GIANG HỒ TAM NỮ HIỆP

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giang hồ tam nữ hiệp - Chương 6 - Chương 10

Chương 6: Quả tuệ nhân lan dò lòng thăm tâm sự Một nụ cười mỉm lẽ nào chẳng có tình

Dương Trọng Anh vốn rất thích Đường Hiểu Lan nhưng nghĩ bụng con gái mình không thích chàng nên cũng cho qua. Mặt khác, ông ta lại nghĩ Đường Hiểu Lan rốt cuộc là người lai lịch bất minh, nếu gả con gái cho chàng, trong lòng cũng thấy lo lắng, nhưng ông ta không biết rằng con gái của mình đã yêu thương Đường Hiểu Lan.

Dương Liễu Thanh và Đường Hiểu Lan ở bên nhau năm năm, tuy nàng ngang bướng nhưng Đường Hiểu Lan lại cố chịu đựng nàng, lâu dần nàng cảm thấy không thể thiếu được chàng. Nhưng nàng không biết đó là tình yêu, cho đến khi Dương Trọng Anh nói đến chuyện chung thân đại sự, nàng mới để ý tới. Nhưng nàng chưa bao giờ nghĩ đến chuyện kết hôn, lúc này lòng nàng rối bời như tơ. Bởi vậy nàng mới giả vờ không hiểu ý của cha già, cứ lấp liếm cho qua.

Một chiều nọ Dương Liễu Thanh lòng chứa đầy tâm sự trở về thư phòng, thấy Đường Hiểu Lan đang đọc sách, chỉ cảm thấy mặt nóng ran, tim đập thình thình, muốn ngồi học cùng chàng nhưng chẳng thể nào giằng lòng được, nàng lén nhìn Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan đang chăm chú đọc sách, tựa như chẳng biết nàng bước vào, Dương Liễu Thanh giật quyển sách, cười hì hì nói: “Sư huynh, chúng ta leo núi!” Đường Hiểu Lan ngạc nhiên hỏi: “Sao hôm nay lại đòi leo núi?” Dương Liễu Thanh nói: “Muội thích kia mà, huynh có chìu không?” Đường Hiểu Lan cười khổ, gấp quyển sách lại, nói: “Thôi được, nếu muội đã thích, huynh chìu muội”. Dương Liễu Thanh nói: “Huynh đừng rầu rĩ như thế, chúng ta đi bắn chim chẳng vui hơn hay sao”.

Nhà họ Dương lưng dựa vào núi mặt hướng ra hồ, leo lên hậu sơn đứng nhìn ra xa sẽ thấy hồ nước xanh biếc, cây cối xum xuê. Khắp quả núi hoa dại nở rực rỡ. Đường Hiểu Lan lên cao nhìn ra xa, trong lòng thư thái, bao nhiêu nỗi bực bội tan biến. Chim chóc hót ríu rít trên những khóm cây, Dương Liễu Thanh kéo dây cung kêu lên bần bật, hai con hoàng oanh rơi xuống. Đường Hiểu Lan nói: “Chim hót nghe hay thế, sao muội lại bắn chúng?” nếu là bình thường Dương Liễu Thanh đã nổi cáu, nhưng lúc này nàng chỉ mỉm cười: “Tú tài ngốc, lại giảng sách nữa rồi, bổn cô nương cứ thích bắn chim”. Đường Hiểu Lan đang định khuyên nàng, chợt ngừng lại. Dương Liễu Thanh nhìn theo ánh mắt của chàng, thấy trong đám cây um tùm có hai bóng người một già một trẻ cười hì hì nhìn họ bắn chim.

Dương Liễu Thanh thầm giận, nhưng thấy người khách lạ không tiện phát tác, chỉ đành cố nín, cười lạnh nói với Đường Hiểu Lan: “Huynh chưa thấy rõ mà đã trách cứ muội. Lần này muội bắn cho sống chứ không phải bắn cho chết, gãy cánh chứ không rách da, huynh có biết không?” rồi soạt một tiếng, nàng lại bắn rơi một cặp hoàng oanh. Đường Hiểu Lan cúi xuống nhặt lên xem, con chim hoàng oanh dãy dụa trong lòng bàn tay của chàng, chẳng thể đập cánh bay lên nổi. Té ra Dương Liễu Thanh chỉ bắn vào xương cánh của con chim, chỉ cần nó nghỉ ngơi một lát sẽ bay lại. Tuy Đường Hiểu Lan sớm tối bên nàng nhưng vẫn không biết tuyệt kỹ Thần đạn của nàng tinh diệu như thế nào, không những bách phát bách trúng mà dùng lực cũng chính xác. Đường Hiểu Lan tựa thấy mình không thể làm được điều đó.

Dương Liễu Thanh nhìn sắc mặt của Đường Hiểu Lan, biết chàng đã phục, trong lòng rất mừng, lại kéo dây cung, người khách trẻ tuổi đột nhiên nhảy về phía trước một bước, Dương Liễu Thanh đã kéo dây cung căng như trăng đầy, đạn bay ra như sao xẹt, không ngờ viên đạn bay lướt qua, hai con chim hoàng oanh kêu lên một tiếng rồi đập cánh bay lên, đó là chuyện chưa bao giờ xảy ra, Dương Liễu Thanh đỏ ửng mặt, trong lòng rất lấy làm thắc mắc. Đường Hiểu Lan lớn giọng nói: “Thủ pháp của vị khách này rất giỏi!” té ra khi Dương Liễu Thanh bắn chim, người khách trẻ tuổi búng một viên bồ đề tử vào viên đạn của Dương Liễu Thanh. Dương Liễu Thanh đang tập trung tinh thần, không biết chàng ta đang giở trò, Đường Hiểu Lan quen phóng phi mãng, phi mãng là loại ám khí nhỏ hơn cả bồ đề tử, chàng ta chỉ hơi nhúc nhích ngón tay đã nhận ra.

Người khách trẻ tuổi nghe Đường Hiểu Lan nói thế thì nhoẻn miệng cười, đang định lên tiếng, Dương Liễu Thanh đã bắn ra đến bảy tám viên đạn, người khách trẻ tuổi phất ống tay áo, đánh rơi đạn của Dương Liễu Thanh xuống, rồi lại nhảy người lách qua, kêu lên: “Tiểu cô nương thật ngang ngược!” chợt bốp một tiếng, một viên đạn đã bay tới, chàng ta không kịp ngậm miệng, răng đã bị đánh lung lay, chân răng rướm máu. Ông khách già vốn đang đứng xem, lúc đó cũng nhảy tới, đỡ chàng thiếu niên, rung giọng hỏi: “Không sao chứ?” chàng thiếu niên nén đau nói: “Không sao cả!” rồi phun máu ra, may mà răng cửa không bị gãy!

Dương Liễu Thanh thu đạn cung lại, cười lạnh nói: “Bổn cô nương chỉ bắn chim chứ chẳng gây sự với ngươi, cớ sao các ngươi lại giở trò, hừ, ta tưởng ngươi giỏi lắm, té ra chẳng chịu nổi một viên đạn nhỏ!” chàng thiếu niên biến sắc, trong lòng thầm mắng: “Nha đầu ngang ngạnh, không dạy cho ngươi một bài học, ngươi không biết sự lợi hại của ta”. Tuy chàng mắng trong lòng nhưng không dám nói ra. Ông khách già có lẽ là cha của chàng, khẽ thở dài tựa như sợ chàng nổi cáu, đưa tay cản chàng rồi nhảy vọt tới phía trước, ôn tồn nói: “Tiểu cô nương có phải lệnh ái của Thiết chưởng thần đạn Dương Trọng Anh không?” Dương Liễu Thanh quay đầu không đáp, nàng vẫn chưa hết giận, đang định nói thêm mấy câu nhưng nghĩ bụng: “Ông già này biết tên của cha mình, chắc là bằng hữu của người. Nếu mình trả lời, ắt hẳn chẳng đánh được trận này. Chi bằng cứ mặc kệ họ, chọc giận họ rồi sau đó mình cùng với Đường sư huynh đánh cho họ tơi bời hoa lá”.

Đường Hiểu Lan thấy Dương Liễu Thanh quay đầu không thèm để ý, ông già rất ái ngại, chàng rất lo lắng, khẽ nói với nàng: “Đừng giận, muội có nhớ lời dạy của sư phụ không? Phải tôn kính đối với khách, không nên như thế”. Rồi quay đầu lại nói với ông già: “Xin hai vị bớt giận, chúng tôi là...” Đường Hiểu Lan chưa nói xong, người khách trẻ đột nhiên nổi cáu quát: “Việc quái gì đến ngươi?” ông già nói: “Tích Cửu, đừng làm thế!” Đường Hiểu Lan ngạc nhiên im lặng, chàng thiếu niên mắt như tóe lửa, nhìn chàng như muốn ăn tươi nuốt sống. Đường Hiểu Lan cũng không biết tại sao chàng ta lại nổi cáu với mình như thế? Chính Dương Liễu Thanh đã đả thương chàng ta, còn mình thì tốt bụng khuyên ngăn, chàng ta không nổi cáu với sư muội mà lại mắng mình, thật là vô lý!

Chàng thiếu niên nghe cha nói như thế, lửa giận vẫn chưa tan, nhảy vọt tới, lớn giọng nói: “Ngươi có phải là đệ tử đắc ý của Dương lão quyền sư không? Ta tuy bất tài nhưng cũng muốn được lãnh giáo cao chiêu của đệ tử danh gia!”

Đường Hiểu Lan cố nén giận, nói: “Chúng ta chẳng hề xích mích, cớ gì phải cứ tỉ võ!” Dương Liễu Thanh trợn tròn mắt, quay sang đẩy Đường Hiểu Lan một cái, nói: “Sư huynh, huynh sao thế? Người ta mắng ba đời tổ tông mà huynh vẫn cứ cúi đầu, không sợ người ta cho huynh là đồ vô dụng sao? Hãy mau dạy cho tên tiểu tử này một bài học, nếu không muội chẳng nhận huynh là sư huynh nữa!” người khách già vội nói: “Tôi và Dương lão anh hùng là tri giao nhiều năm, tiểu nhi tính tình nóng nảy, không biết ăn nói đã đắc tội với vị tiểu ca này, tôi xin được chịu lỗi!” Dương Liễu Thanh chen vào nói: “Xin lỗi thì chúng tôi nhận, nhưng các người đã khiêu chiến, không thể không lãnh giáo vài chiêu quyền cước!” lời lẽ của nàng nghe thật hung hăng, ông già nhìu mày thầm nhủ: “Sao con gái của Dương Trọng Anh lại ngang tàng đến thế!” người khách trẻ đã cởi áo ném sang một người, kêu lớn: “Tôi sẽ lãnh giáo vài chiêu với vị tiểu ca này, nếu may mắn đánh thắng, tôi lại sẽ tiếp cao chiêu của cô nương!”

Đường Hiểu Lan bị hai người dồn ép, lại thêm chàng thiếu niên này quá vô lễ, bởi vậy mới nhảy ra, hai tay ôm quyền nói: “Nếu các hạ đã muốn thử chiêu, tiểu đệ đành phải chìu theo!” Người khách trẻ tuổi nói: “Hay lắm, hay lắm!” rồi đánh vù xuống một chưởng, Đường Hiểu Lan chẳng hề nhúch nhích, chờ cho đến khi chưởng của kẻ địch cách vai khoảng một thước, chàng ta mới đột nhiên lách người, chém ngang chưởng lên, hai chưởng giao nhau kêu bốp một tiếng, người ấy bị thối lui đến hai bước. Mấy năm nay võ công của Đường Hiểu Lan tinh tiến, tuyệt kỹ thiết chưởng cũng đã bất phàm, nếu là người khác, đỡ trúng chưởng này sẽ bị gãy tay! Chàng thiếu niên cũng thật ghê gớm, chàng vừa lùi đã tiến lên, đột nhiên tung ra một cước, chưởng trái của Đường Hiểu Lan đánh ra một chiêu Phục Địa Trảm Hổ, chàng thiếu niên thu chân phải lại, chân trái lại tung cước, đòn Liên hoàn cước của chàng hung mãnh lạ thường. Đường Hiểu Lan bất đồ thối lui mấy bước. Dương Liễu Thanh cười lạnh nói: “Công phu chưởng pháp chẳng bằng người ta, thế là phải dùng đến cả đôi chân!” chàng thiếu niên xông về phía trước, hai chân đứng trụ bộ, chưởng trái hộ thân, quyền phải đấm thẳng ra trước ngực, lớn giọng nói: “Ta muốn xem thử uy danh thiết chưởng của nhà họ Dương!” Đường Hiểu Lan đột nhiên xoay người, hai chân vỗ ra, nào ngờ thủ pháp của chàng thiếu niên rất nhanh nhẹn, thượng bàn chẳng hề nhúc nhích, hạ bàn đã thay đổi, đõ hai chưởng của Đường Hiểu Lan rồi liên tục tấn công, chưởng đánh tới mang theo cả kình phong.

Té ra chàng thiếu niên sử dụng Ngũ Hành quyền, chiêu số của Ngũ Hành quyền toàn là tấn công. Khi chàng ta đánh chiêu đầu Đường Hiểu Lan cố gắng chống trả, hai luồng lực chạm vào nhau, lực của chàng thiếu niên kém hơn, người bị đánh thối lui, không thể nào phát ra thế công nữa, buộc phải sử dụng Uyên Ương Liên Hoàn Thoái để trả đòn. Mà Uyên Ương Liên Hoàn Thoái không thể tấn công mãi, bởi vậy mới nhân lúc Dương Liễu Thanh buông lời khích bác, mà thế công của Đường Hiểu Lan cũng chậm lại, đổi dùng quyền thuật của bổn môn. Lúc này chàng ta đã thấy sở trường sở đoản của đôi bên, chàng biết nội lực của mình không bằng Đường Hiểu Lan bởi vậy mới tránh chính diện, chỉ tấn công mặt bên, đồng thời dùng chưởng pháp tấn công như mưa bão khiến Đường Hiểu Lan không thể thi triển công phu thiết chưởng để đánh vào những chỗ yếu hại của chàng. Hai người càng đấu càng hăng, chiêu số Ngũ Hành quyền của chàng thiếu niên toàn là tấn công, chiêu thứ nhất vừa mới đánh ra, chiêu thứ hai đã tới, dùng tự quyết năm chữ “chém, xoáy, bật, tạ, đẩy”, ngũ hành sinh khắc tựa như cuồng phong! Hạ bàn của Đường Hiểu Lan rất vững, quyền nào cũng có lực, trong quyền pháp còn thi triển cả kỹ thuật Cầm Nã để hóa giải, đấu đến khoảng hơn năm mươi chiêu, chàng thiếu niên đột nhiên bổ xuống một quyền!

Lực của quyền này rất mạnh, Đường Hiểu Lan gạt ngang chưởng lên, quyền và chưởng chạm nhau, chưởng tâm đau nhói, Đường Hiểu Lan bạt chưởng một cái, xoáy quyền phải của chàng thiếu niên ra ngoài, thuận thế đẩy tới, chàng thiếu niên chợt xoay người, đánh một chiêu Sư Tử Dao Đầu xoáy chưởng lên mặt kẻ địch, chiêu này được gọi là Xung Thiên Pháo, chuyên đánh vào thượng bàn, Đường Hiểu Lan phất tay đẩy ra ngoài, rồi chàng chợt lộn người quát: “Trúng!” hai chưởng của chàng múa lên như gió, thi triển thủ pháp Đại Cầm Nã thủ, chụp được cánh tay của chàng thiếu niên, không ngờ chàng ta hạ người xuống, thi triển công phu đạn thoái, đá bật vào be sườn của Đường Hiểu Lan! Đường Hiểu Lan kêu lớn một tiếng, hai tay một vặn một đẩy rồi buông ngay ra, ngã ngửa người xuống. Chàng thiếu niên cũng kêu lớn, ngã sấp xuống đất. Dương Liễu Thanh cả kinh thất sắc, liên tục phóng ra mấy viên đạn cứu Đường Hiểu Lan. Ông già cười ha hả, phất ống tay áo, chỉ thấy đạn bay lên chứ không rơi xuống, tựa như đã bị ông ta chụp hết. Ông già chợt vái dài một cái, nói: “Dương đại ca, xin thứ lỗi!” khi Dương Liễu Thanh nhìn lại, chỉ thấy một người lướt tới nhanh như sao xẹt, đó chính là cha của nàng!

Đường Hiểu Lan và chàng thiếu niên cũng đã bật người dậy, hai tay của chàng thiếu niên buông thỏng xuống, miệng rên hừ hừ, còn Đường Hiểu Lan thì thấy đau nhói ở be sườn, cả hai người đều bị đối phương đả thương. Dương Liễu Thanh tay cầm cung, đứng ngẩn qua một bên, Dương Trọng Anh vuốt râu mắng: “Thanh nhi, con lại gây họa ư?” Dương Liễu Thanh không dám đáp, Đường Hiểu Lan đỏ mặt nói: “Không liên quan đến sư muội, chính vị anh hùng này cứ khăng khăng đòi đọ chiêu với đồ đệ”. Chàng thiếu niên ấy thấy Đường Hiểu Lan cứ bênh vực cho Dương Liễu Thanh, không khỏi lại nhíu mày trừng mắt nhìn Đường Hiểu Lan. Ông già đã nhìn thấy điều đó, trong lòng vừa giận vừa buồn cười. Dương Liễu Thanh quay sang người khách trẻ tuổi, vui mừng nói: “Con trai của huynh đã lớn thế này, có phải hắn tên là Trâu Tích Cửu không?”

Đường Hiểu Lan theo Dương Trọng Anh được năm năm, tuyệt kỹ thần đạn cũng có thành tựu, vả lại chàng sử dụng ám khí phi mãng, học được thủ pháp thần đạn?” chàng thiếu niên cúi đầu hành lễ. Ông già nói: “Dương đại ca, hôm nay chúng tôi đến thăm ông!” Dương Trọng Anh cười ha hả: “Võ công của Tích Cửu đã tiến bộ như thế, chiêu đạn thoái lúc nãy của hắn cũng không tệ! Nào, Hiểu Lan, hãy ra mắt vị sư huynh này! Sao hai ngươi vừa mới gặp nhau đã đọ chiêu?” chàng thiếu niên mặt đỏ ửng, nói: “Võ công của Thanh muội rất cao, công phu đánh thần đạn thật giỏi!” Dương Trọng Anh hừ một tiếng, vuốt râu nghiêm mặt nhìn con gái: “Có phải con lại phô diễn thuật bắn đạn cung không?” Dương Liễu Thanh cúi mặt, chàng thiếu niên vội nói: “Không có! Không có!” ông già vốn muốn Dương Trọng Anh dạy cho con gái một bài học, nhưng nghĩ con trai của mình cũng chẳng đúng, muốn nói gì đấy nhưng lại thôi, lúc này thấy Dương Trọng Anh cứ hỏi dấn tới, con trai của mình lại cuống lên, mỉm cười nói: “Không có, không có! Thanh nhi biểu diễn tuyệt kỹ thần đạn bắn gãy cánh vài con chim hoàng oanh”. Dương Trọng Anh mới cười hì một tiếng, lại ôn tồn nói: “Chim hoàng oanh bay trên trời tự do tự tại, có liên quan gì đến con? Sau này con chỉ được bắn những loài mãnh cầm”. Dương Liễu Thanh vâng một tiếng: “Cha nói phải”. Dương Trọng Anh chợt tay trái nắm chàng thiếu niên, tay phải nắm Đường Hiểu Lan, kéo hai người đứng lại với nhau, mỉm cười nói: “Không đánh không quen, huynh đệ các ngươi đã gặp mặt nhau, sau này phải tử tế với nhau! Trâu đại ca, đây là đồ đệ tôi mới thâu nhận, họ Đường tên Hiểu Lan. Hiểu Lan, đây chính là người ta thường nói với con, Tháp Dực Thần Sư Trâu Minh Cao!”

Đường Hiểu Lan vâng một tiếng rồi nói: “Từ lâu đã nghe danh!” Chàng thiếu niên lạnh lùng nói: “Đắc tội, đắc tội!” rồi quay đi chẳng thèm nhìn đến Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan rất lấy làm lạ, không biết mình đã có lỗi gì với chàng ta.

Đường Hiểu Lan không biết rằng hai cha con người này đến câu hôn. Tháp Dực Thần Sư Trâu Minh Cao và Dương Trọng Anh là bằng hữu sinh tử, hơn hai mươi năm trước được người ta gọi là Hà Sóc song hùng. Con trai Trâu Minh Cao là Trâu Tích Cửu lớn hơn Dương Liễu Thanh bốn tuổi, hai người vốn là một cặp thanh mai trúc mã, sống bên nhau vui vầy. Khi Dương Liễu Thanh lên bảy, Trâu Minh Cao có việc phải đi xa, một mình đến Liêu Đông, trước khi đi còn bảo với Dương Liễu Thanh rằng: “Đại ca, hai đứa trẻ này quyến luyến với nhau, tôi không nỡ ra đi!” Dương Trọng Anh nói: “Chừng nào huynh trở về, tôi sẽ gả Thanh nhi cho Tích Cửu!” Trâu Minh Cao nói: “Vậy thật là tốt! Nhưng lần này tiểu đệ xuất quan đối phó với kẻ cường địch của bổn môn, lành ít dữ nhiều, việc nhà khó đoán, nếu may mắn đắc thắng cũng không biết ngày nào trở về uống rượu trò chuyện với đại ca. Nếu lúc này ta đính ước cho hai đứa trẻ, chỉ e ngày sau nếu muộn màng sẽ hỏng cả tuổi thanh xuân của điệt nữ. Chi bằng cứ tạm gác lại chuyện này, đợi đến khi cha con chúng tôi trở về, điệt nữ vẫn chưa hứa gả cho người ta, lúc đó mới nhắc đến!” Dương Trọng Anh nghĩ bụng cũng có lý, vì thế mới gác lại.

Nào ngờ hai người cách biệt đến mười hai năm, Dương Liễu Thanh quên cả diện mạo của Trâu Tích Cửu, Dương Trọng Anh cũng tưởng rằng bằng hữu đã qua đời bởi vậy cũng dần dần quên đi. Không ngờ Trâu Minh Cao vẫn còn nhớ chuyện này, dắt con đến tận nơi tìm. Không ngờ đến hậu sơn thì thấy Đường Hiểu Lan và Dương Liễu Thanh đang thân mật trò chuyện, cả hai cha con đều không khỏi nghi ngờ. Trâu Tích Cửu và Dương Liễu Thanh đều là con một, từ nhỏ được nuông chìu quen, tính tình rất ngang tàng, bởi vậy chàng ta mới trút giận lên người Đường Hiểu Lan.

Lại nói Dương Liễu Thanh bắn trúng Trâu Tích Cửu một viên đạn, trong lòng thấp thỏm không yên, sợ rằng cha mình sẽ trách cứ. Sáng sớm hôm sau, nàng thỉnh an cha, không ngờ cha lại rất vui vẻ, vuốt râu nói: “Thanh nhi, tiểu bằng hữu của con đã đến, sao con không dắt hắn đi chơi?” Dương Liễu Thanh quay đầu, cười khanh khách nói: “Giờ này chẳng phải là tiểu bằng hữu nữa!” Dương Trọng Anh ho khan một tiếng, cười nói: “Đúng thế! Con đã mười chín tuổi! Gần đây Tích Cửu cũng đã có chút tên tuổi. Võ công của hắn cũng đến mức thượng thừa, không biết ý con thế nào?” Dương Liễu Thanh nhíu mày nói: “Cha, cha bảo gì thế?” Dương Trọng Anh nói: “Trâu bá bá muốn cưới con cho Tích Cửu!” Dương Liễu Thanh chợt biến sắc, kêu lớn: “Con không chịu!” Dương Trọng Anh nghiêm mặt nói: “Thanh nhi, con không còn bé nữa, không nên ngang ngạnh như thế, chả lẽ cha phải nuôi con suốt đời sao? Con phải nên hiểu rằng Trâu gia và chúng ta có mối thế giao, Tích Cửu lại cũng không tệ, con có gì không vừa ý?” Dương Liễu Thanh vốn chỉ muốn làm nũng, thấy cha nói nghiêm túc như thế, trong nhất thời không dám nói gì cả. Dương Trọng Anh lại bảo: “Lúc này con không chịu cũng không được, năm con bảy tuổi, cha đã hứa gả con cho người ta!” Dương Liễu Thanh Đảo mắt, chợt nói: “Cha lẫy lừng miền Hà Sóc, nữ tế của cha cũng phải là anh hùng siêu quần bạt tụy!” Dương Trọng Anh mừng rỡ nói: “Đúng thế, nói rất đúng!” Dương Liễu Thanh nói: “Nên con phải tỉ võ trước với y rồi mới nói đến việc hôn sự!”

Dương Trọng Anh ngạc nhiên nói: “Con còn muốn tỉ võ với người ta?” Dương Liễu Thanh cười nói: “Nếu hắn thắng được con, con sẽ tình nguyện làm thê tử của hắn, nếu không thắng nổi, có một nữ tế kém bản lĩnh, cha cũng chẳng thấy vẻ vang gì”. Dương Trọng Anh nói: “Con thật là ngang ngạnh...” nói chưa xong rèm cửa vén lên, cha con họ Trâu bước vào. Dương Liễu Thanh thỉnh an rồi chạy ra ngoài như luồng khói.Trâu Tích Cửu bị Dương Liễu Thanh đánh hỏng hai cái răng cửa, trong lòng rất bực bội. Sáng sớm hôm nay cùng cha đến thỉnh an Dương Trọng Anh, vừa tới cửa đã nghe Dương Liễu Thanh lớn giọng nói, bất giác ngừng bước, nào ngờ không nghe thì thôi, nghe xong thì sắc mặt thay đổi. Trâu Minh Cao thầm nhủ: “Con gái của Dương Trọng Anh ngang tàng như thế, Tích Cửu cũng phải lộ chút bản lĩnh để sau này dễ quản thúc! Nó là con gái, bản lĩnh dù giỏi hơn cũng không qua Tích Cửu”. Bởi vậy sau khi hàn huyên với Dương Trọng Anh xong, Trâu Minh Cao mới nói: “Đại ca, hôm qua đề thân, đại ca không chê tiểu nhi hèn kém, đã chấp nhận ngay, nhưng con cái chúng ta đều đã lớn, cha mẹ không thể ép buộc, không biết ý định của điệt nữ thế nào?” Dương Trọng Anh ấp úng nói: “Chuyện này... chuyện này...” Trâu Tích Cửu cướp lời: “Bá bá danh lừng Hà Sóc, trong tướng môn chắc chắn phải có hổ nữ, Thanh muội đương nhiên là bậc anh hùng cân quắc, nữ trung hào kiệt. Tiểu điệt không tự lượng sức mình, muốn Thanh muội chỉ điểm vài chiêu, nếu cách nhau quá xa, tiểu điệt cũng chẳng có mặt mũi nào lấy Thanh muội, lúc đó xin mời lệnh ái đặt mối lương duyên khác, chọn người tài ba”. Dương Trọng Anh vừa nghe đã biết những lời của con gái mình đã lọt vào tai họ, vội vàng khuyên lơn: “Thanh muội của con còn tánh trẻ con, không biết nặng nhẹ, hiền điệt bỏ quá cho”. Trâu Minh Cao cười ha hả: “Chúng ta đã là huynh đệ, còn nói thế để làm gì? Tục ngữ nói rất hay, trai tài phải sánh với gái sắc mới là mối nhân duyên tốt”. Dương Trọng Anh trầm ngâm một hồi, thấy Trâu Tích Cửu đang nhấp nhổm chờ đợi, lòng thầm nhủ: “Đứa trẻ này cũng có chí khí, chi bằng cứ để chúng tỉ thí cũng tốt”. Thế rồi mới chấp nhận.

Đường Hiểu Lan nghe cha con họ Trâu đến đề thân, trong lòng mừng rỡ, chàng tuy không ưa vẻ ngang ngược của Trâu Tích Cửu nhưng nghĩ lại hai nhà đã môn đăng hộ đối, vả lại sư muội của mình cũng ngang tàng, hai người có tính cách giống nhau ghép lại có lẽ cũng rất hợp. Bởi vậy chàng mới thành thật chúc mừng sư muội, Dương Liễu Thanh liếc chàng, chợt cười khanh khách: “Sư huynh ngốc, hãy chờ đấy!”

Đêm hôm ấy sân luyện võ nhà họ Dương đèn đuốc sáng trưng, Dương Liễu Thanh mặc bộ đồ chẻn màu xanh nước hồ, eo cột mảnh khăn tay màu đỏ, hớn hở nhảy vào sân. Trâu Tích Cửu thấy thế ngứa ngáy tay chân, thầm nhủ: “Trông bộ dạng nàng như thế, chẳng qua là chỉ muốn tỉ thí công phu với mình trong lòng ắt hẳn đã chấp nhận. Mình phải nương tay với nàng”. Không ngờ hai người ôm quyền lên vái, Trâu Tích Cửu vừa nói: “Thanh muội, mời xuất chiêu”. Dương Liễu Thanh đã vung tay, đánh ra một chiêu Loan Cung Xạ Nguyệt điểm vào ngực của chàng ta.

Chiêu này là một đòn sát thủ lợi hại trong Lăng vân chưởng nhà họ Dương, tựa hư tựa thực, Trâu Tích Cửu kinh hãi kêu lên một tiếng, xoay người tránh liên tục ba chiêu. Dương Liễu Thanh cười lạnh nói: “Đại ca không cần khách sáo!” rồi tay không hề ngừng lại, tiếp tục tiến về phía trước, một chưởng đẩy vào cùi chỏ của Trâu Tích Cửu, bàn tay đột nhiên từ chỏ phải xỉa ra, đánh ra một chiêu Diệp Để Thâu Đào tấn công thẳng vào hông phải của đối phương, chiêu số rất hiểm hóc, tựa như muốn liều mạng với người chứ chẳng phải tỉ võ đọ chiêu! Đường Hiểu Lan kêu ối chao một tiếng, Trâu Tích Cửu lách người, xoay cổ tay lại, uốn mình thành hình cây cung, hai chưởng đẩy bật ra phía trước, chưởng lực nặng như núi, nếu trúng chưởng này Dương Liễu Thanh chắc chắn sẽ ngã chổng vó nhưng Trâu Tích Cửu vừa phát lực ra đã thu lại, còn Dương Liễu Thanh thì lanh lạ thường, tựa đã như sớm biết chàng ta xuất chiêu này nên xoay người quay lưng lại trước mặt đối thủ, chưởng lực của Trâu Tích Cửu chưa tới nàng đã xoay eo lướt qua, phóng vọt lên cao đến năm sáu trượng, đột nhiên hạ xuống sau lưng Trâu Tích Cửu. Trâu Tích Cửu vội xoay người, thò tay chụp tới, bốp một tiếng, vai đã trúng một chưởng. Dương Trọng Anh kêu lên: “Điệt nhi, cứ đánh cho thật lòng, không cần nhường mãi như thế!” Trâu Tích Cửu xoay gót chân, người xoay nửa vòng, vung tay ra chụp cánh tay phải của Dương Liễu Thanh kéo ra ngoài, đang định dùng chân quật ngã nàng, Trâu Minh Cao và Đường Hiểu Lan đều mừng rỡ ra mặt, tưởng rằng Trâu Tích Cửu sẽ thắng chiêu này, không ngờ Dương Liễu Thanh lộn người, giật được cánh tay ra, Đường Hiểu Lan chưa thấy Dương Liễu Thanh thoát hiểm phá chiêu như thế nào mà chỉ nghe Trâu Tích Cửu kêu ối chao một tiếng, vai lại trúng thêm một chưởng!

Trâu Minh Cao nói: “Hai chiêu Huyền Nữ Bài Tụ, Tam Hoàn Sáo Nguyệt của điệt nữ khá lắm!” Dương Trọng Anh nhíu mày nói: “Thực ra công phu của nó kém hơn lệnh lang, chỉ là hiếu thắng không chịu nhận thua, lệnh lang chỉ cần dùng công phu hạ bàn vững chãi đối phó với thân pháp phiêu hốt của nó, không cần nôn nóng tấn công sẽ thắng ngay!” ông ta nói mấy câu này rất lớn, tựa như muốn Trâu Tích Cửu nghe thấy!

Quả nhiên Trâu Tích Cửu chợt đổi chiêu, thượng bàn không nhúc nhích, hạ bàn thay đổi, đánh ra vù vù hai quyền. Công lực của Dương Liễu Thanh vốn không bằng người, nàng thừa cơ tấn công gấp mấy chiêu mà vẫn không tiến tới được, đột nhiên xoay người lướt qua Trâu Tích Cửu, nói bên tai chàng với giọng điệu cực kỳ khinh miệt: “Dù ngươi được người ta chỉ điểm ta cũng đánh ngã ngươi!” lời nói của nàng rất nhỏ, người bên ngoài không nghe, nhưng Trâu Tích Cửu thì như bị người ta lấy dao đâm vào lòng, thế là nổi cáu đùng đùng, thầm nhủ: “Trâu Tích Cửu này tung hoành quan ngoại, ai cũng khen ta là thiếu niên anh hùng, không ngờ ả nha đầu nhà ngươi lại coi thường ta đến thế!” rồi chưởng trái giơ ngang ngực, quyền phải đấm ra, liên tục dùng những chiêu số hung hiểm như Ác hổ đào tâm, Dã mã khiêu giản, Đại mãng thôn ưng. Chàng ta càng đấu càng hăng, quyền đi như gió, mảnh khăn đỏ trên eo Dương Liễu Thanh cũng bay phần phật, cánh tay của Dương Liễu Thanh tựa như bươm bướm xuyên hoa, luồn qua lách lại trong đường quyền phong, Đường Hiểu Lan định thần nhìn lại, Dương Liễu Thanh tuy đánh rất nhẹ nhàng nhưng chiêu nào cũng toàn là sát thủ!

Đường Hiểu Lan thầm kêu: “Không xong!” khi nhìn lại sư phụ, ông ta cũng nhíu mày, thần sắc khẩn trương. Đường Hiểu Lan sợ đến vãi mồ hôi lạnh, hai người trong trường quần thảo nhau đã được hơn năm mươi chiêu, càng đấu càng hăng, chiêu số của Trâu Tích Cửu nhanh tựa như cuồng phong gió bão, thân pháp của Dương Liễu Thanh nhẹ nhàng tựa như chiếc lá rơi, mảnh khăn đỏ cột ở eo tung bay theo gió. Trâu Minh Cao thần sắc vốn nhẹ nhàng, cười nói tự nhiên, thế mà giờ đây đã biến sắc, bất giác cùng Dương Trọng Anh bước gần vào giữa sân.

Chưởng pháp của Dương Liễu Thanh là tuyệt kỹ gia truyền, còn lợi hại hơn cả Đường Hiểu Lan mấy phần. Công phu của Trâu Tích Cửu tuy cao hơn nàng, khí lực tuy mạnh hơn nàng nhưng về chưởng pháp lại kém hơn một bậc. Lại thêm lúc ban đầu trong lòng e ngại, còn nương tay nên thiệt thòi, kê đó lại bị Dương Liễu Thanh nói khích bởi vậy mới nổi cáu, mà khi tỉ võ kỵ nhất là nóng nảy nổi cáu, nóng nảy thì sẽ nhộn nhạo bất an, dễ bị kẻ địch thừa cơ đánh vào, e ngại thì để mất tiên cơ, dễ bị địch khống chế. Trâu Tích Cửu tấn công không được, nhiều lần gặp nguy hiểm, đột nhiên đánh ra một chiêu Ngọc Nữ Đầu Thoa, Dương Liễu Thanh xoay người, lướt ra sau lưng của chàng ta, nhân lúc Trâu Tích Cửu chưa kịp biến chiêu, hai tay đã vận lực đẩy vào lưng của chàng ta một cái, Trâu Tích Cửu cảm thấy gió quét vào người, toan phóng về phía trước thì sợ nàng đuổi theo, nếu nàng đẩy thêm một cái nữa mình chắc chắn sẽ té chổng vó, muốn nhảy lướt sang bên cạnh thì lại sợ nàng mượn thế đánh vào chỗ trống của mình. Trong khoảng sát na điện chớp lửa xẹt ấy, Trâu Tích Cửu chẳng kịp suy nghĩ gì nữa, giở chưởng phải giật ra ngoài, quyền trái đấm thẳng vào mặt Dương Liễu Thanh. Đường Hiểu Lan thấy thế kinh hãi, lúc nãy chàng sợ Trâu Tích Cửu đổ máu nhưng giờ đây lại sợ sư muội bị thương, chàng chưa kịp nói: “Trâu huynh nương tay!” hai ông già đã kêu hoảng, Trâu Minh Cao run giọng nói: “Chúng tôi nhận thua, cô nương không cần đuổi tận giết tuyệt!”

Dương Trọng Anh vội vàng kêu: “Thanh nhi, không được làm càn!” Đường Hiểu Lan ngạc nhiên, chợt nghe rắc một tiếng, còn Trâu Tích Cửu kêu lên như lợn bị chọc tiết, ngã xuống đất lăn lộn, Trâu Minh Cao đỡ chàng ta dậy, mặt biến sắc, khớp tay phải của Trâu Tích Cửu đã gãy lìa, cánh tay sụi xuống, đau đến nỗi mồ hôi rơi xuống từng giọt, trán nổi gân xanh. Té ra nhân lúc chàng ta sử dụng hiểm chiêu, Dương Liễu Thanh ra đòn sát thủ, nàng chém thẳng chưởng vào cổ tay của chàng ta, thuận thế ném ra ngoài, thiết chưởng của Dương gia đâu phải tầm thường, Trâu Tích Cửu bị trúng một chưởng vào khớp, Dương Liễu Thanh lại vặn ra ngoài một cái nữa. Trâu Tích Cửu rên rỉ nói: “Cô nương, ngươi giỏi lắm!” Trâu Minh Cao chẳng nói một lời, đỡ cánh tay của chàng rồi xé tà áo băng vết thương. Dương Trọng Anh trừng mắt bước tới giở chưởng đánh xuống thiên linh cái của con gái, mắng rằng: “Ta phải phế võ công ả nha đầu ngang ngạnh!” ông ta giơ cao thiết chưởng, chưa kịp hạ xuống, Trâu Minh Cao đã vội vàng nhảy tới kêu: “Đại ca, chỉ trách tiểu nhi học nghề chưa tinh, hắn tuy chịu một chưởng của tiểu điệt nhưng vẫn chưa bị tàn phế, tôi có thể nối gân tiếp cốt, đại ca đừng lo lắng! Còn việc hôn sự, chúng ta không cần nhắc đến nữa, để tiểu nhi khổ học thêm mười năm, lại đến thỉnh giáo điệt nữ!” Dương Trọng Anh nghe lời lẽ của ông ta trong mềm có cứng, biết rằng ông ta chắc tức giận đến cùng cực, chỉ biết đứng ngẩn tại chỗ!

Dương Trọng Anh không ngờ tình nghĩa bao nhiêu năm lại ra nông nỗi này, trong lòng chua xót, đang định nói lời tạ lỗi, Trâu Minh Cao chợt vác đứa con lên lưng rồi chạy như bay, Dương Trọng Anh đứng sững sờ, muốn đuổi theo mà hai chân cứ bủn rủn, chỉ nghe Trâu Minh Cao nói: “Tình nghĩa của chúng ta vẫn còn, chuyện con cái xin đừng nhắc đến nữa!” hai người chạy xuống sườn núi, trong chốc lát đã mất dạng.

Dương Trọng Anh giận đến tái xanh mặt, mắng con gái: “Nha đầu ngang ngạnh, theo ta!” Đường Hiểu Lan lo lắng đi phía sau, chàng sợ sư phụ nổi cáu đến nỗi phế võ công của sư muội, bởi vậy mới định đi theo khuyên giải cha con họ. Không ngờ Dương Trọng Anh trừng mắt, mắng: “Hiểu Lan, đi theo làm gì? Không liên quan đến ngươi, ra ngoài”. Đường Hiểu Lan thấy mặt nóng bừng, ngẩn người ra rồi lớn giọng nói: “Sư muội lần đầu tiên tỉ võ, vô tình đã mạnh tay, mong sư phụ niệm tình phạt nhẹ”. Dương Trọng Anh hừ một tiếng, chợt thấy lòng chua xót, phẩy tay nói: “Ngươi hãy ra ngoài, ta biết tính toán!”

Dương Liễu Thanh thấy cha mình như thế, không dám tỏ vẻ ngang ngạnh như bình thường nữa, theo ông ta bước vào thư phòng quỳ xuống, Dương Trọng Anh nói: “Nha đầu ngang ngạnh, ngươi có biết lỗi chưa? Đã nói là chỉ tỉ võ đọ chiêu, tại sao ngươi lại ra đòn sát thủ? Dương Liễu Thanh thút thít nói: “Y cũng ra đòn sát thủ, lẽ nào cha không thấy?” Dương Trọng Anh tức giận nói: “Ngươi còn già mồm cãi cố, nếu ngươi không ép, sao người ta lại mạnh tay với ngươi?” Dương Liễu Thanh chợt nói: “Con không muốn lấy y!” Dương Trọng Anh chưng hửng, vuốt râu nói: “Ồ, té ra là thế!” Dương Liễu Thanh nói: “Con định nói từ đầu nhưng lại sợ cha nổi cáu, bất đắc dĩ mới đòi tỉ võ đọ chiêu với y!” Dương Trọng Anh nói: “Nhưng bình thường ta dạy ngươi thế nào?” Dương Liễu Thanh quỷ phục xuống đất, chợt khóc òa lên: “Cha cứ việc xử phạt con, dù bị phế võ công con cũng không trách. Con chỉ trách mẹ mất quá sớm, chẳng có người dạy dỗ, nay gây chuyện khiến cha già nổi giận”. Từ nhỏ Dương Liễu Thanh đã mồ côi mẹ, do một tay cha nuôi lớn thành người, nay Dương Trọng Anh vừa nghe con gái nhắc đến mẹ, bất giác thương cảm, nghĩ lại mình cũng đã quá nuông chìu con gái khiến tính tình nó ra nông nỗi thế này, đó cũng là điều không đúng của mình, bất giác thở dài nói: “Con biết thế thì tốt!” Dương Liễu Thanh thấy cha già nói giọng ôn tồn, nét mặt giãn ra mới yên lòng. Dương Trọng Anh thấy con có vẻ ấm ức, phất tay nói: “Con đứng dậy, cha hỏi con, tại sao con không chịu lấy Tích Cửu, con không thích điều gì? Nếu nói đến võ công, chả lẽ con ngốc đến nỗi không nhận ra ngay từ ban đầu hắn đã có ý nhường nhịn, công lực lại cao hơn con sao?” Dương Liễu Thanh lau nước mắt, chợt bật cười nói: “Chả lẽ cha không biết trong lòng con đã có người khác sao?” Dương Trọng Anh mở to mắt, đang định hỏi, Dương Liễu Thanh đã che mặt chạy ào ra ngoài.Dương Liễu Thanh sợ cha già buộc mình lấy người khác, chẳng còn hổ thẹn nữa, đánh liều nói ra tâm sự, điều đó khiến Dương Trọng Anh vừa kinh vừa mừng, ông ta đi đi lại trong thư phòng một hồi thì đã đoán ra.

Dương Trọng Anh thầm nhủ: “Té ra nha đầu yêu Hiểu Lan, lúc đó không dám nói rõ, đến giờ đây lại xảy ra chuyện khiến mình không biết nói thế nào với bên Cao lão đệ!” rồi chợt ông ta lại nghĩ: “Hiểu Lan cũng khá lắm, ngoại trừ lai lịch bất minh, chẳng có thứ gì thua Tích Cửu”. Trong nhất thời suy nghĩ dâng trào, ông vốn muốn buộc Dương Liễu Thanh đến chịu tội với cha con nhà họ Trâu, nhưng nghe con gái thổ lộ tâm sự, chỉ e rằng sau này bốn mặt gặp nhau lại sẽ càng khó ăn nói hơn. Ông ta ngẩng đầu nhìn bức họa của vợ mình trên vách, lại thở dài đột nhiên vạch rèm ra tìm Đường Hiểu Lan.

Lại nói Đường Hiểu Lan bên Dương Liễu Thanh năm năm trời, tuy biết nàng tính tình ngang ngược mà vẫn có thể chìu được, nhưng trong lòng chàng rất bực bội, chưa từng nghĩ đến chuyện yêu đương. Còn đối với Lữ Tứ Nương, tuy chàng chỉ mới gặp một lần nhưng tình yêu đã nảy nở. Lữ Tứ Nương có vẻ phóng khoáng, lời lẽ chính chắn, năm năm qua hình bóng của nàng vẫn trong lòng chàng, có điều Lữ Tứ Nương võ công cao cường, thông hiểu thi thư, Đường Hiểu Lan coi nàng như thần tiên, rất ngưỡng mộ nàng, không hề có ý dám trèo cao, tự dặn mình cứ chôn vùi thứ tình cảm ấy trong lòng! Dương Trọng Anh cũng không ngờ rằng, chàng ta lại có lắm tâm sự như thế.

Vầng nguyệt đã lên đến gần giữa trời, đêm khuya lạnh lẽo, Dương Trọng Anh tìm đến thư phòng của Đường Hiểu Lan nhưng không thấy ai cả, Dương Trọng Anh bật cười: “Mình thật quá nóng lòng, lúc này hắn đã ngủ sớm, còn ở thư phòng làm gì nữa? Thôi, cứ để ngày mai nói cũng không muộn”. Đang định lui ra, chợt thấy trên bàn có một tờ giấy, dấu mực trên tờ giấy vẫn còn mới lắm, ông ta tò mò thầm nhủ: “Không biết thằng bé học hành thế nào?” rồi thuận tay cầm luôn tờ giấy. Lão sư dạy chữ ở phòng bên, trong phòng đèn vẫn còn sáng. Dương Trọng Anh bước vào. Thấy Dương Trọng Anh hỏi chuyện học hành của Đường Hiểu Lan, lão sư mỉm cười nói: “Thằng bé này thông minh hơn người, chỉ trong vòng năm năm ngắn ngủi mà đã thuộc làu kinh sử thi từ. Tuy không thể thành danh nho nhưng cũng có thể là người thông hiểu chữ nghĩa”. Dương Trọng Anh lấy tờ giấy ra, nói: “Đệ hãy xem hắn viết gì đây? Ta thấy thơ mà không phải thơ, hãy cắt nghĩa ta nghe thử”.

Vị lão sư cầm tờ giấy, té ra đó là một bài từ dài, tựa đề của bài từ là “Bách tự lệnh”, toàn bài từ chỉ có một trăm chữ, rằng:

“Phiêu bình quyến lữ, toán mang mang nhân hải. Bằng hữu tri phủ? Kiếm tráp thi nang trường tác bạn, đạp phá vãn phong triều lộ. Trường tiêu xuyên vân, cao ca tán vụ, cô nhạn lai hoàn khứ! Minh âu xã yến, tuyết nê hồng trảo vô cứ!

Vân sơn mộng ảnh mô hồ, nhũ yến tầm sào, hựu cụ trọng liêm trở! Lộ bạch hà thương trường đoạn ái, khước thanh hà nhân truyền ngũ: Tiêu đồng độc bão, Nghê Thường tế phổ, Vọng đoạn thiên nhai lộ! Tố Nga thanh nữ, tiên tông thậm nhật trùng ngộ?”

Lão sư say sưa ngâm nga, ban đầu thì mặt vui mừng, kế đó lại buồn bã, cuối cùng trầm ngâm không nói. Dương Trọng Anh hỏi: “Sao thế? Hắn viết gì?” lão sư thở dài: “Tôi sợ rồi đứa trẻ này sẽ đi vào nẻo ma!” Dương Trọng Anh kinh hãi nói: “Có phải đứa trẻ này có tâm thuật bất chính không?” lão sư lắc đầu: “Không phải!” té ra Đường Hiểu Lan nhớ Lữ Tứ Nương nên đã viết bài từ này, bài từ này miêu tả thân thế và tâm sự buồn bã của chàng, đồng thời thể hiện tâm trạng sùng bái đối với Lữ Tứ Nương. Lão sư không biết nỗi lòng của chàng, chỉ cảm thấy từ ý u oán, người mà bài từ nhắc đến thấp thoáng mong manh tựa như một nàng tiên nữ. Vì thế ông ta mới nói: “Nói ra cũng chẳng có gì lạ. Quan quan thư cưu, quân tử háo cầu, bài từ này thể hiện tình cảm nhớ nhung của hắn đối với một người, xuất phát từ tình cảm nhưng dừng lại ở lễ giáo. Cũng không thể nói đó là điều xấu”. Dương Trọng Anh nói: “Vậy tại sao hắn sẽ đi vào nẻo ma?” lão sư nói: “Ý của bài từ cho thấy hình như ý trung nhân của hắn rất khó hợp với hắn, hắn xem nàng ta như tiên nữ trên trời! Trong bài từ còn dùng điển tích Lộ bạch hà thương trong Tần Phong của Kinh thi...” Dương Trọng Anh cắt lời: “Bài thơ này nói gì?” lão sư nói: “Bài thơ này vốn là dân ca của nước Tần thời Xuân Thu, nên được gọi là ‘Tần phong’, bài ca rằng: ‘Kim gia thương thương, bạch lộ vi sương, sở vị y nhân, tại thủy nhất phương, tố hồi tùng chi, đạo trở thả trường, tố du tùng chi, uyển tại thủy trung ương.

(Dịch nghĩa: Lau lách rườm rà xanh tốt, móc trắng làm sương, người mà mình nói đến, thì ở một phương nào của vùng nước mênh mông. Đi ngược dòng mà theo cùng, đường đi hiểm trở lại xa dài, đi xuôi dòng mà theo cùng, thì thấy nghiễm nhiên ở vùng nước mênh mông ấy. Dịch thơ: Lau lách xanh tươi và rậm rạp, móc làm sương phủ khắp mọi nơi. Người mà đang nói hiện thời, ở vùng nước biếc cách vời một phương, ví ngược dòng tìm đường theo mãi, đường càng thêm trở ngại xa xôi, thuận dòng theo đến tận chân trời, giữa vùng nước biếc, thấy người ở trong. – Theo bản dịch của Tạ Quang Phát) nói tóm lại chàng ta có tình cảm với nàng thiếu nữ nhưng chẳng thể nào đến gần nàng được, e rằng tương tư đơn phương thành bệnh tẩu hỏa nhập ma, chỉ e có hại suốt đời!” Dương Trọng Anh lại hiểu theo ý khác, ông ta đột nhiên mỉm cười, thầm nhủ: “Té ra Hiểu Lan cũng thương mến Thanh nhi, hắn thấy Thanh nhi ngang ngược, tưởng rằng chẳng còn hy vọng gì nên mới viết bài từ như thế”. Vì thế nói: “Tiên sinh không cần lo lắng, hắn chẳng phải nhớ nhung đơn phương!” rồi vạch rèm bước ra.

Đêm hôm ấy Đường Hiểu Lan cũng trằn trọc, chàng nhớ đến Lữ Tứ Nương, lại nhớ đến Dương Liễu Thanh, không khỏi cười thầm. Chàng nghĩ: “Võ công của Lữ Tứ Nương cao hơn Dương Liễu Thanh rất nhiều nhưng nàng dịu dàng dễ gần gũi, còn Dương Liễu Thanh thì ngang ngược phóng túng”. Chuyện ban ngày hiện lên trong lòng chàng, chàng thấy nàng đối với Trâu Tích Cửu quá nặng tay, không khỏi lạnh mình, suốt đêm chỉ nằm toàn ác mộng.

Sáng sớm hôm sau, Dương Trọng Anh đã kêu Đường Hiểu Lan, hỏi phủ đầu ngay: “Hiểu Lan, con đã ở đây năm năm, giờ đã thành người lớn, cũng nên đến lúc thành gia lập thất. Khi Huyền Phong dắt con đến đây, đã từng bảo con là một cô nhi, vậy chắc là con vẫn chưa định hôn sự?” Đường Hiểu Lan kinh hãi, đáp: “Thưa chưa!” Dương Trọng Anh cười ha hả: “Vậy con có thấy ai hợp ý chưa?” Đường Hiểu Lan đỏ mặt lắc đầu, Dương Trọng Anh nói: “Thầy cũng như cha, con hãy nói đừng ngại!” Đường Hiểu Lan ấp úng nói: “Thưa chưa có!” Dương Trọng Anh nói: “Người trẻ tuổi quả nhiên hay e ngại”. Rồi lấy bài từ ra, đưa cho chàng bảo: “Chả lẽ đây không phải con viết?” Đường Hiểu Lan đỏ mặt, đang định giải thích, Dương Trọng Anh chợt nói: “Thanh nhi cũng nghĩ như con, lúc đầu ta không hiểu, nếu hai con đã có ý, ta sẽ phái người tìm Huyền Phong đạo trưởng nhờ ông ta làm chủ hôn nhà trai, để các con sớm nên đôi lứa, ta cũng có thể yên lòng”. Đường Hiểu Lan nghe mà như sấm nổ giữa trời xanh, chẳng nói được nửa lời!

Dương Trọng Anh thấy Đường Hiểu Lan chợt biến sắc, cúi đầu không nói, tưởng rằng chàng ta còn e ngại, mỉm cười bảo: “Trai khôn lấy vợ gái lớn lấy chồng, đó là chuyện lớn trong đời người, có ta làm chủ cho các con, còn ngại gì mà không nói?” Đường Hiểu Lan chợt khẽ nói: “Đệ tử học nghề chưa thành, không dám có ý thành gia lập thất, cũng không dám trèo cao cùng sư muội!” Dương Trọng Anh lại mỉm cười nhìn bài từ trên tay chàng, Đường Hiểu Lan chợt ngẩng đầu, bạo dạn nói: “Con không hề có ý gì với sư muội!”

Câu trả lời này khiến Dương Trọng Anh bất ngờ, thấy chàng ta nghiêm túc như thế lại không có vẻ gì xấu hổ, ông ta mới khẽ ho hai tiếng, chợt nghiêm mặt nói: “Khi con mới vào sư môn, đã từng thề tuân theo mười hai giới điều con có nhớ mười hai giới điều này không?”

Đường Hiểu Lan quỳ xuống, buông tay nói: “Thưa nhớ!” Dương Trọng Anh nói: “Điều cuối cùng là gì?” Đường Hiểu Lan nói; “Không được khi sư diệt tổ!” Dương Trọng Anh nói: “Giải thích thế nào?” Đường Hiểu Lan nói: “Bất cự chuyện gì cũng không được giấu sư phụ, tất cả đều phải nói thật, càng không được cấu kết với người ngoài ô nhục tôn trưởng, kẻ phạm vào điều này nhẹ thì bị phế võ công, nặng thì ngũ mã phanh thây!” Dương Trọng Anh nói: “Đúng thế! Vậy ta hỏi con, có phải ý của bài từ này là nhung nhớ một thiếu nữ hay không?” Đường Hiểu Lan nói: “Thưa phải!” Dương Trọng Anh nói: “Vậy con nhớ nhung ai?” Đường Hiểu Lan đỏ ửng mặt, khó khăn lắm mới rặn mấy tiếng: “Không phải sư muội!” Dương Trọng Anh tiu nghỉu ngồi xuống, phẫy tay nói: “Con ra ngoài đi!”

Đường Hiểu Lan lủi thủi chạy ra ngoài, leo lên hậu sơn nhìn trời cao núi xanh, nước hồ trong vắt, trong lòng thầm than: “Ở đây phong cảnh tuy đẹp nhưng không thể ở lâu được nữa!” chàng nhớ lại bộ dạng ngang ngược của sư muội, trong lòng thầm rùng mình, chàng biết Dương Liễu Thanh hễ muốn là phải đòi bằng được chứ nếu không chẳng chịu ngừng! Có điều chàng làm sao dám lấy một người như thế làm vợ? Đêm đó chàng suy đi nghĩ lại, cuối cùng nửa đêm thu dọn hành trang rồi len lén bỏ đi!

Lại nói sau khi Dương Liễu Thanh thố lộ tâm sự với phụ thân, lại vừa hổ thẹn, vừa mừng rỡ, nàng nghĩ cha mình xưa nay rất yêu thương mình, chắc chắn sẽ nói với sư ca, sư ca chắc sẽ vui mừng! Nàng đâu biết rằng Đường Hiểu Lan chẳng hề yêu nàng. Ngày hôm đó nàng vì e thẹn, cố tình tránh mặt Đường Hiểu Lan, định rằng đợi cha mình nói chuyện với sư ca rồi sẽ đến báo với nàng, ai ngờ suốt ngày chẳng thấy cha đâu. Đêm ấy nàng trằn trọc chẳng yên giấc, đến khi trời sáng nàng không kìm được nữa, vội vàng đi kiếm cha. Dưới giàn hoa trường vi trong vườn, chỉ thấy cha một mình đi lại, sắc mặt tiều tụy, không khỏi kinh hãi nói: “Cha bị bệnh sao?” Dương Trọng Anh thở dài: “Hiểu Lan bỏ đi rồi!” Dương Liễu Thanh kêu lên: “Thật ư?” Dương Trọng Anh lấy một bức thư ra, đưa cho nàng: “Con hãy tự xem!” quả nhiên là bút tích của Đường Hiểu Lan, trong thư viết rất rõ ràng, trước tiên cảm tạ ơn dạy dỗ năm năm của sư phụ, kế đó khéo léo từ chối hôn sự, Dương Liễu Thanh đọc xong, bất giác trừng mắt nói: “Cha, con tìm y trở về!” Dương Trọng Anh nói: “Con khờ của cha, người ta đã không muốn, con còn ép người ta làm gì?” Dương Liễu Thanh cắn môi nói: “Con đâu có ép y? Chẳng qua con không muốn ở nhà mà thôi!” Dương Trọng Anh thở dài nói: “Thế cũng được”.

Chính là:

Tơ tình buộc nhầm chỗ, thương yêu hóa kẻ thù.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 7: Rồng ẩn phố chợ thái hoa tặc là ai Thuyền cá dấu ngọc lướt sóng tìm bóng nàng

Hơn một tháng sau, ở bến Hoàng Hải tại bán đảo Sơn Đông xuất hiện một chàng thiếu niên phong trần, tai nghe sóng biển vỗ bờ, mắt nhìn bóng buồm xa xa, lòng sinh cảm khái vô cùng. Người ấy chính là Đường Hiểu Lan. Sau khi chàng rời khỏi nhà họ Dương, vốn là muốn vào kinh tìm tung tích sư tẩu Quảng Luyện Hà, nhưng thấy võ công của mình còn kém xa Thần Ma song lão, sợ rằng đến kinh thành, bị Huyết Trích Tử phát hiện, lúc đó cứu người không xong trái lại đã mất mạng, chàng suy đi tính lại, rốt cuộc đã đổi hướng. Chàng không bằng hữu cũng chẳng người thân, chỉ có Huyền Phong đạo trưởng là bằng hữu của Châu Thanh vả lại Quan Đông tứ hiệp đã từng hứa cứu mẹ con Quảng Luyện Hà, lời hứa của bậc hào hiệp như sắt đá, bởi vậy Đường Hiểu Lan mới muốn đi vòng qua bán đảo Sơn Đông đến Bột Hải, từ đó tới Liêu Đông tìm Quan Đông tứ hiệp.

Hôm nay chàng đã đến Thanh Đảo, đưa mắt nhìn trời cao, trong lòng thấy thư thới, chàng chưa bao giờ ra biển, bất giác thấy sao biển đẹp lạ lùng, thế là một mình bước đến tửu lâu, kêu một bình rượu, chọn chỗ ngồi gần cửa sổ vừa uống rượu vừa ngắm biển. Đang lúc ngắm say sưa, chợt nghe tiếng ồn ào, khi nhìn lại thấy một toán lính bước lên lầu. Đường Hiểu Lan trấn tĩnh, muốn tìm lời ứng phó với toán quan sai này, không ngờ bọn chúng hỏi chàng rất tỉ mỉ, không những hỏi lai lịch họ tên mà còn hỏi Đường Hiểu Lan có bằng hữu hay người thân ở Thanh Đảo hay không, Đường Hiểu Lan nói: “Tôi chỉ là người qua đây, làm sao có bằng hữu?” một tên tính cười lạnh nói: “Ngươi nói là tú tài ở huyện Đông Bình, muốn đến Liêu Đông thăm người thân, nhưng khẩu âm rất khác lạ, ai dám đảm bảo ngươi không nói dối! Này! Bằng hữu, ngươi đến đây làm gì?” Đường Hiểu Lan nói: “Tôi chẳng làm gì cả!” một tên quan sai vung sợi thiết liên tròng vào cổ Đường Hiểu Lan, quát: “Ngươi theo bọn ta về phủ hãy nói!” Đường Hiểu Lan lách người qua, tên quan sai mất đà bổ tới, quát: “Giỏi lắm, ngươi dám chống cự!” rồi rút ra cây xích đao bổ xuống đầu chàng ta, Đường Hiểu Lan định ra tay, chợt nghe quát: “Khoan đã!” một chàng công tử trẻ tuổi phe phẩy quạt nhảy vọt tới, chặn giữa hai người, tên quan sai quát: “Ngươi là ai?” rồi vung tay ra toan tóm lấy chàng ta, chợt cảm thấy cổ tay đau nhói, bên cạnh lại có một hán tử cao lớn kéo y, quát: “Ngươi muốn chết!” chàng công tử trẻ tuổi mỉm cười: “Buông y ra!” bọn quan sai vội xúm tới, chàng công tử trẻ tuổi trừng mắt, hỏi: “Ai là bổ đầu?” hai mắt của chàng ta như có điện, giọng nói tuy không cao nhưng uy nghiêm vô hạn, khiến người ta không lạnh mà run. Tên quan sai hoảng đến thối lui mấy bước, một viên bổ đầu bước tới nói: “Tên này thô lỗ, mong công tử đừng trách! Xin hỏi công tử là ai? Có quan hệ gì đến bằng hữu này?” Viên bổ đầu già này vừa nhìn đã đoán được chàng ta là con nhà quyền quý bởi vậy mới dám bá đạo đến thế. Nào ngờ người ấy cười lạnh, nói: “Ngươi không xứng hỏi gia thế của ta!” rồi bật cây quạt ra, từ tốn quạt trước mặt y hai cái.Tên bổ đầu biến sắc, quỳ sụp xuống dập đầu nói: “Mạo phạm! Mạo phạm! Mong công tử đừng trách!” Chàng công tử trẻ tuổi nói: “Các ngươi hãy về đi, đây là bằng hữu của ta, ta đảm bảo y không nói dối!” lão bổ đầu cung kính dập đầu rồi dắt bọn quan sai co giò phóng xuống lầu!

Đường Hiểu Lan rất kinh ngạc, vội vàng đáp tạ. Lúc này bọn quan sai đã rút đi cả, trên lầu xì xào bàn tán, chỉ nghe tên tửu bảo lớn giọng nói: “Hừ, Bắt thái hoa tặc mà cũng đến nơi này!” một người khách khác nói: “Bọn chúng cũng không có mắt, người ta nho nhã đến thế mà bảo rằng thái hoa tặc!” một người khác lại nói: “Cũng chẳng trách họ, bọn thái hoa tặc hoành hành dữ dội, tri phủ đài nhân cứ hối thúc mãi, đương nhiên phải tìm kiếm khắp nơi”. Tên tửu bảo nói: “Lẽ nào thái hoa tặc công nhiên lên tửu lâu đợi bọn chúng đến bắt!” một người khác nói: “Cũng không hẳn, có lẽ thái hoa tặc lớn gan, dám công nhiên lên tòa Vọng Hải lâu này! Hơn nữa quan sai truy bắt gắt gao cũng là trừ hại cho dân!” một tửu khác hừ một tiếng: “Chỉ e không bắt được thủ phạm mà chỉ toàn bắt những người vô tội!”

Đường Hiểu Lan nghe thế ngạc nhiên, gọi tên tửu bảo lại nói: “Ở đây có thái hoa tặc ư?” tửu bảo nói: “Bọn chúng rất dữ dằng! Mười ngày nay đều có án xảy ra, con gái nhà lương thiện canh ba nửa đêm mất tích, cả con gái của Vương Bách Vạn và Châu Thủ Bị cũng bị bắt!” Đường Hiểu Lan nói: “Đến thế cơ à!” rồi nhíu mày, bất giác vỗ tay vào bao kiếm, chợt cảm thấy chàng công tử trẻ tuổi đang nhìn mình chằm chằm mặt đỏ ửng, nói: “Té ra bọn chúng tưởng tôi là thái hoa đại đạo!” chàng đang nói, khách khứa trên lầu lại nhao nhao lên, người ngồi gần cửa sổ kêu lên: “Lại có một toán quân binh đến nữa!” bọn họ sợ xảy ra chuyện nên vội vàng tính tiền ra về, chỉ còn lại chàng công tử thiếu niên, đại hán to cao cùng với Đường Hiểu Lan. Tên tửu bảo biết chàng công tử thiếu niên rất có vai vế, bởi vậy thêm vài món ăn, hâm lại ba bầu rượu ngon.

Chàng công tử trẻ tuổi kéo tay Đường Hiểu Lan ngồi xuống, cười rằng: “Bọn nô tài làm mất hứng!” Đường Hiểu Lan lại cảm tạ ơn cứu mạng, chàng công tử thiếu niên phe phẩy cây quạy xếp, chậm rãi nói: “Điều đó có là gì, gia phụ quen biết Tuần phủ Sơn Đông, cây quạt này là Tuần phủ Sơn Đông viết, lão bổ đầu lúc nãy có lẽ nhận ra nét chữ của quan Tuần phủ nên không dám lôi thôi”.

Đường Hiểu Lan thấy trên cây quạt có mấy chữ “Vu Nam Hồ khấu tả”, trong lòng mới giật mình, thầm nhủ: “Chả lẽ cha của chàng ta là quan lớn trong triều”. Chàng nhớ lại những điều răn của sư phụ, vẻ mặt chợt lạnh nhạt. Chàng công tử trẻ tuổi nói: “Vu Nam Hồ xuất thân từ hàn lâm, thư pháp cũng rất khá. Khi ông ta chưa phát tích đã từng là học trò của phụ thân tôi, nên rất cung kính người. Cả nhà tôi từ viễn cổ đến nay không ai làm quan cả!” Đường Hiểu Lan nghe chàng ta nói như thế thì mới hơi yên lòng, đến khi hỏi họ tên, chàng công tử trẻ tuổi nói: “Tôi họ Vương tên Tôn Nhất, còn gia nhân của tôi là Cáp Bố Đà, là một người Hồi”. Vương Tôn Nhất rất khách sáo với chàng, hỏi: “Huynh đài lưng mang bảo kiếm, anh hoa lộ rõ, chắc là danh gia kiếm thuật”. Đường Hiểu Lan vội vàng nói: “Cũng chỉ từng học vài món công phu mèo ba cẳng, chẳng thể gọi là kiếm pháp gì cả”. Chàng công tử mỉm cười, lại phe phẩy cây quạt, chậm rãi ngâm rằng: “Bạch nhân y sơn tận, Hoàng Hà nhập hải lưu, giục cùng thiên lý mục, cánh thướng nhất tần lâu. (Dịch thơ: Mặt trời chìm xuống núi, Hoàng Hà vào biển khơi, muốn thấy ra ngàn dặm, leo thêm một tầng lầu) tòa Vọng Hải lâu này tuy tốt nhưng vẫn chưa cao lắm, nếu huynh đài muốn ngắm cảnh biển, tốt nhất hãy chèo thuyền ra biển, cách bờ biển không xa có đảo Điền Hoành, trên đó có một ngọn núi, leo lên đến đỉnh sẽ thấy mặt trời hồng từ biển mọc lên, đó mới là kỳ quan trong thiên hạ!” Đường Hiểu Lan nói: “Huynh đài quả thật có nhã hứng!” đang mừng vì chàng ta đã chuyển chủ đề, không ngờ chàng ta ngập ngừng rồi lại nói: “Ngâm thơ múa kiếm trên đảo mới là chuyện vui trong đời người, huynh đài có thể cho tôi mượn kiếm xem hay không?”

Đường Hiểu Lan rất lấy làm khó xử, Châu Thanh đã từng căn dặn không được tùy tiện khoe khoang, nhưng Vương Tôn Nhất rất khách sáo, lại có ơn với mình, bởi vậy cũng khó trả lời. Chàng đang chần chừ, cầu thang lầu vang lên tiếng lọc cọc, lại có hai người phụ nữ bước lên. Người đi đầu tóc đen mượt mà phủ vai, mặt lại thấy nếp nhăn, nhìn mái tóc của bà người ta chỉ nghĩ bà là thiếu nữ khoảng hai mươi tuổi, nhưng nhìn nếp nhăn trên mặt lại là một bà già tuổi khoảng năm mươi. Đi phía sau là một nàng thiếu nữ khuôn mặt xinh xắn, vẫn còn nét trẻ con tuổi khoảng mười sáu mười bảy, chàng công tử trẻ tuổi trợn mắt, bà già hỏi: “Khách quan có muốn nghe một khúc hát không?” Vương Tôn Nhất đảo mắt, nhìn tên gia đinh rồi nói: “Cũng được!” bà già cầm hai miếng tre gõ vào nhau, nàng thiếu nữ khẽ hát rằng: “Nhiếp phiền hồng hà hải thượng sinh, hải trung hữu đảo khiếu Điền Hoành, đương niên Tề quốc quý công tử! Quốc phá gia vong ngượng lệ hành, thệ bết đế Tần huyền chính khí, hải ngẫu khán bạo kiếm kỳ sinh, ngũ bách tráng trĩ thệ đồng tử, cường lỗ bất diện thiên đạo mãng...” (Một mảng hồng hà nổi giữa biển khơi, giữa biển khơi có hòn đảo Điền Hoành, năm xưa công tử nước Tề, nhà tan cửa nát nén lệ ra đi, thề không diệt Tần chẳng trở lại, năm trăm tráng sĩ thề cùng chết, cường lỗ không diệt đạo trời vong...)

Tiếng ca chưa dứt, Vương Tôn Nhất chợt nhíu mày, chợt nói: “Đừng hát nữa!” bà già nói: “Khách quan nhìn về đảo Điền Hoành, sao không nghe Điền Hoành từ?” Cáp Bố Đà mắng: “Đừng lôi thôi!” Vương Tôn Nhất nói: “Thưởng bạc rồi bảo bà ta đi thôi!” Cáp Bố Đà vung tay ném hai nén bạc lớn đến, bà già nói: “Ai cần bạc vụn của ngươi!” rồi phất ống tay áo, hai nén bạc rơi xuống bàn, vỡ thành vô số mảnh nhỏ! Vương Tôn Nhất và Cáp Bố Đà thất kinh, cả hai người đàn bà đã xuống lầu. Cáp Bố Đà toan đuổi theo, Vương Tôn Nhất nói: “Thôi khỏi. Đường huynh, lúc nãy tôi định mượn kiếm xem thử, không biết có được hay không?” Đường Hiểu Lan nói: “Điều này... điều này...” rồi ngón tay sờ vào eo, chợt kinh hãi kêu lên: “Kiếm của tôi đâu rồi?” hai người nhìn lại, quả nhiên kiếm của Đường Hiểu Lan đã biến mất. Cáp Bố Đà nói: “Thủ pháp của mụ già thật nhanh!” Đường Hiểu Lan mất kiếm quý, lòng lo như lửa đốt, vội vàng cáo từ. Vương Tôn Nhất nổi hứng, phất tay nói: “Đường huynh đừng lo, tiểu đệ sẽ sai người nhà giúp tìm về”. Đường Hiểu Lan nói mấy câu cảm tạ, vội vàng đuổi theo người đàn bà ấy. Trên con đường ven biển, hai đầu đều có quân binh tuần tra, chẳng thấy bóng bà già đâu cả. Bọn quân binh thấy Đường Hiểu Lan vội vàng chạy ra cũng không ngăn lại.

Đường Hiểu Lan theo Dương Trọng Anh học được năm năm, tuyệt kỹ thần đạn cũng có thành tựu, vả lại chàng sử dụng ám khí phi mãng, học được thủ pháp thần đạn càng thấy lợi hạih hơn, phi mãng rất nhẹ, nên nhãn lực phải rất tốt. Thế mà chàng không hề phát giác khi bị người khác đánh cắp bảo kiếm, rõ ràng kẻ đánh cắp kiếm võ công cao cường đến mức khó tưởng tượng! Đường Hiểu Lan rầu rỉ thầm nhủ: “Bị một cao thủ như thế đánh cắp bảo kiếm còn mong gì lấy lại?” Rồi chàng cứ đi mãi, chợt thấy ngoài cảng có mười chiếc thuyền đánh cá đang đậu, có nàng thiếu nữ đang đứng trên một con thuyền, trông rất xinh xắn. Đường Hiểu Lan nhìn kỹ lại, thì ra chẳng phải nàng thiếu nữ lúc nãy, chàng mới cười buồn bã thầm nhủ: “Bảo kiếm chắc chắn đã mất, chi bằng cứ quay về trước thì hơn!” đi được mấy bước, nàng thiếu nữ đã vào trong khoang. Chợt thấy có một thiếu niên tuấn tú cũng đứng trông theo chiếc thuyền cá!

Đường Hiểu Lan thấy chàng ta đứng ngẩn người ra, thầm nhủ: “Chả lẽ này là thái hoa đại tặc!” chợt thấy chàng thiếu niên vung ống tay áo, Đường Hiểu Lan nhận ra đó chính là thủ pháp phóng ám khí bằng ống tay áo của chàng ta, mà loại ám khí này cực kỳ nhẹ, người bình thường chẳng thể nào nhận ra được. Đợi chàng thiếu niên bỏ đi xong, Đường Hiểu Lan đi lên đê, nhìn con thuyền cá, trên thuyền quả nhiên có thêm một đóa hoa mai, đóa hoa nở xòe ra năm cánh trông rất rõ ràng tựa như được người thợ khéo tay khắc vào. Đường Hiểu Lan biết đó là do ám khí hình hoa mai in sâu vào nên thầm kêu lên: “Không xong! Đây chắn chắn là ám hiệu của thái hoa đạo tặc để lại, chín phần mười là y đã để ý thiếu nữ trên thuyền, chỉ e đêm nay y sẽ lên thuyền hái hoa”. Chàng đang định gọi người trong thuyền ra, chợt thấy nàng thiếu nữ lúc nãy bước ra, trừng mắt nhìn Đường Hiểu Lan rồi khuất xuống nước, kéo lên một tia nước phóng thẳng về phía Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan bị tia nước bắn thẳng vào mặt, da mặt đau nhói. Rồi nàng ta khua chèo, chiếc thuyền lướt đi.

Đường Hiểu Lan lau khô nước, thầm kêu khổ, nàng ta chắc chắn tưởng chàng là hạng thiếu niên khinh bạc nên mới làm thế. Chàng thầm nhủ: “Giờ có nói với họ, họ cũng không tin, chi bằng đêm nay mình lại đến bắt thái hoa đại tặc để trừ hại cho trăm họ”. Chàng đứng tần ngần một hồi rồi trở về khách sạn.

Khi Đường Hiểu Lan rời khỏi khách sạn, chàng đã đóng cửa sổ, cửa phòng cũng được khóa lại, khi chàng mở cửa phòng ra, chợt thấy có gió quét tới, Đường Hiểu Lan vội vàng quay đầu nhưng không thấy bóng người nào cả, lòng thầm cười mình nghi thần nghi quỷ, không ngờ đi vào trong phòng chợt thấy hàn quang chói mắt, suýt nữa chàng đã kêu hoảng.

Trên chiếc bàn nhỏ cạnh giường có đặt một thanh bảo kiếm, đó chính là Du Long kiếm của chàng, vỏ kiếm treo trên tường, Đường Hiểu Lan cầm thanh kiếm lên, ở dưới có một dòng chữ viết: “Khuya ba ngày sau, đến miếu Điền Hoành gặp ta!” Đường Hiểu Lan thấy tim đập thình thịch, trong lòng cứ lo nơm nớp, không biết cao nhân nào đã đánh cắp kiếm rồi trả kiếm lại cho chàng là có dụng ý gì? Lại không biết miếu Điền Hoành ở đâu, nhưng còn cách thời gian hẹn đến ba ngày, trong vòng ba ngày chắc có thể dò ra được. Đường Hiểu Lan định thần, thầm nhủ: “Nếu người đánh cắp kiếm là cao nhân tiền bối chắc không có ác ý với mình, nếu kẻ xấu, chắc sẽ không trả kiếm lại. Xem ra chuyện này tuy kỳ lạ nhưng không hại gì. Đêm nay mình phải đấu với đại tặc thái hoa, cần phải cẩn thận với được. Thủ pháp ném ám khí của y cũng thuộc loại hiếm có trong võ lâm”. Thế rồi không suy nghĩ gì nữa mà nằm lăn ra giường đánh một giấc.

Đến khi chàng thức dậy đã chạng vạng tối, Đường Hiểu Lan ăn cơm tối xong, ra khỏi khách sạn nói với tiểu nhị rằng: “Có lẽ đêm nay ta về muộn”. Tên tiểu nhị nói: “Khách quan cứ tùy ý”. Đường Hiểu Lan nói: “Có người đến tìm ta, hãy nhớ hỏi họ tên”. Tên tiểu nhị trả lời: “Đương nhiên”. Đường Hiểu Lan bước ra bờ biển, đây là đêm trăng hạ huyền, trăng mờ sao thưa khiến cho mặt biển càng thêm thâm sâu thần bí. Đường Hiểu Lan tìm ra con thuyền đánh cá ấy, chàng ẩn thân sau một tảng đá, lặng lẽ chờ đợi tên đại tặc thái hoa!

Đợi một lúc rất lâu, vầng trăng mới dần dần nhô lên cao, Đường Hiểu Lan thầm nhủ: “Đã đến lúc!” quả nhiên đợi một hồi, một bóng người bay vọt tới, người ấy toàn thân mặc đồ trắng, tuy ánh trăng mờ ảo nhưng chàng có thể nhìn thấy rõ mồn một. Đường Hiểu Lan thầm thấy làm lạ, mặc đồ trắng là đại kỵ của người dạ hành, huống chi là có ý hái hoa; người mặc đồ trắng chạy đến bờ biển, đó chính là người mà chàng đã gặp ban ngày. Đường Hiểu Lan nắm phi mãng trong tay, chưa kịp phát ra, chàng thiếu niên ấy đã điểm mũi chân phóng vọt lên cột buồm. Đường Hiểu Lan buộc miệng kêu lên: “Bắt thái hoa tặc!” rồi vung một nắm phi mãng!

Chàng thiếu niên áo trắng kêu lên: “Là ta, muội hãy ra đây!” ở khoang thuyền chợt xuất hiện một người vung đao chặt gãy cột buồm, chàng thiếu niên lộn người hạ xuống mặt thuyền, thân pháp vẫn còn lanh lẹ, rõ ràng chẳng hề bị thương. Có thể Đường Hiểu Lan đã phóng hụt phi mãng!

Từ trong khoang thuyền một lão ngư phu bước ra, chém tới soạt soạt mấy đao, miệng quát: “Hừ, đồ vô sỉ, ngươi còn muốn đến đây làm gì?” người áo trắng chỉ né tránh chứ không trả chiêu, kêu lên: “Ngư muội, ngư muội!” người trong thuyền khóc thút thít, cô gái đánh cá ban ngày mà Đường Hiểu Lan đã gặp bước ra, vừa khóc vừa nói: “Thái Quan, huynh hãy đi đi!” lão ngư phu quát: “Nha đầu đê tiện, quay vào!” chàng thiếu niên áo trắng tránh ba chiêu, đột nhiên phóng vọt về phía nàng thiếu nữ! Đường Hiểu Lan lướt người lên thuyền, cây Du Long kiếm đánh tới một chiêu “Tiên Nhân Chỉ Lộ” đâm vào ngực của chàng thiếu niên, quát: “Thái hoa tặc thật lớn gan!” chàng thiếu niên chợt thấy ánh hàn quang chói mắt, lách người qua, chưng hửng quát: “Ai là thái hoa tặc?” Đường Hiểu Lan lại đâm một kiếm, lão ngư phu đã đẩy nàng thiếu nữ vào khoang, mặt lộ vẻ kinh ngạc, tay cầm thanh Quỷ Đầu đao chặn trước thuyền chứ không động thủ.

Truy Phong kiếm pháp của Đường Hiểu Lan lanh lẹ lạ thường, thiếu niên áo trắng né tránh rất vất vả, lại thêm mặt thuyền không lớn, dù tránh trái né phải cũng bị chụp trong màn kiếm quang, Đường Hiểu Lan múa kiếm như gió, đánh liên tục mấy mươi nhát kiếm mà vẫn chẳng chạm được chàng thiếu niên áo trắng, trong lòng kinh hãi lắm. Chàng thiếu niên áo trắng cũng chỉ có thể né tránh chứ không dùng công phu tay không đoạt binh khí được, dù võ công tinh thâm cũng toát mồ hôi toàn thân! Đường Hiểu Lan liên tục đâm tới mà không trúng, trong lòng nôn nóng nên sử dụng tám đường kiếm pháp Truy phong trục điện, kiếm khí lạnh lẽo chuyên đâm vào hai mắt của đối thủ, chàng thiếu niên áo trắng quát: “Huynh đệ, ngươi không ngừng tay ta sẽ đắc tội với ngươi!” rồi chợt nghe tiếng vải rách, chàng thiếu niên xé tá áo phóng tới cuộn vào thanh kiếm của Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan thấy hổ khẩu tê rần, tựa như bị sắt thép đánh vào, thủ kình buông lỏng, cây kiếm đã bị đoạt mất, chợt keng một tiếng, chàng thiếu niên đã ném thanh kiếm của chàng vào khoang. Đường Hiểu Lan lộn người xuống thuyền, vung tay phóng ra một nắm phi mãng, chàng thiếu niên không ngờ rằng sau khi chàng mất kiếm mà vẫn ngoan cường như thế, chỉ hơi sơ ý, gót chân đã trúng hai mũi phi mãng! Chàng ta phóng về phía trước hai bước, đã ra đến mép thuyền, Đường Hiểu Lan bật người dậy đề phòng chàng ta ám toán!

Thiếu niên áo trắng không hề tiến tới tấn công, lạc giọng kêu lên: “Lão trượng, người tuyệt tình như thế sao?” lão ngư phu chợt quát: “Bạch Thái Quan, trên đường có lối ngươi không đi, địa ngục không cửa ngươi lại vào. Nếu ngươi không đi ta phải đuổi ngươi!” rồi cây Hổ Đầu đao cuộn lên một màn đao quang, Đường Hiểu Lan đứng một bên, đao phong quét tà áo bay phần phật, công lực của lão ngư phu này chẳng kém gì Quan Đông tứ hiệp. Bạch Thái Quan đã bị thương ở gót chân, né tránh không tiện, kêu lên: “Ngư muội, Ngư muội, suốt đời này chúng ta chẳng thể gặp được nhau nữa!” trong thuyền chợt vang lên một tiếng thét, nàng thiếu nữ đã đạp vỡ cửa thuyền, không màng đến lệnh cha nữa mà phóng vọt ra! Lão ngư phu vung ra một chiêu Ma Cô Bạt Vân, chợt chém ra, đây là một chiêu hai thức, ông ta muốn chặt chàng thiếu niên áo trắng thành hai đoạn trước khi con gái xông ra!

Sau khi chàng thiếu niên lên thuyền trải qua một trận ác đấu, dây thừng bước thuyền đã đứt, chiếc thuyền trôi theo dòng nước, đã rời bờ đến mấy mươi trượng. Khi lão ngư phu chém tới, trên mặt đất chợt nghe tiếng quát: “Hãy dứng tay!” lại là một chàng thiếu niên áo trắng đạp sóng lướt tới! Đường Hiểu Lan hoa cả mắt, thiếu niên áo trắng trên mặt nước đã vọt lên thuyền. Lão ngư phu chém tới một đao, chợt thấy cổ tay tê rần, cây Quỷ Đầu đao đã bị chàng thiếu niên này đoạt mất! Lão ngư phu tung hoành nửa đời, danh lừng giang hồ chưa từng gặp địch thủ, không ngờ chỉ trong một chiêu mà cũng chẳng biết chàng thiếu niên đã dùng thủ pháp gì đoạt mất đao của mình, thấy thế vừa kinh vừa giận nhưng không dám phát tác, lạnh lùng hỏi: “Hừ, Bạch Thái Quan, té ra ngươi còn nhờ đồng đảng, có phải ngươi muốn đến cướp con ta?”

Đường Hiểu Lan hơi trấn tĩnh, chàng thiếu niên đến sau mắt thanh mày tú, còn anh tuấn hơn cả chàng lúc nãy! Khi nhìn lại thì thấy trên mặt biển có mấy mảnh ván nhỏ mới biến chàng ta dùng khinh công tuyệt đỉnh Đăng bình độ thủy, chàng ta đã mượn lực của những tấm ván này đạp sóng lướt tới! Đường Hiểu Lan đã từng nghe người ta nói đến loại khinh công này nhưng đến giờ mới tận mắt thấy. Khi nhìn kỹ lại, Đường Hiểu Lan thấy chàng ta có vẻ hơi quen quen!

Lúc này chàng mới thong thả nói: “Lão trượng đợi tôi hỏi y rồi hẵng tính?” rồi quay sang chàng thiếu niên lúc nãy, nghiêm mặt hỏi: “Ngươi có phải là Bạch Thái Quan không? Là môn hạ của ai?” lúc này chàng mới hiên ngang trả lời: “Bạch Thái Quan đi không đổi danh ngồi không đổi tánh, là môn hạ của Độc tý thần ni, xếp hàng thứ năm trong Giang Nam bát hiệp, đa tạ huynh đài đã tương cứu, xin hỏi có gì chỉ giáo?” chàng thiếu niên áo trắng đến sau mới nhíu mày, lại nghiêm giọng nói: “Độc tý thần ni quản giáo đệ tử rất nghiêm khắc, thế mà ngươi nửa đêm lên thuyền đánh cá là có ý gì?” Bạch Thái Quan ngạo mạn nói: “Huynh đài đã ra tay tương cứu, tôi xin nhận ân tình, chỉ có điều ngoại trừ sư phụ và đồng môn của tôi, bất luận anh hùng phương nào cũng không thể đưa ra môn quy trấn áp tôi! Bạch Thái Quan này là hán tử đầu đội trời chân đạp đất, từ ngày xuất đạo chưa hề làm chuyện gì sai trái!” Đường Hiểu Lan nén không được hỏi: “Vậy chẳng phải ngươi đã gây mấy vụ án thái hoa sao?” “Cái gì? Thái hoa?” Bạch Thái Quan cười ha hả, chỉ nàng thiếu nữ, nói: “Ngươi cứ hỏi nàng! Nàng là vị hôn thê của ta!”

Nàng thiếu nữ đã ngừng khóc, khẽ nói: “Việc nhà chúng tôi dây dưa, kinh động đến các vị anh hùng, thật là bất an!” lão ngư phu đẩy nàng, nói: “Vào trong!” Chàng thiếu niên đến sau mới mỉm cười nói: “Té ra quả nhiên nàng là vị hôn thê của huynh đài, sao cha vợ với con rể lại đánh nhau thế?” lão ngư phu trừng mắt, Bạch Thái Quan cũng không nói, chàng thiếu niên áo trắng lại quay sang Bạch Thái Quan nói: “Tôi nghe đồ đệ của Độc tý thần ni trước khi nghệ thành xuất sư, phải quỳ trước bàn thờ đọc kỹ môn quy, xin hỏi Bạch huynh điều thứ tám trong môn quy nói gì?” Bạch Thái Quan chưng hửng, điều thứ tám chính là: “Sau khi thành danh, không được ngạo mạn!” thầm nhủ: “Sao thiếu niên này lại biết môn quy của sư phụ mình. Chả lẽ y là đồng môn của mình. Nhưng từ ngày mình xuất sư, nghe sư phụ chỉ thu được một nữ đệ tử là cháu gái của danh nho đất Triết Đông Lữ Lưu Lương tên gọi Lữ Oanh, tiểu tự là Tứ Nương, mấy năm nay cũng lừng danh trên giang hồ, có điều mình vẫn chưa gặp. Còn sáu đồng môn kia mình đều biết rõ nhưng không có y! Chả lẽ y có liên quan gì đến sư phụ? Hay là y là tâm phúc của vị tiền bối nào đó, vả lại rất quen thân với sư phụ của mình?”

Trước Lữ Tứ Nương, Độc tý thần ni thu được bảy đồ đệ, người đứng đầu là Liễu Ân hòa thượng, tiếp theo là Châu Tầm, Lộ Dân Đảm, Tào Nhân Phụ, Bạch Thái Quan, Lý Nguyên, Cam Phụng Trì. Khi Lữ Tứ Nương nhập môn. Chỉ có Cam Phụng Trì là biết Lữ Tứ Nương. Lữ Tứ Nương nhập môn được ba năm, Cam Phụng Trì mới xuát sư, cùng với bọn Liễu Ân được gọi là Giang Nam thất hiệp, trong thất hiệp Liễu Ân võ công cao nhất, danh tiếng của Cam Phụng Trì lẫy lừng nhất, võ công của Bạch Thái Quan chỉ kém Liễu Ân và Cam Phụng Trì, cũng nổi danh trong thất hiệp. Từ ngày xông pha đất Giang Nam chưa bao giờ gặp đối thủ, chàng ta lại phong lưu nho nhã, nay bị chàng thiếu niên kia hỏi một câu, lại thấy võ công của chàng ta hơn cả mình, bất giác nhụt chí, thế rồi mới nghiêm mặt nói: “Dám hỏi cao tính đại danh của huynh đài?” chàng thiếu niên mới cười nói: “Tôi chẳng phải là hán tử đầu đội trời chân đạp đất gì cả. Tôi họ Lý tên gọi Song Song”. Đường Hiểu Lan đứng một bên nghe hai người đối đáp, song lại cảm thấy giọng nói của chàng thiếu niên này rấtg quen tai, hình như đã nghe ở đâu đó! Đến khi nghe chàng ta báo tên thì rất giống phụ nữ, thế rồi mới giật mình thầm nhủ: “Chả lẽ y là Lữ Tứ Nương cải trang? Nhưng chàng thiếu niên này trông rất hiên ngang”. Bất giác thầm cười mình vì quá nhớ nhung nàng ta nên mới đoán bừa.

Bạch Thái Quan và lão ngư phu cũng hửng, họ chưa bao giờ nghe cái tên Lý Song Song. Lý Song Song lại nói: “Theo lẽ đây là chuyện nhà của hai bên, người ngoài không tiện xen vào. Nhưng lúc nãy cứ liều mạng như thế, nếu không cẩn thận há chẳng phải hại đến hai vị anh hùng? Huống chi lại là cha vợ với con rể!” Bạch Thái Quan chỉ Đường Hiểu Lan, cười nói: “Chính vị tiểu ca này giữa đường thấy bất bằng chẳng tha, tôi đâu có động thủ”. Chàng ta không hề ám chỉ ai cả nhưng lão ngư phu nghe thế thì ho một tiếng nói: “Cha con chúng tôi và Bạch anh hùng có chút xích mích, nếu Lý huynh đã khuyên bảo, xin mời ngày mai đến nhà tôi uống rượu trò chuyện!” Lý Song Song nói: “Không dám, xin hỏi lão tiền bối sống ở đâu?” lão ngư phu ngạo mạn cười: “Chính là ở đảo Điền Hoành!”

Lý Song Song chợt thất kinh, nói: “Dám hỏi lão anh hùng họ gì?” lão ngư phu nói: “Tôi mưu sinh bằng nghề đánh cá, đã quên tên họ từ lâu!” Bạch Thái Quan nói: “Nhạc trượng của tôi chính là Ngư Xác đại vương danh lừng giang hồ!” Lý Song Song vội nói: “Ngưỡng mộ đã lâu! Ngư lão đã mới, tại hạ nào dám thất kính?” Đường Hiểu Lan cũng không biết Như Hồ là ai. Lão ngư phu lại cười nói với Đường Hiểu Lan: “Ta cũng mời vị tiểu ca này. Ta già đến nỗi lẩm cẩm, chưa hỏi họ tên của ngươi!” Đường Hiểu Lan báo họ tên, nói: “Sư phụ của tôi là Thiết chưởng thần đạn Dương Trọng Anh”. Lý Song Song ồ một tiếng, Ngư Xác lạnh lùng nói: “Dương anh hùng đâu có được kiếm pháp giỏi thế này”. Đường Hiểu Lan không biết đáp thế nào, Lý Song Song lại nói: “Truy Phong kiếm pháp truyền đến Trung Nguyên cũng là điều may mắn lắm!” Bạch Thái Quan nói: “Té ra là kiếm pháp của phái Thiên Sơn, chả trách nào hiểm hóc như thế, nếu Đường huynh đệ có thêm hai năm công phu nữa, e rằng ta đã bị thương!” Đường Hiểu Lan nóng ran mặt, Bạch Thái Quan nắm tay chàng cười ha hả.

Lý Song Song nói: “Thời gian không còn sớm nữa, chúng ta đi thôi!” Bạch Thái Quan nói: “Để tôi tiễn huynh một đoạn!” Đường Hiểu Lan cũng cáo từ, Ngư Xác cung tay nói với Lý Song Song: “Đêm mai sẽ gặp lại. Thái Quan ngươi đêm nay cũng phải suy nghĩ rồi quyết định”. Sau khi lên bờ, Bạch Thái Quan chợt nói: “Lý huynh đệ, Đường huynh đệ, tôi thấy tối mai hai người không nên đến thì hơn!” Lý Song Song nói: “Tại sao? Có phải Bạch huynh đệ không muốn chúng tôi nhúng tay vào việc riêng không?” Bạch Thái Quan vội nói: “Không phải chuyện này, e rằng nhạc trượng tôi không có ý tốt, Lý huynh vừa gặp đã hiểu lầm tôi, Đường huynh vừa gặp cũng như bạn, tôi phải nói rõ cho hai người hiểu. Nào, chúng ta tìm một nơi trò chuyện”. Thế rồi hai người ngồi xuống bờ biển, chàng ta chợt thở dài nói: “Tình nghiệt dây dưa, chẳng thể tự cởi, nói ra thật đáng buồn cười”. Ngập ngừng rồi nói tiếp: “Hai vị có biết nhạc phụ của tôi là người thế nào không?” Lý Song Song nói: “Là đại đạo ngang dọc trên biển khơi, ngũ hồ tứ hải đều có vây đảng của ông ta!” Bạch Thái Quan gật đầu, thế rồi mới kể ra một câu chuyện.Ba năm trước, Bạch Thái Quan chế phục Hoàng Hà ngũ bá, uy danh lừng lẫy, một ngày nọ đến Thái Hồ, chợt thấy con gái của Ngư Xác, vừa gặp đã đem lòng thương mến. Bạch Thái Quan võ công vừa cao lại tuấn tú. Mấy năm qua không ít người muốn mai mối cho chàng nhưng chàng chẳng hề màng tới, từ ngày gặp con gái của Ngư Xác, dây tình đã trói chẳng thể nào cởi nổi. Nói đến đây, Đường Hiểu Lan tò mò hỏi: “Vậy khi Bạch huynh gặp nàng, chắc chắn có một đoạn kỳ ngộ, nếu không chỉ với vẻ đẹp bên ngoài thì làm sao khiến cho Bạch huynh đem lòng thương yêu”. Bạch Thái Quan cười nói: “Đường huynh đệ tuổi tuy nhỏ nhưng cũng rành rẽ chuyện tình nam nữ, chắc là người cũng có kinh nghiệm. Nói ra cũng chẳng phải kỳ ngộ gì cả, sau khi ta đánh bại Hoàng Hà ngũ bá, lại không biết họ là thuộc hạ của Ngư Xác, càng không để ý Thái Hồ chính là sào huyệt thứ hai của Ngư Xác, Ngư Xác sai người bắt tôi, sau khi kịch chiến, tôi đánh bị thương bọn cao thủ của y, bản thân cũng bị trọng thương, đang lúc nguy cấp, con gái của Ngư Xác xuất hiện, bảo bọn chúng ngừng lại tôi mới thoát. Sau đó nghe đồn rằng, nàng không đồng ý những điều cha mình đã làm nên mới cứu tôi”. Chàng ta kể xong, thở dài đánh sượt một tiếng.

Đường Hiểu Lan nghe mà xuất thần, cũng kêu ồ một tiếng. Lý Song Song cười nói: “Hình như Đường huynh có tâm sự!” lời nói của chàng ta nghe rất dịu dàng, Đường Hiểu Lan xao xuyến trong lòng, giọng nói này nghe thật giống Lữ Tứ Nương, chả lẽ chàng là huynh đệ của Lữ Tứ Nương. Thấy hai người chú ý nhìn mình, Đường Hiểu Lan gượng cười: “Lý huynh đường lên tiếng nữa, xin mời Bạch huynh để tiếp”.

Bạch Thái Quan nói: “Việc đó trôi qua, tôi nghĩ Ngư Xác là đại đạo trên biển, đã từng cướp không ít khách thương, nhưng biết chịu thay tà đổi chính sẽ có ích đối với việc phục quốc. Hơn nữa là đại đạo đâu hẳn giết người. Ông ta cũng không phải là kẻ hung tợn, trên giang hồ còn có danh hiệp đạo. Bởi vậy tôi một mình đến Thái Hồ, nói rõ ý định muốn cưới con gái của ông ta. Ông ta thấy tôi lớn gan thì rất bất ngờ, thế là mời tôi tỉ võ, tỉ thí cả nửa ngày mà đôi bên vẫn ngang tài ngang sức. Ông ta hỏi con gái của mình, nàng cũng chấp nhận. Thế rồi mối hôn sự ấy đã định!” Lý Song Song nói: “Nàng thiếu nữ ấy cũng không tệ!” Bạch Thái Quan nói: “Ai bảo nàng tệ? Kẻ tệ là nhạc phụ của tôi. Ông ta làm hải đạo thì thôi, không ngờ lại nhận lời Tứ bối lạc, giúp y lên ngôi, sau khi việc xong sẽ cắt Sơn Đông cho ông ta, để ông ta xưng vương trên biển, lại làm tổng đốc Sơn Đông, chỉ cần triều kiến chứ không nạp thuế. Nhạc phụ của tôi ham mê công danh lợi lộc, thế là chấp nhận. Tôi đã nhiều lần khuyên mà không nghe, cuối cùng đã tuyệt giao, cắt tình nhạc tế! Ngư Nương thương yêu tôi thắm thiết, nhờ người chuyển lời với tôi rằng nếu cha không chịu, nàng sẽ ở giá suốt đời. Bởi vậy tôi mới không quản đường xa định đến đảo Điền Hoành lý luận với nhạc phụ, không ngờ đã gặp trước ở đây”. Bạch Thái Quan không hay rằng, Ngư Xác đã biết chuyện chàng ta đến, định rằng lại đến đảo Điền Hoành lại ép buộc chàng nghe theo mình, Ngư Nương biết tính cách của Bạch Thái Quan, nàng ngờ rằng Ngư Xác không chịu thả chàng ta, dù lúc đó nàng ra mặt cũng cứu không được nên mới kiên quyết đòi chặn chàng ta lại ngay từ ban đầu.

Lý Song Song nghe Bạch Thái Quan kể xong mới bảo rằng: “Sen trắng gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Tôi thích lo chuyện bao đồng, nếu vị hôn thê của huynh đã làm thế, tôi nhất định sẽ giúp huynh. Tối ngày mai tôi phải đi cho bằng được!” Bạch Thái Quan trầm ngâm một hồi, Lý Song Song chợt nói: “Vả lại Giang Nam bát hiệp đâu phải là hạng co đầu rút cổ!” Bạch Thái Quan ngạc nhiên nhìn chàng ta, Lý Song Song lại cười: “Tôi muốn nói huynh, tôi là bằng hữu của Giang Nam bát hiệp, đâu phải là kẻ kém cỏi!” Bạch Thái Quan tựa như nhớ ra chuyện gì, chợt hỏi: “Võ công của nhạc phụ tôi rất ghê gớm, lúc nãy Lý huynh vừa đánh một chiêu mà đã đoạt được cây đao của ông ta, đúng là thần kỷ kinh người. Không biết Lý huynh sử dụng cao chiêu của phái nào, có thể nói chúng tôi mở rộng tầm mắt hay không?” Lý Song Song nói: “Bạch huynh, huynh cũng đã học qua, cần gì hỏi tôi?” Bạch Thái Quan càng kinh ngạc, đang định nói: “Lý huynh chỉ cười tôi”. Lý Song Song đã nói: “Loại công phu Tay không đoạt binh khí này, chẳng phải huynh đã học nhuần nhuyễn rồi sao? Chiêu thứ ba mươi sáu mà huynh học là gì?” Bạch Thái Quan nói: “Tinh hải phù sai!” Lý Song Song nói: “Chính thế! Nhưng tôi dùng hơi nhanh, lại bất ngờ nên mới đánh một đòn đã thành công!” Bạch Thái Quan kêu lên: “Lý huynh, làm sao huynh biết bí mật võ công của phái tôi?” Lý Song Song mỉm cười: “Tôi đã từng thấy người của quý phái dùng”. Bạch Thái Quan thầm nhủ: “Trong số các đồng môn chỉ có mình Liễu Ân sư huynh biết võ công này, mà thủ pháp của Liễu Ân sư huynh cũng chưa chắc nhanh như thế. Nếu y học lén, dẫu thế nào cũng chẳng có được thành tựu như thế”. Chàng ta cố nghĩ mãi mà chẳng ra. Đường Hiểu Lan lại không biết Bạch Thái Quan tại sao đột nhiên hỏi chiêu số của chàng ta.

Vầng trăng mới treo trên giữa trời, Lý Song Song nói: “Hoàng hôn chiều mai chúng ta sẽ gặp lại ở đây!” ba người chia tay nhau, Đường Hiểu Lan đi được mấy bước lại quay đầu, Lý Song Song chợt cười: “Kiếm thuật của Đường huynh đã tiến bộ lắm! Chắc lên đảo Điền Hoành chẳng lo gì!” Đường Hiểu Lan kinh ngạc quay người, chỉ còn nghe tiếng cười của Lý Song Song vọng lại!

Đường Hiểu Lan trở về khách sạn, đèn đuốc trong khách sạn sáng trưng, tên điếm tiểu nhị và trưởng quầy vẫn ngồi chờ chàng trở về. Đường Hiểu Lan ngạc nhiên, chỉ thấy tên trưởng quầy cung kính đứng dậy nói: “Chúng tôi không biết ngài là bằng hữu của Ngư Xác đại vương, đã tiếp đón chậm trễ, mong ngài đừng giận”. Rồi đưa một tấm bái thiếp, té ra đó là Ngư Xác sai người đem đến. Đường Hiểu Lan thầm kinh hãi: “Vây đảng của tên Ngư Xác đại vương này quả nhiên đông đảo, thần thông quảng đại, chỉ trong chốc lát mà y đã sai người tìm được tích của mình”. Thế rồi không dám nói nhiều, cầm tấm thiệp vào phòng nghỉ ngơi. Hai ngày nay chuyện lạ xảy ra liên tục, Đường Hiểu Lan trằn trọc mãi mới dỗ được giấc ngủ.

Hoàng hôn hôm sau, Đường Hiểu Lan ra bờ biển, Bạch Thái Quan và Lý Song Song đã đợi ở đấy, Đường Hiểu Lan nói: “Hai vị huynh đài đến thật sớm!” Lý Song Song cười rằng: “Ngư Xác đại vương đã chờ chúng ta từ lâu!” rồi chàng chúm môi huýt một tiếng sáo, giữa biển có một con thuyền lớn rẽ sóng lướt tới, trên thuyền có mấy đại hán mắt to mày rậm cúi người chờ đợi, Đường Hiểu Lan biết đó là thuyền cướp của Ngư Xác đại vương, thế là cùng hai người Bạch, Lý lên thuyền đi thẳng đến đảo Điền Hoành.

Ở Hoàng Hải có nhiều hòn đảo nhỏ, trừ đảo Điền Hoành, còn có đảo Linh Sơn, đảo Dương Oai, đảo Vệ Sơn... Đảo lớn hòn nhỏ tinh kỳ phất phới. Ở Thanh Đảo còn có hòn Lao Sơn, đây là hòn núi nằm ven biển, một bên là biển, một bên là núi, vách đá dựng đứng như bình phong, trông rất hùng vĩ! Bọn Đường Hiểu Lan đi được hơn một canh giờ, người trên thuyền chỉ hòn hải đảo nói: “Đó chính là đảo Điền Hoành!” ba người lên bờ, núi non trên đảo dựng đứng hùng vĩ, ở phía xa có tòa lầu cao khép chặt cửa, hai bên tường đỏ cao cả trượng dài dằng dặc, bên trong bức tường cây cối xum xuê, Lý Song Song cười nói: “Lệnh nhạc khai phá nơi này quả thật đã mất nhiều tâm cơ! Tại hạ không ngờ có khí thế hùng vĩ như thế!” Bạch Thái Quan cười khổ một tiếng rồi theo người dẫn đường bước vào, bên trong lại là một khoảng trời đất khác, khắp nơi đều là kỳ hoa dị thảo, nổi bật nhất là loại hoa sơn trà đỏ như máu, trong đêm mà cũng thấy chói mắt. Ba người bước vào cổng, một đại hán phất cờ nói: “Đại vương mời ba vị đến Thiên Trượng Nham gặp gỡ!”

Bạch Thái Quan nói: “Phiền Hương chủ dẫn đường”. Người ấy phất lệnh kỳ, phóng thẳng tới phía trước, bọn Lý Song Song đi sát theo sau, bốn người đều có võ công hạng nhất đẳng, sau một hồi rẽ trái lách phải, trong chốc lát đã đi vào u cốc xum xuê cây cối, nhìn từ xa cổ cao lên quá đầu gối, quái thạch lô nhô, Lý Song Song chợt thối lui một bước, khẽ nói bên tai Đường Hiểu Lan: “Đi sát theo tôi!” Đường Hiểu Lan không hiểu, chợt nghe người phía trước nói: “Đường lên núi rất khó đi, mong các vị để ý cho!” rồi phóng vọt người lên trên dốc. Đường Hiểu Lan ngẩng đầu lên nhìn, chỉ thấy trên dốc toàn là gai góc, chàng thầm nhủ: “Nếu dùng Du Long kiếm mở đường còn có thể lên, làm sao có thể dùng khinh công vọt qua đám gai góc ấy”. Người dẫn đường phía trước vẫn sải bước tựa như chẳng hề có chuyện gì, chàng đang chần chừ, Lý Song Song đã vươn tay kẹp một cái đẩy tới, Đường Hiểu Lan thấy người mình nhẹ hẫng, tà áo của Lý Song Song kêu lên phần phật, chàng ta bay một mạch qua mảng gai góc, Đường Hiểu Lan cũng như cỡi mây đạp gió, chỉ cảm thấy tay mình chạm phải vật gì mềm mại, thế là rụt lại theo bản năng, lúc này Lý Song Song đã đưa chàng lên trên sườn núi. Ở đó lại có một con đường nhỏ hẹp dẫn thẳng xuống chân núi. Người dẫn đường không đi bằng con đường này, rõ ràng có ý muốn thử công phu của mình, nếu chẳng nhờ Lý Song Song giúp đỡ, chàng đã bị bẽ mặt. Người ấy vừa mới đứng vững chân, quay đầu lại nhìn thấy bọn Đường Hiểu Lan đã lặng lẽ đứng sau lưng mình, y mỉm cười nói: “Các vị có công phu thật giỏi!” rồi phất ống tay áo lên thẳng trên núi.

Ba người cứ bước theo, con đường núi quanh co trắc trở, đi một hồi đã lên đến đỉnh, trên đỉnh núi có cây tùng cổ to lớn che kín cả một khoảng rộng lớn, tiếng chim hót véo von. Đi một hồi, họ lại thấy một vách núi dựng đứng lên đến hai ba mươi trượng, từ phía dưới lên tới đỉnh bằng phẳng như gọt, chẳng có chỗ mượn lực leo lên. Lý Song Song thầm kêu: “Khổ đây! Vách núi như thế này, mình và Bạch Thái Quan còn có thể lên, làm sao có thể mang theo một người”. Người dẫn đường phía trước đi quanh một vòng, chợt thấy trên vách đá đối diện có cây cổ tùng ngàn năm cành lá xum xuê, dây leo bám trên cây tùng đung đưa theo gió. Người dẫn đường nói: “Chúng ta đã đến Thiên Trượng nham!” rồi lấy ra một sợi dây mềm, trên đầu sợi dây có buộc một cái móc sắt, y ném về phía trước, chiếc móc bám vào cây cổ tùng, rồi phóng vọt người bay lên cây tùng. Té ra khinh công của người ấy tuy cao nhưng cũng chưa đến mức lư hỏa thuần thanh nên đã chuẩn bị dây thừng. Lý Song Song mỉm cười, chỉ những sợi dây leo trên cây cổ tùng nói: “Có những dây leo này, chúng ta không cần lo!” Bạch Thái Quan phóng vọt người lên, tóm được một sợi dây, đu người lên trên cây tùng! Lý Song Song nói: “Đường huynh đệ, chuẩn bị đấy nhé!” rồi hai tay phân ra, hai chân điểm xuống đất phóng vọt người lên tóm lấy sợi dây rồi đột nhiên chàng ta đảo người chúc đầu xuống. Đường Hiểu Lan kêu hoảng, lúc này Lý Song Song đã kẹp hai chân vào sợi dây thừng, hai tay buông xuống, nói: “Lên!” Đường Hiểu Lan còn đang kinh hãi, chợt chàng hiểu ra! Khinh công của Lý Song Song cực kỳ giỏi, tư thế của đẹp đẽ lạ thường. Đường Hiểu Lan chợt nhớ lại khi gặp Lữ Tứ Nương ở Mang Sơn, nàng ta đã từng thi triển khinh công với Liễu Tiên Khai, đã cõng mình leo lên sườn núi, nay nhìn lại Lý Song Song cũng làm y như thế! Thế rồi chàng phóng vọt người lên, nắm lấy bàn tay mềm mại của Lý Song Song phóng lên vách núi.

Người dẫn đường thấy họ không dùng dây thừng mà phóng lên vách núi, trong lòng đã khâm phục, chẳng cố ý làm khó nữa mà dắt họ đi theo một con đường nhỏ lên tiếp phía trên.

Phong cảnh trên núi khác hẳn phía dưới, ba người lên đến Thiên Trượng nham, chợt cảm thấy tâm hồn thơ thới, bên trên cây cối xum xuê, đưa mắt nhìn ra xa thấy Hoàng Hải, biển rộng trời cao, thuyền buồm thấp thoáng. Lý Song Song nói: “Không ngờ nơi đây còn đẹp hơn cả Nhạn Thang Thiên đài”. Nhạn Thang Thiên Đài là hai ngọn danh sơn ở Trung Hoa, Bạch Thái Quan cười nói: “Nhạn Thang Thiên Đài cao đến trọc trời, hùng vĩ tú lệ. Ngọn núi này tuy cao nhưng phía xa xa là biển cả, bởi vậy mất vẻ hùng vĩ. Nếu nói một cách sinh động, Nhạn Thang Thiên Đài là danh tướng, trong lòng có thể chứa trăm vạn hùng binh, ngọn núi này thì như giang hồ hào khách, tuy hùng tâm vạn trượng nhưng rốt cuộc vẫn không lớn”. Lý Song Song biết chàng ta mượn núi chỉ người, ý muốn nói đến Ngư Xác, chỉ chứ không nói còn người đi đường thì biến sắc.

Bọn họ lại đi được nửa dặm, chợt phía trước có một tòa lầu cao, tường đỏ cao cao, bày đầy tật lê, ở giữa có một tòa môn lâu sáng ngời, dưới môn lâu có hai cánh cửa sắt lớn, xung quanh có hàng trăm võ sĩ đao kiếm tuốt ra sáng trưng, ba người chẳng hề sợ hãi, cứ hiên ngang đi thẳng qua rừng đao kiếm ấy bước vào một con đường dài, đi một lát đã vào vườn hoa, trong vườn bài trí rất khéo léo, nào là hòn non bộ, đình đài lầu tạ, lại còn có cả hồ nước khắp nơi trong vườn đều có hoa sơn trà. Đường Hiểu Lan thầm nhủ Ngư Xác đại vương quả nhiên biết hưởng thụ, có thể xây được một tòa nhà rộng lớn như thế này, quả thật không biết phải tốn bao nhiêu nhân lực vật lực!

Người dẫn đường vạch rèm, cao giọng kêu: “Quý khách đến!” Ngư Xác đại vương bên trong lên tiếng: “Mời khách vào ngồi!” lúc này vầng trăng đã lên cao quá đỉnh đầu, bên trong chợt một ả nô tỳ tóc dài tay cầm đèn bước ra đón khách!

Ba người vào trong sảnh, chỉ chợt thấy mắt như muốn hoa lên, bên trong toàn là kỳ trân dị bảo, món nào cũng có giá trị liên thành, dù là khảm trải dưới nền hay màn cửa sổ cũng đều đính châu ngọc, bên trong sảnh đã bày sẵn mấy bàn rượu.

Ngư Xác đại vương cười ha hả, đứng dậy nói: “Ba vị anh hùng quả nhiên không lỡ hẹn, bên trong có vài bằng hữu trên giang hồ, xin mời mọi người gặp mặt luôn thể!” Đường Hiểu Lan nhìn Ngư Xác đại vương, lúc này ông ta khác hẳn đêm trước, trên người khoác bộ áo bào bằng gấm có đính mảnh châu, đầu đội mũ thiên bình, trông giống với một bậc vương giả, đâu còn hình bóng của một lão ngư phu đêm qua? Trong sảnh có mấy chục người đang ngồi, thấy Bạch Thái Quan bước vào thì đứng dậy kêu lớn: “Người trong Giang Nam bát hiệp không ngại đường xa đến đây. May mắn, may mắn!” Đường Hiểu Lan đưa mắt nhìn, không khỏi thất sắc!Trong số khách khứa có hai ông già gầy ốm mặt mũi vàng ệch, mặc bộ đồ bằng vải vàng, sắc mặt chẳng hề có tình cảm, đó chính là Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích và Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô!

Tát Thiên Thích thấy Đường Hiểu Lan bước vào, chợt trợn mắt vươn tay tóm tới, miệng quát: “Tên phản đồ nhà ngươi còn dám gặp ta!” Bạch Thái Quan giơ tay gạt lại, Lý Song Song chợt nói: “Móng tay có độc!” Bạch Thái Quan biến chưởng thành trảo, hai ngón móc vào cổ tay của Tát Thiên Thích, Tát Thiên Thích vận chưởng đẩy ra, hai người thối lui mấy bước! Cổ tay của Tát Thiên Thích đau nhói tựa như chạm vào lửa, Bạch Thái Quan cũng thấy tức ngực tựa như bị búa sắt giáng vào, hai người chỉ mới đổi nhau một chiêu thì biết đối phương là cao thủ thuộc hàng nhất đẳng trong võ lâm. Ngư Xác đại vương trường mắt nói: “Sao? Tên tiểu tử này là đồ đệ của ông?” Đường Hiểu Lan lên tiếng: “Tôi không phải là đồ đệ của lão ma đầu, sư phụ của tôi là Châu Thanh và Thiết chưởng thần đạn Dương Trọng Anh!” Ngư Xác đại vương kều ồ một tiếng, gằng giọng nói: “Có lời gì lát nữa hẳn tính, tất cả mọi xích mích đều được giải quyết”. Thần Ma song lão vừa thấy có người của Giang Nam bát hiệp, lại nghe Ngư Xác đại vương nói như thế cũng không dám làm càn!

Mọi người ngồi vào chỗ, Ngư Xác đại vương mời ba người ngồi lên ghế đầu, ở ghế đầu có hai chỗ trống, Ngư Xác ngồi ở giữa, Thần Ma song lão cũng ngồi xuống, ngoài ra còn có bốn người ngồi cùng, Ngư Xác đại vương giới thiệu: “Bên phải là Lăng Vân đảo chủ Vệ Dương Oai, người kia là Hải Vân hòa thượng núi Ngũ Chỉ! Hai người bên trái, một người là Thái Hồ trại chủ Mạnh Võ Công, một người là Thiên Diệp Tản Nhân ở biển Tinh Tú!” tiếp theo là giới thiệu Thần Ma song lão và bọn ba người Bạch Thái Quan. Bạch Thái Quan và Đường Hiểu Lan vừa nghe đã thất kinh, hai người này đều là nhân vật lừng lẫy trong võ lâm. Lăng Vân đảo chủ Vệ Dương Oai tinh thông thủy tính, công phu dưới nước có một không hai trên đời! Hải Vân hòa thượng là kiếm sư danh lừng miền Nam Cương, ẩn cư ở núi Ngũ Chỉ trên biển Nam Hải, hơn hai mươi năm qua chưa từng đến Trung thổ. Hỏa vân động chủ Long Mộc Công kẻ đã giết Châu Thanh là đồ đệ của lão ta. Thái Hồ trại chủ Mạnh Võ Công là phó thủ của Ngư Xác, có sở trường Thiết Sa chưởng, đôi Nga Mi thích là loại binh khí ngoại môn sử dụng dưới nước và trên bờ, võ nghệ chẳng khác gì Ngư Xác, Thiên Diệp Tản Nhân ở biển Tinh Tú thì không ai biết lai lịch của y, nhưng nhìn lão tóc đã bạc mà mặt vẫn còn trẻ trung hồng hào, vừa nhìn đã biết là người có nội công thâm hậu. Đường Hiểu Lan thầm nhủ: “Cao thủ võ lâm thuộc hàng nhất đẳng đều tề tụ ở đây, dù Lý Song Song và Bạch Thái Quan cao cường đến mức nào cũng không chống trả nổi”. Khi nhìn lại hai người Bạch, Lý, chỉ thấy Bạch Thái Quan mặt chỉ hơi biến sắc còn Lý Song Song vẫn thản nhiên cười nói như thường!

Thiên Diệp Tản Nhân ngồi xuống, nhìn vào ghế đầu, lạnh lùng hỏi: “Sao đến giờ vẫn chưa thấy khách chính tới?” Thiên Diệp Tản Nhân võ công trác tuyệt, lần đầu đến Trung Nguyên, tưởng rằng y là khách chính, nào ngờ chủ nhân lại không mời y, trong lòng thấy không vui!

Ngư Xác đại vương mời mọi người ngồi vào chỗ, các Trại chủ lớn nhỏ khác và khách khứa cũng chia nhau ngồi hai bên, Ngư Xác đứng dậy nói: “Xin mời Cáp tổng quản!” Bạch Thái Quan thấy ghế đầu còn trống, chàng ta cũng không vui, thầm nhủ: “Té ra chỗ đó không phải giành cho mình mà còn có khách chính khác, không biết là nhân vật thế nào?”

Ngư Xác đại vương vừa lên tiếng, tiếng nhạc bên ngoài vang lên, trong chốc lát một đám nữ tỳ xinh đẹp đưa một hán tử cao lớn tuổi khoảng bốn mươi vạch rèm tiến vào. Người này ăn mặc theo kiểu người Hồi, ở bên eo có đeo hai trái cầu, y đưa mắt nhìn xung quanh rồi bước lên ghế đầu, Thần Ma song lão đứng dậy trước, bọn Mạnh Võ Công và Vệ Dương Oai cũng đứng dậy theo. Chỉ có Thiên Diệp Tản Nhân và Hải Vân hòa thượng chỉ hơi khom mình làm lễ. Đường Hiểu Lan vừa nhìn thấy người ấy thì thất kinh, khẽ nói với Lý Song Song: “Tôi nhận ra người này”. Lý Song Song và Bạch Thái Quan đều ngạc nhiên, thấy bước đi của người ấy mạnh mẽ, ánh mắt sáng quắc, võ công chắc chắn rất thâm hậu, nhưng luận về vai vế chắc là kém hơn Thần Ma song lão, không biết sao lại được ngồi ở ghế đầu. Thấy Đường Hiểu Lan biết lai lịch của y nên vội vàng hỏi. Đường Hiểu Lan nói: “Y là nô bộc của một bằng hữu mới quen!” Bạch Thái Quan hơi nhíu mày, lấy làm bực bội vì Đường Hiểu Lan nói đùa ngay lúc này. Không ngờ kẻ ấy vừa mới bước lên ngồi đã đứng dậy, đưa tay về phía Đường Hiểu Lan nói: “Đường huynh đến đây dự yến, may mắn, may mắn!” Đường Hiểu Lan cũng cười hòi: “Vương công tử có khỏe không?” người ấy cung kính đáp: “Khỏe! Đa tạ đã quan tâm”. Điều này không những khiến Bạch Thái Quan và Lý Song Song bất ngờ mà ngay cả Ngư Xác đại vương cùng tất cả các võ lâm cao thủ đều thầm lấy làm lạ! Thần Ma song lão mặt chợt biến sắc!

Ngư Xác đại vương đích thân rót một chén rượu, trịnh trọng nói: “Đây là đệ nhất cao thủ ở kinh sư tên gọi Cáp Bố Đà, Cáp tổng quản!” Lý Song Song và Bạch Thái Quan tuy không biết lai lịch của người này nhưng cũng buột lên tiếng: “Ngưỡng mộ từ lâu!” Cáp Bố Đà ngồi xuống, hỏi: “Hình như còn một người vẫn chưa tới?” Ngư Xác đại vương nói: “Bảo quốc thiền sư hơi trễ một lát, chúng ta cứ bắt đầu trước!” Bạch Thái Quan lại ngạc nhiên, bởi vì chàng ta chưa bao giờ nghe tên Bảo quốc thiền sư.

Rượu được ba tuần, tiếng nhạc bên ngoài lại vang lên, Cáp Bố Đà bưng bình rượu, rót rượu cho Ngư Xác, nghiêm mặt nói: “Xin chúc mừng đại vương!” tiếng hoan hô dậy lên như sấm động. Ngư Xác đại vương mặt mày rạng rỡ, thong thả nói: “Huynh đệ tài hèn đức mọn, được các vị giúp đỡ dựng nên cơ nghiệp này, lại được Tứ hoàng gia thương mến, cho phép xưng vương ở ngoài biển. Hôm nay khai phủ, mở tiệc mời cao hiền, ngày sau có chuyện lớn cần các vị giúp đỡ, mong được chỉ giáo!” Bạch Thái Quan tức giận, thầm nhủ: “Té ra ông ta không đợi Tứ bối lạc lên ngôi đã ăn mừng trước”. Thế rồi đứng dậy buột miệng nói: “Nhạc phụ đại nhân, tiểu tế có một việc muốn hỏi!” lời nói của chàng như sấm dậy, quần hào đều thất kinh! Ngư Xác đại vương lạnh lùng nói: “Bạch anh hùng, việc hôn sự đã tạm gác lại, có cao kiến gì xin chỉ giáo trước!” Bạch Thái Quan đang định lên tiếng, bên ngoài lại có tiếng ồn ào, Ngư Xác đại vương quát: “Có việc gì?” bọn thủ hạ bẩm báo: “Có một mụ ăn mày đột nhiên xông vào, mụ ta cũng đòi dự yến của đại vương!” Ngư Xác quát: “Cho bà ta vào!” rèm vạch lên, một bà già ăn mày bước vào, mái tóc óng ả như bà thiếu nữ nhưng khuôn mặt lại đầy vết chân chim, bước chân loạng choạng. Đường Hiểu Lan thấy thế thì vừa kinh vừa mừng, đây chính là bà già mà chàng đã gặp ở Vọng Hải lâu, có lẽ cây bảo kiếm Du Long của mình đã bị bà ta lấy đi rồi trả lại. Giờ đâu bà ta một mình đến nơi này, không biết là có dụng ý gì!

Ngư Xác đại vương ngang dọc nửa đời, kết giao với không biết bao nhiêu kỳ nhân dị sĩ, nhưng thấy bộ dạng của bà ta cũng không khỏi lấy làm lạ. Cáp Bố Đà đã nhận ra đó chính là bà già hôm trước, trong lòng đã thầm giới bị. Ngư Xác thầm nhủ: “Tóc tai của con người có liên quan đến khí huyết, người già cả tóc không rụng cũng bạc. Nếu biết thuật dưỡng sinh có thể giữ cho tóc đen mặt hồng hào, nhưng bà già này mặt đầy vết nhăn mà tóc óng ả như thiếu nữ thật là lạ kỳ. Vả lại ở nơi này phòng thủ nghiêm ngặt, mụ ta đột nhiên đến đây mà chẳng ai phát hiện, nếu không phải có võ nghệ kinh người chẳng thể làm nổi”. Ngư Xác đại vương hơi trầm ngâm, vội vàng bước ra nghênh tiếp! Bà già cười ha hả: “Ngư Xác đại vương quả nhiên rộng lượng, không trách lỗi mà còn mời tôi uống rượu. Hôm nay tôi leo lên ngọn núi này chẳng phí công”. Thế rồi giằng mạnh cây gậy xuống đất nghênh ngang bước tới ghế đầu.

Ngư Xác đại vương thất kinh, bởi vì chỗ ấy đang đợi khách quý làm sao có thể để cho một mụ ăn mày ngồi vào? Y lộ vẻ khó xử, cười rằng: “Xin mời lão thái thái qua bên kia”. Rồi dắt bà ta đến chỗ người ở phía Tây, bà ta không hề dừng bước, chợt chỉ Đường Hiểu Lan nói: “Ta hẹn ngươi ngày mai, hôm nay ngươi đến đây làm gì?” Đường Hiểu Lan thất kinh: “Quả nhiên vị kỳ nhân lấy kiếm trả kiếm chính là bà già ăn mày này”. Chàng ta vội vàng đứng dậy, cung kính nói: “Mong lão tiền bối đừng trách, chính Ngư Xác đại vương đã mời vãn bối đến dự yến!” bà già giằng cây gậy, chợt mắng: “Hừ, vãn bối cái quái gì! Tên khốn kiếp nhà ngươi cả xưng hô mà chẳng rõ ràng! Sư phụ của ngươi không cho ngươi biết vai vế của bổn môn sao?” Đường Hiểu Lan kinh hoảng muôn phần, Ngư Xác đại vương cười rằng: “Vị tiểu ca này là vãn bối của bà sao? Không biết lão thái thái và Thiết chưởng thần đạn Dương Trọng Anh xưng hô thế nào?” bà già cười ha hả: “Cái gì mà thiết chưởng với chẳng thiết chưởng, ta chỉ biết tên tiểu tử này quá lắm chỉ là đồ tôn của ta!” Lăng Vân đảo chủ Vệ Dương Oai ngạc nhiên nói: “Tại sao nói là ‘quá lắm’, cả bà cũng không biết rõ vai vế sao?”

Bà già giằng cây gậy, nói với vẻ kể cả: “Sao ta lại không hiểu, hôm trước ta mới gặp được hắn. Trước khi gặp hắn, ta cũng không định nhận hắn là đồ tôn! Có lẽ y còn thấp hơn đồ tôn của ta một bậc!” mọi người đều là bậc tiền bối trong võ lâm, hoặc tôn sư của một phái, nghe thế đều nhíu mày. Dương Trọng Anh tuổi quá năm mươi, lớp người trên ông ta đã qua đời, sao tự dưng lại xuất hiện bà già ăn mày này, rõ ràng bà ta đã nói dối. Ngư Xác lại nhớ Đường Hiểu Lan còn có một sư phụ nữa là Châu Thanh, ông ta chợt nhớ một người, không khỏi thất sắc, nhưng đây là người sống vào đầu thời Khang Hy, mấy mươi năm qua chẳng có tin tức, Ngư Xác cũng chỉ nghe các bậc tiền bối nhắc đến tên của bà ta. Chả lẽ bà ta còn sống? Đang hoài nghi, bà già ăn mày lại nói: “Sao đồ tôn của ta mà ngươi cũng mời lên ghế đầu, chả lẽ ngươi để ta ăn theo hắn ư?”

Đường Hiểu Lan lúng túng, vội vàng hành đại lễ với bà già, toàn trường đều kinh ngạc! Cáp Bố Đà càng thêm thất sắc! Y mới nhận bằng hữu với Đường Hiểu Lan, giờ đây bỗng dưng lại xuất hiện một bà già, theo lễ tiết giang hồ, y đã bị tuột xuống ba bậc. Hải Vân hòa thượng đột nhiên vung tay ra. Bà già đang đỡ Đường Hiểu Lan, Hải Vân hòa thượng chợt đưa tay chặn lại, miệng nói: “Các người không nên hành lễ nhận bà con ở đây!” Hải Vân hòa thượng từ Nam Hải đến, không được ngồi ở ghế đầu, trong lòng cũng hơi ấm ức, lại thêm bà già tỏ vẻ kể cả, trong bụng càng khó chịu hơn, nên ngầm vận nội kình muốn làm bẽ mặt bà ta! Hải Vân hòa thượng tu luyện mấy mươi năm, thành tựu đương nhiên không kém, cú gạt này đâu chỉ đến ngàn cân, nào ngờ vừa chạm vào tay bà ta thì thấy mềm mại, chợt thất kinh, cánh tay đột nhiên thấy tê rần, người ngã nhoài ra sau, bà già kêu: “Ôi chao, không dám, không dám, sao ngươi cũng hành đại lễ?” Hải Vân hòa thượng khụy chân xuống đất, y vội vàng ngầm vận hơi đẩy huyết mạch thông suốt rồi đứng dậy, sắc mặt đỏ ửng, không biết bà ta đã dùng thủ pháp gì mà trong khoảnh khắc như điện chớp lửa xẹt đã điểm huyệt đạo của mình! Hải Vân hòa thượng bị ám toán, trong lòng rất bực bội, nhưng bản thân là tôn sư của một phái, chịu thiệt chỉ đành nín nhịn tìm cách trả thù chứ không dám phát tác ngay tại trận!

Lúc này toàn trường đều kinh hãi, cả Cáp Bố Đà cũng trố mắt ra. Ngư Xác đại vương lúng túng, vội vàng quay sang Thái Hồ trại chủ Mạnh Võ Công nói: “Mạnh lão đệ, làm phiền đệ xuống phía dưới tiếp khách hộ ta”. Ngư Xác không thể bảo các khách khứa khác nhường chỗ nên chỉ đành bảo phó thủ của mình dời sang nơi khác. Bà già không hề khách sáo, nghênh ngang bước tới ngồi xuống chỗ của Mạnh Võ Công, vừa vặn bên cạnh Hải Vân hòa thượng. Ngư Xác mời rượu một lượt, xong một lượt, bà già vẫn ngồi trên ghế, chẳng hề có điều gì khác lạ, Ngư Xác mới hơi yên tâm, thế rồi mới đứng dậy nói tiếp: “Bạch anh hùng, lúc nãy bảo có việc chỉ giáo, Ngư Xác bất tài, mong được nghe cao luận!” Bạch Thái Quan tức tối đứng dậy, lớn giọng nói: “Dám hỏi lão trượng, Bạch Thái Quan này đã phạm sai lầm gì mà lão trượng không cho tôi gặp mặt vị hôn thê?” Ngư Xác sầm mặt, lớn giọng nói: “Nếu ngươi còn cho ta là bậc trưởng bối, ta khai phủ xưng vương, ngươi nên đứng ngoài thì hơn!” Cáp Bố Đà khuyên rằng: “Người nhà có việc hãy từ từ mà bàn bạc, không cần nổi cáu. Theo ta thấy, nếu Bạch anh hùng cùng Giang Nam bát hiệp giúp đỡ lệnh nhạc, vậy Ngư Xác đại vương đương nhiên có thể thu lệnh lại, hào kiệt hai nhà kết nghĩa Tần Tấn chẳng hay lắm hay sao?” Ngư Xác gật đầu nói: “Vậy xem y thế nào đã!” Bạch Thái Quan chợt cười lạnh, nói: “Lão trượng khai phủ xưng vương, nếu thề dựng cờ nghĩa, xua đuổi Hồ lỗ, Bạch Thái Quan này muôn chết không từ. Nếu là nghe lệnh của Tứ bối lạc nào đó, làm phên dậu cho dị tộc ngoài biển, Thái Quan thà chết cũng không dám theo!” Ngư Xác đại vương nổi cáu bừng bừng, mắng rằng: “Thái Quan, ngươi thật vô lễ! Ta xưng vương ở ngoài biển, không triều không cống, có gì mà nhơ bẩn khí tiết?”

Bạch Thái Quan không kìm được nữa, rơi nước mắt nói: “Lão trượng, người thật lẩm cẩm nghe lời của bọn Mãn nô, nếu người giúp Tứ bối lạc lên ngôi, quá lắm chẳng qua chỉ là một Ngô Tam Quế, tuy cắt đất xưng vương nhưng cuối cùng cũng chẳng thoát nổi cái nạn thỏ chết chó cũng vào nồi! Sao chúng ta không làm cho oanh liệt, cớ gì phải giúp kẻ địch tranh quyền đoạt vị!” Ngư Xác đại vương ném chén rượu xuống, mắng rằng: “Ngươi thật không muốn theo?” Bạch Thái Quan nói: “Giang Nam bát hiệp đầu có thể rơi chứ chí không thể nhục!” Ngư Xác đại vương chợt cười lạnh, vẫy tay nói với tên thuộc hạ: “Mời Bảo quốc thiền sư đến, ta sẽ xem thử Giang Nam bát hiệp có phải ai cũng ngu ngốc như ngươi không?” Bên ngoài chợt trống nhạc vang lừng, hai toán võ sĩ tản ra nghênh đón khách quý! Lễ nghi ấy thật long trọng, chẳng kém gì lúc đón Cáp Bố Đà. Lúc này không những bọn Bạch Thái Quan đều chăm chú nhìn ra mà tất cả mọi khách khứa đều ngó ra ngoài, xem thử Bảo quốc thiền sư là nhân vật thế nào.

Ba hồi trống vừa dứt, mười hai tên vệ sĩ xếp thành hai nhóm, dắt một hòa thượng béo bước vào, hòa thượng này tay cầm thiết thiền trượng cười ha hả, đôi mắt cứ nhìn lom lom bọn nữ tì đứng hầu hai bên, chẳng hề có vẻ nghiêm chỉnh đạo mạo gì cả, Ngư Xác thấy thế cũng chạy ra nghênh đón. Hòa thượng ấy nghênh ngang đi mấy bước, chợt ngừng lại, Bạch Thái Quan kêu lớn: “Liễu Ân sư huynh, sao huynh cũng đến nơi này!” Lời lẽ của chàng bi phẫn vô hạn, Lý Song Song cũng đứng dậy, bà lão vẫn ngồi yên, miệng chỉ cười lạnh!

Liễu Ân hòa thượng là người đứng đầu Giang Nam bát hiệp, thiên hạ anh hùng đều biết điều đó! Chỉ có điều họ không biết rằng lão đã nhận lễ vật của Tứ bối lạc, được phong làm Bảo quốc thiền sư. Liễu Ân hòa thượng nghe Bạch Thái Quan quát như thế, đột nhiên chưng hửng, cười gượng nói: “Ngươi đã đến đây, lẽ nào ta không đến được?” Bạch Thái Quan nói: “Đệ đến đây chỉ vì muốn gặp vị hôn thê, đồng thời ngăn cản nhạc phụ quy thuận triều Thanh, dám hỏi sư huynh đến đây làm gì?” Liễu Ân hòa thượng biến sắc, chẳng nói thành lời.

Té ra sáu bảy năm trước Liễu Ân hòa thượng quen biết với Lăng Vân đảo chủ Vệ Dương Oai, dần dần đi vào nẻo tà, lão vốn xuấn thân từ cường đạo, bị Độc tý thần ni thu phục nên giữ nghiêm giới luật, không dám làm càn, mười mấy năm qua chỉ rau dưa qua ngày, từ sau khi xuất sư, y sợ Độc tý thần ni nên cũng không dám công nhiên làm ác. Y chỉ len lén đến đảo Lăng Vân nương nhờ Vệ Dương Oai. Dầu như thế, Độc tý thần ni cũng nghe phong thanh nên năm năm trước, Đường Hiểu Lan mới lên Mang Sơn, đã từng nghe bà ta dặn Lữ Tứ Nương chỉnh đốn môn hộ thay mình, nếu Liễu Ân đang làm chuyện ác thì phải lấy đầu lão. Hai năm trước, Độc tý thần ni viên tịch, Bạch Thái Quan mời Tào Nhân Phụ, Lộ Dân Đảm, Cam Phụng Trì, Châu Tầm quay về, Liễu Ân hòa thượng không chịu đi cùng. Lúc ấy Bạch Thái Quan cũng lấy làm lạ. Không ngờ rằng sau khi sư phụ chết đi Liễu Ân hòa thượng đã lộ đuôi, ngày càng tự tung tự tác. Giúp Tứ bối lạc Dận Trinh vi hành trên giang hồ, kết thành huynh đệ với lão, ban cung nga mỹ nữ cho lão. Liễu Ân hòa thượng chẳng phân biệt thị phi, thế là giúp Tứ bối lạc lôi kéo hào kiệt trên giang hồ.

Độc tý thần ni tuy chết nhưng oai thế vẫn còn. Lúc này Liễu Ân hòa thượng bị Bạch Thái Quan trách cứ, sắc mặt thay đổi, trong nhất thời chẳng nói được lời nào với sư đệ. Ngư Xác đại vương lo lắng kêu lên: “Bảo quốc thiền sư võ công trùm đời, Tứ bối lạc cần nhờ đến ông ta, Bạch Thái Quan sao lại dám nói với tôn sư huynh như thế?” Bạch Thái Quan lửa giận ngút trời, hỏi lớn: “Sư huynh, có thật không?” Liễu Ân hòa thượng thẹn quá hóa giận, quát rằng: “Bạch Thái Quan, ngươi đang nói với ai đấy?” Bạch Thái Quan buông tay nói: “Đệ đang nói với sư huynh? Đệ hỏi sư huynh, huynh có còn nhớ điều đầu tiên trong mười điều giới quy của sư phụ không? Độc tý thần ni là Công chúa triều Minh, điều đầu tiên trong mười điều giới quy là phản Thanh phục Minh, nếu ai phản bội đầu hàng, tất cả các đồng môn đều có quyền tru diệt!” Liễu Ân nghe thế lại biến sắc.

Bạch Thái Quan sấn tới thêm một bước: “Đại sư huynh là người đứng đầu, sau khi sư phụ chết, lẽ ra đại sư huynh phải làm gương cho các đồng môn mới phải!” Liễu Ân hòa thượng chợt cười lạnh, nói lớn: “Thái Quan, khoan hãy nói đến điều này, chúng ta xa cách nhiều năm, công phu của đệ thế nào, hôm nay ta phải khảo thử xem”. Bạch Thái Quan chưng hửng, Liễu Ân hòa thượng nói: “Đệ có còn nhớ lời sư phụ căn dặn không?” trong môn phái của Độc tý thần ni, việc phân vai vế rất nghiêm ngặt, sau khi Giang Nam thất hiệp ra giang hồ, lúc đó Liễu Ân vẫn chưa làm điều xấu, Độc tý thần ni thường bảo y khảo hạch võ công của sáu sư đệ. Công phu của Liễu Ân cao nhất, lại thường thay thầy truyền võ nghệ. Sau đó Liễu Ân cấu kết với kẻ xấu, say mê tửu sắc nên biếng nhác khảo hạch võ công.

Bạch Thái Quan thấy Liễu Ân không đáp, trái lại còn lấy gậy ông đập lưng ông. Tuy chàng tức giận nhưng cũng không biết thế nào, chỉ đành nói: “Công phu của tiểu đệ quá nửa là do sư huynh truyền thụ, đúng là phải khảo hạch!” Liễu Ân cười lạnh nói: “Ngươi biết thì tốt! hãy diễn bộ công phu đắc ý nhất cho ta xem thử!” bàn tay vâng một tiếng, bước ra bình đài, nói với Ngư Xác đại vương: “Bên ngoài sảnh hoa sơn trà đang nở rộ, tôi muốn hái vài đóa!” Ngư Xác nói: “Ngươi cứ tùy tiện!” Bạch Thái Quan nói: “Mời các vị theo tôi ra ngoài xem hoa”. Từ lâu mọi người đã nghe đại danh của Giang Nam bát hiệp, ai cũng muốn xem thử Bạch Thái Quan luyện loại công phu gì nên đều ùa ra ngoài. Bên ngoài sân toàn là hoa sơn trà, Bạch Thái Quan vừa nhìn vừa bình phẩm, mọi người chọn mười bảy đóa, Bạch Thái Quan ghi lại từng đóa, rồi trở vào trong sảnh, Vệ Dương Oai nói: “Sao không luyện?” Bạch Thái Quan chợt nói với Ngư Xác: “Xin hãy tạm thời tắt đèn!” Ngư Xác hơi chần chừ, Liễu Ân hòa thượng nói: “Có ta ở đây, y chẳng dám ám toán!” Ngư Xác phất tay, dập tắt hết đèn, bóng trăng hạ huyền mờ ảo, lúc này may đen lại kéo tới, trong sân tối om, chợt nghe soạt soạt mấy tiếng, mọi người vội vàng co đầu rút cổ đề phòng ám khí. Bạch Thái Quan kêu lên: “Xin hãy đốt đèn trở lại!” một chốc sau, đèn đuốc sáng trưng như ban ngày. Bạch Thái Quan nói: “Mời các vị cùng tôi ra ngắt hoa!” rồi chàng cùng mọi người ra ngoài sân, chỉ thấy dưới đất có mười mấy đóa sơn trà tươi rói, cầm lên nhìn thì ra đó là những đóa hoa đã được ghi ký hiệu, đếm kỹ lại quả nhiên đúng mười bảy đóa. Hào khách giang hồ đều là người giỏi công phu ám khí, thấy thần kỷ ấy thì không khỏi há mồm, nói không ra lời. Trong đêm tối tăm mà vẫn có thể phóng chính xác như thế, vả lại những đóa hoa này không phải ở cùng một chỗ mà phân tán rải rác trong vườn. Bạch Thái Quan có thể đứng trong sảnh phóng rơi từng đóa. Công phu ám khí này quả nhiên xuất thần nhập hóa!

Mấy năm nay Bạch Thái Quan khổ luyện Mai Hoa châm, vốn là tính rằng nếu sư huynh phản bội, võ công của mình chẳng bằng y sẽ dùng ám khí bù vào võ công. Chàng lộ xong thần kỷ, buông tay lui xuống nhưng cung kính nói: “Không biết thủ pháp phóng ám khí này có được hay không? Mong sư huynh chỉ điểm”. Chàng tuy khiêm nhường nhưng trong lòng rất đắc ý, nào ngờ Liễu Ân chẳng thèm ngó đến chàng, nói lớn: “Không được!” y vừa nói ra, ai nấy đều thất sắc, tưởng rằng Liễu Ân nói nhầm.

Chính là:

Cành đậu đậu, đồng môn tỉ thí, ngoài trời có trời, tự thấy không bằng.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 8: Kiêu hãnh cười đời một mình xông vào tiệc Kiếm kinh đại tặc thiếu nữ lộ oai thần

Lăng Vân đảo chủ Vệ Dương Oai cười rằng: “Liễu Ân đại sư, công phu ám khí của lệnh sư đệ quả nhiên là thần kỷ, đạo sĩ còn nói không được, hình như không công bằng lắm!” Liễu Ân hừ một tiếng nói: “Ngươi đúng là hiểu biết nông cạn!” rồi quay sang Bạch Thái Quan nói: “Hoa là chết, người là sống! Mai Hoa châm của ngươi chỉ có thể đánh kẻ phàm phu tục tử, chẳng thể làm gì được người có võ công hơi cao!” Bạch Thái Quan trả lời: “Sư huynh nói phải!” nhưng trong lòng lại chẳng phục! Người khác đánh Mai Hoa châm nhiều nhất chỉ có thể hơn ba trượng, còn chàng lại có thể phóng hơn năm trượng, vả lại có thể tùy ý muốn phóng vào chỗ nào sẽ trúng ngay chỗ đó khiến người ta khó phòng nổi, Liễu Ân lại bảo ám khí của chàng không thực dụng, chàng làm sao có thể phục nổi?

Liễu Ân liếc Bạch Thái Quan, lạnh lùng nói: “Ngươi không phục ư? Ta đứng ra đây cho ngươi phóng thử xem sao!” Bạch Thái Quan nói: “Tiểu đệ không dám!” Liễu Ân cười lạnh nói: “Lúc nãy ngươi còn đem lời dạy của sư phụ ra, giờ sao lại không dám? Hơn nữa ngươi học nghệ chưa thành, làm sao có thể đả thương ta?” Bạch Thái Quan nghe y khích như thế, lửa giận lại bốc lên, thầm nhủ: “Xem ra đại sư huynh đã theo giặc, như thế y chính là kẻ địch của mình, cần gì phải luận tình huynh đệ với y nữa?” thế rồi mới bước ra nói: “Mong đại sư huynh để ý!” Liễu Ân bước ra giữa sảnh, khách khứa đều lui đến góc tường, Liễu Ân giằng cây thiền trượng, chợt nói: “Thong thả đã!” rồi vẫy tay nói với Ngư Xác: “Ông có ám khí không?” Ngư Xác cười rằng: “Món gì tôi cũng có, đại sư cần loại gì?” “Cứ đem ra cả đây, ông hãy bảo người đem hai túi ám khí ra!” Ngư Xác đại vương quả nhiên bảo người khiêng ra hai túi ám khí, Liễu Ân đặt một túi ám khí trước mặt Bạch Thái Quan, một túi lại chia cho bọn vệ sĩ, nói: “Thái quan, ngươi dùng hết Mai Hoa châm có thể lấy ám khí trong túi!” lúc này Bạch Thái Quan mới biết y chuẩn bị túi ám khí ấy cho mình, lòng rất tức giận.

Liễu Ân hòa thượng múa tít cây thiền trượng quanh đầu kêu lên vù vù, nến đặt trên bàn tiệc đều tắt ngấm, những ngọn đèn lồng cũng lập lòe chực tắt, Liễu Ân kêu lên: “Ngươi phóng tới đi!” Bạch Thái Quan vung tay lên, chỉ nghe tiếng soạt soạt vang lên, Mai Hoa châm tựa như rơi vào biển khơi, Liễu Ân hòa thượng múa cây thiền trượng thành một vòng tròn kín kẽ đến gió mưa không lọt. Bạch Thái Quan thầm nhủ: “Với công lực của sư huynh, Mai Hoa châm quả thực khó đành vào”, đang định dùng mẹo, trượng pháp của Liễu Ân chợt chậm lại, Đông điểm một trượng, Tây điểm một trượng, môn hộ mở rộng, Bạch Thái Quan thấy thế lập tức vung hai tay lên, hai nắm Mai Hoa châm phóng tới như mưa, nếu là người khác chắc chắn sẽ trở thành một con nhím! Liễu Ân hòa thượng đứng ở giữa vòng tròn chẳng hề nhúc nhích nửa bước, thiền trượng cũng không nhanh hơn, Mai Hoa châm phóng vào chẳng hề có tiếng va chạm, khi bay đến gần vòng trượng chợt mất tăm như rơi vào biển khơi. Bạch Thái Quan cả kinh, thầm nhủ: “Mai Hoa châm rất nhỏ, phải dùng loại khí khác xem sao”. Thế rồi chợt có loại ám khí trong túi liên tục phóng ra. Liễu Ân cả cười nói: “Vẫn chưa thống khoái, Ngư Xác đại vương, ông hãy sai thuộc hạ cùng phóng ám khí đến đây!” Ngư Xác phẫy tay, các loại ám khí phóng tới như mưa, chỉ thấy cây thiền trượng tóe lửa, kêu lên leng keng, một hồi sau, ám khí càng lúc càng ít, không những Bạch Thái Quan đã không còn Mai Hoa châm mà ám khí trong túi cũng đều hết nhẵn.

Lúc này đèn đuốc được thắp sáng trở lại, toàn trường đều hoan hô, mọi người bước ra xem cho rõ ràng, ai nấy đều kêu lên: “Liễu Ân đại sư quả đúng là người trời tuyệt thế vô song, chúng tôi bái phục!” Liễu Ân hòa thượng mặt hớn hở, cầm ngang cây thiền trượng đứng yên. Dưới đất là một đống sắt thép nát, ám khí trong hai túi vỡ thành vô số mảnh nhỏ, trên ngọn thiền trượng cũng kết thành một trái cầu đen thui, Bạch Thái Quan chẳng nói lời nào, những loại ám khí bình thường bị trượng phong của y đánh vỡ thành từng mảnh chẳng có điều gì kỳ lạ, còn Mai Hoa châm của chàng rất nhẹ, hầu như vô ảnh vô hình, thế mà đã bị cây thiền trượng của y hút chặt! Liễu Ân hòa thượng thổi phù một tiếng, trái cầu trên cây thiền trượng vỡ thành từng mảnh nhỏ rơi xuống đất. Mọi người đều kinh hãi, Liễu Ân cười rộ, lớn giọng nói: “Thái Quan, ngươi có phục chưa?” Bạch Thái Quan nói: “Sư huynh võ công trùm đời, tiểu đệ nào dám không phục! Chỉ là...” Liễu Ân nói: “Chỉ là thế nào? Có phải chỉ là ngoài võ công, ngươi còn không phục điều khác?” Bạch Thái Quan ưỡn ngực nói: “Nếu sư huynh phản bội lời dạy của sư phụ, tiểu đệ vạn lần không phục!” Liễu Ân hừ một tiếng, cả giận nói: “Ta muốn ngươi hiểu rõ đại thế, biết thuận nghịch, theo Ngư Xác đại vương phù trợ Tứ bối lạc lên ngôi. Không những là ngươi, tất cả đồng môn đều phải nghe lời ta”. Bạch Thái Quan nói: “Lẽ nào đại sư huynh chẳng màng đến lời dạy của sư phụ?” Liễu Ân cười lạnh: “Lời dạy gì? Sư phụ đã chết, chỉ còn một mình ta! Nếu ngươi không theo thì hãy gọi đồng môn đến lý luận với ta! Lý lẽ của ta chính là cây thiền trượng này! Bạch Thái Quan, ngươi cũng lớn gan lắm, dám đối chọi với sư huynh, ngươi quỳ xuống nhận lãnh gia pháp trước!” Bạch Thái Quan vừa tức vừa lo, mấy năm không gặp mà võ công của Liễu Ân lại cao hơn rất nhiều, lúc nãy y có thể dùng thiền trượng hút ám khí đã đủ thấy y đã luyện đến mức đăng phong tạo cực, đừng nói là mình không phải là đối thủ của y, dù gọi tất cả đồng môn đến cũng chưa chắc đấu được y, vì thế trận này sẽ thua chắc, Liễu Ân hòa thượng lại mắng: “Bạch Thái Quan, ngươi có quỳ xuống hay không?” chợt một tiếng cười lạnh, có người nói: “Thật vô sỉ! Xương cốt của sư phụ chưa lạnh mà đã bức hiếp đồng môn!” Liễu Ân trợn mắt quát hỏi: “Ai dám vô lễ trước mặt ta!” nói chưa dứt, một người cười hì hì nhảy ra, lớn giọng nói: “Độc tý thần ni bảo ta đến quản giáo tên nghiệt đồ nhà ngươi!” vừa nghe câu ấy, mọi người đều biến sắc, tất cả mọi ánh mắt đều tập trung về phía người này! Người này mắt thanh mày tú, trông ra chỉ là một thư sinh yếu ớt nho nhã! Đó chính là Lý Song Song!

Liễu Ân hòa thượng thấy chàng ta là một kẻ vô danh tiểu tốt, tuy tức giận nhưng không thể lập tức phát tác. Dẫu gì y cũng là người đứng đầu Giang Nam bát hiệp, làm sao có thể đôi co với kẻ hậu bối? Rồi y cố kìm giận, cười lạnh nói: “Độc tý thần ni nhờ tên tiểu tử nhà ngươi đến quản giáo ta. Ta muốn hỏi ngươi là đệ tử của ai? Xuất sư từ khi nào? Ngươi miệng còn hôi sữa mà đã dám nói càn! Ta phải bắt sư phụ của ngươi đến, trị tội không biết dạy đồ đệ!” mọi người đều cười lớn vì cho rằng chàng thiếu niên yếu đuối ấy khoác lác, dám đòi quản giáo Liễu Ân hòa thượng giùm Độc tý thần ni. Liễu Ân võ công trùm đời, nếu Độc tý thần ni có di lệnh, lẽ ra phải nhờ bậc cao nhân tiền bối, tôn sư trong võ lâm chứ sao lại nhờ một thiếu niên yếu đuối miệng còn hôi sữa?

Lý Song Song vẫn thản nhiên, tiếng cười vừa dứt thì chàng ta đã lạnh lùng nói: “Liễu Ân, ngươi dám bắt sư phụ ta? Dù ngươi có bản lĩnh to bằng trời, thấy sư phụ ta ngươi cũng phải quỳ xuống xin tội!” Liễu Ân tức giận nói: “Sư phụ ngươi ở đâu, hẹn ngươi ba tháng dắt y tới gặp ta, ngươi dám không tuân lệnh, ta sẽ phanh thây xẻ thịt ngươi! Ngươi đụng đến ta chính là đụng đến Diêm vương, có chạy đằng trời cũng chẳng thoát! Ba tháng sau ta bảo sư phụ ngươi đến đảo Điền Hoành, nghe có rõ không?” Lý Song Song bật cười: “Lúc này sư phụ ta đang ở đây, cần gì đến thời hạn ba tháng?” Liễu Ân đưa mắt nhìn toàn trường, kêu: “Ra đây!” Lý Song Song giơ cao tay phải, quát: “Quỳ xuống!” trên tay là một mảnh kim bài, Liễu Ân thấy mặt biến sắc!

Mảnh kim bài này chính là di vật của Độc tý thần ni, trên có khắc mười điều giới quy, trong ngày nhập môn, Giang Nam bát hiệp đã từng nghe sư phụ cầm mảnh kim bài này đọc mười điều giới quy, nghe xong ai cũng phải quỳ xuống! Độc tý thần ni tuy đã chết nhưng oai thế vẫn còn, Liễu Ân thấy mảnh kim bài không khỏi cả kinh, mặt biến sắc! Mọi người thấy thế đều lấy làm lạ, xem ra kẻ này là do Độc tý thần ni phái tới! Ngư Xác thấy thế vội vàng khẽ nói bên tai Liễu Ân: “Nếu đại sư chịu lép trước tên tiểu tử này, há chẳng phải khiến cho thiên hạ anh hùng đều chê cười sao?”

Liễu Ân nghe nhắc thế thì không còn sợ hãi nữa, ác niệm lại nảy ra! Y thầm nhủ: “Mảnh kim bài tuy là di vật của sư phụ, nhưng sư phụ đã chết, trên đời này chẳng ai chế phục nổi mình, cần gì phải sợ y?” Lý Song Song quát: “Ngươi dám khi sư diệt tổ? Còn chưa quỳ xuống?” Liễu Ân chợt quát một tiếng, vỗ vù tới một chưởng toan đánh nát mảnh kim bài, Lý Song Song vung tay trái, tay phải đút mảnh kim bài vào áo, chưởng phong quét tới, khăn trùm đầu Lý Song Song sổ tung ra, lộ ra mái tóc óng ả, Bạch Thái Quan kêu lên: “Té ra là bát muội!”

Người cải trang thành thư sinh yếu đuối Lý Song Song chính là Lữ Tứ Nương! Đường Hiểu Lan vừa mừng vừa kinh, trong lòng xao xuyến, tim đập thình thịch! Chàng thầm nhủ: “Song Song có nghĩa là tứ, hai chữ song song rõ ràng là ngoại hiệu của Lữ Tứ Nương, mình thật ngu xuẩn không nghĩ ra ngay từ đầu”. Khi nhìn lại Lữ Tứ Nương, nàng ta vẫn bình thản đối diện với Liễu Ân!

Liễu Ân vỗ ra một chưởng không đánh ngã nổi Lữ Tứ Nương, trong lòng hơi kinh ngạc. Thế rồi y mới cầm cây thiền trượng bước ra lớn giọng nói: “Ngươi có phải là Lữ Tứ Nương, đệ tử quan môn của sư phụ không? Bổn môn xưa nay coi trọng tôn ti, lần đầu tiên gặp đại sư huynh mà sao ngươi không quỳ xuống hành lễ?” Lữ Tứ Nương hừ một tiếng, cười lạnh nói: “Ngươi không nghe lời dạy của sư phụ, đã là phản đồ của bổn môn; thấy kim bài mà không quỳ, càng vô lễ hơn. Ngươi còn dám đem môn quy ra lý luận với ta? Ngươi còn muốn làm đại sư huynh của ta?” Liễu Ân lúc tái xanh lúc đỏ ửng, thẹn quá hóa giận: “Lữ Tứ Nương, ngươi dám làm gì ta?” Lữ Tứ Nương nói: “Ta phải tuân theo di lệnh của sư phụ, triệu tập đồng môn hỏi tội ngươi! Nếu ngươi không cải tà quy chánh sẽ cắt đầu ngươi đến tế trước mộ sư phụ!” Liễu Ân nghe thế cười ha hả, chắc là đã giận đến cùng cực, nói: “Tiểu sư muội, ngươi học được mấy năm võ công mà dám phóng túng trước mặt đại sư huynh?” Lữ Tứ Nương xoay người vọt một cái vào trong trường, nói: “Liễu Ân, ta phải xem ngươi rốt cuộc học được bao nhiêu bản lĩnh của sư phụ?”

Liễu Ân hòa thượng cười rộ nói: “Ta tung hoành nửa đời mà chưa ai dám khiêu khích trước mặt ta, không ngờ hôm nay sư muội lại khiêu chiến sư huynh!” Lữ Tứ Nương rút thanh kiếm ra khỏi bao, chĩa về phía trước, mắng: “Ai là sư muội của ngươi!” Liễu Ân ngừng cười, giằng cây thiền trượng xuống quát: “Ngươi cũng không xứng khiêu chiến với ta, bằng hữu ở đây có ai thay ta bắt con tiện tì này!”

Bọn người ở đây toàn là đạo tặc trên giang hồ, cao thủ võ lâm, thấy Lữ Tứ Nương chỉ là thiếu nữ trẻ tuổi, tưởng rằng võ công vẫn còn kém, mọi người đều muốn lấy lòng Liễu Ân, không hẹn mà đều rút binh khí nhảy vọt ra, Lữ Tứ Nương vẫy thanh kiếm, ánh hàn quang lóe lên, cười lạnh nói: “Bọn vô sỉ, muốn quần đả sao?” những kẻ ấy đều là người có tên tuổi trên giang hồ, nghe thế thì khựng lại, đồng thời rụt tay, lúc này Cáp Bố Đà chợt nói: “Muốn đánh nhau hãy ra bên ngoài!” y nói câu ấy tuy không lớn nhưng đều vang lên trong tai của mọi người, tựa như có người kề sát bên tai mình quát lớn, đúng là như sét đánh ngang tai, người đứng bên ngoài cũng nghe như sấm nổ giữa trời xanh. Thế là mọi người lặng hẳn, quần hùng lúc này mới biết sở dĩ Cáp Bố Đà được xếp vào hàng thượng khách là bởi võ công cao cường chứ không chỉ nhờ vào thế lực. Lữ Tứ Nương thấy Cáp Bố Đà thi triển nội công, dùng công phu Sư tử hóng trấn áp quần hào, nàng hít sâu một hơi, đang định trả đũa, Thiên Diệp Tản Nhân đã nhảy ra: “Cáp tổng quản nói rất đúng! Ở đây toàn là bậc anh hùng trong võ lâm, bởi vậy không thể quẩn đả. Lão hủ tuy bất tài nhưng cũng mong mở đường cho các vị anh hùng” nói xong nhảy ra giữa trường, cung tay vái xung quanh, kình phong chợt thổi mạnh, chỉ nghe cửa sổ pha lê vỡ răng rắc, Thiên Diệp Tản Nhân hú một tiếng, toàn bộ cửa sổ bằng pha lê đều đã bật ra, bên ngoài hoa rơi xuống đất, cây cối ngã rạp sang hai bên, tựa như có người đã dụng công mở ra một lối nhỏ! Chưởng lực của Thiên Diệp Tản Nhân lợu hại đến mức ấy, rõ ràng có thể đánh rạp cỏ cây trong vòng ba mươi trượng mà pha lê không vỡ, đừng nói là các Trại chủ lớn nhỏ, dù có cao thủ như Liễu Ân, Cáp Bố Đà, Lữ Tứ Nương và Hải Vân hòa thượng cũng đều bất ngờ, lập tức tiếng vỗ tay vang lên như sấm dậy. Thiên Diệp Tản Nhân đắc ý dương dương cùng Ngư Xác bước ra khỏi sảnh.

Bạch Thái Quan thấy bọn người ở đây ai nấy đều võ công tinh thâm, không khỏi lo lắng, khẽ nói với Lữ Tứ Nương: “Bát muội cẩn thận!” Lữ Tứ Nương đang tính toán làm thế nào để thoát hiểm, chợt thấy bà lão ăn mày nở nụ cười lạnh cũng bước theo mọi người, nàng muốn chạy đến chào hỏi, bà ta đã lẩn vào trong đám người, đi bên cạnh Thiên Diệp Tản Nhân.

Mọi người ra khỏi sảnh, vòng qua hòn giả sơn đến một mảnh sân rộng, ở sân đã có bày sẵn binh khí. Mọi người đứng vây thành một vòng tròn, Lữ Tứ Nương, Bạch Thái Quan và Đường Hiểu Lan ngồi ở một nơi, Cáp Bố Đà, Liễu Ân, Ngư Xác ngồi ở đối diện, Ngư Xác đứng dậy nói: “Bạch Thái Quan, Lữ Tứ Nương ỷ mạnh phạm thượng, không phục sư huynh, Bảo quốc thiền sư không hề động thủ với kẻ tiểu bối, giờ đây theo quy củ võ lâm, một chọi một để phân thắng bại, anh hùng nào thay Bảo quốc thiền sư ra quản giáo tiểu bối?” nói vừa xong, Liễu Ân đã chợt nói: “Hãy thong thả!” Ngư Xác đại vương nói: “Bảo quốc thiền sư còn có điều gì chỉ giáo?” Liễu Ân nói: “Tôi đã từng phụng lệnh sư phụ khảo hạch võ công của đồng môn, Lữ Tứ Nương, ngươi là đệ tử quan môn của sư phụ ta, lại đưa lời răn của sư phụ ra đối chọi với ta, hôm nay mới gặp, ngươi không bái sư huynh thì thôi, nhưng cũng phải mang võ công đã học ra luyện cho ta xem thử ngươi đủ tư cách xếp vào Giang Nam bát hiệp hay không!” theo quy củ võ lâm, sau khi sư phụ chết, nếu có phản đồ, Chưởng môn có trách nhiệm thanh ly môn hộ, mà Chưởng môn nhân đa số là đại đệ tử. Nếu Chưởng môn nhân phản bội sư môn, tất cả các đệ tử cùng quyết định, bẩm cáo trước linh tiền của sư phụ, trước tiên đuổi y ra khỏi sư môn, sau đó mới thanh lý môn hộ. Giờ đây Lữ Tứ Nương có lệnh của sư phụ, tuy có thể tùy tiện hành sự nhưng cũng phải công cáo cho thiên hạ mới có thể phủ định thân phận của Liễu Ân, nếu không võ lâm đồng đạo vẫn thừa nhận Liễu Ân là người đứng đầu Giang Nam bát hiệp. Giờ đây Liễu Ân dùng thân phận đại sư huynh khảo hạch võ công của Lữ Tứ Nương, y hoài nghi sư phụ thiên vị, không biết có truyền võ công bí quyết gì cho Lữ Tứ Nương hay không, bởi vậy muốn xem công lực của nàng trước. Còn Bạch Thái Quan lại nghĩ rằng y cố ý làm khó, lăng nhục mình chưa đủ, lại còn muốn lăng nhục cả sư muội. Mọi người nghe thì nghĩ rằng Liễu Ân tuy nghênh ngang phách lối nhưng lời lẽ cũng rất có lý.

Lúc này toàn trường đều tập trung chú ý tới Lữ Tứ Nương, xem thử nàng có chịu lép hay không. Họ cũng muốn xem công phu của nàng như thế nào. Lữ Tứ Nương cười lạnh, Liễu Ân mắng: “Ngươi cười cái gì? Rốt cuộc ngươi có làm theo môn quy hay không?” Lữ Tứ Nương chẳng thèm màng đến, cười không ngừng, Liễu Ân lúc đầu tức giận, sau đó lại biến sắc. Tiếng cười của Lữ Tứ Nương nghe trong trẻo, chỉ thấy nàng khẽ mấp máy môi, tất cả mọi người đều nghe tiếng cười rất nhỏ, tựa như từ xa vọng lại, âm thanh trong trẻo nhưng sợi chỉ xuyên trên không trung, lúc thì chợt cao vút, tựa như tiếng cười từ trên không trung giáng xuống, một lúc sau chỉ thấy Lữ Tứ Nương cười lớn, tiếng cười vang vọng khắp nơi. Trong tiếng cười ham chứa vẻ khinh bỉ, lại như vạn mã chạy rầm rập, ngàn quân đuổi theo địch, chợt tiếng cười dần hẳn, thế nhưng dư âm vẫn còn vang mãi trong sơn cốc không ngớt!

Lữ Tứ Nương đã dùng tiếng cười để hiện lộ nội công thâm hậu của mình, tiếng cười của Lữ Tứ Nương cho thấy trung khí của nàng rất đầy đặn, nội lực thâm hậu, tuy âm thanh không mạnh nhưng Cáp Bố Đà nhưng còn cao minh hơn Sư tử hống của Cáp Bố Đà! Lữ Tứ Nương rất thông minh, nàng mượn tiếng cười lạnh để hiện lộ võ công, vừa không vi phạm môn quy, vừa thỏa mãn được yc của Liễu Ân, lại không mất thân phận của mình. Tất cả các cao thủ đều thầm khen nàng cơ trí dũng cảm. Liễu Ân tuy biến sắc nhưng cũng không làm gì được, lòng lấy làm lạ, không biết nàng tại sao có được công lực cao như thế, xem ra chẳng kém gì mình.

Lữ Tứ Nương cười xong, phóng vọt lên rút kiếm nói: “Tình đồng môn đã dứt, giờ đây ta phải thay sư phụ thanh lý môn hộ!” nàng nói vừa dứt, chợt nghe tiếng hú dài vang lên, trong trường lại xuất hiện thêm một người!

Người này đội mũ sừng dê, mình khoác cà sa màu đen, tay cầm một cây trường kiếm lạnh lẽo, người ấy lớn giọng quát: “Ta thay Liễu Ân đại sư quản giáo tiểu bối”. Người này chính là Hải Vân hòa thượng! Lúc nãy y mất mặt bởi bà già ăn mày, trong bụng đang bực bội, vốn lúc đầu y chẳng hề muốn đấu với Lữ Tứ Nương, sau đó thấy Lữ Tứ Nương hiển lộ nội công thâm hậu của chính tông huyền môn, cảm thấy đấu với nàng cũng không đến nỗi mất thân phận, bởi vậy muốn ra hạ nàng để kiếm lại chút sĩ diện.

Lữ Tứ Nương mặt lạnh như nước, nhún hai vai một cái đã lùi đến bảy tám trượng, dùng kiếm thức Vô Cực Hàm Nhất Khí, hai tay buông xuống, mắt nhìn mũi kiếm, chân đứng tấn vững như núi, tĩnh như mặt hồ, lạnh lùng nói: “Hải Vân đại sư kiếm pháp siêu đẳng, giang hồ đều biết tiếng, hôm nay chịu ban chiêu, kẻ làm vãn bối này thấy vinh hạnh vô cùng!” những câu nói này tựa như khiêm nhường nhưng bên trong rất cứng cỏi, Hải Vân hòa thượng đỏ mặt, thấy nàng cầm kiếm đứng im, công lực chẳng phải tầm thường, không khỏi thầm lo cho uy danh một đời của mình, nếu thắng thì thôi, nếu thua sẽ khó xử lắm. Trong lòng thấy chần chừ, chỉ vung kiếm lên chứ chưa dám xuất chiêu.

Lữ Tứ Nương biết đối phương lợi hại, bởi vậy mới dùng khỏe đợi mệt, chặn kín môn hộ, thản nhiên nói: “Nếu đại sư đã muốn dạy dỗ tiểu bối, xin cứ mặc sức ra tay!” mấy trăm cặp mắt đều nhìn vào, có người cười lạnh liền liền. Hải Vân hòa thượng thấy lửa giận bốc lên đầu, thầm nhủ: “Tư thế Thái cực kỳ môn của ngươi lấy khỏe đợi mệt, muốn chút phần tiện nghi, ta sẽ dùng thủ pháp sấm sét để hạ ngươi!” thế rồi tay phải cầm ngược chui kiếm, quát: “Xem kiếm!” một luống kình phong quét vù tới, Lữ Tứ Nương vẫy mũi kiếm lật lên, đánh ra một chiêu Diệu Thủ Trích Tinh, chặn vào cây trường kiếm của Hải Vân hòa thượng, thuận thế xỉa vào phía trước, mũi kiếm đâm vào vai của y, Hải Vân hòa thượng vừa ra tay đã bị nàng chiếm mất tiên cơ, thế là vội vàng xoáy mũi kiếm, chỉ trong chớp mắt đã hóa giải mũi kiếm của Lữ Tứ Nương, y đột nhiên thâu chiêu, xoay người hai vòng, chợt kiếm quang mở rộng bọc Lữ Tứ Nương vào ở giữa.

Hai người vừa đánh một chiêu đều biết đối phương là kẻ cực kỳ lợi hại, lúc này mới phát động thế công, lấy nhanh chế nhanh, trong khoảng sát na đã đánh nhau đến hơn năm mươi chiêu mà chẳng phân được thắng bại. Lữ Tứ Nương cảm thấy kiếm pháp của đối phương rất quái dị, lúc ở phía trước, lúc lại phía sau, lúc bên trái, lúc chợt bên phải, thầm nhủ: “Chả trách nào tên này danh lừng Thiên Nam, kiếm pháp quả nhiên khác hẳn Trung thổ”. May mà Lữ Tứ Nương khinh công cực giỏi, thân pháp lanh lẹ, tuy chưa biết cách phá nhưng cũng không đến nỗi thất bại.

Đấu một hồi nữa, Hải Vân hòa thượng tấn công không ngớt, chiêu nào cũng hiểm hóc lại biến hoa đa đoan. Lữ Tứ Nương chợt du tẩu xung quanh như bươm bướm xuyên hoa, tà áo trắng phất phới, khi đến lúc nhanh chỉ thấy một bóng trắng lượn lờ trong trường! Trong màn kiếm quang bao bọc, người ta đã dần dần không phân biệt được đâu là bóng kiếm với bóng người nữa, các cao thủ trong trường thấy Lữ Tứ Nương du tẩu né tránh, thủ nhiều công ít đều nghĩ rằng khí lực của nàng không đủ nên dùng thân pháp khéo léo để kéo dài cuộc đấu, thừa cơ phản công. Chỉ là kiếm pháp của Hải Vân hòa thượng nhanh như sấm sét, chỉ nhờ nhảy nhót né tránh làm sao ứng phó nổi?

Đường Hiểu Lan kinh hoảng, lòng bàn tay toát mồ hôi, giật tay Bạch Thái Quan hỏi: “Lữ tỷ tỷ đấu không lại tên lừa trọc ấy làm thế nào đây?” Bạch Thái Quan thấy Đường Hiểu Lan mặt biến sắc, an ủi chàng: “Đừng sợ, sư muội còn chống trả nổi!” tuy là như thế nhưng chàng cũng rất lo lắng.
Thiên Diệp Tản Nhân rất thân thiết với Hải Vân hòa thượng, thấy Hải Vân tấn công mạnh mẽ liên tục, chiếm hết thượng phong, mừng rỡ cười rằng: “Hải Vân đại sư quả nhiên bất phàm, kiếm pháp kỳ ảo vô cùng. Nàng ta có thể cầm cự đến lúc này cũng hiếm có lắm. Không hổ là người trong Giang Nam bát hiệp”. Y nói là để lấy lòng Hải Vân và Liễu Ân. Liễu Ân chợt mỉm cười, nhíu mày không nói. Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích chợt nói: “Thiên Diệp Tản Nhân, võ công của ngươi rất giỏi, nội công của ngươi lại thâm hậu, nhưng hình không nghiên cứu kỹ kiếm pháp”. Thiên Diệp Tản Nhân nổi sùng nói: “Sao? Lẽ nào ngươi nói ta hoa mắt?” Tát Thiên Thích nói: “Không dám, không dám! Nhưng theo ta thấy, kiếm pháp của ả thiếu nữ này cao minh hơn Hải Vân đại sư một bậc!” té ra Tát Thiên Thích cũng không tinh thông kiếm pháp, chỉ là y đã từng thua Lữ Tứ Nương ở Mang Sơn, sau đó cả hai huynh đệ hợp lực mà cũng chẳng khắc chế được nàng. Đó là chuyện năm năm trước, giờ đây y thấy thân pháp của nàng còn cao minh hơn trước rất nhiều, bởi vậy y biết Hải Vân hòa thượng tấn công mạnh chính là đi vào vết xe đổ năm xưa của mình, bởi vậy mới dám như thế để khoe mẻ trước mặt Cáp Bố Đà, đồng thời hạ uy danh của Thiên Diệp Tản Nhân.

Bởi vì Thần Ma song lão được Tứ bối lạc dùng lễ quốc sư mời, tưởng rằng có thể duy ngã độc tôn, nào ngờ sau đó lại có nhiều người giỏi hơn, cả Liễu Ân hòa thượng cũng xuất hiện. Nay lại thêm Hải Vân hòa thượng và Thiên Diệp Tản Nhân, mà vai vế và võ công của Thiên Diệp Tản Nhân lại hình như hơn cả mình, sợ rằng địa vị của anh em mình càng lúc càng thấp nên mới thừa cơ làm Thiên Diệp Tản Nhân bẽ mặt. Thiên Diệp Tản Nhân nào biết Bát Tý Thần Ma lại hẹp dạ đến thế, tức giận nói: “Hình nhưng hiền côn trọng cũng chẳng phải là danh gia kiếm pháp!” Tát Thiên Thích nói: “Không phải tôi thổi phồng kẻ địch, tôi thấy Hải Vân hòa thượng trong vòng nửa canh giờ chắc chắn sẽ thất bại! Nếu Tản nhân không tin có dám cá cược với tôi không?” Thiên Diệp Tản Nhân nói: “Cá cược cái gì?” Tát Thiên Thích nói: “Nếu tôi nói sai, anh em chúng tôi sẽ trở về đảo Miêu Ưng”. Thiên Diệp Tản Nhân nói: “Được! Nếu nói sai, tôi sẽ trở về biển Tinh Tú!” hai bên đang định vỗ tay lập thệ, Cáp Bố Đà và Liễu Ân đã nói: “Cần gì phải như thế, chúng ta đều giúp Tứ bối lạc lên ngôi, làm thế rõ ràng là gà nhà đá nhau! Theo tôi thấy, chi bằng cứ đổi cách cá cược, nếu Hải Vân hòa thượng thắng thì thôi, nếu không thắng, hai vị cứ lần lượt ra đấu với ả, xem ai bắt sống được ả!” Tát Thiên Thích im lặng không nói, Thiên Diệp Tản Nhân nói: “Ta không thèm đấu với kẻ hậu bối. Vả lại ả này cũng chưa chắc là đối thủ của Hải Vân, cần gì ta phải ra trận!” lúc này sắc giận đã hiện trên mặt, Liễu Ân và Cáp Bố Đà vội vàng kéo hai người không để họ ngồi chung nữa. Hai bên cãi cọ xong, lại tiếp tục nhìn vào trận đấu, trận lúc càng lúc càng kịch liệt, Lữ Tứ Nương tuy du tẩu khắp trường Hải Vân hòa thượng vẫn tấn công mạnh mẽ, bề ngoài chẳng có gì thay đổi nhưng cao thủ thuộc hàng nhất lưu đều có thể thấy, Lữ Tứ Nương đã liên tiếp phản kích trong màn kiếm quang bao bọc, đã có thủ có công!

Tình thế thay đổi khiến Cáp Bố Đà cảm thấy kinh hãi, thầm nhủ: “Lẽ nào Tát Thiên Thích nói đúng, kiếm pháp của ả thiếu nữ này tinh diệu còn hơn cả Hải Vân hòa thượng?” lúc này Bạch Thái Quan cũng thấy có hy vọng, chỉ có Đường Hiểu Lan vẫn lo nơm nớp.

Té ra Hải Vân hòa thượng và Lữ Tứ Nương đọ nhau một chiêu, đã biết nàng là đối thủ hiếm có trong đời! Bởi vậy mới dốc hết bản lĩnh muốn dùng thủ pháp sấm sét để đánh nhanh thắng nhanh. Y vốn tưởng kiếm pháp của Lữ Tứ Nương tuy cao nhưng rốt cuộc vẫn là một thiếu nữ trẻ tuổi, khí lực và kinh nghiệm chắc chắn không đủ. Nào ngờ Lữ Tứ Nương học được bản lĩnh đắc ý nhất của Độc tý thần ni. Độc tý thần ni tốn mấy mươi năm để nghiên cứu Huyền Nữ kiếm pháp, đến khi Lữ Tứ Nương nhập môn được hai năm, bà ta mới ngộ ra, không những đã đến mức xuất thần nhập hóa mà còn có thể quán thông, thêm vào nhiều biến hoa trong Huyền Nữ kiếm pháp vốn có. Trước khi Độc tý thần ni đạt được thành tựu, bà ta không truyền cho đồ đệ nên Giang Nam thất hiệp đều không có sở trường về kiếm pháp. Lữ Tứ Nương gặp được cơ duyên, nhập môn khi sư phụ đã già, một mình học được tinh túy kiếm thuật. Hôm nay nàng thi triển kiếm pháp để ứng phó với cường địch, bề ngoài tựa như chỉ né tránh nhưng bên trong lại ẩn chứa những biến hóa phức tạp, mỗi chiêu đều có hư lẫn thực, trong chiêu có chiêu, đấu được một lúc nàng thấy nhuệ khí của Hải Vân hòa thượng đã giảm, đột nhiên thay đổi kiếm chiêu, cây bảo kiếm Sương hoa dài ba thước phát ánh hàn quang loang loáng, nửa thủ nửa công. Đúng là tĩnh như mặt hồ, động như nước chảy, Hải Vân hòa thượng là đại hành gia kiếm thuật, y đã nhận ra kiếm pháp của kẻ địch kỳ ảo hơn mình, vừa lo sợ vừa nôn nóng, y đã dốc ra hết toàn lực mà kẻ địch vẫn cứ khí định thần nhàn chẳng hề tổn thương.

Hải Vân hòa thượng thấy lạnh mình, biết không xong, vội vàng tìm thắng trong bại, liên tục đánh ra hiểm chiêu, cây trường kiếm đánh một chiêu Bạo Quyển Thiên Hà, tà tăng bào phất lên, lưỡi kiếm cuộn từ dưới lên trên, Lữ Tứ Nương đột nhiên rút kiếm đứng lại, hai mắt sáng quắc, Hải Vân hòa thượng cuộn cây trường kiếm tới, nàng vẫn tựa như chẳng hề hay biết. Trong lúc này toàn trường đều lặng yên, ai nấy đều kinh hoàng, Đường Hiểu Lan nhắm mắt không dám nhìn. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, trong khoảng sát na điện chớp lửa xẹt, chợt nghe Lữ Tứ Nương hú lên một tiếng lanh lảnh, nàng tung người vọt lên, mũi giày đạp về phía mũi kiếm của kẻ địch, mượn thế đạp ấy toàn thân người bốc lên tựa như chim bay, vù một tiếng lướt qua đầu Hải Vân hòa thượng! Nàng không đợi mũi chân chạm đất, tay đã múa cây Sương Hoa kiếm một vòng trên không trung, đánh ra tuyệt chiêu Bạch Hồng Quán Nhật, đâm kiếm xuống cái đầu trọc của Hải Vân hòa thượng, Hải Vân hòa thượng kêu lên: “Không xong!” rồi y vẫy cây trường kiếm chém lướt lên trên hộ đỉnh đầu, hóa giải thế địch, hai kiếm chạm nhau, Lữ Tứ Nương từ trên cao đánh xuống, chỉ nghe rắc một tiếng, cây trường kiếm của Hải Vân hòa thượng đã bị chặt làm hai đoạn, bị Lữ Tứ Nương hất ra xa. Khi mọi người nhìn lại, Lữ Tứ Nương đã mỉm cười đứng dưới đất, ôm kiếm trước ngực, vái bốn hướng nói: “Hải Vân đại sư, tiểu bối đã được nhường!” Hải Vân hòa thượng mặt đỏ như gấc, hận không thể chui tọt xuống đất!

Cuộc đấu kiếm ấy khiến cao thủ trong toàn trường đều chắt lưỡi kêu lạ, Tát Thiên Thích vừa đắc ý vừa kinh hãi. Y đắc ý là vì đã thắng trong cuộc cá cược với Thiên Diệp Tản Nhân, kinh hãi là vì bản lĩnh của Lữ Tứ Nương đã đến mức đăng phong tạo cực, xem ra khó trả được mối thù trước kia. Thiên Diệp Tản Nhân mặt từ đỏ chuyển sang xanh, nghiến răng đứng bật dậy, toan ra quyết đấu với Lữ Tứ Nương!

Thiên Diệp Tản Nhân vừa đứng dậy, đã có người đè vai mình xuống, Liễu Ân hòa thượng khẽ nói: “Thiên Diệp đạo huynh, để tôi thu thập con tiện tì này!” bởi vì Liễu Ân hòa thượng tuy đã đi vào lối tà, nhưng cũng là một hán tử giang hồ, y phải giữ thân phận người đứng đầu Giang Nam bát hiệp. Lúc đầu y không dám đấu với Lữ Tứ Nương là vì sợ người ta bảo lớn hiếp nhỏ, tưởng rằng cứ tùy tiện phái một cao thủ nào đó là có thể bắt được nàng, không ngờ sự việc đã vượt ngoài ý liệu, một nhân vật kiếm pháp cao siêu như Hải Vân hòa thượng mà vẫn thua trong tay nàng! Tuy y biết Thiên Diệp Tản Nhân võ công cao hơn cả Hải Vân hòa thượng nhưng sợ rằng chẳng may gặp bất trắc, không những uy danh một đời của Thiên Diệp Tản Nhân hỏng bét mà mình sẽ bị đồng đạo chê cười rằng đã cố ý để sư muội phóng túng, lăng nhục tiền bối, hạ uy phong của nhân vật thành danh, hiển lộ tuyệt kỹ của bổn môn, chính vì điều đó Liễu Ân mới ngăn cản Thiên Diệp Tản Nhân.

Thế là mọi người lại hoan hô như sấm dậy. Các cao thủ đều biết Liễu Ân võ công trùm đời, từ ngày xuất đạo đến nay chưa từng gặp địch thủ. Ai cũng muốn xem ông ta bắt sống Lữ Tứ Nương như thế nào. Bạch Thái Quan thầm lo nhưng giờ đây đã thành thế cỡi cọp, muốn ngăn cũng không được nữa.

Liễu Ân hòa thượng cầm cây thiền trượng bằng thép tinh luyện to như miệng bát sải bước ra, Lữ Tứ Nương giơ ngang kiếm trước ngực, ngưng thần chờ đợi. Liễu Ân cao giọng quát: “Lữ Tứ Nương, ngươi chẳng coi tôn trưởng ra gì, đừng trách cây thiền trượng của ta vô tình. Nếu ngươi sáng suốt hãy mau buông kiếm xin tha!” Lữ Tứ Nương trợn mắt, lớn giọng mắng: “Liễu Ân, uổng cho ngươi nhiều năm theo sư phụ mà không chịu giữ thanh quy, vi phạm giới luật, sư phụ có lệnh bảo ta triệu tập đồng môn, lấy đầu ngươi! Nghĩ tình ngươi là kẻ đồng môn, nay chỉ cho ngươi một con đường sống, nếu ngươi chịu cải tà qui chánh, mau chóng theo ta trở về Mang Sơn, thắp nhang báo tội trước linh tiền của sư phụ, các đồng môn có thể tha chết cho ngươi, nếu không hôm nay ngươi khó thoát khỏi công đạo. Ta chỉ nói đến đây, có nghe hay không thì tùy ngươi!” Liễu Ân đùng đùng nổi cáu, cười rằng: “Ngươi học võ công được vài năm, có được bản lĩnh gì mà dám làm càn trước mặt đại sư huynh, trên đầu ngươi còn có sáu vị đại sư huynh, sao ngươi không hỏi bọn chúng là ai đã giúp bọn chúng có được cái uy danh Giang Nam thất hiệp!” bởi vì năm nay Liễu Ân hòa thượng hơn năm mươi tuổi, khi Lữ Tứ Nương chưa ra đời, y đã được Độc tý thần ni thu làm đệ tử. Y đã thay Độc tý thần ni truyền võ nghệ cho bọn Châu Tầm, nên y cùng với sáu người họ tuy danh là huynh đệ nhưng có một nửa thực sự là thầy trò, sáu người sư đệ này đều e ngại y, dù cho Cam Phụng Trì là người võ công cao nhất, uy danh cũng lừng lẫy nhất nhưng cũng phải nhường nhịn Liễu Ân ba phần. Cũng chính vì thế nên Liễu Ân tự tin sáu người sư đệ chắc chắn sẽ theo chân y, nào ngờ hôm nay đầu tiên thì Bạch Thái Quan không chịu phục, tiếp theo Lữ Tứ Nương lại dám vuốt râu hùm, Liễu Ân sao không nổi cơn lôi đình cho được?

Lữ Tứ Nương lại cười lạnh một tiếng, mắng lớn rằng: “Có sư huynh như ngươi đúng là nỗi nhục của Giang Nam bát hiệp, vậy mà ngươi còn dám nói đem lại uy danh cho các sư đệ! Từ hôm nay trở đi, chỉ có Giang Nam bát hiệp, đồng thời ngươi không được nói đến tên của sư phụ nữa!” Liễu Ân làm sao có thể chịu nổi, Lữ Tứ Nương chưa nói dứt lời y đã quét tới một trượng!

Trượng này cương mãnh vô cùng, kình phong quét đến đâu cát bay đá chạy đến đó! Lữ Tứ Nương phóng vọt người lên, cây thiền trượng quét vù qua gót chân nàng. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Liễu Ân quét một trượng không trúng, lập tức đẩy trượng về phía trước, đánh ra một chiêu Độc Xà Tầm Huyệt đâm thẳng vào huyệt Huyết Hải của Lữ Tứ Nương. Lữ Tứ Nương lộn người hạ xuống đất, cây thiền trượng quét qua mặt, nàng chưa đứng vững, trượng thứ ba của Liễu Ân đã quét tới, y đánh ra một chiêu Hoành Tảo Thiên Quân quét vào eo của nàng! Lữ Tứ Nương xoay người né tránh ba lần. Bạch Thái Quan và Đường Hiểu Lan thấy Lữ Tứ Nương liên tục thối lui, nguy hiểm muôn phần nên đều kinh hãi!

Lữ Tứ Nương né tránh ba trượng, thối lui ra sau mấy bước, cao giọng nói: “Các vị anh hùng ở đây làm chứng, tiểu nữ đã liên tục nhường ba chiêu, tình đồng môn đã dứt, hôm nay thay tiên sư chỉnh đốn môn hộ, mong các vị đừng trách!” lúc này Bạch Thái Quan mới biết Lữ Tứ Nương nghe theo di lệnh của sư phụ, tuân theo quy củ võ lâm nhường trưởng bối ba chiêu. Chàng thầm khen nàng tiểu sư muội này tuổi còn trẻ mà hành xử rất già dặn, nhân chí nghĩa tận, vừa nhu vừa cương, dù trận quyết đấu này thế nào, tên tuổi của Lữ Tứ Nương cũng lừng lẫy trên giang hồ!

Liễu Ân liên tục đánh ba trượng mà trượng nào cũng hụt, y nghiến răng trầm trượng xuống quét một cái, mắng rằng: “Nha đầu thối, ai cần ngươi nhường!” Lữ Tứ Nương nhướng máy, tay trái nắm kiếm quyết, tay phải đâm soạt kiếm tới một chiêu Tiên Nhân Chỉ Lộ, xỉa thẳng vào be sườn của Liễu Ân, Liễu Ân dựng cây thiền trượng lộn người quét ngang một chiêu Ô Long Bàn Trụ vào trung lộ của Lữ Tứ Nương. Lữ Tứ Nương phóng vọt người lên, lao cả người lẫn kiếm đâm một chiêu Ngọc Nữ Đầu Thoa vào vai phải của Liễu Ân, mũi kiếm loang loáng ánh hàn quang xỉa vào huyệt Kiên Tỉnh, Liễu Ân lật đuôi trượng đánh keng một tiếng, gạt cây kiếm của Lữ Tứ Nương ra. Lữ Tứ Nương thấy cánh tay tê rần, nàng dùng một chiêu Dạ Xoa Thám Hải, dẫn cây thiền trượng của Liễu Ân ra ngoài, hóa giải thế đánh của y. Hai người đọ nhau một chiêu, ai nấy đều cẩn thận bước vòng quanh trường tìm chỗ hở, không ai dám tiến liều tới!

Lần này toàn trường đều kinh hãi, cả Bạch Thái Quan cũng không ngờ rằng Lữ Tứ Nương có thể đánh tay đôi với Liễu Ân. Bọn Thiên Diệp Tản Nhân, Thần Ma song lão, Ngư Xác đại vương, Cáp Bố Đà đều vươn dài cổ nhìn vào trong trường. Những người này đều là cao thủ thuộc hàng nhất đẳng trên võ lâm, ai nấy đã nhận ra cả hai đấu thủ đã dùng võ công thượng thừa để bảo vệ cho toàn thân, đồng thời tìm thời cơ tấn công.Cả hai người đều ngưng thần trầm khí, đi quanh trường một vòng, cây kiếm xuyên hoa dài ba thước của Lữ Tứ Nương dẫn về phía trước, đánh hờ ra hai chiêu, Liễu Ân cũng không màng đến. Lữ Tứ Nương thấy y không mắc bẫy, thế là trong lòng nảy ra kế, dùng chiêu kiếm tựa hư tựa thực trong Huyền Nữ kiếm pháp liên tục đánh ra mười mấy hư chiêu, quấy nhiễu nhãn thần của Liễu Ân, chờ đến khi có thời cơ thì kiếm quang lóe lên, chợt chuyển hư thành thực, đánh một chiêu Bạch Hạc Dịch Linh đâm thẳng vào ngực của Liễu Ân. Hỏa hầu của Liễu Ân đã đến mức già dặn, vừa thấy thủ pháp của Lữ Tứ Nương thì biết nàng từ hư hóa thành thực, thế là tương kế tựu kế thu người về phía sau, mũi kiếm của Lữ Tứ Nương xem ra sắp chạm vào gấu áo của y đột nhiên hụt tay, người cũng mất đà, Liễu Ân gầm lớn một tiếng, vung cây thiền trượng lên chặn đường rút lui của Lữ Tứ Nương! Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, trượng ảnh như núi, quét ngang đè dọc bổ xuống đầu Lữ Tứ Nương, xem ra chiêu ấy hiểm hóc lạ thường, rõ ràng y quyết dồn Lữ Tứ Nương vào chỗ chết! Lữ Tứ Nương lâm vào tuyệt cảnh, xem ra muôn phần khó thoát!

Đường Hiểu Lan lo lắng kêu hoảng, chợt thấy Lữ Tứ Nương phóng vọt người lên cao hơn ba trượng. Vốn là người đã bị thiền trượng vây kín, chặn đường thối lui, dù né tránh sang một bên đều có thể trúng đòn, không ngờ trong khoảnh khắc sinh tử, nàng đã thi triển khinh công tuyệt đỉnh phóng vọt người lên, cây bảo kiếm vươn về phía trước, mũi kiếm điểm vào đầu trượng, mượn mãnh lực của Liễu Ân bật ngược người lên, lộn người ra cách đó mấy trượng! Thế là khiến cho cao thủ trong toàn trường đều không khỏi reo lên!

Người tiếng reo, Liễu Ân hòa thượng múa trượng đuổi gấp theo, Lữ Tứ Nương chưa đứng vững lại gặp phải hiểm chiêu, nàng vội vàng phát kiếm chiêu chống trả, lần này cũng bị Liễu Ân chiếm mất thượng phong. Nội công của Liễu Ân tinh thâm, lực tay hùng hậu, y múa cây thiền trượng kêu lên vù vù, trượng ảnh lan tỏa bốn phương tám hướng, đúng là thế như dời núi lấp biển, oai như sấm sét lôi đình, người bình thường đừng nói là bị trúng một trượng, dù chỉ bị trượng phong quét phải cũng nát bấy cả ngũ tạng. Lữ Tứ Nương tuy nhờ vào khinh công tuyệt đỉnh, kiếm pháp thượng thừa nhưng cũng chẳng thể nào phản công được trong màn trượng phong, thân người cứ chao đảo như con thuyền nhỏ bé trong biển khơi, nàng thầm nhủ: “Liễu Ân công lực thâm hậu quả nhiên mình chẳng bằng. Nếu cứ đấu như thế này mình chỉ có nước chống đỡ chứ không thể trả đòn, thời gian mà kéo dài chắc không tránh khỏi bất hạnh”. Thế là nàng nghiến răng, thi triển kiếm chiêu tinh diệu nhất trong Huyền Nữ kiếm pháp liều mạng tấn công, thế là nàng đâm soạt soạt mấy kiếm, từ trên xuống dưới người tựa như tỏa ra hàng ngàn tia điện khiến Liễu Ân hoa cả mắt, bất đồ mất tự chủ thối lui mấy bước. Lữ Tứ Nương múa kiếm như gió đâm tới liền liền, lấy công làm thủ, hóa giả thế vây, thoát ra khỏi màn trượng ảnh, chiếm được phương vị có lợi, lại tử chiến với Liễu Ân!

Liễu Ân thấy Lữ Tứ Nương có thể thoát khỏi màn trượng ảnh kín kẽ của y, không khỏi thầm trách sư phụ đã thiên vị. Thất sư đệ xuất sư chưa được mười năm mà uy danh đã hơn cả mình, con Lữ Tứ Nương vừa mới xuất đạo mà võ công càng kinh người hơn, bản thân có mấy mươi năm công lực mà chẳng làm gì được nàng ta, trong lòng làm sao không lo. Bởi vì từ sau khi sư phụ qua đời, Liễu Ân dám phóng túng làm càn là thấy võ công của mình cao cường, trên đời này chẳng ai chế phục nổi, nay các sư đệ sư muội kéo đến đây hỏi tội mình không khỏi lửa giận bốc lên, thế là ác niệm nảy ra, y vung cây thiền trượng, dùng loại trượng pháp hung mãnh tuyệt luân để đối phó với nàng sư muội vừa mới xuất đạo!

Liễu Ân có kinh nghiệm phong phú, hỏa hầu già dặn, đánh một trận với Lữ Tứ Nương đã biết nàng kiếm pháp tuy cao, khinh công tuy giỏi nhưng luận về nội công kém xa mình. Bởi vậy mới dám hao phí tinh lực, sử dụng Phục Ma trượng pháp cây trượng hất ngang bổ dọc, chặn trái ngăn phải, tựa như một con độc long nhe nanh múa vuốt, nhốt Lữ Tứ Nương trong màn trượng ảnh! Nhưng Lữ Tứ Nương múa kiếm như gió, bộ pháp lanh lẹ, trong thủ có công, tuy lọt xuống hạ phong nhưng Liễu Ân cũng chưa làm gì được nàng cả!

Hai người giằng dai với nhau được hơn trăm chiêu, Liễu Ân vẫn mạnh như ban đầu còn Lữ Tứ Nương vẫn lanh lẹ như cũ nhưng lúc này vầng trăng đã lên đến đỉnh đầu, trong mảnh sân đèn đuốc vẫn sáng trưng, không ai cảm thấy mệt mỏi!

Đang đấu đến lúc căng thẳng, Lữ Tứ Nương lại du tẩu khắp trường, muốn dùng kiếm thuật vừa mới đối phó với Hải Vân để chống cự với Liễu Ân, nào ngờ cây thiền trượng của Liễu Ân vừa dài vừa to, công lực của y hơn hẳn Hải Vân, Lữ Tứ Nương vừa du tẩu y đã đuổi theo, mà loại binh khí dài là khắc tinh của bảo kiếm, cây trượng điểm vào bối tâm, hai người cứ đuổi nhau vòng vòng trong sân, Lữ Tứ Nương gặp nguy ngập mấy lần, chợt nhớ phải tùy theo người mà sử dụng chiến thuật, đối phó với Liễu Ân mà tỏ ra yếu đuối chẳng phải là cách. Nàng đột nhiên lộn người, quay trở lại tấn công Liễu Ân! Nàng đâm liên tiếp mấy kiếm, Liễu Ân múa tít cây thiền trượng gạt hết tất cả, nhưng Lữ Tứ Nương cũng nhân thời cơ này đứng vững bộ pháp, lấy công đối công với Liễu Ân, thế là hai người lại ngang tay!

Trận này lại đánh hơn một canh giờ, hai người vẫn chẳng ai hơn ai. Liễu Ân hơn ở chỗ lực tay mạnh mẽ, nội công thâm hậu còn Lữ Tứ Nương hơn ở chỗ khéo léo nhẹ nhàng, kiếm pháp tinh kỳ, hai người càng đấu càng dữ, càng đấu càng hiểm, chỉ hơi không cẩn thận thì sẽ có đầu rơi máu chảy. Tất cả những cao thủ trong trường thấy thế đều kinh hãi, Ngư Xác đại vương khẽ nói: “Không biết đấu như thế này đến lúc nào mới xong, Cáp tổng quản, Thiên Diệp Tản Nhân, hai vị thấy nên thế nào?” Ngư Xác đại vương thầm nhủ có lẽ Thiên Diệp Tản Nhân và Cáp Bố Đà mới có được công lực này, nhờ vậy có thể tách Liễu Ân và Lữ Tứ Nương ra bởi vậy mới lên tiếng dọ ý. Thiên Diệp Tản Nhân mỉm cười, Cáp Bố Đà cũng lắc đầu. Thân phận và võ công của hai người đều chẳng kém Liễu Ân bao nhiêu, nếu chưa đến lúc cuối cùng mà đã ra ngăn lại, e rằng người ta sẽ cười là cậy lớn hiếp nhỏ.

Lại đấu được nửa canh giờ, Liễu Ân càng đánh càng dũng, Lữ Tứ Nương cũng càng đánh càng nhanh. Liễu Ân chỉ cảm thấy kiếm pháp của Lữ Tứ Nương mềm mại như cành liễu, nhanh như phi hồng, chẳng thể nào khắc chế nổi nàng.

Lữ Tứ Nương cũng thấy Liễu Ân mạnh như hổ, trượng nặng như núi, muôn lần khó thắng! Hai người đánh ngang tay nhau, lại đều không thể ngưng kiếm, chỉ đành dốc hết sức mình ra, đánh đến chỗ nguy cấp, Lữ Tứ Nương hầu như cả người lẫn kiếm hóa thành một luồng bạch quang, Liễu Ân cả người lẫn trượng tựa như trở thành bức tường đồng. Một kiếm một trượng đã đánh đến mức khó phân thắng bại, kỳ phùng địch thủ!

Lúc này không những Ngư Xác kêu khổ mà cả Lữ Tứ Nương và Liễu Ân cũng thầm than trong lòng. Lữ Tứ Nương một mình mạo hiểm, nếu không thắng làm sao thoát hiểm xuống núi? Liễu Ân là sư huynh, trước mắt mọi người mà không thắng làm sao có thể ăn nói với anh hùng trong thiên hạ? Nên cả hai người đều biết chẳng cách nào thủ thắng nhưng đã thành thế cỡi trên lưng cọp, chỉ đành phải nghiến răng khổ đấu! Lữ Tứ Nương đã đánh hơn hai canh giờ, mồ hôi tuôn ra như tắm, Liễu Ân nội lực tuy thâm hậu nhưng cũng bắt đầu thở dốc!

Ngư Xác thấy thế kêu “không xong”, nếu cứ đánh tiếp, chỉ e rằng hai người đều ôm nhau chết chung, Lữ Tứ Nương chết không sao, còn Liễu Ân mà chết há chẳng phải y sẽ bị Tứ bối lạc trách tội? Thế rồi y không màng đến quy củ giang hồ nữa, định nhờ Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân ra trường, ngầm giúp Liễu Ân để kết thúc trận chiến. Y chưa kịp lên tiếng, cả hai người đều không hẹn mà phóng vọt ra!

Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân mỗi người đều có lòng riêng. Cáp Bố Đà và Liễu Ân là cá mè một lứa, đến lúc này y không thể không cứu! Thiên Diệp Tản Nhân thì ganh tị Liễu Ân ngồi trên ghế chính, muốn thấy Liễu Ân bẽ mặt, nay thấy y đánh sư muội mãi mà không thắng, đúng là đã bẽ mặt thật, y cũng muốn nhân thời cơ này hiện lộ võ công, sau khi can hai người y sẽ tiện tay bắt luôn Lữ Tứ Nương để cứu vãn sĩ diện cho mình.

Hai người Liễu Ân và Lữ Tứ Nương đang dốc hết sức mình ra, chẳng hề biết có người nhảy vào trong trường, Thiên Diệp Tản Nhân chưa tới, đã phát ra vù vù hai chưởng từ xa đánh tới. Liễu Ân và Lữ Tứ Nương hơi lắc lư, chưa kịp tách ra, Cáp Bố Đà đã nhảy theo, đồng thời phóng ra hai trái cầu.

Ngay lúc này một bóng đen phóng vọt lên như chim, đột nhiên hạ xuống giữa trường, hai trái cầu của Cáp Bố Đà đã bị bóng đen này đánh rơi, phi đao bung ra như mưa! Té ra hai trái cầu chính là Huyết Trích Tử có thể lấy đầu người ta trong vòng một trăm bước nhanh như điện chớp! Thiên Diệp Tản Nhân vừa vỗ ra chưởng thứ ba và thứ tư, chợt thấy luồng kình phong chụp tới, buộc y phải bật ngược trở lại! Thân pháp của người này nhanh đến lạ lùng, Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân chưa kịp nhìn rõ đã bị người ấy chụp cổ tay giật mạnh ra ngoài. Hai người trầm vai rụt tay kìm người lại, khi nhìn kỹ mới biết đó chính là bà lão ăn mày!

Lúc này toàn trường đều rúng động kinh ngạc hơn cả cuộc chiến giữa Liễu Ân với Lữ Tứ Nương! Bởi vì công lực của Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân chẳng kém gì Liễu Ân, Huyết Trích Tử của Cáp Bố Đà lợi hại phi thường, còn chưởng lực của Thiên Diệp Tản Nhân cũng đến mức đăng phong tạo cực, nhưng hai người này ra tay ám toán đều bị bà già dễ dàng hóa giải rồi kéo bật hai người ra.

Bà già cầm cây gậy cười hì hì, chợt mắng: “Quân vô liêm sỉ, thế mà cũng gọi là can ngăn à? Xem ta đây!” rồi ba ta lắc người lướt vào giữa Liễu Ân và Lữ Tứ Nương, Liễu Ân đang đánh đến chiêu Phiên Giang Lạo Hải trong Phục Ma trượng pháp, y đã dốt hết toàn lực cho chiêu này, bị cây gậy gạt qua, lửa bắn tung tóe, cây thiền trượng mẻ mất một miếng nhưng cây gậy vẫn cẳng hề hấn gì! Lữ Tứ Nương cũng dùng đến tuyệt chiêu Ưng Kích Trường Không, nàng ta đâm tới một kiếm trúng vào cây gậy, lửa cũng bắn tung tóe, mẻ mất một miếng. Bà già rút cây gậy lại, cười nói: “Đây mới gọi là can ngăn công bình, ai muốn ám toán hãy xông về phía ta!”

Liễu Ân và Lữ Tứ Nương chợt tách ra, Liễu Ân trừng mắt nhìn và già, chẳng nói nửa lời, y chưa từng thấy ai có công lực cao như bà già này. Dù Độc tý thần ni sống lại cũng chẳng bằng bà ta! Liễu Ân cầm ngang cây thiền trượng, hỏi: “Xin hỏi tiền bối danh hiệu là gì?” bà già cười ha hả: “Sư phụ của ngươi không nhắc ta trước mặt ngươi sao? Ba mươi năm trước sư phụ ngươi mới học được Huyền Nữ kiếm pháp đã từng đến Thiên Sơn gặp ta!” Liễu Ân chợt thất kinh, nhớ đến một người, rung giọng hỏi: “Có phải lão tiền bối là Dịch nữ hiệp trong Thiên Sơn thất kiếm không?” Liễu Ân vừa nói, toàn trường đều kinh hãi.

Chính là:

Tái ngoại trở về đầu chưa bạc, vượt đường vạn dặm tìm truyền nhân.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 9: Truy đuổi lẫn nhau giữa biển gặp dị sĩ Liên hoàn phá án đại lâu thấy kỳ tình

Bà già cười lạnh nói: “Ngươi cũng biết tên của ta?” Ngư Xác đại vương mặt trắng bệt, chợt y nghiến răng phẫy tay, tất cả cao thủ trong trường đều phóng vọt ra, Liễu Ân hòa thượng cầm cây thiền trượng thối lui mấy bước, sánh vai cùng với Ngư Xác đại vương, bên trái có Thiên Diệp Tản Nhân, Hải Vân hòa thượng, Thần Ma song lão, bên phải có Lăng Vân đảo chủ Vệ Dương Oai, Thái Hồ trại chủ Mạnh Võ Công, Cáp Bố Đà, chín cao thủ thuộc hàng nhất lưu đứng thành một hàng, ai nấy đều nhìn bà lão không chớp mắt, tình thế giữa hai bên đang rất căng thẳng.

Té ra bà già này chính là Dịch Lan Châu trong Thiên Sơn thất kiếm. Thiên Sơn thất kiếm thành danh vào đầu thời Khang Hy (mời xem trong bộ “Thất Kiếm Hạ Thiên Sơn”), cách đây đã bốn năm mươi năm, Phi Hồng Cân, Lăng Vị Phong, Trương Hoa Chiêu, Quế Trọng Minh, Mạo Hoàng Liên lần lượt qua đời, trong Thiên Sơn thất kiếm chỉ còn lại một mình Dịch Lan Châu và Võ Quỳnh Giao. Thiên Sơn thất kiếm ở biên cương phía Tây, người ngoài không biết tưởng rằng họ đã chết cả, không ngờ Dịch Lan Châu lại từ Thiên Sơn đến đây!

Kiếm pháp của Dịch Lan Châu giỏi nhất trong Thiên Sơn thất kiếm. Vốn là Lăng Vị Phong võ công cao cường nhất, sau đó Lăng Vị Phong bị chặt ngón cái trên tay phải, không thể cầm kiếm được bởi vậy mới truyền hết sở học cho Dịch Lan Châu. Ba mươi năm trước Độc tý thần ni học được Huyền Nữ kiếm quyết, lúc đó võ công của bà ta tuy cao cường nhưng chỉ mới học kiếm pháp, tuy lấy được kiếm quyết nhưng chẳng có ai chỉ điểm vì thế mới một mình lên Thiên Sơn xin Dịch Lan Châu dạy bảo, Độc tý thần ni lớn tuổi hơn Dịch Lan Châu, Dịch Lan Châu và bà ta đối xử với nhau bằng vai phải lứa, hai người nghiên cứu kiếm pháp ở Thiên Sơn, đến nửa năm mới chia tay, chính vì thế Dịch Lan Châu cũng coi như là trưởng bối của Giang Nam bát hiệp.

Lúc này luận về tuổi tác Dịch Lan Châu đã hơn sáu mươi, nhưng bà ta đã từng ăn hoa ưu đàm trên ngọn Lạc Đà ở Thiên Sơn nên mái tóc mãi mãi không bạc, lại thêm nội công tinh thâm nên trông chỉ hơn bốn mươi tuổi. Còn cây gậy trong tay của bà ta chính là di vật của trượng phu Trương Hoa Chiêu, số là Lăng Vị Phong đã dùng cây gỗ giáng long ở Thiên Sơn đẽo ra cây gậy này tặng cho Trương Hoa Chiêu nên gọi là giáng long bảo trượng, loại gỗ giáng long trên Thiên Sơn cứng như sắt thép, đao kiếm chẳng chém nổi nên Sương Hoa kiếm của Lữ Tứ Nương và thang ma trượng của Liễu Ân chạm vào cây gậy cũng tóe lửa.

Đường Hiểu Lan đã nghe Châu Thanh nói đến Dịch Lan Châu từ lâu, trong lòng mừng rỡ, vội vàng chạy tới, cũng không biết xưng hô thế nào mới phải, (Châu Thanh là đệ tử gởi danh của Lăng Vị Phong, Phùng Quảng Triều lại là đệ tử gởi danh của Châu Thanh. Đường Hiểu Lan được Châu Thanh chỉ điểm mới đến học kiếm ở Phùng Quảng Triều) chỉ đành kêu lớn: “Bà tổ”, Dịch Lan Châu ngưng thần không đáp, chín cao thủ cũng không dám ra tay. Lữ Tứ Nương kéo Đường Hiểu Lan lại, khẽ nói: “Đừng chạy bừa!” Dịch Lan Châu chợt vươn tay rút cây Du Long kiếm của Đường Hiểu Lan, cao giọng nói: “Các ngươi thật muốn làm khó bà lão ăn mày này?” Liễu Ân cúi người nói: “Tiểu bối làm sao dám làm khó Dịch nữ hiệp”. Nói xong cầm cây thiền trượng chỉ về phía Bạch Thái Quan và Lữ Tứ Nương, lớn giọng nói: “Nhưng hai người này là sư đệ và sư muội của bần tăng, không dám làm phiền lão tiền bối quản giáo!” Dịch Lan Châu nổi sùng lên nói: “Nói thế ngươi muốn bắt bọn chúng?” Liễu Ân nói: “Chính thế”.

Liễu Ân thầm nhủ: “Mình tuy không phải là đối thủ của Dịch Lan Châu nhưng hợp lực chín người chắc sẽ nắm được phần thắng”. Dịch Lan Châu cũng trừng mắt, mắng rằng: “Dù sư phụ ngươi còn sống ta cũng phải quản!” rồi cây kiếm Du Long vẫy tới kêu xẹt một tiếng, hóa thành một luồng bạch quang quét về phía Liễu Ân, Liễu Ân vội vàng giở ngang cây thiền trượng gạt qua, keng một tiếng, thân kiếm Du Long rung lên bần bật, đâm thẳng xuống be sườn của Liễu Ân, bọn Ngư Xác đồng thời ra tay, cây Nga Mi thích của Vệ Dương Oai và Hổ Đầu câu của Mạnh Võ Công xé gió đâm tới, Dịch Lan Châu xoay người một vòng, cây Du Long kiếm đánh ra một chiêu Lực Hoạch Hồng Câu, chặt gãy hai cây Nga Mi thích, còn cây Hổ Đầu câu thì bắn vọt lên không trung! Liễu Ân thừa thế đánh tới một chiêu Thương Long Quyện Vĩ, cây thiền trượng vung lên gạt thanh kiếm ra, chín cao thủ tấn công lên từ bốn hướng. Dịch Lan Châu thầm nhủ: “Chả trách nào tên này lại cuồng ngạo đến thế, quả nhiên y đã học được chân truyền của Độc tý thần ni, công lực chẳng kém sư phụ của y bao nhiêu!” rồi bà ta quát lên một tiếng, sử dụng Tu Di kiếm thức trong Tu Di kiếm pháp ra, thân và kiếm hợp nhất, cả người lẫn kiếm hóa thành một luồng bạch quang lách trái đâm phải. Lúc này chợt nghe Đường Hiểu Lan kêu thảm một tiếng, té ra chàng bị Mạnh Võ Công đánh trúng một chưởng ngay vai. Dịch Lan Châu cả giận, liên tục tung ra đòn sát thủ! Ánh kiếm quang loang loáng không rời những chỗ yếu hại của Liễu Ân. Chợt nghe Ngư Xác đại vương quát lên: “Ngừng tay!” chín tên cao thủ lui xuống. Dịch Lan Châu giơ kiếm ngang ngực, ngừng bước chẳng đuổi theo nữa, ngưng thần lắng nghe, thì ra có tiếng khóc từ trên cao vọng lại! Quần hào đều ngừng tay nghe ngóng, bên cạnh tòa phủ của Ngư Xác đại vương vốn có một tòa tháp mười ba tầng, trên đỉnh tháp thấp thoáng một thiếu nữ mặc đồ đỏ, Lữ Tứ Nương tinh mắt đã nhận ra nàng ta chính là Ngư Nương con gái của Ngư Xác đại vương, đến khi nhìn kỹ lại, thì ra nàng bị cột dưới mái tháp, tay phải cầm một con dao sáng loáng đặt trên sợi dây, chỉ cần lưỡi dao cứa qua một cái, sợi dây sẽ đứt, dù có võ công cao cường đến mức nào cũng cứu chẳng nổi! Ngư Xác đại vương và Bạch Thái Quan cùng kêu lên kinh hoảng, đứng như trời trồng ngay tại chỗ!

Lúc này một tên đầu mục hấp tấp chạy tới trước mặt Ngư Xác đại vương, bẩm rằng: “Đại vương, không xong rồi, chúng tôi chỉ lơ đễnh một lát mà tiểu thư đã tự trói mình lên mái tháp, đòi đại vương phải thả bọn Bạch Thái Quan đi nếu không sẽ tự cắt đứt dây thừng, mãi mãi chẳng gặp đại vương nữa!”

Ngư Nương là con gái duy nhất của Ngư Xác, Ngư Xác vốn rất cưng chìu nàng, lần này chỉ vì Bạch Thái Quan không chịu nghe theo y nên y mới ngăn cấm con gái mình gặp chàng, nhốt nàng trên đỉnh bạch tháp. Ngư Nương không biết Dịch Lan Châu đến đây trợ giúp, chỉ tưởng rằng Bạch Thái Quan bị cao thủ võ lâm bao vây đã lâm vào nguy hiểm nên liều mạng đem mình ra uy hiếp! Bạch Thái Quan thấy thế vừa kinh vừa mừng, không ngờ rằng Ngư Nương lại thương yêu mình như thế, chàng cảm động, bất giác rơi nước mắt!

Ngư Xác trầm tư trong chốc lát, phẫy tay nói: “Thôi được, các người hãy cút đi!” Dịch Lan Châu bị chín cao thủ thuộc hàng nhất đẳng bao vây, muốn tự cứu mình không khó, nhưng lại lo cho Đường Hiểu Lan và Bạch Thái Quan, thấy thế cười lạnh nói: “Liễu Ân, ta dắt sư đệ và sư muội của ngươi đi đây, việc ngươi phạm vào giới quy của sư phụ ngươi, người trong phái Mang Sơn sẽ tự giải quyết lấy, ta không xen vào! Nếu ngươi làm điều ác mà gặp phải ta, kể như ngươi xong đời!” nói xong thì cung tay bảo với Ngư Xác: “Đã nhường!” rồi trao thanh kiếm lại cho Đường Hiểu Lan, sau đó cùng bọn Lữ Tứ Nương, Bạch Thái Quan triển khai khinh công lướt xuống núi nhanh như điện chớp.

Ngư Xác thất kinh, chợt tỉnh ra, dậm chân kêu lên: “Mau! Mau truyền lệnh bảo bọn chúng nhường đường!” lập tức cờ đỏ phất lên, bọn lâu la lớn giọng kêu: “Nhường đường tiễn khách, không được ngăn cản!” thế rồi từng trạm truyền xuống, nhưng lúc này đã muộn, bọn Dịch Lan Châu đã đến lưng chừng núi, bọn lâu la canh giữ bên dưới chưa nghe lệnh, một tiếng tiêu vang lên, từ trong lùm cây bụi cỏ từng loạt tên và phi hoàn phóng ra. Lữ Tứ Nương múa tít cây Sương Hoa kiếm, một màn hàn quang đánh rơi toàn bộ số phi hoàn và tên. Dưới bóng trăng mờ sao thưa, bốn bóng người như bốn luồng khói lướt qua làn mưa tên và phi hoàn. Bọn lâu la mai phục hai bên đường vung câu liên ra cuộn vào chân bốn người, Dịch Lan Châu quét cây trượng giáng long, chỉ nghe tiếng kim khí vang lên, bảy tám cây câu liên đã bị chặt gãy. Phía bên kia Lữ Tứ Nương ra tay càng dữ hơn, nàng quát lớn một tiếng, cả người lẫn kiếm hóa thành một luồng ngân hồng quét vào bụi cỏ, bốn tên lâu la mai phục đều đã trúng kiếm ngã xuống! Dịch Lan Châu vội nói: “Không cần giết bọn lâu la này!” lúc này lệnh nhường đường của Ngư Xác đại vương đã truyền xuống từng trạm, bọn lâu la ở lưng chừng núi vội vàng một mặt truyền lệnh một mặt né tránh, Dịch Lan Châu cười nói: “Đây mới giống như lễ tiễn khách!” Ngư Xác đại vương đứng trên cao nhìn xuống, thấy bọn họ trổ thần oai không khỏi biến sắc!

Bốn người ra khỏi đảo Điền Hoành, vẫn cỡi con thuyền của Ngư Xác đại vương về đến hải cảng Thanh Đảo. Lúc này vầng nguyệt đã chìm về phía Tây, trời hửng sáng. Một chốc sau từng mảng mây trắng tụ lại, ở đằng Đông sắc trắng mờ mờ dần dần đỏ ửng, chỉ trong chớp mắt, vầng mặt trời từ dưới biển nhô lên, những áng mây trắng cũng đỏ ửng trong buổi ban may. Đường Hiểu Lan vỗ tay khen rằng: “Triều hôn phủ kiểm, hồng đào bất kinh; thủy diện hà quang; sáng lạn vạn đạo; quân luân đột hiện, tiêu mạc đốn thanh!” đây là bài thơ do tài tử đầu thời Thanh là Hầu Phương Vực tả cảnh đẹp buổi sáng ở Đông Hải, Lữ Tứ Nương nghe thế ngạc nhiên, mỉm cười rằng: “Đường huynh đệ, mấy năm qua ngươi đọc không ít sách!” Đường Hiểu Lan đỏ ửng mặt, vừa đắc ý vừa hổ thẹn, khẽ nói: “Chỉ đọc bừa vài quyển sách, biết được vài chữ mà thôi! Tỷ tỷ gia học thâm sâu, tôi bái tỷ tỷ là, lão sư, chỉ e tỷ tỷ không chịu nhận học trò như tôi!” Dịch Lan Châu và Bạch Thái Quan chợt nghe họ nói đến chuyện chữ nghĩa thì rất ngạc nhiên!

Lữ Tứ Nương nghe chàng nói thế, tươi cười trả lời: “Tiểu huynh đệ, đệ thấy ta có làm khảo sư được không?” rồi nghiêm mặt nói: “Nếu nói đến học chữ nghĩa, ít nhất cũng phải bỏ ra mấy chục năm, điều cần phải học ở người xưa rất bao la, đệ tưởng rằng dễ học sao? Ta cũng chỉ là mới nhập môn mà thôi, cha của ta có một môn sinh tuổi không lớn hơn chúng ta bao nhiêu, nhưng học cao hiểu rộng, nếu đệ có chí hướng muốn học hành, ta sẽ giới thiệu y làm lão sư cho đệ”. Lữ Tứ Nương phóng khoáng, coi chàng như tiểu đệ, trong lòng không hề có tạp niệm, Đường Hiểu Lan nghe thế thì rầu rĩ, cúi đầu nói: “Xin đa tạ”.

Dịch Lan Châu nôn nóng ngắt lời: “Đừng nói đến chuyện chữ nghĩa nữa, Hiểu Lan, ngươi biết tại sao ta tìm ngươi, lấy kiếm rồi lại trả kiếm cho ngươi không?” Đường Hiểu Lan buông tay nói: “Thưa không biết”. Dịch Lan Châu nghiêm mặt: “Chính là vì thanh kiếm này của ngươi”. Đường Hiểu Lan lo lắng nói: “Tôi biết thanh kiếm này là thái sư tổ truyền cho Châu bá bá, tôi không xứng dùng nó!” Dịch Lan Châu lắc đầu: “Không phải ý này, mấy ngày qua ta thầm quan sát ngươi, có điều võ công của ngươi quá kém, ta sợ ngươi không thể giữ được nó!” Dịch Lan Châu ngập ngừng rồi nói tiếp: “Thanh kiếm này là một trong hai báu vật trấn sơn của phái Thiên Sơn, không thể để lọt vào tay người ngoài. Giờ đây chỉ còn một mình ta là môn hạ của Hối Minh thiền sư, mà tuổi ta cũng đã đến lúc về chiều, bởi vậy ta phải tìm tung tích của thanh kiếm này, cuối cùng đã tìm được. Ngươi là nghĩa tử của Châu Thanh, ta đã sớm biết điều đó. Giờ đây ta quyết định truyền thanh kiếm này cho ngươi, nhưng kiếm thuật của ngươi không ổn, sẽ làm mất tiếng tăm của Thiên Sơn kiếm phái, bởi vậy ngươi hãy theo ta học kiếm thuật ba năm!” Đường Hiểu Lan cả mừng, vội vàng khấu đầu bái sư, Dịch Lan Châu kéo chàng dậy, nghiêm mặt nói: “Ta chỉ có thể truyền kiếm thuật bổn môn cho ngươi, còn các võ công khác đã không kịp nữa. Ta và ngươi cũng bắt chước theo Lăng đại hiệp và Châu Thanh, chỉ có thể là thầy trò thực tế. Đến khi ngươi đến tuổi hoa giáp hoặc tới ngày bế môn phong đao, ngươi hãy đem thanh kiếm này về Thiên Sơn giao cho đệ tử Chưởng môn. Sau đó Chưởng môn nhân sẽ khảo hạch công phu của ngươi, lúc mới quyết định ngươi có được là môn hạ chính thức của phái Thiên Sơn hay không”.

Dịch Lan Châu giải quyết xong chuyện của Đường Hiểu Lan, bà ta đột nhiên nghiêm mặt quay sang Bạch Thái Quan trách rằng: “Bạch Thái Quan, trước mặt ta ngươi không được nói dối, có phải những vụ án hái hoa đều do ngươi làm hay không?” Bạch Thái Quan biến sắc, vội nói: “Lão tiền bối... sao lại nói thế? Tôi... tôi làm sao làm chuyện xấu như thế?” Dịch Lan Châu nói: “Có thực là không phải ngươi không? Ngươi hãy đợi một lát!” rồi chợt hú dài một tiếng, ở lùm cây bên bờ biển chợt xuất hiện một nàng thiếu nữ áo đỏ tuổi chỉ khoảng mười bốn mười lăm, Đường Hiểu Lan nhận ra đó chính là tiểu cô nương đi cùng với bà ta ngày hômt trước, Dịch Lan Châu hỏi: “Cẩm Nhi, có phải đêm ấy hắn theo dõi con không?” tiểu cô nương liếc nhìn Bạch Thái Quan rồi nói: “Chính là y!” Dịch Lan Châu chợt cười: “Bạch Thái Quan, ngươi có biết ả là điệt nữ của ngươi không? Sao ngươi lại theo dõi điệt nữ của ngươi?” Bạch Thái Quan và tiểu cô nương đều lộ vẻ ngạc nhiên, tiểu cô nương nói: “Ồ, té ra là Bạch ngũ thúc!” Bạch Thái Quan nói: “Té ra ngươi là Cẩm Nhi, công phu đã tiến bộ lắm! Dịch lão tiền bối, xin người đừng cười, chuyện này là hiểu lầm cả thôi!”

Dịch Lan Châu vẫn quát hỏi: “Hiểu lầm thế nào?” Bạch Thái Quan nói: “Hôm ấy tôi đi tìm Ngư Nương, suýt nữa đã phát điên, đêm xuống chợt phát hiện Cẩm Nhi, tôi đuổi theo một đoạn đường, thấy không phải là Ngư Nương, định quay trở về nhưng vì tò mò muốn xem thử nó làm gì nên định theo dõi thêm một đoạn”.

Đường Hiểu Lan lúc đầu thấy Dịch Lan Châu nghiêm giọng, kinh hoảng không yên, lúc này thấy Bạch Thái Quan nói có lý, thầm nhủ: “Té ra tiểu cô nương này là điệt nữ của y”. Chợt nghe Dịch Lan Châu lại nghiêm giọng hỏi: “Ngươi nói có thực không? Ta hỏi ngươi, tại sao suốt mấy đêm nay ngươi xuất hiện ở phủ khâm sai, những đại đạo thái hoa có phải đang ở đấy? Chả lẽ bọn chúng không phải là đồng đảng của ngươi?”

Bạch Thái Quan đã định thần, lúc này mới cười ha hả: “Chả trách nào lão tiền bối nghi ngờ, tôi đến Thanh Đảo trùng hợp gặp phải mấy vụ án thái hoa quái lạ, có vài lão bổ đầu cũng nghi tôi. Trong đó có một người tên Trương Minh võ công không kém, người này ngay thẳng, y đã điều tra ở nhiều nơi, cuối cùng tìm đến tôi, tôi bảo vụ án này không phải do tôi làm. Y bảo y cũng biết vụ án này tuyệt đối không phải do tôi nhưng vì có người hoài nghi nên y đòi tôi phải ra tay! Tôi nghĩ cũng có lý, nên tuy nôn nóng tìm Ngư Nương nhưng ban đêm cũng bỏ công giúp y điều tra. Sự việc rất kỳ lạ, hình như thủ phạm không chỉ một người, bọn chúng võ công đều rất cao cường, đã mấy lần tôi phát hiện tung tích nhưng đuổi theo không kịp. Có điều kỳ lạ là, bọn chúng lại mất dạng ở gần phủ khâm sai!” Dịch Lan Châu trầm ngâm một chốc, nói: “Đúng rồi, thực ra lúc đầu ta không hề nghi ngờ ngươi, sau đó nghe bọn bổ đầu bàn bạc, nói rõ là ngươi ta mới âm thầm theo dõi ngươi, đáng buồn cười ngươi chẳng hề biết gì cả”. Bạch Thái Quan thấy mặt nóng ran, không những là vị bị theo dõi mà chẳng hề hay biết mà còn bị người ta nghi ngờ. Té ra Bạch Thái Quan là một chàng công tử trẻ tuổi, nổi tiếng phong lưu phóng khoáng trong Giang Nam bát hiệp, trước khi quen biết Ngư Nương cũng từng qua lại với danh kỷ, ngâm thơ thưởng nguyệt, nhưng thực ra chàng chỉ là một danh sĩ phong lưu chứ chẳng hề có ý trêu hoa ghẹo nguyệt. Có thể nói chàng là một đấng quân tử háo sắc mà không dâm, nhưng người thế tục làm sao hiểu được chàng.

Dịch Lan Châu nói: “Thực ra ngay từ ban đầu ta đã có ý phá vụ án này, vì theo dõi ngươi nên mới để sổng mất thủ phạm. Sau đó ta thấy không phải là ngươi nhưng không đoán nổi tại sao ngươi lại theo dõi họ, mà họ đều không động thủ với ngươi? Võ công của họ đều cao hơn ngươi rất nhiều!” Bạch Thái Quan lại hổ thẹn thầm nhủ: “Chả trách nào bà ta hoài nghi mình là đồng đảng của bọn thái hoa tặc. Mìn còn tưởng rằng những kẻ này sợ tiếng tăm của mình nên mới tránh né, không ngờ võ công của bọn chúng cao hơn cả mình vậy tại sao bọn chúng không ra tay?” Bạch Thái Quan suy đi nghĩ lại mà cũng chẳng đoán nổi.

Dịch Lan Châu nói: “Bình sinh ta thấy nhiều chuyện lạ, nhưng chưa bao giờ thấy vụ án quái dị như thế này, theo lẽ thường, cao thủ thuộc hàng nhất lưu trên giang hồ rất ít làm những chuyện hạ lưu như thế này!” Bạch Thái Quan trầm ngâm một lúc, chợt hỏi: “Viên khâm sai ấy là nhân vật như thế nào?” Dịch Lan Châu nói: “Ta đã điều tra, kẻ này tên gọi là Trương Đình Ngọc, là đại học sĩ Văn uyên các, kiêm Hàn lâm bộ hộ, thích nói lý học Tống Minh, tuy là một tên nô tài nhưng tiếng tăm thường ngày cũng không tệ, chả lẽ y che giấu cho thái hoa tặc?” Lữ Tứ Nương nói: “Nói như thế, Trương Đình Ngọc là trọng thần của triều đình, sao đột nhiên lại đến nơi này?” Dịch Lan Châu nói: “Ta cũng không biết”. Bà ta trầm ngâm một lút rất lâu rồi vỗ tay nói: “Việc này càng lúc càng kỳ lạ! Trương Đình Ngọc đến chưa được ba ngày, thái hoa án đã liên tục xảy ra, chả lẽ có liên quan đến y? Không thể nào! Trương Đình Ngọc là quan nhất phẩm đương triều, dù là kẻ đê tiện cũng không cần dùng những thủ đoạn như thế, hơn nữa các nhân vật võ lâm siêu phàm làm sao chịu cúi đầu trước y?” Bạch Thái Quan nói: “Dịch lão tiền bối, bọn thái hoa tặc này đều biến mất ở gần phủ khâm sai, chúng ta có cần đi xem thử không? Tiểu điệt bị nghi ngờ, lần này phải tìm cho ra manh mối mới cam lòng!” Dịch Lan Châu nói: “Cũng chỉ đành như thế”. Thế rồi năm người đến Huyền Diệu quán ở ngoại ô phía Tây nghỉ ngơi, trụ trì của Huyền Diệu quán là cô cô của Tào Nhân Phụ, mấy ngày trước Dịch Lan Châu và Tào Cẩm Nhi đã đến nơi này trú ngụ.
Trong tám đồ đệ của Độc tý thần ni, Tào Nhân Phụ xếp hàng thứ tư, nhưng tuổi lại lớn nhất, hai mươi năm trước ông ta và nhị sư huynh Châu Tầm từng đến Hồi Cương gặp Dịch Lan Châu. Lần này Dịch Lan Châu đến Trung Nguyên tìm bảo kiếm cũng đã đến gặp ông ta. Tào Nhân Phụ rất muốn Dịch Lan Châu nhận con gái của mình làm đồ đệ nhưng Dịch Lan Châu lại không chịu, chỉ hứa dạy cho nàng một bộ kiếm pháp và dắt nàng ra giang hồ học hỏi. Dịch Lan Châu cố tình bảo nàng xuất hiện ở trong thành để dụ bọn thái hoa tặc ra, nào ngờ Bạch Thái Quan lại đi theo nàng.

Nghỉ ngơi một ngày đến tối Dịch Lan Châu và Đường Hiểu Lan đi một hướng, Bạch Thái Quan và Lữ Tứ Nương đi một hướng đến mai phục ở gần phủ khâm sai, đợi từ canh ba đến canh năm, chẳng thấy ma nào xuất hiện, chỉ đành tiu nghỉu quay về. Trời hửng sáng họ về đến Huyền Diệu quán, nào ngờ đã xảy ra chuyện lạ, hành lý của Dịch Lan Châu và Bạch Thái Quan bị người ta lục soát! Tào Cẩm Nhi ở lại canh giữ mà chẳng hề hay biết.

Ngoài ra trên bàn còn có một bức thư tạ tội, thư viết rằng: “Nữ hiệp đến miền Nam, bần tăng xuống phương Tây, cùng lúc gặp vụ án lạ, có ý điều tra, mắt hoa lầm lẫn, mạo phạm đáng trách, nữ hiệp rộng lượng mong thứ lỗi cho”. Dịch Lan Châu nhíu mày, thầm nhủ: “Thế ra ta bị người ta theo dõi mà chẳng hay biết. Đúng là châu chấu bắt ve, không biết chim sẻ ở phía sau!” những người bằng vai phải lứa trong võ lâm làm sai chuyện gì thường để lại những bức thư như thế này. Vai vế của Dịch Lan Châu, nhưng bà ta không biết trong võ lâm có ai đồng vai phải lứa với bà ta? Đường Hiểu Lan không hiểu quy củ, hỏi rằng: “Người để lại thư có phải là lão lừa trọc Liễu Ân không? Chúng ta đi điều tra bọn chúng, bọn chúng cũng điều tra chúng ta, thật là lớn gan!” Dịch Lan Châu hơi bực bội nói: “Liễu Ân dẫu lớn gan cũng không có được võ công như thế, y theo dõi ta, lẽ nào ta không biết? Trong thư tạ tội cũng đã nói rõ, xem ra người này là một cao tăng hữu đạo, cũng có tâm ý như chúng ta, có điều chuyện đời khó đoán, nếu có cao nhân như thế xuất hiện, chúng ta phải cẩn thận mới được!”

Dịch Lan Châu rầu rĩ không vui, Lữ Tứ Nương muốn gợi chuyện cho bà vui lòng, mời bà chỉ điểm kiếm pháp, Dịch Lan Châu nói: “Huyền Nữ kiếm pháp của sư phụ ngươi là chân truyền thời cổ, chẳng kém gì Thiên Sơn kiếm pháp. Trên đời này chỉ có kiếm pháp của ba nhà có thể tề danh cùng nhau, ngoài hai nhà chúng ta, còn có Đạt Ma kiếm pháp của Quế Trọng Minh. Kiếm pháp của ba nhà có điểm tương đồng nhau, ngươi đã học được chân truyền của sư phụ, cần gì phải nhờ ta chỉ dạy?” Lữ Tứ Nương lo lắng nói: “Sư phụ của tôi cũng được tiền bối chỉ điểm!” Dịch Lan Châu cười nói: “Điều đó thì khác, lúc đầu sư phụ ngươi lấy được kiếm phổ, vẫn chưa thông hiểu kiếm pháp nên cần phải có người chỉ điểm yếu quyết, giờ đây ngươi không những đã đăng đường mà cũng sắp nhận thất, không cần ta phải chỉ điểm kiếm pháp nữa, ta sẽ dạy ngươi bí quyết luyện công!” Lữ Tứ Nương vui mừng bái tạ. Dịch Lan Châu chợt nói: “Nội công của sư phụ ngươi cực cao, nếu bà ta theo dõi ta có lẽ ta không biết, nhưng người khác sao lại làm được như thế? Mấy mươi năm qua ta tránh ở ngoài tái ngoại, không biết ở Trung Nguyên còn có bao nhiêu Chưởng môn?” Bạch Thái Quan nói ra mấy cái tên, Dịch Lan Châu lắc đầu: “Đều là vãn bối của ta!” rồi tiếp tục hỏi: “Kim Quang đại sư của phái Nga Mi và Bản Không đại sư của phái Thiếu Lâm vẫn còn sống chứ?” Bạch Thái Quan nói: “Hai người ấy đều đã chết cả!” Dịch Lan Châu kêu ồ một tiếng, trong lòng càng kinh hãi hơn.

Đêm ấy bốn người vẫn chia ra hai đường đến mai phục gần phủ khâm sai, canh ba vừa qua, chợt thấy một bóng người nhảy vọt vào bên trong, người ấy kẹp dưới nách một thiếu nữ, chắc là đã bị y điểm Á huyệt nên chẳng hề kêu la gì được. Một hồi sau lại có một bóng đen nhảy tọt vào bên trong, ở nách cũng kẹp một thiếu nữ, Đường Hiểu Lan vừa nhìn đã nhận ra đó chính là Cáp Bố Đà, thầm nhủ: “Té ra y là thái hoa tặc!” đang định lên tiếng, Dịch Lan Châu kéo chàng khẽ nói: “Theo ta! Cầm sẵn phi mãng, nếu nguy hiểm phát ám khí trước!” rồi gọi Lữ Tứ Nương và Bạch Thái Quan, bốn người cùng nhảy vọt vào bên trong. Khinh công của Đường Hiểu Lan tuy không bằng hai người Dịch, Lữ nhưng thành tựu cũng đã bất phàm, bốn người lướt vào bên trong, hạ xuống đất chẳng hề phát ra tiếng, từ xa đã thấy Cáp Bố Đà khuất dạng trong dãy đình đài lầu tạ!

Trong phủ có hồ sen núi giả, cây cỏ rậm rạp, ánh trăng lạnh lẽo bao trùm khắp nơi, Dịch Lan Châu thấy xung quanh chẳng có người, thế là phóng vọt lên hòn núi giả, chỉ thấy một tòa lầu được xây theo kiểu cung điện, thế là bà ta điểm mũi chân phóng vọt lên mái cung điện. Một hồi sau, Lữ Tứ Nương, Bạch Thái Quan, Đường Hiểu Lan cũng lần lượt nhảy lên, nhìn xung quanh có rất nhiều phóng ốc, đình đài lầu tạ, Dịch Lan Châu không biết tìm từ đâu. Bên dưới có một dãy hành lang hình chữ vạn, trên mái hành lang có treo mấy mươi ngọn phong đăng hình bát giác, chợt nghe một tiếng chuông vang lên, cánh cửa một căn phòng lớn kêu kẹt một tiếng, hơn mười hán tử cao lớn cúi eo kiểng chân bước ra tựa như sợ kinh động người khác, bộ dạng trông rất buồn cười, kẻ đi sau cùng là một viên quan trông khí độ bất phàm, bọn người này chui ra khỏi lối, ở đầu hành lang lại xuất hiện một nhóm người ăn mặc giống như nhau, cả hai nhóm người sắp gặp nhau, nhóm người từ bên ngoài vào im lặng thin thít, một viên quan cúi người chào: “Trương đại nhân, ti chức xin thỉnh an!” Viên quan có điệu bộ hiên ngang nói: “Điền đại nhân, không cần ông vào nữa!” rồi bước tới khẽ nói mấy câu, kẻ được gọi là Điền đại nhân lộ nụ cười bí hiểm, cúi người thối lui. Bạch Thái Quan từng hành hiệp trượng nghĩa ở Sơn Đông, cũng biết sơ qua tình hình quan phủ, nghe bọn chúng gọi nhau như thế mới biến viên quan khí độ phi phàm kia chính là khâm sai Trương Đình Ngọc, còn kẻ được gọi Điền đại nhân chính là Tuần phủ Sơn Đông Điền Văn Kính. Điền Văn Kính cũng là danh thần thời Thanh, y là người có uy vọng trong số các phủ đài. Bạch Thái Quan thầm nhủ: “Trương Đình Ngọc tuy là khâm sai nhưng chức quan của hai người hơn kém nhau không đến một cấp. Trương Đình Ngọc là chính nhất phẩm, Điền Văn Kính là tùng nhất phẩm. Theo quy củ quan trường, nếu Trương Đình Ngọc đến Tế Nam, Điền Văn Kính phải đón tiếp long trọng, nhưng giờ đây Trương Đình Ngọc đã ra khỏi Thanh Đảo, Điền Văn Kính cũng không cần đích thân bái kiến như thế! Huống chi Điền Văn Kính lại khúm núm trước viên khâm sai, rõ ràng khắc hẳn thường ngày”.

Một lúc sau, hai nhóm người vừa mới đi xa, Dịch Lan Châu khẽ nói: “Chúng ta vào lục soát căn phòng lớn ở giữa! Hiểu Lan, ngươi theo ta. Tứ Nương, ngươi chờ ta phát hiệu lệnh rồi mới ra tay”. Rồi hai chân điểm một cái, dắt Đường Hiểu Lan phóng vọt lên mái nhà cao đến bảy tám trượng, chỉ thấy trên tám tấm bình phòng còn có một dãy cửa sổ, lập tức nảy ra kế, lại tung mình lên, đu người ở bên trên, dùng nội công tinh thâm nhẹ nhàng đánh vỡ vài mảnh ngói mà chẳng hề phát ra tiếng. Bọn Lữ Tứ Nương cũng làm theo bà ta, nhìn xuống bên dưới thì thấy có treo ngọn đèn trường minh phát ra ánh sáng vàng nhạt, xung quanh là bốn cây cột có khắc hình rồng phượng giỡn nhau. Ở giữa nhà có một công tử trẻ tuổi, Đường Hiểu Lan thất kinh, chàng ta chính là Vương Tôn Nhất! Thiên Diệp Tản Nhân, Hải Vân hòa thượng, Thần Ma song lão ngồi ở hai bên, vẻ mặt trông rất cung kính! Lữ Tứ Nương và Bạch Thái Quan cũng nhìn nhau, không biết rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?

Vương Tôn Nhất vươn eo, vỗ tay nói: “Việc chính đã bàn xong, chúng ta phải nên vui chơi. Trương Đình Ngọc thật không biết điều, đến canh ba mới đi”. Rồi quay sang một vệ sĩ áo đen nói: “Gọi Cáp tổng quản đến!” Vệ sĩ áo đen kêu “vâng” một tiếng, buông tay lui ra.

Một hồi sau, một làn u hương xộc vào mũi, ở nơi cửa phòng Cáp Bố Đà và một vệ sĩ khác đỡ hai thiếu nữ bước vào, đó chính là hai người đã bị bọn họ bắt. Lúc này cả hai đã được thay đồ đẹp, nhưng chỉ có điều mặt mũi u ám, hai mắt vô thần. Vương Tôn Nhất cười hì hì, quay đầu sang nói: “Hai người này cũng tạm được, nhưng trông cứ giống như tượng gỗ. Cần phải đưa đi huấn luyện trước, một tháng sau hãy dắt đến gặp ta!” tên vệ sĩ kêu vâng một tiếng, đang định dắt hai thiếu nữ lui ra, Vương Tôn Nhất nói: “Chúng ta đến Sơn Đông, trước sau đã chọn được bao nhiêu tú nữ?” Vệ sĩ áo đen nói: “Tổng cộng mười hai người!” Vương Tôn Nhất nói: “Đã được quan môi kiểm nghiệm chưa?” Vệ sĩ nói: “Ngoài hai ả này, tất cả đều được kiểm nghiệm, có tám người phù hợp!” Vương Tôn Nhất nói: “Cứ trả những người đã hợp quy cách về, đừng làm khó bọn chúng”. Cáp Bố Đà cười nói: “Sao không tặng cho Bảo quốc thiền sư?” Vương Tôn Nhất nói: “Nếu không thể làm tú nữ trong nội đình, e rằng chưa chắc đã hợp ý Bảo quốc thiền sư, ta sẽ chọn người đẹp khác tặng cho ông ta”. Dịch Lan Châu thầm giật mình, nhủ rằng: “Sao thái hoa tặc lại nghênh ngang đến thế? Chả lẽ bọn chúng là những kẻ triều đình ngầm phái đi chọn tú nữ? Vậy Vương Tôn Nhất là ai?” Đang suy nghĩ, chợt Thiên Diệp thiền sư quát lớn: “Gian tế thật lớn gan, xuống đây cho ta!” rồi hai chưởng vung lên, đánh vỡ mái ngói, bọn bốn người Dịch Lan Châu từ trên mái ngói rơi xuống. Té ra Bạch Thái Quan không thể kìm được nỗi phẫn nộ, vô tình đã nghiến răng, hơi thở nặng nề truyền xuống bên dưới, chính vì thế mà việc mới hỏng!

Bạch Thái Quan chân chưa chạm đất đã phóng hai mũi trủy thủ về phía Vương Tôn Nhất, quát lớn: “Té ra thái hoa tặc là ngươi!” Vương Tôn Nhất phóng vọt người lên, vỗ một ngọn trủy thủ cắm vào lưng ghế sâu đến năm tấc, còn ngọn kia bay tới, bị Vương Tôn Nhất dùng hai ngón tay kẹp chặt. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Lữ Tứ Nương vọt người nhanh như gió, chỉ một lần trồi hụp đã nhảy bổ đến bên cạnh Vương Tôn Nhất, cây Sương Hoa kiếm vung lên đánh ra một chiêu Long Đỉnh Trích Châu, đâm vào cổ họng của y. Vương Tôn Nhất lướt người né qua, trong chớp mắt đã vòng đến bên cạnh một cây mãn đường hồng, cây mãn đường hồng là một cây trụ sắt, dưới có chân, trên có đặt hoa sen, trên hoa sen lại có bốn ngọn đèn cầy, Vương Tôn Nhất không tìm ra binh khí, thế là vung tay giở cây mãn đường hồng lên, Lữ Tứ Nương đánh ra chiêu thứ hai Phi Bọc Lưu Tuyền, ánh bạch quang loang loáng tựa như mười mấy mũi kiếm đồng thời đâm tới, Vương Tôn Nhất xoay cổ tay, quét ra một chiêu Hoành Tảo Thiên Quân, gạt kiếm của Lữ Tứ Nương! Lữ Tứ Nương thất kinh, không ngờ Vương Tôn Nhất đã sử dụng Phục Hổ côn pháp chính tông của phái Thiếu Lâm.

Vương Tôn Nhất gạt được thanh kiếm, lập tức đánh tới một chiêu Hiệp Sơn Siêu Hải, y phóng vọt người đến bên trái của Lữ Tứ Nương, đẩy cây mãn đường hồng về phía trước sử dụng chiêu Ô Long Xuất Động trong phép đánh thương của phái Thiếu Lâm, hất thẳng vào bụng dưới của Lữ Tứ Nương, Lữ Tứ Nương thấy y đánh chiêu này quá khinh bạc, thế là cả giận cổ tay lật lại, ánh kiếm quang xoáy từ trái sang phải, thi triển công lực nội gia chặn vào mặt ngoài của cây mãn đường hồng, rồi nàng tiện tay đánh thêm một chiêu Phi Ưng Hổ Thố, đâm vào ba lộ trên dưới của Vương Tôn Nhất. Vương Tôn Nhất cũng bất đồ thất kinh, kiếm pháp của nàng ta quả nhiên hiếm thấy, thế là cây mãn đường hồng xuống, đánh một chiêu Tướng Quân Hạ Mã chặn thanh kiếm lại.
Lữ Tứ Nương đánh đã hăng, Dịch Lan Châu đánh càng hăng hơn! Thiên Diệp Tản Nhân vừa thấy Dịch Lan Châu hạ người xuống đã đánh ra một đòn Kim Long Thám Trảo, hai chưởng liên tục vỗ ra vù vù, y nhanh, Dịch Lan Châu càng nhanh hơn, trong màn chưởng phong nhanh ảnh, Dịch Lan Châu điểm cây gậy giáng long vào hai mắt của y, với chiêu này nếu là người khác đã không tránh nổi, nhưng Thiên Diệp Tản Nhân là đệ nhất cao thủ ở miền Tây Vực, võ công quả thực cũng có chỗ độc đáo, thế là y phất ống ta áo vỗ ngược ra một chưởng, lấy công làm thủ, hóa giải thế, tấn công, Dịch Lan Châu nói: “Đáng tiếc, võ công của ngươi như thế này mà cam chịu làm chó săn cho người khác!” thế là cổ tay lật lại, quét cây gậy giáng long xuống đất, Thiên Diệp Tản Nhân tung mình vọt lên né tránh, biến chưởng thành trảo, thi triển tuyệt chiêu trong thủ pháp Phân Cân Thác Cốt, tấn công vào chỗ trống của Dịch Lan Châu. Nào ngờ Dịch Lan Châu đột nhiên dùng gậy làm kiếm, tay phải cầm ngược chui gậy, lướt qua một bên, đâm gậy vào eo của đối thủ. Phía bên kia Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích cũng đã chặn Bạch Thái Quan, Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô thấy Dịch Lan Châu quá lợi hại, gầm lớn một tiếng vén ống tay áo, lộ ra hai cánh tay to như hai cây trụ gỗ. Thiên Diệp Tản Nhân bị Dịch Lan Châu đánh đến nỗi chẳng thể nào trả đòn được, Tát Thiên Đô ỷ có thần lực, chân trái đá hất lên, quyền phải đấm thẳng ra trước ngực, vừa khéo che chắn cho Thiên Diệp Tản Nhân. Dịch Lan Châu đâm cây gậy vào eo của Tát Thiên Đô, Tát Thiên Đô ỷ mình có mình đồng da sắt, thế là ưỡn ngực về phía trước, quát: “Mụ ăn mày già làm gì được ta?... Ối chao, ngươi sử dụng yêu pháp gì?” ở eo vừa đau vừa ngứa, y nhảy dựng lên rồi ngã xuống đất lăn lộn! Đột nhiên y lại ôm bụng cười to, khắp người mềm nhũn, té ra Dịch Lan Châu đã đâm trúng huyệt Tiếu Yêu của y, y vốn không sợ điểm huyệt, nhưng Dịch Lan Châu đã dùng chân lực nội gia mấy mươi năm, Tát Thiên Đô dẫu sao cũng chẳng phải là mình đồng da sắt, làm sao có thể chống chọi nổi?

Cáp Bố Đà vốn định giúp Vương Tôn Nhất cự Lữ Tứ Nương, thấy Thiên Diệp Tản Nhân gặp nguy, quát lớn: “Bảo quốc thiền sư mau tới đây!” rồi cùng Hải Vân hòa thượng đánh tới hai bên, Cáp Bố Đà sử dụng chùy Lưu Tinh, Hải Vân hòa thượng dùng trường kiếm, Cáp Bố Đà nhảy tới trước, bị Dịch Lan Châu dùng cây gậy hất một cái, quét đôi chùy Lưu Tinh qua một bên, Hải Vân hòa thượng xông tới, cây trường kiếm đánh ra một chiêu Trường Hồng Kinh Thiên, đâm tới trước ngực. Đột nhiên chợt thấy phía trước mắt bóng người xẹt tới, chỉ nghe Dịch Lan Châu cười nói: “Ngươi đến thật đúng lúc!” Hải Vân hòa thượng chợt thấy cổ tay tê nhói, té ra cây trường kiếm trong tay đã bị đoạt mất!

Dịch Lan Châu vốn có một cây bảo kiếm tên gọi là đoạn ngọc, đó là một trong hai thanh kiếm trấn sơn mà Hối Minh thiền sư để lại, có thể chém sắt như chém bùn, nhưng lần này bà không mang theo. Không ngờ đột nhiên bị mấy cao thủ tấn công, dùng cây gậy dẫu sao cũng không quen lắm. Lúc này thấy Hải Vân hòa thượng đâm kiếm tới thì vung tay đoạt mất, cười lớn: “Nếu các ngươi đã vây công, đừng trách ta bắt các ngươi tế kiếm!” rồi múa tít thanh kiếm loang loáng, chỉ trong chớp mắt Hải Vân hòa thượng đã trúng một nhát kiếm, nhảy ra khỏi vòng chiến, giật kiếm đấu tiếp! Thiên Diệp Tản Nhân và Cáp Bố Đà liều mạng chống trả nhưng vẫn lọt xuống thế hạ phong!

Lúc này bên ngoài tiếng người ồn ào, cửa lớn bị đá binh một tiếng, Liễu Ân hòa thượng cầm cây thiền trượng bước sải vào, y trợn mắt không khỏi kêu lên kinh hãi: “Té ra là ngươi!” rồi vung cây thiền trượng nhảy bổ tới, đánh ra một chiêu Tấn Lôi Kích Đỉnh, bổ xuống đầu Dịch Lan Châu. Dịch Lan Châu xoay người, tay trái cầm cây gậy giáng long gạt lên, tay phải đâm xéo cây trường kiếm ra ngoài bằng một chiêu Bạch Hạc Tróc Ngư, điểm vào ngực của Liễu Ân, Liễu Ân lập tức giở thiền trượng, lộn ngược người trở lại, quét ngang cây gậy vào trung lộ của Dịch Lan Châu, Dịch Lan Châu gạt cây kiếm, lộn sang một bên, Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân nhảy bổ tới, công lực của hai người này đều không khỏi tầm thường, Liễu Ân thì càng kinh người hơn, y múa tít cây thiền trượng kêu lên vù vù, Dịch Lan Châu một mình đánh với ba người nên chỉ ngang tay.

Lữ Tứ Nương đang quần thảo rất hăng với Vương Tôn Nhất, thấy rất nhiều vệ sĩ áo đen dồn vào, kiếm pháp chợt gấp gáp, đánh ra như điện chớp, quét ra mấy đường kiếm, Vương Tôn Nhất võ công tuy cao cường, nhưng chưa bao giờ thấy kiếm pháp lợi hại như thế này, khi y luống cuống thối lui, Lữ Tứ Nương đã chém ngang kiếm qua, đề vào cây mãn đường hồng, rồi phạt ngang vào ngón tay của Vương Tôn Nhất, Vương Tôn Nhất gầm lên một tiếng, ném cây mãn đường hồng nặng đến mấy chục cân ra, Lữ Tứ Nương lướt người né tránh. Cây mãn đường hồng ấy bay thẳng qua đâm vào cổ họng một tên vệ sĩ áo đen, y kêu ối chao một tiếng, ngã ngửa xuống đất, máu chảy lênh láng.

Đường Hiểu Lan nhờ có Du Long kiếm liên tục chặt gãy binh khí của bọn vệ sĩ, lúc này Tát Thiên Đô đã bớt ngứa ngáy, chỉ là khí lực vẫn chưa hoàn toàn hồi phục, thấy bọn vệ sĩ không chống trả nổi, y bật người dậy nhảy bổ về phía Đường Hiểu Lan. Đường Hiểu Lan vung mũi kiếm lách người đâm tới. Tát Thiên Đô sợ thanh kiếm của chàng, chẳng dám liều mạng, chỉ quát lớn: “Hảo tiểu tử, đưa kiếm đây!” thế rồi y phóng người lên lướt qua một bên, dùng thủ pháp Cầm Nã giật thanh kiếm của Đường Hiểu Lan, y vốn tưởng rằng võ nghệ của Đường Hiểu Lan vẫn còn kém, chẳng chịu nổi một đòn, nào ngờ Đường Hiểu Lan đã theo Dương Trọng Anh học võ nghệ năm năm, tuy Dương Trọng Anh không phải là nhân vật thuộc hàng nhất đẳng nhưng cũng chẳng kém hai tên ma đầu này bao nhiêu, vả lại Dương Trọng Anh luyện tâm pháp nội công chính tông của phái Tung Dương, truyền cho Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan luyện được năm năm, căn cơ đã vững chãi, kiếm pháp cũng tiến bộ hơn rất nhiều. Truy Phong kiếm pháp của chàng lanh lẹ lạ thường, Tát Thiên Đô quá sơ ý, đánh liều nhảy bổ tới, không ngờ Đường Hiểu Lan lật cổ tay, hất kiếm từ dưới lên trên, quát: “Trúng!” Tát Thiên Đô vừa mới bị Dịch Lan Châu đánh một gậy, di chuyển không lanh lẹ, cánh tay trái trúng thêm một nhát kiếm!

Du Long kiếm sắc bén lạ thường, mũi kiếm đã đâm vào thịt đến năm tấc. Tát Thiên Đô đau quá gầm lớn: “Hảo tiểu tử, nộp mạng đây!” y không thèm đổi chiêu, hai chưởng vẫn tiếp tục đè xuống. Tát Thiên Đô được người ta gọi là Đại Lực Thần Ma, lực của hai chưởng đâu chỉ ngàn cân, Đường Hiểu Lan đâm y trúng một kiếm chẳng qua chỉ là may mắn, lúc này chàng vẫn chưa rút kiếm về, hai chưởng của Tát Thiên Đô đã đánh xuống nhanh như điện xẹt, làm sao có thể né tránh, chỉ tưởng rằng mạng đã xong, không ngờ chưởng phong lướt qua, chàng chỉ cảm thấy đỉnh đầu như bị kiếm chém vào, nóng bỏng đau nhói nhưng không hề bị thương.

Khi Đường Hiểu Lan mở mắt ra, chỉ thấy Lữ Tứ Nương đã múa kiếm như gió đâm về phía Tát Thiên Đô! Chàng sờ lên đỉnh đầu thì thấy có vệt máu, tóc trên đầu rơi xuống một mảng lớn! Lúc này bọn vệ sĩ lại xông tới lần nữa, Đường Hiểu Lan thấy cường địch đã lui, lòng đã bớt lo, tay phải vung lên một nắm phi mãng, bọn vệ sĩ chưa từng thấy ám khí phi mãng, những kẻ võ công hơi kém đã bị trúng phi mãng của chàng. Vương Tôn Nhất giật được một thanh đơn đao, cười nói: “Đường huynh đệ, hãy trao kiếm cho ngu huynh giữ hộ! Chúng ta rất có duyên với nhau, ta không thể để bọn chúng đả thương đệ!” Đường Hiểu Lan nổi cáu nói: “Trông bề ngoài ngươi nho nhã mà té ra lại là thái hoa tặc. Ai thèm làm huynh đệ với kẻ đê tiện như ngươi!” rồi chàng vung kiếm, liên tục đánh ra những chiêu hiểm hóc. Vương Tôn Nhất vừa chống đỡ, vừa cười rằng: “Ha ha, thái hoa tặc? Đường huynh đệ, đệ bảo ta là thái hoa tặc? Chỉ e khiến cho võ lâm tiền bối ở đây cười đến rụng răng mất!” Đường Hiểu Lan nghiến răng nói: “Võ lâm tiền bối cái gì? Chỉ là một phường chó săn!” rồi lại liên tục đâm cây kiếm tới, Vương Tôn Nhất cười ha hả, đơn đao vung lên gạt kiếm của Đường Hiểu Lan ra, chém vào cổ tay của chàng ta, Đường Hiểu Lan vọt người tránh chiêu trả chiêu, lao về phía Vương Tôn Nhất. Vương Tôn Nhất tuy võ công cao hơn chàng nhưng trong nhất thời muốn đoạt kiếm của chàng chẳng phải chuyện dễ.

Lúc này bọn thị vệ đến càng đông hơn, Lữ Tứ Nương triển khai Huyền Nữ kiếm pháp đâm Tát Thiên Đô được một nhát kiếm, vội vàng rút lui cùng Đường Hiểu Lan sánh vai tác chiến. Nhờ Lữ Tứ Nương có kiếm pháp cao cường, Đường Hiểu Lan có bảo kiếm sắc bén, bọn vệ sĩ không dám đánh liều tiến tới gần. Nhưng vì ít địch nhiều, Vương Tôn Nhất lại sử dụng công phu thượng thừa của phái Thiếu Lâm, Lữ Tứ Nương và Đường Hiểu Lan dần dần rơi vào nguy hiểm!

Phía bên kia Dịch Lan Châu ác chiến với Liễu Ân hòa thượng, Thiên Diệp Tản Nhân và Cáp Bố Đà, cả ba tên này đều là cao thủ thuộc hàng đệ nhất, tuy không thể thắng nhưng đã hoàn toàn chiếm được thượng phong. Bọn ba người Liễu Ân chỉ nhờ vào hô ứng lẫn nhau, tấn công liên hoàn mới có thể miễn cưỡng chống trả nổi. Dịch Lan Châu thấy bọn vệ sĩ kéo tới càng đông hơn, trong khắp sảnh đường đều là người, bà ta nhíu mày thầm nhủ: “Tổ sư ở trên, xin thứ con mở rộng sát giới!” Kiếm pháp chợt thay đổi, chỉ thấy kiếm hoa tơi tả, điện quang loang loáng, phiêu hốt vô định, khi đánh đến lúc gấp gáp, thanh kiếm của bà ta tựa như muôn vạn ngàn con ngân xà đang phóng tới, bọn ba người Liễu Ân thối lui liên tục. Thân pháp của Dịch Lan Châu nhanh như gió, bà ta cứ lướt đi nhẹ nhàng trong sảnh đường, lúc đâm ở Đông một kiếm, Tây một kiếm, bọn vệ sĩ vừa mới thấy bóng người lướt tới, trên mình đã trúng kiếm, chỉ trong chốc lát mấy chục tên vệ sĩ áo đen đều đã ngã xuống quá nửa, trên người ai nấy đều trúng một hai vết kiếm!

Lộ kiếm pháp mà Dịch Lan Châu sử dụng cũng là Truy Phong kiếm pháp trong Thiên Sơn kiếm pháp, tuy cùng một bài kiếm pháp nhưng Dịch Lan Châu sử dụng lại lợi hại hơn Đường Hiểu Lan gấp mấy mươi lần! May mà Dịch Lan Châu lòng dạ từ bi, chỉ đâm vào các khớp hoặc những huyệt đạo không chí mạng, mục địch là giảm bớt sức mạnh của kẻ địch!

Dịch Lan Châu lướt một vòng quanh sảnh đường, bọn vệ sĩ đã ngã quá nửa, những kẻ võ công cao hơn chưa bị trúng kiếm cũng thối lui, bọn Liễu Ân hòa thượng thấy thế cả kinh, vội vàng lao tới, Dịch Lan Châu thầm nhủ: “Bắt giặc trước hết phải bắt vua, xem ra Vương Tôn Nhất là thủ lĩnh của bọn chúng, vả lại bắt tên này sẽ phá được vụ án thái hoa”. Thế là chủ ý đã định, bà ta vung cây trường kiếm, lướt người tới bên phải của Vương Tôn Nhất, đánh ra một chiêu Ngọc Nữ Đầu Thoa đâm ngang tới, Vương Tôn Nhất giơ cây đơn đao lên chặn lại đánh keng một tiếng, cây đao gãy thành hai đoạn. Liễu Ân kinh hãi, vội vàng quét cây thiền trượng tới, Cáp Bố Đà cũng liên tục đánh chùy Lưu Tinh tới, Dịch Lan Châu đánh một đòn không trúng, đã bị hai người bọn họ chặn lại.

Lữ Tứ Nương thấy Dịch Lan Châu ra tay như thế thì chợt hiểu ra, cây Sương Hoa kiếm chợt múa nhanh như gió, liên tiếp vượt qua bọn vệ sĩ, rồi nàng điểm mũi chân phóng vọt người lên, chợt đánh ra một chiêu Thiên Sơn Tuyết Băng, từ trên không đâm xuống cổ của Vương Tôn Nhất. Tát Thiên Đô phóng vọt người tới, dùng tuyệt kỹ Miêu Ưng Phốc Kích liều mạng chặn lại, mười móng tay dài gần cả thước nhất tề đâm tới, công phu của hai người đều cao cường cực kỳ, trên không trung chẳng ai né tránh được, Lữ Tứ Nương bị trúng một trảo ở vai, Tát Thiên Đô bị trúng một kiếm ở ngực, nhưng Lữ Tứ Nương công lực cao hơn, tuy trúng một trảo, cả người lẫn kiếm xoay một vòng tròn, chém bị thương bọn vệ sẽ đang dồn tới, vẫn tiếp tục đâm vào sau lưng của Vương Tôn Nhất! Tát Thiên Đô trúng một kiếm bổ nhào xuống đất, nằm ngay đơ cán cuốc!

Vương Tôn Nhất chạy vòng vòng ở sảnh đường, chợt thấy sau lưng có gió quét tới, y lập tức rùng người đánh ra một chiêu Phiên Thân Xạ Hổ, trở tay chụp lại, hai ngón tay cái điểm vào huyệt Khiếu Âm của Lữ Tứ Nương, tay phải đấm vào trước ngực của nàng, đó chính là tuyệt chiêu cứu mạng trong Phục Hổ quyền của phái Thiếu Lâm, chiêu này mục địch là tìm thắng trong bại. Lữ Tứ Nương buộc phải đổi công làm thủ, hóp bụng thu ngực, lách người né tránh, rút cây Sương Hoa kiếm quét tròn trở lại. Vương Tôn Nhất thấy nguy hiểm đã qua, lòng đã bớt lo, quyền trái chưởng phải phản kích vào hạ bàn của Lữ Tứ Nương, một tên vệ sĩ áo đen nhảy vọt như gió, tay cầm hai cây đồng giản phóng tới kịp thời, tên vệ sĩ này tên gọi Bành Vân Ấn, là phó thủ của Cáp Bố Đà, công lực cũng chẳng phải tầm thường, Lữ Tứ Nương thấy sắp đắc thủ, chợt bị cản lại, thế là đùng đùng cả giận lật cổ tay, chém ngược ra, sử dụng tuyệt chiêu Thu Thủy Hoành Châu trong Huyền Nữ kiếm pháp đâm xuyên vào hai cây đồng giản, vẫn xỉa thẳng vào ngực của Vương Tôn Nhất. Võ công của Bành Vân Ấn tinh thuần, y lui ngang hai bước, hai cây đồng giản vẫn bổ xuống, Lữ Tứ Nương tưởng rằng có thể đâm xuyên qua hai cây đồng giản, nào ngờ Bành Vân Ấn trước tiên thối lui sau đó mới phóng lên trở lại, bổ cây đồng giản xuống, dù nàng đâm trước Vương Tôn Nhất, bản thân cũng không khỏi bể đầu đổ máu.

Lữ Tứ Nương gặp nguy hiểm, thối lui cũng không kịp nữa, thế là nàng không màng tất cả, vẫn tiếp tục đâm mạnh cây Sương Hoa kiếm về phía trước. Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, Bành Vân Ấn và Lữ Tứ Nương đều bị người ta kéo tách ra hai bên.

Chính là:

Người giỏi lại có người giỏi hơn, liễu rậm hoa thưa lại một thôn.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 10: Giới luật chẳng giữ thiền sư vào nẻo mê Để giấy giải thích đồng tử lộng quyền mưu

Lữ Tứ Nương và Bành Vân Ấn nhảy bổ vào nhau nhanh như điện chớp, thế đánh cực kỳ hung mãnh, thế mà bị người ta tách ra đều không khỏi kinh ngạc. Lữ Tứ Nương vọt ngang ba bước, thu kiếm lại nhìn thì thấy có một hòa thượng gầy ốm mình mặc tăng bào màu trắng, chân mang giày cỏ, cổ tay đeo một vòng tràng hạc, hai mắt không nộ mà oai, dáng bộ trông vững vàng.

Dịch Lan Châu đánh lùi bọn Liễu Ân, Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân, chợt thấy có một hòa thượng từ trên cao vọt xuống, một tay kéo Lữ Tứ Nương ra ngoài, bất đồ cả kinh, giơ ngang kiếm định nhảy tới, chợt nghe hòa thượng quát: “Vương Tôn Nhất, ngươi còn chưa ngoan ngoãn theo ta về núi?” Dịch Lan Châu nghe thế chưng hửng, chỉ nghe Vương Tôn Nhất lớn giọng nói: “Sư thúc từ xa tới đây, tiểu điệt không kịp nghênh đón, mong sư thúc ở đây nghỉ ngơi mấy ngày, tiểu điệt đang có việc, tạm thời không thể trở về núi được!” hòa thượng ấy chỉ tay gằng giọng mắng: “Trước mặt ta mà ngươi còn giả vờ giả vịt? Ngươi làm đầy chuyện ác, không theo ta về núi, chả lẽ buộc ta phải xuống tay?” Dịch Lan Châu thấy rất kỳ lạ, bước tới mấy bước, hòa thượng ấy chắp tay làm một lễ, khiêm nhường nói: “Dịch nữ hiệp xin thứ cho tội vô lễ, tiểu tăng là giám tự của Thiếu Lâm Tung Sơn, Thiếu Lâm bất hạnh có đồ đệ hạ tiện, không những đã phiền lụy đến sư môn mà khiến Dịch nữ hiệp mất công ra tay, chùa Thiếu Lâm chúng tôi rất ái ngại! Hôm nay tôi đến đây áp giải hắn về núi, trừng trị theo quy củ, nếu Dịch nữ hiệp và các vị bằng hữu chịu nể mặt, xin mời đến chùa Thiếu Lâm Tung Sơn nghỉ ngơi vài ngày, Thiếu Lâm chúng tôi quyết không bao che cho đồ đệ, nữ hiệp có thể làm chứng!”

Dịch Lan Châu vốn nghi ngờ Vương Tôn Nhất là con em hoàng tộc, Ngư Xác thế thì không khỏi bất ngờ. Chùa Thiếu Lâm là Thái Sơn Bắc Đẩu trong võ lâm, môn đồ có khắp trong cả nước, thanh thế rất lớn, các phái khác không sao bì kịp. Trụ trì trước đây của chùa Thiếu Lâm, Bản Không đại sư là cao tăng hữu đạo được bốn phương kính ngưỡng, nếu Vương Tôn Nhất là người trong hoàng tộc, chắc chắn y không thể là môn hạ của Thiếu Lâm. Thế rồi bà mới cung tay nói: “Dám hỏi đại sư và Bản Không trụ trì xưng hô thế nào?” hòa thượng ấy đáp: “Bản Không đại sư là sư huynh của bần tăng, năm ngoái người đã không may viên tịch. Tên phản đồ này chính là đệ tử tục gia của người. Trụ trì hiện nay là Tam sư đệ Vô Trú thiền sư”. Dịch Lan Châu nói: “Vậy đại sư chính là Bản Vô?” hòa thượng ấy đáp: “Tôi và Lăng đại hiệp có duyên gặp mặt một mình, tôi đã sớm muốn lên Thiên Sơn gặp gỡ nữ hiệp, chỉ vì đường sá xa xôi, trong chùa có nhiều việc của cần phải giải quyết bởi vậy mới không đi được. Lần này mạo phạm nữ hiệp, thật là hổ thẹn!”

Dịch Lan Châu cũng thầm kêu “hổ thẹn” bởi vì thể nhớ nổi ông ta là ai. Bản Vô thiền sư tinh thông Thiếu Lâm thần quyền, công lực chẳng kém Bản Không. Luận về vai vế, ông ta bằng vai phải lứa với Dịch Lan Châu.

Bọn Liễu Ân hòa thượng, Thiên Diệp Tản Nhân và Cáp Bố Đà tung mình thối lui ra sau, bảo vệ cho Vương Tôn Nhất. Bản Vô đại sư chắp tay chào Thiên Diệp Tản Nhân, lên tiếng rằng: “Thiên Diệp đạo huynh, bần tăng đã nghe đại danh từ lâu. Không biết tại sao đạo huynh lại bao che cho phản đồ?” Liễu Ân quát: “Bản Vô đại sư, sao ông không ở Tung Sơn tu hành mà lo chuyện bao đồng thế?” Bản Vô đại sư quét cây phất trần, lớn giọng nói: “Vị này chắc là Liễu Ân đại sư đứng đầu Giang Nam bát hiệp, nghe nói gần đây đại sư xung phong đắc ý, được Tứ bối lạc mời mọc, lại được phong làm Bảo quốc thiền sư. Bần tăng chỉ là kẻ tiểu dân ở chốn sơn dã, không dám qua lại với người cao sang, bần tăng tuy có một chút giao tình với Độc tý thần ni nhưng môn hộ khác nhau, bần tăng chính vì không thèm lo chuyện bao đồng nên tuy là cố hữu của thần ni, nhưng cũng không muốn xen vào chuyện trong môn phái của bà ta, tôi nghĩ chắc sẽ có người ra mặt. Không biết tại sao đại sư lại trách tôi là lắm chuyện?” Bản Vô đại sư chỉ biết Liễu Ân nhận lời mời của Tứ bối lạc chứ không biết Thiên Diệp Tản Nhân cũng cùng một giuộc. Những câu nói vừa rồi là ngầm mỉa mai, rõ ràng biết Liễu Ân vẫn là đại đệ tử của Độc tý thần ni thế mà không nhắc đến, bởi vậy còn lợi hại hơn là mắng thẳng vào mặt Liễu Ân!

Không những Liễu Ân thẹn quá hóa giận, Thiên Diệp Tản Nhân cũng đỏ mặt. Liễu Ân vung cây thiền trượng, nạt lớn: “Lão lừa trọc Bản Vô kia, ta kính lão là bậc trưởng bối nên mới tốt bụng khuyên lão, lão tưởng ta sợ lão đấy hử?” Bản Vô cười lạnh nói: “Bần tăng tuổi già sức yếu, làm sao dám ngang ngược bá đạo như bọn tiểu bối hậu sinh? Tôi đã nghe lời quốc sư không dám nhiều chuyện nữa, nhưng Vương Tôn Nhất là sư điệt của tôi, tôi phải quản giáo y! Tôi cũng khuyên quốc sư không nên xen vào chuyện của phái Thiếu Lâm chúng tôi! Nếu quốc sư nhất định phải làm thế, xin mời quốc sư hẹn anh hùng thiên hạ đến núi Tung Sơn ban dạy!” Liễu Ân gầm một tiếng, đánh cây thiền trượng to như miệng bát ra, Bản Vô đại sư quét cây phất trần, cuộn cây thiền trượng, với một người có thần lực như Liễu Ân mà vẫn bị ông ta chặn lại! Đang bị biến chiêu chợt nghe Vương Tôn Nhất vẫn lạnh lùng nói: “Sư thúc cứ nhắc mãi đến môn quy, không biết điều thứ mười ba trong môn quy Thiếu Lâm là gì?” Bản Vô đại sư chưng hửng, té ra là điều thứ mười ba là nếu môn hạ Thiếu Lâm bị hiểu lầm phạm vào thanh quy đại giới thì được phép biện bạch. Nếu không phục đối với những lời phán xét của giám tự thì có thể mời nhân chứng đến Tung Sơn lý luận. Thời hạn nhiều nhất là một tháng. Chùa Thiếu Lâm đưa ra điều này là sợ có người bị oan khuất, dám tự phán xét sai lầm.

Vương Tôn Nhất vừa nói ra câu ấy, Bản Vô thiền sư buông lỏng tay phải, thu phất trần trở về, trừng mắt nói: “Ta tận mắt thấy đồng đảng của ngươi bắt cóc thiếu nữ dâng lên cho ngươi, ngươi là chủ mưu, chả lẽ ta vu oan cho ngươi?” Vương Tôn Nhất vẫn bình thản mỉm cười!

Bản Vô đại sư thấy y chẳng nói chẳng rằng, mặt biến sắc: “Nếu ngươi muốn biện bạch, ta cho ngươi một tháng để ngươi mới nhân chứng lên Tung Sơn! Ngươi đừng hòng dựa dẫm vào người khác chạy tội!” Vương Tôn Nhất kiêu ngạo nói: “Tại sao tiểu điệt phải chạy? Một tháng sau tiểu điệt sẽ đến Tung Sơn!” Bản Vô đại sư thấy y ung dung như thế, chẳng hề có ý khiếp sợ, trong lòng thấy kỳ lạ! Thầm nhủ nếu chẳng phải ông ta chính mắt thấy, chắc chắn chẳng dám tin y là kẻ chủ mưu vụ án thái hoa này. Bề ngoài y vừa nho nhã vừa uy võ, mặt mày đàng tử tế, ai ngờ y lại làm ra chuyện hạ tiện như thế này.

Thế rồi Bản Vô đại sư lại nói với Dịch Lan Châu: “Đến lúc đó xin mời Dịch nữ hiệp và các vị bằng hữu lên Tung Sơn làm chứng”. Dịch Lan Châu cười nói: “Hai người này là sư đệ và sư muội của Liễu Ân, Bạch Thái Quan và Lữ Tứ Nương”. Bản Vô đại sư nói: “Vậy thì càng tốt! Chúng ta đi!” lúc này bên ngoài người đông nghìn nghịt, Tuần phủ Sơn Đông Điền Văn Kính đích thân dẫn quân lính bao vây tòa lầu, Vương Tôn Nhất phẫy tay, Cáp Bố Đà chạy ra ngoài một hồi, Vương Tôn Nhất nói: “Sư thúc, xin thứ cho tiểu điệt không thể đưa tiễn!” Bản Vô nhìn ra ngoài, chỉ thấy bọn lính đã rút đi chẳng còn một mống, cười lạnh nói: “Té ra ngươi còn cấu kết với bọn Thát Đát, là quý khách của khâm sai đại nhân!” Vương Tôn Nhất kiêu hãnh nói: “Mong sư thúc cứ ghi nợ cho tiểu điệt, muốn giết muốn mổ đến lúc đó xin mời chủ trì và tiền bối võ lâm phán tội!” Bản Vô đại sư tức đến nghẹn họng, chạy ra bên ngoài. Dịch Lan Châu ngại Vương Tôn Nhất là của phái Thiếu Lâm, vả lại Bản Vô đã ra mặt, đương nhiên bà cũng đành buông tay.

Năm người quay trở lại Huyền Diệu quán, Bản Vô đại sư lại xin lỗi Dịch Lan Châu. Hai ngày sau Bản Vô đại sư quay trở về Tung Sơn, Bạch Thái Quan mời Lữ Tứ Nương đi thăm Cam Phụng Trì, định rằng lên Mang Sơn tảo mộ sư phụ trước rồi mới đến Tung Sơn.

Dịch Lan Châu tính toán lộ trình, Sơn Đông và Tế Nam nằm kề nhau, từ Thanh Đảo đến Tung Sơn, với cước trình của bà và Đường Hiểu Lan trễ nhất nửa tháng sẽ tới. Nên Dịch Lan Châu bảo Đường Hiểu Lan lưu lại trong Huyền Diệu quán, trước tiên truyền thuật thổ nạp nội công cho chàng, Đường Hiểu Lan theo Dương Trọng Anh năm năm, học được nội công chính tông, đã có căn cơ, lại được Dịch Lan Châu chỉ điểm yếu quyết, bởi vậy mới càng học dễ dàng hơn.

Sau nửa tháng, hai người Đường, Dịch từ Thanh Đảo xuống miền Nam, đi ngang qua Lâm Tri rồi lại đến Tây Triết, từ Khúc Phụ xuống Tế Ninh, vào huyện Thương Khâu của tỉnh Hà Nam, đi được mấy ngày đã đến Tung Sơn. Chỉ thấy chùa Thiếu Lâm nguy nga to lớn, quả nhiên không hổ là thánh địa võ học trong võ lâm. Vào cửa chùa đã có người đợi sẵn dắt vào tri khách đường, đi ngang qua Đại Hùng bảo điện tiến vào La Hán đường, Bản Vô đại sư đích thân nghênh đón. Thế rồi Bản Vô dắt Dịch Lan Châu đến gặp trụ trì mới của chùa Thiếu Lâm là Vô Trú thiền sư, Vô Trú thiền sư sắc mặt hiền từ, vừa nhìn đã biết là cao tăng hữu đạo. Vô Trú tuy là sư đệ của Bản Vô nhưng cũng dày công nghiên cứu Phật kinh, võ công tuy không bằng sư huynh nhưng đạo đức tu hành có thể nói thuộc hàng đệ nhất trong chùa nên mới trở thành trụ trì. Nhưng sở trường của Vô Trú thiền sư cũng là sở đoản của ông ta, ông ta cố gắng thanh tu, không hỏi việc đời, tuy không cho phép môn đồ qua lại với quan phủ, nhưng cũng không khích lệ họ đối chọi với quan phủ. Ông ta chỉ cần tiêu giao hóa ngoại, hoàng dương Phật pháp, cho rằng cầu chính quả mới là pháp môn duy nhất.

Lại nói sau khi Đường Hiểu Lan vào chùa Thiếu Lâm, đã có tri khách tăng dắt chàng vào thiền phòng nghỉ ngơi. Căn thiền phòng này nằm bên cạnh La Hán đường, trong đường có ngọn đèn lưu ly lớn, treo trên đỉnh, tim đèn to như miệng bát, phát ra ánh sáng rực rỡ, trên bàn thờ còn có cây đèn cầy to như cánh tay, tim đèn ló lên cao đến hơn nửa thước, Đường Hiểu Lan ngồi trên giường không biết bao lâu, chỉ cảm thấy xung quanh yên ắng. Đường Hiểu Lan thầm nhủ, chùa Thiếu Lâm quả nhiên danh đồn không ngoa, nghe Bạch Thái Quan nói, trong chùa có ba mươi sáu tòa điện, hơn năm trăm nhà sư, nhưng màn đêm buông xuống lại thanh tịnh như thế này, đúng là một ngôi chùa giới luật nghiêm ngặt. Chàng đang suy nghĩ, chợt nghe bên ngoài có âm thanh rất nhỏ, Đường Hiểu Lan khẽ khàng bước xuống giường, đưa mắt nhìn ra khe cửa, chỉ thấy ở đại đường có một đứa trẻ khoảng mười ba mười bốn tuổi đi chân không, tóc buộc bằng vòng vàng, trên hai cánh tay trắng buốt cũng buộc hai vòng vàng, huơ chân múa tay trong tòa đại đường, lúc thì miệng lẩm nhẩm, lúc thì ngửa mặt cười lớn trông rất kỳ quái! Đường Hiểu Lan rất ngạc nhiên, không hiểu sao trong một ngôi chùa trang nghiêm thế này mà xuất hiện một đứa trẻ, mà La Hán đường chỉ quan trọng kém Đại Hùng bảo điện, tại sao các nhà sư trong chùa lại để cho một đứa trẻ nghịch ngợm vào đây?

Một hồi sau vẫn không thấy ai bước ra, Đường Hiểu Lan nhất thời hiếu kỳ, chàng mở then cửa định bước ra ngoài, chợt thấy trước mắt hoa lên, trên mái La Hán đường chợt có một người hạ xuống, đứa trẻ mỉm cười với người ấy, người ấy đưa tay ra, đưa trẻ móc ra một cái bọc ném về phía y, người ấy vươn tay chụp lấy, y quay đầu lại, Đường Hiểu Lan mới nhìn ra đó là Thiên Diệp Tản Nhân. Đường Hiểu Lan đang kéo then cửa vội vàng cài lại. Thiên Diệp Tản Nhân hú lên một tiếng quái dị, đứa trẻ chợt quát: “Có người đến!” Thiên Diệp Tản Nhân vỗ ra một chưởng, cánh cửa thiền phòng tựa như trúng một nhát chùy sắt, đột nhiên bật ra, Đường Hiểu Lan ngã phịch xuống đất!

Đường Hiểu Lan bật người vọt dậy, chỉ thấy xung quanh La Hán đường đã xuất hiện bốn tăng nhân đứng sừng sững, Đường Hiểu Lan nhận ra một người trong số họ chính là Ngộ Hư thiền sư, tri khách tăng đã dắt chàng vào chùa. Ngộ Hư thiền sư lên tiếng hỏi: “Này, ngươi ở đâu tới? La Hán đường trong chùa Thiếu Lâm há để cho ngươi làm càn?” Thiên Diệp Tản Nhân cười ha hả: “Mời trụ trì Vô Trú thiền sư ra đây nói chuyện!” bốn hòa thượng đồng thời nạt lớn: “Trụ trì của bọn ta đâu dễ gặp hạng vô danh như ngươi”. Thiên Diệp Tản Nhân cười rộ lên, lớn giọng nói: “Cả ta mà các ngươi cũng chẳng biết, đúng là mất mặt Thiếu Lâm!” rồi ưỡn ngực ngạo mạn nói: “Các ngươi không kêu trụ trì ra, chả lẽ ta không biết đi tìm y?” bốn nhà sư liền xông tới, bao vây Thiên Diệp Tản Nhân vào ở giữa. Thiên Diệp Tản Nhân lại cười lạnh, ra tay như điện chớp, chỉ thấy hai tay y vung lên, hai nhà sư té soài ra ngoài, hai người kia cũng loạng choạng thối lui mấy bước. Chưởng lực của Thiên Diệp Tản Nhân lợi hại lạ thường, may mà bốn nhà sư đều là cao thủ trong lớp đệ tử thứ hai của chùa Thiếu Lâm, chứ nếu không đã chẳng chống nổi. Thiên Diệp Tản Nhân đắc ý dương dương, đang định xông về phía trước, chợt ở phía Đông đại đường có một bóng người lướt tới, Thiên Diệp Tản Nhân định quay trở lại, vai đã bị người ấy vỗ xuống một cái, người ấy trầm giọng nói bên tai: “A di đà Phật!” Thiên Diệp Tản Nhân hoảng hồn nhảy thối lui ba bước.

Thiên Diệp Tản Nhân tay trái hộ trước ngực, mũi chân xoay một cái, quay đầu lại thì thấy có một nhà sư mặt mũi hiền từ, nhà sư chắp tay nói: “A di đà Phật, Thiên Diệp Tản Nhân từ muôn dặm đến đây, không biết có gì chỉ giáo?” Thiên Diệp Tản Nhân nói: “Xin hỏi pháp hiệu của đại sư?” nhà sư đáp rằng: “Lão nạp chính là người Tản nhân muốn tìm!” Thiên Diệp Tản Nhân nói: “Vô Trú thiền sư quả nhiên danh đồn không ngoa, đúng là một cao tăng khiêm nhường hữu đạo. Có điều bốn vị tăng nhân vừa rồi thật là vô lễ!” Vô Trú thiền sư cười rằng: “Bọn chúng làm sao biết Tản nhân đến đây, chúng chỉ tưởng là cuồng đồ trên giang hồ! Nếu lão nạp không nhận ra Linh sơn chưởng pháp của Tản nhân, cũng tưởng Tản nhân là hạng đầu trộm đuôi cướp. Mong Tản nhân bớt giận, bần tăng xin chịu tội!” những câu nói vừa rồi có cả cứng lẫn mềm, bề ngoài là xin lỗi nhưng thực sự trách Thiên Diệp Tản Nhân coi thường quy củ của chùa Thiếu Lâm xông vào chốn thiền viện. Phái Linh Sơn của Thiên Diệp Tản Nhân và phái Thiếu Lâm tuy cách xa muôn dặm, chẳng liên quan với nhau nhưng Linh Sơn thượng nhân, sư phụ của Thiên Diệp Tản Nhân đã từng đến nghe sư phụ của Vô Trú giảng kinh vào năm mươi năm trước ở chùa Thiếu Lâm, từng bái lễ “bán sư”, nên nếu luận về vai vế, Thiên Diệp Tản Nhân thấp hơn Vô Trú thiền sư nửa bậc. Bởi vậy Thiên Diệp Tản Nhân xong vào chùa Thiếu Lâm là điều không đúng, thế mà Vô Trú thiền sư vẫn nhún nhường, Thiên Diệp Tản Nhân đành phải thu lại vẻ cuồng ngạo của mình, thế rồi cung tay nói: “Lệnh sư điệt Vương Tôn Nhất đạo đức hay võ công đều lừng lẫy giang hồ. Quý giám tự Bản Vô đại sư không biết điều đó nên gán tội danh cho y, ta nửa đời nhàn rỗi nhưng cũng thấy không vừa mắt. Ngày mai lệnh sư điệt đến Tung Sơn xin tội, ta và vài vị tiền bối võ lâm cũng muốn đến chùa Thiếu Lâm xem thử trái phải!” té ra theo quy củ võ lâm, một phái thanh lý môn hộ, người khác không được can thiệp vào. Nhưng nếu người bị gán tội không phục, thì có thể mời tôn sư của phái khác lên tiếng hộ. Có điều những chuyện như thế này trăm năm khó gặp một lần.

Vô Trú thiền sư kêu ồ một tiếng, vẫn bình tĩnh nói: “Hơn một ngàn năm qua chùa Thiếu Lâm chúng tôi đều giữ giới luật, tuyệt không bao che cho môn đồ, cũng không xử oan cho môn đồ. Nếu Thiên Diệp Tản Nhân và các bậc tiền bối trong võ lâm chịu đến đây, bần tăng thật vinh hạnh!” Thiên Diệp Tản Nhân nói: “Đắc tội!” rồi xoay lưng định bỏ đi, chợt ở cửa họng xuất hiện một người, người ấy chắp tay nói: “Thiên Diệp Tản Nhân từ xa đến đây, xin thứ chúng tôi không thể tiễn!” Thiên Diệp Tản Nhân chợt thấy kình phòng quét tới, thế là chắp tay trả lại một vái nhưng chẳng chịu nổi luồng kình phong ấy, bất đồ thối lui ra cửa đường! Thiên Diệp Tản Nhân xưa nay lấy làm kiêu hãnh vì chưởng lực của mình, không ngờ chẳng địch nổi người này, khi định thần nhìn lại, té ra đó là Bản Vô đại sư, y vội vàng lên tiếng: “Đã nhường!” thế rồi chẳng nói chẳng rằng phóng thẳng xuống núi.

Đứa trẻ ban nãy từ đầu đến cuối vẫn lắng nghe Thiên Diệp Tản Nhân và Vô Trú thiền sư đối đáp. Vô Trú thiền sư đuổi Thiên Diệp Tản Nhân, bước tới vuốt tóc nó, âu yếm hỏi: “Con có bị thương không?” Đứa trẻ trả lời: “Không có!” Bản Vô đại sư nói: “Thế thì không sao! Con hãy quay về nghỉ ngơi, hôm nay không cần luyện công, sư phụ đang đợi con đấy”. Đứa trẻ vâng một tiếng, quay vào hậu đường. Đường Hiểu Lan vốn muốn hỏi lai lịch của đứa trẻ, nhưng chàng mới tới, vai vế lại thấp, bởi vậy không tiện hỏi, chỉ đành giữ trong lòng rồi đi ngủ. Chàng nghe văng vẳng bên ngoài có tiếng của Bản Vô thiền sư, ông ta tựa như đang cãi cọ với Vô Trú thiền sư.

Sau khi Thiên Diệp Tản Nhân rút lui, Vô Trú thiền sư và Bản Vô thiền sư cùng vào Sơ tổ am. Sơ tổ am là nơi kỷ niệm Đạt Ma thiền sư. Truyền thuyết kể rằng Đạt Ma thiền sư từ Ấn Độ đến Trung Hoa vào thời Lương Võ đế, đạp trên một cành trúc mà qua sông, đến đỉnh Thiếu Thất diện bích mười năm, khai lập Thiền Tông nên gọi là Sơ tổ. Khi chùa Thiếu Lâm cử hành đại sự, những người đứng đầu trong chùa vào Sơ tổ am bàn bạc. Vô Trú thiền sư ngồi xuống mỉm cười nói: “Đến nay sư huynh vẫn còn nóng tánh, sao đêm nay cớ gì phải làm khó người ta?” Bản Vô đại sư cười nói: “Ta không muốn thành Phật, đâu học được công phu nín nhịn như sư đệ. Thiên Diệp Tản Nhân biết rõ bổn tự là Thái Sơn Bắc Đẩu trong võ lâm mà vẫn xông vào, không cho y biết lợi hại, y tưởng rằng chùa Thiếu Lâm chúng ta dễ bức hiếp”. Vô Trú thiền sư nói: “Y muốn ra mặt cho Vương Tôn Nhất theo quy củ võ lâm, ngày mai mới đến kỳ hạn, y đến sớm một đêm thông báo cũng không mất lễ nghĩa lắm, bởi vậy không nên trách y!” Bản Vô đại sư nói: “Khi ta bắt Vương Tôn Nhất ở Thanh Đảo, đã biết có nhiều cao thủ võ lâm giúp đỡ cho y, không ngờ Thiên Diệp Tản Nhân cũng trong số đó. Nếu Vương Tôn Nhất đã phóng túng như thế, ngày mai chúng ta phế đi là xong!”

Vô Trú thiền sư cuối đầu suy nghĩ một lúc lâu mới khẽ nói: “Sư huynh, việc này không bình thường!” Bản Vô thiền sư nói: “Không ngờ đồ đệ mà đại sư huynh chúng ta thương yêu nhất lại ra nông nỗi như thế!” sư huynh của Bản Vô là Bản Không vốn là trụ trì tiền nhiệm của chùa Thiếu Lâm, uy vọng trên võ lâm hơn hai vị sư đệ của mình rất nhiều nên người trên giang hồ nhắc đến Thiếu Lâm, chín phần chỉ biết Bản Không chứ không biết Vô Trú. Năm xưa chính Liễu Ân đã giới thiệu Vương Tôn Nhất, lúc đó Bản Vô đã nghi ngờ lai lịch của Vương Tôn Nhất, khuyên sư huynh không nên nhận y. nhưng Bản Không thấy Vương Tôn Nhất tướng mạo phi phàm, thông minh khác thường, chẳng những không nghe lời sư đệ mà còn truyền hết bản lĩnh cho y.
Vô Trú nói: “Đệ bảo chuyện này không bình thường, không phải chỉ vì Vương Tôn Nhất là ái đồ của sư huynh chúng ta, mà bởi vì tại sao nhiều cao thủ võ lâm chống lưng cho y?” Bản Vô thiền sư im lặng không nói, Vô Trú lại lên tiếng: “Dù Vương Tôn Nhất võ công cao cường nhưng y xuất sư được bao nhiêu năm có tài đức gì mà khiến tôn sư của một phái như Thiên Diệp Tản Nhân mà cũng phải khâm phục sát đất. Lại còn có tên hung tăng Liễu Ân, kẻ đứng đầu Giang Nam bát hiệp, xưa nay chẳng coi ai ra gì mà chịu làm bảo tiêu cho y?” Bản Vô thiền sư trầm ngâm một lúc, chợt kéo dài giọng nói: “Chả lẽ y...” Vô Trú thiền sư mặt trắng bệt, cắt lời: “Chúng ta đừng tùy tiện suy đoán, để rồi xem! Có điều đệ có một lời khuyên, sư huynh tính tình nóng nảy, nói không chừng ngày mai có liên quan đến kiếp số của Thiếu Lâm, sư huynh phải ráng nín nhịn”. Bản Vô thiền sư nổi cáu nói: “Sư đệ, đệ là trụ trì của bổn tự, đệ nói gì huynh sẽ nghe nấy”. Vô Trú thiền sư mỉm cười đứng dậy, nói: “Huynh đệ chúng ta sao lại còn nói đến lời đó? Sư huynh, huynh đừng đa tâm!” rồi hai sư huynh đệ dắt nhau ra khỏi am đường, nhìn ba mươi sáu tòa điện tắm mình trong ánh trăng, Vô Trú thiền sư chợt thở dài nói: “Cầu xin Phật tổ từ bi phù hộ, cơ nghiệp này không thể hủy trong tay của đệ!”

Sáng sớm hôm sau, Đại Hùng bảo điện trong chùa Thiếu Lâm khói hương nghi ngút, tượng Đạt Ma sư tổ đặt ở giữa, đợi cử hành một nghi thức không bình thường.

Đường Hiểu Lan với thân phận là người làm chứng cũng được mời đến, có điều chàng là kẻ vẫn bối, không được những cao tăng tiếp đãi như Dịch Lan Châu, Bạch Thái Quan, chỗ ngồi cũng khác hẳn. Người tiếp đãi chàng chính là tri khách tăng Ngộ Hư, Đường Hiểu Lan đã thức dậy từ sớm, Ngộ Hư mời chàng đi tắm rửa chờ đợi, xong xuôi Ngộ Hư dắt chàng ra khỏi thiền phòng, chỉ thấy hai hàng tăng nhân đứng thẳng tắp, ai nấy mặc tăng y mới tinh, rồi họ bước vào Đại Hùng bảo điện, năm trăm tăng nhân đã đứng vào vị trí, Đại Hùng bảo điện trang nghiêm lạ thường, hầu như có thể nghe cả tiếng thở. Hai hàng tăng nhân tư lễ tay gõ văn bản, âm thanh du dương vọng xuống. Đường Hiểu Lan ngồi ở ghế khách thứ mười ba mé Tây, khoảng nguội một chén trà, chợt chuông trống vang rền, ở nơi nguyệt môn khói hương bốc lên nghi ngút, trong làn khói có ba người bước vào, đó chính là chủ trì Vô Trú thiền sư, giám tự Bản Vô thiền sư và quý khách của chùa Thiếu Lâm Dịch Lan Châu, Bạch Thái Quan và Lữ Tứ Nương đi theo sau, Vô Trú thiền sư đến trước tượng Lạt ma sư tổ, ngồi xếp bằng trên tấm nệm màu vàng, Bản Vô thiền sư ngồi trên chiếc bồ đoàn bên phải, ba người Dịch Lan Châu, Bạch Thái Quan, Lữ Tứ Nương ngồi ở ghế bên phải. Các cao tăng của Lạt ma đường, La Hán đường, Chưởng kinh đường đều mặc cà sa, cung kính chắp tay thi lễ với Vô Trú thiền sư. Vô Trú thiền sư mặt nghiêm nghị, sau khi hành lễ trước tượng Lạt ma sư tổ, cất giọng nói: “Chùa Thiếu Lâm Tung Sơn đã có hơn một ngàn ba trăm năm, giới luật nghiêm ngặt nổi tiếng thiên hạ. Lão nạp vô đức, mới tiếp nhiệm Chưởng môn, không may có môn nhân của bổn tự là Vương Tôn Nhất vi phạm thanh quy, đi ngược đại giới, có hành vi thái hoa ở Thanh Đảo, bị Bản Vô đại sư phát hiện, lẽ ra lập tức bắt về núi trừng trị nhưng Vương Tôn Nhất không phục, yêu cầu phải đối chất với giám tự, đồng thời mời trưởng lão của phái khác cùng lý luận. Việc này liên quan đến vinh nhục của Thiếu Lâm, lát nữa sẽ tra rõ ngọn ngành. Các tăng nhân trong chùa phải lấy đây làm điều tự răn”. Rất nhiều nhà sư chưa biết chuyện này, bởi vậy trong nhất thời xì xồ bàn tán, chùa Thiếu Lâm có thái hoa tặc quả là chuyện chưa bao giờ có.

Bản Vô đại sư nói: “Chưởng môn Phương trượng, nếu sau khi tra rõ ngọn ngành, Vương Tôn Nhất quả nhiên có tội, nhưng trưởng lão của phái khác ra mặt bao che thì thế nào?” Vô Trú thiền sư nói: “Nếu có việc này chúng ta chỉ đành khuyên họ rồi trừng trị phản đồ”. Bản Vô đại sư nói: “Nếu họ không chịu thì thế nào?” Vô Trú thiền sư nổi cáu nói: “Không thể vô lý như thế!” Hoằng Pháp đại sư của Chưởng kinh đường nói: “Hành vi thái hoa tội không thể tha, nếu có kẻ bên ngoài cậy mạnh bao che, toàn bộ tăng nhân trong chùa đều có trách nhiệm hộ phách!” chủ trì Chưởng kinh đường là người chấp chưởng truyền kinh giới luật của các đời, Bản Vô đại sư chính là muốn ép ông ta nói ra điều này. Vô Trú thiền sư nhíu mày, sắc mặt nặng nề.

Vừa đến giờ ngọ, Đường Hiểu Lan thầm nhủ: “Sao Vương Tôn Nhất vẫn chưa xuất hiện, chả lẽ y không dám tới?” chợt bên ngoài có tiếng khánh vang lên, ở nơi cửa chùa, Vương Tôn Nhất cùng một đám người nghênh ngang bước vào Đại Hùng bảo điện. Những kẻ ấy chính là Liễu Ân hòa thượng, Thiên Diệp Tản Nhân, Cáp Bố Đà và Thần Ma song lão, ngoài ra còn có hai người, Đường Hiểu Lan không nhận ra, khẽ hỏi Ngộ Tính thì mới biết một người chính là cự khấu nổi tiếng miền Tây bắc tên gọi Cam Thiên Long, còn một người là trưởng lão của phái Hình Ý tên gọi Đổng Cự Xuyên, cũng là một nhân vật có tiếng tăm trên giang hồ.

Vương Tôn Nhất vừa bước vào đại điện, đã hành lễ với Vô Trú thiền sư, Vô Trú thiền sư nói: “Ngươi muốn ngồi ở chỗ đợi tội hay ở ghế thân biện, tùy ngươi chọn lựa!” số là theo quy củ võ lâm, khi xảy ra chuyện không tầm thường, môn đồ bị hạch tội nếu ngồi trên ghế đợi tội sẽ cho thấy mình từ đầu đến cuối vẫn theo bổn phái, chấp nhận tội danh, cầu mong đồng môn tha thứ. Nếu ngồi ở ghế thân biện, có nghĩa là tự mình tách rời khỏi môn phái, biện luận bằng vai phải lứa với Chưởng môn của bổn phái. Nếu làm thế dù kết quả thế nào cũng đã thoát ly khỏi môn phái. Vương Tôn Nhất ngẩng đầu lên nhìn, ghế thân biện và ghế của khách khứa đặt sát nhau, y không chần chừ mà bước thẳng tới ngồi xuống ghế thân biện. Bọn Liễu Ân, Thiên Diệp Tản Nhân cũng tuần tự ngồi xuống ở các ghế bên trái.

Mọi người ngồi xong, Vô Trú thiền sư nói lại một lượt giới luật của Thiếu Lâm, rồi cao giọng nói: “Bản Vô sư huynh, huynh là nguyên cáo, mời huynh thuật lại những hành vi của Vương Tôn Nhất cho mọi người cùng nghe”. Bản Vô đại sư đứng dậy nói: “Tháng trước ta phụng lệnh của Phương trượng đến Sơn Đông xem xét các môn đồ Thiếu Lâm, trong thời gian ở lại Thanh Đảo, nhiều vụ án thái hoa đã xảy ra, liên tiếp có mười hai thiếu nữ bị thái hoa tặc bắt cóc, sau khi ta tra xét, đã chứng thực là hành vi của Vương Tôn Nhất!” Vương Tôn Nhất cười lạnh nói: “Nếu ông thấy tôi thái hoa, tại sao không bắt ngay tại trận?” Bản Vô đại sư nói: “Không phải ngươi đích thân thái hoa nhưng chính là chủ mưu”. Ông ta hơi ngừng lại một chốc rồi nói: “Vương Tôn Nhất không chỉ phạm đại tôi thái hoa mà còn a dua theo quan lại triều đình. Y ở trong phủ khâm sai, nửa đêm sai người bắt cóc thiếu nữ, dùng phủ khâm sai làm sào huyệt thái hoa!” Vương Tôn Nhất lại cười lạnh: “Ở trong phủ khâm sai cũng có tội sao?” Hoằng Pháp đại sư của Chưởng kinh đường đứng dậy nói: “Chùa Thiếu Lâm chúng ta nhiều đời đã truyền, chỉ giữ thanh quy không màng đến triều chính. Ở trong phủ khâm sai không tính là có tội nhưng bắt cóc thiếu nữ chính là đại tội. Xin các vị đừng nói lan man sang chuyện khác, chỉ nói rốt cuộc Vương Tôn Nhất có sai khiến đồng đảng bắt cóc thiếu nữ cho y hay không mà thôi”. Hoằng Pháp nói như thế khiến Bản Vô cũng thấy hơi lúng túng. Số là nhiều đời phái Thiếu Lâm tương truyền, tuy không màng đến triều chính, nhưng từ sau khi nhà Minh sụp đổ, dị tộc xâm lăng, các nhà sư đều không xu phụ người Mãn, và mặc nhiên giúp đỡ các chí sĩ của triều Minh, Bản Vô cũng từng đề nghị đưa việc phản Minh phục Thanh vào tự quy nhưng Vô Trú thiền sư thấy việc này quan hệ quá lớn nên không chấp nhận. Trong lòng Bản Vô đại sư, xu phụ người Mãn còn đáng phỉ nhổ hơn cả tội thái hoa nên trong nhất thời mới trách cứ phản đồ, không nhớ rằng trong tự quy không có điều này.

Vương Tôn Nhất cãi rằng: “Ông nói tôi chủ mưu thái hoa, có gì làm bằng chứng?” Dịch Lan Châu đứng phắt dậy: “Ta làm chứng!” rồi chỉ Cáp Bố Đà và Cam Thiên Long: “Ta thấy hai người này bắt cóc thiếu nữ dâng cho Vương Tôn Nhất”. Rồi kể lại tình hình đêm ấy. Các nhà sư đều kinh hãi!

Vô Trú thiền sư nghiêm mặt nói: “Dịch nữ hiệp là truyền nhân duy nhất của Thiên Sơn kiếm, vai vế cao nhất trong chốn võ lâm, bà ta tuyệt không vu oan cho bọn tiểu bối, không biết nhà ngươi còn có thể nói gì nữa?”

Vương Tôn Nhất đứng dậy nói: “Có phải lúc nãy Hoằng Pháp đại sư của Chưởng kinh đường bảo rằng bổn tự từ xưa đến nay không màng đến chuyện triều đình không?” Vô Trú thiền sư nói: “Việc thái hoa có liên quan gì đến triều đình? Ta chỉ hỏi ngươi, Dịch nữ hiệp nói đúng hay sai?” Vương Tôn Nhất hiên ngang nói: “Đúng thế!” lập tức trong chùa xôn xao, Hoằng Pháp đại sư cao giọng nói: “Theo giới điều của tổ sư, kẻ phạm tội thái hoa phải bị thiêu sống!”

Vô Trú thiền sư dập đầu ba cái trước tượng Lạt ma tổ sư, từ từ đứng dậy, trầm giọng quát: “Nghịch đồ Thiếu Lâm Vương Tôn Nhất sai khiến thái hoa, bắt cóc thiếu nữ, tội chứng đã rõ rành rành, sau khi được trụ trì Chưởng kinh đường tra xét giới điều rõ ràng, thấy rằng tội đáng xử tử, hôm nay lập tức chấp hành!” rồi phất tay một cái, bốn tăng nhân của Đạt Ma viện rời chỗ ngồi bước ra. Dịch Lan Châu và Bản Vô đưa mắt nhìn Liễu Ân hòa thượng và Thiên Diệp Tản Nhân, sợ rằng y giúp Vương Tôn Nhất. Nào ngờ bảy tên cao thủ đi cùng Vương Tôn Nhất vẫn ngồi yên chẳng hề nhúc nhích.

Bốn tăng nhân chưởng hình chậm rãi bước tới, Đại Hùng bảo điện chợt im ắng lạ thường, năm trăm tăng nhân nín thở chờ đợi, Vương Tôn Nhất đứng phắt dậy, cười lạnh quát: “Ai dám bắt ta?” rồi y cởi áo ngoài, trên ngực áo trong có thêu hình con rồng vàng năm móng, bốn bên có ngọc mắt mèo sáng chói, bốn tăng nhân chưởng hình bất đồ đứng lại, chỉ nghe Cáp Bố Đà quát: “Đây là Tứ bối lạc, các ngươi sao không quỳ xuống?”Té ra Vương Tôn Nhất chính là tên giả của Dận Trinh, y lập tâm cướp đoạt ngôi vua nên vi phục xuất cung kết giao với anh hùng hào kiệt trong thiên hạ, còn mình cũng vào trong phái Thiếu Lâm học võ công trong vòng ba năm.

Năm ngoái Dận Trinh trở về Bắc Kinh, vâng lệnh phụ hoàng thành hôn cùng Nữu Cô Lộc thị, Nữu Cô Lộc thị dung mạo tầm thường, không được Dận Trinh thương yêu. Khi Dận Trinh xuất trinh mới chợt nghĩ rằng, trong cung tuy cứ mỗi vài ba năm chọn tú nữ một lần, nhưng nhà giàu có vì hạnh phúc suốt đời của con cái thường bỏ tiền bạc mua chuộc người trong phủ nội vụ, gạch tên con cái của họ, dù thiếu nữ nhà nghèo vừa nghe đến đợt chọn tú nữ cũng vội vàng lấy chồng hoặc trốn tránh, nên mỗi lần chọn tú nữ tuy có hơn ngàn người nhưng người xinh đẹp cực ít, Khang Hy có nhiều con trai, khi phân đi các vương phủ càng không hợp ý. Dận Trinh thầm nhủ: “Trong tay mình có nhiều người tài, sao không bảo bọn chúng tìm thiếu nữ xinh đẹp cho mình để khỏi chọn lựa phiền phức bởi vậy mới gây ra những vụ án thái hoa ở Thanh Đảo”.

Không ai ngờ đến chuyện này, Vương Tôn Nhất là bối lạc đã đủ lạ, mà bối lạc lại làm chuyện thái hoa lại càng không thể tưởng tượng nổi. Trong khoảng sát na, Đại Hùng bảo điện rộn lên tiếng bàn tán ồn ào, Bản Vô đại sư mặt nổi gân xanh, chợt quát lớn: “Bối lạc phạm pháp cũng trị tội như thứ dân!” Dận Trinh lớn giọng nói: “Tất cả mọi thứ trong gầm trời này đều là của nhà ta. Ta muốn bắt vài thiếu nữ dân gian để khỏi phiền phức lựa chọn thiếu nữ, đó cũng là việc công, làm sao nói ta phạm pháp? Dù ta phạm pháp cũng có phủ tông nhân, chùa Thiếu Lâm chẳng có quyền gì quản ta!”

Dận Trinh miệng lưỡi lanh lẹ, chỉ mấy câu đã khiến Bản Vô đại sư cứng họng. Các tăng nhân trong chùa đều phẫn nộ. Hoằng Pháp đại sư chợt lớn giọng nói: “Ta chỉ biết ngươi là Vương Tôn Nhất môn đồ của phái Thiếu Lâm chứ không biết Tứ bối lạc gì cả. Ở đây không có phủ tông nhân, chỉ có môn quy của phái Thiếu Lâm!” Bản Vô đại sư được ông ta nhắc nhở, lạnh lùng nói: “Triều đình có quốc pháp, Thiếu Lâm cũng có môn quy, ngươi là môn đồ của Thiếu Lâm, dù cho ngươi là đương kim Hoàng đế cũng phải trừng trị theo quy củ giang hồ!” Liễu Ân quát lớn: “Phản rồi! Phản rồi!”

Thiên Diệp Tản Nhân đứng dậy nói: “Tuy nói các phái trong võ lâm đều có môn quy, nhưng việc này không phải tầm thường, phải xử lý quyền nghi. Tứ bối lạc chọn thiếu nữ trong dân gian làm sao có thể tính là thái hoa! Tự quy của Thiếu Lâm tuy nghiêm ngặt nhưng cũng phải tuân theo quốc pháp!” Vô Trú thiền sư im lặng không nói, Bản Vô đại sư trợn tròn mắt, quát lớn: “Nếu chùa Thiếu Lâm e sợ kẻ quyền quý, từ rày về sau làm sao có thể lãnh tụ võ lâm? Chuyện hôm nay chính là khảo nghiệm cho phái Thiếu Lâm chúng ta! Chùa Thiếu Lâm có môn đồ như thế chính là nỗi nhục, Chưởng hình tăng nhân, hãy bắt Vương Tôn Nhất!” Thiên Diệp Tản Nhân nhảy ra khỏi chỗ, lạnh lùng nói: “Chùa Thiếu Lâm có quy mô như thế thật không dễ dàng. Bản Vô đại sư không chịu nghe lời tốt chỉ muốn làm theo ý mình, chẳng lẽ không màng đến tâm huyết của tổ sư các đời, muốn hủy cơ nghiệp trăm năm trong một ngày sao?” y nói ra câu ấy, Vô Trú thiền sư và trưởng lão Lạt ma việc đều không khỏi chần chừ, có một số tăng nhân trẻ tuổi càng phẫn nộ hơn, năm trăm tăng nhân bàn tán ồn ào, vô hình trung đã chia thành hai phái, một phái tuy tức giận nhưng vì muốn giữ vững cơ nghiệp của chùa Thiếu Lâm, nên chủ trưởng xử lý khoan dung, không hỏi tội danh. Còn một phái kia thì cứng rắn thà hủy chùa vong thân cũng phải giữ danh dự cho chùa Thiếu Lâm.

Vô Trú thiền sư niệm một tiếng Phật hiệu, lớn giọng nói: “Các vị võ lâm tiền bối và mọi người hãy tạm thời im lặng. Chuyện hôm nay chẳng phải tầm thường, lão nạp cũng không dám tự tiện làm chủ. Xin mời chủ trì ba đường và trưởng lão Đạt Ma viện theo lão nạp đến Sơ tổ am bẩm cáo tổ sư, bàn bạc rồi sẽ tuyên bố. Xin mời các vị khách đợi một lát”. Rồi cùng mười hai nhà sư bước vào trong bàn bạc. Năm trăm tăng đồ cũng giới bị nghiêm ngặt. Dù Dận Trinh gan lớn bằng trời cũng phải hơi run sợ.

Bọn Vô Trú thiền sư lui ra một lúc khá lâu mà vẫn không thấy quay lại, Đường Hiểu Lan đưa mắt nhìn, chợt thấy một bóng người dợm chân bước vào nhưng lại quay ra, Thần Ma song lão chợt đứng dậy thò đầu nhìn ra ngoài, bóng người ấy chợt biến mất, nhưng trông rất quan mắt. Các nhà sư thấy Thần Ma song lão đứng dậy cũng chạy tới bao vây, Thần Ma song lão tiu nghỉu ngồi xuống. Trong lúc hỗn loạn, có một đứa trẻ bước vào nội điện, đó chính là đứa trẻ kỳ mà Đường Hiểu Lan đã gặp. Đường Hiểu Lan bất đồ bước gần tới vài bước, nghe một tăng nhân cười nói: “Canh Nghiêu, ngươi cũng muốn ra xem náo nhiệt ư? Sư phụ của ngươi sao không đến?” Đường Hiểu Lan giật mình, thầm nhủ: “Hình như mình đã nghe cái tên Canh Nghiêu này ở đâu đó!” đứa trẻ mỉm cười, nói: “Làm sao ta biết?” Đường Hiểu Lan định bước tới gần, Vô Trú thiền sư đã cùng mười hai cao tăng bước ra trở lại.

Vô Trú thiền sư rất cẩn thận già dặn, vốn không muốn gây phiền phức, bàn bạc một hồi mới nói: “Thiên Diệp Tản Nhân tuy có ý uy hiếp, nhưng nếu cơ nghiệp của Thiếu Lâm sụp đổ trong lúc này, chúng ta làm sao có thể ăn nói với tổ sư các đời?” Hoằng Pháp đại sư chợt nói: “Trụ trì, xin hỏi từ ngày Thiếu Lâm dựng nghiệp đã trải qua bao nhiêu năm?” Vô Trú thiền sư ngạc nhiên nói: “Sao huynh lại hỏi tôi? Thiếu Lâm Tung Sơn đã trải qua hơn một ngàn ba trăm năm, tăng nhân trong chùa ai mà không biết?” Hoằng Pháp đại sư nói: “Đúng thế! Thử hỏi một ngàn ba trăm năm qua, bao nhiêu triều đại đã thay đổi? Cái uy của bậc đế vương chỉ được nhất thời chứ không thể đến trăm đời. Triều đại có thể đổi nhưng tự quy của Thiếu Lâm chúng ta không thể thay, chả lẽ danh dự ngàn năm của chùa Thiếu Lâm chúng ta không thể so với một bối lạc hay sao?” Bản Vô đại sư cũng nói: “Hoằng Pháp nói có lý, nếu hôm nay chúng ta không chấp hành giới quy của tổ sư, dù chùa Thiếu Lâm có còn tồn tại nhưng danh dự đã tiêu tan, chẳng qua chỉ có danh còn mà thực sự đã mất. Nếu chúng ta kiên quyết trừng trị, giữ vững tôn nghiêm của chùa Thiếu Lâm, chùa Thiếu Lâm tuy danh mắt mà thực còn, mãi mãi là Thái Sơn Bắc Đẩu trong võ lâm, chúng ta phải có cái nhìn lâu dài. Sư đệ, đệ là chủ trì, cần phải kiên quyết mạnh dạn, dựng nghiệp tuy khó khăn, nhưng chùa bị hủy có thể xây dựng lại, người mất nhưng tuyệt kỹ có thể truyền lại. Với tiếng tăm và tinh thần đã vun bồi hàng ngàn năm qua, một khi hư hỏng sẽ không thể khôi phục được nữa”. Vô Trú thiền sư nhắm mắt trầm tư một lúc rất lâu mới thở dài đứng phắt dậy, cùng mọi người bước ra khỏi Sơ tổ am đi thẳng vào Đại Hùng bảo điện. Mọi người thấy ông ta sắc mặt nặng nề, không biết ông ta quyết định như thế nào, chẳng ai dám lên tiếng hỏi.

Vô Trú thiền sư bước vào điện, tăng nhân chấp sự lập tức khua chiêng gõ trống, tất cả mọi người đều im lặng, Hoằng Pháp đại sư chắp tay hỏi: “Vương Tôn Nhất có tội hay không?” Vô Trú thiền sư trầm giọng đáp: “Có tội!” bọn người đi theo Dận Trinh đều biến sắc. Thiên Diệp Tản Nhân nói: “Mong được nghe lý lẽ của chủ trì!” Vô Trú thiền sư nói: “Vương Tôn Nhất tuy là hoàng tộc nhưng khi y vào chùa Thiếu Lâm lại lấy thân phận của người bình thường. Bản Không đại sư là sư phụ của y, không phải là giáo đầu trong cung của y. Thiếu Lâm là một phái trong võ lâm, môn đồ phạm vào đại giới thái hoa, cần phải xử phạt theo giới luật!”

Bốn nhà sư chưởng hình nói: “Lãnh chỉ!” rồi thong thả bước tới, Liễu Ân và Cáp Bố Đà đứng hai bên Dận Trinh, các tăng nhân chưởng hình tựa như chẳng hề nhìn thấy, vẻ mặt vẫn rất nghiêm nghị, tiếp tục tiến về phía trước. Dận Trinh chợt quát: “Hãy thong thả!” Vô Trú thiền sư nói: “Ngươi có gì muốn nói?” Dận Trinh lấy ra một tờ giấy, lớn giọng nói: “Sau khi ta nhập môn đã từng nói rõ thân phận với Bản Không sư phụ, ngày ta ra khỏi chùa, ông ta đã viết giấy nói rõ ràng, Chưởng môn Phương trượng, hãy xem rồi sẽ rõ”. Cáp Bố Đà cầm lấy tờ giấy đưa cho Vô Trú thiền sư. Vô Trú thiền sư đọc xong sắc mặt lộ vẻ kinh ngạc, cúi đầu không nói. Bản Vô và Hoằng Pháp vội vàng ghé đầu qua xem, xem xong Bản Vô nổi cáu: “Bản Không sư huynh của ta tuyệt không phải là người như thế. Tờ giấy này chỉ là giả”. Té ra trên tờ giấy viết rằng: “Bản Không chủ môn Phương trượng đời thứ bốn mươi sáu của chùa Thiếu Lâm, báo cho Phương trượng đời sau biết, đệ tử đời thứ bốn mươi tám Vương Tôn Nhất là bối lạc Dận Trinh, mến danh của chùa Thiếu Lâm ta, không nề gian khổ vào chùa học võ công để sau này ra sức cho triều đình, hoàng dương võ nghệ của chùa Thiếu Lâm ta, mong làm hộ pháp, giữ vững trang nghiêm. Thiếu Lâm may mắn nên mới được bối lạc ghé đến, theo nghĩa quân thần, theo quy củ võ lâm, Dận Trinh là đệ tử của Thiếu Lâm, nhưng bỏ đi danh sư đồ, Dận Trinh vào chùa, cho phép miễn lễ quỳ bái đối với trưởng bối, không chịu ức thúc bởi giới luật của Thiếu Lâm. Giấy này do Dận Trinh cất giữ, sau khi ta viên tịch sẽ truyền cho Phương trượng đời tiếp theo. Bản Không dự”.

Bản Vô nhủ: “Bản Không sư huynh là người ngày thẳng, tuy thanh tu nhưng trong lòng vẫn mong nhớ Hán thất, nếu biết y là hòang tử chắc chắn đã chẳng chịu thu nhận là học trò. Dù thu nhận y là học trò, khi viên tịch cũng phải nói với chúng ta. Mảnh giấy này tuyệt đối là giả!” Vô Trú thiền sư lại nghĩ: “Sư huynh vì giữ cơ nghiệp, chắc là cũng vì bất đắc dĩ nên mới thu nhận Dận Trinh. Chuyện này là đại cơ mật, nên ông ta mới không nói cho chúng ta biết”. Hai người suy nghĩ khác nhau, Bản Vô trong lòng bồn chồn, Vô Trú lại im lặng không nói.

Dận Trinh cười lạnh: “Giám tự bảo tờ giấy này là giả, xin hỏi chủ trì, có phải đây là bút tích của Bản Không đại sư hay không?” Bản Vô cướp lời: “Bút tích không đủ làm bằng, ngươi có người làm chứng hay không?”

Nói chưa dứt lời, chợt giọng nói trẻ con vang lên: “Ta đến đây làm chứng!” đứa trẻ ấy chợt nhảy ra, Hoằng Pháp quát: “Niên Canh Nghiêu, ngươi còn nhỏ biết gì, không được nói càn”. Đường Hiểu Lan chợt nhớ ra, bằng hữu của có thể là Chung Vạn Đường đã từng nói, ông ta thâu nhận được một đứa trẻ nghịch ngợm nhất trên đời làm học trò, họ tên là Niên Canh Nghiêu, chả lẽ là đứa trẻ này? Tại sao đột nhiên nó lại xuất hiện ở chùa Thiếu Lâm, mà lại không thấy Chung Vạn Đường? Đường Hiểu Lan không biết rằng, Chung Vạn Đường vốn cũng ở trong chùa, té ra Chung Vạn Đường là đồ tôn của Phó Thanh Chủ, Phó Thanh Chủ và sư phụ của Bản Không, tức là Phương trượng đời thứ bốn mươi sáu của chùa Thiếu Lâm Thống Thiền thượng nhân giao tình rất tốt, nên hậu bối của họ cũng quen biết nhau, cứ mỗi một hai năm Chung Vạn Đường đều đến chùa Thiếu Lâm ở mấy tháng. Niên Canh Nghiêu ở huyện Trần Lưu tỉnh Hà Nam, cách Tung Sơn không xa, Chung Vạn Đường rất yêu thương Niên Canh Nghiêu nên cũng dắt nó lên núi du ngoạn. Thiếu Lâm tam lão Bản Không, Bản Vô, Vô Trú thấy Niên Canh Nghiêu thông minh tuyệt đỉnh, nghe một hiểu mười, bởi vậy cũng rất yêu thương nó, nhất là Bản Không phương trượng càng coi nó như bảo bối, thường giữ nó trong phòng truyền dạy võ công. Đêm qua Đường Hiểu Lan huơ chân múa tay trong La Hán đường chính là lúc nó đang luyện La Hán Phục Hổ quyền. Sau khi Bản Không chết đi, Niên Canh Nghiêu vẫn thường lên núi, lần này nó và Chung Vạn Đường đã được hơn một tháng.

Chung Vạn Đường không phải là người làm chứng nên Vô Trú thiền sư không mời ông ta. Sau đó Đại Hùng bảo điện ồn ào, Niên Canh Nghiêu không kìm được, đòi Chung Vạn Đường dắt tới, đứng bên ngoài điện quan sát, không ngờ Chung Vạn Đường vừa nhìn vào đã thấy Thần Ma song lão. Mười năm này, Chung Vạn Đường mai danh ẩn tích, trốn chạy khắp nơi, chính là vị sợ Thần Ma song lão, vì thế ông ta mới vội vàng tránh mặt, còn Niên Canh Nghiêu thì đã lẩn vào trong chùa.

Niên Canh Nghiêu nghe Hoằng Pháp quát như thế, cười hì hì nói: “Làm sao tôi không biết? Tôi biết Vương Tôn Nhất chính là Tứ bối lạc, Bản Không đại sư đã từng nói với tôi, khi người viết thư, tôi cũng ngồi bên cạnh! Người căn dặn tôi đừng nói ra, tôi mới kìm nén mấy năm nay. Lúc đó tôi vì hiếu kỳ, đứng một bên xem nên vẫn còn nhớ mảnh giấy viết gì!” Bản Vô và Vô Trú biết nó có bản lĩnh vừa nhìn đã nhớ ngay. Thế rồi Vô Trú nói: “Trẻ con không được nói càn, ngươi hãy đọc lại cho ta nghe”. Niên Canh Nghiêu đọc lớn một lần, quả nhiên chẳng sai một chữ, Bản Vô nghe thế chẳng nói gì, Niên Canh Nghiêu đọc xong rồi lại nói: “Hai ngày trước khi Bản Không đại sư qua đời, còn viết thư để lại cho tôi, bảo rằng nếu có việc gì lớn hãy đi tìm vị sư huynh bối lạc này. Trụ trì, mời ông hãy xem”. Rồi lấy ra một phong thư, Bản Vô ghé đầu qua xem, thấy nét chữ trên bì thư quả nhiên là của Bản Không. Bản Vô thở dài: “Thôi đi! Thôi đi!” rồi tiu nghỉu ngồi xuống, các nhà sư trong chùa chạy tới, Vương Tôn Nhất hiên ngang đứng dậy, chào Vô Trú thiền sư rồi xông ra ngoài. Bản Vô chợt quát lớn: “Ngươi còn muốn chạy?”

Chính là:

Phật môn Sư Tử Hống, trẻ con trêu thiền sư.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau