GIANG HỒ TAM NỮ HIỆP

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước

Chương con truyện Giang hồ tam nữ hiệp - Chương 46 - Chương 48

Chương 46: Cùng đường hết lối công danh theo nước chảy Núi hoang chùa cổ kiếm khí bắn hàn tinh

Phùng Lâm cười khanh khách: “Không phải ta mỉa mai ngươi, chính là bản thân ngươi tự mỉa mai mình. Làm người phải biết hối hận, lẽ nào ngươi không hiểu câu này? Ngươi tự làm tự chịu, giờ đây vẫn còn chưa hối hận sao?” Niên Canh Nghiêu trầm ngâm không nói, Phùng Lâm đổi sắc mặt, chợt nghiêm nghị nói: “Nếu có thể nhớ bài học của Chung ân sư, ngươi không có ngày hôm nay!” Niên Canh Nghiêu bất giác ngẩng ra, chỉ nghe Phùng Lâm tiếp tục nói: “Ta đã biết chuyện trước kia, nhà họ Niên đã từng nuôi dưỡng ta, điều này ta không quên”.

Niên Canh Nghiêu chưng hửng nói: “Ngươi đã nhớ lại?” Phùng Lâm nói: “Tuy lúc nhỏ ngươi ngang tàng bá đạo nhưng đối với ta cũng không tệ”. Niên Canh Nghiêu mừng rỡ nói: “Đúng thế! Ta xưa nay coi ngươi như thân muội, đối xử với ngươi tốt hơn hết cả mọi người. Đa tạ ngươi đến thăm ta, dù sao này Niên Canh Nghiêu tan xương nát thịt, có một tri kỷ cũng không hề tiếc nuối”. Phùng Lâm chợt cười lạnh, rồi trầm giọng nói: “Nhưng ngươi càng lớn càng hư, hư đến mức không sửa đổi được! Hừ, ngươi có còn nhớ hay không, ngươi muốn tặng cho Hoàng đế để giữ công danh cho mình? Ta không chịu nghe theo, ngươi âm thầm hảm hại ta, nếu không nhờ Lý Trị ca ca ra tay cứu chữa, cái mạng này đã không giữ được nữa. Thân muội cái gì? Ngươi nói thế không sợ ta buồn nôn hay sao?”

Niên Canh Nghiêu mặt lúc xanh lúc đỏ, gục đầu nói: “Ta biết”. Phùng Lâm nói: “Ngươi đối với ta không tốt, chẳng hề gì. Nhưng ân sư đã dốc hết tâm lực dạy dỗ ngươi thành tài, ngươi dẫn sói vào nhà hại chết người! Nếu chẳng phải ngươi may mắn thoát chết, hôm nay ta đã trừng trị gian đồ cho bổn môn!”

Niên Canh Nghiêu chợt ngẩng đầu lên nhìn: “Ồ, té ra truyền nhân của phái Vô Cực là ả nha đầu nhà ngươi”. Phùng Lâm nhíu mày nói: “Thế nào, ta không xứng sao?” Niên Canh Nghiêu nói: “Ngươi cứ yên tâm mà làm. Công danh phú quý của ta đều đã mất cả. Chả lẽ ta còn tranh với ngươi cái chức Chưởng môn nhỏ bé ấy?” Phùng Lâm nhíu mày, lắc đầu nói: “Ta thật chưa bao giờ thấy người đã sắp chết tới nơi còn không chịu tỉnh ngộ, mở miệng ra là phú quý, đóng miệng lại là công danh, ngươi bảo không quan tâm nhưng thực sự thì ngược lại. Lữ tỉ tỉ từng nói ngươi coi như cũng là một bậc nhân tài, nhưng bị hai chữ danh lợi kiềm chế. Trước đây ta không hiểu, nhưng giờ đây thấy chẳng sai chút nào”.

Hai người nói chuyện một hồi, sắc trời đã sáng, Lý Trị đứng từ xa huýt một tiếng sáo dài, Phùng Lâm nói: “Ta phải đi đây!” Niên Canh Nghiêu dõng tai lên nghe, chợt nói: “Ai đến đây cùng ngươi?” Phùng Lâm nói: “Ngươi hỏi điều đó làm gì?” Niên Canh Nghiêu nói: “Có phải là tên tiểu tử Lý Trị hay không?” Phùng Lâm tức giận nói: “Cái gì mà tiểu tử? Chàng còn tốt hơn ngươi nhiều!” rồi cao giọng trả lời: “Lý Trị ca ca, muội đến đây!”

Niên Canh Nghiêu lộ vẻ mặt kỳ dị, chợt hỏi: “Lâm cô nương, ngươi có còn nhớ hay không, trong vườn chúng ta lúc trước có một cái ao, trong ao có nuôi một đôi vịt, khi ngươi còn nhỏ, ta đã bế ngươi ra xem đôi vịt ấy giỡn nước”. Phùng Lâm giật mình, sầm mặt nói: “Ngươi cứ nói những lời vô bổ ấy làm gì?”

Niên Canh Nghiêu nói: “Nhớ lại chuyện lúc nhỏ, ta thực sự hối hận vô cùng”. Phùng Lâm trầm giọng nói: “Hối hận cũng đã muộn!” Niên Canh Nghiêu thở dài, làm ra vẻ muốn nói gì đấy nhưng lại thôi, Phùng Lâm nói: “Có việc gì ngươi nói mau lên! Ta phải đi đây”. Lời lẽ đã mềm dịu hơn nhiều, Niên Canh Nghiêu nói: “Ta vốn mong có thể cùng ngươi ở bên nhau. Lúc nhỏ ta đọc binh thư, ít nhiều cũng hiểu đến đạo hành quân, nếu ngày sau các ngươi dấy binh, ta nguyện tự tiến cử”. Phùng Lâm giật mình, thầm nhủ: “Niên Canh Nghiêu là một tướng tài, nếu y thành tâm thành ý, có lẽ cũng nên suy nghĩ lại. Chi bằng để mình bàn với Lý Trị ca ca xem thử thế nào!” Phùng Lâm cúi đầu suy nghĩ, Niên Canh Nghiêu lại nói: “Ngươi không tin ta sao?” Phùng Lâm ngẩng đầu lên, tiếp xúc với ánh mắt của Niên Canh Nghiêu, nàng chợt giật mình, chỉ cảm thấy trong mắt của Niên Canh Nghiêu tựa như chứa đầy sự gian trá, chẳng hề khiến cho người ta tin cậy. Niên Canh Nghiêu lại thở dài nói: “Ngươi thật không tin ta sao?” Phùng Lâm nói: “Ngươi có thể hối hận thì tốt, nhưng việc này ta không thể làm chủ, để ta gặp Lữ tỉ tỉ rồi mới tính”. Niên Canh Nghiêu nói: “Nói thế cũng bằng thừa”. Phùng Lâm dậm bước toan bỏ đi, Niên Canh Nghiêu lại kêu: “Lâm cô nương, còn có một việc nhỏ nữa”. Phùng Lâm quay người nói: “Việc gì, nói mau!” Niên Canh Nghiêu nói: “Chẳng phải ngươi đã làm Chưởng môn của phái Vô Cực rồi sao? Vậy hãy cầm kiếm của ngươi đi thôi, đó là bảo kiếm của Phó sư tổ năm xưa sử dụng, ta đã bị đuổi ra khỏi sư môn, thanh kiếm này không thuộc về ta nữa”. Lời lẽ của y rất thành thật, Phùng Lâm thầm nhủ: “Đúng thế, mình vốn đến đây lấy di vật của sư tổ, sao lại quên bén mất!” nàng bước tới trước mặt Niên Canh Nghiêu, đưa tay nhận kiếm. Không ngờ khi nàng đưa tay ra, trước ngực mở rộng, Niên Canh Nghiêu chợt vung chỉ điểm vào huyệt Toàn Cơ trước ngực của nàng, huyệt Toàn Cơ là một trong nhưng tử huyệt, nếu bị điểm trúng chắc chắn sẽ chết.

Té ra Niên Canh Nghiêu tự biết rằng sẽ chết, chẳng còn hy vọng, đã sắp nổi điên, y hận khôn gthể giết hết tất cả mọi người trên đời này, nhất là nghe Phùng Lâm hai lần nhắc tới “Lý Trị ca ca”, y vừa căm hận vừa đố kỵ, thầm nhủ: “Tiểu cô nương đẹp như hoa như ngọc thế này, nếu không thuộc về mình, mình củng không đế nàng thuộc về người khác. Công phu của mình tuy mất, nhưng thủ pháp điểm huyệt vẫn còn nhớ, chi bằng giết nàng rồi vung kiếm tự sát”.

Nào ngờ Phùng Lâm bị điểm trúng huyệt đạo nhưng người chỉ lảo đảo mấy cái, chứ không ngã xuống chết như ý muốn của y. Té ra công phu điểm huyệt cần phải có kình lực trên đầu ngón tay, lực dồn vào đầu ngón tay mới có thể khiến cho khí huyết của người ta ngừng cạn. Võ công của Niên Canh Nghiêu đã không còn, chỉ có thế lực của người bình thường mà nội công của Phùng Lâm đã có tiến bộ, nếu gặp phải cao thủ, chắc chắn nàng sẽ mất mạng, nay bị điểm trúng huyệt đạo tuy đau nhói nhưng cũng chẳng có chuyện gì lớn.

Phùng Lâm bị Niên Canh Nghiêu bất thần điểm trúng một chỉ, nàng chưng hửng rồi lập tức hiểu ra, tức giận vung tay vỗ bốp bốp hai bạt tai khiến Niên Canh Nghiêu té xoài xuống đất. Niên Canh Nghiêu mắt lộ hung quang, nôn ra một ngụm máu tươi, trong máu có lẫn hai cái răng cửa. Phùng Lâm tức tới nỗi không nói ra lời, một lát sau mới nói: “Ngươi...ngươi đúng là người độc ác nhất trong thiên hạ!” Rồi nàng rút thanh bảo kiếm của Niên Canh Nghiêu, vừa mới rút được một nửa lại nghe tiếng huýt sáo thúc giục của Lý Trị.

Phùng Lâm trừng mắt nhìn Niên Canh Nghiêu, gằng giọng nói: “Ta không giết ngươi, ngươi cũng chẳng sống được lâu nữa!” Rồi phóng người đuổi theo Lý Trị, Lý Trị nói: “Sắc trời đã sáng, mặt trời sắp mọc, mà còn chưa đi, ở đằng kia đã có người rồi!”

Phùng Lâm buồn bã không lên tiếng, theo Lý Trị phóng như bay ra khỏi thành. Chờ mạch ra đến ngoại ô, Lý Trị nói: “Không phải huynh không muốn cho muội nói nhiều với y, huynh nghĩ Niên Canh Nghiêu bị đày đến mức này, không chừng Ung Chính sẽ phái cao thủ âm thầm theo dõi”. Phùng Lâm chậm bước, chợt nói: “Lý Trị ca ca, huynh có thể tha thứ cho muội không?” Lý Trị cười nói: “Nếu huynh là người lòng dạ hẹp hòi cũng không để muội nói chuyện riêng với y”. Phùng Lâm đỏ mặt, khẽ nói: “Không phải điều này. Muội muốn nói, muốn nói là... sáng nay khi gặp Niên Canh Nghiêu, muội còn có chút tiếc nuối...” Lý Trị không đợi nàng nói xong liền cười bảo: “Y vốn là một nhân tài, đi nhằm vào nẽo tà, tự chuốt lấy khổ, huynh cũng tiếc nuối cho y, chuyện đó đâu có gì đáng nhắc!” Phùng Lâm nói: “Nhưng lúc này muội không còn cảm thấy tiếc nuối gì cả!” Khi nói sắc mặt của nàng rất nghiêm túc, khác hẳn với vẻ nghịch ngợm thường ngày, nàng tựa như đã trưởng thành, hiểu được rất nhiều chuyện. Lý Trị ngạc nhiên nhìn nàng, như hiểu màkhông hiểu lời lẽ của nàng, y khẽ gật đầu chứ không nói gì nữa.

Phùng Lâm bỏ đi, Niên Canh Nghiêu bưng nửa bên mặt, gắng gượng đứng dậy, lúc này trong lòng y trống trải, đầu óc đờ đẩn. Gió lạnh buổi sáng thổi tới, Niên Canh Nghiêu rùng mình, hai tay ôm đầu ngửa mặt cười lớn nói: “Cái đầu này tốt quá, nếu bị chém rơi há chẳng phải đáng tiếc hay sao! Tây Sở bá vương vung kiếm tự vẫn ở Ô Giang là anh hùng! Ta há không bằng ông ta! Ngày nay trời cao hại ta, ta còn sống làm gì để chịu nhục!” rồi hai tay ôm đầu lao vào cửa thành!

Chợt có người ôm chặt y lại. Niên Canh Nghiêu không vùng vẫy được, khi mở mắt ra nhìn thì ra đó là Hàn Trọng Sơn và Thiên Diệp Tản Nhân, chỉ thấy hai người này mặt mũi sưng vù, bộ dạng trông rất khó coi. Té ra bọn chúng đuổi theo Ấn Hoằng và Quan Đông tứ hiệp, gặp phải Hoằng Pháp đại sư, thế là bị ông ta nện cho một trận.

Hàn Trọng Sơn và Thiên Diệp Tản Nhân thấy bộ dạng Niên Canh Nghiêu càng khó coi hơn, Hàn Trọng Sơn nói: “Này, râu và chân mày của ngươi bị ai cạo thế? Ai đã đến đây?” Thiên Diệp Tản Nhân nhìn xác Xa Tịch Tà, cũng hỏi: “Ai giết thế? Là ngươi hay là kẻ địch?” Niên Canh Nghiêu cười ha hả, kêu lớn: “Chết sạch cả rồi!” Hàn Trọng Sơn cười lạnh: “Hoàng thượng không cho ngươi chết!” Niên Canh Nghiêu kêu lớn: “Các người không cho ta làm Sở bá vương? Chao ôi! Cả Sở bá vương mà ta cũng không bằng!” rồi y vung tay múa chân, lời lẽ chẳng đầu chẳng đũa, Thiên Diệp Tản Nhân nói: “Niên Canh Nghiêu điên rồi!” Hàn Trọng Sơn khẽ đầy nhẹ, Niên Canh Nghiêu chẳng hề có sức phản kháng, té nhào xuống đất. Hàn Trọng Sơn thất kinh: “Cả võ công cũng chẳng còn!” Thiên Diệp Tản Nhân nói: “Niên Canh Nghiêu đã ra nông nỗi này, chi bằng chúng ta cứ mau áp giải y về kinh sư”. Hàn Trọng Sơn khẽ gật đầu, rồi ngày hôm ấy dùng khoái mã tám trăm dặm phi báo với Hoàng đế, hôm sau áp giải y vào kinh, có hai người áp giải, Niên Canh Nghiêu muốn tự sát cũng không được. Chỉ có điều trên đường cứ kêu la om xòm, lúc thì gọi tên con, lúc thì gọi Phùng Lâm.

Khi Niên Canh Nghiêu nổi điên, Phùng Lâm đã rời thành Hàng Châu sáu mươi dặm, Phùng Lâm không ngờ y nổi điên, nhớ lại bộ dạng đáng ghét, vẫn còn cảm thấy buồn nôn.

Lý Trị và Phùng Lâm muốn từ Triết Giang vào An Huy rồi đến Hà Nam để về Mang Sơn. Hai người đi rất nhanh, mặt trời chưa xuống núi đã đến vùng núi Thiên Mục, đang bước vào đường núi, chợt nghe dưới sơn cốc có tiếng hú quái lạ, tiếng ám khí rít trong gió, Phùng Lâm kêu: “Huyết Trích Tử!” Lý Trị lên tảng đá cao nhìn, nói: “Té ra Quan Đông tứ hiệp đang bị bao vây!” Phùng Lâm vừa nhìn thì nói: “Ồ, còn có cả Phương Kim Minh và Trần Đức Thái, chúng ta đến cứu họ”. Hai người rút kiếm lướt xuống như bay.

Té ra Hoằng Pháp đại sư trừng trị Niên Canh Nghiêu, trên đường trở về lại đánh bọn Hàn Trọng Sơn và Thiên Diệp Tản Nhân bỏ chạy, Ấn Hoằng hòa thượng vốn đi cùng Quan Đông tứ hiệp, nhưng nay mọi việc đã xong nên cùng chụ trì trở về Thiếu Lâm ở Phúc Kiến, Quan Đông tứ hiệp đến Mang Sơn tìm Cam Phụng Trì và Lữ Tứ Nương.

Còn Phương Kim Minh và Trần Đức Thái lại gặp nhau giữa đường, hai người này sau khi dưỡng thương ở Tuyết Hồn cốc đã trở thành một đôi hảo hữu. Lần này Phương Kim Minh tìm Niên Canh Nghiêu là để trả thù cho cố chủ, Trần Đức Thái không cản được, chỉ đành theo tiếp ứng, Phương Kim Minh bị Xa Tịch Tà đuổi đi, rầu rĩ ra khỏi thành Hàng Châu. Rồi hai người lại gặp Quan Đông tứ hiệp, thế là cả bọn cùng nhau quyết định kéo đến Mang Sơn, không ngờ Ung Chính bố trí rất nghiêm ngặt, ngoại trừ phái Hàn Trọng Sơn, Thiên Diệp Tản Nhân và Xa Tịch Tà đi giám sát Niên Canh Nghiêu, còn phái Cáp Bố Đà dắt theo một đám Huyết Trích Tử tuần tra ở các con đường dẫn đến Hàng Châu, thế là hai bên gặp nhau, Quan Đông tứ hiệp bị bọn người ấy đẩy xuống sơn cốc, tình thế giờ đây rất nguy hiểm.

Hai bên đang quần thảo ác liệt, chợt nghe trên núi có tiếng quát, Lý Trị và Phùng Lâm vung kiếm xông tới, Cáp Bố Đà vừa kinh vừa mừng, kêu lên: “Lâm quý nhân!” rồi ném Huyết Trích Tử về phía Huyền Phong, sau đó đảo ngược người vung Lưu Tinh trùy đánh tới Phùng Lâm. Phùng Lâm cười: “Ngươi cũng muốn bức hiếp ta?” rồi nàng vung tay phóng ra một mũi phi đao, mũi phi đao bay tới như điện xẹt, chạm phải các Huyết Trích Tử của Cáp Bố Đà, cả hai cùng rơi xuống, trước tiên giải thế nguy cho Huyền Phong rồi đến nghênh chiến Cáp Bố Đà.
Phùng Lâm vung cây bảo kiếm đánh một chiêu Lực Hoạch Hồng Câu, lia thành một đường vòng cung bạt Lưu Tinh chùy ra, Cáp Bố Đà thất kinh, y vùng tay quét ngang cái Lưu Tinh chùy, Phùng Lâm kéo kiếm vào bên trong chặn lại, lại giải được thế công hung mãnh của Cáp Bố Đà, Cáp Bố Đà càng kinh dị hơn, dùng một truỳ hộ thân, một chùy nghênh địch, đánh gấp về phía Phùng Lâm.

Thực ra công lực của Phùng Lâm không bằng Cáp Bố Đà, nàng tiếp hai chùy, cánh tay đã tê rần, may mà nàng sử dụng thanh bảo kiếm của Phó Thanh Chủ, tuy không bằng du lông kiếm nhưng cũng là loại kiếm quý, không đến nỗi bị đầu chùy chặt gãy, nếu không đã chẳng chống nổi những đòn tấn công mãnh liệt của Cáp Bố Đà. Trong khi đó Cáp Bố Đà vừa đánh vừa thủ, hợp với lộ số của Phùng Lâm, Vô Cực kiếm pháp của Phùng Lâm cương nhu tương tề, thủ rất nghiêm ngặt, lại thêm nàng thông hiểu các loại võ công bàng môn tả đạo, có rất nhiều chiêu thức, trong vòng năm bảy mươi chiêu, Cáp Bố Đà chẳng làm gì được nàng.

Lúc này Lý Trị đã nhảy vào vòng chiến, sau mấy chiêu đã đâm bị thương hai tên Huyết Trích Tử, bọn Huyền Phong phấn chấn tinh thần, quát lớn đồng loạt phản công!

Cáp Bố Đà bị Phùng Lâm chặn lại, bọn Huyết Trích Tử mất đầu não, không chặn được kẻ địch, Huyền Phong tay trái cầm kiếm, tay phải cầm gậy quét ngang bổ dọc, trong lúc kịch chiến đã hạ được hai tên Huyết Trích Tử, Lang Nguyệt thiền sư cũng dùng vòi rượu phun mù mắt một tên Huyết Trích Tử, bọn Huyết Trích Tử hè nhau tháo chạy.

Cáp Bố Đà thấy không xong, vội vàng buông Phùng Lâm kêu lớn: “Phá toán ám khí!” trong khoảng khắc chỉ thấy khí cầu bay khắp trời, phát ra tiếng kêu tu tu, Phùng Lâm kêu: “Thật lợi hại!” rồi hai tay vung ra, mỗi tay phát sáu mũi phi đao, đánh rơi mười hai trái Huyết Trích Tử, còn vài trái đã bị bọn Huyền Phong đánh rơi, lúc này bọn Cáp Bố Đà mới lui ra khỏi cửa cốc.

Thế là bọn Huyền Phong cùng Phùng Lâm cùng kéo nhau lên Mang Sơn.

Lại nói Đường Hiểu Lan trải qua biến cố to lớn, trong lòng rất u uất, sau khi về đến Thiên Sơn trầm mặt chẳng nói, chỉ dốc hết lòng luyện kiếm, Dịch Lan Châu rất lấy làm lạ, mới hỏi Phùng Anh, Phùng Anh không dám giấu kể hết tất cả mọi chuyện. Dịch Lan Châu là người từng trải, cũng không khuyên Đường Hiểu Lan mà chỉ dốc lòng truyền võ nghệ cho chàng, Đường Hiểu Lan sống ở Thiên Sơn hơn một năm, đã học hết võ công của phái Thiên Sơn.

Ngày nọ, Dịch Lan Châu kêu Đường Hiểu Lan, nói: “Con đã học được hết võ công của phái Thiên Sơn, nay ta chính thức nhận con làm đệ tử”. Đường Hiểu Lan cả mừng khấu tạ, Dịch Lan Châu nói: “Đời nào của phái Thiên Sơn cũng là bậc anh kiệt, con đang tuổi tráng niên, không nên quy ẩn. Ngày mai hãy cùng Anh nhi xuống núi giúp Lữ Tứ Nương và Cam Phụng Trì”. Đường Hiểu Lan tuy không nỡ nhưng nghe sư phụ nói rất có lý, mười mấy hôm sau cùng Phùng Anh bái biệt sư phụ xuống Thiên Sơn.

Hai người trở về Trung Nguyên. Đường Hiểu Lan tuy không u uất như hai năm trước nhưng vẫn kiên dè, không dám nói chuyện trai gái với Phùng Anh.

Hơn ba tháng sau, bọn họ lại trở về Hà Nam, trên đường nghe người ta nhắc chuyện Niên Canh Nghiêu thất thế, cũng không biết thật hay giả, hai người càng nôn hơn, hận không lập tức gặp Lữ Tứ Nương.

Hôm nay họ đi ngang qua Tung Sơn, Tung Sơn trải qua một trận hỏa hoạn, cây cối đã bắt đầu đâm chồi nảy lộc. Đường Hiểu Lan mười phần cảm khá, ngâm rằng: “Cây khô gặp xuân lại nảy mầm, giang sơn gặp nạn còn sầu mới. Cây như thế, người ra sao?” Phùng Anh nói: “Trời đã tối, chi bằng lên Tung Sơn nghỉ ngơi một đêm, muội cũng muốn thăm lại cảnh chùa xưa”.

Đường Hiểu Lan và Phùng Anh lên Tung Sơn, chỉ thấy một đống đổ nát hoang tàn, Đường Hiểu Lan than rằng: “Chùa cổ ngàn năm trải qua kiếp nạn, thật đáng tiếc đáng hận!” Phùng Anh cười chỉ mảng cỏ xanh mọc trước sân: “Cỏ xanh chẳng cháy hết, xuân đến lại nảy mầm, cần gì phải buồn?” Hai người đi một vòng quanh chùa, phát hiện có một gian chỉ bị cháy phân nửa, Đường Hiểu Lan nói: “Chúng ta hãy nghỉ ngơi ở đây, Tung Sơn và Mang Sơn cách nhau không quá ba trăm dặm, đi hai ngày nữa sẽ tới”.Hai người nhảy vô bức tường, lần dò vào trong điện, chợt có người hỏi: “Các người là ai?” giọng nói run rẫy gấp gáp, rõ ràng trung khí không đủ nhưng cũng rất uy nghiêm. Đường Hiểu Lan đẩy cửa bước vào, chỉ thấy bên đống lửa đỏ có một người đang nằm, sắc mặt như bị bệnh, nhưng hai mắt mở to, sắc rất có thần.

Đường Hiểu Lan nói: “Chúng tôi chỉ là người qua đường, tiên sinh là ai?” người này nhỏm ngồi dậy, nhìn hai người rồi lại nằm xuống, chẳng thèm để ý đến Đường Hiểu Lan. Phùng Anh hỏi: “Tiên sinh bị bệnh gì thế?” người ấy đảo mắt rồi nói: “Ta đang buồn ngủ, các người đừng quấy rầy”. Phùng Anh nói: “Nếu có bệnh, chúng tôi có mang theo một ít thuốc, có lẽ dùng được”. Người ấy nói: “Đã bảo các ngươi đừng lôi thôi, sao các ngươi thích lo chuyện bao đồng thế?” rồi kéo tấm chăn trùm đầu. Phùng Anh thấy y chẳng thèm để ý đến mình, không nói nhiều nữa. Đường Hiểu Lan lưu ý thấy trên đỉnh đầu của y có nhiệt khí bốc ra, thất kinh thầm nhủ: “Nội công của người này thâm hậu, chắc đã bị thương, giờ đang dùng nội công trị thương, mình không nên quấy rầy y”. Rồi kéo Phùng Anh ngồi xuống góc điện nghỉ ngơi.

Một hồi sau, người ấy đã ngáy pho pho, bên ngoài lại có tiếng cười nói, Đường Hiểu Lan nhìn ra, chỉ thấy hai người vượt tường nhảy vào, bất giác kêu lên, cùng Phùng Anh đứng dậy.

Té ra hai người này là Đường Kim Phong và Đường Trại Hoa. Họ vốn muốn đến trấn Chu Tiên lấy hài cốt của Vương Ngạo, định mang trở về Tứ Xuyên ang táng, hôm nay đi ngang Tung Sơn, không có khách điếm nên tìm đến đây nghỉ ngơi.

Đường Hiểu Lan thấy cha con họ thì rất áy náy, cung kính hỏi: “Đường lão tiến bối, ông khỏe chứ?” Đường Kim Phong hừ bằng giọng mũi nói: “Khỏe!” Đường Trại Hoa trừng mắt nhìn họ, tay sờ vào túi ám khí, Đường Kim Phong khẽ nói: “Đại trượng phu nói lời phải giữ, bọn chúng không có ác ý, con đường lắm chuyện”. Tuy nói là thế nhưng Đường Kim Phong cũng làm mặt lạnh với hai người Phùng Đường, chẳng thèm để ý đến họ, tựa như không muốn nói chuyện với họ. Đường Trại Hoa nói: “Cha, ở đây còn có một người nữa”. Phùng Anh nói: “Ông khách này bị bệnh, đang ngủ say, đừng đánh thức ông ta”. Đường Trại Hoa bĩu môi, quay mặt đi, lẩm bẩm: “Ai thèm nói chuyện với ngươi!” Phùng Anh bực dọc, cũng chẳng thèm nói gì. Đường Kim Phong khẽ nói với con gái: “Tiểu nha đầu này nói cũng có lý, đừng quấy rầy người ta”. Rồi đưa mắt nhìn người bệnh, mặt lộ vẻ kinh ngạc.

Đường Trại Hoa khẽ hỏi: “Cha, cha đã nhìn thấy gì ư?” Đường Kim Phong nói: “Người này thân mang tuyệt kỹ, chẳng phải hạng tầm thường”. Đang nghĩ cách làm quan, chợt nghe bên ngoài có tiếng bước chân, chỉ nghe một đứa trẻ nói: “Tôi không ở ngôi chùa hoang này đâu”. Rồi nghe bốp một tiếng, hình như có người vỗ vào mông đứa trẻ, mắng lớn: “Ngươi còn giở trò thiếu gia. Có chùa hoang cho ngươi ở đã tốt, chả lẽ ngươi muốn ở cung điện?” một người nói: “Muốn ở cung điện không khó, nhưng đáng tiếc ngươi chẳng ở được lâu”. Người ấy đá cánh cửa kêu bình một tiếng, đột nhiên phát giác bên trong có người nên đứng sửng sốt.

Ánh mắt của mọi người bên trong đều nhìn ra ngoài, chỉ thấy có hai người bước vào, một người mặc đồ xanh eo mang phác đao, ăn mặc như kiểu võ sĩ, dắt một đứa trẻ trông rất sang trọng, đứa trẻ này khoảng bốn năm tuổi, mắt thanh mày tú rất dễ thương nhưng môi cứ mím chặt tựa như đang chịu ấm ức.

Một võ sĩ mặc áo xanh quát: “Ai trong đó?” Đường Hiểu Lan đáp: “Khách qua đường”. Đường Kim Phong lạnh lùng nói: “Núi hoang chùa cổ, ai cũng có thể ở nhờ, ngươi cứ mặc kệ bọn ta là ai!” hai tên võ sĩ quét mắt nhìn y, Đường Kim Phong cười lạnh ngạo nghễ, trừng mắt ra nhìn lại, hai tên võ sĩ này thấy y mặt hồng hào tóc bạc, tinh thần tráng kiện, hai mắt sáng quắc có thần, rõ ràng là nội công thâm hậu, cả hai đưa mắt nhìn nhau rồi khẽ mắng: “Hay cho lão già già mồm!” nhưng cũng không dám đa sự.

Ngạch Âm Hòa Bố cả giận, vận đủ một nội lực phát ra liên tục mấy chưởng, Đường Hiểu Lan tuy trong màn kiếm quang nhưng cũng bị chấn động đến lắc lư không ngừng, kiếm pháp vẫn không hề lơi lỏng, trong lúc gấp gáp, Ngạch Âm Hòa Bố chẳng làm gì được chàng.

Phùng Anh thoái lui, mũi chân điểm xuống đất, phóng vọt người tới lướt qua đầu bọn lính, nàng đang mặc nhuyễn giáp nên ám khí bắn vào người nàng, rơi xuống lả tả, trong chớp mắt đã hạ xuống bên cạnh cha con Đường Kim Phong.

Bọn lính thấy ám khí chẳng làm gì được nàng, bất giác kinh ngạc, Đường Kim Phong liếc nàng, khẽ gật đầu tựa như rất cảm kích. Phùng Anh không sợ ám khí, thế là múa cây bảo kiếm thành một đường ngân hồng, chặn trước mặt Đường Kim Phong, đánh rơi ám khí của kẻ địch. Đường Kim Phong dùng Táng môn đinh phóng vào huyệt đạo của kẻ địch, thế là bọn lính lại thoái lui thêm mấy bước, đôi bên vẫn giằng co với nhau.

Đường Hiểu Lan một mình đấu với Ngạch Âm Hòa Bố chỉ có thể phòng thủ chứ không thể tấn công, Ngạch Âm Hòa Bố thở phào liên tục phóng ra mấy chưởng, đẩy Đường Hiểu Lan thoái lui mấy bước, y đột nhiên vọt tới, hai chưởng đẩy xéo ra, ám khí đều bị chưởng lực của y đánh rơi, Phùng Anh thất kinh, cây đoản kiếm trở tay đâm lại, Đường Kim Phong cũng biến sắc, dùng thuyết cật loe phóng ra nhưng chỉ thấy Ngạch Âm Hòa Bố hơi lách người, đã lướt tới bên cạnh họ, lao bổ về phía người bệnh nằm dưới tượng Phật. Té ra Ngạch Âm Hòa Bố không phải đến bắt cha con Đường Kim Phong, y lướt tới là bắt người bệnh kia.

Đống lửa dưới tượng Phật đã tắt, khói bốc lên mù mịt, Ngạch Âm Hòa Bố cười lạnh nói: “Bối lạc gia, cần gì phải vất vả thế, hãy theo nô tài về cung!” rồi đưa tay giở tấm mền của người bệnh, chợt nghe bốp một tiếng, Ngạch Âm Hòa Bố đã trúng một đòn trên mặt đau nhói. Ngạch Âm Hòa Bố trở tay chụp vào cổ tay của người ấy, người ấy ngồi bật dậy, nói: “Được, ta đã thừa biết Dận Trinh không buông tha cho ta. Ngươi đến đây có phải là vì ta không?” Ngạch Âm Hòa Bố nói: “Hoàng thượng có thành ý mời bối lạc về kinh”. Người ấy nói: “Đã thế, người hãy thả cha con họ đi thôi!”

Lúc này mọi người đều bất ngờ, cuộc giao phong bằng ám khí giữa hai bên đã tạm thời ngừng lại. Đường Hiểu Lan nheo mắt nhìn lại, chỉ thấy người bệnh kia tuy vẻ mặt tiều tụy nhưng vẫn còn uy nghi, chợt nhớ ra rằng, người ấy chính là Cửu bối lạc Dận Đường.

Chỉ nghe rắc một tiếng, Ngạch Âm Hòa Bố đã bóp gãy cổ tay của Dận Đường, khóa hai tay của y lại, khom người nói: “Chỉ cần chúng không làm khó nô tài, nô tài sẽ tuân lệnh”. Số là sau khi Ung Chính đang ngồi vững trên ngai vàng, bước đầu tiên là cắt bỏ vây cánh của các bối lạc, bước thứ hai là mượn cớ giết từng người đã tranh đoạt ngôi vua với mình, trong đó Cửu bối lạc Dận Đường và Thập bối lạc Dận Nga tinh thông võ công, hai người này nghe tin phong phanh đã bỏ trốn. Ngạch Âm Hòa Bố vốn là đuổi theo Dận Đường chứ không phải đi bắt bọn Đường Hiểu Lan. Ngạch Âm Hòa Bố thầm nhủ: “Kiếm pháp của Đường Hiểu Lan và Phùng Anh tinh diệu lạ thường, ám khí của lão già cũng rất lợi hại, nếu có giằng co nữa e rằng sẽ có chuyện bất ngờ” cho nên khi Dận Đường đề nghị bảo thả bọn họ đi, Ngạch Âm Hòa Bố cũng liền thuận nước đẩy thuyền.

Đường Kim Phong rất ngạc nhiên, thầm nhủ: “Té ra đương kim Hoàng đế lại vô tình đến thế, cốt nhục mà cũng tương tàn huống chi là người ngoài. Trước kia mình cho Vương Ngạo làm công sai, đã đoán được chẳng có kết cuộc tốt”. Y nhìn kỹ lại, chỉ thấy Dận Đường đau đến nỗi mồ hôi tuôn xuống ròng ròng, nhưng vẫn cố nghiến răng chịu đựng, không rên một tiếng. Ngạch Âm Hòa Bố lại khom người nói: “Không còn sớm nữa, xin mời bối lạc lên đường!”

Dận Đường chợt cười thảm, lớn giọng nói: “Các người đã thấy rồi đấy, đời đời kiếp kiếp không nên sinh ra ở chốn hoàng gia!” Đường Hiểu Lan nghe thế, tay đè lên thanh kiếm định xông ra. Phùng Anh khẽ nói với chàng: “Huynh đã không còn là người trong hoàng gia nữa, bọn chúng cũng không coi huynh là bối lạc, cái hận thân thế huynh quên sớm đi thôi, chứ như người này tranh giành ngôi báu với Dận Trinh, cũng chẳng phải thứ tốt lành gì, huynh cần gì phải liều mạng vì y?” Đường Hiểu Lan thở dài nói: “Huynh không phải muốn cứu y... huynhh...” lúc này tâm trạng của chàng rất phức tạp, rất khó giải thích.

Ngạch Âm Hòa Bố kéo Dận Đường chậm rãi bước ra chợt có một tên lính chỉ vào Niên Thọ, nói: “Bẩm đại nhân, đây là con của Niên Canh Nghiêu. Hai người lúc nãy là vệ sĩ tâm phúc của Niên Canh Nghiêu”. Đường Kim Phong càng kinh hãi hơn, nhìn đứa trẻ, chỉ thấy đứa trẻ mặt trắng bệt, kêu: “Công công cứu con, con không đi, con không đi!” Ngạch Âm Hòa Bố cười ha hả: “Thật là một cơ duyên tốt!” rồi đưa mắt nhìn Đường Kim Phong, quát: “Lão già kia, ngươi là người thế nào của Niên Canh Nghiêu?” Đường Kim Phong nói: “Chẳng thế nào cả”. Ngạch Âm Hòa Bố quát: “Thế thì được, trao đứa trẻ cho ta, ta tha chết cho ngươi!” Niên Thọ khóc òa lên, Đường Trại Hoa vội nói: “Cha, đừng!”

Chương 47

Ngạch Âm Hòa Bố chợt nổi giận, bỗng nghe tiếng chuông leng keng bên ngoài vọng vào, tiếp theo là mấy tiếng kêu thảm, Phùng Anh cả mừng: “Võ lão tiền bối đã đến!” Ngạch Âm Hòa Bố cả giận nhảy vọt ra cửa chùa, dưới ánh trăng chỉ thấy một lang trung giang hồ tay phải cầm một cây gậy, tay trái lắc cái chuông đồng bước thẳng về phía mình, bọn lính canh ở ngoài đều bị người ấy đánh ngã.

Ngạch Âm Hòa Bố trừng mắt quát: “Ai? Đứng lại!” té ra người đó là Võ Thành Hóa, chỉ thấy ông ta cười lạnh nói: “Phách lối thật! Ngươi muốn hỏi ta là ai? Ta là sứ giả chiêu hồn cho ngươi!” rồi lắc cái chuông kêu lên leng keng. Ngạch Âm Hòa Bố cả giận đẩy vù ra một chưởng, Võ Thành Hóa không hề nhúc nhích, cười ha hả giơ cây gậy đánh tới, Ngạch Âm Hòa Bố quét cây phất trần cuộn trúng cây gậy của ông ta nhưng vẫn bị ông ta đẩy lui hai bước. Ngạch Âm Hòa Bố cả kinh, ngầm vận nội lực kéo sang một bên; Võ Thành Hóa cũng thất kinh, tuy cây gậy không vụt ra khỏi tay nhưng ông ta cũng không thể đánh tới được. Hai người đều ngầm vận nội lực hạ nhau.

Phùng Anh lướt tới, kêu: “Võ tiền bối, người đến thật đúng lúc!” Võ Thành Hóa nói: “Có phải tên này cậy người đông bức hiếp ngươi không?” Phùng Anh cười nói: “Y làm gì có bản lĩnh ấy!” rồi quay mặt sang nhìn Ngạch Âm Hòa Bố nói: “Ngươi có muốn đấu nữa không?” Ngạch Âm Hòa Bố thâu cây phất trần, nhảy vọt qua hai bước, nói: “Được, chúng ta dừng tay, sau này gặp lại ta sẽ không tha cho ngươi”. Phùng Anh cười nói: “Vậy chờ sau này hẳn tính”. Võ Thành Hóa quét mắt nhìn Ngạch Âm Hòa Bố rồi nói: “Đáng tiếc, đáng tiếc!” Ngạch Âm Hòa Bố nói: “Đáng tiếc thế này!” Võ Thành Hóa nói: “Chả lẽ ngươi không biết kết cuộc của Liễu Ân?” Ngạch Âm Hòa Bố nghe thế giật mình, giơ cao cây phất trần, Võ Thành Hóa nói: “Có phải còn muốn đánh với ta không?” Ngạch Âm Hòa Bố chẳng nói lời nào, quay mình dắt bọn lính đi nhanh xuống núi. Dận Đường bị vặn gãy xương cổ tay, đau đến nỗi ngất đi, cũng được bọn lính cõng xuống núi.

Võ Thành Hóa cười nói: “Ta nghe nói các người lại xuống Thiên Sơn, biết thể nào cũng đến tìm Lữ Tứ Nương nhưng không ngờ gặp ở đây. Sư phụ của ngươi khỏe không?” Phùng Anh nói: “Chúng ta khoan nói chuyện này, xem thử Đường Kim Phong đã thế nào!” Võ Thành Hóa nói: “Đường Kim Phong là ai?” Phùng Anh nói: “Là một tiền bối võ lâm, ám khí thiên hạ vô song”. Võ Thành Hóa nói: “Ồ, thế là người của Đường gia tứ xuyên rồi, làm sao các ngươi quen y?”

Họ vừa đi vào trong miếu, chỉ thấy Đường Kim Phong vẫn ngồi xếp bằng, sắc mặt tái nhợt. Đường Trại Hoa bế Niên Thọ, mặt đầy vẻ lo lắng, khẽ hỏi: “Cha, thế nào rồi?” Đường Kim Phong mỉm cười nói: “May mà vẫn còn giữ được mạng của đứa trẻ. Ta không xong rồi. Con hãy bế nó về. Ta nhận nó làm cháu ngoại”. Đường Trại Hoa rơi nước mắt như mưa, nói: “Cha, có phải cha đã bị thương rất nặng không? Chúng ta mang theo toàn là thuốc tốt”. Đường Kim Phong cười khổ nói: “Thuốc tốt chẳng ích gì, ta bị chưởng lực của tên ấy chấn động, lại khổ chiến một hồi, sức cùng lực kiệt, tựa như đèn khô dầu cạn, làm sao có thuốc nào chữa nỗi!” Phùng Anh chợt nói: “Thuốc của tôi có thể cứu nỗi”. Đường Trại Hoa cả mừng, không màng đến thù hận trước kia, vội nói: “Vậy xin cô nương hãy mau cứu!” Đường Kim Phong có vẻ không tin, hỏi: “Thuốc gì?” Phùng Anh lấy ra một cái bình bạc nhỏ xíu, đổ ra ba viên thuốc màu xanh lục, lập tức hương thơm xông vào mũi, tinh thần sảng khoái, Phùng Anh đưa viên thuốc cho Đường Kim Phong nói: “Đây là Bích linh đơn được bào chế từ Thiên Sơn tuyết liên, bổ khí ích huyết, trị thương giải độc đều có hiệu quả. Lão tiền bối có căn cơ vững chắc, được nó cố bản bùi nguyên, không những chẳng lo đến tính mạng mà võ công cũng không đến nỗi giảm sút”.

Đường Kim Phong nuốt ba viên Bích linh đơn, chỉ cảm thấy một luồng khí mát mẻ dâng lên đang điền, cười rằng: “Thiên Sơn tuyết liên quả nhiên danh đồn không oa, đúng là linh đơn diệu dược”. Niên Thọ mở mắt nhìn Đường Kim Phong, Phùng Anh nói: “Cậu bé, ngươi đã thoát chết, ngươi biết có nên đáp tạ ai không?” Niên Thọ rất ngoan ngoãn, bước tới quỳ xuống đất, dập đầu ba cái truớc Đường Trại Hoa, kêu một tiếng “mẹ”. Đường Trại Hoa mừng rỡ nói: “Con ngoan, con ngoan”. Niên Thọ lại dập đầu trước Đường Kim Phong ba cái kêu: “Công công”. Đường Trại Hoa cười nói: “Phải kêu là ngoại công”. Đường Kim Phong cười ôm cậu bé vào lòng.

Đường Hiểu Lan nói: “Đứa bé này rất thông minh, giống như cha nó”. Phùng Anh nói: “Cũng mong nó không hoàn toàn giống cha”. Võ Thành Hóa nhìn sắc trời, thấy đã hơi hửng sáng, cười nói: “Chúng tôi phải đi trước một bước, ông cứ ngồi đã tọa một lúc, khí lực sẽ hồi phục ngay, xin thứ chúng tôi không thể đi cùng”. Đường Trại Hoa nói lời tạ ơn với Phùng Anh, giờ đây mối thù hận giữa cha con họ Đường với chị em họ Phùng đã tiêu biến.

Võ Thành Hóa và hai người Phùng Đường xuống Tung Sơn, Võ Thành Hóa nói: “Có phải các ngươi lên Mang Sơn không?” Phùng Anh nói: “Đúng thế. Mẹ của vãn bối đang ở Mang Sơn, người có biết không?” Võ Thành Hóa cười nói: “Mẹ của ngươi đã không còn ở Mang Sơn nữa. Ngươi có muốn gặp bà ta không?” Phùng Anh kinh hãi hỏi: “Đã xảy ra chuyện gì?” Võ Thành Hóa cười nói: “Vốn là xảy ra chuyện nhưng giờ không hề gì nữa. Tên tiểu tử Ung Chính này thật độc ác, sau khi tước binh quyền của Niên Canh Nghiêu, lùng bắt các chí sĩ càng nghiêm ngặt hơn, y biết ở Mang Sơn có anh hùng hào kiệt tụ hội liền phái đại quân bao vây, may mà Lữ Tứ Nương biết được tin này đã đưa mọi người đến Thiên Sơn”. Đường Hiểu Lan nói: “Sắp xếp rất tốt, nửa đời họ gặp hoạn nạn, cũng nên an hưởng tuổi già. Võ tiền bối, ông gặp Lữ Tứ Nương ở đâu?” Võ Thành Hóa nói: “Ở gần kinh thành. Lữ Tứ Nương muốn vào kinh ám sát Ung Chính nhưng trong cung canh gác nghiêm ngặt, chẳng có cơ hội ra tay. Ta vốn muốn đi tìm Lý Trị, gặp Lữ Tứ Nương mới biết họ đã đi Tứ Xuyên”. Phùng Anh nói: “Vậy mẹ của vãn bối lúc này ở đâu?” Võ Thành Hóa nói: “Họ chia nhau lên đường, ta đi trước dò đường, đêm qua đi ngang qua Tung Sơn, họ đang ở một nơi dưới chân núi”. Phùng Anh cả mừng, lập tức cùng Đường Hiểu Lan đến gặp mẹ.

Lại nói Lý Trị và bọn Quan Đông tứ hiệp đi được hơn một tháng đến Mang Sơn, nhưng thấy trên núi là một đống đổ nát hoang tàn, ai nấy đều trợn mắt há mồm, tưởng rằng Mang Sơn cũng bị hỏa thiêu như chùa Thiếu Lâm, Phùng Lâm và Lý Trị càng lo hơn, chợt nghe trong đám cây xum xuê um tùm chim chóc bay lên, trong chớp mắt nghe tiếng vù vù, chỉ thấy hai con chim đại bàng một trắng một đen dang cánh chao lượn trên đầu họ, Huyền Phong kêu: “Đây là hai con chim đại bàng của Độc tý thần ni, không ngờ đến nay vẫn còn sống”. Hai con chim đại bàng lượn một hồi rồi bay xuống núi. Mọi người chạy theo hướng chim bay, đi qua nơi góc hẹp, chợt thấy rộng rãi, trước mắt toàn là hoa dại, trên núi đối diện có dòng thác buông xuống, Huyền Phong nói: “Từ nơi này đi tiếp chính là mộ địa của Độc tý thần ni. Chắc là nơi này thấy núi hiểm yếu, bọn quan quân không thấy ai vả lại chẳng thấy nhà cửa nên không phóng hỏa”. Khi đang nói chợt nghe một tràng cười dài, Lữ Tứ Nương và Phùng Anh đã xuất hiện, cười rằng: “Tôi tưởng là ai, té ra là các vị”. Đường Hiểu Lan cũng bước ra gặp gỡ mọi người, ai nấy đều mừng rỡ.

Lữ Tứ Nương nói: “Tháng trước Mang Sơn đã bị hỏa thiêu, bọn quan quân thấy trên núi không có ai, sau khi phóng hỏa đã bỏ đi. Lăng mộ sư phụ tôi vẫn nguyên vẹn, đúng là may mắn. Tôi liệu rằng Phùng Anh sẽ trở về nên một mình lên Mang Sơn đợi mọi người, không ngờ Hiểu Lan và Phùng Anh đến trước”.

Mọi người trò chuyện một hồi, Huyền Phong hỏi: “Nữ hiệp vừa từ kinh thành trở về, chắc có tin tức gì?” Lữ Tứ Nương cười nói: “Tin tức thì có nhưng chắc là mọi người đã đoán ra”. Huyền Phong nói: “Có phải Niên Canh Nghiêu bị xử tử không?” Lữ Tứ Nương nói: “Đúng thế. Sau khi Niên Canh Nghiêu bị áp giải về kinh, tấu chương vạch tội của tướng quân thành Hàng Châu Lục Hổ Thần cũng được dâng lên, đúng là dậu đỗ bìm leo, các đại thần trong triều đều dâng sớ hạch tội Niên Canh Nghiêu, tính ra y có chín mươi hai tội!” Phùng Lâm lè lưỡi kêu: “Ồ, nhiều đến thế ư!” Lữ Tứ Nương nói: “Ung Chính đích thân ra chỉ dụ, bảo rằng y có năm tội đại nghịch, chín tội khi quân, mười sáu tội lạm quyền, ba mươi tội cuồng vọng, sáu tội ngang ngược, mười tám tội tham ô, sáu tội đố kỵ, mười lăm tội đục khoét, bốn tội tàn nhẫn, vì thế Ung Chính đã ra lệnh xử trảm Niên Canh Nghiêu”.

Sau khi giết Niên Canh Nghiêu, Ung Chính sợ có thích khách hành thích, không những cho canh phòng nghiêm ngặt hơn mà còn cấm ngặt cả những hoạt động trong cung, hàng đêm phải thay đổi chỗ ngủ, lúc nào cũng lo lắng đề phòng.

Nhưng là một Hoàng đế như thế thật đau khổ. Hơn nửa năm sau, Ung Chính thấy yên bình chẳng có việc gì nên định cấm thả lỏng, thời gian qua mau, đông đi thu đến, đã đến ngày tết, trong chớp mắt lại đến tết nguyên tiêu, mẹ ruột của Ung Chính vốn là một phi tử của Khang Hy, nay đã là thái hậu. Nửa năm qua ngồi bó gối trong cung, rất khó chịu, nhân lúc nguyên tiêu sắp đến lại liền bỏ Ung Chính bỏ lệnh cấm. Ngoài các nhạc sư cung đình, có thể gọi thêm cao thủ giáp vườn bên ngoài vào diễn, lại còn cho phép các bối lạc thân cận đến góp vui. Ung Chính nghĩ, những người có thể đối chọi với mình đều đã bị trừ, những kẻ còn lại không dám hai lòng, thế là bỏ lệnh cấm. Tin tức này rất bí mật, đến trước đêm nguyên tiêu mới báo cho các bối lạc biết. Điều đó khiến một người mừng hơn.

Người này chính là thân vương Dận Anh, con thứ mười sáu của Khang Hy. Y là huynh đệ cùng cha cùng mẹ với Ung Chính, trong số các bối lạc, tuổi tác nhỏ nhất, cho nên khi Khang Hy còn sống, y không tranh giành ngôi báu cho nên giữ được mạng.

Dận Anh trẻ tuổi thích chơi bời, cũng thích luyện võ, một tháng trước, có người tiến cử một võ sư cho y, người võ sư này thân hình bình thường, mặt mũi không có gì lạ, Dận Anh không tin y có bản lĩnh, nhất thời nổi hứng tỉ thí với y, quyền cước vừa mới chạm vào người y đã bị y quật ngã. Người ấy tự xưng là Đường Long, không những tinh thông võ công mà còn giỏi các tạp nghệ, Dận Anh rất thích, giữ luôn y trong phủ. Ung Chính bỏ lệnh cấm, Dận Anh hỏi Đường Long có trò gì hay không, Đường Long đáp: “Có, có!” rồi lập tức trổ tài. Dận Anh thích lắm, Đường Long lại bảo phải mời thêm vài trợ thủ, Dận Anh cũng chấp nhận.

Trong đêm nguyên tiêu, cấm thành treo đèn kết hoa, cực kỳ náo nhiệt, trong ngự hoa viên đã dựng hí đài, các hoàng thân quốc thích ngồi xung quanh, bên hí đài còn bắt một khán đài, Ung Chính và các phi tần cùng thái hậu ngồi trên đài thưởng thức.

Thái hậu rất thích các loại tạp kỹ, hễ thấy trò nào hay là thưởng tiền, đến khi đám người của Dận Anh lên đài, thái hậu càng vui hơn, cười nói với Ung Chính: “Tiểu đệ của con xưa nay thích bày trò, xem thử hắn có gì hay?”

Chỉ thấy đám người ăn mặc lòe loẹt lên đài, thái hậu hỏi: “Diễn tuồng gì mà ăn mặc kỳ quặc đến thế?” Dận Anh trả lời: “Không phải diễn tuồng mà là tạp kỹ”. Ung Chính giật mình, nhưng thấy hai người đứng trên đài, kéo tay so vai, một người nhảy lên, hai chân đạp lên hai vai của hai người này, một người nữa lại nhảy lên vai của người lúc nãy, Ung Chính nói: “Công phu của bọn người này thật giỏi...” nói chưa dứt lời, chỉ thấy một hán tử người thấp bé cuối cùng nhảy vọt lên, trên đầu đặt một cái bát nước, hai tay cũng cầm hai cái bát nước, y hơi nghiêng người, nước trong ba cái bát sánh ra ngoài, chứng minh trong bát chứa đầy nước. Chỉ thấy y vung hai tay, hai cái bát nước bay lên không trung, lại ném vù ra hai sợi dây màu cuộn lấy bát nước trên không trung, không những bát nước trên đỉnh đầu chẳng rơi ra giọt nào mà cả hai bát nước trên không trung cũng hạ xuống đất không vãi ra một giọt nước.

Trong tiếng reo hò, người ấy lại múa sợi dây, hai bát nước bay lượn, càng lúc càng nhanh, thái hậu cao giọng khen hay, người ấy buông tay. Bát nước quay hai vòng trên đỉnh đầu của y, y lại đưa tay chụp đoạn giữa của sợi dây màu, vừa múa sợi dây vừa xoay bát nước, thái hậu khen liền miệng. Ung Chính ngưng thần nhìn kỹ, không hề reo hò, chợt hỏi Dận Anh: “Những người này vốn là trong phủ của đệ phải không?” Dận Anh đang ngưng thần xem, không kịp trả lời, chỉ thấy sợi dây chợt chuyển hướng trên không trung, xếp thành bốn chữ “Thiên hạ thái bình”, thái hậu mừng rỡ nói: “Đúng là thần kỹ, thưởng tiền!” thái giám liền vãi hai nắm bạc trên sân khấu, Ung Chính chợt kêu lên: “Bắt những kẻ này xuống tra hỏi!”

Bạc bay như mưa lên hí đài, người xem bên dưới lại reo hò ỏm tỏi, tiếng hét của Ung Chính khiến mọi người đều thất kinh, tiếng reo hò ngừng lại, nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, chỉ thấy hán tử người thấp bé vung sợi dây kêu vù một tiếng, hai luồng bạch quang bay tới như điện xẹt lướt vào mặt Ung Chính. Té ra trong sợi dây màu có giấu hai mũi trủy thủ.

Ung Chính đã đề phòng trước, sau khi quát một tiếng thì người đã lách vào trong đám phi tần, hai mũi trủy thủ đâm vào xương vai của hai ả phi tần, đột nhiên tiếng kêu kinh hãi vang lên, hoàng thái hậu bất tỉnh, các phi tần phát hoảng dồn vào nhau. Trong khoảng sát na này, hán tử lại vọt người lên, lao bổ lên khán đài như một con chim, ba bát nước đều tạt vào người Ung Chính, Ung Chính chẳng mở mắt ra nỗi, chỉ thấy một luồng hàn phong quét tới, khí lạnh căm căm, một thanh đoản kiếm bén ngót đã chạm vào lưng.

Nhưng trái lại Ung Chính rất lanh lẹ, trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, y co hai tay kéo hai ả phi tần đẩy ra sau lưng mình, hán tử rút tay không kịp, thấy hai người phụ nữ yếu ớt đổ máu, vừa kinh vừa giận, quát lớn một tiếng rút kiếm lao bổ tới, Ung Chính đã phóng người lên lan can lầu.

Hán tử chính là Cam Phụng Trì. Chàng lẫn vào trong phủ Dận Trinh, khó khăn lắm mới chờ được cơ hội, nào có thể bỏ qua, biết rõ cực kỳ nguy hiểm nhưng cũng đuổi theo không rời.

Bốn người đi cùng Cam Phụng Trì chẳng phải ai khác mà chính là Đường Hiểu Lan, Lý Trị, Bạch Thái Quan và Ngư Xác. Họ chậm một bước, đã bị bọn lính dưới hí đài chặn lại, Cáp Bố Đà múa cây trùy Lưu Tinh, Hàn Trọng Sơn rút cây tị vân trợ, trong lúc gấp gáp, bọn họ chẳng thể nào xông ra được.

Đường Hiểu Lan nóng lòng, lia cây Du Long kiếm một vòng, kêu một tiếng, ánh lửa tóe ra, cây tị vân trợ của Hàn Trọng Sơn đã bị chặt mất một mảng. Hàn Trọng Sơn nói: “Hừ, té ra là ngươi, phản nghịch thật lớn gan!” tuy Đường Hiểu Lan có kiếm bén nhưng công lực lại không đủ, bị y đẩy lùi hai bước. Một tên lính phía sau múa hỗn nguyên thiết bài bổ xuống đầu chàng, chợt bị Lý Trị đâm xéo một kiếm, cái thiết bài vọt khỏi tay bay ra, đánh trúng một tên khác.

Lý Trị lại múa tiếp thanh kiếm, đâm thêm hai tên lính nữa. Cáp Bố Đà múa chùy nghênh địch, Lý Trị dùng đoản kiếm nên không áp sát vào được, bị hai cái chùy Lưu Tinh của y dồn ép nên không thể thi triển thân thủ.

Bạch Thái Quan thấy Cam Phụng Trì đã phóng lên Thưởng âm các rồi mất dạng, cũng không nghe thấy tiếng chém giết, lại không thấy bóng người nên càng lo hơn. Chàng phóng ra mai hoa trâm, tuy đả thương được vài người nhưng Thiên Diệp Tản Nhân đã đuổi tới, vận chưởng lực dồn ép chàng. Đang lúc căng thẳng tột độ, chợt nghe thấy một tiếng kêu, chỉ thấy từ Thưởng âm các có người nhảy ra như sao sẹt, ngã xuống dòng Ngự Hà.
Bạch Thái Quan kinh hoảng kêu: “Không xong, thất ca bị hại!” chỉ nghe trên lầu vang lên tiếng cười ha hả, Ung Chính lại bước ra, cao giọng quát: “Cam Phụng Trì hôm nay đã bị giết, trẫm mở lượng khoan thứ, những kẻ phản nghịch còn lại nếu bỏ binh khí đầu hàng có thể miễn tội”. Ngư Xác cả giận quát: “Ai tin lời ngươi!” rồi vung đao chém tới, chặt một tên lính thành hai đoạn, khi vung tiếp đao thứ hai thì đã bị Hàn Trọng Sơn vung trợ chặn lại.

Ung Chính cười ha hả, kêu lớn: “Giết chết bọn phản nghịch cho trẫm!” chỉ nghe một tiếng “lãnh chỉ” trong Thưởng âm các lại có một người phóng ra, tay múa cây phất trần từ trên không đánh xuống, phất trần vừa triển khai, lập tức đã cuộn cây đao của Ngư Xác kéo lên không trung, Đường Hiểu Lan thất kinh, vẫy nhẹ cây Du Long kiếm, sử dụng tuyệt chiêu Đại Mạc Lưu Sa trong Thiên Sơn kiếm pháp, chỉ thấy khắp người toàn là kiếm quang, Ngạch Âm Hòa Bố đã biết kiếm của chàng lợi hại không dám đánh tới mà lướt ra phía sau Bạch Thái Quan thi triển đòn sát thủ!

Bạch Thái Quan xoay bước lướt qua một bên, chợt trở tay phóng tới một nắm Mai Hoa châm, ánh ngân quang loang loáng, toàn bay vào mặt của Ngạch Âm Hòa Bố, nào ngờ Ngạch Âm Hòa Bố múa cây phất trần lên một vòng, chỉ nghe tiếng loạt soạt vang lên, toàn bộ số mai hoa trâm đã bị y cuộn mất.

Lý Trị thấy thế không xong, vung kiếm đâm vào hai mắt của Ngạch Âm Hòa Bố, Ngạch Âm Hòa Bố múa cây phất trần, nào ngờ kiếm của Lý Trị rõ ràng là đâm vào bên trái nhưng chợt xoay một vòng đâm sang bên phải, Ngạch Âm Hòa Bố khom người mới tránh được. Lý Trị vung kiếm đâm tiếp, Thiên Diệp Tản Nhân bất ngờ phóng ra đẩy hai chưởng như sấm sét, Lý Trị bất đồ thoái lui hai bước, Ngạch Âm Hòa Bố vươn người quét phất trần đánh vù một tiếng chụp xuống đầu chàng.

Đang lúc nguy cấp, chợt nghe một tiếng quát trong trẻo từ trên không vọng xuống, Thiên Diệp Tản Nhân kêu: “Thượng nhân cẩn thận, ả tiện tì lại tới!” nói chưa dứt lời, ở góc ngự hoa viên lại có mấy người nữa phóng ra, nhìn kỹ lại thì ra đó là ba thiếu nữ, quần áo của các nàng phấp phới tựa như thiên tiên. Ba người này chính là Lữ Tứ Nương, Phùng Anh và Phùng Lâm.

Ngạch Âm Hòa Bố kêu mộ tiếng không xong, chạy đến chặn lại, Đường Hiểu Lan đã kêu lớn: “Ung Chính đang ở Thưởng âm các”. Lữ Tứ Nương điểm mũi chân phóng vọt lên, chỉ trong chớp mắt đã lao lên lan can lầu, nhảy vào trong các, nhưng chẳng thấy ai, nàng vừa vào bên trong đã đánh một chiêu Dạ Chiến Bát Phương, lập tức đảo người vọt trở ra, tên bay tới như mưa nhưng vẫn bị nàng chặt gãy cả.

Phùng Anh và Phùng Lâm đi sau một bước, vừa vặn chạm phải Ngạch Âm Hòa Bố, Phùng Anh lia cây đoản kiếm nhanh như điện chớp, một chiêu hai thức, vừa điểm vào mặt, vừa đâm vào ngực của y, Ngạch Âm Hòa Bố xoay người theo kiếm thế, cây phất trần đánh xéo ra, tay phất trần chụp tới, y ra tay đến mức khó hình dung. Phùng Anh không hề lo lắng, nàng chỉ lấy tĩnh chế động, chỉ hơi lách người, kiếm quang chợt tỏa ra, liên tục dùng hai chiêu Lưu Tinh Cản Nguyệt, Phi Vân Ma Điện, cây kiếm của nàng đâm xuyên qua màng lướt của phất trần, xỉa vào huyệt Kỳ Môn dưới hông của y, Ngạch Âm Hòa Bố không ngờ kiếm pháp của Phùng Anh lại tinh thông như thế, phất trần vừa thu, chưởng lực đã phát ra ngoài, chỉ thấy ánh ngân quang lướt tới kêu lên vù vù, Phùng Anh liên tục dùng kình lấy nhu chế cương, cắt đứt một đoạn phất trần của Ngạch Âm Hòa Bố nhưng cũng bị chưởng lực của y đánh lảo đảo.

Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Phùng Anh múa kiếm đâm vào huyệt Mệnh Môn của Ngạch Âm Hòa Bố. Ngạch Âm Hòa Bố thấy thế thất kinh, vội vàng vận nội gia chân lực đánh ra một chưởng hoành giá kim lương, toan đánh vỡ xương cổ tay của Phùng Lâm, nào ngờ Phùng Anh vừa đứng vững thì đã quét kiếm tới, nội công của Phùng Anh cao hơn Phùng Lâm, trong tay nàng lại có thanh bảo kiếm, Ngạch Âm Hòa Bố không dám đánh liều, chỉ đành vận chưởng đánh ngược về phía Phùng Anh, nội công của y cao hơn Phùng Anh, Phùng Anh cũng không dám tiếp, chỉ lách người lướt bước nhảy qua một bên, Ngạch Âm Hòa Bố đã định đuổi theo, Phùng Lâm lại đâm vào huyệt Khảm Hỏa Ly Thủy của y, Ngạch Âm Hòa Bố tức đến nỗi kêu lên oai oái, nhưng chẳng làm cách nào, chỉ đành thu phất trần rút chưởng phòng thủ huyệt đạo.

Lúc này Lữ Tứ Nương đã nhảy ra khỏi Thưởng âm các, thấy Ngạch Âm Hòa Bố đang giằng co với chị em họ Phùng, liền múa kiếm xông vào bọn lính, lớn giọng quát: “Chạy mau, Ung Chính đã thoát”. Đường Hiểu Lan nói: “Cam đại hiệp...” Lữ Tứ Nương nói: “Thất ca đã mất tích, hôm nay chúng ta coi như thất bại”. Ngư Xác lúc này đã cướp được một cây hoa thương, lao về phía trước nói: “Được, giết được tên nào hay tên ấy, chúng ta báo thù cho Cam đại hiệp”. Lữ Tứ Nương nói: “Thất ca chưa chắc gặp bất trắc. Chúng ta phải xông ra trước”. Nàng vừa nói vừa lia kiếm, bọn lính áp sát với nàng đều bị gãy chân què tay, đầu rơi máu chảy!

Hàn Trọng Sơn cả giận nhảy lên đánh ra một chiêu Thái Sơn Áp Đỉnh bổ xuống đầu Lữ Tứ Nương, nàng lia xéo thanh kiếm dẫn cây trợ của Hàn Trọng Sơn ra ngoài, rồi trầm cổ tay xuống, kiếm chiêu lại phát ra, Cáp Bố Đà kêu: “Không xong!” rồi vội vàng múa cây truỳ đánh tới, nào ngờ Lữ Tứ Nương nhanh đến khó hình dung, chùy của Cáp Bố Đà rõ ràng là đã bổ vào đầu nàng, không ngờ nàng lại lách qua, cổ tay trầm xuống, thanh kiếm lướt xéo lên kêu soạt một tiếng, chém đứt hai ngón tay của Hàn Trọng Sơn, cây tị vân trợ bay ra trúng vào một tên lính, tiện đứt đôi người y.

Lúc này công lực của Lữ Tứ Nương đã cao hơn Hàn Trọng Sơn, Hàn Trọng Sơn không biết tưởng rằng nàng cũng như trước, thầm nhủ: “Lữ Tứ Nương dù kiếm pháp tinh diệu, nhưng công lực cũng kém mình”. Nào ngờ y tính sai, phòng thủ sơ hở cho nên vốn có thể đánh được năm mươi chiêu, nào ngờ trong vòng ba mươi chiêu đã bị thương. Cáp Bố Đà thấy Hàn Trọng Sơn bị thương cả kinh xoay người bỏ chạy. Thiên Diệp Tản Nhân không dám ham đánh, chỉ đành hiểm hộ Hàn Trọng Sơn lui xuống.

Bọn Cáp Bố Đà vừa lui, bọn lính cũng chẳng dám đuổi theo, Lữ Tứ Nương và Phùng Anh lao ra, Ngạch Âm Hòa Bố một tay khó vỗ nên kêu, cũng không dám đuổi theo, vội vàng bảo bọn lính cứu chữa những kẻ bị thương còn mình thì vào cung gặp Ung Chính.

Lúc này Ung Chính đã nấp trong mật thất, số là y phòng bị cực kỳ cẩn thận, đã sớm bày binh bố trận ở Thưởng âm các, lại sắp đặt cơ quan, đào địa đạo thông vào cung, còn bảo bọn Ngạch Âm Hòa Bố mai phục ở đây. Cam Phụng Trì trong lúc nóng lòng đã đuổi vào Thưởng âm các, trúng ám toán còn Ung Chính thì chạy ra khỏi địa đạo.

Ngạch Âm Hòa Bố vào trong gặp Ung Chính, khấu đầu thỉnh tội. Ung Chính nói: “Ngươi cứu giá có công, có đáng tội gì? Trẫm chỉ hận tên tiểu súc sinh Dận Anh dám cho người đến ám toán trẫm”. Ngạch Âm Hòa Bố nói: “Tiểu thân vương chưa chắc có ý này”. Ung Chính nói: “Dù y hữu ý hay vô ý, không thể không phạt. Giờ đây thái hậu vẫn còn đang hôn mê, ngươi hãy mau đi gọi tên tiểu súc sinh đến, nếu không thái hậu tỉnh dậy lại ngăn cản”. Ngạch Âm Hòa Bố kêu vâng một tiếng, đang định lui ra, Ung Chính lại nói: “Ngươi hãy cho người đến Ngự Hà tìm kiếm, xem thử Cam Phụng Trì đã chết hay chưa!” Ngạch Âm Hòa Bố nói: “Y đã bị trúng tên, lại trúng một chưởng của nô tài, rơi xuống Ngự Hà dù không chết cũng không thể vận nội công, lúc này trời đang lạnh có lẽ y không chống chọi được”. Ung Chính nói: “Tuy nói thế nhưng thấy xác trẫm mới yên lòng”. Ngạch Âm Hòa Bố lại vâng một tiếng, nói: “Hoàng thượng còn có dặn dò gì không?” Ung Chính nghĩ ngợi rồi chợt nói: “Dù có tìm được xác của Cam Phụng Trì hay không, ngươi cũng phải cho người phao tin Cam Phụng Trì đã bị chúng ta bắt sống”.

Sau một đêm, sáng mai Ung Chính hạ lệnh tra xét ở chín cửu vào thành Bắc Kinh, đồng thời phòng bị nghiêm ngặt hơn, cuối cùng chẳng bắt được một kẻ phản nghịch nào. Ung Chính đang lấy làm lạ, đến chạng vạng tối chợt có một tên nội giám vào báo: “Hầu Tam Biến xin gặp Hoàng thượng”.

Ngạch Âm Hòa Bố đứng một bên, nghe nói y cầu kiến thì chưng hửng, Ung Chính nói: “Gọi y vào”. Ngạch Âm Hòa Bố nói: “Chỉ e có gian trá”. Ung Chính cười nói: “Trẫm đang muốn tương kế tựu kế, sợ gì gian trá”. Rồi hỏi nội giám: “Y thế nào rồi?” tên nội giám báo: “Y tự trói tay, xin gặp nội đình tổng quản, bảo rằng có việc cơ mật muốn bẩm với Hoàng thượng. Y còn mang theo một người bịt mặt, nghe nói bí mật là ở người này. Tổng quản không dám làm chủ, xin Hoàng thượng ra lệnh”. Ung Chính cười ha hả nói: “Gọi tất cả vào đây”.
Một lúc sau nội giám dắt Hầu Tam Biến và người che mặt vào, Ung Chính gằng giọng quát: “Hầu Tam Biến, ngươi còn có gan đến gặp ta sao?” Hầu Tam Biến dập đầu nói: “Nô tài đã biết lỗi, xin lấy công chuộc tội”. Ung Chính ừ một tiếng rồi nói: “Hay lắm! Trẫm xưa nay rộng lượng, nếu ngươi đã hối hận, trẫm sẽ cho ngươi một con đường sáng, nói đi!” Hầu Tam Biến nói: “Xin Hoàng thượng cho tả hữu lui ra”. Ung Chính cười lớn nói: “Ngươi tưởng ta là con nít ba tuổi sao?” Hầu Tam Biến nói: “Nếu Hoàng thượng nghi ngờ, xin hãy đâm thủng xương tỳ bà của nô tài”. Ung Chính nói: “Ngươi đã mau mắn như thế, ta cũng không cần đâm thủng xương tỳ bà của ngươi để ngươi khỏi tàn phế. Ngạch Âm Hòa Bố, hãy phế võ công của hai người này!” Ngạch Âm Hòa Bố vâng một tiếng, lấy ra một cây kim dài khoảng một thước, ánh ngân quang loang loáng, y chẳng nói chẳng rằng đâm lên người Hầu Tam Biến và người che mặt ba mũi châm, rồi lập tức bóp vào lưng của mỗi người một cái, Hầu Tam Biến loạng choạng suýt nữa ngã xuống, người che mặt cũng lảo đảo, trên trán hai người đều toát mồ hôi, Ung Chính mỉm cười nói: “Được, giờ đây các ngươi tuy tạm thời chịu khổ, nhưng miễn khỏi tàn phế, từ rày về sau các người sẽ sống yên phận. Các người thấy trẫm có rộng lượng hay không?” Hầu Tam Biến khấu đầu nói: “Nô tài tạ ơn”. Ung Chính phẩy tay nói: “Ngạch Âm Hòa Bố, ngươi hãy ra ngoài”.

Ngạch Âm Hòa Bố lẳng lặng lui ra. Té ra Ngạch Âm Hòa Bố có một loại võ công độc môn có thể dùng ngân châm đâm vào huyệt qua lớp áo, khiến chân khí của kẻ địch phát tiết, dù võ công cao đến mức nào cũng không còn. Lúc trước Ngạch Âm Hòa Bố đã từng đâm Phùng Anh nhưng vì nàng mặc cái áo giáp nên không có hiệu quả, bởi vậy lần này đâm huyệt xong lại bóp vào lưng của hai người xem thử họ có còn võ công hay không.

Ung Chính đợi Ngạch Âm Hòa Bố ra khỏi mật thất, lập tức nói: “Ngươi có chuyện cơ mật gì nói cho trẫm nghe”. Hầu Tam Biến nói: “Cơ mật là ở người này”. Rồi đưa tay rồi kéo khăn bịt mặt của người bên cạnh, nói: “Hoàng thượng có còn nhận ra người này không?” Ung Chính mỉm cười nói: “Ta tưởng là ai, té ra là Đường Hiểu Lan, Đường hiệp sĩ, chúng ta là bằng hữu!” Hầu Tam Biến nói: “Hoàng thượng có biết lai lịch của Đường Hiểu Lan không?” Ung Chính lại mỉm cười nói: “Tại sao không biết? Nói ra chúng ta không chỉ là bằng hữu mà còn là huynh đệ ruột thịt! Ngươi đã biết lai lịch của mình, vậy nên ở trong cung hưởng phước, đừng theo bọn người Hán làm càn nữa”. Đường Hiểu Lan và Hầu Tam Biến đều chưng hửng, trong nhất thời nói không ra lời.

Số là Khang Hy chết đi, Ung Chính lục tìm các bí mật của ông ta, phát hiện trong nhật ký có một đoạn nói về Đường Hiểu Lan, lại còn bảo chàng là người có nhân phẩm tốt nhất trong mười mấy người con.

Đường Hiểu Lan nghiến răng, lớn giọng mắng: “Hầu lão tặc, ta bị ngươi lừa bắt vào cung, ta hận không ăn tươi nuốt sống ngươi!” Ung Chính mỉm cười nói: “Ngươi đúng là cổng rắn cắn gà nhà, bọn người Hán làm càng ở đâu? Trẫm sẽ lập tức nhận ngươi làm hoàng đệ, phong ngươi làm thân vương”. Đường Hiểu Lan im lặng, Ung Chính lại nói: “Trong thiên hạ có ai dám chống lại lệnh trẫm? Ngươi có biết kết quả của Dận Đường và Dận Nga không? Bọn họ chạy ra khỏi cung, bị trẫm bắt về, lúc này xương cốt đã hóa thành tro bụi, ngươi có muốn giống như bọn chúng không?” rồi lớn giọng kêu: “Ngạch Âm Hòa Bố!” sau đó lại mềm mỏng mỉm cười: “Ngươi muốn trở thành thân vương hay muốn xương cốt tiêu tan, cứ chọn đi!”

Đường Hiểu Lan cúi đầu có vẻ như đang suy nghĩ, rất lâu sau mới ngẩng đầu nói: “Được, ta nói, ở đây có một danh sách, ta đưa cho ngươi”. Ung Chính bước tới mấy bước, đưa tay nói: “Đưa đây!” nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Đường Hiểu Lan chợt vung tay chụp lấy cổ tay của Ung Chính, Ung Chính cũng rất lợi hại, chân phải giở lên thi triển liên hoàn vô ảnh cước của phái Thiếu Lâm đá vào hông chàng, nếu bị đá trúng, Đường Hiểu Lan không chết cũng bị thương. Khi Đường Hiểu Lan ra tay, Hầu Tam Biến cũng nhảy lên, cú đá này trúng ngay vào đầu, lập tức bể đầu mất mạng. Nhưng Ung Chính đã bị Hầu Tam Biến cản lại, Đường Hiểu Lan lập tức vung tay điểm trúng huyệt đạo của y. Ung Chính vừa giở chân trái lên đã mềm nhũn.

Té ra Hầu Tam Biến và Đường Hiểu Lan sử dụng khổ nhục kế. Sau khi đại náo đại hoa viên, Hầu Tam Biến âm thầm điều tra, nghe được lời đồn, tưởng rằng Cam Phụng Trì đã bị bắt. Mọi người bàn bạc tìm cách cứu chàng, cho nên Hầu Tam Biến đã nghĩ ra kế khổ nhục mạo hiểm vào cung chuẩn bị bắt Hoàng đế.

Trên mình Đường Hiểu Lan mặc áo giáp tơ vàng mượn của Phùng Anh, sau khi bị Ngạch Âm Hòa Bố đâm kim vào, lập tức vận dụng nội công thượng thừa rút kình lực lại, làm cho mồ hôi tuôn ra, Ngạch Âm Hòa Bố và Ung Chính đã bị chàng qua mặt, còn Hầu Tam Biến thì đã mất võ công thực sự, liều chết chặn một cước cho Đường Hiểu Lan.

Hai bên động thủ nhanh như điện chớp, khi Ngạch Âm Hòa Bố xông vào, Ung Chính đã bị Đường Hiểu Lan chế phục chẳng thể động đậy nỗi. Ngạch Âm Hòa Bố kinh hãi, chỉ thấy kiếm của Đường Hiểu Lan đã kề vào cổ Ung Chính, y sợ ném chuột bể đồ nên không dám tiến tới trước.

Trái lại Ung Chính rất chấn tĩnh, chợt cười ha hả nói: “Hiểu Lan, ngươi giỏi lắm! Ta đã sớm đoán được các ngươi sẽ sử dụng kế khổ nhục, nhưng không ngờ ngươi có mang theo bảo vật phòng thân. Ta đã thua, các người muốn gì cứ nói ra!”

Đường Hiểu Lan lớn giọng nói: “Hãy thả Cam đại hiệp ra!” Ung Chính nói: “Được, mạng trẫm đổi mạng của Cam Phụng Trì cũng đáng lắm. Ngạch Âm Hòa Bố, hãy trả Cam Phụng Trì cho bọn chúng”. Ngạch Âm Hòa Bố vâng lệnh lui ra, quả nhiên một lát sau dắt theo một người, đầu bịt khăn xanh chỉ để lộ ra nửa mặt, Ngạch Âm Hòa Bố nói: “Cam Phụng Trì bị thương trên đầu, vốn là phải nghỉ ngơi. Nếu y có gì bất trắc, chớ trách ta không nói trước”.

Đường Hiểu Lan nheo mắt nhìn, dưới ánh đèn vàng vọt, chỉ thấy người này thân hình cao ngũ đoản, tuy bị thương nhưng hai mắt rất có thần, quả nhiên đó là Cam Phụng Trì. Đường Hiểu Lan gọi: “Cam đại ca”. Người ấy trả lời: “Đường hiền đệ”, giọng nói nghe rất nhỏ, Đường Hiểu Lan thầm nhủ: “Y đã bị trọng thương, lại uống nhiều nước lạnh, chả trách nào tiều tụy như thế”. Đang định bước đến xem thử vết thương của Cam Phụng Trì, lại sợ Ung Chính bỏ chạy, nói: “Ngươi phải đưa bọn ta ra khỏi cung từ Thần Võ môn. Bọn ta ra khỏi cửa sẽ lập tức thả ngươi”. Ung Chính nói: “Nhưng bọn chúng có chịu hay không? Ngoài Thần Võ môn chắc còn nhiều đồng bọn của ngươi. Bọn chúng đang muốn ăn tươi nuốt sống trẫm, ngươi có thể quyết định được sao?” Đường Hiểu Lan tức giận nói: “Bọn ta không giống ngươi, chỉ làm chuyện lừa bịp. Quân tử nhất ngôn...” Ung Chính tiếp lời cười nói: “Xe bốn ngựa khó đuổi. Được, trẫm đã từng đi lại trên giang hồ, chúng ta cứ làm theo quy củ trên giang hồ”. Đường Hiểu Lan nói: “Ngươi bảo một tên nội giám đỡ Cam đại hiệp đi trước, bọn Ngạch Âm Hòa Bố không được đi bên cạnh”. Ung Chính cười nói: “Ngươi đúng là đa nghi”. Rồi nháy mắt bảo: “Ngạch Âm Hòa Bố, ngươi hãy ra ngoài đi”. Đường Hiểu Lan lại nói: “Các người không làm được làm càng, nếu ngươi bảo Ngạch Âm Hòa Bố ra Thần Võ môn tra xét, làm hại người của bọn ta, đừng trách ta vô tình”. Ung Chính vẫn ung dung cười lạnh: “Có thực không? Trẫm đã bị ngươi kiềm chế, lẽ ra ngươi không nên đa nghi như thế”.

Nội giám đưa người ấy đi ở phía trước, Đường Hiểu Lan dùng kiếm kề lên cổ Ung Chính, từ nội viện đi đến Thần Võ môn, được nửa canh giờ quả nhiên chẳng thấy ai tra xét.

Trên đường đi Cam Phụng Trì cũng quay đầu lại nhìn mấy lần, trong mắt đầy vẻ cảm kích, ra đến Thần Võ môn, Đường Hiểu Lan nói: “Cam đại hiệp, huynh có thể đi được hay không?” Cam Phụng Trì vung tay tóm tên nội giám ném qua một bên, Đường Hiểu Lan mừng rỡ nói: “Cam đại hiệp bị trọng thương mà võ công vẫn còn”. Thần Võ môn chậm rãi mở ra, Đường Hiểu Lan nói: “Đại hiệp đến đây vịn một bên vai của tôi, Lữ tỉ tỉ đang ở trên Cảnh Sơn, chúng ta ra khỏi cửa này, tỉ ấy sẽ ra tiếp ứng”. Ung Chính nói: “Các người chưa chịu thả trẫm sao?” Đường Hiểu Lan nói: “Ra khỏi đây rồi tính tiếp”. Cam Phụng Trì xoay người, bước đến gần Đường Hiểu Lan, hai tay vịn vai chàng, Đường Hiểu Lan thấy trong lòng chua xót, nghiêng người cho Cam Phụng Trì dựa vào, đang định lên tiếng an ủi, chợt thấy vai đau nhói, cổ tay cầm kiếm đã bị Cam Phụng Trì giật ra, Đường Hiểu Lan kinh hãi kêu: “Cam đại hiệp, huynh làm gì thế?” chỉ nghe người ấy quát: “Ai là đại ca của ngươi!” rồi một tay bóp vai, một tay bẻ cổ tay của Đường Hiểu Lan, Ung Chính cười ha hả vọt người ra, khi người ấy áp sát vào đã dùng cùi chỏ giải huyệt đạo cho y.

Người ấy đâu phải là Cam Phụng Trì mà chính là một tên thị vệ trong cung, vì thân hình thấp bé như Cam Phụng Trì cho nên Ung Chính mới bảo y giả dạng chờ sẵn, vì Đường Hiểu Lan không quan sát kỹ càng nên bị y lừa.

May mà tên thị vệ này không phải là ca bu mà là nhất lưu, Đường Hiểu Lan tuy bị y bóp trúng vai nhưng vẫn có thể vùng vẫy được.

Ung Chính thoát thân, kêu lớn: “Mau đóng cửa thành!” bọn Ngạch Âm Hòa Bố, Hàn Trọng Sơn, Cáp Bố Đà từ trong xó tối nhảy ra, té ra bọn chúng đã mai phục sẵn từ lâu.

Đường Hiểu Lan ôm người ấy lộn xuống đất, rồi vùng ra vung kiếm chém đứt người ấy thành hai đoạn, chỉ thấy Cáp Bố Đà vung Lưu Tinh chùy đánh tới, cánh cửa sắt của Thần Võ môn đã dần dần đóng lại.

Đường Hiểu Lan liều mình vung kiếm lao tới, chợt nghe ối chao một tiếng, người đóng cửa thành tựa như bị trúng ám khí ngã xuống, Ngạch Âm Hòa Bố và Hàn Trọng Sơn vội vàng nhảy lên tường thành, chỉ nghe một tiếng huýt sáo lanh lảnh, Lữ Tứ Nương và Phùng Anh cùng Phùng Lâm từ bên ngoài nhảy vào, Quan Đông tứ hiệp cũng xông vào. Ngạch Âm Hòa Bố vung phất trần chặn kiếm của Lữ Tứ Nương, quát: “Mau đóng cửa thành!” Hàn Trọng Sơn tay trái cầm tị vân trợ phòng thân, tay phải đè vào cái then bằng sắt, Quan Đông tứ hiệp đã xông vào trong, Phùng Anh và Phùng Lâm cũng nhảy đến bên cạnh Đường Hiểu Lan.

Trên thành tên bắn xuống rào rào, binh lính mai phục trong vườn cũng ùa ra, không những tên bắn mà còn có cả ống phun lửa của bọn Lạt ma Hồng giáo.

Mọi người vừa phải tránh tên vừa phải tránh ống phun lửa nên tình thế rất nguy hiểm. Phùng Anh hỏi: “Huynh chạy ra được không?” Đường Hiểu Lan lắc đầu. Lúc này cái then sắt đã rơi xuống, trên đầu tường lại có vô số cung tiễn thủ và câu liêm thủ, trong số Quan Đông tứ hiệp, ngoại trừ Huyền Phong đại nhân và Liễu Tiên Khai, khinh công hai người còn lại kém hơn, e rằng không thể thoát ra được.

Lữ Tứ Nương vung kiếm múa tiếp, đánh Ngạch Âm Hòa Bố khiến y chỉ có nước chống đỡ, Phùng Lâm vung tay, ba mũi độc mệnh thần đao bay về phía Hàn Trọng Sơn, Hàn Trọng Sơn thấy phi đao bay tới đành lách người qua. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Trần Nguyên Bá nhảy vào cửa thành, hai tay từ từ nâng cánh cửa lên. Huyền Phong cùng bọn Phùng Anh và Lang Nguyệt đánh lui bọn thị vệ bên cạnh, nhất tề xông ra. Phùng Lâm không ngừng phóng phi đao khiến Hàn Trọng Sơn không thể cài cái then sắt lại.

Nhưng Phùng Lâm chỉ mang theo hai mươi bốn mũi phi đao, Đường Hiểu Lan và Phùng Anh chạy cuối cùng, đến bên cửa phi đao của Phùng Lâm đã hết. Hàn Trọng Sơn cười hềnh hệch, vung tay kêu vù một cái, hai cái hồi hoàn đao đồng thời bắn ra bay về phía Phùng Anh và Đường Hiểu Lan, hai người Đường Phùng phải lách người, trong khoảng sát na này, Hàn Trọng Sơn đè cái then sắt xuống, Trần Nguyên Bá trán nổi gân xanh, kêu lớn: “Chạy mau!” Phùng Anh và Đường Hiểu Lan vung hai kiếm lên, cái hồi hoàn câu không bay ra được, lập tức bị chặt thành bốn đoạn. Cả hai người phóng vọt lên, lướt qua bên cạnh Trần Nguyên Bá, chỉ nghe a một tiếng, hai tiếng kêu thảm vang lên, Đường Hiểu Lan quay lại nhìn chỉ thấy Lữ Tứ Nương xách một cái đầu người, chạy theo phía sau kêu: “Chạy mau!” chính là:

Đại nội phi đầu khó giải hận, nhạn bay dãy tránh đau lòng hơn.

Muốn biết sau đó thế nào, mời sang hồi sau sẽ rõ.

Chương 48: Tam nữ giết rồng cuối cùng giải đại nạn Một phen bôn ba mỗi nhà kết lương duyên

Mọi người đánh lui bọn lính, vượt qua Cảnh Sơn, chạy như bay ra ngoại ô Bắc Kinh, đến lúc trăng lặng sao mờ, bóng đêm dần lui, họ đã lên đến Tây Sơn, nghỉ ngơi một hồi mọi người mới nhìn kỹ lại té ra Lữ Tứ Nương xách cái đầu của Hàn Trọng Sơn. Huyền Phong đạo trưởng chảy nước mắt, khóc không thành tiếng, Lữ Tứ Nương cũng im lặng rầu rĩ. Liễu Tiên Khai nói: “Thật đáng tiếc, tứ đệ đã chết. Tuy đã giết được tên này nhưng không đủ giải mối hận”. Lữ Tứ Nương nói: “Đáng tiếc tôi đến muộn một bước”. Đường Hiểu Lan càng thêm trách mình, nói: “Nếu chẳng phải tôi đã bị thương, Trần đại hiệp đã không dùng thân đẩy tấm sắt ngàn cân”. Lang Nguyệt thiền sư nói: “Nguyên Bá đã liều mình vì nghĩa, cũng không uổng danh hiệp khách. Chi bằng chúng ta hãy báo thù cho y”.

Té ra Trần Nguyên Bá tuy có sức mạnh trời sinh nhưng vì Hàn Trọng Sơn đè cái then xuống, cuối cùng chịu không nỗi, đã bị cánh cửa sắt sụp xuống đứt thành hai đoạn.

Đường Hiểu Lan nói: “Ung Chính thật nham hiểm độc ác, Trần đại hiệp hy sinh, Cam đại hiệp thì không biết sống chết ra sao, mối thù này không biết ngày nào mới trả được đây!” Lữ Tứ Nương nhìn lên trời hú dài một tiếng, rồi lại phát ra mấy mũi hưởng tiễn, Đường Hiểu Lan nhận ra đó là tín hiệu gọi đồng môn của Lữ Tứ Nương, hỏi: “Bạch Thái Quan ở đâu?” Lữ Tứ Nương nói: “Họ đều ở đây. Chiều ngày hôm qua thất ca đã thoát hiểm trở về, tuy bị thương không nhẹ nhưng chẳng hề chi”. Đường Hiểu Lan trong lúc đau đớn, nghe tin mừng, bất giác nhảy bật lên: “Có thật không?” Lữ Tứ Nương chỉ tay nói: “Đệ nhìn xem”. Chỉ thấy ở lưng chừng núi, có hai người đang bước lên, đó chính là Cam Phụng Trì và Bạch Thái Quan.

Mọi người gặp nhau, Đường Hiểu Lan mới biết té ra Cam Phụng Trì rất cảnh giác, ngày hôm ấy vừa bước chân vào Thưởng âm các đã biết có điều khác lạ, lập tức vận chưởng lực đánh vỡ một góc, dù như thế nhưng vẫn trúng mấy mũi tên, sau lưng còn trúng một chưởng của Ngạch Âm Hòa Bố.

Cam Phụng Trì nói: “Chưởng lực của Ngạch Âm Hòa Bố thật kinh khủng, tôi trúng một chưởng chỉ cảm thấy trước mắt tối sầm, suýt nữa đã ngất, sau khi rơi xuống dòng Ngự Hà, gặp phải nước lạnh nên tỉnh trở lại. May mà không ai đuổi theo”. Ngư Xác nói: “Lúc đó chúng tôi đang hỗn chiến trong vườn”.

Cam Phụng Trì nói tiếp: “Tôi tinh thông thủy tính, nhưng lúc đó xương cốt rã rời, chẳng có sức bơi ra, may sao có mang theo Trường Bạch sâm, tôi nhai một cây sâm, nằm nấp trong đám lau sậy, vận khí hành huyết, tự trị thương cho mình. Một canh giờ sau khí lực tuy chưa hoàn toàn hồi phục nhưng đã có thể bơi dưới nước”. Đường Hiểu Lan nói: “Ngự Hà thông ra ngoài hay sao? Dưới nước chả lẽ không có gì ngăn cản, đại hiệp làm sao bơi ra được?” Cam Phụng Trì nói: “May mà được một cung nữ chỉ đường”. Đường Hiểu Lan ngạc nhiên nói: “Một cung nữ làm sao có bản lĩnh xuống nước cứu huynh?”

Cam Phụng Trì cười nói: “Không phải nàng cứu tôi mà tôi cứu nàng. Nàng vốn chẳng có bản lĩnh gì cả, khi tôi phát hiện nàng đã sắp chết”. Đường Hiểu Lan ngạc nhiên hỏi: “Có nghĩa là sao?” Cam Phụng Trì nói: “Tôi vốn định lặng xuống nước, nhưng bơi ra đến bên ngoài thì thấy dưới nước có mười mấy lớp lưới sắt, tôi biết bên trong chắc chắn có chứa cơ quan, đang lo lắng chợt thấy một cái xác trôi tới. Tôi bơi qua nhìn, chỉ thấy đó là một nàng cung nữ lớn tuổi, tôi nghĩ nàng trượt chân ngã xuống nước, bởi vậy mới kéo nàng vào, thấy nàng vẫn còn ấm cho nên dùng thuật Thôi Cung Quá Huyệt giúp nàng hô hấp, khi lúc mới tỉnh dậy nàng còn tưởng tôi là thị vệ trong cung, cho nên hoảng quá xin tôi ban cho toàn mạng. Tôi nói rõ thân phận cho nàng biết, bảo nàng không cần sợ. Hỏi nàng tại sao rơi xuống nước, té ra nàng vào cung đã hơn hai mươi năm, chưa từng gặp qua Hoàng đế”. Huyền Phong nói: “Có chuyện đó nữa sao?” Cam Phụng Trì nói tiếp: “Cung nga này đã hơn bốn mươi tuổi, theo lệ cũ trong cung đình, lẽ ra đã được thả cho về, để nàng tự tìm người gá nghĩa, nhưng nàng không có tiền cho thái giám quản sự, chẳng ai để ý đến nàng, để nàng tự sinh tự diệt. Nàng đã lớn tuổi, thường bị bức hiếp, không chịu khổ nỗi nên nhảy xuống nước tự sát. Tôi lại hỏi có cách gì ra ngoài không, nàng chợt nhớ hai mươi năm trước khi còn trẻ tuổi xinh đẹp, rất thân thiết với một tiểu thái giám. Trong cung cũng có người chuyên quản lý Ngự Hà, tiểu thái giám chính là người coi sóc Ngự Hà. Nàng còn nhớ y đã cho nàng biết một chuyện, đó là trong Ngự Hà có một nơi cho nước bên ngoài vào, bên dưới có một chỗ khuyết, không có lưới sắt ngăn chặn, được đóng mở bằng cửa sắt, mỗi sáng cửa sắt mở một lần, họ thường chui qua nơi ấy ra ngoài cung, nhưng không biết giờ đây thế nào. Chúng tôi thử xem, tôi đưa nàng bơi về phía trước, nằm yên chờ đợi, đến thời khắc thì lặn xuống nước, quả nhiên tấm cửa sắt mở ra đúng giờ, chúng tôi dễ dàng thoát ra. Tôi nhân lúc sắc trời chưa sáng, đến nhà phú hộ đánh cắp một bộ quần áo, lại trộm một ít bạc cho nàng, để nàng tự chạy thoát. Chuyện sau này bát muội đều biết”.

Lữ Tứ Nương nói: “Sau đó thất ca đến tìm chúng tôi, y tuy bị thương nhẹ nhưng nguyên khí đã tổn thương, võ công chưa hồi phục, bởi vậy tôi kêu ngũ ca đưa y lên Tây Sơn, sau đó vào cung cứu các người”.

Phùng Lâm nghe thế, vỗ tay khen rằng: “Vậy chúng ta lại lẻn vào cung bằng đường ấy!” Lữ Tứ Nương lắc đầu: “Ung Chính rất lợi hại! Y đã phát hiện thất ca mất tích trong Ngự Hà, chắc chắn sẽ tra xét. Vả lại dù có lẻn được vào bên trong cũng không biết Ung Chính nấp ở đâu. Chúng ta lại không thể ở trong cung chờ đợi cơ hội, chỉ lẻn vào được một hai lần có ích gì!”

Phùng Lâm lẩm bẩm: “Không thể ở trong cung?” rồi reo lên: “Muội có cách!” Lữ Tứ Nương nói: “Muội có cách gì thế?” Phùng Lâm nói: “Thiên cơ không thể lộ, muội đã nghĩ được một cách, tỉ kề tai qua đây”. Lữ Tứ Nương nghe nàng thì thầm bên tai, lúc đầu thì hừ một tiếng, sau đó lại gật đầu: “Giỏi lắm!” Mọi người thấy nàng mỉm cười, đều ngạc nhiên.

Sau chuyện ấy, Ung Chính càng thêm lo lắng, nghe báo lại bọn người Lữ Tứ Nương đã xông ra khỏi thành nên mới yên lòng, có điều vẫn canh phòng cẩn mật hơn.

Nửa năm trôi qua, sóng yên gió lặng, Ung Chính thầm nhủ: “Chắc đám người này biết lợi hại không đến nữa. Trẫm thân là thiên tử, vì sợ thích khách nên không dám xuất hiện ở chỗ đông người, cả trong cung cũng không dám tự do đi lại, làm Hoàng đế như thế có ý nghĩa gì nữa”. Y thấy chẳng có việc gì xảy ra nên mới yên tâm, bắt đầu tự đi lại trong cung.

Theo lệ cũ của triều đình, cứ mỗi ba năm thay một tốp cung nga, nhận tốp mới bù vào tốp cũ, những cung nga mới được chọn vào cung gọi là tú nữ. Sau khi được chọn vào cung, tú nữ sẽ được chia cho các phi tần, gọi là cung nga, nếu Hoàng đế thấy hợp ý mới phong làm quý nhân, rồi được thăng làm quý phi, nhưng cung nga vô số, đâu phải ai cũng có thể gặp được Hoàng đế.

Một buổi tối nọ, Ung Chính rãnh rỗi chẳng có chuyện gì, nhớ lại ba tháng trước đã từng chọn một đám tú nữ, không biết trong đó có ai xinh đẹp hay không liền bảo nội giám đưa danh sách và hình vẽ của tú nữ lên cho mình xem, y chợt thấy có một tú nữ tướng mạo rất giống Phùng Lâm, giật thót mình, khi nhìn kỹ lại tên họ quê quán mới biết là con gái của một nhà bình thường ở Nam Xương, tên gọi là Lâm Chỉ, bất giác thầm cười: “Tú nữ được các châu huyện chọn lựa, lại được các khâm sai kiểm tra, cuối cùng mới được tổng quản nội vụ trong cung sát hạch mới được cho vào cung, làm sao có thể là giả! Quả là ả tú nữ này tuy giống Phùng Lâm nhưng làm sao bằng nàng?” Ung Chính ngồi trầm ngâm, nhớ lại chuyện năm xưa, bóng dáng yêu kiều của Phùng Lâm như hiện ra trước mắt, bất giác thở dài nói: “Một mỹ nhân xinh đẹp như thế, đáng tiếc đối chọi với trẫm”. Nhìn lại bức tranh vẽ nàng tú nữ tên gọi Lâm Chỉ, bên dưới có chú thích rằng: “Ban cho Lưu quý nhân Thúy Hoa cung sử dụng”. Ung Chính trầm ngâm một lúc, gấp bức tranh lại rồi bảo Cáp Bố Đà cùng mình đến cung Thúy Hoa.

Nơi ở của các quý phi được gọi là cấm uyển, thị vệ trong cung chỉ có thể canh bên ngoài, nếu không có lệnh của Hoàng đế không được vào trong. Ung Chính kêu Cáp Bố Đà đứng chờ mình bên ngoài, còn mình thì tự vào trong cung.

Cung Thúy Hoa được xây dựng sau khi Ung Chính lên ngôi, trong sân cây cối lưa thưa, còn có một hồ sen, lãnh cung trước đây nằm bên phải của Thúy Hoa cung, sau khi được cải tạo cũng xếp vào cung Thuý Hoa. Ung Chính chậm rãi bước tới, chỉ thấy ánh trăng mờ ảo, gió thổi hương sen tới, thơm đến tận gan ruột. Y bước đến gần hồ sen, chợt nghe có tiếng thở dài, chỉ thấy bên hồ sen có một bóng người mảnh khảnh. Ung Chính khẽ bước tới gần, hạ giọng hỏi: “Ngươi có phải là tú nữ mới vào hay không, tại sao thở dài?” ả cung nga quay đầu lại, Ung Chính giật mình, hỏi: “Ngươi có phải là Lâm Chỉ không?” so với bức tranh nàng đẹp hơn nhiều, nhưng vẫn không bằng Phùng Lâm, trên mặt còn có một nốt ruồi đen. Ung Chính thầm nhủ: “Quả nhiên là giống, nếu không có nốt ruồi này trẫm cứ tưởng nàng là Phùng Lâm”. Nàng tứ nữ đưa mắt nhìn lại, mỉm cười nói: “Nô tì chính là Lâm Chỉ, đã làm phiền Hoàng thượng bận lòng”. Nàng mỉm cười, bên má trái xuất hiện một lún đồng tiền.

Ung Chính giật mình, thoái lui hai bước rồi mới bước tới trước, đưa tay nắm tay nàng cười nói: “Nàng đúng là giống một người”. Té ra Ung Chính rất tinh tế, từ nhỏ Phùng Lâm lớn lên trong phủ của y, y để ý khi Phùng Lâm cười, bên má phải xuất hiện một lún đồng tiền, nhưng nàng tú nữ này lại có lún đồng tiền bên trái.

Tú nữ hỏi: “Giống ai?” khi Ung Chính đưa tay ra, nàng đột nhiên trở tay chụp cổ tay của y, nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, tay phải của nàng điểm vào hai mắt của y. Chiêu này là Cầm Nã thủ phối hợp với thuật điểm huyệt.

May mà Ung Chính được Thiếu Lâm tam lão truyền võ công, sau khi làm Hoàng đế cũng cố gắng rèn luyện, cho nên trong lúc nguy ngập đã sử dụng chiêu thức cứu mạng của La Hán thần quyền, y rút cánh tay về phía sau rồi hụp người xuống tránh đòn, Ung Chính biến chiêu thật nhanh, nàng tú nữ ấy chụp không được, trái lại bị y kéo về phía trước hai bước, Ung Chính quát lớn, quyền trái đấm ra nhanh như sấm sét, không ngờ quyền phong nổi lên, bóng người đẹp mất dạng. Khinh công của nàng thiếu nữ đã lên đến mức lưu hỏa thuần thanh, nhân lúc quyền phong nổi lên, nàng đã lướt người ra, người đang ở trên không trung thì kiếm đã rút ra khỏi vỏ, từ trên không trung vẫy ra một đóa kiếm hoa đâm xuống. Ung Chính la lớn: “Cáp Bố Đà mau cứu giá!” rồi thi triển quyền cước, vừa đánh vừa lui, chỉ trong chớp mắt đã tránh được ba chiêu, kiếm pháp của nàng tú nữ lợi hại lạ thường, trong vòng mấy chiêu chưa đắc thủ nhưng kiếm quang cứ loang loáng tựa như tiên nữ rãi hoa, hoàn toàn chặn đường rút lui của Ung Chính.

Nàng tú nữ này chính là Phùng Anh, nàng và Phùng Lâm, Lữ Tứ Nương giả mạo làm tú nữ lẻn vào cung. Té ra sau lần đại náo hoàng cung, Phùng Lâm nghe Cam Phụng Trì kể chuyện nàng cung nữ nhảy xuống nước tự sát, nàng chợt nghĩ ra một diệu kế. Cứ ba năm chọn tú nữ một lần, năm nay chính là lúc chọn lựa, nhà có con gái không luận giàu nghèo đều tìm cách trốn tránh, hoặc lập tức gả chồng hay mua chuộc quan lại đã nhờ người mạo danh thay thế. Bọn Lữ Tứ Nương giả thành con gái nhà nghèo, ngồi đợi chọn lựa, với nhan sắc của họ, đương nhiên được chọn ngay.

Họ lại dùng thuật dị dung thay đổi gương mặt của mình, vào cung lại cố ý mua chuộc họa sư, nhờ họa sư đừng vẽ họ quá giống với mặt thật. Ung Chính đang lo sợ bị ám sát nên họ vào cung cả ba tháng mà cũng chưa gặp Hoàng đế. Không ngờ hôm nay thần sai quỷ khiến, Ung Chính tự dẫn xác đến cung Thúy Hoa gặp phải Phùng Anh.

Cáp Bố Đà đứng bên ngoài nghe Ung Chính kêu cứu, lật đật nhảy qua tường chạy vào cứu giá, chợt thấy có một bóng người lướt tới, té ra đó là một cung nga. Y định ném chùy Lưu Tinh ra, chợt nghe tiếng u u vang lên, ả cung nga vung tay, một luồng ô quang bay xẹt tới. Đó chính là Đoạt Mệnh thần đao của Phùng Lâm.

Cáp Bố Đà lách người, hai chùy múa tiếp đánh rơi hai mũi phi đao.

Nhưng tuy là vậy, đà lao tới của y đã bị chặn lại. Phùng Lâm lập tức rút kiếm đâm vào cổ họng của y. Cáp Bố Đà xoay người như cơn gió lốc, hai chùy đánh ra liên hoàn, nhưng không ngờ thân pháp của Phùng Lâm lanh lẹ lạ thường, chỉ thấy nàng xoay người theo kiếm, rồi hụp người xuống lướt qua hai trùy, đâm xoạt xoạt hai kiếm vào bụng của y. Cáp Bố Đà cả kinh, không ngờ võ công của Phùng Lâm lại tiến bộ nhanh đến thế, thế là tay trái quét chùy trên không trung đánh ra một chiêu Tuyết Hoa Cái Đỉnh, tay phải quét xuống đất đánh ra một chiêu Khô Thụ Bàn Căn, bảo vệ toàn thân. Kiếm pháp của Phùng Lâm tuy tiến bộ nhiều nhưng công lực rốt cuộc chẳng bằng y, bởi vậy chẳng áp sát tới được.Nhưng Cáp Bố Đà bị nàng chặn lại, trong nhất thời cũng không thoát ra được. Chỉ nghe Ung Chính liên tục kêu cứu, đã nghe văng vẳng tiếng kiếm phong. Cáp Bố Đà nôn nóng, múa hai cây trùy, đột nhiên ném chùy trái ra đánh vù một tiếng, Phùng Lâm vội vàng lách người thoái lui, Cáp Bố Đà lấy ra hai trái cầu tròn đen thui phóng lên không trung, phát ra tiếng kêu quái dị, Phùng Lâm biết đó là tín hiệu gọi bọn Huyết Trích Tử, liệu rằng Phùng Anh chắc chắn đã gặp phải Hoàng đế, nếu không Cáp Bố Đà không nôn nóng như thế, vì thế không đợi Cáp Bố Đà xông lên đã lập tức chạy về phía nơi Ung Chính kêu.

Khinh công của Cáp Bố Đà không bằng Phùng Lâm, trong lúc vội vàng đã phóng ra hai cái Huyết Trích Tử, Phùng Lâm không thèm quay đầu, trở tay phóng ra hai mũi phi đao đánh rơi Huyết Trích Tử. Đang lúc đắc ý, chợt nghe tiếng cười ha hả, một bóng người từ trên cây nhảy xuống, chợt thấy đó là một Phiên tăng mặc áo cà sa màu đỏ, người đó chẳng phải ai khác mà chính là Ngạch Âm Hòa Bố, y phất ống tay áo đánh lui Phùng Lâm ba bước. Cáp Bố Đà cả mừng, kêu: “Đây là người Hoàng thượng cần bắt, đừng buông tha cho ả”. Y biết võ công của Ngạch Âm Hòa Bố cao cường, Phùng Lâm không thể thoát khỏi tay y nên một mình đi cứu Ung Chính.

Nhưng nào ngờ võ công của Phùng Lâm tuy không bằng Ngạch Âm Hòa Bố nhung nàng thông hiểu các loại võ công tà phái, nàng biết yếu huyệt của y, Ngạch Âm Hòa Bố liên tục tấn công ba chiêu, nàng đều né tránh, cây bảo kiếm đâm ra liên tục, bên trên đâm vào huyệt Ly Hỏa, bên dưới đâm vào huyệt Khảm Thủy, Ngạch Âm Hòa Bố kiên dè nên trong nhất thời chẳng làm gì được nàng. Nhưng võ công của Phùng Lâm dẫu sao cũng kém y, tuy thông hiểu phương pháp đánh huyệt của Hồng giáo Tây Tạng nhưng cũng không thể tiến tới gần.

Trong cung Thúy Hoa, cây kiếm của Phùng Anh tựa như con ngân xà chặn Ung Chính, kiếm này hết kiếm khác tựa như cứ gâm Ung Chính lên vách tường. Cáp Bố Đà phóng tới, quét cái chùy Lưu Tinh đánh keng một tiếng, trúng vào thanh kiếm của Phùng Anh, lửa bắn ra tung tóe. Cái độc chùy của Cáp Bố Đà bị chém làm đôi, nhưng Phùng Anh cũng thoái lui ba bước. Cáp Bố Đà liều mình múa chùy đánh tới, lúc này võ công của Phùng Anh chẳng kém gì Cáp Bố Đà, khinh công lại trên y, nhưng nàng muốn lấy mạng Ung Chính nên không rảnh giằng co với y, mũi kiếm chuyển qua đánh hờ một chiêu, đột nhiên nàng lướt người lên, Cáp Bố Đà quét tới một trùy, thấy người nàng lơ lửng trên không trung chân đạp vào chùy nhẹ như lá liễu, mượn lực phản kích của trái chùy lướt lên không trung, kiếm quang từ trên đâm thẳng xuống đầu Ung Chính.

Ung Chính lộn xuống đất một vòng, Phùng Anh lướt người tới, đâm ra xoạt xoạt hai kiếm. Nhưng Ung Chính cũng chẳng phải tay vừa, y né tránh đòn tấn công từ trên không đánh xuống của Phùng Anh, lập tức vung quyền phản công, Cáp Bố Đà quát lớn vung chùy đánh lên, chặn đường của Phùng Anh. Phùng Anh một mình địch hai, uy lực giảm xuống, Ung Chính cười ha hả định nhảy ra, Phùng Anh cười lạnh nói: “Ngươi còn muốn chạy? Nhìn xem ai đến đây!” Ung Chính dõng tai lắng nghe, bên ngoài có tiếng người ồn ào, trong tiếng người có tiếng hú dài, đó là tiếng hú của Thiên Diệp Tản Nhân, Ung Chính cười lớn: “Là người của trẫm, ngươi buông kiếm quy thuận, trẫm sẽ tha chết cho ngươi, nói không chừng sẽ phong ngươi làm quý nhân”. Phùng Anh lại cười lạnh: “Ngươi đúng là chết đến nơi mà không biết. Ngươi hãy nhìn xem người đó có phải là thị vệ của ngươi không?” trong đám cây um tùm, chợt phát ra một tiếng hú dài, một thiếu nữ áo trắng lướt xuống tựa như cưỡi gió, Ung Chính vừa nhìn đã hồn bay phách tán.

Té ra người đó chính là Lữ Tứ Nương. Lữ Tứ Nương rút kiếm ra khỏi bao, chặn đường Ung Chính, ngẩng mặt cười lớn nói: “Cha, hôm nay con gái báo thù cho cha đây!” tiếng cười nghe rất thê lương, Ung Chính thấy dựng cả tóc gáy, Cáp Bố Đà sợ đến nỗi luống cuống chân tay. Phùng Anh cầm kiếm bước dấn tới từng bước, Cáp Bố Đà cầm đồng chùy đứng bên cạnh Ung Chính, người cứ run bần bật, còn Ung Chính thì đứng sững sờ, lòng nghĩ cách thoát thân, khinh công của Lữ Tứ Nương cao hơn y rất nhiều, nếu y mạo hiểm bỏ chạy sẽ càng chết nhanh hơn.

Lữ Tứ Nương cầm kiếm bước dấn tới từng bước, Phùng Anh cũng kiếm ngưng thần, giúp Lữ Tứ Nương chặn đường rút lui của Ung Chính. Chợt nghe Ngạch Âm Hòa Bố nói: “Lữ Tứ Nương khoan ra tay, ngươi nhìn đây là ai?” Phùng Anh kinh hãi kêu lên một tiếng, nhưng Ngạch Âm Hòa Bố đã bắt Phùng Lâm, lúc này nàng hai tay xụi lơ, đầu gục trên vai kẻ địch, hai mắt nhắm tịt, tựa như đã bị Ngạch Âm Hòa Bố điểm trúng huyệt đạo.

Lữ Tứ Nương thở dài một tiếng, mấy tháng qua nàng đã nhẫn nhục làm ả tì nữ chờ đợi cơ hội này, khi sắp trả được nợ nước thù nhà, nào ngờ Ngạch Âm Hòa Bố đã chiếm trước tiên cơ, bắt Phùng Lâm làm con tin.

Ung Chính cười lạnh nói: “Lữ Tứ Nương nhà ngươi muốn gì? Có còn muốn phân cao thấp với trẫm nữa không?” Lữ Tứ Nương chĩa mũi kiếm xuống, tức giận nói: “Thả người của ta, ta tha chết cho ngươi”. Ung Chính nói: “Được, Ngạch Âm Hòa Bố, ngươi đưa bọn chúng ra khỏi cung. Ha ha, Lữ Tứ Nương, trẫm không thể chiều theo!” rồi nháy mắt với Cáp Bố Đà, phất ống tay áo đang định dậm bước, Phùng Anh chợt kêu: “Khoan đã!” Ung Chính liếc mắt nhìn nàng, cười nói: “Ngươi còn muốn gì? Trẫm biết các ngươi là tỉ muội, ngươi không muốn giữ mạng cho muội muội của ngươi sao?” Phùng Anh nói: “Các ngươi quỷ kế đa đoan, ta không tin, ta phải xem trước muội muội của ta có phải đã trúng độc thủ hay không. Lữ tỉ tỉ, hãy trông chừng tên cẩu hoàng đế này”. Ung Chính nói: “Được, ngươi cứ việc xem”. Phùng Anh chậm rãi bước từng bước về phía Ngạch Âm Hòa Bố, Ngạch Âm Hòa Bố cười lớn: “Ngươi có phải là đệ tử của Dịch Lan Châu hay không, chả lẽ không biết cả thuật điểm huyệt? Ả đâu có bị thương gì!” Phùng Anh tới trước mặt Phùng Lâm, Phùng Anh chợt quát lớn một tiếng chưởng kiếm đều đẩy ra!

Điều đó khiến ai nấy đều bất ngờ, Lữ Tứ Nương muốn lướt tới chặn cũng không kịp. Chỉ thấy Ngạch Âm Hòa Bố giở Phùng Lâm chặn lên phía trước, một luồng thanh quang từ cổ Phùng Lâm đâm xuyên qua, tiếp theo bốp một tiếng, một chưởng đã vỗ lên người Phùng Lâm. Lữ Tứ Nương kêu lên lạc giọng, chợt nghe Ngạch Âm Hòa Bố gầm lớn một tiếng, người Phùng Lâm bay lên không trung như một mũi tên, nhát kiếm của Phùng Anh đã đâm xuyên qua cổ họng của Ngạch Âm Hòa Bố, lập tức máu tuôn thành vòi. Ngạch Âm Hòa Bố giẫy giụa mấy cái rồi té xuống hồ sen.

Té ra Phùng Lâm thông hiểu các thủ pháp điểm huyệt của Hồng giáo Tây Tạng, vì đối phó với Ngạch Âm Hòa Bố cho nên hai tỉ muội đã luyện tập trước, Phùng Anh vừa nhìn thì biết ngay bảy huyệt Nhuyễn Ma của Phùng Lâm đã bị Ngạch Âm Hòa Bố điểm trúng, muốn giải huyệt không khó nhưng Phùng Lâm đang ở trong tay của một người võ công cao cường, muốn giải từng huyệt cho nàng không phải chuyện dễ. Phùng Anh vốn không dám mạo hiểm, nhưng vì nghĩ đến nợ nước thù nhà, khó khăn lắm mới có được cơ hội tốt thế này, nếu bị y kiềm chế há chẳng phải công cốc hay sao? Trong Thiên Sơn kiếm pháp có một chiêu gọi là Thất Tinh Tụ Hội, có thể trong chớp mắt liên tục đâm vào bảy huyệt đạo, nhưng như thế cần phải có nội công thượng thừa nhất, có thể dồn chân lực nội gia vào mũi kiếm, khi gặp cơ hội là có thể ra tay. Hai năm qua Phùng Anh khổ luyện ở Thiên Sơn, chiêu này cũng đạt được bảy thành hỏa hầu. Trong lúc cực kỳ nguy hiểm, nàng không còn thời gian nghĩ ngợi, lập tức biến thủ pháp dùng mũi kiếm đâm huyệt thành phương pháp dùng ngón tay giải huyệt, kiếm chiêu vẫn là chiêu số trong chùy phong kiếm pháp. Ngạch Âm Hòa Bố không ngờ Phùng Anh dám mạo hiểm như thế, trong lúc luống cuống đã giơ Phùng Lâm lên đỡ, thế là mắc lừa Phùng Anh, nhát kiếm của Phùng Anh tựa như gió, trong khoảnh khắc như chớp mắt, đã lướt qua cổ của Phùng Lâm, đâm thẳng vào hai mắt của Ngạch Âm Hòa Bố, đang lúc kịch biến xảy ra, Ngạch Âm Hòa Bố cúi đầu xuống, dùng hai tay dẫn vào thân kiếm đẩy bảo kiếm của Phùng Anh ra ngoài; nhưng vì đối phó với đòn đột kích của Phùng Anh, ánh mắt của Ngạch Âm Hòa Bố đã bị che lại, trong khoảnh khắc điện chớp lửa sẹt ấy, Phùng Anh đã giải huyệt đạo cho Phùng Lâm. Phùng Lâm vừa được giải huyệt đạo, võ công đã được hồi phục. Nàng vốn gục đầu trên vai của Ngạch Âm Hòa Bố, hai tay buông xuôi xuống, nơi ngón tay chạm phải chính là huyệt Khảm Thủy Ly Hỏa của Ngạch Âm Hòa Bố, nàng lập tức thừa cơ điểm vào, phá khí công của Ngạch Âm Hòa Bố rồi phóng lướt người lên. Phùng Anh bồi thêm một kiếm, thế là đệ nhất cao thủ của Hồng giáo Tây Tạng hồn lìa khỏi xác.

Ung Chính thấy Phùng Anh tấn công bất ngờ, Lữ Tứ Nương kêu hoảng, lập tức phóng người vọt đi. Không ngờ Phùng Lâm hạ xuống trước mặt Ung Chính, thừa thế đẩy ra hai chưởng. Ung Chính trầm vai xuống lách người qua, Phùng Lâm chưa kịp ra tay y đã thừa thế vặn cánh tay nàng, định bắt nàng làm con tin như Ngạch Âm Hòa Bố, chợt nghe một tiếng kêu thảm vang lên, nghĩ bụng chắc là Cáp Bố Đà đã chết dưới kiếm của Lữ Tứ Nương, y run lên bần bật, chỉ cảm thấy gió lạnh lướt tới, ánh ngân quang lóe lên, Lữ Tứ Nương đã lướt tới trước mặt, Ung Chính buông tay Phùng Lâm, định xuất chiêu tấn công, nhưng nào kịp nữa, Lữ Tứ Nương đã ra tay nhanh như điện chớp, chụp trúng mạch môn của y, khiến y chẳng thể động đậy nỗi, ngay lúc này, bọn thị vệ bên ngoài cung Thúy Hoa đã chạy vào, kẻ đi đầu là Thiên Diệp Tản Nhân.

Lữ Tứ Nương bắt được Hoàng đế, lớn giọng quát: “Tên bạo quân này đáng cho các ngươi bán mạng sao? Niên Canh Nghiêu có kết cuộc như thế nào? Vậy những kẻ bên cạnh y có được mấy kẻ thoát chết? Chả lẽ các ngươi không biết những điều này sao? Khi y còn sống, các ngươi có thể sẽ sợ y, nhưng nay y đã sắp đầu rơi khỏi cổ, chết chẳng nhắm mắt, chẳng thể làm oai làm phúc được nữa, các ngươi cần gì phải chịu chết vì y?”
Lữ Tứ Nương nói xong, ngửa mặt cười lớn: “Gia gia, cha, tất cả những chiến sĩ chết vì tên hung quân này, hôm nay Lữ oánh trả thù cho các người!” rồi kiếm quang lia lên, cắt phăng đầu của Ung Chính, Thiên Diệp Tản Nhân kêu hoảng định chạy tới, Lữ Tứ Nương đã gằng giọng nói: “Ai muốn chôn cùng tên hung quân này, xin mời đến thử kiếm! Hừ, Thiên Diệp Tản Nhân, ngươi là tông chủ của một phái nhưng tham công danh phú quý, bán mạng cho hung quân, không biết hỗ thẹn hay sao? Nghĩ tình ngươi bình sinh chẳng làm điều chi đại ác, hãy về núi mau, ta tha chết cho ngươi. Nếu ngươi muốn động thủ, hãy xem thử võ công có bằng Ngạch Âm Hòa Bố và Cáp Bố Đà hay không!”

Thiên Diệp Tản Nhân chùn bước, có mười tên Huyết Trích Tử không biết sống chết phóng ra ám khí, mười trái cầu bay tới, Phùng Lâm kêu: “Giỏi lắm!” rồi vung tay phát ra mười hai mũi phi đao đánh rơi hết số Huyết Trích Tử. Mỗi trán Huyết Trích Tử đều có mười hai mũi phi đao, lúc này phi đao đã bay ra như mưa. Lữ Tứ Nương cười lạnh, lướt người lên phóng vào màng mưa phi đao, chỉ trong chớp mắt đã chụp được mười mấy mũi trủy thủ bắn ngược trở về, khi nàng lướt người lên rồi hạ xuống đất, đã liên tục phóng ra mười mấy mũi phi đao, giết chết toàn bộ bọn Huyết Trích Tử. Bọn thị vệ ù té chạy ra, Thiên Diệp Tản Nhân cũng chạy mất dạng. Lữ Tứ Nương cưới lớn rồi cùng Phùng Anh và Phùng Lâm phóng lên mái ngói chạy ra ngoài cung. Lúc này trời đã sắp sáng.

Mười ngày sau, ở miền Sơn Đông có xuất hiện bốn người nam và ba người nữ, ba người nữ chính là tam nữ hiệp danh chấn giang hồ Lữ Tứ Nương, Phùng Anh, Phùng Lâm. Bốn người nam là Cam Phụng Trì, Thẩm Tại Khoan, Đường Hiểu Lan và Lý Trị. Sau khi ba nữ hiệp giết chết Ung Chính, quần hùng tụ tập trên Bát Đạt Lĩnh đợi tin tức, khi Lữ Tứ Nương thành công trở về mới tản đi. Trong đó Quan Đông tam hiệp ra quan ngoại, cha con Ngư Xác và Bạch Thái Quan dong buồm ra biển, Lộ Dân Đảm cùng Lý Minh Châu quy ẩn điền viên, Lữ Tứ Nương và Cam Phụng Trì trở về Mang Sơn, nhưng Đường Hiểu Lan vẫn chưa hết tâm sự, đến Sơn Đông, định rằng sau khi tế mộ Dương Trọng Anh sẽ trở về Thiên Sơn. Lữ Tứ Nương và chàng tình như tỉ đệ, khi lúc chia tay cũng không nỡ rời nên mới cùng chàng đi một chuyến.

Lúc này đang là tháng chín mùa thu trời mát mẻ, bao nhiêu chuyện ân thù đã giải quyết xong, cả bọn đang phóng ngựa lao về phía trước, không biết từ lúc nào Lữ Tứ Nương và Thẩm Tại Khoan đã lọt ở phía sau.

Đường Hiểu Lan và Cam Phụng Trì quay đầu lại nhìn, chỉ thấy Lữ Tứ Nương và Thẩm Tại Khoan chậm rãi dong ngựa đi bên nhau trông rất âu yếm. Cam Phụng Trì mỉm cười, bảo mọi người kiềm cương ngựa đi chậm lại.

Thẩm Tại Khoan chờ đợi mười năm, lúc này đang lòng hoa nở rộ, mừng đến nỗi chẳng biết nói gì. Lữ Tứ Nương nhoẽn miệng cười, khẽ nói: “Huynh đang nghĩ gì thế?” Thẩm Tại Khoan nói: “Huynh thấy giờ đây mình thật hạnh phúc”. Lữ Tứ Nương bật cười, trông nàng rạng rỡ như hoa mùa xuân, Thẩm Tại Khoan nhìn mà ngất ngây.

Đường Hiểu Lan thấy Lữ Tứ Nương và Thẩm Tại Khoan âu yếm nhau, nghĩ đến chuyện tình cảm của mình, bất giác đau lòng. Chàng vốn yêu Phùng Anh, nhưng vì có chuyện Dương Liễu Thanh nên chẳng dám tiến thêm. Phùng Anh hồn nhiên vô tư, tuy không nghĩ đến tình nam nữ thế tục nhưng thấy chàng như thế cũng rất lo.

Lữ Tứ Nương thúc ngựa lên phía trước cười nói: “Tiểu đệ, đệ đang nghĩ gì thế?” Đường Hiểu Lan nói: “Không, đệ chỉ nghĩ đến tình nghiệt lúc trước”. Lữ Tứ Nương nói: “Chuyện gì đã qua thì cứ cho nó qua. Người chết không thể sống lại, sao đệ phải phụ một tấm lòng?” Đường Hiểu Lan nói: “Tình duyên này đã trôi theo dòng nước, làm sao nhìn người mới mà nhớ người cũ? Đệ và Dương Liễu Thanh tuy không có chân tình nhưng nàng vì đệ mà chết, đệ làm sao có thể quên nàng? E rằng suốt đời khó trút bỏ được tâm sự này. Nếu cứ như thế mà đệ đến với Phùng Anh, chẳng phải đệ có lỗi với nàng sao?” Lữ Tứ Nương thở dài, tâm bệnh khó trị, đúng là không lời nào có thể giải nỗi.

Cam Phụng Trì ho một tiếng, chỉ ra nói: “Nhìn xem, chúng ta đi thật mau, đã sắp tới Dương gia trang!” mọi người nhìn chỉ thấy trên con dốc nhỏ, có tòa nhà ẩn hiện dưới rặng liễu, cảnh vật vẫn như năm xưa, có điều cha con Dương Trọng Anh đã không còn nữa.

Đường Hiểu Lan thấy sóng mũi cay cay, cùng mọi người buộc ngựa rồi lên sườn núi, chỉ thấy dưới chân núi có một cái hồ nhỏ, nước hồ phẳng lặng nhưng cảnh Dương Liễu Thanh bị lũ cuốn xuống hồ như hiện ra trước mắt chàng. Cam Phụng Trì kêu ồ một tiếng, nói: “Trước cửa trông rất sạch sẽ, chả lẽ bên trong có người?” Phùng Anh cũng lấy làm lạ, kéo Đường Hiểu Lan nói: “Vào xem thử ai đã quét dọn nơi này?” Đường Hiểu Lan lau nước mắt, lặng lẽ đẩy cửa, chợt thấy có một thiếu phụ bước ra, Đường Hiểu Lan bất giác mặt biến sắc.

Thiếu phụ này chính là Dương Liễu Thanh, nàng vừa gặp Đường Hiểu Lan cũng không khỏi đổi sắc mặt, cả hai người đứng ngẩng ra, vừa kinh vừa mừng, rất lâu sau mới nói nên lời. Dương Liễu Thanh chợt mỉm cười nói: “Hơn ba năm không gặp, huynh khỏe chứ! Còn Phùng Anh cũng cao thế nay rồi ư!” rồi bước tới nắm tay Phùng Anh, thần thái trông vừa phóng khoáng vừa thân mật. Đường Hiểu Lan không khỏi ngạc nhiên, chẳng ngờ nàng đã hoàn toàn thay đổi! Phùng Anh mừng rỡ nói: “Cô cô, ngày hôm ấy cô cô bị nước lũ cuốn đi thật khiến chúng tôi lo lắng, giờ đã tốt rồi, các người...” Phùng Anh thấy Dương Liễu Thanh còn sống, trong lòng thực sự vui mừng, lúc này nàng hoàn toàn gác tình riêng sang một bên, đang muốn chúc mừng nàng và Dương Liễu Thanh gặp lại nhau, nhưng không biết mở lời thế nào, mặt đỏ ửng, Dương Liễu Thanh chợt cười nói: “Hiểu Lan, ở đây còn có một người bằng hữu của huynh”. Rồi cao giọng nói: “Tích Cửu, hài nhi hãy ra đây!” có người bước ra, đó chính là trâu Tích Cửu, người đã cầu hôn Dương Liễu Thanh năm xưa, y đang bế một đứa bé gái khoảng hai tuổi.

Té ra cái hồ ở phía sau nhà Dương Liễu Thanh thông ra sông Lạc ở bên ngoài, ngày hôm ấy Dương Liễu Thanh bị nước lũ cuốn đi đẩy ra sông Lạc, chính là lúc Tháp Dực Thần Sư Châu Minh cao và con trai của ông ta Trâu Tích Cửu vì nghe tin Dương Trọng Anh bị tàn phế nên chèo thuyền đến thăm, nhờ thế cứu được nàng,

Lần đó Dương Liễu Thanh bị trọng thương, đến khi khỏi bệnh, Đường Hiểu Lan và Phùng Anh đã trở lại Thiên Sơn.

Bao nhiêu năm qua, Trâu Tích Cửu vẫn giữ mãi hình bóng Dương Liễu Thanh trong lòng, bởi vậy y chăm sóc nàng rất tận tâm. Dương Liễu Thanh ngẫm nghĩ thấy trước giờ mình chỉ yêu đơn phương chứ Đường Hiểu Lan nào có tình ý gì với mình. Lâu ngày, nàng và Trâu Tích Cửu nảy sinh tình cảm.

Đường Hiểu Lan không ngờ mọi chuyện đã thay đổi, mối gút mắc trong lòng đã tháo gỡ, chàng nắm tay Trâu Tích Cửu, chân thành chúc mừng cho họ.

Mọi người ở nhà họ Dương vài ngày rồi ai đi đường nấy. Phùng Anh, Phùng Lâm, Lý Trị và Đường Hiểu Lan trở lại Thiên Sơn, Lữ Tứ Nương cùng Thẩm Tại Khoan lên Mang Sơn ẩn cư, rèn võ luyện văn, hưởng hạnh phúc nhân gian. Cam Phụng Trì trở thành một bậc tôn sư võ học, truyền dạy nhiều đệ tử. Giang hồ tam nữ hiệp tuy trải nhiều cam go trắc trở nhưng cuối cùng đều có kết cuộc tốt. Chính là:

“Tự thủy nhu tình, như hoa mỹ quyến, thiên thu giai thoại nhân tranh tiễn, y nhân yến tử hựu quy lai, thương tang biến liễu, nan nhân biến.

Liễu tự khinh phiêu, xuân phong phất diện, từ tiên bất tả Văn Quân oán, Giang Nam Tái Ngoại nhất ban đồng, bích ba thâm xứ uyên ương kiến”.

Tạm dịch:

“Tình này như nước, nghĩa như hoa, giai thoại ngàn năm người thèm nghe, theo người chim én bay về tổ, bãi bể nương dâu lòng chẳng thay.

Tơ liễu đưa nhẹ, gió xuân vờn, lời từ khôn tả Văn Quân oán, Giang Nam Tái Ngoại khác gì nhau, non xanh nước biếc uyên ương đùa”

---- Theo điệu “Đạp sa hành”

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước