HOA KÍNH

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước

Chương con truyện Hoa kính - Chương 6 - Chương 8

Chương 6: Kim hợp hoan

Cuối xuân chiều tàn.

Mưa bụi lây rây rắc xuống không gian yên ả.

Dưới mái hiên trong đình viện, một nữ tử trẻ tuổi mặc áo mỏng màu nguyệt bạch lặng lẽ ngồi trên chiếc ghế tử trúc nhìn màn mưa, cổ tay nàng lộ khỏi ống tay áo, lấp lánh một chiếc xuyến vàng, càng khiến người ta thương xót cánh tay gầy gò.

Mây vần tụ,

ngọc xuyên qua,

áo mong manh khoác hờ qua vai,

khẽ nhíu đôi mày ngài.

Gió thu lạnh,

mưa hắt hiu,

ngoài vườn lơ thơ vài khóm chuối,

đêm dài người tiếc nuối.

“Phu nhân, trời lạnh rồi, về phòng nghỉ thôi”. Nha hoàn khom người thì thầm khuyên.

Nữ tử không đáp, ánh mắt vẫn chìm vào màn mưa xa xăm, thần sắc lạnh lùng, thoạt nhìn ai nấy đều có cảm giác trang nghiêm cao quý nhưng nhìn thật kỹ sẽ thấy đôi đồng tử trống rỗng, không hề có ánh sáng.

Hình như đã quen với kiểu phản ứng của nàng, hoàng y nha hoàn ngước nhìn sắc trời sắp ngả tối, cúi xuống giở tấm áo choàng bằng tơ xanh đính ngọc, khoác lên mình chủ nhân.

Nữ tử bất động, mặc cho nha hoàn phục thị, vẻ mặt vẫn ngây ngô nhìn màn mưa mờ mịt.

Khu vườn này điển hình cho phong cách của một nhà phú quý, diện tích không lớn lắm nhưng cách bày biện hết sức tinh tế.

Cây cối thấp thoáng che đi một hòn giả sơn nho nhỏ. Đá núi được chuyển từ Hồ Châu về, hòn nào cũng thuộc hàng thượng phẩm, thủ pháp sắp xếp càng lộ rõ phong phạm đại hành gia. Giả sơn mọc đầy mộc liên, dây leo, điểm xuyết cỏ thơm, tỏa mùi hương thoang thoảng trong mưa. Ánh mắt nữ tử trẻ tuổi trống rỗng, chăm chắm nhìn một cây hoa phía sau giả sơn.

Cây hoa mềm mại tuy cao cả trượng nhưng cành lá đều mảnh mai, kỳ dị nhất là mọi phiến lá khép chặt lại, cành đan chặt vào nhau, phảng phất như mỹ nhân gặp phải mưa gió, theo ý thức ôm lấy bờ vai.

Đó là một cây Kim hợp hoan đang lúc nở hoa, màu đỏ màu trắng rực rỡ nhưng cành lá có phần vàng úa.

“Tử Đàn phu nhân, chúng ta về phòng nghỉ, được không? Tướng công mà quay về, thấy phu nhân ngồi hứng gió thế này, tỳ nữ khó thoát khỏi bị mắng”. Thấy nữ tử nhu thuận cho phép mình mặc y phục lên người, nha hoàn áo vàng Lan Nhi vừa khuyên vừa đỡ tay vào sườn nữ tử, định đỡ chủ nhân dậy.

Nhưng nữ tử được gọi là Tử Đàn phu nhân vẫn không động đậy, tựa hồ không nghe thấy tỳ nữ đứng cạnh nói gì, ánh mắt hoang mang nhìn gốc Kim hợp hoan trong đình viện.

Mưa lớn dần, gốc cây vẫn đứng trong tĩnh lặng, mỗi khi có một trận gió lùa qua, vô vàn hạt mưa quất ràn rạt lên những phiến lá khô khô vàng cùng những đóa hoa tàn tạ. Hoa cũng kỳ dị, lớp tơ mượt như nhung trên cánh dựng lên tua tủa như những mũi kim màu đỏ trắng.

Từng đóa, từng đóa vô thanh vô tức rơi xuống đất trong cơn mưa gió bão bùng.

Kỳ quái là lúc cuối xuân đầu hạ này mà gốc cây lại bắt đầu trút lá... xem ra gốc hợp hoan hoa này không còn bao lâu nữa sẽ khô héo.

Gió quay cuồng, mây đen dày đặc đùn lên thinh không, bầu trời xẩm tối ảm đạm hẳn, bóng đêm buông xuống như đã khuya lắm. Lan Nhi thấy phu nhân bất động, liền thở dài bất lực, tiếp tục khuyên: “Phu nhân, mưa lớn lắm rồi, chúng ta vào nghỉ thôi”.

Ánh mắt Tử Đàn phu nhân trống không, không hề phản ứng, tựa hồ không nghe thấy gì.

“Phu nhân... vào nhà thôi. Chốc nữa Bạch Loa cô nương có lẽ sẽ mang phân bón hoa đến. A, thời tiết thay đổi nhanh quá, không biết Bạch cô nương có đến không nữa”. Lan Nhi thủ thỉ, đỡ tay vào sườn phu nhân, thân hình gầy gò của nữ tử được nàng ta nâng lên, nhẹ bẫng như một phiến lá.

Lan Nhi đỡ nàng đứng dậy, vẫn dịu dàng nói tiếp: “Chúng ta về phòng nghỉ ngơi, mưa gió lớn thế này, e rằng sẽ có sấm”.

Lời chưa dứt, xoẹt một tiếng, đất trời sáng chói, sấm chớp đan nhau nhì nhằng trên không.

Lan Nhi bất giác giật mình, định đỡ phu nhân về phòng nghỉ nhưng thò tay ra mới phát hiện Tử Đàn si si ngốc ngốc không ở cạnh mình, không biết từ lúc nào đã ra đứng dưới mái hiên, ngây ngô nhìn mưa nhỏ giọt xuống mặt sân, rồi tựa hồ có tri giác, chầm chậm ngẩng lên nhìn gốc Kim hợp hoan trong đình viện.

Ánh chớp sáng lòa nối nhau giáng xuống, như lưỡi dao rạch đôi màn đêm, mưa chợt đổ rào rào, tiếng nước quất xuống khỏa lấp mọi âm thanh. Dưới ánh chớp, thiên địa trắng xóa một màu, màn mưa dày mịt ngăn cách thị tuyến.

Nhưng trong sát na ánh chớp chiếu sáng, Lan Nhi kinh hoảng nhận ra vẻ mặt phu nhân bộc lộ biểu tình.

Ba năm rồi, vị phu nhân bị đại phu chẩn đoán mắc chứng thất tâm phong luôn si ngốc, không phản ứng với vạn vật bên ngoài, mà trong sát na vừa rồi, được ánh điện quang chiếu sáng, gương mặt ngây ngô chợt loáng qua thần sắc vô cùng đáng sợ.

Tấm áo choàng cơ hồ không gió mà tự động, rơi khỏi mình Tử Đàn phu nhân. Thấy gương mặt phu nhân méo mó, nỗi sợ vô hình bóp nghẹt trái tim cô bé nha hoàn, bất giác buột miệng hô lên.

“A! A a a a!” Nhưng nàng ta chưa kịp thốt thành tiếng, Tử Đàn phu nhân chợt ôm đầu rú lên, âm thanh chói lói, điên cuồng.

“Phu nhân! Phu nhân!” Lan Nhi vừa sợ vừa kinh hãi, trơ mắt nhìn phu nhân rú vang, ánh mắt sáng lên rợn người lao đầu vào cây cột hành lang. Nàng ta luống cuống, không biết nên xử trí thế nào, định chạy đến ôm phu nhân, nhưng trong lòng sợ hãi cùng cực.

Hôm nay, Vân thiếu gia cùng Trì Nghiên ra ngoài, chắc phải nửa đêm mới về, phu nhân đột nhiên phát bệnh, nàng ta không biết thương lượng với ai.

Mưa ràn rạt, gió rít nghẹn ngào, màn đêm chỉ còn lại màu nước trắng xóa, chớp liên tục giáng xuống khiến đất trời sáng chói. Trên nền đá lát sân, mưa chạm xuống văng tung tóe, bắn vào cả gốc Kim hợp hoan hoa tàn tạ.

Tử Đàn phu nhân rú vang, hòa cùng tiếng mưa, tiếng chớp, ôm đầu lao thẳng vào cây cột.

Lan Nhi bước tới một bước nhưng nhìn vào nhãn thần phu nhân, bất giác run lập cập, lùi liền ba bước.

* * * * *

“Cộc cộc, cộc cộc”. Giữa đêm mưa chợt vang lên tiếng gõ cửa.

“Ai... ai đấy?” Lan Nhi lạnh người, run giọng hỏi.

Tiếng gõ vang lên từ phía cửa ngách của đình viện, muộn thế này, lại đang lúc mưa to gió lớn còn ai đến nữa? Vân thiếu gia chắc chưa về, dù có về cũng không bao giờ đi cửa ngách, ai đang gõ cửa nhỉ?

“Cộc cộc, cộc cộc”. Tiếng gõ cửa lại vang lên thong thả. Giọng nói đồng thời cất lên: “Tôi đây, Bạch Loa. Lan Nhi cô nương phải không? Tôi mang hoa và phân bón đến”.

“Bạch cô nương...” Lan Nhi thở phào một hơi như gặp được cứu tinh, chạy nhanh ra cổng mở then: “Phu nhân, phu nhân hôm nay...”

Cô bé nha hoàn áo vàng quá đỗi hoảng hốt khiến bạch y nữ tử mới đến chú ý. Bạch Loa bước vào hàng hiên, gập chiếc ô cán làm bằng tương phi trúc lại, nước mưa nhỏ tong tỏng xuống nền, chảy ngoằn ngoèo như một con rắn nhỏ.

“Tử phu nhân sao rồi?” Vừa vào đến cửa, xen giữa tiếng sấm ì ùng, Bạch Loa nghe thấy tiếng thét chói tai nên buột miệng hỏi nha hoàn mở cửa, đoạn đặt đồ mang tới lên chiếc ghế, rảo bước đi vào.

“A! A a a! - -” Nữ tử căn bản không biết có người tới, tiếp tục hét vang, đập đầu vào cây cột khiến trán đẫm máu, ánh chớp hắt vào, tô thêm nét rùng rợn cho gương mặt nàng.

“Tử phu nhân, trấn tĩnh một chút”. Tử Đàn định đập đầu vào cột, bạch y nữ tử nhanh chóng chế trụ, dụng lực giữ chặt vai nàng, liếc nhìn gương mặt rồi quay lại nói với Lan Nhi: “Mau lấy rượu đến đây. Mau lên”.

Lan Nhi vội vàng gật đầu, cất chân chạy đi ngay.

Tử Đàn phu nhân dụng lực giãy giụa nhưng thân hình gầy gò không thoát khỏi cổ tay Bạch Loa, mắt vẫn chằm chằm nhìn màn mưa đêm, rú lên chói tai như phát cuồng.

“Bạch cô nương, tôi mang đến đây”. Lan Nhi từ hành lang tiến vào, tay cầm một vò rượu chưa mở niêm phong, “chỉ còn mỗi vò hùng hoàng tửu này, được không?”

Bạch Loa không đáp, đưa tay án vào vai Tử Đàn phu nhân ngăn không để nàng phát cuồng, trầm giọng quát: “Cho phu nhân uống đi. Mau lên”.

Lan Nhi hơi ngần ngừ nhưng vẫn làm theo.

Tử Đàn phu nhân nhìn màn mưa không chớp, vẫn không ngừng rít lên, ánh mắt trở nên điên loạn, Lan Nhi dốc rượu vào miệng nàng khiến tiếng kêu ngưng bặt, nàng ho sặc sụa, giãy giụa liên hồi cự tuyệt.

Bàn tay Bạch Loa cơ hồ mọc rễ, nắm chắc vai nàng, hợp lực với Lan Nhi, cuối cùng cũng khiến Tử Đàn phu nhân chịu uống, tuy nàng uống vào lại thổ ra nhưng tiếng kêu ghê rợn ngừng bặt.

Hùng hoàng tửu hiển nhiên đang phát huy công hiệu, sắc mặt Tử Đàn phu nhân đỏ lựng, nhãn thần mơ hồ nhưng không giãy giụa kịch liệt nữa mà nhìn ra ngoài trời với vẻ ngà ngà say.

“Tạ ơn trời...” Lúc đó Lan Nhi mới buông tay, “choang”, bình rượu trống không rơi xuống đất, vỡ thành mấy mảnh. Nàng ta ngồi thụp xuống ghế, nước mưa từ ngoài hắt vào làm ướt mái tóc, giọng nói nghèn nghẹn gần khóc: “Phu nhân điên rồi sao? Mấy năm nay phu nhân vẫn an an tĩnh tĩnh, hôm nay đã phát bệnh rồi sao? Trời ơi, phu nhân điên rồi, hoa nở, phu nhân liền phát điên”.

“Im ngay, cô muốn Tử phu nhân lại phát bệnh hả?” Trước khi nàng ta mất kiểm soát lời lẽ, Bạch Loa quát lớn ngăn lại. Lan Nhi cả kinh ngừng lời, hồi lâu sau mới run rẩy móc khăn tay ra lau vết máu trên trán Tử Đàn phu nhân, lý nhí hỏi: “Bạch cô nương, phu nhân, phu nhân thế nào rồi?”

“Thần chí sắp tan”. Bạch Loa đón lấy vuông khăn tay, thận trọng bỏ tay khỏi vai Tử Đàn, thấy nàng yên tĩnh lại mới nhẹ nhàng lau hộ, thấp giọng nói: “Người mắc thất tâm phong bị kích thích mạnh sẽ suy sụp như thế này, ban nãy phu nhân nhìn thấy gì?”

Lan Nhi lau mồ hôi lạnh trên trán, ngắc ngứ đáp: “Không có gì... không có gì hết. Phu nhân ngồi đây ngắm hoa cả trưa, cô nương cũng biết phu nhân thích như vậy mà, lúc nào cũng yên tĩnh, có lẽ.... đúng, ban nãy sấm chớp khiến phu nhân sợ chăng?”

Bạch Loa lặng lẽ nghe, vừa lau mặt cho Tử Đàn phu nhân vừa lắc đầu: “Ba năm nay, lẽ nào mỗi lần có sấm chớp, phu nhân đều như thế?”

Lan Nhi ngây người lắc đầu, tỏ vẻ nghi hoặc, toan nói rồi thôi.

Khăn tay của Bạch Loa khẽ lau qua mặt Tử Đàn, đột nhiên cảm giác bàn tay hơi động, phảng phất có dòng nước nóng tràn ra, nàng vội bỏ khăn tay ra, kinh ngạc phát hiện vị phu nhân trẻ tuổi đang khóc.

Gương mặt không còn trơ khấc, ngây ngô nhìn màn mưa, hai vai rung bần bật, khóc nấc lên. Bạch Loa và Lan Nhi thuận theo ánh mắt nàng, trong đình viện đen sẫm, ngoại trừ hoa cỏ đang lay lắt trong mưa, hoàn toàn không có gì dị thường. Mưa quất ràn rạt xuống nền sân lát đá, nước bắn tung tóe.

Bạch Loa quan sát với vẻ hồ nghi, lại cúi đầu dùng khăn tay lau máu cho Tử Đàn, chợt vị phu nhân trẻ tuổi động đậy, ôm chặt nàng, miệng lắp bắp.

“Sao rồi? Tử phu nhân, sao rồi?” Bạch Loa không đẩy ra mà dịu giọng hỏi rồi quay sang nói với Lan Nhi: “Mau đi tìm xem còn rượu không?” Lan Nhi tỏ vẻ ngần ngừ nhưng vẫn cất bước.

Thoáng sau, trong đình viện chỉ còn lại tiếng mưa gió rít gào cùng tiếng nữ tử khóc nức nở.

Bạch Loa nhìn vào đình viện, lá vàng xen lẫn những cánh hoa lả tả rơi trong mưa gió - hoa Kim hợp hoan đỏ rực. Ánh mắt nàng chợt sáng lên, dịu dàng cúi đầu vỗ về nữ bệnh nhân đang cơn suy sụp.

Một tia sét lướt qua, mục quang Tử Đàn phu nhân chăm chắm nhìn vào đình viện.

“Mưa... hợp hoan... máu”. Đột nhiên, Bạch Loa loáng thoáng nghe thấy nữ tử trong lòng ấp úng thốt lên, bất giác cả kinh cúi nhìn. Ánh mắt Tử Đàn phu nhân vẫn kinh hoảng, ôm chặt nàng, thân thể không ngừng run rẩy, ngón tay run lên chỉ vào màn mưa: “Máu, máu”.

Nàng liếc mắt nhìn theo Tử Đàn phu nhân, dòng nước chảy dưới sân cuốn trôi hợp hoan hoa và lá khô - làm gì có máu?

“Cứu, cứu tôi.. toàn là máu”. Bàn tay Tử Đàn phu nhân lập cập ôm nàng, gương mặt trắng nhợt ngập trong sợ hãi khôn tả, rồi ngẩng lên thẫn thờ: “Đều là máu”.

Không đợi Bạch Loa kịp quan sát cảnh tượng trước mắt, Lan Nhi vội vàng chạy tới: “Bạch cô nương, không còn rượu nữa, làm sao đây?” Chợt thấy Tử Đàn lẩm bẩm, ánh mắt cô nha hoàn hơi biến đổi, vội đỡ phu nhân dậy.

“Gió lớn quá, phu nhân cẩn thận không nhiễm lạnh”. Nàng ta vừa ân cần nói vừa nhặt tấm áo choàng rơi xuống đất lên.

Tử Đàn phu nhân giãy ra nhưng phảng phất bị nỗi sợ hãi vô hình trấn áp, lại chìm vào yên tĩnh, vẻ mặt ngây ngô, si si ngốc ngốc nhìn nước mưa từ giọt gianh nhỏ xuống.“A... thời tiết xấu quá! Không dám làm phiền Bạch cô nương nữa”. Lan Nhi đỡ chủ nhân ngồi lên ghế, hiển nhiên đã bình tĩnh lại, mỉm cười khách khí, ẩn ước có ý tiễn khách.

Bạch Loa nhìn cô nha hoàn, hiển nhiên hoàng y nha đầu này biết cách che giấu ánh mắt, vội cúi đầu, tránh ánh mắt sắc như dao cau của nàng.

“Vậy tôi xin cáo từ”. Tuy hơi nhỏm dậy nhưng nàng không có ý rời đi ngay, Lan Nhi ngây người, lập tức hiểu ý: “Ái chà, đợi một chút, tỳ tử sẽ đi lấy tiền trả cô nương”.

Nàng ta không mang ngân lượng, tựa hồ không yên lòng đi lấy, vừa cất bước vừa liên tục ngoái nhìn Tử Đàn phu nhân ngồi ngây người trên ghế.

Nàng ta vừa khuất bóng, Bạch Loa hạ giọng thật nhanh: “Tử phu nhân muốn nói gì? Mau nói đi”.

“Mưa... hợp hoan”. Ánh mắt Tử Đàn phu nhân chầm chậm ngưng tụ lại, tựa hồ vô cùng nỗ lực mới nói ra được mấy chữ, ngón tay mảnh mai chụp lấy vạt áo, suýt nữa xé rách toạc, ánh mắt phiêu hốt bất định, phảng phất không định thần được: “Cô, cô nương xem, hoa nở rồi”.

Bạch Loa kinh ngạc thuận theo ngón tay nàng ta, kỳ quái là nàng ta không chỉ vào gốc hoa nào mà chỉ lên màn mưa phơi phới trên không. Ngoại trừ từng bông hợp hoan hoa đỏ nhạt cùng lá khô rơi rụng, chỉ còn mưa trút ào ạt.

“Hoa nở rồi”. Tử Đàn phu nhân run giọng, thoảng qua nỗi sợ hãi mơ hồ: “Đều là máu, đều là máu. Cô nương...”

Bạch Loa hướng ánh nhìn sang dòng nước chảy từ giọt gianh xuống sân, bất giác thò tay đón lấy một cánh hoa đưa lên quan sát, định lên tiếng hỏi chợt thấy nhãn thần của Tử Đàn phu nhân xuyên qua vai nàng nhìn ra phía sau, thoáng sững sờ rồi trở lại trống rỗng như cũ.

Nàng không ngoái lại nhưng ánh mắt chợt sáng lên.

“Ôi... Tử nhi, ta về rồi đây”. Ngay lúc nàng nắm chặt bàn tay, phía sau đột nhiên có giọng nam tử trầm trầm vang lên: “Bạch cô nương, mưa to thế này cũng mang hoa tới, tại hạ áy náy quá”.

Ánh mắt Tử Đàn phu nhân mênh mang, phảng phất không nhìn thấy gì, trong sát na Bạch Loa đứng dậy, ngón tay bất giác thò ra thật nhanh, hất nhẹ tà áo choàng của nữ tử si ngốc, đồng tử sáng rực.

Nàng hít sâu một hơi, chầm chậm đứng dậy, quay lại hỏi: “Vân công tử khách sáo quá, Bạch Loa là người bán hoa sinh nhai, một chút mưa gió có đáng gì”.

“Ồ. Nữ tử kiếm sống bằng sức mình, quả thật cô nương là kỳ nữ tử”. Bạch y công tử bước vào hàng hiên, mỉm cười với nàng, sau lưng hắn là một thanh y thư đồng. Hiển nhiên cả hai mới quay về, tà áo ướt đẫm nước mưa.

Đó là chồng Tử Đàn phu nhân: công tử Vân Hoán Bạch nổi danh Lâm An, cũng là bậc lang quân tình nghĩa, mấy năm trước hắn bước chân vào Phương gia, nhạc phụ nhạc mẫu mất sớm, vợ lại mắc chứng thất tâm phong, đổi lại người khác chắc đã đi lấy vợ nữa nhưng hắn vẫn thương yêu thê tử, thậm chí chưa từng đến chốn lầu Tần quá Sở, xưa nay nghiêm cẩn giữ đạo làm chồng.

“Bạch cô nương, tiền hoa đây, xin lỗi để cô nương đợi lâu”. Lan Nhi từ trong phòng chạy ra, thấy công tử đã về, bất giác ngây người rồi cúi xuống chào: “Công tử”.

“Muộn rồi, Trì Nghiên, mi đưa Bạch cô nương về”. Vân Hoán Bạch không nhìn đến thị nữ, gật đầu dặn thư đồng, ánh mắt lóe lên. Thanh y đồng tử gật đầu, cầm đĩa lưu ly đăng đi trước dẫn đường.

Bạch Loa cất bước theo Trì Nghiên, trước lúc đi còn ngoái lại nhìn Tử Đàn phu nhân lần nữa.

Tà áo choàng tơ xanh khoác lên thân thể yêu kiều, Tử Đàn phu nhân chăm chú quan sát màn mưa, ánh mắt trống rỗng cùng cực.

“Hừ!” Đồng tử vừa đưa khách đi, vị công tử ôn nhã chợt vung tay, tặng cho Lan Nhi một bạt tai.

“Phế vật! Bảo ngươi trông nom phu nhân, sao lại để nàng một mình tiếp xúc người ngoài”. Một bạt tai cực mạnh của Vân Hoán Bạch khiến khóe miệng Lan Nhi rỉ máu, “cút ngay cho ta”.

“Công tử...” Lan Nhi loạng choạng ngã xuống cạnh Tử Đàn phu nhân, ánh mắt nàng vẫn thế, si si ngốc ngốc nhìn màn mưa. Lan Nhi tỏ vẻ oan ức, chỉ vào nàng nói: “Tối nay phu nhân, phu nhân đột nhiên phát cuồng! Nô tì không ngăn được”.

“Phát cuồng?” Vân Hoán Bạch ngẩn người nhìn gương mặt trơ khấc như điêu khắc từ bạch ngọc của thê tử, rồi thuận theo thị tuyến của nàng, nhận ra dưới sân rải đầy hoa, lá Kim hợp hoan đã úa vàng, chợt biến sắc.

“Hỏng rồi... chắc sấm sét đã đánh tan phong ấn”. Hắn lẩm nhẩm.

* * * * *

“Đợi chút, nhầm đường rồi”.

Ngọn lưu ly đăng chao chát, thanh y đồng tử nhanh nhẹn cầm đèn dẫn đường. Bạch Loa đang theo sát gót chợt dừng chân, lạnh lùng lên tiếng: “Đây không phải là đường về ngõ Thiên Thủy”.

Mưa ào ào che kín thị tuyến, ngoài ba thước đều nhòa nhạt không nhìn thấy gì ngoài một màu trắng xóa vây kín tứ bề. Bạch Loa đá mũi chân xuống đất, dưới đó hiện lên một phiến lá Kim hợp hoan vàng úa.

“Cậu định đưa tôi đi đâu? Chúng ta vẫn chưa ra khỏi cửa, đúng không?” nàng cười lạnh nhìn Trì Nghiên: “Cậu cắm cúi đi nhưng vây khốn tôi trong đình viện?”

Thanh y đồng tử quay phắt lại, ánh sáng hiu hắt từ ngọn lưu ly đăng chiếu lên khuôn mặt trẻ thơ chợt u ám hẳn, quỷ dị khó hình dung nổi: “Công tử bảo ta đưa tiểu thư... xuống suối vàng”.

Lời vừa dứt, thân hình Trì Nghiên mờ đi, tan vào mưa như làn khói, đĩa lưu ly đăng phảng phất được một bàn tay vô hình điều khiển, phiêu phiêu đãng đãng giữa không trung, vừa quỷ dị vừa thần bí.

“Yêu nghiệt!” Sắc mặt Bạch Loa lạnh lẽo, mím môi thu cây dù lại, điểm cán vào ngọn lưu ly đăng. “Chát”, lưu ly đăng vỡ tan, văng tung tóe.

“Hự”. Giọng Trì Nghiên khẽ vang lên đau đớn trên không nhưng không rõ từ chỗ nào: “Thiên niên bồ đề mộc! Ngươi, ngươi là ai?”

“Yêu nghiệt không biết tốt xấu, còn chưa lui cho mau”. Bạch Loa thu dù lại cười lạnh, phát hiện mưa hình như không rơi xuống, bị ngưng lại trên không, từng sợi chặn trước mặt nàng.

Giọng Trì Nghiên nhỏ dần, cơ hồ bị trọng thương, không thể lớn tiếng.

Sắc mặt nàng chợt đổi, một giọng nói từ tốn cất lên: “Xem ra Bạch cô nương là người nơi cõi tiên... hiếm có, hiếm có, lại giáng xuống phàm trần là sao?”

Vân Hoán Bạch!

Nghe câu nói này, gương mặt lạnh nhạt của Bạch Loa chợt chấn động, ngẩng lên quát hỏi: “Yêu nghiệt phương nào? Đã biết xuất thân của bản cô nương sao còn dám giở pháp thuật ra?”

“Ta đương nhiên dám...” Giọng Vân Hoán Bạch bình thản truyền tới, hơi hướm lạnh tanh: “Nếu ta đoán không sai, người xuống phàm trần tất năng lực thuật pháp yếu đi. Lại ở trong đình viện này, cô nương thoát thế nào được, chi bằng nằm lại luôn”.

Lời vừa dứt chợt những mảnh lưu ly vỡ chậm rãi từ dưới đất bay lên, lóe sáng kỳ dị, mỗi mảnh chiếu rọi một gương mặt thê thảm.

Tử linh... mỗi tia sáng đều mang theo một tử linh.

Bạch Loa rùng mình ớn lạnh lùi một bước, nhưng sau lưng bị ngăn lại, nước mưa bị ngưng kết hóa thành lao lung giam cầm nàng... loại thuật pháp âm độc quỷ dị nào đây?

Tử linh chậm rãi bay đến gần, vô số cánh tay chộp tới. Bạch Loa buột miệng hô lên kinh hãi, trong số những tử linh trơ khấc đang tấn công, nàng nhìn thấy gương mặt lạnh cứng của Tử Đàn phu nhân.

“Soạt”.
Đột nhiên, hào quang chói lòa như sao băng vạch ngang trời.

Vạch được nửa vòng tròn, bao nhiêu hạt mưa ngưng kết bị cắt đứt, tử linh gào rống tránh né.

“Loa nhi lui mau”. Hắc y nam tử vung kiếm bức lùi hung linh, đưa tay trái kéo nàng lùi lại sau lưng: “Đây là Trấn Hồn Thuật, tà pháp trấn hồn của Miêu Cương... lui mau”.

“Trạm Lô”. Bạch Loa kinh ngạc, buột miệng hô tên người bất ngờ xuất hiện.

Trạm Lô không đáp, điểm song chỉ ra, cây trường kiếm đen ngòm trong tay như giao long lao vào đêm mưa, giữa bóng tối mịt mùng chợt có tiếng thét thê thảm vang lên. Là giọng Vân Hoán Bạch.

Nhát kiếm rạch đôi màn đêm, đột nhiên, những hạt mưa ngưng kết lại rơi xuống.

Mưa đỏ như máu.

* * * * *

Hơi nước trắng xóa chung quanh chợt tan đi, quả nhiên là hòn giả sơn trồng đầy cây bụi trong đình viện. Bạch Loa phát hiện mình chưa ra khỏi khoảng sân, đang đứng xuất thần giữa vùng hoa cỏ.

“Loa nhi, muội dọa ta suýt chết”. Kiếm quang xoay vòng, tụ vào tay Trạm Lô, y thở dài: “Muội bị lấy đi tiên cốt rồi đẩy xuống nhân gian, tuy tu hành lại đã trăm năm nhưng pháp lực vẫn nông cạn, gặp phải tà quỷ lợi hại thế này... Cũng may Tuyết nhi thấy muội đi lâu không về, liền giục ta đến tìm”.

Y chưa dứt lời, tiếng ầm ầm vang lên, bóng đen nghiêng ngả, phảng phất có vật đổ xuống trong mưa.

Bạch Loa hơi kinh ngạc, ngẩng lên nhìn, hóa ra là gốc Kim hợp hoan vừa trúng một kiếm của Trạm Lô.

Cây đổ xuống, những đóa hoa màu đỏ trắng rơi như mưa, phất phới khắp không trung hóa thành máu.

Cơn mưa máu hình thành từ đây.

Vết chém trên thân cây cũng chảy máu không ngớt như vết thương của người, đáng sợ hơn là mặt đất dưới gốc cây phảng phất có vật đang quẫy lộn, tựa hồ muốn thoát ra...

“Tà quỷ muốn xông ra?” Trạm Lô không đợi vật dưới đất trồi lên, khẽ lật bàn tay ẩn trong ống tay áo, tấm gương trong lòng tay lóe sáng chiếu lên bộ rễ Kim hợp hoan, tay phải rút một mảnh giấy, vạch mấy dấu ấn lên mặt đất rồi đi vòng quanh gốc cây.

“Aaaaa...” Chợt trong tiếng mưa gió truyền lại tiếng hét kỳ dị.

Hợp hoan thụ bốc lên làn khói trắng, bóng người dật dờ giữa bóng khói, bị hào quang tấm gương chiếu vào liền từ từ biến mất trong mưa.

“A, hắn chết rồi?” Mưa vẫn rơi, Bạch Loa quay lại mái hiên, nhận ra thi thể đứt đầu của Vân Hoán Bạch, lồng ngực tan nát không hề chảy ra giọt máu nào.

“Thuật pháp dùng hợp hoan mộc nuôi quỷ bị phá, hắn đương nhiên sẽ tan biến”. Trạm Lô liếc nhìn thi thể, xoay tấm gương chiếu tới, thi thể từ từ tan rã như bị cường toan ăn mòn: “Hai tên tiểu đồng thị nữ tu hành kém hắn, bị ta chém trúng một kiếm đã tan biến cả thực hình”.

“Kỳ thật muội thấy lá hợp hoan thụ héo vàng trong tiết trời này đã biết là bất ổn...” Bạch Loa thở dài, lấy cánh hoa trong ống tay áo ra: “Bất quá, tu vi còn kém, mới không nhận ra là bị tà khí xuất thổ nhiễm vào”.

“Cũng do đương kim thế đạo suy đồi, từ khi triều đình về nam tin dùng nịnh thần, trung lương chi khí bị gian nịnh áp bức mới khiến tà quỷ trà trộn vào nhân thế”. Trạm Lô gật đầu, nhìn sợi tóc cuối cùng trên thi thể Vân Hoán Bạch tan biến: “Nếu là minh quân thời thịnh trị, chính khí lan khắp Cửu châu, làm sao có việc thế này”.

Bạch Loa quăng cánh hoa trong tay đi, quay nhìn Tử Đàn phu nhân ngồi tựa si ngốc vào hàng hiên, tình cảnh quỷ dị ban nãy không ảnh hưởng đến nàng, vẫn nhìn màn mưa như một cái xác không hồn.

“Tử Đàn phu nhân còn cứu được không?” Bạch Loa thở dài, hỏi Trạm Lô: “Tựa hồ nàng ta đã bị nhiếp hồn, ép xuống dưới gốc hoa?”

Trạm Lô bước tới, nhìn qua nữ tử si ngốc rồi ngừng bước, đứng thẳng lên vào đình viện mỉm cười: “Tựa hồ còn cứu được, hồn của nàng ta chưa bị diệt, chỉ không thể tiến vào thân xác”.

Y quay lại, dùng gương chiếu vào góc đình viện - ở đó có một nữ tử áo tím, mái tóc đen nhánh đáng đứng cúi đầu phía sau hòn giả sơn.

“Đúng rồi, ta quên mất rằng nàng ta không đến được, muội xem”. Bạch Loa cúi xuống mở tấm áo choàng ra, lẫn giữa màu trắng có một tiêu kí phù chú màu đen sẫm, phảng phất có ai dùng máu vẽ ra.

“Muội nghĩ chắc Phương gia lưỡng lão đều bị hại chết, biến thành tử linh nhập vào gốc hợp hoan thụ, loại cây này ban ngày cành lá xòa rộng, ban đêm khép chặt khiến họ không thoát được”. Bạch Loa nhìn phù chú khẽ thở dài: “Tử Đàn phu nhân tựa hồ sinh khí đầy đủ, Vân Hoán Bạch nhất thời sợ không áp chế được nàng ta mới dùng phù chú trấn áp. Sinh hồn của nàng ta không bị diệt, mới liều mạng cầu viện muội...”

Vừa nói nàng vừa gỡ tấm áo choàng của Tử Đàn phu nhân.

Áo rơi xuống, bên tai nàng thoáng có tiếng gió thổi, tròng mắt Tử Đàn phu nhân xoay chuyển, vừa thấy bạch y nữ tử liền run rẩy ôm lấy nàng: “Bạch cô nương... Bạch cô nương!”

“Đừng sợ, đừng sợ”. Bạch Loa thở dài, vỗ lên bờ vai gầy gò: “Không sao đâu, hắn không còn phiền được phu nhân nữa, đừng sợ”.

“Hắn chết rồi? Vân lang... tên yêu quái đó chết rồi sao?” Tử Đàn phu nhân nhợt nhạt mặt mày, rú vang rồi khóc nấc lên, nhưng không hiểu sao lại tỏ vẻ đau buồn.

Nàng lại run rẩy, hỏi liên tục hai ba lần, giọng đứt quãng: “Bạch cô nương có thấy không? Thấy không! Lan Nhi là khô lâu, cô nương không biết... đáng sợ thế nào đâu, một khô lâu cả ngày ở cạnh mình! Cha mẹ.. cha mẹ...” Mới hồi phục thần trí, nàng lại run lên lẩm bẩm, ôm chặt vai mình khóc nức nở: “Cha mẹ đều bị hắn hại chết. Tôi thấy hắn giết! Dưới gốc cây... dưới gốc cây... Toàn là máu... toàn là máu...”

Bạch Loa thở dài, xem ra để nàng ta bình tĩnh lại phải cần một chén hùng hoàng tửu.

“Đi thôi, không đi sẽ phiền lắm đó...” Thấy trong gian phòng phía trước tựa hồ có động tĩnh, Trạm Lô nhắc nhở: “Việc này không thể để lộ”.

“Được rồi, không biết lúc nào nàng ta mới định thần lại được?” Bạch Loa gỡ tay Tử Đàn phu nhân, thấy nữ tử đáng thương này đang trong trạng thái bán hôn mê, lại thở dài: “Quả đáng sợ, nhất là với một nữ tử, muội sợ lúc hồi hồn rồi, nàng ta lại hoảng sợ đến phát điên mất”.

* * * * *

Trong hiệu hoa ở ngõ Thiên Thủy, hoa lá sum sê, bạch anh vũ gục đầu đậu giữa bụi cây.

“Loa nhi, hình như nhiều năm tu hành rồi mà muội không tiến bộ chút nào”. Trạm Lô toàn thân mặc trang phục đen nhíu mày, quan sát bạch y nữ tử chăm sóc hoa: “Muội vẫn chưa đạt đến cảnh giới quên hết tình cảm, vì việc của Huyền Minh lần trước, chả lẽ muội còn chưa nếm đủ khổ ải?”

Bạch Loa ngẩng lên, mắt chạm vào thanh kiếm y đặt trên chiếc ghế trước cửa sổ. Thanh kiếm đen tuyền một màu, hoàn toàn không có tỳ vết.

Ngàn năm trước, đại sư đúc kiếm Âu Dã Tử luyện thành nó, thiên địa phong vân đều biến sắc, ông ta rơi lệ vuốt ve kiếm bởi mộng tưởng cả đời đã hoàn thành, đúc ra được cây kiếm sắc bén vô song, lại không có mảy may sát khí. Sau này, nó trở thành bội kiếm chí tôn đời đời lưu truyền khắp Cửu châu.

Suốt ngàn năm, cây kiếm lưu chuyển giữa cõi đời, kinh qua vô số bể dâu, ngưng tụ thành hồn phách bất diệt riêng.

“Trạm Lô, huynh là một cây kiếm... nếu muội được như huynh, tâm cũng là thượng cổ thần binh, có lẽ sẽ lạnh lùng như thép”. Bạch Loa cúi đầu xới hoa, chợt dừng tay, lắc đầu nhăn nhó: “Tiếc là hình như muội không làm thế được”.

Toàn thân Trạm Lô ánh lên màu đen thăm thẳm.

Y vốn là một con mắt đen thẫm trên cõi cao xanh, ngàn năm nay quan sát nhất cử nhất động của các quân vương, chư hầu. Quân hữu đạo, kiếm bên mình, nước sẽ hưng vượng. Quân vô đạo, kiếm bỏ đi, nước sẽ diệt vong.

Hiện giờ, nhà Tống của họ Triệu vương khí suy kiệt, không biết cách trị quốc, để gian nịnh hại trung lương. Trạm Lô bảo vệ vương triều nhiều năm hiện tại cũng muốn cất bước về nơi non tiên chăng?

Chợt nghe ngoài biển nơi không ảo,

Lơ lửng mơ hồ có núi tiên.

Cung điện chập chờn mây ngũ sắc.

Tiên nga tha thướt dạo trong đền.

(Trường Hận ca - Bạch Cư Dị)

(Bản dịch thơ Trịnh Nguyên)

“Mong huynh về bẩm báo sư phụ rằng Bạch Loa chắc sẽ vĩnh viễn ở lại hồng trần, không thể quay về Doanh Châu”. Bạch y nữ tử mỉm cười, nốt ruồi giọt lệ nơi khóe mắt toan rớt xuống: “Trăm hoa ở Bích Lạc cung... xin hãy mau chóng giao cho một ti hoa nữ [1] khác”.

Trạm Lô bước tới nhìn nàng chăm chú, bạch y hắc sam tương phản nhau, vô cùng bắt mắt.

“Sư phụ muội, Thanh Đế lão nhân gia luôn nhớ muội... không biết muội sống thế nào ở trần thế”. Y xòe tay, giữa lòng tay có một tấm gương nhỏ tỏa sáng lấp lánh, kỳ quái là bề mặt trống trơn, không phản chiếu bất kỳ hình ảnh nào. “Lão nhân gia bảo ta mang đến cho muội, người sợ muội không có nó sẽ bị thiệt thòi giữa chốn thế gian này”.

“Hoa Kính?” Bạch Loa cả kinh, nhận ra hoa văn trên tấm gương liền buột miệng hỏi.

Nàng đưa tay chạm vào tấm gương kỳ dị, mặt gương đồng phảng phất có tri giác, bay khỏi tay Trạm Lô, tự động đáp xuống tay nàng, hào quang lóe sáng, ánh xạ gương mặt người thiếu nữ.

“Muội xem, nó tìm được chủ cũ rồi”. Trạm Lô mỉm cười nhìn Bạch Loa cất tấm gương vào ống tay áo, hồi lâu mới thở dài: “Ta phải đi thôi, bụi hồng cuồn cuộn, trời xanh mênh mang, muội phải tự bảo trọng”.

* * * * *

Đêm mưa qua đi, ánh sáng lại tràn về, khắp hang cùng ngõ hẻm trong thành Lâm An lại xôn xao bàn tán, mưa bão đêm qua làm đổ một gốc hợp hoan thụ trong sân Phương gia, dưới gốc có hai bộ hài cốt, y phục còn chưa mục nát hết nên người ta nhận ra là hai vị lão chủ nhân chết từ năm năm trước.

Rõ ràng cả hai được chôn cất rình rang, vì sao thi thể lại nằm dưới gốc cây trong đình viện?

Người đến thu dọn xương cốt có đôi chút kinh nghiệm, thấy đầu xương có màu đen liền buột miệng: “Hỏng rồi, hình như chết vì cổ độc”.

Lời buông ra khiến tất cả xôn cao, thậm chí kinh động đến quan phủ tới tra hỏi nhưng lúc đó Phương Tử Đàn tiểu thư hoảng sợ đến mất trí, chỉ biết khóc lóc, thấy ai đến gần cũng tránh, không hỏi được gì.

Sau cùng, toàn bộ hiềm nghi được dồn hết vào con rể Phương gia Vân Hoán Bạch cùng mất tích trong đêm mưa. Nghĩ lại ai cũng thấy hắn có vấn đề, xưa nay không ai nắm được lai lịch, thân thế của thư sinh từ nơi khác đến nay. Nhiều năm nay hắn ở nhà, không mấy khi qua lại với người khác, hàng xóm đều cho rằng tính tình hắn không ưa náo nhiệt, nhưng vì sao lúc xảy ra chuyện lại không thấy hắn đâu? Nhất định đã bỏ chạy vì sợ tội.

Quan phủ yết bảng truy nã hắn nhưng cũng không tìm được tung tích.

Cả thành Lâm An xôn xao, nháo nhào suốt một thời gian dài.

Không ai chú ý rằng, gốc hợp hoan thụ bị gãy trong tiểu viện, giữa tiết trời mưa gió lại mọc ra một mầm cây mơn mởn.

------

Hợp hoan, cây như ngô đồng, cành rất mềm, lá giống quả hòe mọc dày khắp cành. Mỗi tối, cành đan lại, gặp gió thổi lại tách ra nên được gọi là dạ diệp hoặc hợp hôn. Hoa màu trắng đỏ, nở vào tháng năm, trên cánh có những sợi như tơ.

[1] người con gái coi sóc hoa.

Chương 7: Tử trúc

Tháng ba ở Lâm An, tiết trời ấm lên nhưng còn vương hơi lạnh. Đêm ngả khuya, trên đường lạnh lẽo, thi thoảng mới có phu canh đi qua hô vang, tiếng hô kéo dài vọng vào trong từng con ngõ: “Cẩn thận củi lửa”. Hô dứt một câu đã đi rất xa.

Trong một tòa phủ sân sâu lầu cao, màn là trướng lụa lặng lẽ rủ xuống chiếc giường bằng gỗ tử đàn. Hình như cửa sổ không khép chặt, gió lùa vào khiến mấy móc câu vàng treo trên đầu giường khẽ lay động.

“Ối! Ối!” Giữa đống gấm vóc, đột nhiên thò ra đôi tay xanh xao, cào loạn xạ trên không, tiếng xuyến vàng va nhau leng keng, hòa cùng tiếng thở đứt quãng: “Đừng lại gần, đừng lại gần ta”.

“Sao vậy? Nhị phu nhân sao vậy?” Bên ngoài sảnh, ma ma nghe thấy động tĩnh, không kịp khoác áo, lật đật chạy ngay vào, thấy nữ tử ngồi thẳng dậy, mắt còn nhắm nhưng sắc mặt nhợt nhạt, hai tay cào loạn phía trước, bèn vội vàng giữ nàng ta lại, lên tiếng gọi: “Nhị phu nhân”.

“Lại mơ thấy ác mộng chăng?” Không biết bao lâu sau, thấy phu nhân định thần lại, từ từ mở mắt, ma ma mới thở phào hỏi.

Nữ tử được gọi là nhị phu nhân chừng hơn ba mươi tuổi, vừa tỉnh khỏi cơn mộng, thở mệt nhọc trong bóng đêm, rút tay về chặn lên lồng ngực, cảm giác tim đập dồn dập: “Lý ma ma, mau lấy cho ta một bát toan mai thang... ta khát quá”.

Lý ma ma ra gian ngoài, vừa mày mò tìm kiếm vừa thở dài: “Nhị phu nhân, mấy tháng nay phu nhân hay gặp ác mộng, tôi đi mời đại phu đến khám?”

“Để làm gì! Một năm nay tiền mời đại phu còn chưa đủ sao? Trị thế nào cũng không thể yên giấc”. Giọng phu nhân vang lên mệt mỏi trong màn gấm: “Cũng vì lão phu nhân lão nhân gia không nói gì, người bên tây viện tưởng ta làm nũng”.

“Quân mỏ nhọn ấy, nhị phu nhân hà tất để ý? Sao không xem xem danh tiếng của Bách hoa Tằng gia chúng ta được như hôm nay, nhị phu nhân phải vất vả thế nào? Lão phu nhân cũng nói, trong các con dâu cháu dâu, chỉ có nhị phu nhân đáng tính là một nam tử... vị bên tây viện bất quá chỉ là tiểu thiếp, luận về lớn nhỏ, sánh sao được với phu nhân”. Ngoài bình phong vang lên tiếng đồ sứ va nhau lanh canh, Lý ma ma chật vật mới mò thấy chỗ toan mai thang còn lại từ ban ngày, rót nửa bát, vừa bê vào vừa mắng: “Nhị phu nhân cả nể quá, tính tình cũng chịu nín nhịn, đổi lại là tôi quyết không thể nhịn được. Tam phu nhân bên tây viện trừ tiêu tiền, có bao giờ ra sức vì Tằng gia?”

“Ra sức? Người ta dù gì cũng sinh được con trai... ta có gì?” Nhị phu nhân nhắm mắt, mệt mỏi tựa vào thành giường, gỗ tử đàn chạm vào lưng nàng đau nhói, buồn bã cất tiếng: “Bách hoa Tằng gia sau khi xuôi nam nhờ nghề trồng hoa mà được như bây giờ, dù không phải toàn bộ nhưng Đàm Ý Nương ta cũng có đến một nửa công lao, dù vậy thì đáng kể chi? Nói thế nào ta cũng chỉ là nhị phòng tục huyền, rổ rá cạp lại với nhị gia của các ngươi, lại không có con cái gì...”

“Lão phu nhân yêu mến nhị phu nhân, phu nhân sợ gì mấy lời xiên xỏ”. Thấy nhị phu nhân thường ngày vẫn nhanh nhẹn hoạt bát buông ra những lời chán nản, Lý ma ma vội an ủi, lần theo bóng đêm đưa toan mai thang vào tay nàng.

Nhị phu nhân hớp một ngụm, ngậm trong miệng hồi lâu với uống, giọng nói trầm trầm đượm chua chát lại cất lên: “Lão phu nhân? Lão phu nhân cao tuổi rồi, không thể dựa vào mãi... ngươi thấy nhị gia bao lâu rồi chưa đến đây? Tam phu nhân không sinh được trưởng tử nhưng cả nhà đại gia đã chết, còn lại một mình Viễn Ca điên điên khùng khùng, gia nghiệp Tằng gia sớm muộn gì cũng vào tay nhị thiếu gia. Đến lúc đó, vị ở tây viện mới càng đắc ý”.

Lý ma ma thở dài không nói gì, kỳ thật bà ta vẫn lo lắng chuyện này, nếu tương lai lão phu nhân không còn, nhị thiếu gia Viễn Kiều lên làm chủ, chỉ sợ đông viện nhị phu nhân khó sống yên ổn.

“Oi bức quá... mưa chăng?” Trầm mặc hồi lâu, cảm giác bầu không khí trong phòng ngưng trệ, nhị phu nhân lẩm nhẩm, theo ý thức lần tìm quạt.

Ngón tay lướt qua nệm gấm, tìm thấy một vật lạnh cứng dưới gối - là quạt nan.

Nhị phu nhân chợt ngây người, cầm chiếc quạt để dưới gối lên, nhiều năm rồi cây quạt nan bằng tử trúc này không còn mang lại cảm giác mát lạnh như ngọc nữa, ban ngày hôm nay nàng mới thay chiếc nan bị hỏng.

Nàng ngồi hồi lâu như đang nghĩ ngợi, chợt Lý ma ma lên tiếng: “A, đúng rồi, hôm nay tôi nghe nha đầu Thược Dược Nhi chỗ lão phu nhân cho biết Bạch Loa cô nương mà lão phu nhân vốn muốn đính hôn với nhị thiếu gia, đột nhiên đổi ý, sống chết cũng muốn lấy Viễn Ca đại thiếu gia, lão phu nhân yêu mến Bạch cô nương nên cũng đáp ứng. Bên tây viện mất mặt lắm”.

Đang đêm, bà ta nói nhỏ nhưng ngữ khí đượm vẻ vui mừng trước tai họa của người khác: “Hỗn thế ma vương nhị thiếu gia tự nhiên không muốn thành thân lắm nhưng vị bên tây viện nổi giận cực độ, cả ngày mắng chửi, đập phá”.

“A... Bạch Loa cô nương?” Ánh mắt nhị phu nhân chợt sáng lên, hít sâu một hơi: “Có phải vị cô nương mở một cửa hiệu nhỏ tên Hoa Kính ở ngõ Thiên Thủy?”

“Đúng, không phải hai ngày trước phu nhân có đến hiệu của Bạch cô nương một chuyến sao?” Lý ma ma hiểu rõ tính nết chủ nhân, mỉm cười hỏi: “Nhị phu nhân đến xem nàng ta thật ra là nữ tử thế nào. Phu nhân xưa nay thông minh, việc gì cũng đi trước một bước, con dâu trưởng chưa vào nhà cũng phải đến xem xét”.

Chợt nhớ ra một việc, bà ta lại hớn hở: “Không hiểu phu nhân thấy nàng ta thế nào? Nghe nói cũng là mỹ nhân, người trong thành Lâm An nói nàng ta lợi hại lắm, gả cho đại thiếu gia coi như trưởng phòng [1] có thêm một cánh tay, nhị phòng thêm một đối đầu”.

“Hoa Kính... nàng ta đúng là hoa yêu”. Nhị phu nhân không tỏ vẻ hoan hỷ mà trong bóng tối, sắc mặt sầm hẳn lại, thanh âm trở nên rin rít: “Nghe nói những người mua hoa của nàng ta đều xảy ra chuyện trong nhà. Còn có người nói, con bạch anh vũ nàng ta nuôi thông minh hơn cả người, nữ tử yêu tà bất tường như thế sao lại vào cửa Tằng gia chúng ta được?”

“À, đó chẳng qua lời đồn thổi, dưới chân thiên tử lấy đâu ra những việc như thế”. Lý ma ma mỉm cười: “Nhị phu nhân vẫn tin Phật, nhưng có cần mê tín đến thế không? Thiện nhân như phu nhân còn sợ gì yêu tà?”

“Thiện nhân?”, giữa màn đêm yên lặng trong phòng, nhị phu nhân khẽ xòe quạt, đột nhiên như trong lòng nổi sóng, toàn thân run lên.

“Phu nhân, cây quạt này sao lại có máu?”

Những lời bạch y nữ tử ở Hoa Kính nói ban ngày lại vang lên bên tai nhị phu nhân.

Hôm đó, nàng ta mượn cớ đi mua tử trúc thay nan quạt, thật ra muốn đến xem con dâu trưởng phòng tương lai của Tằng gia là người thế nào. Nhưng vừa chạm vào ánh mắt lạnh lẽo cơ hồ soi thấu hết tất cả của bạch y thiếu nữ đó, tim nàng ta đã đập thình thình, lúc nàng ta mua chậu tử trúc, bạch y thiếu nữ chợt đưa tay vuốt nhẹ vào cây quạt rồi cong cổ tay lại, trên ngón tay trắng ngần như tuyết hiện lên một chấm đỏ.

Nàng ta kinh hãi, rúng động toàn thân, tử trúc phiến trong tay rơi xuống đất.

Mặt quạt bằng lụa vẽ bức “đào hoa tiên nhân đồ” của Hoàng Sơn cốc, vùng mây hồng đang tản ra đó rõ ràng là hoa đào, sao lại thành máu được? Sao... sao lại có máu ở đó?

Đã hơn mười năm rồi, dù là xương trắng dưới đất cũng hóa thành tro, sao vẫn còn máu được nhỉ?

* * * * *

“Giang Nam... là thế này hả?” Đại hán áo xám mặt nhuốm gió bụi đứng dưới hàng hiên nhìn cơn mưa phùn lây rây bên ngoài, lẩm nhẩm với vẻ cảm khái. Chưa dứt lời, gió cuốn theo cơn mưa phùn lùa vào mặt khiến y hắt hơi.

“Mẹ nó chứ, mưa phùn mà dai thế, còn tệ hơn bạch mao phong ngoài quan ngoại”. Tiết lập xuân đã qua nhưng hán tử áo xám vẫn mặc một chiếc áo da dê rách vài chỗ, dáng vẻ cực kỳ phong trần, thấy cơn mưa không có dấu hiệu ngớt liền mắng một câu.

Mắng xong, đại hán chợt nhớ ra, giậm chân với vẻ bất an, hướng ánh mắt đến cuối con đường lát đá xanh. Không sai, ban sáng y có hỏi người trong trấn, đây chính là quê nhà của Chu Thái.

Trời chưa sáng, y tới Song Phi trấn, đến gõ cửa nhà người ta nhưng không ai trả lời, đợi mãi mới có người đi qua, bèn nhỏ nhẹ hỏi han mới biết sau khi Chu Thái phạm án sung quân tận Ninh Cổ Tháp, ở nhà chỉ còn người vợ tên Phúc Nương bán hoa tươi sinh sống, chắc nàng ta ra ngoài chưa về.

“Ắt xì”. Gió lùa qua mái hiên, hán tử áo xám lại hắt hơi, hai chân đan nhau giậm giậm, rụt tay vào ống tay áo, nhìn về phía cuối con đường với vẻ nóng ruột.

Phúc Nương... Vương Phúc Nương. Y lẩm nhẩm gọi tên, khuôn mặt phong sương lộ vẻ khác lạ, đồng tử sáng rực như mắt chim ưng ánh lên nóng bỏng, hướng về cuối con đường.

Nữ tử đó thế nào? Có đúng trên trời vô đối dưới đất vô song như tiểu tử Chu Thái nói không?

* * * * *

“Chà chà... Thiết Tháp Lý, ngươi... ngươi không biết... nữ nhân của ta là mỹ nhân thế thế nào đâu... Nàng là người đẹp nhất Song Phi trấn. Đó... đó là nơi sinh ra hai quý phi...” Trong gió tuyết, tóc Chu Thái đầu to phủ đầy hoa tuyết, thoáng nhìn như quả cầu tuyết lớn, nhưng từ khóe miệng lạnh băng vừa thở phì phò vừa tuôn ra đứt quãng những câu vô cùng mê hoặc, đặc biệt với những phạm nhân bị đày đến Ninh Cổ Tháp, mấy năm nay không thấy nữ nhân. “Khụ khụ... ta dám cá, hai quý phi nương nương cộng lại... khụ khụ cũng không đẹp bằng Phúc Nương... dáng vẻ nàng... ừ...”

Lúc đó không biết bao nhiêu người đố kỵ với Chu đại đầu... Chu Thái phạm tội chứa chấp của ăn cắp bị người ta cáo giác nên phải ra Ninh Cổ Tháp đã tám năm, cũng coi là kẻ lão làng ở đây. Tám năm nay, mỗi lần phải làm việc vất vả, đều thấy gã lải nhải nhắc về nữ nhân như tiên nữ ở nhà, ai nấy không khỏi nhìn gã với vẻ ghen tỵ.

“Mắt nàng long lanh như hoa đào, mày cong lá liễu... thân thể nẩy nở... vòng tiểu yêu, hắc hắc, chỉ vừa một chét tay. Giọng nàng êm ái, lọt tai, ai nghe thấy cũng say mê”.

Sống ở miền bắc gió tuyết lạnh thấu xương, giữa lúc mắt mũi cay xè vì khói bốc lên từ đống phân ngựa khô đốt sưởi ấm, nghe Chu Thái thuật lại, mọi con mắt chai lỳ sau nhiều năm quần quật chợt sáng lên đầy khát vọng, vây quanh đống lửa mơ tưởng về Giang Nam xa xôi có hoa e ấp, liễu buông mành cùng những nữ nhân mỹ lệ chầm chậm rảo bước, để rồi lại trằn trọc trong đống cỏ cả đêm không ngủ được.

Tiểu tử Chu Thái này, nhân cách tạp nham, gia thế cũng bần hàn, hai con mắt ti hí lúc nào cũng nhắm tít vào, sao lại cưới được một người vợ như thế? Dọc đường từ Ninh Cổ Tháp xuôi nam, hán tử áo xám không ngừng suy nghĩ vấn đề này cho tới tận lúc đặt chân đến Song Phi trấn.

* * * * *

Cuối cùng cũng đến Giang Nam, đứng dưới hàng hiên mà đại hán áo xám vẫn thảng thốt như đang nằm mộng.

Y hắt hơi, nhìn quanh quất, không thấy ai qua lại liền thử đẩy cửa. Cánh cửa gỗ sứt sở, vừa đẩy liền vang lên tiếng kèn kẹt, tấm thiếp mừng năm mới dán trên bề mặt thấm nước mưa trở nên mềm nhũn, loang lổ vết đỏ do tay người đẩy cửa in lên.

Y bất giác chấn động, bàn tay lần vào trong ngực áo ước lượng một vật.

Đó là một cây chiết phiến cũ, tựa hồ dùng vài năm rồi, nan quạt bằng tử trúc sáng bóng lên như ngọc.

“Lại nữa rồi...” Thấy trời u ám trở lại, y lẩm bẩm.

Mưa rắc liên miên như rải tơ khiến lòng người bực bội. Y càng lúc càng sốt ruột, liên tục giậm châm, cơ hồ làm thế sẽ giũ sạch mọi giọt mưa đọng trên người, ánh mắt sắc lạnh lại như mắt chim ưng.

Cộp cộp cộp!

Tiếng bước chân vang lên rõ ràng trên nền đá lát đường, y ngẩng lên, nhận ra cuối con đường có một người- một hồng y nữ tử nâng tà váy, cầm dù lướt qua.

Mắt y sáng rực nhìn nữ tử, lúc đến gần mới phát giác thân thể nàng mảnh mai, trên búi tóc cài một bông ngọc lan hoa, gương mặt trái xoan, mày lá liễu, dáng vẻ hiển lộ nét linh tú chỉ có ở những nữ tử trong Song Phi trấn. Tim y đập nhanh, cổ họng khô khốc - đúng rồi... chính là nữ tử thế này ư?

Hồng y nữ tử nâng tà váy nhưng ánh mắt hoạt bát liếc tứ phía, cử chỉ tỏ ra lanh lẹ, thấy y đứng dưới mái hiên, nàng hơi đỏ mặt, ngoảnh đi nhưng vẫn liếc y một lần, khóe miệng cười mỉm, đưa tay vuốt tóc.

Không phải Phúc Nương.... Nàng ta không phải Vương Phúc Nương.

Đại hán áo xám thở hắt một hơi, tự lắc đầu xua khỏi óc những động tác dịu dàng của nữ tử.

Phúc Nương không phải như thế.

“Hắc hắc, không phải ta nói khoác, nương tử nhà ta đoan trang văn nhã, hiểu hết lễ nghĩa... Vương gia của nàng vốn là thư hương thế gia ở Song Phi trấn... tuy sau này sa sút nhưng nhạc gia của ta cũng là một tú tài”. Những lúc Chu Thái đầu to khoe khoang như thế, gương mặt múp míp sáng lên dưới ánh lửa đốt bằng phân ngựa: “Năm xưa nương tử về nhà ta, không có kim ngân tài bảo làm hồi môn, chỉ mang theo cây quạt này, các ngươi thấy có kỳ lạ không? Mấy bông hoa vẽ trên đó đều không tệ nhưng một cây quạt rách thì làm được gì... bất quá ta không chê bai gì, hắc hắc, ai bảo ta gặp được người vợ như tiên nữ? Hoàng đế lão nhi cũng không có phúc khí như ta”.

Những kẻ đi đày phần lớn nghèo khổ, bản thân vốn không biết được mấy chữ, nói gì đến việc cưới được một người vợ giỏi chữ nghĩa. Nghe Chu Thái ba hoa, ai nấy đều ngứa ngáy.

Tiểu tử Chu Thái này, nhân cách tạp nham, gia thế cũng bần hàn, sao lại cưới được một người vợ như thế?

Nghĩ vậy, đại hán áo xám lắc vai hất nước mưa văng đi, hai chân giậm thật nhanh, nhìn theo hồng y nữ tử. Quả nhiên không ngoài dự liệu, đi qua cửa nhà ai nàng cũng liếc hán tử nhìn mình, cước bộ không hề dừng lại.

Y không nhìn nàng nữa, lại quay đầu nhìn ra đường.

Giang Nam yên vũ mênh mông, phảng phất như một bức tranh thủy mặc vẽ cảnh ngói đỏ tường trắng, đào hồng liễu lục, thỉnh thoảng có nam thanh nữ tú cầm dù vẽ những hình đẹp đẽ đi qua. Tuy hiện giờ là Tuyên Hòa mạt niên, phía bắc nháo nhác vì người Kim xâm lấn nhưng từ phía nam Trường Giang trở xuống, cảnh tượng vẫn hiền hòa.

Đại hán chợt thấy mắt nóng lên - đúng, đúng, là thế này đây. Y nhả ngụm trọc khí tích trữ mấy tháng nay ra - là thế này đây. Đây là mùi vị hơi nước Giang Nam xuất hiện vô số lần trong mộng, cũng từng được nghe Chu Thái tả lại. Không có cảnh băng thiên tuyết địa, không có bạch mao phong kinh người, không có mùi phân ngựa đốt, cũng không có mùi hôi của những kẻ cả năm không tắm ở cùng nhau.

Cuối cùng, y cũng từ Ninh Cổ Tháp đến được đây, thấy được nữ nhân Chu Thái miêu tả trăm ngàn lần. Y khoanh tay vào ngực nhưng trong mắt không nén được niềm kích động dâng lên nóng bỏng.

“Huynh đài tìm ai?” Y đang nhìn màn mưa đến xuất thần, bên tai chợt vang lên tiếng nữ nhân ôn nhu hỏi.

Bất quá là một câu nói nhưng khiến hán tử như thiết tháp run rẩy ngoái lại, mắt tỏ vẻ kinh ngạc xen lẫn vui mừng, móc tín vật tử trúc phiến trong ngực áo ra, vừa lẩm bẩm: “Tôi... tôi đến tìm nương tử Phúc Nương của Chu Thái...”

“Là tôi”. Nữ tử bạo gan đáp, thấy cây chiết phiền liền tiến lên đoạt lấy: “Huynh... huynh đài sao lại có vật này. Huynh đài...” Chưa dứt lời, nàng ta xòe tay ra xem, biến hẳn sắc mặt, ngẩng đầu hỏi khách, giọng nói hơi run rẩy: “Huynh đài sao lại có vật của chồng tôi?”

Lúc Vương Phúc Nương ngẩng đầu, hán tử áo xám nhìn rõ mặt nàng - trước đây chỉ nghe Chu Thái miêu tả nhưng gương mặt nàng từng hiện lên cả ngàn lần trong lòng y, tuy mỗi lần khác nhau nhưng đều mỹ lệ tú nhã phi thường.

Nhưng Phúc Nương chân chính đứng trước mặt y lại...

* * * * *

“Ngụy tiên sinh từ xa đến, hàn xá không có gì chiêu đãi, mời tiên sinh dùng một chén trà”. Đưa khách vào nhà, giọng nữ tử trở lại bình thường, bưng một chiếc khay bằng gỗ đỏ, dùng quá lâu nên màu gỗ chuyển thành đen, càng khiến mấy chiếc chén sứ lam hoa bắt mắt hơn.

“Đa tạ... đa tạ đệ muội”. Hán tử áo xám Ngụy Thắng ngượng ngùng lau bàn tay dính dầy bùn đất vào áo, cẩn thận bưng chén trà lên, nhân cơ hội quan sát Phúc Nương vừa từ hậu đường bưng trà ra.

Tiểu tử Chu Thái nói không sai một điểm, vợ hắn quả nhiên là nữ nhân biết lễ nghĩa, những lời nàng ta vừa nói há mấy bà nương chua ngoa so sánh được? Ngụy Thắng cúi đầu uống trà, liếc nhìn hai bàn tay bưng khay - tuy của người lao động nhưng mười ngón vẫn trắng muốt, thanh mảnh.

Chỉ đáng tiếc, câu ví “trong mắt tình nhân có Tây Thi” không sai, vợ Chu Thái nhan sắc bình bình, mày thưa mắt hẹp, mũi hơi gãy, trên mặt lại có mấy mụt trắng, miễn cưỡng cho là coi được, thua xa hồng y nữ tử ban nãy.

Ngụy Thắng bất giác thấy thất vọng, ngàn dặm bôn ba đến đây lại gặp một nữ tử thế này khiến y có cảm giác phẫn nộ vì bị lừa. Đột nhiên y ngồi phệt xuống ghế như quả bóng xì hơi, cảm giác mệt rũ người sau quãng đường dài, không khách khí nữa, bưng chén trà uống một hơi cạn sạch.

Vừa đặt chén trà xuống, đưa tay lau miệng, thấy Phúc Nương dâng trà xong liền lui lại im lặng, cúi đầu lật đi lật lại ngắm nghía cây tử trúc phiến, y hơi ngẩn người nhưng không nói gì.

“Ngụy tiên sinh... Ngụy tiên sinh từ Ninh Cổ Tháp về, không biết, không biết chồng tiểu muội ở đó thế nào?” Phúc Nương đưa đôi tay trắng ngần run rẩy xòe chiết phiến ra xem hồi lâu, ngần ngừ một lúc mới lên tiếng hỏi khách, làn my nhíu chặt, phảng phất sợ nghe thấy tin không lành.

“Chu Thái...” Ngụy Thắng ấp úng, nhìn cây tử trúc phiến trên tay Phúc Nương mới hạ quyết tâm: “Chu Thái chết tại Ninh Cổ Tháp rồi! Cùng người khác vào núi chặt củi, bị đại thụ đè lên người”.

“Cộp!”

Một tiếng động vang khẽ vang lên, cây quạt từ tay Phúc Nương rơi xuống đất, nàng ta ngây người nhìn cây quạt, nước mắt nhỏ xuống ròng ròng, nhưng khóc không thành tiếng.

Ngụy Thắng lại ngượng ngùng đưa ống tay áo rách nát lên lau mồ hôi, không biết nên nói gì, ánh mắt sắc như chim ưng ảm đạm hẳn - y không chịu nổi việc nữ nhân khóc, nhất thời ấp úng: “Đệ muội, đệ muội đừng buồn...”

Bờ vai Vương Phúc Nương rung lên, nước mắt lăn tròn trên má.

“Trước khi Chu Thái đi còn móc cây quạt này ra nói là của đệ muội mang theo lúc về nhà chồng, dặn ta nếu được đại xá, sống sót khỏi Ninh Cổ Tháp thì đến Giang Nam trao cho muội”. Ngụy Thắng nói một hơi những lời đã chuẩn bị trước, đoạn thở phào nghiêng mắt nhìn Phúc Nương: “Cây quạt này Chu huynh đệ coi như bảo bối, lúc đi ngủ cũng đặt dưới gối...”

Vương Phúc Nương không khóc lóc như y dự tính mà chỉ ngồi thụp xuống nhặt tử trúc phiến lên ngắm nghía.

Ngụy Thắng từng nhìn cây quạt vô số lần, y là người thô thiển nên không hiểu gì, chỉ thấy nhớ có vẽ đào hoa lâm đo đỏ, trong rừng có am đường bé xíu, trước cửa là một lão nhân tiên phong đạo cốt đang đứng. Hình như nét vẽ đã lâu, lớp lụa trở nên ố vàng, nhưng hoa đào và lão nhân vẫn sống động như thật.

“Đó là “đào hoa tiên nhân đồ” do Hoàng Sơn cốc vẽ... là bảo bối gia truyền mấy đời nhà tiểu muội, sau này trở thành vật muội đem về nhà chồng...” Phúc Nương nghẹn ngào, nước mắt nhỏ xuống thân quạt, nàng ta run rẩy dùng ống tay áo lau hết nước mắt dính vào mặt lụa, lẩm nhẩm: “Vừa nghe nói có đại xá, sao... sao lại chết rồi? Sao lại chết rồi? Sao lại chết rồi?”

“Cũng do Chu huynh đệ không may... chẳng qua mắc tội chứa chấp, chắc chỉ mấy năm sẽ được đại xá”. Ngụy Thắng thấy nàng ta không ngừng rơi lệ, sắc mặt nhợt đi, chỉ biết xoa tay cúi đầu: “Những lúc nhàn rỗi, Chu huynh đệ vẫn tán dương đệ muội mỹ mạo hiền huệ, lúc nào cũng tưởng nhớ, có phải...”

Định cầm chén trà lên uống nhưng phát giác đã uống hết từ nãy, y càng ngượng ngùng, đưa tay áo lên lau trán.

Phúc Nương lau đi lau lại vết nước trên quạt, không hiểu sao tay run lên.

“Ta thấy mi lại không kìm được nước mắt...” Nàng ta thu lại cây quạt, lau lệ miễn cưỡng mỉm cười: “Ngụy tiên sinh mang tin từ xa đến, tiểu muội còn chưa đa tạ”.

Ngụy Thắng thấy nàng lau lệ, mới thở phào, còn may tính tình nữ nhân này đúng như Chu Thái kể, bằng không y quả thật bối rối. Y buông tay áo rách nát xuống: “Đệ muội bất tất khách khí, ở Ninh Cổ Tháp, ta và Chu Thái cũng là hảo huynh đệ. Chu huynh đệ phó thác, ta tự nhiên phải đến Giang Nam một chuyến”.

Phúc Nương khóc đỏ mắt, thấy y nói vậy cũng gật đầu: “Ngụy đại ca y phục lam lũ, gió bụi hiện rõ, chắc dọc đường vất vả nhiều rồi. Nhà tuy nghèo, không có gì ngon chiêu đãi, mời đại ca đợi một chút, Phúc Nương sẽ đi chuẩn bị mấy món ăn”.

Có vẻ nàng ta cảm kích đại hán lạ mặt này vượt ngàn dặm đưa di vật của trượng phu hồi hương, đổi xưng hô thành “đại ca” khiến Ngụy Thắng xúc động. Nàng ta không để y khách khí từ chối mà đi ngay vào nội đường.Gian ngoài chỉ còn lại mình Ngụy Thắng, y tỏ vẻ khó xử, ngần ngừ một lúc mới đứng dậy ra bên cửa, định cất bước. Vừa hay bên ngoài có tiếng mõ vang lên, phu canh tuần đi qua, y vội lùi vào phòng, đóng cửa.

Bên ngoài trời vẫn mưa, trời tối hẳn, y ngẫm nghĩ một lúc, đành ngồi xuống.

“Tính nết đúng như Chu đầu to tán dương... nhưng tướng mạo sao lại khác xa?” Y lẩm bẩm, chợt ngừng lời ngay, nữ chủ nhân vừa trở thành quả phụ đang bưng một chén trà nóng tới, mắt còn mọng nước, nhưng vẫn ân cần: “Cơm nước sẽ xong ngay, Ngụy đại ca chắc đói rồi, uống một chén trà đã”.

* * * * *

Nữ nhân đi vào nội đường hồi lâu chưa ra, chỉ có mùi cơm canh dần khuếch tán trong không khí.

Ngụy Thắng thong thả uống trà, tựa lên thành ghế nhìn tứ phía, gia đình này quả thật thanh bần, trừ bộ bàn ghế không còn bày biện vật gì, nhưng lạ lùng là do một nữ nhân làm chủ.

“Tuy không đẹp như Chu Thái kể nhưng cũng không tệ... tên tiểu này quả có phúc khí”. Y lẩm bẩm, chợt run lên, uống vội mấy ngụm trà, nhìn ra ngoài cửa.

Trời đã tối om, mưa vẫn lặng lẽ rơi.

Y tựa hẳn vào thành ghế ngắm mưa, chợt có cảm giác mệt mỏi, từ Ninh Cổ Tháp đến Giang Nam đã chịu không ít khổ cực, khó khăn lăm mới đến được Song Phi trấn, gặp người cần gặp, thần kinh căng thẳng liền chùng xuống khiến đang lúc ở phòng khách nhà người khác, y cũng thấy uể oải.

Phúc Nương chưa ra, mùi cơm canh thơm nức, nhưng trong nội đường lặng ngắt. Ngụy Thắng kinh hoảng, nghĩ đến việc nàng ta từng đọc sách, tính tình lại đoan trang trinh khiết, hiện giờ đột nhiên biết tin dữ của chồng, liệu có cạn nghĩ không?

Đang lúc y nghĩ vơ vẩn, tiếng bước chân nhẹ nhàng vang lên, Phúc Nương bưng mâm cơm ra ngoại đường, đặt trước mặt y, mỉm cười nói: “Không có gì ngon chiêu đãi, Ngụy đại ca tự nhiên dùng bữa”.

Y thở phào, lau mồ hôi lạnh trên trán, mỉm cười mệt mỏi với nàng ta: “Đệ muội khách khí quá”.

Phúc Nương thấy y vén ống tay, ánh mắt thoáng biến đổi rồi bày biện đồ ăn, thu dọn khay trà: “Ngụy đại ca từ từ thưởng thức, dưới bếp còn mấy món nữa, tiểu muội sẽ mang lên sau”.

“Không cần khách khí như vậy...” Ngụy Thắng chưa nói hết câu, Phúc Nương đã đi vào bếp. Măng củ hầm thịt chỉ là món thông thường ở Giang Nam nhưng hương thơm phức, đối với người nhiều năm làm khổ sai ở Tái ngoại không kém gì đại tiệc. Ngụy Thắng tuy mỏi mệt nhưng ngửi mùi hương, ngón tay cũng máy động.

“Tiểu tử Chu Thái... quả nhiên phúc khí không nhỏ”. Gắp mấy đũa, y thở dài nuốt thức ăn, nhìn xuống bóng nữ nhân dưới bếp, không khí gia đình ấm áp lan tỏa khiến kẻ lang bạt đường xa cởi lòng. Tiếng dao thớt vang lên, mắt y chợt sáng rực, nàng ta quả thật là một nữ tử tốt.

Trong mắt tình nhân có Tây Thi, có phải là thế này chăng?

“Ngụy đại ca, Ngụy đại ca”. Đang suy nghĩ, chợt giọng nữ nhân ôn nhu vang bên tai, y tỉnh ngay, mở bừng hai mắt đang cay cay, nhận ra trên bàn đã đốt đèn, Phúc Nương tỏ vẻ áy náy: “Món ăn mới nấu, đại ca chắc đợi lâu rồi, mau ăn nóng mới ngon”.

“Đệ muội... vất vả quá”. Y bất giác ngáp dài hết sức thất lễ, cảm giác vô cùng mệt mỏi, ngay cả khí lực cầm đũa cũng không nổi, trước mặt bày ê hề thức ăn, tuy không phải món ăn quý giá gì nhưng màu sắc hương vị ngon lành, tỏ rõ tay nghề của chủ nhân.

Phúc Nương ngồi xuống bàn, ân cần gắp thức ăn cho khách, mắt vừa khóc xong nên còn đỏ lựng nhưng ánh nhìn tỏ vẻ kỳ dị. Người kiến đa thức quảng như Ngụy Thắng cũng thấp thỏm, không liên tưởng đến khung cảnh hương diễm nào mà loáng thoáng nhận ra có điều không ổn.

“Lại chết như thế...” Thấy Ngụy Thắng gật gù muốn gục xuống ngủ, Phúc Nương mới gắp vài miếng cũng dừng đũa, không khuyên y ăn thêm mà lấy cây tử trúc phiến ra ngắm nghía hồi lâu, miệng lẩm bẩm: “Lại chết như thế... Ta tưởng hắn sớm muộn cũng quay về, không ngờ lại bị người ta giết”.

Bốn tiếng sau cũng như lưỡi đao nhọn đâm vào tim Ngụy Thắng, bao nhiêu mệt mỏi đột nhiên tan biến, mở bừng mắt nhìn nữ nhân đối diện, rít lên: “Ngươi nói gì?”

“Ta nói chồng ta đúng là oan uổng, tưởng rằng được hồi hương, lại bị người lấy mạng”. Vương Phúc Nương không ngẩng lên, một mực cúi nhìn chiếc quạt, hình như nước mắt ban nãy chưa khô hẳn, lại lấy khăn tay ra lau, lạnh lùng cất tiếng.

“Nói lăng nhăng”. Ngụy Thắng vừa kinh vừa nộ, định vỗ bàn đứng dậy, chợt biến sắc, tứ chi cơ hồ bị đóng đinh xuống đất, mềm oặt, không nghe theo ý muốn của y, lập tức xuống giọng: “Nói lăng nhăng gì thế, đệ muội đừng võ đoán. Ta chỉ là người có lòng tốt từ xa đưa tin đến, đệ muội cũng là người hiểu biết, đừng đoán mò”.

“Đoán mò? Mò chỗ nào”. Phúc Nương cúi đầu, ánh nến từ bàn ăn hắt lên mặt nàng ta, nữ tử ngũ quan bình thường này chợt lãnh tĩnh như băng tuyết, giơ mặt lụa trên cây quạt lên cho y xem: “Cây tử trúc phiến cho ta biết”.

Ánh mắt Ngụy Thắng đông cứng, chăm chăm nhìn tay Phúc Nương.

Máu! Màu máu đỏ nhạt nổi bật trên nền lụa trắng.

Chuyện... chuyện này là sao? Rõ ràng y từng nhìn, trên quạt làm gì có... cục hầu trên cổ y giật giật, hồi lâu không thốt lên lời.

Phúc Nương nắm chặt lớp lụa, ghé sát mặt y: “Ngươi nói chồng ta bị gỗ đè chết, trước khi chết móc quạt ra đưa cho ngươi, vậy vết máu này ở đâu ra?” Nàng ta ngừng lại, lãnh quang lưu động giữa đôi mắt dài hẹp, được ánh nến chiếu vào càng ghê người, nhạt nhẽo nói tiếp: “Ngươi cũng từng xem qua cây quạt nhưng trên đó vẽ hoa đào, máu không dính nhiều, khó lòng nhận ra. Không chỉ ngươi không thấy mà lúc ta mới đón lấy cây quạt cũng không phát giác... không ngờ lúc lau nước mắt lại có máu dính vào tay”.

“Ta nghĩ ra rồi”. Ngụy Thắng ấp úng hồi lâu, mặt xám như tro tàn, vội tìm một lý do: “Trên đường đến đây, ta bị ngã thụ thương, chắc lúc đó máu dính vào, đệ muội đừng cả nghĩ”.

“Vậy sao?” Phúc Nương ngẩng lên nhìn y. Hán tử cao lớn bị dược lực tác động, toàn thân đẫm mồ hôi lạnh, nàng ta mân mê cây quạt, cúi đầu cười lạnh, chậm rãi hỏi: “Ta hỏi ngươi thêm một câu, y phục của chồng ta, sao lại mặc lên mình người? Đừng tưởng tám năm nay ta không gặp hắn, ống tay ngươi rách toạc, lộ ra lớp áo lót, cái cúc trên đó do chính tay ta khâu nên nhớ rất kỹ”.

Trán Ngụy Thắng mồ hôi càng dày, theo ý thức rụt tay vào ống tay áo nhưng chợt thấy thân thể cũng không động đậy nổi.

“Ngươi còn định nói rằng là chồng ta đem hết đồ vật trên người giao cho ngươi?” Phúc Nương vuốt tóc, dưới ánh nến, mắt nàng ta sắc nhọn như mũi châm, khé miệng hiện rõ nụ cười lạnh: “Đương nhiên, ngươi có thể tùy tiện tìm một lý do, ai bảo ta không có mặt ở Ninh Cổ Tháp để tận mắt nhìn thấy? Bất quá...”

Nàng ta dừng lại rồi ngửng lên lạnh lùng nói: “Đừng tưởng ta không ra ngoài mà dễ bắt nạt. Ngươi bảo mình được đại xá quay về nhưng đại xá xảy ra khi nào? Mồng chín tháng trước, ta tuy chỉ ở nhà, không hiểu lắm việc đời nhưng chồng ra quan ngoại, cũng thường xuyên nghe ngóng khi nào sẽ khai ân... từ lúc đại xá đến giờ mới hơn một tháng, bằng ấy thời gian, ngươi làm sao từ Ninh Cổ Tháp về đến Song Phi trấn được?”

Mắt nàng ta sáng rực: “Ngươi không phải được đại xá mà tự trốn về, đúng không?”

Ngụy Thắng mồ hôi đẫm trán, nhìn vào mắt nàng ta. Phúc Nương nheo tít mắt lại, nhướng mày lên, thần sắc kỳ dị khôn tả, bất giác y thấy chân tay lạnh ngắt, nữ nhân... nữ nhân này hóa ra thông minh đến thế.

“Bất quá ta không hiểu, ngươi giết chồng ta rồi, vì sao còn đến tận Song Phi trấn?” Nàng ta càng nhíu mày chặt hơn, lần đầu tiên ánh mắt tỏ ra nghi ngờ nhìn vị khách run như cầy sấy dưới ánh nến.

Ngụy Thắng nhìn thêm dung mạo bình bình của nàng ta, trán ngừng toát mồ hôi lạnh, chợt cười ha hả, mỉm cười tự trào, lắc đầu đáp: “Ta chỉ muốn nhìn thấy cô một lần”.

Nói xong y cũng thấy mình đáng cười liền cười vang - ai tin được? Có ai tin y lặn lội gió bụi về Song Phi trấn để nhìn nữ tử tên “Vương Phúc Nương” này một lần?

Bao nhiêu lần rồi... y được nghe cái tên này từ mồm Chu Thái, vừa tán dương vừa ám muội, vùng Giang Nam đầy ẩm ướt và phong tình ấy phảng phất trở thành mơ ước của các phạm nhân khổ dịch vùng biên tái, khiến ai nấy đều ghen tỵ. Lúc đó, y ngồi trong căn nhà bị tuyết lấp kín cửa, lấy phân ngựa hơ đỏ lừ đôi tay, ánh mắt nóng bỏng thầm nghĩ đó là nữ nhân thế nào... có thật sự vô song vô đối như Chu Thái đầu to khoác lác không?

* * * * *

Lúc cả hai bỏ trốn, bạch mao phong [2] đang lồng lộn, thổi tan quan binh đuổi theo, đồng thời ép cả hai phạm nhân vượt ngục từ Ninh Cổ Tháp sa vào rừng sâu thăm thẳm. Y và Chu Thái khấp khểnh cất bước bám theo nhau, dựa vào ánh sáng hắt lên từ mặt tuyết nhận hướng rồi xuôi về phía nam.

Dọc đường y không nói câu nào, cố giữ gìn thể lực hy vọng vận khí khá hơn gặp được thợ săn, bằng không ắt cả hai khó tránh khỏi cảnh chôn thân trong chốn rừng thẳm tuyết dày.

“Ai bảo ta gặp được người vợ như tiên nữ? Hoàng đế lão nhi cũng không có phúc khí như ta...” Trong gió tuyết, Chu đầu to theo sát gót nhưng không chịu trầm mặc như người đi trước mà vẫn lải nhải khoe khoang.

“Câm mồm”. Đã nghe mấy ngàn lần những lời như thế, y không chịu nổi, cộng thêm tính đố kỵ trỗi dậy bật thành tiếng quát, quay phắt lại giận dữ nhìn đồng bạn.

“Thế nào, ngươi muốn lấy vợ mà không được hả? Khụ khụ... giữa tiết băng thiên tuyết địa này, nếu không phấn chấn lên, ta sẽ không động đậy nổi...” Chu Thái tỏ vẻ mệt mỏi nhìn bạn đồng hành, băng đóng quanh lông mày và râu gã, cái lạnh cùng cơn đói khiến cước bộ gã loạng choạng.

“Con bà nó”. Ngụy Thắng rủa một câu, lại tiếp tục cất bước giữa tuyết trắng nhưng trong lòng trống rỗng, y có ai để nhớ? Vốn y là cô nhi bị bỏ rơi, lớn lên ngoài đường phố, một lần say rượu giết chết một tên vô lại khác, bị sung quân đến Ninh Cổ Tháp... kỹ quán tửu lâu từng đến không ít lần nhưng trong lúc gió tuyết bời bời này, y không tìm ra ai để nhớ tới.

Còn ai nhớ đến y... y có ai mà nhớ?

“Nàng xinh đẹp lắm, mày lá liễu, ánh mắt lung linh, khẽ liếc... khẽ liếc là khiến người khác bay hết hồn vía...” Dù thở dốc, Chu Thái vẫn không ngừng lải nhải miêu tả lại vẻ đẹp của thê tử ở Giang Nam xa xôi, ánh mắt chợt hiện lên nét cười ám muội: “Nói chung... khụ khụ, nữ tử trong Song Phi trấn nhiều người xinh đẹp nhưng... nhưng không ai có được.... có được phong vị nữ nhân như nàng”.

Y càng nghe càng bực mình, không biết có phải vì ăn hết số lương khô mang theo đâm ra đói hay không mà tâm lý bứt rứt, hung hãn nhìn sang Chu Thái đang dương dương đắc ý, cảm xúc trong lòng đan xen thành một mớ hỗn độn - tiểu tử này đang nhớ vợ nên mới hưng phấn vậy chăng?

Y nhớ ai? Nhắm mắt lại lục trong ký ức, từng gương mặt quen thuộc lướt qua nhưng đều thấp thoáng. Chợt có người mỉm cười với y, người con gái có gương mặt trái xoan trắng ngần, ánh nhìn long lanh, cử chỉ văn nhã đang cười với y. Đó là, đó là... Vương Phúc Nương!

Xưa nay y chưa từng gặp nàng ta, chỉ dựa vào Chu Thái đầu to mỗi ngày nhung nhớ thuật lại mà sống mãi trong óc y, thoạt xa thoạt gần mỉm cười với y.

Y lại cất bước, cảm giác huyết mạch toàn thân đập nhanh, chỉ mong ra khỏi khu rừng quỷ quái này, bên tai vẫn vang lên tiếng Chu Thái lải nhải: “Ta dám cá, hai quý phi nương nương xuất thân từ Song Phi trấn cộng lại... khụ khụ cũng không đẹp bằng nàng...”

Không hiểu sao, lần đầu tiên y không thấy bực mình, bật cười ha hả, lên tiếng phụ họa: “Không sai, nhất định đẹp lắm...” Mỗi lần nghe Chu Thái nhắc đến nàng ta, hình ảnh trong óc y lại rõ ràng thêm, tự nhủ nhất định phải thoát được, nhất định phải thoát, rồi còn đi gặp nàng.

Đáng cười biết bao... chỉ dựa vào lời tả của Chu Thái mà y si mê một nữ tử chưa từng gặp mặt. Đáng cười biết bao, nhưng dù đáng cười, trong hoàn cảnh khốn đốn, đó lại là nguồn sống của y.

Gió tuyết, gió tuyết, vẫn là gió tuyết. Rừng rậm, rừng rậm, toàn là rừng rậm...
Không biết đi được mấy ngày, bao nhiêu lương khô mang theo sạch bách mà vẫn chưa thấy bóng người. Chu Thái không giữ nổi thể lực nhưng tinh thần vẫn phơi phới, chỉ có điều không còn khí lực ca tụng vợ nữa.

Mỗi ngày chỉ đi được chừng ba thời thần là trời đã tối, tìm được một hốc núi tránh gió tuyết, y và Chu Thái uể oải gục xuống, rúc người vào áo bông run lên cầm cập. Y cảm giác chân mình mất hết tri giác, bèn buông lỏng, chà xát thật mạnh bọng chân, sờ vào ba chiếc màn thầu cứng như sắt trong ngực áo, thầm tính cứ đi thế này, cả hai không thể thoát khỏi khu rừng. Mắt y sầm xuống, lạnh lùng nhìn Chu Thái nằm sóng soài như chết cạnh đó.

Gã đút tay trong ngực áo, nắm chặt cây tử trúc phiến bảo bối, vành môi nứt nẻ mấp máy, chắc đang lầm rầm động viên bản thân.

Tay y thọc xuống đáy lớp tuyết lần mò, một lúc sau cũng tìm được một khối đá lạnh băng. Bàn tay đỏ lựng cật lực nhấc khối đá lên, dốc toàn lực đập xuống đầu Chu Thái. “Bộp”, máu cùng óc văng tứ tán như hoa đào bừng nở trên băng tuyết, nháy mắt liền đông lại thành băng.

Y bò tới, cúi xuống mò lương khô trên thi thể Chu Thái, rồi lột sạch y phục mặc lên mình, sau cùng giật luôn cả cây tử trúc phiến, đút vào ngực áo.

Trong óc, nữ tử mặt trái xoan, mày lá liễu mỉm cười nhìn y với ánh mắt long lanh.

* * * * *

“Ta chỉ muốn xem mặt cô... xem mặt vợ Chu Thái có xinh đẹp, hiền thục như hắn ca ngợi không...” Đại hán áo xám tự biết hôm nay không thể thoát thân, cũng coi như phải dấn thân vào kiếp nạn sinh tử, y không chấn kinh nữa mà bình tĩnh cười ha hả: “Chỉ muốn xem Vương Phúc Nương cô một lần”.

Phúc Nương ngẩn người, chiết phiết rớt xuống bàn, ngồi sững sờ trên ghế.

“Gặp... gặp ta?” Nàng chống tay lên trán, cúi đầu lẩm nhẩm, mắt lóe lên thần sắc bất định, chợt bật lên tiếng cười lạnh: “Xinh đẹp? Có phải trắng trẻo nõn nà, mày lá liễu, đào hoa nhãn, mỉm cười là hiện lên núm đồng tiền? Tên tử quỷ đó nói thế phải không?”

“Không sai”. Thấy nàng ta cười quái dị, Ngụy Thắng cũng hơi kì quái, lên tiếng đáp.

Phúc Nương buông tay ngẩng lên, mặc cho ánh đuốc mờ mờ hắt vào mặt, quay sang lạnh lùng hỏi khách: “Vậy ngươi đi xa như thế không phải gặp thất vọng lắm ru? Chồng ta lừa ngươi rồi”.

Gương mặt phổ phổ thông thông trở nên âm ám biến hóa kỳ dị, hòa trong bóng tối, ánh mắt nàng ta lóe sáng, không hiểu sao Ngụy Thắng lại rúng động, nữ nhân này không hề đơn giản... ít nhất Chu Thái nói đúng một điểm, nàng ta không phải nữ nhân tầm thường.

“Hắn là chồng cô, trong mắt tình nhân có Tây Thi, vậy cũng đúng thôi mà”. Bất đắc dĩ, Ngụy Thắng đành thừa nhận mình thất vọng, chỉ buông một câu nhạt nhẽo.

“Ha ha ha ha!” Lời chưa dứt, phía bàn đối diện vang lên tiếng cười rợn người, y kinh hãi dừng lời nhìn sang.

“Trong mắt tình nhân... khụ khụ, trong mắt tình nhân có Tây Thi?” Vương Phúc Nương vẫn bình thản chợt cười rộ dưới ánh nến, liên tục ho lên sặc sụa, nắm chặt vạt áo: “Tây Thi gì? Tây Thi bán dầu vừng? Tên tử quỷ, tên tử quỷ đó đến lúc chết vẫn nhớ con tiện nhân kia”.

Ngụy Thắng ngây người nhìn nàng ta cười méo mó, nước mắt chảy tràn: “Cô muốn nói... người Chu Thái nhắc tới... không phải là cô?” Y tỏ vẻ bất ngờ.

Vương Phúc Nương tắt cười, nghiến răng quay lại nhìn y, lạnh lùng đáp: “Không sai! Đó là tiện nhân tên tử quỷ đó dan díu, ‘trắng trẻo nõn nà, mày lá liễu, đào hoa nhãn, mỉm cười là hiện lên núm đồng tiền’ đúng không? Là con tiện nhân Tôn Tiểu Liên bán dầu vừng, sống ở bên đầu ngõ, quen thói mặc áo đỏ, õng ẹo qua lại trên đường quyến rũ nam nhân”.

Ngụy Thắng hít sâu một hơi, nhớ lại hồng y nữ tử đi qua lúc y đứng dưới hàng hiên. Tóc cài trâm ngọc lan hoa, mắt long lanh như hoa đào, đôi mày lá liễu, thân thể nõn nà, cử chỉ hoạt bát yều kiều - là nàng ta chăng?

“Là nàng ta ư? Ta vừa nhìn thấy...” Y ngắc ngứ thốt lên.

Phúc Nương cười lạnh, liếc xéo sang y: “Hay thật, ngươi đi chuyến này cũng không oan uổng, cuối cùng cũng gặp được chủ nhân chân chính. Thế nào, tiện nhân đó được chứ?” Nàng ta nghiến răng, nước mắt lại rơi xuống, cúi đầu dụng lực nắm chắc tử trúc phiến, bờ vai rung rung: “Tử quỷ đó... tử quỷ đó đúng là ma xui quỷ khiến... Tây Thi dầu vừng là nữ nhân thế nào? Hồ ly tinh! Hơn nữa thị là quả phụ nhà ai? Nhà thúc bá của hắn? Hắn có hiểu nếu việc loạn luân này bị người trong họ phát hiện, tránh sao khỏi cảnh bị nhúng vào mỡ lợn đốt thiên đăng? Chu thị tông tộc ở Song Phi trấn chưa bao giờ nương tay với những việc như thế”.

Ngụy Thắng ngẩn người nhìn nàng ta phục xuống khóc lóc, đứt đứt nối nối kể lể.

“Đúng là hắn bị mỡ lợn che lấp tâm trí! Ta muốn khuyên cũng không nổi, để tránh bóc trần hắn, ta đành giả bộ không biết. Nhưng ta... ta không thể trơ mắt nhìn tên tử quỷ bị người ta phát giác, lôi cổ đi nhúng vào mỡ lợn...” Phúc Nương dụng lực nắm tử trúc phiến, ngón tay trắng bợt, Ngụy Thắng nghe thấy một tiếng “cách” vang lên.

“Chả trách tên tiểu tử Chu Thái cứ hàm hàm hồ hồ... việc loạn luân với thúc mẫu này mà nói ra tất bị người ta mắng là chó lợn”. Y dần bình tĩnh, quên cả hoàn cảnh bản thân, thương xót nhìn nữ tử đang khóc dưới ánh nến, gật gù nói: “Cũng may sau đó hắn phạm tội, phải đi Ninh Cổ Tháp”.

Vương Phúc Nương ngừng khóc, lau khô nước mắt, ngẩng lên cười lạnh, nghiến răng nói: “Hắn đúng là oan uổng, nhân chuyện một năm trước trong trấn có xảy ra cướp phỉ, ta mới giấu hết đồ tế nhuyễn vào phòng hắn rồi đến báo quan phủ rằng chồng mình cấu kết với tặc nhân, oa tàng tang vật”.

“Cô... cô đẩy Chu Thái đi?” Ngụy Tháng chợt thấy trán tuôn mồ hôi lạnh, vốn y không coi sống chết vào đâu nhưng những lời này vẫn khiến hàn ý dâng lên trong lòng.

“Ta phải tách hắn khỏi con hồ ly tinh”. Phúc Nương nhướng mày, nhãn thần sáng rực ẩn hiện ánh lệ: “Bằng không tám năm này hắn chắc gì đã còn sống, có khi bị người ta đốt thiên đăng rồi. Việc gì ta cũng dám làm, chỉ cần hắn tách khỏi con tiện nhân là được. Tội oa tàng tang vật không chết được, ta đã nghe ngóng trước rồi”.

Ngụy Thắng bất giác không thốt lên lời, cảm giác bản thân cũng chịu áp lực, thông minh quá... nữ nhân thế này, đổi lại y là Chu Thái tất cũng sợ hãi khôn cùng.

“Nhưng... ta không ngờ tên tử quỷ lại mất mạng. Chết hay lắm, chết hay lắm”. Bàn tay nàng ta run lên, ôm mặt khóc nức nở: “Lại... lại chết ở đó! Ta vốn cho rắng hắn trở về... sẽ đổi tính, cùng nhau sống đến cuối đời... ngươi nói là hắn kể rằng ta hiền thục hiểu lễ nghĩa, chứng tỏ hắn dù bị hồ ly tinh câu hồn nhưng vẫn nhớ đến ta... ta tưởng lần này được đại xá, hắn quay về, nếu ta sinh được một nhi tử có lẽ sẽ giữ được hắn... nhưng hắn lại... hắn lại chết ở đó”.

Nàng ta khóc nức nở chợt ngẩng lên, khuôn mặt nhòe nhoẹt nước mắt nhìn y lạnh băng.

“Ngươi định mang ta đến cáo quan chăng?” Dưới ánh nhìn của nàng ta, giang dương đại đạo từ tử địa trở về như Ngụy Thắng cũng rùng mình, run rẩy hỏi.

Phúc Nương cười lạnh: “Cáo quan? Lại để ngươi đến Ninh Cổ Tháp rồi trốn về sao?”

Trong mắt nàng ta toàn hận ý, hiển hiện nét âm trầm: “Ngươi trốn về, đúng không? Dù gì cũng chẳng ai biết ngươi là kẻ nào... thậm chí không ai biết ngươi đến đây hôm nay...”

Ngụy Thắng chợt thấy đại sự đã hỏng, không đợi y lên tiếng, nàng ta đứng ngay dậy, đi vào nhà bếp, tiếng chai lọ va nhau loảng xoảng, không biết nàng ta tìm gì, tiếp đó tiếng cháy bùng bùng vang lên, khói lửa dày đặc lan ra, nàng ta... nàng ta định làm gì?

Y hoảng sợ, cảm giác nguy hiểm đang từng bước áp sát, cực kỳ muốn động chân động tay song không thể nhúc nhích. Đang lúc cố gắng giãy giụa, chợt thấy lạnh buốt, hơi lạnh thấu tâm thấu cốt từ đỉnh đầu lan xuống.

“Cô định làm gì?” Y ngửi thấy mùi hương kỳ dị trên mình, kinh hãi buột miệng hỏi. Chợt thấy Phúc Nương đặt bình xuống, quay người cầm ngọn nến trên bàn xuống, đứng trước mặt y, ánh nến lập lòe hắt lên mặt nàng ta, trong mắt lộ rõ nét lạnh lùng điên cuồng.

“Thơm không? Là dầu vừng hảo hạng... mua từ chỗ Tây Thi dầu vừng đấy”.

Nàng ta bật cười quỷ dị, rồi nghiêng tay, giá nến rơi vào tà áo y.

* * * * *

Mấy năm sau, nhắc lại trận hỏa hoạn hôm đó ở Song Phi trấn, người ta vẫn rùng mình.

Không chỉ vì thế lửa quá mạnh, lan ra nửa dãy phố mà lấy đi hai mạng người, lúc lửa tắt người ta tìm được trong nhà Chu Thái xác vợ gã bị thiêu thành một khúc củi đen thui bên bàn. Nữ tử hiền huệ này khổ sở đợi chồng suốt tám năm, sắp đến lúc lệnh đại xá ban ra sẽ được đoàn viên lại mất mạng vì hỏa tai.

Có người nói nguyên nhân hỏa hoạn ngoắt ngoéo, ông từ trông miếu ngoài trấn khẩu vào ban ngày từng gặp một đại hán áo xám từ xa đến hỏi địa chỉ nhà Chu Thái, đại hán này y phục rách rưới, mặt mũi đầy gió bụi, ánh mắt sắc lạnh, xem ra không phải người thật thà.

Cả hàng phố nháo nháo suốt đêm, ai nấy bận bịu dập lửa nên không nhận ra tiệm bán dầu vừng bên kia đường xảy ra chuyện gì. Đến ngày thứ ba không thấy tiểu quả phụ phong lưu Tôn Tiểu Liên uốn éo ra phố, mới có người định qua xem xét, vừa mở cửa ra, xộc vào mũi ngoài mùi dầu vừng còn có mùi máu tanh.

Trong phòng máu bắn tung tóe, người phá cửa tiến vào vắt chân lên cổ chạy mất, ngồi thụp xuống nôn thốc nôn tháo.

Trong một đêm xảy ra liền hai vị án mạng, người Song Phi trấn báo lên Lý thái thú nhưng điều tra mãi, ai cũng hoài nghi người áo xám xuất hiện trong trấn hôm đó. Nhất định do người lạ mặt đó gây ra. Thái thú phái nha dịch tìm hiểu một thời gian dài, không tìm ra chứng cứ, đành kết luận hung thủ đã trốn mất, hỏi han ông từ rồi vẽ hình, yết bảng truy nã.

“Hừ...” Ở cửa thành Kim Hoa phủ, một nữ nhân cầm bao hành trang, vung roi giục xe lừa đi ra, bất giác ngẩng nhìn bảng văn mỉm cười, nhưng nụ cười nhanh chóng tan biến.

“Dừng tay! Ngươi điên rồi! Chả trách... chả trách Chu Thái không cần ngươi, ai lại muốn nữ nhân như ngươi. Ngươi không phải là người, không phải là người. Ngươi điên rồi, ngươi là ác quỷ”.

Trong sát na hỏa cầu cháy sáng, nàng ta nghe thấy trong ánh lửa, tên hung thủ sát nhân nhìn mình, kiệt lực gào lên.

Nàng ta cúi xuống vuốt ve cây tử trúc phiến, một nan quạt đã bị bẻ gãy, nàng ta tỏ vẻ tiếc nuối, thở dài: “Ta điên rồi sao? Ta, ta bất quá đều muốn tốt cho tên tử quỷ đó. Vì hắn, chuyện gì ta cũng làm được, mà không giữ nổi hắn... ta thật sự điên rồi sao?”

Bàn tay nàng ta từ từ sờ lên mặt, nhẹ nhàng vuốt ve, từ khóe mắt nhỏ xuống một giọt lệ.

Cảnh nghèo nào bén mùi gấm lụa,

Gửi thân sai chốn cảm thương mình.

Dù gì nàng ta cũng thông minh hơn người, hiểu biết lễ nghĩa, nhưng vì gia thế bần hàn mới gả cho kẻ tầm thường như Chu Thái. Nàng ta chấp nhận số mệnh, nhưng gã là người chồng cực kỳ thô tục, dù dốc toàn bộ tâm lực vẫn không giữ nổi bên mình.

* * * * *

Sau đó xảy ra Tĩnh Khang chi loạn, đất nước nghiêng ngả, triều đình phải dời về nam... thế sự xoay vần, dâu bể.

Nàng ta đổi tên thay họ, giữa thời loạn, dù thông minh tài trí, đầu óc cẩn mật cũng thân bất do kỷ bị cuốn vào dòng hồng lưu của lịch sử, từng bước phiêu dạt.

Nàng ta từng phải nấp vào đống củi giữa hoang thôn trốn loạn binh, từng thấy những người cùng đào vong lần lượt mất mạng nơi quan đạo, lúc qua sông từng thấy thi thể trôi đầy... Với cái tên Đàm Ý Nương, nàng ta sống triền miên trong sợ hãi, không biết đến lúc nào trong thời thế binh hoang mã loạn này sẽ gục ngã ven đường.

Cho đến một ngày gặp được người nhà Tằng gia tị nạn trong một sơn động.

Ban đầu là người lưu lạc chiếu cố lẫn nhau, dần dần được người Tằng gia tiếp nhận, sau cùng gả cho con thứ Tằng gia Tằng Nguyên Sóc vốn mất thê tử bởi chiến loạn. Trong lúc loạn lạc, cũng không cần mai mối, vì nguyên do này mà đến giờ vẫn có người trong Tằng gia cho rằng nàng ta không danh chính ngôn thuận.

Sau khi xuôi nam, quốc gia dần ổn định, Tằng gia an cư tại Lâm An rồi liền mở lại nghề trồng hoa, Tằng lão phu nhân là vợ góa của tổng giám viện tử trong cung đình, nhất thân hoa nghệ xứng danh độc bộ thiên hạ, thế đạo vừa yên ổn, nghề trồng hoa cảnh liền hưng vượng.

Đàm Ý Nương vốn cũng là người trồng hoa sinh sống, trong nhà trừ mấy nam đinh, nàng ta cũng giúp rập đôi phần, dựa vào thông minh cùng công lao bỏ ra, mấy năm sau, đã học được kỹ nghệ trồng hoa của Tằng gia, nhờ loại mẫu đơn “kim trản xuất ngọc hoa” được Cao Tông hoàng đế tán dương mà ngẩng mặt với đời.

Nàng ta là nữ tử khéo cư xử, thông minh có thừa, long lanh mọi bề, dốc tận sức lực khiến danh tiếng Bách hoa Tằng gia đạt đến đỉnh cao, ngoài việc mỗi quý đại nội chỉ định Tằng gia tiến cống các loại hoa cỏ, những nhà giàu có trong thành Lâm An đều trở thành khách mua hoa. Tằng gia nhị phu nhân Đàm Ý Nương được coi là cái tên vang động khắp thành.

Tất cả nhờ bản lĩnh của nàng ta, dù xuất thân hèn kém nhưng dần phát đạt khiến cả Bách hoa Tằng gia không ai dám coi thường, kể cả Tằng Nguyên Sóc vốn ghét bỏ vợ, thường ra ngoài trêu hoa ghẹo nguyệt.

Người ngoài nhìn vào đều cho rằng làm con dâu của nhị phòng Tằng gia coi như nắm cả gia đình, Đàm Ý Nương phong quang khoái hoạt hơn ai hết, chỉ có ma ma bên cạnh mới biết đêm nào nàng ta cũng gặp ác mộng.

Xưa nay nào ai biết, từ khi sống trong nhung lụa, hai người từng bị nàng ta giết luôn xuất hiện trong mộng, máu me đầm đìa, liều mạng kéo nàng ta xuống vực sâu không đáy.

* * * * *

“Trong mắt phu nhân đọng lại nỗi sợ hãi”.

Trong hiệu hoa mang tên Hoa Kính, nghe bạch y nữ tử cơ hồ hiểu thấu mọi sự nói, thấy ngón tay nàng vương một hạt đỏ kỳ dị, bất chợt vẻ ngoài ngụy trang nhiều năm cùng nỗi sợ hãi dồn nén mất không chế, tử trúc phiến rời tay, Đàm Ý Nương thất thần hỏi Bạch Loa: “Cô sao lại biết... sao lại biết! Cô là yêu quái. Cô là yêu quái!”

“Xem ra phu nhân là người thông minh... nhưng vì hẹp hòi nhất thời mới gây ra việc như vậy”. Nghe tiếng Đàm Ý Nương khóc nức nở, giọng Bạch Loa đượm cảm thán: “Đố kỵ? Báo thù? Thật ra phu nhân vì cái gì? Tâm tư cẩn mật như thế lại dùng để giết người!”

“Cô muốn tố cáo tôi? Cô có chứng cứ gì?” Nàng ta kinh hãi nhìn bạch y thiếu nữ, đang lúc hoảng loạn nhưng đầu óc vẫn giữ được tỉnh táo, run giọng hỏi, dù gì sự tình đã qua quá lâu, không còn ai đối chứng nữa.

“Tôi không quản đến việc của người khác”. Bạch Loa ngẩng lên ngoắc tay, con bạch anh vũ bay tới đậu trên tay nàng, ánh mắt đen nhánh nhìn Đàm Ý Nương, “người chết cũng chết rồi, người sống đang chịu tội... việc lại qua quá lâu, cứ để nó vĩnh viễn vùi sâu”.

Đàm Ý Nương nhướng mắt, nhìn bạch y thiếu nữ với vẻ khó tin, ánh mắt Bạch Loa lạnh lùng nhưng trong đáy sâu ẩn ước hiện lên niềm thông cảm.

Nữ tử coi chồng là trời, lẽ nào trừ “trời”, trừ ái tình hôn nhân ra, họ không thấy gì khác nữa?

Nữ nhân nên có ước vọng... nhưng trên cõi đời, bao nhiêu lễ giáo, gông cùm ràng buộc, phảng phất cả đời họ bị xiềng xích vô hình thời thời khắc khắc ép buộc quên đi bản tính mà ngưỡng vọng “trời” của mình.

Bạch Loa thở dài, rồi ngẩng nhìn trời đất, biết mình không thể làm gì để xoay chuyển cả thế gian.

Từ khi Trạm Lô mang Hoa Kính đến cho nàng, ba trăm năm tu hành dưới trần thế dần phát huy diệu dụng, linh lực trên thiên giới quay lại với nàng, nhìn rõ được quá khứ vị lai của người khác, cũng thấy được sinh mệnh họ có trọng lượng thế nào. Cảm giác nặng nề hoặc thất bại đó là điều các vị chúa tể trên cõi Tây Thiên buộc nàng phải cảm thụ để răn dạy những kẻ chống lại mệnh trời như nàng: họ căn bản không có năng lực đó.

Nhưng muốn nàng cúi đầu, dù phải trải qua vạn kiếp nữa cũng không thể.

Đàm Ý Nương ra khỏi cửa, cảm giác ánh dương quang ngời ngời chói chang, dưới chân như đang bước trên lớp bông mềm nhũn, không mảy may có khí lực, cây tử trúc phiến trong ngực áo nặng cả ngàn cân. Nàng ta vịn vào tường thất thểu cất bước, ánh mắt hư nhược xen lẫn hoảng sợ cực độ.

Yêu quái... nữ tử đó là yêu quái vạn sự thông! Ngay cả bí mật riêng chôn sâu trong lòng cũng không giấu được.

Quyết không thể để nữ tử đó bước chân vào Tằng gia, nếu việc này bị người nhà chồng phát giác ắt bản thân sẽ vạn kiếp bất phục. Việc này nên vĩnh viễn chôn vùi.

Nàng ta vịn vào tường thở dốc, ánh mắt chợt sáng lên hung hãn.

Cũng như cái đêm hơn mười năm trước, nàng quyết định giết Ngụy Thắng và Tôn Tiểu Liên.

---------

Trúc là một loại thực vật nhưng so với các loại thảo mộc khác lại không giống về màu sắc, hình dáng. Tử trúc có ở núi Phổ Đà miền Nam Hải, thân nhỏ màu tím sẫm, ống dùng làm ống sáo, đốt có màu vàng.

[1]: con trưởng.

[2]: phương ngôn chỉ một loại gió lạnh thấu xương, gây hại lớn cho người dân vùng thảo nguyên vào mùa đông.

Chương 8: Bích đài liên

Nước thơm phức, màn là rủ thấp, Bạch Loa mắc tấm áo dài trắng bằng vải gai lên bình phong, vắt khô mái tóc dài chấm lưng vừa gội.

Lục đậu, bách diệp, băng phiến, mỗi loại ba tiền; bạch phụ tử, bạch chỉ, bạch đàn hương, tùng hương, mỗi loại năm tiền, tất cả nghiền nhỏ, bọc vải cho vào nước tắm sẽ khiến da trắng trẻo, nõn nà. Ngày mai là ngày mồng sáu tháng sáu, nàng đốt hương tắm gội tiễn Hoa thần.

Trong căn phòng bên ngoài là một vùng hoa cỏ, con bạch anh vũ lim dim đậu trên giá.

Ánh nến lập lòe, một mình nàng lặng lẽ tắm rửa xong xuôi, cầm cây lược sừng trâu chải tóc, chợt thở dài cầm mấy sợi tóc dính vào lược lên ngắm nghía, đoạn lấy tấm gương nhỏ ra soi, chạnh lòng nhìn mấy nếp nhăn nơi khóe mắt.

Tấm gương đồng hình bầu dục bằng rộng không đầy bốn thốn, phía sau khảm hoa sen bằng kim ngân ti, rực rỡ như thật, có lẽ cái tên Hoa Kính xuất phát từ đó. Mép kính chạm hình rồng quấn quanh, nổi bật trên nền mây.

Tấm gương này chắc đã có từ xa xưa, năm tháng hằn dấu qua ánh sáng lạnh lùng. Gương tuy nhỏ nhưng ánh sáng phát ra nhu hòa khôn tả, nhất thời che mờ cả ánh nến trong phòng. Bạch Loa dựa vào tường soi gương, bất giác thảng thốt trước bản sao trong đó.

Năm năm tháng tháng hoa còn đó

Tháng tháng năm năm người đổi dời.

(Bạch đầu ông vịnh - Lưu Hy Di)

(Bản dịch thơ của Lãng Xẹt Tử)

Từ khi giáng thế đã bao năm rồi? Nàng mỉm cười với mình, nốt ruồi như giọt lệ chực rơi nơi khóe mắt khiến nụ cười đượm bi ý.

Ánh nến ảm đạm nhưng bạch y nữ tử soi gương thương thân chợt run rẩy, phảng phất nhìn thấy gì đó, chợt quơ tay ra sau lưng. Căn phòng trống trải, ngoài hoa cỏ, chỉ có con bạch anh vũ ngoẹo đầu lim dim.

“Tuyết nhi... Tuyết nhi”. Bạch Loa nhìn con anh vũ một lúc rồi quay lại soi gương, chợt cảm khái vô vàn buột miệng khẽ gọi, chạm tay vào mặt kính.

Trong gương ánh xạ gương mặt nàng dưới ánh nến cùng khung cảnh căn phòng, sau lưng nàng là một tiểu hài tử ôm vai, ngoẹo đầu ngủ gục trong đám hoa cỏ.

Một tiểu hài áo trắng để tóc trái đào.

“Tuyết nhi”. Bạch Loa ngưng thị vào tấm gương khẽ gọi, chợt nước mắt nhỏ xuống.

Sáng sớm, nàng tắm rửa xong xuôi, đóng cửa hiệu, chuẩn bị ra ngoài.

“Vù”, cửa chưa kịp khép, bóng trắng loáng qua khe hở, con bạch anh vũ Tuyết nhi lách qua, Bạch Loa không kịp thu tay về, kẹp phải lông đuôi khiến nó kêu vang.

“Tuyết nhi, không được ra ngoài!” Nàng nhíu mày, buông tay giữ cửa dặn: “Ở lại trông nhà mau”.

Nhưng bạch anh vũ tỏ vẻ bất phục, trừng cặp mắt như hai hạt đậu đen nhìn nàng, dựng đứng đuôi líu lo: “Đi thôi, đi thôi! Tuyết nhi muốn đi!”

“Muốn chết! Mau câm miệng cho ta”. Bạch Loa giật mình, nhìn quanh quất, cũng may trời mới tảng sáng, mấy cửa hiệu quanh đó chưa mở. Nàng tức giận kéo đuôi nó: “Mi còn lắm mồm nữa, coi chừng ta cắt lưỡi. Định dọa chết ta sao, tiểu súc sinh?”

“Tuyết nhi không phải là tiểu súc sinh! Không phải đâu!” Con anh vũ cơ hồ uống nhầm thuốc, tiếp tục khiến người khác kinh ngạc: “Hôm nay là hội tiễn Hoa thần, bao nhiêu là tỷ tỷ sẽ tới”.

“Câm mồm!” Bạch Loa nhận ra ngoài ngõ Thiên Thủy có người tới, vội bịt mỏ nó lại.

Anh vũ tỏ vẻ bất cam, vừa cào vừa mổ, trước mắt nàng chợt hiện lên hình ảnh hài tử ngoẹo đầu ngủ đêm qua, liền mềm lòng, khẽ thở dài, cúi xuống dặn: “Được rồi, được rồi, ta đem mi đi theo. Bất quá, dù mi nhìn thấy gì cũng không được lắm lời, hiểu chưa?”

Bạch anh vũ gật đầu liên tục, nàng thở phào thả lỏng tay.

Ra khỏi ngõ trời đã sáng rõ, các hàng quán lục tục mở cửa. Bình thường nàng không thân cận lắm với hàng xóm, chỉ khẽ gật đầu chào hỏi.

“Gả cho người ta! Lúc nào thì gả cho người ta!” Đột nhiên con anh vũ đang yên tĩnh chợt thốt lên một câu.

Nàng biến sắc, nhưng chưa kịp quát mắng thì Cố đại nương bán điểm tâm sáng vừa mở cửa đã mỉm cười: “Ái chà, con chim này còn lắm mồm hơn mấy bà mối, cả ngày toàn kêu gả cho người ta, không biết học theo ai”.

“Chắc vậy”. Bạch Loa khẽ vỗ về con chim đậu trên vai, Tuyết nhi lách tránh, nhẹ nhẹ nhàng nhàng đáp xuống cạnh gánh đậu tương của Cố đại nương, theo thói quen thò đầu vào, lôi ra một cái đĩa nhỏ.

“Ái chà chà, cô nương xem Tuyết nhi linh lợi quá”. Cố đại nương mỉm cười, vội dốc ống đựng sữa đậu nành, đổ ra một chút: “Anh vũ thích uống nó, đúng là kỳ lạ”.

Bạch Loa ngồi xuống chỗ quen thuộc, giận giữ liếc Tuyết nhi: sớm muộn gì tiểu súc sinh này cũng mua lấy phiền hà.

“Bạch cô nương vẫn dùng một bát sữa đậu nành, một đĩa bánh bao nhân đậu?” Phục vụ khách quen hàng ngày, Cố đại nương dọn đồ rất nhanh, thái độ vô cùng ân cần, đồ ăn bốc hơi nghi ngút lập tức được đưa lên: “Hôm nay đẹp trời, hiếm khi thấy Bạch cô nương muốn ra ngoài, có phải định đến Tây hồ dự hội tiễn Hoa thần?”

Bạch Loa cầm đũa lên, khẽ đầu, Cố đại nương cũng ngồi xuống, bắt đầu gợi chuyện: “Đúng rồi, tháng sáu sẽ tiễn Hoa thần, cô nương là người mở hiệu bán hoa cỏ, lẽ nào không đi cho được?”

Bạch Loa không đáp, cắn một miếng bánh bao nhân đậu, phong cách hết sức thanh nhã.

Trời còn sớm, khách chưa đông lắm, Cố đại nương không chịu im lặng, nhìn bạch y nữ tử tú lệ, thao thao bất tuyệt: “À, cô nương có biết đêm qua trong cung mất một thanh bảo kiếm? Nghe nói Cao Tông hoàng đế sốt ruột, bố trí trọng binh khắp các cửa thành, kiểm tra nghiêm ngặt”.

Bạch Loa ngẩn người, khóe miệng khẽ cười, Trạm Lô... Trạm Lô quả nhiên đã về Doanh Châu, sau này nàng càng phiêu linh giữa cõi đời.

“Bạch cô nương đúng là xinh đẹp, tôi thấy tam tiểu thư của Tăng gia hiệu xưng Lâm An đệ nhất mỹ nhân vị tất so nổi...” Cố đại nương lại quay về chủ đề quen thuộc, Bạch Loa mỉm cười, lắng nghe bà ta thia lia, thủy chung không trả lời.

Bà ta là người lắm lời nhưng lương thiện, chồng thật thà, vợ giữ trọn bổn phận, gia đình hòa thuận, phu thê cử án tề my, con cháu vui vẻ. Hình mẫu gia đình hạnh phúc trên đời đều thế, thành ra theo bản năng, Cố đại nương mới cảm thương cho người cô độc như nàng chăng?

Hóa ra trong mắt họ, nàng không hề hạnh phúc?

Nàng ăn xong, không nghe thấy những lời lải nhải bên tai, mãi đến lúc uống hết một nửa bát sữa đậu nành mới nghe thấy một câu, suýt nữa bị sặc.

“Bạch cô nương, lần trước tôi nhắc đến việc cầu thân, cô nương nói rằng phải viết thư hỏi ý cha mẹ, hiện tại có hồi âm chưa?”

Con bạch anh vũ đang chúi mỏ vào bát sữa cũng dừng uống, ngẩng lên nhìn, con ngươi mắt đen nhánh như hạt đậu đảo đi đảo lại, Bạch Loa tựa hồ thấy trong mắt nó hiện rõ vẻ cười nhạo.

“Quê nhà xa xôi, hiện giờ vẫn chưa có hồi đáp, cha mẹ chưa có ý kiến, Bạch Loa sao dám tự làm chủ”. Chật vật mãi mới uống hết ngụm sữa, gương mặt lạnh lùng của nàng chợt tỏ vẻ ngượng ngùng, đặt bát xuống đáp.

Cố đại nương tỏ vẻ tiếc rẻ, thở dài: “Mấy hôm trước tôi có đến Tằng gia, lão phu nhân hỏi thăm cô nương, nói rằng Bạch cô nương ở ngõ Thiên Thủy tài mạo xuất chúng, trồng được loại hoa hiếm thấy, e rằng cả Tằng gia trừ đại thiếu gia không ai sánh được với cô nương”.

“Tằng lão phu nhân quá khen”. Bạch Loa mỉm cười, cầm khăn lau miệng: “Bách hoa Tằng gia thịnh danh cao vời, có quyền có thế, luận về đạo trồng hoa xứng danh quốc thủ, Bạch Loa chỉ là thảo dân nhỏ nhoi, so thế nào được”.

“Nhưng cô nương trồng được gốc kim liên hoa đó, Tằng lão phu nhân đến giờ còn nhắc mãi”. Cố đại nương chợt tỏ vẻ kích động, tay chân vung vẩy: “Cây sen đó kim quang lấp lánh, cứ như hoa dưới chân Đại La thần tiên”.

Bạch Loa chỉ mỉm cười lắng nghe, nhưng mắt ánh lên tia lạnh lùng, hối hận khi xưa không nên đưa chậu kim liên hoa cho Cố đại nương, kết quả bị người Tằng gia nhìn thấy, phiền hà liền gõ cửa. Tằng gia đó, nghe nói đại thiếu gia còn chưa thành thân, không hiểu sao lại đến phiên nhị thiếu gia muốn lấy vợ?

Hình như cả hai nhi tử của Tằng gia đều không ra gì, đại thiếu gia tựa hồ đầu óc có vấn đề, ngây ngây ngô ngô, nhị công tử tuy bình thường, cũng coi là nhân tài, có điều lúc nào cũng ra vào chốn lầu Tần quán Sở, nổi danh phong lưu chủ nhân của Lâm An thành.

Còn chưa gặp, cũng không biết vuông tròn thế nào, họ đã định kéo nàng về, lẽ nào người một mình như nàng lại e ngại ai đó? Xem ra không thể ở lại Lâm An nữa, sau hai năm cư trú, nàng cũng muốn chuyển đến địa phương khác.

Nàng cất khăn, vẫy tay, bạch anh vũ không đợi nàng gọi, lập tức bay tới, đậu lên vai chủ.

“Bạch cô nương, tôi thấy cô nương gả cho Tằng gia nhị công tử vừa hay xứng đôi, ai nấy đều tài mạo nhất lưu, lại cùng đi chung một con đường, kết hôn rồi cùng trồng hoa ngắm trăng chẳng hay lắm ru?”

Cố đại nương cố khuyên nhủ nhưng Bạch Loa đã mỉm cười đứng dậy, lấy bạc vụn trong túi ra đặt xuống bàn, khẽ xin lỗi: “Đại nương, hôm nay sinh ý chắc tốt lắm, Bạch Loa không dám làm phiền đại nương”.

* * * * *

Ngày mùng sáu tháng sáu. Trồng cỏ gai.

Đó cũng là phong tục của tiết hạ chí, tiễn Hoa thần đi.

Tây hồ đâu khác nàng Tây Tử,

Trang điểm cùng không, nét vẫn tình

(Thơ Tô Đông Pha, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê)

Tây Hồ hôm nay như nàng mỹ nữ khoác áo hoa rực rỡ, đúng lúc chính giữa mùa hạ, “Hoa rụng tàn hồng hạnh xanh nở”, đâu đâu cũng thấy màu xanh màu đỏ đua chen.

Ven hồ, liễu xanh rũ bóng, tàng cây xòa mặt nước, trên cây treo những đóa hoa giả kết từ lụa các màu cùng cờ đuôi nheo bằng tơ viết tên các vị Hoa thần, có điều xuân qua đã lâu, cố níu kéo thế này cũng uổng công.

Nữ tử nhàn du ồn ào, qua lại như thoi đưa, những nhà có tiền đều bao hết đình đài quanh đó làm nơi nghỉ chân, người khác mỏi chân đành rải giấy ngồi nghỉ ngay ven hồ.

“Hoa chủ tường vi họ Trương tên Lệ Hoa”. Lật một sợi dây tơ hồng nhạt lên xem hàng chữ ghi trên đó, Bạch Loa mỉm cười, đoạn ngắm dải hoa tường vi nở bung, đua chen với lá xanh, bất giác ánh mắt nhìn vào một góc cây hoa, không nói gì.

“Tỷ tỷ! Tỷ tỷ!” Chợt con bạch anh vũ đậu trên vai nàng kêu lên, cũng nhìn vào một nơi trên cây hoa.

“Tuyết nhi, im ngay!” Nàng biến sắc khẽ quát, liền đó quay lại nhìn cây hoa, gật đầu cất bước.

Mai hoa Hoa thần Liễu Doanh Mai; hạnh hoa Hoa thần Dương Ngọc Hoàn; tường vi hoa Hoa thần Trương Lệ Hoa... tên các vị Hoa thần phất phới trong gió, tô điểm thêm sắc thái cho Tây Hồ xanh um. Bạch y nữ tử đem theo con anh vũ, chậm rãi rảo bước giữa vùng dây tơ cùng hoa lụa, mục quang chợt chạm vào một cây hoa đang nở đóa sau cùng, ánh lên thần sắc phức tạp, mỉm cười bước tới.

“Đi cả rồi...” Men theo bờ hồ, dần dần đến vùng trông toàn trúc, người thưa hẳn, chỉ còn lại màu xanh trải dài. Dõi mắt nhìn liễu rũ, nàng khẽ buông một câu.

“Bạch cô nương... là Bạch Loa cô nương?” Sau lưng vang lên tiếng chào, Bạch Loa thu lại thần sắc tịch mịch, tựa vào thân cây quay lại nhìn trung niên mỹ phụ vừa chào mình.

Vị phụ nhân ăn mặc theo kiểu người có tiền: váy thêu bách điệp xuyên hoa dát vàng, áo sa màu nguyệt bạch, tay phải thò khỏi áo, cổ tay có một tràng Phật châu, ngón đeo nhẫn lam bảo thạch cầm một cây quạt trắng muốt. Thấy nàng quay lại liền tỏ vẻ vui mừng, vội vàng chạy tới: “Là Bạch cô nương! Trời ơi... thật rồi, là thật rồi, tôi lại gặp được cô nương”.

“Phu nhân là...” Bạch Loa tỏ vẻ nghi hoặc.

Mỹ phụ thấy nàng rụt rè, bất giác hơi ngừng lại, tỏ vẻ nóng lòng: “Tôi là Hưng Nương... Bạch cô nương quên rồi ư? Mười tám lăm trước ở Thanh Châu xảy ra lụt, nếu không có Bạch cô nương, cả nhà tôi đã chết đói rồi”. Vừa nói nàng ta vừa vén tay áo trái, cổ tay trống không, tựa hồ bị lợi khí cắt đứt.

“Thanh Châu?” Bạch Loa ngẫm nghĩ, thần sắc chợt giãn ra, mỉm cười: “Hoa ra là phu nhân, hiện giờ đã giàu có rồi”.

Mấy năm nay, Ngô Hưng Nương sống khá an nhàn nên đẫy đà hẳn, nghe Bạch Loa hỏi, mặt hơi đỏ lên: “Nhờ phúc của cô nương, tôi cũng dễ sống. Hơn mười năm rồi, tôi cũng già đi, đâu được trẻ trung như cô nương”. Vừa nói, nàng ta vừa liếc nhìn Bạch Loa, tỏ vẻ kinh ngạc trước nhan sắc hơn mười năm không đổi, nhưng dù gì nàng cũng là đại ân nhân nên không tiện hỏi nhiều.

Mắt nàng ta hơi đỏ lên, cúi đầu hạ giọng: “Bạch cô nương, hiện tại tôi sống ở Thiệu Hưng, hôm nay nhân có hội Hoa thần mới đưa nữ quyến đến Linh Ẩn tự dâng hương, gặp được cô nương đúng là ý trời. Đại ân của cô nương, phu thê Hưng Nương chưa bao giờ dám quên, chỉ sợ đời này không thể đền đáp”.

Bạch Loa mỉm cười, nốt rồi nơi khóe mắt như giọt lệ chực rơi xuống: “Phu nhân sống tốt là Bạch Loa cao hứng rồi, báo ân cái gì, hà tất nhắc lại chuyện xưa”.

Nàng đã gặp, đã hiểu vô số bí ẩn người thường không hiểu, nhưng có bao giờ nghĩ rằng trên đời có nữ tử rũ bỏ được quá khứ đau thương, giải thoát khỏi ác mộng mà sống vui vẻ chăng?

“Hôm nay tiễn xuân, nhà tôi bày yến ở Linh Ẩn thiền tự, Bạch cô nương đến nghỉ chân một chút được chăng?” Hưng Nương tỏ vẻ cảm kích, nhìn Bạch Loa với vẻ tha thiết, nàng ta biết tính tình ân nhân bình đạm, nên không nhắc đến chuyện báo ân nữa, chỉ sợ bạch y nữ tử bỏ đi, bèn cố mời mọc.

Bạch Loa vốn định lắc đầu nhưng thấy tự miếu nằm giữa vùng cây cối cao vút, loáng thoáng có tiếng phạn xướng, chợt nhớ ra một việc. Bạch anh vũ líu lo, cào vai chủ, nàng mỉm cười: “Vậy xin phiền phu nhân”.

Trong Linh Ẩn tự, hôm nay ai nấy đi dự hội Hoa thần nên khách dâng hương không đông, Phật điện trang nghiêm khá trống trải. Bạch Loa vào tiểu viện bên hông chính điện uống mấy chén trà, nghe Hưng Nương kể lại gia cảnh, từ chuyện sau trận lụt Thanh Châu làm cách nào cùng chồng về quê cũ Thiệu Hưng, mấy năm nay kiếm tiền ra sao, đến việc con trai cưới vợ, năm nay sẽ lên kinh dự thi thanh y tú tài...

Nàng lặng lẽ lắng nghe, thỉnh thoảng xen ngang một câu, thấy Hưng Nương hiện giờ giàu có, lúc nói chuyện lộ ra vẻ hài lòng với hạnh phúc, khóe môi nàng hiện lên nụ cười. Thật sự đã vén mây thấy trăng, nàng ta không còn khốn đốn như lúc ở thành Thanh Châu.

Quả nhiên... Vậy cũng tốt. Vậy cũng tốt.

Tuy phải trải qua tai họa ly tán nhưng cuối cùng cũng có được ngày nay, sức sống cùng kiên nhẫn của nữ tử này vĩnh viễn không khiến nàng thất vọng, bất giác nàng thấy được an ủi.

Kể được nửa chừng, nghe thấy bên ngoài có tiếng bước chân, tiếng nữ quyến lao xao trò chuyện, đang theo lối rẽ ngoài hành lang đến tiểu viện. Hưng Nương mỉm cười, cầm khay trà lên: “À, Bạch cô nương, con gái và con dâu của tôi đang đến đây, tôi ra gọi chúng vào. Tôi và Đình Chương vẫn bày bài vị trường sinh, luôn kể với tiểu bối ân đức của cô nương, hôm nay tôi bảo chúng vào cúi lạy”.

Không đợi Bạch Loa hồi đáp, nàng ta mở cửa bước ra ngoài, lớn tiếng gọi. cả nhóm nữ tử trẻ tuổi đang hớn hở cười đùa ngắm hoa lụa, thấy phu nhân bước ra liền nghiêm chỉnh lại, cung cung kính kính hành lễ.

Toàn gia tộc, dù là các nam tử, thấy Hưng Nương đều cung kính như thế. Nghe kể lại, trong trận lụt nhiều năm trước, nữ lưu như nàng nhưng bằng vào đại đức đại nghĩa, cứu cả mấy vị trưởng bối trong gia tộc, vì thế đến nay không ai trong tộc không biết đến nhân phẩm của thê tử Đình Chương, luôn giữ ba phần kính sợ với nữ tử cụt tay này.

Mười tám năm trước, trận lụt ở Thanh Châu gần như khiến Ngô thị diệt tộc.

Lúc đó là Kiến Viêm nguyên niên, Kim binh tiến vào Trung Nguyên bắt đi Huy Khâm nhị đế. Cao Tông hoàng đế mới lên ngồi liền hoảng sợ, không dám đối đầu với quân lang hổ, bỏ chạy ra biển, để lại sơn hà ngập trong khói lửa.

Nàng ta gặp Bạch Loa giữa thời loạn lạc đó.

Nàng ta mới mười bảy tuổi, vừa được gả cho tiểu thương Ngô Đình Chương, bất ngờ bị cuốn vào ngôi thành đói khát.

Vì đói, vì lụt, dân Thanh Châu thành mất hết đạo đức lý trí, ăn bất cứ thứ gì để sống sót, tình cảnh lạnh người khi xảy ra nạn đói trong các triều đại trước, sau cùng cũng xuất hiện tại Thanh Châu.

Thái nhân.

Lấy người làm thức ăn.

Ở lò mổ, thường có người công khai bán thịt sống với giá cao hoặc đổi thức ăn khác.

Cả nhà Hưng Nương sắp chết đói, bà bà lớn tuổi nên không chịu nổi, người thân không còn nổi khí lực mang đi chôn, đành để mặc rữa nát trong nhà.

Công công cũng sắp nối gót, con đại bá nhị bá đều chết trong chiến loạn, hai lão nhân đều do hai vợ chồng nàng ta chiếu cố, nhưng lâu ngày không có hạt gạo vào bụng, thậm chí không còn sức nói tròn vành rõ chữ một câu.

Đình Chương tuy nóng ruột nhưng bản thân cũng đói rũ người, không thể tìm cách xóa đi cơn đói cho mấy lão nhân, toàn gia chỉ còn đợi ngày về chầu Diêm Vương. Hưng Nương thầm rơi lệ hạ quyết tâm, nói dối chồng đi tìm thức ăn, đi bán mình làm thái nhân.

Tộc phổ họ Ngô còn ghi một đoạn về nàng ta.

“Kiến Viêm nguyên niên, thiên hạ động loạn, Thanh Châu đói khát đến nỗi ăn cả thịt người, gọi là ‘thái nhân’, cả quan gia không cấm cản nổi. Ngô thị sa vào nguy khốn, không thể quay về. Hưng Nương, vợ Đình Chương tự đi bán thịt mình đổi thức ăn cho già trẻ trong nhà, ai ngờ lúc sắp làm thịt, đồ phu thấy xinh đẹp bèn buông lời khinh bạc, tiết phụ kiên quyết cự tuyệt, thà chết không tuân theo. Đồ tể phẫn hận mới đem Hưng Nương lăng trì, chặt đứt tay trái, tuy đau đớn đến hôn mê nhưng không hề hối hận. Có người khách qua đường thương cảm, bỏ tiền mua lại, rồi giúp cả nhà rời khỏi thành về nam, nhờ đó Ngô thị mới còn đến nay”.

Những lời rướm máu đó khiến cả nhà họ Ngô sau cơn đại nạn luôn kính sợ nữ tử cụt tay.

Lúc Hưng Nương đưa vãn bối vào, trong phòng đã trống không, bạch y nữ tử nào thấy tung tích.

Trung niên mỹ phụ thở dài, không để ý đến ánh mắt dò hỏi của con gái, con dâu. Vị Bạch cô nương này, tình tình và hành tích xưa nay vẫn thế, không biết đến bao giờ mới gặp lại.

Chưa biết chừng lúc đó mình đã già còn nàng ta vẫn trẻ trung như thế. Trẻ trung như mười tám năm trước lúc bản thân nhuộm máu toàn thân nhìn thấy, vị ân nhân này đích xác không phải phàm nhân, mà là thần tiên hạ phàm chăng?

Còn nhớ lúc đó dù bên ngoài binh hoang mã loạn, bạch y nữ tử bình thản cực độ, ghé qua đường nhìn thấy người bị treo cùng bàn tay đứt mà không mảy may biến sắc. Thanh Châu thành động loạn, đói khát nhưng nàng ta vẫn bạch y như tuyết, thần sắc ung dung, phảng phất có bức màn vô hình ngăn cách khỏi bụi bặm trần thế.

Bạch y nữ tử thấy tay trái Hưng Nương bị đồ phu cắt đứt, đưa bàn tay máu me đầm đìa đến trước mặt nàng ta: “Con mụ kia, có chịu nghe không? Để lão từ từng nhát một cắt xuống... xem ngươi còn cứng miệng nữa không?”

Nàng ta đau đớn cực độ, cố nén không hét thành tiếng, tuyệt không cầu xin, giọng lạc đi: “Bán thịt chứ không bán thân”.

Bán thịt chứ không bán thân - đáng cười làm sao! Nhưng nói ra trong tình cảnh đó, lại đẫm mùi máu tanh. Thân thể có thể bán, có thể mặc cho đao cắt thịt, cho người ta đem nấu nướng, nhưng quyết không chịu rũ bỏ tôn nghiêm riêng, nữ tử phải tiết liệt, từ bé nàng ta đã được dạy như thế.

Đao của đồ phu lại ngập vào thân thể, trước khi hôn mê vì cơn đau, nàng ta còn thấy bạch y nữ tử qua đường đó dừng bước, nhìn mình với ánh mắt lạnh nhạt.Không hiểu sao, nàng ta tựa hồ nhận ra trong ánh mắt không có mảy may ôn độ đó hiện lên nỗi thương cảm đằm sâu.

“Thái nhân này ta mua, giá gấp đôi”.

Lúc nàng ta tỉnh lại thấy mình không còn ở nơi bán thịt, trong phòng đầy hoa cỏ, cổ tay bị đứt tuy còn chảy máu nhưng đã được băng bó, mở mắt ra liền gọi ân nhân. Bạch y nữ tử ngồi cạnh, bưng một bát bách diệp liên tử canh bón cho nàng ta.

Đang đói, nàng ta uống một hơi hết nửa bát, chợt dừng lại không uống nữa.

“Đa tạ ân nhân.. nhưng công công và các vị đại bá mấy ngày liền chưa ăn chút gì... tôi, tôi sao dám ăn no”. Chạm vào ánh mắt dò hỏi của bạch y nữ tử, nàng ta e dè cúi đầu, cơn đau từ vết thương lan lên óc khiến toàn thân run rẩy.

Bạch y nữ tử nhìn nàng, ánh mắt hiện lên nỗi thương cảm thẳm sâu, chợt nàng ta nghe thấy ân nhân thở dài một hơi.

“Vì sao mỗi lần lụt lội loạn động, toàn là kẻ yếu đuối phải chịu hy sinh?” Nỗi đau hiện lên trong mắt bạch y thiếu nữ nhưng Hưng Nương không hiểu, ân nhân lại nhìn ra ngoài song cửa, lẩm bẩm: “Không sai, lúc cả nhà sa vào khó khăn thì lão nhân là trưởng bối, trẻ con là hy vọng, nam nhân là chủ cả nhà, vậy thuận lý thành chương thì nên hy sinh nữ tử chăng?”

Hưng Nương nhìn sang ân nhân cứu mệnh, ngập ngừng hồi lâu: “Kỳ thật tôi chỉ là gánh nặng của Ngô gia, nào có tác dụng gì, tôi không biết trồng trọt, không biết kiếm thức ăn cho gia đình, coi như phí một miệng ăn, chi bằng bán mình làm thái nhân còn cứu được cả nhà”.

Bạch y nữ tử sững sờ, chợt mỉm cười - sắc mặt trắng muốt, nhãn thần lãnh liệt, khóe mắt có một nốt ruồi nhỏ như giọt lệ sắp rơi khiến nụ cười đượm buồn.

“Tấm lòng nữ tử trên đời từ bi hơn hết, vì cả nhà sẵn sàng hy sinh thân mình”. Bạch y thiếu nữ lắc đầu thở dài, giơ ngón tay lên, chợt vù một tiếng, Hưng Nương thấy một con bạch anh vũ bay tới đậu trên vai nàng. “Nhưng cô nương nói không sai, nữ tử không biết canh tác, không thể nuôi sống gia đình nên đến lúc nguy cấp đều bị đem ra làm vật hy sinh”.

“Tôi tự nguyện làm thái nhân cứu cả nhà, Đình Chương không hề bức ép, chàng không biết tôi trốn đến đây”. Hưng Nương tuy không hiểu ý nữ tử nhưng tìm cách bào chữa cho chồng.

“Tôi không nói cô nương...” Bạch y thiếu nữ nhìn nàng ta, bình thản đáp, trong mắt hiện lên ý vị sâu xa: “Triều đại nào cũng thế, mỗi khi chiến loạn, toàn là phụ nữ yếu nhược bị đem ra hy sinh. Ngay cả ở đời Đường, lúc Trương Tuần không giữ nổi thành cũng hạ lệnh giết nữ nhân làm quân lương, cô nương nói xem chả lẽ tính mạng nữ tử rẻ rúng đến thế?”

“A?” Hưng Nương chưa từng đọc sách, không hiểu bạch y thiếu nữ nói gì, bất giác sững người.

Bạch y thiếu nữ vuốt ve con anh vũ, ánh mắt chợt sáng lên lạnh lùng: “Thiên địa bất nhân, thiên địa bất nhân... thế đạo này vốn không công bằng với nữ tử. Bất quá...” Nàng quay phắt lại nhìn bàn tay trái Hưng Nương bị chặt cụt, chậm rãi nói từng chữ: “Cô nương nên nhớ, sinh mệnh không nên coi rẻ”.

“Ân nhân... ân nhân xin cho biết tôn tính đại danh?” Hưng Nương không hiểu lời cô nương áo trắng, đành lên tiếng hỏi khỏa lấp.

“Tôi tên Bạch Loa”. Bạch y nữ tử thản nhiên đáp, con anh vũ trên vai vẫy cánh.

Đó là chuyện từ mười tám năm về trước.

Lúc đó nếu không có thiếu nữ tên Bạch Loa này cứu nàng ta khỏi đồ đao rồi giúp cả nhà thoát khỏi Thanh Châu thành, quay về Giang Nam, chắc chắn cả nhà họ Ngô không ai sống sót đến giờ.

Đưa họ rời khỏi Thanh Châu, bạch y nữ tử thong thả lên đường, hơn mười năm nay chưa từng hiện thân.

Đình Chương đỡ vợ, nhìn theo hướng nữ tử đi xa, cùng cả nhà quỳ xuống lạy tạ. Giờ phút đó, nàng ta từng nghĩ, ân nhân e rằng không phải phàm nhân?

Hơn mười năm sau gặp lại Bạch cô nương, dung mạo vẫn như năm xưa cũng không khiến nàng ta kinh ngạc lắm.

Nhưng tuy thời gian qua lâu rồi, về đến Giang Nam cuộc sống dần ổn định, sinh hoạt dễ chịu hẳn nhưng nỗi sợ lúc bị đao đâm vào thân thể hằn sâu trong tâm lý nàng ta, nhiều đêm nằm mơ thấy mình bị treo lên như súc sinh, từng khối thịt đỏ lòm móc vào thiết câu, chợt tỉnh dậy lúc nửa đêm, toàn thân đẫm mồ hôi lạnh.

Nàng ta thường nghĩ, những sinh linh bị làm thịt đó không hiểu thống khổ đến thế nào?

Từ đó nàng ta quanh năm ăn chay, không động đến thịt.

* * * * *

Hậu sơn Linh Ẩn thiền tự rợp bóng cổ thụ, tiếng chim lách chách liên hồi vang vọng giữa ngọn núi u tĩnh.

Bạch Loa dừng chân thở dài, những người trong quá khứ vốn không định gặp thì cứ để qua luôn, tiếp tục sống thế này là được, nhưng những nữ tử đó đó lại nhớ mãi.

Bàn tay nàng đặt lên tảng đá ven đường, chợt trỗi lên cảm giác kỳ lạ bèn cúi xuống.

Bàn tay trắng nhợt của nàng đặt lên tảng đá đen gần như trong suốt, chất đá vô cùng kỳ dị, không giống đá núi thường thấy ở vùng Giang Chiết, đột ngột nhô lên, hoàn toàn không nhiễm phàm khí, ba khối chụm lại, khối sau cao hơn, tựa vào dốc núi. Quan sát tảng đá thật kỹ, ánh mắt nàng dần ngưng trọng, chầm chậm đưa tay sờ vào.

Quả nhiên có khắc chữ, hiển nhiên từ lâu lắm rồi nên màu đỏ của hàng chữ bong hết, chỉ còn lại vết khắc đen nhánh.

Là một hàng chữ thẳng tắp.

Bạch Loa hướng ánh mắt nhìn theo, trên tảng đá khắc ba đại tự: Tam sinh thạch.

Mảnh hồn trong trên Tam sinh thạch,

Kể gì thưởng nguyệt ngâm phong.

Thẹn với tình nhân từ xa đến viếng,

Thân này tuy tan lòng còn mãi.

Bên dưới ba đại tự còn khắc một bài tuyệt cú, chữ nào cũng to cỡ đồng tiền.

Mắt nàng chợt sáng lên.

Con anh vũ cũng bất an, cào vai nàng, ánh mắt tỏ vẻ phức tạp. Nàng chăm chắm nhìn ba đại tự, rụt cánh tay giơ lên cao về đỡ lấy ngực, tấm Hoa Kính nhỏ xíu trong đó phảng phất dính liền với trái tim khiến nàng lãnh tĩnh cực độ.

Lại quay về trước khối Tam sinh thạch.

Hóa ra nàng phiêu linh lâu đến thế, lần trước đến trước khối đá này ở Thiên Trúc, tính đến nay vừa chẵn sáu mươi năm rồi ư? Vừa hết một vòng luân hồi, bao nhiêu truyền kỳ vẽ thành một vòng tròn, từ điểm kết thúc quay lại điểm khởi đầu.

Vĩnh sinh tịch mịch biết bao, tuế nguyệt tàn khốc vô chừng.

Còn may là nàng vẫn có một người để chờ đợi, sáu mươi năm một vòng luân hồi, cũng đến lúc gặp lại y. Nếu không vì kiên trì đấu tranh, vĩnh viễn không thỏa hiệp, quyết giữ gìn những gì mình theo đuổi, có lẽ sau mấy trăm năm tịch mịch, nàng đã đầu hàng những kẻ an bài số mệnh trên Côn Luân sơn.

Tựa vào tảng đá, vô số sự tình trong những kiếp luân hồi phảng phất như thủy triều dâng lên trong lòng nàng, đã thấy nhiều bi hoan tình cừu, hỉ nộ ai lạc, đã qua bao lần sinh ly tử biệt, nỗi đau xé trời ập tới, nàng chợt thấy không thể chống chọi nổi, bàn tay mềm nhũn, nhắm mắt lại gục xuống tảng đá.

Lại gặp khối Tam sinh thạch này, có phải bánh xe vận mệnh tiếp tục chuyển động chăng?

“Đừng gặp y”. Đột nhiên, giữa đỉnh núi yên lặng khẽ vang bên tai khiến nàng giật nảy người, ngoái lại quan sát, làm gì có bóng ai ngoài con bạch anh vũ yên lặng đậu trên tảng đá, ánh mắt như hai hạt đậu đen nhìn nàng.

Ánh mắt đó, như của con người. Đau lòng xen lẫn tiếc nuối.

Lần này nàng không buộc Tuyết nhi im lặng, mỉm cười mệt mỏi lắc đầu: “Ta vẫn phải đi gặp chàng”.

“Tỷ tỷ lại thương tâm mất thôi”. Tuyết nhi hiển nhiên nóng lòng, nhảy choi choi vẫy cánh, lúc đáp xuống hóa thành một tuyết y nữ hài tóc trái đào, tiến tới kéo áo nàng: “Gặp thì sao? Y là phàm nhân, chỉ sống được mấy chục năm, tỷ tỷ lại trơ mắt thấy y già đi, đau đớn, bệnh tật rồi qua đời mà không làm được gì, tỷ tỷ dù sao cũng bất tử, đã mấy kiếp rồi, lòng tỷ tỷ còn chưa đau đớn đủ ư?”

“Đó là trừng phạt của Thiên đế Vương mẫu. Tuyết nhi”. Nàng lại mỉm cười, vuốt ve Tam sinh thạch: “Muội cũng biết năm đó ta dám gây ra những việc như thế, cũng đã liệu trước kết quả ngày nay, chỉ là không nhiên liên lụy đến muội”.

“Điên thật rồi, cả hai đều điên hết rồi”. Tuy dáng vẻ hài tử nhưng lời lẽ tuyết y nữ hài già dặn vô cùng, ngẩng lên nhìn Bạch Loa, tỏ vẻ không hiểu: “Bạch Loa tỷ tỷ, lúc nào muội cũng đi theo tỷ, đến bất cứ đâu mà không oán hận, nhưng tỷ tỷ yêu y như vậy sao? Thật sự vì y mà bất chấp tất cả”.

“Không hẳn vì yêu chàng. Tất cả những việc ta làm vị tất vì yêu chàng”. Khóe môi Bạch Loa mỉm cười, chợt lắc đầu, nốt ruồi như giọt lệ sắp rơi khẽ động: “Ài, muội mới tu được ba trăm năm, còn nhiều việc chưa hiểu”.

Ánh mắt nàng hướng về chân trời phía tây, nhãn thần đột nhiên trợn tròn xoe hồi lâu mới khẽ thở dài, chùng giọng: “Vì cả hai chúng ta đều là những kẻ phản nghịch mệnh trời”.

Tuyết nhi còn định nói tiếp, nàng chợt lắng nghe, thần sắc trở nên khẩn trương, vỗ nhẹ lên lọn tóc cô bé: “Ồ, có người tới, mau biến hình lại”.

“Ái chà, có phải gặp Tam sinh thạch, liền gặp y ngay không?” Tuyết nhi cả kinh lẩm bẩm, gần đó vang lên tiếng bước chân, cô bé vội phất tay, biến thành con anh vũ trắng muốt, lượn một vòng trên không, đậu xuống vai Bạch Loa.

Quả nhiên có người tới, trên con đường mòn xuất hiện một vị tăng lữ áo thâm mang hài từ Thiên Trúc tự bước đến cạnh ao nước cạnh tảng đá, cúi xuống.

Là y chăng?

Bạch Loa cảm giác con bạch anh vũ trên vai cũng quắp trảo lại, tỏ vẻ bất an, nhưng tăng lữ áo thâm cúi xuống hái sen, nàng không nhìn rõ diện mạo.

Hóa ra phía trước Tam sinh thạch có ao nước, đang độ tháng sáu nên mặt ao xanh rờn lá sen, hoa nở trắng tinh.

Bạch Loa chưa bao giờ tỏ ra bất an đến thế, chăm chú quan sát tăng lữ hái hoa sen, ngón tay vô thức vạch đi vạch lại lên Tam sinh thạch, thủy chung không lên tiếng.

“Huyền Minh!” Đột nhiên một tiếng gọi trong vắt phá tan bầu không khí yên tĩnh.

Nàng cả kinh, quay lại như điện, con bạch anh vũ không nén được, bật lên tiếng gọi cái tên đó “Huyền Minh!”Tăng nhân bên bờ ao quay lại, tỏ vẻ kinh ngạc, trong núi vắng hóa ra còn có người.

Bạch Loa thở phào một hơi.

Không phải y. Không phải Huyền Minh.

Đôi mắt trần thế kia không phải Huyền Minh, dù mấy chục năm không gặp, nàng vẫn nhận ra.

“Điểu nhi nghịch ngợm làm đại sư giật mình”. Nàng mỉm cười hành lễ, lòng thầm thở phào, xem ra muốn tìm ra y ở chốn trần thế này, chắc còn phải phí công không ít nữa.

Tăng nhân đáp lễ, ôm bó hoa sen vội vàng đi ngay.

Đời Tống này, lễ pháp nghiêm cẩn, tuy là người xuất gia nhưng gặp một nữ tử giữa núi vắng, tăng nhân vẫn sợ rằng chỉ nói một câu cũng sẽ khiến người khác hiềm nghi, Bạch Loa men theo con đường mòn đến cạnh ao sen.

Ao sen này để thờ Phật chăng?

Chợt tim nàng đập nhanh, Tuyết nhi trên vai cũng ré lên, ngay lúc nàng cúi nhìn, bao nhiêu hoa sen trong ao đều bừng nở.

“Trời ơi! Bạch Loa tỷ tỷ xem này, là tỷ tỷ”. Tuyết nhi kêu lên, đôi mắt tròn xoe nhìn ao sen không chớp, “loại hoa này sao lại có ở phàm gian? Là ai trồng?”

Bạch Loa cúi đầu nhìn bóng mình in dưới nước, nhưng chỉ có một đóa hoa sen trắng đang phát ra ráng quang cùng khí lành, hương thơm nức. Cánh hoa như ngọc điểm những vết xanh biếc, phảng phất như giọt lệ.

Đó là chân thân của nàng, từ khi xuống phàm trần, mấy trăm năm nay nàng chưa từng thấy lại chân thân.

Nàng cúi xuống hái một bông sen, trên mỗi cánh hoa trắng muốt đều có một điểm xanh biếc, nàng như si dại, buột miệng lẩm bẩm: “Không sai, là Bích đài liên... Bích đài liên. Thật, thật sự là nó chăng?”

“Ai trồng nhỉ? Huyền Minh ư? Y có bản lãnh này?” Tuyết nhi kinh ngạc cực độ bay xuống đậu lên một bông sen, nhìn bóng hoa dưới nước: “Bạch Loa tỷ tỷ, tỷ là Bích đài liên nở trước Tây thiên Đại Hùng bảo điện, tu liền năm ngàn năm mới quy y Phật tổ. Mấy, mấy bông hoa này là phân thân của tỷ tỷ”.

Bạch Loa vẫy ngón tay, đóa hoa nhẹ nhàng đáp xuống nước, vừa khớp với cuống hoa gãy đoạn.

“Đừng kinh ngạc, năm xưa Dao Trì tiên tử Yến Lưu Hà say rượu mất trâm mới tạo thành ngọc trâm hoa - Bích đài liên tuy là tiên hoa trên trời nhưng nếu biết cách trồng, vẫn xuất hiện tại phàm gian như thường”. Nàng mỉm cười, vuốt ve lá sen dưới ao, “hà huống sen là loài không có rễ, sống dựa vào nước mà nơi này lại là Phật môn thánh địa”.

Bạch anh vũ nhảy nhót trên lá sen, đáp xuống một bông sen khác, ánh mắt linh động: “A, thú vị lắm... lần này là Huyền Minh tìm tỷ tỷ trước, trồng ra loại hoa này cạnh Tam sinh thạch”.

Bạch Loa lắc đầu cười khổ: “Đâu có đơn giản như thế. Đợi ta hỏi các vị trưởng lão trong Thiên Trúc tự xem ai trồng ra ao sen này là tìm được chàng. Hy vọng lúc đó chàng không xa xôi tận chân trời”.

“Bạch Loa, cố lên”. Tuyết nhi vẫy cánh bay về vai nàng, chợt nói một câu: “Đừng chịu cúi đầu”.

Một thời thần sau, Bạch Loa ra khỏi cửa Thiên Trúc tự, khóe miệng ẩn hiện nụ cười phức tạp khôn tả.

Theo con đường mòn vắng người xuống núi, nụ cười dần bừng nở, hiện rõ niềm vui. Tuyết nhi ở cạnh mấy chục năm cũng chưa bao giờ thấy nàng vui như thế. Xem ra người đó vô cùng trọng yếu, hôm nay sắp gặp y mới khiến nàng hoan hỷ đến thế.

Tuyết nhi nghiêng đầu, đang nhìn đến xuất thần chợt thấy chỗ đậu lay động, vội bay vụt lên.

Hóa ra bốn bề vắng người, Bạch Loa phất tay, yêu kiều múa giữa rừng.

Nữ tử bình thường vẫn nghiêm nghị, đôi tuệ nhãn nhìn thấu hồng trần, trong lúc này phảng phất như nữ hài không hiểu thế sự, múa để giãi bày niềm vui trong lòng. Mái tóc đen dài phất qua gò má, tà áo trắng như tuyết bao quanh nàng tựa sương khói, lấp lánh khác nào cầu vồng, phất phơ vô định.

Là Hàn Yên Thúy.

Anh vũ đậu xuống ngọn cây, lặng lẽ ngắm nhìn, ánh mắt tỏ vẻ thở than, ba trăm năm rồi... Ba trăm năm trước, tại Dao Trì hội nó từng thấy Bạch Loa thiên nữ múa say mê như thế.

Lúc đó Vương mẫu bày yến đãi chúng tiên, Trạm Lô và Bạch Loa cùng rời khỏi bàn, cùng múa điệu Hàn Yên Thúy chúc thọ Tây vương mẫu.

Trạm Lô bạt kiếm, Bạch Loa phơi phới múa, một đen một trắng, một cương một nhu, hào quang hòa nhau khiến chúng tiên đều vỗ tay khen ngợi, cửu thiên tiên nữ cũng rải hoa xuống khiến tam giới nhất thời khẽ chấn động.

Một cái búng tay, đã bao kiếp dâu bể trôi qua...

Đang lúc thân ảnh Bạch Loa như làn khói nhẹ bay múa, anh vũ nhìn đến xuất thần, một cơn gió lùa qua, lưng chừng không rải xuống mưa hoa lấp lánh che kín thân thể bạch y thiếu nữ đang múa say mê.

“Tỷ tỷ xem! Tỷ tỷ xem!” Bạch anh vũ kêu lên, bay về vai Bạch Loa, đôi mắt đen nhìn lên mấy cây hoa cạnh đó, cào vào vai chủ, không che nổi hưng phấn: “Là các tỷ tỷ, các tỷ tỷ đều tới”.

Đang xoay vòng, Bạch Loa chợt dừng lại, ngẩng lên nhìn khu rừng vắng người, mỉm cười hành lễ: “Các vị muội muội hôm nay cứ quay về đi, năm tới sẽ gặp, thay ta hỏi thăm Thanh Đế sư phụ”.

Đỉnh núi vắng vẻ, trên thân cây hoa ven đường treo những đóa hoa giả kết từ lụa các màu cùng cờ đuôi nheo bằng tơ viết tên các vị Hoa thần, tô điểm thêm cho ngày hè xanh om bóng cây, hoa rụng bay phất phới, tiễn xuân qua.

Nhưng giữa không trung vô hình, có hơn mười giai nhân mặc vũ y rực rỡ đứng trên mỗi ngọn cây như mây đùn, nghe Bạch Loa nói liền cùng cúi người chúc phúc: “Tỷ tỷ bảo trọng”.

Hạnh hoa Hoa thần Dương Ngọc Hoàn, tường vi hoa Hoa thần Trương Lệ Hoa, thạch lựu hoa Hoa thần A Thố, những thần tiên xinh đẹp nổi danh hành lễ xong liền ngẩng đầu, cùng giơ tay lên, phảng phất có gió núi thổi tới, những cánh hoa còn lại trên cây theo gió tung bay, phơi phới rơi xuống.

Bạch Loa mỉm cười vung tay, đứng giữa cơn mưa hoa ngũ sắc, nghiêng người múa, hắc phát bạch y tung bay.

“Tuyết nhi, ngày mai chúng ta đi gặp Huyền Minh”. Nàng mỉm cười, khẽ thò tay cho con anh vũ đậu lên ngón tay, dịu giọng nói rồi men theo con đường mòn khuất bóng vào rừng.

Điệu múa vừa rồi tuy không chấn động tam giới cửu thiên như ba trăm năm trước nhưng đủ chấn nhiếp thần hồn một người vô tình chứng kiến.

Mãi đến khi bạch y thiếu nữ khuất bóng, một công tử đứng dưới gốc hoa trà vẫn chưa tỉnh lại, ngây ngô nhìn hoa rải khắp bãi đất trống trong rừng. Chợt sau lưng vang lên tiếng thở hồng hộc của tiểu đồng bẩm cáo rằng vừa lấy ngọc tiêu bỏ quên tại thiền phòng của phương trượng về, y mới giật mình tỉnh lại.

“Nhị công tử, có đến chỗ Tiết cô nương nghe hát chăng?” Thanh y tiểu đồng thấy chủ nhân thảng thốt như vậy liền nhắc: “Mấy hôm rồi công tử không đến Đào Hoa cư, Tiết cô nương chắc giận lắm, lần này đã chuẩn bị xong xuôi, ngàn lần không nên chần chừ nữa”.

“Cái gì mà Đào Hoa cư và Tiết cô nương! Thư Huệ, ngươi nói xem, ban nãy ta gặp được tuyệt sắc nữ tử đó...” Vị công tử vẫn nhìn theo hướng bạch y nữ tử, cấu vào tay thấy đau mới nói tiếp: “... không phải nằm mộng chứ! Trên đời này còn có nữ tử như thế, hai mươi sáu năm nay ta sống uổng phí rồi”.

Thư Huệ không ngờ công tử chuyển tính nhanh thế, nhất thời ngẩn người, cầm ngọc tiêu cười nói: “Ái chà, hôm nay mùng sáu tháng sáu, không phải công tử cơ duyên xảo hợp, gặp được hoa tiên chăng?”

Vị công tử đến chỗ Bạch Loa vừa múa, cúi người nhặt một đóa hoa đưa lên mũi ngửi, cảm giác tâm thần say sưa.

Nghe đồng tử trêu đùa, y lại tưởng là thật, ngây ra hồi lâu mới nói: “Đúng... nữ tử như thế sao là người phàm được, chắc là thần tiên”.

* * * * *

Dưới ánh lê minh, ngõ Thiên Thủy chìm trong lặng lẽ.

Cố đại nương mở cửa, chuẩn bị bán hàng, bất giác cả kinh, không biết từ bao giờ ở cửa có một vị nữ tử bạch y hắc phát đang đứng, mái tóc đẫm sương, xem ra đợi đã lâu.

“Bạch cô nương?” Nhận ra tướng mạo nữ tử, cái xảo trong tay Cố đại nương suýt nữa rớt xuống, vội vàng mở hẳn cánh cửa, tay kia lau vào áo: “Cô nương dậy sớm thế? Đợi một chút, đại nương sẽ mở hàng ngay, nấu đậu cho cô nương uống”.

“Vâng, đại nương không cần vội”. Bạch Loa mỉm cười, ngăn lại: “Bạch Loa có việc muốn bàn với đại nương”.

Cố đại nương kinh ngạc nhìn nữ tử bình thường vẫn lạnh lùng, con bạch anh vũ trên vai nàng tỏ vẻ bất an, lúc lắc chân. Bạch Loa tiếp lời: “Bạch Loa vừa nhận được thư trả lời của phụ mẫu, nói rằng Tằng gia là gia đình gia giáo, hôn sự tùy Bạch Loa làm chủ”.

“À, vậy là đồng ý, đúng không?” Cố đại nương vỗ đùi, mỉm cười mừng ra mặt, vội kéo tay Bạch Loa đến ngồi xuống trường kỷ trong nhà: “Tôi đã nói rồi, tướng mạo nhân phẩm như Bạch cô nương, trừ Tằng gia nhị công tử làm gì còn ai xứng đáng. Hà huống Tằng lão phu nhân lúc nào cũng giục giã, đợi trời sáng tôi sẽ đến báo”.

Bạch Loa mỉm cười, gương mặt bình thản cũng tỏ vẻ hoan hỷ, lời tiếp đó khiến Cố đại nương kinh hãi cơ hồ nhảy bật lên: “Bất quá, đại nương, người Bạch Loa muốn lấy không phải Tằng gia nhị công tử mà là đại công tử Viễn Ca”.

“Hóa, hóa ra Bạch cô nương đã gặp đại công tử?” Cố đại nương cảm giác tim đập như trống trận, thầm nhủ Bạch cô nương chắc đã có tình cảm với người ta, không nén được buột miệng hỏi, Bạch Loa lại mỉm cười lắc đầu: “Chưa, Bạch Loa chỉ thấy một ao hoa sen đại công tử trồng trước Thiên Trúc Tam sinh thạch”.

“Chả trách được, tôi đang tự hỏi sao cô nương lại thích Tằng gia đại công tử...” Cố đại nương thở phào, lại trở nên lo lắng, lắc đầu khuyên: “Không sai, đại công tử trồng được hoa đẹp, cô nương là người yêu hoa nên mến luôn cả người, bất quá không thể gả cho đại công tử được”.

Bạch Loa thấy bà ta tỏ vẻ nghiêm trọng, liền tỏ vẻ ngạc nhiên: “Sao lại không gả được? Lẽ nào công tử là yêu quái mặt xanh tóc đỏ?”

“Không phải yêu quái nhưng con người điên cuồng, bình thường hay nói những lời không ai hiểu nổi, nói cái gì mà từng đến Côn Luân gặp Thiên nữ Vương mẫu, tính tình đại công tử cũng quái dị, chết cũng không chịu lấy vợ, cho rằng mọi nữ tử không yêu mình mà yêu địa vị trưởng tử Bách hoa Tằng gia. Trước đây nhiều nhà trong thành muốn gả con gái, đều bị công tử từ chối thẳng thừng”. Cố đại nương nói một hơi: “Thành ra đắc tội với mấy nhà có máu mặt khiến toàn gia không dám nhắc đến việc lấy vợ với đại công tử nữa, lần này lão phu nhân mới nhờ tôi tìm cho nhị công tử một người hợp tâm hợp ý”.

“À, là vậy ư?” Bạch Loa không kinh ngạc mà mỉm cười, con bạch anh vũ cũng kêu quang quác, hoạt bát nhảy xuống bàn, ngoẹo đầu nhìn chủ nhân.

“Nghe nói nhân phẩm Tằng gia nhị công tử cũng không ra gì”. Bạch Loa mỉm cười, không tỏ vẻ gì.

Cố đại nương ngây người, không ngờ nàng lại nghe được lời đồn, thầm oán Tằng gia không biết dạy con để y trở thành hỗn thế ma vương, ngoài miệng đành phải phân bua: “Bạch cô nương nghe ai nói xằng? Nhị công tử Viễn Kiều cả dáng vẻ nhân phẩm đều nhất lưu, chỉ có điều tính tình hơi phong lưu, nhưng có công tử nào không thế? Công tử lại chưa gặp được nhân vật như cô nương, gặp rồi tất không bao giờ để ý đến chốn phong hoa tuyết nguyệt nữa”.

Bạch Loa khẽ cười lạnh, không nói câu nào khiến Cố đại nương hồi hộp, bà ta biết tính tình Bạch cô nương một khi đã định dù người khác nói thế nào cũng vô dụng, hiện giờ càng thấp thỏm, không hiểu nàng định liệu thế nào.

“Bạch Loa chỉ muốn gả cho Tằng Viễn Ca, những người khác đều không được”. Không đợi Cố đại nương nói thêm câu nào, Bạch Loa ngẩng lên: “Nhờ đại nương nói với Tằng gia”.

Cố đại nương há hốc mồm, Bạch Loa lại ngẫm nghĩ rồi lấy một vật từ ngực áo ra, đặt vào tay bà ta: “Đại nương đừng ngại chuyện đại công tử không chịu lấy vợ, đưa tấm gương này ra tất công tử sẽ biết định liệu”.

Cố đại nương vẫn sửng sốt, nàng mỉm cười lắc đầu, đứng dậy cáo từ.

Ngoài trời đã sáng, Cố đại nương nhìn theo bạch y nữ tử đưa con anh vũ đi ra, lòng kinh hãi mãi không thôi, lòng tay lạnh ngắt, cúi xuống nhìn mới phát giác là một tấm gương nhỏ.

Tấm gương hình bầu dục làm bằng đồng khảm vàng, rộng không đầy bốn thốn, phía sau khảm hoa sen bằng kim ngân ti, rực rỡ như thật, hình như là đổ rất cổ.

“Ta phải ăn nói thế nào với lão phu nhân?” Bà ta nhìn tín vật trong tay, hồi lâu mới tỉnh lại, không cần bán hàng nữa, trừ trừ mãi mới đứng dậy đến Tằng phủ.

* * * * *

Kính dữ nhân câu khứ,

Kính quy nhân bất quy.

Vô phục tiên nga ảnh,

Không lưu minh nguyệt huy

Tạm dịch:

Gương theo người đi mãi

Gương về người nơi đâu

Non tiên giờ xa thẳm

Trăng vằng vặc trên đầu.

Kính quy nhân bất quy... Bạch Loa đứng giữa vùng hoa cỏ, nhìn hàng chữ, phảng phất như chìm vào mộng.

Huyền Minh... Huyền Minh, thiếp tìm thấy chàng rồi.

“Ái chà, không ngờ việc này lại thành ngay”. Cố đại nương ngồi trong đại sảnh, tỏ vẻ không tin nổi: “Quái lạ thật. Đại công tử vốn nói như chém đinh chặt sắt rằng không lấy vợ, Tằng lão phu nhân tuy muốn cưới con gái nhà người ta về nhưng cứ ngần ngừ, sợ đại nhi tử không chịu, tôi mới lấy tấm gương ra, đại công tử cầm lên xem, lật đi lật lại rồi đồng ý, suýt nữa khiến lão phu nhân ngất xỉu”.

Bạch Loa không đáp. Cố đại nương thấy nàng đọc ngấu nghiến tin trả lời của đại công tử, thầm nhủ Bạch cô nương hóa ra nói khoác, hai người chắc có tư tình từ trước nên một người chịu lấy, một người chịu gả. Càng nghĩ càng coi thường, Bạch cô nương bình thưởng tỏ vẻ văn nhã kiên trinh, hóa ra là vì nguyên nhân này.

“À, Bạch Loa đa tạ đại nương”. Hồi lâu nàng mới định thần, lại hỏi: “Nhị công tử thế nào?”

Cố đại nương liếc nàng, mỉm cười: “Nhị công tử không nói gì, thật ra, Viễn Kiều nhị thiếu gia không định lấy vợ, lão phu nhân sợ công tử chơi bời quá độ mới tính lấy vợ cho, lần này không thành tất nhiên công tử càng tiêu dao”.

Bạch Loa gật đầu, lấy ra một phong bạc cảm tạ, Cố đại nương chối từ một lúc rồi cũng nhận, mỉm cười bảo: “Tằng gia nói cô nương một mình ở kinh thành, của hồi môn đơn giản thôi, lấy tấm Hoa Kính là xong. Cô nương yên lòng đợi đến mùng chín tháng chín là ngày hoàng đạo, Bách hoa Tằng gia là nhà có máu mặt ở kinh thành, trưởng tử lấy vợ tự nhiên phải phong phong quang quang, quyết không để cô nương phải thiệt thòi”.

Bạch Loa chỉ mỉm cười, cơ hồ không để ý đến chuyện đó.

“Ồ, Tuyết nhi, lần này ta thật sự gả cho người ta”. Tiễn Cố đại nương xong, Bạch Loa đóng cửa quay vào phòng, chợt thở dài nói với con anh vũ, “sau này mi không cần nhắc lại câu hỏi khi nào ta gả cho người ta”.

Nàng nửa thở dài vừa cười, lại lấy tờ thư ra, tỏ vẻ hoan hỷ: “Là thật rồi, không biết Huyền Minh ở kiếp này thế nào, cao thấp gầy béo ra sao? Hy vọng tuấn tú hơn lạc phách tú tài kiếp trước”.

Thấy nàng mỉm cười lẩm nhảm, bạch anh vũ kêu vang, vẫy vẫy cánh ra vẻ “làm lơ”.

Bạch Loa lại mở tờ thư, đọc bài thơ viết trên đó, dần dần thần sắc trở nên ngưng trọng. Kiếp này mới bắt đầu, con đường sau này không thể liệu trước, tình cảnh phải trơ mắt nhìn Huyền Minh chết từ kiếp trước vẫn như đang diễn ra trước mắt, mỗi lần nhớ lại đều khiến nàng nát cõi lòng.

Nhưng nàng nàng biết mình có đủ dũng khí đối diện với thiên kiếp vạn biến trong tương lai.

Gương theo người đi mãi

Gương về người nơi đâu

Non tiên giờ xa thẳm

Trăng vằng vặc trên đầu.

Hiện giờ gương vỡ lại lành, còn tương lai sẽ thế nào?

-------

Hoa sen thường gọi là phù cừ, tên khác là thủy chi, lá màu xanh tròn như cái mâm, tên các giống nhiều vô kể, nhưng loại bình thường đều có màu đỏ hoặc trắng, phàm nơi có đầm nước đều trồng. Bích đài liên, trên cánh trắng có điểm xanh, trong nhụy có lớp cánh nhỏ xanh biếc.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước