GIỜ ĐANG NƠI ĐÂU

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giờ đang nơi đâu - Chương 96 - Chương 100

Chương 95: Đêm (11)

Hai chiếc xe dừng lại bên ngoài biệt thự nhà họ Tư. Hai cha con bước xuống, vẻ mặt sa sầm giống nhau như từ một lò mà ra, không nói không rằng đi thẳng vào nhà.

Cánh cửa đóng cái sầm, chặn mọi người ở bên ngoài. Bà Tư dắt Ngôn Bách đi tới, nhìn cánh cửa được đóng lại một cách đầy bạo lực, hỏi: “Lâu lắm mới về nhà, nhưng vì sao vừa về lại cãi nhau thế?”

Mọi người đứng ở bên ngoài đợi quản gia đến mở cửa. Mấy tháng gần đây có không ít người hầu đến nhà họ Tư, không như bên ngoài đồn là “nhà họ Tư đã lụn bại”, chẳng qua là vì trước đó Tư Ưng thích yên tĩnh, không thích nhiều người đi tới đi lui trong nhà, vì vậy cũng để mặc bên ngoài nói bậy bạ, bản thân thì không phô trương nhiều. Còn những chuyện tư nhân thì giao cho người vợ Nhật Bản thu xếp lo liệu.

Mọi người chỉ thích nhìn vào bề nổi, thế nên trong mắt người ngoài, bắt đầu từ năm 1928, nhà họ Tư đã “lụn bại”. Thực chất không phải như thế, thậm chí phía Nam từng mời ông rất nhiều lần song đều bị ông từ chối, chỉ bởi vì Tư Ưng không muốn lo liệu thêm chuyện khác nữa.

Ông hừ lạnh: “Bà tưởng hai năm qua nó ở bên ngoài khốn khổ lắm sao. Làm gì có chuyện đó, không chăm chỉ học hành, suốt ngày hết lêu lổng chơi bời với đám văn nhân thì đàn đúm cùng lũ thanh niên cấp tiến, không những chậm trễ chuyện học mà còn bị chặn không cho gửi thư nhận thư, bị cấm xuất cảnh châu Âu. Không về cũng được, tôi coi như nhà họ Tư ta có con trai có tiền đồ, muốn làm ‘người Hoa da trắng’ ở châu Âu!” Ông tức tới nỗi mắng một tràng, bà Tư vội trấn an vỗ về, cơn giận nguôi ngoai thì ông mới nói tiếp: “Lần này có thể thuận lợi về nước còn phải nhờ người Hoa da trắng ở tô giới giảng hòa với Nam Kinh, đúng là nhục nhã!”

Tư Ưng không nói những chuyện này với bà. Hồi trước khi còn thường xuyên gửi thư, ông có nhờ bạn bè chăm sóc cho con trai cả, nhưng hơn một năm sau đó lại không nghe thấy ông nhắc đến. Bà cứ tưởng Ngôn Tang có bạn gái ở châu Âu nên ít để ý đến cha và em trai, vì vậy lúc nhắc đến chuyện này với Tư Ưng, thấy ông nổi giận, bà còn cười thầm một thời gian dài.

Suy cho cùng vẫn là mẹ con một lòng. Bà Tư đang mải nghĩ ngợi thì Ngôn Bách đã ngẩng đầu lên, nói ra tiếng lòng của bà: “Anh cả thật sự không có bạn gái ở châu Âu ạ?”

Bà Tư bật cười, rồi lại lật đật bịt miệng Ngôn Bách.

Bác quản gia già mở cửa, lò sưởi âm tường trong nhà cháy tí tách, mọi người cởi áo khoác ra ngồi xuống phòng khách. Tư Ưng đưa mắt nhìn con trai, thở dài, “Vẫn còn vương vấn con bé nhà họ Lâm đấy.”

Bà Tư sửng sốt: “Là ai?”

Tư Ưng trợn mắt nhìn bà, “Còn có thể là ai nữa?”

“Hồi đưa tiễn nhà họ có gặp một lần. Cô ba khi đó không bắt mắt lắm, tuy tướng tá không đẹp bằng chị gái nhưng cũng khiến người ta khó quên, rất đáng yêu. Nay cô hai trông thế nào tôi không nhớ, nhưng vẫn còn nhớ rõ cô ba.” Bà Tư hồi tưởng lại, “Thời gian trước, hình như Lâm lão gia vì chuyện gì đó mà nổi trận lôi đình, đăng báo tuyên bố muốn đuổi cô bé ra khỏi nhà, còn muốn giải trừ hôn ước. Ông ấy có bàn bạc chuyện này với ông không?”

Tư Ưng lắc đầu, xem ra ông vẫn còn canh cánh chuyện này.

Bà Tư ngạc nhiên: “Rốt cuộc là vì chuyện gì?”

“Nói là có quan hệ mờ ám với thầy giáo dạy Vật lý ở Hương Cảng. Thực hư thế nào, về sau tôi cũng có gửi điện hỏi tổng trưởng giáo dục. Từ Lai này rất được Thái Nguyên Bồi coi trọng. Ngài Thái khen học vấn phẩm chất của cậu ta lắm, ba lần gửi điện đến đều nói Từ Lai rất coi trọng gia đình, tuyệt đối sẽ không làm những chuyện như vậy. Tôi vẫn thấy lạ: với giao tình của hai nhà Tư Lâm, dù con bé kia có làm sai thì vẫn sửa sai được. Sau này cả tôi với bà vẫn coi nó là con dâu nhà mình. Sợ là sợ Ngôn Tang không chịu thôi. Nhưng nay xem ra, nó vẫn thích con bé kia.” Tư Ưng thở dài, vừa vui vừa buồn vì cậu con trai do mình dạy nên, “Đến cả tôi với bà còn cân nhắc kỹ lưỡng cho cô ba, còn biết hỏi thăm thực hư chuyện tình, tránh có người xấu cố ý xuyên tạc làm cô bé phải chịu oan. Nhưng rõ ràng là cô bé còn rất trẻ, vì sao anh Lâm lại tự tiện như thế, lại còn tuyệt tình đến vậy, khiến cô bé sau này không gặp được ai. Chẳng lẽ trong chuyện này còn có uẩn khúc gì sao?”

Bà Tư cau mày suy nghĩ, hỏi, “Hay là Lâm lão gia cố ý, muốn hứa gả cô hai cho Ngôn Tang?”

Tư Ưng lắc đầu, “Mấy năm trước đến Thiệu Hưng, Lâm lão gia có đề nghị rồi. Trước khi gặp hai cô con gái nhà họ, tôi đã để Ngôn Tang tự quyết định, bảo nó một khi đã chọn thì cả đời này đừng để tôi biết nó thay lòng đổi dạ.” Nói đoạn, ông thở dài, “Thế mà nhiều năm rồi, thằng bé vẫn nhớ kỹ những lời tôi nói.”

Thấy chồng lo lắng vì hôn sự của con trai, bà Tư lại càng buồn cười. Ông vừa buồn vừa giận con trai, còn không phải vì Ngôn Tang giống mình sao. Ông không cho Ngôn Tang theo nghiệp văn, vì biết rõ người nhà họ Tư vô cùng cố chấp, dù là chuyện chính trị hay người yêu. Nếu không phải vì thế, thì bà đâu mất đến mười hai năm để lay chuyển con tim của Tư Ưng vừa đến Nhật sau khi vợ mất, thậm chí lúc ấy bà chỉ mới mười sáu xuân xanh. Nhà lớn nghiệp lớn như nhà họ Tư, một khi đã cưới bà thì chỉ có một mình bà đến hết đời.

Vì biết tính của con trai sẽ dễ gặp khó khăn trên đường làm quan, một mình ông đã nếm mùi đủ rồi, nên mới nhất quyết không cho Ngôn Tang giẫm vào vết xe đổ đó nữa. Ông tự mình chọn một đất nước có truyền thống học tập tốt, tránh xa hoạt động chính trị để cho anh học đại học, lại chọn chuyên ngành không quá dính dáng đến chính trị văn chương. Hơn nữa lúc bấy giờ trong nước đang rộ lên phong trào dùng ngòi bút làm lưỡi kiếm, là thanh đao sắc bén để lan truyền tin đồn, dắt mũi xúi giục trong những trận chiến chính trị, bọn họ thường xuyên mở hội với văn nhân nhã sĩ, tự coi mình là “trụ cột của xã hội”, cũng là đội ngũ nay bị Nam Kinh chèn ép nhất, chính vì thế nên Tư Ưng mới nhất quyết không chịu cho anh học văn.

Nhưng không phải chính ông cũng quan tâm đến việc lớn quốc gia, thỉnh thoảng “không biết thời thế”, liều mạng làm việc đấy sao? Năm ngoái khi tập san chính phủ Nam Kinh chèn ép “Trăng Non”, ông còn viết hẳn một bài hịch gửi đến tập san chính phủ, chỉ trích bọn họ “dốt nát vô tri, yếu đuối vô năng”. May mà bạn bè ở hội tạp chí thấy, vội vàng chặn thư, bàn bạc biện pháp với ông. Bởi vì bọn họ cũng biết Tư Ưng đang ở tuổi ‘nổi loạn trung niên’, nên đã thống nhất lược bớt phần chỉ trích trong thư, chỉ chừa lại kiệt tác học thuyết binh gia văn cổ đầy xuất chúng, lúc ấy mới không gây nên đại họa.

Bà Tư che miệng cười: “Lâm lão gia thà gạch tên con gái ra khỏi gia phả chứ nhất quyết không gả con bé cho con trai ông. Ông định làm gì đây?”

Tư Ưng không đáp.

“Hay là gửi điện báo hỏi ý Lâm lão gia?”

“Không cần.”

“Vì sao?”

“Giờ ông ấy đã ở trên thuyền về Thượng Hải rồi. Đợi vài ngày nữa, mời ông ấy đến hỏi chuyện.”

Bà Tư lại đưa mắt nhìn lên lầu, “Nếu đến cuối vẫn không theo ý cậu cả thì sao?”

“Nó tự biết tìm cách để mình đồng ý. Thằng bé này, đã quan tâm ai thì sẽ quan tâm hết mình.” Tư Ưng cũng chẳng nhác mí mắt, nhấp ngụm trà rồi nói, “Không tin thì bà cứ lên lầu đi, xem nó còn ở trong phòng không.”

Bà Tư ngạc nhiên, đi lên lầu đẩy cửa phòng Ngôn Tang ra, nhưng cửa sổ mở toang, gió thổi vù vù lật bay những trang sách, nhưng làm gì có bóng người?

Tư Ưng nhìn Tiểu Ngôn Bách ngồi thẳng lưng trên ghế, nghiêm mặt nói: “Sau này không thể dạy con như vậy được. Con cần phải lanh lợi hơn.”

***

Đêm đó lúc cô Hứa đến, mới đầu cậu bé kia nhất quyết không chịu trả lời bất cứ câu hỏi nào. Cô Hứa cũng chẳng vội, sau một hồi kiên nhẫn nghĩ ngợi thì nói: “Chắc chắn là bị bệnh nên mới không chịu nói, để tôi đưa em nó đến bệnh viện khám xem sao.” Nói đoạn định kéo cậu bé đi, nói với nó: “Đi thôi, đến bệnh viện khám.”

Nghe thấy hai chữ “bệnh viện”, cậu bé lập tức cảnh giác nấp ra sau lưng Sở Vọng. Cô Hứa ép hỏi một lần nữa, cu cậu lập tức òa khóc. Hai người nhìn nhau, cô Hứa nhân đó truy hỏi mấy câu, nó vừa lau nước mắt vừa ngoan ngoãn trả lời từng câu một.

Sở Vọng sực hiểu, người như cô Hứa luôn có sự kiên nhẫn và quyết đoán riêng. Tuy có hơi cực đoan, nhưng có đôi lúc cực đoan cũng tốt.
Cô Hứa nói: “Đã hỏi được địa chỉ rồi, nhưng giờ không tiện nói. Hôm khác tôi sẽ nhờ người đến nơi đó hỏi thăm. Bọn họ được huấn luyện chuyên nghiệp, nếu không có gì bất trắc thì chắc chắn trong tuần này sẽ dò la được tình hình rõ ràng. Em chỉ cần ở nhà chờ, tôi sẽ cho người đưa tài liệu đến.”

Cô gật đầu.

“Tuy không nói được quốc ngữ và tiếng Thượng Hải, nhưng vẫn có thể nghe hiểu, chắc hẳn phải có hoàn cảnh. Có điều chắc chắn không phải do cha mẹ dạy,” Cô Hứa vỗ đầu đứa bé, “Vậy làm sao nó hiểu?”

Sở Vọng hiểu ý cô ấy, trả lời, “Ở chỗ tôi đây.”

Cô Hứa ngẩn người, đáp: “Em… Được rồi.”

Thế là mấy ngày sau đó, Sở Vọng đều ở nhà đợi tin của cô Hứa. Những khi tới viện nghiên cứu thì cô để cậu bé ở nhà, khóa trái cửa lại tránh gặp chuyện rắc rối. Có một hôm về nhà, phát hiện trong nhà không khác gì bị đánh cướp, từ phòng bếp cho đến tận phòng ngủ, thậm chí cả phòng của Tạ Trạch Ích, khăn giấy và giấy viết chữ bừa bộn khắp nơi. Mới đầu cô còn tưởng có người xông vào đây, nhưng đến khi nhìn kỹ mới phát hiện, là do cậu bé bướng bỉnh đó nghịch phá.

Cô cũng là một người lười lao động, huống hồ từ viện nghiên cứu về đã mệt gần chết, thế là dứt khoát tùy nó. Lúc dì giúp việc đến thì giật mình, liên tục hỏi “cô chủ, nhà bị trộm sao?” rồi lại dọn dẹp một lần, nhưng sau đó cũng mặc kệ, dù gì bà cũng chỉ phụ trách nấu cơm, chủ nhà không trả cho bà tiền công dọn nhà.

Ngày đầu tiên gặp lại Tạ Trạch Ích là ngày cô ở viện nghiên cứu. Có anh ở đó, cũng không rõ Sakuma Ichiro càng thêm càn rỡ hay là bớt lộ liễu nữa. Tuy hắn không còn tìm cô tán dóc, nhưng vẫn thích đứng từ xa nhìn chằm chặp, mỗi lần cô có cảm giác bị quan sát là luôn có thể bắt gặp được tầm nhìn của Sakuma Ichiro.

Có điều ai ai cũng bận chuyện của mình, mãi đến buổi tối cô mới nói chuyện được với Tạ Trạch Ích. Ngồi trên xe, hiếm khi thấy Tạ Trạch Ích không nhiều lời, thái độ vô cùng khác thường, im lặng lái thẳng xe về nhà.

Chẳng mấy khi lúng túng khi ở với anh như vậy, khiến cô khó mà tin nổi người gọi điện thoại đường dài trêu đùa cô mấy hôm trước là Tạ Trạch Ích. Lái xe đi được một quãng xa, cô không kìm được hỏi thăm: “Anh Tạ, anh có khỏe không?”

Nhưng Tạ Trạch Ích không trả lời.

Im lặng một lúc lâu, anh như bừng tỉnh khỏi giấc mộng, đầu tiên là “A?” một tiếng, rồi sau đó lại “ừ” đáp.

Cô cười nói: “Đã bị cúp điện rồi, lái xe mà lại phân tâm như thế, cẩn thận đụng phải người đi đường vậy.”

“Đã bị cúp điện rồi à?”

“Đúng thế. Anh đang nghĩ gì vậy?”

“Ồ. Vậy tối nay trăng sáng quá, em cũng cảm thấy thế đúng không?”

“Cái gì?”

Tạ Trạch Ích vẫn im lặng lái xe, không trả lời cô mà cũng không nhìn cô. Một hồi lâu sau mới bất chợt hỏi: “Cô ba, tôi còn có thể ở bên em bao lâu nữa đây?”

Cô khó hiểu. Còn đang ngơ ngác thì xe đã dừng lại, thì ra đã tới nhà rồi.

Vì bị mất điện nên cũng không thể đi thang máy.Hai người lần mò đi trong hành lang tối đen, lúc đi ngang qua tầng hai, chị Trịnh nghe thấy tiếng động, cầm nến đi ra oán trách: “Anh Tạ về rồi đấy hả. Hai ngày gần đây có chuyện gì thế, suốt ngày rầm rầm, ồn chết đi được… Không phải tôi trách móc gì đâu, chỉ là lo quá thôi. Cô Lâm ra ngoài có khóa cửa không vậy? Mấy căn hộ ở đây đều thông nhau, hy vọng là không phải trộm.”

Tạ Trạch Ích nở nụ cười hiếm hoi trong hôm nay: “Có đứa cháu họ mới chuyển tới ở. Dù gì cũng là người Quảng Đông, họ hàng không ít, mong chị Trịnh bỏ qua cho… Đúng rồi, chị Trịnh thích ăn bánh mì ở tiệm Đinh Ký đúng không? Hôm nào đi đặt, tôi sẽ nhờ bọn họ đem đến ít cho chị Trịnh.”

Sở Vọng sửng sốt, dưới ánh nến, cô ngẩng đầu nhìn Tạ Trạch Ích.

Chị Trịnh cười vui vẻ, ánh nến trong tay cũng leo lắt, “Cần gì chứ, dĩ nhiên sẽ bỏ qua rồi… Anh Tạ khách khí quá. Tôi nghe thấy tiếng động, biết hai người về nên châm nến đây, có thấy đường không?”

Cám ơn chị Trịnh, hai người một trước một sau đi lên lầu. Mở cửa ra, thấy tình cảnh bi thảm trong phòng, Tạ Trạch Ích lại không có vẻ giật mình. Đứa bé chơi đã thấm mệt, lăn quay ra ngủ trên sô pha. Anh cúi người dọn chỗ cho cô đặt chân, còn cô đứng sau nói: “Tôi không biết đi đâu mời giúp việc cả.”

“Không sao, tôi có thể làm được.”

Nghĩ một lúc, cô áy náy nói, “Tôi lại làm hư máy pha cà phê rồi.”

Anh vẫn đáp: “Không sao.”

Cô cúi đầu, “Bản lề cửa, bếp đun nước…”

Đợi cô im lặng, anh mỉm cười hỏi lại: “Còn gì nữa? Nói hết đi.”

“Còn cả chuông nối phòng bảo vệ nữa. Bình thường có người đến, chỉ cần bấm một lần là được. Nhưng có hôm đột nhiên không bấm được, thế mà chuông kêu mãi, giống tiếng thét lúc nửa đêm vậy…”

Cô vừa dứt lời thì chuông cửa lại vang lên. Hai người nhìn chằm chằm bộ chuông, đúng là rất giống tiếng thét lúc nửa đêm.

Bấm một cái, chuông vẫn kêu như cũ, âm thanh của bảo vệ đi qua đường dây truyền tới ở đầu loa: “Cô Lâm, dưới lầu có người mời cô xuống, nói là có quà đưa đến, mời cô ký nhận.”

Cô trả lời, “Trễ thế rồi mà còn đến hả? Là gì vậy?”

Tạ Trạch Ích nhìn cô chằm chằm, không nói câu nào.

Cô cũng nhìn thẳng Tạ Trạch Ích, có phần lo lắng.

Một lúc sau, Tạ Trạch Ích thấp giọng nói: “Em xuống đi, không có chuyện gì đâu.”

Nhìn vẻ mặt Tạ Trạch Ích, đột nhiên cô yên tâm hẳn. Sở Vọng gật đầu, “ừ” một tiếng.

“Đợi đã.” Anh cầm giá cắm nến đi tới, dùng bật lửa thắp sáng rồi đưa cho cô, “Nếu cần tôi thì cứ bấm chuông gọi.”

“Ừm.”

Hoảng hốt đi xuống lầu, trong đầu chỉ toàn là vẻ mặt sáng tỏ của Tạ Trạch Ích khi nhìn thấy đứa trẻ. Vì sao anh lại biết? Rốt cuộc đứa trẻ cứu được ở nhà máy kéo sợi và anh có quan hệ gì?

Cô sờ vào khẩu súng nằm trong túi áo khoác.

Anh định làm gì đây?

Đi xuống lầu, cả đại sảnh tối om om, chỉ có ánh nến trong đèn thủy tinh của bảo vệ là nguồn sáng trong đất trời này. Cô đến gần hỏi: “Xin hỏi người tìm tôi ở đâu?”

Bảo vệ đánh mắt về phía thang máy.

Cô giơ giá cắm nến lại gần. Bên cạnh thang máy có có một tấm gương toàn thân, trong ánh nến mù mờ, bóng người cô dần hiện rõ trong gương.

Cô mặc một chiếc váy len cao cổ màu đen, bên ngoài chiếc váy len là áo khoác len màu hồng đậm, chân đi tất xám cùng đôi giày da tròn nhỏ màu nâu có dây buộc.

Hai năm qua cô đã cao hơn, hồi mười ba tuổi mới một mét rưỡi, nhưng giờ đã cao hơn mười cen-ti-mét.

Song lại không cao như hình bóng trong gương.

Lại gần mới phát hiện, bóng người kia không phải ở trong gương, mà là đứng bên ngoài gương. Người đó cao hơn cô nửa cái đầu, nên chiếc áo khoác màu xám dài quá đầu gối trông cũng rất thuận mắt; dù dưới ánh đèn mù mờ thì làn da kia vẫn trơn nhẵn, đôi mắt sáng ngời, lấp lánh theo ánh nến, tựa như có vì sao rơi vào trong mắt.

Thấy cô lại gần, hai mắt người kia khẽ nheo lại, nụ cười càng thêm sâu.

Chương 96: Đêm (12)

Trong khoảnh khắc ấy, không một ai cất lời.

Rồi Tư Ngôn Tang làm động tác so ngang với môi dưới, khoa tay múa chân cười bảo: “Cao hơn nhiều rồi.”

Nói rồi anh cúi người nhìn cô, bất chợt dịch lại gần. Làn mi cô run lên, nhưng vẫn bình tĩnh để mặc anh nhìn; chỉ là giơ giá cắm nến cách xa ra, tránh làm cháy tóc anh.

“Cũng thay đổi nhiều rồi.” Một lúc sau, anh đột nhiên kết luận. Không biết là ám chỉ gương mặt cô hay là vì ánh mắt lạnh lùng của cô, “Đến mức suýt nhận không ra.”

“Thì cũng hai năm rồi mà. Sao anh vẫn không thay đổi gì thế.”

“Em không nhìn anh thì làm sao biết được anh có thay đổi hay không?”

Cô giơ cao giá cắm nến, quơ quơ trước mặt anh, nói: “Thì giờ nhìn, đúng thật là vẫn giống trước kia.”

Ngôn Tang bật cười, đưa tay toan nhéo mũi cô. Nhưng cô đã nhanh chóng lùi về sau một bước.

Tay anh cứng đờ giữa không trung. Thấy bảo vệ như con chuột đang tò mò quan sát từ trong bóng tối, đôi mắt bé tí sáng quắc.

Anh đành cười khan hai tiếng, chắp tay ra sau lưng.

“Sao trễ rồi mà anh còn tới đây?”

“Vừa cập bến là anh đã muốn đi tìm em ngay, nhưng vì có chuyện đột xuất nên giờ mới tới được.”

“Tới đây bằng gì vậy?”

Anh cười nói, “Còn thế nào nữa? Thì đi thôi.”

“… Đã muộn lắm rồi. Đây là Thượng Hải, luật pháp chỉ là bình phong, không phải Oxford xem trọng nhân tình.”

Anh híp mắt nhìn cô: “Sao em biết ở Oxford xem trọng nhân tình?”

“…” Cô im lặng, phát hiện mình đã lỡ lời, “Đọc trong sách.”

“Vì sao lại tìm hiểu về Oxford như vậy?” Trong mắt anh dần đong đầy ý cười.

Cô thở dài, “Bác Tư không cho anh đến tìm em đúng không?”

“Người ngày trước bảo anh cưới em cũng là ông ấy.”

“Chắc bác ấy có chỗ khó của mình, anh cũng nên thông cảm. Nếu biết anh không màng an nguy nửa đêm lén chạy ra ngoài, khéo bác lại trách tội em mất.”

Anh im lặng một lúc rồi gật đầu, “Là anh lỗ mãng. Lần này anh về không phải muốn làm khó em.”

Thấy anh có vẻ còn muốn nói, dừng một lúc rồi cô bảo: “Có lẽ anh Tạ cũng sắp đi rồi. Để em bảo anh ấy tiễn anh.”

Anh nhìn lên cầu thang chìm trong bóng tối, sửng sốt hỏi: “Anh ta… anh ta ở chung với em?”

Cô đáp: “Anh ấy là cảnh sát tuần tra ở tô giới, em lại ở Thượng Hải một mình nên cô út nhờ anh ấy chăm sóc em.”

Anh gật đầu, “Ừ.”

“Có nhiều người, chỉ vì giữa nam nữ hơi tiếp xúc thân mật là lại dèm pha với cái tưởng tượng bẩn thỉu của mình, gây nên hiểu lầm.”

Anh đột nhiên lúng túng: “Anh không có. Anh luôn tin tưởng em mà. Chỉ cần em giải thích thì anh sẽ tin em vô điều kiện.”

“Em không nói anh.” Cô nhìn bảo vệ mặt đỏ tía tai bên kia, nói: “Nhưng nếu em nói dối thì sao? Anh sẽ hiểu cho em chứ?”

“Em là người cực kỳ quan trọng trong sinh mệnh của anh. Cha, em trai, mẹ ruột… Thậm chí cha anh cũng nói, sau này nếu kết hôn, em còn quan trọng với anh hơn cả ông ấy. Không có gì quan trọng bằng.” Anh sốt ruột bộc bạch, có phần hốt hoảng, “Em hiểu không?”

“Anh coi trọng em đến thế, nếu em không xứng được như vậy thì sao? Em không hiểu anh, làm cản trở anh, thanh danh vấy bẩn khiến anh khó chịu, thật sự không xứng với sự tin tưởng của anh; liên tục chạm đến ranh giới cuối cùng của anh, không để ý đến cảm nhận của anh, như vậy anh sẽ làm gì em đây?”

Anh luống cuống, “Không phải anh nên chấp nhận toàn bộ của em sao?”

Cô nói: “Nhưng em là ai? Nếu không có hôn ước, giữa hai ta cũng chỉ có tình cảm anh em mà thôi, thậm chí mỗi người sẽ có cuộc sống của riêng mình, không nói chuyện với nhau mấy câu. Nhiều năm qua, những thứ chung giữa hai chúng ta cũng chỉ có mấy bức thư. Trên đời này còn có nhiều người có giao tình sâu đậm với anh, em có tài cán gì lại đáng để anh tin tưởng như vậy?”

“Nhưng…” Ngôn Tang có vẻ khó tin, “Em chính là em mà, từ năm mười lăm tuổi, em chính là người anh muốn nắm tay suốt đời.”

“Vậy anh có hiểu em không? Nếu em thật sự giống như người ta đồn đại, có chuyện mờ ám với người khác, nhưng bây giờ em đang lừa dối anh. Anh định xử như thế nào đây?” Nói đến đoạn kích động, môi cô trở nên khô khốc. Khẽ nhấp môi, cô nói, “Anh Tư, xin anh hãy nghĩ thật kỹ.”

Thấy anh im lặng đứng tại chỗ, cô nói tiếp, “Anh về đi.”

Anh ngơ ngác gật đầu, thần hồn lạc phách xoay người rời đi.

Nhìn theo bóng lưng ấy, bỗng dưng cô cảm thấy không đành lòng, bèn bước lên hai bước gọi anh lại, “Anh Tư.”

Anh ngoái đầu nhìn cô.

Lời đến bên môi, nhưng cuối cùng chỉ có thể nói, “Hôm nay muộn rồi. Nếu lần sau anh đến vào buổi sáng, nhất định em sẽ mời anh vào nhà chơi.”

Anh gượng cười, gật đầu rồi xoay người bước đi.

Cô nhìn theo bóng lưng dần khuất một lúc lâu.

Anh vẫn không thay đổi, vẫn là chàng trai của ngày trước.

Nhưng cô đã đọc hết cuộc đời của anh. Một chàng trai niềm nở đầy sức sống, đắc chí hăng hái, cho rằng một người đến chết sẽ không bao giờ thay đổi; có vô số người sẵn lòng sống chết vì anh, nhưng không ai hiểu anh, anh lẻ loi cô độc, chỉ mong có người thấu hiểu; để rồi thoái chí chán nản, trở nên điên dại; hết khóc lại cười…

Cuối cùng, anh đã tự sát trên đường ray trong một đêm tuyết ở Siberia.

Ra đi.

Mà nay anh vẫn mỉm cười, là chàng trai niềm nở đầy sức sống.

Vẫn còn kịp.

***

Cầm nến đi lên cầu thang, gió lớn ùa vào làm ngọn lửa tắt phụt. Đứng ở tầng hai cũng có thể cảm nhận được ngọn nến được thắp, ngẩng đầu nhìn lên, ở tầng ba vẫn mở rộng cửa, ánh sáng từ ngọn đèn dầu trong phòng hắt ra chiếu xuống bên dưới; cũng nhờ thế nên cô có thể dễ dàng đi lên cầu thang.

Gần đến tầng ba, cô thấy Tạ Trạch Ích đứng trước cửa, tay cầm ngọn đèn dầu.

Cô nói: “Cám ơn anh.”

Tạ Trạch Ích đáp: “Không có gì, chỉ là lúc ở một mình tôi sợ tối nên mới thắp đèn, chứ không phải vì em.”

Tuy đã chối bỏ trách nhưng, nhưng nói thế, đến khi vào phòng thì cô lại áy náy. Phòng đã được dọn dẹp ngăn nắp, không khác gì lúc anh đi.

Cứ tưởng Tạ Trạch Ích sẽ hỏi chuyện ban nãy, không ngờ anh lại chẳng nói gì. Đợi cô vào phòng thì đóng cửa lại rồi rời đi. Nhưng cô bất giác đưa tay ngăn cửa, hai người một trong một ngoài cách nhau một khe cửa đủ một người lách qua, cùng ngẩn người.Tạ Trạch Ích nói: “Sao thế?”

Sao anh lại tốt đến vậy?

Thật ra cô rất muốn hỏi câu đó, nhưng rồi cảm thấy, hỏi như vậy không khác gì những cô gái trẻ ỷ có chút sắc đẹp đã lên mặt. Có vẻ anh có hảo cảm với cô, cô có thể cảm nhận được; có lẽ cũng bởi vì bà Cát nhờ vả nên mới đặc biệt để ý, nhưng lại tốt quá rồi.

Vô công bất thụ lộc. Nếu cô cứ hưởng mãi thì không quá chân thật.

Nhưng có thể hồi báo gì đây? Dường như anh chẳng thiếu gì.

Nghĩ đến đây, cách khe cửa, cô cứ thế ngơ ngác nhìn Tạ Trạch Ích.

Trong phòng lay lắt tia sáng, trong tay anh cũng có ngọn đèn dầu. Cô ngẩng đầu lên, con ngươi phản chiếu hình bóng anh, ánh mắt có phần mông lung. Nếu không phải sớm biết cô thường xuyên thất thần, thì khéo anh đã tưởng cô muốn hôn anh.

Anh cố kìm nén, bàn tay siết chặt đè lên khung cửa.

Ngoài mặt vẫn cười nhạt bảo: “Có một việc nữa, muốn nghe không?”

“Là gì?” Hai mắt sáng lên.

“Sợ em.”

Cô suy nghĩ, đột nhiên phát hiện anh đang thay đổi cách mắng cô là chó, lập tức muốn nhấc chân đạp anh một phát. Nhưng Tạ Trạch Ích đã nhanh tay hơn, vội khép cửa lại. Chân cô đá vào cửa, *rầm* một tiếng, đau đến mức phải gập người.

Cách một cánh cửa, cô có thể nghe thấy Tạ Trạch Ích đang cười ở bên ngoài.

Cười được một hồi, dường như vì áy náy nên thấp giọng hỏi: “Có đau không?”

Cô tức giận: “Anh cứ thử đi!”

Bên kia lại bật cười. Chợt tiếng gõ cửa vang lên, anh nói, “Nhớ khóa kỹ cửa đấy.”

Cô đáp, “Biết rồi.”

Cô lại đứng đợi một lúc, nhưng bên ngoài không còn động tĩnh nào khác.

Tạ Trạch Ích xuống lầu, ngồi vào xe, bàn tay nắm vô-lăng đổ đầy mồ hôi. Bóng tối ở đường Ferguson dễ dàng khiến con người mất đi khả năng tự chủ, lúc nhìn vào ánh mắt sáng bừng ấy, anh suýt đã mất kiểm soát muốn kéo cô ra khỏi phòng, đè lên cửa hôn ngấu nghiến.

Sao có thể không sợ cô chứ?

Ở trước mặt cô, anh không biết thì ra mình lại là kẻ háo sắc đến vậy.

***

Tuy cô đã mời Ngôn Tang “ban ngày hôm khác lại đến”, nhưng cô cũng không có cơ hội ở nhà vào buổi sáng.

Tuy nồi hơi của viện nghiên cứu được chế tạo và thiết kế cùng một lúc, nhưng đến thời điểm này, về cơ bản xác lò đã được xác định: đường kính cuối cùng là 26 feet nên thanh cadmium điều khiển phản ứng dài 26 feet. Hình dạng cuối cùng là một hình cầu với đỉnh hình dẹt, nặng 1.400 tấn, tổng cộng 52 tấn uranium kim loại và uranium oxide, cộng thêm 57 lớp than chì và các khối uranium chồng lên nhau.

Lúc hoàn thành xây dựng thì vừa khéo tròn năm tuần, là ngày 27 tháng 3.

Sau khi Minh Trị đổi mới, Nhật Bản chịu ảnh hưởng nặng nề của châu Âu, do đó bọn họ có ý thức rất mạnh về nghi thức cho các sự kiện trọng đại. Vì vậy nên tuy nồi hơi đã hoàn thành, nhưng nghi thức khởi động chính xác được tổ chức và năm ngày sau, lúc 9 giờ sáng ngày 1 tháng 4.

Chính vì thế mà người Nhật đã chuẩn bị một bữa tối hoành tráng vào tối ngày 1 tháng 4, treo biểu ngữ là “Hợp tác nghiên cứu khoa học ba nước hảo hữu Nhật-Trung-Anh”, mời nhiều người nổi tiếng ở trong và ngoài tô giới đến, bao gồm các học giả, truyền thông và quân đội.

Lần nữa kiểm tra hết các số liệu của hạng mục “nồi hơi”, Sở Vọng chẳng buồn ngẩng đầu, nói với Sakuma Ichiro đến chúc mừng: “Có quá nhiều tính không xác định trong thí nghiệm, chưa chắc sáng thứ sáu đã có thể thành công. Nếu thất bại thì ai còn tâm trạng tham dự tiệc tùng nữa?”

Sakuma Ichiro nhướn mày, “Hết thứ sáu này là vừa tròn kỳ hạn sáu tuần. Người lúc đầu thề thốt nói nhất định sẽ hoàn thành trong sáu tuần cũng không phải là tôi.”

Sở Vọng cũng nhướn mày, liếc xéo hắn ta.

“Thỏa thuận Nhật Bản rút khỏi tô giới và hội đồng khu đã được ký. Nếu không thành công, cô muốn tạ tội với tổ quốc của cô thế nào đây?”
“Các người vừa không tin tôi lại vừa quá tin tôi. Cứ như thể nhất định sẽ thành công vào tuần này vậy. Từ lúc xây xong là hôm nay cho đến giữa thứ sáu, không cho tôi cơ hội để chạy thử hay điều chỉnh. Rốt cuộc các người tự tin vào điều gì?”

Nụ cười của Sakuma Ichiro dần biến mất. Nhưng một lúc sau, hắn đã lại bật cười.

Nhật Bản sẽ không dễ dàng từ bỏ mảnh đất Trung Quốc này.

Nếu cô thất bại, bọn họ càng có lý do để giết con tin, cô sớm biết rõ điều đó.

Mặc dù là thí nghiệm mang tính tượng trưng chỉ kéo dài năm tuần, nhưng trong lòng cô đã có sẵn câu trả lời tiêu chuẩn. Đáp án ấy đã được thực hiện thành công và không hề có lỗi.

Nhưng khi cô đứng trên đỉnh chóp của nồi hơi, cô bất chợt ý thức được vấn đề này liên quan đến sự an toàn của đất nước và mạng sống của vô số người, nếu có một lỗi nhỏ, thì dù có chết cũng không thể bù đắp nổi.

Khi những nghiên cứu viên khác rời đi, cô vẫn ngồi trên đỉnh thí nghiệm, xem xét bản nháp các tính toán, hòng đảm bảo không có bất cứ bất trắc nào xảy ra.

Ngày 27 tháng 3 là ngày có tầm quan trọng rất lớn đối với cô. Suốt đời này cô sẽ nhớ mãi việc xây dựng lò phản ứng chậm ở Thượng Hải, cùng với lần đầu tiên thử vận hành vào năm ngày sau.

Chính vì chuyện này đang nằm trước mắt nên cô không nhớ được mấy tháng trước, từng có người nói với cô rằng, vào ngày 27 tháng 3 sẽ có một con tàu du lịch đến từ Pháp chậm rãi cập bến sông Hoàng Phố.

***

Nghe nói Tư đại công tử mới từ châu Âu về Thượng Hải, thư mời từ các tòa soạn Bắc Bình và Thượng Hải được gửi đến nhà họ Tư nhiều như tuyết rơi, thư còn nhiều hơn cả của Tư Ưng.

Bà Tư cười nói: “Đúng là Trường Giang sóng sau xô sóng trước ông à.”

Tư Ưng cười lạnh, “Bà không đọc báo thấy bên ngoài khích bác nó thế nào à. Trong hộp thư ngoài nhà, có mười bức thì cũng hết bảy tám bức nói nó ‘thổ địa nước ngoài không nuôi dưỡng dược văn nhân Trung Quốc’.”

Bà Tư nói: “Tôi có thấy rồi. Nhưng không phải sau khi đọc xong, cậu ấy đã phát biểu bài văn ngôn “Địa phủ chúng sinh” đầy thâm sâu châm chọc lũ người thích giảng đạo đó sao?”

“Còn có người nói nó ‘nay non sông suy đồi, tri thức nên dùng chữ khuyên người hối cải chứ không nên vì tư lợi bản thân, viết ra những cuốn tiểu thuyết thương mại mang tính giải trí như thế này’.”

Bà Tư tìm được một bài trong số tạp chí mình sưu tầm, mỉm cười đưa cho Tư Ưng: “Ông xem đây là cái gì?”

Tư Ưng định thần nhìn lại, thì ra là bài văn hùng hồn mà con trai ông dùng tiếng Anh viết để châm biếm đám quân phiệt hại nước hại dân. Tiêu đề bài viết là: Tư Ngôn Tang ở Bắc Bình năm 1924.

Lúc ấy, thằng bé chỉ mới mười lăm tuổi.

Tuy Tư Ưng thường cố ra vẻ nghiêm túc dạy con, nhưng thấy con trai có tiền đồ như vậy, khóe môi không kìm được cong lên.

Bà Tư nhanh chóng nói: “Con trai cũng đã lớn rồi, có suy nghĩ chủ trương của mình. Nếu nó thích viết văn thì hay mình cứ tùy nó đi?”

Tư Ưng thôi cười: “Cũng chỉ là mới học viết được mấy chứ, có tiền đồ cái gì!” Dứt lời lại cầm lấy một bức thư đưa cho bà Tư: “Cả “Ngữ Ti” lẫn “Nhân Vật Hiện đại” đều là tạp chí biên tập dẫn đầu chỉ trích nó. Nay thư gửi đến mời nó đến Thượng Hải tham gia ‘hội liên hoan’ ở khách sạn lớn. Nếu nó đi, chắc chắn đó sẽ là Hồng Môn yến. Nhưng nếu không đi, sau này nếu dựa vào nghiệp văn thì đừng hòng mơ có địa vị ở Trung Quốc. Nếu nó đã là con trai tôi thì cứ mặc nó, nhà ta cũng không đến nỗi không nuôi nổi một miệng cơm. Nhưng hai nhà Tư Lâm còn có ước hẹn đó, nó không chỉ là con trai của một mình tôi, nó còn có thể là tấm chồng mà con gái bảo bối nhà họ Lâm dựa dẫm. Dù hôm nay anh Lâm nghĩ thế nào, thì tôi cũng phải có giao phó với nhà họ.”

Bà Tư lấy làm ngạc nhiên: “Không phải đã đăng báo hủy hôn rồi sao?”

“Nhà họ Tư không thể mất nhà họ Lâm, nhà họ Lâm cũng không thể mất nhà họ Tư. Hôn ước chỉ là lý do, tuy đã bỏ hôn ước với con bé ba, nhưng theo tôi thấy, có lẽ anh Lâm có ý định khác.”

Bà Tư khó chịu: “Không lẽ Lâm lão gia muốn…”

“Nhiều năm trước trên đường đến Thiệu Hưng, tuy tôi thấy ông ấy có vẻ thương con bé ba còn trẻ, nhưng kỳ thực lại cố ý muốn hứa gả con hai cho Ngôn Tang. Đăng báo hủy hôn, không biết ẩn tình trong này có liên quan gì đến điều đó không.”

Hai mắt bà Tư sáng lên: “Bao giờ thì thuyền nhà họ Lâm sẽ đến Thượng Hải?”

“Hôm nay.”

“Vậy có thể để tôi tự chủ trương gửi một bức thư, mời cả cô ba lẫn cô hai cùng đến Thượng Hải trong ngày tham dự ‘tiệc liên hoan’ có được không? Chọn một chỗ bên cạnh, cùng xem xem Hồng Môn yến một lần?”

Tư Ưng nhìn vợ một lúc lâu, có vẻ vẫn chưa hiểu lắm.

“Nếu Ngôn Tang có thể tự củng cố được địa vị cho mình thì cứ để con nó theo văn, và ông cũng phải hứa với tôi là từ nay không được can thiệp vào chuyện của nó nữa. Nếu đến lần này nó cũng không đảm đương nổi thì cứ để thấy cảnh nó thoái chí, có lẽ có thể biết Ngôn Tang không phải là bạn đời thích hợp. Nếu nó sẵn sàng bỏ xã hội theo tự nhiên vì ai đó, thì ấy cũng là chủ ý của nó; nếu nó vẫn cố chấp theo ý mình, biết đâu vẫn có người chịu đồng cam cộng khổ bầu bạn cùng nó trong quãng đời còn lại. Có lẽ hôn ước hai nhà Tư Lâm đến đây là hết, lòng người nào người nấy rõ, không cần phải mang nhiều gánh nặng hay oán hận.”

Hai mắt Tư Ưng sáng rực, rất tán thưởng trước ý kiến này, lập tức gật đầu bảo được, cầm giấy bút đến viết một bức thư rồi cho người gửi sang nhà họ Lâm bên cạnh.

***

Một chiếc xe Buick chạy theo sau mấy chiếc xe chở hành lý, chậm rãi tiến vào tô giới công cộng, dừng lại trước cửa biệt thự nhà họ Lâm.

Chủ nhân đã rời đi hai năm, căn nhà để không, gia cho lão quản gia đón từ Thiệu Hưng lên trông nom.

Cửa xe Buick mở ra, Lâm Du bước xuống từ vị trí ghế phụ. Ngày trước ông ta thích mặc quái bào Trung Hoa vì từng du học Nhật Bản. phái du học Nhật năm xưa về nước đa số đều làm quan, nên bọn họ cũng xưng là “phái quan liêu”. Các ông lớn sĩ đồ thông thuận trong phái đều thích các kiểu quái bào bằng gấm như thế, có lẽ vì mặc vào thì có thể đem lại điềm lành.

Mà nay đi châu Âu mấy năm, có người vợ mến yêu chăm sóc cuộc sống cho ông ta, hằng ngày đều là ủi sơ mi âu phục, từ đó ông ta cũng bắt đầu học người đến Âu Mỹ mặc âu phục thắt cà vạt vô cùng phóng khoáng, thế là ném hẳn bộ quái bào ra sau đầu.

Nước ở châu Âu không tốt, uống hai năm nên đầu tóc có xu hướng hói dần, đỉnh đầu nhọn hoắt trông chẳng khác gì chuột. Trước đây ông ta khá gầy, nhưng nay có lẽ vì ăn nhiều thịt bò nên đã biến thành chuột béo má hồng.

Ông ta không hài lòng lắm về diện mạo bây giờ của mình, nhưng không ngăn được vợ ông ta nói: “Tướng mặt chuột là tướng chủ quý đấy.” Câu này nghe đúng là quá xuôi tai. Mỗi lần soi gương, ông ta càng lúc càng thích tướng tá của mình, như thể cảm nhận được bản thân thật sự “quý”.

Ông ta mỉm cười, cực kỳ ga-lăng mở cửa sau ra. Một cô gái cử chỉ tao nhã, mặt mũi xinh xắn bước ra. Đã lâu rồi không đặt chân lên mảnh đất tổ quốc, cô ta thấy mặt đất nhầy nhụa vì mưa dầm dề mà ai oán: “Người trong nước đúng là chả chú trọng vệ sinh tí nào.”

Cô ta cẩn thận xách vạt áo, cẩn thận tìm một chỗ sạch sẽ để đặt chân. Cô ta nôn mửa trên thuyền nhiều ngày liên tiếp, có vẻ gầy và xanh xao hơn so với lúc ở châu Âu. Có điều dạo này cô ta đang giảm cân nên đây chính là kết quả cô ta mong muốn, cho nên còn có vẻ đắc chí khi bản thân gầy gò tái nhợt.

Lúc cha mở cửa xe bên kia đón vợ yêu xuống, Doãn Yên trông thấy quản gia đang cầm hai bức thư. Được cha cho phép, cô ta đi tới nhận lấy thư.

Nhanh chóng xé bức thư viết “kính gửi anh Lâm”, ký tên “Tư” ra, đọc lướt một lượt, hai mắt cô ta sáng lên, cười nói: “Mẹ! Ba*! Bà Tư mời con ngày mai đến Thượng Hải dự tiệc…”

(*Trước đây Doãn Yên gọi Lâm Du là cha, nay đổi cách gọi hiện đại là ba.)

Vị phu nhân trong xe cười nói: “Trọng điểm không phải là bà Tư mà là cậu Tư đúng không? Ở châu Âu ngày nào cũng cậu Tư cậu Tư, hai tai mẹ mọc kén rồi đây này. Giờ đã về nước, người khác có thể hiểu con nói gì đấy, đừng có như vậy nữa.”

Cô ta nháy mắt, cười cười tiếp tục mở bức thư thứ hai ra.

Nhưng vừa đọc được hai hàng thì cứng người, môi trắng bệch hét lớn: “Ba!”

Người phụ nữ kia bước ra khỏi xe, bà ta khoác áo đen bên ngoài bộ sườn xám màu xanh thẫm, bên dưới bắp chân thon thả và mắt cá chân là đôi giày cao gót nhọn hoắt, lên giọng quở mắng: “Đã bảo bao nhiêu lần rồi, là con gái thì phải nhỏ nhẹ, dù gặp chuyện gì cũng không được quá ngạc nhiên. Nhắc con mấy lần rồi hả. Sao?”

Cô ta nuốt nước bọt, đưa thư cho Lâm Du.

Lâm Du như đã có lường trước, nhưng lúc nhận thư đọc, sắc mặt không khỏi biến đổi.

Đó là một bức thư của luật sư viết cực kỳ chi tiết, truy vấn đến tận mười bảy mười tám năm, trăm phương ngàn kế muốn ông ta phải táng gia bại sản.

Chương 97: Đêm (13)

Bà Chu nghe thấy động tĩnh, bước ra khỏi xe.

Bà ta có chiều cao trung bình, thoạt trông ngoài bốn mươi, ngũ quan bình thường, nhưng vì mặt nhỏ và trang điểm phù hợp với tuổi tác nên nom khá tinh tế. Có lẽ vì phơi nắng nhiều năm ở miền nhiệt đới Việt Nam nên mặt lấm tấm tàn nhang, và cũng vì thế nên da đen hơn phụ nữ Giang Nam bình thường, giống phụ nữ Đông Nam Á hơn. Nét dịu dàng trong thần thái của bà ta là phong tình Giang Nam hòa lẫn cùng cái chất của nông thôn châu Âu. Hai cánh môi mỏng đo đỏ, răng trắng như ngà, để lộ hàm răng đều như bắp mỗi lúc cười. Độ cong của nụ cười cũng được bà ta dày công điều chỉnh, chỉ tiếc tháng năm không tha cho bất cứ, dù mỹ nhân đang cười thì nơi khóe mắt cũng đã có nếp nhăn.

Bà ta vừa nghe là đã biết có chuyện xảy ra. Nhận lấy thư trong tay Lâm Du, đọc hết rồi cười nói: “Biết kiểu gì cô ta cũng làm chuyện này, hèn gì không đổi được tiền ở ngân hàng HSBC, đúng là cô ta đã lén cho người động tay động chân. Hừ, cuối cùng lại đợi chúng ta ở đây.”

Hồi trước lúc còn ở Việt Nam, bà ta định gửi tiền trang sức quý giá của Lâm Du vào ngân hàng Nam Dương của Pháp tại Việt Nam. Nhưng người Pháp ở ngân hàng báo cho bà ta biết: bà ta không có quyền lợi đó. Bà ta không có thân phận, nên tiền tiết kiệm cùng những thứ tài sản của ông ta ở Việt Nam, bà ta đều không có quyền quyết định hay sử dụng, mỗi một tháng, bà ta chỉ được phép lấy hai đồng franc từ ngân hàng.

Đương nhiên bà ta biết đây là thủ đoạn của ai. Đến khi người kia chết, Lâm Du tìm mọi cách đưa bà ta đến Pháp. Lần đó bà ta cũng thử chuyển số tiền kia từ ngân hàng Nam Dương đến ngân hàng Thụy Sĩ, nhưng lần nào cũng có vấn đề trong quá trình làm thủ tục; mấy tháng trước, bà ta còn nhận được một tin dữ: vì nhiều nguyên nhân mà số tiền kia đã bị đóng băng, bà ta phải đích thân về Việt Nam hoặc Trung Quốc ký tên.

Bắt đầu từ lúc ấy bà ta đã để ý.

Ngày còn du học ở Nhật Bản, bà ta và bà Kiều đã có quan hệ cá nhân gắn bó. Những chuyện vụn vặt trong sản nghiệp to lớn của nhà họ Lâm đều được bà ta và bà Kiều cùng nhau thương lượng. Vì liên quan với nhau quá nhiều, nên dù hai người đã không gặp thì vẫn duy trì quan hệ “hữu tình” ấy. Một khi có động tĩnh, bà ta sẽ là người đầu tiên gọi điện báo cho bà.

Nhận được bức điện báo của bà Kiều báo rằng cô ba và thầy giáo có quan hệ mập mờ, bà ta mừng như điên. Bởi vì gút mắc khó chịu nhiều năm của bà ta rất có thể sẽ nhờ đó mà được tháo gỡ.

Thế là bà ta dứt khoát thay chồng làm chủ, gửi điện báo đến tòa soạn lớn nhất Thượng Hải, công khai đăng mẩu tin kia.

Cô ba tuyệt đối không thể xóa tên khỏi gia phả. Chỉ cần nó còn ở nhà họ Lâm một ngày, thì ả đàn bà ở Hương Cảng kia sẽ không dám vọng động tới nhà họ Lâm; nếu không bà ta nhất định sẽ không từ bỏ ý đồ.

Cô ba nhất định phải là con gái nhà họ Lâm, hơn nữa cả đời này nó chỉ có thể là con gái của nhà họ Lâm.

Gửi bức điện báo đó, giải trừ hôn ước với nhà họ Tư, để xem sau này còn có ai chịu cưới nó nữa?

Đến lúc đó dù ai có ý động vào số tiền kia, thì bà ta chỉ cần nói: “Đấy là tài sản của nhà mẹ cô ba, ngày trước được chuẩn bị cho cô ấy gả đến nhà họ Tư ở Bắc Bình, để tôi xem tên sói mắt trắng nào dám động đến của hồi môn của cô ba!”

Làm gì có gia đình nào có gia sản lẫn thế lực lớn mạnh hơn nhà họ Tư, lại chịu cưới một cô con gái thanh danh bị vấy bẩn?

Nhà họ Lâm đâu phải không nuôi nổi cô con gái như thế, dẫu gì thì, làm một cô gái độc thân còn đỡ hơn là dân tỵ nạn ở khu Hạp Bắc.

Dù là gả đại đi chăng nữa, thì đến lúc ấy cũng chưa biết được của hồi môn có được mấy đồng đâu.

Chắc hẳn nó sẽ không dám tự mình đăng báo muốn cắt đứt quan hệ với anh chị và cha!

Chu thị thấy bà Cát có vẻ đã rơi vào mong muốn của mình, bèn ôm con gái vào lòng, “Sợ gì chứ!”

Sau đó ghé vào tai Lâm Du cười nói hai câu, tiêm liều thuốc an thần cho ông ta. Mây mù trên mặt ông ta biến mất, lập tức gọi quản gia tới, gửi điện báo đến Hương Cảng.

***

Đọc hết bức điện báo, bà Cát vô cùng hứng khởi. Mật Thu đứng cạnh lột vỏ nho, cau mày khuyên, “Bà đừng cười lớn quá, cẩn thận để lại nếp nhăn đấy!”

“Em không nói ta cũng quên mất,” Tuy ngoài miệng nói thế, nhưng bà Cát vẫn cười vui vẻ, như thể có một đứa con nít biến khéo thành vụng, khiến bà cởi mở cười to nhớ đến bức điện báo có sức ‘bốn lạng bạt ngàn cân’ kia, “Của hồi môn của vợ trước, dĩ nhiên phải giữ lại để con gái xuất giá dùng. Hồi đó thì lấy lý do chuẩn bị gả cho nhà họ Tư số một Bắc Bình mà giữ lại, nay hôn ước không còn, nhưng vẫn giữ tiền đợi con bé gả vào một nhà khác… Chao ôi cái ả Chu thị này, nhiều năm không gặp, thủ đoạn đúng là khiến người ta vui vẻ.”

Mật Thu tức tối nói, “Bà ta nhất quyết giữ chân cô ba để ôm đồ cưới của tiền phu nhân, đúng là đồ vô liêm sỉ. Cô ba của chúng ta thanh tú xinh đẹp như thế, cả Hương Cảng này cũng không mấy người có thể sánh bằng. Ha, tưởng cô ba của chúng chỉ vì mẩu tin kia thì sẽ không gả được chắc?”

Bà Cát cười một hồi rồi nói, “Đồ cưới tiền bạc đồ trang sức, cũng nhiều năm rồi, dù có truy manh mối thì cũng khó mà kiếm đủ lại. Luật sư có nói với ta, những thứ này chỉ là nhỏ nhặt, coi như tha. Nhưng nay bà ta còn gửi cho ta thứ này… Trứng cút để chim sẻ nước ngoài ấp, cứ tưởng có thể bay thẳng lên trời thật chắc? Cùng lắm cũng chỉ có thể đập cánh hai cái. Ta làm thế là muốn để bà ta biết cái gì gọi là ‘tự chuốc rắc rối’.”

Bà vừa ăn nho vừa cầm bút viết điện báo, đúng lúc này điện thoại đổ chuông. Tuệ Tế nghe máy, nói là ngài Tưởng được ngài Đỗ ở Thượng Hải hẹn đi dự tiệc tối thứ sáu, cho nên buổi chiều không thể đến đánh mạt chược.

“Chuyển lời của ta đến nó: ‘Mời ông Tưởng đi dự tiệc, một đứa không tên không họ như nó chạy theo làm gì?’.”Tuệ Tế cười hì hì chuyển lời, tới khi nghe đầu kia đáp thì càng cười run người, nói: “Cô Tạ bảo: ‘Cháu muốn đi tạo phúc cho giới quý tộc Thượng Hải. Những bữa tiệc lớn nhỏ trên cả nước không thể không có cháu, nếu không thì tìm ai để áp đảo sắc đẹp đây?’.”

Bà Cát cười phì, “Còn có cả chuyện áp đảo sắc đẹp nữa hả, đừng làm mất mặt người Hương Cảng chúng ta.”

Viết vội xong mấy chữ, bà gọi chú Henry đến, bảo ông gửi điện báo về Thượng Hải.

Bà đưa một tờ giấy cho ông: “Gửi cái này đến nhà họ Lâm.” Rồi ung dung ăn nho: “Để tôi xem ai sốt ruột hơn ai.”

Chú Henry cúi đầu nhìn, trên tờ giấy kia viết: “Điện báo cô gửi đến tôi đều lưu lại làm bằng chứng cả. Nếu gia sản thế lực của nhà chồng tương lai của con gái nhà họ Lâm lớn mạnh hơn nhà họ Tư, thì của hồi môn là cái sá gì?”

***

Lúc điện báo được đưa tới nhà họ Lâm, Chu thị đang gọi thợ may đến may đồ mới cho con gái. Đi cùng thuyền về với bọn họ còn có vài tiểu thư trung học và du học sinh Anh, Pháp, đa số bọn họ đều có gia thế bối cảnh lớn. Nên khi về Thượng Hải, có không ít người chủ động mời xã giao.

Lúc ở châu Âu, cứ cách ba bốn hôm là bà ta lại mời thợ may đến nhà may đồ cho con gái, toàn là kiểu thịnh hành ở châu Âu; về đến Thượng Hải thì phải đổi, tất nhiên không thể thiếu sườn xám ôm người.

Bà cầm điện báo ngồi đằng xa đọc. Đọc hết rồi thì cười giễu: “Người có gia thế lớn mạnh hơn nhà họ Tư? Cưới nó làm con dâu? Lại còn vừa ý nó? Nực cười.”

Cách đó không xa, cô con gái của bà ta đang mặc váy ngủ, giang rộng tay dưới ánh đèn mờ để thợ may đo kích cỡ. Dù vẫn chưa thực sự là phụ nữ, nhưng dáng vẻ bên dưới váy ngủ vẫn uyển chuyển tựa như dòng nước chảy. Cũng uyển chuyển như thế là nụ cười và thần thái của con gái bà, cùng một chút vẻ đẹp thơ mộng phương Đông. Cũng chỉ có con bé, ở châu Âu hai năm qua, dù là Paris hay du lịch cùng cha đến Anh, Bỉ, Đức… không biết đã có bao nhiêu chàng trai nổi danh đang du học theo đuổi. Nhưng ai cũng đều bị từ chối. Có người từng tan nát con tim vì con bé, có người kiên trì không từ bỏ; đếm không hết bao con tim trẻ tuổi nóng bỏng bị con bà giẫm dưới chân, thậm chí cũng có người sẵn sàng chết vì con bé.

Chỉ có Doãn Yên của bà mới xứng đáng có được tình yêu như vậy. Cô ta được đàn ông cung phụng riết quen, đến nỗi mẹ cô ta là Chu thị cũng bị những người theo đuổi con gái nâng cao tiêu chuẩn, cho rằng tài tử Trịnh Diệc Dân không có tiếng kia quá hẹp hòi, gia sản lẫn học thức đều không xứng với Doãn Yên. Hai năm qua bà ta không hề thư từ qua lại với nhà họ Trịnh, nhà bọn họ từng gửi điện báo đến uyển chuyển hỏi, rốt cuộc hôn ước có còn hay không?

Đã hai năm không nghe được tin tức gì về cậu Trịnh. Giả sử có ngày trở thành nhân tài thật, vậy nếu bỏ qua thì đúng là đáng tiếc. Cho nên cũng chỉ gửi điện báo về đáp: Chuyện trọng đại, đợi ngày về nước gặp mặt trực tiếp rồi hẵng bàn lại.

Thế là cứ lần lữa đến tận bây giờ.

Nếu không phải từ nhỏ con gái đã si mê cậu cả của nhà họ Tư bên cạnh, thì bà cũng xem thường cả nhà họ.

Tuy tiểu tử kia hai năm qua có danh tiếng, bà cũng đã từng đọc tập truyện đầu tay “Thư tình châu Âu”, nhưng có cảm giác như đang châm chọc ai đó, khiến bà cảm thấy khó chịu. Rốt cuộc cậu Tư nghe được chuyện này từ đâu? Đang bất bình vì ai? Hai nhà Tư Lâm có quan hệ tốt như thế, bà Tư cũng chỉ là vợ kế của cha cậu ta, có lẽ sẽ không làm mất mặt cha như vậy. Nghĩ đến đây, bà thở hắt một hơi nghĩ, có lẽ chỉ là trùng hợp mà thôi, sau lại cũng không quan tâm thêm.Mỗi lần chơi đánh bài với các phu nhân nhà giàu khác, nhắc đến “cậu Tư” kia, bà luôn nói: “Haiz, cũng là Doãn Yên thích nó, tôi cũng không có cách gì với con bé.” Ai bảo bà có một cô con gái như bảo bối, ngày ngày đều cưng chiều con?

Trong ánh mắt kén chọn của một người mẹ, bà vẫn cảm thấy cậu Tư không phải là bạn đời phù hợp của con gái. Nhưng có thể sánh cùng nhà họ Tư, ngoài Doãn Yên ra thì còn ai thích hợp hơn?

Cô ba kia ư? Nực cười thật đấy.

Nhưng giọng điệu trong bức điện báo lại có vẻ như đã định liệu kỹ lưỡng. Ngộ nhỡ có nhà nào đó mắt mù chịu cưới nó thì sao?

Nghĩ đến đây, bà càng lúc càng bất an.

Đúng lúc hồi chiều bà Tư uyển chuyển bày tỏ cũng muốn mời cô ba cùng tới Thượng Hải dự tiệc. Bà và Doãn Yên lập tức đồng ý.

Doãn Yên cười nói: “Vừa hay đã hai năm không gặp em ba, cũng không biết gửi ảnh cho con, sắp không nhớ nó trông thế nào nữa rồi.”

Câu này của cô ta là vừa lên án vừa khoe khoang, Chu thị nghe mà lòng hứng khởi.

Bà lập tức cùng bà Tư hỏi thăm địa chỉ của Sở Vọng. Ngồi nhà họ Tư đến đường Ferguson, xuống xe, hai bà đứng dưới lầu kiểm tra địa chỉ hộp thư, lúc đang do dự không biết có nên nhấn chuông không thì một sĩ quan thượng úy Anh Quốc xách hai túi đồ nấu ăn quay về. Thấy thế, anh lễ phép hỏi: “Có phải hai người đến tìm cô ba Lâm không?”

“Đúng thế.”

“Giờ cô ấy không có ở đây. Nếu muốn gửi đồ hay gửi lời thì có lẽ tôi có thể giúp.”

Chu thị không kìm được lên tiếng: “Xin hỏi… Cậu với nó… có quen nhau à?”

“Tôi được cô của cô ba nhờ ở Thượng Hải chăm sóc cô ấy.”

“Ồ.”

Thật ra Chu thị muốn sĩ quan kia mời hai người lên nhà ngồi đợi hơn, như vậy bà có thể dễ dàng xem xét đời sống của nó thế nào. Nhưng không ngờ chờ một hồi lâu, sĩ quan kia vẫn chỉ im lặng nhìn hai người, không nói gì thêm.

Ngược lại là bà Tư đưa thiệp mời, “Làm phiền chuyển giúp tôi thứ này cho cô Lâm.”

“Không có gì.”

Bị từ chối đón tiếp, Chu thị theo bà Tư lên xe. Tức giận một lúc rồi tổng kết: “Đúng là người Hoa da trắng, người Anh thật sự đâu lễ phép như vậy?”

Lại còn bảo: “Nhờ người chăm sóc mà còn tìm đàn ông, dù là cảnh sát nhưng tùy tiện ra vào nhà con gái người ta thì cũng không ổn chút nào.”

Bà Tư chỉ gật đầu cười, không nói gì.

Về đến nhà, Chu thị càng lúc càng hoang mang. Vội vã gọi người gửi điện báo cho bà Kiều, trong điện báo nhắc đến bức thư của luật sư, nội dung của hai bức điện tín đã gửi và nhận được từ bà Cát, cùng với  cuộc gặp gỡ hôm nay ở đường Ferguson… Từng câu từng chữ vô cùng rõ ràng, quả thực rất để tâm.

Nhưng nội dung bức điện báo của bà Kiều chỉ có một câu: “Cảnh sát Anh ở tô giới trông thế nào?”

Bà ta lấy làm nghi ngờ với việc bà Kiều không nắm được trọng điểm. Nhưng sau khi cẩn thận suy nghĩ, có lẽ bà Kiều có cách nghĩ đặc biệt, bèn dựa vào trí nhớ mà trả lời: “Da trắng, rất cao, cũng tuấn tú, khẩu âm Quảng Đông, là một thượng úy.”

Chương 98: Đêm (14)

Lúc nhận được bức điện báo, bà Kiều đứng ngồi không yên. Tổng hợp năm cụm từ đó lại, thì còn ai khác trồng khoai đất này ngoài cậu con trai đốn mạt của Tạ Hồng.

Nhà họ Tạ có gia cảnh thế nào? Phải kể bắt đầu từ ông nội Tạ Huân của Tạ Trạch Ích. Tài sản giàu có của Tạ Huân không thể thiếu hai thứ: nha phiến và trốn thuế. Trốn thuế dĩ nhiên là thuế của người Anh, thậm chí trốn tới nỗi người Anh tâm phục khẩu phục, chỉ vì ba năm sau chiến tranh nha phiến, người Anh vào huyện Thượng Hải, Tạ Huân đã giúp đỡ Balfour rất nhiều. Đối với người Anh mà nói, ông ta chính là một cái cây hái ra tiền. Balfour và ông ta đều coi trọng bãi bùn ở bến Thượng Hải, hơn nữa ông ta biết rõ mảnh đất kia sẽ có món lời thế nào, vậy mà vẫn chắp tay nhường cơ hội cho Balfour. Rồi hai năm sau, ông ta mở tiệm buôn Tốn Thị ở Thượng Hải, công việc chủ yếu là kinh doanh nha phiến và làm điện ảnh Trung Hoa. Ông ta được một gia đình Do Thái ở Anh nhận nuôi, sau đó vào học tại đại học Cambridge. Sở dĩ ở lại phương Đông mà không về Anh Quốc là vì ông ta không muốn nghe những câu như “do đế quốc đã giúp gia đình ông ta kiếm được một khoản tiền lớn như thế”.

Khi nghe tin phải nộp gần một nửa thu nhập của mình cho thuế Anh, ông đã đăng ký công ty của mình dưới danh nghĩa của con trai – tức Tạ Hồng cha của Tạ Trạch Ích, cũng chuyển công ty đến Hương Cảng, còn tài sản thì đưa tới Thượng Hải. Sau khi Tạ Huân qua đời, Tạ Hồng đã tiến một bước phát tài nhờ sản nghiệp kếch xù của cha: khi hãng công nghiệp phim ảnh Đông Phương mới phát triển, nhiều nhà đầu tư có tầm nhìn xa đã đầu tư vào công ty điện ảnh Thượng Hải; kiếm được một khoản tiền lớn trong công nghiệp phim ảnh, đến lúc thấy chưa đủ thì mau chóng rút ra, chuyển sang đầu tư vào ngành công nghiệp vớ ở Mỹ, lần lượt mua nhà mua đất ở Thượng Hải, mở ngân hàng, kinh doanh hiệu buôn và vũ trường…

Ông ta khéo là khéo ở chỗ làm người, trốn được nhiều khoản thuế của đế quốc, mà đế quốc vẫn sẵn sàng phong ông là huân tước. Huân tước Tạ Hồng không cao, chân trái cà thọt, bước đi tập tễnh; người ngoài đều bảo ông ta bị tiền trong túi làm cho cà thọt. Ông ta không hay khoe của, cũng giống thái độ của ông: nói năng khá ôn tồn, nhưng thực chất lại tàn nhẫn từ tận xương. Cho nên hồi còn ở Hương Cảng, ngay tới thống đốc cũng phải nể ông ba phần; người ngoài nửa sợ nửa kính gọi đùa ông là “thống đốc Nam Thái Bình Dương”.

Xét về tài sản trong nhà, toàn bộ khu thuộc địa của Anh ở Thái Bình Dương, ngoài nhà họ Tạ của ông ta ra thì sợ là không ai dám xưng giàu có nhất.

Nếu muốn làm con dâu nhà họ Tạ, không những phải có hồi môn xứng đôi, mà sau khi thành thân còn bị các cô các bà bảy tám phòng của ông ta giễu cợt, và cũng không biết sẽ bị bên ngoài nắm thóp thế nào.

Nếu nhà họ Tạ thực sự để cô ba qua cửa, mà Chu thị trước đó đã khoe khoang muốn chuẩn bị của hồi môn cho cô, thì tới lúc đó dù có táng gia bại sản cũng không lấy lại đủ.

Có điều, cưới nó? Làm sao có chuyện này được.

Bà Kiều cười nhạt hai tiếng.

Ngày trước, tuy Mã Linh chỉ mới 16 tuổi nhưng cũng được xem là mỹ nhân số một Hương Cảng; gia sản nhà họ Kiều có rất nhiều và con gái cũng trong sạch, thế nhưng Tạ Hồng vẫn nhất quyết không chịu để con trai độc nhất của mình cưới con bé. Thế thì làm gì có chuyện cưới một đứa con gái danh tiếng bị vấy bẩn, sau lưng không có chỗ dựa đây?

Xế chiều hôm đó, bà gọi điện mời ba người bạn thân tới nhà đánh bài. Trong đó không thiếu mấy bà vợ lẽ thường xuyên qua lại với nhà họ Tạ. Ở trên bàn, bà Kiều hỏi thăm: “Nghe nói Tạ Hồng đang làm mai cho con trai bảo bối của ông ta hả?”

Một bà có quan hệ tốt với vợ sáu của Tạ Hồng, tức mẹ đẻ của Di Nhã nói: “Bà sáu có bảo, con bé Di Nhã tinh quái lắm, thấy hai cha con họ không hòa thuận, nên có vẻ đang lên kế hoạch kết hợp anh nó với một cô gái Thượng Hải; vừa hay cô gái ấy có giao tình với bà Cát, cho nên tính nhờ vả bà Cát làm mai.”

Ở Hương Cảng này, không có quá nhiều người thường xuyên lui với với bà Cát, đa số mọi người khi nhắc đến bà đều mang theo ba phần kính sợ. Dù biết rõ năm xưa giữa bà Kiều và bà có hận cũ, thì bà Kiều cũng chỉ dám chỉ trỏ sau lưng. Hai năm gần đây đến chỉ trỏ sau lưng cũng dần không dám, mấy bà vợ lẽ kia cũng không kiêng kỵ nhắc đến bà Cát trước mặt bà.

Mấy người khác nghe thế thì không khỏi thở dài: “Ôi chao, Tạ Hồng xoi mói cực, cứ như muốn cưới tiên nữ cho con trai vậy. Có thể cưới gả đàng hoàng cho Tạ Trạch Ích, ắt hẳn cô gái đó cũng phải là Bồ tát cứu thế chuyển kiếp.”

Cả buổi chiều chỉ toàn nói loanh quanh nhà họ Tạ. Bà Kiều thua trên một trăm đô la Hồng Kông, thấp thỏm bồn chồn. Ba người kia hứng khởi ra về, vui vẻ hẹn bà Kiều ngày khác tụ tập.

Tiễn ba người kia rời đi, bà Kiều chóng mặt ôm đầu, trong đầu nhẩm tính một lượt: Nếu con nhỏ đó thật sự làm con dâu nhà họ Tạ, vậy phải ép nhà họ Lâm chuẩn bị bao nhiêu hồi môn cho nó đây? Đến lúc ấy nếu không đủ, bà Cát sẽ đem bức điện báo của Chu thị ra, thù mới hận cũ tính một lượt với nhà họ Lâm, nhất định nhà họ Lâm sẽ làm liên lụy tới bà.
Không, tuyệt đối không thể có chuyện này được.

Nghĩ đến đây, bà ta sốt ruột nóng gan. Chỉ ngồi trên ghế tính sổ sách thôi đã khiến bà ta há to miệng thở dốc, mồ hôi đầm đìa. Mấy lần muốn chống người đứng dậy nhưng không nổi. Bà gọi dì Triệu tới đỡ mình đến cạnh điện thoại, run rẩy quay số, gọi điện bảo Mã Linh về nhà, kể lại chuyện Chu thị và bà sáu đã nói cùng với quan hệ lợi-thiệt trong đó.

Kiều Mã Linh nghe mà khó chịu, gượng cười: “Mẹ à, mẹ nói với con những chuyện này làm gì, để con biết con còn không bằng một cô gái danh tiếng xấu?”

Bà Kiều nói: “Con cũng biết mà, so với con thì nó có điểm gì tốt để con trai Tạ Hồng để ý? Mẹ đã nghĩ kỹ rồi. Đàn ông mà, nhớ nhất là tình đầu. Cậu ta có thể thích con bé thì sao có thể không thích con được? Chắc chắn là vẫn vẫn ghi nhớ mặt tốt của con ngày xưa. Dù gì nó cũng là em họ con, có lẽ do nó có phần tương tự con, nên mới khiến cậu ta nhớ nhung như vậy.”

Bà Kiều nói câu đó cũng chỉ là tự huyễn hoặc mình. Nhưng nếu nói không nhớ đến tình đầu thì cũng không hẳn sai. Chí ít là đã ứng nghiệm với Kiều Mã Linh. Mấy năm qua cuộc sống hôn nhân không suôn sẻ, tuy nay Hoàng Mark đã rủ sạch tình nhân bên ngoài, nhưng trong lòng chị vẫn đã có tâm ma. Không còn sự mới mẻ ban đầu, dần dà trở nên đồng sàng dị mộng. Cộng thêm việc chị từng sảy thai một lần. Bác sĩ bảo là do tức giận, dặn chị phải giữ mình thoải mái. Nhưng cũng vì những lời này của bác sĩ, dù sau này Hoàng Mark có tốt với chị thế nào, nhưng mỗi lần nhớ đến cục máu kia, trong lòng chị lại như có gai nhọn đâm vào, không hề có hứng thú tình cảm nổi với Hoàng Mark.

Mỗi lần như thế, chị thường xuyên nhớ lại chuyện ngày xưa. Nếu ngày trước chị hạ quyết tâm, chịu nghèo khó hay lênh đênh nay đây mai đó cũng được, chí ít có người yêu mình ở bên thì vẫn tốt hơn cái cảm giác lạnh lẽo của bây giờ, không hề thấy được chút trông cậy nào.

Mình của ngày đó tốt đẹp đến thế mà anh không chịu cưới, thì sao có thể cưới cô em gái kia được?

“Mẹ bình tĩnh đi. Không biết nghe ở đâu đồn bậy đồn bạ rồi hoảng hốt vậy nữa, huống hồ, dù anh ấy có thích thật thì Tạ huân tước cũng không đồng ý đâu.”

Bà Kiều cuống lên, “Cái con bé này. Tuy giờ ông ta và con trai đang cãi nhau, nhưng có cha con nào thật sự thành thù không hả? Lại còn để bà Cát cùng con gái bảo bối của ông ta hòa giải, e là chuyện này đã thành năm phần rồi. Năm phần, dù là ba phần cũng không được! Muốn để mẹ biết những món đồ quý giá mẹ gửi vào ngân hàng có ba phần nguy hiểm rơi vào tay ả đàn bà nhà bên sao… Có chết mẹ cũng phải ngăn cho bằng được!”
Kiều Mã Linh lạnh lùng nói: “Mẹ, giờ con đã là Hoàng phu nhân rồi. Hôn sự này, không phải chính mẹ ngày trước đã xin dì che giấu mọi người cho con ư. Nay sao có thể làm vậy chứ? Chỉ vì nếu để người ta biết được mấy thứ trong ngân hàng mà mẹ định khiến con bị đánh về nguyên hình, cả đời này không thể siêu sinh sao?”

Bà Kiều tức giận, mắng Kiều Mã Linh, “Con có biết đó là toàn bộ cơ nghiệp của nhà họ Lâm chúng ta không!”

Kiều Mã Linh cương mặt nói: “Thế thì sao?”

Cứng không được, bà Kiều lập tức vùi mặt vào hai tay, đau lòng khóc lớn: “Cha con chỉ biết có mỗi con ả điếm Bồ Đào Nha đó, nếu sau này cô ta ỷ có con trai, không biết còn tính leo lên đầu mẹ thế nào đây nữa. Mẹ không có bao nhiêu tiền, về sau bà lão rụng răng này biết dựa vào gì để sống đây… Ai cũng bảo con gái đã gả như bát nước đổ đi, đúng là nuôi con gái không được ích gì, hu hu…”

Viền mắt Kiều Mã Linh đỏ bừng, “Mẹ!”

“Chỉ một lần này thôi,” Bà Kiều thấy chị dao động, đột nhiên nắm lấy tay chị, “Ở Thượng Hải có dạ vũ, mẹ sẽ tìm người nghe ngóng. Thằng con nhà họ Tạ cũng sẽ đi. Đã gửi thiệp rồi, đến lúc đó con cũng đi, mẹ sẽ cho người giúp đỡ để con và cậu ta có thể nói chuyện với nhau. Ở bữa tiệc có nhiều người như vậy, cũng không ai để ý ai nói chuyện với ai đâu. Tới lúc ấy, con nhớ ăn vận thật đẹp vào, thăm dò xem cậu ta có cưới con bé kia thật không, hay vẫn nhớ tình đầu là con.”

Kiều Mã Linh im lặng, khó chịu xoay người sang chỗ khác.

“Trên đời này không có người đàn ông nào là không nhớ tình đầu cả. Trải qua chuyện cảnh còn người mất, nếu để cậu ta thấy con vẫn như trước…” Hai mắt bà Kiều nhòa dần, chợt nhớ lại dáng vẻ bi thương của ông Kiều khi lần đầu tiên thấy vợ mới của ông Cát nhà bên, mà lúc đó bà còn đang mang thai tám tháng. Vẻ mặt tái nhợt ấy, sự dịu dàng trong đáy mắt ấy… Nghĩ đến đây bà lại muốn khóc, đó là nỗi đau cả đời của bà, suốt kiếp cũng không quên được. Bà nói tiếp: “Dù người khác có tốt tới mấy, cuối cùng cậu ta cũng không quên được con đâu.”

Kiều Mã Linh dao động. Chị nhìn thẳng vào mắt mẹ, cuối cùng cũng nặng nề gật đầu.

Hai mẹ con lại nói chuyện với nhau một hồi, chưa bao giờ hai người đồng lòng như thế.

Đưa Mã Linh về nhà, cuối cùng bà Kiều cũng giữ được nửa cái mạng, hai mắt sáng rực đi đến cạnh điện thoại, gọi điện tới ngân hàng HSBC, câu đầu tiên hỏi là: “Bộ trà cụ gốm sứ Bạch Định của tôi vẫn còn chứ?”

Đầu kia đáp: “Là bộ gửi năm 1914 hả? Vẫn còn ở đây.”

Biết bảo bối của mình vẫn nằm yên ở ngân hàng, bà Kiều như được tiêm liều thuốc an lòng, xuôi giọng đáp, “Được rồi, không sao.”

***

Gửi lời cảnh cáo đi, bà Cát ung dung ở nhà chờ kịch hay, bà ngồi trên ghế sofa nghe xem ai sốt ruột hoảng hốt trước. Nghe hết chuyện Điệp Nhi kể khi đón Leon tan học, bà Cát cầm trong tay một cuốn sổ nhỏ, bút máy chống trán, thong thả nói: “Ồ ~ Thì ra còn có bộ trà cụ gốm sứ Bạch Định cơ à.”

Chương 99: Đêm (15)

Sau khi nhận được thiệp mời của bà Tư, cô không chút do dự lập tức quyết định sẽ đi. Nhưng đảo mắt cái lại quên khuấy mất chuyện này, suốt ngày vùi mình ở viện nghiên cứu tính toán. Lúc gần tới giờ, Tạ Trạch Ích gần như ‘xách’ cô lên xe. Đã đến mức đó rồi mà trên đường đi đến khách sạn Thượng Hải, cô nửa ngồi nửa tựa trên ghế phụ, đặt giấy trắng lên chân tiến hành tính toán.

Hai vị phu nhân có ý đồ tính toán thấy rõ, Tạ Trạch Ích vô cùng lo lắng cho cô. Nhưng tới khi xe sắp đến khách sạn Thượng Hải, cô lập tức ném giấy bút đi, ngồi thẳng người dậy, cầm son đỏ thoa lên cánh môi rực rỡ, mím môi lại, dùng năm ngón tay vuốt mái tóc màu hạt dẻ ra sau, búi thành vòng tròn ở sau đầu, để lộ cần cổ trắng nõn.

Xe dừng lại, cô mặc thêm chiếc áo khoác đen lên người. Khi đẩy cửa bước xuống, dáng vẻ lười biếng lôi thôi ngày thường đã biến mất, từ đầu tới chân là phong thái lẫn dáng điệu giống bà Cát bảy tám phần.

Vừa thấy cô bước xuống xe, ba người đang ngồi trên ghế trong đại sảnh khách sạn đồng loạt nhìn cô chăm chú, vô thức đứng dậy.

Có người biết bản thân có gương mặt xinh đẹp nhưng không quan tâm, có người có rất nhiều tuyệt kỹ nhưng chẳng hề khoe khoang. Bình thường không cần, không có nghĩa là không biết dùng.

Ngày trước khi còn cùng bà Cát chơi mạt chược ở biệt thự, bà Cát từng nhắc đến cô cháu gái nhà mình thế này: “Cháu nhà tôi nó không quan tâm ba chuyện vụn vặt, tính nó ấy hả, phải làm chuyện lớn cơ, nên tôi cũng tùy nó. Mấy chuyện vớ vẩn mà bảo nó cũng phải để ý thì đúng là phí cả tài.”

Tuy có hơi không biết trọng nhân tài, nhưng dao mổ trâu chưa chắc đã giết được gà.

Tạ Trạch Ích ngồi trên ghế lái, mỉm cười nhìn theo bóng lưng cô, trong chớp mắt, bao lo lắng đều tiêu tan.

***

Doãn Yên cực kỳ chú trọng vào váy vóc lẫn lớp trang điểm ngày hôm nay. Vì cô ta nghĩ bên cạnh là buổi gặp gỡ của các nhà văn, thêm mấy năm trước Trương Hận Thủy từng viết trong tiểu thuyết là thích con gái Trung Quốc mặc áo khoác màu lam giản dị. Vì để phù hợp với chiếc áo khoác màu lam giản dị này, cô ta đã mặc bên trong bộ sườn xám hoa văn thêu năm đường chỉ tơ màu xanh lá. Hai năm qua thỉnh thoảng lại rộ lên trào lưu mặc sườn xám, không còn chuộng kiểu váy dài tay, nên bộ sườn xám cô ta đang mặc dài quá đầu gối, dài hơn áo khoác lam bên ngoài một chút, để lộ màu xanh lá nạo tâm nạo phổi bên dưới màu lam. Đôi tay trần lộ ra từ tay áo rộng lớn của áo khoác, chỉ khẽ cử động là sẽ thấy được cánh tay trắng muốt.

Người khác hay nói Tư công tử thuộc “phái Uyên Ương Hồ Điệp”, vậy chắc chắn anh có đọc truyện của Trương Hận Thủy.

Cô ta rất hài lòng với kiểu ăn mặc như thế này. Có điều mặt trời vừa khuất bóng thì gió nổi, gió lạnh tới mức cô ta khiến run lẩy bẩy khi đứng bên ngoài khách sạn.

Doãn Yên ngồi trên ghế sofa trong đại sảnh, ai oán: “Sao em ba mãi chưa tới vậy? Đừng có nói là không đến đấy chứ.”

Chu thị cụp mắt, cười một tiếng.

Bà Tư nói: “Đợi một lát nữa đi. Bên trên cũng chỉ mới bắt đầu thôi, không cần phải vội.”

Cô ta nghĩ: không biết giờ Sở Vọng như thế nào nhỉ?

Trong mấy năm ở châu Âu, những cô gái thuộc tầng lớp thượng lưu Trung Quốc đều thích vây quanh cô ta, tụ tập cùng cô ta, trong đó có không ít người đến từ Thượng Hải. Lúc hỏi đến, bọn họ đều nói không nghe thấy tên của em gái cô ta trong giới thượng lưu Thượng Hải.

Cũng đã mười lăm tuổi rồi, chắc chắn dì Cát sẽ cho nó ra ngoài xã giao, nếu không thì làm gì kiếm được một nhà tốt cho nó chứ?

Nghĩ tới đây, Doãn Yên dễ dàng đúc kết một kết luận: dù có sao đi nữa thì chắc chắn không đẹp bằng cô ta rồi. Lấy lại được sự tự tin, cô ta cảm thấy không có gì phải lo.

Doãn Yên vừa nghĩ ngợi vừa ngoảnh đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, đúng lúc trông thấy một chiếc xe Dodge màu đen dừng ngoài khách sạn. Nhân viên đi ra hướng dẫn đỗ xe, từ chỗ ngồi ghế phụ có một quý cô cao thon, mặc đồ đen từ đầu tới chân bước xuống. Người ấy mặc áo khoác màu đen của Chanel mà cô ta đã nhắm từ lâu. Mỗi lần tới cửa hàng hỏi thì đều được báo là: “Bộ đồ này đã có người đặt trước, được đặt may theo kích thước của cô ấy.” Sau một hồi nghe ngóng, cô ta muốn hỏi liệu có thể may một bộ như vậy dựa theo số đo của mình không, nhưng đều bị từ chối.

Đó là bộ đồ mà Doãn Yên cô ta đã ao ước từ lâu, luôn muốn xem rốt cuộc cô gái có được chiếc áo khoác ấy là ai, không ngờ có thể trùng hợp gặp nhau ở Thượng Hải. Cô ta không kìm được ghé mắt nhìn: thì ra ở Thượng Hải này cũng có người ăn mặc sành điệu như dân Paris.

Nhìn lại lần thứ hai, cô ta thấy rõ màu son của cô gái mặc áo đen nọ: đó là sắc màu hồng tím khá đậm, tạo nên cảm giác trung hòa giữa bộ đồ màu đen và làn da trắng muốt.

Đúng là một vẻ đẹp riêng một góc trời. Thân hình cao thon ấy dần tiến về phía bọn họ, vóc dáng yểu điệu, bước chân nhẹ nhàng. Doãn Yên nghĩ bụng: Đẹp quá, từ trên xuống dưới không có lấy một tỳ vết. Lát nữa phải đến hỏi xem ở thượng Hải thì đặt mua áo khoác mùa mới nhất ở Paris như thế nào mới được; với cả son môi đang dùng là của hãng nào.

Cho tới khi thấy rõ mặt người kia, Doãn Yên thất thố đứng bật dậy!

Chu thị thấy Sở Vọng, trong lòng cũng giật mình. Nhưng sau đó lại nghĩ, dù dậy thì có đẹp tới đâu, tính khí có sắc sảo thế nào đi nữa, người phụ nữ kia bà còn không sợ thì há gì phải sợ con nhỏ này? Nghĩ đến đây, bà ta lấy lại bình tĩnh.

Giơ tay kéo Doãn Yên ngồi xuống để cô ta tỉnh táo lại, lúc này, bà lại thấy người đàn ông mặc toàn đồ đen bước ra từ ghế lái xe Dodge: chính là người họ Tạ. Trước khi ra ngoài, bà mới nghe bà Kiều tiết lộ cho biết nhà cậu ta lợi hại thế nào. Thấy hai người một trước một sau đi vào, Chu thị siết chặt ngón tay, bóp Doãn Yên đau tới mức phải hít khí lạnh.

Còn bà Tư khi thấy Sở Vọng thì hai mắt sáng lên, quan sát cô một lượt từ đầu tới chân, mỉm cười đi tới: “Cháu ba.”

Sở Vọng giật mình, nhưng ngoài miệng vẫn đáp: “Không ngờ dì Tư vẫn còn nhớ cháu.” Ngoái đầu nhìn hai người vẫn mang vẻ mặt khó tin, cô duy trì nụ cười bình thản: “Chị hai, và, bà Chu?”

Chu thị ngẩng đầu lên, “Bà Lâm.”

Sở Vọng nghe thế, âm thầm xỉ vả: Ôi chao, cũng ghê gớm nhỉ. Nhưng ngoài miệng thì chỉ đáp: “Ờ.”

Tạ Trạch Ích vừa đến gần, nghe thấy câu “ờ” ấy thì suýt nữa đã cười thành tiếng, vội cúi đầu che giấu. Ý cười còn chưa tan, ngẩng đầu lên thì thấy Chu thị đang nhìn chằm chằm vào mặt mình. Nói là quan sát, không bằng nói là theo dõi.

Anh thôi cười, hai ba bước tiến tới, đưa khăn quàng cổ bị rơi cho cô.

Lần này, ngoài Chu thị ra, ba người khác ở đại sảnh cũng đều đang nhìn anh. Anh không muốn tự giới thiệu mình, nhưng vì bà Tư đã hỏi nên anh chỉ nói ngắn gọn: “Tạ Trạch Ích.” Thấy bà Tư cứ đưa mắt nhìn mình với Sở Vọng, anh bèn bổ sung thêm một câu: “Dì Cát nhờ tôi làm tài xế cho cô ba.”

Bà Tư khách sáo nói: “Cậu Tạ có đi chung không?”

Tạ Trạch Ích nói, “Không, cám ơn bà Tư. Tôi sẽ chờ ở đây.”

Nhân viên dẫn bốn người lên lầu, Tạ Trạch Ích tìm đại một chiếc ghế trống rồi ngồi xuống, uống trà đọc báo. Dù đã được một lúc lâu nhưng anh vẫn có thể cảm nhận được ánh mắt quan sát đầy tò mò của hai mẹ con nhà kia.

***

Tầng một khách sạn Thượng Hải là một vũ trường lớn, tầng hai là nửa sân thượng, là nơi tụ tập ăn uống theo phong cách Tây; lan can đã được sửa, dù là mời ca sĩ đến hát ở tầng một hoặc buổi tối lúc mọi người khiêu vũ, thì người ở tầng hai cũng có thể đứng xem từ xa. Tuy tầng ba nói là tầng, song thật chất lại giống như một phòng ngăn được xây trong rạp hát cao tường, vừa vặn có thể chứa một bàn mấy người ăn cơm, cũng có thể kéo rèm ra vào, ở gần cửa sổ xem náo nhiệt.

Sàn khiêu vũ cũng đã được dọn dẹp, liên tục có tân khách đi vào. Ở tầng hai thì yên tĩnh hơn, hơn hai mươi người quây quần bên bàn ăn dài.

Bốn người tìm một chỗ ở tầng ba ngồi xuống, nhân viên đi tới châm trà.

Trong thời gian từ dưới lầu đi lên, Doãn Yên đã quan sát Sở Vọng rất nhiều lần, nhưng có thế nào cũng không khơi ra được bất cứ khuyết điểm gì. Bây giờ cô ta vừa âm thầm chê bai chiếc áo khoác đen ấy “có lẽ là hàng nhái”, lại muốn lấy chuyện cô và chàng sĩ quan kia để châm chọc. Nhưng vừa mở miệng thốt lên hai chữ “Anh Tạ…” thì Chu thị đã véo mạnh cô ta ở dưới gầm bàn. Doãn Yên quay sang nhìn Chu thị, Chu thị lườm mắt, ra hiệu im lặng.

Nhưng bà Tư đã nghe thấy, còn tiếp lời: “Có phải là con trai trưởng của Tạ huân tước của hiệu buôn Tốn thị không?”

Sở Vọng đáp, “Cháu không biết nhiều về tài sản của Tạ huân tước cho lắm. Anh ấy thân với cô út của cháu, được cô ấy nhờ vả nên anh Tạ mới chăm sóc cháu ở Thượng Hải.”

Vừa rồi đã quan sát một lượt, nên dĩ nhiên bà Tư nhận ra Sở Vọng không có ý gì khác với Tạ Trạch Ích, có thể gọi là nước chảy vô tình. Bà gật đầu tỏ vẻ đã hiểu, lúc này mới nói lại với mẹ con Chu thị: “Hồi trước ở Nhật Bản tôi có nghe nói, ở Hương Cảng có một người là Tạ huân tước giàu tới nỗi địch được cả nước, cũng không biết là thật hay giả.”

Doãn Yên nghiêng người tới trước, lấy làm tò mò. Chu thị cụp mắt uống trà, mặt không biểu cảm.

Bà Tư cười đùa: “Người ngoài bảo, ‘Có thì có, chẳng qua là không biết địch nước nào’.”

Chu thị cười khan hai tiếng: “Chẳng qua là thứ gian thương chỉ biết kiếm lời.”

Bà Tư thở dài: “Nhưng kiếm lời đến nỗi một đại đế quốc khâm phục, còn phong tước cho ông ấy thì cũng nể. Đây không phải là chuyện người bình thường có thể làm được.”

Chu thị tái mặt, nhưng vẫn cố giữ nụ cười. Rồi bà ta dùng tiếng Nhật tán gẫu những chuyện chỉ có người từng sống ở Nhật mới hiểu được, nhờ đó mới có thể khiến bầu không khí hài hòa trở lại.

Nghe thấy dưới lầu có động tĩnh, Sở Vọng vén rèm nhìn xuống. Tiếng động ngày càng ồn ào, Doãn Yên nhìn ngó một hồi, cũng ngồi không yên, đến gần chỗ cô nhìn xuống. Bên dưới lúc nhúc toàn là đầu người, Doãn Yên vừa nhìn đã trông thấy một bóng người tuấn tú cao ráo, không khỏi thốt lên: “Anh… anh Ngôn Tang?”

Nhưng điều khiến Sở Vọng rung động hơn là những nhân vật xuất hiện phần lớn trong sách Ngữ Văn trong thời kỳ trung học của cô, cũng là cơn ác mộng chi phối những năm trung học ấy – nhóm “bắt buộc phải đọc to và học thuộc lòng”*.

(*Ý chỉ những tác giả nổi tiếng có các tác phẩm trong sách Ngữ Văn mà học sinh phải học thuộc.)

Doãn Yên chau mày: “Hồi ở Anh, chị có biết vài người trong số họ. Không phải ngày trước bọn họ nói không thích anh Ngôn Tang à, vì sao lần này lại mời một mình anh ấy đến, rốt cuộc là có ý gì?”

Bà Tư thở dài, “Biết con đường này không suôn sẻ, thế mà thằng bé vẫn cứ muốn đâm đầu vào… Cũng vì chuyện này nên ông nhà tôi nổi giận không ít lần. Biết chị em hai cháu là thanh mai trúc mã với nó, nên lần này gọi hai cháu đến để xem nó bị mọi người bêu xấu thế nào, có gì khuyên nó đôi câu, để nó biết ‘con đường này không suôn sẻ’, sau này không dính vào nữa.”

Chu thị lại không hiểu bà Tư có ý gì.
Hai cô gái trẻ đứng bên cửa sổ, bà Tư và bà cũng nhìn một hồi. Không so không biết, nhưng một khi đã so thì đến chính Chu thị cảm thấy, gu thẩm mỹ của con gái mình còn không bằng đứa kia.

“Mặc sai đồ rồi.”

Chu thi quy mọi thiếu sót về lỗi ăn mặc: “Đáng nhẽ hôm nay đừng có tỏ vẻ tinh tướng ăn mặc theo phong cách học sinh như thế, so sánh với chiếc áo khoác đen kia, thật sự chỉ như một đứa con nít trung học không có ì nổi bật.”

Có điều bà ta đã quên một chuyện: con gái bà ta vẫn là học sinh trung học.

Nhưng Chu thị biết con gái bà ta rất có tài văn chương. Người có bản lĩnh ấy mà, một khi có cơ hội thì chắc chắn sẽ sử dụng, bà chỉ sợ đến lúc đó Doãn Yên lại mất kiên nhẫn, đi lên nói đỡ cho cậu ta, hai đứa bị đám văn nhân chế giễu không nói, chỉ sợ xấu hổ mất mặt. Vì thế nên trước khi đến đây, bà không ngừng dặn dò Doãn Yên:”Dù tới lúc ấy người ngoài có châm chọc cậu Tư thế nào, dù con có thể biện bạch cho cậu ta thế nào đi nữa, thì chỉ cần ngồi bên cạnh bà Tư nói giúp cậu ta mấy câu là được; chớ đến trước mặt đám nhà văn thi sĩ kia nói nhiều làm gì.”

Mấy người dưới lầu lại chen đến tìm kiếm, Sở Vọng đứng bên cửa sổ lắng nghe một hồi, cũng nhận ra ai là tác giả văn học nào trong sách Ngữ văn.

Mà trên thực tế, bữa tiệc lần này vô cùng nổi tiếng, nổi tiếng đến mức có thể đi vào bài thi cấp ba ở thế kỷ 21. Đây là một lần hiếm hoi mà hai phái Ngữ Ti, Tân Nguyệt nhiều năm viết văn khẩu chiến tạm ngừng đình chiến. Thoạt nhìn là tập thể hoan nghênh tài tử về nước, nhưng thực chất là hợp lực nhắm vào người đại diện giới văn hóa từng sinh sống ở nước ngoài, có suy nghĩ chủ nghĩa tự do của phương Tây.

Bởi một lẽ, trong nhóm bọn họ có rất nhiều quan hệ cá nhân, biết rất rõ “chuyện ngoại tình” “tình tay ba” “lăng nhăng” “vứt bỏ vợ cũ” của bạn bè của nhau, cũng bởi vì bản thân không tránh được liên quan, cho nên trong lúc bao che bạn bè thì cũng giơ cao dù bảo vệ mình. Mà Thư Tình Châu Âu ra đời lại cực kỳ nổi tiếng, đã đâm thẳng vào thần kinh nhạy cảm của đám nhà văn thi sĩ nhìn bề ngoài thanh cao trong sạch, nhưng trong thâm tâm lại lăng nhăng nguội lạnh.

Bọn họ muốn tác giả của truyện Thư Tình Châu Âu phải giải thích, muốn bắt anh cúi đầu xin lỗi. Thậm chí còn tới nỗi phải đem thân ra thí nghiệm, bày tỏ ý muốn giao du với bọn họ, đến lúc ấy mới chịu mở miệng vàng tiếp nạp anh vào “văn đàn Trung Quốc”.

Sở vọng tiếp tục nhìn. Lấy ngài Chu và ngài Từ* làm đầu têu, bọn họ liên tục mắng Thư Tình Châu Âu thiếu lối “hài hước Trung Hoa”, nói anh bông đùa kiểu Tây quá “nghiệt ngã”, vì vậy mà không đủ sự “nhã trí” theo phong cách Trung Hoa. Ngôn Tang chỉ cười nhạt phản bác: “Trong văn của tôi không hề có chữ nào liên quan đến ‘hài hước’ cả. Tôi không thích hài hước, tôi chỉ thích nghiệt ngã.”

(*Có thể là Chu Tác Nhân – người sáng lập phái Ngữ Ti và Từ Chí Ma – người sáng lập phái Tân Nguyệt.)

Anh vừa dứt lời, rất nhiều người ngồi đó rối rít vỗ tay, ví dụ như ngài Thẩm bạn của ngài Từ, mới đầu còn trích dẫn cả kinh điển chỉ trích anh đang trong lúc nội loạn ngoại nhục thì chỉ biết say sưa “văn học tầm thường”, “văn học giải trí”. Ngôn Tang vẫn bình tĩnh cười đáp: “Vậy chắc chắn ngài Thẩm đây chưa đọc tác phẩm tôi viết hồi năm mười lăm tuổi rồi.”

Anh vừa dứt lời, một ngài Trương khác đột nhiên ném ly trà đi, bắt đầu công kích Ngôn Tang, nói anh “hèn mọn, thiển cận, vô vị” lại “không có khí khái dân tộc, là đồ dị đoan bị chủ nghĩa tư bản đồng hóa”, “không xứng đứng trên đất Trung”. Không đợi Ngôn Tang trả lời, ngài Úc đã dứt khoát mở miệng mắng to, dùng những từ ngữ thô bỉ hệt như dân miền núi, không hề có hình tượng của một “văn nhân nhã sĩ”. Úc tiên sinh thành công thu hút ánh mắt của mọi người trong khách sạn, cũng khiến cánh phụ nữ phải xấu hổ.

Một trong những người chiến thắng cuộc luận chiến này năm đó là ngài Chu, trong tuyển tập văn học của ông ta có ghi chép về cuộc tranh luận lần này như sau: “Đến dự tiệc tối ở khách sạn Thượng Hải, trong số đó có Từ, Chu, Thẩm, Trương,… Trong bữa tiệc, mọi người châm biếm trách mắng Tư, đôi bên tranh chấp, thấy rõ kẻ bỉ.” Một chữ “bỉ” này được cho là mắng Tư Ngôn Tang là “người bỉ ổi”. Một bài viết trắng đen điên đảo không ra gì này lại thành công đi vào sách sử, trở thành một trong những giai đoạn nổi tiếng xấu xí hóa Tư Ngôn Tang.

Doãn Yên tức tới mức mặt thoắt đen thoắt trắng, tay siết chặt nắm đấm, mấy lần nghe thấy những từ ngữ thô tục và bác bỏ không phân biệt phải trái kia, cô ta lại đấm xuống lan can.

Chu thị thấy con gái có vẻ không nhịn nổi, lớn tiếng gọi: “Doãn Yên!” Thấy mình thất thố, bà ta cười nói: “Nếu khát thì lại đây uống trà đi đã.”

Cả bà Tư lẫn Sở Vọng đều vô cùng bình tĩnh. Bà Tư thì không cần phải nói, còn Sở Vọng thì đã sớm “học thuộc lòng” rồi, thậm chí còn phải làm rất nhiều bài đọc hiểu liên quan đến cuộc tranh luận lần này, nên dĩ nhiên càng không cần nói. Nghiêng đầu lắng nghe ngài Chu nói một hồi, lúc này cô mới đứng lên, mỉm cười nói với bà Tư: “Để cháu đi nói đỡ cho anh ấy.”

Bà Tư cũng chẳng ngăn cản. Cả Chu thị lẫn Doãn Yên đều bị dọa không nhẹ, nhưng ngay sau đó lại mỉm cười, lấy thái độ chờ xem cô bị cười nhạo, càng chăm chú theo dõi cuộc tranh luận bên dưới.

Sở Vọng vén rèm đỏ lên, từ lan can tầng ba đi thẳng xuống chỗ đám đông.

Lúc này ngài Chu đang nói: “Loại tác giả văn học đại chúng như các cậu, vô tổ chức vô cương lĩnh; chỉ biết vui chơi giải trí, chỉ biết chạy theo thị hiếu người dân; không biết quốc gia đang lâm nguy, dân chúng đang lầm than… Nếu cậu nói là muốn kiếm tiền, thì tiểu thuyết của tôi còn bán chạy hơn của cậu… Kìa cô gái, cô là?”

Ngôn Tang đang cau mày nghe ông ta nói xằng bậy, nhưng vừa thấy Sở Vọng thì chân mày giãn ra, hai mắt sáng lên, hét: “Sở Vọng, sao em lại đến đây!”

Cô mỉm cười với anh. Trong tiếng châm biếm của cánh đàn ông, cô nghiêng đầu nói với ngài Chu: “Ông Chu, vì để mừng ngày sinh nhật của mẹ ông, ông đã mua hai bộ gồm hai mươi bốn cuốn tiểu thuyết từ nhà in Thế Giới rồi gửi chúng về quê cho mẹ. Xin hỏi tác giả bộ tiểu thuyết ấy là ai?”

Ngài Chu giật mình, không ngờ đơn đặt hàng tư nhân của mình lại bị người ta biết được, “Làm, làm sao cô biết!”

“Bộ sách mà ông Chu đã mua, chính là Thư Tình Châu Âu và Mê Hồn Du ký do anh Tư sáng tác.” Cô chẳng hề nể mặt, cười nói: “Mẹ không đọc danh tác nhiều-vô-số-kể của con trai, thế mà lại thích tác phẩm của anh Tư Ngôn Tang – người không lọt nổi vào mắt của con trai mình.”

Ngài Chu hừ lạnh: “Phụ nữ phong kiến có khuynh hướng thích mấy thứ tiêu khiển vô giá trị lại dễ hiểu, dù là mẹ tôi thì cũng khó tránh khỏi theo số đông.”

Cô lại nói: “Vậy ông có từng nghĩ đến, mẹ ruột ông bảo ông mua sách cho bà ấy, thực chất là muốn dùng sức lực ít ỏi của mình để con trai biết ở quê còn có một người vợ chưa cưới ‘chết cũng phải là ma nhà họ Chu’ bị ông làm trễ nãi cuộc đời không!”

Ngài Chu tái mặt, còn chưa kịp mở miệng thì ngài Từ đã bị kích thích, “Hàm hồ!” Ngài Trương còn tức giận hơn: “Hôn nhân kiểu cũ chỉ là hủ tục, phải sớm ngày bài trừ mới đúng!”

Sở Vọng nhìn hai người trước mặt, cười nói: “Qua miệng ngài Từ, mấy câu như ‘nơi Thanh Đảo nghe thấy tiếng thơm’, ‘phong nhã tài hoa’ của ngài Trương đây lại biến thành ‘cuộc hội ngộ động lòng’. Tới khi đọc Thư Tình Châu Âu thì có phản ứng quá khích như vậy, hèn gì hèn gì.”

Thấy cô khích bác ngài Từ, ngài Thẩm không vui: “Cô là ai? Còn nhỏ mà muốn làm mẹ đỡ đầu thứ hai hả?”

“Mẹ đỡ đầu dám mắng ngài Từ đây ngoại tình, tư tưởng vợ người khác, còn anh!” Sở Vọng cười nói: “Ha! Được lắm. Đúng là màn kịch bao che xuất sắc. Chẳng trách hôm nay các anh lại mời anh Tư tới đây, thì ra vốn là cùng một giuộc.”

Ngài Chu nói: “Đây là tiệc của Ngữ Ti và Tân Nguyệt chúng tôi, từng câu từng chữ đều sẽ được ghi lại. Một đứa con gái vô danh tiểu tốt như cô đừng có phá đám.”

Sở Vọng càng cười tươi hơn: “Ngài Chu đã nghĩ xong sẽ viết như thế nào chưa? ‘Trong bữa tiệc, mọi người châm biếm trách mắng Tư, đôi bên tranh chấp, thấy rõ kẻ bỉ’. Có phải thế không?”

Ngài Úc dùng tiếng Anh gọi nhân viên đến: “Có thể mời người này ra ngoài được không hả?!”Nhân viên vừa đi đến thì Tư Ngôn Tang cười nói: “Đây là vợ chưa cưới của tôi, xin đừng đuổi cô ấy đi.”

Đương lúc nhân viên khó xử không biết làm sao thì Ngôn Tang đã đứng dậy, nhường chỗ của mình cho cô.

Sở Vọng thở phào, nói tiếp: “Các ngài mời anh Tư đến tham dự tiệc là có ý gì? Giải mối hận trong lòng? Hay hoan nghênh anh ấy về nước?”

Thẩm tiên sinh nói: “Đương nhiên là để cậu ta biết giới văn nhân trong nước hiện nay như thế nào.”

Sở Vọng nói: “Giải Nobel Cambridge còn đánh giá anh là ‘người rất cầu thị, không xấu hổ vì chân tướng; là người tuyệt vời lại nghiêm túc, đưa ra lời đánh giá rất chính xác trong giới du học Trung Quốc hiện nay, là tác phẩm về Trung Quốc mà đến tận bây giờ tôi thấy chân thật nhất, đầy đủ nhất, quan trọng nhất’. Trong số các anh đã có ai từng được nhận giải thưởng Nobel chưa, có tư cách gì để chỉ trích anh ấy không?”

Ngài Từ nói: “Cậu ta học địa chất, giữa chừng mới đổi ngành, không xuất thân từ khoa Trung Văn.”

Sở Vọng hỏi ngược lại: “Ngài Từ, không phải ông cũng xuất thân từ ngành Luật sao. Nói tôi nghe xem, anh và ông ấy ai viết văn hay hơn?”

Sở Vọng cố gắng: “Nếu các ngài muốn nói ‘anh ấy không có cống hiến gì cho nền văn học Trung Quốc đương đại’, vậy xin hỏi, Ngữ Ti và Tân Nguyệt tranh luận nhiều năm như thế, rốt cuộc là vì điều gì mà lần này mọi người lại có mặt đông đủ ở đây, cùng ‘hòa thuận’ uống trà ăn cơm?”

Ngài Trương đang định nói những lời đó thì đã bị cô chặn họng, trong một thoáng, trên bàn cơm lặng như tờ.

“Truyện Thư Tình Châu Âu không phải là văn học nghệ thuật sao? Vậy văn học nghệ thuật là gì?”

Ngài Úc cười giễu: “Không ngờ anh Tư lại rảnh rỗi quan tâm cả tình sử văn nhân như chúng tôi, thực đúng là ‘vui cảnh lầu son mê múa hát, ngựa thì chết mập, đứt cung tên’, là ‘đem bả danh lợi hảo, đổi cuộc say cạn chén’, hay là ‘con hát biết chi hờn mất nước’…”*

(*Theo thứ tự: trích trong bài Quan san nguyệt của Lục Du, bản dịch của Lâm Trung Phú. Trích bài Hạc xung thiên của Liễu Vĩnh. Trích bài Bạc tần hoài của Đỗ Mục, bản dịch của Khương Hữu Dụng.)

“Các anh luôn mồm đòi “fair play”, nhưng rồi “fair play” thế đó hả?” Sở Vọng cười lạnh, kéo tay Ngôn Tang rời đi, vừa đi vừa nói, “Anh Tư, anh có tài năng xuất chúng của mình, không cần phải tự hạ giá trị bản thân, tụ tập với bọn họ làm gì.”

Ngài Trương nói: “Văn đàn Trung Quốc có thêm cậu ta cũng không nhiều lên, mà bớt cậu ta cũng không ít đi.”

Sở Vọng nghe thế, ngoái đầu nói: “Ông nhớ kỹ những lời này cho tôi! Năm mươi năm, không… Mười năm sau, tôi hỏi lại ông, văn đàn Trung Quốc thiếu anh ấy thì có còn không thiếu không, nhiều thêm ông thì có phải là quá dư thừa không!”

***

Cô kéo Ngôn Tang chạy một mạch xuống lầu, đến bên gần sàn khiêu vũ thì mới buông tay ra, há miệng thở dốc.

Ngôn Tang bị cô kéo chạy một đường, đến một câu cũng không nói gì, chỉ mỉm cười nhìn cô chăm chú. Thấy cô mệt, anh giơ tay muốn giúp cô thuận khí thì lại bị cô tránh đi.

Một lúc sau, Sở Vọng nói: “Anh Tư… Anh thật sự không cần phải cúi đầu với bọn họ. Bây giờ đừng làm thế, sau này cũng không cần.”

Anh nửa hiểu nửa không gật đầu, cười nói, “Được.”

Nghĩ một lúc rồi cô nói tiếp: “Đừng tin bọn họ nói bậy bạ gì mà ‘thổ địa nước ngoài không sinh ra được nhà văn Trung Quốc’. Anh đừng vì thế mà gật bừa, nếu bọn họ không tha cho anh thì anh đến nơi khác chấp nhận mình là được.”

Ý cười in đậm trong đáy mắt lẫn chân mày của Ngôn Tang: “Vậy em có đi cùng anh không?”

Cô im lặng.

May mắn là lần này bà Tư nghe thấy tiếng động nên cũng đi xuống, theo sau còn có Chu thị và Doãn Yên. Ngôn Tang thấy thế, không vui hỏi: “Vì sao… Lần nào cũng nhiều người kéo đến vậy?”

Cô đứng cạnh anh: “Dì Tư quan tâm anh mà.”

Sau đó quay sang lễ pháp nói với bà Tư: “Dì Tư tốt bụng mời cháu đến đây, nhưng cháu lại gây ra họa lớn. Là cháu đã lỗ mãng, vô cùng xin lỗi.”

Bà Tư cười nói: “Không sao, cháu nói hay lắm.” Rồi bà quay người đi ra ngoài, nói, “Ngôn Tang, cha và em trai con vẫn đang chờ con ở nhà.”

Ngôn Tang xoay sang hỏi Sở Vọng, cô cau mày lắc đầu, tỏ ý anh nên đi với mẹ.

Đúng lúc này, anh lại thấy Tạ Trạch Ích ở đằng xa đang tiến đến gần, càng không chịu đi.

Sở Vọng ngoái đầu nhìn lại theo ánh mắt anh, nhanh chóng chào tạm biệt anh. Sau đó bước nhanh đến bên cạnh Tạ Trạch Ích, đi thẳng ra khỏi khách sạn.

Tạ Trạch Ích nói: “Đau lòng à?”

Cô cười khổ, “Có chút chút.”

Tạ Trạch Ích nói: “Những lời em nói bảo vệ cậu ta lúc nãy, nói hay lắm.”

Sở Vọng hỏi: “Anh nghe thấy hả?”

“Ừ. Hôm nay ở khách sạn Thượng Hải, e là không ai không nghe thấy.”

“Có lẽ đó là đỉnh điểm trong đời em.”

“Đỉnh điểm một lòng bảo vệ người nào?”

Cô thở dài, cười nói: “Đỉnh điểm dày công tu dưỡng văn học.”

“Ồ.”

Sở Vọng nhấc chân đá anh: “Ồ cái gì mà ồ?”

Tuy Tạ Trạch Ích né được cú đá nhưng lại thở dài một tiếng.

Sở Vọng không chú ý, chỉ ngẩng đầu nghĩ: bà Tư muốn anh tìm một người vợ có thể khuyên anh biết điều nhượng bộ. Nhưng hôm nay cô lại tới giúp anh đại náo gây lớn chuyện. Con dâu nhà họ Tư chắc chắn không đến lượt cô rồi.

Nhưng nếu không tới, bảo anh phải dập đầu nhận sai, bỏ mặc tiền đồ vì một đám văn nhân chuyên lăng nhăng trác táng kia ư?

Cô không làm được.

***

Sau khi lên xe, Doãn Yên vui mừng hỏi Chu thị: “Mẹ, em ba hôm nay… đã lỗ mãng làm sai rồi đúng không?”

Chu thị đang nhớ lại “nhà họ Tạ” mà người ta nhắc đến, cùng với biểu cảm không che giấu của Tạ Trạch Ích khi nhìn chằm chằm cô bé, có chút nửa buồn nửa vui.

Có lẽ… cứ gả nó cho cậu Tư, phải chăng còn tốt hơn?

__

*Qin: Về tên phái, mấy chương trước mình để là Trăng Non, nhưng như thế không đồng nhất với tên phái Ngữ Ti là Hán Việt nên từ nay về sau mình để là Tân Nguyệt. Mong các bạn thông cảm.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau