GIỜ ĐANG NƠI ĐÂU

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giờ đang nơi đâu - Chương 91 - Chương 95

Chương 90: Đêm (6)

Trong lần đầu tiên tới đường Ferguson, Lâm Tử Đồng đã biết chuyện Tạ Trạch Ích nhận lệnh đưa tàu về biển Đông. Hôm đó đến tìm Sở Vọng, vì nể tình cô ba nhà họ Lâm nên mới đưa ra vài lời đề nghị rất đúng trọng tâm cho Tạ Trạch Ích.

“Đa số du học sinh Anh chỉ thích đọc sách, không thích tham gia vào hoạt động chính trị, không giống du học sinh Pháp.” Anh ta nói, “Hầu hết học sinh sinh viên Pháp đều vừa học vừa làm. Đặc biệt là các du học sinh rời nước trước và sau phong trào Ngũ Tứ, sống ở một nước Pháp năng động tại lục địa châu Âu, bị cuốn vào những cuộc tranh luận đủ loại chủ nghĩa, gần như du học sinh Pháp nào cũng có phe phái chính trị riêng, hơn một nghìn sinh viên học tập tại Pháp, cơ hồ không có lấy một ‘dân đen’. Trong số đó có một nhóm các nhà văn có tư tưởng cấp tiến, chính là phe cánh tả hiện đang bị Bộ Tư lệnh An ninh Tùng Hộ truy nã. Trong hơn một nghìn người này, có hơn ba mươi người đã xuất hiện trên một con tàu sắp vào Biển Đông. Vậy anh Tạ có biết, trong đó có bao nhiêu là ‘sinh viên đỏ’ và bao nhiêu là tội phạm truy nã không? Nếu anh Tạ không hiểu được tình trạng hiện tại của Giang Tây, thì có thể loại suy từ vụ án của tô giới Anh Thiên Tân đã bắt được đảng bộ thành phố Thiên Tân của Quốc dân Đảng vào năm dân quốc thứ mười lăm.”

Tháng 11 ba năm trước, bất chấp sự phản đối của Chính phủ Quốc dân Quảng Châu, phía Anh ở tô giới Anh tại Thiên Tân đã dẫn độ mười lăm thành viên thuộc Quốc dân Đảng cho chính phủ Bắc Dương phe Phụng, dấy lên sự phẫn nộ ở miền Nam. Đến năm sau khi Bắc phạt thành công, đội tuyên truyền của trường chính trị quân sự trung ương đã bắt đầu tuyên truyền chống Anh tại vùng đất trống ở tô giới Anh và địa phận Trung Hoa trước hải quan quận Giang Hán, yêu cầu bãi bỏ những hiệp ước bất bình đẳng. Một ngày sau khi thu hồi tô giới Anh, công sứ Anh tại Trung Quốc đã ra lệnh cho rút nghĩa quân và đội thủy quân lục chiến, đến buổi chiều thì rút lui lính tuần tra. Vào ngày 5 tháng 1, hai trăm nghìn quần chúng thị uy đã bao vây các phòng tuần bộ, tất cả các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Anh đã ngừng hoạt động, toàn bộ kiều dân trong khu tô giới của Anh phải ngồi tàu chiến và tàu buôn rời khỏi Hán Khẩu. Đến ngày 19 tháng 2, công sứ Anh Quốc đã đại diện ký kết “Thỏa thuận thu hồi tô giới Anh tại Hán Khẩu”. Đến tháng 3, hội đồng khu tự quản của tô giới Anh ở Hải Khẩu đã giải thể.

Trước khi đi, anh ta còn nói: “Anh Tạ à, trăm năm qua, đại sứ quán Anh Quốc luôn là người vô cùng thông minh. Bọn họ toàn quyền giao cho anh công việc nhàn hạ này, chắc hẳn cũng cho anh lời khuyên tương ứng rồi đúng không?”

Lâm Tử Đồng nói không sai.

Dù là Hugh Hamilton Lindsay một trăm năm trước định vào Thượng Hải, hay George Balfour hơn tám mươi năm trước ra sức dẹp bỏ nghị luận của mọi người mà mua mảnh đất bùn kia, hay là Alcock sau sự kiện “Thanh Phổ” đã mở rộng diện tích tô giới từ 828 mẫu lên 2820 mẫu, rồi sau chiến tranh thành bùn* đã lấy được chủ quyền từ hải quan Thượng Hải… Sau một Tiểu Đao hội, một quân Thái Bình cùng với sự kiện Ngũ Tạp và 12 tháng 4, đất nước này đã trải qua thay đổi triều đại, quân phiệt hỗn chiến, ấy thế mà bọn họ vẫn có thể vững vàng đặt chân tại thành phố thông thương ở vùng Viễn Đông, thì dĩ nhiên người Anh phải thông minh rồi.

(*Năm 1853 sau khi Thái Bình Thiên Quốc xây dựng kinh đô ở Nam Kinh, Tiểu Đao Hội bị ảnh hưởng quân Thái Bình đã nổi dậy khởi nghĩa ở Hạ Môn vàThượng Hải. Dưới sự đàn áp của quân xâm lược Anh, Pháp và quân Thanh cuộc khởi nghĩa đã bị thất bại, cuộc chiến giữa quân khởi nghĩa và quân xâm lược được gọi là chiến tranh thành bùn.)

Cứ nhìn bản đồ thế giới là biết. Hơn một thế kỷ, người Anh đã phát huy sự thông minh đến nấc cao nhất.

Nếu không phải như thế thì Chu Nhĩ Tra cũng sẽ không nói với anh: “Công việc ở viện nghiên cứu là một công việc rảnh rỗi. Ngày trước như thế mà bây giờ cũng vậy.”

Nói là đề nghị, chẳng thà bảo đó là lời khuyên chân thành. Chân thành khuyên nhủ, chưa chắc ai cũng có thể làm tốt; sở dĩ giao công việc rảnh rỗi này cho anh chính là muốn nâng đỡ anh, nhận định anh chắc chắn có thể thông thạo xử lý quan hệ ba nước.

Hạm đội Nhật Bản được hải quân hoàng gia nuôi dưỡng. Bảy năm trước sau hiệp ước Hải quân Washington, tàu tuần dương hạng nhẹ của Nhật Bản dần dần trở nên “hậu sinh khả úy”, và cũng có vẻ vô cùng hưng thịnh. Nhưng ở trên Biển Đông, còn ai hiểu rõ hơn anh về khu vực thực dân Anh ở Đông Nam Á cùng với hải quân và lục quân hoàng gia đây?

Chuyến tàu trước đã bỏ lại tàu chiến của hai nước khác ở tít sau xa, để các nhà địa chất học cùng với người của Đảng Cộng sản Pháp tiến vào vùng nội địa Trung Quốc theo đường bộ một cách quỷ không biết thần không hay.

Mà lần này, quân hạm của hai nước kia đã đang trong tình trạng cảnh giác. Lần này muốn tiến vào biên giới Trung Quốc rất khó. Không phải là không có cách, nhưng anh vẫn cần cân nhắc tính toán.

Trên đại lục Trung Quốc hiện nay đã không phải là vương triều phong kiến Mãn Thanh, địa vị Anh Quốc cũng không so được với Nhật Bản. Nếu như vẫn nghênh ngang đưa con thuyền kia vào biên giới Trung Quốc, thật sự rất khó bảo toàn tô giới Anh ở Thượng Hải sẽ không dẫm vào vết xe đổ như ở Hán Khẩu, khiến Nhật, Mỹ và Pháp đứng đằng sau nhìn chằm chằm được ngư ông đắc lợi.

Nếu đến cuối thật sự có thể khiến Anh rút khỏi tô giới, xóa bỏ những hiệp ước Trung Anh bất bình đẳng, thì há chẳng phải là điều bọn chúng hy vọng ư?

Con thuyền thứ hai đã vào biển Đông và đang ở gần Penang. Dưới sự chỉ dẫn của đài thiên văn ở đỉnh Thái Bình, anh đã tìm thấy con thuyền du lịch xuất phát từ Marseille. Anh dẫn theo một hạm đội hải quân và phiên dịch viên lên thuyền để tiếp tế vật liệu, cũng trấn an tâm trạng của các nhà địa chất học ở trên thuyền.

Lúc sắp xuống thuyền, đột nhiên một chàng thanh niên cao ráo, mặt mày thanh tú xuất chúng đến gần, dùng tiếng Anh rất chính thống chào hỏi: “Anh Tạ, không biết anh còn nhớ tôi không?”

Anh có chứng chứng mù mặt đối với người da vàng. Sau một lúc lục tìm ký ức, anh trả lời bằng tiếng Anh: “Rất xin lỗi.”

Chàng trai nọ cũng không hề tức giận, còn mỉm cười nói: “Trên thuyền ở đảo xa, anh từng mượn bật lửa của tôi.” Vừa nói vừa lấy chiếc bật lửa máy vô cùng tinh xảo trong túi áo gi-lê ra, “Có lẽ anh đã quên rồi.”

Tuy anh khó nhớ mặt người, nhưng chiếc bật lửa này là thứ anh đã ao ước từ lâu, sao có thể quên được.

Nhìn chăm chú một hồi, anh có cảm giác như thể vì đã ở trên thuyền quá lâu nên dạ dày chua chua, dùng tiếng Trung vạn năm không thể sửa được phát âm mà đáp: “Cậu có thể nói tiếng Trung với tôi.”

Chàng trai gật đầu rồi hỏi: “Xin hỏi anh có quen cô ba nhà họ Lâm không? Tôi thấy có vẻ anh quen biết cô của em ấy.”

Anh lời ít ý nhiều đáp: “Có biết.”

“Anh Tạ có tiện liên lạc với em ấy không?”“Sao thế?”

“Mấy năm gần đây thông tin bị cản trở, suýt đã mất liên lạc với em ấy. Nếu anh có thể liên hệ được, thì ở chỗ tôi có vài bức thư rất quan trọng, không biết anh có thể gửi cho em ấy giúp tôi được không?”

Nhìn xấp thư kia, anh im lặng một lúc.

Anh trả lời rất ngắn gọn, đến câu cuối cùng thì dứt khoát im lặng. Chàng trai nọ còn tưởng anh khả năng nghe tiếng Trung của anh không tốt, bèn lặp lại một lần bằng tiếng Anh.

Trung úy hải quân hoàng gia đi theo giải vây hộ: “Nhận gửi giúp cũng được, đến bưu điện gửi thì gửi cho ai mà chẳng thành. Có điều cảnh sát quản rất chặt chuyện nhập cảnh, chứng tôi cũng sợ phiền phức. Mọi thư từ đều phải được mở ra kiểm tra một lượt. Cậu thấy có ổn không?”

Chàng trai cười đáp: “Không thành vấn đề.”

Cầm lấy xấp thư, anh áng chừng sức nặng, không nhẹ. Sau khi đưa thư cho trung úy hải quân hoàng gia, chàng trai đó lại hỏi: “Nếu có thể biết được em ấy đang ở đâu, thì sau khi nhập cảnh Trung Quốc, anh Tạ có thể dẫn tôi đi gặp em ấy được không?”

Trong tiếng Anh, “anh ấy” và “cô ấy” là hai từ đơn rất dễ phân biệt. Cậu ta vừa dứt câu hỏi bằng tiếng Anh, hải quân hoàng gia đi theo bật cười. Các sĩ quan trả lời còn trước cả anh: “Có thể nhập cảnh được hay không còn là vấn đề, vậy mà chưa gì đã nhớ người yêu rồi à?”

Cậu ta kiên trì vặn hỏi: “Có được không?”

Tạ Trạch Ích nhìn thẳng vào mắt chàng trai, cau mày im lặng một lúc, sau đó nói bằng tiếng Trung, “Tôi không dám hứa. Đợi tôi hỏi cô ba xem em ấy quyết định thế nào đã. Như vậy được không?”

***

Thời gian dừng chân ở Thượng Hải chỉ vỏn vẹn hai mươi tiếng đồng hồ. Tàu tuần dương vừa về đến Thượng Hải, Benjamin đã ra bến đón người. Nghe nói cô ở nhà, anh lập tức lái xe về đường Ferguson.

Về đến nhà là lúc mười giờ sáng ngày thứ Bảy, đúng lúc dì giúp việc người Quảng Đông đang nấu bữa trưa. Benjamin nói rõ tối thứ Sáu cô đã về, ấy vậy mà sủi cảo tôm, xá xíu và trà hoa lài dùng cho bữa sáng vẫn chưa hề động đến.
Anh nghĩ có lẽ cô rất mệt, thế là để cô ngủ thêm một lúc, chỉ dặn dì giúp việc cất bữa sáng đi. Lại dặn dò bà nán lại đây thêm lát nữa, nếu cô tỉnh lại thì hâm nóng đồ ăn cho cô, sau đó gọi điện thoại đến hội đồng khu tự quản báo cho anh biết.

Nửa đường ra cửa một chuyến, đến hơn tám giờ tối, dì giúp việc gọi điện đến hội đồng khu tự quản: “Cô ấy ngủ cả một ngày rồi, liệu có phải bị bệnh không?”

“Để tôi về nhà xem sao.”

Đẩy cửa vào nhà, đầy một bàn ăn tối vẫn còn nguyên vẹn, cơm canh cũng đã nguội.

Mở cửa tủ lạnh ra, bữa sáng lẫn bữa trưa vẫn còn nguyên, không hề có dấu hiệu động đến.

Chỉ vài tiếng nữa là anh sẽ rời khỏi Thượng Hải, Benjamin cũng đã lái xe đến hải quan lấy thư về. Nhìn cánh cửa cuối hành lang vẫn khép chặt, anh lấy làm ngạc nhiên: Sao cô có thể lấy ngày làm đơn vị ngủ được?

Dì giúp việc vẫn ở trong bếp, chỉ để đảm bảo cô sẽ có cơm canh nóng hổi khi thức dậy.

Đi tới cuối hành lang, anh gõ cửa, không có ai trả lời.

Khẽ đẩy cửa ra, anh thấp giọng gọi: “Cô ba?”

Trong căn phòng tối om truyền đến tiếng động mơ hồ, sau đó là âm thanh trở mình. Anh sửng sốt: thì ra là nằm mơ.

Ngay đến dì giúp việc cũng ngạc nhiên đến gần: “Có phải ngủ lâu quá rồi không.”

Ngày trước anh đã từng dặn cô lúc ở nhà một mình thì phải khóa hết cửa nẻo, và anh cũng chỉ giao chìa khóa cho một mình Benjamin, chỉ mỗi lần đón dì giúp việc đến thì mới được mở cửa. Với tình hình này, có lẽ cô đã nhốt mình trong căn phòng kín hơn một ngày, không bị bóng đè thì cũng bị ngộp cho xem. Nhân tiện cả anh và dì giúp việc vẫn đang ở đây, anh rón rén đẩy cửa đi vào, mở cửa sổ ra cho thoáng khí. Vậy mà gió vừa lùa vào thì cô đã tỉnh, ồm ồm hỏi: “Anh Tạ?”

Âm thanh nửa tỉnh nửa mê nghe sao còn êm ái hơn lúc cô tỉnh táo, một tiếng gọi ‘anh Tạ’ của cô làm anh có cảm giác có móng vuốt đang gãi nhẹ vào con tim.

Tầm mắt vẫn chưa làm quen được với bóng đêm nên anh không thấy rõ đường, nhưng nhờ ánh sáng mờ mờ từ đèn đường ngoài cửa sổ, anh trông thấy một đôi mắt ngơ ngác đang nhìn mình. Rõ ràng anh nên nhẹ tay nhẹ chân, không nên quấy rầy mộng đẹp của cô; ấy thế mà đồng thời lại muốn gọi cô tỉnh dậy, bảo cô lấp đầy bụng rồi hẵng ngủ tiếp. Trong lúc giật mình, trong phòng lại vang lên tiếng ngáy khe khẽ như một con thú nhỏ, khiến dì giúp việc ngoài cửa cũng bật cười.

“Xem ra cô bé thật sự rất mệt.”

Trong túi áo anh còn có một phong thư, anh vẫn còn vài lời muốn hỏi cô, nhưng không biết vì sao lại không muốn cô thức giấc. Khép cửa phòng lại, dặn dò dì giúp việc mấy câu rồi lại rảnh rỗi trò chuyện với dì một lúc. Đến khi không thể ở lại được nữa, anh quay vào khép cửa sổ thì cô lại tỉnh dậy.

Cảnh giác lúc ngủ như thế cũng tốt.

Đặt thư lên bàn cho cô, trước khi đi lại nói mấy câu với cô, cũng không biết tới lúc tỉnh dậy cô có còn nhớ không. Đến khi gần đi, anh bảo dì giúp việc trước mắt cứ tạm thời ở nhà nghỉ bên cạnh, thường xuyên ghé đến đây, đợi cô tỉnh lại thì cho cô ăn gì đó. Sau đó anh trả thêm tiền công cho bà, lúc bấy giờ mới vội vã xuống nhà rời đi.

Mấy chiếc xe của hạm đội và hải quan đã chờ sẵn ở bến tàu. Cảnh sát hải quan vừa thấy anh thì cười nói: “Tạ, nghe nói mấy bức thư kia là gửi cho cô gái cậu đang theo đuổi đúng không?”

“Thư sao rồi?”

Anh vừa dứt lời, mấy sĩ quan kiểm tra nội dung thư ở hải quan đồng loạt cười phá lên.

Người nọ còn nói: “Quả không hổ danh sinh viên Cambridge, nhà văn từng được đăng tải trên tạp chí Granta nổi tiếng, đúng là thư tình nồng nàn. Tạ à, cậu tiêu đời rồi.”

Chương 91: Đêm (7)

Thân gửi Sở Vọng,

Đã lâu không liên lạc, thực nhớ mong vô vàn. Bây giờ mạo muội gửi thư, có thể em khó mà ngờ, đây là một trong những lá thư đêm ngày nhung nhớ. Anh từng nghĩ cứ giữ chúng ở đây, đợi đến ngày gặp em mới trao tận tay; nhưng từng câu từng chữ đều nghĩ đến em, thư chưa vào tay em, lòng đã xao xuyến muốn gặp em, rồi nếu em đọc thư, thì cũng chỉ thêm phiền não mà không có ích gì.

Đêm nay trăng sáng tỏ, nghĩ đi nghĩ lại chỉ muốn để em biết, lúc nhớ em có lẽ là lúc em đang đi dưới ánh nắng chói chang; mà ở đây dưới vầng trăng sáng tỏ, dù liễu xum xuê hay cằn cỗi*, em cũng không cần phải bận lòng.

(*Ý của câu này xuất phát từ hai câu thơ trong bài Lâm Giang Tiên của Nạp Lan Tính Đức. Tác giả mượn hình ảnh cây liễu cô độc dưới trăng để gửi gắm nỗi tương tư thê lương.)

Vốn cũng trông thư hồi âm, nhưng nay chỉ mong em đọc được thư, không cần nhấc bút trả lời.

Ngôn Tang kính bút

Ngày 09 tháng 03 năm 1928

***

Kính gửi Sở Vọng,

Thư em gửi đã đến tay, nhưng vì sự vụ bận rộn nên chưa kịp hồi âm, thâm tâm áy náy vô cùng. Anh thường cất giữ rất nhiều bức thư, hễ đi ra ngoài trông thấy hòm thư là lại muốn gửi thư đi, cho rằng rồi gì cũng sẽ có một bức trót lọt qua khỏi nhiều vòng kiểm tra, thuận lợi đến Viễn Đông. Nhưng nếu gửi thư đi rồi mà lại không nhận được hồi âm, anh lại không kìm được mà nghĩ có thể em đã đọc được thư, nhưng không biết đã làm em mất hứng chỗ nào, để em không đáng phải viết thư hồi âm.

Mấy hôm trước, bạn tốt trong trường là tiến sĩ Trần đã đón vợ con ở quê tới Anh. Trong giới du học sinh thường đồn vợ anh ấy lớn hơn anh ấy mười tuổi, hai người trông giống mẹ con; lại nghe nói vợ anh ấy quê ở Hồ Nam, bó chân, chưa từng đi học. Anh thân với anh ấy nên cũng biết những lời đó chỉ là lời đồn. Chị Trần hơn anh ấy một tuổi, đúng là có bó chân, nhưng anh ấy thường xuyên viết thư khuyên mẹ vợ cho chị ấy được để chân trần; tuy chưa từng đi học, song anh ấy cũng thường xuyên viết thư cổ vũ chị ấy đến trường nữ thục; dù tài học chênh lệch nhau, lại hơn mười năm hai nơi xa cách, thư từ không thông, ấy nhưng anh Trần chưa từng gián đoạn việc gửi thư, thật sự khiến anh vô cùng khâm phục. Nên anh cũng thường hay nghĩ, nếu hồi đó lúc mới đến nhà họ Lâm ở Thiệu Hưng, anh không thấy em lanh lợi dùng kiến thức hóa lý đối đáp, nghe em làm bài ngũ ngôn tuyệt cú, cũng không thấy em em gieo vần không đồng đều nhưng từng câu từng chữ lại hoa lệ mỹ miều; nếu như em cư xử dung tục sơ sài, thi lễ không đủ, tướng mạo bình thường, lại còn bó chân làm người ta tặc lưỡi, thì liệu anh có đưa ra lựa chọn ngày trước không?

Nên cũng vì thế, anh lấy làm may là lúc đó em đã ra ngoài phòng gặp anh, cuối cùng còn nói cho anh biết, người bầu bạn cùng anh đến già, thì ra là em.

Ngôn Tang xin gác bút

Ngày 23 tháng 05 năm 1928.

***

Mong Sở Vọng đọc thư,

Cách biệt đã lâu, nhớ nhung vô ngần.

Hôm nay anh đã thấy em rồi. Ngoài anh ra, rất nhiều người khác cũng đã thấy em. Ngày trước anh thường hay nghĩ, không biết bao giờ thì tên anh và tên em sẽ được đăng trên báo chí, để nhiều người thấy rằng vợ của anh Tư chính là cô ba nhà họ Lâm. Đây từng là điều cổ vũ khuyến khích anh, thế nhưng nay mới biết mình đã sai hoàn toàn. Cuối cùng thì em đã để mọi người biết rằng, ở nhà họ Lâm tại một đất nước ở Viễn Đông có một cô ba thông minh tài giỏi, không thua bất cứ một nam tử hán đại trượng phu tự xưng có tài học lẫn tài trí hơn người nào.

Từ nhỏ cha đã không thích anh theo nghiệp văn. Không thể thường xuyên thư từ qua lại với em, sau khi vào học ở Oxford, cứ một tuần mấy chuyến anh lại bắt xe đi đến khu Cambridge – nơi đã sinh ra rất nhiều nhà thơ học giả – để nhờ người sửa thư, dạy lại cách chọn từ đặt câu. Mới đầu là vì em, về sau lại dần mê đắm. Sau lần từ biệt ở Thượng Hải, lòng rất giận cả em và chú, từng muốn dùng bút làm lưỡi dao, để có ngày em thấy được tâm ý của anh trên sách báo. Anh cũng từng đắc chí vì có được chút thành tích, gần như bỏ bê chuyên ngành địa chất học ở Oxford. Thế nhưng trong âm thầm, thành tựu của em tại lĩnh vực khác đã sớm bỏ xa anh, thực sự khiến anh xấu hổ. Suy cho cùng, anh chưa bao giờ hiểu rõ em, nếu bây giờ làm quen lại một lần nữa thì liệu có kịp không?

Cô ba Lâm, mến mộ em đã lâu, nay mạo muội gửi thư, xin được chỉ bảo.Từng câu từng chữ đều là chân thành, nhưng người không cần phí công hồi âm.

Ngôn Tang gác bút

Tháng 07 năm 1928.

***

Thân gửi quý cô Sở Vọng,

Đã một năm từ biệt, biển trời hai nơi càng thêm nhung nhớ.

Anh đã suy ngẫm rất lâu về những lời bến tàu bến Thượng Hải, anh đã thuận lợi tốt nghiệp Luật Quốc tế chỉ trong vòng hơn một năm; Tư tưởng cách nhìn của sinh viên Luật Quốc tế khá tự do sôi nổi, điều này cực kỳ hiếm thấy trong số các sinh viên Anh. Bọn họ có tổ chức bình thường hay giao lưu với du học sinh Pháp đang sống ở lục địa châu Âu. Tham gia rất nhiều hoạt động, cũng vì thế mà trễ nải môn Địa chất Học. Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Luật Quốc tế, giáo sư từng khen anh suy nghĩ nhạy bén lại thông minh, cũng đề nghị anh học lên tiến sĩ, mà anh chỉ muốn viết thư thảo luận chuyện này với em. Nhưng vì anh từng bị nhà trường cảnh cáo vì tham dự biểu tình chống phát xít ở Luân Đôn nên thư từ bị chặn, không biết phải liên lạc với em thế nào.

Gần đây nghe nói hội trưởng Hội Hoàng gia dẫn theo trợ lý đến Trung Quốc, mà người mời chính là Từ Lai – sinh viên xuất sắc tốt nghiệp khoa Vật lý ở Cambridge, nhờ vào một bài luận văn về khoa học tự nhiên mà thanh danh vang xa. Rất nhiều lần anh từng thấy tên em xuất hiện bên cạnh tên của anh ta. Anh đã từng thấy ảnh chụp của anh ta hồi năm 20 tuổi trong tập san của trường, anh thừa nhận mình từng ghen tị với anh ta. Đúng lúc vì em có được nhiều thành tựu mà người ngoài ác ý phỏng đoán, chửi bới quan hệ giữa em và anh ta, thì anh mới hiểu được điểm đáng sợ của ghen tị. Em có tài năng học vấn hơn người, gần năm năm trước khi gặp em, anh đã biết rõ điều đó. Lúc ấy anh chỉ muốn gặp em, nói với em là anh tin em.

Nên cũng vì vậy mà anh gửi thư xin hội trưởng có thể đưa anh đi cùng đến Hương Cảng, nơi em đang ở. Ông ấy từ chối anh ngay tắp lự, âu cũng là điều dễ hiểu. Mà ở cuối thư ông ấy lại nói cho anh biết: nếu anh có thể hoàn thành môn Địa chất Học trong vòng nửa năm, thì ông ấy có thể tìm cách đưa anh về Trung Quốc.

Thư ngắn ý dài, những chuyện khác lần sau hẵng kể!

Nhận được những điều tốt đẹp đến từ em, vô cùng cảm kích!
Ngôn Tang

Ngày 04 tháng 08 năm 1928.

***

Thân gửi Sở Vọng,

Vì bận bịu công việc mà đã lâu không viết thư, mong em lượng thứ.

Sắp đến ngày bảo vệ luận án tốt nghiệp, vốn không nên có phong thư này, tránh trì hoãn chuyện học hành, bỏ lỡ con đường duy nhất quay về Trung Quốc. Nhưng cuối năm ngoái, bức điện báo của chú Lâm thật sự khiến ai nấy đều kinh ngạc. Lúc đọc được mẩu tin trên báo dịch cho người Hoa ở Anh, anh chỉ có một suy nghĩ: trên đời này lại có người cha như thế ư, không biết nghĩ gì mà lại nhẫn tâm đánh đổ tiền đồ nhân duyên của con gái một cách công khai như thế! Dù không phải cha ruột thì cũng không đến nỗi ác như vậy. Nếu không phải vì sắp tốt nghiệp, thì anh rất muốn lập tức đi thuyền đến Paris, tìm chú Lâm hỏi rõ lý lẽ.

Vô cùng căm phẫn trước hành động lần này của chú Lâm, nhưng cũng mơ hồ đố kỵ với thầy của em. Người quen biết anh ta đều nói anh ta “rất có tư tưởng, đọc sách rất nhiều, thanh cao đến mức gần như ngông cuồng”. Thêm nữa, cả tài năng lẫn dung mạo của anh ta nhất định hơn hẳn anh, lại còn thường xuyên ở bên em, còn khiến mọi người hiểu nhầm em và anh ta kia mà, thì sao anh có thể không đố kỵ đây?

Thế nhưng chỉ hơn một tuần sau, anh đã nhận được điện báo của anh ta. Anh ta mời rất nhiều thạc sĩ ngành Địa chất của đại học Oxford đến Trung Quốc, bao gồm cả sinh viên mới tốt nghiệp là anh. Hơn nữa, anh ta còn gửi cho anh một bức điện báo, nói với anh là em và anh rất xứng đôi, nghe nói anh gặp khó khăn trong chuyện về nước, anh ta từng muốn đưa em đến Anh đào tạo sâu để chu toàn cho hai ta, nhưng vì nhiều nguyên nhân nên nhắn với anh là, em cũng có nỗi khó xử khi rời Trung Quốc. Thế nên lần này khi mời các nhà địa chất học người Anh và nhà hóa học người Pháp bí mật đến Trung Quốc, anh ấy cũng đề nghị anh đi cùng. Còn nói với anh là em đã có học vấn cao, có bản lĩnh lớn, là người con gái Trung Quốc rất hiếm có trên đời này, bảo anh nhất định phải quý trọng em.

Anh Từ là một người đáng kính, là chính nhân quân tử. Tới lúc này mới biết, so với anh Từ, anh chỉ là một kẻ thiển cận.

Người trí thức đương thời luôn tán tụng tình yêu tự do, xóa bỏ hủ tục phong kiến. Không có tờ hôn ước hư danh này, có lẽ cũng là điều tốt đẹp cho hai ta chăng?

Gác bút

Ngày 16 tháng 02 năm 1929

***

Gửi Sở Vọng,

Anh đã đi qua biển Đỏ rồi. Tiến vào vùng nhiệt đới là lại hay gặp gió lớn bất ngờ trên biển, người đồng hành ai ai cũng oán hờn kêu gào. Chỉ một mình anh là tâm tư phơi phới, chỉ bởi nhẽ thuyền sắp cập bến.

Mấy năm nay ở Anh, du học sinh rất thích mặc âu phục hay đồ Tây. Mùa đông ở Anh rất dài, trời âm u nhiều mưa, thường xuyên nhớ đến cô gái mặc áo sơ mi và quần trắng trên đảo nhỏ đầu hè. Không biết sau hai năm, gặp lại nhau ở Thượng Hải sẽ là khung cảnh thế nào đây?

Ngôn Tang kính bút

Trên thuyền Teste tại Penang

Chương 92: Đêm (8)

Thuyền từ Viễn Đông đến Châu Âu chủ yếu cập cảng tại Sài Gòn, Việt Nam Pháp thuộc và Singapore Anh thuộc, chỉ có một vài trường hợp hiếm hoi là cập cảng ở Penang – điểm cực nam của Biển Đông, và đây cũng là điểm cuối của thế lực Trung Quốc.

Tuy có rất ít tàu bè cập cảng tại hòn đảo nhỏ trên eo biển Malacca này, nhưng vấn đề vượt biên giới vẫn rất nghiêm ngặt. Hòn đảo bị Anh chiếm đóng này hoàn toàn khác với Singapore: Nó được người Anh điều hành, được hun đúc bởi văn hóa Ấn Độ, và không có lấy một con chữ tiếng Trung trên đường phố. Còn hôm nay, đồn cảnh sát biên giới trên đảo nhỏ lại đang chào đón hai con tàu tuần dương hạng nhẹ từ Nhật Bản và Anh.

Nơi đây vẫn thuộc lãnh địa của Anh. Tuần tra trên biển mấy ngày, hiếm khi Tạ Trạch Ích có tâm trạng tốt, đột nhiên treo cờ trắng với mục đích hạ oai phong, thậm chí còn mời sĩ quan hạm đội Nhật Bản lên đảo Penang, cùng ăn uống chuyện trò trong đồn cảnh sát biên giới trên hòn đảo Anh thuộc.

Chẳng mấy chốc có người đến đồn cảnh sát tìm anh, bảo là hội đồng khu ở tô giới Thượng Hải có gửi điện cho anh, nói cô ba đã tỉnh.

Anh bảo người kia gọi điện về lại, dặn Benjamin đến đón cô ba tới hội đồng khu rồi gọi điện cho anh, anh có chuyện muốn hỏi cô.

Vừa dặn dò xong xuôi, sĩ quan hải quân hoàng gia sực nhớ anh từng “giúp tình địch chuyển thư tình”, lập tức cười giễu. Một đám lính Nhật lính Anh rủ rỉ mồm năm miệng bảy, chỉ chốc lát cả phòng khách đã ngập tràn tiếng cười, bầu không khí trở nên vô cùng náo nhiệt.

Anh chẳng quan tâm, chỉ mỉm cười ngồi xuống, nói với vị đại úy quân Nhật phụ trách ngăn thuyền vào viễn dương: “Việc này nói ra thì cũng là việc công, nhưng với tôi thì chỉ là việc riêng thôi.”

Vị đại úy kia nhìn anh một lúc, sau đó bật cười nói: “Vậy thượng úy Tạ có hy vọng thuyền nhập cảnh Trung Quốc không?”

Anh cười mếu, trông có vẻ khó xử, “Thuyền nhập cảnh, xét về công thì tôi chẳng được chút công lao nào, trái lại còn hao tâm tổn phí bắc cầu cho tình địch, để cậu ta cận kề người thương, thực là đáng hận. Nếu không nhập cảnh thì tôi cũng không sao. Chẳng qua sẽ khiến hội đồng khu cảm thấy Tạ Trạch Ích tôi sợ cạnh tranh công bằng với tình địch, nên cố ý thả đi lúc dẫn thuyền về, cốt để thỏa mãn tâm tư cá nhân. Nếu như có một ngày ôm người đẹp về tay, chỉ sợ người ngoài nói tôi thắng không anh hùng, không phải là chính nhân quân tử. Tôi đúng là bị vu oan mà.” Anh nhấp một ngụm rượu, sau lại cười nói, “Đại úy nghĩ xem, tôi nên xử lý con thuyền này thế nào đây?”

Đại úy khẽ ho hai tiếng, hé môi cười nói: “Cậu phải biết, không chỉ chúng tôi để ý con thuyền này, mà Nam Kinh càng để mắt tới nó chặt hơn cả chúng tôi. Tôi nói cũng bằng thừa.”

“Cũng phải.” Tạ Trạch Ích nheo mắt đáp, “Thế thì, ba giờ sáng nay, con thuyền Tenshinmaru lên đường từ Hồng Khẩu, nói là chở bác sĩ thực tập của trường đại học Y dược Sendai, nhưng hội đồng khu lại nhận được báo cáo là: trên thuyền Tenshinmaru chở hơn ba mươi người Trung Quốc không rõ lai lịch, có nghi ngờ dính dáng đến buôn người.”

Đại úy sầm mặt, “Chuyện này không thuộc phạm vi của tôi.”

“Đúng thật là không thuộc phạm vi của anh.” Tạ Trạch Ích thấp giọng cười, “Nhưng anh có muốn gọi điện hỏi ý của lãnh sự quán Nhật Bản không? Dù tuy Nam Kinh rất để ý đến con thuyền này, nhưng nếu có cuộc điện thoại tố cáo gọi đến hội đồng khu, giả sử kiểm tra ra buôn người thì anh đừng quên, ở hội đồng khu ngoài người Anh ra còn có người Mỹ, Pháp, Ý và cả Liên Xô. Lãnh sự quán lấy nhà máy phía Bắc làm ranh giới, ngoài ra còn có bệnh viện và nhà máy hóa chất mới xây, chừng đó sản nghiệp đủ mọi người ngấp nghé. Nếu để bọn họ biết các anh đưa người sống đến chỗ Thiên hoàng bệ hạ làm thí nghiệm, không biết hậu quả sẽ thế nào đây?”

Tạ Trạch Ích nói câu này vô cùng khéo. Dù các người có để thuyền nhập cảnh hay không thì thực sự cũng chẳng liên quan gì đến tôi. Nếu nói có dính dáng gì thì cũng chỉ đơn giản là cô gái tôi theo đuổi hy vọng con thuyền kia sẽ vào cảng, các người mà tác thành thì tôi đây cũng đội ơn; nhưng nếu các người không muốn thì tôi cũng chẳng thiệt hại mất mát gì cả.

Có điều điểm yếu của các người đã nằm trong tay tôi, nếu mà xử lý thật thì không dễ đâu. Điều kiện đặt ở đây, để xem các người có chấp nhận hay không.

Cơ bắp trên mặt đại úy giật giật, gã nghiến răng hỏi: “Đảo Penang có đường dây gọi đến hội đồng khu không?”

“Dĩ nhiên lại có, còn rất thuận lợi nữa.” Anh ung dung cười nói, “Đúng lúc tôi cũng đang định gọi điện cho người yêu, hỏi cô ấy có muốn đưa con thuyền chở vị hôn phu cũ của cô ấy vào Trung Quốc không. Hay thế này đi, chúng ta đi cùng nhau nhé đại úy?”

***

Ngủ một giấc ba mươi tiếng đồng hồ, coi như bù cho hai tuần lễ thiếu ngủ. Vừa thức giấc dậy, mới rửa mặt đánh răng xong thì dì giúp việc đã đến nấu cơm cho cô, thấy cô dậy thì lập tức vui vẻ mỉm cười, dùng tiếng Quảng Đông còn khó nghe hơn cả Tạ Trạch Ích nói: “Tốt quá tốt quá, cuối cùng cũng dậy rồi! Mau gọi điện cho cậu Tạ thôi!”

Ăn uống xong xuôi, đọc hết xấp thư trên bàn, đầu óc cô cũng đã phần nào tỉnh táo. Cẩn thận đặt thư của Ngôn Tang vào trong hộp gỗ đỏ, tìm bút máy và giấy viết thư ra, vừa nghĩ được hai dòng thư hồi âm thì bên ngoài vang lên tiếng chuông. Nhìn ra ngoài cửa sổ, Benjamin ở dưới lầu nhấn còi inh ỏi, cô đành gác giấy bút lại, thay áo len và áo khoác rồi vội chạy xuống lầu.

Một chuyến đi thẳng đến hội đồng khu, Benjamin đưa cho cô số điện thoại gồm 6 số của đảo Penang rồi đi cùng mấy người cảnh sát khác ra ngoài.

Quay số, đợi chuyển máy khá lâu. Tới khi kết nối được rồi thì đầu kia lại vang lên mấy câu tiếng Nhật, có điều cô không hiểu.

So với mấy câu tiếng Nhật kia thì giọng của Tạ Trạch Ích nhã nhặn hơn nhiều: “Ăn uống gì rồi chứ?”

“Ăn rồi.”

“Ừ. Còn mệt không?”

Cô vội nói: “Không mệt. Anh có về đúng không?”

“Không ngờ em vẫn nhớ.”

“Anh đã nói chuyện gì quan trọng với tôi sao?”

“Cũng không có gì quan trọng cả, chỉ là muốn gặp em thôi. Đã thấy thư chưa?”

“Thấy rồi. Vừa đọc xong, đang viết thư hồi âm thì Benjamin đến.”

“Ừ.” Dừng một lúc, anh nói, “Xem ra tâm trạng em đang rất tốt.”

“Hả? Làm gì có?”

“Em rất thích thư cậu ta gửi cho em?”

Cô suy nghĩ một lúc rồi thốt ra một câu xuất phát từ đáy lòng, “Trên đời này, sợ là không ai không thích thư do chính anh Tư viết cả.”

“Ồ. Em thích cậu ta đến thế à?”

“Anh Tạ?” Cô lấy làm khó hiểu, “Điện thoại viễn dương không cần trả tiền à?”

Tạ Trạch Ích im lặng, tiếng Nhật ở đầu dây biến mất một lúc rồi lại vang lên.Một lát sau, Tạ Trạch Ích nói: “Em có muốn tôi đưa con thuyền chở cậu ta về Trung không?”

Cô trả lời đầy chắc nịch: “Có. Vì sao lại không chứ?”

“Không suy nghĩ thêm à?”

“Ví dụ?”

“Giả sử chỉ một chút bất cẩn, con thuyền này có thể khiến địa vị của Anh ở hội đồng khu rơi vào thế lưỡng nan. Nếu nghiêm trọng hơn, người Anh có thể bị đuổi khỏi tô giới Thượng Hải.”

Không phải cô chưa từng nghĩ đến chuyện này. Nhưng sau một thời gian dài cân nhắc, sở hữu mỏ uranium, nhà máy chế biến và căn cứ kỹ sư có hiệu quả hơn nhiều so với sự che chở của Anh ở tô giới trong thời gian ngắn. Nhất định phải có các nhà địa chất học, lính Anh ở tô giới mới là điều không cần thiết.  Các nhà địa chất là cần thiết, và sự nhượng bộ của Anh là không cần thiết. Rồi sẽ có ngày tô giới phải trả lại, Trung Anh đạt được thỏa thuận thì ắt cũng tự có cách khác để người anh đến vùng nội địa Trung Quốc.

Ngoài ra, cô với nhà họ Tư, Ngôn Tang với Tư Ưng và nhà họ Lâm cũng còn món nợ phải thanh toán. Cô cũng có vài lời cực kỳ quan trọng muốn nói với anh, dù chỉ là vì tiền đồ của anh thì anh cũng nhất định phải quay về.

Cô nói: “Anh Tạ, xin anh nhất định đưa anh ấy về.”

“Là ‘anh ấy’, chứ không phải là ‘bọn họ’?”

“Điểm đó không quan trọng. Chiếc thuyền kia, chắc chắn phải về.”

Đầu dây im lặng một hồi, “Ừ, tôi biết rồi.”

“Anh Tạ, chắc chắn tôi sẽ cám ơn anh đàng hoàng!”

“Chuyện nhỏ thôi mà, không cần cám ơn.”

“Nhất định phải cám ơn!”

“Coi như em nợ đi. Tôi không nhận, đời này em đừng hòng trả.”

“Anh Tạ, thì ra anh độc ác thế ư?”

Tạ Trạch Ích cười một hồi.

Cuối cùng anh thở dài, nói như thỏa hiệp: “Nếu thật sự muốn cám ơn tôi, vậy thì làm nũng đi.”

“…”

“Khó lắm hả?”

Nếu là lúc bình thường có người nói với cô “làm nũng đi”, thì nhất định cô sẽ tát cho hắn mấy tát coi như chào hỏi, rồi bổ sung thêm một câu “cút mẹ mày đi”.Nhưng Tạ Trạch Ích thật sự đã giúp cô.

Hơn nữa giọng điệu anh khi nói câu đó, nghe như, không biết thế nào mà lại có vẻ ngán ngẩm đau lòng.

Cô xoắn xuýt: “Nhưng… Tôi không biết làm nũng.”

“Không biết cũng không sao, để tôi dạy em. Em chỉ cần nói một câu ‘anh Trạch Ích, anh tốt với em quá, em thích anh nhất’, thì tôi sẽ bỏ qua cho em.”

Cô nghe thấy thế thì trợn trắng mắt.

Đấu tranh một hồi, cô bình tĩnh nói: “Anh Trạch Ích…”

“Dịu dàng tí đi.”

Sở Vọng như quả bong bóng, lấy hết hơi rồi trút cả ra ngoài.

Cô chậm rãi mỉm cười, dịu dàng nói: “Anh Trạch Ích, anh tốt với em quá…”

“Ngọt ngào vào.”

Cô gom góp hết sức lực, bóp giọng nói một hơi: “Anh Trạch Ích, anh tốt với em quá, em thích anh nhất!”

Vừa dứt lời, ngay chính cô cũng sợ điếng người.

“Ừ. Tôi cũng thích em nhất.”

“…” Cô cạn lời.

“Con gái nên làm nũng nhiều vào, đôi lúc có tác dụng lắm đấy.” Sau khi chỉ bảo xong, anh dừng một lúc rồi nói, “Yên tâm, em sẽ sớm gặp cậu ta thôi.”

Cô rất muốn xỉ vả đôi câu, nhưng vừa mở miệng thì đầu kia đã dập máy.

Lại… bị đùa giỡn rồi.

Cô đặt ống nghe xuống, cả gương mặt đỏ bừng, mảng đỏ lan rộng đến tận tai.

Cô giơ hai tay che mặt: Đúng là… xấu hổ quá đi mất.

***

Hai chiếc máy điện thoại trong đồn cảnh sát trên đảo Penang đều bị chiếm dụng.

Bên này là đại úy Nhật Bản vâng vâng dạ dạ xin phép cấp trên, vừa nói vừa căng thẳng lau mồ hôi, luôn miệng cười nói gập người trả lời bằng tiếng Nhật: “Vâng. Đúng thế đúng thế.” Chỉ thiếu nước gập người chín mươi độ.

Còn bên kia, Tạ Trạch Ích kẹp điện thoại giữa tai và vai, thong thả dựa vào bàn, giọng nhẹ nhàng, ung dung nấu cháo điện thoại, trong lúc nói chuyện, từ chân mày đến đáy mắt đều toát lên sự yêu chiều.

Anh như căn ke thời gian, đại úy bên kia vừa nói chuyện xong thì bên anh cũng gác máy. Trên mặt vẫn còn đọng ý cười, híp mắt như khoe chuyện tình yêu, than phiền với đại úy bằng tiếng Anh: “Cô ấy cứ đòi gặp cho được, tôi biết làm sao bây giờ? Thực sự không có cách gì với cô ấy cả.”

Mặt đại úy thoắt đen thoắt trắng, cơ mặt giật giật, cố nặn ra một nụ cười: “Vậy cứ để cô ấy gặp đi.”

Tạ Trạch Ích xoa tay, cười hỏi: “Gặp? Tức là?”

“Một người đổi một người. Các anh để ba mươi người về Kobe, không được để hội đồng khu biết chuyện này; đổi lại chúng tôi cũng sẽ để ba mươi người vào Trung Quốc. Mở một mắt nhắm một mắt, không được để Nam Kinh biết bọn họ đã nhập cảnh.”

Anh mỉm cười ngoắc tay, lệnh cho trung úy hải quân cầm tờ giao kèo đến.

Đại úy không ngờ lại nhanh như vậy. Gã nhướn mày, sau khi đọc xong thì lần lượt ký vào bản giao kèo.

Ký tên xong thì gửi điện báo về, để đồn cảnh sát Thượng Hải cho thuyền Tenshinmaru đi. Ở biển Đông, tàu tuần dương của quân Nhật nhận được tin giả thì dẫn hải quân Trung Quốc đến gần Đài Loan, ngay sau đó, chiến hạm của Anh lập tức dẫn con thuyền chậm rãi nhập cảnh Sán Đầu.

Ở bến tàu Thượng Hải, tại ghế sau của xe hơi của hội đồng khu, nằm bên cạnh một sĩ quan là một đứa bé bẩn thỉu đang ngủ say.

Xe chậm rãi chạy vào tô giới công cộng.

Ở trên xe, Benjamin nghiêng đầu nhìn đứa bé kia, bĩu môi nói, “Ba mươi người đổi lấy ba mươi người. Tự dưng lại mọc ra một thằng cu hai tuổi, bảo tôi đi đâu tìm cha mẹ nó đây?” Rồi anh ta ngoái đầu hỏi sĩ quan, “Sếp tính sao đây? Tìm một chỗ quẳng nó xuống xe, hay đưa về hội đồng khu?”

Chương 93: Đêm (9)

Đứa bé nọ mặt mũi dơ dáy, hai mắt vô thần nhìn ra ngoài cửa xe. Trên người là áo vải rách rưới, những vết may thô sơ lộ cả đường khâu. Áo bông quá dài, dùng dây cỏ làm thắt lưng buộc ngang hông, bên dưới là chiếc quần cộc màu đỏ, đôi chân trần gầy guộc tím tái vì lạnh.

Benjamin liên tục ngoái đầu nhìn cậu bé, nhưng lần nào cũng bắt gặp vẻ mặt đờ đẫn kia, anh ta không khỏi thở dài.

Lúc nhận được điện báo từ đảo Penang, trên điện báo viết “cho thuyền Tenshinmaru chở ba mươi người rời khỏi cảng Trung Quốc”, gọi điện thoại xác nhận thì Tạ Trạch Ích nói: “Ba mươi người, không nhiều không ít.”

Người Trung và người Nhật ở trên thuyền rất dễ phân biệt. Quần áo trắng giản dị lịch sự là bác sĩ Nhật, còn người nào da mặt nứt nẻ, quần áo vừa bẩn vừa không đủ che thân thì ấy là người Trung. Tuy nay đã vào đầu xuân nhưng vẫn còn đó cái lạnh của mùa đông. Không biết có phải ba mươi người này là số cực ít may mắn sống sót trong rất nhiều người phải chiến đấu chống chọi với cái lạnh mùa đông ở Hạp Bắc không. Mà dù có sống sót qua kỳ đông thì đằng trước vẫn còn cửa ải khó khăn hơn, bị coi là “vượn Trung Quốc”, bị đưa tới hòn đảo phía Đông Nam.

Hội đồng khu tự quản thường nhận được báo cáo về nạn buôn người như thế. Nhưng vì ngày nào ở tô giới cũng có không ít dân tỵ nạn Trung Quốc đột nhiên mất tích nên cũng chẳng mấy ai thấy lạ lùng. Hơn nữa còn vì vụ án giữa người Nhật và người Trung nên hai bên dùng chung một tòa nhà. Theo như tin tức được gửi về từ các gián điệp ở nhiều nước thì nhiều người đã nghe được phong thanh nhiều ít về các thí nghiệm sinh học được thực hiện ở Nhật Bản. Và gần đây thì chúng dứt khoát mở rộng diện tích tô giới Nhật với danh nghĩa là thành lập nhà máy kéo sợi, trắng trợn chiếm dụng một bệnh viện cũ ở Thượng Hải, dùng làm “bệnh viện nhà máy kéo sợi”, còn đưa một nhóm bác sĩ từ trường đại học y dược Sendai đến. Mà thực chất bọn chúng đang ngấm ngầm làm gì, hội đồng khu ít nhiều cũng biết được một hai, nhưng đa số đều chọn mở một mắt nhắm một mắt.

Có điều Benjamin không biết vì sao hôm nay Tạ Trạch Ích lại chỉ điểm vụ lần này, mà dù là món tiền cược cho con thuyền châu Âu đang ở trên biển Đông thì anh ta cũng chỉ có thể vâng lệnh.

Không biết là do trên đảo Penang liên lạc quá nhanh hay đã gặp rắc rối chỗ nào, màtới lúc lên thuyền, đếm tới đếm lui lại phát hiện tổng cộng có ba mươi mốt người Trung Quốc áo quần tả tơi. Lính Nhật trên thuyền nói: “Đã nói rồi còn gì, một thuyền đổi một thuyền, ba mươi mốt với ba mươi có khác gì nhau?”

Anh ta kiên quyết đáp: “Cấp trên đã nói là ba mươi người, không thể nhiều hơn một. Phải để chúng tôi giữ lại một người.”

Người Nhật nói: “Lúc thỏa thuận với cấp trên của chúng tôi, cấp trên của các anh không có nói phải đếm theo số lượng đầu người. Châm chước không được à?”

Hai bên cãi cọ qua lại, cuối cùng lính Nhật tức tối mắng: “Đồ gã chó nô lệ của chủ nghĩa quan liêu!” Nói đoạn, hắn xách cổ một cậu bé gầy gò từ trong ba mươi mốt người Trung Quốc, vung tay ném thẳng xuống biển.

Cậu bé rơi vào dòng nước lạnh băng, ngoi lên vùng vẫy kêu cứu, bọt nước nổi sùng sục. Lính Nhật trên thuyền cười ầm, đồng thời nói với lính Anh đang lục soát rằng: “Ba mươi người rồi đấy, không dư một người, đã hài lòng chưa?”

Rồi con thuyền Nhật nghênh ngang rời đi. Chân vịt xoay nhanh nổi bọt nước trắng xóa, tới khi bọt sóng biến mất thì đứa trẻ cũng chìm dần.

Mấy người lính Anh lập tức phi thân xuống nước, tìm kiếm một lúc rồi vớt cậu bé lên. Lại cấp cứu ở ngay bến tàu, may mà mạng lớn nên giữ được hơi thở cuối cùng, có điều cơ thể đã đạt đến giới hạn rồi. Không rõ bẩm sinh ngốc nghếch hay là sợ đến mức choáng váng, cậu bé vừa run run vừa trả lời, cũng không biết là tiếng địa phương vùng nào mà ngay cả phiên dịch người Trung cũng không hiểu.

Mà đã không hiểu thì không làm ăn được gì. Không hỏi được nhà ở đâu, chẳng nhẽ đem về hội đồng khu nuôi? Trong số những người Trung ở Thượng Hải, lưu dân ăn mày là thành phần không hề ít. Trước đó anh ta từng nghe nói bệnh viện Nhật Bản nhờ người ra ngoài tìm người tàn phế, người điên, người già và trẻ nhỏ cô nhi trong số đám ăn mày đem về bệnh viện, những người Trung Quốc trên con thuyền Tenshimaru vừa rời đi kia cũng là như thế. Vậy có đến tám phần cha mẹ của đứa trẻ này là nông dân vùng khác đến Thượng Hải, không làm ăn được nên lưu lạc thành dân tỵ nạn hoặc ăn mày, thậm chí có thể đã bị chết cóng trong trời đông. Chuyện này ngày nào cũng xảy ra, chẳng có gì lạ.

Tìm một đống cỏ ấm áp, cho nó ít đồ ăn rồi ném nó xuống xe ư?

Benjamin ngoái đầu nhìn cu cậu, nó cũng đang nhìn anh, hai tay cầm chiếc bánh sừng bò anh cho, đưa lên miệng gặm nhấm. Benjamin bất giác mềm lòng, dưới chân tăng tốc, chở cậu ta về hội đồng khu.Xe chạy vào hội đồng khu, từ xa đã thấy Sở Vọng mặc áo khoác đứng chờ ở cửa. Anh ta lái xe đến trước mặt cô, dừng xe lại rồi nói: “Cô Sở, lúc quá, đang cần cô giúp lắm đây!”

Cô hỏi: “Sao thế?”

Cửa xe sau bật mở, người phiên dịch xách cổ một đứa nhóc bẩn thỉu xuống, tay nó vẫn chặt chiếc bánh sừng bò đã ăn mất một phần ba.

Benjamin nói rõ: “Cô lại nghe xem nó nói gì đi, chúng tôi không hiểu gì cả.”

Cô ngồi xổm xuống: “Em tên gì?”

Cậu bé rụt người lại, thấp giọng nói một câu.

“Nói gì thế? Là tiếng Trung à?” Thấy cô cau mày, Benjamin vỗ gáy: “Không lẽ đã đem người Nhật về rồi sao?”

Sở Vọng cười nói: “Là tiếng địa phương Trung Quốc, có điều tôi cũng không hiểu. Thành phố phía nam Trung Quốc, có cách mấy trăm cây số thì khẩu âm cũng không như vậy.”

Benjamin thở dài: “Thế làm sao bây giờ?”Sở Vọng nhìn gương mặt nhỏ nhắn trước mặt một hồi, “Tắm rửa sạch sẽ, chụp ảnh rồi đăng báo tìm người?”

“Chuyện này…” Benjamin ngạc nhiên, “Không đến nỗi rầm rộ vậy chứ?”

Cô nghĩ một hồi thì mới hiểu ra. Ý của Benjamin là: ở tầng thấp nhất trong số những công dân hạng hai thì mạng sống là thứ rẻ mạt, không đáng phải bỏ tiền chụp ảnh đăng báo tìm người thân.

Dù như Benjamin cũng có suy nghĩ cố hữu coi người trung Quốc là công dân hạ đẳng, thì những người Anh khác còn hơn cả thế. Anh ta nói câu này rất tự nhiên, như thể không cảm thấy có gì sai, trái lại còn cho rằng cô chuyện bé xé ra to.

Cô không trả lời, hai tay luồn qua nách cậu bé, kéo đến bên cạnh ống nước ở hội đồng khu, mở vòi, lấy khăn ra thấm ướt rồi chậm rãi lau mặt cho cậu.

Benjamin thở dài, sau một hồi đấu tranh tâm lý thì mới xắn tay áo lên đi đến giúp.

Trong lúc lau mặt, Sở Vọng cũng thử hỏi vài vấn đề khác, ví dụ như nhà ở đâu, đã mấy tuổi rồi, thậm chí cả những câu kiểu như “thích ăn gì”, tính dựa vào khẩu vị để phân biệt vùng miền. Nhưng hỏi mãi mà cô vẫn không hiểu cậu bé nói gì, song có thể cảm giác được là phương ngữ nông thôn ở miền Nam Trung Quốc.

Lau một hồi, cô chợt thấy trên cổ cậu đeo sợi chỉ đen. Tưởng là tín vật cha mẹ cậu để lại, kiểu ngọc thạch, đá, hạch đào hoặc đồ trang sức gì đó. Cô tính lấy ra nhìn, xem có thể có manh mối gì không.

Rút vật ở cuối sợi dây ra khỏi quần áo, hóa ra đó là một tấm sắt nhỏ có chiều rộng bằng ngón tay cái. Mặt trước được viết bằng tiếng Nhật, cô đọc cũng không hiểu. Lật tấm sắt lại, bên trên viết một từ tiếng Anh: Ape (Vượn).

Cô ngẩn người, bất chợt đẩy tay áo cậu bé lên để lộ khuỷu tay.

Có những vết sẹo do kim tiêm lưu lại phía trong khuỷu tay bẩn thỉu.

Cô lập tức buông tay ra như bị điện giật, nhét lại tấm sắt vào trong áo đứa con nít, đồng thời cũng kéo tay áo xuống, quay đầu đi thở dốc.

Benjamin hỏi: “Sao vậy?”

Cô khẽ thở hắt một hơi, quay lại cười nói: “Tôi biết làm gì rồi. Cứ giao cậu bé cho tôi trước, được không?”

Chương 94: Đêm (10)

Vừa về đến nhà, nhân lúc chưa bị cúp điện, cô lập tức cho cậu bé kia tắm nước nóng. Trong lúc tắm lại kiểm tra toàn thân một lượt, may mà ngoài phía trong khuỷu tay phải ra thì không có vết tiêm nào khác.

Nghe Benjamin vô tình nói là cậu bé được đem về từ con thuyền xuất phát đi nhật, điều đó cho thấy cậu bé đã bị nghiên cứu, thế nên mới bị đem đến Nhật Bản để điều tra thêm, đồng thời cũng cho thấy vi khuẩn được tiêm vào người cậu bé không có tính truyền nhiễm, hoặc có thể việc tiêm chủng đã thất bại, hoặc vi khuẩn đã xảy ra biến dị trong quá trình tiêm chủng; thậm chí có thể nói là vô cùng “may mắn”, may là cậu bé chỉ bị kiểm soát không điều trị của nhóm biến.*

Dù trong tình huống nào đi chăng nữa thì chí ít cũng nói rõ một điều, thí nghiệm “vượn Trung Hoa” đã tồn tại.

Cậu bé đã ngủ say, còn cô một mình ngồi trong màn đêm, da đầu căng ra.

Nếu nói ở thế kỷ XX có điều gì khủng khiếp hơn chiến tranh, thì đó chính là bệnh truyền nhiễm. Chiến tranh thế giới thứ nhất đã giết chết 10 triệu người, thế mà trận dịch cúm Tây Ban Nha vào năm 1918 đã giết chết hơn 30 triệu người ở châu Mỹ và lục địa châu Âu. Trong khoảng nửa đầu thế kỷ XX, hơn 200 triệu người đã chết vì bệnh đậu mùa, gấp ba lần tổng số người thiệt mạng trong Thế chiến I và Thế chiến II. Trước kia khi cô làm thí nghiệm về vi khuẩn, trong sách có chú thích về “bào tử bệnh than” như thế này: Trên lý thuyết, một gram bào tử bệnh than có thể giết chết một nửa người Mỹ, còn kết quả thực tế có thể bị sai lệch. Vì thế người Nhật đã tiến hành thí nghiệm trên Trung Quốc nhiều lần, tìm ra một khoáng chất gọi là bentonite, hay còn được gọi là bột đất sét xám, sau khi trộn lẫn với bào tử vi khuẩn thì được máy bay hoặc máy phun sương phun trên diện rộng, có thể lơ lửng trong không khí trong một thời gian dài. Lúc đó, hiệu quả thực chiến có thể tiếp cận gần với hiệu quả lý thuyết nhất.

Trên sách cũng trích một đoạn trong bức thư bí mật về “ủy viên G” (ủy viên vi khuẩn) của Hoa Kỳ sau Thế chiến II:

“… Các bào tử bệnh than có sức đề kháng rất mạnh đối với bên ngoài, gần như có thể ngủ đông mãi mãi và không bao giờ chết! Quyết không để yếu tố này làm liên lụy, đàn áp, đe dọa hoặc giết chết chúng ta trong thời gian dài. Vì vậy, vì sự an toàn của Hoa Kỳ, chúng ta cần tìm một quốc gia hoặc khu vực thay thế. Trung và Nam Mỹ rõ là không được, bởi vì vi khuẩn và vi rút có thể dễ dàng lây lan sang Bắc Mỹ theo cầu lục địa. Đề cử phù hợp nhất phải là tiểu lục địa Nam Á và Trung Quốc, nơi này có lãnh thổ bát ngát, kích thước rộng lớn, khí hậu ấm áp ẩm thấp, địa hình rất phức tạp, chiến tranh liên miên, dân số dày đặc, trình độ tiến hóa lẫn văn hóa đều cực kỳ thấp…”

Vào thời điểm đó, dù là đầu hay giữa thế kỷ XX, dù chiến tranh chưa bắt đầu hay đã kết thúc, thì với cô mà nói cũng quá đỗi xa vời. Nhưng bây giờ cẩn thận ngẫm lại mới hiểu ra: Sau năm 1945, khó khăn giành được chiến thắng, tất cả mọi người ở lục địa phía Đông đều mong mỏi một một cuộc sống mới yên bình. Và khi không một ai đề phòng chuẩn bị, khối đồng minh trong kỷ nguyên chiến tranh đã bí mật tính toán đến mạng sống của nhóm người chất phác này, lại còn hùng hồn nói là: “ trình độ tiến hóa lẫn văn hóa đều cực kỳ thấp…”

Trong lịch sử vi khuẩn, liên quan đến Ủy viên G còn có một bức thư nổi tiếng khác, được chủ tịch tổ thí nghiệm hóa học Hoa Kỳ John Barker dùng để kiểm soát Tòa án Quốc tế Viễn Đông. Trong đó có một đoạn nội dung như thế này:

“Quốc gia duy nhất sử dụng vũ khí vi khuẩn trong chiến tranh thế giới thứ hai là Nhật Bản, còn quốc gia duy nhất bị phá hủy bởi vũ khí vi khuẩn là Trung Quốc. Các anh phải cực kỳ để ý đến sự thật cơ bản này, cần phải ân xá và bảo vệ tội phạm chiến tranh vi khuẩn như Shiro Ishii để lấy kinh nghiệm và tài liệu từ trong tay bọn họ, dùng trăm phương ngàn kế để tiết kiệm thời gian, tiền tài cùng các tài nguyên hữu hình hay vô hình khác của chúng ta. Để Trung Quốc không vướng vào tội ác của quân Nhật năm đó, phải xây dựng phòng thí nghiệm S – phòng thí nghiệm chiến tranh sinh học đầu tiên của chúng ta ở châu Á…”

Shiro Ishii chính là nhà hướng dẫn kỹ thuật của quân đội 1855. Phát minh “vĩ đại” nhất của hắn là đĩa nuôi cấy khuẩn dịch tả cao hai mét dài năm mét, gọi là “bom Ishii”. Đồn rằng vi khuẩn dịch tả được nuôi cấy “đủ để giết sạch cả thế giới cùng một lúc”…

Cô sờ đôi bàn tay lạnh ngắt của mình, lại đưa mắt nhìn cậu bé bị bác sĩ Nhật Bản coi là “vượn Trung Quốc” đang thở đều đều trên sô pha, bất chợt nhớ lại trước kia ở thư viện từng nhìn thấy một bức ảnh, một người đàn ông bị trói gô đưa lên bàn mổ cùng một quân Y người Nhật mặc đồ trắng, đeo kính đen và găng tay cao su, trong tay cầm dao. Bên dưới tấm ảnh ghi chú: Carry out vivisection to the CHINESE MONKEYS (Tiến hành giải phẫu vật sống với vượn Trung Hoa).

Hiện tại đã có một bệnh viện nghiên cứu bệnh khuẩn ở Hồng Khẩu. Nếu bọn họ có được thành quả nhất định, thì dù hiệu suất chưa tới, nhưng chỉ cần có đủ sức mạnh của một phần mười nghìn quả bom Ishii thì hậu quả vẫn vô cùng khó lường.

***

Cô không biết mình đã ngồi trong bóng tối bao lâu. Cho tới khi trời dần hửng sáng, soi rõ màn mưa bụi bên ngoài cửa sổ, dạ dày kêu rột rột vì đói, mồ hôi vã ra như mưa. Đến tận lúc dì giúp việc tới nấu cơm, cô vẫn còn hoảng hốt.

Có lẽ là vì trước đó Tạ Trạch Ích đã dặn dò, nên lúc dì giúp việc đi vào, thấy cô đã tỉnh mà còn có thêm một cục thịt nhỏ nằm bên cạnh thì thoáng giật mình, nhưng cũng không nhiều chuyện hỏi han gì, chỉ đi thẳng xuống bếp nấu cơm.

Cô ngẩng đầu nhìn chiếc máy điện thoại nằm trên hành lang, đột nhiên nhớ tới ngày nào đó khi gọi điện, nhân viên tiếp tuyến đã từng đọc số điện thoại gồm bốn chữ số.

Nhà họ Hứa nổi tiếng khắp Thượng Hải, con gái từng du học Nhật Bản…

Cô giật mình, đứng bật dậy làm cả chiếc ghế sofa bằng da rung lên. Đứa trẻ nằm trên ghế dụi mắt, lim dim nhìn cô.

Cô xoa đầu cậu bé —— tối qua đã gội đầu cho cu cậu một lần rồi. Dù không dễ nhìn lắm nhưng vẫn tốt hơn là để bọ chét sinh sống. Đẩy cậu bé đến dưới điện thoại, cô không do dự quay số điện thoại nhà họ Hứa.

Thời gian chuyển máy khá lâu, hình như là quản gia của nhà họ Hứa nghe điện thoại; tuy giờ đang còn sớm, nhưng vì nghe nói là bạn của cô Hứa, sợ là có việc gấp nên ông ta lập tức gọi cô chủ đến nghe máy.

Giọng cô Hứa nghe rất có tinh thần: “Alo, em Lâm đấy hả?”

“Chào cô Hứa buổi sáng.” Cô cũng lười khách sáo, “Tôi nhớ chị vẫn muốn để mọi người biết bọn chúng là kẻ vô dụng, đúng không?”

Cô Hứa cực kỳ tỉnh táo: “Sao thế?”

Cô hỏi tiếp: “Cho tôi hỏi, hồi du học Nhật Bản, cô Hứa học chuyên ngành gì?”

“Đương nhiên là học y rồi. Có chuyện gì à?”

“Ừm. Vậy chị đã từng nghe đến Shiro Bomb chưa?” Cô không theo chuyên ngành bệnh lý vi khuẩn, cũng không biết những danh từ đó ra đời từ lúc nào.

“Tôi chỉ biết giáo sư Ishii của Đại học Y khoa Kyoto mà thôi. Có chuyện gì thế?”

Cô nghĩ một lúc rồi hỏi: “Vậy còn, salmonella enterica, cholera bacteria, bentonite… và Ape thì sao?”*

(*Nguyên văn tác giả dùng từ tiếng Anh, lần lượt là vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn thổ tả, sét khoáng và vượn.)

Đầu dây im lặng một lúc lâu. Cô Hứa hỏi: “Em nghe được những từ này từ đâu?”

“Ở chỗ tôi có một cậu bé một hai tuổi.” Cô kéo cậu bé đến gần điện thoại, thấp giọng hỏi cậu vài câu. Cậu trả lời xong thì cô lại đưa điện thoại lên tai: “Cô có hiểu em ấy nói gì không?”

“Ừ… Hiểu được sơ sơ, có lẽ là huyện Nam Thông.” Giọng cô Hứa có vẻ gấp gáp: “Em đang ở đâu?”

“Chị biết địa chỉ nhà tôi mà. Kính cẩn đợi chị đại giá.”

***

Nếu đi thuyền bình thường thì lộ trình từ đảo Penang đến Thượng Hải phải mất bốn năm ngày; nhưng với chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ thì chỉ mất bốn mươi tiếng đồng hồ.

Cả chiếc thuyền này, không kể binh chủng, đa số đều là binh sĩ hạ cấp. Hơn phân nửa là hạ úy, có hai trung úy, chỉ mỗi Tạ Trạch Ích là thượng úy. Bầu trời tối dần, cá voi ở xa phun nước trong ánh chiều tà. Trong hành trình mười tiếng cuối cùng, lính Anh tranh thủ chè chén hưởng thụ quãng thời gian còn lại, chuyển hẳn bữa tối từ trong khoang ra ngoài boong, máy hát cũng được đưa ra ngoài; âm nhạc, rượu ngon, trái cây nhiệt đới và thịt nướng đều có đủ, quân sĩ tỉnh táo nhảy múa; đối với bọn họ mà nói, nếu còn thiếu gì đó thì chắc chắn là phụ nữ rồi.Đối lập với sự náo nhiệt của mọi người trên boong thuyền là Tư Ngôn Tang đang ngồi trong góc: anh mặc áo sơ mi sáng màu bên trong, bên ngoài là áo ghi lê màu đen, ngồi dưới ánh đèn, cầm một cuốn sách trên tay, có vẻ thị lực kém nên phải nheo mắt để đọc. Nhìn anh như thế là biết ngay, anh chính là kiểu học sinh của trường nội trú ở Anh điển hình; gần như trái ngược hẳn hoàn toàn với Tạ Trạch Ích – kiểu học sinh được thầy giáo đến trường bảo lãnh nhưng còn bị từ chối, cởi phắt ghi lê đồng phục ném xuống đất, nghênh ngang rời đi.

Trên thuyền cũng có không ít sĩ quan cũng học tại trường tư, bọn họ bắt đầu bàn tán về sinh viên Trung Quốc gọi là “Tư” kia: là sinh viên cố hữu của đại học Oxford, đồng thời cũng là sinh viên tham quan của Cambridge, thế nhưng lại nổi tiếng ở Cambridge hơn cả Oxford, ngay từ thời trung học cứ hai ba hôm lại từ Luân Đôn đi đến đến Cambridge, nghe nói vì bạn gái ở Trung Quốc xa xôi giỏi làm thơ, cho nên cũng kiên trì làm thơ trong rất nhiều năm, cốt để nàng được vui vẻ.

Lúc này Tư Ngôn Tang ngồi ở trong góc, cực kỳ im lặng, cả cơ thể chìm trong ánh sáng màu cam, tựa như một bức họa.

Thường hay nghe nói trung úy thích chơi bời. Trước kia không cảm thấy gì, giờ khi sánh với chàng trai người Trung Quốc kia thì quả thật là quá phóng túng.

Ở Anh có một quy tắc lỗi thời, đấy là nếu không có người giới thiệu mà mạo muội tự giới thiệu thì sẽ bị coi là vô lễ.

Tạ Trạch Ích ngẫm nghĩ, sau đó băng qua đám đông, đi đến ngồi xuống bên cạnh anh.

Tư Ngôn Tang khép sách lại, mỉm cười đợi anh lên tiếng.

Anh chỉ vào cuốn sách hỏi: “Tôi có thể mượn đọc được không?”

“Đương nhiên là được rồi.” Tư Ngôn Tang đưa sách sang, “Cứ tự nhiên.”

Nhận lấy sách, trên bìa viết: Madame Bovary. Mở sách ra, một trang toàn tiếng Pháp lại chi chít tiếng Trung chú thích, thì ra là đang dịch.

“Cha tôi là người cổ hủ, không thích người khác làm trái ý mình. Vì tôi làm phật lòng cha trong nghiệp học nên ông đã cho người trừ tiền lương của tôi, cuộc sống vô cùng khốn khó, thỉnh thoảng phải dịch sách kiếm sống.” Tư cười giải thích.

Lật nhanh trang sách rồi dừng lại ở trang có kẹp thẻ đánh dấu. Lấy thẻ đánh dấu làm ranh giới, phần bên trái viết đầy chữ, còn bên phải vẫn còn sạch sẽ. Hình như thẻ đánh dấu được làm bằng ảnh, cũng khá độc đáo. Anh cẩn thận nhìn kỹ, đúng là ảnh thật.

Tổng cộng có bốn tấm ảnh, trong ảnh đều cùng một người. Nhân vật chính là một cô gái lơ đễnh giữa đám đông, cứ như bị mọi người bỏ quên. Ba tấm trước cô đều đang nhìn trái nhìn phải, đến tấm cuối mới chú ý đến thợ chụp ảnh, hai mắt trợn to, vẻ mặt kinh ngạc khiến cô trông chậm lụt miễn cưỡng.

Cô gái trong ảnh vẫn chưa trưởng thành nhưng lại rất tỏa sáng, không biết bởi vì ăn ảnh hay thợ chụp ảnh chỉ tập trung vào cô ấy, vì chú ý chính xác đến từng chi tiết nhỏ nên bức ảnh mới lấp lánh đến thế.

Tạ Trạch Ích nhận ra cô gái trong ảnh, có điều bây giờ cô không như vậy. Nhưng anh cũng đã gặp cô của lúc đó rồi. Vô cùng im lặng, lại có vẻ giảo hoạt.

Nhìn thấy thế, Tư Ngôn Tang ở bên cạnh nói: “Hai năm trước sau khi từ biệt, tôi không ngờ trong hai năm qua chỉ có bốn tấm ảnh này để nhớ nhung. Cũng không biết bây giờ cô ấy thế nào rồi. Anh Tạ đã gặp chưa?”

“Cô ấy?” Tạ Trạch Ích ngẩng đầu, thở dài, nheo mắt cười nói.

Chỉ toàn tự ý làm chuyện theo ý mình, khiến người khác đau đầu theo. Cực kỳ lười biếng, lười hơn cả tưởng tượng của anh, cũng vì thế nên anh cho rằng, nếu không có người phục vụ thì cô khó mà sống tốt được. Những khi cô cười là hai mắt cong cong, khóe miệng chúm chím lúm đồng tiền, hệt như một chú hồ ly. Nhưng cô không thích cười, trừ khi có chuyện cần bàn bạc.

Dĩ nhiên anh cũng đã trông thấy một kiểu cười khác của cô, là nụ cười hiển lộ tài năng, dịu dàng như nước, lấp lánh muôn vàn… Khiến anh như si như mê, thần hồn điên đảo. Tạ Trạch Ích rất thích được thấy dáng vẻ cô cầu cạnh anh, dù biết rõ nụ cười ấy không xuất phát bởi vì anh.

Anh mỉm cười hồi tưởng, sau đó cầm bút lên, cầm lấy hai tờ giấy nháp trống trong trang sách, hỏi: “Có được không?”

Ngôn Tang gật đầu cho phép.
Anh cúi đầu, nhanh chóng hạ bút dưới ánh đèn vàng cam.

Đó là một bức phác họa chân dung, vẽ một cô gái mặc áo khoác lông chồn màu trắng, chỉ có bóng lưng nửa người và mặt bên khi nghiêng đầu. Trên bức họa, hai mắt cô cụp xuống, ngón trỏ thon dài chạm vào cần cổ bên ngoài áo khoác.

Ngôn Tang mỉm cười, “Cô ấy đang làm gì thế?” Lúc anh hỏi câu này thì bức tốc họa cũng đã hoàn thành.

Tạ Trạch Ích mỉm cười lắc đầu, sau đó vẽ tấm thứ hai.

Cô đang cười. Mỉm cười nhìn về người xem, nụ cười lấp lánh gợn sóng, không chút e dè sợ hãi. Ngòi bút phác họa nụ cười ấy không hề dừng lại, rồi dần dà, Ngôn Tang đã có thể thấy sự thay đổi trong nụ cười của cô qua đường nét tinh tế. Ban đầu chỉ là một nét cười nhạt, nhưng ngay trong mi mắt cũng toát lên sự sùng kính mãnh liệt. Cô như mê như say, tràn trề dã tâm.

Đường nét gương mặt chính diện không được phác họa chau chuốt, thậm chí có phần qua loa, như thể nụ cười ẩn trong đôi mắt ấy là toàn bộ thần thái của bức tranh chân dung này.

Từ khi anh hạ bút, Tư Ngôn Tang vẫn thong thả mỉm cười. Nhưng rồi dần dần, ánh mắt anh chậm rãi thay đổi, khó tin nhìn Tạ Trạch Ích.

Nhìn một lúc, anh nói: “Anh Tạ, tôi từng nghe nói về cha anh, dường như ông ấy có tiêu chuẩn rất nghiêm khắc trong việc chọn đối tượng kết hôn cho anh, có đúng thế không? Hy vọng chỉ là lời đồn.”

Tạ Trạch Ích nghĩ rồi đáp, “Quả thật là có chuyện đó, hơn nữa cũng vì thế mà tôi từng phải sống túng quẫn giống cậu.”

“Vậy nếu người anh yêu không phù hợp tiêu chuẩn của bác nhà, thì anh có thể làm gì vì cô ấy?”

Tạ Trạch Ích ngớ người, lúc này mới nhận ra Tư Ngôn Tang đã bắt đầu tấn công mình. Anh lấy làm buồn cười, mỉm cười hỏi ngược lại: “Nếu là cậu thì cậu sẽ làm gì?”

“Tôi sẽ vì cô ấy mà từ bỏ rất nhiều thứ, chỉ cần là người không chấp nhận cô ấy, căm thù hay khinh thường cô ấy. Trên đời này, nếu cô ấy ghét ai hoặc ai đó ghét cô ấy thì đều là kẻ thù của tôi.” Tư Ngôn Tang nhìn thẳng vào anh: “Vậy còn anh?”

Tạ Trạch Ích không trả lời ngay mà chỉ nói: “Nếu cô ấy không thích cậu thì sao?”

Tư Ngôn Tang sững sờ.

“Cậu sẽ làm gì đây?”

Tư Ngôn Tang cẩn thận suy nghĩ, sau đó nói một câu đầy chắc nịch: “Tuyệt đối không có chuyện đó.”

Anh kẹp bức tranh chân dung vào trang Tư Ngôn Tang đang dịch, sau đó nói, “Trên đời này có rất nhiều thứ tốt đẹp quý giá. Nếu chuyện gì cũng bỏ qua, nếu có một ngày ngay đến cô ấy cũng mất đi, thế thì còn ai sẽ coi trọng cậu đây? Nếu là tôi, tôi sẽ không từ bỏ thứ gì vì cô ấy cả.” Tạ Trạch Ích cụp mắt, chỉ nhìn bằng nửa con mắt, “Có điều, tôi sẽ không để cô ấy chịu bất cứ tổn thương nào.”

Điều khiến anh cảm thấy tức giận lẫn sợ hãi đó là, có vẻ như cô đang tìm kiếm sự thương tổn nào đó. Chỉ vì cô là một người Trung Quốc có có lòng yêu nước cháy bỏng không bao giờ cạn kiệt, mà chính cô cũng biết rõ, cô đang được “quyền bất khả xâm phạm” bảo vệ.

Vì thế, anh sẽ bảo vệ cô hết khả năng cho phép.

Lúc vào hải quan, chiến hạm kéo còi, mấy tay thủy binh mở hai chai rượu vang để ăn mừng cho chuyến đi đến đảo Penang thuận lợi lần này. Trong tiếng ồn ào, Tạ Trạch Ích nói: “Đã đến bờ rồi. Vẫn muốn đi gặp cô ba trước chứ?”

Trong tiếng cười đùa ồn ào huyên áo, trong tiếng còi cùng tiếng sóng, Tạ Trạch Ích bị mọi người hắt rượu lên người. Chiến hạm cập bờ, cầu thang được kéo ra, có hai người ăn mặc như thủy thủ ở bên dưới chạy tới, trong tay cầm giấy tuyển thành viên của câu lạc bộ thể hình, bên trên là ảnh một người huấn luyện viên có nước da đen bóng khỏe đẹp, nói đùa với Tạ Trạch Ích: “Câu lạc bộ thể hình bờ biển, cơ bụng, tuyến nhân ngư, một quý chỉ mất một trăm đồng!”

“Thế cơ à? Cám ơn. Nhưng mà,” Giọng anh rất nhẹ nhàng, song thái độ lại rất đáng ăn đòn, “Tôi có đủ cả rồi.”

Thủy binh trên thuyền cười phá lên, người lắm chuyện còn vươn tay tính cởi thắt lưng quân trang của anh, muốn lột sạch quần áo ra.

Kiểu “học sinh xấu” từ chối được giáo viên bảo lãnh, bị trường đuổi học như Tạ Trạch Ích trái ngược hẳn với anh. Những người như thế anh đã gặp không ít. Nhưng trở thành như Tạ Trạch Ích thì lại không nhiều.

Thủy binh hạ cấp xách hành lý cho anh, dẫn anh đi đến bến tàu quân hạm hoàng gia. Xuống bên tàu, đám sĩ quan vây quanh Tạ Trạch Ích trước đó đã bị anh đuổi đi. Áo anh bị giật mất hai cúc áo, cầm trong tay chiếc thắt lưng khó khăn lắm mới cướp về lại được, cũng không màng đến hình tượng mà vừa đi vừa thắt thắt lưng. Tìm quanh bốn phía một hồi, anh đi xuyên qua đám đông đến cạnh Tư Ngôn Tang, hỏi: “Muốn gọi điện thoại ở bến tàu hay gặp mặt trực tiếp?”

Đúng lúc này Benjamin đã lái xe đến, chạy chậm tới tính xách hành lý cho Tạ Trạch Ích. Vừa thấy Tư Ngôn Tang, anh ta hưng phấn trêu đùa: “Ohhhh look! A China boy!” Có thể anh ta chỉ nói chung chung về con trai Trung Quốc, nhưng cũng có thể ám chỉ Tư Ngôn Tang tóc tai đen nhánh, làn da bóng mượt như đồ sứ, khí chất đằm thắm tựa ngọc.

Còn chưa kịp trả lời anh ta thì chợt có hai chiếc xe Dodge chạy vào bến, dừng lại trước mặt mọi người.

Người xuống xe đầu tiên là một người trung niên mặc quái bào vải lụa, tuy đã lớn tuổi nhưng phong thái phi phàm, cực kỳ có khí phách.

Vừa thấy người nọ, cả Tư Ngôn Tang và Tạ Trạch Ích đều khựng lại. Rồi Tư Ngôn Tang cắn đôi môi trắng bệch, cung kính chào thưa: “Cha, sao cha lại đến đây?”

Tư Ưng hừ một tiếng, lạnh lùng nói, “Cha mà không đến thì con định đi đâu hả?”

Lúc này Tư Ưng mới quan sát Tạ Trạch Ích một hồi, giọng không quá thân thiện: “Chuyện nhà họ Tư, không cần người ngoài phải nhọc lòng.”

Tạ Trạch Ích đáp: “Tư lão gia nói đúng. Có nên nhọc lòng hay không là một chuyện, nhưng có nhọc lòng hay không thì lại là một chuyện khác.” Nói đoạn anh nghiêng đầu, thấp giọng nói với Tư Ngôn Tang sắc mặt tái nhợt ở đối diện: “Xem ra bác nhà cũng rất nghiêm khắc, không hề thua gì cha tôi.”

___

*Qin: Các bạn biết Tư Ngôn Tang chính thức out từ đâu rồi đấy. :)

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau