Miêu Thúy Hoa cho Thế Ngọc tập hợp, bẻ các vật rắn. Khởi đầu bả cây, lần lần đến uốn sắt.

Giờ ăn, giắn ngủ thật điều hòa, Thúy Hoa luyện con theo kỷ luật thép của nhà võ chánh tông. Qua năm lên tám, Thế Ngọc sức lực lớn hơn các trẻ đồng sinh đến hai, ba năm, bắt đầu luyện môn quyền, cước sơ đẳng. Một năm sau, khởi đầu luyện dùng võ khí cho tới năm mười hai tuổi thì bước vào khoa nội, ngoại công, định thần, nhãn lực.

Riêng về môn Phi Hành thuật, ngay từ lúc chập chững đã dùng hài vải gài chì. Tới năm tám tuổi, công phu luyện phi hành cao hơn nhiều. Trước còn dùng mộc hài, thiết hài, về sau Thúy Hoa gài thêm các thỏi chì quanh ống chân, bắp chuối, bắp vế, đai lưng chì, sức nặng tăng thêm lên với tuổi tác và lực học. Chân quấn chì nặng như vậy, Thế Ngọc vẫn phải đi lẹ làng và chạy trên vòng quanh hoa viên trải cát dầy, hoặc vừa chạy vừa nhảy lên các chồng gạch đá đặt ngay trong vườn luyện võ, cao thấp tùy theo cấp bực.

Về môn quyền thuật cũng như về võ khí, sau khi luyện đầy đủ năm thứ Tấn: Trung Bình Tấn, Cháo Mã Tấn, Đinh Tấn, Độc Cước Tấn, Hạc Tấn đến Ngũ thủ: Thôi Sơn, Cương Đao, Hùng Chưởng, Song chỉ, Phương Dực và Tứ Cước: Kim Tiêu cước, Bàn Long cước, Đảo Sơn cước, Tảo Địa cước, Thế Ngọc mới được học múa từng bài một cho thuộc lòng. Đó là biểu diễn hay độc diễn.

Độc diễn thông thạo mới là bắt đầu luyện Song Đấu từ thế một.

Mỗi thế có Tứ Đẳng Luyện: Công (đánh), Thủ (đỡ, giữ), Biến (chuyển) và phá (đánh lại).

Mỗi thế Tứ Đẳng Luyện được đầy đủ không hề sợ hở, ngượng ngập, thoạt trông thấy nhất cử nhất động của kẻ địch là đã biết ngay đối phương dùng thế gì, phá như thế nào, thiệt thông thạo, quyền, cước, thâu xuất như máy, không phải nghĩ ngợi, do dự, bấy giờ mới được học sang thế khác.

Từ thế nọ sang thế kia, từ bài nọ sang bài kia, người học trước hết phải có Sư Phụ chân truyền, sau là phải dày công phu luyện tập mới mong được thành tài.

Cũng như các môn học khác, võ thuật có Tam Đẳng.

Sơ đẳng từ ba đến bốn năm. Trung đẳng từ bảy đến tám năm. Siêu đẳng từ mười đến mười hai năm, tùy theo sức và thần trí của từng môn đồ. Cho nên không phải bất cứ ai cũng theo đủ thời hạn ấy là thành cấp bực mong muốn.

Luyện võ cũng như ôn văn, có người học cả đời mà vẫn lẹt đẹt, không thể vượt bực, chỉ vì trí thông minh và sức luyện có vậy thôi. Bởi dầy công luyện tập nên tiếng nhà nghề gọi luyện võ nghệ Đả Công Phu Trên đây là trường hợp tập luyện của các bực cao đồ võ phái như Phương Thế Ngọc, Cam Tử Long, Lã Mai Nương tuy cấp bực của ba nhân vật này có khác nhau.

Được thân phụ là Cam Trường Mâu tập luyện cho từ hồi nhỏ tới năm lên mười, Tử Long đã được theo Chiêu Dương thiền sư và Lã Tứ Nương đại sư vào Mã Dương cương, Bạch Vân tự luyện tập suốt mười năm trời.

Còn Lã Mai Nương thì theo cô mẫu là Lã Tứ Nương danh gia, chân truyền ngay từ hồi nhỏ, công phu tập luyện của nàng và họ Cam lúc hạ sơn, được liệt vào hàng siêu đẳng ngay.

Trái lại, Phương Thế Ngọc tuy được thân mẫu Miêu Thúy Hoa theo phương pháp chân truyền luyện thành mình đồng da sắt từ nhỏ, nhưng về võ thuật, Thúy Hoa chưa được liệt vào hạng siêu đẳng Thiếu Lâm tự thì dĩ nhiên con nàng không đuổi kịp Tử Long và Mai Nương.

Cũng vì thế sau này Thế Ngọc còn phải lên Tung Sơn Thiếu Lâm tự theo Chí Thiện thiền sư tập luyện một thời gian nữa. Đó là chuyện sau.

Nói về Phương Thế Ngọc được thân mẫu luyện cho đến năm mười bốn tuổi, bản lãnh đã thật khá, thập bát ban võ nghệ làu thông, sức khỏe đặc biệt. Lúc đó Thúy Hoa mới cho Thế Ngọc từ bỏ chì ở chân, vế và các đai chì ta. Nàng phi thân lên mái nhà, vẫy tay bảo con nhảy theo. Thế Ngọc nhảy thử, người nhẹ nhõm khoan khoái vụt lên mái nhà như én liệng.

- Mẫu thân ơi, hai chân con nhẹ nhàng quá!

Thúy Hoa đáp :

- Thành công rồi. Con thử nhảy lên nhảy xuống nhiều lần và chạy quanh hoa viên ta coi nào. Phương Thế Ngọc bèn chạy vùn vụt quanh vườn, phi thân lên nóc nhà liên tiếp nhiều lần nhẹ nhõm dễ dàng, Từ đó đêm nào Thúy Hoa cũng cùng Thế Ngọc chạy nhảy chuyền trên các nóc nhà khắp trong huyện để luyện thực hành. Nàng phi hành trước, bắt Thế Ngọc theo sau. Lúc mới đầu thỉnh thoảng Thúy Hoa còn phải ngừng bước lại chờ con, nhưng ngay ít lâu sau, Phương Thế Ngọc không nhường bước nào hết. Bản lãnh của Thế Ngọc ngay từ mười bốn tuổi đã ngang hàng với hai anh là Hiếu Ngọc, Mỹ Ngọc, nhưng hơn hẳn về phương diện mình đồng da sắt vì được chuyên tẩm luyện ngay từ nhỏ.

Ba anh em họ Phương đều làu thông thập bát ban võ nghệ, Hiếu Ngọc, Mỹ Ngọc chuyên dùng Lê hoa thương về trường khí. Thế Ngọc thiết côn. Về đoản khí, ba người cùng dùng đoản đao, giảm và thiết tiên.

Phương Đức thấy ba con trai thành tài thì vui mừng hết sức, song cũng nhiều khi khổ sở về tánh tình ngỗ nghịch của cậu con trai thứ ba. Ngay từ lúc năm, sáu tuổi, Thế Ngọc chơi với trẻ lối xóm nều không bằng lòng điều gì là đánh liền. Sẵn có sức khỏe lại được mẹ luyện, Thế Ngọc đánh bạt mạng cả những trẻ hơn hẳn mình bốn, năm tuổi khiến đứa nào cũng bị bể đầu, xẻ tai, cha mẹ chúng đem con đến tận Vạn Xương Hiệu bất thường. Được cái Phương ông xưa nay nhân đức, giúp đỡ nhiều người nên ai nấy đều vị nể, đem tiền đền và thuốc thang cho những đứa trẻ bị thương, mọi sự ổn thỏa hết. Nhưng có xong đâu, Thế Ngọc luôn luôn đánh lộn, Thúy Hoa phải giấu diếm bồi thường cho những trẻ bị thương, không cho chồng biết e chồng rầy la. Nhiều phen Phương ông giận quá bắt trói Thế Ngọc lại với cây đại thọ trong vườn, lấy roi mây đánh phạt. Thế Ngọc vờ đau kêu la, kỳ tình có ăn thua gì. Roi mây do Phương ông quất trên mông chàng chẳng khác gì phủi bụi.

Thật ra không phải vì Thế Ngọc cậy khóc cố ý đánh lộn. Chàng thấy mấy đứa nhỏ bạn mình bị mấy đứa lớn tuổi ăn hiến nên bênh vực mới thành chuyện.

Năm Thế Ngọc mười bốn tuổi, ngoại tổ Miêu lão sư cũng vừa đúng bảy mươi lăm tuổi, một hôm cảm phong phát bệnh, lão sư biết mình, gọi mọi người vào trối trăng rồi qua đời.

Từ ngày lão sư mất, Phương ông cũng buồn, chờ qua tuần thất, bèn ngỏ ý cho Miêu thị hay việc mình muốn du ngoạn Hàng Chây thăm người bạn cũ là Trần Ngọc Thơ, Chủ tịch Quảng Đông hội quán bên ấy, nhân tiện xem có hàng chi lạ thì buôn thêm.

Miêu thị hỏi :

- Lang quân định cho ai theo hầu?

- Lý An đi theo đủ rồi.

- Từ bé tới nay Thế Ngọc chưa bao giờ được đi đâu xa, lang quân nên cho con đi cùng cho nó được rộng kiến thức, vả lại nó cũng lớn rồi, tập việc doanh thương là vừa, đi đâu cho có phụ, có tử để nó được sớm hôm hầu hạ.

Được theo phụ thân đi chơi xa, Thế Ngọc mừng quýnh, chạy ra ngoài tiệm khoe với các tài phú người nhà.

Hai hôm sau, gia nhân Lý An quẩy hành trang theo cha con chủ nhân ra bến xuống ghe lớn chỉ nẻo Hàng Châu. Thuyền êm gió lặng, ít ngày sau cập bến, ba thầy trò liền qua lối Tây Hồ tuyệt đẹp vừa u nhã vừa náo nhiệt. Trên bờ ngựa xe như mắc cưởi, mặt nước thì ghe, thuyền lớn nhỏ lướt nhẹ đông đảo như lá tre. Đền đài, lầu các nguy nga tráng lệ ẩn hiện sau những vòm cây xanh tốt, liễu rũ ven hồ. Từ các huê thuyền du khách ăn chơi, nổi lên tiếng nhạc dìu dặt kèm theo giọng ca nữ thanh tạo, cảnh phồn hoa phú quý của châu Hàng nổi danh đô hội quả không ngoa.

Thế Ngọc khoái mắt, nhìn hết thứ nọ đến thứ kia không biết chán. Thuyền ghé bến, Phương ông thuê hai chiếc kiệu qua Đông Kim môn vào nội thành. Nhà cửa san sát, buôn bán phồn thịnh, phố xá rộng rãi, trà lâu, tửu quán hai ba từng lầu mái uốn cong veo, người qua kẻ lại, nào xe, nào kiệu, nào ngựa thập phần tấp nập. Kiệu đổ nơi Quảng Đông hội quán.

Gặp cố hữu, Trần Ngọc Thơ vui mừng khôn xiết mời Phương ông vào khách đường, sai người sửa soạn phòng lớn để quý khách lưu nghỉ.

Thế Ngọc quỳ lạy bái kiến họ Trần kêu là thúc phụ.

Phương Đức giới thiệu :

- Thằng út đó, tên nó là Thế Ngọc.

Trần Ngọc Thơ chăm chú nhìn Thế Ngọc, đỡ dậy và nói rằng :

- Miễn lễ cho hiền điệt, năm nay được bao nhiêu tuổi rồi?

- Thưa thúc phụ, tiểu điệt được mười bốn tuổi.

Quay sang Phương Đức, họ Trần nói :

- Thế ra sau này lão huynh...

- Phải, ngu huynh mới nạp thêm Miêu thị làm kế thất và sanh ra nó đó.

- Khôi ngô quá! Mười bốn tuổi mà sức lực khác thường.

Chợt nhận ra Thế Ngọc vận võ phục sau lớp áo dài, chân vận hài võ, Trần Ngọc Thơ hỏi :

- Lão huynh cho lệnh lang theo nghề võ?

Phương Đức kể chuyện gặp Miêu lão sư và lấy Thúy Hoa cho Ngọc Thơ nghe.

Họ Trần khen bạn tốt phước :

- Thế ra nhị vị lệnh lang Hiếu Ngọc, Mỹ Ngọc hiện thời thành tài võ dũng cả. Có biết mới có hơn, buôn bán ngược xuôi như vậy trong tay không có nghề đi đường lúc nào cũng nơm nớp lo sợ giặc cướp rất phiền.

Phương ông ôn tồn hỏi thăm gia đình bạn rồi cùng Thế Ngọc về phòng riêng rửa mặt thay áo. Lát sau trở ra uống rượu cùng họ Trần.

Con trai lớn của Ngọc Thơ là Trần Ngọc Thành ở ngoài phố về lạy chào Phương ông và ngồi hầu tiệc, Thế Ngọc cũng được phép ngồi kế bên. Từ chuyện nọ đến chuyện kia, Phương Đức hỏi thăm tình hình người đồng hương của Hàng Châu.

Trần Ngọc Thơ nói :

- Nếu không có một sự nhục nhã mới xảy ra thì tình hình, vẫn đều hòa không có gì đáng quan tâm.

Phương Đức ngạc nhiên :

- Việc chi can hệ mà lão đề kêu là nhục nhã? Các bạn đồng hương mình bị đàn áp sao?

- Nào có tiếng gì người Quảng Đông mà ngay cả toàn thể châu Hàng hoa lệ này cũng bị nhục theo, tưởng không còn mặt nào dám nhìn người khác xứ nữa!

Nguyên mới cách đây trên hai chục hôm, có một võ sư nổi danh, người Hồ Nam thì phải, họ Lôi tên Hồng, tước hiệu Lã Hổ, đến Hàng Châu xin phép quan Trấn thủ lập Lôi đài dương oai, diệu võ, thách anh hùng tứ xứ cùng y thi tài. Trước hết, y thiết lập Lôi đài mà dám ngạo thiên hạ, treo ngay cửa đài một tấm hoành lớn đề VÔ ĐỊCH ĐÀI, lão huynh thấy có ngang không?

Phương Đức nói :

- Chắc họ Lôi quả thật anh hùng vô địch mới dám nêu các danh từ ấy.

Trần Ngọc Thơ tặc lưỡi thở dài :

- Thị trấn Hàng Châu lớn nhường này mà y dám khinh miệt dùng ba chữ Vô Địch đài thì quả khinh người thiệt. Một kẻ xa lạ đến xứ sở này dựng Lôi đài Vô địch, khinh miệt dân Quảng Đông và Tô Châu, Hàng Chây với đôi liễn hai bên cột đài lồ lộ đập vào mắt thiên hạ:

Quyền đả Quảng Đông toàn tỉnh

Cước kích Tô Hàng nhị châu.

Nghĩa là:

Tay đấm cả tỉnh Quảng Đông

Chân đạp hai châu Tô Hàng.

Lão huynh xét thử, Lôi Lão Hổ kiêu ngạo đến nước ấy có đáng giận không? Hơn hai mươi hôm, toàn dân Hàng Châu người tứ xứ ai cũng như sống trên đồng lửa, ăn ngủ không được vì phách khí của Đài chủ. Thật là mục hạ vô nhân!...

Nói một thôi, một hồi, Trần Ngọc Thơ mặt đỏ gay gắt, tức giận tộc bực. Con trai là Trần Ngọc Thành, trái với thân phụ, mặt tím lịm đăm đăm ngồi im lặng.

Phương Đức xưa nay vốn tánh cực kỳ điềm đạm, nghe lão hữu nói chuyện Vô Địch đài, cũng phải sôi nổi, dân mạnh ly rượu đang cầm trong tay xuống thổi, mà rằng :

- Lão đệ nói đùng, thế này thì quả là Lôi Lão Hổ khinh người quá đáng! Hình dáng nó có oai hùng như Lôi đài của nó không? Lão đệ có đi coi không?

Trần Ngọc Thơ vỗ đùi đánh đét một cái :

- Võ đài như vậy ai mà không tức đi coi, muốn ngồi nhà cũng không nổi. Người quanh mình bàn tán xôn xao khiến ai nghe cũng chán cả người! Hơn nữa Lôi Lão Hổ oai dũng lắm. Vai hùm, lưng gấu, mặt sắt đen sì, khi trấn đài y vận võ phục đen tuyền, thật dũng mãnh. Nó oai thế mới bực mình chớ!

- Đã có nhiều người thượng đài chưa? Những hạng người nào?

- Nhiều rồi, nhưng toàn tử thương và trúng thương. Hạng người nào cũng có, đủ các giới không thiếu sót một ai! Họ tức tối lên đánh và... bị đánh luôn. Chưa một ai chịu nổi với Lôi Lão Hổ trên ba mươi hiệp.

Phương Đức sầm nét mặt :

- Lập Lôi đài để thi tài hơn kém, đã trúng thương là cùng, chớ tử thương thì quá quẫn! Quan trấn thủ không nói gì ư? Để họ Lôi sát hại mọi người như vậy sao?

Trần Ngọc Thơ giãy nẩy :

- Lỗi đâu ở quan Đầu trấn và cũng chẳng phải lỗi ở Đài chủ!...

Phương Đức ngạc nhiên ngắt lời :

- Đánh chết người và để đánh chết người, lão đệ nói họ vô tội lỗi là thế nào?

Trần Ngọc thơ giải thích :

- Trong khi lập lôi đài, Lão Hổ xin phép đàng hoàng, viết giấy dán khắp mọi nơi bá cáo dân chúng hay rồi mới dựng đài. Trong tờ bá cáo, và hiện thời rất rõ ràng trên tâm biển dựng ở hai bên đài, các điều lệ rất minh bạch. Lỗi ở những người không biết liệu sức tài của mình mà dám thượng đài để hứng lấy cái chết, cái nhục. Để tôi lấy tờ bá cáo đó đưa lão huynh coi. Nói đoạn Trần Ngọc Thơ bảo con trai :

- Tờ bá cáo điều lệ Vô Địch đài cha để trong ngăn án thư phòng lấy ra đây cho lão bá coi.

Lát sau, Trần Ngọc Thành cầm một tờ giấy màu xanh lớn kính cẩn đưa cho Phương Đức.

Mở tờ giấy gấp sáu đó ra, họ Phương đọc:

“Tôi là giáo đầu võ sư họ Lôi tên Hông, tước hiệu Lão Hổ sanh quán tại Bảo Kinh huyện, Trường Sa phủ, tỉnh Hồ Nam, xin bá cáo cùng chư vị quân tử, anh hùng tứ xứ được biết.

Vốn ham ưa Võ thuật, tôi thiết lập lôi đài ở Thanh Ba môn ngay đại trấn Hàng Châu, với mục đích cùng chư vị anh hùng thử tài, đua sức.

Bổn đài được đại quan Thủ Trấn chấp nhận công khai.

Bổn điều lệ được duyệt y hẳn hoi như sau đây:

Điều Thứ Nhất: Quan quân thuộc dinh ngũ không được quyền thượng đài.

Điều Thứ Nhì: Người nào thuộc Tâm giáo giới không được thượng đài.

Điều Thứ Ba: Thượng đài không được cầm võ khí hoặc dắt ám khí.

Điều Thứ Tư: Muốn đấu bằng võ khí thì phải trình bày trước với người phụ đài mà căn phòng ở ngay kế bên Lôi đài.

Điều Thứ Năm: Đặc biệt cho phép phụ nữ thượng đài và khi đó se coi như người thuộc nam giới tận tình giao tranh.

Điều Thứ Sáu: Trước khi thượng đài xin khấu danh tự, niên canh, quán trú.

Điều Thứ Bảy: Ai đánh trúng Chủ đài một quyền thưởng một trăm lượng bạc.

Điều Thứ Tám: Ai đạp trúng Chủ đài một cước thưởng chín trăm lượng bạc.

Điều Thứ Chín: Ai đánh được Chủ đài bật ra khỏi Lôi đài, được thưởng năm nghìn lượng bạc.

Điều Thứ Mười: Bị đả tử không thường mạng.

Điều Thứ Mười Một: Về võ khí, đánh Chủ đài trúng thương mà còn tiếp tục giao đấu được, thưởng một trăm lượng bạc.

Điều Thứ Mười Hai: Đánh Chủ đài trúng thương không đứng được, thưởng ba trăm lượng bạc.

Điều Thứ Mười Ba: Quật chết, đâm chết, như điều thứ mười thuộc quyền thuật.

Những ai tự lượng kém cỏi, yêu cầu đừng thượng đài thêm uổng mạng.

Kể từ ngày khai đài, quyền hạn Trấn đài là Bách Nhật và xin quan Thủ Trấn duyệt y tăng thêm thời hạn.

Nay kính cáo!

Đài chủ Lôi Lão Hổ”.

Đọc xong, Phương Đức nói :

- Điều lệ công bình. Bất tài bất thượng đài uổng mạng. Từ buổi khai đài đến nay đã có ai được lĩnh thưởng chưa?

Trần Ngọc Thơ lắc đầu :

- Chưa, số người thượng đài phần đông đồng hương với ta. Họ không háo thắng, nhưng câu Quyền Đả Quảng Động Toàn Tỉnh phạm đến danh dự quê hương rất nhiều, nên họ bất nhẫn liều đánh nên uổng mạng hoặc tàn tật suốt đời.

- Thế còn dân Tô, Hàng thế nào?

- Họ cũng bực dọc lắm nhưng số người thượng đài ít hơn hẳn dân Quảng Đông phân nửa, có lẽ vì họ tỉnh hơn. Vì vụ đả Lôi đài này dân Tô Châu kéo nhau tới đây đông lắm. Nghe đầu như họ đang tìm người thượng đài rửa hận. Bởi vậy, cách đây ba hôm, dân Quảng Đông họp cả ở Hội quán chung tiền phái người đi thỉnh võ sư về đối địch với Lôi Lão Hổ.

Phương Đức cười lạt :

- Thỉnh võ sư là một chuyện, nhưng vị võ sư nào đó ít nhất cũng phải đồng hương với mình, nếu không thì thẳng chẳng hãnh diện mà trái lại còn nhục thêm cho xứ sở.

Trần Ngọc Thơ nói :

- Đồng ý với lão huynh ở điểm đó. Ba người được phải đi có nhiệm vụ thỉnh võ sư người Quảng Đông. À... nhưng Tẩu nương và ba vị lệnh lang vốn dòng họ Võ Thuật gia, chắc lão huynh quen biết nhiều tay kiệt kiệt khả dĩ thượng đài đối đầu với Lôi Lão Hổ?

Vốn không đa sự, tuy biết Thúy Hoa và hai anh em Hiếu Ngọc, Mỹ Ngọc, Thế Ngọc bản lãnh cũng khá, Phương Đức đáp :

- Tiện nội và các cháu bất quá tập tành qua loa cho khỏe người thế thôi, cho nên đường giao du không rộng rãi. Còn riêng tôi, quanh năm bận việc thương mại, không giao du với giới võ nghệ nên không quen biết ai cả.

Từ nãy, Phương Thế Ngọc chăm chú nghe chuyện Vô Địch đài lấy làm khó chịu, giận lắm song có phụ thân ở bên nên chàng cố nhịn lầm lì làm ngơ. Nay thấy phụ thân nói thứ võ nghệ của mẹ con chàng chỉ dùng tập luyện cho thân thể cường tráng thì lửa giận xung thiên, đứng phắt dậy khoanh tay thưa :

- Còn chi phải kiếm võ sư, giáo đầu nơi đâu? Sáng mai con tình nguyện thượng đại hạ tên Lôi Lão Cẩu rửa nhục cho xứ sở quê hương, và nêu danh hùng khí của người Quảng Động cho dân Giang Nam đều biết.

Phương Đức thấy Cậu ba sắp phá quấy, bèn trợn mắt mắng :

- Con nít, miệng còn hôi sữa dám nói phách láo xen vào chuyện người lớn? Biết điều im lặng ngay kẻo ta bắt về Triều Dương tức khắc!

Trần Ngọc Thơ và Ngọc Thành thấy Thế Ngọc đĩnh đạc khỏe mạnh thật, nhưng dù sao cũng còn nhỏ tuổi, đối địch sao lại Lôi Lão Hổ là người đã từng hạ cả mấy trăm người trong vòng chưa đầy nửa tháng, và ngay hiện nay chưa người đối thủ. Tuy Thế Ngọc còn vị thành niên mà chí khí đáng khen.

Trần Ngọc Thơ bảo Phương Thế Ngọc :

- Khá khen hiền điệt còn ít tuổi mà chí khí anh hùng, sau này tất thế nào cũng làm nên. Ta không dám chê hiền điệt đâu, hiềm vì Lôi Lão Hổ dữ dội quá. Quyền, cước vô tình lỡ xảy ra chuyện không hay thì thật phiền. Âu là chờ ít ngày nữa, tất thế nào cũng thỉnh được võ sư về rửa nhục, hiền điệt hãy gắng chờ xem kết quả, chớ để phụ thân buồn phiền nhé!

Thế Ngọc im lặng, Phương Đức sợ lúc mình đi có việc, Thế Ngọc sanh biến tìm đến Lôi đài gây vạ, bèn hỏi Trần Ngọc Thơ :

- Ở Lôi đài có quan quân canh phòng không?

- Có chứ, quan Thủ trấn cho sáu tướng và một đại đội đóng ngay quanh Lôi đài thị chiến phòng đôi bên sanh sự. Ngoài ra, Đài chủ có riêng ba trâm đồ đệ đeo gươm cầm giáo phòng vệ thật nghiêm chỉnh. Nhờ vậy chưa hề xảy ra sự đáng tiếc.

Phương, Trần đang nói chuyện thì có mấy người làm công trong Hội quán đi về.

Trần Ngọc Thơ liền gọi vào hỏi :

- Chiều nay có gì lạ không?

Một người tên là Diêu Bỉnh Tưyên nói :

- Thưa, suốt buổi chỉ có hai người thượng đài, một Tô Châu và một Quảng Đông. Người Tô Châu yếu thế chạy kịp nhảy được xuống đài thoát thân...

Trần Ngọc Thơ hoảng hốt ngắt lời :

- Thế còn người Quảng Đông? Y tên gì?

- Thưa Bang trưởng. Người Quảng Đông là gã mễ phu Ngô Phiên, nổi tiếng võ dũng ở ngoài bến đó. Đấu vừa được hai mươi hiệp, y đuối sức chạy ra gần ngoài sân đài định thoát thân, ngờ đâu Lôi Lão Hổ đuổi kịp phóng cước trúng bắp đùi, Ngô Phiên lộn xuống đài không dậy được nữa. Mọi người đổ xô đến nâng dậy mới biết là y trúng đòn gãy xương đùi.

Phương Đức khó chịu hỏi họ Trần :

- Ủa! Địch thủ thua chạy mà Đài chủ còn rượt theo sao?

- Trần đấu nào cũng đều như thế cả. Chạy kịp thì thoát, kẻ nào bị rượt kịp thì hoặc tử thương hoặc bị thương.

- Vô lối quá nhỉ! Đối phương thua, nhảy ra khỏi vòng chiến, đáng lẽ tha mới phải.

- Vòng chiến đây là toàn thể mặt sân đài, vả lại khoản này không được ghi trong bảng điều lệ.

- Vậy ra Lôi Lão Hổ cậy mạnh cố đả tử ư?

- Việc đó không được rõ nhưng từ bữa khai đài tới nay thì đều như thế cả.

Câu chuyện về Vô Địch đài choán suốt bữa rượu. Phương Đức và Thế Ngọc về phòng đi nghỉ. Họ Phương bảo con :

- Mai cha có việc đi hỏi mấy món tiền hàng, con ở nhà không được gây chuyện nghe? Phải hiểu đây là đất xứ người, không phải bỗng chốc mà nhờ có mẹ binh vực cho đâu.

Thế Ngọc vẫn hậm hực :

- Phụ thân vẫn đồng ý với mọi người cho Lôi cẩu tặc là danh gia võ sư à?

- Danh gia hay không cho có học nghề đầu mà ước lượng được, nhưng chỉ biết rằng đất Hàng Châu này là một đại trấn, người như kiến cỏ, anh hùng hào kiệt có thừa, mà chưa hề có ai đấu ngang tay với họ chớ đừng nói tới chuyện hạ bảng Vô Địch của y nữa!

Thế Ngọc nói :

- Con không chịu y Vô Địch! Nó chỉ là tên giặc nhất thời! Một tên cố ý sát hại những kẻ vô tài mà dám huênh hoang thượng đại, bêu xấu nền Võ thuật chân truyền.

Phương Đức quắc mắt :

- Con chớ quen thối đại ngôn đa!

Phương Thế Ngọc im lặng quay mặt vào góc phòng giấu nụ cười hóm hỉnh.

Hôm sau, Phương ông dậy sớm rửa mặt thay áo gọi gia nhân Lý An sửa soạn theo mình ra phố. Thế Ngọc vẫn ngủ say cuốn mền nằm tròn trên giường bên. Phương ông rón rén xem lại cửa sổ thấy song bằng sắt lớn cỡ bằng ngón tay cái thì an tâm. Ra khỏi phòng, Phương ông khóa trái cửa lại bỏ chìa vào túi rồi cùng Lý An ra phố.

Lý lão bộc thắc mắc hỏi :

- Chủ nhân khóa cửa như vậy lát nữa tam tiểu chủ trở dậy làm thế nào điểm tâm được?

- Cho nó đói một chút còn hơn là ta không an tâm lo nó gây vạ ở chốn đất khách quê người này. Lát nữa trở về sẽ mua quà cho nó ăn gấp đôi. Nhắc kẻo ta quên.

Thật ra, nếu trước khi đi, Phương ông chú ý nhìn thì sẽ thấy Thế Ngọc mắt lim dim hé nhìn xem phụ thân đang làm gì. Phương ông đi khỏi, Thế Ngọc nằm nán lại một lúc xem thân phụ có trở lại hay không, mới tung mền vùng dậy vớ bình nước tu một hơi, đoạn chải đầy bịt khăn tiểu võ sanh lại gọn ghẽ, vân võ phục đàng hoàng, lấy đôi Diệp Kiếm Hài do mẹ khâu riêng cho, xỏ vào chân đi đi, lại lại đắc ý. Sau đó, chàng rút vào trong bọc hành lý ra cặp thiết giản, vặn mình, tọa bộ, hoa tròn song giản lên mấy vòng, gân xương chuyển răng rắc. Thâu giản gài vào lưng, chàng thử cửa ra vào thấy khóa chặt. Bỏ cửa chính, nhảy lên cửa sổ xem qua song sắt, chàng mỉm cười tinh quái như chợt nhớ ra điều ghìm chàng liền xuống mở hành trang lấy mấy lượng bạc mẹ cho riêng ăn quà bỏ vào túi, đoạn phi thân lên cửa sổ. Thế Ngọc vận dụng sức cánh tay uốn cong hai song sắt, đẩy cửa chui tuốt ra ngoài nhảy xuống sân. Nhìn quanh không thấy ai, chàng rít giản với đóng cánh cửa sổ lại như cũ rồi mắt trước, mắt sau lẻn ra khỏi Hội quán. Thoăn thoắt đi qua hai dãy phố, Thế Ngọc gặp hàng bánh bao bán rong liền mua mấy chiếc vừa đi vừa ăn. Không biết đường, chàng đón một lão trượng hỏi thăm lối ra Thanh Ba môn. Lão trượng tò mò nhìn Phương Thế Ngọc rồi nhìn cặp thiết giản :

- Điệt nhi ra Thanh Ba môn làm gì?

- Thưa lão bá, tiểu điệt đi coi đả Lôi đài.

Lão trượng mỉm cười :

- Ta tưởng điệt nhi dại dột đi đả Lôi đài!... Có thấy đoàn người lũ lượt đi đằng xa kia không?

- Dạ.

- Họ kéo nhau ra của Thanh Ba xem đó, cứ theo họ sẽ tới nơi.

Thế Ngọc cung bái lão trượng rồi vội vàng chạy theo đoàn người. Lão trượng nhìn theo, tặc lưỡi nghi ngờ, trở gót đi thẳng ra nơi dựng Vô Địch đài, thắc mắc không hiểu thanh niên tuấn dũng nọ đi xem đả Lôi đài mà tại sao lại dắt thiết giản nặng nề như vậy. Phương Thế Ngọc theo đoàn người ra tới nơi thấy một Lôi đài rộng lớn, cao hơn trượng, cất toàn bằng gỗ phiến rất chắc chắn, mái cao lợp lá. Trạm kiểm soát danh tánh thi ở sảnh kế bên đài. Tại đây dựng một tấm biển sơn đen chữ trắng, treo cao đủ sức cho mọi người đứng xa cũng đọc rõ các điều lệ báo cáo.

Một số khá đông đồ đệ của lôi Lão Hổ võ trang thành đội đơn đao, đại đao, côn, thương, chia ngang hai bên Lôi đài. Chúng đống tới số vài trăm người, võ phục đồng đều toàn màu đen, trước ngực đính chữ LÔI kiểu triện vải trắng, chân quấn xà cặp đen vận hài xảo tết bằng gai. Đội nào tướng ấy, hàng ngũ nghiêm chỉnh oai phong. Mặt tiền, ngăn ra một khoảng đất đủ rộng phòng khi đấu thủ bị té khỏi vướng phải khán giả. Hai bên góc, có bực bực thang để đấu thủ bị té khỏi vướng phải khán giả. Hai bên góc đài, có bực thang để đấu thủ thượng đài. Ngay chính giữa treo tấm hoành sơn son thiếp vàng Vô Địch đài, hai bên cột treo đôi liễn vàng son đỏ ối. Mới sáng ra mà khán giả đã đông như nêm cỏ, chật cả cửa Thanh Ba. Hàng cơm, quán nước mọc lên như nấm, khách ăn đông đảo, bàn tán xôn xao.

Phương Thế Ngọc xen vào đám đông không thấy đoàn quân binh giữ trật tự, bèn hỏi người lân cận nhưng không ai trả lời rõ rệt. Chờ hồi lâu, Lôi Lão Hổ không tới. Thế Ngọc để ý nghe mọi người nói chuyện :

- Sao bữa nay Lôi giáo đầu đến trễ vậy nhỉ?

- Ừ, thường nhật khởi đầu rồi, hay là y đau?

Thế Ngọc nhìn vào phía căn phòng ghi tên họ, sanh quán đấu thủ, chỉ thấy có vài ba người xuất, nhập. Nóng ruột quá không chờ nữa, Thế Ngọc len thẳng vào trong, đi tới văn phòng ghi danh trước sự ngạc nhiên của mọi người. Người phụ trách sổ danh sách là đồ đệ của Lão Hổ, thấy Thế Ngọc tuy có cơ nàng khỏe mạnh nhưng dù sao cũng bị thành niên, lưng đeo cặp thiết giản xăm xăm đi tới thì không khỏi ngạc nhiên :

- Thiếu nhi lạc đường rồi! Vào đây làm chi?

Đứng sững lại trước án thư làm đích cho mấy cặp mắt tò mò phụ trách trong văn phòng nhỏ vách ván, Thế Ngọc ngang nhiên đáp :

- Đây là phòng ghi danh, phải không?

Người vận võ phục ngồi sau ấn thư trạc hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi buông sõng :

- Phải! Thiếu nhi muốn gì?

- Đại ca làm việc gì thì tôi muốn việc đó.

- Thiếu nhi muốn ghi danh thượng đài? Hay muốn xin việc làm thì đây đủ người rồi!

Thế Ngọc nghe giọng khinh bạc, giận lắm nhưng cố nén tâm :

- Tới đây chỉ có ghi danh thượng đài chớ không ai xin việc làm.

Người nọ cười khẩy, nhìn Thế Ngọc từ đầu chí chân, dùng tiếng Hồ Nam nói với mấy tên đồng bọn ngồi chung quanh đó :- Hừ! Lại một tên Quảng Đông! Chúng hết người rồi hả, mà cho thằng nhỏ này đi lộn đường thế này?

Mấy tên kia cười rúc rích, khinh bạc bĩu môi chia mép, kiêu ngạo đáng ghét. Chẳng ngờ Thế Ngọc được thân mẫu dạy tiếng Hồ, Quảng ngay từ lúc nhỏ, bèn quắc mắt hỏi bằng tiếng Quảng :

- Lôi Hồng đâu không thấy tới?

- Tiểu nhi không lễ phép chút nào! Phải kêu bằng giáo đầu, võ sư hay Lão Hổ nghe! Cũng may Người đi Kim Láng vắng, nếu không thì bị phạt rồi đa! Ngươi con nhà ai mà hỗn xược vậy?

Đổi sang tiếng Hồ Nam, Thế Ngọc dằn giọng :

- Ta là Phương Thế Ngọc, người Quảng Đông, hiện cư ngụ tại Quảng Đông hội quán, nếu chỉ vì ta gọi đích danh sư phụ ngươi là tên côn đồ Lôi Hồng mà ngươi cho là hỗn xược, thì bọn Hồ Nam các ngươi phạm đến danh dự toàn tỉnh Quảng Đônh tất xứng danh cẩu trệ! Người đó nổi giận đứng phắt dậy quát :

- Hay cho tên nhãi ranh dám tới đây ngang ngược, người đồng hương của ngươi bị đánh nát xương từ bao lâu nay mà còn chưa biết sợ sao? Biết điều bước ra ngay, ta thương tình con trẻ tha tôi cho kẻo gãy cổ bây giờ!

Không thèm trả lời, Thế Ngọc đưa tay tả túm ngực áo tên nọ kéo mạnh xuống, đồng thời tiện tay tát trái một cái bốp trúng mặt như trời giáng, bật ngửa người sang bên, ôm mặt la lối om sòm, máu miệng, máu mũi hộc chan hòa. Mấy tên đồng bọn thấy Thế Ngọc hung hăng đánh bạn trúng thương nặng, kinh ngạc không dè tên thiếu nhi nọ lại dũng mãnh dường ấy, bèn hè nhau xông vào định bắt sống. Tiện chân, Thế Ngọc đạp tung chiếc án thư văng đè lên bọn chúng, đoạn phóng mình chạy ra ngoài, tới mặt tiền phi thân lên cao tay tả bám vào cây xà ngang Lôi đài, tay hữu rút thiết giản đập mạnh hai nhát hiến tấm hoành Vô Địch đài rớt băng xuống mặt sàn đánh rầm một tiếng.

Thế Ngọc hành động chớp nhoáng, bọn đồ đệ Lôi Lão Hổ không kịp ngăn cản, hò nhau trèo lên đài bắt. Thế Ngọc buông mình xuống mặt đài nhẹ như én liệng, hoa xong giản lên mấy vòng gạt khí giới đối phương, đánh bật bọn đồ đệ lang sói xuống đài. Tiện tay chàng đập luôn mấy giản nặng nề, đánh bể chiếc liễn bên hữu. Đoạn chòm sang bên tả, chàng phá luôn chiếc liễn bên tả. Bọn đồ đệ, kẻ đao người thương leo thang ào lên Lôi đài vây đánh, khiến khán giả đang vui mừng hả lòng tức giận, phải lo thiếu niên quả bất địch chúng.

Thế Ngọc hét như sấm vang :

- Đồ cẩu trệ! Muốn thế mạng cho thằng Lôi Hồng thì cứ vô đây! Càng đông càng hay.

Miệng hét, tay đánh, chân đạp, cặp thiết giản xoay tít lên như hai bánh Thiên xa, tán hoa loạn đả, lăn giăn vù vù tựa gió giật mưa gào kinh khủng, đánh vang khí giới địch bay tứ phía. Bọn đồ đề Lôi Lão Hổ, bị đàn áp dũng mãnh tơi bời, kẻ bể mặt vỡ đầu, kẻ gãy tay lòi xương chân không biết bao nhiêu mà kể. Biết không thể đánh lại tiểu hung thần, chúng hô nhau rùng rùng chạy như bây ong vỡ tổ, kẻ kêu, người la inh ỏi vang động cả khu Thanh Ba mộc.

Khán giả khoái chí đứng xa xa hoan hô vỗ tay rầm rầm. Dù chưa biết thiếu niên dũng cảm nọ có đủ sức đương đầu với Lôi Lão Hổ hay không, nhưng cuộc tàn phá Lôi đài do một thiếu niên nói tiếng Quảng Đông đủ làm cho số khán giả đồng hương hãnh diện khoái trá. Đánh đã chân tay, Thế Ngọc nhảy phắt xuống đất. Mọi người dàn sang hai bên nhường lối cho chàng đàng hoàng ra khỏi khu vực Thanh Ba.

Bọn đồ đệ họ Lôi sừng sộ, nắm tay, co chân, hằm hè đe dọa chỉ về hướng Thế Ngọc, nhưng tuyệt nhiên không một tên nào dám đuổi theo. Thế Ngọc theo đường cũ trở về Hội quán, ngó trước ngó sau không thấy Trần bang trưởng, liền lẻn vào chui qua cửa sổ kéo thẳng song sắt lại như trước. Thay võ phục, cất đôi giản vào bọc hành lý, chàng leo lên giường nằm thản nhiên như không biết vụ phát tầy đình vừa rồi là chi cả.

Đến trưa, Phương ông trở về mở khóa cửa bước vào phòng, thấy Thế Ngọc vẫn cuốn mền nằm ngủ thì đắc chí mỉm cười. Lão bộc Lý An để gói bánh lên thồi, đoạn khẽ lay gọi cậu quý công tử :

- Tam lang! Dậy chớ, trưa rồi! Ngủ đến quên cả ăn sao? Bánh điểm tâm còn nóng đây, dậy mau.

Thế Ngọc vươn vai dụi mắt ừ à, nhổm dậy ngáp dài nhìn quanh rồi soài ra toan ngủ nữa.

Lý An vội níu lại :

- Gần Ngọ rồi, thức giấc ăn bánh mau! Ngủ khiếp thế này!...

Thế Ngọc vờ vĩnh :

- Ủa! Trưa thật rồi ư? Đói bụng quá, bánh đâu?

- Ý, súc miệng rửa mặt đã chớ! Chưa chi đã gào bánh. Chẳng bù khi ở nhà chủ mẫu bắt dậy sớm luyện võ thì sao?

Hôm ấy, sang đầu giờ Mùi, Trần Ngọc Thơ mới mời Phương ông ra dùng bữa.

Họ Trần hoan hỉ :

- Vừa rồi người hàng Bang đến đông quá. Họ bảo một tin hay lắm huynh ạ.

- Tin chi mà coi sắc diện lão đệ hân hoan vậy?

- Thật không ngờ! Vô Địch đài sáng nay bị phá phách ghê gớm quá!

- Vậy ư? Kẻ nào mà can đảm dám vuốt móng hùm thế?

- Thế mới kỳ lạ chứ. Xin nói rõ để lão huynh mừng lây: người đởm lượng ấy đồng hương với chúng ta! Có thể gọi là tạm rửa nhục cho dân Quảng Đông ta.

Phương ông vui lây :

- Tay hảo thủ ấy phương danh là chi mà bây giờ mới lộ diện?

- Anh em đồng Bang nói rằng đó là một thiếu niên rất ít tuổi, lạ mặt nói tiếng Quảng và tự xưng là người Quảng. Phá đài xong, y thừa dịp nhốn nháo dông mất, không ai kịp hỏi tên là gì.

Phương ông giựt mình đưa mắt nhìn Thế Ngọc, nhưng chàng thản nhiên như không chăm chú nghe chuyện.

- Lôi Lão Hổ không có mặt tại võ đài sao?

Trần Ngọc Thơ đáp :

- Không, nghe nói y đi vắng ít ngày, vì vậy quan quân cũng không tới canh phòng như thường lệ.

- Nhưng còn bọn môn đồ của họ Lôi đông lắm kia mà?

Trần Ngọc thơ gật đầu :

- Phải, chúng đông tới ba trăm người, võ trang đầy đủ kéo nhau vây đánh vị thiếu niên nọ, nhưng bị đánh tan tành, trúng thương rất nhiều đến nỗi không dám đuổi theo thiếu niên anh hùng xứ Quảng nữa! Thế mới hào hùng chớ, hiện người đồng Bang đang cố sức tìm kiếm nhân vật hiếm có ấy để đãi tiệc.

- Có ai nhớ mặt thiếu niên ấy không?

- Có lão hủ Đàm Cảnh Thăng, là người may mắn gặp vị thiếu niên anh hùng ấy ngay hồi sáng trước khi vụ phá Lôi đài. Thiếu niên hỏi đường nhằm trúng Đàm lão. Tấm hoành Vô Địch đài và đôi liễn bị phá rớt hẳn xuống đất. Đòn ấy khác chi đánh thẳng vào mặt Đài chủ? Khoái trá thật.

Một lần nữa, Phương ông đưa mắt nhìn cậu quý tử. Và cũng một lần nữa, Phương Thế Ngọc tảng lờ như không.

Suốt tám hôm liền, Quảng Đông hội quán kẻ ra người vào tấp nập, bàn tán mừng có, lo cũng có, vì không sao tìm ra vị thiếu niên anh hùng bữa nọ. Cũng suốt thời gian ấy, sáng nào và đêm nào, Thế Ngọc đều thừa lúc vắng vẻ luyện tập. Chàng không hề xao lãng, tập luyện công phu đối với chàng cần thiết như cơm bữa, vả lại chẳng chóng thì Chầy, thế nào Lôi Lão Hổ khi về Hàng Châu, sẽ tìm đến Hội quán hạch sách. Sợ bị nhận diện, suốt trong thời gian ấy, Thế Ngọc nằm khềnh trong phòng hoắc ra hậu viên Hội quán đọc bộ “Nội Công Vận Khí Thuật” do thân mẫu chàng trao để nghiên cứu khi nhàn rỗi.

Phương ông thấy con ngoan ngoãn, an tâm không nghi ngờ gì nữa.

Chẳng dè sẩm tối hôm thứ chín, mọi người trong Hội quán vừa ăn cơm chiều xong, đang ngồi ở cửa Hội quán chuyện văn về vấn đề người hàng Bang đi mời võ sư mãi không về, thì thấy Lôi Lão Hổ dai giáp gọn ghẽ, tay cầm đại đao, cởi ô truy mã, dẫn các môn đồ võ trang đầy đủ, rầm rập kéo thẳng tới của Hội quán.

Không hiểu chuyện gì, mọi người sợ hãi vội chạy vào nhà toan đóng cửa Hội quán lại, nhưng không kịp, bọn môn đồ họ Lôi đã xong tới đứng chắn cả hai bên hầm hè như muốn ăn tươi nuốt sống các nhân viên Quảng Đông hội quán.

Lôi Lão Hổ quát :

- Bộn bây muốn sống, vào gọi ngay tên Trần Ngọc Thơ ra đây chịu tội, kẻo Hội quán bây ra tro bụi bây giờ!...

Biêu Bĩnh Tuyên có mặt tại đó, liền đáp :

- Giáo đầu khoan giận, có việc chi vui lòng cho biết để tôi mời Bang trưởng ra hầu chuyện.

Lôi Lão Hổ thét :

- Ta không hơi đâu nói đăng dai với bọn bây. Gọi Trần Ngọc Thơ ra đây!

Diêu Bĩnh Tuyên vội cùng các đồng nghiệp chạy vào báo với Trần Ngọc Thơ lúc đó đang đàm luận với Phương Đức.

- Nguy rồi Bang trưởng ơi, Lôi Lão Hổ đem môn đồ đến vây chặt Hội quán đòi Người... hỏi tội.

Trần Ngọc Thơ giựt mình :

- Ta động chạm gì tới y mà tội với trạng?...

- Bang trưởng không ra ngay thì Hội quán ra tro bây giờ.

Phương Đức nói :

- Lão đệ cứ ra thử xem việc gì. Dù sao còn có quan trên nữa, chàng lẽ y dám lộng hành sao?

Trần Ngọc Thơ đứng lên đi vội ra cửa. Các nhân viên Hội quán theo sau.

Mới trong thấy họ Trần, Lôi Lão Hổ liền chỉ mặt quát tháo.

Trần Ngọc Thơ ôn tồn :

- Cớ sao Giáo đầu bỗng dưng đến Hội quán tôi gây chuyện?

Lôi Lão Hổ cười gằn :

- Hèn mạt thật! Chối leo lẻo. Trong khi ta đi văng, sao ngươi dám phái người đến Vô Địch đài, đả tử sáu môn đồ và đả thương hết trên hai mươi người của ta?

- Giáo đầu nói lạ! Có thể gọi đích danh kẻ đó ra không? Riêng về phần Quảng Đông hội quán không hề làm chuyện đó!

- Bộ ngươi muốn chối không biết vụ phá Lôi đài hả?

- Việc phá Lôi đài toàn châu này ai mà không biết, nhưng không phái Hội quán chủ mưu.

Lôi Lão Hổ thét :

- Tên khốn khiếp cả gan chối cãi! Có tên Phương Thế Ngọc nào trong Hội quán không? Hay là muốn ta đích thân vào bắt?

Trần Ngọc Thơ tái mặt :

- Trong này có Phương Thế Ngọc thật, nhưng còn nhỏ tuổi lẽ nào hành động nổi vụ phá Lôi đài, đả tử môn đồ của Giáo đầu đông vài trăm người võ trang đầy đủ? Y mới theo phụ thân y từ Triều Dương huyện qua đây được mươi hôm chuyên việc buôn bán. Giáo đầu chớ nghe lời sàm nịnh gây hấn cùng bổn bang.

- Ta không dài dòng. Ngươi gọi tên đó ra đây để môn đồ ta nhận diện. Nếu không phải nói, ta tức khắc đi ngay. Bằng mà trúng, ta chỉ yêu cầu trao nó cho ta trị tội, bồi thường mỗi mạng môn đồ ta một vạn lượng bạc, mỗi tên bị đả thương ba ngàn lượng. Có thế thôi.

Không biết trả lời thế nào hơn, Trần Ngọc Thơ bèn nói :

- Yêu cầu Giáo đầu đừng bao vây Hội quán khiến nhân viên bổn bang lo sợ. Tôi sẽ vô gọi Thế Ngọc ra cho mà coi.

- Được, ta chấp nhận lời yêu cầu, lùi vòng vây ra một trăm bước. Các ngươi có thăng thiên, độn thổ cũng không thoát, nghe! Lẹ lên!...

Trần Ngọc Thơ vội vàng vào nói tự sự cho Phương Đức hay.

Họ Phương giãy nảy, đập tay kêu trời :

- Thằng tiểu tử súc sanh này gây hại rồi! Tôi đã nghi ngờ ngay từ lúc đầu.

Trần Ngọc Thơ ôn tồn :

- Lão huynh đừng rối trí như vậy. Nếu thật lệnh lang phá nổi Vô Địch đài, tất bản lãnh không tầm thường. Xin cứ gọi ra đây, mọi việc sẽ tính sau.

Phương Đức nói :

- Nhưng Lôi Lão Hổ đòi bắt nó đem đi thì làm thế nào? Đền tiền bạc tôi không lo.

Trần Ngọc Thơ phân giải :

- Lệnh lang dám phá lôi đài tất không coi họ Lôi ra gì cả. Tôi cam đoan toan tính mọi sự.

Hai người đang mải phân trần thì Thế Ngọc đã từ trong nhà đàng hoàng đi ra, gọn gàng trong bộ võ phục màu sẫm, quỳ xuống trước mặt thân phụ và Ngọc Thơ :

- Xin phụ thân và thúc phụ chớ lo âu. Chính con đã phá Vô Địch đài rửa hận cho hàng Bang Quảng Đông. Việc con làm con xin chịu. Đại trượng phu coi cái chết chính nghĩa tựa lông hồng, lo chi tên Lôi Hồng?

Trần Ngọc Thơ đỡ Thế Ngọc dậy mà rằng :

- Hiền điệt liệu sức địch nổi Lão Hổ thì hãy đối địch, bằng không cứ việc chạy, cuộc điều đình tiền bạc mặc ta.

Thế Ngọc cả quyết :

- Tiểu điệt đánh nó chớ sợ chi! Thúc phụ cho biết nó đem theo thứ khí giới gì?

- Y cầm đại đao.

- Thúc phụ có cây thiết côn nào trong Hội quán không?

Trần Ngọc Thơ suy nghĩ giây lát :

- Có một cây dựng trong kia, nhưng nặng chừng ba chục cân.

Thế Ngọc tươi cười :

- Vừa tay lắm.

Không chờ Bang trưởng trả lời, Diêu Binh Tuyên đứng gần đó liền cùng Trần Ngọc Thành chạy vào nhà trong khiêng cây thiết côn ra, lấy khăn lau sạch bụi.

Thế Ngọc đón lấy nhẹ nhàng hoa lên thử mấy vòng rồi khen :

- Tốt lắm! Nào bây giờ ra coi thằng Lôi Hồng có mấy đầu mấy tay?

Đưa mắt nhìn cha, Thế Ngọc nói :

- Xin phụ thân chớ lo rầu, an tâm coi con rửa hận cho đồng Bang.

Trần Ngọc Thơ và mọi người trong Hội quán cảm phục, không ngờ người Quảng Đông lại có vị Tiểu anh hùng võ dòng nhường ấy, bèn theo Thế Ngọc ra ngoài cửa. Nhìn qua, Thế Ngọc biết Lôi Lão Hổ dũng lực nhưng thản nhiên hỏi lớn :

- Phương Thế Ngọc đã ra đây, ai là Lôi Hồng?

Bọn môn đồ nhận ra kẻ phá Lôi đài bèn gật đầu ra hiệu cho họ Lôi biết, Lão Hổ nhận xét thấy Thế Ngọc tuy gọn gàng thật nhưng chẳng qua chưa vượt khỏi tuổi thiếu nhi, sao lại chống đánh nổi mấy trăm tên côn đồ võ trang đầy đủ như vậy, bèn thúc ngựa lên nạt :

- Chính ta là Vô Địch đài chủ đây. Thật ngươi là Phương Thế Ngọc chớ? Hay là dân Quảng Đông hết người tài ba rồi mua mạng mi ra đây chịu trận?

Thế Ngọc cả giận mắng lại :

- Ngươi mới hạ được mấy tiểu tốt vô danh người đồng hương ta mà đã lên mặt Vô Địch đả Quảng Đông toàn tỉnh, không biết ngượng sao? Người anh hùng thực lực công phu đâu có khoe khoang như vậy?Lôi Lão Hổ nén giận :

- Còn mi tự coi là anh hùng, nhè lúc ta vắng mặt áp đảo sát hại môn đồ ta, cử chỉ ấy có thể gọi là kẻ trượng phu được không?

Thế Ngọc cười lớn :

- Ngươi cố ý sát hại người đồng hương ta, nay bất quá mấy mạng môn đồ vô dụng của ngươi cũng chưa đủ làm ngang cán cân, còn ca thán nỗi gì? Có thực tài hãy trổ ngón ta coi!

Lúc đó, người trong phố kéo tới đông vòng trong vòng ngoài. Trần Ngọc Thơ cũng đã cho người thắp đèn đuốc sáng trưng tựa ban ngày. Lôi Lão Hổ thét lớn, thúc ngựa xông vào nhằm đầu tiểu anh hùng bổ một lưỡi đao theo thế “Thái Sơn Ấp Đình” nặng nề dữ dội như thần tướng, khiến mọi người lo sợ thay cho thiếu niên họ Phương. Còn Phương Đức thì nhắm nghiền mắt lại không dám nhìn. Thế Ngọc ung dung quát :

- Hay lắm!

Đoạn, chàng cầm chéo dọc thiết côn che thân. Chát! Rùng rợn. Lưỡi đao chém trúng thiết côn nẩy lửa sáng lòe lên. Thế Ngọc hộ tấn vững bàn thạch quay luôn đầu côn thúc mạnh nhằm đầu Ô truy mã, đòn lẹ vô cùng. Lôi Lão Hổ đưa đốc đao gạt côn che đầu ngựa, biết gặp tay kình địch công phu căn bản, nhưng trở luôn lưỡi đao nhằm đao nhằm đầu Thế Ngọc quơ ngang, lưỡi đao sáng loáng như chớp giựt... Thế Ngọc tọa mã tấn nhường cho ngọn đao lướt qua đầu như gió thổi, đồng thời dùng toàn lực quật luôn thế côn “Tán Hoa Cái Đỉnh” vào ngang sườn địch thủ. Ngồi ngựa bất tiện, lánh không kịp đòn thần tốc ấy, Lôi Lão Hổ đành giơ dọc cán đao đỡ. Hai võ khí toàn thép va vào nhau chát chúa. Toàn thân Lão Hổ rung chuyển, con Ô truy mã cũng bị chuyển lây, nhảy ngang.

Khán giả xuýt xoa khen ngợi tiểu anh hùng, vỗ tay vang động cả khu Hội quán. Họ Lôi giận lắm, thúc ngựa, hoa đao đánh trả liên tiếp, làn đao vun vút như chớp giựt mưa gào khủng khiếp. Không vừa, Thế Ngọc múa côn đánh trả, thế đỡ, đòn đánh sầm sập, cây thiết côn nặng nề biến thành làn tử quang rùng rợn, hộ pháp nhịp nhàng như hầu viên, lúc tả, lúc hữu bắt buộc đối phương tốn rất nhiều sức mới thoát đòn. Con Ô truy mã bị rung động sùi bọt mép trắng xóa, hí vang trời. Người kỵ mã, kẻ bộ chiến giao đấu thập phần khủng khiếp.

Một bên muốn giữ vẹn danh tiếng Vô Địch đài, một bên quyết đả tử báo thù cho toàn tỉnh Quảng Đông, trận đấu đao lớn, côn nặng kéo dài dư trăm hiệp, bất phân thắng bại, nhưng kỳ thật Lôi Lão Hổ tốn sức né tránh rất nhiều, mồ hôi toát đẫm chiến y.

Bỗng Thế Ngọc chống côn nhảy rút ra khỏi vòng chiến, quát :

- Khoan!

Thừa dịp, Lôi Lão Hổ cũng thâu đao lại, hét :

- Xin hàng chăng?

Thế Ngọc cười ha hả :

- Ai lại hàng một tên đối thủ thở hồng hộc như mi! Đánh ở đây kinh động quan binh, dân chúng, hơn nữa trời tối nhiều rồi. Tha cho ngươi sống suốt đêm nay về lập chúc thư, trăng trối thê nhi, sáng mai giờ Thìn lên đài chịu tội.

Lôi Lão Hổ mắng lại :

- Hay là mi muốn thừa dịp đêm nay trốn chạy? Nói chắc sớm mai đến nộp mạng tại Vô Địch đài, hả?

Thế Ngọc cười khẩy :

- Ta còn đây, tình Quảng Đông còn đó, ta dù ít tuổi cũng không thèm lánh mặt tên hữu danh vô tài như ngươi hiểu chưa?

Dứt lời, chàng quay phắt trở vào Hội quán. Lôi Lão Hổ dù tức bực cũng không dám liều lĩnh đuổi theo, đành quay ngựa dẫn bọn môn đồ trở về sửa soạn ngày mai giao đấu tại Lôi đài. Trần Ngọc Thơ mừng rỡ cùng các nhân viên Hội quán và Phương ông vào theo Phương Thế Ngọc. Mọi người được mục kích trận đấu vừa rồi không ai chịu về, kéo ập tới cửa Hội quán hoan hô yêu cầu vị tiểu anh hùng xứ Quảng trở ra cho họ xem mặt.

Trần Ngọc Thơ phải trở ra đừng giữa cửa vòng tay chào, thưa rằng :

- Chúng tôi rất cảm ơn quý vị bằng hữu có lòng tốt ủng hộ vị Quảng Đông tiểu anh hùng. Giờ đây tiểu khách cần an tĩnh nghỉ ngơi, sáng mai còn thượng đài dành phần thắng về cho toàn thể Tô, Hàng lưỡng châu và tỉnh Quảng Đông. Yêu cầu quý vị thân hữu sớm mai tập họp đông đủ ngoài Thạch Ba môn để cổ vũ giúp oai cho đấu thủ bên ta. Lúc đó xem mặt tiểu anh hùng cũng không muộn. Xin vui lòng thể tình cho.

Quần chúng nhao nhao không chịu, Trần Ngọc Thơ cố giảng giải mãi mọi người mới chịu giải tán. Trần Ngọc Thơ truyền nhân viên đóng cửa Hội quán bảo Trần Ngọc Thành phụ trách mời các anh em đồng Bang sớm mai tụ tập tại hội Hội quán theo tiểu khách anh hùng ra lôi đài cho oai vệ. Một mặt, họ Trần bày tiệc mừng cha con Phương Đức.

Phương ông cũng không hết lo âu :

- Tôi không ngờ việc xảy ra lớn như vậy. Dù sao Lôi Lão Hổ cũng là tay lão thành trong nghề, chẳng nên căn cứ vào trận đấu vừa rồi bất lợi cho y vì kẻ đánh mã, người đấu bộ mà cho rằng tiểu tử sẽ thắng cuộc Đả Lôi đài sáng mai. Nếu nội nhân ở đây thì tôi còn đỡ lo đôi chút.

Trần Ngọc Thơ khuyên giải :

- Tôi không có ý bất cần để Phương hiền điệt đảm nhiệm một việc quá sức mà hiện thời biết bao người đồng Bang đã thành nhân cũng chưa gánh vác nổi. Trong trận vừa rồi, ai cũng nhận thấy Thế Ngọc dư sức, nếu kéo dài chắc chắn tên côn đồ họ Lôi sẽ kị bại với cây thiết côn lợi hại của lệnh lang.

Phương Thế Ngọc ngồi bên nói :

- Xin phụ thân an tâm, con sẽ thắng Lôi Lão Hổ. Biết sức và tài đao pháp của y rồi, chắc quyền pháp cũng không hơn.

Phương ông lừ mắt :

- Con mới tạm giữ thế quân bình trong trận đấu mà đã hợm mình. Lôi Lão Hổ đầy đủ kinh nghiệm hơn con nhiều, khinh địch sẽ bị bại với y đó!

- Thưa phụ thân, con đánh rất thận trọng và nhận thấy địch thủ rất lợi hại. Tuy vậy, y đánh con vẫn không kinh khủng dữ dội bằng khi ở nhà mẫu thân và nhị vị huynh trưởng vây đánh tới tấp mỗi khi hỗn đấu.

Phương ông mắng át :

- Chà! Tập luyện ở nhà, ai mà chẳng nới tay nhường con ít tuổi!

Thế Ngọc phản đối :

- Nếu nhường như vậy, con không thận trọng giữ gìn chắc nát xương mất!... Chỉ tiếc một điều là không được thấy Lôi Lão Hổ sử dụng quyền thuật bao giờ. Được coi qua, con sẽ ước lượng ngay được tài nghệ của y.

Trần Ngọc Thơ nói :

- Mai thượng đài đấu Quyền, nếu hiền điệt thấy đuối đừng cố gắng, liệu bề nhảy xuống đài ngay. Thua được là sự thường, dù sao hiền điệt cũng đã cứu vãn danh dự cho toàn tỉnh Quảng Đông. So đôi tuổi, quần chúng có thể coi như hiền điệt là người thắng cuộc. Có hứa với ta điều ấy không?

- Dạ, hiền điệt xin hứa, thúc phụ khá an tâm.

Nói về bên Lôi Lão Hổ, suốt từ hôm khai Vô Địch đài, ngày nào Thị lang Hòa Thân và Thiết Diện Hổ cũng trà trộn, đứng lẫn vào đám người xem quan sát các trận đấu, luôn thể nghe ngóng dư luận. Mọi sự tiến triển hoàn toàn theo chương trình xếp đặt.

Ngay đến hôm Phương Thế Ngọc tới phá đài, phạm luật hẳn hoi mà chức trách địa phương cũng làm ngơ như không, là do mật lệnh của Hòa Thân yêu cầu quan bổn hãy bỏ qua, có như vậy mới kích thích được cả đôi bên. Sự hiềm thù nảy nở giữa hai phe Chủ đài và các đấu thủ đả Lôi đài không khác chi ngòi lửa ngấm ngầm dẫn đến kho thuốc nổ hình dung bởi các võ phái.

Phần Thiết Diện Hổ liên lạc thẳng với vợ chồng Lôi Lão Hổ ngay tại căn nhà mà họ Lôi thuê ở Nhưỡng Cung lộ suốt trong thời kỳ trấn đài tại Hàng Châu. Hôm Lôi đài bị phá, Thiết Diện Hổ có mặt tại chỗ vội càng về báo cho Hòa Thân hay.

Họ Hòa suy nghĩ giây lát :

- Tướng quân nên đến gặp ngay Lý Tiểu Hoàn, dàn xếp khuyên Lý thị chớ nóng giận gây chuyện lôi thôi. Việc gì cũng phải chờ Lôi Lão Hổ về sẽ tùy y định liệu. Việc tống táng các môn đồ bị tử thương và chạy chữa cho những kẻ đã bị thương, chúng ta chịu hết. Tướng quân tùy tiện trích tiền quỹ ra đưa cho Lý Tiểu Hoàn thu xếp việc ma chay, chạy chữa. Quan địa hạt bỏ qua việc khám xét vì đã có mật lệnh từ trước rồi. Tình thế gay go theo đúng ý muốn của Thánh thượng.

Thiết Diện Hổ vâng lệnh Hòa Thân đến thẳng nhà Lôi Lão Hổ vừa đúng lúc Nữ Bá Vương (tước hiệu của Lý Tiểu Hoàn) đang đai nịt định đến Quảng Đông hội quán tìm Phương Thế Ngọc hỏi tội, bèn khuyên giải thuật lại ý kiến của Hòa Thân yêu cầu đừng gây chuyện trước khi Đài chủ trở về Hàng Châu.

Lý Tiểu Hoàn nói :

- Sư thúc ngăn tôi việc này thật quá đáng. Một tên thiếu nhi dám cả gan mạo phạm đến Vô Địch đài, để như vậy liệu sau này còn ai thèm đến Lôi đài tỉ thí nữa?

- Điệt nữ rán nghe ta. Chờ mấy bữa nữa lệnh phu quân về cũng không trễ, danh chính ngôn thuận hơn. Hiện thời hãy nhận lấy số bạc này lo tống chung chạy chữa cho bọn người tử nạn và kíp dựng lại các tấm biểu bị tên tiểu tặc phá bể, cốt sao cho Lôi đài được nguyên vẹn như trước để Lão Hổ về còn thượng đài. Điệt nữ có ý kiến gì về tên thiếu nhi đó không?

Lý Tiểu Hoàn đáp :

- Theo lời tên môn đồ phụ trách việc ghi tên đấu thủ thì tên họ là Phương Thế Ngọc, người Quảng Đông nhưng nói được cả tiếng Hồ Nam rất thông thạo.

Tôi nghi tên Thế Ngọc là con một danh gia nào về phái Thiếu Lâm tự hay Bạch Hạc chớ không thể nào thuộc phái khác. Người Quảng chuyên theo Thiếu Lâm khá nhiều. Thôi được, sư thúc đã dạy như vậy, tôi chờ Lôi lang quân về sẽ hay.

Hôm Lôi Lão Hổ ở Kim Lăng về, Lý Tiểu Hoàn thuật tự sự cho nghe. Họ Lôi nổi giận đùng đùng gắt vợ :

- Việc sư thúc mướn lập Lôi đài, ta đã theo đúng nguyên tắc. Nhưng vấn đề danh dự là chuyện riêng của ta sao sư thúc cũng can dự tới? Từ nay hiền thê chớ để người lung lạc như thế nữa. Việc gì phạm đến ta tức liên can tới hiền thế. Nàng là người có phần võ dõng hơn ta, dư sức hành động mà! Tên tiểu tặc họ Phương hiện thời ở đâu?

Lý Tiểu Hoàn đáp :

- Chắc y còn ở Quảng Đông hội quán.

- Bọn người Quảng thuê tiền nó quấy phá Lôi đài chớ gì?

- Không lẽ bọn họ mướn một tên thiếu nhi đối đầu với ta? Có lẽ y là con một danh gia nào đó qua đây nghe tiếng Lôi đài thì ngỗ nghịch phá chơi. Căn cứ vào sức lực tài nghề của y, ta có thể đoán được người luyện tập cho y không phải kẻ tầm thường, phu quân nên lưu tâm.

Lôi Lão Hổ nói :

- Được, để ta đến tận Hội quán xem coi chúng bản lãnh ghê gớm tới mực nào?

Tức khắc, Lôi Lão Hổ tụ tập môn đồ kéo rốc tới cửa Quảng Đông hội quán.

Sau trận đấu với Thế Ngọc, Lôi Lão Hổ trở về ngồi thần người ra bực tức. Lý Tiểu Hoàn săn đón hỏi han. Nàng đỡ lấy bộ võ phục của chồng vừa thay ra thấy ướt đẫm mồ hôi, thì rất đỗi ngạc nhiên :

- Lang quân chiến đấu với ai mà võ phục ướt đẫm như vậy?

Lôi Lão Hổ tức giận :

- Phương tiểu tặc chớ còn ai nữa!

Lý Tiểu Hoàn giựt mình :

- Ủa! Y cầm cự nổi lang quân? Thế này ít ra đánh dư trăm hiệp?

- Quả vậy, dư trăm hiệp!

- Rồi sao nữa?...

- Nó chống thiết côn nhảy ra vòng chiến hẹn ta sớm mai tỉ thí tại Lôi đài.

Lý Tiểu Hoàn băn khoăn :

- Nếu vậy Phương Thế Ngọc tiểu tử ít nhất cũng được luyện được Bàng nhi (nàng nói tới con là Lôi Đại Bàng)

- Bàng nhi hơn nó tới ba tuổi, mạnh hơn nhiều. Sở dĩ nó cầm cự nổi vì ta chiến mã bất lợi.

- Dù sao lang quân cũng nên tiểu tâm.

- Dĩ nhiên. Mai ta quyết hạ nó trên Lôi đài, hiền thê an tâm!

- Bộ pháp y thế nào?

- Côn pháp, bộ cước hoàn toàn Thiếu Lâm tự.

Lý Tiểu Hoàn suy nghĩ hồi lâu :

- Danh gia Thiếu Lâm, tại Quảng Đông xưa nay nghe đồn có họ Miêu tại Châu Liên sơn, Nhập Lý Đông là sư đệ của Chí Thiện thiền sư Ngũ Mai đại sư, nay lại mọc thêm họ Phương là thế nào?

Lôi Lão Hổ tặc lưỡi :

- Chà! Hiền thê khéo bận tâm những việc đó vô ích. Môn đồ Thiếu Lâm tự như rừng kể sao hết được!

- Thiếp muốn yêu cầu lang quân một điều.

Lôi Lão Hổ ngạc nhiên ngửng đầu nhìn Tiểu Hoàn :

- Hiền thê cần nói điều chi

- Sáng mai cho thiếp mai giám trận đấu với Phương Thế Ngọc.

Họ Lôi lắc đầu mỉm cười :

- Không được. Có hai điều bất tiện. Thứ nhất: đấu cùng một tên thiếu niên vô danh mà phải đưa hiền thê ra giám trận, liệu thanh danh chúng ta còn chi? Thứ nhì: nếu vợ chồng chúng ta cùng đâu thì không sao, nhưng hiền thê giám đài, ta thấy bứt rứt khó chịu không thể tận tình tranh đấu. Chi bằng hiền thê cứ ở nhà là hơn cả. Vả lại sá chi tên Phương Thế Ngọc mà phải thắc mắc nhường ấy?

- Thiếp thấy lang quân không được vui, nên lo ngại.

Lôi giáo đầu phì cười :

- Ta băn khoăn không gì lo Phương Thế Ngọc bản lãnh cao cường, nhưng vì không muốn tranh đấu với một tên vị thành niên. Tuy vậy, ngày mai ta vẫn phải hạ nó như thường để cho mọi người ghê sợ rằng bất cứ nam, phụ, lão, ấu, ai cả gan vuốt râu cọp thì phải chết! Hiền thê an tâm ở nhà chờ, ta sẽ về nghỉ sớm... À, cơm rượu sẵn sàng chưa? Ăn xong, nghỉ ngơi mai còn đi trấn đài. Mấy bữa rày có nhận được tin của nhạc phụ không?

Lý Tiểu Hoàn nói :

- Quên khuấy đi mất! Hôm rồi tiếp tục được thơ của phụ thân cho biết người sẽ từ Trường Sa qua đây chơi.

* * * * *

Sáng hôm sau, một số đông thanh niên Quảng Đông do Trần Ngọc Thơ tổ chức đêm hôm trước, vận võ phục đồng đều, đeo đoản đao thật oai vệ, giắt một tuấn mã trắng như tuyết đến chờ trước Hội quán rước Phương Thế Ngọc.

Đúng giờ, Thế Ngọc bắt đầu quấn khăn võ sanh buông mối sau gáy, võ phục áo xanh dương cài nút bên, trong gài ngầm Hộ Tâm kính, lưng thắt Long sa đới buông mối ngắn bên hông, quần đen chít ống bằng giải Hồng sa, chân dận Diệp Kiếm hài, hùng dũng bước ra cửa Hội quán, không hổ danh tiểu anh hùng đất Quảng. Diêu Bình Tuyên khệ nệ vác cây thiết côn theo sau. Sau nữa là cha con Bang trưởng Trần Ngọc Thơ và Phương Đức. Dân hàng Bang tụ tập chờ đi theo đoàn võ sanh rước Phương tiểu anh hùng hoan hô rầm rầm.

Thế Ngọc cầm cương ngựa do một thanh niên trao cho, nhảy phắt lên mình tuấn mã đi trước. Diêu Bình Tuyên vác thiết côn theo bên, các thanh niên võ trang sắp hàng đôi đi tiếp theo sau thành một dãy dài. Phương ông và Trần Ngọc Thơ lên kiệu đi sau cùng.

Toàn thể nhân viên được phép đóng cửa Hội quán ra cả Thanh Ba môn xem cuộc giao đấu hứa hẹn hào hùng. Tin Phương tiểu anh hùng, người Quảng Đông đả Lôi đài được truyền khẩu đồn đại ngay từ tối hôm trước, nên một số đông các chủ tiệm đều hy sinh đóng cửa rủ nhau lũ lượt đi xem. Từ ngày mở Vô Địch đài, cửa Thanh Ba thường nhật đã đông, nhưng sáng nay đông khác thường, người như nêm cối chen chúc nhau không còn hở lấy một chỗ. Quan binh phải tăng cường giám sát Lôi đài, giữ trật tự dành riêng một lối đi trung ương cho Đài chủ và Đấu thủ. Các môn đồ họ Lôi dàn quanh đài như cũ từ sớm.

Đúng giờ Thìn một khắc, Lôi Lão Hổ cưỡi Ô truy mã, đem theo mười môn đồ vác đại đao tới võ đài. Cầm đao vào giá khí giới bày ở phía trong cùng. Giáo đầu Đài chủ lực lưỡng oai vệ ra trước đài vòng tay chào mọi người :

- Hôm nay có thiếu niên Phương Thế Ngọc là kẻ đã tới quấy phá bổn đài trong khi tôi đi vắng, thượng đài cùng tôi giao đấu. Cuộc giao đấu này hoàn toàn theo ý muốn của y. Tôi không mời và cũng không ép buộc. Ngay bây giờ đây, nếu y muốn xin hủy trận giao tranh, tôi vẫn sẵn lòng chấp nhận. Vậy, chốn Lôi đài là nơi thử sức Công Phu Quyền Cước vô tình, nếu xảy ra sự không may cho thiếu niên họ Phương, phần trách nhiệm về sanh mạng của y bản không do nơi tôi. Vài lời cáo bạch mong chư vị anh hùng quân tử hiểu rõ.

Trừ một số người không bị đôi liễn treo ở hai bên cột đài khinh mạn vỗ tay hưởng ứng, còn dân Quảng Đông và hai châu Tô, Hàng đều im lìm căm hờn nhìn Đài chủ.

Lôi giáo đầu vận võ phục đen tuyền. Trước ngựa áo thêu đầu lão hổ bằng bạch tuyến lóng lánh, sau lưng chữ triện “Lôi” hình tròn. Đầu quấn khăn Bao Cân buông mối bên tai, lưng thắt Thiết Sô Sa đới, chân dận ủng võ Ban tiên hai màu đen trắng, uy nghi dữ dội, cổ to vai rộng, tay áo sắn cao nở nang chắc nịch, lông tua tủa như tay gấu. Đài chủ nói xong xây lưng vào phía trong cùng đài ngồi xuống chiếc kỷ lớn.

Giữa lúc ấy, tiếng xôn xao vang dậy, đoàn “thanh niên Hội Quán Quảng Đông” kéo tới, Thế Ngọc khôi ngô tuấn tú cưỡi Bạch mã đi trước tiến thẳng vào cửa đài. Không ai bảo ai, mọi người hoan hô cổ võ Phương tiểu khách vang động toàn khu Thanh Ba. Lôi Lão Hổ đứng phắt dậy chống tay lên sườn hầm hầm nhìn xuống đài. Phương Thế Ngọc đảo chân qua đầu ngựa nhảy xuống đất, nhìn quanh đài quan sát toàn thể rồi mới thong thả tiến thêm lên mấy bước phi thân lên Lôi đài, hai tay xòe ra như chiếc én liệng thật nhẹ nhàng. Quắc mắt nhìn Đài chủ, chàng bước vòng sang phía hữu. Lôi Lão Hổ cũng đi vòng sang phía tả.

Không rời mắt đối phương, Thế Ngọc trở ra trước đài, vòng tay giơ cao chào khán giả, cất tiếng sang sảng.

- Kính thưa quý vị thân hữu Tô, Hàng nhị châu và đồng bang Quảng Đông, Tiểu tử Phương Thế Ngọc, nhân có việc qua quý châu, ngay buổi thứ nhất được nghe câu chuyện Vô Địch đài. Xưa nay, lập Lôi đài trao đổi tài nghề, kết giao cùng anh hùng tứ xứ là một lẽ thường không có chi đáng quan tâm. Nhưng đây khác hẳn. Đài chủ dùng lời khinh miệt hảo hán Tô, Hàng cũng như nhục mạ hào kiệt Quảng Đông. Đành rằng thế Quyền ngọn Cước vô tình trong khi giao đấu, nhưng Đài chủ đã hành động vơ nhân đạo, đang tay hạ thủ cả những người biết mình kém thế, chịu thua chậm chân đến nỗi phải táng mạng vì kẻ háo sát. Cả hai điều này cũng không thể tha thứ được, cực chẳng đã tiểu tử nhận thấy phải can thiệp.

Chỉ là kẻ vô danh còn non nớt, tiểu tử không dám tự xưng hào kiệt nhân danh Tô, Hàng nhị châu hay Quảng Đông toàn tỉnh thượng đài bữa nay, nhưng chỉ cốt cho Đài chủ biết rằng trong thiên hạ anh hùng đầy rẫy hào kiệt tứ phương nhan nhản. Trận đấu sáng nay, nếu Đài chủ có thắng hẳn không phải đã thắng cả ba xứ Tô, Hàng, Quảng nhưng chỉ là thắng cá nhân Phương Thế Ngọc. Trái lại, nếu y thua, tiểu tử xin nhường quyền suy luận về giá trị của Đài chủ, là người đã dám nêu tấm bảng Vô Địch đài và đôi liễn ngông cuồng hiện đang treo tại đây, trước nhãn diện tứ phương quân tử.

Dứt lời, Phương Thế Ngọc giơ hai tay sang hai bên tỏ ý đã nói xong.

Tràng pháo tay vang dậy như sóng cồn lẫn với những lời hô :

- Hoan hô Phương Thế Ngọc!...

- Ủng hộ Tiểu khách anh hùng!...

Trần Ngọc Thơ đứng gần Lôi đài ghé tai bảo Phương Đức :

- Không ngờ lão huynh sanh được một quý tử anh hùng đến như vậy. Chắc thế nào lệnh lang cũng làm vẻ vang cho quê hương chúng ta.

Phương Đức ừ ào cho xong chuyện. Thật ra, tuy trong thâm tâm họ Phương rất vui mừng vì không ngờ Thế Ngọc lại quả cảm khẩu khí đến như thế, nhưng khi so sánh hình vóc hai đấu thủ ở trên đài thì Phương ông không khỏi rởn gáy rùng mình!... Và đó cũng là ý tưởng chung của toàn thể mọi người.

Lôi Lão Hổ to lớn như một con gấu trông thấy cũng đủ phát khiếp chớ đừng nói đến chuyện giao đấu nữa. Phương Thế Ngọc dáng dấp khỏe mạnh, anh hùng nhưng nét mặt non nớt hơn đối thủ nhiều, những ai không được mục kích trận đấu giữa hai họ Lôi, Phương hồi nhá nhem tối hôm qua thì đều thất kinh lo cho Thế Ngọc không có sức chống chọi Lão Hổ.

Từ ngày khai đài đến nay, họ đã không từng thấy nhiều đấu thủ to lớn thượng đài bị họ Lôi đả thương, đả tử dễ dàng đó ư? Ngay cả quan Thị lang Hòa Thân và Thiết Diện Hổ đứng lẫn trong đám khán giả cũng không khỏi ngạc nhiên.

Hòa Thân nói :

- Trông tên thiếu nhi kia, ai dám tin y cầm cự tay đôi với Lôi giáo đầu chiều qua. Hừ! Không lẽ y là thần đồng?

Thiết Diện Hổ nói :

- Trong giới võ thuật, có nhiều nhân vật kỳ khôi. Nếu được chân truyền, bất cứ tuổi nào cũng có danh tài. Trong trận so tài hôm nay, một trong hai đối thủ bị tử thương thì mọi sự trong tương lai sẽ hoàn toàn đúng chương trình của ta.

- Tướng quân dự đoán ai sẽ thua?

Thiết Diện Hổ lắc đầu :

- Chịu, không thể đoán trước được. Bây giờ tôi là người của triều đình, ngoài ra không biết võ phái nào hết, dù là Võ phái của tôi. Trong trận đả Lôi đài này, Lão Hổ thắng hay Thế Ngọc thắng không đáng quan tâm. Miễn sao, với cái thắng hay bại ấy, các Võ phái đâm ra thù hiềm nhau, phái môn đệ đi hạ sát lẫn nhau luôn luôn không ngừng. Đó là tôi đã thành công trong nhiệm vụ khó khăn hiện thời. Kìa, họ bắt đầu giao đấu!

Trên đài, sau khi Phương Thế Ngọc vừa nói xong, Lôi Lão Hổ hầm hè mắng :

- Đồ súc sanh, thượng đài đánh thì đánh, nếu sợ khá quỳ lạy xin thôi, ta cũng sanh phước tha cho, còn bẻm mép rào trước đón sau cái gì?

Thế Ngọc trừng mắt mắng lại :

- Dũng lực của ngươi bất quá bằng tê ngưu quen nạt nộ kẻ hèn kém nay gặp ta quả ngươi đã đến kỳ mạt lộ. Ra đòn trước đi, thiếu gia sẵn sàng rồi.

Lôi Lão Hổ quát :

- Đài chủ nhường đấu thủ đòn đầu.

Muốn tỏ vẻ khinh thường, Lôi Lão Hổ đứng dang hai chân, hai tay chống lên sườn, khinh khỉnh nhìn đối phương. Theo đúng phép tắc nhà nghề, Thế Ngọc đảo bộ hoa quyền “Bái Tổ”, chân tay thật gọn gàng, nhảy vút nhập trận theo thế “Sư Tử Giảo Đầu” thúc luôn cả hai quyền tả, hữu vào bụng địch thủ. Đáng lẽ đòn này đánh vào ngực nhưng Thế Ngọc thấp hơn địch thủ nên nhằm bụng. Lôi Lão Hổ nhảy sang bên đưa tay hữu gạt đòn, đụng phải tay Thế Ngọc thấy cứng chắc thì khen thầm “Công Phu” đắc luyện, đồng thời dùng thế “Mãnh Hổ Cầm Dương” đập bàn tay tả Hùng Chưởng vào đỉnh đầu đối phương. Thế ấy cực kỳ mạnh mẽ của người cao lớn đánh đối thủ thấp hơn mình.

Không chút sợ hãi, lẹ như cắt, né người tránh khỏi đòn độc. Thế Ngọc đưa luôn hai tay Cương Đao đón cánh tay tả của Lão Hổ chặt mạnh. Đó là thế “Thoát Lương Hoán Trụ”. Với thế này Thế Ngọc đưa tay tả đón ngang lấy cổ tay địch thủ giựt lại, trong khi tay hữu nhằm khớp xương địch, đánh bật ra.

Lôi Lão Hổ vội vàng thâu tay về đảo bộ nhảy qua một bên tránh đòn. Nếu không kịp, cánh tay y sẽ gãy lìa hay ít ra cũng trật khớp xương. Vừa nhảy ra, Lôi Lão Hổ dùng luôn thế “Mãnh Hổ Xuất Sơn”, chân xoạc Đinh Tấn đánh một trái Thôi Sơn cực mạnh vào đầu Thế Ngọc. Tọa bộ thật thấp, Thế Ngọc nhường đòn độc ấy vút qua đầu đoạn thúc luôn một trái đấm vào mỏ ác họ Lôi. Đây là ngọn “Thiếu Thủ Nhất Thiên”.

Lão Hổ hồi bộ tránh khỏi. Hai đấu thủ xô xát, đánh, gỡ, tránh né thập phần linh động, quyền ra vùn vụt, chân bước sầm sập, tiến thoái nhịp nhàng, trước còn chầm chậm, sau cả hai cùng say đòn, công thủ tới tấp, thỉnh thoảng lại bật lên những tiếng thét ghê rợn xé tan bầu không khí im lặng của trăm ngàn khán giả đang hồi hộp theo dõi trận đấu cực kỳ gay go. Thấm thoát đã đấu hơn trăm hiệp, không ai chịu nhường ai. Mọi người thấy Thế Ngọc còn nhỏ tuổi, nhỏ người mà cầm cự với Lôi Lão Hổ lâu như vậy thì khen ngợi vô cùng. Lôi giáo đầu cũng khen ngợi địch thủ quả hữu dòng, bản lãnh chân truyền.

Đánh lâu nóng ruột, vả lại bực mình ở điểm để cho một thiếu nhi công phản lại mình lâu như vậy, Lôi Lão Hổ quyết dùng thế độc. Y nhảy trẹo sang bên hữu.

Phương Thế Ngọc ham đòn nhảy theo. Chẳng dè bị luôn họ Lôi dùng thế tối độc “Âm Dương cước” vặn người như giao long uốn khúc cơ chân hữu đạp một cái mạnh tới năm trăm cân trúng ngực địch thủ...

Dưới đài, khán giả kêu lên đồng loạt :

- Chao ôi!...

Ai nấy đều chắc chắn Thế Ngọc bị ngọn cước tối độc ấy phải tan xương nát thịt.

Phương Đức và lão bộc Lý An run bật người lên, mồ hôi toát ra như tắm. Cha con Trần Ngọc Thơ và các nhân viên Quảng Đông hội quán mặt tái mét không còn hột máu. Tất cả cùng đang định chạy lại chỗ Thế Ngọc vừa bị trúng đòn toàn thân tung lên như trái cầu rớt xuống đất. Nhưng họ lo sợ bao nhiêu thì lại ngạc nhiên bấy nhiêu, vì tiểu anh hùng họ Phương không té sấp mặt úp mày như các đấu thủ khác mà họ vẫn thấy từ ngày mở Vô Địch đài.

Thế Ngọc, như con mèo, đáp hai chân xuống đất trước, kéo đai lưng cho các mảnh Hộ Tâm kính bị bể tan vì ngọn Âm Dương cước rớt xuống đất, rồi phi thân lên đài, lành mạnh như không.

Tại sao bị trúng ngọn cước tối hiểm nặng tới năm trăm cân mà tiểu anh hùng không bị tổn thương?

Số là khi đang ham đòn rượt theo địch thủ, Thế Ngọc lúc nhận ra mắc mưu trá tẩu thì tự hiểu tránh không kịp thế đá chớp nhoáng ấy. Chàng chỉ kịp nhảy lộn ngược ra phía sau, vừa lúc gót chân địch trúng Hộ Tâm kính bể tan, vì thế toàn thân Thế Ngọc đã có sẵn đà nhảy, lại thêm sức đạp của Lôi Lão Hổ hất mạnh lên cao như trái cầu văng xuống Đài.

Có ba sự kiện đã tránh cho vị tiểu khách Quảng Đông ấy thoát chết.

Thứ nhất: Thế Ngọc thấy kịp đối thủ sử dụng ngọn cước độc, nhảy lộn người ra phía sau. Nhờ cái nhảy ấy, sức thế cước mạnh năm trăm cân - nếu Thế Ngọc không tránh kịp, đứng nguyên chịu đòn - bị hụt bổng nên sút kém hẳn đi ba, bốn phần.

Thứ nhì: Được tập luyện từ bé, cơ thể Thế Ngọc chịu nổi sức đạp của Lôi Lão Hổ lúc đó mất trớn, nhẹ hẳn đi nhiều.

Thứ ba: Nhờ có bức Hộ Tâm kính che ngực nên cơ thể Thế Ngọc không hề bị hao tổn, tuy vậy Hộ Tâm kính cũng bể thành nhiều mảnh.

Phóng xong ngọn cước độc, Lôi Lão Hổ tuy sức đạp không được đầy chân nhưng thấy đối phương bị vọt ra khỏi đài thì mừng thầm, bước vội ra trước Lôi đài nhìn theo xem Thế Ngọc bị như thế nào. Nhưng y lại vội vàng chạy tạt sang phía bên tả thủ thế ngay, nét mặt kinh ngạc, nghĩ thầm: “Ủa! Tên thiếu nhi này mình đồng da sắt chăng? Nguy hiểm!”

Quả nhiên, Thế Ngọc phi thân, hai tay xòe sang hai bên, chân co chân duỗi như con đại bàng sà xuống giữa đài :

- Lôi Hồng! Ta thách đánh trúng nữa đó và báo trước cho ngươi liệu giữ mình.

Dứt lời, Thế Ngọc cử quyền “Độc Tý Phiên Long” nhảy chồm tới chẹn mạnh chân xuống bàn chân địch và đồng thời tống trái Thôi Sơn thật mạnh mẽ vào sườn Lão Hổ. Họ Lôi phải nhảy lạng ra xa tránh. Nhưng Thế Ngọc quyết báo thù ngón đá vừa rồi, rượt theo lẹ như cắt phòng cước tả theo thế “Bạch Mã Quá Đàn Khê” và đá bật vào bắp chân địch.

Ngọn cước bất ngờ quá lẹ, Lão Hổ tránh không kịp bị mũi Diệp Kiếm Hài trúng sượt qua bắp chân rách quần chảy máu. Đòn ấy nhẹ không đáng kể nhưng có hiệu quả làm cho Lôi Lão Hổ hết tự tin, bắt đầu thấy run sợ trước sự tấn công ồ ạt của đối phương. Thế Ngọc vừa đánh vừa dằn giọng :

- Lôi Hồng! Ngươi sẽ bị ta hạ bằng ngọn cước, nghe!...

Chàng dồn địch thủ vào gốc đài bằng ba ngọn “Thần Cung Xạ Hứa Điền” liên tiếp đấm ba cái cực kỳ mạnh, Lão Hổ vừa đỡ vừa thoái bộ. Sau trái đấm thứ ba, Thế Ngọc trá đòn, ngồi thụp hẳn xuống cơ chân tả, mắt nhìn vào ống chân đối thủ.

Lôi Lão Hổ tưởng đối phương đá lối “Tảo Địa cước” hay ít nhất cũng sẽ đạp vào ống xương chân mình, nên vội nhảy bổng lên khỏi sàn tránh đòn.

Chẳng dè, trong lúc họ Lôi đang chơi vơi, Thế Ngọc đã sử dụng thế “Song Phi Hồ Điệp” nhảy vút lên phóng liên tiếp hai ngọn cước thúc thẳng mũi giày vào sườn bên hữu của địch thủ. Thế đá tuyệt đẹp, dữ dội trúng mục tiêu, bật lên hai tiếng bịch bịch âm thầm. Lôi Lão Hổ tránh không kịp, sườn bên hữu bị mũi Diệp Kiếm hài đâm rách áo, toạc da thịt, xương gãy nát.

Lão Hổ kêu dội lên một tiếng kinh khủng ghê rợn, tiếng kêu đau đớn lìa đời của một võ sĩ trúng tử thương, táng mạng ngay trên Lôi đài. Trúng ngọn song phi tuyệt hảo công phu của nhà nghề ấy, Lôi Lão Hổ bật lộn ra giữa sàn, khối thịt nặng nề rớt xuống rung động, chuyển cả mặt võ đài, nằm im không nhúc nhích.

Cũng như hồi nãy, lúc Thế Ngọc bị Lôi Lão Hổ dùng “Âm Dương cước” đạp rớt xuống đất, lần này với Lôi Lão Hổ trúng đòn, khán giả hồi hộp đồng kêu lên một tiếng “Ồ” quên cả vỗ tay, ai nấy đều chăm chú xem Đài chủ có trỗi dậy nữa không.

Tới lúc Thế Ngọc tiến đến dùng chân hắt ngửa xác họ Lôi lên, khán giả mới biết Đài chủ đã táng mạng vì ngọn cước song phi tuyệt kỹ của Thanh Ba.

Thế Ngọc nhảy xuống đài. Các thanh niên võ sĩ hàng bang Quảng Đông xúm nhau lại kiệu vị tiểu khách anh hùng họ Phương lên vai, công kênh qua mấy dãy phố về đến Hội quán. Người đồng hương và dân Tô Châu, Hàng Châu theo đông như kiến cỏ tới Hội quán, choán chật cả khu đất rộng mặt tiền. Trần Ngọc Thơ hớn hở vái Phương Đức :

- Không ngờ lão huynh lại có một người con anh hùng võ dũng đến như vậy. Lệnh lang không những đã nêu cao tên tuổi mà toàn tỉnh Quảng Đông cũng hãnh diện lây.

Phương Đức nói mấy lời cảm tạ, thật ra vị lão giả ấy đang lo rầu thúi ruột, linh cảm cuộc thắng Vô Địch đài của Thế Ngọc sẽ có nhiều hậu quả rắc rối. Quay sang chỗ Phương Thế Ngọc, Trần Ngọc Thơ cầm tay tiểu khách mà rằng :

- Hiền điệt về phòng thay áo đi. Thân hữu hàng bang bữa nay đặt đại tiệc mừng chiến thắng tại đây. Hiền điệt làm rạng danh và gỡ sĩ diện được cho toàn người đồng hương ở xứ này. Sự chiến thắng công khai của hiền điệt đã nêu cho thiên hạ biết rằng xứ Quảng chúng ta cũng có những tay anh hùng độc đáo.

Trong lúc mọi người trong Hội quán nhốn nháo sửa soạn tiệc tùng ca ngợi cuộc chiến thắng Vô Địch đài của Phương tiểu anh hùng, Phương Đức viết một bức thư sai Lý An lặng lẽ cấp trở về Triều Dương huyện đưa cho vợ là Miêu Thúy Hoa. Phương ông còn dặn thêm :

- Người nhớ nhắc chủ mẫu phải thi hành ngay theo như ta dặn trong thư này. Không được trái lời chậm trễ. Lý An vâng dạ thu xếp ra bến thuê thuyền về Triều Dương ngay.

Sau bữa tiệc linh đình tại Hội quán, dân hàng Bang Quảng Đông và lẽ dĩ nhiên có cả dân Tô Hàng thi nhau hùn tiền đặt tiệc lớn tại các đại tửu lầu hữu danh thời ấy như Bá Vương lầu, Kim Long lầu, Triệu Gia lan đình, Tam Thiên đại điếm, luân phiên mời tiểu anh hùng, Phương ông, Trần Ngọc Thơ và một số đông đảo thân hào.

Nói tóm lại, sau trân thắng Vô Địch đài của Phương Thế Ngọc, trừ các phần tử quen thuộc hoặc đồng môn phái với họ Lôi, họ Lý, có thể gọi là bảy phần mười đại trấn Hàng Châu đã vui mừng khánh hỉ nhộn nhịp chẳng khác chi ngay Quốc Khánh.

Các trà lâu, tửu quán lớn, nhỏ lúc nào cũng đông nghẹt những người là người, ba hoa, nhậu nhẹt, bàn tán ầm ĩ.

Câu chuyện hướng hoàn toàn về võ thuật. Người nói phái này, phái khác, kẻ phô thế nọ, ngón kia. Thật là ghê gớm! Không gì dẽ bằng câu chuyện môn Võ Khẩu. Khi mời ngồi vào thồi tiệc, các môn đồ còn chưa được liệt vào cấp bực sơ đẳng, nhưng lúc cạn vài bốn hồ mỹ tửu thì ai nấy đều thành ra cao đồ với cấp bực siêu đẳng cả!

Các võ đường cũng vậy. Trước kia, khi Lôi Lão Hổ đả tử một số người trong hàng tỉnh, các võ đường từ võ sư tới môn đồ, chẳng ai bảo ai, mà đều thông cảm hạ bảng, im lìm rút lui có trật tự, mặc cho dân chúng tức khí thượng đài hứng lấy cái chết. Bây giờ trái lại, võ đường đua nhau mọc như nấm. Nào Chu gia, Hồng gia, Lê Hoa, nào Bắc phái chính tông, nào Nam Quyền chính. Ngoài ra còn một số võ đường đổi bảng hiệu lấy thẳng tên là Phương Thế Ngọc Võ Đường, Tiểu Khách Võ Đường, Thiết Phiến lão nhân Nhi Võ Sảnh, đủ các thứ tên thật kêu, nghe phát rùng mình sởn gáy!... Các võ sư ra đường, vị nào cũng khoanh tay, ưỡn ngực làm như mới tập luyện “Công Phu” đắc đạo từ Thiếu Lâm tự hạ sơn hay Nga Mi xuất thế vậy.

Thật là ghê gớm, hùng khí bốc tận mây xanh!

Chương 17: Quyết báo phu cừu, Nữ Bá Vương ép người thi võ Một dạ thương con, Miêu Thúy Hoa thử sức hơn thua

Nói về Lý Tiểu Hoàn, sáng hôm Lôi Lão Hổ trấn đài tiếp chiến Phương Thế Ngọc, nàng thấy nóng ruột lạ thường và linh cảm xảy ra chuyện bất tường.

Khi họ Lôi ra võ đài rồi, nàng liền theo gia nhân đi theo và dặn rằng :

- Nếu thấy sự gì lợi hay bất lợi cho giáo đầu, ngươi phải lập tức về báo cho ta hay nhé.

Gia nhân vâng dạ, đi khỏi.

Lý Tiểu Hoàn ngồi ở khách sảnh chờ tin mà lòng lo âu vô hạn. Thủ thắng hay thủ hòa, chính nàng từng nhiều phen thay cha, thế chồng giao quyền đấu sức cùng nhiều người, quả chưa lần nào nàng cảm thấy xốn xang, thắc mắc đứng ngồi không yên như chuyến này.

Chưa lần nào nàng cảm thấy xốn xang, thắc mắc đừng ngồi không yên như chuyến này.

Nếu địch thủ của nàng là một võ thuật gia danh tiếng lẫy lừng, nỗi lo ngại của nàng còn có căn nguyên đối sở dĩ giải đáp được.

Nhưng chỉ là một thiếu nhi vô danh tiểu tốt, tuy bản lãnh khá, thế mới bực chớ.

Lý Tiểu Hoàn tự rót nước uống, đoạn cầm cuốn Niên Lịch để ở mặt án mở xem cho qua thì giờ rồi vào trong phòng rút khăn lau mặt, sửa lại mái tóc, nàng quyết lên ra Lôi đài xem sao!

Tên gia nhân đi từ nãy giờ cũng mất hút. Có lẽ y mải xem đấu võ quá nên quên cả nhiệm vụ?...

Bỗng có tiếng chân chạy sầm sập ngoài sân trước nhà.

Nàng lắng nghe.

- Chủ mẫu ơi, chủ mẫu!

Đích tiếng tên gia nhân rồi. Nàng vội vàng bước ra khỏi tư phòng :

- Làm chi mà gọi nhộn lên vậy? Đi mãi không biết về, tình hình thế nào?

Gia nhân vừa thở vừa nói :

- Đông quá, con len mãi mới vào được tới gần đài, chưa kịp nhìn thì nghe tiếng giáo đầu thét lớn...

Lý Tiểu Hoàn giựt mình ngắt lời :

- Giáo đầu thét? Ngươi không nhìn thấy gì ư?

- Dạ có. Sau tiếng thét con mới ngó kỹ thì vừa kịp thấy giáo đầu tọa bộ đứng mạnh như trái núi, còn tên kia thì bị... văng xuống đài.

Lý Tiểu Hoàn dịu nét mặt, vuốt ngực, cặp môi gần tái nhợt nở nụ cười sung sướng, tin tưởng :

- Có thế chứ! Ngươi ngập ngừng khiến ta lo sợ gần chết!

Tên gia nhân hiền lành, ngẩn ngơ không hiểu.

Lý Tiểu Hoàn hỏi :

- Thế ngươi có biết tại sao tên tiểu tử đó bị văng xuống đài không? Sao không vào tới nơi coi cho rõ?

- Đông quá, con không tiến hơn được nữa. Con cũng không nhìn thấy giáo đầu đã đánh như thế nào mà tiên kia văng ra khỏi đài chẳng khác chi trái cầu, vì giữa lúc ấy người ở phía sau túm chặt áo con giựt mạnh đứt hết loạt nút dây nè, mà la rằng :

- Trời ơi, ngọn cước Đài chủ phóng hay quá! Thiếu niên có lẽ chết mất!

Lý Tiểu Hoàn tươi tỉnh :

- À! Thế ra giáo đầu đã dùng thế cước! Rồi sao nữa?

Tên gia nhân phát hoảng :

- Con có biết rồi xảy ra thế nào nữa đâu! Thấy tên tiểu tử bị văng khỏi đài nghe người ta la thế cước ghê gớm của Giáo đầu, là con lẻn trở ra về báo cho chủ hay ngay. Ra khỏi vòng người con mất cả nón và rách hết áo.

Lý Tiểu Hoàn phì cười, nhìn người hầu trung thành. Bấy giờ nàng mới chú ý nhận ra y phục tả tơi của tên gia nhân. Ngay cả bím tóc của y cũng gần tuột. Sung sướng nàng vào phòng lấy năm lượng bạc đưa cho gia nhân :

- Ta thưởng công cho ngươi. Ráng ra phố mua áo, nón khác nhé.

Tên gia nhân đỡ lấy năm lượng bạc trắng xóa cung xá bước giật lùi ra khỏi phòng khách. Tinh thần sảng khoái, Lý Tiểu Hoàn nắm chặt song quyền tả. Hữu, đưa ra trước mặt nhìn, nàng tọa hạc tấn, hạ toàn thân thiệt thấp lẹ như cắt, nhảy đảo người sang bên tả, đồng thời phóng cước hữu thật mạnh vào khoảng không. Chuyển mình một lần nữa, nàng phóng luôn cước tả. Lý Tiểu Hoàn vừa sử dụng thế Âm Dương Tả Hữu cước là đòn nghề của chồng nàng. Nàng chắc chắn vị giáo đầu lang quân yêu quí của nàng đã sử dụng thế tối độc đó đá tung tiểu tặc tử ra khỏi Lôi đài. Nghĩ đến bốn tiếng đòn nghề, tối độc, Nữ Bá Vương họ Lý bỗng giựt mình.

Nàng hiểu lắm, Lôi giáo đầu chỉ sử dụng thế cước Âm Dương mỗi khi gặp một đối thủ nguy hiểm. Thì ra Phương tiểu tử là một tên có bản lãnh đáng kể, nên giáo đầu phải dùng tới miếng nghề hạ thủ. Lực lượng thế cước độc ấy không dưới năm trăm cân. Nội phủ, ngoại tạng của thiếu nhi chắc bị nát hết. Sức đạp nặng nề khủng khiếp ấy đã hất bổng xác nhỏ bé của thiếu niên lên như trái cầu là vì thế.

Nàng còn nhớ, cách đây hai mươi năm tại Ba Sơn trấn. Nơi giáp giới hai vùng xứ Tứ Xuyên và Thiểm Tây, Lôi Lão Hổ đã chinh phục nổi trái tim của một thiếu nữ thanh xuân cũng vì ngọn Âm Dương cước danh chấn hải hồ ấy. Thiếu nữ đó chính là Nữ Bá Vương Lý Tiểu Hoàn, ái nữ độc nhất của Ba Sơm Lý Hùng, cao đồ của Bạch Mi đạo nhân bên Tây Khương.

Là một người giỏi về cước, Lý Tiểu Hoàn mến Lôi Lão Hổ cũng vì ngọn Âm Dương cước mà y đã dùng thật hay khi hạ Hắc Nhãn Hầu Sử Đắc Thông, khi tên này thách đố và khiêu khích nàng.

Nay chồng nàng lại sử dụng thế cước sở trường đá văng Phương Thế Ngọc xuống đài nên hồi tưởng lúc thiếu thời, mối duyên Lôi, Lý sở dĩ thành tựu cũng vì ngọn Âm Dương đã bắt nhịp cầu duyên nợ. Giờ đây, nàng yên tâm lắm. Chắc chắn chồng nàng đã sử dụng thế cước nghề ra. Địch thủ tránh sao khỏi tan xương nát thịt? Từ ngày khai đài đến nay chưa lần nào Lão Hổ phải dùng đến ngọn đá hữu danh đó.

Lý Tiểu Hoàn mỉm cười một mình, nhưng không khỏi thương thay cho tên tiểu tử họ Phương dám cả gan xúc phạm oai hùm!

Lôi đài là chốn tranh phong, thi thố tài nghệ, đấu thủ cần đem công phu luyện tập bình sanh ra giành phần thắng về mình. Kẻ nào tự lượng kém cỏi thì chẳng nên thượng đài, múa rối cho thiên hạ chê cười, và còn mua lấy cái chết cho chính mình.

Phương tiểu tử có thác cũng chẳng oan! Ai bảo y ngông cuồng phá Vô Địch đài? Sau đó, không biết điều đình xin lỗi, còn ngang nhiên chiến đấu?

Chồng nàng không có tội đả kích tử Phương thiếu nhi!

Một khi đã thượng đài, nam phụ lão ấu như nhau, chiếu theo luật lệ của võ đài đả tử bất khả ngôn.

Lý Tiểu Hoàng viện đủ các lý lẽ ra để bào chữa vụ chồng nàng dùng thế cước Âm Dương lợi hại hạ Phương Thế Ngọc.

Nàng nhận thấy mình suy luận đúng lẽ nên lương tâm không hề thắc mắc.

Ủa! Nhưng nãy giờ lâu lắm rồi, sao không thấy chàng về nhà? Hay là chàng bị lôi thôi vì đã đả tử thiếu nhi? Lẽ nào lại như vậy được? Nhất là Vô Địch đài có bàn tay cao cấp bí mật nhúng vào! Khi ra đi, chàng hứa đánh mau, đánh lẹ rồi về ngay, sao giờ này còn chưa trở lại? Nãy giờ ngót hai khắc canh rồi! Băn khoăn, nàng đang định sai gia nhân ra võ đài lần nữa xem sao, thì từ xa có tiếng ồn ào vọng tới. Thôi, đích thị chồng nàng đã đem bầy môn đồ cùng về rồi! Chuyến này chàng không tự ý trở về mà dẫn cả đoàn môn đồ cùng đi là cốt phô trương thanh thế cho thiên hạ biết sợ. Bọn dân Quảng Đông và Tô, Hàng biết sợ bao nhiêu thì chồng nàng càng rảnh tay chừng nấy.

Chàng mánh khóe thật!...

Tiếng xôn xao mỗi lúc một gần. Gần lắm, về tới nơi rồi. Nàng vội bước ra hành lang gọi gia nhân :

- Trần Tam ơi, giáo đầu đã về, mở cửa, mau!

Gia nhân trung thành họ Trần chạy ra mở rộng hai cảnh xử, nhìn thẳng ra con đường trước mặt rồi đứng ỳ ra đó.

Đứng trên hành lang, Lý Tiểu hoàn tươi tỉnh đón chồng cho xứng với khách anh hùng. Nhưng nàng không khỏi ngạc nhiên khi thấy Trần Tam đứng đờ ra như pho tượng chắn ngay giữa cửa ra vào. Nàng chưa kịp cất tiếng gọi y vào thì Trần Tam đã vẫy tay hoảng hốt :

- Chủ mẫu ơi! Sao lại thế kia! Lạ quá!...

Giựt mình, Lý Tiểu Hoàn là :

- Trời! Việc chi vậy? Ngươi điên hay sao, hả Trần Tam?

Vừa nói nàng vừa băng qua sân gạch ra tới cửa. Các cửa nhà độ ngót trăm thước nữa, bọn môn đồ đang xúm xít khiêng một người... Dân chúng hiếu kỳ kéo xem, la ó inh ỏi. Ồ!... Giáo đầu đâu?

Lúc đó, Tiểu Hoàn chợt nhìn thấy con ô truy mã không người cưỡi, chạy lẫn trong đám môn đồ. Nàng hiểu ngay rồi. Các môn đồ đang khiêng chồng nàng về. Chàng thắng trận mà! Sao lại phải khiêng? Dùng sức quá ngất đi chăng?... Tim nàng đập mạnh như muốn phá bể lồng ngực. Tuy không dám thốt ra lời, nhưng nàng đã cảm thấy sự gì bất hạnh vừa xảy ra chờ đời nàng. Chạy vội ra đám đông, Lý Tiểu hoàn chưa kịp hỏi thì tên môn đồ được Lão Hổ mến nhất là Thắng Cửu đã mếu máo :

- Sư mẫu ơi, giáo đầu tử thường rồi!... Thế Ngọc kích tử Lôi sư phụ rồi!... Hu!... Hu...!

Tái mặt, Lý Tiểu Hoàn trấn tĩnh nhìn kỹ. Quả nhiên, giáo đầu bị táng mạng rồi!

Nàng bế xốc thây ma lên tay chạy thẳng về nhà đặt năm dài trên trường kỷ. Bọn đồ đệ kéo cả về trong sân, đóng cổng gài then lại. Tiểu Hoàn nhìn mặt chồng. Thây ma mở mắt trừng trừng nửa như oán hờn địch thủ, nửa như van xin vợ hiền báo mối tử thù. Kìa! Cái miệng há hốc, nhăn nhó méo xệch như đau quá vì trúng đòn địch thủ nhưng chưa kịp kêu thì tử thần đã rước mất vong hồn!...

Nàng cố chịu đựng, hỏi Thắng Cửu đứng gần đó :

- Lúc trúng đòn giáo đầu có kêu không?

- Thưa có, giáo đầu hộc lên một tiếng lớn, toàn thân bật lên ra giữa đài.

Không chịu đựng được nữa, Lý Tiểu Hoàn bỗng thấy cả căn phòng quay cuồng, đảo lộn, xây xẩm mặt mày, té nhào ra mặt gạch bông, ngất lịm. Hai nữ tì và bọn môn đồ sợ hãi, vội khiêng chủ mẫu đặt lên chiếc trường kỷ khách kêu gọi ầm ĩ. Hai nữ tì lấy dầu xoa bóp, trong khi Thắng Cửu thạo hơn, lấy Hoàn Hồn đan hòa với nước cho sư mẫu uống. Sắc mặt trắng bệch như sáp, mắt nhắm nghiền Tiểu Hoàn toát một hôi, hai bàn tay giá lạnh.

Hồi lâu, thần dược ngấm. Tiểu Hoàn lần lần hồi tỉnh. Nàng vươn vai ngồi dậy lẳng lặng nhìn xác người chồng thân yêu. Đau đớn quá mức, nàng không khóc được nữa. Đến bên xác chồng, Tiểu Hoàn nhận xét kỹ thấy vết thương rách miếng quần, ngang vế bị rạch ngang một vết như dao chém nhẹ. Lấy dao ngắn, nàng rạch đai lưng và chiếc áo thấm đầy máu. Một bên sườn bị gãy rúm lại, vết thương y hệt do một nhát búa đập phải. Ngoài ra không còn vết nào khác. Nàng quỳ xuống, gục đầu lên xác thân yêu nức nở, nghẹn ngào. Nàng muốn kêu trời, thét đất cho hả lòng đau thương cực đồ, nhưng cổ nàng như bị bàn tay vô hình siết chặt, siết chặt đến nỗi không thoát nổi một lời ai oán. Hồi lâu, Tiểu Hoàn đứng vùng dậy, gạt lệ chan hòa, sắc diện trắng bệch lạnh như lưỡi thép.

Nhìn vào đám môn đồ đứng chật cả khách sảnh, Lý Tiểu Hoàn hỏi :

- Ai đã theo dõi trận đấu đến cuối?

Một số môn đồ giơ tay lên đồng loạt :

- Con!

Nhưng một người tiến lên thưa :

- Sư mẫu, con nhớ đủ chi tiết trận đấu.

Tiểu Hoàn nhìn y :

- Lâm Minh, hiền đồ khá nhớ lại, kể rõ ràng ta nghe.

Họ Lăm ngừng giây lát, đoạn tả lại trận đấu tỉ mỉ.

Tiểu Hoàn nghĩ thầm: “Chắc chắn Phương tiểu tử là con một danh gia võ thuật nào rồi, nhưng dù sao thế cước Âm Dương của giáo đầu nặng tới năm trăm cân, lẽ nào y chịu nổi, đủ mảnh Hộ Tâm kính rồi lại phi thân ngay lên đài đầu tiếp và dùng ám khí trong giày, kích tử đối thủ”.

Không tin, Tiểu Hoàn dặn hỏi Lâm Minh :

- Hiền điệt chắc chắn mục kích Giáo đầu phóng cước trúng ngực Phương Thế Ngọc và do bị ngọn cước ấy, y bật người lên văng xuống đài?

Lâm Minh cũng như đồng bọn môn đồ chỉ biết rằng Thế Ngọc bị Lôi Lão Hổ đả trúng ngực văng xuống đài, nhưng chưa tới mực cao, không nhận rõ chính Thế Ngọc đã tự nhảy lộn người ra phía sau tránh ngọn cước độc ấy nên sức mạnh của thế đá nguy hiểm ấy đã bị kém đi ba, bốn phần.

Lầm Minh quả quyết :

- Con chắc chắn Phương Thế Ngọc đã bị trúng thế “Âm Dương cước” nên mới lộn ra khỏi đài.

Tiểu Hoàn lắc đầu :

- Điểm này đáng ngờ lắm, không chắc chắn như vậy!

Không hiểu, Lâm minh nhìn các anh em đồng môn, nhưng không dám hỏi hoen vì biết tánh sư mẫu ghét nói nhiều.

Suy nghĩ giây lâu, Tiểu Hoàn chắc chắn Thế Ngọc đã có tránh và chỉ bị trúng nhẹ, nhờ công phu luyện tập và Hộ Tâm kính nên thoát chết. Bọn môn đồ chưa đủ tài nhận xét, không đáng trách.

Nàng hỏi tiếp Lâm Minh :

- Thế Ngọc đi ủng hay võ hài?

- Thưa, y vận võ hài.

- Đế mỏng hay dầy?

Suy nghĩ giây lát, Lâm Minh đáp :

- Đế dầy, mũi hài hẹp.

Tiểu Hoàn trợn mắt dằn giọng khiến Lâm Minh hết hồn, kỳ thật nàng nói một mình :

- Hừ! Tiểu tử dùng ám khí khâu ngầm nơi mũi đế võ hài hại người phạm luật thượng đài! Tặc tử! Ta sẽ hạ sát mi bằng thủ đoạn đó!...

Nàng nghiến răng kèn kẹt như thể đang nhai ngấu nghiến kẻ tử thù :

- Lâm hiền điệt, vết thương ở chân giáo đầu đã xảy ra như thế nào?

- Thế Ngọc phóng đầu bàn chân xẹt qua, có lẽ vì đứng xa nên hơi đuối. Quần của giáo đầu bị đứt ngay, trông rõ sáng lắm. Nhưng người vẫn tiếp tục chống đánh và bắt đầu thoái bộ. Lát sau con mới trông thấy máu loang thấm ướt quần.

Tiểu Hoàn nhăn mặt như chính nàng bị trúng đòn hỏi gặng :

- Còn thế cước trúng sườn?

- Thưa sư mẫu, mạnh lắm. Giáo đầu nhảy vọt lên thật cao tránh ngọn Tảo Địa cước, nhưng lúc còn đang chơi vơi thì Thế Ngọc đã phi thân vọt lên như long phi phượng bỗng khiến chúng con hoa mắt không nhìn rõ, và chỉ kịp nghe rõ rết hai tiếng bịch, bịch thật nặng nề, tiếp theo là tiếng giáo đầu hộc lên và tiếng rầm rung chuyển cả lôi đài. Định thần nhìn kỹ thì giáo đầu đã nằm giữa đài, hết cực quậy...

Tiểu Hoàn quắc mắt, hỏi lớn như quát :

- Lúc đó tên Phương tặc tử làm gì?

Lâm Minh sợ hãi bất giác lùi lại sau như kẻ bị dọa :

- Thưa, y ung dung bước tới dùng chân hất tử thi lật ngửa ra, rồi mỉm cười nhảy xuống đài...

Không chờ Lầm Minh nói hết, mắt hốc đỏ như gấc chín Tiểu Hoàn hét vang :

- Trời ơi! Chịu sao nổi!...

Đồng thời, nàng đạp tung chiếc ánh vàng vào góc nhà đánh rầm một tiếng gãy vụn. Lúc đó, Nữ Bá Vương là hiện thân của hung thần, sẵn sàng phá tan tất cả những gì án trước mặt nàng. Bọn môn đồ sợ hãi, lẻn cả ra cửa. Tiểu Hoàn mắng :

- Thấy sư phụ bị đả tử nhãn tiền mà các ngươi sẵn khí giới trong tay, đông người, không biết liều mạng bao vây băm vụn tên tiểu tử đó ra sao?

Dứt lời, nàng đứng đơ ra giữa nhà, ôm mặt, chép miệng, lắc đầu hối hận :

- Ờ!... Nhưng các ngươi thì làm chi được? Đánh sao lại y? Có bao vây cũng chẳng qua lại toi thêm ít mạng nữa! Tài lực như chồng ta còn không thoát nổi tay y nữa là!

Nàng ngồi vật xuống kỹ suy nghĩ như kẻ mất hồn... Sau đó Lý Tiểu Hoàn thu xếp ma chay cho chồng, sửa soạn phục thù.

Nói về Thị lang Hòa Thân và Thiết Diện Hổ lên thẳng thượng lâu và Triệu gia lầu ở Thanh Thiên lộ, tới căn phòng đệ nhị phía trong cùng hành lang.

Cửa phòng đóng chặt, Hòa Thân gõ hai tiếng nhẹ, một tiếng nặng. Bên trong, tiếng rút nhẹ, cửa phòng từ từ hé ra, Chu Nhật Thanh nép sang bên, nhường lối cho hai người bước vào rồi đống lại như cũ. Hai người mới tới, quỳ lạy vua Càn Lòng đang ngồi bên cửa cuốn trông ra hoa viên.

- Hai khanh khá bình thân và ngồi xuống đây.

Nhà vua vuốt râu cười khẩy :

- Chính trẫm cũng không ngờ Phương Thế Ngọc đả Vô Địch đài kích tử Lôi Lão Hổ. Một tên lực lưỡng hộ pháp, một tên vị thành nhân! Ngọn Âm Dương cước đã hay, nhưng thế “Song Phi Hồ Điệp” tiếp sau Tảo Địa cước ấy mới là Công phu khổ luyện! Hay tuyệt! Phương Thế Ngọc rất cứng danh độc đáo tiểu anh hùng!

Hòa Thân và Thiết Diện Hổ đưa mắt nhìn nhau, Càn Long cầm bồ Mai Quế tửu tự rót một ly đầy rồi đẩy bồ rượu ra phía hai bầy tôi :

- Hai khanh uống đi! Uống mừng Phương Thế Ngọc đả thắng Vô Địch đài!...

Uống một hơi cạn nửa ly hảo tửu, Càn Long đăm chiêu nhìn qua cửa sổ.

Hòa Thân nói :

- Tâu bệ hạ, Phương Thế Ngọc đã dùng võ hài gài ám khí mới hạ nổi Lôi Lão Hổ.

Càn Long mỉm cười nhìn tôi trung thần :

- Trẫm biết Thế Ngọc dùng Diệp Kiếm hài, mặc dầu, với đôi hài võ thường, trúng thế song phi ấy Lão Hổ vẫn gãy xương sườn, nát gan phổi ra như thường. Chỉ khác chỗ da thịt không bị chém đứt ra thôi. Theo ý trẫm, dùng Diệp Kiếm hài Thế Ngọc phải đá bằng mười đầu ngón chân. Nếu y đi võ hài bình thường thì phi cước bằng gót, hoặc mu bàn chân, sức đá sẽ do đó mạnh hơn gấp mấy lần. Nói tóm lại, đằng nào Lão Hổ cũng bị với y vì trúng ngọn đá ấy, Thiết Diện Hổ là cao đồ của Tây Khương tất hiểu như trẫm?

Thiết Diện Hổ thưa :

- Bệ hạ dạy chí phải. Hạ thần chỉ tiếc rằng thế Song Phi Hồ Điệp của Thế Ngọc đắt tiền quá!...

Càn Long gật đầu :

- Trẫm đồng ý. Năm vạn lượng bạc đánh giá một thế đá tuyệt kỹ nhà nghề.

Hòa Thân tâu :

- Thế Ngọc phạm luật thượng đài...

- “Không! Hoàn toàn không. Điều thứ nhất, trận đấy giữa Phương Lôi có tư cách riêng, vì Lão Hổ nhận đấu riêng từ chiều tối hôm trước, theo lời khanh, nên Đài chủ không nhận trọng theo lệ thường bắt võ sĩ thượng đài phải qua phòng ghi danh kiểm soát, tức là Đài chủ mặc nhận tư cách tự do của đối phương. Phải chăng Lão Hổ khinh đối thủ kém cân lượng hơn mình nên sơ suất?

Điều thứ nhì, tại sao khi mới bị rách bắp chân, chảy máu vì Kiếm hài Đài chủ không hoãn ngay trận đấu, công khai tố cáo sự vi phạm luật lệ thượng đài? Y có quyền hoãn trận đấy cơ mà?

Điều thứ ba, trẫm thấy Thế Ngọc không cố ý căn cứ và Diệp Kiếm hài hạ Lôi Lão Hổ. Y đấu rất tự nhiên, quyết dùng công phu căn bản thắng địch. Tới lúc song phi mới thật là say đòn hạ đối thủ bằng sức mạnh và mũi hài lợi hại.

Nói rằng Thế Ngọc phạm luật đấu là sai, là cố chấp. Nếu Thế Ngọc lo có bản lãnh, dù y có võ khí trong tay cũng không xâm phạm nổi kẻ địch, huống chi là kiếm hài liền với chân? Trúng kiếm hài tức là trúng thế cước của đối phương rồi còn chi? Hai khanh cứ việc phản đối công tâm nếu thấy trẫm lý luận sai lầm”.

Thiết Diện Hổ nói :

- Bệ hạ lập lý rất đúng và vững chãi. Thế Ngọc không vi phạm luật đấu.

Càn Long nhìn Thiết Diện Hổ :

- Suy đi tính lại năm vạn lượng không đắt. Thật ra đống than bây giờ mới bén lửa để sẽ cháy bùng. Việc khanh tìm gặp Lý Tiểu Hoàn thế nào?

- Hiện nạng lo tang ma cho Lão Hổ xong sẽ tìm Thế Ngọc báo phu thù.

- Nữ Bá Vương bản lãnh thế nào?

- Dữ dội hơn Lão Hổ tới hai độ.

- Nghĩa là đấu với nàng, Thế Ngọc sẽ bị nguy hiểm hơn?

- Tâu bệ hạ, có vậy.

Cân nhắc giây lát, Càn Long hỏi :

- Nữ Bá Vương có yêu sách gì không? Cần tài chánh không?

- Thưa không. Nàng chỉ nóng báo thù. Qua đệ nhất tuần, thất nàng sẽ đánh.

- Nhưng Lôi đài vẫn không có chủ chính thức.

- Thần đã nghĩ tới điều đó rồi, chờ xem kết quả vụ báo phu thù của nàng thế nào, hạ thần mới định đoạt được việc làm. Hiện thời, thần đã bày mưu bảo nàng yết thị ngay tại Vô Địch đài trận thử thách Phương Thế Ngọc. Như vậy vẫn kích thích được tánh hiếu kỳ của dân chúng và môn đệ các võ phái, để hộ đi tới mức tàn diệt lẫn nhau và chia rẽ.

- Sao khanh không điều đình cho Nữ Bá Vương trấn đài vĩnh viễn?

- Điều đó cũng phải chờ sau trân đấu báo thù.

- Trẫm bàn với khanh điều này: nếu Nữ Bá Vương không muốn thủ đài, khanh nên điều đình dụ Phương Thế Ngọc giữ chức đài chủ.

- Muôn tâu, dù Thế Ngọc không bị Nữ Bá Vương đả tử cũng không dụ nổi, y là con của đại thương gia, quyền định đoạt đều do song thân y. Tuy vậy, hạ thần sẽ tìm đủ cách phổ biến chương trình.

Càn Long gật đầu đẹp ý :

- Miễn sao hoàn thành công tác. Vấn đề thời gian cũng như tài chánh khanh đừng ngần ngại. Trẫm đã dành một ngàn khoản đặc biệt cho vụ này [1].

- Dạ. Thần xin cố sức.

- Trẫm sẽ dành cho khanh một chức vụ xứng đáng đền công.

Thiết Diện Hổ cảm động :

- Dù phải nhảy vào nước lửa, hạ thần cũng chẳng từ nan.

- Trẫm cũng tin ở tài phổ biến của hai khanh.

Hòa Thân và Thiết Diện Hổ biết câu chuyện đã chấm dứt, bèn lạy tạ cáo lui.

* * * * *

Nói về Phương Thế Ngọc sau mấy hôm tiệc tùng bận rộn, ngày nào cũng tập luyện điều hòa như ở nhà. Bang trưởng Trần Ngọc Thơ dành hẳn sân sau rộng rãi cho tiểu khách sử dụng và săn sóc rất đặc biệt về mọi phương diện.

Trần Ngọc Thơ hỏi :

- Hiền điệt xem xét cần dùng thứ gì để Hội quán mua thêm?

Thế Ngọc đáp :

- Tiểu điệt chỉ cần một bộ tâm kính thật tốt để thay thế chiếc bị bể bữa nọ. Thúc thúc chỉ cho tiểu điệt ngôi tiệm nào bán các vật dụng về võ nghệ để tới đó lựa chọn.

- Khỏi cần, ta sẽ cho người đi lấy về đây, tùy ý hiền điệt lựa thứ thật hảo hạng. Thế còn khôi giáp?

- Tiểu điệt quen dùng đồ nhẹ, vả lại đã qua thời kỳ dùng các thứ đó rồi. Oai phong thật, nhưng kém lẹ làng. Mấy bộ võ phục đem theo do gia mẫu may theo thể thức Thiếu Lâm tự thừa đủ.

Tập luyện từ canh năm đến sáng rõ, Thế Ngọc điểm tâm xong, ngày nào cũng cưỡi ngựa ra ngoại thành phi như bay về các vùng quê thoáng khí. Chàng lựa những nơi tao nhã thiên nhiên ngồi dưỡng thần, thảnh thơi giữa cảnh gió quyện ngàn cây. Thế Ngọc di dưỡng rất lâu như vậy tới lúc vừng Thái Dương lên cao mới rong ngựa bước một về thành tiếp khách. Khách đây là những võ sư hoặc những người tập luyện theo phương pháp Danh gia yêu cầu được gặp tiểu khách cùng nhau trao đổi ý kiến thuộc phạm vi Võ thuật.

Một hôm Hội quán nhận được chiến thơ của Tiểu Hoàn. Toàn trấn Hàng Châu đang hoan hỉ về trận Phương Thế Ngọc đả lôi đài bữa nọ, lại sôi nổi về tờ báo cáo của Nữ Bá Vương thách Thế Ngọc giao đấu.

Người bàn ra, kẻ tán vào, mỗi người một ý, dư luận xôn xao. Một số đông cho rằng chồng Nữ Bá Vương là Lôi Lão Hổ còn thất trận đến nỗi táng mạng dưới Phương Thế Ngọc, nữa là Nữ Bá Vương thì ăn thua gì! Vợ bao giờ chẳng kém chồng? Lẽ nào Lôi Lão Hổ lại lấy một người vợ bản lãnh hơn mình? Tước hiệu Nữ Bá Vương chẳng qua tự đặt cho oai vệ chớ nước gì! Như tước hiệu Lão Hổ của họ Lôi đó, há chẳng ghê gớm ư? Thế mà vẫn thất trận như thường. Nhiều người, biết được mặt Lý Tiểu Hoàn, suy đoán về hình thức. Họ Lý lớn con, khỏe mạnh, lanh lẹ hơn nhiều phụ nữ khác thật, thoạt nhìn biết ngay là người có tập luyện về võ nghệ, không hiểu dũng lực nàng thế nào mà có danh hiệu Nữ Bá Vương. Lão Hổ chẳng lực lưỡng hơn người là gì đó sao mà vẫn chết về tay Phương Thế Ngọc?

Trái lại, phe đảng theo họ Lôi mừng rỡ vô hạn. Họ mừng vì Nữ Bá Vương nhất định báo phục, đích thân đả Phương Thế Ngọc. Họ mừng vì biết tài sức của Nữ Bá Vương quả thật ghê gớm. Nhiều nguồn dư luận được phóng ra nhanh chóng khắp trong thị trấn. Nhân viên Hội quán do Trần Ngọc Thơ phái ra phố lượm tin lạ về báo cho mọi người Hay. Mỗi kẻ nói một khác, rối tựa bòng bong!

Phương ông lo rầu vô hạn. Trái lại Thế Ngọc vẫn bình thường, không chú ý nghe ai hết, Trần Ngọc Thơ thấy vậy bèn nói :

- Lão huynh lo phiền làm chi cho thêm hại sức khỏe? Các tin tức dư luận tôi lượm được gần đây không có gì đáng ngại. Nhiều người biết mặt, biết người Nữ Bá Vương, thấy nàng không có gì siêu phàm xuất chúng, sao lão huynh lo ngại quá đáng thế?

Phương ông đang rầu thúi ruột gan, nghe ông bạn thân suy đoán sai lầm như vậy cũng phải bật cười mà rằng :

- Lão đệ không biết võ thuật, suy luận theo nguồn dư luận của công chúng thì hỏng cả. Sai lạc hết!

Trần Ngọc Thơ phản đối :

- Vậy lão huynh không biết võ thuật sao dám tự tin buồn lo quá đáng?

Phương ông thở dài :

- Dạ tôi không biết mảy may chi là võ thuật cả, nhưng suốt mười lăm năm nay sống giữa bầu không khí võ thuật danh gia, nên tôi dám nói rằng hiểu biết hơn người. Nhạc phụ tôi bảy mươi tư tuổi, vóc người nhỏ bé, tuy có nở nang vì tập luyện, dũng lực ghê gớm, vài trăm tráng đinh vị tất đã đánh nổi người. Tiện nội cũng mặt hoa da phấn, nhỏ bé như ai mà còn ghê gớm hơn nữa. Nó đã sản xuất nổi tiểu tử Thế Ngọc, vậy lão đệ bây căn cứ vào Thế Ngọc mà suy luận dũng lực, tài lực của phái phụ nữ. Riêng tôi thấy tiện nội khỏe quá đến phát... ngán! Khuyên lão đệ chớ căn cứ vào bề ngoài luận đoán tài sức nữ nhi. Tôi lo rầu đích đáng lắm đó.

Trần Ngọc Thơ đờ người không biết nói gì hơn trước lý luận của lão hữu.

Tới ngày giờ Lý Tiểu Hoàn hẹn trong chiến thơ, Hội quán Quảng Đông sống trong bầu không khí cực kỳ nghiêm trọng. Các võ sĩ trong trấn y phục chỉnh tề, oai vệ, tề tựu tại Hội quán từ sớm để hộ vệ Phương Thế Ngọc cho thêm phần uy võ. Dân chúng đứng chờ như nêm cối chung quanh khu đất rộng trước Hội quán.

Họ đến thật sớm giành nhau chỗ tốt để được coi trận báo phu thù của Nữ Bá Vương cho thật rõ.

Đúng giờ hẹn, Lý Tiểu Hoàn vận võ phục trắng, đoản giáp bạc lóng lánh, tóc trần quấn vòng đại tang, chân đi Long Hổ Đinh Hoa ủng, cưỡi bạch mã, dẫn ba mươi tên môn đồ vận võ phục đen, khăn tang trắng nhập địa phận Hội quán. Tên môn đồ hầu ngựa trao thanh Tú Loan đao cho chủ mẫu.

Nữ Bá Vương hùng dũng thật. Muôn vạn cặp mắt nhìn nàng không được chớp. Tuy đã đứng tuổi, nét mặt còn trẻ, Nữ Bá Vương oai vệ duyên dáng khiến mọi người phải mến nể. Nàng giơ tay ra hiệu cho bọn môn đồ đứng lại, thúc ngựa đến trước cửa Hội quán hô đích danh Phương Thế Ngọc.

Cửa Hội quán mở sẵn theo lệnh của Thế Ngọc. Các võ sĩ người Quảng Đông cầm giáo sáng ngời nghiêm chỉnh đứng dàn cả hai bên. Một người vác giáo vào báo với tiểu anh hùng.

Lý Tiểu Hoàn lùi ngựa về mặt trận, đưa mắt nhìn quanh quan sát. Nàng nhận ra những nét mặt môn đồ quan thuộc mà chính nàng đã cho trà trộn vào dân chúng đi coi, phòng bị nghịch phái ám hại.

Tiễng vó ngựa lộp cộp từ trong Hội quán phi thẳng ra khỏi cửa. Phương Thế Ngọc cưỡi tuấn mã trắng tinh, uy dũng trong bộ võ phục màu chàm theo kiểu người Miêu Nhập Lý Động (quê ngoại) do chính mẫu thân may cho, tấm Hộ Tâm kính đeo ngay trước ngực ngoài áo, dây chằng màu đỏ chéo chữ thập qua hai vai thắt mối ra trước bụng. Chân hông quấn xà cạp nhưng buộc chéo dây lụa đỏ kiểu Sơn Đông Mã, đi võ ủng Thiếu Lâm, tay cầm thiết côn.

Thoạt nhìn Thế Ngọc, Lý Tiểu Hoàn biết ngay thuộc dòng danh gia võ nghệ. Tuy vẻ anh hùng xuất chúng, nhưng Thế Ngọc vẫn chưa thoát thời kỳ vị thành niên, dù y dùng Diệp Kiếm hài, lẽ nào phu tướng lại bị dễ dàng táng mạng như vậy được? Có lẽ y được tẩm luyện, mình đồng da sắt nên ngọn Âm Dương cước năm trăm cân không cũng không hại nổi y chăng?

Nghĩ tới đây, nàng liên tưởng tới Lôi Đại Bàng, con nàng, hiện ở Võ Đang sơn. So sánh hai thiếu nhi, Đại Bàng lớn hơn hai, ba tuổi, vóc dáng cũng lớn hơn nhiều theo hình vóc của Giáo đầu... Hai tiếng Giáo đầu có mãnh lực khiến Lý Tiểu Hoàn nổi giận bừng bừng. Mặt nàng bỗng đỏ gay như bị vong hồn Lão Hổ trấn áp đòi lấy máu kẻ thù đang đứng trước mặt chờ chiến. Toàn khu im lặng, ai nấy đều hồi hộp theo dõi từng cử chỉ mộ trong hai đối thủ đang chăm chú nhìn nhau như cố đoán tài lực đối phương. Lý Tiểu Hoàn thúc ngựa lên, chỉ Tú Loan đao, mày liễu xếch ngược hỏi lớn :

- Phải ngươi đích danh Phương Thế Ngọc chăng?

- Chính ta đây! Ta với ngươi thù hiềm chi mà ngang nhiên hạ chiến thơ gây hấn?

Lý Tiểu Hoàn quắc mắt nạt :

- Tiểu súc sanh bẻm mép! Ngươi hạ sát Lôi giáo đầu, trượng phu ta, nay còn kêu không thù hận? Ta bằm xác ngươi ra cũng chưa hả giận. Coi đao đây!

Tức thì Lý Tiểu Hoàn thúc ngựa, hơ Tú Loan đao chém chéo vào chi địch thủ thật mạnh. Thế Ngọc gạt đao sang bên, khen thầm sức Nữ Bá Vương, quát :

- Khoan! Nói cho hết lời, động thủ sau không trễ!

Lý Tiểu Hoàn thu đao :

- Cho súc sanh nói nốt những lời cuối cùng của đời mi! Mau!

Thế Ngọc cầm ngang thiết côn :

- Lôi Lão Hổ lập võ đài thách anh hùng thiên hạ tỉ thí bằng những lời lẽ bội phần khinh bạc, điều lệ báo cáo rõ ràng, hễ ai táng mạng không được bồi thường. Nay y bị đả tử cớ sao ngươi đòi báo hận? Từ ngày khai Lôi đài đến nay, gia đình những đấu thủ bị Lão Hổ hạ sát có ai đòi thường mạng hay báo phục không? Nay ta giảng giải cho ngươi nghe đúng phép tiên lễ hậu binh, chớ giở thói hung hăng mất công. Khi thị anh hùng thiên hạ như Lão Hổ, chung kết cũng mất mạng như chơi. Bao nhiêu mạng dân ba xứ Tô, Hàng, Quảng đổi lấy một mạng Lão Hổ, ngươi chưa cho là đủ sao? Đáng lẽ phải tồn tâm thủ nghĩ, dẹp Vô Địch đài thờ chồng nuôi con mới trúng đạo làm người, lý đâu bỏ chốn khuê trung định kéo dài tình trạng huynh đệ tương tàn là thế nào? Tiếng rằng tứ xé anh hùng, võ phái khác nhau nhưng chung quy cũng do một chữ Võ mà ra, vợ chồng ngươi định tranh chấp đẳng hạng chăng?

Oan gia nghi giải bất nghi kết, chúng ta hãy dẹp lòng tự ái, chấm dứt tình trạng căng thẳng trên Lôi đài đi.

Lý Tiểu Hoàn cười lạt, chỉ mặt Thế Ngọc mắng :

- Súc sanh khéo múa lưỡi trí trá! Nếu ngươi thượng đài đàng hoàng như ai tranh đấu, giỏi được kém thua, hoàn toàn căn cứ vào nghệ thuật Công phu hạ nhau, sự được thua chân chính, dù trượng phu ta có thác cũng không sao. Trái lại, ngươi gian trá dùng Diệp Kiếm hài mới hạ nổi Giáo đầu. Vậy ngươi gọi đó là tranh tài thử sức ư? Đố hoặc ta sao nổi?

Thế Ngọc vặn lại :

- Lão Hổ dùng Ban Tiềm ủng nhồi sắt phụ sức cho thế nghề Âm Dương. Từ trước đến nay há y không phạm luật thượng đài? Trận đấu giữa ta và y có tư cách riêng không theo lệ Vô Địch đài. Bằng cớ là khi ta thượng đài, Đài chủ không yêu cầu kiểm soát xem ta có mang võ khí hay giắt ngầm ám khí. Cũng như ta không đòi hỏi sự kiểm soát đối với riêng y. Nếu chập tối, hôm trước, y đến gây hấn ngay trước cửa Hội quán, ta cùng y đáu quyền cước liệu y cóa thoát chết hay không, và ngươi có thể đưa cấm luật ra đây tạo sự gây chuyện oán thù không? Ta tự vệ, quyền cước vô tình, chẳng may Lão Hổ bị nhiều oan hồn ám ảnh nên tận số. Điều đó ngoài ý muốn của ta. Nhưng đối với ngươi, trái lại vô thù oán, hơn nữa không phải Đài chủ, ngươi lấy tư cách gì hạ chiến thơ đòi ta cùng chiến đấu?

Lý Tiểu Hoàn quát :

- Chớ khá nhiều lời mong kéo dài phút sống! Hãy đem hết tài nghệ ra tự vệ.

Nữ Bá Vương thúc ngựa tràn tới chém ngang một đao lợi hại. Thế Ngọc đưa đốc côn gạt, nhưng lưỡi đao đã sả luôn một nhát nữa lên cổ. Gạt đòn thứ hai, Phương Thế Ngọc nhảy ngựa ra khỏi vòng chiến :

- Khoan động thủ! Nơi đây công chúng qua lại không tiện tranh đấu. Nếu ngươi quyết đánh hãy nhận tư cách Đài chủ và chờ ta sáng mai tại võ đài.

Lý Tiểu Hoàn mặt đỏ bừng bừng, thâu đao :

- Được lắm, cho ngươi sống thêm một đêm nữa. Muốn chết về quyền cước ngươi sẽ được như ý. Cho ngươi giắt ám khí. Sáng mai giờ Thìn!

Dứt lời nàng hầm hầm tức giận quay ngựa, hô các môn đồ đi luôn.

Thế Ngọc cũng trở vào Hội quán. Dân chúng tản ra về bàn tán xôn xao như vỡ chợ.

Thế Ngọc về thẳng tư phòng thay áo. Phương Đức lắc đầu lo ngại, nói với Trần Ngọc Thơ và các thân hữu đồng bang :

- Trông kiểu cách Lý Tiểu Hoàn y hệt tiện nội. Công phu võ nghệ của người ấy tất chẳng vừa! Mấy đường đao ghê gớm quá! Hôm nọ thấy Lôi Lão Hổ tôi đã sợ nhưng không đến nỗi lo thái quá như hôm nay. Tôi có cảm tưởng Nữ Bá Vương võ nghệ cao cường hơn chồng nàng nhiều. Rất đáng ngại.

Mọi người nghe Phương ông than phiền cũng không biết nói sao. Cơ sự đã xảy ra như vậy, lẽ nào thoái bộ được? Thế Ngọc thấy thân phụ quá lo rầu bèn an ủi :

- Phụ thân nghĩ ngợi làm chi cho thêm mệt thần trí. Con sẽ hết sức tiểu tâm thắng được nàng càng hay, bằng không sẽ nhảy đài thoát chiến là cùng, không lẽ nàng đuổi theo?

Phương ông nhìn con :

- Tam lang, phải nghe lời ta dạy bảo mới được.

- Dạ, con rán theo.

- Như con đã nói khi nãy, oan gia nghi giải bất nghi kết, nếu lợi thế, đánh cho nàng thua, nhưng con hứa với ta không được hạ sát kết thêm oán thù vô ích. Tha cho nàng tức là giải được mối thù, danh chính ngôn thuận, có nói với ai cũng không ngượng lời, bằng mà trái lại kém tài thiếu sức, con phải tức khắc thua chạy ngay. Con còn ít tuổi, thua không ai chê cười, Lý Tiểu Hoàn tự ái trước công chúng sẽ hả hê, vinh dự vì thắng cuộc, mối thù chồng sẽ do trận thắng ấy mà dịu được phần nào. Trượng phu ở đời phải biết tùy thời hành động, khư khư chấp nhất thêm mang hại vào thân và còn bị chê cười ngu tối. Con có ghi lòng điều ta dạy bảo không?

- Dạ con hứa nhất nhất tuân lời, mong phụ thân an tâm.

* * * * *

Nói về Miêu Thúy Hoa ở Triều Dương đang ngồi ở quầy kiểm soát các chỗ hàng hóa do phu gánh từ ngoài bến vào tiệm Vạn Xương thì chợt thấy lão bộc Lý An đeo hành lý đi tới.

Nàng giựt mình đón hỏi :

- Chủ nhân và Tam lang đâu? Về sớm thế?

Lý An nói :

- Chủ nhân và Tam lang còn ở cả bên Hàng Châu, sai tôi về gấp trình chủ mẫu bức thơ này.

Lý An lấy bức thơ dắt ở ngực áo ra, cung kính đưa cho chủ mẫu. Thúy Hoa hồi hộp bóc phong bì đọc ngấu nghiến. Thơ vắn tắt có mấy hàng đủ biết Phương ông viết vội:

“Hiền thê nhã giám, Tiếp thơ này, hiền thê khá thu xếp việc nhà, mướn thuyền riêng qua Hàng Châu ngay để giải quyết việc Tam lang vừa đả tử Lôi Lão Hổ tại võ đài.

Ta e việc này có hậu quả lớn lao phương hại cho Tam lang. Một giờ dài bằng một năm, hiền thê chớ để ta mong chờ.

Phương Đức thân mến”.

Đọc thơ xong, Miêu Thúy Hoa sai người ta bến sông gọi Hiếu Ngọc, Mỹ Ngọc về. Nàng hỏi Lý An việc Lôi đài bên Hàng Châu thế nào.

Lý An thuật lại rõ ràng vụ Vô Địch đài.

Nghe chuyện, Miêu thị nghĩ thầm: “Tên Lôi Lão Hổ hành động như chọc vào mắt thiên hạ, ai mà chịu nổi. Nếu ở vào địa vị Thế Ngọc thì ta cũng đánh. Nhưng sao có vụ dựng Lôi đài kỳ lạ như vậy? Tất có ẩn tình gì bên trong đây, Thúy Hoa đang suy nghĩ thì anh em Hiếu Ngọc, Mỹ Ngọc từ bến sông trở về”.

Hiếu Ngọc hỏi :

- Kế mẫu có điều chi gọi vậy? Còn độ hai chuyến thồ nữa thì hết hàng.

Thúy Hoa bèn đưa thư của Phương ông cho hai người coi.

Đọc xong, Hiếu Ngọc nói :

- Kế mẫu để mặc tiệm chúng con trông nom và cấp sang Hàng Châu ngay. Nhưng vụ đả Lôi đài thế này sao tránh khỏi hậu quả rắc rối, báo thù dai dẳng! Nghĩ đã tức thật, tam đệ đánh chí phải. Kế mẫu biết Lôi Lão Hổ thuộc môn phái nào không?

Thúy Hoa gật đầu :

- Y là đồ đệ Phùng Đạo Đức thuộc phái Võ Đang, nhưng học dở dang không đáng kể. Lý Tiểu Hoàn vợ y mới thật là ghê gớm, con gái Lý Bá Sơn đệ nhất môn đồ Bạch Mi đạo nhân bên Tây Khương.

- Kế mẫu sửa soạn lên đường ngay kẻo Lý Tiểu Hoàn báo cừu phu e tam đệ địch không nổi chăng.

- Sức lực hay tài nghệ của Tiểu Hoàn ta không lo, duy Thế Ngọc kém phần kinh nghiệm, lão luyện.

- Kế mẫu có cần cho Mỹ Ngọc cùng đi không?

Thúy Hoa lắc đầu :

- Ta tính kỹ rồi. Các con nên ở nhà kẻo phụ thân không an tâm, hàng họ lại mới đến. Các con mướn giúp ta một chiếc thuyền buồm khả dĩ có thể đến Hàng Châu trong thời gian mau lẹ nhất.

Mỹ Ngọc vội ra bến sông mướn thuyền.

Thúy Hoa vào hậu đường thu xếp hành lý, lấy mấy thứ thuốc thiết đả gia truyền đem theo. Nàng gọi Lý An sửa soạn lên đường ngay. Lát sau Mỹ Ngọc về báo thuyền đã sẵn sàng. Thúy Hoa đeo khăn Lê Hoa thương, từ biệt mọi người trong tiệm cùng Lý An ra bến. Mỹ Ngọc dặn Lý An :

- Nhớ thuyền buồm An Hưng đậu ở bến đệ nhị nhé.

Ra tới bến, thầy trò Miêu Thúy Hoa xuống thuyền bỏ hành lý vào khoang, đoạn leo lên mui ngồi xem cảnh thuyền ra bến.

Thúy Hoa mải miết nhìn cảnh trên bến dưới thuyền tập nập, chợt thấy từ xa một phụ nữ vận hồng y xăm xăm đi tới bến đò vẫy chiếc thuyền đang kéo neo.

- Bớ lái đò, chờ tôi đi với!Chú lái nghe tiếng người gọi vội đứng thẳng người lên nhìn nữ khách :

- Thuyền này đi Hàng Châu và đã có ngươi mướn riêng rồi. Xin người vui lòng đi đò khác.

Hồng y nữ khách dáng điệu hiên ngang lanh lẹ, lưng đeo bọc hành lý đồng màu với áo. Nét mặt thanh tú trái xoan, cặp mắt xếch ngược sáng như sao, thoạt nhìn ai cũng biết là đứng tuổi nhưng không thể đoán được là ngoại tam tuần, tứ tuần hay hơn nữa. Nước da trắng mượt như ngà.

Nữ khách đi tới bờ bảo chú lái :

- Tôi cũng qua Hàng Châu, vui lòng cho quá giang kẻo trễ thì giờ.

Từ nãy, Miêu Thúy Hoa vẫn đăm đăm nhìn Hồng y nữ khách, nghe thấy vậy bèn lên tiếng bảo chú lái :

- Thêm khách quá giang không sao, hãy bắc tấm ván cho người xuống thuyền.

Đò trưởng gọi người phụ đẩy thuyền lui vào bờ để bắc cầu. Nữ khách nói :

- Khỏi cần, tôi khắc xuống.

Bọn lái đò còn đang ngơ ngác không hiểu nữ khách xuống thuyền bằng cách nào, vì lúc đó thuyền đã bị sóng nước vỗ xa khỏi bờ đến hơn một trượng, thì người đó đã lẹ làng nhảy vút từ trên bờ xuống mũi thuyền. Tà áo bay phấp phới y hệt hai cánh hồng điểu. Thuyền không hề bị chòng chành, êm ru.

Cùng lúc ấy, Miêu Thúy Hoa mới nhận ra Hồng y nữ khách là ai, bèn nhảy từ mui xuống quỳ lạy :

- Đại sư giáng lâm, đệ tử không nhận ra được ngay, mong người thứ lỗi.

Nữ khách vội đỡ Thúy Hoa dậy :

- A!... Thúy Hoa đấy ư? Đẫy đà khác xưa nhiều cơ hồ ta không nhận ra được nữa. Mười mấy năm không gặp nhau rồi!...

- Dạ, mười lăm năm, thời gian lẹ tựa tên bay. Đại sư vẫn trẻ như xưa, một nét cũng không thay đổi.

Hồng y nữ khách hỏi :

- Con đi đâu một mình thế này? Miêu lão đệ đâu?

Nghe nhắc đến cha già thân mến, Thúy Hoa rớm lệ :

- Gia phụ mất hồi đầu năm nay rồi. Lúc sanh thời thường nhắc tới Hồng y Lã đại sư. Phần đệ tử cũng khát vọng nay mới được tái kiến tôn nhan. Chuyện dài lắm, mời Đại sư vào trong khoang, đệ tử sẽ trình bày tự sự.

Nữ khách không phải ai xa lạ mà chính là Lã Tứ Nương, sư phụ của Thôi Sơn Thái Bảo Cam Tử Long và Trại Nhiếp Ẩn Lã Mai Nương.

Cũng vì Lã Tứ Nương hay vận áo đỏ, nên trước kia thời Ung Chính vương, giang hồ hành hiệp nổi danh với tước hiệu Hồng Y đại hiệp.

Hai người vào trong khoang thuyền, Lý An pha trà dâng lên. Miêu Thúy Hoa đem chuyện gia đình nàng kể cho Lã đại sư nghe.

Nàng nói tiếp :

- Những năm về sau này có lẽ Đại sư ít xuống miền Nam?

Lã Tứ Nương gật đầu :

- Phải, ta bận luyện cho hảo đồ Cam Tử Long tức con trai Cam Trường Mâu khi xưa đó, và điệt nữ Lã Mai Nương nên phải thay phiên với Chiêu Dương thiền sư, không đi xa được. Thường chỉ qua lại vùng Sơn Đông, Trực Lệ, Hà Bắc thôi.

Hai năm nay, Tử Long và Mai Nương thành tài hạ san, ta rảnh tay xuống cõi Lĩnh Nam lên La Phủ Sơn thăm Hoàng Ẩn thiền sư, nhân tiện hái mấy thứ y diệp cần dùng. Hoàng Ẩn hay rằng hình như vua Cao tôn (tức Càn Long) cải trang du hành Giang Nam. Theo ý ta nhà Vua du hành tất có mục đích phiếm du. À, nhưng con đi Hàng Châu có việc chi?

Thúy Hoa kể chuyện nàng tập luyện cho Thế Ngọc như thế nào và vụ đả Lôi đài bên Hàng Châu cho đại sư nghe.

Lã Tứ Nương nói :

- Lôi Lão Hổ là tế tử của Lý Ba Sơn không phải là người hiểu biết hay cố chấp khó giảng hò nói chuyện lắm.

Nếu y đã biết điều, đã không để Lôi Hổ lập võ đài khoe khoang huyênh hoang như thế. Con liệu bắt Thế Ngọc về nhà cho rồi, đừng để vụ Lôi đài này đi tới một hậu quả đáng tiếc. Chịu nhịn một chút hay hơn.

- Đệ tử cũng muốn vậy, song e họ Lôi lộng hành quá đáng, vì danh dự mà không thể rút lui được chăng? Hiện thời vợ Lôi Hổ là Lý Tiểu Hoàng ở cả Hàng Châu, con e nó gây chuyện thù hằn ngay.

Lã Tứ Nương :

- Sở dĩ ta khuyên con như vậy là còn một lý do khác nữa.

Triều đình Mãn Thanh vẫn sợ dân Hán quật khởi khôi phục triều Minh. Các nhà cách mạng, chí sĩ phần nhiều khỏi xuất do các Võ phái hay được các môn đồ Võ phái trợ lực. Bởi vậy từ cuối đời Khang Hi, Vua, quan người Mãn đã bắt đầu chú ý đến các võ phái.

Khang Hi mất, Ung Chính vương sửa soạn một chương trình hành động, nhưng chưa kịp thi hành thì bị... hạ sát bởi một nhóm võ hiệp chí sĩ. Nay Càn Long có lẽ nối chí Phụ hoàng, ta ngờ cuộc Nam du này của nhà Vua có dụng ý gì đó. Tiếc rằng Càn Long là vị anh quân biết dùng người Hán cũng như người Mãn, chỉnh đốn triều chính hỗn hợp hai giống người, nếu không thì y cũng theo Hoàng phụ từ lâu rồi.

Tuy vậy, về phương diện chính trị, Càn Long vẫn lo môn đồ Võ phái đem tài sức ra làm hậu thuẫn cho các nhân sĩ cách mạng, cho nên những sự gì cần tu bổ vẫn tu bổ, cũng như việc gì cần phá hoại để củng cố triều đình nhà Thanh. Điều cần nhất là các Võ phái phải hiểu, đừng mắc mưu sâu độc của Thanh triều, chia rẽ xâu xé lẫn nhau, đục nước béo cò. Như việc hiện tại ở Hàng Châu, vụ Vô Địch đài có thể gây ra nhiều hậu quả lớn lao nếu các môn đồ Võ phái không biết nhường nhịn lẫn nhau. Tiếc thay ta phải lên Bắc có việc cấp bách, nếu không sẽ nán lại Hàng Châu theo dõi vụ đả Lôi đài.

Chuyến này tới Hàng Châu, ta khuyên con thu xếp cho Phương Thế Ngọc về Tiêu Dương ngay. Về tinh thần cũng như vật chất, liệu điều đình với Lý Tiểu Hoàn thường mạng cho Lôi Lão Hổ bằng một số tiền cân đối. Chớ để việc bé xé ra to phiền lắm đó. Ý tưởng của ta như thế, con liệu hành dộng theo trường hợp tùy tiện. Vất bỏ ngoài tai tất cả những biểu khiêu khích như Quyền Đả Quảng Đông, Cước Kích Tô, Hàng... gì gì đó. Cần chi bề ngoài?

Nghe Lã đại sư thuyết một hồi, Miêu Thúy Hoa đáp :

- Đại sư dạy chí phải, đệ tử cố giữ bổn phận cá nhân, điều đình bồi thường. Như vậy cũng quá lắm rồi, ví trước kia Đài chủ có bồi thường cho những đấu thủ thượng đài bị y đả tử đâu.

Lã Tứ Nương gật đầu :

- Chịu thiệt một chút, giữ toàn vẹn được mối giao hảo giữa các Võ phái, mới đáng quý. Như bây giờ, mới nghe qua câu chuyện đả Lôi đài nho nhỏ như vầy ở Hàng Châu, ta đã thấy ba môn phái danh tiếng đứng vào hạng đối lập nhau rồi: Nam Thiếu Lâm, Võ Đang sơn, Tây Khương Triều Vân. Nếu Bắc Thiếu Lâm xô vào hàng ngũ Nam Thiếu Lâm, Không Động sẽ ngả theo Tây Khương. Vì có sự hiện diện của ta tại Bạch Vân tự Sơn Đông (Bắc Thiếu Lâm), Nga Mi sẽ binh vực Sơn Đông.

Ở Thanh Hải, Côn Luân vì tình mật thiết giao hải giữa các sư tổ thời Minh Thành Tổ, sẽ nhào vào đứng bên phe Nga Mi. La Phù Sơn và Bạch Hạc thì ta chưa dám nói chắc thế nào vì Hoàng Ẩn và Ngũ Mai thiền sư giao hảo mật thiết với cả đôi bên, liệu có đứng trung lập ngăn cản hai phe hay cũng tùy theo trường hợp nhập chiến? Thế là cảnh nồi da xáo thịt chém giết nhau hỗn loạn để triều Thanh đóng vai ngư ông đứng giữa thủ lợi? Lưỡng hổ tương tranh, nhất hổ hạ tử, nhất hổ bán tử, Thanh triều lúc đó mới lên tiếng vì lý do trật tự, an ninh càn quét, nhất cử lưỡng đắc. Liệu mấy danh đồ của các phái, nếu còn sống sót, có đủ sức chống nổi cơn gió lốc ấy không? Hối bất đắc cập! Đáng lo lắm! Thù nhà, nợ nước, đời ta vong gia bôn tẩu từ nhỏ, tuy trả được thù nhà nhưng nợ nước chưa xong, nghĩ tới cảnh huynh đệ tương tàn mà sanh buồn.

Nói tới đây, Lã Tứ Nương mơ màng nhìn qua khuôn cửa sổ thuyền, tầm mắt vương theo mặt nước mênh mông, sóng réo bên mái chèo khoan nhặt vọng lên như giọng hát u hoài của những linh hồn vong quốc!... Đại sư khẽ gật đầu, lẩm nhẩm nói một mình quên cả Miêu Thúy Hoa đang ngồi kế bên :

- Phải chi lúc này ta đang buổi thiếu thời!... Được lắm, ta sẽ tìm gặp Mai Nương, Tử Long, phái chúng vì ta xuống Nam một phen! Có thể trông cậy tin tưởng được ở tài lực của chúng. Bản lãnh bình sanh của ta chúng đã thâu nhận được hết, lẽ nào hoài bão tâm tư của ta chúng chẳng vương nổi hay sao? Tre già măng mọc, lo chi...

Màn đêm lần lần buông phủ cảnh vật, thuyền buồm thuận gió ngược nẻo Châu Hàng...

Mấy hôm sau, thuyền cập bến. Lã đại sư vội vã chia tay. Miêu Thúy Hoa vốn biết tánh đại sư rất cương quyết không dám ngỏ lời lưu lại, đành quỳ lạy từ biệt, tâm can lửa đốt, không hiểu lúc này đã xảy ra chuyện gì bất tường cho Thế Ngọc thân yêu chưa.

Lý An quẩy hành trang, nàng vác ngân thương thuê kiệu vào thành, thẳng đường đến Quảng Đông hội quán.

* * * * *

Nói về Nữ Bá Vương Lý Tiểu Hoàn sáng hôm sau sửa soạn thượng đài.

So với trận Lôi Lão Hổ, Phương Thế Ngọc, lần này người đi xem còn đông hơn gấp bội. Họ nô nức đi không những để xem một trận đấu hứa hẹn hào hứng về phương diện võ nghệ của hai danh thủ tài ba mà một bên là nữ trung hào kiệt danh trấn Ba Sơn, một bên là Tiểu khách anh hùng đã từng hạ Vô Địch đài chủ. Nhưng hơn nữa còn xem trận báo phu thù rùng rợn một mất một còn.

Người đông như nêm cối, quan quân phải tăng cường mới giữ nổi trật tự. Cảnh sắc võ đài hôm ấy cũng đượm màu tang tóc mà chẳng kém vẻ uy nghi. Dưới tấm hoành Vô Địch đài, căng thêm tấm vải trắng đề năm chữ đen:

“Song Phi Hoàn Long cước”.

Đôi liễn ở hai bên cột dài cũng được phủ vải trắng. Một bên đề “Nữ Bá Vương”. Bên kia đề: “Báo Phu Thù”. Ngoài ra các cột khác đều quấn vải trắng. Bọn đồ đệ võ phục đen tuyền quấn đai lưng, khăn trắng nghiêm chỉnh dàn quanh võ đài phòng bị.

Tùng! Tùng! Tùng!... Ba tiếng trống vang rền từ phía sau võ đài phát ra, báo hiệu Nữ Bá Vương đã tới. Khán giả xôn xao tìm hiểu. Giữa lúc ấy, Lý Tiểu Hoàn, mặt lạnh như tiền, sát khí đắng đằng tiến thẳng vào lối giữa, bệ vệ lên đài. Nàng oai phong lẫm liệt khác hẳn ngày thường, cơ hồ những ai trước kia đã trông thấy nàng cũng không nhận ra được nữa. Tới sân đài, nàng lặng lẽ vòng tay chào khán giả.

Lúc đó quần chúng bị lôi cuốn bởi thế uy võ cả nhân của vị nữ tướng hào hùng, quên hẳn rằng người vừa thượng đài là vợ của một kẻ từng kiêu ngạo, mạt sát dân mấy xứ nên vỗ tay khen ngợi.

Tràng pháo tay vừa dứt, Lý tiểu Hoàn quay vào ngồi trên kỷ nhỏ bày trong cúng đài, thì ba tiếng chiêng lại vang dậy âm u báo hiệu võ sĩ đối phương tới.

Muôn ngàn cặp mắt đổ dồn ra phía ngoài. Pháo tay nổi dậy tứ phía. Phương tiểu khách tươi tỉnh, hân hoan giục ngựa tiến tới chân võ đài. Chàng liệng cương ngựa cho đoàn người theo hầu, vắt chân qua đầu ngựa đảo mình xuống đất, rồi từ tốn thượng đài, vòng tay cung bái khán giả, đoạn né mình vào đài đứng bên phía tả.

Lý Tiểu Hoàn sắc diện biến đổi từ xanh sang ửng đổ, từ ửng đỏ hạ xuống tím hường. Nàng đứng phắt dậy tiến sang hữu đăm đăm nhìn đối thủ, cặp phượng nhãn xếch ngược như phóng ra muôn ngàn tia lửa hận thù.

Phương Thế Ngọc điềm tĩnh chống hai tay lên sườn nhìn lại. Giây phút hồi hộp. Toàn khu Thanh Ba môn là cả một rừng người mà lúc đó im phăng phắc: cái yên lặng trước trận bão táp hãi hùng.

Hai đối thủ nhìn nhau như muốn đo lượng cả sức mắt soi mói vào tận óc tận tủy của nhau. Bỗng Lý Tiểu Hoàn hất hàm có ý hỏi đối phương đã sẵn sàng chưa. Phương Thế Ngọc lùi lại một bước đưa tay tả mời nhập trận. Đồng thời hai người đảo bộ, hoa quyền theo khuôn phép nhà nghề bái tổ.

Lý Tiểu Hoàn tiến vòng sang phía Đông thủ thế “Lão Mai Độc Thụ” chân tọa Chảo Mã, tay tả xòe ra vòng lên vai hữu, tay hữu nắm lại đưa ngược ra trước bụng, thân ngã chéo sang bên y hệt một gốc mai cằn cỗi.

Thế Ngọc chuyển bộ sang phía Tây thủ ngọn “Đồng Tử Bồng Ngân Bình”, hai chân Mã sinh, Mã tử, người ngã ra phía sau, tay hữu vòng thước thợ, tay tả xéo ra chống dưới khủyu tay hữu, y hệt chú tiểu đồng bế bình hoa.

Cả hai đối thủ dạo thế khởi trận tuyệt đẹp. Cả hai cùng thuộc võ phái danh gia. Một bên là Thiếu Lâm truyền tử, một bên là Tây Khương môn điệt. Thế Ngọc đứng nguyên thế chờ phá. Lý Tiểu Hoàn bỗng thét vang động phi thân tới hoa chân tả như muốn đạp vào vế địch thủ, buộc Thế Ngọc phải đổi bộ để hứng luôn gót chân hữu của Tiểu Hoàn thích thẳng vào bụng.

Biết nàng lợi hại, Thế Ngọc lẹ làng né sang bên nhường chân địch thủ phóng trượt ra ngoài, thúc luôn cùi chỏ vào sườn Tiểu Hoàn theo thế Phương Dực Đá Loan Đài. Lý Tiểu Hoàn quy ngoắt người đi một vòng tránh đòn, đứng gần diện đối diện, xử ngọn Hàn Kê Độc Cước, tay hữu dùng Song Chỉ chọc thẳng vào mắt địch, tay tả độn luôn một bàn tay Cương Đao, còn chân xỉa thẳng vào hạ bộ địch. Ba đòn cùng một lúc thật lanh lẹ, lợi hại. Thế Ngọc khen :

- Hảo thủ!...

Nhưng chàng kẽ chuyển mình đứng thẳng đám thẳng tay hữu xuống chặn bàn chân địch, tay tả xòe ra đón ngọn Song Chỉ định bẻ, hai khủyu tay khép chặt chặn tay Cương Đao địch.

Cùng một lúc chặn cả ba đòn, đó là Tam Phân Thế phá ngọn “Hàn Kê Độc Cước” của đối phương. Hảo thủ phùng hảo thủ, Lý Tiểu Hoàn khen thầm Thế Ngọc công phu điêu luyện. Nhưng nào biến luôn thế, đảo cước thành Đinh Tấn đá móc cả hai quyền vào huyệt Thái Dương địch. Đó là ngọn “Sư Tử Hí Cầu”. Thế Ngọc thét lên, gạt bật song quyền, phi luôn ngọn cước lợi hại vào bụng đối phương lúc đang để hở. Không kém, Tiểu Hoàn co chân gạt bật ngọn đá độc văng sang bên. Cả hai cùng xông vào đánh nhau diễn nên một trận long tranh hổ đấu thập phần kinh khủng. Quyền vùn vụt như chớp nhoáng biến ảo lạ thường, bộ cước sầm sập trên sàn đài đúng khuôn phép tắc của nhà nghề. Thế Ngọc như chim đại bàng chuyển dực xung đông kích tây, Tiểu Hoàn tựa mãng xà uốn khúc tả xung quyền, hữu đột cước, quây tròn đánh tới tấp.

Một bên máu nóng xung thêm quyết báo phu thù, mỗi thế đánh là đòn chí mạng muốn đưa ngay địch thủ về thế giới bên kia. Một bên chống chọi vì danh dự đồng bang. Trận đấu diễn ra mỗi lúc một ghê rợn, khủng khiếp chỉ sơ hở chân tơ kẽ tóc là lâm vào tử địa ngay.

Đánh tới đây, Lý Tiểu Hoàn hiểu ngay tại sao Lôi giáo đầu bị táng mạng với Phương tiểu tử. Chồng nàng nặng nề chậm chạp đứng trước một đối thủ tuy nhỏ hơn nhưng hữu dũng, công phu điêu luyện, lanh lẹ dị thường. Phần Thế Ngọc dùng đủ các thế đòn hiểm độc mà Tiểu Hoàn chống trả dễ dàng, mạnh mẽ tấn công liên tiếp thì hiểu nàng điêu luyện dũng mãnh hơn Lôi Lão Hổ nhiều.

Nhiều lần, chàng muốn dùng thế đá lợi hại hạ Tiểu Hoàn như đã hạ Lão Hổ, nhưng lần nào cũng bị đối phương đoán trước, chuyển trái thế chân khiến chàng đành thúc thủ.

Trong một hiệp đấu sáp lá cà, bỗng Lý Tiểu Hoàn hở ngực. Thế Ngọc cả mừng dùng tận lực đám song quyền theo thế Song Long Quá Hải vào ngực đối phương.

Tiểu Hoàn vội ngửa người ra phía sau tránh. Thế Ngọc theo luôn yên trí hạ một quyền nữa nhưng lúc đó mới hiểu mình lỡ thế vì Tiểu Hoàn ngửa người ra, vừa đánh vừa biến thế dụ địch để tung cả hai chân lên phóng ngọn Song Phi Hoàn Long cước trúng ngực kẻ địch bể tan hộ kính tâm, mũi Long Hổ đinh hài cắm phập vào ngực bên tay mặt.

Thế đá kinh khủng nhằm trúng tim, nhưng Thế Ngọc nghiêng người tránh kịp chỗ phạm. Tuy vậy sức đá mạnh lắm khiến Thế Ngọc chỉ kịp thét lên một tiếng đau đớn, lộn đi hai vòng trên sân đài.

Tiểu Hoàn nhảy theo đinh bồi thêm một đạp nữa kết quả tánh mạng kẻ thù. Thế Ngọc còn hăng máu tiện trớn nhào thêm hai vòng nữa lộn hẳn xuống đài, miệng trào huyết, ngất lịm.

Bọn võ sĩ Quảng Đông đứng gần đó vội ào tới khiêng kẻ bị trọng thương đặt vào kiệu dông thẳng về Hội quán.

Làn sóng người xôn xao chú trọng đến Thế Ngọc không hiểu sống chết thế nào, quên cả vỗ tay hảo thủ thắng cuộc. Họ bỏ võ đài, ùa theo đoàn người khiêng kiệu về Hội quán vây kín chờ tin tức. Phương ông bứt đầu, bứt tai kêu khổ.

Trần Ngọc Thơ chưa kịp sai người đi mời thì mấy vị danh y đồng hương như Lý Lượng, Lương Nhân Sanh đã vội vàng đem hảo dược tới cấp cứu. Thế Ngọc mặt tái ngắt, thoi thóp nằm ngất trên giường nệm bông, miệng thổ huyết tươi. Hai danh y vội chẩn mạnh, đoạn rạch áo mở vết thương ra coi. Vết thương ở giữa vú bên hữu tím lịm. Vết bốn mũi đinh ngắn đâm qua da bầm vào thịt không sâu, nhưng thế cước quá mạnh nên Thế Ngọc trúng trọng thương. Cũng may nhờ có tấm kính hộ tâm cực dầy và Thế Ngọc được tẩm luyện từ nhỏ nên không bị dập lồng ngực. Kẻ võ nghệ bình thường trúng ngọc đá tuyệt kỹ ấy tất bể tan lồng ngực, nát phổi mà chết.

Phương ông hỏi hai danh y :

- Tình hình thế nào? Có hy vọng không? Nói thật cho tôi hay.

Lương Nhân Sanh đáp :

- Mạch hỗn loạn chưa dám nói chắc thế nào cả. Chúng tôi xin cố gắng.

- Sao không cho cháu uống Hùng đởm?

- Lúc này đang ngất mê man, loạn mạch, uống hùng đởm nguy ngay. Dùng thuộc khác mới được.

Hai danh y lấy rượu pha thuộc rửa vết thương trên ngực cho Thế Ngọc đang miên man bất tỉnh. Phương ông, cha con Trần Ngọc Thơ, các thân hào đồng bang Quảng Đông và mọi người vây quanh giường xem tình hình nạn nhân. Người nào mặt cũng lạnh ngắt buồn thiu. Vẻ hân hoan dư âm của trận thắng hôm nọ đã bị cuộc bại trận càn quét hết. Toàn thể Hội quán bị bao trùm bởi một bầu không khí tang tóc nặng nề. Dân chúng chờ ở ngoài nóng ruột, phái đại diện vào hỏi thăm tin tức.

Trong khi Trần Ngọc Thơ giải thích với mọi người thì Phương ông cũng trở ra, định phái một người khác phi mã chạy đường bộ về Triệu Dương huyện mời Miêu Thúy Hoa.

Phương ông vừa run rẩy viết vội mấy hàng thơ, vừa lẩm bẩm :

- Không hiểu sao Lý An đi mấy ngày rồi mà chưa trở lại. Họa vô đơn chí, hay là giữa đường bị cướp? Giông tố đắm thuyền? Tai họa thường hay chồng chất! Khổ thật là khổ!...

Giữa lúc ấy bên ngoài Hội quán xôn xao kỳ lạ!...

... Miêu Thúy Hoa cùng Lý An đi hai chiếc kiệu đến khu phố hội quán, bỗng thầy hàng ngàn người chen chúc ngăn hẳn lối đi.

Thúy Hoa hỏi Lý An :

- Chuyện gì thế này? Hội quán đâu?

- Thưa chủ mẫu, Hội quán kia kìa, nhưng sao dân chúng lại tới đông thế này!

Nhìn theo hương tay chỉ của Lý An, Thúy Hoa thấy tấm biển thếp vàng chữ đen đề Quảng Đông Hội Quán thật. Nàng vội vàng bảo phu kiệu đổ xuống trả tiền, rồi cầm Lê Hoa thương rẽ đám đông người tiến vào, Lý An lật đật theo sau.

Thúy Hoa hỏi lớn :

- Có việc chi mà quý vị vây chặt Hội quán thế?

Nghe nàng nói tiếng Quảng Đông, một người đồng hương nói lớn :

- Chúng tôi chờ tin tức Phương tiểu khách. Y bị Nữ Bá Vương đá lộn xuống võ đài, thương tích trầm trọng lắm. Hiện giờ còn ngất chưa tỉnh...

Nghe có vậy thôi, Miêu Thúy Hoa tái mặt, gạt đám đông người ra tiến bừa :

- Nhờ quý vị giãn lối đi để tôi vào xem bệnh tình Thế Ngọc!

Nàng đi vùng vụt rẽ đám đông tỏa sang hai bên. Lát sau tới cửa hội quán, Trần Ngọc Thơ còn đứng đó. Thúy Hoa vốn không quen mặt họ Trần, gật đầu chào qua, vội vàng tiến thẳng vào trong cửa. Thấy một phụ nữ võ phục mạnh mẽ. Tay cầm Lê Hoa thương xông đại vào Hội quán, Trần Ngọc Thơ tưởng là người của phe Lý Tiểu Hoàn phái tới hạ sát Thế Ngọc, bèn sợ hãi la lớn :

- Người nào kia, vào đây làm gì? Anh em ơi ngăn lại!

Sở dĩ có sự xảy ra như vậy vì Lý An không kịp theo chủ nhân, còn lúng túng bị kẹt giữa đám đông người. Nên viên Bang trưởng không biết là Phương Đức phu nhân.

Người trong Hội quán nghe Trần Ngọc Thơ la vội chạy ồ ra, có cả Phương ông. Nhận ra vợ hiền đã tới, ông mừng rỡ nói lớn :

- Mọi người an tâm, đây là tiện nội, thân mẫu của Thế Ngọc.

Thúy Hoa dựng ngọn thương lên tường, cầm tay chồng hỏi :

- Ngọc nhi đâu? Có sao không?

- Con nằm trong nhà. Hiện vẫn mê man.

- Từ bao lâu rồi?

- Độ trên một giờ.

- Lang quân bảo người mở đường cho Lý An vào. Thuốc ở cả trong bọc hành trang.

Trần Ngọc Thành vội chạy ra ngoài mở đường cho Lý An, còn Phương ông dẫn vợ vào căn phòng thế Ngọc.

Trong phòng chật ních những người. Nàng yêu cầu tất cả ra ngoài, mở thông cả mấy cửa sổ cho thoáng khí. Thấy con nằm thẳng sắc diện xám ngắt, Thúy Hoa đau đớn, lệ ngọc tuôn rơi. Trong phòng lúc đó có Phương ông, Trần Ngọc Thơ, hai vị lương y và Lý An mới bước vào. Thúy Hoa cố trấn tĩnh nhận xét. Đai lưng, võ hài đã được tháo bỏ. Nàng tháo nốt vớ, dây đai ống quần và dây lưng cho huyết được lưu thông.

Xem tới vết thương, nàng yên trí hơn vì Thế Ngọc không bị gãy xương lồng ngực. Mở bọc lấy hai hườn thuốc Thiết Đả Hườn Sanh mài với nước trà ấm đoạn tự tay nàng nâng đổ vào miệng Thế Ngọc sau khi rắc lên vết thương lớp bột màu vàng.

Các danh dược được dùng đây toàn là loại gia truyền bí hiểm của Thiếu Lâm tự do Miêu Hiển truyền lại cho con cháu. Xong xuôi, Thúy Hoa lấy mền nỉ phủ lên người Thế Ngọc. Phương ông thắc mắc hỏi vợ :

- Liệu có sao không?

- Chờ một khắc xem thuốc hành thế nào, nhưng hi vọng vì vết thương không nội phạm. Nhờ có tẩm luyện từ nhỏ, nếu không, bị ngọc độc cước đó con chắc chẳng thoát khỏi nguy.

Mọi người im lìm chờ đợi. Thúy Hoa bắc cẩn đôn ngồi sát bên giường chăm chút nhận xét từng hơi thở của Thế Ngọc. Lát sau linh dược ngấm, sắc diện tiểu khách lần lần trở lên hồng hào hơn trước, tứ chi bắt đầu giựt nhẹ, hô hấp điều hòa. Hơn một khắc, Thế Ngọc rên rỉ trở mình hé miệng ộc ra mấy cục huyết tím lịm ra tấm khăn trắng để sẵn bên gối.

Thúy hoa mừng rỡ nhìn mọi người tỏ vẻ thành công, bệnh nhân đã qua cơn nguy khốn. Nàng lật mềm ra, lấy rượu thuốc đem theo nhẹ nhàng chà xát theo phương pháp riêng khắp người Thế Ngọc.

Bỗng Thế Ngọc khẽ kêu :

- Đau, cha chả là đau!... Mẫu thân ơi!... đau...

Chàng co tay lên toan thoa ngực, nhưng Thúy Hoa nhẹ tay giữ lại và tiếp tục chà xát hai bên sườn.

Độ nửa cây nhang, Thế Ngọc bừng mở mắt lờ đờ nhìn khoảng không rên rỉ :

- Mẫu thân!...

Thúy Hoa nắn hai bên huyệt thái dương, khẽ gọi :

- Mẹ đây con, lai tỉnh! Mẹ đây!...

Thế Ngọc mỏi mệt nhắm nghiền mắt lại, lát sau mở bừng ra nhìn nhưng lần này có tính thần hơn, nhận ra mọi người quanh mình :

- A!... Mẫu thân!

- Mẹ đây. Mẹ ngồi bên con từ lâu rồi. Dễ chịu hơn trước không?

Thế Ngọc nói yếu ớt :

- Dễ chịu, nhưng đau... Tức quá!... Báo thù cho con...

- Con cần an tâm tĩnh dưỡng, mặc mẹ lo liệu. Ngủ đi cho khỏe.

- Khát lắm... Cho con uống nước.

Lý An rót nước trà ấm. Thúy Hoa hòa lẫn một gói bột dược nhỏ đỡ cho Thế Ngọc uống. Khoan khoái, Thế Ngọc lờ đờ nhìn mẹ rồi ngủ say. Đắp mềm lại, Thúy Hoa ra hiệu cho Lý An ngồi canh chừng và cùng mọi người đi ra khỏi căn phòng.

Nàng nói :

- Ơn trời phò hộ. Thế Ngọc thoát hiểm rồi tĩnh dưỡng bốn năm nữa sẽ như thường.

Nàng kê đơn đưa lang y Lương Nhân Sanh hốt mấy vị bổ dược nấu lẫn với thịt bò lấy nước cho Thế Ngọc uống. Ngoài Hội quán dân chúng vẫn chờ đông đảo. Trần Ngọc Thơ ra nói lớn :

- Phương tiểu khách đã hồi tỉnh, qua cơn nguy hiểm. Vài ngày sau sẽ hồi phục. Xin quý vị thân hữu an tâm và nhận lời cám ơn của chúng tôi. Yêu cầu quý vị lặng lẽ ra về vì náo động mất giấc ngủ ngon của tiểu khách.

Mọi người mừng rỡ kéo nhau ra về. Nhưng trong Hội quán còn lưu lại mấy tay võ sư người Hàng Châu. Miêu Thúy Hoa yêu cầu họ tả lại trận đấu hồi sáng.

Nghe đoạn, nàng hỏi :

- Nói tóm lại, nghĩa là Lý Tiểu Hoàn khá về môn cước?

Võ sư gật đầu :

- Tiểu Hoàn công thủ đều dùng thế cước luôn luôn.

- Nhưng Thế Ngọc cũng không kém bộ cước.

- Lệnh lang có dùng cước song đều bị đối phương hoặc làm mất trớn hoặc phá, cước áp cước.

Sở dĩ Miêu Thúy Hoa hỏi kỹ như vậy là có dụng ý. Nàng muốn so tài cùng họ Lý một phen. Nghĩ thế không phải nàng quên lời Lã Tứ Nương khuyên bảo mấy hôm trước đây, nhưng nàng căm giận Tiểu Hoàn đã có ý sát hại Thế Ngọc. Giả sử con nàng không có không được công phu luyện tập liệu có tránh khỏi tử thần không? Rồi đây, Lý Tiểu Hoàn hay tin Thế Ngọc thoát chết, bình phục, mối thù của họ Lý còn chưa dập tắt được, tất Tiểu Hoàn sẽ theo đuổi đến cùng. Thật là muốn chịu cho xong chuyện cũng không được. Cây muốn lặng gió chằng ngừng.
Sau khi hạ Phương Thế Ngọc, Lý Tiểu Hoàn khoan khoái truyền lệnh cho bọn đồ đệ dỡ các miếng vải trang hoàng đại tang xuống, rồi lên ngựa về nhà thắp nhang trước linh vị Lôi giáo đầu rằng mối tử thù đã báo.

Nàng thay võ phục ngồi uống trà nghỉ ngơi, tưởng lại các hiệp đấu. Nàng tiếc không kịp đạp đòn cuối cùng cho đối phương bể sọ ngay trên đài. Nhưng trúng ngọn Song Phi Hoàn Long cước ấy, chắc chắn Phương tiểu tử khó lòng thoát chết, Thế Ngọc hăng máu lăn thêm hai vòng tránh nổi ngọn đạp kết quả tánh mạng, xuống tới mặt đất y nằm vật không cựa quậy. Nàng trông thấy rất rõ ràng. Phải chăng lúc ấy y mới trút linh hồn? Chắc chắn hết phương cứu chữa. Nàng phóng ngọn độc cước ấy nhằm tim mà! Dù kẻ địch mình đồng da sắt cũng phải thác. Suy nghĩ hồi lâu nàng gọi Lâm Minh :

- Hiền đồ thay y phục đến Hội quán Quảng Đông dò là tin thứ Thế Ngọc xem sao?

Lâm Minh đi khỏi, Lý Tiểu Hoàn dùng bữa, tự rót rượu uống mừng thắng trận. Chợt có báo Thiết Diện Hổ đến thăm. Nàng đon đả ra đón quỳ lạy.

- Thúc thúc giáng lâm không cho nữ điệt hay trước để ra rước tận cửa.

Thiết Diện Hổ đỡ nàng dậy :

- Không sao, lẽ ra phải đề thì giờ cho điệt nữ nghỉ ngơi. Nhưng ta muốn là người đầu tiên chúc mừng thắng trận nên mới tới ngay.

- Thúc thúc dạy quá lời, mời Người vào nhà.

Trông thấy hồ rượu và mấy món ăn trên bàn, Thiết Diện Hổ nói :

- A! Điệt nữ đang uống rượu mừng phải không?

Tiểu Hoàn nói trách :

- Đệ tử dùng chút ít rượu thuốc dẫn huyết sau trận đấu, chưa biết tình hình đối phương ra sao, mừng sao được?

- Điệt nữ quá ư cẩn thận. Trúng đòn ấy, mấy ai thoát chết?

- Đệ tử phóng cước nhằm tim, nhưng xét lại mảnh kính hộ tâm của Thế Ngọc dày lắm.

- Ta đứng gần chân đài nhìn kỹ thấy y hết cựa quậy, chắc khó thoát, nhưng...

Tiểu Hoàn ngạc nhiên vội hỏi :

- Nhưng sao thưa sư thúc?

- Thế Ngọc khổ luyện tới mức độ ấy tất y còn có bà con thân thuộc, lỡ họ vì y đòi đấu báo cừu thì sao?

Tiều Hoàn quả quyết :

- Đệ tử sẽ nhận đánh cho chúng biết tay. Nay mai phụ thân đệ tử sẽ tới đây. Dù Thế Ngọc tánh mạng có thế nào Người cũng chưa hả giận vì bình sinh rất quý tế tử.

Nữ tì dâng trà lên, Thiết Diện Hổ nói :

- Sao điệt nữ không phái người đến Hội quán nghe ngóng tin tức?

- Dạ, Lâm đồ đệ đã đi từ lâu rồi.

- Lý sư huynh bao giờ tới Hàng Châu?

- Thưa thúc thúc, theo trong thơ thì đáng lẽ tới nơi từ hôm qua. Không hiểu vì lẽ gì trễ vậy. Đệ tử nóng ruột lắm.

Thiết Diện Hổ uống nốt ly trà thơm ngát :

- Can chi nóng ruột! Trong thơ nói vậy, trễ đường là thường. Tài sức độ như Lý sư huynh còn lo nỗi gì?

- Đệ tử e gia phụ đau ốm giữa đường thôi.

Thiết Diện Hổ cười khà :

- Hai mươi nam nay, chưa bao giờ ta thấy ông ấy đau ốm cả. Lo hão huyền.

Hai người đang chuyện vãn thì Lâm Minh trở về.

Lý Tiểu Hoàn hất hàm hỏi :

- Nghe được chuyện gì không?

- Thưa sư mẫu, dân chúng đang chờ nghe tình trạng Thế Ngọc, đông nghẹt khu đất trước Hội quán, con len mãi mới vào tới nơi...

Lâm Minh thuật rõ cho Tiểu Hoàn nghe.

Nữ Bá Vương tức giận hỏi gặng :

- Nghĩa là Phương tiểu tử thoát cơn mê sảng nguy hiểm rồi?

- Dạ, Trần Ngọc Thơ, Bang trưởng Quảng Đông đứng ngay trước cửa Hội quán giải thích như thế. Họ Trần báo tin xong, dân chúng mới vui mừng kéo nhau ra về.

- Ngươi có nghe nói lang y nào chữa cho Thế Ngọc phục hồi không?

- Hình như có lang y mà không làm nổi chuyện gì. Người chữa Thế Ngọc là thân mẫu y.

Tiểu Hoàn tái sắc :

- Thân mẫu Thế Ngọc? Ngươi nghe nói vậy?

- Bang trưởng Quảng Đông báo cáo miệng với mọi người như vậy. Riêng con và một số người trông thấy thân mẫu Thế Ngọc mới từ xa tới. Có gia bộc quẩy hành trang hẳn hoi.

- Mụ đó hình dáng ra sao?

- Thưa, y hệt sư mẫu về niên tuổi cũng như vóc dáng. Vận trường hành võ phục, tay cầm khí giới.

- Vũ khí gì?

- Hình như ngọn hoa thương thì phải. Con mải nhìn mặt nên không chú ý ngoại vật. Lần cuối cùng, Trần bang chủ nói rằng Thế Ngọc đã ngủ êm.

Lý Tiểu Hoàn tức mình nói gần như gắt :

- Thôi được, cho ngươi lui. Khá phái người đến Hội quán dò tin thêm xem sao.

Lâm Minh đi khỏi, Lý Tiếu Hoàn nói với Thiết Diện Hổ :

- Thế Ngọc không táng mạng vì ngọn độc cước “Hoàn Long” kể cũng ghê gớm thật! Như thế là mối thù chưa xong.

Thiết Diện Hổ mừng thầm :

- Chà! Thiếu chi dịp báo thù. Khi nó bình phục, tự khắc đấu tiếp.

- Đành là như vậy nhưng đệ tử e tên tiểu tử ấy về xứ mất, mất dịp đấu trên lôi đài.

Thiết Diện Hổ phân giải :

- Tuy không táng mạng, ít ra nó cũng còn đau chưa thể rời Hàng Châu trong chốc lát được. Điệt nữ nên viết thư thách đấu nữa. Vì danh dự, mẹ con họ Phương tất không dám bỏ đi. A nhưng mà...

Thấy Tiểu Hoàn chăm chú chờ nghe, Thiết Diện Hổ nói tiếp :

- Thách đấu như vậy e mấu thân Thế Ngọc can thiệp tự nhận đấu thay con thì thêm phiền!...

Chạm lòng tự ái, Lý Tiểu Hoàn sắc diện bừng bừng :

- Nếu được như thúc thúc dự đoán thì còn chi bằng? Trước hết hạ mụ đó đã, sau sẽ hạ tới tên tiểu tử. Không lẽ ăn không ngồi chờ tiểu tử bình phục mới đánh sao? Thà rằng đến đêm phi thân vào Hội quán lấy đầu nó đi cho rảnh chuyện, đỡ tốn thời gian, hao tiền bạc.

Thiết Diện Hổ vội can :

- Thì giờ cũng là tiền bạc nhưng không hề chi. Đấu tại Lôi đài, thanh thiên bạch nhật trả thù bằng tài sức đàng hoàng mới đích đáng. Khi Thế Ngọc hạ Lôi điệt, muôn vạn con mắt đều thấy y tài ba đả tử Lão Hổ một cách công khai. Vậy điệt nữa phải dùng con đường “Lôi đài” đã vạch sẵn mà hạ Thế Ngọc và mẫu thân y mới được mọi người khen và kính phục. Nếu ám sát y, thiên hạ ai biết rằng Nữ Bá Vương đã trả phu cừu? Dầu họ biết chăng nữa, tất cũng chê cười là điệt nữ không dám dàn mặt đấu võ mà phải dùng đến âm mưu. Hẳn linh hồn Lão Hổ cũng không được an ổn. Thi tài đọ sức công khai, cái thắng đó mới đặc biệt danh dự. Ta khuyên điệt nữ chớ nóng nảy hành động trái với tinh thần con nhà võ thuật. Việc tốn của không cần. Ta sẽ đài thọ cho đàng hoàng. Dầu cả mấy năm như vậy cũng không hề chi, nhưng phải theo đúng nguyên tắc mới được.

Lý Tiểu Hoàn nói :

- Số là thúc thúc không hiểu. Số bạc mà thúc thúc cho đó, cố phụ gởi cả lên Võ Đang sơn nhờ Phùng sư phó giữ hộ và dành cho Lôi Đại Bàng, chỉ giữ lại một ít chi dùng tại Hàng Châu thôi. Công việc kéo dài hơn tháng nay rồi. Giáo đầu hiện đã bị táng mạng. Giờ đây đến lượt đệ tử vì mối thù mà thành trấn đài. Đệ tử không muốn kéo dài tình trạng là vì lẽ ấy.

Thiết Diện Hổ nghĩ thầm: “Mày tham lam chỉ vì lẽ tài chính chờ lẽ gì! Muốn bạc thì ta cũng đài thọ. Của kho chớ của riêng ta đâu mà ngăn? Chỉ sợ không lo giữ nổi mà tiêu xài thôi! Hay lại táng mạng như chồng mày đó”.

Nghĩ đoạn Thiết Diện Hổ thản nhiên nói :

- Như ta đã nói hồi nãy, nếu kéo dài vụ lôi đài ra hàng năm cũng không quản ngại. Vấn đề tài chính đã có ta. Miễn là phải theo đúng chương trình như ta đã giao kết cùng nhau. Vậy bây giờ điệt nữ cần bao nhiêu, lát nữa ta sẽ cầm tới?

- Trong vụ này đệ tử là phận nữ nhi, ngoài ra còn là phận báo phu thù, nên chỉ yêu cầu thúc thúc giúp một vạn lượng vừa xây phần mộ cho Giáo đầu, vừa chi dùng. Sau này thiếu sẽ xin thúc thúc giúp thêm.

Tăng Tòng Hổ dù sao cũng còn mối tình thúc, điệt đồng môn phái, vả lại theo huấn lệnh của vua Càn Long phải lấy mạng người làm trọng, tiền bạc tốn hao không cần. Nếu lúc này Tiểu Hoàn đứng trước nhà Vua sẽ được thêm mấy vạn lượng chớ chẳng phải một.

- Được, lát nữa ta sẽ cầm bạc tới, cần nữa cứ hỏi thêm. Về phụ Phương Thế Ngọc ta khuyên điệt nữ thận trọng và đừng nóng nảy.

- Dạ, thúc thúc an tâm.

Hôm sau, Lý Tiểu Hoàn sai Lâm Minh đến Hội quán Quảng Đông dò hỏi tin tức, tới trưa mới về báo rằng Thế Ngọc đã hoàn toàn thoát tình trạng hiểm nghèo. Người chữa các vết thương chính là thân mẫu tiểu tử.

Lý Tiểu Hoàn hỏi :

- Ngươi chắc chắn các tin tức đó đúng như vậy chớ?

- Thưa sư mẫu, chắc chắn. Ngày trước cửa Hội quán có bản bố cáo về tình trạng sức khỏe của Phương Thế Ngọc. Con không tin, đón người trong Hội quán ra hỏi thăm mới biết rõ vụ thân mẫu Thế Ngọc đã cứu y thoát khỏi tay tử thần.

- Sao không hỏi đích xác danh tánh thân mẫu của Thế Ngọc?

- Tại Hội quán người ta gọi Phương thái thái, mộc danh Miêu thị thì phải.

- Cho lui. Nhớ bảo mọi người tề tựu đông đủ. Không biết chừng đánh lúc nào.

Luôn hai ngày, Lý Tiểu Hoàn bần thần khó chịu vì tính trạng sức khỏe của kẻ thù ngày một khả quan.

Nàng tính toán chưa biết xử lý ra sao để tiếp tục cuộc báo thù vì kẻ thù chính thức là Phương Thế Ngọc hiện đang nằm trên giường bệnh, không lẽ kéo bọn môn đồ đến phá Hội quán Quảng Đông? Đành chờ vậy, chớ biết sao! Nàng buồn tức không đạt nổi chí nguyện ngay trận đấu vừa rồi.

Tiểu Hoàn hối a hoàn lấy rượu độc ẩm. Vừa cạn ly thứ nhất thì môn đồ báo có người bên Hội quán Quảng Đông xin yết kiến. Nàng truyền cho vào. Nhân viên Hội quán chính là Diêu Bỉnh Tuyên vào trình phong thơ, ngoài bình đề:

“Phương thái thái, Miêu Thị Thúy Hoa khán đề Nữ Bá Vương Lôi giáo đầu phu nhân Lý thị nhã giám”.

Thơ rằng:

“Lôi Lão Hổ, chồng nàng, tác oai tác quái, lập Lôi đài sát hại nhiều người, gặp Phương Thế Ngọc, con ta, cao thủ hơn nên họ Lôi táng mạng. Đó là thường luật lệ đả Lôi đài.

Lão Hổ bỏ mình với tư cách Đài chủ, cũng như con ta đã hạ y nhân danh đấu thủ.

Riêng nàng thách con ta đấu báo thù, đấu trên Lôi đài, tức là nàng đã mặc nhận tiếp tục chức Đài chủ của Lão Hổ, dùng thiết đỉnh hài hòng sát hại con ta. Nhưng trời có mắt cứu người hiền lương. Ngọn độc cước của nàng đã không cho nàng toại nguyện sát nhân.

Nhân đây, ta thay thế Thế Ngọc thượng đài để cho nàng báo thù. Vậy hãy cấp hẹn ngày đánh đi. Gặp nhau ở đâu cũng được.

Miêu Thúy Hoa ký”.

Xem xong, Lý Tiểu Hoàn hỏi a hoàn đem bút mực tới phê vào phong bì thơ mấy chữ hẹn sáng ngày mốt sẽ gặp nhau tại võ đài, trao cho Diêu Bình Tuyên cầm về. Tức thì, nàng gọi môn đồ hạ lệnh viết báo cáo trận đấu thách thức mới Miêu Thúy Hoa cho toàn tỉnh Hàng Châu biết, một mặt truyền sửa sang lại lôi đài.

Dân chúng Hàng Châu lại sôi nổi về tin hai nữ đấu thủ thượng đài. Một bên quyết báo phu thù, một bên thế trả đòn cho con, trận đấu hứa hẹn hào hứng.

Phương Đức càu nhàu, oán trách vợ khéo sanh sự. Theo ý Phương ông thì mướn ghe chở Thế Ngọc về Triều Dương huyện chấm dứt mọi chuyện. Miêu Thúy Hoa nhìn tình thế với con mắt khác. Nàng nói :

- Lý Tiểu Hoàn khi nào chịu như vậy? Quanh Hội quán nhật dạ lúc nào mà chẳng có bọn do thám của nó theo dõi hành động của ta. Giả tỷ đem Thế Ngọc về nhà dưỡng bệnh, chưa kịp xuống đến thuyền thì đã bị phục kích ở giữa đường rồi. Có ra thoát khỏi Hàng Châu đi nữa, Lý Tiểu Ngọc cũng sẽ theo đến Vạn Xương, không chiến đấu diện tiền, cũng ám hại sau lưng. Tôi biết chúng lắm, cưỡi hổ thì dễ, xuống hổ rất khó khăn. Thà rằng đấu. Đấu cho chúng phải ngán mình!...

Tuy phản đối, Phương Đức vẫn tin ở tài sức can đảm, hiểu biết của người vợ đảm đang nên mặc nàng định liệu và bảo vợ :

- Tôi xin hiền thê, nhưng yêu cầu nghe một điều. Chớ có gắng gượng như Thế Ngọc. Nếu thấy yếu sức kém tài, nên liệu đường rút lui, thua keo này ta bày keo khác, mới là kẻ thức thời. Ví bằng hiền thê dư sức, dư tài, cũng không nên sát hại địch thủ. Chiến đấu cho nó sợ, cho nó hiểu biết rằng trên đời này cao nhân tắt hữu cao nhân trị. Được như vậy, hiền thê mới tỏ cho kẻ địch biết mình quân tử, và mối thù khỏi thành truyền kiếp.

Miêu Thúy Hoa nhất nhất vâng lời.

Ngày hẹn đấu đã tới. Thúy Hoa đai nịt gọn ghẽ, vào phòng Thế Ngọc :

- Mẹ thượng đài gặp Lý Tiểu Hoàn đây con.

Thế Ngọc cầm tay mẹ tươi tỉnh nhắn nhủ :

- Bây giờ con mới thấu nỗi lo lắng của phụ thân mỗi khi con thương đài. Người đi đâu có lo lắng, nhưng kẻ ở bị hồi hộp vò xé tâm can. Đó là tình trạng tinh thần của con hiện tại. Mẫu thân nên tiểu tâm đề phòng, Lý Tiểu Hoàn khỏe lắm: ngoài ngọn Song Phi Hoàn Long cước, y biến thế rất lợi hại.

Thúy Hoa mỉm cười :

- Con an tâm tĩnh dưỡng, bất quá ngang tài ngang sức là cùng. Tiểu Hoàn không thể lấn tay trên. Mẹ biết nó từ lâu rồi.

Phương Đức và toàn thể nhân viên Hội quán kéo nhau ra Lôi đài. Lý An ở lại một mình trông nom Thế Ngọc. Tiểu anh hùng bực tức phải nằm liệt giường trong khi người mẹ thân yêu vì mình thượng đài. Chàng ao ước được áp trận, nhưng biết sao?...

Thế Ngọc bảo Lý An gọi Diêu Bình Tuyên, người công nhân “bồ” nhất với chàng vào phòng, dặn dò :

- Diêu đại ca ơi, nếu ngoài Lôi đài có gì biến chuyển, nhớ về ngay báo tin tiểu đệ biết nhé!

Diêu Bình Tuyên vuốt tóc Thế Ngọc an ủi :

- Được, cứ an tâm, không cần dặn bảo. Bỉnh Tuyên này cũng biết tự kỹ hành động. Lâu nay chúng ta bồ với nhau quá mà! Tĩnh dưỡng cho khỏe, không đáng lo.

Người khổ nhất là Phương ông. Trước thì ông lo sợ cho con, nay lại e ngại cho vợ. Chẳng giao quyền phóng cước với ai mà trí não lúc nào cũng căng thẳng như chính mình đấu thủ thượng đài vậy.

Quang cảnh Thanh Ba môn y hệt mấy kỳ đấu lớn trước giữa Thế Ngọc và Lôi Lão Hổ và Thế Ngọc, Lý Tiểu Hoàn. Người đông nghẹt, im lặng, hồi hộp.

Lý Tiểu Hoàn hào hùng, trang phục toàn trắng như buổi đấu với tiểu khách Phương gia.

Thúy Hoa vận võ phục màu chàm sẫm, áo ngắn bỏ ngoài quần che lấp bộ sô dời thắt trong. Tay áo ngắn quá khủy để lộ hai cánh tay trắng nõn chắc nịch, cổ tay quấn vải đen. Quần bít ống, quấn dây chéo chữ thập quanh ống chân theo kiểu người Miêu ở Việt Tây. Chân dận tiểu kiếm ủng bằng vải chàm cổ ngắn do chính nàng may lấy.

Cùng niên tuổi, vóc dáng tầm thước như nhau, hai nữ đấu thủ trang phục một lợt. Một thẫm, oai hùng kiêu dũng, nổi bật trên võ đài trang hoàng cực nghiêm chỉnh.

Hai người lẳng lặng dùng sức mắt dò uy lực lẫn nhau và cũng đều khen thầm đối phương. Họ lễ phép theo khuân khổ của nhà nghề nhập trận tuyệt đẹp nhưng cực kỳ dữ dội. Một bên như đại bàng chuyển dực, một bên như kim điêu thám trảo, trận đấu linh động bội phần, trổ hết ngón hay nghề lạ quyết phân tài cao thấp. Bốn cánh tay đảo lộn. Quyền ra vù vù như vũ bão. Hai cặp giò sầm sập trên đài bộ pháp danh gia. Cả hai cùng xông xáo cố lấn đòn, nhưng hết sức thận trọng vì chỉ sơ hở một chân tơ kẽ tóc là đủ vong mạng rồi.

Ngót ba trăm hiệp, Lý Tiểu Hoàn nhảy ra khỏi vòng chiến quát :

- Khoan!...

Miêu Thúy Hoa thâu quyền :

- Ngươi muốn gì?

- Ngày hôm nay giao đấu thế đủ rồi, sáng mai tái hội!

- Được lắm, mai y hẹn.

Lý Tiểu Hoàn đích thân báo cáo trận tái đấu ngày mai.

Phàm phép đấu quyền, cước, trận đấu kéo dài tới ba trăm hiệp mà hai đấu thủ vẫn dư sức giao tranh kịch liệt như lúc khởi trận, tức là tài sức đồng đều, bất phân thắng phụ, thà rằng nghỉ tay về nhà tìm kiếm sơ hở của của đối phương, hoặc tính toán áp dụng các thế khác, may ra lừa nổi địch thủ để đi tới thế. Vì thế Lý Tiều Hoàn quyết định dần trận đấu và được Miêu Thúy Hoa chấp nhận ngay.

Thật ra, không ai bảo ai, nhưng cả hai cùng một ý nghĩ muốn nghỉ tay tìm đấu pháp khác. Dân chúng kéo nhau ra về, bàn tán sôi nổi. Người cho rằng trận đấu ngày mai thế nào cũng lưu huyết vì hai nữ đấu thủ quyết liệt ấy sẽ dùng tới ám khí hại lẫn nhau. Người nói trái lại rằng hai nữ kiệt gia ấy sợ gì ám khí? Họ không thể hại nhau bằng ám khí được vì cả hai cùng trên cấp bực Phương Thế Ngọc, Lôi Lão Hổ và không chênh lệch như trận Thế Ngọc, Tiểu Hoàn. Trận đả lôi đài đã tiến triển vượt mức trung bình.

Về đến Hội quán, Miêu Thúy Hoa về thằng phòng Thế Ngọc.

Tiểu khách tươi cười hỏi mẹ :

- Hòa hả thân mẫu?

- Ờ, hòa, mai tái đấu. Sao con biết tin lẹ vậy?

- Con nằm mơ thấy hòa. Địch thủ không thi thố nổi đòn độc chớ?

- Không, nhưng mẹ cũng không làm chi nổi nó. Chèn, biến dữ lắm, đáng mặt hảo thủ, chẳng hổ danh con Lý Bá Sơn.

- Không như Lôi Lão Hổ, Nữ Bá Vương quyền cũng hay như cước hả, mẫu thân?

Thúy Hoa cởi hai dây vải quấn cổ tay :

- Ờ, nó đều lắm. Nếu không thì giữ sao được mức cân bình? Sở dĩ con thắng nổi Lão Hổ là vì y không đều. Nhưng đừng quên điều này. Lần thứ nhất con bị trúng Âm Dương cước lần thứ nhì bị Hoàn Long cước như vậy đủ tỏ rằng con còn chưa kinh nghiệm trong lối phóng cước bất ngờ. Ở trận đầu con chỉ phòng vệ khi bị Lão Hổ đá văng xuống đài. Nếu ngọn cước đó hoàn toàn trúng, tất nguy rồi. Trong trận thứ nhì, Lý Tiểu Hoàn căng hẳn tấm vải đề thế cước của nàng sẽ áp dụng để phục thù, con vẫn bị như thường là sao?

Thế Ngọc chăm chú nghe, lẳng lặng nhận lời khiển trách.

Miêu Thúy Hoa nói tiếp :

- Mẹ giận lắm... Khổ tâm luyện tập cho con như vậy, đến lúc cần, con áp dụng sai. Tức là con không triệt để chú ý thâu nhận hết kỹ thuật danh gia. Chuyến này mẹ sẽ gửi con lên Thiếu Lâm tự nhờ Chí Thiện sư bá đào luyện thêm và ít nhất phải qua năm lần Mộc Nhân, Mộc Ma (sẽ nói tới đoạn này sau) mới cho hạ sơn. Đã nhận thấy cái kém của con chưa?

Thế Ngọc sợ hãi im lặng quay vào trong tường Thúy Hoa mỉm cười về phòng riêng thay võ phục, nghỉ ngơi. Hôm nào cũng vậy, dân chúng đến Thanh Ba môn đông nghẹt theo dõi trận giao tranh giữa hai nữ anh kiệt tài ba. Luôn trong ba ngày, trận đấu tiếp diễn khốc liệt. Tiểu Hoàn, Thúy Hoa ngang tài đồng sức, bất phân thắng bại.

Hôm thứ ba, Lý Tiểu Hoàn về đến nhà thì đã thấy Lý Bá Sơn, phụ thân nàng, ngồi ở phòng khách, hầm hầm tức giận.

Nàng vội quỳ lạy :

- Chẳng hay phụ thân tới hồi nào, không cho người gọi con về.

Lý Ba Sơn trừng mắt nhìn con gái :

- Ta mới tới đây đã nghe được nhiều chuyện: một người chết, một bàn thờ, một kẻ báo thù không phải đường. Hừ! Ta không ngờ Nữ Bá Vương xử sự kém đến thế!...

Tiểu Hoàn sợ hãi đứng nép sang bên.

Lý Ba Sơn nói tiếp :

- Kẻ thù nằm sờ sờ trước mắt trong Hội quán trong khi con ra sức tranh đấu trên Lôi đài với một kẻ khác để giựt giải gì? Vô địch chăng?

- Thưa, đó là phụ thân Phương Thế Ngọc

- Ta biết, nhưng vì lý do gì các ngươi tranh đấu trên Lôi đài?

- Nàng thách con thượng đài.

Lý Ba Sơn cười ha hả :

- Nghĩa là nó nắm quyền thách con thượng đài để báo thù đứa con sát nhân của nó bị thương!... Trong khi vong hồn kẻ xấu số ngày đêm phảng phất nơi bàn thờ đây chờ được vợ phục thù!... Hà!... hà...

- Ủa! Đó là việc đáng làm, lẽ nào phụ thân nỡ nhiếc móc con như vậy?

Lý Ba Sơn nói gần như quát :

- Một lần nhận lời Phương tiểu tử lên đài, thanh thiên bạch nhật, trước công chúng, đánh bại nó, thừa đủ rồi, nhưng không cần phải chấp nhận đấu với cả mẫu thân nó luôn mấy bữa nay. Vô lý! Nếu toàn thể gia đình nó luân phiên thách đấu cho con mệt dần rồi hạ sát sau, con cũng nhận chăng? Hiện thời thân mẫu tên tiểu tử đòi đấu, mai nay đến lượt anh em nó, liệu con có đủ sức chống chọi không? Con gọi thế là trả thù ư? Trả thù ha tự sát? Bấy lâu nay ta theo giai dịch với hảo hán giang hồ tứ xứ, con chưa định nghĩa nổ hai chữ phục hận sao? Phải sát! Sát bất cứ bằng phương cách gì!... Nghe chưa?

Lý Tiểu Hoàn tái mặt, đâm đầu nhìn xuống đất.

Ba Sơn Lý Hùng nói tiếp :

- Trong trường hợp hiện tại, đối với quan địa phương đã có Thiết Diện Hổ, con không phải e ngại phạm pháp. Tại sao không kéo rốc môn đệ đến san phẳng Hội quán, hạ sát Thế Ngọc, báo mối phu thù trước đã? Ăn thua với mẫu thân nó làm chi, thêm tốn công phí sức? Cơ hội tốt để lỡ rồi, nay con tái động, ý nghĩa của ba chữ “báo phu thù” mất tánh cách nhiệt độ của nó rồi. Thiên hạ sẽ cho con là điên rồ, hành động không đường lối. Sự ngu đần dại dột của con là nguyên do mối giận của ta khi chân ướt chân ráo vừa tới Hàng Châu!

Lý Ba Sơn bực tức đứng phắt dậy đi đi lại lại trong khách phòng như cọp dữ, thỉnh thoảng lại ngừng trước bàn thờ Lôi Lão Hổ, lắc đầu thở dài.

Tiểu Hoàn thay thường phục, ra mời Lý Ba Sơn vào rửa mặt sửa soạn dùng bữa. Hai cho con rượu được một tuần, Ba Sơn điềm đạm hơn hỏi :

- Thân mẫu Phương tiểu tử tên là chi?

- Miêu Thúy Hoa, người Quảng Đông.

- A?... Quyền pháp hay bộ cước thuộc môn phái nào?

- Thiếu Lâm tự.

Lý Hùng gật gù :

- Nếu cha không lầm thì nó là con gái Miêu Hiển, người Miêu ở Việt Tây, Châu Liên Sơn, Nhập Lý Động.

- Có giống người Miêu (Mèo) theo Thiếu Lâm tự, thưa phụ thân? Lý lịch Miêu Hiển thế nào?

- Miêu Hiển là sư đệ của Ngũ Mai, thiền sư bên Bạch Hạc sơn, Tây bắc Vân Nam và Chí Thiện trưởng phái Thiếu Lâm. Họ Miêu lớn tuổi mới theo học nên bản lãnh kém hai người kia khá nhiều. Cha biết Miêu Hiển từ hồi y còn trung niên. Khi đó Thúy Hoa còn nhỏ tuổi. Tuy không thân giao nhưng cũng là chỗ quen biết, lẽ nào nó không nể tình đồng đạo để con nó sát hại Lôi tế tử được? Như vậy là vuốt mặt không nể mũi, khinh thường ta đó.

Nói tới đây Lý Ba Sơn lại đùng đùng nổi giận, truyền bọn tôn đồ thắng ngựa, Lý Tiểu Hoàn băn khoăn :

- Phụ thân đi đâu giờ này?

- Đến Hội quán Quảng Đông quyết hạch tôi Miêu Thúy Hoa và cần sẽ phá tan Hội quán. Lôi Lão Hổ bậy bạ ở đâu khôn biết, riêng đối với ta y lúc nào cũng xử sự quang minh nên ta thương y như con ruột. Thương tay! Nay chỉ còn linh vị kia kìa và hồn oan u uất khôn tan.

Lý Tiểu Hoàn thương cảm ôm mặt khóc nức nở.

Lâm Minh vào báo ngựa đã sẵn sàng.

Lý Ba Sơn nói :

- Ngươi theo ta chỉ đường đến Hội quán.

- Thưa, con không thể đi theo lão sư được e lộ hình tích.

- Bất cứ ai cũng được, ta chỉ cần dẫn đường.

Lâm Minh lui ra lựa hai sư đệ bảo theo dẫn đường lão sư tới Hội quán. Đến nơi, Lý Ba Sơn gọi đích danh Phương Thế Ngọc ra hỏi chuyện. Nhân viên Hội quán vội vào báo với Trần Ngọc Thơ và vợ chồng Phương Đức lúc đó đang bàn tán về vụ tranh đấu với Lý Tiểu Hoàn.

- Thưa có một vị lão hán cưỡi ngựa đến cửa Hội quán gọi Phương công tử ra hỏi tội.

Phương ông giựt mình đánh thót một cái, biến sắc :

- Lại chuyện gì nữa thế này? Tôi biết ngay là còn lôi thôi nhiều!...

Miêu Thúy Hoa nói :

- Việc gì thì cũng sẽ có phương cách giải quyết, phu quân than phiền làm gì.

Nàng bèn hỏi người vào báo :

- Hình dáng lão hán thế nào?

- Thưa thái thái, lão hán chừng ngoài lục tuần, hung hãn lực lưỡng, khỏe mạnh lắm.

- Được, để tôi ra xem chuyện gì.

Thúy Hoa định vào phòng đai nịt thì lại có người vào báo :

- Xin thái thái định đoạt mau lẹ kẻo lão hán vào phá Hội quán bây giờ.

Thấy cấp bách quá, Thúy Hoa đi thằng ra cửa và nhận ngay ra Lý Ba Sơn. Nàng lo lắng nghĩ thầm: “Nguy rồi! Lão này tới đây gây chuyện tất lôi thôi to. Biết đối đáp thế nào bây giờ! Hãy cư xử lễ độ xem sao đã”.

Thúy Hoa cung bái đến tận đất :

- Sư bá giáng lâm có điều chi dạy bảo. Mời người vào Hội quán dùng trà.

Lý Ba Sơn nhận ra đúng là Miêu Thúy Hoa, bèn cười gằn :

- Thúy Hoa! Ngươi bẻm mép xảo trá, xưng hô thúc bá làm chi? Gọi đích danh Lý Ba Sơn có hơn không?

- Sư bá dạy thế nào, đệ tử quả tình không hiểu.

Lý Ba Sơn chỉ mặt Thúy Hoa quát :

- Không tình nghĩa gì với chúng bây. Khi tiểu tử Thế Ngọc hạ sát Lôi Lão Hổ thì có nghĩ gì đến tình nghĩa không? Ba bữa nay mi tận tình tranh đấu với con gái ta, vậy có đếm xỉa gì đến tình đồng đạo võ nghệ không?

- Thưa sư bá, con của đệ tử không biết Lão Hổ là lệnh tế, vả lại khi thượng đài, đường quyền, ngọn cước vô tình, Lão Hổ dùng độc thủ không hạ nổi Thế Ngọc nên mới bị đá tử đó...

- Không nói dài dòng, mi gọi Thế Ngọc ra đây là xong chuyện.

- Sư bá cho đệ tử phân trần đôi lời, dù có thác cũng cam tâm. Sau đó, lệnh nữ thách Thế Ngọc thượng đài báo thù và nàng đã hạ độc thủ khiến con đệ tử trúng trọng thương, thập tử nhất sanh, nếu đệ tử không kịp cấp cứu thì cũng khó lòng toàn mạng...

Lý Ba Sơn ngắt lời :

- Chớ khá dài dòng! Hoặc ngươi, hoặc Thế Ngọc giao đấu cùng ta. Nói thằng cho ngươi hay, ta tới đây không ngoài mục đích báo thù cho Lão Hổ. Hẹn ngày giờ đi, hoặc đấu ngay bây giờ cũng được.

Tự lượng không phải địch thủ của Lý Ba Sơn, Miêu Thúy Hoa xoay kế hoãn binh :

- Sư bá không tha dù đệ tử đã nói tận tình. Vết thương của Thế Ngọc nặng lắm, nếu người nhất định giao đấu vậy xin chờ cho y lành mạnh đủ sức hẳn hay, lẽ nào sư bá nỡ hạ thủ một kẻ đang bị vết thương hành hạ liệt giường liệt chiếu?

Lý Ba Sơn cười gằn ghê rợn :

- Một, hai, ba tháng ta cũng cho, kẻo lại than phiền rằng ta cố chấp. Trừ phi thăng thiên, độn thổ, hoãn binh để chạy thì không thoát đâu. Hẹn đi!

Ức đến tận cổ, nếu không vì chồng thì Miêu thị quyết liều chiến đánh một trận cùng lắm là chạy chớ sợ gì Lý Ba Sơn? Nhưng trường hợp của nàng khác, không thể liều như thế được. Phải giải quyết vụ này bằng phương pháp khác.

- Thế Ngọc còn đau nhiều, lành vết thương và lại sức cũng mất nhiều thì giờ. Mẹ con đệ tử quyết giữ lời hứa tranh đấu và sẽ không... phụ lòng sư bá. Môn đệ Thiếu Lâm tự chưa bao giờ nói hai lời và không trốn tránh ai bao giờ dù phải thác.

- Khá lắm! Ta mong ngươi không làm hổ danh toàn phái và sẵn lòng chờ...

Dứt lời, Lý Ba Sơn rẽ ngựa về nhà. Miêu Thúy Hoa trở vào hội quán ngồi phịch xuống ghế nghĩ ngợi. Phương ông và Trần Bang trường săn đón hỏi han. Miêu Thúy Hoa nhìn chồng và bạn chồng :

- Bang trường và phu quân nghe rõ chuyện vừa rồi chứ gì? Người đó là thân phụ Lý Tiểu Hoàn tên Lý Hùng tước hiệu Ba Sơn, đệ nhất môn đồ của Bạch Mi đạo nhân bên Tây Khương. Người đó bản lãnh siêu việt, đến đây báo thù cho tế tử.

Phương ông hỏi :

- Chạy không được, hiền thê định cư xử thế nào bây giờ?

Suy nghĩ giây lát, Miêu Thị nói :

- Phu quân chịu khó trông nom cho Thế Ngọc được lành mạnh. Phần thiếp phải thân hành lên Tung Sơn thỉnh sư trưởng Thiếu Lâm tự xuống giải quyết vụ này mới xong.

- Lỡ sư trưởng không nhận lời thì sao?

- Đây là vấn đề danh dự của môn phái lẽ nào Sư trưởng từ chối? Chỉ e rằng người vân du nơi xa thì không biết đâu mà tìm.

- Trong trường hợp ấy hiền thê định làm thế nào?

- Vào Vân Nam thỉnh Ngũ Mai đại sư bá vậy.

Phương ông sửng sốt :

- Vào Vân Nam? Đường xa mấy ngàn dặm rất hiểm nghèo?

- Cũng phải chịu khó lặn lội chớ sao? Phu quân đừng lo thiếp vất vả dặm trường. Xưa kia theo phụ thân phiêu bạt giang hồ thiếp xông pha vất vả quen rồi, chỉ lo công việc tiệm nhà...

- Việc nhà không lo! Đã có Hiếu Ngọc, Mỹ Ngọc thạo việc buôn bán, ta sẽ cho người về hỏi tin tức luôn luôn. Hiền thê mau lẹ trở về kẻo ở nhà không an tâm. Trong khi hiền thê đi vắng, nếu đối phương lại đến gây sự thì làm thế nào?

- Quả quyết chúng không đến đâu. Trừ phi Thế Ngọc bỏ trốn. Người của chúng nhật dạ canh phòng quanh đây rồi.

Trần Ngọc Thơ khẩn khoản :

- Thái thái có muốn đem theo mấy người không, lỡ cần sai bảo, đường trường?

Miêu Thúy Hoa lắc đầu :

- Đem họ theo thêm vướng và chậm trễ hành trình. Chỉ xin Bang trưởng cho xin một con ngựa thật tốt thôi. Mai tôi khởi hành.

Nói đoạn Thúy Hoa vào phòng Thế Ngọc thuật tự sự cho con hay, dặn dò mọi điều cần thiết khi nàng đi vắng.

--------------------------------------------------------------------------------

[1] “Thanh Cung Bí Sử” có ghi việc vua Càn Long sử dụng một ngân khoản rất lớn trong cuộc vi hành Giang Nam, trong đó chương trình gây cho các võ phái thành đối lập, xâu xé nhau chiếm một phần quan trọng.

Chương 18: Tìm dấu kẻ thù, Song hiệp một phen ra Quan ngoại Dò đường thảo khấu, Càn Long đại phá núi Hổ Đầu

Nói về Song hiệp Lã Mai Nương, Cam Tử Long khi rời khỏi Tần gia trang ra khỏi đất Lạc Dương, bèn qua Bảo Định, Thiên Tân vào Bắc Kinh du ngoạn theo lời Thiên Bôi Tử Ngũ Bạch Đường hỏi thăm đến Thủy Tiên lầu, nơi mà trước đây bằng hữu của họ Ngũ là Lý Phúc Vĩnh gặp Tăng Tòng Hổ qua lại chè chén.

Thủy Tiên lầu là một trong những đại tửu lầu ở khu doanh thương thành Bắc Kinh, nên tuy chốn kinh kỳ rộng lớn, người ta chỉ Song hiệp đến Huy Quang lộ. Tới đây, Thủy Tiên lầu sừng sững đồ sộ với ba tầng lầu, choán cả một khu rộng lớn ngay đầu lộ.

Lã Mai Nương hỏi Cam Tử Long :

- Vào đây trọ chớ, sư huynh?

- Trọ đây may ra lân la thăm dò được hành tung Tăng tặc đồ thì hay quá. Từ ngày hạ sơn tới nay thấm thoát đã năm rưỡi trời rồi, mất bao công trình phiêu bạt mà kẻ thù đã bặt dạng. Nhiều lúc, ngu huynh tưởng như nó đã chết mất xác đâu rồi.

- Trung Quốc đất rộng người nhiều, chúng ta tìm họ Tăng quả là một việc rất khó khăn, nhất là sau trên mười năm trời đằng đẵng. Hiện thời biết rằng trước kia y qua lại nơi đây kể cũng là may mắn lắm rồi. Chỉ rối, gỡ lần lần vậy.

Song hiệp xuống ngựa vào tửu lầu, lựa một thồi trong góc kín đáo ngồi.

Lần đầu tiên Mai Nương, Tử Long đặt chân tới một đại đô mà người qua kẻ lại, y phục sang trọng, dáng dấp phong nhã hào hoa.

Mai Nương nói :

- Lạc Dương thành đã đẹp và rộng lớn nhưng so với đất Kinh kỳ quả còn kém xa.

Tử Long gật đầu mỉm cười :

- Chúng ta là dân sơn cước lạc lõng tới Bồng Lai hạ giới, đất gái lịch trai thanh, y phục lụa là sang trọng.

- Không cứ, sư huynh coi kìa, ngoài người Hán, còn có người Mãn, Mông qua lại, y phục gọn ghẽ, đeo võ khí kè kè bên mình. Hình như họ cùng là những kẻ từ xa qua đây như chúng ta, vậy anh em ta đây cũng đâu phải là khách tha phương cô độc?

Tửu bảo đến lãnh món ăn, Tử Long nhường Mai Nương gọi món... thứ ghi trong thư... kiểu Bắc Kinh và hồ rượu ngon. Thấy tửu bảo diện mạo sáng sủa hiền lành, Tử Long mỉm cười lấy cảm tình :

- Này, tôi còn trọ đây mấy ngày, đại ca cho biết tên để tiện nói chuyện?

Tửu bảo thấy khách hàng bình dân, dễ dãi khác hẳn với những vị đại quan, đại thương gia thường qua lại Thủy Tiên lầu, bèn lễ phép trả lời.

- Thưa thiếu gia, con là Trương Thành, làm việc nguyên trên lầu này được mười năm rồi. Thiếu gia cần gì cứ gọi A Lục thì ai cũng biết. Con là thứ sáu trong nhà.

- Được lắm, cần gì tôi sẽ gọi A Lục nhé. Giờ đây, cho ăn đi, đói bụng quá rồi.

Chờ A Lục đi khỏi, Mai Nương nói :

- A Lục ở đây mười năm rồi, tất phải quên nhiều khách hàng. May ra hỏi thăm được.

- Chính vì thấy y đứng tuổi nên ngu huynh mới làm quen, chẳng ngoài mục đích thăm dò.

Lát sau A Lục đem rượu và món ăn lên bày ra thồi, Cam Tử Long cầm hồ rượu mở nắp ngửi. A Lục vội nói :

- Thưa thiếu gia, thứ Hồng đào tửu này nổi tiếng nhất Bắc Kinh và chỉ riêng bổn lầu mới có thứ thiệt của dòng họ Lý gia cất lâu năm. Bởi lẽ ấy, khách hàng qua lại nơi bổn lầu, vị nào cũng đòi uống nguyên thứ bảo tửu này.

Tử Long gật gù đưa hồ rượu cho Mai Nương :

- Phải rồi, đích thứ Hồng đào tửu này, ông bạn đứng tuổi của chúng ta thường ca tụng được uống luôn tại Thủy Tiên lầu. Hương đượm ngọt giọng tệ!

A Lục thấy Tử Long nói vậy liền hỏi :

- Thưa thiếu gia, trừ các quý khách thường qua lại lầu Nhĩ hay dưới nhà, còn vị nào đã qua lầu ba thì con nhớ và biết tên hầu hết. Chẳng hay người quen biết của thiếu gia hình dáng thế nào?

Tử Long nói :

- Lực lưỡng, trạc ngoại tứ tuần, da đen sần sùi, râu quai nón, dáng điệu võ biền.

A Lục rót rượu mời hai người, nét mặt dáng suy nghĩ, đứng hầu kế bên. Tử Long mời Mai Nương nhấp ly rượu, khà một tiếng khen ngon rồi hỏi A Lục :

- Đại ca có nhớ người đó không?

- Thưa, vị quí khách ấy họ gì ạ?

Tử Long không muốn nói hẳn tên :

- Người ấy họ Tăng.

A Lục nghĩ thầm: “Gớm, hai vị quí khách trang nhã thế này mà sao quen với ông bạn diện mạo xấu xí đến như vậy!”

Nghĩ đoạn, A Lục nói :

- Con nhớ một vị khách quan diện mạo đúng như vậy, cách đây năm sáu năm, thường ngày tới lầu này uống rượu với các bạn, nhưng không phải họ Tăng.

Tử Long mừng thầm hỏi dựa :

- Phải rồi, bằng hữu của tôi trong thời gian đó thường qua lại Bắc Kinh.

A Lục lắc đầu :

- Nếu qua lại thì chắc không phải rồi, người này thường ngày cùng các bạn đến đây uống rượu suốt trong một năm như vậy tức là phải ở hẳn Bắc Kinh.

Tử Long nhìn A Lục :

- Có lẽ y ở hẳn Bắc Kinh vì tôi không nhớ rõ năm hay sáu năm.

- Thưa thiếu gia, nếu là người ấy thì đúng sáu năm, con nhớ rõ ràng. Suốt trên một năm trời, vị ấy đến bổn lầu uống Hồng đào mỹ tửu nhưng không bao giờ đi một mình.

Tử Long làm ra dáng thạo và tự nhiên đoán già đoán non :

- Ông bạn tôi hay đi với các vị hảo hán võ dũng.

A Lục lắc đầu :

- Thưa không. Chắc lại lầm rồi, vị đại hán ấy trang phục rất sang trọng, cùng đi với các bạn cũng hết sức cao sang, đúng thời trang. Về phương diện võ dòng thì không biết được vì người nào trông cũng mạnh khỏe.

- Phải người ấy họ Tăng không?

- Con không bao giờ được nghe các vị khách quan ấy nói chuyện. Mỗi khi gọi thực vật cần dùng xong, các vị ấy bảo con ra khỏi phòng, chừng nào cần mới gọi vào, khi con vào họ im lặng. Những việc tương tự xảy ra rất thường nên con không hề để ý.

- Những năm về sau này, người ấy có trở lại Thủy Tiên lầu nữa không?

Suy nghĩ giây lát, A Lục đáp :

- Bẵng hẳn đi một năm không thấy gì, về sau người ấy có trở lại đây với một vài người bạn luôn trong vài ba ngày rồi lại bẵng đi có khi nửa năm, hơn nửa năm, hoặc mươi tháng mới lại xuất hiện.

- Cho đến bây giờ cũng vẫn vậy ư?

- Dạ. Nhưng hai năm về sau này không hiểu vì lẽ gì vị ấy cạo bộ râu quai nón sùm sòe đi rồi. Để râu mặt đã dữ, bỏ râu còn dữ hơn. Tuy vậy, tâm tánh hào sảng lắm, không đến nỗi nào.

Muốn tránh cho A Lục khỏi bép xép, Tử Long nói :

- Lầm rồi, không phải người đó. Ông bạn tôi để râu như thường. À, đại ca có biết người nào tên Lý Phúc Vĩnh không?

A Lục không do dự :

- Thưa có, Lý Phúc Vĩnh là một trong những tiêu sư có phiêu cuộc trong thành Bắc Kinh.

- Y ở đâu?

- Phiêu cuộc hình như ở... Bích Cung Cái. Trước kia Lý tiêu sư cũng hay lại Thủy Tiên lầu uống rượu. Từ ngày mở thêm hai chi nhánh ở đâu đó thì chỉ khi nào có dịp qua Bắc Kinh mới đến bổn lầu thôi. Cách đây độ chừng hai tháng, tiêu sư có về Bắc Kinh.

- Bích Cung Cái có gần đây không?

- Thưa ở lối Bình Tây Môn, nhưng đường sá Bắc Kinh như mắc cửi. Nhị vị muốn đến đó nên đi kiệu sẽ khỏi mất công tìm đường.

Ăn xong, Song hiệp ngồi chơi uống trà ngắm cảnh Bắc Kinh chi dạ hồi lâu mới về phòng.

Tử Long hỏi Mai Nương :

- Sư muội suy luận về các tin tức của A Lục vừa nói thế nào?

- Chắc là Tăng Tòng Hổ. Có lẽ y kiếm ăn vùng này nên thỉnh thoảng ghé Bắc Kinh cùng đồng bọn ăn xài rồi lại đi. Việc chúng trang phục không đáng kể, vì chúng phải hóa trang để che đậy bộ mặt cường đạo đi chớ. Sư huynh có nhớ Ngũ Bạch Đường hôm ăn khánh hỉ ở Tần gia trang đã nói về sào huyệt của Tăng tặc không?

- Có chớ. Theo lời quái khách họ Ngũ thì tám năm về trước y lập căn cứ ở Hổ Đầu sơn thuộc Phong Linh huyện, tỉnh Nhiệt Hà, ngoài cửa Quan.

- Từ Bắc Kinh lên Quan ngoại không bao xa, biết đâu Tăng tặc đạo không trở lại quán trú tại Hổ Đầu sơn hành động trong hai vùng Quan nội và Quan ngoại? Có thế y mới qua lại Bắc Kinh dễ dàng. Sư huynh nghĩ phải không?

Cam Tử Long gật đầu :

- Hỏi sư muội xem có hợp ý không đó thôi, ngu huynh cũng nghĩ như vậy. Quái khách Ngũ Bạch Đường đã giới thiệu Lý Phúc Vĩnh, chúng ta thử tìm gặp y xem có biết được tin tức gì mới hơn không, rồi sẽ liệu sau.

Lã Mai Nương khen phải.

Hôm sau, Mai Nương và Tử Long gọi hai cỗ kiệu ngã giá đến Bình Tây Môn tìm phiêu cuộc Lý Phúc Vĩnh. Đến nơi Tử Long xưng danh hỏi thăm Lý tiêu sư.

Viên tài phú tưởng khách hạng sang trọng, xoắn suýt mời chào khiến Tử Long phì cười giải thích :

- Tôi là bạn của Thiên Bôi Tử Ngũ Bạc Đường, muốn gặp Lý tiêu sư có chút việc riêng. Chẳng hay tiêu sư có nhà không?

Lúc bấy giờ tài phú mới nghe ra, nhìn lại thấy Tử Long đeo kè kè thanh trường kiếm bên mình, dáng điệu kiêu hùng bèn đáp :

- Xin lỗi thiếu gia, tôi tưởng thiếu gia và nương tử cần tiêu sư hộ vệ. Mấy năm nay chủ nhân tôi mở thêm chi nhánh ở Trương Gia Khẩu và ở luôn trên đó điều khiển, một năm về vài ba lần thôi và hiện thời không có ở nhà.

- Phiêu cuộc trên Trương Gia Khẩu tên gì, ở đường nào?

Viên tài phú chỉ tấm biển treo dọc trên mé tường gần đường :

- Thưa, cùng một tên “Lý Gia Phiêu Cuộc” ở ngay khúc giữa Sơn Thần lộ.

Cam, Lã cám ơn, rồi thuê xe ra ngã Bắc Môn để luôn tiện thăm các ngôi cổ mộ Minh triều. Khu lăng tẩm này là cả một công trình kiến trúc mỹ thuật. Lã Mai Nương được Tử Long giảng giải sơ lược công nghiệp của hai mươi mốt đời Minh đế gồm hai trăm chín mươi sáu năm kể từ Thái Tổ Hồng Võ lập quốc đến Sùng Trinh. Song hiệp la cà xem tỉ mỉ đã mắt hiếu kỳ rồi mới thong thả trở ra, cùng vào Tiêu Tương điếm ăn uống.

Mấy hôm sau, Cam, Lã rời Bắc Kinh, ra lối Trấn Biên môn đi Trương Gia Khẩu.

Trương Gia Khẩu giáp với Vạn Lý Trường Thành là một trong những cửa ải địa đầu thành cao, hào sâu kiên cố bội phần. Nơi đây, dân chúng trà trộn ba giống người Hán, Mãn, Mông. Những đoàn khách thương Mông Cổ đầu đội mũ lông, áo da, ủng da, đoản đao gài đai lưng, tải hàng hóa buôn từ Trương Gia Khẩu ra khỏi cổng thành. Họ không dùng ngựa thồ như người Hán, Mãn mà dùng toàn giống lạc đà một bướu cao lênh khênh. Lúc đó một đoàn người ngựa thồ hàng đi tới.

Song hiệp gò ngựa đứng sang bên, nhường lối cho đoàn khách thương đi qua. Mai Nương đếm đúng bảy mươi hai thồ hàng. Bốn vị tiêu sư, hai Hán, hai Mông. Họ cưỡi bốn con tuấn mã cực kiêu hùng. Thấy đôi nam nữ thanh niên gò ngựa đứng nhìn, bốn vị tiêu sư dùng tiếng Mông Cổ xì xồ nói với nhau những gì không hiểu và đăm đăm ngó hai người.

Mai Nương bảo Tử Long :

- Vào thành đi sư huynh. Bốn tiêu sư có lẽ nghi ngờ chúng ta là bọn Hướng Mã.

Lục lâm cường đạo thường phải đồng bọn cải trang, trà trộn với dân chúng để dò thám ngày giờ, đường lối tải hàng và tên Bảo tiêu cuộc, số tiêu sư áp tải, để dự bị đón đường chận đánh cướp hàng cho dễ dàng. Bọn dò đường không cần phải là đồng bọn với lục lâm. Họ có tổ chức riêng, giao dịch với các sơn trại trong vùng và phi báo cho các Đại vương chặn đường cướp thồ hàng ngoài vùng sơn trại sào huyệt của chúng.

Lối tổ chức này có từ đời Bắc Tông và chỉ riêng trong địa hạt Sơn Đông, do những tay giang hồ hắc đạo người Sơn Đông đảm nhiệm. Bởi vậy mới thành tên “SƠN ĐÔNG HƯỚNG MÔ. Sau đó, các Hướng Mã lan tràn ra hai tỉnh Trực Lệ và Hà Bắc. Bọn Hướng Mã lúc đó không hẳn phải là người Sơn Đông, nhưng thiên hạ quen miệng gọi luôn những tay chỉ điểm cho lục lâm cường đạo là Sơn Đông Hướng Mã.

Không phải bất cứ người nào cũng hành nổi nghề Hướng Mã. Họ phải giỏi võ nghệ, tinh tường, giao dịch rộng với mọi người và nhất là trong giới giang hồ hắc đạo, thông thạo đủ các thứ tiếng lóng mà giới này thường dùng khi “làm việc”.

Nhiều khi họ bày mưu lập kế cho bọn lục lâm hành động nữa. Họ đánh giá đoàn thồ hàng để ăn bách phần, thường lấy từ mười đến hai chục phần trăm và lấy tiền trước. Họ “hướng” Đại vương sơn trại đến địa điểm tốt, núp trong rừng hay sau các mô đá trong khe núi, chờ phục kích. Viên chỉ huy ước lượng các thồ hàng như tay Hướng Mã đã phi báo.

Theo lệ, viên chỉ huy trả tiền ngay tại chỗ cho y. Tới đây, nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ điểm của Hướng Mã đã xong. Y đi thẳng không cần ngó lại xem trận phục kích có đem lại kết quả hay không. Mặc hai bên giao chiến, mạnh ai nấy được. Nhưng không phải vụ nào cũng xong xuôi dễ như thế đâu. Bọn lục lâm nghe danh tiêu sư mới dám nhận lời đánh hay không đánh. Nếu gặp phải tay Bảo tiêu kiệt hiệt, danh tiếng lẫy lừng thì dù món hàng trị giá “ngon” biết mấy, chúng cũng từ chối như thường, mời Hướng Mã đi “ăn khách” khác.

Biết vậy, Hướng Mã tính toán hẳn hoi chứ không hướng dẫn liều, mất công. Họ biết tài nghệ, biết lực lượng của từng người, từng toán lục lâm một mới dẫn hàng. Nhiều khi có những đoàn thồ hàng cực giá trị, có bách phần lên cao, nhưng Hướng Mã đành khoanh tay nhìn với cặp mắt của khách bàng quan, chỉ vì Tiêu sư áp tải chuyến thồ ấy là một tay công phu điêu luyện, võ công tuyệt vời, danh trấn nội vùng, không một toán lục lâm đại đạo nào dám trêu chọc. Khốn nỗi, không phải Tiêu sư nào cũng vậy. Thực tài hiếm là hư danh rất nhiều. Đó là thói thường của đời người bất cứ cổ, kim.

Mai Nương, Tử Long vào thành, trời còn sớm, bèn hỏi thăm đến Sơn Thần lộ tìm “Phúc Vĩnh Phiêu Cục”.

Chủ phiêu cuộc là Lý Phúc Vĩnh đã được Thiên Bôi Tử Bạch Ngũ Đường giới thiệu Cam, Lã đến đây và cũng đã từng nghe danh đôi danh tài Nam Nữ này nên tiếp đãi rất niềm nở. Lý Phúc Vĩnh liền giới thiệu hai vị tiêu sư của mình là Hứa Chuẩn, Tưởng Nguyên Sơn cùng Mai Nương và Tử Long.

Qua câu chuyện hỏi chào, Tử Long thăm dò tin tức của Tăng Tòng Hổ.

Lý Phúc Vĩnh ngạc nhiên, suy nghĩ muốn tìm trong trí nhớ xem gã ấy là ai, rồi hỏi lại :

- Cam hiệp có biết tên y không? Vì nghề nghiệp tôi có biết một số khá đông nhân vật hắc đạo ấy, nhưng không nhớ hẳn tên chung.

- Trước đây năm, sáu năm gì đó, tiên sinh cùng Ngũ anh hùng uống rượu tại Thủy Tiên lầu ở Bắc Kinh, đã từng gặp gã. Tiên sinh nhớ ra chưa?

Lý Phúc Vĩnh vỗ trán, gật đầu :

- A! Nhớ ra rồi. Hồi đó tôi chưa lập phiêu cuộc ở đây. Phải, Ngũ đại ca chỉ mặt y cho tôi, trái lại tôi biết tên và hành động của y trong khu vực bảo phiêu của tôi, Tăng Tòng Hổ, phải không?

- Chính phải.

- Thời gian ấy, họ Tăng có đi lại trong khu vực Bắc Hà, nhưng thật ra y hoạt động ở ngoài cửa Quan và vùng căn cứ của bọn tặc đạo lục lâm chiếm cứ Hổ Đầu sơn, một nơi thiên hiểm. Thấy Tòng Hổ qua lại đất Bắc Hà, tôi đã tưởng y ngấm ngầm nhúng tay vào các vụ cướp hàng hóa có bảo tiêu trong Quan nội. Thật ra không phải thế. Tôi gặp y tới bốn, năm lần uống rượu ở Thủy Tiên lầu cùng mấy bằng hữu y phục chỉnh tề, sang trọng. Nếu không biết rõ như tôi, tất không một ai có thể ngờ được rằng gã là một tên đại đạo nghiễm nhiên ăn uống tại nơi kinh kỳ, chuyện trò nhàn nhã như một phú gia hay một quan nhân vậy.

Lã Mai Nương hỏi :

- Trong thời gian ấy, tại Bắc Kinh có xảy ra vụ sát nhân đoạt của nào lớn không?

Lý Phúc Vĩnh suy nghĩ giây lát :

- Không. Chắc chắn không. Tôi cũng đã yên trí thế nào Tăng Tòng Hổ cũng âm mưu hành động “làm một chuyến” lớn. Nhưng trái lại, tuyệt nhiên không xảy ra vụ án nào cả.

- Thưa tiên sinh, mấy năm sau này thì sao?

- Từ ngày lập chi nhánh phiêu cuộc tại đây, tôi bận điều khiển công việc bảo tiêu tại Trương Gia Khẩu thỉnh thoảng mới về Bắc Kinh và cũng không bao giờ gặp tên tặc đạo ấy nữa. Y đã hoàn lương chăng? Hay đi nơi khác? Tôi không dám nói chắc.

Cam Tử Long hỏi :

- Theo ý tiên sinh, muốn kiếm gã bây giờ cần hành động thế nào?

- Bọn lục lâm Hổ Đầu sơn hãy còn tại chỗ, không gì hơn là nhị vị nên đến đó một phen cho đích xác rồi sẽ hay sau. Hiềm vì Hổ Đầu sơn là nơi thiên hiểm, bọn đại đạo ở đó khá mạnh mẽ. Quan quân đã kéo tới tiễu trừ hai ba lần đều bị thất bại. Nhị vị nên chuẩn bị cẩn thận trước khi hành động.

Cam Tử Long gật đầu, mỉm cười :

- Dạ, dĩ nhiên phải chuẩn bị trước khi vào miệng cọp. Vị trí Hổ Đầu sơn thế nào?

Lý Phúc Vĩnh lấy giấy, bút họa mấy đường chỉ dẫn cho Song hiệp :

- Núi Hổ Đầu thuộc Phong Linh huyện, ở phía Tây bắc hình như cách huyện đó chừng hai trăm dặm, giáp giới hai tỉnh Nhiệt Hà, Sát Cáp Nhĩ, giữa quãng rừng núi chập chùng.

- Hiểm tuấn quá như vậy, bọn giặc Hổ Đầu sống bằng cách nào?

- Người ta nói rằng có hai con đường độc đạo chạy vắt qua mặt tiền và mặt hậu Hổ Đầu sơn. Sự thông thương giữa hai tỉnh Nhiệt Hà, Sát Cáp Nhĩ đều do hai đại lộ ấy. Như vậy, Hổ Đầu sơn thiên hiểm và lợi thế nên bọn lục lâm mới lấy đó làm căn cứ địa.

- Từ Vạn Lý Trường Thành ra Phong Linh huyện, lối nào tiện hơn?

- Có hai lối đi bằng nhau. Từ Sơn Hải quan theo ngả tay tả. Từ Trương Gia Khẩu theo ngả tay hữu. Dĩ nhiên nhị vị hiện thời ở đây, đi lối Trương Gia gần hơn. Nhị vị có gấp không?

Cam Tử Long nói :

- Sớm ngày nào hay ngày ấy.

Lý Phúc Vĩnh hỏi Hứa Chuẩn :

- Bốc Đề Nhĩ theo đoàn áp tải đi Đại Đồng được mấy bữa rồi nhỉ?

Họ Hứa đáp :

- Năm hôm rồi, có lẽ chỉ một hai ngày nữa sẽ về tới đây.

Lý Phúc Vĩnh nói với Cam, Lã :

- Nếu nhị vị chờ được, tôi sẽ cho Bốc Đề Nhĩ, một thủ hả người Mãn khỏe mạnh, lanh lẹ. Y rất thuộc vùng Hổ Đầu, nhị vị sẽ đỡ mất công dò hỏi.

Cam Tử Long cả mừng :

- Ơn ấy chúng tôi không bao giờ quên.

- Anh em hồ hải chúng tôi giúp nhau được phần nào hay phần nấy, Cam hiệp cứ tự nhiên. Nhị vị có nói được tiếng Mãn tộc không?

- Tôi bập bẹ được vài tiếng cần thiết, nhưng Lã sư muội nói thạo y hệt người Mãn.

- Thế thì hay lắm, vì Bốc Đề Nhĩ không nói được Bạch thoại.

Song hiệp đứng lên từ tạ, Lý Phúc Vĩnh nói :

- Đáng lẽ tôi lưu khách, hiềm vì nơi Phiêu cuộc kẻ ra người vào, hàng hóa xô bồ bất tiện. Trương Gia Khẩu có Biên Cương quán ở Bắc Kinh lộ lớn nhất. Thể thức tiện nghi theo lối Kinh sư, nhị vị chờ đây chốc lát, tôi phái người đi lấy phòng. Tối nay chúng ta dùng bữa ở đó.

Cam Tử Long nói :

- Khỏi phiền, chúng tôi tự khắc tìm đến. Cuối giờ Mùi sẽ tái kiến.

Hai người ra khỏi phiêu cuộc, lên ngựa nhằm các nơi đông đúc đi tới. Đến đại lộ Bắc Kinh, Cam, Lã xuống ngựa trước Biên Cương quán, trao cương cho tửu bảo, vác hành lý vào thẳng quán trọ, lấy phòng trên lầu.

Tửu bảo chưa kịp bước thì từ trên lầu, một hòa thượng lực lưỡng vận áo đen đai vải vàng, lưng đeo nón lá úp lên thanh giới đao chuôi nhô lên khỏi vai, theo sau là một người trạc tứ tuần vóc trung bình vận võ phục, bên sườn gài cặp giản, lưng đeo hành lý, cả hai cùng vùn vụt bước hai bực một xuống lầu.

Họ đi gấp quá, gần như chạy, vô ý đến nỗi Mai Nương, Tử Long không lẹ chân tránh kịp thì kẻ đi lên, người đi xuồng xô cả vào nhau.

Riêng tên tửu bảo tránh không kịp, bị hòa thượng chạm nhẹ té cồng kềnh xuống mấy bực thang lầu.

Hòa thượng và người kia cũng chẳng buồn ngó lại, rảo bước ra phía quầy hàng.

Mai Nương nổi giận, toan đuổi theo nhưng Tử Long cầm tay giữ lại :

- Thôi, kệ chúng, xô xát nơi tửu lầu ngay vừa lúc tới không tiện.

Nói đoạn, chàng đỡ tửu bảo dậy :

- Có sao không?

Tửu bảo bóp cánh tay tả nhăn nhó :

- Gớm! Tay gì mà cứng như sắt, chạm phải tay còn đau hơn bị té trầy hông. Sư mô gì mà khiếp quá!

Từ đó, Mai Nương và Tử Long có ý dò xem lai lịch và hành động của vị hòa thượng này nên khi Lý Phúc Vĩnh, Tưởng Nguyên Sơn và Hứa Chuẩn đến dự tiệc.

Tử Long đem việc gặp hòa thượng dữ tướng ở thang lầu thuật lại cho ba vị tiêu sư nghe.

Tưởng Nguyên Sơn nói :

- Nhị vị đừng lấy làm lạ. Đạo giới ở Trương Gia Khẩu cũng có nhiều thứ người. Hòa thượng Hán, Mãn, Mông nhan nhản, phần đông đều cao lớn, lực lưỡng, nhất là hai giống người Mãn Châu, Mông Cổ. Thoạt nhìn, ta có cảm tưởng họ hung hãn như đầu đà Hán tộc, thật ra nét mặt dữ tợn nhưng tâm địa rất lành.

Mai Nương lắc đầu :

- Nhưng không phải là trường hợp của gã đầu đà gặp ở thang lầu. Chúng tôi từng thấy hòa thượng Mãn, Mông ở Bắc Kinh, Lư Câu kiều. Diện mạo lầm lì dữ thật, trái lại cặp mắt thật nhân từ, chớ không như cặp kim điểu nhãn của tên hồi nãy.

Cam Tử Long hỏi :

- Trương Gia Khẩu có ngôi đại tự nào khiến quý vị phải chú ý không?

Lý Phúc Vĩnh nhìn hai bạn đồng nghiệp như muốn hỏi ý kiến.

Tiêu sư Hứa Chuẩn đáp :

- Tại địa điểm biên ải này là bốn ngôi thiền viện. Một của người Mãn ở trong thành phía Tây Môn. Một ngôi riêng của người Mông Cổ gần Nam Môn. Ngôi thứ ba của hòa thượng người Hán ở gần chùa Mông, cách nhau bởi một khu đất lớn. Cả ba thiền viện này đều ở nội thành. Cổ kính nhất là ngôi chùa Mông Cổ xây dựng từ Nguyên triều. Sau đó là chùa Hán tộc có từ thời Minh Thành Tổ. Chùa của Mãn tộc mới nhất, xây từ hồi Thuận Trị vượt biên ải vào Trung Quốc lập nghiệp đế. Ngoài ra còn có một ngôi đại tự nữa ở ngoại thành lối Tây bắc. Tôi chưa tới đó dâng hương bao giờ, nhưng nghe nói chùa ấy cực kỳ rộng lớn oai nghiêm. Các hòa thượng trụ trì bất phân Mãn, Hán, Mông.

Lã Mai Nương vội hỏi :

- Tên thiền viện ấy là gì?

- Thiên Vương tự.

- Cách thành bao xa?

- Hình như năm, bảy dặm, tôi không đủ thì giờ đi chiêm bái nên không rõ lắm, chỉ nghe nói thôi. Tiện nội lễ quanh nội thành được rồi, đi xa phải đưa đón hộ vệ thêm phiền.

Mai Nương đưa mắt nhìn Tử Long. Chàng hỏi :

- Hứa tiên sinh có biết pháp hiệu vị đại hòa thượng Thiên Vương tự không?

Hứa Chuẩn hỏi Tưởng Nguyên Sơn :

- Đại ca thường đi lễ tại Thiền viện đó ư? Bao lâu nay cộng sự với nhau không nghe nói đại ca đi chùa?

Nhìn Cam, Lã, Tưởng Nguyên Sơn nói tiếp :

- Đại hòa thượng Thiên Vương tự thuộc giống Bạch quỷ thật. Nước da trắng hồng như Lã tiểu thư thật hiếm có cho một nam nhi. Dị kỳ hơn nữa là râu tóc y vàng hoe, tròng con ngươi xanh như mắt mèo, mũi dài dị thường. Thân hình cao lớn đặc biệt. Như Cam hiệp đầy nở nang lực lưỡng ít người bì kịp nếu đứng bên cũng chỉ cao đến tai y thôi.

Cam Tử Long hỏi Nguyên Sơn :

- Vị hòa thượng đó đạo hiệu là gì, nói tiếng gì?

- Pháp hiệu là Thiên Cương hòa thượng, nhưng tên ghi sổ danh hạ tại dinh Tổng binh là Lịch Sơn Độ. Vì y dị tướng, dân chúng Trương Gia Khẩu thường gọi y là Bạch quỷ hòa thượng, Hoàng Mao hay Miêu nhãn, Thiên Cương thạo Bạch thoại và Mông Cổ, chữ viết cực tốt.

- Hòa thượng ấy trạc bao nhiêu tuổi?

- Thiên Cương hòa thượng mới ba mươi bảy tuổi, để râu quai nón, nét mặt già dặn như kẻ ngót ngũ tuần.

- Thiên Cương đến trụ trì Thiên Vương tự được bao lâu?

- Tôi không rõ. Lúc trước tôi ở Thiên Tân, lên Trương Gia Khẩu được hơn một năm ở Phiêu cuộc thì gặp Lý đại ca đây. Hai bên hợp tác cho đến nay.

- Một điều đáng chú ý đến Thiên Vương tự là vị đệ nhị hòa thượng phụ trách các Kinh Lễ trong chùa thuộc giống Hắc quỷ.

Cam Tử Long phì cười :

- Nếu thế kể cũng thế gian hãn hữu thật, Bạch, Hắc quỷ trùng phùng trong một đại gia thiền viện, Triệu tổng binh nghi ngờ là phải! Hắc hòa thượng đạo hiệu là gì?

- Hắc Phong hòa thượng Mông Lộ Di. Không biết gốc tích ở đâu nhưng từ Tây Tạng vào Trung Quốc. To ngang, thấp hơn Thiên Cương, xem chừng cũng sức lực lắm. Nực cười một điều là Thiên Cương hòa thượng trắng bao nhiêu thì Hắc Phong đen kịt bấy nhiêu. Từ chân lên tới toàn thân đen như mực, mắt lồi, răng nhe trắng nhởn, nhìn phát khiếp tưởng như quỷ sứ hiện thân. Thiên Cương đến Trương Gia Khẩu hơn bốn năm, tôi mới trông thấy Thiên Cương hòa thượng ra phố mỗi một lần, còn Hắc Phong thì thường gặp.

- Lúc nãy, tôi ngờ tên đầu đà ở trên lầu xuống là người tu hành xứ này nên mới hỏi chuyện về thiền viện, chẳng ngờ được nghe chuyện Thiên Vương tự kể cũng thú.

Tưởng Nguyên Sơn nói :

- Kể đi đã nhiều nơi, tôi nghiệm rằng không xứ nào đạo giới lại nhiều giống người trà trộn như Trương Gia Khẩu. Diện mạo chư tăng phần đông dữ dội, vóc dáng mập mạp khỏe mạnh khiến người ở xa tới không quen mặt, ai nấy đều có cảm tưởng này là xứ sở của đầu đà. Người Mông thì lầm lì, mặt lạnh như tiền. Người Mãn thì nham hiểm, ác. Nếu chỉ xét riêng vẻ bề ngoài tất sai hết. Tiếp xúc với giới tăng đạo trong nội thành, tôi nhận thấy họ đạo hạnh rất cao, đáng kính lắm.

Lã Mai Nương nói :

- Tiêu sư suy luận như vậy cũng phải, nhưng còn có một lý do nữa khiến bọn đầu đà tồn tại hết thế hệ này qua thế hệ kia.

- Sao vậy?

- Dễ hiểu lắm. Trung Quốc rộng mênh mông, thiền viện, am miếu nhan nhản, mạnh ai nấy tu. Đạo giáo được toàn dân tôn trọng, tuy thiền môn có quy chế hẳn hoi, nhưng các cấp trên dưới không đủ phương tiện kiểm soát khắp mọi nơi, thành thử mỗi thiền viện là một giang sơn riêng biệt mà vị sự trưởng trụ trì điều khiển theo lề lối riêng mình. Vị sư trưởng nào đạo hạnh cao siêu, lựa chọn cẩn thận các tăng, tiểu thế phát, ngôi chùa ấy không hổ danh thiền tự. Trái lại, một tên đạo tặc đội lốt thiền y, thâu nạp đồ đảng, dùng chốn thiền môn làm căn cứ cho tiện bề hành động, dĩ nhiên thiền viện dù là cổ tự hữu danh biết mấy cũng thành nguy hiểm cho dân chúng địa phương.

Nói tới đây, Lã Mai Nương thuật vụ Pháp Quang hạ sát Huệ Tĩnh thiền sư, chiếm đoạt chùa Thiên Sơn bên Túc Kỳ Châu cho hai vị tiêu sư nghe.

Lý Phúc Vĩnh nói với Song hiệp :

- Nhân dịp qua Trương Gia Khẩu, nhị vị nên dâng hương Thiên Vương tự thăm thử một phen.

Cam Tử Long đáp :

- Chúng tôi ra Quan ngoại trước cần tìm Tăng Tòng Hổ, sau đó mới tính chuyện thăm Thiên Vương tự.

- Cam hiệp có thể cho tôi biết lý do muốn gặp Tăng Tòng Hổ không?

Tử Long đem việc Tăng tặc đạo mượn tiếng thách đầu võ, phục kích hạ sát lão anh hùng Cam Trường Mâu trong Tần Lĩnh sơn thuật rõ ràng cho hai tiêu sư nghe.

Lý, Hứa, Tưởng bùi ngùi thương cảm và giận thay tên tặc đồ hèn nhát.

Tới gần trưa hôm sau, Lý Phúc Vĩnh dẫn Bốc Đề Nhĩ đến giới thiệu Tử Long để dẫn đường thám thính Hổ Đầu sơn

* * * * *

Hổ Đầu sơn cây cối um tùm ở giữa dãy núi ngăn đôi hai tỉnh Nhiệt Hà, Sát Cáp Nhĩ ngoài cửa Quan. Ngọn núi ấy không những là nơi thiên hiểm mà còn là căn cứ địa thuận lợi cho bọn lục lâm cường đạo nhan nhản khắp nơi thời tàn Minh và Thanh triều.

Đại vương chiếm cứ Hổ Đầu sơn họ Sử tên Đại Toàn, đồ đệ của võ sư lợi hại Mông Cổ, giống người Đạt Đất ở An Đài Sơn, tên là Cát Đạt. Thầy nào trò nấy, Sử Đại Toàn tánh tình hung dữ, sức khỏe, tài nghệ hay, muốn giàu có bằng nghề tắt nên trở thành tay độc cước đại đạo chuyên “làm ăn” ở vùng biên giới Mãn, Mông thuộc phần đất Mông Cổ, xuất hiện bất kỳ, nổi danh trong giới lục lâm là Thần Sơn. Lần lần, y tụ tập được nhiều bè đảng, tính đến việc lập căn cứ, sơn trại. Sau một thời gian thăm dò, Sử Đại Toàn kéo đồng bọn vào Mãn Châu chiếm cứ Hổ Đầu sơn lập doanh trại kiên cố.

Thần Sơn Sử Đại Toàn quen sử dụng một lá chắn bằng đồng, nơi cầm có một mũi nhọn, tay hữu cầm cây đồng giản bốn cạnh. Chiếc lá chắn bằng đồng có mũi nhọn mới lợi hại ghê gớm. Thường ra, người ta dùng lá chắn để gạt đỡ đòn địch và trả đòn bằng khí giới cầm tay hữu. Nhưng với mũi nhọn ở vành lá chắn đồng, Sử Đại Toàn có thể bất ngờ vừa đỡ, vừa quật trái mũi nhọn vào địch thủ như thường.

Lập sơn trại trên Hổ Đầu sơn được hai năm, Sử Đại Toàn thâu dụng ba lục lâm hữu danh. Một người Hán tộc là Đặng Cửu Bá, đại đạo gốc ở Thái Nguyên phủ, tỉnh Sơn Tây, tước hiệu Thạch Đầu Quỷ. Họ Đặng thấp không đầy bốn thước, cổ to vai rộng, tay chân ngắn nhưng nở nang dị thường, toàn thân lông lá xồm xoàm như thủy ngưu, trái lại đầu nhẵn trụi bóng loáng không có lấy một sợi tóc.

Không hiểu Thạch Đầu Quỷ Đặng Cửu Bá tập luyện “Thủ Công Pháp” từ hồi nào và ở đâu, nhưng mỗi khi lâm trận, y bất chợt phóng toàn thân đầu đi trước húc mạnh vào ngực, bụng đối phương. Sức húc của y mạnh như sức trâu điên, địch thủ trúng đòn thường nghẹt hơi chết ngất. Đặng Cửu Bá chỉ có việc hạ đồng nhân là môn võ khí y quen dùng kết quả tánh mạng của kẻ địch.

Trông họ Đặng tập luyện “Thủ Công Pháp” trên võ sảnh mới lạ kỳ. Y đứng vào giữa những túi cát to lớn nặng ít nhất cũng một tạ, quay cuồng húc lia lịa tứ phía, quật đầu sang tả, sang hữu, húc tiền, húc hậu, hai tay chắp sau lưng, y hệt một con trâu hung hăng.

Cũng vì Đặng Cửu Bá diện mạo dữ tợn lại có cái đầu đặc biệt ấy nên nổi danh trong bọn lục lâm với tước hiệu Thạch Đầu Quỷ, kể cũng xứng đáng vậy.

Hai người nữa gốc Mông Cổ, thuộc dòng Chuẫn Khất Nhĩ. Người thứ nhất tên Thiết Mộc Can, lực lưỡng, quen sử dụng độc chùy dũng mãnh vô cùng.

Thiết Mộc Can mắt một mí, sắc như dao, tròng mắt vàng tựa đồng thau. Y nhìn được rất xa, đêm cũng như ngày nên thành tước hiệu Kim Điêu Nhãn.

Người thứ hai tên Thành Man Đô, mặt đỏ nhừ, có tài chạy nhanh như ngựa, bắt đuôi ngựa phóng mình lên lưng ngựa không yên cương, múa thiết xích xung đột dữ dội. Người đồng chủng gọi Thành Man Đô là Xích Mã.

Đại vương Hổ Đầu sơn Sử Đại Toàn là anh đồng phụ dị mẫu với vợ Bành Khoát Hải bị Song hiệp Cam Tử Long, Lã Mai Nương giúp hai mẹ con Cầm Đại Nương hỏa thiêu trọn ổ bên Hoa Châu trước.

Hôm đó vợ Bành Khoát Hải là Sử Huyền Cô cùng con gái là Bành Thúy Linh ra ngoài cửa Quan thăm Sử Đại Toàn. Bởi vậy mới thoát tay mẹ con Cầm Đại Nương và Song hiệp. Ít lâu sau, Sử Huyền Cô và Bành Thúy Linh về Hóa Châu không ngờ khi tới nơi thì Bành gia ổ chỉ còn là đống tro tàn. Mấy tên trang đinh chạy thoát còn lẫn quẩn quanh vùng, gặp chủ mẫu bèn thuật lại trận đánh chỉ cho xem lưu bút của Song hiệp và mẹ con họ Cầm ghi trên vách tường.

Sử Huyền Cô, Bàng Thúy Linh không biết làm thế nào, đành trở ra Quan ngoại lên Hổ Đầu sơn kêu khóc nương nhờ Sử Đại Toàn. Đại vương núi Hổ Đầu bảo em và cháu gái :

- Cơ sự đã là như vậy, hiền muội cùng điệt nữ hãy chịu khó ở lại đây, sau này sẽ có dịp báo thù, thiên hạ mênh mông biết tìm kẻ địch nơi nào bây giờ?

Trước khi mẹ con Sử Huyền Cô lên Hổ Đầu sơn, Tăng Tòng Hổ bỏ đi nơi khác đã lâu rồi. Sử Đại Toàn quen Tăng tặc đạo không phải không có nguyên do.

Nguyên lúc họ Sử bỏ biên giới Mông Cổ và Mãn Châu chăm chú lập căn cứ thì gặp Tăng Tòng Hổ. Nhờ sự chỉ dẫn của tên này, Đại Toàn mới biết Hổ Đầu sơn lập thành căn cứ theo ý muốn. Trong thời gian ấy, họ Tăng hoành hành ở khu vực phía Đông nam Nhiệt Hà gần Sơn Hải quan nên Đại Toàn mới về Hổ Đầu sơn cùng ở.

Tòng Hổ nhận lời, lúc đi lúc ở bất thường. Phần vị y lo dòng dõi Cam Trường Mâu báo thu, phần vi y ưa lưu động nay tung hoành nơi này. Mai vùng vẫy nơi khác để “kiếm ăn” đỡ lo hơn lập sơn trại chiêu nạp đồng đẳng nhiều điều bó buộc. Tăng Tòng Hổ không ở chỗ nào nhất định.

Tuy vậy, sau khi Sử Đại Toàn thiết lập Hổ Đầu sơn trại, Tòng Hổ vẫn thường qua tại trú ngụ lúc năm bữa, nửa tháng, lúc vài tháng rồi đi biệt lâu lâu mới trở lại không chừng, như thế suốt trong mấy năm trời. Đó là thời gian mà Ngũ Bạch Đường và Lý Phúc Vĩnh gặp Tăng Tòng Hổ tại Thủy Tiên lầu Bắc Kinh.

Ra khỏi ải Trương Gia Khẩu, Song hiệp và Bóc Đề Nhĩ đi vào địa phận Nhiệt Hà.

Thật ra hai tỉnh Nhiệt Hà, Sát Cáp Nhĩ cũng như Ninh Hạ, Tuy Viễn là phần đất nội Mông. Nhưng từ khi Thuận Trị giúp Ngô Tam Quế trừ Lý Sấm, họ Ngô thấy khí thế nhà Minh đã hết không thể cố gắng hồi phục được nữa bèn mời Sơn Hải quan rước Thuận Trị vào lập nghiệp đế ở Trung Quốc.

Khí thế Mãn tộc lúc đó đang vượng, bộ đội Mãn Châu hùng mạnh tiến vào Quan nội. Dân Mãn cũng theo đà từ Đông Tam Tỉnh tràn xuống lập nghiệp, kẻ đi xa thì vào Quan nội, người đi gần ở Quan ngoại. Họ định cư ở phía Đông Nhiệt Hà rồi lần lần trà trộn tiến sang phía Tây và Tây bắc sanh cơ, lập nghiệp lan tràn khắp hai tỉnh Nhiệt Hà, Sát Cáp Nhĩ. Qua mấy thế hệ sau, truyền đến thời Càn Long thì người Mãn ở hai tỉnh này đông hơn người Mông.

Người Hán cũng từ Quan nội vượt ải ra đó định cư buôn bán ngày một đông, canh tân hóa hẳn lối sống man rợ của dân Quan ngoại. Đó là một việc trái ngược.

Minh triều đổ, dân Hán võ lực và thế lực chánh trị thua kém, bị Mãn tộc chinh phục, nhưng nhờ dân số đông, trình độ văn hóa cao hơn, thành thử Mãn tộc vẫn phải coi theo phép cai trị, nên văn mình của Hán tộc và một thời gian sau kẻ chinh phục bị đồng hóa, đồng chủng với dân bị trị. Với triều Minh, Trung Quốc thêm phần đất Nội Mông, nay với triều Thanh, bờ cõi được mở rộng thêm phần Mãn Châu quốc lên đến Hắc Long Giang.

Ba dân tộc Hán, Mãn, Mông từ đó liên kết cho đến thời Dân Quốc không kể Tạng tộc và Hồi tộc.

Song hiệp và Bốc Đề Nhĩ thảnh thơi buông lỏng cương ngựa, ngắm phong cảnh hùng vĩ, núi cao rừng rậm trùng điệp.

Ngày đi đêm nghỉ, ba hôm sau tới Phong Linh huyện. Tại đây dân Hán, Mãn, Mông buôn bán khá sầm uất tuy không bằng ải nội Trương Gia. Nghỉ lại huyện một ngày, ba người lên đường nhằm nảo Hổ Đầu sơn. Hai bên đường, cây cối thưa lần, nhường chỗ cho những mõm đá lớn ngổn ngang đây đó. Trời xế chiều, rừng ô đỏ ối ngả non tây. Những chặng núi đá xa xa nổi bật ở chân trời tím ngắt, dài dằng dặc, như bức trường thành Vạn Lý, đèo ải muôn trùng. Lưng trời, những khóm mây bạc dồn lại tạo thành nhiều hình kỳ dị khổng lồ.

Mai Nương lắng tai nghe :

- Gió thổi nhẹ mà sao có tiếng rào rào kỳ lạ.

Bốc Đề Nhĩ chỉ tay sang phía hữu :

- Nghỉ chân ở đây. Tuy còn sớm, nếu đi nữa sẽ phải ngủ ngoài trời.

Lã Mai Nương nói :

- Bốc đại ca dẫn xem dòng Loan Hà nào!

Đề Nhĩ lên ngựa, giục chạy trước, độ hơn hai trăm thước tới bờ sông. Sông nhỏ nhưng nước chảy xiết, ba đảo cuồng cuộn đẩy vào những mõm đá giữa dòng bật thành tiếng vang dội ở xa nghe thấy.

Nàng hỏi :

- Loan Hà chảy về đâu? Ta sẽ phải qua sông chăng?

- Loan Hà đổ về vịnh Liêu Đông. Sáng mau lên đường theo ngọn sông này đến trưa thì rẽ về Tây bắc nhằm nẻo Hổ Đầu. Bây giờ ta trở về hốc đá cơm nước thì vừa, thưa tiểu thư.

Ba người lẳng lặng trở bước hạ trại, đặt hành lý vào một nơi, tháo yên cương cho ba con tuấn mã nghỉ ngơi.

Trong khi Tử Long, Mai Nương tháo cung, kiếm dựng vào thành đá, ra vũng nước rửa mặt và xách túi nước về dùng, Bốc Đề Nhĩ đi lượm cây khô chất thành đống, đánh lửa thổi cơm, pha trà.

Mai Nương xắt thịt muối ra xào.

Tử Long đánh hơi :

- Chà! Thơm quá, đói bụng thiệt!

Chàng mở vung nồi cơm xem có nhiều không. Bốc Đề Nhĩ mỉm cười, bập bẹ nói mấy câu tiếng Hán khó hiểu :

- Đầy nồi mà thiếu gia lo gì?

Chàng vỗ vai họ Bốc cười lớn :

- Tối muốn có đại ca cùng đi với tôi mãi mãi.

Bốc Đề Nhĩ không hiểu, nhìn Mai Nương vui vẻ thông ngôn sang tiếng Mãn, Bốc Đề Nhĩ cười khanh khách, gật đầu lia lịa, líu lo mấy cầu mà Tử Lòng cũng đành ngẩn người không hiểu nốt :

- Y nói gì vậy, hả sư muội?

Mai Nương đỏ mặt, im lìm, Tử Long thắc mắc hỏi gặng.

Bất đắc dĩ, nàng nói nhỏ :

- Y nói bậy quá! Khó dịch lại lắm. Sư huynh đừng gặng nữa.

Tử Long không chịu, nghiêm nghị :

- Nói bậy đâu có được! Ngu huynh mới khen y xong.

Sắc diện đỏ nhừ, Mai Nương đẹp lộng lẫy giữa khung cảnh hoang vu.

Nàng ngập ngừng hồi lâu :

- Y tưởng rằng chúng ta... đính hôn nhau mới nên... nên nói rằng muốn theo ta cho đến lúc... lúc con cái đầy đàn... Đấy là lối chúc tụng rất chân thành của người Mãn tộc, sư huynh đừng để ý.

Nói đoạn, nàng cúi xuống thổi lửa, tránh cặp mắt long lanh điện tử của bạn đồng môn.

Cam Tử Long cười vang :

- Tường gì chớ nói vậy mà muội cho là... bậy ư? Ngập ngừng mãi khiến ngu huynh lên ruột muốn chết đó!

Chàng âu yếm nhìn mái tóc mây huyền đang thổi lửa, tuy ngọn lửa đã bốc bừng bừng.

Ăn cơm xong, Cam Tử Long ra dắt ngựa về cột bên hốc đá. Mai Nương lo trải chỗ nằm, Bốc Đề Nhĩ dẹp đồ ăn thức đựng, Mọi việc xong xuôi, vừa vặn trời ngả hoàng hôn. Tử Long ngả mình xuống mền, hai tay khoanh sau gáy, đầu dựa lên yên ngựa thay gối. Mai Nương ngồi bên tấm mền của nàng trải gần đó.

Bốc Đề Nhĩ leo lên mỏm đá cao, ngồi khoanh tròn cất tiếng hát líu lo theo Mãn ngữ, thỉnh thoảng đưa tay vỗ Nhĩp.

Tiếng ca man dại chập chùng giọng ấm áp khiến đôi khách giang hồ cảm thấy lạnh lùng tha hương vạn dặm.

Tử Long nói :

- Bốc Đề Nhĩ hát gì vậy? Buồn ghê!

Mai Nương suy nghĩ giây lát :

- Y ca mấy câu ngụ ý tha hương nơi bến sông dặm trường hoang vắng.

Chàng ngoái lại nhìn bạn :

- Sư muội dịch cho ngu huynh nghe nào?

- Trời ơi, lời thơ mà! Tiểu muội dịch sao trôi?

- Trôi hay không cũng là dịch.

Mai Nương mỉm cười tươi như hoa :

- Sư huynh đừng chê nhé?

- Ai dám chê? Hồi ở trên núi, sư muội ham đọc sách hơn ngu huynh.

- Đây nè. Bốc Đề Nhĩ ca đại khái rằng:

Mây làn mây trắng lửng lơ.

Trăng tòng soi nước ngẩn ngơ dặm hàng

Bến chiều lạc cảnh tha hương

Giang hồ lạc bước biết phương trời nài

Không đi cho khắc dặm ngàn

Vùi đây án sách nồng đời làm trai...

Tử Long gật đầu khen :

- Hay! Lời ca mô tả đúng tánh tình khoáng đạt ưa phiêu lưu của Mãn tộc. Sư muội dịch cũng tài tình.

Chàng đăm chiêu nhìn chân trời xa thẳm qua màn sương nhẹ chiều thu.

Mai Nương thắc mắc :

- Sư huynh nghĩ gì vậy?

- Ngu huynh nhớ đến Cam gia trại vì lời ca tha hương của Bốc Đề Nhĩ. Nhớ hồi nào mới ra đi bỏ lại hoa viên đầy cúc, đào chen nở. Nay hạ qua, thu tới, và rồi đây thu tàn lại sang Đông. Chiều nay hoàn toàn hoài cảm về thu.

Mai Nương ngả đầy xuống yên ngựa :

- Sư huynh có nhớ bài “Thu hứng” của Thiếu Lăng Dã Lão không nhỉ?

- Lời thơ thu dễ cảm hứng bất hỷ của Đỗ Phủ thời Đường Huyền Tông, phải không?

Mai Nương gật đầu :

- Tiểu muội quên bài đó rồi. Thế nào nhỉ?

Cam Tử Long cất giọng trầm trầm, khẽ đọc:

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm

Vu sơn vu giáp khí tiên sâm

Giang giang ba lãng kiêm thiêm dũng

Tái thượng phong vân tiếp địa âm

Tòng cúc lưỡng khai tha nhật lệ

Cô chu nhất hệ cố viên tâm

Hàn y xứ xứ thôi đao, xích,

Bạch đế thành cao cấp mộ châm.

Tạm dịch:

Rừng phong lác đác bụi sương sa.

Vu Sơn hiu hắt hơi mây phủ

Cuồn cuộn lưng trời gợn thủy ba

Rợp đất mây bay mờ ngọn ải.

Hai lần cúc nở lệ sầu sa

Tình quê vương vấn nơi vườn cũ,

Áo lạnh quê người tay bước kéo

Đập ải thành hôm rộn tiếng chày.

Nghe bạn đọc xong bài thơ, Mai Nương nói :

- Cô mẫu Lã Mai Nương thường ngâm bài Thu Hoài mỗi chuyến thu về.

Cam Tử Long ngóc đầu lắng nghe, nói khẽ :
- Sư muội có nghe thấy gì không?

Mai Nương lắng tai giây lát :

- Tiếng nước Loan Hà đập vào đá. Y hệt tiếng chày đập vải chiều có thôn. Màn đêm lần lần bao phủ cảnh vật, vầng trăng huyền ảo chiếu sương khuya.

Cam Tử Long vùng dậy lấy kiếm cung đưa cho Mai Nương gác bên mình. Bốc Đề Nhĩ lựa mấy cành khô lớn gây thêm lửa trại, đoạn vào chỗ trải sẵn trong cùng hốc đá, đặt mình nằm là ngáy vo vo.

Mai Nương nói :

- Sung sướng thay con người vô tư lự! Chúc sư huynh ngon giấc nhé.

Tử Long vẫy tay chào bạn, quay mình sang bên ngủ.

Sáng hôm sau, điểm tâm xong, ba người lên đường. Đi ngày rưỡi thì đến sơn thôn. Dân thôn thấy người lạ chạy ra xem.

Họ nhận ra họ Bốc, bèn lên tiếng chào hỏi.

Đề Nhĩ vui vẻ đáp lời. Gã dẫn Song hiệp đến nhà Cửu mẫu giới thiệt chủ nhân có việc qua đây muốn nán lại vài ngày thăm thú vùng này. Ngay chiều hôm ấy, Bốc Đề Nhĩ đi thăm các người quen cũ, nhân dịp dò tin tức về bọn tặc đạo Hổ Đầu sơn, tối mịt mới về.

Lã Mai Nương gọi y vào phòng hỏi :

- Thế nào? Có tin tức gì không?

- Chúng vẫn hoành hành như xưa, nhưng theo lời mấy tiều phu thì trên trại thêm mấy nữ đầu lãnh nữa (tức Sử Huyền Cô, Bành Thúy Linh).

- Làm sao họ biết rõ vậy?

- Gặp chúng vào rừng săn bắn. Như vậy tổng cộng độ sáu người, kể cả Sử Đại Cương. Núi Hổ Đầu có lối sau lên, phải chui qua hang. Tôi xin dẫn lộ. Dân thôn vẫn ước ao được về chốn cũ, nếu Nhĩ bị tiểu trừ được bọn chúng thì hay vô kể.

- Việc này cần lúc đao mới được. Bốc đại ca có hiểu không?

- Tôi hiểu rõ nhị vị định nói gì?

- Thật ra chúng tôi lặn lội tới đây chỉ cốt tìm một người trong bọn đại đạo ấy thôi, nhưng mấy dân thôn muốn hồi cố quân, chúng tôi sẽ hết sức giúp đỡ.

Bốc Đề Nhĩ vui vẻ :

- Nhị vị tin tôi là đủ rồi. Cần gì cứ sai bảo.

Cam Lã ngồi bên song cửa trông sương núi.

Hai người tính toàn hồi lâu, Tử Long nói :

- Theo tin Bốc Đề Nhĩ lượm được, bọn Hổ Đầu sơn có độ sáu đầu lãnh. Số người đó chỉ là ước đoán. Dù sao, số người không đáng quan tâm. Phẩm giá công phu của chúng mới là vấn đề đáng kể. Đã tới hang giặc không lẽ bỏ đi, chi bằng trừ khử cho rồi.

- Tiểu muội đồng ý, có hai cách đánh. Bọn tiều phu thường gặp chúng săn bắn, tức là chúng hay săn nhất định tại một khu rừng nào nhiều thú. Có thể cho Bốc Đề Nhĩ giả làm tiều phu đón đường săn, chúng ta chờ ở đó hạ được tên nào hay tên này, sau sẽ lên trừ khử toàn thể, sư huynh nghĩ sao?

Tử Long suy nghĩ giây lát :

- Sư muội định chia mà đánh phải không? E rằng...

Mai Nương ngắt lời :

- E chúng thấy thiếu người sục sạo tìm kiếm động chạm tới thôn này?

Tử Long gật đầu. Mai Nương không do dự :

- Nếu chúng kéo đến sơn thôn này chỉ đánh cho một trận tới bờ rồi kéo róc lên núi Hổ Đầu càn quét chớ sao.

- Kế thứ nhì của sư muội như thế nào?

- Chúng ta lên thẳng Hổ Đầu sơn giả đò đầu bôn đặng dò tìm Tăng Tòng Hổ. Nếu thấy y, sư huynh tức khắc khiêu khích đánh ngay và ta sẽ xử trí sau với bọn Sử tặc. Trong trường hợp Tăng tặc không còn trên núi, ta sẽ tùy cơ ứng biến phá núi Hổ Đầu trừ hại cho dân.

- Theo kế hoạch thứ hai tiện hơn.

Mai Nương hỏi :

- Có nên đem theo Bốc Đề Nhĩ không?

- Không nên. Y không phi hành được đi cũng chỉ thêm vướng. Sáng mai nhờ y dẫn vào núi thám thính xem sao.

Hôm sau, Bốc Đề Nhĩ nai nịt gọn ghé dắt dao, đeo cung tên, cùng Song hiệp đi về nẻo núi Hổ Đầu.

Đường đất lẫn đá gồ ghề, bên hữu là rừng cây, bên tả là dãy núi đá khúc khủyu nhấp nhô.

Vừa đi vừa mải chuyện trò, bắt giác đã được hơn ba dặm đường.

Bốc Đề Nhĩ rẽ vào khe núi bên tả :

- Đây là sau núi Hổ Đầu. Không chắc có lâu la canh phòng vì bọn tặc đạo không ngờ rằng có lối dẫn tới đây. Mà quả vậy, xưa kia tôi leo đèo băng suối nên khám phá ra con đường khe núi này dẫn tới Hổ Đầu sơn. Nhị vị không thấy dấu chân người tức là chưa ai qua đây.

Lã Mai Nương nói :

- Giá nhìn được phía trước núi thì hay quá!

Bốc Đề Nhĩ đáp :

- Có thể được, nếu đường không bị canh phòng. Nhị vị hãy theo tôi. Lúc này cần phải để ý xem các cành cao, bụi rậm có kẻ canh phòng hay không.

Ba người thoăn thoắt tiến vào chân núi leo lên. Độ hai trượng cao, Bốc Đè Nhĩ nhận xét qua loa, đoạn tiếng thẳng đến một bụi cây lớn mọc giáp vách đá.

Y vẫy tay ra hiệu bảo hai người theo rồi rẽ bụi cây len vào.

Sau bụi cây rậm rạp ấy có cửa hang cao hơn đầu người bề ngang vừa một người đi.

Ba người từ từ len vào, đi bộ vài chục bước lên dốc thì hàng đá rộng hẳn đủ cho mọi người đi hàng chữ nhất.

Mai Nương hỏi :

- Hang thông ra phía trước núi?

- Dạ, cứ theo đường dốc này sẽ lên tới của hang trông ngay xuống trại giặc. Miệng hang sau núi không người canh phòng và không bị lấp, tức là miệng hang trên cũng không có gì. Cả hai miệng hang đều bị bụi cây rậm rạp che nên bọn tặc đạo không ngờ. Vả lại chùng khinh thường cho rằng không ai dám len lỏi vào tới đây.

Trong hang, ánh sáng mờ mờ, dẽ đi. Ba người lẳng lặng đi hồi lâu lên tới cửa hang trên. Như Bốc Để Nhĩ đã nói, bụi cây che kín cửa hang vẫn y nguyên.

Đề Nhĩ nhón nhén ló đầu ra cửa hang nhìn hai bên không thấy gì lạ bèn lùi bước, nhường chỗ cho Cam, Lã :

- Nhị vị lựa tay rẽ bụi cây đứng hẳn vào giữa sẽ nhìn thấy sơn trại ngay ở phía dưới, bên tay hữu.

Song hiên hành động theo đúng lời họ Bốc, đứng giữa bụi cây nhìn xuống.

Hình thế, mặt tiền Hổ Đầu sơn thật kỳ lạ. Từ miệng hang nơi hai người đứng, xuống đến khu bán nguyệt mà sơn trại được thiết lập chỉ cách nhau trên năm trượng. Toàn trại có sáu mái nhà lớn ngang, dọc la liệt và mấy mái nhỏ ở phía sau vách đá. Trong trại người qua lại lăng xăng trông thật rõ.

Cam Tử Long nói :

- Sư muội coi, nếp nhà ngang đứng đầy dãy có lẽ là đại sảnh. Lớp thứ nhì nối liền với mái thứ nhất bởi hành lang là hậu sảnh. Bốn nếp nhà dọc chắc là trại quân, kho lương thực ngăn nắp nhỉ.

Nhận xét hồi lâu, Cam, Lã trở vào trong hang.

Bốc Đề Nhĩ chỉ tay sang phía tả cửa hang :

- Theo lối này xuống được dưới trại, càng về phía dưới càng khó đi, dốc đá cheo leo, trượt chân té bể sọ.

Mai Nương nói :

- Vì khó đi nên bọn tặc đạo mới không lên tới miệng hang này. Đó là một ưu điểm cho ta.

Cam Tử Long nói :

- Trở về đi. Sư muội liệu giải thích cho Bốc Đề Nhĩ biết dự tính hành động của chúng ta. Sáng mai ta lên thẳng sơn trại và sáng ngày mốt giờ Mão, y chờ ở miệng hang này.

Ba người len lỏi theo đường cũ ra đến khe núi ngoài đại lộ, đi được một quãng đường bỗng thấy một kỵ sĩ từ phía trước chạy tới. Thoạt trông kỵ sĩ trang phục nón da, áo vải thô, tà hai bên tới trên đầu gối, đai lưng bằng da tết lại, ủng da cao đủ biết y là người Mông. Diện mạo kỵ sĩ lầm lì, đối mắt sắc như dao, gò má thiệt cao, cằm bạnh ra như mang rắn.

Kỵ sĩ nhìn Lã Mai Nương không chớp mắt. Lúc qua rồi, Cam Tử Long ý tứ đưa mắt nhìn theo mấy người đó hãy còn ngoái cổ lại cố nhìn Mai Nương cho kỳ được.

Chằng lắc đầu tặc lưỡi mà rằng :

- Thằng cha kỳ quặc! Không khéo lại là một tên độc cước đại đạo nào đó!

Về tới sơn thôn, Bốc Đề Nhĩ ra ngoài tửu điếm đầu thôn chuyện văn với chủ quán là người quen thuộc khi trước.

Trong khi hai người đang ngồi uống rượu thì có hai tên đầu mục Hổ Đầu sơn vâng lệnh lão sư của chúng xuống tìm kiếm thiếu nữa gặp bên đường bắt đem về sơn trại, vì người kỵ sĩ đã trân trân nhìn Mai Nương hồi sáng chính là lão sư, thầy của bọn cầm đầu sơn trại. Dò dẫm không được, chúng ra về.

Bốc Đề Nhĩ nghe được, vội về báo tin cho Tử Long và Mai Nương hay.

Mai Nương hỏi :

- Chúng đi về hướng nào?

- Thưa hướng Hổ Đầu sơn. Con đường sáng nay ta đã qua.

Cam Tử Long nói :

- Đề Nhĩ coi nhà. Tôi đi một lát về ngay.

Chàng nháy mắt bảo Mai Nương cùng đi. Hai người đi vòng phía sau thôn ra đại lộ chạy vùn vụt đuổi theo bọn đầu mục.

Chúng đang đi lẹ bước ở phía trước.

Song hiệp ngừng chạy, cố ý đi mạnh chân cho hai tên đó nghe tiếng.

Quay lại, chúng chần chờ nhìn hai người đi tới.

Tên nọ bảo tên kia :

- Kìa cặp thanh niên nam nữ mà ta được lệnh bắt đó! Tốt đôi quá! Thiếu nữ đẹp nhường kia thảo nào lão sư chẳng chết mệt!

Chúng im lặng khi Song hiệp đi qua nơi chúng đang đứng.

Tử Long nói nhỏ :

- Ta vào cánh rừng bên tay hữu này cho chúng theo. Không tha thứ được mấy tên khát máu này.

Cam, Lã đi tạt vào cửa rừng, đi rất lẹ.

Cam, Lã qua cửa rừng, mất hút các gốc cây chi chít.

Hai đầu mục vội vàng đi theo. Lát sau vào tới cửa rừng, chúng láo liên nhìn, không thấy cặp nam nữ vừa rồi đâu cả.

Cho tiền cũng không ai dám vào khu rừng già độc địa này! Một tên tuốt dao đi trước. Tên kia theo sau. Cả hai cùng ngó quanh quẩn, trong bụi, sau các gốc cây lớn. Tuyệt nhiên không thấy một bóng người. Ngoài tiếng chim kêu hầu hú xa xa, cảnh rừng hoàn toàn u tịch.

Hai tên tìm kiếm một hồi nữa, bỗng thấy rợn người, không tên nào bảo tên nào, cùng giơ đao quay phắt lại trừng trừng nhìn nhau.

Tên thứ nhất nói :

- Thôi, đi ra, kiếm mãi mất cả thì giờ!... Kỳ lắm!...

- Ừ! Đi ra. Hình như có con thú nào đang rình chúng mình đây đây.

Hai đầu mục vội vàng trở ra, nhưng khi vừa đi qua dưới một cành cây bỗng bị một vậy gì cứng như hai mỏ kềm sắt cặp chặt lấy gáy nhắc bổng lên khỏi mặt đất, toàn thân đau buốt lạ lùng.

Một tiếng quát nhẹ đủ nghe vọng ngay ở phía trên đầu chúng :

- Muốn sống buông đao ra ngay!

Gọng kềm bóp nơi gáy siết chặt thêm khiến hai tặc đạo muốn nghẹt thở. Chúng vội vàng buông khí giới rớt xuống mặt cỏ ngay gần gốc cây.

Hai gọng kềm sắt cặp gáy nhấc bổng hai tên đầu mục lên khỏi mặt đất không phải thứ gì xa lạ hơn là hai bàn tay của Song hiệp.

Nguyên khi vào rừng, Cam, Lã, nhìn lại thấy hai đầu mục vào theo liền rảo bước lựa một cành cây có lá um tùm, nhảy lên núp.

Chẳng dè chúng vô tình đi qua ngay dưới cành cây nơi Song hiệp đang núp.

Tính chiều cao, Lã Mai Nương ra hiệu cho Cam Tử Long cùng dùng thế “Hầu Vương Đảo Quái” móc vào cây thả vụt người xuống với tay tóm trúng gáy, co chúng lên khỏi mặt đất độ một tấc.

Bàn tay siết chặt trúng hai huyết quản chánh ở hai bên cổ nên bọn tặc đạo không những bị nghẹt thở mà còn thấy tê nhức toàn thân. Đây là một lối bóp trúng mạch huyết theo phương pháp điểm huyệt gọi là “Tẩy Tủy kinh pháp” do Đạt Ma sư tổ truyền lại khởi thủy cho vị sư trưởng Thiếu Lâm tự với di ngôn rằng chỉ được dạy phép bí truyền ấy cho những môn đồ nào chắc chắn hoàn toàn đức độ.

Tới đời Minh Tuyên Tông, niên hiệu Tuyên Đức, một vị cao đồ Thiếu Lâm tự họ Âu Dương sanh quán tại Tô Châu, thấy Mã Dương cương hùng vĩ, bèn xuất tiền ra xây dựng Bạch Vân tự, tu đạo, thọ pháp danh Âu Dương đại sư, thành lập Bắc Thiếu Lâm.

Âu Dương đại sư là một người được lãnh hội đầy đủ võ thuật Thiếu Lâm tự, chuyên về “Dịch Cân pháp” và “Tẩy Tủy kinh pháp”. Truyền đến đời Chiêu Dương thiền sư. Ngoài Mạnh Sơn, Võ Sơn theo Thiền sư thế phát từ nhỏ Chiêu Dương chỉ truyền nghề cho Lã Mai Nương, Cam Tử Long là hai đồ đệ sau cùng.

Thiền sư không ưa dạy nhiều môn đồ, nhưng đã thâu người nào thì chắc chắn ở sự thành công về phương diện võ thuật và đạo đức. Với thuật “Tẩy Tủy kinh pháp”, Cam, Lã có thể tính biết giờ, phút nào Nhâm Thần ở huyệt nào, điểm trúng huyện ấy, tự khắc đối phương toàn thân bị tê liệt, hoặc chết ngay.

Sau khi hai đầu mục buông khí giới rớt xuống đất Song hiệp đảo người liệng chúng ra xa và đáp hai chân xuống mặt cỏ rừng như hai con mèo.

Cam Tử Long dùng tiếng Hán hỏi :

- Bây là đầu mục Hổ Đầu sơn? Nói cho thật.

Vốn đã biết mùi bàn tay thép bóp gáy vừa rồi, hai tặc đạo không dám chần chừ :

- Dạ. Chúng con ở núi Hổ Đầu.

- Lão sư của bây là ai?

- Thưa, là Cát Đạt võ sư, sư phụ của Sử đại vương.

- Hổ Đầu sơn có mấy tên đầu lãnh?

- Có sáu người ạ. Kể cả Sử đại vương.

- Kể tên ta nghe.

- Đại vương thống lãnh Sử Đại Toàn, em gái và cháu gái của Đại vương là Sử Huyền Cô, Bành Thúy Linh. Ba nam đầu lãnh là Đặng Cửu Bá, Thiết Mộc Can và Thành Man Đô. Cát Đạt lão sư mới tới hồi gần trưa không kể.

Tử Long nhìn Mai Nương, ngạc nhiên không thấy nói đến Tăng Tòng Hổ.

Chàng tiếp tục hỏi bọn đầu mục :

- Trong hai đứa bây, tên nào ở Hổ Đầu sơn lâu hơn cả?

- Dạ, cả hai chúng con cùng như nhau, ở từ ngày thành lập.

- Vậy, bây tất biết tên Tăng Tòng Hổ.

- Dạ chúng con biết Tăng đại vương nhưng không thuộc tên là gì.

- Tên họ Tăng bây giờ ở đâu? Có trên núi không?

- Thưa, trước kia Tăng đại vương có ở Hổ Đầu sơn, qua lại chớ không ở hẳn. Nhưng bỏ đi từ ba năm nay không trở lại lần nào nữa.

Tử Long quắc mắt :

- Thật vậy không?

- Đúng thế, chúng con không dám nói sai.

- Hình dáng, diện mạo y thế nào?

- Thưa, cao lớn, lực lưỡng, mặt đen sần sùi, râu quai nón, dữ tợn.

- Các ngươi có biết y đi đâu không?

- Không ạ.

Tử Long đưa mắt nhìn Mai Nương. Hai người tìm cắt mấy sợi dây leo thật chắc trói chặt hai tên giặc vào gốc cây.

Trói xong, Song hiệp quay trở ra lối cửa rừng.

Hai tên đầu mục sợ hãi, thất vọng kêu la ầm ĩ. Cam Tử Long ngoái đầu lại, dằn giọng :

- Từ đây ra mặt đường còn xa, vả lại cũng không ai dám mạo hiểm vào cừu đâu. Bây càng kêu la, lão hổ càng đến sớm.

Dứt lời, Song hiệp đi thẳng về sơn thôn.

Bốc Đề Nhĩ đang nóng ruột chờ, thấy hai người về tới nhà thì mừng rỡ đón hỏi.

Mai Nương thuật lại chuyện bắt hai tên đầu mục cho y nghe, Bốc Đề Nhĩ lấy làm hả hê.

- Tăng tặc đạo không còn ở trên núi nữa, sư huynh có muốn thay đổi chương trình hành động không?

- Không. Trước hết không thể tin được ở lời hai tên đầu mục, sau nữa với kế đầu bôn, chúng ta vào ngay được trung tâm sơn trại hành động tùy theo tình thế, có lợi và đỡ mất công hơn.

- Dù sao ta cũng theo đúng vết tên Tòng Hổ. Nó bỏ Hổ Đầu sơn đã ba năm nay không lẽ sang Ngoại Mông hay Mãn địa Đông Tam Tỉnh?

Hôm sau Song hiệp quyết tâm tấn công Hổ Đầu sơn, và dặn Bốc Đề Nhĩ các mưu kế mai phục các tráng đinh để chiếm Hổ Đầu sơn, đoạn cả hai đều nai nịt gọn ghẽ đi luôn.

Hai người đi tới một nơi toàn tòng, bách, cổ thụ chen lẫn với những hốc đá cực lớn ngổn ngang. Phía trong sừng sững một trái núi cực kỳ hùng vĩ. Đường đi rộng thêm ra và phía hữu cánh rừng cây bát ngát. Cam Tử Long chỉ trái núi :

- Hổ Đầu sơn đây rồi, trông hình thế trái núi rì rõ. Giống đầu beo hơn đầu hổ. Vào lối nào đây?

Hai người tiến thêm được mười bước, bỗng từ sau hốc đá lớn vang lên một hồi coi xé tan bầu không khí yên tĩnh của núi rừng...

Hai chục tên lâu la võ trang đầy đủ chạy ồ ra chắn đường. Cam, Lã ngừng bước, đứng xây lưng về phía rừng cây phòng bị và thấy ngay phía sau một toán lâu la nữa xông ra chặn lối thoát. Một tên, dáng đại đầu mục, tiến lên quát :

- Hai đứa này muốn chết sao mà vào đất này? Bây dòm ngó chi đây?

Cam Tử Long điềm tĩnh vái chào :

- May quá, gặp Đại vương biết nói tiếng Hán, phải chăng đây là Hổ Đầu sơn?

Tên đó cau mặt nói xẵng :

- Ta không là đại vương! Bây kiếm ai? Chính đây là Hổ Đầu sơn, tử địa của bọn do thám như chúng bây!...

Nói đoạn y gườm gườm, nghi ngờ nhìn hai người.

- Thưa Đại vương, tôi...

Tên đó trừng mắt ngắt lời quát :

- Ta đã bảo không là... đại vương. Thêm một câu nữa đừng có trách.

Cam Tử Long giả đò ngạc nhiên, rút rè :

- Tôi biết xưng hô thế nào cho phải?

- Đại... đầu mục. Ngươi kiếm ai?

- Tôi xin yết kiến Sử đại vương.

Ngỡ là quyến thuộc của Đại vương của y như Sử Huyền Cô và Bành Thúy Linh đại đầu mục hạ giọng :

- Phải chăng ngươi là quyến thuộc của Sử đại vương? Tên họ gì?

Biết nắm đúng chỗ yếu của tên giặc, Cam Tử Long đổi sắc mặt :

- Anh em tôi họ Lã từ Quan nội tới đầu bôn, do người họ Tăng giới thiệu, đại đầu mục làm ơn thông báo vào trại.

Đại đầu mục chưa hết nghi ngờ :

- Có thật như vậy không?

- Không thật thì ai muốn tới nơi đèo heo hút gió này giỡn làm chi!

Tên giặc quay lại dùng tiếng lóng giang hồ bảo tên bộ hạ đứng sau :

- Phi mã về báo với Đại vương có anh em họ Lã đến xin đầu bôn. Nhớ nói thêm rằng cô em nó xinh đẹp tuyệt trần nghe!

Một lát sau tiếng vó ngựa từ trong phi trở ra.

Mọi người đều quay lại nhìn, thì ra đó là tên lâu la đi báo đã trở lại. Y nhảy xuống đất nói với tên đầu mục :

- Đại vương truyền dẫn hai người này lên trại ngay.

Đầu mục dùng tiếng lóng bảo các bộ hạ :

- Mười đao thủ theo ta. Còn mọi người phải canh phòng chu đáo, ta trở ra ngay.

Tức thì, mười lâu la đao thủ cầm đao tuốt trần chạy tới xếp hàng sang hai bên kèm Song hiệp vào giữa.

Cam, Lã đi theo bọn chúng. Đại đầu mục đi sau cùng. Đoàn người đi vòng vào sau hốc đá. Đường vòng vèo lượn quanh các hốc đá hơi hai trăm thước thì bắt đầu lên dốc tới năm trăm thước nữa mới tới cổng trại rộng lớn xây bằng đá phiến trên có vọng lâu. Bọn lâu la canh phòng nhìn xuống thấy vậy tức khắc truyền ngay :

- Lệnh Đại vương cho vào.

Đoàn người qua cổng rẽ sang tay tả độ trăm bước nữa tới cổng thứ hai để ngỏ.

Song hiệp nhận ra toàn khu trại đã quan sát thấy sáng qua và bụi cây lớn ở trên cao phía sau trại, nơi cửa hang đá bí mật.

Đại sảnh là gian nhà ngang cực rộng rãi, nền đá tường gạch lớp mái ngói bằng đất nung màu hoàng thổ mà sáng qua Song hiệp lẫn với mấy mái tranh khác vì trông xa. Giữa sảnh đường bày năm chiếc án: một bầy chính giữa, bốn ở hai bên theo hình chữ Môn.

Tại án giữa có hai người ngồi, Cam, Lã nhận ra là Cát Đạt, lão hán Mông Cổ dữ tợn đã gặp sáng qua trên đường về sơn thôn. Ngồi bên là Đại vương Sử Đại Toàn, trạc ngoài tứ tuần, mắt lồi chớp luôn, mũi sư tử, râu ria lởm chởm, hai tay quắt lại như cái nắm khô, võ phục đen tuyền.

Án thứ nhất, hông bên tả có Sử Huyền Cô trạc tứ tuần, gò má cao, đôi môi mỏng dính như sợi chỉ đỏ thắm, cặp mắt long lanh cực kỳ gian ác. Bành Thúy Linh ngồi bên mẹ, trạc ngoại đôi mươi, khuôn mặt dài, mắt phượng dâm đãng, môi dầy tô son đỏ chót. Tóc búi trần thả múi hai bên tai dài tới ngực. Hai mẹ con cùng mặc võ phục đồng màu xám tro lợt, đầu quấn vành khăn trắng.Án thư thứ hai cùng dãy có Thạch Đầu Quý Đặng Cửu Bá hung ác, trạc tam thập, đầu tràn nhìn bóng. Họ Đặng mặc võ phục nâu lợt. Trên án đặt chiếc đồng nhân dài độ thước rưỡi.

Hàng bên hữu có hai đầu lãnh Mông Cổ Thiết Mộc Can tước hiệu Kim Điểu, mắt vàng khè sáng ngời như có tia lửa lóng lánh, ngồi bên án thứ nhất. Xích Mã Thành Man Đô mặt đổ nhừ ngồi án kế bên. Cả hai bên thềm gươm đao sáng quắc.

Song hiệp biết Sử Đại Toàn bày ra như vậy thị uy và vắng mặt Tăng Tòng Hổ. Tổng số bên sơn tặc hiện có bảy người.

Tên đầu mục nghiêm chỉnh cúi đầu trình bày sự việc hai người tới đây đầu bôn.

Sử Đại Toàn cho hai người vào và hỏi :

- Hai người tên chi? Từ đâu đến đây?

Cam Tử Long đáp :

- Tôi là Lã Long, em tôi là Lã Nương từ Quan nội đến đây. Trước kia tình cờ gặp Tăng đại vương tại Bắc Kinh nên giới thiệu lên Hổ Đầu sơn.

- Đi đường nào đến khu vực này?

- Chúng tôi qua Phong Linh huyện theo lời chỉ dẫn của Tăng tiền bối.

Sử Đại Toàn cau mặt, đập bàn quát :

- Hay cho hai đứa bây xảo ngôn dám tới đây do thám! Có người bắt gặp bây qua lại khu vực này rồi. Nói thật chớ đừng để ta phải ra tay, nghe? Vào đây thì đến ra mới khó, biết không? Bọn ngươi vất xác hai tên bộ hạ của ta nơi đâu? Nói ngay!

Cam Tử Long thản nhiên :

- Chúng tôi quả không biết những chuyện lạ ấy.

Một lần nữa Cát Đạt nhìn thầm Sử Đại Toàn, rồi mỉm cười nham hiểm, hỏi Cam Tử Long :

- Anh em nhà ngươi nhận ra ta không?

- Thưa có, cuối giờ Tỵ hôm qua, chúng tôi hỏi đường ra Sát Cáp Nhĩ, lúc trở về thì gặp lão đại vương trên đường. Nếu biết người là Đại vương ở trên Hổ Đầu sơn thì chúng tôi theo ngay đỡ mất công hỏi thăm mà ai cũng nghi ngờ không muốn chỉ bảo.

Cát Đạt cười khẩy :

- Ngươi có gặp hai người nào trên đường hoặc lúc trưa, hoặc lúc chiều qua không?

Cam Tử Long lắc đầu :

- Gặp nhiều người trên đường nhưng nói chuyện thì không. Quán nọ chật chỗ nên chúng tôi nghỉ ngơi trong hốc đá gần đường. Sáng nay đánh liều đi vào con đường này chẳng dè đến sơn trại thiệt.

Cam Tử Long đối đáp rất tự nhiên, thực thà khiến mọi người tin được phần nào.

Sử Đại Toàn hỏi thêm :

- Giọng nói của Tăng Tòng Hổ thế nào?

Cam Tử Long trấn tĩnh đáp liền :

- Giọng thể nghe ồ ồ dữ dội.

Thấy Sử Đại Toàn không vặn thêm nữa, chàng cười thầm là nói trúng, thật ra chàng không nhớ được là giọng Tăng Tòng Hổ như thế nào.

Cát Đạt tính tình dâm ác, mê mệt Lã Mai Nương ngay từ buổi gặp hôm qua, nên sai ngay hai tên lâu la đi do thám để bắt nàng về núi. Nay bỗng dưng mồi ngon đến tận miệng, lẽ nào bỏ lỡ dịp tốt? Y vờ vĩnh hỏi gắt gao qua loa, che mắt mọi người, chớ thật tình y để ý gì đến mạng mấy tên bộ hạ! Bởi vậy Cát Đạt bảo Sử Đại Toàn :

- Chúng nó thật tình đấy. Sơn trại kiên cố, quân tướng đầy đủ mạnh mẽ nhường này chúng dù ngu ngốc đến đâu cũng không dám cả gan liều lĩnh vào tới đây. Hiền đồ bắt chúng diễn võ nghệ xem tài lực thế nào, sau sẽ hay.

Sử Đại Toàn vốn rất kính phục, chịu ơn sư phụ và biết tánh ưa gái đẹp của Cát Đạt, bèn nghĩ thầm chắc sư phụ tính toán điều chi đây.

Trước sắc đẹp bình thường của Bành Thúy Linh, Cát Đạt còn mê mẩn tâm thần gạ gẫm ngay từ đêm qua, đưa nàng về tư phòng truyền bí thuật Công phu thế nào không hiểu mà mãi sáng nay mới thấy nàng lò dò từ phòng Cát Đạt ra về, khiến Sử Huyền Cô lên ruột trình bày vụ “truyền bí thuật” ấy với anh.

Nay gặp Mai Nương diễm lệ nhường kia, đến Hằng Nga, Tây tử cũng phải nhường phần thinh sắc, thì lão sư cầm lòng sao đặng? Âu cũng là một dịp hay để Cát Đạt khỏi tiếp tục ve vãn Bành Thúy Linh, phật lòng Sử Huyền Cô.

Sử Đại Toàn nghĩ vậy, biết đâu cô cháu gái lại nghĩ khác.

Bành Thúy Linh vốn tánh tình dâm đãng nhất mực. Trước kia ở Bành gia ổ bên Hoa Châu, nàng thường đầu mày cuối mắt, tư thông cùng các bằng hữu của anh nàng. Từ ngày lên Hổ Đầu sơn, Thúy Linh phần buồn phiền vì gia đình tan nát, phần nể cửu bá Sử Đại Toàn nên nàng không dám ngựa theo đường cũ thông gian cùng bọn đầu lãnh.

Bỗng dưng Cát Đạt từ đâu tới, ngỏ lời muốn truyền các bí thuật và võ nghệ cho nàng. Thoạt đầu, Thúy Linh ngỡ thật mừng rỡ ưng chịu. Xưa nay, Sử cửu bá vẫn chẳng ca ngợi tài võ nghệ cao siêu, lực năng cử đảnh của Cát Đạt lão sư đó ư? Cầu còn chẳng được, nay tự dưng lão sư tự ngỏ lời truyền dạy, lẽ nào bỏ qua?

Bởi vậy nàng y hẹn đến tư phòng Cát Đạt. Lão sư giảng dạy truyền phép qua loa rồi bảo nàng uống một viên linh đan “Dưỡng Thần” trước khi thọ thuật. Nuốt “Dưỡng Thần đan” được chừng nửa nén nhang thì Bành Thúy Linh bỗng cảm thấy toàn thân xao xuyến. Nàng có cảm tưởng như vừa mới uống nhiều ly rượu nồng say ngây ngất. Bành Thúy Linh bã lã, tứ chi mềm nhũn như bông, không đứng dậy nổi nữa.

Cát Đạt biết thuốc đã ngấm, bèn cầm tay thiếu nữ trổ mòi thú tánh. Phần cô gái họ Bành như đại hạn gặp mưa rào, nay được thỏa mãn nên từ giây phút ấy đem lòng say mê Cát Đạt.

Từ lúc hai kẻ mới tới đầu bôn, Bành Thúy Linh thầm phục vẻ cân quắc anh thư của cô gái họ Lã, song nàng cũng để ý ngay thái độ thèm muốn, hổ gặp mồi ngon của Cát Đạt.

Nàng đâm ghen tức lão sư. Ghen tức bao nhiêu nàng càng thù ghét thiếu nữ mới đến bây nhiêu, gườm gườm nhìn Mai Nương không chớp.

Ngồi bên, Sử Huyền Cô nghĩ lầm cô con gái đang liên tưởng đến đôi nam nữ đi cùng mẹ con lão bà vào đã phá Bành gia ổ khu trước. Ờ! Biết đâu không phải hai người này là thủ phạm? Sử Huyền Cô nhớ lại lời bọn trang đinh tả hình dáng đôi nam nữ thì thấy hao hao giống cặp anh em họ Lã đang đứng trên thềm đại sảnh.

Huyền Cô hỏi nhỏ Thúy Linh :

- Phỉa chăng con đang liên tưởng tới đôi nam nữ đã hỏa thiêu Bành gia ổ?

Thúy Linh giựt mình. Nàng đang mải nghĩ tới chuyện ghen tuông :

- Dạ, nhưng phải xem tài võ nghệ của chúng thế nào mới dám nói chắc. Nếu dở quá, đánh sao nổi Bành gia ổ?

Sử Huyền Cô gật đầu :

- Con nói chí phải, dù sao cũng cần nhắc lại cho đại huynh ta nghe.

Dứt lời Huyền Cô đẩy kỷ đứng dậy, đi đến bên Sử Đại Toàn nói nhỏ mấy điều.

Đại Toàn gật đầu :

- Được, hiền muội để ta coi. Chúng có ba đầu sáu tay cũng không ra khỏi Hổ Đầu sơn. Đâu có dễ dàng bất ngờ như vụ Bành gia ổ!

Sử Huyền Cô an tâm, về chỗ ngồi.

Phần Cát Đạt thì mê mẩn sắc đẹp thiếu nữ mới tới, quên hẳn Bành Thúy Linh ngồi bên là người đã cùng y chạ gối chung chăn đêm qua.

Về phần Song hiệp, hai người đã thấy rõ thực lực của bọn sơn tặc Hổ Đầu. Căn cứ vào bề ngoài, sáu đầu lãnh nam, nữ đều có dũng lực đáng kể. Ngoài ra có Cát Đạt, sư phụ của Sử Đại Toàn, bản lãnh rất chẳng tầm thường.

Sử Đại Toàn bảo Cam, Lã :

- Ta chấp thuận cho hai người đầu bôn, tùy tài sử dụng. Về võ thuật, sở trường gì thử biểu diễn ta coi?

Sợ dùng trường kiếm, bọn sơn tặc nhận ra là bảo khí, Lã Mai Nương đáo :

- Chúng tôi quen sử dụng hoa thương.

Tức thì, Sử Đại Toàn truyền lệnh lâu la lấy hai cây thương cho hai người mà rằng :

- Lùi xuống sân hãy khởi diễn.

Cam, Lã biết ý Sở tặc sợ hai người nhân lúc biểu diễn phóng thương ám hại, bèn lùi xuống nhận hai cây thương, song đấu.

Hai ngọn thương qua lại Nhĩp nhàng, Song hiệp giả đò cố sức thật ra chỉ đấu lấy lệ cho xong chuyện, đoạn thâu thương trao trả cho bọn lâu la. Các đầu lãnh mỉm cười thì thào với nhau.

Cam, Lã nhìn nhau nghĩ thầm bọn bây cười chúng ta không phải hảo thủ chớ gì? Càng hay! Sử Đại Toàn với hai người lên thềm :

- Sao không biểu diễn kiếm?

Cam Tử Long chống chế :

- Chúng tôi không thạo kiếm pháp. Cầm thương đi đường bất tiện nên dùng kiếm pháp phòng thân.

Nói tới đây, Cam, Lã lo bọn tặc đạo nhận ra báu kiếm, đòi xem thì tất phải ra tay hành động ngay. Nhưng Cát Đạt nói :

- Thương pháp của hai người trên cấp bực đầu mục thiệt đấy nhưng chưa đủ để trở thành đầu lãnh sơn trại. Cần phải luyện tập nhiều, nếu muốn liệt vào cấp trên. Ta thấy hai người còn ít tuổi, thương tình nhận làm đồ đệ truyền thập bát môn võ nghệ cho, sau này mới đủ sức thành đầu lãnh có tài.

Mai Nương kín đáo nhì Tử Long, đoạn đáp :

- Được lão sư thương tình thâu nhận truyền dạy võ nghệ, lẽ nào chúng đệ tử chối từ. Ơn ấy xin ghi lòng tạc dạ.

Nghe giọng ấm áp truyền cảm của người đẹp, Cát Đạt hả hê sung sướng cười tít mắt.

- Được lắm. Ta sẽ truyền lại cho thật mau lẹ, miễn là đồ đệ biết... nghe lời. Trưa nay, hai người khá tới phòng ta tính chương tình tập luyện, nghe. Giờ đây, ta nói với đại đầu lãnh Sử đại vương chấp nhận cho cả tạm lĩnh hai chức tiểu đầu lãnh, chừng nào võ nghệ khá hơn sẽ khảo thí lên cấp bậc.

Sử Đại Toàn vốn biết “tật” của Các Đạt lão sư nên chấp nhận cho hai người làm tiểu đầu lãnh ngồi hàng dưới.

- Hai người cần phải thuộc mọi việc trong sơn trại và chịu quyền điều khiển của đầu lãnh Đặng Cửu Bá đây. Không được trái lệnh. Từ nay trở đi, người nào vào việc ấy như thường.

Thạch Đầu quỷ họ Đặng mỉm cười nham hiểm, đứng lên vẫy Cam, Lã bảo đi theo.

Hai người chú ý nhận xét đường lối.

Đặng Cửu Bá chỉ căn phòng ở đầu dãy nhà song song với đại sảnh.

- Kia là phòng của Cát Đạt lão sư. Nhớ kỹ kẻo lầm với phòng đầu bên kia của Sử đại vương. Nay được chấp thuận nhập học, hai người dù có tình ý gì tôi khuyên cũng nên bỏ hết, đừng để phiền cho các đầu lãnh phải nổi giận, nghi ngờ mà mang họa vào thân.

Lã Nương là gái ở giữa khu vực hầu hết là đàn ông, khó lòng tránh được điều kẻ nọ người kia dòm ngó. Vậy, đừng lấy thế làm khó chịu, lâu dần sẽ quen.

Dẫn hai người tới dãy nhà dọc, Đặng Cửu Bá đẩy cửa chỉ một căn phòng đủ giường đệm bàn ghế sạch sẽ :

- Hai người ở đây. Dùng bữa lãnh thực phòng đầu lãnh đầu dãy bên kia. Không được đi lang bang trong trại và chờ tôi chỉ dẫn. Đúng Ngọ khá tới phòng lão sư, đừng để người chờ.

Nói đoạn Thạch Đầu Quỷ nhìn Mai Nương rồi đi thẳng.

Cam, Lã vào ngồi phòng nghỉ.

Mai Nương nói nhỏ :

- Giờ này chắc Bốc Đề Nhĩ và Trưởng thôn phục binh cả rồi. Lát nữa hạ lão sư trước nhất rồi đánh luôn.

Tử Long nói :

- Không đánh cũng chẳng xong! Nó cốt lừa sư muội đến tư phòng mà không lẽ trước mặt mọi người nó không bảo ngu huynh đến tập luyện, chớ truyền dậy võ nghệ chi tên dã man khốn khiếp ấy!

Mai Nương gật đầu :

- Lát nữa, nếu y gạt sư huynh ra thì cứ về thẳng phòng này. Tiểu muội xem nó dở thủ đoạn gì, sẽ bất chợt hạ ngay và trở lại đây rồi mới hành động.

- Nên lẹ tay, đừng để ngu huynh chờ lâu, nóng ruột lắm! Nếu không tính tới việc để lại các vật liệu trong sơn trại cho dân sơn thôn dùng, thì lúc này phóng hỏa đốt trại, ào ạt đánh cho rồi.

Hai người đang bàn tán bỗng có tiếng kiểng vang lên đoán chừng là tiếng hiệu gọi cơn trưa. Quả nhiên, đặng Cửu Bá gọi hai người theo xuống thực phòng. Tới nơi, trong phòng chỉ có hai đầu lãnh Mông Cổ Thiết Mộc Can, Thành Man Đô, Đặng Cửu Bá. Nay thêm Cam, Lã nữa là vừa năm xuất. Võ khí của chúng dựng cả trên giá. Hai người cũng dựng kiếm, ăn uống qua loa rồi cáo từ về phòng nghỉ vì đi đường xa mệt.

Chờ hai người đi khỏi, Thiết Mộc Can nói :

- Trông anh em họ Lã thế nào ấy! Khó tin quá.

Thành Man Đô gật đầu :

- Chúng không có tướng khí lục lâm đồng đạo với bọn ta. Hồi nãy khi chúng biểu diễn thương pháp, tôi thấy chúng như không hết sức. Nếu thực tâm sao phải giả dối như thế?

Thiết Mộc Can hưởng ứng :

- Đồng ý với Man Đô hiền đệ ở điểm ấy. Trông tên thanh niên lực lưỡng, hai cánh tay y ít nhất cũng có bảy, tám trăm cân nếu tôi không nói cả ngàn! Không hiểu sao đại đầu lãnh Sử huynh lại dùng người hồ đồ thế?

Thành Man Đô nói :

- Chúng sở trường thương pháp mà lúc nào cũng khư khư giữ hai thanh trường kiếm như sợ người ta xem mất. Sở trường đánh thương mà đem kiếm đi đường phòng thân, có ai nghe được không? Sử địa ca đã không cẩn thận giữ gìn. Ta có bổn phận phải trình bầy cho đại ca biết mới được.

Thiết Mộc Can ngăn :

- Không, thong thả sẽ nói chuyện với đại ca đại đầu lãnh. Chiều nay, ta thử khiêu khích cho chúng đấu võ rồi sẽ hay. Báo cáo sai, Sử đại ca sẽ khiển trách là chúng ta ưa bới bèo ra bọ.

Nghe hai đồng nghiệp Mông Cổ bàn tán, Đặng Cửu Bá chỉ mỉm cười.

Thành Man Đô khó chịu, hỏi :

- Đặng đại ca không ý với anh em tôi sao?

Cửu Bá gật đầu.

- Có chứ, sao lại không? Đại đầu lãnh không hồ đồ như nhị vị hiền đệ tưởng đâu. Nhưng hai người có để ý đến thái độ của lão sư không?

Thiết Mộc Can cười ha hả :

- Cát lão sư gặp gái nào chẳng mê. Cứ gì cô ả xinh đẹp như bông này! Nhưng đại đầu lãnh phải đặt vấn đề an ninh cho sơn trại lên trước việc chớ?

Đặng Cửu Bá xua tay :

- Khuyên hiền đệ nói nhỏ và bỏ qua việc đó kẻo mang vạ. Sử đại ca tôn trọng lão sư thế nào, ta phải theo đúng như thế. Nói riêng về tài lực, tháng tám năm kia diễn ra võ thưởng trăng, bọn ta tuy còn trẻ nhưng có ai vượt bực được Cát Đạt không? Phiến đá mà lão sư bê đặt bên thềm đại sảnh đã ai di chuyển được chưa?

Đặng Cửu Bá khuyên Thành Man Đô không phải không có lý do.

Phàm trong nghề võ, ít có võ sư chịu truyền hết công phu cho đồ đệ. Đến khi võ sư liệu thấy mình cao niên, dũng lực sút kém mới truyền riêng cho môn đồ nào thân tín nhất. Nhiều khi, võ sư chỉ dạy các thế bí truyền cho con cháu. Sở dĩ võ sư hành động như vậy vì sợ môn đồ phản lại đánh sư phụ. Như Pháp Quang đầu đà làm phản đả tử Huệ Tĩnh thiền sư, sư trưởng Thiên Sơn tự bên Túc Kỳ Châu vậy. Cho nên võ sư chân chánh cần tuyển lựa môn đồ rất thận trọng. Trái lại võ sư kém đọa đức, chỉ căn cứ vào dũng lực tự nhiên của kẻ xin học, rồi giấu bớt thế hay phương pháp bí truyền.

Đó là trường hợp Cát Đạt lão sư và Sử Đại Toàn. Đại Toàn sợ Cát Đạt chỉ vì họ Cát dũng mãnh hơn y, bởi lẽ không truyền đúng phương pháp “Thần Công Đề Khí”.

Chẳng như Lã Mai Nương, Cam Tử Long tự tin tài nghệ mình hơn.

Chiêu Dương thiền sư và Lã Tứ Nương biết chắc chắn hai người có đức độ vững chãi, truyền hết bản lãnh công phu luyện tập bình sinh, mong sau này có người nối chí.

Bởi vậy, thời ấy, nói về nhân vật của Thiếu Lâm bắc phái, Bạch Vân tự có Mạnh Sơn, Vô Sơn là hai môn đồ nối chí sư phục thí phát và trong giới giang hồ hiệp sĩ có Mai Nương, Tử Long. Bốn người này tuy còn trẻ nhưng tài nghệ, công phu đã đạt tới cấp cao tuyệt đối cao siêu trong nền “Trung Hoa Kỹ Thuật” dưới thời Càn Long.

* * * * *

Vừng thái dương chói lọi giữa không trung.

Mai Nương đang ngả lưng trên giường bỗng vùng dậy :

- Chính Ngọ rồi. Ta sang phòng Cát Đạt sư huynh?

- Sư muội tự kỷ tới đó. Ngu huynh đi theo chẳng qua mất thêm thì giờ. Tên dâm tặc sẽ lựa lời dẫn ngu huynh về trước. Chi bằng sư muội liệu cách hạ sát nó đi, ngu huynh sẽ tới tiếp tay, khởi hành luôn cho rồi. Đừng đeo kiếm nó nghi ngờ.

- Khoảnh khắc sư huynh tới ngay nhé? Dồn hành lý lại thành một bọc.

Cam Tử Long gật đầu.

Mai Nương đẩy cửa bước ra ngoài thềm. Trong sơn trại, lác đác ít người qua lại. Phần đông đã kéo về trai nghỉ. Nàng đi thẳng tới tư phòng Cát Đạt. Cửa phòng hé mở.

Mai Nương định gõ cửa thì nghe tiếng lão tặc vọng ra :

- Ai đó?

Nàng khen thầm y thính tai nghe rõ tiếng chân bước nhẹ.

- Thưa lão sư, đệ tử đây.

- Cứ vào.

Mai Nương đẩy nhẹ cửa bước vào, khép trái cửa lại như cũ.

Cát Đạt ngồi bên án, đang lau thanh đao to bản tuốt trần. Lưỡi đao bóng loáng, sắc bén. Nàng vái chào. Để thanh đao lên mặt án, Cát Đạt nhìn thẳng vào mặt Mai Nương :

- Lệnh huynh đâu sao không cùng đi.

- Thưa gia huynh khiếm an, sợ lỡ hẹn đệ tử đành tự kỷ sang hầu.

Chỉ chiếc kỷ nhỏ bên tường, Cát Đạt bảo :

- Cho phép ngồi xuống đây. Thực tình con muốn theo ta học võ chớ?

- Dạ đệ tử mong được học Nội công.

Cát Đạt đứng lên cười khà :

- Phải có bản lãnh khá mới học được Nội công chớ!

Dứt lời y xoa tay vào nhau đi đến cửa khép chặt cái then lại.

Cát Đạt quay trở lại nói tiếp :

- Con đã biết sẵn võ thuật, tài sức non nớt ấy chưa đủ làm nổi việc gì. Cần phải theo ta uốn nắn lại cho, hơn một năm sau mới luyện nội công được. Nhất định phải theo ta!

Mai Nương cười thầm: “Tên lão tặc này giở trò bịp bợm khó nghe quá!”

Nàng cúi gằm im lặng, ra bộ thất vọng.

Cát Đạt mê mẩn tâm thần, mải miết nhìn thiếu nữ lúc ấy thật đẹp mơ màng :

- Học võ phải theo đúng mực độ mới mong thành ta, ta nói thiệt tình, cớ sao con buồn.

Mai Nương chợt nghĩ ra một kế, giả đò thở dài đứng lên :

- Lão sư cho phép đệ tử trở về.

- Khoang! Vì lẽ gì con bỏ ý định theo ta luyện tập?

- Đệ tử chỉ muốn học Nội công, lão sư không chịu truyền dạy thì ở lại làm chi? Cho phép đệ tử ra về.

Dứt lời, nàng làm bộ tịch muốn ra cửa.

Cát Đạt chắn lối, vội vàng ôn tồn :

- Ta thử con đó thôi! Muốn luyện Nội công ta cũng có phép dạy trước thời kỳ. Nhưng phải uống một hườn thuốc trước khi học mới khỏi phí công và chắc chắn thành đạt.

- Đệ tử thấy lão sư dùng dằng đâm ra mất hết tin tưởng. Trước kia cũng có một lão sư...

Cát Đạt vội ngắt lời :

- Võ sư nào? Y làm gì?

Mai Nương ngước cặp mắt huyền nhìn Cát Đạt, ra vẻ nghi ngờ :

- Vị võ sư người Hán, vóc dáng dũng mãnh như lão sư, tự nhận biết nội công nên anh em đệ tử xin theo học...

Cát Đạt nóng ruột :

- Thế sao?

Đoán biết cá đã cắn mồi, Mai Nương nói tiếp :

- Võ sư đó lần lữa hứa hẹn sẽ dạy, viện cớ vì lẽ nọ lẽ kia. Rút cuộc người ấy chỉ là tay bịp bợm. Thấy đệ tử đòi hỏi biểu diễn nhiều quá, chối từ không được nên cuốn gói lên đi thẳng. Bây giờ nghĩ còn tức cười.

Cát Đạt cười khẩy :

- A! Ta hiểu rồi! Thế ra con không tin ta đủ tài lực. Tưởng ta cũng bịp bợm như tên khốn kiếp nào đó đã làm ô danh giới võ sư. Nếu muốn ta sẽ thử cho mà coi?

Mai Nương khôn khéo :

- Đệ tử không dám hỗn xược đâu, nếu lão sư biểu diễn Nội công đệ tử càng tin tưởng hơn, yên trí theo... tất cả mọi điều lão sư dạy bảo.

Cát Đạt hớn hở :

- Được lắm! Ta biểu diễn cho mà coi, và có thể truyền tức thì mấy pháp khởi đấu thuật. Nội công cho con, nếu con chịu nuốt hườn thuốc linh dược điều hòa tình trạng tinh thần trước khi khởi học.

Mai Nương tỏ vẻ kính cẩn thực thà :

- Một khi đệ tử đã tinh tường thì lão sư dạy bảo điều chi con cũng cố gắng học theo.

Cát Đạt cởi áo liệng lên kỷ, để lộ thân hình nở nang cổ ta vai rộng, ngực xệ hẳn xuống, hai cánh tay bắp thịt rắn chắc gân guốc.

- Sau khi ta gồng lên và ra hiệu, cho phép con dùng quyền hay cước tùy ý, đánh vào bụng, ngực, lưng, tứ chi. Đánh chán thì thôi. Phải dùng tận lực. Bất quá như phủi bụi thôi, đừng lo ta bị đòn đau nghe.

Dứt lời Cát Đạt đứng ra giữa căn phòng rộng rãi, thở điều hòa, khởi mấy thế nội công. Đoạn trở về Đinh tấn, co hai tay bên sườn, hai bàn tay nắm chắc lại, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn như thừng chão.

Mai Nương khen thầm Cát Đạt quả đáng được liệt vào hạng võ thuật cao siêu. Căn cứ vào môn nội công y đang biểu diễn, bản lãnh họ Cát thật không vừa.

Có định ý sẵn, Mai Nương chăm chú nhận xét tỉ mỉ phương pháp biểu diễn Nội công của Cát Đạt, gân xương chuyển răng rắc.

Thật ra bài biểu diễn nội công gồm có sáu mươi tư thế, sáu mươi tư lần hô hấp, chuyển từ thế nọ sang thế kia cực kỳ chậm chạp, đi hết toàn bài mất nhiều thì giờ.

Bởi vậy, Cát Đạt cốt vận động nội công cho Mai Nương tòng phục, sợ hãi, tin tưởng để dễ lừa nàng vào con đường bất chánh. Biết đâu thiếu nữ đang đứng kia lại là một nhân vật hữu danh, tài nghệ siêu phàm được khổ luyện từ nhỏ, tuy tuổi đang thiếu thời mà công phu đã liệt ngang hàng đại sư. Sợ mất thì giờ, Cát Đạt biểu diễn đến thế thứ hai mươi thì dừng lại, đứng nguyên thế cũ, hất hàm ra hiệu bảo Mai Nương nhập đả.

Nàng biết Cát Đạt vội vàng, cười thầm tên lão dâm tặc táng mạng đến nơi mà không hiểu. Vận dụng công phu, Mai Nương thoăn thoắt tiến tới, so tay hữu lên ngang vai tả, tay tả nắm lối “Thôi Sơn Thủ” dang chếch ra phía sau, mắt đăm đăm nhìn vào bụng lão sư như kẻ nhắm bụng đánh tới. Cát Đạt cũng đinh ninh như vậy, yên trí người đẹp sẽ phục tòng mình và lát nữa tha hồ làm mưa làm gió.

Chẳng dè khi vừa tới sát mình lão sư, Mai Nương vận dụng thần lực, lẹ như chớp mở bàn tay hữu thành “Cương Đao Thủ” chém chéo vào ngang cổ tên dâm tặc...

Trong cái chớp mắt nguy hiểm ấy, Cát Đạt bỗng nhận ra thiếu nữ là một vị cân quắc anh thư lợi hại chớ không phải cô gái diễm kiều ủy mị mới đây nữa. Nhận ra nhưng đã trễ...

Hự... ự... ự! Tiếng hự vang lên khắp phòng. Trúng đòn phá nội công, yết hầu dập nát, Cát Đạt bật ngửa người ra phía sau, lảo đảo quật đầu vào tường “huỵnh” một tiếng, gục xuống, rũ ra như cái bao rách, hết thở. Muốn chắc chắn, Mai Nương nhảy tới dùng chân hất ngửa tử thi ra coi. Cát Đạt quả chỉ còn là cái xác vô hồn.

Nàng trở lại án thơ cầm thanh đao to bản của Cát Đạt chùi dở hồi nãy, đoạn xăm xăm đi ra cửa toan mở thì bỗng có tiếng chân ở ngoài và tiếng gõ cửa dồn dập...

Tại sao Cát Đạt có tài nội công lại bị Mai Nương đả tử như vậy?

Nguyên phép nội công kỵ năm huyệt: Hạ bộ, hậu môn, thái dương, gáy và yết hầu. Gặp một đối thủ không tinh thông võ thuật, đòn đánh còn đỡ nguy hiểm, nhưng trong trường hợp này, Cát Đạt gặp phải Lã Mai Nương rành phép nội công, chặt bàn tay Cương đao rắn như thép trúng yết hầu giữa lúc y đang hít không khí nên bị táng mạng ngay.

Tiếng gõ cửa dồn dập hơn. Mai Nương biết không phải là Tử Long, không khi nào chàng hành động hấp tấp như vậy.

- Mở cửa mau!...

Tiếng nói lanh lảnh dội vào phòng, Mai Nương mỉm cười đoán là Bành Thúy Linh.

Nàng định nhảy lên cửa sổ cuốn, ra ngoài, nhưng cánh cửa đó đã bị đá bật tung ra...

Bành Thúy Linh cầm đoản đao nhảy vào phòng, mặt đỏ gay gắt :

- Ta biết ngay là con tiện tì mà! Mi dám sát hại lão sư, chạy đàng trời cũng không thoát...

Nguyên Thúy Linh vẫn căm tức, ghen giận Cát Đạt và thiếu nữ mới đến từ sáng. Nàng thừa hiểu lối “truyền võ nghệ” của lão sư tại tư phòng vì chính nàng đã qua bước đó rồi. Bởi vậy, nàng định bụng rình mò đột nhập tư phòng lão sư phá chơi cho bõ lòng ghen tức. Không do dự nữa, nàng co chân đạp tung cánh cửa, xông vào phòng.

Một cảnh tượng không ngờ diễn ra trước mặt nàng. Tử thi Cát Đạt nằm ngửa, mắt trợn trừng gớm khiếp, miệng há hốc, máu còn từ từ trào ra hai bên mép và lỗ mũi, tứ chi co quắp. Trong cuối phòng, Lã Mai Nương kiêu dũng, tay cầm thanh đao lớn và Thúy Linh nhận ra là của lão sư.

Thúy Linh tự trách đã quá ghen tuông vô lối, phá cửa phòng trễ quá nên Cát Đạt mới đến nỗi táng mạng. Nàng nổi giận đùng đùng la hét ấm ĩ hua đao nhảy xổ vào chém kẻ thù một lát ngang cổ. Mai Nương gạt mạnh. Hai thanh đao chạm nhau tóe lửa.

Đao của Thúy Linh bật văng lại, cánh tay đau nhức ê ẩm. Nàng không ngờ đối phương mạnh đến như vậy.

Mai Nương cười gằn :

- Bành Thúy Linh! Phải chăng mi là con lão tặc Bành Khoát Hải ở Hoa Châu?

Thúy Linh gầm lên :

- A! Ra mi là kẻ thù sát hại cha, anh ta!

Dứt lời, Thúy Linh lướt tới múa đao chém bừa. Lã Mai Nương đưa dọng đao hất mạnh khiến đao địch văng vào phòng xoảng một tiếng. Bành Thúy Linh tay toạc hổ khẩu, xoay lưng toan chạy thì bị Mai Nương co chân đạp nhẹ vào mông lộn ba vòng nhào ra khỏi cửa phòng...

Giữa lúc ấy, Cam Tử Long từ ngoài nhảy lên cửa sổ cuốn, liệng thanh trường kiếm Yểm Nhật cho Mai Nương :

- Ngu huynh nằm trên mái từ nãy. Chúng đang từ tứ phía kéo đến, đông lắm, ra lối này mau!

Mai Nương bắt lấy kiếm đeo chằng ra sau lưng, tay tả cầm thanh đao to bản, tay hữu cầm đai lưng nhấc xác Cát Đạt lên. Bên ngoài tiếng chân tặc đạo chạy sầm sập, tiếng kẻng báo động inh ỏi. Mai Nương đứng nép bên cửa nhìn né ra thấy Sử Đại Toàn cầm khiên đồng và thiết giản lướt tới. Tức thì nàng đảo tử thi Cát Đạt lấy trớn, đoạn nhằm sư tặc liệng mạnh tới.

Tử thi bay vụt từ trong phòng ra. Đại Toàn tưởng là địch thủ liền hùa thiết giản bốn cạnh vụt mạnh trúng đầu bể toang, óc phọt tung tóe, bắn cả vào mặt y. Đồng thời Đại Toàn nhận ra là mình đã đánh nhầm phải xác lão sư. Y gầm hét lên như sư tử, đưa khiên đồng đi trước, nhảy ùa vào phòng, trống rỗng.

Lã Mai Nương đã cùng Cam Tử Long ra lối cửa sổ đầu nhà, phi thân đứng sừng sững trên mái. Bọn đầu lãnh Đặng Cửu Bá, Thiết Mộc Can, Thành Ma Hộ và Sử Huyền Cô trông thấy la hét ầm ầm nhảy cả lên mái. Nhưng bốn cặp chân vừa đặt xuống mái thì đã bị hai lằn đao kiếm của Cam, Lã lia sát mái bắt buộc chúng phải nhào đại xuống sân tránh đòn.

Lúc đó Sử Đại Toàn từ phòng Cát Đạt chạy ra thấy vậy, bèn hô :

- Anh em theo tôi!

Dứt lời y vác khiên che người nhảy vút lên nóc nhà. Cam Tử Long hạ một nhát kiếm xuống ngang cổ họ Sử. Đại Toàn đưa khiên lên đỡ gặp phải báu kiếm chém vạt mất góc đồng khiên thẳng như tiện văng xuống đất. Y giựt mình, nhưng trấn tĩnh lại ngay quật thiết giản vào vai địch thủ trả đòn. Sử Huyền Cô và Thành Man Đô nhảy ùa lên theo sau Sử Đại Toàn. Đặng Cửu Bá, Thiết Mộc Can lên sau cùng. Họ Đặng dùng đồng nhân, họ Thiết dùng độc chùy. Hai món võ khí cùng nặng nề.

Lã Mai Nương rút Yểm Nhật kiếm, tay đao tay kiếm đón đánh cả bốn người.

Bọn lâu la kéo ra đầy sân vây quanh nóc nhà, reo hò inh ỏi. Cam Tử Long biết ý Mai Nương muốn để chàng rảnh rang hạ địch thủ, bèn dùng thế “Cao Tổ Trảm Bạch Xà” hạ chéo một lát kiếm xuống vai họ Sử.

Trông thế kiếm thập phần mạnh mẽ, lưỡi kiếm loang loáng linh khí rợn người, Đại Toàn biết đối phương thực sự lợi hại, thêm có báu kiếm, nên không dám khinh thường, dùng đồng khiên đỡ liều. Y dang tay khiên, đưa thiết giản gạt kiếm, nhưng hụt.

Tử Long đã thâu kiếm, đoạn xỉa luôn một mũi nhằm ngực đối phương. Đại Toàn không dám dùng khiên, đưa giản đỡ nữa. Lẹ như cắt, Tử Long xuống tấn nghịch mã thật thấp quật luôn lưỡi kiếm nhằm hai cổ chân địch. Đó là thế “Cuồng Phong Tảo Lạc Diệp”.

Thét lên một tiếng lớn, Sử Đại Toàn nhảy lên cao nhường lưỡi kiếm vun vút qua chân, đoạn hạ luôn một thiết giản nhằm đầu đối phương mạnh mẽ vô cùng theo ngọn “Thái Sơn Áp Đỉnh” lợi hại.

Ngọn giản vụt hụt vào khoảng trống. Tử Long khẽ nhảy né qua bên, thuận tay tả chặn bắt trúng cổ tay hữu cầm giản của đối thủ bóp mạnh như mũi kềm sắt. Đau quá, Sử Đại Toàn tê buốt cả cánh tay, rời ngọn thiết giản lăn lông lốc trên mái, rơi thẳng xuống sân. Y cố sức dồn toàn lực vào tay tả thọc thẳng mũi nhọn ở đồng khiên vào mặt địch thủ để gỡ cho tay hữu. Lẹ hơn, Tử Long dáng thẳng một đốc kiếm vào gáy Đại Toàn.

Một tiếng “rắc” khô khan dội lên lẫn với tiếng thét đau đớn khủng khiếp. Đại Toàn gãy xương gáy, lộn nhào xuống đất, hết thở.

Rảnh tay Tử Long rút tù và dắt ở đai lưng thổi mấy tiếng dài.

Bốc Đề Nhỉ chờ sẵn trên miệng hang phát lên mấy mũi tên lửa lên không trung, ra hiệu cho tráng đinh phục ở phía rừng trước mặt Hổ Hầu Sơn, rồi cùng đồng bọn rùng rùng kéo xuống sơn trại...

Nói về Lã Mai Nương một mình chiến đấu với bốn tên đầu lãnh Đặng, Thiết, Thành, Sử Huyền Cô và Bành Thúy Linh lúc đó cũng đã hoàn hồn lượm đao lên trợ chiến. Năm tặc đạo nam, nữ vây tròn nàng vào giữa đánh tới tấp, tưởng nhờ đông người và dùng sức mạnh sẽ áp hạ ngay địch thủ. Chẳng ngờ Mai Nương tay đao tay kiếm hoa lên vùn vụt như gió giựt mưa rào, xung đông kích tây, dũng mãnh bội phần. Thanh đao to bản chạm vào các võ khí nặng của Đặng Cửu Bá, Thiết Mộc Can và Thành Man Đô chan chát, nảy lửa. Nàng nhắm thế trận yếu nhất là mẹ con Sử Huyền Cô, lia luôn mấy phát kiếm Yểm Nhật, tiện đứt đôi lưỡng đao của Huyền Cô.

Sợ hãi, Huyền Cô chùn bước. Thừa thế, Mai Nương nhảy tới phóng chân tả đá trúng ngọn “Bàn Long cước” vào giữa mặt Huyền Cô lộn xuống sân. Bành Thúy Linh vội nhảy theo xem xuống xem Huyền Cô trúng đòn thế nào. Huyền Cô bể mặt ngất lịm. Thúy Linh tính bề khó thắng, trong bảy người thì hai tên kiệt biệt nhất là Cát Đạt và Sử Đại Toàn đã tử trận. Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách, nàng không do dự, cõng Huyền Cô về tư phòng lấy gấp mấy món tiền bạc, rồi liều mạng chạy ra sườn núi lẩn vào rừng cây đi mất.

Từ lúc khởi chiến, bọn lâu la đành bó tay đứng dưới sân reo hò trợ chiến, không dám sử dụng cung tên sợ bắn trúng người nhà. Nay thấy Cam Tử Long rảnh tay thổi tù và ra hiệu, bèn nhắm chàng bắn tên như mưa rào. Tử Long vội dùng lối “Cản tiễn kiếm pháp” múa lên vù vù, làm kiếm chập chờn bao phủ khắp người, tên bị gạt văng đi tứ phía, hoặc bị lưỡi kiếm tiện làm đôi rớt xuống mái nhà.

Bọn lâu la cùng hè nhau bắn dữ. Đang muốn giúp Mai Nương hạ nốt ba tên đầu lĩnh còn lại thì bị làn tên cản trở, Tử Long thét lớn, vừa múa kiếm đỡ tên vừa nhảy ào xuống sân, chém dọc, ngang luôn mấy phát. Chỉ trong chớp mắt là năm sáu lâu la trúng kiếm, thủ cấp lăn lông lốc trên sân, máu phun lênh láng.

Chúng chạy dạt ra tránh ngọn kiếm lợi hại của thanh niên tráng sĩ. Cam Tử Long cũng chỉ mong có vậy để được tiếp tay Mai Nương.

Đặng Cửu Bá, Thiết Mộc Can, Thành Man Đô vây đánh thiếu nữ dồn dập. Không kém, Lã Mai Nương chống trả kịch liệt. Trên mái vừa dốc vừa chật hẹp không bên vây trở, nàng thấy Tử Long đã càn quét dãn hết bọn lâu la dưới sân bèn nhằm Thành Man Đô thúc mạnh một kiếm, đồng thời chém một đao vào mặt Thiết Mộc Can.

Hai đầu lãnh thoái bộ tránh đòn. Thừa dịp Mai Nương nhảy vút xuống sân, Đặng Cửu Bá thét lớn nhảy đuổi theo.

Cam Tử Long nhào tới sả một kiếm vào sườn họ Đặng.

Cửu Bá đưa đồng nhân gạt kiếm quát :

- Không ngờ bọn bây vào đây làm nội ứng. Đấu trăm hiệp chơi, sợ chi!

Tử Long sả luôn lát kiếm nữa vào bụng đối phương :

- Bây làm giặc mà không biết nhìn người, chết là đáng rồi.

Hai người quây lại giáp chiến kịch liệt. Lã Mai Nương dư thì giờ tra trường kiếm vào vỏ. Thấy cây đao to bản khá tốt, nàng muốn sử dụng đến cùng. Hai đầu lãnh Mông Cổ nhảy theo Đặng Cửu Bá hùng hổ ào tới tái chiến với Mai Nương.

Thiết Mộc Can, Thành Man Đô hầm hè như hai mãnh hổ liều mạng tái chiến. Chúng không ngờ thiếu nữ dũng mãnh lợi hại nhường ấy.

Thiết Mộc Can quật chéo độc chùy xuống vai đối thủ, Mai Nương không thèm né, đưa dọng đao ngáng lấy cán chùy, dùng toàn lực hất mạnh. Không ngờ thiếu nữ đón ngọn chùy liều lĩnh liều lĩnh đến vậy và bị sức hất thiệt mạnh, ngọn chùy bị bật ngược về phía sau kéo luôn chủ nhân nó nhào đi một vòng.

Vừa lúc ấy, Thành Man Đô văng thiết xích quật vòng vào cổ chân tả Mai Nương giựt mạnh. Muốn hành động cho tên tặc tướng ghê sợ. Mai Nương thừa biết Man Đô địch dùng thiết xích một là đánh bật chợ mình, hai là giựt cho té, bèn tạo tấn vững như Thái Sơn. Thành Man Đô nghiến răng, mím môi dùng toàn lực kéo mạnh.

Nực cười thay y lực lưỡng nhường ấy mà chẳng khác chi chuồn chuồn lay thạch trụ. Châm thiếu nữ vững tựa cây cột sắt chôn sâu xuống đất. Mai Nương cười khanh khách nghe ghê rợn, ngồi thụp xuống thiệt lẹ, chụp xích luôn xích sắt kéo mạnh.

Thành Man Đô bổ nhào đến trước mặt nàng. Tiện tay, Mai Nương đưa thốc một mũi đao trúng ngực đối thủ xiên suốt ra sau lưng Man Đô rộ lên một tiếng chết ngay.

Mai Nương gạt xác tên sơn tặc, rút vội thanh đao, nhảy phắt sang bên tả vừa kịp tránh ngọn chùy mạnh mẽ của Thiết Mộc Can quật tới sau lưng.

Thấy bạn bị chết, họ Thiết gầm lên dữ dội, liều mạng đánh chí tử.

Nổi giận, Mai Nương không tránh nữa. Nàng theo trớn ngọn chùy, đưa dọng đao chặn vào cán, gạt cán sang bên rồi đè chặt xuống. Thiết Mộc Can dùng tận lực bình sanh cố nhấc chùy lên, những tưởng lật toàn thân thiếu nữ lên khỏi mặt đất. Nhưng Mai Nương đứng vững tưởng như bàn thạch. Trái lại Mộc Can đỏ mặt tía tai, mồ hôi nhễ nhại xoay mãi không nhấc nổi ngọn chùy. Mai Nương trừng mắt phượng xếch ngược.

- Tặc đạo biết sợ chưa? Biết điều lại hàng thì bản cô nương tha cho.

Thiết Mộc Can buông một tay chùy, đấm mạnh tả hữu vào mặt đối thủ.

- Sợ tiện tì ư? Chết này!...

Mai Nương ung dung đưa tay gạt nhẹ trái đấm ấy, đồng thời rút phắt lưỡi đao khiến Thiết Mộc Can bất ngờ mất trớn chúi hẳn người sang bên. Mai Nương tiện dịp co chân đạp mạnh vào mông đối phương khiến tên này nhào bắn hẳn vào thềm nhà đầu va phải đá, bể sọ chết tốt.

Rảnh tay, Mai Nương nhìn thế trận. Đặng Cửu Bá bản lãnh rất khá đang đấu với Tử Long, thấy hai đồng nghiệp Mông Cổ tử trận theo nhau thì tinh thần nao núng, định mở đường chạy. Nhưng chạy sao được với Tử Long? Lưỡi trường kiếm linh động cuốn chặt lấy tên sơn tặc.

Tiếp tục đánh thì thua, mở đường chạy không nổi, Đặng Cửu bá định liều mạng dùng ngón sở trường: cái đầu rắn như đá của y đã nổi danh trong đám giang hồ hắc đạo. Trong lối đánh của đối phương, Tử Long đoán y đang tính toán việc gì. Bỗng nhiên Cửu Bá bất thần gạt kiếm, liệng đồng nhân vào mặt đối phương. Tử Long né tránh thì cùng lúc ấy, Thạch Đầu Quỷ họ Đăng nhào tới húc mạnh đỉnh đầu nhẵn bóng vào ngực đối thủ.

Cam Tử Long biết tên sơn tặc có chiếc sọ nổi danh sau đây mới dám liều chết húc vào ngực đối thủ.

Chàng nhẹ nhàng né sang bên, gài kiếm vào bao :

- Aha! Đặng Cửu Bá! Thủ cấp của ngươi liệu rắn chắc được bao nhiêu? Ta sẵn sàng thử đây.

Húc hụt, Đặng Cửu Bá tưởng thế nào đối phương cũng nhào tới chém nên né chân toan chạy thì vừa lúc Tử Long gài kiếm muốn thử thách “Thạch Đầu” của y.

Họ Đặng nghĩ thầm: “Xưa nay mình đã từng hạ biết bao nhiêu anh hùng hảo hán, nổi danh cũng vì cái đầu rắn chắc này?”

Đặng Cửu Bá xoa tay lên đỉnh đầu bóng loáng :

- Được lắm! Có thế mới là anh hùng vậy hãy gồng ngực, thót bụng lại cho cẩn thận nhé!

Tử Long phì cười, liên tưởng đến đầu con hắc hổ to lớn mà chàng đã đấm bể khi trước trong dãy Tần Lĩnh sơn :

- Ta báo trước, đầu người có rắn được bằng đầu lão hổ không?

Đặng Cửu Bá tự tin, cứng cổ :

- Rắn như đá. Ngươi không biết Thạch Đầu Quỷ đây sao?

Tử Long cười gằn :

- Biết thì ngươi cũng chỉ là tên lục lâm tặc đạo chuyên cướp của giết người chớ làm được gì cho nhân quần, xã hội? Thử đi ta coi?

Dứt lời, chàng dang hai tay sang bên, xuống trung bình tấn, hất hàm ra hiệu cho Cửu Bá húc.

Tức thì, họ Đặng vận toàn lực toan húc thì chợt nghĩ đến thanh trường kiếm của đối phương đeo trên lưng, nghĩ thầm “Lỡ trong lúc mình lao người húc, y lẹ tay tuốt kiếm chém xuống thì sao?”

Bèn nói :

- Ta không tin ngươi với thanh kiếm kia.

Tử Long khinh bỉ :

- Ngươi hèn hạ quá! Nếu ta định lừa ngươi dùng kiếm chém hạ ngươi từ hồi nãy rồi, hơi đâu phải bịa chuyện thử “Thạch đầu” của ngươi.

Tuy nói vậy nhưng chàng cũng đứng dậy tuốt kiếm liệng cho Lã Mai Nương đứng gần đó bắt.

Mai Nương hiểu Tử Long định ý gì rồi, bắt lấy thanh kiếm đứng nguyên xem.

Tử Long lại tọa tấn trung bình, dang hai tay ra như cũ.

Đặng Cửu Bá thích chí bụng bảo dạ :

- Thế này thì mi chết đến nơi rồi!

Y xoa đầu theo thói quen, vận dụng toàn lực nhào người như tên bắn húc thẳng vào nơi dưới ngực đối thủ. Giữa lúc ấy, Tử Long thâu hai tay lại hai bên sườn, chờ đúng đỉnh đầu Thạch Đầu Quỷ tống mạnh một “Tả Thôi Sơn Thủ”. Bốp!... Nếu họ Đăng nổi danh “Thạch Đầu” thì Tử Long cũng lừng danh “Thôi Sơn Thái Bảo” có trái đấm nặng như nói vậy. Đặng Cửu Bá kêu dội lên một tiếng bể sọ, gục xuống hết thở. Thế là hết đời Thạch Đầu Quỷ.

Tiếc thay cho kẻ hữu tài vô hạnh, dùng tài trí thông minh không đúng chỗ đến nỗi phải bỏ mạng.

Mai Nương đến trả Huyền Tiễn kiếm cho chàng. Lúc đó, bọn lâu la phần lủi ra trốn phía cổng trại, phần nhát hơn liệng khí giới xin hàng. Bốc Đề Nhĩ cũng đã điều khiển đoàn tránh đinh xuống tới sân trại. Y vui mừng vái Song hiệp :

- Bốc mỗ có lời mừng cho nhị vị thành công. Lúc mới khởi sự tôi thấy chúng nhao nhao đông quá nên thấy lo.

Lã Mai Nương hỏi :

- Đoàn tiền trại sao không thấy tới?

Giữa lúc ấy, bỗng có tiếng chân sầm sập chạy ùa từ ngoài cửa trại vào. Song hiệp toan chạy ra xem việc gì thì ra đó là đoàn lâu la từ trong trại trốn ra và đồng bọn chậm chân, dưới chân núi, bị các tráng đinh thấy hiệu hỏa tiến liền hăng hái đánh thốc bừa lên núi.

Đại đầu mục Vệ Lương Ngũ được tin lâu la báo Cát Đạt lão sư và Sử đại vương táng mạng, còn các đầu lãnh khác không chắc có chống nổi hai thanh niên nam nữ anh kiệt, nên hoang mang sợ hãi vừa đánh vừa lùi vào đại trại.

Lùi được nửa đường, mấy tên lâu la khác lại chạy nhớn nhác ra cho biết đồng bọn trong sơn trại bị tàn sát nhiều, đánh không lại. Vệ Lương Ngũ bủn rủn cả tay chân bất đồ trúng tên té xuống khe núi theo một số lâu la chạy trốn trúng tên có tới hơn trăm người. Bọn lâu la chạy dồn cả vào trong sân, theo sau là các tráng đinh sơn thôn. Cam Tử Long chỉ các tử thi ngổn ngang trên sân hướng vào bọn lâu la nói lớn.

- Các ngươi hãy trông các đầu lãnh và đồng nghiệp sơn tặc táng mạng đây làm gương. Hạ võ khí quy hàng, giải tán. Tên nào mưu mô trí trá chớ trách ta bạo tàn!

Bọn lâu la như rắn mất đầu, liệng tất cả võ khí còn lại ra sân, đoạn đứng tụ tập vào một góc. Cam Tử Long bảo Bốc Đề Nhĩ điều khiển tráng đinh thâu thập khí giới đó lại, đoạn họp toàn thể lâu la còn lại nơi trước sảnh dẫn dụ :

- Các ngươi thân nam nhi sức dài vai rộng có thể làm những việc khác hữu ích cho nhà, cho nước hơn, lẽ nào phí sức cương cường theo bọn vô đạo vô nơi thâm sơn hành nghề lục lâm thảo khấu, chẳng trước thì sau, thế nào cũng bị chinh phạt. Nay ta giải tán sơn trại, phát lộ phí cho các ngươi hồi hương. Vậy ta khuyên bọn ngươi nên cải tỉnh sống cuộc đời lương thiện. Hãy trông bọn đầu lãnh đây mà làm gương soi chung!

Nói đoạn, Tử Long gọi một một tên đầu mục người Mông Cổ thạo tiếng Hán, bảo nhắc lại rõ ràng cho chúng lâu la nghe.

Thoát chết bọn chúng vui mừng, cảm tạ lòng nhân của Cam, Lã. Hứa xin về quê làm ăn tu tỉnh.

Giải quyết xong vấn đề lâu la đông đảo, Cam, Lã, cùng Bốc Đề Nhĩ và viên trưởng sơn thôn kiểm soát kho lương tiền bạc, phát cho những lâu la và bắt tức khắc giải tán.

Nửa tháng sau, ngay chân núi Hổ Đầu, một thôn trang rộng rãi, ngăn nắp nhà cao cửa rộng, gia đình nào cũng đủ phần đất trồng trọt, chăn nuôi sinh sống. Theo ý kiến của Song hiệp mọi người còn dựng quanh thôn một bức thành bằng cây súc thật kiên cố, lập vọng lâu, điếm canh. Trưởng thôn lập các đoàn tráng đinh, sẵn khí giới thâu được của tặc khấu, hàng ngày luyện tập cho thành hàng ngũ nghiêm chỉnh, phòng khi hữu sự thì còn tự vệ được. Công việc hoàn thành, Song hiệp từ giã mọi người lên đường.

Toàn thôn lưu luyến hai người, yêu cầu nán lại một ngày, làm tiệc linh đình tiễn hành. Cùng ngày hôm đó, dân thôn dựng lên một tấm biển ngang cổng trại đề ba chữ “Song Hiệp Thôn” để kỷ niệm công đức Cam, Lã.

Chương 19: Thăm Thiên Vương tự, dưới chuông gặp điều bí ẩn Kiến Lã đại sư, cấp bách thuật chuyện miền Nam

Song hiệp và Bốc Đề Nhĩ theo đường cũ trở về Quan nội, vào Trương Gia Khẩu, thuật chuyện phá tan bọn cướp Hổ Đầu sơn cho Lý Phúc Vĩnh nghe và cho biết Tăng Tòng Hổ không còn ở núi Hổ Đầu nữa.

Lý Phúc Vĩnh ngạc nhiên, không ngờ hai người lại tài dũng đến mức ấy. Lý Phúc Vĩnh nhìn Song hiệp :

- Vừa rồi nhập ải môn, Nhị vị có bị khám xét không?

Mai Nương gật đầu, Tử Long vội hỏi :

- Việc chi vậy?

Lý Phúc Vĩnh đáp :

- Thủ bị Bao Đức Lễ cho hay rằng đêm hôm kia bỗng dưng ấn tín của quan Tổng binh Triệu Tường cất trong ngăn nơi tư phòng riêng bỗng không cánh mà bay. Thế mới kỳ chớ!

Mai Nương mỉm cười nhìn Cam Tử Long :

- Sao Triệu tổng binh khờ khạo thế? Người ngoài bỗng dưng mạo hiểm vào tận hành dinh lấy ấn tín Tổng binh làm chi? Họ Triệu phải tự xét xem có làm điều gì oan ức cho người ta không, đến nỗi có một vị hiệp khách nào đó phải ra tay trừng phạt bằng cách lấy ấn tín. Hoặc giả có hiềm thù với ai nên họ mới đột nhập N hành dinh vào tận thư phòng lấy ấn tín cảnh cáo, trả thù chớ. Đi tìm kiếm lai rai ngoài trấn ăn thua gì?

Tử Long nói :

- Lý do thù hiềm có lẽ đúng hơn. Nếu hiệp khách nhúng tay vào vụ này, tất đã để giấy cảnh cáo lại.

Lý Phúc Vĩnh đồng ý :

- Tôi cũng nghĩ như vậy và trao đổi với Bao thủ bị. Theo suy luận của Bao thủ bị, Triệu tổng binh vẫn ghét và nghi ngờ Thiên Vương tự. Trái lại Thiên Cương Lịch Sơn Độ cũng không ưa gì Triệu Tường. Hai bên vẫn ghét nhau ra mặt. Có thể kết luận rằng Thiên Cương hòa thượng là thủ phạm là thủ phạm vụ mất ấn tín này không?

Cam Tử Long nói :

- Câu chuyện thù hằn giữa hai người ấy xảy ra từ mấy năm rồi. Không lẽ bây giờ Thiên Cương mới ra tay lấy ấn tín?

Lý Phúc Vĩnh suy nghĩ giây lát :

- Có thể lắm Cam hiệp ạ. Thiên Cương là người khôn khéo, lấy ấn tín ngay sẽ bị nghi ngờ nên y chờ tới bây giờ mới hành động khiến Triệu tổng binh phải lo sợ cho bõ ghét.

Cam Tử Long công nhận :

- Vụ này nhiều nghi vấn lắm. Hướng về phía Thiên Vương tự điều tra may ra tìm thấy chút ánh sáng nào chăng? Nhưng trong dinh Tổng binh liệu có nhân viên nào đủ tài sức tranh đua cùng Thiên Vương tự không?

Lý Phúc Vĩnh lắc đầu :

- Trương Gia Khẩu là một nơi biên ải, số võ quan vẫn nhiều hơn các nơi trong nội địa, Tổng binh Triệu Tường không phải người kém nhưng không thể so sánh được với công phu tuyệt kỹ của các cao đồ xuất thân từ các võ phái xuất thân hiện giờ.

- Thiên Cương Lịch Sơn Độ là một trong những nhân vật đã thọ lãnh được thứ công phu tuyệt đối của phái Không Động, Triệu Tường còn thua sức kém tài thì trong quân lấy đâu ra người có bản lãnh dám cáng đáng việc điều tra Thiên Vương tự?

Lã Mai Nương nói :

- Bình nhật chẳng nói làm chi, nay bỗng nhiên mất ấn tín, quan Tổng binh có thể huy động lực lượng bao vây khám xét trong chùa.

Lý Phúc Vĩnh nói :

- Triệu Tường vị tất đã không nghĩ đến, song y phần e lộ chuyện mất ấn, phần e hậu quả cuộc bao vây khám xét. Thiên Cương chẳng phải là con người chịu để ai đàn áp đâu.

Chuyện vãn hồi lâu, Cam, Lã gọi Bốc Đề Nhĩ ra nói mấy lời cảm ơn và tặng bạc trả ơn vụ đưa kiếm Tăng Tòng Hổ trên núi Hổ Đầu.

Bốc Đề Nhĩ nhất định chối từ. Mai Nương bảo mãi mới chịu nhận.

Song hiệp từ giã Lý Phúc Vĩnh ra Biên Cương quán lấy phòng trọ.

Tối hôm ấy cơm nước xong, Cam Tử Long bàn với Mai Nương :

- Thú thật với sư muội, ngu huynh thắc mắc về Thiên Vương tự quá.

Nàng mỉm cười :

- Chẳng riêng gì sư huynh. Tiểu muội cũng vậy nhưng không dám nói ra, e bị rầy là đa sự.

Chàng dịu giọng :

- Đâu có! Vì mối thù của ngu huynh, sư muội vất vả bôn tẩu đã nhiều. Khốn nỗi cứ phải nhè những nơi nguy hiểm dấn thân vào, mua chuốc không biết bao nhiêu khó khăn vào mình. Nhiều lúc ngu huynh tự vấn không biết ngày nào mới được về an bài nơi sơn dã.

Nàng âu yếm nhìn Tử Long :

- Không vào hang hổ sao bắt được hổ? Cam bá phụ linh thiêng tất thế nào cũng dun dủi anh em ta đi trúng đường Tăng tặc. Chừng nào ta thăm thú chùa Thiên Vương? Đêm hay ngày?

Tử Long suy nghĩ giây lát :

- Mai ta đi dâng hương như hồi trước ở Túc Kỳ Châu thăm chùa Thiên Sơn xem sao. Sau đó sẽ hay.

Hôm sau Song hiệp ra phố sửa soạn lễ vật, rồi đến thăm Sơn Thần Lộ rủ tiêu sư Lý Phúc Vĩnh cùng đi dâng hương chùa Thiên Vương.

Lý Phúc Vĩnh sai gia nhân đi gọi xe ngựa, dặn dò viên quản lý, rồi cùng Song hiệp lên xe ra lối Tây Môn.

Phong cảnh trên đường thiệt u nhã. Qua Thanh Dương hồ, xe ngựa rẽ sang hướng Tây bắc chừng hơn sáu dặm thì đã thấy tam quan ba tầng. Mái cong nhô lên khỏi hàng cây um tùm xanh mướt.

Cao hơn Tam quan còn có ngọn tháp chín tầng mái chọc trời.

Tử Long khen :

- Chà! Ngọn tháp cao quá nhỉ. Với ngọn tháp và gác Tam quan ấy, ta có thể đoán Thiên Vương tự lớn tới bực nào rồi.

Xa phu nói :

- Thưa ba vị quan khách, đó là tháp Kỵ Vân xây dựng ngay ở giữa sân trước đại điện. Trước kia Thiên Vương tự có ngôi đại điện và nóc Tam quan cao nhất, từ ngày vị Bạch Quỷ đại hòa thượng về trụ trì mới xây thêm ngọn Kỵ Vân tháp.

Mai Nương hỏi :

- Lên được lầu trên cùng tháp không?

- Thưa có, thang cuốn bằng gạch xám dẫn đến tầng tháp trên cùng. Mỗi tầng cao mười bốn thước mà tổng cộng chín tầng. Tầng trên cùng có tượng Quan Âm và một lư hương bằng đồng đen chưa trạm trổ nặng tới hơn hai trăm cân, có kẻ lượng đoán ban trăm cân.

Lý Phúc Vĩnh hỏi :

- Nặng thế thì ai nhấc nổi chiếc đồng lư đó lên thượng tầng Kỵ Vân tháp?

Xa phu đáp :

- Thưa, không ai hiểu được việc ấy.

Nhiều quan khách và nhất là một số thợ đã dự phần xây dựng ngọn tháp lấy làm ngạc nhiên hỏi hòa thượng thì người cũng nói là không biết. Có lẽ Thần, Phật linh thiêng biến hóa cho Kỵ Vân tháp chiếc đồng lư ấy.

Lã Mai Nương mỉm cười nhìn Cam Tử Long.

Lát sau tới nơi. Tử Long bê lễ vật đi thẳng vào chánh môn dưới Tam quan rồi được Tri Khách tăng đưa lên đại điện lễ phật.

Trên bục đá xây thành bậc, bày bốn mươi chín pho tượng Phật, tượng nào cũng lớn bằng cỡ người thật, sơn son thếp vàng. Riêng tượng đức Như Lai cao tới mười thước ở bậc trên cùng, gần sát nóc điện. Hai bên dàn tám pho Kim Cương toàn thạch. Bốn chiếc cột bằng cây súc lớn cỡ hai ôm chống toàn thể mái điện nặng nề.

Xoay lưng vào hai cột ngoài, trông thẳng ra sân trước là hai tượng “Ông Thiện”, “Ông Ác” cao tới tám thước, giáp trụ đồ sộ, hiên ngang chống đại đao lưỡi bằng thép thật sáng loáng.

Mai Nương nghĩ thầm: “Kẻ yếu bóng vía lạc vào đại điện ắt chẳng khỏi kinh hoàng”.

Ngay giữa điện, trên bục gỗ trải bồ đoàn, một vị hòa thượng vai rộng, cổ to, da mặt đen bóng như bồ hóng đang tụng kinh.

Song hiệp sẽ hất hàm ý tứ bảo nhau có lẽ đấy là hòa thượng Hắc Phong Mộng Lộ Di mà tiên sư Tưởng Nguyên Sơn đã kể truyện trước khi ra Quan ngoại.

Hành lễ xong, Cam, Lã, và Lý Phúc Vĩnh trở xuống dãy nhà ngang vào phòng Trà. Tri Khách tăng chờ sẵn ở đó :

- Tỉnh ba vị tín chủ vãng cảnh chùa.

Trong chùa, nếp dọc, nếp ngang kiến trúc giản dị nhưng nếp nhà nào cũng đồ sộ vững chắc bội phần. Trai phòng, Thiền phòng, Kinh phòng, nơi nào cũng có biển đề ngăn nắp. Qua sân sau, tới một nếp mái rộng nền đất phẳng lì, bốn bề trống trơn, bên trong bày la liệt các dụng cụ thuộc phần luyện tập võ nghệ. Treo ngang trên xà ngang một tấm biển đề “Thao phòng”. Dự đoán e khách lạ chưa hiểu về lề lối trong chùa, Tri Khách tăng giải thích :

- Sư trưởng bổn tự muốn cho các tăng tiểu trong chùa có sức và tinh thần lành mạnh để được triệt để phục vụ Phật giáo, nên ngoài việc kinh kệ, tất cả đều phải luyện thêm môn quyền thuật cho thể xác được cường tráng.

Cam Tử Long nói :

- Đó là việc nên làm, bổ ích chớ không hại. Đạo Phật không có luật lệ nào cấm các đệ tử tập thể dục. Như Thiếu Lâm tự và một số các đại tự khác chẳng hạn, môn đồ đều biết võ nghệ. Chúng tôi rất tán thành.

Tri Khách tăng chỉ tấm bia đá, dựng ngay ở đầu Thao phòng hướng Đông mà rằng :

- Quý vị tín chủ đọc thử coi.

Ba người bước vào thấy trên bia đề một hàng chữ lớn đề “Đệ Thập Tứ Nhật, Lục Nguyệt, Tân Sửu Niên”, phía dưới hàng chữ ấy, ghi chín tên toàn là pháp hiệu hòa thượng.

Tri Khách tăng giải thích :

- Tân Sửu Niên, cách đây hơn một giáp, tính đúng mười ba năm, một bọn giặc gồm cả người Hán, Mãn, Mông nghe tiếng Thiên Vương tự giàu có nên kéo đến cướp phá. Chúng bị chư tăng ngăn cản chống lại nên hạ sát chín vị hòa thượng và đốt tan tành thiền viện trước khi rút lui, quan quân nội trấn Trương Gia đến cứu không kịp.

Lý Phúc Vĩnh hỏi :

- Bởi lẽ ấy Sư trưởng mới lập bia này kỷ niệm những tăng nhân mạng vong?

Tri Khách tăng gật đầu :

- A di đà Phật, chính vậy. Nhưng các vị tiền bối hỉ xả ấy không thuộc về lớp chư tăng hiện đại.

Những người còn sống sót sợ hãi bỏ đi hết và Thiên Vương tự bị hoang phế cỏ mọc rêu phủ suốt bốn năm trường. Mãi sau Thiên Cương hòa thượng, Sư trưởng hiện tại của chúng bần tăng vân du qua đây, nhờ sự giúp đỡ về mặt tài chánh của đại sư phụ và khách thập phương, người liền dừng bước tu bổ lại khu đại thiền viện này.

Ba người nói mấy lời khen ngợi rồi cùng Tri Khách tăng ra hậu hoa viên ở liền ngay sau Thao phòng. Ngay giữa hậu hoa viên, trên bục đá cao hơn mặt đất chừng hai tấc có một quả chuông đồng cao tới mười hai, mười ba thước, có bốn “vú chuông” đúc hình “Ngũ Long Tranh Châu”.

Tri Khách dẫn giải :

- Trái “Đại Chung” này đúc được bốn năm rồi nhưng gọt dũa thì vừa mới xong được vài tháng nay.

Cam Tử Long hỏi :

- Đại hòa thượng đinh treo chuông này lên Tam quan?

- Thưa không, vì chuông nặng lắm. Làm thế nào mà kéo lên nổi trên Tam quan? Vả lại trên đó không có cây xà ngang khả dĩ đủ sức chịu nổi trái chuông này.

- Có lẽ phải xây gác chuông riêng chăng?

- A di đà Phật, đó là ý muốn của Sư trưởng bần tăng nhưng không biết có thực hiện nổi chăng?... Cũng còn nhờ công đức khách thập phương. Khi đúc chuông dùng tới hai tấn rưỡi đồng. Nay thành công, sức nặng của trái chuông có lẽ còn tới non tấn hay một tấn.

Mai Nương hỏi :

- Nhưng làm thế nào mà đưa được trái chuông này lên cái bục đá hả?

Tri Khách tăng đáp :

- Khuôn đúc để ngay trên bục đá. Bên trong hãy còn cốt. Chừng nào khởi công treo mới lấy ra được.

Mai Nương đi quanh trái chuông coi, nhận thấy quanh bờ bục đá phiến có mấy vết sứt mẻ.

Tri Khách mời ba người về Thiền phòng, nơi Thiên Cương hòa thượng ngồi nhập định trên bồ đoàn. Khách vừa qua ngưỡng cửa thì Thiên Cương cũng bừng mắt đứng lên đáp lễ.

Thoạt nhìn, Song hiệp biết ngay là vị đại hòa thượng có một sức lực tiềm tàng đáng nể. Gọi là Bạch Quỷ thiệt đúng với sắc diện trắng hồng, mắt xanh lè, mũi cao mà dài, tóc cạo nhẵn bóng nhưng để râu quai nón xoăn tít, vàng hoe như lông quỷ. Thiên Cung nói Bạch thoại rất sõi y hệt người Bắc Kinh. Đại hòa thượng nhìn chằm chằm ba người, nhất là Tử Long, Mai Nương rồi mời ba người dùng trà.

Song hiệp chú ý nhận xét thấy nét mặt hòa thượng thật nghiêm nghị nhưng trong cái nghiêm nghị ấy vẫn bao quát một vẻ hiền từ.

Cất tiếng sang sảng như chuông đồng, không một chút gợn giọng ngoại nhân, Thiên Cương hỏi :

- Thiệt tình nhị vị thiếu gia nghe tiếng Thiên Vương tự mà không quản đường xa dặm thẳng, đến bổn tự dâng hương cầu phúc hay vì lý do này khác?

Lã Mai Nương đáp, giọng nói không kém nghiêm nghị, đanh thép :

- Bạch hòa thượng, do cả hai thứ:

Đại danh Thiên Vương tự và Đại sư bạch diện công đức cao cả.

Thiên Cương mỉm cười :

- Trước khi tới đây, hẳn quý vị dựa theo lời đồn thấy bổn tự dữ hơn là lành, tiếng còn dữ hơn nữa khi biết bần tăng là một tên Bạch quỷ và chư tăng trong thiền viện trà trộn đủ mọi giống người...

Cam, Lã im lặng nghe.

Hòa thượng nói tiếp :

- Đạo Phật nhân ái, rộng rãi bao la, bao dong thiên hạ chúng sanh, chẳng riêng gì của mình ai, lẽ nào người ta thấy bần tăng là ngoại nhân, đem lòng đố kỵ gieo cho nhiều tiếng không hay?... Quy y đầu Phật, bần tăng không màng tới việc thế nhân, lẽ ra phải im lặng trước dị nghị của thiên hạ.

Hôm nay, tuy nhất kiến vi kiến, bần tăng thấy quý vị, hiểu người nên mới dám trần tình. Bần tăng đã cố công tái tạo Thiên Vương tự, dĩ nhiên mong ước chốn này trở thành nơi Phật cảnh tin tưởng, trọng mến của tất cả những ai biết tôn kính đức Như Lai cao cả, chí tôn, chí ái và quyết không tha thứ người nào dám coi bổn tự như một ổ người phạm giới.

Nghe Thiên Cương nói với cả một bầu nhiệt huyết, Song hiệp hiểu ngay là vị hòa thượng ấy bị điều uất ức.

Phải chăng là Tổng binh Triệu Tường vốn không ưa ngoại chủng ghét Thiên Cương Lịch Sơn Độ nên lúc nào cũng tưởng tượng rằng vị hòa thượng này thuộc hạng hổ mang phạm giới?

Có lẽ giữa hai người, vẫn có những xích mích ngấm ngầm mà không một ai hiểu hết.

Chịu không nổi Triệu Tường, Thiên Cương - thêm một lần nữa - trổ tài phi thiềm tẩu bích đoạt ấn tín của viên Tổng binh họ Triệu phải lao đao điêu đứng cho bõ hận.

Thiên Cương thật tình nhưng Triệu Tường vẫn cố chấp.

Suy luận như vậy, Cam Tử Long nói :

- Sư phụ dạy chí phải, song le trong đời nhiều khi con người phải biết nhắm mắt làm ngơ bỏ hết tiểu tiết. Với thời gian, hắc bạch không thể nào lẫn lộn được. Đại sư chẳng nên chủ tâm nghĩ ngợi làm chi. Đệ tử muốn biết trước khi về trụ trì tại Trương Gia Khẩu, sư phụ đã từng ở một nơi nào hay chỉ chuyên việc vân du?

Thiên Cương đáp :

- Bần tăng chuyên vân du, nhưng căn cứ vẫn là Không Động sơn bên Cam Túc. Đó là nơi mà bần tăng đã thế phát học đạo, luyện thân từ nhỏ chí lớn, trước khi phiêu bạt nay đó mai đây học hỏi.

Là môn đồ của Thạch Phủ Kính trưởng phái Không Động, bần tăng tuy lớn tuổi nhưng còn có một vị sư huynh ít tuổi hơn, vị ấy theo thầy học đạo trước bần tăng. Trước khi lấy Thiên Vương tự làm căn cứ, bần tăng vẫn muốn rời Không Động sơn tuy là người của môn phái đó. Nếu thiếu gia không hiểu tại sao, xin miễn hỏi vì bần tăng không đủ can đảm giải thích.

Dứt lời, Thiên Cương im lặng. Cam, Lã thấy không cần phải kéo dài câu chuyện tìm hiểu Thiên Cương hơn nữa bèn xin cáo từ.

Cam, Lã và Lý tiêu sư trở ra sân trước lên Kỵ Vân tháp. Cầu thang gạch xây cuốn, đi vòng chín tầng mới lên tới đỉnh tháp thờ đức Quan Âm. Trước bệ Phật, một chiếc đồng lư chạm trổ tuyệt đẹp khá lớn được bày trên bục đá. Sức nặng chiếc đồng lư ấy có tới ba trăm cân theo sự ước lượng của Song hiệp.

Cam Tử Long và Lý Phúc Vĩnh :

- Lý tiên sinh có tin rằng chiếc lư đồng này tự nhiên bay tới đỉnh tháp Kỵ Vân chăng?

- Làm chi có câu chuyện trời biển ấy! Đó là một công phu tuyệt kỹ, dũng lực phi thường. Người nào làm nổi việc ấy tất phải có đại lực.

Mai Nương nói :

- Không những có đại lực mà còn đạt cả Nội Ngoại Thần Công. Vác nổi một sức nặng ba trăm cân lên chín tầng lầu tất cả sức đẩy ngang mạnh ngàn cân.

Lý Phúc Vĩnh nói :

- Ngoài Thiên Cương ra, nội tự không ai làm nổi việc ấy.

Cam Tử Long hỏi :

- Nhưng vì lý do gì Thiên Cương bê chiếc lư đồng lên ngọn tháp rồi lại phao ngôn là không hay biết gì về vụ ấy cả. Y có ý để mọi người tin tưởng là chỉ có sức màu nhiệm của đức Phật mới đưa nổi chiếc lư đồ nặng nề này lên được ngọn Kỵ Vân tháp?

Lý Phúc Vĩnh nói :

- Tôi có cảm tưởng rằng Thiên Cương hòa thượng ấm ức ở điểm đất đông người tuy tới chùa dâng hương, nhưng vẫn không ưa vị Sư trưởng là ngoại nhân.

Cam Tử Long nói :

- Tôi không hiểu tại sao mọi người lại quá đố kỵ ngoại nhân. Thiên Cương hòa thượng giản dị và rất thực tế. Xem như việc công khai bắt các tăng tiểu trong chùa phải luyện tập võ nghệ cho thân thể cường tráng đủ sức tự vệ phòng giặc cướp. Hành động ấy rõ ràng như thanh thiên bạch nhật, không hề úp mở giấu diếm như các ngôi chùa khả nghi. Sự bất đồng ý giữa Triệu tổng binh và Thiên Cương hòa thượng chắc chắn do một sự hiểu lầm. Hai bên cùng tự ái không chịu cởi mở tâm sự trước, nên chia rẽ hai người ngày một sâu thêm.

Thiên Cương bản lãnh chắc khá lắm đủ tư cách tự vệ, không biết sợ ai cũng như không cần sợ ai, đương nhiên trong khu vực nhà chùa nương nhờ cửa Phật bất khả xâm phạm. Đó cũng là một lý do khiến không ai gặp Thiên Cương ra phố trong thành Trương Gia Khẩu.

Lễ trước điện Quan Âm xong, Cam, Lã đứng dựa cửa sổ trên từng chót Kỵ Vân tháp nhìn phong cảnh chung quanh.

Đứng trên cao Cam, Lã ngắm cảnh sắc bao quát nội vùng. Xa xa cửa ải Trương Gia Khẩu hùng vĩ với những nóc mái cong, những ổ châu mai vuông vắn in bật trong vòm trời xanh ngắt. Nội phận, đồi núi chập chùng, rừng cây bát ngát ăn thông đến tận Vạn Lý Trường Thành uốn khúc vắt qua đồi, băng đỉnh núi như một lão long khổng lồ mình dài vô tận. Ngắm nhìn hồi lâu, ba người ung dung xuống tháp, trở lại đại điện từ giã Tri Khách tăng ra về.

Chiều hôm ấy Song hiệp nghỉ ngơi, đàm luận về chùa Thiên Vương.

Lã Mai Nương hỏi :

- Sư huynh có chú ý tới cái bờ nền đá, nơi để trái chuông lớn không?

Cam Tử Long gật đầu :

- Có, bờ đá bị sứt mẻ chứng tỏ rằng đã có người vần trái chông dựng lên bục đá, chớ không phải nguyên vị từ lúc mới đúc.

- Chính thế. Khoảng đất gần đó cũng vừa mới được cuốc xới lên, phải chăng nhà chùa đã làm thế để xóa vết tích chỗ để chuông cũ? Tại sao Tri Khách tăng cố ý giấu diếm về chỗ để chuông tất phải có lý do quan trọng.

Bỗng Cam Tử Long tươi hẳn nét mặt lên. Mai Nương ngạc nhiên :

- Sư huynh hân hoan điều gì thế?

- Lúc ở trên thượng tầng Kỵ Vân tháp, sư muội vô tình nhắc lại câu nói của Chiêu Dương sư phụ “Bê nổi ba trăm cân lên dốc tức là có sức đẩy ngang bật một ngàn cân dễ dàng”. Sư phụ thường nhắc đi nhắc lại câu này khi người bắt chúng ta khuân đống đá ở lưng chừng núi chồng lên thành bức tường bên dòng suối, sau đó lại dỡ đá trả về chỗ cũ.

Mai Nương gật đầu mỉm cười :

- Ờ, tiểu muội còn nhớ trong thời kỳ luyện Thần Công chúng ta phải khuân như vậy có tới hai chục lần. Càng dỡ đống đá ra, những viên đá ở lớp trong càng lớn, những tưởng không đủ hơi sức khuân được tới dòng suối nữa, ngờ đâu không bê thì vác, khuân được hết.

Nguyên câu chuyện vác đá mà Mai Nương, Tử Long nói đây, phái Bắc Thiếu Lâm gọi là Di Sơn pháp. Các vị đại sư tiền thế của của phái này đã chất một đống đá lớn tại lưng chừng núi. Các tảng đá chất thành đống ở đó có đủ các cỡ lớn nhỏ kể từ hai mươi cân lên tới ba trăm năm mươi cân. Số cân lượng được ghi bằng sơn lên mỗi tảng đá một.

Các môn đồ luyện Thần Công phải hàng ngày khuân các tảng đá đó từ sườn núi lên đặt tại nơi bờ suối gần chùa. Bê một sức nặng như vậy khi lên dốc, lúc xuống dốc không phải là một việc dễ dàng. Thoạt lúc đầu, sự khuân vác ấy quả rất khó khăn. Về sau hàng ngày luyện tập, sức mạnh của các môn đồ mỗi ngày tăng tiến. Họ chuyển vận các tảng đá đó mãi cho tới một ngày kia họ đủ sức di chuyển cả một tảng đá lớn nhất nặng ba trăm năm mươi cân lên tới bờ suối gần chùa Bạch Vân. Sau đó, môn đồ luyện Thần Công lại phải chuyển dời đống đá đó từ bên suối xuống sườn núi trả về chỗ cũ. Khởi đầu còn phải gắng công mệt nhọc, về sau các môn đồ coi việc di chuyển thạch phiến ấy như một việc thường không khó nhọc. Đó là lúc họ đã thành công trong việc luyện Thần Công và trên mặt đất phẳng có dư sức đẩy ngang hoặc vác lên khỏi đầu một sức nặng ước lượng độ một đên ba trăm cân.

Luyện Nội Ngoại Thần Công đến bực này thì được liệt vào mức độ thượng thừa ít người bì kịp. Môn đồ cần phải Thiên Tiên Hoàn Túc dầy công luyện tập mới mong thành công. Lúc đó hai cánh tay thừa sức khỏe dìu nổi Tứ mã không cho chạy, hoặc cử nổi khỏi đầu đi lại như thường một vật nặng dư ngàn cân có quai hay có chỗ khả dĩ cầm được, như đồng lư hoặc thiết đảnh chẳng hạn.

Khi xưa, Hạng Võ muốn biểu lộ đại lực thâu phục hai tướng Hoàn Sở, Vũ Anh trong Đồ Sơn, bèn theo lời thách thức của Hoàn, Vũ đến trước miếu Võ Vương thử sức.

Trước miếu có một chiếc thiết đảnh ba chân cao bảy thước, bề vòng năm thước, giữa hai vú đảnh một bên đề Ngũ Thiên Đảnh một bên đề Bất Khả Di. Qua bao nhiêu triều đại, chiếc đỉnh đó vẫn trơ trơ cùng tuế nguyệt, ba chân ăn lún xuống đất sâu tới ngót tấc.

Đứng trước thiết đảnh khổng lồ ấy, Hạng Võ bảo mọi người thử trước xem có đẩy đổ nổi hay không. Nào tướng, nào quân, người nào cũng như châu chấu đá xe, mồ hôi toát đầm áo, miệng thở hồng hộc mà thiết đảnh vẫn trơ như ngọn Thái Sơn. Tức thì, sau khi ai nấy đều xin chịu, Hạng Võ sắn tay áo, bước tới, vận dụng toàn lực đẩy mạnh. Thiết đảnh nặng nề đổ lật sang bên, cày cả đất. Hạng Võ cúi xuống cầm hai chân đảnh nhấc bổng lên khỏi đầu, đi ba vòng trước sân miếu rồi đặt thiết đảnh xuống chỗ cũ. Hai tướng Hoàn Sở, Vũ Anh và toán binh tướng tháp tùng thất kinh, hoan hô thần lực.

Theo sử thì chiếc đảnh đó nặng dư ngàn cân mới có tên Ngũ Thiên Đảnh. Trái lại, pho Võ Thuật Tùng Thư, chương Thần Công Đề Khí có một đoạn nói tới dũng lực vô địch của Tây Sở Bá Vương để so sánh với các danh đồ võ phái đã đạt tới mức tối cao trong khuôn khổ Đại Lực, chép rằng:

Lực nặng tối đa là một ngàn hai trăm cân, chớ chưa một ai cử nổi quá mức ấy, kể từ khi Đạt Ma sư tổ từ Tây Tạng vào Trung Nguyên truyền bá kỹ thuật Công Phu. Số môn đồ hay Đại sư làm nổi chuyện phi thường ấy không phải là thế hệ nào cũng có. Cho nên bộ Tùng Thư kết luận rằng chiếc đảnh mà Tây Sở Bá Vương cử trước miếu Võ Vương thời Tây Hán có lẽ chỉ nặng tới mức tối cao một ngàn hai trăm cân. Còn ba chữ Ngũ Thiên Đảnh không có nghĩa là đảnh đó nặng năm ngàn cân.

Ở chân ngọn Đại Sơn thuộc đất Cối Kê có tên là Ngũ Thiên. Phải chăng thôn dân nơi đó đã đúc một chiếc đảnh nặng một ngàn hai trăm cân dâng thờ lên miếu Võ Vương, bởi vậy mới có ba chữ Ngũ Thiên Đảnh, nghĩa là chiếc đảnh của Ngũ Thiên Thôn. Nếu có lạ thì chỉ ở điểm Hạng Võ bẩm sanh có dũng lực thiên phú mới làm việc động trời ấy giữa một thời mà nền võ thuật chưa tới mức tinh vi.Kỹ thuật Công Phu bên Trung Quốc bắt đầu phát triển có phương pháp chắc chắn thật ra chỉ từ thời Tống sơ tức là lúc chùa Thiếu Lâm được thành lập.

Các vị Thiền sư thuộc phái này khảo cứu, bổ túc mãi cho tới khi qua cả đời Nguyên đến Minh, Thanh mới là thời kỳ toàn thịnh và Võ thuật mới thiệt xứng đáng với danh Kỹ Thuật Công Phu.

Dưới thời Càn Long, môn đồ Bắc Thiếu Lâm cho Chiêu Dương thiền sư đào luyện chỉ có bốn người như ta đã biết, là hai người thế phát từ nhỏ theo hầu Thiền sư: Mạnh Sơn và Võ Sơn. Sau đó có Cam Tử Long và Lã Mai Nương.

Bốn người ấy sàn sàn tuổi nhau, nhờ có sức lực tự nhiên, lại được Chiêu Dương thiền sư và Lã Tứ Nương ra công đào luyện nên cả bốn người cùng đạt tới mức tối cao về Di Sơn pháp. Nhưng trội hơn và phần Đại Lực có Mạnh Sơn và Cam Tử Long di chuyển và cử nổi một ngàn hai trăm cân kỳ dư. Trái lại Võ Sơn và Mai Nương lại hơn Mạnh Sơn, Cam Tử Long về phấn tối ư lẹ làng. Tuy mỗi bên hơn nhau chút đỉnh, nhưng bốn danh đồ đều đáng liệt vào hàng siêu việt thời bấy giờ, người nào cũng dầy công luyện tập trên mười năm mới thành tài.

Bởi vậy, khi Lã Mai Nương nhắc đến câu “Cử nổi ba trăm cân lên dốc, tất chuyển được dư ngàn cân trên đất bằng” đã khiến Tử Long nhớ lại Thiên Cương hòa thượng và chiếc chuông lớn ở ngoài hậu viên Thiên Vương tự.

Vị hòa thượng giống người Bạch chủng này, đã thẳng thắn thừa nhận là môn đồ của phái Không Động. Nói về phương diện Võ thuật, phái Không Động là một trong những võ phái lớn nhất Trung Nguyên hồi bấy giờ. Số môn đồ còn có phần đông hơn cả Thiếu Lâm tự.

Lão sư Thạch Phủ Kính đích thân ở trên Không Động sơn, trong Kim Điêu ổ trước kia thuộc Kim Thành huyện, Tam Ân phủ. Nay Kim Điêu ổ dân cư đông đảo, trở thành huyện lỵ từ đời Minh mạt Sùng Chinh Vương, nên tách ra khỏi Kim Thành huyện và trực thuộc riêng Tam Ân phủ, đất Cam Túc.

Thạch Phủ Kính lão sư có ba đồ đệ đáng liệt vào bực kiệt hiệt thời bấy giờ. Người thứ nhất là Hạng Kính Thiên gốc người Hán Trung. Người thứ nhì là Lịch Sơn Độ tức là Thiên Cương hòa thượng, sư trưởng Thiên Vương tự. Người thứ ba là Đậu Hải Giao, người Khai Phong phủ, Hà Nam. Sau khi thành công, Lịch Sơn Độ vốn đã thế phát, ở lại Giảng Võ Đường do Lão sư xây dựng ngay tại Kim Điêu huyện, cùng sư phụ và sư huynh Hạng Kính Thiên thay phiên nhau dạy các môn đồ. Riêng Đậu Hải Giao có việc nhà phải về Khai Phong phủ.

Đảm nhiệm dạy các môn đồ được ít lâu, Lịch Sơn Độ nhận thấy Thạch sư phụ và Hạng Kính Thiên thâu nhận môn đồ một cách bừa bãi, bạ ai xin học cũng nhận liền, không cần tìm hiểu, thử thách về phương diện đức độ của người mới đến.

Hơn nữa, Lịch Sơn Độ không ưa tánh nết của sư huynh Hạng Kính Thiên và một số đông các sư đệ, nên từ giã Thạch lão sư, vân du thăm viếng Trung Quốc.

Lịch Sơn Độ định bụng sau thời gian du hành, tất thế nào cũng tìm được một nơi vừa ý, sẽ ở lại tu hành, tách khỏi hẳn Không Động sơn.

Tuy vậy, Lịch Sơn Độ vẫn luôn luôn kính trọng Thạch lão sư là người đã nuôi dạy truyền nghề cho mình từ nhỏ nay mới có bản lãnh như thế này, nên cũng nhiều khi tiện đường về thăm, tuyệt nhiên không hề đả động tới việc Thạch Phủ Kính hay binh vực học trò chống lại mấy võ phái khách dù rằng người của Không Động sơn có lỗi.

Thời ấy, nhắc đến phái Không Động, người của môn phái khác đều biết là một phái cùng với phái Tây Khương ưa gây nhiều chuyện xích mích, hiềm thù với các đồng đạo dị phái.

Bởi vậy, khi đáp lại câu hỏi về môn phái của Cam Tử Long, Thiên Cương không khỏi chạnh lòng về hai tiếng Không Động, tuy rằng trong một võ phái cũng có người tốt kẻ xấu.

Bình luận về Thiên Cương hòa thượng, Lã Mai Nương nói :

- Lịch Sơn Độ là người dị chủng, bị Triệu tổng binh chủ ý nghi ngờ mà không chịu tìm hiểu nên mối hiềm thù giữa hai người ngày một tăng thêm. Theo lời Tưởng Nguyên Sơn kể lại thì đã có lần tức nước bể bờ, Thiên Cương lần thứ nhất bẻ ngọn giáo trổ tài võ dũng cảnh cáo quan Tổng binh. Bị ức, họ Triệu chắc có dùng áp lực quyền thế của mình sao đó, nên chuyến này vị hòa thượng dị chủng ấy lại cảnh cáo Triệu Tường bằng cách lấy ấn tín. Nếu chúng ta dàn hòa được vụ này cũng là một điều nên làm.

Cam Tử Long nói :

- Dàn hòa bằng cách nào nếu ta không tìm ra được ấn tín để lấy đường giao dịch với Triệu Tường?

Mai Nương mỉm cười :

- Theo tiểu muội dự đoán thì ấn tín hiện giờ ở...

Nàng ghé tai Cam Tử Long nói nhỏ mấy câu.

Họ Cam gật đầu :

- Ờ, ngu huynh đồng ý. Thử xem sao? Thiên Cương có thể đạt tới trình độ võ công ấy đó.

Đêm hôm ấy trống canh vừa điểm hai, thì hai bóng đen xuất hiện trên các mái nhà Trương Gia Khẩu, vượt thành rồi hướng về phía Thiên Vương tự.

Hai bóng đen chính là Song hiệp đột nhập chùa Thiên Vương.

Hai người thoăn thoắt tiến đến chỗ để trái chuông đứng tựa lưng vào khối đồng lớn ấy.

- Sư huynh đẩy nghiêng trái chuông, tiểu muội đỡ ở phía bên cho khỏi đổ, đoạn sư huynh chui hẳn vào xem coi có gì không.

- Nếu có, thì chỉ ở mặt phiến đá thôi, quơ tay vào cũng thấy.

Tức thì Cam, Lã nhìn quanh, nhận xét kỹ một lần nữa. Chắc chắn là không có người, Cam Tử Long liền bám tay vào các mấu chạm trổ trên mặt chuông, vận dụng toàn lực đẩy từ từ. Trái chuông khổng lồ, nặng nề nghiêng lần lần.

Đứng phía bên kia, Mai Nương đỡ lấy thân trái chuông cho khỏi đổ, nàng bảo :

- Được rồi, sư huynh có thể buông tay ra được.

Cam Tử Long từ từ buông tay, ngồi thụp hẳn xuống. Chàng mừng rỡ khi tay đụng trúng một chiếc hộp nhỏ ngoài bọc vải. Cầm ngay lấy chiếc hộp đó, chàng xóc thử mấy cái thấy có mấy vật gì lăn lốc cốc bên trong.

Tử Long chui ra, giắt chiếc hộp nhỏ vào đai lưng, đoạn đỡ lấy thân trái chuông, chàng bảo Mai Nương buông tay.

Trái chuông khổng lồ nặng nề được hạ từ từ xuống như cũ.

Mai Nương vội hỏi :

- Có rồi hả?

- Ờ, có rồi, ra ngoài giở ra coi lại xem thế nào. Nếu không phải thì mất công quá!

Lánh xa khỏi tường Thiên Vương tự để tránh đoàn tăng tiểu tuần phòng, Cam, Lã dừng bước dưới gốc cây mở bọc lấy chiếc hộp mở ra xem. Quả nhiên bên trong có hai quả ấn, một chiếc hình vuông và một hình chữ nhật.

Song hiệp mừng rỡ, bọc chiếc hộp lại như cũ, bỏ vào túi dạ hành của Mai Nương đoạn phi hành thẳng một mạch về Trương Gia Khẩu.

Sáng hôm sau Cam, Lã vừa dùng điểm tâm xong thì Lý Phúc Vĩnh đến Biên Cương quán báo cho biết tin Triệu tổng binh đang điều động quân binh để vào lục soát Thiên Vương tự. Muốn thỏa tính tò mò, họ Lý mời Cam, Lã cùng vào chùa để mục kích vụ khám xét xem sao.

Song hiệp nhận lời cùng đi và yêu cầu họ Lý chờ ở dưới lầu để vào phòng sửa soạn y phục.

Cam Tử Long bảo Mai Nương :

- Hành động vô tình của ta đêm rồi ngờ đâu lại cứu được Thiên Cương hòa thượng.

Mai Nương đáp :

- Bây giờ kể lấy trộm ấn tính lại chính là ta. Để tiểu muội cất hộp ấn lên xà nhà rồi hãy đi.

Sửa soạn xong, nàng lấy hộp ấn để trong túi bách bảo ra, phi thân lên xà nhà, dấu hộp ấn ở đó. Đoạn Song hiệp xuống lầu.

Lý Phúc Vĩnh đã thuê sẵn xe ngựa vào Thiên Vương tự.

Ba người vào tới nơi, Thiên Cương nhận ra khách dưng hương quen hôm qua, bèn vui vẻ lưu lại dùng trà đàm luận thế sự cổ kim.

Cam Tử Long thấy Thiên Cương tánh tành giản dị, thẳng thắn, hiểu biết rất nhiều về phong tục, thổ ngôi Trung Quốc, bèn giới thiệu Lý Phúc Vĩnh, Mai Nương và tự giới thiệu mình với hòa thượng.

Thiên Cương điềm đạm nhìn kỹ Song hiệp đoạn nói rằng :

- Thế ra Cam tín chủ sanh quán tại Tần Lĩnh sơn, vậy có biết Cam Trường Mâu là ai không?

Tử Long đáp :

- Cam Trường Mâu là cố phụ thân tôi.

Thiên Cương suy nghĩ giây lát, đoạn hỏi Tử Long :

- Phải chăng công tử theo Chiêu Dương thiền sư và Lã Tứ Nương đại sư lên Mã Dương cương học nghệ? Bần tăng không rõ từ hồi nào nhưng có lẽ lâu lắm rồi?

Tử Long gật đầu :

- Quả có thế. Tôi ở Bạch Vân tự trên mười năm, theo gia sư từ hồi còn thơ ấu và hạ sơn được hai năm nay. Đây là Lã Mai Nương sư muội, nữ điệt của Lã đại sư, đồng môn, đồng thời với tôi.

Thiên Cương khen ngợi :

- Chiêu Dương thiền sư và Lã đại sư không khi nào liều lĩnh thâu nhận môn đồ, vậy ai xuất thân do Bạch Vân tự tất là nhân vật hữu hạng rồi. Một người là đích nam của Cam Trường Mâu, một đằng là nữ điệt của Lã đại sư thì khỏi phải bình luận. Sở dĩ bần tăng phải rời Không Động ra đi cũng chỉ vì vấn đề môn sinh đức độ đó thôi.

Cam Tử Long thắc mắc :

- Sư trưởng biết lai lịch chúng tôi trong trường hợp nào?

Thiên Cương nói :

- Trước hết, bần tăng muốn hỏi thiếu gia có quen biết kẻ nào họ Tăng không?

Tử Long giật mình hỏi :

- Y tên chi, Sư trưởng cho biết?

- Chỉ biết là họ Tăng, còn tên chi không rõ.

- Tôi không quen họ Tăng nhưng y là kẻ thù của dòng họ Cam chúng tôi. Tên y là Tăng Tòng Hổ.

Thiên Cương gật đầu :

- Chính thế. Bần tăng vô tình mà biết câu chuyện này.

Nguyên hơn hai năm trước đây, có hai người vào Thiên Vương tự xin trọ một đêm. Thấy một người diện mạo dữ tợn, người họ Tăng, cửa Phật là chốn từ bi không lẽ chối từ nên bần tăng chấp nhận.

Đêm hôm ấy, e hai người đó giả đò xin trọ làm nội ứng cho đồng bọn cướp chùa nên bần tăng nhảy lên mái phòng của hai người rút ngói nghe. Tăng Tòng Hổ tinh lắm. Bần tăng bước thiệt nhẹ mà hình như y nghe thấy. Đang nói chuyện với bạn đồng hành, y rút đao ra sân, phi lên nóc chùa xem xét, khiến bần tăng phải kíp rút lui. Chờ y trở vào phòng, bần tăng mới hết sức thận trọng, trở lại nghe ngóng, trong lúc y nói chuyện cùng người bạn. Y nhắc lại chuyện xưa, chuyện y đã hạ sát Cam Trường Mâu.

Suốt bao nhiêu năm trời y sống khắc khoái trong lo sợ, nay có người bằng hữu mời y tham dự một công vụ quan trọng, nên y muốn đồi nghề xưa may ra tránh khỏi cuộc báo thù của người con duy nhất nhà họ Cam.

Sở dĩ bần tăng hiểu rõ vụ Tăng Tòng Hổ ám sát vị lão anh hùng đáng kính trong Tần Lĩnh sơn là vì y thuật lại rất rõ rệt trận phục kích đêm bi thảm ấy.

Suy nghĩ giây lát, Thiên Cương nói tiếp :

- À, còn điều này có lẽ quan trọng hơn cả. Tăng Tòng Hổ đã nói rằng nếu y nhận đổi nghề mới thì y sẽ xuống miền Nam, vì sự di chuyển ấy may ra thoát khỏi thoát khỏi sự theo dõi của đích nam Cam Trường Mâu, nhị vị nên xuống Nam may ra gặp được tên đạo tặc đó chăng?

Nhìn chiếc túi gấm đựng hai thanh Yểm Nhật và Huyền Tiễn, Thiên Cương nói :

- Chắc đây phải là báu kiếm mới bất ly thân được nhị vị đem theo?

Cam Tử Long đưa hai thanh bảo khí ấy cho hòa thượng xem. Thiên Cương trịnh trọng đỡ kiếm, rút cả hai thanh ra khỏi vỏ ngắm nghía hồi lâu, khen ngợi luôn miệng :

- Bên xứ bần tăng cũng có kỹ nghệ đúc kiếm. Kỹ nghệ đó tối tân lọc được thép tốt, đúc và ngâm được những lưỡi kiếm xanh lè không han gỉ nhưng vẫn chưa tới trình độ chặt được thiếc, thạch như loại kiếm này.

Lã Mai Nương hỏi :

- Quý quán ở mãi đâu?

- Nhật Nhị Man là xứ sở của bần tăng, cách xa Trung Quốc hằng muôn dặm. Bần tăng xuất xứ sang Đông cùng phụ mẫu. Song thân bị giặc hạ sát, còn bần tăng được sư phụ Thạch Phủ Kính đem về Không Động nuôi dạy nên mới có ngày nay.

Bốn người dùng trà, đang chuyện vãn, bỗng tiểu tăng hớt hải chạy vào báo cáo Thiên Cương :

- Thưa Sư trưởng, có quan binh kéo tới vây chùa đòi Sư trưởng ra hầu chuyện.

Thiên Cương thản nhiên đứng dậy xin lỗi Song hiệp và Lý Phúc Vĩnh rồi xốc áo đi thẳng ra sân trước nhà. Tại đây, Tổng binh Triệu Tưởng đai nịt gọn gàng võ trang đầy đủ, hai bên có mấy viên tùy tướng hộ vệ, đứng sững ngay trước tam quan.

Hắc Phong Tăng và Tri Khách tăng đứng ở giữa sân chùa, thấy đại hòa thượng đi ra liền đứng dẹp qua hai bên nhường Thiên Cương tiến tới.

Một tay để lên ngực, tay lần tràng hạt, Thiên Cương cúi đầu trịnh trọng :

- Mô Phật, kính chào quan Tổng binh, ngài bất chợt giáng lâm, bần tăng không được tiếp rước trọng thể, thiệt đắc tội. Xin mời vào phương trượng.

Triệu Tường nói :
- Khỏi cần! Yêu cầu Sư trưởng cùng chư tăng bình tĩnh. Tôi có việc cần phải khám xét toàn thể Thiên Vương tự, mong rằng đừng ai nhốn nháo.

Thấy Tổng binh không nói tới việc quan quân vây cả quanh chùa, Hắc Phong Tăng nói với Thiên Cương :

- Thưa Sư trưởng, hiện thời quan Tổng binh đã cho quân vây chùa rồi.

Thiên Cương nghiêm nét mặt :

- Như vậy là thế nào? Toàn thể chư tăng trong chùa này hoặc cá nhân ai đã phạm tội gì đến nỗi quan Tổng binh phải đích thân huy động bộ đội tới vây bổn tự? Mong ngài cho biết lý lẽ tại sao?

Triệu Tường nói :

- Việc cơ mật không thể nói được. Nếu chư tăng tự vấn thấy không có lỗi thì cứ bình tĩnh. Quan binh khám xét trong chùa xong không thấy gì lại sẽ đi ngay. Bằng mà trái lại thì lại là chuyện khác.

Thiên Cương phản đối :

- Không dễ thế được! Việc ngài làm đây chấn động cả Trương Gia Khẩu, phạm tới thanh danh Thiên Vương tự không ít, bần tăng quyết ngăn cản dầu thác cũng cần. Thà thác trong còn hơn sống nhục.

Thấy Thiên Cương quả quyết phản đối, vả lại cũng dư hiểu bản lãnh của các hòa thượng Thiên Vương tự, Triệu Tường bèn giảng giải :

- Biện pháp này được thi hành không riêng gì cho Thiên Vương tự mà cho cả Trương Gia Khẩu. Vì chùa ở ngoại thành nên bổn chức phải khám xét trước nhất.

Nghe Tổng binh nói có lý, Thiên Cương đáp :

- Đã vậy, bổn tự là một nơi rất ngăn nắp, cấm không ai được lục xét bừa bãi. Không được phạm tới bàn thờ Phật, xô đẩy lệch lạc phật tượng. Đoàn quan binh có nhiệm vụ khám xét phải chịu sự theo giám sát của các hòa thượng trong chùa. Có được như vậy, bần tăng mới ưng thuận.

Triệu Tường chấp thuận :

- Được. Tôi ưng thuận các điều kiện ấy. Sư trưởng khá lựa người ngay. Tôi đích thân chỉ huy khám xét.

Thiên Cương gọi một hòa thượng khác giao nhiệm vụ tiếp đãi khách dâng hương, đoạn lững thững trở về Thiền phòng.

Song hiệp và Lý tiêu sư lúc đó đã ra cả sân trước xem Triệu tổng binh hành động như thế nào.

Triệu Tường điều khiển cuộc khám xét rất quy củ, nơi nào xét ra nghi ngờ đáng khám mới lục xét.

Tới quá trưa mọi việc mới xong. Triệu Tường dẫn các tướng bộ hạ ra hậu viên. Họ Triệu bực tức vì khám xét vô hiệu quả. Triệu tổng binh đi quanh khu vườn rộng rãi, nhận xét thấy nơi để trái chuông lớn kia đáng nghi hơn cả.

Với tài lực của Thiên Cương và chư tăng trong chùa, chắc chắn họ nhấc nổi chiếc chuông khổng lồ ấy, và biết đâu không bỏ hộp ấn tín vào đó. Suy nghĩ về thái độ đặc biệt trầm tĩnh của Sư trưởng Thiên Vương tự, Triệu Tường càng thấy nghi ngờ dữ dội về trái chuông nọ.

Đang phân vân, họ Triệu thấy Thiên Cương từ từ đi tới đăm đăm nhìn mình, rồi lại nhìn trái chuông.

Thiên Cương thản nhiên nhìn Triệu Tường :

- Quan Tổng binh đã thi hành nhiệm vụ xong chưa? Quá giờ Ngọ tụng và Ngọ phạn của chư tăng rồi. Nếu ngài xét chưa đủ và còn kéo dài, yêu cầu cho bần tăng biết để còn phân phối công việc trong chùa.

Trước lời lẽ ôn tồn nhưng cứng rắn của Thiên Cương, Triệu Tường chỉ trái chuông mà rằng :

- Còn cần xét trong này.

Thiên Cương lạnh lùng :

- Mô Phật! Xin tùy ý ngtái. Nhưng ngài kíp gọi một trăm quân tướng khỏe mạnh vào đây mới ghếch nổi chiếc chuông dư ngàn ba trăm cân ấy.

Mười viên tướng theo quan Tổng binh, trong đó có cả viên Thủ bị Bao Đức Lễ, nghe Thiên Cương nói vậy, tự nghĩ mình là võ tướng, đông tới mười người không lẽ nào không cử nổi chiếc chuông ấy. Họ bèn bảo nhau, sắn tay áo xô vào hầm hè, kẻ trên, người dưới quyết thử đẩy đổ trái chuông khổng lồ nọ. Họ đỏ mặt tía tai, bảnh cả cổ ra, vận dụng toàn lực đẩy.

Mười viên võ tướng gồng người lên, cố sức đẩy... liều mạng, người nào cũng mồ hôi vã ra như tắm mà chiếc chuông vẫn... lì lì như chôn xuống phiến đá kê trên mặt đất.

Thiên Cương lạnh lùng nhìn cảnh châu chấu đá xe.

Triệu tổng binh khó chịu, bèn bảo các tướng ngừng tay và truyền lệnh cho tên bộ hạ :

- Người gọi ra ba trăm quân vào đây, đem đủ dây thừng lớn, nghe!

Cam Tử Long và Lã Mai Nương lấy làm lạ, không hiểu tại sao Thiên Cương vẫn điềm nhiên khi thấy Triệu Tường quyết chí đẩy trái chuông tìm ấn tín.

Lát sau, một trăm quân hùng hổ kéo vào hậu viên chùa. Triệu Tường bảo chúng công kênh nhau lên quàng dây thừng vào đầu chuông, đoạn cho sáu chục tên đứng hàng đôi kéo, trong khi mười viên tướng và bốn chục quân lính đỡ ở lưng chuông cho khỏi đổ. Đoàn người rán sức hò “dô ta” kéo mạnh. Trái chuông nặng nề nghiêng sang bên. Triệu Tường vội vàng cúi nhìn vào trong xem xét nhưng trống rỗng, tuyệt nhiên không có gì cả.

Bực mình, Triệu Tường hạ lệnh thả chuông xuống như cũ.

Thiên Cương tiến đến bên họ Triệu :

- Đại quan thi hành xong nhiệm vụ rồi chớ?

Triệu Tường hằn học nhưng phải đấu dịu :

- Bổn chức phải làm việc phận sự, mong rằng đại sư đừng vì thế mà giận chúng tôi.

- Bần tăng đâu dám giận đại quan, nhưng yêu cầu ngài đừng phiền hà đến bổn tự lần thứ hai nữa. Mong rằng với vụ khám xét này, đại quan hiểu rõ bần tăng hơn.

Triệu Tường im lặng, vẫy tay ra lệnh cho đoàn quân rút lui.

Trước thái độ kín đáo của Thiên Cương, Song hiệp không hiểu vì lẽ gì vị đại hòa thượng lại bình tĩnh đến như vậy trong khi quan nhân lật nghiêng trái chuông, nơi đã có giấu hộp ấn tín.

Thiệt ra không có chi lạ.

Nguyên Thiên Cương lấy hộp ấn cốt ý cảnh cáo Triệu Tường và định ý hoàn lại sau đó vài hôm. Đêm hôm trước, Thiên Cương và Hắc Phong Tăng ra hậu viên nhấc trái chuông nhấc trái chuông lấy hộp ấn để hoàn lại dinh Tổng binh, chẳng dè chiếc hộp ấn đã không cánh mà bay. Bởi thế khi quan binh khám xét trái chuông, Thiên Cương mới bình tĩnh được như vậy.

Hai hòa thượng đều lấy làm lạ không hiểu ai đã vào chùa làm nổi việc kinh thiên động địa ấy. Suy luận mãi hai người đành trở về chùa ân hận đã thật sự làm mất hộp ấn của Triệu Tường.

* * * * *

Về đến quán trọ, Cam, Lã đi thẳng lên lầu.

Mai Nương hỏi Tử Long :

- Sư huynh định sử dụng chiếc ấn đó ra sao?

- Đêm nay trả lại Triệu Tường kẻo y phát điên mất. Đây cũng là một dịp hay để cho họ Triệu hết ngờ vực Thiên Cương và may ra từ nay hai người khỏi kiếm chuyện hục hặc nhau. Phần Thiên Cương sẽ ân hận là đã làm thất lạc hộp ấn của một người mà y không chủ tâm hại, may ra vì lý do đó y bỏ hẳn tị hiềm cùng họ Triệu.

Nói đoạn, chàng nhảy bám tay lên cây xà lấy hộp ấn xuống. Nhưng hộp ấn đã biến đâu mất. Tử Long buông mình, hốt hoảng :

- Hộp ấn biến mất rồi!...

Mai Nương mỉm cười :

- Giỡn chi vậy? Còn ai vào đây lấy nổi hộp đó trên mặt cây xà nữa.

Tử Long nghiêm mặt :

- Ngu huynh không giỡn đâu. Quả nhiên có kẻ phỗng tay mất rồi.

Thấy Tử Long nghiêm nghị thật sự, Mai Nương chỉ tay lên xà nhà mà rằng :

- Tiểu muội đặt hộp ấn ở kia kìa. Lúc đó chỉ riêng có hai chúng ta ở trong phòng, vậy ai biết việc ấy mà vào đây ăn trộm?

Dứt lời, nàng nhảy bám lên xà nhà quơ tay tìm. Quả nhiên, mặt cây xà trống trơn. Nàng nhảy xuống gạch bảo Tử Long :

- Trong lúc ta đi vắng sáng nay, có kẻ rình mò vào lấy mất hộp ấn rồi.

Rành rành có dấu tay thứ ba in trên mặt bụi. Sư huynh nhảy tránh sang bên đầu này coi lại thử xem.

Tức thì, Cam Tử Long nhảy lên xà nhà xem. Chàng đáp người xuống sàn gạch đi lại chỗ cửa sổ định mở ra cho sáng thì ngừng tay lại, vẫy tay gọi Mai Nương :

- Sư muội coi này! Gian tế đã vào lối này. Then cửa bị cậy, vết trầy còn đây. Ban ngày ban mặt dám hành động như vầy quả thiệt bạo gan và bản lãnh không vừa!

Cam Tử Long nói :

- Để ngu huynh gạn hỏi tên tửu bảo xem sao.

Dứt lời, chàng xuống dưới gọi tửu bảo hỏi lúc chàng đi vắng có ai hỏi thăm không.

Tửu bảo đáp :

- Thưa có, vào hồi giờ Tị có một người đàn bà đứng tuổi vào trọ. Người đó xem phòng số bốn ở dãy bên kia, trả tiền phòng rồi lại đi ngày, nói là ra phố tìm người quen. Hiện nay chưa có trở lại.

- Người đó tên gì?

Tên tửu bảo đặt tay lên trán suy nghĩ giây lát :

- Vị đó ghi tên là Song Khẩu phu nhân.

- Hình tích có chi lạ không?

- Coi dong dõng, dáng dấp đại khái như vị nương tử đi với khách quan, vận y phục màu gì con không nhớ, nhưng có gài thanh trường kiếm sau lưng, Song Khẩu phu nhân đứng tuổi rồi, trạc ngoại tam tuần nhưng còn đẹp lắm.

- Vị nữ khách đó ra phố hồi nào người có nhớ không?

- Thưa... con chỉ nhớ rằng vị ấy nói ra phố. Đi hồi nào con không để ý. Nay thấy của phòng đóng im lìm nên con đoán là ra phố chưa trở lại.

- Thôi, được rồi, chừng nào Song Khẩu phu nhân trở về, khá báo cho ta ngay, nghe?

Chờ tên tửu bảo đi khỏi, Cam Tử Long trở vào phòng thuật lại cho Mai Nương hay.

Nàng hỏi :

- Có lẽ người ấy mượn đùa hộp ấn tín chăng?

Cam Tử Long gật đầu :

- Có thể lắm! Sao vị phu nhân ấy lại giỡn kỳ lạ như vậy? Sư muội có nhớ là chúng ta quen biết một người nào tương tự như người ấy không?

- Không. Từ ngày xuất sơn đến nay, anh em ta chưa quen thuộc một người nào như Song Khẩu...

Nói tới đây, Mai Nương chợt im lìm, cặp mắt long lanh sáng ngời. Tử Long lấy làm lạ hỏi :

- Sư muội nghĩ gì vậy?

- Sư huynh không để ý đến hai chữ Song Khẩu ư? Tên chi mà lạ kỳ như vậy? Hai chữ Khẩu hợp thành chữ gì?

- Chữ Lã.

- Phải chăng thiếu phụ đó là Lã đại sư ư? Người trẻ hơn tuổi nhiều, dáng dấp cũng giống muội.

Cam Tử Long đập hai tay vào nhau đánh chát một tiếng :

- Ờ! Có thế mà ngu huynh đần độn không suy luận ra...

Hai người bỗng im lặng vì có tiếng gõ nhẹ ngoài cửa phòng.

Cam Tử Long đoán chừng là tên tửu bảo lên báo tin bèn nói :

- Cứ vào!

Nhưng bên ngoài hoàn toàn yên lặng. Nghi ngờ, Song hiệp nhẹ bước tiến ra phía của mở tung, bước hẳn ra bên ngoài. Bên ngoài vắng tanh. Song hiệp vôi tiến ra phía đầu thang nhìn xuống nhà dưới.

Bỗng Tử Long bảo nhỏ Mai Nương :

- Về phòng mau! Ta mắc kế Điệu Hổ Ly Sơn rồi! Ngu huynh tưởng là tên tửu bảo gọi báo tin.

Hai người rảo bước về phòng, đồng la lên một tiếng ồ. Hộp ấn tín nằm gọn lỏng trên mặt thồi.

Mai Nương quả quyết :

- Hành động này chắc chắn do Lã đại sư trêu thử chúng ta. Thử sang phòng phu nhân gọi cửa đi, nếu lầm thì ta xin lỗi là cùng chứ sao!

Cam Tử Long đồng ý. Chàng cầm lấy hộp ấn dắt vào đai lưng. Mai Nương xách túi kiếm, đóng cửa sổ và cửa phòng lại, sang căn phòng đầu dãy bên kia, căn phòng mà tửu bảo chỉ là của Song Khẩu phu nhân.

Tử Long giơ tay toan gõ cửa thì bên trong chợt có tiếng người nói :

- Cứ vào!

Cam, Lã nhìn nháy sẽ gật đầu. Mai Nương đẩy cửa bước vào.

Đại sư Lã Tứ Nương ngồi khoanh tròn trên giường mìm cười hiền từ nhìn hai đồ đệ bước tới.

Nguyên từ khi Lã Tứ Nương ở Lĩnh Nam ra về, gặp Miêu Thúy Hoa - thân mẫu Phương Thế Ngọc - ở bến Triều Dương huyện cùng qua Hàng Châu. Tới Hàng Châu hai người chia tay.

Khi đến Bạch Vân tự, hai đồ đệ quy y là Mạnh Sơn, Vô Sơn cho đại sư hay rằng Chiêu Dương mới đi Lao Sơn và trong chùa hiện có khách. Lã đại sư tưởng là ai, chẳng hóa ra khách không phải ai xa lạ mà chính là sư đệ Cam Phương Trì và vợ họ Cam là Trần Mỹ Nương. Đứng vào hàng dưới, nhưng, năm ấy vợ chồng Cam Phương Trì đồng tuổi, cùng đã tứ thập bát.

Trước kia, sư phụ Lã Tứ Nương là Quảng Từ thiền sư có thâu nhận tám môn đồ. Trong số tám người ấy có Lã Tứ Nương đứng hàng thứ tư về tuổi, và Cam Phượng Trì đứng hàng thứ bảy về tài nghệ, sau Phượng Trì vượt bực được liệt vào hàng thứ năm, trong năm người cao đồ của Quảng Tử lão ni.

Lần này Cam Phượng Trì lên Bạch Vân tự rủ Lã đại sư lên Trương Gia Khẩu nhân du.

Tới Trương Gia Khẩu, Trần Mỹ Nương hỏi thăm tới dinh Tổng binh tìm người cháu họ là Triệu Tường. Quân canh cho biết rằng Triều Tường chính là quan Tổng binh trấn ải Trương Gia Khẩu.

Trần Mỹ Nương ngạc nhiên, nói với Lã đại sư :

- Tôi không ngờ gia điệt lại được thăng chức lẹ như vậy. Mời đại sư cùng đến dinh Tổng hình với chúng tôi.

Lã Tứ Nương và Cam Phượng Trì bình sanh không ưa qua lại nhưng nể Trần Mỹ Nương bèn nhận lời.

Triệu Tường nghe báo có cửu mẫu tới, liền vội vàng ra tận cổng dinh kính trọng niềm nở tiếp rước mời vào, lưu lại trong dinh khoản đãi.

Thấy họ Triệu tánh tình khá, Lã Tứ Nương mới cùng vợ chồng Cam Phượng trì lưu lại ở đó.

Ba vị đại kiếm khách đó tới giữa lúc Triệu Tường vừa bị mất ấn tín xong.

Họ Triệu nhân cơ hội nhờ giúp đỡ.

Trần Mỹ Nương hỏi :

- Hiền điệt có thù hiềm gì với ai không? Hoặc giả tại Trương Gia Khẩu có hay xảy ra những vụ đại đạo hoành hành không?

Triệu Tường đáp :

- Thưa cửu mẫu, từ ngày ngu điệt bổ nhậm Trương Gia Khẩu chưa thấy ai trình báo về nạn đạo tặc hoành hành. Còn kẻ thù, ngu điệt tự xét lương tâm không thấy làm mích lòng ai cả. Thủ đoạn phi thiềm tẩu bích đột nhập nơi dinh trại lấy trộm ấn tín phi người có bản lãnh tất không ai làm nổi.

Họ Triều nhắc lại vụ Thiên Cương uốn giáo đe dọa trước kia và thái độ bướng bỉnh không chịu phục tòng quan sở tại cho ba đại kiếm khách nghe.

Cam Phượng Trì mỉm cười mà rằng :

- Hiền điệt tựu chức mấy năm tại Trương Gia Khẩu, không thấy ai khiếu nại về Thiên Vương tự thì thôi, lẽ nào nghi ngờ Thiên Cương?

Tuy nói vậy, nhưng vợ chồng Cam Phương Trì và Lã Tương Nương vẫn không thôi thắc mắc về vụ mất ấn tín, nên đêm hôm ấy, ba đại kiếm khách bí mật rời khỏi thành, phi hành đến Thiên Vương tự thì vừa gặp lúc Cam Lã lấy ấn tín, bèn theo dõi đến Biên Cương quán để trêu hai đồ đệ.

Cam Tử Long hỏi thăm về sức khỏe của mẫu thân chàng.

Lã đại sư nói :

- Cam thái thái thập phần an bảo, con khá an lòng.

Cam Tử Long toan nhắc lại việc tìm Tăng Tòng Hổ như thế nào thì đại sư đã dạy :

- Hai hiền đồ hãy thuật cho ta nghe vụ hộp tín của Triệu tổng binh đã.

Lã Mai Nương kể những điểm đã nhận xét thấy trong bữa đến Thiên Vương tự dưng hương.

Lã đại sư hỏi :

- Hai đồ đệ có chắc thiệt Thiên Cương là một đệ tử chân chánh của nhà Phật không?

- Thưa cô mẫu, chúng con suy xét đã nhiều, và sau hai lần nói chuyện với vị hòa thượng ấy, chúng con dám quả quyết gã là người thực thà đáng kính mến.

Cam Tử Long cung kính trao hộp ấn cho Lã đại sư, đoạn chàng kể lại việc Thiên Cương tự tách khỏi Không Động sơn ra lập cơ sở riêng ở Thiên Vương tự và việc hòa thượng cho tin tức về Tăng Tòng Hổ như thế nào.

Chàng và Mai Nương luân phiên thuật lại các hành động từ ngày từ biệt thầy xuống núi cho đại sư nghe.

Lã Tứ Nương suy nghĩ giây lát rồi bảo :

- Sở dĩ ta nhân dịp vân du cùng vợ chồng Cam Phương Tri cũng không ngoài mục đích tìm kiếm hai hiền đồ. Tiếc rằng chưa đi hết miền Bắc, nhưng hai hiền đồ đã đi theo đúng đường đi của Tăng tặc đạo, ta dự đoán gã thay đổi nghề nghiệp xuống miền Giang Nam rồi. Hiện nay, tại Giang Nam đang xảy ra nhiều cuộc tranh đấu, đả Lôi đài rất sôi nổi giữa các môn đồ dị phái. Hơn nữa, Càn Long cũng bí mật vi hành trong khu vựa đó, nên ta ngờ rằng các vụ đả Lôi đài không phải là một chuyện ngẫu nhiên. Rút kinh nghiệm thời Ung Chính vương trước đây, ta nghi rằng Càn Long theo chánh sách Tiên vương gây rối, gieo hiềm nghi giữa các võ phái là lò sản xuất anh hùng trí ai có mục đích cách mạng hưng Hán diệt Thanh, đuổi người Mãn về khu vực của họ, thâu lại nền độc lập Hán tộc. Hiện thời, môn đồ hai phái Trung Sơn Thiếu Lâm và Vô Đang sơn đang thượng đài, trong đó có cha con Lý Ba Sơn là nhân vật phái Tây Khương của Bạch Mi thiền sư. Xưa nay, Tây Khương phái cũng như Không Động, thâu nhận môn đồ bừa bãi, không căn cứ vào điểm đức độ nên ta e rằng Tây Khương là tay sai của vua Thanh chăng? Còn một điểm nữa hết sức can hệ cho Cam Tử Long là Tăng Tòng Hổ vốn là môn đồ Tây Khương, niết đâu giữa lúc này y không lẩn quất trên đất Giang Nam? Xuống Giang Nam chuyến này, nhị bị hiền đồ trước hết truy nã Tăng Tòng Hổ là việc dĩ nhiên, nhưng cũng nên tùy cơ ứng biến, liệu ngăn cản đồng đạo tương tàn. Chiêu Dương thiền sư cũng như ta, tin ở tài sức và đức độ của nhị vị hiền đồ. Ta sẽ phái Mạnh Sơn, Vô Sơn xuống tiếp tay sau.

Mai Nương, Tử Long nhất nhất vâng lời...

Riêng Triệu Tường, sáng sớm trở dậy thấy hộp ấn tín lù lù trên án thì mừng rỡ vô cùng, muốn tìm hiểu nhưng tự lượng chẳng thể nào tìm hiểu hơn được nên bỏ mặc vụ ấn tín êm xuôi.

Song hiệp đến từ giã, cảm ơn tiêu sư Lý Phúc Vĩnh và Bốc Đề Nhị rồi cùng Lã Tứ Nương đại sư rong ruổi xuống Hà Bắc.

Chương 20: Về thăm Bạch Vân tự, mẫu tử vui cuộc trùng phùng Ngưng bước Bát Thập trang, anh hùng xem kẻ trúc xá

Ngày đi, đêm nghỉ, thầy trò Lã Tứ Nương theo đường cũ vào đất Trực Lệ về thẳng Mã Dương cương.

Ngót hai năm mới trở về chốn cũ, Song hiệp hồi tưởng lại cũng trên con đường cũ ấy, mười mấy năm trước, hai người còn thơ ấu tung tăng cầm tay nhau bò lên núi, ngây thơ chẳng biết thẹn thùng. Hơn mười năm qua! Thời gian qua lẹ tựa tên bay, ngựa chạy. Hai đứa trẻ khi xưa ấy nay đa nghiễm nhiên thành đôi thanh nên quắc thước anh hùng.

Cam Tử Long kín đáo nhìn Lã Mai Nương đang lỏng cương song song đi kế bên Lã đại sư. Chàng cố tùm những nét ngây thơ khi xưa trên khuôn mắt trái xoan đều đặn tuyệt đẹp của cô bạn đồng môn.

Bất chợt Mai Nương nhìn lên. Hai luồng nhãn tuyến dịu dàng gặp nhau, cùng e lệ.

Lã đại sư mỉm cười hỏi :

- Nhị vị hiền đồ nghĩ gì thế?

Mai Nương nhỏ nhẹ thưa :

- Điệt nữ nghĩ tới hồi thơ ấy ở trên núi. Mới ngày nào mà thời gian mau lẹ thật!

Cảnh sắc vẫn y nguyên bất biến cùng vũ trụ, riêng có con người chuyển theo tiếng thời gian chẳng mấy lúc tóc bạc, da mồi.

Ba người vào gần tới cổng chùa thì Mạnh Sơn, Vô Sơn cùng chạy ra đón mừng. Tử Long, Mai Nương nhảy xuống ngựa thi lễ cùng hai vị sư huynh.

N Về vóc dáng, hai người ấy là phản ảnh trái ngược với nhau. Mạnh Sơn cao lớn nở nang như Cam Tử Long, thoạt trông ai cũng nhận ra là có dũng lực phi thường. Trái lại, Võ Sơn dáng người mảnh khảnh tựa thơ sinh, khuôn mặt dài thanh tú không ra dáng con nhà võ chút nào cả. Nếu nhìn cặp mắt như sao băng, chiếc mũi dọc dừa, cái cằm vểnh ngược lên kia, người ta mới biết Vô Sơn là con người đầy đủ nghị lực, võ dũng tiềm tàng.

Tưởng Cam Lã thành công trở về, Mạnh, Võ Sơn vui vẻ chúc tụng. Cam Tử Long vội nói :

- Hai năm trời phiêu bạt khắp đó đây nhưng tiểu đệ chưa đạt chí nguyện. Giờ đây gặp đại sư, theo về núi thăm nhị vị sư huynh và lão mẫu, sau đó sẽ lên đường xuống Nam tiếp tục tìm kiếm kẻ thù.

Lã Tứ Nương bảo Mạnh, Võ Sơn :

- Có lẽ trong một thời gian nữa, hai đồ đệ cũng sẽ có nhiệm vụ xuống Giang Nam. Bây giờ Mai Nương, Tử Long đi trước.

Dứt lời, Lã đại sư bước vào sân chùa. Tử Long, Mai Nương dắt lừa, ngựa toan vòng ra sau chùa cột vào trong tàu thì vừa lúc Cam thái thái và bà thủ tự đi tới.

Tử Long vội vàng buông cương chạy tới quỳ lạy :

- Bất hiếu tử chưa thành công mà đã trở về, mong mẫu thân thứ tội.

Cam thái thái ôm chầm lấy con trai yêu quý, mừng rỡ đến chảy nước mắt :

- Con có tội tình gì. Chẳng chóng thì chầy, mẹ chắc thế nào con cũng thành công. Tình chí hiếu của con được Thần, Phật, sẽ dẫn đường cho con tới trước kẻ thù cha.

Hai năm xa cách. Cam thái thái sung sướng nhìn con thấy chàng nghiễm nhiên là một trang hảo hán, từ bộ điệu đế vóc dáng y hệt Cam lão anh hùng khi xưa.

Mai Nương trao cương ngựa cho Mạnh Sơn rồi tiến đến chỗ mẹ con họ Cam.

Thái thái dang hai tay đón Mai Nương :

- Lã điệt nữ ngày một thêm xinh đẹp! Bấy nhiêu lâu giúp Tử Long lận đận vất vả khiến tôi chẳng an tâm chút nào.

Tử Long, Mai Nương xoay lại chào bà thủ tự rồi cùng Cam thái thái vào trong phòng cất hành trang, thay áo lên đại điện lễ Phật.

Tử Long, Mai Nương kể chuyện Cam gia trại và Hoàng Sơn thôn cho thái thái nghe.

Trong thời gian nghỉ ngơi tại Bạch Vân tự, thái thái bảo hai người bỏ các y phục cũ ra cho bà khâu mạnh lại, hoặc bỏ hẳn những thứ cũ quá, may các thứ mới thế vào.

Hai hôm sau, mọi người trong chùa dùng Ngọ phạn xong thì chợt nghe tiếng Kim Điểu ré vang trong không trung.

Mai Nương la lên :

- A, thiền sư đã về!...

Cam, Lã cùng mọi người theo Lã Tứ Nương ra sân. Tử Long bảo Mai Nương và Mạnh, Võ Sơn :

- Thiền sư đi bộ theo đường núi, ta ra ngoài suối đón đi!

Bóng người vừa đi được vài bước thì Chiêu Dương thiền sư đã đủng đỉnh đi Tới cổng chầu. Bốn môn đồ tiến tới lạy vào.

Thiền sư nói :

- Cho các hiền đồ bình thân. Tử Long, Mai Nương về chưa lâu chưa.

Tử Long thưa :

- Bạch sư phụ, chúng đệ mới về được hai hôm nay. Sư phụ du ngoạn Lao Sơn?

- Ờ, ta vân du nới miền duyên hải Sơn Đông, thăm Chu Thiên Võ ở Lao Sơn.

Nói đoạn, Thiền sư cùng Lã đại sư lên thẳng đại điện.

Lát sau Mạnh Sơn xuống phòng Cam thái thái tìm Cam, Lã :

- Thiền sư thỉnh sư đệ, sư muội lên thư phòng.

Hai người toan trình bày các hành động trong thời gian từ ngày xuống núi thì Thiền sư đã ngắt lời :

- Lã đại sư đã kể chuyện ta nghe rồi. Khi ở Lão Sơn, ta có gặp người đồ đệ của Chu Thiên Võ là Tề Tưởng Bình về núi thăm sư phụ. Họ Tề hành nghề bảo tiêu tại Yên Châu trấn rất hay qua lại khu vựa Giang Đông. Nhân đó, ta tả diện mạo tên Tăng tặc đạo hỏi thăm y xem đã từng gặp lần nào chưa. Tề Tưởng Bình quả quyết rằng đã hai lần gặp một người diện mạo y hệt tên giặc họ Tăng trên đường xuống Giang Nam. Như vậy Tăng tặc đạo đã đổi khu vựa hoạt động rồi chăng? Cho nên hai hiền đồ thất công tìm kiếm y dọc theo Vạn Lý Trường Thành và chuyến mới đây ra Quan ngoại cũng không gặp. Khi qua Yên Châu trấn các con nên tới thăm Tề Tưởng Bình hỏi rõ lại câu chuyện xem thế nào.

Ta mòng rằng chuyến Nam du này, hai hiền đồ sẽ thành công. Hiện nay, Giang Nam, Phúc Kiến, Quảng Đông là nơi môn đồ các đại phái đang khởi sự tương tàn. Cũng may, cuộc tranh đua vô lý ấy chưa lan tràn lên Bắc, nhưng không ai tìm đường dập tắt đi, thì một ngày kia e khó tránh nổi.

Ta tin ở tài sức hiền đồ, hai con hãy nhân một công đôi việc lãnh nhiệm vụ trọng tài tùy theo trường hợp, hành động can gián giữa đôi bên. Vậy hai hiền đồ cần phải ôn hòa khéo léo. Võ lực chỉ là hậu thuẫn, bần cùng lắm mới được sử dụng tới và khi sử dụng tới võ lực, hai hiền đồ dù gặp các bực Sư trưởng cũng đừng lo ngại. Ta biết người, biết mình mới quả quyết dạy hai hiền đồ như vậy.

Tuy thế, bề ngoài vấn đề tôn ti thượng hạ, tiền văn, hậu võ, có thể hiền đồ không phụ công ta và Lã đại sư truyền dạy, y bát trên mười năm trời.

Nói tới đây, Chiêu Dương thiền sư suy nghĩ giây lát mà rằng :

- Việc các võ phái miền Nam hiện tại tranh giành cao thấp đây không do lẽ tự nhiên. Cuộc tranh giành đã lan tới bực cao độ sẽ lôi cuốn Bạch Mi đại sư và Bát Tý Na Tra Phùng Đạo Đức vào vòng tranh đấu.

Hai người ấy liên kết chống lại Nam Thiếu Lâm là một hiểm họa cực kỳ lớn lao cho các danh thủ Tung Sơn. Bạch Mi và Phùng Đạo Đức là hai người hay cố chấp, gặp phải Chí Thiện sư trưởng Nam Thiếu Lâm giàu lòng tự ái môn phái, có thể vì sẽ quá nghe các môn đồ quá mức dong túng cho họ được tự ý hành động.
Xét qua tánh tình của đôi bên, ta e cái sẩy nẩy cái ung, hai hiền đồ cần phải mềm dẻo khéo léo lắm may ra mới thành công. Vậy hiền đồ nghỉ ngơi thêm vài ngày nữa rồi liệu bề lên đường.

Lã Mai Nương, Cam Tử Long từ tạ về phòng.

Mấy hôm sau, Song hiệp lạy từ Cam thái thái để lên đường.

Song hiệp đi khỏi, Chiêu Dường thảo hai lá đơn phái Mạnh, Võ Sơn xuống Thiếu Lâm tự và Võ Đường đưa trình Chí Thiện thiền sư và Phùng Đạo Đức, đại ý can gián hai đồng đạo nên bỏ qua những sự xích mích giữa các môn đồ, giữ vẹn tình giao hảo môn phái.

Nói về Lã Mai Nương, Cam Tử Long ra khỏi Mã Dương cương, theo đại lộ qua Tế Nam phủ xuống thẳng Yên Châu, một thị trấn ở ngã ba đường, ranh giới ba tỉnh Sơn Đông, Hà Nam và Giang Tô.

Một hôm, đi còn cách Yên Châu độ hơn ngày đường nữa, lúc đó đã xế chiều thì bỗng mây đen u ám kéo đầy trời, gió thổi phần phật từng cơn, cát bụi bay mù.

Mai Nương nói :

- Mưa lớn tới nơi rồi, tìm nơi tạm trúc thôi!

Hai người thúc ngựa chạy đến thôn trang xin trú mưa và nghỉ qua đêm.

Trang chủ trạc ngoại lục, hiền hậu, đứng trên hành lang nhìn ra phía cổng chờ khách.

Lão Trang chủ niềm nở :

- Mời nhị vị vào đại sảnh, trời mưa lạnh, tôi đã cho đốt lửa sẵn.

Cam, Lã theo lão ông vào khách sảnh, đặt hành lý xuống kỷ, tự xưng tên họ.

Tử Long nói :

- Thưa Trang chủ, trang môn có treo tấm biển đề Bát Thập trang, chẳng hay chữ bát thập có liên quan gì đến khu vực vắng vẻ này không?

Trang chủ đáp :

- Lão hủ tôi họ Du tên Quảng Vân đời đời ở đấy này rồi. Cũng vì toàn thể gia đình từ trước đến nay, người nào cũng thọ quá tám mười tuổi nên các thôn xóm lân cận đây gọi là Bát Thập trang.

Ngoài trời, mưa vẫn đổ lớn. Vì mưa, trời tối sớm. Du Quảng Vân gọi gia nhân bảo dọn phòng cho hai người nghỉ ngơi và cơm nước chu đáo.

Sáng hôm sau, Cam, Lã sửa soạn lên khách sảnh từ biệt Du Quảng Vân để lên đường thì giữa lúc ấy, một gia nhân vác một cành trúc khẳng khiu dài thườn thượt vào trình với họ Du.

- Thưa Trang chủ, con vừa mở cổng trang quét dọn thì thấy cành trúc này dựng ngay giữa mái cổng. Thấy Lạ, con cầm vào trình người coi.

Du Quảng Văn nói :

- Chắc người nào đi qua bỏ cành trúc vô dụng đó lại, lạ gì mà phải trình bày?

Tên gia nhân bị chủ nhân la bèn cầm cành trúc toan quay đi, nhưng Cam Tử Long đưa mắt ra hiệu cho Lã Mai Nương rồi gọi giựt y lại mà rằng :

- Ngươi chắc chắn là cành trúc này dựng ở giữa mái trang môn chớ?

Trước sự ngạc nhiên của Du Quảng Văn, tên gia nhân đáp :

- Dạ, dựng ngay chính giữa cổng.

Mai Nương bước xuống thềm cầm cành trúc nhận xét kỹ một hồi đoạn đưa cho Tử Long, nàng nói :

- Sư huynh ơi, cành trúc có đúng ba chục lóng và lóng thứ hai mươi ba có tiện một vệt dài, hai vệt ngắn đây này.

Quảng Văn hỏi :
- Câu chuyện vừa rồi nghĩa là thế nào, hảo hán và tiểu thư có thể giải thích cho tôi được không?

Cam Tử Long đáp :

- Có nhiều nghĩa lắm. Nếu Trang chủ hiểu chuyện tất không an tâm đâu.

- Xin tráng sĩ cứ dạy cho nghe.

Tử Long giải thích :

- Nguyên thứ trúc này có tên là Kê Cước Trúc vì đốt nó khẳng khiu như cái xương đùi gà. Ba tiếng Kê Cước Trúc cũng không phải danh từ tự nhiên mà là bọn giang hồ đại đạo đã tạo ra nó.

Khi chúng định cướp một nơi nào mà đồng bọn không thuộc địa thế cho tiện bề hành động, tên đầu đảng thường hay cắm một cành Kê Cước Trúc ở nơi ất, và phải đồng bọn đến tận nơi xem xét địa thế trước khi khởi sự, lấy cây trúc này làm chuẩn đích. Theo như chúng tôi dự đoán thì ngày hai mươi ba, đúng qua canh hai thế nào chúng cũng sẽ khởi sự đánh cướp Bát Thập trang.

Du Quảng Văn hỏi :

- Làm thế nào mà hảo hán biết đúng ngày giờ hành động của bọn tặc đạo?

Trông vẻ mặt nghi ngờ của họ Du, Tử Long phát tức cười, chàng nói :

- Bọn tặc đạo có dấu hiệu riêng của chúng. Cành trúc này có ba chục đốt tiêu biểu cho cả một tháng ba mươi ngày. Ở đốt hai mươi ba có dấu dao cắt hai vệt dài, một vạch bằng phân nửa, có nghĩa là đêm hai mươi ba, tới canh hai rưỡi sẽ hành động.

Mọi người trong trang nghe nói đều sợ cuống cuồng. Điềm Đạm hơn, Du Quảng Văn nói với Song hiệp :

- Xin nhị vị hãy hoãn giờ lên đường cho tôi được hỏi tường tận mọi việc, kẻo đêm mai là hai mươi ba rồi. Ta và khách sảnh nói chuyện cho tiện.

Hai người theo Quảng Văn vào nhà. Mai Nương nói :

- Trang chủ tánh tình hiền đức, anh em tôi sẵn lòng giúp đỡ nếu người thấy cần sai bảo.

Du Quảng Văn khẩn khoản :

- Thời gian cấp bách yêu cầu hảo hán và tiểu thư đã biết tìm ra bệnh ắt cũng có phương cứu chữa. Toàn trang chúng tôi không bao giờ dám quên ơn.

Cam Tử Long niềm nở :

- Trang chủ khá an tâm, anh em tôi sẵn sàng giúp đỡ.

Trong quý trang có bao nhiêu trang đinh, Trang chủ hãy bảo họ sẵn sàng khí giới, trữ mồi đuốc đêm mai dùng. Chúng tôi sẽ chỉ huy, điều động cho mà bắt cướp.

Nói đoạn Song hiệp cất hành lý về phòng rồi rủ nhau đi quanh phía ngoài trang xem xét tình thế, đoạn tụ tập các trang đinh dặn cách phòng thủ.

Đêm hôm sau, trước canh hai, Song hiệp dẫn bọn tráng đinh phục trên sườn đồi, nơi gần Bát Thập trang.

Tử Long dặn mọi người :

- Mặc chúng tôi đối đầu với bọn cướp, chừng đánh được một hồi, mọi người sẽ reo hò kéo xuống vây đánh, có thể chúng mới e nể trang Bát Thập, không bao giờ dám trở lại nữa, nghe?

Các tráng định thảy đều hăng hái nhất nhất vâng lời. Trời tôi như mực, gió lạnh thổi từng cơn lùa xào xạc trong những khóm lá um tùm trên đồi, côn trùng ầm ĩ thê lương. Bọn tráng đinh vì nghĩa vụ đối với sự an toàn cho toàn trang, hăng hái thiệt, nhưng họ không khỏi hồi hộp trong khi chờ giặc đến, nhất là chờ trong đêm tối âm u.

Quá nửa canh hai rồi, bọn cướp vẫn bặt tăm hơi.

Mai Nương nói nhỏ :

- Hay là chúng không tới? Nếu vậy ta cần phải ở lại bảo vệ Bát Thập trang liền mấy đêm nữa, mất thì giờ quá nhỉ!

- Không lý nào chúng không tới. Xưa nay bọn lục lâm nào đã dùng tới lối Kê Trúc Sá thì dù mưa bão chúng cũng đến và liều mạng lắm.

Hai người đang bàn tán bỗng cùng im bặt nhìn về phía Đông bắc.

Một đoàn người khá đông, lặng lẽ im lìm kéo thẳng đến Bát Thập trang.

Tử Long khẽ gọi bọn tráng đinh chỉ cho xem :

- Cướp đến kia kìa. Sửa soạn nhé. Chúng tôi xuống đón đánh đây!

Bọn tặc đạo ngừng tiến, phân phát thành tiểu đội trước khi đột kích. Cam, Lã chạy như bạt đến nơi, thấy rõ ràng năm tên tặc tướng chia đồng bọn thành năm tiểu đội chừng mười lăm, hai mươi tên sửa soạn nhập trang.

Chúng không ngờ hai bóng đen từ hai bên chạy ập tới. Đã dặn nhau từ trước, Mai Nương, Tử Long bất chợt nhảy vút qua đầu hai tặc tướng, chặt luôn hai bàn tay cương đao vào gáy chúng khiến hai tên bất ngờ bị trúng độc thủ té úp mặt xuống cỏ không động đậy được nữa.

Đồng bọn chưa nhận định được tình thế thì Song hiệp đã tuốt kiếm sáng lòe lao mình vào giữa bọn tặc đạo xung sát dữ dội. Bọn lục lâm thoạt đầu tưởng bị trúng ổ phục kích nên đã có phần nhốn nháo, nhưng chúng nhận ngay ra là chỉ có hai người xung trận, nên hò nhau vây đánh. Ba tên tặc tướng rút đoản đao nhảy vào đánh tới tấp.

Tử Long vừa sát phạt vừa la lớn :

- Bọn tặc đạo quen giết người cướp của này đêm nay phải chết tại Bát Thập trận.

Chúng biết gặp phải hai tay hắc sát thần vô cùng dũng mãnh, nên ba tên đầu đảng còn lại lúc nào cũng rình có cơ hội là đào tẩu. Đang cơn nguy cấp, bọn lục lâm bị tử thương đến ngoài hai mươi tên, bỗng từ chân đồi, tiếng reo hò vang dậy, đoàn tráng đinh ào ào kéo tới. Ba tên đầu đảng hoảng hốt lùi dần, bị Song hiệp đưa cho mỗi tên một lát kiếm nhẹ trúng bắp đùi té lăn ra mặt đất.

Bọn cướp còn lại vài ba chục tên vội vàng phân tán bỏ chạy tán loạn.

Các tráng đinh thắng thế đuổi theo một chặp rồi mới trở về.

Trong Bát Thập trang, Du Quảng Văn và các con hô hào mọi người đốt đền đuốc ta bãi chiến soi sáng rực cả một vùng, lấy dây trói các tên cướp bị thương lại giải cả về trang để hôm sau trình quan giải huyện.

Du Quảng Văn vái Song hiệp mà rằng :

- Nếu nhị vị không ra tay thần vô cứu giúp thì toàn trang chúng tôi đêm nay bị san thành bình địa mất.

Quảng Văn giữ Song hiệp lại một hôm để khoản đãi. Cam, Lã đành nán lại Bát Thập trang, sáng hôm sau mới lên đường đi Yên Châu tìm đến phiêu cuộc Tề Tưởng Bình, Tưởng Bình đi vắng, Cam Lã lên đường vào địa hạt đất Giang Đông...

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau