GIỜ ĐANG NƠI ĐÂU

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giờ đang nơi đâu - Chương 36 - Chương 40

Chương 36: Thuyết tương đối

Cách ngày 13 tháng 5… chỉ còn hơn một tháng.

Sắp đến rồi.

Sở Vọng cẩn thận đặt tờ giấy chung chỗ cất xấp thư cũ, cho vào trong hộp gỗ rồi nhét xuống gầm giường.

Sau tiết xuân phân, khí trời ngày càng ẩm ướt, thường xuyên có sương mù. Ẩm thấp tăng cao, ba ngày hai bữa mệt rã rời. Chỉ mới rửa mặt sạch sẽ đó mà toàn thân lại có hơi nước. Trái cây mới mua về đến hôm sau đã bắt đầu mốc meo. Điều này càng khiến bà Kiều oán trách phàn nàn.

Sở Vọng sắp nhập học đại học Hương Cảng không cần mặc đồng phục thủy thủ qua ngày, thế nên cũng bắt đầu lo nghĩ về vấn đề ăn mặc. Còn Doãn Yên và Chân Chân bước vào tuổi 15 thì được nhận món quà tuyệt vời nhất trong độ tuổi này: sườn xám.

Doãn Yên là thiếu nữ phương Đông điển hình nên trông khá gầy, có điều thắng ở khí chất xuất chúng; Mà Chân Chân ở tuổi này lại dậy thì rất thành công, dù là bộ sườn xám có vẻ hơi rộng thì nếu cô mặc vào, chỉ cần thoáng cử động nhẹ là cũng tôn lên được đường nét cơ thể.

Hai chị gái đã đến tuổi mặc sườn xám, còn Sở Vọng tạm thời chưa được hưởng đãi ngộ này. Tuy cô đã cao bằng Doãn Yên song cơ thể vẫn đang ở đầu giai đoạn trưởng thành, chỉ mới trổ mã, vẻ trẻ con non nớt vẫn còn, nếu mặc sườn xám thì cũng sợ phải búi thêm hai búi tóc nhỏ trên đầu như đám trẻ con.

Vào sáng ngày đưa sườn xám đặt may đến, Doãn Yên và Chân Chân lần lượt thử từng bộ một, xúng xính ăn diện cả buổi. Sở Vọng ngủ dậy muộn, thậm chí đến bữa sáng cũng chẳng màng ăn, chỉ ngậm lát bánh mì trong miệng rồi vội đi xuyên qua giữa hai thục nữ mới nổi ở đất Cảng, nhưng đi chưa được mấy bước đã bị Chân Chân tóm lại, bắt cô chọn xem sườn xám vải nỉ hồng cánh sen đẹp hay sườn xám lụa mỏng thêu hoa hồng đẹp hơn.

Vì ngậm bánh mì nên Sở Vọng chỉ lúng búng trả lời, chẳng ai nghe rõ cô nói gì. Chân Chân đánh giá bộ áo len màu than chì và cặp kính tròn của cô một lượt, nói: “Em ăn mặc thế này thì còn gì dáng vẻ của tiểu thư nhà giàu, định đến tòa soạn làm nhân viên đánh máy đấy à?”

“Hai màu sườn xám này, nếu có khung xương nhỏ thì mặc sẽ đẹp hơn. Độn nhiều vải thì đâu có đẹp?” Vì sự kiện ở sân tennis nên Doãn Yên đã ghi hận Sở Vọng. Thấy Chân Chân quở trách Sở Vọng, cô nàng cũng không bỏ qua cơ hội giễu cợt hai người. Doãn Yên lườm Sở Vọng, nói tiếp, “Nó phải đi khai giảng chứ còn gì nữa, đeo kính trắng là để mọi người nhìn lướt qua là biết nó được ai mời nhập học.”

Chân Chân hăng hái, đẩy Sở Vọng đi ra ngoài cửa, nói: “Ngày đầu đến trường, đừng đi muộn đấy.” Sau đó lại quay đầu toan cãi nhau với Doãn Yên, xì một tiếng xem thường, nói: “Lâm nhị tiểu thư tay chân nhỏ như vậy, e là thợ may còn phải nối thêm một sợi dây vào áo cho cô, một đầu cột lên cây, miễn gió thổi qua thì cô lại bay theo gió.”

Sở Vọng nghe vậy thì phì cười, nhưng không muốn ngày đầu đi học lại thành người đến cuối cùng nên đành vội vã ra cửa, rất không trượng nghĩa giao chiến trường trong nhà lại cho một mình Chân Chân.

Trên đường đi từ quận Thâm Thủy Bộ đến quận Trung Tây có không ít học sinh sinh viên lên xe buýt. Trong tiếng lắc chuông và tiếng cười nói, xe buýt dừng lại trạm, Sở Vọng mơ màng xuống xe, từ đằng xa đã thấy Diệp Văn Dữ vô cùng nổi bật đứng ở trạm xe điện. Anh ta mặc áo lụa kiểu Trung Hoa cổ điển, nhưng trong miệng lại nói tiếng Trung khẩu âm vùng Nam Dương chẳng ra gì: “Linzy! Ở đây!”

Diệp Văn Dữ gạt đám đông ra lách đến gần Sở Vọng, thở hắt một hơi bảo: “Giáo sư Từ bảo anh đợi em sẵn ở cổng, nói em lần đầu đến, nhờ anh dẫn em đến lớp đăng ký môn… Ha, sao hôm nay em ăn mặc như giáo sư Từ phiên bản nữ vậy, sao lại đeo kính thế?”

Cũng không phải cô bị cận thật. Chỉ là đời trước Lâm Trí cận 2 độ, nguyên nhân là vì sau khi lên đại học phải giảng bài quá nhiều, nếu không đeo kính thì sẽ ảnh hưởng đến tầm nhìn. Cho nên giờ nhập học, theo thói quen cô cũng đeo thêm kính, để lúc nghe giảng có cảm giác an toàn hơn cô – kỳ thực cũng chỉ là vấn đề tâm lý thôi. Lần đầu tiên cô đeo kính là vào hai tuần trước ở tiệm may khi đang biến váy áo thành áo dây liền quần. Ngài Saumur từ biên ngoài trở về, nhìn cô mấy bận, khen khích lệ: “Cặp kính không tệ.”

Ngài Saumur rất có mắt nhìn thời trang, cho nên ông khá kỹ tính kén chọn. Được ông khen tức là chiếc kính này rất được, chí ít là hiện tại cô đã đi trước trào lưu, Sở Vọng nghe mà sảng khoái vô cùng. Cho nên hôm nay đến trường cô cũng đeo nó, không ngờ lại bị người ta hai lần nói là “bắt chước giáo sư Từ”.

Cô cũng đánh giá Diệp Văn Dữ trên dưới một phen, nói: “Một người Nam Dương như anh thì mặc mã quái làm gì?”

Diệp Văn Dữ vuốt áo: “Anh thấy chú trẻ hay mặc thế, lần đầu biết mã quái Trung Hoa lại ra dáng thế này.”

“Đáng tiếc mã quái cũng chọn người, thầy ấy mặc thì ra dáng cổ điển,” Sở Vọng lắc đầu, cảm thấy nuối tiếc: “Còn anh mặc thì…”

Diệp Văn Dữ xoa đầu, ngẩn ra một lúc mới nói, “Anh mặc thì sao?”

Hai người đi đến văn phòng đào tạo, một đội ngũ dài kéo ra tận ngoài hành lang, Sở Vọng gạt đám đông ra để Diệp Văn Dữ chen lên. Anh ta lấy được chương trình học và bảng đăng ký môn học, hai người đứng tại chỗ nghiên cứu sắp xếp khóa học. Tờ lịch học của Sở Vọng đã ghi sẵn ba môn tự chọn – ba con chữ theo thể Sấu Kim* mạnh mẽ do Từ Thiếu Khiêm viết: Toán học, Anh văn và Ngữ văn.

(*Thể Sấu KimThể là một trong những phong cách độc đáo của nghệ thuật Thư pháp. Đặc điểm của thể chữ này là: kết thể chữ hơi dài, đường nét gầy guộc mà cứng cỏi.)

Diệp Văn Dữ đưa đầu tới nhìn, “Wow, em cũng có môn tự chọn hả?”Sở Vọng cũng nhìn lịch học của anh ta, chỉ thấy bên trên viết tám chữ to đùng: “lịch sử văn học cổ điển Trung Hoa”, phía sau có hai chữ to màu đỏ tươi: học lại. Cô ngẩng đầu nhìn Diệp Văn Dữ, trên mặt hòa lẫn vẻ nghi ngờ và kính nể.

Diệp Văn Dữ lại không thấy gì, còn khuyên nhủ: “Rất nhiều sinh viên ở Hương Cảng rất giỏi tiếng Trung. Học sinh Trung Quốc thì còn dễ hơn nữa, tín chỉ lại nhiều, nên rất nhiều người chọn môn này.”

“Đâu phải anh học Tứ thư Ngũ kinh từ nhỏ, viết thơ bốn sáu mà lớn lên đâu, anh chọn môn này làm gì?”

“Cảm thấy môn này rất thú vị.”

“Thú vị như chị em à.”

Diệp Văn Dữ cười ha ha, “Em cũng chọn lịch sử văn học cổ điển đi, tốt xấu gì cũng kéo anh theo.”

“…”

Trong chương trình học toàn là mấy môn từa tựa nhau như Đại cương Cơ học, Kết cấu Cơ học và Mạch điện Phức tạp. Vào cuối lịch Ở cuối tờ chương trình học, cô thấy một môn học trong ba học kỳ, tín chỉ môn học cao gấp đôi lịch sử văn học cổ điển, tên là “Thuyết tương đối”.

Cô không chút nghĩ ngợi, lập tức cầm bút điền tên môn này vào phiếu. Diệp Văn Dữ cản không kịp, thấy cô điền xong mới hỏi với sắc mặt lạ lùng: “Em muốn chọn thật hả?”

Sở Vọng gật đầu.

“Em có biết môn này một năm rưỡi thi một lần không? Có biết thi không qua thì phải học lại một năm rưỡi, tỉ lệ qua môn không quá 1/5 không?”

Cô lắc đầu. Có điều cũng bày tỏ mình hiểu mà: Tính đến thời điểm hiện tại thì hai lý thuyết được công bố cũng chỉ mới hai mươi năm và mười năm mà thôi*. Trong thời đại khan hiếm các nhà vật lý, thì đấy được coi là lý thuyết mới nhất trong ngành học mới nhất.

(*Thuyết tương đối gồm hai lý thuyết vật lý do Albert Einstein phát triển, với Thuyết tương đối đặc biệt công bố vào năm 1905 và Thuyết tương đối tổng quát công bố vào cuối năm 1915 và đầu năm 1916. Mốc thời gian hiện tại trong truyện là 1927.)“Em có biết ai dạy môn này không?”

“Ai?”

“Chú trẻ của anh.”

Cô kiểm tra lại tất cả các môn để không bị trùng giờ học. Mở sách giáo khoa của năm nay ra xem một lượt: Toán học thì giải các phương trình nhị phân và tính toán số góc giao nhau trong hình học; còn môn Mạch điện thì đơn giản hóa mạch phức tạp và mạch khóa chéo thành cách mắc nối tiếp dễ hiểu… Trải qua trăm năm quy nạp đúc kết tại đời sau, thì những môn này đã được dạy rõ trong vòng hai tuần học ở trình độ văn hóa cấp ba, nhưng ở thời đại này thì phải học trên một năm. Sở Vọng không kìm được cảm khái: dù là môn học nào, thì người đời cũng dựa vào tài trí thông minh cộng thêm tổng kết kinh nghiệm mà tiến hóa.

Môn duy nhất mà cô có thể miễn cưỡng xốc tinh thần để nghe giảng là môn của Từ Thiếu Khiêm. Đối với Thuyết Tương Đối, anh có cách giảng giải độc đáo rất riêng. Môn này ngày trước cô đã học rồi, nhưng khi nghe Từ Thiếu Khiêm giảng thì lại như đang nghe một câu chuyện xa xăm sâu đậm.

Ngày đầu tiên lên lớp, câu đầu tiên của anh đã khiến Sở Vọng giật mình. Anh nói: “Liệu con người có khả năng băng xuyên như mũi tên thời gian không? Từ viễn cổ đi đến hiện tại, hoặc từ tương lai xa xôi đi đến thời điểm này, và liệu chúng ta có sống trong cùng một thời đại không?”

Ngày trước cô cũng đã nghĩ đến vấn đề này. Khi nghiên cứu về phương trình khối lượng và năng lượng, cô đã nghĩ: Nếu có du hành thời gian, thì bản thân đi từ chiều này đến chiều khác có còn là mình không?

Là một tôi không trọn vẹn, hay đã là một người khác?

Trong thoáng chốc, suýt nữa cô đã nghi ngờ: lời mở đầu này của Từ Thiếu Khiêm có vẻ như đang hỏi cô.

Cô ngẩn ngơ trong chốc lát, mãi cho đến khi nghe thấy Từ Thiếu Khiêm hỏi: “Theo logi thì có khả năng thành lập giả thuyết vượt thời gian không gian không, có ai trả lời thử không?”

Sở Vọng hoàn hồn, thấy Từ Thiếu Khiêm đứng ở xa mỉm cười nhìn mình: “Linzy, có hứng thú trả lời không?”

Cô trầm ngâm rồi đứng lên trả lời: “Giả dụ có thể xuyên thời gian thì em sẽ quay về quá khứ, giết bà ngoại trước khi bà sinh ra mẹ em, như vậy sẽ sinh ra một nghịch lý: có bà ngoại em trước, sau đó mới có em. Sự tồn tại của em chứng minh bà ngoại em không thể chết. Cho nên, em không thể giết bà ngoại mình được, như thế cũng sẽ phủ định sự tồn tại của giả thuyết vượt thời gian.”

Từ Thiếu Khiêm cười, hỏi ngược lại: “Ở chiều thời gian em quay về quá khứ, tại khoảnh khắc em đến đó thì đã xảy ra thay đổi rồi. Sự thay đổi này dẫn đến biến đổi dây chuyền, nên mới khiến em không thể giết bà ngoại em được.”

Sở Vọng nheo mắt: “Thời gian quá khứ và tương lai chỉ là tương đối. Thay đổi ở tương lai mà quá khứ có thể tạo nên cũng chỉ là ‘một sự kiện nào đó’ mà thôi.”

Từ Thiếu Khiêm lắc đầu: “Không đúng. Trong khoảnh khắc em đến quá khứ thì đã thay đổi mọi tương lai của thế giới rồi.”

Cô ngẩng đầu lên: “Thay đổi điều gì? Một giây ấy sẽ giảm bớt Ôxi, thải ra nhiều Cacbon điôxít ư? Sự thay đổi đó chỉ là nhỏ bé không đáng kể. Mọi sự kiện trọng đại trên thế giới này sẽ không vì cá nhân em mà thay đổi: ví dụ như thảm họa môi trường do sự phát triển công nghiệp, ví dụ như các giống loài bị tuyệt chủng, và ví dụ như chiến tranh. Nếu bản thân em chỉ gây ra thay đổi không quan trọng, thì vì sao lại có sự biến đổi dây chuyền, ngăn cản em giết bà nội mình? Còn nếu quan trọng, thì thế giới này định sửa chữa sự tồn tại của em như thế nào để dẫn đến thay đổi nhỏ bé nhất?”

Đúng lúc này chuông tan học vang lên, Từ Thiếu Khiêm cũng không tiện nói gì thêm. Hai người đều biết cuộc đối thoại này có rất nhiều lỗ hổng. Nếu như nói tiếp, sẽ còn có rất nhiều vấn đề như “thế giới này vẫn là thế giới ban đầu, hay là một thế giới khác”. Rất nhiều bạn học đứng dậy phàn nàn, nói mới tiết đầu tiên đã nghe không hiểu, ra oai phủ đầu nặng như vậy thì về sau còn học hành thế nào đây?

Từ Thiếu Khiêm bị các sinh viên mang theo nghi ngờ chặn đường ngay cửa, còn Sở Vọng cầm sách vở đã chuẩn bị bước ra khỏi lớp. Có một sinh viên có lẽ không quá bắt kịp suy nghĩ của hai người, lúc Sở Vọng đi ngang qua thì đột nhiên không đầu không đuôi nói: “Một cuộc chiến có thể được xem là sự kiện trọng đại đã xảy ra rồi.”

Sở Vọng chỉ mỉm cười với người bạn kia rồi vội vã đi về.

Việc cô có được tri thức vật lý cũng không mách cô phải dùng khả năng yếu ớt của mình như thế nào, thì mới có thể chỉ thay đổi riêng một quãng lịch sử nhất định nào đó.

Chương 37: Đảo nhỏ (1)

Thư nhà của cha đã đến biệt thự nhà họ Kiều. Trong thư nói vì cuối tháng 5 trường đại học sẽ làm lễ sát nhập, nên ngày 19 ông và Tư Ưng sẽ về Thượng Hải một chuyến, còn thuyền chở Tư Ngôn Tang từ Anh về sẽ cập bến ngày 20, đồng thời cũng nhờ bà Kiều dẫn Doãn Yên và Sở Vọng đi thuyền ngày 18 đến Thượng Hải.

Ông Tiết đã nghe được chuyện này nên cũng gửi điện báo tới, nhờ bà Kiều dẫn Chân Chân đi cùng.

Trên bàn ăn, sau khi tuyên bố chuyện này xong, bà Kiều chỉ nhận được tiếng hoan hô khá là bình tĩnh của ba cô gái.

Bà Kiều đánh giá ba người rồi nói: “Về Thượng Hải gặp cha, xem nhà mới thế nào, sao không thấy đứa nào vui thế?”

Chân Chân cười hì hì: “Bởi vì vui quá nên phải kìm nén không để cười thành tiếng.”

Doãn Yên nhìn Sở Vọng, mỉm cười bảo: “Còn không phải ư, ngày 20, cũng sắp rồi.”

Sở Vọng cũng cười đáp: “Tàu thuyền bây giờ chỉ mất ba ngày là có thể đến Thượng Hải. Với chị mà nói, nên vui là ngày 21 mới phải.”

Bà Kiều cũng nói: “Hiện tại tàu thuyền nhanh hơn trước nhiều. Doãn Yên, Chân Chân đã thay đồng phục rồi, còn cháu thì đang làm gì thế hả, quên hôm nay phải đi học à?”

Doãn Yên đi lên lầu, Chân Chân nhìn theo Doãn Yên cười lạnh, “Từ lúc Lâm nhị tiểu thư mặc sườn xám là bắt đầu ghét bỏ bộ đồng phục kia rồi.” Sau đó lại nhìn Sở Vọng đánh giá một phen, “Con gái vào đại học có ai quê mùa như em không? Chỉ mấy ngày nữa là cậu Tư kia sẽ về, em mau chóng học bản lĩnh thích chưng diện của chị em đi, đừng để bị người ta so sánh không bằng.”

Sở Vọng chỉ cười không đáp.

Thì ra ngày 13 đến Hương Cảng là anh lén đến đây. Sau đó đi thuyền ngày 17 về Thượng Hải, lại nói với mọi người là ngày 20 mình mới về.

Sở Vọng cũng bắt đầu trở nên bận rộn. Hương Cảng tháng 5 nóng hơn ở Anh rất nhiều, không biết anh có đem đúng đồ không, tốt nhất đừng mang theo áo ấm.

Nhớ đến áo lụa Trung Hoa mà giáo sư Từ hay mặc, cô xác nhận mát mẻ hơn áo sơ mi áo gi-lê mà các quý ông hay bận nhiều, Tư Ngôn Tang mà mặc thì sẽ ra dáng hơn Diệp Văn Dữ cho xem. Nhưng với Tư Ngôn Tang từ nhỏ đã tiếp thu tư tưởng mới, không biết anh có cảm thấy đây chỉ là “cặn bã” mà sinh lòng kháng cự không.

Cô hỏi ý kiến ngài Saumur và bà Nguyễn, mùa này con trai mặc áo sơ mi tơ tằm thì liệu có phù hợp không. Sau khi nhận được câu trả lời khẳng định, cô bắt đầu may áo sơ mi cho Tư Ngôn Tang. Vì không biết chắc chắn số đo của anh, cũng chỉ có vài tấm ảnh đen trắng không mấy rõ ràng, nên cô chỉ có thể áng chừng mà làm ba chiếc áo sơ mi trắng cùng một kiểu dáng nhưng khác kích cỡ.

May áo sơ mi suốt mấy ngày liền, ngài Saumur nghi ngờ hỏi bà Nguyễn: “Con bé làm cho ai thế?”

Bà Nguyễn cười trả lời: “Còn có thể là ai nữa? Cái cậu viết thư kia kìa.”

Ngài Saumur tò mò hỏi: “Không lẽ chàng trai viết thư kia sẽ đến Cảng à? Bao giờ tới? Tôi và dì Nguyễn có thể hân hạnh gặp mặt không?”

Sở Vọng cười nói: “Ngày 13 tháng này sẽ đến, nhưng cháu cũng không rõ là có đến Cửu Long không. Nếu anh ấy đến bán đảo, nhất định cháu sẽ dẫn anh ấy tới Du Ma Địa.”

Ngoài làm áo sơ mi để đối phó với thời tiết ra, Sở Vọng còn bắt đầu lo lắng vì vấn đề chọn quà gì đây. Hiện tại những thứ tốt ở Hương Cảng đều là hàng ngoại, cũng không thể mua bút máy hay đồng hồ quả quýt Tây Dương để tặng cho Tư Ngôn Tang mới từ nước ngoài trở về được. Cô có đến cửa hàng Tây xem vài lần, nhưng cũng chỉ càng tăng thêm sâu sắc suy nghĩ “không thể mua đồ ở đây được”.

Bên cạnh cửa hàng là một xưởng mộc. Tình cờ hôm đó đi ngang qua, cô thấy một người thợ mộc đang làm bộ phận cơ quan trong hộp gỗ. Cô dừng chân đứng ngoài nhìn, chợt trong đầu lóe lên một ý nghĩ.

Anh có hút thuốc không nhỉ?

Sở Vọng chỉ nhớ mang máng, dường như trong cuốn sách lịch sử cận đại nào đấy đã thấy ảnh anh hút thuốc, nhưng không biết bắt đầu hút từ khi nào. Không biết giờ anh đã hút thuốc chưa, nhưng nếu sau này muốn hút thì chuẩn bị một chiếc bật lửa tinh xảo vẫn là điều cần thiết.

Trên đường về, cô nhớ lại chiếc bật lửa của mình ở kiếp trước, dùng bút vẽ hơn mười tờ. Hôm sau cầm bản vẽ đến cửa hàng Tây hỏi, ông chủ người Ấn Độ nói có thể làm được, nhưng phải đợi tới ba tháng.

Ba tháng sau thì anh đã về lại Anh Quốc mất rồi, Sở Vọng không đợi nổi. Cầm bản vẽ uể oải quay về Du Ma Địa, ngài Saumur nhìn thấy nó, lại bày tỏ rất hứng thú với bản vẽ này.

Cầm bản vẽ nghiên cứu cho đến trưa, rồi ngài Saumur nói với Sở Vọng: Ông có quen một người tên Dupont chuyên chế tác đồ dùng da, hiện tại đang ở Hương Cảng, ông có thể hỏi hộ ngài Dupont này giúp cô.

Nghe ông nói xong, Sở Vọng trầm ngâm suy nghĩ rất lâu. Ngài Dupont này, liệu có phải là Simon Tissot Dupont* không?

(*S.T Dupont là người sáng lập thương hiệu thời trang cao cấp S.T. Dupont chuyên chế tác các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như ví, túi sách bằng da, bút, nước hoa, thuốc lá, nổi tiếng nhất là bật lửa bỏ túi.)

Ngay buổi chiều hôm đó, ngài Dupont đã cho câu trả lời: vì có đến hai trăm cơ quan nên phải mất nhiều thời gian chạm trổ. Nhưng nếu dùng lá vàng và paladi mỏng thì chỉ mất 10 ngày là làm xong.

Sở Vọng lập tức đồng ý, thậm chí còn không hỏi xem giá tiền mua vàng và paladi là bao nhiêu. Thấy cô sảng khoái như thế, ngài Saumur chỉ lắc đầu cười, cho rằng cô đã bị chàng trai ở Anh mê hoặc.

Cho nên ngài Saumur rất uyển chuyển đưa ra hoài nghi về phong cách ăn mặc ngày thường của cô.

Một ngày nọ ông nói: “Đợi chàng trai Anh Quốc đến Hương Cảng, cháu có định dẫn cậu ta ra biển không?”

Sở Vọng suy nghĩ rồi gật đầu đáp có: “Vịnh Nước Cạn đông người quá, có lẽ sẽ đến đảo nhỏ nào đó ở lân cận.”

Ngài Saumur nói: “Trên đảo rất nóng, cháu định mặc gì?”

Cô chưa kịp trả lời thì ngài Saumur đã nheo mắt, đưa ra đề nghị: “Bộ áo liền quần cháu may hôm trước rất được. Mặc áo sơ mi ở trong, hoặc áo sơ mi đi kèm váy xếp ly, rất hợp với áo sơ mi lụa kiểu nam mà cháu làm.”

Sở Vọng cười cám ơn ngài Saumur.

Nếu anh giấu cha và người nhà lén đến đây thì Sở Vọng cũng không thể để người quen gặp hai người bọn họ được, nên đến đảo nhỏ ít người hơn vịnh Nước Cạn là một lựa chọn cũng không tệ. Ngày 13 tháng 5 là thứ sáu, nếu đến đảo bốn ngày từ ngày 13 đến ngày 17, thì phải nghỉ hai lớp của giáo sư Từ.
Khi đến xin phép Từ Thiếu Khiêm, cô thuận tiện hỏi Từ Thiếu Khiêm nên đến đảo nào chơi thì sẽ vui hơn.

Từ Thiếu Khiêm nghĩ ngợi rồi nói, “Tôi chưa nghiên cứu kỹ về chuyện này. Nếu như sợ gặp người quen thì đến đảo Bồ Đài cũng được.”

Vậy là đã tạm thời quyết định được nên đi đảo nào, nhưng sau đó Sở Vọng lại không biết phải xin phép bà Kiều thế nào đây. Nghĩ đi nghĩ lại một lúc lâu, chợt một hôm nào đó chị Từ nói: “Nghe nói em muốn đến đảo Bồ Đài chơi với chồng chưa cưới vài hôm hả? Nếu em không biết nói với bác em thế nào thì cứ bảo là tôi mời em đi. Nếu bà ấy không tin, vậy để tôi gọi điện đến biệt thự xin phép giúp em, em chỉ việc đi chơi vui vẻ.”

Sở Vọng cũng không có cách nào tốt hơn thế nữa, luôn miệng cám ơn chị Từ đã suy xét chu đáo thay cô. Chị Từ lại nói: “Thật ra em cũng không cần phải cám ơn tôi làm gì. Ngày trước khi gả cho thầy em, tôi cũng muốn được gặp mặt trước khi kết hôn một lần, để biết người mình sắp gả trông như thế nào. Dù bản thân luôn muốn kết hôn, nhưng trước và sau khi thành thân thì sẽ khác nhau. Tôi không đi đứng được… Nếu ở trên đảo thấy gì ăn ngon hay có đồ chơi nào vui, thì nhớ đem về cho tôi và Văn Quân nhé.”

Thế là thủ tục xuất hành cũng đã được giải quyết, thuận lợi tới nỗi đến Sở Vọng còn nghi ngờ toàn bộ những chuyện này là một cái bẫy.

Đến gần ngày 13, bật lửa cũng đã được làm xong, mất hết hơn nửa số tiền Sở Vọng tích góp được. Ngài Dupont tự mình đem đến cửa, nói là muốn xem ai đã vẽ ra bản vẽ này, có vẻ không tin ngài Saumur bảo là do một cô bé chưa đầy 14 tuổi vẽ.

Thấy ngài Dupont ngạc nhiên mãi, trong thâm tâm Sở Vọng thực sự rất xấu hổ: kỳ thật bản vẽ này là do học trò của ông 80 năm sau tạo ra, không phải do tôi vẽ đâu. Đời sau vì để mua được chiếc bật lửa mang thương hiệu của ông, cô đã tốn mất gần ba bốn tháng tiền lương.

Gần đây nghe nói đã nối thông điện thoại đường dài Trung Nhật, mỗi lần cãi vã, Chân Chân đều lấy chuyện này để giễu cợt Doãn Yên, nói gì toàn là: “Nếu cảm thấy ấm ức thì gọi điện cho chồng chưa cưới của mình đi! Cứ nói cô ở Hương Cảng rất mệt, bảo anh ta về đón cô đi Tokyo. Dù gì thì cũng sắp lấy nhau rồi, cũng cỡ nửa năm mà thôi.”

Đối với Doãn Yên, những lời này đúng là sát chiêu có hiệu lực cao. Nhưng chỉ mấy hôm sau, sát chiêu này đã mất tác dụng – bởi vì không biết bà Kiều nghe được từ đâu mà nói mấy trường đại học ở châu Âu mời Lâm Du đến dạy, lần này đi có lẽ sẽ dẫn Sở Vọng và Doãn Yên theo.

Nên khi Chân Chân nói gì mà bảo cô đến Nhật Bản đó, Doãn Yên chỉ mỉm cười bảo: “Không cần phải đi Nhật nữa, đi châu Âu cũng thế thôi.”

Sáng sớm ngày 13, Sở Vọng đeo cặp trên lưng chuẩn bị ra ngoài thì Chân Chân và Doãn Yên lại đang cãi nhau về vấn đề “liệu ông Lâm có dẫn Doãn Yên đi châu Âu không”.

Chân Chân chế giễu: “Tiếng Anh của cô như thế, sau này còn nói chuyện với người Đức người Tây Ban Nha rồi cả người Pháp, nói có hiểu không?”

Doãn Yên đáp trả: “Cô thì nói rành rọt rồi, vậy cô đi đi.”

Thấy Sở Vọng đi xuống lầu, Chân Chân lập tức nói: “Cô nên củng cố quan hệ với Sở Vọng đi, đến lúc đó lỡ cô đi lạc, con bé còn có thể bằng lòng thương lượng với bọn buôn người, chuộc lại cô với mấy chục đồng tiền, cũng tiết kiệm được không ít bạc cho chú Lâm.”

Bà Kiều trách Chân Chân: “Buôn người với không buôn người cái gì thế hả, phủi phui cái mồm, cãi nhau cũng vừa phải thôi. Còn nữa, chị em nó có đi châu Âu hay không cũng chưa chắc, hiện tại cứ ở đây, gặp chú Lâm đã, đừng vội nói bậy bạ.”

Bà nhìn Sở Vọng cầm mũ che nắng đi xuống, hỏi: “Ra bến tàu bây giờ hả?”

Sở Vọng gật đầu.

Bà Kiều lại hỏi, “Đi bằng gì?”

Sở Vọng đáp, “Đi xe buýt ạ.”

Bà Kiều ồ lên, không vui nói: “Cô Từ không tìm xe đến đón à.”

Doãn Yên cười nói: “Có lẽ cô Từ bận quá chăng, nên mới mời em ba lên đảo giúp.”
Bà Kiều gật đầu: “Nếu xét về việc cẩn thận quan tâm thì hai đứa không bằng cháu ba đâu. Sở Vọng đi ra ngoài, cũng nên đem theo nhiều tiền chút.”

Doãn Yên lại nói: “Bình thường cứ ba ngày hai bữa là lại uống cà phê ăn kem với Tạ Di Nhã, xem ra cũng kiếm được không ít tiền ở chỗ ngài Saumur nhỉ.”

Chân Chân cười nói: “Tự Sở Vọng kiếm được và bác cho em ấy là hai chuyện khác nhau.”

Bà Kiều bảo dì Triệu đưa túi tiền cho Sở Vọng, cũng bảo: “Đây là bác nên cho cháu… Đương nhiên, nếu thấy có Côn bố* tốt thì có thể mua một ít đem về.”

(*Côn bố: là một loại tảo dẹt ở biển, là một vị thuốc trong Đông y.)

Sở Vọng cười nhận túi tiền, chào tạm biệt bà Kiều và hai chị rồi đi ra cửa.

Tiền bạc mà, việc gì phải từ chối.

Từ mùa xuân ba năm trước khi đến Hương Cảng này, thì đây là lần thứ hai cô ngồi xe đến bến tàu. Ngày hôm đó đó là một ngày đẹp trời, nhẽ ra cảnh sắc cũng phải đẹp như thế. Nhưng lần đầu tiên mang theo lo lắng thấp thỏm với thế giới không biết gì và sinh hoạt ngày sau, nên lúc đó dù thấy hồ nước xuất hiện sau sườn núi đỏ thì cô cũng không có cảm giác đặc biệt. Tuy bây giờ vẫn mù mờ, nhưng trong lòng Sở Vọng đã “quang đãng” hơn: Hương Cảng mà anh thấy, phải là một Hương Cảng rộng rãi trong lành chào đón anh.

Đi được nửa đường, không khí trở nên ẩm ướt, đặc biệt là trong xe buýt bị đóng kín ở mọi phía. Mở cửa sổ ra, cơn mưa phùn rơi lất phất hắt vào trong – đã hiểu vì sao những người ngồi sát cửa sổ không chịu mở cửa ra rồi. Sở Vọng không ngồi ở vị trí tốt, bị hun nóng đến mức mồ hôi đầy người. Cô không khỏi nghĩ: may mà ở tuổi này không cần trang điểm, nếu không đến bến tàu đúng giờ, thì nhất định lớp trang điểm trên mặt trông sẽ rất khó coi.

Xe buýt băng qua nội thành, liên tục có người lắc chuông xuống xe. Cuối cùng cô cũng được ngồi cạnh cửa sổ, mở cửa ra một làn gió ùa vào, rốt cuộc không khí trong xe cũng dễ chịu hơn, chỉ có điều mưa lại hắt lên người ông cụ ngồi sau. Sở Vọng xin lỗi đóng cửa xe lại, sau một hồi ngột ngạt, cuối cùng cũng được xuống ở bến tàu Trung Tâm, chợt lúc này trong bụng hô to chết rồi: cô quên đem theo dù.

Cô đi vào trong sân ga, gặp một con thuyền du lịch vừa chạy vào cảng, vậy tức là phải một lúc nữa thì con thuyền kế tiếp mới cập bên. Người trên thuyền lần lượt đi xuống, mọi người chen chúc nhau ra ngoài, Sở Vọng cũng chỉ có thể theo đám đông chen lên trước bến, đi vào một tiệm tạp hóa mua một cây dù màu đen. Người bên ngoài đã ít đi, cô miễn cưỡng từ từ chen vào cảng. Có hai tiểu thương cũng đi lên theo, một người là đến từ đại lục, một người là dân Hương Cảng.

Người ở đại lục chắc muốn đến đây “đãi vàng”, trước ngực treo một chiếc rương, trong rương có đủ các loại nước có ga. Trên rương dùng bút cọ màu viết: nước uống Hà Lan*.

(*Nước ngọt được truyền vào Trung Quốc từ thời kỳ Đồng Trị thời nhà Thanh (1862-1874), được gọi là nước Hà Lan.)

Lưu thông hàng hóa nước ngoài ở Hương Cảng phát triển hơn nhiều so với ở đại lục, giá nước ngọt khá rẻ, nên độ phổ biến cũng cao hơn trong nước không ít. Không biết nghĩ gì mà đến Hương Cảng bán nước Hà Lan, nhưng chắc chắn một điều là không kiếm được nhiều tiền. Thấy anh ta cứ quấn lấy mình, Sở Vọng bèn cho anh ta hai hào, mua hai chai nước Hà Lan đỏ nhạt.

Một tiểu thương khác thì chào hàng thuốc lá. Sở Vọng lắc đầu: “Ngài thấy tôi giống người biết hút thuốc à?”

Xua người bán đi, hai tay cô cầm hai chai, không còn tay để cầm dù nữa. Người trên cảng vơi dần, cô đi đến bàn bán phiếu: vừa để trú mưa, vừa để hỏi xem bao giờ tàu Litan vào cảng.

Cô gái bán vé kia có vẻ rất rảnh rang, đang lén dùng điện thoại của công ty gọi cho người yêu. Mặt nở nụ cười, ỏn ẻn nói chuyện bằng tiếng Quảng, khiến Sở Vọng nghe thấy mà nổi cả da gà. Nhân viên bán vé khó khăn cúp máy, không tình nguyện hỏi cô: “Đi đâu?”

Sở Vọng nghĩ ngợi rồi nói: “Tôi muốn hỏi…”

Nhân viên biến sắc: “Chỗ tôi không phải là nơi cố vấn!”

Lúc này lại có người vỗ vào Sở Vọng. Cô ngoảnh đầu nhìn lại, người kia đội mũ rơm, vành mũ hạ thấp. Người kia thấp giọng hỏi: “Có hai vé bán rẻ đến đảo Tháp Môn, cô muốn mua không?”

Sở Vọng đang định lắc đầu từ chối, thì nhân viên ở phía sau đã sửng cồ lên: “Sao, bọn cơ hội giờ càn rỡ thế hả, cũng không nhìn xem ở đây là đâu, dám bán vé trước mặt tôi hả?”

Người kia lại chẳng đoái hoài đến cô nhân viên, hỏi Sở Vọng tiếp: “Thế vé đến Đông Bình Châu thì sao, cũng chỉ còn hai vé thôi.”

Sở Vọng cũng chỉ cười lắc đầu: “Cám ơn, nhưng tôi không cần.”

Cô ngoái đầu hỏi nhân viên: “Xin hỏi bao giờ thì tàu Litan vào cảng? Tôi nghe nói là ngày 13…”

Người bán vé mất kiên nhẫn khoát tay, “Tàu Litan? Vào từ sáng sớm rồi, hiện tại người cũng đã đi hết, cô bé đến muộn rồi!”

Người phía sau lại hỏi: “Xin hỏi, cô còn muốn vé đến Bồ Đài không? Tôi bán rẻ hơn bọn họ lắm rồi.”

Tới muộn mất rồi… Sở Vọng ngơ ngác nghĩ. Nếu đã đến rồi, không chờ thì đi đâu nhỉ.

Mưa bên ngoài càng lúc càng to, cô cầm nước Hà Lan che dù, người bán vé lậu lại đi theo cô, đột nhiên cầm lấy chiếc dù trong tay cô che mưa cho cô, cúi đầu hỏi: “Vé tàu đi đảo Bồ Đài, có muốn không?”

Sở Vọng giật thót mình, vươn tay nhấc mũ người nọ kia lên, nhưng người kia nhanh chóng né tránh. Mũ rơm khá to, song vì anh lắc mình nên bị gió trên sân thổi bay.

Người đàn ông ấy mặc một chiếc áo len màu xám nhạt bên ngoài áo sơ mi, đi quần tây và giày đen đế bằng. Mũ rơm bị thổi bay, mưu kế của anh thất bại, không biết làm gì ngoài đút tay trong túi quần, cúi đầu dịu dàng mỉm cười. Là một người vô cùng gọn gàng, nụ cười kia lại không giấu được chiếc răng nanh tinh nghịch – ngay đến nụ cười cũng trong sáng hơn người khác nhiều.

Quả nhiên là anh.

Thời gian ba năm đã khiến một chàng trai trở thành một người đàn ông, nhưng vẫn đọng lại hơi thở của tuổi trẻ.

Anh mỉm cười đến gần Sở Vọng, trong tay cầm hai tấm vé tàu, cười hỏi: “Vậy là muốn dẫn anh đến đảo Bồ Đài hả?”

Chương 38: Đảo nhỏ (2)

Sở Vọng nhìn anh, tay cầm nước Hà Lan vòng ra sau lưng sờ soạng: “Em muốn dẫn ai đi đảo Bồ Đài ấy nhỉ?”

Tư Ngôn Tang chỉ vào mình: “Anh nè.”

Sở Vọng nheo mắt nhìn anh, hỏi: “Anh là ai?”

Anh cười nói: “Vị hôn phu của em.”

“Vị hôn phu của em?” Sở Vọng đánh giá anh một lượt từ đầu tới chân, sau đó lắc đầu, “Gần đây hôn phu của em ăn khoai tây trứng gà rất nhiều, phải béo núc béo ních mới đúng. Còn anh quá gầy, đâu giống anh ấy?”

Tư Ngôn Tang cười khổ, “Hiện tại anh béo cũng không kịp rồi, phải làm gì bây giờ?”

Sở Vọng nhìn anh, “Ăn phô mai nhiều mà không có thịt thừa, rốt cuộc anh làm sao hay thế?”

Anh nhỏ giọng phản bác: “Hương Cảng nắng gắt như vậy, vì sao em không bị sạm đen?”

Sở Vọng hung dữ đáp trả: “Sao nào, anh thích da đen hả?”

Tư Ngôn Tang không nhịn được bật cười.

“Không phải. Hiện tại rất tốt…” Anh cúi đầu, cố gắng nghĩ ngợi một hồi rồi mới ngẩng đầu lên tổng kết: “Chỗ nào cũng vừa phải.”

Thấy bộ dạng dè dặt tìm từ của anh, Sở Vọng cũng không kìm nén nổi mà phì cười: “‘Cũng vừa phải’ cái gì chứ? Tùy ý thế à? Anh đến nhà em làm khách hả?”

“Anh không phải là khách của em sao?” Anh hạ giọng hỏi, “Thế anh là gì của em?”

“Anh là…” Sở Vọng thật sự ngẩng đầu nghĩ ngợi.

Một thoáng sau mới hiểu ra đây chỉ là lời nói đùa, cô lập tức xoay người đi ra ngoài, vừa đi vừa nghiêng đầu mỉm cười. Tư Ngôn Tang vội đuổi theo cô bung dù lên, ngoài miệng vẫn truy hỏi, “Là gì?”

Hai người một trước một sau đi trong mưa. Mưa càng lúc càng lớn, có mùi của cơn mưa đầu hạ. Ra khỏi bến tàu đến trạm xe buýt, giày da của Sở Vọng đã ướt sũng, cô cúi đầu nhìn ống quần anh – một mảng đen từ dưới đầu gối lan xuống tận trong giày, có nghĩa trong giày cũng ướt.

“Hành lý của anh đâu?” Sở Vọng hỏi.

“Gửi ở bến tàu rồi.” Anh nói.

Sở Vọng cúi đầu trầm ngâm, chuyến xe buýt tới bến cảng làng chài Aberdeen đã đến rồi. Sở Vọng tay cầm nước ngọt, miệng ngậm hai tấm vé xe lên xe, Tư Ngôn Tang cụp dù đi sát theo sau. Đám đông lần lượt đi lên, hai người đi xuống cuối xe, chỉ vừa dừng lại thì xe đã nổ máy khởi động.

Đáng nhẽ trong xe sẽ phải chen chúc dữ lắm, nhưng Sở Vọng lại có thể thoải mái xoay người. Đưa mắt nhìn lại, thì ra Tư Ngôn Tang đã giang tay tạo ra một khoảng không gian nhỏ cho cô.

Tư Ngôn Tang “à” một tiếng với cô. Trong khoảnh khắc Sở Vọng ngạc nhiên, hai tấm vé xe màu đỏ nhạt trong miệng cô đã bị anh rút lấy. Lúc cúi người, hai giọt nước từ trên tóc anh nhỏ xuống tay cô. Sở Vọng nhìn giọt nước trong suốt lấp lánh trên tay, tới khi ngẩng đầu lên thì thấy anh đang mỉm cười nhìn mình.

“Từ nãy đến giờ anh cười gì thế?”

Anh lắc đầu không đáp.

Sở Vọng bất đắc dĩ, lại hỏi: “Nóng hả?”
Anh gât đầu.

Sở Vọng đưa chai nước Hà Lan cho anh, anh cầm lấy uống liền mấy hơi.

“Có ngọt không?”

“Có.”

“Thật không?” Sở Vọng nghi ngờ uống một ngụm, quả nhiên ngọt ngấy, ngọt tới nỗi làm cô nhíu mày, không biết vì sao anh có thể ung dung uống hết cả chai như vậy.

Mắt thấy sắp đến Aberdeen, Sở Vọng vội nhón chân với tới dây chuông, nhưng với mấy cũng không với thấu. Tư Ngôn Tang mỉm cười vươn tay ra, rung chuông *leng keng* như đang khoe mẽ. Sở Vọng nhìn anh, anh mím môi, lại kéo thêm hai lần nữa. Lần này đến bác tài cũng biết anh ra vẻ hơi quá, nói: “Nghe thấy rồi, cũng không phải là tên điếc! Xuống xe ở Aberdeen ——”

Xe vừa dừng lại, Sở Vọng tức khắc kéo tay anh chen lách đi ra cửa xe, chen lấn một hồi, mũi chân vừa chạm đất thì xe cũng chạy vụt đi. Cô thở phì phò cười to, nói, “Giống đánh nhau lắm đúng không?”

Anh không đáp, ngẩn ngơ nhìn bàn tay phải đang được Sở Vọng nắm chặt.

Sở Vọng cười, nắm tay anh chạy đến bến cảng. Lúc này trời đã ngừng mưa, ánh nắng chan hòa bị tầng mây che khuất, trên mặt đất ướt sũng. Một chiếc thuyền sắp rời bờ, thủy thủ ở trên bờ hét lớn: “Ai đi Trường Châu thì nhanh chân lên ——” Đến khi tàu rời bến hơn hai mét thì anh ta không hét nữa, chạy nhanh lấy đà rồi nhảy phốc lên sàn thuyền, khiến Sở Vọng trợn mắt há mồm nhìn.

Đợi trên bến yên tĩnh trở lại, Sở Vọng đi tìm thủy thủ đứng cạnh một con tàu khác, hỏi: “Đến đảo Bồ Đài, chuyến xuất phát sớm nhất là khi nào?”

Người nọ cau mày nói: “Bồ Đài? Hôm nay là thứ Sáu, không phải Chủ nhật, không có thuyền đến Bồ Đài!”

Vậy biết làm sao đây? Sở Vọng ngoái đầu nhìn Tư Ngôn Tang, trong lòng phủ quyết rất nhiều phương án. Anh lại nheo mắt nhìn ra xa, sau đó hỏi: “Thế con thuyền kia đi đâu?”

Người kia nhìn lại theo ánh mắt anh, nói: “Thuyền đó đúng là đến đảo Bồ Đài, có điều là thuyền của thủy quân. Gần đây mới mời vài sĩ quan đến dạy, hiện tại mời các sĩ quan đến đảo Bồ Đài chơi cuối tuần ——”

Cám ơn người kia xong, Tư Ngôn Tang ngoái đầu cười nói: “Đi theo anh.” Nói rồi anh kéo tay cô đi về chiếc thuyền của thủy quân. Con thuyền to lớn lộng lẫy, có điều đã hơi cũ. Thảm đỏ trông chẳng ra gì, trải dài từ trong khoang ra trên boong rồi xuống tận bờ, cạnh thảm đỏ có ba bốn sĩ quan người Anh tụ tập hút thuốc nói cười. Anh đi về phía trước, hỏi bằng tiếng Anh: “Cho hỏi Neil Brown có ở trên thuyền không? Vừa rồi tôi có thấy anh ấy.”
Mấy người thủy quân nghe thấy phát âm chuẩn của anh thì nhìn anh thêm mấy lần. Tư Ngôn Tang cười nói: “Tôi có học chung với anh ấy lúc ở Anh.”

Mấy người kia cũng không dám thất lễ hỏi thêm, chỉ réo người đi tìm Neil tới.

Một lúc sau, một anh chàng thủy quân người tròn xoe, tóc đỏ mắt xanh ở trên boong chầm chậm chạy tới. Vừa trông thấy Tư Ngôn Tang, anh ta cười lớn, dùng tiếng Trung kiểu Anh gọi: “Tư, là cậu!”

Đợi đến khi tới gần, anh ta cười nói bằng tiếng Anh: “Tôi còn tưởng là bạn nào chứ!” Nói đoạn quay sang nhìn Sở Vọng, giật mình bừng tỉnh, hỏi Tư Ngôn Tang: “Cô gái này chính là quý cô gấu Teddy khổng lồ kia đúng không?”

Quý cô gấu Teddy khổng lồ cái gì cơ? Sở Vọng thắc mắc vô cùng, giương mắt nhìn Tư Ngôn Tang. Xem ra anh cũng không thích Neil nói thế, khẽ chau mày rồi chậm rãi gật đầu.

Không đợi Tư Ngôn Tang giới thiệu Sở Vọng, Neil đã tự ra vẻ thân mật chìa tay ra với Sở Vọng: “Xin chào quý cô, tôi là Neil, đi cùng thuyền về nước với Tư.”

Sở Vọng đang định bắt tay với anh ta, không ngờ Neil đã trở tay hôn lên tay cô, dọa Sở Vọng sợ hãi giật mình. Đợi Neil đứng lên, Sở Vọng cười cười xấu hổ, tự giới thiệu: “Tôi là Linzy.”

Neil nhướn mày, “Và?”

Sở Vọng cũng nhướn mày nhìn Tư Ngôn Tang, ngoài miệng đáp: “Không có.”

Neil cười to: “Hai người muốn lên đảo Bồ Đài đúng không? Sáng nay ở trên thuyền tôi nghe cậu ta nói thế. Nếu không giới thiệu cô là gì của Tư thì tôi sẽ không đồng ý.”

Tư Ngôn Tang giải vây: “Là vị hôn thê của tôi.”

Neil vỗ vai anh, “Tôi nói rồi mà.” Rồi quay sang nhiều chuyện với Sở Vọng: “Cô Linzy, con gấu Teddy kia, cậu ta đã nói với cô chưa?”

“Gấu teddy gì cơ?”

Anh ta vỗ vai Tư Ngôn Tang, chào một tiếng với mấy người lính thủy quân đứng ở cửa, sau đó ba người đi thẳng vào trong khoang.

“Bạn bè đi thuyền từ Anh đến đây như chúng tôi đều biết —— ” Neil nói với vẻ rất khoa trương.

“Im miệng.” Tư Ngôn Tang cau mày cắt ngang.

“Mời anh nói tiếp.” Sở Vọng thấy hứng thú, cười bảo Neil nói tiếp đi.

Neil hạ thấp giọng, cười bảo: “Dọc đường cậu ta ôm một con gấu Teddy khổng lồ, có nói gì cũng không chịu cho vào trong vali, cả đường cứ cầm trong tay. Người Anh người Đức người Pháp ở trên thuyền đều biết chắc chắn Tư có một cô bạn gái đáng yêu ở Hương Cảng, bởi vậy những cô gái muốn đến gần cậu ta cũng không được, vừa thấy cậu ta là tránh xa ba mét. Cô đã nhận được chú gấu chứa đựng tình yêu dạt dào của cậu ta chưa?”

Sở Vọng lắc đầu, cười nhìn Tư Ngôn Tang.

Neil càng nói, mặt Tư Ngôn Tang càng đen.

Sở Vọng cười: “Gấu của em đâu?”

“Lúc xuống thuyền mưa to quá. Bị dầm mưa bẩn hết rồi.” Tư Ngôn Tang quay đầu đi, “Anh bỏ trong vali, chắc em không muốn đâu… Nếu em nhìn nó, cũng sẽ cảm thấy xấu cho xem.”

Chương 39: Đảo nhỏ (3)

*Chương này có nội dung ảnh, nếu bạn không thấy nội dung chương, vui lòng bật chế độ hiện hình ảnh của trình duyệt để đọc.

Neil cười lớn bảo: “Để Tư tiếng tăm lừng lẫy cầm suốt dọc đường, đúng là đáng tiếc… Nếu không cần thì cho tôi đi, tôi không chê đâu.”

Sở Vọng mỉm cười: “Tôi đâu nói là không cần.”

Tư Ngôn Tang cụp mắt nhìn thẳng, “Hồi sáng nhìn không rõ, cứ tưởng mưa không lớn.”

Cô nghĩ ngợi, “Phơi nắng một lúc là ổn thôi mà, không xấu đâu.”

“Thật hả?” Lúc này anh mới nhướn mày nhìn cô, “Xin lỗi em.”

Sở Vọng mỉm cười, đang định trấn an anh vài câu, thì chợt thấy vài người sĩ quan được thủy quân ngoài cửa vây quanh đi vào trong khoang, nghênh ngang tiến thẳng một mạch về phía trước. Trong số những người đi vào có giọng Anh pha lẫn giọng Mỹ. Sở Vọng *wow* lên, “Vì sao có cả người Mỹ nữa vậy?”

Neil nói, “Từ thế kỷ trước, đây từng là bến cảng tiếp tế của chiến hạm nhiều nước mà.”

Tư Ngôn Tang nheo mắt nhìn rồi nói, “Là không quân?”

Neil cười đáp: “Một du học sinh đến Mỹ mời vài đại tá không quân đến giảng bài. Có điều hải quân thì chắc chắn vẫn phải là người Anh rồi.”

Sở Vọng mơ hồ nghe thấy một âm thanh khá quen tai, nheo mắt nhìn nhưng không nhận ra là ai. Chợt mấy cô gái người Mỹ đứng cạnh vừa cười to “oh gosh ——” đầy khoa trương, nhấn chìm âm thanh kia đi, rồi bọn họ cùng nhau đi thẳng lên lầu.

Có hai người ở trên lầu thò đầu xuống gọi Neil đi lên, Neil mỉm cười với họ, nói: “Trên đảo chỉ có một khách sạn, sợ là tối nay đã bao phòng hết rồi, không biết còn phòng trống không nữa.”

Nói đoạn, anh ta đi lên cùng với hai người kia, dưới khoang thuyền không còn ai nữa, chỉ có hai người đưa mắt nhìn nhau.

“Không có chỗ ở thì đành đi dạo trên đảo thôi.” Sở Vọng nháy mắt, “Nghe nói có nhà của thầy mo và đá quan tài đấy.”

Tư Ngôn Tang cười: “Lần này Viên Mai đường Hillwood muốn kể chuyện gì cho anh đây?”

Sở Vọng chắp tay sau lưng, xoay lưng về phía anh sảng khoái bước hai bước, bất chợt cô ngoái đầu lại, cầm bật lửa trong tay, khi ngọn lửa phừng lên, ánh lửa nhảy múa trên mặt anh. Cô cười nói: “Chuyện ma!”

Trong lúc anh ngây người, Sở Vọng đã đặt bật lửa vào tay anh, cười nói: “Tặng anh.”

“Của anh?” Anh mở tròn mắt, nhìn chăm chú chiếc bật lửa đồ chơi xinh xắn trong tay, bất giác mỉm cười, “Anh…”

Sở Vọng nhìn vào mặt anh, nhủ thầm: bây giờ vẫn chưa biết hút thuốc à?

Đúng lúc này, lại chợt nghe thấy âm thanh quen tai ở trên lầu truyền xuống: “—— Xin lỗi đã làm phiền, có thể cho mượn lửa không?”

Hai người đồng thời ngẩng đầu lên. Chỉ tháy một người đàn ông mặc áo gi lê màu ám xanh khoác ngoài, quần trắng giày xanh cọ, miệng ngậm một điếu thuốc chưa châm lửa đi xuống lầu. Anh cau mày, có lẽ nghiện thuốc lá rồi. Anh giơ hai tay kẹp lấy điếu thuốc, chỉ vào chiếc bật lửa trong tay Tư Ngôn Tang, hình như thấy là người Trung thì lại dùng tiếng Quảng lặp lại: “Có thể mượn lửa được không?”
Người này cũng trắng y hệt Tạ Di Nhã, thậm chí càng không có sắc máu. Sở Vọng nhìn mặt anh ta chăm chú, rồi đột nhiên cũng thốt ra một câu bằng tiếng Quảng: “Anh là… Coca Cola Watsons kia?”

Người nọ cũng nhìn cô một lúc, sau đó bật cười nói: “Là tôi.”

Rồi anh đứng thẳng người lên, nói: “Tiếng Quảng của em vẫn rất tệ.”

Sở Vọng đáp trả: “Anh cũng không sành sõi tiếng Trung.”

“Thế à.” Anh bĩu môi, “Tôi cho rằng mình đã tiến bộ rất nhiều.” Rồi anh cúi đầu nhìn bật lửa trong tay Tư Ngôn Tang, tán dương: “Đẹp lắm.”

Tư Ngôn Tang nheo mắt, khách khí nói: “Cám ơn. Có điều tôi cũng mới nhận được.”

“Anh cũng hút thuốc?” Tạ Trạch Ích hỏi.

“Có hút.” Tư Ngôn Tang không do dự đáp.

Sở Vọng nhịn không được mỉm cười. Rất muốn nói không cần phải ép mình đâu, nhưng không đành lòng vạch trần anh.

Tư Ngôn Tang tiếp nhận lấy một điếu 555, kẹp vào giữa tay lóng ngóng châm lửa, nhưng châm mấy lần cũng không đỏ. Sở Vọng nhìn ra ngoài, suýt nữa đã không kìm nén được kích động muốn bước đến chỉ điểm. May mà Tạ Trạch Ích cũng nhìn không đặng, mở miệng nhắc nhở trước: “Vừa hút vừa châm.”

Tư Ngôn Tang gật đầu, học theo người ta ngậm thuốc vào miệng, châm lửa rồi hít một hơi —— chợt hốc mắt đỏ bừng, ho khan dữ dội. Sở Vọng đi tới vỗ vào lưng cho anh, trong bụng oán thầm: không biết hút thì đừng cố học làm gì.

Tạ Trạch ích cười nói: “Hút nhanh quá rồi đấy.”
Lúc này thân thuyền đột ngột rung lên, thuyền đã cập bờ rồi. Trên lầu truyền đến tiếng bước chân cùng tiếng vỗ tay hoan hô, tiếng giày cao gót giẫm xuống sàn vang lên liên tục, một cô gái tóc nâu tựa vào lan can, dùng giọng Mỹ ai oán: “Zoe, sắp lên bờ rồi, em muốn ăn hải sản ngoài đường.”

Tạ Trạch Ích nhướn mày nhìn cô nàng, gật đầu nói, “Xuống đây.”

Sau đó hỏi Tư Ngôn Tang: “Lần sau xin lửa, có thể nói cho tôi biết chiếc bật lửa này được làm ở đâu không?”

Không đợi có được câu trả lời, anh đã sải bước rời đi, ôm eo cô gái người Mỹ lên bờ.

Tư Ngôn Tang khó khăn lấy lại sức sau hơi thuốc đầu tiên trong đời dùng sức rít quá mạnh, rồi lúc này mới hỏi, “Ai vậy?”

“Anh trai của một người bạn.” Sở Vọng không biết liệu anh ta có nói với Tạ Di Nhã là thấy mình ở Bồ Đài không, nên không khỏi thấp thỏm.

Lúc này Neil ở trên lầu cũng đã đi xuống, một tay khoác lên vai Tư Ngôn Tang, cùng anh đi nhanh về phía trước, vừa đi vừa cao giọng nói: “Cậu phải cám ơn tôi đấy Tư à. Tôi đã vì cậu mà xin một căn phòng đấy, nếu cậu muốn thể hiện lịch thiệp, thì buổi tối chen chúc với tôi cũng được, nhường căn phòng đó cho quý cô kia ở…”

Mắt Tư Ngôn Tang vẫn đỏ kè, căng thẳng nhìn sang cô. Sở Vọng gật đầu, mỉm cười đi theo bọn họ.

Khách sạn lớn duy nhất trên Bồ Đài nổi tiếng vì hải sản ngoài đường. Ba người chen chúc giữa đám thủy quân ồn ào, ai nấy tự về phòng mình. Sở Vọng thay quần áo bẩn vì dính mưa trên người, đổi sang áo sơ mi trắng và áo dây liền quần. Cô vừa lau khô tóc vừa đẩy cửa ra, thì thấy Tư Ngôn Tang đã chờ sẵn bên ngoài. Sở Vọng ló đầu ra hỏi anh: “Áo quần với giày đã khô chưa?”

Anh lắc đầu.

Sở Vọng ôm ba chiếc áo sơ mi trắng kia đưa cho anh, “Cầm áo vào phòng tắm thay đi, cởi tất ra đưa em.”

Anh nhìn áo rồi lại ngẩng đầu nhìn Sở Vọng, hai mắt đen láy.

Sở Vọng mỉm cười: “Nhìn em như thế làm gì?” Nói đoạn, cô đẩy anh đi vào, “Nhanh đi thay đi, nhân lúc không có ai ở đây.”

Anh ôm áo hỏi: “Thấy thì sao, có thể khiến em gả cho anh sớm hơn không?”

Sở Vọng trợn mắt nhìn anh, anh bật cười đi vào phòng, khép cửa lại.

Khách sạn có chuẩn bị máy sấy cầm tay. Khi hong khô quần và giày cho anh, chợt trong phòng rửa mặt truyền đến: “Hai năm rưỡi lâu quá, nếu sang năm thì tốt biết mấy.”

__

*Chiếc bật lửa được nhắc đến trong truyện, hình ảnh do tác giả đăng.

Chương 40: Đảo nhỏ (4)

Thay áo xong, hai người đi xuống vườn ăn hải sản. Vốn định sẽ trả thêm tiền cơm, nhưng Neil đã giảo hoạt cười nói: “Bọn họ đã chuẩn bị tiền bạc đầy đủ cả, không thiếu phần hai người đâu.”

Tuy có lý do chính đáng ăn cơm, nhưng ai người vẫn tìm một góc trong vườn ngồi ăn. Mà thực tình cũng không thể nói là vườn hoa được: rất nhiều cây bụi thấp bao quanh những tảng đá kỳ dị khổng lồ, mặt sau dựa vào phòng khách sạn, vách núi thẳng ngay biển – không cần đến hàng rào để ngăn cách với bên ngoài làm gì.

Hai người ngồi trong góc, dựa lưng vào tảng đá. Tư Ngôn Tang chậm rãi bóc vỏ tôm hùm, thịt tôm béo ngậy toàn rơi vào đĩa đồ ăn của cô cả. Thỉnh thoảng lại có tiếng nữ cười duyên từ ban công mấy gian phòng liền kề nhau tựa vào triền núi ở phía sau truyền đến.

Trong đó có một cô gái người Mỹ. Có lẽ vì chất giọng thân thiết nên Sở Vọng nghe rất rõ.

Cô ấy nói: “Không biết vì sao lại cứ nhất thiết phải đến hòn đảo này làm gì. Ở Hương Cảng không có bãi biển khác à? Vô vị quá.”

Người còn lại nói: “Ở vịnh Nước Cạn đông lắm. Nghe nói cha của Tse có danh vọng ở đây nên mới đến? Á, Tse đi đâu rồi?”

“Nói là có dì Cát gì đó là bạn của cha, đã mấy năm không gặp nên giờ đang ngồi nói chuyện ngoài kia.”

“Tse đi gặp cha mà không dẫn cô đi cùng à? Con gái da trắng chúng ta đáng sợ vậy sao?”

Mấy người phụ nữ khác cười ha hả.

Có vẻ cô gái người Mỹ cảm thấy ấm ức, im lặng một khắc, rồi bất chợt gọi với xuống lầu: “Tse ——!”

Cách đó không xa là Tạ Trạch Ích và bà Cát đang nằm phơi nắng. Cả hai đều đeo kính râm, ngồi trên ghế đối diện nhau trò chuyện. Tiếng gọi của cô gái người Mỹ đã khiến tất cả mọi người trong vườn đồng loạt ngoái đầu nhìn sang chỗ của Tạ Trạch Ích, cũng hại hai người bọn cô đang ăn tôm hùm dọa giật mình.

Một vị đại tá không quân đi đến gần Tạ Trạch Ích, vỗ ai anh cười nói: “Zoe, còn không mau đi an ủi bạn gái cậu đi.”

Tạ Trạch Ích cười hỏi bà Cát, bà Cát chỉ nheo mắt, sờ soạng rút ra hai điếu thuốc. Còn chưa châm lửa đã gật đầu. Vị đại tá kia ngồi xuống chỗ của Tạ Trạch Ích, đến gần châm lửa cho bà Cát. Bà cũng không từ chối, chỉ cười nhạt với ông ta, bình tĩnh hút hai hơi rồi kẹp điếu thuốc trong tay, ánh mắt lại nhìn sang phía Sở Vọng.

Người đại tá kia cũng nhìn sang đây, sau đó ngoái đầu hỏi bà Cát một câu, bà Cát chỉ lắc đầu chứ không trả lời.

Tôm hùm trong đĩa Sở Vọng ngày càng nhiều, xem ra không thể ăn hết ngay được. Cô cảm thấy thân làm vãn bối, nói gì cũng nên đi chào hỏi trước. Vậy là cô mỉm cười với bà, lau miệng rồi đứng lên định đi tới. Bàn tay cầm thuốc của bà Cát lại hạ xuống, ý bảo cô ngồi xuống.

“Dì ấy là…”

“Là cô út của em, ngày trước trong vườn nhà em ở Thiệu Hưng, anh cũng gặp rồi đấy.”

Tư Ngôn Tang nhớ lại, gật đầu, “Anh lúc đó thế nào?”

“Lanh lợi lắm.” Sở Vọng thấy anh mở to mắt, cười nói: “Bình thường trông anh cũng rất tốt.”

Bà Cát nói với người kia hai câu rồi đứng dậy rời đi. Bên cạnh Sở Vọng và Tư Ngôn Tang có hai binh sĩ đang ngồi, trước đó thấy bà Cát được cấp trên của mình quan tâm nên cũng không dám thất lễ, nịnh nọt gọi người hầu đến thu dọn chén bát ngổn ngang trên bàn rồi mới mời bà Cát ngồi xuống.

Sở Vọng ngoan ngoãn cất tiếng “chào cô út” một tiếng, Tư Ngôn Tang cũng chào y hệt vậy.

Bà Cát nhìn lướt qua anh, hỏi, “Họ Tư?’

Tư Ngôn Tang còn chưa kịp tự giới thiệu thì bà Cát đã cười hừ, “Mấy tuổi rồi?”

Rồi vẫn không cho anh cơ hội trả lời, bà Cát hỏi liền ba câu như bắn pháo, “Tôi nhớ vẫn chưa thành thân đúng không?”
Tư Ngôn Tang cười bất đắc dĩ trả lời, “Phải đợi hai năm nữa ạ.”

“Vậy giờ cậu tìm con bé làm gì? Tuy đã đính hôn nhưng vẫn chưa chắc chắn, nếu hôm nào đó có chuyện xấu, cậu lấy gì ăn nói rõ với con bé?” Bà cát phủi tàn thuốc, mỉm cười hỏi.

“Là cháu không cẩn thận…” Tư Ngôn Tang lễ phép giải thích.

Bà Cát cũng chẳng nhìn anh, quay sang hỏi Sở Vọng: “Có người Trung nào thấy hai đứa không?”

Sở Vọng nghĩ rồi đáp: “Ở trên thuyền có gặp Tạ Trạch Ích.”

Bà Cát à một tiếng, cười nói, “Tên nhóc kia à.”

Lúc này có người hầu đi đến, trang hoàng vườn hoa thành sân khiêu vũ. Đa số khách khứa cũng đã ăn xong, đặt dao nĩa xuống nâng ly uống rượu, số ít những người đang ăn thì đều lui vào trong góc khuất. Tạ Trạch Ích đang an ủi bạn gái ở góc nào đó, nhìn vào vườn hoa cầu khẩn. Bà Cát vẫy tay với anh, anh tức khắc đi đến – dẫn theo cả cô bạn gái với vẻ mặt không mấy tình nguyện.

Tạ Trạch Ích và cô bạn gái kia vừa ngồi xuống, Sở Vọng lập tức mỉm cười chào hai người. Vì cô chào là “anh Tạ”, lại thấy cô gái người Mỹ có vẻ không vui cho lắm, mà cũng không biết họ tên cô ấy là gì, nên cô lại dùng tiếng Anh chào cô ấy là “chị Tạ”.

Chữ “chị Tạ” vừa ra khỏi miệng, cả bà Cát và Tạ Trạch Ích đều im lặng. Cô gái người Mỹ trông tươi tắn hẳn, đâu còn nét u ám như ban nãy, mỉm cười quan sát cô một hồi rồi nhíu mày hỏi: “Em từng đi Mỹ à?”

“Chưa đi lần nào.” Sở Vọng trả lời.

“Chị Tạ” nói: “Phát âm tiếng Anh của em… khiến tôi cảm thấy em đã từng đến.”

Sở Vọng cười nói: “Do có gia sư dạy kèm.”

“Không phải biệt thự nhà họ Kiều mời người Scotland vô dụng kia ư, đổi sang người Mỹ rồi?” Bà Cát nhìn cô, cũng chẳng nghiên cứu sâu mà đi thẳng vào trọng tâm, hỏi Tạ Trạch Ích, “Một đứa du học về không muốn bị người quen thấy, đứa kia cũng không muốn bị người ta bắt gặp mình lén chuồn đi chơi với bạn trai nhỏ, nên mới đến đảo Bồ Đài này. Hai đứa này đúng là tức cười thật đấy.”

Nghe thấy xưng hô “bạn trai nhỏ”, Tư Ngôn Tang vừa mỉm cười thì lại bị bà Cát lườm.
Tạ Trạch Ích nghe vậy, cũng cười bảo, “Vâng, đúng là rất buồn cười.”

Bà Cát liếc xéo Sở Vọng đang uống cocktail, “Cháu tự thương lượng với cậu ta đi.”

Sở Vọng gật đầu, cười nói với Tạ Trạch Ích, “Vậy chúng ta giả vờ như chưa từng gặp nhau nhé?” Cuối cùng cô còn bổ xung thêm, “Nể tình thỏa thuận Coca Cola và xá xị.”

Tạ Trạch Ích mỉm cười, “Dù không nể tình thỏa thuận Coca Cola và xá xị, tôi cũng có thể giả vờ như không biết gì.”

Bà Cát hỏi: “Cậu mời nó uống Coca?”

Tạ Trạch Ích gật đầu, “Có mời một lần, lâu lắm rồi.”

Bà Cát cười cười, “Nếu sau này con bé không cao lên được thì là lỗi của cậu cả đấy.”*

(*Trẻ em uống nhiều nước ngọt có nhiều nguy cơ bị lùn.)

Tư Ngôn Tang nói: “Thế cũng tốt mà, đáng yêu lắm.”

Bà Cát liếc anh, rồi lại nhìn sang Sở Vọng. Sở Vọng cười hề hề, trong lòng thấy ấm ức: mình cũng có lùn lắm đâu!

Tạ Trạch Ích cười bảo: “Dì Cát đã lên tiếng, thế thì sau này tôi cũng không dám nữa.”

“Còn cả cậu nữa.” Lúc này bà Cát mới chịu nhìn Tư Ngôn Tang, “Không được có lần sau, nếu còn có thì cũng phải suy nghĩ cho con bé. Có hai năm mà không đợi được hả? Không biết cha cậu dạy cậu thế nào nữa, chuyện như thế này, tốt nhất đừng để tôi bắt gặp lần nữa.”

Tư Ngôn Tang ăn năn cười đáp, “Sẽ không có lần sau đâu ạ.”

Bà Cát nhìn anh cười, “Lần sau về là thành thân rồi hả? Cậu đừng tưởng tôi không biết cậu nghĩ gì.”

Tư Ngôn Tang mím môi, gật đầu vâng dạ.

Bà Cát hỏi ngược lại: “Lần này cậu về, là vì cha cậu muốn cùng với lão già Lâm Du đến châu Âu dạy học, cho nên về một thời gian rồi sẽ đi cùng bọn họ đúng không?”

“Vâng ạ.”

“Vậy tôi hỏi cậu, nếu Lâm Du nói với cậu là ông ta quyết định dẫn Sở Vọng đi cùng. Thì cậu định trả lời ông ta thế nào?”

Tư Ngôn Tang sửng sốt, sau đó cười nói: “Dĩ nhiên là cháu sẽ chăm sóc em ấy thật tốt.”

Bà Cát bĩu môi không nói gì. Cuối cùng chỉ khoát tay, quay sang hỏi Tạ Trạch Ích: “Chơi mạt chược không?”

Tạ Trạch Ích ôm “chị Tạ” cười nói, “Đi.”

Nhìn theo ba người đi xa, Tư Ngôn Tang thở dài một hơi, hỏi: “Đúng là kỳ lạ, vì sao nói chuyện với cô út của em mà anh còn thấy căng thẳng hơn cả bác trai thế này.”

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau