KIÊU PHONG

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Kiêu phong - Chương 711 - Chương 715

Quyển 5 - Chương 165: Hậu chiến

Vinh quốc công đi rồi, Lục Thất cũng rời khỏi Tường Vân các, đứng lặng nhìn về phía nam, hắn đang do dự xem có nên trở về Phúc Châu đoàn tụ với thân nhân không. Sau khi cân nhắc thật lâu mới quyết định không về, hắn lo lắng Hà Hoàng và Lũng Tây sẽ xảy ra biến cố, một khi đi đoàn tụ với thân nhân, rất có thể sẽ trì hoãn thời gian.

Đối với việc Vinh quốc công đòi phong, Lục Thất chỉ là giả vờ đắn đo một chút, trên thực tế hắn cần Vinh thị quy thuận, kiệu hoa mọi người cùng nâng, nhiều thế lực ủng hộ, so với nhiều thế lực đối địch tốt hơn nhiều, thế gia quy thuận, giống như chong chóng đón gió, nhưng hắn không thể không phòng Vinh thị phát triển thế lực, cho nên đưa đến Hồ Châu.

Mà Hồng Châu, Lục Thất định bồi dưỡng Vương Dũng trấn thủ, Lục Thất cần được quý tộc trước đây ủng hộ, tạo thành một thế cân bằng, còn về lời nói của Vinh quốc công để môn sinh của Thiên tử thống trị, căn bản không thể làm trong một thời gian ngắn, ít nhất cũng phải mười năm mới có thể thành hình, mở khoa thi chọn người tài đối với việc hắn thống trị lâu dài và hậu đại kế nhiệm có tác dụng vô cùng lớn.

Lục Thất đến ngự thư phòng, viết cho thân nhân một bức thư ân cần thăm hỏi, Thanh Văn khuyên hắn cưỡi khoái mã đi Phúc Châu một chuyến, hoặc là cho thân nhân ở Phúc Châu đến đây một chuyến, gặp nhau trên đường đi, Lục Thất lắc đầu không đồng ý, nói nếu làm chuyện này sẽ tạo ra động tĩnh lớn, đối với việc hắn ở Chu quốc tạo thành bất lợi, Thanh Văn vừa nghe cũng không dám nhiều lời nữa.

Ngày hôm sau, Lục Thất tiếp kiến các vị tướng soái cao cấp ở Trường Sa phủ, cùng nhau nâng cốc chúc mừng, bởi vì Kinh Châu là do Lục Thất chủ động lệnh buông tha, cho nên không hề tồn tại việc Tấn quốc thất bại, bởi vậy, sau khi Ngụy quốc bị tiêu diệt, quân tâm vui mừng hớn hở.

Trong lúc tiếp kiến, Lục Thất trình bày bố trí quân sự của Tấn quốc. Một là phải giải quyết hoàn toàn Nam Việt, hai là phải phòng ngự Chu quốc, ba là căn cứ vào thời cơ chiến đấu tiến đánh Ba Thục, bốn là đại quy mô tiêu diệt phỉ cố gắng đạt tới việc yên ổn.

Ngay sau khi Lục Thất quay về Tấn quốc, hai vạn bộ quân ở phía bắc Hán Thủy cũng vượt qua Hán Thủy, đi Giang Hạ “tác chiến”, mười nghìn kị binh ở lại phía bắc Hán Thủy.

Sau khi chiếm được Kinh Châu, Phan Mỹ sai người đi thông báo cho quân của Lục Thiên Phong đến thành Giang Lăng hội hợp, hai vạn quân sau khi nhận được lệnh, có một chủ soái suất quân đi thành Giang Lăng báo danh, chủ soái còn lại thì ở lại Hạ Khẩu “trấn thủ”.

Mười nghìn quân sau khi đến thành Giang Lăng, chủ soái cho người đi báo cho Phan Mỹ, Lục đại tướng quân mang theo mười nghìn kị binh ở lại bắc Hán Thủy, cũng không đến Kinh Châu, Lục đại tướng quân nói, Kinh Châu có Phan đại soái trấn thủ là được, hắn sẽ không đến làm loạn thêm.

Phan Mỹ nghe xong thì không biết phải làm sao, cũng không thể vì thế mà làm khó và nắm lấy mười nghìn bộ quân của Lục Thiên Phong, chủ soái mười nghìn quân còn nói chiến sự ở Kinh Châu đã xong, nên quay về Kinh Triệu phủ báo cáo với Kỷ vương điện hạ rồi, xin được rời khỏi. Phan Mỹ đã đồng ý, vì thế mười nghìn đại quân lại xuất phát chậm rãi rời khỏi thành Giang Lăng, mà Tiểu Điệp sau khi được chủ soái bộ quân báo lại, suất lĩnh mười nghìn kỵ binh rời khỏi Hán Thủy, gấp gáp quay về Tây bộ.

Lục Thất sau khi gặp tướng soái, đêm hôm đó liền rời khỏi Trường Sa phủ, một thân quân giáp Giáo úy cùng Tiểu Thanh cưỡi chung một con ngựa, hắn đã bổ nhiệm Vương Dũng đóng giữ Nam Xương phủ, phụ trách phòng ngự Đại Giang ở Giang Châu và Ngạc Châu. Quan Xung phụ trách phòng ngự Nhạc Châu ở thượng du Đại Giang, Cố Thái úy trấn thủ Trường Sa phủ Đàm Châu, quản lí toàn bộ, bất cứ lúc nào có binh biến thì trợ giúp phòng ngự Đại Giang, hoặc là trợ giúp tiến đánh Ba Thục.

Ngoài ra Tống Lão Thanh được phong làm Trấn Phủ Sứ tiêu diệt phỉ, quan phong Trấn quốc đại tướng quân, thống lĩnh hai trăm nghìn quân lực ở các địa phương, chuyên phụ trách tiêu diệt nạn trộm cướp ở các nơi.

Ngày hôm sau, Lục Thất vượt qua Đại Giang tới Giang Hạ, dịch dung đơn giản rồi ẩn nấp vào trong quân, xuất phát vượt qua Hán Thủy. Sau khi qua Hán Thủy, hai vạn bộ quân như bình thường quay về Tây bộ, mà mười nghìn kị binh đã quay về Tây bộ trước. Thực ra chính là cho người khác một loại cảm giác là Lục Thiên Phong dẫn kị binh “trốn” về Tây bộ, Lục Thiên Phong tại sao phải “trốn” về Tây bộ? Những người nghe nói qua sẽ có đủ loại phỏng đoán.

Chiến báo Chu quân phá được Hán Thủy, cướp được Kinh Châu đã đến Khai Phong phủ, mà một phong thư mật báo đến từ Kinh Châu đã nằm trong tay Chu Hoàng đế, trong mật báo viết cặn kẽ về chiến sự và tình hình Kinh Châu, tất nhiên cũng nói Lục Thiên Phong đã để lại quân ở phía bắc Hán Thủy, chiến tranh ở Kinh châu vừa mới chấm dứt, liền suất lĩnh mười nghìn kị binh quay về Tây bộ trước.

- Có lẽ là đánh rắn động cỏ rồi.

Chu Hoàng đế nhìn mật báo, chỉ có thể bất đắc dĩ phỏng đoán.

- Truyền Trương Vĩnh Đức.

Chu Hoàng đế phân phó, có người trực ban đi rồi.

Một lát sau, Trương Vĩnh Đức đi tới điện Văn Đức, sau khi hành lễ, Chu Hoàng đế ban thưởng ghế ngồi, đem mật báo đưa cho Trương Vĩnh Đức xem, Trương Vĩnh Đức sau khi xem cẩn thận nói:

- Bệ hạ, Tấn quân lại chủ động bỏ Kinh Châu, người làm chủ quả thực rất quyết đoán.

Chu Hoàng đế gật đầu nói:

- Trẫm cũng bất ngờ, quân Tấn hẳn có năng lực để phòng ngự Hán Thủy.- Có lẽ là có khả năng phòng thủ Hán Thủy, nhưng tất nhiên cái giá phải bỏ ra cũng quá lớn, quân Tấn chủ động lui bước, hẳn là xuất phát từ thiên thời địa lợi, rút lại binh lực đóng ở Đại Giang, có thể tránh được tổn thất lớn, dù sao quân lực tổn thất nhiều sẽ tạo thành sự khủng hoảng trong lòng quân.

Trương Vĩnh Đức giải thích nói.

Chu Hoàng đế gật đầu nói:

- Tránh cường đánh yếu, quân Tấn buông tha cho Kinh Châu, chỉ tập trung tiêu diệt Ngụy quốc, trên căn bản là bởi vì lòng quân không ổn định, chỉ muốn thắng mà không muốn bại, mới có thể khiến cho lòng quân Tấn ổn định.

Trương Vĩnh Đức gật đầu, nói:

- Quân Tấn chủ động buông tha cho Kinh Châu, khiến cho quân lực không bị tổn thất, mà tiêu diệt Ngụy quốc rồi, lại có thể khích lệ lòng quân, Phan Mỹ muốn thừa thắng xông lên, tất nhiên sẽ rất khó lập công.

- Muốn thừa thắng xông lên cũng không được, căn bản không có chiến thuyền để vượt sông, nếu từ hạ du điều thủy quân ngược sông lên trợ giúp, thì Trì Châu và Cửu Giang Khẩu cũng rất khó đột phá, Tấn quốc này, thật sự là mối họa lớn nhất của Đại Chu.

Chu Hoàng đế nhỏ giọng nói.

- Bệ hạ, thần cảm thấy, từ Kinh Châu khó có thể đột phá Đại Giang, như vậy có thể từ Ba Thục đột phá Đại Giang, phía thượng du Đại Giang tất nhiên là dễ qua hơn.

Trương Vĩnh Đức nói.

- Vấn đề là, nếu đại quân Phan Mỹ quay về Ba Thục, Tấn quốc cũng có thể chủ động phản công Kinh Châu, hơn nữa Triệu Khuông Nghĩa ở lại Kinh Châu không phải điều trẫm mong muốn.

Chu Hoàng đế nói.
- Nếu không muốn để Triệu Khuông Nghĩa ở lại Kinh Châu, vậy cũng chỉ có thể lệnh cho Triệu Khuông Nghĩa mang quân đi Nhuận Châu.

Trương Vĩnh Đức nói.

Chu Hoàng đế im lặng, một lát sau mới khẽ nói:

- Trẫm vẫn đang suy nghĩ, ngươi có ý kiến gì với hành vi của Lục Thiên Phong?

- Thần cảm thấy, có thể là có người nhắc nhở Lục Thiên Phong, mới khiến cho Lục Thiên Phong vội vã thoát thân như vậy.

Trương Vĩnh Đức đáp lại.

- Có người nhắc nhở? Có thể là ai?

Chu Hoàng đế bình tĩnh hỏi.

- Thần đoán là Triệu Khuông Nghĩa, có khả năng là ở chỗ Phan Mỹ có mật thám của Triệu Khuông Nghĩa, đối với Triệu Khuông Nghĩa mà nói, không muốn ngồi nhìn Lục Thiên Phong bị áp chế.

Trương Vĩnh Đức phỏng đoán nói.

Chu Hoàng đế gật đầu, Trương Vĩnh Đức lại nói:

- Bệ hạ, thần còn cảm thấy, cho dù bệ hạ không ra sách lược kia, Triệu Khuông Nghĩa cũng không có khả năng nghĩ ra kế li gián.

Chu Hoàng đế hơi giật mình, thoáng suy nghĩ một chút gật đầu, sau đó ôn hòa nói:

- Trước như vậy đã, đợi chiến báo lại đến thì sẽ tiếp tục bàn tiếp.

Trương Vĩnh Đức thi lễ rời khỏi, hai ngày sau, tấu chương của Kỷ vương và chiến báo của Phan Mỹ lần lượt gửi tới Khai Phong phủ, Chu Hoàng đế sau khi xem xong, sắc mặt vô cùng âm trầm, bản tấu của Kỷ vương là bẩm báo mười nghìn kị binh của Lục Thiên Phong chiếm cứ Tần Châu, lí do là tăng cường phòng ngự Thổ Phiên, mà chiến báo của Phan Mỹ, căn bản không nhắc đến chuyện Tấn quân chủ động lui bước, toàn bộ đều là tướng sĩ chiến đấu quên mình, chiến đấu anh dũng mới đoạt được Kinh Châu.

Trên triều đình, chúng thần toàn bộ đều là lời chúc mừng, coi việc Phan Mỹ chiếm được Kinh Châu là một công lớn mở mang bờ cõi, Chu Hoàng đế mỉm cười gật đầu, chỉ dụ Binh bộ nghị công.

Ba ngày sau, chiếu theo công lao, Phan Mỹ được thăng lên làm Thái phó Thái tử, Triệu Khuông Nghĩa được thăng lên làm Binh bộ Thượng thư, Lục Thiên Phong được phong làm Ngu quốc công, Tuyên phủ sứ Lũng Hữu, lệnh cho quân lực của Triệu Khuông Nghĩa xuất phát đi Nhuận Châu trợ giúp Giang Ninh Quận vương, Phan Mỹ ở lại trấn giữ phòng ngự Đại Giang từ Kinh Châu đến Ba Thục, quay về dưới quyền tiết chế của Tào Bân, tiếp tục tìm kiếm thời cơ tiến đánh phía nam Đại Giang, hoặc là tiến đánh Hán quốc ở Ba Thục.

Trên triều đình tuyên bố công thưởng không có dị nghị gì, cho dù có chút bất ngờ vì công thưởng của Lục Thiên Phong, từ Quận công thành Quốc công cũng coi như hợp lí, sao lại đổi thành Tuyên phủ sứ Lũng Hữu, nhưng sự bất thường này cũng không lớn, bởi vì Lục Thiên Phong đã tiếp quản Tây Ninh đô đốc phủ và Lũng Tây đô đốc phủ, hơn nữa Hà Tây, Bắc Đình trên thực tế đều thuộc về Lũng Hữu.

Ở thời Đường, lãnh thổ thiên hạ được chia làm mười lăm quốc gia, lấy Lũng sơn ở phía đông, đến địa vực đất bồi phía tây sáng lập con đường Lũng Hữu có Tần, Thành, Giai, Đãng, Dân, Vị, Điệp, Lâm, Lan, Hà, Hoàng, Khuếch, Lương, Cam, Qua, Túc, Sa, Bắc Đình ba Châu.

Bây giờ triều đình phong Lục Thiên Phong là Tuyên phủ sứ Lũng Hữu, mặc dù được cái tên, nhưng chỉ đem Tần châu, Thành Châu và Giai Châu cho Lục Thiên Phong tiếp quản, chia cho ba châu ở khu vực lân cận, Tần Châu càng ở ngay phía đông thành Trường An, chỉ cách Trường An một Phượng Châu, Phượng Châu chính là Phượng Tường tây đại môn của Trường An, Giai Châu đã xâm nhập vào Ba Thục.

Quyển 5 - Chương 166: Quản lí Lũng Hữu

Lục Thất ẩn trong hai vạn bộ quân, hành quân hơn mười ngày đã tới huyện Thành Kỷ châu trị của Tần Châu, cùng mười nghìn quân hội hợp, sau đó đóng quân lại Tần Châu.

Tần Châu là một trong những nơi sông Vị Hà chảy qua, có thể nhanh chóng đi đến Trường Giang bằng cách xuôi theo dòng sông Vị Hà, hạ hạt của Tần Châu bao gồm huyện Thành Kỷ, huyện Thượng Khuê, huyện Tần An, huyện Thanh Thủy, huyện Phục Khương, huyện Trường Đạo, ở Tây bộ Tần Châu cũng coi như là một nơi giàu có.

Lục Thất trước khi đến Tần Châu, Thứ sử Tần Châu và Huyện lệnh huyện Thành Kỷ cầu kiến mấy lần, đương nhiên không được Lục Thất tiếp kiến, quay sang hỏi quan tướng tại sao phải đóng quân ở Tần Châu, nhưng có lệnh của triều đình, quan tướng tất cả đều trả lời không biết.

Lục Thất chỉ ở lại Tần Châu một đêm, ngày hôm sau liền dẫn theo năm trăm tướng sĩ đến Lũng Tây đô đốc phủ, Lũng Châu đô đốc phủ được thiết lập ở huyện Lũng Tây Vị Châu, bên cạnh chính là Thao Châu và Dân Châu, có thể nói là tối hậu phương, mà Vị châu vốn là thuộc Bình Lương đô đốc phủ, dân chúng ở đây sống tương đối tốt, cho nên Vương Ngạn Thăng đem huyện Lũng Tây trở thành nơi đặt Đô đốc phủ, nhưng lúc so sánh với Kinh Châu và Tương Châu, châu vực Tây bộ liền bị coi là nơi nghèo khổ.

Lục Thất đi Lũng Tây đô đốc phủ, chủ yếu là tuần tra chỉnh quân, quan tâm, tăng sự ảnh hưởng đối với quan quân, nếu như mặc kệ nó lâu không để ý tới, rất có thể sẽ không khống chế được hoặc là lòng quân sinh ra sự oán hận, đây cũng là một nguyên nhân chính Lục Thất không dám đi đoàn tụ với thân nhân.

Ở lại mấy Châu của Lũng Tây sáu ngày, chợt Tiểu Điệp cho người đến thông báo, triều đình Chu quốc phái sứ giả đến, mang theo thánh chỉ tứ phong và bổ nhiệm, Lục Thất lập tức quay về Tần Châu, không ngờ lại gặp Kỷ vương.

Sau khi tiếp chỉ, Kỷ vương nói chuyện với hắn một lúc, thẳng thắn hỏi:

- Thiên Phong, ngươi sao rồi? Sao lại không quay về Kinh Triệu phủ?

Lục Thất đã nghĩ kĩ lí do thoái thác, đáp lại:

- Điện hạ, thần nhận được một bức thư cảnh cáo, nói Phan Mỹ sẽ gây bất lợi cho thần, thần nghi ngờ nên thần không thể không phòng ngừa.

- Là ai đưa thư?

Kỷ vương hỏi.

- Thần không biết, nhưng thần chỉ có thể tin.

Lục Thất trả lời.

Kỷ vương gật đầu nói:

- Thiên Phong, ta tuyệt đối sẽ không hại ngươi.

- Thần cũng thế, thần tuyệt đối sẽ không làm hại điện hạ.

Lục Thất đáp lại.

Kỷ vương gật đầu nói:

- Bây giờ nếu ngươi nghi hoặc, vậy không quay về Kinh Triệu phủ cũng được, nếu ta nhớ ngươi sẽ đến cùng ngươi uống rượu nói chuyện.

Lục Thất nghe xong lòng ấm áp, ôn hòa nói:

- Tạ ơn điện hạ thấu hiểu, điện hạ nếu đã đến thì tuyệt đối phái nhớ kĩ, ít nhất phải mang theo hai nghìn kỵ binh, đối với bất cứ quân ở bên ngoài đều không thể tùy ý tiếp cận.

Kỷ vương gật đầu, sau đó cười khổ nói:

- Đây là lãnh thổ Đại Chu, lại khiến ta cảm thấy dường như chỗ nào cũng không được yên ổn.

- Cho dù là ở Khai Phong phủ, cũng có khả năng xảy ra ám sát, ở Tây bộ này, cũng có nhiều quân lực căm thù ẩn nấp, thần cũng cẩn thận không dám sơ suất, điện hạ quay về, mang theo một nghìn hộ vệ, chính là tướng sĩ hộ vệ điện hạ trước kia.
Lục Thất ôn hòa nói.

Kỷ vương gật đầu nói:

- Thiên Phong cảm ơn ngươi.

- Điện hạ, nếu thành Trường An xảy ra chuyện gì, nhớ rõ phải cầu viện Tần Châu, hoặc là chạy tới Tần Châu, nhưng trên đường nhất định phải cẩn thận quân Phượng Tường.

Lục Thất dặn dò.

- Phượng Tường quân? Phượng Tường quân từng là quân do Thẩm Dật Luân đại nhân thống soái, chắc có lẽ sẽ không phản loạn.

Kỷ vương hoài nghi nói.

Lục Thất lắc đầu nói:

- Thẩm đại nhân là Tiết độ sứ của Phượng Tường quân, nhưng Thẩm đại nhân vẫn luôn ở thành Trường An, hẳn là không có lực ảnh hưởng gì đối với Phượng Tường quân. Đô Ngu hầu của Phượng Tường quân, thần không biết có thân cận gì với Triệu Khuông Dẫn không, thế lực thân cận với Triệu thị rất nhiều, mà ở phía đông Khai Phong phủ, thế lực thân cận của Trương Vĩnh Đức cũng rất nhiều.

- Trương Vĩnh Đức? Dượng chắc sẽ không có ác ý.

Kỷ vương phản bác nói.

- Có ác ý hay không thì rất khó nói, điện hạ hẳn phải tự mình cẩn thận.

Lục Thất ôn hòa nói.

Kỷ vương gật đầu, Lục Thất lại nói:

- Điện hạ, nếu Khai Phong phủ truyền lệnh đến bảo điện hạ quay về, điện hạ tốt nhất nên thông báo cho thần trước, không nên vội vàng rời khỏi thành Trường An.Kỷ vương ngẩn ra, nói:

- Thiên Phong, ý của ngươi là, có người dám dùng lệnh giả để lừa gạt ta?

Lục Thất lắc đầu nói:

- Thần cảm thấy, bệ hạ để điện hạ đảm nhiệm việc đóng giữ ở Kinh Triệu phủ, một trong những nguyên nhân chính chính là sợ Khai Phong phủ sẽ có biến.

Kỷ vương im lặng, Lục Thất lại nói:

- Thần nói đều là lời quan tâm, thần đề nghị điện hạ, có thể viết cho Hoàng đế bệ hạ một bức thư, ước định một cái ám kí để phân biệt thật giả, giống như một cái vé có một ước định.

Kỷ vương gật đầu nói:

- Ta chấp nhận đề nghị này, sẽ gửi tin đến cho phụ hoàng.

Lục Thất mỉm cười nói:

- Điện hạ cùng thần đi uống vài chén rượu, ngày mai hẵng quay về.

Kỷ vương gật đầu, cùng Lục Thất đi vào trong thành huyện Thành Kỷ uống rượu.

Kỷ vương đi rồi, Lục Thất lại quay về Lũng Tây đô đốc phủ, tiếp tục tăng mạnh việc khống chế Lũng Tây và Hà Hoàng, một bên chỉnh đốn quân lực, một bên tiến hành khôi phục đời sống cho nhân dân, mở rộng đồn điền.

Lúc trước hắn đóng quân ở Tần Châu, trên thực tế là một loại thăm dò từng chút một, xem Chu Hoàng đế có thể nhượng bộ hay không, nếu Chu Hoàng đế không chịu nhượng bộ, hắn cũng sẽ không chiếm đoạt Tần Châu. Kết quả Chu Hoàng đế đã nhượng bộ, lại còn đưa thêm cho Thành Châu và Giai Châu, Lục Thất đoán dụng ý của Chu Hoàng đế là kiềm chế Quân Chu ở Ba Thục, thì ra là không tín nhiệm tướng soái Chu quân ở Ba Thục.

Lục Thất đã biết Triệu Khuông Nghĩa bị điều đi Nhuận Châu, việc làm của Chu Hoàng đế chính là kéo dài việc xua hổ nuốt sói, muốn cho Triệu thị huynh đệ tiếp tục chiến đấu với Tấn quốc, nhưng cách làm của Chu Hoàng đế cũng không hoàn toàn là nội đấu, mà là chỉ có Nhuận Châu mới đột phá Giang Nam, Kinh Châu và Ba Thục ở thượng du Đại Giang cũng khó mà bị đột phá, Đại Giang trở thành nơi trở ngại hiểm yếu, binh lực không đủ cũng là sự thực, ba trăm nghìn quân lực lại đi phòng ngự ở Đại Giang, có tính cơ động chỉ có hơn mười vạn quân lực.

Đúng như dự đoán của Chu Hoàng đế, Lục Thất sau khi tiếp quản Hà Hoàng không thể tránh khỏi có dân số lưu động quay ngược lại, đa số người Hà Hoàng bị ép dời đến Cam Châu Hà Tây, liên tiếp có sáu vạn người quay về. Nhưng là Lục Thất cho phép quay về, Hà Hoàng cần nhân khẩu để khôi phục sinh khí, có càng nhiều nhân khẩu mới có thể khiến Hà Hoàng phồn vinh, sau đó sẽ khiến cho tướng sĩ trấn thủ Hà Hoàng càng an tâm, không người nào nguyện ý trấn thủ một vùng đất hoang vu, không chỉ buồn tẻ, càng thiếu đi cảm giác sứ mệnh, cũng chính là cảm giác không đáng.

Lục Thất không chỉ cho người ở Hà Tây quay về Hà Hoàng, còn chuyển một chút tá điền không có đất của Hội Châu đi Lũng Tây và Hà Hoàng, dùng hình thức bán mượn đất vườn để phân chia cho tá điền, tận lực khiến cho càng nhiều đất vườn kịp gieo trồng vụ xuân.

Thời gian bận rộn qua rất nhanh, nhoáng một cái đã hai tháng trôi qua, ngày hôm nay, Lục Thất đột nhiên nhận được tin cầu viện từ Hán Trung, tin là do Tào Bân gửi tới, nói Tấn quốc phái bốn trăm nghìn đại quân vượt qua Đại Giang ở Vạn Châu Ba Thục và Trung Châu phát động tiến công Hán quốc ở Ba Thục, nghe nói đã tiến công đến Du Châu (Trùng Khánh), Hợp Châu, quân tiên phong dũng mãnh một đường thẳng tiến thành đô.

Bởi vì Tấn quốc phát động tiến công Hán quốc Ba Thục rất đột nhiên, ngược lại với trước đây luôn quan sát xem xét, cho nên Chu quân nhất thời không thể tập kết đại quân, chỉ có thể phòng ngự canh gác, nhưng cũng có thể tìm cơ hội công phá Kiêm Các. Vấn đề chính là hậu kì không có lực lượng, cho nên Tào Bân gửi thư cầu viện, ý chính là một trăm nghìn quân lực của y một khi công phá Kiếm Các, sẽ cùng Tấn quốc tranh đoạt Ba Thục, Hán Trung ở phía sau cần Lục Thất xuất binh viện trợ.

Lục Thất nhìn thư xin viện trợ nhíu mày, Tấn quốc phát động chiến tranh với Hán quốc sớm hơn với điều hắn mong muốn, lúc hắn ở Trường Sa phủ, đã từng nói với Cố Thái úy và Quan Xung, thực lực quốc gia của Hán quốc Ba Thục đã hao tổn rất nhiều, đã chỉ còn hơi tàn, trong tình thế bị Chu quân và Tấn quân đe dọa, không bao lâu sau sẽ lựa chọn đầu hàng.

Lúc này mới hơn hai tháng, quân Tấn liền phát động chiến tranh đánh Ba Thục, trong lòng Lục Thất hiểu rõ, tám phần là chuyện hắn đang ở Lũng Hữu khiến cho thân nhân và tướng soái của Tấn quốc có chút sốt ruột, hai tháng, sau khi Tấn quốc đi sứ chiêu hàng thất bại lập tức xuất binh tiến đánh Ba Thục.

Lục Thất cũng không cho rằng Tấn quân vội vàng tiến đánh là sai lầm, thực ra sau khi chiếm cứ Ba Thục, sẽ khiến cho Chu quốc rơi vào hoàn cảnh xấu, Ba Thục là vùng thượng du của Đại Giang, chỉ cần có được một số lượng lớn chiến thuyền là có thể phát động chiến tranh từ Ba Thục xuôi theo sông Giang, có thể đánh bất ngờ Kinh Châu, đúng như câu “Triều từ Bạch Đế thái vân gian, thiên lý Giang Lăng nhất nhật hoàn. (*)”

(*) 2 câu đầu trong bài thơ Há Giang Lăng của Lý Bạch. Theo bản dịch của Viên Thu:

Sớm rời Bạch Đế rạng tầng mây, nghìn dặm Giang Lăng tới một ngày.

Quyển 5 - Chương 167: Cuộc chiến ở Ba Thục

Đối với việc Tào Bân xin chi viện, Lục Thất trả lời rất khó trợ giúp, nói binh lực ở Lũng Tây và Hà Hoàng nếu rời khỏi đây, rất có thể sẽ bị thổ phiên đột kích, hắn nói Hà Hoàng vừa có mười vạn nhân khẩu chuyển đến, cuộc sống vừa mới ổn định, không chịu được tai họa do Thổ Phiên đột kích.

Lục Thất nói hắn chỉ có thể đem ba vạn quân đóng ở Tần Châu, chuyển hai vạn bộ quân đến Giai Châu, mười nghìn kị binh hắn sẽ linh hoạt trợ giúp nơi xảy ra chiến tranh, thực ra Giai Châu và Thành Châu đã liền với Hán Trung.

Lục Thất đương nhiên sẽ không ủng hộ Tào Bân tiến đánh Ba Thục, nhưng thực ra, dù hắn có nói ủng hộ, Tào Bân cũng không dám tiến đánh Ba Thục, một là Tào Bân không có khả năng tín nhiệm hoàn toàn Lục Thất, hai là quân lực của Tấn quốc tiến đánh Ba Thục rất nhiều.

Tào Bân nói bốn trăm nghìn Tấn quân đó cũng chỉ là quân tình lúc đầu thăm dò được, thực ra Tấn quốc phái bảy trăm nghìn quân lực đi, Quan Xung thống lĩnh hai trăm nghìn quân lực tiến đánh Thông Châu, quân tiên phong tiến đánh Hán Trung, tác dụng chủ yếu là kiềm chế Chu quân.

Tống Lão Thanh thống lĩnh hai trăm nghìn quân tiến đánh Du Châu (Trùng Khánh), sau khi quân tiên phong tiến đánh về hướng thành đô, Đỗ Dũng suất lĩnh ba trăm nghìn quân Ba Lăng, trực tiếp đánh về hướng thành đô, đại quân hai đường thắng như chẻ tre.

Lục Thất căn bản không thể tưởng được, hắn cho Tống Lão Thanh tiêu diệt phỉ, nhưng thê thiếp của hắn ở Phúc Châu hợp nghị đổi thành tiến đánh lấy Ba Thục, Tống Lão Thanh mặc dù được Lục thất bổ nhiệm là Trấn phủ sứ tiêu diệt phỉ, nhưng lại tuân theo quân lệnh biến báo từ Nội đình.

Quân lực của Đỗ Dũng đánh đến Giản Dương, cũng chính là cửa cuối cùng bảo vệ thành đô, gặp phải đại quân hai trăm nghìn quân của Hán quốc ngăn cản, y cũng không nóng lòng tiến công, đột nhiên áp dụng chiến lược phòng ngự, kiên nhẫn chờ đợi Tống Lão Thanh đến hợp nhất quân đội, lần xuất binh này, Đỗ Dũng từng khiêm tốn thỉnh giáo Cố Thái úy, Cố Thái úy cho hắn tám chữ, “đóng vững đánh chắc, chớ đánh một mình”.

Ưu điểm của Đỗ Dũng chính là cẩn thận trầm ổn, cho nên y mặc dù thống lĩnh ba trăm nghìn đại quân, trong quân còn có một vạn thần nỏ quân, cũng không vì muốn lập công mà sốt ruột tiến đánh, cách của y chính là không cần vội vàng tiến công cướp lấy thành đô, đợi sau khi hợp nhất với quân của Tống Lão Thanh mọi người cùng nhau tiến công.

Y áp dụng thế phòng ngự, đại quân Hán quốc lại chủ động tiến công, hai trăm nghìn đại quân Hán quốc đánh về hướng quân Ba Lăng, quân Ba Lăng có thể nói là được trang bị tốt nhất Tấn quốc, trăm phần trăm mặc giáp, có tấm chắn, có cung nỏ, có đao tốt cùng cung tiễn, chỗ thiếu hụt duy nhất là không có nhiều kị quân, chỉ có thám báo và quan tướng có ngựa.

Hai trăm nghìn quân Hán ý chí chiến đấu rất cao, ở trước tiên là mười nghìn kị binh, vó ngựa như sấm, vạn con ngựa chạy nhanh khí thế ngút trời, có thể nói là Hán quốc không chịu khuất phục, cũng có thực lực chống đỡ, Ba Thục giáp với Hà Hoàng, từng thông qua giao thương đổi lấy một số lượng lớn chiến mã từ Hạ quốc, quý tộc Hạ quốc vì lợi ích cá nhân, từng bán rất nhiều chiến mã, cho nên kị binh của Hạ quốc cũng không nhiều lắm.

Nhìn thấy vạn mã lao nhanh đánh úp về phía này, ba trăm nghìn quân Ba Lăng chỉ hơi náo động một chút, Đỗ Dũng không được coi là danh tướng thiện chiến, nhưng trị quân rất có năng lực. Quân Ba Lăng này được huấn luyện đều là do Đỗ Dũng tự mình giáo huấn, thường xuyên thi đấu, dùng sự đề bạt và khao thưởng để tạo ra lòng trung thành và sự dũng mãnh của quân Ba Lăng, hơn phân nửa quan tướng và quan tướng bị thân của quân Ba Lăng đều là dùng bản lĩnh trong lần tỉ thí võ trổ tài năng mà giành được.

Quân Ba Lăng bắt đầu thay đổi, hơn một nghìn xe được đẩy khỏi nhóm quân, trên mỗi chiếc xe đều có một cái hòm gỗ, trước hòm gỗ có ba mươi lỗ thủng, mỗi cái lỗ thủng đều có một mũi tên sắc bén.

- Bắn.

Quan phất cờ trong quân hạ lệnh, mỗi một chiếc xe sau khi nỏ ngắm chuẩn đều thả ra, một trận âm thanh run rẩy vang lên, mỗi chiếc xe phóng ra ba mươi mũi tên, cùng lúc tạo thành ba vạn chiếc tên, giống như sao sa bay đi, mục tiêu chính là kị binh quân Hán.

A! Mười nghìn kị binh quân Hán, trong lúc dũng mãnh xung phong bị giết hại thê thảm, một trận mưa tên, hơn bốn nghìn kị binh bị rơi khỏi ngựa, tên lướt không bắn về phía kị binh và bộ binh ở phía sau cũng tạo thành sát thương, thậm chí còn có nỏ xuyên qua giết chết kị binh phía trước sau đó lại theo đà bắn trúng thân thể của kị binh hoặc ngựa ở phía sau.

Một loạt tên liền giết chết một nửa số kị binh của quân Hán, số kị binh còn lại như vong hồn hoảng sợ, nhưng lại không thể dừng lại việc xông lên, nhìn thấy vũ khí khủng bố của kẻ địch lui ra phía sau, sau đó hàng nghìn binh lính cầm nỏ tiến lên, quân địch luân phiên ngắm bắn, mỗi một lần hai nghìn năm trăm người cùng nhau bắn, kị binh xung phong của quân Hán chỉ còn không đến hai nghìn người.

Sau đó lại có cung thủ của quân Ba Lăng bắt đầu biểu diễn, bắn ra mưa tên đoạt mệnh với kị binh quân Hán rơi vào tầm bắn, không đến hai nghìn kị binh quân Hán, có hơn ba trăm người thấy tình hình không ổn thúc ngựa chạy trốn, bộ binh của quân Hán đằng sau hoảng sợ không dám xông lên, nhưng bộ binh của quân Hán ở đằng sau lại không ngừng thúc ép, kết quả xuất hiện sự hỗn loạn.

- Nổi trống.

Đỗ Dũng vừa nhìn thấy, quyết đoán hạ lệnh tiến công.

Ầm! Ầm! Ầm! Tiếng trống trận ầm ầm đánh vào lòng người, sau đó tiếng kèn hiệu sừng châu vang lên, giết! Ba trăm nghìn quân Ba Lăng ai cũng hét lên, vẫn duy trì thế trận chạy về phía trước, cung thủ trong quân bắt đầu bắn mưa tên về phía quân Hán.Quân Hán tuy rằng hoảng sợ, nhưng đều giơ cung lên bắn trả, nhìn thấy quân địch có tấm chắn đỡ, ba người một tổ, theo thứ tự là lá chắn, trường thương và cung tiễn, hợp thành một đường giống như một con rồng chạy đến.

Bộ quân hai nước quyết liệt đánh nhau, quân Ba Lăng dùng lá chắn anh dũng cầm thuẫn lao vào, lính dùng trường thương ở đằng sau chuẩn xác đâm trúng, cung thủ giơ cung lên bắn, đại đa số cũng rút trường đao sắc bén, phối hợp với đồng đội.

Vừa tiếp cận chiến đấu, gần như đều là quân Hán bị giết, quân Hán mặc dù cũng là quân trận, nhưng cũng chỉ là hô ứng cho nhau, hàng thứ nhất đều là lính dùng trường thương của quân Hán, nhưng hàng thứ nhất của quân Ba Lăng đều là binh lính cầm lá chắn. Sau khi lá chắn va chạm với trường thương, sau đó sẽ có đồng đội xông vào ám sát, khiến cho lính dùng trường thương của quân Hán bị thiệt hại nặng, chẳng khác gì bị hai đánh một.

Quân Hán lần thứ hai thất bại, quân tâm dao động, càng khiến cho ý chí chiến đấu của quân Hán nguội lạnh chính là quân địch ai cũng mặc áo giáp, lại còn là áo giáp tốt nhất, mà quân Hán được mặc áo giáp tốt không nhiều lắm, thậm chí có đến một nửa quân Hán không có áo giáp, một nửa của hai trăm nghìn đại quân của quân Hán, là binh lính tập kết từ dưới xã, không đến nửa giờ, quân Hán liền sụp đổ chạy trốn, rất nhiều binh lĩnh từ dưới xã tập kết vứt binh khí ôm đầu đầu hàng.

Trận chiến này, tám vạn quân Hán chạy trốn, hơn hai vạn quân tử vong, trong đó có mười nghìn kị binh, quân Ba Lăng bắt được gần một trăm nghìn quân Hán làm tù binh, phần lớn đều là binh lính dưới xã không có áo giáp, Đỗ Dũng cũng không thừa thắng xông lên, lệnh dọn dẹp chiến trường, tiếp tục phòng ngự.

- Đại soái, trận chiến này đánh thật sự rất sảng khoái, sớm biết rằng quân Hán ở Ba Thục ẻo lả như vậy, quân Tấn trước đây cũng không nên chỉ đứng nhìn mà không tiến quân.

Ngu hầu Trung quân Phương Kiệt vui vẻ nói với Đỗ Dũng, Phương Kiệt là thành viên của binh dũng quân lúc trước.

- Lời nói này sau này không được nói lung tung, nếu truyền đi sẽ không tốt đối với ngươi.

Đỗ Dũng nghiêm nghị cảnh cáo.

- Thuộc hạ đã hiểu, chỉ là muốn nói quan điểm với đại soái mà thôi.

Phương Kiệt đáp lại.
- Loại quan điểm này của ngươi, thật ra rất nhiều người đều nghĩ như vậy, cảm thấy vì sao không sớm tiến đánh Ba Thục, cảm thấy bệ hạ quá cẩn thận.

Đỗ Dũng nói.

- Thuộc hạ cũng không dám nghi ngờ quyết sách của bệ hạ, thuộc hạ chẳng qua là cảm thấy quân Hán ở Ba Thục quá yếu.

Phương Kiệt đáp lại.

- Bệ hạ cũng biết quân Hán không mạnh, nhưng đối với bệ hạ mà nói, là không muốn dùng binh để chiếm được Ba Thục, đây là do Cố Thái úy nói với bổn quân.

Đỗ Dũng nói.

- Bệ hạ vì sao không muốn dùng binh để lấy được Ba Thục?

Phương Kiệt khó hiểu hỏi.

- Bởi vì bệ hạ là người đứng đầu Tấn quốc, cho nên bệ hạ không muốn tiêu hao quá nhiều tài lực, lần này điều bảy trăm nghìn quân tiến đánh Ba Thục, khao thưởng sau khi thắng lợi, đề bạt chức quan, trợ cấp đều trở thành gánh nặng rất lớn đối với Tấn quốc, chiến tranh chính là hao tổn rất nhiều quốc lực, khiến cho dân chúng và việc ổn định gặp khó khăn.

Đỗ Dũng bình thản giải thích.

Phương Kiệt hiểu được gật đầu, Đỗ Dũng lại nói:

- Một đường chinh chiến, có thể thấy được dân chúng Ba Thục điêu linh, kho lương trống không, căn bản không thể đền bù được sự hao tổn của bảy trăm nghìn quân lực lần này, thật ra chúng ta không xuất binh, tiếp tục kéo dài thêm vài tháng, Ba Thục Hán quốc tám phần sẽ đầu hàng, bởi vì Hán quốc không thể tiếp tục chống đỡ, nhân đinh đều đi phòng ngự chiến tranh, không ai làm ruộng vậy thu đông ăn cái gì?

- Vậy sao lại xuất binh?

Phương Kiệt khó hiểu nói.

- Bệ hạ muốn kiên nhẫn đợi Hán quốc đầu hàng, nhưng các nương nương không muốn chờ đợi, nguyên nhân gì bổn quân không thể nói, ngươi cũng không được truyền ra ngoài, nếu không bổn quân sẽ mặc kệ ân tình trước đây sẽ không cho ngươi ở bên người nữa.

Đỗ Dũng nói.

- Vâng thuộc hạ đã hiểu, tuyệt đối sẽ không lắm lời.

Phương Kiệt cam đoan.

Quyển 5 - Chương 168: Vùi lấp Thành Đô

Ba ngày sau, quân Ba Lăng hội hợp với quân của Tống Lão Thanh, bốn trăm nghìn đại quân trùng trùng điệp điệp đi về hướng thành đô, Đỗ Dũng cũng không hợp nhất quân đầu hàng, cho nên để lại một trăm nghìn quân ở lại Giản Châu, mà Tống Lão Thanh cũng trong thời gian chinh chiến thu được hơn năm vạn quân đầu hàng, để lại tướng sĩ Tấn quốc trông coi nơi đã đoạt được.

Sau khi hợp nhất đại quân tiến lên, Tống Lão Thanh và Đỗ Dũng cùng cưỡi ngựa đi, Tống Lão Thanh cười nói:

- Không thể tưởng được huynh đệ lại đợi ta cùng nhau tiến đánh thành đô.

- Nếu đã tiến đánh tất nhiên là phải cùng nhau đoạt được, ngoài ra ta từng hỏi Cố Thái úy, Cố Thái úy đề nghị ta đóng vững đánh chắc, chớ nên một mình.

Đỗ Dũng mỉm cười đáp lại.

Tống Lão Thanh gật đầu nói:

- Lần này tiến công áp đảo, cũng không có nguy hiểm gì, dù sao Hán Trung cũng có Chu quân, một khi đột phá Kiếm Các sẽ có chuyện xấu.

- Tống đại ca cố kị Chu quân sao.

Đỗ Dũng nói.

Tống Lão Thanh gật đầu nói:

- Mặc dù chưa từng chiến đấu với Chu quân, nhưng mà dưới quyền danh tướng không phải tướng sĩ bất tài, Chu quốc là một quốc gia thượng võ, cho nên tố chất của tướng sĩ tất nhiên sẽ dũng mãnh.

Đỗ Dũng gật đầu, Tống Lão Thanh lại nói:

- Thực ra, nếu Tấn quốc chúng ta không phải vẫn luôn quan sát kiềm chế, Chu quân sớm đã tiến công tiêu diệt Hán quốc, mà hơn phân nửa quân lực Hán quốc dùng để phòng ngự đều là Chu quân, có thể nhận thấy, chiến lực của Chu quân ở trong mắt quân Hán là mạnh hơn chúng ta.

Đỗ Dũng gật đầu lại cười nói:

- Theo ta thấy, Hán quốc khinh thường chúng ta, có thể chính là dựa vào mười nghìn kị binh, cho rằng có thể đánh tan chúng ta.

Tống Lão Thanh gật đầu nói:

- Hẳn là như vậy, nhưng gặp phải nỏ thần tí, kị binh quá yếu so với bộ quân xung phong rồi, mà kị binh mặc áo giáp nặng nên thiếu mất sự linh hoạt, tuy nhiên nếu kị binh có nỏ thần tí, vậy sẽ có ưu thế hơn so với bộ quân.

Đỗ Dũng gật đầu nói:

- Sự sắc bén của nỏ thần tí này chính là bí mật tối cao của quân chúng ta, không được phép truyền ra bên ngoài.

Tống Lão Thanh lắc đầu nói:

- Không thể giấu được.

- Nếu không giấu được thì liền cấm dùng, bất kể ai cất giấu riêng và buôn bán nỏ thần tí đều phạm trọng tội.

Đỗ Dũng nói.

Tống Lão Thanh gật đầu nói:

- Có thể dùng lệnh cấm trong quân, đánh vào tiểu thương buôn bán quân khí, nhưng một khi thực hiện nghiêm khắc quá, ngược lại sẽ khiến cho rất nhiều quan viên có lòng tham buôn lậu.

- Vậy bắt được một người giết một người, người tố cáo được trọng thưởng.

Đỗ Dũng khiêu mi nói.

Tống Lão Thanh mỉm cười nói:

- Không đơn giản như vậy, nếu dám can đảm bán nỏ thần tí, tám phần sẽ có liên quan đến người quyền quý, hơn nữa cũng sẽ xảy ra việc mưu hại, có thù oán với ai thì âm thầm để nỏ thần tí trong nhà người đó, như vậy cũng rất khó nói rõ.

Đỗ Dũng gật đầu nói:

- Đúng là phức tạp.

Tống Lão Thanh cười nói:

- Chuyện cấm lệnh trong quân chúng ta không nên quan tâm, chúng ta là thống soái, quản tốt quân của mình không gây ra chuyện là được rồi.

Đỗ Dũng gật đầu, Tống Lão Thanh lại nhìn về phía tiền phương nói:
- Nghe người Thục nói, Hoàng đế Hán quốc cũng là một người phong hoa tuyết nguyệt, nhưng lợi hại hơn so với Lý Quốc Chủ, ở hậu cung có ba bốn nghìn mỹ nhân, nghe nói có một Quý phi họ Phí, chẳng những dung nhan khuynh quốc khuynh thành hơn nữa cùng là một tài nữ, được gọi là Hoa Nhị phu nhân.

Đỗ Dũng ngẩn ra nói:

- Ta cũng từng nghe nói.

- Ngươi cũng từng nghe qua, đợi lấy được thành đô, ta phải xem nữ nhân kia có phải xinh đẹp như hoa, nếu là mỹ nhân ta sẽ lấy làm thiếp.

Tống Lão Thanh mỉm cười nói.

Đỗ Dũng mặt biến sắc, vội thấp giọng nói:

- Tống đại ca ăn nói cẩn thận, nữ nhân kia nếu là Quý phi Hán quốc, nếu đại ca thu làm thiếp sẽ phạm phải điều kiêng kị đấy.

Tống Lão Thanh quay đầu cười nhìn Đỗ Dũng nói:

- Phạm húy, ý huynh đệ là nên hiến tặng cho bệ hạ?

Đỗ Dũng lắc đầu nói:

- Cho dù không dâng tặng cho bệ hạ, ta và huynh cũng chỉ là hạ thần, cũng không thể giữ lại nữ nhân kia.

- Huynh đệ, ngươi nghĩ nhiều quá rồi, Quý phi Hán quốc cũng không liên quan đến điều kiêng kị ở Tấn quốc, Hán quốc bị tiêu diệt cũng không còn là Hoàng hậu Quý phi gì nữa.

Tống Lão Thanh nói.

Đỗ Dũng lắc đầu nói:

- Đại ca, có lẽ Hoàng đế Hán quốc sẽ đầu hàng.

- Đầu hàng? Đến lúc nguy cấp mới chịu đầu hàng, quá muộn rồi.

Tống Lão Thanh cười lạnh nói.

Đỗ Dũng ngẩn ra nói:

- Đại ca, bệ hạ luôn luôn đối xử tử tế với Hoàng đế đầu hàng, chúng ta không nên làm chuyện xằng bậy.

- Bệ hạ muốn trấn an lòng người, không thể không đối xử tử tế với Quốc vương đầu hàng, Hoàng đế Hán quốc này năm lần bảy lượt phụ lại lòng tốt của người khác, không nên để y tiếp tục được sống trong vinh hoa phú quý, tới thành đô rồi, chúng ta lập tức công thành, lý do chính là sợ Chu quân đột kích không thể kéo dài.Tống Lão Thanh nói.

- Đại ca, không ổn, nếu bệ hạ biết sẽ trách tội chúng ta đấy.

Đỗ Dũng vội vàng lắc đầu phản đối.

- Huynh đệ, có một số việc bệ hạ làm không được hay cho lắm, thân là thần tử của bệ hạ nên vì bệ hạ gánh một phần ác danh, ngươi nghĩ xem, bệ hạ nguyện ý để Hoàng đế Hán quốc tiếp tục có nhiều của cải sao? Hơn nữa lần xuất binh này, nếu không lấy được tài lực, vậy áp lực của triều đình sẽ rất lớn.

Tống Lão Thanh giải thích.

Đỗ Dũng nghe xong suy nghĩ một chút, một lát sau, gật đầu nói:

- Được, ta nghe lời đại ca, tội danh sau khi làm xong chúng ta cùng gánh.

- Có thể gánh chút tội danh là chuyện tốt.

Tống Lão Thanh mỉm cười đáp lại.

Bốn trăm nghìn quân Tấn đã đến thành đô, đại quân lập tức bao vây phong tỏa các cửa thành, buổi trưa ăn uống đầy đủ, vừa qua ngọ, trống trận vang dội, tiếng kèn sừng trâu vang lên, quân Tấn phát động công thành.

Nhìn cửa thành đô nguy nga, quân sĩ Tấn quốc sĩ khí thế ngất trời anh dũng tiến về phía trước, bắc thang trăm bậc, tướng sĩ cầm lá chắn hung hãn không sợ chết trèo lên, hơn vạn quân thần tí nỏ, bắn mưa tên lên tường thành, áp chế quân Hán trên tường thành, mà quân Hán trên tường thành, không có mấy người ló đầu lên, hơn nữa cũng không có cung để phản kích.

Thực ra, quân Hán ở thành đô đã không còn ý chí chiến đấu, đều nói rằng Hoàng đế đã chuẩn bị đầu hàng, sự thảm bại ở Giản Châu hoàn toàn đã đánh sụp ý chiến đấu chống cự của Hán quốc, khiến cho điều kiện đầu hàng trước đây Tấn quốc đưa ra trở thành hấp dẫn rất lớn, chính là đợi quân Tấn phái sứ giả đến đám phán, nhưng kết quả là quân Tấn đến lại trực tiếp công thành.

Quân Tấn đánh vào thành đô, quân Hán không hề có chút ý chí chiến đầu nào hoặc là đầu hàng, hoặc là trốn vào trong thành, quân Tấn đã vào thành mở cửa nam ra, đa số quân Tấn giống như nước lũ xông vào thành đô, hơn nữa mục tiêu là tiến thẳng đến khu thái thành và hoàng cung, khu thái thành là nơi mà các quan viên có thế lực nhất ở Hán quốc ở, quân Tấn không hề tập kích quấy rồi thương khu và nhà dân.

Ba vạn quân Tấn tới hoàng cung, rất dễ dàng công phá hoàng cung, trực tiếp đi vào bắt đầu càn quét. Đem tất cả thị vệ hoàng cung cùng thái giám áp tải ra khỏi hoàng cung, đem đám nữ nhân không phân biệt thân phận tất cả giam lại.

Một người trung niên mặc áo bào gấm minh vàng, cùng với năm sáu thái giám và hai đại thần, vội vã chạy ra khỏi điện Thừa Vận, người trung niên khuôn mặt đoan chính, vẻ mặt hoảng sợ, hai tay nắm một cái mâm gỗ, trong mâm có ngọc tỷ và thư xin hàng.

- Tội thần nguyện ý quy hàng Đại Tấn, tội thần nguyện ý quy hàng Đại Tấn.

Người trung niên giơ mâm gỗ lên, ở ngoài Thừa Vận điện lớn tiếng hô to.

Chợt một mũi tên từ trong không trung bay tới, chuẩn xác bắn trúng cổ họng của người trung niên, sau đó càng nhiều mũi tên bay tới, rất nhanh bắn chết toàn bộ người đứng trước Thừa Vận điện, sau đó rất nhiều quân Tấn chạy về phía Thừa Vận điện nhanh chóng kéo thi thể đi nơi khác. Hơn phân nửa quân Tấn đi vào trong Thừa Vận điện, tiếp tục càn quét hoàng cung, nhưng không hề xảy ra chuyện cưỡng gian rồi giết chết, hoàng cung cũng không bị phá hỏng, chỉ là tất cả tài vật đều bị quân Tấn lấy đi giao cho Lục sự quan tướng.

Tống Lão Thanh đi vào hoàng cung Hán quốc, trên đường đi nhìn cảnh quan hoàng cung, thỉnh thoảng nói chuyện với quan tướng dẫn đường, nói nơi này tốt hơn nhiều so với hoàng cung ở Nam Xương phủ, quan tướng chỉ cẩn thận phụ họa, lại có chút sợ sệt không dám nói bừa, bởi vì lời nói của Tống Lão Thành phạm húy.

Đi thẳng tới một tòa các, quan tướng dừng lại, Tống Lão Thanh tự mình đi vào các, vừa vào các nhìn thấy một mỹ nhân, mỹ nhân kia da trắng nõn nà, nét mặt diễm lệ, vẻ mặt kinh hoàng nhìn Tống Lão Thanh, Tống Lão Thanh đi qua, ánh mắt tự nhiên nhìn mỹ nhân.

- Dung mạo như hoa, ngươi chính là Phí quý phi?

Tống Lão Thanh mỉm cười hỏi.

Mỹ nhân sợ hãi gật đầu, Tống Lão Thanh đi lên giơ cánh tay bắt lấy tay phải của mỹ nhân, sau đó hai tay xé đi quần áo của mỹ nhân, mỹ nhân hoảng sợ không đủ sức chống cự, rất nhanh bị biến thành người đẹp bạch dương uyển chuyển xinh đẹp.

Ánh mắt Tống Lão Thanh tham lam nhìn chăm chú, hài lòng mỉm cười gật đầu, bàn tay to gãi gãi thỏ ngọc đẫy đà của mỹ nhân, sau đó dời xuống vuốt ve eo nhỏ cùng cặp mông đầy đặn, từ cặp mông đầy đặn mò xuống đùi ngọc thon dài, vuốt ve xong chốc lát chợt cúi đầu xuống hôn lên trán mỹ nhân.

- Nhớ kĩ, ta là Tống Lão Thanh, sau này ta sẽ làm nam nhân của ngươi.

Tống Lão Thanh mỉm cười nói.

- Tống Lão Thanh? Ngươi không phải Tấn vương?

Mỹ nhân bất ngờ e sợ nói.

Tống Lão Thanh nhún vai mỉm cười nói:

- Tấn vương là huynh đệ của ta, ta muốn có ngươi cũng không phải chuyện gì khó, cứ chờ xem, ta sẽ mang ngươi quay về Nhiêu Châu.

Tống Lão Thanh đánh giá mỹ nhân xong rồi rời khỏi các, đã có tâm phúc bảo vệ cho các, mỹ nhân ở trong các sợ hãi chờ đợi vận mệnh, không biết tương lai là phúc hay là họa?

Quyển 5 - Chương 169: Phương Kiệt

Thành Đô bị chiếm, nghe nói Hoàng đế Hán quốc thà chết không hàng, nhiều quan lại ở Thành Đô cũng bị xét nhà, nhưng đa số quan lại Hán quốc không bị thảm họa chiến tranh, dân chúng yên ổn vô sự.

Tống Lão Thanh sau khi thu nạp và chỉnh lí lại số hàng tốt, quân lực dưới quyền đã tăng lên bốn trăm nghìn, năm ngày sau, Đỗ Dũng mang theo ba trăm nghìn quân Ba Lăng rời khỏi Thành Đô, mà lúc quân Tấn tiến đánh Ba Thục, hạ du Đại Giang lại có một số lượng lớn chiến thuyền đi ngược dòng đến.

Đỗ Dũng mang theo quân Ba Lăng đi hội hợp với quân Quan Xung, hai quân sau khi hợp lại thì thẳng tiến Ba Châu ở phía đông Kiếm Các, Ba Châu đã bị Chu quốc chiếm, Tào Bân sau khi được thám báo báo lại thì vô cùng kinh hãi, y chỉ có một trăm nghìn quân lực, mà quân địch lại có tận năm trăm nghìn, hơn nữa hơn phân nửa đều là binh lính mặc giáp tinh nhuệ.

Tào Bân không chỉ cầu viện Lục Thất, cũng hạ lệnh Phan Mỹ mang theo một trăm nghìn quân đến Hán Trung, Phan Mỹ sau khi nhận được lệnh, chỉ đều năm vạn quân đi Hán Trung, lý do là y phải trấn thủ Kinh Châu, nói Tấn quốc có một số lượng lớn chiến thuyền đi Ba Thục, bất cứ lúc nào cũng có thể bất ngờ tiến đánh cướp lấy Kinh Châu.

Tào Bân thật sự không còn cách nào khác, chiều hướng tiến quân của quân Tấn hoàn toàn ngoài dự đoán, nhưng đến hôm nay nhìn lại thì lại là chuyện tất nhiên, Tấn quốc tiêu diệt Ngụy quốc, đã không còn lo lắng sau này nữa, hơn nữa còn thu lại quân lực ở Kinh Châu, tất nhiên có thể tập kết một số quân lực thực hiện chiến thuật biển người.

Ngược lại Chu quốc tiến đánh Kinh Châu, nhưng lại giống như bị mắc mưu chia quân lực, nếu Hán Trung vẫn còn ba trăm nghìn quân, Tào Bân cho dù đối mặt với bảy trăm nghìn quân lực của Tấn quốc cũng dám can đảm xuất kích, Tào Bân cũng cảm thấy, Hoàng đế bệ hạ không nên nóng lòng điều quân lực của Triệu Khuông Nghĩa rời khỏi Kinh Châu.

Đối mặt với năm trăm nghìn quân Tấn, Tào Bân bất đắc dĩ đành lựa chọn rút lui, lãnh thổ quốc gia mất còn có thể đoạt lại, nếu một trăm nghìn quân lực bị quân Tấn tiêu diệt, vậy đối với Chu quốc là đả kích rất lớn. Y bất đắc dĩ phải buông tha cho Hán Trung, lui lại giữ Phượng Châu, mà Kỷ vương tập kết gần một trăm nghìn quân địa phương giúp đỡ Tào Bân, nhưng Hán Trung có được rồi lại mất đi đã trở thành sự thật.

Lục Thất cũng chỉ có thể dựa theo tình hình điều năm vạn quân lực từ Giai Châu và Thành Châu, cùng Chu quân ở Phượng Châu hình thành trạng thái vây quanh Hán Trung. Trong lòng hắn lại càng bực mình thêm, lúc ở Trường Sa phủ, hắn đã từng nói không nên chiếm lấy Hán Trung, kết quả sau khi chiếm Ba Thục lại bất ngờ tiến đánh Hán Trung.

Nguyên nhân thực sự Lục Thất không cho phép chiếm lấy Hán Trung chính là không muốn tạo thành áp lực giặc ngoại xâm lớn đối với Chu quốc, ngoài ra quân Tấn chiếm Kiếm Các, có thể có được ưu thế về địa hình, không cần phải trả giá nhiều, nếu thủ ở Hán Trung, sẽ kiềm chế rất nhiều quân lực của Tấn quốc, cũng dễ dàng sinh ra trận thế giằng co với Chu quốc.

Quân Tấn chiếm lấy Hán Trung, rất có thể sẽ khiến cho kết quả không như Lục Thất mong muốn, trong tình hình không có áp lực giặc ngoại xâm lớn, khả năng Chu quốc nội chiến sẽ rất lớn, bây giờ Tấn quốc tạo thành uy hiếp diệt quốc đối với Chu quốc rất lớn, khả năng nội chiến ở bên trong Chu quốc sẽ giảm, cũng chính là quân thần muốn soán vị vì để tránh cho ngao cò đánh nhau ngư ông đắc lợi sẽ áp chế dã tâm xuống.

Bực mình thì bực mình, Lục Thất cũng phải đối mặt với sự thật, hắn cảm giác chủ soái của quân Tấn, có lẽ không phải Quan Xung, cũng không thể nào là Cố Thái úy, chủ soái rõ ràng rất khí phách, cũng có thể nói là kích động, Quan Xung và Cố Thái úy biết hắn không muốn sớm lấy Hán Trung, sẽ là ai chứ?

Phương Kiệt mặc một thân quần áo bình dân, có chút khẩn trương đi vào khu vực Giai Châu, y tuyệt đối không nghĩ đến, đại soái sẽ lệnh y đi vào Giai Châu tìm gặp bệ hạ, bệ hạ không ngờ lại không ở hoàng cung ở Phúc Châu Tấn quốc, đây là điều Phương Kiệt khó có thể tin.

Đi vào được mười dặm, Phương Kiệt đã trở thành tù binh, y tự nói là đồng hương của Lục Thiên Phong đại tướng quân, có quân tình trọng yếu cần bẩm báo, tướng sĩ bắt được Phương Kiệt không nói hai lời, liền đưa Phương Kiệt đi gặp Lục thất, tướng sĩ này vốn là do Lục Thất dặn dò chờ.

Sau khi đi vào trướng của đại soái, Lục Thất ngồi sau một cái bàn xử lí công văn, sau khi Lũng Hữu do hắn quản lí, Thứ sử các châu ngoài Hà Tây đều mang một ít chuyện không thể tự mình quyết định xin chỉ thị của Lục Thất, nói thẳng ra chính là biểu thị sự tôn trọng cùng phục tùng với Lục Thất, Lục Thất đương nhiên cũng hiểu được, cho nên rất nghiêm túc đáp lại.

Phương Kiệt liếc mắt một cái liền nhận ra Lục Thất, kinh hãi ngừng hô hấp, sau đó bước lên một bước quỳ trên mặt đất, sau khi chào theo nghi thức quân đội cung kính nói:

- Thần Tương ngu hầu quân Ba Lăng khấu kiến bệ hạ, Hoàng thượng vạn tuế vạn vạn tuế.

Lục Thất đã quay đầu nhìn mỉm cười nói:

- Phương Kiệt sao ngươi lại đến đây, đứng lên đi.

Phương Kiệt cung kính đứng dậy, Lục Thất chỉ vào chiếc ghế ở bên cạnh nói:

- Trong quân không cần câu nệ, ngồi đi.

Phương Kiệt thi lễ xong mới ngồi xuống đối diện Lục Thất, Lục Thất nhìn y, bình thản nói:

- Ta nhớ là ngươi đi theo Đỗ Dũng, chẳng nhẽ Đỗ Dũng mang quân đến Hán Trung?

- Đúng, thần đi theo Đỗ đại soái, lần này tiến thủ Ba Thục, là quân Ba Lăng, quân Tống Lão Thanh, quân Quan Xung, tổng cộng bảy trăm nghìn đại quân, bây giờ Tống đại soái trấn thủ Thành Đô, Đỗ đại soái hợp với quân của Quan đại soái, tổng cộng năm trăm nghìn quân tiến chiếm Hán Trung.

Phương Kiệt đáp lại.

Lục Thất gật đầu nói:

- Tống Lão Thanh suất quân đến đây, y không đi tiêu diệt phỉ sao?

- Đúng vậy, là do Nội đình phát lệnh, lệnh cho Tống đại soái và Đỗ đại soái tiến quân chiếm Ba Thục, sau khi chiếm được Ba Thục, Tống đại soái nói, các nương nương ở trong cung lệnh tiến chiếm Hán Trung, cho nên Đỗ đại soái liền mang quân cùng Quan đại soái chiếm lấy Hán Trung.Phương Kiệt giải thích, ánh mắt có chút khẩn trương nhìn Lục Thất.

Lục Thất nghe xong nhíu mày, sau đó tức giận nói:

- Làm càn.

Phương Kiệt nghe xong hơi kinh sợ, nhưng vẫn im lặng, Lục Thất thở dài nói:

- Chiếm Ba Thục thuận lợi chứ?

- Rất thuận lợi.

Phương Kiệt cẩn thận nói một lần, bao gồm cả việc Tống Lão Thanh chỉnh đốn quân quy hàng và chưa chiêu hàng đã công thành, Hoàng đế Hán quốc bị giết chết trong hoàng cung.

- Bệ hạ, Đỗ đại soái vì ổn định quân Ba Lăng cho nên không mở rộng thu nạp quân đầu hàng.

Phương Kiệt nói.

Lục Thất nghe xong bình tĩnh gật đầu nói:

- Thuận lợi là tốt rồi.

Phương Kiệt gật đầu, Lục Thất lại nhìn Phương Kiệt, bình thản nói:

- Đừng nghĩ rằng ta sẽ trách tội Tống Lão Thanh và Đỗ Dũng, Tống Lão Thanh là huynh đệ cùng vào sinh ra tử với ta năm đó ở quân Hưng Hóa, y làm như vậy ta cũng sẽ không có bất kì ngờ vực gì, Đỗ Dũng và ngươi cũng đều là huynh đệ của ta, Quan Xung là người trung nghĩa, cho nên ba thống soái chắc chắn sẽ không rời khỏi ta.

Phương Kiệt khẽ gật dầu nói:

- Không dám dối gạt bệ hạ, thần cảm thấy cách làm của Tống đại soái có chút hơi quá khiến cho người khác lo lắng.Lục Thất mỉm cười lắc đầu nói:

- Có gì phải lo lắng, không nói đến tình nghĩa cùng vào sinh ra tử giữa ta và Tống Lão Thanh, cho dù là mấy chục vạn quân lực ở Ba Thục, không nói đến quân đầu hàng, hai trăm nghìn quân lực từ Tấn quốc căn bản sẽ không phản bội Tấn quốc, rời khỏi Tấn quốc thì chính là mất đi chỗ chống đỡ, sau khi phản bội Ba Thục có thể sống yên sao, Ba Thục bây giờ thật sự rất nghèo.

Phương Kiệt gật đầu nhưng lại lắc đầu nói:

- Bệ hạ hiểu lầm ý của thần rồi, thần lo lắng Tống đại soái làm như vậy sẽ gây ra đại họa, bây giờ trong quân Tấn ai cũng vô cùng tôn sùng bệ hạ, Tống đại soái mới lĩnh quân không lâu sẽ không ai theo y làm điều xằng bậy.

Lục Thất nghe xong mỉm cười nói:

- Đỗ Dũng có điều gì muốn nói sao?

- Đỗ đại soái và Quan đại soái muốn đến bái kiến bệ hạ.

Phương Kiệt cung kính nói.

- Bọn họ vẫn đừng nên đến thì hơn, đợi đêm rồi, ta sẽ đi cùng ngươi.

Lục Thất tùy ý nói.

Phương Kiệt gật đầu, chần chừ một chút lại hỏi:

- Bệ hạ, thần cảm thấy, hình như bệ hạ không vui mừng khi chiếm được Hán Trung.

Lục Thất gật đầu, nói ra nguyên nhân và sách lược, Phương Kiệt nghe xong gật đầu nói:

-Lời của bệ hạ chính là đạo lí một ổ kẻ trộm nội chiến tranh giành ngôi vị đại vương, bỗng nhiên có quan binh đến, vậy bảy phần sẽ bỏ xuống tranh chấp đối phó quan binh trước, có ba phần là không đồng nhất quan điểm chạy đi một bộ phận.

Lục Thất nghe xong mỉm cười, ôn hòa nói:

- Việc chiếm Hán Trung không thể trách Tống Lão Thanh, thực ra là do ta tạo thành, là do trong cung lo lắng cho an nguy của ta, cho nên muốn khiến Lũng Hữu và lãnh thổ Tấn quốc hoàn toàn hợp nhất.

Phương Kiệt gật đầu nói:

- Thần cũng hiểu được, bệ hạ ở bên ngoài một mình đúng là không ổn.

Lục Thất cảm động gật đầu, nói:

- Bây giờ huynh đệ binh dũng quân đều là quan viên đi?

- Đa số đều là võ quan, thuộc hạ cũng là chức thực, là Ngu hầu trung quân, một số người không có năng lực đều ở Phúc Châu làm Dực vệ, bọn thuộc hạ có thể được phú quý đúng là may mắn, là do thuộc hạ mệnh tốt có thể trở thành Nguyên tòng lão binh của bệ hạ.

Phương Kiệt chân thành nói.

Lục Thất hơi giật mình, lập tức hiểu được gật đầu, ý của “nguyên tòng” chính là chỉ nhóm thuộc hạ cũ thân cận nhất, thuộc hạ của Thái tổ Đường triều Lý Uyên chiêu mộ từ Thái Nguyên liền trở thành Nguyên tòng Cấm quân, con cháu kế nhiệm, là thân quân của hoàng đế.

Lục Thất và Phương Kiệt hàn huyên chuyện cũ, cũng thông qua Phương Kiệt hiểu càng rõ chuyện ở Tấn quốc, Phương Kiệt là Ngu hầu trung quân, thường xuyên tham dự vào việc cơ mật của triều đình, ở trong quân Mong Lăng có vai trò rất quan trọng.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau