GIỜ ĐANG NƠI ĐÂU

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giờ đang nơi đâu - Chương 61 - Chương 65

Chương 61: Người bệnh (5)

Đối với Sở Vọng, Từ Thiếu Khiêm là một người bạn nhã nhặn tốt bụng, còn với từ Văn Quân, anh lại là một trưởng bối trị gia rất nghiêm. Chính vì nguyên nhân này nên anh khó có thể hiểu được cháu trai của mình từ góc độ bạn bè.

Về mặt khác, bộ phận tính toán trong phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân đã đến giai đoạn lửa sém lông mày rồi, bắt buộc phải mời thêm ba nhân viên tính toán đến giúp đỡ. Cũng vì vậy mà trong mấy tháng qua, anh không có thời gian rảnh để quan tâm đến Từ Văn Quân. Nên dù Văn Quân đã bị bắt nạt ở trường một thời gian dài, Từ Thiếu Khiêm vẫn không hề hay biết.

Sở Vọng và Lương Chương cũng là cùng một kiểu người: hễ đã say mê với thứ gì đó thì sẽ trở nên rất tập trung. Có rất nhiều khi người ta đang nói chuyện với mình, thì vì trong đầu đang tăng tốc tính toán và suy nghĩ nên sẽ tự động xem nhẹ bọn họ. Thông thường khi người đối diện thao thao bất tuyệt nói xong hết rồi, cô mới đột ngột hoàn hồn, đáp một câu rất không liên quan: “Hở?”

Mà chị Từ lại chính là ngoại lệ với Từ Thiếu Khiêm. Cho dù có tăng ca trễ đến mấy thì cứ đến tối thứ Sáu, anh sẽ ra về đúng giờ —— “Xin lỗi, tối thứ Sáu tôi phải ở với vợ, đây là thói quen nhiều năm rồi.”

Lương Chương đã quá quen với thói quen này của anh.

Sở Vọng cũng phần nào hiểu được anh, vì vậy mà cảm thấy anh rất đáng khâm phục.

Cộng thêm gần đây hai người có nghe nói bệnh cũ của chị Từ tái phát, do hút thuốc phiện nên hệ miễn dịch đã suy giảm, mấy hôm trước lại vào cấp cứu một lần. Có lẽ đây là tâm bệnh của Từ Thiếu Khiêm, tuy anh không nhắc đến và hai người cũng vờ như không biết, nhưng bọn họ vẫn hiểu cho sự vắng mặt của anh vào tối thứ Sáu.

Suốt một mùa Đông dài, Sở Vọng đến nhà họ Từ cũng chỉ gặp chị Từ hai lần. Lần thứ nhất, nom chị Từ gầy hơn trước rất nhiều, cơ thể bé nhỏ cuộn tròn nằm trên ghế càng khiến chị trông già nua hơn. Từ Thiếu Khiêm đút chị ăn hết bát chè hạt sen, chị mới miễn cưỡng cười với Sở Vọng, nhưng không nói gì.

Từ Thiếu Khiêm lắc đầu, thở dài: “Phải cai thuốc thôi.”

Chị Từ ngoảnh mặt đi, không để ý đến anh.

Lần thứ hai gặp, hình như lần đó Từ Thiếu Khiêm đang tính toán trong phòng thí nghiệm. Lúc đến thăm nhà họ Từ, trông tinh thần chị khá hơn lần trước, đã có thể nói chuyện. Chị kéo tay Sở Vọng, nói: “Anh ấy có sự nghiệp của mình như thế rất tốt. Lần đầu tiên gặp anh nhà, tôi đã tin chắc chắn tiền đồ của anh ấy sau này sẽ xán lạn rộng mở, nhất định sẽ nổi danh. Tôi vẫn hay nghĩ, liệu có phải mình làm liên lụy đến anh ấy không. Người tốt như anh ấy thì nên cưới một người tốt hơn mới phải. Một cô gái tân thời có thể hiểu được ký hiệu biểu thức của anh ấy, đồng điệu với anh ấy, có thể không khiến anh ấy cảm thấy cô đơn, còn có thể giúp anh ấy rất nhiều trong sự nghiệp… Chứ không phải là một người bán thân bất toại phiền phức như tôi. Tôi chỉ mong sau này Văn Quân cũng xuất sắc được như anh ấy, như vậy mới không phụ thiên phú của nhà họ Từ.”

Sở Vọng há miệng, không biết phải an ủi chị Từ thế nào. Chưa bao giờ cô hy vọng có thể nhanh chóng làm xong luận văn về sự tồn tại của nơtron như bây giờ, để nhanh chóng viết thành bài phát biểu. Chữ ký của tác giả đầu tiên chắc chắn là Từ Thiếu Khiêm, và trong trang bìa của luận văn cũng sẽ viết: “Thân tặng bài viết này đến cô Từ, một người phụ nữ Trung Hoa truyền thống, đã âm thầm cống hiến rất nhiều cho chồng và gia đình”; Cô cũng hy vọng chị Từ sớm ngày cai thuốc để sống lâu hơn, để tương lai còn có thể mỉm cười Từ Thiếu Khiêm phát biểu khi nhận giải thưởng Nobel, có thể chính tai nghe anh đọc diễn văn: “Tôi rất muốn cám ơn vợ tôi.”

Sở Vọng đáp lời chị: “Chắc chắn rồi ạ.”

***

Theo như thường lệ, sau kỳ nghỉ Giáng Sinh sẽ là kỳ thi kết thúc học phần. Suốt cả học kỳ vừa qua, Sở Vọng tập trung vùi đầu trong phòng thí nghiệm hạt nhân nguyên tử, không mấy khi lên lớp nghe giảng. Chương trình học các môn khác còn tạm, chỉ mỗi môn phiên dịch tiếng Anh là làm cô phải vò đầu bứt tai. Thế là vào ba tuần trước lễ Giáng Sinh, Lương Chương và Từ Thiếu Khiêm cấm tiệt cô bước vào phòng thí nghiệm nửa bước, ra lệnh cho cô: “Muốn khoa học tiến bộ thì quý cô Lâm Trí phải hoàn thành sự học trước đã, trở thành ‘sinh viên ưu tú điểm tối đa’ mới được.”

Thí nghiệm nơtron đã sắp sửa hoàn thành, về sau chỉ cần xử lý số liệu và viết luận là được. Mà công việc thứ hai lại là điều Sở Vọng am hiểu nhất.

Nhưng vì giới hạn tuổi tác và nghiệp học nên cô chỉ biết thở dài, im lặng đeo cặp sách nghiêm túc làm học sinh giỏi.

Vào đầu mùa Đông, hợp đồng từ Pháp được gửi đến biệt thự họ Cát. Trên hợp đồng, yêu cầu của ngài Dupont với Sở Vọng không nhiều —— một tháng làm ra hai bản vẽ, lại còn cho cô 9% cổ phần và lương tháng sẽ được trả theo đồng phờ-răng khá cao.

Nhưng bà Cát còn muốn lấy nhiều cổ phần cho cô hơn nữa, đang định viết thư hồi âm thì bị Sở Vọng ngăn lại. Sau một hồi năn nỉ ỉ ôi, cuối cùng bà Cát mới từ bỏ ý định, tức tối ký tên.

Xin học sinh xuất sắc cùng lớp từ đại lục đến một bản dịch của môn phiên dịch, cô nhìn đi nhìn lại mấy lần, vẫn cảm thấy không khá hơn bài dịch của mình là bao. Ngoài việc học máy móc để tránh không qua môn, cô dành thời gian vẽ hai bản vẽ: một bản là bật lửa nhôm nằm trong đồng hồ quả quýt, một bản khác là bật lửa màu hồng kim và màu hồng phấn thiết kế đơn giản dành cho phái nữ, bên dưới góc phải vẽ thêm một bông hoa đào – cảm hứng đến từ một vài màu điện thoại được phụ nữ và người đồng tính yêu thích ở đời sau.
Sau khi thấy hai bản vẽ đó, bà Nguyễn cười nói: “Cái này khó đấy. Làm gì có mấy người phụ nữ mua bật lửa để hút thuốc?”

Ngài Saumur cũng nói: “Không phải thuốc của các quý cô đều do các quý ông châm sao?”

Sở Vọng trầm ngâm một lúc, rồi sau đó viết thêm một dòng trong thư gửi đi Paris: sau khi làm ra thành phẩm, có thể gửi cho tôi một chiếc được không? Sẽ trừ vào tiền lương.

Ngài Saumur thấy thế thì cũng viết thêm một câu vào cuối thư: cùng với một bộ váy Chanel mới nhất của phụ nữ ở Paris trong quý này, thêm đồ trang sức nữa. Kích cỡ: (số đo của Sở Vọng).

Sở Vọng oán thầm: đây là nhân viên ỷ có quan hệ tốt với bạn của ông chủ, nên mới cùng nha cấu kết chèn ép ông chủ đây mà!

Nhưng ai oán thì ai oán thế, cô vẫn vui vẻ tiếp nhận.

Gửi thư đi Pháp xong, cô nghĩ một lúc rồi rút ra một tờ giấy khác, đặt bút viết:

Anh Ngôn Tang,

Đến tận hôm nay vẫn chưa có dịp nói với anh: cám ơn món quà và ảnh của anh.

Mong anh thứ lỗi cho em vì đã lâu như thế mà không viết thư cho anh. Nhưng em đã kiểm tra hòm thư ngoài cửa nhà bác cả và cô út rất nhiều lần, cũng như hòm thư ở Du Ma Địa mà anh thường gửi thư đến, cuối cùng xác nhận: anh cũng không viết thư cho em.

Thế nên em đã tự an ủi mình: có lẽ đường xá xa xôi nên thư vận chuyển lâu ngày, vận chuyển một hồi rồi bị lạc mất?

Từ biệt ở bến Thượng Hải, sau khi về Hương Cảng em thực sự rất bận, không biết đang làm gì mà mới đó đã đến mùa Đông rồi. Sau Giáng Sinh sẽ thi một môn, em đang chăm chỉ học tiếng Anh, cũng muốn biên dịch “Xuất Sư Biểu”, “Trần Tình Biểu” và “Hạng Tích Hiên Chí”. Nói cho hay là “muốn truyền bá quốc túy với người da trắng”. Mất rất nhiều công sức mới dịch xong, nhưng nội dung lại khiến học sinh trung học cười đến rụng răng, chứ đừng nói gì tới việc xứng danh quốc học. Em có xin bạn học xuất sắc trong lớp một bản về nghiên cứu, nhưng vẫn có cảm giác chưa thoát ý. Thậm chí có vài chỗ ở bản gốc rất tinh túy, đến khi dịch ra lại quá thô, không chỉ mất đi cái chất vốn có mà càng khiến người ta thấy buồn cười. Quốc học chính là quốc học, đương nhiên trước đó phải thành thạo tiếng phổ thông, phải đọc đi đọc lại nhiều lần thì mới hiểu đượcẩn ý xuất sắc trong đó.Ở trang sau em có trích mấy câu kinh điển hóm hỉnh, vừa uyên bác vừa buồn cười.

Đành vội dừng bút ở đây,

Chúc anh bình an

Ngày 6 tháng 12 năm dân quốc thứ mười sáu

Sở Vọng

***

Lễ Giáng Sinh cuối năm 1927 trôi qua một cách êm ả bình dị. Có điều vì cứ đến ngày lễ là nhà họ Cát lại có rất nhiều party xã giao, nên Sở Vọng bị nhốt ở trong biệt thự nhà họ Kiều cùng với Chân Chân. Điều bất ngờ là Chân Chân không về Thượng Hải trong kỳ nghỉ này, tất cả bởi vì một người đàn ông quan trọng đầu tiên trong đời ngoài cha mình.

Một ngày trước ngày nghỉ Giáng Sinh, Diệp Văn Dữ dẫn các thành viên trong đội tennis đến bên ngoài trường nữ sinh tư thục Hương Cảng, tiến hành nghi thức theo đuổi rất điên cuồng. Bảy tám chàng trai cao to đầy khí thế, một người cầm hoa hồng đứng trên đường, Diệp Văn Dữ cùng một thành viên chính khác không biết lấy từ đâu ra một đống pháo. Vì pháo đã bỏ không rất nhiều ngày, thời tiết lại còn ẩm ướt, sợ chờ đến lúc Chân Chân đi ra thì sẽ không đốt được, như vậy sẽ giảm khí thế. Vậy là có người đề nghị: “Hay thử trước vài cái đi?”

Tuy pháo đã ướt nhưng công năng vẫn còn đó, tiếng nổ rất vang. Không đợi các nữ sinh tan học, các chàng trai ôm hoa hồng đã thu hút ánh nhìn của rất nhiều người qua đường. Đốt pháo xong thì lại rước lấy phiền toái từ cảnh sát Anh Quốc. Bọn họ tưởng người Nam Dương nổ súng bắn nhau ở đây, thế là đồng loạt bắt cả đám đến đồn cảnh sát. Một người trong số họ vì lì lợm mà còn bị cảnh sát đấm một phát. Bị vặn hỏi lục soát liên tục, không tìm thấy súng hay lựu đạn đâu, lại nghe nói là đến để tỏ tình, thế là cảnh sát phái mấy người đến trường nữ sinh Hương Cảng, mời Chân Chân đang trong giờ tiếng Pháp đến đồn.

Chân Chân còn chưa chứng kiến màn tỏ tình dành riêng cho mình thì đã lơ mơ bị cảnh sát đưa đến đồn chuộc người. Đạp cửa đồn cảnh sát đi vào, thấy bảy tám chàng trai nước da rám nắng bị còng tay ngồi trên băng ghế, một trong số đó còn bị đánh sưng mặt. Các chàng trai cao to là thế, vậy mà vừa thấy Chân Chân đi vào là lại như thấy nữ thần giáng thế, hoan hô hò reo.

Tình cảnh lúc đó có thể nói rất buồn cười. Lại được Chân Chân miêu tả sinh động, thành công làm Di Nhã và Sở Vọng cười ngất suốt cả lễ Giáng Sinh.

Không hưởng thụ được màn theo đuổi long trọng, Chân Chân vô cùng bất mãn với lần này. Nhưng màn tỏ tình lại chuyển đến đồn cảnh sát, dù buồn cười thật song cũng được xem là khá rầm rộ.

Thế là Chân Chân và Diệp Văn Dữ yêu nhau.

Ngoài việc có hơi ngốc nghếch và trong đời có vết bẩn là từng thích Lâm Doãn Yên ra, thì nhìn chung Diệp Văn Dữ vẫn là một đối tượng tốt. Dù gì trong cuộc đời, có ai mà không có một vài lịch sử đen tối?

Chỉ có điều, Diệp Văn Dữ trong miệng Tiết Chân Chân dù có ngốc nghếch thì vẫn đẹp trai hào hoa, độc nhất vô nhị.

Con gái rơi vào lưới tình thì thường hy vọng cả thế giới cũng ngập tràn bong bóng màu hồng. Nên không chỉ dưới một lần cô ấy nói với Sở Vọng rằng: “Chị rất hy vọng Di Nhã có thể có một mối tình bình thường.”

Đối với lời cảm khái này của cô nàng, Sở Vọng thay Di Nhã ngầm hiểu chứ không nói với cô ấy.

Có điều đồng thời cô cũng đoán xem Chân Chân có nói những lời tương tự như thế với Di Nhã không, ví dụ như: Tôi hy vọng em ấy không có cái hôn ước đáng chết kia, như vậy thì có thể hưởng thụ được điều tốt đẹp của tình yêu tự do. Hoặc là: Sao em ấy không đi châu Âu, danh ngôn chính thuận hẹn hò yêu nhau? Tay nắm tay đến nước Anh, dạo chơi cả nước Pháp, đi khắp muôn sông nghìn núi, tương lai viết thành tiểu sử để đời sau ngợi ca, lãng mạn biết mấy!

Chương 62: Người bệnh (6)

Ngày cô nhận được thư hồi âm là ngày thi xong môn phiên dịch.

Hình thức thi của môn này là thi dịch miệng. Giáo viên đọc nguyên văn một câu trong tác phẩm cổ, sinh viên ngồi tại chỗ dịch lại câu này kèm theo ngữ cảnh. Sở Vọng nhiều lần trả lời rất buồn cười, làm các bạn học cười no bụng. Có điều cô cũng chỉ là một trong rất nhiều người tạo ra tiếng cười ở phòng thi, nên không đến mức khiến người ta chú ý.

Kết thúc môn thi dở khóc dở cười, cô mới đọc thư Ngôn Tang gửi đến. Hai bản dịch khá rõ ràng, một lần nữa không phụ hình tượng văn nhân dân quốc hùng vĩ trong lòng Sở Vọng.

Thư hồi âm của Ngôn Tang rất đơn giản: chữ viết mực đen bút máy phóng khoáng nối nhau, kín hai mặt giấy, dịch ra tiếng Anh cực kỳ chói mắt: The First Memorial to the Throne on his Expedition (Xuất Sư Biểu); A Letter to the Majesty (Trần Tình Biểu).

Sở Vọng đọc hai bản dịch thô lần thứ nhất, cảm thấy từng câu từng chữ như đơm châu nạm ngọc; đọc đến lần thứ hai, thấm thía cảm khái đây đúng là tác phẩm siêu xuất sắc tổng hợp rất nhiều ưu điểm của bài viết IELTS 9.0 cùng với luận văn thi vào đại học. Cộng thêm chữ anh rất đẹp, Sở Vọng hận một nỗi không thể dán bồi giấy, coi như bảo bối mà giấu nó đi.

Có điều, ngoài hai bản dịch này ra thì chỉ có đôi câu vài lời. Không có thư hồi âm và cũng không có thơ.

Xác nhận xong, Sở Vọng không biết nên hồi âm như thế nào nữa. Kể cho anh nghe về chuyện cười ở phòng thi à?

Có lẽ đợi thi xong hết rồi báo cho anh thì sẽ hay hơn.

Sau khi thi xong tất cả các môn, Sở Vọng lập tức chạy thẳng đến phòng thí nghiệm. Rất nhiều nhân viên tính toán đã làm xong công việc của cô, cầm đủ tiền lương rồi rời đi. Sau kỳ thi học kỳ, gần như sinh viên đều chọn du lịch gần Hương Cảng, nên phòng thí nghiệm cũng quay về với vẻ quạnh quẽ của ngày trước.

Từ Thiếu Khiêm toàn quyền giao nhiệm vụ phác thảo luận văn cho Lương Chương. Lúc Sở Vọng ôm cặp sách chạy đến phòng thí nghiệm ở cuối hành lang, Lương Chương đang rất khí thế khoe khoang thành quả anh ta khổ chiến suốt kỳ nghỉ Giáng Sinh cộng thêm một tháng năm mới với Từ Thiếu Khiêm.

Bài luận tiếng Anh dài ba mươi trang, không tính mục lục trích dẫn và lời cám ơn.

Sở Vọng gãi đầu.

Nhưng hình như nội dung lại chưa được một trang của “Sự tồn tại của nơtron” của James Chadwick viết ngày trước nữa thì phải?

Vậy Lương Chương đã viết cái gì trong 29 trang còn lại thế?

Từ Thiếu Khiêm đọc lướt rất nhanh, lông mày chau lại. Sau đó anh lôi bút máy ra, thấy câu nào không hài lòng là quả quyết gạch bỏ.

Từ Thiếu Khiêm gạch đường nào là Lương Chương lại run bắn lên, còn Từ Thiếu Khiêm chẳng hề nhúc nhích. Thỉnh thoảng có rất nhiều câu anh không hài lòng, cả mấy trang giấy bị gạch hết, chỉ chừa một câu nửa câu có vẻ hữu dụng.

Lương Chương ngồi ngay ngắn cạnh Từ Thiếu Khiêm, dùng vẻ mặt bị tráng như lâm đại địch mà chất vấn anh: “Cậu nghiêm túc đấy hả Thiếu Khiêm? Tôi đứt ruột đứt gan suốt thời gian qua, từng con chữ một đều quý báu như ngọc trai. Mỗi một từ trong này đều là do tôi dứt ruột đẻ ra! Hai ta tình cảm nhiều năm là vậy, thế mà cậu lại nhẫn tâm bóp chết con! Lại còn một lần bóp chết nhiều như thế! Nhiều-đến-thế! Gạch hết chỉ còn chưa tới ba trang! Ôi trời ơi!”

Từ Thiếu Khiêm giơ ngón trỏ xoa huyệt Thái Dương, không buồn ngẩng đầu lên, “Phần còn lại phải xóa hết.”

“!!”

Từ Thiếu Khiêm cau mày: “Viết dài dòng quá. Sao không dành sức lực đó để tìm vợ đi?”

“Dài dòng chỗ nào? Không hề!”

Từ Thiếu Khiêm đưa ba mươi trang bản thảo cho Sở Vọng, nói, “Em lại xem đi, có thấy dài dòng không?”

Sở Vọng nhanh chóng lật từng trang một, kết thúc ba phút chiến đấu, cuối cùng tổng kết: “Có ạ.”Từ Thiếu Khiêm vỗ tay, cười nói, “Cậu thấy chưa, tôi rất nghiêm túc.”

Sở Vọng nhận lấy bút máy Từ Thiếu Khiêm đặt bên cạnh, lại xóa đi mấy phó từ thừa thãi rồi trả lại cho anh. Từ Thiếu Khiêm xem xong bèn gật đầu, “Thuận mắt hơn rồi.”

Lương Chương phát điên, mười ngón tay vò tóc càng trông rất nghệ thuật: “Hai người đang phạm tội đấy nhé! Phạm tội!”

Sở Vọng đột nhiên nghĩ đến một chuyện, hỏi: “Anh vẫn chưa cưới vợ sao, người nhà không lo à?”

Từ Thiếu Khiêm cười bảo: “Người nhà cậu ta đã tuyệt vọng vì cậu con trai này lắm rồi, nhất trí cho rằng cậu ta không có hứng thú với phái nữ.”

Là một hủ nữ thâm niên, Sở Vọng bừng tỉnh hiểu ra. Ồ ~ thì ra là vậy.

Thế là cô lại nghĩ sâu xa hơn, cẩn thận thăm dò “thuộc tính” của Lương Chương. Shinpachi* – thụ chính hiệu. Cô tổng kết.

(*Shinpachi là nhân vật trong bộ truyện tranh Gintama nổi tiếng. Vì Shinpachi cũng đeo kính nên tác giả đã liên hệ anh với Lương Chương. Ở trong truyện, Shinpachi không thích đàn ông, nhưng anh có dáng vẻ khá thư sinh nên hay được các hủ nữ gọi là thụ.)

Về sau cô mới phát hiện là mình đã hiểu nhầm ý của Từ Thiếu Khiêm. Lương Chương say đắm học thuật, bạn gái tên là Vật Lý, vì thế nên mới không có thời gian rảnh để về Phúc Kiến kết hôn. Người nhà ép cưới nhiều năm, thậm chí còn bị mẹ già mấy lần treo cổ nhảy sông uy hiếp, nhưng cuối cùng vẫn đành thỏa hiệp từ bỏ.

“Có lẽ sau này sẽ có, vào một ngày khi giới khoa học mở rộng cánh cửa với các nhà vật lý nữ, nhất định cậu ta sẽ có một người yêu sẵn sàng cùng cậu ta vùi đầu trong phòng thí nghiệm cả ngày.” Từ Thiếu Khiêm nửa đùa nửa nghiêm túc nói, “Tôi rất mong đến ngày ấy.”

***

Tạm gác Lương Chương sang một bên, Sở Vọng vô tình biết được bí mật không thể bật mí từ một người khác.

Lúc nhắc đến ngài Saumur, bà Cát từng rất tò mò hỏi Sở Vọng: “Vì sao lại gọi là ngài Saumur? Saumur không phải tên à? Ông ấy họ gì?”Ngày trước Sở Vọng không thường xuyên tự giác phân biệt tên họ tiếng Anh, nên chưa bao giờ thắc mắc về vấn đề đó. Chỉ có điều sau khi nghe bà Cát hỏi vậy, trong lòng cô cũng thoáng nghi ngờ.

Cho đến một hôm nào đó, vào cái tuần ngài Saumur đến đại lục, có một phong thư khẩn được gửi đến Du Ma Địa. Vì thư dính nước nên bị hư hại, lúc thưa được đưa cho bà Nguyễn, một tấm hình bất chợt rơi ra.

Trên lá thư viết bằng tiếng Pháp: Khẩn! Nhất định phải lấy gấp! Nhất định phải nhắc người nhận nhanh chóng hồi âm!

Bà Nguyễn sốt ruột nhưng lại không thể tự tiện quyết định thay ngài Saumur, thế là bà gọi Sở Vọng đến nghĩ cách hộ mình.

Sở Vọng nhìn tấm ảnh nọ.

Là một tấm ảnh đen trắng. Chủ nhân tấm ảnh trông chưa đến hai mươi tuổi, là một chàng trai tóc vàng mắt xanh, đôi mắt sâu hoắm. Chàng trai ấy nở nụ cười rất tự nhiên —— là nụ cười đúng tiêu chuẩn của bà Cát: một nụ cười quý phái.

Sau tấm ảnh đề hai cái tên bằng bút chì: Ảnh gửi Frank Luca – 1901 tại York, đến từ Saumur Perry.

Sở Vọng bừng tỉnh. Thì ra ngài Saumur không phải họ Luca, vì Luca là họ của người tên Frank này.

Đây chính là người nhận mà ngài Saumur hay gửi thư đến Pháp sao?

Bà Nguyễn áy náy nói: “Lúc thư đưa đến… Dì vô tình trông thấy nội dung, chỉ có một lời, nói là, ‘trùng tu nghĩa địa, rất nhiều di hài và tro cốt cần bố trí lại…’ “

Sở Vọng giật mình, cầm lá thư trên tay. Địa chỉ gửi thư đến từ Pháp, Loos-en-Gohelle.

Sở Vọng lại nhìn tấm ảnh kia – nụ cười tươi tắn chói lọi, nhưng vì là ảnh đen trắng nên trông có vẻ cô đơn, tựa như người ấy đã một thân một mình đứng lặng nơi đó nhiều năm, cô đơn mỉm cười đã nhiều năm.

Cô đã thấy rất nhiều tấm ảnh như thế —— trong nghĩa địa, trên bia mộ, ảnh của chủ nhân ngôi mộ.

Loos-en-Gohelle, Loos-en-Gohelle.

Đây là một thị trấn nhỏ chứa hài cốt của lính Anh đã tử trận tại Pháp trong Thế chiến thứ nhất.

Bà Nguyễn bất an nói, “Dì chỉ vô tình thấy thôi, không cố ý.”

Sở Vọng trấn an bà Nguyễn rồi lấy lại bình tĩnh, nhét ảnh vào lại phong thư hồi âm, đặt lên bàn sách của ngài Saumur. Sau đó cô lật xem trong danh sách khách hay đến Du Ma Địa gần đây có người Phúc Kiến không, hoặc là có nguyên quán ở Phúc Kiến. Mới mở ra phần thông tin địa chỉ, cô đã thấy ở cuối trang mới nhất có một người —— cô dâu sắp gả từ Phúc Kiến đến Hương Cảng.

Đằng sau có số điện thoại bốn chữ số do ngài Saumur ghi lại.

Sở Vọng vội dùng bốt điện thoại công cộng gọi điện, bình tĩnh báo cho ngài Saumur: có một lá thư được gửi đến từ Pháp, là thư khẩn, có lẽ cần ông quay về nội trong tuần này.

Ngài Saumur nghe thế, rất bình tĩnh nói: “Tôi sắp về Hương Cảng rồi. Cám ơn cháu nhiều.”

Chương 63: Người bệnh (7)

Trong phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân, không dưới 30 lần Lương Chương lấy cái đầu trên cổ ra uy hiếp, ép Từ Thiếu Khiêm và Sở Vọng biến ba trang luận văn sau khi được tóm tắt kia thành bản thảo hoàn chỉnh để gửi đến Báo Hội hoàng gia Luân Đôn.

Thử tưởng tượng nhé: một người đàn ông Đông Nam Trung Quốc điển hình không quá cao, vừa gầy vừa đen như Lương Chương cầm trong tay một xấp tài liệu gồm ba trang, ngồi trên ghế gỗ, hai mắt sáng quắc tuyên bố: “Đây có thể là bài luận mang tính vượt thời đại! Dù bài viết này có bao nhiêu chữ, bao nhiêu trang, bao nhiêu tu từ, bao nhiêu dông dài đi nữa… Đừng nói là đám người ở Bắc Kinh, Thanh Hoa hay Nam Khai, dù đến người ‘trâu bò’ ở phòng thí nghiệm Cavendish cũng chỉ thế mà thôi, không phải mất mười tám năm mà cũng chưa ra ngô ra khoai gì đấy sao? Thử hỏi xem có tập san nào dám từ chối đăng bài này không!” Anh ta vỗ vào mấy tờ giấy, dõng dạc lớn tiếng, “Ai nỡ từ chối bài viết thế này!”

Từ Thiếu Khiêm tựa vào tay vịn trên ghế, giọng điệu cực kỳ nhạt nhẽo, thái độ lạnh lùng: “Dưới điều kiện đã có hơn mười triệu người đọc qua bài viết này, cậu càng phải rõ một điều: tới bà ngoại cậu cũng không có hứng nghe cậu nói nhảm, chứ đừng nói đến đám người xem xét bản thảo chuyên bới lông tìm vết kia. Nếu cậu không muốn chúng ta bị chế giễu thì càng phải viết cho rành mạch rõ ràng vào, lời ít nhưng ý nhiều. Lương Chương, cậu phải biết rõ, bài luận văn hiện nay trong tay cậu chỉ là đồ bỏ đi. Ngoài hai chữ bỏ đi, tôi không tìm được từ nào thích hợp hơn nữa.”

Lương Chương: “… Đây là đồ bỏ đi? Dựa vào đâu hả?”

Từ Thiếu Khiêm bồi thêm một câu: “Đúng thế, là đồ bỏ đi. Bản thảo thô cậu đưa cho tôi là bullshit. Bây giờ đã đỡ hơn rồi, là đồ bỏ đi.”

Sở Vọng không ngờ khi nhắc đến chuyên ngành, Từ Thiếu Khiêm lại có thể nói ra những câu độc địa như thế. Cô như nhớ lại cơn ác mộng hồi học thạc sĩ, vị giảng viên kia cầm kính đeo lên nhiều lần, mặt lạnh tanh đọc hết luận văn của cô, đọc đến đâu lại gạch đến đấy, cũng nói với cô rất nhiều lần: “Đọc không hiểu! Đừng trả treo với tôi là vì tiếng mẹ đẻ của chị không phải là tiếng Anh! Cách chọn từ đặt câu của chị không hề logic, đây không phải vấn đề ngôn ngữ!”

Cô hiểu rất rõ cảm nhận đó.

Một chậu nước lạnh xối tắt nhiệt tình, Sở Vọng nở nụ cười đồng cảm với Lương Chương.

“Viết lại toàn bộ những câu dài thành câu đơn – không cần phải ghép câu làm gì. Viết luận văn học thuật chứ không phải học Đỗ Phủ làm thơ, học thi nhân dốc lòng ngâm nga…”

Sở Vọng xoa đầu, đang nghĩ không biết nhắc đến Đỗ Phủ và thi nhân ngâm nga làm gì, thì Lương Chương đã lập tức lệ rơi đầy mặt tiếp lời: “Hai câu làm mất ba năm. Một ngâm, lã chã hai hàng lệ rơi?”*

(*Hai câu trích trong bài Đề thi hậu của GiảĐảo, Trần Trọng San dịch.)

Từ Thiếu Khiêm có cảm giác trẻ nhỏ dễ dạy, hài lòng gật đầu, “Có thể nói như vậy.”

Sở Vọng thật sự muốn quỳ lạy hai người.

***

Chỉ vì mỗi lần gạch đi một chữ là lại như đòi mạng Lương Chương, nên nhiệm vụ sửa nốt phần luận văn còn lại rơi vào tay Từ Thiếu Khiêm. Tuy chỉ cần sửa nội dung ba trang thôi nhưng anh lại mất gần một tháng. Phải cân nhắc chi tiết lại lần nữa, rồi thử điều chỉnh những thí nghiệm sai nhiều lần, sau cùng còn tiến hành tính toán vi phân; chải chuốt dàn bài luận văn, sửa lại những câu dài và rối rắm…

Chỉ cần Sở Vọng và Lương Chương có mặt ở phòng thí nghiệm thì nhất định cũng có mặt anh; còn lúc cô không đến, thỉnh thoảng tan học đi ngang qua bên ngoài phòng thí nghiệm, cửa sổ ở chỗ Từ Thiếu Khiêm ngồi vẫn sáng đèn.

Cũng vì vậy mà trong một tháng đó, số lần chị Từ có thể thấy Từ Thiếu Khiêm ít đi rất nhiều.

Nhưng chị Từ chỉ nói: “Cứ ở với tôi làm gì? Anh ấy mà không đến trường thì tôi cũng ép anh ấy đi.”

Chị Từ thường hay bảo Sở Vọng kể vài chuyện thú vị ở phòng thí nghiệm cho chị nghe. Cô kể hai câu chuyện bản thân thấy buồn cười, nhưng kể xong lại thấy chị Từ mặt mày khó hiểu, hỏi liền mấy câu nhưng cũng không hiểu nổi buồn cười chỗ nào. Dần dần, Sở Vọng cũng không biết nói thế nào nữa, chị Từ cũng thôi hỏi chuyện.

Chị Từ cười giải vây: “Tôi vẫn thích em đến chơi với tôi hơn. Gần đây tôi khỏe hơn trước rồi, mấy tháng nay ăn nhiều nên cũng mập lên mấy cân, em xem mỡ thừa của tôi này… Ôi chao.”

Mùa Đông trôi qua, đột nhiên chị Từ có hứng thú với thời trang mùa Xuân đang thịnh hành.

Ngày hôm ấy cô mặc váy lụa màu xanh, giữa những nếp gấp ẩn hiện thạch lựu đỏ thắm diễm lệ.

Chị Từ nói: “Đẹp thì có đẹp, rất tôn màu da, nhưng trông già quá, không đẹp bằng bộ váy đỏ nhạt khoác áo màu quả trám lần trước em mặc.”

Sở Vọng cười nói: “Cô của em cũng nói thế.”

Chị Từ bảo: “Cô út của em đúng là một người tuyệt vời.”

Sở Vọng cười bảo: “Cô út chê mắt thẩm mỹ của em, hay mắng em lắm.”

Chị Từ nói: “Em nhìn xem phong cách thời trang của bà ấy với các phu nhân ngày nay, có thể phê bình gì nữa?”

Sở Vọng nghiêm túc suy nghĩ, nói: “Hiện giờ có vẻ các phu nhân đang chuộng mặc áo khoác đen. Lúc cô út đánh mạt chược, em hay thấy vài phu nhân mặc như vậy, trông rất có khí thế. Cô út hay bảo: ‘Áo quần như thế thì người phải gầy và trắng thì mặc mới đẹp. Không hiểu nổi vì sao đám người kia, cứ hễ kết hôn là lại phát tướng tăng cân, mặc thêm áo khoác lông càng làm mình mập lên. Nhưng con gái trẻ thì mặc không được, bởi vì trông khá già’.”

Thật ra nguyên văn của cô út là: “Nhưng làm vợ rồi sinh con thì sẽ có phúc.” Cô cân nhắc trước sau, quyết định lược bỏ đoạn đó đi. Sau đó lại bổ sung một câu: “Cho nên cô mặc thế này là hợp lắm rồi ạ.”

Chị Từ nghe thế thì rất vui, lại bảo cô đề cử mấy người thợ may.

Sở Vọng nói: “Tuy giờ đang đầu xuân, nhưng chỉ chớp mắt Hương Cảng sẽ vào hè. Nếu mời thợ may đến, còn chưa kịp mặc đồ đã phải may thêm quần áo mùa hè. Nên khi đến Thượng Hải, cô út thường tới tiệm thời trang thử quần áo, không cần mời thợ may làm gì.”

Chị Từ lại hỏi tên cửa hàng thời trang.

Sở Vọng nhớ lại rồi đáp, “Hình như có một tiệm tên là Lưu Du và Phẩm Phúc thì phải… Hình như tên là thế, em cũng không chắc lắm. Để hôm nào em hỏi cô út bao giờ đi Thượng Hải, nhờ cô ấy mang mấy bộ vừa số đo của cô về là được ạ. Cô em nghe nói cô và giáo sư Từ luôn quan tâm chăm sóc em, vẫn không biết nên đền đáp thế nào.”

Chị Từ cũng không từ chối. Một lúc sau, chị lại hỏi, “Mấy ngày nay trong trường bận lắm à, sao không thấy Văn Dữ đến chơi?”
Sở Vọng cười nói: “Anh ta hả, quen bạn gái rồi.”

Chị Từ cảm thấy hứng thú, hỏi là con gái nhà ai.

Sở Vọng lúng liếng đôi mắt, đối phó trả lời, “Là một cô gái từ đại lục đến, thi ca đều biết, là một cô gái rất tốt.”

Gần đây chị Từ rất có hứng thú với nhiều chuyện, nghiêm túc đặt câu hỏi, nhưng lại không có thấy có phản ứng lắm với câu trả lời của Sở Vọng. Có lẽ vì bị bệnh quanh năm suốt tháng, bây giờ thân thể khỏe hơn đôi chút, năng lượng toàn thân đều dùng để sinh trưởng tế bào nên suy nghĩ không theo kịp.

Sở Vọng ở lại nói chuyện với chị Từ cả một ngày, lúc về thì tình cờ gặp Diệp Văn Dữ đến thăm chị Từ. Hai người đối mặt, tùy ý trêu ghẹo đôi câu rồi Sở Vọng để anh ta đi vào.

“Vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo đến.” Chị Từ trông thấy anh ta, chống cằm cười cười.

Diệp Văn Dữ nói: “Thím và em ấy nói gì cháu à?”

“Có bạn gái mà còn giấu giếm, không nói gì với thím luôn hả?” chị Từ giận mắng.

Diệp Văn Dữ cười ha ha: “Gia giáo cô ấy nghiêm lắm. Mỗi lần hẹn cô ấy ra ngoài là phải dẫn theo vài ba người đi cùng, không thể làm xấu danh tiếng của cô ấy được. Xin thím giữ bí mất hộ cháu.”

Chị Từ cười gật đầu.

Qua một lúc, chị lại hỏi: “Cháu cảm thấy so với hồi Sở Vọng mới đi học thì bây giờ có gì khác không?”

Diệp Văn Dữ bật cười: “Hình như đẹp ra rất nhiều? Dạo gần đây trong trường lén lút bầu chọn hoa khôi, mấy tháng nay em ấy lại bỗng dưng nhảy ào vào bảng xếp hạng. Có lúc ở trên lớp, cánh nam sinh cứ chọn chỗ ngồi gần em ấy.” Có lẽ bình chọn hoa khôi trường  là trò tiêu khiển trên lớp của các cậu chàng trong độ tuổi này. Tuy nói chỉ là đùa vui, song kết quả vẫn đáng để tham khảo.

“Vậy em ấy thế nào?”

“Em ấy hả? Cả ngày cũng chỉ biết giải phương trình vi phân và làm thí nghiệm vật lý. Hình như chưa bao giờ để ai vào mắt cả.”

Chị Từ mỉm cười, hiểu được sự thay đổi của Sở Vọng trong hơn nửa năm qua, không chỉ mỗi việc cao lên. Chính chị cũng bước ra từ thâm môn đại viện, biết rõ khuê nữ nhà giàu và nhà bình thường được dạy dỗ khác nhau như thế nào. Từ lời ăn tiếng nói của Sở Vọng toát lên sự trang nhã hiếm có. Mà sự trang nhã đó lại bao hàm rất nhiều cấp bậc lễ nghĩa của triều đại mới thể hiện qua đôi mắt sáng rực và nụ cười tự tin ấy, khác với sự khoan thai thi lễ của khuê tú thời xưa. Nhưng chị biết, những lời ăn tiếng nói đó đâu phải là giáo dưỡng do nhà bình thường dạy dỗ là ra. Với vốn từ ngữ hiện đại ít ỏi của chị Từ: đó là cử chỉ văn nhã lễ độ, là một cô gái quý tộc kiểu mới chân chính.

Ngoài sự khác biệt ở phong thái ra, điểm khác nhất còn đến từ bề ngoài của Sở Vọng. Cơ thể nảy nở cao hơn, mái tóc đen nhánh xoăn nhẹ cong lên, càng khiến dải ngân hà trong đôi mắt đen lấp lánh tinh nghịch, chóp mũi cao nom thật hoạt bát, khóe môi khẽ cong cong, dù lúc không cười cũng khiến người ta có cảm giác cô đang cười nhìn mình: là một nụ cười mỉa mai khi nhìn thấu mọi sự. Có lúc bạn sẽ rất ghét “nụ cười” đó, vậy nhưng lại chẳng thể nổi giận với một cô gái bé nhỏ như thế được, thế là đánh biến thành khiển trách, rồi dần dà sự khiển trách ấy lại vô tình biến thành yêu thích từ trong thâm tâm.

“Là một cô gái tốt. Đã đẹp lại thông minh, ai mà chẳng thích?” chị Từ cười x nói, dù có mặt người ngoài thì chị vẫn không che giấu sự yêu mến với Sở Vọng.

Mà vào những lúc như thế, Từ Văn Quân thường im lặng nhìn chị – nhìn với ánh mắt như một bác sĩ nhìn bệnh nhân bị bệnh nặng không thể nào chữa khỏi – im lặng chuẩn bị bài vở của mình, đi vào phòng.

***

Cuối cùng thì “Sự tồn tại của nơtron” được rút gọn còn một trang rưỡi.Ngày hoàn thành bản thảo, Từ Thiếu Khiêm mời Sở Vọng và Lương Chương đến đọc qua một lượt, hai người cũng bày tỏ không cần sửa gì.

Chỉ có một điều…

Lương Chương cau mày: “Vì sao tên tác giả đầu tiên lại là tôi?”

Từ Thiếu Khiêm cười bảo: “Là ai cũng như nhau cả. Học vị của tôi không lên được nữa nên không cần thêm hư danh làm gì. Còn cậu đấy, cậu cũng nên tìm vợ mà thành gia lập thất cho rồi.”

Lương Chương nói: “Tôi không lo chuyện đó. Theo như cậu nói, không bằng đề tên bé con làm tác giả đầu tiên đi. Không phải như thế thanh danh sau này sẽ vang dội hơn sao? —— Đại học Hương Cảng có một thiên tài! Kiểu gì mọi người cũng muốn đến học cho xem.”

“Tuyệt đối không được.” Từ Thiếu Khiêm càng cau mày: “Em ấy còn nhỏ, không gánh nổi trách nhiệm ấy. Nếu sau này em ấy bị tổn thương vì chuyện đó, cậu có gánh nổi không?”

Lương Chương cười khà: “Tôi đùa thôi mà, nghiêm túc thế làm gì?”

Có điều khi cầm bản thảo đến phòng in trong trường để nhân viên đánh máy người Nga in ra, Sở Vọng và Lương Chương tự tiện quyết định, đồng lòng sửa tên tác giả đầu tiên thành hai chữ “Từ Lai”.

Đặt luận văn vào phong bì rồi dán kín, ba người bắt đầu chọn xem nên gửi đến tập san nào.

“Đương nhiên sẽ là Báo Hội hoàng gia Luân Đôn rồi!” Lương Chương phát ngôn cực kỳ đanh thép, “Để cho đám ngu si Cavendish, Viện Vật lý lý thuyết Copenhagen và sở nghiên cứu Leiden cả vú lấp miệng em phải coi chừng!”

“Không! Báo Hội hoàng gia gì chứ!” Sở Vọng như muốn lật bàn: “Phải là báo Khoa học Tự nhiên!”

“Báo Hội hoàng gia!”

“Khoa học Tự nhiên!”



Từ Thiếu Khiêm cười lắc đầu, giải thích với Lương Chương: “Đngs là học sinh ở vùng thuộc địa Anh biết về Hoàng gia Anh nhiều hơn, nhưng tôi nghĩ vẫn nên chọn Khoa học Tự nhiên thì hơn.”

Lương Chương ôm đầu gào thét: “Du học sinh Âu Mỹ các cậu toàn xem thường dân du học New England* chúng tôi! Tôi biết mà!”

(*Chú thích của tác giả: New England là cách nói của thời kỳ dân quốc khi nhắc đến New Zealand.)

Từ Thiếu Khiêm cười nói: “Không phải thế.”

“Chính cậu như vậy!”

Từ Thiếu Khiêm vẫn mỉm cười: “Tôi chỉ xem thường cậu thôi.”

Sở Vọng vỗ tay cười to.

Đến cuối cùng vẫn chọn gửi luận văn đến nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên. Ba người bước ra khỏi bưu cục, một lần nữa Lương Chương không kìm nén nổi cơn hưng phấn, đứng ngay trên đường cười to, miệng hét lớn: “Sau này gặp mặt xin hãy ngưỡng mộ tôi! Bất luận là đại học Bắc Kinh hay đại học Nam Khai, hay thậm chí là Cavendish và Laiden!”

Anh ta vừa cười vừa chạy vòng vòng, còn khuỵu gối xuống hôn lên mặt đất: “Nơtron! Anh yêu em!”

Sở Vọng và Từ Thiếu Khiêm lặng lẽ tránh ra xa.

Dạo gần đây Từ Thiếu Khiêm khá trầm, chỉ cần yên lặng là anh lại chau mày. Có điều Sở Vọng biết, đó là trạng thái khi một người đang suy tính điều gì đấy.

Hai người bước đi cùng nhau một quãng, Sở Vọng im lặng nhìn anh, bụng nghĩ: một thời gian dài sau khi tìm ra Nơtron, cánh cửa mở ra đầu tiên chính là Vật lý thiên văn*: Sao đặc, sao nơtron, sao già và sao lùn trắng, vân vân… Nhưng về phản ứng phân hạch, phải sáu năm sau khi nhà khoa học nữ tình cờ đi dạo mới nghĩ đến**.

(*Cho những ai đã quên, Từ Thiếu Khiêm là giáo sư hai bộ môn Vật lý thiên văn và Vật lý hạt nhân.)

(*Lise Meitner trong lúc đi dạo trên bãi tuyết, bà bất chợt nghĩ đến hình ảnh các hạt nhân nguyên tử đang nhảy nhót và còn có thể nghe thấy âm thanh giòn giã khi nguyên tử bị phân chia, từ đó tìm ra nguyên nhân đằng sau việc nhiều lần thí nghiệm thất bại.)

Vậy vào lúc này, Từ Thiếu Khiêm đang nghĩ đến hằng tinh mật độ cao, hay là sau khi phân tách hạt nhân urani, thành phẩm có được lại không bằng trước?

Nếu là vế trước, vậy thì cô còn có rất nhiều thời gian để kỳ vọng “Sự tồn tại của nơtron” sẽ mang đến tiếng tăm lừng lẫy cho đại học Hương Cảng, có thể đưa đến rất nhiều người thanh danh hiển hách.

Còn nếu là vế sau, với cục diện hiện tại, phải làm thế nào thì mới thắng được các tuyển thủ mạnh trong cuộc chạy đua nước rút đây?

Chương 64: Người bệnh (8)

Lúc mọi chuyện liên quan đến luận văn về nơtron khép lại thì cũng là lúc sinh viên Hương Cảng háo hức nghỉ xuân. Sở Vọng cũng được dịp nhàn rỗi ở nhà, rảnh đến mức phải vò đầu bứt tai, thế là cô thường xuyên bị bà Cát lôi đi xem mình chơi mạt chược.

Dần dà, Sở Vọng phát hiện ra mục đích xem cô út chơi bài chỉ là thứ yếu, chủ yếu là muốn cô học “tay nghề” của bà.

“Nếu cháu biết chơi thì cô đỡ phải gọi điện mời người đến, đỡ nợ người này người nọ.” Bà Cát trách móc.

Rồi bà lại nói: “Tiếp xúc với người Trung Quốc thì phải biết đối nhân xử thế, không có ngoại lệ. Hồi xảy ra chiến tranh nha phiến, chính vì nước Anh không nể mặt hoàng đế trung Quốc nên mới có đánh nhau*. Ta thua nên họ được đằng buôn bán ở đất Trung Quốc, dù là ‘bị ép’ buôn bán thì vẫn phải xã giao với người ta. Ở Trung Quốc này, lễ nghĩa chính là giang hồ**.”

(*Nguyên do cuộc chiến tranh nha phiến là do chính phủ Anh đòi quyền tự do buôn bán nha phiến từ Ấn Độ thuộc Anh sang Trung Quốc, trong khi nhà Mãn Thanh có lệnh nghiêm cấm.)

(**Đây là câu nói của Trương Tắc Lâm – cha của thiếu soái Trương Học Lương. Ý chỉ giữa người với người, dù là trong hoàn cảnh nào thì cũng phải chú trọng đạo đối nhân xử thế.)

Đối với quan điểm của bà Cát, Di Nhã hiểu rất rõ. “Vợ của thương nhân qua lại với vợ của quan chức cũng bởi vì thể diện mặt mũi, để các bà vợ quay về thổi gió bên tai, đánh động chồng mình. Nhưng người đưa ra quyết định thật sự vẫn là các ông chồng. Ở chỗ của dì Cát thì bỏ qua công đoạn các phu nhân, trực tiếp xã giao với các quý ông, đúng là chuyện đã khó lại càng khó hơn. Các phu nhân ngầm xem thường dì, nhưng đến lúc gặp dì ấy lại chen nhau nịnh nọt. Nói cho cùng vẫn là kiêng nể dì ấy thôi. Cậu nhìn bà Kiều đi, không phải đó là ví dụ điển hình nhất ư?”

Dù đã được hai người bọn họ đích thân dạy dỗ, nhưng Sở Vọng vẫn không học được cách đánh bài. Chỉ vì ngày nào cũng có rất nhiều người được mời đến biệt thự họ Cát đánh bài, mỗi người một vẻ vô cùng thú vị.

Có người phụ nữ dáng vẻ xuất chúng, da xanh mặt đầy nếp nhăn, đã ngoài năm mươi nhưng lại chỉ cho phép người ta gọi bà là “cô Trần”. “Cô Trần” rất thích cười khi đánh bài, tuy không phải tiếng cười nghe như chuông bạc của các cô gái trẻ, nhưng dẫu gì chuông cũng chỉ bị gỉ một tí, lúc cười thành tiếng rất có khí khái, có cảm giác như là đĩa nhạc đang phát. Khi thua bài bà ta hay nói: “Cô Cát à, sao cô chỉ mời toàn các tiểu thư trẻ tuổi đến? Đến một vị khách nam cũng không có, lần sau đừng mời tôi đến nữa.” Nhưng lần sau bà vẫn không mời mà đến, mỉm cười kéo tay các tiểu thư trẻ tuổi mà nói: “Màu đỏ đồng không phải là mốt mùa này đâu, mà là màu đỏ dâu tằm ấy.”

Cũng có thiếu phụ trẻ tuổi, người thì õng ẹo mà giọng cứ ỡm ờ, ấy nhưng lúc nói chuyện lại trông rất già dặn; chỉ biết cô ấy gả cho một phú thương người Macao họ Lâu, là một ông già đã gần đất xa trời, chính vì vậy nên có địa vị cao hơn so với những người ngồi đây. Mười lăm tuổi gả vào cửa đã mong chờ ngày ông ta chết đi, nhưng chớp mắt đã mười năm trôi qua, ông lão kia đã gần chín mươi mà vẫn khỏe mạnh, thậm chí trong mùa Đông còn có thể xuống biển bắt cá. “Cô Trần” muốn nịnh nọt bà hai Lâu nên thường xuyên tìm bà Cát giật dây bắc cầu, suốt ngày cứ kéo tay cô Lâu thân mật gọi một tiếng “thím”, “thím họ”.

Suốt ngày nhìn mấy người bọn họ liếc ngang liếc dọc diễn xuất còn không kịp, thì lấy đâu ra thời gian lẫn tâm tư để học chơi bài chứ?

Về sau cô Trần và bà hai Lâu đã thân nhau hơn nên không mấy khi đến nhà nữa, thế là trên bàn lại đổi người.

Có một thời gian Sở Vọng hay thấy Di Nhã đến cùng ngài Tưởng. Ngài Tưởng trông đã ngoài bốn mươi, đỉnh đầu hơi hói, có điều trông ông vẫn khá điển trai; nay tuy đã luống tuổi song lại có sự từng trải, càng làm nổi bật vẻ kiệt xuất tuổi trung niên. Điều duy nhất không đủ hoàn mỹ đó là ngài Tưởng không được cao cho lắm: Di Nhã không đi giày cao gót thì ngài Tưởng cũng chỉ cao hơn cô chút đỉnh, nhưng cô nàng lại cứ thích mặc giày cao gót mới đáng nói, hễ mặc vào là ngài Tưởng chỉ cao ngang dái tai cô, càng khiến ông trở nên bé nhỏ.

Có điều ngài Tưởng không băn khoăn vì điều đó. Ông là người nói năng nhỏ nhẹ, dịu dàng điềm đạm; dù đang ngồi giữa các quý cô đầy quyến rũ, ông vẫn chỉ đắm đuối nhìn một mình Di Nhã.

Bà Cát lén nói với Sở Vọng: “Đừng nhìn bề ngoài mà tưởng ngài Tưởng yếu đuối, hồi xưa lúc còn trẻ ông ta từng đánh nhau ở Macao đấy, hai tay nhuộm đầy máu. Nay thời thế thay đổi, ông ta rửa tay gác kiếm, giờ gặp ai cũng nhẹ nhàng lễ độ, cười híp mắt. Nhưng dáng vẻ độc địa hung ác của ông ta hồi trẻ đã ăn sâu trong lòng mọi người, không ai quên được. Mà không phải ai cũng có bản lĩnh khiến ông ta đối xử chân thành với mình đâu. Tuy nhân duyên này có phần do cô mai mối, nhưng đó cũng là con bé Di Nhã có bản lĩnh nắm được ông ta.”

Sở Vọng gật đầu, cuối cùng cũng sáng tỏ.

Cô nghe Mật Thu nói: từng có một lần, có một cô gái trẻ kéo ngài Tưởng nói chuyện, Di Nhã vẫn chỉ ngồi trong góc thong thả ăn bánh mì phết mật ong do chú Henry nướng. Một lúc sau có mấy chàng trai anh tuấn đi đến bắt chuyện với Di Nhã. Ngài Tưởng sốt ruột ra mặt, vài ba câu kết thúc cuộc nói chuyện, vội vã băng qua đám đông, hai mắt hằm hè như muốn ăn thịt người, mọi người có mặt lúc đó không ai dám nói nhiều nửa câu với ông ta. Một ngài Tưởng khát máu đi đến cạnh Di Nhã, đang định lên tiếng thì Di Nhã đã mỉm cười, nhét bánh mì phết mật ong vào miệng ngài Tưởng, hỏi: “Có ngon không?” Sau đó còn liếm mật ong dính trên tay, nói: “Ăn ngon lắm đó.” Chỉ đơn giản vậy thôi, trong nháy mắt cơn thịnh nộ của ngài Tưởng đã tan thành mây khói, ông rút khăn tay ra lau mật ong dính bên khóe môi cô, dịu dàng nói: “Ừ, thơm lắm.”

Mật Thu nói, tình cảnh lúc đó, nếu cô ấy mà là đàn ông thì kiểu gì cũng bị Di Nhã hớp hồn. Trong chuyện gió trăng ai mà không quyến rũ. Nhưng khi tạm gác quyến rũ sang một bên, phần còn lại cũng là bản lĩnh kiếm ăn của mọi người.

Nhắc đến bản lĩnh, dạo gần đây bà Cát rất hay nhắc tới Chân Chân.

“Dù có ở trong vườn nhà ta hát “Phù Sinh Lục Ký” hay “Mẫu Đơn Đình”, thì vẫn chưa đến lượt cháu sắm vai Hương Xuân*.” Bà Cát nói với Di Nhã như vậy.

(*Hương Xuân là a hoàn của Đỗ Lệ Nương trong Mẫu Đơn Đình. Đỗ Lệ Nương là một cô gái dòng dõi thư hương, chưa bao giờ dám rời khỏi khuê phòng nửa bước. A hoàn Hương Xuân cũng theo nàng cùng học, nhưng Hương Xuân rất ham chơi, thường trốn học ra ngoài và rủ Lệ Nương theo.)

Di Nhã lè lưỡi: “Làm sao cháu biết được họ Diệp kia có phải là Mộng Mai* không chứ.”

(*Liễu Mộng Mai là nhân vật trong Mẫu Đơn Đình, là người Đỗ Lệ Nương đem lòng say đắm trong lần được Hương Xuân rủ ra vườn hoa chơi.)

Bà Cát tức giận, xoa huyệt thái dương, “Nếu chuyện này không thành thì còn không phải là do ta à, cháu cũng biết tìm rắc rối cho ta thật đấy! Chỉ mong hai đứa nó có bản lĩnh hát kịch đến suốt đời!”Bà Cát mắng Di Nhã xong, xoay người nhìn Sở Vọng đang vùi mình trên sofa.

Gần đây khoản tiền lương đầu tiên ở Pháp đã được gửi đến, bà Cát lại bù vào cho cô để được chẵn. Từ lúc đưa hóa đơn chuyển tiền cho Sở Vọng, cô cứ nhìn chằm chằm một dãy các con số kia mà cười ngốc nghếch suốt một buổi chiều.

Hai cô gái siêng đến biệt thự nhà họ Cát đã có tiền đồ riêng. Chỉ riêng Sở Vọng là vẫn cần phải vun trồng tình cảm, cứ như kẻ đầu óc thiển cận, ngoài phương trình ra thì cũng chỉ biết cầm tiền cười hề hề.

Nhưng rồi bà Cát lại nghĩ: Dù có thiển cận thì tham tiền cũng tốt. Không phải ngày xưa người đó đã dạy bà như vậy sao?

Người đó rất thú vị. Bà ấy yêu tiền, vừa hay trái ngược lại với Lâm Du. Lâm Du là người thanh cao, “xem tiền bạc như rác”. Có một thời gian nhà họ Lâm rất túng quẫn, vậy mà ông ta vẫn rất thờ ơ với tiền. Chính vì thế mà Lâm Du mới cảm thấy bà ấy “tục tằn”. Nhưng buồn cười là Lâm Du lại không thể rời bỏ tiền của bà ấy. Điều này làm cho lòng tự tôn của một văn nhân và một người đàn ông như ông ta bị chà đạp: dù xem thường vợ, nhưng lại không thể không cúi đầu trước vợ. Thậm chí về sau khi nhà họ Lâm dần đi lên, ông ta lại càng không thể ngẩng đầu đối diện với vợ mình. Vì chỉ cần nhìn thấy bà, ông ta sẽ nhớ đến vẻ bối rối khốn khó mà cả đời này mình không thoát khỏi.

Nghĩ đến đây, bà Cát đưa mắt nhìn cô ngốc đang ngồi trên sofa, càng nhìn càng thích.

***

Thư mời tuyển dụng “Sự tồn tại của nơtron” nhanh chóng được bưu điện gửi đến tay Từ Thiếu Khiêm.

Đến cùng thư mời còn có hai ký giả của hai tòa soạn báo Hương Cảng và Quảng Châu.

Từ Thiếu Khiêm đẩy Lương Chương ra ngoài đối phó với đạn bọc đường của hai tay ký giả, còn mình thì thong thả cùng Sở Vọng bàn bạc việc đặt tên mới cho viện nghiên cứu.

Lương Chương phỏng vấn xong đi vào, một lớn một nhỏ đang cãi nhau xem nên gọi là phòng thí nghiệm “khúc cong thời không” hay phòng thí nghiệm “cấp độ nguyên tử”.

“Đừng có đặt là khúc cong thời không!” Sở Vọng mặt đỏ tía tai. Người biết chuyện sẽ hiểu bọn họ làm công tác liên quan đến khúc công thời không, nhưng người không biết sẽ cho rằng phòng thí nghiệm có sức mạnh siêu nhiên, quá ngớ ngẩn!

“Nhưng em phải biết, ngoài việc nghiên cứu về nguyên tử ra, chúng ta còn nghiên cứu thêm cả lực hấp dẫn và các kết cấu quy mô cấp vũ trụ.” Từ Thiếu Khiêm cười nói
Lương Chương xoa trán, ho khan hai tiếng, thành công thu hút sự chú ý của hai người họ.

Từ Thiếu Khiêm vẫn cười hỏi: “Phỏng vấn thế nào rồi?”

Lương Chương tức giận: “Vì sao bọn họ biết chúng ta đã được tuyển dụng?!”

Từ Thiếu Khiêm bảo: “Tôi nói rồi còn gì, mọi thư từ của chúng ta đều nằm trong tay người khác, không có tính riêng tư. Bây giờ cậu đã tin chưa?”

“Điên rồi! Còn có việc gì mà bọn họ không dám làm không?”

Từ Thiếu Khiêm trấn an: “May mắn duy nhất hiện tại là bọn họ không chỉ duyệt mỗi lĩnh vực nguyên tử hạt nhân, nên tạm thời không cần lo lắng về quyền tác giả.”

Lương Chương đấm mạnh vào tường, bụi trên quạt gió rơi xuống lã chã, làm Sở Vọng bị sặc ho khù khụ.

Từ Thiếu Khiêm nói: “Nói chuyện cũng tốt. Như vậy bọn họ sẽ thông báo rộng rãi, có thể mang lại danh vọng cho chúng ta. Phải thừa nhận một điều, đó chính là thứ hôm nay chúng ta có cầu cũng không được. Không bằng mong đợi thống đốc sẽ xin một khoản kinh phí lớn cho phòng thí nghiệm, và xem khoản tiền này sẽ đưa cho ai.”

Cuối cùng viện nghiên cứu thống nhất đặt một cái tên rất mộc mạc: Viện nghiên cứu Vật lý nguyên tử hạt nhân đại học Hương Cảng.

Sở Vọng cảm thấy như thế cũng tốt.

Từ hôm đó trở đi, cô bắt đầu cẩn thận để ý đến hai tòa soạn kia. Một tuần sau, một tòa soạn ở Hương Cảng đăng tin nói cuối tuần này trên đỉnh núi Thái Bình có thể quan sát được mưa sao băng chòm Nhân Mã, Tin tức này nhanh chóng lan rộng giữa các nam thanh nữ tú ôm mộng đẹp về hiện tượng thiên văn.

Cho đến một hôm nào đó trong lớp Toán học, đột nhiên có người vỗ vào Sở Vọng, truyền một tờ giấy cho cô. Trên đó viết:

Cô Sở Vọng, liệu tôi có được vinh hạnh mời cô tối Chủ nhật tuần này lên đỉnh núi Thái Bình ngắm mưa sao băng không?

Sở Vọng đọc lướt qua rồi khoanh vào cụm từ mưa sao băng, cầm bút máy đánh dấu bên dưới: Hiện tượng thiên văn về điểm phóng xạ khi các mảnh vụn thiên thể của chòm Nhân Mã sẽ phóng vào bầu khí quyển với tốc độ cao, rồi cũng bị tiêu hủy ngay trong tầng khí quyển chính là điểm thi cuối kỳ.

Ngoài ra: Một số mảnh vụn thiên thể có thể rơi xuống bề mặt trái đất, được gọi là thiên thạch. Bất kể mưa sao băng nào cũng sẽ sót lại thiên thạch chưa bị đốt cháy trong tầng khí quyển. Tôi là người khá nhát gan nên sẽ không đi, còn cậu nếu đi thì hãy chú ý an toàn.

Sau khi tờ giấy được đưa về lại, bạn học nam mỗi lần gặp nhau là lại truyền một tờ giấy kia co giật khóe miệng, sau đó im lặng lui ra.

Sở Vọng thầm ai oán: bạn học à, tôi thật lòng muốn tốt cho bạn thôi. Bỏ qua khả năng có thể đấy sẽ là điểm thi Vật lý của cuối kỳ này, thì tôi khó mà đảm bảo sẽ không nói ra vài chuyện liên quan trong lúc cùng ngắm hiện tượng mảnh vụn thiên thể rơi với cậu: Năm sau có một người đàn ông tên là Edwin Hubble* sẽ quan sát thấy được các thiên hà ở xa đang bay ra xa chúng ta với tốc độ cực nhanh —— đấy chính là sự mở đầu cho lý thuyết vũ trụ giãn nở, mà sự kiện đó bắt đầu vào khoảng hai mươi tỉ năm trước, khi ấy vũ trụ là một thể dày đặc với mật độ lớn đến vô hạn. Về sau xảy ra Vụ nổ lớn, khái niệm thời gian có trước, đến hai mươi tỉ năm sau mới có chúng ta.

(*Nhà thiên văn học người Mỹ Edwin Hubble (1889 – 1953) được cả thế giới tôn vinh là “cha đẻ của ngành vũ trụ học quan sát”. Ông chỉ ra, vũ trụ gồm những Thiên hà đang giãn ra và phồng lên giống như một quả khinh khí cầu lớn không giới hạn, đưa ra bằng chứng đầu tiên cho thuyết Vụ nổ lớn (Big bang) mô tả quá trình hình thành và phát triển của vũ trụ. Những nghiên cứu, phát hiện của ông về vũ trụ đã đặt nền móng cho ngành khoa học về vũ trụ.)

Hoặc là: Ở chòm sao Nhân Mã bắn ra mưa sao băng, nếu chúng ta đi đến đó thì có thể quan sát được trung tâm của hệ ngân hà*.

(*chòm sao Nhân mã nằm ở trung tâm Ngân hà, đó là một hố đen siêu lớn.)

Cũng vì thế nên khi Lương Chương và Từ Thiếu Khiêm nói đến chuyện cuối tuần này muốn đến đỉnh núi Thái Bình, cô không chút do dự đồng ý ngay. Chỉ vì trong quá trình quan trắc thiên thể, một trong hai người này có lẽ sẽ đột nhiên nghĩ đến sự tồn tại của sao nơtron hoặc sao đặc.

Rồi cô lại tiếp tục thêm dầu vào lửa, kiểu gì cũng sẽ thành thôi.

Chương 65: Người bệnh (9)

Luận văn về nơtron được gửi đi vào giữa tháng 2, đến cuối tháng 3 nhận được thư tuyển dụng, cuối tháng 5 được đăng nhanh lên tạp chí. Cho tới tháng 6, có rất nhiều tập san và báo chí Trung Quốc đã đăng bản dịch của luận văn “Sự tồn tại của Nơtron”.

Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, không biết có bao nhiều thư từ trong nước, Nhật Bản hay Singapore gửi đến đại học Hương Cảng để phỏng vấn Từ Thiếu Khiêm và Lương Chương, cũng mời Từ Thiếu Khiêm đến các trường đại học để tọa đàm… Có lẽ ngay cả Âu Mỹ cũng có lời mời, nhưng do đường xá xa xôi nên thư mời chưa kịp gửi đến.

Từ Thiếu Khiêm khéo léo từ chối từng bên một, nhưng có mấy trường học ở đại lục câu kéo quan hệ, thậm chí còn nhờ cả giáo sư cũ của anh đích thân đến Hương Cảng ra mặt, có thể nói là dốc hết tâm tư muốn mời anh cho bằng được. Từ Thiếu Khiêm không tiện từ chối nên đành phải đi hai chuyến. Và chỉ hai buổi diễn thuyết đó thôi lại được rất nhiều báo chí trắng trợn trích dẫn.

Tán dương ca ngợi cũng có, nhiều nhất là nói nội trong vòng hai hoặc ba năm tới, chắc chắn giải thưởng Nobel sẽ thuộc về bài viết đó;

Mà chê bai cũng rất nhiều, trong đó có không ít người nghi ngờ liệu khả năng nghiên cứu khoa học của đại học Hương Cảng có duy trì được toàn bộ từ thí nghiệm đến tính toán không, cũng chỉ ra rất nhiều điểm khả nghi với nội dung luận văn, nhưng rồi cuối cùng tất cả cũng phải ngậm miệng trước bài luận văn thứ hai luận chứng “Sự tồn tại của nơtron” đến từ phòng thí nghiệm Cavendish.

Kẻ mạnh trong giới Vật lý trên toàn thế giới đã lên tiếng, thì làm gì có chỗ cho đám dốt nát các người phản bác?

Đối với những lời tuyên dương hay nghi ngờ và cả chỗ dựa là phòng thí nghiệm Cavendish, Từ Thiếu Khiêm không hề bày tỏ bất cứ thái độ nào.

Sau khi quay về từ đại lục, anh chỉ hỏi Sở Vọng một câu: “Bài diễn thuyết của tôi thế nào?”

Sở Vọng xảo trá đáp trả: “Bullshit. Lương Chương nói đấy là bài diễn thuyết tệ nhất mà anh ấy từng nghe.”

Từ Thiếu Khiêm cười phá lên, cũng thành khẩn thừa nhận: “Người Trung Quốc chỉ giỏi viết văn chứ không giỏi diễn thuyết. Nếu để tôi viết thư mời hiệu trưởng vạch tội Lương Chương, chắc chắn nội dung sẽ rất phong phú, câu từ hùng hồn đanh thép.”

Hễ đến mùa ẩm ướt là Lương Chương sẽ cáo bệnh ở nhà mấy hôm, đây là bệnh kín nhiều năm của anh ta. Ngoài điều đó ra, có lẽ là vì ngồi lâu một chỗ, ăn uống không có quy luật nên Lương Chương đã bị viêm cột sống. Thời gian trước còn vùi mình ở phòng thí nghiệm nghiên cứu nơtron mấy tháng liền, cột sống đau tới mức anh ta kêu cha gọi mẹ. Từ Thiếu Khiêm bèn viết một phong thư gửi về quê anh ta, để mẹ già nhéo lỗ tai lôi anh ta ngoan ngoãn về nhà châm cứu chữa bệnh.

Sau kỳ nghỉ trở lại sân trường, số sinh viên khoa Vật lý bỗng tăng lên. Mới đầu cô còn tưởng là mình gặp ảo giác, cho đến khi vào lớp Lý thuyết Nguyên tử trong học kỳ mới. Bình thường chỉ có dăm ba sinh viên, vậy mà kỳ này đột nhiên không còn ghế trống, thậm chí cuối phòng học còn đứng đầy học sinh, màu da khác biệt chiều cao bất đồng.

Về sau nghe ban quản lý nhà trường nói, tân sinh viên năm nay nhiều gấp đôi năm trước, nhất là sinh viên khoa Vật lý. Rất nhiều sinh viên đại lục không chịu nổi chi phí du học Anh Mỹ, lại không muốn đi Nhật Bản nên đều đến Hương Cảng cả, và nhiều nhất vẫn là sinh viên thực dân Anh ở các nước Đông Nam Á.

Ngoài điều ấy ra, Từ Thiếu Khiêm còn đem đến tin tốt hơn.

Một hôm nào đó, Từ Thiếu Khiêm đang ảo não về ba bản lý lịch mà phòng nghiên cứu mới nhận được. Thấy Sở Vọng đến, anh ngoắc tay gọi cô tới, “Em cũng xem thử đi.”

Sở Vọng cầm ba bản sơ yếu lý lịch lên, nhanh chóng đọc lướt qua, tim đập thình thịch – đến rồi!

Cô đã động tâm, song vẫn quyết định hỏi ý của Từ Thiếu Khiêm trước. Về mặt nào đó thì thái độ anh chọn người sẽ quyết định xem hướng nghiên cứu trong vòng hai ba năm đến của anh sẽ là Vật lý thiên văn hay Vật lý hạt nhân. Thế là Sở Vọng hỏi ngược lại: “Thầy có nhìn trúng ai không?”

Nhưng Từ Thiếu Khiêm lại hỏi ngược lại cô: “Tôi vẫn chưa xác định được nên mới muốn hỏi ý của em.”

Sở Vọng thầm gào to: Được lắm ông anh cáo già xảo quyệt, còn trả đòn với tôi à! Thế là cô mỉm cười: “Nếu là em thì em muốn tất!”

Từ Thiếu Khiêm cười bảo: “Còn nếu là tôi, tôi sẽ ưu tiên chọn người trong nước. Chỉ vì tôi hơi nghi ngờ về quốc tịch.”

Sở Vọng lại nhìn ba bản lý lịch kia.

Subrahmanyan Chandrasekhar, vốn trong năm nay, anh chàng nghiên cứu sinh ngành Vật lý người Ấn này sẽ gặp gỡ Eddington trên đường xuất phát đến Cambridge, rồi cũng tìm ra lý thuyết Giới hạn Chandrasekhar trên con thuyền từ Ấn Độ đi Anh. Nhưng bây giờ anh ta đã thay đổi ý định, nộp bản lý lịch đến Hương Cảng ở vùng Viễn Đông.

Quý cô Vương Minh Mặc, năm nay tốt nghiệp đại học nữ sinh Kim Lăng xong sẽ nhập học ngành Vật lý ở đại học Yên Kinh, thế mà bây giờ cũng nộp lý lịch đến đây.

Rồi cả Lise Meitner…

Hai người trước chỉ mới bước chân ra đời, từ nguyên nhân nào đó mà nói thì đến Hương Cảng để cầu học cũng không phải điều kỳ lạ.

Nhưng vì sao cả Lise Meitner cũng đến? Năng lực học thuật của bà có lẽ ngang với Từ Thiếu Khiêm, nhưng bàn về kinh nghiệm thì bà hơn hẳn Từ Thiếu Khiêm. Tuy bà không có cơ hội thể hiện tài năng khi ở dưới trướng của Otto Hahn, chỉ có thể coi là “phụ tá”*… Nhưng bây giờ chỉ mới là năm 1928, Hitler vẫn chưa lên nắm quyền Đế quốc Đức, bà vẫn chưa bị tước tư cách học do thân phận người Do Thái của mình, vẫn đang giảng dạy ở Berlin**.

(*Lise Meitner đã đóng góp rất lớn vào việc phát hiện ra hiện tượng phân hạch nhưng không bao giờ được nhận Giải Nobel Vật lý, thay vào đó người nhận giải Nobel Hóa học năm 1944 lại là Otto Hahn.)(**Hai tháng sau khi Adolf Hitler được bổ nhiệm làm thủ tướng, chính phủ Đức ban hành Luật Phục hồi cơ quan Dân sự Chuyên nghiệp vào ngày 7-4-1933 buộc những công chức nhà nước có ít nhất một ông hay bà (nội hay ngoại) là người Do Thái, hoặc là đối thủ chính trị của Đảng Quốc xã phải bị bãi nhiệm ngay lập tức.)

Mà một viện nghiên cứu Vật Lý thuộc đại học Hương Cảng mới thành lập trên vùng thực dân chưa được bốn năm, nguồn vốn vẫn chưa ổn định, chẳng qua gần đây vì bài luận văn “Sự tồn tại của nơtron” mà bắt đầu có tiếng tăm, thì có thể cho bà ấy gì đây?

Một nơi để thi triển khả năng của bản thân ư?

Tuy Sở Vọng rất hy vọng có thể có nhiều người tài đến đây, nhưng đến khi bọn họ tới thật, cô lại chần chừ muốn chất vấn: “Những thứ chúng tôi có ít hơn so với chỗ cũ trước kia của dì rất nhiều, vì sao dì lại muốn đến đây?” Hoặc sẽ là, “Dì đến sớm như thế, có phải là do người nào đó chỉ dẫn không? Hahn? Hay Heisenberg?”

Từ Thiếu Khiêm nhận ra sự khác lạ ở cô, nheo mắt hỏi: “Sao thế?”

Sở Vọng lắc đầu: “Không có gì… Mọi người… đều rất được.”

Thậm chí phải nói là không thể thiếu người này được. Nếu bà ấy không có ý nghĩ bất chợt ùa đến sau bữa ăn tối vào năm 1938, thì có lẽ rất lâu rất lâu sau phản ứng phân hạch mới ra đời. Nhưng bởi vì bà vô cùng quan trọng, lại có quan hệ thân thiết với Otto Hahn, thậm chí sau này vì thân phận Do Thái của mình mà bị bắt ở Áo, nhiều lần nguy hiểm đến tính mạng, không thể không di cư lưu lạc, thế nhưng bà vẫn lấy lý do “chủ nghĩa hòa bình” để từ chối lời mời tham gia dự án Manhattan, những việc này đều là điều Sở Vọng lo lắng. Dù cô từng nghe nói đến bom chống hạt nhân của Hahn, từ chối nghiên cứu bom nguyên tử với Đức quốc xã, nhưng cũng chỉ là “nghe nói”.

Cô không muốn làm một người hẹp hòi mưu kế đa đoan, cũng không muốn lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử. Có lẽ cô đã đánh giá thấp uy lực của bài viết “Sự tồn tại của nơtron”, cũng đã đánh giá thấp thực lực của phòng thí nghiệm Vật lý Hạt nhân; thậm chí sau khi kết thúc chuyện này có thể cô phải dập đầu mười nghìn lần, nói mười nghìn lần câu “xin lỗi quý bà vĩ đại, trước đây tôi đã có suy đoán ác ý về bà”, nhưng trước đó, hễ dính đến ba chữ “Đức Quốc xã” là cô lại khuếch trương sự sợ hãi về cái phản ứng dây chuyền do “ngộ nhỡ” mang đến.

“Thầy quyết định thế nào rồi?” Sở Vọng hỏi.

“Tôi muốn cả ba.” Từ Thiếu Khiêm cười nói.

“Hở?” Nhưng không phải vừa rồi anh còn hoài nghi về quốc tịch của họ à?!

“Phải thừa nhận một điều là chúng ta đang thiếu người. Lương Chương muốn có nhiều người Trung giỏi tính toán vi phân, còn tôi thay Lương Chương hoan nghênh sự tham gia của nữ giới. Hai người này có quốc tịch nước ngoài, nhưng không thể nghi ngờ năng lực học thuật của họ được. Vì sao lại không cần?”

“Cần!” Cô lấy hơi, sau đó nói: “Nhưng tạm thời vẫn có nghi vấn đúng không?”

“Đương nhiên.” Từ Thiếu Khiêm cười đáp.

“Kiểm soát nghiêm ngặt chuyện gửi thư về nước, có đúng không!”

“Thư chúng ta gửi ra nước ngoài hay đi trong nước đều có sẵn người kiểm tra nghiêm ngặt, không cần phải lo lắng về vấn đề này. Em có thể nghi ngờ kiến thức về Vật lý nguyên tử của nhân viên tình báo, nhưng phải thừa nhận, thành tựu của bọn họ trong lĩnh vực mật mã học hơn hẳn chúng ta. Nên điểm đó cũng không cần nghĩ nhiều.”Sau khi nói chuyện với Từ Thiếu Khiêm, Sở Vọng lại rơi vào suy nghĩ khác.

Thì ra đã có nhân viên tình báo nhúng tay vào thư do phòng nghiên cứu gửi đi ư, thậm chí bao gồm cả cô?

Cô lắc đầu, không đến mức ấy chứ?

Cô thoáng nghĩ ngợi rồi hỏi: “Thầy nói, mấy nhân viên tình báo kia… là của nước nào?”

“Nước nào cũng có,” Từ Thiếu Khiêm cười khẽ, “Anh, Nhật, Xô Viết, chính phủ Nam Kinh, và cả Đông Bắc đang dựa vào Nam Kinh… Hoặc có thể cũng có các lực lượng khác nữa. Còn về việc bên nào biết nhiều hơn thì chuyện này không nằm trong phạm vi học thuật của tôi.”

***

Không chỉ ba người ở viện nghiên cứu Vật lý là có danh tiếng vang xa tại châu Âu gần đây.

Chiếm riêng một đề mục ngay trên trang nhất báo Thượng Hải là Lâm Doãn Yên.

Tin vắn viết: Lâm Doãn Yên con gái của Lâm Du – hiệu trưởng danh dự trường đại học Thượng Hải Bác Thế – đã viết tập truyện ngắn “Người mẹ của tôi” ở Paris. Cuốn tiểu thuyết sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, vừa vui vẻ vừa sinh động mô tả về một người phụ nữ Trung Quốc theo triều đại mới đã vượt qua rào cản trong gia đình kiểu cũ, cùng với mối tình với một du học sinh chính trị luật pháp ở Tokyo, nhưng rồi vì gia đình rối ren mà chia cắt mỗi người một nơi trong nhiều năm, không thư từ qua lại, cuối cùng gặp lại nhau ở Paris, thực là một câu chuyện khiến người ta thở dài chặc lưỡi. 

Truyện ngắn được viết bằng tiếng Pháp, lời mở đầu của tác giả đã viết: “Mẹ của tác giả chính là cô giáo dạy vỡ lòng tiếng Pháp cho tác giả, tài liệu cho câu chuyện này cũng lấy từ trong cuộc sống.” Khi được xuất bản, “Người mẹ của tôi” được đông đảo người Pháp yêu thích, gần như là một câu chuyện ai ai cũng biết đến. Nay được dịch sang tiếng Trung, đăng tải ba, bốn kỳ trên tạp chí Tiểu Thế Giới ở Thượng Hải.

Mấy ngày sau, Chân Chân nhờ người từ Thượng Hải mang tờ tạp chí đó đến, cùng lúc ấy Nhật Báo Thượng Hải lại đăng một bản tin khác rất dài.

Con trai trưởng Tư Ngôn Tang của Tư Ưng – hiệu trưởng danh dự đại học Thượng Hải – đã ở Luân Đôn viết một tập truyện ngắn tên “Thư tình châu Âu” bằng tiếng Anh. truyện viết dưới ngòi bút hài hước trào phúng, kể về các học sinh Trung Quốc du học tại châu Âu trong gần ba mươi năm qua, cùng câu chuyện “quan hệ thông gia” của họ khi còn ở trong nước. Trong đó có không ít các câu chuyện về những người đã đính hôn hoặc thành thân trước khi du học, thậm chí người vợ Trung Hoa ở quê nhà đã dạy dỗ nuôi nấng con cái trưởng thành; có người lúc rời khỏi quê đã thề thốt “sau khi tốt nghiệp sẽ về nước thành thân”, cũng có người nói “qua mấy năm nữa sẽ đón mẹ con em đến Pháp”. Nhưng dù ban đầu có làm tốt thế nào thì cũng khó giữ được đến cùng. Trong truyện viết “đàn ông thanh niên mang nhiều tư tưởng mới rằng ‘tình yêu tự do là điều cao quý’, mà châu Âu lại là cái nôi của tình yêu tự do, ở nơi đó, bọn họ còn hành động cởi mở hơn so với người châu Âu. Quan hệ nam nữ phức tạp khiến người châu Âu cũng phải ghé mắt nhìn.’ Truyện ngắn được đăng tải nhiều kỳ trên tạp chí Grand Bridge, làm chấn động toàn nước Anh, khiến người châu Âu xôn xao bàn tán.

Ôm tâm trạng đọc tác phẩm đầu tay của tiểu thư Lâm Doãn Yên, trong lúc vô tình so sánh hai bên với nhau, bài báo thứ hai đã khiến Chân Chân và Di Nhã cười bò.

Chị hai ở Paris quang minh chính đại tuyên truyền “con gái thời đại mới xông phá gông cùm, theo đuổi tình yêu lãng mạn tự do bình đẳng”, còn anh Tư ở Luân Đôn lại vạch trần sự thật ngay trên đại lục châu Âu —— “tình yêu tự do” của du học sinh Trung Quốc thực chất chỉ là một gương mặt xấu xí.

Di Nhã và Chân Chân cười ra nước mắt. Di Nhã nói: “Anh Tư đúng là đã xả giận cho chúng ta.”

Mère, đây là từ tiếng Pháp đầu tiên tôi học được, do chính mẹ đã dạy cho tôi,” Di Nhã vừa cười vừa đọc to Người mẹ của tôi, “Mẹ —— đó chính là từ đầu tiên ta học được khi chào đời. Nhưng với tôi lại không phải như vậy. Tiếng Pháp đã ban cho tôi sinh mệnh sống lần thứ hai, đến lúc choàng tỉnh, tôi thấy mẹ đang dạy tôi gọi tên bà ấy. Thế mà bà lại không thể có một cái tên họ tiếng Trung hoàn chỉnh. Cô Chu là tên tiếng Trung duy nhất của bà. Cuộc hôn nhân giữa bà và cha tôi là hôn nhân hợp pháp trong thời đại mới, được luật pháp Nhật Bản thừa nhận, nhưng luật pháp Trung Quốc lại không thể để bà theo họ của cha tôi…”

Sau đó, Chân Chân lại mở truyện Thư tình châu Âu ra, đọc hồi kết của câu chuyện đầu tiên: 

“… Anh Vương khóc lóc thảm thiết. Tiếng khóc cùng với hành động tuyệt thực uy hiếp kia giống hệt năm nào anh ta từng làm, hòng ép cha mẹ ruột cho mình rời khỏi Trung Quốc quay về Pháp. Người ngoài cười hỏi: ‘Kìa cậu Vương, cậu khóc gì thế? Cậu ở Pháp bảy năm liền không chịu về nước, lần này về là cha mẹ phải nhốt cậu không cho cậu đi. Có người đến cho cậu một trăm đồng để cậu ngồi thuyền rời đi, cậu thông cảm lấy ra năm đồng đưa cho cô ấy, coi như đền bù cho việc cô ấy đã gả nhầm người mười mấy năm trước. Đó mà là bồi thường hả?’ Anh Vương vừa khóc vừa la hét: ‘Số tiền đó là cô ta lén nhờ người đưa cho tôi, dù nghèo đến chết cũng không nói cho tôi biết việc này. Phụ nữ truyền thống Trung Quốc đấy!… Cô ta đợi tôi mười mấy năm, nghĩ cách giữ tôi lại như vậy, nhưng cũng chính cô ta lại khiến tôi rời khỏi cô ấy.’ Người kia cười bảo: ‘Mau về nhà đi, đang chờ ở nhà cậu là người vợ tự do triều đại mới, là đứa trẻ biết ca múa do người vợ ấy dạy dỗ. Chắc chắn cô ấy đẹp hơn và có học vấn uyên bác hơn, còn biết đọc năm ngôn ngữ. Có lẽ cô ấy không biết rằng, một người phong độ nhanh nhẹn như cậu lại từng vì một trăm đồng tiền này mà bối rối đến thế.’ Nói đoạn, người nọ bỏ đi, không hề nhìn anh ta lấy một lần. Anh Vương thôi đau lòng, suy nghĩ chợt dừng lại. Bỗng, trong tích tắc anh ta đã quên vì sao lại đau lòng. Một giây sau, anh ta gạt nước mắt, vui vẻ ưỡn bụng cất bước đi vào nhà…”

Hai người vừa đọc vừa cười, Sở Vọng cũng vui vẻ lắng nghe. Chỉ là trong lúc nghe, cô lại để ý một mẩu quảng cáo trên Nhật báo Thượng Hải.

Bên dưới tin tức về Tư Ngôn Tang có mấy dòng chữ nhỏ:

Tư Ngôn Tang, năm 1909 chào đời ở Tokyo, từng học tại trường trung học tư thục Ramon Berlin, sau đó chuyển sang trường Sherborne ở Vương quốc Anh. Hiện anh đang học tại học viện địa chất trực thuộc đại học Oxford, đã hoàn thành văn bằng hai về luật quốc tế vào năm ngoái. Trong cùng năm đó, anh đã đăng một loạt truyện ngắn dài kỳ tên Thư tình châu Âu trên tạp chí Grand Bridge. Phiên bản tiếng Anh của Thư tình châu Âu được xuất bản vào tháng 3 năm nay, và phiên bản tiếng Trung đã được đăng tải trên tờ Diệc Báo Thượng Hải từ tháng 7. 

Vừa học văn bằng hai về luật quốc tế lại vừa đăng tải tiểu thuyết, vậy chắc bận đến nỗi không có thời gian viết thư rồi.

Thế thì cũng không nên làm phiền anh nữa.

Sở Vọng nghĩ bụng.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau