HUYẾT MỸ NHÂN

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Huyết mỹ nhân - Chương 26 - Chương 30

Chương 26: Muốn chết không được

Tiểu Hồng nghe tới đó, chán nản thở dài một tiếng và nghĩ bụng:

– “Sao lúc ấy ta lại hiền từ như thế? Chỉ phế hai chân của y mà không phế nốt hai tay với võ công, nên mới gây nên tai họa như thế này, và còn dấn thân vào chỗ chết, bây giờ có cánh cũng không sao bay thoát được.

Thiên Trạch đưa mắt liếc nhìn Tiểu Hồng và nói tiếp:

– Lão nhờ có trí tuệ thông minh của mình với ý chí phục thù, đã vất vả rời khỏi khu rừng ấy, sau lại lấy tiền bạc châu báu sai bọn người đi săn với tiều phu mà lão phu đã gặp đi mướn hộ cho một chiếc xe song mã, ngày đêm đi không ngừng, trước sau đã phải thay năm lần ngựa, nhờ vậy đến trước được ngươi một bước Tiểu Hồng nghe xong, lại cảm thấy bình tĩnh hơn trước, vì nàng đã tin tưởng việc gì cũng có số cả, nếu nàng không đi lầm đường ở trong núi Đại Khương và không bị nước lũ giữ chân ở núi Chung Nam, thi làm sao mà gặp được Thân Đồ Thiếu Hoa với Diệp Nguyên Đào, nếu không vì những chuyện đó thì dù Thiên Trạch có tốn công và nghĩ hết mưu trí như thế nào cũng không thể nào tới trước nàng được.

Thiên Trạch uống luôn hai chén rượu, đằng hắng một tiếng, lại nhìn Tiểu Hồng cười khẩy nói tiếp:

– Tạ Tiểu Hồng, lời mà ngươi muốn hỏi lão phu đã nói rõ hết cho ngươi nghe rồi. Bây giờ đến lượt ngươi phải nghĩ cách tự dầy vò mình đi.

Tiểu Hồng cười khẩy đáp:

– Ngươi khỏi cần phải thúc dục, ta đã nghĩ ra được một cách tự dầy vò có thể khiến ngươi rất hài lòng.

Thiên Trạch kêu “Ồ” một tiếng hỏi lại:

– Ngươi cũng thông minh và nhanh nhầu đấy, nghĩ ra được phương pháp gì thi kể ra cho lão phu nghe xem có hợp với ba điều kiện đó không?

Tiểu Hồng cười khẩy đáp:

– Ngươi hãy đóng một cái cột cao bẩy trượng, trói ta ở trên đầu cột, không cho ăn, không cho uống, như vậy ai cũng trông thấy hết. Ta sẽ nhịn đói, nhịn khát, chịu đựng từ ba đến bẩy ngày, tội sống rồi mới chết, trên người không có một vết thương và cũng không thấy một tý máu nào.

Thiên Trạch đảo ngược đôi người một vòng, gật gù nói:

– Cái khổ của đói khát, tuy một hai ngày đầu còn có thể chiu đựng được, nhưng đến ngày thứ ba thì còn khó chịu hơn là lăng trì.

Nói tới đó, y quay đầu lại nói với Cửu Uyên tiếp:

– Long nhi ca, cách này của y thị kể ra cũng được đấy, nhưng không biết trong Bàn Long Giáp này có cột nào cao đến bẩy trượng không?

Cửu Uyên đáp:

– Trong núi Lục Bàn có rất nhiều cây cối cao chọc trời, muốn làm một cây cột cao bảy trượng cũng không khó khăn gì hết. Nhưng Tiểu Hồng lập ra kế này chẳng qua là muốn để cho người ta biết y thi đang bị giam giữ ở trong Bàn Long giáp này mà tới cứu viện đó thôi.

Tiểu Hồng nghe nói hậm hực quát mắng:

– Long Cửu Uyên sao ngươi ngu thế, ngươi không biết bôi chút thuốc độc lên trên cột để người tới cứu ta cũng bi ngộ tai kiếp mà chết theo ta sao? Như vậy các ngươi lại càng khoái trá thêm còn gì nữa.

Nàng nói như thế quả thực có thâm ý, vì nàng chỉ trông mong vào Diệp Nguyên Đào, người bạn mới kết giao thôi. Nàng đoan chắc Nguyên Đào thế nào cũng tới Bàn Long Giáp này đấu với Long Cửu Uyên, nếu trong bảy ngày mà Nguyên Đào tới kịp thì nàng sẽ có dịp may thoát hiểm ngay.

Còn nàng đề nghị bôi thuốc độc lên trên cột là vì nàng biết Nguyên Đào không những võ học rất cao siêu mà còn không sợ các thứ chất độc. Nàng chủ trương treo mình lên cao như thế là để cho Nguyên Đào có ở xa cũng có thể trông thấy ngay.

Mưu kế của nàng tuy rất hay rất khéo, nhưng Long Cửu Uyên nghe xong đã cười giọng quái di nói:

– Long Cửu Uyên này không phải là một kẻ ngu xuẩn đâu, đã biết mưu kế này của ngươi bên trong thế nào cũng có hy vọng thoát chết và người đến cứu chắc không sự các thứ thuốc độc phải không?

Nghe thấy đối phương nói như thế, Tiểu Hồng nản trí vô cùng và nghĩ bụng:

– “Nếu chúng không nghe theo kế hoạch này của ta thì quả thực không còn hy vọng gì trốn thoát”.

Nàng vừa nghĩ tới đó, Cửu Uyên đã cười giọng quái di nói:

– Nhưng lão phu nhận thấy biện pháp này của ngươi không phải là không thi hành được, chỉ cần hơi sửa đổi một chút là vẫn có thể thi hành được như thường.

Trái lại, còn có thể làm cho người đến cứu ngươi cũng bi chết một cách thảm khốc.

Như thế sang năm Bạch Long Đôi, bên chúng ta đã bớt được đối thủ.

Thiên Trạch nghe nói cười hỏi:

– Long nhị ca định chỉnh sửa như thế nào?

Cửu Uyên mỉm cười đáp:

– Chắc tam đệ cũng phải đoán ra được mới phải. Chẳng lẽ tam đệ lại quên những kiệt tác ngạo thế mà nhị ca này đã tốn rất nhiều tâm huyết mới làm nên hay sao?

Thiên Trạch kêu ồ” mọt tiếng hỏi lại:

– Nhị ca muốn lợi dụng Thất Diệu Toàn Cơ Bình mà nhị ca đã khổ công bố trí phải không?

Cửu Uyên gật đầu đáp:

– Nếu bôi thuốc độc vào cột bẩy trượng ấy, rồi đóng vào nơi chính giữa Thất Diệu Toàn Cơ Bình của mỗ, thì dù chủ nhân của Tiểu Hồng là Xà Khiết Mỹ Nhân có đích thân tới cũng sẽ ngộ tai kiếp theo y thị.

Tiểu Hồng nghe tới đó đang cau mày tại thì Thiên Trạch lại nói với Cửu Uyên tiếp:

– Phải đấy, Thất Diệu Toàn Cơ Bình của nhi ca bề ngoài trông rất tầm thường, chỉ là một cái sân đá rộng chừng mười trượng, để làm diện võ trường thôi, nhưng sự ảo diệu của bên trong quả thực hơn cả người trời và có một oai lực tuyệt đỉnh khiến người ta không thể tưởng tượng được. Bây giờ nhi ca đã định trồng cái cột bẩy trượng vào giữa Toàn Cơ Bình, tiểu đệ lại còn muốn thêm một vật nữa ở trên cái cột.

Cửu Uyên vội hỏi:

– Tam đệ định thêm vật gì lên trên cái cột ấy thế?

Uống một hớp rượu, Thiên Trạch mới mỉm cười đáp:

– Đệ muốn thêm vào một cây phướn trắng dài ba trượng lên cái cột cao bẩy trượng đó, như vậy có phải là cả cột lẫn phướn cao thành mười trượng không? Dù người ở cách xa đến đâu, đi qua Bàn Long Giáp cũng có thể trông thấy được.

Cửu Uyên mỉm cười hỏi tiếp:

– Tam đệ đinh viết những gì lên trên lá phướn?

Thiên Trạch vừa cười vừa đáp:

– Một không làm thơ, hai không vẽ hoa. Mà chỉ giản di viết có mấy chứ như sau thôi “Tạ Tiểu Hồng, tỳ nữ của Xà Khiết Mỹ Nhân Lệnh Hồ Sợ Sở sắp chết dưới phướn này”.

Long Cửu Uyên đảo ngược đôi ngươi một vòng, mỉm cười hỏi tiếp:

– Tuy cách này của tam đệ rất khéo léo, nhưng chỉ e khó mà dụ được Lệnh Hồ Sở Sở tới, vì hiện giờ Xà Khiết Mỹ Nhân thể nào cũng đi Thiên Tâm Cốc để gặp Âm bát muội, thì làm gì mà tới được Lục Bàn ở Cam Túc này...

Không đợi chờ cho Cửu Uyên dứt lời, Thiên Trạch đã vội nói:

– Nhị ca chỉ biết một chứ không biết hai, tuy chúng ta lập cạm bẩy bắt người, nhưng có một con beo hay một con gấu chó nào đến chúng ta vẫn có lợi kia mà.

Cửu Uyên bật cười gật đầu đáp:

– Tam đệ nói đúng, gần đãy Xà Khiết Mỹ Nhân tự coi mình là hiệp nữ chính phái, nên chuyên giao du với người của chính phái thôi. Bây giờ có Tiểu Hồng làm mồi, dù không được Giao Long, nhưng cũng có thể bắt được tôm cá.

Nói tới đó, y đưa mắt liếc nhìn Tiểu Hồng một cái, rồi lại nói với Thiên Trạch:

– Như vậy thì từ ba đến bẩy ngày cũng chưa đủ, phải làm cho cái mồi này được sống lâu thêm một chút nữa thì hơn.

Thiên Trạch cười như điên như khùng đáp:

– Khó gì cứ cách hai ngày Long nhi ca lại đích thân lên trên đó cho y thi uống một chút nước, thì y thị sẽ sống lâu thêm vài ba bữa nữa ngay.

Nói tới đó y hậm hực nhìn Tiểu Hồng một hồi rồi lại hỏi Cửu Uyên tiếp:

– Nhi ca thử đoán xem lợi dụng Tiều Hồng xong, tiểu đệ sẽ xử trí y thị như thế nào?

Cửu Uyên lắc đầu đáp:

– Mỗ không sao đoán ra được, nhưng bất cứ Ngải tam đệ xử trí Tiểu Hồng như thế nào, nhi ca cũng hết sức làm cho tam đệ được hài lòng thì thôi.

Thiên Trạch cười như điên như khùng đáp:

– Cách trả thù từ xưa đến nay không gì bằng ăn miếng trả miếng.

Tiểu Hồng nghe nói ngạc nhiên hỏi:.

– Ngải Thiên Thạch ta không tin ngươi lại có độ lượng như thế, chỉ phế hai chân tà thôi mà không giết chết ta!

Thiên Trạch gật đầu đáp:

– Tạ Tiểu Hồng ngươi cũng tự biết lắm, ta không thể có độ lượng, là vì vừa rồi ta đã nói cho người biết rồi, khi ở núi Ai Lao, ngươi chỉ phế hai chân của ta mà không giết ta, đó là một lầm lỗi rất lớn, như vậy khi nào ta lại đi lên trên vết bánh xe ấy.

Tiểu Hồng hỏi tiếp:

– Ngươi nói như vậy, thế sao ngươi còn bảo ăn miếng trả miếng?

Thiên Trạch cười khẩy đáp:

– Hồi nãy ở tiểu sảnh, ta nghe thấy ngươi đặt điều nói dối Long nhị ca, bảo ta bị Công Tôn Vi Ngã ăn sống nuốt tươi, nhờ vậy đã làm cho ta nghĩ ra được một kế.

Tiểu Hồng nghe nói giật mình đến thót một cái, thất kinh vội hỏi:

– Chả lẽ ngươi muốn ăn tươi nuốt sống ta ư?

Thiên Thạch gật đầu ung dung đáp:

– Ta không có tỳ vị như Công Tôn Vi Ngã có thể ăn thịt sống, uống máu tươi, nên ta đinh chuẩn bi một cái lò lửa, một vạc dầu sôi, tùng xẻo từng miếng thịt của ngươi rán cho chín rồi mới ăn.

Tiểu Hồng nghe nói đó, sởn lòng rợn tóc gáy, liền im lặng ngay không dám nói năng gì nữa.

Thiên Trạch thở dài một tiếng nghiến răng mím môi nói:

– Tiểu Hồng tiện tỳ kia, ngươi đã lọt vào tay của Thiên Trạch này thì ngươi chỉ còn một cách đợi chờ ta tùng xẻo thôi, chứ không thể nào thoát thân được.

Nhưng dù ta có ăn hết xương thịt của ngươi, ăn cả ngũ tạng lục phủ đi chăng nữa, cũng không thể nào nối lại được hai chân đã gãy này của ta!

Thấy Thiên Trạch vừa nói vừa ứa nước mắt ra, biết y nghĩ đến mối thù bị chặt gấy chân, tâm thần rất khích động, nên Long Cửu Uyên một mặt sai người sửa soạn cái cột cao bảy trượng với cái phướn vải trắng cao ba trượng, rồi mỉm cười an ủi Thiên Trạch rằng:

– Ngải tam đệ khỏi cần phải đau lòng như thế, chờ xử trí xong Tiểu Hồng ngu huynh cam đoan sẽ làm cho tam đệ hai cái đùi gỗ để cho tam đệ vẫn đi lại được trên giang hồ như thường.

Thiên Trạch nghe nói cả mừng đáp:

– Nếu được một người thợ tài ba như nhi ca giúp cho tiểu đệ, thì Ngải Thiên Trạch này thực cảm ơn vô cùng.

Người ở trong Bàn Long Giáp rất đông, nên không đầy một ngày đã trồng được một cái cột cao bẩy trượng ở giữa Toàn Cơ Bình, trên đầu cột là một lá phướn dài ba trượng đề “Tạ Tiểu Hồng tỳ nữ của Xà Khiết Mỹ Nhân Lệnh Hồ Sở Sở đợi chết ở dưới phướn”.

Tiểu Hồng bị điểm huyệt không cử động được, không nói được và trói đứng thẳng ở trên đầu cột, trong một cái lồng sắt.

Còn Cửu Uyên với Thiên Trạch thi ngồi ở trên một cái lầu nhỏ cạnh Toàn Cơ Bình để ngắm xem Tiểu Hồng bi đói khát đau khổ như thế lào?
Cứ tới khi nào Tiểu Hồng không sao chiu đựng được nữa, thì Cửu Uyên lại đích thân lên cho nàng ăn uống. Tội nghiệp cho Tiểu Hồng, không còn hy vọng gì nữa, mà chỉ mong được chóng chết giờ nào hay giờ nấy thôi.

Thoạt tiên nàng định kế như thế này, là mong được Nguyên Đào đến cứu, nhưng bây giờ nàng mới biết khôn quá hóa dại, bất cứ ai tới cứu nàng cũng sẽ bị sa vào cạm bẫy, nên lúc này nàng lại không mong Nguyên Đào đến cứu mình nữa.

Tiểu Hồng đã không muốn sống, khi nào còn chịu ăn uống, nhưng Cửu Uyên vẫn dùng cách đổ hai bát nước cháo với hai chén rượu vào mồm nàng, y tính với hai bát nước cháo và hai chén rượu ấy, Tiểu Hồng có thể chiu đựng được thêm ba ngày nữa.

Cửu Uyên vừa cho Tiểu Hồng uống rượu với uống nước cháo xong, thì có người bị cãi mồi thơm này dụ dỗ, đã đi tới Bàn Long Giáp khẩu.

Người đó không phải là Lệnh Hồ Sở Sở, cũng không phải là Diệp Nguyên Đào, mà lại là Phong Lôi Thần Khất Công Dương Mậu, người trong nhóm Thái Sơn Song Tuyệt.

Thì ra sau khi họp với Tung Sơn Tam Hữu và thầy trò Lệnh Hồ Sở Sở bàn định cho viết thơ mời thiên hạ quần hào tới dự đại hội Bạch Long Đôi rồi, Công Dương Mậu liền đem thơ đi các nơi mời quần hào và bạn hữu.

Hôm đớ, ông ta có việc ở Cao Lãnh xong, liền đi Quang Trung và định tạt qua Chung Nam để thăm bạn hữu, vì thế phải đi qua núi Lục Bàn.

Sự thực, Công Dương Mậu không biết Tạ Tiểu Hồng bi giam ở nơi đây và cũng không biết Long Cửu Uyên người của nhóm Thế Ngoại Bát Hung ở chốn Bàn Long Giáp này.

Ông ta đi qua đỉnh Lục Bàn, thấy thế núi rất hùng vĩ, liền ngừng chân đứng xem cảnh sắc.

Ông ta bỗng trông thấy trong Bàn Long Giáp có một lá phướn rất lớn, đứng chỗ cách xa quá, ông ta không trông thấy chữ trên lá phướn là những chữ gì? Lòng hiếu kỳ thúc đẩy, ông ta liền đi tới gần để xem.

Sau khi trông thấy những chữ trên lá phướn rồi, Công Dương Mậu rất kinh ngạc, liền giở khinh công tuyệt đỉnh đi tới chỗ giáp khẩu. Ông ta là người giầu kinh nghiệm giang hồ, khi đi tới gần giáp khẩu, liền cẩn thận và nghĩ bụng:

– Tiểu Hồng với Tiểu Thanh đã theo Lệnh Hồ Sở Sở đi Lãnh Trúc Bình yết kiến Lãnh Trúc tiên sinh để thăm dò tung tích của Mộ Quang, sao lúc này Tiểu Hồng lại bị giam ở trong núi Lục Bàn như thế? Họ treo lá phướn như thế này là có ý định dụ ta vào cạm bẫy chứ không sai? Thể nào chung quanh cái cột trói người kia cũng hung hiểm lắm.

Công Dương Mậu nghĩ như vậy, không dám đường đột vào ngay trong sơn giáp mà chỉ đi loanh quanh xem xét thôi. Bỗng có hai đại hán ở bên trong chạy ra hỏi:

– Khách là ai thế? Xin cho biết tên họ?

Trợn ngược đôi mắt lên, Công Dương Mậu cười ha hả hỏi lại:

– Sao hai người lại hỏi như thế? Chả lẽ sơn giáp có chủ riêng hay sao? Và không cho người ta tùy tiện ra vào ư?

Hai đại hán biết đối phương không phải là người tầm thường, nên một trong hai đại hán ấy vội cung kính đáp:

– Nếu quý khách là người qua đường thì cứ việc đi đi, nhưng nếu có việc tới đây thì xin cho biết danh hiệu để bẩm với gia chủ nhân nghênh đón đại giá.

Mấy lời nói đó của hai tên đái hán ấy rất khéo léo khiến Công Dương Mậu muốn nổi giận cũng không sao nổi giận được, đành phải cười giọng quái dị hỏi:

– Nơi đây là đâu thế?

Tên tráng hán thứ hai mỉm cười đáp:

– Gia chủ đã đặt cho sơn giáp này cái tên là Bàn Long Giáp.

Công Dương Mậu hỏi tiếp:

– Chủ nhân của hai vị là ai?

Hai tráng hán nghe thấy Công Dương Mậu hỏi đến chủ nhân mình, vội đứng nghiêm, chắp tay vái chào đáp:

– Chủ nhân là Long Cửu Uyên biệt hiệu là Thốc Đỉnh Thương Long.

Công Dương Mậu nghe nói giật mình đánh thót một cái, biết mình đã đi tới sào huyệt của Long Cửu Uyên, người thứ hai của nhóm Thế Ngoại Bát lung, nhưng đã trót tới đây rồi, chả lẽ mình lại tỏ ra lép vế hay sao? Huống hồ ông ta đã trông thấy Tiểu Hồng bi trói ở trên cái cột cao, tuy biết trong giáp không khác gì đầm rồng hang hổ rất hung hiểm, nhưng dù sao cũng phải xông pha một phen mới được.

Ông ta đã quyết định như vậy, liền cười như điên như khùng một hồi, rồi mới thủng thẳng nói tiếp:

– Lão vốn chỉ đi qua nơi đây, nhưng đã biết sơn giáp này là chỗ ẩn cư của Long Cửu Uyên thì thế nào cũng phải vào gặp gỡ y một phen.

Tráng hán gượng cười hỏi tiếp:

– Quý khách không cho biết tên hiệu thì tại hạ làm sao mà vào thưa với bẩm được?

Công Dương Mậu cười giọng quái dị đáp:

– Ngươi vào nói có một lão già ăn mày ở Đông Thạc Thái sơn mộ danh cầu yết kiến, như vậy chắc chủ nhân của cái người sẽ không đóng cửa không tiếp bạn già này đâu.

Tráng hán nọ nghe nói không dám hỏi nữa, liền cho một người đi vào bên trong thưa với Cửu Uyên ngay.

Cửu Uyên hay tin liền mỉm cười nói với Thiên Trạch rằng:

– Ngải tam đệ, thật không ngờ lại có một tên đã đến đâm đầu vào lưới. Tên này lại là Phong Lôi Thần Khất Công Dương Mậu. Y cũng là người điêu ngoa, khó đối phó lắm. Tam đệ hãy ngồi ở đây, để ngu huynh ra nói với y một vài câu, rồi lại vào đây tiếp hiền đệ, rồi chúng ta cùng ngồi xem lão ăn mày bị giam ở trong Thất Diệu Toàn Cơ Bình của ngu huynh, hay là bị chết bởi chất độc bôi ở trên cột.

Thiên Trạch nhanh nhầu đỡ lời:

– Long nhị ca nên cẩn thận một chút, đừng để cho y đào tẩu thoát. Công Dương Mậu là tôn sư của một phái, con cá này kể cũng là loại cá lớn.

Cửu Uyên xua tay một cái, rồi đi ra ngoài giáp khẩu để đón Công Dương Mậu ngay.

Cửu Uyên vừa cười vừa ra tới bên ngoài, trông thấy Công Dương Mậu, liền tủm tỉm cười, chắp tay vái chào và nói:

– Long Cửu Uyên ngưỡng mộ thịnh danh của Công Dương Mậu đại hiệp đã lâu. Không ngờ ngày hôm nay lại được tiếp đại hiệp ở Bàn Long Giáp này.

Công Dương Mậu cũng biết một mình xông pha Bàn Long Giáp như thế này là rất nguy hiểm, cho nên không làm kiêu ngạo như mọi khi, mà cũng chấp tay đáp lễ, cười giọng quái dị, đỡ lời:

– Long Giáp chủ khách sáo quá, bốn chữ Thốc Đỉnh Thương Long của giáp chủ còn lừng lẫy hơn tên tuổi Công Dương Mậu nhiều. Mong giáp chủ đừng có trách cứ lão phu đột nhập vào quý giáp như thế này.

Cửu Uyên vối né người sang bên mời khách vào rồi mới cùng Công Dương Mậu đi sát cánh tiến vào bên trong, vừa đi vừa mỉm cười hỏi:

– Công Dương đại hiệp, Cửu Uyên nghe thủ hạ báo cáo đại hiệp đi qua núi Lục Bàn này chứ không phải là có việc định đến chỉ giáo phải không?

Công Dương Mậu cười ha hả đáp:

– Trước mặt chân nhân, lão phu không bao giờ dám nói chuyện giả dối, lão phu vốn dĩ đi qua núi Lục Bàn này thật, và cũng không biết Long giáp chủ ẩn cư nơi đây. Nhưng ngẫu nhiên ngắm nhìn cảnh sắc thấy bền trong giáp có trồng một cái cột với treo một lá phướn. Đọc xong chữ viết ở trên phướn, đang vô sự hóa thành hữu sự mà phải xin vào yết kiến Long giáp chủ đây.

Đã biết còn giả bộ hỏi, Long Cửu Uyên kêu một tiếng rồi hỏi tiếp:

– Công Dương đại hiệp nói như vậy có phải vì Tạ Tiểu Hồng bị trói ở trên cái cột không? Chả hay đại hiệp có điều gì muốn chỉ giáo Long mỗ thế?

Muốn tiên lễ hậu binh, Công Dương Mậu gật đầu đáp:

– Thiếu nữ ấy có quen biết tại hạ, không hiểu Long Giáp chủ có nể mặt ăn mày này mà khoan tha cho cô ta phen không? đằng nào đến Tết Thanh Minh sang năm tất cả võ lâm hào kiệt đều tụ hội ở Bạch Long Đôi, Công Dương Mậu sẽ bảo chủ nhân của cô ta là Xà Khiết M Nhân xin lỗi Long Giáp chủ ở trước mặt mọi người.

Lời nói ấy của Công Dương Mậu rất khéo léo, bên trong lại còn ám chỉ Long Cửu Uyên cậy lớn bắt nạt tiểu bối nữa, và dù có thù hằn gì với nhau, cũng nên đợi chờ đến đại hội Bạch Long Đồi mà dứt khoát với chủ nhân của nàng, như vậy mới không mất thân phận người bề trên.Cửu Uyên nghe thấy Công Dương Mậu nói như vậy cũng phải phục tài hùng biện của đối phương mà gật đầu đáp:

– Công Dương đại hiệp là tôn sư của phái Đông Nhạc, được mấy lời vàng ngọc của đại hiệp, Long Cửu Uyên mỗ thế nào cũng truyền lệnh cho tất cả người trong Bàn Giáp này không ai được đụng chạm đến một ngón tay vào người của Tiểu Hồng, như vậy Công Dương đại hiệp đã bằng lòng chưa?

Công Dương Mậu nghe thấy Cửu Uyên chấp nhận sự yêu cầu của mình một cách nhanh nhầu như vậy cũng phải ngạc nhiên và thắc mắc, không hiểu sao Cửu Uyên lại nhận lời một cách nhanh nhầu như thế, chắc bên trong thế nào cũng có mưu mô gì đây.

Cửu Uyên nói xong lại thủng thẳng cười nói tiếp:

– Nể mặt Công Dương đại hiệp không giết hại Tạ Tiểu Hồng, nhưng mỗ vẫn không muốn tự động thả y thị ra khỏi Bàn Long Giáp này. Nếu không làm như thế, Cửu Uyên mỗ không biết phải ăn nói làm sao với Ngải tam đệ của mỗ được.

Công Dương Mậu ngạc nhiên hỏi:

–Tạ Tiểu Hồng bị giam giữ ở đây có liên can gì đến Ngải Thiên Trạch?

Cửu Uyên trợn ngược đôi lông mày lên trả lời một cách dưng dưng rằng:

– Vì Ngải tam đệ của Long mỗ đã bi Tiểu Hồng phế mất hai chân!

Công Dương Mậu giật mình kinh hãi hỏi tiếp:

l – Việc này quái lạ thực, Tiểu Hồng có tài ba gì mà lại phế được hai chân của Thiên Trạch huynh như thế?

Cửu Uyên bèn kể lại qua loa câu chuyện ở núi Ai Lao cho Công Dương Mậu nghe.

Nghe xong, Công Dương Mậu gượng cười đỡ lời:

– Nếu vậy lão ăn mày quả thực không tiện xin hộ cô ta. Nhưng không hiểu Long Giáp chủ với Thiên Trạch huynh không định giết Tạ Tiểu Hồng để trả thù mà lại chỉ trói nàng ở trên cột cao, viết một lá phướn như thế, có phải muốn chủ nhân của nàng, Lệnh Hồ Sở Sở cô nương tới đây để lý luận không?

Cửu Uyên gật đầu đáp:

– Trói ở trên cột cao, treo lá phướn viết chữ như vậy tuy muốn Lệnh Hồ Sở Sở được tin tới đây thực, nhưng Công Dương đại hiệp đã là tôn sư của một môn phái đã mở miệng cầu hộ Tiểu Hồng, chả lẽ Long mỗ lại không nể mặt hay sao?

Nhưng Công Dương đại hiệp phải làm thế nào khiến Long mỗ có thể nói năng ra làm sao cho Ngải tam đệ được yên lòng, thì Long mỗ xin tuân lệnh ngay.

Công Dương Mậu đã nghe ra thâm ý trong lời nói của đối phương nhưng tình thế bắt buộc ông ta đành phải hỏi lại Cửu Uyên tiếp:

– Cám ơn thịnh tình của Long Giáp chủ, nhưng Công Dương Mậu này có một đôi lời muốn thưa với Long Giáp chủ và mong Giáp chủ lượng thứ cho mới được Cửu Uyên mỉm cười hỏi lại:

– Đại hiệp muốn nói gì cứ việc nói đi, khỏi cần phải khách sáo làm chi?

Công Dương Mậu cười giọng nói quái di nói tiếp:

– Nếu Tạ Tiểu Hồng được lão ăn mày này cứu thoát, thì Long Giáp chủ có phải chịu trách nhiêm với Thiên Trạch đấy không?

Nghe thấy đối phương nói như thế, biết đã trúng phải mưu kế của mình rồi.

Nhưng Cửu Uyên vẫn giả bộ lắc đầu đáp:

– Làm như vậy tất nhiên Long mỗ có thể thoái thác được, nhưng khuyên Công Dương đại hiệp một lời, tốt hơn hết đại hiệp nên đổi ý kiên khác thì hơn.

Công Dương Mậu nhanh nhẩu hói:

– Nếu giáp chủ cho việc làm đó không phải mang trách nhiệm gì với Thiên Trạch huynh, thì việc ấy còn có cái gì không được ổn thỏa ở bên trong nữa?

Cửu Uyên vừa cười vừa đáp:

– Xin nói thực với Công Dương đại hiệp, vì tên tuổi của Lệnh Hồ Sở Sở quá lớn, anh em mỗ sợ y thị đột nhiên cứu Tiểu Hồng đi, nên chung quanh cây cột đã bố trí một chút mai phục, nếu bây giờ mà gỡ..

Công Dương Mậu đã hiếu ngay thâm ý của đối phương, liền xua tay ngắt lời và nói tiếp:

– Khỏi cần phải gỡ gì hết, gần đây lão ăn mày đang được an nhàn rảnh rỗi và tay chân mình mẩy có chút ngứa ngáy, muốn nhờ sự mai phục lợi hại của Long giáp chủ dầy vò mình một phen, để cho được giãn gân giãn cốt đôi chút. l Cửu Uyên cố ý làm ra vẻ trầm ngâm, cau mày lại hỏi:

– Phương thức này không được ồn thỏa, nhỡ Công Dương đại hiệp bị tổn thương gì thì Cửu Uyên mỗ thể nào cũng bị áy náy trong lòng?

Công Dương Mậu đã biết cái trò giả từ bi của đối phương rồi, liền cười như điên khùng đáp:

– Long giáp chủ đối xử với lão ăn mày già này như thế, lão ăn mày không biết cám ơn như thế nào mới phải. Nhưng lão ăn mày đã quyết định làm một việc gì rồi, thì đừng nói là bị tổn thương chút ít, dù có bi chôn xương vùi xác nghèo kiết này ở Bàn Long Giáp, ăn mày già này cũng không ân hận chút nào.

Cửu Uyên yên lặng một hồi, rồi gật đầu đỡ lời:

– Nếu Công Dương đại hiệp nhất đinh muốn thử thách, thì Cửu Uyên mỗ cũng đành tuân lệnh.

Nói xong đứng dậy cùng Công Dương Mậu ra phía sau giáp ngay. Vừa đi Công Dương Mậu vừa để ý xem thì nhận thấy tất cả đường lối nhà cửa ở trong Bàn Long Giáp đều xây theo phương vị của Kỳ môn, và hình như đã bố trí một trận pháp rất lọi hại vậy.

Đi tới phía sau giáp, ông ta để ý xem cái sân đá bằng phẳng, nơi chính giữa có trồng một cái cột cao bảy trượng, trên cột có một cái lồng bên trong giam giữ Tiểu Hồng và trông lúc này rất tiều tụy. Phía bên trái của sân đá là một vách núi thẳng tuột, trên vách có xây một cái lầu trúc nho nhỏ, Thiên Trạch đang ngồi một mình ở trên đó.

Lúc này người đắc trí nhất là Ngải Thiên Trạch, y đã hân hoan sẽ được trả thù và lại còn được Long Cửu Uyên hứa làm cho một đôi chân máy, khiến mình có thể tàn mà không bị phế, nên y cười tít mắt lại cầm chén rượu lên uống để xem Công Dương Mậu sẽ bi ngộ nạn như thế nào.

Người đau lòng nhất tất nhiên là Tiểu Hồng, nàng không cữ động được, mồm không nói được, có võ công nà không giở ra được, đói khát khó chiu vô cùng, nhưng thần trí lại rất tỉnh táo.

Nàng biết Cửu Uyên với Thiên Trạch lập độc kế này là muốn để cho bất cứ người nào mà có lòng cứu mình thoát nạn, nếu có nhúng tay vào, thì sẽ gặp độc thủ ngay. Trong uổng tử thành chỉ thêm một con ma chết oan thôi, và còn làm cho đối phương được khoái trí thêm là khác.

Dưới hoàn cảnh ấy, Tiểu Hồng chỉ có một nguyện vọng lớn nhất là mình đã trót gây nên tai họa, thì mình phải chịu đựng lấy tai ách, đừng để cho một người bạn quen nào như con thiêu thân chết oan uổng ở chốn này nữa.

Thực là trời không chịu lòng nàng, mới bi giam giữ có ba ngày đã có Phong Lôi Thần Khất Công Dương Mậu tới cứu viện như vậy. Nàng ở trong cái lồng sắt trên đỉnh cột, đã trông thấy Công Dương Mậu theo Cửu Uyên bước vào.

Nàng muốn lớn tiếng kêu lên để báo cho Công Dương Mậu biết trong Thất Diện Toàn Cơ Bình với cái cột cao bẩy trượng đều là cạm bẫy rất nguy hiểm, muốn ông ta đừng có tiến lên nữa.

Tuy nàng tính toán như thế, nhưng tiếc thay mồm không nói lên tiếng được.

Bao nhiêu sự đau lòng đành hóa thành bai hàng châu lệ nhỏ giọt xuống hai bên má mà thôi.

Lúc ấy người đắc ý nhắt là Ngải Thiên Trạch, người đau lòng nhất là Tiểu Hồng, Long Cửu Uyên thi vẻ mặt tươi cười, nhưng bụng đầy gian mưu, còn Công Dương Mậu thì ngấm ngầm đê phòng.

Lão ngắm nhìn tình hình ở chung quanh một vòng, nhận thấy sân đá ấy chỉ rộng hơn mười trượng, cái cột ở trong chính giữa lại rất cao, chì có một cách là làm thế nào nhẩy được lên trên cao bẩy tám trượng, ôm cột mà leo lên trên đỉnh, rồi nghĩ cách cứu Tiểu Hồng mà thôi.

Ông ta thấy không có cái gi khó khăn mấy, mà sao Cửu Uyên lại cứ nói khoác nó lợi hại. Ông ta tìm kiếm mãi cũng không nhận thấy được nó lợi hại như thế nào, và lợi hại ở đâu.

Công Dương Mậu càng nghĩ càng không hiểu, nhưng lại càng cẩn thận đề phòng thêm và đôi mắt cứ nhìn lên trên cái lồng giam giữ người ở trên cao. Ông ta chỉ trông thấy Tiểu Hồng mặt nhợt nhạt, vẻ tiều tụy, có mồm mà không nói được, nước mắt nhỏ ròng xuống hai bên má. Trông thấy thảm cảnh ấy, ông ta liền nổi hào khí, không coi sự sống chết vào đâu nữa.

Cửu Uyên đứng cạnh đó thấy thái độ của Công Dương Mậu thay đổi luôn luôn, liền chi tay lên chiếc cột cao bẩy trượng mà mỉm cười nói:

– Công Dương đại hiệp, Long Cửu Uyên với chú em Thiên Trạch, vì đề phòng Lệnh Hồ Sở Sở tới đột nhiên cứu Tiểu Hồng đi, nên đã bố trí nhưng mai phục rất lợi hại ở trên cái cột cao kia và ở dưới sân đá này nữa. Bây giờ...

Y vừa nói tới đó thì bỗng cô một đệ tử của Bàn Long Giáp vội chạy tới, rỉ tai Cửu Uyên khẽ nói vài lời hình như bẩm báo gì thì phải.

Công Dương Mậu cười giọng quái di hỏi:

– Nếu Long giáp chủ có việc bận, cứ tùy tiện đi, lão phu cảm ơn giáp chủ đã cho biết rõ cơ mật như vậy, nhưng vẫn không tự lượng tài hèn muốn thử thách một phen xem sao.

Cửu Uyên nghe nói vừa cười vừa đáp:

– Có khách lạ giáng lâm, Cửu Uyên phải tạm thất lỗi và đã dặn bảo các đệ tử ở trong giáp không được can thiệp vào hành động của Công Dương đại hiệp, nhưng nếu đại hiệp có bị nguy hiểm gì trên sân đá thì xin cứ gọi tên Long Cửu Uyên ngay, Long mỗ mới kịp thời cứu khỏi.

Nghe thấy lời nói của Cửu Uyên, bề ngoài rất ân cần và khách sáo nhưng bên trong lại rất mỉa mai và đe đọa, nên Công Dương Mậu liền ngửng mặt lên trời cười như điên khùng.

Cửu Uyên biết Công Dương Mậu cười như vậy xong, thể nào cũng nói lại mình chứ không sai, nên y rất khôn ngoan, không đợi chờ ông già ăn mày cười xong đã vội chắp tay vái chào và đi ngay luôn.

Cửu Uyên đi khỏi, trên Cửu Diện Toàn Cơ Bình chỉ còn lại Tiếu Hồng bi treo lơ lửng ở trên cao với Công Dương Mậu đang đứng ở bên dưới xem xét tình hình để cứu Tiểu Hồng thoát nạn thôi..

Công Dương Mậu không biết trên lầu trúc còn Ngải Thiên Trạch ngồi ở đó, nên đứng nhìn một lát liền lên tiếng hỏi Tiểu Hồng rằng:

– Tạ cô nương có thể nói chuyện được không?

Lúc ấy Tiểu Hồng không những bị điểm huyệt câm, không sao nói lên được, chân tay lại bi trói chặt, cả cổ cũng bị xích chặt, vì thế nàng muốn gật đầu hay xua tay cũng không được. Nàng chỉ có thể trả lời Công Dương Mậu bàng về mặt đau đớn bẽn lẽn, ứa hai hàng lệ ra thôi.

Thấy tình hình ấy, Công Dương Mậu càng động lòng thương thêm, nên quyết tâm không quản ngại gì nguy hiểm, đi thẳng vào trong sân đá để cứu Tiểu Hồng, nhưng trong lúc ông ta vừa bước chân, thi đã nghe thấy có tiếng kêu “ùm ùm”, trước mặt bỗng nổi lên một làn sương mù trắng, ông ta sợ sương mù ấy có chất độc và bên trong sương mù lại có ám khí bắn ra, nên vội nhảy lùi về phía sau hơn trượng dể xem sao.

Làn sương mù ấy chỉ tỏa ra có giây lát đã tan rã liền nhưng khi ông ta nhìn lại nơi đó, thì lại giật mình kinh hãi vô cùng.

Thì ra chỉ trong nháy mắt, cái sân đá ấy đã có sự biến hóa rất lớn. Mặt sân rộng hơn mười rương ấy từ trong ra ngoài bỗng hiện lên bẩy thứ màu xanh, đỏ, lam, trắng, lục, vàng, tía.

Nhưng màu sắc ấy cứ từng cái vòng một bao trùm lấy nhau, nói tóm lại, một cái vòng tía bên trong còn có các vòng nhỏ đủ các thứ màu, nơi chính giữa là một cái vòng đỏ như máu.

Cái cột cao bấy trượng trồng ở trong vòng đỏ vẫn còn nguyên, bên trên vẫn còn trông thấy cái lồng sắt giam giữ Tiểu Hồng.

Công Dương Mậu rất kinh hoảng, vì ông ta thấy cái sân đá chỉ rộng hơn mười trượng như thế, mà trong nháy mắt đã có sự thay đổi như vậy, bên trong thế nào cũng bao hàm mai phục rất lợi hại, nên ông ta liền nghĩ:

– “Chả lẽ ta đã vào tới đây mà lại không dám thử thách, nhưng cần phải đặc biệt cấn thận mới được. Bằng không tên tuổi đã gây nên trong nửa đời với tính mạng già này sẽ bi tiêu hủy ở trong Bàn Long Giáp ở núi Lục Bàn này chứ không sai”.

Nghĩ tới đó, ông ta liền dẹp thái độ kiêu ngạo lại, dồn hơi sức vào đơn điền, vận công ra bách huyệt rồi nhẹ nhàng nhẩy vào trong sân đá, hạ chân xuống cái vòng tía bên trong cùng.

Ông ta vừa hạ chân xuống mặt đất, thì làn sương mù hồi nãy không hiểu ở đâu lại nổi lên tứ phía. Sương mù vừa rồi chỉ nổi lên một cái đã tan rã ngay, nhưng lần này càng bốc lên càng nồng, chỉ trong giây lát đã bao trùm cái sân đá ấy ngay.

Công Dương Mậu bị sương mù che lấp rồi thì Thiên Trạch ngồi ở trên lầu nhỏ lấy một cái ống kính dài, vẫn tựa cửa sổ nhìn về phía xa.

Cái ống kính ấy là của Long Cửu Uyên đặc biệt chế thành, có thể xem xuyên qua được sương mù, nên trong sân đá biến hóa như thế nào, nhìn qua ống kính ấy có thể trông rõ hết.

Công Dương Mậu thấy sương mù nổi lên liền ngừng chân lại không tiến lên nữa để đợi chờ xem nó biến hóa như thế nào.

Ông ta thấy sương mù càng lúc càng dầy đặc không sao trông thấy được Tiểu Hồng với cái lồng sắt ở trên đỉnh cột nữa và dưới chân cũng cảm thấy khác lạ, cái vòng mầu tía đã tự động quay tít, ông ta rất hiếu kỳ, nên cứ để yên xem nó biến hóa như thế nào.

Chỗ Công Dương Mậu vừa đứng đó là ở phía Đông Nam của cái cột, bây giờ dã chuyển sang phía Đông thì chỗ đứng sẽ lún xuống. Ông ta vội nhún chân một cái nhẩy sang bên tám thước, chỗ đứng vừa rồi đã thành một cái lỗ hổng, bên dưới có một chùm mưa kim màu xanh bắn lên, tuy Công Dương Mậu không bị ngã xuống dưới hố, nhưng vẫn bị mưa kim bao trùm.

Công Dương Mậu đã đề phòng từ trước, nên liền dở song chưởng lên tấn công một thế, làm mưa kim đó bị bay tán loạn tức thì. Nhờ thế công đó, ông ta đã biết những mũi kim ấy làm bằng gỗ chứ không phải bằng kim khí.

Ông ta vừa đẩy lui được phi trâm, thì thân hình đã quay sang phía chính Nam, lần này dưới đất không bị lún, nhưng lại có tiếng kêu “ùm”, bỗng có lửa bốc cháy, ông ta liền bị bao trùm trong đống lửa ấy.

Chương 27: Nguy cơ trùng trùng

Công Dương Mậu bị lửa bao vây như vậy, kinh hãi vô cùng vội giở khinh công tuyệt thế ra, nhân lúc lửa chưa bốc tới gần, ông ta đã phi thân nhẩy lên trên cao năm trượng.

Dù ông ta có phải ứng nhanh như thế nào, khinh công cao siêu đến đâu, cũng vẫn bi ngọn lửa xém phải, cháy mất một mảng áo rách.

Công Dương Mậu kinh hãi vô cùng, trong lòng biết rõ cái sân này của Cửu Uyên dựa theo âm dương biến hóa ngũ hành sanh khắc, phía Đông thuộc Mộc, mai phục phi trâm bằng gỗ, phía Nam thuộc Hỏa phục lửa hồng, xem như vậy nếu chuyển sang hướng Tây thuộc Kim, thế nào cũng có phi trâm bằng đao tấn công, mà chuyển sang hướng Bắc thuộc Thủy, thể nào cũng có nước độc bắn ra chứ không sai.

Vì lần này tung mình nhẩy lên tránh lửa và nhảy rất cao, ông ta đợi chờ thân hình tà tà rớt xuống, đang đinh dẫm vào sân đá vẫn tiếp tục chuyển động, thì hai chân đã xuống vị trí Tây phương thuộc Kim, ông ta liền nghĩ bụng:

– “Nếu ta cứ ở trên mặt đất màu tía để cho nó chuyển động như vậy, bất cứ quay tới phía nào cũng đều bi nguy hiểm hết, sao không nhân lúc này ta hạ chân xuống vòng thứ hai màu vàng xem có sự gì biến hóa không”?

Nghĩ như vậy, thấy hai chân sắp dẫm xuống mặt đất màu tía, ông ta bỗng lướt luôn về phía trước, vừa dẫm chân xuống mặt đá màu vàng.

Ý nghĩ ấy của ông ta rất thông minh, nhưng cũng rất lầm lỗi, thì ra Thất Diệu Toàn Cơ Bình của Cửu Uyên là phải theo thứ tự tiến thẳng vào, qua bảy cái vòng bảy thứ màu, phá hết các thứ mai phục khác nhau thì mới vào được nơi chính giữa, nếu ai nóng lòng vượt qua những vòng ngoài mà tiến thẳng vào bên trong sẽ va đụng phải những mai phục của ngũ hành nghịch vận âm dương phản thường, lại còn nguy hiểm thêm.

Nếu Công Dương Mậu đợi chờ qua nốt hai phía Tây và Bắc, tránh khỏi những mai phục của hai nơi đó, thì tất cả các mai phục khác sẽ tự động đình chỉ và có thể bình yên sang vòng thứ hai, nơi màu vàng.

Bây giờ ông ta lại bỏ hai phương hướng kia mà đi tắt như thế, thì vừa phạm đúng đại kî, không những khiến mai phục ở vòng đá màu vàng, cùng bộc phát một lúc, mà cả những mai phục ở vòng màu tía cũng nổi lên theo mà tấn công vào chỗ ông ta luôn.

Công Dương Mậu vừa hạ chân xuống chỗ mặt đá màu vàng, thì đã thấy bên dưới mềm nhũn hình như dẫm phải cát hay sa lầy gì đó, người của ông ta bị lún xuống bên dưới ngay.

Nếu là người học võ tầm thường, thì thế nào cũng bi sa lầy, bị chôn sống ở nơi đó, bi những cát tẩm độc bao trùm hết, nhưng Công Dương Mậu là tôn sư của một môn phái Đông Nhạc chứ nào có phải là tay tầm thường đâu, thấy tình thế hơi khác lạ đã vận Hỗn Nguyên Chân Khí lên dẫm chân một cái người đã nhảy lên trên cao bảy tám thước, nhờ vậy không bi sa lầy dưới cát độc ấy.

Thiên Trạch ngồi ở trên cao nhìn xuống, thấy thế cũng phải gật đầu khen ngợi và mặt lộ vẻ đắc trí.

Công Dương Mậu thấy mình đã thoát khỏi nơi nguy hiểm, vẻ mặt đã tươi cười, ngờ đâu chưa kịp cười thì mặt lại nhăn nhó ngay, vì ông ta lên tới trên cao mới hay bốn bên nguy cơ đã trùng trùng điệp điệp dồn tới.

Ở phía Đông thì vẫn có những kim gỗ màu xanh bắn tới, phía Nam thì lửa hồng, phía Tây và phía Bắc thì có những kim đao với nước độc màu đen. Tất cả những thứ mai phục đó đều nhằm người ông ta bắn tới, xem như vậy dù ông ta có bản lãnh thông thiên, cũng khó thoát được tai kiếp này.

Thực là thông quá hóa dại. Công Dương Mậu đang lúc thập phần nguy hiểm ấy lại nghĩ ra được một kế, chỗ đất màu vàng toàn là cát sa lầy không thể đứng được thì sao không hạ chân xuống chỗ màu sắc khác, nhưng ông ta lại sợ chỗ màu sắc khác cũng có mai phục như thế, chưa biết chừng còn khó đối phó hơn là khác, nên ông ta vận hết sức bình sinh tuyệt học ra, giơ tay áo rách phất mạnh mấy cái.

Công Dương Mậu một mặt giở Phong Lôi Thần Công cự với những mai phục ở bốn phía dồn tới, một mặt xử dụng thân pháp Thiên Cân Trụy để hạ chân xuống bên dưới.

Phong Lôi kình lực của ông ta lợi hại thực, tất cả đao, kim, nước, lửa đều bi hất bắn ra ngoài. Nhưng lớp thứ nhất vừa bị hất đi, thì lớp thứ hai lại dồn tới, nếu ông ta không sử dụng ngay thân pháp Thiên Cân Trụy hạ mình xuống bên dưới, thì thế nào cũng bi lớp ám khí thứ hai đả thương chứ không sai.

May thay ông ta đã kịp thời hạ thân xuống bên dưới, những ám khí của đợt thứ hai đều bay qua đầu ông ta kêu vù vù. Lần nạy ông ta không tiến nữa mà lại rút lui, vì ông tá nhận thấy chỗ đất màu tía có mai phục lợi hại, nhưng những cái đó mình đã biết rồi, còn dễ trốn tránh và đối phó hơn.

Ông ta vừa hạ chân xuống tới mặt đất, thì sự biến hóa bỗng thay đổi hắn, tất cả những mai phục như phi đao, phi trâm, dốc thủy và độc hỏa trau bỗng ngừng hết, chỉ thấy mặt đất từ Đông chuyển sang phía Bắc mà từ từ quay, trái ngược hẳn phương hướng vừa rồi từ Đông quay sang Nam.

Công Dương Mậu là người sành điệu, biết ngay đó là hiện tượng của ngũ hành nghinh vận âm đường phản tường. Nói tóm lại tất cả mai phục ở trên Toàn Cơ Bình này không phát động thì thôi, mà đã phát động ra thì sẽ lợi hại không thể tưởng tưởng được, nếu mình đi trái ngược ngũ hành.

Ông ta đã biết lợi hại như thế, không dám đi bừa như trước nữa, nhưng lúc này mà ông ta rút lui thì cũng không cam tâm, vì rút lui như thế không khác gì là dâng niên biểu đầu hàng, tên tuổi nửa đời người sẽ bị tan rã hết.

Ông ta vừa suy nghĩ, thì mặt đá màu tía ớ dưới chân đã vừa quay đúng một vòng, trong một vòng quay ấy không thấy có mai phục gì hết.

Bỗng khí phát tự đơn điền, Công Dương Mậu rú lên một tiếng thực dài, liến giở khinh công tuyệt đinh ra, ở trong đám sương mù nhẩy chéo sang bên sáu bẩy trượng, mà phi thẳng vào cái cột ở chỗ chính giữa.

Ông ta cũng biết liều như thế này thế nào cũng nguy hiếm, nhưng còn hơn là cứ ở trên sân đá bẩy màu mà tránh né các môn ám khí hay cạm bẫy như vậy hoài, thà mạo hiểm nhẩy thẳng vào nơi chính giữa ngay chỗ đích còn hơn.

Vì quyết tâm như thế, ông ta mới dám liều lĩnh mạo hiểm như vậy.

Có một điều rất lạ, ông ta bay qua một quãng dài sáu bảy trượng như thế mà không gặp phải nguy hiểm hay ám khí gì cả.

Cái cột cao bảy trượng đã hiện ra ở trước mặt rồi, Công Dương Mậu là người giầu kinh nghiệm, nên đoán chắc cái cột ấy thế nào cũng có bôi chất độc rất lợi hại chứ không sai.

Nhưng ông ta cảnh giác như vậy hơi muộn một chút, vì lúc ấy không ôm vào cái cột thì không còn cách nào hơn thế nữa.

Tất nhiên người rất hồi hộp là Công Dương Mậu rồi, nhưng lại có người hồi hộp hơn nữa là Tiểu Hồng đang bị giam tại trong lông sắt treo ở trên đỉnh cột.

Vì Công Dương Mậu chỉ căn cứ kinh nghiệm giang hồ mà đoán chắc thế nào cái cột cũng có bôi chất độc rất lợi hại, nhưng Tiều Hồng lại đích mắt trông thấy Thiên Trạch với Cửu Uyên xếp đặt độc kế, biết trên cột có bôi chất độc rất là lợi hại thật.

Nàng trông thấy vị Phong Lôi Thần Khất đang tự đâm đầu vào cạm bẫy, tay ôm cột bôi chất độc lợi hại, tất nhiên nàng không những rất hồi hộp mà còn lo âu hộ vị võ lâm tiền bối này nữa.

Công Dương Mậu trước khi chưa ôm cột thì đoán chắc trên cột có chất độc, trong lòng rất hồi hộp. Nhưng khi đã trót ôm rồi, thì ông ta lại không nghĩ gì đến họa phúc, mà cứ thế leo lên trên đỉnh cột.

Mới leo được mấy thước, hình như chân tay đã hơi cứng, tiếp theo đó thần trí mê man, mười ngón tay buông thõng, từ trên cao bốn trượng rớt bịch xuống bên dưới.

Chỗ cách mặt đất chừng sáu bảy thước bỗng có một cái lưới xuất hiện, vừa đúng lúc đón Công Dương Mậu đã mê man bất tỉnh rớt xuống. Tiểu Hồng càng đau lòng thêm, chỉ còn biết nhỏ hai hàng nước mắt xuống như mưa thôi.

Ngải Thiên Trạch ở trên cái lầu nhỏ trông xuống rõ mồn một, thấy thế y rất khoái trá, cất tiếng cười như điên khùng.

Cười xong, y đặt ống kính phân quang xuống, uống một chén rượu ngon, lại bấm một cái chốt điều khiển, máy mộc tinh diệu ở trên Toàn Cơ Bình.

Mặt đá bảy màu đang quay tít bỗng ngừng quay, sương mù cũng tan hết.

Công Dương Mậu nằm ở trong cái lưới đang từ từ bị lồi lên trên đỉnh cột.

Sương mù đã tiêu tan rồi, ngoài Toàn Cơ Bình bỗng thấy có hai người đang đứng. Một là chủ nhân của Bàn Long Giáp Long Cửu Uyên, còn một là Diệp Nguyên Đào, người mới vừa làm quen với Tiểu Hồng ở trong núi Chung Nam.

Thì ra từ khi Nguyên đào đuổi theo con Ô Phong Độc Trảo Nhân Hình Phi thì gặp chủ nhân của nó là một quái khách chuyên môn nuôi các thứ kỳ xà dị thú mà bị giam giữ ở trong Bách Thú Trận, tuy nhờ có tuyệt học cái thế, một hơi đã giết chết bảy con hung vật, may mắn xông ra khỏi được trận Bách Thú nhưng đã mỏi mệt vô cùng rồi. Y biết đi lâu như thế, người bạn mới Nghiêm Mộ Lăng thế nào cũng nóng lòng sốt ruột, nên y không quản ngại mệt nhọc, gượng đi tới chỗ gặp gỡ cũ.

Khi y tới nơi quả thật không thấy tung tích của Nghiêm Mộ Lăng đâu cả và lại thấy mỏi mệt vô cùng, liền nằm xuống đó mà nằm ngủ một giấc thật dài, vừa đúng một ngày một đêm mới thức tỉnh.

Vì biết Mộ Lăng đã đi núi Lục Bàn nên y vội đi theo ngay. Nhưng vì không thuộc đường lối, y tốn công hỏi thăm hoài, nên không những không đuổi kịp Tiểu Hồng thì chớ, mà còn tới sau cả Công Dương Mậu.

Mãi mãi mới tìm tới Bàn Long Giáp, y thấy giữa sơn cốc có trồng cái cột cao, trên có một cái lồng giam giữ một người và thấy lá phướn viết những chứ như vậy.

Vì y không biết Tạ Tiểu Hồng tức là Nghiêm Mộ Lăng, cho nên trong lòng chỉ thấy hiếu kỳ thôi chứ không thấy lo âu.

Bọn canh gác Bàn Long Giáp khẩu, thấy có người tới tất nhiên chạy ra hỏi han ngay. Nguyên Đào không những học hỏi được hết võ công di học của Công Tôn Độc Ngã, mà vì ở trong núi Ai Lao lâu ngày nên cũng đẽ dưỡng thành một tính nết quái dị tương tự như Độc Ngã, lời ăn lẽ nói và cử chỉ lại còn ngông cuồng hơn Công Dương Mậu nhiều.

Thấy tên canh gác giáp khẩu dò hỏi như vậy, Nguyên Đào liền cười khẩy nói:

– Các ngươi dừng có nói lôi thôi nứa. Mau đi gọi Long Cửu Uyên ra đây gặp ta.

Bọn thủ hạ của Cửu Uyên đêu là những kẻ hung thần ác sát, chúng thấy Nguyên Đào tuổi còn trẻ mà lại có thái độ ngông cuồng như thế, tất nhiên không khi nào chúng lại khiêm tốn và có lễ độ như đối với Công Dụng Mậu. Vì vậy chúng cười khẩy nói:

– Ngài nên tự trọng một chút, nếu muộn gặp giáp chủ thì phải báo tính danh và lai lịch trước, rồi anh em mỗ sẽ vào thưa với giáp chủ xem có tiếp kiến hay không?

Nguyên Đào nghe nói cả giận, cười khẩy đáp.:

– Một Bàn Long Giáp nho nhỏ như thế này, sao lại làm trò trống như thế? Ta họ Diệp, tên Nguyên Đào, mau gọi Long Cửu Uyên ra đây nghênh đón, bằng không ta sẽ phá tan sơn giáp này cho mà coi.

Bọn người canh gác giáp khẩu nghe thấy cái tên Diệp Nguyên Đào lại càng khinh thường thêm, vội nói:

– Có phải bạn hữu là người của phái cuồng nhân và có thần công ban ngày ban mặt nói mê đấy không? Nếu bạn bảo phá một hai tòa đỉnh lầu thì còn có người tin lời nói của bạn, nhưng còn bảo phá Bàn Long Giáp này thì bạn tự tin có thể phá nổi hay sao?

Nguyên Đào trợn ngược đôi lông mày kiếm lên nói:

– Bọn giặc cỏ này chỉ quen nơi ở dưới đáy giếng nhìn trời thôi, chứ các người có bao giờ thấy những anh hùng hào kiệt có tài ba thông thiên triệt địa. Bây giờ ta hãy phá nơi giáp khẩu này cho cái ngươi được căng mắt ra trước.

Y vừa nói vừa đưa mắt nhìn chung quanh, thấy gần đó có một tảng đá lớn nặng chừng vạn cân, liền vận công vào bàn tay, giơ chưởng lên nhằm tảng đá đó tấn công luôn.

Một tiếng kêu như sấm sét nổi lên, tảng đá hàng vạn cân ấy đã bi luồng chưởng lực mạnh kỳ lạ của Nguyên Đào phá vỡ thành bốn năm mảnh, từ trên vách núi rớt xuống, suýt tí nữa thì bít chặt lối ra vào cửa giáp khẩu.

Bọn thủ hạ của Cửu Uyên thấy thần công của Nguyên Đào lợi hại như vậy, hoảng sợ đến đứng đờ người ra, rồi vội chạy vào báo tin cho Cửu Uyên hay.

Vừa hay tin ấy, Cửu Uyên vội từ biệt Công Dương Mậu và chạy ngay ra ngoài giáp khẩu, vừa đi vừa suy nghĩ, không hiểu Diệp Nguyên Đào người có võ công lợi hại như thế, là người của môn phái nào.

Khi y ra tới giáp khẩu, trông thấy tảng đá nặng nghìn cân bị đánh rớt xuống cũng phải kinh ngạc thầm, nhưng y vẫn phải làm ra vẻ tươi cười chắp tay vái chào Nguyên Đào và hỏi:

– Diệp lão đệ giáng lâm Lục Bàn, Long mỗ rất lấy làm hân hạnh xin mời lão đệ vào trong giáp xơi rượu, để Long mỗ được tạ tội không kịp ra nghênh đón.

Tuy y nói rất khách sáo, nhưng Nguyên Đào vẫn không thay đổi thái độ, chỉ xua tay hỏi:

– Long giáp chủ khỏi cần phải khoản đãi Diệp mỗ làm chi, trước hết Diệp mỗ phải hỏi thăm một câu này trước, rồi sẽ quyết định có nên vào trong giáp hay không?

Cửu Uyên mỉm cười hỏi:

– Có phải lão đệ muốn hỏi thăm Tạ Tiểu Hồng bị giam giữ ở trên đỉnh cái cột phải không?

Nguyên Đào lạnh lùng lắc đầu đáp:

– Thầy trò Lệnh Hồ Sở Sở không liên can gì đến mỗ hết. Diệp Nguyên Đào này lý tới việc của người làm chi?

Cửu Uyên nghe nói rất ngạc nhiên, cau mày lại hỏi tiếp:

– Diệp lão đệ không vì Tạ Tiểu Hồng mà tới đây, không hay lão đệ muốn hỏi gì thế?

Hai mắt sáng như điện, Nguyên Đào nhìn thẳng vào mặt Cửu Uyên hỏi tiếp:

– Mỗ có một người bạn mới kết giao, y có việc muốn tới đây kiếm giáp chủ.

Không hiểu y đã tới đây chưa?

Cửu Uyên ngạc nhiên hỏi lại:

– Tên họ của người bạn của lão đệ là gì? Thuộc môn phái nào?

Nguyên Đào đáp:

– Đó là người bạn mới kết giao, chưa biết y thuộc môn phái nào chỉ biết y họ Nghiêm tẽn là Mộ Lăng thôi.

Cửu Uyên vì lúc Tiểu Hồng mới gặp mình và cùng Thiên Trạch đi núi Ai Lao cũng đã dùng cái tên Nghiêm Mộ Lăng rồi nên y nghe thấy Nguyên Đào nói xong, liền cả cười.

Nguyên Đào là người có tuyệt học rất cao siêu không coi người giang hồ vào đâu hết, nên y cũng chẳng coi Long Cửu Uyên, người của nhóm Thế Ngoại Bát Hung này vào đâu cả. Y liền trợn mất lên, giận dữ hỏi:

– Sao Long giáp chủ không trả lời mỗ là Nghiêm Mộ Lãng đã tới chưa, lại cất tiếng cười như thế?

Cửu Uyên đã nhận xét thấy Nguyên Đào có võ công rất cao, lai lịch rất quái di, nên y phải cố nén lửa giận xuống, cười ha hả đáp:

– Diệp lão đệ chớ nên tức giận như thế vội. Nghiêm Mộ Lăng người bạn mới kết giao của lão đệ, đang được Cửu Long Uyên thành tâm khoản đãi, và đang làm thượng khách ở trong Bàn Long Giáp kia.

Nguyên Đào nghe nói Nghiêm Mộ Lăng ở trong Bàn Long giáp làm thượng khách mới nguôi cơn giận liền, mỉm cười hỏi tiếp:

– Nếu vậy Nguyên Đào này cũng muốn vào trong giáp quấy nhiễu. Xin Long giáp chủ thứ lỗi tính mỗ lỗ mãng đã làm hỏng mất cảnh vật ở nơi giáp khẩu nhé.

Cửu Uyên liền đưa Nguyên Đào vào trong Bàn Long Giáp, vừa đi vừa mỉm cười đáp:

– Diệp lão đệ không nên quan tâm đến vấn đề nhỏ nhọn ấy. Huống hồ nếu thủ hạ của Cửu Uyên không vô lễ thì có khi nào lại chọc tức lão đệ như vậy. Thần kỳ công lực mà lão đệ vừa biểu diễn quả thực hân hữu, nhưng không hiểu sư thừa là ai?

Nguyền Đào nhanh nhẩu đáp:

– Mỗ tuân lệnh của Gia sư phải khi nào đánh bại hết cả anh hùng có tên tuổi trên thế gian này trở thành võ lâm đệ nhất nhân đã, rồi mới tuyên bố sư thừa để làm rạng rỡ sư môn.

Cửu Uyên kêu ồ một tiếng, sực nghĩ ra một kế, chỉ vào thạch thất lớn ở phía bên trái mà nói với Nguyên Đào tiếp:

– Lão đệ có tráng khí hùng tâm, trở nên võ lâm đệ nhất nhân, thì trước khi đi gặp Nghiêm Mộ Lăng, hãy vào thử trong thạch thất này du ngoạn xem sao.

Nguyên Đào thắc mắc ngẩn người ra hỏi:

– Thạch thất này có liên can gì với hùng tâm tráng khí định làm võ lâm đệ nhất nhân của mỗ đâu?

Cửu Uyên mỉm cười đáp:

– Cái thạch thất này tên là Tu Ni Động Thiên, trong đó có máy móc, có thể cho người ta thử thách nhuyễn, ngạnh, khinh công và chân khí nội lực cao siêu tới mức nào? Căn cứ kỷ lục ở bên trong cũng đủ so sánh được với khá nhiều danh thủ đương thời.

Thấy đối phương nói như thế, Nguyên Đào rất hiếu kỳ gật đâu nói tiếp:

– Nơi đây quả có máy móc kỳ diệu như vậy, Nguyên Đào này cũng muốn thử thách một phen.

Cửu Uyên tủm tỉm cười, dẫn Nguyên Đào vào trong Thạch thất ấy tức thì, cừ chỉ này cua y có hai dụng ý. Dụng ý thứ nhất muốn nhờ máy móc thử thách võ nghệ của Nguyên Đào để xem chàng là người của môn phái nào, sư thừa ra sao.

Dụng ý thứ hai, căn cứ vào kỷ lục trong đó có thể biết được tài ba và công lực của chàng ta lợi hại tới mức độ nào. Hay là cần phải dùng tới thủ đoạn khác mới có thể kìm chế nổi? Nếu chàng ta quá lợi lại thì y sẽ xử dụng tới Thiên Long Vạn Kiếp Tiên ra đối phó ngay.

Đệ tử canh gác đó thấy Giáp chủ đưa khách tới, vội mở cửa đá thực lớn ra.

Vào tới trong thạch thất, Nguyên Đào chỉ thấy căn phòng lớn rộng bỏ trống, không bày biện một vật gì, chỉ hai bên vách có mở mấy cái hang động thực lớn thôi.Đệ tử luân trực vội đem bàn ghế đá và còn dọn một mâm cơm một ấm rượu ngon vào nữa.

Cửu Uyên mời Nguyên Đào ngồi, rót một chén rượu cho chàng và nói:

– Diệp lão đệ hãy uống vài chén rượu để trợ hứng trước, rồi sẽ lần lượt thử mấy môn máy móc lý thú của Long mỗ xem sao?

Mới uống cạn một chén rượu, Nguyên Đào đã thúc dục Cửu Uyên mau đem máy móc ra cho mình thử ngay.

Cửu Uyên mỉm cười bảo đệ tứ đứng hầu cạnh đó rằng:

– Ngươi bảo các người ở vách bên trái hãy thả Thần Lực Cự Bá ra trước.

Nguyên Đào nghe nói vội đưa mất lên hang động ở vách bên trái xem là cái gì. Một lát sau, một người khổng lồ cao chín thước ở bên trong hang động ấy bước ra. Y mình trần, dùng cái da báo quấn ngang qua lưng để làm quần che hạ bộ thôi.

Người khổng lồ ấy chế tạo rất khéo léo, mới trông ai cũng tưởng là người thực, phải nhìn kỹ thấy đôi ngươi của y lờ đờ và da dẻ không giống da người mới biết là người giả.

Người khổng lồ bằng máy ấy đi ra tới giữa phòng còn biết gật đâu chào Cửu Uyên với Nguyên Đào nữa.

Nguyên Đào thấy thế vỗ tay khen ngợi:

– Khéo thực, Thần lực Cự Bá này chế tạo khéo lắm.

Của Uyên nhanh nhẩu nói:

– Tinh tế không khó lắm, chỉ khó chế tạo nhất là làm thế nào để cho nó có sức mạnh như thần thôi.

Nói tới đó y liền sai người đem cái ghế đá ra để chỗ góc tường. Người khổng lồ đã tự động quay người lại giơ chưởng đầy lông lá lên định đánh xuống.

Nguyên Đào thấy người khổng lồ đứng ở chỗ cách ghế đá hơn trượng, liền nghĩ bụng:

– “Nếu người máy này mà có thể dùng Phách Không chưởng đánh vỡ ghế đá kia mới thực là thiên cổ kỳ văn”.

Y vừa nghĩ tới đó, người khổng lồ đã giơ bàn tay to tướng ra nhắm cái ghế cách không đánh luôn mấy chưởng.

Thiên cổ kỳ văn xuất hiện thực, cái ghế đã bị Thần Lực Cự Bá đánh vỡ tan.

Cửu Uyên rất đắc trí nhìn Nguyên Đào hỏi:

– Diệp lão đệ, chưởng lực của Thần Lực Cự Bá ra sao?

Nguyên Đào gật đầu, nhưng hỏi lại Cửu Uyên:

– Trên người của y có kỷ lục gì của võ lâm hào hùng để lại không?

Cửu Uyên vừa cười vừa đáp:

– Có ba vi cao thủ hạng nhất đã ghi lại kỷ lục.

Nguyên đào nhìn người khổng lồ một cái rồi nói tiếp:

– Xin giáp chu cho biết kỷ lục ấy.

Cửu Uyên vừa cười vừa đáp:

– Ái Diêm La Yến Diễn, người trong Tây Nhạc Tam quái đã chống đỡ ba chưởng với Thần Lực Cự, tự biết địch không nổi. Đại tỷ kết minh của mỗ là Thiết Tâm Vương Mẫu Thượng Quan Phụng cũng đã đấu thử ba chưởng với y mà chỉ đánh y lui lại nửa bước thồi. Riêng có U Minh Quỷ Nữ Âm Tố Mai, bát muội của mỗ đã để lại một thần lực kinh người, chưởng thứ ba đã đánh cho Thần Lực Cự Bá ngã lăn ra đất.

Nguyên Đào kêu “Ồ” một tiếng và nói tiếp:

– Thế ra nhóm Thế Ngoại Bát Hung, người càng nhỏ võ công càng cao hay sao?

Cửu Uyên gật đầu:

– Diệp lão đệ nói rất đúng, Cửu Uyên mỗ quả thực già nua bất tài, nhưng Âm bát muội thì chưa hề gặp địch thủ nào.

Nghe tới đó, Nguyên Đào vội hỏi Cửu Uyên tiếp:

– Long giáp chủ, Nguyên Đào mỗ cũng muốn đấu thử mấy chưởng với Thần Lực Cự Bá.

Đưa Nguyên Đào vào trong thạch thất này là muốn thử thách công lực của chàng ra sao. Cửu Uyên nghe thấy y hỏi như thế tất nhiên là gật đầu đáp ngay:

– Trong Tu Ni Động Thiên này mà được Diệp lão đệ để lại một chút kỷ lục thì còn gì hân hạnh bằng. Lão đệ cứ việc ra đi, Thần Lực Cự Bá sẽ tự động đến tấn công lão đệ ngay.

Nguyên Đào nhanh nhẹn nhảy ra giữa phòng, cách người khổng lồ chừng hơn trượng, ngờ đâu hai chân mới vừa đụng mặt đất, thì người khống lồ đã nhảy xổ lại cách không tấn công ngay một chưởng.

Vừa rồi y ra y tấn công ghế đá, là từ từ đánh xuống, còn lúc này động tác của y lại nhanh như điện chớp. Nguyên Đào không ngờ người khổng lồ có động tác nhanh như vậy, trong lúc chưa kịp đề phòng, Nguyên Đào đã vội giơ chường lên chống đỡ, vì vậy phải nhảy lui nửa bước.

Cửu Uyên khẽ cười lên một tiếng, Nguyên Đào thẹn đến mặt đỏ bừng.

Người khổng lồ không biết kiêng nể gì hết, lại ra chưởng tấn công tiếp.

Lần này Nguyên Đào đã lấy tấn, và vận thần công lên, nên không bị người khổng lồ đẩy lui được một ly một tý nào, trái lại còn đẩy được người khổng lồ lui về phía sau một bước.

Nguyên Đào cười như điên như khùng mấy tiếng, vận mười hai thành công lực, giở thức Thôi Sơn tiền hải (cây núi lấp bể) mà tấn công tiếp.

Sau một tiếng kêu bùng, người khổng lồ đã bị công lực của Nguyên Đào đánh té ngã lăn ra đất và còn lăn ra ngoài xa mấy thước.

Cữu Uyên thấy thế hoảng sợ đến biến sắc mặt, liền bảo người khiêng Thần lực Cự Bá đi ngay.

Nguyên Đào từ từ quay trở lại hớn hở hỏi:

– Long giáp chủ, Nguyên Đào này ba chưởng đánh té người khổng lồ, kỷ lục tương đương với bát muội của giáp chủ, tiếc thay Nguyên Đào vô duyên không được thi thố tài ba với Âm cô nương. Bằng không, chắc giáp chủ không dám nói Âm cô nương không có địch thủ nữa?

Cửu Uyên biết Tố Mai chỉ miễn cưỡng đánh té được người khổng lồ thôi, chứ Nguyên Đào lại còn đánh cho người khổng lồ vừa té ngã vừa bắn ra ngoài xa mấy thước. Theo kỷ lục này, thì công lực của Nguyên Đào không những hơn cả Yến Diễn, Thượng Quan Phụng, mà cả Âm Tố Mai cũng chưa chắc đã địch nổi chàng.

Căn cứ vào điều đó, y nhận thấy mình đưa Nguyên Đào vào trong Tu Ni Động Thiên trước thực là thích đáng, nếu đưa ngay đi Thất Diệu Toàn Cơ Bình, thì máy móc ở nơi đó chưa chắc đã chế phục nổi chàng.

– Hiếm có thực! Hiếm có thực? Không ngờ công lực của lão đệ lại ngang tài với Âm bát muội, để Cửu Uyên mỗ kính lão đệ ba chén.

Y vừa nói vừa vừa cầm ấm lên rót luôn ba chén rượu cho Nguyên Đào.

Cửu Uyên đã sở trường chế tạo các máy móc, thì tất nhiên cái ấm rượu này cũng phải có máy móc rồi. Ấm rượu ấy của y bên trong có đựng hai thứ rượu có độc và không độc tùy theo ý muốn của người cầm ấm muốn rót thứ rượu nào ra cũng được.

Bây giờ y định ám hại Nguyên Đào, lại sợ Nguyên Đào biết rõ gian mưu, công lực của y địch không nổi thì không thể nào thoát chết được, cho nến y đã khôn ngoan, hai chén rượu đầu đều rót thứ rượu không độc, đến chén thứ ba mới rót rượu có độc cho Nguyên Đào.

Nguyên Đào không ngờ Cửu Uyên lại ác độc đến như thê, uống xong chén rượu độc, Nguyên Đào đặt chén xuống hỏi Cửu Uyên tiếp:

– Long giáp chủ có thể dàn xếp cho một cơ hội, để Nguyên Đào này được thử tài với Âm cô nương không.

Cửu Uyên gật đâu vừa cười vừa đáp:

– Lão đệ với Âm bát muội của mỗ là kỳ tài khoáng thế, cũng nên gặp gỡ với nhau một phen để xem ai hơn ai kém.

Y vừa nói vừa gọi thủ hạ đẩy một pho kim thần tượng đúc bằng đồng ra.

Thì ra Cửu Uyên chỉ sợ công lực Nguyên Đào quá cao siêu, nhất thời uống rượu độc vào không thể chết ngay, thể nào cũng thí mạng đế trả thù, như vậy mình khó mà thoát chết được, cho nên rượu mà y cho Nguyên Đào uống là một thứ rượu có chất độc không sắc, không mùi vị, mà lại phát tác rất chậm, uống vào bụng rồi phải nửa tiếng đông hồ sau mới bi nguy hiểm. Lúc ấy gan ruột của đối phương đã bi đứt, không còn cơ hội nào mà phản công lại được nữa.
Rượu độc đã có tác dụng như thế, nên y mới cho người đẩy kim cương thần tượng ra để cho Nguyên Đào tiêu hao công lực và bị chết chóng hơn một chút.

Nguyên Đào có biết đâu mình đã uống phải rượu độc, liền chỉ Kim cương thần tượng mà hỏi Cửu Uyên rằng:

– Long giáp chủ, tác dụng của pho Kim cương thần tượng này như thế nào, có phải nó cũng có thể đấu võ với người thực không?

Cửu Uyên mỉm cười đáp:

– Không, nó chỉ có thể thử sức với người thôi.

Nguyên Đào hòi tiếp:

– Thử bằng cách nào?

Cửu Uyên mỉm cười đứng dậy dẫn Nguyên Đào đi tới trước thần tượng, chỉ cánh tay phải của thần tượng dang giơ cao và đáp:

– Cánh tay này có thể hoạt động, chỉ cần kẹp mạnh xuống là thử có được bao nhiêu sức lực liền.

Cửu Uyên một mặt giải thích, một mặt thử cho Nguyên Đào xem, y giơ tay lên kéo mạnh cánh tay của thần tượng xuống. Quả nhiên cánh tay của Kim cương bị Cửu Uyên lôi xuống tới tận bên dưới, thì trong bụng của Kim cương bỗng có hai tiếng chuồng nổi lên.

Cửu Uyên buông tay ra, cánh tay của Kim cương lại bật lên như cũ.

Nguyên Đào thấy thế rất thích thú vội hỏi tiếp:

– Long giáp chủ, vừa rồi tiếng chuông kêu ở trong bụng của Kim cương có phải là để tỏ sức lực của người lôi kéo mạnh như thế nào phải không?

Cửu Uyên gật đầu đáp:

– Hễ có một hồi chuông kêu là tỏ ra người đó có năm trăm cân sức.

Nguyên Đào lại kêu “Ồ” một tiếng hỏi tiếp:

–Vừa rồi có hai hồi chuông kêu, đã tỏ ra giáp chủ có một nghìn cân thần lực phải không?

Cửu Uyên cau mày đáp:

– Con số nghìn cân ấy, tuy các võ lâm tục khách gọi là thần lực nhưng còn với nhưng nhân vật cao minh như Diệp lão đệ thì không đáng một cái cười.

Nguyên Đào muốn thử thách, lại hỏi tiếp:

– Kỷ lục cao nhất là mấy tiếng chuông kêu tất cả?

Cửu Uyên đáp:

– Trong phái Tây Nhạc chúng tôi, chỉ có Mạnh Phi Hùng lão đệ đã làm cho người đồng này kêu ba hồi chuông, chỉ có y là người mạnh nhất.

Nguyên Đào bĩu môi hỏi tiếp:

– Thế còn Âm cô nương, bát muội kết minh của giáp chủ thì sao?

Cửu Uyên nghĩ bụng:

– “Thiếu niên này hiếu thắng thực”.

Nhưng y vẫn thản nhiên vừa cười vừa đáp.:

– Đàn bà bao giờ cũng yếu đuối hơn, cho nên Âm bát muội của mỗ không hề thử thách với pho Kim cương này.

Nguyên Đào không sao nhịn được nữa, vội nhanh nhẩu hỏi tiếp:

– Long giáp chủ, Nguyên Đào đối với Thí Lực Kim Cương này rất lấy làm hứng thú, không biết giáp chủ có bằng lòng cho mỗ thử kéo xem có thể nào làm cho pho tượng reo bốn lần chuông không?

Cửu Uyên nghĩ bụng:

– “Muốn kéo tới mức độ bốn lần chuông, thi phải tốn hai nghìn cân sức lực, vừa rồi y đã uống thuốc độc làm nguy chậm, lúc này đã tới lúc chất độc bộc phát”.

Y vừa nghĩ vừa mỉm cười đáp:.

– Quý hồ lão đệ có hứng thú, thì trong Tu Ni Động Thiên này có mười tám pho máy móc để thử tài tha hồ lão đệ muốn thử tài máy nào cũng được.

Nguyên Đào vừa nghe xong liền vận công lực vào đôi cánh tay phải, nắm lấy cánh tay của pho tượng Kim cương kéo mạnh xuống một cái.

Trước khi chưa thử sức lực, Nguyên Đào yên trí mình có thể lôi kéo được kêu bốn hồi chuông. Bằng không, thì cũng phải kêu ba hồi như Mạnh Phi Hùng.

Ngờ đâu kết quả y rất thất vọng, vì trong bụng Kim cương chỉ kêu có một hồi chuông thôi.

Nhưng tiếng chuông này lại khác hẳn tiếng chuông của Cửu Uyên vừa kéo, vì tiếng chuông của Cửu Uyên vừa kéo chỉ hơi kêu một chút đã ngừng ngay, nhưng còn tiếng chuông của y lại kêu lên liên miên bất tuyệt.

Nguyên Đào rất thất vọng và có vẻ hổ thẹn, y vừa lỏng tay ra thì cánh tay của Kim cương vẫn chúc xuống hoài chứ không giơ lên như trước nữa.

Cửu Uyên đứng cạnh đó lẳng lặng không nói năng gì, không biết là mừng, là hận, là kinh ngạc, hay là hãi sợ, cứ trố mắt lên nhìn Nguyên Đào hoài.

Thì ra sức của Nguyên Đào quá mạnh đã làm cho máy móc ở trong Thi Lực Kim Cương của Cửu Uyên hỏng hết, tình hình ấy đủ tỏ ra là Nguyên Đào mạnh tới trên nghìn cân sức lực, mới có thể phá hủy được cả cái máy như thế.

Cái nhìn của Cửu Uyên một nửa là vì quá kinh ngạc mà nên, còn một nửa là nghĩ đến chất độc ở trong người của Nguyên Đào. Vì căn cứ thường thức mà ước đoán, khỉ dùng sức mạnh đối phó với một việc gì bên ngoài, nội tạng thế nào cũng hư nhược chất độc nằm ở trong người của Nguyên Đào thừa cơ làm nguy ngay.

Nhưng Nguyên Đào không có vẻ gì là ngộ độc cả, chỉ thấy y thở dài một tiếng, rầu rĩ lắc đầu gượng cười nói:

– Long giáp chủ, Nguyên Đào rất lấy làm hổ thẹn, chỉ lôi kéo kêu được có một hồi chuông...

Không chờ Nguyên Đào nói xong, Cửu Uyên đã sai người dẹp cái máy Thí Lực Kim Cương đi và rót thêm ba chén rượu độc nữa, vừa cười vừa nói tiếp:

– Diệp lão đệ không biết thực hay giả bộ mỉa mai Long Cửu Uyên mỗ như thế? Máy móc của Thí Lực Kim Cương đã bị lão đệ giựt hư hết, chứng minh lão đệ có sức mạnh trên dưới ba nghìn cân, dù Hạng Võ hay Nguyên Bá tái sinh cũng chỉ có thế mà thôi.

Nguyên Đào nghe nói hớn hở mừng rỡ, mặt lại tươi cười như trước ngay.

Cửu Uyên nâng chén rượu lên vừa cười vừa nói tiếp:

– Diệp lão đệ là một vị anh hùng cái thế, Cửu Uyên rất kính phục và xin mời lão đệ uống thêm ba chén rượu ngon.

Nguyên Đào cười ha hả, nâng chén lên uống cạn luôn, Cửu Uyên nghĩ bụng:

– “Sở dĩ chất độc chưa làm nguy có lẽ vì nội công của y mạnh hơn người, hay là vì quá ít. Bây giờ cho y uống thêm ba chén này để xem thử trong nửa giờ nữa có phản ứng gì không”?

Y vừa nói vừa đứng dậy đưa Nguyên Đào ra khỏi Tu Ni Động Thiên.

Nguyên Đào vừa đi vừa ngạc nhiên hỏi:

– Có phải Long giáp chủ bảo trong Tu Ni Động Thiên có tất cả mười tám thứ máy móc để thử tài ba và sức lực đấy không? Sao mỗ vừa kiến thức được có hai món mà đã phải rời khỏi thạch thất này rồi?

Cửu Uyên không tiện nói cho y biết là mình không nỡ để cho y phá hết các máy móc mà mình đã tốn công bao nhiêu năm trời mới chế tạo thành, nên y chỉ cố ý tâng bốc vài câu nên mỉm cười đáp:

– Lão đệ là rồng thần trên trời, chỉ hơi lộ vuốt một cái cũng đủ làm cho thiên hạ kinh hoàng rồi. Chúng ta không nên ở trong Tu Ni Động Thiên nữa, nên ra Thất Diệu Toàn Cơ Bình để gặp người bạn Nghiêm Mộ Lăng của đệ ngay thì hơn.

Nguyên Đào nhanh nhẩu đáp:

– Thất Diệu Toàn Cơ Bình là nơi nào thế?

Cửu Uyên thốt ra tiếng cười như điên khùng một hồi rồi mới trả lời rằng:

– Trong Bàn Long giáp này, mỗ đã tốn công xây dựng hai nơi rất kỳ diệu là Tu Ni Động Thiên với Thất Diệu Toàn Cơ Bình mà bây giờ mỗ đưa lão đệ ra đó.

Nguyên Đào kêu ồ một tiếng hỏi tiếp:

– Trên Thất Diệu Toàn Cơ Bình cũng có những máy móc kỳ diệu hay sao?

Cửu Uyên nhanh nhẩu đáp:

– Hai nơi ấy tuy có máy móc tinh diệu, nhưng tác dụng hơi khác nhau, máy mốc ở trong Tu Ni Động Thiên chỉ dùng để cho người ta thí nghiệm các thứ công lực thôi, còn ở Thất Diệu Toàn Cơ Bình thì máy móc bao hàm oai lực của Ngũ hành, sự âm dương biến hóa của nó có thể giết người được.

Tuy thiếu kinh nghiệm giang hồ nhưng Nguyên Đào là người rất thông minh, nghe thấy thế vỡ nhẽ ngay, liền biến sắc mặt và hỏi:

– Long giáp chủ, chả lẽ giáp chủ lại giam giữ bạn thân của mỗ là Nghiêm Mộ Lăng ở trong chỗ đầy những cơ quan máy móc và mai phục rất lợi hại hay sao?

Lúc này Cửu Uyên đã hơi hãi sợ thần lực của Nguyên Đào rồi, cho nên không dám nói rõ, chỉ trả lời một cách hàm hồ rằng:

– Tốt hơn hết Diệp lão đệ đừng có hỏi vội, chờ đi tới Toàn Cơ Bình thì sẽ biết rõ ngay, và nơi đó lý thú hơn Tu Ni Động Thiên nhiều.

Nguyên Đào thấy đối phương không chiu nói rõ nên không muốn gạn hỏi mà chỉ thắc mắc ở trong lòng, đi theo chủ nhân thủng thẳng tiến lên thôi.

Cửu Uyên cố ý đi thật chậm, vừa đi vừa ngắm những phong cảnh ở đó. Sở dĩ y làm như thế là muốn đợi chờ chất độc ở trong người của Nguyên Đào làm nguy, sẽ chết thảm khốc ngay tại chỗ, như vậy y sẽ không phải tốn công gì nữa.

Nhưng Cửu Uyên có biết đâu Công Tôn Độc Ngã với Công Tôn Vi Ngã hai quái khách ấy, ngoài công lực đã luyện tới mức thượng thừa a, còn vì họ ở trong rừng núi lâu năm, chuyên môn ăn những cỏ độc, rắn rết, chim chóc độc và ngửi quen chướng khí đi rồi nên đã biến thành một thể chất kỳ lạ, chất độc gì cũng không thể giết hại được hai người.

Khi Nguyên Đào được Công Tôn Độc Ngã nhận làm đồ đệ, Công Tôn Độc Ngã thấy mình đã tàn phế tuyệt vọng, và muốn khiến đồ đệ của mình trở nên võ lâm đệ nhất cao thủ, vô địch trong thiên hạ nên ngoài việc truyền lực cho Nguyên Đào ra hai thầy trò lại còn dồn máu sang cho nhau bốn mươi chín ngày, vi thế sau khi dồn hết máu sang rồi, Công Tôn Độc Ngã mới chết, và Nguyên Đào cũng đã hưởng thụ được bẩy thành công lực của Công Tôn Độc Ngã, cũng như biến thành vạn độc bất xâm.

Cho nên đừng nói Cửu Uyên cho Nguyên Đào trước sau uống có bốn ly rượu độc, mà dù có cho y uống đến hai hũ rượu độc cũng chỉ có thể làm cho Nguyên Đào say sưa thôi, chứ không thể độc hại được y.

Cửu Uyên thấy sắp đi tới Toàn Cơ Bình rồi, mà Nguyên Đào vẫn hớn hở tươi vui, không có vẻ gì là bị chất độc làm nguy cả thì thắc mắc vô cùng.

Cửu Uyên thấy thế rất kinh ngạc, sực nghĩ tới Tiểu Hồng đã đề nghị bôi chất độc lên cây cột bẩy trượng, đồng thời y vỡ nhẽ ngay. Tiểu Hồng thể nào cũng biết Nguyên Đào đến cứu và còn biết Nguyên Đào có thể chất đặc biệt mà không sợ chất độc gì.

Y nghĩ tới đó lại rất lo âu, chỉ sợ máy móc ở Toàn Cơ Bình bị thiếu niên có võ công rất quái dị và không sợ độc này có thể phá hủy cho tan nát.

Sắp đi tới Toàn Cơ Bình rồi. Lúc ấy sương mù vừa tan hết, tất nhiên hai người đã trông thấy Tiểu Hồng bi giam ở trong lồng sắt treo ở trên cái cột cao bẩy trượng, với Công Dương Mậu bi cái lưới dây tơ treo lơ lửng ở chỗ chân cột.

Tiểu Hồng tuy bị giam giữ, nhưng vẫn mặc nam trang, nên Nguyên Đào vừa trông thấy nàng đã nhận ra ngay là người bạn thân Nghiêm Mộ Lăng mới kết giao.

Nếu là người khác, thế nào cũng rất kinh ngạc mà hỏi Cửu Uyên rằng tại sao lá phướn lại viết là Tạ Tiểu Hồng tính mạng bi treo ở dưới phướn mà trong lồng người bi giam là Nghiêm Mộ Lăng? Cửu Uyên với Nghiêm Mộ Lăng có thù hằn gì? Tại sao Cửu Uyên lại đối xử với nàng ta như thế?

Nhưng Nguyên Đào thì không cần biết những sự rắc rối của giang hồ, chỉ trông thấy bạn của mình bị giam giữ ở trên đó vẻ mặt tiều tụy trông rất tội nghiệp là đã nổi giận ngay, đưa tay trái dùng một ngón tay điểm ngay vào dưới hông của Cửu Uyên.

Cửu Uyên với Nguyên Đào đang đứng sát cạnh nhau, trong lòng đang tính toán xem dùng lời lẽ gì để Nguyên Đào hỏi tới mà biết trả lời và còn nói khích được chàng ta vào thử thách những máy móc kỳ lạ của mình. Nếu các máy móc ở trong Toàn Cơ Bình mà vẫn không kìm chế nổi Nguyên Đào, thì chỉ có một cách là không tiếc tay sử dụng Thiên Long Vạn Kiếp Tiên để diệt trừ thiếu niên có võ công quái dị này thôi.

Đang nghĩ cách thập toàn thập mỹ và rất chắc chắn, thì Cửu Uyên lại gặp phải số xui, nên mới đụng chạm phải Nguyên Đào người không cần biết phép tắc gì của giang hồ võ lâm, mà chỉ tùy theo sự hỷ nộ ai lạc của mình hành sự thôi.

Y cũng không ngờ Nguyên Đào chuyện trò với mình vui vẻ như thế lại có thể giở mặt và hạ độc thủ ngay như thế được?

Sự thể lại xảy ra một cách rất đột ngột, thủ pháp điểm huyệt của đối phương lại rất nhanh chóng, hai người lại cách nhau rất gần, như vậy y tránh né sao nổi?

Tất nhiên y chưa kịp kêu la đã bị Nguyên Đào điểm té ngã ngay.

Thiên Trạch ngồi ở trên cái lầu nhỏ đang khoái trí cười ha hả, bỗng thấy Cửu Uyên bị điểm té ngã, hoảng sợ đến mất hết hồn vía luôn.

Vì hai chân đã bị phế, tất nhiên Thiên Trạch không thể nào chạy tới cứu viện được, chỉ vội vã bấm chuông báo động cho bộ hạ của Cửu Uyên hay thôi.

Nguyên Đào điểm huyệt Cửu Uyên xong, lại còn dùng tay nắn bóp chân tay và giải huyệt cho đối phương, rồi cười khẩy nói:

– Long Cửu Uyên, ngươi đã bi ta sử dụng thủ pháp Túc Cốt Trừ Cân Triệt Mạch để kìm chế rồi, ngươi phải ngoan ngoãn nghe lời ta. Bằng không ngươi sẽ cảm thấy đau khổ hơn cả xuống dưới vạc dầu, lên núi đao nữa.

Chương 28: Tình đầu ý hợp

Cửu Uyên biết môn thủ pháp ấy lợi hại lắm, chỉ thở dài thôi, chứ không nói năng gì nữa.

Nguyên Đào ngửng mặt lên hỏi:

– Nghiêm huynh sao lại bị lọt vào tay chúng nó thế? Tại sao chúng lại coi huynh là Tạ Tiểu Hồng nữ tỳ của Xà Khiết Mỹ Nhân như vậy?

Tiểu Hồng yên chí thế nào cũng chết, chỉ mong những người đến cứu mình đừng có mắc hợm thôi, nhưng bây giờ thấy tình thế khác hẳn, nàng hớn hở mừng thầm mà chỉ kêu được “hớ hớ” hai tiếng thôi, như vậy nàng cũng đủ tỏ cho Nguyên Đào hay mình bị điểm trúng huyệt câm rồi.

Nguyên Đào thấy thế vội hỏi Cửu Uyên:

– Người làm gì Nghiêm huynh thế?

Cửu Uyên đáp:

– Bị điểm phải yếu huyệt câm tạm thời không nói được đấy thôi.

Nguyên Đào cả giận nói tiếp:

– Ngươi điểm yếu huyệt câm của bạn ta, thì ta phải cắt lưỡi của ngươi.

Nói xong, chàng định cúi mình xuống hạ thủ, bỗng lại lắc đầu nói:

– Không được, ta còn đi nhiều điều muốn hỏi ngươi, không thể cắt lưỡi ngay ngươi như thế được.

Lúc ấy không những thủ hạ, đảng đồ của Cửu Uyên tới hết, mà cả Thiên Thạch cũng ngồi trên một cái võng do hai ngươi khiêng đi tới gần.

Xưa nay Nguyên Đào không biết sử dụng mưu mẹo gì cả, bây giờ thấy mình đã bị bao vây, chỉ vì Mộ Lăng bị người giam giữ ở trên đỉnh cột nên chàng túm chặt lấy Cửu Uyên, giận dữ nói tiếp:

– Long Cửu Uyên, ngươi đã trúng phải thủ pháp “Xúc Cốt Trừ Cân Triệt Mạch” của rồi. Trên đời này chỉ có một mình ta biết điểm, và cũng chỉ có một mình ta biết giải thôi. Bây giờ hãy để cho ngươi nếm mùi đau khổ trước, ngươi phải nghe lời ta chỉ huy thì ngươi mới hòng thoát chết.

Nói xong chàng giơ tay trái lên đụng vào người Cửu Uyên một cái, Cửu Uyên kêu rú lên thảm khốc. Năm ngón tay trái bỗng tự bẻ ngược về phía sau, gân tay co rúm, không sao chịu đựng được, y toát mồ hôi lạnh ra ngay.

Đảng đồ của y thấy vậy, vội rú kêu và cùng xông cả lên định cứu lấy. Nhưng Thiên Trạch biết sự lợi hại, vội xua tay cấm các người, rồi nói với Nguyên Đào rằng:

– Bạn họ Diệp hãy giải huyệt cho Long nhị ca trước, tất cả mọi sự ân oán của chúng ta đều có thể thương lượng và giải quyết được hết.

Nguyên Đào chỉ giơ tay lên phất một cái Cửu Uyên đã khỏi đau ngay, rồi chàng cười khẩy nói:

– Ngươi hãy bảo thủ hạ rút lui ra khỏi Toàn Cơ Bình này, chỉ để lại người què chân lại đây nói chuyện với ta thôi.

Lúc này Cửu Uyên chỉ có thể lên tiếng nói được thôi, còn chân tay mình mẩy đã bị thủ pháp kỳ dị của Nguyên Đào làm cho tê liệt mềm nhũn, tất nhiên y chỉ còn một cách là nghe lệnh mà bảo thủ hạ lui ngay thôi, chỉ để lại một mình Thiên Trạch ở lại nói chuyện với Nguyên Đào thôi.

Lúc này Thiên Trạch cũng nhận thấy thủ pháp “Xúc Cốt Trừ Cân” ấy quả thật chỉ có một mình Nguyên Đào mới có thể giải cứu được thôi, dù Âm Tố Mai có mặt tại đây cũng đành chịu, nên y cau mày lại hỏi Nguyên Đào rằng:

– Bạn họ Diệp điểm huyệt nhị ca của mỗ như vậy vậy chẳng qua là muốn cứu Tiểu Hồng với Công Dương Mậu thôi...

Không đợi y nói dứt, Nguyên Đào đã xua tay nói:

– Đừng có nói những lời thừa ấy nữa. Hãy mau thả Nghiêm Mộ Lăng xuống đây giải huyệt cho bạn ta, để ta nói chuyện với bạn ta trước.

Thiên Trạch nghe nói, tỏ vẻ khó xử, vì y đã biết công lực của Nguyên Đào rất kỳ tuyệt, nhưng không có kinh nghiệm của giang hồ, còn dễ đối phó, nếu thả Tiểu Hồng xuống thì con bé ấy điêu ngoa và khôn ngoan một cách đáng sợ, nhất là con nhỏ bị mình với Cửu Uyên hành hạ như thế. Trong lúc tức giận, nóng lòng trả thù, nó không cần nói phải trái gì hết, bảo tên họ Diệp này trả thù, như vậy có phải nguy tai không?

Còn đang suy nghĩ, thì Nguyên Đào đã nổi giận quát hỏi tiếp:

– Ngươi có chịu nghe lời của ta không? Ta đành phải mời Cửu Uyên nếm thêm chút đau khổ để cho chân tay y cùng co quắp một lúc vậy.

Vì đã nếm một chút mùi đau khổ rồi, Cửu Uyên nghe thấy thế hoảng sợ mất hết hồn vía, với giọng run run, xen lời nói:

– Diệp lão đệ hãy khoan ra tay như thế vội, việc gì cũng có thể thương lượng được hết.

Nguyên Đào lạnh lùng nói:

– Ai là lão đệ của ngươi? Ai thèm thương lượng với ngươi? Ta bảo ngươi đi Đông thì ngươi không được phép đi Tây.

Ý nghĩ của Cửu Uyên cũng như Thiên Trạch, chỉ sợ mình nghe lời đối phương làm xong rồi, rốt cục vẫn không thoát khỏi chết một cách thảm khốc. Như vậy có phải thiệt cả vốn lẫn lãi không? Cho nên y đánh liều đáp:

– Diệp Nguyên Đào, mỗ có một điều kiện này, nếu ngươi nhận lời thì việc gì Cửu Uyên cũng tuân lệnh ngay. Bằng không, mỗ đành liều chết chứ không chịu làm theo lời của ngươi.

Nguyên Đào cười như điên như khùng, hỏi tiếp:

– Các ngươi, những kẻ thuộc loại xác không mà cũng đòi thí mạng với ta hay sao?

Cửu Uyên cười the thé đáp:

– Dù chúng ta không làm gì nổi ngươi thật, nhưng người của chúng ta rất đông, lại thêm trên Toàn Cơ Bình này có mai phục cơ quan máy móc Liệt hỏa kim đao và các loại ám khí, dù sao cũng có thể giết được Nghiêm Mộ Lăng bạn thân của ngươi với lão ăn mày họ Công Dương kia.

Nguyên Đào ngẫm nghĩ giây lát, gật đầu hỏi tiếp:

– Ngươi nói cũng có lý. Vậy ngươi hãy nói điều kiện của ngươi ra cho ta nghe trước đã.

Cửu Uyên liền nói:

– Nói trắng ra, đây không phải là một điều kiện, mà chỉ là một khoản thù lao để thả Nghiêm Mộ Lăng với Công Dương Mậu đấy thôi.

Kêu “Ồ” một tiếng, Nguyên Đào vỡ nhẽ liền hỏi:

– Có phải ngươi sợ sau khi thả Nghiêm Mộ Lăng với Công Dương Mậu hai người rồi, ta vẫn giết chết ngươi phải không?

Thiên Trạch gật đầu, xen lời đáp:

– Nếu ngươi không nhận lời, thì chúng ta đành liều chết chứ không chịu thả hai người kia ra đâu.

Nguyên Đào mỉm cười nói tiếp:

– Xưa nay Diệp Nguyên Đào này không biết nói dối ai bao giờ ta với các ngươi đã trở thành kẻ thù rồi, thì thể nào ta cũng phải giết chết các ngươi mới được. Nhưng nếu ngươi nghe lời ta mà tha bạn ta ra, thì ta vui lòng hẹn với ngươi một địa điểm khác để tái chiến, và cũng để cho các ngươi đủ thì giờ chuẩn bị.

Bằng không, Diệp Nguyên Đào này sẽ máu rửa Bàn Long Giáp và không để cho một người nào sống sót.

Cửu Uyên nghe nói rùng mình sợ hãi, nhưng vẫn lớn tiếng đáp:

– Diệp Nguyên Đào, ngươi đã nói vậy, ta bằng lòng thả Nghiêm Mộ Lăng với ông già Công Dương Mậu và đồng thời đính ước với ngươi đến Tết Thanh Minh sang năm sẽ cùng ngươi tử chiến một phe ở Bạch Long Đôi tại ngoài Nhạn Môn Quan.

Nguyên Đào gật đầu nhận lời:

– Được ta bằng lòng theo quyết định này, chờ các người thả bạn ta ra rồi, ta sẽ giải huyệt cho ngươi ngay.

Cửu Uyên gượng cười nói với Thiên Trạch:

– Tam đệ, mau bảo người tha cho Tiểu Hồng với Công Dương Mậu, giải huyệt câm cho y thị, và cho Công Dương Mậu uống thuộc giải độc ngay.

Đảo ngược đôi ngươi một vòng, Thiên Trách lắc đầu đáp:

– Đệ nhận thấy cách này không được hoàn hảo, nhỡ Nguyên Đào thất ước thì sao?

Nguyên Đào giận dữ quát mắng:

– Ngươi không tin ta, chả lẽ ta lại tin ngươi hay sao? Được, cứ cầm cự với nhau như thế này, chả cần giải phải giải quyết nữa.

Thiên Trạch cười khẩy và đê nghị rằng:

– Ta có cách này giải quyết rất hoàn hoàn, ngươi đem nhị ca ta ra ngoài giáp khẩu, ta sẽ thả Mộ Lăng, đôi bên ở ngoài giáp khẩu trao đổi người. Như vậy có phải là không còn nghi ngại gì nữa không? Chả hay ngươi có tán thành không?

Ngẫm nghĩ giây lát Nguyên Đào gật đầu nhận lời:

– Biện pháp này của ngươi cũng được. Ta ra ngoài giáp khẩu đợi chờ ngươi.

Nói xong, chàng không do dự gì cả, xách Cửu Uyên đi ra ngoài giáp khẩu ngay.

Bọn thủ hạ của Cửu Uyên thấy chủ nhân của mình như một con cừu non, mặc cho đối phương xách đi như thế, chịu nhịn sao được, nhưng vì bứt dây động rừng, chúng đành phải đứng yên, không dám làm gì.

Chờ Nguyên Đào đi ra khỏi Bàn Long Giáp rồi, Thiên Trạch cau mày suy nghĩ, rồi sai người thả Tiểu Hồng với Công Dương Mậu xuống.

Hai chân bị phế, Thiên Trạch tức giận Tiểu Hồng vô cùng, tuy lo ngại cho sự an nguy của Cửu Uyên, nhưng y vẫn không chịu buông tha kẻ thù mà đã ngấm ngầm hạ độc thủ.

Y đích thân cởi trói cho Tiểu Hồng, dùng móng tay có chất độc khẽ rạch nơi sau gáy của Tiểu Hồng một cái, cho tới khi rớm máu mới thôi. Chất độc ở móng tay của y thuộc loại làm độc chậm. Theo ước đoán của y, thì Tiểu Hồng chỉ có thể sống được bốn tiếng đồng hồ thôi, chất độc sẽ giết hại nàng ngay. Tiểu Hồng vừa đói vừa khát chết đi được, chân tay còn tê dại, cho nên Thiên Trạch hãm hại nàng như thế nào, nàng không hay biết gì cả.

Vì sợ Tiểu Hồng nổi giận sẽ đối phó với mình, cho nên sau khi cởi trói cho nàng rồi, Thiên Trạch còn điểm yếu huyệt mê của nàng nữa.

Còn Công Dương Mậu lúc ấy vì bị trúng độc quá nặng, đã thoi thóp gần chết, nếu không phải ông có nội công thâm hậu vội vàng vận chân khí mà bảo vệ lấy trái tim, thì ông đã toi mạng rồi.

Thiên Trạch cho Công Dương Mậu uống thuốc giải độc xong, cũng điểm yếu huyệt mê của Công Dương Mậu y như Tiểu Hồng vậy.

Y điểm yếu huyệt của hai người như thế, là sợ hai người bị hành hạ quá mức, nhất thời được giải thoát, Công Dương Mậu là người rất nóng tính, thế nào cũng giết hại các người bừa bãi chứ không sai. Sau cùng, y ngẫm nghĩ giây lát, lại còn điểm yếu huyệt câm của hai người nữa vì sợ khi hai người gặp Nguyên Đào, nói rõ nguyên nhân và xúi Nguyên Đào đánh phá giết chóc trở lại thì hậu quả không thể tưởng tượng được.

Vì cho đến lúc này Thiên Trạch vẫn còn có ý nghĩ hung ác tồn tại, nên y nghĩ bụng:

“Quý hồ đừng có để cho Nguyên Đào biết được Cửu Uyên có cây roi Thiên Long Vạn Kiếp Tiên lợi hại như thế nào, và không bị y cướp đi mất, thì sau khi Cửu Uyên được giải huyệt rồi, vẫn có thể sử dụng được võ khí kỳ tuyệt ấy mà giết chết luôn Nguyên Đào, Tiểu Hồng với Công Dương Mậu ba người tại chỗ mới hả dạ”.

Xếp đặt xong đâu vào đấy rồi, y mới sai người dùng hai cái võng khiêng Công Dương Mậu cùng Tiểu Hồng ra ngoài Bàn Long Giáp.

Nguyên Đào thấy hai người mê man bất tỉnh, cả giận quát bảo:

– Này Thiên Trạch, người táo gan thật, dám hại ngầm hai người đến mức độ ấy phải không? Như vậy ta cũng để cho Cửu Uyên nếm mùi đau khổ nhột phen mới được.

Nói xong chàng ta định trừng trị Cửu Uyên, thì Thiên Trạch đã vội nói:

– Bạn họ Diệp hãy khoan đã, hai người bạn của bạn đây không hề bị thương gì hết. Vì mỗ sợ hai người lai tỉnh sẽ nổi giận đánh đập lung tung, nên mới điểm huyệt mê của hai người đấy thôi, chả lẽ bạn là người có công lực thâm hậu như thế mà không giải nổi yếu huyệt mê hay sao?

Nguyên Đào nghe nói nhìn Thiên Trạch rồi đáp:
– Ngươi hãy bảo các người đưa hai người lại gần đây để ta khám xét xem, nếu quả thật không có thương tích gì, thì ta mới giải huyệt trừ thủ pháp đặc biệt cho Cửu Uyên.

Thiên Trạch biết Nguyên Đào là người thẳng tính, không khi nào nuốt lời hứa cả, phần vì mình đã ám hại ngầm kẻ thù của mình là Tiểu Hồng rồi, nên y cũng không yêu cầu đối phương tha Cửu Uyên trước mà sai người khiêng Tiểu Hồng với Công Dương Mậu tới trước mặt Nguyên Đào luôn.

Nguyên Đào giơ tay ra vỗ vào yếu huyệt mê của Công Dương Mậu với Tiểu Hồng, quả nhiên thấy hai người đã lại tỉnh tức thì. Thiên Trạch ở phía trên, trông thấy thế, không đợi chờ Nguyên Đào hỏi han Tiểu Hồng đã vội lớn tiếng nói vọng xuống rằng:

– Bạn họ Diệp kia, người trẻ tuổi phải biết giữ chữ tín chứ? Bây giờ hai người đã lại tỉnh rồi, bạn phải mau giải cứu Long nhị ca của mỗ ra ngay chứ?

Nguyên Đào cười khẩy một tiếng, giơ tay phát một cái và đập vào sau lưng Cửu Uyên một chưởng, Cửu Uyên bị đánh bắn ra ngoài xa, loạng choạng mấy bước mới đứng vững được. Y liền vận khí thử xem, quả thấy huyết mạch đã chạy đều, chân tay đã hoạt động như cũ.

Y là người trong nhóm Thế Ngoại Bát Hung, xưa nay vẫn sống ở trong Bàn Long Giáp trên núi Lục Bàn này một cách tự do tự tại và xưng hùng xưng bá ở miền Tây Bắc này, có bao giờ bị nhục như thế này đâu, nên y đau lòng khôn tả, ứa nước mắt ra ngay.

Thiên Trạch vội kêu gọi:

– Long nhị ca, câu chuyện ngay hôm nay đôi bên đều hòa, không ai thắng ai bại cả. Nhị ca khỏi phải đau lòng và phẫn uất như thế, làm giảm mất hào khí của anh hùng đi. Nhị ca có cây Thiên Long Vạn Kiếp Tiên, vẫn có thể khắc địch phục thù cơ mà!

Tiểu Hồng nghe thấy cái tên Vạn Kiếp Tiên đã vội dắt tay Nguyên Đào với Công Dương Mậu, vội giở khinh công ra đi nhanh như điện chớp ngay.

Cửu Uyên lẳng lặng nhìn theo ba người cho tới khi mất dạng rồi mới lắc đầu thở dài, quay trở về Bàn Long Giáp.

Thiên Trạch thấy thế ngạc nhiên hỏi:

– Nhị ca, tiểu đệ đã nhắc nhở nhị ca rồi, tại sao nhị ca lại không sử dụng ngay cây Vạn Kiếp Tiên mang theo bên người?

Cửu Uyên rất hổ thẹn gượng cười đáp:

– Mỗ không dám dấu giếm tam đệ, thấy công lực của Nguyên Đào quá lợi hại, mỗ đã hoảng sợ rồi, không biết cây Thiên Long Vạn Kiếp Tiên dùng đối xử với y có công hiệu như ý muốn của mình không? Vì y không những tài nghệ rất cao siêu, hơn cả bát muội của chúng ta, và có một thế chất rất đặc biệt, không sợ bất cứ thuốc độc lợi hại đến đâu, như ở trong Tu Ni Động Thiên, đã cho y uống luôn bốn chén rượu độc mà không thấy phản ứng chút nào, tựa như uống nước trà vậy.

Thiên Trạch nghe nói cũng giật mình đến thót một cái, vội hỏi tiếp:

– Nếu Thiên Long Vạn Kiếp Tiên mà không khắc chế nổi y, thì sau này đại hội Bạch Long Đôi, có phải là chúng ta...

Cửu Uyên xua tay ngắt lời Thiên Trạch, rồi cười như điên khùng và đỡ lời:

– Ngải tam đệ đừng có lo âu như thế, từ nay đến Tết Thanh Minh sang năm, tức đến ngày đại hội Bạch Long Đôi còn cách một thời gian khá xa, chúng ta có thể tốn công chế luyện một thử võ khí lợi hại hơn, chuyên môn đối phó với Diệp Nguyên Đào.

Thiên Trạch nghe nói cả mừng vội hỏ:

– Long nhị ca định chế luyện vật gì thế?

Cửu Uyên nghiến răng cười khẩy đáp:

– Muốn trả được mối sỉ nhục ngày hôm nay, thì đành hy sinh một nửa tài sản mà chúng ta đã thâu thập được bấy lâu nay, ròi đi khắp mọi nơi mua đủ các đồ dùng về luyện thành một môn võ khí có thể phá được cả núi non. Thứ đó tên là Tỷ Quang Tử Châu. Trừ phi người của Nguyên Đào cứng rắn hơn sắt đá. Bằng không ở trong đại hội Bạch Long Đôi, y không thể nào thoát khỏi được tai kiếp.

Thiên Trạch cả mừng, vội hỏi tiếp:

– Nhị ca đã biết chế luyện Tỷ Quang Tử Châu, tại sao không chuẩn bị từ trước?

Cửu Uyên thở dài đáp:

– Những thuốc nổ rất lợi hại dùng để chế thành Tỷ Quang Tử Châu lại sản xuất ở tận những nước rất xa xôi, đã khó mua tại khó vận tải, trong khi vận tải, chỉ sơ xuất một tý, cũng bị tan xương nát thịt ngay tại chỗ. Huống hồ thoạt tiên mỗ yên trí oai lực của cây Vạn Kiếp Tiên cũng đủ khắc chế quần hào của đương thời rồi.

Cho nên mỗ mới không dự tính chế luyện Tỷ Quang Tử Châu nữa, ngờ đâu ngày hôm nay lại có tên Diệp Nguyên Đào xuất hiện, không biết y thuộc tôn phái nào?

Võ công lại đã cao tuyệt mà lại không sợ các thứ chất độc như vậy?

Hãy nói Nguyên Đào, Tiểu Hồng với Công Dương Mậu vừa nghe thấy Thiên Trạch nói đến cái tên Vạn Kiếp Tiên, Tiếu Hồng vội kéo Nguyên Đào và Công Dương Mậu chạy đi ngay. Chạy được một quãng đường, Nguyên Đào ngạc nhiên hỏi:

– Nghiêm huynh, Thiên Long Vạn Kiếp Tiên là vật gì thế? Sao huynh vừa nghe thấy đã hoảng sợ như vậy?

Tiểu Hồng không dám ngừng chân, mồm chỉ kêu “ớ ớ” hai tiếng tỏ vẻ yếu huyệt câm của mình đã bị kiềm chế.

Lúc ấy đã xa cách Bàn Long Giáp rồi, Nguyên Đào liền ngừng chân lại giải huyệt câm cho Tiểu Hồng với Công Dương Mậu.

Vì đói khát quá, vừa được giải huyệt câm xong, Tiểu Hồng đã vội uống nước suối ở ngay cạnh đó một thôi một hồi, rồi lại xin ít lương khô của Công Dương Mậu ăn ngấu nghiến.

Nguyên Đào thấy thế vừa thương hại vùa tức cười.

Đỡ đói khát rồi, Tiểu Hồng mới giới thiệu Công Dương Mậu cho Nguyên Đào và mỉm cười nói:

– Xin lỗi Diệp huynh hãy đứng đợi ở đây một chút, tiểu đệ còn mấy lời này muốn nói riêng với Công Dương Mậu lão tiền bối.

Tuy có nhiều vấn đề muốn hỏi, nhưng Nguyên Đào thấy Tiều Hồng nói như thế đành phải gật đầu nhận lời.

Tiểu Hồng vội kéo Công Dương Mậu sang một bên, kể lại đầu đuôi câu chuyện của mình, sau khi rời khỏi Tung Sơn như thế nào.

Công Dương Mậu nghe xong, quay đầu lại ngắm nhìn Nguyên Đào một hồi rồi cười giọng quái dị nói:

– Tạ cô nương, tuy ăn mày già này được thoát chết, nhưng vì cứu cô nương mà đã làm mất hết tên tuổi đã gây nên được nửa đời người rồi.

Tiểu Hồng rất cảm động mỉm cười đáp:

– Tiểu Hồng tôi đội ơn thâm hậu của lão tiền bối, thực không biết lấy gì để đền bù.

Công Dương Mậu vội xua tay cười với giọng quái dị và đỡ lời:

– Cô nương khỏi cần phải báo đáp gì cả, chỉ cần nghe một lời này của già là được rồi.

Tiểu Hồng tủm tỉm cười đáp:

– Lão tiền bối có lời vàng ngọc gì xin cứ chỉ bảo, Tiểu Hồng tôi xin tuân theo ngay.

Công Dương Mậu lại đưa mắt nhìn Diệp Nguyên Đào một cái mới khẽ nói tiếp:
– Nghe lời của cô nương vừa nói, ăn mày già này đã biết rõ Diệp Nguyên Đào tuy có được võ học kỳ tuyệt nhưng vì mới bước chân vào trong chốn giang hồ, không biết một tý gì về sự đời cả, không khác gì một hòn ngọc chưa được người ta mài giũa thành chính hay tà. Cho nên cô nương phải làm thế nào khéo cầm cương con ngựa bất kham này, đừng để cho nó đi vào đường tà mới được.

Tiểu Hồng cười hỏi tiếp:

– Lão tiền bối bảo tiểu bối cầm cương cho y ư? Tính nết của y kiêu ngạo như thế, thì khi nào y chịu nghe lời của tiểu bối?

Công Dương Mậu cười hi hí nói tiếp:

– Tạ cô nương, bất cứ Nguyên Đào kiêu ngạo đến đâu, nhưng lão phu nhận thấy cô nương saün có một ma lực thần kỳ, có thể chế ngự nổi y. Lão ăn mày còn có việc phải đi làm, không muốn xen vào trong đám tuổi trẻ của các người, để các người bảo lão là người đáng ghét. Đến Tết Thanh Minh sang năm, chúng ta sẽ gặp lại nhau ở trên Bạch Long Đôi. Trước khi chia tay, lão xin tặng cô nương hai câu này:

“Lương tài hiếm có, giai tế nan cầu”. Tạ cô nương là người thông minh, tất phải hiểu rõ ý nghĩa của hai câu đó.

Nói xong, ông giơ tay lên vẫy để thay chào Nguyên Đào rồi lững thững đi luôn.

Tiểu Hồng là người rất thông minh, nghe thấy Công Dương Mậu nói hai câu ấy liền hiểu ngay, hổ thẹn đến hai má đỏ hồng và cúi đầu xuống, không dám nhìn Công Dương Mậu nữa.

Lúc ấy Nguyên Đào đã thủng thẳng đi tới gần, mỉm cười hỏi Tiểu Hồng rằng:

– Nghiêm huynh là đàn ông hay đàn bà? Sao trên lá phướn Long Cửu Uyên lại viết huynh Tạ Tiểu Hồng ái nữ tỳ của Lệnh Hồ Sở Sở như thế?

Tiểu Hồng đang hổ thẹn, nghe thấy Nguyên Đào hỏi như vậy lại càng hổ thẹn thêm không sao trả lời được.

Nguyên Đào kêu “Ồ” một tiếng và cười khì nói tiếp:

– Thế ra Nghiêm huynh là đàn bà đấy. Sao lại hổ thẹn đến tai cũng đỏ bừng lên như thế này?

Tiểu Hồng bực mình vô cùng, liền bẻ ngay búi tóc giả đi, buông xõa tóc của mình xuống, đã hiện nguyên hình là một thiếu nữ, rồi nguýt Nguyên Đào một cái mới hờn giận đáp:

– Phải! Tôi là đàn bà đấy! Tôi là Tạ Tiểu Hồng, nữ tỳ của Lệnh Hồ Sở Sở đấy! Thì sao nào? Có phải từ giờ trở đi huynh không thèm đếm xỉa đến tôi nữa không?

Thấy Tiểu Hồng lúc này đẹp hơn là lúc cải nam trang nhiều, nhất là nàng nổi giận trông lại càng mê hồn thêm. Từ thuở nhỏ đến giờ, Nguyên Đào chưa hề được gặp thiếu nữ nào bao giờ, thấy Tiểu Hồng đẹp như thế cứ đứng ngẩn người ra ngắm nhìn, quên cả nói chuyện mà chỉ gật đầu liên tiếp một cách vu vơ thôi.

Tiểu Hồng hỏi từ nay huynh không thèm đếm xỉa đến tôi nữa phải không? Đó là nàng làm nũng. Không ngờ Nguyên Đào lại trả lời bằng cách gật đầu lia lịa một hồi, như vậy có khác gì là từ nay trở đi chàng ta không thèm đếm xỉa tới nàng không?

Tiểu Hồng nghe lời dặn của Công Dương Mậu, đã có lòng yêu Nguyên Đào rồi, nay thấy Nguyên Đào trả lời một cách bạc bẽo như thế, nàng thất vọng vô cùng, không sao nhịn được hai hàng lệ đã nhỏ ròng xuống hai bên má luôn.

Tiểu Hồng không ngờ Nguyên Đào lại trả lời mình bằng cái gật đầu mà Nguyên Đào cũng không ngờ Tiểu Hồng lại ứa nước mắt ra như thế, dù Nguyên Đào là người có võ công cao siêu đến đâu, nhưng lúc này thấy Tiểu Hồng ứa nước mắt ra, không hiểu vì lẽ gì mà nàng lại khóc như thế. Chàng cuống lên, vội ấp úng hỏi:

– Tạ... Tạ...

Chàng cuống lên, không sao nghĩ ra được hai chữ “cô nương” và cũng không dám gọi nàng là “Tạ huynh” như trước nữa.

Thấy mình ứa nước mắt ra, mà vắn không thấy Nguyên Đào an ủi nửa câu, Tiểu Hồng bực mình, liền dậm chân xuống đất một cái, quay người bỏ đi luôn.

Nguyên Đào thấy nàng bỏ đi, ngạc nhiên vô cùng, chờ tới khi chàng vỡ nhẽ ra tại sao Tiểu Hồng lại giận dữ bỏ đi như thế, thì Tiểu Hồng đã đi cách xa chàng mấy chục trượng rồi.

Khinh công của Tiểu Hồng đã thuộc đào hàng cao thủ thủ hạng nhất của võ lâm đương thời, nhất là trong lúc nàng hổ thẹn và tức giận nàng lại càng chạy nhanh hơn trước nhiều, nên không khác gì một mũi tên bắn ra vậy, khiến Nguyên Đào đuổi mãi cũng không đuổi kịp.

Sau Nguyên Đào phải giở hết mười hai thành công lực ra mới đuổi kịp, vượt qua trước mặt Tiểu Hồng, giơ tay ngăn cản không để cho nàng chạy tiếp.

Tiểu Hồng không ngờ chàng ta lại vượt qua được mình mà đứng chắn đường như thế, nên không kịp ngừng chân lại, người nàng đã ngã ngay vào lòng của Nguyên Đào tức thì.

Sợ nàng ta lại bỏ chạy lần nữa, Nguyên Đào thừa cơ ôm chặt lấy nàng vào lòng. Chàng lần đầu tiên được ôm một thiếu nữ, nên trống ngực đập mạnh không thể tưởng tượng được.

Còn Tiểu Hồng thì kháng cự sao nổi hai cánh tay thần lực của Nguyên Đào, vả lại nàng cũng không muốn duỗi ra, nhưng vẫn giả bộ uốn éo mấy cái, khẽ đấm vào ngực chàng năm bảy cái, rồi gục đầu xuống khóc sướt mướt.

Nguyên Đào thấy nàng ta khóc một cách tội nghiệp như vậy, không dám buông tay ra, muốn an ủi mà không biết dùng lời lẽ gì để an ủi, nên cũng ứa lệ và ấp úng hỏi:

– Tại... sao... Nghiêm huynh lại đau lòng khóc lóc như thế? Nếu huynh mà còn khóc nữa, thì Nguyên Đào tôi cũng khóc theo đấy!

Tiểu Hồng ngừng mặt lên nhìn Nguyên Đào giọng ngạc nhiên hỏi:

– Diệp huynh chả biết tôi là Tạ Tiểu Hồng rồi là gì, sao huynh gọi tôi là Nghiêm huynh như thế?

Nguyên Đào mặt đỏ bừng ấp úng đáp:

– Tôi... tôi... không biết ăn nói... lại chưa... làm bạn với thiếu nữ bao giờ...

cho nên không biết gọi như thế nào, tôi mới phải gọi là Nghiêm huynh như thế.

Câu nói ngây thơ của Nguyên Đào khiến cho Tiểu Hồng cũng phải suýt phì cười nguýt chàng một cái, rồi giả bộ hờn giận nói tiếp:

– Sao Diệp huynh lại ngu ngốc một cách đáng thương đáng hận như thế.

Thiếu gì cách để gọi tôi? Ví dụ gọi tôi là Tạ Tiểu Hồng, Tạ cô nương, Tiểu Hồng, Hồng muội... cái gì chả được? À không, huynh không được gọi là Tiểu Hồng với Hông muội như thế.

Tuy mới bước chân vào trong tình trường, nhưng chữ tình có một ma lực rất thần kỳ, có thể làm cho người đương sự sáng suốt, cũng có thể làm cho người trong cuộc mê man tâm thần. Lúc này Nguyên Đào rất được may mắn, lại được phản ứng ở mặt chính đáng. Vì thế mà chàng rất khôn khéo trả lời với Tiểu Hồng rằng:

– Gọi là Tạ Tiểu Hồng thì đường đột quá, mà gọi là Tạ cô nương thì lại xa lạ quá, mà gọi là Hồng muội thì có vẻ ngượng mồm lắm. Thôi, chi bằng tôi gọi là Tiểu Hồng nhé? Từ nay trở đi tôi gọi là Tiểu Hồng có được không?

Thấy chàng ta nói như vậy, Tiểu Hồng liền cười khì ngay, nhưng chỉ trong thoáng một cái thôi, nàng lại ứa nước mắt ra nói tiếp:

– Còn nói từ giờ trở đi nữa, hồi nãy Diệp huynh chả tỏ vẻ không đếm xỉa đến tôi nữa là gì?

Cái cười của đàn bà là thế công, cái khóc là thế thủ, muốn cười nhưng làm ra vẻ rầu rĩ trước, là đổ bộ ở trước mặt địch, đang khóc mà phì cười là đi vòng quanh ra phía sau địch. Nếu có thể làm được tới mức dở khóc dở cười thì mới thực là hoàn toàn thắng lợi, khiến toàn quân của đối phương bị tiêu diệt ngay.

Nguyên Đào là người mới bước chân vào tình trường, thì làm sao mà địch nổi Tiểu Hồng, một thiếu nữ rất khôn ngoan mà đã được trông thấy rất nhiều? Nên không bao lâu Nguyên Đào đã phải dâng hàng thư xin đầu hàng ngay.

Chàng thấy Tiểu Hồng ứa nước mắt ra hoài, thắc mắc không hiểu vội gượng cười hỏi:

– Sao Tiểu Hồng lại đổ oan cho tôi thế? Có bao giờ tôi không thèm đếm xỉa tới Tiểu Hồng đâu?

Tiểu Hồng bĩu môi vẫn ứa lệ đáp:

– Lại còn trách người ta đổ oan cho, vừa rồi tôi hỏi từ giờ Diệp huynh có ghét bỏ tôi không? Thì Diệp huynh lại cứ gật đầu liên tiếp.

Lúc này Nguyên Đào mới vỡ nhẽ, kêu oan luôn miệng và gượng cười nói tiếp:

– Vừa rồi tôi có nghe thấy rõ Tiểu Hồng nói những gì đâu? Chỉ thấy sau khi bỏ lớp nam nhi đi, trông Tiểu Hồng càng xinh đẹp thêm, tôi cứ ngẩn người ra ngắm nhìn và gật đầu vu vơ mấy cái đấy chứ, đâu có phải là tôi trả lời không thèm đếm xỉa tới Tiểu Hồng nữa?

Cười khì một tiếng, Tiểu Hồng đã hớn hở tươi cười nhưng nàng vẫn giả bộ hờn giận nói tiếp:

– Thế nào, Diệp huynh đã đầy đủ chưa? Sao còn cứ ôm chặt tôi mãi như thế này?

Thấy nàng ta nói như vậy, Nguyên Đào càng hổ thẹn đến mặt đỏ bừng nhưng chàng vẫn chưa chịu buông tay ra mà còn cười khì đáp:

– Tôi sợ buông tay ra Tiểu Hồng lại bỏ chạy thì sao?

Câu nói này của chàng tuy ngô nghê nhưng bên trong lại bao hàm tình ý chân thực, khiến Tiểu Hồng an ủi vô cùng, nên nàng nguýt chàng một cái và nói tiếp:

– Ngốc tử ơi, nếu huynh không bỏ mặc tôi thì khi nào tôi còn bỏ chạy như thế nữa?

Thấy nàng nói như vậy, Nguyên Đào phải bỏ tay ra ngay nhưng vẫn còn có vẻ luyện tiếc, nên nắm luôn tay của nàng mỉm cười hỏi tiếp:

– Nếu Tiểu Hồng không bỏ chạy nữa thì tôi mới yên tâm. Vừa rồi Tiểu Hồng khóc lóc, khiến tôi lo âu như thế nào, Tiểu Hồng có biết không?

Phần thứ nhất Tiểu Hồng cũng có ý yêu Nguyên Đào rồi, phần thứ hai nàng nhận thấy lời của Công Dương Mậu nói rất phải. Tuy Nguyên Đào có võ công rất cao siêu, nhưng phải nỗi rất chất phác, không khác gì hòn ngọc vừa lấy ở trong mỏ ra, tha hồ để cho người ta muốn gọt giũa như thế nào cũng được, cho nên nàng cũng không cần phải để ý tới lễ phép, mà cứ mặc cho chàng ta nắm tay của mình vuốt ve một cách âu yếm, nàng chỉ giả bộ hờn giận hỏi lại:

– Diệp huynh lo âu cái gì? Võ công của huynh cao siêu hơn tiểu muội nhiều, dù tôi có muốn đào tẩu chăng nữa, rút cục vẫn bị huynh bắt được ngay.

Nguyên Đào say mê sắc đẹp của Tiểu Hồng quá đỗi cứ trố mắt lên ngắm nhìn nàng ta hoài và thủng thẳng đáp:

– Tôi không sợ Tiểu Hồng bỏ chạy, mà chỉ sợ trái tim của Tiểu Hồng bỏ chạy thôi. Vì người chạy còn có thể bắt lại được, còn trái tim bỏ chạy thì tôi biết di đâu mà tìm thấy? Dù có bắt lại được cũng không có nghĩa lý gì, thế nào cũng phải đôi bên cam tâm tình nguyện...

Tiểu Hàng không ngờ Nguyên Đào lại biết nói mấy câu rất ngọt ngào và đáng yêu như vậy nên, nàng rất hài lòng, cúi đầu xuống khẽ hỏi:

– Còn gì nữa sao huynh không nói nốt đi?

Mặt hơi đỏ, Nguyên Đào đáp:

– Tôi không biết nói năng ra làm sao nữa. Nói tóm lại, từ giờ trở tôi không bỏ mặc Tiểu Hồng, không xa cách Tiểu Hồng. Trái lại tôi còn yêu cầu Tiểu Hồng đừng có rời khỏi tôi. Tiểu Hồng cắn môi ngẫm nghĩ giây lát, mới nhìn Nguyên Đào và hai người cùng ngồi xuống chỗ gốc cây rồi nàng nghiêm nét mặt lại hỏi tiếp:

– Có thực đại ca muốn tiểu muội từ giờ không rời khỏi đại ca nữa không?

Nguyên Đào thành khẩn đáp:

– Xưa nay tôi không nói dối ai bao giờ và trong bụng nghĩ gì là buột miệng nói ra ngay.

Tiểu Hồng gật đầu vừa cười vừa hỏi tiếp:

– Tiểu muội tin lời nói của đại ca, nhưng đại ca thử đoán xem liệu tiểu muội có nhận lời yêu cầu của đại ca không?

Ngẫm nghĩ giây lát Nguyên Đào đáp:

– Khỏi cần phải ước đoán gì cả, tôi dám chắc Tiểu Hồng thể nào cũng nhận lời.

Chương 29: Hiệp cốt nhu tình

Lòng tự tin ấy của Nguyên Đào suýt một tý nữa làm cho Tiểu Hồng nổi giận, vì chàng đã chạm phải lòng tự ái của một thiếu nữ mà không hay. Sau Tiểu Hồng sực nhớ lời dặn bảo của Công Dương Mậu, và nhận thấy chàng rất thực tình chứ không phải màu mè gì đâu nên nàng mới cố nén lửa giận xuống rồi. nhìn mặt chàng một hồi, gượng cười hỏi:

– Thị cái gì mà đại ca tin tưởng như thế?

Nguyên Đào lắc đầu đáp:

– Không phải tôi tự tin mà là Tiểu Hồng đã nói cho tôi hay như thế.

Tiểu Hồng ngạc nhiên hỏi tiếp:

– Tiểu muội nói cho đại ca hay bao giờ?

Đôi mắt lộ đầy tình tứ, Nguyên Đào vẫn ngắm nhìn Tiểu Hồng mỉm cười khẽ đáp:

– Tiểu Hồng không dùng đầu lưỡi nói cho tôi hay, mà là dùng nước mắt bảo cho tôi biết. Nếu Tiểu Hồng không ưa tôi, hay không muốn ở cạnh tôi mãi mãi thì không khi nào Tiểu Hồng lại khóc lóc như thế nữa.

Tiểu Hồng không sao nhịn được cười và gật đầu đáp:

– Không ngờ chàng ngốc tử lại bỗng thông minh đến như thế. Nhưng đại ca muốn tôi nhận lời thì phải nghe theo điều kiện này của tôi mới được!

Nguyên Đào thấy mình đã đoán đúng, hớn hở vô cùng, nắm vai của Tiểu Hồng lay mấy cái và hỏi tiếp:

– Tiểu Hồng nói đi, dù một vạn điều kiện tôi cũng vui lòng nhận.

Tiểu Hồng bỗng hỏi một câu rất bất ngờ rằng:

– Tôi không tán thành đại ca là Võ Lâm Đệ Nhất Nhân.

Nguyên Đào nghe nàng nói xong, chỉ cau mày lại gượng cười thôi.

Tiểu Hồng thấy thế cười khẩy nói tiếp:

– Thế mà còn nói một vạn điều kiện nữa...

Nguyên Đào xua tay đỡ lời:

– Tiểu Hồng đừng có tức giận vội, tôi nhận lời không làm võ Lâm Đệ Nhất Nhân, mà chỉ làm Võ Lâm Đệ Nhị Nhân thôi. Như vậy Tiểu Hồng đã bằng lòng chưa?

Tiểu Hồng lạnh lùng đáp:

– Làm đệ nhị nhân cũng không được. Tiểu muội không muốn trong đầu óc của đại ca lúc nào cũng có ý nghĩ làm người thứ mấy của võ lâm một cách rất tức cười như thế.

Nguyên Đào có vẻ không phục hỏi lại:

– Ý nghĩ ấy là di mệnh của sư phụ tôi dặn bảo trước khi hấp hối, sao Tiểu Hồng lại bảo là tức cười được?

Tiểu Hồng cười khẩy đáp:

– Sư phụ của đại ca là ai? Có lẽ ông ta là người rất tầm bậy, đã tự hại thân mình, lại còn muốn hại hết thẩy nhân vật của võ lâm. Vì tôn chỉ học võ, đối với bổn thân là dùng để làm cho khỏe mạnh, tráng kiện sống lâu. Còn đối với người, thì dùng để độ dân cứu thế, trừ bạo an dân. Nếu học võ chỉ cốt làm người thứ mấy trong võ lâm như vậy, có khác gì con chó điên, bạ ai cũng cắn không? Vả lại còn Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đông, Tây, Nam, Bắc, bất luận đại điểm, suốt ngày chỉ đi kiếm người để đấu trí mạng. Đại ca không tin thử nhắm mắt suy nghĩ xem, một đại hán điên như thế là cái thá gì không? Thử hỏi tiểu muội có chịu làm bạn suốt đời với người ấy không?

Thoạt tiên Nguyên Đào nghe thấy Tiểu Hồng nói xấu sư phụ mình, đã nổi giận luôn, nhưng nghe tới câu sau, thì chàng bỗng kêu “Ối chà” một tràng đáp:

– Lời nói của Tiểu Hồng rất có lý.

Tiểu Hồng đi theo Lệnh Hồ Sở Sở xông pha khắp mọi nơi, kiến thức rất rộng lớn, nên nàng đã khôn khéo bắt giữ được trái tim của Nguyên Đào một người mới sa ngã vào trong bể tình rồi. Vì vậy nàng đang lạnh lùng bỗng hớn hở tươi cười và khẽ nói tiếp:

– Đại ca đã thấy những lời nói của tôi có lý thi phải nên ngoan ngoãn nghe lời. Bằng không, chúng ta mỗi người đi một ngả, xin chia tay ngay từ đây.

Nguyên Đào nắm chặt lấy hai tay của Tiểu Hồng, gật đầu đáp:

– Tiểu Hồng đừng có chia tay với tôi nữa. Tôi xin ngoan ngoãn nghe lời.

Tiểu Hồng rất an lòng, hai má lộ ngay hai núm đồng tiền và tinh nghịch hỏi:

– Đại ca sẽ ngoan ngoãn tới mức độ nào?

Nguyên Đào rất thành khẩn, mỉm cười đáp:

Ngoan ngoãn tới mức không còn ngoan ngoan được hơn thế nữa. Tiểu Hồng bảo tôi đi Đông, tôi không bao giờ đi Tây, bảo tôi đánh chó, không bao giờ tôi đuổi gà, bảo tôi không được dậy thì tôi cứ nằm yên ở trên giường.

Không sao nhịn được, Tiểu Hồng vừa cười vừa lúc lắc đầu hỏi tiếp:

– Tôi chỉ cần đại ca nghe tôi dặn bảo những đại sự thôi, chứ có ai muốn đại ca biến thành một cái máy, tha hồ để cho người ta thao túng như thế.

Nói tới đó, nàng lại mỉm cười hỏi tiếp:

– Tại sao đại ca lại cứ thích sống chung với tôi như thế?

Nguyên Đào lấc đầu đáp:

– Tôi cũng không hiểu tại sao. Tôi chỉ cảm thấy hai chúng ta hình như là một Tiểu Hồng khóc thì tôi buồn, Tiểu Hồng vui thì tôi cao hứng.

Nghe thấy Nguyên Đào nói như vậy, Tiểu Hồng cảm động đến ứa nước mắt ra, liến thừa cơ tựa ngay vào lòng Nguyên Đào để cho chàng được âu yếm chốc lát Nguyên Đào đang khoan khoái không thể tưởng tượng được, thì Tiểu Hồng nũng nịu cười và khẽ hỏi tiếp:

– Nguyên Đào, tuy đại ca yêu tôi, nhưng tôi có nhiều khuyết điểm lắm, chỉ e không xứng với đại ca, ví dụ về phương diện võ công...

Không đợi chờ nàng nói dứt, Nguyên Đào đã vội đỡ lời:

– Tiểu Hồng, võ công của hiền muội đã là cao thủ thượng thừa rồi. Từ giờ trở đi, chúng ta cùng nghiên cứu với nhau, tất nhiên Tiểu Hồng thể nào cũng được tiến bộ nhanh chóng...

Hai mắt lim dim, hai má đỏ bừng, Tiểu Hồng u oán nói:

– Về phương diện thân phận, tôi cũng rất tự hổ thẹn, vì tôi chỉ là một thị nữ của chủ nhân tôi, Lệnh Hồ Sở Sở...

Nguyên Đào xếch ngược đôi lông mày kiếm lên, đôi ngươi lóng lánh đáp:

– Chủ nhân là người mà thị nữ cũng là người, có quan hệ gì đâu? Nếu Tiểu Hồng cảm thấy như thế là bị khuất phục, thì tôi đánh cho Lệnh Hồ Sở Sở phải chịu phục, bắt Lệnh Hồ Sở Sở phải để cho Tiểu Hồng làm chủ nhân, còn nàng ta thì làm thị nữ.

Tiều Hồng nghe nói liền giận dữ khiển trách luôn:

– Diệp Nguyên Đào, nếu đại ca còn nói nửa lời đại nghịch bất đạo như thế, thì tôi sẽ vĩnh viễn không thèm đếm xỉa tới đại ca nữa. Chủ nhân của tôi, Lệnh Hồ cồ nương nuôi nấng dạy bảo tôi với chị Tiểu Thanh từ hồi còn nhỏ tới giờ, ơn như núi bể, nên đại ca cũng phải coi Lệnh Hồ cô nương như là chủ nhân mới được.

Nguyên Đào cau mày lại hỏi:

– Cái gì? Tiểu Hồng bắt tôi phải coi Lệnh Hồ Sở Sở như là chủ nhân ư?

Tiểu Hồng thấy chàng ta có vẻ như không bằng lòng, liền cười khẩy hỏi tiếp:

– Đại ca không bằng lòng phải không?

Nôi tới đó, nàng bỗng rùng mình một cái, mặt tái mét, rúc vào lòng Nguyên Đào run lẩy bẩy hoài.

Nguyên Đào lại tưởng nàng thấy mình không bằng lòng nhận Lệnh Hồ Sở Sở làm chủ nhân mà tức giận đến run lẩy bẩy như thế, rất động lòng thương, vội gật đầu trả lời rằng:

– Tiểu Hồng đừng có tức giận. Tôi bằng lòng nghe lời, coi Lệnh Hồ Sở Sở cũng như là chủ nhân.

Tuy Nguyên Đào cũng nói như thế rồi, mà Tiểu Hồng lại còn run hơn trước.

Thì ra chất độc bị Thiên Trạch dùng móng tay rạch vào cổ Tiểu Hồng đến lúc này mới bắt đầu làm nguy.

Nguyên Đào thấy mình đã xin lỗi mà Tiểu Hồng cứ run lẩy bẩy hoài, và trái lại còn run hơn trước là khác, lúc ấy chàng mới biết thể nào cũng có chuyện gì, vội thất thanh hỏi:

– Tiểu Hồng làm sao thế? Đau ốm phải không?

Ngũ tạng đau nhức chịu không nổi, Tiểu Hồng cứ phải cố gượng, với giọng run run đáp:

– Hình như... tôi đã bị trúng độc... chắc lúc tha tôi thế nào tên Ngải Thiên Trạch cũng đã ám hại ngầm.

Nguyên Đào nghe nói cả kinh thất sắc, vội hỏi tiếp:

– Tiểu Hồng... biết làm sao bây giờ? Vì tôi không sợ độc nên không bao giờ đem theo thuốc giải độc.

Tiểu Hồng run giọng:

– Chắc thế nào tôi cũng không thể sống nổi, tôi chỉ mong đại ca nhớ lúc nào cũng phải coi Lệnh Hồ Sở Sở cô nương, công tử Nghiêm Mộ Quang là chủ nhân và Nhiếp Tiểu Thanh là bạn. Các nhân vật Nam Nhạc, Bắc Nhạc, Trung Nhạc đều là bạn còn những người của phái Tây Nhạc với Thế Ngoại Bát Hung đều là những kẻ táng tận lương tâm bại hoại giang hồ cần phải tru diệt...Nàng nói tới đây hơi thở yếu dần, da mặt từ từ biến thành màu xanh mét.

Nguyên Đào thất kinh la lên:

– Tiểu Hồng... Tiểu Hồng... tỉnh lại để đại ca đi tìm thuốc giải độc...

Chàng càng kêu gào thảm thiết, bỗng Tiểu Hồng từ từ lại tỉnh kêu lên:

– Khát quá! Khát quá!

Nguyên Đào nhìn chung quanh thấy toàn là núi non không kiếm đâu ra được miếng nước, chàng đang rối trí, Tiểu Hồng lại thều thào:

– Đại ca cho tôi miếng nước! Khát quá!

Túng quá không biết làm sao, Nguyên Đào sực nghĩ ra liền cắn đầu ngón tay lấy máu của mình cho Tiểu Hồng uống.

Lát sau nàng lại thều thào tiếp:

– Đại ca nhớ những lời của tiểu muội nói nhé... Lệnh Hồ Sở Sở... và Nghiêm Mộ Quang công tử, là chủ nhân... Tiểu Thanh... tỷ tỷ... là bạn...

Nàng nói chưa dứt lời, chợt nàng co rúm người lại, rồi thở hắt ra một hơi, da mặt nàng từ xanh mét, đến xám và tím bầm lại chứng tỏ bị ngộ độc quá mạnh.

Nguyên Đào đang ôm nàng thấy tình trạng như vậy bỗng hét lớn lên rồi căm hận nói:

–Ta thề sẽ diệt hết bọn Bàn Long Giáp và chặt đầu tên Thiên Trạch cho hả lòng hiền muội.

Khóc lóc một hồi, Nguyên Đào liền bồng nàng đi tìm một hang động để quàn thi hài của nàng vì chàng không nỡ vùi dập thể xác nàng xuống ba tấc đất. Kiếm thấy một hang động, chàng bồng nàng vào trong hang và đặt nàng nằm ở trong cùng hang, rồi nuốt lệ nói:

– Tiểu Hồng ngoan ngoãn nằm ngủ ở đây để Đào đại ca đi trả thù cho hiền muội, khi nào lấy được đầu lâu của tên Thiên Trạch, Đào đại ca sẽ quay lại tiếp Tiểu Hồng mãi mãi.

Nôi xong chàng hôn lên má Tiểu Hồng mấy cái, rất đau lòng và từ từ lui về phía sau, lui tới cửa hang chàng nghẹn ngào nói:

– Tiểu Hồng yên tâm, thế nào Đào đại ca cũng nhớ lời của hiền muội. Các nhân vật Nam Nhạc, Bắc Nhạc, Trung Nhạc đều là bạn, còn người của phái Tây Nhạc với Thế Ngoại Bát Hung đều là những kẻ khốn nạn. Đối với bạn, Nguyên Đào thể nào cũng rất khách sáo, đối với bọn khốn nạn, thế nào cũng giết chúng sạch sành sanh mới thôi.

Nói tới dó chàng ngẫm nghĩ giây lát, rồi nghẹn ngào nói tiếp:

– Tiểu Hồng, Đào đại ca này không quên đâu, hãy nhớ kỹ ba cái tên Lệnh Hồ Sở Sở, Nghiêm Mộ Quang, Nhiếp Tiểu Thanh ở trong lòng. Nếu gặp ba người ấy thế nào Đào dại ca cũng nghe lời họ, họ bảo lên núi dao hay xuống vạc dầu, Nguyên Đào này cũng không từ chối.

Nối xong chàng không sao cầm lòng được, liền khóc sướt mướt như mưa, rồi mới lui ra khỏi hang động, kiếm mấy tảng đá bịt lấy cửa hang để khỏi bị rắn rết đột nhập làm hư di thể của Tiểu Hồng đi. Chàng bịt kín cửa hang xong rú lên một tiếng để cho đỡ đau lòng và để gợi thêm lửa thù, rồi như một con hổ điên quay trở lại Bàn Long Giáp định giết chết Thiên Trạch với Cửu Uyên trả thù cho người yêu.

Nhưng Nguyên Đào đã tới chậm một bước, Cửu Uyên với Thiên Trạch đã rời khỏi Bàn Long Giáp rồi.

Thì ra Cửu Uyên biết Thiên Trạch đã dùng thuốc độc giết hại ngầm Tiểu Hồng, đoán chắc Tiểu Hồng cũng chết và Nguyên Đào thế nào cũng quay trở lại trả thù. Đồng thời y còn phải đi kiếm các vật liệu để chế Tỷ Quang Tử Châu, một võ khí lợi hại để chuyên đối phó với Nguyên Đào. Cho nên y với Thiên Trạch rời khỏi Bàn Long Giáp ngay.

Cửu Uyên thấy mình phải đi đây đi đó để tìm kiếm các thứ tài liệu, nên không tiện đem theo Thiên Trạch, người đã bị phế mất hai chân như thế. Y liền dẫn Thiên Trạch vào một nơi biệt phủ ở cách Bàn Long Giáp không xa, và vẽ đồ hình giao cho hai người thợ khéo, bảo chúng làm mọt đôi gậy gang rất tinh kỳ cho Thiên Trạch sử dụng.

Nguyên Đào tới Bàn Long Giáp, thất vọng vô cùng và tức giận chịu không nổi liền rú lên một tiếng, ra tay đánh hai tên thủ hạ gác cổng của Cửu Uyên tức thì, chỉ tấn công có một chưởng là hai tên nọ đã bị vỡ bụng lòi ruột ra chết tốt.

Chàng còn định vào Bàn Long Giáp giết chết hết những người trong đó, nhưng lần này chàng thấy hai tên hung đồ bị chết một cách thảm khốc như thế, và nghĩ tới lời khuyên bảo của Tiểu Hồng đừng có thị tài ba mà giết chết bừa bãi. Nên rốt cuộc chàng cố dùng ý chí nén lửa giận xuống.

Tuy chàng không giết người nữa nhưng vẫn cảm thấy chưa nguôi cơn giận, chàng vội ra tay phá phách, thấy nhà phá nhà, thấy cây bẻ cây, phá cho Bàn Long Giáp không còn một vật gì lành lặn tồn tại cả.

Thảm khốc nhất là Tu Ni Động Thiên với Toàn Cơ Bình mà Cửu Uyên đã tốn công cả một đời người mới gây dựng nên, cũng bị chàng phá tan tành hết.

Phá phách Bàn Long Giáp xong, mới nguôi được phần nào cơn giận Nguyên Đào đi khắp chân trời góc bể để tìm kiếm Thiên Trạch với Cửu Uyên hai người.

Bây giờ hãy nói Huyết Hà U Cốc ở trong núi A Nhĩ Kim Sơn, nơi đây chỉ trừ lần trước quần hùng đến tìm kiếm Huyết Thần Kinh đã náo nhiệt một phen ra, còn thì không một người nào lui tới cả. Nhưng lúc này trong đó đang có hai người, một người mà đã vắng mặt quý vị khá lâu rồi, người đó là Ngọc Địch Kim Cung Thần Kiếm Thủ Nghiêm Mộ Quang, còn một người nữa chính là sư phụ của chàng Lãnh Trúc Tiên Sinh Trà Nhất Minh.

Ngẫu nhiên di du ngoạn Kỳ Liên, Nhất Minh đã cứu được Mộ Quang thoát khỏi lưới tình vô biên của Tố Mai, ông ta khiển trách đồ đệ cưng một phen, và bắt phải cắt đứt mối tình ấy để chuyên tâm nghiên cứu “Đảng Ma Thần Âm” với “Nhất Nguyên Thần Kiếm” thần công trấn phái của phái Bắc Nhạc.

“Đảng Ma Thần Âm” với “Nhất Nguyên Thần Kiếm” là hai môn võ học thượng thừa ghi ở trên một tảng đá tại đỉnh núi tuyệt cao của Bắc Nhạc, nếu khổ công nghiên cứu thành công, có thể so tài cao thấp với bất cứ một cao thủ nào của đương thời.

Mãi gần đây Lãnh Trúc tiên sinh mới tìm kiếm thấy, vì vậy ông ta mới vội rời khỏi Bắc Nhạc để đi tìm đồ đệ cưng để truyền thụ.

Điều thứ nhất Nghiêm Mộ Quang không biết chuyện Lệnh Hồ Sở Sở nói đã lấy Gia Cát Lang là cố ý chọc tức mình, nên về mặt tình cảm chàng đã bị kích thích thực lớn.

Thứ hai chàng nhận thấy mình sa ngã vào bể dục với Tố Mai như vậy thực không nên không phải.

Thứ ba chàng cảm thấy sư phụ đối với mình thực là ân sâu như bể cả, nên chàng đã quỳ xuống trước mặt Nhất Minh thề nặng, quyết tâm tuyệt tình nhi nữ, ngày đêm sẽ khổ luyện “Đảng Ma Thần Âm” với “Nhất Nguyên Thần Kiếm” để đến khi đại hội Bạch Long Đôi sẽ làm rạng rỡ oai danh cho phái Bắc Nhạc.

Nhất Minh thấy đồ đệ cưng của mình có chí hướng như vậy, trong lòng rất mừng rỡ, nhưng sợ Tố Mai tìm kiếm tới, Mộ Quang lại bị quấy nhiễu, nên mới viết tên Mộ Quang vào một tấm bia đặt ở trước ngôi mộ của La Tĩnh Thạch mà bị ông ta giết chết để cho Tố Mai có tình kiếm thấy sẽ không còn hy vọng gì mà đi khắp mọi nơi để tìm kiếm Mộ Quang nữa.

Ngờ đâu Tú Mai chưa tìm kiếm tới, thì Tiểu Thanh với Tiểu Hồng đã tới nơi trước. Nhất Minh dùng lời nói và mưu định đã gạt được Tiểu Hồng với Tiểu Thanh, nhưng biết Lệnh Hồ Sở Sở thế nào cũng sẽ tới, nên ông ta vội quay trở về chỗ hang động mà Mộ Quang đã ẩn núp với lời lẽ nghiêm nghị nói:

– Quang nhi, hồng phấn ma kiếp lại giáng lâm, đã có người tới Lãnh Trúc Bình tìm kiếm con đấy.

Mộ Quang mặt đỏ bừng ấp úng hỏi:
– Sư phụ... người nào... tới thế? Có phải... U Minh Quỷ Nữ Âm Tố Mai đấy không?

Nhất Minh biết Mộ Quang rất ăn năn vì việc đã dây dưa với Âm Tố Mai, nên mới cố ý không nói sự thực mà gật đầu đáp:

– Phải, nàng ta đã tới tìm kiếm con đấy.

Mộ Quang nghiên răng mím môi nói:

– Sư phụ, đời này con quyết không gặp lại nàng ta nữa, sao sư phụ... lại không đem nàng ta đi đến ngôi mộ giả để cho nàng hết hy vọng?

Nhất Minh lắc đầu đáp:

– Tố Mai là người rất thông minh, ngôi mộ giả ấy chỉ có thế tạm lừa dối y thị được thôi.

Mộ Quang cau mày lại hỏi tiếp:

– Sư phụ có diệu kế gì không?

Nhất Minh nhìn thẳng vào mặt đồ đệ cưng trầm giọng hỏi:

– Con có thể quyết tâm trước khi luyện thành tuyệt nghệ để làm rạng rỡ cho Bắc Nhạc mà tuyệt đối không nghĩ đến tình nhi nữ đấy không?

Mộ Quang ứa lệ ra vâng lời:

– Sao sư phụ vẫn còn nghi ngờ Quang nhi như thế? Quang nhi chả đã thề nặng rồi là gì...

Nhất Minh vội ngắt lời Mộ Quang mà gật đầu nói tiếp:

– Quý hồ Quang nhi quyết tâm là được rồi, vậy chúng ta phải rời khỏi Bắc Nhạc, đi tới một chỗ thực vắng vẻ, khiến bất cứ ai cũng không sao tìm kiếm tới được.

Thế rồi hai thầy trò thu xếp và nhặt nhạnh những đồ cần dùng xong, liền lẳng lặng rời khỏi Bắc Nhạc.

Trước khi lên đường, Nhất Minh thấy đồ đệ cưng của mình ngoan ngoãn như thế, trong lòng rất cao hứng, liền mỉm cười hỏi:

– Mấy năm gần đây con đã đi khắp Đông, Tây, Nam, Bắc chả hay con biết chỗ nào vắng người lui tới nhất không?

Ngẫm nghĩ hồi lâu, Mộ Quang nhanh nhẩu đáp:

– Con nhận thấy chỉ có Huyết Hà U Cốc là nơi có ít người lui tới nhất, bây giờ Huyết Thần Kinh đã xuất hiện, không còn ai chú ý tới nơi đó nữa, nên con nhận thấy nơi ấy quả thực là một chỗ tập luyện rất lý tưởng.

Nhất Minh gật đầu nói tiếp:

– Phải, Huyết Hà U Cốc lý tưởng làm. Vậy bây giờ chúng ta đi tới đó, con ở đấy phải luyện tập “Đảng Ma Thần Âm” với “Nhất Nguyên Thần Kiếm” cho có hỏa hầu tương đương rồi ra mặt đi dự đại hội Bạch Long Đôi.

Mộ Quang gượng cười đáp:

– Con nhận thấy luyện tập hai môn tuyệt kỹ ấy phải có nội công rất thâm hậu, chân khí rất mạnh thì mới hy vọng luyện tới mức thượng thừa được. Nếu muốn có được chân lực mạnh như thế, nội công thâm hậu như vậy, chỉ e Tết Thanh Minh sang năm không kịp luyện thành công hai pho tuyệt nghệ ấy đâu.

Nhất Minh mỉm cười đỡ lời:

– Con cứ yên tâm mà luyện tập đi, muốn cho con trở nên người vô địch để làm rạng rỡ cửa ngõ Bắc Nhạc, sư phụ đã có cách xếp đặt cho con rồi, quý hồ con khổ tâm nhất chí luyện tập là xong.

Thế rồi hai thầy trò liền ra đi khỏi Ngọc Môn Quan tới Huyết Hà U Cốc để khổ luyện tuyệt nghệ.

Ngoài việc đốc thúc Mộ Quang luyện tập tuyệt nghệ ra, hàng ngày cứ đến hai giờ Tý, Ngọ, Nhất Minh còn dùng Thuần Dương Chân Khí của mình cách thể truyền công để đả thông toàn thân kinh mạch của đồ đệ cưng một lượt. Nhờ vậy, sự luyện tập của Mộ Quang càng tiến bộ rất nhanh chóng, Lãnh Trúc tiên sinh càng ngày càng yếu ớt gầy còm.

Mộ Quang thấy ân sư của mình như có bệnh, đã hỏi han mấy lần mà Nhất Minh chỉ cười chứ không nói năng gì, sau cùng chỉ trả lời rằng, ông ta đã có linh đơn cứu chữa rồi.

Linh đơn đó là một hồ lồ thuốc viên mầu đỏ, ngày nào cũng vậy, cứ đến giờ Tý, Ngọ, trước khi ông ta cách thể truyền công dồn nội lực sang cho Mộ Quang, thì lại uống một viên, thuốc ấy thực thần diệu, uống xong một lúc, là ông ta tinh thần vô cùng, nhưng hành công xong, thì lại uể oải ngay.

Mộ Quang rất lấy làm lo âu, nhưng không sao trái được lệnh của sư phụ mình..

Thì ra Lãnh Trúc tiên sinh trong lúc tĩnh tọa hành công, mới thấy trong người mình có bệnh kín không thể nào chữa khỏi được, gắng lắm cũng chỉ sống được hơn một năm là cùng. Từ khi ông ta phát giác sự bí mật ấy rồi, nên mới chế luyện một hồ lô thuốc đó để làm cho lâm thời tinh thần được phấn chấn, vì vậy thuốc ấy có thể nói là thuốc độc chứ không phải là thuốc bổ.

Nhưng ông ta đã quyết định chết sớm nửa năm, để hàng ngày dồn công lực của mình sang cho đồ đệ cưng, để đồ đệ cưng chóng thành công hai pho tuyệt nghệ ấy.

Mộ Quang có biết đâu ân sư của mình khổ tâm để mong mình thành công như vậy, lại cứ tưởng mình chăm chỉ học tập, nên mới tiến bộ nhanh chóng đến thế.

Ở trong u cốc khổ luyện tuyệt nghệ, thời giờ đi nhanh như bay, không bao lâu hồ lô thuốc đỏ của Lãnh Trúc tiên sinh chỉ còn lại sáu viên, lúc này ông ta đã kiệt hết tinh huyết, sắp chết đến nơi.

Nói tóm lại, chỉ còn sáu viên thuốc đơn độc, có thể uống ba lần Tý, Ngọ, nghĩa là ba ngày sau ông ta vĩnh biệt đồ đệ cưng rồi.

Ngày hôm đó, Nhất Minh chờ Mộ Quang hành công xong, ngó nhìn vào hồ lô chỉ còn có sáu viên đơn độc, liền gượng cười nói với Mộ Quang rằng:

– Quang nhi, con có thể hoành hành trong giang hồ đã gây được biệt hiệu Ngọc Địch Kim Cung Thần Kiếm Thủ cũng không phải là chuyện dễ, sau này con phải làm rạng rỡ cho phái Bắc Nhạc thêm mới được.

Mộ Quang nghe lời nói của sư phụ, hình như có ý vĩnh biệt mình, vừa gật đầu vừa ngơ ngác nhìn lại sư phụ.

Nhất Minh mỉm cười hỏi tiếp:

– Quang nhi, cái cung vàng của con đâu?

Mộ Quang hổ thẹn đỏ mặt tía tai, cúi đầu bẽn lẽn đáp:

– Cái cung vàng đã để ở chỗ Âm Tố Mai ngày đó, vội vàng theo ân sư đi ngay nên không kịp đem theo Nhất Minh mỉm cười nói tiếp:

– Con ra lấy cái túi hành trang của sư phụ lại đây Mộ Quang vâng lời, ra đem cái túi hành trang của Nhất Minh vào. Nhất Minh mở cái túi, lấy ra một cái cung bằng Âm Trầm Trúc, bên ngoài sơn vàng và cột bằng sợi dây giao long với bẩy mũi tên dị hình đen nhánh ra.

Nhất Minh lấy cây cung ra, hai mắt lộ vẻ hiền từ nhìn Mộ Quang mỉm cười nói tiếp:

– Từ khi sư phụ phát hiện ra hai pho tuyệt nghệ của tiền bối tôn sư để lại ở trên tuyệt đỉnh của Bắc Nhạc, mới biết phái Bắc Nhạc chỉ có hai thầy trò chúng ta thôi, nhưng nếu luyện thành hai môn tuyệt học này, thì cũng đủ vô địch thiên hạ, làm rạng rỡ cho phái Bắc Nhạc rồi.

Mộ Quang thấy sư phụ mình không những có vẻ cao hứng, mặt còn lộ vẻ bóng bẩy, nên chàng nghĩ bụng:

“Bất cứ cao nhân của võ lâm nào cũng không thể tránh khỏi được lòng háo danh, sự thực luyện tập tuyệt học, mục đích là để cứu nhân độ thế, với làm cho khỏe mạnh để sống lâu, quý hồ phù trì nổi chính khí của võ lâm là được rồi. Hà tất cứ phải trở nên vô địch của võ lâm, khiến thanh oai của bổn phái đè đầu phái khác như thế”?

Mộ Quang vì tình cảm bị kích thích, nên ngày đêm khổ công luyện tập tuyệt học, vì thế mà bụng dạ của chàng lại khoáng đạt hơn sư phụ, nhưng chàng vẫn không nhẫn tâm làm giảm mất hứng thú của ân sư, mà chỉ cung kính lắng tai nghe thôi.

Nhất Minh nói tiếp:

– Nay sư phụ đã già, không thể nào khổ luyện võ công nữa, huống hồ dù có thành tựu cũng như ngọn nến ở trước gió chả sáng sủa được bao lâu. Vì vậy vừa tìm kiếm thấy kỳ báu, đã vội đi khắp nơi tìm kiếm con về núi để truyền thụ ngay.

Nghe thấy sư phụ nói tới đó, Mộ Quang rất cảm động đến ứa nước mắt ra.

Nhất Minh đưa mắt nhìn đồ đệ cưng một cái rồi mỉm cười nói tiếp:

– Không ngờ khi đi qua Trung Điều, dưới ánh sáng trăng, sư phụ ngẫu nhiên trông thấy ngôi mộ cổ, ở trong ngôi mộ ấy lại tìm ra được cây cung báu này với bẩy mũi Xạ Dương thần tiễn, bất cứ vật rắn đến đâu, nó cũng có thể bắn thủng được.

Mộ Quang là người sở trường về cung tên, thấy sư phụ nói như thế liền đỡ lấy cây bảo cung ngắm nhìn.

Nhất Minh lại nói tiếp:

– Con thử kéo cây bảo cung này, xem nó có chừng bao nhiêu kình lực?

Mộ Quang vội kéo thử hai cái rồi thất kinh đáp:

– Không ngờ cây cung này lại cứng rắn như thế, phải dùng tới ba nghìn cân sức mới kéo tròn được. Nếu gần đây con không được ân sư chỉ điểm cho, công lực tiến bộ rất nhanh, thì có lẽ con không thể nào kéo nổi nó.

Nhất Minh thấy thế nở nụ cười an ủi, đưa một mũi Xạ Dương Thần Tiễn cho chàng và nói tiếp:

– Quang nhi, con thử dùng mũi tên thần này bắn vào cây thông ở chỗ cách đây ba mươi trượng xem sao?

Mộ Quang vâng lời, đỡ lấy thần tiễn, vận hết sức ra ngắm cành thông bắn luôn.

Chương 30: Sinh ly tử biệt

Sau một tiếng kêu “Vu”, mũi thần tiễn đã hóa thành một làn ánh sáng đen, rời khỏi cây cung nhanh như điện chớp, không những đã bắn gãy được cành cây thông và mũi tên còn cắm sâu vào trong vách đá già nửa.

Cách ba mươi trượng, mũi tên lại mạnh đến như vậy khiến Mộ Quang kinh ngạc đến ngẩn người ra, nhìn cây bảo cung với vẻ không nỡ buông tay.

Nhất Minh chờ Mộ Quang lấy lại mũi tên thần, liền mỉm cười nói tiếp:

– Quang nhi, vì sư phụ kiếm thấy bảo cung thần tiễn, mới vội đi núi Kỳ Liên bắt con phải dời khỏi nơi đó ngay, từ giờ trở đi con khỏi cần xử dụng cây cung vàng thường để khỏi bị Âm Tố Mai bắt bớ nữa.

Thấy sư phụ nói như thế, Mộ Quang hớn hở vô cùng, ôm lấy cây bảo cung như người mới tìm kiếm thấy vật báu vậy. Nhất Minh thấy thế vừa cười vừa nói tiếp:

– Con có biết tại sao đến giờ sư phụ mới tặng cho con bộ cung tên quý báu này không?

Mộ Quang cảm động ứa nước mắt ra đáp:

– Có lẽ ân sư quá thương con, sợ con được bảo cung thần tiễn có thể mừng rỡ quá mà làm giảm mất sự chăm chú luyện tập hai môn tuyệt nghệ kia đi.

Nhất Minh vừa cười vừa gật đầu đáp:

– Đây là dụng ý của sư phụ, nhưng Huyết Hà U Cốc con khổ luyện từ đó đến nay, tuy đã luyện thành công pho Nhất Nguyên Thần Kiếm rồi, còn Đảng Ma Thần Âm thì con mới có chín thành hỏa hầu thôi, sư phụ vẫn chưa được hài lòng.

Mộ Quang gượng cười hỏi:

– Có phải ân sư hiềm môn Đảng Ma Thần Âm con chưa luyện tập đến nơi đến chốn đấy không? Nhưng...

Nhất Minh xua tay lia lịa, lắc đầu mỉm cười nói tiếp:

– Tuyệt học cao thâm như thế, trong một thời gian ngắn, mà con đã luyện tập được chín thành hỏa hầu như vậy, đã là đáng khen rồi, khi nào sư phụ lại trách mắng con một cách hồ đồ như thế nữa. Sở dĩ sư phụ bảo chưa hài lòng, vì điểm con chưa làm đúng mức đấy thôi.

Mộ Quang không hiểu sư phụ nói như thế là có ý nghĩa gì, rất ngạc nhiên.

Nhất Minh thấy thế vừa cười vừa hỏi lại:

– Có phải con không hiểu ý nghĩa lời nói của sư phụ đấy không?

Mộ Quang gật đầu bẽn lẽn đáp:

– Con ngu xuẩn không hiểu được gì hết, xin ân sư chỉ giáo cho.

Nhất Minh mỉm cười hỏi tiếp:

– Quang nhi, trong các nhân vật võ lâm đương thời, ai đã tặng cho con ngoại hiệu ấy.

Mộ Quang hổ thẹn đến mặt đỏ bừng:

bẽn lẽn đáp:

– Ngọc Địch Kim Cung Thần Kiếm Thủ.

Nhất Minh nhanh nhầu cười và hỏi tiếp:

– Ngoại hiệu ấy oai vệ lắm, sư phụ rất hài lòng, bây giờ con đã có cái cung Âm Trầm Trúc, bẩy mũi tên Xạ Dương Thần Tiễn, con có thể phù hợp với hai chữ Kim Cung rồi, con lại học được pho Nhất Nguyên Thần Kiếm có thể xứng dáng với hai chữ Thần Kiếm rồi. Duy còn hai chữ Ngọc Địch thì con chưa học được pho tuyệt nghệ đó, như vậy chả là không phù hợp với với biệt hiệu của con là gì?

Mộ Quang ngẫm nghĩ giây lát, mới trả lời rằng:

– Quang nhi có một người bạn gái tên là Lệnh Hồ Sở Sở đã tặng cho con một cây sáo ngọc với truyền thụ một pho Hàn Tương Bát Thức kể cũng khá tinh diệu.

Nhất Minh giả bộ giận dữ đỡ lời:

– Sư phụ muốn con còn giỏi hơn Lệnh Hồ Sở Sở, sao con được nàng ta truyền thụ cho một pho địch pháp như thế đã cảm thấy hài lòng lắm rồi? Huống hồ sư phụ đã thấy con biểu diễn pho Hàn Tương Bát Thức rồi, tuy khá tinh diệu thực, nhưng tất cả chỉ có tám thức thôi, vẫn chưa đủ so tài cùng các cao thủ võ lâm.

Mộ Quang sực nghĩ ra một kế, mỉm cười hỏi:

– Có phải ân sư muốn truyền thụ cho con một pho Ngọc Địch khác đấy không?

Nhất Minh lắc đầu thở dài nói:

– Sư phụ không kịp...

Ông ta vừa nói tới đó, thấy Mộ Quang biến sắc mặt, sợ đồ đệ cưng đau lòng, nên ông ta vội đổi giọng nói:

– Sư phụ không có thế địch cao minh gì để truyền thụ cho con, chỉ muốn con hóa Đảng Ma Thần Âm vào trong tiếng địch, không phải vận khí đơn điền rú lên, mà chỉ dùng sáo ngọc thổi, như vậy con mới xứng đáng với biệt hiệu Ngọc Địch Kim Cung Thần Kiếm Thủ.

Mộ Quang cả mừng, vừa cười vừa đỡ lời:

– Ân sư nghĩ ra như vậy thực là cao diệu, con sẽ khổ công luyện tập, dồn pho Đảng Ma Thần Âm vào trong sáo ngọc.

Nhất Minh nhìn thẳng vào mặt Mộ Quang nói tiếp:

– Quang nhi, sư phụ muốn con phải hoàn thành trong một thời gian hạn định.

Mộ Quang mỉm cười hỏi:

– Ân sư cho Quang nhi một thời hạn bao lâu? Có phải cho đến trước ngày đại hội Bạch Long Đôi đấy không?

Nhất Minh lắc đầu đáp:

– Sao lại lâu như thế? Sư phụ hạn cho con trong ba ngày phải hoàn thành.

Mộ Quang rất ngạc nhiên thất kinh hỏi:

– Tại sao ân sư lại hạn định cho Quang nhi một thời gian quá ngắn ngủi như thế? Đảng Ma Thần Âm có phải là một nội gia chân khí thường là tùy theo ý muốn của mình để sử dụng vào sáo như thế đâu?

Nhất Minh cười khẩy đỡ lời:

– Hạn định cho con trong ba ngày, quyết không gia hạn, con phải mau mau luyện tập đi. Đây là sự đòi hỏi cuối cùng của sư phụ, con thể nào cũng phải gắng hết sức luyện cho kỳ được.

Mộ Quang nghe sư phụ ra lệnh như thế, đang định hỏi tiếp, thì Nhất Minh đã vào trong thạch động đóng ngay cửa hang lại và nói vọng ra rằng:

– Nếu trong ba ngày mà con luyện thành công, thì đến đây dùng tiếng sáo gọi cửa. Bằng không, còn đừng có hòng gặp lại sư phụ nữa.

Mộ Quang thấy ân sư có thái độ lạnh lùng và cương quyết như vậy, hoảng sợ đến toát mồ hôi lạnh ra, và cũng thắc mắc khôn tả, nhưng bắt buộc chàng phải dẹp những ý niệm ấy sang một bên, để nghiên cứu Đảng Ma Thần Âm đưa vào trong âm vận của cây sáo ngọc.

Nhất Minh nhìn qua khe cửa, thấy đồ đệ cưng của mình quả đã nghe lời dặn bảo khổ công luyện tập, nên lộ nụ cười an ủi, mở cái túi da lấy ba thứ ở trong ra.

Đó là một cây Tuyết Sâm đã thành hình, một lọ thuốc nước với một lá thư ngoài bìa đề:

“Phải tới ngày đại hội Bạch Long Đôi mới được mở xem”.

Vì muốn Mộ Quang chuyên tâm về võ học để làm rạng rỡ cho môn phái, Trà Nhất Minh đã tốn rất nhiều khổ tâm. Ba vật vừa lấy ra đó, vật nào cũng có tác dụng rất lớn và đã chuẩn bị từ lâu rồi.

Thành hình Tuyết Sâm là ông ta kiếm thấy ở trên tuyệt đỉnh của núi Đại Tuyết trong khi đi tìm kiếm Mộ Quang, uống nó có thể trường thọ tăng cường chân lực, ông ta không nỡ uống, mà đặc biệt để dành cho Mộ Quang khi luyện thần công, đích tay ông ta cho đồ đệ uống, trước khi chết, như vậy bất cứ Mộ Quang luyện pho thần công nào, được uống cây Tuyết Sâm ấy đều có lợi ích rất lớn.

Còn lọ thuốc nước dùng để cải trang, ông ta muốn lúc sắp chết đích tay bôi vào mặt đồ đệ cưng để xem Lệnh Hồ Sở Sở với Âm Tố Mai xem có còn đoái hoài tới Ngọc Địch Kim Cung Thần Kiếm Thủ mặt xanh như chàm và đầy thẹo nữa hay không? Sở dĩ ông ta muốn làm như thế là để đồ đệ cưng của mình khỏi bị tình nhi nữ ràng buộc, lỡ hết sự nghiệp anh hùng đi.

Nhất Minh nghĩ rất chu đáo, tự biết hàng ngày cứ cách thể truyền công như vậy, tinh lực của mình sẽ bị khô héo hết, chỗ thuốc uống để cho tinh thần phấn chấn, còn lại sáu viên, vừa đủ duy trì có ba ngày. Ba ngày sau ông ta sẽ chết, chứ ông ta không muốn để cho đồ đệ cưng đích mắt trông thấy cái chết thảm khốc của mình, hoặc hay tin dữ, thể nào cũng quá đau lòng mà tiêu tán hết hùng tâm. Ông ta biết Mộ Quang là người rất hiếu thảo, chưa biết chừng khi biết rõ mình vì y mà hi sinh tánh mạng như thế này, thế nào y cũng sẽ chết theo mình cũng nên.

Vì những lẽ đó, ông ta mới nghĩ cách đuổi Mộ Quang đi, để mình yên tĩnh và lẳng lặng chết.

Lá thư mật đó, bên trong nói rõ hết nguyên nhân và đơn thuốc độc đáo để rửa mặt cho hết xấu xí, và còn cho Mộ Quang biết là không phải mình cố tình lập dị hay quái đản, không cho đồ đệ được dây dưa đến tình nhi nữ, quý hồ Sở Sở hay Tố Mai mà thấy Mộ Quang rất xấu xí mà vẫn còn có lòng yêu, thì tình yêu ấy mới chân thật, và người đó mới có thể lấy làm vợ được. Ông ta còn dặn Mộ Quang phải đưa vợ vào con đường chính, để phát dương oai danh của phái Bắc Nhạc, phù trì chính khí võ lâm.

Nhất Minh còn biết khi Mộ Quang gõ cửa xin vào yết kiến, thì lúc ấy mình đã hấp hối sắp chết, nên lúc này ông ta rất cẩn thận xếp đặt mọi việc, thấy không còn chút sai lầm nào rồi mới an nhàn để đợi chờ đồ đệ cưng tới gõ cửa.

Một ngày một đêm đã qua, ngoài động và trong động đều yên tĩnh như thường.

Ngày hôm thứ hai cũng vẫn bình tĩnh như thế. Như đến tối hôm đó ngoài động có tiếng sấm rầm rộ, núi non rung chuyển, và thỉnh thoảng lại còn có các thứ tiếng kỳ dị khác nổi lên nữa.

Những tiếng động đó không làm cho Lãnh Trúc tiên sinh sắp chết đến nơi ngồi ở trong động kinh hoảng, trái lại, còn làm cho ông ta an tâm và vui lòng là khác.

Vì ông ta đã nghe ra những tiếng kêu và tiếng động đó là đồ đệ cưng cửa mình đã khổ công nghiên cứu, dồn Đảng Ma Thần Âm vào trong cây sáo để thổi ra.

Nửa đêm trước, chỉ nghe những tiếng sấm gió làm rung chuyển cả mặt đất, nhưng tới nửa đêm sau thì tiếng sáo dịu hẳn và nghe rất êm dịu.

Nhất Minh nghe thấy tiếng sáo thay đổi như vậy, lại càng mừng rỡ thêm, vì biết đồ đệ cưng của mình quả thật là nhân vật hiếm có trong võ lâm, chỉ nghe tiếng sáo này cũng đủ thấy sự tiến bộ của đồ đệ mình trong hai ngày đêm bằng người ta khổ luyện ba năm là ít.

Sáng sớm thứ ba, Mộ Quang hớn hở đến gõ cửa và kêu gọi rằng:

– Ân sư, Quang nhi xin vào yết kiến!

Nhất Minh mỉm cười đáp:

– Quang nhi cứ việc vào đây, cửa bỏ ngỏ đấy.

Mộ Quang vội đẩy cửa động hớn hở bước vào, chàng đang vui vẻ tươi cười, nhưng khi vừa vào tới trong động, thì mặt lộ vẻ kinh ngạc khôn tả. Vì mới. hai ngày hai đêm, chàng thấy Lãnh Trúc tiên sinh đã biến đổi hẳn, trông rất tiều tụy, như vậy chàng không động lòng thương ứa nước mắt ra sao được? Chàng vội tiến lên, với giọng run run hỏi:

– Ân sư, tại sao... lại thế này?

Nhất Minh mỉm cười đáp:

– Quang nhi cứ yên tâm, sư phụ chỉ thấy tâm thần mệt mỏi, cần phải nghỉ ngơi một thời gian khá lâu đấy thôi.

Mộ Quang khóc ra tiếng, nước mắt nhỏ ròng xuống như mưa và nói tiếp:

– Ôn đức của ân sư đối với Quang nhi thật là trời cao đất hậu. Quang nhi không biết lấy gì đền bù ơn đức này...

Không đợi chờ cho Mộ Quang nói xong, Nhất Minh đã mỉm cười đỡ lời:

– Nếu Quang nhi muốn đền ơn cho sư phụ không khó, chỉ cần sự luyện tập của con có thu hoạch và có kết quả rất tốt đẹp là sư phụ hài lòng rồi.

Mộ Quang hiểu ý nghĩa lời nói của ân sư mình, vội gượng cười đáp:

– Con không phụ mệnh lệnh của ân sư, đã có thể thổi sáo mà dồn ra được Đảng Ma Thần Âm rồi.

Nhất Minh chỉ xuống mặt đá, mỉm cười nói:

– Được, con thử thổi cho sư phụ xem, sư phụ muốn chọn thổi khúc “Trường sinh hành”, lợi dụng vô hình oai lực của Đảng Ma Thần Âm, khiến mặt đá này nứt thành một cái huyệt đá rộng ba thước, dài sáu thước, sâu bốn thước.

Mộ Quang biết ngay ân sư bảo mình biểu diễn như thế là có ý muốn định đào một cái huyệt cho ân sư, nên chàng mỉm cười gật đầu, đưa ngang cây sáo lên miệng, từ từ thổi luôn.

Chàng thổi khúc “Trường sinh hành” thật là du dương uyển chuyển, nghe êm tai vô cùng, âm tiết nghe rất hòa điệu, khiến ai nghe được chỉ tưởng là một khúc sáo thường thôi, chớ không sao biết được bên trong lại vô hình cương khí của Đảng Ma Thần Âm hóa thành, bất cứ vật cứng rắn đến đâu cũng có thể xuyên thủng được hết.

Chỗ mặt đá mà Nhất Minh chỉ vẫn như thường, không hể suy suyển chút nào.

Mộ Quang vùa thổi xong khúc ấy, liền đeo cây sáo ngọc bên người, mặt lộ vẻ đắc ý, vái chào Nhất Minh, vừa cười vừa nói:

– Thưa sư phụ, Quang nhi đã làm đúng như lời sư phụ dạy bảo. Xin sư phụ thử xem đá ở bên trong cái hố đó đã biến thành bột chưa?

Lúc ấy khí huyết sắp kiệt, Nhất Minh còn vận sao nổi chân khí để đẩy bột đá bay đi được, nên ông ta chỉ mỉm cười, gật đầu đáp:

– Sư phụ tin sự thành tựu của con, chả cần phải xem xét nữa. Con lại đây, con không những hoàn thành được tâm nguyện của sư phụ, mà lại còn thành công sớm hơn nửa ngày mà sư phụ đã chỉ định, thật đáng khen lắm.

Nói xong, ông ta đưa cây Tuyết Sâm thành hình cho Mộ Quang, mỉm cười nói tiếp:

– Con mau nuốt cây Tuyết Sâm này đi. Đây là di vật mà sư phụ ban thưởng cho con đây.

Mộ Quang biết Tuyết Sâm có thể làm cho người ta sống lâu và tăng thêm chân lực, nên chàng lại đưa trả cây Tuyết Sâm cho Nhất Minh với giọng nghẹn ngào đáp:
– Con không dám nhận món quà hậu hĩ này, muốn tạo cho con nên người sư phụ đã tốn nhiều tâm huyết, người rất tiều tụy, vậy xin ân sư nên dùng cây Tuyết Sâm này để lấy lại sức khỏe.

Nhất Minh sầm nét mặt lại, lạnh lùng nói tiếp:

– Quang nhi, con đã đọc sách thánh hiền, thì con phải biết thuận tức là con người hiếu đạo. Nếu con không nghe lời sư phụ thì con là nghịch đồ, sư phụ đuổi con ra khỏi môn phái Bắc Nhạc ngay.

Mộ Quang thấy sư phụ quát bảo một cách nghiêm nghị như vậy, đành phải cúi đầu xuống, ứa nước mắt ra, đưa cây Tuyết Sâm vào mồm nhai từng miếng và nuốt luôn.

Nhất Minh thấy Mộ Quang đã ăn xong cây Tuyết Sâm tỏ vẻ rất an ủi liền vẫy tay gọi:

– Quang nhi, con lại đây!

Mộ Quang quỳ ngay xuống, đi bằng đầu gối bò tới cạnh Nhất Minh.

Lãnh Trúc tiên sinh lấy lọ thuốc nước ra, đưa lên cho Mộ Quang xem, mỉm cười hỏi:

– Con thử đoán xem đây là lọ thuốc gì?

Mộ Quang không suy nghĩ gì hết, nghẹn ngào đáp:

– Chắc lại là vật báu gì mà sư phụ đã tìm kiếm ra được, muốn giúp con được thành tài thêm.

Nhất Minh lắc đầu đáp:

– Con đoán sai rồi, vật này không có bổ ích cho con, trái lại còn có hại cho con là khác.

Mộ Quang nghe nói rất ngạc nhiên, trợn đôi mắt lên nhìn Nhất Minh.

Lãnh Trúc tiên sinh đưa tay chỉ lọ thuốc, lạnh lùng nói tiếp:

– Lọ thuốc này bôi lên trên mặt sẽ khiến mặt mũi của con rất xấu xí và khó mà khôi phục lại được bộ mặt đẹp như trước.

Mộ Quang nghe nói lại hết sức kinh ngạc, ứa lệ mỉm cười gật đầu đáp:

– Quang nhi hiểu rõ thâm ý của ân sư, xin ân sư hạ thủ để cho đệ tử được toại nguyện.

Trà Nhất Minh thấy đệ tử của mình ngoan ngoãn như một con cừu non, đành phải hi sinh bộ mặt đẹp trai như vậy để chịu lòng mình, nên ông ta rất mủi lòng với giọng nghẹn ngào lại hỏi rằng:

– Có thực... con đã hiểu rõ ý định... của sư phụ, hay là... có thực con chịu để sư phụ phá hủy bộ mặt đẹp trai ấy không?

Mộ Quang cung kính đáp:

– Nếu ân sư không nỡ ra tay thì để Quang nhi tự bôi thuốc vào mặt vậy.

Nhất Minh thở dài một tiếng, gật đầu nghiến răng nói tiếp:

– Được lắm, Quang nhi, con có can đảm anh hùng như vậy, thực không hổ thẹn là đồ đệ cưng của Trà Nhất Minh này. Con... ngửng... mặt lên.

Mộ Quang không sợ hãi chút nào, ngửng mặt lên ngay và vẻ mặt rất tươi tỉnh.

Nhất Minh xé một mảnh vải vo tròn nhúng vào trong lọ thuốc nước, rồi bôi lên mặt Mộ Quang.

Nhưng thuốc chưa bôi vào mặt Mộ Quang, Nhất Minh không sao cầm lòng được, hai hàng lệ đã nhỏ ròng xuống, nhưng vẫn nghiến răng quát lớn:

– Quang nhi, con nhắm mắt lại. Bằng không... sư phụ... không sao hạ thủ được!

Mộ Quang trông thấy mặt của ân sư như thế mà chàng vẫn tươi cười, ngoan ngoãn nhắm nghiền mắt lại.

Nhất Minh gắng can đảm bôi thuốc vào má bên trái của Mộ Quang, đã có tiếng kêu “sèo” rất khẽ, Mộ Quang cảm thấy má bên trái nóng như bị phỏng. Thế là nơi đó đã có một vết sẹo thâm tím.

Nhất Minh nghiến răng bôi tiếp hết cả má bên trái của Mộ Quang, khiến nửa bộ mặt của chàng đã biến thành xấu xí ngay.

Mộ Quang vẫn ngồi yên, mặt vẫn tươi cười như thường, nhưng Nhất Minh đã nhận xét thấy trong cái cười của đô đệ mình có chút quái dị, nên ông ta càng mủi lòng thêm, thất thanh kêu gọi:

– Quang nhi!

Mộ Quang hơi hé to đôi mắt ra, mỉm cười hỏi:

– Ân sư muốn...

Với giọng run run, Nhất Minh hỏi tiếp:

– Quang nhi, nếu... sư phụ làm lầm một việc... con có hận sư phụ không?

Mộ Quang lắc đầu, mỉm cười và an ủi Nhất Minh rằng:

– Ân sư đừng đau lòng như thế. Quang nhi biết việc làm này của ân sư là vì thương con quá nỗi, có ý làm như thế để cho con đỡ bị tình cảm ràng buộc, như vậy mới nhất tâm hướng đạo được, cho nên con chưa biết nghĩ ra được cách gì để đền ơn sư phụ, thì có khi nào con lại oán hận ân sư cơ chứ?

Mộ Quang càng trả lời như thế. Nhất Minh càng mủi lòng rầu rĩ thêm. Ông ta nhìn má bên phải rất đẹp trai của chàng một hồi, lại nhìn má bên trái rất xấu xí, thất thanh thở dài một tiếng, rồi ném luôn lọ thuốc xuống đất vỡ tan tành.

Mộ Quang đang nhắm mắt đợi chờ ân sư tiếp tục ra tay bôi thuốc vào mặt mình, thì bỗng nghe thấy “Choang” một tiếng. Chàng vội mở mắt ra nhìn, thấy lọ thuốc đã bị vỡ, mảnh vỡ rải rác trên mặt đất và thuốc nước màu đen tím cũng bắn tung tóe.

Không đợi chờ Mộ Quang lên tiếng hỏi, Nhất Minh gượng cười nói tiếp:

– Quang nhi, việc làm này của sư phụ lầm hay không lầm? Có lẽ bây giờ con không sao hiểu được. Con mau nhặt nhạnh hành lý, rời khỏi nơi đây, tái nhập giang hồ, để sư phụ ở lại đây một mình suy nghĩ đã.

Mộ Quang nghe nói, ứa nước mắt ra, lắc đầu nói:

– Quang nhi không nỡ rời khỏi ân sư đi đâu cả.

Nhất Minh mỉm cười, chỉ bộ mặt tiều tụy của mình mà nói với Mộ Quang tiếp:

– Ngồi gần đây, sư phụ đã giở toàn lực ra để gây dựng cho con, sư phụ quên cả bổn thân, nên mặt mũi mới tiều tụy như thế này. Bây giờ con đã thành tài, tuy chưa dám nói là vô địch thiên hạ, nhưng không đến nỗi để người ta lên Hằng Sơn mắng chửi Trà Nhất Minh này là hồ đồ nữa. Như vậy con còn chưa hài lòng hay sao? Không để cho sư phụ được yên ổn tự lo liệu cho mình hay sao?

Lời lẽ của ông ta quá nặng nề, khiến Mộ Quang nghe thấy cũng phải giật mình đến thót một cái, và run lẩy bẩy cúi đầu xuống, không dám nói năng gì hết.

Nhất Minh thấy thế thở dài một tiếng, giơ tay ra vỗ vai Mộ Quang, mỉm cười nói tiếp:

– Quang nhi, không phải là sư phụ có ý là muốn đuổi con đi ngay đâu. Vì có con ở cạnh, sư phụ không sao tự lo liệu cho mình được chưa biết chừng sư phụ tiều tụy mà chết mất..

Mộ Quang nghe thấy Nhất Minh nói như thế, vội gạt lệ, gượng cười đáp:

– Ân sư đã nói như vậy, Mộ Quang xin vâng lời tái xuất giang hồ, để ân sư được an tâm tĩnh dưỡng.

Nhất Minh vừa cười vừa nói tiếp:

– Thế mới phải chứ. Quý hồ con ngoan ngoãn nghe lời sư phụ, thì sư phụ không còn ân hận gì cả.

Mộ Quang mỉm cười đáp:
– Tốt hơn hết xin ân sư cứ yên tâm mà tĩnh dưỡng, đừng có rời khỏi nơi đây, chờ con đi đại hội Bạch Long Đôi xong, thế nào cũng đến đây để đón rước ân sư về Bắc Nhạc.

Nhất Minh thấy đồ đệ không biết mình sắp chết đến nơi, lại càng mủi lòng thêm, nhưng ông ta không dám để lộ ra ngoài mặt, nên vẫn mỉm cười nói tiếp:

– Quang nhi cứ yên tâm, không bao giờ sư phụ rời khỏi nơi đây dâu. Con đi dự đại hội Bạch Long Đôi xong, thì quay trở lại đây đón sư phụ.

Nói xong, ông ta móc túi lấy lá thư mật ra, bảo Mộ Quang cất giữ cẩn thận và dặn chàng khi đại hội Bạch Long Đôi kết thúc rồi, mới được mở lá thư mật này ra coi.

Mộ Quang vâng lời, cất lá thư vào trong túi áo trong. Vì thấy sư phụ có vẻ quá mệt mỏi, chàng muốn sư phụ được yên nghỉ, nên vội nhặt nhạnh hành lý, cung kính vái lạy Nhất Minh rồi cáo lui ngay.

Nhất Minh gượng đứng dậy tiễn đồ đệ mình đi ra ngoài cứa hang. Mộ Quang cũng gượng làm ra vẻ vui tươi, quỳ xuống vái lạy ân sư, rồi mới quay người đi, nhưng chàng vừa quay người đi, nước mắt đã nhỏ ròng xuống. Chàng nghiến răng mím môi giở khinh công tuyệt đỉnh ra đi luôn.

Nhất Minh đứng ở cửa hang nhìn theo cho tới khi khuất bóng đồ đệ rồi ông ta mới ứa hai hàng lệ ra và từ từ vào trong hang. Trước khi trở vào, ông ta còn nhìn lại cảnh sắc ở ngoài cửa hang một lượt, tự biết mình đã hết hy vọng sống còn, nên ông ta mỉm cười rồi mới đi vào trong hang, đóng cửa hang lại, và dẫn nước ở trên vách cho từ từ chảy xuống mặt đất chỗ Mộ Quang đã dùng Đảng Ma Thần Âm làm saün mộ huyệt cho mình.

Chờ tới những bột đá ướt hết, ông ta mới ngắt nguồn nước ở chỗ vách, không cho chảy nữa, rồi mỉm cười, nằm ngửa người lên giữa chỗ bột đá đã ướt ấy, rồi nhắm nghiền hai mắt lại, tắt thở ngay.

Tất nhiên bột đá đã ướt, không sao chịu nổi sức nặng của xác người, di thể của ông ta cứ thế mà từ từ lún xuống. Khi người ông ta lún xuống dưới đáy hồ, thì những bọt đá bị dồn lên trên, tự động khép lại. Thế là Bắc Nhạc đại hiệp đã vĩnh viễn biệt trần gian, nằm ngủ một giấc nghìn năm ở trong thạch quách kỳ dị và đặc biệt ấy.

Nhất Minh đã chết, lại nói đến chuyện Mộ Quang. Chàng ra khỏi u cốc, đầu óc lúc nào cũng nghĩ đến ân sư, nên vừa đi nước mắt vừa lã chã nhỏ xuống. Khi chàng đi tới trước một cái đầm, chàng liền ngừng chân ngồi xuống để ngắm nhìn lại bộ mặt. Chàng thấy trên mặt nước đã hiện bộ mặt quái dị của mình lên, một nửa bên trái rất xấu xí, một nửa bên phải rất đẹp trai. Chàng vừa tức cười vừa mủi lòng và nghĩ bụng:

“Sao ân sư lại không hủy hết bộ mặt của mình đi, để lại nửa đẹp nửa xấu như thế này, lại càng làm cho mình bứt rứt thêm”.

Thở dài một tiếng, chàng mới nghĩ tới không biết bây giờ nên đi đâu, vì đại hội Bạnh Long Đôi còn cách bốn tháng rưỡi nữa mới tới, tất nhiên lúc này chả cần phải tới đó vội, nhưng biết đi đâu bây giờ? Và cần nhất đừng có lỡ ngày hội mới được.

Chàng lại nghĩ ân sư hủy bộ mặt của mình, e như thế là để mình đừng nghĩ tới ái tình mà quên hết sự nghiệp. Vậy mình cần phải lánh mặt mấy vị hồng nhan tri kỷ mới được.

Đã có ý định ấy rồi, Mộ Quang đi lững thững ở cạnh cái đầm, nhưng vẫn chưa nghĩ ra được, nên đi về phía Đông Tây hay là phía Nam Bắc?

Trong lúc trù trừ khó giải quyết, thì chàng thấy trên bờ đầm có một người xuất hiện. Người này là một vị công tử mặc áo lông điêu, trông rất phong lưu tao nhã Chàng ta ở phía Đông Nam, tức miền hạ du của Huyết Hà, lững thững đi lên, vừa đi vừa xem cảnh sắc hùng vĩ của núi A Nhĩ Kim này. Mộ Quang đã đoán biết thiếu niên công tử đó tuy trông gầy gò yếu ớt, nhưng chắc thế nào cũng có tài ba phi phàm. Vì không có võ học cao minh thì không ai dám đi du hành một mình ở nơi băng tuyết này.

Thiếu niên công tử nọ ngẫu nhiên trông thấy Mộ Quang nửa mặt đẹp, nửa mặt xấu xí, đã vội vái chào, mỉm cười nói:

– Nhân huynh một mình đi du ngoạn núi tuyết như thế này kể cũng có nhã hứng lắm, nhất là sau lưng áo đeo cái cung vàng ắt phải là một cao thủ xạ điêu của miền Tây Vực này?

Mộ Quang nhận thấy thiếu niên này tuy lạ mặt, nhưng ngôn ngữ cử chỉ thì hình như mình đã quen biết. Đồng thời, chàng thấy đối phương lễ phép như thế và còn khen cây cung của mình, vội cởi cây cung báu xuống quay người lại, chắp tay đáp lễ, vừa cười vừa trả lời:

– Huynh đài sành mắt lắm, cây cung này của tiểu đệ không đến nỗi thường tục, còn huynh đài khen đệ là cao thủ xạ điêu thì đệ không dám vì từ khi tiểu đệ được cây cung này tới giờ, chưa hề thử thách qua, không biết liệu có thể bắn nổi những con chim điêu của Tây Vực này hay không?

Mộ Quang quay người lại, nửa mặt trái trông rất xấu xí khiến thiếu niên nọ cũng phải thất kinh, kêu “Ủa” một tiếng, lui ngay về phía sau hai bước.

Mộ Quang biết đối phương đã thất kinh vì thấy bộ mặt xấu xí của mình đã bị phá hủy bởi chất kỳ độc, không có thuốc gì cứu chữa nổi.

Thiếu niên nọ hơi định tâm thần, chắp tay vừa vái chào lần nữa vừa cười vừa hỏi:

– Nhân huynh quý tánh danh là gì? Một bên mặt bị chất độc gì phá hủy thế?

Mộ Quang tái xuất giang hồ kỳ này là nhất tâm giương cái danh của phái Bắc Nhạc, tất nhiên chàng phải giữ nguyên tên họ, nên chàng mỉm cười đáp:

– Tiểu đệ là Nghiêm Mộ Quang, vết sẹo trên mặt là bị một thứ thuốc độc vô danh bắn phải. Cám ơn huynh đài đã có lòng hỏi thăm như thế. Chưa thỉnh giáo danh hiệu của huynh đài là gì?

Thiếu niên nọ mỉm cười, nhanh nhẩu đáp:

– Tiểu đệ là Hồng Phối Nguyên, Nghiêm huynh có phải là Ngọc Địch Kim Cung Thần Kiếm Thủ đại hiệp của phái Bắc Nhạc đấy không?

Mộ Quang kêu “Ủa” một tiếng, ngạc nhiên hỏi tiếp:

– Sao Hồng huynh lại biết biệt hiệu của tiểu đệ với tôn phái như vậy?

Phối Nguyên cười ha hả đáp:

– Đừng sợ đường đời không có bạn. Thiên hạ ai mà chả biết huynh? Đừng nói tên tuổi của Nghiêm huynh đã lừng lẫy khắp giang hồ từ lâu, mà cả hai hồng phấn tri kỷ cũng có tên tuổi oai trấn bát hoang tứ hải nốt.

Mộ Quang nghe nói càng kinh hãi thêm, nhìn thẳng vào mặt Phối Nguyên, cau mày lại tiếp:

– Sao Hồng huynh lại nói như thế? Nghiêm mỗ làm gì có hồng phấn tri âm nào?

Phối Nguyên mỉm cười đỡ lời:

– Phong lưu giai thoại của Nghiêm huynh đã lừng lẫy khắp giang hồ, huynh còn giấu diếm tiểu đệ làm chi? Âm Tố Mai với Lệnh Hồ Sở Sở, hai vị mỹ nhân có võ công tuyệt thế ấy chả có tình duyên với huynh rồi là gì?

Mộ Quang càng kinh hãi thêm, không hiểu tại sao Hồng Phối Nguyên này lại biết rõ chuyện của mình như thế, liền lắc đầu, thở dài đáp:

– Lời nói của Hồng huynh đã là chuyện quá khứ rồi. Tố Mai được liệt danh vào Thế Ngoại Bát Hung, chí hướng khác hẳn với đệ, như vậy làm sao mà ở với nhau lâu bền được? Còn Lệnh Hồ Sở Sở thì đã lấy chồng...

Phối Nguyên vội ngắt lời hỏi lại:

– Nghiêm huynh bảo Lệnh Hồ Sở Sở đã lấy ai?

Mặt lộ vẻ rầu rĩ một cách tự nhiên, Mộ Quang thủng thẳng đáp:

– Chồng của nàng tên là Gia Cát Lang, người bạn kết nghĩa của đệ.

Phối Nguyên nghe xong, lắc đầu cả cười. Mộ Quang ngạc nhiên hỏi:

– Sao Hồng huynh lại cười như thế chứ? Lời của đệ vừa nói là sự thật hoàn toàn, chứ không phải là tiểu đệ bịa đặt đâu.

Phối Nguyên mỉm cười hỏi tiếp:

– Nghiêm huynh có biết Âm Tố Mai với Lệnh Hồ Sở Sở hai vị giai nhân tuyệt vời đang đi khắp chân trời góc biển tìm kiếm huynh không?

Mộ Quang gượng cười đáp:

– Âm Tố Mai tìm kiếm tiểu đệ thì có lý, nhưng đệ đã sớm cắt đứt sợi tơ tình rồi, quyết không để cho nàng ta quấy nhiễu mình nữa. Còn Lệnh Hồ Sở Sở định tìm kiếm tiểu đệ làm chi? Mộ Quang chỉ mong nàng với Gia Cát hiền đệ được bách niên giai lão là đệ mừng rồi.

Phối Nguyên không sao nhịn được nữa, lại cười lên ha hả nói tiếp:

– Tiểu đệ có hai việc rất quan trọng muốn nói cho huynh nghe.

Mộ Quang gật đầu đáp:

– Xin huynh cứ nói. Mộ Quang tôi rất vui lòng được nghe hai việc ấy.

Phối Nguyên thở dài một tiếng, nói tiếp:

– Thế sự như bàn cờ, không đi nước nào mới là cao thủ, người ở trong cuộc bao giờ cũng u mê. Nghiêm huynh là người thông minh như thế, mà cho đến giờ phút này vẫn chưa hiểu rõ Lệnh Hồ Sở Sở tức là Gia Cát Lang hay sao?

Mới thấy Phối Nguyên nói như vậy, Mộ Quang dậm chân xuống đất một cái.

Chàng nghĩ lại những việc xưa, mới vỡ nhẽ và thở dài nói:

– Đệ... đệ ngu xuẩn thực, bây giờ được Hồng huynh nhắc nhở và hồi tưởng lại, đáng lẽ đệ phải biết Gia Cát Lang người đã kết nghĩa anh em và đi cùng với đệ hàng vạn dặm ấy chính là Lệnh Hồ Sở Sở đã có lòng đoái hoài đến đệ mới phải...

Nói tới đó, chàng bỗng tỏ vẻ kinh ngạc, đưa mắt nhìn Phối Nguyên và hỏi tiếp:

– Hồng huynh, Lệnh Hồ Sở Sở đã là Gia Cát Lang, tại sao lại còn bịa đặt lấy nhau như thế để đánh lừa đệ làm chi?

Phối Nguyên mỉm cười đáp:

– Lệnh Hồ cô nương thấy huynh rất si tình với Hứa Linh Sa và khi tới cái đồi cát, mới biết Hứa Linh Sa hãy còn sống, nên nàng không muốn đoạt người yêu của người khác, mà giả bộ tuyên bố lấy Gia Cát Lang để huynh yên tâm nhất chí yêu đương Hứa Linh Sa đấy.

Mộ Quang nghe nói cảm động đến ứa nước mắt ra lắc đầu thở dài nói tiếp:

– Bụng dạ của Lệnh Hồ Sở Sở quả thực vĩ đại thực, nhưng nàng có biết đâu Hứa Linh Sa đã có chồng con rồi.

Phối Nguyên gật đầu đỡ lời:

– Sau cô ta biết Hứa Linh Sa đã có chồng con rồi, lại sợ huynh bị đả kích nặng, nên đã đem theo hai nữ tỳ Thanh và Hồng đi khắp chân trời góc biển để tìm huynh hoài.

Mộ Quang cứ lắc đầu hoài, nhưng chàng bỗng sực nghĩ tới việc gì, lại nhìn Phối Nguyên ngơ ngác hỏi tiếp:

– Tình tiết éo le ấy, chỉ có người trong cuộc mới hay rõ như thế được? Còn huynh là người ngoài cuộc sao lại biết rõ đến như thế?

Phối Nguyên mỉm cười đáp:

– Tiểu đệ quen biết Nhiếp Tiểu Thanh cô nương, nên được cô ta kể cho hay câu chuyện ấy một cách rất tường tận.

Mộ Quang kêu “Ồ” một tiếng, rồi cúi đầu xuống không nói năng gì nữa, nhưng trong lông cảm thấy bứt rứt khôn tả:

Phối Nguyên thấy Mộ Quang như vậy, muốn làm cho chàng ta khỏi rầu rĩ, liền mỉm cười hỏi:

– Huynh có thể cho đệ mượn xem cây bảo cung ở trong tay của huynh không?

Mộ Quang liền đưa cây cung đó Cho Phối Nguyên xem.

Phối Nguyên đỡ lấy cây cưng xem qua loa một chút, bỗng thất kinh nói:

– Cây bảo cung của Nghiêm huynh quả thực phi phàm, hình như làm bằng Âm Thầm Trúc nghìn năm thì phải?

Mộ Quang rất kính phục đối phương, vì thấy đối phương vừa xem đã nhận ngay ra được lai lịch như vậy, chàng liền gật đầu mỉm cười đáp:

– Mắt của Hồng huynh sành lắm, cây cung này quả thực làm bằng Âm Trầm Trúc nghìn năm đấy. Tiếc thay thần cung hơi cứng rắn một chút.

Phối Nguyên nhanh nhẩu cười và hỏi tiếp:

– Nghiêm huynh có cho phép tiểu đệ thử kéo bảo cung của huynh để xem cây cung này cứng rắn như thế nào không?

Mộ Quang cũng muốn nhân dịp này thử xem võ công của người bạn mới quen biết này cao siêu tới mức độ nào, cho nên chàng gật đầu mỉm cười đáp:

– Được, Hồng huynh cứ việc thử đi, nhưng cung này to khác hơn cung thường, nếu mà không cẩn thận sẽ dễ bị sái gân tay lắm đấy.

Phối Nguyên chỉ dùng giọng mũi khẽ “Hừ” một tiếng, rồi vận hết công lực ra, chàng tự tin thể nào cũng kéo nổi cây cung này nên mới có vẻ không phục như thế.

Mộ Quang cũng rất biết điều, không nói gì nữa, cứ lẳng lặng xem hai cánh tay của đối phương có thần công cái thế và có đủ ba nghìn cân sức không?

Tuy Phối Nguyên không phục lắm, nhưng cũng biết cây cung này không phải là cung thường, liền vận mười thành công lực lên để thử xem cây cung này cứng rắn đến mức độ nào. Ngờ dâu chàng vừa thử một cái thì mặt đã đỏ bừng ngay.

Thì ra Phối Nguyên đã vận đến mười một thành công lực lên rồi, mà cũng chỉ kéo ra được có hai tấc thôi. Người tuổi trẻ ai mà chả hiếu thắng, nên Phối Nguyên nghiến răng mím môi giở nốt một phần chân lực cuối cùng ra dồn vào hai cánh tay.

Dù chàng đã giở nốt một thành chân lực nữa ra cũng vô ích, vẫn chỉ kéo được cây cung ra có hai tấc thôi, và hai cánh tay của chàng đã run lẩy bẩy, hình như đã chịu đựng không nổi rồi.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau