HOA KÍNH

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau

Chương con truyện Hoa kính - Chương 1 - Chương 5

Chương 1: Vào đề

Năm Thiệu Hưng thứ mười lăm đời vua Cao Tông. Thành Lâm An.

“Mẹ, xem này! Chậu hoa biết nhảy! Đẹp quá!”

Đó là một năm thanh bình an khang.

Trên ngõ Thiên Thủy trong thành Lâm An, người đi đường lục lục tục tục cất bước, tiếng rao hàng của những người buôn bán lặt vặt vang lên không ngớt. Đột nhiên, một giọng trẻ con trong vắt vang lên, đượm vẻ kinh ngạc đến cùng cực.

Một mỹ phụ nghiêm trang bị một cậu bé chừng tám, chín tuổi kéo quay lại xem một khung cửa nhỏ: cánh cửa khép hờ, trên bậc thềm đặt mấy chậu hoa đang tắm mình trong ánh dương quang.

Hiển nhiên đó là một hiệu bán hoa, vốn đầy rẫy ở kinh thành. Hiện nay tuy giang sơn tàn phá nhưng chỉ cần đặt chân sang Giang Nam, trong những nhà vương công quý tộc đều chiếu theo phong phạm xa hoa của tiên triều: Dùng nhiều cây cối tạo cảnh trí cho khu vườn, bao nhiêu loại hoa thơm cỏ lạ đều thu gom về. Thậm chí học theo cách xây Hoa Thạch cương của Huy Tông hoàng đế trước kia, phàm loại hoa cỏ nào lạ một chút trong thiên hạ liền gom hết về Biện Kinh.

Gió ấm đu đưa say du khách

Sao bảo Hàng Châu cũng Biện Châu [1]

Trong trào lưu như vậy, ơn trời mưa móc, thành Lâm An dưới thời Cao Tông hoàng đế xuất hiện rất nhiều hiệu bán hoa, những nơi nổi danh về chăm sóc hoa như Tằng gia hay chế tác chậu cảnh như Hạ gia càng được vua yêu, mọi loại hoa trồng ra đều được cung cấp cho đại nội thưởng ngoạn. Trước đây, Huy Tông hoàng đế từng ban cho Tằng gia một tấm biển, trên đề ba đại tự “Đoạt Thiên Công”.

Vì thế mà những người trồng hoa, làm vườn hèn mọn đột nhiên trở thành nghề thời thượng. Khắp hang cùng ngõ hẻm trong phủ Lâm An, các cửa hàng hoa mọc lên như nấm sau mưa.

Ngõ Thiên Thủy không phải là đường chính của thành Lâm An, người qua lại không nhiều. Những cửa hàng hoa mở ở đây hiển nhiên sinh ý không thịnh, hình như cũng không có loại hoa, cây cảnh nào đặc biệt để trưng bên ngoài, chỉ có mấy chậu hoa bình thường bày trên bậc thềm, khách đi qua đi lại hầu như không để ý tới.

Nếu không phải con trai kêu ầm lên, chắc mỹ phụ cũng không chú ý đến hiện tượng kì quái đó: một chậu hoa trên bậc thềm trồng mấy cây hoa màu vàng nhạt không gió mà lay động, liên tục nghiêng qua nghiêng lại theo con đường, động tác cực kỳ bắt mắt.

“Ồ, hay quá - mẹ, con muốn, con muốn!” Hiển nhiên bình thường cậu bé được mẹ chiều sinh hư, giờ bắt đầu vòi vĩnh, “mua cho con đi!”

Ánh mắt của thiếu phụ mỹ lệ đượm vẻ âu sầu không tương xứng với tuổi tác, phảng phất như đã trải qua nhiều dâu bể. Nàng chiều lòng con trai, cất bước tiến về phía cửa hàng hoa nhỏ xíu.

Đến trước bậc thềm, nàng nhấc chân, ngẩng đầu nhìn, sắc mặt đột nhiên tái nhợt: “Hoa Kính”.

Trên tấm biển đã hơi sứt sở có viết hai chữ tiểu triện đỏ rực.

Bàn tay thiếu phụ mặc hoa phục trang nghiêm đột nhiên run rẩy, cơ hồ không giữ nổi hài tử, liên tục thoái lùi mấy bước, mặc kệ con trai kêu khóc, mặc kệ việc nàng vừa đá đổ một chậu hoa, loạng choạng lùi lại rảo bước đi thật nhanh.

“Trương phu nhân”. Hình như tiếng chậu hoa vỡ đã kinh động chủ nhân cửa hiệu, cánh cửa vô thanh vô tức mở ra, một giọng nói thầm thĩ cất lên phía sau lưng.

Sắc mặt thiếu phụ trắng nhợt đến mức gần như trong suốt, toàn thân cứng lại bất động.

Phía sau cánh cửa là một vùng tối tăm, một thiếu nữ mỹ lệ vận bạch y đứng trong tối nhìn theo thiếu phụ ôm con, cất tiếng u oán: “Trương phu nhân... phu nhân vừa đá vỡ chậu hoa của muội”.

Mỹ phụ được gọi là Trương phu nhân chầm chậm quay đầu lại, tựa hồ dùng hết dũng khí mới dám nhìn thiếu nữ đứng sau cánh cửa một lần, sắc mặt lại trắng thêm vài phần, ánh mắt sáng rực cụp xuống, lẩm bẩm: “Bạch cô nương...”

* * * * *

Trong phòng bày bạt ngàn hoa cỏ, có chậu nhỏ cỡ nắm tay, có chậu vươn cao đến tận xà nhà. Hoa và cây quá nhiều nên tuy mở cửa sổ nhưng ánh sáng trong phòng vẫn hơi mờ mờ. Vòng qua tấm bình phong bò đầy hoa mạn đà linh là một khung cửa nhỏ, hình như thông ra sân.

Mọi thứ vẫn như mười năm trước.

Trong phòng thoang thoảng mùi hương kì dị, không biết từ chậu hoa nào tỏa ra, nhưng mùi thơm nồng đượm vẫn như mười năm trước, khiến người ta như đang trong mộng ảo. Căn phòng liền yên lặng cực độ, chỉ có thần sắc Trương phu nhân tỏ ra vô cùng khẩn trương.

“Mời ngồi”. Bạch y thiếu nữ dẫn Trương phu nhân vào phòng, phủi mấy lá hoa lan rơi trên bàn, mỉm cười hỏi, “phu nhân uống trà gì? Tiểu muội vừa mới phơi được một ít bích mai khôi thượng phẩm”.

“Không dám phiền Bạch cô nương”. Trương phu nhân lại lấy dũng khí ngước nhìn thiếu nữ áo trắng mỹ lệ, chợt cảm giác lạnh buốt từ trong lòng trỗi dậy. Vẫn toàn thân phủ một lớp bạch y, thân hình gầy gò, mái tóc dài đen như mực, gương mặt mảnh mai nhợt nhạt, đôi tròng mắt đen sâu thăm thẳm, khóe mắt trái có một nốt ruồi mỹ nhân màu đỏ tươi, hệt như một giọt lệ chực nhỏ xuống.

Quả nhiên không có gì thay đổi! Mười năm rồi... Từ dạo gặp nữ hài này ở Tuyền Châu phủ cũng đã mười năm, mà nữ hài tên Bạch Loa vẫn không mảy may biến đổi, dáng vẻ vẫn như thiếu nữ mười sáu, mười bảy tuổi.Trương phu nhân run lập cập, theo ý thức ôm chặt hài tử - cậu bé hình như đi tung tăng ngoài phố này giờ đã mệt, không biết từ lúc nào nhắm mắt ngủ say sưa trong lòng mẫu thân.

“Trương phu nhân hình như sống rất vui vẻ”. Trà đã pha xong, cánh hoa xanh biếc từ từ nở rộng trong làn nước nóng, mỹ lệ vô cùng. Bạch Loa mỉm cười, hỏi thăm.

“Cũng nhờ phúc của cô nương”. Trương phu nhân khẽ khàng đáp, ngừng một chút, giọng hơi run run, “thiếp thân đã tái giá, chồng thiếp thân họ Thôi”.

“A, vậy ư, trí nhớ của muội kém quá... vậy phải xưng hô là Thôi phu nhân”. Bạch Loa mỉm cười ngọt ngào, nốt ruồi như giọt lệ nơi khóe mắt sa xuống, khiến khuôn mặt cơ hồ muốn khóc, “hài tử đã lớn ngần này rồi - đúng là khả ái”.

Nàng nhìn cậu bé đoạn cầm một chậu hoa nhỏ xíu, cười nói: “Ồ, Chu Vũ thảo rất hợp với hài tử này - coi như quà gặp mặt của muội cho tiểu công tử...”

Cây cỏ đó không cao, lá như lưỡi kiếm, cánh hoa màu vàng, mỗi lần nghe thấy tiếng người lại tự nhảy múa. Cây được trồng trong một cái chậu sứ nhỏ màu xanh, trên cành hoa treo một tờ giấy nhỏ.

“Không! Mang đi, mang đi...”, từ lúc vào trong nhà, mỹ phụ vẫn khẩn trương, giờ đột nhiên kêu lên kinh hãi, vung tay vận lực gạt phắt chậu hoa mà bạch y nữ tử đưa tới, rít lên chói tai, “không cần!... Xin cô nương tha cho con trai thiếp thân! Thiếp thân không cần vật này”.

“Thôi phu nhân”. Bạch Loa bình thản đưa mắt nhìn thiếu phụ chực phát tác, hiển nhiên mười năm nay thiếu phụ hoàn toàn chìm ngập trong hạnh phúc bình phàm, ánh mắt nàng lóe lên tia sáng thương cảm.

“Được, được... cô nương nói đi, chuyện mười năm trước, cô nương muốn làm thế nào? Cô nương cần bao nhiêu tiền?” Thôi phu nhân cơ hồ sụp đổ, ôm con trai thật chặt, trừng trừng nhìn thiếu nữ kỳ dị, giọng nói chuyển thành uất nghẹn, run rẩy, “xin cô nương đừng nói với tướng công tôi... xin cô nương đó”.

“Thôi phu nhân...” Bạch Loa cúi đầu, hình như đã thở dài, nhìn lá cỏ xoay xoay, nhảy múa rất sinh động, nhẹ giọng: “Phu nhân hiểu lầm rồi - muội không hề định dùng việc này uy hiếp phu nhân. Phu nhân đã trả tiền, sự tình coi như chấm dứt, không phải sao?”

“...??” Thân mình Thôi phu nhân vẫn run lên vì kích động, ngây ra không thốt thành lời, cơ hồ không dám tin vào những gì bạch y thiếu nữ nói.

“Vị tướng công trước đây của phu nhân say rượu, trượt chân té xuống lầu mà chết. Mọi người đều biết, đúng không?” Bạch Loa mỉm cười, khẽ khàng cất tiếng, đưa mắt nhìn sắc mặt mỹ phụ lại đang nhợt nhạt hẳn đi, “phu nhân không làm gì - mà chỉ làm đúng bổn phận của thê tử, muội cũng không làm gì - mà chỉ bán cho phu nhân một chậu hoa. Đúng không?”

“Đúng, đúng vậy”. Thôi phu nhân cuối cùng cũng lên tiếng, sắc mặt nàng lợt lạt, lẩm bẩm: “Ta không làm gì... không làm gì”.

“Đúng. Nên phu nhân không cần khẩn trương như thế...phu nhân không làm gì”. Bạch Loa mỉm cười, vỗ nhẹ lên vai Thôi phu nhân, cảm giác kinh mạch nàng ta khẽ nhảy lên, “hà huống, mười năm nay phu nhân sống rất vui vẻ”.

Thôi phu nhân cuối cùng cũng cúi đầu, ánh mắt hơi đảo qua đảo lại, rõ ràng dần bình tĩnh lại: “Bạch cô nương... cô, cô nương thật sự sẽ không nói ra?”

“Phu nhân cứ hỏi bất cứ người khách mua hoa nào xem Bạch Loa đã bao giờ thất tín chưa?” Bạch y thiếu nữ có vẻ không vui, đáp lạnh tanh.“Đa, đa tạ...” Thôi phu nhân thở phào, cúi đầu có vẻ hổ thẹn, ánh mắt lại ngập nét cười, “tướng công hiện giờ đối với tối rất tốt, Bạch cô nương à”.

“Ồ, có phải là Thôi tướng công ở ngõ phía trước không?” Khóe môi Bạch Loa mỉm cười, nhưng tuy nàng cười mà gương mặt vẫn đượm vẻ bi ai - có lẽ vì nốt ruồi giống như giọt lệ đó.

Tiễn hai mẹ con đi khỏi, bạch y thiếu nữ đóng cửa thở dài, lẩm bẩm với gian phòng trống bày đầy hoa và cây cảnh: “Ôi... Tuyết nhi, ngươi xem đó, mặc cho ta không có ác ý, nàng ta vẫn sợ đến vậy”.

Lời chưa dứt, “vèo” một tiếng, một con anh vũ lông trắng từ trên bụi cây bay lên, đậu xuống bàn tay thiếu nữ đang xòe ra, há mở líu lo: “Đúng vậy, Bạch Loa cô nương nói rất đúng! Nói rất đúng!”

“Thế nên ngươi coi, không ai chịu nhớ lại những ngày tháng tội ác - nàng ta không muốn gặp ta”. Bạch Loa lại thở dài, “dù ta chỉ muốn hỏi thăm xem nàng ta hiện tại sống thế nào”.

“Nói rất đúng! Nói rất đúng!” Bạch anh vũ nghoẹo đầu, lặp lại câu nói.

“Nhưng hiện giờ nàng ta không phải rất hạnh phúc sao? Hài tử của nàng ta khả ái quá...” Thiếu nữ có phần cảm thán, tiếp tục lẩm nhẩm, “nên những gì đã làm năm xưa cũng đáng giá”.

“Nói rất đúng!” Loài chim học tiếng người chỉ biết lặp lại một câu.

“Ôi, phí công dạy ngươi bao nhiêu năm, có mấy câu cũng học không xong!” Trong lòng Bạch Loa dấy lên lửa giận.

“Gả cho người! Gả cho người! - khi nào Bạch Loa sẽ được gả cho người ta?” Con chim anh vũ quả nhiên đổi câu nói, bay vù vù trong phòng, kêu lên trong vắt. Bạch y thiếu nữ tức giận tung ra một cước, đuổi theo bắt nó.

* * * * *

Trên đường phố, ánh nắng thật rực rỡ, quanh mình toàn là người đi lại, ai cũng hớn hớn hở hở.

Thôi phu nhân ôm con trai đi trên phố, tay còn cầm một chậu cỏ xanh biếc.

“Mẹ! Cỏ múa kìa!” Cậu bé nằm trong vòng tay mẹ vừa tỉnh ngủ, khẽ dịu mắt kêu lên kinh ngạc, đưa tay nghịch chậu cỏ, chăm chú quan sát điệu múa, tờ giấy treo trên cây quay tít. Thôi phu nhân thấy bên trên tờ giấy có viết mấy chữ: phú quý bình an.

Nàng vẫn lo lắng, không hiểu con trai lúc ở trong Hoa Kinh gặp phải giấc mơ gì. Nhưng thấy cậu bé xòe cánh tay nhỏ xíu đùa vui, chắc đó là giấc mộng đẹp.

Phía trước là hiệu bán gấm vóc của gia đình, từ xa đã thấy tướng công và hỏa kế đang tíu tít bày một lô lụa Tương Cống mới chuyển đến. Sinh ý hôm nay xem ra rất vượng - trước mắt nàng chợt mơ hồ.

Không hiểu vì sao, tuy đã ra khỏi Hoa Kính, trong lòng nàng vẫn ngập đầy cảm kích và vương vấn - bất giác ngoái đầu nhìn về phía ngõ Thiên Thủy.

Những chuyện cũ phảng phất như mới xảy ra hôm qua.

-------

[1] Đây nguyên là hai câu thơ trong bài Đề Lâm An để của Lâm Thăng:

Sơn ngoại thanh sơn lâu ngoại lâu,

Tây Hồ ca vũ kỷ thời hưu,

Noãn phong huân đắc du nhân túy,

Trực bả Hàng Châu tác Biện Châu.

Riêng hai câu cuối cùng hàm ý chê trách bọn quyền quý chỉ lo ăn chơi mà không ngó ngàng đến việc nước.

Chương 2: Lam anh túc

Mười năm trước ở phủ Tuyền Châu.

Lại một ngày nắng đẹp, tiết thu lúc nào cũng trong xanh, khoáng đạt, hoa cỏ đều muốn vươn mình lên đón ánh dương quang. Bạch Loa bày chậu to, chậu nhỏ trước bức rèm cửa, vừa thấm mồ hôi vừa thở phào.

Người bán ‘lương phấn lục đậu thang’ [1] gánh hàng đi qua. Nam nhân này khoảng ba mươi tuổi, thân hình dong dỏng cao, sắc mặt trắng trẻo, y phục tuy rách rưới nhưng được giặt giũ sạch bong.

Bạch Loa tuy mới dọn đến chưa đầy tháng nhưng nhận ra đó là Thôi Nhị ở cùng ngõ. Ngõ Vĩnh Ninh này là nơi quần cư, người ra người vào phức tạp, mọi hộ buôn bán lặt vặt, thượng vàng hạ cám tụ tập cạnh nhau.

“Nhị thúc, cho cháu một bát”. Thấy món ăn mát ruột này, Bạch Loa lấy khăn tay lau mồ hôi rồi mỉm cười gọi lại mua.

“Ồ, hôm nay Bạch cô nương ra ngoài rồi”. Thôi Nhị gánh hàng lại, nói liến thoắng, “chúng tôi buôn bán ngoài này đều nói cửa nhà cô nương cả ngày không thấy mở lần nào”.

Vừa nói y vừa đặt gánh xuống, lấy chiếc bát mẻ ra chuẩn bị múc.

“Khoan, nhị thúc đợi chút, cháu sẽ lấy bát ra tự múc”. Bạch Loa vội ngắt lời, quay về phòng lấy một cái bát ra.

Nàng vừa từ Thành Đô xa xôi ngàn dặm chuyển tới đây, đồ đạc còn chưa sắp xếp gọn ghẽ, hồi lâu mới tìm được một cái tô lớn, đáng hận là sau nửa tháng, lớp cỏ ngoài cửa đã bò lên, bám chặt vào cái tô sứ Thanh Hoa khiến nàng khá chật vật mới bới ra được.

Sợ Thôi Nhị ở ngoài sốt ruột, nàng vội vàng cầm cái tô chạy ra.

“Con mụ này! Tối nay mà ngươi còn không vâng lời, lão tử sẽ bán ngươi vào lầu xanh”.

Vừa ra đến cửa Bạch Loa đã nghe thấy tiếng quát vang lên như sấm động, hòa lẫn với hơi rượu và ác khí nồng nặc. Nàng khẽ nhíu mày, ở con ngõ này quả thật không dễ chịu, cả ngày phải nghe mấy tên du côn, vô lại chửi bới.

“Ngươi đánh chết ta đi! Đánh chết càng tốt! Những việc như thế bảo ta làm sao tuân theo?”

Lẫn trong tiếng nam nhân lại quát mắng, loáng thoáng giọng nói run rẩy của một nữ tử.

“Phì! Con mụ ngươi đừng ra vẻ đoan trang nữa! Lại ngứa ngáy muốn ăn đòn hả?” Một cái bạt tai nên thân giáng xuống mặt nữ tử, Bạch Loa nhảy qua ngạch cửa, thấy ngay giữa lòng đường, một hán tử khôi ngô đáng đánh một nữ nhân kêu khóc vang trời. Nữ tử ràn rụa nước mắt, thân hình gầy gò, gần như không thể phản kháng.

Thôi Nhị không bán lương phấn nữa, vội gánh hàng đến kéo hán tử ra: “Lão ca, giữa đường giữa chợ thế này, lão ca sao lại nặng tay đánh phụ nữ như thế?”

Hán tử điên tiết hất văng Thôi Nhị ra, giận giữ quát: “Liên quan gì đến ngươi! Lão tử đánh vợ mình, cứ cho là đánh chết giữa đường cũng không đến phiên ngươi lèm bèm”.

Toàn bộ hàng xóm sống cùng phố đều thò đầu ra xem, Lý tú tài bán thuốc, Vương tứ tẩu bán hàng xén, cả Mộc đầu tam bán bánh đa nướng... Tuy nhiên ai nấy đều đứng xem, không ai dám ra ngăn cản.

“Cho ngươi biết! Đại gia ta thiếu hắn tiền, tối nay ngươi không đi không được!” Không đếm xỉa gì đến lời van cầu của nữ nhân, đại hán sặc sụa mùi rượu dụng lực chộp lấy tay nàng, “con mẹ ngươi còn ra vẻ đoan trang cái gì? Lúc ở nhà bảo ăn trộm của một hán tử cũng không nên thân, để ngươi đi qua đêm với người ta một lần thì có làm sao? Đừng quên cả ngươi cũng do ta đem tiền mua về”.

“Ta không đi! Đánh chết ta cũng không đi!” Nữ tử khóc lóc, cố gắng vùng vẫy nhưng không còn khí lực, nàng bị một toán tóm lấy, đầy vào trong một cỗ kiệu nhỏ mà vẫn liên tục gào khóc.

“Nhị thúc, chuyện gì vậy?” Bạch Loa đứng trên hàng lang nhìn theo, chậm rãi hỏi, đồng thời đưa cái tô sứ Thanh Hoa trong tay ra. Đám đông đã giải tán, Thôi Nhị ngoái lại đón lấy cái tô, vừa múc chè vừa thở dài liên tục: “Là vợ lão Trương mập - đó, cái nhà gỗ ba tầng ở đầu đường”.

Bạch Loa ngẩng lên, nhìn theo hướng Thôi Nhị chỉ, thấy ở đầu đường có một căn nhà gỗ - ở ngõ Vĩnh Ninh, căn lầu ba tầng đó càng nổi bật, chẳng qua hình như đã lâu không được tu sửa, vữa trát trên tường bong xuống già nửa, lan can lầu hai, lầu ba chỉ còn lưa thưa, lộ rõ vẻ hoang tàn.

“Nhà có vẻ rất giàu, sao lại đánh vợ ngay giữa đường phố nhỉ?” Nàng tùy tiện hỏi một câu.

Thôi Nhị vừa múc chè vào bát vừa thao thao bất tuyệt: “Có tiền? Tiền là cái gì - lão Trương mập ham cờ bạc, bao nhiêu tiền bạc cha hắn để lại đã nướng sạch rồi. Căn nhà đó chỉ còn cái vỏ, mọi đồ dùng bị bán hết rồi... ôi, chỉ còn lại mỗi người vợ tên Thúy Ngọc - nuôi từ bé mà”.

“Ồ, vợ lão xinh đẹp thật”. Bạch Loa mỉm cười, bồi thêm một câu.

“Không chỉ tướng mạo mà tính tình cũng tốt. Có một người vợ xinh đẹp, hiền đức như thế lẽ ra là phúc khí... mạt rệp thế này rồi mà Thúy Ngọc vẫn không chê. Chỉ là lão mập họ Trương không phải con người, không chỉ nướng sạch số tiền Thúy Ngọc ngày đêm may vá cực nhọc kiếm ra, còn thường xuyên trút giận lên vợ giữa đường... khục khục, nửa đêm nửa hôm cũng đánh vợ kêu khóc cả ngõ nghe thấy”.

Thôi Nhị múc đầy một bát chè, đưa cho Bạch Loa đứng trên hành lang rồi lắc đầu thở than.

Bạch Loa cởi túi đựng tiền, lấy ra mười xu đưa cho Thôi Nhị: “Sao hôm nay hắn lại đánh vợ giữa đường phố nhỉ?”

Vẻ mặt Thôi Nhị sầm xuống, lại lắc đầu: “Ôi... đúng là tội nghiệp. Trương mập mấy hôm trước lại thua, lần này không còn gì trả nợ, định đem vợ cho người ta dùng một đêm. Nhưng Thúy Ngọc thà chết không nghe, hắn nổi giận mới đánh vợ giữa đường... lâu như vậy... đúng là tội nghiệp, tội nghiệp”.

Thôi Nhị nói liền mấy câu tội nghiệp, nhưng Lý tú tài bán thuốc cạnh đó lại cười vang, thò đầu ra nói: “Thôi lão nhị, ngươi đừng có đau lòng nha! Ai chả biết ngươi thương Thúy Ngọc... lần nào nàng ta bị đánh ngươi cũng liều mạng khuyên Trương mập”.

Lời vừa dứt, cả dãy phố vang lên tiếng cười rần rần, mặt Thôi Nhị đỏ lựng, rồi lâu mới rặn được một câu chống chế: “Có gì đâu? Thấy một phụ nữ bị đánh như vậy giữa đường, ta không thể nói một hai câu chăng?”

“Hà, ta nói này Thôi lão nhị, ngươi đau lòng thì nghĩ cách kiếm nhiều tiền đưa cho Trương mập - chưa biết chừng hắn sẽ để Thúy Ngọc Nhi bồi tiếp ngươi”. Vẻ mặt tay tú tài nghèo mạt mặc trường sam hiện rõ nụ cười méo mó và dâm ô.

“Lý tú tài, ngươi đọc cái rắm gì trong mấy cuốn sách thánh hiền thế hả?” Thôi Nhị đột nhiên gầm lên, vẻ mặt giận dữ đượm nét hung hãn khiến Lý tú tài ngậm miệng ngay đoạn y lại quày quả gánh hàng đi.

“Khục, khục... các người xem, Thôi lão nhị còn ra vẻ nghiêm chỉnh”. Đợi Thôi Nhị đi xa, Lý tú tài bán thuốc mới thò đầu ra tiếp tục bàn chuyện thị phi với hàng xóm, mỉm cười dâm tà, “ta thấy y và Thúy Ngọc Nhi đến tám phần có thông gian”.

Vương tứ tẩu bán hàng xén cười hắc hắc mấy tiếng: “Có cũng chả trách được - ngươi xem Thôi Nhị cũng ba mươi ba rồi vẫn không chịu cưới vợ, lẽ nào lại không phải vì có chủ ý với nàng ta. Hai người ở cạnh nhau không phải sẽ rừng rực lửa sao?”

Mọi người chung quanh nhao nhao khen phải, dường như tìm được một chủ đề bàn tán mới, càng bàn càng hứng khởi.

Bạch Loa đứng dưới hàng hiên đang uống bát chè, lẳng lặng lắng nghe mọi người bàn luận thị phi, chợt thấy khó chịu, không nuốt nổi nữa, thuận tay quăng luôn cái tô lăn lóc trên bậc thềm.

Hoa kiệu đã đi xa, tiếng khóc vang trời của người thiếu phụ cũng lặng tắt.

* * * * *

Sớm ngày thứ hai, Bạch Loa vừa tỉnh dậy, dời chậu Phúc Thọ thảo đến dưới mái hiên, chợt nghe có tiếng bước chân.

Trời còn chưa sáng hẳn, các tiệm bán hàng trong ngõ Vĩnh Ninh còn chưa mở cửa, cũng chưa có khách lai vãng. Bạch Loa không khỏi kinh ngạc, đứng dậy nhìn ra đầu ngõ, bất giác sững người.

Nguyên là thiếu phụ bị bắt lên kiệu hôm qua.

Nữ tử tên Thúy Ngọc Nhi đầu tóc rối bời, trên mặt còn vết thâm tím, thần thái hoảng hốt từ đầu ngõ chạy vào, bước chân khấp khểnh, vang lên rõ mồn một trong con ngõ yên lặng giữa buổi sớm mai.

Hiển nhiên nàng ta bị đả kích quá lớn nên mất thần trí, ngay cả tà áo xộc xệch cũng không khép lại, lộ rõ làn da trắng ngần như tuyết, đang chạy cuống cuồng mà khóe miệng rỉ máu vẫn lẩm bẩm gì đó.

Thấy nàng ta hoảng hoảng hốt hốt chạy vụt qua trước nhà, ánh mắt Bạch Loa chợt lóe sáng.

“Trương phu nhân”. Bạch Loa không nén được cất tiếng gọi. Nhưng Thúy Ngọc Nhi hình như không nghe thấy, mắt trừng trừng nhìn thẳng, chệnh choạng chạy về căn lầu gỗ.

“Ta phải giết hắn. Giết hắn...”

Lúc Thúy Ngọc đi qua, Bạch Loa nghe thấy nàng ta đang lẩm bẩm như thế, hai tay nắm chặt, ánh mắt trợn trừng đáng sợ.

Nàng ta nghiến răng, vừa lẩm bẩm vừa chạy về nhà.

Bạch Loa chợt lên tiếng: “Thúy Ngọc cô nương”.

Giọng nàng vang vang, ngữ điệu kỳ dị khó tả. Nữ tử Thúy Ngọc đang thất thần hơi sửng sốt, dừng bước như mới tỉnh khỏi cơn mộng, ngoái lại nhìn.

Nụ cười ôn hòa bừng nở trên gương mặt Bạch Loa: “Cô nương có muốn mua một chậu hoa chăng?”

“Hoa? Mua hoa?... Ha ha”. Thúy Ngọc lẩm bẩm hỏi lại một câu, chợt bật cười kỳ quái. Sau mấy tiếng cười, hiển nhiên thần trí nàng khôi phục được đôi chút bình tĩnh, lắc đầu bước đi.

“Nữ tử đáng thương, có phải không, Tuyết nhi?” Bạch Loa lẩm bẩm nhìn theo bóng dáng liêu xiêu, “vèo”, một con anh vũ trắng muốt từ trong phòng bay ra đậu trên vai nàng, cất giọng lảnh lót: “Nói đúng quá! Bạch Loa tiểu thư nói đúng quá”.

“Ta muốn gọi nàng ta lại một chút cũng có tác dụng... nếu không nữ nhân này nhất định muốn về nhà làm những việc ngu ngốc”. Bạch y thiếu nữ thở dài sườn sượt, vuốt ve con anh vũ.

Đến hoàng hôn hôm đó, nàng gặp lại Thúy Ngọc Nhi.

Lần này khí sắc nàng ta đã khá hơn, nhưng ánh mắt vẫn tiều tụy. Lúc Bạch Loa đang chuẩn bị đóng cửa thì thấy nàng ta từ trong tiệm thuốc ở ngõ đối diện đi ra.

Bàn tay Lý tú tài hình như vừa buông khỏi tay nàng, đắm đuối nhìn theo, mắt ánh lên tia sáng giảo trá xen lẫn đắc ý. Bước chân Thúy Ngọc Nhi hơi chệnh choạng bước ra ngoài, giữ khư khư một gói thuốc.

Bạch Loa khẽ nhíu mày.

“Trương phu nhân”. Lúc Thúy Ngọc đi ngang qua cửa hàng hoa, Bạch Loa lại lên tiếng gọi, tuy nhiên nàng ta vẫn tiếp tục cất bước như không nghe thấy gì, nhãn thần hoảng hốt.

“Phu nhân bệnh sao? Mua thuốc gì vậy?” Bạch Loa mỉm cười hỏi thêm một câu.

Thúy Ngọc Nhi giật bắn người phảng phất như chạm vào điện, ngẩng đầu nhìn nàng, trong mắt thoáng qua nét sợ hãi, đoạn lạnh lùng đáp: “Tôi đau tim nên mua một lá tử kim tán”.

“Tử kim tán mà để trị đau tim à”. Bạch Loa bám vào cánh cửa khẽ mỉm cười, nhìn vào sắc mặt hoảng loạn của Thúy Ngọc Nhi, hạ giọng xuống, “e rằng Trương phu nhân muốn tim người khác đau nhỉ?”

Thúy Ngọc Nhi biến sắc, không nói thêm câu nào, quay người đi ngay.

Nàng ta vừa quay đi, Bạch Loa đã cản lại, không hiểu dùng động tác gì đã phất tay đoạt lấy gói thuốc, đưa lên mũi ngửi rồi hỏi khẽ: “Là tỳ sương?”

Thúy Ngọc Nhi đột nhiên suy sụp, sắc mặt trắng nhợt, muốn đi mà chân mềm nhũn, lẩm bẩm: “Cô... cô nương... muốn thế nào?”

Bạch Loa mỉm cười, dưới bóng chiều chạng vạng, nốt ruồi cạnh khóe mắt nàng như một giọt lệ máu toan rơi xuống.

“Không gì cả, không biết phu nhân có hứng thú vào mua một chậu hoa không?”

* * * * *

Đèn được thắp lên, nhưng cây lá trong phòng tạo thành những dải bóng xiêu xiêu.

Thúy Ngọc Nhi ngồi bên án, cảm giác từng giọt mồ hôi lạnh thấm qua áo trong chảy ra rồi xấm ướt áo ngoài. Bạch y cô nương kỳ quái kia đã vào trong phòng hơn nửa thời thần, mặc nàng một mình trong gian phòng bày đầy kỳ hoa dị thảo.

Lòng nàng nóng như có ai cào xé, thấp thỏm không an, mấy lần muốn đẩy cửa bỏ đi nhưng lại nghĩ việc mình mua độc dược nằm trong tay đối phương, không biết mình sẽ được đối đãi thế nào, toàn thân nàng không còn chút khí lực nào, đầu óc loạn xạ thành một mớ bùng nhùng, việc vốn đã định phải tiến hành giờ đâm ra do dự, trong lòng dâng lên nỗi sợ.

Không hiểu loại hoa nào trong phòng xòe nở mà một mùi hương kỳ dị khó tả tỏa ra khiến người ngửi thấy liền ngủ mê mệt.Tuy trong lòng khẩn trương nhưng nữ tử áo quần xốc xếch bất giác dựa vào thành ghế nhắm mắt lại, phảng phất như đã mệt mỏi lắm rồi.

Ánh lê minh hé rạng, căn phòng dần sáng tỏ.

Bạch y nữ tử như bóng u linh từ căn phòng chứa hoa phía sau đẩy cửa tiến vào đại đường, vô thanh vô tức đến bên bàn, đưa mắt nhìn Thúy Ngọc Nhi đang chìm trong mộng - nữ tử đáng thương này mắt nhắm nghiền, khóe môi mím chặt, đang ngủ mà vẫn mang nét phẫn hận, sẵn sàng nhắm mắt đưa chân.

Nhưng mi mắt nàng ta đang khép mà đôi ngươi vẫn khẽ chuyển động, hiển nhiên đã nhìn thấy gì đó trong mộng, sắc mặt lộ vẻ phức tạp xen lẫn kích động, ngón tay mảnh mai hơi run run.

Bạch Loa ôm một chậu hoa tới, vừa quan sát, khóe môi hé nụ cười kỳ dị, khẽ cúi xuống, dịu dàng nói mấy câu vào tai Thúy Ngọc Nhi đang say trong giấc mộng.

Giọng nói rất dịu, phảng phất như lời thầm thì vang lên trong giấc mơ nhưng vẻ mặt Thúy Ngọc Nhi lại tùy theo lời nàng thầm thì mà biến hóa... Bạch Loa mỉm cười, nàng đã hiểu Thúy Ngọc Nhi mơ thấy điều gì.

“A!” Nữ tử đang ngủ gục trên bàn chợt kinh hãi tỉnh lại, ngẩng phắt đầu lên, bắt gặp nụ cười trên gương mặt trắng nhợt của nữ tử đối diện liền như thấy ma quỷ, nhảy dựng lên, chạy về phía cửa.

“Phu nhân muốn đi sao? Phu nhân tưởng Lý tú tài không biết phu nhân mua thuốc làm gì sao?”

Thúy Ngọc Nhi vừa chạy đến cửa, giọng nói lạnh lẽo của Bạch Loa chợt cất lên sau lưng khiến nàng rùng mình dừng bước.

“Nếu lão mập họ Trương đột nhiên chết, loại tiểu nhân bỉ ổi đó biết được bí mật, phu nhân thấy hắn có bỏ qua cho phu nhân không? Nửa đời về sau của phu nhân chắc gì đã hơn ở cạnh lão Trương mập hiện giờ?” Nữ tử có ánh mắt sắc lạnh, khuôn mặt trắng muốt, mái tóc đen dài buông xõa chậm rãi nói, nàng ta đứng bên bàn, tay vẫn cầm một chậu hoa.

Bước chân Thúy Ngọc Nhi cơ hồ bị dính cứng lại, không di chuyển nổi nửa thốn. Nàng nghĩ thông, chợt sụp xuống, ôm mặt khóc nấc lên: “Tôi không chịu nổi nữa!... Một ngày tôi cũng không chịu nổi nữa! Hắn là một tên súc sinh”.

“Vậy phu nhân có nên vì một con súc sinh mà bỏ đi tính mạng”. Ngữ điệu Bạch Loa càng trầm xuống, lạnh lẽo hơn, khuôn mặt ẩn trong căn phòng dầy hoa lá tạo thành vẻ đẹp có phần không thật: “Hơn nữa... phu nhân có nghe những người ngoài kia đàm tiếu không? Nếu việc phu nhân giết chồng lộ ra, không chừng còn liên lụy đến Thôi Nhị”.

“Sao lại thế? Y là người tốt - vốn có liên quan gì đâu!” Thúy Ngọc Nhi đang khóc chợt giật nảy mình, ngẩng đầu lên hỏi.

Nhớ lại những lời bàn luận của đám người buôn bán trong ngõ, khuôn mặt thanh lệ vô song của Bạch Loa thoáng qua nét chán ngán, ôm lấy chậu hoa, lạnh lùng lắc đầu: “Miệng lưỡi đáng sợ. Nếu phu nhân không tin có thể thử... chỉ là mất mạng mình không sao, đừng nên liên lụy người khác”.

Thúy Ngọc Nhi lại tỏ ra trù trừ, cúi đầu lấy khăn tay lau nước mắt không nói gì.

“Vậy... cô, cô nương bảo phải làm sao mới được?” Hồi lâu sau nàng mới ngẩng lên nhìn bạch y thiếu nữ, hỏi với giọng mất phương hướng. Nhưng không hiểu sao trong lòng nàng tràn lên niềm vui hòa lẫn kích động kỳ dị - có lẽ tại giấc mộng hiện lên lúc vừa nãy nàng chợp mắt, và cả những lời thì thầm vọng về nữa.

“Phu nhân đã nghĩ thông”. Bạch Loa lại mỉm cười, giọt lệ yêu kiều bên khóe mắt chực rơi xuống, “trong giấc mơ vừa rồi phu nhân nghe thấy rõ rồi chứ?”

Nụ cười của nàng hiển hiện nét thần bí và mị lực khó tả.

Bên ngoài trời sáng hẳn, Trương mập tỉnh dậy mà không thấy thê tử về liền lớn tiếng chửi váng cả con ngõ, sắc mặt Thúy Ngọc Nhi lại trắng nhợt, ánh mắt lóe lên tia sáng lạnh lùng, quyết liệt.

“Đây là một chậu lam anh túc - mong phu nhân mua”.

Tiễn kháck về, Bạch Loa mỉm cười đứng dưới mái hiên, đưa chậu hoa cho Thúy Ngọc Nhi, Lý tú tài ở gần đó thò đầu quan sát, thấy nàng mua hoa đi ra, tỏ ra vô cùng kinh ngạc.

Chậu hoa đó mỹ lệ phi thường, từng đóa hoa lại vô cùng mỏng manh, tuy chỉ cao có hai xích nhưng cuống hoa hình như hơi quá mềm, phải dùng một cành gỗ nhỏ làm trụ đỡ. Gió sớm khe khẽ mơn qua, những cánh hoa xinh đẹp rạp xuống rồi lại thẳng lên.

Mỏng manh vẫn lộ rõ nét dẻo dai, quả thật có phong vận rất riêng.

* * * * *

“Đẹp quá”. Tuy đang kiệt quệ tâm lực nhưng thấy đóa hoa như vậy, Thúy Ngọc Nhi không nhịn được kêu lên khe khẽ.

Bạch Loa mỉm cười, đưa tay chỉ vào cánh hoa anh túc mềm mại như tơ: “Loại hoa này vốn sinh trưởng tại đảo Phù Tang ở Đông Doanh... Phù Tang, Phù Tang...”

Bạch Loa lẩm nhẩm mấy câu, phảng phất nhớ lại chuyện cũ, ánh mắt nàng trở nên xa xăm, hồi lâu sau mới nói tiếp: “Nữ tử Phù Tang ôn nhu, mỏng manh như đóa lam anh túc này... nhưng tính cách lại kiên định bất khuất, có thể vượt qua mọi hiểm nguy, cay đắng trong cuộc đời”.

“Hy vọng, Thúy Ngọc cô nương... cũng được như đóa hoa”.

Ngón tay Bạch Loa tỏ vẻ quyến luyến những cũng rời khỏi đóa hoa, mỉm cười đưa chậu hoa cho Thúy Ngọc Nhi: “Cứ làm những gì phu nhân muốn làm... không cần cố đánh chết con cá để lưới rách, tất sẽ đâu vào đấy thôi mà. Phu nhân sẽ có hạnh phúc của riêng mình”.

Lời lẽ dịu dàng, ánh mắt nàng phảng phất như yêu ma giữa trời đêm, khiến người khác mê say nhưng lại thấp thỏm bất an.

Mấy sợi tóc mai của Thúy Ngọc Nhi bay tán loạn, nội tâm như đang cuộn sóng nhưng nàng vẫn cúi gầm, khuôn mặt đỏ lựng, thấp giọng: “Nhưng... tôi, tôi không có cả tiền mua hoa - thuốc mua vừa nãy là Lý tú tài cho”.

“Vậy, gói tỳ sương đó cho tôi”. Bạch Loa bình thản đáp.

“Ồ!” Thúy Ngọc Nhi kinh hãi, ngẩng đầu nhìn khuôn mặt thâm trầm mạc trắc của bạch y thiếu nữ.

“Đưa cho tôi”. Bạch Loa đưa tay ra, bình tĩnh nói, “coi như trao đổi chậu hoa này”.

* * * * *

Kỳ thật ngõ Vĩnh Ninh chỉ có hư danh.

Mỗi ngày đều vang vọng tiếng kêu gào, tiếng mắng chửi cùng tiếng đàm tiếu. Cả tiếng Trương mập say rượu đánh chửi vợ ngày nào cũng tuần tự.

Mùa hạ nóng nực, nghe những âm thanh đó càng khiến lòng người phiền muộn.

Tối hôm nay, Trương mập uống đến ngất ngây, không cần lý do lại ra tay đánh vợ nhưng Thúy Ngọc Nhi không phản kháng kịch liệt như những lần trước mà chỉ khóc lóc van xin.

Trương mập thấy nàng nhu thuận nghe lời cũng không buồn đánh nặng tay như mọi bận, đấm xong mấy đấm liền hầm hầm hừ hừ đi vào nhà, chân nam đá chân chiêu, được vài bước liền gục xuống bậc thềm ngáy o o, hiển nhiên đã say mèm. Thúy Ngọc Nhi lau nước mắt, lặng lẽ bước đến, dùng hết khí lực mới đỡ được ông chồng say xỉn lên, dìu gã đàn ông đang lảm nhảm mắng chửi đi dọc theo lề đường, tịch dương trải bóng nàng dài dằng dặc.

Lúc đi qua cửa hiệu bán hoa, nàng đột nhiên ngẩng nhìn Bạch Loa mỉm cười, nụ cười vô cùng bí ẩn, thoáng chốc đã tan biến.

Vương nhị tẩu bán kim chỉ, cầm mấy cây châm thêu hài cài lên đầu, cười lạnh: “Coi như số mệnh nhỉ? Một con chó má thế kia mà cũng phải theo - Cả ngày vất vả được cái gì? Chỉ là một trận đòn”.

Chỉ có ánh mắt Lý tú tài tỏ ra nghi hoặc, có lẽ hắn còn nghĩ tới gói tỳ sương Thúy Ngọc mua mấy hôm trước.Bạch Loa nhìn theo bóng hai người dứt díu nhau, lại sắp đặt từng chậu hoa cỏ, ánh mắt lạnh băng.

Nàng ngẩng đầu nhìn tòa lầu gỗ ba tầng của Trương gia, gió lùa qua khiến song cửa mục nát kêu lành phành, phảng phất như tiếng khóc của Thúy Ngọc Nhi lúc bị đánh trên phố.

Nàng lại cúi đầu, thò tay bẻ một cành tử trúc mềm mại bên cạnh, hướng cành trúc tím ngắt bé xíu xuống đất rồi thả tay, “bộp”, cành trúc tưởng gãy lại mềm mại bật lên thẳng đứng.

Có những người cũng thế... tuy luôn im lặng nhẫn nhịn, phảng phất như vô lực phản kháng bất cứ điều gì nhưng khi đến cực hạn sẽ bộc phát trong nháy mắt sức mạnh đã tích tụ bằng cả sinh mệnh.

Cũng như đóa lam anh túc nhu nhược.

Tối nay nhất định Trương mập phải chết.

* * * * *

Trên đường có khá nhiều người tận mắt thấy phút giây hắn ngã xuống lầu. Từ trên tòa lầu cao cao ở đầu ngõ, chiếc bóng đen ngòm lắc lắc lư lư, hiển nhiên đã uống say, đi đến cạnh cầu thang không hiểu sao lại dừng bước. Mọi người đều nghe thấy tiếng hàng lan can mục nát vang lên tiếng gãy gục, rồi một bóng đen đạp đạp trên không, từ trên lầu cao ngã xuống mặt đường lát đá, phát ra âm thanh va chạm trầm đục.

Hắn không kịp kêu lên một tiếng.

Lúc đó, Thúy Ngọc Nhi đang ở trong tiệm thuốc của Lý tú tài, nói trượng phu uống nhiều quá muốn mua thuốc giải rượu. Tất cả, bao gồm luôn nàng, tận mắt thấy Trương mập ngã xuống.

Người chết rồi, khắp ngõ Vĩnh Ninh đều túm năm tụm ba bàn tán, ai nấy đều ngấm ngầm rỉ tai hỏi nhau “chân tướng” Thúy Ngọc Nhi mưu sát chồng - nhưng lúc Trương mập ngã lầu, nàng không ở nhà, hắn ngã xuống đích đích xác xác do tự mình trượt chân.

Ngay cả Vương nhị tẩu thích ngồi lê đôi mách nhất cũng cảm thấy chuyện đó là không thể, chỉ nhíu mày nhìn Thúy Ngọc Nhi, toan tìm ra bằng cớ nào thiết thực.

Lý tú tài nhớ đến gói tỳ sương - tin này vừa lan ra, người trong ngõ Vĩnh Ninh coi như tìm được chứng cứ mới, lời lẽ được thêm dầu thêm mỡ cho thêm phần trơn tru.

Không biết ai đem “hảo sự” đi báo quan mà hôm sau đã thấy ngỗ tác [2] đến ngõ Vĩnh Ninh. Ai cũng vác khuôn mặt đi xem kịch hay bám theo, chỉ có Thôi Nhị tỏ ra lo lắng.

Thấy ngỗ tác đi qua, Bạch Loa đang đứng dưới hàng hiên lau mồ hôi, khóe môi thoáng hiện nụ cười.

Ngoài trừ rượu, không hề có thành phần của độc dược... cái chết của Trương mập hoàn toàn do trượt chân ngã xuống lầu.

Kết luận sau cùng của ngỗ tác khiến đám đông thích xem náo nhiệt thất vọng vô cùng.

Chỉ có Thôi Nhị cao hứng nắm chặt tay ngỗ tác, nói với Bạch Loa đứng cạnh đó: “Tôi biết mà! Tôi biết là Thúy Ngọc không dời nào giết người... nàng không phải là người làm ra những việc như thế”.

Bạch Loa im lặng mỉm cười, nốt ruồi bên khóe mắt như giọt lệ yêu kiều chực rơi xuống.

Thúy Ngọc Nhi quả thật không làm gì - nàng bất quá không dìu chồng lên giường nghỉ sau khi hắn say túy lúy như mọi bận, mà chỉ đặt hắn trên tầng lầu... theo đúng tư thế bình nhật vẫn nằm ngủ trong phòng: đầu hướng về phía Đông, chân duỗi xuống phía Tây, tựa vào tường phía Bắc, đồng thời đặt tay hắn nắm vào lan can mục nát.

Hôm đó là mùa hè, trời nóng nực, dẫu có người thấy Trương mập ngủ ngoài trời cũng cho rằng như thế càng mát. Hà huống... trong bóng đêm, có ai chú ý đến một người nằm ngủ tận trên tòa lầu.

Thúy Ngọc Nhi không có làm gì, nàng chỉ dìu chồng đến đó.

Sau đó đi mua mấy thứ... kỳ thật mua gì cũng không quan trọng, trọng yếu là để mọi người thấy trong lúc đó nàng không có mặt ở nhà.

Người say rượu bị gió lạnh khiến cho tỉnh dần, trong lúc mơ mơ hồ hồ bèn xuống giường đi vệ sinh. Hắn chỉ không ngờ mình ngủ tại hành lang.

Theo thói quen, hắn tung mình xuống “giường”.

Bên tay trái là tòa lầu cao mấy chục thước...

Chân hắn không đạp trúng nền, mấy hàng lan can mục nát không chịu nổi trọng lượng, kêu lên răng rắc rồi gãy gục. Thân thể phì nộn như một bao tải từ trên không giáng xuống, khiến cả ngõ Vĩnh Ninh hô lên kinh hãi.

Người vợ yếu nhược của hắn đang đứng trong tiệm thuốc ngẩng lên, tận mắt thấy cảnh chồng “trượt chân”.

Không hề có dấu vết gì... họa chăng Bao Công tái thế mới tìm ra.

Bạch Loa bình thản mỉm cười, khẽ vuốt mái tóc óng ả như tơ, không thèm để ý đến đám người hàng xóm lắm điều, quay về với chốn hoa cỏ của mình.

* * * * *

Thúy Ngọc Nhi dọn đi vào buổi sớm.

Trời chưa sáng hẳn, một mình nàng nhấc bao y phục, thuê một cỗ kiệu nhỏ lặng lẽ khóa cửa rồi ra đi.

Căn nhà đã được bán, dẫu sao cũng không được mấy đồng. Ồn ào liền mấy tháng rồi câu chuyện cũng chìm vào quên lãng, nàng chỉ muốn vĩnh viễn rời khỏi nơi đau đớn này.

Sớm mùa thu, hơi lạnh nhè nhẹ lan tỏa, duy nhất lúc này ngõ Vĩnh Ninh mới đúng với cái tên của nó. Các cửa tiệm còn chưa mở, chỉ có tiếng bước chân kiệu phu nện xuống nền đường lát đá xanh.

“Dừng lại một chút”. Đi đến tiệm bán hoa mang tên Hoa Kính, sắc mặt Thúy Ngọc Nhi trắng nhợt đi, chợt mím môi, nhẹ giọng dặn dò mấy câu. Rèm kiệu vé lên, người thiếu phụ mỹ lệ đặt gót sen xuống, tay ôm một chậu hoa bằng sứ, chầm chậm đi vào hàng hiên.

Nàng cúi đầu, lặng lẽ đặt chậu hoa lên bậc cửa sổ, đoạn móc trong ngực áo ra một tấm ngân phiếu, cẩn thận nhét vào trong khe cửa.

Nhưng kỳ quái là nhét liền mấy lần vẫn không tài nào nhét vào được.

Chả lẽ bên trong có keo dán kín lại?

“Trương phu nhân”. Nàng đang nỗ lực thì từ cửa sổ cạnh đó vang lên tiếng nói của bạch y thiếu nữ. Giọng nói lạnh lùng như không phải của người trên cõi nhân gian khiến Thúy Ngọc Nhi run rẩy. Nhớ lại lúc ở trong tiệm hoa, nhớ lại hành động kỳ quái của Bạch Loa cô nương này cùng giấc mộng ở trong đại đường đầy hoa cỏ... trái tim người quả phụ dần chìm trong giá lạnh.

Là cô ta! Trong giấc mộng, nàng đã gặp chính giọng nói này.

Vậy... giấc mộng đó được dẫn dắt, những gì xảy ra sau đó hoàn toàn đúng với giấc mộng.

Giọng nói trong mộng đó vừa lạnh lẽo vừa ngọt ngào, pha trộn giữa thiên sứ và ác ma.

“Không cần thêm tiền... một cậu hoa lẽ nào lại cao giá đến thế”. Cửa sỏ không mở ra nhưng giọng nói lạnh lùng của Bạch Loa từ trong vang ra, không cho nàng được quyền phản bác, “phu nhân đã trả đủ rồi, Bạch Loa tuyệt không phải loại người tham tiền tài”.

Sắc mặt Thúy Ngọc Nhi càng phức tạp, tròng mắt lấp loáng nỗi sợ hãi, run giọng hỏi: “Vậy cô, cô nương.... Thật ra cô nương định làm gì?”

“Bạch Loa chẳng qua là một người con gái của hoa...” Các lớp song cửa, thân ảnh bạch y nữ tử yêu kiều khác thường nhưng giọng nói lại lạnh tanh, “tôi bày bố tất cả vì nó đã tự khai hoa kết quả... tôi chỉ là người đứng xem. Vô luận thiện hoa, hay ác quả đều không liên quan đến tôi”.

“Hoa anh túc mỹ lệ nhưng khi kết quả vừa có thể chữa bệnh, lại cũng có thể là độc dược. Thiện ác vốn không thể xác định rành mạch, chỉ là ý niệm mà thôi. Chăm chút cho chậu lam anh túc này... kết thành quả cũng là món quà tặng cho nữ tử như phu nhân. Ài...”

“Tuyết nhi, tiễn khách”.

Nói đoạn, bóng hình xinh đẹp phía sau song cửa mờ dần.

Ngón tay Thúy Ngọc Nhi lạnh băng, chợt nghe một tiếng “vù”, con anh vũ lông trắng muốt không hiểu từ xó xỉnh nào bay ra, dừng lại dưới hàng hiên, kêu lên một tràng: “Tiễn khách! Tiễn khách! Lam anh túc! Lam anh túc!”

Thúy Ngọc Nhi đứng đơn côi hồi lâu trong buổi sớm lành lạnh, rồi ôm lấy chậu hoa bước vào trong kiệu.

Gió sớm mơn man, cây lam anh túc trong lòng lay động, cánh hoa mỹ lệ rạp xuống nhưng khi gió thổi qua lại đứng thẳng. Trong mảnh mai hiển hiện nét dẻo dai, cũng như phong vận của sinh mệnh, của khát khao hạnh phúc.

Dẫu cho kết thành quả cũng ẩn chứa tội ác.

Nhìn chậu hoa anh túc tươi tốt trong lòng, chợt Thúy Ngọc Nhi có cảm giác muốn đập nát tất cả - nàng không muốn nhìn thấy loại hoa này.

Chiếc kiệu rời khỏi ngõ Vĩnh Ninh, rẽ rồi lại rẽ...

Thoáng sau chiếc kiệu đã ra khỏi thành Tuyền Châu... Thúy Ngọc Nhi vén rèm, thấy ngay thân hình nam tử gánh hàng đợi ở cửa thành.

Thôi Nhị hình như đợi đã lâu, trong làn gió lạnh tiết đầu thu, y xoa xoa tay có vẻ vui mừng khi nhìn thấy chiếc kiệu đang tiến tới. Thường ngày y ngại nàng đã có chồng, dù đồng tình với cảnh ngộ nhưng không dám nói ra, cuối cùng đến hôm nay hai người cũng có cơ hội bên nhau.

Ánh mắt mệt mỏi của Thúy Ngọc Nhi chợt ánh lên nụ cười mênh mang.

Đáng chứ... tất cả đều đáng giá. Nếu có tội nghiệt gì cứ để nàng ghé vai gánh lấy!

Nàng miết móng tay bẻ cuống hoa, bóp nát quả cây đang kết thành hình tròn. Chiếc kiệu đang từng bước tiến ra phía ngoài thành Tuyền Châu, nàng đưa ngón tay thấm đẫm nhựa trắng vào miệng mút sạch.

Đắng quá... loại quả này đắng ngằm.

Nhưng vị đắng mê hoặc ấy lại khiến người ta muốn vĩnh viễn chìm sâu trong đó mà không muốn tỉnh lại.

-----

Anh túc là một loại cây có hạt quý, hoa nở mịn màng như gấm, rực rỡ như mẫu đơn. Hoa có nhiều màu: hồng thẫm, hồng phấn, trắng pha tím, trắng pha màu son môi, hoặc đỏ thắm, rực rỡ vô vàn, đặt mấy trăm chậu cạnh nhau ắt trăm sắc đua chen, đẹp đẽ vô cùng

[1] lương phấn lục đậu thang: chè đậu xanh tán

[2] ngỗ tác: viên chức làm nhiệm vụ khám nghiệm tử thi ở nha huyện.

Chương 3: Bảo châu mạt lỵ

“Can nương nhìn xem, như thế này đã đủ chưa?”

Một chiếc hộp thếp vàng đặt lên bàn, từng lớp, từng lớp được mở ra, một bàn tay nuột nà như ngọc thò vào vốc đầy trân châu mỹ ngọc đổ xuống mặt bàn vang lên những tiếng lanh canh.

Lớp hộp cuối cùng cũng được mở. Lúc nhìn thấy đôi vòng tay phỉ thúy trên lớp nhung màu lam sẫm, khóe mắt lão nữ nhân trên đầu đeo đầy châu ngọc hơi động đậy, nhưng vẻ mặt vẫn cứng đờ như khúc gỗ, không buồn mở miệng nói nửa câu.

Chần chừ một lúc, chỉ nghe tiếng vòng xuyến leng keng va nhau, cánh tay phải thon thả của nữ nhân run rẩy, tháo hết trang sức trên đầu, trên mình, lại dịu dàng nói: “Can nương... mọi thứ con đều để lại. Can nương tính sao?”

Khuôn mặt bự phấn của tú bà vẫn không mảy may lay động, bà ta dùng móng tay sơn đỏ chót búng lớp bọt trà, khẽ nhấp một ngụm. Lăn lộn trong chốn phong trần bao nhiêu năm, đã nếm trải những ngọt đắng của đời người, biết được nữ tử một tay đào tạo ra còn kiếm được cho mình bao nhiêu tiền, làm gì có chuyện dễ dàng cho cô ta thỏa nguyện?

“Can nương, bao nhiêu năm nay, Nguyệt nhi giúp người kiếm được không ít tiền, bây giờ con chẳng cần gì cả, chỉ cần được người không ra khỏi đây - lẽ nào can nương cũng không chấp thuận?” Nàng gần như van xin.

“Tâm Nguyệt à...” người được gọi là “can nương” thong thả thổi lớp bọt trà, rốt cuộc cũng chịu mở miệng, giọng nói đượm nét cười cợt lạnh lẽo, “năm đó sau khi xuống phía nam, phụ mẫu con nghèo đói bệnh tật, chỉ biết trông mong vào mấy lạng bạc bán con để cứu mạng. Tuy chỉ là mười lạng, nhưng khế ước lại vĩnh viễn, hôm nay nếu không được ta đồng ý, con đừng hòng đi đâu”.

“Can nương...” nữ tử định nói; vẻ cười cợt càng hiện rõ trên mặt người đàn bà chủ lầu xanh: “Tâm Nguyệt, con nói thử xem, mười lăm năm nay có bao giờ ta động một ngón tay đến con? Từ lúc con tám tuổi đã mời người đến dạy cầm kỳ thư họa để con không mất đi phong vị xuất thân thư hương, đến lúc con mười lăm tuổi mới đem ra làm chiêu bài, tấm lòng can nương đổ lên mình con, có thể cùng bạc mà đánh đổi sao?”

Bà ta uể oải dùng móng tay gạt tiếp một lớp bọt trà, búng đi thật xa: “Bước chân vào nghề này, tính gì đến cái gọi là chân tâm? Tiểu tử của Nhan gia chỉ là thư sinh áo vải - thiếu gì đạt quan quý nhân [1] để mắt đến con, can nương có cho con đi, không dám đảm bảo sau này con được bình bình an an”.

Lão nữ nhân nói năng hết sức lạnh nhạt, những người sống trong chốn phong trần đều thế. Nhưng dẫu bà ta hất hẳn một chậu nước lạnh cũng không thể dập tắt nhiệt tâm của một người.

Nhận thấy can nương thần sắc bất động, tình hình đã trở nên vô vọng, giọng nói rụt rè van cầu bỗng lạnh băng.

“Can nương muốn thu hồi cả tính mệnh của con sao? Thôi, để Nguyệt nhi thành toàn cho người”.

Cánh tay mảnh mai như mỹ ngọc rút khỏi đống châu bảo chất trên bàn, làn sáng lóe lên, “soạt” một tiếng, nghe như tiếng xé lụa.

“Ôi!” Mọi tỷ muội nha hoàn trong phòng kêu lên kinh hãi, làn da óng ả như tơ rách toạc.

Một vết rách sâu hoắm từ mày phải kéo xuống môi, máu phun như suối, thoáng chốc đã biến gương mặt như hoa như ngọc thành đáng sợ như la sát. Từng giọt máu đỏ tươi từ gương mặt ngọc ngà của nữ tử rớt xuống đất như hạt hạt mã não, châu báu rụng rơi.

Nữ tử áo tím xinh đẹp, tay cầm chắc cây thoa hình chim phượng bằng vàng khảm ngọc, lạnh lùng nhìn can nương đang điềm nhiêm uống trà, mũi thoa nhọn hoắt dính một giọt máu, càng tô thêm vẻ rùng rợn.

Rốt cuộc sắc mặt tú bà cũng thay đổi, đứng phắt dậy, chung trà trong tay sánh mất hơn nửa.

“Hủy rồi... cuối cùng cũng bị hủy rồi! Hòn ngọc mười tám năm tốn bao tâm lực mài giũa, hoa khôi lừng lẫy kinh sư ba năm nay, đệ nhất danh đán Lâu Tâm Nguyệt của Dương Liễu Uyển... lại bị hủy như thế này sao?”

Xưa nay tính tình Lâu Tâm Nguyệt vẫn hòa nhã, không õng ẹo lả lơi hay lên mặt khinh người, ngay cả can nương nuôi nàng từ nhỏ tới lớn cũng không ngờ nàng hành động rồ dại như thế.

Chỉ trong một sát na, toàn bộ bảo bối đều vỡ vụn.

Sắc mặt tú bà vừa kinh ngạc vừa phẫn nộ, ném thẳng cánh chung trà trên tay vào nữ tử đứng giữa phòng, rít lên chói tai: “Hay! Hay cho Lâu Tâm Nguyệt! Cút ngay cho ta! Nửa xu cũng không được mang theo, lập tức cút ngay khỏi Dương Liễu Uyển”.

Thoáng chốc, ngay cả trang sức cài đầu cũng bị lột sạch, nữ tử áo tím lại mỉm cười: “Đa tạ can nương thành toàn”. Nàng khấu đầu, máu vẫn đổ xuống mặt, đoạn đứng dậy bước đi không hề ngoái lại.

Trên mặt đất hằn rõ dấu máu của một lạy vừa rồi.

Đệ nhất ca vũ đất kinh sư, hoa khôi số một Dương Liễu Uyển Lâu Tâm Nguyệt đã tự chuộc thân như thế.

Ngày hôm sau, tin tức truyền khắp thành Lâm An, đâu đâu cũng nghe thấy người ta bàn tán, đoán xem công tử họ Nhan đủ khả năng khiến tuyệt thế mỹ nữ dứt tình với Dương Liễu Uyển là nhân vật phong lưu tiêu sái cỡ nào?

Múa như Tâm Nguyệt vườn liễu rủ,

Hát tựa Đào Hoa mặc gió đùa.

Điệu múa của Lâu Tâm Nguyệt cô nương tại Dương Liễu uyển cùng lời hát của Tiết Ca Phiến cô nương tại Đào Hoa cư được xưng tụng song tuyệt chốn thanh lâu trong thành Lâm An. Biết bao bậc vương tôn công tử quăng ngàn vàng một tối chỉ vì điệu múa lời ca mê đắm lòng người của mỹ nhân.

Nhưng gió ấm vẫn đu đưa làm say du khách, điệu ca vũ của Triệu Yến [2] cuối cùng cũng tiêu tan. Ngọc đã vỡ, phong lưu cũng trôi theo mây gió.

Khắp tửu quán trà lâu, chỗ nào người ta cũng xôn xao, có cả văn nhân nhã sĩ cảm khái mà ngâm vịnh, như thể một truyền kỳ xuất hiện. Nhưng không ai muốn hỏi tiếp đoạn kết câu chuyện thế nào, tựa hồ họ đều cho rằng truyền kỳ nên ngưng lại trong màu máu đỏ diễm lệ mà thê lương

* * * * *

Kinh sư tất nhiên không giống những nơi khác, ngày mới tràn lên ngõ Thiên Thủy sớm hơn nhiều, lúc Bạch Loa mở cửa hiệu đã nghe loáng thoáng tiếng người.

“Mau lên, mau lên! Cô nương có thể cho tại hạ tạm thời ẩn thân một lúc chăng?” Bạch Loa vừa nhích ra, đã thấy một nam tử trẻ tuổi, dáng vẻ nho nhã thư sinh nhảy lên bậc thềm, nhận ra chủ hiệu là một nữ tử liền hơi tỏ ra do dự, nhưng thấy các cửa hiệu quanh đó chưa mở cửa, bèn đánh bạo, vừa thở hổn hển vừa hỏi. Không đợi Bạch Loa hồi đáp, y tiến vào trong.

Bạch Loa không cản cũng không đồng ý, bàn tay mảnh mai chạm hờ vào mép cửa, bình thản đánh giá anh chàng thư sinh kia.

“Cô nương xin đừng hiểu lầm, tại hạ không phải người xấu. Chỉ là có việc riêng tư không tiện cho người ngoài biết...” Thư sinh trẻ tuổi đương nhiên nhận ra bạch y thiếu nữ đang nghi ngờ, vội vàng giải thích, đồng thời thò đầu ra nhìn ngó quanh quất kỹ lưỡng: “Nếu có nữ tử áo tím đến tìm người, vạn lần xin cô nương nói rằng không gặp...”

Y chưa nói dứt lời, thấy nơi góc đường thấp thoáng màu áo tím, tức thì quay người trốn vào sau bình phong.

Bạch Loa không cần hỏi cũng lờ mờ đoán ra vài phần, khóe miệng hé nụ cười lạnh lẽo. Nàng vừa mở cửa, chưa kịp rửa mặt bèn quay vào lấy một một chiếc lược bằng sừng trâu, múc đầy chậu nước rửa mặt, nhúng lược vào chậu, buông tóc xuống chậm rãi chải.

“Xin hỏi... vừa nãy cô nương có thấy ai qua đây?”

Bạch Loa đang rửa mặt, chải đầu, bên tai chợt vang lên giọng nói dịu dàng của nữ tử, tuy có phần gấp gáp vẫn không che được nét ưu nhã - quả nhiên đến ngay. Nàng nghiêng đầu chải tóc, không lắc cũng không gật.

“Xin cô nương... tôi thấy chàng đi vào ngõ này, chắc cô nương nhìn thấy. Xin cô nương cho tôi biết Nhan công tử ở đâu!” Thoáng chốc, giọng nói mất hẳn bình tĩnh, Bạch Loa vốn định tiếp tục chải đầu, người đó bước đến trước mặt nàng, nắm tay áo run giọng cầu xin.

Gương mặt đối phương đập vào mắt, đột nhiên bạch y thiếu nữ đang bình thản cũng hít sâu một hơi khí lạnh.

Gương mặt tan nát này... phảng phất như miếng ngọc thạch mỹ diệu nhất bị rạch một đao, bất nhẫn cùng cực.

“Tôi tìm chàng đã lâu, vất vả lắm mới thấy chàng chạy vào đây! Cầu xin cô nương, cho tôi biết chàng ở đâu!” Nữ tử áo tím vẫn nắm tay áo Bạch Loa, ánh mắt lộ rõ vẻ nóng lòng, nhưng dáng vẻ ấy càng khiến gương mặt thêm đáng sợ. Vết thương trên mặt mới đóng vảy, kéo dài từ khóe mắt xuống miệng, nhìn vừa ghê rợn vừa thảm liệt.

“Lâu cô nương?” Bình thường vẫn nghe mọi người ngoài phố bàn tán, lúc này Bạch Loa chợt bật lên câu hỏi.

Nữ tử áo tím ngẩn người, theo phản xạ kéo tấm khăn lụa trên cổ lên che vết thương trên mặt, mắt ánh lên nét phức tạp, nghiến răng gật đầu, dịu giọng nói: “Vâng... cô nương, xin cô cho tôi biết, thật ra Nhan công tử ở đâu?”

Bạch Loa chăm chú quan sát nữ tử thảm thương như mảnh ngọc vỡ nát, trong mắt liên tục lóe lên tia sáng, bàn tay giữ tóc buông xuống, khua khua trong chậu nước rửa mặt. Nàng không dùng trâm vấn lên mà buông tay, mái tóc dài đen nhánh buông xuống như thác đổ, xòa lên bờ vai.

Tiếng gõ chưa dứt, trong phòng chợt vang lên một tiếng “vù” như có loài chim nào đó bay qua. Đoạn vang lên tiếng hô “Ối chà” đau đớn, từ sau bình phong nhảy ra một nam tử, vừa ôm dầu vừa khua tay loạn xạ.

“Tuấn Khanh!”, vừa thấy người, nữ tử mới đến kinh hãi xen lẫn vui mừng, vội chạy tới.

Thư sinh nho nhã bộ dạng khá khó coi, trên đầu rách toạc, liên tục xua tay: “Con gì đấy? Con gì mổ ta?” Y từ sau bình phong nhảy ra, “vù”, một con chim trắng muốt cũng từ đó đập cánh bay ra, đậu trên đám cây cối.

“Tuấn Khanh... chàng không sao chứ?” Thấy tình lang như vậy, Lâu Tâm Nguyệt vội rút một vuông khăn tay ra nhưng Tuấn Khanh chạm vào mặt nàng, nghiêng đầu tránh đi như chạm vào điện, sắc mặt thoạt trắng thoạt đỏ.

“Tuấn Khanh, mấy hôm nay muội tìm chàng đến khổ...” Thấy y tránh đi, sắc mặt Lâu Tâm Nguyệt trắng bợt, cúi đầu khe khẽ nói, “muội biết gia đình chàng không đồng ý chuyện của chúng ta, nhưng muội đã chuộc thân, ngày tháng còn dài, có thể từ từ....”

“Ta lại không muốn nàng chuộc thân!” Nhan Tuấn Khanh giậm chân, “nàng coi mình đi... chuyện gì cũng quyết làm bằng được, hôm nay mới thành thế này, ta...” Y không nói nốt được, bởi chạm vào ánh mắt Lâu Tâm Nguyệt, chợt thấy hoảng hồn, không nói được tiếng nào nữa.

“Nguyệt nhi, chúng ta ra ngoài tìm chỗ nào nói chuyện, được chăng?” Giọng y nhu hòa hẳn, miễn cưỡng dùng ánh mắt ôn nhu nhìn lên gương mặt tan nát khiến người khác bất nhẫn - y vừa lỏng người, quả nhiên dáng vẻ dịu dàng hẳn.

Ánh mắt sáng rực khiếp người của Lâu Tâm Nguyệt cũng nhu hòa theo, trong mắt ầng ậng - lòng nặng nề cực độ, không tin rằng mình đã thua như thế.

“Tuấn Khanh...” Nàng định nói nhưng Nhan Tuấn Khanh đã chộp lấy vai nàng, kéo đi.

Ra khỏi cửa, thư sinh văn nhã giận dữ trừng mắt nhìn nữ chủ nhân Hoa Kính.

Con anh vũ lông trắng chao cánh đậu xuống vai Bạch Loa, trên chiếc mỏ nhọn sắc còn vương lại vết máu.

“Tuyết nhi... ngươi đoán tiếp theo sẽ thế nào?” Bạch Loa cầm lược lẩm bẩm hỏi một câu, nhìn theo đôi tài tử giai nhân đi về phía sâu trong ngõ Thiên Thủy, vừa đi vừa thấp giọng trao đổi.

Chim chóc tuy thông minh nhưng chung quy lại vẫn không thể trò chuyện với con người, anh vũ đập cánh, lặp lại mấy cậu được dạy: “Lấy chồng! Lấy chồng! Khi nào thì Bạch Loa tiểu thư lấy chồng?...”

“Chà...” Mấy câu lạc lõng được nói lên bằng giọng nhừa nhựa khiến bạch y thiếu nữ bật cười khanh khách., gương mặt vốn lạnh lùng trầm tĩnh như có gió xuân thổi qua, tràn đầy niềm vui, nàng mỉm cười: “Súc sinh ngu xuẩn, từ lúc nào học được cái thói mồm mép châm chọc ấy hả? Lần trước đúng ra nên cắt đứt hẳn lưỡi ngươi mới phải”.

“Gả cho người ta! Gả...” Anh vũ tựa hồ biết chủ nhân đang cười, càng làm bộ làm tịch, nhưng thần tình Bạch Loa thoáng chốc trầm xuống, đôi mày u ám hẳn, đưa tay chải tóc. Con anh vũ đậu trên vai bị bức bay vụt đi, đậu lên vành chậu rửa mặt, nó không hiểu chuyện gì xảy ra, nghoẹo đầu nhìn chủ nhân, líu líu lo lo.

Gả cho người ta. Vì sao những nữ tử đó, dầu cho thông tuệ như Lâu Tâm Nguyệt, đã gặp qua nhiều hạng người mà vẫn không thoát khỏi lối suy nghĩ thường tục. Có lẽ... mọi nữ tử trên đời đều ký thác tình cảm vào một nơi sai lầm chăng?

Nỗi niềm thê lương của Ngu Cơ có khí phách cái thế của Bá Vương, tấm lòng trinh liệt của Lưu Lan Chi có Tiêu Trọng Khanh [3] sống chết không rời - còn bao nhiêu người khác, lại hoàn toàn không tìm được nơi đáp lại cảm tình tương xứng. Không hiểu sao Lâu Tâm Nguyệt và Nhan Tuấn Khanh lại gợi cho nàng liên tưởng đến một truyền thuyết khác ở Lâm An: mối tình giữa Bạch Xà và Hứa Tiên [4].

Nữ tử ôm một mối thâm tình lại gặp phải loại nam tử như thế. Thư hương môn đệ như Nhan Tuấn Khanh đúng là có chút tài khí, chút đồng cảm với nàng nhưng thật ra y quá nhu nhược, giả tạo - làm khách tìm vui ở thanh lâu ắt không ảnh hưởng gì, nhưng nam tử như thế... không thể nào kết hợp với hoa khôi trong lòng luôn phân chia tình cảm rạch ròi.

“Ngu xuẩn, ngu xuẩn quá!” Đột nhiên, Bạch Loa đang trầm mặc chải đầu, quăng ngay lược vào trong chậu khiến nước bắn lên tung tóe, con anh vũ sợ hãi đập cánh bay lên. Sắc mặt nàng lạnh lùng, phức tạp, nốt ruồi như giọt lệ bên khóe mắt gần như rơi xuống.

* * * * *

Một thời thần sau, các cửa hiệu trong ngõ Thiên Thủy lục tục mở cửa, một ngày ồn ã, tất bật lại bắt đầu.

Bạch Loa đứng dưới hàng hiên chăm chút hoa cỏ, đưa mắt liếc về một góc con ngõ.

Hồi sau, cuối cùng Bạch Loa cũng thấy chiếc bóng mặc áo tím từ góc đường ơ thờ bước ra. Lâu Tâm Nguyệt lấy khăn lụa che mặt, men theo con hẻm lát đá xanh, bước chân hình như hơi phiêu hốt, bên cạnh nàng ta không thấy bóng dáng thư sinh Nhan Tuấn Khanh.

Nàng đứng thẳng dậy, nhìn Lâu Tâm Nguyệt bước tới.

Khuôn mặt tuy không dám để người khác nhìn thấy nhưng thân hình xinh đẹp kia vẫn thế, gợi cho người ta nhớ đến vũ nữ nổi danh đất kinh sư.

“Lâu cô nương, vào nghỉ chút nhỉ?” Bạch Loa thấy nàng ta thong thả bước tới, sắp đi qua cửa, không nén được bèn bật lên tiếng gọi.

“Chàng nói... dầu tôi đã chuộc thân nhưng vẫn là gái lầu xanh. Trừ phi tôi có thân thế thanh bạch, còn thì chàng không thể đưa tôi về nhà gặp cha mẹ”. Nữ tử áo tím nhấp một ngụm trà nhài, thẽ thọt nuốt xuống cổ họng, trầm mặc hồi lâu cuối cùng cũng lên tiếng, giọng nói khản đặc chứa chan niềm tuyệt vọng.

Nàng không biết bạch y cô nương chủ tiệm hoa này là ai nhưng vẫn thấy đó là người duy nhất mình có thể cởi lòng.

“Bạc tình lang”. Bạch Loa chăm chút đám hoa cỏ, nhẹ nhàng đặt cành văn trúc mới mọc cố định lên giá, ngữ điệu có phần lạnh lùng.

Thân hình Lâu Tâm Nguyệt rúng động, nghiến răng cố nén mấy giọt lệ không rơi xuống chung trà, lí nhí: “Chuyện này, chuyện này... không thể trách chàng... gia đình thư hương môn đệ sao... sao có thể chấp nhận một người...”

“Cô nương đã minh bạch, lúc đó sao còn chuộc thân để theo y?” Bạch Loa vấn tóc, lạnh nhạt thốt, tưới chút nước vào chậu hoa - văn trúc ưa ẩm, cần phải chăm chút kỹ lưỡng, cứ mang đến nơi trực tiếp nhận ánh dương quang là khô héo.

“Tôi cho rằng... chàng chân tâm với mình nên quyết tâm, sớm muộn gì cũng thuyết phục được phụ mẫu chàng”. Lâu Tâm Nguyệt cầm chặt chung trà, thanh âm càng lúc càng nhỏ, “Tôi thật sự chỉ muốn cùng chàng sống trọn đời... Thật vậy ư! Cõi đời này chấp nhận một nữ tử bán tiếng cười chứ không thể chấp nhận một nữ tử hoàn lương sao?”

Bạch Loa ngẩng đầu, vừa toan lên tiếng nhưng Lâu Tâm Nguyệt thấy ánh mắt lãnh liệt của thiếu nữ áo trắng bèn đứng phắt lên, thanh âm cũng trở nên quả quyết: “Nhưng tôi không hối hận! Cô nương không cần phải nói những lời không hay về Tuấn Khanh, tôi nói cho cô nương biết, bất kể sự việc thế nào - cũng là tôi chọn lựa, tôi sẽ không hối hận”.

Nàng cố nén lệ, làm ra vẻ cứng cỏi, nhưng vì vậy mà khuôn mặt càng khó coi - dẫu nàng xinh đẹp như trước, thư sinh đó vị tất đã chịu cưới nàng, huống hồ giờ nàng xấu xí như la sát.

Bạch Loa cúi đầu thở dài, tiếp tục dùng một chiếc thuổng nhỏ xới đất cho mấy chậu hoa cỏ.

Nếu sau năm, bảy năm nữa, nếm đủ mùi vui buồn, sướng khổ của đời, có lẽ Lâu Tâm Nguyệt không bất cần như hôm nay --- nhưng nàng vẫn còn trẻ, trái tim nàng vẫn còn ấm nóng, nên sẵn sàng đem đánh cược mọi thứ.

Ái tình tuổi trẻ lẽ nào đều như thế? Mù quáng, điên cuồng, bất chấp tất cả, dù cho đất trời hòa làm một, mây gió tan tành vẫn thề không hối hận --- người ngoài nhìn vào có lẽ khinh miệt nói rằng: đó không phải ái tình mà chỉ là mê luyến, là cơn mê nhất thời... nhưng dẫu chỉ là cơn mê thoáng qua, có khi lại lấy đi những thứ vĩnh hằng.

--- Gương mặt tuyệt mỹ giờ tan nát của vũ nữ này là minh chứng.

“Chỉ trách thân tôi không trong sạch... nếu không phải nữ tử phong trần thì tốt quá... nếu không phải thì tốt quá...” Ngữ khí chao chát kiên định vừa thốt ra đã tan biến, Lâu Tâm Nguyệt mệt mỏi gục xuống, dùng chung tì lên trán, “Tôi cũng muốn thanh thanh bạch bạch gả cho chàng... nhưng, nhưng cha mẹ đã bán tôi, không phải lỗi của tôi!”

Rốt cuộc, vũ nữ danh động kinh sư khe khẽ cất tiếng khóc, bao nhiêu năm nàng phải gìn giữ dáng vẻ yêu kiều nên ngay lúc khóc cũng không dám phóng túng, vẫn lay động lòng người.

Bạch Loa khom người xén tỉa chậu văn trúc, mái tóc rủ xuống che ánh mắt của nàng. Bàn tay nàng cũng hơi chậm lại.

“Thoát thai hoán cốt một lần là lại thanh thanh bạch bạch ngay, vả chăng có thế thật, liệu có vãn hồi được không?” Đột nhiên Bạch Loa cúi đầu, bình thản hỏi một câu, “Nếu cô nương thật sự muốn thế, tôi có thể giúp”.

Giọng nói lạnh lùng mang theo ma lực khó tả khiến nữ tử áo tím nghe xong mở lớn cặp mắt, nhìn sang với vẻ không dám tin.

“Cách!” một tiếng vang lên khe khẽ, Bạch Loa bẻ một cành cong queo trên cây văn trúc.

“Đây là...”, từ lúc khép cửa tiến vào, Lâu Tâm Nguyệt đã thấy một chậu hoa để trên bàn tỏa ra mùi hương thơm ngát, bèn ngạc nhiên hỏi.

Bàn tay Bạch Loa cẩn thận đặt chậu hoa xuống, mỉm cười: “Đây là bảo châu mạt lỵ [5] -- rất hiếm đấy”.

Lâu Tâm Nguyệt quan sát đóa hoa còn e ấp, hoa nhài bình thường đều cánh đơn màu trắng tinh, nhưng cánh của đóa hoa này lại trùng trùng điệp điệp, thậm chí tạo thành hình tú cầu, màu xanh nhạt.

“Chậu bảo châu mạt lỵ này không phải để cho cô nương chăm sóc..” Bạch Loa khẽ mỉm cười, tỏ ra thần bí khó đoán, nốt ruồi như giọt lệ sắp rơi trên khóe mắt lại khẽ động, nàng hơi cúi xuống, thở dài, “mà cần cô nương đào nó lên, bứt rễ và ăn sạch”.

Thân hình Lâu Tâm Nguyệt rung động, ngẩng đầu nhìn bạch y thiếu nữ thanh lệ thần bí, buột miệng hỏi: “Ăn xong thì sao?”

“Sẽ chết”. Bạch Loa che miệng mỉm cười, “ăn vào rồi sẽ vô cùng đau đớn, lập tức chết ngay...”

“Chuyện đó...” tử y nữ tử kinh ngạc nhìn chậu hoa mỹ lệ, tỏ ra hơi sửng sốt.

“Bất quá cô nương không cần phải sợ... đó chỉ là giả chết”. Không đợi Tâm Nguyệt hỏi, Bạch Loa xua xua tay, khẽ cưởi: “Rễ bảo châu mạt lỵ mà dùng vào sẽ có công dụng bế khí ngưng mạch - mỗi thốn rễ duy trì giả chết được một ngày... ‘Lâu Tâm Nguyệt’ sẽ ‘chết’ rất dễ dàng, còn ‘cô nương’ sẽ ‘sống lại’ một lần nữa”.

Ánh mắt Tâm Nguyệt sáng lên - người lan tâm huệ chất như nàng, không cần giảng giải nhiều cũng hiểu phải làm sao.
Không sai... nếu có loại kỳ hoa này, nàng sẽ đi gặp Tuấn Khanh thương nghị chuyện giả chết phục sinh - đó khác nào thoát thai hoán cốt! Cái túi da “Lâu Tâm Nguyệt” này có chôn đi cũng không sao, mấy ngày sau tỉnh lại sẽ đường đường chính chính bước vào Nhan gia... sống những tháng ngày cử án tề my, phu xướng phụ tùy.

“Tôi biết cảm tạ cô nương thế nào? Hiện tại tôi không còn gì... đúng rồi”. Trong lúc quá vui mừng, giọng nói của vũ nữ danh động kinh sư thoáng run rẩy, vội vàng cho tay vào ngực áo tìm, chợt nhớ ra một việc, móc tiểu ngọc phật đeo trên người, “tôi chỉ mang cái này theo, những thứ khác để lại hết cho can nương... vật này do Tuấn Khanh tặng tôi, chàng nói là ngọc Lam Điền cực phẩm”.

Thấy ánh mắt nữ tử áo tím không giấu nổi tia kích động, cầm tiểu ngọc phật trong lòng tay, sắc mặt Bạch Loa vẫn bình thản - Lâu Tâm Nguyệt nhận ra, tâm lý lạnh hẳn... ánh mắt thiếu nữ áo trắng như được phủ một bức màn lạnh ngắt, không khác gì ánh mắt can nương ở Dương Liễu Uyển.

“Ở Hoa Kính chỉ còn lại một cây hoa này... đại khái trên đời cũng không còn mấy cây... Mấy hôm trước nghe nói Dụ vương gia mang ngàn lạng bạc trắng đến phủ Phúc Châu tìm kiếm mà đành tay không quay về”. Ánh mắt Bạch Loa vẫn lạnh nhạt, quay người đùa nghịch với con bạch anh vũ, lạnh lùng thốt.

Sắc mặt Lâu Tâm Nguyệt trắng nhợt, tròng mắt hiện rõ tia tuyệt vọng, nhưng thần bí thiếu nữ lại nói tiếp một câu: “Cửa hiệu bán hoa của tôi có một quy củ, nếu muốn chậu hoa này - cần dùng thứ mình trân quý nhất trao đổi”.

* * * * *

“Nhớ lấy, gốc bảo châu mạt lỵ này đã sống mười hai năm, rễ dài năm thốn - tối đa cô nương chỉ được dùng ba thốn”. Nữ chủ nhân Hoa Kính đặt chậu hoa vào tay Lâu Tâm Nguyệt, dặn dò thêm một lần, “Giả chết mà quá ba ngày, quan tài được chôn xuống, không khí trong đó sẽ hết dần, dẫu cô nương có tỉnh lại cũng vô dụng”.

“Tôi nhớ rồi... đa tạ Bạch cô nương”. Lâu Tâm Nguyệt dùng khăn lụa che mặt, đón lấy chậu bảo châu mạt lỵ, gật đầu liền liền, ngữ khí có phần kích động, “ơn tái tạo này, tôi và Tuấn Khanh nhất định sẽ đến tận nơi khấu tạ”.

“Đợi đến ‘ngày đó’ hẵng nói...” Bạch Loa vẫn bình thản mỉm cười, trong mắt sâu thẳm lóe sáng, “nên nhớ, cô nương còn thiếu tôi tiền mua hoa - cô nương cũng đã đồng ý sẽ dùng vật quý giá nhất để đổi lấy”.

Sắc mặt Lâu Tâm Nguyệt hơi nhợt đi, điều kiện cổ quái quá!

Nàng là một nữ tử thông minh, bình thường có lẽ sẽ nhận ra ngữ khí của bạch y thiếu nữ có phần cổ quái nhưng bây giờ đang bị chữ “tình” che mắt, chỉ muốn làm sao nhanh nhanh đạt được ái tình viên mãn nên không nghĩ ngợi nhiều mà đồng ý ngay. Trừ tấm thân tàn ra, nàng còn gì để đáng gọi là “thứ trân quý nhất”?

“Đúng rồi, ngọc Phật này... coi như đặt cọc lại chỗ của cô nương”. Lâu Tâm Nguyệt đi được mấy bước, liền quay lại, cứ thế mà đi khiến nàng áy náy nên cởi dây ngọc đặt vào tay Bạch Loa, không hiểu sao, ánh mắt nàng ảm đạm hẳn đi, “được cô nương khảng khái tặng cho danh hoa hãn thế, kiếp này Tâm Nguyệt không thể báo đáp, tương lai sẽ kết cỏ ngậm vành báo đáp đại ân của cô nương”.

Bạch Loa mỉm cười, nữ tử thiên tính thông minh này tuy bị tình cảm che mắt nhưng vẫn dựa vào trực giác nhận ra được có chuyện không bình thường.

“Đợi chút đã”. Thấy vũ nữ áo tím ôm chậu hoa toan cất bước đi, Bạch Loa không nén được, cất tiếng gọi lại, nàng ngẫm nghĩ một hồi đoạn quay người vào trong lấy ra một túi gấm nhỏ: “Vật này, cô nương nên mang theo”.

Lâu Tâm Nguyệt nhìn nàng với vẻ hơi kinh ngạc, nhưng không đợi nàng ta hỏi, Bạch Loa đã xua tay: “Đừng hỏi gì nữa, dù gì cô nương cũng nên nghe tôi, đừng cho Nhan công tử biết vật này, cứ lẳng lặng mang nó theo, bất luận sống chết gì cũng không được bỏ lại, cô nương hiểu không?”

Lâu Tâm Nguyệt tuy kinh ngạc, có phần cảnh giác đối với thần bí thiếu nữ, chủ nhân hiệu bán hoa cỏ này, nhưng vẫn dụng lực gật đầu, cất túi gấm không đầy một xích vào tay áo.

“Tấm bùa hộ mệnh này... sẽ mang đến vận may cho cô nương”. Thấy Lâu Tâm Nguyệt thu nhận, Bạch Loa khẽ mỉm cười, giọt lệ như nốt ruồi chực rơi phảng phất như đang khóc, tạo nên vẻ đẹp mê ly, “mau đi tìm Nhan công tử thương lượng nên làm gì tiếp theo - Lâu cô nương, nhớ bảo trọng”.

Bóng áo tím đi xa, thiếu nữ bạch y trường phát chợt thu lại nét cười, thở dài sườn sượt. Bạch anh vũ bay đến cạnh càng, thấy khuôn mặt chủ nhân có vẻ lạnh lùng hơn thường nhật.

“Ngọc Lam Điền cực phẩm?” Đưa mắt nhìn ngọc phật trong lòng tay, Bạch Loa khẽ liếc biết ngay đồ giả, nụ cười lạnh tanh treo trên khóe môi, nàng vung tay, quăng viên đá phế vật vào chậu hoa.

Nữ nhân... có phải đều mù quáng như thế không?

* * * * *

“À, lão tam, ngươi coi kìa --- sáng sớm đã đưa đi, con cái nhà ai nhỉ?”

“Các ngươi có biết hoa khôi Lâu Tâm Nguyệt của Dương Liễu Uyển không?”

“À... không phải mấy ngày trước cô nương này mới theo một tên mặt trắng ư? Hình như tự hủy nhan sắc... không có gì hay, còn nhắc đến cô ta làm gì? Hiện tại nổi nhất phải là Tiết Ca Phiến cô nương!”

“Ha ha... tin tức của các huynh không linh rồi nhỉ? Ta nói cho các huynh biết, Lâu hoa khôi chuộc thân vốn định đi theo một tên tiểu tử họ Nhan - kết quả mệnh bạc, rời Dương Liễu Uyển mới hai chục ngày đã mắc bệnh mà chết tại một biệt viện...”

“Hả, cái gì? Thật chết vậy à?-Đúng là hơi đáng tiếc thật”.

“Chứ không phải sao? Mới mười tám tuổi, lại vừa hoàn lương, khiến tiểu tử họ Nhan khóc lóc chết đi sống lại”.

“Hắn khóc cái gì? Dù gì nữ nhân đó cũng đã qua tay, hiện tại mặt mũi đã xấu như dạ xoa - ta nói tên mặt trắng đó có phúc khí vì Lâu hoa khôi chết rất đúng lúc - bằng không, ngươi tưởng hắn có thể chân chính cưới nàng ta chắc?”

“Nói đúng lắm... ôi, đào hoa vận như thế bao giờ mới đến lượt Tôn lão tam ta?”

“Khi nào ngươi đủ đức hạnh...”

Tiếng mấy kẻ vô lại uống trà bàn tán nhỏ dần, bạch y thiếu nữ đứng dưới mái hiên buông kéo cắt hoa xuống, nhìn theo đội khâm liệm đi qua phía ngoài ngõ Thiên Thủy.

Tang lễ hết sức bình thường. Nếu không có nam tử khóc lóc thương tâm và người nằm trong quan tài không phải là hoa khôi từng danh động kinh sư thì đó đơn thuần chỉ là chuyện sống chết ở đời.

Bao nhiêu người cùng đi đưa tiễn, chẳng qua vì muốn xem truyền kỳ đẹp đẽ mà thê lương hạ màn thế nào.

Nhan Tuấn Khanh mặc áo tang nhưng dùng vải bố trắng che mặt đặng không ai nhận ra. Y khóc lóc thê lương, tuy mất đi hình tượng nam tử hán nhưng bậc công tử phong lưu ôn nhu như y đau lòng vì mất người yêu tất hành động như thế, khiến những người đi xem buông tiếng thở dài.

Nhưng ánh mắt Bạch Loa không để tâm đến thư sinh đau lòng quá độ mà vừa chạm vào nắp áo quan liền biến sắc. Anh vũ phảng phất cảm giác thấy trên mình chủ nhân toát ra sát khí đáng sợ, “vù” một tiếng bay lên đám cây cối cạnh đó.

“Quả nhiên là vậy”. Đội đưa đám rình rang đi qua hồi lâu, Bạch Loa mới thốt lên mấy tiếng, chợt cười lạnh, vung tay - “soạt”, một cành sơn trà khô bị lưỡi dao sắc lẹm cắt đổ.

* * * * *

Nửa đêm ba ngày sau, thành Lâm An chìm trong mưa xuân lây rây.

Ở khu mộ phần ngoài thành bắc, đêm tối đen như mực, thỉnh thoảng vang lên tiếng rền rĩ thê lương.

“Sạt, sạt, cạch, cạch”, âm thanh vang lên trong bóng đêm, vừa cấp thiết vừa điên cuồng.

- Đó là tiếng móng tay cào vào gỗ, rùng rợn vọng vào tai.

“Ngột ngạt... ngột ngạt quá”.

“Cho tôi ra! Cho tôi ra!”

Trong không gian nhỏ hẹp đến ngạt thở, nàng dùng toàn lực đẩy nắp quan tài nhưng không mảy may ăn thua - không thể nào... không thể nào! Rõ ràng Tuấn Khanh đã bảo rằng quan tài không đóng đinh, sau ba ngày y sẽ tới đón nàng.

Y từng an ủi nàng: Chỉ cần nàng mở mắt ra, y sẽ ở cạnh đợi nàng tỉnh lại - rồi cưới nàng làm vợ.

Nhưng sao giờ Tuấn Khanh không tới? Vì sao y không tới?

“Cho tôi ra!... Khó thở quá... cho tôi ra!”

Đẩy một hồi... nặng quá! Nắp áo quan đóng đinh cứng ngắc, hoàn toàn bất động.

“Tuấn Khanh! Tuấn Khanh! Tuấn Khanh!”

Trong bóng đêm vang lên tiếng gào lạc giọng, mỗi lần gào lại dùng toàn lực đẩy nắp áo quan chắc nịch như màn trời che phủ, nhưng móng tay cọ vào gỗ liền gãy gục, phát ra âm thanh soàn soạt, bóng đêm tử vong vẫn trầm trầm.

“Tuấn Khanh, Tuấn Khanh... Tuấn Khanh...” Hơi thở của nữ tử trong áo quan mỏng manh dần, lẩm bẩm gọi đến kiệt lực, tĩnh tâm một hồi, nàng đột nhiên bật cười cuồng dại - hóa ra là thế! Hóa ra kết cục là thế.

Đem một người còn sống cho vào quan tài là thành toàn cho y cả về hiếu đạo và tình nghĩa... đúng, nàng “bệnh”, bệnh rất nặng, chắc chắn phải chết - cơ hội tốt như thế, y lại thông minh, đời nào chịu bỏ qua?...

Lúc dùng trâm vàng rạch mặt, nàng kiên định vô hối, nhưng lúc dùng đinh sắt đóng lên nắp quan tài, sao y lại tuyệt tình đến thế?

“Tuấn Khanh! Tuấn Khanh! Tuấn Khanh!”

“Ta không cam lòng... ta không cam lòng! Dù phải mất mạng dưới ba tấc đất, cũng phải hóa thành lệ quỷ đến tìm ngươi”.

Trong quan tài, nữ tử cuồng loạn cào nắp và thành quan tài, ngón tay đầm đìa máu. Không khí giảm dần, nàng nghẹt thở, lồng ngực như đang có ngàn vạn con kiến cắn xé tim phổi, ngón tay nàng tự cào vào da - đột nhiên, chạm vào vật gì đó trong lớp áo lót.

- Túi gấm. Thiếu nữ thần bí đó có trao cho nàng túi gấm.

Trong bóng tối, nữ tử thở hắt ra, bàn tay liên tục run rẩy, cầm vật trong túi gấm mà phảng phất như tìm được cây cọc cứu mệnh: đó là một cây chủy thủ không đầy một xích, phát ra hàn khí bức nhân.

“Đó là bùa hộ thân của cô nương”. Thiếu nữ áo trắng dặn.* * * * *

Thanh lý xong gian phòng cuối cùng, Nhan Tuấn Khanh thở dài nhìn Yêu Nguyệt biệt viện trống trơn - cuối cùng, tất cả đều qua. Trường phong lưu khiến ai ai cũng biết này chắc cũng chôn vùi theo bụi trần tục.

Nhớ lại những xáo trộn mấy ngày qua, y không khỏi bồi hồi: chẳng phải trong chốn phong trần không có chân tâm sao? Sao y lại gặp phải một nữ tử cái gì cũng cả tin là thật? Vũ nữ sắc nghệ quán tuyệt kinh sư lại vì y mà gây ra ngần ấy chuyện, khiến khắp thành xôn xao - còn nghĩ nữa mà làm gì, loại diễm phúc đó y có nguyện ý tiếp thụ chăng?

Nếu chấp nhận, y biết ăn nói thế nào với cha mẹ, phụ thân xưa nay nghiêm cẩn mà biết y ra vào chốn phong lưu hoa nguyệt, tất sẽ theo gia pháp giáo huấn đến nơi đến chốn, lý nào chịu nhận một thanh lâu nữ tử bước vào nhà? Còn cả việc chung thân được định từ nhỏ - thê tử chưa đón về là con gái Chu thị lang - mối nhân duyên như thế, y chịu mất sao?

Huống hồ, chạm mắt vào gương mặt khủng khiếp của Tâm Nguyệt, y không thể chịu đựng nổi.

Nàng không biết y chỉ thích dáng vẻ xinh đẹp, múa dẻo hát hay ư? Dung mạo nàng như bây giờ, y làm sao chịu để mắt, đừng nói cái gì mà trọn đời trọn kiếp? Thế nguyền ư... những lời trong chốn phong nguyệt, có câu nào là thật?

Hôm nay... đã là ngày thứ tư rồi sao?

Y bất giác rùng mình, đoạn vội vàng tự an ủi: chắc không sao... không sao, y mua quan tài bằng gỗ lê hoa thượng phẩm, nắp dày hai thốn, lại tận mắt cho thợ đóng tới hai lớp đinh lên.

Dù là một nam tử khỏe mạnh, mà tay không cũng đừng hòng phá được. Không sao đâu... hắn có gì phải lo lắng, sau này cưới vợ sinh con, làm quan... khung cảnh chăn gấm nệm êm sẽ khỏa lấp những phong lưu bây giờ. Xuôi ngược gì thì chuyện người trong quan tài sống lại, ngoài y cũng không có ai biết được.

Món nợ lúc thiếu niên hồ đồ, thôi thì vùi sâu xuống cho nó tự rữa nát.

Nhan Tuấn Khanh lại thở dài nhìn biệt viện trống trải, thu tấm vũ y bảy màu Lâu Tâm Nguyệt mặc khi trước, vo lại đưa cho thư đồng Mặc Yên: “Mọi thứ thu vén hết chưa? Mớ y phục này mang đến đâu đó đốt hết đi... mọi thứ của Lâu cô nương không cần để lại gì”.

Mặc Yên lanh lợi nhưng hôm nay lại hiểu sai ý, cho rằng thiếu gia tâm tình chán nản, đảo mắt nhìn đống y phục, không thấy bộ bình thường Lâu cô nương thích mặc nhất, lắp bắp hỏi: “Chiếc trân châu sam đó thiếu gia có giữ lại làm kỉ niệm không? Những thứ khác nô tài sẽ đốt hết”.

“Trân châu sam? Không phải cũng trong đó sao?” Nhan Tuấn Khanh lấy làm kỳ quái, không buồn lật lại đống y phục xua xua tay cho gã thư đồng ra ngoài - dù gì toàn bộ những thứ ở đây, y không định giữ lại gì.

Mặc Yên đi rồi, y nhìn tòa biệt viện trống trải, chợt thấy thương cảm vu vơ...

Một năm rồi nhỉ? Nơi đây từng tha thướt phong quang biết bao nhiêu? Tựa gối thề nguyền, lẳng lặng mở cửa sổ ngắm trăng, cười đùa dưới khóm hoa... mỗi tối trước khi đi ngủ, Tâm Nguyệt đều mặc tấm vũ y nàng yêu thích nhất, múa cho mình y xem.

Phong thái tuyệt thế đó... đủ để nghiêng thành nghiêng nước.

Nhưng đến hôm nay chỉ còn là những mảnh vỡ trong quá khứ.

Y hơi buồn bã - kỳ thật y không muốn thế --- nhưng dù gì y vẫn chỉ là kẻ nhu nhược, không có dũng khí phản kháng phụ thân và gia tộc, vứt bỏ công danh lợi lộc.

Y chỉ có dũng khí làm một việc duy nhất, là đóng đinh lên áo quan, đóng những hai lớp.

Bàn tay thư sinh từ từ nắm chặt lại, ánh mắt thường ngày văn nhã chợt ánh lên những tia ác độc.

Đã nửa đêm rồi - y đến biệt viện này thu thập mọi thứ cũng để tránh tai mắt người đời. Trong thành Lâm An, ai nấy xôn xao bàn tán về nam tử trong màn kịch phong lưu này nhưng chi biết y họ Nhan mà thôi... từ đầu y đã lưu tâm, không nói tên thật với đám người hỗn tạp chốn phong trần. Tuấn Khanh chỉ là tên giả... Tuấn Khanh, Tuấn Khanh... bao lần nghe Tâm Nguyệt gọi trong lúc say mê, lần nào y cũng ngẩn ra rồi mới có phản ứng là tên mình.

Nữ tử ngốc nghếch... một mình nàng ta say là được rồi, còn muốn kéo y xuống vũng bùn nữa sao?

Màn đêm âm u, ngoài trời rì rầm mưa đổ - Giang Nam lúc đầu hạ đều mưa như thế, y vừa thấy vô vị vừa cảm hoài, chợt muốn ngâm lên một bài thơ. Nhưng y chưa kịp đọc lên câu đầu thì loáng thoáng nghe trong tiếng gió có lời ca vang vọng - “Gió xuân lất phất làn mưa bụi, Sấm động phù dung hé nhụy lòng”.

Tiếng ca thê thiết của nữ tử, vọng trong tiếng mưa gió phiêu diêu, quả nhiên là bài Vô Đề của Lý Nghĩa.

Lắng nghe tiếng ca, tay Nhan Tuấn Khanh chợt rung lên... giọng hát đó... giọng hát đó.

“Vầng trăng bẻ khóa hương ngan ngát, Ngọc hổ vương tơ mãi xoay vòng”.

Tiếng ca quen thuộc không hiểu từ đâu vọng đến, lồng lộng khắp biệt viện trống trải chìm trong cơn mưa đầu hạ.

Là nàng... là nàng!

Sắc mặt thư sinh trắng bợt, bàn tay run rẩy đẩy cửa phòng, chạy đến ngoài hành lang, chuẩn bị lao ra khỏi đại môn.

Nhưng vừa đến hành lang, chân y như mọc rễ, mắt trợn trừng nhìn về phía trước: dưới ánh đèn u ám ở hành lang, một nữ tử thướt tha, yêu kiều mặc trân châu sam, phất ống tay áo dài, đang uyển chuyển múa, đẹp đến nỗi không thốt thành lời. Nàng phất tay, ngoái lại, y nhìn rất rõ vết thương đáng sợ trên mặt nàng.

“Tuấn Khanh, muội về gặp chàng đây”. Trong lúc thoáng ngừng múa, nàng mỉm cười nói với y.

Nhan Tuấn Khanh thấy nàng đưa tay tới, mười đầu ngón tay đầm đìa máu, tựa hồ cào vào vật gì đó mà biến thành nông nỗi ấy. Nữ tử mỉm cười: “Tuấn Khanh, muội đợi chàng rất lâu mà không thấy chàng đến... vì sao chàng lại không đến?”

“Quỷ, quỷ!” Thư sinh bay hết hồn vía, sắc mặt chuyển màu xanh lướt, trong mắt kinh hoàng co lại, cơ hồ nứt ra. Đoạn y loạng choạng chạy theo hành lang, bước chân không còn tí khí lực nào, được mấy bước liền ngã lăn ra.

“Ôi...” Thấy y như vậy, nữ tử lại thở dài, trong mắt sáng rực lên, “Tuấn Khanh, không phải chàng vẫn bảo sống cùng nhau, chết chôn cùng huyệt sao?... Muội rất yêu chàng, chàng biết không?”

“Bi..ết...” Nhan Tuấn Khanh run rẩy lùi lại từng thốn một, gật đầu liền liền.

“Chàng không biết”. Nữ tử chợt tắt ngay nét cười, lạnh nhạt thốt, “chàng căn bản không biết!” Nàng cười vang, đưa tay lên phất ống tay áo, tiếp tục hát khúc Vô Đề:

Cổ thị vén rèm trông Hàn thiếu,

Mật phi buông gối Ngụy vương buồn.

Lòng xuân cùng sánh hoa đua nở,

Một mảnh tương tư hóa tro tàn.

Nàng ca vừa múa, thanh âm mỗi lúc một cao, hát dến câu cuối cùng trải ra thê lương như tiếng chim Ô Thước kêu đêm. Vũ y quay tròn như cơn lốc, nữ tử danh động kinh sư phiêu hốt bất định như bóng u linh khiến người ta hoa mắt. Bước chân nhanh dần, tới gần... tay áo phất phới chợt lóe lên lãnh quang - tất cả liền yên lặng như cũ.

* * * * *

“Cộc, cộc, cộc!”

Tiếng gõ cửa lúc nửa đêm vang lên gấp rút, nghe rất rõ ràng khiến chủ nhân thức giấc.

Bạch Loa mặc áo thắp đèn, lúc mở cửa hiệu cũng phải rùng mình - ngoài trời mưa lớn quá. Nhưng ánh mắt nữ tử đó còn lạnh lùng hơn.

“Lâu cô nương?” Bạch y thiếu nữ thấy khách đứng dưới mái hiên, toàn thân ướt sũng, liền tỏ ra ái ngại, đưa giá nến lên soi, nhận rõ bóng dáng bèn khẽ mỉm cười, “Lâu cô nương không phải quỷ... đã như thế, cung hỉ cô nương trùng sinh tái tạo. Mau vào đi!”

“Trùng sinh? Ha ha ha...” Lâu Tâm Nguyệt cúi đầu, nước mưa nhỏ tong tỏng từ vạt áo xuống đất, nở nụ cười lạnh tanh, “tôi mang đến trả cho cô nương tiền mua hoa còn thiếu”.

Nàng ta vẫn cúi đầu, không nói thêm gì, đưa chiếc bao vẫn ôm trong lòng ra: “Ở trong này - đó là thứ tôi trân quý nhất!”

Ánh mắt Bạch Loa thoáng ngưng lại, chăm chú nhìn vào chiếc bao ướt nhẹp. Nhìn kỹ mới thấy từng giọt đỏ lòm từ trong bao thấm ra ngoài.

“Cô, cô nương... đã giết y?” Bạch Loa có vẻ bất ngờ, buột miệng hô khẽ, “trời ơi!”

“Đúng”. Lâu Tâm Nguyệt ngẩng phắt đầu dậy, ánh mắt vốn nhu hòa chợt sáng lóe như điện.

Nàng ta mở bao, nhìn chiếc đầu với vẻ thâm tình, khẽ hôn lên trán rồi chậm rãi đưa tới: “Cô nương đã nói tôi phải dùng vật mình trân quý nhất để đổi bảo châu mạt lỵ. Bây giờ, tôi mang Tuấn Khanh... Tuấn Khanh đến đưa cho cô”.

Không sai... đó là thứ nàng yêu quý nhất.

Cho dù mất tất cả, trong đáy lòng nàng vẫn còn lại niềm tin và khát vọng vào ái tình.

--- Mà bây giờ cả đầu tình nhân nàng cũng giao ra.

Ánh mắt Hoa Kính nữ chủ nhân hơi tối đi, khóe môi thoáng hiện nụ cười thương cảm, đưa tay đón lấy chiếc bao. Trong đêm mưa lại gặp chuyện dính đến máu me này mà thiếu nữ kỳ quái đó không hề tỏ ra mảy may kinh hoảng.

Nhưng ngón tay nàng vừa chạm vào chiếc bao, bàn tay Lâu Tâm Nguyệt rụt lại cực nhanh. “Dừng tay!”, Bạch Loa biến sắc, không kịp đón lấy đầu người, lao tới như ánh chớp, giữ cánh tay phải Lâu Tâm Nguyệt dừng lại ngay trước tâm tạng - lưỡi chủy thủ dài không đầy một thước mới chạm vào làn da người vũ nữ bạc mệnh.

“Để mặc tôi”. Tử y nữ tử ngẩng đầu, nghiến răng nhìn Bạch Loa, vẻ mặt càng khó coi hơn, “Không phải việc của cô nương, mau buông tôi ra... buông tôi ra”.

“Có liên quan đến tôi”. Ngón tay Bạch Loa vô cùng mảnh mai, nhưng Lâu Tâm Nguyệt có cảm giác mấy ngón tay búp măng kia chạm vào cổ tay mình xong, toàn thân nàng ta chợt mềm nhũn vô lực. Ánh mắt Bạch Loa lóe sáng, phảng phất như một đĩa đèn lúc mờ lúc tỏ: “Lưỡi chủy thủ này là tôi cho Lâu cô nương mượn, hiện tại nên trả cho tôi”.

Đoạn phất tay đoạt lấy. Lưỡi chủy thủ cắt sắt như bùn lọt vào tay đối phương rồi, ánh mắt Lâu Tâm Nguyệt cơ hồ trống rỗng, thân hình nghiêng đi, tựa vào khung cửa không thốt lên lời. Vốn, nàng ta đem tâm tình không muốn sống nữa đến Hoa Kính, chuẩn bị kết thúc mọi sự xong là giải thoát... nhưng thiếu nữ kỳ quái kia đã cản lại.

“Đây là cửa hiệu của tôi, nếu Lâu cô nương muốn chết, xin tìm chỗ nào xa một chút”. Thiếu nữ bạch y trường phát ngồi xuống nhấc chiếc bao lên, lạnh lùng thốt, “cả vật này nữa, cô nương cũng nên đem theo. Bây giờ y vĩnh viễn thuộc về cô nương. Tên khốn này cũng có bản lãnh đấy, lúc còn sống khiến cô nương thần hồn điên đảo, chết rồi vẫn suýt nữa kéo theo cô nương tuẫn tình là sao nhỉ?”

Chiếc đầu bay tới, Lâu Tâm Nguyệt theo ý thức đưa tay ra đón, đầu tình nhân lọt vào lòng nàng, vòng tay trìu mến như lúc hai người còn nồng đượm thủ thỉ tâm sự. Nàng ôm lấy chiếc đầu, gục xuống khóc nức nở. Tuẫn tình? Nàng muốn cắt đứt mối tình này, nhưng... đó là chân tình đến mức nàng phải chết theo sao?

Bên ngoài mưa gió sụt sùi nghe như tiếng khóc.

“Ngày mai, lúc cửa thành mở, cô nương nên rời khỏi Lâm An. Đến Phúc Châu, đến Đại Lý... càng xa càng tốt”. Bạch Loa đưa ngón tay vuốt lưỡi chủy thủ sắc như nước, thong thả hoạch định, “đem bán số ngọc trên chiếc trân châu sam đủ cho cô nương tiêu pha thoải mái một thời gian dài - Lâu cô nương, ngày tháng sau này của cô nương còn dài lắm”.

“Nhưng... nhưng tôi đã giết người...” Khóc lóc một hồi, Lâu Tâm Nguyệt cũng tỉnh lại, nhận ra mình vừa gây ra chuyện đáng sợ thế nào, sắc mặt nhợt đi, run lẩy bẩy, “tôi đã giết người! Quan phủ sẽ tìm ra tôi”.

“Không sao, không sao... đừng sợ”. Bạch Loa cúi xuống, phảng phất như mẫu thân an ủi con gái, “Lâu Tâm Nguyệt đã chết rồi, không phải sao? Người cả thành Lâm An đều biết, không ai hoài nghi cô nương cả, có ai đi hoài nghi người chết đâu...”

“Tôi đã chết rồi sao?” Vũ nữ áo tím lẩm bẩm, ngẩng lên nhìn bóng đem vô biên chìm trong màn mưa.

“Đúng, cô nương đã chết”. Bạch Loa lại mỉm cười an nhiên, bỗng nhấn mạnh từng chữ: “nhưng cô nương cũng vẫn còn sống. Nhất định phải sống”.

Thân ảnh đơn chiếc của Lâu Tâm Nguyệt khẽ run lên, chợt mỉm cười cay đắng, vịn vào khung cửa đứng dậy. Tuy yếu ớt nhưng cuối cũng nàng cũng đứng dậy, tay vẫn ôm chiếc bao.

Hai nữ tử cứ thế đứng yên lặng trong đêm mưa.

Hồi lâu sau, Bạch Loa chợt hỏi: “Năm thốn rễ cây, cô nương còn lại bao nhiêu?”

“Hai thốn”. Lâu Tâm Nguyệt bặm môi, thấp giọng đáp: “Cô nương dặn dò không được uống nhiều, hai thốn còn lại tôi đã chôn xuống đất”.

Bạch Loa cúi đầu ngẫm nghĩ, nhẹ giọng bảo: “Lâu cô nương, xin nhờ cô một chuyện có được không?”

“Kết cỏ ngậm vành cũng xin báo đáp cô nương”. Lâu Tâm Nguyệt mỉm cười, thần sắc thê lương, ánh mắt mênh mang buồn bã, lí nhí: “Nhưng, tôi giúp được gì cho cô nương?”

“Bảo châu mạt lỵ này trong hiệu của tôi đã không còn, hai thốn rễ hoa đó xin nhờ cô nương chăm sóc - năm tới mọc lên lại mang đến cho tôi một chậu, thế nào?” Bạch Loa xoay xoay cái muỗng trong tay, chậm rãi nói, ngữ khí không cho người nghe chối từ.

Mưa tạnh dần, gió cũng lặng... ngày mai, liệu trời sẽ hửng?

Bạch Loa cầm giá nến, đứng bên cửa đưa mắt tiễn bóng áo tím xinh đẹp lẫn mất vào màn mưa chợt thở một hơi thật dài, chợt tựa vào cánh cửa nhắm mắt lại --- Lòng xuân cùng sánh hoa đua nở, Một mảnh tương tư hóa tro tàn.

Tuy vậy, nếu Lâu Tâm Nguyệt có thể nhẫn nại thêm một, hai năm chắc sẽ hiểu rằng: Dù thống khổ thế nào rồi cũng qua. Đáng sợ nhất là những người trong cơn tuyệt vọng không thể chờ đợi được dù chỉ mấy giấy phút ngắn ngủi, bất chấp tất cả mà tìm đến giấc ngủ vĩnh hằng...

Vì thế, nàng chỉ biết giao Bảo châu mạt lỵ cho nàng ta.

Nữ tử như Lâu Tâm Nguyệt tuy đa tình đến ảo tưởng nhưng cũng không kém phần khí tiết - đã đồng ý rồi nhất định sẽ chăm sóc chậu hoa cho đến ngày hoa nở, như nỗi niềm kiên trinh với ái tình.

-- Tuy nhiên, chỉ người nào có loại hoa đó mới biết, bảo châu mạt lỵ chỉ còn lại có hai thốn rễ vĩnh viễn không thể mọc mầm... vĩnh viễn không nở hoa.

Hoa có nở hay không quan trọng gì. Chỉ cần nữ tử đó có thể đợi đến lúc gió xuân xua đi giá lạnh trong tim, trở lại vui vẻ là được rồi...

Chỉ cần nàng ta sống sót là được rồi.

------

Mạt lỵ còn có tên là mạt lợi, Đông Pha đặt lên là loài hoa hương thầm, tên khác là mạn hoa, vốn xuất xứ từ Ba Tư, phần lớn sinh trưởng tại những vùng ấm áp ở phương Nam... Riêng bảo châu mạt lỵ bông hoa tuy nhỏ nhưng được coi là quý giá nhất, ban sớm chưa nở cụp lại như viên ngọc, đến chiều tối sẽ xòe cánh, hương thơm khắp nhà, thanh lệ vô cùng.

[1] Đạt quan quý nhân: những người giàu có, quyền quý.

[2] Triệu Yến: hay còn gọi là Triệu Phi Yến, đại mỹ nhân đời Hán Thành Đế, có tài múa rất hay, điệu múa nhẹ nhàng uyển chuyển như bay như lượn tựa chim yến.

[3] Lưu Lan Chi và Tiêu Trọng Khanh: câu chuyện được coi là thiên tình sử của Trung Hoa. Cuối thời Đông Hán, thiên hạ loạn lạc, có một cô gái thông minh diễm lệ tên là Lưu Lan Chi. Nàng và thư sinh Tiêu Trọng Khanh yêu nhau thắm thiết nhưng khi kết hôn, mẹ của Tiêu Trọng Khanh lại ghét nàng, buộc con trai phải bỏ vợ. Phải vâng lời mẹ, Tiêu Trọng Khanh đành đưa Lan Chi về lại nhà mẹ đẻ, với nguyền sẽ mãi không xa nhau, đợi thời cơ thích hợp sẽ trùng phùng. Nhưng anh trai của nàng lại bức hôn, gả nàng cho con trai của Viên thái thú. Cự tuyệt không thành, cuối cùng hai người đã dùng cái chết để đổi lấy tự do ái tình....

[4] Bạch Xà và Hứa Tiên: Chuyện kể về phú ông họ Hứa nhân buổi nhàn du đã ra tay cứu giúp một con Bạch Xà thoát khỏi lũ trẻ ngây thơ đang đùa nghịch. Ngàn năm sau, Bạch Xà tu thành chính quả về trả ơn ân nhân (chuyển thế thành thần y Hứa Tiên). Hai người nên duyên, trong một lần say rượu, Bạch Xà hiện nguyên hình, Hứa Tiên hoảng sợ xua đuổi vợ mình khiến Bạch Xà vừa đau lòng vừa tức giận bỏ đi. Trải qua nhiều khổ mệnh (chống đối cả thiên đình, Bạch Xà bị nhốt trong tháp Phong Lôi, Hứa Tiên quyên sinh), linh hồn đôi uyên ương mới được mãi mãi bên nhau...

[5] Bảo châu mạt lỵ: hoa nhài châu ngọc.

Chương 4: Thất minh chi

Núi liền với biển, biển ôm lấy núi.

Hơi khói nối liền núi và biển. Dưới dốc núi thăm thẳm là một vùng biển xanh cát vàng.

Ngón tay vạch trên mặt cát ẩm ướt rẽ thành đường chảy theo. Rãnh nhỏ được ngón tay tạo ra khiến nước biển xanh biếc tràn vào, một con còng trắng tinh thấy dòng bọt nước, vội vàng chui xuống dưới lớp cát.

Tiểu Ngư bắt lấy nó, cho vào chiếc giỏ đeo bên hông - bên trong đầy vỏ sò các màu rực rỡ, lấp lánh vô cùng đáng yêu. Cô đi chân trần trên bãi cát, lớp cát vàng ẩm ướt bị ngón chân màu mật ấn lún xuống, tạo thành dấu chân ngậm nước.

Cô nhảy chân sáo trên bãi cát, thỉnh thoảng lại hất lên một dải bọt sóng, tiếng sóng vỗ bờ phía sau lưng càng lúc càng lớn, đã đến giờ nước triều lên.

Tiểu Ngư nhảy lên bãi đá phía cuối dải cát, ở đó rải rác những khối đá đen từ trên Thanh Tự sơn lăn xuống đây, tạo thành những đống tản mác, mỗi ngày đều bị thủy triều nhấn chìm nên màu đen pha lẫn ánh nước. Chỗ đá lõm xuống chứa nước, có những con cá, cua nhỏ xíu theo nước triều lên rồi bị giữ lại bơi tung tăng, phảng phất như nghe thấy tiếng nước triều tràn lên liền cuống quýt, nóng lòng muốn về với hải dương.

Nước triều từ từ dâng lên đuổi theo cô, bàn chân cô dể trần tung tăng giữa những khối đá, như một con én nhỏ đang bay theo làn sóng, thoáng chốc đã vượt qua bãi đá, đặt chân lên con đường nối Thanh Tự sơn với bãi biển.

Nước triều lên thật nhanh, cô vừa ở lưng chừng bãi đá, nhảy lên liền mấy bậc, ngoảnh lại đã thấy sóng trắng ầm ào nuốt trọn bãi cát vàng dưới chân vách đá.

Cô nhìn về đám mây trắng nơi đường chân trời giao nhau, bất giác thở dài một hơi, nhớ đến câu hỏi từng day dứt cả ngàn lần từ nhỏ đến nay: Bên kia bờ biển, dưới đám mây là nơi nào?

* * * * *

Trời tối, mùi thơm lừng bay khắp vách đá.

Tiểu Ngư lấy tiểu đao cắt thịt trai trai nướng thành từng miếng hỏi thanh y nhân ngồi cạnh: “Ăn không?”

Người đó chỉ nhìn nước triều dần rút đi dưới chân vách đá đến xuất thần, ánh mắt xa xăm. Tịch dương soi bóng xuống khuôn mặt nhợt nhạt đượm âm ảnh, khiến sắc mặt tô thêm nét gầy gò. Kỳ thật y chưa đến ba mươi tuổi nhưng ánh mắt khiến người ta có cảm giác y đã ngoài bốn mươi.

Tiểu Ngư luôn hiếu kỳ với con người lạ lẫm bị thủy triều cuốn vào vực Quỷ Thần này. Ánh mắt y luôn xa xăm, tựa hồ khác hẳn người trong thôn hoặc những người sống trong vòng mười, hai mươi dặm quanh đó đi buôn bán, cũng không giống với những thương nhân từ trấn thành cách xa cả trăm dặm đến mua hải sản.

Trong mắt y ánh lên hình ảnh núi non trùng trùng điệp điệp, rộng khôn cùng của Trung Nguyên phía sau Thanh Tự sơn.

Nam tử từ vùng núi đến khiến cô lần đầu tiên nghĩ rằng: nơi kết thúc Thanh Tự sơn là chốn nào?

Cái ngày Tiểu Ngư đưa người sắp chết đuối từ bãi biển về, cô đứng trên vách đá, lần đầu tiên tự ngoảnh lại nhìn ra ngoài đại sơn, rồi lại nhìn trời xanh biển biếc, thở dài sườn sượt.

Giữa núi và biển, đất trời bao la.

Từ khi cha mẹ mất đi, cô ít khi gặp người ngoài, mỗi tháng đều mang những hải sản đánh bắt được vào thôn đổi dầu muối dấm tương mang về, tuy hiếu kỳ với vùng đất nơi Thanh Tự sơn kết thúc nhưng càng quyến luyến vùng biển xanh biếc này hơn.

“Hài tử, nhìn thấy gì? Mé biển đó là long cung... có cung điện dưới đáy sâu, cùng phòng ốc bằng san hô và trân châu, long vương và hải thần đều ngụ tại đó”.

Lúc còn nhỏ, cha cô nhiều lần ôm cô ngồi trên vách đá, chỉ sang bờ biển rồi kể chuyện, lúc đó cô từng nghĩ đến một này nào đó nhờ những hải khách đưa mình ra biển, sang bờ đó xem cho biết.

Đáng tiếc, những người đi biển đều cho rằng nữ nhân lên thuyền vô cùng xui xẻo nên không ai chấp nhận yêu cầu của một tiểu cô nương.

Tiểu Ngư lắc đầu, tỉnh khỏi tâm trạng thẫn thờ, lay lay nam tử đang nhìn biển đến xuất thần: “Ồ, cả ngày ngươi không ăn gì rồi! Từ vực Quỷ Thần bị đẩy lên, nhất định khổ sở lắm - cứ thế này không được”.

Nhớ đến hôm trước cô liều mạng lao xuống dòng ám lưu dưới đáy vực kéo nam tử mất hết tri giác lên bãi biển, sắc mặt y trắng nhợt cùng bàn tay lạnh như băng khiến Tiểu Ngư rùng mình: lúc đó cô cho rằng mình đã chết vì y - không nhiên lại lao xuống vực Quỷ Thần! Đúng là... không cần tính mạng nữa.

“Bên đó! Nhìn đi...” Trong lúc cô lo lắng quan sát sắc mặt đối phương, thanh y nhân hình như chợt tỉnh lại, đưa tay chỉ vào một góc tối sầm trêm mặt biển, ngữ khí kích động - nước triều vừa rút đi, vùng biển nông phía tây bắc ánh lên sắc tịch dương, đáy nước hiện rõ hoa văn kì dị.

Thanh y nhân không giấu nổi niềm vui: “Ở đó! Ở đó là cửa nối với thánh điện... cô, cô nhìn thấy không? Chỗ đó đó”.

Tiểu Ngư bực dọc giật tay ra, bỏ hạt dưa và thịt trai trai vào một chiếc vỏ trai lớn, đưa cho y: “Tám trăm năm trước đã thấy rồi! Không đi được đâu, dưới đó có quỷ”.

Thanh y nhân rùng mình, chăm chắm nhìn thiếu nữ đánh cá: “Có quỷ? Cô thấy rồi sao?”

Tiểu Ngư đang dùng dao mở một con trai biển vỏ đen, lớp thịt hồng tươi ánh lên màu ngọc, cô hoan hô, định đưa dao móc ra thì cổ tay đột nhiên bị giữ lại.

“Cô đã đến đó sao? Cô nhìn thấy gì?” Sắc mặt người áo xanh chợt biến thành cuống quýt, kêu lên kinh hãi, ngón tay khẽ động, Tiểu Ngư chỉ thấy từ cùi tay đến cổ tay cứng đơ, “cheng”, con dao rơi xuống.

“Ngươi định làm gì?” Cô thét lên, cảm giác như đang bị bạch tuộc quấn lấy tay, nhưng tay người đó hình như còn bám chắc hơn cả bạch tuộc, tay cô mềm hẳn đi, không thể động đậy được.

“Cô đến được nơi đó?” Ánh mắt thanh y nhân sáng lên, nhìn vào cánh tay cô, không giấu nổi niềm vui cuồng dại, “cho tôi biết làm cách nào đến được thần miếu, cho tôi biết đi! Tốt quá rồi”.

Tiểu Ngư thấy ánh mắt mênh mang của thanh y nhân đột nhiên hiển hiện nét vui mừng nóng bỏng, từ đáy lòng dấy lên nỗi sợ hãi xen lẫn phản cảm: “Bỏ tay ra! Không cho ngươi biết, là không cho biết”. Cô dùng lực không giật tay ra được, kêu ầm lên nhưng khuôn mặt thanh y nhân ngập trong kích động, mặc kệ cô kêu gào, nắm càng chặt hơn.

Tiểu Ngư giận dữ, đột nhiên há miệng cắm mạnh lên tay y.

Thanh y khách bất ngờ, đau đớn rụt tay lại, cổ tay chảy ra dòng máu đỏ lòm. Y biến sắc, trong cơn giận liền xuất thủ chụp lấy tay Tiểu Ngư. Thân thủ cô vốn nhanh nhẹn, người đó vừa buông tay là nhảy lùi ngay nhưng không hiểu sao y vừa xuất thủ, cổ tay đã bị y dễ dàng chụp lấy.

Lần này cô thật sự kinh hãi... trừng trừng nhìn đối phương, nhưng không chịu phục.

“Trời ơi, ta làm gì thế này... điên rồi”. Nhìn vào ánh mắt kinh sợ nhưng không chịu phục của thiếu nữ, thanh y khách dần đổi sắc mặt, phảng phất như tỉnh lại khỏi cơn cuồng hỉ, lẩm bẩm một câu rồi buông tay.

Nhưng thân thể y thoáng run lên, đưa tay chặn vào xương đầu mày.

Y vừa buông tay, Tiểu Ngư bật lên như thỏ hoang, không dám ở lại nữa mà chạy ngay ra ngoài động.

Nhưng vừa ra khỏi, đặt chân lên bậc đá, cô không nén được ngoảnh lại nhìn. Kì quái thật, thanh y khách không nói gì, cũng không đuổi theo, đưa một ngón tay bợ vào vách động, chầm chầm ngồi xuống, quay nhìn về phía biển, ánh mắt lại trống rỗng.

Y... không nhìn thấy gì chăng? Trong lòng Tiểu Ngư chợt ngây ngẩn.

Mấy hôm trước đưa người bị nước biển đánh dạt lên bờ về nhà, câu đầu tiên khi y hỏi tỉnh lại rằng đây là đâu? Sao lại tối thế này? Tiểu Ngư nhìn lên vầng dương chính ngọ sáng soi trên đầu, thở hắt ra: té ra là một kẻ mù.

Nhưng chừng nửa ngày sau, thanh y khách đã ngồi dậy nhìn cô, mỉm cười: “Cô nương, đa tạ ơn cứu mệnh”. Thần thái trong mắt ngây ngô.

Cô cũng mỉm cười bỏ qua, chỉ nghĩ chắc tại bị vực Quỷ Thần đẩy lên bờ nên lúc tỉnh lại người này thần trí mơ hồ. Không ngờ, mấy ngày sau, cách một ngày y lại xuất hiện hiện tượng tạm thời mất minh mẫn.

Tiểu Ngư không dám hỏi nguyên do, thanh y khách thường thích ngồi trên vách đá, hướng ánh mắt xa xăm nhìn nước biển, chăm chú quan sát vùng đáy biển nông choèn phía tây bắc vực Quỷ Thần.

Lần nào, cô thấy ánh mắt y cũng trống rỗng, liền biết y đã không còn nhìn được.

Nhưng thanh y khách lại bất động thanh sắc, chỉ ngồi trên đó nhìn nước biển, thỉnh thoảng biết cô bắt trai, đánh cá cạnh đó lại mỉm cười, kể cho cô nghe rất nhiều truyện: về cổ đạo Trường An, về nhà quê, đô thành, về những hiệp khách lướt trên mái nhà, và cả những thiếu nữ quý tộc sắc đẹp khuynh thành...

Nghe những câu chuyện đó, có lúc cô phân thần, thuận tay quăng viên trân châu mới lấy được vào đống mỡ cá vàng hươm rồi lại vội vàng móc ra. Cô muốn xem quan sát kỳ người lạ đến từ ngoài núi nhưng lại e ngại, mãi đến khi biết mắt y mù mới dám nhìn thật kỹ khuôn mặt nhuộm đầy phong sương xem có lần ra manh mối gì không. Trên mảnh đất rộng lớn bên kia núi chắc chắn xảy ra tất cả những điều y kể.

Người này... là người tốt hay xấu? Y đến vùng hoang vắng này làm gì?

Vì sao lại bị vực Quỷ Thần đẩy lên bờ?

Thoát được khỏi tay thanh y khách sắp phát cuồng, Tiểu Ngư đi được mấy bước lại không đành lòng bỏ đi, lặng lẽ đứng ngoài cửa động, quay lại nhìn. Chỉ thấy y lại ngồi xuống, nghiêng tai lắng nghe tiếng thủy triều, sắc mặt chợt ảm đạm hẳn.

Chợt hào quang lóe sáng, y tuốt kiếm, vạch một đường ngang trên bức vách đối diện.

* * * * *

Cứ nghĩ mà xem, một nữ hài đánh cá, liệu ở cùng một người đến từ một thế giới hoàn toàn khác được chăng?

Trước khi phụ mẫu cô chết trong một lần biển động, ba người cùng sống ở Thanh Tự sơn, ngay dưới vách đá giáp với vực Quỷ Thần.

Xuất thân ngư gia nên từ nhỏ cô đã tinh thông bơi lội, thường lặn xuống nước mò ngọc bắt cá, thậm chí có thể bế khí lặn dưới đó nhẵn một tuần hương, thoải mái như một con cá - dù vậy cô cũng không dám lại gần đáy sâu nhất của vực Quỷ Thần.

Phụ thân dạy: vực Quỷ Thần có ác quỷ oán linh, nơi sâu nhất ấy là lối những quỷ thần đang ngủ say thường lai vãng dương thế, ngàn vạn lần không được đến gần, bằng không sẽ bị bắt mất hồn phách.

Lúc nhỏ có lúc cô nghịch ngợm, mặc kệ lời cảnh cáo của phụ thân, đến gần chỗ sâu nhất đó.

Bơi nửa ngày trời mới đến, tâm lý không khỏi hoan hỷ - màu lam của nước biển tuy có vẻ hơi quỷ dị, cơ hồ trong suốt, ánh sáng có thể chiếu xuống mấy chục trượng dưới vực sâu, hóa thành những hoa văn rực rỡ, biến ảo liên tục. Nơi đó vô cùng sạch sẽ, không có những đống bùn đất thường đọng dưới đáy biển, thậm chí cũng không thấy một con cá hay một cọng hải thảo.

Ánh mắt cô chạm vào một vật trắng muốt lấp ló cạnh tảng đá trước mặt - trong sát na đó, cô phảng phất thấy hơi thở bất tường áp sát, đang do dự có lùi lại hay không liền được chứng kiến cảnh tượng kỳ dị hơn: dưới đáy biển mấp mô lõm xuống một góc nên nhờ ánh sáng rọi xuống, cô thấy trên khối đá lõm đó có khắc hoa văn kỳ quái.

Tuy nhiên lặn đã lâu, ngực hơi có cảm giác nghẹt thở nhưng mắt cô vẫn sáng lên, lòng hiếu kỳ mãnh liệt đẩy cô bơi đến góc đó - khối đá hóa ra là một... thạch điêu nối nhau, sắp xếp rất có trật tự - bậc đá chăng?

Dãy bậc đá không hiểu dẫn xuống nơi nào phía dưới đáy biển.

Cô đưa ngón tay chạm vào thạch điêu bên trên - nhận ra do nhân lực điêu khắc thành, đã nằm lặng ở đây qua không biết bao nhiêu kiếp dâu bể, từng bậc từng bậc nối nhau thông xuống chốn mịt mờ phía dưới.

Bất giác, cô thuận theo từng bậc đá bơi xuống - phía cuối là một lối đi, cô cả kinh nhận ra bên rìa có nhiều đá tảng không kể xiết, tựa hồ là thành lũy gì đó. Cô lại đạp nước, chầm chậm bơi tiếp.

Trong lúc vô tình, hình như cô thấy phía trước có vật phát ra ánh sáng mờ mờ - như thể xếp theo từng phiến, trải dài về khán thờ ở cuối con đường. Cô hơi hiếu kỳ, lại bơi dần về phía đó.

Chợt cô cảm giác tốc độ nhanh hẳn, hình như bị hấp lực kéo tuột xuống dãy bậc đá. Cố cố gắng bơi ngược lại nhưng thân thể mất tự chủ lao tới - cuối cùng cô cũng nhìn rõ vật trắng toát dưới hàng bậc đá... là hài cốt người chết.

Từng bộ nằm rải rác theo bậc đá, hốc mắt trống rỗng lạnh lẽo nhìn kẻ xâm nhập trừng trừng. Có những lọn tóc chưa kịp tan nát, rập rờn trong nước như những cọng thủy thảo đen nhánh.

Trời ơi! Cô kinh sợ rướn người, hai chân đạp nước thật mạnh, dốc sức bơi lên.

Nhưng ở đáy biển dòng chảy khá xiết, ào ạt dồn xuống phía dưới, phủ kín mình cô rồi kéo mạnh - cô liều mạng giãy giụa, ngửa đầu vươn lên thật mạnh. Nhưng ánh mắt chợt kinh hãi: dương quang trên đầu không còn nữa.

Vầng âm ảnh trải rộng, thoáng chốc che kín ánh sáng trên đầu cô, bóng tối lan tràn.

Ngẩng đầu lên, cô thấy một con hải xà to đến khó tin, đang ngúc ngoắc thân thể thô tháp từ vùng tối dưới thạch đài chầm chậm bơi lên. Vảy nó vương đầy hải thảo, trên đỉnh đầu hình tam giác xấu xí mọc ra một chiếc sừng, cặp mắt xanh biếc đang lạnh lùng nhìn cô.

Rồng? Có phải rồng không?

“A... a!” Cô bất chấp tất cả kêu lên, tia không khí cuối cùng trong miệng trào ra.

Lúc cô mất tự chủ bị hút xuống vực sâu, con hải xà cuốn mình tới thì cô mất tri giác.

Lần đó cô cũng không hiểu sao mình lại lên bờ được. Lúc mở mắt ra liền thấy ngay gương mặt méo xệch vì lo lắng của cha mẹ, cô thở phào một hơi, cảm giác toàn thân mềm nhũn, không còn chút lực khí nào.

* * * * *

“Tiểu Ngư, con lại đến chỗ cấm hả? Con không muốn sống nữa sao...” Mẫu thân thấy cô mở mắt, không nén được bật khóc, ôm lấy cô, “con xém chút chết đuối, có biết không? Hôm nay biển động mà nha đầu hư hỏng này lại dám lặn xuống nước... dọa mẹ sợ muốn chết”.

Cô định mở miệng nhưng bị mắc nghẹn, cúi xuống nhổ vật trong miệng ra.

Đó là một phiến đá màu trắng, bề mặt dày đặc nhưng lỗ nhỏ ly ti, ánh mắt cô hơi đờ ra, lạ thật... vật này không phải món đồ phát quang mà cô thấy lúc con hải xà xuất hiện dưới đáy biển sao?

Cô định hỏi nhưng kỳ quái là nhả viên ngọc thạch ra rồi, lập tức thấy thượng thân cực kỳ khó chịu.

“Ngậm vào đi, không được nhả ra”. Chợt bên tai cô vang lên tiếng nói lạ lẫm, “hài tử còn nhỏ quá, hàn khí ở thất khiếu chưa tan hết, cần mượn Thất minh chi trấn áp mới xong”.

Cô ngẩng đầu lên, thấy một bạch y thư thư chừng mười sáu, mười bảy tuổi nhặt viên ngọc thạch dưới đất lên, thả vào chén trà, lắc lắc rồi đưa vào miệng cô. Lúc đó cô mới mười hai tuổi, thấy nàng ta cầm viên ngọc thạch đưa tới, tuy bụng dạ nôn nao nhưng không chịu ngậm vào.

“Tiểu Ngư nghe lời đi, vị Bạch Loa cô nương này là ân nhân cứu mạng con”. Phụ thân cô vừa định thần lại liền quát khẽ, trừng mắt nhìn con gái, “mau nghe lời tỷ tỷ đi”.

Cô không muốn tý nào nhưng vị bạch y tỷ tỷ chỉ mỉm cười im lặng, cầm mảnh ngọc thạch ngồi xuống cạnh giường nhìn cô - con mắt của cô bé mười hai tuổi đầu cảm giác nụ cười của tỷ tỷ này khá kỳ quái: khóe mắt có nốt ruồi sa xuống như giọt lệ khiến nét cười ẩn ước nỗi buồn.

“Sau này đừng đến đó chơi nữa, nữ hài ngoan đừng đem tính mạng làm trò đùa”. Thấy dã nha đầu chịu nghe lời ngậm mảnh ngọc, vị mỹ nhân tỷ tỷ khẽ nói một câu, vừa như với cô, lại như dặn dò cha mẹ cô, “chỗ đó tà dị vô cùng, không đi được”.

“Vì sao tỷ lại tới đó?” Tiểu Ngư không nhịn được lên tiếng hỏi, đang ngậm viên đá nên giọng hơi lúng búng, ngoẹo đầu nhìn vị tỷ tỷ kỳ quái, “viên, viên đá này... không phải lấy ở đó sao?”

Cô ương ngạnh đưa ngón tay vạch miệng, lấy lưỡi đá vào mảnh ngọc thạch cong queo, tiếng ngọc chạm vào hàm răng leng keng: “Tỷ đi được, sao muội lại không nhỉ!”

“Đó không phải là đá”. Không đợi cha mẹ Tiểu Ngư quát cô không biết lễ phép, bạch y cô nương đã mỉm cười giải thích, “đây là Thất minh chi... linh chi tỷ vừa hái xong”.

Bạch y cô nương hơi sửng sốt, hiển nhiên đang tính cách khiến nữ hài hiếu động chịu phép, sau cùng nàng gật đầu: “Tiểu cô nương, chỗ đó có quỷ... vốn đó là một nơi náo nhiệt tên Trạch Quốc, nhưng ba trăm năm trước, một cơn biển động nhấn chìm tất cả xuống đáy biển”.

“Chìm xuống?” Tiểu Ngư giật nảy người, cơ hồ quên mất đang ngậm viên đá - cô nhớ đến thạch đài dưới đáy biển - đúng, đó là phòng ở và bậc thềm.

“Đúng vậy. Biển động. Trong một đêm mà cả tòa thành chìm xuống... mấy vạn người, toàn bộ biến thành quỷ hết”. Bạch y thiếu nữ u oán thở dài, thấy nhãn thần Tiểu Ngư co lại, liền nở nụ cười quỷ dị, cúi thấp đầu xuống hạ giọng, “biết không? Ở đó có mấy vạn con quỷ? Muội có thấy gì kỳ quái không?”

“A!” Thấy thần sắc quỷ dị trong mắt Bạch Loa, Tiểu Ngư chợt nhớ lại cảnh xương trắng rải rác cùng đại hải xà quấn qua liền hoảng sợ, quên cả đang ngậm Thất minh chi, kêu ầm lên.

“Còn may gặp được ta...” Bạch cô nương vỗ vai Tiểu Ngư thở dài nhưng ánh mắt lại đượm vẻ vui mừng, “đừng chạy lung tung nữa, biết chưa? Lần tới ta cũng không cứu được”.

Tiểu Ngư ngẩn ngơ nhìn vị tỷ tỷ kỳ quái, không thốt thành lời. Mẹ cô vội bước tới, lấy viên ngọc thạch khỏi miệng cô rồi đẩy vai: “Tử nha đầu! Mau cảm tạ Bạch cô nương... mau nói là sau này sẽ không đến đó nữa”.

“Vâng... không đi nữa”. Tiểu Ngư chân tâm thật ý lẩm bẩm.

Bạch Loa cô nương khẽ mỉm cười, đón lấy Thất minh chi trong tay mẹ cô, không nhận lời cảm tạ hay ở lại thêm một đêm, chỉ cười bảo: “Tôi phải đi rồi... vốn định đến đây hái Thất minh chi này. Cô bé dùng rồi, không cần lo lắng thêm nữa”.

Hừ... đi càng tốt. Tỷ tỷ kỳ quái kiểu này, Tiểu Ngư càng nhìn càng e dè.

Đang lúc bực dọc, bên tai cô chợt vang lên giọng nói mỏng mảnh của nữ tử: “Tiểu cô nương, lớn mật lắm, sau này có nạn nhớ tự gánh... cẩn thận đấy”.

* * * * *

Tiểu Ngư quả thật lớn mật, lúc trời tối, cô không nén được, lại từ vách đá chạy theo hàng bậc đá xuống tìm thanh y khách trong động. Chân trời cuồn cuộn mây, xem ra sắp có bão, chim én biển hoảng hốt bay là là mặt nước.

Cô ngẫm nghĩ nhưng không yên tâm để một người mù đơn độc ở trong động nên đi xuống, tim đập thình thịch, chỉ sợ y lại gây ra việc kỳ quái gì, nên một mặt sẵn sàng nhấc chân chạy ngay.

Trời tối dần, gió thổi tới mang theo hơi ẩm và mùi vị đặc trưng của biển cả.

Cô men theo con đường đá duy nhất đi xuống, phát hiện trên bãi đá và mặt cát có dấu chân - ai? Ai đã đến đây?

“Uy uy! Ngươi mau lên đây, tối nay có bão, đừng ngẩn ra trong động nữa”. Trong động tối om, hiển nhiên thanh y khách không đốt đĩa ngư đăng, cô lo lắng, đứng ngoài cửa động gọi to.

Nhưng từ vách đá cạnh đó vang lên tiếng rít chói tai lạnh ngắt như tiếng kim thiết va chạm. Tiểu Ngư kinh ngạc nhảy khỏi dãy bậc đá, thấy trên đỉnh núi cây cối ngổn ngang, một cánh tay thò khỏi bãi cỏ cạnh thạch đài, thoáng ánh lên màu vàng sẫm.

“A! A!” Nhìn theo cánh tay trắng nhợt, cô thấy người chết nằm trong bụi cỏ liền buột miệng hét vang. Chưa dứt tiếng, trước mắt sáng lóa, một ngọn đao đặt ngang yết hầu cô.

“Diệp Khuynh, ngươi... ngươi mà qua đây, ta giết nha đầu này liền”. Bàn tay cầm đao run lên, cây đao rung rung liên tục, cơ hồ cắt thành vệt máu trên cổ Tiểu Ngư. Giọng người này vang bên tai cô, hoảng loạn xen lẫn gấp rút, thở hồng hộc: “Giao Quỷ thần đồ ra mau”.

Cô giật mình hét lên thất thanh - với cô, cướp biển trên Đông Hải cũng chỉ là truyền thuyết. Từ nhỏ đến giờ, cô đã khi nào thấy ai đó động tý là đao kiếm sát nhân!

Cô trông thấy thanh y khách - nam tử nhìn biển đến xuất thần đó - đang đứng trên vách đá, không hiểu sao y lại đứng rất vững vàng, tà áo xanh lất phất trong gió, tay cầm một thanh kiếm sáng loáng, hình như bề mặt thanh kiếm có máu nhỏ giọt xuống.

Y nhìn sáng phía cô, mặt lạnh tanh, nhãn thần trống rỗng.

“Giao ra? Không biết tốt xấu”. Giọng y vang lên mồn một trong gió biển, lạnh lùng xen lẫn quả quyết, “bỏ cô bé ra, có tin ta đếm đến ba là đầu ngươi lìa khỏi cổ chăng?”

“Diệp Khuynh, ngươi...” Kẻ bắt cô sững lại, chật vật nuột nước bọt, thè lưỡi ra rồi lên tiếng, “ta thả nha đầu... ngươi cam đoan sẽ bỏ qua cho ta?”

Thanh y khách tên Diệp Khuynh lặng lẽ gật đầu, mũi kiếm trong tay chúc xuống.

Tựa hồ đối phương đã được bảo chứng, liền thả cô ra, lùi lại từng nước, đoạn loạng choạng men theo lối mòn, cuống cuồng chạy mất bóng. “Cô không sao chứ?” Đợi lúc địch nhân khuất bóng, Diệp Khuynh mới lạnh nhạt lên tiếng.

“Không... không sao”. Tiểu Ngư mặt mày nhợt nhạt, cố gắng giữ giọng không run nhưng vẫn lộ ra niềm lo lắng, “Đó là người xấu? Hắn chạy rồi có gọi người đến gây khó cho ngươi không?”

Thanh y nhân trên vách đá có vẻ hơi bất ngờ, chầm chậm cười khổ, đưa tay vuốt vách đá, nhẹ giọng: “Cô lên đỡ ta xuống... được không? Lại tối om rồi”.

Tiểu Ngư ngây người - tịch dương vừa lặn xuống biển, vầng ráng hắt lên khắp trời, cảnh vật còn nhìn thấy khá rõ.

“Mắt, mắt ngươi... lại không nhìn thấy nữa?” Cô chợt hiểu, vội đến đỡ y, cẩn thận nhắc y không vấp vào đá, “ngươi đánh nhau với chúng, dần dần không nhìn thấy gì sao?”

Cước bộ y vẫn khinh linh vô cùng, theo lời cô nhắc, nhẹ nhàng từ trên vách đá bước xuống, dùng kiếm chống xuống đất, lần theo mùi máu, hất toàn bộ các thi thể xuống đáy vực: “Đúng vậy, bệnh phát tác mỗi lúc một dày, cách mấy thời thần lại không thấy gì”.

“A, nếu... nếu những kẻ đó đến tìm ngươi thì sao?” Tiểu Ngư cả kinh, cô sợ mùi máu tanh nên lùi lại mấy bước nhìn thanh y khách hất từng thi thể xuống - nơi này đã xảy ra một trường ác đấu.

Hơn mười người vây đánh một người không thấy gì - thật quá đáng.

Tiểu Ngư chỉ nghĩ cũng thấy phẫn hận bất bình.

“Chúng còn chưa biết ta không nhìn thấy gì”. Diệp Khuynh vừa đi theo lối mòn vừa xử lý thi thể, xong cái xác cuối cùng mới đứng dậy, lặng lẽ nghe tiếng nước triều lên, hồi lâu mới nói, “nếu ta mù, chắc các lộ cao thủ sẽ hùng hổ kéo đến”.

“Nhiều người lắm hả? Họ sẽ gây khó cho ngươi? Ngươi nợ họ tiền hay bắt nạt họ?” Tiểu Ngư ủ rũ, vừa đỡ y đi xuống vừa hỏi. Diệp Khuynh tựa hồ hơi tránh đi, sau cùng ngẫm nghĩ thế nào lại không nghiêng người nữa, đưa tay phải cho cô, khóe môi hiện lên nụ cười: “A... hình như ta còn chưa cho cô biết tên”.

Y hơi ngừng lại rồi nhẹ nhàng nói: “Ta tên Diệp Khuynh - đương nhiên cô chưa nghe qua. Nhưng ở vùng bên kia dãy núi, ta cũng là người nổi danh, rất nhiều người muốn đánh gục ta - thế là đủ chứng minh ta lợi hại rồi. Hiểu không?”

Y men theo con đường đá xuống núi, đoạn bảo: “Hơn nữa ta có một vật mà chúng ham muốn”.

“A, là cái Quỷ thần đồ gì đó hả?” Tiểu Ngư buột miệng, chợt thấy cánh tay tay mình đang nắm cứng lại, cô nối lời, “kẻ kia muốn lấy nó, có phải không?”

Diệp Khuynh không đáp, hồi lâu mới lên tiếng: “Cô bảo là từng thấy nó ở dưới đáy vực Quỷ Thần?”

Tiểu Ngư ngẩn ngơ, nhớ lại cảnh lúc ban ngày, y kích động thế nào khi nghe thấy cô nói về vực Quỷ Thần, đâm ra sợ hãi, chớp chớp mắt: “Đúng... ta từng lặn xuống nước, thấy một hàng bậc đá dẫn xuống đáy biển”.

“Quả nhiên không sai”. Tay Diệp Khuynh rung lên, giọng nói vạn phần kinh hãi xen lẫn vui mừng, “họa đồ không nói sai. Lối vào Trạch Quốc di chỉ chính ở đáy vực Quỷ Thần”.

“A, đừng nắm chặt, ta đau lắm”. Tiểu Ngư rút cánh tay bị nắm chặt lại, cổ tay ửng lên một vết đỏ bầm, cô trừng mắt nhìn Diệp Khuynh, thấy vẻ mặt hớn hở cùng ánh mắt trống rỗng của y, lòng cô lại mềm hẳn: “Vô dụng thôi... nơi đó ta cũng không tới được, còn có cả quỷ và rắn...”

Nhớ lại hải xà năm xưa, cô không khỏi rùng mình.

“Giúp ta nào, xem trên vách đá gần cửa động có mấy vạch?” Đến cạnh tòa động, Diệp Khuynh chợt dừng bước hỏi.

Tiểu Ngư nhìn y sửng sốt, nhưng vẫn y lời, đi tới đếm rồi ngoái lại bảo: “Bảy vạch”.

“Vậy chỉ còn lại ba ngày?” Thanh y khách cúi đầu, thở dài rồi im lặng.Tiểu Ngư quay lại cạnh y, hỏi với vẻ hiếu kỳ: “Cái gì mà còn lại ba ngày?”

Diệp Khuynh chỉ mỉm cười lắc đầu không đáp.

“Tối nay lại có bão, ngươi đừng qua đêm ở đây, về nhà ta đi”. Tiểu Ngư không hỏi gặng, nhìn về bên kia biển đang dày dặc mây đen, đàn én biển gấp gáp bay là là sát mặt nước.

* * * * *

Tối đến, gió cuồng bạo hẳn, tiếng nước biển ầm ào vỗ bờ.

Ánh đèn trong căn nhà nhỏ trên vách đá chao chát.

“Ài, gió lớn quá - không biết có biển động không?” Bốn bức tường không kín hẳn, thỉnh thoảng vẫn có gió lọt vào, Tiểu Ngư cúi nhìn tấm lưới, lòng thoáng lạnh lẽo, mỉm cười có vẻ xin lỗi khách, “ngươi lạnh hay không?”

“Ta không sợ lạnh”. Diệp Khuynh bật cười, ánh mắt lại tỏ vẻ gấp rút: “Mưa bão lúc nào sẽ tạnh? Ta định ngày mai sẽ xuống đáy vực Quỷ Thần thám thính một phen”.

Thoi hơi ngừng lại, Tiểu Ngư ngẩng đầu nhìn y: “Ngươi thật không sợ chết? Lần trước bị dạt lên bờ từ đó, suýt nữa chết đuối mà còn muốn đi nữa sao? Lẽ nào ở đó có hoàng kim bảo thạch?”

“Ở đó có Thất minh chi”. Nói đến ba chữ này, nhãn thần Diệp Khuynh sáng lên, phảng phất như ngọn lửa chói rạng, y nghe thấy tiếng sóng biển bèn lạnh lùng lên tiếng, “nếu chết vì mù, thà ta chết như thế”.

Tiểu Ngư chợt hiểu, cầm thoi dệt lưới, không nói gì thêm.

“Ba ngày... có phải là trong ba ngày nữa ngươi không lấy được Thất minh chi ắt không bao giờ nhìn thấy gì?” Cô truy hỏi nhưng Diệp Khuynh lại lảng đi, khẽ thở dài: “Nơi này cô không ở lại được nữa...” Đoạn y lấy một nén bạc đặt lên bàn, tỏ vẻ xin lỗi Tiểu Ngư: “Chắc ngày mai chúng sẽ tới, tiểu cô nương nên tìm một nơi tránh đi - có lẽ chúng sẽ gây khó dễ cho cô”.

“Ta không phải tiểu cô nương”. Tiểu Ngư không thèm nhìn nén bạc, bĩu môi tức giận đáp: “Ta mười bảy tuổi rồi”.

“Mười bảy... người lớn quá nhỉ”. Diệp Khuynh không nhìn được, khóe miệng hiện lên nét cười, “nhưng cũng đến tuổi gả cho người ta rồi, chỗ bạc này coi như tặng cô nương mua nữ trang”.

“Có gì mà cười”. Tiểu Ngư đỏ bừng mặt, lùi lại một bước, cúi nhìn tấm lưới đánh cá, “không được gọi ta là tiểu cô nương! Còn gọi thế nữa... hừ, ta sẽ gọi ngươi là đại thúc”.

“Đại thúc?” Diệp Khuynh ngây người, chợt cười vang, Thanh Sam kiếm khách Diệp Khuynh tung hoành giang hồ nhiều năm, nổi danh hiệp kiếm phong lưu, lần đầu tiên có người gọi y là đại thúc.

Y mỉm cười, theo ý thức vuốt tóc mai - đã có sợi bạc đầu tiên. Đúng là giang hồ khiến người mau già.... Còn mấy năm nữa mới đến tuổi lập thân mà tóc mai đã lấm tấm, lẽ nào mấy năm nay mình đã già rồi?

Y dần không cười nổi, bó gối nhìn ánh đèn trong nhà, trầm mặc nghe gió biển rít vù vù bên ngoài.

“Ai da, đại thúc giận hả”. Tiểu Ngư chuẩn bị phản kích thanh y khách nhưng hồi lâu không thấy y hồi đáp đâm ra hơi lo. Diệp Khuynh lắc đầu, im lặng mỉm cười.

Tiểu Ngư bĩu môi: “Chấp nhặt quá...” Đoạn nhìn sắc mặt y, gạt nén bạc trên bàn qua một bên: “Được rồi, cháu nhận - nhưng không cần nhiều bạc đến thế. Đồ ăn đều lấy từ biển...”

Cô ngẫm nghĩ đoạn nảy ra chủ ý, mở chiếc đãy duy nhất trong phòng, lấy ra một cái bao bố, đưa cho y: “À, cái này cho đại thúc”.

Diệp Khuynh nhìn cô với vẻ dò hỏi, Tiểu Ngư đưa tay tới, ngoẹo đầu với vẻ tiếc nuối: “Nếu cháu có Thất minh chi thì tốt quá... tiếc là cháu không có, chỉ có cái này cho đại thúc”.

Diệp Khuynh mở bao, liền ngẩn người.

Ánh sáng nhu hòa hắt lên mặt, trong thoáng chốc, người lãng tích giang hồ nhiều năm, kiến thức quảng bác như y cũng kinh ngạc - chiếc bao bố rách nát chứa hơn hai chục viên minh châu thuộc hàng cực phẩm, viên nào cũng cỡ ngón tay cái, sáng ấp lánh.

Giữa tiết trời mưa gió bời bời, trong căn nhà ánh đèn lập lòe, thiếu nữ đang ngồi dệt lưới nghiêng đầu nhìn y, ánh mắt cỏ vẻ đắc ý ranh mãnh: “Đẹp không?”

“Không ngờ nha đầu gia tư cự vạn”. Diệp Khuynh cầm một viên minh châu lên quan sát, hơi mỉm cười, liếc mắt nhìn Tiểu Ngư: “Tùy tiện bán một viên cũng đủ cho cô thành tiểu thư ở vùng đất bên kia núi cả đời”.

“Không bán”. Tiểu Ngư cười hi hi, lắc đầu: “Từ lúc cháu mò được những thứ này, chọn vài viên nhỏ đem bán, những viên lớn đều để lại làm đồ chơi - à, tổng cộng có hai mốt viên, tặng cho đại thúc...”

“Quà lớn đấy. Tiểu cô nương”. Diệp Khuynh nhìn cô bé, ánh mắt sâu thẳm ẩn chứa nhiều ý vị.

“Đại thúc, có thể xâu thành vòng, tặng cho... hi hi, tặng cho đại thẩm”. Lời cô buông ra khiến ánh sáng trong mắt y thoáng chốc đông đặc lại.

“Vô dụng thôi”. Y gập chiếc bao lại, đẩy trả Tiểu Ngư.

“Ồ?” Tiểu Ngư cả kinh.

“Nàng đã chết lâu rồi”. Diệp Khuynh thản nhiên nói, nhìn sang Tiểu Ngư với vẻ cảm hoài: “Nàng chết lúc tuổi cũng xêm xêm tiểu cô nương...”

Tiểu Ngư ngây người nhìn chiếc thoi dệt lưới, không biết nên nói gì.

“Ngay mai biển có động không...” Nghe tiếng gió ngày một mãnh liệt bên ngoài cùng tiếng thủy triều vỗ ào ạt, Diệp Khuynh lẩm nhẩm, cơ hồ muốn chuyển chủ đề.

“Đáng thương thật...” Tiểu Ngư lại không hiểu ý, không trả lời theo câu hỏi mà tiếp tục truy vấn: “Đại thẩm vì sao lại mất lúc còn trẻ thế? Đại... đại thúc có đau lòng không?...”

“Mười năm rồi.... cũng không đến nỗi đau lòng quá”. Diệp Khuynh thấy câu chuyện đến nước này, đành thở dài đáp - nhiều năm nay, đây là lần đầu tiên y thố lộ với người ta niềm đau giấu kín trong tim. Y nhìn mấy viên minh châu, trước mắt chợt mơ hồ, không hiểu vì nước mắt hay lại đến lúc không nhìn thấy gì.

“Cúi xuống”.

Chợt y quát vang, vươn người vung tay lên, ngón tay chập lại, kẹp cứng ba mũi đoản tiễn từ ngoài song cửa bắn vào. Mưa gió hình như lùa qua cửa tràn vào quất rát mặt người, Tiểu Ngư chưa hiểu ất giáp gì đã bị kéo ngã vào góc tường.

“Chết tiệt, cả ban đêm cũng mò tới”. Cô nghe thấy tiếng Diệp Khuynh quát khẽ, cổ tay khẽ cong lại, trường kiếm phảng phất tự nhảy vào tay y, nhanh chóng dệt lên một dải ngân quang trước mặt. Tiếng choang choảng vang lên không ngớt, cơ hồ lưỡi kiếm va chạm với rất nhiều thứ.

“Cáo lỗi”. Diệp Khuynh quát khẽ, thấy ám khí bốn bề bay tới như mưa, tay không ngừng xuất ra, ngón tay khẽ quét một vòng, hơn hai mươi hạt minh châu trên bàn nhanh chóng xé không khí bay ra, bên ngoài căn nhà liên tục vang lên tiếng thét thảm thiết.

“Uy - không được”. Tiểu Ngư vẫn còn con nít, không hiểu giờ đang lúc sinh tử, chỉ thấy minh châu trên bay bay đi như đạn đồng, liền buột miệng kêu lên.

“Mắt ta sắp không nhìn thấy gì nữa”. Diệp Khuynh búng số minh châu thay ám khí bay đi như cuồng phong, cúi xuống giải thích thật khẽ bên tai Tiểu Ngư.

Tiểu Ngư ngẩn người, ngẩng lên liền thấy có vật gì đó lăng lệ xé không khí bay tới, ánh mắt Diệp Khuynh lại trống rỗng, tuy ngưng thần lắng nghe nhưng mưa gió ngoài trời đã nhiễu loạn thính lực y, rút kiếm về hơi chậm, cô nhận ra trên cổ tay y có máu chảy xuống.

Cô cả kinh, trong lúc nóng lòng liền nảy ra sáng kiến, phất tay hất đĩa đèn trên bàn.

“Choang”, đĩa đèn lăn xuống đất, Diệp Khuynh tuy không thấy gì nhưng hiểu ngay, mỉm cười trong bóng tối: tiểu nha đầu thông minh lắm. Nhất thời, vách đá trên vực Quỷ Thần tối om, xòe bàn tay không thấy ngón.

Đèn tắt phụt, ám khí từ phía ngoài quả nhiên chậm lại, tiếng sột soạt vang lên, hình như có rất nhiều người đang từ từ tiếp cận.

“Ngẩn ra đấy làm gì, tìm góc nào trốn cho kỹ, ta ra ngài xử lý chúng”. Diệp Khuynh vỗ lên vai thiếu nữ, phát giác cô tuy không nói thành tiếng nhưng không giấu được rằng mình đang run lên, y thở dài: “Xin lỗi”.

Lời vừa dứt, y tung người bạt kiếm, nhảy khỏi song cửa.

* * * * *

Gió vẫn lùa qua, đêm dài đằng đẵng, một trường ác đấu rồi cũng kết thúc.

Máu không ngừng nhỏ xuống từ vết thương, y phong bế mấy đại huyệt gần đó, nhưng vẫn cảm giác thân thể suy nhược cực độ. May mà đêm qua gió mưa tối tăm, địch nhân cũng không thấy gì nên không chiếm được tiện nghi.

Nhưng kẻ đến tấn công toàn cao thủ có hạng, y cũng trọng thương mới hạ nổi.

Gió thổi mạnh hơn, bên tai y không còn tiếng hò hét và tiếng đao binh va nhau.

Y đứng đó, uể oải dùng kiếm chống xuống đất, lắng nghe tiếng thủy triều, định xác định xem mình ở đâu nhưng chỉ thấy tiếng sóng ầm ào vỗ bờ kinh tâm động phách, mưa gió ràn rạt thổi tung tà áo.

Mắt y... vẫn không thấy gì.

Trận đấu hung hiểm vừa rồi đã giúp y quét sạch địch nhân, nhưng không hiểu đã qua bao lâu, hiện thời là sáng sớm hay vẫn còn đêm tối?

Y... y đang ở đâu.

“Uy, tiểu...” Ánh mắt y trống rỗng, lộ rõ vẻ đơn côi khôn tả trong mưa gió, chần chừ hồi lâu mới buột miệng định gọi nữ hài tử, y không muốn lộ ra vẻ mềm yếu thế này. Không ngờ mở miệng rồi mới nhớ ra mình không biết tên cô bé, có lẽ cô đã nói qua nhưng y không để tâm lắng nghe.

“Tiểu nha đầu! Tiểu nha đầu!” Y đành dùng cách xưng hô này gọi to, mưa gió vẫn ào ào, song tiếng gọi của y vọng đi rất xa, vang vang khắp biển trời, “không sao rồi, ra đây đi”.

Nhưng hồi lâu vẫn chỉ có tiếng gió mưa, thiếu nữ ngư gia không hề nhảy nhót tiến ra, nhíu mày tức giận phản kích gọi y là “đại thúc”.

Có phải.. có phải trong trường loạn chiến vừa nãy, cô bé không may gặp phải bọn người võ lâm kia?

Y chợt cảm giác được nỗi sợ hãi khó tả, vốn đang đứng im lặn lắng nghe mà giờ không tài nào giữ được tâm tình bình tĩnh nữa, hoảng loạn khua khoắng, định tìm nữ hài nhi: “Tiểu nha đầu! Tiểu nha đầu! Ra đi...”

“Đứng im, trước mặt là vách núi”. Đột nhiên một giọng nữ tử lạnh lùng vang lên.

Y lập tức dừng bước, thốt lên kinh ngạc xen lẫn vui mừng: “Tiểu nha đầu không sao chứ?”

Thuận theo phương hướng giọng nói, y quay phắt lại, phảng phất vui mừng quá độ bước tới. Nhưng đang mỉm cười, nhanh chóng lao tới, y đột nhiên bạt kiếm cực nhanh chém vút xuống.

Đó không phải giọng tiểu nha đầu... nữ nhân này nhất định là con cá lọt lưới trong đám người đến ám sát y đêm qua.

Mưa gió bời bời, thế chém của Thanh Sam kiếm khách như lôi đình, điện quang lóe lên rồi tắt ngay. Đòn tất sát này, khắp võ lâm không có ai tiếp được mà còn sống.

Nhưng thân hình y lao đến chỗ có giọng nói, lòng liền lạnh buốt - y đánh trượt.

Chỉ mình y biết, trong sát na y tuốt kiếm, nữ tử thần bí tựa hồ lướt đi với tốc độ không tưởng.

“Trước mặt hai mươi mốt trượng là phòng ốc”. Giọng nữ tử lại vang lên trong làn mưa gió ngoài xa, cực kỳ lạnh nhạt: “Tiểu Ngư vừa bị ám khí có độc làm bị thương, đã hôn mê trong nhà”.

Tiểu Ngư... đó không phải tên của thiếu nữ ngư gia sao? Hà cớ nữ tử này lại biết.

“Ngươi là ai... ở lộ nào?” Y trầm giọng hỏi, lòng tay ướt đầm mồ hôi lạnh, vừa nãy y đã đoán đi đoán lại vô số lần lai lịch của nữ tử, lục lọi lại tình hình các môn các phái, đều không thể nào tìm ra một nữ tử võ công cao tuyệt thế này.

“Ta chỉ là người qua đường”. Nữ tử nhạt nhẽo đáp: “Ngươi không cần đoán nữa, bằng không Tiểu Ngư lại độc phát mới là phiền phức... ta thấy ngươi nên vào thăm cô bé đã”.

Nói xong câu cuối, giọng nữ tử tan vào xa lắc, mơ hồ ẩn trong làn gió.

Mắt tuy không nhìn được gì nhưng sau một hồi, con ngươi y loáng thoáng lấy lại chút tri giác, mơ mơ hồ hồ nhìn thấy một vài tia sáng - trắng nhờ nhờ, hóa ra đêm đã qua rồi.

Trong buổi lê minh đầy mưa gió, y chần chừ đứng trên vách đá, tuy hoài nghi lai lịch của nữ tử thần bí, thậm chí hoài nghi trong phòng có cạm bẫy nhưng nghĩ đến việc tiểu nha đầu sắp phát độc, y không nén được, lần mò theo phương hướng nữ tử đã chỉ dẫn.

* * * * *

“A... ta đã lại ngủ thiếp đi”. Thiếu nữ tỉnh khỏi cơn hôn mê, thấy thanh y khách ngồi cạnh nhìn mình, liền tỏ vẻ ngượng ngập đưa tay dụi dụi mắt, lẩm bẩm, đoạn cô nhìn ra ngoài căn phòng, ồ lên một tiếng: “Bọn cường đạo đi đâu rồi? Suýt nữa cướp sạch cả nhà...uy, cháu nhận ra đại thúc, đúng là xui xẻo”.

Ngủ dậy? Diệp Khuynh dở khóc dở cười nhìn dáng vẻ cô bé vươn vai - làm sao nói cho cô biết rằng đêm qua cô trúng ám khí độc cửu tử nhất sinh, để bức độc cho cô, y suýt nữa cạn hết chân lực.
Ngoài trời mưa gió ngày càng lớn, trời đất âm u, căn nhà cỏ liêu xiêu, trên nóc dột mấy lỗ hổng lớn, nước mưa tạt thẳng vào nhà.

“Ai da, đại thúc lại chảy máu sao?” Tiểu Ngư ngồi dậy, nhìn thấy vết máu dầm dề trên tà áo xanh liền cả kinh.

“Tiểu nha đầu”. Y không để ý đến vẻ mặt kinh ngạc của cô, mà chỉ nhìn lên vòm không ngập gió mưa bên ngoài, cùng mặt biển xanh thẫm cuộn sóng ngoài xa hỏi: “Hôm nay có biển động không?”

Lời chưa dứt, y lại cảm giác được vách đá rung lên, phảng phất có đại lực xô vào tuyệt bích, gió rít lên những tiếng chói tai kỳ dị, tiếng ùm ùm vang vọng, xem ra có vô số tảng đá lớn từ trên núi bị nước triều cuốn xuống lòng biển. Thanh Tự sơn rung chuyển.

“Biển động dữ quá”. Tiểu Ngư ôm gối ngồi dưới đất, nhìn về vùng biển trời xa tít tắp thành một đường kẻ ngoài xa. Màu nước biển hơi khác thường, không hẳn là màu lam, mà đen một cách quỷ dị. Cô lắng nghe tiếng nước triều, tỏ vẻ hoảng sợ: “Từ nhỏ đến lớn... cháu chưa thấy biển động lần nào dữ dội thế này. Thanh Tự sơn có sập không?”

“Còn hai ngày nữa”. Diệp Khuynh có vẻ ủ rũ, cúi đầu thốt lên một câu

Tiểu Ngư run lên, ôm vai như thể sợ khí lạnh, mím môi không nói gì.

Mưa gió không có vẻ gì sẽ ngừng, lùa qua cửa vù vù, cỏ lợp trên mái nhà dần bị thổi bay, nước mưa rơi ngập nền phòng lát đá.

Sắc trời vẫn u ám, vàng vọt một cách quỷ dị, gió lùa ào ào khắp vùng biển trời, rít lên sắc nhọn.

Tiếng nước biển càng lúc càng lớn, gió vỗ ầm ầm vào bờ đá, Thanh Tự sơn liên tục rung rinh.

Tiểu Ngư lấy một ít cá khô và hoàng ngư cao còn lại trong phòng, nấu bữa không biết là sáng hay trưa cho Diệp Khuynh ăn, đoạn y băng bó vết thương, ngồi xuống điều tức, cô nhìn thinh không bên ngoài đến ngây người.

Hồi lâu, cô đứng dậy, cầm thoi dệt lưới ra ngoài.

“Tiểu nha đầu ra ngoài làm gì?” Diệp Khuynh vẫn nhắm mắt dưỡng thần hình như thấy được hành động của cô, lên tiếng hỏi khiến cô giật nảy người.

“Cháu đi tìm minh châu về”. Tiểu Ngư giậm châm, ảo não đáp, đoạn liếc y: “Đại thúc không biết người ta tìm số ngọc đó vất vả thế nào mà lấy làm đạn nhẹ tênh, bắn mất sạch. Có đền cho cháu không?”

“Được được được... đợi ta về Trung Nguyên sẽ đền, bán sạch gia sản cũng đền”. Thấy cô nổi giận, Diệp Khuynh vội liên tục đáp lời. Tiểu Ngư hừ lạnh bước ra ngoài, chợt dừng bước, lặng lẽ quay đầu lại nhìn y một lần nữa.

Thanh y khách nhuộm đầy máu đang nhắm ắt điều tức, sắc mặt nhợt nhạt mà vẫn bình tĩnh.

“Trung Nguyên... Trung Nguyên. Ở bên kia núi sao?” Tiểu Ngư lặng lẽ nhìn đỉnh núi mênh mang trong mưa gió, khẽ thở dài. Nơi đó núi non trùng trùng, chằng chịt như mê cung, ra khỏi sẽ là thế giới thế nào?

Cô quay đi, nhìn mặt biển gầm gào, nơi tận đầu phủ đầy mây đen, ẩn ước có sấm sét.

Khuôn mặt thơ trẻ của cô đột nhiên hiện lên thần tình khiến người khác hoảng sợ, cô nhấc chân, thoáng chốc đã lẫn vào màn mưa mịt mùng.

* * * * *

“Đại thúc! Đại thúc!”

Lòng lặng như nước, nội thị thất khiếu thông nhau, chân khí lưu chuyển khắp kỳ kinh bát mạch không ngừng nghỉ, qua mỗi chu thiên lại thấy vết thương giảm đi một phần, nội lực gần như hao tận trong trận chiến đêm qua dần tăng lên.

Nhưng đang lúc nhập định điều tức, y chợt nghe thấy tiếng gọi mơ hồ từ đâu đó vẳng lại.

Tâm ma?

Lẽ nào tâm lý y vô tình lạc vào “chướng”?

Y thầm kinh hãi, cố ổn định tâm thần, không để mình nghe thấy thanh âm đó. Không được, không được... không được để ý, không để nó lọt vào trong lòng, nhiều năm phiêu diêu giang hồ, hợp tan đều vô tình, y sớm đã đạt đến cảnh giới không còn vương vấn tục lụy.

“Đại thúc...” Nhưng tiếng hô hoán mỏng manh vẫn vang lên, phảng phất hàm chứa thống khổ cùng cực, y cứ trầm mặc nên tiếng gọi dần nhòa đi.

“Tiểu Ngư”. Y chợt kinh hãi, buột miệng kêu lên, mở bừng mắt.

Ngoài trời vẫn chỉ có tiếng gió mưa ràn rạt, tiếng nước triều ào ào xô bờ.

“Tiểu nha đầu!” Y chợt hiểu ra, mặc kệ bão bùng, lao thẳng vào màn mưa mênh mang.

Gió thổi ràn rạt, cơ hồ không mở mắt nổi.

Y đành thi triển khinh công, đề khí men theo con đường đá lao xuống.

Nước biển đá rút đi một phần, bãi cát dưới đáy hơi lộ ra nhưng vô cùng lộn xộn, đầy những xác cá và hải thảo bị nước triều đẩy lên đã bốc mùi, thi thể các loại sinh vật phơi mình trên cát, mùi vị vô cùng quỷ dị. Loáng thoáng thấy được xương người trắng muốt.

Diệp Khuynh chạy điên cuồng... không biết phương hướng nào, chỉ biết cắm đầu lao đi trong màn mưa hòa lẫn tiếng cuồng phong gào rú.

Quả nhiên, y xác xác thật thật nghe thấy tiếng gọi mỏng manh trong gió: “Đại thúc! Đại thúc!...” Giọng của thiếu nữ đầy thống khổ, gấp rút, mỗi lúc một yếu ớt dần.

Y chạy theo hướng của tiếng gọi, từ con đường đá trên núi lao thẳng vào lòng biển gầm gào.

Màu nước biển vô cùng quái dị, đen khác thường, sóng dâng như những ngọn núi nhỏ, lao vào Thanh Tự sơn. Nhưng những con sóng hung hãn đều hóa thành bọt tại bãi cát... đã đến lúc nước triều rút rồi.

Thoáng chốc, y nhìn thấy Tiểu Ngư - cô đang ở trong ngọn sóng, dùng toàn lực bơi vào bờ nhưng sóng biển đen ngòm trùm lên cô, gió lốc cuốn lại, mỗi lần cô nhô lên liền kéo xuống lòng biển.

“Đại thúc... đại thúc”. Cô chìm xuống làn nước, nhưng mỗi lần thủy triều cuốn lên, y đều nghe thấy tiếng cô gọi yếu ớt, cô vẫn đạp nước, cố gắng bơi vào bờ.

Nhưng tất cả đều công cốc, mỗi lần đến gần bờ, thủy triều lại vô tình đẩy cô lùi lại. Trong làn nước biển cuộn trào, phảng phất có tiếng cười văng vẳng, cuốn lên sóng thần - không hiểu có phải ảo giác không mà Diệp Khuynh nhìn thấy một con rồng cực lớn lóe lên trong làn sóng sau lưng Tiểu Ngư.

“Tiểu nha đầu!” Mặt y nhợt nhạt, gào lên với cô, vừa điểm chân vào mấy tảng đá rải rác trên bãi cát lao xuống biển - nha đầu này đúng là chán sống, lại xuống biển... trong lúc biển động.

“Tiểu nha đầu!” Y hét lên, vẫy tay với thiếu nữ bị cuốn vào lòng biển để cô chú ý.

Động tác của cô càng lúc càng chậm, tựa hồ đã dốc hết lực khí, nhưng cô vẫn ẩn ước nghe được tiếng y gọi, gắng gượng trườn lên đầu ngọn sóng, bơi vào gần bờ.

Diệp Khuynh chạy đến bờ biển, trong sát na đó, một ngọn sóng lớn dấy lên.

Ngọn sóng cao bất thường, nhìn từ xa đã vậy nhưng lúc vào gần bờ y mới nhận ra nó cao mấy chục trượng.

Tiểu Ngư hình như dốc hết làn hơi cuối cùng, mượn làn sóng trợ lực bơi vào bãi cát, nhưng không hiểu sao bị kéo lại ba trượng, cơ hồ vẫn ở trong nước - trong tích tắc đó Diệp Khuynh thấy một thân thể cực lớn cuốn vào cô.

Không phải ảo giác... tuyệt đối không phải.

Trong làn sóng khủng khiếp đó có một con rắn lớn chưa từng thấy.

“Đón lấy, đón lấy này”. Ngọn sóng tiến sát vào bờ, Tiểu Ngư ở trên đỉnh ngọn sóng, mặt nhợt nhạt, lúc con rắn quấn lấy thân thể, chợt cô há miệng phun ra một vật, dùng tay ném vào.

“Tiểu Ngư”. Vừa hét lên, Diệp Khuynh vừa nhảy lướt tới đầu ngọn sóng, thuận tay đón lấy, tay còn lại nhanh chóng bạt kiếm, chém vào con mãng xà.

Nhưng nước triều dâng tràn, sức mạnh như thiên địa hồng hoang xô tới, hất y văng ngược lại.

Lúc y loạng choạng đứng dậy từ trong bãi loạn thạch, thị tuyến mơ hồ, cơn sóng đã tan, con rắn quấn lấy Tiểu Ngư nổi lập lờ trong làn sóng gầm gào, thân thể to lớn dần thít lại.

Y nắm chặt tay chợt thấy lòng tay đau buốt bèn mở ra, là một vật như ngọc thạch khá mỏng, bề mặt chi chít những lỗ nhỏ... quả nhiên là Thất minh chi.

Để lấy linh chi dưới đáy biển trước khi mắt y mù hẳn, nha đầu ngốc kia đã liều mạng xuống nước trong lúc biển động hái tiên thảo... không ngờ lại đánh động quái thú bảo vệ.

“Tiểu nha đầu! Tiểu nha đầu!” Trong cơn sóng gió, y hét lên lao vào nước biển nhưng mấy lần bị sóng đánh dạt vào bờ, trước sức mạnh kinh hồn của tạo hóa, có ai chịu được một đòn.

Cánh tay Tiểu Ngư vẫy vẫy trong nước rồi mất hút.

Không hiểu cô chìm xuống nước hay mắt y mơ hồ mà trước mặt y chỉ là một vùng trắng xóa.

“Muốn cứu cô bé, mau quăng linh chi xuống”. Đột nhiên, trong tiếng gió gầm rít, bên tai y vang lên giọng nói lạnh lùng của một người, giọng nói quen thuộc, nhưng mắt y dần mơ hồ. Không kịp nghĩ ngợi, nhân lúc ánh sáng trước mắt chưa tắt hẳn, y vận đủ chân lực, quăng Thất minh chi xuống biển...

“Ào, ào”. Y nghe rõ tiếng sóng oàm oạp, phảng phất có một vật cực lớn từ dưới nước bay lên, tiếng gió càng dữ dội hơn, thậm chí khiến thân hình y loạng choạng, mấy vết thương trên mình nứt toác, máy chảy ra dầm dề.

Một con sóng hất văng lên, tuy không nhìn thấy, y vẫn xòe tay ra đón.

Nhưng rồi, con sóng chìm xuống, nhấn chìm tất cả.

* * * * *

Lúc tỉnh lại đã ở trong gian nhà tranh trên vách đá.

Nước mưa từ kẽ dột trên mái rơi xuống, có mấy giọt đậu trên mặt. Diệp Khuynh vô lực ngoái đầu lại, định tránh nước mưa nhưng lại nghe thấy tiếng người đang khóc tỷ tê.

“Tiểu... tiểu nha đầu”. Thần trí quay lại, thị tuyến cũng rõ dần, y nhận ra một khuôn mặt kề sát, đôi ngươi đỏ ửng như hai trái đào. Y chậm rãi mỉm cười, lên tiếng gọi.

“Xú đại thúc!” Cô bé vẫn ương bướng như trước, phản ứng lại lời trêu chọc của y, đưa tay quệt mũi, nước mắt vẫn rơi không ngớt từ đôi ngươi đỏ ửng, “ngốc như heo vậy, sao, sao lại quăng linh chi xuống nước? Người ta phí bao nhiêu sức lực... tử đại thúc, xú đại thúc!”

“Đang lúc gấp rút...” Diệp Khuynh thở dài, chật vật định ngồi dậy nhưng thương thế toàn thân càng ác hóa, khẽ động là đau thấu cốt, “lúc đó chậm chút nữa là tiểu nha đầu coi, coi như xong đời”.

Tiểu Ngư không nói gì, nhìn y chằm chằm đoạn bật cười: “Ai da, đại thúc muốn nói là - thà cả đời không nhìn thấy gì cũng lo lắng cho tính mệnh cháu, đúng không?”

Diệp Khuynh nhìn đôi mắt tròn xoe của cô, khác nào hai giọt hắc thủy ngân nằm giữa vùng bạch thủy ngân, bất giác cười vang.

“Hay đại thúc muốn nói, nếu cả đời không nhìn được, chi bằng chết đi,” Tiểu Ngư nhìn xuống, nháy mắt đầy giảo hoạt, đoán tiếp, “hoặc là đại thúc muốn nói thà chết cũng muốn cháu giữ được mạng, đúng không? Đại thúc tốt với cháu quá”.

“À?” Diệp Khuynh không ngờ tiểu nha đầu kết luận như vậy, muốn phản bác nhưng không biết nói sao.

“Đừng gọi ta là lão đầu tử... năm nay ta mới hai mươi tám tuổi, sao lúc nào cũng bị nha đầu gọi là lão”. Diệp Khuynh nhíu mày, cố nén cười, làm vẻ nghiêm nghị, “lúc ở biển, tiểu nha đầu gọi lớn thế, ta ở trên bờ nghe thấy hết”.

“Ồ?” Tiểu Ngư ngây người, ngẩng đầu nhìn y, tỏ vẻ kinh ngạc, “lúc ở dưới biển cháu không gọi đại thúc! Cháu đang ngậm nhánh linh chi này, tay chân đạp nước, lẽ nào còn mở miệng được?”

“......” Diệp Khuynh tắc tị, trầm mặc một chốc. Quả nhiên... là y nhập “chướng” chăng?

Tiểu Ngư nghi hoặc nhìn y, nhưng y liền bật cười, đưa tay xoa búi tóc đen nhánh của cô bé - thôi vậy, nhận thua thì sao? Lão giang hồ nhiều năm như y cũng chịu phép dưới tay tiểu nha đầu này.

Mưa gió tạnh dần, tiếng nước triều từ xa vọng lại.

“Là biển động chăng? Ta thật muốn nhân lúc còn nhìn được ra xem một lần...” Diệp Khuynh nhìn ra bên ngoài, thở dài. Tiểu Ngư đứng dậy, lấy áo tới, đưa tay kéo y ra.

“Đại thúc, nhìn thấy hay không chẳng quan hệ gì, sau này cháu là mắt của thúc”. Vừa đi, Tiểu Ngư vừa thốt lên một câu khẽ khàng, ánh mắt chợt sáng lên, dừng phắt lại, cạnh sơn nhai trong cơn mưa gió có một bạch y nữ tử tóc dài lặng lẽ nhìn biển trong cơn mưa, trên vai đậu một con chim lông trắng.

“Là cô nương. Chính Bạch cô nương này”. Tiểu Ngư buột miệng, “đã cứu chúng ta. Cô ta là yêu quái”.

“Yêu quái?” Diệp Khuynh hơi kinh hãi.

Tiểu Ngư tuy kinh ngạc nhưng không sợ hãi, chỉ vào bạch y nữ tử nói: “Năm năm trước cô ta đến đấy hái Thất minh chi về mà không bị đại xà ăn thịt, không phải là yêu quái sao? Hơn nữa... năm năm rồi mà cô ta không thay đổi gì. Lúc đó cháu mười hai tuổi, hiện tại cô ta vẫn ở độ tuổi như cháu cháu...”

“Tiểu Ngư”. Trong lúc cô đang kinh ngạc, bạch y nữ tử trên vách đá quay đầu lại, mỉm cười với hai người, “coi như còn sống quay về. Tiểu cô nương lớn bằng này rồi sao vẫn còn lớn mật làm càn”.

“Hừ”. Tiểu Ngư hơi nổi giận, đá văng một viên đá, Diệp Khuynh đứngcạnh cô chợt biến sắc - y đã nghe ra. Giọng nói này... không phải của nữ tử hôm qua hai lần chỉ điểm cho y sao?

“Đa tạ ơn cứu mạng của Bạch cô nương”. Y nghiêm nghị ôm quyền.

Nhưng bạch y nữ tử mỉm cười, khẽ lắ đầu: “Sống chết mong manh, lúc đó lựa chọn là do công tử, chính bản thân công tử cứu mình. Công tử có tấm lòng cao khiết, Bạch Loa sao dám nhận công lao”.

Nàng mỉm cười, nốt ruồi giọt lệ bên khóe mắt chực rớt xuống, ánh mắt vẫn bình thản: “Bạch Loa chỉ là một người lên núi vào rừng hái thảo mộc, ghé qua nói hai câu mà thôi - không cần để ý”.

Trong cơn mưa gió, nàng quay lại nhìn xuống mặt biển, chợt nở nụ cười mỉm, phất tay chỉ xuống vực Quỷ thần: “Ngàn năm một lần, thành thị dưới đáy biển sẽ mọc lên... các vị đến xem này”.

Nàng giơ tay, bạch anh vũ trên vai bay lên đậu trên ngón tay nàng, mở giọng học nói: “Mọc lên. Mọc lên”. Bạch Loa búng ngón tay, quát khẽ: “Đi ngay, Tuyết nhi”.

Diệp Khuynh và Tiểu Ngư song song tiến tới, vừa nhìn xuống liền buột miệng hô lên kinh hãi.

Nước triều rút đi, bãi cát phía dưới lại lộ ra - lần này rút sâu hơn bình thường nhiều, không chỉ bãi cát mà cả lớp đáy gần bờ cũng lộ ra.

“Thạch đài kìa”. Tiểu Ngư chỉ xuống góc tây bắc ở vực Quỷ Thần kêu lên, “ở kia, kia kìa”.

Thạch đài rộng lớn chắn ngang không khí, bề mặt sáng lên một vầng sáng đã lâu không thấy ánh sáng. Từng bậc dẫn xuống phía dưới - ở đó trên lối đi cuối dãy bậc đá ẩn ước lộ ra thân thể đại xà, lẫn vào trong di chỉ loạn thạch gần đó, uể oải bò tới.

Quanh lối đi dưới vùng đáy biển nông trải ngút mắt là phòng ốc bằng đá, vươn lên sừng sững.

Đó là thành thị chìm xuống đáy biển nhiều năm trước, sau rất lâu mới xuất hiện trước mắt thế nhân.

“Thật vậy... trên Quỷ thần đồ cũng thế này”. Diệp Khuynh nín thở trong khoảnh khắc, nhìn hải xà uốn thân trong thần điện, ẩn ước lóe sáng đoạn chầm chậm thốt lên, “trong miếu thờ thần thật sự có Thất minh chi cùng vô số bảo tàng người Trạch Quốc hiến phụng sao?”

Bạch Loa mỉm cười, quay lại nhìn y: “Cũng vì truyền thuyết này mà Quỷ thần đồ mới thành vật người giang hồ mơ tưởng sao? Nhân tâm...” Nàng thở dài, đưa ngón tay chỉ xuống vách đá: “Kỳ thật không cần đồ hình gì cả, hiện tại nó đáng trải ra trước mặt chúng ta đó sao... ngàn năm một lần sẽ nổi lên mặt biển”.

“Lần biển động này lợi hại quá nhỉ?” Tiểu Ngư không nén được kêu lên.

Bạch Loa gật đầu, tỏ vẻ buồn bã: “Ta tính được lần biển động này sẽ khiến truyền thuyết xuất hiện mới đến xem. Các vị đều là người hữu duyên, mau nhìn... lần cuối, sau này không còn cơ hội nữa”.

Nàng nhìn xuống mặt biển xanh lam gầm gào phía dưới, đưa ngón tay chỉ về chân trời - ở đó mây trôi cuồn cuộn, sóng dâng ngút trời, đang tràn tới gần: “Biển động đến nơi rồi... lần này nước triều rút hết, lúc lên càng đáng sợ hơn, không chỉ nhấn chìm di tích mà e rằng Thanh Tự sơn cũng khó thoát”.

Diệp Khuynh và Tiểu Ngư kinh ngạc, nhìn mặt biển sôi trào, lòng dâng lên nỗi sợ khó tả.

Con anh vũ tên Tuyết nhi bay về đậu trên vai bạch y thiếu nữ, mỏ ngậm một vật gì đó sáng chói.

Bạch Loa xòe tay, một viên mình châu lặng lẽ rơi xuống lòng tay, lăn qua lăn lại.

Tiểu Ngư buột miệng: “Ai da, ngọc của tôi”.

Bạch Loa mỉm cười, lấy một túi gấm ra, bỏ viên ngọc vào, túi gấm trĩu xuống, chắc phải có đến mười mấy viên. Nàng mỉm cười đưa túi tới: “Đúng vậy, Tuyết nhi vừa bay đi tìm nhưng viên minh châu như thế này, đúng là một lòng giúp cô”.

“Chúng ta đi thôi, lên đỉnh núi gần đây xem cảnh tượng biển động nhấn chìm tất cả”. Bạch Loa nhìn làn sóng khổng lồ vừa hình thành ở phía kia bờ biển, hơi nhíu mày quay đi.

* * * * *

Đỉnh núi bên ngoài Thanh Tự sơn cao chạm mây, phủ đầy hơi nước.

Dưới gốc đại thụ vang lên tiếng hai người trò chuyện.

“Nước biển dâng lên rồi chăng?”

“Lên rồi... cách chút xíu nữa là đến. Đáng sợ thật, chắc phải đến trăm trượng?”

“Thanh âm lên nhanh quá. Đáng tiếc là ta không nhìn thấy”.

“Ồ, để cháu tả cho đại thúc biết, gần lắm rồi.... sóng lớn quá. À... tràn qua núi rồi! Thật đấy, thật sự đã vượt qua đỉnh Thanh Tự sơn rồi! Nhà của cháu... hức, hức”.

“Đừng khóc, đừng khóc... về đến Trung Nguyên, chúng ta sẽ dựng nhà lớn hơn, được không?”

“Được... cháu muốn ra vách núi ngắm nhìn rồi còn muốn ra bờ biển”

“Ừ, cùng được... mấy năm nữa ta sẽ đưa cháu ra biển, được không?”

“Hi hi, đại thúc đúng là người tốt... nhưng đồ đạc lặt vặt đó không cần cũng được, tránh để người ta đến quấy nhiễu. Dầu thế nào Thanh Tự sơn cũng không còn, vực Quỷ Thần cũng thay đổi, những thứ đó cũng thành vô dụng rồi”.

“Soạt”, một lưỡi kiếm sắc lẹm cắm trên thân cây cạnh quan đạo trên đỉnh núi, rung rung găm qua một tờ giấy da dê đã úa vàng.

Tiểu Ngư chạy đến xem thử, cầm tờ giấy lên đọc rồi quay lại đỡ Diệp Khuynh.

Cô tung tăng chạy đi, chợt từ ngực áo rớt xuống một vật, vãi ra đất.

Nguyên là túi gấm Bạch cô nương đưa cho trước lúc ra đi, Tiểu Ngư cúi xuống nhặt, đột nhiên cảm thấy đáy túi có vật gì đó, lấy làm kinh ngạc dốc ngược.

“Keng”. Một tiếng vang lên khe khẽ, một vật trắng muốt như ngọc thạch từ trong túi rơi ra.

-------

Thất minh chi sinh trưởng lại những vách đá gần biển, lá có bảy lỗ, cứng như chất đá, ban đêm sẽ thấy ánh sáng kỳ lạ. Nếu mọc đủ bảy nhánh, bảy lỗ sẽ thông nhau.

Chương 5: Lục nguyệt tuyết

Mưa đột nhiên trút xuống - thời tiết tháng ba ở Giang Nam thay đổi thất thường như tính nết một tiểu thư đỏng đảnh, vừa nãy trời còn xanh biếc, chỉ nháy mắt đã thấy mây đen giăng mắc, mưa rào đổ xuống, đất trời một màn trắng xóa.

Tô Doanh vội thu hết chỗ y phục mang ra giặt bỏ vào giỏ trúc, có mấy bộ đang giặt dưới suối sắp bị nước cuốn, bèn vội vàng đưa tay rút lại. Luống cuống một hồi, nàng cũng gom nhặt xong xuôi, vào một ngôi tiểu đình ven đường nghỉ chân, tà áo bằng vải bố màu lam ướt sũng.

Nàng vội đặt giỏ trúc nặng chịch xuống, đứng dưới mái hiên vắt áo.

Giặt y phục cả ngày, lớp da tay nàng phồng rộp lên thành từng cục, chạm vào đau thấu tâm can. Nàng đưa bàn tay nhợt nhạt vắt mạnh tà áo bằng vải bố màu lam, cảm giác không phải đang vắt nước mưa mà vắt máu trên tay xuống.

Đó là tay nàng sao? Bàn tay một người giặt thuê... đôi tay này từng mịn màng trắng trẻo như ngó hành, ánh lên sắc hồng hào như bảo thạch - bởi đó là tay của tiểu thư nhà Thôi viên ngoại ở Tuyền Châu.

Nếu nàng không gặp Tống Vũ, có lẽ hiện giờ đôi tay này vẫn đẹp đẽ như thế chăng?

Lúc nàng nâng vạt áo lên vắt, chợt cảm giác có người đang nhìn mình, chẳng lẽ trong tiểu đình ở nơi heo hút như Bạch Sa tuyền còn có người khác nữa?

Nàng ngoái lại nhìn, quả thật thấy một thư sinh trẻ tuổi chừng mười bảy, mười tám tuổi, mi thanh mục tú, đầu đội khăn tơ bát bảo, bên trong tà áo màu lam lộ ra áo lót màu thiên thanh, tay cầm quạt ngà voi nhưng bàn tay còn trắng hơn, trên ngón lấp lánh nhẫn phỉ thúy. Trang phục tuy cố ý ăn mặc theo lối thông thường nhưng không che được nét phú quý.

Thư sinh hiển nhiên ghé vào tránh cơn mưa bất chợt, gõ gõ cây quạt vào lòng bàn tay, chăm chắm nhìn màn mưa với vẻ sốt ruột. Vừa thấy Tô Doanh đi vào, ánh mắt y liền chuyển sang mình nàng. Nàng hơi đỏ mặt, buông vạt áo trong tay ra, quay nhìn cơn mưa ngoài trời, không để ý đến y.

“Xin hỏi thư thư, đường nào đến Khúc Viện Phong Hà?” Tuy nàng ngoảnh mặt đi nhưng thư sinh vẫn như bắt được vàng, vừa cẩn thận tránh khỏi nước mưa lọt qua lỗ dột trên nóc đình, vội vàng bước tới hỏi.

“Từ đây đi về phía Triều Tây hồ, men theo bờ hồ về hướng nam là tới”. Tô Doanh cảm giác được công tử trẻ tuổi đến sát sau lưng, không buồn quay đầu lại, bất giác nhíu mày nhìn ra ngoài lạnh nhạt đáp.

“Nhưng ở đây phân biệt hướng nam, hướng bắc thế nào?” Công tử trẻ tuổi không chịu đi mà tiếp tục bám lấy nàng, bất chợt mỉm cười, nắm chéo áo nàng, tỏ ra vô lại: “Hay thư thư đi cùng một chuyến, tiểu đệ sẽ trả tiền”.

Tô Doanh biến sắc, lễ giáo đời Tống cực kỳ nghiêm ngặt, nữ tử như nàng không được đơn độc đối đáp với nam tử lạ mặt, giờ đối phương lại cợt nhả, gần như vô lễ.

Nàng nhấc giỏ trúc lên đi ra ngoài, nghiêm mặt nói: “Công tử đừng cười cợt nữa, xin hãy tự trọng”.

“Công tử?” Vị công tử ngây người, chợt hiểu nguyên cớ, bật cười vang - nụ cười ngây thơ khôn tả khiến Tô Doanh đang căm ghét cũng mềm lòng, dù gì y cũng còn quá trẻ, mới chỉ là thiếu niên, có khi chẳng có lòng dạ gì xấu xa.

“À, xin lỗi, muội quên mất hôm nay đã mặc bộ y phục này... thư thư, đi cùng muội nhá?” Dứt tràng cười, công tử trẻ tuổi nháy mắt với Tô Doanh đang ngây người, khẽ phất mớ tóc mai: “Xem này, thư thư”.

Tô Doanh thấy cần cổ nàng ta trắng như tuyết, dưới dái tai có lỗ xâu, đeo một chiếc khuyên tai vàng đính bảo thạch.

“Muội là con gái... ban nãy đường đột quá”. Công tử trẻ tuổi cười tươi như hoa, cúi người sát đất: “Tiểu muội họ Hạ tên Phương Vận, tên chữ là Thiên Hương, năm nay mười sáu tuổi”.

Tô Doanh bị nàng ta đùa cợt đến quay cuồng, dở khóc dở cười nhìn thiếu nữ ăn mặc nam trang đang cười hớn hở, gò má trắng muốt hiện lên hai lúm đồng tiền. Nụ cười lộ ra phong tư phơi phới, thân phận con gái được thể hiện hết ra ngoài.

Hạ gia... Tô Doanh bất giác ngây người, lập tức nhớ đến Hạ gia chế tác chậu cảnh trong thành, cùng được xưng tụng Đoạt thiên công với Bách hoa Tằng gia. Hạ gia nhiều năm chuyên cung cấp chậu cảnh cho đại nội cấm cung, được bề trên yêu mến, nghiễm nhiên có tên trong hàng ngũ phủ đệ đạt quan quý nhân, cộng thêm gia cảnh giàu có, trở thành phú hộ nổi danh ở Lâm An.

Hạ Phương Vận lại kéo tay áo nàng, ngước nhìn màn mưa ngoài trời, tỏ vẻ nóng lòng: “Hôm nay muội ngấm ngầm mặc y phục này trốn nhà, vốn định đến Khúc Viện Phong Hà, nhưng đến đây lại lạc đường, trời cũng đổ mưa, không tìm được ai hỏi lối. Ôi, nếu hôm nay muội đến muộn, người ta chắc sẽ nổi giận”.

Tô Doanh mỉm cười, nữ hài tử này nói năng quá thẳng thắn, dốc hết gan ruột - kỳ thật nàng ta ăn mặc hoa lệ đi ra nơi hoang dã, vạn nhất gặp người xấu ắt không phải chuyện chơi.

Tính cách ngây thơ này... đích xác là tiểu thư khuê các nhà giàu.

Hạ Phương Vận líu lo nói cười, hai lúm đồng tiền lộ rõ, khả ái phi thường, chợt nhớ ra: “À, còn chưa hỏi tên thư thư”.

“Tôi họ Tô”. Tô Doanh giảm hẳn đề phòng với thiếu nữ ngây thơ, cười đáp: “Sống ở gần đây”.

“Thư thư xinh đẹp lắm”. Ánh mắt Hạ Phương Vận sáng lên, nhìn tấm áo vải bố màu lam của Tô Doanh, chợt lùi lại một bước, đưa tay áo che miệng ho khẽ, rồi mỉm cười xin lỗi.

Ánh mắt Tô Doanh chợt mờ hẳn, khóe môi lộ ra nụ cười. Ngày trước, tài phú địa vị của Thôi phủ ở Tuyền Châu không kém hơn Hạ gia ở Lâm An mà bây giờ nàng chỉ là người giặt thuê. Nữ tử này, từ tính cách đến gia thế giống nàng năm năm trước như tạc, ngay cả nụ cười cũng vậy.

“Được, Hạ cô nương, tôi đưa cô đến Khúc Viện Phong Hà, được chứ?” Nàng không muốn nói với Hạ Phương Vận nữa, quay nhìn màn mưa ngoài trời đang ngớt dần.

Ở nhà còn ba chậu quần áo lớn đợi nàng giặt, sớm mai người ta sẽ đến lấy, nói là muốn mừng thọ nên phải giặt thật sạch, bốn chậu lớn lấy mất đứt một ngày của nàng. Hôm nay lại mưa, e rằng không kịp.

“A, vẫn còn mưa... đợi thêm chút nữa, tạnh rồi chúng ta sẽ đi, được không?” Hạ Phương Vận tỏ vẻ bối rối, người như nàng chưa bao giờ biết mùi khổ ải.

Tô Doanh không nói gì, liếc vị tiểu thư nhà giàu: “Tôi phải về nhà giặt giũ, không thể chần chừ”.

Nàng không phải người hầu nhà họ Hạ, hà tất phải chiều Hạ Phương Vận? Nếu không vì thấy nàng ta ngây thơ khả ái, nàng thậm chí không buồn trả lời. Hiện giờ tuy sa sút những tính tình nàng vẫn thế, quyết không xu phụ người quyền thế.

Nghe nàng đối đáp lạnh nhạt, Hạ Phương Vận đỏ mặt, định nói nhưng lại bật lên tiếng ho, vội quay đi dùng ống tay áo che miệng ho hồi lâu, đến lúc gương mặt ửng hồng diễm lệ.

Thấy Hạ Phương Vận đỏ bừng mặt, Tô Doanh giật nảy người. “Đào hoa lao?” Nàng buột miệng hỏi, thần sắc tỏ vẻ không tin nổi.

Hạ Phương Vận ngoảnh đi ho hồi lâu, đợi khi hơi thở bình thường trở lại mới đối đáp với nàng, vẻ mặt vẫn tươi cười: “Đúng... mắc bệnh này đã hơn một năm rồi, muội thấy trừ ho đến vã mồ hôi ra không có gì bất thường, nhưng bọn lang băm lại bảo là bệnh nặng, kê ra cả toa thuốc thất đức, không cho muội ra ngoài - buồn chết được”.

Tô Doanh cúi đầu, không biết nên nói gì... Hạ Phương Vận ngây thơ xinh đẹp như thế mà mặc chứng bệnh này.

Đào hoa lao... năm xưa nàng từng trơ mắt nhìn mẫu thân mắc phải bệnh này, thử đủ mọi phương thuốc mà vẫn gập người ho cả ngày lẫn đêm, mất lúc mới hai mươi bảy tuổi.

Chả trách... mắc bệnh này, thầy thuốc đã dặn nàng ta không được nhiễm mưa.

Nàng chợt thấy tiếc thương xen lẫn thân thiết, đặt giỏ trúc xuống đất ngồi lên chiếc ghế xiêu vẹo trong đình, mỉm cười: “Mưa chắc sắp tạnh rồi, chúng ta đợi một chút rồi đi”.

Hạ Phương Vận tỏ vẻ bất an, mặt đỏ lựng: “Thư thư bận rộn, lại phải tốn thời gian vì muội, Thiên Hương thật không dám nhận. Thế này đi”. Nàng ngẫm nghĩ rồi thò tay vào ống tay áo, lấy ra một chiếc vòng phỉ thúy bịt vàng đặt vào tay Tô Doanh: “Vật này xin tặng cho thư thư, mong thư thư đừng chê”.

Tô Doanh xuất thân nhà giàu mà thấy nàng ta phóng tay như vậy cũng hơi ngây người, chiếc vòng này giá trị không dưới ngàn lạng mà nàng ta nói tặng là tặng ngay, hết sức thản nhiên, nếu không phải người nhà chiều chuộng nàng ta, hẳn cô bé này không mảy may có quan niệm về tiền bạc.

“Không cần đâu, chỉ là giúp đỡ sơ sơ thôi mà”. Nàng mỉm cười, trả chiếc vòng lại.

Hạ Phương Vận định nói chợt cảm giác lồng ngực khó chịu, quay đi ho nhưng không kịp.

Tô Doanh bỗng nhiên thấy mùi máu phả lên mặt.

Chỉ trong thoáng chốc, vị thiên kim tiểu thư của Hạ gia này ho ba lần, xem ra bệnh tình không nhẹ, đáng giận là người nhà không trông coi cẩn thận, để nàng ta ra ngoài.

Những dù mắc bệnh, nữ hài tử đơn thuần này vẫn không hề sợ hãi, cười trong veo... sao... sao lại ngây thơ đến thế được nhỉ?

Tô Doanh chợt mỉm cười chua xót, nắm chặt tay Hạ Phương Vận, kéo vào lòng, khe khẽ vỗ lên tấm lưng đang phập phồng vì ho.

Nàng mới hai mươi ba tuổi nhưng lúc này cúi nhìn thiếu nữ mười sáu tuổi như người mẹ hiền nhìn con gái.

Trong nháy mắt, nàng có cảm giác mình đang ôm chính mình ở tuổi hoa niên.

Đến Khúc Viện Phong Hà, trời vẫn lây rây mưa, tuy nhiên Hạ Phương Vận không hề bị ướt, Tô Doanh lấy một tấm áo choàng vừa giặt sạch mắc lên sào trúc thành lọng che cho nàng ta.

“Thư thư, đến đây muội biết đường rồi... thư.. thư không cần đưa nữa, phía trước có người đang đợi muội”. Trước mặt là hồ nước mênh mang khói sóng, Hạ Phương Vận chợt dừng chân, cúi đầu mỉm cười, ánh mắt nhìn chăm chăm vào mặt hồ.

Tô Doanh đổi giỏ trúc sang tay kia, lúc lắc bàn tay đỏ ửng đáo: “Không sao, đến đây rồi, để tôi đưa cô nương đến nơi đến chốn”.

Nàng tiếp tục đi thêm mấy bước mới nhận ra Hạ Phương Vận không theo chân, ngoái lại nhìn mới thấy nàng ta đang cầm lọng đứng trong bãi cỏ, lần đầu tiên vẻ mặt tỏ ra ngượng ngừng, xen lẫn gấp rút, phảng phất không biết nói gì, chỉ cười chúm chím.

Nàng chợt hiểu ra, cười nhăn nhó, hình như mình hơi nhiều chuyện, thiên kim nhà giàu này giả nam trang đến đây không phải du sơn ngoạn thủy, chắc định gặp tình lang?

Không hiểu sao, lòng nàng chìm hẳn xuống.

Giống quá... nữ hài tử này vì sao lại giống nàng lúc xưa đến thế?

“Được, tôi quay lại vậy, từ đây men theo hồ nửa dặm về phía nam sẽ đến Khúc Viện Phong Hà”. Nàng thầm thở dài, mỗi người có con đường riêng của mình, người khác làm sao can thiệp đến cùng được?

“Ồ”. Hạ Phương Vận đáp, gần như nhảy chân sáo tới, cởi tấm áo bố trả cho nàng rồi nói với vẻ chân tâm thành ý: “Thư thư, hôm nay không có thư thư, chắc muội đã lạc đường”.

Đôi mi nàng ta hấp háy, mắt nheo lại đầy ngọt ngào.

“Cô nương... phải cẩn thận”. Bất giác Tô Doanh buột miệng dặn dò, Hạ Phương Vận lại nhảy chân sáo, chợt quay đầu lại giữa màn mưa bụi lất phất, mỉm cười: “Thư thư, hôm khác muội sẽ đến nhà bái phỏng”.

Tô Doanh chỉ biết cười buồn, gật đầu cho phải phép, cũng không coi lời vị thiên kim tiểu thư kia là thật.

Nhưng Hạ Phương Vận lại dừng chân hỏi: “À, nhà thư thư ở đâu?”

Thấy nàng ta nhìn mình không chớp đầy hy vọng, Tô Doanh thở dài cười đáp: “Từ ngôi đình ban nãy đi về phía bắc, đến khúc quanh của Bạch Sa tuyền, nhà tôi dưới gốc cây ô cữu [1]”

“Được, lần sau muội sẽ đến thăm”. Hạ Phương Vận mỉm cười, rồi xòe cây chiết phiến trong tay, ra vẻ phong lưu tiêu sái, cúi người chào: “Thư thư, tiểu sinh cáo từ”.

Đoạn khuất bóng vào con đường mòn.

* * * * *

Dưới ánh đèn mờ mờ, Tô Doanh giặt xong chậu quần áo thứ ba, chợt nghe dưới gốc cây trước nhà vang lên tiếng vó ngựa. Nàng biết Tống Vũ quay về nhưng không có ý đứng dậy đón hắn.

“Doanh nhi, ta về rồi”. Tiếng đẩy cửa kèn kẹt, gió lùa vào kéo theo mùi thơm thoang thoảng, Tống Vũ bước vào, tựa hồ hôm nay hắn vui vẻ, thấy nàng không ra đón cũng không sầm mặt mắng mỏ.

Tô Doanh nhấc tay khỏi làn nước, gạt mấy sợi tóc xòa ngang trán, lặng lẽ nhìn hắn: áo quần thẳng thớm, gương mặt tuấn tú có phần đắc ý, không hiểu hôm nay đến nhà nào chơi bời mà lúc về chí đắc ý mãn, không mở mồm ra là oán hận có tài mà không gặp thời.

“Cơm trong bát còn nóng”. Nàng thở dài, nhấc bàn tay phồng rộp khỏi làn nước, lau vào áo, dù sao hắn cũng là chồng nàng, dù hắn thường rời nhà chơi rong nhưng mỗi lần hắn về đều có cơm nóng canh ngọt đợi sẵn.

Bất kể thế nào, hắn cũng là nam tử năm xưa nàng một lòng đi theo.

Tống Vũ khệnh khạng ngồi xuống cạnh chiếc bàn bát tiên, không buồn động cả ngón tay, đợi nàng bày biện thức ăn ra mới tỏ vẻ oán trách: “Sao lại đạm bạc thế này? Nàng là tiểu thư mà nấu ăn chẳng ra gì. Tống Tình Hồ ta vì nàng sa vào hoàn cảnh này, thật sự thảm quá”.

Vừa nói, hắn vừa cầm đũa gắp miếng măng hầm thịt lên nhai rau ráu.

Tô Doanh không đáp, lại ngồi xuống, cầm chày giặt tiếp tục công việc.

Nàng không muốn nghĩ nữa, mỗi ngày hắn đều rong chơi rồi về nhà ăn đẫy bụng, chưa từng mang nổi một xu về nhà, không hiểu sao nàng chịu đựng nổi đến giờ? Từ vị trí trưởng nữ Thôi gia giàu có, nàng sa sút thành người giặt thuê, thậm chí phải đêm hôm làm lụng nuôi hắn - thật ra ai nợ ai?

Nàng không nói gì, theo hắn hơn ba năm, trải qua quá nhiều sóng gió, lòng nàng đã nhạt, không còn hờn giận như thủa mới quen, nhiều lúc thậm chí nàng không còn cả sức lực trách móc hắn.

“Sao vậy, nàng không ăn hả?” Ăn một lúc, Tống Vũ mới phát giác thê tử không ăn, tỏ vẻ kinh ngạc cúi xuống hỏi. Dưới ánh đèn mờ mờ, chỉ có tiếng chày giặt vang lên rõ rệt, Tô Doanh đưa tay áo lau mồ hôi, thản nhiên đáp: “Thiếp uống mấy ngụm nước cơm rồi, số y phục này phải giặt xong trước sáng mai, sợ rằng không kịp”.

“Ài...” Thấy bàn tay thê tử cầm chày nổi từng vệt đỏ, Tống Vũ lau miệng, thở dài: “Doanh nhi, không ngờ Tống Vũ ta đầy bụng thi thư mà sa vào cảnh này”.

Tô Doanh dừng tay, liếc hắn, dịu dàng nói: “Tình Hồ, khoa cử năm nay, chàng nhất định phải đỗ cao”.

Nghe thê tử an ủi, bất giác Tống Vũ lại thấy nóng lòng, quăng đũa, phẫn hận rít lên: “Nữ tử vô tri, nàng không biết thời thế ra sao chăng! Nhũng nhiễu đảo điên, đâu đâu cũng thấy người ta đưa thiếp bái sư thỉnh cầu tiến cử, mấy kẻ dựa vào chân tài thực học đi thi? Kẻ sa sút như ta, tìm đâu ra chỗ dựa?”

Tô Doanh buông chày giặt xuống, thở dài: “Tình Hồ, bằng tài học của chàng, không cần luồn lọt cũng có ngày vươn lên. Lần này không trúng vẫn có thể đợi lần sau, thiếp không tin trên đời vĩnh viễn bất công”.

“Nhưng ta không thể đợi nữa”. Tống Vũ càng nóng nảy, đi đi lại lại, nhìn ánh đèn mờ mịt trong phòng soi lên chiếc bóng đen sầm chao chát trên tường: “Những kẻ đồng niên cùng thi cử với ta năm xưa hiện tại đều là quan tước. Tống Vũ ta tài hoa hơn hẳn chúng lại phải đổi tên lang bạt giang hồ, sống tạm bợ qua ngày”.

Tô Doanh thấy hắn nóng nảy, thoáng đau lòng nhưng trong mắt vẫn lạnh lùng - hắn lại nhắc đến chuyện này.

Mấy năm nay, mỗi lần thất chí, hắn lại nhắc đến chuyện phải đổi tên trốn đi cùng nàng, cơ hồ muốn ngầm nhắc nàng hắn đã phải hy sinh đến thế nào.

Ngày xưa, thật ra vì sao nàng lại bất chấp tất cả để cùng hắn trốn từ Tuyền Châu đến Lâm An? Có lẽ tất cả chỉ tầm thường như câu chuyện lưng ngựa nóc tường.

Thiếp trèo tường hái trái mơ xanh

Chàng ruổi ngựa qua, liễu buông mành

Nóc tường lưng ngựa cùng dõi mắt

Thiếp biết lòng chàng nhuốm điêu linh.

Chàng nát cõi lòng thiếp cũng đau

Núi nam tùng bách héo âu sầu

Hiểu thấu chân tình người quân tử

Kết tóc tiễn chàng cất bước mau.

Rồi cả hai được Bạch cô nương giúp đỡ chạy khỏi Tuyền Châu đến Lâm An, nghe ngóng tin tức mới biết, vì nàng bỏ đi khiến cha mẹ nổi giận, nói với người ngoài rằng nàng đã chết, đem quan tài không chôn “Thôi Doanh” xuống ba tấc đất đen.

Từ đó, nàng không còn là thiên kim tiểu thư, trở thành một dân phụ bình phàm vất vả kiếm kế sinh nhai... Thoáng cái đã ba năm, nàng cũng không hiểu vì sao từ mộng đẹp bị kéo về hiện thực mà mình chịu nổi ngần ấy năm?

Bạch cô nương không đoán sai, nàng phải đối diện với đời sống khác hẳn những tưởng tượng phơi phới lúc còn được bao bọc trong phòng khuê nhung lụa.

Lúc còn ở Tuyền Châu, ngẫu nhiên nàng đến hiệu mua một chậu hoa, không hiểu vì cớ gì lại trò chuyện với chủ nhân thần bí của cửa hiệu. Nữ tử có con chim anh vũ trắng đậu trên vai đó, đứng lẫn trong hoa cỏ nghe nàng kể chuyện muốn trốn đi cùng tình lang, từng lạnh lùng cảnh cáo nàng về cảnh ngộ hiện thời - quả thật không mảy may sai lạc.

Nàng khẽ thở dài, tiếp tục vung chày giặt.

Bạch Loa cô nương tuy nói đúng nhưng vẫn sai một điểm, đến giờ nàng chưa từng oán hận tình cảnh này, vẫn ở cạnh Tình Hồ, dù nghèo nhưng mối quan hệ giữa hai người không kết thúc trong oán hận.

“Nghỉ sớm đi, chàng mau tắt đèn, đừng phí dầu, thiếp giặt dưới ánh trăng cũng được”. Nàng thấy cơn giận của chồng từ từ xẹp đi, ủ rũ ngồi xuống bèn mỉm cười, dịu dàng khuyên.

Tống Vũ ngây người, phảng phất bị lời nói của thê tử dấy lên cảm khái, ngần ngừ một lúc rồi đến sau lưng Tô Doanh, nắm lấy vai. Nàng nhắm mắt, tựa vào hắn, tạm thời rũ hết lo toan, khóe môi nở nụ cười. Có lúc Tình Hồ cực kỳ biết thông cảm, mỗi lần như thế, nàng đều cho rằng quyết định khi xưa đúng đắn.

Tống Vũ ôm vai thê tử, mục quang biến đổi liên tục, sau cùng móc ra một vật: “À, Doanh nhi, ta biết nàng vất vả, xem ta mua gì cho nàng này?”

“Nhà ta còn nghèo, chàng mua làm gì?” Tô Doanh trách yêu, mắt hiện rõ niềm vui.

Nhưng thấy vật trong tay hắn, nụ cười cứng lại - một chiếc vòng phỉ thủy bịt vàng đang phát sáng giữa bàn tay.

“Chàng lấy đâu ra?” Nàng buột miệng, biến sắc hẳn.

Tống Vũ vốn tưởng nàng sẽ vui mừng cầm lấy ngắm nghía, không ngờ thê tử phản ứng như thế, lạnh lùng trách hỏi, bèn sầm mặt: “Ta mua đó, sao hả?”

Tô Doanh nhìn chiếc vòng tay đính kim cương, tỏ vẻ kinh ngạc: “Vật quý thế này, chàng lấy đâu ra tiền mua?”

Tống Vũ biến sắc, thu chiếc vòng lại, cười lạnh: “Doanh nhi, nàng thấy ta thế này, cho rằng ta không mua nổi vật gì chăng? Nàng đã không thích, ta hà cớ phải vất vả tìm lời chê trách”.

Y buông một câu nhạt thếch: “Ta ngủ đây”. Rồi không buồn thổi đèn, trèo ngay lên giường.

Tô Doanh quên cả ngọn đèn, ngây người nhìn ngọn lửa, chiếc vòng đó sao lại giống của Hạ Phương Vận đến thế? Lẽ nào....

“Bộp”, chày rơi xuống chậu, nước bắn tung tóe, lập tức đánh thức nàng. Không phải đâu... cửa hiệu trang sức nào chẳng có nhiều đồ như thế, nhất định chỉ là xảo hợp.

Nàng quay người thổi tắt ngọn đèn dầu, cầm chày lên - ngày mai phải giao đống y phục chất cao như núi này, vất vả kiếm sống khiến nàng không còn thời gian suy nghĩ vẩn vơ nữa.

Nhưng lúc nàng giặt dưới ánh trăng, mặt nước lại ánh xạ lên nụ cười ngây thơ của cô bé nhà họ Hạ, cũng như nàng ngày xưa.

Như nàng mấy năm trước. Ngây ra một hồi, sắc mặt nàng nhợt đi.

* * * * *

Hôm sau, Tô Doanh chật vật mới giặt xong số quần áo, cảm giác lưng muốn gãy rời.

Trong nhà trống trải, Tống Vũ tựa hồ còn giận, ban nãy lặng lẽ rời nhà, vẫn như mọi ngày, không hiểu đến đâu chơi bời tận tối mới về.

Nàng nằm xuống giường, định nghỉ một chốc nhưng không hiểu sao cảm giác bất an càng lúc càng rõ, mỗi lần nhắm mắt, hình ảnh thiếu nữ đeo vòng tay phỉ thúy bịt vàng lại hiện lên nhấp nháy trước mắt, nụ cười phảng phất biến thành bản thân nàng mấy năm trước.

Chợt nàng bật dậy, toàn thân đổ mồ hôi lạnh.

Lúc ra bờ Bạch Sa tuyền, nàng lại gặp thiếu nữ Hạ gia.

Nàng ta vẫn mặc nam trang, cầm chiết phiến theo con đường mòn đi về phía Khúc Viện Phong Hà, mặt mày hớn hở, vừa đi vừa nhảy chân sáo, tựa hồ đang khe khẽ hát.

Tô Doanh đứng trong ngôi đình nhìn nàng ta tiến tới, trong lòng cảm xúc giao nhau. Nàng ta chỉ nhỏ hơn bảy tuổi mà nàng có cảm giác nàng ta là con gái mình.

“Hạ cô nương”. Nàng chợt buột miệng gọi.

Hạ Phương Vận quay lại, thấy nàng đứng trong đình liền mỉm cười, mắt sáng lên, chạy tới nắm tay nàng: “Chà, Tô thư thư! Thư thư...” Nàng ta nhìn xuống, không thấy giỏ liền cười: “Hôm nay thư thư không phải giặt đồ sao? Ở đây đợi muội?”

Tô Doanh ngây người, nha đầu này quả tinh tế thông minh, trong lòng nàng thầm thở dài, gật đầu: “Đúng, tôi đợi cô nương, bệnh đỡ chưa? Cô nương nên phải tiếp tục uống thuốc, bằng không bệnh khó khỏi lắm”.

“A, muội ghét thuốc lắm. Bọn lang băm nghĩ ra phương thuốc quái quỷ đó không biết độc ác đến thế nào”. Hạ Phương Vận bĩu môi tức giận, lại kéo tay Tô Doanh, sắc mặt ảm đạm hẳn: “Thư thư, đừng giặt đồ nữa tay thư thư... sắp nứt toác rồi”.

Trước tình cảm ngây thơ của nàng ta, Tô Doanh chợt hổ thẹn vì suy đoán trong lòng, cố nén xúc động nói ra những lời đã tính trước: “Đúng vậy, thư thư thiếu tiền, lẽ ra hôm nọ không nên thanh cao.... Chiếc vòng tay vàng đó, thư thư vẫn muốn lấy...”

Nàng chợt nhỏ giọng hẳn, quả thật không dễ nói tiếp.

Hạ Phương Vận ngây người, mãi mới hiểu ý, sắc mặt tỏ vẻ ngượng nghịu, buông tay ra. Tô Doanh mỉm cười, sắc mặt cũng hơi lúng túng.

Hạ Phương Vận thò tay vào ống tay áo, chợt đỏ ửng mặt, lý nhí: “Ngại quá, hiện tại muội không cởi được vòng. Tô thư thư, vòng... tay đó, muội đã cho người ta rồi”.

Tô Doanh sững người, phảng phất bị người ta đánh mạnh vào trái tim, băng tuyết dâng lên khiến toàn thân lạnh ngắt.“Cô... cô nương nói gì, cho người ta rồi? Thật sự cho người ta? Cô... cô nương cho người ta thật ư?” Nàng nắm tay Hạ Phương Vận, đầu óc mông lung, truy hỏi gắt gao.

Hạ Phương Vận giật mình, liên tục gật đầu: “Cho rồi, cho thật rồi mà! Hôm qua muội đã tặng Tống lang”.

Tống lang? Tống lang!

Cảm giác được bàn tay đối phương ngày càng xiết chặt, Hạ gia tiểu thư gần như đau đớn phát khóc, kinh hoảng nhìn Tô Doanh mặt mũi nhợt nhạt, phát giác ánh mắt nàng sáng lên rợn người.

Nàng ta run lên, ấp úng: “Thư thư, thư thư bỏ muội ra... muội tặng thư thư hoa tai được không? Giá trị cũng như vòng tay! Khụ khụ, thư thư... định làm gì? Khụ khụ”.

Vừa khẩn trương, Hạ Phương Vận liền ho sù sụ, sắc mặt hồng lên, cố giãy ra, nhưng tay Tô Doanh như mọc rễ, nhãn tình thất thần nhìn nàng ta, phảng phất linh hồn cũng bay mất.

Hồi lâu Tô Doanh mới nhận ra mình thất thái, dọa Hạ Phương Vận hoảng sợ, vội buông tay cười khổ, vuốt nếp áo cho nàng ta: “A, không phải đâu, Hạ cô nương hiểu lầm rồi...”

Nàng ngừng lời, phát giác Hạ Phương Vận nhìn mình kinh hãi, chắc nàng ta cho rằng nàng là nữ cường nhân cướp bóc tiền tài, đành cười nhăn nhó, nghĩ ra được một cách giải thích: “Kỳ thật chiếc vòng đó giống hệt chiếc của mẹ tôi đeo trước kia. Mẹ tôi chết rồi, không để lại gì... vì thế thấy nó tôi mới...”

“A... biết vậy muội không cho người ta”. Hạ Phương Vận hiểu ra, liền giậm chân: “Thư thư đừng đau lòng, muội quay về sẽ bảo cha... khụ khụ, bảo cha làm thêm một chiếc y như thế”.

“Không cần đâu. Dù sao đó cũng không phải là di vật của mẹ tôi”. Tô Doanh buồn bã, vốn định đưa tay áo lên che nước mắt, nhưng không hiểu sao, lệ vẫn tuôn trào: “Có nhiều thứ bề ngoài giống nhau nhưng bên trong khác hẳn”.

Nói đến câu sau cùng, nàng khóc không thành tiếng, bao nhiêu uất ức, phẫn hận, cay đắng trong mấy năm dâng lên khiến nàng run rẩy.

“Thư thư, thư thư”. Hạ Phương Vận lại ngây người, thấy Tô Doanh thương tâm như vậy, mắt cũng đỏ theo, kéo tay áo nàng: “Đừng khóc nữa... đừng đau lòng. Muội... sẽ đòi chàng chiếc vòng đó, được không? Muội sẽ tặng thư thư... đừng đau lòng nữa”.

Tô Doanh chợt dừng lại, ngẩng lên nhìn nàng ta - nàng không thể hận thiếu nữ chưa hiểu sự đời này. Nàng ta thiện lương, ngây thơ, xưa nay nào có ý nghĩ hại ai.

“Không cần, ngàn vạn đừng đòi về...” Nàng hơi kinh hãi, nắm tay Hạ Phương Vận kéo lại, run giọng: “Cô nương không nên đi gặp hắn! Không thể. Hắn, hắn sẽ hại cô nương”.

“Vì sao?” Hạ Phương Vận kinh ngạc, chợt lùi lại, trừng mắt nhìn nàng, sắc mặt nghiêm túc hẳn: “Thư thư không nên tùy tiện nói xấu người khác. Tống lang... Tống lang tốt lắm. Chàng không bao giờ hại muội”. Tâm tình vừa kích động, nàng ta lại gập người ho, sắc hồng trên mặt vừa tan đi lại ửng lên.

Nữ hài tử này... sinh mệnh đang chập chờn, nhưng vẫn giữ gìn niềm tin vào chân thiện mỹ của cuộc đời.

Tình Hồ, Tình Hồ... Chàng định lặp lại sai lầm ư? Tàn nhẫn quá.

“Muội không nói với thư thư nữa. Chần chừ lâu quá, Tống lang chắc nóng lòng lắm, muội đi đây”. Nghe người khác phê bình người trong lòng, nữ hài thiện lương hiển nhiên nổi giận, giậm chân cất bước, không nhìn đến Tô Doanh: “Thư thư... sau này đừng tùy tiện nói ra những lời đó. Muội ghét những người nói xấu Tống lang”.

Tô Doanh ngồi trong ngôi đình nhìn bóng dáng thiếu nữ ngây thơ dần xa khuất, cảm giác tâm lực mệt mỏi, vùi mặt vào hai bàn tay, nước mặt theo kẽ tay nhỏ xuống.

Nàng không ngờ rằng kết quả lại thế này...

* * * * *

“Phu thê nghèo khó trăm sự khổ. Tô cô nương, không phải tôi độc miệng, chỉ là tôi thấy Tống công tử e không thể sống đến lúc bạc đầu với cô nương... đến cuối lại là oán hận”. Ngày đó vị nữ chủ nhân Hoa Kính từng bình đạm khuyên nàng như thế.

Nàng mới mười bảy tuổi, lập tức nổi giận: “Bạch cô nương, cô không nên tùy tiện nói xấu người khác. Cô nương mới gặp mặt Tình Hồ, sao lại nói lăng nhăng rằng chúng tôi sẽ trở thành oan gia?”

Nữ tử có nốt ruồi như giọt lệ chực rơi xuống trên khóe mắt chỉ thở dài mỉm cười, đứng giữa vùng hoa cỏ: “Có lúc, nhìn một người chỉ cần một lần là đủ”.

Một câu thành lời phán.

Thiếu nữ tên Bạch Loa đó thật ra có phải là tinh quái trên trời? Vì sao còn trẻ thế mà nhãn quang đã sắc bén đến vậy... Bốn năm sau trải qua vô vàn khổ ải, dày vò nàng mới nhận ra mặt trái của Tình Hồ. Cũng những lời ấy, nàng nói với một thiếu nữ khác, lại khiến nàng ta tức giận bỏ đi.

Tô Doanh lau sạch nước mắt dính trên tay vào áo, cắn môi cười thảm: có lẽ Bạch cô nương đoán đều đúng, trừ một điều, nàng không hận Tình Hồ, vĩnh viễn không hận. Trong lòng nàng vẫn yêu hắn, vẫn coi hắn là chồng nên không thể hận hắn.

Nhưng thiếu nữ mỹ lệ thuần chân nhà họ Hạ này... không thể để hắn làm đau lòng nàng ta.

Xưa nay nàng vẫn chịu đựng. Tình Hồ không lo cho gia đình, cả ngày lang thang bên ngoài tán gẫu, chè chén, lúc về nhà lại nói với nàng là hắn đi mưu cầu hoạn lộ nhưng nàng vẫn là người vợ hiền lương, chưa từng nửa lời oán than hay châm chọc.

Nhưng còn với Hạ Phương Vận... Tình Hồ, chàng quá lắm rồi.

Nàng chợt đứng phắt dậy.

* * * * *

Lúc về nhà, bất ngờ thấy Tống Vũ đang có mặt, sắc mặt tỏ ra nóng ruột, hiển nhiên gặp phải việc không như ý. Tô Doanh lạnh lùng nhìn hắn, biết hắn đến Khúc Viện Phong Hà đợi hồi lâu không thấy người mới quay về.

Tính tình hắn nóng nảy, kiêu ngạo.

Đang lúc không vui nên thấy thê tử về nhà, hắn cũng không buồn ngẩng lên.

“Đưa chiếc vòng tay cho thiếp”. Hắn không ngẩng lên nhưng Tô Doanh tự động đến trước mặt hắn, thò tay ra.

Hắn sửng sốt, thê tử xưa nay đoan trang, dù nghèo cũng thanh cao, hành động này khiến hắn không ngờ, ngẩng lên cười lạnh lùng: “Thế nào, cũng cần vật đó sao?”

Tô Doanh nhìn hắn chằm chằm, từ từ nói từng chữ: “Đưa cho thiếp - để thiếp trả lại Hạ gia tiểu thư”.

Giọng nàng bình thản nhưng Tống Vũ lại biến sắc, cơ hồ nhảy dựng lên. Sao Doanh nhi lại biết? Không phải mỗi ngày nàng đều bận đến nỗi không có thời gian ăn cơm sao? Hà cớ nàng lại biết... hắn làm gì bên ngoài? Sắc mặt hắn đỏ lựng, nhìn vợ với vẻ kinh hoảng.

“Đưa cho thiếp”. Sắc mặt Tô Doanh cũng nhợt đi, dáng vẻ vẫn bình tĩnh kinh người, đưa tay ra: “Thiếp sẽ trả chiếc vòng cho Hạ Phương Vận, mấy hôm nữa chúng ta chuyển đến phủ Đài Châu ở, chàng không cần nói gì cả”.

Tống Vũ lấy chiếc vòng ra, thấy vợ bình tĩnh như vậy, thầm thở phào một hơi, lau mồ hôi tuôn ướt trán, dù gì con gái nhà giàu cũng biết hàm dưỡng, hắn chỉ sợ nàng khóc lóc ầm ĩ, thậm chí để tin này lan ra ngoài... Thôi gia ở Tuyền Châu hận hắn dẫn con gái trốn đi, chỉ sợ đến hôm nay vẫn không chịu bỏ qua.

Hắn đưa chiếc vòng tới, Tô Doanh lặng lẽ đón lấy, ngắm nghía hồi lâu, chợt nhạt nhẽo nói: “Tình Hồ, chúng ta ăn cơm”. Nàng quay người vào nhà, như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Tống Vũ thấp thỏm đi theo, thầm đoán suy nghĩ của vợ, hình như nàng không nổi giận, đâm ra gan dạ hẳn, rụt rè lên tiếng: “Doanh nhi, nàng đừng giận. Ta... lý nào lại thích nha đầu đó? Ả có biết gì, so với nàng thế nào được...”

Hắn vốn định nói mấy câu nịnh vợ, không ngờ Tô Doanh quay phắt lại, nhãn tình như đao sắc quét qua mặt hắn, lạnh lùng thốt: “Không biết gì nên càng dễ dụ dỗ, đúng không?”

Tống Vũ thấy sắc mặt nàng trầm xuống, biết nàng nổi giận, liền hoảng sợ. Ba năm nay, tuy lưu lạc khốn đốn, chưa bao giờ hắn thấy nàng oán hận, hiển nhiên lần này đã chạm đến nỗi niềm của nàng.

“Doanh nhi, nàng đừng giận! Ả tự đưa chân vào, ta... ta chỉ...” Hắn định cực lực rũ thoát can hệ, nhưng càng nghĩ càng uất ức, liền nổi giận: “Nàng xem. Mấy năm nay chúng ta sống thế nào! Cứ khổ thế này bao giờ chúng ta mới ngẩng mặt được? Ta không chịu nổi... nàng cũng phải chịu khổ mà. Hạ gia họ có tiền có thế”.

Hắn định nói nữa nhưng thấy sắc mặt Tô Doanh trắng nhợt nhạt, bất giác run rẩy.

“Hay, hay lắm... hóa ra chàng không yêu nàng ta”. Tô Doanh hoang mang chống tay xuống bàn, phảng phất không còn cả khí lực đứng vững, lẩm bẩm: “Hóa ra chàng dẫn dụ nàng ta nhưng không yêu thương”.

Tống Vũ vội gật đầu, cầm tay nàng: “Doanh nhi, ta quyết không hai lòng với nàng. Nha đầu nhãi ranh đó không có đầu óc, so với nàng thế nào được? Nàng không biết đâu, nha đầu đó mắc bệnh lao, chắc không sống được mấy nỗi nữa...” Hắn dừng lại, cẩn thận quan sát thần sắc thê tử, thấy nàng không đáp, ánh mắt trống rỗng nhìn khoảng không trước mặt với vẻ hoang mang.

Hắn lấy lại dũng khí, sau cùng cũng nói ra suy nghĩ trong lòng: “Ta, ta... kỳ thật chỉ muốn vào nhà họ, với tài thế của họ thì ta đi thi có thành vấn đề gì?.... Thiên Hương bất quá sống thêm được nửa năm, Doanh nhi, nàng có thể... có thể nhẫn nhịn cơn giận nhất thời, đợi ả chết rồi thì phần gia sản đó...”

“Hay lắm... Tình Hồ, chàng tính toán hay lắm”. Bất chợt, Tô Doanh lên tiếng, giọng nói phiêu diêu như từ xa xăm vọng về khiến hắn giật nảy mình.

Nhưng nàng không tỏ vẻ phẫn nộ, chỉ với nụ cười nửa miệng nhìn chồng đang nói ướt đẫm mồ hôi khắp mặt, khẽ thở dài gật đầu: “Chàng tính toán hay lắm”.

Tống Vũ thở phào, đến gần nắm lấy vai thê tử: “Doanh nhi, ta cũng chỉ muốn tương lai chúng ta tốt đẹp hơn...”

“Năm xưa cùng thiếp trốn đi, vốn chàng cho rằng Thôi gia không nỡ bỏ đứa con gái duy nhất, đành chấp nhận hôn sự, đúng không?” Bất chợt Tô Doanh ngẩng lên, lạnh lùng hỏi hắn, “chàng cho rằng lấy được thiếp sẽ lấy được gia sản của Thôi gia, đúng không? Chàng không ngờ cha mẹ quyết liệt như vậy, lại rũ bỏ đứa con gái không biết tốt xấu này... tính toán của chàng thành công cốc, đúng không?”

Nghi vấn vẫn đeo đẳng trong lòng nhưng không dám hỏi, hôm nay được chứng thực, nàng hỏi liền một hơi, ánh mắt sáng lên lạnh người, chợt vung tay, cho chồng một bạt tai thật mạnh.

“Chát”. Trên mặt Tống Vũ nổi rõ năm dấu đỏ, bị cơn giận của người vợ ôn thuận chấn nhiếp, ngây ngô nhìn nàng, mặt thoạt đỏ thoạt trắng.

“Tống Tình Hồ! Chàng hại thiếp còn chưa đủ sao? Còn định nhằm vào nữ hài chưa hiểu sự đời của Hạ gia... Nàng ta còn trẻ, mắc chứng bệnh đó vốn đã số khổ, không ngờ... không ngờ còn gặp phải loại người như chàng”. Ánh mắt Tô Doanh sắc lẹm như chủy thủ, cơ hồ móc tim chồng ra, rít lên chói tai. Kỳ quái, trong thời khắc đó, nàng đau lòng cho nữ hài tử đó hơn tất cả.

“Nếu chàng yêu nàng ta, thiếp còn nhẫn nhịn được... coi như thiếp chấp nhận số mệnh. Nhưng...” Nàng dừng lời, ngón tay gần như cắm vào bàn, hít một hơi rồi đưa mắt nhìn nam tử nàng phó thác cả đời: “Nhưng chàng muốn hại nàng ta! Quá, quá ti tiện... thiếp cho chàng biết, thiếp quyết không để chàng đắc chí, thiếp sẽ cho Hạ gia biết chàng thật ra là loại người nào”.

Sau cùng Tống Vũ cũng tỉnh lại, mặt nóng bừng, dấu tay hằn trên má hình như thổi bùng lên lửa giận trong lòng, gầm vang lật tay tát Tô Doanh: “Tiện nhân, ngươi dám hả? Phải để ngươi nhận rõ mình là loại đồ chơi nào, ngươi tưởng ta đường hoàng cưới ngươi về sao? Chúng ta bái đường chưa? Ngươi bước chân vào nhà ta rồi sao?”

Gương mặt khốn kiếp cuối cùng đã bộc lộ.

Hắn tóm lấy tóc nàng, dụng lực tát thật mạnh khiến miệng nàng chảy máu mới dừng: “Tiện nhân, không đánh không được. Cưới là vợ, theo là thiếp, biết chưa hả? Căn bản ngươi không xứng là thiếp, dựa vào đâu đòi quản ta? Giờ ta sẽ đi cưới con nhóc đoản mệnh nhà họ Hạ, ngươi làm gì được?”

Thân thể gầy gò của Tô Doanh loạng choạng, đầu đập vào chậu giặt chảy máu. Nàng hao hết sức lực kiếm sống, thậm chí không có sức hoàn thủ quyền cước của chống. Trong khoảnh khắc đó, nàng hiểu rằng bạch y nữ tử thần bí nói không sai, nàng hận hắn. Cuối cùng nàng cũng hận hắn thấu cốt.

“Đừng lằng nhằng. Có tin lão tử đánh chết tiện nhân ngươi?” Hắn cầm tóc nàng đập vào tường, khiến nàng thét lên đau đớn.

Hắn cười lạnh, giật chiếc vòng phỉ thúy, phất tay áo, nghênh ngang bỏ đi. Nam tử này bề ngoài phong lưu tiêu sái xiết bao, không phải năm xưa nàng gặp hắn, từng bị lời lẽ phong lưu văn nhã mê hoặc ư? Nhưng ai ngờ sau lớp áo lại là cầm thú.

Hắn định hại người, định hại một nữ hài tử mới mười sáu tuổi.

Nàng bò dậy, phẫn nộ đến cực điểm. Nữ tử ngây thơ như Hạ Phương Vận sao có thể sa vào tay quân cầm thú này.

Thấy hắn đắc ý dương dương đi về hướng Khúc Viện Phong Hà, nàng dốc sức bò đến bên chậu gỗ đứng dậy, chợt tay chạm vào một vật cứng, cúi xuống nhìn, hóa ra là chày đá nàng thường dùng để giặt quần áo.

* * * * *

Hoàng hôn.

Kẹt một tiếng, cánh cửa gỗ ngoài tiểu viện bị đẩy ra, một cái đầu thò vào nhìn quanh quất, thấy cây ô cữu cổ thụ, hình như xác định rõ ràng mới thè lưỡi. Thanh niên đến thăm khẽ đẩy cửa tiến vào khoảng sân trống trải.

“Tô thư thư! Tô thư thư! Thư thư có nhà không?” Kinh ngạc trước tiểu viện phồn hoa mỹ lệ, lại nghĩ đến vị nữ chủ nhân xinh đẹp, thiếu nữ mặc nam trang gọi mấy tiếng.

Không ai trả lời, Hạ Phương Vận đi thêm mấy bước, gõ cửa căn nhà nhỏ: “Thư thư có nhà không? Muội đến xin lỗi. Sáng qua muội nóng giận mới nói linh tinh, thư thư đừng để tâm... thư thư, thư thư”.

Vẫn không có ai đáp lời.

Hạ Phương Vận thất vọng thở dài, quả thật xui xẻo, hôm qua đến Khúc Viện Phong Hà đợi Tống lang, cả ngày không thấy hắn, nhớ lại chuyện nói năng thiếu khách khí với Tô Doanh, cơn giận hờn thiếu nữ qua đi, nàng đâm ra hối hận, định đến xin lỗi.

Nàng quay người nhưng luống cuống va vào một vật, cúi nhìn liền nhận ra là cái chày đá vẫn dùng để giặt quần áo, định đi tiếp chợt ánh mắt hoa lên, toàn thân cứng lại bất động.

Máu! Máu! Đầu cây chày dính đầy máu.
Nàng thất thanh rú lên, chạy ngay xuống bậc thềm nhưng thấy dưới gốc ô cữu ở mé nam có một nấm đất chưa đắp xong, lộ ra thân trên của thi thể, phía sau đầu bị đập vỡ nhưng nàng vẫn nhận ra gương mặt quen thuộc, liền thét lớn.

Nữ tử ngồi trong bụi cây chầm chậm ngẩng lên, thấy nàng liền mỉm cười uể oải: “Hạ cô nương... đã làm cô sợ chăng? Ai, đừng sợ, tôi vì muốn tốt cho cô nương mới giết hắn”.

Sắc mặt Tô Doanh trắng bợt như tờ giấy, bình tĩnh rợn người, bị người khác nhìn thấy hành động giết người nhưng không hề hoảng sợ, cẩn thận vốc từng nắm đất rải lên mặt Tống Vũ: “Đừng nhìn hắn, Hạ cô nương đừng nhìn. Hắn đáng chết. Hắn chỉ biết hại người... hiện giờ mới thật sự chịu ngoan ngoãn”.

“A!” Thiếu nữ mới mười sáu tuổi đầu lùi lại, bịt mồm lại ho sặc sụa, vừa ho vừa bỏ chạy điên cuồng: “Giết người, giết người rồi”.

Tô Doanh chưa kịp ngăn lại, Hạ Phương Vận đã chạy đi, rất nhanh nàng nghe thấy trong thôn cạnh đó có người hỏi: “Giết người ở đâu?” Nàng nhắm mắt thở dài, lại vốc đất rải lên mình Tống Vũ.

* * * * *

Vụ án Tô Doanh giết chồng lay chuyển Lâm An một thời, nữ tử mỹ lệ như thế lại độc ác đến mức giết chồng, khiến tất cả người Lâm An rúng động, vây kín phủ nha xem xử án.

Nhưng lúc bị thẩm vấn, nàng an tĩnh kinh nhân, không hề hung hăng hay tuyệt vọng như mọi nữ phạm mắc tội giết chồng khác, nhất nhất trả lời rành rọt mọi câu hỏi của các vị đại nhân.

“Dân nữ giết Tống Vũ... đúng, dân nữ dùng chày giặt đập đầu hắn từ sau lưng”. Nàng không hề thoái thác, nhận tội với phủ doãn ngay.

“Phạm phụ Tô Doanh, vì sao ngươi lại giết chồng?” Phủ doãn hơi kinh ngạc, nữ tử văn nhã này có khí chất cao quý khôn tả, hoàn toàn không giống một kẻ sát nhân.

Tô Doanh ngập ngừng hồi lâu mới đáp: “Không vì nguyên nhân gì, nhất thời cãi cọ, hắn đánh dân nữ... dân nữ thuận tay cầm lấy chày đập hắn”.

Người đến xem thì thầm: bà nương độc ác này nói năng thản nhiên như không.

Phủ doãn tuy còn hoài nghi nhưng nữ phạm thừa nhận quá dễ dàng khiến ông ta không biết hỏi gì nữa, lấy bút đỏ viết lên mấy chữ: “Chém đầu làm gương”.

Lệnh tiễn quăng xuống, đám đông hô lên vang lừng nhưng sắc mặt phạm phụ vẫn không hề biến đổi.

“Dân nữ vô tội”. Đột nhiên, nàng ngẩng lên nói một câu rất khẽ.

Chúng nhân ngây người, ngay cả phủ doãn cũng phấn chấn hẳn, có tình tiết mới phát sinh chăng? Trực giác của ông ta quả nhiên không sai, đằng sau vụ án này còn có ẩn tình... Tận lúc sắp mất mạng, nữ tử này mới định tiết lộ sự thật chăng?

“Hừ, phạm phụ to gan, có oan tình gì mau nói ra cho bản tọa nghe, lẽ nào ngươi không giết người?”

Nghe tiếng thước gỗ gõ xuống, nàng chớp mắt, lắc đầu: “Không, người do dân nữ giết”.

Người xem mắng lớn, giết người còn nói mình oan uổng, nữ tử này định đùa với phủ doãn chăng? Lâm An phủ doãn biến sắc, Tô Doanh nhìn ông ta, ánh mắt trấn định vô cùng, nói từng câu: “Nhưng dân nữ vô tội, chỉ có trời cao mới biết những gì Tô Doanh này làm là đúng”.

Người xem cười vang, chưa bao giờ họ thấy ai thẳng thắn nhận tội, không tìm ra chứng cứ lại nói mình oan uổng.

“Chà, vị tiểu nương tử này, ông trời tin nàng oan uổng có tác dụng gì? Đến giờ hành hình, ngay cả cái đầu thiên kiều bách mị cũng không giữ được đâu”.

“Đúng đúng, mau nói xem thật ra ai giết chồng nàng? Nàng tự nhận oan uổng, vậy nói ra hung thủ đi”.

Nghe tiếng huyên náo bên dưới, Tô Doanh chỉ lắc đầu: “Người do tôi giết. Trời cao biết tôi vô tội”.

“Ồ! Trời biết? Trời biết có ích gì! Ngươi tưởng mình là Đậu Nga [2] chắc, tuyết rơi sẽ vào tháng sáu đại hạn để chứng minh ngươi không đáng chết sao?”

Người trong sảnh đường không nhịn được, lớn tiếng cười nhạo mắng mỏ, nàng chỉ nhắm mắt không đáp.

Nàng tuyệt đối không muốn kéo thêm thiếu nữ đáng thương đó vào, việc này liên quan đến danh tiết cả đời của nữ tử, giữa đời Tống lễ giáo nghiêm ngặt này, nào phải chuyện tầm thường.

Hình luật Đại Tống phán nàng tội chết nhưng nàng tin rằng, lúc đối diện trời cao, nàng không làm sai, nàng vô tội.

Nàng không thẹn với lòng.

* * * * *

Lúc tù xa đến gần Thái Thị Khẩu, Tô Doanh thấy hai đường chật ních người đứng xem, họ nhận ra nữ tử xinh đẹp trong xe sắp bị chém đầu, đều thấy thú vị, nhao nhao đi theo xem hành hình.

“Nàng ta xinh đẹp thế này, sao lại giết người nhỉ?”

“Hung hãn lắm! Nghe nói dùng chày đá đập vỡ đầu chồng”.

“Khà khà... đúng, lại còn cứng cỏi nữa cơ, nhận tội ngay - kỳ quái là nhận tội giết người nhưng vẫn nói mình oan uổng. Vừa nhận mình giết người, vừa bảo mình oan uổng, không kỳ quái là gì?”

“Còn nói chỉ có trời cao mới biết thị không đáng chết... Bất quá trời cao cũng biết đến lúc thị phải chết rồi, ha ha”.

“Hắc hắc, chưa biết chừng trời cao nổi giận sẽ rải tuyết giữa tháng sáu, giáng sấm giữa mùa đông....”

Người xem liên tục bàn tán rồi cười cợt chỉ trỏ, tất thảy đều là những kẻ vô công rồi nghề đi xem náo nhiệt.

Xe đi qua ngõ Thiên Thủy, những lời bàn tán kinh động đến một bạch y nữ tử sống trong ngõ. Nàng đi ra khỏi cửa hiệu, liền biến sắc buột miệng: “Rồi cũng đến ngày này... Tuyết nhi, Tuyết nhi xem kìa”.

Con bạch anh vũ vẫy cánh đậu lên vai nàng líu lo.

“Thôi cô nương, tôi kính cô một chén tiễn biệt”. Tô Doanh quỳ giữa đài hành hình, đang nhắm mắt không muốn nghĩ gì nữa, bên tai chợt vang lên giọng nói bình tĩnh, trong lòng liền rúng động. Thôi cô nương, nàng ta lại biết tên mình!

Tô Doanh kinh ngạc mở bừng mắt, trước mắt hiện ra một khuôn mặt trái xoan trắng trẻo, nữ tử đó trang phục trắng toát, tay cầm một bát rượu, ngồi trước mặt nàng, nốt ruồi ở khóe mắt cơ hồ rơi xuống.

“Bạch cô nương!” Nàng kêu lên kinh ngạc xen lẫn vui mừng, nếu không phải bị trói, chắc nàng đã nhảy tới nắm hai tay nữ tử, “cô, cô nương cũng ở Lâm An?”

“Một năm nay tôi vẫn ở Lâm An”. Bạch Loa mỉm cười.

“Đáng tiếc... tôi không biết. Nếu tôi biết sớm một chút, sẽ đến tìm cô nương”. Từ lúc tuyên án, từ công đường đến hình trường, nàng vẫn ung dung, nhưng vừa thấy bạch y nữ tử, bất giác nàng buông tiếng thở dài ủ rũ: “Sự tình... chắc không đến nỗi thế này”.

“Cô nương giết Tống công tử?” Bạch Loa hỏi, trong mắt nàng thần sắc mông lung.

Tô Doanh ngẩng phắt dậy, ánh mắt vô cùng kiên định: “Nhưng tôi biết mình không sai. Cô nương có tin tôi vô tội không... tôi giết hắn nhưng ông trời biết được tôi không làm gì sai”.

Ánh mắt Bạch Loa mờ đi, đưa chén rượu đến sát môi Tô Doanh: “Tôi tin”.

Tô Doanh chợt mỉm cười, uống hết bát rượu nồng, nhìn quanh chúng nhân rồi thở dài: “Bạch cô nương... tôi hối hận lắm, khi xưa đã không nghe lời cô nương. Mấy năm nay...”

Nàng hạ giọng, kề sát tai Bạch Loa kể lại qua loa mọi gian khổ từng trải rồi ngẩng mặt nhìn nữ tử thần bí, cười thê thảm: “Cô nương nói xem, có phải tôi mù không? Nhưng tôi không thể để hắn tiếp tục hại người... Bạch cô nương, tôi sa vào cảnh này là tự chuốc lấy, cô nương thấy tôi sai lầm chăng?”

Trên thế gian này, nàng chỉ tin tin nữ tử áo trắng này, bao nhiêu cay đắng, oan ức trong lòng nàng muốn mang xuống tuyền đài, mang lên trời cao... nhưng gặp nữ tử này, nàng muốn kể hết.

Bạch Loa nắm lấy vai Tô Doanh, ngón tay run bần bật.

Nàng đã thấy nhiều việc trên đời, gặp nhiều nữ tử khác nhau, có người cười, người khóc, có người điên người cuồng... nhưng không ai như nữ tử trước mắt. Nữ tử trên đời kiên trinh tự lập như thế có mấy người, lại rũ bỏ mạng sống để bảo vệ một người khác, tính tình quyết tuyệt cương liệt này càng hiếm thấy.

Thấy Tô Doanh mỉm cười trước lúc chết, Bạch Loa cảm giác thành lũy vững chắc trong nội tâm từ từ rung động.

Tiếng thanh la vang lên, thời thần đã tới.

Đao phủ thô bạo đẩy hai người ra, nhưng ngón tay vừa chạm vào Bạch Loa, trên lưng chừng không chợt lóe lên bóng trắng, hung dữ mổ vào tay khiến hắn kêu váng lên. Bạch Loa lùi lại một bước, con anh vũ Tuyết nhi lắc lư đáp xuống vai nàng.

Sắc mặt nàng nhợt đi, lặng lẽ nhìn Tô Doanh trong pháp trường, ngón tay xiết lại, cơ hồ cắm vào da. Bạch anh vũ cảm giác được nội tâm chủ nhân sôi trào, lập tức xù lông cảnh giác nhìn tứ xứ.

“Bạch cô nương, đa tạ đưa tiễn... ơn kiếp này không kịp báo đáp, kiếp sau Tô Doanh nhất định kết cỏ ngậm vành”. Tấm bài sau lưng nàng bị rút ra, đao phủ giơ quỷ đầu đao lên, nàng vẫn từ từ quỳ xuống lạy một lạy.

“Khóc đi! Mau khóc đi! Xú bà nương, mồm miệng cứng lắm”. Người quanh đó vốn định đi xem kịch hay, không ngờ nữ tử như hoa như ngọc cứng rắn thế này, đâm ra thất vọng nên thi nhau kêu to.

Tô Doanh quật cường nhìn quanh với vẻ khinh thường, rồi nhắm mắt lại quỳ xuống.

Sắc mặt Bạch Loa trắng như tuyết, ngón tay thu vào trong ống tay áo, định niệm quyết.

“Đừng xung động”. Chợt trong đám đông thò ra một cánh tay đặt lên vai nàng. Tuyết anh vũ bay lên, thấy thanh niên mặc kình trang màu đen liền kêu quang quác đáp xuống vai, vẫy cánh với vẻ thân thiết.

Bạch Loa không quay lại cũng biết chủ nhân bàn tay là ai, tay nàng lòng ra nhưng sắc mặt vẫn nhợt nhạt.

“Lòng trần đã động, nhúng tay vào hồng trần tục sự, bao nhiêu năm thanh tu của muội sẽ bị hủy hết... không thể quay về Doanh Châu [3] được. Hà huống hiện tại muội chưa có năng lực ấy”. Hắc y nam tử nhẹ nhàng nhắc, mắt nhìn vào pháp trường thở dài: “Loa nhi, muội tu luyện bao nhiêu năm vẫn chưa đủ định lực”.

“Thời thần đã đến, hành hình!” Tiếng thanh la vang lên, giám trảm quan quăng lệnh tiễn xuống, đao phủ giơ đao lên.

Thân thể Bạch Loa run lên, nhắm mắt nghiêng đầu đi, chỉ nghe tiếng rít khe khẽ vang lên như tiếng gió lùa qua, nàng biết âm thanh lúc máu phun khỏi cổ cũng giống tiếng gió.

Tiếng hò hét vang lên tứ phía, hiển nhiên nhát chém của đao phủ cực gọn khiến họ mãn nhãn.

“Đi thôi, nàng ta chết rồi”. Người sau lưng nàng khẽ nói một câu rồi kéo nàng đi.

Bạch Loa vẫn nhắm mắt, đi theo thanh niên mấy bước, chợt dừng lại, buồn bã nói: “Nhưng... Trạm Lô, nàng ta thật sự oan uổng... vì nam nhân đó mà phải mất mạng. ‘Lực’ trong lòng nàng ta không kém hơn chúng ta”.

“Chỉ có trời cao mới biết nàng ta oan uổng hay không”. Hắc y thanh niên tên Trạm Lô vẫn lạnh lùng nhìn nàng, bình thản đáp: “Hà huống mỗi miếng ăn, ngụm nước đều có nhân quả. Chúng ta không phải người thế thiên hành đạo, Loa nhi, muội nên quên hết tình cảm đi”.

“Muội không thể đạt đến cảnh giới quên hết mọi sự”. Thân hình Bạch Loa lại run lên mở bừng mắt thở dài: “Chỉ tiếc hiện tại muội chưa đủ sức, nếu Huyền Minh ở đây thì tốt quá... chắc sẽ không trơ mắt nhìn nàng ta chịu khổ”.

Nghe đến cái tên này, không hiểu sao Trạm Lô cúi đầu không nói gì, ánh mắt cực kỳ phức tạp.

“Muội muốn tất cả biết rằng, nàng ta vô tội”. Hồi lâu sau, Bạch Loa nhấn mạnh từng chữ như tự hứa với mình.

* * * * *

Hôm đó Hạ gia đều cả trầm mặc, bầu không khí cực kỳ nặng nề, bệnh của tiểu thư đột nhiên trở nặng, mấy ngày liền không tỉnh, tuy đại phu nói nguyên nhân do bệnh lao nhưng chỉ có vú nuôi thân cận và mẫu thân nàng ta biết được ngọn nguồn.

Mấy năm nay Tiết đại phu gần như dùng hết cách, ngoại trừ việc dùng phương thuốc trái đạo lý. Nhưng vị tiểu thư xưa nay không chịu dùng vì hiềm phương thuốc đó âm độc, trong thời khắc liên quan đến sống chết lại gật đầu đồng ý.

“Tiểu thư, tiểu thư, mau dùng thuốc. Nhân lúc còn nóng dùng ngay mới nhanh khỏi bệnh”.

Giờ Ngọ bốn khắc, Hạ Phương Vận gập người ho trong trướng, cha mẹ nàng nhìn nhau khóc ròng, biết rằng bệnh của con gái nặng lắm rồi, lần này e rằng không thể qua nổi. Đang yên lặng, vú nuôi từ ngoài bưng thuốc do khoái mã đưa về đến: “Tiểu thư, mau dùng thuốc đi, dùng xong sẽ khỏe lại”.

Bệnh nhân nằm trên giường cố mở mắt, đồng tử sáng lên kỳ dị: “Có phải... khụ khụ, vừa lấy từ hình trường ở Thái Thị Khẩu về không? Khụ khụ, khụ khụ! Phải không?” Nàng vừa mở miệng lại ho dữ dội, hai gò má ửng lên.

“Đúng vậy, tiểu thư... mau nhân lúc nóng dùng đi”. Vú nuôi đưa đĩa tới.

Bánh màn thầu vốn trắng mịn, mềm nhũn, hút đẫm máu tươi nóng bỏng, bốc hơi nghi ngút, nổi bật trên nền đĩa trắng tinh. Ánh mắt Hạ Phương Vận chợt sáng lên, không hiểu lấy đâu ra khí lực, tự ngồi dậy cầm bánh màn thầu đẫm máu, nắm hơi chặt khiến một giọt nhỏ xuống tay.

“Ha ha... ta phải ăn nữ nhân ác đã giết chết Tống lang. Khụ khụ, khụ khụ”. Thiếu nữ suy nhược cực độ, ánh mắt lại sáng đến lạnh người, chứa đầy cừu hận cùng phẫn nộ, vừa cắn bánh vừa ho, máu từ khóe môi nhợt nhạt nhỏ xuống, vú nuôi vội lấy khăn tay lau giúp.

Chợt Hạ Phương Vận cầm chiếc màn thầu thấm máu, vừa ho vừa bật khóc nức nở, sắc mặt nhợt đi.

“Tiểu thư, tiểu thư, đừng khóc nữa... nữ nhân đó đã chịu tội rồi. Cơn giận trong lòng tiểu thư cũng nên tan đi”. Biết được tâm sự của tiểu thư, vú nuôi khuyên giải, Hạ Phương Vận không nói gì, tiếp tục ho sặc sụa, ngẩng lên nhìn vú nuôi.

Người đàn bà từng trải mưa gió mà thấy ánh mắt tiểu thư cũng bất giác hít một hơi khí lạnh, ánh mắt của người muốn chết, ảm đạm mà vô lực, ẩn chứa thất vọng xen lẫn bi ai.

“Vú nuôi, vì sao... khụ khụ, lại trở thành thế này... khụ khụ!” Hạ Phương Vận nhìn cái màn thầu nhỏ máu trong tay, chợt khẽ nói một câu, thân thể ngã xuống.

“Tiểu thư, tiểu thư!” Cả nhà vang lên tiếng kêu khóc, cùng xúm lại.

* * * * *

Không ngờ còn có người đi nhặt xác an táng cho nữ tử giết chồng, hơn nữa nơi chôn cất lại là vị trí đẹp nhất ngay quan đạo phía bắc ngoài thành Lâm An.

Mộ phần tọa lạc dưới một gốc cây long não cổ thụ, bia mộ làm từ loại đá tốt nhất khắc hàng chữ: Thôi thị Doanh Doanh chi mộ. Nếu nhìn kỹ ắt thấy hai bên còn khắc đôi hàng chữ rất nhỏ ca ngợi khí tiết và ngạo cốt của nữ tử trong mộ:

Sông núi chốn đây từng chôn ngọc;

Trăng gió ai người gạn đúc vàng.

Nét chữ mềm mại, tựa hồ do nữ nhân viết lên.

Lúc hạ táng là cuối xuân, Thẩm tam thẩm bán trà ngoài thành kể rằng người xây mộ là một bạch y nữ tử, thanh tú mỹ lệ như tiên tử hạ phàm. Nàng ta mặc áo trắng đến tế bái trước mộ, đốt hương khấn khứa rồi không hiểu làm gì mà còn quanh quẩn gần nửa ngày mới đi khỏi.

Quan đạo thường có người đọc sách đi qua, thấy hàng chữ trên bia đều hỏi han nguyên cớ nữ tử vì sao bất hạnh “nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương” nhưng khi biết đó là ác nữ giết chồng, ai cũng lắc đầu thở than: Sao đến nông nỗi!

Nàng đã thừa nhận tội giết chồng nhưng lại thề trước trời cao rằng mình vô tội.

Thẩm tam thẩm thường kể cho khách uống trà vụ án chấn động Lâm An mấy năm trước, rồi chỉ vào ngôi mộ lẻ loi than thở: “Nếu trời cao biết nàng ta oan uổng, chắc sẽ rải tuyết vào tháng sáu, giáng sấm giữa mùa đông? Sao ta ở đây lâu thế rồi mà chưa thấy dấu hiệu gì? Cũng chưa từng nghe nói đến cả chuyện nàng ta báo mộng kể lại nỗi oan”.

Mấy tháng qua như gió thoảng, thoáng cái đã đến tháng sáu mùa hạ nóng nực.

Hôm đó, Thẩm tam thẩm dậy sớm ra ngoài thành mở quán, chuẩn bị một ngày buôn bán, chợt liếc mắt nhìn qua ngôi mộ bên đường, siêu nước trong tay rơi đánh choang xuống đất.

Bà cầm vạt áo lau mắt nhìn thật kỹ - không sai, giữa tiết trời tháng sáu nhưng trên ngôi mộ phủ đầy hoa tuyết, từng bông tuyết trắng ngần che kín đỉnh mộ, dưới ánh nắng cực kỳ bắt mắt.

“Trời ơi! Ông trời... ông trời thật sự hiển linh”. Bà vỗ đầu gối kêu lên: “Trời ơi, đáng thương quá... nàng ta quả có oan khuất! Nàng ta không đáng chết”.

Người rời thành nhao nhao dừng lại nhìn ngôi mộ đầy tuyết trắng đầy kinh ngạc, xôn xao bàn tán.

“Quả nhiên tháng sáu có tuyết rơi! Ông trời đã mở mắt, minh oan cho nữ nhân yếu nhược này”.

“Nhưng... thời thế này... không biết có bao nhiêu dân lành vô tội chết oan, nữ tử đáng thương”.

“Chắc không phải nàng ta giết người?”

Hồi lâu mới có người gan dạ đến gần quan sát.

“A! Không phải tuyết! Là loại hoa gì nhỉ? Nở dày mịt... lại giống như tuyết”. Người đó kêu lên kinh ngạc, ngón tay chạm vào, từng đóa xoa bé tí vỡ vụn rắc xuống như hoa tuyết rơi giữa tiết đông.

Không hiểu từ lúc nào, ngôi mộ chật ních người vây quanh xem bụi cây kỳ lạ, chỉ sau một đêm đã nở hoa, phủ kín ngôi mộ, từ xa nhìn lại như tuyết.

“Đó cũng là ý trời! Các vị xem này, đây là hoa gì? Đã ai thấy chưa?” Thẩm tam thẩm quyết ý tin tưởng đó là dấu hiệu của trời cao, cẩn thận vốc những đóa hoa như tuyết rơi lên: “Nhất định là ý trời... nàng ta có oan khuất, chết không nhắm mắt mới hóa thành loài hoa này”.

Người đi đường nhao nhao gật đầu, họ đều muốn tin vào câu chuyện truyền kỳ khúc chiết này, càng tin rằng nữ tử mỹ lệ nằm trong mộ không giết người nên trời cao mới giáng điềm báo rằng nàng ta oan ức.

* * * * *

“Loa nhi, muội nghe ngoài kia người ta kể gì chưa?” Trong hiệu bán hoa ở ngõ Thiên Thủy, hắc y thanh niên chậm rãi chải lông cho bạch anh vũ, bình thản kể: “Ai cũng kể rằng Tô Doanh chết oan uổng, trời cao rải tuyết vào tháng sáu để minh oan”.

“Nàng ta không đáng chết”. Bạch y nữ tử đang chăm sóc hoa cỏ nhẹ giọng đáp, ánh mắt cụp xuống u buồn.

Thanh niên tên Trạm Lô khẽ mỉm cười: “Tuy không thể vận dụng pháp lực nhúng tay vào những chuyện nơi tục thế này, nhưng muội vẫn có cách riêng lái câu chuyện theo ý mình. Loa nhi, đó là loại hoa muội mới tạo ra chăng? Tên là gì?”

Bạch Loa thở dài thật khẽ, xuôi tay nhìn thinh không xanh ngắt: “Lục nguyệt tuyết”.

Đó là hoa tuyết trời cao giáng xuống để an ủi linh hồn Tô Doanh, nhưng chạm đất không hề khô héo mà hóa thành những đóa hoa trắng muốt, thầm lặng nói với mỗi người qua đường rằng: Trời cao biết nàng vô tội.

------

Lục nguyệt tuyết còn có tên là tất minh, một tên khác là tố hinh, nở hoa màu trắng vào tháng sáu. Lúc cây còn nhỏ, cánh lá thưa thớt, khá đẹp, có thể trồng vào chậu làm cảnh, cây ưa bóng râm, không hợp với ánh nắng, thường mọc dưới gốc cây cổ thụ trong núi sâu. Trồng vào mùa xuân hoặc lúc mưa lây rây mới cắm cành xuống, tưới bằng nước trà loãng.

[1] Một loại cây có mùi thơm, thường được ép dầu làm sáp nến

[2] Đậu Nga: Xuất phát từ điển tích trong vở kịch nổi tiếng “Nỗi oan nàng Đậu Nga” của kịch tác gia tài ba Quan Hán Khanh thời Nguyên. Nội dung nói về việc ông trrời thấy nàng Đậu Nga bị oan nên đã giáng một trận tuyết tháng sáu giữa mùa hè để minh oan.

[3] Theo truyền thuyết là chốn thần tiên sinh sống.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau