GIỜ ĐANG NƠI ĐÂU

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giờ đang nơi đâu - Chương 56 - Chương 60

Chương 56: Biệt thự nhà họ Cát

Ở trên thuyền mấy ngày, hễ có thời gian rảnh là Sở Vọng lại lôi sách vở ra học môn phiên dịch, dịch liền một cách các tác phẩm văn cổ mà các giáo viên ngày trước từng dạy thành văn xuôi hiện đại, rồi lại từ văn xuôi hiện đại dịch sang tiếng Trung. Cô ngồi trong phòng làm việc trên,  Mật Thu và Lật Thích thấy điều mới mẻ thì xúm lại tôi một câu cô một câu. Bỗng dưng có bầu không khí sinh hoạt náo nhiệt chưa từng có khi ở chỗ bà Kiều.

“Cô chủ đang làm gì vậy?”

“Người hầu chúng ta biết chuyện của cô chủ làm gì? Cẩn thận, đừng làm ồn cô chủ.”

“Chỉ có cô Tạ là năng lui tới nhà ta, mà cô ấy có để ý chúng ta đâu. Còn cháu của bà trời sinh dịu dàng, tuy ít nói nhưng khiến người ta gần gũi hơn.”

Thỉnh thoảng nói chuyện với hai người bọn họ, cô mới biết một điều, thì ra trước kia tên của Mật Thu và Lật Thích là tên tiếng Anh, Mật Thu là Michael còn Lật Thích là Lizzy, để người Hoa kiều và người ngoại quốc thường xuyên đến biệt thự dễ gọi. Về sau dịch sang tiếng Trung cũng để tiện cho khách Thượng Hải từ trong nước đến.

Tuy bà Cát không cho phép Sở Vọng đến buổi khiêu vũ chơi, nhưng khi trên thuyền có kinh kịch và hát côn khúc thì bà vẫn dẫn Sở Vọng đi xem, đồng thời cũng gọi Chân Chân đi cùng. Sở Vọng đâu nghe hiểu kinh kịch, lúc mở màn thì nhìn các đào kép ca hát đi tới đi lui, áo xanh phủ ngoài áo đỏ, hai màu xanh hồng sặc sỡ đan xen, đợi tới khi mọi người hò reo cổ vũ thì cô cũng vỗ tay theo đám đông. Trên thuyền có không ít người nước ngoài, không biết có xem hiểu không hay chỉ tới góp vui, vỗ tay gào thét còn to hơn ai hết, thậm chí vỗ tay xong rồi, bọn họ còn châu đầu vào nhau cười nói ầm ĩ.

Chân Chân tập trung xem hết kinh kịch rồi chuyển sang côn khúc, cuối cùng cắn hạt dưa bình luận một câu: “Người ta nhả châu nhả ngọc, còn bọn họ như bị mắc cổ, yết hầu hỏng rồi.” Ngày trước khi ở nhà, Chân Chân từng theo vai đào nổi tiếng trong và ngoài nước học hát mấy năm, nên lời nhận xét cô đưa ra rất đúng trọng tâm. Bà Cát nghe thế thì chỉ liếc nhìn, rồi cười cười xem kịch tiếp.

Mà người nổi bật nhất trên thuyền chính là cậu Tạ ở bên cạnh. Sau tranh chấp với anh Hoàng đêm đó, Sở Vọng không thấy anh ta đâu nữa. Theo lời bà Cát nói thì là: “Đây là lúc cậu ta buông thả nhất.”

Sở Vọng học xong thì theo bà Cát đi chơi khắp thuyền cả ba ngày, thuyền cũng tiến dần từ duyên hải chạy vào bến cảng. Mọi người gào thét và vỗ tay ầm ầm khi sắp cập bến, nhưng lần này Sở Vọng không có tâm tình kích động như trước. Trong tiếng hoan hô của du khách khi lần đầu đến Hương Cảng, Hoàng Mark dựa vào cửa huýt sáo, nói: “Quãng đường này đúng là gió êm sóng lặng. Thuyền viễn dương của bọn họ chắc cũng sắp đến Ấn Độ Dương rồi nhỉ?”

Tạ Trạch Ích nghe thế thì lại lên tiếng, “Ấn Độ Dương, đúng là khiến người ta hoài niệm.”

Kiều Mã Linh hỏi: “Ấn Độ Dương thế nào?”

Anh Hoàng giải thích: “Du học sinh đi châu Âu mà nhắc đến Ấn Độ Dương thì đều ngầm hiểu: gió lớn liên miên, mấy ngày ở trên thuyền là mấy ngày không được ăn uống ra hồn, ra khỏi Ấn Độ Dương sẽ vào biển Đỏ, biển Đỏ thì yên ổn hơn, sau đó là đến bến cảng. Vì vậy mà Ấn Độ Dương được gọi là ký ức nôn mửa.”

Kiều Mã Linh ồ một tiếng, “Chỉ sợ cậu và em hai phải chịu đựng, nhất là em hai –”

Phòng đối diện lỉnh kỉnh di chuyển đồ đạc, còn bên này lại cực kỳ thong thả. Chân Chân và bà Kiều mệt đến mức đổ mồ hôi, còn Sở Vọng đi theo bà lại rất nhàn hạ ăn xoài khô.

Vừa xuống thuyền, rất nhiều lái xe nhao nhao ùa lên tìm khách. Chợt trong đám đông vang lên giọng nữ quen thuộc, đứng từ xa hét lớn: “– Anh ơi, ở đây!”

Sở Vọng và Chân Chân nghe rất quen tai, bèn nhìn theo tiếng gọi. Tạ Di Nhã mặc áo phông trắng, tóc đuôi ngựa màu hạt dẻ cong cong được ánh nắng rực rỡ hắt lên, đứng giữa đám đông vô cùng nổi bật, khiến không ít các chàng trai phải đưa mắt ghé nhìn. Chân Chân hừ một tiếng nghiêng đầu đi, Sở Vọng bật cười, chia nửa quả xoài khô của mình cho cô ấy, miễn cưỡng đè lại lửa giận của Tiết đại tiểu thư.

Có điều Tạ Di Nhã ở bên kia đúng là chói mắt thật.

Tạ Trạch Ích hỏi: “Cha đâu?”

Tạ Di Nhã cười nói: “Cha bận việc làm ăn nên gần đây đã đi Mã Lai rồi. Có điều mẹ tư mẹ năm mẹ bảy đều đến, mặt mũi anh hơi bị lớn đấy.”

Cô nàng chỉ vào một nơi ở cách đó không xa: bốn năm chiếc xe Dodge đang đậu trên sân bãi ở bến cảng, ba bốn người phụ nữ da trắng trung niên yêu kiều quyến rũ bước xuống xe.

Hiếm khi thấy Tạ Trạch Ích đen mặt như lần này, miễn cưỡng trấn định đi đến chào hỏi, “… Đã lâu không gặp, các mẹ càng lúc càng trang điểm đẹp.”Sở Vọng xoay đầu đi cười phì một tiếng. Ở bên này, nhà họ Kiều và nhà họ Cát cũng chậm rãi đi đến. Bà Kiều miễn cưỡng khách sáo với bà Cát một hồi, sau lại hỏi: “Hay là để Sở Vọng nó đi cùng tôi về nhà đi, nó còn nhiều đồ đạc ở bên kia lắm.”

Bà Cát khoác tay Sở Vọng cười bảo, “Mấy thứ đó cứ để lại chỗ chị đi, để con bé đến chỗ chị thì còn có đồ dùng. Đến chỗ tôi mà còn cần mấy thứ đồ cũ đấy à?”

Bà Kiều bật cười: “Nói cũng đúng. Một mình Chân Chân ở chỗ bác cũng ngột ngạt buồn lắm, Sở Vọng cháu nhớ đến chơi thường xuyên nhé.”

Lên xe nhà họ Cát, băng qua cảnh huyên náo chạy lên núi. Lần này khác với lần trước – lần trước chăm sóc mọi người suốt dọc đường, đến khi xuống thuyền lại vừa sợ hãi với thế giới lạ lẫm vừa cảnh giác về tương lai, nên bắt buộc phải gắng gượng. Còn bây giờ chơi vui vẻ suốt dọc đường, bây giờ đã mệt mỏi, cô vừa lên xe đã ngủ say, giữa chừng lại ngáy khò khò như một chú mèo nhỏ, làm bà Cát bật cười.

Xe dừng lại trước cửa biệt thự họ Cát, người hầu đi ra đón, gọi “thưa bà” “thưa bà” liên tục. Bà Cát buồn bực, dặn bọn họ thấp giọng lại, “Cô ba vẫn đang ngủ trên xe. Các em chuyển đồ vào phòng đi, đợi con bé ngủ thêm lát nữa rồi hẵng gọi dậy.”

Tuệ Tế đáp vâng, vui vẻ nói, “Cô ba cũng đến rồi sao? Em cứ tưởng phải đợi thêm mấy hôm nữa.”

Hai người đang nói chuyện thì Sở Vọng đã mơ màng lẩm bẩm, “Đến nơi rồi ạ?”

Bà Cát nói, “Nếu dậy rồi thì mau về phòng ngủ đi, không bị cảm lạnh đấy.”

Sở Vọng đi theo sau bà Cát và Tuệ Tế, lúc vào cửa thì đưa mắt nhìn cột trụ màu trắng lát đá cẩm thạch. Cánh cửa màu đỏ tía được đẩy ra, cầu thang trắng theo kiểu châu Âu dần xuất hiện trong tầm mắt. Bà Cát đang định dặn người chuẩn bị bữa tối, nhưng đi được hai bước lại như nhớ ra gì đó, quay sang nói với Lật Thích: “Nếu cô ba đã đến đây thì em đổi tên đi, đừng để đụng tên tiếng Anh với con bé.”

Sở Vọng rất ít khi nói tên tiếng Anh của mình với bà Cát, thế mà bà vẫn nhớ. Lật Thích cười nói: “Vừa hay em cũng muốn đổi tên. Cô ba đặt tên cho tôi có được không?”

Dựa theo chuyện đã xảy ra trên con tàu Titanic ở cùng thời đại, cô đang định nói là “Rose”, nhưng khi thốt ra miệng thì lại thành: “La Sa* thì sao?”
(*Phiên âm tiếng Trung của tên Rosa.)

La Sa cười nói: “Màn thanh la váy lục sa, hay lắm ạ.”

Sở Vọng thầm buồn cười: người hầu của cô út đúng là tài giỏi, còn lý giải được thay cho mình nữa.

Bà Cát suy nghĩ rồi nói: “Cô đã chuẩn bị vài bộ đồ cho cháu rồi, đủ phong cách cho đủ tình huống, lát nữa Tuệ Tế sẽ dẫn cháu lên phòng, có thể mặc thử xem có vừa không. Không vừa cũng không sao, ngày mai thợ may sẽ đến. Trước khi hoàn thành đồ mới, có bộ gì thì cứ mặc tạm đi đã.”

Bà Cát dặn dò xong thì Tuệ Tế dẫn cô đến phòng của mình. Sở Vọng đi theo sau cô ấy đi xuyên qua phòng khách lớn từng thấy ngày trước, đi qua một hành lang. Cửa sổ trên hành lang dài được chạm trổ, lờ mờ thoáng thấy bóng tùng trúc mai ở bên ngoài, cứ như đang diễn Tây Sương Ký vậy. Băng qua hành lang, đẩy cánh cửa đầu tiên ra, Tuệ Tế dừng bước ở cửa đợi cô vào trước, “Đây là phòng của cô ạ.”

Còn chưa bước vào mà Sở Vọng đã ngạc nhiên cảm thán: Đây là căn phòng có giường lớn có thể ngắm cảnh vô cùng sang trọng trong truyền thuyết đây mà.

Tuệ Tế kéo tấm rèm ở cửa kính sát đất ra – gốc mai phía sau cánh cửa dần xuất hiện, tầm nhìn đối diện thẳng với bãi cỏ nhà bác cả.

Phòng tiếp khách loại nhỏ, có mấy chiếc ghế sofa nhỏ màu xanh biếc, ngoài ra có thêm hai ghế mây cùng bàn trà – tất cả đều rất tinh xảo. Tuệ Tế nói: “Nếu cô ba mời bạn bè đến chơi thì có thể ở đây trò chuyện.”

Hai cánh cửa nhỏ, một gian là thư phòng, một gian là phòng thay quần áo. “Bà chê tủ quần áo chật không đủ to. Giờ con gái nhà giàu đều có một phòng riêng làm phòng thay đồ, nên bà cũng bố trí một phòng như thế cho cô.” Tuệ Tế vừa nói vừa kéo ba cánh cửa tủ ở trong phòng thay đồ ra – cả ba ngăn tủ đều có đầy quần áo màu sắc sặc sỡ. Tuệ Tế lại nói: “Trước khi đi Thượng Hải, bà đã dựa theo số đo của cô bảo thợ may may gấp. Bên cạnh là phòng ngủ và buồng vệ sinh – cô có thể thử đồ xem có vừa không, tôi ra bên ngoài trước, nếu cảm thấy thiếu gì thì cứ nói với tôi.”

Sở Vọng “ừ” một tiếng, Tuệ Tế đi ra ngoài, nhân tiện khép cửa phòng lại giúp cô.

Cô nhìn chằm chằm mấy bộ quần áo treo đầy tủ: Vải cotton, vải sa, vải lụa, vải gấm, vải lanh; áo ngủ mặc ở nhà, áo len lông cừu, dạ phục, áo tắm; chơi thể thao thì có đồng phục chơi golf, cầu lông và váy tennis; khiêu vũ thì có váy nhảy tango màu đen và màu champagne đính vảy kim tuyến, váy nhảy rumba lấp lánh, váy ba-lê màu trắng tinh; áo sơ mi rộng rãi, váy đầm, Jumpsuit, áo váy; rồi còn có đồ mặc ăn tối, dạ phục, váy cocktail mặc khi gặp khách ở nhà; khi đi ra ngoài thì có áo lửng, áo khoác dài, áo vét da; đi kèm những bộ đồ này là những đôi giày và túi xách kín cả một tủ…. Cái gì cần có cũng có cả, ngoại trừ sườn xám ôm người ra, Sở Vọng không thấy thiếu thứ gì.

Đây chính là “mặc tạm đi đã” mà cô út nói đây hả?

Nhìn tủ quần áo chật ních đồ trước mặt, lúc này cô mới hiểu vì sao Chân Chân chỉ mới đến biệt thự nhà họ Cát một lần mà lúc quay về đã chê này chê nọ. So với cuộc sống ở đây, cuộc sống ở biệt thự nhà họ Kiều đúng là kém xa.

Tủ quần áo kia như có ma lực, khiến Sở Vọng không kìm nén được lập tức chọn một bộ váy gấm không tay màu lam mặc thử. Vừa cầm vào tay, cô đã giật mình sực tỉnh, lập tức nhoẻn miệng cười: quả nhiên quần áo có ma lực lớn với phụ nữ, chẳng trách trước khi Cát Vi Long đến chỗ của bà Lương thì là một kiểu, nhưng sau khi thấy tủ quần áo kia thì biến thành một kiểu khác.

Nghĩ đến đây, cô kìm nén sự kích động của bản thân, treo váy vào phòng thay đồ, chỉ chọn áo mặc trong tối nay để thay – rất vừa người. Còn những bộ đồ khác, sau này có cơ hội sẽ từ từ mực thử – vào những lúc những nơi thích hợp nhất.

Thay đồ xong thì cô lại thấy mệt, thế là kéo bức rèm màu đỏ tía vào, mặc nguyên đồ thả mình lên giường – giường nệm lông ngỗng, vừa đổ nhào xuống đã mềm mại khiến ta có cảm giác thoải mái, ngủ rất ngon giấc.

Cô út đúng là người tốt, dĩ nhiên bà ấy không phải là bà Lương rồi.*

(*Trong “Lư Hương Thứ Nhất” của Trương Ái Linh, Cát Vi Long là một cô gái thuần khiết, nhưng đã bị bà Lương là bác gái đẩy vào con đường sa đọa không lối về.)

Sở Vọng nghĩ bụng, tiện nhắm mắt lại, định chợp mắt nghỉ một lúc trước khi ăn tối, “Mình còn có chuyện quan trọng ngày mai phải làm, sao có thể mơ màng vào lúc này được?”

Chương 57: Người bệnh (1)

Sở Vọng ngủ một mạch đến tận sáng sớm ngày hôm sau. Mới ngày đầu đến biệt thự nhà họ Cát đã cảm nhận được sự mệt mỏi buông thả vì thả lỏng toàn thân toàn sức. Cô cởi bộ đồ mặc buổi tối hôm qua ra, tắm rửa một hồi, sau đó lấy từ trong tủ áo sơ mi đỏ sậm và quần đùi trắng từng mặc, vuốt tóc ra sau đầu rồi đi xuống lầu.

Hình như cô dậy muộn thì phải, vì người hầu trong biệt thự vừa cầm báo sáng đi vào nhà ăn. Có vẻ tối qua bà Cát đã thông báo nên rất nhiều người hầu lạ mặt vừa thấy cô đã mỉm cười: “Cô chủ đã dậy rồi đấy à? Chúc cô buổi sáng tốt lành.”

Đi theo người hầu đưa báo vào nhà ăn, đúng lúc chú Henry đã dọn dẹp dao nĩa bát đũa của bà Cát. Vừa thấy cô, bà Cát cầm tách trà lên hỏi: “Ngủ đẫy giấc lắm đúng không? Đến ăn sáng đi.”

Sở Vọng ngồi xuống, nhấp hai ngụm trà Khẩu Hồng, “Hôm nay có tin gì không ạ?”

“Thuyền Nhật vào bến không kéo còi, làm chìm bốn chiếc phà, đúng là xằng bậy. Cháu đoán xem chính phủ đáp lại thế nào? Cố gắng nói tốt cho tụi Nhật, nói bọn chúng chỉ vô tình không cố ý, đền tiền là được rồi.”

Sở Vọng cười nói, “Không biết miếng thịt ‘tiền bồi thường’ béo bở này sẽ chia như thế nào đây, có lẽ sẽ bỏ túi riêng hoặc sung quân thôi.”

“Báo chí Hương Cảng đánh đúng trọng tâm hơn báo ở lục địa, đúng là làm bậy.” Bà Cát thở dài.

Chú Henry giao mấy bức điện báo vào tay bà Cát, bà Cát cau mày lật xem nhanh, “Vừa đến Cảng đã tới tìm tôi? Mấy ngày tới sẽ không gặp ai ——”

Sở Vọng vội nói bằng tiếng Anh: “Nếu có tiệc xã giao thì cô út cứ sắp xếp như bình thường đi ạ.”

Bà Cát lắc đầu, “Cô đã nói gì thì sẽ không lật lọng.” Sau đó lại hỏi, “Lát nữa định làm gì?”

“Đi thăm thầy cô ạ, với cả ngài Saumur và dì Nguyễn ở Du Ma Địa nữa.”

“Hôm nay Chủ Nhật mà, việc gì cấp bách thế.” Bà Cát nói, “Mật Thu có mua ít đồ ăn, có bánh dẻo gì gì đó, lát cháu ra ngoài nhớ đem theo.”

Sở Vọng cười đáp vâng, “Suýt thì quên cấp bậc lễ nghĩa rồi, vẫn là cô út suy nghĩ thấu đáo.”

“Miệng ngọt quá nhỉ?” Bà Cát cốc đầu cô, sau đó nói, “Khẩu âm tiếng Anh của cháu, cô nghe lạ lắm đấy. Mấy chuyện khác cô không quản, nhưng rảnh rỗi thì bảo ngài Henry sửa lại cho cháu.”

Sở Vọng cười bất đắc dĩ: “Đủ để nghe hiểu không được ạ?”

Bà Cát trợn mắt với cô rồi gọi Mật Thu đến, nói, “Em tới đây nói hai câu tiếng Anh cho cô chủ em nghe đi.” Mật Thu cười nói vài câu, bà Cát nhìn Sở Vọng: “Mật Thu có khẩu âm gì, cháu nghe không hả? Cho dù cháu không đến từ Anh thì cũng không thể kém người hầu trong nhà được.”

Sở Vọng cười le lưỡi, “Vâng vâng, cháu sẽ sửa lại ạ.”

Sở Vọng đang khuấy bát thì bị chú Henry bưng đồ ăn đi vào nhìn thấy, ông lập tức nhíu mày, cũng đúng lúc ánh mắt giao nhau với bà Cát. Bà Cát cười bất đắc dĩ, bày tỏ hôm nay chưa nói chuyện này với cô.

Ăn trứng chiên nấm và bánh mì nướng phết mỡ bò xong, cô ở ngoài hành lang gọi điện đến nhà họ Từ. Xác nhận chị Từ và Từ Thiếu Khiêm đều có ở nhà, Mật Thu dựa theo bà Cát dặn dò gói ghém bánh trái lại, đưa cho Sở Vọng đặt vào cặp sách.

Lúc cô đứng ở cửa thay giày, trông bà Cát có vẻ lo lắng, tựa vào sofa quan sát Sở Vọng một phen.

Bấy giờ đang thịnh hành phong cách quần đùi trắng ngắn trên đầu gối, để lộ bắp chân thon dài, da thịt trắng bóc, chỉ có điều hơi gầy – trông như gậy gỗ trong tủ kính vậy.

Có hơi lùn nhưng cũng không sao, hiện tại đang là tuổi phát triển, uống sữa bò và canh hầm xương nhiều là được; người thì khẳng khiu mà mặt lại bụ bẫm, thiếu đi nét con gái trưởng thành. Điều này cũng không thành vấn đề – chảy dòng máu của người kia, từ nay về sau lại sống ở biệt thự nhà mình, nhất định con bé sẽ trở thành người trên đỉnh tháp ngà…

Khi bà Cát còn đang đắm chìm trong suy nghĩ thì Sở Vọng đã thay giày xong, nheo mắt cười tạm biệt bà.

Bà Cát nói thêm, “Mặc quần đùi ngắn như vậy, phải mặc thêm tất chân lên trên bắp đùi mới đẹp.”

“Lần sau cháu sẽ bắt đầu mặc như vậy.”

***

Đã lâu lắm rồi mới về lại Hương Cảng, thời tiết trong xanh hơn ở Thượng Hải nhiều. Nếu ở Thượng Hải là một nàng thơ mặc sườn xám không tay, nước da trắng nõn thân hình đầy đã ôm ấp tỳ bà che nửa mặt, thì ở Hương Cảng sẽ là thiếu nữ bận áo lanh trắng phau và váy hoa hồng điểm xuyết màu xanh nõn chuối, thẳng thắn năng động.

Xe buýt công cộng không đông, một đường lên núi rồi xuống núi làm cả người cô ướt đẫm mồ hôi. Lúc nãy gọi điện chỉ hỏi có thầy cô ở nhà không mà quên hỏi cẩn thận, làm cô vất vả đến đường Liên Hoa một chuyến.

Xuống xe ở đường Liên Hoa, từ đằng xa cô đã thấy chị Từ nằm ngủ dưới mái hiên, còn Từ Thiếu Khiêm đứng cạnh cầm quạt nhẹ nhàng quạt mát cho chị – khung cảnh ấy như thể quay ngược về một trăm năm trước, người dưới mái hiên không phải là chị Từ, mà là phu nhân cao quý của chi trưởng trong nhà cao cửa rộng; Từ Thiếu Khiêm cũng không phải giáo sư Vật lý, mà là thế gia công tử đang tuổi còn son, thúc ngựa đi qua Trường An, tiền đồ rộng mở thỏa thuê mãn nguyện.

Sở Vọng không nỡ làm phiền nên nhẹ nhàng rón rén đi đến, bất chợt có một chiếc bóng nhảy ra khỏi lùm cây trong góc, ngay sau lại có người rượt đuổi chạy tới, dọa cô sợ đến mức hét ầm lên. Đến khi bình tĩnh thì mới phát hiện là Từ Văn Quân đang đuổi theo con mèo vằn chơi đùa. Tới lúc nhìn kỹ lại thì một người một mèo đã chạy biến đi mất rồi.

Anh Từ và chị Từ cũng giật mình. Sở Vọng xấu hổ cười cười, đứng từ xa nói, “Thiếu gia Văn Quân đã chịu đến đây rồi à? Có vẻ vui lắm.”

“Con nít mà, có đứa nào không thích chơi bời. Không ai chơi với thằng bé, một mình buồn chán nên muốn tìm chuyện vui và bạn chơi cùng. Không phải giáo sư Từ của em cũng thế à?” Chị Từ ngước mắt nhìn Từ Thiếu Khiêm, “Tưởng em muốn đi châu Âu, đến ngày sắp chia tay thì viết thư xong rồi trốn biệt tăm biệt tích, sợ là cũng khóc đấy.” Rồi chị mỉm cười vẫy tay với Sở Vọng, “Đến đây tôi xem nào, mấy ngày không gặp, có vẻ gầy đi nhiều rồi.”

Từ Thiếu Khiêm cười: “Thế à? Có thể là thầy đã khóc thật.”

“Không phải em đã về rồi đấy sao?” Sở Vọng cười nói, “Xem ra tinh thần của cô rất tốt.”

“Bớt nói ngon nói ngọt đi. Mấy ngày trước tôi mới đổ bệnh, hôm qua vừa xuất viện thì hôm nay em gọi điện đến, đùng là trùng hợp.”

“Ủa? Sao cô lại đau thế ạ?”

“Bệnh cũ ấy mà, không cần nhắc đến làm gì.” Từ Thiếu Khiêm tiếp lời thay chị Từ, “Châu Âu không được à? Ai ai cũng muốn đi châu Âu, cũng có không ít người chỉ vì du học mà bán hết của cải gia sản, lấy làm chi phí học bảy tám năm. Cơ hội tốt như thế, vì sao em không đi?”

Sở Vọng cúi đầu ngẫm nghĩ, trả lời, “Thời gian qua, em vẫn nghĩ mãi về lá thư thầy viết cho em. ‘Một nhà khoa học nên dốc sức vì quốc gia như thế nào?’. Em đã suy nghĩ rất lâu, cũng muốn hỏi thầy xem thầy nghĩ như thế nào. Trước mắt khoa học có thể cứu quốc được không?”Từ Thiếu Khiêm mỉm cười, “Người bị béo phì thì rất khó xoay người, mà không hoạt động thì bệnh lại nặng thêm. Phương thuốc gì cũng đã kê, nhưng không thấy có hiệu quả lớn.”

Anh ngẩng đầu đăm chiêu, sau đó nói tiếp, “Nội chiến, đại quan, dân chúng lầm than. Trước khi về nước có du học sinh nào không muốn dùng khoa học, công thương nghiệp để cứu quốc? Nhưng đứng trên lầu cao sao có thể thấy được con kiến dưới bờ cát.”

Nghĩ ngợi một hồi, Sở Vọng nói: “Xét cho cùng cũng do quốc gia không coi trọng giáo dục, nên không đủ tiền.”

Từ Thiếu Khiêm cười nói, “Có thể nói thế.”

Sở Vọng thở dài một hơi.

“Giáo sư Từ?”

“Ừ?”

“Em có một yêu cầu quá đáng.”

“Quá đáng thế nào?”

“Gần đây em đang nghĩ đến chuyện lựa chọn chuyên ngành tương lai, nên em định đến thư viện sưu tầm tác phẩm của thầy, coi như tư liệu học tập… Tiếc là sách vở quản lý không tốt, em tìm không ra, nên đành tìm đến chính chủ cầu xin, không biết thầy có thể giúp em được không?”

Từ Thiếu Khiêm rất vui. Chị Từ ở bên cạnh phụ họa, “Được chứ? Sao có thể không được? Tôi đồng ý thay anh ấy.”

Từ Thiếu Khiêm nghiêm mặt hỏi: “Sau này muốn học gì, ứng dụng vật lý hay lý thuyết vật lý…”

“Lý thuyết vật lý.” Sở Vọng đáp không chút do dự, “… Của vật lý hạt nhân.”

“Chuyện này thì dễ thôi. Hình như trong nhà có một bản, tôi có thể đưa cho em trước. Phần còn lại, đợi hai ngày nữa đến trường sẽ đưa cho em.”

***

Cô cầm tập tài liệu tạm biệt nhà họ Từ, ngồi trên xe buýt căng thẳng lật giở từng tờ một. Ngồi cạnh cửa sổ, Sở Vọng như biến thành một chiếc máy đọc tốc độ cao, mấy dòng chữ tiếng Anh lướt qua mắt cô cực nhanh, những từ như “uranium”, “U”, “nhiệt phân”, “chuỗi phân rã”, “thời kỳ bán rã” được phóng lớn vô tận…

Vào những năm 30 của thế kỷ 20, tuyệt đại đa số các nhà vật lý hạt nhân đều biết đến lý thuyết hàn lâm về các nguyên tử siêu Uranium và các nguyên tố phóng xạ. Và chỉ thiếu một cơ hội cực kỳ ngẫu nhiên là bọn họ sẽ phát hiện ra hiện tượng phân hạch hạt nhân – Từ Thiếu Khiêm cũng là một trong số họ.

Cuối cùng cũng xác nhận được điều này, con tim cô đập mạnh liên hồi.

Phải dốc sức vì quốc gia thế nào? Cô đã suy nghĩ rất nhiều ngày.

Vì không biết quá nhiều về lịch sử cận đại, nên ngay từ đầu suy nghĩ này chỉ là một nguyên mẫu bé nhỏ. Tuy nhỏ và mơ hồ, nhưng lại có một âm thanh kiên định đang nói: không thể đi châu Âu.

Trong lịch sử cận đại, có rất nhiều du học sinh ôm mộng khoa học cứu quốc, công thương nghiệp cứu quốc, cuối cùng lại trở thành trò cười.

Không thể dùng khoa học để cứu quốc được. Đấy là kết quả đúc kết của vô số người thử nghiệm thất bại, chỉ đơn giản vì xã hội bấp bênh, quốc gia thiếu hụt, quốc khố trống không, làm gì có tiền để duy trì giáo dục. Như Từ Thiếu Khiêm nói đấy: đứng trên lầu cao sao có thể thấy được con kiến dưới bờ cát? —— Chính vì vậy Gia Cát của đời sau đã ‘tuỳ bệnh hốt thuốc’, tổng kết tuyên bố: Trung Quốc cận đại chỉ có thể và cũng chỉ có khả năng cứu quốc từ góc độ chính trị.Từ năm 1840 trở đi, Trung Quốc chiến bại liên tục, tài chính quốc gia được dùng để bồi thường cho các quốc gia khác. Khoản tiền bù được trả lại năm Canh Tý* là một miếng thịt béo bở – vô số tham quan ghé mắt cắt xén. Số tiền còn lại, phần lớn  dùng để làm chi phí chung cho quỹ du học Thanh Hoa. Còn tiền bạc quốc khố gần như đã dùng để đặt mua vũ khí và mở rộng quân đội.

(*Điều ước Tân Sửu quy định Trung Quốc phải trả tiền bồi thường cho liên quân tám nước sau phong trào Nghĩa Hòa Đoàn, một con số khổng lồ. Song về sau khi điều tra lại thì nhận thấy số tiền bồi thường không đến, 8 nước phương Tây đã trả lại Trung Quốc phần dôi ra, cuối cùng Trung Quốc chỉ phải trả 58% tổng số tiền quy định và có cơ hội đưa nhiều người sang Âu Mỹ du học.)

Đây cũng là điều mà Từ Thiếu Khiêm nhắc đến trong phong thư: Quốc gia đại sự ngày càng tệ hại, chiến loạn liên miên, giáo dục không được phát triển.

Nên là, một nhà vật lý sẽ dốc sức vì đất nước như thế nào? Dĩ nhiên không thể đi châu Âu được.

Trung Quốc không có tiền để duy trì giáo dục, càng không có tiền để thành lập phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân. Vậy thì, Anh quốc có không?

Ban đầu khi thành lập trường đại học Hương Cảng, tức cũng là lúc phương Tây tranh nhau thành lập trường đại học ở địa phận Trung Quốc, thống đốc Lugard* đã đề nghị nước Anh thế này: Anh Quốc cũng nên thành lập một trường đại học ở Hương Cảng, vừa để cạnh tranh với các cường quốc khác, vừa để người Trung – nhất là người Hương Cảng thống nhất giá trị quan với nước Anh. Lời đề nghị vừa được đưa ra, tổng đốc Quảng Đông Quảng Tây cùng với công thương giới tỉnh cảng cũng hiểu được một điều: thành lập trường đại học sẽ giúp người Trung học tập khoa học kỹ thuật của phương Tây, sẽ khiến Trung Quốc tự cố gắng, thế là bọn họ đã bỏ tiền ra duy trì ủng hộ.

(*Sir Fredrick Lugard là thống đốc thứ 14 ở Hồng Kông, là người thay mặt Hoàng đế và chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thực thi quyền lực tại Hồng Kông.)

Nên kinh phí duy trì giáo dục đại học Hương Cảng đều đến từ chính phủ Anh và tập đoàn đầu tư tài chính Luân Đôn như ngân hàng HSBC*.

(*HSBC là viết tắt của Hongkong and Shanghai Bank Corporation, được các thương nhân người Anh tổ chức và thành lập vào năm 1865, sau khi Hương Cảng trở thành thuộc địa của Anh.)

Nếu tài chính như thế còn không đủ, vậy thì, liệu có thể khiến những tay cầm đầu khoa học đem theo ngân sách kếch xù đến Trung Quốc không?

Nếu, nếu Trung Quốc cũng xuất hiện một nhà khoa học thanh danh hiển hách, có đầy đủ tư cách lai lịch và thiên phú thành lập một nhóm nghiên cứu khoa học hoàn toàn mới, thế thì chắc hẳn họ sẽ mang theo ngân sách dự án của mình đến Trung Quốc cho xem.

Dự án Manhattan* từ lúc bắt đầu cho đến khi chính thức thành công, tiêu hao khoảng 2 tỷ đô la.

(*Dự án Manhattan là một dự án nghiên cứu và phát triển chế tạo ra những quả bom nguyên tử đầu tiên trong Thế chiến II, chủ yếu do Hoa Kỳ thực hiện với sự giúp đỡ của Anh và Canada.)

Cộng tất cả những số tiền có được, trong thời gian mười năm, liệu có đủ cho kinh phí nghiên cứu đi từ lý thuyết đến thực tiễn không?

Từ năm 1940 trở đi, bao gồm cả Đức Quốc Xã, ai ai cũng mơ ước đến “hạt nhân”. “Kế hoạch hạt nhân” và “dự án Manhattan” cùng nhau chạy đua, lúc ấy cả thế giới đều biết các mỏ Uranium lớn nằm ở Cộng hòa Séc, Canada và Congo. Còn mỏ Uranium mười nghìn tấn của Trung Quốc được khai quật lần đầu tiên vào năm 2014 lại đang nằm ở bồn địa Ili Tân Cương.

Chính vì vậy mà Sở Vọng muốn thử suy diễn xem: nếu mỏ mười nghìn tấn Uranium này được khai quật trước, thì liệu có khiến chính phủ Trung Quốc cũng ghé mắt đến miếng bánh béo bở mang tên “chuỗi phản ứng hạt nhân” không, liệu có khiến bọn họ cam tâm chia một phần số tiền vốn dùng cho mục đích quân sự để hỗ trợ dự án này không?

“Vì sao các người không đi học trong nước, mà phải vượt dương xa xôi đến đây học đại học, rốt cuộc là nền giáo dục của các người bị gì vậy?”

Nếu chúng tôi có lý thuyết trước cả các người, thì việc gì chúng tôi cần phải đến đó nữa? Vì sao không phải là các người đến đây?

Ở đời sau khi học về phản ứng phân hạch, có một câu này trong sách giáo khoa Sở Vọng vẫn nhớ rõ: “Trong những năm 30 của thế kỷ 20, không một ai có thể giải thích được vì sao thí nghiệm Uranium luôn thất bại.”

Bây giờ là năm 1927, có lẽ lúc này Otto Hahn* ở châu Âu xa xôi đang diễn thuyết luận văn tiến sĩ về cơ học lượng tử tại đại học Göttingen.

(*Otto Hahn là người nhận giải Nobel Hóa học vào năm 1944, trước đó ông cùng nhóm của mình đã nhiều lần thử nghiệm thí nghiệm phân  hạch nhưng đều thất bại, bởi vậy mới có câu nói trong sách giáo khoa của Sở Vọng.)

Rất nhiều nhà khoa học ở thời đại này chỉ cách 1% để chạm đến phản ứng dây chuyền hạt nhân, nhưng phải mất hơn mười năm sau thì mới có thể thành công.

Nếu lý luận cơ sở của hiện tượng phân hạch ra đời sớm 12 năm*, thì vụ thử hạt nhân đầu tiên sẽ không xảy ra vào năm 1945 nữa.

(*12 năm tính từ năm 1927 cho đến năm 1939 – thí nghiệm phân hạch urani thành công lần đầu tiên trên thế giới, cũng là năm bắt đầu dự án Manhattan.)

Nếu như trước năm 1937, “kế hoạch Uranium” đã sớm thành công tại đại lục Viễn Đông, vậy thì cơn ác mộng năm 1937* có xảy ra nữa không?

(*Tác giả nhắc đến sự kiện Lư Câu Kiều xảy ra vào ngày 7/7/1937, được xem là sự kiện mở đầu Chiến tranh Trung-Nhật.)

Là một sinh viên khoa học từng được xuất bản rất nhiều bài viết trong tương lai, xuất phát từ quan niệm đạo đức của bản thân mình, Sở vọng không làm nổi chuyện ăn cắp bản quyền những ấn phẩm từng được đăng tải.

Nhưng liệu cô có thể dựa vào tri thức của chính bản thân, trở thành một yếu tố “ngẫu nhiên” trên con đường lý thuyết từ “nguyên tử siêu Uranium” cho đến “hiện tượng phân hạch” chưa được thực hiện của Từ Thiếu Khiêm không?

Liệu cô có thể dùng kiến thức mà bất cứ sinh viên chuyên ngành Vật lý nào ở thế kỷ 21 cũng biết, đứng một bên chỉ điểm cho nhà khoa học Viễn Đông ở đầu thế kỷ 20, người biết quá rõ về lý thuyết phân rã phóng xạ của Uranium, đã nắm được 80% cơ sở lý luận về phân hạch, nhiệt hạch và “phản ứng dây chuyền”, chỉ thiếu 20% còn lại để chạm đến đích? Để thúc đẩy lý thuyết này, nhằm khiến nó ra đời ở Trung Quốc sớm 12 năm?

Vậy thì dự án Manhattan sẽ không còn là dự án Manhattan nữa, có lẽ phòng thí nghiệm chạy đua với Đức Quốc xã sẽ có mặt ở Hương Cảng; và có lẽ hiện trường thí nghiệm sẽ nằm tại Ili ở đại lục.

Và nếu như giả thuyết của cô thành công, thì chiến tranh thế giới lần thứ hai sẽ không xảy ra.

___

*Qin: tl;dr: Con đường cứu quốc bằng khoa học mà Sở Vọng nói ở đây chính là phát triển khoa học mà cụ thể là vật lý hạt nhân, thu hút thế giới đầu tư vào khoa học giáo dục Trung Quốc, từ đó khiến Trung Quốc phát triển hơn, có thể đủ sức để chống lại sự xâm lược của Phát xít Nhật.

Chương này hơi khó tiêu nếu đọc lướt, các bạn đọc thật kỹ và xâu chuỗi lại sẽ thấy các tình tiết tác giả đưa ra đều liên quan với nhau chứ không hề thừa thãi.

Chương 58: Người bệnh (2)

Sở Vọng cũng biết những điều đó chỉ là giả thuyết, là hypothesis. Trong quá khứ, đi qua khắp đại lục châu Âu và Bắc Mỹ, biết bao con người cùng những năm tháng ròng rã, mãi đến tận năm 1942 mới thực hiện được lò phản ứng chậm đầu tiên – từ lý thuyết cho đến thực tiễn tròn mười bốn năm.

Rồi lại bắt đầu từ năm 1942 cho đến khi đề xuất hai kỹ thuật kích nổ, từ sáu nhà vật lý đầu tiên cho đến hơn một nghìn các nhà khoa học, hơn hai nghìn nhân viên tính toán, hơn ba nghìn quân sĩ cùng sự nỗ lực của mấy chục nghìn người vào cuối năm 1945. Mất thời gian ba năm, cuối cùng hai quả bom nguyên tử “Thin man” và “Little boy” cũng đã ra đời.

Nhưng chỉ cần nghĩ đến việc đó thôi là nội tâm lại vô cùng kích động.

Nên khi tới Du Ma Địa thăm ngài Saumur và bà Nguyễn, tâm tư của cô còn đang phiêu du ở một nơi xa, không biết ngài Saumur và bà nói gì. Chỉ loáng thoáng nhớ hình như ông ấy nói: “Tháng sau ngài Dupont sẽ đến để gặp cháu.”

Bà Nguyễn và ngài Saumur không để bụng chuyện cô phân tâm. Nhìn cô lên xe điện, bà Nguyễn cười nói: “Hình như tôi chưa thấy con bé vui vẻ như thế lần nào, không biết là vì chuyện gì nhỉ?”

“Con người thường rất chú ý đến thứ mình yêu tha thiết.”

“Vậy chắc hẳn con bé đã gặp được chân mệnh thiên tử của mình rồi.” Bà Nguyễn cười nói.

Sở Vọng xuống xe điện, chạy bước nhỏ quay về biệt thự nhà họ Cát.

Có hai người hầu đang ở trong vườn chăm sóc hoa, một người trong đó không nhìn thấy Sở Vọng, nhiều chuyện tán gẫu: “Bà cũng quyết tuyệt thật đấy, nói không tổ chức tiệc là không tổ chức thật, cả cái nhà to như thế mà chỉ mời vài ba người đến đánh mạt chược. Vừa vắng vẻ vừa buồn chán —— cũng không biết cháu gái bà tính ở đây bao lâu nhỉ?”

Một người khác thấy Sở Vọng đi vào, lập tức huých khuỷu tay vào người bên cạnh.

Hai người nhủ thầm “chết chắc rồi”, chắc chắn cô đã nghe thấy những lời này rồi. Bà chủ chiều chuộng cô như thế, ngay đến chị Lật Thích cũng phải đổi tên thay họ chỉ vì cô đến. Nếu cô đi mách với bà chủ, không biết bà sẽ trừng phạt hai người thế nào đây.

Nghĩ đến đây, hai cô gái run run đứng thẳng lên, ấp úng gọi: “Chào cô ạ!”

Nhưng cô chủ chẳng hề nhìn hai người lấy một lần, chỉ chạy ùa vào cửa. Hai người đứng bên ngoài tôi nhìn cô cô nhìn tôi, nghĩ bụng: “Cô chủ không thèm nhìn mình nữa, nhất định là mình đã chọc tức cô rồi. Lát nữa cô đến chỗ bà khóc lóc, nói không chừng bà sẽ bán chúng ta làm vợ lão què nào đó ở quê quá…”

Hai người bị trí tưởng tượng của chính mình dọa sợ, trố mắt nhìn nhau, buồn bã đau lòng không biết gỡ từ đâu, suýt nữa đã òa khóc.
***

Lúc này trong đầu Sở Vọng chỉ có các nơtron nhanh chậm cùng tia gamma, còn những chuyện không liên quan đều bị cô tự động bỏ ngoài tai. Dù bây giờ Kim Thành Vũ có ở trần nửa thân trên đứng trước mặt, chưa chắc cô đã chịu liếc nhìn. Thế nên hai người hầu kia nói gì làm gì, cô cũng không hề chú ý. Ngoài hai người hầu đó ra, rất nhiều người quan trọng đang chơi mạt chược trong nhà cũng bị cô xem nhẹ.

Tạ Trạch Ích chơi mạt chược cả đêm, cuối cùng cũng ù được một ván, vô tình đưa mắt nhìn ra cửa, đúng lúc trông thấy Sở Vọng đạp cởi giày da, chân chỉ mặc tất không xỏ thêm dép, cẩn thận ôm một xấp tài liệu đựng trong túi da bò, nét mặt rất trịnh trọng lại vui vẻ chạy rầm rầm lên lầu.

“…” Tạ Trạch Ích trải bốn quân Lục Văn lên mặt bàn vải trắng, cười nói, “Dì Cát này, tôi còn tưởng cháu gái dì tính nết lạnh lùng, sẽ không bao giờ kích động, xem ra tôi nghĩ sai rồi.”

Bà Cát đang cần quân Lục Văn, thấy bốn quân Lục Văn trong tay anh thì vừa tức vừa cười: “Thấy Sở Vọng về?”

“Về rồi. Trên mặt có…” Tạ Trạch Ích cân nhắc lựa lời, muốn nói đến từ ‘thiếu nữ hoài xuân’, nhưng dường như lại cảm thấy không thích hợp lắm. Khổ một nỗi thiếu vốn từ vựng nên sau một hồi lâu nghĩ ngợi, anh mới chậm rãi thốt ra: “Có nụ cười ‘mới biết yêu’.”

Bà Cát gắt anh, “Con bé có bạn trai rồi, là chồng chưa cưới của nó, không phải cậu đã gặp rồi sao? Cái gì mà mới biết yêu?” Nhưng rồi nghĩ lại, bà Cát chợt nhớ tới những lúc Sở Vọng ở bên chàng trai kia, trông con bé có vẻ rất lý trí, dù quan tâm vẫn rất bình tĩnh. Còn tình cảm của chàng trai kia thì rất nhiệt tình thẳng thắn, chữ tình toát lên qua từng cử chỉ và chân mày khóe mắt, ấy nhưng bà lại không thấy điều đó ở cháu gái bà, có nhìn thế nào cũng chỉ thấy nó có thái độ nghiêm túc đầy miễn cưỡng với tờ giấy hôn ước kia. Nghĩ đến điều này, bà Cát hỏi Tạ Trạch Ích: “Con bé mới cười thật à? Cười thế nào, cậu làm thử tôi xem.”

Tạ Trạch Ích mỉm cười: “Dì bảo tôi học thế nào đây?”
Hai bà khác trên bàn mạt chược bị anh chọc cười.

Tò mò với tình trạng đang yêu của cháu gái, bà Cát không còn tâm trạng chơi mạt chược nữa. Bà đứng dậy gọi Mật Thu đến, dặn cô lên lầu xem Sở Vọng thế nào. Một lúc sau, Mật Thu đi xuống thưa: “Cô chủ vừa về phòng là ngồi vào bàn, viết vẽ gì đấy rất hăng hái. Em bảo phòng bếp hấp ít bánh ngọt và sữa nóng, lúc bưng lên đặt xuống cạnh cô, cô cũng không để ý đến em… Vô cùng tập trung, em nghĩ có lẽ đã gặp phải người hay chuyện nào đó quan trọng rồi.”

Bà Cát gật đầu. Chuyện quan trọng à, chỉ cần không phải giết người phóng hỏa thì bà đều có thể giải quyết cho cô; mà cho dù có giết người phóng hỏa, bà cũng có thể nghĩ cách bảo vệ cô.

Người quan trọng ư… Về vấn đề này, bà Cát rất tò mò —— ra cửa một chuyến đã gặp được người quan trọng, là ai trên hòn đảo Hương Cảng này đây?

Đọc đến bài viết của Từ Thiếu Khiêm nói về hạt alpha bắn phá nguyên tố nhẹ, cuối cùng Sở Vọng cũng thở phào nhẹ nhõm —— tuy khoa Vật lý của đại học Hương Cảng chỉ mới được thành lập, nhưng nước Anh đã vung tay dựng lên phòng thí nghiệm khá tân tiến —— chí ít là vẫn có buồng sương Wilson*.

(*Buồng sương Wilson là thiết bị chứa hơi nước mà trong đó, hạt tích điện và tia X lẫn tia gamma được nhận dạng nhờ giọt hơi nước ngưng đọng.)

Có một tiền đề cực kỳ quan trọng đối với phản ứng phân hạch: Đó chính là nơtron nhanh. Tuy sự tồn tại của hạt nơtron đã được tìm thấy vào năm 1920, nhưng sau hơn 7 năm nó vẫn chỉ là giả thuyết, nhiều nhà khoa học – bao gồm cả phòng thí nghiệm Cavendish* – vẫn hiện đang cố gắng xác nhận sự tồn tại của nó. Bothe và Becker (những người nghiên cứu ra vụ bắn các hạt alpha vào tấm Beryllium), cùng với con gái và con rể của Marie Curie (theo dõi “bức xạ trung tính”) đều lỡ mất dịp phát hiện ra nơtron vào năm 1930, chắp tay “nhường” giải Nobel cho học trò của Rutherford là Chadwick.

(*Đây là một trong những phòng thí nghiệm nghiên cứu phát triển mạnh ở Vương quốc Anh về các lĩnh vực công nghệ cao.)

Từ Thiếu Khiêm cách sự phát hiện này cả một bước xa.

Vì thế chỉ cần thử nghiệm buồng sương bắn hạt alpha nhiều lần, khiến Từ Thiếu Khiêm ý thức được “bức xạ trung tính” có nguồn gốc từ thứ không có điện tích, có khối lượng tương đương hạt nhân, thứ mà bảy năm trước Rutherford đã nêu ra – chính là “nơtron”.

Vậy là có thể chứng thực được nó rồi!

Sở Vọng viết rất nhiều công thức chiếu xạ lên giấy nháp, cũng dựa vào luận văn của Từ Thiếu Khiêm mà thử đặt câu hỏi ngây thơ cho bản thân —— Vì sao lại tồn tại bức xạ trung tính còn mạnh hơn cả tia gamma, có phải là do không bảo toàn được số khối nguyên tử không?

Lúc liệt kê các công thức và đặt ra câu hỏi này, Sở Vọng không ý thức được rằng cô và công thức toán học của mình đã trở thành “quan hệ tình yêu” trong mắt bà Cát.

Chương 59: Người bệnh (3)

Cô viết ra giấy rất nhiều câu hỏi, rồi ngay trong hôm đó vội vã gửi hết đống giấy nháp vào hòm thư của Từ Thiếu Khiêm. Đến cuối tuần khi làm xong tất cả những việc trên, dưới phương pháp lạt mềm buộc chặt của bà Cát, cô được chú Henry dạy một lớp hướng dẫn phát âm tiếng Anh vào buổi trưa, và lớp học đã kết thúc khi từ “con gái” được chú Henry nói bằng giọng Anh quyến rũ lại bị Sở Vọng phát âm thành giọng Mỹ. Trong tiếng cười của mọi người ở biệt thự nhà họ Cát, buổi luyện tập phát âm vào cuối tuần coi như tạm thời chấm dứt.

Sáng ngày Chủ nhật, vì Sở Vọng đã về nên Leon không thể không tiếp tục lớp tiếng Anh của mình. Vì vậy từ sáng sớm, vú già ở biệt thự họ Kiều dẫn Leon xuất hiện trước cửa biệt thự nhà họ Cát, và còn có cả Chân Chân đi theo. Đưa mắt nhìn Sở Vọng dẫn Leon đi xe buýt vào nội thành, quý cô Tiết Chân Chân thành công đạt được đặc quyền xin ăn sáng ở biệt thự nhà họ Cát.

Sau kỳ nghỉ Hè là Leon và Văn Quân sắp vào học ở trường Queen’s*, cho nên cũng phải bắt đầu dạy tiếng Latinh. Vì trước đó Sở Vọng đã tuyên bố tiếng Latinh của mình là do “giáo sư Từ dạy”, nên ngày đầu tiên đứng lớp đã bị bạn học Từ Văn Quân xem thường.

(*Qin: Đính chính đây là trường trung học Queen’s College chứ không phải trường đại học Queen’s. Rất xin lỗi vì sự nhầm lẫn này, mình sẽ sửa lại sau.)

Cậu nói: “Nếu cô giáo Lâm học tiếng Latinh từ chú em trong nửa năm qua, vậy vì sao không để chú ấy dạy bọn em luôn, mà phải để học trò của chú ấy dạy lại?”

Sở Vọng cười nói: “Nếu trong vòng nửa năm em có thể học được trình độ ngang chị từ chỗ chú ấy, vậy thì em cũng không cần chị dạy nữa.”

Leon cười to, còn Văn Quân im lặng cúi đầu trong tiếng cười của cậu, bắt đầu tập trung học từ vựng.

So với những ngày trong biệt thự họ Kiều lúc mới đến Hương Cảng, thì tuần đầu tiên ở nhà họ Cát vừa bận rộn lại dồi dào năng lượng, không cần lo lắng về quan hệ cá nhân phức tạp, mọi chuyện vặt vãnh trong nhà đều có người giúp việc thu xếp thỏa đáng thay cô.

Có thể yên tâm làm chuyện của mình, dù ở kiếp trước, cô cũng chưa từng được sống thoải mái như thế.

***

Ngày thứ hai đến rất nhanh.

Ở lớp học buổi chiều của Từ Thiếu Khiêm. Từ khi cô vào học ở đại học Hương Cảng thì đây là lần đầu tiên anh vắng mặt, nhưng chính trợ giảng được anh nhờ dạy cũng không hiểu rõ về bài học ngày hôm đó lắm. Tới gần khi tan tiết, trợ giảng chỉ biết dặn dò sinh viên: “Nội dung hôm nay tôi nói chỉ dùng để tham khảo! Cứ học theo những gì giáo sư Từ đã dạy là được, mọi chuyện cứ lấy bài của thầy ấy làm chuẩn!”

Sở Vọng không ngờ kết thúc giờ học Vật lý mà cũng xuất hiện những lời như “câu chuyện bên trên không có thật, chỉ mang tính chất minh họa”, nghe đúng là vô cùng thân thiết.

Đúng lúc này, trợ giảng lại hỏi một câu: “Linzy là ai?”

Sở Vọng giơ tay lên.

Trợ giảng gật đầu với cô rồi nói, “Giáo sư Từ bảo tôi học xong dẫn em đến phòng thí nghiệm Vật lý.”

Sở Vọng gật đầu, dưới ánh mắt của mọi người, cô đi xuyên qua phòng học rộng lớn.

Lúc đi theo sau trợ giảng ra ngoài, có sinh viên nói mát: “Tôi nói rồi còn gì, quả nhiên là học trò cưng của thầy Từ, được đặc cách học thí nghiệm riêng nữa.”

Cô thở dài. Ngày trước học đại học, môn thực hành thí nghiệm là môn khá lỏng lẻo, bình thường nếu cúp tiết được là cô toàn cúp hết. Chỉ là thí nghiệm thôi mà, có gì hay ho để ghen tị đâu?

Nhưng khi đến cửa phòng thí nghiệm thì cô mới ý thức được một điều, trong thời đại vật lý hạt nhân vẫn đang còn phủ bụi, cho sinh viên lớp lý thuyết được thực hành quả là một điều xa xỉ.

Tòa nhà thực hành xây theo kiến trúc Bauhaus, có thể xem là kẻ dẫn đầu thời đại trong phong cách. Kiến trúc hai tầng, ở cửa viết bảy chữ to “PHÒNG NGHIÊN CỨU VẬT LÝ HẠT NHÂN”.

Lúc thấy bảy chữ này, Sở Vọng còn giật mình —— thì ra ngành Vật lý ở đại học Hương Cảng được ông trùm chủ nghĩa tư bản ủng hộ, tuy giáo viên ít ỏi, nhưng dường như có rất nhiều nghiên cứu viên đang âm thầm ra sức đóng góp vĩ đại cho sự tiến bộ của vật lý hạt nhân?

Người trợ giảng dẫn cô đến căn phòng nằm cuối hành lang, bên ngoài phòng lắp cửa sắt chống trộm. Cách lớp cửa sắt, anh ta gõ vào cửa gỗ. Nghe thấy bên trong có tiếng động, trợ giảng lập tức xoay người rời đi, để lại một mình Sở Vọng ngơ ngác đứng trước cửa.

Một lúc lâu sau, cánh cửa bên trong mở ra cái “két ——”, một người đàn ông mặt trẻ con màu tím bầm, đeo kính tròn lim dim bước ra mở cửa.

Sở Vọng nhìn anh ta hai lần.

Cái nhìn đầu tiên là vì giật mình do tưởng anh ta là zombie.

Nhìn đến lần thứ hai mới nhận ra, thì ra người này chính là người đeo kính mắt cổ hủ cổ quái ở nhà xuất bản đại học Hương Cảng ngày trước.

Cô run run chào “hi” một tiếng với anh ta, còn anh ta chỉ bình tĩnh ngoái đầu hỏi, “Thiếu Khiêm, đây là người cậu mời đến đấy à?”

Trong phòng sột soạt tiếng lật giấy, Từ Thiếu Khiêm “ừ” một tiếng, bước ra từ trong góc. Vừa trông thấy Sở Vọng, anh cởi kính xuống đi vào nhà, giới thiệu đơn giản hai người với nhau: “Linzy, Lương Chương, hai người đã gặp nhau rồi.”

Lương Chương “à” một tiếng rồi về lại chỗ ngồi, chúi đầu vào chồng giấy cao hơn nửa người, không ngẩng đầu lên nữa.

Từ Thiếu Khiêm mỉm cười như đã quá quen với việc trước mắt, giải thích, “Ngày trước khi mới đến Hương Cảng, bọn thầy có xin trường lập một viện nghiên cứu như thế này. Gần như có đầy đủ dụng cụ, nhưng vì trường chưa có tiếng tăm, nên đến nay trong phòng nghiên cứu vẫn chỉ có hai người là thầy và cậu ta.”
Lương Chương ngẩng đầu lên, bất mãn nói: “Kiểu gì chúng ta cũng sẽ có nhiều người hơn thôi. Trong quá trình tính toán lý thuyết lần này, chúng ta phải bỏ đi rất nhiều lý thuyết thông thường của vật lý cổ điển, chính vì thế mà số lượng tính toán và thí nghiệm sẽ nhiều hơn, nếu chỉ dựa vào sức hai người chúng ta, tôi sợ phải mất từ tám tháng tới một năm mới xong.”

“Đúng là sẽ có người, nhưng chỉ là sau khi lý thuyết đó được chứng thật ở nơi này.”

Lương Chương há miệng, có lẽ muốn phản bác nhưng rồi phải khép miệng lại vì thực tế.

“Cuối tuần trước nhận được thư của em, từ trình độ nào đó đã xác nhận phỏng đoán của thầy và cậu ta bấy lâu nay: bức xạ trung tính đến từ nơtron – một suy nghĩ rất hay. Tôi và Lương Chương ở phòng thí nghiệm từ tối thứ Bảy đến tận bây giờ, vẫn chưa được nghỉ ngơi. Lúc này cậu ta đã rơi vào trạng thái căng thẳng tinh thần quá độ, nên mong em bỏ qua cho cậu ta.”

Qua vài lời ngắn gọn của họ, Sở Vọng cũng đoán được hai người đã vùi mình trong phòng thí nghiệm suốt hai hôm, không ngủ nghỉ mà làm gì đó. Trao đổi với người thông minh đúng là tốt, chỉ cần để ý một chút là nhận ra ngay, không cần phải nói nhiều. Thế là Sở Vọng gật đầu, bày tỏ mình rất thông cảm cho trạng thái lúc này của anh ta, sau đó thấp giọng hỏi: “Vậy em có thể làm gì ạ?”

Lương Chương ngẩng đầu lên từ sau trang sách, có vẻ vẫn bất mãn với đề nghị của Từ Thiếu Khiêm. Anh ta nghi ngờ nhìn Sở Vọng, trong mắt viết rõ hoài nghi: em có thể đảm nhiệm được thật sao?

Dừng một lúc, Từ Thiếu Khiêm nói: “Rồi cậu sẽ sớm hối hận vì đánh giá thấp em ấy đấy.”

Sau đó anh lại nói: “Tuy hiện tại viện nghiên cứu chỉ mới có hai thành viên, nhưng vì lý do công bằng, thầy vẫn cần trưng cầu ý kiến của đồng nghiệp duy nhất hiện nay.”

Cô ngẩng đầu nhìn Lương Chương, cười bảo: “Nếu anh có nghi ngờ gì về em thì xin cứ nói.”

Lương Chương hỏi: “Nói sơ sơ về biến đổi hạt nhân xem nào.”

Sở Vọng nói tóm gọn trong hai ba câu, sau đó nheo mắt: “Nhất định phải dùng danh từ ‘biến đổi’ mà không phải là ‘phản ứng hạt nhân’ sao? Em nhớ, biến đổi là thuật ngữ của các nhà giả kim thời cổ đại, nếu ở đại lục châu Âu mà nói như thế thì sẽ bị chém đầu.”

Từ Thiếu Khiêm cũng cười nói: “Không sao. Cả viện nghiên cứu cũng chỉ có ba người chúng ta. Hơn nữa, đây là Hương Cảng chứ không phải châu Âu.”

Lương Chương ho khan hai tiếng, vùi đầu lục tìm một hồi rồi lấy ra ba tờ giấy nháp của bài luận văn, đưa cho Sở Vọng hỏi: “Đã đọc bài luận văn này chưa? Nếu chưa thì tôi cho em mười lăm phút để đọc, sau đó giải thích đơn giản về chỗ mâu thuẫn trong bài này đi.”

Sở Vọng cúi đầu nhìn: là thuyết lượng tử của Rutherford.

Sở Vọng không cần mười lăm phút để đọc vì cô đã thuộc nằm lòng bài luận văn này rồi, thế là ngẩng đầu lên nói, “Mô hình hạt nhân được đưa ra bởi thí nghiệm hạt alpha cũng giống như mối quan hệ giữa mặt trăng và trái đất vậy – các hành tinh xoay quanh mặt trời như các electron xoay quanh hạt nhân. Nhưng khác với các hằng tinh và hành tinh ở chỗ, lực tương tác điện giữa các electron và hạt nhân là rất lớn. Cho nên học thuyết này không thể giải thích được vì sao electron không bị rơi vào trong hạt nhân*. Giả thuyết này có rất nhiều lỗ hổng, thậm chí có thể rất khác với câu trả lời chính xác, nhưng…”

(*Hạt nhân mang điện dương và electron mang điện âm nên nếu có thì các electron sẽ dính chặt vào hạt nhân chứ không chuyển động thành quỹ đạo xung quanh hạt nhân, vì vậy mô hình nguyên tử của Rutherford chưa đủ để giải thích. Còn lý do là vì electron có vận tốc cực kì lớn, cân bằng với lực tương tác điện giữa electron và hạt nhân, không thể làm electron văng ra hay bị hút vào.)

“Nhưng,” Đôi mắt Lương Chương sau cặp kính không còn lim dim nữa, ánh mắt của anh lúc này như bó đuốc rực sáng nhìn cô chòng chọc.

Từ Thiếu Khiêm ngồi trên bệ cửa, mỉm cười nhìn Sở Vọng.

Sở Vọng lật đến trang cuối của bài luận văn, chỉ vào hàng cuối cùng. Cô giơ ra trước mặt Lương Chương, đọc thành tiếng hàng Anh kia: “Đến hôm nay giả thuyết này vẫn chưa hoàn hảo, vẫn còn nhiều thiếu sót. Nhưng, sự nghiệp khoa học của chúng ta không chỉ có ngày hôm nay mà còn có cả ngày mai.”“Ngày mai nằm trong tầm tay.” Lương Chương đỡ mắt kính, “Vậy xin hỏi: em có muốn công việc này không —— chứng thực một ngày mai nằm trong tầm tay.”

Sở Vọng nghĩ ngợi rồi đáp: “‘Em có muốn công việc này hay không không quan trọng, điều quan trọng là các anh có muốn để em tham gia cùng hay không’.”*

(*Tác giả chú thích: Đây là câu nói trong phim “Dự Án Mahattan” nên mới có dấu ngoặc đơn trong dấu ngoặc kép.)

Từ Thiếu Khiêm cười cười, vỗ vai Lương Chương, “Không phải tôi nói rồi sao. Lần này thông qua rồi chứ gì.”

Lương Chương gật đầu, miễn cưỡng đồng ý.

Sở Vọng cười ngẩng đầu lên: “Vậy là em đã trở thành thành viên thứ ba của viện nghiên cứu rồi đúng không?”

Từ Thiếu Khiêm trịnh trọng gật đầu.

“Vậy sự tham gia của em có khiến tám tháng đến một năm rút ngắn xuống còn sáu tháng đến mười tháng không?”

“Chắc chắn rồi.”

“Thế thì tốt quá.” Sở Vọng nheo mắt, không khỏi siết chặt nắm đấm.

***

Có điều, dù Sở Vọng có tích cực đến đâu thì vẫn không thay đổi được sự thực cô là một đứa phế thí nghiệm. Ở kiếp trước, vì sự vụng về của mình trong những lần làm thí nghiệm nên giờ thực hành luôn không đạt yêu cầu. Tuy nghiệp học đã lên cao, song các bạn học vẫn cứ truyền tai nhau, đặt cho cô mỹ danh là “Ooh! Linzy is coming with bang!” (Lâm Trí đi đâu là vụ nổ đi theo!)

Vào lần thứ ba sau khi làm hỏng máy phát hạt của buồng sương Wilson, rốt cuộc Lương Chương cũng phải hét lên: “Linzy! Sau này em tránh xa máy phát hạt giùm tôi! Về sau thí nghiệm do tôi làm, Linzy phụ trách ghi chép!”

Nhưng sự thực đau đớn đã chứng minh một điều, Lương Chương thật sự không phải người giỏi làm thí nghiệm. Vì lý do công bằng, nên lần thứ ba sau khi anh ta sắp làm hỏng buồng sương, Sở Vọng rất thành khẩn đề nghị Từ Thiếu Khiêm: “Vậy thì để em tính toán, anh ấy ghi chép, còn thí nghiệm do thầy Từ làm.”

Hễ có thời gian rảnh là ba người lại tập trung vào phòng thí nghiệm. Cho tới một hôm nào đó, khi Diệp Văn Dữ được chị Từ nhờ đưa cơm nước đến phòng nghiên cứu, anh ta nghe thấy cuối hành lang có tiếng thủy tinh vỡ đi kèm với tiếng gào khóc của Lương Chương: “—— Tôi nghĩ chúng ta thích hợp chế tạo lựu đạn hơn đấy!”

Sở Vọng cẩn thận né tránh những mảnh thủy tinh trên mặt đất, oán thầm: anh nói đúng, hay là thử tạo lựu đạn có uy lực mạnh nhất thử xem?

Từ Thiếu Khiêm lại rất bình thản quét mảnh vỡ trên đất.

Ba hôm sau, trong nhà họ Từ ở đường Liên Hoa.

Sở Vọng đang dạy Leon và Từ Văn Quân tiếng Latinh, còn Diệp Văn Dữ đứng bên cạnh báo cáo với chị Từ những gì mình nghe thấy lúc đưa cơm đến phòng thí nghiệm trong mấy ngày qua.

“Trước đó cháu có nghe những giáo sư khác trong trường nói: chỉ cần có chú thì dụng cụ thí nghiệm sẽ bị hỏng; dụng cụ càng tinh vi thì tỉ lệ có vấn đề càng lớn. Cháu còn không tin. Nhưng lần đầu đến phòng thí nghiệm, cháu đã được mở mắt rồi. Chỉ nghe thấy bùm một tiếng, cháu còn tưởng bom nổ nữa chứ.”

Chị Từ nghe thế thì rất vui, vội truy hỏi: “Còn con bé Sở Vọng thì sao?”

“Em ấy ấy hả,” Diệp Văn Dữ vui vẻ nói, “Nghe bảo em ấy còn không bằng chú. Đến phòng thí nghiệm một chuyến mà làm vỡ dụng cụ ba lần, mới tuần thứ ba đã bị cách chức, phải lùi về tuyến sau. Nếu không gã quái nhân khoa học của vật lý học ứng dụng kia làm sao chịu gật đầu cho chú làm thí nghiệm?”

Từ Thiếu Khiêm bóc hạt sen cho chị Từ, cười nói, “Điều này vừa hay chứng minh một chuyện.”

Chị Từ hỏi: “Chứng minh chuyện gì?”

“‘Người học vật lý, khả năng làm thí nghiệm luôn rất tệ’,” Sở Vọng đang cứu chuộc lại hình tượng của mình trước mặt học trò, nên cũng đứng ở đằng xa phản bác, “Mọi người ai cũng nói thế cả, nói chung đây là điều ai cũng biết, không thể trách em với các thầy được!”

“Em cũng biết cách biện hộ lắm nhỉ”, Diệp Văn Dữ cười lớn, “Anh nhớ ngày trước em thường đến nhà thờ mà. Vậy xin hỏi cô Lâm, từ thứ Hai đến thứ Bảy em tin Newton, còn Chủ nhật thì tin thượng đế à?”

Từng hạt sen tựa viên ngọc sạch sẽ, từ bàn tay trắng bệch khớp xương rõ ràng của Từ Thiếu Khiêm rơi xuống đẩu tre.

Anh nhìn vào những hạt sen kia, cười nói, “Cho nên lễ giáng sinh của bọn chú được gọi là: Merry Newtonmas.”

Chương 60: Người bệnh (4)

Tuy bên này luôn gặp trắc trở trong thí nghiệm bắn phá hạt nhân, song cũng miễn cưỡng xem như tiến hành có thứ tự; Sở Vọng và Từ Thiếu Khiêm bị mọi người ở nhà họ Từ trêu chọc suốt một thời gian, đến khi Leon và Từ Văn Quân nhận được thư mời nhập học của trường Queen’s thì mới thôi.

Học xong tuần đầu tiên, Từ Văn Quân ủ rũ quay về nhà. Chị Từ quan tâm hỏi han nhưng Từ Văn Quân chỉ đóng cửa cái *sầm* rồi nhốt mình trong phòng.

Tiết Chân Chân lấy lý do dẫn Leon đi tìm Sở Vọng, trong một tuần có được ba ngày ở lì biệt thự họ Cát không chịu về.

Bà Cát cười trêu: “Cháu đến chỗ ta làm gì hả, không sợ lúc về bà Kiều sẽ mách lẻo với cha cháu à: ‘cháu toàn tâm toàn ý muốn đến trường dạy gái hồng lâu ở chỗ ta’?”

Chân Chân bĩu môi: “Vậy nếu cháu muốn đến, dì có chịu nhận cháu làm học trò không?”

Bà Cát quan sát cô một lượt từ trên xuống dưới, cười nói: “Đại tiểu thư được nuông chiều từ nhỏ như cháu là người luôn ngẩng cao đầu; đàn ông cũng phải cung phụng cháu như bồ tát, ‘chỉ được ngắm từ xa mà không được bỡn đùa’, vậy xin hỏi ta lấy gì giữ cháu lại đây?”

Tiết Chân Chân đã thua một vố vì Diệp Văn Dữ, nên đương nhiên cô biết bà Cát có ý gì. Bị mấy lời của bà đâm trúng tim đen, Tiết Chân Chân nghiến răng nghiến lợi bảo: “Sao dì Cát biết không giữ được?”

Sở Vọng và Tạ Di Nhã ngồi trên sofa ở phía bên kia, cũng đưa mắt nhìn sang.

Tiết Chân Chân quét mắt nhìn mọi người trong nhà, hắng giọng rồi tiến lên hai bước phô tư thế, bất chợt cất giọng hát bài “Thu Hải Đường” đang thịnh hành nhất ở Thượng Hải gần đây.

Đến khi cô hát xong rồi mà Sở Vọng vẫn còn ngẩn ngơ, cuối cùng cũng biết cụm “nhả châu nhả ngọc” mà cô ấy nói khi ở trên thuyền từ Thượng Hải về là ý gì, lập tức vỗ tay hoan hô cùng Tạ Di Nhã. 

Tiết Chân Chân lấy lại bình tĩnh, vô cùng mong đợi hỏi bà Cát: “Sao ạ?”

Bà Cát nghe thấy cũng lọt tai nhưng vẫn uống trà, hừ một tiếng, “Tạm được.”

Kể từ ngày hôm đó, ngoài việc học tiếng Anh với chú Henry, Sở Vọng còn bị bà Cát cầm roi bắt học khiêu vũ chung với Tạ Di Nhã và Chân Chân, từ tango cho đến rumba, nhảy đến mức làm Sở Vọng kêu khổ liên hồi.

Ngoài hai cái khổ đó ra, bắt đầu từ sáng sớm mỗi ngày khi cầm tách trà lên, mọi hành vi hay lời ăn tiếng nói của cô đều phải vào khuôn khổ của bà Cát. Ví dụ như: tư thế cầm tách lúc uống trà, động tác, phương hướng và số lần khuấy tách đều có quy định cả. Nếu làm quá thì sẽ bị coi là không khéo léo. 

Rồi lại ví dụ như: lúc cười với người khác thì không được để lộ răng —— từ xưa đến nay chỉ có nô bộc lấy lòng chủ nhân mới cười hở răng, đó là nụ cười nịnh nọt hạ đẳng. Nụ cười cao quý phải là nụ cười không hở một chiếc răng nào.

Cười không lộ răng, đồng thời còn phải cười thật tự nhiên, phải cười cho đẹp mắt, điều này đúng là khó khăn.

Từ đó trở đi, bà Cát lại đưa ra thêm một quy định mới, gọi là: khống chế và điều khiển biểu cảm.

Đối với rất nhiều quy định trong biệt thự họ Cát, vì từ nhỏ Tạ Di Nhã đã tiếp xúc nhiều nên đương nhiên có thể hiểu được. Còn Sở Vọng lại chẳng nhớ được gì, chỉ biết lấy giấy bút ra, bà Cát viết cái nào thì cô mới nhớ được cái đó, cũng tiện cho sau này từ từ học thuộc. Bà Cát vô cùng kiên nhẫn, có lúc còn nhắc nhở những khi cô viết sai: sức yếu phải lo trước, cần cù chịu học là chuyện tốt.

Quần áo mới vừa được đưa tới mấy hôm, bà Cát lại gọi thợ may đến nhà, bảo là muốn may đồ mùa Đông cho cô. Sở Vọng phải nói lý khuyên bà Cát: “Dù một ngày cháu có thay năm bộ đồ thì đến hai tháng vẫn không trùng lặp bộ nào. Đợi cháu mặc hết đồ trong tủ đã rồi may thêm cũng được mà.”

“Thế thì sao hả? Cũng không phải giúp việc trong nhà ta không giặt nổi.” Bà Cát hận nỗi cô không biết tranh giành cho mình, nói, “Cháu nên học tập hai đứa kia đi: có đứa nào không chạy đến chỗ cô xin chỉ điểm một hai hả? Cô chỉ muốn dùng hết tâm huyết bồi dưỡng cháu, có nhiều cơ hội tốt mà cháu lại không biết quý trọng. Danh môn khuê tú bây giờ có ai không có một kỹ năng: Chân Chân biết hát kinh kịch, Di Nhã biết hát nhạc kịch, còn cháu thì sao, cháu biết cái gì?”

“Cháu biết đàn dương cầm mà.”

“Ai mà không biết đàn dương cầm hả? Đến những dịp lớn cũng không cần một đứa như cháu biểu diễn làm người khác tán phục, chỉ cần đàn mấy khúc trợ hứng là đủ rồi.” Bà Cát nói, “Sau này đến những nơi bắt buộc phải xã giao, người khác hỏi cháu biết gì, cháu nói: ‘tôi biết làm thí nghiệm khoa học’. Không phải làm người ta cười ngất hả?”

Sở Vọng lè lưỡi, chạy ào về phòng như một làn khói. Bà Cát đứng đằng sau nhìn theo, chỉ cười với vẻ bất đắc dĩ, thôi thì tùy con bé, nó vui là được rồi.

Tuy bà rất muốn cô học thêm thứ gì đó, nhưng bà vẫn để Sở Vọng làm điều mình thích. Song, chỉ có ba thứ là tiếng Anh, phong thái và khiêu vũ là phải học thật tốt, mà Sở Vọng cũng không hề qua loa.

Còn với hai cô bé kia, trường học của bà Cát đã tiến hành đến trình độ khá kỳ quái.

Một ngày nào đó Sở Vọng đang định đến Du Ma Địa, vừa xuống lầu đi qua phòng khách thì vô tình nghe được đoạn đối thoại như sau: 

Bà Cát: “… Bắt chuyện là điều mà xưa nay hai đứa luôn cho rằng đàn ông là người cần chủ động, nên vì vậy mà hai đứa không cố gắng làm gì hết, chỉ chờ có người đến cạnh mình? Hay hai đứa tưởng mình quá nổi bật rồi, khiến đàn ông tranh nhau giành giật, tốt nhất là vì hai đứa mà đánh nhau một trận sứt đầu mẻ trán, ai thắng thì có được hai đứa? Chắc chắn không phải là đạo lý này rồi. Đã gọi là xã giao thì phải bắt chuyện tiếp lời với tất cả mọi người. Dù là buổi xã giao tự do thì trong lòng vẫn phải có và cũng chỉ có một mục tiêu. Phải làm gì khiến đối phương chú ý đến mình, thả lỏng cảnh giác đến trước mặt mình, và cũng chỉ khiến một mình đối phương – chứ không phải là ai khác đến cạnh mình. Đây cũng là một môn học.”

Tiết Chân Chân nghe bà nói xong, bất chợt nửa thật nửa giả ngã vào lòng Tạ Di Nhã, ái ối một tiếng,âo giọng tinh nghịch nói: “Ôi chao! Xin lỗi! Tôi làm bẩn áo đuôi tôm của anh mất rồi! Anh cởi ra đi, để tôi giặt cho anh…”

Tạ Di Nhã kéo cô nàng vào lòng, cười to đầy vui vẻ.

Chân Chân nửa nằm trong lòng cô ấy, hỏi: “Giống thế này ạ?”

Bà Cát lạnh lùng nói: “Thì ra cháu đang cười nhạo ư, sao ta không thấy có gì đáng để cười hả?”

Bà Cát không hề mỉm cười, đi thẳng ra ngoài. Hai cô nàng cũng biết điều thôi cười, im lặng lắng nghe. 

Bà Cát đi đến cạnh chậu đỗ quyên. Hoa đỗ quyên đang nở rộ thắm đỏ, nhưng rồi thời khắc đẹp nhất cũng qua đi, chỉ còn lại bông hoa khô héo. Bà Cát mặc sườn xám lụa mềm màu đen, bên trên đính rất nhiều cánh hoa hải đường màu tím. Bà liếc nhìn Chân Chân, chậm rãi cúi mặt xuống, nụ cười dần phai. Đến mức khiến hai cô gái ở phía sau hoài nghi không biết nụ cười vừa nãy có thật sự tồn tại không. Khi nhìn kỹ lần nữa thì bà Cát đã xoay lưng lại ngửi hoa – điều này khiến người ta không khỏi mất mát, cũng muốn đến xem hoa kia có thật sự đẹp như vậy không, rốt cuộc thơm như thế nào. “Hoa xinh phải bẻ liền tay, chớ để lâu ngày lại bẻ cành khô.”* Người xưa đúng là không gạt ta bao giờ.

(*Hai câu trích trong bài Kim Lũ Y của Đỗ Thu Nương, bản dịch khuyết danh.)

Đợi khi hai người ngơ ngác vô thức bước lên, bà Cát mới ngoái đầu lại hỏi: “Đã nhìn rõ chưa? Phải cho đối phương cảm thấy cháu là một thoáng tình cờ gặp gỡ diễm lệ, như thế sẽ nhớ kỹ trong lòng, muốn để sự tình cờ ấy trở thành thật. Nhìn vật chứ không phải nhìn người. Điều này gọi là —— ý không ở trong lời.”

Sở Vọng đứng ở cửa mặc giày, thu hết mọi sự vào mắt. Kiếp trước độc thân hơn hai mươi lăm năm có thừa, cô giật mình biến sắc: thì ra thả thính là một kỹ năng vô cùng siêu phàm như vậy!

Nhưng diễn đến mức xuất sắc giống như bà Cát, thì lại là một bộ môn nghệ thuật; cô mà đem gương mặt của quái nhân khoa học thiếu thốn biểu cảm lên sàn diễn, kiểu gì một phút sau cũng sẽ trở thành hiện trường tai nạn giao thông mất thôi.

Cô chặc lưỡi nghĩ bụng: hình ảnh đẹp mắt này nên để người khác diễn thì hơn. Cô chỉ thích hợp nghiên cứu công thức tán xạ Rutherford thôi.

***

Không ngờ ba tuần sau, bài học này đã có cơ hội được thực hành.

Mọi bữa tiệc xã giao ở biệt thự họ Cát đều được dồn vào cuối tuần, nên cuối tuần sẽ là lúc cô đến biệt thự họ Kiều. Có lẽ vì ở nhà cô út quá thoải mái nên một hôm vào ngày thứ Bảy khi dạy tiếng Latinh ở nhà họ Từ xong, cô lại bất tri bất giác xuống xe buýt ở cửa nhà họ Cát. Hôm đó cô mặc áo dài cổ đứng màu xanh xám, vài giọt mưa rơi lên áo khoác trắng biến thành dấu hoa mai tối màu. Cổng ở biệt thự nhà họ Cát mở rộng, sắc màu rực rỡ, từ phòng khiêu vũ đến trên bãi cỏ đông đúc các quý ngài quý cô, muôn hình muôn vẻ.

Cô thận trọng né tránh mọi người đi đến gần cầu thang, đang định thở phào thì vô tình nhìn thấy một người trung niên chừng ngoài bốn mươi, mặt vuông da ngăm đen, khóe mắt xệ xuống, đỉnh đầu trụi lủi thành hình nhọn hoắt, áo mũ chỉnh tề, cầm ly rượu đế cao đi tới cạnh cô, cười hỏi: “Ướt rồi đúng không, có muốn làm vài hớp Cabernet không? Đề phòng cảm lạnh… hửm?”

Chữ “hửm” không rõ ý ở cuối câu kết hợp cùng nụ cười mập mờ trên mặt ông ta khiến cô suýt nữa đã rùng mình. Cô vẫn có thể thốt ra vanh vách những câu phá tình cảnh, nhưng đây là khách do bà Cát mời đến, sợ sau này cô út còn phải xã giao tiền tài gì đó với ông ta nên không dám từ chối trực tiếp. Đang ảo não thì Tạ Di Nhã như thiên thần hạ phàm xuất hiện ở sau lưng cô, rất tự nhiên khoác tay quý ông kia, nở nụ cười tinh nghịch xen lẫn ngây thơ kéo ông ta rời đi, miệng nói rôm rả: “Tìm ngài lâu lắm rồi đấy, sao ngài lại ở đây?” Cô vừa nói vừa ngoái đầu nháy mắt với Sở Vọng, ra hiệu cô nhân cơ hội mau chóng chuồn lên lầu đi.

Sở Vọng đi lên mấy bậc thang, lại nghe thấy Tạ Di Nhã ở đằng xa cố ra vẻ ngạc nhiên cười nói: “Ôi trời! Thì ra là ngài Triệu sao! Tôi lại nhầm ngài với ngài Tưởng nữa chứ, xin lỗi xin lỗi! Ngài Tưởng không cao to lại phong độ như ngài ư? Chỉ là do tôi ngưỡng mộ ngài Triệu thôi, lần này thất lễ như vậy, nhất định ngài Triệu sẽ không kể lại với ngài Tưởng đâu đúng không?”

Tạ Di Nhã phải mất một lúc mới dỗ được ngài Triệu kia vui vẻ. Vì tất cả mọi người đều biết, dạ vũ tối nay, bà Cát mời đủ số người để bắt cặp. Tạ Di Nhã có ngài Tưởng, nên theo lẽ ngài Triệu cũng sẽ giữ khoảng cách lịch sự với cô.

Vất vả lắm mới tách được người đi, Tạ Di Nhã chạy một mạch lên tầng hai, kéo Sở Vọng nhanh như chớp vào phòng khách tầng hai, ngồi xuống ghế ở đối diện cửa sổ sát đất.

“Tối nay cậu và Chân Chân nên cám ơn mình đi nhé!” Tạ Di Nhã chỉ vào mình, mỉm cười tranh công.

“Cám ơn cậu lắm luôn!” Sở Vọng cười nói, “Còn Chân Chân thì sao?”

Tạ Di Nhã bĩu môi nhìn ra ngoài: “Kịch hay sắp bắt đầu rồi.”

“Kịch hay gì?”

“Tối nay cậu Diệp kia cũng cùng người bạn nào đó đến đây, Chân Chân ở trên lầu chờ cậu, vô tình đụng mặt. Dì Cát không thích bắt cặp cho đám thanh niên kia nên lẻ người lắm. Trong số các cô gái có một cô tiểu thư họ Lư, chơi đàn cổ rất giỏi, tối nay cô ta là người nổi trội nhất. Bạn của cậu Diệp cũng bị cô ta thu hút, ai ai cũng xúm lại nghe cô ta đánh đàn. Mình mới đẩy Chân Chân, giật dây nó nói: ‘Mấy hôm trước dì vừa dạy gì, sao không đi thử một lần đi?’ Cậu ta nói: ‘Sau ngày chơi quần vợt hôm đó, coi như tôi nhìn rõ bản tính ngu ngốc cả Diệp Văn Dữ rồi, không còn hứng thú với anh ta nữa.’ Mình mới nói: ‘Dù anh ta có ngu ngốc đi nữa, thì trong đời này cậu cũng từng thất bại một lần ở chỗ anh ta, sau này nhìn anh ta sẽ mãi cảm thấy thua anh ta, không lấy lại được tự tin, cả đời này khó mà thoát thân.’ Thế là cậu ta dao động. Mình mới tiếp tục nói, ‘Thỉnh thoảng đi chơi một lần đi, cha cậu cũng không biết đâu; hơn nữa, ở đây ngoài Diệp Văn Dữ ra, có ai biết họ tên cậu là gì đâu?’ Thế là cậu ta đi, cũng chỉ mới đây thôi. Ấy ấy, đến rồi kìa ——”

Tiếng đàn “Phù Sinh Lục Ký” vừa cất lên, các chàng trai xúm quanh cô gái chơi đàn bên kia đột nhiên rối rít tránh ra —— Chân Chân xuất hiện. Cô mặc sườn xám dài màu vàng sẫm trông rất hoạt bát, vạt áo sườn xám không dài quá mắt cá chân, bên trên thêu những phiến lá ngân hạnh màu trắng bạc; tóc vén lên thành búi tóc nho nhỏ, càng khiến gương mặt trông nhỏ nhắn xinh đẹp. Cô hòa mình vào cùng tiếng đàn, cất tiếng hát buồn thương: “… Đã gặp gỡ thì dễ kết bạn, vậy gặp chi bằng không gặp; Gặp như không gặp, sao phải bi thương sao phải oán hận….”

Tiết Chân Chân vẫn hát, nhưng giọng ca lạnh lùng chẳng nhìn một ai. Lúc bước đi, giày cao gót bé nhỏ qua lại hai bước, vạt sườn xám như có như không lướt qua giày da của Diệp Văn Dữ. Rốt cuộc sườn xám của mỹ nhân là lụa mềm hay gấm thêu, cách đôi giày da chân anh ta không thể cảm nhận được; nhưng chủ nhân đôi chân đã xao động. Đến người đứng nhìn từ xa như Sở Vọng và Tạ Di Nhã cũng có thể cảm nhận: lúc này ánh mắt sáng bừng của Diệp Văn Dữ cứ di chuyển theo Chân Chân, có vẻ rất xúc động, có cảm giác mới phát hiện ra một thứ tuyệt vời, mang theo sự sùng bái không nỡ làm phiền, và cả chút cầu xin mong đợi cô có thể ngoái đầu nhìn mình.

Tạ Di Nhã mỉm cười ăn dưa ngọt, cũng nhét một miếng vào miệng Sở Vọng.

Sở Vọng nheo mắt, thở dài cười nói: “Thứ cô út dạy đúng là dễ xài.”

***
Bà Cát không cho phép Sở Vọng tham dự hoạt động xã giao trong nhà. Đồng thời bà cũng không cho Chân Chân cuối tuần đến nhà mình ở lại. Nhưng từ khi Tiết Chân Chân được đích thân bà Cát dạy dỗ, thành công “dụ dỗ” Diệp Văn Dữ cắn câu, kể từ hôm đó trở đi, Diệp văn Dữ tìm đủ mọi cách để có thể đến biệt thự của bà Cát. Bà Cát cũng loáng thoáng nghe về chuyện này, ngẫm nghĩ một lúc rồi gọi Sở Vọng và Di Nhã đến, hỏi: “Hai đứa nói xem, cậu ta nhìn trúng ai ở chỗ ta thế?”

Sở Vọng cươi to. Nhưng vẫn che giấu chuyện Chân Chân lén tham dự yến tiệc của cô út, nên cô quyết định ngậm miệng không trả lời.

Về sau Chân Chân không xuất hiện ở bữa tiệc nào ở biệt thự họ Cát nữa, nên Diệp Văn Dữ nhiều lần chưng hửng, lúc đến thì rất mong chờ nhưng lại phải ra về trong cụt hứng. Tạ Di Nhã nhìn thấy cả, và lần nào cũng tường trình lại chính xác với Chân Chân. Cuối cùng còn bổ sung một câu: “Tôi đoán nếu anh ta không tìm được cậu lần nữa thì chắc không kìm nén nổi nữa, kiểu gì cũng tan học chặn đường cậu tỏ tình cho xem.”

Chân Chân nghiêm túc suy nghĩ, sau đó nói: “Nếu anh ta đến thật thì tôi sẽ đồng ý.”

Di Nhã và Sở Vọng giật mình. Di Nhã mím môi cười hỏi: “Cậu không chê anh ta từng bị Lâm nhị tiểu thư mà chúng ta ghét nhất vứt bỏ à?”

Chân Chân bật cười, nghiêm mặt nói: “Tuy dì Cát có bảo ‘để đối phương cảm thấy đây là thoáng tình cờ diễm lệ’, nhưng chúng ta cũng biết rõ —— đấy là dụ dỗ trần truồng. Dù là dụ dỗ cao tay tới mấy thì vẫn là dụ dỗ. Trước đó tôi dụ dỗ anh ta cũng bởi vì tôi vẫn còn có hảo cảm với anh ta, tôi không chối bỏ điều này. Bản thân mình không muốn thì đừng áp đặt cho người khác. Nên hôm qua lúc cậu bảo tôi xuất đầu lộ diện, tôi cũng có suy nghĩ đến vấn đề này: ‘rốt cuộc mình còn thích anh ta không?’ Sau khi suy nghĩ rõ ràng, tôi lại tự nói với mình: nếu thành công, vậy thì cứ ở bên anh ta thôi. Nếu thất bại, cùng lắm cũng chỉ mất một người nữa thôi. Tôi đạt được mục đích rồi đá văng anh ta đi chỉ vì để thỏa mãn lòng hư vinh cao quý của mình —— vậy thì tôi có khác gì Lâm Doãn Yên đâu?”

Sau đó, Chân Chân nói tiếp: “Còn cậu đấy. Đang còn trẻ mà cậu định thật lòng yêu đương với ngài Tưởng hả? Điều kiện của cậu tốt hơn tôi, chọn người con trai xuất sắc nào mà không được?”

Tạ Di Nhã mỉm cười không đáp, chỉ qua loa vài câu cho qua đề tài này.

Rồi một dịp nào đó khi không có mặt Chân Chân, rốt cuộc Tạ Di Nhã cũng chịu moi tim móc phổi tâm sự về vấn đề này với Sở Vọng.

“Không muốn thảo luận chuyện này với cậu ta, chỉ vì mình ghen tị cậu ta.” Cô cười nói.

“Mình ghen với cậu ta, ghen đến mức phát điên lên, bởi vì nếu so với cậu ta, mình cảm thấy bản thân đúng là đứa bỉ ổi. Mình đang ở tuổi hoa, đương nhiên cũng giống cậu ta, muốn có một mối tình tự do nồng cháy với một chàng trai trẻ tuổi hào hoa. Xông ngang đánh thẳng, bể đầu chảy máu cũng được, rất tiếc là mình lại không có vốn liếng và sức lực đó. Đu cha mình có tiền thì cũng không địch lại chị em đông đảo trong nhà. Cha thương yêu mình, chắc chắn sau này cũng sẽ cho mình nhiều của hồi môn – có lẽ với người ngoài là nhiều, nhưng với mình thì có mấy cũng không đủ. Thậm chí mình có thể đoán trước được rằng, nếu mình không ra sức tranh thủ cho mình thì cuộc sống hôn nhân sau này sẽ còn tệ hơn chị gái gả trước đó. 

Mình là người theo chủ nghĩa tôn thờ đồng tiền, nên dù có rất nhiều chàng trai tốt theo đuổi mình, thì ngoài việc nhìn gương mặt trẻ tuổi anh tuấn và hành động lịch thiệp khéo léo của họ ra, mình còn phải thăm dò rất cẩn thận – liệu bọn họ có cưới mình không. Nếu gia thế kém thì mình sẽ loại bỏ. Còn gia thế lớn, sợ là trong nhà sẽ không cho anh ta cưới một cô gái lai làm vợ cả. Nên phạm vi lựa chọn của mình nhỏ đi rất nhiều… Mình thích cuộc sống do tiền mang đến, mình cũng biết rõ bản thân phải trả giá rất đắt vì điều đó.”

“Huống hồ ngài Tưởng có gì không tốt? Có tiền có thế, trưởng thành chững chạc, biết tình biết thú, còn biết nuông chiều cho tính tình của mình. Dì Cát hiểu rõ mình đấy, trong mắt dì ấy, ngài Tưởng là bến đỗ khá ổn cho mình, không phải tốt hơn Diệp Văn Dữ ngây thơ kia nhiều sao?” Cô nàng vừa nói vừa nghịch ngợm chậu thu hải đường bà Cát đặt trên bàn, vẫn mỉm cười, nhưng nụ cười kia lại không có vẻ chắc chắn. Một lúc sau, cô lại hỏi Sở Vọng: “Vậy còn cậu thì sao? Nghe Chân Chân nói chàng trai kia ôm một con gấu Teddy to đùng vượt biển đến tìm cậu chỉ vì làm cậu vui, có vẻ là hôn nhân tốt nhỉ? Thế cậu có thích anh ta không?”

“Có lẽ là đối tượng kết hôn rất thích hợp, nhưng… Tình yêu ư, mình không chắc lắm, vì mình không hiểu.” Sở Vọng cẩn thận suy nghĩ, sau đó cười đáp. Cô nói thật: đời trước chỉ toàn ru rú trong phòng, có thời gian rảnh là lại làm bạn với tiểu thuyết, nên cô không có cơ hội để yêu đương, cũng không có tư cách gì thảo luận đến chuyện này với cô ấy.

“Mình cảm thấy cậu là người rất có lý trí, tuy ít nói nhưng làm gì cũng có mục đích,” Di Nhã nói, “Nhưng thông thường quá lý tính lại không liên quan đến tình yêu. Kết hôn là chuyện khiến một người phụ nữ đầu óc mê muội, không phải là chuyện nhất thời vui vẻ không màng hậu quả sao? Vì vậy mình biết, đối với ngài Tưởng, mục đích của mình quá rõ ràng, tuyệt đối không phải là tình yêu. Còn cậu thì sao?”

Đối với câu hỏi này, Sở Vọng chưa bao giờ nghĩ đến. Dù là đời trước hay đời này – cô có quá nhiều chuyện phải làm, không có cách nào phân tâm để yêu. Quá bận nên không rảnh để yêu.

Cô là một người giỏi quan sát, thường thích nấp sau lưng mọi người, lấy góc nhìn của thượng đế để nhìn mọi sắc thái thế gian, thỉnh thoảng trong lòng sẽ cảm thán hoặc giễu cợt. Cô gần như không muốn tham gia vào bất cứ chuyện gì, chỉ ngoài một chuyện – kiến thức chuyên ngành của cô. Cô nghiêm túc học tập, nghiêm túc suy tính một vấn đề, những lúc như vậy cô cần một môi trường phải cực kỳ đơn giản nhưng có trình độ cao để cô toàn tâm toàn ý tập trung, như vậy kết quả mới có thể khiến cô hài lòng một trăm phần trăm.

Vì sao con gái nhất định phải có tình yêu?

Bắt đầu từ khi học đại học, nhìn các cô gái xung quanh hết mình vì tình yêu, không đụng tường Nam không quay đầu, cuối cùng đụng đến khi sứt đầu chảy máu, cô đã nghĩ về câu hỏi ấy rất nhiều lần.

Vì sao nam nữ không thể mệnh ai nấy làm, hết mình trong lĩnh vực của mỗi người, rồi trực tiếp bước vào thánh đường hôn nhân luôn?

Tình yêu chỉ là tác dụng chính trong tiến hóa, có tác dụng kích thích hormone. Hormone đưa đến một hiệu quả tốt: truyền lại gen cho đời sau. Tác dụng phụ của hormone là: khiến người ta bất chấp điên cuồng không màng hậu quả.

Vậy vì sao không thể lược bớt phản ứng phụ của hormone, trực tiếp đạt đến hiệu quả trước?

Dĩ nhiên cô không thể nói ra những suy nghĩ này với Tạ Di Nhã được. Cô có rất nhiều suy nghĩ mà người ngoài không hiểu, nên hầu như lúc nào cô cũng lựa chọn im lặng.

***

Người có phiền não, ngoài các cô gái ở biệt thự họ Cát ra, còn có cả tụi nhỏ ở nhà họ Từ.

Lần nào Chân Chân đến biệt thự của bà Cát cũng là vào lúc Sở Vọng dẫn Leon đến nhà họ Từ học tiếng Latinh. Một ngày nào đó, Chân Chân để Leon ngồi dưới phòng khách, âm thầm lên lầu tìm Sở Vọng nói chuyện: “Gần đây Leon có vẻ khá… kỳ lạ. Em ấy không chịu nói với ai hết, chị sợ em ấy gặp chuyện gì đó rồi, em có biết không?”

Mới đầu Sở Vọng cũng không nhận ra vấn đề của Leon, nhưng lại thấy Từ Văn Quân kỳ lạ trước. Một hôm nào đó khi cô đang dạy tiếng Latinh ở nhà họ Từ, lúc học xong, cô đột nhiên nghe thấy Từ Văn Quân nói với dì Văn thế này: “Du hexe!” (Đồ ả đàn bà chua ngoa.)

Đây là câu chửi tục tiếng Đức. Sở Vọng kéo Từ Văn Quân đến, nghiêm túc hỏi: “Ai dạy em cũng câu này?”

Dù dì Văn là người hầu nhưng tốt xấu gì cũng là trưởng bối, mà tôn trọng chính là đạo lý làm ngươi cơ bản mà một đứa trẻ trong gia đình có giáo dưỡng phải biết. Các cậu bé mới lớn lần đầu tiếp xúc với từ ngữ thô tục thường không ý thức được vấn đề nghiêm trọng. Cậu ấp úng một hồi rồi nói: “Là Leon dạy em.”

Sở Vọng rất khó hiểu: Trong nhà bác cả chỉ có thể học được tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Anh và tiếng Nhật, thằng bé học tiếng Đức từ đâu vậy.

Không bao lâu sau, cô đã bắt quả tang kẻ đầu sỏ này tại biệt thự nhà họ Cát.

Bình thường Chân Chân vẫn cứ dẫn Leon đến nhà bà Cát vào buổi chiều thứ Tư không có lớp, sau đó cùng Di Nhã lên lầu uống trà. Sở Vọng về đến nhà là lên lầu thay áo, nên Leon có khoảng nửa tiếng một mình ở dưới phòng khách.

Hôm đó cô bất chợt nhớ ra mình để quên cặp sách ở phòng khách. Lúc đi xuống thì thấy Tạ Trạch Ích trắng bệch và Leon dưới phòng khách, hai người một lớn một nhỏ ngồi trên ghế nói chuyện bằng tiếng Anh.Tạ Trạch Ích đang nói: “… Hôm nay học câu này: Das geht sie gar nicht an! Du Kleiner sheisser!” (Đó không phải là chuyện của mày, đồ cứt chó.)

Leon lặp lại.

Tạ Trạch Ích nói: “Nếu bọn chúng hỏi: ‘câu đó có nghĩa gì’ thì em cứ nói: ‘về nhà hỏi mẹ mày đi!’”

Leon khôn khéo lặp lại: “Về nhà hỏi mẹ mày đi! Đồ đống cứt chó! Ha ha ha ha ha…”

Sở Vọng: “…”

Được lắm, để tôi bắt quả tang rồi nhé.

Cô sải bước đi vào phòng khách, Leon sợ hãi run rẩy đứng dậy, bất an nhìn Tạ Trạch Ích. Tạ Trạch Ích cũng chậm rãi đứng thẳng, vỗ vào Leon bảo cậu rời khỏi hiện trường phạm tội trước.

Tạ Trạch Ích nhướn mày cười, “Chết rồi! Bị phát hiện rồi.”

Sở Vọng cười nói: “Anh Tạ cảm thấy chơi như vậy thú vị lắm hả?”

“Cũng bình thường.” Tiếp tục mặt dày đáp qua loa.

“Tôi còn tưởng anh Tạ là người đứng đắn, thì ra bản lĩnh lưu manh vẫn như xưa. Nay còn mở cả lớp học nữa cơ đấy, định đào tạo đời sau, phá cuộc đời của hậu bối?”

“Giận hả?” Tạ Trạch Ích nhìn cô, vừa dịu dàng lại nghiêm túc nói: “Tôi đùa hơi quá rồi, xin lỗi em.”

“Anh Tạ có bản lĩnh lớn, biết dùng tà thuyết, dùng ngôn ngữ người khác nghe không hiểu để trêu đùa con gái, hoặc là trêu đùa người khác. Không cho người ta lấy một giây bình yên, đây là bản lĩnh của anh Tạ, là thứ người khác không có, tôi vô cùng bội phục. Mấy lời như Schatz, ich liebe dich* làm người ta nghe không hiểu, thường khiến anh có vẻ rất khí thế khi bản thân có học vấn đúng không?” Sở Vọng bình tĩnh cười nói.

(*Tiếng Đức, nghĩa là “bảo bối, anh yêu em”.)

Tạ Trạch Ích nghiêng đầu lắng nghe, sau đó cười bảo, “Lời ở ngoài cửa sổ ngày đó bị em nghe thấy rồi.” Dừng lại một lúc, anh thành khẩn nói: “Tôi xin lỗi, những chuyện như thế này chắc chắn sẽ không xảy ra nữa, em cứ yên tâm.”

Nói rồi anh rảo bước đi ra cửa, mặc thêm áo khoác rồi đi thẳng ra ngoài.

***

Cũng vào một tuần sau, cô phát hiện ra mình đã làm sai chuyện.

Ngài Dupont đi Nam Dương về, vốn ông ấy định về thẳng Pháp nhưng sau đó đã đổi ý, cập bến Hương Cảng nhờ ngài Saumur tìm Sở Vọng. Ngài Dupont về Pháp chuyến này là muốn xây dựng một công ty bật lửa quy mô nhỏ, bổ sung thêm nghiệp vụ chế tạo bật lửa. Ông ấy rất coi trọng thiết kế của Sở Vọng, vì muốn thấy được nhiều thiết kế tinh tế của cô hơn nên đã cố ý mời cô đến, hỏi xem có muốn hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho ông ấy không.

Sở Vọng rất lấy làm xấu hổ về chuyện này – bởi vì bản thiết kế đó vốn do công ty của ngài Dupont làm ra trong tương lai. Cô luôn miệng cám ơn ngài Dupont, bày tỏ chẳng qua đó chỉ là hứng nhất thời của mình thôi chứ không có thiên phú về mặt này, chưa chắc trong tương lai đã có thể làm ra tác phẩm khiến ông hài lòng.

Ngài Dupont thất vọng rời đi, còn ngài Saumur lại uyển chuyển đề nghị: “Tôi cho rằng cháu rất có thiên phú đấy. Dù bản vẽ trước chỉ là tình cờ, nhưng cháu có nhớ những bản cắt đồ họa của mình không. Chế tạo bật lửa là xu hướng thời trang của đàn ông mới thịnh hành gần đây, tương lai cũng khá khả quan. Xét về mặt nào đó thì các bản cắt đồ họa không phù hợp với thẩm mỹ thời trang nữ giới, nhưng lại rất phù hợp với thiết kế bật lửa của nam giới. Đối với lượng lớn sản xuất trong tương lai, phương thức phác họa này cũng rất thích hợp.”

Sở Vọng cẩn thận suy ngẫm, nghĩ lại: thị trường bật lửa vẫn chưa phát triển, dù cô có tốn công thế nào đi nữa thì hình như đã tồn tại như sư tổ rồi. Vạn sự khởi đầu nan, tiền không kiếm đúng là lãng phí. Thế là cô thay đổi ý định, ngài Saumur cũng rất vui vẻ báo tin vui cho ngài Dupont trước khi ông ấy rời khỏi Hương Cảng.

Vì Sở Vọng còn nhỏ tuổi, nên chữ ký và tài khoản ngân hàng trên hợp đồng, cô quyết định toàn quyền giao cả cho bà Cát. Sau khi bàn bạc thỏa đáng với ngài Dupont, cô chỉ nêu ra một yêu cầu: hiện tại khoan sản xuất số lượng lớn với bản vẽ bật lửa lần trước. Cô hy vọng nó sẽ là thứ độc nhất trên đời này.

Dĩ nhiên ngài Dupont cũng rất vui vẻ tiếp nhận đề nghị này.

Trên đường đi xe buýt về, qua cửa kính xe, cô thấy có sáu bảy cậu bé đang tụ tập ven đường, hình như đang có tranh chấp. Các cu cậu mặc đồng phục màu xanh đen, đeo túi Cambridge, có lẽ là học sinh của trường Queen’s vừa tan trường.

Vì xe buýt đang dừng ở trạm nên cô để ý nhìn kỹ. Năm đứa bé cao lớn vây hai cậu bé khác vào giữa đánh chửi, tên cầm đầu nói bằng tiếng Quảng: “Mẹ của Leon là nô lệ Bồ Đào Nha, làm kẻ hầu cho người Anh… Đột nhiên leo lên giường ngài Kiều, một người được thế cả họ được nhờ, nhưng trong xương vẫn chỉ là hạng thấp kém, khác quái gì bọn gái điếm Bồ Đào Nha ở Macao!”

Một tên khác nói, “Bọn mày không biết hả? Mẹ thằng Quân là ả đàn bà kỳ lạ bó chân đấy, còn là Phù Dung tiên tử nghiện thuốc phiện! Nên hai đứa này mới chơi cùng nhau…”

Bốn đứa còn lại phá lên cười.

Đầu Sở Vọng nổ ầm, hỏa khí bốc lên đỉnh đầu, gạt mọi người ra xông xuống xe. Trước kia cô cũng là giảng viên, trần đời này ghét nhất bạo lực học đường sỉ nhục cha mẹ người khác, nên lúc này trong đầu chỉ nghĩ: “Một đám nhãi con lông tóc còn chưa mọc đủ mà đã biết sỉ vả người khác, để tôi dạy xem mấy đứa là thứ gì.”

Nhưng vừa xuống xe cô đã bình tĩnh lại: hình như con trai ở tuổi này rất ghét bị mất mặt trước người khác phái. Dù là cùng lứa hay là người lớn tuổi hơn có thể xưng là trưởng bối.

Thất bại trong trận vật lộn với người cùng phái chỉ là chuyện nhỏ, còn mất mặt trước người khác phái thì khó mà ngóc đầu lên được.

Cô đang do dự thì chợt nghe thấy Từ Văn Quân dùng sức hét lớn: “Hau ab! Du bloede Kuh!” (Cút đi! Lũ súc sinh!)

Không khỏi thừa nhận, dùng tiếng Đức để mắng người đúng là rất có khí thế. Huống hồ lại còn nói ngoại ngữ người khác nghe không hiểu, thế là câu nhục mạ đó đã khiến bốn đứa trẻ cao to kia ngẩn người.

Một trong số họ lúng túng cười mắng lại, nói: “Mày sủa cái gì đấy hả thằng chó!”

Leon mỉm cười: “Không hiểu đúng không! Không hiểu thì về mà hỏi mẹ tụi mày đi, hỏi bà ấy có biết Bloede Kuh nghĩa là gì không.”

Sở Vọng ngẩn ra.

Thì ra chửi tục cũng có thể dùng làm vũ khí.

Bốn cậu bé kia bất chợt lép vế về mặt khí thế, trố mắt nhìn nhau. Khí thế lời nói không đủ mạnh, vậy ắt sẽ động tay động chân. Bốn quyền khó địch mười tay, nên Sở Vọng rất kịp lúc xông đến, hét lên bằng tiếng Anh: “Cảnh sát Anh đến bắt học sinh Trung Quốc gây chuyện, còn dùng súng bắn chết người, không mau chạy đi ——”

Phản ứng của bốn đứa bé kia rất nhanh, ắt bình thường làm chuyện xấu quen rồi, lại còn được cha mẹ dạy dỗ, nên khi nghe nhắc đến cảnh sát Anh thì lập tức bỏ chạy tứ phía. Từ Văn Quân thấy thế thì mắng với theo: “Kommen sie mir nicht!” (Đừng xuất hiện làm bẩn mắt tao nữa!)

Leon nhận ra giọng của Sở Vọng, đứng ở xa nói: “Cám ơn chị.”

Sở Vọng mỉm cười lắc đầu với cậu.

Leon nghĩ ngợi rồi bảo: “Sau khi nhập học, em với Văn Quân hay bị mọi người ức hiếp, chỉ kể chuyện này với anh Tạ. Anh ấy là người tốt, chị đừng trách anh ấy.”

Sở Vọng gật đầu. Cô trầm ngâm một lúc, sau đó nói: “Mắng chửi có thể dùng làm vũ khí, nhưng đừng chĩa nó vào người thân của mình, vì như vậy sẽ làm họ đau lòng lắm.”

Hẳn Từ Văn Quân cũng nghe thấy. Nhưng cậu kiêu căng thành thói, giả vờ như không nghe thấy gì, tự đắc quay đầu đi, không buồn để ý đến Sở Vọng.

Có điều cô biết, chắc chắn cậu nghe lọt.

***

Sở Vọng mang lòng áy náy với Tạ Trạch Ích, vẫn muốn tìm cơ hội nói xin lỗi anh nhưng lại không gặp anh ở biệt thự họ Cát nữa.

Có một hôm cô hỏi bà Cát, bà Cát nói: “À, cậu ta chính thức tốt nghiệp về Anh để nhận quân hàm rồi. Hai mươi mấy năm trước, huân tước Tạ tự dưng nhận người thân ở Anh, cũng vì thế mà ông ta và con trai có quốc tịch Anh. Vận may của cậu ta cũng tốt đấy, con trai duy nhất của người họ hàng này đã chết, luật pháp Anh kiểm tra một hồi, rốt cuộc phát hiện ra, Tạ Trạch Ích được tập tước*. Cháu nói xem có tức cười không? Nam tước người da vàng – cho dù da cậu ta rất trắng. Về lý thì không thể tập tước cho cậu ta được, nhưng cậu ta đi học ở nước Mỹ, sắp tốt nghiệp thế nào cũng nhận được hàm trung úy. Bởi vì có quan hệ đó nên là lôi ra kiểm tra từng tầng một, kết quả kiểm tra là: chắc chắn không thể tập tước, song có thể có được đặc quyền của nam tước. Dù không có nhiều đất lắm nhưng cũng có thể xem là quý tộc.”

(*Tập tước: Con trai được thừa kế tước vị của cha ông.)

Sở Vọng ồ lên, hỏi, “Vậy bao giờ thì anh ta về?”

“Về Hương Cảng hả?” Bà Cát suy nghĩ, “Cậu ta phải đến Thượng Hải làm cảnh sát tuần tra ở tô giới. Sau khi nhận hàm có lẽ cũng ở đây chừng ba bốn tháng. Sau đó chắc sẽ đến Thượng Hải luôn, có lẽ không gặp ở Hương Cảng nữa.” Dứt lời, bà Cát nhìn nét mặt Sở Vọng, cười nói: “Con người cậu ta rất thú vị, không có cậu ta, trong nhà cũng không náo nhiệt. Có đúng không?”

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau