KIÊU PHONG

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Kiêu phong - Chương 756 - Chương 760

Quyển 5 - Chương 210: Tiếc tình

Kỷ Vương và lão thần rời đi rồi, Lục Thất mới có thể thả lỏng, được thị nữ dẫn đường đi xuống hậu trạch. Hắn được quan tướng trong phủ báo cho biết, các phu nhân đang ở hậu trạch, cũng không biết là những nàng nào.

Sau khi tiến vào hậu trạch, liền thấy rất nhiều nô tì và bà tử, chừng hơn mấy chục người, hiển lộ khí phái của nhà đại phú đại quý, đi thẳng vào sân viện của một tòa lầu các u nhã, trong viện rộng rãi được thiết kế rất nhiều cảnh quan tinh xảo lả lướt, sừng sững trong viện là một tòa lầu các hai tầng.

Lục Thất mới bước vào viện vài chục bước, từ trong lầu các liền có năm mỹ nhân đi ra nghênh đón, Lục Thất hơi giật mình, lập tức kinh hỉ sải bước lớn đi qua, nhanh chóng đến trước mặt năm người con gái, hắn giơ tay khẩn cấp nắm lấy cánh tay của mỹ nhân đi đầu.

- Vận Nhi, các nàng đã đến rồi.

Lục Thất thất thố, rõ ràng vẫn còn chìm trong niềm vui bất ngờ, thật không ngờ Tân Vận Nhi đã đến Trường An.

- Thất lang.

Tân Vận Nhi nghẹn ngào ôn nhu gọi, trong đôi mắt đẹp ngập tràn ánh lệ.

- Ôi ôi.

Lục Thất vui sướng khôn xiết, chợt vươn tay ôm Tân Vận Nhi vào ngực, mũi lên men như muốn trào lệ.

Ôm một hồi, Lục Thất mới buông ra, giơ tay âu yếm bờ má lúm xinh đẹp của Tân Vận Nhi, thâm tình ngắm nhìn. Thật lâu không thấy, khuôn mặt của Tân Vận Nhi so với trước kia nở nang thêm vài phần, mang theo nét tươi đẹp của đàn bà thành thục, Lục Thất cúi đầu hôn lên cái trán thanh tú của người yêu.

Tân Vận Nhi xấu hổ mà vui sướng không ngớt, chợt giơ tay kéo Lục Thất quay người, để Lục Thất đối mặt với các vị mỹ nhân khác của hắn. Lục Thất thuận thế tiến lên, bốn vị mỹ nhân khác là Ngọc Trúc, Song Nhi, Vân Nga (Lục Nga) và Vân Thường.

Lục Thất sung sướng ngắm nhìn bốn mỹ nhân yêu quý, Ngọc Trúc chủ động dịu dàng nói:

- Lão gia vào các nghỉ ngơi đi.

Lục Thất khẽ ừ gật đầu, bước tới vươn ra tay trái ôm lấy vòng eo của Ngọc Trúc, tay phải duỗi về nắm lấy tay Tân Vận Nhi, cất bước đi về hướng lầu các, sau khi cùng nhau tiến vào lầu các, thấy trong lầu các có sáu nô tì đứng hầu, còn chuẩn bị một thùng nước tắm.

- Đều ra ngoài đi.

Lục Thất bình thản phân phó, sáu ả thị nữ vội vàng hành lễ lui ra ngoài.

Vừa đóng cửa, Lục Thất liền xoay người mỉm cười vẫy tay, bảo năm vị mỹ nhân đứng thành một hàng, hắn ôn nhu nhìn ngắm từng người một, năm vị mỹ nhân vừa xấu hổ vừa vui sướng, nhìn lại Lục Thất với ánh mắt hàm ẩn tình ý.

Nhìn nhau thật lâu sau, Lục Thất mới ôn hòa nói:

- Ta nhớ thương các nàng, là thật đấy.

Đôi mắt đẹp của năm vị mỹ nhân dâng trào ánh lệ, đều gật nhẹ đầu. Lục Thất đi lên ôm lấy Vân Thường, bàn tay to vuốt ve thân thể đẫy đà của Vân Thường, Vân Thường như chim nhỏ nép sát vào người Lục Thất, nàng vốn là tỳ thiếp trong phòng Tân Cầm Nhi, luôn phải làm một món đồ chơi hèn hạ lấy lòng người khác, một đời ti tiện, bởi vì được Lục Thất tiếp nhận mà chuyển thành phúc quý, nàng là một đóa hoa hiểu biết lòng người, đã xúc động trước tiếng lòng đau khổ của kiếp sống vùng vẫy giành sự sống trong quân doanh của Lục Thất, nàng đã sinh cho Lục Thất một cô con gái.

- Vân Thường, chốc lát nữa chải đầu cho ta nhé.

Lục Thất dịu dàng nói, Vân Thường khẽ dạ một tiếng.

Lục Thất nhẹ nhàng buông ra Vân Thường, dời bước đến trước mặt Song Nhi. Hắn ngắm nhìn khuôn mặt xinh đẹp của Song Nhi, dung mạo của Song Nhi cũng có biến hóa rất nhỏ, nàng ngửa bờ má lúm mê ly nhìn lại Lục Thất, nét mặt hàm xúc nỗi bi thương, sâu sắc chạm vào nơi mềm mại trong tâm Lục Thất. Lục Thất không kìm nổi cười nhẹ, nhớ đến duyên phận năm đó giữa hắn và Song Nhi.

Lục Thất ôm choàng Song Nhi vào ngực, khẽ khàng nói:

- Song Nhi, lần đầu gặp mặt, tiếng khóc tỉ tê của nàng khiến cho ta cả đời khó quên.

Vi Song Nhi nghẹn ngào khẽ dạ, ôm nhau trong chốc lát, Vi Song Nhi chủ động rời khỏi ngực Lục Thất. Lục Thất mỉm cười dời bước tới trước Vân Nga, giơ tay âu yếm bờ má xinh đẹp của nàng, Vân Nga hai mắt trong suốt đẫm lệ si ngốc nhìn Lục Thất, Lục Thất duỗi tay ôm mỹ nhân vào lòng. Năm đó hắn nảy sinh sắc tâm với Vân Nga, cũng vì thông cảm cho vận mệnh bất hạnh của Vân Nga, cùng ham muốn độc chiếm mãnh liệt, hắn từ trong tay Vương nhị phu nhân trộm đi Vân Nga, Vân Nga có nô danh là Lục Nga, xuất thân gia tộc thư hương Lý thị ở Thường Châu, là Tiểu Phức cho nàng sửa lại một chữ.

- Chốc nữa phải dụng tâm hầu hạ ta, không được nhàn hạ đấy.

Lục Thất mờ ám thì thào, bàn tay to nhẹ nhàng xoa bóp cặp mông đầy đặn của Vân Nga, Vân Nga khẽ dạ, chợt ngượng ngùng tránh lui, rời khỏi ôm ấp của Lục Thất, rũ mắt đứng ở một bên, má ngọc như phủ son, kiều diễm không nói nên lời.

Lục Thất cười dời bước đối mặt Ngọc Trúc, Ngọc Trúc tỷ tỷ tủm tỉm cười nhìn kỹ Lục Thất, Lục Thất cũng cười nhẹ ngắm nhìn, một lát sau mới nói:- Đa tạ tỷ tỷ năm đó tín nhiệm và xem trọng ta.

Ngọc Trúc thu lại nét cười, đôi mắt đẹp u oán nhìn chằm chằm Lục Thất, Lục Thất ôm lấy mỹ nhân vào ngực, dịu dàng nói:

- Vẫn luôn muốn hỏi tỷ tỷ, từ khi nào bắt đầu yêu thích ta, là vì khúc Tây Giang Nguyệt kia sao?

Ngọc Trúc nhẹ ừ, Lục Thất khẽ nói:

- Khi đó ta vẫn chưa sinh tình với tỷ tỷ, vì tự biết bản thân không có năng lực cho tỷ tỷ cuộc sống hạnh phúc mà tỷ tỷ khát khao, nếu không lọt vào mắt xanh của tỷ tỷ, ta cũng không dám có ý nghĩ quá phận.

- Là nô không xứng với lão gia.

Ngọc Trúc chua xót khẽ nói.

- Ta và tỷ tỷ hẳn là có duyên phận từ kiếp trước, bằng không một kẻ vũ phu như ta sao xứng với tỷ tỷ. Đời này duyên đã định, chúng ta không nên có cái gọi là xứng hay không xứng, mà chỉ có cả đời “cầm tiêu hòa minh”.

Lục Thất ôm Ngọc Trúc, bày tỏ tiếng lòng duyên tình của mình.

Ngọc Trúc khẽ ừ. Trái tim rộn ràng vui sướng, Lục Thất cúi đầu hít hà hương thơm cơ thể của mỹ nhân, ở sâu trong nội tâm, hắn thật sự vô cùng yêu thích Ngọc Trúc, vị mỹ nhân tỷ tỷ này mang đến cho hắn không chỉ là sự hưởng thụ ôn hương nhuyễn ngọc, mà còn một loại tình kết (*) hư vinh khó quên, Ngọc Trúc cũng là một trong những căn do hắn đạt được thế lực tại Giang Ninh.

(*) tâm lý phức tạp

Ôm một hồi, Lục Thất mới buông ra Ngọc Trúc, quay đầu nhìn về phía Tân Vận Nhi, ôn hòa nói:

- Vận Nhi, ta muốn tắm rửa một chút trước đã.

Tân Vận Nhi dịu dàng gật đầu, tới hầu hạ Lục Thất thoát y, bốn vị mỹ nhân ở bên cạnh phụ trợ, cũng không chủ động hầu hạ Lục Thất, đây là đặc quyền của “thê”, không có Tân Vặn Nhi chỉ bảo, bốn người Ngọc Trúc không thể chủ động hầu hạ Lục Thất.

Lục Thất cởi sạch trơn, xoay người đi đến thùng nước bước vào, nhẹ nhàng ngồi vào thùng nước, thư thái thở hắt ra, tựa gáy lên mép thùng, rất nhanh một đôi tay ngọc lần mò lên tóc hắn, cởi bỏ búi tóc, nhẹ nhàng chải vuốt, Lục Thất nhắm mắt, thân thể thả lỏng hưởng thụ sự vuốt ve của năm vị mỹ nhân.

Thật lâu sau, Lục Thất mới lên tiếng nói:

- Vận Nhi, thân thể mẫu thân có khỏe không?- Thân thể mẫu thân tốt lắm, có cháu trai cháu gái làm bạn, tâm tình cũng vui sướng, nhưng thê cảm giác được, mẫu thân vô cùng lo lắng cho Thất lang.

Tân Vận Nhi dịu dàng trả lời.

- Ta cũng rất tưởng niệm mẫu thân, lần trước ta ở Trường Sa Phủ, lại chưa từng trở về đi khấu kiến mẫu thân, là ta bất hiếu.

Lục Thất tự trách nói.

- Thất lang là vì quốc sự mới không về, mẫu thân và chúng tỷ muội đều hiểu được, lần này nhóm thê đến thành Trường An, Tiểu Phức tỷ tỷ cũng dặn không cần báo cho Thất lang, sợ Thất lang phân tâm lầm lỡ đại sự.

Lục Thất khẽ ừ, Tân Vận Nhi chà xát cánh tay trái cho hắn, một lát sau dịu dàng nói:

- Thê từ Phúc Châu đến phương bắc, vốn định mang quận chúa xứ Cao Ly tới hầu hạ Thất lang, nhưng mẫu thân khi biết thì không đồng ý.

- Quận chúa Cao Ly?

Lục Thất nghi hoặc nói.

- Là con gái của Cao Ly Vương, dung mạo hết sức xinh đẹp, là Tống đại soái đưa đến vương cung Phúc Châu đấy, ngoài ra còn có một trăm mỹ nhân Cao Ly, hiện giờ đều giữ lại trong vương cung.

Tân Vận Nhi nhẹ giọng nói.

Lục Thất không nói gì, Tống Lão Thanh thật biết mang đến phiền toái cho hắn, hắn ôn hòa nói:

- Vận Nhi, những nữ nhân Cao Ly đó sau này đều nhập vào đoàn tú nữ, gả cho các tướng sĩ làm vợ.

- Vậy không tốt, Tống đại soái nói, Chủ thượng và con gái của Cao Ly Vương liên hôn, sẽ trợ giúp cho việc quy phục người Cao Ly.

Tân Vận Nhi ôn nhu đáp.

Lục Thất im lặng, một lát sau Tân Vận Nhi dịu dàng nói:

- Thất lang ở Hà Tây cưới Quận chúa Hồi Hột và Quận chúa Đảng Hạng, không phải cũng dùng liên hôn để quy phục hay sao?

- Không giống nhau, khi đó ta ở Hà Tây là tứ cố vô thân, chỉ đành dùng liên hôn để giảm bớt sự căm thù của người Hồi Hột và người Đảng Hạng. Bây giờ ta đã gần như thống nhất thiên hạ, thế lực thông suốt không bị ngăn trở, tác dụng của liên hôn đã không còn trọng yếu rồi.

Lục Thất ôn hòa nói.

- Không trọng yếu cũng là có dùng mà.

Tân Vận Nhi nhẹ nói.

- Vận Nhi, kỳ thật có các nàng làm bạn cả đời, ta đã thấy rất đủ rồi, có các nàng bồi ta trò chuyện, đánh đàn, du ngoạn, tâm tình của ta sẽ thích ý thoải mái. Về sau sinh hoạt hàng ngày của ta đều do các nàng tự mình chiếu cố, không cần có nô tì bên cạnh hầu hạ.

Lục Thất ôn hòa nói.

Tân Vận Nhi khẽ dạ, chợt tay ngọc bị bàn tay to nắm ngược lại, tiếp đó thấy phu quân từ trong thùng đứng dậy bước ra, chân vừa chạm đất liền kéo nàng nhào vào trên người ướt sũng, sau đó khuôn mặt mỉm cười cúi xuống che lấp môi son của nàng, nàng khẽ ưm một tiếng, mê say nhắm lại đôi mắt đẹp, một bàn tay to lớn với vào trong áo nàng sờ soạng âu yếm.

Sáng sớm, Lục Thất ở trong viện luyện công, trong viện chỉ có Song Nhi và Vân Nga đứng ngoài quan sát, không hề có nô tì nào khác, Ngọc Trúc và Vân Thường thì ra phía ngoài chuẩn bị thức ăn sáng, Tân Vận Nhi đang ở trong lầu các.

Lục Thất thu thế bật hơi, xoay người mỉm cười đi về phía hai vị mỹ nhân, hai vị mỹ nhân tiến lên nghênh đón, Song Nhi lấy khăn mặt lau mặt cho Lục Thất, Vân Nga chỉnh lại y phục cho Lục Thất, bỗng thân mình bị một cái ôm siết chặt, một bàn tay to vươn vào áo yếm, vuốt ve “thỏ ngọc” đẫy đà, Vân Nga khẽ ưm một tiếng, cánh tay duỗi ra choàng lên gáy Lục Thất, kiễng chân, chủ động dâng lên đôi môi thơm.

Quyển 5 - Chương 211: Chiến Thổ Phiên

Lục Thất chỉ ở phủ Ngu Vương hưởng thụ năm ngày gia đình đoàn tụ ấm áp, năm ngày sau hắn rời khỏi thành Trường An, cùng Ba Lăng quân của Đỗ Dũng xuất phát chạy đến Hà Hoàng. Hắn phải đi giải quyết vấn đề Thổ Phiên xâm phạm biên giới, thân là Hoàng đế trên thực tế, hắn nên bắt lấy cơ hội ngự giá thân chinh, có thể thu được sự sùng kính của quân tâm rộng khắp.

Một đường hành quân, dọc đường đi Lục Thất cũng tiếp kiến quan địa phương, tìm hiểu về đời sống của dân, đối với một số quan viên có trách nhiệm sẽ khen ngợi. Địa vực Quan Nội cũng còn một ít nạn trộm cướp, phần nhiều là do Lục Thất lúc trước máu tanh càn quét tiếp quản Quan Nội, những thế lực của Triệu Khuông Nghĩa trốn chạy vào trong núi làm cướp rất khó tiêu diệt, cũng không chịu nhận chiêu hàng.

Sau khi tìm hiểu rõ ràng, Lục Thất mệnh lệnh ba vạn Cấm quân ở thành Trường An, cũng chính là quân lực đã từng đóng quân tại Hà Hoàng tiến hành tiêu diệt phỉ kiến công trên quy mô lớn ở Quan Nội. Lục Thất cố ý khiến cho ba vạn quân lực kia rời khỏi thành Trường An, dù sao cũng là Cấm quân từ Khai Phong Phủ điều đến Kinh Triệu Phủ đóng quân, giữ ở ‘tâm tạng’ (*) không được ổn, khó tránh sẽ phát sinh binh biến bất ngờ hoặc là ám sát, Lục Thất không muốn thân nhân gặp phải nguy hiểm.

(*) ví với trung tâm, nơi quan trọng nhất.

Lục Thất lo nghĩ thật sự không phải là phạm vào chứng bệnh “đa nghi”, mà là đối với ba vạn quân lực kia hắn chỉ có sức ảnh hưởng với tướng soái cấp cao, còn quan tướng trung hạ tầng không có tiếp xúc nhiều với hắn, đến cả tướng soái cao cấp cũng sẽ chịu ảnh hưởng của quan hệ ngày xưa mà đối địch với Lục Thất, tỷ như mệnh lệnh của Chu hoàng đế có tới sáu phần hiệu lực với ba vạn quân lực này.

Ba Lăng quân đã tới Hà Châu, Thứ sử Hà Châu Tiêu Tri Lễ ở ngoài thành Lâm Hạ nghênh đón Lục Thất, Thứ sử Hà Châu nguyên bản đã bị Lục Thất điều đi Duyên Châu, bây giờ Tiêu Tri Lễ không chỉ là Thứ sử Hà Châu, mà còn là Chuyển Vận Sứ của Tây Ninh đô đốc phủ, quản lý tài quyền của Tây Ninh đô đốc phủ.

Vừa vào huyện thành Lâm Hạ, đập vào mắt Lục Thất là cảnh tượng xây dựng rầm rộ, nam bắc trong thành được chia cắt bởi đường cái hình chữ thập, rộng chừng bốn mươi thước, ở hai bên đường cái đang dựng lên các cửa hàng san sát, Tiêu Tri Lễ giới thiệu, y muốn trong thời gian nhiệm kỳ, cải tạo thành Lâm Hạ này thành một nơi thật tốt vừa thích hợp sinh sống vừa thích hợp kinh thương, y tính toán bao thêm một tầng gạch xanh bên ngoài tường thành loạn thạch lũy.

Lục Thất hiểu được tâm ý của Tiêu Tri Lễ, Tiêu Tri Lễ là muốn lưu danh một phương, hắn thuận tiện nói huyện thành Lâm Hạ so ra nhỏ hơn thành Thanh Đường rất nhiều, về mặt mỹ quan cũng được kiến tạo thua xa thành Thanh Đường, mà thành trì huyện thành Lâm Hạ được xây dựng theo khẩu (口)hình vẹo, hắn đề nghị Tiêu Tri Lễ dỡ xuống hai mặt tường thành tiến hành xây dựng thêm để huyện thành Lâm Hạ được ngay ngắn rộng rãi, sau khi thành trì được cải tạo xong có thể đổi tên là thành Đại Hạ.

Đương nhiên sự ủng hộ của Lục Thất không hoàn toàn là vì thành toàn cho nguyện vọng của Tiêu Tri Lễ, hơn phân nửa là vì sự phồn vinh và phòng ngự của Hà Châu, thành trì được mở rộng và xây dựng thành một kiến trúc hùng vĩ, sẽ có thể chứa được càng nhiều nhân khẩu, nếu thích hợp cư ngụ, sẽ hấp dẫn được càng nhiều nhân khẩu di dời đến Hà Châu, nhân khẩu là căn bản làm nên một vùng đất phồn vinh, Hà Hoàng bao la rộng lớn nhưng rất thiếu người.

Lục Thất đóng quân ở Hà Châu một ngày, ngày kế đi hướng Hoàng Châu, khi đến thành Thanh Đường, Dương Côn và Đô đốc Tây Ninh mang người đi đón chào, Lục Thất đã phong Dương Côn làm Tần Vương, lập phủ tại Tần Châu, gia ân cho bố trí biệt phủ ở huyện Thanh Dương.

Tiến vào thành Thanh Đường, Lục Thất ở Hoàng Châu cùng doanh tướng cấp tướng soái trở lên tụ hội, sau tụ hội, giữ lại tướng soái cấp cao thảo luận quân sự.

Dương Côn nói, Thổ Phiên ở vùng Thanh Hải có ba mươi vạn quân lực, sau khi tiến công Hà Tây và Hà Hoàng thất lợi, Thổ Phiên phái sứ giả đến đưa ra điều kiện bãi binh, điều kiện là cấp cho lương thực và dê bò, nếu không cấp, bọn họ sẽ tiếp tục phát binh gây chiến, Dương Côn mượn cớ xin chỉ thị yêu cầu Thổ Phiên tạm thời đình chiến.

Dương Côn nói quân Thổ Phiên rất dũng mãnh, kỵ binh ước chừng mười vạn, quân lực Hà Tây và Hà Hoàng tuy rằng có thể thủ vững cương vực, nhưng tổn thất rất lớn, đã chết hơn năm vạn tướng sĩ, mắt thấy mùa đông sắp đến, càng có lợi cho quân Thổ Phiên.
Lục Thất tỏ thái độ không đồng ý thỏa hiệp cùng Thổ Phiên, trong số ba mươi vạn Ba Lăng quân chinh tây lần này có ba vạn thần nỏ quân có thể sử dụng, còn có thần nỏ xa, có thể trước khi cái rét kéo đến gây thiệt hại nghiêm trọng cho Thổ Phiên, chiến lược là từ chối đòi hỏi của Thổ Phiên, áp dụng thế phòng thủ để dụ địch, chờ quân Thổ Phiên chủ động tiến công.

Năm ngày sau, đại quân của Thổ Phiên xâm lấn Hoàng Châu, ba mươi vạn đại quân phát động thế công che trời phủ đất. Tán Phổ của Thổ Phiên cực kỳ tức giận, tiến công Hà Hoàng và Hà Tây thất lợi khiến uy vọng và quân lực của y đồng thời chịu sự tổn thất nghiêm trọng, đưa tới sự bất mãn của rất nhiều bộ lạc, bởi vì từ khi thành Thanh Đường khôi phục “trà mã hỗ thị (*)”, mang tới lợi ích rất lớn cho rất nhiều bộ lạc, nổi lên chiến sự thế này chỉ đưa đến tổn thất.

(*) giao dịch trà ngựa

Tán Phổ Thổ Phiên dĩ nhiên biết Hà Hoàng có ba mươi vạn viện quân đến, theo tin thám báo hầu như đều là bộ quân, cho nên Tán Phổ Thổ Phiên không cam lòng rút quân, lòng tham với Hà Hoàng khiến Tán Phổ Thổ Phiên quyết định tiếp tục chiến tranh, chỉ cần đánh bại được Chu quân ở Hà Hoàng, y sẽ lấy được lương thực và số lượng lớn nô lệ, thậm chí có thể cho Thổ Phiên lần nữa sở hữu Lũng Hữu rộng lớn.

Quân lực của Lục Thất cũng bày ra trận thế không cam lòng yếu thế, đại quân đóng quân ở ngoài mười dặm mặt đông sông Đại Thông, Tán Phổ Thổ Phiên nghe báo quân địch không ngờ không trú đóng ở sông Đại Thông, mà đang bày ra tư thế nghênh chiến cách mặt đông sông mười dặm, không khỏi mừng rỡ, lập tức hạ lệnh qua sông tiến công, y phải cùng Chu quân chính diện đại chiến.

Mười vạn kỵ binh Thổ Phiên nối liền không dứt lội nước qua sông Đại Thông, mới bắt đầu còn lo lắng quân địch sẽ bất ngờ kéo đến tập kích, nhưng đã qua được ba thành kỵ quân Thổ Phiên, vẫn không gặp quân địch đột kích, vì thế tốc độ sang sông tăng vọt, bộ quân Thổ Phiên cũng đã lâm thời dựng lên mười cây cầu gỗ, cho phép hàng loạt quân qua sông.

Lục Thất ở bên này có sáu mươi vạn quân lực, dàn ra thành một trận thế dài hơn hai dặm, sau khi được bẩm báo quân Thổ Phiên đã có hơn phân nửa qua sông, Lục Thất truyền lệnh, trận chiến này không cần tù binh, bởi vì đa số người Thổ Phiên dã man tàn bạo, bắt về làm tù binh sẽ rất khó khống chế, thường sẽ trở thành tai họa khiến cho địa phương bất ổn.

Theo quân Thổ Phiên qua sông, Lục Thất ở trong quân đã có thể thấy kỵ quân Thổ Phiên đang tiếp cận, hắn biết được nhân khẩu của bổn tộc Thổ Phiên có ước chừng ba triệu, phụ thuộc chủng tộc khác có bốn năm trăm vạn. Thổ Phiên ở chiến trường phương đông bị người Đảng Hạng cướp đi Hà Hoàng, nhưng ở chiến trường phương tây lại diễu võ dương oai, thống trị bao quát Thổ Hỏa La và một bộ phận của lãnh thổ Thiên Trúc rộng lớn.Địa vực Thổ Hỏa La đã từng là một bộ phận của An Tây đô hộ phủ, nằm ở phía nam của Hắc Hãn Hồi Hột ngày hôm nay, phía tây Thổ Hỏa La chính là Đại Thực quốc (Ả Rập), tổ tiên của đại đa số chủng tộc trên địa vực Thổ Hỏa La là người Nguyệt Thị và Lâu Lan.

Thổ Phiên ở phương tây đã chiếm cứ lâu dài địa vực Thổ Hỏa La, cùng người Đại Thực phương tây khi chiến tranh khi hòa bình, cùng Hắc Hãn Hồi Hột ở phương bắc cũng không ngừng chiến tranh, hơn phân nửa cương vực của Hắc Hãn Hồi Hột chính là An Tây tứ trấn thời kỳ Đường triều, còn Thổ Phiên vào thời kỳ Đường triều đã cùng Đường triều kịch liệt tranh đoạt địa vực An Tây tứ trấn, cho nên Thổ Phiên muốn tiêu diệt Hắc Hãn Hồi Hột, mà dân tộc Hắc Hãn Hồi Hột vì chịu sự uy hiếp đến từ Đại Thực và Thổ Phiên, cho nên không có sức đi chiếm cứ Bắc Đình.

Cuối cùng quân Thổ Phiên đã qua sông bày xong trận thế xuất kích, Lục Thất biết Thổ Phiên cũng am hiểu công kích bằng dầu hỏa, nhưng hắn có Thần Tí nỏ có thể sử dụng để giết địch từ xa, chỉ cần đánh bại kỵ quân Thổ Phiên, sáu mươi vạn bộ quân đủ để chôn vùi bộ quân Thổ Phiên.

Kỵ quân Thổ Phiên bắt đầu tiến công, vạn mã lao nhanh như sóng triều đánh tới, Ba Lăng quân cũng triển khai, hơn một ngàn chiếc xe được đẩy ra trước đội hình quân, mỗi chiếc xe giống như một hòm gỗ được đóng thêm bánh xe, ở mặt trước hòm xe có ba mươi lỗ thủng, mỗi lỗ thủng nhô ra một mũi tên sắc bén.

- Bắn!

Quan cầm cờ theo lệnh xua cờ, một trận tiếng vang run rẩy như tiếng “đạn bông (*)” cất lên, từ mỗi chiếc nỏ xe phóng ra ba mươi chi kình nỏ, hợp lại thành một đoàn ba vạn chi tên nỏ, giống như mưa sao sa đi đến đâu san bằng đến đó.

(*) là một trong những truyền thống thủ công nghệ của Trung quốc, đánh tơi sợi bông vải bằng cây cung.

Một trận mưa nỏ xả tới, mấy ngàn kỵ binh Thổ Phiên lảo đảo xuống ngựa, kình nỏ lướt không bắn vào kỵ binh ở phía sau và bộ binh cũng tạo thành sát thương, tiếp theo nỏ xe lui xuống, ba vạn thần nỏ quân bước ra ngoài, bắt đầu bắn theo đội hình ba đoạn, từng đám tên nỏ vọt tới, kỵ binh Thổ Phiên dũng mãnh người ngã ngựa đổ tiếng kêu la ghê người vang rền, đại lượng kỵ binh ở tiền phương tử vong khiến rất nhiều kỵ binh Thổ Phiên ở mặt sau hoảng sợ ghìm ngựa.

Quân Thổ Phiên đều là tập kết từ các bộ lạc, khuyết thiếu tố chất quân kỷ quân trận, vừa thấy phía trước đã chết mấy vạn đồng bạn, quân ở mặt sau lập tức hoảng sợ không chịu xung phong, đều quay đầu chạy trở về. Lục Thất thấy tình cảnh đó thì có chút bất ngờ, hạ lệnh đại quân đẩy mạnh lên trước, ba vạn thần nỏ quân dẫn đầu xuất kích, đuổi giết quân Thổ Phiên trốn chạy.

Giết! Mấy chục vạn đại quân phía sau tiếp trước xung phong, một lát sau đã vượt qua thần nỏ quân đánh tới quân Thổ Phiên, thần nỏ quân xạ kích cần phải nhắm, chứ không bắn loạn tên nỏ, hơn nữa nhất định phải duy trì hàng ngũ, cho nên các quân lực khác vừa xông lên trước, thần nỏ quân từng bước một tiến lên liền rơi lại phía sau.

Kỵ quân bị tàn sát trốn về, khiến cho bộ quân Thổ Phiên ở mặt sau và Tán Phổ Thổ Phiên kinh hồn bạt vía, vừa thấy quân địch như sóng triều ụp tới, không đợi Tán Phổ Thổ Phiên hạ lệnh, bộ quân Thổ Phiên đều quay đầu chạy trốn, kết quả sông Đại Thông lại trở thành trở ngại trí mạng, từng nhóm một qua sông thì có thể bình an, thế nhưng như ong vỡ tổ chen lấn qua, rất nhanh cầu gỗ sụp đổ, bởi vì có quá nhiều người lội nước khiến cho nước sông ùn tắc biến thành cuộn trào mãnh liệt, rất nhiều quân Thổ Phiên bị sóng nước nhấn chìm, hơn nữa còn báu víu lấy nhau, kết quả là cầu sinh không thành, ngược lại lôi kéo nhau cùng chết đuối trong sông.

Hai thời sau, Tán Phổ Thổ Phiên mang theo hơn năm vạn quân mã bộ lẫn lộn đào thoát, hơn hai mươi vạn quân Thổ Phiên bỏ mạng trong chiến dịch sông Đại Thông, bởi vì quân lệnh của Lục Thất, quân Thổ Phiên xin hàng cũng bị đồ đao đoạt mệnh, sau trận chiến Dương Côn suất lĩnh quân lực tiến chiếm địa vực xung quanh hồ Thanh Hải.

Quyển 5 - Chương 212: Di giá

Chiến báo của sông Đại Thông, Lục Thất không có phát đến Khai Phong Phủ báo tin thắng trận, nhưng có phát hướng Phúc Châu báo tin thắng trận, do triều đình Phúc Châu ban bố tuyên cáo, nhằm tăng mạnh uy vọng của hắn, gây kinh sợ hạng người mang dã tâm không an phận.

Sau cuộc chiến hắn trở về thành Trường An, chiến dịch sông Đại Thông bắt sống được hơn bốn vạn chiến mã, Tây Ninh đô đốc phủ đã có điều kiện để thành lập năm sáu vạn kỵ quân, cơ bản không sợ Thổ Phiên phản công, biên giới phòng thủ cũng có thể kéo dài qua hồ Thanh Hải.

Cùng Ba Lăng quân trở lại thành Trường An, Lục Thất lệnh Ba Lăng quân tiếp tục trú đóng ở mấy châu phía đông nam thành Trường An, nhân số ba mươi vạn quân lực quá nhiều, thời kỳ hòa bình sau chiến tranh nên để cho tướng sĩ trải qua cuộc sống bình thường, tạm thời trở thành quân thường trực Lục Thất có thể nhanh chóng điều động.

Nửa tháng sau chiến dịch sông Đại Thông, Chu hoàng đế ở Khai Phong Phủ rốt cục có phản ứng, tuyên bố dời đô đến thành Trường An, Khai Phong Phủ trở thành thủ đô thứ hai, toàn thể Khai Phong Phủ nơi nơi xôn xao, hơn phân nửa vì Khai Phong Phủ mất đi địa vị Kinh thành mà bàng hoàng, Kinh thành mang ý nghĩa là căn bản của sự phồn hoa tôn quý, một khi trở thành thủ đô thứ hai, rất có thể sẽ đi về hướng tiêu điều.

Tuy rằng bàng hoàng không muốn tiếp nhận, nhưng sau khi Hoàng đế tuyên bố, cũng không có dẫn phát sự phản đối của đại thần và huân quý, Trịnh Vương trở thành người đóng giữ Khai Phong Phủ, Hàn Thông làm phó quan đóng giữ, Tiết Cư Chính kiên trì muốn ở lại Khai Phong Phủ phụ tá Trịnh Vương, được để lại chủ trì chính sự.

Chu hoàng đế xa giá rời khỏi Khai Phong Phủ, sau khi Tống quốc bị diệt Khai Phong Phủ cũng tiến hành giải tán quân cho về quê, cho nên quân lực chỉ có mười vạn, giữ lại năm vạn trấn thủ, năm vạn theo hộ giá Chu hoàng đế và rất nhiều văn võ bá quan, cùng với mấy trăm đại biểu huân quý.

Khi xa giá đến thành Lạc Dương, Tào Bân ra khỏi thành tiếp giá, Phan Mỹ cũng từ Tương Châu đến kiến giá, Phan Mỹ biết Chu quốc đại thế đã mất, chỉ bằng hơn mười vạn quân lực của y, căn bản đã là hoàn cảnh bốn bề thọ địch, nhưng Chu hoàng đế và Lục Thiên Phong đều không có phát đến quân lệnh, cho nên chỉ có thể chờ, tuy nhiên quân chính của địa phương Tương Châu đã bị Trình Đức Huyền tiếp quản, cây cầu bắc qua Hán Thủy ở giữa Tương Phàn cũng đã được sửa xong, quân dân ở hai bờ sông Hán Thủy qua lại và thông thương như thường, căn bản không tồn tại sự đối địch.

Ngày kế, Chu hoàng đế khởi giá, Tào Bân và Phan Mỹ cũng đi theo, xem như giải thoát khỏi nhà tù “cát cứ”, lần nữa trở thành trọng thần của Chu hoàng đế, đại quân trùng trùng điệp điệp hướng về thành Trường An mà đi.

Tháng mười một, gió lạnh thấu xương, Lục Thất và Kỷ Vương mang theo người và hai vạn quân lực ra ngoài mười dặm thành Trường An nghênh giá, gặp xa giá của Chu hoàng đế, liền cung kính quỳ cả hai gối khấu đầu nghênh đón, sau đó cùng trở về thành Trường An.

Đến thành Trường An, năm vạn Cấm quân hộ giá nhận được chỉ dụ của Hoàng đế trú đóng ở ngoài thành, chỉ có cận vệ ban trực và năm ngàn Hổ Dực tả quân của Vân Cẩm Đông tiến vào thành Trường An, có quan viên thành Trường An an bài chỗ nghỉ ngơi cho đại thần và huân quý.

Lục Thất và Kỷ Vương, cùng với một số trọng thần đi theo xa giá của Chu hoàng đế hướng tới Đại Minh cung. Thành Trường An có ba tòa cung điện chủ yếu, theo thứ tự là Thái Cực cung, Đại Minh cung và Hưng Khánh cung, Đại Minh cung là cung điện lớn nhất tốt nhất, vị trí trên Long Thủ Nguyên thành bắc. Còn Thái Cực cung là trung tâm quyền lực của triều Đường thời kỳ đầu, ở trung tâm thành bắc, chính biến Huyền Vũ môn do Đường Thái Tông Lý Thế Dân phát động chính là xảy ra ở Thái Cực cung. Sau khi Lý Thế Dân lên ngôi, xây dựng cho Lý Uyên Đại Minh cung, về sau Đường Cao Tông kế vị, liền từ Thái Cực cung dọn đến Đại Minh cung tráng lệ quảng đại, khiến cho Đại Minh cung trở thành tượng trưng cho quyền lực của Đường triều.

Xa giá đã tới Đan Phượng môn của Đại Minh cung, Lục Thất quan sát thì thấy cung thành nơi này so với của Hoàng cung ở Khai Phong Phủ lớn hơn rất nhiều, mà tòa Đại Minh cung này so với Hoàng cung ở Khai Phong Phủ lớn hơn không chỉ mười lần. Mặc dù Lục Thất chưa từng tiến vào, nhưng có nghe người khác nói qua, rằng bức tường cung to lớn này bởi vì chiến loạn mà bị phá hư và đã nhiều năm không được tu sửa, nên rất cũ nát tan hoang.

Tiến vào Đan Phượng môn, dọc theo ngự lộ đi về phía trước, Đại Minh cung được chia làm ba đại điện, theo thứ tự là Hàm Nguyên điện của tiền triều, Tuyên Chính điện của trung triều, Tử Thần điện của nội triều. Tử Thần điện chính là khu vực nội cung, Thái Dịch trì trong nội cung có thể chơi thuyền du nhạc, xung quanh trì còn có quang cảnh vườn cây xinh đẹp, tuy nhiên Lục Thất nghe người ta bẩm báo qua, nội cung của Đại Minh cung vô cùng hoang vu tồi tàn.

Xa giá tới Hàm Nguyên điện, Hoàng đế truyền dụ cho Lục Thất và các trọng thần rời đi, chờ chỉ tuyên triệu. Lục Thất và các trọng thần biết Chu hoàng đế mệt nhọc, tuân dụ rời khỏi, chỉ để lại Kỷ Vương bầu bạn Chu hoàng đế, Vân Cẩm Đông và ban trực thì trấn thủ cung thành.

Lục Thất rời khỏi Đại Minh cung, trực tiếp trở về phủ Ngu Vương, không có đi gặp các đại thần và huân quý, lúc này không nên vì gấp gáp mà rước lấy sự chỉ trích lên án, hắn cũng không tính nhanh chóng lên ngôi Hoàng đế. Ngày nay hắn đã nắm trong tay mấy trăm vạn quân lực, đó mới là căn bản quyền lực của Hoàng đế, Hoàng đế không khống chế được quân quyền chỉ có thể là vật bài trí.

Nếu Chu hoàng đế đã đến thành Trường An, Lục Thất có thể kiên nhẫn chờ, như trước ở phủ Ngu Vương xử lý công văn từ các nơi đưa tới, những địa phương vốn xin chỉ thị xử trí của Khai Phong Phủ, Lục Thất không có phát lệnh thay đổi, nói cách khác chính vụ của Hà Nam đạo và Hoài Nam đạo vẫn như cũ thuộc quyền định đoạt của Khai Phong Phủ, liên quan đến quân sự thì phải đưa đến thành Trường An.

Nhoáng cái đã năm ngày trôi qua, Chu hoàng đế ở Đại Minh cung cũng không có triệu kiến, chỉ bảo Kỷ Vương bầu bạn, năm ngày sau Chu hoàng đế dụ lệnh Lục Thất tiến kiến, Lục Thất đến Đại Minh cung, không ngờ Chu hoàng đế đang ở trên thành môn lâu của Đan Phượng môn.

Lên thành môn lâu, Lục Thất thấy có ba mươi mấy vị trọng thần và huân quý Chu quốc, đang cùng Chu hoàng đế ngắm nhìn cảnh trí ngoài thành Trường An, đây cũng là một trong những ưu thế của Đại Minh cung, có thể thấy được quang cảnh và sự phồn hoa của thành Trường An.- Thần bái kiến Bệ hạ, Hoàng thượng vạn tuế.

Lục Thất đi qua cung kính bái kiến.

- Thiên Phong, đến đây đi.

Chu hoàng đế ôn hòa tiếp đón, Lục Thất đi tới, vừa đi vừa gật đầu với các trọng thần và huân quý, Triệu Phổ và Thạch Thủ Tín cũng có ở đó, nhóm trọng thần và huân quý cũng đều khẽ gật đầu.

Lục Thất đứng ở bên trái Chu hoàng đế, Kỷ Vương ở bên phải Chu hoàng đế, Chu hoàng đế nhìn Lục Thất, ôn hòa nói:

- Thiên Phong, khanh có thể vẫn tôn kính trẫm, lòng trẫm rất được an ủi.

Lục Thất cười yếu ớt, ôn hòa nói:

- Thần đã từng nói với Bệ hạ, thật tâm kính trọng Bệ hạ, là Bệ hạ thương cảm dân sinh, lấy mình làm tấm gương thiết thực để cường quốc, mới có thể cho vùng Trung Nguyên được quốc thái dân an, vạn dân an cư. Sai lầm duy nhất của Bệ hạ chính là quá mức cứng rắn, không chịu thỏa hiệp đối ngoại.

Chu hoàng đế cười khổ, tiếp đó chuyển đề tài nói:

- Trẫm có một vấn đề không rõ, lấy khả năng của khanh thành lập Tấn quốc không tính ngạc nhiên, nhưng Tấn quốc mới lập, hẳn là ẩn chứa rất nhiều tai họa ngầm, vì sao khanh không ở Tấn quốc, quản chế quân thần Tấn quốc không phản, theo trẫm biết, quân lực của Tấn quốc đều là hàng tốt, khanh làm thế nào áp chế bọn họ không phản?- Bệ hạ, tuy thần không có ở Tấn quốc chủ quản, nhưng thần có một vị phu nhân có thể so với Tiêu Hà (*) thay mặt thần chủ quản, ngoài ra thần cũng có đông đảo lương thần chí hữu ủng hộ, Trương Hồng Ba chính là một vị chí hữu của thần, thần đã từng cứu hắn, hiện giờ Trương Hồng Ba là Hải Đông quận vương. Dương Côn bây giờ đang trấn thủ Tây Ninh là huynh trưởng của thần, hai bên có thế giao từ đời cha chú. Quan Xung trấn thủ Phượng Tường là hậu nhân của Quan Vũ, tuyệt đối là một nam nhi trọng nghĩa, còn có vài vị chiến hữu đã trải qua sinh tử cùng thần, đều đang chấp chưởng quân quyền Tấn quốc.

Lục Thất nói.

(*) thừa tướng nhà Hán, cùng với Trương Lương, Hàn Tín là tam kiệt nhà Hán.

- Nghe khanh nói như vậy, tình hình của khanh và trẫm năm đó tương tự nhau.

Chu hoàng đế nói.

- Đúng là cùng với hoàn cảnh năm đó của Bệ hạ tương tự, bất đồng duy nhất chính là thần có một vị phu nhân am hiểu thuật trị quốc thay mặt thần cầm lái, mặt khác sau khi Tấn quốc thành lập, vẫn có cơ hội nghỉ ngơi lấy lại sức, nếu vừa mới lập quốc đã cùng bên ngoài phát sinh chiến sự tử thương thảm trọng, Tấn quốc tất sụp đổ vì loạn, đó cũng chính là nguyên nhân thần nguyện đến Chu quốc, thần lo lắng Chu quốc sẽ phát động chiến sự quy mô lớn với Tấn quốc, cho nên thần cần phải hiểu rõ được quân tình Chu quốc.

Lục Thất hồi đáp.

Chu hoàng đế gật đầu, nói:

- Khanh thân là người đứng đầu Tấn quốc lại tiến đến Chu quốc, là cử chỉ không khôn ngoan, nhưng lại là người đại dũng lấy hạt dẻ từ trong lò lửa, nếu như khanh không đến, có lẽ kết quả sẽ tái hiện cảnh Tào Ngụy và Tôn Ngô tranh bá năm đó, cuối cùng kẻ bại chính là khanh, bởi vì Tấn quốc của khanh mới được thành lập, quả thật không chịu nổi tổn thất gây ra do chiến tranh tàn khốc, nhất là quân tâm của hàng tốt rất dễ dẫn đến quân đội sụp đổ.

Lục Thất gật đầu, nhưng lại nói:

- Lời của Bệ hạ, thần chỉ có thể tán thành một nửa, thần cho rằng dù là tái hiện tình cảnh Nam Bắc tranh bá, cũng chưa chắc thần sẽ bại, bởi vì thần có ưu thế đột kích theo đường biển.

Chu Hoàng Đế lắc đầu, nói: "Của ngươi lục chiến nếu là lâm vào tàn khốc đúng tiêu hao, vậy ngươi Tấn quốc sẽ xuất hiện nghiêm trọng nội hoạn tạo phản, lúc kia, ngươi sẽ lâm vào được cái này mất cái khác hoàn cảnh, tài lực, lính đều đã lâm vào nghèo cho ứng phó, một khi của ngươi Tấn quốc xuất hiện không xong, ngươi cho rằng Giang Âm thuỷ quân còn có thể ủng hộ ngươi sao, cường nhân hằng cường, Tấn quốc nếu là lâm vào chiến loạn, rất nhiều quy thuận thế lực sẽ vứt bỏ ly ngươi rồi." Chu hoàng đế lắc đầu, nói:

- Nếu chiến sự trên đất liền của khanh chịu sự tổn thất tàn khốc, vậy trong Tấn quốc của khanh sẽ xuất hiện nội hoạn tạo phản nghiêm trọng, lúc đó, khanh sẽ lâm vào hoàn cảnh được cái này mất cái khác, tài lực, quân số đều sẽ gặp phải cảnh ứng phó tạm. Một khi Tấn quốc của khanh xuất hiện dấu hiệu bất ổn, khanh cho rằng thủy quân Giang Âm còn có thể ủng hộ khanh hay sao, cường giả hằng cường, nếu Tấn quốc lâm vào chiến loạn, rất nhiều thế lực quy thuận khanh đều sẽ vứt bỏ khanh.

Lục Thất gật đầu tán thành, Chu hoàng đế mỉm cười nói:

- Hôm nay, trẫm tuyên cáo Đại Chu đổi tên thành Đại Ngu đế quốc, niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc, bãi giá Hàm Nguyên điện.

Lục Thất và Kỷ Vương thối lui ba bước, cùng những đại thần huân quý khác hướng tới Chu hoàng đế hành lễ tuân dụ, sau đó Lục Thất đỡ Chu hoàng đế xuống thành lâu Đan Phượng.

Quyển 5 - Chương 213: Đại Ngu đế quốc

Đại Minh cung, bên trong Hàm Nguyên điện tồi tàn nổi bật lên hình ảnh Chu hoàng đế ngồi cao trên long ỷ, tiếp nhận văn võ huân quý triều bái, sau đó tuyên chiếu Đại Chu đổi tên thành Đại Ngu đế quốc, lấy niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc, định đô tại thành Trường An, chiếu dụ Ngu Vương Lục Thiên Phong giám quốc.

Ngày kế, Hoàng đế Đại Ngu ứng theo thỉnh cầu của Ngu Vương Lục Thiên Phong, định Khai Phong Phủ làm Thượng đô, Trì Châu làm Trung đô, Thái Nguyên làm Hạ đô, Ngô huyện Tô Châu làm Đông đô, Trường Nhạc Phủ Phúc Châu làm Nam đô, U Châu làm Bắc đô, Trương Dịch Cam Châu làm Tây đô.

Dưới Kinh đô phụ là bốn cấp hành chính phủ, châu, huyện, hương. Các chức hương quan bao gồm: Kỳ lão là quan giai chính cửu phẩm, Phó quan là quan giai tòng cửu phẩm, võ là Tuần kiểm, văn là Đình trưởng, đều do triều đình tán thành hoặc bổ nhiệm.

Cấp “phủ” chia làm Vương phủ và Quốc phủ, Vương phủ lệ thuộc trực tiếp Nội đình kinh thành quản hạt, Quốc phủ chịu sự quản hạt của Kinh đô phụ và Chính sự đường thuộc ngoại triều kinh thành, thu hoạch của Vương phủ đều làm hoàng cống, thu hoạch của Quốc phủ đều là quốc phú.

Tại mỗi Kinh đô phụ đều bố trí thiết lập Nội đình và Ngoại đường, Ngoại đường quản lý việc trị chính của Lục bộ Kinh đô phụ, Nội đình chủ quản giám sát và chưởng phán quân sự bình thường. Chủ quan của Ngoại đường Kinh đô phụ xưng là Sử tướng, do đại thần có tư cách Tể chấp thuộc Chính sự đường luân phiên đảm nhiệm, chủ quản Nội đình Kinh đô phụ do Nội đình Kinh thành bổ nhiệm, xưng là Phủ tể, chủ quan của địa phương Vương phủ xưng là Phủ tướng, chủ quan của địa phương Quốc phủ xưng là Phủ doãn.

Lục Thất sơ lược tham chiếu hệ thống quản lý mười lăm đạo hành chính. Thiết lập hành chính cấp phủ thuộc quyền quản hạt của Kinh đô phụ và Kinh thành, Khai Phong Phủ xưng là Thượng đô, chủ yếu cai quản Hà Nam đạo và Hoài Nam đạo thời kỳ Đường triều. Lục Thất không có bố trí lập Nội đình tại Khai Phong Phủ, chỉ là xác định những phủ châu thuộc triều đình Khai Phong Phủ trị chính, đồng thời làm sáng tỏ cho Chu hoàng đế và đại thần, ngày sau Khai Phong Phủ sẽ là đất phong của hoàng tộc họ Chu, vừa là Thượng đô, cũng là đất Vương phủ.

Tuy nhiên Lục Thất cũng định rõ quyền hạn của phong vương, phong vương có thể có năm trăm Dực vệ, năm ngàn Hộ quân, nhưng Hộ quân của phong vương cũng thuộc Nội đình quản lý, bổ nhiệm miễn nhiệm và cấp dưỡng tướng sĩ Hộ quân đều do Nội đình phụ trách, Hộ quân chỉ phụng quân lệnh của Nội đình, trong phạm vi chức trách bảo hộ phong vương, nhưng còn Dực vệ là do phong vương tự chiêu mộ và cấp dưỡng.

Năm ngày sau khi tuyên cáo thành lập Đại Ngu đế quốc, Hoàng đế Đại Ngu khởi giá rời khỏi thành Trường An, như trước do năm vạn Cấm quân hộ giá quay trở về Khai Phong Phủ. Sau khi Hoàng đế trở lại Khai Phong Phủ, việc trước tiên làm là truyền chỉ phong Hàn Thông làm Thành quốc công, nhậm chức Điện tiền Đô ngu hầu, suất lĩnh tám ngàn tướng sĩ trấn thủ Hoàng cung và cửa nội thành, sau đó truyền dụ tướng soái thống lĩnh quân lực Khai Phong Phủ dâng thư lên Giám quốc báo cáo công tác, quy về Giám quốc điều lệnh.

Sau khi Lục Thất nhận được tấu thư từ Khai Phong Phủ và chỉ dụ của Hoàng đế, thừa nhận Hàn Thông làm Thành quốc công. Quốc công và Quận vương được phép có ba trăm Dực vệ, ba ngàn Hộ quân, cộng thêm năm ngàn Vương hộ quân trấn thủ Hoàng cung Khai Phong Phủ. Lục Thất đồng ý cho Hàn Thông trấn thủ nội thành Khai Phong Phủ, nhưng còn quân lực ngoại thành hắn đều chuyển đi, từ Quan Nội điều ba vạn quân đến trấn thủ Khai Phong Phủ, trên phương diện khống chế quân quyền, Lục Thất không có khả năng nhượng bộ quá nhiều.

Hoàng đế chủ động giao ra quân quyền Khai Phong Phủ, đây chẳng qua là một bộ phận trong quốc sự của Lục Thất. Thời kỳ quá độ, hắn chỉ có thể cho phép triều đình Chu quốc tồn tại, Tiết Cư Chính trên thực tế chính là Sử tướng của Thượng đô Đại Ngu, nhưng vẫn còn sự tồn tại của Hoàng đế tại Khai Phong Phủ, Lục Thất không tất phải công khai sửa lại chức vụ quan trị chính của Khai Phong Phủ.

Hoàng đế rời khỏi thành Trường An không lâu, còn chưa trở lại Khai Phong Phủ, chính lệnh của Lục Thất đã truyền đến tất cả cương vực thuộc Đại Ngu đế quốc, trước tiên tuyên cáo về thể chế và tân chính trên toàn quốc, để cho quan dân Đại Ngu đế quốc có chút khái niệm.
Thể chế triều đình của Lục Thất trên cơ bản tương đồng với của Chu quốc, bao gồm Chính sự đường và Xu mật viện, chẳng qua cộng thêm một Nội đình. Nội đình bố trí Trung phủ sử và Cửu khanh cùng quản lý quân chính của địa phương Vương phủ, kiêm giám sát địa phương và chưởng phán quân sự bình thường, đứng đầu Nội đình là Trung phủ sử, những khanh tướng khác đều do khanh thuộc Cửu tự đảm nhiệm, ví như Thái Thường khanh, Vệ Úy khanh chính là khanh tướng Nội đình.

Bố trí và thiết lập của Nội đình trên thực tế chính là hình thành một thế lực độc chiếm thiên hạ, ở mỗi địa phương Vương phủ có năm ngàn Hộ quân, quan tướng và quan viên trị chính đều do Nội đình bổ nhiệm. Phủ tướng địa phương Vương phủ có thể là nữ nhân, hoạn quan và quan văn, thuế phú của địa phương Vương phủ trở thành Hoàng cống. Cách làm của Lục Thất là làm cho quyền hành của Cửu tự khanh đại tăng, dụng ý chính là khiến cho thế lực địa phương bị phân cách, cũng giới hạn tài lực thu hoạch được của Hoàng tộc trong một phạm vi, để tránh xảy ra việc lũng đoạn muối và thiết hoặc là kinh doanh những thứ có món lợi lớn.

Đương nhiên tác dụng lớn nhất của Nội đình vẫn là vì trực tiếp nắm trong tay một phận quân quyền, cùng với giám sát địa phương, nhưng tuyệt không thay thế chức quyền của Ngự Sử đài, nên nói Ngự Sử đài là tai mắt trái của Hoàng đế, còn Nội đình là tai mắt phải của Hoàng đế.

Đồng thời với tuyên bố thể chế trị quốc, còn có thông cáo mở khoa thi chọn người tài. Lục Thất định chế điều kiện mở khoa thi chọn tài, ngoài mở khoa cử cho văn võ khảo sinh, triều đình còn thành lập cống viện Thiên Công, phàm là người giỏi tay nghề, rành về nông sự thủy lợi, tinh thông âm luật đều được tham dự khoa thi Thiên Công, tỷ như nung gốm sứ, nếu có thể chế tạo ra cực phẩm, là có thể mang tác phẩm đến tham dự khoa thi Thiên Công, trúng cử sẽ đạt được tư cách cống sinh Thiên Công.

Đối với khoa cử văn và khoa cử võ, Lục Thất cũng đưa ra điều kiện bất đồng so với trước đây, người tham dự thi văn, thi từ ca phú tính một môn, kiến thức về nuôi tằm chăn cá là yêu cầu phải thi, kể cả quản lý sổ sách, sau đó mới có thể khảo văn chương, nếu những đề mục trước đó không qua được, văn chương có lai láng thế nào cũng không cần viết.

Còn khoa cử võ, Lục Thất quy định nhất định phải là người dưới ba mươi tuổi, có kinh nghiệm phục vụ trong quân hai năm trở lên mới có thể tham dự võ cử. Khoa cử võ hàng năm tuyển chọn ngàn người, lấy năm người đứng đầu làm Điện nguyên, đệ nhất danh “Võ Trạng nguyên”, văn thao võ lược phải là tốt nhất, ban thưởng ngự kiếm và quan giai Tướng quân, đệ nhị danh “Bảng nhãn”, phải có quân võ đệ nhất, ban thưởng dạ quang bôi và mỹ tửu, đệ tam danh “Thám hoa”, phải có tài bắn cung tốt nhất, ban thưởng bảo cung và một nàng mỹ nhân, Bảng nhãn và Thám hoa cùng được ban quan giai Giáo Úy ngũ phẩm.

Đệ tứ danh “Điện úy” và đệ ngũ danh “Điện sĩ” phải có thành tích tổng hợp so với những người khác, cùng ban cho bảo châu và một nàng mỹ nhân, quan giai Giáo Úy thất phẩm. Ngoài Võ trạng nguyên được thưởng ngự kiếm, chín trăm chín chín người trúng tuyển khác đều được ban thưởng một thanh Thiên Ngưu đao, đạt được “võ bị quan thân”. Tất cả ban thưởng và chi phí đều do Nội đình phụ trách, ba khoa cử lớn sẽ do Nội đình và Lễ bộ, Công bộ, Binh bộ cộng tác tổ chức và giám sát.Khoa cử văn tuyển chọn bốn trăm tiến sĩ, số lượng cống sĩ trúng tuyển công khoa tạm thời không giới hạn danh ngạch, ban thưởng tạm thời chưa định. Những người tài năng có ý muốn tham dự cả ba loại khoa cử có thể đến Vương phủ hoặc Kinh đô phụ gần nhất tham gia sơ tuyển. Tú tài và cử nhân của Đại Chu và Tấn quốc trước đây đều được Đại Ngu đế quốc thừa nhận, nhưng nếu muốn mưu cầu tư cách quan viên cần phải khảo hạch một lần.

Sau khi công bố thể chế và thông cáo tuyển tài, Lục Thất lại ban bố chế độ thuế phú cơ bản, tuyên bố thực thi hai loại chế độ thuế được thực hiện vào thời kỳ Đường triều, tức là ngoài thuế hộ và thuế đất thì không còn thuế phú nào khác, căn cứ vào đánh giá giá trị của hộ tịch và ruộng đồng tiến hành thu thuế. Đặc điểm của hai chế độ thuế đó là phú hộ sẽ nộp thêm thuế phú, bần hộ sẽ giao thuế phú ít hơn, như vậy có thể giúp cho dân lưu lạc và dân nghèo mau chóng được an cư, thuế thương nghiệp không thuộc về thuế phú cơ bản.

Hai chế độ thuế này là thuế pháp Tấn quốc đã thực thi từ sớm, khuyết điểm của hai chế độ thuế là quá trình đánh giá ruộng tốt rất dễ dàng bị báo man, nhưng dưới áp lực mạnh của trọng tội, địa chủ và quan lại trên địa phương rất ít ai nguyện vì cái nhỏ mà lỡ cái lớn, quan lại sẽ bị thuyên chuyển công tác, còn địa chủ sau khi đút lót cũng không thể bảo đảm ruộng đất nhà mình vẫn luôn trộm được lợi ích, mà lợi ích trộm được còn chưa đủ để cấp quan. Quan viên Tấn quốc có phúc lợi rất cao, cho nên ít có người nguyện vì đánh giá thấp ruộng đồng của địa chủ mà gặp phải tai họa về sau, cho dù có muốn vơ vét lợi ích, cũng chỉ tranh thủ chỗ tốt trong các vụ án kiện.

Sau khi Chu hoàng đế đi rồi, Lục Thất vẫn luôn ở tại phủ Ngu Vương xử lý công việc, một là ở ngoài sáng không thể có vẻ quá thiếu kiên nhẫn, hai là ba đại hoàng cung thành Trường An đều rất rách nát, người bên mình của hắn cũng không nhiều, nếu nhập cư Đại Minh cung, sẽ rất lạnh lẽo buồn tẻ.

Tuy nhiên rất nhanh Lục Thất liền nếm được phiền phức trong việc trị chính, công văn từ các nơi tập trung lại khiến hắn bận rộn đến ngập đầu, chủ yếu là khi Chu hoàng đế trở về, Kỷ Vương và triều thần cũng đều theo trở về, hắn lại không tiện lên tiếng giữ lại vài người, mà triều thần Tấn quốc nhất thời không phân tới được, hắn lại không thể tùy tiện tìm người phụ giúp, Tiêu Tri Lễ cũng đang bận rộn ở Hà Châu.

Cũng may có Tân Vận Nhi các nàng trợ giúp phân loại, khiến tốc độ xử trí của Lục Thất nhanh hơn rất nhiều, bận rộn bảy tám ngày, công văn từ địa phương tới rõ ràng ít đi, Lục Thất mới thở ra một hơi, cũng muốn đi Hán Trung thăm Tiểu Phức, hiện giờ trời đang đổ tuyết, mà Tiểu Phức đang mang thai, cho nên vẫn chưa có tới thành Trường An.

Chẳng qua việc đi Hán Trung cũng chỉ là một ý tưởng, Lục Thất căn bản không thể rời khỏi thành Trường An, chỉ có thể ngóng trông thân nhân và thuộc thần tín nhiệm lại đây, tốt nhất là Tân Cầm Nhi có thể đến thành Trường An, có điều việc trị chính của Giang Nam cũng không thể gặp sơ sẩy.

Ngày này, Trương Kịp và Ngũ Hải đồng thời tới phủ Ngu Vương, Lục Thất thấy có trợ thủ tới đương nhiên vui mừng. Trương Kịp nói cho Lục Thất biết có rất nhiều quan viên Khai Phong Phủ phụng dụ lệnh của Hoàng đế đã sắp đến thành Trường An rồi, Kỷ Vương thì vẫn ở lại Khai Phong Phủ, nghe nói không chịu rời khỏi Hoàng đế.

Lục Thất nghe xong hơi sầu não, hắn vì không muốn khiến cho Hoàng đế có cảm giác mất mát, cho nên mới không lên tiếng giữ lại triều thần, mà những triều thần này đương nhiên không thể làm tiểu nhân bợ đỡ, cho nên dù là ngoài sáng hay ngấm ngầm cũng không có ai biểu lộ thái độ quy về.

Sau khi hơn một trăm triều thần tới thành Trường An, Lục Thất không thể không dọn đi Đại Minh cung chủ trì chính sự. Chính Sự đường và Xu Mật viện đều tự vận hành, thành Trường An chính thức trở thành trung tâm quyền lực cao nhất của Đại Ngu đế quốc.

Quyển 5 - Chương 214: Độc chiếm thiên hạ

Hơn một trăm triều thần tiền Chu tiến vào thành Trường An, mười ngày sau, mấy chục triều thần Tấn quốc cũng đã tới thành Trường An, hơn nữa là do Vương Trọng Lương cầm đầu. Lục Thất đã có chuẩn bị an trí chức vị, vì tránh sinh hiềm khích, Lục Thất lệnh cho Tể chấp từ Tấn quốc đến chủ quản sự vụ phương Nam, Tể chấp tiền Chu chủ quản sự vụ phương Bắc, nhưng chỉ là chủ quản, nhất định phải thông qua thảo luận chính sự thì mới có hiệu lực giao cho Lục bộ chấp hành. Tể chấp của Chính Sự đường có mười ba vị, Triệu Phổ đã trở thành Hữu tướng, Vương Trọng Lương làm Tả tướng, một chủ Bắc, một chủ Nam.

Xu Mật sứ của Xu Mật viện là Tào Bân, Phó Xu Mật sứ là Ngũ Hải, Phan Mỹ đã bị Lục Thất phái đi phương Nam, tiến công Nam Việt và Đại Lý, Nam Việt vốn đã bị công chiếm một nửa, nhưng bởi vì Triệu Khuông Dẫn, Tấn quốc đã phải tạm đình trệ tiến công Nam Việt thật lâu. Lục Thất lệnh cho Phan Mỹ suất quân đi Ba Thục, từ Ba Thục tiến công về phía nam, phía nam Ba Thục chính là Đại Lý (Vân Nam), về phía tây Đại Lý có Ngô quốc, Phan Mỹ suất quân đi, có thể cùng quân lực của Từ Minh hình thành hai đường nắm tay.

Khiến Lục Thất vui sướng nhất chính là Quý Ngũ thúc cũng đã tới thành Trường An, Quý Ngũ thúc là Vệ Úy tự khanh, mà Lục Đông Sinh tại Thái Nguyên cũng nhận lệnh đến thành Trường An, nhậm chức Tông Chính tự khanh, Ti Nông tự khanh của tiền Chu là Phan Hữu cũng đã đến thành Trường An, Lục Thất bất kể hiềm khích lúc trước tiếp nhận, Phan Hữu đã từng là Ti Nông tự khanh của Đường quốc, từng kịch liệt buộc tội Lục Thất sử dụng quan áp ngân khế ở Thường Châu.

Hồng Lư tự khanh và Thái Phó tự khanh của tiền Chu cũng được Lục Thất tiếp nhận, Vi Hạo cũng được Lục Thất điều đến nhậm chức Đại Lý tự khanh, Mạnh Thạch cũng được Lục Thất điều đến thành Trường An, nhậm chức Thái Phủ tự khanh, Thái Thường tự khanh và Quang Lộc tự khanh thì giao cho Hậu cung nhậm chức, Trung phủ sử làm tổng quản Nội đình.

Bản chức của Cửu tự khanh là Thái Phủ (Hộ bộ — tài chính), Ti Nông (Hộ bộ — lương thực), Tông Chính (Lễ bộ — Hoàng tộc), Thái Thường (Lễ bộ — lễ tế), Quang Lộc (Lễ bộ — hàng hóa), Hồng Lư (Lễ bộ — ngoại giao), Vệ Úy (Binh bộ — dự trữ quân khí), Thái Phó (Binh bộ — quản lý ngựa), Đại Lý (Hình bộ — tư pháp).

Sự tồn tại của nha môn Cửu tự có tác dụng phân quyền Lục bộ, nhưng Lục Thất thiết lập Nội đình hình thành một thế lực độc lập tản đi khắp thiên hạ, cũng giao cho Cửu khanh quyền lực chấp chưởng quân chính của địa phương Vương phủ, càng để cho Nội đình tham dự trực tiếp tuyển chọn nhân tài trong khoa cử, mục đích là đào tạo ra “môn sinh của Thiên tử”, cho phép nhân tài ưu tú trở thành thế lực và đệ tử Hoàng gia.

Tỷ như khoa cử võ mà Lục Thất chế định, có thể khai thác nhân tài từ trong số quân lính tầng thấp, mặc dù chỉ trúng tuyển một ngàn người, nhưng số nhân tài quân võ tham dự tuyển chọn sơ kỳ sẽ đạt đến mười vạn, những nhân tài quân võ tham gia sơ tuyển này chỉ cần đạt tiêu chuẩn quân võ quy định đều sẽ được ghi chép vào vào văn án của Nội đình, Nội đình sẽ căn cứ theo nhu cầu mà ưu tiên thu nạp vào Hộ quân Vương phủ, đó mới là tác dụng chân chính của khoa cử võ.

Nếu chỉ do Binh bộ và Xu Mật viện chủ trì khoa cử võ, như vậy đa số võ cử tuyển chọn chính là dựa vào quan hệ mới có thể tham dự, bình dân và con trai nhà võ quan bình thường dưới sự ngăn trở gạt bỏ tầng tầng sẽ rất khó tiến vào võ cử tham gia tuyển chọn.

Có bảy vị Tự khanh, thì có cơ sở Nội đình xử trí sự vụ, Lục Thất cho bảy vị Tự khanh thử nghiệm xử trí sự vụ của Nội đình, chủ yếu là trước tiên triển khai việc tổ chức khoa cử, hình thành Nội đình can thiệp vào sự vụ của Vương phủ các nơi.

Vương phủ phương Nam đã thiết lập Nội đình quản hạt, Vương phủ ở phương Bắc, Lục Thất đã chỉ định Lạc Dương phủ, Thạch Quốc phủ, Quắc Quốc phủ, Thiên Cẩm phủ (Thành đô), Hưng Nguyên phủ (Hán Trung), Giang Lăng phủ, Nam Dương phủ, Thọ Sơn phủ (Thọ Châu), Dương Châu phủ, Đại Danh phủ, Bồng Lai phủ (Đăng Châu), Hà Gian phủ, U Châu phủ, Vân Trung phủ (Vân Châu), Hội Ninh phủ (Hội Châu), Đôn Hoàng phủ, Y Ngô phủ.

Những nơi thiết lập Vương phủ trực thuộc Nội đình trung ương, trở thành nguồn chi phí và chi tiêu của Hoàng gia, ban thưởng, xây dựng, các loại chi ra của Hoàng gia đều lấy từ địa phương Vương phủ, phân chia tài lực với quốc khố, tạo thành một dạng thống trị quốc gia trong quốc gia.

Trưởng quan của những địa phương Vương phủ hôm nay được chỉ định, từ Thứ sử đổi tên thành Phủ tướng, trực tiếp hướng về thành Trường An phụ trách. Hiện giờ có bảy vị Khanh tướng, Lục Thất đã chuyển giao sự vụ của địa phương Vương phủ cho Nội đình, nhưng không cấp cho quyền lực bổ nhiệm miễn nhiệm quan lại và điều động quân lực, chỉ là phê duyệt các báo cáo công tác và công văn xin chỉ thị bình thường, chỉnh lý lại các loại tin tức được trình báo từ địa phương Vương phủ.

Có Chính Sự đường, Xu Mật viện và Nội đình tiếp quản sự vụ quân chính hằng ngày, Lục Thất đã được giải thoát khỏi sự phiền phức của những sự vụ rắc rối, hắn bứt ra đi tuần tra phòng ngự thành Trường An, thăm hỏi người dân một chút, lại đi tuần sát trú quân ở Phượng Tường một phen, cuối cùng đi Hưng Nguyên phủ ở Hán Trung gặp Tiểu Phức.

Tháng mười hai, trời lại đổ đại tuyết, đây là trận tuyết thứ tư của năm nay, dù đang hứng lấy gió tuyết gào thét, nhưng trong lòng của Lục Thất rất ấm áp vui sướng, tuyết rơi hợp thời hứa hẹn một năm bội thu, sang năm việc đồng áng ở Tây bộ hẳn sẽ thu hoạch rất tốt, năm nay vì cứu nạn thiên tai cho Hà Nam và Hà Bắc, cùng với trị thủy Hoàng Hà đã hao phí quá nhiều lương thực, còn có trợ giúp chiến sự và quy trị phương Bắc cũng đã tiêu hao quá nhiều dê cừu Hà Tây, chỉ có cho tướng sĩ và bình dân cương vực phương Bắc được no bụng, mới thu được sự quy thuận chân chính.

Trước khi Lục Thất đến Hưng Nguyên phủ ở Hán Trung đã sai người đi báo tin, Phủ tướng và tướng soái của trú quân trấn thủ Hưng Nguyên phủ ra nghênh đón, Lục Thất tính tình kiên trì chịu đựng gặp mặt các quan viên một hồi, vẫn là quan tướng cận vệ hiểu được tâm tư của Chủ thượng, âm thầm cho biết Chủ thượng mệt mỏi rồi, Phủ tướng và nhóm tướng soái mới biết điều chủ động cáo từ.

Lục Thất về tới “gia trạch” của hắn, vừa tiến tiền sảnh liền gặp được Tư Ngọc và Tư Trúc, hai tỷ muội rõ ràng đang chờ hắn, gương mặt xinh đẹp vui mừng, một trái một phải ôm lấy cánh tay của Lục Thất, tiện đà phủi nhẹ tuyết trên người Lục Thất, cởi xuống áo khoác và áo lông, giúp Lục Thất thay áo bào thoải mái, lại sửa sang tóc cho Lục Thất, Lục Thất mỉm cười tiếp nhận sự săn sóc, hưởng thụ cảm giác ấm áp.

Cuối cùng đi hậu trạch, Lục Thất tiến vào phòng ngoài nơi ở của Tiểu Phức, lập tức hơi ấm phả vào mặt, đồng thời nhìn thấy Tiêu Hương Lan. Lục Thất đi lên ôm Hương Lan vào ngực, cúi đầu hôn lên mái tóc, nhưng chỉ ôm trong chốc lát, Hương Lan liền chủ động rời khỏi, bàn tay ngọc kéo hắn đi vào buồng trong.

Tiến vào buồng trong, Lục Thất thấy Tiểu Phức đứng ở trước giường, tay phải vỗ về cái bụng nhô lên, cánh tay trái thì được Ngọc Lan dìu, khuôn mặt xinh đẹp sung sướng khẽ cười, đôi mắt đẹp dịu dàng chăm chú nhìn Lục Thất.

Lục Thất vội đi qua, giơ tay đỡ lấy Tiểu Phức, dịu dàng nói:- Tại sao không nằm trên giường?

- Cũng không thể cứ nằm hoài.

Tiểu Phức khẽ nói, được Lục Thất đỡ đến ngồi bên giường.

Tư Trúc tiến vào đem ghế lại đây, để Lục Thất và Tiểu Phức ngồi đối diện nhau, Lục Thất ôn hòa nói:

- Hương Lan, các nàng ra ngoài chốc lát đi, ta cùng với Tiểu Phức thảo luận chút quốc sự.

Hương Lan khẽ dạ, cùng những người khác đi ra ngoài, Tiểu Phức cười nhẹ nói:

- Có quốc sự gì mà phải đuổi các nàng ấy ra ngoài vậy?

- Chuyện ta nói để các nàng ấy nghe không tốt.

Lục Thất mỉm cười trả lời.

- Chàng nói đi.
Tiểu Phức dịu dàng nói.

Lục Thất thuật lại về chuyện mời Từ Huyễn nhận con gái, cuối cùng nói:

- Tiểu Phức, trước đó không có thương lượng cùng nàng, ta thật xin lỗi.

Tiểu Phức khẽ cười lắc đầu, nói:

- Thê biết việc Thất lang làm kỳ thực đều là vì muốn tốt cho thê, nếu để Ung Vương làm Quốc trượng, ngày sau sẽ là mối họa mang đến cho thê nỗi phiền não vô tận, Ung Vương nếu vẫn chưa chết sẽ còn mang dã tâm muốn tích thế tạo phản, cuối cùng thê chỉ có thể thối vị nhường chức, Quốc mẫu là tấm gương của thiên hạ, cho dù Thất lang có muốn bảo hộ thê cũng không thể.

Lục Thất mỉm cười gật đầu, lại nói về việc của Nội đình, sau cùng nói:

- Tiểu Phức, ngày sau nàng và Tiểu Điệp, Vận Nhi và Cầm Nhi sẽ phụ trách cai quản địa phương Vương phủ, trước mắt ta không thể cho Khanh tướng Nội đình quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm quan viên tại địa phương Vương phủ.

Tiểu Phức lo lắng nói:

- Thất lang, Hậu cung tham gia chính sự sẽ dẫn đến rất nhiều hậu hoạn, thê vốn muốn bảo chàng gác Nội đình sang một bên đấy.

- Hậu cung tham dự chính sự đúng là có hậu hoạn, nhưng mối họa của quyền thần và tướng soái vùng biên cương càng lớn hơn, ta không muốn học Lý quốc chủ phái văn nhân đi giám quân hoặc lĩnh quân, khiến cho chiến lực của quân đội yếu nhược, cũng không thể như Chu hoàng đế dùng thủ đoạn giữ cân bằng kiềm chế quân thần, cách làm của ta chính là thành lập một thế lực độc chiếm thiên hạ, về sau chủ quản các địa phương Vương phủ phải từng bước đổi thành hoạn quan hoặc nữ quan đi quản lý, không được phép can thiệp vào việc ngoại triều, còn Nội đình cũng không thể can thiệp sự vụ ngoại triều.

Lục Thất bình thản giải thích.

Tiểu Phức thoáng suy nghĩ, nói:

- Ý của Thất lang là mở rộng thế lực của Hoàng cung đến các nơi trên thiên hạ, dùng hoạn quan và nữ quan hình thành một thế lực địa phương trực thuộc Hoàng gia, rồi lại hạn chế hoạn quan chấp chưởng trọng quyền, mặt khác cũng hạn chế sức ảnh hưởng của trọng thần ngoại triều đến thế lực toàn quốc.

Lục Thất gật đầu, nói:

- Chu hoàng đế chính là tấm gương sáng cho ta, năm đó Chu hoàng đế và nhóm quân thần cùng chung hoạn nạn củng cố giang sơn Chu quốc, nhưng sau vì bất hòa mà nghi kỵ lẫn nhau, cho nên ta phải nhanh chóng thành lập một nắm tay độc chiếm thiên hạ, chủ cường thần yếu, mới có khả năng bình an vô sự, bằng không qua năm sáu năm, nhóm quân thần đều đã thế lớn rễ sâu, Hoàng đế cao cao tại thượng, nhưng lại cách xa quân lực, hơn nữa quốc gia bề thế thế này, rất dễ dàng hình thành thế lực thổ hoàng đế ở địa phương, ta phân tán bố trí đến các địa phương Vương phủ, nhiều ít có thể tượng trưng cho Hoàng uy chấn nhiếp một phương.

Tiểu Phức khẽ dạ, Lục Thất nhìn Tiểu Phức, mỉm cười nói:

- Cách làm của ta chưa chắc là chính xác, nhưng mục đích của ta chính là tránh đi theo vết xe đổ của Lý quốc chủ và Chu hoàng đế.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau