KIÊU PHONG

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Kiêu phong - Chương 631 - Chương 635

Quyển 5 - Chương 85: Năm đó

Lý Cần quay lại hỏi một chút, cuối cùng đã nhất trí, y chào theo nghi thức quân đội nói:

- Thuộc hạ đồng ý nghe theo sự sắp xếp của Đại tướng quân.

Lục Thất gật đầu nói:

- Các ngươi ở lại trấn thành Trương Dịch trước đi, chờ thêm một thời gian nữa ta sẽ cho người liên hệ với người thân của các ngươi.

- Đa tạ Đại tướng quân.

Tướng sĩ theo Lý Cần đồng loạt hành quân lễ.

Lục Thất gật đầu nói:

- Nhiều năm như vậy rồi các ngươi vẫn có thể chịu đựng được không đổi quả không dễ. Các ngươi có biết tướng sĩ năm đó bị vây ở Hà Tây bây giờ còn bao nhiêu hay không?

- Khởi bẩm Đại tướng quân, có thể còn sáu bảy nghìn người, chủ yếu là phân tán ở Qua Châu, Sa Châu và Túc Châu. Người Đảng Hạng vì khống chế người Hồi Hột, cho nên mới dùng chúng ta nhập quân.

Lý Cần trả lời.

Lục Thất quay đầu suy nghĩ một chút rồi nói:

- Ta cho các ngươi một cơ hội lập công, các ngươi có thể tự lựa chọn.

- Đại tướng quân mời nói.

Lý Cần cung kính trả lời.

- Ta muốn cho các ngươi ngụy trang thành bại quân đi quy thuận ba châu ở phía tây, liên lạc và lan truyền tin tức đại quân của ta tiến đến. Nếu đồng ý đi, có thể sống sót đều sẽ trở thành quan tướng, còn không muốn đi ta sẽ không thêm tội, nhưng chỉ có thể tiếp tục ở lại Trương Dịch làm binh lính. Tuy nhiên, các ngươi yên tâm, cho dù lựa chọn thế nào thì đều cho các ngươi cơ hội về cố hương hoặc là đón người thân của các ngươi đến Trương Dịch.

Lục Thất nói.

Các tướng sĩ nhìn nhau đều gật đầu, Lý Cần chào theo nghi thức quân đội nói:

- Chúng thuộc hạ muốn đi.

Lục Thất bình thản nói:

- Ngươi không cần đi, ngươi đã là quan tướng rồi.

Lý Cần ngẩng đầu cung kính nói:

- Nếu là cơ hội được lập công, thuộc hạ muốn đi.

Lục Thất gật đầu nói:

- Được, ta cho ngươi cơ hội.

- Đa tạ Đại tướng quân.

Lý Cần cung kính trả lời.

Lục Thất gật đầu mỉm cười nói:

- Ngồi hết đi, chúng ta nói chuyện.

Tất cả mọi người cùng ngồi xuống đất, sau khi ngồi xuống Lục Thất nhìn Lý Cần hỏi:

- Lý Cần, lúc ngươi còn ở Chu quốc, người đứng sau là ai?

Lý Cần hơi giật mình nói:

- Người đứng sau theo lời Đại tướng quân là chỉ người mà thuộc hạ phụ thuộc sao?

- Người đứng sau chính là người đã cất nhắc ngươi, chức Chỉ huy sứ của ngươi cho dù là do lập công mà đạt được, cũng cần một người biểu dương thành tích chứ?

Lục Thất giải thích nói.

- Thuộc hạ có thể trở thành Chỉ huy sứ, đúng là trong cuộc chiến Thái Nguyên lập được công, sau đó được Phan Mỹ tướng quân tiến cử đảm nhiệm đấy ạ.

Lý Cần trả lời.

- Phan Mỹ tướng quân.

Lục Thất nói.

- Đại tướng quân, tình hình của Chu quốc bây giờ thế nào rồi?

Lý Cần hỏi.

- Ngươi nghĩ tình hình là thế nào rồi?
Lục Thất mỉm cười nói.

Lý Cần chần chừ một chút rồi nói:

- Đại tướng quân có thể tiến quân Hà Tây, thuộc hạ cảm thấy Chu quốc hẳn là đã rất hùng mạnh rồi.

Lục Thất lắc đầu nói:

- Ngược lại với lời của ngươi, Chu quốc bây giờ nguy cơ trùng trùng.

- Xin đại tướng quân chỉ bảo.

Lý Cần thi lễ nói.

- Vì sao ta có khả năng dẫn quân đột kích Hà Tây, các ngươi vào trong quân rất nhanh sẽ biết được, còn về tình hình của Chu quốc, có thể nói là trong nước họa hoạn rất lớn. Chu quốc có quá nhiều công thần, đám công thần đều có sức ảnh hướng rất lớn đến quân đội, cho nên thế quân lớn cũng phân làm mấy thế lực.

Lục Thất phân tích về nội hoạn và thế lực của đám lão binh Chu quốc.

Lý Cần nghe xong liền gật đầu hỏi:

- Thuộc hạ mạo muội, xin hỏi Đại tướng quân cũng là một thế lực có quân thế sao?

- Ta coi như là thế lực của Hoàng đế bệ hạ, Bệ hạ dùng ta tiến chiếm Thạch Châu là nhằm kiềm chế Tấn quốc công của Thái Nguyên, chỉ có điều con người của ta rất không muốn an phận, ở Thạch Châu đã nhiều lần đánh bại quân lực Hạ quốc, còn thu vào hàng binh Hạ quốc, từ ba ngàn quân lực mở rộng lên ba vạn quân lực cho nên Bệ hạ không để ta ở lại Thạch Châu. Điều ta đi Nguyên Châu, ở Nguyên Châu ta lại không an phận, xua quân chiếm cứ Hội Châu lại nuốt mất hai vạn quân Hội Châu, làm cho quân lực từ hai vạn biến thành bốn vạn. Sau khi vào Hội Châu, Bệ hạ phái Kỷ Vương đến tiếp quản Hội Châu, ta tiếp tục không an phận xua quân đến đột kích Hà Tây.

Lục Thất dùng giọng đùa vui, tự giới thiệu đơn giản một chút.

Các tướng sĩ lão binh nghe xong vẻ mặt hoảng hốt. Lục Thất cười rồi lại nghiêm nét mặt nói:

- Khi Các ngươi tiến vào trong lòng địch, hãy rải tin, nói ta là là một Đại tướng quân kính Phật.

- Vâng!

Lý Cần lập tức gật đầu đồng ý, những người khác cũng trả lời rối rít.

Lục Thất gật đầu nói:

- Năm ta tám tuổi, từng bị ngã ngựa hôn mê, là mẹ ta ba ngày lễ Phật thì bỗng nhiên ta tỉnh lại. Trước đây mấy ngày ta có đi núi Tu Di bái Phật ở chùa Cảnh Vân. Trong chùa có cao tăng nói ta có Phật quang tuệ tính, bản thân ta không có cảm giác gì nhưng chuyện ngã ngựa hôn mê là có thật.

Các tướng sĩ lão binh nghe xong đều gật đầu, nhưng một bộ phận khác thì vẻ mặt khác thường.Có một lão binh mặt tròn nói:

- Đại tướng quân ngã ngựa hôn mê mà hoàn sinh, chắc là Phật Tổ hiển linh rồi.

- Có lẽ là vậy, ta mười bảy tuổi vào quân, đã trải qua hàng trăm trận chiến, có mấy chục lần bị trọng thương kết quả đều vượt qua tử nạn

Lục Thất bình thản đáp lại.

Đám người Lý Cần sau khi nói chuyện với Đại tướng quân xong, được người dẫn đến một quân doanh. Trong quân doanh lại có đến hơn hai trăm lão binh cố nhân, còn có mấy trăm người Đảng Hạng, mấy trăm người cùng ngồi trong doanh, ăn cơm thịt dê nướng thơm lừng, cầm túi rượu uống.
Đám người Lý Cần được dẫn đến chỗ của mười mấy người Đảng Hạng, cũng ăn thịt uống rượu, tai nghe chuyện cũ của Đại tướng quân. Có một người Đảng Hạng vô cùng hưng phấn, không ngại người khác làm phiền nói chuyện của Đại tướng quân ở Thạch Châu, chuyện ở Nguyên Châu, chuyện ở Hội Châu, cùng với chuyện đột kích Lương Châu.

Lý Cần lặng im nghe chợt có lão binh bên cạnh thấp giọng nói:

- Đại nhân, thật là vậy sao? Năm đó chúng ta đã chết bao nhiêu người cũng chưa công phá được eo sông Cổ Lãng, làm sao có thể chỉ dựa vào một ngàn người mà chiếm được eo sông Cổ Lãng?

- Từng nghe chuyện binh xưa của Gia Cát Lượng chưa, người thực sự thiện chiến sẽ không dễ dàng dùng chiến thuật quyết chiến, mà sẽ lợi dụng “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để bày mưu tính kế. Một ngàn binh giả mạo làm hoàng tộc Đảng Hạng tiến vào eo sông Cổ Lãng là một loại sách lược thám báo kỳ binh rất thông thường, là chiến thuật nhân hòa.

Lý Cần nhẹ giọng trả lời.

Lão binh kia gật đầu, Lý Cần lại nói:

- Những chiến sự thắng lợi của Đại tướng quân mà ngươi nghe được này, cơ bản đều là dùng sách lược phục kích để dụ địch. Còn chúng ta năm đó chính là dùng đại quân để tấn công thẳng tiến.

- Năm đó là phụng chỉ chinh phạt, cũng chỉ có thể thẳng tiến tấn công.

Lão binh trả lời.

Lý Cần lắc đầu nói:

- Năm đó, cơ bản là không nên qua Hoàng Hà, chỉ cần chiếm được Hội Châu là có thể áp chế eo sông Cổ Lãng. Hơn nữa cho dù là tấn công thì cũng không nên tấn công Hà Tây.

- Năm đó đột kích Hà Tây, nghe nói là vì Hạ quốc tiêu diệt Hồi Hột chưa lâu, cho nên nếu công chiếm Lương Châu là có thể dẫn phát người Hồi Hột ở Hà Tây tạo phản. Lại không nghĩ công phá eo sông Cổ Lãng khó như vậy.

Lão binh uống một ngụm rượu rồi nói.

Lý Cần lắc đầu thẫn thờ nói:

- Thất bại năm đó chính là vì quá nóng vội lập công mà tạo thành, đám tướng soái muốn đánh một kích là Hạ quốc sụp đổ ngay.

- Hừ, nóng vội lập công, tôi thấy còn là liều lĩnh khinh địch đấy, năm đó chúng ta lấy được Hội Châu quá dễ dàng khiến đám tướng soái cho rằng người Đảng Hạng chỉ là một đám ô hợp không chịu nổi một kích.

Lão binh khác bỗng nhiên căm phẫn nói.

Lý Cần nghe xong cười khổ, lão binh nói chuyện trước tiên gật đầu đáp lại:

- Lão Châu nói thật là đúng. Lối mòn của người Đảng Hạng năm đó hẳn là cùng cách dụ địch của Đại tướng quân.

Lý Cần hơi giật mình rồi như thoáng suy nghĩ gật đầu. Lão binh uống một ngụm rượu, sau khi cắn một miếng thịt dê thì lầm bầm:

- Đại nhân, Đại tướng quân để chúng ta đi rải tin tức, chắc cũng là chiến thuật nhân hòa.

- Đúng, hơn nữa là chiến thuật nhân hòa rất cao minh, đại quân chưa động cũng có thể khiến địch khiếp đảm trước. Người Hà Tây tin Phật, một khi biết được đại nhân tin Phật trong lòng sẽ bớt căm thù một chút, nếu lại biết đại nhân được Phật ân hoàn sinh, vậy thì sẽ khiến kẻ thù sinh lòng sợ hãi.

Lý Cần thấp giọng trả lời giơ tay uống một hớp rượu.

Lão binh gật đầu, uống hớp rượu lại hỏi:

- Đại nhân, tôi cảm thấy cách Đại tướng quân nói chuyện có hơi cổ quái. Đại nhân có phát hiện, Đại tướng quân khi nói vẫn luôn là nói “triều đình Chu quốc”, chứ không gọi tắt là triều đình.

Lý Cần im lặng, lão binh lại thấp giọng nói:

- Đại nhân, tôi thấy Đại tướng quân có tâm tự lập rồi, bằng không vì sao lại nói với chúng ta cái gì mà quân thế công thần Chu quốc. Theo tôi thấy, bản thân Đại tướng quân đã là một quân thế rồi.

Lý Cần uống một ngụm rượu rồi thấp giọng nói:

- Đại tướng quân quá thiện chiến, chắc chắn là công cao lấn chủ rồi, triều đình và Hoàng đế bệ hạ e là khó dung ngài ấy.

- Vậy nếu Đại tướng quân tự lập làm phản, chúng ta có ủng hộ không?

Lão binh hạ giọng nói.

- Lão Hạ, nói chuyện từ đầu đến cuối với ông rồi, nếu không phải Đại tướng quân đến Hà Tây, chúng ta còn có ngày ngẩng đầu hay sao?

Một lão binh khác nói với giọng buồn bực.

Lão binh nghe xong liền gật đầu uống một ngụm rượu nói:

- Ta hồ đồ rồi.

- Ha hả, lần này nếu có thể lập công, chịu khổ suốt mười năm nay, chúng ta coi như không sống uổng, cũng có mặt mũi mà đi gặp người thân rồi.

Lão binh chợt giơ túi rượu lên, khuôn mặt tang thương có nước mắt.

Cả đám lão binh cùng giơ túi rượu lên đáp lại.

Quyển 5 - Chương 86: Cam Châu

Đám lão binh đi rồi, Lục Thất từ quân doanh ngoài thành đi vào thành Trương Dịch. Thành Trương Dịch nằm ở trung bộ hành lang Hà Tây, bắt đầu xây dựng vào triều Hán, bây giờ là một tòa thành trì có chiều dài hai nghìn thước, tường thành cao ngất, xây dựng đủ các loại công trình phòng thủ, là một toà thành hùng mạnh khó phá.

Đương nhiên là Lục Thất có hiểu biết về Cam Châu, Cam Châu nằm ở vị trí giữa bụng của hành lang Hà Tây rộng ngàn dặm, bắt nguồn từ Hắc hà của sơn địa Kỳ Liên, Đại Dã Khẩu hà, Tô Du Khẩu hà, nhất là Hắc hà đi ngang qua toàn cảnh, tạo thành một ốc đảo nổi tiếng xa gần. Vì thủy tài nguyên phong phú, đất đai phì nhiêu, cho nên từ xưa Cam Châu đã là vùng quan trọng sản xuất lương thực, thời kì triều Đường thừa thải gạo, cho nên nếu Cam Châu vào mùa bội thu thì có thể nuôi đến cả trăm vạn nhân khẩu.

Điều đáng tiếc là, từ sau loạn An Sử hành lang Hà Tây liền rơi vào cảnh ngươi tranh ta đoạt, từng bị dân tộc Hồi Hột và Thổ Phiên chiếm rất nhiều năm. Khi dân tộc Hồi Hột chiếm lĩnh, không gây phá hoại lớn đến nông nghiệp của Trương Dịch. Còn lúc Thổ Phiên chiếm lĩnh lại chỉ coi trọng chăn thả, gây tổn hại lớn cho nông nghiệp. Nông nghiệp chủ yếu đòi hỏi đất trồng trọt, mà hành lang Hà Tây vẫn là ngươi cướp ta đoạt.

Trước khi người Đảng Hạng lập quốc liền chiếm Lương Châu, người Đảng Hạng vốn lấy việc chăn thả làm chính, cũng là khuynh hướng chăn nuôi, hơn nữa chiến sự không ngừng khiến cho nhân khẩu của Cam Châu giảm sút rất nhiều. Cho nên nông nghiệp Cam Châu không thể phục hồi một cách mạnh mẽ được. Nông nghiệp cần tiến hành làm thủy lợi và khai hoang trồng trọt thì mới bội thu được.

Lục Thất biết tầm quan trọng của Cam Châu đối với Hà Tây, hắn muốn chiếm Cam Châu, khôi phục sức sản xuất nông nghiệp của Cam Châu, Cam Châu phong thì Hà Tây sẽ đủ.

Khi Lục Thất ở Hội Châu, vốn là muốn tiến hành dụ dỗ phân hóa bát thị (tám bộ tộc) Đảng Hạng, cho nên hắn mới cưới Nhã Lan làm phu nhân, nhưng quân tiến vào Hà Tây thành công, cách dụ dỗ ban đầu không thể không thay đổi. Bởi vì sau khi Hạ quốc chiếm được hành lang Hà Tây đã phân cho quý tộc Đảng Hạng, bây giờ hành lang Hà Tây là lãnh địa chăn thả của bát thị Đảng Hạng, bộ lạc hoặc tán dân trong lãnh địa đều thuộc về lãnh chúa, cũng chính là quý tộc bát thị Đảng Hạng.

Lục Thất tiến thủ hành lang Hà Tây rồi, không thể thừa nhận dân chăn nuôi và bộ lạc dân du mục vùng Hà Tây, có một bộ phận vẫn còn thuộc về Phòng Đương thị, nói cách khác, hắn không cần giao hảo với Phòng Đương thị, tiến thủ hàng lang Hà Tây chẳng khách gì chặt ngang Hạ quốc.

Nơi thống trị ban đầu của Hạ quốc chính là vùng thảo nguyên Hoành Sơn kia, bát thị Đảng Hạng vốn là dân tộc thảo nguyên. Lục Thất lấy được Hội Châu và hành lang Hà Tây khiến cho Hạ quốc không cách nào thông với Lan Châu và vùng Hà Hoàng.

Sau khi Lục Thất tây chinh, bình thường hẳn là nên xuất binh đến eo sông Cổ Lãng cùng quân Hội Châu hợp quân tiến đánh Lan Châu. Sau khi vùi lấp Lan Châu là có thể tiến chiếm Hà Hoàng. Nhưng Lục Thất lại không muốn làm quá nhiều của hồi môn cho Chu quốc, hành lang Hà Tây có thể mượn tên của Chiết thị chiếm cứ, còn Lan Châu và vùng Hà Hoàng, hắn tiến chiếm rồi cũng sẽ do quan lại Chu quốc đến tiếp quản.

Ngoài ra, một khi tiến vào Hà Hoàng rồi sẽ xảy ra chiến sự với Thổ Phiên, Lục Thất không muốn quân lực Hà Tây đóng ở Hà Hoàng, tuy nhiên tình thế hay thay đổi, sự tình từ nay về sau rất khó nghĩ thế nào mà được như thế.

Vào thành Trương Dịch, đi đến quân phủ xem văn án, sau đó không lâu, Chiết Hương Nguyệt tới giao kết quả kiểm kê cho Lục Thất. Lục Thất vừa nhìn, kết quả trong kho của thành Trương Dịch quả nhiên rất ít, văn án quân phủ Lương Châu lúc trước Lục Thất đã biết.

Sáng sớm hôm sau, thành Trương Dịch giải trừ quân quản giới nghiêm cho phép cư dân đi ra. Cư dân của thành Trương Dịch mới hơn hai vạn, thua xa nhân khẩu thành Võ Uy, chủ yếu là nông dân và dân chăn nuôi Cam Châu nhiều, căn cứ vào ghi chép trong văn án, nhân khẩu của Cam Châu có thể là sáu vạn, nhưng số lượng sáu vạn này bất cứ lúc nào cũng có thể phát sinh thay đổi lớn. Đại quân của Lục Thất vừa vào Cam Châu, chỉ sợ có nhiều dân du mục nghe phong thanh mà trốn ra ngoài.

Thông cáo trị chính của Lục Thất sáng sớm đã được phát ra, trừ thông báo tiêu chuẩn thuế phú mới, còn công bố ruộng đất cho quân lập công, tuyên bố những khu đất thích hợp cho trồng trọt đều có thể bán cho tướng sĩ muốn được đất, năm nay và sang năm không thu thuế, các tướng sĩ có ruộng rồi sẽ tự khai hoang, cũng có thể thuê người khai hoang, trồng trọt, nếu không thuê được người, quân đội sẽ cho người thay thế khai hoang trồng trọt, nhưng sẽ thu lấy bảy phần lương thực.

Thông cáo vừa ra, trong thành đã bàn tán xôn xao. Vì sao Lục Thất lại ra thông cáo trong lúc đang chiến tranh, chính là vì muốn trói buộc lòng quân của hàng binh, trước tiên phải ra những ưu đãi, mới có thể khiến hàng binh có lòng quy thuận.

Mấy trăm tướng sĩ “phụ địch” sắp phải lên đường, nghe thông báo rồi, lão binh Khâu Lâm rõ ràng động lòng, liền hỏi cận vệ tuyên báo:

- Lão đệ, một mẫu đất bao nhiêu tiền?

- Mười quan tiền Chu hoặc ba mươi lượng bạc, hoặc ba lượng vàng, được mua cao nhất là hai mươi mẫu.

Cận vệ trả lời.

- Cái gì? Một mẫu đất ba lượng vàng, sao mua được?

Một lão binh nghi ngờ hỏi.

- Đúng vậy, quá đắt, chỗ này toàn là đất hoang, không đáng giá đó.

Người lão binh kia cũng nói.

- Các vị, Đại tướng quân nói rồi, sẽ tiến hành bán chịu đất cho các tướng sĩ, sẽ do quan phủ viết giấy vay. Các vị sau khi dùng giấy vay mua đất vườn, sẽ trả góp hằng năm. Năm nay và sang năm quả quyết không thu lãi, năm sau thu lãi, từng năm sau đó sẽ tăng thêm lãi, nếu các vị có thể tiết kiệm được một phần quân hưởng thì có thể trả hết nợ. Nếu lập được công, được khao thưởng thì càng dễ trả hết nợ. Đại tướng quân nói, đây sẽ là quân điền có tính thừa kế, cho nên chỉ bán cho mỗi người hai mươi mẫu.

Cận vệ giải thích nói.

- Nói như vậy, tôi không có tiền cũng có thể mua được đất đai.Khâu Lâm hỏi.

- Đúng vậy, Đại tướng quân nói, nếu Cam Châu ổn định và hòa bình lâu dài, các tướng sĩ không phải chịu thiệt, quan phủ cũng có thể có thứ nuôi quân. Nếu Đại tướng quân không thể chiếm giữ Hà Tây lâu vậy thì tất cả đều là hư ảo.

Cận vệ giải thích nói.

- Được, ta lấy ruộng trước.

Khâu Lâm đáp.

- Được, ta ghi chép một chút, tên của ông, còn người thừa kế của ông, nhất định phải có người thừa kế. Nếu lão huynh có gì xảy ra ngoài ý muốn thì đất đai kia sẽ giao cho người thừa kế, nếu người thừa kế không muốn đất đai vậy Đại tướng quân sẽ cho vào trợ cấp.

Cận vệ nói.

- Hả, trợ cấp và đất đai không thể cho cùng nhau sao?

Có lão binh hỏi.

- Đương nhiên là không thể cho cùng được rồi, nếu lão huynh dùng tiền mặt mua đất đai, vậy đất đai và trợ cấp sẽ được cấp chung. Nếu như lão huynh đã giao nộp một phần khoản nợ, vậy phần tiền đó gộp cùng với trợ cấp sẽ đồng thời cấp cho người thừa kế. Điều kiện tiên quyết là người thừa kế không lấy đất. Nếu người thừa kế muốn lấy đất vậy tiếp tục mỗi năm phải trả tiền vay.

Vận vệ giải thích nói.

Khâu Lâm gật đầu nói:

- Hiểu rồi, là tôi vay tiền mua đất và trợ cấp là hai việc khác nhau. Nhưng tôi mua đất vườn có thể truyền lại cho con tôi để con tôi tiếp tục trả nợ, nếu không muốn trả nợ thì phải chịu mất quyền sử dụng đất, nhưng bạc đã trả thì vẫn có thể thu về đúng không?

- Đúng, đúng lão huynh hiểu rồi đấy.
Cận vệ sung sướng nói, để cậu ta làm chuyện này đúng là còn vất vả hơn chém giết.

Khâu Lâm gật đầu nói:

- Vậy đăng ký cho tôi đi.

Cận vệ gật đầu để thương nhân đi theo làm bản ghi chép, đây là từ trong thành ép mướn đến đấy.

Trong lúc lập bản ghi chép, cận vệ cười nói:

- Đại tướng quân nói, Cam Châu này là nơi trù phú, vào triều Đường nổi danh là vùng đất thừa thải lương thực, rượu chè phong phú. Gạo nơi đó sản xuất ăn rất ngon, ủ thành mỹ tửu càng là tuyệt nhất Trường An. Nếu Cam Châu có thể ổn định và hòa bình lâu dài, các vị có được đất đai thì chắc chắn đó là tài sản có giá trị lớn nhất.

Khâu Lâm gật đầu nói:

- Đại tướng quân nói là sự thật, thời kỳ triều Đường Cam Châu sản xuất nhiều gạo có thể nuôi bảy vạn người, không những đủ cho Hà Tây mà còn bán cả ra ngoài thu lợi.

Cận vệ liếc nhìn Khâu Lâm một cái rồi nói:

- Đại tướng quân nói các vị phải đi chấp hành quân vụ, cho nên nếu muốn mua đất, sẽ lấy được đất tốt nhất.

Hả? rất nhiều người thất thanh hô, lại càng nhiều người gật đầu im lặng, nhao nhao vây lấy thương nhân kia.

....

Mấy trăm người dời khỏi quân doanh, sau khi hướng về phía tây xa một dặm bỗng nhìn thấy mấy trăm kỵ binh, bọn kỵ binh đều dắt ngựa, người đi trước tiên không ngờ là Đại tướng quân.

- Các vị, cưỡi ngựa đi thôi.

Lục Thất mỉm cười nói.

- Bái kiến Đại tướng quân.

Mấy trăm tướng sĩ sắp dời đi nhất tề bái kiến.

- Các vị, hãy nhớ bổn quân chỉ là để cho đám các ngươi làm việc, không cần tìm hiểu quân tình gì, chỉ cần thật thà làm việc các ngươi nên làm, chuyện ẩn nấp nhất định phải có kiên nhẫn.

Lục Thất bình thản nói.

- Vâng!

Các tướng sĩ nhất tề hưởng ứng.

- Đi thôi.

Lục Thất nói, kỵ binh phía sau đều dẫn ngựa đến phía trước, giao dây cương ra. Các tướng sĩ nhận dây cương lên ngựa, sau khi nhìn Đại tướng quân một cái thì giật cương cưỡi ngựa hướng về phía tây.

Quyển 5 - Chương 87: Dĩ dật đãi lao

Tiễn các tướng sĩ đi chấp hành tâm lý chiến xong, Lục Thất quay trở về quân doanh lập tức hạ lệnh xuất binh cướp lấy toàn bộ lãnh thổ Cam Châu, đánh chiếm huyện Sơn Đan, huyện Dân Nhạc, huyện Lâm Trạch, huyện Cao Đài.

Địa lý của Cam Châu là vùng giao tranh của nhà binh, không những là thông đạo từ đông sang tây của con đường tơ lụa mà lệch về phía nam còn thông đến Thổ Phiên, bắc đến Hán Trường Thành và trấn Di Hạp, theo cổ đạo Cư Diên có thể đến ốc đảo Cư Diên Hải. Cư Diên Hải là một cương vực đã thâm nhập vào đại mạc Mông Cổ.

Sau khi chiếm cứ toàn bộ Cam Châu, Lục Thất đột nhiên ngừng binh không tiến lên trước nữa, đại quân đóng ở Cam Châu bắt đầu ồ ạt khai hoang Cam Châu. Sau khi “bán” đất vườn ra, Lục Thất liền hạ lệnh khai hoang và khởi công xây dựng thủy lợi.

Sau khi đóng quân ở Cam Châu, Lục Thất cố tình triệu tập Chỉ huy sứ cấp bậc Tướng soái trở lên giải thích vì sao không tiếp tục tiến chiếm Túc Châu, Qua Châu và Sa Châu.

Thứ nhất, Cam Châu là nơi bốn bề giáp chiến, phía nam có thể đột kích Thổ Phiên, phía bắc có thể tiến quân Liêu quốc hoặc dân tộc Hồi Hột.

Thứ hai, sau khi đại quân tiến thủ Cam Châu đã gặp một thống soái quân địch cấp công lỗ mãng, soái địch kia biết tin Lương Châu bị chiếm đóng, có thể muốn đi về phía đông cướp lại Lương Châu, cũng có thể muốn tăng cường phòng thủ vùng Đại Đấu, lợi dụng nơi hiểm yếu ngăn cản đột kích, kết quả là chậm một bước, đưa lên miệng lại bị cướp mất.

Quân Cam Châu của Hạ quốc bị diệt, đã tạo thành một mục đích cho chiến lược tây chinh. Nếu đại quân tiếp tục đột kích Túc Châu, Hạ quân Túc Châu rất có thể sẽ rút lui đến Qua Châu, còn dân chúng Túc Châu cũng sẽ nghe phong thanh mà di dời, cho nên tiến chiếm Túc Châu sẽ chỉ có được một tòa thành trống không.

Thứ ba, đại quân không nên dời xa Lương Châu, phải bất cứ lúc nào cũng có thể quay về viện binh cho Lương Châu, cùng với chấn nhiếp nhân tố không ổn định ở Lương Châu.

Thứ tư, quân Cam Châu bị diệt, quân địch của Sa Châu, Túc Châu và Qua Châu chắc chắn sẽ hợp cùng một chỗ. Cho nên thay vì cứ tiếp tục viễn chinh khiến cho quân Tây chinh trở nên mệt mỏi, không bằng đợi quân địch mệt rồi tấn công. Hơn nữa chủ động đột kích, rất có thể sẽ lâm vào cảnh chiến tranh giằng co người tiến kẻ lùi.

Chỉ cần chiếm đóng Cam Châu là có thể chiếm được thể chủ động. Hiện tại đại quân đóng ở Cam Châu có hơn hai vạn kỵ binh, lo gì kẻ thù tập kết mười vạn bộ binh, cũng đều giống nhau có thể đạp phá, bộ quân thảo nguyên có rất ít trường thương và áo giáp, cung tên cũng chỉ có thể trang bị cho một bộ phận quân lực. Thảo nguyên quân mạnh nhất là tính cơ động và xung phong của kỵ binh, hầu như đều là dùng mã tấu.

Thứ năm, căn cứ vào văn án ghi chép có được ở Lương Châu, Sa Châu, Túc Châu và Qua Châu có sản xuất rất ít ỏi, khuyết thiếu quân lương. Vùng Hà Tây về mặt đối ngoại phải liên tục dùng binh chống đỡ Hạ quốc, nhân khẩu và đàn dê cừu giảm nghiêm trọng. Cho nên dân du mục và nông dân dời xa Cam Châu không bao lâu phải quay lại để sống vì quân địch sẽ cướp đoạt hi vọng sinh tồn của dân di dời.

Thứ sáu, Lục Thất cũng không nói gì, trên thực tế hắn đóng quân ở Cam Châu không tiến. Nguyên nhân lớn nhất chính là chỉnh quân, quân tâm hàng binh rất không ổn, lúc không có chiến tranh đã tìm cơ hội chạy trốn, một khi xảy ra đại chiến thì đám hàng binh này sẽ trở thành mồi lửa dẫn đến quân lực tan tác. Hơn nữa sau khi viễn chinh, tiếp viện cho chiến tuyến sẽ gia tăng tiêu hao rất nhiều.

Ngoài ra Lục Thất còn có một mục đích Tây chinh khác đó chính là muốn kéo bản thân ở lại Hà Tây. Nếu đã tiến quân Hà Tây, triều đình Chu quốc sẽ không hạ lệnh điều hắn rời khỏi. Một khi hành vi đáng nghi kỵ của hắn trở nên rõ ràng, tất cả những gì của Lục Thất ở Tây Bắc hiện giờ sẽ khiến triều đình Chu quốc phản lại hắn.

Đám tướng soái nghe Lục Thất giải thích xong, quay về truyền lại cho các tướng sĩ biết, quân tâm của các tướng sĩ nhanh chóng được ổn định.

Thực ra đạo lý rất đơn giản, mọi người đều muốn sinh tồn, nếu ở lại Cam Châu có cơm ăn lại không phải viễn chinh bán mạng, vậy cũng không muốn chạy đi đâu nữa. Chạy thì có thể đi đâu, núi Kỳ Sơn hay là sa mạc? Rất dễ chết đói đấy, không đói thì cũng bị sói ăn thịt.

Sau khi Lục Thất xử lý vấn đề quân tâm xong, hắn tĩnh tâm suy nghĩ một hồi, mới gửi thư cho Kỷ Vương và Tiểu Điệp. Hắn kể một chút về tình hình Hạ quân ở Hà Tây, nói cho Kỳ Vương chinh chiến đang diễn ra ở Hà Tây, tạm thời chưa thể về Hội Châu được.

Hắn gửi thư cho Tiểu Điệp, ngoài việc ân cần thăm hỏi, còn muốn tìm Trình Đức Huyền, để Trình Đức Huyền đến Cam Châu gặp hắn. Nếu không tìm thấy ở Hội Châu, vậy không cần đi Nguyên Châu tìm nữa, có thể cho người đến thẳng Tương Châu.

Tiếp theo, Lục Thất bắt đầu giáo huấn kỵ quân ở Cam Châu. Hắn đích thân tham dự việc giáo huấn, tự cưỡi ngựa, bắn tên, khiến kỵ quân kinh sợ. Còn bộ quân cơ bản đã trở thành công binh, giao cho Chiết Hương Nguyệt quản lý việc khai khẩn trồng trọt và khởi công xây dựng thủy lợi.

Trong sự bận rộn thời gian thoáng cái đã trôi qua mười ngày, dần dần, từ phía Tây có rất nhiều nông dân và dân du mục đến Cam Châu, cơ bản đều là hai bàn tay trắng, Lục Thất thu nhận và giúp đỡ, thuê làm lực lượng lao động khai khẩn đồn điền, chỉ quản ăn uống, nhưng cũng có bộ phận nhập quân.

Lục Thất biết rõ sẽ có thám báo quân địch, lại cố ý rộng lượng thu dụng, hắn đang tiến hành một cuộc ám chiến kéo dài. Thống trị Cam Châu càng tốt thì càng có nhiều tướng sĩ, có thể trên phương diện tâm lý, phá hủy ý chí chiến đấu của quân địch.

Mười hai ngày sau ở Cam Châu, Trình Đức Huyền đồng ý lời mời đến Cam Châu. Sau khi ông ta đến thấy cảnh tượng lao động khí thế cao ngất trời cùng với kỵ binh như rừng rậm đang huấn luyện khiến ông ta thấy kinh sợ. Lục Thiên Phong thực sự là kiểu người hống hách, không ngờ có đến sáu vạn quân lực ở Cam Châu, hơn nữa còn gần ba vạn kỵ binh, tính cả kỵ binh ở Lương Châu.

Chiết Hương Nguyệt tiếp đón Trình Đức Huyền, sau đó Lục Thất cũng trở về quân phủ, vừa nhìn thấy ông ta liền chắp tay cười nói:

- Vất vả cho Trình đại nhân đường xa đến đây.

- Đại tướng quân quá lời rồi, hạ quan có thể đến Cam Châu xem phong thái hùng vĩ của nơi này là điều may mắn cầu mà không được ấy chứ.

Trình Đức huyền thể hiện sự tôn kính, rất biết cách trả lời.Lục Thất cười, ngồi xuống sau đó bình thản nói:

- Ta mời Trình đại nhân xa xôi đến đây là muốn cùng Trình đại nhân làm một vụ mua bán.

- Ồ, Đại tướng quân muốn mua bán cái gì?

Trình Đức Huyền lập tức cảnh giác nói.

- Ta tấn công Hà Tây, vì lấy lòng quân quy thuận cho nên không thể để sưu cao thuế nặng, nhưng ta cần lương thực nuôi quân. Ta muốn mua bán lương thực với Trình đại nhân.

Lục Thất bình thản nói.

Trình Đức Huyền giật mình gật đầu, sự sợ hãi trong lòng tan biến. Ông ta lo lắng Lục Thiên Phong sẽ ép mình quy thuận, ông ta bình thản nói:

- Lương thực Đại tướng quân nuôi quân có thể xin triều đình mà.

- Xin triều đình, chắc không được đâu. Ta tăng cường quân bị ở Thạch Châu, triều đình cũng chưa cấp quân lương. Bây giờ triều đình phát động chiến sự Ba Thục và Giang Nam thì lại càng không đưa quân lương đến Hà Tây.

Lục Thất trả lời.

Trình Đức Huyền gật đầu, Lục Thất lại nói:

- Ta từng nghe thuộc hạ Khách Ban nói, Bình Lương đô đốc phủ đã mua bán lương thực với Phòng Đương thị, cho nên ta muốn trực tiếp mua lương thực với Trình đại nhân.

- Đại tướng quân, bây giờ mua bán lương thực không dễ đâu.

Trình Đức Huyền nói.
- Không dễ mua cũng mua, ta giống với Phòng Đương thị dùng chiến mã đổi lương thực.

Lục Thất nói.

Trình Đức Huyền nghe xong thay đổi sắc mặt, chiến mã, tuyệt đối là quân nhu mà Tương Châu cần. Nhiều năm như vậy rồi, ông ta cũng chỉ trao đổi mua bán được hơn ba ngàn con chiến mã với Phòng Đương thị. Hạ quốc cũng không phải ngu, bán rẻ quá nhiều chiến mã chẳng khác gì là cho kẻ thù dao. Hơn nữa chiến mã Hạ quốc cũng khan hiếm, tác chiến trên thảo nguyên rộng lớn tuyệt không thể thiếu kỵ binh được.

- Đại tướng quân muốn đổi thế nào?

Trình Đức Huyền hỏi.

- Ta cần lương thực cho mười vạn đại quân trong một năm, muốn dùng năm ngàn chiến mã để đổi.

Lục Thất trả lời.

Trình Đức Huyền nhíu mày nói:

- Quân lương cho mười vạn đại quân một năm quá nhiều, hơn nữa dùng năm ngàn chiến mã để đổi cũng không đổi được.

- Trình đại nhân, ta đề xuất trao đổi dĩ nhiên là phải làm giá cao hơn Phòng Đương thị. Ta nói thực, nếu ta vẫn chưa muốn có hiềm khích với Chu quốc, hoàn toàn có thể dùng chiến mã đổi lấy lương thực của Chu quốc, thậm chí có thể giao dịch với Tấn quốc công. Nếu không phải Chiết thị quá nghèo, cũng sẽ giao dịch với Chiết thị.

Lục Thất trả lời.

Trình Đức Huyền gật đầu nói:

- Đại tướng quân nói rất đúng, nhưng một năm lương thực cho mười vạn quân cũng không phải chuyện nhỏ. Chẳng những chưa chắc có thể xoay xở đủ mà bốc xếp và vận chuyển cũng rất khó.

- Trình đại nhân, chúng ta có thể mua bán từng bước một.

Lục Thất mỉm cười.

Trình Đức Huyền suy nghĩ một chút rồi nói:

- Chuyện này, hạ quan phải về xin chỉ thị.

- Được, ta cho đại nhân thời gian một tháng, nếu Trình đại nhân không có hồi âm ta sẽ nghĩ cách khác. Nếu ta mất Hà Tây, Trình đại nhân có thể tìm Chiết Hương Nguyệt giao dịch.

Lục Thất nói.

Trình Đức Huyền ngẩn người ra rồi nói:

- Đại tướng quân sao lại mất Hà Tây?

- Chiến sự thay đổi thất thường, có thể ta sẽ tây chinh đi Sa Châu, lúc đó không nên để cho Trình đại nhân chạy quá xa, Hà Tây vẫn rất nguy hiểm đấy.

Lục Thất mỉm cười nói, Trình Đức Huyền hiểu gật đầu.

Quyển 5 - Chương 88: Tâm chiến chi bá

Trình Đức Huyền đi rồi, Chiết Hương Nguyệt biết chuyện Lục Thất dùng chiến mã đổi lương thực thì không khỏi oán giận nói:

- Sao lại muốn dùng chiến mã để đổi lương thực, không phải đã nói dùng than đá sao?

Lục Thất mỉm cười giải thích nói:

- Dùng than đá đổi lương thực, Triệu Khuông Nghĩa chưa chắc đã động lòng, còn đối với Hà Tây nhất định phải có lương thực để qua mùa đông.

- Nhưng dùng năm ngàn chiến mã để đổi lương thực là quá nhiều, sẽ khiến cho sức chiến đấu của quân Hà Tây yếu đi rất nhiều. Chúng ta có thể dùng tiền mua một phần được mà.

Chiết Hương Nguyệt tiếc nuối nói.

Lục Thất mỉm cười nói:

- Dùng chiến mã đổi lương thực chỉ giải quyết được hơn một nửa vấn đề cần thiết, còn có những thứ cần thiết khác phải dùng tiền đi mua, ví dụ như mua rượu, than đá, vải vóc, dược liệu. Muốn sống yên ở Hà Tây nhất định phải để nhân dân Hà Tây cảm thấy được ăn no mặc ấm, tiện chú ý đến kế sinh nhai của Thạch Châu và Ngân Châu.

- Ồ, ra là chàng nghĩ như vậy.

Chiết Hương Nguyệt ngạc nhiên nói.

Lục Thất gật đầu:

- Nêu muốn Hà Tây trở nên giàu có, nhất định phải phát triển nông nghiệp và buôn bán. Tiền của chúng ra chính là tiền vốn để hấp dẫn thương nhân đến Hà Tây. Phải có nhiều thương nhân đến Hà Tây thì sản xuất mới lưu thông, có lưu thông thì việc sản xuất của Hà Tây mới có giá trị.

Chiết Hương Nguyệt gật đầu lại nói:

- Tiếc là Phủ Châu không có nhiều lương thực nếu không chiến mã có thể cho Phủ Châu rồi.

Lục Thất nghe thấy vậy mỉm cười, duỗi cánh tay ôm Chiết Hương Nguyệt vào lòng. Hắn dùng chiến mã đổi lương thực đương nhiên là còn có thâm ý sâu xa hơn, chính là tiếp tục làm dã tâm của Triệu Khuông Nghĩa lớn hơn nữa. Tuy nhiên bán chiến mã cho Triệu Khuông Nghĩa cũng có thể gây bất lợi cho Tấn quốc, nhưng lương thực của Triệu Khuông Nghĩa chỉ có thể tư thương với Tấn quốc, mà Tấn quốc cần rất nhiều than đá để luyện kim loại, tinh luyện kim loại không chỉ để chế tạo vũ khí, mà nhu cầu làm thuyền bè cũng rất cấp bách.

Lại năm ngày trôi qua, Lục Thất đột nhiên hạ lệnh cho mười ngàn kỵ binh đi đột kích Túc Châu. Kỵ binh vào Túc Châu bất ngờ phục kích huyện Phúc Lộc, quét sạch mấy ngàn Hạ quân ở huyện Phúc Lộc. Sau đó dẫn theo tù binh và hơn một vạn dân du mục quay về Cam Châu.Hóa ra, Hạ quân ở huyện Phúc Lộc đang ngăn cản dân cư đổ về hướng ba huyện thuộc Cam Châu, Túc Châu. Từ phía tây hướng sang đông theo thứ tự là huyện Ngọc Môn, huyện Tửu Tuyền và huyện Phúc Lộc. Huyện Tửu Tuyền là châu trị, tiếp giáp với huyện Phúc Lộc và Cam Châu.

Quả nhiên như dự đoán của Lục Thất, sau khi đánh bại ba vạn Hạ quân ở Cam Châu, Thống soái trấn thủ Túc Châu, Sa Châu và Qua Châu bị khiếp sợ đã vội vàng thu nạp nông dân và dân du mục vào quân, cướp đoạt lương thực và bầy dê cừu ở khắp nơi để chuẩn bị cho chiến tranh. Từ bảy vạn trú quân chính quy đã mở rộng ra thành mười hai vạn quân lực.

Điều khiến Hạ quân bất ngờ chính là bọn họ dốc hết lực chuẩn bị cho chiến tranh, vậy mà kết quả là kẻ thù đã chiếm Cam Châu mà không tiến, kẻ địch cứ chiếm mà không tiến chẳng khác nào lặng lẽ đánh cho Hạ quân một đòn, khiến Hạ quân lâm vào tình trạng tổn hao nghiêm trọng.

Mười hai vạn đại quân hao tốn vô cùng, mà kho của Cam Châu cũng không được đầy cho lắm. Hơn nữa, vì cưỡng ép trưng binh mở rộng quân lực cho nên lòng quân rất không ổn định. Đáng sợ hơn là, những tin đồn lan tràn trong quân như ôn dịch.

Cái gì mà Lục Thiên Phong là Phật quang chuyển thế, có được kim cương bảo vệ bách chiến bách thắng, cùng với các loại chiến tích thắng lợi của Lục Thiên Phong, hơn nữa Lục Thiên Phong sở dĩ có thể bất bại là vì bên cạnh có một vị Đại Vu thần thông quảng đại.

Nghe nói năm vạn đại quân Linh Châu tiến công huyện thành Bình Cao, chỉ có mấy trăm người thủ thành. Lúc đại quân công thành, vừa lúc vị Đại Vu kia có ở trong thành, kết quả thi pháp gọi đến vô số ác quỷ, tung bay trên tường thành, cứ có người leo lên tường thành thì đều bị nuốt hết hồn phách, cuối cùng năm vạn đại quân bị hù sợ đến mức phải bỏ đi.

Còn liên quan đến Lục Thiên Phong rất kính Phật, cứ là người kính Phật dù là người Đảng Hạng hay người Hồi Hột hắn đều xem như huynh đệ. Hơn nữa, Lục Thiên Phong còn cưới con gái quý tộc Đảng Hạng, và cưới Quận chúa của nước Hồi Hột đã mất nước làm phu nhân.

Còn có các phương sách trị chính của Lục Thiên Phong, cái gì mà vào quân sẽ được cho ruộng đất, quân hưởng nhiều, được ăn no nê có thịt. Đối với dân chăn nuôi thuế chỉ còn ba phần so với ban đầu. Hơn nữa, Lục Thiên Phong có sự ủng hộ hùng mạnh của Chu quốc ở đằng sau, cho nên vũ khí và vật chất rất đầy đủ.

Đủ loại tin đồn, giống như một đao vô hình mổ vào trái tim phân cách lòng của số Hạ quân vốn không tình nguyện tham chiến. Hơn nữa Qua Châu, Sa Châu và Túc Châu vốn là vùng đất sinh tồn của Hồi Hột, là Hạ quốc đã diệt vong dân tộc Hồi Hột ở Hà Tây, khiến người Hồi Hột trở thành nô lệ bị chèn ép. Còn rất nhiều Chu quân bị bắt giữ năm đó cũng phần nhiều ở tại ba châu phía tây Hà Tây, sự tiến binh của Chu quân dấy lên ý chí, khát vọng chiến đấu của số tù binh Chu quân bị nô dịch mười nắm.Đối mặt với tin đồn mang tính ăn mòn sắc bén như vậy, Thống soái của Hạ quân ở ba châu phía tây cũng có những ý kiến không đồng nhất. Thống soái Hạ quân Túc Châu yêu cầu chủ động tấn công Cam Châu, nhưng Thống soái Qua Châu và Sa Châu lại cho rằng nên chờ lệnh của triều đình Hạ quốc, phải cùng phản công với đại quân của triều đình. Nếu mạo hiểm tiến công Cam Châu, khả năng thắng lợi là rất nhỏ. Bọn họ cho rằng, Lục Thiên Phong chiếm Cam Châu mà không tiến chính là đang chờ bọn họ tiến công. Mà kỵ binh của ba châu bọn họ đang ở cùng một chỗ mới được mười một ngàn kỵ binh.

Vấn đề là, Lục Thất chiếm Cam Châu được một tháng thì Hạ quốc lại không hề phát động chiến sự phản công Lương Châu. Lục Thất không biết vì sao Hạ quốc lại không điên cuồng vồ đến. Hắn đoán có ba khả năng, một là trong Hạ quốc xảy ra tình huống chia rẽ nghiêm trọng, hai là Hạ quốc đang e sợ sự an nguy của Hưng Khánh phủ. Ba là, hắn tiến vào Hà Tây và Hội Châu, đã ngăn cản mối liên hệ giữa triều đình Hạ quốc với ba châu ở tận cùng phía tây và Hà Hoàng.

Thời gian một tháng cũng không dài lắm nhưng đã tạo thành binh biến trên quy mô lớn ở ba châu tận cùng phía tây. Lấy binh biến của người Hồi Hột và tù binh Chu quân làm chủ đạo, dẫn đầu trước tiên ở Qua Châu, Hạ quân tạo phản đã quy hàng cờ hiệu của Lục Thiên Phong, giết tướng soái cao cấp của Hạ quốc, sau đó hành quân về phía Túc Châu.

Thống soái Hạ quân Túc Châu hoảng hốt ngăn chặn, không ngờ đại quân của chính mình cũng xuất hiện tình trạng tan vỡ, quân lực sở thuộc chạy trốn, từng hàng từng hàng sụp đổ, còn có người chủ động trở giáo giết lại. Sau một hồi đại hỗn chiến, hơn một vạn người đã chết. Thống soái Hạ quân Túc Châu và toàn bộ thân quân của y bị giết.

Lão binh ẩn núp phi ngựa cấp báo cho Cam Châu. Lục Thất lập tức đích thân dẫn mười ngàn kỵ binh cấp tốc đi huyện Tửu Tuyền, Túc Châu, xử lý nghĩa quân tạo phản. Trong khi xử lý, thống soái Hạ quân trấn thủ Sa Châu phái sứ giả đến tỏ ý muốn quy hàng Lục Thiên Phong, đồng ý giao quân lực của Sa Châu, chỉ cần bảo toàn mấy trăm thân quân và tài sản y đồng ý rời khỏi Hà Tây đến Hội Châu.

Lục Thất nghe xong không bất ngờ, vì thống soái Hạ quân của Sa Châu là quý tộc Phòng Đương thị cũng xem như là thân thích của hắn. Nhưng cũng là thống soái Phòng Đương thị kia sáng suốt, nếu còn không đầu hàng, cứ cho là thuộc hạ không tạo phản thì cũng khó mà cản đại quân tây chinh tấn công.

Hạ quân của ba châu ở tận cùng phía tây bị cuộc chiến quân tâm của Lục Thất làm cho suy sụp. Thời gian và hình thức quy thuộc của ba châu phía tây lại nằm ngoài dự liệu của Lục Thất. Hắn cho rằng thời khắc hai quân giao nhau mới dẫn đến tác dụng vỡ quân.

Tiếp theo, Lục Thất dùng mười ngày để chỉnh đốn lại hàng binh, không muốn ở lại trong quân, thì cho phép rời quân làm dân thường, đồng ý ở lại trong quân, sẽ tiến hành khảo hạch mộ quân, đào thải người già yếu trở về làm dân thường, cuối cùng lấy được sáu vạn quân. Phân biệt trú ở ba châu phía tây, nhưng mỗi châu đóng hai vạn quân, chỉ có hai ngàn kỵ binh, số ngựa còn lại đều vận chuyển đến Lương Châu.

Vì Trình Đức Huyền đã có hồi âm, đồng ý lấy chiến mã đổi lương thực. Nhưng Trình Đức Huyền xoay xở lương thực cũng không được thuận lợi cho lắm, sau khi hắn gấp gáp quay về Tương Châu, thông qua liên hệ tư thương, đã bị tư thương phía nam Hán Thủy từ chối. Nhưng mới qua một ngày, tư thương phía nam Hán Thủy lại bỗng nhiên đổi ý đồng ý bán gạo, nhưng thêm một vài điều kiện, cuộc mua bán mặc cả cuồi cùng cũng thành.

Đương nhiên là Trình Đức Huyền không biết ẩn tình trong đó, ẩn tình chính là tư thương phía bắc Hán Thủy lúc tiếp xúc với tư thương phía nam Hán Thủy đã từng tiết lộ người mua nhiều gạo như vậy chính là Lục Thiên Phong, còn nói Lục Thiên Phong đã chiếm cứ hành lang Hà Tây.

Kết quả, tư thương phía nam Hán Thủy đã báo cáo lên nội đình, nội đình rất nhanh đã lệnh cho tư thương phía nam Hán Thủy có thể nhận cuộc mua bán này, lại làm cho tư thương phía nam Hán Thủy rất khó hiểu. Lương thực bị cấm tuyệt đối tư thương cùng Chu quốc, sao quan phủ lại bán cho Chu quốc nhiều lương thực như vậy. Đương nhiên là họ không biết, Lục Thiên Phong chính là Tấn vương thống trị cao nhất của Tấn quốc.

Trình Đức huyền lại rất vui mừng, y cho rằng Tấn quốc cần nhiều than đá hơn nữa, mới đồng ý bán lương thực. Còn đông chủ Triệu Khuông Nghĩa của y thì kinh sợ với sự thật Lục Thiên Phong có thể tiến chiếm Hà Tây, sau khi nghe chuyện chiến mã đổi lương thực đã do dự không quyết.

Đương nhiên Trình Đức Huyền hiểu Triệu Khuông Nghĩa lo lắng điều gì, là lo lắng Lục Thiên Phong ở Hà Tây sau này sẽ thành họa lớn. Y khuyên bảo thẳng Triệu Khuông Nghĩa, Lục Thiên Phong dùng chiến mã đổi lương thực sẽ khiến cho quân lực của hắn tổn thất lớn. Hơn nữa, nếu không cùng Lục Thiên Phong đổi lương thực, vậy Lục Thiên Phong có thể sẽ làm cuộc giao dịch với Tấn quốc công. Nếu Tấn quốc công có được năm ngàn kỵ binh chỉ e còn nguy hơn mối họa Lục Thiên Phong.

Cuối cùng, Triệu Khuông Nghĩa cùng đồng ý dùng chiến mã đổi lương thực.

Quyển 5 - Chương 89: Sa Châu

Lúc Lục Thất ở huyện Tửu Tuyền thu nạp và tổ chức hàng binh, hơn năm trăm tướng sĩ “hàng địch” còn sống được đề bạt trọng dụng, đều đã trở thành quan tướng, thấp nhất là đội trưởng, cao nhất là Đô Ngu Hầu. Lý Cần đã trở thành Đô Ngu Hầu của năm ngàn bộ quân, tướng sĩ “hàng địch” tử vong cũng được truy nhiệm, sau đó chiếu theo chức quan mà trợ cấp.

Lục Thất cũng bổ nhiệm chức quan cho đầu lĩnh dẫn đầu đám phản loạn quy thuận, đối với người Hồi Hột và Đảng Hạng thì đối xử bình đẳng công bằng. Hắn ban bố lệnh bình đẳng cho tướng sĩ, nghiêm cấm khiêu khích dân tộc, gây hấn với các tướng sĩ khác dân tộc, phát sinh bất kỳ tranh cãi gì cũng phải đến Đề Ti khiếu nại, khôngs cho phép lén đấu võ.

Lục Thất xây dựng chế độ quan tướng Đề Ti độc lập, chia làm cấp tiểu đoàn và quan cấp. Cấp tiểu đoàn Đề Ti là một, cấp quân Đề Ti phân làm hai, từng quan tướng Đề Ti đều do cận vệ của hắn đảm nhiệm. Chức quyền là giám sát quân kỷ, xử lý tranh cãi mặc dù không có quyền thống quân nhưng địa vị ngang với chủ tướng thống quân, còn khi xử trí tranh cãi và chấp hành giám sát không hợp pháp thì quyền lực cũng cao hơn chủ tướng.

Sau khi Lục Thất hợp nhất hàng binh, đích thân dẫn ba vạn tướng sĩ về Sa Châu. Sa Châu quản hạt huyện Đôn Hoàng và huyện Thọ Xương, địa lý của Sa Châu là một ốc đảo bồn địa thiên nhiên, phía nam gối lên sơn mạch Kỳ Liên, tây giáp cách đồng hoang La Bố Bạc, bắc dựa Tắc sơn, đông có núi Tam Nguy, nước tuyết tan hợp thành Đảng hà, là một trong những căn bản hình thành ốc đảo.

Sa Châu vào triều Đường chính là trọng địa quân sự, hằng năm có hơn bốn ngàn quân lực đóng quân, sau đó lại bị Thổ Phiên và dân tộc Hồi Hột chiếm cứ. Nhưng một trăm năm trước, ở Sa Châu đã từng xuất hiện một nhân vật hiển hách, tên là Trương Nghị Triều.

Trương Nghị Triều xuất thân từ vọng tộc Sa Châu thời Đường mạt, tổ tiên là trấn tướng Sa Châu, vọng tộc chính là cường hào địa chủ đương thời. Lúc đó Sa Châu bị Thổ Phiên chiếm cứ, là Trương Nghị Triểu đã khởi binh đánh đuổi Thổ Phiên, tiến đến khởi nghĩa chinh chiến tứ xứ, một trận đã có được hành lang Hà Tây, Y Châu, Tây Châu, Lan Châu, vùng Hà Hoàng, thu được mười một châu vực.

Nhưng sau khi Trương Nghị Triều chết, vùng Tây bộ rộng lớn trên con đường tơ lụa đã nắm giữ được lại vì nội chiến mà sụp đổ, hành lang Hà Tây bị dân tộc Hồi Hột Hà Tây và người Đảng Hạng phân cách, lúc thì lại có Thổ Phiên tiến chiếm, cuối cùng mười mấy năm trước người Đảng Hạng diệt nước Hồi Hột Hà Tây, thống trị Sa Châu.

Sa Châu bây giờ, vọng tộc một thời đã vì chiến loạn mà sa sút, nhưng Sa Châu vẫn như cũ là nơi đa số người Hán cư ngụ. Đương nhiên, người Hán chính gốc là rất ít, nhân khẩu Sa Châu thậm chí có hơn năm vạn đã là chuyện rất hiếm thấy.

Thực ra, chiến thuận công tâm của Lục Thất có thể lay động lòng quân của ba châu phía tây có quan hệ rất lớn đến việc nhân khẩu trộn lẫn dòng máu, lòng dân ở hành lang Hà Tây cũng không quá thù hận người Hán, sự dung hợp giữa các dân tộc đã ăn rất sâu rồi. Nhưng người dân ở hành lang Hà Tây lại vô cùng thù hận người Thổ Phiên, chủ yếu là tính cách phá hoại của người Thổ Phiên quá lớn, không biết thống trị hành lang Hà Tây, mà chỉ biết bóc lột, áp bức, hơn nữa còn hung tàn không có nhân tính.

Lục Thất dẫn quân vừa đến Sa Châu thì lập tức được dân chúng Sa Châu hoan nghênh. Có một vị gia chủ của Vương thị, là vọng tộc mới của Sa Châu, khoảng năm mươi tuổi, mặc quan bào, ở ngoài cửa thành Đôn Hoàng cung kính dâng rượu cho Lục Thất.

Lục Thất ở trên lưng ngựa nhìn nhân vật mặc quan bào, trong lòng hắn thấy có vẻ kỳ lạ, bởi vì quan bào kia nhìn rất quen, cũng là thường thấy ở Đường quốc. Quan phục của Chu quốc và quan phục triều Đường có rất nhiều sai biệt.

Lục Thất rất hiểu nhân vật mặc quan bào này tại sao lại dâng rượu ở đây, là muốn có được sự tán thành của hắn. Lá cờ Đại vương trên đầu thành biến đổi thất thường, hôm nay hắn đến đây, nhân vật này lại mặc quan bào triều Đường đến gặp, nếu là quan Hạ quốc đến, nhân vật này cũng sẽ mặc quan bào Hạ quốc đến gặp.

- Nếu ngươi muốn mời rượu ta, cầu bình an, vậy hãy cởi quan bào này ra.

Lục Thất nhìn trong chốc lát rồi bình thản nói.

Vẻ mặt của nhân vật mặc quan bào đang cung kính lập tức cứng đơ lại, người Sa Châu chào đón cũng lập tức rơi vào cảnh tượng ngây ra như khúc gỗ. Có lẽ là lần đầu gặp được kiểu nhân vật không nể tình như Lục Thất đây.

Nhân vật mặc quan bào cũng biết linh hoạt, rất nhanh đã xoay người cầm rượu trong tay giao cho người phía sau, sau đó tự cởi quan bào. Sau đó lại lấy bát rượu, dâng cao lên cho Lục Thất.

- Tiểu dân kính rượu Đại tướng quân.

Gia chủ Vương thị cao giọng nói.

Lục Thất gật đầu, nghiêng mình xuống ngựa, đi qua cầm lấy rượu rồi lại xoay tay uống một hơi cạn sạch.

Uống rượu xong, Lục Thất cất cao giọng nói:

- Vạn dân Sa Châu nghe đây, chức quan của bản Đại tướng quân chỉ muốn cho người có bản lĩnh, cho người có quân công, mỗi người đều có thể tranh thủ bằng bản lĩnh của mình.

Gia chủ Vương thị nghe xong liền cung kính thi lễ, Lục Thất đưa bát cho ông ta rồi cười nhạt nói:

- Tâm ý của ngươi, bản Đại tướng quân biết, chén này ngươi cầm cho chắc chớ để vỡ. Sau này Bản đại tướng quân sẽ đổi cho ngươi một cái bát khác.

- Vâng, đa tạ Đại tướng quân.

Gia chủ Vương thị cung kính đáp lại.

- Bản đại tướng quân muốn quân điền, ngươi cũng chớ có ôm hận, những gì ngươi nên được tất sẽ có, tuyệt sẽ không để ngươi thiệt.

Lục Thất bình thản nói.

Sắc mặt của Gia chủ Vương thị thay đổi rồi ông ta cười lớn nói:

- Đại tướng quân, mời.

Lục Thất gật đầu, cất bước vào thành Đôn Hoàng. Sau khi vào thành, ba ngàn binh lực nhanh chóng tiếp quản vũ lực của thành Đôn Hoàng. Lục Thất và hơn trăm thuộc hạ đi đến phủ nha. Có thể nói, quan chế của Sa Châu được bảo lưu rất tốt. Còn Cam Châu, Qua Châu và Túc Châu là thực hành chế độ Phiên quan. Sa Châu là lãnh địa của Phòng Đương thị, từ tình hình của Sa Châu có thể nhìn thấy ảnh hưởng của vương triều Trung Nguyên đến Phòng Đương thị rất sâu sắc.

- Khâu Lâm.

Lục Thất ngồi ở đại sảnh của phủ nha cũ nát hô to.

- Có thuộc hạ.

Khâu Lâm vội lên tiếng, sau khi y lập công còn sống trở về, lại chưa có được chức quan lãnh quân, mà trở thành cận vệ của Đại tướng quân.

- Sau này ngươi làm Đồn Điền Sử của Sa Châu, khiêm nhiệm Đô úy hộ quân, hai ngàn kỵ binh Sa Châu thuộc sự quản lý của ngươi.

Lục Thất nói.
Khâu Lâm nhìn Lục Thất giật mình nhưng rất nhanh đã giơ ngang tay chào theo nghi thức quân đội, cung kính nói:

- Thuộc hạ tuân lệnh.

Lục Thất gật đầu nói:

- Tài Vượng, ngươi làm Huyện úy Đôn Hoàng, thống lĩnh năm trăm quân phụ trách trị an cho Đôn Hoàng, hỗ trợ Đô úy làm việc.

- Thuộc hạ tuân lệnh.

Một cận vệ cung kính, hẳn là người Đảng Hạng.

- Cao Hùng, ngươi làm Huyện úy Thọ Xương, lĩnh năm trăm quân, cũng phụ trợ làm việc cho Đô úy hộ quân.

Lục Thất lại nói.

- Thuộc hạ tuân lệnh.

Một cận vệ đáp lại, là một người đàn ông vô cùng uy lực.

Lục Thất nhìn lướt qua nói:

- Ba người các ngươi, sau khi tiếp nhận Sa Châu, chủ yếu là nắm giữ quân điền và đồn điền. Ruộng đất vượt quá hạn ngạch của những nhà giàu đều ghi vào văn án, ta sẽ bồi thường. Nhưng đối với buôn bán các ngươi phải duy trì, tuyệt đối không được chèn ép và bóc lột.

- Đại tướng quân yên tâm, bọn thuộc hạ nhất định sẽ làm tốt.

Khâu Lâm hơi kích động đáp lại.

- Được, các ngươi tiếp quản những phụ tá này, bắt đầu đi.

Lục Thất bình thản nói.

- Vâng!

Ba chủ quan Sa Châu đáp lại, cái gọi là phụ tá đều là những thương nhân biết chữ bị Lục Thất hạ lệnh cưỡng ép mướn về.

Lục Thất đứng dậy đi đến trước bàn xử án, nhìn xung quanh một chút rồi nói:

- Khâu Lâm, tìm người đi tu sửa phủ nha một chút, trước sau đều phải tu sửa, để ngươi đi đón vợ con đến đây.

- Đa tại Đại tướng quân.
Khâu Lâm cung kính nói.

- Không cần cảm ơn, người thân của các tướng sĩ đều có thể đến nơi đóng quân bất cứ lúc nào, đất đai của Sa Châu cũng cần phải có nhân lực để trồng trọt.

Lục Thất bình thản nói.

Khâu Lâm gật đầu, Lục Thất suy nghĩ một chút rồi lại nói:

- Năm đó tướng sĩ bị cầm chân ở Hà Tây, hẳn là ở quê đều có vợ con, ngươi có không?

- Thuộc hạ có, còn có một đứa con trai, nhưng vợ ở quê có thể đã gả cho người khác rồi.

Khâu Lâm thấp giọng nói.

Lục Thất im lặng, một lát sau rồi nói:

- Tướng sĩ rơi vào Hà Tây ta cho một đặc quyền, hễ cứ cưới vợ ở Hà Tây thì đều coi như bình thê, cùng địa vị với vợ ở quê nếu không có gả cho người khác.

Khâu Lâm ngẩn người ra rồi nói:

- Đa tạ đại nhân.

- Không cần cảm ơn, ta không muốn nữ nhân và con gái các ngươi ở Hà Tây sau này lại oán hận ta. Dụng ý của ta, ngươi hiểu chứ?

Lục Thất nói thẳng ra.

Khâu Lâm ngây ra rồi lập tức gật đầu:

- Đại tướng quân là cố gắng đạt được sự quy thuận của Hà Tây, thuộc hạ hiểu.

Lục Thất gật đầu nói:

- Các ngươi làm việc đi, ta đi làm khách đây.

- Tiễn Đại tướng quân.

Ba chủ quan Sa Châu cung kính bái.

Nhìn Đại tướng quân và bọn hộ vệ dời đi, Khâu Lâm chắp tay nói:

- Hai vị huynh đệ, sau này xin hãy ủng hộ nhiều.

- Chúng ta nên ủng hộ đại nhân.

Cao Hùng mỉm cười đáp lại rồi mới thi lễ phụ họa.

Khâu Lâm cảm khái nói:

- Không ngờ, Đại tướng quân lại trọng dụng chúng ta như vậy.

- Đại tướng quân dùng người, vẫn luôn là chỉ có tài mới được trọng dụng, đại nhân chắc chắn là người có bản lĩnh.

Cao Hùng nói.

Khâu Lâm cười hỏi:

- Cao huynh đệ vẫn luôn là cận vệ của Đại tướng quân sao?

- Không phải, thuộc hạ vốn là lính dưới trướng của tướng quân Vân Cẩm Đông, là Vân tướng quân tiến cử mới trở thành cận vệ của Đại tướng quân.

Cao Hùng mỉm cười trả lời.

Khâu Lâm ồ lên gật đầu, đương nhiên là y không biết, quan địa phương mà Lục Thất dùng để thống trị hành lang Hà Tây, cơ bản đều là lão binh tù binh Hà Tây, từng thuộc binh Đảng Hạng của quân Ly Thạch. Mà tướng sĩ Vân Cẩm Đông tiến cử đều biết trên thực tế là Lục Thiên Phong đứng đầu Tấn quốc.

Các Đô Ngu Hầu khác cũng đa số là do Vân Cẩm Đông tiến cử làm cận vệ cho Lục Thất, hơn phân nửa là quân lực của Hội Châu, cũng đa số là dùng hai vạn tướng sĩ quân Ly Thạch làm khung xương. Lục Thất không thể nắm trong tay chỉ có gần ba vạn Cấm quân đến từ Kinh Triệu phủ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau