GIỜ ĐANG NƠI ĐÂU

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giờ đang nơi đâu - Chương 66 - Chương 70

Chương 66: Người bệnh (10)

Ngày càng có nhiều nghiên cứu sinh xin vào viện nghiên cứu, mà nhiều nhất là sinh viên trong nước và Singapore.

Khi các nghiên cứu sinh lần đầu đến chỗ Lương Chương đăng ký ghi danh, anh luôn hỏi bọn họ một câu vô cùng quen thuộc: “Vì sao anh/chị lại đến chỗ tôi làm nghiên cứu?”

Rất nhiều người hùng hồn trả lời đầy khách sáo: “Đương nhiên là vì “Sự tồn tại của nơtron” rồi! Không ngờ ngoài châu Âu, Nhật Bản và Mỹ ra, ở vùng thuộc địa trong nước ta cũng có một ngôi trường thực thụ để theo học!”

Và cũng có những người khá thành thật: “Vì thuận tiện. Vé tàu đi châu Âu mất hơn 80 đồng, đi Mỹ là 60 đồng, đi Nhật thì hơn 10 đồng, còn đến Hương Cảng chỉ mất 5 đồng. Vật giá ở Hương Cảng cũng thấp hơn Thượng Hải hay Bắc Bình.”

Thậm chí còn không thiếu những cô gái mang lòng hoài xuân: “Tôi đã đọc bài báo phỏng vấn giáo sư Từ ở Nam Khai rồi, ảnh chụp đẹp trai lắm! Người thật càng có khí chất hơn ảnh!”

Nếu đến thì cũng đã đến rồi, cho dù là vì cảm thấy có tiền đồ hay vì tiết kiệm tiền, hay thậm chí là vì “quảng cáo sống” Từ Thiếu Khiêm; tóm lại là muôn hình vạn trạng, Lương Chương thở dài rồi ghi tên hết.

Chandra* từ Ấn Độ đi thuyền tới cảng, từ khi đến viện nghiên cứu báo danh, Lương Chương không có lấy một ngày an nhàn.

(*Từ đây trở đi mình sẽ sử dụng tên tắt của Subrahmanyan Chandrasekhar là Chandra để dễ đọc hơn.)

Hễ rảnh rỗi là anh ta lại túm lấy Lương Chương, thao thao bất tuyệt về các suy nghĩ của mình khi ở trên thuyền.

Anh ta nói tiếng Anh giọng Ấn nghe rất “ma tính”, lải nhải từ sáng sớm đến tận chiều hôm, lời mở đầu toàn là: “Tôi nghe nói trên đời này chỉ có ba người có thể lý giải được thuyết tương đối rộng!”

Sau đó lấy “Có giới hạn về nguyên tắc không tương thích trong thuyết tương đối rộng” làm đề tài, triển khai bài phát biểu logic rõ ràng dài tận hai tiếng đồng hồ.

Bị ma âm tiếng Anh giọng Ấn rót vào tai mấy tuần liền, Lương Chương chỉ có thể bày tỏ vô cùng lấy làm tiếc: “Hiểu biết của tôi về vật lý thiên văn còn hạn chế, không thể giải đáp được nhiều nghi hoặc của cậu, vô cùng xin lỗi! Nhưng giáo sư Từ ở phòng bên lại rất am hiểu về lĩnh vực này, tôi đề nghị cậu nên đi tìm anh ta!”

Sở Vọng ngồi bên chống đầu nhìn Chandra với ánh mắt cổ vũ, thậm chí mấy lần suýt không kìm nén được muốn nói: “Anh nói hay lắm! Nhanh như thế đã thực hiện tính toán trọng lực sao lạnh, đưa ra Giới hạn Chandrasekhar rồi! Giải Nobel tiếp theo chắc chắn sẽ là của anh!”

Viện nghiên cứu ban đầu chỉ có ba người, bây giờ đột nhiên được tiêm thêm nhiều lượng máu mới, nhất thời rối ren suốt một thời gian dài. Gần như mọi chuyện vụn vặt trong viện nghiên cứu tại thời gian này đều do Lương Chương xử lý, còn Từ Thiếu Khiêm lại khóa trái cửa phòng bên cạnh, cũng không biết đang nghiên cứu gì nữa, chỉ biết phần lớn thì giờ anh toàn đóng cửa không gặp người.

Cho tới ngày Lise đến thì mọi chuyện mới miễn cưỡng được xem là đã đâu vào đấy.

Về phần bà Lise Meitner, Lương Chương quyết định dùng lễ nghĩa cao nhất mà viện nghiên cứu hiện có để đi đón người có chức vị giáo sư này: đích thân anh ta ra bến tàu đón người.

Kết quả là ngày hôm đó, anh ta đỏ mặt quay về.

Sở Vọng vui vẻ hỏi: “Ấy?”

Từ Thiếu Khiêm cũng kết thúc sự im lặng kéo dài gần mười tuần, lần đầu tiên phá lệ bước ra khỏi phòng thí nghiệm đi tìm thành viên mới – với trạng thái sắc mặt ảm đạm, râu ria xồm xoàm chưa từng có, doạ mấy nữ sinh hay nói “ảnh chụp đẹp trai lắm! Người thật càng có khí chất hơn ảnh” phải ngậm miệng, cũng dọa Sở Vọng sợ không nhẹ.

Lương Chương nhìn anh ta thở dài, xoay người đi vào phòng thí nghiệm, ném toàn bộ bản nháp tính toán bị vo tròn vào thùng rác.

Lise Meitner dùng phát âm tiếng Anh kiểu Áo chủ động tự giới thiệu với Từ Thiếu Khiêm: “Lise Meitner. Tôi biết anh, Dr. Tusi. Luận án lượng tử của tôi có trích dẫn phỏng đoán  của anh về phương trình sóng.”

Từ Thiếu Khiêm nghĩ ngợi: “Còn tôi đã trích dẫn rất nhiều luận văn của chị và tiến sĩ Hahn, không thể nói hết trong chốc lát được.”

Sở Vọng đứng bên cạnh, nhìn hai người khích lệ đối phương ở mức trình độ học thuật cao, suýt đã không kìm được mà nói xen vào: tôi không trích dẫn luận văn của hai người bởi vì lý thuyết của cả hai đều quá kinh điển, đã được ghi rõ vào sách giáo khoa, trở thành kiến thức chung. Nên khi viết luận văn thì không cần phải đánh dấu nguồn trích dẫn làm gì.

Trong tay Lise Meitner vốn có bốn, năm dự án về nguyên tử, đi cùng là hai nghiên cứu sinh tiến sĩ quốc tịch Đức cùng than gia các dự án trên. Có lẽ hai người họ đang so sánh với đại học Berlin từng làm việc ngày trước, nên không đặt chuyện nghiên cứu khoa học ở đại học Hương Cảng vào mắt. Bởi vậy mà so với người hướng dẫn khiêm tốn của họ, trông họ có vẻ rất kiêu căng ngạo mạn.

Nhưng hai hôm sau, đột nhiên Từ Thiếu Khiêm đưa ra một quyết định: phân ngành.

Hơn nữa còn nói với mọi người là: tuần trước anh đã nộp đơn xin phân ngành rồi, việc nghiên cứu của Viện được chia thành hai hướng: vật lý thiên văn quy mô lớn và vật lý hạt nhân quy mô nhỏ.

Anh chịu trách nhiệm về vật lý thiên văn.

Còn vật lý hạt nhân được toàn quyền giao cho Lise, do Lương Chương giúp đỡ.

Sau đó, hơn hai mươi sinh viên đại lục, Hương Cảng và Singapore bao gồm Chandra theo Từ Thiếu Khiêm nghiên cứu về vật lý thiên văn.

Còn hơn mười người khác thì theo Lise và Lương Chương.

Sở Vọng cũng đã từng hỏi Từ Thiếu Khiêm vì sao lại đột nhiên sắp xếp như vậy. Từ Thiếu Khiêm nói: “Chị ấy có kinh nghiệm và khả năng dẫn đội. Dưới danh tiếng của chị ấy, tôi tin rằng sẽ còn có rất nhiều sinh viên châu Âu chọn tới đội ngũ nơi này. Như thế tôi cũng có thêm nhiều thời gian để suy ngẫm về thuyết tương đối rộng. Mặt khác, xuất phát từ tâm tư cá nhân, tôi hy vọng trong tương lai Lương Chương có thể tự mình đảm đương một lĩnh vực nào đó. Từ những điều trên, đây là một lựa chọn rất có lợi mà tôi có thể đưa ra.”

Ba người hướng dẫn đều có sở trường riêng, trong tương lai xa hẳn không chỉ có mỗi một bài viết là “Sự tồn tại của nơtron”. Sở Vọng thừa nhận, đấy quả thật là lựa chọn tốt nhất với viện nghiên cứu.

Cô cũng có tính toán riêng của mình. Xuất phát từ tư lợi bản thân, cô lựa chọn phòng thí nghiệm của nữ thần và Lương Chương.

Khi biết việc này, Từ Thiếu Khiêm đã cười hỏi: “Tôi có thể hỏi nguyên nhân vì sao không?”

Im lặng một lúc, Sở Vọng đáp: “Vì em thích.”

“Thích? Thật không?”

“Thầy đã hỏi một lần rồi.”

Miễn cưỡng thu lại ánh mắt chăm chú khiến cô đứng ngồi không yên, anh xoay người đi đến phòng thí nghiệm nguyên tử bên cạnh.

***

Gửi anh Ngôn Tang,

Cám ơn bài dịch của anh.

Gần đây may mắn đọc được truyện Thư tình châu Âu của anh đăng trên tờ Diệc Báo, đọc kỹ hai lần. Người như anh Vương trong truyện là kiểu du học sinh tự phong cũng như tự xưng mình là “ nhân vật mới”. Bị ép thành thân trước khi xuất ngoại, cho rằng “vợ của tôi rất thông minh. Văn thơ hội họa không gì không biết, giỏi giang hơn tôi, lại biết được thời thế”, “Nhưng trước sau gì tôi vẫn phải đi, vạn bất đắc dĩ, tôi phải đến Pháp một mình.” Đến Pháp bốn năm, vừa có niềm vui mới là “lập tức viết thư về nói với cha rằng mình muốn ly hôn.” Suy cho cùng, chính “người tình châu Âu” đã một tay tạo nên bi kịch của người khác. Rất nhiều năm sau, đợi đến khi “người tình Trung Quốc” mang theo sắc màu bất hạnh qua đời thì bi kịch trên mới coi như chấm dứt.

Anh Ngôn Tang viết về tình người thường có sự châm biếm hài hước. Sau khi cuốn truyện được xuất bản ở châu Âu, người phương Tây đã đánh giá thế nào? Em thực sự rất muốn biết.

Những lời trên là lời nói nhảm từ một người không biết gì về sáng tác văn nghệ, xin anh đừng cười chê. Có lẽ anh không tin, nhưng em rất nghiêm túc đánh giá và đọc thuộc mỗi một bài thơ anh gửi kèm thư trước. Em rất mong đợi câu chuyện tiếp theo của Thư tình châu Âu.

Chúc anh những điều tốt lành

Sở Vọng 

Ngày 9 tháng 11 năm dân quốc 17.

Viết bức thư đó xong, cô lại viết kèm một phong thư khác, bên trên đề địa chỉ của Ngôn Tang ở Luân Đôn, nhờ bà Cát lấy danh nghĩa của cô gửi đến chỗ của ngài Dupont.

Khoản tiền lương thứ hai cùng với bật lửa hồng ánh kim khắc hoa hồng đã được gửi đến. Cô lấy bật lửa trước, định đợi tháng sau tới sinh nhật bà Cát thì sẽ tặng cho bà.

Lúc không đến trường thì cô sẽ ở trong nhà, cùng bà Cát uống trà vẽ tranh trong phòng khách.

Gần đây bà Cát đột nhiên thích mua nhà ở tô giới Thượng Hải. Bà lười quen rồi nên không có thời gian đến tô giới xem nhà; còn xét từ khía cạnh khác thì bà là một người cực kỳ kén chọn. Gộp đủ nguyên nhân lại khiến cách bà mua nhà vô cùng kỳ quái lại xảo quyệt.

Bà Cát mặc trường bào tơ lụa uống trà chiều, đội khăn che đầu; nâng một tách trà, nghiêng mình ngồi trên ghế sofa. Một người môi giới bất động sản từ Thượng Hải đến tay cầm cuốn tạp chí thiết kế, lật từng trang một cho bà Cát xem.

Nhân viên nọ nói mười câu, bà Cát cùng lắm cũng chỉ nói hai ba câu, nhưng toàn là “quá lệch”, “không có thang máy”, “không có chỗ để đậu xe hơi”, “mấy căn nhà trong ngõ mà cũng đem đến lừa tôi hả?”

Đến khi nhìn hơn mười căn nhà, bà Cát lại than đau đầu. Cô nhân viên ra vẻ áy náy, vâng dạ liên tục: “Bà Cát à, đây đều là những căn được ông chủ Hứa chọn lựa cẩn thận mới dám để tôi đưa đến Hương Cảng để bà xem.”

“Chọn lựa cẩn thận? Cô nói tôi nghe, ông ta đã chọn gì hả?”

Cô nhân viên không dám lên tiếng.

Bà Cát lườm cô ta, nhấp một ngụm trà. Qua một lúc thấy bà đã bớt giận, Sở Vọng lại gần cười nói: “Cô út, hay là để cháu xem hộ cho?”Nhân viên thấy có hy vọng, ánh mắt cứ đảo qua đảo lại giữa bà Cát và Sở Vọng. Bà Cát nể tình cô nên miễn cưỡng đồng ý.

Sở Vọng không cần cô gái kia giới thiệu, tự cầm lấy sách ngồi trong góc xem.

Không thích ở tô giới công cộng, không thích ở trong hẻm, phải có thang máy… Dùng phương pháp loại trừ lược bỏ đi rất nhiều, chốc lát sau chỉ còn lại hai căn nhà phù hợp.

Bà Cát nhận lấy nhìn, thở dài bật cười, “Đại tiểu thư của tôi ơi.”

Sở Vọng kéo sách qua, nghiêng người ngồi xuống cạnh bà: “Cô nghe cháu nói trước đã ạ. Cháu đã lược bỏ những căn nhà không phù hợp với yêu cầu của cô rồi, chỉ còn lại hai căn nhà ở tô giới Pháp. Căn đầu tiên tuy có hơi cũ, nhưng ta có thể tân trang lại. Căn thứ hai, dây điện vách tường đã hỏng, nhưng không phải còn hơn là xây thêm thang máy trong nhà không có thang máy sao?”

Còn với lý do vì sao không chọn tô giới công cộng mà chỉ có thể chọn tô giới Pháp, cô không giải thích rõ với bà Cát, chỉ cười ha ha rồi cho qua.

Bà Cát lắc đầu cười: “Căn thứ nhất nằm quá gần đường ray xe điện, ban đêm xe chạy ầm ầm thì ngủ thế nào hả? Còn căn thứ hai, chỉ có một hành lang với hai gian phòng, ngay cả phòng khách cũng không có, quá chật. Hơn nữa, hai nơi này không có chỗ đậu xe, đi lại không tiện.”

Sở Vọng quên mất bà Cát không thích đi bộ, đi đâu cũng phải có xe đưa đón, thế là cười nói: “Cũng đúng.” 

Khép sách lại tính trả lại cho cô nhân viên, nhưng cô bất chợt nghĩ đến gì đó, đột nhiên hỏi: “Căn nhà thứ hai nằm trên tầng thượng chung cư có thang máy ở tô giới Pháp, có hai phòng ngủ, một phòng tắm phòng bếp và hành lang dài thì khoảng chừng bao nhiêu tiền?”

Nhân viên bất động sản vốn vâng lệnh ông chủ đến Hương Cảng lôi kéo bà Cát, nghĩ nếu có thể bán được hai căn nhà này thì ông chủ sẽ vui vẻ, và cô ta cũng có nhiều hơn mười mấy đồng tiền hoa hồng, nhưng đâu ngờ bà Cát lại là người khó đối phó như thế, đi đi lại lại giữa Thượng Hải Hương Cảng cũng không rẻ, nên cô ta không muốn chuyến đi lần này rơi vào cảnh dã tràng xe cát. Thế là dùng ánh mắt hỏi bà Cát. Nhưng bà Cát không nhìn cô ta, chỉ hỏi Sở Vọng: “Cháu thích căn nhà này à?”

Sở Vọng gật đầu, nghĩ bụng: dù gì ba bốn năm qua cô qua cũng chỉ mới tích cóp đủ chín trăm đồng, thể nào cũng phải chi tiêu trước khi lạm phát bùng nổ mới được. Trong vành đai một tại Thượng Hải là tấc đất tấc vàng, lại cách Bến Thượng Hải chỉ mười phút đi bộ; tránh được cuộc pháo kích trong Chiến tranh Thượng Hải, cũng tránh được sau cuộc giải phóng, rành rành tốt hơn so với việc mua nhà ở Quận 8 Paris, thế thì việc gì lại không mua! 

Bà Cát liếc nhìn cô, nghĩ ngợi một hồi rồi hỏi nhân viên môi giới: “Giá thế nào?”

Người bán báo giá 1000 đồng.

Sở Vọng than chao ôi, không ngờ còn thiếu tận 100 đồng. Bà Cát híp mắt nhìn cô cười, rồi lại hỏi tiếp người kia: “Nếu tính theo giao tình giữa tôi và ông chủ Hứa nhà cô thì căn nhà này giá bao nhiêu?”

Người kia đâu dám đánh giá giao tình giữa bà Cát và ông chủ có giá mấy đồng tiền, nên không dám tùy tiện trả lời.

Bà Cát cười cười, đẩy trả lại cuốn sách cho cô ta, “Cô về Thượng Hải hỏi rõ ông tađi, rồi bảo ông ta gọi điện đến cho tôi.”

Người kia đảo mắt, trong đầu nghĩ: có thể ông chủ Hứa cử cô ta đến Hương Cảng chuyến này không phải là để cô bán nhà, mà là mượn danh nghĩa nhà cửa để kết thân thêm với bà Cát. Về phần giảm giá như thế nào, nếu phải về Thượng Hải hỏi ông chủ thì chắc chắn sẽ bị mắng là làm chuyện không xong. Rồi lại nghĩ, có thể với người bình thường 1000 đồng không phải là con số nhỏ, nhưng nghe nói bà Cát này có rất nhiều đất ở Hương Cảng Thượng Hải, chút tiền ít ỏi của căn nhà này chắc chắn không là gì với bà. Thế là cô ta án theo mức giá đã giảm cho một người khác trước đó, báo giá gấp bảy lần với bà Cát.

Sở Vọng thở hắt: Ít nhất phải rẻ hơn gấp 4 lần! Giá mua nhà bây giờ chém cắt cổ thế cơ á?

Bà Cát thong thả uống trà, còn chẳng thèm nâng mí mắt lên nhìn: “Chút tiền cỏn con ấy, dù tôi có đứa thì chưa chắc ông chủ Hứa nhà cô đã muốn nhận.”

Nói rồi bà gọi chú Henry đến, nhân viên đi theo ông ra ngoài. Một lát sau lại vòng về, cầm hợp đồng mua nhà đưa cho bà Cát. Bà Cát nhướn mày chỉ vào Sở Vọng, nhân viên bèn đưa cho cô.

Cô mở hợp đồng ra, thấy đã có chữ ký, mọi thứ xong xuôi hết cả rồi. Tên đề tên cô, còn tài khoản chi phiếu là của bà Cát.

Sở Vọng cầm bản hợp đồng trên tay, đang định mở miệng thì bà Cát đã nhíu mày nói: “Cũng không phải trong nhà không trả nổi chút tiền đấy, cô út cháu cũng chỉ tốn ít nước bọt là xong, đừng có phân rạch ròi của cô của cháu làm gì, người ta nghe được lại tưởng keo kiệt. Còn mấy đồng lẻ trong túi, cháu cứ giữ đấy mà tiêu vặt.”

Sở Vọng há to miệng, lời đến bên mép đã bị bà Cát chặn lại. Cô mỉm cười vâng một tiếng.

“Cháu chưa bao giờ xin cô thứ gì, được mỗi lần này là mở miệng xin. Thế thì cứ để cô mua cho cháu một căn, làm chỗ nghỉ ngơi nếu có dịp cùng bạn bè đến Thượng Hải. Lúc trước khi Kiều Mã Linh kết hôn, cũng có người nói mấy căn nhà đó là cô tặng. Nên nếu cháu kết hôn, dĩ nhiên của hồi môn không thể ít được.”

Còn lâu lắm cháu mới kết hôn mà! Sở Vọng không nhịn được bật cười. Rồi lại ồ một tiếng, hỏi: “Căn nhà lúc trước thật sự do cô út tặng ạ?”

“Cô tặng? Mơ hay nhỉ!” Bà Cát liếc nhìn căn nhà bên kia, nói: “Hồi con gái chị ta kết hôn, bà dì đây mà không tặng gì thì lại khiến người khác trách cô keo kiệt. Còn nếu tặng, thì bà bác cả của cháu lại cảm thấy dễ dàng lấy được đồ tốt từ cô, cho rằng cô đang lấy lòng chị ta, bỏ qua hiềm khích ngày trước. Còn lâu cô mới nể cái bản mặt kia của chị ta. Vừa hay huân tước Tạ không muốn con trai bảo bối kết hôn qua loa ở Hương Cảng nên đến tìm cô bàn bạc. Sau khi suy ngẫm, cô đã thảo luận với ông ta là: ‘Thật trùng hợp, tôi có một ngôi nhà trên đường Barton. Tôi đã nói rõ ý của anh với cô cháu gái nhà tôi rồi, hỏi con bé có chịu kết hôn với con trai anh không; hay là chịu đoạn tuyệt với con trai anh, lấy căn nhà này, rạng rỡ gả cho người khác tốt hơn.’ Dĩ nhiên Kiều Mã Linh tự có quyết định của mình. Rồi cô mới đề nghị với lão Tạ: ‘Căn nhà kia không lớn, đủ để hai người sống qua ngày ở Hương Cảng, thêm vài người giúp việc nữa là đủ. Tôi giảm giá căn nhà này bốn phần, nếu anh chịu thì mua đi, lấy danh con gái nuôi làm quà kết hôn tặng cho nó. Như thế, anh vừa được tiếng thơm mà nhà họ Kiều cũng không bị mất mặt.’ Chuyện này là vậy đấy. Nói cho cùng thì cô cũng chỉ giảm giá bốn phần, thế mà người khác lại cứ nói cô lấy danh nghĩa hầu tước Tạ tặng cho con bé, thôi thì cô cũng vui.”

Sở Vọng nghe thế thì ngạc nhiên ra mặt. Thì ra còn có thể xử lý như vậy sao?

Cô lại hỏi: “Hồi trước cha của anh Tạ có tìm đến cô để bàn bạc chuyện hôn sự thật ạ?”

Bà Cát hừ lạnh: “Con trai ông ta chơi ở chỗ cô từ nhỏ đến lớn, coi như do một tay cô dạy dỗ. Tính cách thằng oắt đó ra sao cô hiểu rất rõ. Cô thấy cậu ta không tệ, sao có thể để con gái của bà chị cô trúng mánh được? Nếu qua được ải của cô thì chỉ cần cô nói tốt mấy câu trước mặt lão Tạ, kiểu gì hôn sự cũng thành thôi. Nhưng cô cứ không muốn chị ta được hời đấy.”

Sở Vọng không khỏi nhớ lại khung cảnh khi mới đến Hương Cảng, ở trên lầu nghe thấy bà Cát cả vú lấp miệng em giáo huấn bà Kiều.

Huống hồ bà Cát vẫn để Kiều Mã Linh tự lựa chọn: bánh mì hay tình yêu, tự cháu chọn đi.

Chẳng qua là bà không ưa gì bà Kiều xưa nay hay khinh người quá đáng mà thôi. Cũng chính vì vậy nên không muốn tốn nước bọt, xin cả bánh mì lẫn tình yêu cho Kiều Mã Linh.

Cô không khỏi nghĩ đến những người và tình cảm trong chuyện này.
Đương nhiên Tạ lão thái gia biết bà Cát đang bòn rút của mình. Nhưng hai người có giao tình nhiều năm, biết rõ tâm tư của đối phương cùng thủ đoạn hay dùng nên không nổi nóng cũng không buồn bã, trái lại còn rất vui vẻ hợp tác; cháu gái Kiều Mã Linh vốn không có thù oán với bà Cát cầu được ước thấy, dĩ nhiên không kể đến; còn bà Kiều mà bà Cát ghét cay ghét đắng tự cho rằng đã được lợi, thực chất đã bị bà Cát bóp mạnh vào tử huyệt; còn bà Cát ư, đổi lại được cái tiếng thơm rộng lượng với bên ngoài.

Dù quan hệ tình nghĩa có phức tạp đến đâu thì bà Cát vẫn có thể thành thạo ứng xử, để ý đến cảm xúc trên mọi phương diện và đồng thời còn có thể trả thù ngay cả việc nhỏ.

Thì ra người thông minh sẽ làm như vậy. Có nguyên nhân có kết quả, có mưu có kế, mạch lạc rõ ràng.

Cô cảm thán: Thiên đạo luân hồi tốt thật.

Đáng thương cho bạn Tạ trạch Ích, đang yêu đương yên lành lại vô duyên vô cớ làm bia đỡ đạn.

***

Phòng thí nghiệm nguyên tử ngày càng có nhiều dụng cụ mới: máy phát hạt và máy phát lửa quang phổ hoàn toàn mới, thậm chí có thêm buồng sương.

Ngoài máy móc ra, một vài nguyên tố đã được tinh lọc cũng được lặng lẽ vận chuyển đến phòng thí nghiệm, bao gồm Beryllium, Plutonium và một lượng nhỏ Uranium-235 nồng độ cao. 

Đương nhiên Sở Vọng biết phòng thí nghiệm muốn làm gì. Cô im lặng không nói năng gì, im lặng đứng cuối đám đông làm việc của mình: tính toán và ghi chép.

Phòng thí nghiệm bên cạnh cũng có kính viễn vọng mới. Nghe phong thanh trong trường đồn là hình như muốn lập một phòng thiên văn nhỏ trên núi Thái Bình, để tiện sau này có vốn đầy đủ sẽ phát triển thành đài thiên văn.

Lúc này báo chí đại lục bắt đầu trắng trợn nêu ra đủ loại thuyết âm mưu: “Vì sao đại học Hương Cảng lại thành lập phòng thiên văn chỉ sau khi dựng đài quan sát núi Tử Kim mấy tháng?”

Sở Vọng thở dài: chúng tôi ngồi thuyền đến nghiên cứu, các anh có thanh toán lộ phí và vé thuyền không?

Đây chính là một ngày bình thường ở phòng thí nghiệm.

Anh Chandra không dưới một lần gõ cửa tìm Sở Vọng, nét mặt ảo não, tay cầm một đống giấy nháp tính toán, cầu khẩn bằng tiếng Anh giọng Ấn: “Linzy, mau tính lực hấp dẫn và hệ số kéo theo này giùm anh với!”

Còn Lương Chương không dưới một lần vò đầu bứt tai la hét: “Vì sao không có cách nào tạo ra được Uranium nặng thế này! Vì sao toàn là chất lượng kém!”

Trong khi tính toán hệ số kéo nội bộ của ngôi sao cho Chandra, Sở Vọng bình tĩnh đưa ra đề nghị cũng như xúi giục: “Có lẽ anh nên ra ngoài đi dạo với dì Lise thử xem, giải sầu cho khuây khỏa, biết đâu có thể nghĩ ra vì sao.”

Cũng vì vậy nên Lương Chương không dưới một lần đến trước mặt Từ Thiếu Khiêm tố cáo: “Quản học trò của cậu đi! Suốt ngày con bé toàn nghi ngờ quan hệ đồng nghiệp trong sáng giữa tôi và cô Meitner, lại còn muốn gán ghép bọn tôi nữa!”

Sở Vọng cười thầm: tôi chỉ muốn đề nghị hai người ra ngoài đi dạo thôi mà. Vì trước đây, bà Lise Meitner đã nghĩ ra lý thuyết đó trong lúc tản bộ.

Còn chuyện đi dạo có làm tăng tình hữu nghị của hai người hay không thì đó cũng là chuyện tôi không ngăn cản được!

Trong tay Từ Thiếu Khiêm đã có một bản thành cảo luận văn, có điều vẫn đang trong giai đoạn bới lông tìm vết chứng minh. Anh bình tĩnh nghe xong, lại bình tĩnh cười nói: “Vậy kết quả của việc gán ghép thế nào?”

Lương Chương lớn hơn Từ Thiếu Khiêm mấy tuổi*. Nhưng vì chưa lập gia đình và có gương mặt khá non, nên Sở Vọng vẫn chỉ nghĩ anh mới 25, 26 tuổi. Về sau nghe nói Lise Meitner và anh hơn kém nhau không quá 18 tuổi, Sở Vọng mới yên tâm mạnh dạn đề nghị “tản bộ sau khi ăn”, cũng yên tâm mạnh dạn gán ghép hai người.

(*Qin: Xin lỗi các bạn vì các chương trước đã nhầm xưng hô tôi-cậu giữa Từ Thiếu Khiêm và Lương Chương, từ chương này trở đi sẽ thay đổi. Các chương trước mình sẽ sửa dần ở wordpress, mong các bạn thông cảm.)

Tuy bà Lise hơi lớn tuổi, song ở bà vẫn toát lên khí chất quý tộc độc thân, phong thái nhẹ nhàng tao nhã, nói năng có giáo dưỡng và có sức hút của một người phụ nữ trưởng thành. Phòng nghiên cứu không thiếu những cô gái trẻ tuổi, nhiều nhất là vùng duyên hải Đông Nam và Ấn Độ, Singapore, nói chung đều là các thiếu nữ chưa thành thân. Nhưng nếu đem so với bà thì có vẻ không bằng, thiếu vẻ phụ nữ.

Cũng vì vậy mà Lương Chương từng âm thầm đánh giá: “Phụ nữ da trắng đúng là ‘tay ra tay, chân ra chân’, tạng người cũng cao to hơn con gái Trung Quốc.”

Không biết từ khi nào mà câu đó đã lọt đến tai bac Lise. Cứ tưởng bà sẽ tức giận, không ngờ vào ngày nào đó sau khi làm việc xong, bà đi đến trước mặt Lương Chương, nói: “Hay là ra ngoài đi dạo nhé?”

***

Người đời sau khi làm thí nghiệm bắn phá nguyên tố sẽ mặc đồ chống phóng xạ, song người ở phòng thí nghiệm không mặc.

Sở Vọng từng đưa ra lời đề nghị, nhưng đã bị hai nghiên cứu sinh người Đức lấy lý do “các nhà khoa học làm thí nghiệm bắn phá ở phòng thí nghiệm Leiden và Cavendish không câu nệ tiểu tiết như cô” chặn họng.

Vậy là cô không đề nghị thêm nữa.

Gần đây bà Cát thấy rất nhiều cô gái mặc đồ Chiêu Quân —— mặc áo khoác lông trắng bên ngoài sườn xám hoặc áo váy. Đầu mùa Đông có lông cừu ngọc trai hoặc lông cừu tím, lấy lông chồn trắng làm lớp lông giữa, còn lớp lông dày được làm từ lông cáo bạc hoặc cáo đen… Hễ bà Cát thấy đẹp là đều mua cho cô một bộ treo trong tủ quần áo.

Nhưng vì sợ đến phòng thí nghiệm sẽ làm bẩn nên tránh để đau lòng, tới gần lễ Giáng Sinh cô mới có cơ hội mặc thử lần đầu.

Tuy đã bắt đầu vào Đông, mặc quần áo dày hơn, nhưng vùng da lộ ra ngoài vẫn xuất hiện triệu chứng nhiễm phóng xạ thời kỳ đầu, lúc nào cũng trong tình trạng thiếu ngủ. Một hôm nào đó ở nhà nghỉ trưa, đến khi tỉnh giấc thì nghe thấy dưới lầu có tiếng đàn dương cầm cùng với tiếng cười tiếng hát của các cô gái trẻ. Sở Vọng vỗ đầu, quên mất tối thứ sáu phải đến biệt thự nhà họ Kiều.

Nếu mặc đồ không thích hợp từ bên này sang bên đó, bị bà Kiều bắt gặp, thể nào cô út cũng bị bà Kiều chế giễu cho xem. Vậy là cô rửa mặt chải tóc, mặc sườn xám gấm cổ tròn, hoa văn giọt nước tối màu.

Dưới lầu đã bắt đầu sôi nổi ồn ào, tụ năm tụ ba chuyện trò. Lúc cô xuống cầu thang đi ra cửa, tất phải xuyên qua một quãng đường đầy đám đông ồn ào đó, sợ sẽ đụng phải người này người kia. 

Đứng ở đầu cầu thang, Sở Vọng thở hắ ra, đang nghĩ phải làm gì mới có thể không mất thể thống lại không để người ta chú ý mình ra ngoài, bất chợt nhác thấy bên dưới có một người đứng thẳng, mặc âu phục tối màu, đứng trong bóng tối nhìn đám chim thú trong đại sảnh. Dường như để ý thấy có người đi xuống, ngẩng đầu lên nhìn, bốn mắt nhìn nhau, là một ánh mắt cô chưa từng thấy trước kia.

Tạ Trạch Ích dùng ánh mắt ga lăng tán thưởng thục nữ kiểu mới, quan sát Sở Vọng thẳng thừng tới nỗi làm cô mất tự nhiên. Cô tựa vào lan can, cười nói: “Tôi cứ tưởng sẽ không gặp lại anh Tạ ở Hương Cảng nữa.” 

Tạ Trạch Ích cười, “Có lẽ vì có ai đó vô tình nhớ tôi, bảo tôi nhất định phải quay về một chuyến.”

Sở Vọng biết anh ta đang nói đùa nên không để ý nhiều.

Đúng lúc này, chợt có một vị tiên sinh chú ý đến Từ Thiếu Khiêm. Ông ta đi tới cầm ly rượu sâm panh, ngẩng đầu nhìn theo ánh mắt anh, thoáng khựng lại rồi hỏi: “Quý cô đây là…”

Tim Sở Vọng đập thịch, đang không biết phải tự giới thiệu mình với bạn của cô út thế nào thì Tạ Trạch Ích đã tiếp lời trước, tự nhiên cười nói: “Là bạn nhảy tối nay của tôi.”

Người kia gật đầu, vỗ vai Tạ Trạch Ích rồi xoay người rời đi.

Tạ Trạch Ích vươn tay ra với cô, đứng dưới cầu thang ra hiệu cô đi xuống.

Sở Vọng hiểu ý anh, đi xuống cầu thang khoác lấy tay anh. Xoay người lại, hai người sóng vai nhau, một cách tự nhiên đưa cô băng qua đại sảnh đi đến cửa.

Sở Vọng buông tay, thở ra làn khói trắng: “Cám ơn anh Tạ rất nhiều.”

Tạ Trạch Ích đút một tay trong túi áo, đứng trước gương soi, cười nói, “Không cần khách khí.”

Sở Vọng lấy chiếc áo lông cáo trắng treo trên giá mặc vào. Cổ áo trễ xuống, để lộ làn da trắng nõn. Trên cổ có mấy chấm đỏ nho nhỏ, trông như hai nốt ruồi son. Nếu là người khác thì khó mà nhận thấy. Nhưng trời sinh da cô trắng bóc, tựa như một miếng bạch ngọc trơn láng lại xuất hiện mấy chấm đỏ tì vết, song lai càng toát lên vẻ đẹp tì vết khác biệt.

Sở Vọng biết anh đang đứng sau lưng nhìn cổ mình. Cô xoay người lại, ngoái đầu nhìn vào trong gương, lập tức thấy hai chấm đỏ kia.

Cô giơ tay sờ cổ mình, nói, “À, vỡ mao mạch đấy.”

Nói đoạn, Sở Vọng xoay người bước ra khỏi cửa.

Rất nhiều năm sau, có người hỏi Tạ Trạch Ích: “Bình sinh anh có gặp người phụ nữ nào không hiểu phong tình nhất không? Là kiểu như thế nào?”

Khi ấy anh nhớ lại câu nói kia —— “À, vỡ mao mạch đấy.”

Vào mùa đông năm 1928, một cô gái cực kỳ lý trí đã bóp chết chuyện tình ngay từ trong trứng.

Chương 67: Người bệnh (11)

Khi người ở phòng thí nghiệm nguyên tử đang sứt đầu mẻ trán, cảm thấy tiền đồ vô vọng, thì phòng thí nghiệm bên cạnh đã đưa ra tận hai giả thuyết.

Một là thuyết “Duy trì khối lượng của ngôi sao lạnh chống lại lực hấp dẫn của chính nó” của Chandra;

Hai là thuyết “Sao đặc có thể tồn tại” của Từ Thiếu Khiêm.

Khi Từ Thiếu Khiêm đã tiến vào trạng thái sáng tác luận văn, thì từ có thể mô tả anh chỉ còn lại hai chữ “đam mê”. Nhìn một giáo sư trẻ tuổi đẹp trai ngày càng tàn tạ, không chỉ các nữ sinh đau lòng mà đến cả Chandra cũng rất lo lắng.

Vì thế mà không dưới một lần anh ta nói bóng gió với Sở Vọng: “Không phải em cũng biết sửa luận văn à? Hay là để anh phụ em phần tính toán, còn em giúp Prof. Tusi sửa bản thảo đi?”

Sở Vọng ngẩng đầu lên từ đống giấy nháp đầy bàn, nhìn Chandra rồi ngoái đầu nhìn Lương Chương đang vò đầu bứt tai, cô khẽ lắc đầu. Bụng nghĩ: Cùng là người lớn da ngăm mắt to, nhưng anh Chandra đây đã biết phải chăm sóc lãnh đạo, còn anh thì sao hả! Mỹ nhân ở ngay bên cạnh mà trong mắt anh chỉ biết có mỗi khoa học!

Khác biệt giữa người và người thực quá to lớn!

Vào một buổi chiều ngày thứ 6 nào đó, Từ Thiếu Khiêm cầm một xấp giấy nháp trong tay, gõ cửa phòng nghiên cứu nguyên tử, áy náy nói với Sở Vọng: “Em có thể kiểm tra giúp tôi cái này được không? Gần đây vợ tôi bị bệnh nặng, tối nay phải về với cô ấy.”

Sở Vọng gật đầu, bước nhanh đến nhận lấy xấp giấy, “Cho em gửi lời hỏi thăm sức khỏe đến cô ạ.”

Từ Thiếu Khiêm mệt mỏi khoát tay, xoay người đi ra hành lang.

Sở Vọng trải giấy lên bàn. Đọc xong phần tóm tắt, cô không bật cười đầy yên tâm: về mặt nào đó mà nói, Từ Thiếu Khiêm cũng là một thiên tài bị vốn quốc gia giới hạn, bị thời đại kìm hãm.

Cho đến ngày sau khi dụng cụ thiên văn được đưa vào nước, những giả thuyết và luận chứng của anh sẽ nhanh hơn bất cứ người cùng thời đại nào!

Cô kìm nén kích động đọc tiếp, càng đọc càng muốn cười to.

Lương Chương đứng bên ngạc nhiên hỏi: “Có chuyện gì thế? Đọc luận văn mà cũng có thể cười tươi vậy à?”

Anh cũng thò đầu đến xem tiêu đề và nội dung tóm tắt trong bài luận văn. Nhìn một lúc thì bất chợt ơ lên, “Vì sao bài luận văn đầu tiên cậu ta viết lại là sao đặc?”

Sở Vọng nghe thấy anh ta nói thế thì lấy làm lạ, hỏi ngược lại: “Không phải đã chia ngành rồi à? Không phải vật lý thiên văn thì còn gì nữa?”

Lương Chương cau mày trầm ngâm, sau đó nói, “Thời gian trước cậu ta khóa cửa vùi mình trong phòng tính toán. Lúc tôi sửa bản nháp cho cậu ta, tình cờ thấy cậu ta đã gần như đưa ra kết luận về vật lý hạt nhân rồi. Tuy cậu ta vo tròn ném vào thùng rác, nhưng tôi thấy tiếc nên lấy về bỏ vào túi tài liệu rồi.”

Sở Vọng nhướn mày: “Nói về gì?”

Dừng một lúc, Lương Chương ngoắc tay với Sở Vọng, tỏ ý cô theo mình đến văn phòng của Từ Thiếu Khiêm ở bên cạnh.

Từ Thiếu Khiêm luôn là người về muộn nhất. Chiều thứ 6, các thành viên khác trong phòng thí nghiệm lục tục ra về, nay chỉ còn lại mỗi Chandra. Khi Sở Vọng và Lương Chương đến thì anh ta cũng đang dọn dẹp chuẩn bị về.

Ba người mặt đối mặt, Lương Chương đi thẳng đến tủ tài liệu phía sau bàn làm việc của Từ Thiếu Khiêm, lục tìm lấy ra một túi tài liệu.

Sở Vọng: “… Tự tiện tìm đồ của thầy ấy như vậy có ổn không?”

Lương Chương: “Đồ của cậu ta trước giờ đều do tôi sửa soạn, đây cũng là quy định mấy năm nay giữa hai người bọn tôi. Có gì tò mò à?”

Có lẽ Chandra cũng đã biết đến thói quen này của Từ Thiếu Khiêm, nên anh ta cũng không thấy lạ, chỉ ném chiếc ví tiền da bò cho Lương Chương, nói, “Giáo sư để quên ở văn phòng, Dr. Leung trả lại thầy ấy giúp em.”

Lương Chương kích động lôi một tờ giấy nháp nhăn nhúm trong túi tài liệu ra, lật từng tờ từng tờ một trong đống giấy lộn xộn, không chú ý người ngoài nói gì. Sở Vọng cười áy náy với Chandra, Chandra cũng không để bụng, mỉm cười chúc “cuối tuần vui vẻ” rồi khép cửa lại rời đi.

Lương Chương tìm một lúc lâu, cuối cùng cũng lấy ra một trang, vỗ trước mặt Sở Vọng, dõng dạc nói: “Em xem đi!”

Trên tờ giấy nháp đó là một dãy các con số lung tung, cuối tờ giấy đề ba chữ chất lượng kém. Mấy con số được vòng lại, bên cạnh chú thích: chia thành các phần tử nhẹ hơn thay vì tạo ra các phần tử nặng hơn. Vì chất lượng của quá trình phản ứng không được bảo tồn nên luôn cho ra chất lượng kém.

Phía sau những câu này được đánh dấu hỏi. Có một mũi tên bên cạnh, ở cuối mũi tên đánh dấu một ký tự: C.

Đầu Sở Vọng nổ ầm, ngay lập tức cô hiểu đã có chuyện gì xảy ra.

Mấy tháng trước khi khóa cửa nhốt mình trong văn phòng, thì ra Từ Thiếu Khiêm đã nghĩ đến phản ứng phân hạch!

Lương Chương hồ nghi nhìn Sở Vọng, đột nhiên lúc này cánh cửa bị đẩy ra. Lương Chương thấy người đi vào thì chất vấn, “Quên đồ à? Tôi hỏi cậu, vì sao luận văn lại là “Sao đặc” ——”

Anh ta còn chưa nói hết câu thì Từ Thiếu Khiêm đột nhiên nhìn thấy tờ giấy nhăn nhúm trong tay Sở Vọng, mặt lập tức biến sắc, rảo bước đi tới giật lấy tờ giấy nháp, rồi quay đầu nghiêm nghị quát lớn —— “Lương Chương?!”

Sở Vọng vẫn chưa hoàn hồn từ khiếp sợ của một khắc trước, lúc này lại bị Từ Thiếu Khiêm to tiếng làm run bắn người. Cô ngẩng đầu lên, thấy Từ Thiếu Khiêm sắc mặt ảm đạm nhưng biểu cảm vô cùng lạnh lẽo, chất vấn Lương Chương.

Lương Chương không hề sợ hãi, đập mạnh xuống bàn: “Từ Lai! Hôm nay tôi phải hỏi cậu cho ra nhẽ. Cậu đã gần có kết quả rồi đúng không… Một kết quả im lặng hơn mười năm. Nhưng vì sao cậu lại đòi chia ngành, còn bản thân thì theo vật lý thiên văn hả! “Sao đặc” là cái quái gì? Trước giả thuyết này thì nó chẳng là cái cóc khô gì cả! Cậu đã có kết luận từ lâu, nhưng suốt ngày lại lạnh lùng nhìn bọn tôi thất bại về lý thuyết này vô số lần, lần này đến lần khác nghiệm chứng một quan điểm sai lầm. Thú vị lắm hả? Vì sao!”

Đầu Sở Vọng kêu ong ong, còn chưa lấy lại bình tĩnh mà nay bên trái một tiếng tức giận, rồi bên phải là một tràng la mắng. Hai người họ một trái một phải đứng thẳng cạnh cô, khí thế mạnh mẽ như muốn ép cô tan vỡ.

Từ Thiếu Khiêm nhìn anh ta chằm chằm, sau đó bình tĩnh hỏi: “Lương Chương. Nói tôi biết, phương trình tương đương khối lượng-năng lượng là gì?”

Lương Chương khó hiểu, nhưng vẫn cắn răng nói: “Khối lượng vật chất bằng tỷ lệ năng lượng trên bình phương tốc độ ánh sáng*. Cậu hỏi tôi cái đó để làm gì?”

(*Đây là phương trình nổi tiếng E = mc2theo lý thuyết tương đối của Albert Einstein.)

Từ Thiếu Khiêm lắc đầu, nghiêng người cầm lấy quả cầu chân không đặt lên bàn cân.
Cầu chân không đập vào bàn cân kim loại kêu cái *cạch*.

Anh ngoái đầu, lại hỏi: “Tốc độ của neutron nhanh có thể đạt tới một phần tư tốc độ ánh sáng, nếu bây giờ ta bắn vào Urani 235, thì năng lượng mà mỗi nguyên tử nhận được khi bị bắn sẽ được nhân lên theo cấp số mũ trong phản ứng dây chuyền. Vậy hỏi trong vòng hai giây mức năng lượng đạt được là bao nhiêu? Trả lời tôi đi.”

Lương Chương nghe đến đoạn “một phần tư tốc độ ánh sáng” thì rơi vào bối rối. Nhanh chóng nhẩm tính một hồi, rồi anh ta loạng choạng lùi về sau hai bước, suýt đã ngã xuống ghế.

“Là… vũ khí. Nếu cũng có người nghĩ đến chuyện này,” Anh há miệng, ngập ngừng nói, “… Vậy thật sự quá đáng sợ.”

Từ Thiếu Khiêm cười nhạt, năm ngón tay chơi đùa quả cầu chân không rồi ném nó về lại vị trí cũ. Đúng lúc này anh đột nhiên ngoái đầu, điềm tĩnh nhìn Sở Vọng.

Sở Vọng bị ánh nhìn kia làm dựng ngược tóc gáy, hai tai tê rần.

Từ Thiếu Khiêm nói tiếp, “Lương Chương, ra ngoài trước đi.”

Lương Chương sững sờ.

“Tạm thời ra ngoài đã. Tôi có lời muốn nói riêng với Linzy.”

Lương Chương đã bị phản ứng dây chuyền do phương trình khối lượng-năng lượng đem lại dọa không nhẹ. Chính anh ta cũng cần có thời gian tiêu hóa kết luận này, bởi vậy không để ý Từ Thiếu Khiêm có chuyện gì muốn nói riêng với Linzy. Nên khi Từ Thiếu Khiêm yêu cầu, anh suy sụp đứng dậy, đi ra ngoài khép cửa lại.

Văn phòng trong buổi chiều hôm lại rơi vào yên ắng.

Chỉ có năm ngón tay của Từ Thiếu Khiêm là đang gõ nhẹ lên bản giấy nháp trên bàn, cạch, cạch, cạch.

“Em đã biết trước rồi,” Từ Thiếu Khiêm nhìn tờ giấy nháp bị anh vứt đi vào mấy tháng trước, ngẩng đầu nhìn Sở Vọng cười nói, “Phản ứng phân hạch Urani. Em đã biết trước kết quả này sẽ bị dùng vào việc gì, đúng không?”

“Đúng thế.”

“Nhưng em vẫn chọn vật lý hạt nhân chứ không phải vật lý thiên văn. Vì sao?”

Sở Vọng nhìn thẳng anh không chớp mắt, nói, “Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, một đoàn thám hiểm Anh đã quan sát nhật thực ở miền Tây châu Phi, chứng minh “độ lệch của ánh sáng” của Einstein là đúng. Câu chuyện này được gán ý nghĩa to lớn “Anh-Đức giao hảo sau chiến tranh”*, nhưng bản thân nó không phải là nguyên nhân chấm dứt chiến tranh.”

(*Năm 1919, độ lệch của ánh sáng do Einstein (người Đức) tiên đoán được xác nhận bởi chính người Anh đã bác bỏ tiên đoán cổ điển bằng phương pháp của Newton. Điều này trở nên đầy kịch tính vì Anh có mối hận thù với Đức sau Thế chiến I vẫn chưa nguôi, và lại là quê hương của Newton.)

Từ Thiếu Khiêm cười.

“Vậy em dựa vào đâu mà tự tin cho rằng, đất nước đầy rẫy bi ai của chúng ta hôm nay có khả năng đi trước người ngoài về làm nổ và phóng thả?”

“Vì thầy từng hỏi em, ‘một nhà khoa học vật lý thì nên dốc sức vì quốc gia thế nào’.”

“Vì vậy?”

“Thầy nói: ‘Quốc gia đại sự ngày càng tệ hại, chiến loạn liên miên, giáo dục không được phát triển’. Nên em mới đến tìm thầy. Nói với thầy là em chọn vật lý hạt nhân, muốn đọc luận văn của thầy, cũng nêu lên luận điểm và giả thiết của em với thầy.”

“Giáo dục không được phát triển. Dù không dựa vào vật lý hạt nhân thì cũng có rất nhiều ngôi trường khác để em theo học. Tôi cũng có rất nhiều kế hoạch cho việc này, trong tương lai chúng ta sẽ nhanh chóng làm được điều đó thôi, không phải sao?”
“Không kịp.”

“Vì sao lại không kịp?”

“Xuất phát điểm của thầy là —— giáo dục không được phát triển. Nếu như dựa vào giáo dục đi lên từng chút từng chút một, ít nhất cũng cần đến hai mươi năm. Còn xuất phát điểm của em là —— chiến loạn liên miên.” Con tim Sở Vọng đập thình thịch, lòng bàn tay nóng lên, “Chúng ta không kịp nữa rồi.”

“Chiến loạn liên miên.” Từ Thiếu Khiêm trần ngâm, sau đó thấp giọng hỏi, “Là lúc nào?”

Sở Vọng nhắm mắt, mặc niệm nói: “Năm 1931, 1937, 1938, 1939, 1941, 1945, 1950.”(1)

Qua một lúc sau, Từ Thiếu Khiêm lại hỏi, “Ai?”

“Nhật Bản, nước thua trận, Mỹ.”

Từ Thiếu Khiêm cúi đầu suy tư.

Giọng Sở Vọng run rẩy, “Chúng ta không kịp nữa rồi. Dù chúng ta không nói ra, thì mười năm sau kẻ địch cũng sẽ phát hiện… Không, thậm chí là còn sớm hơn thế. Vậy vì sao ta không chuẩn bị từ sớm?”

Từ Thiếu Khiêm cười, “Dựa vào ai? Năm nay sau vụ án Đông Bắc, hai trăm nghìn đại quân đã quy phục chính phủ Nam Kinh, nhún nhường trước Nhật Bản. Dựa vào tài nguyên bọn chúng cho thì chúng ta có thể nghiên cứu được kỹ xảo làm nổ vào phóng thả, xây dựng nên một đất nước quân đội hùng mạnh ư? Không nói đến chuyện đó, giờ tôi hỏi, nếu thật sự tìm ra kỹ xảo kích nổ và phóng thả trước tiên, vậy với dã tâm của đám quyết sách kia, em cho rằng bọn chúng sẽ dùng nó vào việc gì trước?”

“Làm vũ khí, weapon. Về mặt nào đó thì nó có thể ngăn cản mối đe dọa chiến tranh. Nhưng về mặt khác, nó càng có thể là chất xúc tác chiến tranh. Đứng ở một phương diện nào đó thì loài người chúng ta chỉ là một con kiến,” Dừng một lúc rồi anh nói tiếp, “Tôi hiểu tâm trạng của em. ‘Chính trị là nhất thời, còn phương trình là vĩnh cửu’*. Nhưng chuyện này, một khi liên quan đến chính trị thì rất nguy hiểm cho quốc gia, cả tôi và em khó mà kiểm soát được.”

(*Đây là câu nói nổi tiếng của Albert Einstein.)

“Những điều thầy nói em biết chứ, em cũng nghĩ đến rồi, nhưng…”

Cô biết. Hết thảy những điều trên cô đã nghĩ tới, thậm chí lúc xe lửa Đông Bắc bị phát nổ*, có mấy lần cô đã không nhịn được muốn nói ra hết những lý luận này với Từ Thiếu Khiêm. Có điều cuối cùng cô vẫn kìm nén.

(*Tối ngày 3 tháng 6 năm 1928, Trương Tác Lâm lên xe lửa rời Bắc Kinh về Phụng Thiên. Đến sáng sớm hôm sau thì xe lửa bị phát nổ làm Trương trọng thương, về đến được Phụng Thiên thì tử vong. Cái chết của ông đã dẫn đến sự kiện Đông Bắc trở cờ do con trai Trương Học Lương dẫn đầu.)

Cô nhớ đến trong kế hoạch Manhattan, Charlie đã hỏi Frank rằng: “Nếu nó có thể kết thúc được chiến tranh lần này, vậy lần sau thì sao?”

Nhưng…

Làn mi Sở Vọng run nhẹ, môi khô khốc, “Cứ trơ mắt nhìn nó xảy ra thế sao? Biết hàng trăm hàng vạn người vô tội phải chết. Thử đặt mình vào hoàn cảnh của người khác xem. Tới năm 1941, nhiều người chúng ta đã cố gắng nỗ lực nhiều như thế ở tại nơi đây, nhưng cuối cùng mọi thứ lại trôi theo dòng nước.”*

(*Năm 1941, Nhật Bản chiếm đóng Hương Cảng, mở ra chiến tranh Thái Bình Dương trong cuộc Thế chiến lần thứ 2.)

Sau một lúc yên tĩnh.

“Hôm nay người biết đến nó chỉ có tôi, em và Lương Chương, tuyệt đối không thể để người thứ tư biết được lý thuyết này. Nếu đã biết cái giá đó thì chúng ta phải kín miệng. Bắt đầu từ ngày mai, mọi thí nghiệm liên quan đến nguyên tố nặng tạm thời trì hoãn vài tuần.” Từ Thiếu Khiêm đan tay vào nhau, thoáng trầm ngâm rồi sau đó hỏi, “Để canh giữ bí mật này cần bao nhiêu quân lực?”

“Ba ngàn.”

“Sáu ngàn.” Từ Thiếu Khiêm nói tiếp, “Tính toán kích nổ và vận chuyển thì cần bao nhiêu người?”

“Một ngàn người, số người tính toán thì gấp đôi.”

“Ừ.” Anh nghĩ ngợi một lúc, đột nhiên chân mày giãn ra, ngẩng đầu nhìn trên bàn cạnh Sở Vọng, “Đưa cho tôi một tờ giấy viết thư.”

_____

Sở Vọng nhắm mắt, mặc niệm nói: “Năm 1931, 1937, 1938, 1939, 1941, 1945, 1950.”

Các sự kiện theo thứ tự là:

1931: Nhật Bản bắt đầu xâm lược Đông bắc Trung Quốc.

1937: Quân Nhật chiếm Nam Kinh, thảm sát hơn 300.000 người Trung Quốc.

1938: Xảy ra biến cố “Đêm kính vỡ” – sự khởi đầu của làn sóng diệt chủng người Do Thái ở Đức và Áo dưới thời Đức quốc xã của Adolf Hitler.

1939:  Xảy ra chiến tranh thế giới lần thứ 2, thủ phạm gây chiến là Đức, Nhật Bản và Italia.

1941: Nhật Bản chiếm đóng Hương Cảng, mở ra chiến tranh Thái Bình Dương trong cuộc Thế chiến lần thứ 2.

1945: Quả bom hạt nhân thứ nhất là Little Boy được ném xuống Hiroshima (Nhật Bản), quả sau có tên là Fat Man và được ném xuống Nagasaki.

1950: Xảy ra Chiến tranh Triều Tiên, Hoa Kỳ ném bom Bắc Triều Tiên. Vốn là cuộc nội chiến giữa Nam-Bắc Hàn, về sau quy mô cuộc chiến đã trở nên lớn khi có sự can thiệp của lực lượng của Liên hiệp quốc được Hoa Kỳ lãnh đạo và sau đó là Chí nguyện quân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

(Tác giả chú thích sự kiện chính, Qin bổ sung thêm.)

Chương 68: Người bệnh (12)

“Tuy bây giờ có hơi khó khăn, nhưng không phải là không có cách. Trong tình huống bảo đảm ổn thỏa ở mức tối đa, tôi sẽ cố gắng thử xem sao. Nhưng hiện tại, tôi chỉ nghĩ được một người là có thể giữ được bí mật này.”

Từ Thiếu Khiêm nhận lấy giấy viết thư và bút máy, nhanh chóng viết một dòng tiếng Anh, sau đó ngẩng đầu đưa thư cho cô xem.

Hàng tiếng Anh là: “Dear Prof. Rutherford.”

Anh giơ tờ giấy lên, “Người có thể hiểu được sự được mất trong lý luận này, sẽ cân nhắc quyền lợi từ mọi góc nhìn; lại có khả năng đánh động nhiều nhà khoa học đáng tin, cũng có tư cách để thỉnh cầu hoàng gia điều động binh lực, như vậy tôi nghĩ chỉ có một người. Mà phẩm hạnh người này, tôi có thể dùng tính mạng để bảo đảm.”

Cô sửng sốt, hỏi ngược lại: “Rutherford này, chính là…”

“Ernest Rutherford, là ân sư của tôi ở Cambridge.”

Rutherford ở Cambridge chính là Rutherford có học trò khắp thiên hạ, trong số họ có đến gần mười người nhận được giải thưởng Nobel vật lý, ông cũng là trưởng khoa phòng thí nghiệm Cavendish và là hội trưởng hội Hoàng gia Luân Đôn.

Ông chính là cây cổ thụ trong ngành vật lý ở thời đại này. Đồng thời cũng là ân sư của hơn mười cây cổ thụ khác trong ngành vật lý trong 10 năm nữa.

Thì ra Từ Thiếu Khiêm cũng là một trong các học trò của ông.

Thán phục xong, chuyện đầu tiên Sở Vọng nghĩ đến chính là: dù là ai phát hiện ra sự tồn tại của Nơtron, thì trên đời này cũng chỉ có một Rutherford, dẫu sao cũng không thiệt thòi!

Phản ứng thứ hai chính là quay sang hỏi Từ Thiếu Khiêm: “Vì sao em không nghe thấy thầy nhắc đến?”

Từ Thiếu Khiêm ngẩng đầu lên, “Vì em chưa hỏi bao giờ. Chuyện ông ấy là thầy của tôi quan trọng lắm à?”

“Không hẳn…”

Rutherford qua đời vào năm 1937, may mắn tránh được các cuộc chiến tranh, nhưng đồng thời cũng không có cơ hội đáp ứng lời hẹn với rất nhiều học trò về một vùng nước Mỹ chưa ai biết tới và kế hoạch Manhattan.

Không đợi Sở Vọng trả lời, Từ Thiếu Khiêm tiếp tục viết mấy hàng chữ tiếng Anh lên giấy. Viết xong lại đưa cho Sở Vọng.

Sở Vọng cầm lên xem: ngoài chỗ ghi tên người nhận ra, thì dường như tất cả đều là các công thức không liên quan gì tới nhau, chẳng hạn như nguyên lý bất định hay tỉ số bắn phóng xạ.

Công thức kết nối tất cả chính là phương trình khối lượng-năng lượng: E = mc2.

Ngoài công thức ra thì chỉ lác đác vài dòng chữ:

“Chúng em phát hiện được tính nghiêm trọng trong vấn đề này nên viết thư gửi đến Anh, xin thầy tìm cách tăng viện. —— Khẩn cấp đợi thư hồi âm của thầy; Chân thành kính bút, Từ Lai.”

Sở Vọng hồ nghi hỏi: “Những công thức này nhìn như không có liên hệ với nhau, nhưng nếu rơi vào tay nhân viên tình báo, không phải kiểu gì cũng sẽ có người tìm được cách giải sao?”

Từ Thiếu Khiêm nhìn thẳng vào cô như muốn cô tự nhớ lại.

Nhưng một lúc sau, anh chán nản nói đùa, “Trên đời này chỉ có ba người hiểu được thuyết tương đối rộng.”

Dù rằng toàn thế giới không biết rốt cuộc ba người nọ là ai. Và cách nói ấy cũng khá là khoa trương.

Nhưng dù là thế nào đi nữa thì trong vòng hai mươi năm sau khi lý thuyết đó ra đời, có chọn ra một trăm nhà khoa học đứng đầu ngành vật lý trên toàn thế giới, cũng chưa chắc có lấy một người có thể hiểu được thuyết tương đối rộng.

Mà vừa hay Từ Thiếu Khiêm và Rutherford chính là độc nhất vô nhị trong số hàng vạn người kia.

Sở Vọng gật đầu nói phải: kẻ điên khoa học nên tự tin như thế!

Có điều khi Từ Thiếu Khiêm nhắc đến, cái tên Rutherford tựa ánh đèn soi lối. Trong chớp mắt, như thể có một tia sáng nhạt ở cuối con đường mịt mù phía trước.

Sở Vọng chưa hề chứng kiến bậc thầy giới học thuật này lần nào, đời sau truyền tai nhau đều là những truyền kỳ liên quan đến ông và rất nhiều học trò của ông trong lịch sử vật lý thế kỷ 19.

Có câu nhà khoa học là của toàn nhân loại. Cô tin rằng, có thể dạy nên nhiều học sinh ưu tú như Niels Bohr hay Frederick, để Từ Thiếu Khiêm “có thể dùng tính mạng đảm bảo”, Rutherford tuyệt sẽ không vì ham muốn cá nhân hay vì độc quyền quốc gia mà đánh đổi an nguy của hơn mười triệu mạng sống.

Từ Thiếu Khiêm gấp tờ giấy lại, nhét vào trong bì thư rồi viết địa chỉ.Sau đó anh đứng dậy mặc áo khoác vào.

Sở Vọng nhìn theo anh không chớp mắt.

Từ Thiếu Khiêm nhướn mày, nhìn vào mặt cô, “Vẫn chưa yên tâm à?”

“Không phải ạ…”

“Vậy thì?”

Dừng một chút, “Vì sao thầy biết…”

Từ Thiếu Khiêm cười.

“Rất đơn giản. Còn nhớ giả thuyết “phương pháp để đạt đến độ cao cực hạn” không?”

“Có ạ.”

“Ừ. Hồi đầu tôi chỉ hơi nghi ngờ mà thôi. Cách thử kiểm chứng giả thuyết chính là gửi bài luận văn tiếng Anh đến cho em, bảo em dịch sang tiếng Trung. Kết quả của việc kiểm chứng vừa hay xác nhận đúng phỏng đoán của tôi.”

“Vì sao?”

“Tôi phát hiện em tự tạo ra một vài từ mới trong tiếng Trung. Hiện tại có rất nhiều danh từ tiếng Anh chúng tôi vẫn chưa thống nhất cách dịch. Ví dụ như Violin Hypothesis, bình thường mọi người sẽ dịch là phỏng đoán vi-ô-lông, thế nhưng em lại rất quả quyết viết một từ rất thú vị và hoàn toàn mới, chính là: giả thuyết đàn vĩ cầm. Rồi ví dụ như Robert Hutchings Goddard, mọi người hay gọi ông ấy là Rô-bớt Han-chin, nhưng em lại gọi ông ấy bằng tên phiên âm tiếng Trung trông rất chính thức. Ngày nay không có quá nhiều du học sinh về nước biết tiếng Anh, mà người thành thạo tiếng Anh như tiếng Trung lại càng ít. Mọi người thường tự phiên tiếng Anh sang chữ Hán theo sở thích cá nhân một cách tùy tiện. Còn em lại có hệ thống đặt tên rất thống nhất. Đây không phải là điều một người có thể làm được.”

“Chuyện đó… Căn cứ không đủ. Có lẽ em chính là một người có suy nghĩ mới mẻ độc đáo vượt trội thì sao?”

“Ừ. Đúng là chỉ mỗi thế thì không đủ. Nhưng thú vị hơn là những từ em tạo ra. Ví dụ như em thích gọi nước là water resource chứ không phải là water. Từ khi nào mà water trở nên thiếu thốn tới mức để gọi là tài nguyên? Tôi rất muốn đoán xem sao. Kể từ khi Cách mạng công nghiệp phát triển, có rất nhiều nguồn tài nguyên bị sử dụng một cách vô độ.  Trong tương lai không xa, các tài nguyên có than đá kiểu gì cũng sẽ ở bờ vực khan hiếm. Tôi không hay nghiên cứu hóa học, nên cũng không tìm hiểu trong thời kỳ công nghệ quá độ phát triển, nước… tài nguyên nước sẽ đem lại tác dụng phụ gì. Thế mà lại em dùng từ đó như một lẽ hiển nhiên, vừa hay đã kiểm chứng phỏng  về mặt nào đó. Em có rất nhiều sơ hở. Vì vậy mà các bản thảo trước kia để em kiểm tra, tôi đều phải đối chiếu lại một lượt từ đầu tới cuối.”

Chỉ từ những năm 1950 trở đi, chủ đề mối nguy hại đến môi trường mới dần xuất hiện.

Hễ là các nhà khoa học lĩnh vực vật lý hóa học thì chỉ cần thấy từ “water resource”, tất sẽ nghi ngờ.

Mình đúng là khinh suất rồi.Nhưng… Sở Vọng nhướn mày, “Về mặt nào đó?”

“Bằng chứng mạnh nhất cho ‘về mặt nào đó’, chúng ta có thể tóm lại tương tự với “Nơtron có thể tồn tại” hay “Sao đặc có thể tồn tại” , đã cách lúc bỏ đi hai chữ ‘có thể’ gần lắm rồi.”

“Nhưn từ “Nơtron có thể tồn tại” đến “Nơtron có tồn tại” mất những 18 năm.”

Từ Thiếu Khiêm cười nói: “Chính vì bầu nhiệt huyết muốn đóng góp cho đất nước của em mà đã khiến 18 năm đó xảy ra sớm hơn.”

Trầm ngâm một hồi, Sở Vọng hỏi: “Vậy khi thầy hỏi em, ‘một nhà khoa học nên dốc sức vì đất nước như thế nào’, thì về mặt nào đó mà nói, em có thể hiểu là thầy đang giữ em lại không?”

“Dĩ nhiên rồi.”

“Thầy còn nói, ‘nếu gặp được quái nhân khoa học chuyên soi mói thì hãy phòng bị họ như cách ngày trước em phòng bị tôi’, có hải là vì sợ em để lộ sơ hở, một khi bị phát hiện thì rất có thể sẽ bị các nhà vật lý khao khát muốn biết về thuyết tương đối đem lên bàn thí nghiệm không?”

“Bao gồm cả tôi. Lần đầu tiên khi phát hiện ra em, tôi thật sự đã mừng như điên, không cách nào đè nén được. Sau khi biết rõ trình độ học vấn của em của em, dù có là ‘thiên tài’ thì với độ tuổi của em cũng như những điều từng trải, em tuyệt đối không thể đạt đến trình độ đó được. Có đôi khi tôi còn nghi ngờ, đề tài tôi với người khác thảo luận nhiều năm lại được em sử dụng làm ‘tiền đề’ một cách nhẹ nhàng. Ngay từ ban đầu tôi đã muốn tìm hiểu nhiều thêm từ em: tương lai ngành học này sẽ phát triển đến mức nào, nan đề hoang mang nhiều năm sẽ được giải quyết vào năm nào. Nhưng trong quá trình tìm hiểu, tôi lại phát hiện ra điểm đáng sợ trên mình.” Từ Thiếu Khiêm cười cười, “Tôi coi em như một đối tượng nghiên cứu chỉ vì muốn thỏa mãn ham muốn thăm dò của mình với khoa học. Điểm này không phải chỉ mỗi mình tôi, mà tất cả những người như tôi đều có. Cũng chính vì vậy nên tôi thấy rất may khi mình chỉ là một giáo sư vật lý bình thường, chứ không phải một nhà sinh vật học, bác sĩ, bác sĩ thần kinh hay bác sĩ giải phẫu…”

Sở Vọng thở dài, “Hoặc là một nhà quân sự đầy dã tâm.”

“Nên may là tôi đã giữ em lại.” Từ Thiếu Khiêm cười khổ, giơ phong thư trong tay, “Cùng chờ tin tốt nào.”

***

Tuy Rutherford – người có thể mang lại nhiều tài nguyên cho bọn họ là một nhà khoa học cực giàu và cực nổi tiếng, huy động được lực lượng to lớn, phẩm đức ưu tú xuất sắc. Song xét cho cùng, ông cũng chỉ là một nhà khoa học chứ không phải là người quyết định thân ở ngôi cao.

Ông sẽ làm gì để bảo vệ bí mật này, và ông sẽ giúp họ đối phó với nhiều bên trong nước như thế nào?

Lúc này trong đầu nhồi nhét quá nhiều thứ. Cô chậm rãi sắp xếp lại suy nghĩ, ngay đến chuyện bị Từ Thiếu Khiêm phát hiện ra mình là người tương lai cô cũng không để tâm, vô tri vô thức xuống xe ngoài nhà họ Cát.

Tuy hôm nay là thứ 6, nhưng vừa đi đến trước cửa thì Mật Thu nói với cô, tối nay với ngày mai bà Cát không có tiệc, nên cuối tuần này cô có thể ở lại biệt thự.

Vào cửa cởi áo nhung và khăn quàng cổ ra, đang định lên lầu thay đồ, lúc đi ngang qua hành lang thì bất chợt nghe thấy tiếng mạt chược trong phòng cùng với tiếng cười nói quen thuộc ——

Giọng nam trầm dịu dàng là ngài Tưởng, “Hôm nay các quý cô đây may mắn thật đấy.”

Tiếng nữ cười lanh lảnh đầy cởi mở là của Di Nhã, “Nhờ phúc của dì Cát, chỉ một buổi trưa đã thắng bạc đến mức đếm mỏi cả tay, không còn sức nữa rồi. Ván sau thua bài, không bằng chơi gì đó thú vị đi.”

Ngài Tưởng: “Ví dụ? Sau Giáng Sinh sẽ đính hôn, đêm nay ván nào em cũng là người thắng.”

Di Nhã bật cười: “Tốt xấu gì cũng đợi nghỉ xuân xong, chính thức tốt nghiệp đã.”

Một giọng nữ trung giọng khói: “Bây giờ mà kết hôn ngay thì từ hai người chơi nhập thành một người chơi mất rồi. Sao hả?” Dừng lại một lúc rồi bà nói tiếp, “Vợ chồng son hai người ve vãn hơi quá đấy, ông anh nhà cháu đang lận đận tình trường, cũng không biết để ý đến cảm xúc cậu ta.”

Di Nhã lại cười tiếp, “Anh ấy? Mọi chuyện tốt trên đời này đều bị anh ấy chiếm hết, làm gì có chuyện anh ấy gặp lận đận.”

Ngài Tưởng cũng cười, thân thiết hỏi: “Bạn gái lại bỏ nữa à?”

Vang lên theo sau là giọng Quảng Đông không quá tiêu chuẩn, anh thấp giọng cười nói, “Cũng không biết vì sao mà cứ có bạn gái là lại chia tay ngay, từ nhỏ đã vậy rồi. Có thể cả đời này phải ở không thôi. Mọi người vẫn chưa quen à? Tôi thì quen rồi.”

Sở Vọng khựng bước, bất chợt nhớ lại chuyện ngày hôm đó cô út đã nói với cô.

Có lẽ ông Tạ lại ngầm sai người làm chuyện gì đó rồi.

Cầu trời cao phù hộ cho anh.

Chương 69: Người bệnh (13)

*Chương này có nội dung ảnh, nếu bạn không thấy nội dung chương, vui lòng bật chế độ hiện hình ảnh của trình duyệt để đọc.

Bốn người như thể lấy ngày cưới của ngài Tưởng và Di Nhã cùng với quyền trông coi nhà trọ của bà Cát ở tô giới công cộng làm tiền cược. Ván mới vẫn chưa bắt đầu, Tuệ Tế đứng hầu bên ngoài, thấy Sở Vọng về thì mỉm cười gọi tên cô.

Bốn người ngồi trong phòng đồng loạt ngoái đầu nhìn ra.

Bà Cát dựa vào ghế, “Về đúng lúc lắm, Sở Vọng lại đây chơi thay cô một ván đi, cô còn có một cuộc gọi quan trọng.”

Sở Vọng đứng ở cửa cười, “Chỉ sợ cháu sẽ thua sạch tiền cô thắng cả đêm mất.”

Di Nhã cũng lắc đầu, “Đừng dì ơi, cháu sợ cậu ấy rồi.”

Ngài Tưởng ngẩng đầu lên, cười với Sở Vọng: “Để cô Cát đi đi, cô ấy có chuyện quan trọng. Yên tâm đừng buồn, ván sau không đánh bạc.”

Bà Cát nghĩ rồi nói, “Giờ Sở Vọng đã chơi thay tôi, đúng lúc căn nhà ở tô giới Pháp cũng cần sửa sang lại. Vẫn chưa quen chỗ ở, mà người nước ngoài tuần tra ở tô giới lại rất quá đáng, tôi đang lo đây. Trong chung cư ít nhiều cũng mười miệng ăn, vàng thau lẫn lộn, ngày nào cũng mở cửa người ra kẻ vào, thực sự không ổn. Nếu cậu ta thua, thì bao giờ cậu ta về thì phải giúp tôi để mắt đến.”

Tạ Trạch Ích cười nói: “Tôi vẫn chưa thua đâu nhé. Mọi người bắt nạt tôi quá rồi.”

Ngài Tưởng cười nói, “Không lẽ cậu thật sự muốn để phụ nữ thua bài?”

Sở Vọng ngồi đối diện Tạ Trạch Ích. Tạ Trạch Ích nhìn cô, nghiêm túc nói, “Có thể. Đã ngồi vào bàn bài thì không giữ phép nữa, đấy là quy tắc trong đời tôi.”

Anh vừa dứt lời, đến cả Tuệ Tế và Mật Thu cũng không kìm được phì cười.

Bà Cát nói: “Hừ, làm cảnh sát ở tô giới còn chưa được bao lâu mà cũng có quy tắc trong đời nữa à.”

Tạ Trạch Ích cười, “Còn không phải thế sao.”

Tuy ngoài miệng Tạ Trạch Ích nói sẽ không giữ phép tắc, nhưng vẫn âm thầm đưa bài cho cô. Sở Vọng chỉ là tay gà mờ, thế mà lần đầu tiên trong đời lại ăn với phỗng* liên tục —— tất cả đều do Tạ Trạch Ích đưa bài.

(*Trong mạt chược, thuật ngữ “ăn” dùng để chỉ ăn quân bài cùng loại cùng hàng khi đối phương đánh ra, 1 ăn 1. Còn “phỗng” là ăn quân bài do đối phương đánh ra khi trong tay có 2 quân cùng loại. Phỗng luôn luôn được ưu tiên hơn ăn.)

Ngài Tưởng cười trêu: “Cậu đúng là không giữ lại quân nào cho mình.”

Sở Vọng cũng cảm thấy buồn cười: “Làm tuần tra ở tô giới công cộng rảnh vậy sao? Anh mau tìm việc để làm đi.”

Tạ Trạch Ích đánh ra một quân, nói, “Cũng không rảnh lắm.”

Sở Vọng đang định bốc bài thì đột nhiên ngài Tưởng nói: “Có phải cô ba đã được Đại Tam Nguyên* rồi không?”

(*Là ván ù gồm 3 phỗng Trung, Phát, Bạch. Ảnh minh họa.)



Cô nhìn bài, đúng là chỉ còn thiếu mỗi quân do Tạ Trạch Ích đánh ra là được Đại Tam Nguyên.

Cô bốc quân “Phát” lên, cười nói, “Đợi đến lúc về Thượng Hải là anh Tạ hết rảnh rồi.”

Tạ Trạch Ích trưng ra vẻ mặt thản nhiên, “Nhờ phúc của cô ba cả.”

Di Nhã vui vẻ, “Anh Zoe, anh nói đi, có phải vì không làm gì được cha nên hôm nay đến chỗ dì Cát kiếm chác không? Để mắt trông coi nhà trọ của dì ấy chỉ là cái danh, thực chất là để dì Cát cho anh một chỗ ở, để anh có cớ chạy ra ngoài.”

Ngài Tưởng cười nói: “Đến lính tuần Trung Quốc ở tô giới còn có chỗ ăn chỗ ở, vậy mà chính phủ Anh keo kiệt thế hả?”

Tạ Trạch Ích nói, “Cũng không phải. Chỉ là năm đầu phải đi huấn luyện cho hạ binh với sinh viên nên cần ăn chung ở chung, không tiện ra ngoài.”

Ngài Tưởng khó hiểu: “Vì sao cậu Tạ lại muốn đến Thượng Hải như vậy?”

Di Nhã nói: “Cũng không biết anh ấy nổi điên gì mà cãi một trận nảy lửa với cha, cắt hẳn chu cấp. Nếu không nghèo túng đến mức đó thì đâu tới nỗi thất tình.”

Tạ Trạch Ích cười không đáp.

Sở Vọng nhìn anh, đang định lên tiếng thì đúng lúc này bà Cát đã nghe điện thoại xong đi vào, tức giận nói: “… Cái thằng tư thiếu họ Diệp này!”

“Ai chọc tức dì Cát của chúng ta vậy?” Di Nhã ngẩng đầu: “Tư thiếu họ Diệp? Là Diệp Văn Dữ sao?”

Bà Cát tức giận hừ lạnh.

“Là nhà họ Diệp có vườn cao su Triều Sán ở Singapore à? Sao thế, muốn vào thị trường Trung Quốc rồi hả?”

Bà Cát hừ cười: “Bị anh nói trúng rồi.”

Ngài Tưởng ngạc nhiên: “Hai năm trước đến vườn cao su nhà bọn họ, tôi còn thấy trên cửa còn dán câu đối: ‘hoàng ân mênh mông, văn tự chói lòa’. Lúc ấy còn nghĩ, không phải đã vào thời kỳ dân quốc hơn mười năm rồi ư, sao lại còn hoàng ân mênh mông?”

Mọi người cười phá lên.

Bà Cát đang bận tâm đến chuyện khác nên chỉ cười rồi thôi, cau mày đi ra ngoài.

Thấy tâm trạng cô út không được tốt, Sở Vọng cũng đứng ngồi không yên. Xin phép mấy người trên bàn, ba người cũng thông cảm, bảo cô mau đi theo bà Cát.

Thấy Sở Vọng đi ra, bà Cát cũng không giấu giếm tâm sự, hỏi, “Đã lâu lắm rồi con bé Chân Chân không đến đây, rốt cuộc gần đây nó với Diệp Văn Dữ đã có chuyện gì thế?”

“Gần đây cháu cũng bận quá nên không hay sang bên bác cả, cũng không nói chuyện với chị ấy nhiều. Nhà họ Diệp làm sao ạ?”

Bà Cát cau mày rít một hơi thuốc lá, “Nhà họ Diệp muốn chuyển kinh doanh ở bên ngoài đến trong nước, nên gần đây đang tìm quan hệ, muốn để người con thứ tư nhà mình đính hôn với con gái của phó cục trưởng mới nhậm chức ở cục vận tải biển Thượng Hải. Vừa hợp bát tự lại vừa tìm người quen đến cửa làm mai, khó khăn lắm mới thuyết phục được hai nhà. Giáng sinh năm nay trong nhà gọi con trai về Sing, nhưng có vẻ cậu ta nghe được phong thanh gì đó nên không chịu về. Cha nó hỏi thăm thì biết được trước đó nó với bạn hay đến đây, tưởng nó chơi bời ở chỗ cô nên mới gọi điện đến.”

Nói đoạn, bà Cát lại cả giận.

Nhưng Sở Vọng biết không phải bà Cát giận nhà họ Diệp trách tội bà, huống hồ, nhà họ Diệp cũng không đến mức làm ra chuyện ngớ ngẩn như vậy. Nhà họ Diệp gọi điện đến chỉ đơn giản muốn biết cô gái ngáng chân con trai nhà họ là ai, trong nhà làm gì.

Tuy nhà họ Tiết có tiền, nhưng tiền là tiền, cùng với chuyện có thể để nhà họ Diệp thuận lợi trong việc vận tải ngoại thương là hai chuyện khác nhau; nếu Diệp Văn Dữ nói rõ ràng với trong nhà chuyện mình và Chân Chân yêu nhau, chưa chắc nhà họ Diệp và nhà họ Tiết đã thành, lại còn làm tổn hại đến thanh danh của Chân Chân; còn nếu không nói, nhà họ Diệp chắc chắn sẽ bắt Diệp Văn Dữ kết hôn.

Mà chính bà cũng sốt ruột thay đôi trẻ này. Cũng muốn giúp nhưng thứ nhất là không biết hai người họ nghĩ gì, thứ hai là không phải người thân hay bạn bè, cho nên không có quyền để đưa ra quyết định.

Sở Vọng nghĩ ngợi rồi nói, “Cô đừng lo quá. Tới lúc đó tìm một buổi lễ nào đấy nghiêm túc đông người, gọi hai bọn họ tới để người ta tự biết ẩn ý, không phải là tốt rồi?”

Hầu hết các bữa tiệc ở biệt thự nhà họ Cát đều không nằm trong phạm vi “nghiêm túc”, không phải là sân khấu thích hợp để Chân Chân và Diệp Văn Dữ ra sân. Bà Cát nghĩ rồi nói, “Vì Chân Chân mà tính toán cả hôn lễ của con bé, không sợ nó sẽ giận cháu à?”

Sở Vọng nghĩ rồi đáp: “Xét cho cùng, chuyện này ban đầu cũng do Di Nhã cố ý kết hợp, cũng coi như cậu ấy có tội một phần. Tính toán cậu ấy một chút, chắc cũng không đến mức giận đâu nhỉ?”

Bà Cát vui vẻ trở lại, thôi thì cứ tuỳ ông trời vậy.

Quay vào nhà, Sở Vọng bảo Tuệ Tế lấy khăn quàng của bà Cát tới. Dặn dò đâu vào đấy, cô vòng vào hành lang dài, lờ mờ trông thấy một bóng dáng cao gầy đứng giữa hành lang, đang dựa vào cửa hút thuốc. Chắc có lẽ vì cả Sở Vọng và bà Cát đều ra ngoài, Tạ Trạch Ích đang độc thân cũng không muốn ở trong phòng nhìn hai người kia âu yếm tình cảm nên đành ra ngoài này hút thuốc.

Cảm thấy có người đi tới, Tạ Trạch Ích nghiêng đầu, thấy là Sở Vọng thì đưa tay cầm thuốc ra xa.

Sở Vọng bước đến, hỏi, “Cám ơn anh Tạ đã nhường bài.”

“Hử?” Tạ Trạch Ích nghiêng đầu, vờ như không nghe hiểu, còn nói, “Mới chơi bài, vận may cũng khá đấy.”

Sở Vọng cười, “Ván sau ngài Tưởng là nhà cái.”

“Ừ?”

Sở Vọng vẫn cười, “Có lẽ còn phải làm phiền anh Tạ thêm.”

“Ồ,” Lần này Tạ Trạch Ích đã hiểu, “Vậy em định cám ơn tôi thế nào đây?”

Sở Vọng đang nghĩ xem nên cám ơn thế nào thì Tạ Trạch Ích cười cười ném điếu thuốc vào trong thùng rác.

Không đợi cô trả lời, anh xoay người kéo cửa hành lang ra, mời Sở Vọng vào nhà.

***

Ngày hôm đó, Sở Vọng và Tạ Trạch Ích liên thủ với nhau thắng ngài Tưởng ba ván, thành công đẩy lùi ngày đính hôn đến sau Giáng Sinh, vào ngày thứ hai của năm mới. Di Nhã tức giận mắng Sở Vọng và Tạ Trạch Ích cấu kết ăn cây táo rào cây sung, còn ngài Tưởng chỉ trấn an cảm xúc của cô vợ nhỏ, lại cười hứa sẽ tặng món quà lớn cho Sở Vọng và Tạ Trạch Ích.

Vì trước đó ông Tạ đã nhận hàm hiệp sĩ, từ Anh quay về Hương Cảng vô cùng vẻ vang, vì muốn có thể diện hơn nữa nên đã quyên cho giáo hội Cơ Đốc một căn biệt thự có vườn hoa và ruộng đất ở trấn Nguyên Lãng. Ngài Tưởng hỏi thăm được chuyện này, vì muốn để cha vợ đại nhân thêm thể diện nên cố ý cử hành lễ đính hôn của hai người ở trấn Nguyên Lãng.

Vì chuyện với Văn Quân và Leon lần trước nên Sở Vọng cứ luôn áy náy với Tạ Trạch Ích. Nghe bảo tạm thời anh đang túng thiếu đến mức không có chỗ ở, Sở Vọng nghĩ ngợi, sau đó nói với bà Cát: “Nếu chỗ kia đã tu sửa xong rồi thì hay là cho anh Tạ ở tạm đi? Dù gì cháu cũng không đến Thượng Hải, không nỡ cho người khác thuê, mà để không thì cũng uổng. Không phải vì chuyện này nên anh ta mới đến tìm cô sao? Cô cứ lấy danh nghĩa của mình cho anh ta ở tạm, đừng bảo là cháu nói.”

Bà Cát vừa ngạc nhiên vừa thấy buồn cười: “Cháu còn chưa vào ở mà muốn cho người khác ở trước hả?”

Sở Vọng nghiêm túc suy nghĩ, bổ sung một câu: “Bảo anh ta đừng dẫn bạn gái về là được.”

Ngày kết hôn của Di Nhã đã được ấn định, vì vậy mà cứ hai ba hôm là bà Cát lại giục Sở Vọng: “Còn mấy tháng nữa là cháu cũng mười lăm rồi. Cháu định bao giờ để cô uống rượu mừng đây hả?”

Sở Vọng cười cười: “Cô chớ sốt ruột. Huống hồ chuyện này cháu không thể quyết định được.”

Bà Cát nói, “Rốt cuộc bao giờ thì cái cậu Tư kia tốt nghiệp hả, lâu thế rồi mà không thấy tin tức gì, sốt ruột chết đi được. Hay là để cô gửi điện báo đến trường cậu ta hỏi?”

Sở Vọng vui vẻ: “Sao cô không nhờ người đăng tin giục cưới lên báo Thames?”

Bà Cát nhìn cô, “Ý kiến này không tệ, vậy bảo Tuệ Tế đi đăng báo đi.”

Thấy bà Cát định làm thật, Sở Vọng vội kéo bà lại, cười to: “Cô tha cho cháu đi! Anh ấy học hai bằng đấy, cháu cũng phải chờ thi xong chính thức tốt nghiệp đã, bây giờ chưa vội!”

Tuy hai cô cháu nói đùa nhưng Sở Vọng cũng biết, đã lâu rồi mà không có thư từ Anh gửi đến, còn câu chuyện trên Diệc báo vẫn đăng tải đều đều. Thấy ngoài mặt cô không nói nên bà Cát mới muốn kích cô, để xem cô không sốt ruột thật hay chỉ đang làm dáng.

Nói không sốt ruột thì cũng không đúng. Dù một trăm năm sau khi thông tin phát triển, hai người rảnh rỗi muốn liên lạc với nhau thì vẫn chênh lệch thời gian bảy tám tiếng; còn nếu ai cũng bận thì có khi hai ba tháng cũng không nói chuyện với nhau được mấy lần, huống gì là thời đại này.

Chỉ là lâu quá rồi không có tin tức, muốn biết tình hình gần đây thế nào cũng không được, vì vậy mới bận lòng.

Có điều Sở Vọng cũng có rất nhiều chuyện muốn làm, thỉnh thoảng qua tờ Diệc Báo biết được anh vẫn đang hoạt động ở đầu kia trái đất, thế là tốt lắm rồi.
***

Từ Thiếu Khiêm thông báo “trước khi hội trưởng mới đến Hương Cảng, mọi công việc ở phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân tạm thời trì hoãn”, tuy các thành viên khá bất mãn nhưng cũng bận chuyện nhà nên không nói nhiều, mà cũng vì vậy nên đã hai tuần rồi Sở Vọng chưa gặp Từ Thiếu Khiêm.

Trong hai tuần đó, nhà họ Từ cũng không gọi điện tới gọi cô đi dạy.

Sở Vọng vừa nhớ xem Cambridge có thư hồi âm không, vừa nhớ đến chuyện Chân Chân, nghĩ bụng có lẽ thử hỏi chị Từ xem người nhà Diệp Văn Dữ có ý gì không, thế là tìm thời gian gọi điện đến nhà họ Từ.

Tiếp tuyến viên nghe máy, một lúc lâu sau mới nối máy được.

Đầu dây điện thoại im lặng một lúc rất lâu rồi mới có người nghe máy. Là Từ Văn Quân, vẫn là giọng lạnh lùng lời ít ý nhiều như thường: “Tốt nhất đợt này chị đừng đến.”

Giọng của cậu rất nhẹ, nghe lại mơ hồ, như thể dùng tay che ống nghe để nói chuyện. Tuy đã che lại nhưng cô vẫn loáng thoáng nghe được tiếng hét và tiếng rên rỉ của người nữ truyền đến, đi đôi là tiếng khóc sụt sùi nặng nề, nghe mà chấn động.

Tuy âm thanh đã bị bóp méo, song Sở Vọng vẫn nhận ra: là chị Từ.

Cô hít sâu, hỏi, “Cô Từ làm sao thế?”

Từ Văn Quân không đáp.

Cô lại hỏi: “Giáo sư Từ đâu rồi?”

“Nghe điện thoại xong thì ra ngoài rồi,” Cậu dừng lại, “Hôm khác chị hẵng gọi đến.”

Nói rồi, Từ Văn Quân cúp máy.

Điện thoại ngắt kết nối, bên tai Sở Vọng vẫn quanh quẩn tiếng khóc thê lương và tiếng gào thét.

Cô siết ống nghe, tim đập thình thịch.

Đang định nhấc ống nghe lên thì điện thoại lại đổ chuông, con tim cô nhảy lên tận cuống họng.

Cô nghe máy, vẫn là Từ Văn Quân.

Chỉ là vừa rồi cậu còn có thể miễn cưỡng giữ bình tĩnh, nhưng lúc này đã khóc nấc lên vì sợ hãi, giọng đứt quãng run run ——

“… Chị có thể, có thể đến đây một chuyến ngay được không? Thím  nổi điên rồi… Dì Văn, dì Văn với em không trói được thím… Em sợ lắm. Em không biết phải tìm ai cả…”

Sở Vọng thấp giọng an ủi cậu. Cúp máy xong, cô chạy nhanh ra tìm chú Henry, gọi điện bảo tài xế của nhà đến.

Ngồi lên xe, gió thổi vù vù. Trong cuộc gọi thứ hai, tiếng gào thét đã biến thành tiếng mắng chửi, mắng dì Văn, mắng Văn Quân, mắng rất khó nghe, khó nghe tới mức đến người ngoài như Sở Vọng cũng không chịu nổi chứ đừng nói gì đến Văn Quân. Những câu nguyền rủa ác độc lướt qua đầu, khiến cô cảm thấy ngay cả tiếng gió ngoài xe cũng biến thành tiếng đàn bà gào thét.

Có lẽ cơn nghiện đã phát tác.

Cô từng thấy tuyên truyền tránh xa ma tuý trên tạp chí nên cũng thấy con nghiện trông như thế nào —— nhưng chưa bao giờ tận mắt thấy một người nghiện lên cơn bao giờ. Vừa sợ gặp chị Từ, vừa lo không có Từ Thiếu Khiêm ở nhà, Văn Quân và dì Văn không làm gì được chị ấy, sợ chị Từ làm bị thương người khác, trong lòng vô cùng thấp thỏm.

Xe chạy đến đường Liên Hoa, tài xế đã được chú Henry dặn trước, thấy cô vùi mặt vào khuỷu tay thì ân cần hỏi han, “Cô ba có cần tôi giúp gì không?”

Sở Vọng lắc đầu, cố lấy lại bình tĩnh.

Vì đây là chuyện nhà người khác, tuy được Văn Quân nhờ nhưng dẫu gì cô cũng là người ngoài, càng không thể để người khác can thiệp được, chỉ dặn anh ta chờ mình ngoài cửa, nếu thật sự không có cách gì thì sẽ tìm anh ta sau.

Xuống xe nhấn chuông cửa, dì Văn quần áo xộc xệch tóc tai rối bù chạy ra.

Vừa thấy cô thì sốt ruột hô lên: “Sao cô lại đến đây?” Rồi lại khóc thút thít kéo cửa ra cho cô vào, “Cậu chủ đi vắng không về ngay được, vào với cậu Văn Quân cũng tốt.”

Nhà họ Từ là nhà cũ, phòng liền kề nhau, mỗi một căn phòng đều dẫn thẳng ra sân. Dì Văn dẫn Sở Vọng đi băng qua sân đến trước cửa phòng Văn Quân, gõ cửa mời cô vào phòng, đúng lúc này nghe chị Từ mắng dì Văn: “Mười tuổi bà đã làm nô bộc cho nhà tôi! Giờ tôi đập đầu tự tử ở đây, thì bà phải biết sau này đừng hòng sống yên ổn ——”

Văn Quân đứng trong phòng, mặt giàn dụa nước mắt, nhưng vẫn lạnh lùng nhìn chằm chằm cánh cửa kia, giận dữ hét lớn: “Bác sĩ đã nói với thím từ lâu rồi còn gì: nếu giờ thím còn hút nữa thì sẽ chết…”

Lập tức phòng bên gào thét: “… Các người cứ giết tôi đi! Tôi cũng không cần cái mạng này nữa ——”

Chỉ nghe thấy tiếng cửa gỗ đập rầm rầm, không biết là dùng vị trí nào trên cơ thể, dì Văn đau lòng khóc ròng rã. Cách một bức tường, Sở Vọng cẩn thận trấn an: “Cô à, bọn họ không chịu nói, vậy cô có thể nói cho em biết bọn họ giấu thuốc ở đâu không?”

Cô vừa nói vừa nháy mắt với Sở Vọng.

Bên kia dần yên tĩnh. Sở Vọng lại thấp giọng giả vờ nói tiếp: “Cô à, em đang tìm cho cô đây, cô đừng cuống —— đợi em tìm đã.”

Lúc này, ở bên cánh cửa yếu ớt nói: “… Vậy… Em tìm nhanh đi…”

Sở Vọng bảo dì Văn canh giữ cửa, còn mình kéo Văn Quân vào trong góc, nhỏ tiếng hỏi: “Gần đây cô hay thế lắm hả?”

Văn Quân lau nước mắt: “Hồi đầu trong nhà lấy dây trói thím, thím lại vùng vẫy làm tay chân trầy xước máu me be bét, chú đau lòng nên đóng cửa trông nom thím. Có lúc đỡ hơn, nằm yên trên giường đại tiện tiểu tiện, còn tệ thì, giống như bây giờ… Trước khi ăn tối thím vẫn bình thường, chú cho thím uống thuốc, mới nghe điện thoại ra ngoài thì thím lại nổi điên.”

Trong tình huống bình thường, sức mạnh của phái nữ chỉ bằng 30% so với nam giới; nhưng giờ chị Từ lên cơn liều mạng, mà Văn Quân chỉ mới mười tuổi, còn dì Văn lại già rồi.

Trước đó có nghe nói Từ Thiếu Khiêm không thích thuê nhiều người giúp việc; hơn nữa chị Từ vốn không khỏe, mời người ngoài đến lại thành nhiều người lắm miệng. Cho nên chị Từ đến Hương Cảng cũng chỉ dẫn theo một mình dì Văn.

Thế nên trước mắt, trong nhà cũng chỉ có mỗi Từ Thiếu Khiêm là có thể khống chế được chị, nhưng với điều kiện là chị đang ở trạng thái bình thường.

Sở Vọng trầm ngâm, sau đó thấp giọng hỏi: “Trong phòng em có dây thừng không?”

Văn Quân gật đầu, lôi một cuộn dây thừng ở trong ngăn kéo ra.

“Lát nữa chị và dì Văn sẽ giữ tay chân cô Từ, còn em trói cô lại. Chúng ta vừa trông cô, vừa đợi giáo sư về thì cởi trói, em thấy có được không?”

Văn Quân lắc đầu, “Thím điên lên là sức lớn lắm, còn đập phá đồ nữa. Có gì đập nấy: lọ hoa, ghế, kéo… Em với dì Văn mà giữ thím là thím sẽ lấy đồ đập người.”

Sở Vọng suy nghĩ, “Tài xế nhà chị đang ở ngoài, đàn ông sức sẽ lớn hơn. Chị mời anh ta vào, đến lúc đó chị cho anh ta thêm tiền, lại dặn mấy câu, chắc chắn anh ta sẽ không tiết lộ chuyện…”

Sở Vọng còn chưa nói hết câu thì đột nhiên, ở bên kia cánh cửa chị Tưd cao giọng hét lên, “Em không tìm thuốc mà làm gì đấy hả? Tôi nghe thấy hai đứa nói chuyện rồi.”Dì Văn cuống lên: “Hai đứa nó đang tìm ạ!”

Đầu kia im lặng lại, một lúc sau, chị bật cười ha hả khiến tóc gáy Sở Vọng dựng ngược. Cười xong, chị Từ nghiêm nghị quát: “Các người đang lừa tôi! Tôi sắp chết đến nơi rồi, các người cũng đừng hòng chết được tử tế ——”

Cửa lại bị đập mạnh bình bịch, mấy thanh gỗ ghép lại đang dần nứt ra.

Văn Quân sợ hãi, nép vào Sở Vọng run lên bần bật. Dì Văn liên tục thở dài, lẩm bẩm: “Đằng nào cũng chết! Cùng lắm hút thêm lần này nữa!”

Thấy bà run run toan mở cửa, Sở Vọng lao đến chặn dì Văn lại: “Đã cai mấy ngày rồi, giờ dì định hủy hoại hết sao?” Không đợi dì Văn mở miệng, cô đã nói tiếp, “Tài xế nhà cháu đang ở ngoài. Đàn ông sức lớn, nhờ anh ta đến giúp thì nhất định có thể trói cô lại, đợi thầy về.”

“Sao có thể dễ dàng để người ngoài trông thấy bộ dạng đó của cô chủ được…” Dì Văn rưng rưng lắc đầu, nhìn chằm chằm vào cánh cửa sắp nứt.

Nhưng sau đó lại dài, nghiêng đầu đi, cuối cùng vẫn thỏa hiệp với Sở Vọng: “Làm phiền cô gọi cậu ta vào.”

Sở Vọng đẩy cửa chạy ra ngoài. Bên ngoài trời tối đen như mực, đèn xe chói lóa ở ngoài sân càng khiến cô không thấy đường. Đêm qua có mưa nên trên mặt đất toàn bùn lầy trơn trượt. Sở Vọng vừa chạy ra ngoài vừa gọi tên tài xế, đúng lúc va phải một người ở trong sân, suýt nữa đã ngã xuống.

Người kia níu chặt tay cô, không để Sở Vọng ngã.

Cô vẫn không thấy gì, nhưng người kia đã kéo cô lại, khó hiểu hỏi, “Lâm Trí? Sao giờ này em lại đến đây?”

Người kia nhìn cô chằm chằm mấy giây, đột nhiên nhận ra điều gì đấy, vội buông cô ra rảo bước vào nhà. Sở Vọng dụi mặt, chợt nhận ra đó là Từ Thiếu Khiêm, bèn nghiêng đầu theo anh đi vào.

Từ Thiếu Khiêm mở cánh cửa kia ra, chợt một bóng đen lao về phía cửa, nhưng đã bị anh duỗi tay chặn lại ——

Chị Từ đầu tóc rối bù, con ngươi long sòng sọc, quần áo xộc xệch, cắn lên tay anh khiến Từ Thiếu Khiêm phải rên lên, túm lấy tay kia của chị kéo ra. Từ Thiếu Khiêm ngoái đầu nhìn Sở Vọng, mồ hôi trên trán càng sáng lên trong đêm. Anh nghiêng đầu, cắn răng nói: “Vào phòng bên đi, đừng ra ngoài này.”

Sở Vọng đáp vâng, chạy nhanh vào phòng của Văn Quân.

Cánh cửa bên cạnh đóng lại cái sầm, thỉnh thoảng phát ra tiếng khóc ai oán cùng những câu nguyền rủa Từ Thiếu Khiêm đầy đáng sợ.

Từ Thiếu Khiêm vẫn dịu dàng an ủi vợ. Còn chị Từ nôn khan điên cuồng, tiếng khóc cũng dần ngớt.

Phòng bên này im ắng đến mức đáng sợ, Văn Quân ôm tay Sở Vọng run lẩy bẩy, con tim Sở Vọng cũng đập thình thịch, không biết rốt cuộc chị Từ đã đỡ hơn hay là ngất xỉu, hay là tắt thở rồi.

Chỉ chốc lát sau, mùi bài tiết với mùi nôn mửa chua chua hôi thối bay đến. Dạ dày Sở Vọng cuộn trào lên xuống, suýt nữa cũng nôn ọe.

Một lúc trôi qua, phòng bên truyền đến âm thanh nghẹn ngào của chị Từ: “… Em… Em khó chịu lắm, để em chết sớm đi cho rồi…”

Từ Thiếu Khiêm thấp giọng vỗ về: “Chết cái gì chứ? Đừng lo. Không phải bác sĩ đã nói rồi sao? Đợi cai được thuốc rồi bồi dưỡng khoẻ lại, anh sẽ dẫn em ra ngoài đi chơi. Không phải em vẫn muốn đi Mã Lai đấy à?”

Chị Từ sụt sịt, “Em… Sao em có thể nói những lời độc địa như thế, em cũng không biết mình đã nói như vậy bao nhiêu lần rồi…”

“Không sao. Nếu em đã ổn rồi thì xin lỗi Văn Quân và dì Văn là được, bọn họ sẽ không trách em đâu.”

“Em ổn chỗ nào chứ?” Chị Từ nghẹn ngào, “Em ba phần người ba phần quỷ, anh còn giữ em lại làm gì? Nhân lúc còn sớm để em xuôi tay về trời, để em làm cô hồn dã quỷ đi.”

“Là ai ngày trước đã thề thốt với tổ tông: ‘Sinh làm người họ Từ, chết cũng làm ma nhà họ Từ’ hả?”

“Đến mụn con cũng không có, tổ tông họ Từ đâu có nhận em?”

Từ Thiếu Khiêm cười chị, “Thế thì phải chóng khỏe lên, sinh nhiều đứa cho anh.”



Chị Từ đã bình thường trở lại, Sở Vọng cũng yên tâm phần nào. Nhưng vô tình nghe được những lời riêng tư của vợ chồng họ, cô có hơi xấu hổ.

Từ Văn Quân đứng trong góc, thấp giọng cay nghiệt, “Chết sớm không phải tốt sao?!”

Cậu nói lời này chỉ cho Sở Vọng nghe, ngay đến dì Văn cũng không nghe rõ thì phòng bên kia cũng không thể nào nghe được.

Sở Vọng nghiêng đầu tính giáo huấn cậu, song lại thấy cậu cuộn tròn mình, vùi mặt xuống bàn òa khóc.

Cũng chỉ là một đứa trẻ mà thôi. Còn nhỏ mà đã phải chịu nhiều kích thích như thế, Sở Vọng không khỏi nhói lòng.

Sở Vọng im lặng nhìn cậu khóc, đợi đến khi trong nhà đã ổn, cũng không nghe thấy bên cạnh có động tĩnh gì nữa, cô mới dì Văn lát nữa chuyển lời chào của cô đến thầy cô.

Vừa ra khỏi cửa thì thấy có người đang ngồi dưới mái hiên.

Thấy Sở Vọng đi ra, Từ Thiếu Khiêm ngẩng đầu lên, cũng đúng lúc Sở Vọng đang nhìn anh. Chỉ một cái nhìn đã làm cô lập tức giật mình.

Dưới ánh trăng, trên mặt anh lấp lánh, phản chiếu một tầng sáng nhạt.

Từ Thiếu Khiêm đang khóc.

Người đàn ông thường mặc áo sơ mi trắng không vấy bẩn, nay bên trên lại dính đầy vết bẩn và nước ố vàng. Anh ngồi nơi đấy, quần áo thì nhếch nhác, dáng vẻ chán nản suy sụp.

Từ Thiếu Khiêm vẫn cứ ngồi một chỗ, không tránh đi mà chỉ ngỡ ngàng nhìn cô.

Trong ấn tượng của Sở Vọng, Từ Thiếu Khiêm phải là một người tư tưởng nhạy bén sâu sắc, khí chất nho nhã toàn thân sạch sẽ. Nếu là trước kia, Sở Vọng quyết sẽ không tin anh có dính dáng đến mấy chữ như dơ bẩn bốc mùi hay chán nản suy sụp như thế.

Trước ngày hôm nay, nếu có người chạy đến nói với cô rằng: “Từ Thiếu Khiêm đang mặc một bộ đồ bẩn thỉu, dính đầy phân nước tiểu với vật ô uế. Anh ta mặc đồ bẩn ngồi dưới đất khóc.”

Nhất định cô sẽ đá bay người đó.

Nhưng nay chính mắt cô chứng kiến, thế mà vẫn hồ nghi không tin người đang ngồi dưới hiên chính là Từ Thiếu Khiêm.

Cô chưa thấy một Từ Thiếu Khiêm như vậy bao giờ, Sở Vọng ngẩn ngơ chôn chân tại chỗ, con tim rung động, thậm chí không biết nên đi thế nào mới phải.

Lúc đang ngơ ngác đứng giữa sân, không hiểu sao cô bất chợt nhớ đến chuyện chị Từ kể, là chuyện lần đầu tiên chị theo Từ Thiếu Khiêm đi thuyền đến Marseilles, Từ Thiếu Khiêm mười sáu tuổi vì con chết yểu vợ ốm yếu mà đã tuyệt vọng tìm kiếm cứu trợ khắp thuyền, có lẽ anh của lúc đó cũng như hôm nay.

Cô nhớ lại lần đầu mình xuất ngoại, dường như cũng đang ở độ tuổi ấy. Có điều chỉ đi máy bay đường dài mười mấy tiếng mà thôi, vẫn bình an khỏe mạnh, dù tạm thời chia xa người nhà mấy tháng thì vẫn có thể gọi video trò chuyện —— nên cô chỉ khóc từ cửa hải quan lên máy bay, làn mi dính lệ, ngã đầu ngủ hơn mười tiếng.

Còn anh lúc ấy chỉ mới là cậu bé chưa lớn, thế mà đã trải qua ngăn cách sinh tử chưa ai trải qua, cầu cứu cũng không được.

Sở Vọng đứng lặng tại chỗ, không biết đã đứng bao lâu, rốt cuộc cũng nghe thấy một tiếng rất khẽ rất nhẹ ——

“Dọa em rồi à?”

Sở Vọng lắc đầu.

Từ Thiếu Khiêm cười trấn an, “Hôm nay kéo em vào chuyện này, lại để em thấy cảnh đó, tôi xin lỗi.”

“Văn Quân cũng bị dọa sợ nên mới gọi em đến. Chuyện hôm nay em sẽ coi như chưa thấy gì.” Dừng một lúc, Sở Vọng lại hỏi, “Cô đã đỡ chưa ạ?”

“Đỡ rồi, giờ đang ngủ.”

“Thế thì tốt quá.”

“Người nghiện thuốc đều vậy, sau này em gặp cô ấy… không cần phải sợ.”

“Em không sợ.”

“Chỉ là cô ấy quá đau đớn thôi.”

“Em biết mà.”

Từ Thiếu Khiêm im lặng ngồi tại chỗ, nhưng Sở Vọng lại có cảm giác anh muốn tâm sự với ai đó, thế là đến gần, ngồi xuống cạnh anh.

Đợi đến khi ngồi xuống, cô mới thấy anh vuốt phẳng một tấm ảnh trong tay. Ví tiền rơi dưới đất, chắc hẳn tấm ảnh được lấy ra từ đó.

Thấy cô ngồi xuống, Từ Thiếu Khiêm bèn đưa tấm ảnh cho cô xem. Trên ảnh là một cậu chàng nụ cười rạng rỡ, ăn mặc trang điểm theo phong cách Vãn Thanh, nhưng tóc không cạo mà để kiểu tóc thời nhà Minh, cài một cây trâm trên đầu. Sở Vọng tưởng là Từ Thiếu Khiêm khi còn trẻ, lúc dân quốc vừa mới thành lập, nhưng nhìn kỹ lại thì người trên ảnh là nữ giả nam, cô gái ấy chị là chị Từ ngày xưa.

Sở Vọng ồ lên, Từ Thiếu Khiêm cười nói, “Tuy cô ấy xuất thân từ gia đình kiểu cũ nhưng lại y hệt một đứa con trai. Tôi hay lấy chuyện này đùa cô ấy, bảo, ‘ngày trước khi bà mai đến làm mối với mẹ anh, nói là một khuê tú dịu dàng trang nhã, sao giờ lại là em?’ ”

Sở Vọng bật cười, không biết nên nói gì cho phải.

Cả hai rơi vào im lặng kéo dài.

Một lúc sau, Từ Thiếu Khiêm không chắc chắn hỏi, “Sẽ khá hơn đúng không?”

“Cai được thuốc rồi từ từ dưỡng bệnh là ổn.” Bản thân Sở Vọng cũng là người giấu bệnh sợ thầy, càng không quá tin tưởng vào trình độ chữa bệnh ở thời đại này, nên chỉ có thể thuận miệng an ủi.

Từ Thiếu Khiêm gật đầu, “ừ” một tiếng. Dường như anh đã rất mệt, cúi thấp đầu cất ảnh đi, sau đó đưa một bức điện báo cho cô đọc.

“Tối nay điện báo ở Anh mới đến, trong trường gửi điện bảo tôi đi lấy. Không ngờ chỉ trong khoảng thời gian đó, cô ấy lại xảy ra chuyện,” Từ Thiếu Khiêm cười gượng, “Thuyền của bọn họ sắp tới rồi. Hôm nay đã làm phiền em rồi, tối muộn vậy mà còn đến đây. Về sớm đi, sau này… còn có rất nhiều chuyện quan trọng hơn phải làm.”

___

*Qin: Chương sau còn dài hơn chương này (10k chữ) nên tối nay và mai có thể sẽ không có chương mới nhé.

Chương 70: Người bệnh (14)

Trông Từ Thiếu Khiêm bây giờ không khác gì bình thường.

Ngày thứ hai vào tuần thứ hai sau khi nhận được điện báo, Từ Thiếu Khiêm thông báo với tất cả các thành viên: “Trước khi con thuyền Daant cập bến Hương Cảng, mọi người không được nhúng tay vào công việc ở viện nghiên cứu nữa.” Mà dường như cũng trong khoảnh khắc ấy, thống đốc Hương Cảng cũng nhận được điện báo, lập tức điều hai đội binh đến canh gác viện nghiên cứu, nghiêm khắc kiểm tra vật phẩm và tài liệu mọi người mang theo khi ra vào, tất cả thư từ của viện nghiên cứu gửi ra ngoài đều bị giữ lại. 

Trước khi con tàu nước Anh đến Hương Cảng, viện nghiên cứu rơi vào tình trạng hỗn loạn nhất từng có.

“Vì sao không cho bọn tôi gửi thư về nhà?” Tiến sĩ người Đức là Carl và Hoffman không dưới một lần phẫn nộ chất vấn lính Anh, “Các người không có quyền làm thế!”

“Thế thì phải hỏi người của các anh.” Lính Anh cười ha hả, “Có người cho bọn này biết: Bất cứ ai từ chối điều tra thì có thể sẽ bị đưa thẳng đến tòa án quốc tế. Nếu không muốn ngồi ghế điện thì đừng có lộn xộn.”

Dù các thành viên căm phẫn hay khó hiểu thì Từ Thiếu Khiêm vẫn giữ thái độ hòa nhã vạn năm không đổi, mỉm cười khuyên nhủ: “Xin mọi người kiên nhẫn chờ thêm một tuần nữa.”

Nhưng Lương Chương lại không có được tu vi như anh. Người ngoài tra hỏi nhiều lần, anh ta còn có thể mặt đỏ tía tai lùi vào góc tường ngậm chặt miệng. Mãi cho đến Lise khó hiểu hỏi anh: “What are they protect? Protect us, or protect something from us?” (Rốt cuộc bọn họ đang bảo vệ gì thế? Bảo vệ chúng ta hay đang phòng bị chúng ta?)

Lương Chương vò đầu bứt tai, nhưng vẫn giữ kín miệng: “Tôi không biết thật! Đừng hỏi tôi!”

Người Anh ở vùng thuộc địa rất xem thường người da màu. Người Hoa và người Ấn ở Thượng Hải, Hương Cảng hay Singapore đều đã quen rồi, nhưng Carl và Hoffman thân là người da trắng lại chưa bao giờ bị đối xử như vậy, lúc này đang cực kỳ phẫn nộ trước sự ngạo mạn của lính Anh.

Hai tiến sĩ người Đức nhiều lần bày tỏ bất mãn với lính Anh bằng cách vung tay vung chân. Mấy hôm sau, hai gã hạ úy dắt một con chó lưng đen đến, gọi nó là “Prussia”*. Lúc tiến sĩ người Đức đi qua thì cười ha hả nói lớn: “Súc sinh không nghe hiểu tiếng Anh! Nhưng Prussia đừng sợ, người thân của mày đến rồi, chắc chắn là bọn chúng muốn nói mấy lời với mày.”

(*Prussia hay còn gọi là Phổ, là một vương quốc trong lịch sử cận đại nước Đức.)

Trong phòng nghiên cứu, mâu thuẫn giữa người da trắng và người da màu đã bùng nổ. Hoffman không chịu nổi sự giày vò ngày một chồng chất, cuối cùng cầm tài liệu nghiên cứu của mình đập mạnh xuống bàn của Từ Thiếu Khiêm, giận dữ gào lên: “Tôi không làm nữa! Tôi về Đức có được không hả?”

Đối mặt với gấu xám nước Đức đang xù lông, Từ Thiếu Khiêm vẫn bình tĩnh một cách lạ thường: “Kiên nhẫn chờ chút nữa đi.”

Nhìn Hoffman kêu gào trong văn phòng, Chandra an ủi: “Người Anh ở vùng thuộc địa đều vậy cả mà, các anh cũng phải quen rồi chứ.”

Mọi người ngầm thừa nhận Từ Thiếu Khiêm và Lương Chương đã biết chuyện, cũng vì thế mà xếp Sở Vọng vào phạm vi người biết chuyện. Tuy nhiên, xem ra cuộc sống của cô dễ chịu hơn Từ Thiếu Khiêm và Lương Chương nhiều, bởi vì thực chất khi khi mọi chuyện còn chưa bắt đầu thì trong phòng thí nghiệm đã rạn nứt, Sở Vọng cũng âm thầm toát mồ hôi thay.

May mà không lâu sau, con tàu Daant đã đến Hương Cảng.

Trước khi tàu đến, hai toán binh hạ cấp của quân đội Anh đã canh gác quanh viện nghiên cứu. Tất cả mọi người yên lặng chờ trong văn phòng, tim đập thình thịch.

Hoffman ngăn Từ Thiếu Khiêm lại, chỉ vào đám người Anh diễu võ giương oai bên dưới, cáu kỉnh hỏi: “Đình chỉ công tác đã nhiều ngày, lại còn cấm chúng tôi gửi thư, bây giờ thì cấm túc giam lỏng! Bọn tôi là nhà khoa học chứ không phải tù nhân!”

Từ Thiếu Khiêm chỉ cười không đáp, sau đó xoay người đi xuống lầu.

Hoffman như đấm vào bông, ngoái đầu tức giận hét lớn: “Tôi muốn từ chức!”

Thống đốc đích thân dẫn cấp dưới ra bến tàu đón người. Lúc Từ Thiếu Khiêm đi xuống nghênh đón thì Sở Vọng cũng đứng ngồi không yên, sốt ruột chạy ra ban công nhìn xuống.

Có hai chiếc xe chậm rãi chạy vào.

Sở Vọng nhìn chằm chặp chiếc xe đã dừng lại —— thống đốc mỉm cười mở cửa xe, một đôi ủng và quần bò chậm rãi xuất hiện từ ghế sau, một người vóc dáng cao to, đeo kính nhỏ, mặt mày nghiêm nghị nuôi râu dài, ông mặc một chiếc áo dài quá thắt lưng.

Trong khoảnh khắc khi Rutherford râu dài mặc áo khoác dài xuống xe, Sở Vọng như biến thành “fan não tàn”, kích động tới mức chỉ muốn quỳ rạp xuống đất.

Tiếng ồn ào xung quanh cũng dần lặng đi trong khoảnh khắc ông bước xuống xe. Một lúc sau, cô nghe thấy tiếng thán phục và tiếng hét lẫn lộn nhiều ngôn ngữ vang lên —— 

“Rutherford? Ernest Rutherford! Ôi trời ơi!”

Còn chưa hồi phục từ kích thích mà Rutherford đem đến, thì ngay tiếp theo, bước xuống xe theo sau Rutherford là một người để ria mép hói đầu cùng một người Do Thái trẻ tuổi.

Lập tức bên tai Sở Vọng lại vang lên tiếng hét ầm ĩ —— 

“Có có phải là Wilson trợ lý của Rutherford không?”

Người kia điên cuồng hét lớn: “Đúng! Chính là ông ấy! Thomson Wilson, người phát minh ra buồng sương đã giành giải thưởng Nobel cùng Compton năm ngoái!”



Trong bọn họ, chỉ có Sở Vọng thật sự nhìn kỹ người trẻ tuổi Do Thái đứng đằng sau hai người nọ.

—— Đấy có phải là Oppenheimer không?

Là Oppenheimer 24 tuổi rời khỏi Bonn, vừa bước chân ra đời đó sao?

Từ Thiếu Khiêm và Rutherford tiến tới thân mật chuyện trò, còn chàng thanh niên Do Thái lạnh lùng nhìn hai người chăm chú, trong mắt in hằn ghen tị.

Sở Vọng nghĩ bụng: Ồ, đúng là anh ta rồi —— bốn năm trước bị Rutherford từ chối ngoài cửa, ba năm sau Rutherford đi đến đâu anh ta cũng lẽo đẽo đi theo, ngoài Oppenheimer ra thì không còn ai khác nữa.

Rutherford ôm Từ Thiếu Khiêm, hàn huyên vài câu rồi đi thẳng vào chính đề, sóng vai cùng lên lầu. Đám đông đứng trên lầu nhìn nãy giờ nhanh chóng tản đi, quay về bàn làm việc của mình, ngoan ngoãn ngồi yên. Chỉ có Sở Vọng là đang đắm chìm trong sắc đẹp của Oppenheimer, đến khi sực tỉnh tính chuồn đi thì bị Từ Thiếu Khiêm bắt quả tang.

“Lại đây.” Từ Thiếu Khiêm mỉm cười, vẫy tay với cô.

Sở Vọng chạy đến. Đoàn người đi vào văn phòng kín, đóng cửa lại.

Từ Thiếu Khiêm giới thiệu cô với Rutherford, “Giáo sư Rutherford, thầy của tôi; Lâm Trí, học trò của em.”

Sở Vọng khéo léo nịnh nọt: “Chào giáo sư Rutherford, hội trưởng hội Hoàng gia Luân Đôn, em rất sùng bái thầy.”

Sùng bái quá ấy chứ! Mô hình Rutherford của ngài đã đi suốt quãng đời học sinh của tôi đấy!

Rutherford quan sát cô với ánh mắt tán thưởng hậu bối có triển vọng.

Cái nhìn đó suýt làm Sở Vọng ngất xỉu: Rutherford nhìn mình, đời này sống thế là đủ rồi!

Ngay sau đó, ông nói với Từ Thiếu Khiêm: “Được đấy. Mới đầu thầy không muốn để em rời khỏi Cambridge, bây giờ nhìn lại, có lẽ lựa chọn của em là chính xác. Chỉ mới bốn năm mà dưới tay em đã xuất hiện lớp lớp nhân tài.”

Sở Vọng nghĩ bụng: Nhưng người có học trò khắp thiên hạ chính là ngài! Không chỉ ngài, mà rất nhiều học trò của ngài cũng sắp có học trò khắp thiên hạ! Ví dụ như trợ lý Wilson đang đứng cạnh ngài lúc này đây, còn cả người học trò xấu tính đang đứng sau lưng ngài, người không được ngài tán thưởng nữa —— anh ta chính là nhân vật chủ chốt của dự án Manhattan, là cha đẻ của bom nguyên tử đấy!

Trong lúc cô đang suy nghĩ miên man, thì chàng thanh niên Oppenheimer xấu tính không ai tán thưởng đã khinh thường hừ một tiếng.

Lúc này Rutherford mới giới thiệu Từ Thiếu Khiêm với anh ta: “Robert Oppenheimer, năm cậu rời Cambridge đã gặp cậu ấy.”

Oppenheimer tự động bắt tay với Từ Thiếu Khiêm, lạnh lùng nói: “Từ, tôi đã gặp anh rồi. Năm anh rời trường, tôi muốn làm học trò của thầy nhưng bị thầy từ chối nhiều lần. Mọi người nói vì chuyện này mà tôi ghi hận, nên bất luận thầy ấy đi đâu, hễ tôi nghe được là nhất định sẽ bám theo. Ở phòng thí nghiệm châu Âu có một lời đồn thế này: Đời này Oppenheimer không có duyên làm học trò của Rutherford, cho nên rất ghét tất cả học trò của ông. Từ, anh phải cẩn thận đấy.”

Rutherford bật cười: “Thầy cũng không biết vì sao lại dẫn cậu ta đến nữa. Nhưng trước khi xuất phát, thầy có gửi điện báo cho cậu ta, mời cậu ta đi thuyền đến. Vậy mà ngày thứ ba sau khi gửi điện báo, cậu ta đã xuất hiện rồi. Từ lúc nào mà thuyền đi từ Hà Lan đến Anh lại chạy nhanh như vậy?”

Khi mọi người cười phá lên thì Sở Vọng lại gào thét trong lòng: Đúng là đại lão! Giác quan thứ sáu của ngài đúng là chính xác. Ngài không nhìn nhầm người này đâu —— anh ta quả thực khó lường!

Cười xong, Rutherford mới nghiêm mặt nói, “Chờ thêm mấy tuần nữa để tàu của đại sứ Anh đến Hương Cảng, đến lúc đó sau khi làm rõ thỏa thuận với chính phủ nước em, thầy sẽ gửi thư đến đại học Rome, Phòng thí nghiệm Leiden và Đại học Vật lý và Hóa học Paris để mời một vài người quan trọng, lấy danh nghĩa là vì bài phát biểu về “Ngôi sao đặc” của em.”

“Mời Enrico* và vợ chồng nhà Curie?” Từ Thiếu Khiêm hỏi.

(*Enrico Fermi là nhà vật lý lý thuyết và thực nghiệm người Ý.)

Rutherford gật đầu.

Một lúc sau, ông thở dài nói, “Thầy vẫn luôn tự hỏi, không biết em ở đây thì có tiền đồ thế nào? Sợ sẽ chôn vùi em. Nhưng không ngờ là em đã làm được rồi.”

Từ Thiếu Khiêm cười cười, “Nhưng vẫn cứ gây ra rắc rối thầy ạ. Là một chuyện trọng đại, mang tính toàn nhân loại.”

Rutherford nói, “Thầy chỉ sợ chuyện em xử lý khó mà giải quyết được. Vì thế nên khi vừa nhận được thư của em, thầy đã lập tức xin nữ hoàng một thân phận không chính thức trong chính phủ, liên lạc với các nhà vật lý và chính quyền Anh, cũng giám sát các đại sứ Anh xuất phát từ Anh. Ngoài ra, thầy còn thường xuyên nghe nói, chính quyền và binh lính Anh ở thuộc địa có tính khí rất xấu. Thế nên thầy lo em mà xử lý thì sẽ khó giải quyết —— vì vậy thầy mới đến đây nhanh nhất có thể.”

Từ Thiếu Khiêm gật đầu, “Mọi người đều đang ở phòng thí nghiệm bên cạnh —— bọn họ đã đợi rất nhiều ngày rồi.”

Rutherford gật đầu. Từ Thiếu Khiêm đẩy cửa ra, đoàn người sải bước đi trên hành lang.

Rutherford nhìn thoáng vào phòng thí nghiệm, Từ Thiếu Khiêm làm tư thế “mời”.

Rutherford bước vào phòng thí nghiệm. Tất cả mọi người có mặt ở đấy đều nhìn ông đi vào, im lặng chờ ông lên tiếng.

Sở Vọng cũng chạy nhanh về chỗ của mình, ngoan ngoãn ngồi xuống.

Dừng một lúc, ông đi thẳng vào chủ đề:

“Có lẽ các anh chị rất tò mò không biết vì sao tôi lại đến đây.

Tôi đến đây với một thân phận không chính thức, khẩn cầu các anh chị cùng tôi chung tay bảo vệ một bí mật trọng đại. Nhưng rất tiếc, tôi không có quyền nói cho các anh chị biết rốt cuộc bí mật đó là gì, vì sao chúng ta phải đấu tranh vì nó.

Nhưng tôi tin rằng, một nhóm người trong số chúng ta sẽ nhanh chóng đoán ra bí mật đó là gì. Cũng vì vậy mà chúng ta phải bỏ ra một cái giá tương đương vì nó;

Sau khi trao đổi ổn thỏa với chính quyền, kế hoạch này sẽ chính thức được khởi chạy. Và từ khắc đó trở đi, chúng ta sẽ mất đi một phần tự do cũng như một số quyền lợi về truyền tin và riêng tư: mỗi một phong thư gửi ra ngoài hay một cuộc điện thoại gọi đi đều có thể sẽ bị nghe lén giám sát, kiểm tra nghiêm ngặt thậm chí là thu hồi; hay thậm chí mọi nhất cử nhất động của chúng ta đều bị theo dõi giám sát; mỗi một quyết định sai lầm của chúng ta đều có thể bị đưa ra xét xử tại tòa án quốc tế.

Khoa học không có biên giới. Khoa học là tài sản thuộc về nhân loại. Nhưng tôi cho rằng, khi nó đẩy tính mạng con người đến bờ vực nguy hiểm, thì các nhà khoa học nên là những người đứng đầu sóng gió, dốc hết sức mình vì nó.

Nếu trong số các anh các chị cảm thấy khó chịu vì gò bó hay sợ hãi, vậy thì hãy rời đi ngay lúc này, trở về nơi mình muốn về. Như thế, các anh chị sẽ không còn liên quan đến bí mật này nữa.”

Nói xong một tràng dài, ông đưa mắt nhìn sáu mươi người trong phòng thí nghiệm.

Căn phòng vẫn lặng như tờ. Không ít người đưa mắt nhìn nhau, mà điều khiến tất cả kinh ngạc gấp bội đó là:

Không một ai rời đi.

Ông hỏi lại: “Giờ rời đi vẫn kịp.”

Một giây, hai giây… Thời gian chậm rãi trôi qua.

Tất cả vẫn ngồi yên tại chỗ, không ai nhúc nhích.

Đúng lúc này, Chandra đột nhiên nghiêng đầu hỏi: “Hoffman! Không phải trước đó anh nói muốn từ chức à!”

“Gì! Tôi nói thế bao giờ?”

Rutherford hỏi: “Vậy bây giờ anh có ý gì?”

Hoffman đỏ mặt gãi đầu, đứng dậy, xấu hổ hỏi, “Thưa giáo sư Rutherford, tôi chỉ có một câu hỏi.”

“Mời anh.”

“Thư tôi viết gửi về vợ đang Đức cũng sẽ bị kiểm tra ư?”

“Nếu như là nội dung khiến người ngoài phải đỏ mặt thì tôi thành khẩn đề nghị anh, nội trong tuần này nên viết nhiều nhiều rồi gửi đi một lần… Nếu như để muộn hơn thì có lẽ chúng tôi sẽ đón vợ anh đến Trung Quốc.”

Trong tiếng cười của đám đông, Sở Vọng lại vô hình rung động.

Khi khoa học dần tiến bộ, gây nguy hiểm cho an nguy của nhân loại, thì những nhà khoa học đã xông pha lên đầu, cống hiến hết mình vì nó.

Thế nên mới không một ai rời đi.

Tốt quá rồi.

***

Trước khi tự do bị hạn chế hoàn toàn, thì buổi lễ đính hôn của Di Nhã đã cho cô một cơ hội tốt để ra ngoài hóng gió.

Một tuần sau, ở trấn Nguyên Lãng.

Đó là một ngày đẹp trời, giữa những cơn mưa phùn của mùa đông, thì thật hiếm khi có một ngày trời nắng chan hòa như thế.

Tuy nói biệt thự có vườn hoa nằm ở trấn Nguyên Lãng, nhưng thực chất là nằm trên núi sát biên giới trấn. Rất nhiều nhân vật quan trọng không muốn đi bộ nên lái thẳng xe đi lên từ sau núi. Những người đến đây lần đầu thì muốn ngắm phong cảnh trước khi đến nơi, nhưng xe chỉ có thể đi đến giữa sườn núi.
Trấn Nguyên Lãng khá là lạc hậu, từ chỗ này lên núi thì có thể ngồi kiệu tre hoặc đi bộ. Vốn là vùng núi vắng bóng người, thế mà khi bước xuống xe,, đột nhiên có một đám phu kiệu hét lớn đi đến xúm quanh các bà các cô, dọa mọi người giật mình. Những cô gái da trắng hay từ nước ngoài về đều cảm thấy mới mẻ, thế là chọn ngồi kiệu. 

Từ đằng xa, Sở Vọng trông thấy Tiết Chân Chân đi sau bà Kiều, cô ấy mặc một chiếc váy truyền thống màu vàng nhạt, hai mắt sáng rực nhìn chằm chằm cỗ kiệu, nom có vẻ chộn rộn.

Bà Kiều nhận ra tâm tư cô nàng, nhưng có lẽ cảm thấy tại buổi lễ đính hôn của nhà “suýt là thông gia”, nếu trong nhà có con gái muốn ngồi kiệu thì sẽ mất thể diện, thế là bà trợn mắt, để cô nàng bỏ đi suy nghĩ đó.

Bà Cát đi cùng Sở Vọng, thấy cô cứ nhìn về phía bà Kiều thì cũng nhìn sang. Nhìn một lúc lại thấy buồn cười, hai ba bước đi lên khoác vai Chân Chân, cười nói với bà Kiều, “Chị Kiều à, Di Nhã nhớ con bé này lắm rồi, chúng ta là khách cũng đừng để chủ đợi lâu quá; ngồi kiệu sẽ nhanh hơn đi bộ, mà ngài Tạ cũng không phải chờ lâu, thế nào?”

“Cô Cát đây đã đích thân mời thì sao có thể không đi được? Chân Chân, phải học tập thái độ của dì Cát đấy.” Bà Kiều mỉm cười tươi tắn, nhưng có lẽ lúc này đang âm thầm nghiến răng nghiến lợi. Sở Vọng cười nhìn bà Kiều, bà Kiều liếc nhìn cô, lại bổ sung, “Nhìn Sở Vọng đi, phóng khoáng nhanh nhẹn, càng ngày càng xuất sắc.”

Sở Vọng chẳng có lý gì phải nịnh bà cả. Lễ phép chào hỏi xong thì cùng Tuệ Tế và Mật Thu đi cuối hàng. Dân cư thưa thớt, ẩn trong những bụi cây cao thấp mọc san sát nhau là những chùm phượng vĩ, dưới ánh nắng mặt trời, những hạt bụi li ti bay trong không khí trở nên ngào ngạt. Nhìn xuống khe núi, thỉnh thoảng lại có tiếng sột soạt truyền tới, không biết là con thú hay con chim nào, hay là tiều phu trong núi đi ngang qua.

Đi thêm một đoạn nữa thì có một căn nhà gỗ màu đen đập vào mắt, biển số nhà rơi xuống, bên ngoài lưới sắt là là mấy người Ấn đội khăn che đầu. Sở Vọng tò mò nhìn sang, đột nhiên bên cạnh xuất hiện một người, người đó lên tiếng giải thích, “Đó là đồn cảnh sát.”

Sở Vọng nghiêng người ngẩng đầu nhìn, bất chợt cười, “Ồ, là người cùng nghề với anh Tạ sao?”

“Ừ, cùng ngành. Có điều lính tuần bên này là người Ấn.”

Sở Vọng gật đầu, nghĩ bụng; dù gì cũng là các chú cảnh sát đầy kính trọng. Chậm rãi đi về phía trước, Sở Vọng lại hỏi, “Sao anh không cùng người nhà đi từ sau núi lên?”

Tạ Trạch Ích không đổi sắc đáp, “Vì tôi biết cô ba muốn đi lên từ phía trước núi.”

Sở Vọng cố không trợn trừng mắt, lại cười đùa, “Chẳng nhẽ ngài Tạ vẫn đang dỗi anh à?”

Tạ Trạch Ích lại cười, “Ừ. Trong nhà mời khách mà không hề có lấy một người thông báo với tôi, muốn tôi không mời mà tới đây mà.” Chợt anh dừng bước, cho cô nhìn cổ áo âu phục màu xám, “Đến bộ đồ này cũng muốn tự tôi phải đi nhờ người ta may, em xem có thảm không?”

Sở Vọng vui vẻ ghé đầu tới nhìn bộ âu phục kia, thấy phía dưới cổ áo có đường thêu quen thuộc, đột nhiên ơ lên, “Anh biết ngài Saumur hả?”

“Saumur?” Tạ Trạch Ích nhìn thẳng vào cô, suy nghĩ rồi đáp, “Không, nhưng tôi nghe nói là Frank Luca.”

Nghe thấy cái tên này, Sở Vọng chợt mở to mắt. Dừng một lúc, cô hỏi, “Ngài Luca này…”

“Là một thiếu tá lục quân người Anh đầy tôn kính, mười năm trước bất hạnh qua đời.”

“Tử trận?”

“Không hề. Thậm chí vẫn còn sống sau trận Verdun*.”

(*Trận Verdun là một trận lớn chính của mặt trận phía Tây trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Đây là trận chiến kéo dài nhất trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, và là trận đẫm máu thứ hai sau Trận Somme (1916). Chiến dịch kinh hoàng này cũng được xem là trận đánh lâu dài nhất trong lịch sử, với thời gian kéo dài đến 10 tháng.)

Vẫn còn sống sau cỗ máy xay thịt Verdun á?!

“Vậy sau đó thì sao?”

“Không kịp hưởng thụ vui sướng thắng lợi, càng không được phong thưởng vì chiến công hiển hách. Lúc đang điều trị ở bệnh viện lục quân, vì ông bị tố cáo một tội danh mà mang theo cơ thể đầy mảnh vỡ lựu đạn rời đi, cuối cùng chết trên đường bị trục xuất.”

Nghe Tạ Trạch Ích bình tĩnh kể xong, Sở Vọng lâm vào im lặng.

Tạ Trạch Ích cũng im lặng đi cạnh cô, không nói nhiều lời.

Qua một lúc sau, cô hỏi, “Là tội danh gì mà lại đối xử tàn nhẫn với một công thần như vậy?”

Tạ Trạch Ích hồi tưởng, sau đó nói, “Tuy hai mươi năm trước người Anh đều biết chuyện này. Nhưng, nếu như em thật sự muốn biết thì có lẽ nên đi hỏi… Ừm, người thợ may nước Pháp kia. Xem ông ta có chịu nói cho em biết không.”

Từ năm 186x trở đi, ở Anh đã bãi bỏ luật treo cổ người đồng tính, đổi thành thiến và trục xuất.

Thật ra dù Tạ Trạch Ích không nói, Sở Vọng cũng đoán được đại khái. Nhưng bởi vì đoán được, rồi lại liên hệ với bức ảnh của ngài Saumur, trong lòng cô càng cảm thấy thê lương, bao phen cảm xúc hòa lẫn vào nhau.

Lại đi lên một đoạn, những nhành cây ngoằn ngoèo ở trên cao vươn ra ngoài đường, suýt thì đâm trúng trán Tạ Trạch Ích —— có lẽ công nhân sửa đường cũng không biết sẽ có người cao như Tạ Trạch Ích leo núi. Càng đi lên thì càng xuất hiện nhiều biệt thự. Người ngồi kiệu đã đi lên trước, còn Tuệ Tế và Mật Thu đi bộ đằng sau cố ý đi chậm vì không muốn làm phiền hai người nói chuyện. Sở Vọng nghĩ bụng, đúng là làm khó người tay chân dài như anh ta phải đi chậm theo cô.

Đang tính khen đôi câu trước hành động lịch thiệp của anh, thì bất chợt trong một biệt thự gần đó có một con chó đen nhỏ mập mạp lao ra, nhe răng sủa gâu gâu với Sở Vọng. Cô cười vẫy tay với con chó kia nhưng lại khiến nó sủa dữ hơn, có vẻ muốn xông lên. Từ trước đến nay, nếu bạn không sợ chó thì chó sẽ sợ bạn, tuyệt đối đừng dữ với nó.

Cô đang ngạc nhiên thì con chó kia lại nghiêng đầu —— Tạ Trạch Ích vừa nãy còn đứng cạnh cô, không biết từ lúc nào đã đi nhanh lên trước ba bốn mét. Ngoài mặt vẫn bình tĩnh, nhưng đã có khuynh hướng nhấc chân bỏ chạy.

Lúc này, một bà tu nữ tóc bạc, tròng mắt màu xanh bật cười chạy ra, nói: “Cậu Tạ đấy à, tôi còn đang hỏi ngài Tạ về cậu đấy, sao nghe nói cậu nhận hàm ở Anh về rồi mà không thấy cậu đâu… Louis XVIII, đi ra! Đi ra! Đừng dọa ngài trung úy của chúng ta.” Rồi bà cười nói với Tạ Trạch Ích, “Cậu Tạ đừng sợ, nó không cắn đâu.”

Tạ Trạch Ích: “…”

Tạ Trạch Ích: “Tôi không sợ chó.”

Bà ta vừa đuổi chó vừa cười nói, “Trước kia khi lính tuần Ấn chưa đến, chúng tôi sợ trên núi bất ổn nên nhà nào cũng nuôi chó. Hồi trước khi ngài huân tước dẫn cậu lên núi, cậu chẳng khóc từ dưới chân núi lên đến đỉnh núi còn gì. Cậu bé xinh xắn như thế lại khóc thảm đến vậy, nữ tu chúng tôi cũng đau lòng lắm. Chậc chậc, đúng là đứa trẻ đáng thương.”

Tạ Trạch Ích: “… Nhờ phúc của sơ nên giờ không sợ nữa.”

Sở Vọng đi đằng sau bật cười, tu nữ kia nói tiếp, “Đi lên trên nữa, nhà Leeds và Cát Mỹ đều nuôi mấy con chó, người nhà đều đến tiệc đính hôn cả rồi, không ai trông nhà đâu. Nếu cậu mời tôi đi cùng thi tôi sẽ dẫn cậu đi đường vòng.”

Sở Vọng cười hỏi, “Thế nào đây anh Tạ? Còn muốn lên núi với tôi nữa không?”

Tạ Trạch Ích nở nụ cười lúng túng, ho khẽ hai tiếng, “Vậy tôi đành bồi tội với em sau vậy.”

Nay hương Cảng cũng là một vùng lớn, từ thống đốc đếm xuống thì đếm đầu tiên là ngài huân tước Tạ, sau đó mới là các tu nữ có danh tiếng. Trên núi toàn là người quen, vì vậy chỉ cần yêu đương một hai hôm là toàn Hương Cảng sẽ biết tin liền. Nếu cô là Tạ Trạch Ích thì có lẽ sẽ không dễ dàng dẫn bạn gái về, nếu không, chỉ một chút sơ sẩy là sẽ thành tin tức lớn.

Đưa mắt nhìn Tạ Trạch Ích và tu nữ đi xa, Sở Vọng chậm rãi đi dạo lên núi. Leo lên đỉnh núi rồi nhìn về phía sau, trong những lùm cây rậm rạp xum xuê, mơ hồ trông thấy bóng dáng của trấn Nguyên Lãng; lại tiến tới trước rồi nhìn xuống, đường chân trời xanh thẳm nối liền với biển xanh, ôm trọn cả tòa thành Hương Cảng màu xám.

Tuệ Tế và bà Cát đã đến nơi trước, Mật Thu đứng lại chờ cô, ngạc nhiên hỏi, “Cô ba, sao không thấy cậu Tạ đâu?”

Sở Vọng còn chưa kịp cười giễu Tạ Trạch Ích thì Chân Chân từ đằng sau bụi đu đủ đã nhảy ra, ôm eo cô ép hỏi, “Nói! Em qua lại với cậu Tạ từ bao giờ thế hả?”

“Qua lại cái gì chứ? Cũng không phải là người ở Trường Ba Đường Tử*.”

(*Trường Ba Đường Tử là một dãy các thanh lâu cao cấp ở Thượng Hải trong thời kỳ vãn thanh, các cô gái ở trong này có trình độ văn hóa cao và biết cầm kỳ thi họa.)

Chân Chân cười, “Ấy, Sở Vọng của chúng ta giờ lợi hại rồi, còn biết cả Trường Ba Đường Tử nữa kìa.”

Mật Thu thấy hai người cười đùa thì thức thời tránh đi.

Đợi Mật Thu đi rồi, Sở Vọng mới ôm mặt cô nàng, nghiêm nghị hỏi, “Em phải hỏi chị đấy, rốt cuộc chị với Diệp Văn Dữ là sao thế hả?”

“Dì Cát mới mắng chị xong, giờ đến lượt em hả!” Chân Chân gào khóc, “Em buông tay ra đi đã!”

Sở Vọng lại véo hai cái rồi mới miễn cưỡng buông tay, “Thẳng thắn sẽ được khoan hồng, nếu kháng cự sẽ bị trị nghiêm khắc.”

“Cũng chẳng có gì cả.” Chân Chân xoa mặt, kéo cô ra sau bụi cây đu đủ, nói, “Hồi xưa ấy, cục phó Thẩm của cục vận chuyển hàng hải Thượng Hải cũng chỉ là một vị quan ở Phụng Thiên huyện Khang Bình. Năm ngoái Đông Bắc đầu hàng Nam Kinh, cục phó Thẩm nịnh nọt khắp mới lên được cái chức kia, tự dưng cả họ được nhờ. Cô con gái rượu Thẩm Nguyệt Anh đến Thượng Hải, vào trường nữ sinh tư thục Trung Tây, cũng coi như có tiếng trong đám thiên kim tiểu thư. Chẳng qua ngươi ta nể mặt cha nó nên mới gọi nó là danh môn khuê tú. Thế mà nó tưởng thật, đắc chí lắm, còn tự cho là mình hơn người. Chẳng qua là một con nhỏ nhà quê, ai thèm để mắt đến nó?”

Sở Vọng im lặng một lúc rồi mới nói, “Người nhà Diệp Văn Dữ để mắt rồi đấy, muốn để anh ta cưới cô ấy, không biết anh ta có tính toán gì không nữa.”

“Anh ấy không chịu kết hôn, người nhà anh ấy dám làm gì được chứ! Chẳng lẽ còn chạy tới Hương Cảng trói anh ấy về bắt ký tên?”
“Nếu tới thật thì sao?”

“Nếu tới thật…” Chân Chân tức giận, “Ghê gớm lắm là nói ra thôi!”

“Nếu nhà anh ta không chịu?”

“Vì sao lại không chịu? Nhà anh ấy nghĩ mình là ai hả! Cũng chẳng phải hoàng thân quốc thích.”

Sở Vọng thở dài. Tuy không phải hoàng thân quốc thích nhưng dù gì cũng có khu vực của mình, cũng cần khai cương thác thổ.

Thế là lại hỏi: “Cô út nói sao rồi?”

“Hôm nay ngài Tưởng mời Diệp Văn Dữ đến, dì ấy nói, lát nữa dì ấy sẽ gọi Diệp Văn Dữ tới hỏi. Nếu cảm thấy anh ấy đáng tin thì bảo chị không cần làm gì cả, dì ấy sẽ nghĩ cách.”

Dĩ nhiên lời bà Cát nói còn nửa vế sau: nếu không đáng tin, thì cháu nên buông tay sớm đi.

Nhưng cô nhìn vào mắt Chân Chân, có lẽ Chân Chân đã lược bỏ luôn vế sau rồi.

Chân Chân hừ hai tiếng, “Dù gì tốt nghiệp xong cũng về Thượng Hải, nếu không được nữa thì đi du học với anh ấy thôi. Anh, Mỹ, Bỉ, chân trời góc biển xa như thế, không lẽ người nhà anh ấy sẽ bắt được à?”

Sở Vọng nhìn cô nàng chăm chú. Lời đến khóe môi chỉ biết hóa thành tiếng cười.

Sau đó quay sang nói, “Đã đến buổi lễ bên kia chưa?”

Chân Chân cũng là người không tim không phổi, vừa rồi còn tức giận là thế, vậy mà chớp mắt sau bao phẫn nộ đã bị ném ra sau đầu. Cô nàng cười nói, “Vừa rồi Di Nhã mới nói với chị, đến tiệc đính hôn lần này đều là mấy người có vai vế bậc cha chú, phải cúi đầu chào hỏi liên tục, chán muốn chết rồi. Nó bảo chúng ta đừng tới, kêu chị dẫn em đến vườn trái cây chờ nó —— em đừng nhìn mấy thứ cây quả xấu xí này nữa.”

Sở Vọng còn đang nhìn cây đu đủ chưa chín trước mặt thì Chân Chân đã kéo cô chạy đi. Lướt qua những bức tường xanh cùng những căn nhà Tây màu trắng, đi đến một chiếc cầu thang đá cao cao nhiều bậc. Bước lên cầu thang, hóa ra là một vườn trái cây tươi tốt, cây mọc xanh um từng hàng chỉnh tề, ở giữa có một lối đi nhỏ, dẫn thẳng đến một căn nhà màu đen trông khá đồ sộ. Căn nhà đó làm bằng gỗ, phủ đầy dây leo xanh.

Bên ngoài căn nhà trồng những khóm hoa xanh đỏ, một người làm vườn vóc dáng khá lùn, da ngăm đen mặc quần lụa, đang cầm bình đồng tưới nước cho hoa. Ba người giáp mặt, Chân Chân hỏi: “Là bác A Kim đấy à? Di Nhã bảo bọn tôi đợi cô ấy ở đây.”

A Kim cười một tiếng với hai người, để lộ hàm răng sứt mẻ, vàng khè vì khói thuốc, cầm bình tưới mở cửa cho hai người.

Trong nhà tối đen như mực, A Kim vặn sáng một ngọn đèn, cả hai ngạc nhiên hô lên —— Bốn bức tường trong phòng, từ mặt đất cho đến đỉnh đều chất đầy sách, và ngay dưới ngọn đèn là một sân khấu đơn giản.

Chân Chân *ấy* một tiếng, đi hai bước trong phòng, nói, “Ban nãy còn nói Đường Ba Trường Tử, sao chưa gì Di Nhã đã dẫn chúng ta đến một nơi như dành cho Thư Ngụ* thế này?”

(*Trước giải phóng, kỹ nữ cao cấp ở Bến Thượng Hải được gọi là Thư Ngụ, cũng là cách gọi chỉ kỹ nữ bậc nhất Trung Quốc xưa.)

A Kim lắc đầu nhìn cô ấy, để hai người lại trong phòng, còn mình xoay người đi ra ngoài.

Trong phòng chỉ có duy nhất một chiếc bàn đặt bên cạnh kệ sách, bên trên là mấy quân bài nằm lộn xộn. Hai người lại gần, đưa mắt nhìn nhau.

“Em biết không?”

“Sao em biết được?”

Chân Chân bĩu môi, đang định sờ vào mấy quân bài kia thì bác A Kim cầm bình đựng trái cây đi vào, đặt lên bàn cho hai người ăn, bên trong chứa đầy trái cây nhiệt đới mùa đông: đu đủ, ổi xá lị, chuối tiêu…

Nhưng Chân Chân không chú ý đến trái cây mà chỉ hỏi: “Bác A Kim, trò này chơi thế nào?”

Bác A Kim lột một trái chuối đưa cho Sở Vọng, sau đó cúi đầu xào bài, xếp bài thành một dãy dài rồi đẩy ngã, làm động tác tay ra hiệu cho Chân Chân cũng làm thế. Chân Chân thấy vui, thế là cũng xếp thành một hàng dài như bác ấy làm. Sau đó, bác A Kim nhắm mắt, chắp hai tay lại, Chân Chân cũng làm theo.

Ông gộp hai chồng bài lại thành một, châm một nén hương, rút một quân bài ra, trên đó viết: Trung hạ.

Hai người lặp lại ba lần. Kết quả của ba lần là: Trung hạ, thượng thượng, hạ hạ.

Chân Chân lập tức giở sách giải quẻ ra dò, bên trên viết: Thu hoạch được không gì không lợi, nhưng chớ mừng, chỉ là lâu đài cát.

Sở Vọng nghiêng đầu nhìn, hỏi, “Nghĩa là ý gì?”

Chân Chân không đáp. Chỉ nghiêng đầu quẳng cuốn sách đi.

Bác A Kim vỗ vào Sở Vọng, ra hiệu cô thử xem. Cô cười khoát tay, “Tôi không tin trò này.”

Bác A Kim cứ nài nỉ mãi, cô suy nghĩ, muốn cầu tiền đồ quốc gia thì dĩ nhiên phải tin vào khoa học, không thể mê tín; vậy không bằng cầu duyên chơi vậy.

Nghĩ đến đây, cô dựa theo những gì bác A Kim đã làm, lại rút ba quân bài.

Hạ hạ, trung hạ, hạ hạ.

Trừ lần thứ hai được trung hạ ra, cả hai lần kia đều là hạ hạ.

Bác A Kim lắc đầu, xáo bộ bài lại. Sở Vọng cười giở sách ra, bên trên viết: Quẻ thủy. Phụ thả thừa, trí khấu chí*.

(*Quẻ 40 trong Kinh Dịch. Giảng: Hào này âm nhu, bất chính, bất trung mà ở trên cùng nội quái, tức như kẻ tiểu nhân ở ngôi cao, không khác kẻ vừa mang đội (người nghèo) mà lại ngất ngưởng ngồi xe (như một người sang trọng), chỉ tổ xui cướp tới cướp đồ của mình thôi.)

Cô hỏi Chân Chân: “Có nghĩa là gì?”

Chân Chân liếc nhìn, “Những hai hạ hạ mà em còn tra làm gì. Nói chung cũng chẳng phải ý tốt.”

Chân Chân bị quẻ bói làm cho nản chí, dịch sang bên cạnh lật sách chơi. Sở Vọng nghĩ ngợi: cái quẻ này, kể ra thì cũng không biết nên coi là của ai.

Vậy là cô chỉ cười cười, cầm đu đủ ăn. Đu đủ ruột đỏ ngọt bất ngờ.

Vừa ăn xong một quả đu đủ thì từ đằng xa, cô nghe thấy tiếng cười của Di Nhã —— “Bác A Kim, các cậu ấy đã đến chưa?”

Ngay sau đó, Di Nhã bước vào nhà: cô nàng trang điểm đậm đeo trang sức tinh xảo, khoác áo lông chồn bên ngoài váy lụa màu hồng nhạt, bên dưới là đôi tất trắng và giày cao gót trắng.

Sở Vọng cười nói, “Sao cô dâu sắp cưới không ở buổi lễ tiếp đãi khách khứa thế?”

Di Nhã trợn mắt, “Nói là tiệc đính hôn của mình, thế mà tới đây toàn người xã giao, tóm lại cũng chẳng phải là chuyện của mình. Mình ở đó cũng chẳng khác gì bình hoa, trái lại còn làm người ta ghét. Cứ để ngài Tưởng xã giao với mấy bà tám miệng rộng đó là được rồi, mình không có tâm trạng. Đói bụng lắm rồi, vì mặc chiếc váy này mà cả sáng nay mình không được ăn tí gì, gặp ai cũng phải cười, Sở Vọng, lột giùm mình quả chuối với.”

Ăn chuối xong, cuối cùng cô nàng cũng thở ra một hơi, nghiêng đầu nhìn đống bài lộn xộn trên bàn, nói, “Bác A Kim bói bài cho hai người à? Hồi nhỏ mình cũng bói một lần, nói mình nhất định phải tìm một người lớn hơn mình 20 tuổi —— ngài Tưởng đúng 37, không ngờ bác ấy bói đúng rồi.”

Nghe xong câu đó, sắc mặt Chân Chân càng đen thêm, ngồi yên một chỗ cầm sách đọc, không nói năng gì.

Sở Vọng cười cười nhìn cô ấy, Di Nhã lập tức hiểu ý, cười nói, “Ngày trước người ở đây là di lão tiền triều, bác A Kim là quản gia của ông ấy —— là một người câm điếc. Sau này di lão qua đời, Bác ấy vẫn giữ khu vườn, trồng đủ loại hoa quả. Ở Hương Cảng nhiều năm như thế rồi, nhưng mình chưa bao giờ thấy hoa quả nơi nào ngon bằng ở đây cả.”

Thấy Chân Chân vẫn đen mặt, cô nàng nói tiếp, “Trong nhà có mấy bà mẹ rất mê tín. Thứ này à, không Trung không Tây, chẳng qua là để thỏa mãn tinh thần thôi chứ không tin mấy. Hai người biết không, lúc trước bác A Kim có bói cho anh mình, quẻ kia còn nói: anh ấy có mệnh cô độc suốt đời —— giờ ảnh lớn thế rồi, không biết đã thay bao nhiêu cô bạn gái, thế mà nói cô độc suốt đời, ai mà tin nổi?”

Chân Chân ngồi trong góc cười phì thành tiếng, cuối cùng cũng vui trở lại. Bác A Kim cầm đến một bình thủy tinh đựng rượu vang trắng, Chân Chân nhấp thử một hớp, khen, “Ngọt quá.”

Di Nhã lại nói, “Nếu mùa hè đến đây, nho ở trong vườn cũng ngon lắm; nhưng bây giờ tới thì chỉ có thể uống nước nho thôi… Loại rượu này được ủ theo kiểu của Đức, gọi là rượu Federweisser. Hồi hè mới ủ nên vị khá ngọt, không quá say. Ủ thêm mấy tháng, đến giờ mới có thể gọi là rượu.”

Hôm nay là ngày vui của Di Nhã, nên Sở Vọng cũng uống với cô ấy mấy ly. Tuy hiện tại độ cồn không quá cao, nhưng do tâm trạng Di Nhã đang rất vui nên chưa gì “rượu không say người mà người tự say”, chỉ chốc lát sau hai má đã hây hây. Cô thở dài, “Nhanh thật đấy, cũng sắp tốt nghiệp rồi.” Rồi cô ấy đi tới vỗ vai Chân Chân, “Nào, hát một bài với mình nào.”

Không đợi Chân Chân kịp phản ứng, cô nàng đã leo lên bậc thang sân khấu, dưới ánh đèn tù mù, chiếc váy lụa màu hồng làm nổi bật lên gò má hồng hào của cô, đôi mắt lấp lánh sáng bừng.

Không biết từ lúc nào, bác A Kim đã ôm một chiếc đàn xếp đi ra, ngồi trên bậc thang, chỉ chờ Di Nhã cất giọng.

“Hát gì bây giờ?” Cô nàng đứng tại chỗ, cười cười nghĩ ngợi, “ —— Chỉ có tên chàng là kẻ thù của em; chàng vẫn là chàng, đâu phải người trong họ Montague.”*

(*Trích Thiên tình sử Romeo và Juliet, Phạm Trọng Lệ sưu khảo và dịch.)

Tiếng đàn xếp từ từ vang lên, Sở Vọng vỗ tay theo nhịp.

Chân Chân cười nói, “Vị Romeo Tưởng đang ở ngoài kia tiếp khách thay cậu đấy, có cần tôi mời người ta đến hát kịch với cậu không?”

“Không cần. Chân Chân, tôi biết cậu biết hát, cậu hát cùng tôi đi.”

“Tôi chỉ biết hát kinh kịch Quảng Đông, không biết hát kịch của Shakespeare.”

“Nếu đổi tên khác cho Romeo, liệu có phải là Lương Sơn Bá không?” Di Nhã chớp mắt.

Chân Chân lập tức hiểu ý, cô nàng bật cười, chậm rãi đi lên sân khấu, “Tiểu huynh họ Chúc tên Anh Đài, người thôn Chúc gia ở Thượng Ngu, xin hỏi tiểu thư là…”

Di Nhã hát bằng tiếng Anh: “Em là Juliet nhà Capulet ở Verona. Hãy nói cho em biết, làm sao chàng vào đây được, và sao lại làm vậy? Tường quanh vườn cây vừa cao vừa khó trèo. Chàng là người họ Montague như vậy, ngộ họ hàng em mà biết chàng ở đây thì chàng chỉ có chết.”*

(*Phạm Trọng Lệ sưu khảo và dịch.)



Hai người hát kịch bằng tiếng Anh xen lẫn tiếng Quảng, đổi hết lời kịch gốc hát chèn lung tung, ấy thế mà vẫn rất hợp, làm người nghe duy nhất là Sở Vọng vừa ôm bụng cười lăn lộn vừa tấm tắc khen, không để ý có người đi vào nhà, cũng không biết đã đứng sau lưng cô bao lâu, thấp giọng cười nói, “Ồ? Là “Juliet và…”?”

“… Và Chúc Anh Đài”.” Sở Vọng ngẩng đầu nhìn anh, cười nói, “Chào anh Tạ.”

“Chào cô ba.” Tạ Trạch Ích cúi đầu nhìn cuốn sách đặt trên bàn, bất chợt bật cười, “Hạ hạ, trung hạ, hạ hạ. Của ai mà thảm thế?”

“Chính là của kẻ kém cỏi này.” Sở Vọng cười đáp.

“Xin lỗi em vì lời vừa rồi, có điều quẻ đó vẫn tốt hơn so với quẻ của tôi ngày trước.” Tạ Trạch Ích cảm thán, “Không biết nói như vậy có an ủi được em không?”

“Tôi không để bụng đâu. Cơ mà… nghe nói quẻ của anh Tạ cũng khiến người ta cảm thán thở dài.”

“Tôi không tin vào trò này. Dù có cô độc suốt đời thì cũng không phải là chuyện xấu.” Tạ Trạch Ích cầm ổi lên cắn một miếng, nói với vẻ chẳng mấy bận tâm.

Tiếng đàn xếp dừng lại, Di Nhã nhấc váy, mỉm cười chạy xuống, ôm tay Tạ Trạch Ích, “Anh, sao anh lại đến đây!”

“Hát hay lắm.” Anh nói, “Cố ý đến tìm cô ba.”

“Ha?” Di Nhã tò mò.

Tạ Trạch Ích nheo mắt, tay sờ túi áo, lấy ra một chiếc bật lửa kiểu cũ. Quẹt mấy lần nhưng không có lửa.

Anh quay sang nói với Sở Vọng, “Chiếc này đã bị hỏng rồi… Tôi muốn tìm người làm một chiếc mới, đột nhiên nhớ ngày trước ở trên thuyền tới đảo xa, tôi có thấy chiếc bật lửa máy của bạn trai em một lần, thực tình rất muốn có nó. Quý ngài người Pháp kia nói với tôi là em có cách. Vì vậy tôi nghĩ, có thể tôi nên đến hỏi em xem đặt làm nó ở đâu thì được.”

“À, cái đó… Không có nữa đâu.” Sở Vọng nở nụ cười ái ngại, “Nhưng nếu anh muốn, tôi có thể cho anh địa chỉ liên lạc với ngài Dupont, có thể sẽ có những chiếc khác mà anh thích.”

“Vậy làm phiền cô ba rồi.” Tạ Trạch Ích cúi người với Sở Vọng, lại ăn một lát đu đủ, bình phẩm, “Ổi xí muội năm nay hơi đắng, nhưng đu đủ thì không tệ.”

“Rượu Federweisser năm nay ngọt lắm!” Di Nhã cười bảo, “Lát nữa anh ăn cơm ở chỗ bác A Kim hay vẫn là về chỗ tu nữ?”

“Tám giờ rưỡi tối nay anh phải lên thuyền về Thượng Hải. Đến đây thăm mấy đứa rồi phải xuống núi ngay, có lẽ sẽ không ở lại ăn cơm. Chơi vui vẻ nhé.”

Vừa dứt lời, Tạ Trạch Ích xoay người rời đi như một cơn gió. Chỉ trong chớp mắt, trong vườn đã không còn bóng dáng ai.

Sở Vọng âm thầm ghi nhớ: ra về cũng phóng khoáng thật. Tự mình xuống núi, không sợ bị chó rượt khắp núi à?

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau