GIỜ ĐANG NƠI ĐÂU

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giờ đang nơi đâu - Chương 76 - Chương 80

Chương 76: Quyết định

“Cô con gái thứ ba trong nhà là Sở Vọng bị thói xấu phương Tây ảnh hưởng, dù đã có hôn ước nhưng vẫn không biết kiểm điểm tính nết hành động, tất cả là vì không được dạy bảo đến nơi đến chốn. Không có cách dạy con nên người, tự lấy làm xấu hổ, có thẹn với Tư tiên sinh, trước giải trừ hôn ước; nhưng vì còn cố chấp nghĩ mình không sai, nay đăng báo công khai đoạn tuyệt quan hệ cha con. Chấm hết.”

Vì tường trắng luôn có bụi rơi xuống nên bà Cát đã dùng dán giấy dán tường, đủ loại đủ kiểu, có loại chống thấm, in chìm hoa nhỏ, ánh sáng lấp lánh. Có điều thời tiết Hương Cảng quá ẩm ướt, mới dán giấy không bao lâu đã lại phồng lên. Thế là giấy dán tường chưa tới một quý đã có hoa văn mới.

Sở Vọng dựa vào tường đọc báo, không kìm được bật cười: “Không gả cũng không gạch tên? Nói như vậy, gả cho thầy Từ cũng không tệ.”

Bà Cát đứng cạnh nghe thế, hừ một tiếng, “Còn nói nữa à, cháu làm như có thật.” Rồi lại hỏi: “Người khác cô không quan tâm, cô chỉ muốn hỏi cháu: rốt cuộc chuyện này cháu nghĩ như thế nào?”

Sở Vọng biết bà Cát muốn lấy lại công bằng cho cô, nên mới hỏi cô có thật sự muốn giữ hôn ước với nhà họ Tư không, để bà áng xem nên làm thế nào. Cô cười nói, “Chuyện này theo lẽ cháu cũng không nói được, bởi đâu phải cháu làm chủ?”

Nghe cô nói thế, bà Cát không nhịn được nhìn cô: bộ sườn xám lụa xanh lá trên người vẫn chưa thay ra, phía sau là giấy dán tường in hoa hồng khảm vàng nạm xanh, đứng gần chỉ có thể nhìn thấy được những sợi tơ, không nhìn ra bóng dáng hoa; bên cạnh chỗ con bé đứng là máy điện thoại bằng đồng treo tường. Trời ngả bóng hoàng hôn, nắng chiều vàng ở bên ngoài hành lang xuyên qua cành lá chiếu vào, trong dải sáng hắt bóng lên tường, Sở Vọng mỉm cười tựa lưng vào tường.

Không biết vì sao, bà Cát lại chợt nhớ đến căn nhà cũ mờ nhạt của nhiều năm trước. Trong nhà cao cửa rộng, người chồng suốt ngày ở bên ngoài phòng ngoài, một năm không về nhà mấy lần, dù có về cũng không muốn gặp người ấy mà luôn đi thăm mẹ trước, sau đó mới lấy lý do gặp con trai, nhưng cũng chỉ ngồi trong phòng người ấy một khắc rồi đi ngay. Không lâu sau bà cụ ra đi, thậm chí vì không muốn gặp người ấy mà đến con trai ông ta cũng không gặp. Về sau nữa, ông ta dẫn phòng ngoài bụng đã lớn quỳ xuống cạnh người ấy, muốn người ấy nhận nuôi đứa con trong bụng.

Bà chỉ hỏi người ấy một câu: “Vì sao lại gả cho người này?” Lúc đó người ấy cũng nói: “Chuyện này, chị vốn không làm chủ được.” Lúc mỉm cười, trông người ấy hiền từ yếu ớt hơn bất cứ ai. Nhưng đến hôm sau, ngay tới bà cả của phó bí thư nghị viện Nam Kinh cũng biết chuyện. Mời người có tiếng tăm ở Giang Nam đến nhà làm chứng, khoét cục thịt trong lòng Lâm Du đi, làm xong những chuyện đó, người ấy ngồi trên giường mỉm cười đoan trang rạng rỡ —— người ấy có chỗ khôn khéo lợi hại của mình, có lẽ cũng vì thế nên mới khiến Lâm Du hận sâu như vậy.

Lâm Du là người của tiền triều, năm ấy thi đậu tiến sĩ, đúng lúc chiến tranh Thanh – Nhật vừa kết thúc nên chi tiền đến Nhật du học, năm thứ hai học hành trở về thì lại đúng lúc thời thế biến chuyển*. Nếu không phải như thế thì chắc chắn sẽ bị người ta mắng là kẻ phản bội. Rồi nhờ phúc của con bé trước mặt, cùng Tư Ưng cộng sự mười hai năm, sau trận thảm sát Nam Kinh lại kịp thời đi châu Âu lánh nạn. Tư Ưng không thoát được, nhưng ông ta thì có thể.

(*Muốn nói đến việc Trung Quốc phong kiến chuyển sang Trung hoa Dân quốc.)

Đúng là quân tử phúc mỏng, tiểu nhân sống dai.

Cuộc sống của ông ta những năm qua vô cùng thoải mái. Trước đó còn nể mặt con bé Sở Vọng nên mà bà mới không làm bẩn danh tiếng của nhà họ Lâm bọn họ.

Nhưng hôm nay, cũng đã đến lúc để ông ta té ngã rồi.

Bà Cát nhíu mày.

Trước đó cũng có lời đồn về chuyện với vị họ Từ kia, bà cũng tìm người nghe ngóng: cơ thể cô Từ không sống nổi mấy năm, còn họ Từ kia lại rất tốt; hai năm qua đi, đàn ông hai mươi bảy tuổi góa vợ luôn có sự phong độ trưởng thành, còn thu hút cả những người chưa thành thân. Cũng vì thế nên bà Cát cũng như những người ngoài kia, tưởng cháu mình thật sự tình đầu ý hợp với anh ta, vì vậy mà mới nhắm một mắt mở một mắt không vạch trần. Không ngờ tính khí con bé lại rắn rỏi như thế, thế  nên bà cũng yên tâm vui vẻ.

Còn cậu Tư kia thì sao? Nếu cậu ta thật lòng muốn cưới thì dù không có hôn ước cũng không sao; và cũng như thế, nếu con bé thật lòng thì chắc chắn sẽ cố gắng.

Chỉ là với tình hình hôm nay, bà Cát đã nhìn rõ rồi, nên cũng biết rõ điều đó là không thể.

Nghĩ ngợi một hồi, bà gọi chú Henry đến, dùng tiếng Anh dặn dò: “Gửi điện báo đến chỗ luật sư Thẩm ở Thượng Hải, nói với ông ta, tôi có một bản di chúc muốn mời ông ta đứng ra đại diện trao đổi.”

Bà Cát vừa dứt lời thì điện thoại đổ chuông, tiếng chuông ở bên tai cô như gọi hồn vậy. Cô nhấc máy, đầu dây rất ồn ào, Chân Chân nói bằng giọng mũi, sốt ruột hỏi: “Rốt cuộc là thế nào rồi?”

Sở Vọng biết cô ấy bị bà Kiều giám sát không được tự do, nên mới mượn điện thoại trong tiệm tạp hóa ở bên ngoài gọi điện. Cô cười nói: “Em sẽ đi Thượng Hải.”

“Hả? Cha em làm ra chuyện như vậy ở trên báo, nói không chừng mấy tháng nữa đến du học sinh châu Âu châu Mỹ cũng sẽ biết, em dù em có chạy đến Java cũng vô ích thôi.” Rồi cô nàng hạ thấp giọng, “Dì Cát không làm gì à?”

Sở Vọng bật cười, nói, “Em còn sợ ông ấy làm ồn chưa đủ đây này. Cô út ấy à… có lẽ cũng muốn như vậy.”

Một chuyến xe điện ở đối diện ầm ầm chạy qua, Chân Chân nghe không rõ, “Gì cơ?”

“Không có gì. Em có chuyện thật, phải đến Thượng Hải.”

“Bao giờ đi?”

“Mấy hôm nữa thôi.”

“Thượng Hải cũng tốt. Cái đất Hương Cảng nhỏ bé này, vừa không có gì hay ho cũng chẳng có chuyện mới mẻ.” Dừng một lúc rồi cô ấy nói tiếp, “Ngày mai chị thi rồi. Đợi hai tuần nữa thi xong, chị nhất định sẽ về tìm em chơi.”

“Thi cho tốt vào, em đợi chị đến.”

Chân Chân bị cảm nên sụt sịt liên tục, ở đầu dây truyền đến tiếng cười kìm nén của Diệp Văn Dữ, ngay lập tức có hai tiếng *bùm bụp* truyền đến, có vẻ Chân Chân đánh anh ta mấy cái, người bên kia la oai oái. Chân Chân vừa đánh vừa nói: “Được rồi, hai bọn chị ra ngoài ăn đồ Quảng Đông, trên người chỉ còn lại ít đồng, thôi không nói chuyện với em nữa. Hẹn gặp lại ở Thượng Hải.”
Cúp máy, Sở Vọng nhớ đến hai người đáng yêu kia thì lại vui vẻ. Cô mỉm cười, không hề phát hiện bà Cát đã dặn dò xong quay về, đứng trong bóng tối nhìn cô chăm chú: “Định đi Thượng Hải à?”

“Vâng. Cháu đang định nói thì cô đi ra ngoài mất tiêu.”

“Cháu trách cô hả?” Bà Cát trừng mắt nhìn cô. Hai cô cháu đứng song song dựa vào tường, mỗi người một tư thế một khí thế, chẳng biết từ lúc nào mà dần giống nhau đến ba phần.

Chỉ có điều, cả hai đều không nhận ra.

Trầm ngâm một hồi, cuối cùng bà Cát cũng thỏa hiệp, “Ừ. Thượng Hải đất lớn, quen biết nhiều người cũng tốt.”

Ngày hôm sau, vé thuyền và thư mời được gửi đến cùng nhau. Theo lý thì hạng mục của bọn họ vẫn thiếu tiền, tuyệt đối không thể cho cô ưu đãi được. Nhưng tấm vé trong tay đây vẫn là khoang hạng nhất.

Bà Cát chẳng nói gì nhiều, chỉ chủ động thu dọn đồ đạc cho cô.

Di Nhã cũng giống Chân Chân sắp thi, vốn định đến một chuyến nhưng bị ngài Tưởng ngăn cản, đích thân ông đến biệt thự viếng thăm thay. Nhưng nói chuyện chưa được mấy câu thì lại có điện thoại gọi đến tìm Sở Vọng.

Là Từ Văn Quân.

“Em gọi điện thoại đến chào tạm biệt chị. Chú ấy định gửi em cho một người bạn ở Anh để học trung học… Cho nên bảo thím đừng vọng tưởng muốn nhận em làm con thừa tự.” Cậu thấp giọng nói, “Mấy hôm trước chú tức giận trở về, hai hôm nay định đưa em đi, thím đòi tuyệt thực nhưng chú vẫn làm như không thấy. Còn nói với thím, ‘nếu muốn chết thì không bằng chết sạch sẽ vào, xuống hoàng tuyền làm cô hồn dã quỷ không ràng buộc, không phải còn vui vẻ hơn sao?’, thật sự dọa bọn em sợ hết hồn.”

Cô không đọc Tôn Tử, nhưng vẫn có nghe một câu thế này:

“Tham sống sợ chết có thể bị bắt.”

Cô cười đáp.

***

Sở Vọng đứng bên này nghe điện thoại, còn ở bên kia bà Cát và ngài Tưởng trò chuyện chờ cô.

Tuệ Tế và Mật Thu chỉ huy người hầu dọn dẹp hành lý cho cô, chạy tới chạy lui rầm rầm ở ngoài hành lang, bận tới nỗi quay mòng mòng. Cuối cùng thu dọn được bốn năm chiếc vali đặt ở trên tầng hai, ngài Tưởng đứng ở cửa thấy thế, hỏi: “Chị Cát không đi cùng à?”

“Con bé đi để trải nghiệm những điều mới, trưởng bối như tôi đi theo thì gò bó nó lắm.”
“Chị yên tâm sao?”

Bà Cát suy nghĩ, cau mày không nói.

“Đã chuẩn bị ổn thỏa cho con bé ở Thượng Hải chưa?” Ngài Tưởng thấy thế thì cười bảo, “Đợi Tiểu Ngũ thi xong, tôi và cô ấy sẽ về Macao một chuyến, mấy tháng sau mới đến Thượng Hải được. Nếu chị Cát bằng lòng, tôi có thể nhờ người chăm sóc cô ba. Hay chị đã có sắp xếp khác rồi?”

Ngài Tưởng nhắc như vậy, bà rất lo mấy năm nay cháu mình được chiều quen rồi, ăn mặc chi tiêu không tiết kiệm, nên gần như muốn điều toàn bộ người hầu đầu bếp cấp cao trong nhà đến Thượng Hải; rồi lại gọi điện đến mấy người bạn làm cảnh sát ở tô giới Pháp, nhờ người để mắt giùm. Thế nhưng vẫn chưa yên tâm. Mấy lần bà gọi Mật Thu đến, nha đầu này được một tay bà dạy dỗ, biết lễ biết điều lại hiểu quy củ, bà rất muốn bảo Mật Thu đi theo Sở Vọng đến Thượng Hải.

Ngài Tưởng vừa nói như vậy, bà lại có ý định đó. Lại gọi Mật Thu tới, ngài Tưởng và Mật Thu cùng mỉm cười.

“Bà Cát đúng là hao tâm tổn phí.”

Mật Thu nói: “Bà cứ để em đi theo cô ba đi. Cô ba xưa nay tự do quen rồi, nếu không đồng ý cho những người rảnh rỗi như bọn em tới lui xung quanh thì em sẽ làm nhiều ít nói.”

Bà Cát cúi đầu nghĩ ngợi, bất chợt nghĩ đến điều gì đấy. Bà nghiêng đầu, nhìn ngài Tưởng bằng ánh mắt trách móc.

Ngài Tưởng cũng đã nghĩ đến điều đó, chỉ là chuyện này không liên quan tới ông nên khó mà nói được. Vì Bà Cát quá lo lắng nên suy nghĩ rối loạn, ông cũng chỉ chỉ điểm một hai mà thôi.

Bà Cát nhìn ngài Tưởng mỉm cười, chỉ chốc lát đã sáng tỏ.

Mật Thu xoay người toan đi chuẩn bị, thì bà Cát đã vội gọi cô lại:

“Đợi đã… Mật Thu, em không cần đến Thượng Hải nữa.”

Mật Thu do dự, nhưng rồi vẫn đáp: “Vâng, thưa bà.”

Bà Cát còn nói, “Em bảo Henry gửi điện báo đến cục cảnh sát ở hội đồng thành phố tô giới công cộng, tìm cậu Tạ.”

Mật Thu thưa vâng, im lặng chờ tiếp.

“Trên điện báo viết: thứ Sáu tuần sau cô ba sẽ đến Thượng Hải, bảo cậu ta chăm sóc tốt cho tôi, nếu thiếu một cọng tóc thì cứ liệu đợi tôi hỏi tội.”

Ngài Tưởng ngồi cạnh nghe thế, cười nịnh nọt, “Cậu Tạ chuyên ăn nhậu chơi bời, giờ lại có chức vụ tuần tra. Yêu ma quỷ quái ở Thượng Hải, bất luận là Trung hay Tây thì nhất định cũng không dám làm gì cô ba. Đến Thượng Hải tìm cậu ấy, dù có chuyện cũng hóa thành không. Vẫn là chị Cát thông thái.”

***

Ngày tháng Hai lạnh lẽo ở Thượng Hải, một cuộc điện thoại đã đưa Tạ Trạch Ích từ sân huấn luyện về cục cảnh sát ấm áp. Anh hứng gió cả ngày trời, nay vừa được ấm áp là cả người run lên. Cúi chào nhận điện báo từ cảnh sát trưởng, còn chưa kịp đọc thì một đám thanh tra chỉ huy giám sát trong cục đã nhìn anh chằm chằm.

Anh bật cười: “Điện báo gì quan trọng lắm à?”

Lại cúi đầu đọc, bên trên viết: bé ba thứ Sáu đi thuyền đến Thượng Hải, mời cậu để mắt đến. Nếu gặp chuyện gì thì cứ cẩn thận da cậu.

Tạ Trạch Ích kiểm tra điện báo, mấy cái đầu to đầu nhỏ trong phòng vẫn nhìn anh chăm chú. Điện báo đến cục không phân biệt công hay tư, mà ở đây lại có không ít người biết tiếng Trung, thế là tờ điện báo này đã truyền khắp tay mọi người.

Anh ho khan, “Trong nhà sai đi làm chuyện không đâu ấy mà.”

“Sai làm chuyện gì?” Trưởng trinh thám cười tới mức râu quai nón run lên, vỗ vào vai anh, “Có phải việc gì vất vả không?”

“Này…” Tạ Trạch Ích nghĩ ngợi. Có lẽ vì gió rét bên ngoài đã khiến đầu óc đóng băng, nhất thời không tìm được từ để định nghĩa chuyện không đâu này.

Anh lắc đầu đi ra ngoài, không biết là ai trắng trợn đã dán giấy quảng cáo xà phòng ở cửa, bên trên vẽ một chiếc lồng chim nhốt một cô gái thục nữ phương Đông.

Tạ Trạch Ích không nhịn được bật cười, thầm nghĩ: … Hoàng yến sổ lồng ư? 

Chương 77: Khói bếp (1)

Ngài Tưởng và bà Cát đưa tiễn cô đến bến tàu Queen, đội ngũ đưa tiễn vô cùng rầm rộ. Nhưng đến khi thuyền rời bến mà cả buồng hạng nhất chỉ có mỗi một mình cô, ngay tới mấy cô gái Nhật Bản hàng xóm cũng rất ngạc nhiên.

Không có nhiều lời từ biệt, cũng không có đau buồn chia ly. Sở Vọng cho rằng vì ngài Tưởng và bà Cát thường đến Thượng Hải nên mới như vậy, nhưng không ngờ là hai người ấy đã có thu xếp khác ổn thỏa hơn.

Hai người bọn họ chỉ nói: “Sẽ có người đón cháu ở Thượng hải.” Nhưng không nói rốt cuộc là ai đón.

Lần này đi là thuyền của Nhật, dịch tên ra khá văn vẻ, gọi là Tuyết Thương Hoàn. Lần đầu tiên đến Hương Cảng cũng là thuyền Nhật, có điều lúc ấy ở trong phòng lớn nên không cảm thấy gì; bây giờ ở phòng đơn, thứ gì cũng be bé: trong nhà vệ sinh be bé có bồn cầu màu trắng cùng chậu rửa mặt màu đồng bạc, sau chiếc ghế sofa nhỏ sơn đen là một bức tường, kéo ra sẽ là một chiếc giường. Đồ dùng làm bằng gỗ với màu chủ đạo là hai màu đen trắng, khăn trải giường trắng tinh tươm, một đầu que gỗ được đập dập làm thành bàn chải đánh răng, guốc gỗ, quần áo ngủ cũng được chuẩn bị đâu vào đấy; tuy nhỏ nhưng rất biết lợi dụng không gian, bởi vậy mà trông không hề chật hẹp chút nào. Nhỏ nhưng thoải mái, cùng với âm điệu tiếng Nhật nhỏ nhẹ của cô gái phòng bên đã dễ dàng ru ta vào giấc ngủ.

Thuyền vừa xuất phát lúc chiều tối, dừng ở Hương Cảng, có rất nhiều người phương Tây lên thuyền. Lúc nhân viên Đông Dương đến mời cô đi ăn cơm, cô nghe thấy người châu Âu tuấn tú phòng bên dùng tiếng Anh nói chuyện với cô gái người Nhật, còn cô gái kia thì trả lời lại bằng tiếng Nhật. Cô cảm thấy lạ, tới khi cẩn thận nghe kỹ thì mới nhận ra, té ra đó là tiếng Anh kiểu Nhật, chứ không cô còn nghĩ từ khi nào mà tiếng Anh và tiếng Nhật có thể trao đổi hiểu nhau như vậy.

Trên đường đi ăn về lại đụng người kia, anh ta phô trương đứng trước cửa nói chuyện, tay giơ lên, nhìn là biết người Ý giỏi tán tỉnh. Nghe thấy hành lang có tiếng động, anh ta quay người lại, quan sát cô một lượt từ đầu tới chân, tưởng cô cũng là bạn của mấy người trong phòng kia nên ra vẻ thân thiện chào “konichiwa”. Sở Vọng vờ như không hiểu, anh ta lại đổi thành “chào cô” bằng tiếng Quảng. Nhưng cô còn chưa trả lời, thì cánh cửa bên cạnh lập tức đóng lại cái rầm, suýt nữa đã làm gãy mũi anh ta. Sở Vọng cảm thấy vui vui, cười khoát tay: “Notte!”* Rồi cũng đóng của lại, rửa mặt chải đầu đi ngủ.

(*Notte trong tiếng Ý nghĩa là màn đêm, có lẽ tác giả muốn nói là “buona notte” nghĩa là chúc ngủ ngon.)

Thuyền chòng chành làm cô mơ màng thiếp ngủ, vừa ngủ một giấc đã đến Thượng Hải. Cô choàng tỉnh, mặc kệ đồ đạc đi ăn cơm trước. Trước đó ngài Tưởng đã nhờ người ở trên thuyền, nên khi thuyền còn chưa cập bờ, các nhân viên phục vụ quan tâm chăm sóc cô rất chu đáo nhiệt tình, còn ưu tiên chuyển hành lý cô xuống. Lúc đứng trên boong lại gặp người Ý kia —— thời gian hai ngày đủ để anh ta “thua keo này bày keo khác”, lại ôm ấp một mỹ nhân phương Đông khác, cũng xem như không uổng công chuyến này. Đằng sau vang lên âm thanh quen thuộc, Sở Vọng ngoái đầu, mấy cô gái Nhật Bản nọ cũng nhìn thấy người Ý kia, bỏ qua hiềm khích trước, hai người họ nhìn nhau cười đầy hiểu ý. Trong tay cô gái ấy cầm một tấm bản đồ, ái ngại hỏi: “Anh có rành Thượng Hải không?”

“Đi Hồng Khẩu à?”

Trái lại cũng khá rành, “Mùa đông ở Kobe lạnh quá, Singapore ấm áp hơn. Mới được nghỉ nên đi thuyền đến Thượng Hải chơi, cả cha và anh đều đang ở Hồng Khẩu.”

Thì ra là học sinh thời đại mới được nghỉ đông, kết bạn ra ngoài du ngoạn, mọi thứ đều mới mẻ.

Cô gái người Nhật lại hỏi: “Người nhà cô cũng ở Thượng Hải hả, hay là từ Hương Cảng đến Thượng Hải chơi?”

Cô ngạc nhiên, quay đầu cười nói, “Đi công tác.”

Các cô gái kia kinh ngạc: “Nhìn cô nhỏ thế này mà!”

Có vài quân nhân Nhật Bản thuộc đội thủy quân lục chiến chưa thay quân phục, đứng cách đó không xa gọi tên con gái và em gái. Cô gái kia chào tạm biệt cô, chen qua đám đông, chạy đến ôm chầm lấy người thân đã lâu không gặp.

Mọi người kẻ đón người đưa tựa như một chiếc đèn kéo quân, như người trong kịch; chỉ mình cô là khách đứng xem. Nhân viên xách vali cho cô không biết ngoại ngữ nên dọc đường đi chỉ toàn im lặng, trưng ra gương mặt lạnh băng. Thượng Hải lạnh hơn Hương Cảng nhiều, cô hối hận vì chỉ mặc mỗi áo khoác dài bên ngoài sườn xám. Gió lạnh thổi qua bắp chân khiến cơ thể lạnh cóng,  côc siết chặt quần áo, hà hơi thổi sương mù, đi theo mặt lạnh nhấc bước về trước đầy vô định, cũng không biết có phải như được đám lính quân bài dẫn đến xứ sở diệu kỳ đầy tàn khốc của Alice không.

Suy nghĩ rời rạc, đầu óc bị đóng băng tới mức không nghĩ được gì, không hề phát hiện mấy chiếc vali đã được đặt xuống đất, các nhân viên cũng đã rời đi. Cô nhìn mấy chiếc vali trên đất, ngẩn người ngơ ngác, nhất thời quên mất mình đang ở đâu.

Mỗi lần một mình đi tới một nơi mới, làm bạn với cô chỉ có hai chiếc vali to tướng rộng 28 tấc. Xuống máy bay, đẩy hành lý ra cửa quốc tế, những người đồng hành đều có bạn, chỉ một mình cô vẫn lẻ loi —— những lúc như ấy cũng thường thường ngẩn ngơ như vậy.

Thậm chí Sở Vọng còn không phát hiện ra có người đã đứng cạnh đợi cô một lúc lâu. Lúc này, người ấy đi tới vỗ nhẹ vào tay cô, cười hỏi: “Đứng đực ra đấy làm gì?”

Nói rồi cũng không đợi cô hoàn hồn, rất tự nhiên xách mấy chiếc vali lên xe.

Tận khi ngồi vào xe thì cô mới hoàn hồn, nhìn chằm chằm người bên ghế lái với vẻ khó tin: “Anh Tạ?”

Tạ Trạch Ích chỉ nhìn đường chứ không nhìn người, nhưng cũng biết cô đang nghĩ gì, trong chớp mắt như biến thành người bạn quen biết nhiều năm, thuận miệng hỏi: “Thượng Hải có lạnh không?”

“Lạnh hơn Hương Cảng.” Cô cúi đầu ngẫm nghĩ, “Sao anh Tạ lại tới đây?”

“Không thể không mời mà tới được hả?” Vẫn là phong cách như trước.

Sở Vọng nhớ lại vẻ mặt của hai người khi ở bến tàu Queen, lúc này mới bừng tỉnh, cười bảo, “Sao dám làm phiền anh Tạ chứ.”

“Tôi luôn sẵn lòng cống hiến sức lực vì các quý cô.” Anh từ từ lái xe, “Ăn đồ Quảng không?”“Ăn ở trên thuyền rồi, giờ tôi không đói.”

“Từ Hương Cảng đến Thượng Hải lại đi ăn đồ Quảng, đúng là ngớ ngẩn.” Rồi anh lại hỏi, “Bình thường cô ba thích ăn gì?”

Sở Vọng đáp, “Không đói thật mà.”

“Đi đường vất vả, không ngon miệng cũng là chuyện thường. Tôi biết một đầu bếp có thể làm được món Bắc Kinh Quảng Đông Thượng Hải, ăn cũng không tệ. Trước cứ quay về nghỉ ngơi cho lại sức đã, tôi mời anh ta đến, mỗi loại làm mấy phần, đợi em dậy thì ăn.”

Sở Vọng bất lực cười, “Thôi thì đặc sản đi vậy.”

Thấy cô buồn ngủ, Tạ Trạch Ích không nói gì thêm. Từ Bến Thượng Hải lái xe vào tô giới Pháp, xe chạy êm ru trong im ắng, bên trong xe chỉ có tiếng hô hấp cực nhẹ.

Đợi tới lúc tỉnh dậy, hành lý đã được Tạ Trạch Ích xách lên lầu. Cũng không biết cô đã ngủ bao lâu, lúc này trời đất tối sầm, chỉ còn lại những ngọn đèn hai bên con đường chật chội mờ nhạt.

Anh đứng ngoài gõ cửa xe, cười nói, “Xuống ăn gì đi.”

Đẩy cửa xe đi ra, Sở Vọng theo Tạ Trạch Ích bước vào cổng nhà trọ. Cô đưa tay sờ bụng, lúc này đã đói thật rồi. Đi đến bên ngoài cánh cửa rào màu cam trước bức tường xanh, nhấn chuông gọi thang máy, nhưng đợi mãi vẫn không thấy thang máy xuống. Sở Vọng không hiểu nổi cấu tạo thang máy thời dân quốc, hai người cứ thế đứng đợi dưới ngọn đèn sợi đốt u ám một lúc lâu, đợi mãi làm Tạ Trạch Ích bật cười.

“Đợi thang máy thì đủ chợp mắt làm một giấc luôn rồi.” Đưa ra đúc kết xong, anh xoay người đi ra ngoài, quay đầu lại mời cô đi trước, “Đành phải đi cầu thang bộ vậy.”

Một đường từ sảnh đến cầu thang là những bức tường sơn màu xanh lá cây, thảm vàng đỏ, giống như khách sạn cũ vẫn còn tồn tại trên đồi Montmartre. Mọi thứ đều mới mẻ… Từ cầu thang đi lên, trước mỗi cánh cửa màu nâu vàng đều được dát một tấm kính màu xanh nhạt, mơ hồ hắt ra ánh sáng.

Có tiếng trẻ con khóc ầm ĩ vọng đến từ cánh cửa bên này.

“Là một gia đình người Xô Viết. Một cụ bà cùng một cặp vợ chồng và ba cậu bé tóc đỏ.” Chỉ hai câu đã tóm tắt gia đình người ta, cùng với đặc thù trong tòa nhà này —— là sinh quyển của một đám đông tiểu tư sản, có khả năng kinh tế cao trong thành phố này.

“Đến ba đứa bé người Xô Viết, chắc hai vợ chồng phải chịu đựng nhiều lắm.” Sở Vọng thở dài.

Đi lên tầng nữa thì lại nghe thấy tiếng ra-đi-ô, khúc hát kịch như ẩn như hiện truyền tới —— “Thiếp đây có một mối tình, gảy đàn cất tiếng mời người cùng nghe.”“Ừm. Ở đây đúng là Thượng Hải rồi.”

“Nếu đây không phải là Thượng Hải, thì cô ba nghĩ tôi lừa em đến đâu?”

Lúc này là ở thời kỳ người châu Âu sửa nhà xây nhà, giữa tầng và tầng rất cao, bình thường phải trên bốn mét, hoặc thậm chí là năm mét. Nên cầu thang giữa hai tầng kề nhau rất cao. Lại lên một tầng nữa, đột nhiên ánh sáng tối hẳn, mỗi một bậc cấp đều chật hẹp, cô đi giày cao gót suýt nữa đạp hụt.

Tạ Trạch Ích đi đằng sau đỡ lấy khuỷu tay cô, đợi cô đứng vững thì im lặng đi lên trước. Sở Vọng nhìn không thấy gì, phải lần sờ từng bậc từng bậc một để đi lên, cầu thang vốn quá dài nay lại như đường lót gạch trải giữa không trung.

Thi thoảng lại nghe thấy tiếng của Tạ Trạch Ích từ xa truyền đến, đi đôi với tiếng kim loại rất nhỏ vang lên: “Đèn ở tầng này hay bật không lên, ngày mai tôi sẽ đi mua bóng đèn mới thay cho em.” Rồi chợt anh mở một cánh cửa ra, bật sáng đèn trong phòng lên để cô đi lên thuận lợi. Tạ Trạch Ích cười nói, “Có phải thấy cầu thang dài lắm không?”

“Phòng ở tầng này đều thế cả à?”

“Ừ.” Anh gật đầu, “Người Pháp xây nhà toàn tùy tâm, chắc hôm đó tâm trạng tốt nên mới xây tầng này cao như vậy.”

“Cao thì tốt ở đâu?”

“Cũng chẳng có gì. Chỉ là nếu về muộn quá thì đành phải leo cầu thang. Rồi đèn bị hư, lúc đi lên sẽ có cảm giác dài đằng đẵng…”

“Thì những lời tâm sự nói ra sẽ thật lòng hơn à?” Sở Vọng đột nhiên nhớ đến “Tâm Kinh”.

“Tự mình tâm sự với mình? Như thế thì lạ quá.” Tạ Trạch Ích cười cười, “Chẳng qua là có nhiều chuyện muốn nói hơn thôi.”

Sở Vọng cũng cười, “Tôi tưởng anh Tạ nói chuyện như thế là do bẩm sinh mà ra.”

“Thì ra hình tượng của tôi trong lòng cô ba là thế ư?”

Biết người này hay nói những câu chặn họng người khác nên cô chỉ cười cười, xoay người đi vào phòng.

Lần đầu tiên Sở Vọng kiểm tra nhà mình, có một sức sống mới mẻ. Tạ Trạch Ích đứng ngoài ngã rẽ hành lang, không đi tới mà bật đèn hành lang cho cô lên rồi quay người đi vào bếp.

Ngôi nhà đã được trang hoàng đâu vào đấy. Bởi vì được sửa vào mùa hè nên tông màu ngọc lam trông lạnh hơn hẳn vào mùa đông lúc này. Đi qua. đồ gia dụng bằng gỗ đào khiến cô rất bất ngờ, mang lại hơi ấm xa xưa; dây điện và dây đồng đều được sửa sang lại theo ý cô. Bước vào cửa là một căn phòng khách nho nhỏ, đi vào trong là phòng bếp; ở bên kia hành lang dài có ba cánh cửa: một phòng tắm có bồn tắm, đi vào trong là hai căn phòng ngủ.

Tạ Trạch Ích đã ở đây trước cô một thời gian, vậy mà vật dụng trong nhà đều mới toanh, không dính một hạt bụi, nhưng không phải là kiểu sạch sẽ lạnh lẽo của nhà mới không có hơi người, mà là sự sạch sẽ tinh tươm có khói lửa ấm áp.

Đến lúc đi ra, trên bàn được dọn đầy mấy món thức ăn đã hâm sẵn: thịt kho, thịt viên, sủi cảo hấp và rau xanh.

Tạ Trạch Ích đứng ở cửa, đối diện với ánh mắt cô, lập tức cười hỏi, “Nhìn tôi như thế làm gì?”

“Không thể cảm động được sao?”

“Cũng không phải do tôi nấu, không cần cám ơn tôi làm gì. Còn tôi lại không biết đây là chỗ của ba, nên phải là tôi cám ơn em mới đúng.” Nói đoạn, anh dặn dò, “Nghỉ ngơi cho khỏe đi.”

Thấy anh sắp đi, cô hỏi, “Vậy còn anh Tạ nghỉ ở đâu?”

“Tạm thời ở ký túc xá trong cục đã. Đợi tìm được nhà trọ, tôi sẽ nhanh chóng chuyển đồ đi.” Nghĩ ngợi một lúc, trước khi đi anh bổ sung thêm một câu, “Gần đây nơi này rất an toàn, em không cần phải lo lắng.”

Chương 78: Khói lửa (2)

*Chương này có nội dung ảnh, nếu bạn không thấy nội dung chương, vui lòng bật chế độ hiện hình ảnh của trình duyệt để đọc.

Cô nhìn hành lang dài và cầu thang chìm trong bóng tối sau lưng Tạ Trạch Ích, không nói năng gì.

Tạ Trạch Ích ngoái đầu nhìn lại theo ánh mắt của cô, “Ban ngày tôi sẽ ở đây.” Nghĩ ngợi một lúc, anh lại nói tiếp, “Chưa dùng bồn tắm.” Trước khi đi lại bổ sung thêm một câu nữa: “Cũng không có phái nữ ghé đến.”

Bữa tối cô ăn rất ngon, đang định khen anh ta mấy lời thì đột nhiên lại nghe thấy ba câu này, cứ như thể cô là bạn gái mới quen chuyên môn ghen tuông vậy. Cô múc một thìa cháo đút vào miệng, quả thực bị nghẹn nuốt không trôi. Nhưng thực sự đồ ăn trên bàn rất ngon khiến cô ăn không dứt miệng, thế là cứ trơ mắt nhìn Tạ Trạch Ích rời đi mà chẳng nói được gì.

Tắm nước nóng gột rửa khó chịu quanh thân, ngủ một giấc đến tận lúc trời hửng sáng.

Bỗng dưng không còn ai phục vụ ăn mặc, cô vẫn chưa quen lắm. Mơ màng đi vào phòng ăn, trên bàn có một đĩa lạp xưởng gan ngỗng và một ly trà. Lại gần mới ngửi thấy, thì ra là trà hoa lài ngọt ngào, vẫn còn vương hơi ấm. Còn đang thắc mắc thì bất chợt nghe thấy trong phòng bếp có tiếng nước nhỏ tí tách. Ngoái đầu nhìn lại, không có bóng dáng một ai, chỉ có một chiếc máy pha cà phê tự động đang pha cà phê.

Bên ngoài có giọng nữ đang nói chuyện:

“… Chắc chắn là cha ổng muốn ổng sống đàn ông hơn. Tôi mà nổi giận với ổng ấy hả, là ổng lại khuyên tôi đừng nổi giận, còn đưa trà tới nữa, kiểu này thì giận gì được…”

Tiếp theo sau là giọng nam trung nói tiếng Quảng quen thuộc: “Cô Trịnh tốt tính quá.”

Cô cầm ly trà hoa lài, kéo lê đôi dép đi ra cửa, đập vào mắt đầu tiên là Tạ Trạch Ích toàn thân màu đen. Anh đang đứng trên một chiếc ghế nhỏ cẩn thận thay bóng đèn, thấy cô đi ra thì cũng chẳng ngạc nhiên, chỉ hỏi: “Ngủ ngon không?”

“Cũng không tệ.”

Đứng dưới cầu thang là một quý cô trông khá trẻ tuổi, mặc áo ngủ tơ lụa hoa hồng, tuy có thắt đai lưng nhưng trông khá lỏng lẻo. Mái tóc uốn xoăn xõa tung, vừa cầm lược chải đầu vừa trò chuyện câu được câu với Tạ Trạch Ích, không có chút nào gọi là giữ ý. Đúng là một người phụ nữ xinh đẹp.

Sở Vọng mỉm cười thân thiện với người ta, cô gái kia lập tức đổi sang gương mặt tươi cười xán lạn: “Ái chà, tôi còn thắc mắc sao cậu Tạ lại dậy sớm thế. Thì ra là bạn gái đến Thượng Hải, đàn ông con trai cứ đi chơi với bạn gái đi, đèn không sáng thì cứ bảo anh Trịnh sửa là được.”

Sở Vọng cười nói: “Không phải…”

Tạ Trạch Ích cười đáp: “Cám ơn cô Trịnh quan tâm. Đợi lát nữa sửa xong, tôi sẽ dẫn cô ấy đi chơi.”

Cô Trịnh thân thiết hỏi: “Em đến Thượng Hải bao lâu rồi?”

“Mới tối hôm qua.”

Cô Trịnh thấy cô mặc áo lông màu tím với quần lụa màu xám nhạt thì nói: “Em phối đồ hợp lắm, vừa trang nhã lại vừa đẹp. Trai tài gái sắc, trước đây tôi còn muốn giới thiệu bạn gái giúp cậu ấy nữa chứ. Ái chà, nguy hiểm quá nguy hiểm quá.”

Sở Vọng sờ trán, cười khổ gật đầu phụ họa: “Là anh Tạ mới đúng chứ, vừa trang nhã lại vừa đẹp.”

Thường thì khi người ngoài khen các cặp tình lữ, người trong cuộc sẽ tỏ vẻ rất khiêm tốn. Nhưng nghe cô trả lời như vậy thì cô Trịnh thoáng sửng sốt, tưởng cô khác người. Nhưng cẩn thận ngẫm lại thì mới nhận ra có lẽ mình đã hiểu nhầm quan hệ của hai người, vậy là tự an ủi: chắc là là nam nữ đang trong giai đoạn mập mờ, nên mới xấu hổ khi người ngoài nói mình đây mà.

Lúc này Tạ Trạch Ích lại mở miệng phá đám: “Có tài năng có dung mạo là cô Lâm mới đúng. Tôi không đáng một đồng, còn kém xa lắm.”

Câu kia của cô là phủi sạch quan hệ, nhưng câu này của anh lại biến hai người trở thành cặp đôi sáng sớm trêu nhau. Sở Vọng quay sang trợn mắt nhìn anh, nghiến răng nói: “Anh Tạ khách khí quá rồi.”

Tóc cô Trịnh rất rối, chải một lúc mà rụng một đống. Lúc này ở dưới cầu thang toàn là tóc xoăn, trông y hệt lông dê mới cạo.

Cô ấy cau mày gọi: “Trịnh Tông Di, mẹ đâu rồi?”

Bên trong có giọng nam trầm vọng ra: “Ở quê có người đến, mời đi ăn rồi.”

“Người Quảng Đông có nhiều họ hàng thật đấy.” Cô ấy bĩu môi, “Trịnh Tông Di, ra hốt rác đi.”

Một người đàn ông vóc dáng vạm vỡ cầm chổi và hốt rác đi ra, thành thạo quét sạch tóc rụng, suốt cả quá trình cứ cúi gằm đầu mà không hề ngẩng mặt nhìn lên.

Sở Vọng bất đắc dĩ cười, nghĩ bụng: là căn hộ phát bài “Vô Tích cảnh” ở tầng dưới đây mà, tuy người đàn ông này không phải là người Thượng Hải, nhưng trình độ ngoan ngoãn thật sự rất đạt tiêu chuẩn của quý cô Thượng Hải, đúng là thú vị.

Đợi cô Trịnh và anh Trịnh vào nhà, người đằng sau mới nói nhỏ một câu, nghe có vẻ như đã chịu tổn thương: “Quê tôi cũng là Quảng Đông.”

Lúc này Sở Vọng mới sực nhớ ra, một câu vô tình của cô Trịnh đã mắng luôn cả anh. Cô thuận miệng hỏi: “Vậy rốt cuộc nhà anh Tạ có bao nhiêu họ hàng?”

Tạ Trạch Ích nghĩ ngợi, sau đó trả lời đầy chắc nịch: “Nhiều cực kỳ.”

Chợt nhớ tới đám vợ bé trang điểm lộng lẫy của cha anh, không biết vì sao lại khiến cô cảm thấy buồn cười. Sở Vọng không nén cười nổi, suýt nữa đã làm rơi luôn cả ly trà.

“Có lẽ cà phê đã pha xong rồi đấy. Trong tủ có hộp bơ Devonshire, muốn thử không?” Tạ Trạch Ích bật thử công tắc, đèn đã sáng, cuối cùng cũng soi rõ gương mặt tuấn tú trong hành lang tối đen.

Vụng về làm đổ hai ly cà phê, khiến cà phê rơi vãi khắp bệ bếp. Do kệ làm từ gỗ nên khi bị dính nước thì có lau mãi cũng chẳng sạch. Tạ Trạch Ích đứng ngoài nhìn, chỉ cười chứ không có ý định giúp.

“Lau không được đâu.” Đợi cô nhọc công cả buổi, lúc này anh mới nói ra kinh nghiệm nhiều năm của mình.

“Sao không nói sớm?”

“‘Đi một ngày đàng học một sàng khôn’?”

“Ồ… Mấy năm qua tiếng Trung của anh tiến bộ nhiều đấy.”

“Vì để cống hiến hết mình cho các quý cô Trung Quốc, sao có thể không học tiếng Trung được?” Tạ Trạch Ích vô cùng khiêm tốn.

Cô cười nói: “Hèn gì anh Tạ lại thành thạo nhiều ngôn ngữ đến vậy.”

“Những thứ tiếng khác là vì kế mưu sinh, chỉ riêng tiếng Trung là nguyện vọng của cá nhân tôi.” Anh nghiêm túc suy nghĩ, sau đó nói, “Tôi thường nghe nói con gái phương Đông hấp dẫn nhất là khi ở phòng chính và phòng bếp. Phòng chính thì chứng kiến rồi, còn phòng bếp thì… Hôm nay mới là lần đầu đấy, cũng muốn được thấy nhiều hơn hơn.”

Cô lại không thể tiếp lời nổi, hơn nữa còn suýt ném chiếc khăn dính đầy cà phê vào bản mặt tươi cười của anh. Nhưng tới khi cẩn thận nghĩ lại, nếu đổi thành một tay gà con mới bước vào tình trường, thì nhất định ngay từ đâu sẽ đi tới giành lấy chiếc khăn trong tay đối phương, thể hiện phong độ lịch lãm “cống hiến hết mình vì các quý cô”, nhưng nếu làm như vậy thì sẽ không có chủ đề để nói chuyện tiếp.

Hai người đứng dưới bếp uống hết cà phê, lần này Tạ Trạch Ích lại ra tay rửa sạch bát đĩa, dùng vải bông trắng tinh lau nước đọng rồi xếp vào trong ngăn tủ.

Làm xong xuôi mọi chuyện, anh ngoái đầu hỏi cô, “Lát nữa có muốn đi đâu không?”

“Đến chỗ làm việc xem thế nào, tiện đường thì ghé vào cửa hàng, mua vài thứ đồ dùng hằng ngày.”

“Ừ. Địa chỉ ở đâu? Tôi đưa em đi, vừa hay dẫn em đi làm quen với bên này.”

“Vậy thì phiền lắm. Thứ Bảy ở cục cũng được nghỉ à?”

“Không.”

“…”

Sở Vọng không hề biết rằng: khi bà Cát vừa gửi điện báo đến cục cảnh sát, anh còn chưa mở miệng thì cấp trên đã ra tay trước, rất chu đáo phê duyệt cho anh được phép nghỉ hai ngày.

Anh không nói nên Sở Vọng tưởng anh cố ý xin nghỉ, thế là lại áy náy.

Tạ Trạch Ích vẫn bình tĩnh bảo: “Nếu cô ba chê tôi chướng mắt thì cứ xem tôi như vật trang trí là được, coi tôi như tài xế khi em đến Thượng Hải. Đọc địa chỉ, xuống xe rời đi là xong.”

Hai người đi xuống thang máy, đêm trước không thấy gì, nay trời sáng thì mới thấy rõ: thì ra dưới lầu có một chiếc bàn liền ghế, có một người đàn ông trung niên ngồi canh cửa. Người nọ chỉ thấy Tạ Trạch Ích, vui vẻ gọi: “Cậu Tạ đấy à ——” Rồi chợt nhìn sang bên cạnh anh, miệng há to nhưng không biết xưng hô thế nào.

“Đây là cô Lâm, chủ nhà cho thuê.” Tạ Trạch Ích nói.

“Ồ —— Chào cô Lâm buổi sáng!” Người nọ chào rõ to.

Chỉ một buổi sáng đã bị hai người liên tiếp hiểu lầm là cặp đôi, cô cũng chẳng biết giải thích thế nào, chỉ có thể cùng Tạ Trạch Ích lên xe.

Tạ Trạch Ích lại rất có kiên nhẫn giải thích với cô: “Ở con hẻm này buổi tối chỉ có hai ngọn đèn, có điều vẫn thường xuyên có cảnh sát hai nước tuần tra, cho nên em không cần lo lắng.”

Bây giờ đang là ban ngày, hai tòa nhà này rất cao, khiến cho con hẻm nằm giữa hai tòa kiến trúc trở nên âm u. Quanh năm không thấy ánh sáng nên rất dễ ẩm thấp, trên vách tường cả hai tòa nhà mọc đầy địa y màu xanh. Nếu chỉ có hai ngọn đèn thì không biết buổi tối còn âm u thế nào nữa đây.

Cảnh sát hai nước? Cô cười thầm. Cảnh sát nước ngoài coi mạng người như cỏ rác, ai chẳng biết có “Quy định phạt binh lính ở Trung Quốc”? Lính Anh hay lính Mỹ phạm tội tại Trung Quốc thì do tòa án nước mình xử. Còn nếu cô xảy ra chuyện, chỉ sợ chính phủ sẽ bán quách cô đi, giúp chính phủ Anh Mỹ kiếm tiền.

Thế là Tạ Trạch Ích nói tiếp: “Nếu như về trễ thì gọi điện cho tôi, tôi đưa em về.”

Sở Vọng nhìn thẳng vào anh: “Cô út thật sự bảo anh phải chăm sóc tôi à?”

“Yểu điệu thục nữ quân tử hảo cầu.” Tạ Trạch Ích nói dối đến mức mặt không đổi sắc. Như thể biết cô không tiếp lời được, anh nghiêm túc nói: “Thứ Bảy chắc không có chuyện gì làm, làm quen đường đi chỗ ở rồi thì giữa trưa có muốn ăn gì không?”

Sở Vọng cảm thấy buồn cười: “… Mới ăn sáng xong mà.”

“Ở tuyến đường vượt giới* có một quán ăn Thiên Tân mới mở, đồ cũng được. Canh củ cải lưỡi vịt, có muốn ăn không?”

(*Đây là những tuyến đường xây dựng thêm bên ngoài khu tô giới công cộng Thượng Hải, chính phủ thực dân có quyền lực cảnh sát và quyền đánh thuế các dịch vụ trên các con đường này, nhưng quyền hành chính vẫn thuộc về chính phủ Trung Quốc.)

Quả thực cô không muốn ra vào nơi công cộng với anh cho lắm, thế là bảo: “Về nhà ăn đi.”

“Có hài lòng với tay nghề của đầu bếp tối qua không?”

“Lạp xưởng gan ngỗng sáng nay cũng do anh ta làm hả?”

“Ừ.”

Sở Vọng lấy làm ngạc nhiên, “Tôi cứ tưởng anh Tạ sống ở Thượng Hải phải vất vả lắm chứ.”

Tạ Trạch Ích cười bảo, “Có phải em rất ngạc nhiên không, vì hiện tại tôi nghèo rớt mồng tơi mà vẫn sống xa hoa lãng phí?”

Cô im lặng một lúc, “Anh Tạ à, tôi không…”

“Không muốn thuê đầu bếp phải không.”

“Có lẽ cô tôi đã dặn dò anh rồi, nhưng tôi thực sự không yếu đuối đến thế. Đầu bếp, giúp việc, quản gia, không cần phải thuê ai cả. Chỗ này cũng không lớn, ăn uống sinh hoạt đều do mình thì vẫn thoải mái hơn.”

“Được rồi.” Tạ Trạch Ích đáp đầy sảng khoái, nhưng trong nụ cười đó lại che giấu sự không tin tưởng.

Xe bất tri bất giác từ đường Ferguson đi đến đường vượt giới. Từ số 63 đến số 67 là tòa kiến trúc sáu tầng không quá khí thế, nhưng bên ngoài lại có cảnh sát canh giữ nghiêm ngặt, Tạ Trạch Ích đành phải đậu xe cách đó một trăm mét.

Vì là thứ Bảy nên tòa nhà làm việc không mở cửa, tầng nào cũng khóa cửa sắt, canh phòng nghiêm ngặt. Ở bên ngoài đặt mấy chiếc bàn, có hai người lớn tuổi ngoại quốc ngồi ở đó chờ các nhân viên nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới đến báo cáo.

Thư mời của cô bị cảnh sát kiểm tra nhiều lần, cuối cùng mới đưa cô vào bên trong cửa sắt, đứng trước mặt hai người lớn tuổi kia.

Một người già trong đó có cặp mắt xếch, con ngươi màu xanh nhạt, trong suốt tới mức tưởng chừng ông ta bị đục thủy tinh thể, chóp mũi lại cao đến tận trời xanh, có dáng dấp giống người Do Thái; nếu Pinocchio mà già đi thì có lẽ sẽ trông giống ông ta.

Cách cặp kính nhỏ, ông ta nghiêm túc xem thư mời của cô, sau đó nói: “Cô ở tổ I. Chín giờ rưỡi sáng thứ Hai tuần sau, đừng đến trễ.”

Cô nghe vậy thì thầm nhủ: Xem ra phân công cũng rất rõ ràng. Nhưng rốt cuộc tổ I là làm gì?

Muốn để cô tự suy đoán ý nghĩa à?Cô cúi đầu thấp giọng hỏi: “I… Ignite… đúng không?”

“Vẫn chưa quen với chương trình bảo mật hả?” Ông ta liếc nhìn cô, đóng dấu lên thư mời rồi xé làm đôi, vứt xuống lò lửa dưới chân tiêu hủy.

Cô thật sự vô cùng tò mò.

Sở Vọng nhìn chiếc lò kia, chậc lưỡi nghĩ: cứ tưởng người nước ngoài không thích mấy thứ cũ kĩ như lò sưởi của phương Nam Trung Quốc; nào ngờ cùng một thứ hai công hiệu, còn có thể dùng để tiêu hủy tài liệu.

Báo cáo xong, đến khi quay ra thì cô thấy Tạ Trạch Ích đã xuống xe, đang đứng trò chuyện với mấy người cảnh sát. Trong khoảnh khắc ấy, bầu không khí như thoát khỏi lớp vỏ khách khí lạnh lùng, sĩ quan người Anh tháo vũ trang xuống, đang trò chuyện về người nhà và bạn gái với anh.

Sở Vọng thấy thế thì lắc đầu nguầy nguậy. Tạ Trạch Ích không chỉ là cao thủ tình trường trời sinh, mà còn là cao thủ giao tiếp bẩm sinh nữa. Nếu còn nói tiếp, e là ngay đến chương trình bảo mật mà mấy người lính Anh này đang canh giữ sẽ phải bỏ đi toàn bộ.

Thấy cô đi ra, Tạ Trạch Ích sải bước tới gần. Mấy người lính Anh ở phía sau thực sự hiểu lầm, đứng đằng xa huýt sáo.

Không biết đây đã là lần thứ bao nhiêu trong ngày rồi.

Bên cạnh có cửa hàng bách hóa. Ngoài bàn chải xà bông khăn lau ra, còn có mấy thứ vật dụng của con gái mà chỉ cửa hàng nhập khẩu mới bán. Lúc này anh cũng không sốt sắng tỏ vẻ nhiệt tình lịch thiệp, chỉ kiên nhẫn đứng ngoài cửa chờ cô thong thả mua đồ. Vừa thấy cô đi ra, Tạ Trạch Ích lập tức nhận lấy túi đồ trong tay xách lên xe.

Lần nữa khởi động xe, Tạ Trạch Ích nói: nếu không muốn anh đưa đón thì từ nơi này có thể ngồi xe điện đến đường Lemaire, tầm 15 phút, rồi đi bộ khoảng 10 phút là về đường Ferguson. Hoặc là xuống xe ở đường Winling, đúng đoạn cuối đường Ferguson.

Xe dừng lại ở dưới lầu, Tạ Trạch Ích dẫn cô từ cổng nhà xuyên hẻm cũ, rẽ trái rẽ phải đến trạm xe điện rồi vòng về, rồi anh hỏi: “Đã nhớ chưa?”

Ở Hương Cảng đi đâu cũng có xe điện xe buýt đi thẳng tới nơi. Còn thành phố cổ thế này lại quy hoạch rất bất hợp lý, Lâm Trí quen với việc dựa vào Google Maps tìm đường bèn lắc đầu: “…”

Tạ Trạch Ích tốt bụng trả lời: “Không sao, đi lại lần nữa là được.”

Đi lần hai xong thì đã quá trưa.

“Đã nhớ chưa?”

“Cũng tàm tạm.”

“Tạm là bao nhiêu?”

“Ba mươi phần trăm.”

“Không sao, đi nhiều lần tự khắc nhớ. Đã đói bụng chưa?”

Cả một buổi sáng bị ép phải hoạt động gân cốt – đi đi lại lại trong tô giới cũ, lúc này cô sờ bụng, thừa nhận, “Đói rồi.”

“Ăn đồ Thiên Tân không?”

“…”

Nước canh màu trắng thơm lừng, lưỡi vịt béo béo mềm mềm, ngậm vào trong miệng rồi rút xương đi, phần thịt lập tức tan ra. Phải thừa nhận một điều là canh củ cải lưỡi vịt quá ngon. Không thừa nhận cũng không được, nhìn bề ngoài Tạ Trạch Ích có vẻ “bạn thế nào cũng được, tôi không thành vấn đề”, nhưng thực chất trong đầu đã sắp đặt vô số phương án từ lâu, phương án nào cũng khiến bạn phải tâm phục khẩu phục. Mà một khi đã trúng bẫy của anh rồi, bạn không thể không khen anh một câu: Anh Tạ đúng là cân nhắc chu đáo.

Ở bên cạnh tiệm thức ăn Thiên Tân là một quán cà phê Kiessling do người Thiên Tân mở, lúc đi ngang qua cửa kính, Sở Vọng ngạc nhiên phát hiện: không ngờ ở đây còn có bán loại bánh tam giác hay ăn ở Hương Cảng.

Hai người cùng bước vào tiệm, Tạ Trạch Ích cũng khá kinh ngạc, “Bánh Scone?”

Chủ tiệm cũng lấy làm kinh ngạc: “Đây là lần đầu hai người tới tiệm tôi đúng không, thì ra ở chỗ khác Thượng Hải cũng có bán Scone sao?”

Tạ Trạch Ích cười nói, “Không có, chỉ là hồi trước từng ăn ở bến tàu Thiên Tinh Hương Cảng.”

“Tiệm cà phê Chim Xanh à?” Sở Vọng hỏi.

Tiệm cà phê Chim Xanh tại bến tàu Thiên Tinh là hồi ức của những người trẻ tuổi về Hương Cảng.

Anh nheo mắt: “Đã lâu lắm rồi chưa đến đó.”

Trong khoảnh khắc ấy, cô cũng không biết Tạ Trạch Ích nhớ lại hồi ức gì ở Hương Cảng. Nhưng với cô, trong thời gian năm năm ngắn ngủi, năm chữ cái “scone” đủ gợi lên rất nhiều hứng thú.

Không rõ tình cảm này là gì.

Hương Cảng chưa bao giờ là cố hương của cô, cả nơi này cũng thế. Tuy là lãnh thổ Trung Quốc, song lại như một thế giới xa lạ mọc trên mảnh đất. Năm 1929 đối với cô quá đỗi lạ lẫm. Cô có cảm tình với nơi này, nhưng nhiều hơn thế là sợ hãi.

Đây có phải quê hương của mình không? Có rất nhiều lúc, sự xa lạ mịt mù này đã đẩy cô vào sợ hãi, làm cô có cảm giác mình như kẻ tha hương. Tại đất khách quê người, cô không có tri kỷ, cũng không có người hiểu cô.

Bên ngoài đường Ferguson có một khu chợ bán đồ ăn. Tạ Trạch Ích đậu xe dưới lầu để cô đi về nghỉ ngơi, còn mình thì đi bộ đến chợ.

Cô hỏi bảo vệ thì mới biết dưới lầu còn có hòm thư. Lúc Sở Vọng kiểm tra hòm thư, Tạ Trạch Ích đã xách đồ đạc lên lầu cho cô.

Bên ngoài mỗi hòm thư đều được đánh dấu bằng họ người ở.

Cô lại mượn bảo vệ giấy bút, viết một chữ “Lâm” bên cạnh chữ “Tạ”.

Cầm chìa khóa mở hòm thư, một đống thư từ xổ ra rơi xuống. Đưa mắt nhìn qua, tất cả đều là thiệp mời: tiệc cốc-tai, tiệc ăn mừng, hôn lễ Trung Tây, chiếu phim dạ vũ… Cần gì cũng có, từ năm ngoái cho tới tận năm nay, bức thư nào vẫn còn nguyên xi.

Xem ra, tuy anh ta ở đây đã lâu nhưng không biết ở dưới lầu còn có hòm thư —— cũng không biết đã khiến bao nhiêu người mong chờ rồi thất vọng đây.

Có lẽ chức vụ của anh cũng không quá quan trọng, cô thấy anh ta đi xã giao còn nhiều hơn bất cứ ai. Cũng không biết có phải là do thân với bà Cát từ sớm không, hay là do bản tính khéo léo mẫn tiệp bẩm sinh của anh. Người Anh không quen đưa đẩy như thế, nhưng đây là địa phận Trung Quốc, điều người nước ngoài nói không được, đến lượt anh chắc chắn sẽ thành: Trình độ tiếng Trung đột nhiên tăng vọt, nói đủ ngôn ngữ ngưu xà quỷ thần nhưng lại chẳng nhận biết được bao nhiêu chữ Trung, nay xem ra cũng không cần thiết.

Còn một lý do khác nữa đó là: anh có một gương mặt không cách gì khiến người khác ghét bỏ được. Có rất nhiều cô gái trẻ dễ dàng si mê một người đàn ông anh tuấn, thêm việc người này cũng khéo léo đưa đẩy, không hề khiến người ta nói ra nói vào. Nhìn như thế, có ai mà không thích?

Đúng là là tấm vé thông hành tự do hành tẩu ở tình trường và tình người.

Ngay đến đám trẻ Xô Viết dưới lầu cũng không thoát khỏi bàn tay ma quỷ của anh.

Vừa cầm thư đi vào tháng máy, còn chưa kịp mở cửa thì cô đã thấy một cậu bé tóc đã đứng trước cửa nhìn quanh. Thấy gương mặt xa lạ là cô, cậu bé lẩm bẩm gì đó bằng tiếng Nga, cô chỉ nghe hiểu được một câu là “chị Tạ”; dùng tiếng Anh giải thích thì lại sợ con nít nghe không hiểu, đúng là nhức đầu.

Lời đùa dùng với bạn gái người Mỹ của anh trên đảo xa hai năm trước giờ như báo ứng rơi xuống người cô. Cô thở dài, đột nhiên nhớ ra mấy miếng bánh Scone ở trong túi giấy, thế là lấy ra cho cậu bé đó, lúc này cậu mới chịu đi.

Mỗi một tầng lại có máy giặt công cộng, sáng sớm trước khi ra ngoài cô đã cầm khăn trải giường và vỏ gối đi giặt, lúc này đi lấy đem về nhà phơi nắng, trong chớp mắt đẩy cửa ban công ngoài phòng tắm ra, một mùi thơm ngát bay vào mũi.
Bên ngoài có mấy ly sứ xương* màu xám nhạt, dùng để trồng mấy đóa hoa lan trắng đang được nước nhỏ tí tách tưới ướt, mỗi ly chừng năm sáu bông, cả thảy có sáu ly, vị chi tổng cộng có hơn ba mươi đóa hoa.

(*Sứ xương là một loại đồ sứ được chế tác chủ yếu từ tro xương động vật trộn với một loại khoáng chất tên là fensfat (hay còn gọi là tràng thạch) và đất sét trắng.)

Cô thực sự bị chấn động ngạc nhiên, không ngờ người có được sự hứng thú nhàn nhã này lại chính là Tạ Trạch Ích.

Phơi chăn xong, có người đẩy cửa đi vào. Từ phòng tắm đi ra, cô thấy Tạ Trạch Ích đang xách một con cừu nhỏ đã được làm thịt đi vào cửa.

Bộ quần áo được là thẳng trông đầy khí chất phóng khoáng, nhưng lại trái ngược hẳn một trời một vực với thứ anh đang cầm trong tay.

Cô đi ra ngoài hành lang, “Không phải đã nói là không mời đầu bếp sao?”

“Nghe theo lời dặn của cô ba, dĩ nhiên không mời.”

“Tức là anh Tạ sẽ xuống bếp?”

Tạ Trạch Ích cười nói, “Cô ba đã nếm thử tay nghề của tôi rồi còn gì.”

Cô ngạc nhiên: “Đầu bếp có thể làm được món Bắc Kinh Quảng Đông Thượng Hải chưa từng xuất hiện chính là anh ư?”

“Có hợp khẩu vị không?”

“Rất… ngon.” Đột nhiên nhớ ra, cô được hưởng lòng tốt của người ta, không những không đội ơn mà còn chỉ trích anh “xa hoa lãng phí vô độ”. Giờ bị mất mặt, thực sự không dám đối diện. Cô xấu hổ hỏi, “Do ăn ngon quá… nên thật sự không nghĩ tới.”

“Cầu kỳ về thức ăn quen rồi, thì dù là ai cũng sẽ dần trở thành nửa đầu bếp thôi.”

Cô nhìn con cừu trong tay anh, không hiểu sao lại nhớ đến một món ăn nổi tiếng đầy buồn cười của Scotland: “Haggis?”*

(*Haggis là món ăn làm từ nội tạng loài cừu, băm nhỏ với hành tây, bột yến mạch, mỡ ở thận cừu, gia vị, muối, trộn với nhau và theo truyền thống, nhồi trong dạ dày của cừu và luộc trong khoảng ba tiếng đồng hồ.Ảnh.)



Người châu Âu rất có thành kiến về nội tạng. Các cơ quan nội tạng động vật, bất kể là gà vịt, ngỗng, cừu hay bò thì đều moi sạch nội tạng, phần xương làm thành đồ đựng, hoặc hầm hoặc nướng cùng với bột yến mạch trái cây. Vào những dịp ăn tiệc hay năm mới, chủ khách quây quần bên bàn cùng luyện dao nĩa với thịt cừu, vô cùng náo nhiệt vui vẻ.

Tạ Trạch Ích cười nói, “Hình như em có thành kiến gì về quốc tịch của tôi à?”

Rồi anh giơ túi lòng cừu trong tay phải lên: “Trong này là thứ người Trung Quốc tham ăn thích.”

Sở Vọng cười thầm. Người tham ăn chưa chắc là người Trung Quốc, nhưng nấu đồ ngon thì chắc chắn không phải là người Anh.

Súp lòng được hầm lên, thì là hẹ xanh hấp chung với thịt dê, hương thơm ngất ngây bay đầy nhà, dù cho không đói thì thực sự vẫn có thể “thơm chết người”.

Ăn uống xong xuôi, Tạ Trạch Ích dựa vào cửa nhìn cô đem mấy tấm thiệp mời cũ kỹ ra, không chút do dự ném vào giỏ tre.

Cô tựa vào vách tường ngoài hành lang, gọi hỏi: “Anh Tạ?”

“Ừ?”

“Tìm được nhà trọ mới chưa?”

Tạ Trạch Ích vờ như chán nản, “Tôi khiến cô ba ghét đến thế sao?”

“Anh biết tôi không có ý này mà.”

Tạ Trạch Ích mỉm cười, “Dì Cát cố ý gán ghép tôi với em.”

“Tôi biết.”

Hai người rơi vào một khoảng im lặng. Một lúc sau, Sở Vọng lên tiếng, “Cô út thì tôi biết rồi. Nhưng còn ngài Tưởng, vì lý do gì?”

“Tôi nghĩ chắc là em gái tôi nhờ ông ấy làm phiền dì Cát.”

Cô thực sự không hiểu.

Tạ Trạch Ích nghĩ ngợi rồi nói, “Tôi và cha bất hòa đã lâu. Ông ấy muốn tôi về Anh sống yên ổn qua ngày, còn tôi không thích làm theo ý ông ấy, nên ông ấy cũng không muốn tôi được như ý. Tôi là con trai duy nhất của ông, người trong nhà còn sốt ruột hơn cả tôi với cha. Nếu như dì Cát có thể khuyên bảo tôi thành công chuyện đó, thì chắc đấy sẽ là cách duy nhất trên đời này có thể khiến quan hệ cha con dịu lại.” Anh quay đầu nhìn vào mắt cô, “Cô ba không biết ư, em chính là quân át của dì Cát.”

Nghe anh nói xong, cô lập tức hiểu rõ ý đồ của ngài Tưởng. Có điều về phần Tạ Trạch Ích, cô vẫn khó hiểu như cũ, vì theo như quốc tịch và lịch sử… Cô cẩn thận hỏi: “Nếu tôi nhớ không nhầm, nếu sinh ra trong bệnh viện công ở Anh thì nhất định sẽ có thân phận công dân Anh, đúng không?”

Tạ Trạch Ích biết cô muốn hỏi gì, cười nói: “Vì sao lại muốn đến Thượng Hải, đúng không?”

Không đợi cô trả lời, anh đã nói tiếp: “Chỉ đôi ba câu thì khó mà khiến người ta tin được, thậm chí đến bản thân tôi còn không tin mà. Nếu có cơ hội, tôi sẽ từ từ kể cho em biết vì sao.”

Cô gật đầu.

Anh không nói chuyện, cô lại chìm vào im lặng, sự im lặng tới từ lịch sử mà cô biết.

Nếu anh về Hương Cảng thì hơn 10 năm sau, chắc chắn sẽ bị quân Nhật bắt làm tù binh cùng với một trăm ngàn lính Anh khác; Nếu ở lại Thượng Hải, thế thì 8 năm sau sẽ bị quân Nhật đưa vào trại tập trung; Còn nếu về Anh, thì thứ đợi anh chính là chiến trường Pháp hoặc Bắc Phi. Cơ hội sống tiếp của Tạ Trạch Ích chưa đến tuổi 30 là rất thấp. Dù có đứt tay cụt chân thì cũng đã là may mắn lắm rồi. Nghĩ đến đây, cô chợt nhớ tới quẻ quẻ bói nói anh cô độc suốt đời ở trấn Nguyên Lãng hôm đó, xem chừng cũng có vẻ đáng tin.

Cô biết bà Cát muốn kết hợp cô với Tạ Trạch Ích, cũng biết bà xuất quân cờ này thực sự lợi hại. Nếu người khác không biết, thì sẽ cho rằng trung tâm tài chính số một Viễn Đông sầm uất thái bình vô cùng. Nhưng không phải cô chưa từng xem vở kịch “Trà quán” hay đọc bộ truyện “Lạc đà Tường Tử”(1), cũng không phải chưa từng nghe về Thẩm Sùng Minh và sự kiện lầu Cảnh Minh(2). Giao toàn bộ tính mạng của mình cho cảnh sát tô giới luôn coi thường luật pháp Trung Hoa ư? Trừ khi cô là kẻ điên.

Nhưng bây giờ, cô lại là kẻ tứ cố vô thân không nơi nương tựa, mà Tạ Trạch Ích đây lại đáp ứng toàn bộ yêu cầu của cô: ăn uống sinh hoạt lẫn sự an toàn đều có anh chăm lo, vô cùng đáng tin.

Vì vậy, dù cô không muốn cũng không sao; Tạ Trạch Ích biết kết quả của việc một cô gái trẻ tuổi độc thân ra vào hẻm tối là như thế nào, nên anh sẽ không để mặc cô.

Cô phải thừa nhận một điều, vào lúc này, cô thực sự rất cần Tạ Trạch Ích.

Cô thích kiểu người như Tạ Trạch Ích, giống như cô thích bà Cát vậy, không hề liên quan tới tình yêu. Nghĩa là bỏ đi thân phận khác phái, tình cảm tán thưởng xuất phát từ nội tâm. Khi người khác phái nhìn khác phái thì thường dùng đôi mắt mang chữ “sắc” để nhìn.

Đúng như con người Tạ Trạch Ích. Anh có điểm ưu tú của mình, nên thái độ của cánh phụ nữ nhìn anh luôn là hai mặt mang chữ “sắc”: hoặc là mê như điếu đổ, hoặc là cực kỳ ghét anh miệng lưỡi trơn tru. Thế nhưng liệu có ai từng để tâm đến mặt tốt khác của anh không? Thực ra kiểu người như anh, cũng có lúc rảnh rỗi nuôi trồng hơn ba mươi đóa lan trắng ở ngoài ban công.

Anh đúng là thú vị, còn cô thật vô vị. Giống như rất nhiều người châu Âu khác, tiêu chuẩn chọn bạn đời không nằm ở chỗ xấu đẹp mà là người ấy có thú vị hay không.

Cô thích người này, mà hiện tại cũng cần anh. Danh tiếng ư? Có thì cũng bị người cha “hờ” kia hủy hoại cả rồi. Mà dù chưa bị hủy, thì hai ngày qua hàng xóm láng giềng cũng đã hiểu lầm hết rồi còn gì. Những việc khác, dù thành hay không thành thì chắc chắn bà Cát cũng sẽ xử lý cho cô.

Cô cần gì phải kiểu cách bắt người ta dọn đi, rồi sau đó một ngày ba chuyến đến hầu hạ cô?

“Vậy tức là tôi có khả năng làm lành với cha sao?” Tạ Trạch Ích vô tình trêu cô.

Tuy biết rõ anh đang nói chuyện cười, nhưng cô vẫn nghiêng đầu nhìn Tạ Trạch Ích, trầm ngâm một lúc rồi nói: “Tôi không hiểu gì về tình yêu, cũng không định tìm hiểu xem nam nữ yêu nhau nghĩ gì.”

“Ừ. Điều này thì tôi rất hiểu.”

“Nhưng anh Tạ, với sự hiểu biết của tôi về anh —— anh là một cao thủ tình trường bẩm sinh, có lẽ anh cần một người bạn gái xinh đẹp hiểu phong tình hơn, có thể không nhất định phải là phụ nữ người Anh làm huân tước Tạ hài lòng, đồng thời bằng lòng ở lại Thượng Hải, vậy thì khó tìm quá. Nhưng tôi nghĩ, như thế lại không phù hợp với anh.”

Tạ Trạch Ích cẩn thận lắng nghe, bất chợt hỏi: “Giả sử hai ta đính hôn thì sao?”

Cô lắc đầu, cười hỏi, “Thế thì anh được lợi gì?”

Tạ Trạch Ích vẫn nói, “Lợi ích mặt khác?”

“Anh cần tình yêu.” Cô quay đầu, nhìn anh nghiêm túc hỏi, “Mà anh cũng nghĩ như vậy, đúng không?”

Tạ Trạch Ích thấy cô nhìn mình như thế thì bật cười, “Chưa từng có ai nghiêm túc hỏi tôi câu như vậy cả. Sau hôm nay thì tôi mới biết, thì ra câu hỏi như thế còn có thể khiến người ta phải suy nghĩ kỹ càng.”

Sở Vọng nghiêm túc suy nghĩ, nghiêm túc trả lời: “Tôi nghĩ có lẽ chúng ta sẽ không yêu nhau đâu. Nên là, dù anh Tạ cảm thấy chúng ta có hợp hay không, tôi vẫn hoan nghênh anh tiếp tục ở lại nhà trọ đường Ferguson. Dù không biết cô tôi cân nhắc thế nào mà trói chân anh bằng sự an toàn của tôi, thì tôi nghĩ, có lẽ bà ấy cũng sẽ không làm hại tôi. Nhưng đó là tôi đề nghị thôi, còn việc rốt cuộc có muốn ở lại hay không thì vẫn theo ý của anh Tạ.”

Tạ Trạch Ích cười thầm: chơi lớn như thế, thì ra là do sau khi cân nhắc kỹ càng, cho rằng anh không chuyển nhà thì sẽ có lợi cho mình nên mới khuyên anh ở lại.

Nói là mời ở lại, thực ra giữa vài ba câu đã vạch rõ giới hạn rồi. Em quá lý trí, còn tôi cần tình yêu. Hai chúng ta vốn không chung đường, nên tốt nhất là tôi đừng có suy nghĩ không an phận gì với em —— hơn nữa em cũng cho rằng tôi sẽ không có suy nghĩ không an phận.

Sau khi nhận rõ điểm này, em thừa nhận em vẫn cần tôi.

Cái đầu lý trí đến đâu mới có thể đưa ra kết luận này?

Đột nhiên dưới lầu có người bấm chuông, bảo vệ đến nói là có người ở đường vượt giới mời cô Lâm.

Bảo vệ vừa dứt lời, cô lập tức cầm áo khoác đẩy cửa đi ra, vừa đi vừa mặc áo, cổ áo cao ráo che khuất cần cổ trắng nõn.

Hai nốt ruồi đỏ kia đã biến mất.

Anh còn định uyển chuyển từ chối ý tốt của cô như thường, nói mấy câu êm tai ví dụ như: “tôi ở tạm cục cũng được, tìm được nhà trọ mới rồi sẽ chuyển đi. Dù chuyện có bận tới mấy thì với tôi, chuyện của cô ba vẫn là chuyện quan trọng nhất.” Hoặc là, “Không vì lý do gì cả, chỉ vì giáo dục đàn ông từ nhỏ đã nói với tôi là phải luôn ân cần phái với nữ, thế đã được chưa?”

Nhưng đột nhiên anh đổi ý.

Trước kia không có cảm giác gì, nhưng sau khoảnh khắc trên, đột nhiên anh có một suy nghĩ mà trước đó không hề có —— anh muốn xem xem, nếu có một ngày cô thật sự biết yêu thì sẽ như thế nào.

___

Chú thích:

(1): Trà quán và Lạc đà Tường Tử là tác phẩm của Lão Xá. Nội dung chính của kịch nói “Trà quán” là thông qua quán trà của nhân vật Dụ Thái, phô bày ra mặt u ám thối nát cùng xã hội rối ren của xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến Trung Hoa trong giai đoạn cải cách năm Mậu Tuất, quân phiệt hỗn chiến.

Còn “Lạc đà Tường Tử” là truyện dài kể về một người nông dân tên Tường Tử mồ côi cha mẹ lên Bắc Kinh kiếm sống. Y chỉ ấp ủ độc một mơ ước “lớn lao” là chắt chiu đủ tiền để mua một cái xe kéo, trở thành một phu kéo xe “cao cấp”. Nhưng mua xe lần đầu thì bị lính cướp, mua xe lần hai thì phải bán trả nợ. Cuối cùng vì thất vọng, Tường Tử trở nên bê tha và chết trên con đường phủ đầy tuyết. Thông điệp của truyện là, trong một xã hội đã thối nát thì mọi nỗ lực cá nhân để cải thiện đời sống chỉ như dã tràng xe cát mà thôi!

(2) Sự kiện lầu Cảnh Minh: vào năm 1948, hơn 20 lính không quân Mỹ đã cưỡng hiếp tập thể các cô gái quý tộc Trung Quốc. Sau khi xảy ra sự kiện đó, chính phủ dân quốc lập tức hạ lệnh phong tỏa tin tức, không hề ra lệnh bắt giữ tội phạm, trái lại còn lấy lý do xử lý hoạt động dâm ô mà thẩm vấn phụ nữ Trung Quốc, tất cả là vì sợ “ảnh hưởng đến bang giao hai nước Mỹ – Trung”.

Về Thẩm Sùng Minh: Tiểu nữ bất tài, không tìm được thông tin sự kiện có liên quan.

Chương 79: Khói bếp (3)

Trời mùa đông thường hay tối sớm. Chỉ mới đến giờ ăn cơm thôi, đứng đầu con ngõ đã không thấy gì ngoài phạm vi năm mét. May mà còn có hai ngọn đèn đường “có còn hơn không”, đủ để cô nhìn thấy người thanh niên Do Thái đang đứng hút thuốc trong bóng đêm.

Thấy cô đi ra đứng trước cổng, anh ta chậm rãi dập thuốc, cầm hai bức thư đi về phía cô.

Trong chớp mắt, Sở Vọng lập tức vui vẻ, cười nói: “Robert, ai mời anh đến thế?”

Anh ta đưa cho cô một bức thư.

Mở bức thư giấy da bò ra, trong đó là một bản hợp đồng của phòng nghiên cứu Thượng Hải. Bên trên ghi rõ: tiền lương 220 đồng.

Cô nhớ mang máng, hình như tiền lương của Hồ Thích – con rùa biển nổi danh kiêm giáo sư đại học Bắc Kinh lúc bấy giờ cũng chỉ mới 240.

Có khoản tiền lương này thì tức là quý tộc không mũ miện rồi. Cô vội cất thư đi, cười hỏi: “Ai trả lương cho chúng ta vậy?”

“Có đại lão đầu ngành ở đâu, chẳng lẽ còn không xin được quỹ nghiên cứu Cavendish? George đệ ngũ hoặc Baldwin, ai mà biết? Chung quy cũng không phải là chính phủ của các cô.”

“Tiêu bảng Anh ở Trung Quốc thì không thấy xót đúng không?”

“Chúng tôi vẫn chờ áo bảo hộ từ các cô đấy.”

Cô thở dài.

Cô đứng trước cổng tòa nhà, xoay lưng về phía bảo vệ nói chuyện cùng Oppenheimer, đột nhiên Oppenheimer giơ ngón tay kẹp thuốc lá lên, chỉ về phía sau lưng cô, nói: “Tôi e là mình đã trở thành đối tượng tin đồn tiếp theo của cô.”

Bảo vệ đang thò đầu nghe trộm hai người nói chuyện. Vừa thấy cô ngoái đầu thì lập tức xoay đi chỗ khác, giả vờ như không có chuyện gì cầm báo đọc.

“Định ra ngoài hả?”

“Ống nước nóng bị đông nên tôi đang tính đi mua ống tưới nước.” Cô nói.

“Lúc đến đây, tôi thấy ở cạnh trạm xe điện có tiệm tạp hóa.”

Cô nhét hai tay đỏ bừng vì lạnh vào túi áo, hai người cùng băng qua con hẻm tối đen.

Oppenheimer mỉm cười, lấy ra bức thư thứ hai ở trong áo khoác đưa cô.

Bức thư này vừa dày vừa nặng, chưa mở cũng biết là mấy tờ tiền mệnh giá năm đồng.

“Tổng cộng là 1160, Từ bảo tôi đưa cho cô, nghe nói đây là tiền lương một năm qua của cô.” Oppenheimer chậm rãi cười nói, “Hình như còn cao hơn cả tiền lương của tôi?”

Đúng là rất cao. Theo như cô biết được, tiền lương mỗi tháng của Lương Chương cũng mới một trăm đồng.

Có hai lính người Pháp đang đi tuần đi lướt qua hai người.

Oppenheimer nhìn hai người kia, nói, “Từ bảo tôi cũng đến Thượng Hải đi. Tôi hỏi anh ta vì sao? Anh ta nói bởi vì tôi và cô có quen biết, bảo tôi làm việc nhớ để ý đến cô. Sao nào, đến Thượng Hải thì sẽ gặp chuyện gì nguy hiểm hả?”

Chính cô cũng không rõ nữa. Tô giới không thân thiện với người Trung, nhất là con gái Trung Quốc sống một mình. Điều may mắn duy nhất là cô có một căn nhà nhỏ, mỗi tháng còn có 220 đồng, không đến nỗi phải lưu lạc sống tạm trong “căn nhà” dựng từ thùng dầu hỏa.

“Nghe nói cô bị cuốn vào bất hòa hôn nhân của Từ, sao thế, anh ta muốn cưới cô làm vợ hai hả?” Đột nhiên anh ta cười hỏi.

“Anh có tin không?”

“Không tin. Nếu Lương là nữ, nói không chừng bọn họ sẽ nghĩ anh ta sẽ lấy Lương. Còn nếu tôi cũng là nữ, sợ là cũng phải trải qua những chuyện cô đã gặp. Nhưng gia đình Do Thái chúng tôi rất căm ghét hôn nhân ngoại tộc, nên xin lỗi, tôi rất vui khi mình không phải là nữ, nếu không thì e còn bất hạnh hơn cả cô.”

“Cám ơn anh không phải là nữ.”

Đi ra khỏi con hẻm là tới tiệm tạp hóa nằm sau lưng trạm xe điện. Trên cửa gỗ ngoài tiệm tạp hóa dán chi chít những tấm thẻ nhỏ, bên trên dùng bút lông viết chữ. Trên thẻ viết tên vật phẩm mà trong tiệm bán, ví dụ như cờ tướng, cặp thước, rồi đồ dùng cổ như bút lông, mực, nghiên mực, cũng có khăn lông, dầu ngựa, sáp chải tóc và dép, thậm chí còn có cả kem bôi mặt Bách Tước Linh.

Cô chọn mua khăn lông để lau chùi kệ bếp, bồn tắm và chậu rửa mà lúc sáng mua thiếu, cùng với một đôi dép và ống tưới nước.

Oppenheimer chỉ vào đèn cầy đang thắp trong tiệm, dùng tiếng Trung trúc trắc hỏi chủ tiệm: “Tô giới có cung cấp điện, có đèn điện, anh, không bật?”

Ông chủ nói: “Một lần dùng điện là tốn ba hào năm xu, một tháng mất năm sáu đồng, ngoài người phương Tây và người giàu ra thì ai mà dùng cho nổi?”

Oppenheimer nghe hiểu được đại ý, bĩu môi xem thường.

Cô nghĩ bụng: May mà bây giờ không có mấy thứ công suất điện lớn như lò nướng lò vi sóng máy điều hòa tủ lạnh, nếu không một tháng chắc phải trả đến ba mươi năm mươi đồng.

Rồi sau đó cô lại nghĩ, nếu không có chiến tranh, vậy thì thành quả nghiên cứu của bọn họ càng có thể chuyển sang khống chế lò phản ứng chậm. Đến lúc đấy, có lẽ việc nhà nhà dùng điện ở Trung Quốc sẽ xảy ra sớm 50 năm.

Cô ôm một bầu nhiệt huyết mong chờ vào tương lai, xách mấy thứ mới mua tiễn Oppenheimer đến trạm xe điện, đúng lúc này lại nghe thấy chủ tiệm vừa rồi còn xun xoe hừ lạnh: “Nửa đêm canh ba ăn mặc đẹp đẽ như thế, trắng trợn ra ngoài với thằng Tây kia, chắc chắn là gái tiếp rượu do chính phủ phái hầu hạ bọn Tây lông. Hầu thằng Tây ngủ đã quá nhỉ, được chu cấp cho ở nhà trọ có điện có hệ thống nước, nó tưởng mình hơn người chắc? Hừ!”

Ông chủ không nói giọng Thượng Hải, không biết là phương ngữ vùng nào. Nhưng cô vẫn hiểu được đại khái.Cô ngoái đầu nhìn chủ tiệm. Có lẽ ông ta cũng không ngờ cô làm như thế, thậm chí trên mặt còn có vẻ thương hại bi ai. Cái nhìn của cô khiến ông ta kinh hãi giật mình. Oppenheimer thấy cô quay đầu thì cũng ngoái đầu theo ánh mắt cô, nhìn ông chủ tiệm đang nơm nớp lo sợ ở phía sau. Ánh mắt anh ta vốn âm trầm, nên lần này đã dọa ông ta sợ hãi trốn vào nhà.

“Ông ta làm gì à?” Oppenheimer hỏi.

“Không có gì, chỉ là kẻ đáng thương thôi.”

Cô không biết chủ tiệm và gái tiếp rượu từng có va chạm gì, nhưng nghe những lời kia vẫn khiến cô xót xa. Không phải vì mình, mà là vì những cô gái tiếp rượu bị Thượng Hải phái đi hầu người phương Tây tìm vui mới bị chửi kia. Cùng là người đáng thương, có người lại vất vả cực khổ, nhưng có người lại một bước lên mây. Tới mảnh đất đô thị Thượng Hải mưu cầu kế sinh nhai, chẳng ai sống dễ dàng cả. Chính phủ và người phương Tây mới là kẻ có tội, nhưng vì sao người bị mắng chửi lại là các cô?

Trạm xe điện cách nhà trọ con hẻm tối tăm khoảng năm phút đi bộ. Oppenheimer không bao giờ nghĩ tại mảnh đất sầm uất này, một cô gái đi bộ về nhà chỉ mất năm phút thì sẽ gặp chuyện gì; mà với lộ trình năm phút đi bộ, dĩ nhiên cô cũng sẽ không bắt anh đưa tiễn.

Từ trạm xe điện đến đầu hẻm chỉ cách hơn mười mét, nhưng đột nhiên có người bám đuôi.

Càng đi về phía trước thì ánh sáng càng tối, cô càng rảo bước nhanh hơn, nhưng bước chân phía sau cũng ngày một nhanh lên. Chợt đối diện có hai lính tuần người Pháp đi tới, vừa lúc đi ngang qua cột đèn đường, thấy sắc mặt hoảng hốt của cô thì quát to: “Mày đi theo quý cô đây làm gì hả?!”

Một người trong đó túm tay cô kéo ra sau lưng, nương theo ánh đèn, cô thấy rõ người kia là một người đeo kính tròn, không quá cao.

Người kia dùng tiếng Anh bập bẹ nói: “Tôi là nhân sự của công ty quảng cáo. Vừa rồi tình cờ trông thấy ở trạm xe điện, cảm thấy quý cô đấy rất hợp làm người mẫu cho quảng cáo thuốc lá của công ty chúng tôi…”

Nhìn cách ăn mặc của người nọ thì có vẻ là săn đầu người thật. Chỉ tiếc người Pháp không nghe người ta nói tiếng Anh, lập tức tát một phát trời giáng, tiếng *bốp* vọng thấu mây xanh rồi dội về lại trong ngõ nhỏ tối đen, tạng người nhỏ bé như vậy thì chịu sao nổi?

Đầu bị tát lệch hẳn sang một bên, lúc anh ta quay lại, hai lỗ mũi đang chảy máu ròng ròng. Anh ta lật đật rút danh thiếp trong túi áo ra, cúi người đưa đến: “Các anh xem! Thuốc lá Hatamen, tôi họ Lục! Tôi thật sự đang tìm người mẫu cho công ty thuốc lá này…”

Sở Vọng còn chưa kịp trả lời thì người Pháp kia lại giơ tay tát cái *bốp*, cái tát này còn nặng hơn trước đó, khiến anh ta ngớ người, quỳ sụp xuống đất.

Lính Pháp nói: “Nửa đêm nửa hôm đi theo con gái trẻ tuổi, còn dám tự xưng là chụp quảng cáo? Hai cái tát này là để mày nhớ cho kỹ, cút xéo!”

Sở Vọng vội dịch lại cho người kia: “Tôi tưởng anh là côn đồ, thực sự rất xin lỗi. Tôi không chụp quảng cáo gì cả, anh cũng đi nhanh đi, bọn họ không nghe anh nói tiếng Anh đâu.”

Người nọ thoát chết từ đường tơ kẽ tóc, co cẳng chạy như điên, không còn nghĩ gì về nghiệp vụ của mình nữa.

Hai người lính Pháp khá tuấn tú, lại còn cao hơn cô một cái đầu. Dưới áp lực chiều cao, cô lùi về sau hai bước, thấp giọng dùng tiếng Pháp nói: “Chân thành cám ơn các anh.”

Nói rồi, cô không chút do dự xoay người sải bước đi về nhà, lúc đến gần ngọn đèn thứ hai thì bóng đen cao to phía sau gần như bao trùm cả người cô. Tiếp đó, một cánh tay nặng nề khoác lên vai Sở Vọng, gần như đè cô vỡ nát.

Hô hấp nặng nề gần bên tai, từng chút từng chút phả vào tai cô. Gã lính dùng tiếng Pháp mờ ám nói với cô: “Đêm hôm ở tô giới rất loạn, quý cô xinh đẹp như em ban đêm ra ngoài một mình, sao có thể thiếu người bảo vệ được?”

Cô dùng sức gạt cánh tay trên vai ra, nhưng gạt mấy lần cũng không được. Tránh chọc giận gã ta, cô cười từ chối: “Nhà tôi ở ngay đằng trước rồi, tôi ra ngoài tản bộ thôi không cần người bảo vệ.”

“Ồ? Ở gần đây hả? Vậy liệu có thể nể mặt cho phép tôi mời em một ly không? Không xa đâu, ở quán rượu ngay trên đường Ferguson đây thôi.” Lính Pháp cười cợt, “Chỉ một yêu cầu nho nhỏ, tôi nghĩ em sẽ không từ chối đâu nhỉ?”

Dù trong thế giới hòa bình ở thế kỷ 21, người lạ lần đầu gặp mặt mà mời bạn uống rượu hay cà phê thì rõ ràng là ám hiệu tình dục. Không từ chối? Có quỷ mới tin!Cô nhanh chóng suy nghĩ phương án đối phó.

Cô đứng đây gọi to tên Tạ Trạch Ích, thì sau khi chọc giận cảnh sát Pháp, thì trước khi anh chạy xuống lầu, tỷ lệ sống sót của cô là bao nhiêu đây?

Hoặc đi ngang qua cổng nhà trọ cầu cứu bảo vệ, vậy tỷ lệ anh ta đến giúp đỡ, hơn nữa còn không bị lính Pháp bắn chết là bao nhiêu?

Vắt óc nghĩ hết các cách, cô chưa bao giờ cảm thấy quãng đường 5 phút lại dài dẵng như thế. Cân nhắc ba lần, cô lại hỏi bằng tiếng Pháp: “Trước khi đến Trung Quốc, các anh có biết mình phải tuân thủ “quy định trừng phạt quân nhân Pháp phạm tội ở Trung Quốc” không?”

Hai người kia sững sờ, sau đó đảo mắt, “Ồ. Thì sao?”

Thấy bọn họ trả lời như thế, trong lòng cô càng thêm chắc chắn. Bình thường lúc ký hợp đồng, sẽ có một dòng “đã đọc và tuân thủ luật pháp và quy định liên quan”.

Nhưng chẳng mấy ai đọc nó cả, thậm chí có rất nhiều người còn không biết được tên của quy định điều luật, càng đừng nói gì đến việc cẩn thận ghi nhớ.

Cô nhắm mắt, cố gắng vắt óc thêu dệt nên mấy quy định. Nhưng đúng lúc này, bất chợt ở phía sau vang lên giọng nam quen thuộc nói tiếng Pháp ——

“Lính Pháp phạm tội ở trung Quốc sẽ do tòa án quân sự nước Pháp xử phạt. Nhưng nếu đối tượng các anh xâm hại được luật pháp Anh bảo vệ, thì thử đoán xem các anh sẽ gặp chuyện gì?”

Anh vừa dứt lời, chủ nhân của cánh tay khoác trên vai cô cứng đờ. Lính Pháp thấy người đến có gương mặt phương Đông thì lại quay sang hỏi ngược: “Vậy nói tôi biết, luật pháp Anh sẽ khiến chúng tôi gặp chuyện gì đây?”

“Tôi cũng không biết.” Sắc mặt hai gã lính Pháp trở nên lúng túng, còn Tạ Trạch Ích vẫn cười rất tươi, giọng nói nhẹ nhàng, so ra rất đối lập: “Tuy tôi cũng rất muốn biết, nhưng coi như là đồng nghiệp khác quốc tịch, tôi vẫn muốn khuyên các anh một câu chân thành: đừng có đụng vào quý cô đây.”

Đột nhiên tay cô bị người ta nắm lấy kéo mạnh, kéo đến cạnh Tạ Trạch Ích.

“Au revoir.” (Tiếng Pháp: tạm biệt.)

Tạ Trạch Ích ngông nghênh vẫy tay tạm biệt với hai gã nọ, rồi kéo cô đi vào nhà trọ.

Tới trước cổng nhà, Tạ Trạch Ích buông cô ra. Bảo vệ nhìn bọn họ với vẻ mặt không chê lớn chuyện, hai người không nói không rằng, một trước một sau đi vào thang máy.

Tạ Trạch Ích lên tiếng phá vỡ im lặng trước: “Bảo vệ gọi điện nói, anh ta có một mật báo liên quan đến cô Lâm. Tôi cho anh ta vài thứ tốt nên anh ta nói cho tôi biết chuyện.”

“…”

“Cũng coi như trong họa có phúc. Nếu không nhờ anh ta thì tôi đã không xuống nhà, cũng sẽ không thấy em bị hai gã người Pháp bắt cóc trắng trợn. Cũng nhờ em thuận miệng thêu dệt quy định lính Pháp ở Trung Hoa gì gì đó mà ngay cả tôi cũng không biết, nếu không, tôi cũng không biết sẽ có bao nhiêu phần thắng, bảo vệ em chu toàn khi đối mặt với hai gã lính Pháp.”

“Cám ơn anh.”

“Cám ơn là được rồi, nhưng sao trông sắc mặt khó coi thế?”

“Tôi không biết nữa. Bây giờ chỉ mới sáu giờ tối, rời khỏi nhà cũng chỉ năm phút. Tôi biết đến Thượng Hải có thể sẽ gặp một vài nguy hiểm không lường được, nhưng không chẳng rằng, mới một mình ra khỏi nhà lần đầu đã gặp… Là tôi sơ suất.”

“Coi như bài học, lần sau chú ý là được rồi.”

Ra khỏi thang máy, cô dừng bước, đột nhiên nghĩ đến luật pháp ba nước. Cô còn có Tạ Trạch Ích, có điều luật của viện nghiên cứu Anh bảo vệ. Vậy những người Trung khác thì sao? Bất luận là các quý ông quý bà giàu có trong tô giới, hay những người nông dân sống trong túp lều đơn sơ bên ngoài tô giới, nếu hôm nay người gặp chuyện này không phải cô mà là bọn họ thì sẽ ra sao?

Tạ Trạch Ích dừng bước, thấy vẻ mặt ảo não của cô thì cười bảo, “Đây chính là Thượng Hải. Ban đêm xã hội đen đấu súng bắn nhau, ban ngày người phương Tây diễu võ giương oai, lính ngoại quốc đánh chết người cũng không phải chuyện hệ trọng. Tiền lương của dân nơi khác tuyệt không quá 20 đồng một tháng; mà ở tô giới tấc đất tấc vàng, dù là trong một hành lang chật hẹp, mỗi tháng cũng phải trả 15 đồng tiền thuê phòng. Mà bên ngoài tô giới là Thượng Hải còn rộng lớn hơn thế, ở đó không có điện cũng không có nước, mấy trăm người trong lều lán dùng chung một vòi nước, mỗi tháng cầm được 8 đồng ít ỏi, nếu vào tô giới công cộng không may đắc tội với lính Tây, nhẹ thì bị đánh đập, nặng thì sao? Chỉ sợ sẽ đi tong cái mạng, ném xuống sông Tô Châu sông Hoàng Phổ. Ở đó mới là Trung Quốc hiện nay. Sự phồn thịnh này chỉ tồn tại ở ở rất ít các thành phố có cảng thương mại mở, là một hòn đảo biệt lập phồn thịnh trong hoang tàn.” Anh dừng lại, sau đó hỏi, “Em đã hiểu chưa?”

Cô gật đầu rồi lại lắc đầu.

Thời đại này lẫn thành phố này vừa xa lạ lại vừa quen thuộc. Cô đã đọc tiểu thuyết dân quốc, nam nữ chính đều là thiếu gia tiểu thư nhà giàu, ai ai cũng có xe hơi đưa đón ra vào những nơi phố xá sầm uất, không ai là không ở tô giới công cộng Nhưng những bộ tiểu thuyết ấy chưa bao giờ nói cho cô biết: bên ngoài thế giới bình yên phồn hoa này lại là một thế giới thảm thương đến vậy. Cô đã phòng bị trước, song vẫn không đủ. Và hậu quả của việc không phòng bị kỹ chính là: mới ra ngoài một chuyến, chỉ là quãng đường năm phút đi bộ thôi mà thời đại trước mắt đã đánh phủ đầu cô rồi.

Đẩy cửa phòng ra, Tạ Trạch Ích nhận lấy ống tưới nước trong tay cô, đổ nước nóng vừa đun vào đó, nước chảy vào đường ống dẫn nước, băng lập tức tan ra, nước chảy róc rách.

Cô dựa vào cửa phòng tắm, cảm khái gọi, “Anh Tạ.”

“Ừ?”

“Sau này… làm phiền anh vậy.” Ở đời sau, dù cô có gặp chuyện gì cũng chưa bao giờ lệ thuộc vào người ngoài. Cô cho rằng, thừa nhận với người ngoài “tôi cần anh” chứng tỏ năng lực của mình không đủ, là chuyện vô cùng xấu hổ. Nhưng ở thế đạo này, cô rất cần có một người như Tạ Trạch Ích ở bên. Viện nghiên cứu cần cô, cô đang ôm trong mình cả một bảo tàng, không muốn cứ thế biến mất một cách không rõ ràng.

Còn có gì đáng giá hơn hơn so với việc sống tốt, tận mắt chứng kiến đất nước Viễn Đông từ nơi tan hoang trở nên hùng mạnh, nhà nhà yên vui?

Tựa hồ như đang lựa lời, một lúc sau, Tạ Trạch Ích mới nói: “Lúc dì Cát giao em cho tôi, về mặt nào đó mà nói thì coi như em đã lâm nạn rồi. Tuy được bề trên ngầm cho phép, tôi cũng rất mong có thể có tương lai với một cô gái trẻ trung xinh đẹp. Nhưng nếu em đã từ chối tôi, vậy thì tôi sẽ chỉ phụ trách sự an toàn chứ không có quyền can thiệp vào tương lai của em. Cho nên, tôi sẽ không lợi dụng lúc em gặp khó khăn.”

Đường ống nước nóng đã thông, anh vặn vòi nước, cho nước nóng chảy vào bồn tắm sạch sẽ. Khép cửa phòng tắm rồi lui ra, lại dặn dò thêm một câu, “Tắm nước nóng đi, trong phòng bếp có canh nóng đấy. Mãi mà em không về nên tôi đành phải ăn trước. Nhớ khóa trái cửa sổ, ở đây rất an toàn, không cần phải lo. Nghỉ ngơi cho khỏe, sáng mai tôi… Sáng sớm mỗi ngày tôi đều sẽ đến đây.”

Chương 80: Khói bếp (4)

Hai ngày liền không có nổi một giấc ngon lành. Xe điện ngoài cửa sổ chạy ầm ầm, thậm chí tới tiếng gió thổi lá rụng đập vào chấn song cũng khiến cô trở nên thần hồn nát thần tính. Tuy sau nửa đêm đã có thể chìm vào giấc ngủ, song vẫn không được ngủ ngon. Trời vừa hửng sáng là lại nghe thấy bên ngoài có động tĩnh, cô giật mình choàng tỉnh, chưa kịp thay đồ đã đẩy cửa đi ra.

Tạ Trạch Ích vẫn như trước: cứ mỗi sáng là lại đến đây, dọn dẹp bếp núc hay thu dọn mấy thứ đồ lặt vặt cô để lung tung.

Sáng sớm ngày thứ Hai anh xuất hiện rất đúng giờ, lái xe ra đường mua bánh rán nhân thịt cho cô —— cô cũng không biết gọi tên là gì.

Hiếm khi thấy Tạ Trạch Ích mặc quân phục. Bộ quân phục của lính Anh trông còn đen hơn cả âu phục của người bình thường, đen tới nỗi tưởng chừng như có thể trích ra mực. Đó là cái màu đen tối tăm tựa màn đêm buốt giá, và cúc áo sáng bóng lấp lánh trên đó lại trông như chòm sao Sư Tử khuyết ngôi sao Denebola*, càng tôn lên nước da trắng bóc lẫn khí chất uy nghiêm. Anh có vóc dáng như người mẫu, nay mặc quân trang và thắt thêm thắt lưng, sự nghiêm túc đó đã sinh ra khí thế áp đảo.

(*Sao Denebola là ngôi sao sáng thứ hai của chòm Sư Tử.)

“Pierogi* đấy, có hợp khẩu vị không?” Còn chưa kịp khen thì Tạ Trạch Ích đã chỉ vào tên nhãn hiệu trên túi giấy, “Ba chữ này đọc là… Xương Đại Lão, hay Lão Đại Xương?”

(*Pierogi là một loại hoành thánh của vùng Bắc Âu, có vỏ không có men và nhân thịt hay nhân ngọt.)

Cô câm nín. Dạo này các cửa hàng ở Thượng Hải có rất nhiều bảng hiệu được đọc từ trái sang phải, nhưng cũng có không ít bảng hiệu vẫn đọc từ phải qua trái như cũ.

“Là Lão Đại Xương chứ nhỉ?” Cô nghĩ ngợi rồi nói với vẻ cũng không mấy chắc chắn, “Xương Đại Lão thì nghe ngông quá, giống như cửa tiệm do người Quảng Đông mở vậy.”

Tạ Trạch Ích chậm rãi lái xe, trên mặt nở nụ cười “xem ra em cũng không hiểu, vậy thì tôi yên tâm rồi”.

Cũng vì thế mà bánh rán nhân thịt vỏ vàng rụm không dầu mỡ cũng không thể lấp được miệng cô: “Làm tuần cảnh rảnh rỗi thế hả? Anh ở Mỹ học tập xuất sắc tới mức nhận được chìa khóa vàng của Phi Beta Kappa, thế mà quay về tô giới lại có thể rảnh đến độ đi mua đồ ăn sáng đem tới cho tôi, lại còn làm tài xế riêng, đúng là đặt sai chỗ rồi… Chẳng trách ngài Tạ lại giận đến vậy.”

“Nếu không thì làm gì, tôi chỉ có cái mạng rách này là đáng giá vài đồng, bảo tôi bán mình cho người Anh ư? Gặp người Anh ở xứ Cảng rồi mà em vẫn muốn à?”

“Nhưng người anh gặp là người Anh ở nước Anh.”

“Thì có gì khác nhau? Không ít tuần cảnh bây giờ đều là người tôi quen hồi ở Anh, có ai mà không ra vẻ chính nhân quân tử? Đến tô giới bất khả xâm phạm mà vẫn vô cớ đánh phu xe, giở trò tán tỉnh đấy thôi…” Dừng một lúc, anh đổi lời: “Cả Thượng Hải có ba triệu năm trăm bảy mươi ngàn người, mà người phương Tây lại chưa đến một trăm ngàn. Người Anh hả? Còn ít hơn nữa. Vậy thì đương nhiên tuần cảnh phải rảnh rỗi rồi.”

Cô nghe anh nói vậy thì chỉ biết cười khổ. Với tình hình trước mắt, mảnh đất này làm gì có tiền đồ.

Xe rẽ vào đường vượt giới rồi dừng lại, người thanh niên Do Thái sải bước đi đến gõ cửa kính. Cô mỉm cười với người ngoài xe, sau đó quay sang hỏi: “Hôm nay gặp nhau mấy giờ đây?”

Tạ Trạch Ích không do dự nói: “Năm giờ mười lăm phút chiều.”

Cô nghi hoặc. Câu đầu tiên cô hỏi Oppenheimer khi xuống xe là: “Chúng ta tan làm vào lúc mấy giờ?”

“Năm giờ mười lăm phút.”

Rồi sau đó, mấy người lính Anh hạ cấp nhiệt tình đi tới chào hỏi Tạ Trạch Ích. Thấy cảnh ấy, cô cũng không còn ngạc nhiên khi anh nắm rõ thời gian làm việc còn trước cả cô.

Robert nhiều chuyện nói: “Bạn trai cô đẹp trai đấy.”

“Không phải bạn trai.”

“Ồ,” Anh ta nghĩ ngợi, cuối cùng tổng kết một câu: “Là bạn trai tin đồn.”

“…”

Hai người rẽ vào tòa nhà thí nghiệm, dưới tầng ghi bốn ký tự Latinh INFT to tướng. Lúc đi lên cầu thang tới tổ I ở tầng năm, hai người không kìm được xỉ vả tên của dự án này. Có nhiều gương mặt lạ đi lướt qua bọn họ, trong đó có người nói: “Nghe đâu bảo hôm nay có nhân vật quan trọng đến. Các anh đoán xem là ai?”

Người khác bảo: “Tôi nghe nói có thư gửi đến Học viện Vật lý và Hóa học ở Paris, cả Học viện Khoa học Hoàng gia ở Ý nữa.”

“Không phải còn có Copenhagen nữa à?”

“Ôi không! Tôi nghe nói Bohr là một nhà toán học hoang tưởng không biết chơi bóng đá! Tôi hy vọng sẽ là Aeron với vợ, xin đừng là Bohr!”

Anh ta vừa dứt lời, thì từ sau lưng Sở Vọng và Robert xuất hiện một người đàn ông mặc âu phục, sắc mặt lạnh lùng, mắt to mũi cao. Bộ âu phục càng khiến ông thêm cao ráo, im lặng đi tới trước mọi người, hời hợt nhìn lướt qua những gương mặt lạ hoắc kia.

Trong chớp mắt, cả thế giới chìm vào tĩnh lặng.

Bohr bình thản nói: “Các cậu thuộc tổ nào?”

“Tổ G ạ!” Bọn họ lập tức nịnh nọt.

“Ồ, tổ bộ đếm Geiger*. Nếu các cậu muốn đến tổ I làm tính toán vi phân thì tôi luôn mở cửa chào đón. Có điều hiện tại, tổ I là tổ tinh anh nhất tòa nhà này, và rất rõ ràng, các anh không đủ năng lực —— thậm chí còn thua xa một nhà toán học hoang tưởng.”

(*Bộ đếm Geiger–Müller, hay còn được gọi là Bộ đếm Geiger là một thiết bị rất hữu ích, giúp các nhà khoa học phát hiện ra tia gamma, hạt alpha, hạt beta và các dạng khác của bức xạ ion hóa.)

Tình cảnh này giống hệt ngày cậu bé nhà Gryffindor gặp Snape lần đầu ở Hogwarts, bị giễu cợt công khai vì sự kiêu ngạo tự phụ của mình*.

(*Đây là cảnh Harry Potter bị Snape đánh phủ đầu trong lần đầu gặp mặt. Video cắt từ phimmoi.com: https://vimeo.com/383285012 )

Oppenheimer phì cười. Sở Vọng nhéo anh ta, nhưng vẫn đã muộn.

Bohr quay đầu nhìn hai người: “Tổ nào?”

“I.” Oppenheimer lời ít ý nhiều, “Tôi không ngại thi tính vi phân với ngài đâu, hoặc là đá bóng.”

Sở Vọng cũng không nhịn được bật cười.

Đám người trẻ tuổi sau lưng vội tản đi. Bohr lạnh lùng nhìn hai người trước mặt, “Từng có bài luận văn nào rồi?”

“Nature, tần suất và cường độ của phân tử có quang phổ; Physica, phép gần đúng Born-Oppenheimer.”

“Ồ.” Bohr kéo dài âm đuôi, “Thật đáng tiếc, tôi chưa từng trích dẫn luận văn của cậu.”

Oppenheimer mỉm cười, “Không vội. Tôi hy vọng là ngày đó sẽ đến.”

Bohr xem thường nụ cười kiêu ngạo kia, quay sang hỏi Sở Vọng: “Còn cô?”

“Tên của em không được ghi ạ.”

Oppenheimer bổ sung, “Luận văn cô ấy viết năm nay rất có thể sẽ đạt giải thưởng Nobel lần thứ 20.”

“Linzy.” Ông khẽ cười, “Tác giả thứ ba.”

“Không phân địa vị.”

Sau khi so chiêu ba hiệp, Bohr miễn cưỡng bỏ qua cho hai người, “Lên lầu làm quen trước đi rồi bắt đầu làm việc.”

Văn phòng của tổ I nằm ở tầng năm. Ba lớp chống trộm cộng thêm nhiều lớp cách âm giữa vách tường dày. Trong phòng thí nghiệm, ngoài ba chiếc máy tính cầm tay và hai chiếc máy nhiễu sóng ra thì chỉ có tài liệu và giấy tính.

Tổ I tổng cộng có mười người. Trong đó có năm tiến sĩ toán học, bốn tiến sĩ vật lý, chỉ có mình cô là sinh viên chưa có văn bằng. Cô không biết quá nhiều về các nhà toán học nổi tiếng trong lịch sử cận đại, nên quét mắt nhìn quanh cũng không thấy ai quen. Mà trong số các nhà vật lý có một người rất thanh tú, lúc cười khóe môi cũng cong lên, nhìn rất hiền từ, khiến cô không kìm được nhìn thêm mấy lần.

Khép cửa lại, Bohr đi thẳng vào chủ đề: “Ignite là gì?”

Bên dưới có người trả lời: “Boom!”

Mọi người phá lên cười. Bohr vẫn sầm mặt nói: “Cho nên, ở nơi này, dù là nhà vật lý hay nhà toán học thì trong tương lai, tất cả chúng ta chỉ dừng lại ở giai đoạn suy nghĩ và tính toán. Vì đây là thành phố, chúng ta có sân bãi, chính là sân đá bóng ở bên dưới mà mọi người thấy đấy —— chắc chắn rằng trong lần thí nghiệm đầu tiên phải cẩn thận hết sức có thể, tránh dẫn đến những cái nhìn không cần thiết.”

Nhà vật lý hiền từ kia nói: “Nhưng lý thuyết và thực hành luôn có sai số rất lớn. Dù chúng ta có tính chuẩn tới mấy thì vẫn sẽ có sai lệch.”

“Vậy thì hạ trị số sai lệch xuống.” Bohr nói như đinh đóng cột, rồi phát tài liệu từ viện nghiên cứu đại học Hương Cảng cho mọi người.

Trong bốn nhà vật lý thì ngoài Bohr và Sở Vọng ra, những người còn lại đều không biết gì. Chiều hôm ấy, cô nhàm chán ngáp lên ngáp xuống trong tiếng la hét của các nhà vật lý, tiếng bấm bàn phím và ghi sột soạt ra nháp của các nhà toán học.
Thời gian một buổi chiều không đủ để mọi người thông qua câu “boom” kia, từ phương thức bom phát nổ mà động não nghĩ đến vấn đề ngăn các nơtron thoát ra lúc phân hạch. Chỉ có anh chàng đẹp trai kia là vẽ vời gì đấy trong lúc tính toán —— bộ lọc cà phê dạng pít-tông. Vì thế mà khi nộp báo cáo kết quả công việc ngày hôm nay, anh ta đã bị Bohr trách mắng ngay trước mặt mọi người: “Tôi ngờ là Từ mời nhầm họa sĩ đến đấy. Nếu ngày mai cậu không chịu làm việc gấp đôi cho tôi thì không cần đến đây nữa.”

Sở Vọng rất sợ điều đó sẽ khiến anh ta từ bỏ nghĩ cách tìm ra kích nổ dạng súng, thế là hốt hoảng đi tới trấn an: “Tôi hiểu suy nghĩ của anh mà: Trong trạng thái áp lực cao thì mật độ sẽ tăng lên rất nhanh. Có đúng vậy không?”

Oppenheimer nhìn cả vào mắt, “Cô không cần phải an ủi anh ta. Giáo sư Fermi là đàn anh của tôi, tự anh ta hiểu rõ hơn bất cứ ai. Chẳng qua anh ta không thích Bohr mà thôi.”

Sở Vọng biến sắc, “Giáo sư gì cơ?”

Giáo sư hiền từ thân thiện bắt tay với cô, “Enrico Fermi. Lâm Trí, tôi đã đọc qua luận văn của em.”

Sở Vọng lại suýt nữa không kìm nén được tâm trạng mừng hớn, cầm tay anh ta lắc lên lắc xuống không buông, “Chỉ là tác giả thứ ba mà thôi. Viện sĩ Fermi! Ngưỡng mộ đại danh của anh đã lâu! Nghe nói thí nghiệm của anh toàn là hạng nhất, quả đúng là lợi hại!”

Oppenheimer đứng cạnh nhìn bàn tay háo sắc của cô: “Đối tượng tin đồn thứ tư.”

Fermi vẫn thân thiện mỉm cười, nhưng e rằng đã bị nhiệt tình của cô gái phương Đông này dọa sợ.

Cô lo trạng thái fan cuồng của mình sẽ ảnh hưởng đến hình tượng vốn đã không tốt đẹp của quốc gia, thế là vội vã kìm nén cánh tay kỳ lân của mình.

Ba người họ là ba người rời khỏi phòng thí nghiệm muộn nhất. Lúc xuống đến tầng hai, một cô gái xinh đẹp mặc sườn xám màu trắng đẩy cửa bước ra, bên trong có hơn mười cô gái ngồi trước thiết bị vô tuyến giám sát, đeo tai nghe tiến hành công việc giám sát.

“Bọn họ đang nghe ai vậy?” Cô tò mò hỏi.

“Ai mà biết? Nhất định có chúng ta đang giữ chương trình bí mật.” Oppenheimer bĩu môi.

“Mọi lúc mọi nơi?” Fermi hỏi.

“Mọi lúc mọi nơi. Dù không bao trùm toàn không gian nhưng lại bao trùm tâm lý toàn diện.” Oppenheimer nói.

Cô cười bảo: “Vậy em đoán, vừa nãy bọn họ cố ý mở cửa cho chúng ta nhìn là vì để dọa chúng ta.”

“Tôi cho rằng việc đó thật sự quá ngu ngốc. Không được phép mang bất cứ tài liệu nào rời khỏi phòng thí nghiệm, vậy cái đầu này thì sao? Nghe thì nghe, chẳng lẽ tôi không biết dùng bút viết?” Oppenheimer nói.

Anh ta vừa dứt lời thì từ đằng sau xuất hiện một người lính đội mũ đen áo đen. Người lính mặc đồ đen dễ dàng trở ngược đè Oppenheimer xuống đất. Mọi người xung quanh kêu lên đầy sợ hãi, lập tức giải tán.

Oppenheimer như đã biết có người đi theo, lập tức la lớn: “Dĩ nhiên tôi biết còn có người theo dõi, tôi không phải là đồ ngốc ——”

Người lính kia chẳng hề nể nang, đè đầu gối lên lưng anh.

Oppenheimer bị đè nằm trên đất, la oai oái: “Lần sau tôi không nói lung tung nữa, tôi thề.”

Cuối cùng người áo đen cũng buông anh ta, chỉ hai ba bước đã lẩn vào đám đông biến mất.

Sở Vọng giật mình. Thì ra ngoài việc nghe giám sát dự án theo thời gian thực, còn có cả người giám sát đối tượng theo thời gian thực.

Fermi vỗ vai anh, thuật lại nguyên văn câu nói của Bohr: “ ‘chắc chắn rằng trong lần thí nghiệm đầu tiên phải cẩn thận hết sức có thể, tránh dẫn đến những cái nhìn không cần thiết’.”

***

Tuần đầu tiên ở viện nghiên cứu chỉ có việc ngồi xem và tham gia vào cuộc cãi nhau của hai đại lão bom nguyên tử của thế hệ sau. Trong một tuần đó, thành quả duy nhất của tổ I là: Đưa ra khái niệm hạt nhân uranium mật độ cao mang tính tức thời thông qua sự thoát nơtron.

Tuy tiến triển chỉ đi từng bước nhỏ, nhưng lại là một bước dài trong lịch sử nhân loại.

Cô vô cùng thỏa mãn.

Sáng sớm mỗi ngày Tạ Trạch Ích đều lái xe chở cô đến viện nghiên cứu, đến năm giờ mười lăm phút lại đón cô về nhà ăn tối hoặc ăn tối rồi về nhà, chưa bao giờ trễ dù chỉ một lần. Mới đầu Tạ Trạch Ích còn hỏi khẩu vị của cô; nhưng chỉ trong thời gian một tuần, anh gần như đã nhìn rõ thói quen ăn uống sinh hoạt của cô, lần nào đặt bàn gọi món cũng toàn là những món hợp khẩu vị của cô.

Có một lần cô từ chối ăn hải sản. Mới đầu Tạ Trạch Ích tưởng cô bị dị ứng, hoặc đơn giản chỉ là không thích hải sản. Nhưng sau khi phát hiện cô thích trái cây nhiệt đới, không thích nho, lựu và táo, thì trên bàn ăn tối lại xuất hiện cá, tôm và cua —— đã được bóc vỏ hoặc nghiền nát.

Thật ra cô chỉ lười tiêu hao tinh lực về phương diện ăn uống cầu kỳ mà thôi. Tuy thích ăn, nhưng cô chưa bao giờ làm phiền người khác, cũng không muốn phí thời gian sức lực ra tay, cho nên đã tự động quy chúng thành đồ không thích ăn. Nhưng nếu trước mặt có táo đã gọt, nho đã lột vỏ, tôm đã bóc vỏ, cua đã tách thịt, thì cô vẫn rất thích thú tận hưởng chú —— chuyện cũng vậy mà cũng sống cũng thế. Cô chưa bao giờ để ý đến đặc điểm này của mình, nhưng chỉ trong một tuần lại bị Tạ Trạch Ích nhìn thấu.

Tuy không có người hầu giúp việc cùng các đầu bếp trứ danh ở biệt thự bà Cát, chất lượng cuộc sống ở đường Ferguson vẫn không hề kém chút nào. Cô rất nghi ngờ: có lẽ con người Tạ Trạch Ích từ nhỏ đến lớn chưa từng thiếu thốn thứ gì. Nhưng nay mọi thứ đã bị huân tước Tạ triệt tiêu, vậy mà một tay anh vẫn đảm đương nhiều việc: tài xế đưa đón đúng giờ, người giúp việc sạch sẽ, đầu bếp nấu ăn ngon đều là anh. Mà cậu ấm ưu nhã cầu kỳ kia vẫn là Tạ đại thiếu gia anh.

Đột nhiên rơi vào cảnh sa sút không có gì, cô từng đinh ninh hẳn cuộc sống của anh phải tệ lắm, cũng vì áy náy và đồng cảm với anh nên mới mời anh vào ở đường Ferguson. Nhưng sau đó cô lại đột nhiên phát hiện, con người này vẫn sống như một quý tộc, không hề có vẻ nghèo nàn. Cô từng hỏi thăm, anh rất sảng khoái tiết lộ: “Lương của tuần cảnh ở cục là ba trăm đồng một tháng, mà tôi có thể lấy nhiều hơn họ.”

Cô xấu hổ toát cả mồ hôi. Tuy sống trên cùng một mảnh đất, nhưng tiêu chuẩn tiền lương theo bảng Anh và theo đồng bạc vẫn quá khác biệt.

Anh là người mang đến cảm giác tồn tại rất mạnh, có anh ở đây thì chẳng lo thiếu chuyện tán gẫu. Bao giờ cũng vui vẻ trò chuyện, đến lúc chuyện trò xong thì bạn lại chẳng nhớ đã nói những gì; những lúc cần biến mất thì đến và đi như một cơn gió, không hề nán lại dù chỉ một giây, thậm chí khiến bạn phải nghi ngờ không biết người này có từng đến đây không.
Chăm sóc cô chu toàn như thể đấy là chuyện quan trọng nhất của anh. Mà anh lại cực kỳ chu đáo, khiến người ta có cảm giác như anh thật sự một lòng một dạ theo đuổi cô, thậm chí ngoài đương sự ra thì chẳng ai nhận ra sơ hở.

Cô có thể cảm nhận được Tạ Trạch Ích có hảo cảm với cô. Ở cái chốn này, bất cứ người đàn ông nào gặp một người phụ nữ có sắc đẹp lại ở độ tuổi thích hợp, thì cũng sẽ có sự hảo cảm như anh dành cho cô mà thôi. Dẫu sao điều kiện tiên quyết để cánh đàn ông yêu từ cái nhìn đầu tiên là đối phương phải đẹp, chấm hết. “Chẳng có gì phải ngại ngùng cả, nếu ngại ngùng thì âu cũng do cả hai đều quá đẹp”, nhưng chút ngại ngùng ấy không đủ để hai người nảy sinh ham muốn bước vào sinh hoạt của đối phương.

Với Tạ Trạch Ích, ngoài lý do quá phổ thông là “yểu điệu thục nữ quân tử hảo cầu” ra, thì hành động của anhp phần nhiều xuất phát từ việc giữ chữ tín, anh xem trọng lời bà Cát, coi một lời đáng giá nghìn vàng, nên mới cung cúc đi theo làm tùy tùng, không để cô gặp chút bất trắc, bởi vậy nên rất để tâm, cũng rất cẩn thận.

Cô đã cho anh lựa chọn rồi. Nhưng anh vẫn lựa chọn làm một quý ngài lịch lãm vất vả, thế thì việc gì cô phải áy náy. Hơn nữa, cô cảm thấy quan hệ như hiện tại rất tốt.

Sự có mặt của Tạ Trạch Ích khiến cuộc sống của cô ở đây càng thêm an toàn, nhưng đồng thời cũng có bất an. Cô tự nhận mình giỏi quan sát, vậy mà tới nay những gì cô biết về Tạ Trạch Ích vẫn chỉ dừng ở ngoài mặt: con người anh có bản năng động vật. Có khí chất riêng, biết tiến biết lùi, biết cách giấu mình vào những lúc cần thiết. Khi bạn không hay biết gì thì anh đã sớm nhìn rõ bản tính và tính cách của bạn. Hai phần hứng thú còn lại, anh giữ cho mình từ từ thưởng thức, coi như thú vui tiêu khiển. Anh thuận theo tính bạn, dĩ nhiên cũng làm bạn vui vẻ.

Hoặc nên nói là anh giấu bản chất thật của mình quá kỹ, chỉ cho người ta nhìn thấy tính cách anh biểu hiện ra ngoài, khiến bạn không tài nào đoán được anh. Nhưng bạn cũng không cần phải áy náy, bởi vì anh quá chu đáo tinh tế, không lúc nào là không thể hiện với bạn rằng: em không hiểu tôi cũng không sao, em không cần hiểu tôi.

Cho nên không cần phải phòng bị.

Có lẽ ‘vào đêm nương cánh gió’ là điểm đáng sợ nhất của người này.

Điều đáng ăn mừng là cô không phải con ếch bị đun sôi*.

(*Nước nóng nấu ếch là cách nói ám chỉ mưa dầm thấm đất.)

***

Cuộc sống ở đường Ferguson cứ trôi qua trong yên ắng, tới chiều ngày thứ Sáu thì Chân Chân đến đã mang náo nhiệt đến.

Hôm đó Tạ Trạch Ích định dẫn cô đi ăn gan ngỗng ướp cam ở nhà hàng Hungary, bụng kêu rồn rột đi vào cửa nhà hàng, đâu ngờ đêm hôm qua có hai thế lực đấu đá khiến mặt tiền nhà hàng bị hủy, ăn không nổi. Hai người đổi ý về nhà nấu thịt kho, khi vừa mua đồ xong đến dưới nhà trọ thì vừa hay gặp Chân Chân và Lâm Tử Đồng đang hỏi bảo vệ về cô.

Lâm Tử Đồng ngày càng khôi ngô tự phụ, đi theo sau là Tiết Chân Chân là sườn xám trắng đính lông chồn, vừa trắng vừa đẹp. Còn cô thì mặc áo khoác màu vàng nghệ bên ngoài váy len dài màu xám, đi theo sau Tạ Trạch Ích quân trang màu đen từ đầu đến chân, tay cầm thức ăn. Bốn người bất ngờ mặt đối mặt, Sở Vọng và Tạ Trạch Ích vô cùng bình tĩnh, nhưng hai người đối diện lại giật mình khiếp hãi.

Bốn người im lặng nhìn nhau trong phút chốc, cuối cùng Tạ Trạch Ích lên tiếng trước, “Mọi người cứ trò chuyện đi, tôi lên nấu cơm trước.”

Giơ gà vịt cá trong tay ra cho bọn họ xem, rồi anh xoay người nghênh ngang rời đi, để lại ba người á khẩu không biết nói gì.

“Sao lại đến đây?”

Cô vốn hỏi vì sao Chân Chân lại đến Thượng Hải sớm thế, nhưng Lâm Tử Đồng đã vội vã giải thích với cô lý do mình tới đây: “Em ba à, lần trước từ biệt vướng vào nhiều chuyện quá, với thân phận của anh mà đến Hương Cảng thì phải bị giữ lại kiểm tra rất phiền toái… Mấy hôm trước mới tới thì cô Cát lại nói em đã đến Thượng Hải. Cô ấy không chịu cho anh biết em đang ở đâu, mà em lại không có chỗ ở tại Thượng Hải, nên anh mới nhờ cô Tiết dẫn anh đến đây.”

“Cám ơn.”

“Anh đã đọc tin cha đăng trên báo rồi…”

Chân Chân thấy hai người có vẻ xa lạ xấu hổ thì vội hòa giải: “Trong hai năm qua chính phủ ta làm nhiều chuyện đại sự, trên dưới cả nước có ai không biết? Thêm năm trước trong quân đội giảm biên chế, trung úy Lâm bận rộn nhiều chuyện, về tình âu cũng có thể tha thứ.”

Hai năm trước có cuộc càn quét ở Quốc quân, cắt giảm biên chế 380 ngàn người, ấy thế mà Lâm Tử Đồng vẫn có thể ở lại, thậm chí quân hàm còn tăng cao, e rằng cũng tất bật thật.

Cô không muốn nghe chuyện của Lâm Tử Đồng, chỉ quay sang hỏi Chân Chân: “Chị đấy, sao lại về sớm vậy?”

“Mới thi xong đã chạy tới đây ngay. Diệp thi rớt một môn năm sau thi lại, nếu không phải có trung úy Lâm đây hộ tống dọc đường, thì chưa chắc chị đã có thể gặp em sớm thế này đâu.” Cô nàng vừa nói vừa đi vào nhà, nhìn quanh đánh giá, “Hơi cũ, cũng không sang lắm, may mà còn có thang máy.” Thấy bảo vệ cứ nhìn ba người săm soi, Chân Chân hùng hổ bước tới, quét mắt nhìn bảo vệ một lượt từ đầu tới chân, tới nỗi làm ông ta lúng túng không biết đặt tay vào đâu, thì cô nàng mới tổng kết một câu, “… Bảo vệ ở đây sao nhìn keo kiệt thế, trả bao nhiêu tiền vậy? Đổi đi đổi đi! Không thể phá hủy diện mạo nhà cửa ở đây được.”

Dứt lời, cô nàng lập tức bấm chuông thang máy, vừa nói vừa ngoái đầu hỏi Sở Vọng: “Tầng mấy?”

“Tầng ba.”

Đi vào thang máy, buồng thang máy im ắng chở ba người lên tầng ba. Ra khỏi thang máy, Chân Chân cười hỏi: “Im lặng thế làm gì?”

Sở Vọng mở cửa, Chân Chân nhanh như chớp lẻn vào nhà, câu đầu tiên là: “Thịt kho kìa, thơm quá đi!” Rồi cô nàng rất tự nhiên đi một vòng quanh nhà: “Có cả bơ Devonshire nữa á! Anh Tạ đúng là biết thưởng thức.”

Sở Vọng chỉ vào mình, cười bất đắc dĩ: “Sao chị biết không phải em?”

Chân Chân đẩy cô: “Em biến lẹ đi! Em là ai hả?”

Lâm Tử Đồng vẫn ngại ngùng đứng trước cửa. Không được Sở Vọng cho phép, anh tiến không được mà lùi cũng không xong.

Tạ Trạch Ích vặn nhỏ bếp, vừa rửa tay đi ra thì bắt gặp Tiết Chân Chân.

“Chào cô Tiết, đã lâu không gặp.” Không đợi cô khách sáo hàn huyên, câu tiếp theo của anh đã khiến mọi người ngạc nhiên: “Dưới lầu mới mở cửa tiệm bánh Muffin, mẻ bánh mới ra lò vào 7 giờ kém 15 phút mỗi ngày cứ như thể hồi chuông báo động vang giữa trời. Có muốn đi xem không?”

Chân Chân ngửi mùi trong không khí: “Đâu chỉ mỗi mùi bánh Muffin? Tôi còn ngửi thấy mùi lan trắng nữa.”

Tạ Trạch Ích người cao tay dài, im lặng dẫn cô nàng đi ra ngoài, nhường lại không gian riêng cho hai anh em đang lúng túng.

“Ngồi đi.” Cô ngồi vào bàn ăn, cũng mời Lâm Tử Đồng ngồi xuống đối diện.

“Ba à, gần đây em có xem “Trăng non” và “Ngữ ti” không?” Anh gọi cô không quen, đối mặt với cô cũng hơi lúng túng.

“Anh cả.” Khó có dịp cô có thể thoải mái bộc bạch với anh, “Em làm một bài thơ không ra gì, anh lại nể mặt khen ngợi em. Em không biết thi từ ca phú, nên cũng không đọc tiểu thuyết.”

Nghe cô nhắc lại lần làm thơ, Lâm Tử Đồng chợt mỉm cười: “… Gần đây đang có cuộc thanh trừng quy mô lớn, tuy anh không đến Lưỡng Hồ nhưng lại được phái đi ‘thanh trừng’ Trăng non và Hồ Thích, nên cũng biết được một hai.”

“À… Thế thì cũng không vất vả mấy.”

“Văn nhân hai phái Trăng non và Ngữ ti không hợp nhau, lại không xem trọng Ngôn Tang, nói cậu ta ‘rời cố quốc quá lâu, đã thấm đẫm tiếng Anh thì khó mà sành sõi tiếng mẹ đẻ’.”

“Anh nói chuyện này với em làm gì?”

“Anh nghe nói Ngôn Tang tham gia biểu tình chống Phát xít nên đang gặp nhiều khó khăn ở nước ngoài. Mà hiện tại văn nhân trong nước lại do Trăng non và Ngữ ti cầm đầu, nếu cậu ta về nước, chỉ sợ con đường tương lai khó mà thuận buồm xuôi gió. Năm nay bác Tư càng không được lục thiếu trọng dụng, không có cuộc hôn nhân này, e là em cũng không được lợi…”

Sở Vọng mỉm cười, “Anh đến làm thuyết khách cho Lâm Du đấy hả? Anh đã đọc mẩu tin trên báo thì nên biết rõ, dù ông ta đăng báo với mục đích gì đi chăng nữa, thì đều đã tuyệt đường lùi của em rồi, để cả nước biết cô con gái ba nhà ông vô liêm sỉ đến đâu. Vậy thì em được lợi gì?”

“Anh đến đây không phải là làm thuyết khách của ông ấy. Anh chỉ muốn khuyên em nên suy nghĩ kỹ về hôn sự với nhà họ Tư, chứ không phải xin em tha thứ.”

Nghe thấy anh nói lời bất kính với Lâm Du, đột nhiên cô hỏi, “Anh nói vậy là có ý gì?”

“Mấy hôm trước anh vừa nhận được điện báo, bọn họ sắp đi thuyền về Thượng Hải, ngày 27 tháng 3 sẽ đến.”

“Ừm, nên là?”

“Ông ấy dẫn Chu thị về.”

“Ồ. Một nhà đoàn tụ, cũng tốt còn gì.”

Lâm Tử Đồng cụp mắt, “Dù các em muốn làm gì với người nhà này thì cứ việc tùy. Đó là điều họ nên gánh chịu.” Dừng lại một lúc, anh nói tiếp, “Anh cũng không phải cầu tình cho Doãn Yên.”

Sở Vọng ngạc nhiên.

“Nợ cha, con trả.” Anh nói.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau