GIỜ ĐANG NƠI ĐÂU

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giờ đang nơi đâu - Chương 141 - Chương 145

Chương 140: Kết thúc (2)

Edit: Qin & Jeongnie

Giấc ngủ này rất sâu.

Tạ Trạch Ích như một đêm chưa được chợp mắt. Cô nằm trong lòng anh, dù đang ngủ say vẫn có cảm giác anh đang đeo lại tín vật đính ước vào tay cô, thỉnh thoảng lại hôn tóc mai cô, ngón tay vuốt ve bên má.

Cho đến khi sắc trời hửng sáng, có người nhấn chuông ghé thăm thì bên mép giường mới nhẹ đi, anh đứng dậy xuống giường. Ngoài cửa vang lên tiếng nói chuyện, anh dùng tiếng Quảng dặn dò dì giúp việc, nghe giọng thì có vẻ đến từ nhà họ Tạ, nếu không anh cũng sẽ chẳng cho phép người không phận sự tùy tiện đặt chân vào nhà tân hôn.

Sau đó cô được anh phủ thêm áo ngủ rộng lớn, ôm cô vào lòng. Dì giúp việc rón rén đi vào, nhẹ nhàng thay đi chăn nệm vương mùi của Tạ Trạch Ích rồi trải khăn trải giường mới tinh tươm, cuối cùng âm thầm rảo bước rời đi.

Cô được Tạ Trạch Ích đặt vào trong chăn mới sạch sẽ.

Lúc này chỉ còn lại mùi của Tạ Trạch Ích trên cơ thể cô mà thôi.

Dường như anh cũng phát hiện ra điều đấy, lại còn có vẻ rất vui, ngồi bên mép giường bật cười.

Cô cau mày chun mũi, ra chiều không vui.

Tạ Trạch Ích cúi người, ôm cả cô lẫn chăn vào lòng hôn.

Cô muốn mở mắt, muốn kéo anh vào chăn nằm ngủ với mình, nhưng thật sự đã mệt quá rồi, thế là lật người rồi lại thiếp đi.

Đến khi thức giấc, những tia nắng rực rỡ rọi vào phòng qua cửa sổ phía Đông, dưới lầu ồn ào giọng tiếng Quảng, thỉnh thoảng lại xen vào tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, tiếng Anh và tiếng Pháp.

Tạ Trạch Ích mặc áo sơ mi trắng và quần tây sẫm màu, chặn mọi người ở dưới lầu, thông thạo thay đổi ngôn ngữ, mỉm cười dịu dàng đối đáp, cũng vì thế mà không có ai dám vượt qua anh xông lên lầu.

Một cô gái dùng tiếng Bồ Đào Nha trách anh: “Buổi sáng ngày đầu mới cưới mà, các mẹ đây thì thôi, chứ cha cậu nóng tính, có nhiều thân thích ở quê như vậy, chắc chắn là bị cậu chọc giận đến nơi rồi.”

Tạ Trạch Ích chậm rãi hỏi: “Ồ? Nhưng lúc gọi điện trông ông ấy có vẻ vẫn ổn mà.”

Một cô gái khác nghe hiểu được, tức khắc nói xen vào bằng tiếng Tây Ban Nha: “Cậu nói gì, cậu dỗ cha vui vẻ, thậm chí còn hòa giải cho cậu?”

Tạ Trạch Ích cười, thong thả đáp: “Con nói gì không quan trọng, mà chưa chắc ngài Tưởng đã dễ dụ đâu.”

Người nói giọng Bồ Đào Nha lên tiếng: “Người ngoài nói nhà họ Tạ mộ phần thưa thớt, cô ấy có phúc lớn như vậy, kiểu gì cũng sinh được con trai, đương nhiên lão gia không mất hứng rồi. Di Nhã gả đến nhà họ Tượng thì không như thế đâu.”

Người nói tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Tây Ban Nha lập tức cãi nhau chí chóe, tốc độ nói càng lúc càng nhanh, dần dà nghe không rõ bọn họ nói gì nữa rồi.

Tạ Trạch Ích không nói gì, có vẻ cảnh này xảy ra rất thường xuyên nên cũng chẳng can ngăn.

Cô gãi tai, ngửi thấy mùi Tạ Trạch Ích trên người mình. Mặt cô đỏ bừng, cau mày xuống giường, lúc đứng lên chân vẫn run lập cập, nhưng đã đỡ hơn so với mấy tiếng trước. Vịn mép giường đi vào phòng tắm tắm rửa, nước ấm dội lên người, cô xuất thần nghĩ: cô ba Lâm, cô Tạ, chị Tạ, bà Tạ…

Trong đầu hiện lên cảnh đêm qua, Tạ Trạch Ích ngồi dựa vào đầu tường, nhỏ nhẹ gọi tên cô: “Lâm Trí.”

Dưới lầu vẫn đang cãi nhau chí chóe, Tạ Trạch Ích đứng bên nói gì đó, rồi chợt một cô gái trẻ nói bằng giọng Oxford: “Xin lỗi cậu. Sáng nay có một đại tá đến nhà mình, khẩu âm nước Mỹ, chỉ nói là có chuyện quan trọng tìm cậu nên chị lái xe đến, không ngờ mấy mẹ sống chết đòi theo.”

Tạ Trạch Ích đáp, “Không sao. Ông ấy nói gì?”

“Ông ấy nói gửi thư hay gọi điện đều không ổn, nhất định phải truyền lời bằng miệng.”

“Sao chị không cho ông ấy biết địa chỉ nơi này?”

Cô gái dừng lại, cảm khái “Nay người nhà đông đúc, cậu lại chiều em ấy như vậy, dù gì cũng phải dẫn nó về nhà một lần, đỡ để người ta nói nó là đứa kiêu ngạo, cưỡi trên đầu nhà ta.”

Cô nghe Tạ Trạch Ích hỏi ngược lại: “Cưỡi trên đầu ai? Em? Ông Tạ?”

Cô gái cứng họng.

Tạ Trạch Ích còn nói: “Cả em với ông ấy đều rất sẵn lòng thấy cô ấy kiêu ngạo đây.”

Cô gái nổi nóng, không biết làm sao, đành nói dỗi: “Chị đã nói với người đại tá kia là tối nay cậu sẽ về, bảo ông ấy chờ cậu đến khi đó. Tùy cậu có về hay không!”

Tạ Trạch Ích còn chưa kịp lên tiếng, cô đã mặc váy đầm dài cao cổ kim tuyến ló người ra từ cửa sổ, “Hi.”

Hai người ngẩng đầu nhìn lên.

Cô gái kia đang tính rời đi, nghe thấy tiếng thì ngẩng đầu nhìn. Cô ấy khoảng hai mươi lăm tuổi, mặc váy dài với áo khoác sẫm màu, vóc dáng thon thả, mái tóc dài màu hạt dẻ quăn tít phấp phới trong gió, đôi mắt màu xanh lục, gương mặt lai Trung Anh hình trái xoan cổ điển, ngũ quan sâu lắng – là khí chất và gương mặt của những cô gái Broadway được tôn vinh nhất ở thế kỷ 21.

Vừa thấy cô, cô gái kia lập tức quay sang quắc mắt nhìn Tạ Trạch Ích: “Không phải cậu bảo là đang ngủ hả?”

Cô mỉm cười: thật đúng là bà chị chồng tính khí nóng nảy thất thường.

Tạ Trạch Ích cười mỉm, hỏi Lâm Trí: “Nghỉ một lúc nữa rồi theo anh đến Trung tâm nhé?”

Lâm Trí đáp: “Anh lái xe đến đi, em theo anh về luôn.”

Chậm rãi đi xuống lầu, Tạ Trạch Ích nhanh hơn cô một bước, chờ dưới lầu ngẩng đầu hỏi cô: “Có sức không?”

Cô nói dối: “Có.”

Nói rồi đi lướt qua anh đi về phía cửa lớn, bắp đùi như nhũn ra, bắp chân run rẩy.

Tiếng cười của Tạ Trạch Ích vang lên từ phía sau, sải bước đi tới ôm lấy cô đến bên xe, đặt cô ngồi vào chỗ ghế phụ.

Vừa đóng cửa xe thì mấy người phụ nữ muôn màu muôn vẻ cũng tiến tới định lấy lòng cô, nhưng chưa gì đã bị cô gái Luân Đôn ngăn lại, không hề khách khí nói thẳng: “Hèn gì cha không cho phép các mẹ đến tiệc xã giao.”

Cô nhìn ra ngoài xe, mấy người kia tức khắc ủ rũ như quả bóng xì hơi, ấm ức đứng lui ra sau, không dám làm gì quá phận.

Cô gái Luân Đôn huýt sáo với anh, ra hiệu cho anh lái xe rời đi.

Tạ Trạch Ích hiểu ý, chậm rãi lái xe vào đại lộ.

Cô ngoái đầu nhìn lại, thấy Tạ Phí Di thong thả đưa các quý cô quý bà ngôn ngữ không thông lên mấy chiếc xe gần đó, chậm rãi đuổi theo sau.

Cô ngồi trong xe, bực mình nói, “Thì ra anh không định đưa em về nhà.”

Tạ Trạch Ích nói, “Trải nghiệm không vui vẻ đâu.”

“Anh chẳng giới thiệu gì cả, có phải đã quá thất lễ rồi không?”

“Phí Di ở Anh quanh năm, cũng không thường xuyên về Hương Cảng. Còn mấy người kia, em chỉ cần biết bọn họ đến từ nước nào là được.” Tạ Trạch Ích thuận miệng bổ sung, “Nghe giọng thì em cũng biết đấy.”

“Trông bọn họ không vui lắm.”

Tạ Trạch Ích nói, “Họ giỏi nhất là trò đó, bao nhiêu năm rồi vẫn chưa bao giờ làm anh thất vọng.”

Cô vui vẻ.

***

Trong lúc chợp mắt thì chiếc xe đã lái vào cảng, chạy lên núi, đến đỉnh Nicholson mới dừng xe lại.

Tạ Trạch Ích đang định lái xe vào bãi đỗ thì có một người đàn ông mặc âu phục thay anh đỗ xe.

Một cơn gió thổi qua, mang theo sự mát mẻ của gió biển. Vừa xuống xe, họ đã có thể nhìn thấy cảng Victoria.

Tạ Trạch Ích xoay người ôm lấy bả vai của cô, để cô nép vào lòng mình.

Đằng sau truyền đến một giọng nữ, châm chọc, “Nicholson mountain dịch thành núi Nhiếp Ca Tín, khó nghe muốn chết.”

Hai người cùng nhìn về phía cảng ở dưới chân núi mà cười.

Một lát sau, Tạ Phí Di nói tiếp, “Sao không thấy Thượng Hải dịch đường Edan thành đường trứng ngỗng nhỉ? Ái Đường Ái Đường*, nghe hay biết bao nhiêu.”

(*Tiếng Trung thường dịch tên tiếng Anh theo phiên âm để dễ đọc chứ không có nghĩa, trứng ngỗng trong tiếng Trung có phát âm tương tự Edan, nhưng Ái Đường mới là dịch âm chính thức của tên tuyến đường.)

Cô xoay người, mỉm cười nói với Tạ Phí Di, “Rue paul beau cũng vẫn gọi là đường Tố Bạch Nhi Bộ mà, Rue breniermontmorand khó đọc nên gọi là đường Bạch Lai Ni Mông Mã Lãng. Chẳng qua, đại lộ Ái Đường hay đại lộ Hà Phi gặp trúng chuyên gia tiếng Trung mà thôi.”

Bà ba người Pháp kia lập tức khen ngợi, “Toulousse của cô hai tốt quá.”

Tạ Phí Di quay người lại nhìn cô ta với cặp mắt khác xưa.

Cô thầm nghĩ: Tuy vài năm trước cô từng ở cùng ông Saumur, khẩu âm đúng là rất trôi chảy. Nhưng thật sự không đến nỗi khoa trương như thế, bà ba chỉ tìm lý do để khen cô, chút tài lẻ đó cũng không đáng để khen.

Suy nghĩ sâu thêm thì: Bất kỳ việc nhỏ như lông gà vỏ tỏi nào cũng đều muốn so với người khác, thì ngoại trừ nội trạch tập trung nhiều phụ nữ, có xung đột lợi ích ra thì chẳng còn chỗ nào nữa. Dù là nước ngoài hay trong nước, dù là lúc xưa hay bây giờ thì vẫn là như thế; từ cung đấu đến trạch đấu, nơi nào có phụ nữ là ở đó có tranh đấu, sẽ có kịch hay xảy ra, có thể quay một bộ phim dài hơn năm chục tập ngược tâm ngược thân.

Bảo sao Tạ Trạch Ích lại nói, “Bọn họ giỏi nhất là trò này” nhưng lại “chưa bao giờ làm anh thất vọng”. Hèn gì từ nhỏ Di Nhã đã tìm cơ hội xin bà Cát cất nhắc để có thể thoát khỏi căn nhà này.

Cô ngẩng đầu, thấy anh cũng đang cúi đầu nhìn mình, đuôi mày khóe mắt ngập tràn ý cười ngầm hiểu.

Anh ôm cô xoay người đi vào nhà họ Tạ.

Cửa vừa mở ra, mấy nữ hầu da đen Nam Dương lập tức từ trong vườn đi ra, hô to gọi nhỏ, “Ai về thế? Là cậu chủ hả?! Cậu chủ về rồi –”

Tạ Trạch Ích chau mày “suỵt” một tiếng.

Một đám người, bất kể lớn nhỏ, bất kể quốc tịch, bất kể màu da, tất cả đều được bện đuôi sam, mặc đồ thời Đường bằng vải dệt màu đen, trên cổ đeo một sợi dây chuyền to bằng vàng kiểu dáng bình thường, bọn họ đi guốc gỗ khắc hoa tinh xảo, đi đến đâu là lại nghe “lộc cộc” đến đó, vô cùng náo nhiệt.

Mang theo phong cách nóng bỏng của vùng nhiệt đới.

Phụ nữ trong phòng không biết có gom đủ năm châu, bốn bể, ba mươi quốc gia hay không, nhưng nói chung thì đây là phẩm vị yêu thích của ông Tạ, quả thật là rất có diễm phúc.

Cô khẽ than trong lòng.

Người làm đi tới đi lui, lúc họ đi ngang qua Lâm Trí đều liên tục chào cô, “cô hai!”, “chào cô hai!”

Cô mỉm cười. Nếu không phải được Tạ Trạch Ích ôm trong lòng, có lẽ cô đã khom lưng cúi chào bọn họ.

Tạ Trạch Ích tiện tay ngăn một người lại hỏi, “Người đi rồi phổng?”

Cô gái xinh đẹp với làn da đen bóng gật đầu.
Tạ Trạch Ích lại hỏi, “Lão gia ở bển hả?”

Cô ấy tròn mắt suy nghĩ, sau lại bập bẹ hai câu tiếng Quảng Đông, “Ở với chị Lâu Hủ…” Nghĩ một lúc rồi chỉ về phía bên cạnh hành lang đối diện, dùng hai tay hai chân múa may rặn ra một từ tiếng Anh vẫn còn khẩu âm Nam Dương, “… Mát xa.”

Hai người khom lưng đi về phía cuối hành lang, nhân lúc không có ai, cuối cùng cô cũng nhỏ giọng bật cười.

“Em cười gì thế?”

“Em đã biết tiếng Quảng Đông của cô ấy là do ai dạy rồi.” Cô đáp.

“Biết cũng nhiều ghê.” Tạ Trạch Ích chậm rãi cười, “Em còn biết gì nữa?”

Cô cúi đầu suy nghĩ, rồi đáp, “Nếu từ nhỏ em sống giữa cảnh ‘thùy mị dịu dàng’ thế này thì có chết em cũng không bước ra khỏi cửa một bước.”

Hai người đang nói chuyện thì ở hành lang cuối cùng đã có nữ hầu giúp mở cửa.

Trong cửa có một bình phong hình vỏ sò, cách lớp màn mờ mờ có thể nhìn thấy sáu cái ghế nằm khá lớn bằng gỗ lim đặt ở phía sau, có hai người nằm trên ghế, bên dưới đặt hai chậu gỗ đựng thuốc nghi ngút khói, trên ghế để chân có ba người Nam Dương tóc dài đang chăm chỉ làm việc, bên trong phòng truyền ra tiếng cười hòa lẫn với tiếng Quảng Đông của Di Nhã và huân tước Tạ.

Ồ, không phải là thùy mị dịu dàng mà là thiên đường mới đúng.

Cô dừng bước chân, ngẩng đầu nhìn Tạ Trạch Ích.

Anh nhỏ giọng hỏi, “Sao thế?”

Cô hỏi anh, “Em có nên bưng trà vào không?”

Vừa dứt lời, một nữ hầu bưng mâm đựng tách trà bằng thủy tinh đi đến trước mặt hai người. Giọng của Tạ Phí Di vang lên cách đó không xa, nhìn khay gỗ rồi hất cằm, nói nhỏ, “Chắc Zoe chê Phổ Nhĩ và Long Tỉnh quá trịnh trọng, một tách trà lài, không nhiều không ít, lúc này là đủ rồi.”

Tạ Trạch Ích còn chưa trả lời, Tạ Phí Di đã làm một tràng, “Im miệng. Cậu không để cha được vui một tí bao giờ.” Sau đó lại phàn nàn với Sở Vọng, “Thằng nhóc này đúng là thằng bất hiếu!”

Cánh tay của cô bị anh nắm lấy nên không thể nhúc nhích, quay sang tì lên trán cô, thấp giọng hỏi, “Còn sức không?”

Cô ngẩng đầu lườm anh một cái rồi giãy ra khỏi người anh, bước tới nhận tách trà lài vẫn còn ấm trên tay của nữ hầu.

Tạ Phí Di nhìn cô đầy cảm kích.

Tạ Trạch Ích im lặng mỉm cười.

Cô khẽ gật đầu, nhấc làn váy bước vào trong phòng, vòng qua bình phong.

Từ trong phòng truyền đến tiếng hét của Di Nhã, “Đau! Nặng tay quá rồi!”

Thợ mát xa dùng tiếng Anh bập bẹ hỏi lại, “Be gentle? Gentle, not fort!”

Cô đang cố gắng khống chế cơ bắp ở hai chân để giữ vững bước đi ổn định, vừa nghe thấy câu này thì cả người cứng đờ.

Giọng nói tối qua của Tạ Trạch Ích tựa như đang vang vọng bên tai cô, âm thanh đê mê khắc chế tình dục, anh chầm chậm lên tiếng nhưng lại vô cùng ác liệt, “Nhẹ chút ư? Nhẹ chút thì sao thoải mái được?”

Di Nhã tinh mắt hơn Huân tước Tạ, thuận miệng reo lên, “Lin… à chị dâu đến rồi! Sao mặt chị đỏ thế?”

Mặt cô đỏ bừng bừng, khẽ quỳ trước ghế dài của Huân tước Tạ, dâng trà bằng hai tay, “Mời ba uống trà.”

Huân tước Tạ hừm một tiếng, vội vàng ngồi dậy nhận trà đặt sang một bên, đưa tay đỡ cô dậy.

Di Nhã bảo thợ mát xa Thái Lan lui xuống, cô ấy ngồi thẳng người dậy, vui vẻ hỏi, “Chị bệnh hả? Dạo này nhiều người bị cảm thật đấy.”

Tạ Phí Di nhìn không nổi nữa, “Di Nhã, bảo đầu bếp làm thêm vài món đi.”

Cô ấy lập tức mang dép lê vào rồi nhận lệnh đi ra, “Nhất định phải kêu A Khai làm món mắm tôm và canh xương hầm củ cải mà anh Zoe thích nhất…” Sau đó cô ấy còn nói, “A Khai sẽ làm món cá bơn chưng mà chị dâu thích ăn.”

Di Nhã còn chưa đi ra ngoài, Huân tước Tạ mạnh mẽ bổ sung thêm, “Nấu món canh hầm bồi bổ sở trường nữa.”

Vừa dứt lời, một quản gia trông có vẻ trẻ tuổi cầm một bao lì xì đi đến, huân tước Tạ mặt mày hớn hở đưa cho Sở Vọng.

Cô cám ơn huân tước Tạ xong, vẫn chưa kịp đứng dậy thì Tạ Trạch Ích đã tiến lên đỡ cô đứng dậy.

Lúc này, có một người đàn ông trung niên mặc âu phụ đi vào nói, “Sáng nay, đại tá Boulon lại đến thăm thiếu gia Zoe.”

Phí Di lập tức bước tới, “Zoe có khách, thế thì tôi dẫn em dâu đi thăm đó đây một chút.”

Tạ Trạch Ích nói, “Dẫn cô ấy đến phòng tôi nghỉ một lát đi.”

Nghe thấy thế, Huân tước Tạ hừ một tiếng, quay đầu nhìn Tạ Trạch Ích, hai quả đồ chơi hạch đào trong tay va vào nhau lạch cạch, vẻ mặt nở nụ cười hài lòng.

Lúc Phí Di dẫn Sở Vọng ra khỏi phòng, quay đầu lại lớn tiếng hỏi, “Zoe, cậu có quên giấu cái gì không?”

Sở Vọng còn chưa kịp để ý thì bên ngoài đã truyền đến tiếng cười như chuông bạc của mấy cô gái.

Bước ra khỏi bình phong, có vài cô gái khoảng chừng hai mươi đổ lại tụm năm tụm ba ở ngoài cửa, dáng người cao gầy, vẻ ngoài hay khí chất đều rất tốt. Họ tán dương bằng tiếng Anh, “Xinh quá!”, “Da đẹp ghê!”, “Trong veo như nước ấy!”. “Anh Zoe tu ở đâu mà có phúc ghê!”

Có một người nhỏ giọng thầm thì, “Giống ông Lâm ba phần thôi…”

Cô vừa ngẩng đầu thì nhìn thấy cô con lai xinh đẹp với đôi mắt màu hổ phách, cô bỗng nhớ đến người chị “từng ngồi cùng tàu về Quảng Châu với Lâm Tử Đồng” mà Di Nhã từng nhắc đến.

Phí Di trừng mắt, dùng tiếng Anh nghiêm khắc răn dạy như một bà mẹ, “Mẹ mấy cô dạy mấy cô thế đấy hả?”

Đám người kia câm như hến, tan tác như chim vỡ tổ.

Rẽ vào hành lang, Phí Di lên tiếng xin lỗi, “Muốn học đòi người Tây phóng khoáng để cua sĩ quan người Trung, tiếc là đến tận mười hai tuổi mới học cách diễn đạt với mẹ nó.”

“Vừa xinh đẹp lại còn mạnh dạn, hoạt bát thì ai mà không thích? Đáng tiếc anh cả nhà em đã có hôn ước, hữu duyên vô phận.”

Phí Di thở dài, nhìn cô đầy hâm mộ, “Bọn con gái nhà chị không học được sự tao nhã của thục nữ Trung Quốc, nhưng cũng không học được tính mạnh mẽ của con gái phương Tây, Trung không tới mà Tây cũng không thành, tội nghiệp lắm. Chỉ hy vọng mẹ mình là khuê nữ trong nội trạch điển hình, có thể cho bọn chị một đôi mắt đen lay láy.”

Cô không biết phải nói gì, đành phải an ủi, “Đừng coi nhẹ mình chị ạ. Có lẽ rất nhiều năm về sau, coi lai sẽ hơn người khác một bậc, rất dễ chiếm được tình cảm của mọi người.”
Phí Di tự giễu, “Con lai ư? Chỉ là tạp chúng mà thôi.”

Sản phẩm phân biệt giai cấp rõ ràng trong thời thực dân, dù có đẹp thì cũng chỉ là một sai lầm.

Cô thở dài một hơi.

Một lát sau, Phí Di lại như thở phào nhẹ nhõm, “Từ nhỏ đến lớn Di Nhã chưa bao giờ thất lễ như ngày hôm nay. Nhưng nhờ vậy mà chị cũng thấy yên tâm… Chị cứ tưởng nó với ngài Tưởng sớm chiều có đôi, sớm đã… May là ngài ấy cũng coi rất lịch thiệp.”

Cô bị lời của Phí Di làm cho tỉnh táo, bấy giờ mới nhận ra rằng: ồ, hóa ra cô đã trở thành phụ nữ, đây đúng là một trải nghiệm hoàn toàn mới.

Hai người đi đến căn phòng ở góc khuất có hai mặt giáp với cảng biển, cửa sổ lại giáp với núi, có treo một cái võng được đan bằng lưới đánh cá; ngoài ra không còn gì có thể nhận ra sở thích của chủ nhân căn phòng. Căn phòng vừa sáng sủa lại sạch sẽ, tường trắng, giường cũng trắng nốt, một khoảng trời màu xanh thẫm từ ngoài cửa sổ hắt vào, sạch sẽ giống như chủ nhân căn phòng là một người nhạt nhẽo.

Cô đến ngồi xuống võng khẽ đung đưa, trên tường gần đó có treo hai tấm ảnh.

Tấm ảnh thứ nhất được chụp tại nhà thờ William II. Vị phu nhân cao gầy mặc chiếc sườn xám dài không tay, mái tóc dài được vấn ra sau đầu bằng một mảnh khăn lụa, trông bà cực kỳ có thần thái, nụ cười dịu dàng lại đầy tự tin, bà ôm một cậu nhóc cao đến eo mình, cậu bé mặc một chiếc áo sơ mi trông rất có phong thái, chân mang một đôi ủng.

Vừa nhìn thấy đôi mắt ảm đạm của vị phu nhân kia, Sở Vọng lập tức biết đôi mắt Tạ Trạch Ích giống ai.

Cô không khỏi mỉm cười: tấm hình này thực sự rất quý giá, bất kể là từ phương diện nào.

Phí Di nói, “Đẹp lắm đúng không? Hiếm khi gặp được một mỹ nhân phương Đông nào lại có nụ cười tự tin và phóng khoáng đến thế. Nghe nói lúc trẻ cha đã từng theo đuổi phu nhân, từng sai người đi khắp nơi mua những loại vải mà phu nhân đã từng mua, phu nhân mua vải nào thì cha chị cũng mua một màu giống hệt, may thành mấy cái cà vạt lòe loẹt đủ sắc. Cuối cùng cũng có một ngày gặp được phu nhân, cà vạt của ông “trùng hợp” cùng màu với màu sườn xám của phu nhân, thế là ông lập tức tiến tới bắt chuyện… Đến bây giờ ông vẫn giữ rất nhiều cà vạt lòe loẹt, lúc nào cũng đeo mấy cái đó, không sợ ai cười mình… và đương nhiên, cũng không ai dám cười ông.”

Tấm thứ hai không biết do ai chụp, chàng trai khoảng mười lăm tuổi mặc áo sơ mi ngắn tay, cúc áo cởi phăng ra; cậu mặc quần đùi hoa hòe, mang dép lê đứng trên bãi cát không biết là ở đâu, tay cậu cầm chai Coca cola, mái tóc bị gió thổi rối tung cả lên. Hình như có người gọi cậu, cậu quay đầu lại, miệng ngậm ống hút nhìn thẳng vào ống kính, dáng vẻ lười nhác nở nụ cười.

Nụ cười của chàng thiếu niên vô cùng có sức hút, tựa như có thể xuyên qua tấm ảnh.

Sở Vọng không nhịn được mỉm cười.

Phí Di ở bên cạnh giải thích: “Lúc đó Zoe mới từ Anh trở về, tính tình nóng nảy. Nhà chị mời thợ chụp ảnh đến chụp ảnh gia đình, chỉ thiếu mặt nó, mọi người chở theo máy chụp ảnh to đùng ra bờ biển chỉ để chụp ảnh cho nó. Hồi đó trong phòng chỉ treo có tấm ảnh bên trái thôi, sau này cha thấy tấm ảnh này đẹp, nên mới kêu người treo tấm này lên cho nó — nhưng đó là chuyện sau khi nó đi Mỹ, có lẽ đến giờ nó vẫn chưa phát hiện.”

Sở Vọng nghiêng đầu, nhớ lại lần đầu tiên cô gặp anh ở bên ngoài cửa sổ của biệt thự họ Kiều — lúc ấy có lẽ anh đã biết làm thế nào để che giấu sự sắc sảo bên người, với một đôi mắt nhìn thấu sự đời.

Cô quay đầu lại, thấy Phí Di vẫn còn ở trong phòng, cô khẽ ồ lên một tiếng.

Phí Di lập tức cười nói: “Zoe không thích người khác vào phòng mình, cũng không cho người ta đụng vào đồ của mình — đây cũng là quy định do cha đặt ra, không biết có phải do nó đề nghị hay không, cũng giống như nó không thích người ta gọi nhũ danh của mình.”

Cô thử thăm dò, “… A Chính ư?”

Phí Di gật đầu, mỉm cười nói tiếp, “Lúc Zoe sáu tuổi thì phu nhân qua đời, nó đã từng làm một bài thơ bằng tiếng Anh chống đối cha mình, đồng thời không cho bất kỳ ai gọi mình là A Chính.”

Sở Vọng thích thú ra mặt, “Thơ gì thế ạ?”

Phí Di nghĩ nghĩ, “Chị cũng không nhớ nữa. Hình như có mấy câu như là: “Sau này khi có vợ, nhất định sẽ không để người phụ nữ khác xuất hiện khiến cô ấy giận; cùng cô ấy đi khắp đó đây, chứ không phải là “sang năm anh đến Luân Đôn đón em”; lúc ấy tôi đã cao lớn, có thể để cô ấy ngồi lên vai mình lén xem hàng xóm cãi nhau, giúp cô ấy hái hoa tường vi trên bờ tường cao nhất; lúc nói chuyện với cô ấy sẽ cúi đầu khom lưng, dù có chuyện gì cũng sẽ dịu dàng kiên nhẫn… Đêm tân hôn tôi sẽ hỏi cô ấy có thích hôn mình không, chỉ cho một mình cô ấy gọi tôi là “A Chính”…”

Sở Vọng ồ một tiếng, cô không ngờ Tạ Trạch Ích còn có thời kỳ ngây thơ như thế, không khỏi bật cười thành tiếng.

Bên ngoài vang lên tiếng gõ cửa nhẹ nhàng, Tạ Trạch Ích chống tay lên khung cửa, hỏi, “Làm gì mà vui thế em?”

Cô nhẹ giọng hỏi lại anh, “Sắp đi hả anh?”

Anh ừ một tiếng, “Vẫn như thường lệ, sáng thứ ba tuần sau.”

Phí Di nói, “Chị xuống phòng bếp xem chừng nào đồ ăn nấu xong.”

Tạ Phí Di lách mình đi ra khỏi phòng, Tạ Trạch Ích bước vào, khép cửa phòng lại.

Cô đang đưa võng, bỗng nhiên nhỏ giọng gọi anh, “A Chính.”

Tạ Trạch Ích dừng bước, “Sao thế.”

Cô không nhịn được lại gọi anh một tiếng, “A Chính.”

Tạ Trạch Ích nhìn cô, “Ơi.”

“Đến đây để em ôm anh một cái nào.”

Tạ Trạch Ích cười, đi tới ôm cô vào lòng.

Cô vùi vào lòng anh, “A Chính.”

Cô thấy Tạ Trạch Ích thở dài một hơi, “Cô Tạ à, em thế này…”

“Hả?”

“… Sẽ khiến người ta không nhịn được mà muốn phạm tội đấy.”

Tạ Trạch Ích một tay nâng eo cô lên, bế bổng cô lên khỏi chiếc võng, khẽ ngậm môi cô rồi dịu dàng hôn.

Mũi chân của cô không chạm xuống đất, không còn chỗ nào để chống đỡ, được anh hôn khẽ rên thành tiếng.

Tạ Trạch Ích đỡ phía sau gáy cô rồi cúi đầu, bờ môi anh lướt dọc theo cổ cô.

Cô bối rối, kêu tên anh, “Tạ, Tạ Trạch Ích!”

Tạ Trạch Ích hồn nhiên đáp lại, “Hửm?”

“Anh thế này khiến em cảm thấy kỳ lạ…”

Giọng nói khàn khàn từ phía dưới cổ của cô truyền đến, “Em không thích à?”

Cô lập tức im lặng.

Nữ hầu đúng lúc gõ cửa, “Mời cậu và cô xuống dùng cơm.”

Tạ Trạch Ích ừm một tiếng, quay đầu đáp lại, “Xuống ngay.”

Cô nhân cơ hội này trốn khỏi lòng anh.

Tạ Trạch Ích mỉm cười đuổi theo sau.

Hai người vừa đến cầu thang đã nghe thấy tiếng huân tước Tạ dạy bảo hai bà vợ đang cãi nhau từ xa, “Hôm nay Ana và Felicia lại cãi nhau à?”

Hai bà mỗi người tranh nhau nói phần mình.

Di Nhã và một người em gái nói giúp mẹ mình, “Hai người vẫn hòa thuận mà, chỉ là cãi vặt thôi!”

“Vậy à, đều là người một nhà cả nên quan trọng là phải vui vẻ.”

Sở Vọng lại cười.

Huân tước Tạ hừ hừ vài tiếng, “Zoe và Linzy ở trển hả?”

Phí Di cười nói, “Họ xuống rồi kia kìa.”

Tạ Trạch Ích từ phía sau đi lên nắm tay cô một cách tự nhiên, để cô ngồi xuống ghế.

Trong bữa tiệc, ánh mắt mọi người đều tập trung lên người cô, mỗi người một vẻ mặt. Di Nhã nhiệt tình lấy lòng, sai nữ hầu, “Lấy cho cô chủ hai miếng cá chưng đi.”

Phí Di dùng ánh mắt ngăn nữ hầu lại, im lặng để nữ hầu bưng hai chén canh móng heo hầm chung đường lê phù dung để trước mặt hai người, dịu dàng nói, “Hai người dùng canh trước đi.”

Huân tước Tạ bỗng hỏi, “Mấy ngày nữa là đi rồi phỏng?”

Tạ Trạch Ích húp canh, tùy ý đáp lại.

Một bà vợ vội lên tiếng xum xoe, “Vậy thì phải làm nhiều món cậu thích ăn vào. Sau này hiếm mà được ăn cơm nhà lắm!”

Mấy người xung quanh vội vàng phụ họa.

Sở Vọng cố gắng nghe từ tiếng Quảng Đông rồi chuyển sang tiếng Đức mà cố nén không được cười, cô thầm nghĩ, từ nhỏ đã sống trong môi trường ngôn ngữ khác nhau thế này thì khó mà không trở thành thiên tài tinh thông mười ngôn ngữ.

Cô thử món rau xào và canh củ cải của đầu bếp A Khai, sau đó ngẩng đầu hỏi, “Con có thể xin công thức nấu hai món này của đầu bếp A Khai không ạ?”

Mọi người trên bàn ăn đều sững người, Phí Di vội cười nói, “Dĩ nhiên là được rồi!” Sau đó cô ta gọi nữ hầu đến, “Đi vào mời đầu bếp A Khai ra.”

Sở Vọng ngẩng đầu nhìn Tạ Trạch Ích, phát hiện ra anh đang cầm chén và muỗng múc canh lẳng lặng nhìn cô, khóe môi còn mang theo ý cười.

Nhìn nụ cười này của anh, cô mới chậm chạp nhận ra rằng mình chưa bao giờ thử tìm hiểu khẩu vị của bất kỳ người nào.

Đây là lần đầu tiên như được mở mang.

Lòng người đều làm bằng thịt, không ai không khao khát rằng tình cảm mà mình cho đi sẽ được đáp lại bằng sự dịu dàng.

Huân tước Tạ nhìn cặp vợ chồng son liếc mắt đưa tình với nhau, ông cảm thấy vui vẻ hẳn lên.

Lúc trước ông cứ nghĩ rằng nhà họ Tạ nợ cô một ơn cứu mạng nên luôn coi cô là ân nhân.

Đến bây giờ ông mới biết, đây không phải là ân tình mà hai đứa nó là đôi bên tình nguyện.

Chương 141: Kết thúc (3)

Cô cứ tưởng giấy mời đến căn cứ kỹ sư sẽ trịnh trọng lắm, ví dụ như một lá thư khuyến khích dài đầy nhiệt tình, hoặc là cử người quan trọng đến cửa truyền lời…

Nhưng toàn bộ thông tin cô nhận được chỉ vỏn vẹn một câu: “Sáng thứ ba tuần sau.”

Mà Tạ Trạch Ích nói với cô là anh cũng chỉ biết được mỗi vậy.

Có lẽ đó cũng là thông tin nội bộ bên quân đội, muốn rạch rõ giới hạn với bên “kỹ sư” các cô.

Nếu là trước đây tại xứ Cảng Thơm nơi phổ biến chiến tranh gián điệp này, một đại tá người Mỹ ngồi trong nhà một trung tá người Anh nói chuyện nửa tiếng thì kiểu gì cũng bị bắt vào tù dụng hình ép cung cho xem. Mà bây giờ hai người Tạ Trạch Ích và Boulon lại rất đường đường chính chính, cũng chẳng rõ là công lao của ai nữa.

Nói tóm lại, nội dung hai người nói chuyện chắc chắn không chỉ “sáng thứ ba tuần sau”.

Sở Vọng không khỏi than: còn chưa tới căn cứ mà đã bị phân biệt đối xử rồi, vạch rõ giới hạn tạo ra ngăn cách, quả thực rất bất lợi cho đoàn kết nội bộ.

Và đương nhiên cũng không có lợi cho cuộc sống vợ chồng.

Còn bà Cát thì suy nghĩ đơn giản hơn nhiều. Nghe nói hai người chỉ ở lại Hương Cảng vài hôm thì rất khó hiểu, “Nghỉ kết hôn chỉ có bảy tám ngày? Có chuyện gì mà gấp gáp vậy hả?”

Cô đành an ủi bà Cát: “Chuyến này đi đường dài, coi như du lịch trăng mật cũng được mà cô.”

Bà Cát nói: “Có ai hưởng trăng mật mà ba năm liền không?”

Cô á khẩu không trả lời được, “Cháu chỉ thuận miệng nói thế thôi, chứ chưa chắc đã là ba năm…”

“Rốt cuộc là mấy năm?”

Rốt cuộc là mấy năm thì thật sự còn phải xem thiên thời địa lợi nhân hòa thế nào đã, rồi còn có khả năng chịu nổi không, nên cô không thể nói chuẩn xác được.

Mấy ngày qua cứ thấy cô là bà Cát lại hỏi chuyện này, cô không thể trả lời qua loa được, chỉ biết ôm đầu trốn chui trốn lủi.

May mà có Tạ Trạch Ích cứu nguy kịp thời, chơi với bà Cát mấy ván mạt chược, không biết nói ba hoa gì mà dỗ bà rất vui, khiến bà chủ động thu xếp hành lý cho cô, còn đâu vẻ càu nhàu của mấy ngày trước.

Cô rất tò mò, muốn gọi riêng Tạ Trạch Ích ra để truyền thụ kinh nghiệm cho mình, nhưng mấy ngày trước khi khởi hành lại chẳng thấy bóng dáng anh đâu.

Một ngày nào đó nhân lúc bà Cát ra ngoài, ngồi chơi bài với ngài Tưởng và Di Nhã thuận miệng hỏi đến chuyện này, ngài Tưởng hỏi cô: “Muốn nghe thật hả?”

Cô do dự gật đầu.

Hai người họ nhìn nhau, Di Nhã lập tức cười phá lên.

Ngài Tưởng ho khan: “Cậu Tạ thề thốt tuyên bố với dì Cát là: đảm bảo ít nhất một năm sinh một đứa. Nếu vượt quá kế hoạch thì sẽ nhờ người chở máy bay đưa về nhà dì Cát ở Hương Cảng. Nghe thế nên dì Cát vui lắm.”

Nói xong, đến ngài Tưởng cũng không khỏi mỉm cười.

Cô biết hôm đó có bao nhiêu người đến nhà đánh bài. Lúc này cô chỉ cảm thấy may mắn vì mình sắp rời khỏi đây, nếu không sẽ bị cười thối mũi mấy năm cho xem.

Cô suy nghĩ, quyết định chúc hai người trước mặt hôn nhân hạnh phúc sớm, cũng mời ngài Tưởng tham dự trò cá cược dài ba năm với mình, cược đến lúc cô và Tạ Trạch Ích về Hương Cảng thì nhà họ Tưởng hay nhà họ Tạ có nhiều con hơn.

Di Nhã đỏ mặt.

Ngài Tưởng cười, “Chỉ mới cưới có mấy ngày mà miệng lưỡi của cô ba ghê gớm thật.”

Nhưng rồi ông cũng chấp nhận trò cá cược, còn lấy mảnh đất ở ngoại ô ở đại lộ King’s làm vật cược.

Tuy Tạ Trạch Ích và cô đều biết đây chỉ là đùa thế thôi, nhưng bà Cát nghe lại rất bùi tai. Chuẩn bị cho cô mấy chiếc vali đựng đầy thuốc bắc rồi, còn căn dặn: “Bảo quản ở nơi khô ráo là đủ nửa năm đến một năm… Nhưng nếu cảm thấy thời cơ thích hợp cơ thể cũng khỏe mạnh thì dừng thuốc cũng được.”

Cô gật đầu vâng dạ.

Mọi thứ xuất hành đều do bà Cát chuẩn bị cho cô, chứ cô không có thứ gì muốn đem theo. Có điều trước khi đi, Sở Vọng vẫn đến tiệm sách nhà xuất bản Tam Liên mua hơn mười cuốn “Tam hiệp ngũ nghĩa”, “Vĩnh khánh thăng bình” là “Truyện kiếm hiệp Thục Sơn” được đóng buộc chỉ, chỉnh sửa qua loa rồi đặt nó vào trong vali với bút máy.

Bà Cát thấy vậy thì chỉ lẩm bẩm: “Thích đọc tiểu thuyết từ lúc nào vậy?” Nhưng cũng không cảm thấy có gì kỳ lạ, thôi thì cứ kệ con bé.

Trước khi chia tay, có một cuộc gọi từ đảo Penang gọi đến.

Chân Chân không ngờ cô lại rời đi nhanh như vậy, những lời đã chuẩn bị coi như vứt đi, cứ nghẹn ngào cả buổi, Sở Vọng cũng không biết phải nói gì an ủi cô ấy.

Cuối cùng chính cô tự an ủi mình: “Cũng tốt, mấy năm nữa chị tốt nghiệp đại học rồi, he he! Ba mươi năm Hà Đông ba mươi năm Hà Tây, đến lúc đó chớ cười chị lớn hơn em hai tuổi mà vẫn ăn chùa mấy năm đó.”

Ngoại trừ các căn cứ của hải quân và lục quân ra thì ở Penang không có đường dây nối đến Hương Cảng. Chers đã cố gắng tạo cơ hội cho Chân Chân rồi, nhưng cũng không thể gọi điện thoại đường dài quá lâu được.

Cúp điện thoại rồi ngẩng đầu nhìn lên, đập thẳng vào mắt là khung hình lồng giấy chứng nhận kết hôn sặc sỡ, bên trên viết rất rõ: Đăng ký kết hôn tại Penang vào ngày 29 tháng 4.

Sở Vọng thầm thở dài. Cái con người này, cô còn chưa đặt chân đến Penang mà đã bị anh lừa vậy đó.

Nhìn ra ngoài vườn hoa, chợt thấy Tạ Trạch Ích xách hành lý từ trong nhà ra xe.

Cô đẩy cửa sổ ra hô to: “Anh Tạ!”

Chiếc áo sơ mi nhạt màu trên người Tạ Trạch Ích đã thấm ướt mồ hôi, vì anh đứng theo chiều nắng nên khi ngoái đầu thì chói tới mức không mở nổi mắt, nhưng vẫn mỉm cười.

Cô lập tức nghĩ: thôi thôi, không lỗ không lỗ chút nào.

Trong nắng chiều ở bờ biển ngày xuân, vầng thái dương dần dần khuất bóng, cô nằm gật gù trên bệ cửa sổ, không hề phát hiện sao trên trời đã chuyển.

Mở mắt ra thì thấy Tạ Trạch Ích cúi người nhìn cô, hỏi nhỏ: “Cô Tạ, nghĩ xem còn thiếu hành lý gì không?”

Cô lắc đầu.

Anh hôn lên má cô: “Vậy thì chỉ còn thiếu một thứ nữa thôi.”

Dứt lời, anh ôm cả cô lẫn gối từ trong nhà đi ra vườn hoa, đặt cô ngồi vào ghế phụ. Giao chùm chìa khóa cho quản gia, dặn dò mấy câu rồi xoay người ngồi vào ghế lái, khởi động xe.

Mất đến mấy chục phút mới lái xe đến núi Tích Long. Trong màn đêm phủ đầy sương trắng, có một chiếc M-113 tạm thời đậu trên đỉnh đồi. Không có nhiều thời gian để hàn huyên mọi người, lên máy bay rồi tính tiếp. Lúc cô ôm gối xuống xe, đại tá Boulon và thiếu tá không quân cũng bước ra khỏi buồng lái, giúp Tạ Trạch Ích chuyển vali hành lý lên máy bay..

Sắp xếp mọi thứ xong xuôi, mời phụ nữ lên ngồi trước rồi họ mới lần lượt lên máy bay.

Thiếu tá vẫn chưa vào buồng lái, bất chợt có một chiếc xe hơi chạy lên sườn núi, giọng của tài xế còn át cả tiếng động cơ – người thanh niên hét lớn: “Linzy! Đợi đã, Linzy ——”

Thiếu tá ló đầu ra, “Còn chưa lên đường mà tình địch bản xứ đã ra oai phủ đầu rồi.”

Boulon cười: “Zoe, cậu nói xem có cần đợi không?”

Tạ Trạch Ích nghe thấy tiếng động, nhướn mày nhìn ra bên ngoài.

Chàng trai kia thắng xe cái gấp, nhảy xuống xe chạy thẳng đến máy bay.

Anh ta có gương mặt kiên nghị hình chữ điền, vóc dáng cao ráo. Sở Vọng trông có vẻ quen nên đứng dậy, đi ra khỏi khoang máy bay.

Không đợi anh mở miệng, Sở Vọng đã hỏi: “Anh là?”

Người kia tức khắc đỏ mặt, thấp giọng nói: “Anh, anh từng theo đuổi em, chắc em không nhớ.”

Anh ta vừa dứt lời thì Boulon đã hỏi bằng tiếng Anh: “Zoe, cậu ta nói gì thế? Có phải cậu ta nói mình từng theo đuổi vợ cậu không?”

Người kia mở miệng, nói tiếp, “Nhưng chuyện đó không quan trọng… Là thầy Từ nhờ anh đến.”

Cô hỏi: “Vậy thầy ấy đâu?”

“Thầy ấy nói, cân nhắc nhiều nhân tố, tạm thời thầy ấy chưa thể rời khỏi Hương Cảng… Nên mới bảo anh đến hỏi em một câu,” Anh ta gãi đầu, như thể cũng cảm thấy vấn đề này khó hiểu: “Làm thế nào để gặp em?”

Cô im lặng, nghĩ bụng, lúc nào gặp không phải do thầy quyết định sao?

Đến khi nghĩ xong, cô lập tức cười nói, “Vào năm chùm tia Pi3 đến Trái đất, Massachusetts, năm 22 tuổi.”

Nam sinh càng mù mờ: “Nghĩa là sao? Rốt cuộc hai người trao đổi gì thế?”

Sở Vọng bật cười: “Anh đã chuyển sang ngành vật lý rồi à?”

Anh ta nói: “Cuộc sống cũng cần phải khiêu chiến chứ.”

Cô rất hiểu vì sao Tạ Trạch Ích lại bảo anh ta đến hỏi. Nếu không phải không đúng dịp thì cô rất muốn khích lệ anh ta.

Nghĩ một hồi rồi cô nói: “Chân của thầy Từ, rốt cuộc là vì sao lại thế?”

Anh ta lắc đầu, “Anh cũng không biết, thầy ấy không kể.”

Cô cười khổ. Từ Thiếu Khiêm định đợi đến năm đó mới nói cho cô biết thật sao? Dù cô có cai thuốc cai rượu, tăng cường tập luyện, không gặp thiên tai bệnh tật thì cũng khó mà sống dai như vậy được.

Thôi bỏ đi, thầy ấy không muốn nói thì chắc cũng có nguyên do của mình.

Cô cám ơn người nam sinh kia rồi xoay người vào khoang; thiếu tá không quân lập tức rút thang, đóng cửa khoang lại.

Anh ta đuổi theo mấy bước, hô to: “Rốt cuộc câu này có nghĩa là gì, có thể cho anh biết được không?”

Boulon tốt bụng khuyên bằng tiếng Anh: “Tốt nhất là cậu nên tránh xa ra ——”
Động cơ phát động, thổi xào xạc những bụi cây gần đó. Cách mặt đất mấy chục mét nhìn xuống, anh ta vẫn đứng đó trông theo với vẻ mù tịt.

Tạ Trạch Ích cười nói, “Tuần trước tổ chức hôn lễ có phải rất sáng suốt không?”

Boulon nói, “Nghe bảo số đàn ông trong căn cứ gấp mười hai lần phụ nữ, thanh niên độc thân tài giỏi vô vàn, mà con gái trẻ đẹp như vợ cậu lại rất hiếm.”

Tạ Trạch Ích nói, “Phụ nữ đã kết hôn không được xếp vào đó.”

Boulon cười to, “Vào căn cứ ai cũng phải đổi tên. Lúc đăng ký ghi danh chắc là chưa tính hôn nhân của hai người vào đâu.”

Sở Vọng đột nhiên nổi hứng, “Nói thế tức là ở trong căn cứ em vẫn thuộc hàng ngũ quý tộc độc thân rồi!”

Tạ Trạch Ích quay sang mỉm cười: “Cô Tạ, em muốn làm gì?”

Hai mắt cô lấp lánh: “Tên mới của em là gì thế? Ai là cô Tạ? Không biết cô Tạ là ai hết.”

Boulon đưa một bức thư cho cô: “Quy định là sau khi xuống mới được mở ra kiểm tra, phải mang theo bên người, dùng thân phận mới và bức thư này thì mới có thể vào căn cứ.”

Cô nhận lấy bức thư.

Boulon ngồi ở đằng sau mở khóa mật mã ra, đưa vali cho Tạ Trạch Ích, “Cậu cũng thế.”

Cô giơ cao bức thư, đột nhiên vô cùng mong đợi, tạm thời quên mất bức thư này là tài sản chung của cô và Tạ Trạch Ích, mà Tạ Trạch Ích lại còn có thêm một chiếc vali.

Trong khoang không có các biện pháp tăng áp suất và giảm sốc. Thể lực của cô kém, lại không được đào tạo chuyên nghiệp nên khi máy bay bay lên cao, chỉ chòng chành chút thôi mà đã nhanh chóng ngủ thiếp đi rồi.

Trong mơ màng, cô nghe thấy Boulon nói: “Nghe nói dãy nói này tiếp giáp với một con sông dài, chia đất nước này ra làm hai.”

Thỉnh thoảng lại nghe thấy ông ta thán phục: “Nhìn mới thấy giống con rồng ngủ đông.”

“Thì ra đài viễn vọng kéo dài từ Bắc Kinh đến đây.”

“Chắc chắn người Pháp phải đến đây, không là họ sẽ không biết rồi có ngày chỗ này sẽ rung chuyển cả thế giới.”

Cô tựa đầu vào vai Tạ Trạch Ích mơ màng nghe rồi lại mơ màng ngủ, mơ thấy Tạ Trạch Ích và cô từ sông Hoài đi đến Tần Lĩnh, đi thẳng đến vùng quan ngoại.

Lúc tỉnh dậy thì máy bay đã hạ cánh, nhìn ra ngoài cửa sổ, mặt trời đã lặn về Tây, trong vùng hoang dã mênh mông là ráng chiều đỏ ửng, tựa như khu vực ma quỷ.

Boulon nói: “Vì nhiều lý do nên máy bay không thể trực tiếp hạ cánh ở căn cứ. Ở đây cách căn cứ còn khoảng 470 dặm nữa, Ở điểm hạ cánh có một chiếc xe Jeep tám xi lanh, trên xe có trang bị la bàn, bản đồ du lịch, lều, thực phẩm và thiết bị sưởi ấm, nhiên liệu đủ để lái xe đến ngoài hàng rào cách trung tâm căn cứ 5 dặm, cứ đậu xe ở chỗ tiếp nhiên liệu, tức khắc sẽ có người dẫn hai người đến thị trấn trung tâm.”

Nói xong, ông ta giao hai thiết bị nghe trộm cho Tạ Trạch Ích.

“Đây là…” Tạ Trạch Ích cười nói, “Quà đặc biệt của đại tá hả?”

Sở Vọng không hiểu.

Boulon ngẩng đầu nói: “Mỗi một kỹ sư vào căn cứ đều sẽ bị nghe lén 24/24, đây là quy tắc. Đặc quyền này tôi giao cho Zoe.”

Sở Vọng nghiêng đầu suy nghĩ, “Quà cưới?”

Boulon cười sâu xa: “Để xem Zoe sử dụng quyền lợi này thế nào.”

Máy bay dừng lại, từ xa có thể trông thấy một chiếc xe Jeep màu đen ở trong núi.

Tạ Trạch Ích nhảy xuống khoang máy bay, lên xe kiểm tra có thiết bị nào có thể sử dụng không. Lúc trở lại, thiếu tá và Boulon đã dỡ hành lý xuống máy bay.

Mọi thứ đã xong xuôi, Boulon bắt tay tạm biệt anh, lời tạm biệt là: “Trong vòng mấy năm tới tính từ hôm nay trở đi, bên ngoài tạm thời không có Zoe Tse và Linzy Tse. Chúc hai người may mắn.”

M-311 cất cánh bay xa, cả hai xoay người đi về phía xe Jeep sắp sửa đưa họ đến một nơi bí ẩn.

Chất hành lý lên xe thì cũng vừa lúc mặt trời xuống núi.

Tạ Trạch Ích đậu xe trên bãi cỏ cạnh bờ sông, lấy lều vải ở sau xe ra dựng lều.

Sở Vọng lục tìm cuốn “Tam hiệp ngũ nghĩa” ở trong vali, Tạ Trạch Ích đã dựng xong chỗ ngủ tạm thời, ở xa hỏi: “Em xem trong hành lý có đèn pin với đồng hồ không?”

“Ở rương nào?”

“Em cứ tìm xem.”

Hành lý của hai người đều do huân tước Tạ và bà Cát chuẩn bị cho, nên không ai biết đồ nằm ở đâu cả.

Cô kiểm tra toàn bộ trong xe, tìm được đèn pin dự bị ở ghế trước, lại mò được một chiếc hộp đựng một cặp đồng hồ bỏ túi, sau đó ném cả thảy cho Tạ Trạch Ích.

Anh thong thả đỡ lấy.

Chợt trong xe truyền đến tiếng kêu sợ hãi.

Tạ Trạch Ích tưởng xảy ra chuyện nên lập tức chui ra khỏi lều, mở cửa xe ——

Chỉ thấy một tay Sở Vọng cầm bộ đồ lót gợi cảm rất thiếu vải, mặt đỏ bừng, quay đầu hỏi anh: “Ở đâu ra thế này?”

Tạ Trạch Ích cũng sững sờ. Cúi đầu xuống mới phát hiện, không chỉ bộ trên tay cô mà ở trong chiếc vali dưới chân cô cũng chất đầy.

Hoặc là huân tước Tạ hoặc là bà Cát chứ không thể có người thứ ba được.
Tạ Trạch Ích xách Sở Vọng đỏ mặt ra khỏi xe, khép vali lại ném vào trong xe, đóng cửa xe, ôm cô đi vào lều vải.

Bên trong không quá rộng, không gian chỉ đủ để cô giang hai tay hai chân, nên dĩ nhiên Tạ Trạch Ích cũng không thể thoải mái ngủ ngon giấc được rồi.

Vừa kéo khóa cửa lều lại là bên trong lập tức tối om.

Trong ngực ấm áp, Tạ Trạch Ích không kìm nén được ôm hôn cô.

Sở Vọng giơ tay đẩy anh ra: “Anh, anh Tạ! Ở vùng hoang dã…”

“Thì không được hả?”

Sở Vọng vẫn còn kích động vì chiếc vali chứa toàn đồ lót thiếu vải, giờ bị anh hôn lại càng thêm hoảng hốt, kéo chăn mỏng tới quấn chặt người mình đề phòng anh.

Tạ Trạch Ích nhìn cô run rẩy thì bật cười. Anh cúi người xuống, thong thả ôm cả người lẫn chăn vào lòng, một tay mở đèn pin rồi ngậm vào miệng, tay kia với lấy vali mà Boulon đưa cho anh, mở sáu khóa mật mã ra.

Nghe thấy tiếng động, người trong lòng anh chui ra, để lộ cái đầu bé nhỏ, nhìn thấy khẩu súng lục đời mới trong vali thì thở dài: “Ôi chao, Smith Wesson.”

Tạ Trạch Ích ôm cô trong vòng tay, dịu dàng cười nói: “Nghiện rồi hả?”

Cô gật đầu, “Còn không phải do anh Tạ dạy sao?”

Tạ Trạch Ích cười hỏi: “Muốn chơi không?”

Hai mắt cô sáng rực, gật đầu cái rụp.

Tạ Trạch Ích nhìn cô chằm chằm rồi lắc đầu, “Khẩu này không được?”

“Tại sao lại là ‘khẩu này’?”

Tạ Trạch Ích cười, sán đến gần bên tai cô, giọng trầm trầm lại còn phả ra hơi nóng, “Khẩu khác thì được.”

Cô nhìn thẳng vào mắt Tạ Trạch Ích, suy nghĩ chừng ba giây mới lập tức hiểu ra, mặt thoắt đỏ, lại chui vào trong chăn làm ổ trước ngực anh, lật cuốn “tam hiệp ngũ nghĩa” soạt soạt mà không nói gì.

Tạ Trạch Ích ôm cô, dịu dàng nói, “Ra đây xem.”

“Không.”

“Ở trong đó xem được hả?”

“Không xem gì hết!”

Ở trong chăn thiếu ô-xi, chỉ chốc lát sau cô đã thở phì phò.

Tạ Trạch Ích cười, dùng khuỷu tay chống chăn để lộ khe hở ở trên đỉnh đầu cô, ngậm đèn pin trong miệng chiếu xuống, ánh sáng rọi vào qua khe.

Trước ngực anh là gương mặt nho nhỏ đang ngước nhìn, sách mở ra, cầm bút viết chữ.

Nếu người khác mà nhìn thì chắc hẳn sẽ cho rằng cô chỉ là một cô gái 16 tuổi thích đọc tiểu thuyết.

Nhưng chỉ có cô biết, tháo chỉ cuốn “Tam hiệp ngũ nghĩa” ra, nội dung bên trong là nguyên mẫu khó hiểu nhất về khí tượng động lực học hiện nay.

Tạ Trạch Ích mỉm cười, giao nguồn sáng duy nhất trong bóng tối cho cô, còn mình nằm trong lều, lắp hai chiếc máy nghe lén vào trong hai chiếc đồng hồ bỏ túi.

Trong lòng anh là cơ thể bé nhỏ ấm áp dễ chịu, không khác gì những lúc ôm cô ngủ.

Lắp xong một chiếc đồng hồ, anh cứ tưởng cô đã ngủ nên nhẹ nhàng đặt đồng hồ sang một bên. Chợt trong chăn động đậy, cô thò đầu ra, ngẩng đầu ngậm đèn pin trong miệng rồi lại lùi về sau nằm.

Tạ Trạch Ích cười, tưởng cô bất mãn vì mình cướp đi nguồn sáng duy nhất của cô. Một giây sau cô lại ló đầu ra, hôn chụt một cái lên môi anh rồi nhanh chóng xấu hổ lẻn vào lại trong chăn, bên trong truyền đến tiếng mở thư sột soạt.

Chỉ chốc lát sau, cô lại phì phò cầm cả thư lẫn đèn pin chui ra ngoài, dựa vào lòng anh đọc thư.

Tạ Trạch Ích nhìn cái đầu bù xù kia, chợt trước ngực và trong bụng có cảm giác ngứa ngáy.

Sở Vọng cảm thấy anh vòng tay qua eo mình nên là áp sát vào ngực anh, bỗng có cảm giác thỏa mãn và an toàn hơn bao giờ hết, bèn thấp giọng gọi: “Anh Tạ?”

“Hả?”

“Xét thấy trình độ biết chữ của anh Tạ có hạn, để cô Tạ đọc thư cho anh nghe có được không?”

Tạ Trạch Ích hôn lên đỉnh đầu cô, “Ừ.”

Trên giấy là thể chữ Kim mạnh mẽ, nét chữ rất thân thuộc.

Bên trên viết:

Để đánh thắng quân địch, tài trí nhất là biết dùng mưu, thấp hơn thì dùng các biện pháp ngoại giao, thấp hơn nữa là dùng vũ lực, hạ sách nhất mới phải đánh thành.

Mới hay cái nạn đao binh, thánh nhân khi gấp mới dùng mà thôi.*

(*Câu trên trích từ Binh pháp Tôn Tử, câu dưới trích từ bài Chiến thành nam của Lý Bạch, Anh Nguyên dịch.)

Lật tờ giấy lại, đằng sau viết hai cái tên.

Cô nhẹ nhàng đọc to: “Lục Kinh Cùng, Lục Phương Đồng.”

Tạ Trạch Ích hỏi: “Là tên của chúng ta hả?”

“Vâng.”

“Có nghĩa là gì?”

“Nghiên cứu đến già, hương thơm theo mãi.”

“Ai nghiên cứu đến già, ai hương thơm theo mãi?”

“Em là vế trước còn anh vế sau.”

Cô tựa đầu vào lòng anh, thấp giọng hát chơi: “Bên bờ đông là nàng mỹ nhân, còn bờ tây Hoàng Hà chảy xiết.”

Tạ Trạch Ích hỏi nhỏ: “Vui đến thế hả?”

Hát xong cô lại cười khanh khách, xoay người ôm lấy anh, gọi nhỏ, “Anh Lục.”

Tạ Trạch Ích nhắm mắt, không kìm được mỉm cười, “Ừ.”

Dưới ánh trăng sáng tại bãi cỏ bên bờ sông, cô và Tạ Trạch Ích lặng lẽ ôm nhau giữa đất trời bao la.

Bất chợt cô nhớ tới một bài thơ học thuộc lòng hồi nhỏ:

Vừng trăng ra núi Thiên San,

Mênh mang nước bể mây ngàn sáng soi.

Gió đâu muôn dặm chạy dài,

Thổi đưa trăng sáng ra ngoài Ngọc Môn.

Bạch Đăng quân Hán đóng đồn,

Vùng kia Thanh Hải dòm luôn mắt Hồ.

Từ xưa bao kẻ chinh phu,

Đã ra đất chiến, về ru mấy người?*

(*Bài thơ Quan San Nguyệt của Lý Bạch, Tản Đà dịch.)

Có thể Tạ Trạch Ích không hiểu, nhưng khoảnh khắc lúc này đây khi hai người ở bên nhau.

Là khoảnh khắc quý báu vô vàn, không một ai có thể sánh cùng.

– Hoàn chính văn –

Chương 142: Ngoại truyện 1: Antares (1)

Thiên văn học không có giải Nobel, chỉ có giải thưởng Elizabeth gold crown.

Các phòng thí nghiệm lớn nhỏ ở châu Âu thường truyền tai nhau một câu: “Nếu đạt được Gold crown của giới thiên văn học thì sẽ có được một ngôi sao của riêng mình trong vũ trụ bao la. Rồi trước tuổi ba mươi, dùng chiếc nhẫn cùng quang phổ của sao alpha mà nó đại diện để cầu hôn người mình yêu thì cũng giống như việc trao cho người đó sự tận tâm và học thuất suốt đời của mình.”

Khoa học thế kỷ 18 và thế kỷ 19 được đưa vào thơ ca chủ nghĩa lãng mạn và triết học khoa học theo chủ nghĩa du vật ở Anh; đến những năm cuối cùng của thế kỷ 19, chủ nghĩa lãng mạn dần dần suy yếu, thiên văn học lại trở thành một nhánh của chủ nghĩa lãng mạn.

Phòng thí nghiệm Cavendish chưa bao giờ thiếu giải Nobel, đặc biệt là trong lĩnh vực Vật lý hạt nhân.

Có rất nhiều người ở phòng thí nghiệm vẫn không bao giờ quên cái ngày mà Rutherford cầm luận văn của một sinh viên Trung Quốc bước vào phòng thí nghiệm, tuyên bố với mọi người rằng: “Trong tương lai ắt người này sẽ thành công trong lĩnh vực cơ học lượng tử, nhất định không thể coi thường.”

Hai tháng sau, chàng thanh niên người Trung mặc áo sơ mi trắng mộc mạc bước vào phòng thí nghiệm, anh ta chọn học song song vật lý thiên văn và vật lý hạt nhân.

Anh ta chỉ khoảng hơn hai mươi, vóc người cao lớn, về ngoài nho nhã, dịu dàng tựa mặt nước giữa biển sâu, dù vậy vẫn không che giấu được sự cuồng ngạo và cô độc ẩn trong khí chất của mình.

Tuổi hai mươi của anh dường như khác hẳn với mọi người.

Đây là độ tuổi ham chơi nhất.

Người khác vẫn còn ngây ngô với mọi thứ xung quanh, thích ba hoa chích chòe, thích đi chơi đó đây; còn anh lại như đã rửa sạch phấn hoa.

Không phải du học sinh Trung Quốc nào lập gia đình sớm cũng thế. Anh được dạy dỗ tử tế, nói chuyện vui vẻ, thích xem việc giúp người là niềm vui, đã vậy lại còn biết khiêm tốn, quần áo luôn được là ủi thẳng nếp, trên người bao giờ cũng thoang thoảng hương xà phòng và mùi thảo dược nhàn nhạt khiến người ta cảm thấy thân thiết. Không phải anh là người không biết giao tiếp, không giống người đã từng chịu gian khổ, càng không giống người xuất thân nghèo khó.

Nhưng tất cả những điều đó lại khiến anh vô tình nhận được cảm tình của đông đảo nữ sinh, là con rể vàng tuổi trẻ tài cao trong mắt các quý phu nhân phú thương Hoa kiều.

Nhưng chỉ cần bọn họ chịu khó tìm hiểu một chút thì sẽ thất vọng từ bỏ —— bởi vì anh đã có vợ ở Quảng Đông quê mình.

Có người từng gặp cô ấy ở Cambridge nhận xét: đôi mắt khẽ xếch rất có tinh thần, nhưng các bộ phận khác trên ngũ quan lại không như vậy. Nếu là hai năm trước thì còn có thể đánh giá vẻ ngoài xinh đẹp thoát tục, song dáng người có hơi nhỏ con, hơn nữa vì bó chân theo hủ tục nên khi bước đi rất chập chững, yếu ớt mong manh – không những cô ấy không biết nói tiếng Anh, mà còn không thể sinh con được.

Nghe kể thì có vẻ không phải là bạn đời thích hợp.

Phần lớn du học sinh châu Âu đều lập gia đình trước ở trong nước, đến châu Âu thì có người mang theo vợ theo cùng, cũng có người để vợ lại trong nước, nhưng có một điểm chung là khi đặt chân tới đất nước có phong tục cởi mở thì gần như đều trở thành ‘có tiếng không có miếng’.

Mà anh lại là một  trường hợp đặc biệt.Anh không tham dự những buổi gặp gỡ, rất ít nhận lời mời của người khác, cũng không thường ra ngoài đi chơi đó đây. Chuyện anh thường làm nhất chính là ra vào nhà, phòng thí nghiệm và đài thiên văn, thường xuyên ngồi ngẩn ngơ trên núi dưới bầu trời sao đêm hè, dường như không biết sao dời trăng lặn, không biết mệt mỏi.

Có một cô gái mười sau tuổi là con của giáo sư vật lý nào đó không tin anh yêu vợ mình sâu đậm đến thế, cô ta từng làm khách không mời đến ấn chuông nhà trọ của anh, chất vấn vợ anh có điểm nào tốt. Anh không hề chê trách khách đến nhà thất lễ mà còn mời mấy mấy bà hàng xóm  cùng vào tham quan nhà anh.

Cô gái nhỏ tò mò với mọi thứ, thậm chí có một giây phút nào đó đã chiến thắng cả sự tò mò về anh.

Cô ấy hỏi: “Đây là cái gì?”

Anh đáp: “Là một loại thêu hoa của Trung Quốc.”

“Ai thêu thế?”

“Vợ của tôi.”

Cô lại hỏi: “Đây là cái gì?”

Anh đáp: “Là nấm đóng hộp, dùng để ăn kèm với cháo.”

“Mua ở đâu thế?”“Vợ tôi gửi đến.”

Cô trông thấy trên bàn đọc sách của anh có chặn một tờ giấy đã viết một nửa: “Anh viết gì thế?”

“Viết thư cho vợ tôi.”

“Bao lâu viết một lần?”

“Mỗi ngày.”

“… Bao lâu rồi anh chưa gặp cô ấy?”

“Hai năm năm tháng mười ba ngày.”

Rồi cô lại ngửi thấy mùi thảo dược trên người anh – mùi phát ra từ lư hương cổ tinh xảo. Cô lập tức đoán ra ngay lai lịch của nó từng qua tay ai, suýt nữa rơi nước mắt: “Đây cũng là của vợ anh gửi đến phải không?”

Anh mỉm cười: “Đúng vậy, sức khỏe cô ấy không tốt, đây là một vị thảo dược mà cô ấy hay dùng.”

Cô gái dựa vào bàn khóc lớn, khóc đến mức ướt nửa tờ giấy Tuyên Thành dùng để viết thư của anh.

Anh không nói gì, đợi cô khóc xong thì bảo người giúp việc làm cho khách một ly kem dâu, sau đó nhờ mấy bà hàng xóm đưa cô về nhà.

Bạn bè từng khó hiểu hỏi anh: “Nếu như sau này cậu nhận được chiếc nhẫn kim cương được lấy tên từ một ngôi sao, cậu tặng quang phổ cho vợcậu, mà cô ấy thậm chí còn không hiểu được nó có nghĩa là gì thì thế nào?”

Anh nhẹ nhàng trả lời: “Để duy trì sự vận chuyển của thế giới này có đôi khi không cần phải phức tạp như thế, vệ tinh quay quay hành tinh, hành tinh quay quanh hằng tinh, hằng tinh, tinh vân và bụi vũ trụ cấu tạo thành một hệ hằng tinh. Tất cả đều trông như có vẻ theo quy luật, nhưng vũ trụ bí ẩn lại không hề đơn giản như thế. Trong khoa học cổ điển của thuyết duy vật, giả thuyết mọi tiền đề là nằm ở chỗ thừa nhận có một khẳng định tức thời; nhưng lý thuyết mới nhất lại phủ nhận cái tức thời đó… Tại thời điểm giả định không tồn tại, thì vẫn có thể giả định rằng có một lực hấp dẫn tuyến tính duy nhất được duy trì giữa hai vật thể. Thế thì sao phải cố tìm hiểu? Trên đời này có rất nhiều điều không biết, điều biết lại quá ít. Không biết mới kích thích hứng thú, hứng thú tạo người ta tập trung, tập rung rồi thì sẽ hiểu mọi thứ đều có thể đơn giản quá…”

Dường như không ai không hy vọng được hiểu rõ, mà chỉ có anh lại không.

Anh luôn duy trì khoảng cách với tất cả phái nữ ở bên ngoài, cẩn thận kết bạn, bao nhiêu năm rồi mà chỉ có vài người bạn tri âm. Anh là một người rất biết lắng nghe, có thể tỉnh táo phân tích, đối mặt với bất cứ chuyện gì anh cũng bình tĩnh, có cái nhìn độc đạo. Anh cứ như là người trên mặt trăng, luôn luôn lẻ loi độc hành, thờ ơ với những chuyện yêu hận trên địa cầu.

Chương 143: Ngoại truyện 2: Antares (2)

Quá tò mò sẽ làm ta cố chấp, mà quá tập trung sẽ khiến ta đắm say.

Nhưng có vẻ như anh không có căn bệnh chung của những người thông minh.

Anh rất kìm nén bản thân.

Tự kìm nén thường khiến anh dễ dàng kiểm soát được phần lớn mọi việc —— hỉ nộ ái ố, xúc động hay chịu đựng, thậm chí là tò mò hay tập trung —— chuyện này cũng khiến anh nhìn trông giống một quân tử xuất chúng, phong độ lịch lãm.

Những chuyện anh đã hứa thì sẽ làm, tự kìm nén đến mức cố chấp.

Mà yêu vợ cũng là một trong số đó, mặc đồ trắng cũng là một trong số đó, anh rất ít khi để lộ nhiều hứng thú.

Quá kìm nén cũng dễ thành nghiện.

Mà nghiện rồi thì sẽ ép bản thân kỷ luật, thủ đức, trong sạch, yêu người, kỷ luật, trung thành… Cũng vì thế nên vào năm chỉ mới hơn 10 tuổi, anh đã suy nghĩ độc đáo riêng, kiến giải cũng sâu sắc hơn người lớn nhiều, cũng bởi vậy mà thầy cô thường thuận theo ý anh.

Ví dụ như người nhà nhiều lần gửi thư đến nhờ người khuyên anh lấy thêm vợ, nhưng cuối cùng cũng đành thất bại;

Ví dụ như anh quyết tâm rời khỏi Cavendish, vứt bỏ tiền đồ để về nước.

Nếu như nói người thân nào hiểu anh nhất, có lẽ chỉ có một Lương Chương.

Đàn ông xuất ngoại du học đều là những chàng trai trẻ tuổi mang trong mình ngọn lửa nhiệt huyết, dễ dàng được thắp cháy. Những người chưa thành thân hoặc có vợ ở lại trong nước, vài năm mới gặp một lần, có ai không mong mỏi có một cuộc tình thoáng qua với quý cô Butterfly* phiên bản nước Anh?

(*Puccini đã viết vở nhạc kịch Madame Butterfly (1901-1903) về câu chuyện giữa một lính thủy quân Mĩ tên Pinkerton và nàng Butterfly tên Ciocio ở Nhật. Pinkerton cưới Butterfly, tuy nhiên ngay từ đầu anh đã có dự định sau khi hết thời gian nghĩa vụ ở Nhật thì sẽ quay về Mĩ cưới một người vợ khác. (Nguồn: Hội những người yêu nhạc kịch.))

Người ngoài cầu mà không được nữa là, còn anh lại đoan chính tới nỗi dễ khiến người ta sinh nghi.

Mới đầu Lương Chương cũng rất hiếu kỳ và nghi ngờ về nhân cách của anh.

Đợt đó anh ta mới tốt nghiệp ở New Zealand, nhận được thư mời du học một năm ở trường đại học châu Âu. Giới người Trung ở nước ngoài cũng không quá lớn, vì kinh tế nên anh đi viện trợ nhiều nơi, đồng thời cũng nghe người khác kể rất nhiều chuyện về người đàn ông chính nhân quân tử nổi tiếng này.

Một đêm nào đó bắt gặp Từ Thiếu Khiêm một mình đứng trên cầu Cambridge, Lương Chương im lặng đến gần. Trông theo ánh mắt của anh, anh ta nhìn thấy một cô gái Hoa kiều và một chàng trai người Anh cao to đang ôm ấp nhau trên thuyền.

Gió thổi bay làn váy dài màu đen của cô gái nọ, để lộ mắt cá chân trắng nõn, đường cong sau lưng và cổ xinh xắn; chàng trai cao lớn dễ dàng ôm siết vòng eo mảnh khảnh, ngẩng đầu si mê trao nhau chiếc hôn nồng cháy trong đêm gió mát.

Lương Chương suýt nữa thốt lên —— đó không phải là cô gái 16 tuổi từng say đắm Từ Thiếu Khiêm đến điên cuồng mà mọi người hay kể sao?

Tưởng cảnh đẹp ‘vạn tuế ra hoa’ bị mình làm hỏng, thế là anh nửa cảm khái nửa thăm dò: “Khoảnh khắc bất hủ như thế đúng là khiến người ta say mê. Nếu được trải qua một lần cũng coi như sống không uổng công.”

Từ Thiếu Khiêm vẫn không dời mắt, cũng chẳng đáp lại mà chỉ cười cười.

Rất lâu về sau Lương Chương mới hiểu được ý nghĩa trong nụ cười đó.

Không lâu sau, Từ Thiếu Khiêm viết thư mời nhiều người bạn ở Cambridge ngày trước đến xứ Cảng Thơm, cuối cùng chỉ mời được một mình Lương Chương.

Anh ta về trường đại học Hương Cảng ở Viễn Đông vốn xuất phát từ tính tò mò.

Mãi đến một đêm hè trong năm 1928, phòng thí nghiệm Thiên văn đã quan sát và ghi lại một lượng tia gamma rất mạnh trong một thời gian rất ngắn. Độ sáng trong vài giây lại tương đương với tổng lượng tia gamma trên toàn bộ bầu trời – đây có thể xem là lần đầu tiên quan sát được các vụ nổ tia gamma – đến nỗi phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân bên cạnh cũng bị quấy nhiễu bởi các nhà tiên văn học vốn luôn bình tĩnh. Đài quan sát mở cửa, người bên phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân kéo nhau đi vào; ồn ào huyên náo, châu đầu ghé tai, xì xào bàn tán… Trong cảnh hỗn loạn, chỉ có Từ Thiếu Khiêm thờ ơ đứng ngoài đám đông, dùng bút máy ghi chép vào sổ tay của mình.

Lương Chương vô tình thấy anh khoanh vòng vào yếu tố góc phương vị và mức độ uốn cong của lực hấp dẫn mà trước đó anh đã tính toán, rồi viết chú thích tiếng Trung bên cạnh: “Ngày 19, xác nhận một ngôi sao đã tắt, bức xạ bên ngoài tập trung trong phạm vi năng lượng 1-80 mev, có thể giết DNA trong phạm vi nhất định.”

Đây có thể coi là một cú đấm rất quan trọng trong lịch sử thiên văn học, thậm chí trong tiến trình sinh vật của vũ trụ, sự kiện này còn ấn tượng hơn cả thảm họa diệt chủng vào cuối kỷ Phấn Trắng trong Đại Trung Sinh.Nhưng anh chỉ nhẹ nhàng ghi vào sổ như thể ghi nhật ký quan sát hằng ngày, rồi anh quay đầu sang cười nói: “Nói chung sẽ có ngày nó sẽ tắt, vào ở hàng chục ngàn năm trước, hoặc hàng chục triệu năm sau. May là vì nó xuất hiện vào ngày hôm nay, được chúng ta nhìn thấy.”

Không phải là chúng ta quá may mắn nên mới chứng kiến được khoảnh khắc tuyệt vời của vũ trụ rộng lớn trong khoảng thời gian ngắn ngủi như phù du;

Mà là may mắn vì đã được nhìn thấy cảnh “cuối đời” của ngôi sao ba tỷ năm tuổi thọ.

Giọng Từ Thiếu Khiêm rất bình thản, như đang nói với anh rằng: “Hoa trồng trong vườn nhà hàng xóm héo rồi.”

Nụ cười trên mặt anh lúc này không khác gì cái đêm trên cầu Cambridge nhiều năm trước.

Lương Chương chợt nhận ra lúc đó Từ Thiếu Khiêm nhìn thấy điều gì – thấy thời gian trôi đi quá nhanh, con người rồi sẽ già đi, sẽ có ngày còng lưng, luộm thuộm, mắt mờ, tựa như ngôi sao đã cạn năng lượng, như mảnh vỡ thiên thể rơi xuống, khoảnh khắc có thể tồn tại trên thế gian lại chỉ như hạt muối giữa biển rộng bao la.

Lúc bấy giờ anh ta mới thực sự hiểu được điều đáng sợ của người này.

Anh nghĩ, ngoài cuốn sổ ghi chú đó ra, chắc chắn Từ Thiếu Khiêm còn rất nhiều cuốn sổ khác, nằm một nơi nào đó hoặc là tồn tại trong lòng anh; ghi lại vô số người, vô số khoảnh khắc trong phạm vi quan sát của mình.

Anh không biết liệu trong số đó có “ngày nào đó tháng nào đó năm nào đó, Lương Chương còn trẻ, tính tình nóng nảy bộp chộp, chưa có bạn gái, có thể được xem là thanh niên nửa hoàn hảo; năm nào đó tháng nào đó ngày nào đó, Lương Chương già cả tập tễnh, xương sống bị uốn cong từ phần thứ ba, cơ chân bị hoại tử không còn khả năng chữa lành.”

Có lẽ cậu ta không hứng thú về mình đến nỗi ghi lại đâu, Lương Chương nghĩ bụng.

Nhưng anh ta cho rằng, nhất định Từ Thiếu Khiêm đã rất cẩn thận quan sát Lâm Trí. Từ Thiếu Khiêm cực kỳ quan tâm chu đáo với cô gái thông minh xuất sắc này. Sự quan tâm ấy cứ như là sự tính toán về năng lượng hạt nhân khổng lồ chứa trong một ngôi sao nào đó.

Anh không tài nào đoán được nội tâm cụ thể của Từ Thiếu Khiêm, nhưng Lương Chương tin rằng, Từ Thiếu Khiêm nhất định là một kiểu “để tôi thấy em tỏa sáng rực rỡ” như anh đã nói.

Thậm chí vì điều đó mà anh không ngại trở thành một ngôi sao đồng hành, không tiếc cạn kiệt nhiên liệu của mình để cô chuyển động, cuối cùng biến thành một ngôi sao lùn trắng, xây nên quỹ đạo cho cô.

Nên lúc cuộc chiến thanh trừng Lưỡng Hồ đang trở nên rầm rộ, anh không tiếc mạo hiểm thân học giả tay không tấc sắt trở thành gián điệp, trở thành đối tượng bị đả kịch; anh gần như làm mọi cách để duy trì hoạt động bình thường của Viện nghiên cứu Thượng Hải chỉ bằng bản thân mình, cũng vì thế mà gặp bao phen cửu tử nhất sinh. Khi các nước bên ngoài đang thèm thuồng viện nghiên cứu, anh dựa vào lực lượng Giang Tây để điều một đội ngũ đi Tây Bắc. Khi nhiều lần bị Nhật Bản chặn lại cảnh cáo, khi nhân viên ở đài quan sát không dám lên đỉnh Thái Bình nữa thì anh lại một mình đi đến, bị súng 91 bắn bị thương một chân và mất đi thính lực tai phải.

Thông tin này đã thực sự chứng minh suy đoán ngày trước của Lương Chương.

Đến lúc này anh ta mới thổn thức, giá như những người tung tin đồn về anh với Lâm Trí hiểu được anh 20%… thì sẽ hiểu được một điều rằng,  tất cả các giai thoại về anh chỉ là vô nghĩa.Bởi vì người đàn ông này không biết cách yêu một người.

Bởi vì anh là một nhà nghiên cứu thận trọng, một người qua đường, một người quan sát, một người hiến dâng trong bóng tối, là “‎Antares” xứng đáng.

Đối với tất cả mọi người và mọi thứ, kể cả cảm xúc của mình, tất thảy chỉ như bông hoa được trồng trong nhà kính mà anh cẩn thận ghi chép.

Bạn xem, anh ấy chung thủy với vợ đến mức khiến người ngoài ghen tị.

Nhưng nếu như bạn không hiểu thì sẽ dễ dàng cho rằng đó không phải là yêu, mà chỉ là tâm huyết của anh, là một đóa hoa anh dốc lòng che chở nhiều năm, khó khăn mọc lên ở nơi hoang mạc.

Nhưng nó có thể sống đến tận bây giờ thực không dễ gì.

Nếu có một ngày bông hoa kia héo rũ, chắc chắn anh sẽ khóc rất đau lòng.

Vì… hoa đã héo rồi.

Điều tiếc nuối là, hoa rồi cũng có ngày héo.

Nhưng chắc chắn nó đã từng có một khoảnh khắc tuyệt vời, tựa như cảnh nhìn thấy trên cầu Cambridge năm nào.

Cũng như năm 15 tuổi năm ấy, cuối cùng anh cũng có được cơ hội nói chuyện với vợ qua tấm rnf. Ngày hôm đó, cô tức giận ném con dấu và dao khắc dấu ra ngoài rèm phát tiết. Anh chẳng nói chẳng rằng, chỉ đi đến nhặt lên, khắc nốt khuê danh mà cô chưa hoàn thành rồi đặt trên bàn ngoài rèm.

Vú già thấy cô tò mò thì lấy vào cho cô.

Bên trong khẽ thốt lên âm thanh kinh ngạc. Anh ở bên ngoài nghe thế, thấp giọng nói: “Mấy chữ này không đẹp lắm. Nếu em muốn, anh có thể khắc chữ đẹp hơn tặng em.”

Ví dụ như đêm tân hôn, anh nắm tay cô dâu, đặt con dấu bằng đồng nhỏ bé vào lòng bàn tay cô.

Là chữ “Từ”.

Cô đội khăn voan, ngón tay sạch sẽ xoa nhẹ lên mặt con dấu, lại thẹn thùng cúi đầu.

Thậm chí anh còn chưa vén khăn lên thì cô dâu đã nhào vào lòng anh, hai má đỏ bừng.

Anh ôm cơ thể mềm mại của cô đi vào trong rèm.

Những khoảnh khắc làm ta ngỡ như tiên nhân trên gối, khiến ta quên đi những thú vui trên đời, bước đi trên đường cũng phiêu diêu tựa trong mơ.

Anh nhìn sự hạnh phúc của người khác như nhìn một ngôi sao chưa tắt, chưa co lại trở thành một ngôi sao đặc.

Nhưng đến hôm nó tắt thì ngày ấy sẽ tới.

Anh cũng chỉ là một trong số đó.

Không biết là cái ngày ngôi sao alpha ấy rơi xuống, ai sẽ may mắn được nhìn thấy tia sáng vụt qua trong thoáng chốc đó ——

Quang phổ kia chính là tất cả những gì của anh.

Chương 144: Ngoại truyện 3: Thư của Lâm Trí

Anh Ngôn Tang thân thương,

Cho phép em mạo muội lấy xưng hô như thế mở đầu thư lần cuối cùng.

Có lẽ anh sẽ không tin, nhưng em muốn nói với anh rằng em quý anh còn nhiều hơn những gì anh tưởng tượng, và tình cảm này cũng đã tồn tại từ rất nhiều năm trước rồi; lâu hơn cả thời gian anh em mình quen biết nhau, hơn cả thời gian từ khi em ra đời đến nay… Ngày đầu tiên em biết anh là khi em cũng mười một tuổi.

Em của lúc đó không biết tình yêu là gì. Tình cờ một hôm mở ra tập hồi ký ghi lại mối tình giữa anh và một cô gái, câu đầu tiên trên trang bìa viết: “… Năm mười lăm tuổi, cha quay về Bắc Bình. Nửa tháng sau tức tháng 2, ông nội nhận được thư từ bạn tốt, mời ông dẫn theo con trai và cháu trai đến nhà cũ ở Thiệu Hưng gặp hai cô con gái nhà họ Lâm. Cha biết ý ông nội. Tư Ngôn Tang lúc ấy còn trẻ, tiếp nhận nền giáo dục nước ngoài nhiều năm, dù biết mình có vợ chưa cưới ở trong nước nhưng chưa bao giờ và cũng chưa có ý định muốn yêu. Khi cùng người nhà chờ trong thư phòng nhà họ Lâm, Tư Ngôn Tang vẫn khá dửng dưng, chào hỏi mọi người một cách thờ ơ. Đúng lúc này cửa mở ra, một cô bé ngây thơ mặc áo tím quần dài đi vào. Cô bé tết bím tóc đuôi sam, tròng mắt sáng long lanh...”

Từ đó, anh và cô ấy bắt đầu câu chuyện yêu hận đan xen xuyên suốt nửa đời. Bốn năm xa cách muôn trùng chỉ gửi tâm tư qua những bức thư, lại bốn năm cùng nắm tay du lịch, đi qua hơn mười quốc gia, hơn ba mươi thành phố ở đại lục Âu Á… Cô ấy có vô số người theo đuổi song chưa bao giờ để mắt đến ai. Mà anh cũng cực kỳ chói lóa, thậm chí có người chuyện chết vì anh, nhưng anh cũng chưa bao giờ động lòng. Anh yêu cô ấy, yêu cả sự hư vinh tùy hứng của cô ấy, và cô ấy cũng thấu hiểu tình cảm đậm sâu của anh, không bỏ mặc anh chỉ vì anh không hòa nhập với phong cách văn đàn trong nước, cho dù phải lênh đênh nơi xứ lạ vì điều đó, cô ấy cũng chẳng oán trách anh nửa câu. Bởi vì hai người là một đôi trời sinh, nên trăm bức thư tình kia mới có thể khiến vô số người rung động.

Em nghĩ, mười hai năm đó chắc chắn là mười hai năm anh hạnh phúc nhất… mãi cho đến năm Dân Quốc thứ 22, trong thời gian đang theo học tại Đại học Trung-Pháp, anh đã bị buộc thôi học khi tham gia các cuộc biểu tình chống phát xít, để rồi cuối cùng bị mất đi nguồn thu nhập duy nhất của mình. Cô ấy và đứa con trai bốn tuổi duy nhất của hai người đang trên đường trốn khỏi Pháp xin tị nạn, chỉ vì suy dinh dưỡng lâu dài nên đứa con đã chết yểu… Nếu nghèo tới nỗi không thể giữ được tính mạng thì còn theo đuổi thơ ca giấc mơ làm gì? Từ hôm ấy trở đi, cô ấy không màng hiểu anh nữa, lý tưởng chung của cả hai dần trở thành lý tưởng của riêng anh. Anh đang khổ sở thì cô ấy chỉ trích anh, mắng anh là “ngụy quân tử” giả tạo, ngay cả mỹ học anh theo đuổi suốt đời cũng bị cô ấy xem là thứ vớ vẩn.

Anh có thể mặc kệ cả thế giới không hiểu mình, nhưng không chịu nổi khi cô ấy làm thế, vì anh đã sớm coi cô ấy là tất cả. Nhưng vợ anh không còn yêu anh nữa, không để ý đến anh nữa; cô ấy so sánh anh với những người từng theo đuổi mình năm xưa, thậm chí còn tìm mấy văn nhân từng chế giễu anh làm chứng, ép anh ký tên vào giấy ly hôn. Lúc đó anh đã 31 tuổi, ở trước mặt cô ấy và mọi người, anh lôi chiếc chìa khóa vàng từ trong ngực ra, vừa dịu dàng vừa xấu hổ cười nói: “Mọi người có biết không? Chiếc khóa vàng này, là năm đó khi quyết định hôn ước, mẹ tôi đã giao vào trong tay bà Lâm.” Vừa dứt lời thì anh bật khóc như một đứa trẻ…

Hôn nhân của anh và cô ấy chỉ là hữu danh vô thực. Cuối cùng cô ấy không ly hôn với anh, nhưng rồi vẫn rời xa anh —— dẫn cô con gái nhỏ duy nhất của hai người rời đi, ngã vào vòng tay một người đàn ông khác.

Cọng rơm cứu mạng duy nhất của anh lại trở thành một kích trí mạng.

Vẫn có người thích anh, nhưng trong mắt anh không còn ai khác; sau mấy độ uất ức mà phải vào bệnh viện tâm thần.

Thật ra có những người không đáng để anh phải nhớ nhung cả đời như thế; rồi anh sẽ gặp được một người phụ nữ luôn ở bên anh những lúc anh cô đơn.

Người ấy sẽ lần theo dấu chân anh suốt đời, yêu anh hơn cả sinh mệnh, và anh chính là toàn bộ thế giới của cô ấy.

Cô ấy học tiếng Trung vì anh, hát bài Brown Sugar mà anh thích nhất, ngày ngày ngồi trước giường bệnh của anh đọc chữ anh viết, đồ lại chữ của anh, thậm chí còn viết truyện viết thơ vì anh.

Cô ấy là người hiểu chữ viết của anh nhất, và cũng là người hiểu anh nhất, hiểu tất cả về anh và đất nước của anh, đến nỗi quên luôn bản thân từng sống ở Áo, cha mẹ đều là người Do Thái; yêu anh tới nỗi quên tên họ mình mà chỉ biết đi theo bước chân anh.

Cô ấy đã từ bỏ cuộc sống tốt nhất của mình vì anh. Sau khi anh rời khỏi bệnh viện, không quan tâm đến thân phận người Do Thái, một thân một mình cô ấy đi theo anh từ The Hague đến Moscow, mấy lần bị cơ quan mật vụ của Đức Quốc Xã đưa vào trại tập trung. Trong hồi ký của cô ấy từng ghi chép một đoạn: “Tôi tự nhủ nhất định phải sống, phải sống! Quyết không thể bị bọn họ phát hiện… Tôikhông thể chết được. Nếu tôi chết rồi, liệu rằng ai sẽ chăm sóc anh đây?”

Anh nhìn đi, cô ấy đã cố gắng sống trên cõi đời này như vậy, thế mà câu trả lời của anh cho tình yêu si mê dài đến mười năm kia lại là tự sát.

Cô ấy đã mất đi mục tiêu để sống, nhưng thế mà vẫn vì anh sống đến thế kỷ 21. Dùng thời gian 20 năm đi qua từng lục địa anh đã đến, cả một đời không có danh phận, bị người người chỉ trích, mất đến nửa năm để thu thập và chỉnh sửa bản thảo của anh, những lúc rảnh rỗi lại dùng bút tích của anh mô tả lại anh, để những lời anh nói được lưu lại trên những tấm hình đen trắng…

Cuốn tiểu thuyết anh viết cho người Do Thái bị Đức quốc xã khủng bố cuối cùng cũng đã giành giải thưởng Nobel, mà lúc đó cô ấy cũng đã già rồi – cả một đời cô ấy chẳng hề lấy ai. Khi đó cô ấy đã đối diện với cả thế giới vì anh, mỉm cười giải thích cho anh: “Nếu anh ấy còn sống, có lẽ sẽ còn đau khổ hơn là chết đi. Nhưng tôi phải sống. Vì tôi biết một ngày nào đó thế giới này sẽ hiểu anh ấy. Tôi tin chắc ngày này sớm muộn gì cũng sẽ đến, bởi vậy mới sống đến tận hôm nay.”
Cô ấy là người hiểu anh nhất trên thế giới này, dù anh có trẻ trung điển trai hay không, dù anh có phong độ sa sút thế nào. Chỉ có cô ấy mới giành được anh, vì có anh nên cô ấy mới chẳng xá gì.

Em đã nói cho anh biết cái tên đó rồi anh Ngôn Tang ạ. Nếu như có ngày anh nghe thấy cái tên ấy, xin anh nhất định, nhất định phải ngoảnh đầu nhìn cô ấy… Có như vậy thì câu chuyện mới không xảy ra theo chiều hướng ấy nữa.

Còn em ư?

Ở thế hệ sau không biết có bao nhiêu cô gái say mê những bức thư tình của anh, muốn có được một tình yêu kinh thiên động địa cùng anh trong thời loạn thế.

Có lẽ em từng là một trong số đó.

Cô gái nào trên cõi đời này may mắn ba đời thế nào mới có thể khiến anh yêu đến đắm say?

Thế nên lúc em tỉnh lại, phát hiện mình chính là cô bé tóc thắt bím đó, rồi lúc em bước vào căn phòng đó, gặp anh của năm 15 tuổi, khi ấy em đã nghĩ, nếu người anh lấy không phải cô ấy mà là em, thì liệu cuối cùng có thể cứu được cả hai chăng?

Nhìn thấy anh nheo mắt cười với mình lúc đó, em tự nhủ, có lẽ mình làm được.

Cũng bởi thế mà em chấp nhận rời khỏi nhà cũ ở Thiệu Hưng, đến Hương Cảng học tập.

Em mất rất nhiều thời gian mới thư từ được với anh. Dần dần cũng học cách kiếm tiền, em cũng từng nghĩ đến việc làm một phú bà bình thường, ở bên anh đến hết đời này, binh tới tướng đỡ nước tới đất ngăn, nếu ai chỉ trích anh thì em sẽ dùng tiền đánh chết họ, không cho bọn họ hó hé một chữ “không” nào với anh nữa;  tặng anh toàn bộ những gì em có, đó là thứ tốt nhất trên thế giới này, đủ để đồng hành với anh qua chặng đường vất vả.

Nhưng đến một ngày, cuối cùng em đã hiểu mình không phải là bạn đời phù hợp với anh.Có lẽ em cũng không khác nhiều so với người vợ cũ của anh: anh không có được câu trả lời mong muốn từ chỗ em, em cũng không thể vượt qua vạn dặm vì anh, càng không đáng để anh mạo hiểm.

Em chỉ là một trong số hàng ngàn cô gái ngưỡng mộ tài năng của anh. Có lẽ em cũng giống như bọn họ, một ngàn năm sau vẫn sẽ yêu lớp vỏ dù không hoàn hảo của anh, song lại không dễ dàng chấp nhận cuộc sống khốn khó ngày sau với anh, càng không có sức lực để an ủi bầu bạn cùng anh, hiểu rõ và tôn trọng anh; thậm chí sau khi anh rời đi, có lẽ cũng chẳng biết phải thu thập các tác phẩm của anh.

Với người ngoài thì đó chỉ là chuyện đơn giản, nhưng em lại không làm được. Em sắp có sự nghiệp của mình, không thể nào xem anh là vị thần duy nhất trên đời này như trước được nữa.

Thậm chí, vì sự nghiệp và thân phận của mình, em không thể không chôn vùi sự tài hoa và lý tưởng của anh.

Em không rõ so với câu chuyện trước đó, thì câu chuyện này sẽ tốt hơn hay tệ hơn đây.

Có lẽ em không chỉ không thể tác thành cho anh, mà trái lại còn gia tăng đau đớn cho anh.

Anh Ngôn Tang thân thương, xin anh phải hứa với em, dẫu sau này có ra sao thì cũng đừng bao giờ suy sụp như thế.

Anh Ngôn Tang thân thương, xin hãy quý trọng bản thân nhiều hơn. Sống nhờ hậu thế, chưa chắc đã muốn người khác hiểu mình. Có thể làm điều mình thích thì dù cô đơn cũng vẫn thoải mái.

Anh Ngôn Tang thân thương, một ngày nào đó trong tương lai, em sẽ gửi lại mọi bức thư trong tay cho em. Nhưng cho phép em được ích kỷ… cất giữ vài điều bé nhỏ liên quan đến anh cùng những phong thư có chữ ký của anh, chỉ vì em quá mến mộ anh, còn nhiều hơn những gì anh nghĩ, lâu hơn cả thời gian anh em mình quen biết nhau, hơn cả thời gian từ khi em ra đời đến nay.

Em chỉ là một người qua đường bé nhỏ không đáng kể trong cuộc sống của anh, đối với em, khoảnh khắc bước vào căn phòng đó, được thấy anh mỉm cười là điều quý giá lắm rồi.

Em vẫn luôn nghĩ, những điều đó có liên quan gì tới tình yêu không?

Nhưng rồi lại em nghĩ đến cây kem trên sông Spree, chuyến xe điện đến Sanssouci vào cuối tuần, nghĩ đến những con ma men cùng bầu rượu rum ở bến tàu Marseille, nghĩ đến Letan, nghĩ đến nước Hà Lan, xe điện và “Đại Đô Thị”, nghĩ đến nam thanh nữ tú dưới ánh đèn đỏ, nghĩ đến hải đảo mưa to như thác cùng máy điện thoại làm bằng đồng lúc nửa đêm, chú gấu bông ướt sũng mà anh biết, cùng với chiếc chìa khóa vàng bé nhỏ mà anh không biết… Đây chính là câu chuyện bất hủ mà người ngoài không cách nào hay biết, chỉ thuộc về một mình Lâm Sở Vọng và anh vào mùa hè 1927 năm đó, anh Ngôn Tang ạ.

Kính thư

Chúc anh bình an

Ngày 3 tháng 5 năm Kỷ Tỵ

Sở Vọng

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau