GIỜ ĐANG NƠI ĐÂU

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giờ đang nơi đâu - Chương 131 - Chương 135

Chương 130: Hợp tan (2)

Nhìn nhịp bước thong thả của anh, có lẽ anh đã chờ ở bên kia đường một lúc lâu, đợi hai người trò chuyện xong mới đi sang.

“Nói chuyện xong rồi?” Anh hỏi.

“Vâng.”

“Thế thì tốt.”

Cô ngẩng đầu lên, còn chưa mở miệng hỏi thì tài xế nhà bà Cát đã lái xe Buick đến, cùng xe Ford của sĩ quan người Anh dừng ngay bên cạnh hai người.

Xe Ford dừng lại, một trung úy mắt vàng, mặt mũi bình thường vóc dáng cao ráo bước xuống, nói nhanh với Tạ Trạch Ích: “Sếp, lãnh sự mời anh mau chóng quay về lãnh sự quán một chuyến.” Đoạn bổ sung thêm, “Sắc mặt không tốt lắm.”

Tạ Trạch Ích chỉ mỉm cười, “Cứ để ông ta đợi.” Rồi còn tốt bụng tìm lý do, “Nói với ông ta là không ai đưa vợ tôi về.”

Trung úy liếc nhìn tài xế nhà bà Cát bị anh cho ra rìa, lâm vào thế khó xử.

Tài xế nhà bà Cát không nhịn được nữa, thò đầu ra hỏi: “Cậu Tạ, bà Cát lệnh cho tôi đúng giữa trưa phải đón cô về.”

Tạ Trạch Ích nói, “Tôi đưa về không được sao? Chẳng lẽ dì Cát cấm không cho tôi hẹn gặp vợ?”

Tài xế khó xử: “Cậu Tạ à, như thế…”

Tạ Trạch Ích lại nói: “Nếu không thì sẽ phải phiền anh lát nữa lái xe đưa tôi từ nhà dì Cát đến lãnh sự quán Anh.”

Tài xế lập tức im lặng.

Sở Vọng sực nhớ bà Cát từng nói với mình: “Cô dâu nhà họ Tạ vác bụng bầu xuất hiện trong buổi hôn lễ, năm tháng sau hôn lễ lại tới tiệc đầy tháng. Không biết sẽ bị người đời chê cười thế nào đây.”

Có điều cô nghĩ, bản thân bà Cát là đại diện cho giới nữ tân tiến nhất thời đại này, đổi lại là bà ấy thì chắc chắn sẽ không để ý những chuyện nhỏ nhặt này; nhưng vì chuyện xảy ra với cô, bà Cát thân là gia trưởng, nhất định sẽ phải nghiêm khắc, đề phòng Tạ Trạch Ích và cô không nhịn nổi mà “bóp cò nổ trước”.

Nên mỗi lần nhớ lại những lời này, cô toàn nín bụng cười thầm.

Anh nhận lấy chìa khóa xe từ trong tay sĩ quan phụ tá, lúc cô ngồi vào xe Ford thì bất ngờ bị người ngồi trên ghế lái hôn chụt một cái.

Đến khi cô hoàn hồn thì Tạ Trạch Ích đã vui vẻ khởi động xe, để lại tài xế của bà Cát đứng bơ vơ đằng sau. Đêm qua cô ngủ không ngon, sắc mặt hơi kém, lúc đi ra ngoài chỉ tiện tay thoa son màu dưa hấu. Không ăn sáng nên son chưa phai, thế mà giờ lại phai vì nụ hôn của anh.

Cô cười cười chỉ tay lên môi anh, anh vẫn nắm chặt vô lăng không buông, định liếm lấy.

Cô mua thỏi son này ở trung tâm thương mại. Thành phần son môi thời kỳ này thật sự rất khó đoán, thế là cô lật đật giơ tay xóa cho anh, cười nói: “Son môi ăn ngon không?”

“Vì là của cô Tạ nên mới ngon.”

Lúc này cô mới hiểu ra: quả nhiên những lời ngày trước là chỉ thị của anh. Trong lòng chợt động, hỏi: “Benjamin đâu?”

“Về Anh rồi.”

“Xin nghỉ hay mãn hạn ở Thượng Hải?”

“Không muốn làm kẻ ngoại lai nữa.”

Kẻ ngoại lai chính là cách gọi những người xâm lược thời dân quốc.

Anh uyển chuyển lựa lời nhưng Sở Vọng vẫn nghe ra, trong hơn một trăm sĩ quan hạ cấp thế tội bị cách chức đi tù ở buổi xét xử công khai mấy tháng trước, Benjamin cũng có mặt trong danh sách.

Thấy cô im lặng cúi đầu, Tạ Trạch Ích nói, “Em không cần phải thương xót làm gì. Tới Thượng Hải ba tháng, trong lúc thi hành nhiệm vụ đã vô tình đả thương một công nhân, hai mươi ba lỗ đạn xuyên qua người chết ngay trước mặt, thế mà quan viên Thượng Hải chỉ xua tay nói: ‘Đó là do hắn ta xui xẻo’. Không tốn nước bọt, đúng là dễ dàng, án mạng đầu tiên trong đời cứ thế bị xóa đi, thậm chí còn xóa luôn cả gánh nặng tâm lý của cậu ta. Thế nên về sau mới dần dần tác oai tác quái, chỉ cần không hài lòng là lại đánh dân nghèo ngoài phố, những chuyện như vậy không hề ít, mà số người Trung chết oan trong tay cũng không chỉ một hai. Sau nữa thì lại bao nuôi phụ nữ do chính phủ lâm thời đưa đến các buổi tiệc, dễ dàng vơ vét sạch một trăm bảng tiền lương của cậu ta. Cậu ta rất thích khoe khoang, mà tiền từ đâu ra thì anh không biết. Buôn lậu nha phiến, buôn bán người Thượng Hải cho giới quý tộc Bêlarut, chắc hẳn đều đã làm.”

Sở Vọng nghe vậy thì cảm khái. Lời này cũng giống lúc Tạ Trạch Ích bộc bạch với cô lúc ở bệnh viện Chữ Thập Đỏ.

Sau đó anh nói, “Học cùng trường ba năm, tốt nghiệp xong thì cùng anh đi từ Mỹ đến tô giới. Trước khi tới Thượng Hải, khi bị công nhân đình công ở San Francisco và Vancouver ném đá, cậu ta không hề coi thường một người Hoa nào. Lúc ở Hudson New York, nói chuyện với con gái hơn hai câu là lại đỏ mặt. Tô giới đúng là lợi hại.”

Đáng sợ nhất không phải là kỳ thị, mà chính bản thân người Trung Quốc tự cảm thấy mình thấp kém hơn người, chắp tay bỏ đi tôn nghiêm, để mặc bản thân và đồng bào bị chà đạp.

Vì vậy nên anh mới hận tô giới đến thế, bất chấp việc mình có thể bị gán tội danh gián điệp cũng phải gắng sức đấu tranh tới cùng để nó biến mất sớm?

Không biết ý thức công lý mạnh mẽ của anh đến từ đâu, Sở Vọng không tài nào hiểu nổi.

Đài phát thanh đang phát sóng bản tin nóng nhất ở Thượng Hải: “… Mọi đất đai được mua ở Thượng Hải sau khi Ngũ Khẩu mở cản thông thương từ năm 23 đến năm 26 Đạo Quang sẽ được trả lại cho chính phủ Thượng Hải trong vòng tám năm…”

Cô “cạch” một tiếng bấm vào công tắc, đột nhiên hỏi: “Anh Tạ, rốt cuộc anh cống hiến vì đất nước nào?”

Tạ Trạch Ích cười nói, “Anh nhớ là mình đã nói với em rồi mà. Anh chưa bao giờ nghĩ mình là người Anh, cũng không cho rằng mình là người Trung Quốc.”Cô nhìn anh chăm chú, “Vậy anh làm như thế là chỉ để giảm cảm giác tội lỗi cho bản thân và cho đất nước anh tiếp nhận văn hóa?”

“Một phần nhỏ thôi.”

“Còn phần lớn là gì?”

Anh quay đầu sang, khẽ nheo mắt lại:”Chính là em nói với anh phải nên làm thế nào.”

Cô ngẩn người, “Em nói với anh như vậy bao giờ?”

Lúc này xe đã tiến vào hẻm Parker, dừng lại cách biệt thự bà Cát không xa.

“Đến nhà rồi, mau xuống xe đi.”

Thấy cô không nhúc nhích, ngồi trên ghế phụ nhìn mình chằm chằm, Tạ Trạch Ích bất đắc dĩ nói: “Vấn đề này anh không thể trả lời em ngay được. Em cứ về nhà nghĩ kỹ đi.”

Rốt cuộc cô cũng không hỏi nữa, thở dài mở cửa xe ra, vừa bước xuống xe đã ngoái đầu hỏi: “Gần đây anh vẫn bận lắm à?”

“Có hơi hơi. Còn nhiều người Anh đợi hỏi chuyện anh lắm.”

“Bọn họ sẽ không làm khó anh chứ?”

“Không đâu, vợ anh cứ yên tâm. Toàn Thượng Hải này, không ai có cấp bậc cao hơn anh Tạ cả, lãnh sự Anh cũng phải nhìn sắc mặt anh làm việc.” Anh mỉm cười.

Thế thì tốt rồi. Chu Nhĩ Tra là người vốn không chịu ảnh hưởng bởi quân lệnh bên ngoài, lại ngang ngược tung hoành ở thuộc địa viễn Đông.

Thế nhưng ngay từ đầu anh chàng thượng úy này đã dám không tuân lệnh Chu Nhĩ Tra, giờ tự tay đẩy ông ta ra khỏi vị trí của mình, đích thân ngồi lên.

Cô nửa quỳ ở bên ghế phụ, cúi người xuống, kéo lấy cà vạt quân trang của anh đến gần, hôn chụt lên môi và má anh.

Hôn xong lại sửa cà vạt cho anh, nhìn anh hỏi, “Anh Tạ, lần sau hẹn hò là bao giờ?”

Anh cười nói: “Lần say sẽ đón em từ nhà ngoại đến phòng tân hôn.”

Cô gật đầu, đóng cửa xe lại rồi rời đi.

***

Quả nhiên bà Cát đang chờ cô ở trên bàn ăn, hỏi, “Tạ Trạch Ích đưa cháu về?”

Cô trả lời, “Thời gian gặp mặt chỉ có 10 phút.”Bà Cát liếc cô, vẻ mặt lười để ý.

Lại hỏi, “Thằng nhóc đó không nói cho cháu là phòng ngoài của Lâm Du đến chỗ Tạ Hồng gây sự à?”

Sở Vọng ngồi xuống ăn bưởi vàng với bà, “Gây sự gì ạ?”

“Đòi tiền.”

Cô giương mắt nghĩ ngợi, cuối cùng kết luận: “Sính lễ.”

“Cô đúng là đã xem thường bà ta rồi.” Bà Cát hừ lạnh.

“Tạ huân tước có bị nước mắt phụ nữ làm lay động không?”

Bà Cát liếc cô, “Bà ta muốn vớt lợi lộc từ chỗ Tạ Hồng hả, còn khó hơn kiếm từ chỗ cô gấp mấy lần. Đúng là mộng tưởng hão huyền, bị người ta vác ném ra cửa rồi.”

Một người đàn bà xông vào ổ trộm, không những không lấy được tiền mà còn bị chế giễu. Ầy, đúng là quá thảm. Cô vừa ăn vừa nghĩ.

Bà Cát lại nói: “Người nhà họ Trịnh tận mắt trông thấy con gái bà ta tay trong tay với sĩ quan người Anh rời khỏi vũ trường lúc 10 giờ tối, thế là tìm đến cửa hỏi bà ta có muốn từ hôn không, bà ta đáp rất sảng khoái, không hề biết vì gom góp đồ cưới cho cháu mà đã lâm vào đường cùng, không đền nổi sính lễ, thế là nổi trận lôi đình nói bà ta dạy hư con gái.”

Sở Vọng bĩu môi, “Chỉ trách mắt ông ta kém thôi.”

“Cá mè một lứa.” Bà Cát lại nói, “Mấy ngày tới bớt ra ngoài đi, đề phòng Lâm Du cùng đường bí lối đòi cháu đền bù tiền biếu của nhà họ Trịnh.”

Sở Vọng nhớ lại dáng vẻ chính trực thanh cao thường ngày của Lâm Du, thế là chế nhạo, “Không tới mức khốn khó vậy chứ?”

Có điều nếu bà Cát đã hạ lệnh không cho cô ra ngoài thì cô cũng đành ngoan ngoãn nghe lời ở nhà.

Sửa đổi hiệp ước không phải là kết quả tốt nhất. Lời hứa hẹn tám năm, xa cách hai miền, dù là Chers hay Chân Chân thì cũng không nhẫn nại nổi. Cô cũng lười ra bến tàu nhìn Chers đưa tiễn Chân Chân, đỡ tốn nước mắt của người ngoài là cô.

Đến bữa rồi, Di Nhã gọi điện đến miêu tả chân thật rằng Chers đã lái xe như bay đến bến tàu thế nào, leo lên cầu thang trước khi con tàu Eisenbeck khởi hành, từ cầu thang lẻn lên khoang tàu rồi chạy thẳng đến boong tàu. Dưới bao con mắt của mọi người, anh trao Chân Chân nụ hôn cháy bỏng trước mặt cha và bạn bè của cô ấy.

Có lẽ ông Tiết sẽ tức giận hộc máu tại chỗ mất.

Nhớ đến hình ảnh đó, Sở Vọng lại vui vẻ.

“Sau đó thì sao?” Sở Vọng hỏi. Chers còn có công vụ, không thể Chân Chân hai bàn tay trắng về Anh được.

“Dọc đường đi toàn dừng ở thuộc địa Anh, dĩ nhiên Chers có thể quay về bất cứ lúc nào. Còn về việc có khuyên nổi Chân Chân về cùng hay không thì chưa chắc”

Cô không biết trong thời gian tới Chân Chân có về Thượng Hải không. Có điều từ hôm nay, có một người khác sẽ phải rời đi một thời gian dài.

Sau bữa tối, luật sư đến nhà viếng thăm, bà Cát bảo cô đến kho hàng kiểm tra đồ cưới, một phần dùng danh nghĩa của cô gửi vào ngân hàng HSBC; còn một phần trang sức nhỏ khác thì để cô đeo.

Mấy bức tranh được đặt lần lượt vào hộp để gửi đến ngân hàng, mỗi lần dọn đi là lạch sư lại gạch bỏ một dòng.

Bà Cát rất ngạc nhiên, chỉ vì bà phát hiện tổng số của hồi môn rất sát với trong thư của luật sư, nhưng chỉ thiếu một thứ. Lâm Du đã quên đòi chị mình nên cuối cùng mới rơi vào kết cục thế này.

Bà lẩm bẩm, “Ông ta trọng tình thân như thế, nhưng vì sao lần nào cũng đối xử tệ với chị ấy và cháu như vậy?”

Khi đồ đạc được chuyển đi hòm hòm, bà Cát kéo tủ đồ trang sức ra, cho cô chọn một món trang sức đẹp đẽ để mang.

Cô lập tức nhìn thấy một chiếc khóa vàng vô cùng quen thuộc. Hàm lượng vàng không cao, và cũng không phải do nghệ nhân nổi tiếng làm ra, bất cứ thứ nào trong phòng này cũng có giá trị hơn nó. Nhưng Sở Vọng lại biết rất rõ về nguồn gốc của nó: “Vì đám cưới của bạn cũ, tuy bần cùng đau ốm nhưng Tư Ưng vẫn dẫn vợ đến thăm. Vợ ông thấy cô dâu xinh đẹp dịu dàng thì rất vui, lập tức cởi khóa vàng ra tặng, lấy làm ký kết hôn ước. Ghi lại vào đầu tháng 3 năm Quang Tự thứ 34 (tức năm 1908).”

Cuối năm ấy cả nhà Tư Ưng chuyển sang Thượng Hải, đến năm thứ hai sinh hạ Tư Ngôn Tang, năm năm sau có Lâm Sở Vọng.

Từ đó mới bắt đầu câu chuyện khiến người đời sau dở khóc dở cười.

Cô giấu khóa vàng vào lòng, không buồn đếm xỉa đến những thứ khác.

Anh cũng có món đồ độc nhất vô nhị được cô tặng. Vậy thì cô cũng muốn một món có một không hai trên đời với mình, như vậy cũng không hẳn là quá đáng đâu nhỉ?

Đến lúc này, mọi ân oán giữa hai nhà cùng chuyện cũ của hai người đã được xóa bỏ.

Chương 131: Hợp tan (3)

Ngày hôm sau, mới bốn giờ sáng mà Tuệ Tế đã gấp gáp cầm một bức điện báo đi lên lầu.

Cô mở ra xem, điện báo bảo cô nhanh chóng đến đường vượt giới kiểm tra tài liệu, tối nay máy bay quân dụng sẽ đưa số tài liệu đó đến căn cứ đầu tiên được xây xong.

Cô cấp tốc rửa mặt, đến khi xuống lầu, đa số của hồi môn đã được đưa đến ngân hàng, bà Cát đang ngồi thương lượng với luật sư. Thấy cô đi xuống, bà chỉ hỏi một câu: “Mấy giờ thì về?”

Cô lắc đầu. 

Bà Cát nói thêm, “Nếu quá bảy giờ thì cô sẽ gọi điện hẹn bác sĩ hôm khác lại đến.”

Sở Vọng gật đầu, lúc mặc áo khoác đi ra cửa, tài xế đã chờ sẵn bên ngoài.

Hồi trước có bao nhiêu người lục tục rời khỏi viện nghiên cứu, thì bây giờ sẽ có bấy nhiêu số nhà khoa học từ Mỹ đến bổ sung.

Nhân viên tổ I gần như đều có mặt, vì mỗi người trong số họ đều biết bí mật mình nắm giữ liên quan đến tính mạng loài người, không dám hành động thiếu suy nghĩ hay dễ dàng từ bỏ nghiên cứu.

Không cần sửa lại tài liệu, tổ I đã có hệ thống phân loại dữ liệu riêng ngay từ đầu và mọi người cũng có tủ sắt riêng. Nên khi một hạng mục xảy ra vấn đề thì cũng rất dễ biết được là do ai chịu trách nhiệm.

Lính Mỹ và quân đội Anh đi từng hàng từng hàng lên lầu chuyển tài liệu xuống, còn cô ôm một chồng giấy tin tức còn dang dở chạy chầm chậm.

Ở phía cuối, chợt có người đi lên đỡ chồng giấy cho cô.

Là một tiến sĩ toán học trước đây không thân thiện với cô lắm. Cô ngoảnh đầu lại, mỉm cười với anh ta.

Người kia xấu hổ, lắp bắp mãi mới tìm được đề tài: “Có người dự đoán, giải Nobel năm nay có thể trao cho nguyên lý dao động.”

Cô nghiêng đầu cười nói: “Đúng là đáng tiếc. Điều đó có nghĩa là anh có một đồng nghiệp tầm thường, đã hạ thấp tiêu chuẩn của cả đội.”

Anh ta lại không biết phải tiếp lời thế nào.

Oppenheimer sải bước đi đến, “Có lẽ anh ấy chỉ muốn chúc em tân hôn hạnh phúc, có phải không John?”

Cô lập tức cười nói trước khi anh ta lên tiếng: “Cám ơn.”

Ba người một hàng đứng giữa sân cỏ, nhìn chằm chằm từng thùng tài liệu được chuyển lên máy bay quân dụng.

Có lẽ Sở Vọng biết vì sao bọn họ lại đến vào lúc đêm khuya. Nhân lúc nửa đêm, hai nước Anh Mỹ liên thủ di chuyển lực lượng cốt lõi của người Nhật để tránh đêm dài lắm mộng, vì vậy mới dùng tốc độ nhanh nhất chuyển tài liệu, tránh về sau có nhiều mạng lưới tai mắt của nước khác.

Bàn về chuyện mưu kế, có người nói: “Liệu người Mỹ có nuốt trọn tài liệu này không?”

Oppenheimer chống nạnh, nheo mắt cười nói: “Trừ khi bọn họ độc chiếm đầu óc của cả đám chúng ta.”

Sở Vọng cười to: “Vậy bao giờ chúng ta mới lại được chạm vào tài liệu đây?”

“Khoảng bốn tháng.” Giọng của Bohr truyền đến từ trong máy B-25, “Tôi và Fermi sẽ đi trước, thúc đẩy ngày đó đến sớm hơn.”

Sở Vọng cười nói: “Chỉ mong đến lúc ấy hôn lễ của em đã kết thúc thuận lợi.”

Bohr cũng cười lớn, “Thế thì chúng ta đành cử hành hôn lễ đơn sơ cho hai người ở căn cứ E rồi.”

“Tôi hy vọng sẽ sớm ngày xây xong căn cứ E, tốt nhất là trong tuần tới. Như thế hôn lễ của em ấy chỉ có một chiếc bàn, cùng lắm là thêm một rương rượu trái cây, uống rượu xong lại đốt hai cây pháo bông, như vậy là có thể đưa em ấy và sĩ quan của mình vào phòng tân hôn sơ sài được rồi.” Oppenheimer bĩu môi, “Vì em ấy không mời tôi tham dự hôn lễ.”

Người của tổ I cùng cười phá lên.

“Còn chưa làm xong thiệp cưới mà.” Sở Vọng lúng túng, sờ vào túi áo khoác, “Bây giờ em mời miệng được không?”

Fermi và Bohr ló người ra từ phía sau, ném cho cô một tờ giấy và một cây bút máy: “Bây giờ đi ghi lại địa chỉ của mọi người đi, đến khi có thiệp cưới thì gửi tới từng nhà, vẫn còn kịp đấy. Nhanh lên.”

Cô cúi người lật đật cám ơn, rồi chạy mòng mòng xung quanh xin địa chỉ của mọi người, vô cùng bận rộn.

Trong đó có mấy cô gái là tiếp tuyến viên cũng hỏi cô liệu mình có thể tham dự hôn lễ được không, cô lập tức bảo bọn họ ghi lại địa chỉ.

Kiểm tra đã xong, trước khi khép cửa lại, Bohr chợt nói: “Tôi và Fermi không có vinh hạnh này rồi. Nhưng bất luận thế nào đi nữa, bao giờ đến căn cứ E thì sẽ chúc mừng em thêm lần nữa.”

Cô gật đầu đáp vâng, đột nhiên cảm thấy rất có mặt mũi.

Cô hít sâu một hơi, nghĩ bụng: đến cuối thế kỷ khi nhìn lại hôn lễ này, thực sự là có rất nhiều danh nhân khắp thế giới hay người đoạt được giải thưởng Nobel đã đến tham dự buổi hôn lễ của cô, không biết sau này về già có thể nói phét được với bao nhiêu tụi trẻ.

Khi nghe tin luận văn sự tồn tại của Nơtron bị loại bỏ khỏi danh mục đề cử giải thưởng Nobel, không biết cô đã nhẹ nhõm tới đâu: Ít nhất là trong năm nay, cô không cần lo lắng khi bắt gặp De Broglie ở đâu đó, làm cô xấu hổ không chốn dung thân.

Trời vừa tảng sáng, khi mấy chiếc máy bay quân sự bắt đầu cất cánh, cô gái tiếp tuyến viên ở tầng hai kéo tay áo cô, bảo rằng cô nhận một bức điện báo.

Lên tầng hai, cô gái người Pháp trao tận tay cô bức điện, dặn cô đọc xong thì trả lại.

Cô ngạc nhiên cầm lấy.

Trên trang đầu tiên viết một câu: “Vào lúc 4 giờ sáng ngày 26, trong trận động đất Fukui 4.1 độ richter, các nhà khoa học phát hiện ra lò phản ứng đã hoạt động liên tục, dự đoán trong hai mươi năm tới sẽ có trận động đất quy mô lớn gây ra khủng hoảng.” Thư đến từ đài phát sóng dài ở núi Thái Bình.

Cô giật mình, nhớ đến người Nhật dù ngã gục giãy giụa vẫn không từ bỏ đường sắt Mãn Châu, đoạn nghĩ, đúng là báo ứng.

Trên trang thứ hai hỏi: “Hỏi, dùng túi cao su mỏng bịt đầu hươu lại thì sau bao lâu nó sẽ chết? Từ thân ái.”

Đợi cô đọc hết, tiếp tuyến viên nhanh chóng lấy hai tờ giấy trong tay cô, thấy vẻ mặt cô khác lạ thì hỏi: “Đã xảy ra chuyện gì sao?”

Cô cười nói: “Bị thầy chỉ trích thôi.”

Cô gái người Pháp cho giấy vào máy cắt giấy, vô tình trông thấy bức thứ hai, không khỏi ngạc nhiên: “Vì sao phải dùng túi cao su bọc đầu hươu? Tàn nhẫn quá.”

Cô nói: “Nghẹt thở có thể làm dừng hô hấp.”

Cô thờ ơ nói xong, trong ánh mắt ngạc nhiên của cô gái da trắng, xoay người mở cửa đi ra. 

Động vật có vú hô hấp sẽ tạo ra một lượng lớn carbon dioxide, có thể gây nghẹt thở và tử vong.

Theo cách tương tự, radon được giải phóng bởi sự biến đổi của radium tích lũy sẽ hấp thụ neutron với số lượng lớn, ngăn chặn phản ứng dây chuyền.

Đấy chính là nghẹt thở.

Từ Thiếu Khiêm đúng là lợi hại, lần nào cũng có thể nhìn được toàn cục từ những việc nhỏ nhặt, bốn giờ nhận được thư thì ba tiếng sau đã nghĩ đến việc chất vấn cô: “Kết luận của hiệu ứng ngạt thở của em là gì?”Sau đó lại nghĩ đến: “Trong tay em có con dao rạch được túi mỏng, em vẫn muốn để nó chết?”

Tàn nhẫn ư?

Một mình cất giấu bí mật này gần một năm, cô luôn nghĩ sẽ ai đó đứng từ quan điểm đạo đức mà trách móc cô. Thà rằng liệt kê rành mạch hành vi phạm tội của cô còn tốt hơn là cô tự tra tấn mình bằng câu chuyện ghi chép bằng tiếng Anh trong 8 tháng qua: con hổ ngày bé từng tấn công con người, về sau được con người nuôi dưỡng, trước khi nó tấn công người chủ thì người chủ đã nổ súng bắn chết nó, vậy hành động đó là sai hay không sai?

Vấn đề này càng khó phân tích hơn với định luật bà ngoại*.

(*Cái định luật Từ Thiếu Khiêm đã từng đặt ra cho Sở Vọng ở chương 36.)

Mà khi chính Từ Thiếu Khiêm hỏi ra, cô lại càng không thể trả lời được.

***

Về đến nhà cũng chỉ mới 10 giờ, bà Cát đã qua cảm giác buồn ngủ, Tuệ Tế thấy cô về thì lập tức đi gọi điện cho bác sĩ.

Cô cởi áo khoác, còn chưa thay áo ngủ mà đã ngã phịch xuống giường, chẳng mấy chốc đã ngủ say.

Khi bác sĩ đến, cô uể oải vươn tay ra khỏi chăn cho ông ta bắt mạch. Bác sĩ hỏi cô vài vấn đề thông thường như chu kỳ kinh nguyệt là bao lâu, có hút thuốc không, cân nặng bao nhiêu vân vân, rồi sau đó không hỏi gì thêm.

Cô nghĩ bụng, người này có thể tính được cân nặng từ pound sang cân, thỉnh thoảng lại dùng thuật ngữ y học hiện đại, có lẽ ông ta là một bác sĩ phụ khoa vừa nghiên cứu y học Trung Quốc và cũng nghiên cứu y học phương Tây. Nên cô cũng không buồn hỏi rằng, rốt cuộc bà Cát mời ông đến là để bồi bổ cho cô để cô có sức khỏe mang thai, hay là trang bị cho cô các biện pháp tránh thai khẩn cấp. Suốt quá trình khám cô cứ lờ đờ uể oải, chẳng hề có lấy hứng thú chút nào.

Có lẽ là vế sau. Kinh nghiệm này đến từ người bạn da trắng cùng phòng cô ngày trước, có một lần cô ấy rủ Lâm Trí đến bệnh viện với mình để kê toa thuốc tránh thai khẩn cấp, bác sĩ nhắc nhở cô ấy rất nhiều: Không hút thuốc, tập thể dục nhiều hơn, khả năng thấp là có hơi phát phì.

Sau đó có một lần, người bạn cùng phòng đó tò mò hỏi vì sao chưa thấy cô uống thuốc tránh thai khẩn cấp bao giờ. “Cậu không thấy dùng ‘áo mưa’ phiền lắm à?” Cô ấy đã hỏi Lâm Trí như vậy. “Không hề, vì mình không có bạn trai.” Bạn cùng phòng nghe thế thì lấy làm ngạc nhiên, cũng tốt bụng bày tỏ mình có thể cho cô mượn “máy rung” để an ủi, nhưng cô đã khéo léo từ chối.

Ngày hôm kia thuốc được đưa tới cửa, hình như nó có công dụng để cô thèm ngủ hơn thì phải; mà cũng có thể do cô không muốn suy nghĩ về câu hỏi của Từ Thiếu Khiêm nữa, dứt khoát đánh một giấc thật ngon, nằm trên giường làm con rùa đen rụt cổ đến tận mấy hôm liền.

Sau một phen bận rộn, bà Cát cũng ngủ một giấc rồi tỉnh, quấn khăn trùm đầu đi vào phòng cô.

“Tâm trạng của cháu đang không được tốt.”

Cô lộ ra nửa cái đầu, nói dối, “Có hơi mệt thôi ạ.”

Bà Cát cũng không hỏi nhiều, chỉ đưa gương tới cho cô nhìn.

“Cô thấy đó, cháu vẫn ổn mà.”

“Cũng không quan tâm chuyện hôn lễ của mình à?”

“Cô biết nhiều hơn cháu.”

Bà Cát bất đắc dĩ, “Bây giờ làm con dâu nhưng sau này sẽ làm chủ nhà, không biết quản lý tài sản chuyện vặt thì dù có nhiều tiền tới mấy cũng không ngóc đầu lên được.”

Cô nheo mắt vui vẻ.

Một lúc sau bà Cát lại nói, “Thôi, chừng nào cô còn sống thì không ai trong liên quân tám nước* dám đè đầu cháu cả.”

(*Ý bà Cát muốn nói đến những bà vợ lẽ đa sắc tộc của Tạ Hồng.)

Sở Vọng bật cười: “Đủ tám nước thật ạ?”

“Thiếu một cô gái người Nhật. Hiện tại tập thể cư dân ở Hồng Khẩu đã đi thuyền về nước, nhưng có lẽ sẽ có nhiều người muốn cùng cái gã tình trường lão luyện đến Hương Cảng hưởng thái bình giàu sang. Chắc hẳn nể mặt con trai nên ông ta mới không dám để lộ ham muốn.”

Sở Vọng cảm thấy hứng thú trước chuyện tình phong lưu của Tạ huân tước, “Có tám vợ bé nhưng không có vợ cả, vì không ai sinh con trai cho ông ấy hả cô?”

Bà Cát không trả lời thẳng, “Không có vợ cả thì quá tốt còn gì, cháu đến nhà họ Tạ còn sợ ai đè đầu cưỡi cổ nữa?”Sở Vọng cười đáp: “Cô nói rồi mà, liên quân tám nước không dám động đến cháu là vì có cô ở đây.”

Bà Cát liếc cô: “Giờ càng lúc càng ghê gớm rồi đấy nhỉ.”

Bây giờ cô rất nghi ngờ về Tạ Trạch Ích, xoay người ngồi dậy, “Cô à, vì sao lại là Tạ Trạch Ích?”

“Gặp Tạ Hồng rồi thì cháu sẽ biết, ba mươi hoặc năm mươi năm nữa, mức độ phong độ anh tuấn của nó tuyệt không thua kém cha nó hiện nay, chắc chắn là vậy.”

“Vậy đợi ba mươi hay năm mươi năm nữa cháu sẽ cẩn thận đề phòng mấy cô gái trẻ bên ngoài.” Cô cười đùa, đoạn hỏi, “Cô ơi, vì sao sau này cô không tái giá?”

Bà Cát cụp mắt không biết đang nhìn nơi đâu, cười bảo, “Ông Cát đi đã nhiều năm, trong số rất nhiều người đàn ông đến rồi lại đi, thì chỉ có một Tạ Hồng là biết lý biết lẽ nhất.”

Sở Vọng ngẩng đầu: “Tạ huân tước là người rất thú vị.”

“Đúng thế, còn rất tốt với phụ nữ.”

“Thế vì sao cô không cưới ông ấy? Ông ấy cũng đã nhiều năm không cưới vợ mà.”

“Ông ta?” Bà Cát hừ lạnh, “Cô không muốn làm vợ người ta.”

“Làm vợ huân tước và làm bà Cát thì khác gì nhau ạ?”

“Khác nhau là lúc người ta gọi cô, sẽ không có người đàn ông nào đứng trước cô cả.” Bà Cát nhìn cô, “Làm vợ người ta là chuyện vô dụng nhất trong cuộc đời phụ nữ, cuối cùng rồi họ sẽ hiểu đàn ông còn không đáng tin bằng tiền. Nhưng cháu thì khác, cháu có sự nghiệp riêng của mình, sau này ra ngoài chỉ sợ người khác còn phải gọi cháu một tiếng là ‘cô Lâm’*, hoặc là gọi kèm tên chức vụ, có lẽ cả thế giới cũng chỉ có một mình Tạ Trạch Ích gọi cháu là bà Tạ.”

(*Bản gốc ở đây là ‘Lâm tiên sinh’, chữ tiên sinh được dùng với nghĩa gọi tôn trọng người có trí thức, không chỉ dùng riêng cho đàn ông.)

“Không phải như vậy rất hay sao, dành riêng một mình anh ấy gọi.” Sở Vọng cười nói, “Huống hồ cháu rất ghét rắc rối, chỉ e không làm nên đại sự.”

“Còn nói không làm nên? Mấy tháng này ai là đứa nổi nhất hả.”

Sở Vọng khó hiểu.

Tuệ Tế mỉm cười cầm mấy tờ báo đưa đến.

Cô mở một tờ báo ra, tiêu đề to đùng ghi: Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã trao giải thưởng Nobel Vật lý năm 1929 cho Tsui L., Leung Z. và Lam L. Ba nhà vật lý Trung Quốc đã phát hiện ra sự tồn tại của “nơtron”, xin ghi nhận những đóng góp của họ cho nghiên cứu thành phần hạt nhân nguyên tử.

Tay cô run lên, lại cầm lấy tờ khác, nhưng tờ nào cũng giống hệt nhau, in đầy tên của cô, Từ Lai và Lương Chương.

Ném báo sang một bên, cô ngã vật xuống giường, cuộn chăn quanh người, xấu hổ đến mức người đỏ bừng, đầu nghĩ: lần này mình tiêu thật rồi, mình còn mặt mũi nào mà đi gặp Louis de Broglie và James Chadwick nữa?

Bà Cát tưởng cô quá kích động, thế là bật cười với Tuệ Tế, nói: “Cũng may lúc đó cháu chưa mang họ Tạ, nếu không là để nhà họ Tạ thơm lây rồi.”

Sở Vọng muốn khóc cũng không nổi, chỉ muốn thời gian quay ngược trở lại hai năm trước, để cô có thể bút máy gạch tên mình trong trang cuối cùng ở bản thảo đi.

Hoặc là để cậu bạn nhỏ Từ Văn Quân mới mười hai tuổi đặt câu hỏi về sự tồn tại của nơtron với Từ Thiếu Khiêm, để tên cu cậu xuất hiện trên bài luận văn, để hôm nay cậu chàng 14 tuổi và bài luận văn đó sẽ nhận được giải thưởng Nobel, để người đời nhìn xem thiếu niên Trung Quốc là như thế nào.

Nhưng khi chuyện xảy ra với người phàm tục như cô thì đến chút cảm giác thành tựu cũng không có, thay vào đó là sự xấu hổ tột cùng. Bây giờ lại càng không biết nên về Hương Cảng đối mặt với Từ Thiếu Khiêm thế nào đây – vì anh là người biết rõ thân phận ‘ăn cắp bản quyền’ luận văn của cô.

Bà Cát nói tiếp: “Cháu dùng thân phận đó gả đi tức là kết hôn, không phải xuất giá, càng không phải bát nước đổ đi. Từ đây đi xe đến nhà họ Tạ cũng chỉ mất chừng 10 phút, cháu có thể về bất cứ lúc nào, cũng không ai dám chỉ trỏ nói ra nói vào.”

Cô thở dài, “Nhưng bốn tháng sau cháu phải đi rồi.” Cũng may cũng may, bốn thang mai danh ẩn tích đi làm công trình sư. Rồi mấy năm sau mới xuất hiện, khéo đến lúc đó người ta cũng quên chuyện này rồi.

Bà Cát nói: “Mười sáu tuổi còn quá trẻ, cơ thể không nẩy nở, từ xưa đến nay không biết có bao nhiều cô gái không qua được quỷ môn quan khi sinh con ở tuổi 16 17. Đợi mấy năm nữa sinh con là đẹp, khi đó cô của cháu vẫn chưa quá 50, vẫn có thể địu mấy đứa trẻ hiếu động đi chơi.”

Quả nhiên là thuốc tương tự thuốc tránh thai khẩn cấp, nhân tiện để cơ thể cô được bồi bổ nghỉ ngơi vài năm. Cô không khỏi khen bà Cát thật đúng là đi đầu trào lưu, biết nhìn xa trông rộng.

“Tạ Hồng muốn ôm cháu đến điên rồi, giờ cháu có tiền đồ như vậy thì không cần sợ ai này nữa, thích sinh khi nào cũng được.”

Có lẽ việc sinh con ngày trước đã để lại bóng đen trong lòng bà Cát, nên bà rất hay nói tràng giang đại hải bên tai cô. Cô nghe nhiều, dần cũng tự an ủi: hình như con gái dân quốc sau thời kỳ phong kiến phải có hư danh thì mới được đàn ông tôn trọng, nếu không sống sẽ rất mệt mỏi.

Bà Cát thấy cô không có vẻ gì là uể oải, thế là tiện nói luôn: “Có hứng rồi hả? Nếu có hứng thì để cô lấy đồ cưới ra xem với cháu.”

Trong rất nhiều món đồ đó có gốm Kháp ti pháp lan, gốm David, chạm khắc sơn mài, ngọc bích, vòng ngọc hình rồng, nậm rượu đồng, thảm mandala, bình ôm trăng, thư pháp trục dọc, tranh cuộn, tranh chim đậu cnàh tre, tranh vẽ nhà cỏ, vân vân… Cô nghe mà hai mắt trợn ngược, suýt đã ngủ gật.

Bà Cát vẫn chưa bỏ qua cho cô, đọc xong phần đó thì lại kiểm kê tiếp một đống đất đai, chủ yếu ở huyện Thiệu Hưng

“… Mấy ông cậu của cháu không thích tranh giành. Tiếp quản gia sản nhưng cũng không có ý kinh doanh, may là cô đã mua được 30% tài sản của tổ tiên để lại từ bọn họ. Có một vài cửa hàng bạc, bốn nhà máy rượu vang, một đồn điền trà, một trăm mẫu đất, bốn bất động sản… Ở cái tuổi 16 này, không ai giàu hơn cháu cả.”

Sở Vọng mệt đến nỗi gục đầu xuống, chỉ hỏi: “Rốt cuộc mấy thứ này có giá trị bao nhiêu?”

Bà Cát đưa ra con số hàng trăm triệu.

Cô vẫn không định lượng được, ngơ ngác hỏi: “Hả? Không đủ để mua Hương Cảng từ George V* ạ?”

(*George V là Quốc vương của nước Anh thống nhất và các thuộc địa Anh, và Hoàng đế Ấn Độ, từ 6 tháng 5 năm 1910 cho đến khi mất năm 1936.)

“Mua được mười con phố cũng được nữa là. Nhưng mua để làm gì?”

“Xây nhà.”

Bà Cát tưởng cô nói đùa, thế là bật cười: “Để đến năm 80 tuổi dù chống gậy vẫn đi thu tiền, từ một xu đến 30 triệu cũng phải thu đủ?”

Sở Vọng cười cười, nhớ lại ý muốn to lớn của mình nhiều năm trước cũng chỉ đơn giản là góp đủ tiền, đến quận 8 Paris mua mấy căn nhà bình thường rồi cho thuê trọ, làm một bà chủ nhà an nhàn.

Mơ màng thiếp ngủ, cô nằm mơ thấy Tạ Trạch Ích cõng cô đi giữa ruộng đồng Thiệu Hưng. Trâu nước cày ruộng, các chú nông dân xuống ruộng, các cô thì cấy mạ, còn tụi nhỏ nô đùa vui vẻ.

Cô nằm trên lưng anh, vênh váo vung tay chỉ: “Mẫu đất này, mẫu đất kia, rồi kia kia nữa, tất cả, tất cả, tát cả đều là của chúng ta! Có giàu không?”

Vì cô nghiêng đầu nên tạo áp lực lên tuyến nước bọt, ở trong mơ nước dãi chảy ướt áo sơ mi của Tạ Trạch Ích, đến khi tỉnh giấc thì trên gối nhung ướt đẫm một mảng.

Chương 132: Hợp tan (4)

Tỉnh dậy từ giấc mộng đẹp khiến cô vui vẻ không thôi. Lúc thay đồ xuống dưới nhà ăn sáng thì bà Cát đã mặc sườn xám dùng để tiếp khách ở nhà, xung quanh là vài ba vị khách.

“Cô có chuyện gì mà bận thế?”

“Cô ba đúng là cô dâu thảnh thơi nhất thiên hạ này. Mọi chuyện lớn nhỏ về tiệc cưới, tiệc thế nào khách mời những ai, cần váy cưới kiểu gì, cũng không thấy hỏi đến.”

Sở Vọng đút miếng sủi cảo tôm vào miệng, chỉ cười không nói.

Bà Cát vẫy tay: “Lại đây, xem bộ váy buổi chiều mặc sau khi rời nhà thờ có nên dùng xếp ly to không?”

Đến chương trình hôn lễ của mình thế nào Sở Vọng cũng không biết, nên chỉ đáp qua loa: “Ừm, được ạ được ạ.”

Một người thợ may cười nói: “Xếp ly nhỏ thì sẽ đẹp hơn.”

Bà Cát bảo: “Kiểu dáng đó của mười mấy năm trước rồi mà?”

“Bởi vì đã tám chín năm không còn thịnh hành, nên giờ mới là lúc nổi lên.”

Bà ngẫm nghĩ rồi vẫn lắc đầu: “Không được. Váy xếp ly nhỏ thách thức vóc dáng lắm, phải bước khoan thai thì mới khiến váy nhúc nhích nhẹ. Con bé nhà tôi ấy à, sợ đến lúc đó bước đi lại thành sóng to cuồn cuộn, bị người ta cười thúi mặt mất.”

Sở Vọng ấm ức: “Không phải váy xếp ly nhỏ dùng để mặc lúc nhảy nhót khiêu vũ à, như thế mới đẹp chứ?”

Người trong phòng cười to.

Bà Cát chỉ hận không thể rèn sắt thành thép: “Tụi nhỏ các cháu là may mắn lắm rồi đấy. Hơn mười năm trước khi bọn cô còn trẻ, mặc áo cưới giày thêu đi vào nhà chồng, trên đỉnh đầu còn đặt một bát nước, không được phép làm đổ. Nhất là người Quảng Đông, mấy chục người chị em dâu đều chờ nhìn chê cười.”

Sở Vọng cười nói: “Cháu không sợ. Chẳng lẽ liên quân tám nước cũng hiểu được tập quán cũ trong nước ta hả?”

Bà Cát trợn mắt, lại nói tiếp chuyện năm xưa: “Mười năm trước, con gái không được phép xuất đầu lộ diện, cử chỉ cũng phải đoan trang chứ không như bây giờ. Hai mươi năm trước khi mẹ cháu gả vào cửa, cô cũng trốn một bên nhìn lén. Chị ấy mặc váy xếp ly mỏng như sợi tóc, ở tua rua trên áo thắt bốn năm chiếc chuông nhỏ; gót vàng mấy tấc, mỗi lúc bước đi, tiếng chuông ngân như có như không. Đó mới thật sự là đoan trang khéo léo, ra hình ra dáng. Phụ nữ ngày đó vẫn tuân theo lệ cũ, nhưng đàn ông đọc sách mấy năm lại có khiếu thẩm mỹ cách tân, thực đúng là đáng tiếc.”

Tuy thời đại bây giờ đã tiến bộ, nhưng dù ở đâu thì quy củ phép tắc vẫn do nam giới định đoạt, thật không công bằng.

Tụt lại phía sau ắt sẽ chịu đòn. Chẳng trách thời dân quốc có nhiều đàn ông tệ bạc, cũng có nhiều người phụ nữ oán trách. Đương nhiên cũng không thiếu những cô gái độc lập mạnh mẽ nhìn rõ thực tế.

Chẳng mấy chốc, người đàn ông “từng đọc sách mấy năm” đã tới cửa viếng thăm.

Mật Thu vào báo lại với bà Cát, bà chỉ khoát tay, “Bảo ông ta đợi đi.”

Đợi mấy người thợ may rời đi, bà mới bảo Mật Thu dẫn Lâm Du vào phòng khách, cũng nhất quyết kéo Sở Vọng đi cùng.

Lâm Du tới, trông ông ta vẫn như cũ, quái bào là lược thẳng thớm, tuổi tác bốn mươi có ba nhưng vẫn phong độ chín chắn, chắc hẳn hồi trẻ cũng là một người điển trai.

Sở Vọng và bà Cát mỗi người chiếm một chỗ trên ghế sofa nhung.

Lâm Du đứng giữa phòng khách, ánh mắt tán thưởng rơi lên người Sở Vọng, như thể bồi dưỡng nên một cô con gái xinh xắn có sự nghiệp là công lao của ông ta vậy.

Mật Thu biết cần phải im lặng, vì vậy cũng không hỏi ông ta muốn uống trà gì.

Lâm Du cũng chẳng buồn đoái hoài, chỉ chợt nói: “Con giống mẹ con hồi đó đến năm phần.”

Bà Cát cúi đầu không tiếp lời.

Lâm Du hít một hơi sâu: “Gả cho cha là chuyện hồ đồ nhất trong đời bà ấy.”

Bà Cát ngẩng đầu lên, cười nói, “Nói đi, muốn bao nhiêu tiền?”

“Lâm Cẩn, tôi không phải là ăn mày.”

“Không cần? Không cần thì xin về cho. Cháu gái nhà tôi đang bận chuẩn bị hôn lễ, không có thời gian ngồi nói chuyện với ông. Mật Thu, tiễn khách.”

“Đợi đã!” Lâm Du ngồi xuống.

Bà Cát cười cười.

“Cũng phải có người dắt tay đưa con bé vào nhà thờ…” Lâm Du bình tĩnh nói.

Sở Vọng nghĩ ngợi, đúng thế, sao lại quên mất chuyện quan trọng này nhỉ?

Nhưng bà Cát đã cắt luôn cảm xúc của ông ta, chỉ vào đồng hồ treo tường ở sau lưng, “Tôi cho ông thêm ba phút nữa là cùng, đã hết thì không còn lần sau đâu.”

Sở Vọng thấy Lâm Du siết chặt nắm đấm, gân xanh hằn lên mu bàn tay, đứng dậy quay đầu rời đi.

Đứng ở cửa năm giây, rồi ông ta ngoái đầu lại, mở miệng nói: “Hai.”

Bà Cát cười bảo: “Hai trăm ngàn cũng không phải là con số nhỏ. Bé ba, tiền lương một tháng của cháu bao nhiêu, có dư tiền tiêu vặt để cứu người cha này của cháu không?”

Cô ngẩn người, rồi lập tức nói: “Có ạ có ạ.” Vừa nói vừa lôi ví tiền ra.

Lâm Du nói ngay: “Hai mươi ngàn. Trong nhà thật sự không xoay vòng nổi tiền.”

Bà Cát sung sướng bật cười, hất cằm với Tuệ Tế. Một lúc sau, cô ấy cầm một túi tiền lớn đưa cho bà Cát. Bà Cát tháo dây cột miệng túi ra, dốc ngược túi xổ hết mấy đồng xu in hình Tôn Trung Sơn xuống tấm thảm đen đỏ.

Lâm Du đứng chôn giữa trong đống tiền, nhìn Lâm Cẩn chằm chằm với vẻ không tin nổi.

Sở Vọng thở dài, có lẽ cảm thấy nếu cứ đứng ở đây sẽ khiến ông xấu hổ không nhặt được tiền, thế là rất chu đáo đứng dậy đi ra ngoài.

Cô nghe thấy bà Cát ở sau lưng nói: “Đợi đến ngày giỗ 16 năm của mẹ con bé, dẫn vợ ông đến mộ chị ấy nghiêm túc dập đầu hai mươi cái. Số tiền còn lại tôi sẽ chuyển đủ vào tài khoản của ông.”

Khi cánh cửa khép lại, Lâm Du ngồi xuống, chật vật nhặt từng đồng tiền một cho vào trong túi.

Bà Cát nhìn ông, hờ hững nói: “Năm xưa vì chuyện hôn sự mà tôi đã quậy nhà họ Kiều một trận tơi bời, về nhà bị đánh một trận. Để xin tha cho tôi mà chị ấy đã quỳ trong phòng ông một đêm, còn ông chỉ biết hả hê đắc thắng. Nhưng có lẽ ông không biết, sáng hôm sau chị ấy vào phòng tôi đút thuốc, vì làm liên lụy chị ấy nên tôi xin lỗi mãi, nhưng chị ấy chỉ sờ trán tôi nói: “Quỳ một đêm thì có sao. Dưới đầu gối đàn ông có vàng, còn phụ nữ thì không. Biết yếu thế và không biết xấu hổ, thời đại này chỉ tốt với phụ nữ ở điểm đó. Chị không giống em, thế đạo đã trói buộc chị trong căn nhà này. Còn em nhất định phải ra ngoài, nếu có người cho em con đường sống thì dù có chui qua dưới háng người kia, em cũng phải làm. Để sau này còn cho bọn họ biết, cảnh tượng vàng dưới gối vỡ nát trước mặt em là như thế nào’.’”

Mười phút sau, lúc Sở Vọng đang ngồi uống trà chanh Lipton ở trong vườn, cô thấy Lâm Du trầy trật xách túi tiền rời đi.

Bà Cát đi tới cạnh cô, ngồi xuống hỏi: “Con người này, lúc tới thì áo quần tươm tất muốn nắm tay con gái dắt vào nhà thờ, lúc đi lại dắt thêm đuôi chồn hốt hoảng chạy trốn. Cháu xem ông ta có xứng không?”

Sở Vọng nhìn một hồi rồi hỏi, “Vì sao cô lại cho ông ta tiền?”

“Không cho ông ta, chẳng lẽ chờ ông ta đến đòi anh cháu? Lương của chính phủ hiện tại có được mấy đồng? Nó đã không mở miệng đòi nhà chuẩn bị sính lễ thì thôi, vợ chồng mới cưới cũng không dễ dàng gì, hai mươi ngàn này, coi như cô bù cho nó.”

Sở Vọng nhớ lại hồi mới tới Thượng Hải, hình như Lâm Tử Đồng cũng nói với cô gì mà “nợ cha con trả”, lòng cảm khái bà Cát đúng là ân oán rõ ràng.

Nhưng có điều cô nghĩ vẫn không hiểu, “Vì sao ông ta thà mất mặt ở chỗ cô chứ không đến chỗ bà Kiều xin tiền?”

“Đơn giản là vì hai chị em họ có chung bí mật của ông ta hồi còn trẻ, chuyện đó làm ông ta hối hận suốt đời, còn quan trọng hơn chuyện mất mặt ở chỗ cô nhiều.”

Là chuyện gì thế?

Nhưng dù là chuyện gì, thanh cao tới mấy cũng phải cúi đầu trước đồng tiền, tôn nghiêm của người lối mới đã bị phụ nữ phái cũ chà đạp.

“Nhưng vì sao bà Kiều lại khư khư giữ chặt số tiền đó như vậy?” Cô vẫn không hiểu.

Bà Cát nhìn cô, đoạn nói: “Đàn ông gia đình truyền thống đều có tam thê tứ thiếp, nên phụ nữ phải giữ được quyền lực, mà tài sản chính là quyền thế lớn.”

Sở Vọng ngoẹo cổ gật đầu. Từ khi gả đi bà Kiều luôn ôm khư khư kho tàng của mình, chỉ vì bà biết rõ người chồng mình giành được đây không thể cho bà cảm giác an toàn suốt đời. Cuối cùng muốn an toàn vẫn phải dựa vào tiền.

Có điều thủ đoạn thật đáng lo ngại, không biết đã bị bà Cát bỏ ra mấy chục ngàn mua đứt đại lộ Queen’s, lại còn không gióng trống khua chiêng.

Nhưng rồi hai cô cháu lại buồn bã nghĩ: rốt cuộc ai sẽ dắt tay cô, trao cô cho Tạ Trạch Ích đây?

Cách tốt nhất là nhận một người có máu mặt lẫn tài đức vẹn toàn làm cha nuôi. Nhưng trong số mấy người bà Cát quen, đếm tới đếm lui cũng không ai hợp với bốn chữ “tài đức vẹn toàn”, thật sự khiến bà đau đầu.

Trong lòng Sở Vọng đã có một cái tên. Có điều cô không biết có thích hợp không, trừ khi đích thân cô đi mời.

Mấy hôm sau, hai cửa tiệm lâu đời mà các cô các bà nhà giàu Thượng Hải thích ghé đến là Thục Du và Phẩm Phân đồng loạt thông báo: một tháng tới mọi thợ may trong tiệm đã được cô ba Lâm mời làm thợ riêng, phải một tháng sau mới có thể tiến hành làm đơn đặt hàng của mọi người.

Sau khi gửi thiệp mời đi, mọi người ở biệt thự họ Cát cũng bắt đầu đi thuyền, trước khi vào đông đã quay về khu vực nhiệt đới ấm áp.

Không ít người tề tựu ở biệt thự trước ngày khởi hành để tiễn biệt và chúc mừng bà Cát.

Trong số họ có lấy cớ đến chúc mừng cô dâu để kết thân với bà Cát, hoặc là có người không nén nổi tò mò muốn nhìn trước cô dâu nhà họ Tạ kiêm người đoạt giải Nobel, đại tiểu thư có một không hai ở đầu thế kỷ 20.

Bà Cát không có hứng mượn cơ hội này để cô thể hiện tài năng trong giới thượng lưu Thượng Hải. Sở Vọng cũng lười không muốn xã giao khách sáo, thế là dứt khoát nhốt mình trong phòng.

Sở Vọng nằm trên giường, lúc đang cầm vở trằn trọc nghĩ xem nên viết bản kiểm điểm để đưa cho Từ Thiếu Khiêm như thế nào thì Di Nhã đẩy cửa đi vào.Cô nàng chớp mắt, thở hắt ra, “Danh tiếng gớm nhỉ đại khoa học nhà ta!”

Sở Vọng ném vở sang một bên, cũng chớp mắt nói, “Cái gì? Danh tiếng gì?”

“Không ai trong giới thượng lưu Thượng Hải bây giờ là không biết cô dâu một ngày mặc đến hơn bảy bộ đồ.”

Sở Vọng ngạc nhiên, “Hả, thế thì sao mà thay cho kịp?”

“Quần áo trang sức chính là danh tiếng của con gái, nhiều hơn cũng không thiệt hại gì. Có dì Cát lo cho cậu rồi, cậu không cần phải lo.” Di Nhã cười to.

Sở Vọng nhớ Di Nhã không có chuyện gì thì sẽ không tìm đến, thế là lập tức tra hỏi: “Có biến gì hả? Thành thật khai mau.”

“Không ngoài dự đoán, e là Doãn Yên cũng phải kết hôn rồi.”

“Ớ? Với ai?”

“Một thủy binh hạ cấp.”

“Ồ, thế cũng tốt mà!” Sở Vọng đáp.

“Không biết người ở đâu, lăn lộn ở Thượng Hải hai ba năm rồi được chức hạ úy. Da dẻ đen thui, tự xưng là đến từ Anh. Có điều ngài Tưởng kiểm tra rồi, 70% là huyết thống Ấn Độ, chắc được người Ấn đến từ vùng thuộc địa. Ngài Hoàng đã nhờ người cứu Trịnh Diệc Dân rồi. Dì Cát có gọi Doãn Yên đến nói chuyện một lần, nói là nếu nó đồng ý thì dì ấy vẫn có cách để Trịnh Diệc Dân cưới nó. Nhưng nó không chịu, cho rằng dì Cát không thừa nhận điểm tốt của nó mà đang hại nó. Còn nói đến như Chân Chân mà Chers còn để ý, thì vì sao nó không thể gả cho người nước ngoài được? Lại còn đắc ý nói người Anh kia chịu cưới nó, sau khi kết hôn sẽ cho nó đi Anh du học.” Di Nhã thở dài.

Sở Vọng nghe thế, lấy làm ngơ ngác.

Suy nghĩ của bà Cát là, không phải thế hệ sau luôn vô tội, nhưng ân oán của thế hệ trước không liên quan gì đến họ, có thể giúp được thì cứ giúp.

Nhưng con người ta trưởng thành, ngoài chịu sự ảnh hưởng của hoàn cảnh và cách dạy dỗ ra thì gen do người mẹ cung cấp vẫn chiếm tỷ lệ lớn. Ví dụ như đến 90% ý thức và kiểm soát cảm xúc là ảnh hưởng từ gen của mẹ —— trích từ nhiều tạp chí tế bào học cô từng đọc ngày trước.

Còn về phần vì sao Sở Vọng ở đời trước từ chối bà Cát, khăng khăng đòi đi châu Âu với Ngôn Tang —— khéo cũng có liên quan đến vấn đề di truyền.

“Nếu có thể lợi dụng được đàn ông thì tuyệt đối không cần phải dựa vào hai tay mình.” Thật tiếc cho một phen tâm huyết của Lâm Du.

“Đúng là cái đồ không có mắt nhìn, không biết trên đời này có bao nhiêu cô gái chờ xếp hàng để được dì Cát bồi dưỡng, có hội ngàn năm có một.”

Sở Vọng cười cười nhìn cô ấy.

“Có lúc mình nghĩ, không biết dì Cát có lúc cũng muốn dựa dẫm vào đàn ông không.”

“Không biết. Nhưng có lẽ cô có tiêu chuẩn chọn đàn ông riêng, chắc chắn không liên quan đến tiền tài gia thất.”

Phụ nữ ở thế kỷ 19 khi kết hôn thường nhìn vào học thức ăn nói tiền tài, còn bản thân phụ nữ ở thế kỷ 21 đã có học thức ăn nói, cũng có thể tự nuôi được mình, thế thì cần gì những điểm đó ở đàn ông nữa? Có lẽ cũng như đàn ông tìm bạn đời trong mấy ngàn năm qua thôi, chọn người có vẻ ngoài đẹp trai, vóc dáng ưa nhìn, đợi đến khi da bọn họ bắt đầu nhăn nheo, đường chân tóc lùi về sau thì vứt bỏ họ, đi tìm tình yêu mới, giống hệt đàn ông bạc tình bạc nghĩa từ xưa đến nay, âu cũng là điều dễ hiểu.

Cô của thế kỷ 21 cũng đã từng nghiêm túc phân tích quan điểm về hôn nhân của những người phụ nữ lớn tuổi xung quanh mình, thế thì bà Cát ở thế kỷ 20 cũng không hẳn là không thể.

Di Nhã nhanh trí, lập tức cười hỏi: “Ví dụ như?”

“Có lẽ già rồi, chúng ta có thể cùng cô út đi ra bờ biển ngắm nhìn những cơ thể trẻ trung.”

“Đi đâu nhìn?”

“Vịnh Repulse?”

Di Nhã bật cười, lao tới quấn lấy cô nhốn nháo một hồi, rồi nằm ngã vật ra giường bảo, “Nói thật, có lúc mình rất ghen tị với cậu. Từ nhỏ mình đã có hai điều thắc mắc, thứ nhất là không biết cô gái như thế nào sẽ được dì Cát đích thân dạy dỗ, thứ hai là không biết cô gái như thế nào có thể gả cho anh mình. Cậu thì hay rồi, chiếm luôn cả hai.”

Sở Vọng chỉ vào mình, cười nói: “Mình không xứng hả?”

“Lại còn có thể lừa cha mình đem căn nhà ở Shek O làm nhà tân hôn cho cậu nữa chứ. Cậu không biết đâu, cảnh biển và vườn hoa chỗ đó là đẹp nhất trong số bất động sản của ông ấy đấy.” Di Nhã lau nước mắt chảy ra vì cười, “Nằm trên giường ở trong phòng ngủ là có thể nhìn thấy trai đẹp mặc đồ lặn ở trên bờ.”

Sở Vọng cười to: “Sau này sẽ rủ cậu và Chân Chân đến nằm chung để ngắm.”

“Gì chứ gì chứ.” Di Nhã sẵng giọng, “Chờ sau này làm gì? Đợi mấy hôm nữa đến Hương Cảng, vừa hay không ai dẫn cậu đi xem sính lễ, mình xung phong nhận việc, lập tức dẫn cậu đến vịnh Repulse ngắm cảnh biển và trai mặc đồ lặn.”

“Ớ, vì sao lại là vịnh Repulse?”

“Vịnh Repulse cũng có một căn —— hôn lễ tổ chức ở Shek O, bài trí thành phòng tân hôn.” Cô nàng thở dài, “Cha thiên vị thật chứ, đích thân con gái xin lên xin xuống mà cũng chỉ xin được một căn ở Shek O làm của hồi môn.”

Thấy cô nàng ảo não, Sở Vọng an ủi: “Không sao, đợi mấy chục năm nữa, vịnh Repulse không đẹp bằng Shek O đâu.”

Ô nhiễm công nghiệp và cải tạo ngoài khơi đã lấp biển đi. Đầu tiên là Châu Âu và Hoa Kỳ trong những năm 1940 1950, rồi Hương Cảng  trong những năm 1970 và 1980, cuối cùng là đại lục trong thế kỷ 21.

”Làm gì có chuyện đó được? Vịnh Repulse mãi mãi là vịnh Repulse.” Di Nhã mơ màng, cũng không đoái hoài đến câu an ủi của cô. Một lúc sau lấy lại tinh thần, hỏi: “Cậu không biết hôn lễ tổ chức ở Shek O à?”

“Ồ! Giờ biết rồi đây.”

“Trên đời này không có cô dâu nào như cậu cả, thảnh thơi gớm!”

Việc gì phải gấp gáp? Cô và Tạ Trạch Ích cũng chỉ tranh thủ tổ chức hôn lễ thôi mà, coi trọng quá làm gì.
Hai người cười đùa một hồi, một lúc sau chợt nghe thấy tiếng động đi lên cầu thang từ vườn hoa bên dưới. Bình thường giờ này cửa sắt đã được khóa, không biết là gió lay động hay có con thú nào lẻn vào sân.

Di Nhã đứng sát cửa sổ, ngẩng đầu lên nhìn rồi lập tức che miệng cười: “Ây da, là một con mèo.”

Cô đứng dậy đi ra mở cửa, ngồi xổm xuống nhìn quanh nhưng cũng không thấy mèo đâu.

Ngoái đầu lại thì Di Nhã đã đi ra khỏi phòng mất rồi.

Tuệ Tế đứng bên ngoài cao giọng hỏi: “Có cần tôi ra đuổi giúp cô không?”

Di Nhã cười nói: “Cô ấy thích mèo lắm, cứ để cô ấy chơi một lát.”

Cô ngạc nhiên ngoảnh đầu lại. Một bóng đen xuất hiện từ cầu thang bên ngoài phòng, đứng thẳng cạnh giàn nho và cây leo, đôi mắt đen trắng rõ ràng nhìn xoáy sâu vào cô, người khác chắc chắn sẽ không có đôi mắt như vậy.

Cô cười nói: “Ồ, đúng là mèo thật.” Động vật họ mèo cao 6,2 feet*.

(*Tương đương 1m87.)

Tiếng dương cầm và tiếng cười nói ở bên dưới dần vang lên, tựa như truyền đến từ một tòa tháp cao.

Tạ Trạch Ích từ từ lại gần.

Cô cười nói, “Hi quý ngài.”

Anh cũng nổi hứng đùa, “Hi quý cô.”

“Là cô Tạ thưa anh.” Cô sửa lời, lại hỏi: “Xin hỏi anh đến tìm ai?”

“Dám hỏi bây giờ là mấy giờ rồi?”

Cô quay đầu lại, xuyên qua cửa kính có thể nhìn thấy đồng hồ treo trong phòng. Cô cười đáp như thật: “Chín giờ mười lăm phút..”

Tới khi xoay đầu lại lần nữa thì Tạ Trạch Ích đã lặng lẽ đến gần, ép cô đến bên cửa kính.

Cô cúi đầu, tay chống lên ngực anh, cười nói: “Thưa anh, trong nhà tôi có quy củ, anh làm thế là không thích hợp.”

Tạ Trạch Ích không có vẻ lùi lại, mà còn cúi thấp người, chóp mũi gần như chạm vào mũi cô, “Vậy thì, cô Tạ có để bụng chuyện hôn môi với người đàn ông xa lạ vào lúc chín giờ mười lăm phút không?”

“Anh nhà tôi mà biết thì có lẽ sẽ cầm súng bắn thủng đầu anh mất.” Sở Vọng dè dặt di chuyển, không cẩn thận chạm vào cửa kính sau lưng, lúc cô vừa lùi về phía sau thì cánh cửa lập tức đóng lại cái *sầm*.

Cô giật mình kêu lên, mất trọng tâm nên ngã về sau.

Tạ Trạch Ích lập tức đỡ lấy đầu cô, rồi anh tự nhiên ôm eo cô kéo cô áp vào người mình, quấn cô trong vòng tay, đè lên cửa kính rồi hôn ngấu nghiến.

Bên ngoài có người gõ cửa, Mật Thu hỏi, “Cô ba, có chuyện gì thế? Vẫn ổn chứ?”

Ở dưới lầu cũng có giọng nam xa lạ ân cần hỏi: “Cô ba Lâm, nghe nói có mèo lẻn vào, có cần giúp gì không?”

Cô mở to hai mắt, rất sợ ở trên lầu hay dưới lầu có người nhìn thấy cảnh này.

Phát giác cô xuất thần, Tạ Trạch Ích bấm vào eo cô, cô vừa há miệng thì nhân đó hôn sâu hơn. Mọi tiếng la hét hoảng loạn vỡ tan thành tiếng thở hổn hển yếu ớt trong nụ hôn cháy bỏng này. Nhiệt độ và mùi hương trong miệng cô đã khiến anh mê muội, lần nào hôn cũng quấn lấy không thể tách rời.

Nhìn thì cứ nhìn đi, cô cũng đang ở trong nhà mà! Hôn nhân thân mật! Hợp pháp!

Ở ngoài phòng và bên dưới vẫn có người thấp giọng quan tâm hỏi, còn cô dựa lưng vào cửa kính lạnh băng nghĩ như vậy.

Cô cảm thấy khó thở, ngay đến ý thức cũng đã tan rã, lập tức đưa tay véo vào hông anh tỏ vẻ kháng nghị.

Tạ Trạch Ích không nhịn được cười, buông cô ra, ngón trỏ gõ nhẹ vào đầu cô.

Trán kề trán, anh ôm cô ngồi sát cửa kính, hỏi nhỏ: “Thích không?”

Cô gật đầu, cảm giác mặt dần nóng lên.

Thế là cô lại xác định lần nữa: không biết cô thích hôn Tạ Trạch Ích đến đâu.

Không chừng thứ cô ham muốn chính là thể xác của anh – người đàn ông thuộc chi báo họ mèo nhưng thực chất là thú ăn thịt.

Ở bên ngoài phòng, Mật Thu thấp giọng hỏi: “Cô ba, mèo đã đi chưa vậy? Hình như cửa bị khóa trái rồi, bà Cát bảo tôi lấy chìa khóa mở cửa ——”

Cửa phòng đã đóng lại thì chỉ có thể mở từ bên trong. Có lẽ Mật Thu cũng đoán được ‘thứ’ ở ngoài ban công không phải là mèo. Gọi mãi mà không thấy cô đi ra, chỉ e cô và Tạ Trạch Ích đang đóng cửa ở trong đó làm chuyện gì bậy bạ, thế là vội vã đi báo lại với bà Cát.

Có trời mới biết là cô tự khóa trái nhốt mình ở ngoài phòng.

Hai người nhìn nhau bật cười.

Sở Vọng: “Bao giờ thì anh về Hương Cảng?”

“Chậm hơn em, hai ba tuần sau.”

Cô gật đầu.

Tạ Trạch Ích lại trèo xuống thang sắt rời đi.

Hẹn hò trong chốc lát như thế này giống hệt yêu đương vụng trộm tuổi mới lớn. Cô nằm nhoài trên ban công nhìn xuống, trong lòng vui vẻ không thôi.

Ngọn đèn dầu hỏa trong vườn vẫn thắp sáng, người đàn ông trẻ tuổi kia ân cần hỏi: “Vẫn ổn chứ?”

Lúc này Sở Vọng mới nhìn rõ anh ta: tươm tất sạch sẽ, tóc chải ngược ra sau, mặc âu phục đeo kính, đi lên lầu nhìn xung quanh.

Giọng của Tạ Trạch Ích vang lên: “Tôi nghĩ cô rất rất ổn, anh cứ yên tâm.”

Có lẽ thị lực của người ấy không được tốt. Thấy anh mặc quân trang thì tưởng là tuần quan tô giới được mời tới, bèn hỏi: “Đã bắt được mèo cho cô ba rồi à?”

“Chuyện đó thì không ——”

“Không được!” Người đàn ông kích động nói, “Để tôi đi bắt giúp cô ấy.”

Tạ Trạch Ích thân thiện trả lời, “Động vật bốn chân, muốn bắt cũng không dễ đâu.”

Người đàn ông lại đáp: “Cô ấy đang ngủ mà lẻn vào phòng như thế, lỡ dọa cô ấy thì sao?”

Tạ Trạch Ích cười: “Tôi nghĩ sẽ không có chuyện đó đâu.”

“Vì sao anh biết?”

“Hình như tôi vẫn chưa biết quý danh của anh?”

“Cứ gọi tôi là anh Mạch là được rồi.” Người đàn ông nọ sửa lại quần áo.

“Ồ. Có phải cha anh bán kẹo không?”

Có lẽ con trai của nhà tài phiệt kinh doanh kẹo chưa từng nghe ai gọi sản nghiệp kếch xù của cha là “bán kẹo” cả, anh cảm thấy bị mạo phạm, thế là nhìn lướt anh, hỏi ngược lại: “Quý danh của anh đây là?”

“Tạ Trạch Ích.” Anh giới thiệu tên họ xong, lại bổ sung, “Chồng của cô ba Lâm.”

Bàn tay giơ ra của Mạch thiếu gia đông cứng tại chỗ.

Tạ Trạch Ích rảo bước rời đi.

Lúc này Mật Thu đã đẩy cửa đi vào, thấy trong phòng không một bóng người bèn đẩy cửa kính đi ra ban công, thấy cô đứng bên ngoài thì mới thở phào một hơi.

Sở Vọng vui vẻ nằm nhoài lên lan can, gần như có thể mường tượng được vẻ mặt hời hợt điềm nhiên của Tạ Trạch Ích lúc nãy.

Chương 133: Hợp tan (5)

Từng rương hành lý được chất lên kho hàng khoang hạng nhất.

Từ di sản, đồ cưới tới chuyện to nhỏ hôn lễ hay cả việc về Hương Cảng… Mọi chuyện gộp lại với nhau dồn dập là thế, nhưng biệt thự bà Cát không hề tỏ ra cuống cuồng.

Mọi việc được làm từng bước một, tiến hành đâu vào đấy.

Nhìn ngoài vào rất có thứ tự – là kết quả của một phen vất vả chuẩn bị ngày trước.

Trên đường đi, mọi người ở trong khoang thuyền đều bàn tán chuyện hôn lễ.

Di Nhã không giấu giếm sự ghen tị với cô: “Cả thế giới đều xôn xao chuyện của Linzy, còn nó thì suốt ngày chỉ biết ngẩn người.”

“Nếu cháu có thể nhận bằng tốt nghiệp đại học lúc 15 tuổi, một tháng có hơn một trăm ngàn tiền lương, thường xuyên nhận được tiền thưởng trị giá 150 đồng cu-ron Thụy Điển, lại còn nổi tiếng khắp nơi, thì vào lúc này khéo cũng chỉ có thể trốn trong nhà phơi nắng mà thôi.” Bà Cát nói.

“Đó là bao nhiêu tiền ạ?”

“Bốn mươi ngàn đô la Mỹ, tám trăm ngàn đồng bạc, là tổng tiền lương của 800 người trung lưu Mỹ trong một năm.”

Trong tiếng thán phục của mọi người, Sở Vọng le lưỡi chạy thẳng ra ngoài ban công phơi nắng.

Đấy cũng là một kiểu học vấn và bản lĩnh, có điều không phải là bản lĩnh của cô.

Cô miễn cưỡng lắm mới không để thời kỳ gian nan nhất ngày trước trở nên tệ hại. Nay phải rời khỏi biệt thự của cô út rồi đến bên cạnh Tạ Trạch Ích, thật sự là rất thoải mái.

Nhưng khi nhìn những cơn sóng cuồn cuộn ngoài đại dương mênh mông, lần đầu tiên cô cảm thấy bất định.

Thư của Từ Thiếu KHiêm gửi đến rất ít, cũng chỉ là những câu hỏi bình thường song lần nào cũng khắc sâu trong lòng cô.

Cô đâu chỉ đi quá thời đại một bước. Bất cứ môn học hay văn bằng nào ở thời đại này cũng không có ý nghĩa lớn với cô.

Nhưng với Từ Thiếu Khiêm, cô luôn có cảm giác dù mình tu luyện cả đời cũng không thể tốt nghiệp được.

Nếu hỏi cô bây giờ cảm nhận của cô trước khi gặp Tạ Trạch Ích là gì, thì cô sẽ nói —— Giống như vào cái đêm trước khi kết thúc kỳ nghỉ đông, vì vẫn chưa hoàn thành bài tập về nhà nên phải đốt đèn vùi đầu làm bài, nhưng rồi phát hiện dù có thức tới sáng cũng không thể hoàn thành suôn sẻ.

Trong khoảnh khắc khi anh quay lưng lại với cô và Lương Chương, hỏi một câu đủ chấn động đất trời: “Phương trình năng lượng khối là gì?”, từ lúc đó trong đáy lòng cô đã bắt đầu e ngại, và cũng biết một điều: Người trước mặt đây, cô kính nể anh ấy. Nhưng cuối cùng, chính người luôn chu đáo nhất là Từ Thiếu Khiêm lại đi một bước điên rồ với cô, thậm chí còn kéo theo rất nhiều học giả hàng đầu điên theo cô.

Nếu như trút bỏ đi mọi thứ mà thân phận của Lâm Sở Vọng đem lại cho cô, chỉ là một Lâm Trí đơn thuần, thì có lẽ cô cũng chỉ có một lựa chọn.

Cô gấp gáp muốn được anh thừa nhận, cũng như người học trò ngây thơ khát vọng muốn được giáo viên thừa nhận vậy.

Không liên quan đến hôn lễ, cũng không liên quan đến tính nghi thức dối trá là ai sẽ nắm tay cô đưa cô đến với Tạ Trạch Ích; dù người nắm tay cô bước vào nhà thờ là thống đốc nào đó, bá tước nào đó, thậm chí là tổng thống đời thứ năm nào đó, thì cô cũng không thành vấn đề.

Thậm chí cô cũng không ngại một mình bước về phía Tạ Trạch Ích, dù gì đối với cô thì thời đại này cũng là một kiểu dị loại, nên từ sâu trong đáy lòng cô không hề quan tâm ánh mắt của người ngoài như thế nào.

Nhưng cô lại khẩn thiết muốn một cái gật đầu hoặc một nụ cười từ Từ Thiếu Khiêm, nói với cô rằng: vào lúc này, tôi vẫn thừa nhận sự tồn tại của em ở thời đại này.

Cô vẫn còn tiến về phía trước.

Chỉ một câu nói đó cũng sẽ khiến cô có đủ dũng khí tiếp bước trong cảm giác tội lỗi không ai biết và phủ định bản thân mình.

***

Trong vòng ba ngày, không chỉ dưới một lần Di Nhã lải nhải truyền đại với cô sự kỳ vọng to lớn của nhà họ Tạ ở rất nhiều phương diện, mà quan trọng nhất vẫn là chuyện sinh con.

Lại còn nói với cô, dựa theo tính cách của các mẹ hai ba tư năm trong nhà cô ấy, vì để gặp cô dâu sớm nên có lẽ sẽ nổi tính con gái, đầu tiên là tìm hơn mười chiếc xe rồi đồng loạt xuất hiện ở trên bến tàu để so bề tài sắc.

Nên lúc sắp xuống thuyền, Di Nhã còn cố ý hỏi: “Lúc này có muốn lén đi theo mình trốn bọn họ, đến xem nhà mới của cha mình trước không?”

Cô nghĩ rồi đáp: “Mình muốn đi xem viện khoa học trước.”

Có lẽ Di Nhã không hiểu nổi viện khoa học thì có gì hay ho để xem hơn là căn nhà sang trọng, thế là cụt hứng.

Bà Cát liếc nhìn cô rồi nói với Di Nhã: “Nhà vẫn ở đó, có chạy đi đâu đâu.”

Di Nhã nói, “Chứ bảo tàng có thể mọc chân chạy được hả dì?”

“Ở đó viết tên mình đấy, không dám không tôn trọng.”

Cũng không phải là viết tên cô sao, dù viết thêm tên của Tạ Trạch Ích thì một tòa nhà to lớn không khác gì đền thờ trinh tiết cứ thế sừng sững xuất hiện trước mặt Từ Thiếu Khiêm. Không biết còn bao nhiêu người còn nhớ vụ bê bối do chị Từ gây nên, có lẽ sẽ lại bị mọi người nhắc đến sau khi cô và Từ, Lương nhận giải thưởng, trở thành vết nhơ to lớn trong đời cô, hoặc là hủy hoại thành tựu nghiệp học của cô, là bằng chứng lớn nhất tố cáo cô chỉ là loài hoa chùm gửi. Ai biết được sẽ thế nào chứ? Dù gì cô cũng không quan tâm lắm.

Nhưng Từ Thiếu Khiêm là người ở thời đại này, anh phải đặt mình vào cái hộp nơi đây. Không biết anh sẽ bị chỉ trích thế nào khi nhìn tòa nhà cao tầng trước mặt trong lúc giảng bài cho học sinh.

Chỉ là cô sốt ruột muốn nhận được ý kiến của giáo sư về bản thảo luận văn mà thôi.

Bà Cát khoát tay, “Kệ nó đi, mấy hôm nay ở trên thuyền chơi với cháu cũng đủ rồi, để nó được yên tĩnh một lát.” Nói đoạn, bà khoác áo choàng màu cọ lên vai cô rồi đưa túi cho cô, để nhân viên trên thuyền dẫn cô rời đi theo lối đi riêng.

Trong chiếc xe Buick màu đen trên bến, tài xế không ngừng rôm rả về chuyện hãng xe taxi nào mới mở, xe taxi nào mới nhập thêm… Tiếng Quảng đây mà, cô nghe mà ngỡ như đã cách một đời.

Viện vật lý cũng có học viện riêng, tòa nhà cao tám tầng vừa được xây xong, ở trên tầng cao nhất viết tám chữ lớn tên cô, trông mà hốt hoảng.

Cô trả tiền xe lẫn tiền típ cho tài xế rồi đẩy cửa đi xuống.

Hình như chỉ mới vào giờ học, vài nữ sinh trễ giờ thở hổn hển chạy vào trường. Cô đi theo phía sau các cô gái ấy, bước chân vào trường học mới toanh.

Không ít giáo sư mới đã được mời đến. Cô chậm rãi bước đi trên hành lang tầng một, đi qua mười hai lớp học lớn, lớp nào cũng chật ních sinh viên với màu da khác nhau. Cô dừng lại lắng nghe một hồi, hình như là sinh viên năm nhất. Cô mỉm cười, thật là tốt quá. Lại bước gần một bước với lý tưởng ban đầu của anh rồi.

Lúc đến tầng hai, đang định tìm ai đó hỏi thì chợt trông thấy một phòng học tối om.

Bây giờ đang là ban ngày, rèm cửa trong lớp được thả xuống che hết cửa sổ, chỉ để lại một cửa sổ cao cỡ một người, làm ánh sáng ngoài hành lang hắt vào. Qua khung cửa sổ ấy, cô có thể cảm nhận được ánh sáng trong phòng liên tục nhấp nháy. Cô lại gần nhìn, thì ra đang chiếu phim.

Vẫn chưa có ai chú ý đến cô, vì vậy cô đứng ở góc cửa sổ và quan sát cẩn thận – trên màn hình, Freder đang luống cuống nói với Johann Fredersen: “Cha, cha có biết bị cha đuổi việc có nghĩa là gì không? Có nghĩa là đi vào lòng đất!”*

(*Bộ phim ở đây là phim Metropoli Thành phố tương lai kể về Johann Fredersen – vị chúa tể tàn bạo cai trị một thành phố công nghiệp khổng lồ trong tương lai. Nhưng dưới vẻ bề ngoài hào nhoáng của thành phố tưởng tượng này là vô khối công nhân làm việc cực nhọc dưới những điều kiện phi nhân tính. Con trai của Fredersen đã nhận ra những điều kiện làm việc quá khủng khiếp của công nhân và anh bắt đầu vận động một cuộc nổi dậy chống lại người cha tàn bạo của mình.)

Tại chỗ nấc thang cao nhất, một nam sinh đang cầm cầm máy chiếu trong tay không ngừng phấn khích.

Bên dưới màn hình, ở góc trong cùng hàng đầu tiên, Từ Thiếu Khiêm đối diện chếch với khung cửa sổ nơi cô đang đứng, ngồi nghiêng sau bục giảng tập trung xem phim cùng học sinh của mình. Hàng mi anh chau lại, mảng sáng mảng tối giao nhau trên mặt anh, biểu cảm cực kỳ nghiêm túc.

Cô lặng lẽ đẩy cửa ra, đi vào phòng học.

Trong phòng không còn ghế, ở cuối lớp có rất nhiều học sinh không tìm được chỗ ngồi, không biết là do bị bộ phim thu hút hay bị Từ Thiếu Khiêm thu hút.

Cô đi đến đứng vào giữa bọn họ, làm mấy người xung quanh ngoái đầu nhìn.

Chỉ có vị trí của Từ Thiếu Khiêm là có thể nhìn bao quát được khắp lớp. Trong chớp mắt cô ngồi xuống, cô cảm thấy Từ Thiếu Khiêm nghiêng đầu, tầm nhìn thoáng dừng lại trên mặt cô.

Một giây, hai giây…

Sau hai giây, Từ Thiếu Khiêm lập tức xoay đầu đi tiếp tục xem phim, cứ như cô chỉ là một học sinh vào trễ.

Trong hai giây đó, cô nghe thấy mấy nữ sinh xung quanh tuổi tác xấp xỉ cô khẽ hô lên, ríu rít: “Ánh mắt của giáo sư lạnh lẽo thật đấy.”

Cô cười thầm: Quả nhiên vẫn có không ít người đến vì phong độ của Từ Thiếu Khiêm.

Xung quanh có một nam sinh bất mãn nói: “Bộ phim nhựa này là hàng hiếm đấy. Tiết của giáo sư cũng không thoải mái như vậy đâu, chuẩn bị tinh thần đợi hết phim thì bị tra hỏi đi.”

Nữ sinh hỏi ngược lại: “Ví dụ như?”

Nam sinh nói: “Ví dụ như vì sao một bộ phim mang ý nghĩa tôn giáo lại xuất hiện trong lớp vật lý?”

Sở Vọng vui vẻ gật đầu: đúng là thầy nghiêm rèn ra trò giỏi, xem ra trong lớp vẫn không thiếu học sinh xuất sắc.

Nghe cậu nam sinh nói xong, các cô gái lập tức im lặng, tập trung hết tinh thần vào bộ phim.

Sở Vọng lại cảm thấy, trong hai tháng kể từ cuộc Đại suy thoái, việc chiếu bộ phim bị biên tập chỉnh sửa nhiều lần này mang đầy ý nghĩa giáo dục kiểu Từ Thiếu Khiêm.

Cô cũng im lặng tập trung giống mọi người trong lớp, không biết đây là lần thứ bao nhiêu ôn lại bộ phim kinh điển của thời đại phim câm, có tầm ảnh hưởng đến hơn 100 bộ phim khoa học viễn tưởng trong tương lai, thỉnh thoảng lại nghe mọi người chấn động hô lên trước hiệu ứng đặc biệt do người Đức tạo ra, thậm chí còn có người hỏi: “Có thật thành phố châu Âu có rất nhiều tòa nhà chọc trời, đường cao tốc nằm trên bầu trời, máy bay qua lại giữa các tòa nhà không?”

Những học sinh từng thấy tận mắt đều cười cậu ta là đồ nhà quê.

Một giờ sau, bộ phim kết thúc, học sinh ngồi dựa vào cửa sổ kéo rèm ra, ánh sáng đột nhiên hắt vào khiến mọi người không khỏi che mắt.

Sở Vọng cũng vì thế mà nheo mắt lại.

Đúng lúc này, cô thấy Từ Thiếu Khiêm xoay người lại, tầm nhìn lại rơi vào người cô lần nữa, không hề nhúc nhích.

Cô giật mình, hai mắt mở lớn.Cái nhìn của Từ Thiếu Khiêm đã thu hút không ít người xoay qua nhìn cô. Những gương mặt với màu da khác nhau ở hàng đầu cũng nhìn cô chằm chằm.

Cậu học sinh gần đó thấp giọng ghé tai nói với bạn: “Vì cô ấy đến trễ à?”

“Nói tôi nghe xem, các bạn thấy gì qua bộ phim Metropolis này?”

Học sinh ở hàng đầu hỏi: “Thưa thầy, thầy gọi ai trả lời ạ?”

Anh nói: “Linzy.”

Vừa dứt lời, trong lớp lập tức nổ tung: “Có phải là người đoạt được giải thưởng Nobel đầy tranh cãi không?” “Người quyên tặng tòa nhà phía trước sao! Cô ấy cũng đến hả?”

Cô bỏ ngoài tai những âm thanh ồn ào, đi về phía trước hai bước, xuất hiện trong mắt mọi người ở một góc độ khá kỳ lạ: “Nhưng khoa học lại không khác gì liều thuốc tốt với nhà lãnh đạo. Muốn lãnh đạo dân tộc thì phải xây dựng thứ gì đó khiến người dân cảm thấy tự hào, không phải để phô trương mà là để tự tin và răn đe – nhắm vào hai đối tượng cùng một lúc: người dân và kẻ thù. Đấy chính là dã tâm của những nhà lãnh đạo.”

“Ví dụ như?”

Cô hắng giọng: “Ví hạn như các tòa nhà chọc trời, như các siêu đô thị tầm cỡ thế giới, như đại bác tàu chiến, hoặc như… siêu vũ khí.”

Có học sinh ham học hỏi lập tức chen vào hỏi: “Siêu vũ khí là gì?”

Cô nhếch môi, “Để chúng ta tưởng tượng ra một thế giới đô thị hoàn toàn mới.”

Không ít người không nén nổi tò mò, rối rít nhỏm người lên ngoái đầu lại.

Dừng một lúc, Từ Thiếu Khiêm nói, “Mời em lại đây phát biểu.”

Cô vắt áo khoác trên tay, đi lên gần bục giảng đối diện với hơn một trăm gương mặt. Từ Thiếu Khiêm đứng ngay bên trái cô, nhìn cô không chớp mắt.

Cô thoáng nghĩ ngợi rồi nói: “Hãy thử tưởng tượng thế giới một trăm năm sau có rất nhiều người máy. Chúng có ngoại hình giống hệt chúng ta, chúng có thể nói, di chuyển, suy nghĩ và thậm chí có cảm xúc. Nhưng chứa trong đầu chúng không phải là tế bào, dây thần kinh hay huyết dịch, mà là vô số sợi dây đồng vi mạch cùng với hàng trăm chương trình vật lý, hóa học, toán học. Bây giờ muốn giảm cân thì nên ăn chuối hay bánh sừng bò đây? Trong chương trình vốn có trong não, bánh sừng bò có nhiều calo hơn chuối nên tất nhiên sẽ ăn chuối rồi.”

Trong một tiếng cười ồn ào, cô vô cùng bình tĩnh nói tiếp, “Có phải con người cũng sẽ có quyết định như thế đúng không? Nhưng nếu tôi là một người máy, tôi sẽ không hiểu các bạn đang cười cái gì. Bởi vì công thức vật lý toán học hoàn toàn không giải mã được sự hài hước là gì. Cũng với lý do tương tự, chúng không thể hiểu được thơ của Shakespeare hay văn của Khổng Tử. Trong việc giải quyết vấn đề, dĩ nhiên con người sẽ chậm hơn lũ robot được tạo nên từ hàng trăm các công thức. Nên các cửa hiệu không cần người đánh mát nữa, ông chủ cũng không cần thư ký, tiệm may cũng không cần thợ may… Mọi công việc trí óc có thể giải quyết bằng công thức đều được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu khổng lồ, tiết kiệm rất nhiều thời gian và tiền bạc. Trước khi ra ngoài, người giúp việc robot sẽ chọn trang phục phù hợp nhất cho bạn, cũng như phù hợp với áo khoác và giày; xe hơi trên đường cũng sẽ tự tính toán bàn bạc xem có nên nhường đường hay không; phương tiện chở người nhanh nhất cũng là người máy, ngồi lên nó thì từ Hương Cảng đến Luân Đôn chỉ mất 10 phút.”

Nam sinh ngồi hàng cuối kia hỏi: “Liệu có một ngày khi bọn chúng có ý thức, thì có khi nào sẽ trỗi dậy phản kháng không?”

Cô mỉm cười lặp lại: “Bạn xem công việc mà giai cấp công nhân lặp đi lặp lại mỗi ngày có khác gì với những người máy tôi mô tả ở thành phố tương lai không? Công nhân đòi đình công không biết đã bao nhiêu lần, nhưng thời đại này vẫn là một đô thị bị thống trị bởi các nhà tư bản.”

“Nhưng cô vẫn chưa nói siêu vũ khí là gì.”

Cô tiếp tục nói: “Chúng tôi cứ to gan tưởng tượng thử xem, một ngày nào đó, trọng tâm chiến lược của Đức sẽ di chuyển về phía tây mà không cần qua thành phố Verdun. Bộ Tư lệnh Đế quốc Đức chỉ cần ngồi ở nhà và nhấn hai nút máy, lập tức 20.000 quả bom sẽ được phóng tới Paris và Luân Đôn, dễ dàng san phẳng hai thành phố thành bình địa.”

Một nam sinh viên khác ngay lập tức hỏi: “Vậy thì nữ hoàng cũng có thể ngồi trong nhà bấm nút là lập tức thổi bay được Erich von Falkenhayn ở trụ sở chỉ huy.”

Sở Vọng gật đầu: “Cho nên, khi Erich xem xét việc có khả năng mình sẽ bị nổ tung cùng với chỉ huy cấp cao ở trụ sở chỉ huy, liệu ông ta có cảm thấy việc mất đi một đội quân lục quân không quan trọng bằng cái chết của mình hay không?”

Có không ít nam sinh lên tiếng: “Trao đổi đồng giá!”

Cô đang định nói tiếp thì bất chợt nghe thấy giọng nam trung vang lên bên tai: “Quân tốt chỉ đi được một bước, tướng soái không rời cửu cung, còn quân xe thẳng ngang đều đi được. Từ đây chiến tranh đã không cần binh lính, mà giống như hai kẻ cầm quyền ngồi đối diện đánh cờ.”

Mọi âm thanh trong lớp học chợt biến mất.

Sở Vọng chấn động.

Chiến tranh giống như một trò chơi. Giả thuyết này cũng là những gì cô tâm đắc hiểu ra khi chơi trò chơi đế chế lúc còn học tiểu học. Chọn sở hữu một siêu vũ khí thực sự rất tuyệt vào thời điểm phá hủy doanh trại của kẻ thù, Nhưng khi chọn mục đó thì bạn phải đảm bảo quân địch chưa từng tạo ra vũ khí đó trước bạn hoặc có vũ khí uy lực lớn hơn bạn, phá hủy khả năng phản công của bạn.

Ở chế độ người máy thì con người luôn không nhanh bằng người máy. Nhiều lần trơ mắt nhìn nhà máy điện, hầm mỏ và kho vũ khí được xây dựng tâm huyết trong nhiều giờ lại bị phá hủy trong vòng mấy giây, không biết đã đau lòng đến mức nào. Có nhiều lần khi cô chơi lại trò chơi này, cô rất quả quyết lựa chọn chế độ không có siêu vũ khí.

Thế mà chỉ vài ba câu nói tùy ý của cô đã lập tức bị Từ Thiếu Khiêm đoán ra được toàn quá trình.

“Lính không chiến đấu, trò chơi may rủi.” Anh nói.

Thì ra từ nhiều năm trước đã nhận ra được chân lý này.

“Nhưng em có nghĩ đến một kiểu cực đoan khác không?” Anh hỏi.

“Kiểu cực đoan nào?” Lúc cô quay sang nhìn anh thì tiếng chuông tan học reo lên, nhưng không ai đứng dậy rời khỏi lớp.

“Việc sử dụng bạo lực vật chất hết mức sẽ không bao giờ loại trừ được vai trò của trí khôn. Do đó, bên sử dụng bạo lực bất chấp mọi thứ, không tiếc đổ máu, thì chắc chắn sẽ có được lợi thế khi bên kia không làm như vậy. Bằng cách đó, hắn ta sẽ khiến đối phương phải làm giống mình, thế là hai bên sẽ theo xu hướng cực đoan, xu hướng này sẽ không bị giới hạn bởi bất cứ hạn chế nào khác ngoại trừ sự kiềm chế vốn có.” Từ Thiếu Khiêm vẫn không hề nhúc nhích, như thể thời gian dừng lại, chỉ có môi anh mấp máy cử động, quay đầu nói với học sinh: “Tan lớp rồi.”

Sau một lúc lâu im lặng, bắt đầu có học sinh lục tục thu dọn sách vở đeo cặp rời đi.

Còn cô và Từ Thiếu Khiêm vẫn đứng yên.

Hình như tiết tiếp theo không có lớp nên cũng không có học sinh nào đi vào.

Như một thế kỷ trôi qua, cô nghe thấy Từ Thiếu Khiêm nói, “Ngồi xuống nói chuyện đi.”

Cô ngồi xuống dãy đầu tiên đối diện với anh, bất an cử động lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi, “Em chỉ đưa ra giả thiết hợp lý mà thôi.”

“Dĩ nhiên em có thể đưa ra giải thiết hợp lý. Bởi vì có phải với em mà nói, về mặt nào đó thì nơi này cũng giống một trò chơi may rủi?”“Không một người chơi nào lại đặt cược tính mạng của mình vào trò chơi cả.” Lúc mới bắt đầu, cô gần như không lường được hậu quả sẽ gây ra khi để vũ khí này xuất hiện sớm. Cô đã từng thử suy đoán vô số lần, nhưng cũng biết đó chỉ là những tính toán không hề đáng tin. Cô cũng biết mình đang nổi điên, hơn nữa rất có thể kéo mấy trăm triệu người cùng chôn vùi. Nhưng cô biết chắc chắn cô không coi đây là trò chơi, nếu không thì vì sao cô lại hết lòng tin tưởng Từ Thiếu Khiêm, cho rằng anh nhất định có thể biến sự nổi điên của cô trở nên hữu hiệu?

“Trở lại vấn đề kia, túi cao su có thể giết chết một con hươu trong bao lâu?”

“Ba giây.”

“Rất rõ ràng.” Từ Thiếu Khiêm mỉm cười, “Như vậy, nếu trong khoảnh khắc mở mắt ra, em không phải là Lâm Sở Vọng mà là Sakuma Ichiro. Từ đó em bắt đầu chăm sóc yêu thương mẹ mình, bà cũng yêu em thương em, che chở mưa gió cho em… Nói chung không khác gì mẹ ruột em cả.”

Cô lắng nghe anh đặt vấn đề.

Anh nói tiếp, “Giờ đây túi cao su đó trùm đầu bà ấy lại, trong vòng ba giây, em sẽ làm gì?”*

(*Hiểu đơn giản vấn đề mà Từ Thiếu Khiêm như sau: liệu cô có lựa chọn làm một người có bản chất là người tốt nhưng vẫn có thể ngoảnh mặt làm ngơ để mặc người vô tội chết; hay làm một kẻ ác như một Sakuma Ichiro nhưng vẫn không đang tâm để người thân của mình chết. Đây là vấn đề liên quan đến trận động đất sẽ do vũ khí hạt nhân của Sở Vọnggây nên trong tương lai.)

“Em không thể vừa là Lâm Trí vừa là Sakuma Ichiro được.”

“Nên em sẽ có mâu thuẫn, như đấu tranh nội tâm trong mấy tháng vừa qua.” Anh nói.

“Nếu không có cách nào để tránh kết quả cuối cùng là trở thành đao phủ, thì em tình nguyện chụp túi cao su lên đầu mình.”

“Không. Lâm Trí, em vẫn chưa chuẩn bị trả lời câu hỏi của tôi.” Anh lắc đầu, nhìn thẳng vào mắt cô với vẻ thất vọng, “Người Anh có một câu chuyện ngụ ngôn thế này. Lúc thợ săn đi săn thú, bất ngờ gặp phải một chú cọp con…”

“Thầy Từ, em đã nghe qua câu chuyện này rồi.” Cô nói lớn, “Em sẽ không luôn giữ súng trong người để đề phòng nó, vì em không biết sử dụng súng lục. Vì đã biết nó là mãnh thú nên ngay từ đầu em sẽ buộc một sợi dây thừng quanh cổ nó, mài mòn răng nhọn của nó, thuần hóa nó, để cái ngày nó gây nguy hiểm cho tính mạng của em sẽ không bao giờ đến.”*

(*Con cọp trong ngụ ngôn chính là muốn ám chỉ quân Nhật, Sở Vọng ví von việc mài răng cọp như việc dập trước hành động tàn nhẫn của quân Nhật.)

Từ Thiếu Khiêm cười lắc đầu, “Vậy vì sao em lại dẫn nó về nhà? Mỗi một ngày sau khi mài răng nó đi, em sẽ không cách nào quên được vẻ mặt đau đớn khi nó gặp em trong tình huống vô hại, không hề đề phòng em. Như vậy khi nhìn nhau nó sẽ mãi mãi khiển trách em, cả đời này sẽ không xóa đi được, Lâm Trí à.”

“Thế thì sao? Vẫn tốt hơn là có một ngày bị nó cắn đứt cổ ——”

“Có một ngày? Nửa bước vượt thời đại là thiên tài, nhưng một bước vượt thời đại là kẻ điên.”

Cô gần như mất khống chế cảm xúc, “Có trời mới biết em rất hy vọng lúc mở mắt ra mình không phải là Lâm Trí, mà là người thông minh hiểu mọi thứ về thiên văn địa lý chính trị quân sự, lại có thể nhìn được toàn cục. Lịch sử cần anh hùng, đáng tiếc em không phải. Nhưng em vẫn cho rằng việc đưa một kẻ điên tầm thường như em đến đây là có lý do cả!”

“Lâm Trí.”

Nghe tiếng gọi đó, sắc mặt cô tái đi, hai mắt đỏ quạnh ngẩng đầu lên. Từ Thiếu Khiêm từ từ đi ra sau mặt bàn, tiến lại gần cô.

Cô lập tức ngạc nhiên đến ngẩn ngơ.

Chỉ vì Từ Thiếu Khiêm đang ngồi trên xe lăn.

Từ đầu tới cuối anh chỉ ngồi sau bàn, cô còn tưởng anh cũng như các thầy giáo khác, ngồi nguyên một chỗ là do mệt mỏi, chỉ thế mà thôi.

Nhưng đâu ngờ anh lại ngồi trên xe lăn?

“Đã… đã xảy ra chuyện gì?’

Cô cúi đầu nhìn xuống dưới ống quần tây của anh, một bên chân quặp vào trong một cách không tự nhiên.

“Không có gì to tát, chân phải bị bánh xe đè mà thôi.” Từ Thiếu Khiêm nói, “Không cần nhìn. Không có gì đáng ngại cả. Dùng sức vẫn đứng được, có thể đi bộ.”

Cô ngẩn người. Lại nhìn Từ Thiếu Khiêm thêm lần nữa, chỉ thấy anh đi tới trước mặt cô, né người sang trái đối mặt với cô.

Giống như lúc cô đi vào, nửa người anh vẫn hướng về phía mọi người như vậy.

Lòng cô chấn động, “Ngoài chân ra, còn bị ở đâu nữa?”

Một sự im lặng bao trùm.

Cô nhạy bén phát giác: “Tai phải?”

“Điếc rồi.” Anh bình tĩnh thông báo.

Cô ngạc nhiên không dám tin, “Chắc chắn không chỉ đơn giản là bị bánh xe cán qua.”

“Mọi việc đều có cái giá của nó.”

Cô che mắt kìm nén cảm xúc, không dám nhìn thẳng vào Từ Thiếu Khiêm. Dường như mọi sự trừng phạt có lẽ sẽ xảy ra với Tạ Trạch Ích lại như nhân quả báo ứng rơi xuống người Từ Thiếu Khiêm.

Cô nghe thấy âm thanh của Từ Thiếu Khiêm đến gần: ““Tôi mà em nhìn thấy lúc này cũng chính là em mà tôi và Lương Chương không hy vọng nhìn thấy. Dù em có thử thỏa hiệp, thì sớm muộn gì nhiều năm sau vẫn có người công khai lý thuyết nghẹt thở. Nhân lúc bây giờ trận động đất quy mô lớn chưa khiến trăm họ lầm than, em vẫn còn kịp. Lúc này em vẫn chưa chuẩn bị xong, bởi vì khi tôi rất hòa nhã tranh luận với em, em lại cho rằng tôi đang chỉ trích mình, chỉ vì trong thâm tâm em không có cách nào tha thứ được cho mình. Chí vì nguyên nhân này, tôi lần nữa xin em hãy bỏ qua bản thân mình.”

Hốc mắt cô đỏ bừng, cắn chặt hàm răng.

Có chúa mới biết cô rất hy vọng người thay thế cô mở mắt ra là một vĩ nhân học sâu biết rộng, có ý chí kiên cường, bách độc bất xâm, không hề sợ hãi lại còn suy nghĩ chu toàn.

Thậm chí người này có thể là một con cáo già, giết người như ngóe, là kẻ khát máu bất kể thiện và ác, phàm là thứ bất lợi cho mình thì sẽ tiêu diệt hết, không sợ tiếng xấu lưu truyền.

Lịch sử và thời thế đều cần nhân vật kiệt xuất, đáng tiếc cô chỉ là người phàm.

Anh không hỏi gì thêm nữa, chỉ chậm rãi đứng dậy. Anh vẫn cao ráo như ngày trước, chỉ có chân phải là khập khiễng, lúc bước đi cũng vô thức nghiêng về bên phải, chậm rãi đi ra khỏi phòng.

Rốt cuộc là ai đã làm anh bị thương?

Cô không còn sức lực để hỏi nữa.

Chỉ biết là vào lúc này, có lẽ cô đã khiến anh thất vọng.

***

Bỏ qua cho mình như thế nào đây?

Cô bực bội nằm trong nhà nghĩ rất nhiều ngày.

Ngày cưới càng lúc càng đến gần, nhà họ Tạ cũng đã gửi thiệp mời đi, gần như mọi nhân vật nổi tiếng ở Hương Cảng đều tề tựu lại, ngay tới biệt thự bà Cát cũng trở nên náo nhiệt.

Đến cả ông Kiều quanh năm phiêu bạt bên ngoài cũng từ Anh quay về.

Bà Kiều đã tiền mất, lại có vết xe đổ của nhà họ Lâm nên bây giờ rất sợ tật mang, động một tí là lại nổi điên: hết đập đồ lại đánh mắng người ta… Nghe người hầu kể cả Leon cũng bị bà dọa sợ.

Cho đến cái hôm khi ông Kiều đích thân thân tìm đến cửa, lúc này Sở Vọng mới biết, thì ra bà Cát đã âm thầm quậy nhà họ Kiều một trận gà bay chó chạy. Nhà họ Lâm còn là nhà chồng của bà Tô, về phần bà Kiều, một tờ đơn kiện của bà Cát cùng với bằng chứng của thầy xem tướng được hai cụ nhà họ Lâm mời đến ngày trước cũng đủ chụp cho bà Kiều tội danh ăn trộm.

Nhìn qua vẫn thoáng nhận ra vẻ khôi ngô thời trẻ của ông Kiều, có điều bây giờ tóc đã trắng hơn nửa. Ông ta đi đến ngồi xuống trước mặt bà Cát, bỗng như già hơn bà mười tuổi, khí thế cũng kém hẳn.

Ông ta nói rất nhiều lời cảm động, còn bà Cát chỉ im lặng. Cuối cùng, bà chỉ nói một câu rất có khí phách: “Tha cho chị ta? Vậy có ai đã từng tha cho tôi chưa?”

Ông Kiều rầu rĩ rời đi.

Sở Vọng nghe thế cũng chỉ biết thở dài, bất chợt tỉnh táo phần nào.

Chẳng qua một người phàm phu tục tử như cô biết trước được một đoạn lịch sử tàn khốc, cùng với việc đi trước kiến thức thời đại trăm năm.

Dù gì cũng phải có lý do khi ông trời đưa một người như cô đến đây chứ?

Bất cứ ai trên thế giới cũng có thể dễ dàng bỏ qua bọn họ.

Nhưng nếu ngay cả cô cũng bỏ qua cho những người kia ở thời đại này, thế thì ai đến bỏ qua cho cô đây?

Kết luận như vậy… khiến cô mỉm cười cay đắng.

___

*Qin: Có thể nói chương này khá hay khi tóm lại đủ luân quả nhân hồi cũng như giả thuyết về thế giới song song: một hiện tại nhưng có rất nhiều tương lai. Sự xuất hiện của Lâm Trí ở thời đại này không khiến tương lai thay đổi theo hướng tốt hơn mà chỉ là chuyển dịch luân quả mà thôi.~ Nói chung các bạn tự ngẫm sẽ thấy được nhiều điều hay ho hơn những gì mình đang nói đây.

Chương 134: Hợp tan (6)

Chiến tranh không phải do lính mà chỉ là trò chơi may rủi.

Cô có thể dùng tâm trạng của người chơi để tham khảo chiến tranh, nhưng đến khi xảy ra chiến tranh thật thì cô không thể giả vờ hai vũ khí trong tay chẳng qua chỉ là hai nút bấm trên máy bay trong trò chơi, thương vong lên hàng tỉ cũng không phải chỉ là số liệu.

Ở thời đại của cô, bằng chứng về tội ác có liên quan đến Nhật Bản cũng không vì hận thù quốc gia mà giáo dục thế hệ bọn cô phải một lòng phụng quốc, để rồi đó con tính mạng người nước họ là cỏ rác là con kiến. Cho dù  một ngày nào đó sẽ bị lên án vì đùa giỡn sinh mệnh, nhưng cũng chỉ áy náy vì chưa tận tụy đền đáp cho tổ quốc chứ không hề có tí cảm giác tội lỗi nào với cuộc sống của người khác.

Đây chính là điều mà thời đại và đất nước này trao cho nhân tính và đầu óc của cô, nên về cơ bản khác hẳn với chủ nghĩa quân phiệt đã giáo dục nên một Sakuma Ichiro.

Tội ác này quá sâu nặng. Trừ khi có một ngày cô biến thành Sakuma Ichiro, thì cô chắc chắn sẽ không hề do dự ấn hai nút này, để rồi sau khi sự sống trên hòn đảo cách xa nơi đây vạn dặm hóa thành tro thì mọi sự đã xong, mỉm cười nâng ly tận hưởng niềm vui chiến thắng của trò chơi.

Đáng tiếc quốc gia của cô không giáo dục cô trở thành cỗ máy giết người.

Không biết đây là may mắn hay bất hạnh nữa.

Sự nhân từ và đạo đức đã hằn sâu trong xương tủy sẽ không dễ dàng biến mất.

Chính vì nguyên nhân này mà Từ Thiếu Khiêm có thể hiểu được.

Nếu ngày nào đó cư dân trên hòn đảo kia phải trả giá vì tội lỗi của những kẻ chóp bu, khi hàng ngàn tòa nhà cao tầng bị sụp đổ, thành phố đầy xác chết trôi nổi, khi thiên hạ thái bình rộn rã ca múa trở nên hoang vu, kẻ sống phải sống nửa đời còn lại trong tàn phế dị biến; nếu như hành động của cô gây nên chấn động trên toàn thế giới, hàng ngàn người cứu hổ từ khắp nơi đổ xô đến khu vực phóng xạ để cứu người sống sót, vậy thì có bao nhiêu người vô tội sẽ bị cô hãm hại đây?

Trong khoảnh khắc cô bất chấp tất cả, mọi hậu quả đều do một mình cô gánh vác.

Đến lúc đó, chỉ sợ cô phải làm chuyện trái với lương tâm.

Hoặc là cô trở thành vị thánh nhân từ cao cả, hoặc biến thành một ác ma.

Lúc này cô đang vật lộn trong đau khổ, điều đó có nghĩa là trước thời điểm đó, nếu cô không thể biến mình thành một Sakuma thực sự, thì vào lúc cả đất nước bị hủy hoại đè nén vì cô, thì chắc chắn cô sẽ sụp đổ, sẽ bị phá hủy bởi chính mình.

Năm mươi phần trăm là tiêu chuẩn trung bình, thế nhưng một học trò chỉ đạt năm mươi phần trăm lại là người học trò kém nhất. Vì bọn họ không thể làm tròn được trách nhiệm và cũng không có dũng khí gánh vác thất bại.

Từ Thiếu Khiêm – người biết sử dụng “hạt nhân” để biến Trung Quốc trở nên bất khả chiến bại trong cuộc chạy đua vũ trang trong ít nhất hai thập kỷ, cũng phải thừa nhận việc sử dụng bạo lực trong chiến tranh là không hay, đại khái cũng không phải thần thánh gì.

Vì nhân nghĩa hay vì bác ái, tất cả đều bỏ đi.

Bây giờ anh chỉ là thầy của cô, anh không muốn tận mắt thấy cô bị chôn vùi trong sự chỉ trích và áy náy của bản thân.

“Một nhà vật lý nên dốc sức vì đất nước như thế nào?”

“Em phải hiểu trách nhiệm của mình và chịu đựng nỗi đau mà em phải chịu.”

“Đây là một con đường nguy hiểm.”

“Nếu đã lấy được lưỡi kiếm sắc bén khiến mọi người chỉ trích, thì em cũng phải gánh chịu cơn đau khi kiếm đâm xuyên tim.”

Đương nhiên cô không thể vừa là Lâm Trí, vừa là Sakuma Ichiro được.

Nhưng khi Từ Thiếu Khiêm cho cô thời gian ba giây suy nghĩ, câu trả lời của cô lại là: “Nếu không có cách nào để tránh kết quả cuối cùng là trở thành đao phủ, thì em tình nguyện chụp túi cao su lên đầu mình.”

Đếu đó là câu trả lời cuối cùng của cô, vậy thì đó cũng sẽ là kết quả cuối cùng của cô.

Quay về từ viện vật lý, không biết đã có bao nhiêu đêm cô trằn trọc không ngủ nổi. Phòng cô quá yên tĩnh, chỉ vừa nhắm mắt là trong đầu lập tức tự tra hỏi một cách dồn dập. Thế là cô dứt khoát chuyển sang phòng cho khách, dưới phòng là nhà bếp, bên cạnh là phòng ăn; đêm đến, phòng máy móc chạy ro ro đến hai ba giờ sáng, rồi mấy giờ sau khi trời còn chưa sáng, những người hầu trong biệt thự sẽ rón rén chuẩn bị bữa sáng và báo chí, cách một bức tường, chỉ cần vểnh tai lên là có thể nghe thấy các cô ấy cười đùa chuyện trò, rất náo nhiệt.

Nhưng phòng cho khách cũng có điểm không tốt, đó là trên tường treo đầy tranh vẽ có chữ ký của danh nhân các nước. Khi trời vừa tối ánh trăng chiếu vào, cô lập tức cùng một vĩ nhân mắt to trừng mắt nhỏ, nếu may mắn thì có thể bị đôi mắt to như chuông đồng của bọn họ thôi miên mấy giờ liền.

Hai tuần sau, thấy cô sụt ký và vành mắt trở nên thâm đen, Tuệ Tế không nhịn được nói: “Khéo lễ phục đưa đến sẽ nhỏ hơn một cỡ mất.”

Rốt cuộc bà Cát cũng không chịu nổi: “Ông thầy kia không tới mà cháu buồn đến mức đó hả? Chuyện gì? Chuyện nhà hay chuyện học? Nếu là vì những chuyện này thì đúng là không phải quân tử độ lượng tài đức vẹn toàn.”

Cô đành nói, “Thầy ấy bị thương, phải ngồi xe lăn.”

Bà Cát không nói, một lúc sau mới hỏi: “Chỉ là nghi thức thôi mà. Người khác không được sao?”

Cô không biết phải trả lời thế nào. Nghi thức thôi, thật ra đều như nhau.

Ngày cưới đã đến gần, mọi người nhận được thiệp mời cũng dần đổ về Hương Cảng. Là đại diện duy nhất bên nhà mẹ cô dâu, biệt thự bà Cát chuẩn bị gian phòng cho khách lớn nhất dành riêng cho Lâm Tử Đồng và cô Hứa.

Trong vườn hoa ở dưới lầu luôn tổ chức tiệc chiêu đãi và hội mạt chược quy mô nhỏ. Vì diện mạo bất tiện của cô Hứa nên Lâm Tử Đồng chỉ có thể dự tiệc độc thân; rồi cũng vì hai người tổ chức quá hôn lễ nên không ít lần Lâm Tử Đồng bị các bà các cô âm thầm thăm dò ngày sinh và đã thành thân hay kia.

Sở Vọng cũng đã thấy ba người cậu trong truyền thuyết. Mẹ của cô thuộc lứa thứ hai, ngoài cậu cả đã trên 50 ra, hai ông cậu còn lại ai cũng có khí thế phong thái riêng, cậu hai khiến không ít cô gái xiêu lòng, còn cậu ba thì nhận được đãi ngộ tương tự Lâm Tử Đồng.

Nếu kiếm cơm dựa vào vốn ban đầu thì vóc dáng và phong độ luôn nằm hàng đầu, bà Cát gọi đó là tác phái công tử ăn chơi trác táng, nên rất rõ ràng, bà không muốn cân nhắc xem một trong ba người họ ai sẽ là người nắm bàn tay đeo găng trắng của Sở Vọng.

“Ngài Hoàng thì sao?” Bà Cát hỏi dò, “Sau lần ở khách sạn Hoa Mậu, ai ai cũng nghĩ ông ấy là cha nuôi trên danh nghĩa của cháu, có quan hệ tốt với nhà họ Tạ, về sau còn giúp cháu cứu Trịnh Diệc Dân vì muốn cám ơn cháu chuyện của Tạ Trạch Ích. Ông ấy thế nào?” Một lúc sau, bà Cát lại nói, “Có điều đến ngày thứ ba ông ấy mới lên bến tàu, gấp gáp quá, sáng hôm đó cần phải bàn bạc.”

Cô chỉ biết gật đầu.

“Lần này đã có thể ngủ ngon chưa?”

Đến lượt cô an ủi hàng lông mày nhíu chặt của bà Cát: “Nếu Tạ Trạch Ích về mà thấy cháu sụt cân thế này thì liệu có trả hàng không?”

Tuệ Tế và Mật Thu bật cười. Bà Cát mắng cô, “Cháu tưởng ra chợ mua thịt heo đó hả?”

Cũng may cô không gầy đi quá.

Lễ phục dần được đưa đến, cánh nữ quyến tò mò ngồi trong phòng chờ cô dâu thử đồ. Tuệ Tế tới giúp cô mặc, đến khi đi ra, nữ quyến bên ngoài nhìn chằm chằm mà than: “Bộ váy thêu hoa này quá sang trọng, không biết mất bao lâu mới thêu xong hoa văn tỉ mỉ này nhỉ?”

Cô mặc vào đi mấy bước, bà Cát dán mắt nhìn những nếp gấp xếp ly trên váy cô mà không nói gì, chỉ bảo Tuệ Tế dẫn cô vào thay đồ.

Váy gạc đuôi cá ôm sát mặc trong bữa tiệc vào buổi chiều có thể gọi là yếm, lên trên nữa là một lớp lụa mỏng khoác hờ trên vai; từ quần trở xuống lại là một lớp lụa dày, bên trên khảm những viên kim cương tròn, chỉ cần một chuyển động nhẹ cũng đủ khiến người khác choáng váng.

Mấy bà dì bà bác lớn tuổi cảm khái: “Eo cô dâu nhỏ quá.”

Bà Cát nói, “Dạo này con bé có hơi gầy.”

Không biết là ai khen, “Cần lồi có lồi cần lõm có lõm.”

Lại có người tán dương, “Gầy mới đẹp. Chứ nếu không gầy, váy nhiều xếp ly như thế thì có mặc vào cũng không được linh động thế đâu.”

Bà Cát chỉ cười.

Bộ váy mặc sau tiệc tối là một chiếc váy dài taffeta màu xanh đậm. Vạt áo mỏng màu đỏ đậm gần như trong suốt ở mặt trước nhạt dần từ xương quai xanh đi xuống, phần váy nhung màu xanh đậm rũ dài, ở bên eo chiết nhẹ, từ phần mông trở xuống, bên ngoài lớp nhung màu xanh đậm là lớp lụa êm ái màu xanh nhạt, thêm vào đó là những nếp gấp nhẹ nhàng đầy thanh lịch, sang trọng nhưng không cường điệu.

Trong số các lễ phục thì đây là bộ cô thích nhất.

Cuối cùng áo cưới gửi từ Pháp cũng đã tới.

Trước lúc đó, vì để đề phòng nên bà Cát đã cố ý mời thợ may người Ý ở Hương Cảng lẫn Thượng Hải thiết kế cho cô hai bộ. Một bộ tay áo lụa không quá đặc biệt, một bộ là váy dài không tay có thắt lưng, song bà lại chê không đủ trang trọng.

Cho đến khi nhận được chiếc váy cưới do đích thân ngài Saumur may, rốt cuộc bà mới thở phào.

Vải lụa dài tay, phần cổ tay dùng chun nhẹ ôm sát, được thêu thêm một lớp ren viền hoa, dải lụa hương vân ở cổ áo nhẹ ôm lấy cổ mỹ nhân một cách vừa khít. Bên dưới cổ áo, hình chữ V nhỏ được khoét tạo điểm nhấn: phía trên có xương quai xanh hơi nhô lên dưới lớp lụa căng nhẹ, bên dưới để hở vùng da trắng nõn gần như tiệp màu với áo cưới, cổ chữ V còn khiến tầm nhìn bị kéo xuống theo, phần váy có hoa văn thêu rất độc đáo, phần váy xòe gồm mười hai lớp lụa, đuôi cá gồm sáu lớp, từ trước ngực kéo xuống váy được thêu bằng chỉ vàng chi chít, nổi bật hẳn trên thớ vải màu trắng ngà, đẹp đến ngỡ ngàng.
So với váy cưới, đồ trang trí của Kutchinsky chỉ có thể được coi là nền: một chiếc vòng tay kim cương 12 cara uốn cong hình bông tuyết phức tạp, đồ trang sức bằng bạch kim hình chim công, ở phần đuôi gắn mười hai viên ngọc trai và một cặp bông tai bồ công anh Psirati.

Khi Sở Vọng thay đồ rồi đi ra, các chị các dì ở bên ngoài không kìm được mà than.

Đến bà Cát thường ngày hay soi mói cũng sáng mắt lên, tầm nhìn rơi lên lỗ tai cô.

Theo thông lệ, ngày hôm đó ở vườn hoa trong biệt thự bà Cát sẽ tổ chức bữa tiệc quy mô nhỏ dành cho người thân trong gia đình. Ngắm váy cưới cô dâu xong, mọi người rối rít rời đi, kể lại với những người đến chậm lỡ dịp chiêm ngưỡng dung nhan của cô dâu.

Mọi người ở viện nghiên cứu cũng đã nhận được vé tàu, giữa trưa hôm đó đồng loạt đến Hương Cảng. Bà Cát còn tận tâm thay cô chuẩn bị một gian phòng tiếp khách để đón bạn bè. Chú Henry đẩy trà chiều tới, đám quái nhân này vừa đến đã lập tức cử Oppenheimer tặng robot mô hình nhỏ do mọi người chế tạo làm quà cưới, cũng rất ngưỡng mộ bày tỏ: “Từ nay em có thể độc hưởng một chiếc máy tính rồi!”

Nhìn mô hình trông giống như màn hình máy tính để bàn ở thời đại win98, Sở Vọng run tay nhận lấy cám ơn.

Ăn xong bữa nhẹ, mọi người nhao nhao bày tỏ muốn đi chơi cảm nhận ánh nắng và bãi cát ở khu vực nhiệt đới vùng Thái Bình Dương. Nhưng ở biệt thự lại không có đủ xe để đưa mọi người đến vịnh Nước Cạn. Đúng lúc Di Nhã đã được bà Cát nhờ dẫn cô ra ngoài giải sầu từ sớm, thế là cô nàng lập tức đứng ra gọi điện về nhà điều ba tài xế đến, đoàn người ồn ào dẫn theo cô dâu chạy trốn, ra bờ biển mở bữa tiệc độc thân.

Vào lúc chập tối, khách sạn Vịnh Nước Cạn đã bày biện sàn nhảy. Bảy tám chiếc xe Plymouth và Cadillac đậu bên ngoài. Nhân viên phục vụ ngạc nhiên mở cửa, có lẽ anh ta chưa bao giờ chào đón rất nhiều du khách da trắng kỳ lạ như vậy trong đời, thậm chí đến nam nữ trong khách sạn cũng giật mình bất ngờ.

Mới đầu mọi người vẫn thong thả ăn uống trò chuyện nghe nhạc, nhưng khi rượu quá tam tuần, bọn họ không hẹn mà cùng trở nên phấn khích, kéo tay người bên cạnh bất kể giới tính bước vào sàn nhảy, cùng cười nhảy múa trong tiếng nhạc ầm ĩ; John vui vẻ khiêu vũ với bạn gái của Oppenheimer, còn Oppenheimer đứng ngoài sàn nhảy vỗ tay cười to…

Sở Vọng không ngờ đám người này một khi ‘điên lên’ thì sẽ như vậy. Nhấp hai ngụm Whisky, chợt có người đi tới vỗ vào vai cô, tưởng là Di Nhã nên cô kéo tay cô ấy tỏ ý ngồi xuống bên cạnh. Nhưng khi quay đầu nhìn thì thấy ở cách đó không xa, Di Nhã và ngài Tưởng đang trò chuyện say sưa với một cô gái người da trắng dưới ánh đèn nhiều màu.

Lập tức nhìn lại, cô gái sau lưng mặc một chiếc váy ngắn bằng vải lông ngỗng, nước da màu lúa mì lộ ra dưới ánh mặt trời vùng nhiệt đới; một tay xách giày, chân trần dính đầy cát; một tay kéo tay cô cúi người cười vui vẻ.

Ngụm Whisky trong miệng cô suýt phun cả ra ngoài, “Chân Chân!”

Chân Chân vội “suỵt ——” một tiếng, kéo tay cô nói nhỏ: “Lại, lại bên này.”

Cô để Chân Chân lôi mình đi, từ lối đi âm u sau lưng đám đông rồi rời khỏi khách sạn, tiếp tục chạy lên cầu thang đi lên ban công tầng hai, ban công khuất sau hai bụi cây cọ, bên ngoài chính là  bãi biển và vịnh hẹp trong ánh chiều tà đỏ rực.

Trên sân thượng xếp một hàng dài gồm ba mươi chiếc ghế tắm nắng, nhưng chỉ có vài ba người ngồi trên đó.

Sở Vọng tra hỏi: “… Chị chui từ đâu ra vậy?”

Chân Chân cười ngất, “Đừng nói nhảm nữa. Không dám đến chỗ náo nhiệt, chỉ dám ở bên rìa thành phố phơi nắng, chị chán chết rồi đây. Di Nhã đã muốn dẫn em đến vịnh Nước Cạn chơi từ lâu, thế mà vừa về Hương Cảng là em cứ ỉu xìu. Sao lại gầy thế này? Có nhớ chị không?”

Sở Vọng choáng váng, “Chuyện học thì sao?”

Cô nàng lè lưỡi, “Thì đến Anh cũng cần phải học tiếng Anh một năm, chẳng thà tìm thầy giáo giọng Oxford phụ đạo 1:1, như thế vẫn còn dư lại nửa năm.”

Sở Vọng trố mắt: “Chers cũng tới Hương Cảng?”

Chân Chân cười nói: “Nhờ phúc của em mà anh ấy đã bắt kịp thuyền, vừa đến đảo Penang đã kéo chị xuống thuyền, gọi điện về hội đồng khu nhờ chồng của ai đó ủy thác thiếu tá hải quân hoàng gia đích thân điều anh ấy đến Hương Cảng.”

Cô “ơ” lên.

Chân Chân tựa đầu vào lan can, nheo mắt nói: “Không phải chính miệng em thổ lộ với Di Nhã là muốn ‘đợi đến khi về già thì cùng nằm trên ghế ngắm trai đẹp ở biển’ hả Nhìn chị làm gì, ngắm biển đi chứ.”

Thời tiết đầu mùa đông có lẽ cũng chỉ khoảng 20 độ, đứng trên bãi biển gió thổi tới càng lạnh hơn.

Cô nhìn ra bãi biển: trai gái già trẻ dưới dù che nắng có vẻ không sợ chút nào lạnh, mặc trang phục mùa hè y hệt Chân Chân.

Sau khi mặt trời khuất núi, dưới vòm cây hai bên trái phải là bóng dáng nam nữ thanh niên quấn lấy nhau, thi thoảng còn có thể nghe thấy tiếng cười nói.

Xa xa ngoài bãi cát, tầm nhìn rộng rãi hơn nhiều, do đó khung cảnh cũng rực rỡ và tráng lệ hơn. Bấy giờ trò lướt sóng chỉ vừa từ Hawaii lan đến Úc, nhưng vẫn chưa lưu truyền từ Mỹ đến vùng Viễn Đông. Những trò giải trí dưới biển rất ít, chủ yếu chơi đùa trên bờ cát. Không ít người da trắng quyến luyến cảm giác sương mù buổi hoàng hôn này, thậm chí cũng chẳng sợ lạnh, mặc luôn quần đùi hoa nằm dài trên ghế tắm nắng, nửa thân trên để trần khiến người khác thấy rõ lông ngực.

Bất tri bất giác nhớ đến ngày Tạ Trạch Ích ở đảo xa cũng mặc quần đùi hoa như thế, một tay dắt xe đạp, có lẽ là học thói hư trong trào lưu lướt sóng ở Mỹ.

Đang mải nghĩ, chợt cô nghe thấy giọng Oxford từ xa truyền đến. Ngẩng đầu lên thì trông thấy một người mặc áo sơ mi trắng cùng quần đùi hoa, một người khác mặc sơ mi trắng quần dài đen, cầm áo khoác quân trang trong tay tiến về phía họ – chính là Chers và Tạ Trạch Ích.

Chân Chân vẫy tay, Chers lập tức sải bước đi đến.

Sở Vọng ngẩng đầu lên, Tạ Trạch Ích cũng đưa mắt nhìn cô, bước chân không khỏi dừng lại, tụt đằng sau Chers.

Lan can ban công cao chưa đầy một mét, mà ban công cũng không cao quá bãi cát nửa mét. Chers chạy nhanh mấy bước cuối rồi bật nhảy lên.

Người ngắm cảnh trong phòng ở nhà hàng trên lầu lập tức rướn cổ nhìn ra.Tạ Trạch Ích lại không làm lố như vậy, đôi giày lính của anh dẫm lên cát từ từ bước đến, đứng dưới ban công ngẩng đầu nhìn cô.

Sở Vọng nói: “Tiệc độc thân của em, anh đến làm gì?”

Chers nghe hiểu tiếng quốc ngữ, thế là dùng tiếng Anh đáp thay anh: “Anh ấy chưa cởi quân trang, trong tay còn cầm súng, nghe nói Madam ở vịnh Nước Cạn nên mới lập tức lái xe đến, có lẽ là muốn quyết đấu với ai đó.”

Chân Chân phá lên cười.

Chers vỗ lan can: “Sao sếp không lên đây?”

Tạ Trạch Ích mỉm cười, “Vợ tôi gầy đi nhiều rồi.”

“Vẫn ổn mà.” Sở Vọng nhớ đến chuyện cười bán thịt heo, “Gầy thì sao, muốn nhân đó trả hàng hả?”

Tạ Trạch Ích giang rộng hai tay với cô, nháy mắt, “Thử là biết thôi.”

Người xem trên ban công không chê chuyện lớn, lập tức hò reo khuyến khích.

Cô trợn mắt, gạt bỏ đề nghị, “Em đang mặc váy mà.”

Có người tốt bụng đang nằm trên ghế tắm nắng đứng dậy, gọi nhân viên phục vụ đến lấy chìa khóa mở khóa khóa cửa nhỏ trên lan can sắt.

Cửa nhỏ mở ra đối diện với thềm đá, cách dưới chân cô chỉ ba bốn bước, như đang hoan nghênh nhiệt liệt cô ra mắt.

Cô đau đầu.

Dưới bao ánh nhìn, Tạ Trạch Ích giẫm lên bậc thềm, đứng trên bục thấp, một tay ôm eo cô nhẹ nhàng ôm cô xuống.

Hai chân cô vút lên trời, vì sợ ngã nên vô thức vòng tay ôm lấy đầu anh, la lớn trong lòng: quả là quá tâm cơ!

Trên ban công khách sạn truyền đến tiếng trầm trồ.

Tạ Trạch Ích sải bước lớn, ngẩng đầu nói: “Nhẹ đi không ít.” Rồi ôm cô đặt xuống ghế tắm nắng.

Anh ngồi xổm cạnh cô, ngẩng đầu lên nhìn, trong mắt không hề có ý đùa giỡn: “Sao lại thế này?”

Màn đêm vừa giăng, nhân viên đi ra bãi biển châm đèn dầu hỏa.

Sở Vọng cười nói, “Đang lo không có ai dắt tay em đi về phía anh.”

Hai mắt Tạ Trạch Ích lấp lánh vì sao mỗi khi cười, “Thế thì có sao?”

Cô cúi đầu, “Em chỉ hy vọng được nhận lời chúc phúc.”

“Người đó quan trọng lắm hả?”

“Rất quan trọng.”

“Quan trọng thế nào?”

Cô suy nghĩ, “Nếu không gặp thầy Từ, có lẽ em đã đến Paris mua vài căn nhà cho thuê, làm bà chủ nhà an hưởng tuổi già rồi…”

Tạ Trạch Ích cười nói, “Nên là? Bây giờ chúng ta cũng có thể đến đại lộ Champs Elysée để mua hàng chục căn hộ có vườn, mỗi tháng anh sẽ chống gậy cùng em đi thu tiền nhà, trò chuyện tận hưởng tuổi già.”

Cô mỉm cười, nhìn theo ánh mắt anh mà thở dài, “… Nếu không có anh ấy, có lẽ sẽ không có cơ hội thật sự hiểu anh.”

Tạ Trạch Ích nghiêm túc lắng nghe rồi tổng kết, “Ừm, thế thì đúng là rất quan trọng rồi.”

Sở Vọng cười.

Tạ Trạch Ích kéo tay cô hôn lên, ngón cái xoa nhẹ mu bàn tay cô, khẽ gọi, “Cô Tạ.”

“Ừm?”

“Anh Tạ dùng để làm gì?”

Trong đầu cô bất giác hiện lên nhiều công dụng của Tạ Trạch Ích.

Còn chưa kịp nghĩ ra câu trả lời chính xác thì Tạ Trạch Ích đã nói, “Sau này nếu gặp chuyện hay người nào đó không hai lòng, em chỉ cần giới thiệu mình là ‘cô Tạ’. Nếu bọn họ muốn hỏi chuyện hay muốn đổ lỗi thì nhất định sẽ nghĩ, trước em còn có một anh Tạ. Anh Tạ chính là áo giáp của em, về sau hễ gặp gió bão thì em cứ đẩy anh ra chắn. Cô Tạ à, em phải suy nghĩ bao lâu mới nhận ra đây?”

Tạ Trạch Ích thấy cô vẫn chưa nhận ra thì đứng dậy xoa đầu cô, cười bất đắc dĩ.

Sở Vọng chỉ nghĩ Tạ Trạch Ích nói thế là để an ủi mình, nghĩ kỹ thì cũng không giải quyết được nguồn gốc sự buồn rầu của cô, thế nên cũng không để trong lòng.

Cô lại hỏi anh mấy chuyện như vì sao Chers và Chân Chân lại từ Penang đến Hương Cảng, có tính toán gì. Cuối cùng hai người cùng nhìn những con thuyền nhỏ ở xa đang lại gần bờ, sương khói trong lòng cô nhiều ngày qua lập tức tan biến, hiếm được dịp bình yên thế này.

Nhẽ ra anh không nên biết gì cả, nhưng trong chớp mắt đó, Sở Vọng cảm thấy người đàn ông bên cạnh có thể hiểu cô.

Hôm đó chơi tới tận mười giờ đêm, mọi người ở khách sạn vẫn chưa thỏa thích, mấy con ma say làm liên lụy Chers và tài xế hai nhà phải đỡ lên xe.

Mọi người lần lượt lên đường, Di Nhã và ngài Tưởng lái xe đến đón Chân Chân về, mấy chiếc xe của nhà bà Cát và nhà họ Tạ chở mọi người ở viện nghiên cứu về thẳng khách sạn Sheck O, còn Chers và Tạ Trạch Ích thì cùng đưa Sở Vọng về nhà.

Tạ Trạch Ích là chú rể, không tiện vào nhà vợ nên ba người tạm biệt nhau ở đường Bá Tước, câu chào là “hẹn gặp lại vào ngày hôn lễ”.

Hiếm khi Sở Vọng có được hai giấc ngủ ngon.

Quả nhiên, ngày hôm sau, Tạ Trạch Ích rất quy củ không xuất hiện trong tầm mắt của bà Cát.

“Bọn đàn ông cũng chuẩn bị cho anh Zoe bữa tiệc độc thân rất long trọng.” Tối thứ hai, Di Nhã dẫn Chân Chân đến nhà bà Cát, cô nàng đã nói như vậy.

Bà Cát liếc cô rồi quay sang liếc Chân Chân: “Bạn của cha cháu không đến hôn lễ đúng không?”

Chân Chân cười giảo hoạt, “Chơi với cấp trên của nó xong, cháu tức thì chạy đến Shek O trốn.”

“Còn biết có cấp trên, Sở Vọng thì chả biết gì.”

Sở Vọng chẳng hiểu sao lại bị nói, tức khắc ra chiều vô tội.

Bốn người ngồi trong phòng cô, nghe bà Cát thuật lại kỹ càng về chương trình hôn lễ.

Sở Vọng ngáp liên tục, miễn cưỡng ghi nhớ đại khái trước khi ngủ thiếp đi.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau