LÃ MAI NƯƠNG

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau

Chương con truyện Lã mai nương - Chương 1 - Chương 5

Chương 1: Luận võ thuật, Nam quyền Bắc cước Chốn thâm cung, vua quyết du hành

Đời nhà Minh truyền đến vua Sùng Trinh thứ mười tám bị Lý Tự Thành dấy quân làm phản soán nước. Ngô Tam Quế thấy thế lực quân Mãn Châu mạnh như vũ bão, mở cửa quan đầu hàng. Vua Thế Tổ nhà Thanh đem binh vượt Vạn Lý Trường Thành xâm chiếm Trung Quốc lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu là Thuận Trị, cải quốc hiệu là Đại Thanh.

Truyền đến đời Cao Tông niên hiệu Càn Long vừa đúng bốn đời vua.

Tới đây nhà Thanh ở trong thời toàn thịnh. Người Mãn được quan cao chức trọng, dân Hán bị đè nén bạc đãi.

Vua Càn Long rất thông minh, văn hay chữ tốt và cũng là vị Hoàng đế võ nghệ cao cường, chánh trị giỏi. Bởi vậy Càn Long đặc cách dùng cả người Hán có tài.

Luật pháp Thanh triều bắt dân Hán phải dóc tóc quấn bím như người Mãn, những ai quật cường không theo tục lệ Mãn châu đều bị trừng phạt nặng nề.

Với đường lối chánh trị canh tân mềm dẻo ấy, Càn Long có ý san phẳng sự hiềm thù giữa dân tộc cai trị và bị trị, sửa lại một phần nào lỗi lầm của các vì Tiên đế.

Bất mãn từ lâu, người Hán vẫn không vì thế mà chẳng quật cường.

Trừ những nơi đô thành, thị trấn người qua kẻ lại, buôn bán tập nập có vẻ thái bình thịnh trị, nhưng thiệt ra, một khi rời khỏi các nơi ấy, cường đạo như rươi chiếm cứ lập sơn trại tại nhiều nơi sơn cốc, cướp bóc đòi tiền mãi lộ khách qua đường, sống ngoài vong cương tỏa của luật pháp triều đình.

Những người lý trí vững vàng hơn thì đều bỏ văn học võ, trao dồi sức khỏe những mong sau này làm cách mạng xua đuổi người Mãn ra ngoài biên cương. Các hội kín và giáo đạo cùng mọc lên như nấm. Đáng kể nhất có Bạch Liên giáo hoạt động dưới quyền của thủ lãnh Lưu Chí Hiệp. Rồi đến Thiên Địa hội, Bát Quái giáo và Nghĩa Hòa đoàn hoạt động với mục đích “Phản Thanh” dưới quyền Lý Văn Thành ở Hoạt huyện thuộc Hà Nam, Lâm Thanh ở Đại Hưng, Kinh Triệu.

Giáo phái chia ra nhiều chi nhánh rải rác khắp nơi như Trực Lệ, Sơn Đông, Hà Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên, An Huy...

Vua Thanh xuống chỉ tìm bắt, khám xét từng nhà trong các châu huyện khiến nhân dân kinh hãi, Bọn quan tham lại nhân dịp đục nước béo cò, nhiều bãi làm tan nát cửa nhà dân chúng, kể không sao hết.

Về võ nghệ, phái nọ môn kia cũng khá nhiều. Nhưng tựu trung thời ấy vẫn còn mấy phái chánh mà cả người Hán lẫn người Mãn đều tôn trọng như Tổ phái. Đó là Nga Mi sơn ở Tứ xuyên, Côn Luân sơn ở Thanh hải, Không Động sơn ở Cam Túc... Võ Đang sơn ở ranh giới Giang Tây Hồ Nam, Tung Sơn Thiếu Lâm tự Nam phái ở Tuyền châu thuộc Phúc Kiến, Thái Sơn Thiếu Lâm Bắc phái ở Mã Dương cương thuộc Sơn Đông (người Bắc thường gọi tắt là Sơn Đông phái) và Bạch Hạc sơn ở Vân Nam.

Ngoại trừ các môn tập luyện về võ khí, quyền cước vẫn là căn bản của công phu luyện nội - ngoại công nên các võ thuật gia siêu đẳng thường gọi tổng quát bằng câu Nam quyền, Bắc cước. Nghĩa là: người Nam có ngọn quyền dũng mãnh trấn áp Nam Sơn, người Bắc có ngọn cước phi thường đả giao long Bắc hải. Rừng văn biển võ, võ luyện văn ôn, thiệt là cả một công phu khổ luyện rất dày. Con người phải kiên tâm nhẫn nại, bản ngã đức độ thêm vào đó còn cần gặp sư phụ chân truyền và vấn đề thời gian mới mong đạt mức tuyệt đích.

Nhưng rất nhiều người tập luyện dang dở, mới biết qua loa dăm ba thế võ đã kinh bạc, áp bức kẻ cô thế, mục hạ vô nhân.

Năm ấy Càn Long nhị thập tam niên. Tuy trong hoàng thành tam cung lục viện chẳng thiếu chi cung tần, mỹ nữ nhưng nhà Vua vẫn theo thường lệ, dậy trước canh năm, ra võ đường thảo mấy đường quyền cước cho dãn gân cốt, thuần tay chân...

Sau đó người thay áo vào văn phòng chong đèn đọc các bản phúc trình xa gần trong nước.Thái giám Vinh Lộc khúm núm dâng khay trà Long tỉnh pha với nước suối Ngọc Tuyền lấy từ Cam Túc về, Vinh lộc rón rén rót trà ly sứ độc ẩm, khói xanh nhẹ bốc tỏa hương trà khắp gian phòng ấm cúng. Lùi bước, viên thái giám giả khoanh tay đứng xa ra một bên, nét mặt khắc khổ, lạnh lùng như pho tượng, tương xứng với căn phòng tranh tối tranh sáng âm u.

Nhà Vua cầm ly trà thơm ngát, uống từng hớp nhỏ, đưa mắt nhìn người tôi tớ trung thành, còn sót lại từ đời Tiên đế Ung Chánh, mà nhiệm vụ chỉ có sáng sáng dâng trà cho đức Vua ngự ẩm.

Gian phòng trần thiết giản dị. Ngoài những ô gác cổ thư la liệt trên tường, đầu phòng bên kia chỉ có pho tượng Quan võ bằng đồng hun cao lớn cỡ người thật. Đàu bên này là chiếc án thư chạm trổ cổ kính bằng gỗ mun và trên tường, ngay sau lưng nơi vua ngự, gác treo một thanh Long Tuyền Kiếm rủ hai dòng tua sắc Lục đã bạc màu.

Liên miên đọc hồ sơ nọ đến hồ sơ kia, nhà Vua thỉnh thoảng hoặc nở nụ cười đắc ý hoặc tặc lưỡi rồi đăm chiêu... Cất tiếng sang sảng tợ chuông vàng, Càn Long vẫn chăm chú nhìn một bản phúc trình :

- Vinh Lộc! Tiếc rằng nhà ngươi trọng tuổi rồi...

Tiến lại gần mấy bước, viên lão thái giám ngạc nhiên :

- Muôn tâu, Hoàng thượng có điều chi truyền bảo?

Nhìn Vinh Lộc từ chân đến đầu như quan sát một kẻ lạ mặt, Càn Long không để ý đến câu hỏi, nói tiếp :

- Phải ngươi trọng tuổi rồi, không đủ sức theo trẫm!Chìm đắm trong sự bất ngờ do mấy câu buông sõng của nhà Vua, Vinh Lộc không biết thưa câu gì cho hợp hơn là tiếng: Dạ.

- Trẫm muốn bỏ ra một thời gian dài, năm, mười năm chẳng hạn ngao du khắp đất nước để được gần thần dân, sống như thường dân để hiểu họ.

Vinh Lộc hoảng hốt ra mặt :

- Tâu Hoàng thượng, Tiên đế không bao giờ rời khỏi hoàng cung... Tối ư nguy hiểm! Nguy hiểm! Kẻ nô thần này cầu mong các vị Tiên đế hiển linh ngăn cản ý đó của Hoàng thượng.

Càn Long buông bản phúc trình xuống mặt án thư, cười vang :

- Trẫm là người bằng xương bằng thịt, thần dân cũng vậy. Có khác nhau chỉ ở chỗ điện vàng cung ngọc và chiếc áo bào long cổn này chớ gì!

Lắc đầu, ngẫm nghĩ giây lát. Càn Long nói tiếp :

- Trong bộ thường phục thì Trẫm có khác chi thần dân đâu. Ngại nỗi gì?... Lát nữa ngự triều, Trẫm sẽ dự bàn với Đại học sĩ Trần Hoàng Mưu và Lưu Dung xem sao.

Vinh Lộc kinh hoảng :

- Muôn tâu...

Càn Long vẫy tay :

- Thôi, ý ta đã quyết, ngăn cản vô ích!

Vinh Lộc lui về chỗ cũ, khoanh tay đứng trơ ra như pho tượng.

Xa xa, trống Long Phụng điểm hồi, chuông Kiền Dương giục giã, giờ ngự triều đã tới, Càn Long tự rót trà uống cạn hai ly, rồi xốc áo đứng dậy...

Chương 2: Hùng cứ phương trời, khinh tài trọng nghĩa Vào chốn thâm sơn, lão bang sanh chán

Mười một năm về trước, niên hiện Càn Long đệ thập nhất niên, tại địa giới giữa hai tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, dưới chân ngọn Bạch Dương lãnh thuộc dãy Tần Lĩnh sơn cao ngất từng mây, vách đá xanh rêu nhấp nhô giữa những chồm bạch dương cổ thụ gốc lớn hàng ôm, ẩn hiện một thảo trại gồm có trên hai mươi nóc nhà rộng rãi phong quang.

Một dòng suối trong reo từ chốn thâm sơn vòng vèo chảy qua khu thảo trại, hai bên bờ mọc toàn thứ nhược lan hoa tím lá dài rung rinh dưới lần gió nhẹ.

Gia súc chạy lăng xăng giữa bầy trâu, bò thảnh thơi trên làn cỏ mướt xanh rì.

Điểm vào cảnh sắc ấy, dân trong trại y phục vải thô nhuộm chàm, cả nam lẫn nữ, lác đác đó đây, kẻ cuốc đất, người trồng khoai, nhẫn nại làm việc trong các mảnh nương vuông vắn.

Trên chiếc cổng cây mộc mạc núp dưới bóng trúc vàng, khắc ba chữ thô sơ: Cam Gia Trại.

Trại chủ họ Cam tên Kiến Khương tự Phương Thảo. Năm ấy đã ngoại lục tuần, da dẻ còn hồng hào vóc dáng khỏe mạnh.

Trước kia buồn về triều chánh nhà Thanh áp bức, quan lại tham nhũng, Cam Kiến Khương, sẵn có bản lãnh trong tay, nên bán hết gia tài, bỏ huyện Đan đồ và đất Thiểm tây, chiêu binh mãi mã, tích cỏ dồn lương, huấn luyện ba quân, chiếm vùng Cao sơn, lập doanh trại sống riêng mình một giang sơn oanh liệt làm thỏa mãn anh hùng, quân Thanh không bao giờ dám bén mảng, nhưng vẫn tuyên truyền gọi họ Cam là đại đạo.

Cam Kiến Khương hùng cứ phương trời, dạy ba quân cày cấy chăn nuôi tự túc không hề cướp bóc lương dân.

Trái lại, những năm trời hạn hán, lụt lội, thường đem lương thảo ra phát chẩn cho những người nghèo khó, nên dân chúng thường ngày qua lại hoặc dọn hẳn đến chân núi lập nghiệp, cày cấy, săn bắn, suy tôn họ Cam là Đại vương.

Thường khi Kiến Khương còn cho quân xuống núi giúp đỡ dân lành trong việc kiến thiết lập nghiệp, nên uy tín, đức độ dạy cả toàn khu rộng lớn, khiến quân tướng nhà Thanh ở Tây An phủ phải khiếp đởm kinh hồn.

Vì Cam Kiến Khương có tài sử dụng cây trường mâu đầu rồng, mạnh như vũ bão nên hảo hán giang hồ gần xa biết tiếng đều đặt cho tước hiệu là Trường Mâu.

Có một đời vợ trước là Vương thị hữu sanh vô dưỡng, sau đó Vương thị cũng sớm quy tiên nên mấy chục năm sau Kiến Khương thấy tuổi trời đã nặng trĩu đôi vai không người kế nghiệp, bèn tự phóng hỏa đốt sơn trại, phân ba phần của cải phát cho dân lập nghiệp ở đó một phần, chia cho binh sĩ giải giáp một phần để ai nấy mạnh đường hồi hương kiến nghiệp.

Còn một phần Cam Trường Mâu đóng xe cùng vài mươi bộ hạ tự nguyện theo chủ, kéo vào dãy Tần Lĩnh sơn hẻo lánh dựng nên Cam gia trại cày cấy khai khẩn, tiêu giao cùng tuế nguyệt không màng đến thiên hạ tự nữa.

Trước khi ra đi, gia đình họ Triệu, người chịu ơn Kiến Khương nhiều nhất, khi thấy họ Cam không người nối dõi bèn gả con gái là Triệu Cẩm Bình cho và cũng tình nguyện xin theo luôn. Mối tình một già một trẻ ấy tuy chênh lệch về tuổi tác, nhưng chẳng kém đằm thắm an vui.

Tới Bạch Dương lãnh được ngót một năm thì Triệu thị có tin mừng và mãn nguyệt khai hoa sanh cậu trai tai to mặt lớn bụ bẫm vô cùng. Người trong trại và các trại vùng lân cận ai nấy đều mừng rỡ khen lão bạng sanh châu, mổ trâu giết bò ăn mừng rất đỗi linh đình. Cam Kiến Khương lấy làm mãn nguyện cảm ơn Trời Phật, đặt tên hài nhi kháu khỉnh ấy là Tử Long.

Từ đó, sống trong cảnh gia đình êm ấm, ngày ngày họ Cam uống rượu, đánh cờ, hoặc khi cao hứng thì hạ cung và núi săn bắn kiếm thịt. Tước hiệu Trường Mâu chỉ còn là dư âm trong giới giang hồ. Dân trại thưa thớt trong dãy Tần Lĩnh sơn và mấy nơi kế cận hoàn toàn không ngỡ vị lão phố trọng nghĩa khinh tài hiền đức mà họ thường hội kiến, xưa kia đã hùng cứ phương trời, nổi danh hảo hán một thời. Triệu thị cũng không sanh thêm chuyến nào nữa, hai vợ chồng họ Cam sống êm đềm trong hạnh phúc, ngắm Tử Long mỗi ngày mỗi lớn phương phi thông minh tột bực.

Vốn con nhà võ, Cam Kiến Khương đem phương pháp chân truyền tẩm luyện cho Tử Long, nên năm chú bé mới bảy tuổi đã thạo đủ món quyền cước, cưỡi ngựa bắn cung. Những trẻ đồng tuổi hay hơn năm, ba tuổi trong vùng Tần Lĩnh sơn không cậu nào đủ sức chống nổi Tử Long.

Tuy mới lên bảy, vóc dáng Tử Long vạm vỡ bằng trẻ mười một, mười hai.

Về phía Tây nam Tần Lĩnh sơn còn có một dãy núi hiểm trở, cao ngất, đỉnh chạm mây xanh, rừng cây bao phủ ẩn nấp nhiều mãng xà, ác thú, người thường không ai dám bén mảng. Ngay những tay hiệp bộ chuyên môn hữu tài cũng đành thúc thủ chẳng dám vào sâu.

Gần đó có một cô thôn chừng non trăm mái ngói, tranh lẫn lộn, tuy vậy cũng có vài tửu điếm đón khách thưa thớt quanh vùng. Vì nơi ấy hoang vu độc dữ nên mọi người đặt luôn là Hoàng Sơn thôn.

Những khi nhàn rỗi, Cam Trường Mâu thường đơn thân độc mã đến đó mời mấy bô lão trong thôn ra quán uống rượu luận bàn, không phải việc thiên hạ, mà toàn là chuyện thời tiết, nông sự, hoặc chuyện săn thú, bẫy cọp của mấy tay liệt bộ trai tráng trong vùng.

Một buổi chiều nọ, Cam Trường Mâu ở bên Hoàng Sơn thôn mới về dến gần cổng trại nhà thì chợt nghe khách điểu líu lo hót trên cây. Chim bị động để rớt xuống trùng vai áo một vết nhỏ, rồi bay vù đi, vừa bay vừa hót, âm thanh tựa như người nói: “Hữu khách!... Hữu khách!” Gạt bỏ vết nhơ trên áo, Cam Trường Mâu qua cồng vào tới thềm nhà, xuống ngựa buộc vào gốc liễu.Triệu thị đang thơ thẩn nhặt mấy gốc cỏ dại ở các chậu hoa bẩy trên lan can, thấy chồng về vội rảo bước ra đón.

Chú bé Cam Tử Long cầm mộc kiếm đang chiến đấu với một kẻ địch tưởng tượng trên sân cỏ, cũng thâu tay kiếm về, gài vào đai lưng rồi vừa chạy vừa la :

- A... Má má ơi, phụ thân đã về!

Trường mấy đưa bọc lá cho vợ rồi đưa tay đón cậu quý tử.

Tử Long chạy tới nơi, nhảy phốc lên, Trường Mâu bắt trúng sườn con trai nhấc bổng lên cao.

- Ít nữa thì nhảy cao như thế đó!

Thích quá Tử Long ôm chặt lấy cổ cha.

Triệu thị hỏi chồng :

- Cặp Hùng chưởng này cho ai vậy hả phu quân?

Bế con, dắt tay vợ vào thảo sảnh, Trường Mâu nói :

- Lý liệp hộ bên Hoàng Sơn thôn mới săn được con gấu tơ biếu cặp giò trước, quý lắm.

- Để thiếp ninh ngay, thịt còn tươi. Tối nay, phu quân dùng bữa trễ một chút mới kịp nhừ...
Trường Mâu đặt con xuống đất. Tử Long lại rút mộc kiếm chạy ùa ra ngoài sân. Đưa cặp hùng chưởng cho người nhà cất xuống hỏa phòng, Triệu thị đón chiếc áo bào lục chồng vừa cởi ra định cất đi thì ngạc nhiên trước nét mặt lo âu của Trường Mâu.

- Ủa! Phu quân sẽ mình hay sao?

Lắc đầu, Cam Trường Mâu kéo vợ ngồi xuống bên cạnh tràng kỷ.

Chờ nô tì đặt ly trà nóng trên bàn xong bước ra khỏi sảnh, họ Cam chỉ vào vết nhơ trên áo, chậm rãi nói :

- Hiền thê ạ, vừa về tới gốc bạch dương đầu cổng thì khác điểu giục giã luôn mấy hồi, và trước khi bay đi, quái điểu đã rớt lại vết nhơ này trên vai áo!... Hiền thê hãy coi...

Triệu thị dùng móng tay cạy nốt vết phân chim còn ướt trên vai áo bào lục, lo lắng chờ chồng dạy thêm.

- Khách điểu kêu trước cổng là điềm báo có khách tới nay mai, nhưng rớt nhơ lại trúng vai là điều bất tường! Không hiểu sẽ xảy ra việc chi đây!

Triệu thị nói nhẹ :

- Phu quân dùng trà đi kẻo nguội. Theo ý thiếp, khách lạ đến nhà bạch dương trước cổng. Họ Cam vội dùng ngựa ở gốc cây nhìn lên, nhưng ta cũng không ít. Họ tới nhẹ như mây, lúc đi mau tựa gió... Thường như vậy, phu quân cần chi phải lo âu cho hao tổn tinh thần? Còn việc phân chim rớt vai áo thiết tưởng những ngày tới đây, phu quân nên luôn luôn ở nhà phòng cảm mạo phong sương. Tháng này, gió lùa nhiều trong sơn cốc, độc lắm.

Nghe lời phân giải nhẹ nhàng của vợ hiền, Cam Trường Mâu tươi nét mặt mỉm cười, khẽ gật đầu :

- Ờ phải, hiền thê có lẽ phân giải trùng. Thôi, liệu xuống hỏa phòng sửa soạn nấu hùng chưởng kẻo trễ.

Triệu thị dịu dàng vào phòng treo áo bào, kín đáo gạt thầm đôi hạt lên rưng rưng muốn đổ.

Thiệt ra, Triệu thị cũng lo lắm, nhưng cố tâm nói khác để gạt mọi lo âu của người chồng đáng kính.

Về phần Cam lão anh hùng, khi vợ hiền đi khỏi, nỗi băn khoăn trở lại trên nét mặt dày dạn phong trần.

Bất giác họ Cam đặt ly trà đã cạn xuống bàn, ra ngoài hành lang, chắp tay sau lưng, đi đi lại lại ra chiều suy nghĩ điều gì quan trọng lắm. Ngoài trời sương lam lan tràn trong cảnh hoàng hôn, phủ nhẹ khắp cùng sơn lâm cô tịch. Tiếng chim chiều lạc bạn vọng không trung xen lẫn tiếng mõ trâu rung kéo dằn về trại.

Cam lão ngừng bước, dựa vai vào chiếc cột hè, phóng tầm mắt nhìn cảnh rằng xa thẳm.

- Hừ! Khách lạ sắp tới đây là bạn thì chẳng sao, nhưng nếu là thù? Ai? Ai là kẻ thù đó?

Cố nhớ lại thời xa xưa, lần trở lại các mối dây thù oán, Cam lão bất giác gật gù :

- Ờ, chỉ có y thôi, nếu muốn gọi đó là thù!

Lão anh hùng ngược dòng thời gian trở lại một việc xảy ra trước đây ba chục năm.

Chương 3: Cướp Lịch Thành trại, Độc Nhãn Long táng mạng Tiếp kẻ thù xưa, Cam lão lọt trùng vi

Trong khi Trường Mâu Cam Kiến Khường hùng cứ nơi cao sơn ở giáp giới đất Thiểm Tây thuộc Đan Châu thì cách đó chừng bảy mươi dặm có trên tặc đạo họ Tăng tên Ân tước hiệu Độc Nhãn Long chiếm cứ ngọn Độc sơn, dưới trướng tập họp được hai ngàn lâu la chuyên cướp bóc khách thương, chận người đi đường đòi tiền mãi lộ, đánh phá các làng mạc châu, huyện đoạt của giết người, hiếp trác phụ nữ, khiến dân chúng lầm than khổ sở vô cùng, sống trong lo sợ không còn biết chi là ngày mai cả.

Tăng Ân tự dưng là Độc Sơn đại vương và phong cho biểu đệ y là Ma Vân Thiết Xi Tăng Đạo chức Phó đại vương.

Quan quân nhà Thanh đã nhiều lần chinh phạt nhưng nơi đó núi cao rừng rậm rất đỗi hiểm trở, chuyến nào cũng bị phục binh tử thương không biết bao nhiêu mà kể.

Vốn phường giá áo túi cơm, viên quan người Mãn bị thất trận nhiều lần, chỉ phúc trình qua loa lên cấp trên rồi yểm nhẹm hẳn vụ tặc đạo Độc sơn, án binh bất động, mặc cho anh em họ Tăng cướp bóc tung hoành, miễn là chúng không động tới bổn thân là được rồi.

Dư biết cái hèn của quan lại ty thuộc miền ấy, Tăng Ân khéo léo nhờ người lân la đem tặng phẩm đút lót, thành thử chẳng bao lâu hai bên đã giao kết rất thân.

Tóm lại, chỉ đám dân đen bỗng nhiên trở thành nạn nhân của cả quan lẫn giặc, khóc dở, mếu dở không còn biết cầu cứu vào đâu.

Đến khi Cam Trường Mâu độc chiếm Cao sơn, thế thiên hành đạo, cứu độ dân lành danh tiếng lẫy lừng, dân chúng bèn kéo cả tới khu ấy ơn nhờ che chở, lạc nghiệp an cư.

Trương Mâu còn bắn tin cho bọn đạo tặc Đông Sơn biết rằng nếu xâm phạm tới khu vực bên Cao sơn thì sẽ tức khắc bị chặn đánh không còn manh giáp mang về.

Độc Nhãn Long Tăng Ân tức lắm nhưng không dám hành động, chỉ vì y biết thành tích giang hồ và võ thuật cao siêu của họ Cam.

Cướp bóc mãi các vùng quen thuộc nghèo khó, thâu nạp chẳng được bao nhiêu, không đủ nuôi số lâu la ngày một đông trên sơn trại, Tăng Đạo bàn với Tăng Ân đánh khu Liệt Thành trại nổi tiếng giàu có, của lắm thóc nhiều, trâu bò gia súc có tới hàng ngàn con.

Tăng Ân suy nghĩ nói :

- Nhưng Lịch Thành trại thuộc khu vực Cao Sơn, chúng ta sẽ đụng tới Cam tặc đồ, việc xảy ra to.

Ma Vân Thiết Xi Tăng Đạo cười ha hả :

- Sợ tên họ Cam mãi ư? Nó một ta hai, chớ có ba đầu sáu tay đâu! Quân ta lại đông hơn. Thế nào cũng phải một mất một còn! Biểu huynh sợ y cứ việc ở lại sơn trại, mặc tiểu đệ lãnh nhận vụ xuất quân này.

Vỗ bàn, Tăng Ân chạm lòng tự ái, thét lớn khiến mấy tên lâu la đứng hầu phía xa xa trên tụ nghĩa đường sợ xanh mặt.

- Biểu đệ nói lạ! Độc Nhãn Long này đã từng tung hoành bốn bể, một tay hạ sát không biết bao nhiêu mạng rồi, lẽ nào sợ tên họ Cam đó sao? Chẳng qua thể tình cùng bọn Hắc đạo cả với nhau nên mặc cho y sống phần y. Đã vậy, đêm mai ta xuất hiện đập tan Lịch Thành trại thành bình địa, xem Cam tặc dám làm chi ta nổi!

Dứt lời, Tăng Ân hầm hầm tức giận, hối lâu la lấy rượu uống, Tăng Đạo nói :

- Biểu huynh tức giận hay hư việc, phải điểm tĩnh phân chia công tác mới mong thành tựu được.

- Cứ nói đi, ta nghe!

- Lịch Thành trại cách Cao Sơn chừng ba mươi dặm. Ta chia quan ra làm hai đạo tiền, hậu để tiếp cứu lẫn nhau. Người ngậm tăm, ngựa bỏ nhạc. Hành động mau lẹ, thâu nạp được bao nhiêu mang luôn về sơn trại. Lúc Cam tặc có hay thì ta đã về tới đất nhà rồi, muốn đánh thời đánh không sao.

Nghe Ma Vân Thiết Xi phân giải, Tăng Ân dịu giọng :

- Biểu đệ nói vậy nghe được. Vậy ta hãy sửa soạn, đêm mai thi hành ngay. Cần giữ kín mục tiêu kẻo lọt tới tai do thám của Cao Sơn.

Nói về Cam Trường Mâu tổ chức nơi sơn trại cũng thập phần chu đáo.

Một ban do thám đặc vụ có đủ phương tiện được phân phái đi khắp nơi dò xét thấy sự gì lạ phương hại cho sơn trại, phải cấp báo ngay.

Bởi vậy, Cam Trường Mâu hay tin ngay chập tối hôm ấy có cánh quân ước độ ngàn lâu la do Tăng Ân dẫn đầu kéo về phía Lịch Thành trại.

Trường Mâu mỉm cười :

- Can trường nhỉ! Bọn giặc ấy dám xâm phạm khu vực này. Âu cũng là dịp may tránh cho ta khỏi tiếng khởi hấn!

Tức khắc họ Cam điểm ba trăm mã quân cung thủ hạ sơn tiến nhanh về hướng Lịch Thành trại. Sang đầu canh hai thì tới nơi, giữa lúc mọi người trong trại đang lo sợ nhốn nháo.

Trại chủ nghe bảo Cam Trường Mâu kéo quân tới, mừng rỡ vội ra đón tiếp :

- Cam anh hùng tới vừa đúng lúc. Chúng tôi được báo bọn giặc Độc sơn đông lắm tiến gần tới đây rồi. Có lẽ chúng định cướp khu trại này.

Trường Mây gật đầu phì cười :

- Đúng như vậy chớ còn lẽ gì nữa. Vì thế, tôi mới tới đây để tiếp chúng. Tiên sinh báo cho dân trại yên trí đừng nhốn nháo. Các trai tráng thanh niên phải cầm khí giới canh phòng quanh trại, còn mọi sự mặc tôi.

Dứt lời, Cam Trường Mâu ra khỏi trại cách xa độ một dặm chia quân làm hai toán tả hữu núp ở cánh rừng bên đường tự mình cầm Trượng bát xà mâu, cưỡi ngựa đứng chắn ở ngay giữa đường đất.

Quả nhiên lát sau, đoàn lâu la Độc Sơn rầm rộ kéo đến. Độc Nhãn Long Tăng Ân đai nịt gọn gàng, hung dữ cầm đại đao đi đầu.

Tăng Ân giật mình khi nhận ra Cam Trường Mâu đơn thân đứng sừng sững ngay giữa đường liền biết ngay sự đã bại lộ và tất có mưa kế chi đây! Nhưng tiến thoái lưỡng nan, Tăng Ân đành họ lệnh cho lâu la ngừng tiến, bật thêm hồng cho sáng rồi thúc ngựa tiến tới cất tiếng hỏi lớn :

- Ai đó khá đứng dẹp sang bên cho quân ta trẩy qua.

Lầm lì, Trường Mâu hỏi lại :

- Đường này thuộc khu ta, không có sự ưng thuận của ta sao dám kéo lâu la qua đây?

Lối nói ngang của Cam Trường Mâu đủ khiến Tăng Ân nổi giận, nhưng trước khí phách oai hùng mà đơn mâu độc mã của họ Cam, Tăng Ân vội ghì cương ngựa :

- Ô hay! Đất nước của triều đình nhà Vua, ai cũng có quyền đi, sao lại nhận ẩu là của ngươi, ngăn cấm người đi?

Cam Trường Mâu cười lạt :

- Tặc đạo chuyên cướp của hiếp người cũng biết dùng hai chữ triều đình Vua tôi sao? Triều đình nào có dung tặc đạo?

Vừa lúc ấy, Ma Vân Thiết Xí Tăng Đạo tới nơi, thấy đoàn lâu la thứ nhất bị án lại, nên vong ngựa chạy lên xem.

Thấy vậy, chắc dạ hơn, Tăng Ân liền lớn tiếng bảo Trường Mâu :

- Tránh đường ta đi kẻo hối không kịp đâu!

Họ Cam phì cười :

- Hỏi cây mâu này coi nó có ưng thuận không?

Tăng Đạo thúc ngựa tiến lên nói lớn :

- Biểu huynh để tôi bắt thằng giặc này cho mà coi!

Dứt lời, y múa tít cây đại phủ xông vào đánh Cam Trường Mâu.

Họ Cam hoa mâu gạt mạnh ngọn búa bổ thương đối phương. Tăng Đạo bị rung chuyển cả người, mới biết Cam Trường Mâu có đởm lực phi thường. Tuy vậy y cũng bổ chéo một ngọn búa nữa thiệt mạnh.

Muốn kết liễu mau lẹ trận đấu giành phần thắng về mình, Tăng Ân lẳng lặng lấy cung tên nhắm ngực họ Căm bắn một phát.

Giữa khi ấy, Trường Mâu chưa kịp gạt mũi tên chênh chếch từ phía tả tới, thì con ngựa bỗng chồm lên cao có lẽ muốn theo sát Tăng Đạo, thành thử bị tên trúng giữa ức cắm nhập vào tới ngót nửa mũi.

Rống lên đau đớn, con tuấn mã khựng hẳn hai giò trước té lăn trên mặt đất, nhưng Trường Mâu nhảy xuống kịp.

Hai tên tặc đạo cả mừng cùng thúc ngựa xông tới, kẻ huơ đao, người múa búa định kết liễu cuộc đời họ Cam.

Nổi giận đùng đùng, Trường Mâu thét :

- Đồ hèn!

Quay cây mâu đi một vòng theo thế Tán Hoa Cái Đính, Cam Trường Mâu gạt bật khí giới địch sang bên, đồng thời, lẹ như chớp, đâm luôn một mũi trúng hống Tăng Ân nhào xuống ngựa.

Sợ anh bị sát hại, Tăng Đạo vội chắn ngang, liều mạng chém một ngọn nữa ngang cổ họ Cam. Bọn lâu la Độc sơn cũng ùa ra cứu Đại vương của chúng khiêng về mặt trận.

Tránh ngọn búa địch, Trường Mâu nhảy phắt lên ngựa của Tăng Ân.

Tăng Đạo rượt theo thúc mũi búa vào sau lưng họ Cam. Bọn lâu la ào tới vây chặt Trường Mâu vào giữa.

Họ Cam thét :

- Đồ chuột nhắt, ta tha cho mấy hiệp đầu mà không biết thân!

- Ôi! Chát.

Trường Mâu gạt mạnh, cây búa địch văng ra xa, Tăng Đạo toạc hổ khẩu gục xuống cổ ngựa, thúc ngựa chạy dài.

Họ Cam đuổi theo. Bọn lâu la rẽ đường nhường cho chủ tường chạy. Phi ngựa tới sát bên, Trường Mâu với tay nắm đai lưng nhấc bổng Tăng Đạo lê cao khỏi yên ngựa, quật xuống đất. Nhảy xuống ngựa, Trường Mâu chặn chân lên ngực dằn tên tặc đạo nằm ngửa trên mặt đất, khiến Tăng Đạo có cảm tưởng như đang bị phiến đá lớn đè lên ngực nghẹt thở.

- Súc sanh, đầu hàng hay muốn ta đạp bể phổi?

Tăng Đạo vòng hai tay đẫm mày ra hiệu xin hàng.

Trường Mâu nhắc chân ra, Tăng Đạo lồm cồm đứng lên trở lại nơi bọn lâu la Độc Sơn đang xúm quanh Tăng Ân.

Lấy ống tù và ở đai lưng, họ Cam thổi một hơi dài.

Quân Cao sơn núp ở hai bên rừng nhô ra chĩa cung tên vào toán lâu la Độc sơn.

Lên ngựa của Tăng Ân, Cam Trường Mâu chỉ hai tên tặc đạo nói lớn :

- Mạng cẩu trệ của cá ngươi không quý bằng con tuấn mã đang thoi thóp kia chết oan vì mũi tên bắn lén hèn hạ vừa rồi. Ta chuẩn cho năm hôm phải giải tán, đốt bỏ sơn trại đi nơi khác. Nếu trái lời, ta sẽ san Độc sơn thành bình địa. Hãy coi chừng! Khôn hồn rút lâu la về ngay.

Chờ bọn Độc sơn đi hết, Trường Mâu hạ lệnh cho quân chôn xác ngựa và rừng bên.

Dân chúng Lịch Thành trại kéo nhau tới kính cẩn tạ ơn và ân cần mời họ Cam về trại khoản đãi, nhưng Trường Mâu nhất định chối từ kéo quân về Cao Sơn ngay đêm đó.

Bọn giặc Độc sơn về đến trại, Tăng Ân lên cơn sốt nóng li bì. Vết thường tuy không nặng lắm nhưng vì lâu la ô hợp, trong khi băng bó tạm, làm nhơ chỗ đau nên nơi thương tích làm độc, ba bữa sau trở bịnh nặng, Độc Nhãn Long biết mình khó sống gọi Tăng Đạo và vợ con đến bên giường trăng trối, dặn sau này phải báo thù...

Tăng Đạo chôn cất anh họ ngay nơi sân trước đại trại. Đoạn y lấy của trong kho ra phân phát giải tán lâu la, đem gia đình Tăng Ân rời khỏi đất Thiểm Tây đi mất.

Từ đó không ai biết tin tức chúng ở phương trời nào nữa.

Hôm thứ sáu, quân do thám bên Cao Sơn về báo cho Trường Mâu biết tự sự và trình lên một tấm biển gỗ có mấy hàng chữ viết bằng sơn đen.

“Gởi Trường Mâu Cam Kiến Khương,

Ô! Thù giết cha sẽ báo. Khí giới của ta sẽ tẩm độc dược ngọn mâu của ngươi.

Tăng Tòng Hổ, ký”.

Cam Trường Mâu ngạc nhiên không hiểu vì lẽ gì bọn Tăng gia lại nói tới ngọn mâu của mình tẩm độc dược, sai hẳn với sự thật.

Những năm về sau, Cam Trường Mâu có ý chờ đợi Tăng Tòng Hổ tìm đến báo thù, nhưng cho tới khi rời Cao sơn cũng không xảy ra việc gì cả, nên vị lão anh hùng không chú trọng đến lời đe dọa khi xưa, cho rằng hoặc họ Tăng đã gặp tai nạn, hoặc không đủ tài sức thực hành cuộc báo thù.

Ngoài ra, con một lý do nữa khiến Cam lão tin chắc kẻ kế nghiệp họ Tăng bỏ dở vụ hiềm thừ.

Số là đêm hôm cứu Lịch Thành trại, Trường Mâu không muốn sát hại Tăng Ân, nhân nhượng rất nhiều cho đến lúc y hèn hạ bắn tên ám hại giết chết con ngựa quý nên mới nổi giận đâm nhẹ cho một mâu trúng hông, và không thừa thế bồi thêm mũi nào khác nữa.

Ngọn mâu đó đáng lẽ phải suốt qua ngực hay bụng Tăng Ân.

Ngay như trường hợp của Tăng Đạo cũng vậy. Y đã được hưởng lòng từ tâm vô biên của địch thủ trong trận đấu.

Có lẽ Tăng Tòng Hổ đã điều tra rõ sự kiện ấy nên bỏ mối phụ thù?

Nhưng không, sự thật khác hẳn, Tăng Tòng Hổ là hạng tiểu nhân, không biết suy luận quân tử như Cam lão.

Khi Tăng Ân lâm chung, Tòng Hổ còn nhỏ tuổi. Tăng Đạo lãnh nhiệm vụ nuôi dạy cháu để sau này báo thù.

Hai chú cháu họ Tăng phiêu bạt sống nghệ giặc cướp, nay đó mai kia, bồng bềnh trôi nổi, không nương thân được nơi nào lâu dài cả.

Tăng Tòng Hổ cao lớn vạm vỡ, sức khỏe, theo chú truyền dạy võ nghệ cho và học hỏi các ngón hay tài lạ trong chốn lục lâm.

Sẵn có máu tặc đạo trong huyết quản, Tòng Hổ tánh nòng như lửa, hung ác dị thường, giết người chẳng biết tanh tay.

Đến năm mười bảy tuổi, Tòng Hổ đã có mười tám án mạng trong lương tâm, và cũng năm ấy, Tăng Đạo sa lưới pháp luật bị hành quyết tại Quý Châu.

Lẹ chân, Tòng Hổ chạy thoát, lang thang lẩn lút trong các vùng sơn cốc, không dám ló mặt ra nơi thị trấn, châu, huyện đông người.

Chẳng bao lâu, lộ phí và lương khô hết nhẵn, Tòng Hổ phải nhịn đói tới mất ngày, uống nước suối chịu trận.
Một hôm, không đi nổi nữa, y nằm phục xuống phiến đã dưới gốc cây gần của khu rừng lớn nơi giáp giới đất Ba Thục, bọc hành lý và cây giáo bỏ vương bên cạnh.

Tăng Tòng Hổ thiếp đi không biết bao nhiêu lâu, đến khi chợt tỉnh dậy thì thấy mình nằm ngửa trên bục gạch một ngôi am nhỏ đổ nát điêu tàn.

Lạ lùng, bỡ ngỡ, Tòng Hổ ngồi nhỏm dậy, nhớ ra mình bị đói nhiều ngày ngất trong rừng... Nhưng, quá lạ! Sao bây giờ không thấy ruột gan cồn cào như trước nữa?

Nhìn quanh, y thất bọc hành trang để ở góc bục, còn ngọn giáo thì dựng góc bàn thờ đổ nát tượng Phật long lở đổ lổng chổng. Tòng Hổ liền đừng phắt dậy, đi ra của am nhưng giựt mình đứng sững lại.

Trên thềm am cổ, một lão đạo sĩ mập mạp, hình dung cổ quái, cặp mi trắng như cước, mắt nhắm nghiền, hai tay chắp lên ngực, ngồi xếp bằng tròn trơ trơ như pho tượng đá.

Tăng Tòng Hổ chưa biết xử trí ra sao, lão đạo sĩ cổ quái đã nói :

- Thiếu niên tên chi? Tại sao nằm ngất trong rừng? Nếu không gặp ta đem về đây thì đã làm mồi ngon cho thú dữ đó?

Lanh trí, Tòng Hổ bước vội ra trước mặt đạo sĩ quỳ lạy :

- Con họ Tăng tên Tòng Hổ, cách đây mấy thắng, gia thúc mãi võ kiếm ăn chẳng may bị quan quân nhà Thanh nghi là giặc cướp bắt đêm về hành hình. Từ đó, tứ cố vô thân, con đói quá ngất ở cửa rừng may được đạo trưởng cứu mạng, ơn trời biến ất bao giờ dám quên, Lão đạo sĩ mở mắt chăm chú nhìn thiếu niên đang quỳ mọp trước mặt :

- Người có muốn theo ta học võ nghệ không?

Đang không nơi nương tựa lo bị quan quân lùng bắt, bỗng được dị nhân chấp nhận nuôi dạy, Tòng Hổ mừng rỡ lạy luôn ba lạy :

- Được theo thầy học võ là sở nguyện của đệ tử, từ nay đệ tử quyết chí đi theo, dẫu khổ hạnh cũng chẳng từ nan.

Đạo sĩ gật đầu :

- Theo ta ít nhất cũng phải năm năm.

- Bẩm sư phụ, đệ tử không quản ngại vấn đề thời gian. Miễn là hấp thụ được tinh hoa võ thuật, một ngày kia có bản lãnh trong tay trả được mối phụ thù...

Nhìn thẳng vào mắt thiếu niên, đạo sĩ hỏi :

- Kẻ thù sát phụ đó là ai?

- Dạ, Trường Mâu Cam Kiến Khương.

Suy nghĩ giây lát, đạo sĩ nói :

- Họ Cam ở Đan Châu trên Thiểm Tây phải không?

- Dạ chánh người ấy.

- Cho con đứng dậy. Ta là Bạch Mi đạo nhân, tu ở Triều Vân sơn bên Tây Khương. Nay về đó, đường sá hiểm trở còn xa vạn dặm, con khá kiên chí theo hầu. Muốn trả thù họ Cam không phải việc dễ làm đâu.

- Dạ, sư phụ tin ở đệ tử, dầu thác cũng không từ nan.

Bạch Mi đạo nhân rũ áo đứng lên lấy trong bọc để cạnh ra một gói bánh khô đưa cho Tăng Tòng Hổ bảo ăn.

Chợt nhớ ra điều gì, Tòng Hổ hỏi thầy :

- Đệ tử nhớ rằng bị đói nhiều ngày mới ngất đi mà bỗng dưng hiện thời, dù mới tỉnh, cũng không mệt là tại sao?

Bạch Mi nghiêm nghi :

- Nếu ta không cho con uống sinh lực đan thì con hết thở rồi còn chi! Nào sửa soạn đi ngay, con!

Nghe thầy dạy, Tòng Hổ cảm kính vô cùng, đem hành lý của mình và của Bạch Mi, cầm giá theo ra khỏi am.

Bạch Mi nói :

- Đưa cây giáo ta coi nào!

Tòng Hổ cung kính hai tay nâng ngọn giáo đưa cho Bạch Mi.

- Chà! Đồ bỏ này nặng quá dùng sao được, mang theo làm chi thêm bận tay!

Dứt lời đạo sĩ lao ngọn giáo vào thân cây xoan lớn ngập hết mũi sắt, Tòng Hổ vừa sợ vừa mừng nghĩ thầm: “Trời ơi! Ngập hết mũi giáo thế kia thì rút ra sao được nữa!”

Từ đó, Tăng Tòng Hổ theo thầy qua Tứ Xuyên sang Tây Khương học võ luôn sáu năm trường, thọ hưởng được bản lãnh cao cường.

Một hôm, Bạch Mi đạo nhân đưa cho Tòng Hổ cây giáo Trường Sà mà rằng :

- Thập bát ban võ nghệ, hiền đồ đã tinh thông, tinh hoa võ thuật thâu nhận được khá đầy đủ. Với công phu ấy, hiền đồ ra đời dư sức bào thù cha và có thể đường đầu với anh hùng thiên hạ rồi.

- Bẩm, sư phụ định cho đệ tử hạ sơn sao? Đệ tử mong được nán lại học hỏi thêm...

Bạch Mi ngắt lời :

- Vô ích! Kẻ thù là Cam Trường Mâu, một nhân vật hữu danh trong giới giang hồ, ta nói con dư sức báo phụ thù, thiết nghĩ tưởng chẳng cần phí ngày giờ tại chốn sơn cùng thủy tận này nữa! Ta chúc hiền đồ may mắn. Tiền có, y phục đầu đủ, mong cây giáo Trường Sà này giúp con thành công.

Biết tánh Bạch Mi không ưa nói nhiều, Tăng Tòng Hổ đành thu xếp hành trang biệt thầy và mấy bạn đồng môn vác giáo Trường Sà xuống núi.

Ra khỏi khu vực Tây Khương, Tăng Tòng Hổ theo đường cũ tìm đến các nơi quen thuộc với Tăng Đạo khi xưa tái giao bè bạn. Bọn lục lâm cường đạo thấy Tòng Hổ là trang mãnh hán tài nghệ siêu quần nên suy tôn, sợ hãi, e nể như thánh thần.

Bởi vậy, họ Tăng đang máu niên thiếu, đâm ra kiêu ngạo, chứng nào tật nấy, cướp bóc tiêu xài, gian dâm phụ nữ không biết bao nhiêu mà kể. Ở nơi này một năm, chỗ khác đôi ba năm, gây nhiều án mạng trong đám dân lành, nên thành tước hiệu Hắc Sát Cô Thần.

Nhiều năm sau, khi đã ngoài tam tuần, Tăng Tòng Hổ mới lên tới Đan Châu tìm đến Cao sơn thì họ Cam đã rời đi nơi khác từ lâu rồi.

Y lên Độc Sơn thăm mộ cha. Nấm mồ đã bị tuế nguyệt phong sương san phẳng chẳng biết đâu mà kiếm. Nơi sơn trại cũ cỏ mọc bao trùm không còn dấu tích.

Hỏi thăm, không một ai biết Cam Trường Mâu đã thiên đi nơi nào, nên Tăng Tòng Hổ lại hạp bè đặng một mặt cướp bóc, một mặt dò la khắp nơi thâm sơn cũng cốc tìm kiếm Cam gia...

Nói về Cam lão anh hùng, sau hôm khách điểu báo điểm. Cam lão chỉ quanh quẩn trong nhà không hề ra khỏi cổng trại.

Bốn ngày sau không có chuyện gì xảy ra, Triệu thị đã hơi mừng, nhưng trưa hôm thứ năm, dùng bữa xong, Cam lão đang ngồi bên Tử Long hàn huyên cùng vợ thì gia nhân vào báo :

- Thưa Trại chủ, có người xin yết kiến.

Nheo đôi mày, Cam lão hỏi :

- Ai đó? Người thế nào? Tên chi?

- Thưa, họ không xưng danh. Đó là một lão bán vạm vỡ cỡ ngoại tam tuần.

- Được, cứ mời vào!

Cam lão quay lại bảo Triệu thi nét mặt đang lo lắng :

- Hiền thê khá cùng con lui vào hậu phòng.

Dứt lời, lão anh hùng xốc áo, bước ra hiên nhà đón khách.

Một mãnh hán, diện mạo hung dữ, da mặt sần sùi đỏ gay, đầu gấu lưng beo, vận võ phục không đẹp khí giới, tiến tới vái dài :

- Phải chăng tiên sinh là người anh hùng họ Cam hùng cứ Cao sơn Đan Châu khi xưa?Đáp lẽ, Cam lão nói :

- Dạ, chánh tôi. Hảo hớn có điều chi dạy bảo? Xin qua bộ vào nơi thảo sảnh dùng trà.

Người đó theo Cam lão vào nhà, chia ngôi chủ khách cùng ngồi.

- Xin khỏi bận rộn pha trà, tôi đi ngay. Bỉ danh họ Tăng tên Tòng Hổ, người kế nghiệp của Độc Nhãn Long Tăng Ân bên Độc sơn, nay giữ lời hẹn đến tìm anh hùng!...

- A! Câu chuyện cũ nhiều năm nay lại bắt đầu nóng hổi...

Tăng Tòng Hổ cười :

- Không! Đối với tôi chuyện đó bao giờ cũng nóng, chưa tới lúc nguội! Sau nhiều năm tìm kiếm không ngờ người anh hùng lại ẩn mình nơi Tần Lĩnh sơn hẻo lánh này!

Bị nói chọc, Cam lão nén giận cười ha hả :

- Lão về đây để di dường cho khỏi trong thấy tội lỗi của thế nhân, chớ không có mục đích trốn tránh ẩn núp. Người anh hùng có sợ chi trường đao mũi kiếm! Nhưng có một điều...

- Xin tiên sinh cứ dạy.

Vuốt chòm râu bạc, Cam lão nói tiếp :

- Trước hết, việc lão sắp nói ra đây không phải là sự cầu xin, mong tráng sĩ chớ hiểu lầm. Khơi đống tro tàn này, lão chỉ có mục đích phô bày sự thật của việc xưa còn quyền phán đoán tin tưởng đều do nơi tráng sĩ. Đêm hôm đó, nếu tối muốn, lệnh phụ tất phải mạng vong trong vòng đấu rồi...

Cam lão kể lại rõ ràng việc Tăng Ân định đánh Lịch Thành trại cho Tòng Hổ nghe, và nói tiếp :

- Chắc hồi đó tráng sĩ còn nhỏ tuổi, chỉ nghe người thuật lại sai lạc để gây mối hận thù giữa hai họ Tăng, Cam. Dù sao, lão phu cũng rất phục tráng sĩ biết giữ lời tìm lão hôm nay.

Tăng Tòng Hổ vốn dòng thất phu vô lại, hiểu sao nổi lý lẽ phải trái. Y cho là Cam Trường Mâu sợ hãi, kiếm chuyện cầu hòa nên vẻ tự đắc, hỗn xược hiện trên nét mặt sần sùi thô bỉ :

- Tôi không cần hiểu tới sự việc mà anh hùng vừa nó có nhã ý phô bày. Tuy còn nhỏ nhưng hồi ấy gia thúc Tăng Đạo có mặt tại trận và lập lại cho tôi biết các sự kiện đã xảy ra đêm đó. Nay người nhân chứng độc nhất là gia thức cũng đã quá cố rồi. Biết nghĩ phải, trái sao đây cho khỏi oan người tử nạn nơi chín suối? Hôm nay, sau nhiều năm khổ công thăm dò đến đây, tôi chỉ có mục đích xin anh hùng cho lãnh giáo một vài thế võ để được học hỏi thêm đó thôi.

Họ Cam cố nén giận :

- Để lương tâm khỏi thắc mắc, lão phu kể việc xưa cho tráng sĩ nghe, có vậy thôi! Tráng sĩ định thi hành... việc đó ở đâu? Giờ nào? Hay là ngay bây giờ, trước cửa trại này cũng được!

Tăng Tòng Hổ cười ha hả :

- Không! Tôi không muốn lệnh phu nhân trông thấy thảm cảnh...

Nói tới đây y bỗng đờ người ra nhìn vào phía hậu phòng.

Ngạc nhiên, Trường Mâu nhìn theo chợt thấy Triệu thị đi thoáng vào nhà trong.

Tòng Hổ nói tiếp :

- Đêm nay, canh hai, tại quãng đất trồng bên đầu rừng phía Tây nam cách đây chừng hai dặm đường. Đơn thân, độc chiến, chịu không?

- Được lắm, lão sẽ y hẹn!

Tăng Tòng Hổ đứng dậy, vòng tay vái :

- Được thử tiếp anh hùng là một sự danh dự cho tôi.

Nói đoạn, y quay người đi thẳng.

Cam lão đờ người ra nhìn theo, hồi lâu quay lại thì đã thấy Triệu thị ôm Tử Long đứng khép nép bên án thư từ hồi nào, vẻ mặt lo âu...

Trường Mâu ngần ngừ trong chớp mắt, rồi nói thẳng :

- Điềm khách điểu đó. Con kẻ thù hồi xưa vừa tới, thách ta tử chiến đêm nay trong rừng sâu...

Tái mặt, Triệu thị ấp úng :

- Thế phu quân...

Cam lão anh hùng ngắt lời.

- Ta đã nhận lời thách đó và sẽ y hẹn.

Trường Mâu với tay lấy bầu rượu rót đầy ly lớn uống cạn, đoạn cầm cây mâu cắm trên giá binh khí định rút bọc vải ra, nhưng tần ngần chẳng hiểu nghĩ sao lại thôi.

Bước vào tư phòng, Trường Mâu với tay lên tường lấy thành trường kiếm ra, hoa lên mấy đường loang loáng.

Lưỡi kiếm rít lên như lụa xé, làn thanh quang vụt ra tựa chớp rạch ngang trời.

Trường Mâu thâu kiếm lại ngắm nghía hồi lâu mới tra vào vỏ treo lên chỗ cũ.

Trường Mâu cũng tấm tắc khen thầm đối phương thọ giáo được bản lãnh khá cao, tiến lên tấn công luôn bằng một lát kiếm chém ngang hông.

Tòng Hổ cũng không phải tay vừa, đưa cán giáo gạt bay lưỡi kiếm địch sang một bên, đồng thời tiện tay chọc luôn một ngọn Trường Sà nhằm ngực Trường Mâu lúc đó đang để hở.

Quay kiếm lại, Cam lão đánh bật ngọn giáo sang bên.

Hai món khí giới va vào nhau bật lên một tiếng chát nảy lửa khiến cả hai đấu thủ cũng phải nhảy lùi cả lại nhìn khí giới xem có bị tổn hại không.

Hằm hè, giữ miếng, hai bên quắc mắt nhìn nhau, chân bước quanh chưa được một vòng, cả hai cùng thét lên như trời long đất lở, áp vào hỗn chiến.

Làn kiếm tỏa ra muôn đạo thanh quang lạnh rợn người, nhưng cây giáo Trường Sa cũng bốc tròn thành luồng tử khí, chát chúa rồn rập va vào nhau động cả vùng núi rừng cô liêu.

Trận hỗn đấu mỗi lúc một thêm ghê gớm, kinh khủng. Đường giáo càng quằn quại hiểm độc bao nhiêu thì thế kiếm cũng trở nên khủng khiếp ghê hồn bấy nhiêu.

Bỗng Tăng Tòng Hổ hoa giáo lên một vòng nhảy ra khỏi vòng chiến, co chân chạy:

Đánh đang hăng, Trường Mâu thét :

- Chạy đâu cho thoát! Coi đây!

Cam lão anh hùng say chiến đuổi theo chưa kịp vài sải tay thì Tòng Hổ đã đã hô lớn :

- Bắn!

Bọn đạo tặc bao vây khu chiến hồi nãy dương cung tên phát ra vun vút tựa mưa rào nhằm mình người anh hùng có tuổi.

Tức giận, Trường mâu gầm lên như cọp, vung tròn thanh trường kiếm gạt tên rớt lủa tủa khắp quanh người.

Càng gạt, tên càng tới tấp bay đến hết lớp này đến lớp khác...

Than ôi, sức người có hạn, trời tối mù mịt, cặp mắt lão anh hùng dù tinh tường đến đâu cũng chẳng nhìn thấy hết, mồ hôi toát ra như tắm, một mũi tên từ phía sau bay tới cắm phập vào giữa lưng lão anh hùng thất thế.

Cùng lúc ấy, Tăng Tòng Hổ lại nhảy vào đánh mạnh.

Gầm lên như sư tử trúng thương, Trường Mâu đau đớn gạt mạnh ngọn giáo địch, nhưng ngọn khác đã phóng luôn tới phập dội lên một tiếng trúng bụng.

Đưa tay tả nắm chặt ngù ngọn giáo, tay hữu vung náo kiếm, Trường Mâu chặt mạnh, cán giáo Trường Sà bị tiện làm đôi, Tòng Hổ chúi sang một bên.

Một loạt tên nữa phát ra trúng mình lão anh hùng tua tủa.

Trường Mâu gầm thét phóng mình nhảy bừa vào đám quân, kiếm đưa ra, năm bảy chiếc thủ cấp rơi lốp bốp xuống mặt đất, máu phun tung tóe.

Bọn tặc đạo sợ hãi tản ra nhường lão anh hùng băng ra ngoài vòng vây, vội chạy thẳng một mạch về trại nhà.

Tăng Tòng Hổ cũng ra hiệu thâu quân không đuổi :

- Như vậy nó đủ chết rồi. Họa chăng còn kịp thì giờ trối trăng cùng vợ con.

Cổng trại còn để ngỏ, Trường Mâu băng qua sân cỏ, lảo đảo lên thềm vào gần tới khách phòng thì qụy xuống lăn ra mặt gạch, máu phun lên như tưới.

Triệu thị và Tử Long ngồi chờ trên trường kỷ chỉ kịp đứng lên chạy vội tới ôm lấy kêu khóc thảm thiết.

Bọn gia nhân cũng chạy tới lăng xăng không biết làm thế nào.

Trường Mâu xua tay ra hiệu bảo mọi người đừng khóc nữa, nghiến răng rút mạng mũi giáo, ruột cũng trào theo miệng vết thương mở lớn.

Đôi mắt hùm lờ đờ, Trường Mâu cố nhìn vợ con phều phào :

- Hiền thê! Thế là hết! Nhớ lời ta dặn nuôi... con. Thù cha... Tử Long phải... phải báo. Nó là Tăng Tòng Hổ, lục lâm đại đạo! Báu kiếm đây... con giữ lấy, sau này...

Trường Mâu rời tay kiếm ra bên Tử Long, mắt mở trừng trừng nấc lên mấy tiếng, ngoẹo đầu sang một bên...

Hồn vị lão anh hùng về trời.

Triệu Thị và Tử Long cùng mọi người trong trại phục quanh xác người anh hùng thất thế, khóc cho tới canh năm.

Khóc chán chê, Triệu thị gạt nước mắt, vuốt mặt cho người chồng đáng kính, hai tay nâng thanh báu kiếm cất vào phòng, gọi Tử Long theo sau.

Người nhà xúm lại khiêng xác Trường Mâu lên trường kỷ...

Bỗng, từ lúc nào, Tăng Tòng Hổ dữ tợn ngạo nghễ khoanh tay trước ngực hiện ra đứng chặn giữa chánh môn.

Y nhe răng vàng ệch ra cười vang khiến mọi người ghê rợn sợ hãi nép cả vào bên tường.

- Ha! Ha! Hết đời Trường Mâu! Ha! Ha Đảo mắt nhìn quanh, y nói lớn :

- Thiếu phụ xinh đẹp đâu? Chiến phẩm của ta, hãy ra mau với người chiến thắng. Mau!

Thấy động, Triệu thị dắt Tử Long bước ra khỏi cửa phòng, nhưng sợ hãi đứng dừng bước trước cảnh bạc đồ...

Tòng Hổ, như kẻ say máu, chệnh choạng bước vào, sặc sụa hơi rượu, ghê tởm. Triệu thị nghiến răng chỉ mặt kẻ thù mắng lớn :

- Mi hèn hạ giết chồng ta chưa đủ còn muốn chi?

- Ha! Ha! Ta muốn giết hổ non! Nhổ cỏ phải nhổ cả rễ! Nghe chưa? Và sau đó muốn... hưởng chiến lợi phẩm!

- Đồ khát máu đê hèn!

Triệu thị vội giắt Tử Long chạy trở lại đóng ập cửa phòng lại nhưng giữa khi ấy, từ ngoài sân vang vội lên mấy tiếng ré lạ lùng...

Tăng đạo tặc vội nhìn ra cửa, mặt tái ngắt, chạy vụt vào nhà trong, theo phía sau biến mất vào rặng Bạch Dương sơn.

Triệu thị lăm lăm hai tay cầm kiếm báu, định tâm liều mạng với kẻ thù. Nhưng nàng nghe rõ các tiếng dồn dập ngoài nhà, rồi im bặt.

Nghi ngờ chưa biết hành động ra sao thì có tiếng người nhà gọi :

- Phu nhân! Phu nhân! Ra mau, có khách. Thoát hiểm rồi...

Chương 4: Nơi Tần Lĩnh, hai kiếm sư thâu đồ đệ Chùa Bạch Vân, Mai Nương, Tử Long luyện kiếm

Tên cường đạo chạy khỏi, Cam Phúc, gia nhân trung thành của Trường Mâu vội theo xem, thấy tên hung hăng đã mất dạng, liền trở ra bảo mọi người và gọi Triệu thị.

Liệng thanh kiếm xuống mặt giường, Triệu thị bảo con ở lại trong phòng, ngơ ngác ra thảo sảnh thấy mọi người đang xúm đông ở ngoài thềm nhà.

- Việc chi thế hả Cam Phúc?

- Thưa, có mấy vị đây tới thăm.

Triệu thị tiến nhanh ra bực thềm thì thấy ba người...

Một đại sư vóc dáng tầm thước, tuy tuổi đã cao nhưng sắc diện hồng hào, vận đạo bào vàng đang đứng ở giữa sân trước với một nữ kiếm khách dáng điệu như bạch hạc, tóc búi trần đã điểm hoa râm nhưng trên khuôn mặt trái xoan da còn mịn tựa trái đào, cặp mắt sáng lung linh sáng quắc. Vị nữ khách đó vận bào ngắn màu thiên thanh trùm quá gối, để lộ ra cặp vỏ hài nhỏ nhắn đen huyền. Cả hai cùng đeo tréo trường kiếm sau lưng.

Một cô bé, trạc tuổi Tử Long, tóc kết trái đào, khuôn mặt lanh lợi hao hao giống vị nữ khách như mẹ với con, đứng kế bên.

Triệu thị xuống thềm, tiến tới cung kính vái dài :

- Nhị vị đại sư, thiếp không được biết trước ra đón tiếp, dám mong người đại xá cho.

Đáp lễ xong, vị đại sư cất tiếng sang sảng :

- Thái thái không biết chúng tôi, nhưng lệnh phu quân vốn đồng môn phái nên có thể gọi là thân tình. Chuyến này vân du Thanh Hải trở về qua khu Tần Lĩnh, nhờ hai con nghiệt súc dẫn đường tới đây, chẳng dè lúc nhà ta hữu sự.

Triệu thị rưng rưng hạt lệ phục xuống lạy :

- Nhị vị đại sư đến vừa đúng lúc, nếu không thì phu quân thiếp vừa qua đời và cả mẹ con thiếp cũng phải vong mạng theo, mối tử thù sẽ không người báo phục.

Vị nữ khách cúi xuống đỡ Triệu thị lên.

Giữa khi ấy, từ trên ngọn Bạch Dương cao lớn um sùm ở sân, vọng lên mấy tiếng ré rợn tai và tiếng cánh đập mạnh nổi gió ào ào khiến lá xanh rụng lả tả.

Mọi người trong trại giựt mình ngước đầu nhìn lên thấy hai con chim điêu to lớn dị thường từ đỉnh cây bạch dương bay vụt ra lượn quanh khu trại, định bay về phía Tây bắc.

Đại sư ngó thấy kịp, huýt gió vang mấy tiếng.

Như biểu hiệu lệnh, kim điêu vội sà xuống đậu lên đỉnh ngọn bạch dương như cũ.

Đại sư mắng lớn :

- Nghiệt súc ở đó, không được đi đâu!

Nữ khách nói với đại sư :

- Chúng đói đó. Hình như ở phía Tây bắc có mồi.

Triệu thị vội hỏi :

- Thưa đại sư, chúng ăn gì! Ngô hay khoai?

Đại sư mỉm cười :

- Chúng ăn thịt! Mười cân thịt sống còn chưa đủ

Cam Phúc nghe vậy, nhanh chân tiến lên.

- Bẩm trong trại còn thịt trâu để con lấy cho đại điểu ăn.

Triệu thị mời khách vào nhà, kể hết mọi sự đã xảy ra cho hai người nghe.

Đại sư giới thiệu :

- Bần đạo là Chiêu Dương đại sư trụ trì tại Bạch Vân tự Mã Dương lãnh, Sơn Đông Trực Lệ, Lệnh cố phu quân trước kia cũng xuất thân từ bản tự. Đây là đạo hữu Lã Tứ Nương, danh đồ của bà Độc Tý đại sư trưởng phái Nga Mi sơn. Lã đạo hữu không ở núi, vân du thế thiên hành hiệp luôn luôn. Hiện thời đạo hữu nghỉ chân tại Bạch Vân tự để truyền nghề cho cô cháu gái đây là Lã Mai Nương. Giờ đây xin phép thái thái để mặc chúng bần đạo săn sóc thi thể Cam hiền đệ, chớ để nhiều tên cắm trên người thế kia không tiện. Tang ma nên sửa soạn ngay.

Triệu thị cảm động xin vâng lời và gọi Cam Tử Long ra lạy chào.

Chiêu Dương đại sư và Lã Tứ Nương cùng chăm chú nhận xét thấy Tử Long dõng dạc, diện mạo khôi ngô tuấn tú, có linh cảm khác người phàm tục, nên rất quý mến.

Lã Tứ Nương hỏi ngày sanh tháng đẻ của Tử Long, bấm đốt ngón tay tính toán giây lát, gật đầu đắc ý, ghé tai nói nhỏ mấy câu với Chiêu Dương.

Hai vị để Lã Mai Nương và Cam Long đứng đó với Triệu thị, đoạn bước tới chỗ để thi thể Trường Mâu lấy thuốc bột rắc vào các vết thương rồi rút bỏ hết các mũi tên.

Đại sư lấy rượu chùi sạch vết máu rồi cùng Lã Tứ Nương tụng niệm suốt đêm ấy, sáng hôm sau tang lễ cử hành.

Nấm mồ Cam Trường Mâu cất ngay ở chân Bạch Dương Sơn.

Triệu thị thiết lập bàn thờ chồng ngay ở thảo sảnh, giá cây trường mâu đầu rồng đặt kế bên và đặt ngay mũi giáo ác nghiệt trên linh sàng, Tử Long quỳ lạy khóc sướt mướt thề quyết báo phụ thù.

Lã Tứ Nương và Chiêu Dương nán lại mấy ngày tụng niệm cho linh hồn Trường Mâu được siêu thăng tịnh độ.

Thù cha nung nấu, sáng nào Cam Tử Long cũng đem mộc kiếm ra sân trước tập luyện như hồi Trường Mâu còn sanh thời.

Chiêu Dương và Lã Tứ Nương đứng xem mỉm cười nói :

- Hiền điệt sử dụng bài kiếm này khá lắm nhưng còn thiếu sót nhiều.

Tử Long dõng dạc đáp :

- Phụ thân con đang dạy dang dở thì lâm họa nên con không nhớ được hết.

Đại sư xoa đầu Tử Long :

- Hiền điệt nuôi chí lớn muốn báo thù cha, thì còn phải khổ luyện hơn thế rất nhiều, vậy có muốn theo ta lên núi không? Sau này bản lãnh đầy đủ mới mong hạ nổi kẻ thù. Như phụ thân hiền điệt võ nghệ cao siêu biết chừng nào mà còn mắc họa đó.

Cam Tử Long cả mừng quỳ xuống, lạy hai người gạt nước mắt thưa :

- Được nhị vị sư bá ưng thuận thâu nhận nhận truyền nghề, lẽ nào con không theo, để con vào trình bày tự sự cùng mẫu thân con hay.

Triệu thị những mong rửa được mối phụ thù, thấy Tử Long có chí thì mừng lắm, song vẫn e ngại mẹ có một con, con có một mẹ nên dùng dằng chưa biết tính sao cho ổn.

Lã Tứ Nương biết ý mời Triệu thị ra bàn với Chiêu Dương đại sư :

- Bữa nọ, tên Tăng cường đạo có ý làm hỗn, một khi chúng tôi lên đường, chắc đây y không trở lại đây hãm hại. Chi bằng thái thái nên giao gia trang trại lại cho Cam Phúc trông coi rồi cùng Tử Long về núi với chúng tôi, như vậy ổn cả đôi bên, thái thái nghĩ sao?

Triệu thị cảm động rớm lệ :

- Nhị vị đại sư thương tình mẹ con tôi chu tất, cho như vậy là cả một sự may mắn vô bờ bến, lẽ nào từ chối, nhưng tình nghĩa vợ chồng, ngu phu vừa mất, tuần thất thất chưa qua, tôi quả không đành tâm giao phó việc cúng lễ người xấu số cho người nhà được. Chi bằng, sau thất tuần, mẹ con tôi sẽ tìm đường lên núi xin theo.

Cảm động về lời phân giải trung nghĩa của Triệu thị, Lã Tứ Nương bàn với Chiêu Dương :

- Bây giờ chỉ còn giải pháp này, Đạo huynh về Bạch Vân tự trước. Tôi và Lã Tam Nương nán lại Cam gia trại chờ cúng lễ xong xuôi cho Trường Mâu rồi sẽ đưa thái thái và Tử Long về núi, đạo huynh nghĩ sao?

Đại sư gật đầu :

- Sư muội luận trúng ý tôi. Đường sá xa xôi núi rừng hiểm trở, lục lâm cường đạo đầy rẫy, để mẹ con thái thái đi một mình, quả tôi không an tâm chút nào. Mà ta đi trước để hai người lại đây cũng không được. Mai tôi đi trước, đúng kỳ hẹn sẽ cho kim điêu về đây rước, được không?

Lã Tứ Nương gật đầu đồng ý.

Triệu thị cảm động lạy tạ, bảo Cam Tử Long lạy Chiêu Dương và Lã Tứ Nương tôn hai vị làm sư phụ.

Lã Tứ Nương cho Mai Nương cùng Tử Long giao bái kết bạn đồng môn sư muội.

Triệu thị sai Tử Long vào tư phòng lấy cây trường kiếm đưa cho nhị vị sư phụ coi.

Đại sư rút kiếm ra xem một lượt rồi đưa cho Lã Tứ Nương.

Đón kiếm, lật đi lật lại, Tứ Nương nhận xét kỹ, gọi Tử Long và Mai Nương đến bên bảo :

- Đây là kiếm báu Huyền Tiễn trường kiếm. Mai Nương lấy cây kiếm của ta ra đây so sánh.

Mai Nương chạy vào lấy kiếm ra.

- “Còn cây kiếm này là Yểm Nhật trường kiếm. Khí kiếm Yểm Nhật sắc trắng long lanh lúc hoa lên dưới ánh thái dương, làn kiếm sáng chói hơn mặt trời.

Huyền Tiễn kiếm khí xanh, làn kiếm quang có sức át nổi sức sáng của cung Hằng.

Cả hai thanh cùng bén sắc vô cùng, đặt sợi tóc lên thổi nhẹ có thể đứt đôi. Thời Chiến quốc, Câu Tiễn nước Việt, ăn chay nằm mộng, lấy vàng trộn lẫn với thép lọc, đem bạch ngưu mã lên Côn Ngô Sơn tế thần ứng với khí bát hướng tứ phương, tốn công bốn mươi chín ngày mới luyện thành.

Sau này học tập, các con sẽ đi tới ba thời kỳ khổ luyện.

Thời kỳ thứ nhất, hoa kiếm lên như thường tức là sơ luyện Thời kỳ thứ hai, làn kiếm bắt đầu phát ra bạch và thanh quang lạnh vi vu bao phủ khắp người. Đó là trung luyện.

Thời kỳ thứ ba, làn kiếm bốc sáng lớn quanh người rộng tới ba trượng, khiến đối thủ phát lạnh người, luồng gió phát ra từ lưỡi kiếm lúc nhẹ vi vu như gió thoảng thông reo, lúc dồn dập rít lên như lụa xé. Tức là điêu luyện. Thời kỳ đó, người xử kiếm bước vào hàng đại kiếm khách, lấy đầu người dễ dàng như trở bàn tay.

Đạt được nước ấy, hai con phải khổ luyện mười năm trời, liệu có theo nổi không?”

- Chúng con xin theo.

Lã Tứ Nương cười :

- Nói vậy chớ hai con còn nhỏ tuổi làm sao dám chắc được!

Tử Long dõng dạc thưa :

- Thù cha, đệ tử phải báo, dù gian lao cũng cam lòng.

Lã Mai Nương nói :

- Điệt nữ sẽ theo giúp Cam sư huynh đến cùng cho trọn tình đồng môn đồng đạo.

Sáng hôm sau, Chiêu Dương đại sư ra sân trước huýt gió hai tiếng.

Cặp kim điêu từ ngọn cây bạch dương bay là xuống.

Chỉ con điểu lông mượt màu vàng sẫm, Chiêu Dương nói :

- Đồng Tử ở lại chờ Lã đại sư! Kim Tử đi với ta.

Như hiểu tiếng người, Đồng Tử ré lên mấy tiếng vỗ cánh khiến gió lộng cả vùng sân, bay lên cao rồi là xuống đậu trên ngọn cây bạch dương như cũ.

Đại sư chào mọi người trong trại quỳ rạp trên sân cỏ tiển đầu, leo lên lưng Kim Tử điểu, bảo đi Con Kim Tử xòe đôi cánh lớn lao mình vụt lên cao lượn quanh Cam gia trại một vòng rồi mới hướng về phương Tây bay thẳng.

Trong thời gian chờ đợi Triệu thị cúng tuần thất cho Trường Mâu, Lã đại sư ngày nào cũng hai buổi giảng dạy và thực hành các môn võ sơ đẳng cho hai môn đồ.

Lã Mai Nương và Cam Tử Long nhờ đã có thời kỳ tiên luyện nên thâu nhận được hết một cách dễ dàng.

Chẳng bao lâu, tuần thất thất đã hết.

Một buổi chiều kia, Lã đại sư vừa dắt hai môn đồ đi chơi trong Bạch Dương lãnh về gần tới cổng trại thì thấy một vừng đen lớn từ xa bay tới.

- Hai con coi kìa! Kim Tử điểu đã tới rước.

Mai Nương và Tử Long vỗ tay reo mừng.

Quả nhiên Kim Tử điểu bay tới rất lẹ, vòng quanh trại. Đồng Tử điểu cũng bay vụt lên, ré lớn như mừng đón bạn, hồi lâu hai con đại điểu mới sà xuống cây bạch dương trong Cam gia trại.

Cam Phúc vội lấy thịt sống bỏ vào chậu gỗ để ra giữa sân cỏ.

Hai đại điểu sà ngay xuống ngốn một hồi hết nhẵn, đưa cặp điểu trảo cứng như móc sắt, gõ mỏ cồm cộp rồi bay thẳng ra suối đằm mình uống nước.

Về tới thảo sảnh, Lã đại sư bảo Triệu thị :

- Thái thái liệu thu xếp hành trang, giao phó việc nhà, ngày mốt lên đường.

Triệu thị nói :

- Thiếp sửa soạn xong cả rồi. Ngày mai sẽ cúng từ mộ phần rồi lúc nào đi cũng được. Chỉ e...

E sao?

- Thiếp e ngồi trên mình điểu bay cao sẽ bị nhào xuống mất.

Lã đại sư cười dòn giã :

- Điều đó thái thái khỏi lo. Ngự điêu còn êm hơn kỵ mã rất nhiều. Ít tuổi như Lã Mai Nương lần đầu ngự điểu còn không biết sợ nữa là! Tử Long ngồi với tôi. Thái thái ngự chung một điểu với Mai Nương, nó đã quen, thái thái giữ chặt lấy ngang lưng Mai Nương là được.

Hôm sau, mẹ con Triệu thị ra chân ngọn Bạch Dương lễ mộ phần Trường Mâu.

Lã đại sư và Mai Nương cũng theo ra khấn vái cầu Trường Mâu linh thiêng phù hộ Tử Long học tập thành tài.

Trang trại giao phó cho Cam Phúc đốc xuất cai quản.

Sớm ngày, Lã đại sư giắt theo thanh Huyền Tiễn trường kiếm, mẹ con Triệu thị đến bên bàn thờ Trường Mâu sụt sùi khấn vái nhiều lần rồi mới lên lưng điểu, theo Lã đại sư ra đi.

Người trong trại ra tiễn đưa đủ mặt nhìn theo cho tới khi bóng hai kim điểu khuất hẳn sau dãy Tần Lỉnh Sơn chơi vơi ngạo nghễ như thách thức trời xanh.

Thật ra, nếu đi đường bộ, từ Cam gia trại đến Mã Dương cương đường sơn cốc hóc hiểm, xa xôi vạn dặm, phải mất vài tháng mới tới nơi.

Nhưng ngồi trên mình điểu, đường tắt gần hơn nhiều. Những khi muốn nghỉ ngơi, Lã đại sư cho điểu đáp xuống sườn non hay cánh rừng, dùng lương khô rồi tiếp tục hành trình.. Chiều chiều, đại sư thấy nơi làng mạc hay thôn ổ nào, thì để kim điểu lên cây lớn đầu rừng, còn người vào quán trọ, sáng hôm sau lại đi.

Mỗi khi ở tửu điếm lần nào cũng mua theo thịt sống cho hai đại điểu ăn.

Thấm thoát, tới trưa ngày thứ bảy, kim điểu bay tới một dãy núi đá chênh vênh hiểm trở mọc toàn thứ thông vạn niên cao vòi vọi, thân lớn hằng mấy ôm.

Những đợt mây trắng như bông vắt ngang sườn núi.

Tới một ngọn cao nhất giữa hàng trăm ngọn khác chập chùng, Lã đại sư cho kim điểu hạ xuống phiến đá phẳng lì lớn bằng bốn, năm chiếc chiếu.

- Ta đáp xuống đây rồi leo chân lên núi cho biết đường đi.

Đoạn đại sư quát hai đại điểu :

- Về chùa báo trước đi!

Hai con điểu bay vòng ra sau núi mất hút.

Lã đại sư hỏi Triệu thị và Cam Tử Long :

- Thái thái và hiền đồ có mệt không?

- Ngậm viên thuốc đại sư cho, tôi thấy người khỏe như thường.

Lã Mai Nương dắt tay Tử Long tung tăng chạy trước.

Đường đi vòng thúng quanh co hồi lâu tới một khu bằng phẳng, bỗng một con trăn lớn vẩy hoa mình lớn mấy khoanh, quấn tròn, ngóc đầu lên cao, mắt sáng như sao, há miệng đỏ lòm phun phì phì, lưỡi tia ra như lửa, chắn ngay giữa lối đi.

Cam Tử Long nhảy lùi lại bên mẹ, Triệu thị run lập cập luýnh quýnh muốn chạy.

Lã Mai Nương cười vang :

- Sư huynh! Chưa kịp hỏi đã chạy! Trăn này không hại ta đâu.

Lã đại sư quát :

- Nghiệt súc! Không nhận ra người nhà sao? Đi nơi khác! Mau.

Con trăn lớn nặng nề quẩy khúc, vươn mình vào khe đá, mất dạng.

Lã đại sư bảo mẹ con Triệu thị :

- Nghiệt súc này khôn lắm, Chiêu Dương đại sư dạy bảo nó và cho nó chức tuần phòng ngọn Mã Dương. Người không có bản lãnh khó lên thoát tới đây. Sức nó có thể làm bật rễ cây thông lớn.

Bốn người lại tiến quanh co đến một thác nước đổ ầm ầm từ vách đá trên cao dội xuống.

Nước đập vào đá, tung lên thành muôn vạn mảnh long lanh như ngọc lưu ly.

Đường đi khúc khủyu, phong cảnh cực kỳ u nhã, cây cỏ rung rinh, hoa dại muôn màu đua nở hương bay ngào ngạt.

Ngoài tiếng gió cuốn thông reo, chim kêu vượn hú, thác cuốn sườn non, không còn một tiếng động nào khác nữa.

Triệu thị có cảm giác lâng lâng thoát tục.

Qua hai cửa động tối âm u có nhũ đá nhỏ giọt lạnh giá, bốn người len lỏi tới một khu rộng rãi.

Trời đã về chiều, vừng kim ô lắng chìm sau vách đá, bầy chim rừng xào xạc về tổ. Khí núi bốc lần lần, cảnh hùng vĩ nên thơ đượm vẻ thần tiên, gió quyện ngàn hương hòa trong lớp sương lam huyền ảo.

Xa xa ẩn hiện lớp tường đá xanh xanh.

Lã đại sư chỉ tay :

- Đi lên, gần tới Bạch Vân tự rồi.

Mọi người đều rảo bước qua khu đất trống tới lớp cổng đá gỗ kính đục nổi ba đại tự nét bút cực kỳ sắc sảo: Bạch Vân tự.

Hai chú tiểu đồng đã đứng chờ sẵn đó, mừng Lã đại sư cùng Mai Nương đã về, cung kính chào Triệu thị và Cam Tử Long.

- A di đà Phật!

Lã Mai Nương thân mật hỏi hai chú tiểu :

- Nhị vị sư huynh chưa lên hương sao?

- Lên rồi mới ra chờ ở đây chứ! Lệnh của sư phụ.

Chỉ Cam Tử Long, Mai Nương nói :

- Đây là Cam Tử Long, sư huynh, môn đồ của chùa ta.

Lã đại sư hỏi :

- Sư phụ đâu?

Chú tiểu đáp :

- Dạ người đang chờ đại sư trên trai phòng.

Qua cổng Bạch Vân tự vào tới đại điện. Tám tượng La Hán, lớn bằng người thật ở hai bên tường đá. Giữa điện có một pho Di Lặc cao lớn dị thường, đầu gần chạm nóc. Chiêu Dương đại sư đứng ngoài cửa trai phòng, tay lần tràng hạt.

Triệu thị, Tử Long và Mai Nương quỳ lạy.

Chiêu Dương nói :

- Đường xa mới về mệt nhọc, thái thái miễn đại lễ.

Mọi người theo Chiêu Dương vào cả trai phòng, đặt hành lý xuống bực đá.

Trai phòng sáng sủa dưới ánh sáng lung linh của bốn ngọn đèn lưu ly.

Chiêu Dương hỏi Lã Tứ Nương :

- Trong cuộc hành trình đạo hữu có gặp mưa không?

Trao hai thanh trường kiếm Yểm Nhật và Huyền Tiễn cho Mai Nương cất đi, Lã đại sư đáp :

- Thiệt may! Không bị một hạt mưa nào cả.
Chỉ tấm ghế bên tường, Chiêu Dương mời Triệu thị ngồi. Đoạn, mời Lã đại sư ngồi trên tấm bồ đoàn trên bực, rồi tự mình ngồi xuống kế bên, Chiêu Dương cất tiếng sang sảng tựa chuông vàng :

- Cam Tử Long con, con hãy quỳ dưới chiếu cỏ nghe ta dạy.

Tử Long bước tới trước mặt nhị vị đại sư nghiêm chỉnh quỳ xuống.

- Dạ, xin nhị vị sư phụ truyền bảo.

Chiêu Dương chậm rãi nói :

- Xưa nay ta vốn không truyền võ thuật cho bất cứ người nào. Nhưng hiền đồ đây là con của một bằng hữu, hơn nữa linh căn của hiền đồ xuất phàm nên Lã kiếm khách đại sư và chánh ta mới ưng thuận thâu nhận làm môn đồ. Hiền đồ cố chí, không quản gian nan, mong học thành tài báo thù phụ đó là sự kiện khiến ta chấp nhận. Bạch Vân tự này xưa kia là nơi trú ngụ trước nhất của Tổ phái Thiếu Lâm, Đạt Ma thiền sư, trước khi người xuống Hoa Nam. Truyền tới nay là Bắc phái Sơn Đông. Sư muội ta, Lã Tứ Nương đại sư, danh đồ Nga Mi sơn, cũng trụ trì nơi đây. Vậy môn võ thuật mà hiền đồ sẽ thọ hưởng từ nay đều do hai môn phái chân truyền để đi tới mức hoàn toàn siêu việt. Khi thành tài, hiền đồ phải hiểu nguồn gốc môn võ thuật công phu mà hiền đồ đã may mắn được hưởng từ giây phút này.

Tiếng nói dõng dạc ấm áp, huyền bí như tiếng chuông ngân từ xa vọng lại, Cam Tử Long rung động, hồi hộp, im lặng nghe.

Chiêu Dương nói tiếp :

- Hai chú tiểu đồng Mạnh Sơn, Võ Sơn cũng là bạn đồng môn được ta thâu dạy từ lâu, tuy còn ít tuổi nhưng nghệ thuật khá cao siêu, tánh tình hiền hậu, Lã Mai Nương, điệt nữ của Lã đại sư đây, và hiền đồ, nhập môn sau, phải tôn hai người ấy làm sư huynh, không được khinh suất phạm tới nghiêm giới chùa này.

Cam Tử Long lắng nghe lời sư phụ, xin nhất nhất tuân theo.

Triệu Thị cũng vái tạ Đại sư có lòng cứu giúp chu tất cho hai mẹ con khỏi phải xa nhau.

Chiêu Dương bảo chú tiểu Mạnh Sơn truyền cho bà thủ tự dọn một căn phòng kế bên phòng Lã Mai Nương cho Triệu thị và Cam Tử Long ở.

Đêm hôm ấy, Triệu thị thao thức, phần thì nhớ nhà không hiểu phần mộ chồng có được trông coi chu đáo không, phần thì thù chồng canh cánh nên nằm ngồi không yên.

Đêm khuya khí lạnh, kéo mềm cho Tử Long ngủ say, Triệu thị bước ra thềm nhà nhìn cảnh vật non cao cây cảnh u tỉnh chìm dưới ánh trăng đầu tháng.

Mắt rưng rưng lệ, nàng chắp tay lẩm nhẩm khấn :

- Phu quân sống khôn, chết thiêng xin phò hộ cho Tử Long có đủ can đảm năng lực học kiếm pháp thành tài, sau này gươm thiêng sẽ phanh thây tên cường đạo Tăng Tòng Hổ rửa hận phục thù.

Nhìn cảnh vật hồi lâu, Triệu thị rùng mình thấy lạnh mới rón rén vào phòng lên giường ngủ, thiếp đi lúc nào không biết.

Xa xa tiếng chim rừng rộn rã điểm canh năm, Triệu thị chợt tỉnh dạy, đánh thức con sửa soạn lên hầu đại sư.

Cam Tử Long cùng Lã Mai Nương lên tới trai phòng thì hai chú tiểu Mạnh Sơn và Võ Sơn cũng vừa tới.

Chiêu Dương và Lã Tứ Nương đang ngồi dùng trà...

Đến sáng rõ, hai đại sư bắt đầu truyền dạy võ nghệ cho Tử Long, Mai Nương.

Trước còn luyện tập gân xương, nghe giảng võ thuật, sau tập quyền cước phi hành.

Mai Nương và Tử Long vốn đã sẵn căn bản võ thuật từ nhỏ nên học rất mau biết, sư phụ dạy đến đâu, cả hai đều thâu nhận được đến đấy rất chu đáo, lắm lúc tự biến các thế quyền cước một mình khiến hai vị đại sư cũng phải khen ngợi.

Trong thời gian truyền dạy, nếu có việc cần phải ra khỏi núi thì một đại sư hạ sơn, nên việc luyện tập của Mai Nương, Tử Long không hề bị gián đoạn.

Thấm thoát được năm lần thu qua đông tới, quyền pháp của hai người đã diệu đạt tới mực cao siêu vô địch, phi hành lẹ như chiếc én mùa thu, cặp cước linh động vô cùng lợi hại, đá, đạp, càn, quét xuất quỷ nhập thần Về môn Nội Ngoại Công Phu, Mai Nương, Tử Long cũng thọ hưởng một thuật pháp phối hợp đặc biệt của hai chánh phái Nga Mi và Sơn Đông do hai danh sư chân truyền tận tâm chỉ bảo.

Một hôm, Chiêu Dương bảo hai đồ đệ :

- Một đấu một, hai con thử lần lượt cùng ta giao đầu xem sao. Lã Mai Nương đánh trước.

Dứt lời, đại sư cởi áo ngoài vắt vào gốc cây, xắn tay áo chờ.

Lã Mai Nương bước tới quỳ lạy :

- Xin sư phụ tha lỗi.

Đoạn, nàng lùi lại mấy bước bái tổ.

Chiêu Dương đứng Chảo Mã Tấn, tay hữu thu vào sường, tay tả xòe ra trước ngực, hất hàm ra hiểu bảo đồ đệ vào phá.

Mai Nương đổi bộ pháp ba lần, rồi bất thần nhảy vụt tới co chân tả đá móc vào bắp chân đại sư.

Chiêu Dương thoát bộ tránh ngọn cước ấy nhưng Mai Nương đã thừa thế hạ tấn Trung Bình dang tay đấm thẳng vào mặt địch thủ, tay hữu vòng ra trước ngực.

Đó là thế “Thần Cung Xạ Hứa Điền”.

Chiêu Dương quát lên một tiếng hay gạt phắt trái thôi sơn của đối thủ, vỗ mạnh và dùng thế “Đại Bàng Chuyển Dực” thúc cùi chỏ vào đối phương.

Mai Nương thoát bộ lần nữa, lánh đòn, rồi tiện đà chân đá quét luôn ngọn “Hoàng Xà Tảo Địa” khiến Đại sư phải thoái bộ nhường Mai Nương tấn công tới tấp.

Hai thầy trò song đấu, kẻ qua người lại, bốn tay tung lộn khuôn phép, cặp cước nhịp nhàng, đòn tấn cũng như thủ mau lẹ biến ảo vô cùng.

Lã Tứ Nương đứng ngoài coi, thích chí vỗ tay :

- Dư trăm hiệp rồi, hòa đi!

Đánh nhử một đòn, Chiêu Dương nhảy ra khỏi vòng chiến :

- Thôi về quyền pháp, ta mừng cho con đấu ngang tay rồi. Chịu thua! Cam Tử Long vào đấu Mai Nương thế ta nào!

Mai Nương khoanh tay chờ giữa sân.

Tử Long nhảy vào bái tổ nói :

- Xin lỗi sư muội Mai Nương mỉm cười tươi như hoa :

- Kính mời sư huynh cứ ra tay.

Thế là hai người vận dụng toàn sức đấu một trận dữ dội chẳng khác chi lưỡng hổ Tranh tài. Quyền ra vun vút, cước phóng vù vù tựa gió. Quyền cước biến chuyển nhịp nhàng, khi lẹ hơn chớp giật. Lẫn vào đó, thỉnh thoảng bật lên tiếng thét lanh lảnh nghiêm nghị của Mai Nương hay tiếng quát vang dậy cả toàn khu của Tử Long.

Hai người tận lực giao đấu kinh thiên động địa, bộ cước tiến, lùi sầm sập có phương pháp chánh tông, thiệt là một trận long tranh hổ đấu, bóng hai đối phương quấn quít vây tròn lấy nhau mau lẹ đến nỗi khó bề phân biệt bên nào là Mai Nương, bên nào là Tử Long.

Trận đấu dư hai trăm năm mươi hiệp.

Hai vị đại sư mải miết coi đến nỗi quên cả cầm chịch.

Chú tiểu Võ Sơn phải đến gần sư phụ thưa :

- Dư hai trăm năm mươi hiệp rồi, sư phụ.

Chiêu Dương vội nói lớn :

- Thôi! Ngừng tay.

Mai Nương và Tử Long đang tận lực tranh đấu, say đòn, không nghe thấy gì, tiếp tục đánh mạnh hơn.

Lã Tứ Nương khoanh tay lên miệng thành loa gọi :

- Hai hiền đồ ngừng tay! Cuộc đấu ngang tài, hòa.

Bấy giờ Cam, Lã, hai thiếu niên mới chịu thoái bộ ngừng tay bái tổ, sắc mặt chỉ hơi đỏ, hô hấp nhẹ nhàng.

Cam Tử Long khoanh tay nói :

- Quyền pháp của sư muội vượt mức cao siêu, ngu huynh xin chịu.

Lã Mai Nương đáp lễ :

- Sư huynh dạy quá lời, bài học Quyền cước hôm nay sư huynh ban cho quả rất đích đáng.

Hai người liền cùng bước tới vái nhị vị đại sư rồi khoanh tay đứng hầu hai bên.

Bỗng Mạnh Sơn hỏi Lã Mai Nương :

- Ủa! Chiếc bông sư muội gài trên mái tóc đâu rồi?

Cùng khi ấy, chú tiểu Võ Sơn cũng hỏi Tử Long :

- Kìa! Cam hiền đệ mất chiếc nút áo lúc nào vậy?

Lã Mai Nương tủm tỉm cười đưa trả chiếc nút áo cho Tử Long.

- Xin lỗi sư huynh nhé.

Lẳng lặng, Tử Long lấy trong túi áo ra chiếc bông gài lại lên mái tóc đen huyền của Mai Nương :

- Ngu huynh cũng xin đưa lại chiếc bông này cho sư muội.

Thì ra trong khi giao đấu hai người đã đoạt hai vật nói trên để ghi thành tích mà cả hai cùng lẹ làng quá đến nỗi không biết được là bị đoạt.

Chiêu Dương đại sư cười lớn :

- Khá lắm! Kỳ phùng địch thủ, tướng ngộ lương tài! Kẻ tám lượng người nửa cân. Bõ công chúng ta dạy bảo. Tre già măng mọc, ta rất mừng.

Lã Tứ Nương đại sư bảo Cam, Lã hai đồ đệ :

- Ta rất mừng hai hiền đồ sử dụng rất tinh vi cả hai môn quyền cước Nga Mi và Sơn Đông. Trong thiên hạ ít có người may mắn được thọ hưởng chân truyền cả hai môn phái như vậy.

Từ nay phải chuyên luyện thập bát ban võ khí và nhất là kiếm thuật để sau này thành kiếm khách lỗi lạc bản lãnh phi thường.

Hai thanh trường kiếm Yểm Nhật và Huyền Tiễn bảo kiếm, trên đời này không có thanh thứ hai. Bởi vậy người đeo kiếm phải phi phàm xuất chúng, nếu không, tất uổng kiếm linh.

Các hiền đồ hãy vào lấy kiếm ra đây.

Mai Nương và Tử Long cùng chạy vào phòng Lã đại sư lấy báu kiếm mang ra.

Lã đại sư nói :

- Hai hiền đồ hãy đeo kiếm lên lưng, ra sân mau!

Ba thầy trò ra tới sân, Lã đại sư bảo :

- Rút kiếm ra xem bây giờ có vừa tay không?

Soạt!...

Mai Nương, Tử Long rút kiếm, lưỡi kiếm mát lạnh, long lanh, sức nặng vừa tay.

- Thưa, vừa tay lắm.

Lã đại sư đứng thẳng, giơ tay cầm nhành liễu nhỏ mong manh chỉ vào hai người :

- Dùng kiếm chém ta coi!

Vái lạy Lã đại sư xong, hai môn đồ uốn mình nhảy tới chém mạnh, tức thì Lã Tứ Nương không gạt đỡ nhưng uốn mình dẻo dai như giao long giỡn thủy, lượn theo tay kiếm của Cam, Lã hai người. Ngót trăm hiệp, hai lưỡi kiếm chém vùn vụt mà không thể xâm phạm tới nhành liễu trong tay Lã đại sư. Mai Nương và Tử Long tự hiểu có đánh thêm nữa cũng vô ích, bèn thâu kiếm lại quỳ lạy :

- Chúng đệ tử không thể nào chém trúng được, nhành liễu phất phơ dễ dàng ngay trước mắt mà sao biến ảo vô thường.

Lã đại sư hỏi hai môn đồ :

- Ô! Ta sử dụng nhành liễu theo kiếm pháp tuyệt cao của Cam đại lão đó. Hiền đồ không nhận ra lối kiếm linh diệu của bài Việt Nữ Kiếm đó sao? Với bài kiếm này, khi xưa người con gái nước Việt đã hạ nổi con Bạch Viên thành tinh trên Đông Sóc lãnh. Hai con hiện thời, quyền cước vô song, tay kiềm kiếm tốt mà còn không xâm phạm nổi nhành liễu trong tay ta, như vậy đủ hiểu kiếm thuật là một môn học rất tinh vi linh diệu khác thường, khó khăn hơn các môn võ khí khác. Muốn mạnh thì mạnh, muốn nhẹ thì nhẹ, biến ảo muôn đường. Sau này hiền đồ đạt tới mức tuyệt cao về kiếm thuật và với tài sức hiện thời về quyền cước, khi ra đời, hai hiền đồ dư sức chống lại bất cứ tay kiếm khách lỗi lạc nào trong thiên hạ. Chiêu Dương đại sư và ta truyền hết công phu bình sanh chỉ trông cậy ở hai hiền đồ sau này cùng Mạnh Sơn, Võ Sơn nối nghiệp môn phái, đó là ước nguyện của chúng ta. Cũng như quyền thuật, mong rằng hai hiền đồ sẽ thâu nhận được hết môn kiếm thuật để trở thành kiếm khách, quyền gia lỗi lạc siêu đẳng sau này.

Mai Nương, Tử Long vâng lời, lạy tạ, gài kiếm vào vỏ.

Từ đó Cam - Lã hai người chuyên tâm luyện kiếm thuật, đêm đêm dậy sớm từ đầu canh tư ngồi vận dụng Nội Ngoại công phu.

Hơn một năm sau, sức sử dụng bảo kiếm đã bắt đầu có luồng kim quang bao bọc nhẹ quanh người.Nhị vị đại sư vui mừng cho rằng :

- Qua thời kỳ sơ đẳng rồi. Từ đây, đã có căn bản về kiếm thuật, đạt tới trung đẳng không đến nỗi khó khăn tuy cũng còn phải nhiều công phụ nữa.

Một năm rưỡi sau, Lã Mai Nương và Cam Tử Long sử dụng Yểm Nhật kiếm và Huyền Tiễn kiếm huyền ảo biểu hiệu vô cùng, luồng kiếm và khí lạnh vi vu toát ra ba, bốn trượng. Những lúc mau lẹ, gấp rút, lưỡi kiếm bật ra những tiếng rít kinh hồn như tiếng lụa xé.

Trước sự hiện diện của hai đại sư, Mai Nương, Tử Long, luyện kiếm dưới ánh trăng xanh. Hai người lúc tiến khi lùi, hoặc khi đậu lên mỏm đá, lúc sà xuống mái chùa, hai luồng thanh quang, bạch quang, vi vu, biến ảo, linh diệu, nhập thần, tiếng kiếm chém vào nhau nghe chí chát khô khan nghe lạnh gáy, rền rĩ âm vang khắp vùng núi âm u. Lã đại sư vỗ tay ra hai môn đồ thâu kiếm lại. Cam, Lã từ nóc chùa liệng mình xuống sân nhẹ nhàng như chiếc lá mùa thu, tra kiếm vào vỏ, chắp tay hầu.

Lã Tứ Nương nói :

- Hiền đồ đã đạt tới mực độ siêu phàm, rất đáng mừng, nhưng ta muốn truyền nốt mực độ cuối cùng rất hiếm có để hai hiền đồ đi tới mực độ xuất phàm điêu luyện. Hãy nghe ta giảng đây. Trong khi học thập bát ban võ nghệ, hai hiền đồ đã luyện thuật phi tiêu, phi đao và phóng trâm, liệng đạn. Trong bốn môn phi đó Mai Nương đã đặc cách luyện môn trâm, còn Tử Long thì hoàn toàn về môn phóng thiết đạn. Nay ta đặc cách truyền cho môn phóng kiếm, nghĩa là sử dụng thanh trường kiếm như ngọn tiêu, lá đao, cây trâm và viên đạn để đâm hay trảm một vật gì cách xa mình. Thanh kiếm không phải môn võ khí dễ phóng ra như bốn môn tiểu võ khí kia. Bởi vậy khi phóng kiếm, kiếm gia phải biết sử dụng cả thần khí nội công mới hòng đánh đâu trúng đấy được. Môn phóng kiếm này chỉ riêng có hai phái Côn Luân và Nga Mi xưa kia cùng thọ huấn một Sư tổ, sử dụng nổi, và chỉ chọn lọc môn đồ mới bí truyền. Ngoại trừ chúng ta, hiện thời chỉ có sư huynh ta là Chu Tâm sư trưởng Nga Mi sơn thay thế thầy ta đã viên tịch, và Thiên La Hán sư trưởng Côn Luân sử dụng nổi thuật này. Chặng cuối đây còn trên một năm nữa, ta mong các hiền đồ cố gắng cho khỏi ô danh môn phái.

Nghe Lã đại sư giảng dạy một hồi, Mai Nương và Tử Long rất đỗi vui mừng, từ đó ra công học môn bí truyền phóng kiếm.

Hơn một năm sau, thuật phóng kiếm của Lã và Cam đã nhập thần bách phát bách trúng.

Một hôm Lã đại sư bảo :

- Ta muốn thử các hiền đồ lần cuối cùng, hãy ra đây.

Đại sư bẻ một cành cây lớn bằng vế đùi, chặt cả hết cành lá nhỏ, buộc dây thừng vào một đầu. Lã Mai Nương, Cam Tử Long đeo kiếm đứng chờ.

Đại sư dặn bảo :

- Khi ta hô phóng thì đợt đầu dùng mũi kiếm nghe.

Dứt lời Đại sư cầm đầu dây thừng phi hành chạy vòng quanh sân chùa.

Cành cây bị kéo nhanh nhấc bổng lên trên mặt đất như chiếc diều bay...

- Phóng!

Lẹ như chớp, Mai Nương, Tử Long rút trường kiếm nhằm cành cây phóng mạnh.

Hai thanh bảo kiếm vụt ra như tia chớp cắm phập vào cành cây lúc đó lướt qua chỗ Cam, Lã đứng tới bảy trượng.

Lã đại sư ngừng chạy. Cành cây là xuống đất.

Mai Nương và Tử Long cùng chạy tới lấy kiếm lại.

Đại sư nói :

- Thành công đợt đầu rồi, bây giờ tới đợt thứ hai. Phải chém, nghe?

Cam, Lã không kịp trả lời, đại sư đã vội chạy đi như trước. Cành cây lại bổng lên khỏi mặt đất.

- Phóng!

Mai Nương, Tử Long đồng loạt hành động. Hai báu kiếm phóng xẹt ra tiện đứt cành cây thành ba khúc rớt xuống đất.

Lã đại sư ngừng chạy, quay lại nhìn khúc gỗ bị tiện đứt nhẵn như bào :

- Ta mừng cho hai hiền đồ thành công rồi. Với công phu này, hiền đồ có thể trảm đứt đôi mình ngựa đang phi thiệt nhanh. Từ nay cần giữ sức cho đều hòa và không cần phải học hỏi gì thêm nữa.

Mai Nương, Tử Long mừng rỡ quỳ lạy tạ hai sư phụ về phòng an nghỉ.

Triệu thị ngồi ngoài hàng hiên chờ con, thấy hai người xách kiếm đi tới, thì đờ người ra nhìn không chớp mắt. Bấm đốt tay, thấm thoát đã mười lần bông đào nở trên Bạch Vân tự. Từ cậu trai nhỏ bé, Cam Tử Long ngày nay đã nghiễm nhiên là một hảo thanh niên tráng sĩ với hai chục lần xuân, tóc đen lánh búi ngược, mi thanh mục tú, hàm én mày ngài, cổ to vai rộng, lưng beo mềm mại uyển chuyển như con báo.

Lã Mai Nương cũng vậy. Ai ngờ thiếu nữ mười tám ấy lại là vị cân quắc anh hùng! Làn tóc tơ như dải suối huyền lồng khuôn mặt trái xoan, da trắng tựa ngà. Đôi mắt phượng xếch ngược đen lánh, lúc thường thì mơ màng huyền bí xa xôi, nhưng khi ra quyền, múa kiếm lại long lanh tựa hai vì sao sáng. Cặp môi gọn gàng đỏ mọng tươi tắn nhưng lại không kém vẻ nghiêm nghị khiến nét mặt ngây thơ của người thiếu nữ đang xuân ấy già dặn thêm một đôi phần. Cũng như Tử Long nàng ưa vận võ phục màu chàm. Thấy Triệu thị nhìn đăm đăm, Lã Mai Nương ngừng bước đứng lại gần tươi cười hỏi :

- Bá mẫu nhìn chi vậy?

- Ta nhìn người thiếu nữ xinh đẹp như đóa hoa ngàn!...

Nghe mẹ nói, Cam Tử Long chống kiếm lên bực thềm nhìn Lã Mai Nương, mỉm cười.

Hai má ửng đỏ như trái đào, Mai Nương cười khúc khích :

- Chà! Bá mẫu giỡn hoài! Sống bao năm giữa cỏ ngàn hoa dại này, con người sơn cước chỉ có khỏe mạnh chất phát thôi!

- Điệt nữ khiêm tốn càng đáng quí, đáng yêu... À, sao đêm nay về trễ vậy?

Lã Mai Nương thưa :

- Đêm nay đại sư thử kiếm thuật nên lâu hơn mọi bữa. Từ nay chỉ còn chuyên luyện chớ không phải học thêm môn nào nữa.

Triệu Thị tươi hẳn nét mặt :

- Nếu vậy ngày Tử Long hạ sơn cũng sắp tới? Mối thù kia mười năm nay vẫn canh cánh bên lòng, nay mới đến thời kỳ báo phục.

Cam Tử Long nhìn Mai Nương :

- ... Và chúng ta cũng đến lúc chia tay! Không biết kẻ thủ hiện ở nơi đâu? Khi lâm chung gia phụ chỉ trối trăng lại câu: Tăng Tòng Hổ, lục lâm, cường đạo. Muốn kiếm nó có lẽ phải giang hồ góc bể chân trời... Như vậy cũng mất tới vài năm mới trở về đây thăm nhị vị sư phụ và sư muội được. Tăng tặc đạo còn sống ngày nào, ngu huynh không an lòng ngày ấy, mà hồn gia phục cũng chưa được mỉm cười nơi chín suối!

Lã Mai Nương nghiêm nghị :

- Tiểu muội mồ côi, theo cô mẫu Lã đại sư từ tấm bé, nên ngoài đại sư tu hành nơi đây ra thì tiểu muội hoàn toàn tứ cố vô thân. Ngày nay, võ nghệ học thành rồi, tiểu muội rỗi rãi không biết làm gì hơn, chi bằng xin phép cô mẫu cho cùng xuống núi với sư huynh, trước là trợ lực báo thú, sau là nhân dịp du hành một phen cho biết đó biết đây. Sư huynh có chấp thuận không?

Cam Tử Long cả mừng :

- Được vậy còn chi bằng! Có sư muội cùng đi tham khảo ý kiến, chắc mau lẹ gặp kẻ thù hơn!

- Sư huynh còn nhớ mặt tên họ Tăng không?

- Có chứ! Còn nhớ rõ như mới trông thấy y ngày hôm qua.

- A! Như vậy sự tìm kiếm cũng đỡ được phần nào.

Triệu thị thấy Lã Mai Nương hứa hạ sơn đi cùng với con mình thì mừng rỡ vô cùng.

- Khuya rồi, điệt nữ và Tử Long về phòng thay áo rồi còn ăn cháo, kẻo nguội.

Từ nhiều năm nay vẫn vậy, bữa cơm nào Cam - Lã hai người phải luyện võ ban đêm, Triệu thị cũng nấu sẵn nồi cháo cho hai người dùng sau buổi luyện tập. Bà quý Mai Nương như con gái ruột. Đổi lại, Mai Nương cũng kính trọng và quý mến Triệu thị như mẹ vậy.

Vốn là người chăm chỉ, hiền đức, suốt trong thời gian ở Bạch Vân tự, Triệu thị không chịu ngồi rỗi, ngày ngày giúp đỡ mọi việc trong chùa, trồng trọt, vá may luôn tay. Hàng ngày, Triệu thị còn tụng niệm trên đại điện cầu cho linh hồn chồng được siêu thăng và dun rủi cho Tử Long có đủ năng lực học võ nghệ thành tài.

Mấy hôm sau, hai vị Đại sư bảo Cam Tử Long rằng :

- Hiền đồ lên Bạch Vân tự này cũng đã dư mười năm trường, hấp thụ được bản lãnh phi phàm. Nay mai đây, ta sẽ cho hạ sơn báo phụ thù và đem tài trí giúp đời. Ta tin ở bản lãnh con lắm, nhưng chớ có cậy tài đâm ra kiêu hãnh. Luôn luôn nhũn nhặn nhân nhượng. Dùng giải pháp ôn hòa, cùng lắm mới sử dụng tới võ thuật để bảo vệ tánh mạng, danh dự. Phải đặt danh dự môn phái lên trên tánh mạng. Từ ngọn Mã Dương này, ta theo dõi hiền đồ từng bước trong muôn vạn nẻo đường.

Cam Tử Long giơ tay nghiêm nghị thề :

- Đệ tử lấy danh dự thế nhất nhất theo tôn chỉ của môn phái cho khỏi phụ công ơn dạy bảo của nhị vị sư phụ trong bấy lâu nay.

- Cho hiền đồ đứng dậy.

Lã đại sư gọi :

- Mai Nương con.

Mai Nương vội ra quỳ trước mặt hai đại sư - Dạ, sư phụ có lời truyền?

- Nay con đã thành tài, ở mãi trên núi này vô ích, ta muốn con theo giúp Tử Long cho trọn tình đồng đạo, âu cũng là dịp hay đi đây đó hải hồ muôn dặm khử bạo, trừ gian, làm quen cùng anh hùng trong thiên hạ. Phận sự của kiếm khách như thế nào và các kinh nghiệm du hiệp ta đã truyền giảng hết không thiếu sót một điểm nào. Với mớ hành lý tinh thần ấy, ta an tâm họ Cam và con không đến nỗi nào sút kém trên đường giang hồ hành hiệp. Danh dự môn phái đặt cả trên bao thước kiếm thần.

Con có điều chi muốn trình bày không?

- Điệt nữ còn biết nói gì nữa hơn là xin nhất nhất vâng lời nhị vị sư phụ.

Cam - Lã, hai thanh niên về phòng nói lại việc đại sư cho hạ sơn với Triệu thị nghe.

Cam Tử Long nói :

- Điều làm trước nhất khi hạ sơn là về Tần Lĩnh sơn thăm mộ phần, mọi việc sẽ hay sau.

- Mẹ cũng muốn về thăm, tế mộ phần luôn thể.

- Thiết tưởng mẫu thân chẳng về vội. Con chỉ ở nhà có ít ngày rồi lên đường tìm kẻ thù ngay. Lúc đó mẫu thân ở nhà một mình con không an tâm. Chi bằng cứ nương nhờ nơi đây, an ninh được đảm bảo hơn, chừng nào mối thù đã báo, con sẽ đón mẫu thân cùng về tế vong hồn cha có hơn không?

Triệu thị lưỡng lự không biết làm sao cho phải thì Lã Mai Nương nói :

- Cam sư huynh nói phải, bá mẫu nên theo lời. Báo thù xong, về Tần Lĩnh sơn cũng không muộn.

Ba người đang bàn định thì chú tiểu Võ Sơn đi đến nói với Triệu thị :

- Đại sư cho mời thái thái lên ngay.

Triệu thị vội sốc áo theo Võ Sơn lên đại điện.

Chiêu Dương mời ngồi.

- Bần tăng mai mốt sẽ cho Tử Long hạ sơn tìm kẻ thù. Lã đại sư cũng cho Mai Nương theo giúp. Thái thái có ý kiến gì góp bàn không?

Triệu thị đứng lên chắp tay vái :

- Nhị vị đại sư không quản công gây dựng cho họ Cam, ơn ấy lớn hơn trời biển, Tử Long muốn để thiếp ở lại đây nương nhờ bóng lớn của nhị vị, chừng nào y trả thù xong sẽ đón về Cam gia trại.

- Tử Long nghĩ thế thấu đáo lắm, thái thái định thế nào?

- Báo thù là sở nguyện của thiếp sau đó tế vong hồn kẻ xấu số cho được vui lòng nơi chín suối. Thiếp xin nghe lời Tử Long ở lại đây nương nhờ bóng Phật đài mãi mãi...

Nghe lời Triệu thị, hại đại sư rất đẹp lòng.

Lã Tứ Nương nói :

- Ba hôm nữa tốt ngày, giờ Thìn hai trẻ sẽ hạ sơn. Thái thái khá báo cho chúng hay.

Triệu thị vâng lời lui ra về phòng nói lại cho Mai Nương, Tử Long nghe. Hai người thu xếp hành trang. Triệu thị lấy ra túi bạc định phân đôi đưa cho hai thiếu niên :

- Các con giữ lấy tiền đây làm lộ phí. Về tới Bạch Dương lãnh, vàng bạc mẹ chôn cả ngay gần gốc đào cổ thụ ở cửa sổ sau phòng, Tử Long còn nhớ gốc đào đó không?

- Dạ, con còn nhớ. Bạc chôn ngay dưới gốc đào?

- Không. Đứng trong cửa sổ nhìn thẳng ra gốc đào là hướng Bắc. Thẳng hướng đó kể từ gốc đào, đi mười bước là nơi chôn hũ sành đựng năm nén vàng và ngàn lượng bạc. Muốn chi dùng bao nhiêu cứ việc lấy. Ngoài ra, khi mới đến Bạch Dương lãnh lập trại cha con có chôn một bình sứ xanh thiệt lớn cũng đầy vàng bạc, mẹ không rõ bao nhiêu, nhưng biết là khá nhiều.

- Chôn ở đâu hả thân mẫu?

- Gần nơi phần mộ có cây bạch dương thiệt lớn...

- Dạ, con biết cây đó rồi. Một cành thấp sà xuống mặt đất.

- Chánh vậy, một phần trông về hướng Bắc, gốc cây đó ở chánh Nam. Từ gốc bạch dương đi sang hướng Đông độ hai trượng có ba hòn đá lớn chụm vào nhau.

Tử Long gật đầu :

- Có, con nhớ ra rồi.

- Vàng bạc cha con chôn dưới ba thớ đá ấy.

- Làm sao chôn vàng được ở đó? Ba viên đá ấy nặng lắm mà!

Triệu thị gật đầu :

- Đành rằng nặng, vì chánh cha con khi chôn của xong vác ba viên đá đó từ núi Bạch Dương ra đặt tại đây để đánh dấu. Nghe đâu mỗi tảng đá cũng nặng có cả ngàn cân. Mẹ chỉ cho con biết và tùy ý sử dụng.

Mấy người dùng bữa ngọ phạn xong, Lã đại sư gọi riêng Mai Nương vào tư phòng căn dặn và cho một túi bạc :

- Đây là tiền mượn của tham quan ô lại, điệt nữ hãy cầm lấy chi dụng. Nơi hồng trần không có thứ này không được. Xuống tới thị trấn, điệt nữ liệu sắm thêm trang phục, vận mấy thức sơn cước này khiến mọi người chú ý bất tiện. Phải tùy thời mới được.

Lã Mai Nương đem việc Cam mẫu cũng đưa tiền nói lại cho cô mẫu nghe.

- Cam sư huynh cũng có tiền, đem theo nhiều làm chi cho bận rộn.

Đại sư mỉm cười :

- Khi bằng tuổi điệt nữ, từ thầy xuống núi, ta cũng nghĩ như điệt nữ bây giờ, nhưng ở nơi bồng trần, càng nhiều thứ này càng hay. Giặc cướp tứ tung, cường hào ác bá nhan nhản, tham quan ô lại đầy rẫy, chẳng qua cũng vì hoàng kim hắc thế nhân tâm, khiến gươm linh hiệp khách chém bao nhiêu cũng không hết những phường đó. Vậy điệt nữ giữ lấy đây mà chi dùng hành hiệp.

Lã Mai Nương đỡ lấy túi bạc, lạy tạ lui ra.

Đêm hôm ấy, chừng cuối canh một, sau khi ôn luyện võ nghệ, Mai Nương, Tử Long chưa về phòng vội, chống kiếm ngồi dưới mái hiên lơ đãng nhìn cảnh non cao rừng rậm trập trùng dưới ánh trăng mờ.

Hai người nửa vui nửa buồn. Một bên nghĩ tới thù cha ước mong được phi hành xuống núi thét gió gào mưa đưa lưỡi kiếm linh moi gan Tăng đạo tặc. Một bên nghĩ đến việc sắp sửa xuất xứ ra đời với thiên chức nặng nề trừ hung khử bạo, nhưng nghĩ đến tình sư đệ nhiều năm đằng đẵng lại thấy cảm luyến nơi non bồng thủy nhược. Xa xa, từ dưới chân núi vọng lên tiếng thú săn mồi gầm vang động, tiếng vượn rúc não nùng. Hai người đang mải miết suy nghĩ, chợt có tiếng chân người sầm sập từ phía trước chùa chạy tới. Ngơ ngác, Cam, Lã chưa hiểu gì bỗng nhiên bốn bóng đen đã áp đến hoa khí giới đánh.

Mai Nương, Tử Long vội phi thân ra giữa sân. Bốn bóng đen đuổi theo vây tròn hai người vào giữa.

Cam, Lã tuốt kiếm đánh lại, nghĩ thầm không biết bọn đạo tặc nào lại vào nổi khu chùa này mà gây hấn vậy.

Làn bạch quang và thanh quang do hai thanh kiếm Yểm Nhật và Huyền Tiễn kiếm toát ra lạnh rùng mình, tiếng thép va chạm nhau chí chát, rền rĩ lanh lảnh ghê rợn. Như hai con vượn lẹ làng bay nhảy, Mai Nương, Tử Long vụt bên Đông, vút bên Tây biến ảo dị thường, đàn áp bốn kẻ lạ nọ phải lùi dần dần về phía sau chùa, nơi có nhiều gốc cây tùng cao lớn lù lù chắn ngang lối đi.

Mai Nương, Tử Long cả mừng ra sức đánh mạnh hơn. Bỗng hai bóng đen thoái bước chạy lẫn vào các gốc tùng rồi biến mất. Còn hai bóng đen ở lại chống với hai luồng kiếm rít lên như lụa xé.

Nhân lúc hai bóng đó lùi gần tới phiến thạch bàn ngang sườn núi, Mai Nương thét lớn :

- Tặc đồ, chạy đâu cho thoát.

Cả hai ngọn kiếm linh động cùng một lúc bổ mạnh xuống đầu địch thủ tưởng chẻ đối phương ra làm bốn mảnh...

Nhưng không, hai bóng đen đồng quát vang động :

- Giỏi đa!

Bị hai kẻ lạ xô áp tới người nắm chắc lấy cổ tay không cho chém xuống, bàn tay khép chặt lại như hai chiếc kềm sắt. Mai Nương, Tử Long đưa tay tả định điểm vào mắt đối phương buộc chúng phải rời cổ tay ra nhưng cũng vừa nhận ra hai bóng đen đó là Chiêu Dương và Lã Tứ Nương.

Toát mồ hôi ra như tắm, Cam, Lã vội quỳ xuống tạ lời :

- Đệ tử không nhận ra nhị vị sư phụ, tội đáng muôn vàn.

Chiêu Dương đại sư cười :

- Hiền đồ có tội chi, ta muốn thử đó thôi! Bản lãnh siêu phàm, kiếm thuật tinh vi, chúng ta có thể an tâm tin cậy được ở hiền đồ! Thôi, khuya rồi, cho về phòng an nghỉ, Dứt lời, nhị vị đại sư vùn vụt quay đi. Mai Nương, Tử Long tra kiếm vào vỏ lững thững trở về phòng.

Họ Cam nói :

- Sư phụ thử bất ngờ khiến ngu huynh hết hồn!

Mai Nương phì cười :

- Chùa này mà đạo tặc vào được là cả một sự lạ. Hai người kia chắc là Mạnh Sơn, Võ Sơn.

Về tới cửa phòng, Tử Long thấy Cam mẫu đang ngấp nghé nhìn ra, vẻ mặt hoảng hốt lo sợ.

- Chuyện chi thế con? Tặc đạo đâu cả rồi?

Mai Nương cười ròn rã :

- Thưa bá mẫu, không có tặc đạo nào cả, vừa rồi là nhị vị đại sư và hai sư huynh thử sức Cam sư huynh và điệt nữ đó.

- Trời ơi! Thế mà ta tưởng có thích khách hay bọn Tăng Tòng Hổ chi đó. Tim hãy còn đập như trống trận đây nè!

Cam Tử Long nói :

- Nếu Tăng đạo tặc tới đây là cả một sự may mắn! Đỡ mất công đi tìm kiếm, mẫu thân ạ!

Sớm ngày mốt, Lã Mai Nương, Cam Tử Long đai nịt gọn ghẽ, lưng đeo kiếm báu lên trai phòng.

Chiêu Dương trao cho hai đồ đệ một bọc vải đỏ và dặn rằng :

- Mười năm nay vừa luyện võ vừa theo ta vào rừng hái thuốc, luyện thuốc, hẳn hiền đồ đã biết linh nghiệm của các thứ thuốc bí truyền đựng trong bọc này. Vậy khá giữ lấy phòng thân lỡ sau này dùng tới.

- Thôi, sang giờ thìn rồi, chúc cho hiền đồ thượng lộ bình an Mai Nương, Tử Long đỡ lấy bọc thuốc, quỳ xuống lạy tạ, bịn rịn toan nói, nhưng hai đại sư mắt đã nhắm nghiền tham thiền nhập định trơ ra như hai pho thạch tượng.

Hai người biết ý, đứng dậy, ra khỏi trai phòng, lấy hành lý đeo lên vai, chào bà thủ hộ, lạy tạ Cam mẫu.

Triệu thị rơm rớm nước mắt :

- Điệt nữ và Tử Long nên tiểu tâm phòng bị. Báo phục xong liệu mau mau về đây kẻo mẹ mỏi mòn trông chờ.

- Xin mẫu thân an lòng, chớ lo buồn e hao tổn tuổi già.

Cam, Lã tìm Mạnh Sơn, Võ Sơn thì hai người đã đi tới.

- Xin chào nhị vị sư huynh, anh em tôi hạ sơn đây.

Hai chú tiểu đáp lễ :

- Chúng tôi cũng chúc nhị vị sư đệ, sư muội mã đáo thành công, rồi mau mau trở về đây họp mặt.

Mai Nương, Tử Long ra nơi hang đá bên chùa, chỗ ở của kim điêu, vuốt ve cổ đại điểu bảo :

- Các ngươi ở lại chùa nhé. Chúng ta xuống núi đây. Ước gì có các ngươi cưỡi đi xa xa thì thích quá!

Hai kim điêu vỗ cánh, hé mỏ ré vang như lưu luyến Cam, Lã hai người.

Thoan thoát, Mai Nương, Tử Long xuống núi, hết chặng này đến chặng khác, mãi chiều hôm ấy mới ra khỏi dãy Mã Dương cương, tìm chòi tiều phu nhờ qua một đêm, hôm sau lại lên đường, nhằm hướng Tây tiến thẳng.

Chương 5: Đánh phường lái ngựạ, hỏa thiêu Kê Trảo sơn Tới Kỳ Mã trấn, gặp Phi Vân Hồng Long

Ra khỏi Mã Dương cương, ngày đi đêm nghỉ, lúc vào tửu quán, khi trọ sơn thôn, năm ngày Lã Mai Nương, Cam Tử Long đi tới đất Cẩm Châu thuộc Trực Lệ.

Đường hiểm trở đất lẫn với đá sắc như dao. Tới trưa hôm ấy, hai người dừng chân nghỉ bên khe nước trong veo mát lạnh, lấy lương khô ra ăn.

Ăn xong, vục nước khe uống, Mai Nương dựa lưng vào vách đá nhìn hai đôi giày vải rách bươm thì phì cười.

- Sư huynh à, đi bộ thế này hại giày lắm mà chẳng được bao xa. Xưa kia, cô mẫu du hành trên mình ngựa, hay là chừng nào tới thị trấn, ta tậu một cặp ngựa, cuộc hành trình được dễ dàng thích thú hơn.

Tử Long nhắc chân, nhìn đế giầy rồi gật đầu :

- Ngu huynh đồng ý, chừng nào gặp dịp là mua liền. Sư muội còn đôi nào dự trữ không?

- Còn một đôi nữa, chờ đôi cũ này rách nát thêm chút nữa sẽ thay cũng được.

Tử Long mỉm cười :

- Thôi hà tiện làm gì! Sỏi đá vào chân vướng lắm, thay đi

Lã Mai Nương mở bọc hành lý rút lấy đôi giầy mới thay rồi liệng đôi cũ xuống vực bên đường. Lát sau, hai người lại quảy hành lý, đeo kiếm lên lưng tiếp tục hành trình. Đường hẹp chỉ đủ hai người ngựa song hành. Được một quãng, chợt có lão tiều gánh củi từ xa đi tới.

Cam Tử Long nói :

- A ha! Có người đây rồi, hỏi thăm đường mới được!

Bỗng có tiếng gió ngựa khua ầm ầm như thác đổ từ đâu vọng đến. Mai Nương, Tử Long chăm chú nhìn quanh. Từ phía chân núi gần đó nhô ra một đàn ngựa độ hai chục con, dẫn đầu là sáu người, y phục lối lái buôn, cưỡi ngựa tiến bừa về phía lão tiều gánh nặng. Hoảng quá lão tiều lật đật đứng nép hẳn vào một bên, nhưng không đủ chỗ. Biết vậy, lái buôn chẳng những không dừng ngựa tránh, trái lại chúng còn la lối om sòm :

- Lão già ngốc này không tránh mau lẹ lên thì nát thây dưới gót ngựa bây giờ!

Lão tiều không biết làm thế nào hơn là liệng gánh củi xuống đường rồi co chân chạy.

Nhưng chạy sao thoát kịp? Hai con ngựa chạy song song hàng đầu đã chồm tới sau lưng.

Lão tiều sợ quá, kêu la ầm ĩ, té lăn ra mặt đất.

Lã Mai Nương và Cam Tử Long vội vàng phóng mình tới sau hai người cưỡi ngựa chạy hàng đầu, nắm chặt lấy đuôi ngựa kéo mạnh lại. Hai con ngựa to lớn đang hung hăng chồm vó trước dữ dội như muốn bổ nát người lão tiều, bỗng dừng bị một sức mạnh phi thường kéo giựt lại chồn hai vó sau, không tiến thêm được tấc đất nào nữa. Chúng cất cao đầu hí vang lòng cả khe núi, hất hai người đang cưỡi lăn xuống đất. Nhân dịp ấy, lão tiều lồm cồm bò dậy chạy tránh ra phía trước, thoát chết.

Hai tên lái bị té liền đứng phắt dậy rút đoản đao, mã tấu chỉ vào mặt Lã Mai Nương và Cam Tử Long mắng lớn :

- Hay cho đồ súc sanh miệng còn hơi sữa dám cả gan trêu chọc người đi đường, bộ bây muốn về chầu tổ cả đó sao?

Cam Tử Long mắng lại :

- Đồ thất phu cậy mạnh hiếp yếu, lão tiều kia trêu chọc gì các ngươi mà định cho ngựa giày xéo lên người người ta?

Tên lái ngựa thét :

- Đường ta đi, nó không biết tránh tất phải chết, cũng như hai đứa bây sắp chết. Đánh đi, anh em ơi!

Dứt lời, hai tên lái té ngựa đó nhảy xô vào bổ thượng hai lát thiệt mạnh nhằm đầu Cam, Lã. Người nào bản lãnh thấp lém tất phải kinh hoảng trước cuộc tấn công hung bạo của bọn lái diện mạo dữ tợn, lực lưỡng ấy. Nhưng chẳng may cho chúng gặp phải hai môn đồ chân truyền của hai võ phái danh tiếng, thì lẽ cố nhiên cái thứ võ mua máy quay cuồng của phường buôn ngựa này có ra gì?

Mai Nương, Tử Long phóng chân đá luôn trúng cổ tay bọn thất phu khiến võ khí của chúng văng ra xa rớt xuống đá núi kêu xoảng hai tiếng. Hai tên đó ôm cổ tay nhăn nhớ lùi lại. Cam, Lã hai người cũng thừa thế nhún mình phi thân qua đầu bọn lái buôn và bầy ngựa đang bị dồn cả lại khúc đường hẹp ấy, ra tới chỗ ngã ba rộng rãi.

Hai tên vừa bị đánh vội lượm đao hè cùng bốn tên đồng bọn đuổi theo Cam, Lã hè đánh... (...) Bọn lái ngựa la thét vang trời, cố gắng nào đâm, nào chém nhưng toàn đánh trượt...

Bỗng hai thanh niên lùi lại mấy bước như kẻ toan chạy. Hai tên lái ngựa hoa đao nhảy theo tay chém, miệng thét :

- Súc sanh! Có chạy đi đằng trời!

Lẹ như chớp, Cam, Lã đã hồi bộ đưa tay hữu bắt trúng cổ tay địch vặn rời võ khí, đồng thời tay tả xách đai lưng nhắc bổng hai tên lái ngựa lên khỏi đầu quay đi một vòng rồi lao mạnh vào giữa đám lái chạy theo sau.

Bị hai cây thịt nặng nề đè trúng, bốn tên đó té lổng chổng kêu la vang dậy.

Mai Nương, Tử Long nhảy tới xoắn bíu bím tóc dài của hai tên, tuốt kiếm sáng loáng, gài lưỡi kiếm lạnh ngắt vào cổ.

Mai Nương quắc mắt :

- Biết điều hàng ngay, hay muốn mất đầu?

Biết sức mình địch không lại hai tay bản lãnh tuyệt luân ấy, bọn lái ngựa bấy giờ mới biết sợ hãi quỳ lạy van xin tha mạng. Cam Tử Long đưa mắt ra hiệu cho Lã Mai Nương, rồi xén phăng bím tóc của hai tên nọ. Kiếm sắc như nước đưa vào mớ tóc nghe xoẹt một tiếng rợn người.

Tưởng bị cắt thủ cấp, hai tên lái rú lên vội sờ lên đầu thì đã bị mất cả bím lẫn mảng tóc lớn.

Lã Mai Nương tra kiếm vào vỏ, liệng bím tóc xuống trước mặt bọn lái ngựa, dõng dạc nói :

- Các ngươi chỉ là bọn lái ngựa mà còn hống hách đến thế, coi thường mạng đồng chủng Hán tộc. Nếu đứng trước bọn Mãn thì lại giở trò hèn hạ, khúm núm, van lạy mất cả nhân cách con người. Suy rộng ra mới biết dân gian chẳng những bị ngoại nhân chà đạp mà còn bị lũ hèn hạ các ngươi theo đóm ăn tàn hiếp đáp nữa. Lần này tạm tha tội chết cho, nhưng cô nương đây nhớ mặt từng tên rồi. Chuyến sau gặp làm bậy quyết lấy đầu!

Bọn lái ngựa vừa thẹn vừa sợ hãi lóp ngóp đứng dậy, phủi áo quần bết đầy bụi, lượm khí giới len lén như rắn mồng năm, lên ngựa đi thẳng.

Mai Nương, Tử Long chờ bọn lái ngựa đi khỏi quay lại thấy lão tiều hãy còn run rẩy sợ hãi đứng nép người vào sườn núi, bèn nói :

- Lão trượng đừng lo, bọn khốn ấy không dám trở lại nữa đâu.

Vuốt mái tóc bạc xòa trên má, lão tiều nói :

- Chắc bọn chúng lùa ngựa đi Quách thành hay Cẩm châu bán nên mới qua đường này. Nhị vị quả là hai trang hiệp khách, lão phu có phước lắm mới gặp được cứu tinh có bản lãnh nhường ấy, nếu không thì xác già này đã tan dưới vó ngựa của lũ người độc ác ấy rồi. Chẳng hay nhị vị đi đâu qua đây?

Cam Tử Long đáp :

- Bạch lão trượng, chúng tôi từ dãy Mã Dương cương qua đây để vào Thiểm Tây, đường còn xa lắm.

- Nếu nhị vị đi nữa thì tối nay lỡ đường, khu vực này không có tửu điếm hay thôn ổ nào cả. Chi bằng nhị vị nghỉ tạm đêm nay tại nhà tranh vách nát của lão, sớm mai sẽ đi mới phái đường.

- Như vậy còn gì hay bằng, chỉ e phiền lão trượng thôi.

- Nhị vị an tâm, việc đó không hề chi.

Dứt lời, lão trượng lượm bó củi, xâu vào cây đòn định gánh.

Tử Long nhắc củi đặt lên vai :

- Lão trượng để tôi gánh dùm, đi chợ lẹ kẻo xế chiều rồi.

Ba người đi bộ hơn một dặm tới một khu núi đá trơ trọi, cây cối cằn cỗi lơ thơ.

Nếp nhà tranh vách ván khá gọn gàng sạch sẽ ở ngay bên khe nước. Từ nóc nhà, tỏa một làn khói xanh vằn vèo tan trong ánh chiều sơn cước.

Lão bà, thấy có khách lạ tới, ra khỏi nhà đón. Con chó bạch khuyển hắc đầu đứng bên sủa mấy tiếng, vẫy đuôi mừng chủ nhân ông đã về. Lão tiều đỡ gánh củi trên vai Tử Long, bảo vợ :

- Nhị vị ân nhân đây ngủ lại nhà đêm nay, bà mày liệu cơm nước đi. Tối rồi.

Đoạn lão đem việc bọn lái ngựa tàn ác hồi nãy kể cho vợ nghe. Lão bà vui mừng, cảm ơn luôn miệng, mời khách vào nhà.

Lã Mai Nương nói :

- Bất tất phiền cơm nước, chỉ xin ngủ nhờ đêm nay thôi.

Lão tiều nói :

- Ngàn năm một thuở quý vị mới qua đây, lẽ nào không cho chúng tôi được hầu tiếp. Lão có đứa con trai làm công trong một tiệm tại Cẩm Châu, thỉnh thoảng y gởi tiền về cho nên cũng đỡ khổ. Vợ chồng lão không muốn rời bỏ nơi đây vì ở đã quen từ mấy chục năm nay rồi.

Để hành lý và kiếm trên phản, Mai Nương, Tử Long ra khỏi nhà, đi vòng quanh xem xét thấy bếp nước rất ngăn nắp, tươm tất. Kế bên có cả chuồng gà rào đón gọn gàng.

Hai thanh niên đủng đỉnh ra bên khe nước rửa mặt, rồi ngồi trên tảng đá thanh thản ngắm cảnh hoàng hôn nơi sơn khu hoang vắng.

Xẩm tối, lão tiều lên đèn ra mới hai người vào dùng bữa.

Trên phản đã bày sẵn khay cơm, thịt gà món xào, món luộc, khói bay thơm phức.

Hôm sau, Cam Tử Long lấy ra năm lượng bạc đưa tặng lão tiều :

- Lão trượng vui lòng nhận làm kỷ niệm. Anh em tôi không dám trả tiền cơm đâu.

Từ chối không được, lão đành nhận bạc mà rằng :

- Thẳng đường này độ ngót mươi dặm, tới gốc thông lớn có đường rẽ tay tả. Theo đường ấy hai ngày tới Lưu gia thôn tức là ra khỏi Sơn khu Cẩm Châu. Có tửu điểm lác đác khả dĩ nghỉ chân được, chớ không hoang vắng như khu này.

Cam, Lã, hai người cảm ơn, chào vợ chồng lão tiều, lanh lẹ lên đường.

Hai hôm sau tới Lưu gia thôn. Thôn này lớn có tửu quán, tiệm buôn hẳn hoi, người từ các nơi qua lại chẳng khác chi một huyện lỵ nhỏ. Lã Mai Nương và Cam Tử Long tìm mau mấy vật dụng cần thiết rồi vào tửu quán trọ, nhờ chủ quán hỏi mua hộ hai con ngựa tốt.

Chủ quán suy nghĩ giây lát :

- Tôi nói thiệt, khách quan muốn dùng ngựa tốt thì ở Lưu gia thôn không có. Phải sang bên Cẩm Châu hay Quách Thành mới có hạng tuấn mã.

Cam, Lã nhìn nhau chưa biết định sao, thì chủ quán hỏi tiếp :

- Quý khách định đi xa hay gần, dùng tạm ngựa xấu của bản thôn được không?

Tử Long đáp :

- Tôi vào tận Thiểm Tây dùng ngựa xấu chắc không đặng.

- A... Nếu vậy, tôi xin hiến kế này. Nhị vị mướn xa phu tới Kỳ Mã trấn, mua ngựa ở trấn đó rồi cho xa phu về. Kỳ Mã trấn có giống cúc tốt nổi tiếng miền Đông bắc.

- Được lắm, vậy nhờ tiên sinh mướn dùm xa phu cẩn thận, sớm mai khởi hành.

Chủ quán niềm nở, sai tiểu nhị đến xóm Đông gọi Vưu Tứ Cữu là xa phu quen thuộc ra ngoài quán để Cam, Lã, hai khách quan định đoạt.

Chủ quán bảo họ Vưu :

- Quý khách đây mướn xe đi Kỳ Mã trấn, Vưu đại ca tính thế nào?

Cam Tử Long nói :

- Đừng ngại về vấn đề tiền bạc, hỏi bao nhiêu tôi cũng trả.

Vưu Tứ Cữu nhìn kỹ Cam, Lã thấy hai người quả là trang hào kiệt nên thưa :

- Vì lục lâm cường đạo như rươi nên tôi không dám ra khỏi khu vực Đằng huyện này. Nếu khách quan ưng đổi xe khác từ ranh giới Đằng huyện tới Kỳ Mã trấn, tôi mới dám nhận lời.

Lã Mai Nương mỉm cười :

- Có cường đạo thì đánh chớ lo chi?

Vưu Tứ Cữu kinh ngạc nhìn mọi người phân trần :

- Tôi lo cho quý khách, riêng tôi không có gì đáng giá. Bắt quá nộp cho lâu la vài quan tiền là thoát ngay.

Cam Tử Long cười :

- Nếu vậy thì coi như ưng thuận cả đôi bên rồi. Chúng tôi nhận hết mọi nguy hiểm. Vưu đại ca chỉ biết cho mướn xe thôi. Nào đại ca cho giá?

- Xin quý khách cho mười lăm lượng bạc, bao ăn chuyến đi, và xin mười lượng đặt trước để ở nhà cho vợ con.

Cam Tử Long móc túi lấy bạc đưa cho họ Vưu :

- Bạc đây, sớm mai khởi hành đầu giờ Thìn.

Vưu Tứ Cữu mừng rỡ, chào mọi người ra về.

Đi ba ngày qua địa phận Đằng huyện. Họ Vưu làm phận sự rất cẩn đắc, tính toán các chặng đường gặp quán trọ thiệt chu đáo.

- Từ đây, quý khách nên cẩn thận về sự an ninh.

Cam Tử Long nói :

- Được cứ đi. Đường tốt trời đẹp thế này, lo sợ hoài mất vui.

Chiều hôm thứ hai, xe ngựa qua một nơi phong cảnh kỳ quan, hùng vĩ. Bên đường, ngay dưới chân núi, có một tửu quán rộng rãi tao nhã, chiêu bài màu xanh bay phất phới trước hàng liễu rủ rung rinh.
Lã Mai Nương nhìn kỹ đọc :

- Thanh kỳ điếm. Xế chiều rồi, nghỉ trưa tại đây chứ?

Cam Tử Long bảo Vưu Tứ Cữu rẽ ngựa vào quán.

Mấy tên tiểu nhị vội vàng lăng xăng ra đón.

- Kính mời quý khách vào đây kẻo lỡ độ đường. Cam, Lã xuống xe, lên thềm vào quán. Tử Long nói :

- Chủ quán vắng nhà? Ít khách quá nhỉ!

Tiểu nhị đáp :

- Chủ nhân tôi ở nhà trong ạ. Ai qua đây cũng nghỉ lại bổn quán. Sáng sớm nay có đoàn khách thương mới đi. Nhị vị khách quan đêm nay ngủ na tĩnh hơn.

Thấy có khách tới, chủ quán từ nhà trong chạy ra chào hỏi :

- Mời nhị vị vào lựa phòng. Bổng quán có bốn căn đều rộng rãi mát mẻ.

Cam, Lã điềm nhiên, nhận xét thấy chủ quán ngoài bốn mươi mập mạp, bụng lớn như cái thúng, vận áo ngắn tay, quần buông thõng, chân vận hải sảo bằng gai tết, đi lại lẹ làng.

Hai người theo tiểu nhị chọn căn phòng đầu có cửa ngang trông ra vách núi. Chủ quán nhìn theo chăm chú ngắm hai thanh trường kiếm Cam, Lã đeo trên lưng. Tiểu nhị hầu nước rửa mặt. Hai người để hành lý xuống giường, tháo kiếm đeo xuống đai lưng. Lát sau trở ra thực phòng. Vưu Tứ Cữu cũng đã chăm kỹ cho ngựa xông vào ngồi bên Cam Tử Lòng, ngần ngại nhìn quanh.

Tiểu nhị bưng khay trà và thực đơn tới.

- Quý khách dùng món gì à? Sơn hào có đủ. Hoàng Hoa tửu do chủ nhơ bổn quán cất lấy để lâu năm nên đọng uống không biết say..

Cam Tử Lòng nhìn Mai Nương, gọi mấy món thịt nai, canh rau và bồ rượu.

Chủ quán ngồi trong quầy, gảy bàn tính lách tách, ghi chép trong cuốn sổ, đoạn châm thuốc bào lên trên cây điếu ống hút phì phèo nhả từng đợt khói xanh dầy đặc.

Ngoài trời, sương lam bắt đầu bao trùm mọi vật. Trong quán cũng lên đèn. Lát sau, tiểu nhị bưng các món ăn bày la liệt trên bàn rồi khoanh tay đừng hầu gần đó.

Lã Mai Nương nói :

- Cho người đi làm việc khác, cần chi ta sẽ gọi sau.

Tiểu nhị vâng dạ quay đi.

Ba người khởi sự ăn. Mai Nương đảo các món thịt lên nhận xét quả là thịt nai mới gắp.

Vưu Tứ Cữu nhìn Cam, Lã hai người, nói nhỏ :

- Nhị vị cẩn đắc là phải. Tôi ghét tên chủ quán quá!

Cam Tử Long mỉm cười :

- Cứ ăn no, uống say đi, mai mới có sức lên đường chớ. Hành trình còn dài mà!

Đặt ly rượu cạn xuống bàn, Vưu Tứ Cữu nói :

- Còn ba ngày đường nữa tới Kỳ Mã trấn. Phải... phải... cẩn thận.. chứ! Tham lam uống... lỡ ra thì... thì khốn!

Dứt lời, họ Vưu lảo đảo gục đầu xuống ngủ ngáy o.

Biết vậy, đá chân ra hiệu cho Lã Mai Nương, Cam Tử Long cùng buông chiếc ly xuống bàn. Giơ tay bóp trán :

- Rượu ngọn thiệt!... Uống mềm... cả lưỡi! Tiểu nhị! Đặt... đặt xa phu... lên kỷ cho... y ngủ!... Ta cũng đi... nằm đây, mệt quá!...

Lã Mai Nương hiểu ý, vờ bóp trán lảo đảo, đứng dậy vào phòng trước.

Cam Tử Long theo sau, mỗi người lăn kềnh ra mặt giường thiêm thiếp ngủ.

Lão chủ quán mập mạp đứng phắt dậy, ra khỏi quầy hàng, gọi tiểu nhị :

- Người phi ngựa mau về sơn trại báo cho Đại vương biết, bạc nhiều và có hai cây kiếm... chắc là quý và cô gái đẹp nghe.

Tên tiểu nhị vội đi ngay. Một tên khác chạy ra hỏi chủ quán :

- Thưa có cần trói họ lại không?

Chủ quán lắc đầu :

- Khỏi cần! Thuốc mê này thì chúng còn say lâu!

Nguyên khu vực này, núi không cao nhưng càng đi vào sâu hai bên đường càng hiểm trở.

Theo đường mòn phía sau Thanh Kỳ điếm có ngọn Kê Trảo sơn thiên hiểm do ba tên cường đạo họ Lục cùng đồng đảng độ ngót hai trăm tên chiếm cứ.

Chúng là ba anh em ruột. Tên thứ nhất là Lục Cữu Uyên quen sử dụng cây đao mũi quằm rất lợi hại, được tôn làm Đại vương. Tên thứ hai Lục Triệu Phục, quen dùng cây đoản phủ. Tên thứ ba, Lục Vân Đồng quen dùng cây Thiết trúc tiên, tức là lão chủ quán béo mập lanh lẹ đó. Cả ba bản lãnh rất khá.

Chúng không ra mặt cướp bóc hành khách qua lại con đường đó, nhưng thỉnh thoảng kéo bộ đi xa ăn hàng một chuyến lớn rồi lại trở về Kê Trảo sơn. Thanh Kỳ tửu điếm là tai mắt của ba anh em họ Lục và do Vân Đồng cai quản vì y béo mập phục phịch coi ra vẻ anh chủ quán thiệt thọ.

Chừng nào có hành khách vào trọ coi bộ đem theo nhiều tiền, Lục Vân Đồng mới bỏ thuốc mê vào rượu phục cho say, báo Kê Trảo sơn ra khiêng về núi thủ tiêu, đoạt của.

Thường khi chúng chỉ cho lâu la đem ngựa ra tải của nạn nhân về núi là đủ, nhưng chuyến này nghe gái đẹp, tên Đại vương Lục Cữu Uyên thích chí rủ Lục Triệu Phục thắng ngựa dần mấy tên lâu la đốt đuốc soi đường ra xem.

Tới nói, Lục Cữu Uyên nói bô bô khiến Cam, Lã nằm trong phòng cũng nghe rõ :

- Thế nào, tam đệ? Mẻ lưới hôm nay béo lắm hả? Nhiều tiền không?

Lục Vân Đồng đáp :

- Chưa biết bao nhiêu nhưng khá nặng.

- Còn con bé kia?

- Nằm lăn ngủ mê trong căn phòng đầu, đại huynh vào mà coi. Béo mắt mà!... À, chúng có cả đôi trường kiếm có lẽ tốt lắm.

- Ha ha! Tam đệ tinh mắt quá! Được người, được của lại được cả kiếm nữa!

Vân Đồng cười khẩy :

- Cũng may là chúng bị thuốc mê chớ bộ tịch cả hai đứa bản lãnh không vừa đâu!

- Được ta vào coi thế nào. Nhị đệ vào không?

- Có chớ!

Hai tên Lục Cữu Uyên, Lục Triệu Phục vừa qua cửa phòng đã vội giơ đèn soi rồi khen ngợi :

- Chà! Diễm kiều! Cho tới nay ta chưa từng được hưởng vưu vật như thế này bao giờ!...

Lục Cữu Uyên vừa nói vừa tiến tới bên giường Lã Mai Nương, định đưa tay mớ lên đùi, yên trí là nàng bị ngấm thuốc mê.

- Hề hề! Tốt quá.Giận tím mặt, Mai Nương cố nhịn chờ Lục Cữu Uyên đưa tay đến gần đùi, liền lẹ như cắt móc lấy bàn chân tả vào cánh tay trên của Cữu Uyên đồng thời bàn chân hưu móc vào cổ tay giựt ngược lại. Rắc!

Bất ngờ cánh tay bị bẻ chéo lại, khớp tay gãy lìa, Cữu Uyên kêu lớn :

- Chao ôi! Đau...

Chưa kịp kêu hết, Mai Nương đã nhỏm dậy co hai chân đạp thúc cả hai mũi giầy vào bụng tên dâm tặc, hự một tiếng, lộn nhào ra phía sau đập đầu xuống đất trào màu miệng, giãy lên mấy cái rồi lịm dần.

Cơ sự xảy ra trong chớp mắt khiến Lục Triệu Phục không ngờ. Lúc đó y đang cúi xuống đưa tay với cây trường kiếm của Cam Tử Long, dè đâu bị luôn họ Cam dang hai chân cặp chặt lấy eo lưng kéo mạnh xuống, đồng thời đưa luôn hai tay đẩy ngửa cằm địch thủ ra phía sau.

Eo lưng bị kéo xuống, cằm bị đẩy ngược lên, Lục Triệu phục không kịp kêu cổ gãy lìa. Cây thịt nặng nề lăn ra mặt đất.

Nghe tiếng Lục Cửu Uyên kêu và hai xác đổ huỵch huỵch trong phòng, Lục Vân Đồng vội rút cây roi thiết trúc ở ngăn quầy hàng, phăng phăng chạy thẳng vào buồng xem sự thể thế nào, nhưng y giựt mình lùi ra ngay, kêu :

- Bớ lâu la! Đánh mau!

Mấy chục tên lâu la dạ vâng cầm khí giới xông cả lại.

Cam, Lã bước ra khỏi phòng. Thấy vậy, Lã Mai Nương nổi giận mắng :

- Đồ chuột nhắt, biết điều quy hàng kẻo lại theo Đại vương của bây về nơi âm phủ mà tác ác.

Tường cô gái khoác lác, dù sao sức nhi nữ được mấy hơi, bọn lâu la xông bừa vào đánh. Bắt một cây côn gần mình nhất, Mai Nương hoa lên một vòng đã có sáu, bày tên trúng thương bỏ chạy, Lục vân Đồng tức giận thét vang múa tít cây cương tiên lăn xả vào đáng Lã Mai Nương.

Mai Nương đưa côn đón đỡ, nói chọc :

- Bộ tặc đạo mập thế này mà cũng khá lanh lẹ nhỉ!

Im lìm, Lục Vân Đồng liều mạng đánh tràn. Tức mình, Mai Nương gạt văng cây cương tiên, thúc nhẹ đầu côn vào giữa bụng khiến Vân Đồng té ngửa ra mặt đất.

Tên tặc đạo toan trỗi dậy lượm cương tiên đánh nữa, nàng tiến lên giẫm chặt lên cánh tay y giơ côn, quát :

- Đồ chuột rừng này không biết thân muốn chết theo hai tên kia nữa, hả?

Vân Đồng sợ hãi van lạy rỗi rít xin tha mạng, Lã Mai Nương quát :

- Chúng bây lập quán bên đường sát hại biết bao nhiêu mạng người lương thiện rồi, tội thật đáng chết!

Dứt lời nàng ra bộ muốn đáng xuống.

Hốt hoảng, Lục Vân Đồng giơ tay kêu van :

- Tôi biết tội đã nhiều, xin nữ hiệp ra ơn tha mạng cho lần này, tôi quyết giải nghệ ăn năn tội lỗi từ đây.

Mai Nương bắt y sang một bên :

- Ta lấy lòng từ thiện tha cho, sau này còn gặp nữa quyết lấy đầu nghe!

Lục Vân Đồng vội quỳ lạy tạ ơn rồi đứng nép sang một bên. Bọn lâu la sợ hãi cũng buông khí giới túm cả lại một chỗ.

Trong khi Lã Mai Nương đàn áp bọn lục lâm, Cam Tử Long đi lục soát khắp trong tửu quán, thâu được có mấy đỉnh bạc đem ra hỏi :

- Tiền bạc các ngươi giấu đi đâu hết?

Lục Vân Đồng nói :

- Thưa hiệp khách, tiền bạc để cả trong thảo trại, ngoài quán chỉ để đủ chi dụng thôi.

Tức thì, Cam, Lã bắt bọn lục lâm đi trước dàn đường, hai người lên ngựa của Cửu Uyên, Triệu Phục theo sau. Xa phu Vưu Tứ Cữu được uống thuốc giải mê, không dám ở lại ngoài quán một mình nên cùng đi theo. Đường mòn trong núi ngoằn nghèo khó đi, nhưng bọn lâu la đốt đuốc sáng trưng nên cũng không đến nỗi nào. Hồi lâu vào tới nơi, Kê Trảo sơn hóc hiểm dị thường, nhưng doanh trại toàn bằng tre lá lập ngay chỗ khuất nơi chân núi.

Cam Tử Long bắt tên coi kho chỉ dẫn khuân hết cả của cải ra thảo đường, rồi tụ hợp toàn thể lâu la, giảng giải :

- Các ngươi thân nam nhi sức dài vai rộng, không ra đầu quân giúp nước thì ở nhà làm ruộng hay kiếm công việc lương thiện độ thân, cớ sao là giặc hiếp đáp dân lành? Bức nay, ta sanh phước cho, nên sớm đường về quê quán lập nghiệp sanh nhai, nếu còn luyến tiếc nghề lục lâm đại thì thế nào cũng có ngày ác giả ác báo đó, nghe?

Bọn lâu la cảm động, hoan hô ý thiện của Cam, Lã hai người.

Cam Tử Long bèn cấp phát tiền nông lương thực cho chúng giải tán, tự giữ lấy một phần để hành hiệp.

Sáng hôm sau, giải tán bọn lục lâm xong xuôi, Tử Long và Mai Nương phóng hỏa thảo trại. Lửa bén tre lá gặp gió lùa, chẳng mấy chốc toàn khu sơn trại đã cháy thành tro.

Hành động xong, Cam, Lã lên ngựa của anh em họ lục. Vưu Tứ Cữu cũng đã đóng xe xong vái chào cảm ơn hai người rồi trở về đường cũ.

Ba hôm sau tới Kỳ Mã trấn, vào quán trọ hỏi thăm nơi bán ngựa. Chủ quán nói :

- Tại bản trấn nơi nào cũng có mã trại nhưng Long Câu trại của Cảnh Điền lớn và bảo đảm hơn cả. Nhị vị định đổi hay mua ngựa?

Cam Tử Long nói :

- Tôi muốn đổi lấy hai con ngựa thiệt tốt. Long Cân trại ở đâu? Nhờ tiên sinh chỉ giúp.

- Dạ, để tôi cho tiểu nhị dẫn đường.

Sớm mai chúng tôi mới lên đường, vậy gởi luôn hành lý ở đây cho tiện.

- Quý khách an tâm, bán quán xin bảo đảm.

Nhìn hai con ngựa buộc ở gốc liễu ngoài cửa, chủ quán nói :

- Quý khách đổi ngựa này thế nào cũng phải bù thêm tiền. Tôi cho tiểu nhị dẫn quý khách đến Long Câu trại ngay bây giờ.

Cam, Lã lên ngựa theo tiểu nhị ra khỏi cửa Bắc tới một khu trại lớn.

Cảnh Điền trạc ngoài ngũ tuần, lanh lợi, nhìn qua Cam, Lã nói ngay :

- Chắc nhị vị cần dùng thứ ngựa trận thiệt tốt. Hiện tôi có bốn con thuộc loại ấy dưới năm tuổi cực kỳ điêu luyện, xin mời ra sân sau coi mã sư biểu diễn, ưng ý con nào quý khách sẽ lấy, yên cương thích hợp đầy đủ.

Cam, Lã theo Cảnh Điền ra một khu đất rộng sau trai hối mã phu thắng bốn con Phi Vân, Trường Thắng, Thiết Cước và Hồng Long. Lát sau bốn vị mã sư đai nịt gọn ghẽ cởi bốn con tuấn mã cực kỳ kiêu hùng ra sân.

Bốn ngựa màu sắc khác nhau nhưng con nào đầu cũng rất cao, cổ dò, mình thon ngắn, hông nở, gióng chân tròn nhỏ, móng cao mà úp gọn.

Phi Vân bạch mã trắng như tuyết. Trường Thắng màu xám điểm mai hoa, bờm và đuôi hung vàng. Thiết Cước ô mã đen như bồ hóng, bóng láng, sọc mũi và bốn cổ chân trắng. Hồng Long đỏ lừ như máu, bờm và đuôi đen lánh. Cảnh Điền đưa mắt nhìn, thấy Cam, Lã hai người say sưa ngắm bầy tuấn mã không hề chớp mắt.

Quả vậy, người sành điệu bất cứ ai cũng phải mải mê nhìn không chán mắt bốn con tuấn mã cực đẹp này.

Mai Nương, Tử Long tuy chưa bao giờ thực hành môn kỵ mã nhưng được sư phụ giảng dạy rất chu đáo về thuật kỵ mã và mã chiến, nên nhìn đến đây nhận xét ra đến đấy. Vả lại hai người có căn bản võ thuật cao siêu, phi thiên tẩu bích nhẹ nhàng như én liệng thì thuật kỵ mã đối với họ không khó.

Canh Điền ra hiệu cho bốn mã sư biểu diễn!

Từng người một, họ thúc ngựa tới trước mặc người khách mua và Trại chủ, quần cho ngựa bốc tiền, bốc hậu, quỳ nằm, đoạn phóng ra xa chạy nước kiệu đại, nhảy cao băng qua chường ngại vật ở sân luyện, nhảy dài quá các vũng nước lớn, và sau cùng họ vượt ngựa lên hai gò đất cao cách nhau một trượng, phi mau lấy đà rồi băng qua chỗ trống giữa hai gò đất.

Cam, Lã mải miết xem lấy làm thích thú.

Biểu diễn xong, bốn mã sư dong ngựa lại trước mặt ba người.

Cảnh Điển hân hoan hỏi :

- Nhị bị ưa con nào? Mời xem răng chúng để định đoạt số tuổi.

Quan sát xong, Tử Long hỏi Mai Nương :

- Sư muội chọn con nào! Đồng tài cả!

Không cần suy nghĩ, Mai Nương nói :

- Ngu muội lựa chọn con Phi Vân bạch tuyết. Còn sư huynh?

- Con Hồng Long.

Cảnh Điền nói :

- Mời nhị vị cưỡi thử coi. Xin cẩn thận, giống ngựa quý này không ưa chủ lạ. Dắt đi vỗ về hồi lâu hãy cưỡi.

Cam, Lã theo đúng lời họ Cảnh, tới lúc tưởng ngựa đã quen, nhảy phắt lên cưỡi không ngờ chưa ngồi vững, hai con Phi Vân và Hồng Long đã phi đi vùn vụt, cất tiền, bốc hậu định làm té người cưỡi.

Hai người cặp chân thật chặt, tát luôn mấy cái mạnh vào má ngựa khiến chúng giựt mình, sau đó, Cam, Lã thúc tuấn mã chạy nước kiệu song song khắp quanh khu đất.

Tử Long hỏi Mai Nương :

- Phóng qua hai gò đất không?

- Tùy ý, ngu muội xin theo.

Tức thì, Tử Long phi ngựa chạy trước lên gò đất. Mai Nương theo cách độ bốn, năm trượng...

Thấy vậy, Cảnh Điền lo ngại, sợ hai người không điều khiến ngựa băng qua nổi, bèn vòng hai bàn tay thành loa lên miệng toan gọi giật trở lại. Nhưng không kịp, Tử Long đã phi ngựa vùn vụt băng qua chỗ trống như một tay kỵ mã điêu luyện. Mai Nương theo sau và thành công dễ dàng. Cảnh điền lúc đó mới vuốt ngực thở phào.

Cam, Lã nhảy xuống ngựa trao cương cho mã phu.

- Chúng tôi lấy hai con này. Đổi đôi ngựa kia Trại chủ tính giá thế nào?

- Mỗi con trị giá bốn trăm lượng chưa kể yên cương. Hai con ngựa kia chỉ đáng giá sau mươi lượng một con, vị chi còn sáu trăm tám mươi lượng nữa phải trả. Vì nhị vị ưa dùng ngựa tốt và nói đúng ra ngựa tốt vào tay nhị vị mới hợp lý, tôi vì nghệ thuật xin biếu tặng không cặp yên cương hảo hạng đó.

Cam Tử Long ưng thuận ngay.

Ba người vào khách sảnh. Tử Long đếm bạc trao trẻ Cảnh Điền.

- Nhị vị chờ chốc lát, tôi làm giấy bán ngựa.

- Thôi khỏi cần. Ai còn đi theo chúng tôi nơi góc biến chân trời đòi đôi ngựa này nữa!

Bạc một gói đây thuốc, Cảnh Điền đưa cho Tử Long :

- Đặc biệt xin biếu quý khách mấy thứ thuốc gia truyền chữa các bịnh tật của ngựa. Cứ theo toa ghi rõ cách dùng. Hiệu nghiệm và có ích lợi cho sự đường trường.

Cam, Lã từ giã Cảnh Điền lên ngựa đi quanh Kỳ Mã trấn chơi rồi mới về quán trọ.

Dân chúng ai nấy đều chăm chú nhìn. Hai người tưởng họ nhìn cặp tuấn mã. Ngựa đẹp ở Kỳ Mã trấn thiếu gì mà họ phải nhìn? Thiệt ra họ nhìn cả người lẫn ngựa, vì chủ ấy, ngựa ấy đều làm tôn lẫn giá trị cho nhau.

Về tới nơi, chủ quan hoan hỉ ra đón trầm trồ khen cặp hảo mã và sai tiểu nhị dắt vào tàu trông nom cẩn thận.

Hôm sau Mai Nương, Tử Long đi sớm nhắm hướng Tây ra khỏi đất Trực Lệ.

Mai Nươn nói :

- Giá chúng ta có cặp kim điểu như của sư phụ cưỡi thì mau lẹ lắm nhỉ?

Tử Long cười :

- Mau lẹ đã đành nhưng rất bất tiện. Lúc nào cũng phải tránh các thị trấn,e mọi người nhìn thấy lại tưởng mình là tiên, thánh chi đấy. Họ có biết đâu, đó chỉ là giống điểu cực kỳ lớn ở Cam Túc, có sức mạnh tha nổi hai, ba người. Ngu huynh thấy cưỡi ngựa thích thú hơn, được xem ngắm phong cảnh hùng vĩ nên thơ của đất nước.

- Ngu muội nói về việc mau lẹ thôi. Lẽ cố nhiên cỡi ngựa thích thú hơn ngự điểu...

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau