KIÊU PHONG

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Kiêu phong - Chương 651 - Chương 655

Quyển 5 - Chương 105: Chinh phạt Bắc Đình

Lục Thất lệnh người phi ngựa đến Sa Châu, ngày kế thu được hồi âm của gia chủ Vương thị. Gia chủ Vương thị nói, ông ta phái người đi Tây Châu là để thông thương, còn về việc Tây Châu phái người xin đầu phục thì không biết.

Gia chủ Vương thị cũng nói về tình thế Tây Châu, chiếm đa số nhân khẩu Tây Châu là hậu nhân của Thiên Sơn quân thời Hán Đường, nhưng mấy trăm năm trôi qua, người Hán Tây Châu đã sớm mang huyết thống Hồ Hán, ở Tây Châu cũng vẫn tồn tại Thiên Sơn quân. Đô Úy của Thiên Sơn quân hiện nay họ Lý, nhân số Thiên Sơn quân ước chừng bốn ngàn.

Gia chủ Vương thị không thể xác định Tây Châu xin quy phục là thực hay giả, tuy nhiên giữa Thiên Sơn quân của Tây Châu cùng Y Châu và Đình Châu quả thật tồn tại chiến loại, cũng chịu sự xâm phạm của Hắc Hãn Hồi Hột ở phương tây, có thể nói hoàn cảnh sinh tồn hết sức gian khổ. Với lại, hơn phân nửa quốc vực của Hắc Hãn Hồi Hột cũng chính là An Tây tứ trấn thời kỳ Đường triểu, đã từng chịu sự quản hạt của An Tây đô hộ phủ.

Gia chủ Vương thị kiến nghị không cần để ý đến thỉnh cầu quy thuộc của Tây Châu, lý do là Hà Tây không nên phân quân viễn chinh. Ngoài ra, Thiên Sơn quân ở Tây Châu trên thực tế là một chi của dân tộc Hồi Hột. Vào vài thập niên trước, Thiên Sơn quân từng thống trị ba châu Bắc Đình là Đình Châu, Y Châu và Tây Châu, được xưng là Hồi Hột Tây Châu, mà không dùng tự xưng là Bắc Đình đô hộ phủ do Đường triều kiến chế. Tuy nhiên, vào thời Trương Nghị Triều, Thiên Sơn quân Tây Châu từng thần phục Trương Nghị Triều.

Nhận được trả lời của gia chủ Vương thị, Lục Thất viết thư thỉnh cầu Kỷ Vương điều binh. Về quân tình, nói rằng Hạ quốc có khả năng sẽ liên hợp với Liêu quốc và Hồi Hột Y Châu, từ Cư Diên Hải đột kích Hà Tây. Hắn cần điều ba vạn quân lực Hội Châu tiến vào Hà Tây, để nâng dậy quân tâm Hà Tây, áp chế những nhân tố bất ổn.

Kỷ Vương nhận được thư của Lục Thất, không có bất kỳ nghi ngờ, trực tiếp lệnh Thạch Trung Phi suất lĩnh ba vạn quân, vượt Hoàng Hà tiến đến Hà Tây. Hai vạn quân đóng giữ sẽ cường điệu đi phòng ngự Thanh Thủy hà. Ngoài ra, ở Tiêu Quan Nguyên Châu cũng có hai vạn Cấm quân trấn thủ, có thể cùng quân lực Hội Châu hình thành góc hô ứng.

Thạch Trung Phi suất lĩnh ba vạn Hội Châu quân tiến vào Lương Châu, đóng quân ở ngoài thành Võ Uy một đêm, ngày kế lên đường đến thành Trương Dịch, cùng một đám tướng soái vào thành bái kiến Lục Thất. Lục Thất đón tiếp nhóm tướng soái, và giới thiệu Dương Côn, nói thẳng muốn tiến chiếm Bắc Đình tam châu, Dương Côn làm Đại Soái hành quân.

Dùng Dương Côn làm Soái tiến chiếm Bắc Đình tam châu, Lục Thất đã trải qua một phen cân nhắc mới quyết định. Hắn lo lắng Thạch Trung Phi, Thạch Trung Phi hẳn là có thể đảm nhiệm trách nhiệm lĩnh quân chinh chiến, nhưng chưa chắc có thể ứng phó với Thiên Sơn quân của Tây Châu, Thiên Sơn quân trong mắt Lục Thất chính là một thanh nhuyễn đao. Chờ khi hắn tiến chiếm được Tây Châu, tất sẽ thiết lập lại Thiên Sơn quân.

Đại quân xuất chinh được cử hành nghi thức xuất chinh long trọng. Tiểu Thanh cũng theo quân đến Trương Dịch, nàng mặc phục trang Tế Ti sặc sỡ, ở trên đài cao cử hành lễ tế. Trên đài cao bày biện một cái đỉnh bằng đồng đen, Tiểu Thanh thực hiện vũ đạo hiến tế, người nhẹ như chim yến, lượn vòng quanh đỉnh, nhanh đến nỗi tựa như phân thân, hóa thành một vòng ảnh thân. Cuối cùng, đỉnh đồng dấy lên đại hỏa, hơn vạn người với dáng vẻ thành kính đặt tay phải lên ngực, cúi đầu.

Đại quân viễn chinh Y Châu rời khỏi Cam Châu, ngoại trừ ba vạn bộ quân, Lục Thất còn rút ra bốn trăm Thần Tí Nỏ vệ và sáu ngàn kỵ binh quy về dưới trướng Dương Côn thống lĩnh. Muốn tiến chiếm Bắc Đình tam châu, vậy phải tốc chiến tốc thắng, hơn nữa tác chiến trên thảo nguyên sa mạc, không thể khuyết thiếu kỵ binh.

Đại quân đi rồi, Lục Thất chỉ có thể kiên nhẫn chờ tin tức, tiếp tục mỗi ngày thao luyện ba vạn kỵ binh, đồng thời cũng phái ra thám báo đi trinh sát Liêu quốc ở phương bắc. Địa vực bao la bên ngoài Cư Diên Hải thuộc Thượng Kinh đạo của Liêu quốc, nhưng lại hoang vắng. Lục Thất không muốn xảy ra chiến sự với Liêu quốc, nhưng chiến tranh đều là vì ích lợi mà phát sinh. Hà Tây trong mắt Liêu quốc chính là bảo địa, thích hợp cho nông nghiệp và chăn nuôi.

Hai mươi ngày sau, đại quân viễn chinh truyền về tin tức thắng lợi, đã công chiếm thành Y Ngô của Y Châu, xảy ra ba lượt chiến dịch với Hồi Hột Y Châu. Quân lực Hồi Hột Y Châu không coi là nhiều, mười mấy bộ lạc cộng lại cũng chỉ có tám vạn nhân khẩu, quân lực có năng lực chiến đấu có hai vạn.
Dương Côn chọn lựa chiến lược đầu tiên là chiêu hàng, nói Thiên Sơn quân Tây Châu đi Hà Tây xin quy hàng, Đại tướng quân Hà Tây vì khai thông thương đạo Tây Vực mới xuất đại quân tiến chiếm Y Châu. Kết quả là Hồi Hột Vương của Y Châu không chịu hàng, tập kết đại quân chặn đánh.

Trận đầu, một vạn kỵ binh của Hồi Hột Vương công kích chính diện quân trận Hà Tây, kết quả tử thương thảm trọng. Quân trận do Dương Côn huấn luyện khép mở tự nhiên hỗ trợ cho tấn công linh hoạt. Đánh một trận liền bị diệt gần sáu ngàn kỵ binh, Hồi Hột Vương khiếp sợ mang theo tàn binh trốn chạy, bị kỵ binh Hà Tây một đường truy đuổi thẳng đến Đình Châu.

Trận thứ hai là đoạt thành Y Ngô. Đại quân vây thành một ngày, bốn ngàn Hồi Hột quân thủ thành không chịu hàng, ngày kế liền bị tiến công hãm thành.

Trận thứ ba là chủ động nghênh chiến hai vạn quân lực Đình Châu đến chi viện, cùng một vạn tàn quân của Hồi Hột Y Châu. Hồi Hột quân rút kinh nghiệm không lại tiến công chính diện, mà tản ra tự do công kích, kết quả vẫn bị thảm bại. Vũ khí đánh xa của Hà Tây quân sắc bén, phối hợp với quân trận, đã tạo thành sát thương thật lớn đối với kỵ binh Hồi Hột.

Qua ba trận đánh, thắng lợi của quân viễn chinh trên cơ bản đã định đoạt. Hiện tại Dương Côn đang lĩnh đại quân đi thu thập Thiên Sơn quân của Tây Châu, vì sau khi tiến quân Y Châu, Thiên Sơn quân Tây Châu không nghe lệnh đến Y Châu quy thuộc, rõ ràng chính là thủ đoạn dẫn hổ nuốt sói, nhưng lại không ngờ quân lực Hà Tây chẳng những nhiều mà chiến lực còn hùng mạnh đến không thể tin.

*****

Lục Thất xem tin báo thắng lợi hết sức vui mừng. Hắn yên tâm rồi, hạ lệnh ba vạn kỵ binh xuất phát rời khỏi Trương Dịch, tiến đến Cư Diên Hải, vì theo thám báo hồi báo, quân lực của Liêu quốc tại Trấn Châu thuộc Thượng Kinh đạo nhiều hơn mười vạn, mà Tây Bắc quân ti của Trấn Châu Thượng Kinh đạo bình thường chỉ có ba vạn quân lực.Liêu quốc đóng quân ở Trấn Châu gần Cư Diên Hải nhất, vậy chỉ có ba phương hướng tiến quân. Một là Mông Cổ Mạc Bắc, hai là núi A Nhĩ Thái ranh giới Đình Châu và Y Châu, ba là Cư Diên Hải. Lục Thất đương nhiên không trông cậy Liêu quốc sẽ không tiến công Cư Diên Hải, cho nên chỉ có thể tiên phát chế nhân xuất binh tác chiến ở Cư Diên Hải.

Thời điểm ba vạn kỵ binh rời khỏi Cam Châu, tại Trường Thành Lương Châu đã tập kết tám vạn bộ quân đối kháng phản công của Hạ quốc, ở Đại Đấu Bạt Cốc cũng có năm ngàn bộ quân trú đóng phòng ngự Thổ Phiên, theo Trường Thành phía bắc Cam Châu xuất khẩu, đồng thời bố trí hai vạn bộ quân phòng ngự, phòng ngừa Liêu quân qua Cư Diên Hải đột kích Cam Châu.

Ba vạn kỵ quân Tây Lương đã tới Cư Diên Hải đóng quân, Lục Thất chờ hồi báo của thám báo mà xuất kích. Hắn đương nhiên không có khả năng vượt qua sa mạc đi tiến công Trấn Châu của Liêu quốc, mà là dùng khỏe ứng mệt chờ chực Liêu quân. Kỵ quân chưa tới, thủ quân Cư Diên Hải đã phụng mệnh phong tỏa, cấm thương nhân rời khỏi Cư Diên Hải.

Hai ngày sau, Lục Thất nhận được thư tín hồi báo chim ưng đưa tới. Mười vạn đại quân Liêu quốc, một nửa kỵ binh một nửa bộ quân, đã xuất phát, phương hướng đúng là Cư Diên Hải. Lục Thất chia ba vạn kỵ binh thành năm đội quân, áp dụng chiến thuật phân ra từng quãng xen kẽ chặn đánh trên sa mạc, tận lực tiêu diệt Liêu quân trên sa mạc. Nếu để mặc cho mười vạn Liêu quân đến được Cư Diên Hải, được nghỉ ngơi và thu được tiếp tế tiếp viện, đó chính là ác mộng của Hà Tây quân.

Lục Thất suất lĩnh sáu ngàn kỵ binh thực hiện chặn đánh ở xa nhất. Trấn Châu của Liêu quốc cách Cư Diên Hải mấy ngàn dặm, đi qua thảo nguyên và sa mạc, cho nên Liêu quân đi công kích Cư Diên Hải rất dễ trở thành đội quân mệt mỏi, mặt khác cấp dưỡng cũng trắc trở. Trước kia, Liêu quân đã từng đột kích Cư Diên Hải của Hạ quốc, bị kỵ binh Hạ quốc đánh bại giữa sa mạc. Chiến thuật của Lục Thất chính là tham khảo trận mẫu ngày trước.

Lục Thất lệnh quân tiến vào sa mạc, nhưng không xâm nhập quá sâu. Lần này chặn đánh Liêu quân, hắn suất lĩnh kỵ binh và dẫn đường xâm nhập sa mạc. Hành tẩu trong sa mạc, lạc đà là phương tiện vận chuyển và chuyên chở tốt nhất, tuy nhiên lạc đà chỉ thích hợp cho việc đi buôn, không thể chạy nhanh như ngựa.

Tiến vào sa mạc, hiện ra trước mắt cồn cát mênh mông vô tận. Căn cứ theo kế hoạch chiến lược chặn đánh, Lục Thất dẫn theo một chi kỵ binh vào sâu trong sa mạc chừng hai ba trăm dặm nghênh địch, nếu không thấy kẻ địch thì quay trở về, ở trên đường hội ngộ với làn sóng kỵ binh xâm nhập tiếp theo.

Kỵ binh Lục Thất suất lĩnh chia thành mười hai chi, tách ra cùng tiến vào trong sa mạc, phòng ngừa giao với Liêu quân mà chẳng biết. Lục Thất và năm trăm kỵ binh ở trên sa mạc chậm rãi tiến lên, tận lực duy trì thể lực. Trong sa mạc, dù có cường tráng đến đâu, nếu không được tiếp tế nước, chờ đợi chắc chắn vẫn là cái chết.

Ba trăm dặm đường trên sa mạc, Lục Thất đi suốt năm ngày. Mắt thấy nước uống và thức ăn đã tiêu hao gần nửa, hắn đình chỉ không đi tiếp, đóng trại chờ một ngày một đêm, nếu không gặp phải Liêu quân thì sẽ phản hồi.

Bọn kỵ binh sau khi đóng quân, vui mừng lấy ra rượu thịt ăn uống. Hành quân trên sa mạc Lục Thất không cấm uống rượu, nhưng không được uống say. Các tướng sĩ cũng đều rất tự giác, đương nhiên, rượu cũng không nhiều lắm.

Lục Thất một mình đi đến một mỏm đá cao nhất giữa sa mạc, quan sát cảnh tượng mặt trời rực lửa chìm dần ở phương tây, hắn cảm thán lắc đầu. Mấy ngày qua, hắn đã lĩnh hội được sự đáng sợ của sa mạc. Ba ngày trước gặp phải một trận bão cát, cái cảm giác kinh khủng kia, tựa hồ đang ở địa ngục, bất lực tuyệt vọng.

Quyển 5 - Chương 106: Sa chiến

Đứng quan sát nửa thời, có tướng sĩ đến thay Lục Thất xem chừng. Lục Thất trở về doanh địa ăn cơm, đêm đến lại trở về bãi đất cao trông xa. Tiến vào sa mạc tới nay, hàng đêm hắn đều tự mình canh gác.

Sa mạc về đêm rất lạnh, những khi không có gió, sự tĩnh mịch bao trùm lên khiến cho lòng người khó có thể kiên định, khi có gió, bão cát thổi vào mặt cắt rát da thịt, gió to thì làm người ta sởn tóc gáy, phảng phất như phải đối mặt với nguy cơ tử vong.

Trên người Lục Thất phủ một lớp da sói, cầm trong tay đại cung, bên trái thắt lưng treo một chiếc sừng trâu hiệu lệnh, bên dưới lớp da sói lộ ra áo giáp minh quang, dưới ánh trăng lấp lánh sáng choang. Lúc này gió nhẹ phất qua, ánh trăng tựa dòng suối bạc trút xuống màn đêm sa mạc.

Yên tĩnh, các tướng sĩ đều đã tiến vào mộng đẹp, Lục Thất không có ý định đi ngủ, cũng không như trước đây tọa tức. Không biết vì sao trong lòng hắn bất an, có lẽ là không gặp được Liêu quân, khiến cho tâm lý hắn cảm giác như không nắm được thế chủ động, trở nên vô cùng lo lắng.

Lục Thất hướng về phía bắc đứng lặng im quan sát thật lâu, nơi tầm mắt quét qua không phát hiện ra điều gì dị thường. Hắn cất bước trở về doanh địa, lặng lẽ lay tỉnh một cận vệ, bảo gã đi đến mỏm cát xem chừng, bản thân hắn thì đi đến hướng bắc.

Giẫm lên cây tùng bị vùi lấp dưới cát bụi, Lục Thất đơn độc dưới ánh trăng đi về hướng bắc. Hắn vừa đi vừa kéo da sói, cố gắng che khuất những chỗ minh quang giáp lóe sáng. Hắn giống như đang tản bộ, từng bước một chậm rãi đi, hắn không dám lệch khỏi quỹ đạo, trong sa mạc mà bị lệch hướng, sẽ rất khó tìm về doanh địa.

Một thời sau, Lục Thất đã đi ra ước chừng hai mươi dặm. Hắn nhìn về phương bắc lắc đầu, rốt cuộc không dám đi tiếp nữa. Hắn dừng lại quan sát trong chốc lát, cuối cùng chạy tới một cồn cát thật cao ở một bên, tính toán trèo lên quan sát từ trên cao một chút rồi trở về.

Chờ hắn một mạch trèo lên đỉnh cồn cát, vừa liếc mắt nhìn xuống liền mạnh mẽ nhào lên mặt cát nằm sấp, tiếp đó ngẩng đầu nhìn về phía bắc. Trên sa mạc ở phương bắc không ngờ lại có một rừng doanh trướng, tuy nhiên khu vực doanh trướng kia cách cồn cát nơi Lục Thất cũng phải chừng năm sáu dặm. Câu danh ngôn nhìn núi làm ngựa chết (*) cũng áp dụng trên sa mạc.

(*): thấy núi gần nhưng giục ngựa chạy đến chết vẫn chưa tới; thấy vậy nhưng vẫn còn xa lắm.

Lục Thất dựa vào nhãn lực hơn ngựa, sơ lược ước đoán quân lực của doanh địa kia, phỏng chừng có tới hai ba vạn, hơn nữa bên trong doanh địa thấp thoáng thấy ngựa và lạc đà thành đàn, đây hẳn là một chi kỵ quân, chỉ là không cách nào phân biệt có phải là Liêu quân hay không. Nhưng bất kể có là Liêu quân hay không, nếu đã tiếp cận Cư Diên Hải, thì chính là kẻ địch của Hà Tây.

Lục Thất phỏng đoán xong, lập tức nằm rạp trên cát bò vòng về sườn phía nam cồn cát, đứng dậy rồi chạy băng băng trốn về. Lúc đi tới thì cần một thời, khi chạy về đến doanh địa, nửa thời cũng không tới.

Các tướng sĩ ngủ say bị Lục Thất gọi dậy, nghe thấy phát hiện doanh địa Liêu quân, mỗi người lập tức tinh thần phấn chấn chỉnh quân. Lục Thất phái người theo hướng ngang đi thông báo cho các đội quân khác, lại phân phó các tướng sĩ chuẩn bị hỏa tiễn và dầu hỏa. Chuyến tiến vào sa mạc tác chiến này, có thể nói Lục Thất đã chuẩn bị rất đầy đủ.

Sau khi chỉnh quân, Lục Thất suất lĩnh năm trăm tướng sĩ gấp rút chạy trước về phương bắc. Hắn phải đúng lúc thực hiện hỏa công, nhiều người ngược lại không dễ tiếp cận doanh trại quân đội của kẻ địch. Vì duy trì thể lực của ngựa, hơn phân nửa lộ trình đều là dẫn ngựa tiến tới, cũng có ý chờ đợi những đội quân khác.

Đã tới cồn cát cao nơi phát hiện doanh trại quân địch, Lục Thất phân phó năm trăm quân chia thành năm bộ phận, hắn đích thân lĩnh một bộ phận từ chính diện tiến công dụ địch. Địa vực nơi đóng quân của địch trống trải, rất khó giấu được lính gác, chỉ có thể áp dụng cấp tiến bất ngờ tập kích thực hiện hỏa công, nói cách khác năm trăm tướng sĩ này của Lục Thất là đội cảm tử tiên phong.

- Đại tướng quân, chờ một chút.

Tiếng hô vang lên sau lưng Lục Thất, Lục Thất quay đầu lại thì thấy là tướng sĩ dẫn đường.

- Chuyện gì?
Lục Thất ghìm ngựa hỏi.

- Đại tướng quân ngài xem.

Tướng sĩ dẫn đường chỉ tay về phương tây. Lục Thất quay đầu nhìn lại, trông thấy bầu trời phương tây phủ một mảng mây bụi mù.

- Chẳng lẽ phía tây có bão cát?

Lục Thất hỏi.

- Đúng vậy. Đại tướng quân, thuộc hạ đề nghị đi đến phía tây thực hiện hỏa công.

Tướng sĩ dẫn đường vội nói.

Lục Thất hiểu được gật đầu, lập tức truyền lệnh cải biến chiến thuật, tất cả tướng sĩ đều chuyển hướng trở về phía tây phát động tiến công. Các tướng sĩ lĩnh mệnh đổi phương hướng đi, nhưng quay về hướng tây cũng tiêu hao mất một thời, tuy nhiên gặp được hai chi phân quân hội hợp.

Một ngàn rưỡi tướng sĩ tập kết ở ngoài năm dặm phía tây doanh trại quân địch, xếp thành một hàng đều tự chuẩn bị lò lửa. Đó là một loại lò sưởi ấm tay đặc chế, cũng có thể cắm trên mũi tên bắn ra ngoài, dùng để đốt cháy dầu hỏa dẫn lửa.

Ở trước ngựa mỗi tướng sĩ đều treo hai túi da nhỏ chứa dầu hỏa. Lò sưởi tay và túi da đựng dầu hỏa buộc chung với nhau, chỉ cần bắn ra, khi rơi xuống túi da vỡ ra, tiếp đó bị than lửa bên trong lò sưởi dẫn cháy. Cho dù lúc rơi xuống chưa bị vỡ, cũng sẽ bị lò sưởi tay đốt cháy, đương nhiên khả năng dẫn cháy chỉ có năm sáu thành.
Lục Thất ngoảnh lại thoáng nhìn, bầu trời phía sau càng lúc càng dày đặc bụi mù, gió tây bắt đầu thổi mạnh và tăng tốc. Hắn quay đầu lại, cưỡi ngựa vọt ra ngoài. Hắn vừa động, một ngàn năm trăm tướng sĩ cũng cưỡi ngựa chạy theo, xếp thành một bức tường ngựa xông về doanh trại quân địch.

Khoảng cách năm dặm, lại thuận gió, một ngàn năm trăm kỵ binh cưỡi ngựa đạp cát, cuốn lên cát bụi tung bay về phía đông. Cát kìm hãm tốc độ của ngựa, nhưng lại che giấu tiếng vó ngựa phi nhanh. Giờ dần là thời điểm quân đội trong doanh ngủ say nhất, lính gác co rúc trong hố cát đang trộm ngủ bị đánh thức.

Lục Thất từ cự ly năm dặm suất quân tập kích bất ngờ, tốc độ rất nhanh, nhưng so ra kém tốc độ kéo đến của gió lốc. Gió lốc ở phía tây vừa nói liền đến, cơn bão trước hết nuốt chửng cát bụi tuấn mã dấy lên, tiện đà thổi đẩy người ngựa kỵ binh.

Lính gác trong doanh địch nghe được âm thanh chấn động đều bò ra quan sát, chỉ thấy giữa cát bụi đầy trời kỵ binh trùng trùng điên cuồng ập tới. Tiếng sừng trâu lệnh trầm đục vang lên, bỗng từng nhánh mũi tên mang theo dầu hỏa bay tán loạn vào trong doanh trại, có mũi rơi ở lều trại, có mũi dừng ở đất cát, nhưng có gần nửa đều là rơi lả tả về phía bầy ngựa.

Ánh lửa nhanh chóng bùng lên trong doanh trại, đàn chiến mã kinh sợ lồng lộn, những con ngựa bị tên dầu hỏa bắn trúng như điên hí cuồng chạy loạn. Gió trợ thế lửa, rất nhiều lều trại cũng đang bùng cháy ngọn lửa ngút trời, tiếp đó bão cát che trời phủ đất ập tới.

Tiếng sừng trâu hiệu lệnh tiến công trầm đục trào dâng vang vọng trong bão cát, trong doanh trại đại loạn. Tướng sĩ từ trong giấc ngủ bò dậy, nhưng khi ra đến bên ngoài thì đối mặt với cơn lũ hỗn loạn. Tựa hồ có mấy vạn quân địch giết tới đây, bão cát khiến cho người trong doanh trại không thấy rõ được tình hình, vì thế đã xảy ra cảnh vỡ doanh. Rất nhiều tướng sĩ trong doanh theo bản năng theo hướng gió chạy về hướng đông, còn bầy ngựa bị chấn kinh tự nhiên cũng thuận gió mà chạy.

Khi một ngàn năm trăm quân mượn bão cát đạp địch doanh, bốn ngàn năm trăm kỵ binh khác cũng lần lượt tới, đồng loạt gia nhập vào cơn lũ truy sát. Quân địch cuồn cuộn không ngừng theo gió cát xuất hiện khiến cho bọn địch bị vỡ doanh càng khó tổ chức phản kích hữu hiệu, mà càng lúc càng nhiều người chạy trối chết.

- Giết!

Tiếng gầm thét, tiếng khóc gào văng vẳng bên tai không dứt, sáu ngàn kỵ binh tàn khốc đuổi giết kẻ địch bị mất ngựa. Đám quân địch bị đuổi theo chém giết đổ ngã trên mặt đất, cũng có kẻ ra sức đánh trả, nhưng ngăn không được kỵ binh trùng trùng giẫm đạp.

Trời đã sáng, bão cát cũng đã đi qua chiến trường, chiến trường kéo dài hơn mười dặm chất chồng đầy thây Liêu quân bị cát bụi nửa chôn vùi, đàn chiến mã và lạc đà vô chủ rải rác trên chiến trường. Hà Tây quân thu được thắng lợi cũng một thân cát bụi, mệt mỏi vây quanh hơn hai ngàn tù binh Liêu quân.

Một trận chiến này, hai vạn kỵ quân Liêu quốc ban đầu gần như toàn quân bị diệt, mà hai vạn kỵ quân này thực sự không phải một mình đột kích Cư Diên Hải, mà là đang chờ đợi quân lực đến tiếp sau. Ba vạn kỵ binh theo sau còn cách chiến trường khoảng bốn trăm dặm, ước chừng ba ngày đường là có thể hội hợp.

Năm vạn kỵ quân Liêu quốc vì sao phải chia làm hai bộ phận, là bởi thống lĩnh quân là hai người. Tuy nhiên năm vạn kỵ quân là cùng nhau xuất phát, sở dĩ ba vạn kỵ binh Liêu quốc bị lạc hậu, là vì quân nhu không đến đúng hạn.

Còn hai vạn kỵ binh Liêu quân tuy rằng đi nhanh, nhưng đã ra quyết sách chờ đợi, chọn nơi đóng quân cũng suy tính đến phạm vi kẻ địch có thể xâm nhập. Lại không ngờ rằng, kẻ địch sẽ vượt qua phạm vi ước đoán mà xâm nhập vào sâu hơn, hơn nữa còn được trời giúp mượn lực của bão cát.

Lục Thất thẩm vấn tù binh, biết được Liêu quân còn có ba vạn kỵ binh đang tiếp cận, hắn lập tức hạ lệnh cấp tốc thu dọn chiến trường. Hai thời sau, năm ngàn kỵ binh áp giải hơn một vạn chiến mã và tù binh, quân dụng, bước trên con đường thắng lợi trở về. Một trận chiến này, kỵ binh Hà Tây cũng hao tổn hơn một ngàn, Liêu quân tuy rằng tan tác, nhưng cũng liều mạng phản kích.

Lục Thất trên đường trở về, gặp được chi quân đội thứ hai, hắn dặn dò nhóm tướng soái của phân quân một phen, lại tiếp tục trở về. Tướng sĩ nhóm quân thứ hai mang theo tâm tình kính nể, cũng xâm nhập vào sa mạc chặn đánh, tuy nhiên căn bản không thấy được bóng dáng Liêu quân.

Hóa ra Thống Soái ba vạn kỵ binh Liêu quân đến sau sau khi nghe mấy trăm quân vỡ doanh trốn về thuật lại tình hình, không ngờ lựa chọn lui binh. Liêu quốc đương nhiên cũng biết tình huống quân lực Hà Tây, đã bị diệt mất hai vạn kỵ binh, ba vạn kỵ binh còn lại dù có tới được Cư Diên Hải, cũng là ở hoàn cảnh xấu. Huống chi kỵ binh Hà Tây là chủ động ở trong sa mạc chặn đánh quân đội mệt mỏi của Liêu quốc. Liêu quân không có khả năng mang quá nhiều nước, không có nước cấp dưỡng, ở trong sa mạc nhiều thêm một ngày chính là muốn chết.

Quyển 5 - Chương 107: Vạn mã triều bái

Lục Thất về tới Cư Diên Hải, lập tức nhận được quân báo từ Lương Châu đưa tới. Nói Hạ quốc xuất mười vạn đại quân đột kích Trường Thành vùng đông bắc Lương Châu, có hơn mười chỗ Trường Thành bị công đoạt, cũng may tướng sĩ thủ vệ Trường Thành phục vụ quên mình, sau một hồi huyết chiến, Hạ quốc hao tổn bảy tám ngàn người, tướng sĩ thủ vệ Trường Thành cũng tử thương hơn năm ngàn người.

Lục Thất xem xong quân báo, suy tư sau liền hồi âm cho Chiết Duy Trung. Nói Chiết Duy Trung phái ra sứ giả, lệnh sứ giả báo cho Hạ quốc biết, đội kỵ binh Liêu quốc đột kích Cư Diên Hải đã bị chặn diệt hai vạn, bảo Hạ quốc sớm lui binh, đôi bên cùng chung sống hòa bình, nói cho Hạ quốc, hắn không có hứng thú với thảo nguyên Bình Hạ.

Viết thư xong, Lục Thất lệnh người áp giải một trăm tù bình Liêu quân đi Lương Châu, do sứ giả mang đến Hạ quân làm chứng. Đồng thời cũng cho người đi thông báo chiến sự Cư Diên Hải, khích lệ lòng quân Lương Châu.

Năm ngày sau, Hạ quân tiến công Lương Châu phái tới sứ giả, đưa ra ba điều kiện lui binh. Trong đó có một điều kiện khiến Lục Thất hết sức bất ngờ, hoàng tộc Hạ quốc Thác Bạt thị yêu cầu cùng Lục Thiên Phong liên hôn. Hai điều kiện khác, một là không thể vô cớ tiến công Hạ quốc, hai là cho phép Hạ quốc và Hà Tây thông thương.

Không ngờ Hạ quốc sẽ đề xuất điều kiện liên hôn, Lục Thất lại không thể quyết, hắn đành phải tự mình đi Lương Châu gặp Chiết Duy Trung. Chiết Duy Trung đã biết điều kiện của Hạ quốc, thẳng thắn nói với Lục Thất, nếu không đáp ứng liên hôn cùng Thác Bạt thị, Hạ quân nhất định sẽ không lui quân.

Nguyên nhân rất đơn giản, bởi vì Lục Thất và Phòng Đương thị có quan hệ thông gia, lại cùng Tế Phong thị có qua lại không rõ. Bây giờ Hạ quốc liên tiếp mất đi Hà Hoàng và Hà Tây, quốc lực giảm mạnh. Bị thắng lợi liên tục của Lục Thất đánh về nguyên hình, Hạ quốc muốn lật ngược tình thế rất khó, cho nên Liêu quân vừa bại, Hạ quốc không định tiếp tục liều mạng.

Nhưng sau khi lui binh, Thác Bạt thị lại lo lắng nguy cơ thống trị của bản thân, lo lắng Lục Thiên Phong sẽ cùng Phòng Đương thị cấu kết. Cho nên nhất định phải chặt đứt họa cấu kết ngoại xâm, thuận thế lấy được lời hứa hẹn của Lục Thiên Phong, sẽ sống yên ổn với nhau, không xâm phạm thảo nguyên Bình Hạ.

Chiến Duy Trung cho Lục Thất biết, nếu Lục Thất cự tuyệt mối liên hôn, coi như cho Thác Bạt thị lý do tiếp tục huyết chiến. Lục Thiên Phong cự tuyệt liên hôn là làm nhục bát thị Đảng Hạng, cũng không có thành ý cùng chung sống hòa bình.

Lục Thất sau khi cân nhắc, đáp ứng điều kiện liên hôn, hắn không mốn tiếp tục đấu với Hạ quốc. “Ngao cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi”, hắn không muốn tiếp tục tổn thất quân lực, hơn nữa trước mắt, hắn không tính diệt vong Đảng Hạng ở Bình Hạ.

Tuy nhiên Lục Thất cũng đưa ra một điều kiện, chính là Hạ quốc không thể tiếp tục xưng là Hoàng đế, mà nên đổi thành Hạ Quốc Công. Sứ giả Hạ quốc trở về hỏi ý, sau đó quay lại nói Thác Bạt thị đồng ý bỏ đi xưng hào Hoàng đế, giảm xuống làm Hạ Vương, nhưng cự tuyệt lần nữa thần phục Chu quốc.

Lục Thất cũng không muốn Hạ quốc lại thần phục Chu quốc, tuy nhiên ngoài mặt hắn nói, nếu Hạ quốc không muốn, hắn cũng không cưỡng cầu, đôi bên đạt thành đàm phán bãi binh. Ngày kế, hơn chín vạn Hạ quân lui quân khỏi ngoại vi Lương Châu, trở về thảo nguyên Bình Hạ liếm láp vết thương.

Hạ quân rút đi, Lương Châu hân hoan vui sướng. Một hồi chiến sự kịch liệt đã chết năm ngàn người, mà binh lính phổ thông ít ai nguyện ý chiến tranh phát sinh. Nếu không có Lục đại tướng quân Phật quang chuyển thế, cùng với giành được hy vọng sinh tồn tốt đẹp, nhóm hàng tốt Hà Tây nào chịu bán mạng tử thủ Trường Thành. Nếu chiến sự Lương Châu tử thương quá nhiều, quân tâm của hàng tốt tất sẽ sụp đổ.

Mười ngày sau khi Hạ quân rút đi, quân báo của Dương Côn cũng được phi kỵ truyền về Hà Tây. Nói Tây Châu đã bị phá, Đô úy Lý Hưởng của Thiên Sơn quân bắt về đã bị Dương Côn giết ngay tức khắc, hơn hai ngàn tù binh Thiên Sơn quân cũng bị xáo trộn thu vào biên chế, theo kế hoạch ban đầu của Lục Thất, thiết lập một vạn tân Thiên Sơn quân trấn thủ Tây Châu.

Tuy nhiên xét thấy Tây Châu cần quy về thống trị, cùng với chống đỡ Hắc Hãn Hồi Hột ở phía tây, Dương Côn lại xây dựng sáu vạn kỵ quân Bắc Đình. Hiện giờ Dương Côn đã xuất phát đi Đình Châu, chờ chiếm cứ được Đình Châu sẽ tổ chức một vạn quân lực Hãn Hải quân, cùng với một vạn quân lực Y Ngô quân.

Thiên Sơn quân, Y Ngô quân, Hãn Hải quân đều là chế độ trấn quân được thiết lập tại Bắc Đình tam châu thời triều Đường. Nhưng khi đó tướng sĩ trấn quân chỉ có mấy ngàn, quân lực chỉnh thể sở thuộc Bắc Đình đô hộ phủ cũng chỉ hơn một vạn. Lục Thất sẽ dùng cùng một phương thức trị chính như ở Hà Tây để thống trị Bắc Đình, sẽ tiêu diệt sự tồn tại của bộ lạc Hồi Hột, thực thi toàn diện chế độ hộ tịch trực thuộc quan phủ.

Đầu tháng chín, khí hậu Hà Tây đột nhiên trở rét, đổ xuống trận tuyết mùa hạ đầu tiên, cũng may mưa tuyết không lớn, không gây ảnh hưởng lớn đến thảo nguyên Hà Tây. Người Hà Tây bận rộn gặt hái tồn trữ cỏ nuôi súc vật, khắp nơi đều là cảnh tượng lao động.

Lục Thất thấy tình hình Hà Tây đã ổn định, mới dâng thư lên triều đình Chu quốc. Ngoại trừ báo cáo công tác, cũng xin thiết lập Bắc Đình đô hộ phủ, trực tiếp lấy lý do thưởng quân công, tuyên bố Thạch Trung Phi nhậm chức Đô hộ Bắc Đình, Dương Côn nhậm chức Đô hộ Hà Tây.

Hơn nữa Lục Thất còn làm ra một quyết định khiến người sửng sốt, từ số chiến mã thu hoạch được của Liêu quân lựa chọn một vạn con đưa tặng đến Khai Phong phủ, mời Kỷ Vương thay mặt đưa đi. Kỷ Vương nhận được thư Lục Thất gửi đến, xem xong thì hết sức bất ngờ, đáp ứng sẽ thay mặt đưa đi.

Vì thế, một vạn chiến mã dưới ánh mắt của người Hà Tây trùng trùng điệp điệp rời đi Lương Châu. Chiết Duy Trung không có ý kiến với cách làm của Lục Thất, những người khác đối với Lục Thất đương nhiên là kính sợ có phép, không ai dám oán trách Đại tướng quân không nên làm vậy.

Một vạn chiến mã trùng trùng điệp điệp hướng về Khai Phong phủ mà đi, trên đường cũng đưa tới chấn động thật lớn. Chẳng mấy chốc tin tức chiến sự ở Hà Tây và chiến dịch tiến chiếm Bắc Đình tam châu đã bay nhanh lan truyền khắp Chu quốc. Vạn mã tới ngoài Khai Phong phủ, quan tướng áp giải chiếu theo quy củ, đem báo cáo công tác của Lục Thất nộp lên Chính Sự đường và Xu Mật viện, số chiến mã thì mời Binh bộ tiếp thu.Trên công văn đưa chiến mã, Lục Thất viết: ‘Trợ giúp chiến sự phương bắc’, lý do vô cùng quả tình, không hề có một lời thỉnh công. Thế nhưng tấu thư xin bố trí Lục Thất trình lên Xu mật viện gây nên rung động rất lớn. Cái gì mà xin bố trí, căn bản là đã thiết lập rồi, tất cả quan viên đều đã được liệt ra trên công văn, chỉ là báo cho triều đình Chu quốc một tiếng thôi.

Thùy Củng điện, quân thần Chu quốc lần nữa vì Lục Thiên Phong mà tụ lại thương nghị. Quần thần bị vạn mã của Lục Thiên Phong triều bái, không biết nên nói cái gì cho phải. Nếu nói áp giải hàng thần Đường quốc tới Khai Phong phủ là vinh quang, thế thì Lục Thiên Phong đưa vạn mã triều bái chính là chương hiển khí phách.

Đó là một loại khí phách khiến quần thần không thể lên án. Nếu chỉ trích Lục Thiên Phong bụng dạ khó lường, tất sẽ đưa tới nghi ngờ. Nếu Lục Thiên Phong bụng dạ khó lường, làm gì lại tặng vạn con chiến mã? Hoàn toàn có thể giữ lại Hà Tây làm lớn mạnh quân lực. Cho nên vạn mã triều bái của Lục Thiên Phong là một cử chỉ ngầm mang đại nghĩa vì nước, ẩn ý Lục Thiên Phong là trung thần, không có dã tâm tạo phản.

Nhưng trên thực tế, quân chính ở Hà Tây là do Lục Thiên Phong tự trị, đó đã là một hành vi của nghịch thần, nhưng hành vi nghịch thần của Lục Thiên Phong hết lần này đến lần khác đều phủ thêm một lớp ngoài vì quốc mở mang bờ cõi vô cùng có sức thuyết phục. Suy cho cùng, đám người cho rằng Lục Thiên Phong dụng tâm bất chính đều là đại thần triều đình Chu quốc nắm quyền lực tương quan, thế nhưng vạn dân và tướng sĩ ở ngoài triều đình sẽ chỉ thấy một mặt hào quang của Lục Thiên Phong.

- Các khanh có cách nhìn thế nào đối với việc Lục Thiên Phong đưa tới chiến mã.

Chu hoàng đế bình thản hỏi.

- Bệ hạ, thần cho rằng Lục Thiên Phong là muốn hiển lộ công trạng, bức bách triều đình thừa nhận yêu cầu xếp đặt của hắn.

Tiết Cư Chính vẻ mặt nghiêm túc hồi đáp.

- Bệ hạ, thần cũng cho rằng Lục Thiên Phong là muốn dùng vạn con chiến mã đổi lấy sự tán thành chính thống của triều đình.

Binh bộ Thị lang đứng ra phụ họa.

- Bệ hạ, thần cho rằng chiến công của Lục Thiên Phong là thật. Nếu hắn nguyện vì nước phân ưu đưa tới vạn con chiến mã, triều đình không nên chối bỏ thỉnh cầu bố trí của Lục Thiên Phong.
Triệu Phổ thi lễ nói.

- Triệu đại nhân, công huân và yêu cầu bố trí là hai việc khác nhau.

Tiết Cư Chính phản bác.

- Tể tướng đại nhân, công huân và yêu cầu bố trí là hai việc khác nhau, nhưng Hà Tây và Bắc Đình là phiên địa, còn là chốn hoang vắng. Lục Thiên Phong dâng thư xin thiết lập, trên thực tế là noi theo Trương Nghị Triều thời Đường triều. Trên tấu thư của hắn không có tự bổ nhiệm mình làm Đô hộ Hà Tây, ẩn nghĩa là muốn triều đình phong hắn làm Đại đô hộ, nếu triều đình luận công, cũng chỉ có thể thăng quan cho hắn.

Triệu Phổ bình thản trả lời.

- Trương Nghị Triều năm đó cũng không phải là Đại đô hộ cái gì.

Binh bộ Thị lang tiếp một câu.

- Ta cho rằng, cấp Lục Thiên Phong chức quan gì là thứ yếu, quan trọng là Lục Thiên Phong hiến tặng triều đình vạn con chiến mã, đối với cách nhìn của người bên ngoài, đó là cử chỉ biểu hiện lòng trung thành với triều đình. Đối với thành ý này, triều đình có thể luận công ban thưởng. Nếu Lục Thiên Phong thật có ý noi theo Trương Nghị Triều, vậy hắn nên hồi Khai Phong phủ, tiếp nhận triều đình khen ngợi.

Triệu Phổ giải thích dụng ý của mình.

- Nếu Lục Thiên Phong không chịu đến Khai Phong phủ thì nên thế nào?

Binh bộ Thị lang lại truy vấn.

- Vậy đơn giản thôi. Triều đình không cần đáp lại thỉnh cầu bố trí, vạn con chiến mã xem như thuế phú của Hà Tây Lục Thiên Phong giao nộp cho triều đình.

Triệu Phổ thản nhiên trả lời.

Binh bộ Thị lang gật đầu. Vạn mã triều bái, khiến cho Binh bộ đứng mũi chịu sào. Ông ta thân là chính quan, nhất định phải chủ động thảo luận chính sự, bằng không ở trong mắt Chu hoàng đế, sẽ bị nghi ngại là không làm tròn bổn phận.

- Các khanh còn có dị nghị gì hay không?

Chu hoàng đế bình thản hỏi.

Chúng thần im lặng. Chu hoàng đế thản nhiên nói:

- Bãi triều.

Quyển 5 - Chương 108: Giáo huấn (một)

Chúng thần rời đi, Triệu Phổ bị giữ lại, cùng Chu hoàng đế tản bộ. Thẳng một đường vào hậu hoa viên, Chu hoàng đế mới hỏi:

- Khanh cảm thấy, Lục Thiên Phong sẽ trở về hay không?

- Thần nghĩ tám thành là sẽ về.

Triệu Phổ hồi đáp.

- Vì sao? Hắn hẳn là nên ở lại Hà Tây tự lập tiền vốn chứ.

Chu hoàng đế nói.

- Lục Thiên Phong có lẽ không muốn cùng Đại Chu đối địch, Hà Tây nếu thoát ly khỏi Đại Chu sẽ lâm vào tình trạng khốn đốn. Hà Tây cần Đại Chu mở ra thương lộ, như vậy Hà Tây mới có thể không thiếu thốn, tái hiện con đường tơ lụa giàu có. Sau khi Lục Thiên Phong tiến chiếm Hà Tây, liền vô cùng chú trọng việc phát triển thương nghiệp, từng cho người thu mua số lượng lớn đồ sứ và trà đưa đi Hà Tây. Hắn chiếm Bắc Đình tam châu, phần nhiều cũng là vì mở thương lộ mới dấy binh, Bắc Đình tam châu tuyệt đối là nơi đất rộng người thưa.

Triệu Phổ hồi đáp.

- Hắn không nghĩ cùng Đại Chu đối địch, thế nhưng hắn đang tổ chức thế lực tại Hà Tây và Bắc Đình. Nếu hắn thật sự có tâm quy thuận Đại Chu, thì không nên tiếp tục khuếch trương thế lực.

Chu hoàng đế lạnh nhạt nói.

- Thần không dám nói loạn.

Triệu Phổ thi lễ cung kính nói.

Chu hoàng đế im lặng, một lát sau mới nói:

- Trẫm cũng biết, Lục Thiên Phong có thể là lo lắng công cao lấn chủ, mà hôm nay, hắn đúng là đã khiến trẫm phải kiêng kỵ rồi. Nếu trẫm cho hắn cơ hội hưng vượng Hà Tây và Bắc Đình, liệu chăng trẫm đã mua dây buộc mình?

- Bệ hạ, thần cảm thấy con đường tơ lụa nếu có thể tái hiện, sẽ đưa đến lợi ích rất lớn cho Đại Chu. Đại Chu sẽ có được khoản thuế thương nghiệp, ngoài ra Hà Tây và Bắc Đình là nơi chăn thả ngựa, nếu Đại Chu có thể thu được chiến mã từ Hà Tây, là có năng lực phát động chiến sự với Yến quốc và Thổ Phiên, lấy được thế chủ động.

Triệu Phổ nói.

Chu hoàng đế lộ vẻ cười khổ, nhẹ giọng nói:

- Lục Thiên Phong cũng đã khiến trẫm bị động rồi. Vạn mã triều bái, cả nước chấn động, nếu trẫm làm khó hắn, chỉ sợ sẽ bị đánh đồng thành Lưu Bang.

- Bệ hạ nói quá lời. Thần cho rằng, không cần quá mức khen ngợi Lục Thiên Phong, gia ân cho hắn lên làm Binh bộ Thượng thư là được rồi. Năm đó Trương Nghị Triều cũng là được ban cho địa vị Lại bộ Thượng thư, chức quyền Quan Sát Sử chưởng quản quân chính Hà Tây.

Triệu Phổ đề nghị.

- Lấy công của Lục Thiên Phong, xứng được phong làm Quốc công.

Chu hoàng đế bình thản nói.

- Bệ hạ, Lục Thiên Phong đúng là chiến công cao, nhưng dù sao hắn tuổi trẻ, nếu được phong làm Quốc công, chỉ sợ sẽ đưa tới sự không phục của lão thần.

Triệu Phổ vội phản bác.

- Khanh nói, Triệu Khuông Dẫn lập công ở Giang Nam, trẫm nên ban thưởng thế nào?

Chu hoàng đế chợt chuyển nhân vật hỏi.

Triệu Phổ ngẩn ra, hồi đáp:

- Bệ hạ, chiến sự Giang Nam chỉ mới lập được thành tích, còn chưa cần ban thưởng.

- Nếu trẫm không ban thưởng, chỉ sợ quân tâm sẽ sinh ra oán hận. Ban thưởng sẽ có thể khích lệ quân tâm.

Chu hoàng đế nói.

Triệu Phổ nghe xong im lặng, một lát sau lại nghe Chu hoàng đế nói:

- Trẫm tứ phong Khuông Dẫn làm Quận vương, khanh cảm thấy được không?

Triệu Phổ lập tức giật mình nhìn Chu hoàng đế. Từ khi Chu quốc được sáng lập đến nay, chưa từng phong họ khác làm Vương, cao nhất là Quốc công. Kỳ thực Quốc công và Quận vương đều là tước vị tòng nhất phẩm, nhưng dù sao Quận vương cũng là vương tước, trên tâm lý tự nhiên là so với Quốc công tôn quý hơn.

- Bệ hạ, Quận vương và Quốc công đều là tòng nhất phẩm, nếu từ Võ quốc công sửa phong thành Quận vương, thì không có gì bất đồng cả.

Triệu Phổ đáp lại.

- Trên địa vị đúng là không có bất đồng, nhưng trên thực tế, Quận vương tượng trưng cho thực quyền, mà Quốc công là tượng trưng cho vinh hoa.

Chu hoàng đế thản nhiên nói.

- Bệ hạ, thần cảm thấy không ổn.

Triệu Phổ không đồng ý nói.

- Cho dù không ổn, trẫm cũng phải tứ phong. Trẫm nghe nói người đứng đầu Tấn quốc, sau khi lưu thủ tại Kinh Châu tiến chiếm bộ phận cương vực Ba Thục, lập tức tứ phong Quận vương. So ra, nếu trẫm không tỏ vẻ gì đối với chiến sự Giang Nam, chỉ sợ sẽ làm rét lạnh quân tâm.

Chu hoàng đế nói.Triệu Phổ nghe xong nhíu mày, y đương nhiên hiểu được dụng ý của Hoàng đế. Hoàng đế muốn dùng tước phong Quận vương để quân tâm Giang Nam không quá hướng về Triệu Khuông Dẫn, dùng Hoàng ân cuồn cuộn thu mua quân tâm. Nhưng cử chỉ phong Quận vương, y cho rằng chẳng khác gì uống rượu độc giải khát, phong dị họ làm vương sẽ có hậu hoạn rất lớn.

- Bệ hạ, ban phong vương tước cho họ khác, theo thần là không nên.

Triệu Phổ phản đối nói.

- Việc này trẫm đã quyết. Triệu Khuông Dẫn, Tào Bân, Phan Mỹ, Trương Vĩnh Đức đều từ Quốc công phong làm Quận vượng.

Chu hoàng đế bình thản nói.

Triệu Phổ ngẩn ra, suy nghĩ một chút rồi nói:

- Bệ hạ, tứ phong Phan Mỹ làm Quận vương, liệu có ảnh hưởng đến lòng quân phương bắc hay không?

- Khanh là chỉ Dương Nghiệp?

Chu hoàng đế nói.

- Đúng vậy. Định quốc công ở phương bắc cùng Yến quốc khổ chiến. Tướng sĩ phương bắc nếu biết Bệ hạ không có khen ngợi Định quốc công, chỉ sợ quân tâm sẽ bị ảnh hưởng.

Triệu Phổ nói.

- Lần này tứ phong Quận vương là vì công trạng mở mang bờ cõi. Dương Nghiệp tạm không ban phong, trẫm đưa vạn con chiến mã đến phương bắc, coi như là đủ để khích lệ quân tâm.

Chu hoàng đế nói.

Triệu Phổ chỉ đành gật đầu, lại nghe Chu hoàng đế nói:

- Phòng ngự ở phương bắc trên thực tế Trương Vĩnh Đức là thống soái tối cao, tứ phong Trương Vĩnh Đức cũng là dụng ý coi trọng công trạng của quân phương bắc rồi. Mặc khác Dương Nghiệp xuất thân Lân Châu, có quan hệ thân cận với Chiết thị. Nếu trẫm tứ phong Dương Nghiệp, thì phải tứ phong cả công lao phòng giữ biên giới của Chiết thị, trẫm không định tứ phong Chiết thị làm vương.

- Thần đã hiểu.

Triệu Phổ đáp lại.

*****

Triệu Phổ đi rồi, Chu hoàng đế đi đến điện Văn Đức. Đến trước điện Văn Đức thì gặp Thái tử và Tào Vương, hai Hoàng tử cung kính bái kiến Chu hoàng đế. Chu hoàng đế gật đầu, rồi bảo bọn họ cùng vào điện Văn Đức.

Chu hoàng đế ngồi sau long án ở nội điện rồi, nhìn hai đứa con trai, ôn hòa hỏi:

- Huynh đệ các ngươi muốn hỏi trẫm cái gì?

- Phụ hoàng, nhóm nhi thần đã nghe nói về chuyện của Lục Thiên Phong, cảm thấy không nên nhân nhượng dung túng hành vi của Lục Thiên Phong.

Thái tử thi lễ nói.

- Ngươi nói không nên nhân nhượng dung túng, vậy theo ngươi thì nên ứng phó thế nào với hành vi của Lục Thiên Phong?Chu hoàng đế ôn hòa hỏi.

- Nhi thần cho rằng, Bắc Đình không nên để mặc cho Lục Thiên Phong nắm giữ, mà nên do triều đình tiếp quản.

Thái tử hồi đáp.

Chu hoàng đế nghe xong lắc đầu, nói:

- Cách nghĩ của ngươi quá đơn giản. Triều đình đi tiếp quản, chẳng lẽ có thể xuất ra ba vạn quân lực đi đóng quân ở Bắc Đình sao?

Thái tử ngẩn ra, nói:

- Phụ hoàng, nghe nói tiến chiếm Bắc Đình là ba vạn quân lực Hội Châu, chẳng lẽ không thể đóng ở Bắc Đình?

- Quân lực đi Bắc Đình, triều đình không hiệu lệnh được. Nếu triều đình cho người tiếp quản Bắc Đình, Lục Thiên Phong sẽ điều đi quân lực Bắc Đình trở về Hà Tây.

Chu hoàng đế ôn hòa nói.

Thái tử giật mình gật đầu. Tào Vương đột nhiên nói:

- Phụ hoàng, nhi thần cảm thấy Lục đệ không nên hỗ trợ Lục Thiên Phong tiến quân Bắc Đình, không nên xuất quân lực Hội Châu đi Hà Tây.

Chu hoàng đế nhìn Tào Vương, bình thản nói:

- Cái gì nên làm, cái gì không nên, lời nói trước đó của trẫm ngươi không nghe thấy sao? Quân lực Hội Châu chỉ có Lục Thiên Phong mới có thể hiệu lệnh, Kỷ Vương không ủng hộ, Lục Thiên Phong cũng sẽ điều đi quân lực Hội Châu. Hơn phân nửa quân lực Hội Châu là hàng tốt Đảng Hạng của Hạ quốc đấy.

Tào Vương biến sắc, thoáng chần chừ, nói:

- Nhưng... trước đó tiến chiếm Hà Hoàng, chẳng phải là quân lực Hội Châu nghe lệnh xuất kích hay sao?

- Vậy trẫm hỏi ngươi, nếu ngươi đang ở trong quân tại Giang Nam, ngươi cảm thấy quân lực Giang Nam sẽ nghe lời ngươi, hay là Triệu Khuông Dẫn?

Chu hoàng đế bình thản hỏi.

Tào Vương ngẩn ra, nói:

- Bẩm Phụ hoàng, Triệu thúc thúc là Chủ soái Giang Nam, quân lực Giang Nam đương nhiên là phải nghe lời Triệu thúc thúc.

- Ồ, vậy nếu trẫm cho ngươi đi làm Chủ soái quân lực Giang Nam, Triệu Khuông Dẫn làm Phó soái, ngươi cảm thấy quân lực Giang Nam sẽ nghe quân lệnh của ai?

Chu hoàng đế hỏi.

- Sẽ nghe mệnh lệnh của nhi thần.

Tào Vương hồi đáp.

- Được rồi, vậy trẫm hỏi ngươi, nếu Triệu Khuông Dẫn đột nhiên tạo phản Đại Chu, ngươi cảm thấy quân lực Giang Nam sẽ nghe lời ngươi, hay là Triệu Khuông Dẫn?

Chu hoàng đế thản nhiên nói.

Tào Vương biến sắc, nói:

- Phụ hoàng, Triệu thúc thúc sao có thể làm phản Đại Chu.

Chu hoàng đế sắc mặt trầm xuống, nhướng mày nói:

- Trẫm hỏi ngươi, nếu Triệu Khuông Dẫn tạo phản, ngươi có thể hiệu lệnh quân lực Giang Nam hay không.

Tào Vương sắc mặt khó coi, chần chừ một chút, nói:

- Phụ hoàng, nhi thần chưa từng thống lĩnh tướng sĩ Giang Nam, chỉ sợ sẽ không bằng Triệu thúc thúc.

Chu hoàng đế lạnh nhạt nói:

- Trẫm từng dặn dò ngươi không nên can thiệp quân sự Giang Nam, chỉ để ý tăng cường mài giũa trong quân, nhưng ngươi cứ cố tình can thiệp quân sự Giang Nam, còn tự cho là có công áp giải hàng thần trở về. Thế nhưng ngươi có biết hay không, cho dù ngươi áp giải hàng thần về Khai Phong phủ lại có ai tán thành công lao kia của ngươi, trái lại quân tâm Giang Nam sẽ cho rằng ngươi đoạt chiến công của Triệu Khuông Dẫn. Ngươi vì tâm hư vinh mà khiến cho lòng quân Giang Nam khinh bỉ, ngươi nói có đáng giá hay không?

Tào Vương vẻ mặt kinh biến, vội dời bước quỳ xuống, sợ hãi nói:

- Nhi thần hồ đồ, nhi thần biết sai rồi.

- Đứng lên đi.

Chu hoàng đế bình thản nói. Tào Vương lạy một cái rồi mới đứng dậy cung kính đứng nghiêm.

Quyển 5 - Chương 109: Giáo huấn (hai)

Chu hoàng đế nhìn hai đứa con đã thành niên của mình, bình thản nói:

- Các ngươi nhớ kỹ, có một số việc không tồn tại hai chữ “nên thế”. Chớ có nghĩ rằng bởi vì chúng ta là Hoàng tộc, tất cả thần dân cần phải cống hiến cho chúng ta. Bất luận là quyết sách quốc sự gì đều phải tận lực dựa trên ích lợi được mất mà cân nhắc.

- Vâng, chúng nhi thần ghi nhớ.

Thái tử cung kính nói.

Vẻ mặt của Chu hoàng đế lộ ra một chút mệt mỏi, ông ta bóp trán cho tỉnh táo lên, lại nói:

- Có mấy lời... trẫm không tính nói với các ngươi, lo lắng nói rồi sẽ có hậu quả xấu.

- Phụ hoàng mời nói, nhi thần muốn được nghe lời dạy bảo của người.

Thái tử cung kính nói.

Chu hoàng đế nhìn Tào Vương, nói:

- Hi Nhượng, ngươi luôn tưởng rằng Triệu Khuông Dẫn và Phụ hoàng thân như huynh đệ, nhưng ngươi lại không biết, Phụ hoàng và Triệu thúc thúc của ngươi vẫn luôn tranh đấu gay gắt rất nhiều năm rồi.

Tào Vương ngạc nhiên nhìn Chu hoàng đế. Chu hoàng đế cười cười, nói:

- Trẫm cần Triệu thúc thúc của ngươi phụ tá trẫm ổn định giang sơn Đại Chu, nhưng trọng dụng Triệu thúc thúc của ngươi cũng chính là dưỡng hổ thành họa. Triệu thúc thúc của ngươi văn võ song toàn, là một nhân vật hùng tài vô cùng hiếm có. Qua nhiều năm như vậy, một nửa giang sơn Đại Chu đã bị Triệu thúc thúc của ngươi nắm vào trong tay rồi, nhất là trong quân. Đừng nói ngươi không hiệu lệnh được nhiều tướng sĩ Cấm quân, mà chính thánh chỉ của trẫm đưa tới trong quân cũng không so được quân lệnh của Triệu thúc thúc ngươi.

Sắc mặt của Thái tử và Tào Vương đại biến, ánh mặt biểu lộ khó có thể tin. Chu hoàng đế nhìn Tào Vương lại nói:

- Ngươi tín nhiệm Triệu thúc thúc của ngươi, nhưng nếu Triệu thúc thúc ngươi phản Chu, y nhất định sẽ giết huynh đệ các ngươi. Có lẽ ngươi cho rằng Triệu Khuông Dẫn sẽ không phản Chu, nhưng Tiên Đế gia của chúng ta cũng đã từng là trung thần, nhưng khi tay nắm trọng binh thì đã soán vị lập nên Đại Chu. Cái gọi là trung thần, đa số đều là thế lực khó có thể xây dựng cơ nghiệp, cho nên mới không thể không thần phục.

Thái tử gật đầu, nói:

- Phụ hoàng lệnh Triệu thúc thúc đi Giang Nam là có thâm ý ngầm.

Chu hoàng đế gật đầu, nói:

- Chủ yếu là vì đối phó Tấn quốc, thứ hai là điệu hổ ly sơn.

Thái tử gật đầu. Chu hoàng đế lại nói:

- Nhiều năm qua, sai lầm lớn nhất của trẫm là quá mức trọng võ khinh văn. Trước kia Đường quốc là trọng văn khinh võ, cho nên hoàn toàn áp chế mối họa võ tướng tạo phản. Mà Đại Chu lại là quân hùng như rừng, trẫm chỉ có thể dựa vào sự kiềm chế để duy trì thống trị.

- Đó không phải là sai lầm của Phụ hoàng. Nếu Đại Chu cũng trọng văn khinh võ, chỉ sợ sẽ bị đe dọa bởi mối họa ngoại xâm. Từ xưa, Trung Nguyên là nơi tứ bề giao tranh.

Thái tử giải thích.

Chu hoàng đế gật đầu, nói:

- Mọi việc đều có nặng nhẹ, trị quốc càng phải như thế. Lục Thiên Phong là một hùng tài, nhưng hắn chiếm cứ Hà Tây và Bắc Đình thì chẳng khác nào là một Hạ quốc thứ hai. Đối với Đại Chu, nguy hiểm nhất chính là nội hoạn. Một khi trẫm không còn, huynh đệ các ngươi sẽ rất khó áp chế các lão thần quân hùng, cho nên trẫm mới tiếp tục dung túng Lục Thiên Phong, mục đích là vì hình thành một thế lực mới để kiềm chế. Bất luận là quân hùng nào muốn tạo phản, đều sẽ cố kỵ hậu quả may áo cưới cho người. Từ xưa đến nay, kẻ nghịch thần đi tiên phong tạo phản, đa số đều trở thành đá lót đường cho người khác.

Thái tử và Tào Vương gật đầu. Chu hoàng đế nhìn Tào Vương:

- Hi Nhượng, trẫm biết ngươi muốn có công tích, nhưng Phụ hoàng khuyên ngươi một câu, điều hiện tại ngươi nên lo lắng chính là ngày sau có thể sống sót hay không.

Tào Vương vẻ mặt nghiêm trọng, thi lễ nói:

- Phụ hoàng, nhi thần đã hiểu.

Chu hoàng đế gật đầu, nói:

- Trẫm đã quyết định tứ phong Triệu Khuông Dẫn làm Giang Ninh quận vương. Ngày mai ngươi mang theo thánh chỉ và công văn phong thưởng các công thần khác đi Giang Nam tuyên dụ đi.
Tào Vương ngẩn ra, lập tức kinh ngạc nói:

- Phụ hoàng muốn phong Quận vương?

Chu hoàng đế gật đầu, nói:

- Đúng vậy. Trẫm nhất định phải cùng Triệu Khuông Dẫn tranh đoạt lòng quân ủng hộ. Trẫm phải gia tăng hoàng ân thì mới có khả năng áp chế Triệu Khuông Dẫn mê hoặc và lung lạc quân tâm.

Tào Vương gật đầu, nói:

- Nhi thần đã hiểu.

- Ngươi đi Giang Nam rồi, có thể ở lại Giang Ninh, cũng có thể trở về trong quân của Trương Vĩnh Đức. Trẫm tùy ngươi lựa chọn.

Chu hoàng đế nói.

Tào Vương ngẩn ra, suy nghĩ một chút nói:

- Nhi thần nguyện đến trong quân của đại cô phụ (dượng cả).

Chu hoàng đế gật đầu, ôn hòa nói:

- Trí giả không đứng dưới tường sắp sập (*). Nếu ngươi không muốn ngày sau trở thành con rối của Hoàng đế, vậy rời xa Triệu Khuông Dẫn một chút.

(*) nói tới thái độ làm người của trí giả là phải rời xa nơi nguy hiểm, phòng họa khi chưa xảy ra, một khi thấy mình rơi vào nguy hiểm thì phải đúng lúc rời khỏi.

Tào Vương nghe xong hơi biến sắc, tiếp đó im lặng gật đầu. Chu hoàng đế lại nói:

- Đại cô phụ của ngươi tuổi tác đã cao, hùng tâm đã nhạt, sau này trẫm sẽ mời y đến trấn thủ Khai Phong phủ.

Thái tử và Tào Vương đồng loạt gật đầu. Chu hoàng đế nhìn Thái tử, ôn hòa nói:

- Trẫm tính toán tứ phong Lục Thiên Phong làm Tây Tấn quận công. Hi Huấn, ngươi có nguyện tây tuần một chuyến không?

Thái tử giật mình kinh hãi, nhìn Chu hoàng đế, hơi chần chừ mới nói:- Phụ hoàng muốn cho nhi thần đi Hà Tây gặp Lục Thiên Phong sao?

Chu hoàng đế ôn hòa nói:

- Trẫm không buộc ngươi đi. Mà là Hi Nhượng sắp đi Giang Nam, nếu ngươi cũng muốn ra bên ngoài một chút, thì có thể đến Tây bộ nhìn xem. Nếu không muốn thì cũng không sao.

Thái tử suy nghĩ một chút, thi lễ nói:

- Nhi thần không muốn đi ra ngoài. Nhi thần nguyện ở lại Khai Phong phủ vì Phụ hoàng phân ưu.

Chu hoàng đế gật đầu, nói:

- Cũng tốt.

Tào Vương chần chừ một chút, thi lễ lại nói:

- Phụ hoàng, nhi thần nguyện ra bên ngoài đi đây đó, muốn đến Tây bộ mở mang kiến thức về Hà Tây và Hà Hoàng, thuận đường thăm Lục đệ. Nhi thần nghĩ sau khi trở về từ Giang Nam, sẽ đến Hà Tây.

Chu hoàng đế hơi giật mình, lập tức ôn hòa nói:

- Ngươi nguyện đi, vậy thì đi đi. Tuyên chỉ đến chỗ của Lục Thiên Phong không cần phải gấp gáp.

- Vâng, nhi thần lĩnh mệnh.

Tào Vương cung kính nói.

Thái tử liếc nhìn Tào Vương một cái, chợt Chu hoàng đế nói:

- Các ngươi lui đi, trẫm mệt mỏi rồi.

Thái tử và Tào Vương hành lễ rồi rời đi. Chu hoàng đế dựa người trên long ỷ, nhắm mắt lại, sắc mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi, thật lâu sau, ông ta mới mở mắt, ngồi thẳng dậy, lấy thẻ tre đề bút.

- Tuyên chiếu, Phó sứ Ly Thạch quân Vân Cẩm Đông dẫn năm ngàn Ly Thạch quân quay về Khai Phong phủ, phòng ngự Thạch Châu báo cho Lục Thiên Phong đến tiếp quản.

Chu hoàng đế viết xong chiếu thư, đứng dậy rời khỏi điện Văn Đức, đi hậu cung dưỡng thần.

*****

Bốn ngày sau, tín sử truyền chiếu đã phi ngựa tới Thạch Châu, gặp được Vân Cẩm Đông trấn thủ Thạch Châu. Vân Cẩm Đông tiếp chiếu thư hết sức bất ngờ, vội lệnh cho người đi Hà Tây truyền tin, cũng để lại một quan tướng tâm phúc trấn giữ. Y rút tuyển năm ngàn tướng sĩ rồi chỉnh quân, xuất phát rời khỏi Thạch Châu.

Vì sao Vân Cẩm Đông không chờ Lục Thất hồi âm, đó là bởi trước đó y đã cùng Lục Thất giao hẹn. Hẹn sẵn chỉ cần Vân Cẩm Đông nhận được mệnh lệnh của triều đình Chu quốc, thì phải độc lập hưởng ứng nghe lệnh làm việc. Chu hoàng đế không có hạn định ngày Vân Cẩm Đông quay về, nhưng Vân Cẩm Đông cũng không đợi hồi âm của Lục Thất, mà lập tức xuất phát, càng hiển lộ sự phục tùng tuyệt đối quân lệnh của triều đình.

Vân Cẩm Đông đi rồi, nhưng Thạch Châu còn có hơn một vạn quân nhu binh, cũng chính là công dũng dưới hình thức quân quản, nhiệm vụ chủ yếu là khai thác than đá. Thạch Châu bây giờ, từ sau khi Lục Thất rời khỏi, lục tục hấp dẫn hơn bốn vạn dân nhập cư. Đã không còn chiến tranh tàn phá bừa bãi, Thạch Châu lại phát triển thương nghiệp coi trọng nông nghiệp, nhất là than đá và luyện khí cụ bằng thiết đã mang đến của cải thật lớn. Người dân đương nhiên nguyện tụ tập đến địa phương giàu có, hơn nữa bốn vạn dân di dời có hơn phân nửa đến từ châu vực của Tấn quốc công.

Lục Thất nhận được thông báo của Vân Cẩm Đông cũng cảm thấy bất ngờ, ngờ vực Chu hoàng đế điều Vân Cẩm Đông đến Khai Phong phủ phải chăng là muốn giữ làm con tin. Tuy nhiên Chu hoàng đế lệnh Vân Cẩm Đông suất quân đi Khai Phong phủ còn có một loại khả năng khác, đó là Chu hoàng đế muốn thay đổi một bộ quận Cấm quân của Khai Phong phủ.

Đối với việc Chu hoàng đế vẫn không bổ nhiệm vị trí Thứ sử Thạch Châu, Lục Thất tuy có ngoài ý muốn nhưng vẫn hiểu được, Chu hoàng đế là muốn dùng hắn uy hiếp Tấn quốc công. Hà Tây cách Thạch Châu rất xa, nhưng nếu Tấn quốc công có tâm tạo phản, tất sẽ không muốn nổi lên việc binh đao với Lục Thiên Phong trước, mà hy vọng Lục Thiên Phong có thể xem chừng.

Bởi vì đã cùng Hạ quốc đạt thành ước hẹn chung sống hòa thuận, cho nên sau khi Lục Thất nhận được tin, chỉ điều năm trăm quân lực đi Thạch Châu, tượng trưng tiếp quản phòng ngự Thạch Châu. Sở dĩ Lục Thất không điều nhiều hơn quân lực đi Thạch Châu, một là không muốn quân lực Hà Tây rời đi, hai là không nghĩ tạo thành áp lực uy hiếp Tấn quốc công. Nếu Tấn quốc công có tâm đột kích Thạch Châu, thế thì hai vạn quân lực trú đóng tại Thạch Châu cũng sẽ đồng dạng tùy theo tình thế không ổn mà trốn chạy.

Đối với việc Vân Cẩm Đông tiếp chiếu làm việc, Chu hoàng đế cũng rất bất ngờ. Ông ta cho rằng Vân Cẩm Đông sẽ lấy Lục Thiên Phong như thiên lôi sai đâu đánh đó. Vân Cẩm Đông lĩnh quân đi rất nhanh, sáu ngày là đã tới Khai Phong phủ, trước đó cũng đã cho thuộc hạ cưỡi ngựa đi thông báo.

Xu Mật viện nhận được tin báo, lập tức thỉnh chỉ Hoàng đế. Hoàng đế hạ chỉ, Vân Cẩm Đông nhậm chức Phó đô chỉ huy sứ Bộ quân ti, tương ứng Hổ Dực tả quân thuộc biên chế Cấm quân kinh thành. Không lâu sau, từ Bình Lư Tiết Độ Sứ quân ở Thanh Châu, Vũ Ninh Tiết Độ Sứ quân Từ Châu, mỗi nơi điều đến hai ngàn năm trăm tướng sĩ, hợp thành năm ngàn tướng sĩ Hổ Dực hữu quân. Khai Phong phủ lập tức có hơn một vạn Cấm quân xa lạ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau