GIỜ ĐANG NƠI ĐÂU

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước

Chương con truyện Giờ đang nơi đâu - Chương 151 - Chương 153

Chương 150: Ngoại truyện 9: Vương mãi mùi hương (3)

Cô đang định hỏi “vợ anh đâu” thì nhác thấy cửa mở ra, một cô gái tóc đỏ xuất hiện. Cô gái ấy có nước da trắng ngần, tuy mặc quần tây và áo sơ mi nam quá khổ nhưng vẫn cảm nhận được thân hình thon thả bên dưới.

Cô gái chống hông, ôm một chồng quần áo trong ngực, vừa ngẩng đầu lên đã đối mặt với Sở Vọng. Trong khoảnh khắc bốn mắt chạm nhau, cô nàng lập tức ngoảnh đầu bỏ chạy.

Trong căn cứ có nhiều thanh niên, trai gái độc thân lại không ít, nhưng sư nhiều cháo ít, chỉ cần là con gái hơi đẹp chút là sẽ được các quý ngài độc thân ở đây nâng niu cưng chiều, nên đa phần bọn họ đều khá kiêu ngạo.

Sở Vọng biết tên cô gái này, nên dĩ nhiên cũng biết không phải là vợ John. Cô thầm mỉm cười, không khỏi cảm khái anh chàng John này đúng là may mắn, lần đầu tiên đến căn cứ, tham dự party ngày đầu đã ôm được mỹ nhân về.

Nam thanh nữ tú, còn trẻ nên sức khỏe, dễ củi khô đượm lửa, lại đang độ chuyển giao xuân hè… Tiết trời hanh khô, một chữ tình mà, là chuyện bình thường khó tránh khỏi, âu cũng là điều dễ hiểu.

Cô lập tức ngoảnh mặt đi nơi khác, giả vờ đang ngắm nhìn cánh đồng hoa mã tiên trước mặt, coi như tỏ vẻ thân thiện với hàng xóm mới đến.

Nhưng Robert có vẻ không muốn bỏ qua cơ hội chòng ghẹo người mới. Anh ta khép sách lại, nhiệt tình cười nói: “Chào buổi sáng Lilith~”

Lilith khựng lại, rồi tức khắc ôm chồng quần áo bẩn chạy đi.

Đột nhiên gân xanh trên mặt John giật giật

Robert vẫn lớn tiếng hỏi thăm: “Tối qua ngủ có ngon không Lilith?”

Xa hơn về phía trước là khu vực sinh hoạt của những người phụ nữ nhàn rỗi. Ban đầu thì đây chỉ là một phòng trà chiều, dần dần phát triển thành Mensa, café, pub, tiệm may… Gần đây mới mở thêm tiệm chỉnh xương, vì sau khi một giáo sư toán học người Ba Lan làm việc mệt nhọc được một thầy thuốc Đông y nổi tiếng trong bệnh viện xoa bóp cho, anh ta liên tục khen hiệu quả thần ký, thế là khuyên bạn bè nên đến gặp ông cụ này để điều trị. Từ đó thầy thuốc già trở nên bận rộn, đành phải xin viện trợ từ bên ngoài. Mới đầu các quan chức Anh Mỹ không muốn tiêu tiền vào người thầy thuốc này cho lắm, nhưng số người thỉnh cầu cứ ngày một tăng. Vì để tiết kiệm chi tiêu cộng thêm được thầy thuốc giới thiệu, bọn họ mời ba đại phu châm cứu từ Tứ Xuyên đến, bác sĩ da trắng trong bệnh viện không đồng ý, sĩ quan, kỹ sư và các bà trong trụ sở bèn dựng lên một nhà kho nhỏ cho bọn họ, ngày hôm qua mới mở cửa, hai ngày nay người đến vô cùng nườm nượp. Cô vẫn chưa có dịp qua đó, vừa hay hôm nay Tạ Trạch Ích đi khỏi, nên tính chiều nay tan làm sẽ qua nhìn xem sao.

Có không ít công nhân và thợ máy được mời đến có thói quen dậy sớm, nên các cô các chị ăn sáng xong thì cùng kéo đến phòng giặt ủi để giặt quần áo. Mới hơn tám giờ, mọi người lục tục đi ra, Lilith nhanh chóng biến mất giữa dòng người.

Ba người đi tới bên ngoài Mensa, John thuận tay mua một túi bánh phô mai.

Sở Vọng chợt tò mò hỏi: “Đàn ông độc thân trong trụ sở phải hơn ba ngàn người, khoảng trên dưới hai mươi tuổi; nhưng tổng số phụ nữ độc thân chỉ hơn sáu trăm người, mà lại rất khó xin ra ngoài, không biết bình thường bọn họ giải quyết thế nào nhỉ?”

Bình thường hai người họ nói chuyện rất vô tư, Oppenheimer không do dự tiết lộ bí mật phái nam với cô: “Mỗi người đàn ông trước khi vào căn cứ đều được cho biết, có thể xin quân đội thuốc để ‘hạ hỏa’. Có phải không John?”

Bị con gái hỏi bất ngờ về vấn đề riêng tư, John chỉ biết ho khan hai tiếng rồi gật đầu cười trừ.

“Thiến hóa học ngắn hạn.” Cô trầm ngâm, “Nhưng chỉ rất ít người thôi đúng không?”

“Theo anh biết thì chỉ có ba người.”

“Còn số khác thì sao?”

“Ở sâu trong vùng đầm lầy cách căn cứ W mấy chục km, quân đội đã vô cùng tốt bụng dựng một nhà khác ở đó, bên trong là các cô gái không rõ lai lịch đến từ nhiều quốc gia khác nhau, màu da cũng bất đồng, bọn họ thường túm tụm đi đến các thị trấn gần đó, không ít người từng gặp rồi. Hôm trước một người rửa xe có nói, trước khi vào căn cứ anh ta đã gặp vài người trong số các cô gái đó, bọn họ nói khách của họ đều là những người đàn ông da trắng và Trung Quốc vóc dáng rắn chắc, thường mang theo súng.”

“Còn nhóm kỹ sư kia?”

“Cứ đúng bảy giờ tối sẽ gửi đơn vào hộp thư đàn ông độc thân.”

“Phì.”

Cô không kìm được bật cười —— nhân văn cao độ và thói quan liêu gộp lại với nhau như thế thì chắc chắn là phép tắc của người Anh rồi, khắp căn cứ này chỉ sợ không ai biết rõ hơn người trong nhà cô.

Robert còn sợ thiên hạ chưa đủ loạn: “Tạ chưa bao giờ kể cho em biết à?”

Cô còn chưa kịp trả lời thì nghe thấy ở tiệm chỉnh xương cách đó không xa truyền đến tiếng hét thảm thiết. Ba người nheo mắt nhìn: mấy người da trắng tin vào Trung y đã tranh thủ dậy sớm nửa tiếng đến thả lỏng cơ bắp đi ra, ở cuối hàng chính là Fermi.

Thấy John có vẻ muốn chào anh ta, Sở Vọng vội nói xen vào: “Nghe nói gần đây anh hay đem theo chuyển “Sơ huyệt học”.”

Fermi lấy từ trong túi áo ra cuốn sách đã vàng trang, giơ lên khoe khoang như đang khoe sách võ quý báu, “Châm cứu có hiệu quả với người da trắng.” Thấy Robert bĩu môi thì hỏi: “Không phải gần đây cậu cũng đọc “Đạo Đức Kinh” sao?”

Robert không cho là đúng: “Đây là bộ sách triết học siêu kinh điển nhất.”

Thấy mấy ông lớn trong giới Vật lý bắt đầu tôn sùng ‘bàng môn tà đạo’, cằm của John suýt nữa rơi xuống đất.
Hai người cứ thế đấu võ mồm bằng trình độ tiếng Trung cấp sáu ở trường đại học. Robert quay sang hỏi Sở Vọng: “Đối với một người bạn nước ngoài có trình độ tiếng Trung nhất định, em sẽ giới thiệu cho người đó “Đạo Đức Kinh” hay sách Trung y?”

Sau một lúc suy ngẫm, cô trả lời: “Em cũng không rõ nữa.”

Cô thật sự lấy làm xấu hổ.

Hai người không chịu tha cho cô, một trái một phải nhìn cô chằm chằm, cuối cùng cô đành hàng: “Không đề cử sách nào hết. Nếu bạn bè đọc sách mệt thì chắc là em sẽ giới thiệu tiệm mát xa.”

Fermi mỉm cười.

Robert nhìn cô chằm chặp, sau đó quay đầu đi giả vờ như không có chuyện gì: “À… Enrico à, anh biết không, cặp vợ chồng được hâm mộ nhất trong căn cứ chúng ta ấy, thế mà người chồng chưa bao giờ nói cho cô vợ biết tin gì về ‘bí mật phái nam’ đấy.”

Femi hứng thú: “Ồ…?”

Gần đây, mọi người trong tiểu tổ còn hứng thú với đời sống hôn nhân của cô hơn là nghiên cứu của bản thân. Chỉ vì mâu thuẫn nội bộ trong phòng thí nghiệm, thời gian và địa điểm thử nghiệm vụ nổ của tổ I đều phải xin phép quân đội, mà thủ tục lại rất phức tạp, đợi phê duyệt tầng tầng, mà kết quả của việc chờ đợi thời gian dài có khi chỉ là: không được chấp thuận.

Căn cứ W cũng không chỉ có mỗi tiểu tổ bọn họ, nhưng hai bên chỉ thấy một lượng nhỏ dữ liệu được chia sẻ với nhau. Vì thử nghiệm nổ mãi không được phê chuẩn, lúc có tài liệu mới hay nguyên liệu quý đưa vào thì cũng không thể nào nhận được đầu tiên. Không chỉ khiến số liệu của bọn họ tụt sau so với các tổ khác, mà thậm chí khi đến khu vực công cộng, còn hay bị các tổ viên khác vô cớ xem thường vì “vô năng”.

Quy tắc yêu cầu quân đội và kỹ sư phải giữ kín bí mật công tác hằng ngày, với cô và Tạ Trạch Ích thì lại càng thêm nghiêm ngặt. Lần trước Boulon tặng Tạ Trạch Ích vali là để anh âm thầm tháo rời hoặc lắp ráp máy nghe lén – đề phòng đồng hồ bỏ túi bị nghe lén. Mới đầu chống nghe lén chỉ dùng vào những “khoảnh khắc tuyệt đẹp”. Nhưng một ngày nào đó sau khi làm chuyện ấy, cô vô tình tiết lộ tình cảnh khó khăn của tổ I với anh, anh nghĩ ngợi rồi nói với cô là có lẽ anh có cách.

Đúng là anh rất giỏi khoản này. Về sau mỗi lần thí nghiệm nổ đều được quân đội phê duyệt đúng lúc, thông báo phê duyệt cũng được đưa đến kịp thời.

Đáng tiếc làm gì có chuyện bánh ngon từ trên trời rơi xuống. Trong lúc đề phòng nghe lén, mỗi khi cô mở lời xin anh ưu đãi, Tạ Trạch Ích gần như luôn đồng ý, song sau đó lại ghé vào bên tai cô dịu dàng hỏi: “… Vậy em định báo đáp anh thế nào đây?”

Dần dà, ai ai cũng biết đây là công lao của Tạ Trạch Ích, đương nhiên cũng biết là ai thổi gió bên gối.

Hai người bên cạnh đang lảm nhảm chuyện của cô và Tạ Trạch Ích, còn cô giả vờ nghe không hiểu.

Đi bộ đến ngã ba giữa phòng thí nghiệm và khu vực thử nghiệm nổ, cô nghĩ ngợi rồi nói: “Các anh về phòng nghiên cứu thì cứ từ từ nói chuyện, em tới chỗ thành lũy xem thế nào.”

Fermi muốn đưa người mới đến làm quen với công việc của mình. Còn Robert có hơn 10 kỹ sư và hơn 20 tính toán viên dưới trướng, thế nên cũng không thoát thân được, thế là cô đành tự mình đi bộ một km đến pháo đài hạng nặng số hai.

Cao nguyên ở độ cao gần ba ngàn mét so với mặt nước biển, dù đang vào cuối xuân thì mặt trời nơi hoang dã vẫn rất độc, huống hồ là pháo đài số hai xây vùng hoang dã sa mạc 14 km, gió cát mạnh gần như tồn tại đồng thời. Đi ra ngoài tính toán đo lường đúng là rất vất vả, người da trắng lại dễ bị cháy nắng nên hầu như không ai muốn làm công việc này. Còn cô thì lại rất thích, chủ động xin mỗi tuần một ngày ra bên ngoài đo đạc.

Về sau có mấy nhân viên tính toán xin nghỉ rời đi vì đủ lý do, nữ kỹ sư duy nhất cũng đã bị mắc bệnh về da ở mức độ nhẹ do cháy nắng vào tuần trước. Cô không dễ bị rám nắng, cũng khó bị cháy nắng, thế là đành ôm phần việc của ba người về mình.Thỉnh thoảng cô lại quên mang theo dù che gió, gió lại rất mạnh, mà nếu dương dù lúc ghi chép trên giấy thì lại rất khó khăn. Thế là đồng nghiệp ở phòng làm việc đã đồng tâm hiệp lực dựng dù che nắng cùng ghế mây nhỏ ở chỗ pháo đài số hai cho cô, cán dù và ghế dài hơn bình thường từ ba đến bốn feet, phần lớn bộ phận được cắm lún sâu xuống đất cát để không bị gió thổi bay, mà bộ phận trên mặt đất cũng sẽ không bị cát chôn.

Pháo đài hạng nặng số hai cách trung tâm thử nghiệm nổ 14 km, pháo đài hạng nặng số một cách 7 km so với ở đây, cách trung tâm vụ nổ là 7 km, tất cả đều cao bốn mét và tường lũy dựng hình vòng cung. Tuy nhiên ở đây chỉ tiến hành thí nghiệm nổ bình thường “tương đương với vụ nổ hạt nhân”, chứ không có “vụ nổ ném bom” thực sự. Chỉ sau khi thử nghiệm vụ nổ thành công, ở Bắc sa mạc cách đó hàng ngàn km mới có thể căn cứ vào kết quả thí nghiệm lần này để xây dựng pháo đài thực sự.

Cô phủi cát trên ghế mây, ngồi nguyên ngày trong pháo đài số hai. Khi mặt trời xuống núi, John cầm theo nước trái cây ướp lạnh và dù đi đến, nói là buổi chiều không có chuyện gì, bên ngoài đưa báo số mới vào, Fermi bảo anh ta lấy đưa đến cho cô, thuận tiện đi thăm thú phong cảnh sa mạc bên này.

Cô cười nhận lấy nước trái cây, nhưng mới nhấp hai hớp đã cau mày hỏi: “Sao lại là nước khổ qua?”

John cười nói: “Bọn họ bảo uống thứ này đẹp da.”

Cô ảo não không thôi, thật sự khó hiểu, “Ở đây thiếu gì chứ đâu có thiếu trái cây, vì sao lại cứ phải là khổ qua?”

Người mới chỉ biết bắt chuyện: “Ở đây gì cũng không thiếu, chỉ thiếu tin tức.”

Vị đắng trong miệng cô mãi chẳng tan biến, chỉ muốn kéo kẻ cầm đầu ra ngoài đánh một trận.

John lấy tờ báo ở trong áo ra: “Bọn họ dặn tôi nhất định phải đưa báo cho cô…”

Tin tức bên ngoài đưa vào thì nhất định sẽ vào tay cô đầu tiên, đây là quy định ăn ý không cần nói rõ giữa cô và Tạ Trạch Ích.

Cô lau tay rồi nhận lấy tờ báo, dù là báo tiếng Anh hay phồn thể thì sẽ luôn đọc nhanh một lần.

Không có “lần vây quét thứ ba”, không có vũ trang phản Tưởng, đường sắt Nam Mãn và Bắc Đại Doanh vẫn bình yên.

Gandhi bị cầm tù, Alessia cũng bay tới Iceland; nhưng đến tận bây giờ người Nhật vẫn chưa thử chiếm lấy chính quyền Mãn Châu và Mông Cổ, cũng không xâm nhập vào Thượng Hải, vì vậy sẽ không có sự kiện Phụng Thiên ngày 18 tháng 9 hay sự kiện Thượng Hải 28 tháng 1.

Nhưng chuyện chưa xảy ra không có nghĩa là không xảy ra, nên cô vẫn giữ thói quen cảnh giác và đọc tin tức càng sớm càng tốt. Có điều tâm trạng lúc này của cô không tệ, quyết định hôm nay sẽ tan ca sớm.

John ngạc nhiên: “Đọc nhanh vậy?”

Cô không đọc toàn bài mà chỉ lọc những từ mấu chốt, nên dĩ nhiên phải nhanh rồi.

Hai người bước xuống pháo đài đi ra ngoài, tới khi trở về căn cứ thì mặt trời đã khuất núi.

Đi bộ tới bên ngoài cửa hàng vật lý trị liệu, cô bất ngờ quay sang hỏi John: “Anh cũng cảm thấy nhà ở tạm cách âm rất kém đúng không?”

Rõ là John không ngờ rằng cô sẽ hỏi câu hỏi này, không kiềm được đỏ mặt: “Tôi xin lỗi… Tôi mới đến căn cứ ngày hôm qua nên hơi phấn khích. Uống rượu ở câu lạc bộ tới ba giờ sáng, đến lúc về phòng thì đã say mèm… Lần sau tôi sẽ ghi nhớ chú ý.”

À, thì ra tối qua anh ta không nghe thấy.

“Không sao, nhân chi thường tình mà, thông cảm cho nhau là được,” cô mỉm cười xảo quyệt, “Anh về thẳng nhà luôn hay là?”

“Tiến sĩ Fermi bảo tôi quay lại phòng thí nghiệm tìm anh ấy.”

Cô suy nghĩ một lúc, “Thế, anh có thể làm giúp tôi một việc được không?”

“Chuyện gì?”

“Xin anh ấy cho tôi mượn cuốn “Sơ huyệt học” một đêm.”

John ngạc nhiên: “Sao ai cũng tin vào nó vậy, thật sự hữu dụng sao?”

“Tất nhiên rồi.” Cô mỉm cười để lộ hàm răng trắng tít tắp, “Rồi anh cũng sẽ sớm biết thôi… thật sự hữu dụng lắm đấy.”

Chương 151: Ngoại truyện 10: Vương mãi mùi hương (4)

Đất trồng trọt trong căn cứ được bao quanh bởi hàng rào, bên trên có cắm mấy bảng hiệu bằng gỗ. Sau khi xin được thì treo thẻ tên lên đó, như vậy có thể trồng bất thứ gì mình muốn ở trong. Cô cũng dành thời gian xin một miếng đất nhỏ, trồng rau cải giữa hai thửa vườn hồng, đến giờ đã mọc cao. Bốn giờ chiều, bà Michelle mang một túi xương sườn đến, thế là trên đường về cô thuận tiện nhổ hai củ cải và ngắt một giỏ rau muống, về tới nhà thì rửa sạch củ cải và xương sườn, cho cả vào nồi đun… Mắm tôm là do bà Cát gửi đến, lại hái ít rau muống đợi Tạ Trạch Ích về thì bắc nồi.

Đây là hai món mà cô tự thấy mình làm tốt, còn về phần có ăn được không… thì lại là chuyện khác.

Ngày trước phía bên kia căn nhà là một khu rừng nhỏ, một vài cây bạch đàn to lớn mọc ở bên ngoài, vừa hay làm cây che nắng phủ bóng râm lên ban công nhà họ. Thế là Tạ Trạch Ích tìm một sợi dây bện thành võng cột vào giữa hai thân cây. Có một lần cô thấy anh bện thừng —— năm lần nút thắt đi qua vòng mắt cá, thêm năm lần quấn quanh nút đồng tiền bện trước đó, các bước rất phức tạp, cô nhìn mà hoa cả mắt. Kết quả là chiếc võng vừa chắc chắn lại rất đẹp, thế là cô lại la hét đòi anh dạy, có điều chẳng mấy chốc lại quên ngay.

Bên ngoài võng là hàng rào tre, đi ra ngoài nữa là một con đường, lái xe về khu nhà chắc chắn phải đi qua nơi này. Thế là cô ngồi trên võng đối diện đường, suy nghĩ về cuốn “Sơ huyệt học”. Mấy chục trang đầu toàn là sơ đồ huyệt vị chằng chịt trên cơ thể nam giới. Cuốn sách rất cũ, hình như người thời ấy không ngại vẽ bộ phận tình dục của nam khỏa thân trong sách vở, đến khi tới thời đại này thì người ta lại thấy xấu hổ, vậy là dùng mấy miếng giấy nhỏ dán lên các vị trí đó, rồi dùng bút máy ghi chú thích về huyệt vị và chức năng, đúng là càng sống càng không bằng trước.

Càng không muốn cho cô xem thì cô lại càng muốn xem. Dựa vào tâm lý ngược này, chút ít tinh lực còn lại của cô chỉ dùng để nghiền ngẫm về sáu huyệt đạo ở bộ phận bị che trên sơ đồ, chỉ mấy phút đã thuộc làu.

Qua một lúc sau, ánh tà dương chiếu rọi, sách mở ra đặt ở trước mặt, lúc đang thiu ngủ thì bên hàng rào truyền đến tiếng cười nói của các cô gái trẻ.

Ngôi nhà của họ nằm ở cuối khu, bên cạnh có mảnh đất trống nên thông gió tốt, lại có nhiều cây thưa thớt thưa thớt, do đó có người đã chăng dây giữa các cây để phơi quần áo. Người sau cứ thế làm theo, dần dần trở thành nơi phơi quần áo ở khu này.

Có nhiều người mới đến đêm qua nên xem ra không dùng đủ dây phơi, thế là các cô gái đã xinh binh sĩ mấy sợi dây thật dài; nhưng thân cây thích hợp thì lại quá dày, các cô gái sức yếu, không thể buộc chặt dây được. nghe bọn họ ồn ào một trận, cô quyết định đi ra xem sao, nếu John về thì có thể nhờ anh ta làm anh hùng cứu mỹ nhân.

Đang tính đứng dậy thì nghe thấy một cô gái nói bằng tiếng Anh: “Đến rồi kìa!”

“Ai?”

“Người mặc áo sơ mi màu đen á!” Cô gái muốn miêu tả rõ ràng hơn nên bổ sung: “Anh ấy cao lắm mà! Sao các cô không phát hiện ra thế?”

“Ừm, rất cao, có phải không Kiều?”

Cô gái nói: “Các cô nghĩ gì vậy? Gọi người qua đường tốt bụng đến giúp thôi mà!”

Mấy cô gái cười lớn: “Nhờ người đến giúp mà cô đỏ mặt làm gì?”

Một người trong đó cao giọng nói: “Không chỉ cao —— mà còn —— cực kỳ —— điển trai ——”

Kiều nổi giận nói nhỏ: “Trời ạ, các cô im miệng giúp tôi đi! Tôi chỉ hy vọng anh ấy không giỏi tiếng Anh!”

Xuyên qua khe hở hàng rào, Sở Vọng trông ra ngoài, vừa lúc thấy người đàn ông nhà mình cắp dưới cánh tay thứ gì đó hình tròn to bằng quả bóng rổ đi qua dây phơi quần áo.

Tạ Trạch Ích cũng rất phối hợp làm như không biết tiếng Anh, đi qua sau lưng các cô gái tiến thẳng vào nhà.

Nhưng một lúc sau, anh đột nhiên dừng bước rồi đi vòng lại.

Thấy anh quay lại, mấy cô gái đột nhiên ồn ào, trêu ghẹo Kiều mặt mũi đỏ bừng. Anh đi đến, nói một tràng thứ tiếng Anh bồi không biết học từ đâu ra, lấy lý do xin dây thừng nhân tiện thay mọi người buộc dây phơi, tức khắc khiến các cô gái vui vẻ, Kiều xấu hổ tới mức nhanh chóng biến mất.

Nhóm các cô gái đã phơi đồ xong thì cũng tản đi.

Cô nằm trên võng giả vờ ngủ, lén nhìn ra ngoài qua mép sách.

Có cơn gió chầm chậm thổi qua, những tấm khăn trải giường sặc sỡ bay phấp phới trên sợi dây phơi. Anh đang mặc trên người chiếc áo sơ mi màu đen mùa hè mà chính cô đã tự tay làm từ áo khoác đen, mục đích chính là mát mẻ, cộng thêm tư lợi của riêng mình, áo sơ mi thiếu đi ba nút trên cùng, lúc này anh mặc vào cô mới phát hiện: chỉ một chữ V cạn mà đã để lộ xương quai xanh và bắp thịt ở lồng ngực.

Kỹ năng may không tệ, người đàn ông cũng rất điển trai, thực không tệ.

Càng đến gần, cô mới thoáng thấy thứ anh kẹp trong tay là trái dưa hấu vừa to vừa tròn.

Anh dừng chân trước hàng rào, không cử động cũng không nói gì.

Cô chỉ thấy được quần anh, không biết anh đứng cạnh mình làm gì, không hiểu sao trong lòng lại sợ hãi.

Rồi anh bất chợt cúi người…

Cô loạng choạng, suýt nữa đã ngã xuống khỏi võng.

“Anh làm gì thế?”

“Ai?”

“Anh.”

“Đã đuổi người không liên quan đi hết rồi, chẳng lẽ không thể nhìn vợ anh ngủ sao?”

Ban nãy cô không biết vì sao anh lại thay đổi ý định, thì ra thấy cô đang ngủ trong sân, sợ bọn họ làm ồn.

Tạ Trạch Ích một tay cầm dưa một tay cầm dây, trong miệng ngậm một điếu thuốc, nhìn cô mỉm cười.

Mọi sự chú ý của cô đều bị điếu thuốc kia thu hút, hỏi: “Anh bắt đầu hút thuốc lại từ bao giờ vậy?”
Anh cúi đầu, ậm ờ nói: “Ngậm cho đỡ nghiện thôi.”

Điếu thuốc trên môi vẫn chưa châm lửa, đúng là chỉ ngậm cho đỡ nghiện. Anh cụp mắt, cảm xúc rối loạn viết rõ trên mặt, nhưng giọng nói lại vô cùng dịu dàng.

Cô nhìn mà vừa buồn cười lại vừa đau lòng. Mấy năm gần đây đầu lọc vẫn chưa phổ biến ở ngoài châu Âu, muốn mua được thuốc lá có đầu lọc ở Viễn Đông quả thực là chuyện viển vong. Cô là người từng trải, đã nhìn nhiều quảng cáo ung thư phổi ở đời sau lắm rồi, thực sự rất đáng sợ. Cô vẫn muốn sống cùng anh đến thế kỷ XXI, đến lúc đó còn có thể đi du lịch vòng quanh thế giới. Mà hiện tại mới chỉ đầu thế kỷ XX, nên chỉ muốn anh cai thuốc trước.

Thấy cô không nói năng gì, Tạ Trạch Ích biết nhất định trong cái đầu kia lại nghĩ chuyện lung tung, thế là hỏi bâng quơ: “Tối nay có canh à?”

Cô hoàn hồn, “Đợi lát nữa mới uống được.”

Anh ừm một tiếng rồi đi vào nhà.

Cô đứng ở cửa, thấy anh bổ quả dưa ra làm hai, cắm hai cái muỗng lên mỗi nửa, sau đó ngoái đầu lại vẫy tay với cô. Cô lập tức đi vào nhà, ngoan ngoãn ngồi xuống cạnh anh.

Hoàn toàn không có chất quý tộc theo cách ăn uống tiêu chuẩn ở thế kỷ 21 chút nào, người đàn ông thời đại thực dân tên Tạ Trạch Ích này đã bị cô đồng hóa thành nửa người hiện đại rồi.

Chỉ chớp mắt mặt trời đã khuất bóng. Khí hậu khô ráo, dưa hấu mỏng vỏ mọng nước, mỗi người ôm một nửa trái dưa ăn, vừa giải nóng lại thỏa mãn.

Canh đã nấu sắp được ba tiếng rồi, nước sôi trào ra cả nồi, quay đầu lại nhìn thì thấy anh đã nằm ngủ trên ghế sofa. Cúc áo cởi phân nửa, còn chưa cởi hết đã mệt đến mức ngủ gục. Lồng ngực trơn bóng lộ ra phập phồng lên xuống, gân cốt trên cánh tay nổi lên cuồn cuộn.

Bưng bữa tối lên bàn, thấy anh ngủ ngon quá, cô không nỡ gọi anh dậy.

Ghé sát vào anh, ngắm nhìn gương mặt say ngủ của anh.

Dưới đèn sợi đốt, làn mi bé nhỏ như in dấu trên mặt, trông ngây thơ đến nỗi khiến cô cảm thấy, nếu bây giờ mình mà hôn trộm anh thì tức là đang phạm tội nào đó.

Cô đang xuất thần ngắm nhìn thì đột nhiên bị anh duỗi tay kéo một cái, cả người đổ rạp xuống mình anh. Tạ Trạch Ích cựa quậy, ôm cô thay đổi tư thế, thoải mái thở dài.

“Đánh thức anh hả?”

“Mới dậy thôi. Nằm mơ thấy ác mộng.”

“Mơ thấy gì?”

“Hồi mẹ còn sống, bà chưa bao giờ nói cho anh biết chữ ‘chính’ trong A Chính có nghĩa là gì. Năm anh lên 6 thì bà qua đời, trong một lần về Hương Cảng, có người tưởng anh không biết tiếng Trung, ở ngay trước mặt mà nói ‘cha là tư sản mại bản, là quân bán nước vơ vét khi quốc nạn, cho nên chữ Chính này là chữ ‘chính’ trong cụm ‘cải tà quy chính’.”

“Thì ra anh không thích người ngoài gọi mình là A Chính là vì lý do đó hả?”

“Ừ.” Anh cười, “Trước năm 6 tuổi anh tưởng cha không quan tâm mẹ là lỗi của mình, chỉ cần vâng lời hiếu thảo thì có lẽ sẽ có ngày cha hồi tâm chuyển ý; về sau anh là con của Comprador, tội ác tày trời, theo em anh phải làm gì thì mới có thể cải tà quy chính đây?”

Cô chợt nhớ lại ngày trước, mỗi lần hỏi cha mẹ nghĩa của chữ “Trí” thì luôn nhận được câu trả lời là: “Quân tử dĩ trí mệnh toại chí”, chỉ là giấc mơ mà thôi, nhưng cô lựa chọn tin vào nghĩa này.
Cô khẽ gọi, “A Chính.”

Anh thấp giọng đáp, “Ừ.”

“Có những lúc đến người đặt tên cũng không biết vì sao lại chọn cái tên đó. A Chính là A Chính, chữ Chính (正) nét nào cũng thẳng, không bao giờ xiên xẹo, nên không có tà để mà phải cải…”

Thấy cô nói chuyện nghiêm túc như vậy, Tạ Trạch Ích cười xoa tóc cô, ôm cô ngồi xuống.

Cô thấy có một nút thắt trên ghế sofa bên cạnh anh, thì ra anh đang thắt nút trước khi ngủ thiếp đi.

Một vòng lại một vòng, vòng nào cũng tròng vào nhau, cô tò mò hỏi: “Đây là nút thắt gì vậy?”

“Thập toàn.”

“Trông giống đồng tiền nhỉ.”

“Ngụ ý là thập toàn thập mỹ.”

Nghe anh giải thích như thế thì cô mới đột nhiên hiểu ra, nôn nao muốn thử.

Nhưng rất rõ ràng, cô không hề có thiên phú về mặt thủ công.

Tạ Trạch Ích kiên nhẫn chỉ dạy: “Đầu tiên là thắt năm nút đôi, sau đó làm như thế này…”

Mới đầu cô còn lắng nghe rất nghiêm túc, nhưng dần dà mọi sự chú ý tập trung cả vào những ngón tay thon dài đang linh hoạt đan dây.

Một khi cô đã thất thần thì nhất định sẽ nghĩ lung tung.

Cô bấm bụng mỉm cười: “Ồ —— ra là thế, để em thử xem.”

Ngón tay lập tức nắm lấy sợi dây, cô giả vờ vô cùng nghiêm túc, nhưng lại quấn dây từng vòng từng vòng lên tay anh.

Tạ Trạch Ích nhìn nút chết buộc ở hai tay mình, chậm rãi cười hỏi: “Em làm gì thế?”

Cô quỳ gối bên người anh, khom lưng kéo hai đầu sợi dây, sau khi xác nhận anh không cởi được thì mới hài lòng, nhìn từ trên xuống cười lộ cả răng: “Không làm gì cả. Hoạt động chút trước khi ăn thôi.”

Tạ Trạch Ích ngẩng đầu nhìn cô, nở nụ cười mong đợi bị làm thịt. Quần áo xộc xệch, hai tay bị trói gô không đẹp lắm, phối hợp thêm vẻ mặt đó của anh nữa, cứ như thể đã bị cô làm nhục vậy.

Cô quyết định thử trước, đặt một chân anh lên đầu gối, uốn cong khớp ngón trỏ, dò dẫm tìm đến vị trí của huyệt Dũng tuyền.

Anh không nhúc nhích.

Cô ngẩng đầu nhìn anh, ấn mạnh lên trên thăm dò.

Tạ Trạch Ích khẽ chau mày, bị cô kích thích đột ngột làm khẽ rên lên.

Cô cười hỏi: “Thoải mái không?”

Tạ Trạch Ích cười cười nhìn cô.

Cô nhảy xuống ghế, mở cuốn sách nọ ra nghiêm túc nhìn qua, miệng lẩm bẩm: “Trung đình, Thần khuyết, Hội dương, Cổ môn…” Rồi ngẩng đầu nhìn anh, mỉm cười đọc thuộc lòng: “Thừa phù, Đốc mạch, Túc ngũ lý, Nhân mạch…”

Tạ Trạch Ích hỏi: “Là những chỗ nào?”

Cô cúi người: “Muốn biết không?”

Anh gật đầu, “Có.”

Cô nói tiếp, “Cách âm không tốt đâu.”

“Không muốn để người khác nghe à?”

“Ừm.”

“Vậy làm thế nào đây.” Anh ra chiều khó xử, trên mặt mỉm cười, cố ý hỏi, “Nhẹ thôi nhé?”

Chương 152: Ngoại truyện 11: Cynphia Sachs

*Chương này có nội dung ảnh, nếu bạn không thấy nội dung chương, vui lòng bật chế độ hiện hình ảnh của trình duyệt để đọc.

Trước khi tôi biết trên đời này có một thế giới rộng lớn như vậy, và anh đã có danh tiếng lẫy lừng trong thế giới mênh mông đó, thì tôi đã thuộc về anh rồi.

Cha từng là thương nhân giàu có, do vậy các anh trai chị gái cũng có cuộc sống dư dả. Nhưng về sau cả nhà bọn em phải trốn từ Salzburg đến Den Haag. Trong quá trình di chuyển lần này, bọn em đã mất nhà cửa, tất cả tài sản và cả người giúp việc. Em mất piano, gia sư và váy múa ba lê. Bà nội và mẹ em đã vất hết dây buộc tóc và váy vóc của em với các chị, bọn em còn bị cắt ngắn tóc như con trai, bị buộc phải mặc quần áo của các anh chạy trốn. Em với chị nói với mẹ: Người Aryan* thượng đẳng sẽ không có hứng thú với người Do Thái đâu, nếu không kết cục của bọn họ sẽ tệ hơn cả chúng ta. Tiếc là mẹ không nghe bọn em giãi bày. Cho đến khi thuận lợi tới thành phố Den Haag ở Hà Lan, mẹ mới bắt đầu ủ rũ. Vì đã một thời gian dài nhà bọn em không có tiền mua sắm đồ mới.

(*Một nét đặc trưng nổi bật của Đức Quốc Xã là vấn đề phân biệt chủng tộc, đặc biệt là bài Do Thái. Các dân tộc German (chủng tộc Bắc Âu) được cho là chủng tộc Aryan thuần khiết nhất, do đó là chủng tộc thượng đẳng. Hàng triệu người Do Thái và các nạn nhân khác, bất kỳ ai mà Đức Quốc xã cho là đáng ghét, hạ đẳng, đã bị khủng bố và tàn sát trong cuộc diệt chủng Holocaust.)

Ngay từ đầu cảnh túng bần này khiến em vừa xấu hổ lại vừa khó chịu, vì khi đó em đã 14 tuổi rồi; nhưng em cũng lấy làm may mắn, vì vào năm mình 14 tuổi đó, người giúp chúng em trốn thoát là một người cực kỳ cực kỳ đặc biệt trên thế giới này.

Nói cho đúng là một người đàn ông trưởng thành rất đặc biệt.

Trải qua chặng đường hơn một ngàn km, bọn em đã thay đổi bảy phương tiện giao thông, bị tin tức phía trước truyền tới dọa sợ không thôi. Lúc rời khỏi Bretton đến Wildt, cả nhà em đã đi qua Liechtenstein, Thụy Sĩ, Pháp, Luxembourg và Bỉ, vòng qua toàn bộ nước Đức, tới khi sắp sửa tiến vào biên giới Hà Lan thì bọn em chỉ có thể ngủ trên một cỗ xe đông đúc chật chội, thậm chí có người còn không thể nằm dài.

Màn đêm sắp buông, chị hai trùm chăn khóc nức nở. Chị nói đã đi qua năm quốc gia mấy chục thành phố, đi trên đường mà chẳng có một người đàn ông nào nhìn mình, một lần cũng không! Em mới an ủi chị là ít nhất cũng không phải cạo trọc đầu như người bị rận. Chị ấy nghĩ rồi lại khóc tiếp. Chị ấy nói, không mua nổi nội y, kiểu gì bọn em cũng sắp trở thành đàn ông thực thụ.

Chị lớn thì không nói gì. Chị ấy đã như vậy lâu lắm rồi. Chỉ có em biết chị đã mãi mãi mất liên lạc với người mình yêu, có lẽ đây cũng là cách tốt nhất, bởi vì người đàn ông tuấn tú đó là một sĩ quan SS*. Bọn em căm thù anh ta đến tận xương tủy, nên em cũng không thể an ủi chị ấy được. Em quấn chặt chăn rúc vào trong vách tường, chừa chỗ trống cho chị ấy khóc.

(*SS là viết tắt của Schutzstaffel, là tổ chức vũ trang của Đảng Quốc xã.)

Em cũng chẳng vui gì. Cảm giác bị người ta coi là kẻ xấu xa, bị xua đuổi từ quê nhà thực sự rất tồi tệ. Ba tháng qua là quãng thời gian đen tối nhất trong cuộc đời em, khiến ngày em mười lăm tuổi cũng sụp đổ, do đó mà dù đi đến đâu cũng toàn một màu xám xịt, mãi tới khi em nghe thấy âm thanh êm tai từ bên ngoài truyền đến.

Đó là một ngôn ngữ mà em không hiểu. Câu nói ấy bao gồm các âm tiết đơn âm, rất ngắn, chỉ dừng lại trong tâm trí em một lúc rồi nhanh chóng biến mất, nhưng sau đó đột nhiên có tiếng kèn vang lên. Là một bài hát ru. Không biết là do âm thanh của anh quá dễ nghe hay là âm nhạc vang lên sau đó êm tai, tóm lại trong khoảnh khắc đó, toàn bộ sự tò mò của một cô gái như em đã bị khơi dậy. Trong xe tối tăm không thấy gì, chỉ có mỗi tia sáng ấm áp xuyên qua khe hở từ rèm cửa chiếu vào.

Nhìn trộm thực sự không phải là điều mà người đẳng cấp có thể làm, nhưng em quả thật đã làm vậy —— sự xấu hổ vào lúc đó đã không át được sự tò mò của em về âm thanh ấy.

Ngay lúc đó khi em mở cánh cửa gỗ hẹp, vừa nhìn ra ngoài thì anh cũng ngoảnh đầu lại. Không, không phải nhìn em, mà là nghiêng người sang nhìn người đàn ông trung niên đang thổi kèn kia, có lẽ là người hầu của anh. Có lẽ anh sẽ không bao giờ biết em đã chìm đắm vào ánh mắt và nụ cười của anh thế nào, cũng bởi vì trong khoảnh khắc đó, trong thế giới tối tăm của một cô gái Do Thái không giáo dục không nhà cửa như em đã được thắp lên một tia sáng. Chắc hẳn anh sẽ cười nhạo lý do em ngưỡng mộ anh – vì nghe nó có vẻ đột ngột vớ vẩn mà, nhưng có lẽ đến chính anh cũng không biết, khóe miệng anh cong lên khi cười và đôi mắt anh tập trung khi lắng nghe người ngoài nói chuyện quyến rũ đến đâu. Trong tích tắc ấy em đã nghĩ, nếu anh nhìn em với ánh mắt đó, nếu như trong mắt anh có em, thì chắc chắn em sẽ đắm chìm mất…

Rồi sau đó anh ngoái đầu lại, em nhìn thấy ánh sáng dịu nhẹ của đèn đường phản chiếu trong mắt anh. Em không nhìn rõ dung mạo của anh, nhưng em có thể cảm nhận được hơi thở nước lạ trong cử chỉ của anh, cùng với ánh sáng trong mắt anh, và cả thanh âm còn êm tai hơn âm nhạc kia nữa. Âm R anh phát ra khiến em biết anh đã ở Berlin một thời gian dài, anh hỏi em bằng tiếng Đức, “Ông Walter thổi kèn rất hay đúng không?”

Khi đó em không biết giọng mình phát ra từ lồng ngực như thế nào. Lúc này em mới hiểu vì sao chị hai lại xấu hổ vì trang phục của mình đến vậy. Hai má em đỏ ừng, may mà anh không thấy gì. Em không có sở trường, thậm chí cũng không thể tự xưng là một cô gái, em chỉ biết khoe với anh là: “Tôi biết nói tiếng Anh.”

Cả anh và người hầu Walter của mình bật cười. Thành thật mà nói thì em có hơi tức giận, không phải vì anh mà là vì bản thân em. Lời nói của em cứ như một đứa trẻ vậy, chính vì thế nên mới khiến các anh tưởng em ngây thơ ngốc nghếch. Nhưng vào giây phút này, ở trước mặt anh sự ngây thơ đó chỉ là thừa thãi, khiến em không thể ngẩng đầu lên được.

Anh nhận ra hình như em không được vui cho lắm. Anh tưởng em nhớ sữa và phô mai Áo, thời tiết ở đó bao giờ cũng rất đẹp. Anh nói với em Den Haag rất lạnh, ngay trong đêm hè cũng không thể nhìn thấy sao, gió từ biển Bắc thổi đến vừa lạnh vừa khô hanh. Anh còn nói với em là em nhất định có thể hiểu được tiếng Hà Lan, vì phát âm rất vui vẻ thoải mái, còn âm điệu lại như biến thể âm tăng của tiếng Đức.

Anh vẫn đùa em với giọng điệu như dỗ trẻ con, bắt chước giọng Hà Lan với giọng điệu hài hước có sẵn, nhưng lại không khiến người ta thấy ghét, thế nên trong mấy năm dài khi nghe thấy tiếng Hà Lan là em lại lập tức nhớ đến anh, dù người ngoài luôn nói, giọng điệu đó như thể chế giễu những người Do Thái vô gia cư chúng em vậy

Chẳng mấy chốc có người gọi tên anh, may mà không phải là bằng ngôn ngữ mà em không hiểu.

Anh Tư, anh Tư. Em lẩm bẩm tên anh, ánh mắt dõi theo anh trong đám đông. Ánh sáng quá tù mù, nếu không em không tin là anh không nhìn thấy được khao khát trong đáy mắt em.

Mẹ bật cười khúc khích, “Cynphia, con có biết người đàn ông đó là ai không?”

Ngoài cửa sổ bắt đầu đổ mưa, ông Walter giơ chiếc ô màu đen che cho anh, anh cũng mặc áo che gió màu đen, cùng người hầu của mình tiến vào màn đêm tối tăm, và rối biến mất trong đám đông. Em nhìn vào màn đêm ngoài kia, nhớ đến đôi mắt sáng bừng và nụ cười dịu dàng của anh, đầu óc chợt trống rỗng. Em nghe thấy mẹ nói tên anh gần giống tên tiếng Anh: “Vanir Si.” Em mới hỏi mẹ: “Anh ấy là người Ý ạ?” Bà nói không, “Là người Trung Quốc.”

“Nhưng tại sao anh ấy lại có một cái tên như vậy?”

“Tiếng Trung quá phức tạp đối với chúng ta, nên chúng ta mới gọi cậu ta như vậy.”

Tiếng Trung! Hóa ra là tiếng Trung!

Với đất nước thần bí kia, với phương Đông nhanh chóng thịnh vượng trong vòng mười năm, đáng tiếc là lúc đó tôi chẳng biết gì về nó cả.

Tôi hỏi mẹ tại sao anh lại xuất hiện ở đây. Bà nói với tôi rằng, anh ở đây là vì anh chính là đại sứ Hà Lan. Cho đến hôm nay, anh đã giúp hơn 40.000 người Do Thái đến Hà Lan tị nạn, nhưng danh tiếng của anh ở chính đất nước mình lại không bằng danh tiếng khi ở nước ngoài.

Chị gái ngồi bên trêu ghẹo: “Cynphia à, anh ta chưa có vợ đâu.”

Nỗi lo âu của mẹ khiến mọi người bật cười: “Nghe nói có đủ kiểu đủ loại phụ nữ ra vào nhà anh ta, vì phải ôm ấp quá nhiều cô nên đến nay vẫn chưa kết hôn.”

Tôi vùi mặt vào tay mình.

Anh chỉ mới 26 tuổi, anh vẫn chưa kết hôn!

Em của tuổi 15 là một trong 40.000 người anh từng cứu, cũng không biết anh có nhớ trong số 40.000 từng có một người có tên là Cynphia Sachs hay không. Cô ấy từng là một cô gái hèn mọn, cũng chỉ hy vọng mình có thể trở thành một trong các cô gái đủ kiểu đủ loại kia, được anh đối xử tốt dù không yêu sâu đậm cũng quá đủ rồi.
Cho đến một ngày sau này, em đọc được về “cô ấy” trong một cuốn sách liên quan đến anh.

Một thời gian dài sau đó anh không gặp lại em nữa, nhưng anh chưa bao giờ biến mất khỏi cuộc đời em. Có lẽ đến anh cũng không thể nào tin nổi, từ ngày ấy trở đi, anh đã trở thành toàn bộ cuộc sống của cô gái Do Thái đó. Em ở Den Haag một năm, ở đây không có sữa bò và ánh nắng ấm áp, gió thổi từ biển Bắc lạnh lẽo hệt như anh đã nói, ở trên bờ biển cũng chưa thấy được một vì sao nào, mà tiếng Hà Lan cũng vui tai như anh nói. Chỉ bởi vì vài câu nói của anh mà mọi thứ như được tô điểm sắc màu, nhưng trong mấy năm sau đó em cũng không gặp lại anh nữa. Các nước châu Âu đã sớm đóng cửa không chấp nhận người Do Thái, lúc thông báo một số người trong bọn em cần phải đến Trung Quốc, anh đã lập tức đồng ý. Đến Trung Quốc! Đến đất nước của anh, có rất nhiều người có nước da và màu mắt giống anh, bọn họ nói ngôn ngữ đơn âm tiết còn êm tai hơn cả tiếng kèn mà em gặp anh lần đầu, đó là ngôn ngữ của anh, là tên tiếng Trung của anh!

—— Tư Ngôn Tang!

Lần đầu tiên em thấy tên anh là ở trong một hiệu sách, em dùng hết tiền tiết kiệm và tiền tiêu vặt của mình để mua các tác phẩm của anh. “Thư tình châu Âu”, “Cô dâu của những ngày đã qua”, “bài ca Đàn Kiệt” … Trong các tác phẩm của anh là nỗi niềm lưu luyến về đất nước phương Đông, và ở tất cả các câu chuyện của anh đều có hình bóng của cô gái trong “Cô dâu của những ngày đã qua”.

Kể từ đó, em điên cuồng tìm kiếm khắp nơi những bài văn của anh, cả những cuộc phỏng vấn về anh trên các tờ báo, thậm chí là các truyện ký truyện ngắn mà bạn anh viết về anh. Người thượng tá của hải quân hoàng gia Anh nói về anh lúc 18 tuổi… Chúa ơi, chính xác thì anh năm 18 tuổi trông như thế nào? Chỉ nghĩ qua thôi mà em đã phát điên rồi… Anh ta nói lúc đó anh rất ngây thơ, lúc về nước còn đem theo một con gấu bông khổng lồ tặng cho cô ấy, nhưng cuối cùng cô ấy lại rời bỏ anh! Rốt cuộc là người thế nào mà lại từ chối anh và một con gấu bông như thế? Em thật sự không tưởng tượng nổi.

Hẳn là cô ấy phải xinh đẹp thanh tao lắm, cũng phải nổi tiếng lắm, nếu không thì em không nghĩ cô ấy có tư cách làm tổn thương anh.

Trong mấy năm né tránh chiến tranh có thể xảy ra, em đã nghiên cứu văn học Trung Quốc tại Đại học Hương Cảng. Em cũng tranh thủ dịch các tác phẩm của anh trong thời gian rảnh. Năm 1938, đột nhiên ở phương Bắc bùng nổ tiếng gầm chao đảo cả thế giới, khiến những nhà quân sự đầy dã tâm cũng phải kiêng dè. Em nghe thấy giọng anh trong radio, anh đại diện cho đất nước của mình tức giận chỉ trích tội lỗi của Đức quốc xã với người Do Thái ở buổi họp tại Den Haag, đồng thời cũng chế nhạo các cuộc xâm lăng của cường quốc châu Âu trong 80 năm sau, lời nào lời nấy hùng hồn đanh thép, khiến đoàn ngoại giao có mặt ở đó á khẩu không trả lời được. Anh là nhà văn đã viết rất nhiều bài hịch hùng hồn cho người Do Thái, anh là đại sứ Hà Lan đích thân cứu viện người Do Thái, không ai có thể thấm thía hơn anh, cũng không ai có quyền lên tiếng hơn anh.

Giờ đây trên đời có rất nhiều người bái phục anh, mà có lẽ anh cũng chẳng bao giờ nhớ đến cô bé bẩn thỉu 15 tuổi năm nào. Cô ấy yêu anh, toàn bộ trái tim của cô ấy cũng đã thuộc về anh từ năm 15 tuổi.

Cuộc chiến mà thế giới dự kiến ​​sẽ bùng nổ cũng không xảy ra, em cũng sắp hoàn thành việc học để đến Paris, bởi vì nơi đó có anh.

Em đã 19 tuổi, thỉnh thoảng đi trên đường sẽ hay có con trái ghé mắt nhìn em. Em không biết bọn họ chú ý đến mình là vì bề ngoài hay là hơi thở gần như đã phương Đông hóa tỏa ra từ em, nhưng với em điều đó cũng chẳng quan trọng. Vì bắt đầu từ năm em 15 tuổi, em đã hoàn toàn thuộc về anh rồi.

Em đã cao 5,5 feet*, xương cốt của em không cường tráng như phụ nữ da trắng truyền thống, phát âm tiếng Trung của em cũng hiếm khi gây cười, tôi gần như đã thuộc hết văn học Trung Quốc và văn học châu Âu, em cũng đã dịch các tác phẩm của anh sang ba ngôn ngữ chưa xuất bản. Trong nhà có hơn mười bộ sưu tập của anh, không biết em như vậy thì khi đứng bên anh có quá khó xử không.

(*Xấp xỉ 167cm.)

Trước khi gặp lại anh thì em đã gặp cô ấy. Linzy, vào năm cô ấy nhận được bằng tiến sĩ danh dự từ Sorbonne thì Linzy chỉ mới 29 tuổi. Trong ba tháng cô ấy dạy ở đại học Sorbonne, lớp Logic toán học vào mỗi thứ tư hàng tuần luôn chật ních chỗ ngồi. Em cũng có đến dự thính mấy lần. Cô ấy có khí chất thanh lịch của người phụ nữ phương Đông truyền thống, không chỉ xinh đẹp mà còn biết nói chuyện hài hước và có học thức uyên bác.

Chồng cô ấy vừa đẹp trai vừa lịch sự, đúng tám giờ hằng ngày luôn đậu xe dưới hàng cây ngô đồng bên đường ngoài phòng học để đón cô ấy về nhà. Anh ta rất chiều chuộng cô ấy, bọn họ là một cặp vợ chồng hoàn mỹ, khiến mọi sinh viên trong trường hâm mộ sinh ghen tị.

Em nghe nói tài năng của cô ấy không chỉ dừng lại ở đó. Có người nói những cống hiến của cô ấy có lẽ phải rất nhiều năm sau cả thế giới mới biết đến. Điều này gợi em nhớ lại một câu nói về cô ấy trong “Cô dâu của những ngày đã qua”. Câu đó nói rằng: anh không bao giờ ngờ rằng sẽ có một cô gái từ chối nhận búp bê gấu bông, chẳng qua là vào lúc ấy, thứ cô gái kia cần có lẽ là một vũ khí.

Em biết, khi anh viết câu này chắc chắn là anh đang mỉm cười.

Có mấy lần em thấy anh ở trên đường, đi lướt qua vai anh. Anh chưa bao giờ chú ý đến em, điều này khiến em khá thất vọng, nhưng đây cũng là điều đoán trước được mà. Cô ấy cũng ở thành phố này, em không biết anh có chạm mặt bọn họ lần nào chưa.

Kể ra cũng khá xấu hổ. Một đêm nọ em thấy anh trên xe điện, thế là bí mật theo anh về nhà. Anh có một căn hộ hai tầng màu trắng ở quận Tám, bên sông Seine gần nhà thờ Đức Bà. Từ đó trở đi, em thường xuyên tìm đủ lý do để đến gần con phố đó, có lúc là uống một tách cà phê vào buổi chiều, có lúc lại dành cả ngày ngẩn ngơ dựa vào lan can bên bờ kè. Thỉnh thoảng em với các bạn gái cũng đến đó để ăn một bữa ăn Pháp Nhật đắt đỏ, nhưng rất ít khi em gặp được anh.

Có một đêm em xuống xe điện và đi dọc bờ sông, đi tới bên ngoài căn hộ của anh. Em thấy một lọ hoa huệ trước khung cửa sổ tù mù ánh đèn ở phòng anh. Trước đó em chưa thấy nó bao giờ.
Em bắt đầu đoán không biết có phải anh mới quen bạn gái hay không, hoặc là cô bạn gái nào đó đã tặng cho anh? Đúng lúc đó cánh cửa hẹp ở tầng một mở ra, ông Walter đi ra. Ông ấy nhìn thấy em, hỏi: “Cô đến tìm cậu Tư à?”

Ma xui quỷ khiến thế nào mà em lại gật đầu.

Ông ấy nói: “Cậu ấy có chuyện phải ra ngoài một chuyến, nếu không ngại thì mời cô lên lầu uống tách trà, có lẽ cậu ấy sắp về rồi.”

Em đáp một tiếng rồi đi theo ông Walter lên lầu, má đỏ ửng, tim đập thình thịch. Em biết chuyện này rất mất thể diện, nhưng em không kìm được lén quan sát cách bố trí trong nhà anh, anh sử dụng một tấm thảm lông màu đỏ sẫm được thiết kế rất đẹp, trong nhà có rất nhiều tủ sách, sách xếp chồng lên tầng gác mái, ngoài ra còn có tranh sơn dầu và những pho tượng điêu khắc màu trắng… Em không điều khiển được ánh mắt mình nữa, em hy vọng

mình có thể nhớ được tên những cuốn sách mà anh đã đọc, cùng với hình dáng của những món đồ nội thất trong nhà anh. Nơi đầy tràn ngập hơi thở của anh, tất cả đều là anh. Dù anh không có ở nhà, thì chỉ cần ngồi đây năm phút thôi cũng đủ khiến em say rồi.

Nhưng nếu anh quay lại thì em phải giải thích như thế nào đây? Nói với anh là em đã dịch mấy tác phẩm của anh, có điều sợ dùng từ chưa đủ tinh tế khiến anh tức giận, cho nên vẫn chưa gửi đến nhà xuất bản? Em nghĩ chắc chắn là anh sẽ giận, anh nổi tiếng thế mà, sao có thể cho phép một sinh viên ngôn ngữ tay mơ như em chấm mút tác phẩm của anh được?

Hay là em nói thẳng với anh nhỉ? Nói cho anh biết nỗi ám ảnh lưu luyến của em về anh trong năm năm qua, nói với anh là em đã đọc mọi cuốn sách của anh, giống như kẻ bị bệnh cuồng si đắm chìm trong đam mê được biết về anh vậy. Anh không thích hút thuốc, nhưng luôn mang theo một chiếc bật lửa, bởi vì cô gái đó. Anh có vài hành động giống trẻ con, chẳng hạn như thường xuyên nằm đọc sách, thói quen này khiến thị lực mắt phải của anh dần kém đi, nên bắt buộc phải đeo kính lúc mới 20 tuổi —— một chiếc kính một mắt, vì thị lực mắt trái của anh vẫn bình thường. Không, không, lời bày tỏ của em quá rõ ràng rồi, chắc chắn anh sẽ nghĩ em là kẻ điên, nhất định sẽ dọa anh chạy mất.

Em nghĩ là mình nên nói dối anh, nói với anh là em sống ở bên cạnh, hay thấy anh đọc sách bên cửa sổ. Lúc đọc sách anh sẽ đeo kính một mắt màu trắng bạc, em nghe nói chỉ có người có xương trán và sống mũi cao, hốc từ cuối mắt nối ra sau tai, ẩn vào dưới chân tóc. Nó khiến anh trông rất có khí chất và điển trai, nên em mới thường nhìn lén anh, vì em thích dáng vẻ này của anh.

(*Ảnh fanart Tư Ngôn Tang.)



Trời ơi trời ơi chỉ mới nghĩ về anh thôi đã đủ làm em đỏ mặt rồi. Bây giờ em đang ngồi trong phòng anh, mà em lại không biết giới thiệu với anh về lai lịch của vị khách không mời là em như thế nào đây.

Đúng lúc này, tiếng chuông cửa dưới lầu vang lên. Khoảnh khắc ông Walter đứng dậy mở cửa, em bật dậy khỏi ghế như vừa choàng tỉnh khỏi cơn mơ. Ông ấy mỉm cười nói với em là anh đã về, tim em đập rất nhanh, gần như khiến em không đứng vững. Và ngay lúc ông ấy mở cửa, em lập tức lao nhanh ra khỏi phòng anh, không quan tâm đến hành động đầy khả nghi của mình vào lúc này, cũng chẳng để ý đến ánh mắt ngạc nhiên của ông Walter.

Tấm thảm của anh thật mềm mại, mà đôi chân của em cũng vậy, giẫm lên trên khiến mỗi bước như thể đạp hụt ngã xuống cầu thang. Đúng lúc này anh bước lên lầu, trong hành lang cầu thang chật hẹp, anh và em đi lướt qua nhau. Trong tích tắc em ngẩng đầu nhìn anh, anh cũng nheo mắt nhìn em. Anh không biết em là ai, cũng không biết mấy phút trước em đã vô sỉ xâm phạm vào nhà anh. Nhưng trong tích tắc đó bên tai em nổ ầm, vội vã lướt qua anh, lao ra ngoài phố suýt nữa đụng vào xe điện.

Em cứ thế chạy dọc bờ sông một lúc lâu, lâu đến lúc nào em cũng không biết. Gió bên bờ sông rất lớn, vẫn có nhiều người tản bộ trên lề đường như thường lệ, lúc đi lướt qua họ cũng thường có người thốt lên. Cho đến khi nhìn thấy chồng của cô gái ấy, em mới từ từ dừng lại.

Người đàn ông đứng bên ngoài tiệm may hút thuốc. Anh ta rất cao, ánh mắt cũng rất có lực, nên dù trên đường có nhiều người tới mấy thì em vẫn có thể nhận ra anh ta trong nháy mắt. Em dừng lại, lúc đi ngang qua sau lưng anh ta, em nghe thấy giọng của cô ấy. Cô ấy đang nói chuyện với chủ cửa hàng bằng tiếng Pháp trôi chảy. Con trai ba tuổi của cô ấy đang chơi với thợ may ở trong tiệm. Đúng lúc này, một người đàn ông Pháp tóc dài cao ráo ôm lấy người thợ may rồi hôn sâu, bé trai kinh hãi giật mình, lập tức che mắt kêu lên.

Ngài thợ may đẩy người yêu đồng tính của mình ra, trách móc mấy câu, lấy làm có lỗi vì hành động bất ngờ trước mặt đứa trẻ.

Còn cô ấy thì lại mỉm cười thay con nhỏ xin lỗi thợ may, người chồng ở ngoài cửa lập tức dập tắt điếu thuốc, sải bước đi vào, bế con trai lên rồi nói với cậu bé bằng tiếng Trung: “Nghe này, trên thế giới này, con trai cũng có thể thích con trai, con gái cũng có thể thích con gái, họ cũng giống như chúng ta, con có hiểu không?”

Cậu bé có vẻ hơi sợ cha mình, rụt rè thấp giọng đáp vâng.

Khung cảnh này đẹp đến nỗi em không thể không dừng chân, đứng bên ngoài cửa tiệm mỉm cười.

Lúc này, ngài thợ may nhìn thấy em, hỏi: “Cô đến lấy quần áo hay là đến may quần áo? Cô tên là?”

Trùng hợp là cũng đến lúc em cần một bộ váy mới. Vì để khiến mình không quá lúng túng nên em bước vào trong tiệm, nói: “Tôi tên là Cynphia, tôi muốn may một chiếc váy.”

Đúng lúc này đột nhiên cô ấy quay sang nhìn em, miệng mở to, vẻ mặt trông chừng có hơi ngạc nhiên.

Và cũng đúng lúc này, một âm thanh quá đỗi quen thuộc vang lên.

Anh đứng sau lưng em, giọng run rẩy. Em không biết là anh nhìn em hay nhìn cô ấy. Em nghe thấy anh hỏi: “Em… em nói lại lần nữa, tên em là gì?”

Em không dám nhìn lại, cứ thế đứng một mình ở giữa tiệm may. Em không nổi tiếng, nhưng không biết tại sao lúc này lại được mọi người chú ý đến vậy.

“Cynphia Sachs.” Em nghe thấy thanh âm của mình vang lên: “Tên em là Cynphia Sachs.”

– KẾT THÚC –

Vậy là đến đây thật sự kết thúc chặng đường đồng hành cùng anh Tạ và cô ba rồi. Cám ơn mọi người đã đi cùng Qin đến tận lúc này, vì các bạn chính là động lực để mình hoàn truyện mà. Không ít lần mình tụt mood không muốn edit, vì vấn đề cá nhân cũng như vì nội dung khó chuyển tải, nhưng cuối cùng vẫn đã đi đến hết rồi. ~ Thật sự xúc động. Cám ơn bạn Uyn, Mary Phan, Bella Hoang, chị Trần Hạnh, Quỳnh Thư, Minh Thư, Bánh Bao Mei Mei, Oliu Màu Trắng cùng rất nhiều các bạn và các chị khác đã luôn kick ass thúc con lười như mình lấp hố. Cảm xúc lúc này chỉ muốn nói là: huhu cuối cùng cũng xong rồi. =)))))

Qua ngoại truyện lần này có thể đoán là anh Tư đã gặp được người định mệnh của mình rồi, anh sẽ không còn chết vì cô đơn như kiếp trước nữa. Điều tiếc nuối duy nhất của mình là về bà Cát, nhưng có lẽ bà Cát vẫn như thế thôi, sống cuộc sống phú bà giàu sang chẳng thèm để ông nào vào mắt, về già thì chăm cháu, thế là quá đủ. Còn Sở Vọng và Tạ Trạch Ích, tuy chúng ta phải dừng lại tạm biệt nhau ở đây, nhưng hành trình của hai người vẫn còn mãi còn mãi, mãi đến thế kỷ 21 như Sở Vọng từng muốn. Đó là một trong những điểm mình thích về cách viết và cách triển khai của tác giả, hy vọng sẽ gặp lại mọi người trong tác phẩm tiếp theo của tác giả mà Qin sẽ thầu, bộ nào thì chưa biết được hê hê.

Và liệu chúng ta còn gặp lại anh Tạ trong một one-shot khác không? Tất cả phụ thuộc vào độ siêng của Qin.:p 

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước