GIANG HỒ TAM NỮ HIỆP

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giang hồ tam nữ hiệp - Chương 36 - Chương 40

Chương 36: Lấy ái giải thù ma đầu phục nhân tính Vì người mạo hiểm hiệp nữ vào kinh sư

Lại nói bọn Cam Phụng Trì bị vây trên Xà đảo bất giác đã mấy tháng. Mấy tháng qua, mỗi ngày sau khi nước triều rút, Độc Long Tôn Giả lại đến chơi trò đánh nhau với họ. Ngư Xác thấy thu đi đông tới, lại thấy tuyết tan hoa nở, nhớ lại thủy trại của mình bị quân Thanh vây đánh không biết thế nào, lại chẳng hay con gái và con rể của mình số phận ra sau; mỗi ngày đối với ông ta cứ như một năm.

Đáng mừng là trong mấy tháng đánh nhau, võ công của mọi người đều tăng lên không ít, mỗi ngày sau khi đánh nhau, Cam Phụng Trì đều tính toán lại sự được mất, giúp mọi người rèn luyện, đồng thời nghĩ ra cách công thủ rồi hàng ngày luyện tập. Trong mười người, vốn chỉ mỗi mình Cam Phụng Trì có thể tiếp được chưởng lực của Độc Long Tôn Giả, Ngư Xác, Vệ Dương Oai, Mạnh Võ Công có thể dùng binh khí chặn được vài ba chiêu. Mấy tháng sau họ đã có thể tạm chống đỡ được. Lại thêm công thủ phối hợp rất kín kẽ, dần dần đã chiếm được thượng phong, tuy không thể giết chết được Độc Long Tôn Giả nhưng mỗi khi y nao núng thì đều bỏ chạy. Mọi người cũng thử chia ra một nhóm đóng thuyền, một nhóm canh gác, nhưng sau khi lực lượng chia ra lại không đủ chống cự, kết quả là con thuyền vừa đóng xong đã bị y đập phá nên chẳng còn cách nào.

Hôm nay sau khi nước triều rút, Độc Long Tôn Giả lại đến khiêu chiến, đánh ba trăm hiệp mà vẫn chưa mệt mỏi. Trên không trung vọng lại tiếng kêu quác quác, một chốc sau, hơn mười con Miêu ưng bay tới, Cam Phụng Trì rất lấy làm lạ, thầm nhủ: “Chả lẽ Miêu ưng lại đánh nhau với rắn độc? Miêu ưng xuất hiện thì phải có đàn lớn, tại sao ít như thế này?”

Bầy Miêu ưng bay trên không trung mấy vòng, có hai con thật lớn chúc đầu kêu vang, cứ lượn vòng không ngớt trên đầu họ. Độc Long Tôn Giả chợt quát lớn một tiếng, vung gậy đánh kêu vù vù mấy trượng, bạt hết binh khí của mọi người rồi phóng đi, y vẫy tay, hai con Miêu ưng đậu xuống vai y, trên vuốt con Miêu ưng tựa như có vật gì đó.

Mười con Miêu ưng này chính là của Song ma, hai con lớn nhất rất thân thiết với Tát Thiên Thích. Tát Thiên Thích đem chúng đến Xà đảo tìm Độc Long Tôn Giả cho nên Độc Long Tôn Giả vừa thấy đã nhận ra. Trên vuốt của con Miêu ưng có một cái móng tay, lại có cả vết máu. Độc Long Tôn Giả thấy thế liền biến sắc, hỏi: “Chủ nhân của ngươi có phải bị hại chết không?” con Miêu ưng không biết trả lời, chỉ kêu quạc quạc.

Mọi người không nhìn thấy rõ trong vuốt của con Miêu ưng có vật gì, chỉ thấy Độc Long Tôn Giả nói mấy câu rồi thả tay, bầy Miêu ưng bay đi. Độc Long Tôn Giả chợt nổi giận nhảy lên, quét vù một gậy, đánh vỡ tảng đá bên cạnh, kêu lớn: “Các ngươi sống thêm một ngày nữa, ngày mai ta sẽ giết tất cả các ngươi để xóa nỗi hận trong lòng!” rồi lui vào trong rừng. Mọi người thấy bộ dạng hung thần ác sát của y thì không khỏi kinh hãi.

Vệ Dương Oai nói: “Thật kỳ lạ, bầy Miêu ưng này có liên quan gì đến chúng ta? Tại sao y vừa thấy Miêu ưng thì lại nổi giận?” Mạnh Võ Công nói: “Độc Long Tôn Giả vốn không phải là người, y tựa như rắn độc, cứ hễ gặp người là cắn, chúng ta đừng nhọc lòng suy đoán nữa. Hãy nghĩ cách ngày mai ứng phó thế nào!” Cam Phụng Trì cúi đầu trầm tư, nếu dùng võ công thì thật sự không thể. Giả sử Độc Long Tôn Giả ra độc chiêu, hơn mười người này khó tránh có người bị thương. Nếu như xui bị rắn tấn công, họ càng không thể chạy thoát. Chợt thấy Ngư Xác đi tới đi lui trên bờ biển, nhìn nước triều đến xuất thần.

Cam Phụng Trì nói: “Ngư lão tiền bối có cách gì?” Ngư Xác nói: “Ta nghĩ Độc Long Tôn Giả cậy võ công cao cường, nếu chưa đến lúc sức cùng lực kiệt, chưa chắc đã xua rắn ra trợ chiến”. Cam Phụng Trì nói: “Chúng ta ở trên đảo này thì mọc cánh cũng khó thoát, khi y xua rắn ra, chúng ta chỉ có nước chết”. Ngư Xác nói: “Nếu trước khi y xua rắn ra, chúng ta đánh ngã y rồi đối phó với bầy rắn càng dễ hơn”. Cam Phụng Trì nói: “Độc Long Tôn Giả võ công cao cường, trên đời này có ai là địch thủ của y?” “Đại hiệp hãy nghe tiếng sóng vỗ vào bờ, lực của nước biển có lẽ mạnh hơn y”. Cam Phụng Trì nói: “Làm sao dùng được lực của nước biển?” Ngư Xác nói: “Y chưa bao giờ xuất hiện ở đây vào ban trưa, chúng ta có thể lợi dụng kẻ hở này là một số cơ quan”. Cam Phụng Trì nói: “Cơ quan gì?” Ngư Xác nói: “Rất dễ! Trên đảo có rất nhiều cây tre lớn, chúng ta chặt tre xuống đục lỗ rồi lắp nước bấm, đổ nước vào...” Cam Phụng Trì cười nói: “Đó chẳng giống thủy thương của trẻ con hay sao?” Ngư Xác nói: “Đúng thế. Ta muốn làm loại thủy thương này, nếu bất ngờ bắn ra, một người khỏe mạnh sẽ bị nước bắn ngã. Mười cây thủy thương nhất thời bắn ra, Độc Long Tôn Giả cũng sẽ ngã chỏng vó. Sau khi đổ đầy nước vào ống tre lớn, chúng ta lại phủ cát lên, bãi cát ở đây có độ nghiêng, chúng ta dụ y đến chỗ lõm rồi đột nhiên phát động, lợi dụng lực quét của thủy thương, có thể khiến y ngã nhào rồi dùng thủ pháp mạnh đả thương y”. Cam Phụng Trì nói: “Công phu nội ngoại của y đã đến mức đăng phong tạo cực, không biết có thể được hay không. Nhưng chuyện đã đến nước này cũng chẳng còn cách nào khác”.

Hôm sau nước thủy triều vừa lui, Độc Long Tôn Giả lại nhảy ra, sau lưng là một bầy rắn, có đến cả vạn con. Cam Phụng Trì kêu lên: “Hỏng bét, lần này chúng ta chết không chỗ chôn thân”. Độc Long Tôn Giả chúm môi huýt một cái, bầy rắn bò ra bờ biển, đột nhiên ngừng lại, đầu đuôi nối nhau thành một vòng tròn. Độc Long Tôn Giả cười ha hả: “Hôm nay chúng ta đánh trận cuối cùng, ta sẽ khiến các ngươi chết tâm phục khẩu phục. Rắn ơi, đợi ta đánh xong, ta sẽ mời các ngươi ăn điểm tâm”. Rồi y múa cây gậy quét vù về phía Cam Phụng Trì.

Cam Phụng Trì đỡ hợt một chiêu, chạy về phía bờ biển. Độc Long Tôn Giả nói: “Này, ngươi sợ sao? Đánh với ta một trận, lát nữa ta sẽ cho ngươi chết dễ chịu hơn”. Cam Phụng Trì vung tay, ba mũi trủy thủ bay lướt qua người y, Độc Long Tôn Giả vung trượng một cái, ba mũi trủy thủ gẫy làm đôi, chưởng trái vỗ về phía Ngư Xác, Ngư Xác cũng không dám tiếp, bèn bỏ chạy về phía tây. Độc Long Tôn Giả kêu: “Các người tách ra càng không thể đối phó nổi với ta. Hừ, các người đã không muốn đấu với ta một trận cuối cùng, thật đáng ghét! Ta phải xé xác từng tên các ngươi ra cho rắn ăn!” rồi y vung gậy đuổi theo, bọn Ngư Xác cứ chạy loạn trên bãi cát, dụ cho Độc Long Tôn Giả đến nơi cát lõm xuống, rồi đột nhiên phát ra hiệu lệnh, mọi người dùng chân hất cát, lấy thủy thương, mười mấy cột nước bắn về phía Độc Long Tôn Giả. Độc Long Tôn Giả không kịp đề phòng, bị lực nước phun tới, chẳng mở mắt ra nổi, lảo đảo suýt ngã xuống. Cam Phụng Trì nhân thời cơ ấy phóng tới dốc hết toàn lực vỗ xuống một chưởng, Độc Long Tôn Giả thu vai lại, chưởng ấy trúng vào hậu tâm của y. Độc Long Tôn Giả gầm lớn rồi ngã lăn xuống đất!

Chưởng lực của Cam Phụng Trì có thể đánh vỡ cá đá núi, chưởng phải vừa đánh trúng chưởng trái đã giở lên, nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, bọn Ngư Xác và Vệ Dương Oai cũng xông tới, Ngư Xác chém xuống một đao, Độc Long Tôn Giả đột nhiên gầm lớn một tiếng bật người dậy, chưởng trái của Cam Phụng Trì chưa kịp hạ xuống đã bị y chụp ném lên không, mọi người vội vàng tháo chạy, Ngư Xác chém trúng vào gót chân của y kêu soạt một tiếng, thanh đao cong queo, rồi cũng ngã lăn bởi phản lực của y. Độc Long Tôn Giả nhảy bật dậy, quát lớn: “Bầy chuột nhắt dám ám toán!” rồi huýt một tiếng sáo, bầy rắn ở phía sau đột nhiên phóng tới nhanh như tên bắn! Độc Long Tôn Giả lảo đảo lui ra phía sau, ngồi xếp bằng trên một tảng đá, chốc chốc lại phát ra tiếng kêu chít chít.

Cam Phụng Trì bị y ném một cái, phải vận khí hộ thân, lộn một vòng trên không trung hóa giải kình đạo, dầu như thế nhưng khi rơi xuống đất vẫn đầu váng mắt hoa, hơi thở suýt nữa bị bế tắt, may mà không bị nội thương. Bầy rắn lao tới, chàng và Ngư Xác lui về cùng mọi người phòng thủ.

Độc Long Tôn Giả ngồi xếp bằng vận khí, thấy tức ở nơi ngực, cũng không khỏi kinh hãi. Y vận khí mấy vòng, khi mở mắt ra thì thấy bầy rắn đã lao tới như nước triều, nhưng kẻ địch đều là những cao thủ, hơn mười người kết thành một trận vuông, đao chém gậy đánh, kiếm chặt tay xé, bầy độc xà chết vô số, có vài con rắn nhỏ đã quay đầu thoái lui. Độc Long Tôn Giả đột nhiên đứng dậy, huýt lên một tiếng quái dị, tay cầm cây gậy sắt xông vào trong vòng. Bầy rắn lại tiếp tục lao về phía trước. Cam Phụng Trì thất kinh, không ngờ Độc Long Tôn Giả đã bị trúng một chưởng mà vẫn hung mãnh như thế!

Lúc này tình thế đã thay đổi, mọi người vừa phải phòng bị độc xà, vừa phải chống lại cường địch, trận thế đại loạn. Đang lúc nguy cấp, trên mặt biển vọng lại tiếng hú trong trong trẻo. Cam Phụng Trì lắng tai nghe, mặt lộ vẻ mừng rỡ, cũng lên tiếng đáp lại. Độc Long Tôn Giả mắng: “Ngươi làm trò quái gì thế?” rồi bổ một trượng tới, Cam Phụng Trì vung cây đao lách người gạt một cái, Ngư Xác cũng nhảy vọt tới trước, chém nhau một đao, Độc Long Tôn Giả mắng lớn: “Lão già thật đáng ghét!” rồi cây gậy trên tay phải đẩy một cái khiến Cam Phụng Trì thoái lui mấy bước, chưởng trái chém về phía trước, chưởng phong sắc bén như dao, Ngư Xác kêu một tiếng: “Không xong!” khi né tránh thì cổ tay đau nhói, thanh yêu đao đã bay lên không trung, Vệ Dương Oai và Mạnh Võ Công nhảy tới tương cứu, Độc Long Tôn Giả giơ ngang gậy chặn lại, huýt một tiếng, nói thì chậm nhưng sự việc diễn ra rất nhanh, hai con rắn lớn đột nhiên ngốc đầu dậy cuộn vào người Ngư Xác. Cam Phụng Trì vung đao chém rắn độc, Độc Long Tôn Giả vung cây gậy sắt múa tiếp, nhốt cây bảo đao của Cam Phụng Trì vào vòng gậy bởi vậy chàng đã không thể nào xông ra được. Ngư Xác hai tay tóm hai đầu con rắn, cố gắng kéo ra ngoài, tình thế rất nguy hiểm! Độc Long Tôn Giả cười hềnh hệch, chiêu số chợt đẩy mạnh, quát: “Hôm nay các ngươi sẽ chết không chỗ chôn thân!” rồi quét ra vù vù hai chiêu, cây đơn đao của Mạnh Võ Công và đôi song tu của Vệ Dương Oai bị chấn động bay ra, trong tiếng cười lớn, Độc Long Tôn Giả lại bổ một gậy xuống Cam Phụng Trì.

Ngoài biển lại có tiếng hú, Cam Phụng Trì cố gắng chống ba chiêu, chỉ nghe Độc Long Tôn Giả kêu: “Kẻ nào không biết sống chết mà dám xông vào đảo của ta!” Chiếc thuyền chưa cập vào bờ, trên thuyền đã có năm bóng người xuất hiện!

Nàng thiếu nữ đi đầu lướt đi nhanh như gió, chỉ trong chớp mắt đã tới phía trước, Độc Long Tôn Giả buông Cam Phụng Trì bổ tới một gậy, chợt thấy khí lạnh căm căm dồn vào mặt, y rút tay không kịp, trở tay đẩy một cái thoái lui mấy bước, mái tóc rối bù trên đầu đã bị kiếm quang hớt bay xuống, chỉ nghe Cam Phụng Trì kêu: “Bát muội đến thật đúng lúc, giết tên yêu nhân trước rồi tính tiếp!” tiếp theo lại nghe bầy rắn kêu chít chít tháo lui!

Năm người này chính là Lữ Tứ Nương, Bạch Thái Quan, Ngư Nương, Đường Hiểu Lan và Phùng Anh. Lữ Tứ Nương vừa gặp mặt đã đánh ra một chiêu, hóa giải thế nguy cho Cam Phụng Trì. Bạch Thái Quan và Ngư Nương chạy đến cứu Ngư Xác, Ngư Xác đang vất vả, chợt cảm thấy áp lực giảm xuống, chỉ nghe tiếng con gái kêu: “Cha!” Ngư Xác mừng rỡ kêu: “Ngư Nương, là con đấy ư?” rồi kéo con gái vào lòng. Bạch Thái Quan kêu: “Nhạc phụ cẩn thận!” rồi vung đao chém thêm hai con rắn, Ngư Xác vội vàng buông tay, chợt thấy bầy rắn kêu chít chít thoái lui ra sau.

Té ra khi vợ chồng Bạch TháiQuan đến cứu Ngư Xác, Đường Hiểu Lan và Phùng Anh cũng đến cứu bọn Vệ Dương Oai, bầy rắn thấy có người lạ đến nên ào lên, vừa mới tới gần Đường Hiểu Lan đã chợt quay đầu khiến cho Đường Hiểu Lan cũng thấy kỳ lạ. Té ra viên thuốc mà Bát Tý Thần Ma đưa cho Phùng Anh trước khi chết được luyện từ nước dãi của Miêu ưng với các loại bột hùng hoàn và ngô công nghiền nát, nước dãi Miêu ưng là khắc tinh của độc xà, lại thêm bột ngô công và hùng hoàn cho nên càng lợi hại, rắn độc chỉ cần ngửi thấy mùi này thì lập tức phải tránh xa. Năm xưa sở dĩ Song ma dám đến Xà đảo gặp Độc Long Tôn Giả là bởi trên người có mang theo loại thuốc này.

Độc Long Tôn Giả thấy bầy rắn quay đầu, trong tức thời vẫn chưa nghĩ ra, y lớn tiếng quát tháo, bầy rắn chẳng hề nghe lệnh. Độc Long Tôn Giả giật mình, chẳng thèm đấu với Lữ Tứ Nương nữa mà cầm trượng xông ra. Đường Hiểu Lan tung mình lao tới, Độc Long Tôn Giả đứng ở dưới chiều gió, gió thổi mùi hôi của viên thuốc, Độc Long Tôn Giả thất kinh, giơ gậy bổ xuống, Phùng Anh lướt tới từ trên đâm xuống, Thiên Sơn song kiếm công thủ đều có, Độc Long Tôn Giả không thể thủ nổi. Lữ Tứ Nương kêu: “Độc Long tiền bối, ngài đã mệt, hãy nghỉ ngơi một lát rồi đấu tiếp!” Độc Long Tôn Giả kêu một tiếng quái dị, vung gậy gạt đôi kiếm ra, chạy lên hòn núi ở gốc đảo, rồi đột nhiên y chụp một con rắn xé bụng hút máu. Lúc này đầu tóc của y dựng đứng cả lên. Tuy y bỏ chạy nhưng nhìn bộ dạng như hung thần ác sát ấy, ai cũng phải lạnh mình.

Lữ Tứ Nương lúc nãy đánh ra một kiếm là bởi bất ngờ ra tay, nàng nhờ có khinh công tuyệt đỉnh với kiếm pháp thượng thừa nến mới có thể đắc thủ. Nhưng Lữ Tứ Nương chịu một chưởng của y tựa như búa tạ giáng vào người, nàng cũng biết công lực của y cao minh hơn mình rất nhiều.

Chỉ thấy Độc Long Tôn Giả xé liền ba con rắn, hút máu no nê, rồi sau đó ngồi xếp bằng tịnh tọa trên tảng đá, tựa như đang vận công điều hòa khí lực. Cam Phụng Trì nói: “Lúc này không trừ y, lát nữa sẽ phiền phức”. Lữ Tứ Nương kéo Phùng Anh đến bên cạnh, khẽ bàn bạc với nàng. Những người khác đều nín thở chú ý nhìn Độc Long Tôn Giả.

Một hồi sau, Độc Long Tôn Giả lại cười hềnh hệch, cầm cây gậy tung người lao xuống, cao giọng nói: “Ai đã giết Song ma, cướp báu vật của y?” Phùng Anh và Đường Hiểu Lan nói: “Chính là bọn ta! Báu vật gì, bọn ta chưa hề thấy!”

Độc Long Tôn Giả chợt thở dài một tiếng, dằn cây gậy xuống đất đánh keng một tiếng, chỉ Phùng Anh mắng: “Trông ngươi trẻ tuổi xinh đẹp thế kia mà lòng dạ như rắn rết! Song ma sợ ngươi chôn thân trong bụng rắn, ra biển tìm ngươi, thế mà đã bị ngươi giết! Hừ, bọn người các ngươi còn hung dữ hơn cả rắn độc của ta. Hãy nếm một trượng của ta!” Lữ Tứ Nương nói: “Ông muốn đơn đả độc đấu với tiểu cô nương này?” Độc Long Tôn Giả nổi giận mắng: “Các người cứ cùng xông lên, ta không cần dùng rắn độc cũng có thể giết chết được các người!” Lữ Tứ Nương cười nói: “Đây là tiểu muội muội của tôi, tôi không thể cho ông bức hiếp, tốt lắm, tôi và tiểu muội muội sẽ đọ vài chiêu với ông!”

Cam Phụng Trì nói: “Bát muội, cẩn thận!” Đường Hiểu Lan cũng nói: “Anh muội, nếu gặp nguy, đừng ham đánh”. Lữ Tứ Nương và Phùng Anh đều nói: “Biết rồi”. Rồi mỗi người đều rút kiếm đứng sánh vai nhau đợi Độc Long Tôn Giả tấn công.

Độc Long Tôn Giả nhìn hai người, thầm nhủ: “Võ công của đứa lớn cao nhất, mình giết chết ả trước. Đứa nhỏ đừng hòng thoát!” rồi y vung cây gậy đánh ra một chiêu Đại Bằng Triển Xí quét về phía Lữ Tứ Nương!

Lữ Tứ Nương kêu: “Hay lắm!” rồi tung người phóng lên, cây gậy lướt qua chân nàng. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Phùng Anh xỉa cây đoản kiếm về phía trước bằng một chiêu Bạch Hồng Quán Nhật, chiêu này nhanh như điện chớp, điểm vào yếu huyệt Mệnh Môn của kẻ địch, Lữ Tứ Nương đang lơ lửng trên không, đánh ra một chiêu Bằng Bác Cửu Tiêu từ trên không đâm xuống. Hai kiếm một trên một dưới, đồng thời đâm tới, cực kỳ lợi hại. Độc Long Tôn Giả gầm lớn một tiếng, không đợi rút trượng về đã thuận tay vẫy một cái, cây trượng bắn thẳng lên, đuổi quét ngang thầm đâm lên, mũi trượng hướng vào đang điền của Lữ Tứ Nương, thân trượng lại chặn ngang kiếm của Phùng Anh, một chiêu hai thức tấn công cả hai kẻ địch, Lữ Tứ Nương và Phùng Anh đều né ra.
Vừa lui lại hợp, Lữ Tứ Nương đánh kiếm xuống một bên, Phùng Anh tấn công ở trung lộ, hai kiếm giao nhau như hình cái kéo, Độc Long Tôn Giả lại gầm lớn một tiếng, cây trượng trầm xuống dưới, đánh xéo vào mệch môn của Phùng Anh, đâm vào hai chân của Lữ Tứ Nương, Phùng Anh người gầy ốm, nàng chỉ hơi thu lại đã lướt qua như cá chặt, Lữ Tứ Nương xoay người, cả đường kiếm điểm vào huyệt Kiên Tỉnh bên trái của Độc Long Tôn Giả, Độc Long Tôn Giả gầm lớn một tiếng: “Trúng!” rồi xoay bước, cây gậy rút lên trên, thuận thế đánh ngược lại nhanh như cát chật, thân gậy đập vào trường kiếm của Lữ Tứ Nương, mũi gậy điểm vào mặt của nàng! Những người đứng đấy đều lạnh mình. Nào ngờ Độc Long Tôn Giả đã nhanh, Lữ Tứ Nương càng nhanh hơn, Độc Long Tôn Giả vừa đánh ra một gậy, đã nghe keng một tiếng, cây trường kiếm đè lên gậy, người bắn vọt lên không trung. Phùng Anh chém xéo ra một chiêu Bạch Hạc Sa Linh. Độc Long Tôn Giả không thể thu cây gậy về, chưởng trái vỗ ra, vận chưởng thành gió, lấy công làm thủ hóa giải chiêu số của Phùng Anh.

Đánh một hồi mà Độc Long Tôn Giả chưa chiếm được thượng phong nên đùng đùng cả giận! Y vận nội gia kinh lực, trượng pháp thay đổi kêu lên vù vù, trái công, trái vỗ ra một chưởng, phải đánh ra một gậy tấn công nhanh nư vũ bão, chỉ thấy bóng gậy như núi, kiếm quang loang loáng. Hai bên đánh đến cát chạy đá bay, quần hùng đứng xem đều cảm thấy bóng kiếm ánh gậy loang loáng đến chói mắt, tiếng kim khí giao nhau nghe đến chói tai, đúng là một trận ác đấu trăm năm khó gặp. Dù người bình tĩnh như Cam Phụng Trì cũng toát mồ hôi.

Càng đánh càng dữ, lúc này mọi người chỉ thấy ba bóng người mờ mịt trong luồng ngân quang. Cam Phụng Trì và Đường Hiểu Lan là những người võ công cao nhất trong đám người đứng xem, họ vẫn còn có thể phân biệt được tình thế hơn kém, những người khác thì cả bóng người cũng chẳng thấy rõ.

Đường Hiểu Lan nhìn một hồi nói: “Cam đại hiệp, họ đã lọt xuống dưới hạ phong, chúng ta hãy ra tay!” Cam Phụng Trì nói: “Đợi một lát nữa”. Rồi chợt tình thế thay đổi, thấy gậy của Độc Long Tôn Giả chợt chậm lại, kiếm thế của Lữ Tứ Nương như cầu vồng, kỳ ảo vô cùng, liên tục phản công. Phùng Anh thi chuyển Đại Tu Di kiếm thức, một vòng kiếm quang bao bộc lấy thân người, nàng cứ luồng qua lách lại trước người Độc Long Tôn Giả. Cam Phụng Trì hít một hơi, nói: “Kiếm pháp của bát muội lại tiến bộ, sư phụ sống dậy chẳng qua cũng chỉ có thế!” Đường Hiểu Lan luôn miệng khen, cũng nói: “Chỉ trong mấy ngày mà kiếm pháp của Phùng Anh đã tiến bộ như thế! Chúng ta không cần ra tay!”

Té ra mấy ngày trước Lữ Tứ Nương đã hỏi về võ công của Độc Long Tôn Giả, trong lòng đã nghĩ ra cách đối phó. Nàng thầm nhủ: “Kiếm pháp của phái Thiên Sơn rộng lớn thâm sâu, Huyền Nữ kiếm pháp tinh kỳ ảo diệu, kiếm pháp của hai nhà chúng ta là võ lâm song tuyệt, nếu phối hợp thì uy lực không gì bì được, Độc Long Tôn Giả có võ công tuy cao cường nhưng chưa chắc có thể chống nổi uy lực của song kiếm”. Bởi vậy mấy ngày qua đã chỉ điểm cho Phùng Anh những yếu quyết phối hợp khi đánh địch. Phùng Anh thông minh tuyệt đỉnh, vừa được chỉ đã hiểu thấu.

Nhưng kiếm pháp của Phùng Anh tuy cao, kinh nghiệm vẫn còn kém. Lại thêm Lữ Tứ Nương chỉ truyền khẩu, không thể luyện tập trong huyền. Cho nên lúc mới vào trận, song kiếm phối hợp chưa kín kẽ, suýt nữa đã bị Độc Long Tôn Giả đánh bại, sau hơn năm trăm chiêu, Phùng Anh đã dần dần bình tĩnh, ý hợp với kiếm, ngân thần dùng kiếm, không gấp không lo, quả nhiên đã xoay chuyển được tình thế.

Độc Long Tôn Giả tấn công nhiều lần mà không xong, dần dần bị đẩy xuống thế hạ phong, không dám khinh địch, trượng pháp lại thay đổi, trông tựa như chậm hơn trước nhưng kình đạo lại tăng lên, lực dồn vào trượng, trượng phong quét ra khiến Lữ Tứ Nương và Phùng Anh tấn công thêm hơn trăm chiêu nữa mà chẳng làm gì được y. Phùng Anh có công lực kém hơn, đấu một hồi nữa thì mồ hôi ướt cả quần áo, bị trượng phong quét tới, ngực tựa như bị tảng đá nặng ngàn cân đè trúng, cực kỳ khó chịu. Lữ Tứ Nương chẳng còn cách nào, liếc thấy Phùng Anh vất vả, đang định rút lui, nàng tấn công mấy kiếm, muốn đẩy Độc Long Tôn Giả thoái lui, rồi kêu Phùng Anh chạy trước.

Nào ngờ chuyện bất ngờ xảy ra, Lữ Tứ Nương vội đánh mấy kiếm, rồi cảm thấy lực đạo của Độc Long Tôn Giả không còn mạnh như trước, Phùng Anh cũng cảm nhận được điều đó, nàng phấn chấn tinh thần, phối hợp với Lữ Tứ Nương tấn công gấp gáp, một hồi sau chỉ thấy Độc Long Tôn Giả nổi gân đỏ trên trán, mồ hôi tuôn xuống như mưa, sắc mặt tái nhợt, Lữ Tứ Nương và Phùng Anh cả mừng, tấn công càng gấp hơn, đè được cây gậy của Độc Long Tôn Giả.

Tại sao Độc Long Tôn Giả đột nhiên đuối sức, té ra khi y trúng chưởng của Cam Phụng Trì, nội tạng đã bị tổn thương. Nếu lúc nãy y rút lui tịnh tọa vài ngày thì có thể trị khỏi. Thế mà y quen thói háo cường, ỷ nội công của mình thâm hậu, cho nên vận khí chặn lại, bề ngoài tuy không thấy, nhưng thực sự nguyên khí đã tổn thương, sau khi đấu hơn ngàn chiêu với hai người Lữ Phùng, nội thương phát tác, ngực đau như dao cắt, Độc Long Tôn Giả vốn cậy có nội công thâm hậu, nhưng lúc này công lực đã giảm xuống, tựa như dưới chân bức tường thành kiên cố đã bị kiếm đục lỗ, làm sao có thể chịu nổi gió táp mưa sa?

Cam Phụng Trì và Đường Hiểu Lan thấy thế cả mừng, không hẹn mà đều thở phào. Lữ Tứ Nương vung kiếm lớn giọng quát: “Độc Long tiền bối, có còn muốn đánh nữa không?” Cam Phụng Trì cười nói: “Bát muội đúng là nhân từ, đối với hạng yêu nhân như thế mà cũng chiêu hàng!” Nói chưa dứt lời, chợt thấy Phùng Anh kêu thảm một tiếng, đã bị Độc Long Tôn Giả đánh trúng một chưởng ngã xuống đất! Lần này biến cố quá bất ngờ, không những những người đều không nghĩ tới, cả Lữ Tứ Nương cũng chẳng ngờ!

Té ra Độc Long Tôn Giả là kẻ ghét đời, coi tất cả mọi người như rắn rết, thầm nhủ nếu bị bọn Lữ Tứ Nương bắt sống thì không biết sẽ chịu những cực hình gì, cho nên đột nhiên dùng kim giác thần xà trợ chiến. Loại kim giác xà này là sản vật của Xà đảo, đầu rắn lồi lên như có sừng, là loại rắn có độc tính mạnh nhất. Ban đầu Độc Long Tôn Giả chọn loại rắn độc độc nhất giao phối, sau đó nuôi dưỡng đến mười mấy đời, lai tạo được một loại rắn sừng nhọn màu đỏ, những loại rắn độc khác đều bị nó cắn chết. Độc Long Tôn Giả coi nó như của quý, gọi là kim giác thần xà, thường mang theo bên mình. Việc nuôi rắn của Độc Long Tôn Giả cũng giống như người bình thường nuôi chó mèo, y vốn chỉ có ý nuôi chơi chứ không nghĩ đến sẽ dùng hắc địch chế thắng, cho đến khi y đến bước đường cùng, mới nghĩ dùng rắn độc để thử, thế mà đã thành công, Phùng Anh bị con rắn cắn một phát, lại trúng thêm một chưởng nên ngã lăn xuống đất, miệng chảy nước dãi màu đen.

Lữ Tứ Nương thất kinh, trừng mắt nhìn, Độc Long Tôn Giả vung trượng định đánh tiếp, Lữ Tứ Nương tiếp một chiêu, chợt thấy dưới đất có một con rắn nhỏ vàng lấp lánh, còn Phùng Anh thì rên rỉ: “Rắn, rắn! Rắn độc!” Lữ Tứ Nương vội vàng lách người, trong chớp mắt Đường Hiểu Lan và Cam Phụng Trì đã xông tới, Đường Hiểu Lan đến cứu Phùng Anh, con rắn nhỏ màu vàng ngửa đầu dựng đứng lên, đầu cứ lắc qua lắc lại, té ra loại rắn càng độc thì càng sợ thuốc của Song ma, con rắn này bò đi không kịp, ngửi trúng mùi thuốc nên chẳng bò nổi. Đường Hiểu Lan lia thanh kiếm chặt đứt đuôi con rắn.

Lữ Tứ Nương chặn được hai chiêu, Cam Phụng Trì đã lao tới, cả hai người tấn công ở phía trước và sau, lúc này Độc Long Tôn Giả đã đuối sức, y dốc hết toàn lực gầm lớn một tiếng, tay phải vung ra, ném thẳng cây gậy vào ngực của Lữ Tứ Nương, tay trái trở tay đánh ra một chưởng chặn Cam Phụng Trì. Lữ Tứ Nương lướt xéo người tránh được cây gậy. Cam Phụng Trì vận lực hai chưởng cầm cự với y, lúc này khí lực của Độc Long Tôn Giả đã hết, bị thần lực của Cam Phụng Trì đẩy một cái, miệng phun ra một ngụm máu tươi rồi ngã nhào xuống đất.

Cam Phụng Trì kêu: “Bát muội thế nào?” chỉ thấy Lữ Tứ Nương đầu bù tóc rối, mặt toàn là mồ hôi, rõ ràng đã rất vất vả. Lữ Tứ Nương thở hổn hển, nói: “Muội chẳng sao cả, xem thử Anh muội thế nào rồi!” Lữ Tứ Nương ngồi xuống vận công, chợt nghe Đường Hiểu Lan khóc òa lên, Cam Phụng Trì nói: “Yêu nhân thật đáng ghét, Ngư lão, xem thử y chết hay chưa? Dù y còn sống hay chết, tôi cũng phải băm vằm y ra!” Lữ Tứ Nương đứng bật dậy kêu: “Khoan đã!” Ngư Xác đá Độc Long Tôn Giả hai cái, thấy y chẳng hề động đậy, sợ vào ngực y thì thấy còn hơi ấm. Cam Phụng Trì nói: “Bát muội có cao kiến gì?” Lữ Tứ Nương nói: “Tạm thời đừng đụng tới y. Hiểu Lan, Phùng Anh thế nào rồi?” Cam Phụng Trì nghiến răng nói: “Chẳng còn cách cứu nữa!”

Đường Hiểu Lan ôm Phùng Anh khóc nghẹn ngào. Lữ Tứ Nương bước lên nhìn, chỉ thấy mặt nàng tím đen, miệng chảy nước dãi có mùi tanh, Lữ Tứ Nương kề tai tội nghiệp nàng rồi nói: “Vẫn chưa đứt hơi”. Cam Phụng Trì nói: “Nàng đã bị chưởng lực của Độc Long lão yêu đánh bị thương nội tạng, dù Hoa Đà tái thế, Biển Thước phục sinh cũng chẳng thể nào cứu nổi!”
Bọn Ngư Xác chạy đến xem, thấy nàng như thế Ngư Xác không khỏi rơi nước mắt.

Lữ Tứ Nương chợt nói: “Hiểu Lan, viên thuốc của Bát tuý thần ma có còn hay không?” Đường Hiểu Lan chợt nhớ lại, nói: “Viên thuốc này có thể trị độc rắn, lúc nãy bầy rắn tháo lui, không biết có phải vì nó hay không?” Lữ Tứ Nương nói: “Hình như đúng thế”. Đường Hiểu Lan lấy viên thuốc ra, lăn ở chỗ vết thương mấy lượt, độc khí quả nhiên dần lui. Lữ Tứ Nương nói: “Loại rắn này rất độc, cắt viên thuốc ra một nửa rồi cho nàng uống vào!” Đường Hiểu Lan làm theo, một hồi sau chỉ nghe bụng nàng sôi lên ùng ục, màu đen trên mặt dần dần nhạt đi, nhưng vẫn còn hôn mê bất tỉnh, mặt tượng hơi yếu, hơi thở như sợi tơ!

Ngư Xác định thần, kêu: “Ngư Nương!” Ngư Nương nói: “Cha, con ở đây!” Ngư Xác nói: “Con có lấy được bảo tàng của cha ra không?” Cam Phụng Trì nghe thế rất bất mãn, thầm nhủ: “Vừa mới trải qua phong ba mà Ngư Xác vẫn chưa hết tính tham! Người ta đang nguy ngập, sống chết chưa biết mà y lại hỏi đến bảo tàng!”

Ngư Nương nói: “Con có mang theo được một ít. Trong đêm đại trại bị vỡ, con chỉ lấy được mười viên dạ minh châu, một cây phách thủy tê giác, một cái lư hương ba chân thời Thương và một cây chi thảo ngàn năm. Còn những thứ khác thì vẫn còn giấu trên đảo Điền Hoành, mong là bọn chúng không phát hiện”. Ngư Xác mừng rỡ nói: “Hay lắm, hãy đưa cho cha chi thảo ngàn năm”. Ngư Nương đang muốn bảo với cha dùng chi thảo để trị thương, không ngờ cha nàng đẽ lên tiếng trước.

Ngư Xác cầm lấy chi thảo, nói: “Loại chi thảo này có thể cải tử hồi sinh, hãy thử xem sao”. Rồi kêu Đường Hiểu Lan nghiền nát nửa cây chi thảo, nhét vào miệng Phùng Anh, một hồi sau sắc mặt Phùng Anh hồng hào, nôn ra một ngụm máu ứ! Ngư Xác kêu Ngư Nương dựng lều, đưa Phùng Anh vào lều nghỉ ngơi, lại nói với Đường Hiểu Lan: “Còn nửa cây chi thảo hãy giữ lấy. Anh cô nương đã từng hỏi xin tôi, chắc là đang cần dùng”.

Lữ Tứ Nương chợt nói: “Hãy đưa nửa cây chi thảo cho tôi!” Cam Phụng Trì nói: “Muội lấy làm gì?” Lữ Tứ Nương nói: “Cứu Độc Long Tôn Giả!” Cam Phụng Trì nói: “Muội... muội...” chàng ta vốn định nói: “Muội điên rồi sao?” nhưng vì xưa nay rất tôn trọng Lữ Tứ Nương cho nên không nói ra lời.

Đường Hiểu Lan nói: “Tỉ tỉ cứ cầm lấy!” Ngư Xác nói: “Đường huynh, huynh không cần dùng sao?” Đường Hiểu Lan đưa cây chi thảo cho Lữ Tứ Nương, lắc đầu cười rằng: “Tôi dùng làm gì?” Lữ Tứ Nương liếc nhìn Đường Hiểu Lan, muốn nói gì đấy nhưng lại thôi.

Cam Phụng Trì nói: “Bát muội thật sự muốn cứu y? Sau khi y khỏi lại, còn ai có thể thu phục nổi y!” Lữ Tứ Nương nói: “Chúng ta đều có thể thu phục được y! Việc không thể trễ, thất ca, phiền huynh cậy răng y ra!”

Cam Phụng Trì cười khổ nói: “Ta chẳng rảnh”. Lữ Tứ Nương nói: “Thất ca là lãnh tụ võ lâm, chả lẽ không biết câu lấy đức phục người hay sao?” Cam Phụng Trì nói: “Nhưng người này là yêu tà, làm sao có tính người?” “So với Niên Canh Nghiêu thì y thế nào?” “Niên Canh Nghiêu là mặt người dạ thú, làm sao có thể bì?” “Khi y ra Xà đảo đã từng hại ai chưa?” “Chưa từng nghe nói” “Thế thì đúng rồi, các người lên Xà đảo, y mới ra tay đối với các người”. “Người ta mắc nạn lạc lên đảo, nếu người có nhân tính chắc chắn sẽ tương cứu, trái lại y xua rắn độc cắn chúng ta, chả lẽ không đáng chết?” “Đúng thế, lời của huynh đã biện hộ cho y”. “Sao lại nói thế?” “Năm xưa y bị mắc bệnh hủi, cũng giống như chúng ta gặp nạn trên biển, thế nhưng người xung quanh lại không chịu cứu y, trái lại xua đuổi y, khiến y sao không hận trong lòng cho được?”

Cam Phụng Trì vốn là người hiệp cốt nhân tâm, nghe nàng nói một hồi nghĩ kỹ lại rồi vỗ tay nói: “Bát muội dẫu sao cũng là người hiểu lý lẽ, có tầm nhìn xa hơn cả bọn ta, nếu hôm nay muội không mở đường, suýt nữa ta đã làm chuyện sai”. Thế rồi bước tới cậy răng Độc Long Tôn Giả, nhét chi thảo vào miệng y, một hồi sau tim của y đã bắt đầu đập trở lại, hơi thở vẫn còn yếu ớt, một lúc sau nữa Độc Long Tôn Giả mới dần tỉnh dậy, ánh mắt lộ vẻ kỳ dị. Cam Phụng Trì nói: “Bây giờ ông không thể vận khí, hãy nằm nghỉ ngơi hai ngày!”.

Cứ thế ba ngày trôi qua, Phùng Anh đã có thể ngồi dậy, Độc Long Tôn Giả cũng có thể nói chuyện.

Lữ Tứ Nương và Cam Phụng Trì đều khuyên y yên tâm nghỉ ngơi. Độc Long Tôn Giả lòng đầy nghi hoặc, hỏi: “Sao các người lại cứu ta? Các người chẳng phải là con người sao?” Lữ Tứ Nương cười nói: “Con người cũng có nhiều loại, có người thích làm hại người khác, có người coi cứu thiên hạ là trách nhiệm, làm sao có thể gộp chung với nhau được?” Độc Long Tôn Giả như hiểu mà không hiểu, mấy ngày nằm nghỉ ngơi, nhớ lại thời còn trẻ chưa mắc bệnh hủi, quả nhiên đã gặp những người rất tốt, cũng gặp những người rất xấu, nhưng sau khi mình đã mắc bệnh, bất cứ ai cũng lạnh nhạt đối với mình, thậm chí coi là kẻ thù. Một ngày lại hỏi: “Ở bên ngoài còn có ai bị mắc bệnh hủi không?” Lữ Tứ Nương nói: “Không còn”. Độc Long Tôn Giả chợt hỏi: “Giả sử hôm nay ta vẫn còn bị bệnh, các người có tốt với ta không?” Lữ Tứ Nương trả lời: “Tốt”. Độc Long Tôn Giả lắc đầu không tin. Lữ Tứ Nương cười nói: “Ông hãy nghĩ lại xem. Ông từng xua rắn độc cắn chúng tôi, ông lại cậy võ công cao cường định đánh chết chúng tôi. Trong mắt chúng tôi ông còn đáng sợ hơn cả người bị bệnh hủi, bệnh hủi chưa chắc khiến người ta chết, còn ông và rắn độc có thể dồn người ta vào chỗ chết. Chúng tôi đã cứu ông, vậy tại sao còn căm ghét ông làm gì?” Độc Long Tôn Giả nghĩ kỹ lại, chợt khóc òa lên. Lữ Tứ Nương và Cam Phụng Trì lui ra khỏi trại để mặc cho y khóc. Đến khi y khóc xong lại trở vào thay quần áo cho y.

Cứ như thế nhiều ngày trôi qua, Độc Long Tôn Giả đôi lúc cũng hỏi chuyện bên ngoài, dần dần đã phân biệt được thiện ác, mấy ngày nữa trôi qua, Phùng Anh đã khỏe lại, cùng Đường Hiểu Lan đến thăm hỏi, Độc Long Tôn Giả vừa thấy họ, sắc mặt thay đổi. Lữ Tứ Nương nói: “Song ma là người tốt hay kẻ xấu?” Độc Long Tôn Giả nói: “Nghe các người nói, Hoàng đế hiện nay là kẻ xấu, bọn họ giúp Hoàng đế, chắc không phải là người tốt, nhưng tiểu cô nương này cũng không thể nói là không tốt”. Lữ Tứ Nương nói: “Thế là đúng, bọn họ giúp Hoàng đế giết nhiều người tốt”. Rồi kể việc năm xưa Song ma đã đến núi Thái Hànggiết các nghĩa sĩ chống Thanh, lấy đầu người làm tiệc. Độc Long Tôn Giả đã hồi phục tính người, nghe thế cảm thấy dựng tóc gáy. Lữ Tứ Nương nói: “Cho nên không thể vì một chuyện tốt nhỏ mà che giấu được chuyện xấu lớn, cũng không thể vì một chuyện xấu nhỏ mà làm hoen ố chuyện tốt lớn”. Độc Long Tôn Giả tuy không thể hoàn toàn hiểu nhưng cũng cảm nhận được lý lẽ đó. Lữ Tứ Nương lại nói: “Có một chuyện ông vẫn chưa biết, người nhà của tiểu cô nương này là do Song ma sai người hại chết. Chính Song ma đã bắt cóc mẹ của tiểu cô nương này”. Độc Long Tôn Giả buộc miệng kêu: “Đáng chết, đáng chết!” Phùng Anh nói: “Tôi không hề biết Bát tuý thần ma có chút thiện lương, nếu biết đã không giết ông ta”. Lữ Tứ Nương nói: “Còn có một việc mà ông vẫn chưa biết!” Độc Long Tôn Giả nói: “Việc gì?” Lữ Tứ Nương trả lời: “Nửa cây chi thảo cứu mạng ông vốn là Ngư Xác tặng cho tiểu cô nương này. Tiểu cô nương dùng để cứu người thân của nàng. Người thân của nàng bị Hoàng đế lừa uống phải rượu độc, chẳng còn thuốc trị, chỉ còn trông mong vào cây chi thảo này. Người này chính là y”. Rồi chỉ Đường Hiểu Lan, nói: “Y chấp nhận cho ông, tiểu cô nương biết cũng không hề oán trách”. Độc Long Tôn Giả nghe thế ngẩng người, bất giác bưng mặt rơi nước mắt.

Trong hơn mười ngày này, Ngư Xác đốc thúc mọi người đóng thuyền, sau khi Độc Long Tôn Giả đã khỏe hẳn lại, bọn Lữ Tứ Nương mới từ biệt y. Độc Long Tôn Giả quyến luyến không nỡ rời, chợt quỳ xuống hành đại lễ với bọn bốn người Lữ Tứ Nương, Cam Phụng Trì, Đường Hiểu Lan, Phùng Anh, mọi người vội vàng đỡ y đứng dậy. Độc Long Tôn Giả chỉ lên trời thề rằng: “Ta đã sống quen ở đây, không thể ra ngoài được nữa, nhưng ta thề rằng mỗi năm sẽ cứu mười người bị bệnh hủi, mỗi năm ra ngoài ba tháng đưa những người bị bệnh hủi về đảo. Sau khi trị xong sẽ đưa trở về đất liền. Các người đừng nghĩ rắn độc của ta là hung dữ, bọn chúng là thánh dược chữa bệnh hủi”. Lữ Tứ Nương chấp tay nói: “Lành thay, lành thay! Tôn giả có ý nghĩ này thật là tốt, nhưng cũng không cần hạn trong mười người, cứ cố gắng làm là được”.

Mọi người rời khỏi Xà đảo, dông buồm trở về đất liền, khi nhắc đến chuyện Độc Long Tôn Giả, ai nấy đều khâm phục Lữ Tứ Nương nhìn xa trông rộng.

Thuyền đi hai ngày, vòng qua hòn đảo mà hai người Đường Phùng ở trước kia, trên đảo trọc lóc cây cối, chỉ có mảng cỏ xanh mới mọc. Đường Hiểu Lan tựa mạng thuyền trông xa, nhìn cảnh nhớ lại chuyện lúc trước, chàng nhận thấy đó là những ngày tháng vui nhất, nay trở về đất liền, nỗi lo lại trở về, bất giác trong lòng rối bời. Lữ Tứ Nương bước tới cười nói: “Thế ngoại đào viên dẫu sao cũng là ảo mộng. Cõi trần thế huyên náo mới là quê hương. Đường huynh đệ cần gì phải quyến luyến không rời?” Đường Hiểu Lan cố gượng cười, nhưng mặt vẫn rầu rĩ. Chỉ có Phùng Anh là vô tư, cảm thấy bên cạnh thúc thúc là đã thỏa lòng, mặc cho là cõi đào nguyên thế ngoại hay trần thế ồn ào!

Đi mấy ngày nữa, đã đến biển Hoàng Hải, Ngư Xác đứng nhìn những hòn đảo ẩn hiện ở phía xa, đó đều là cơ nghiệp của mình truớc kia, thế mà nay chỉ có thể đứng nhìn từ xa. Nhớ lại trước kia mình xưng vương tựa như một cơn ác mộng, nước mắt không khỏi tuôn trào. Bạch Thái Quan bước đến an ủi, Ngư Xác chỉ đáp rằng: “Ta lúc tuổi già mà được con gái và con rể hầu hạ bên cạnh, còn hơn cả xưng vương ngoài biển! Ta còn lo gì nữa? Lúc nãy chỉ là đứng từ xa nhìn các thủy trại, đau lòng vì các huynh đệ tử nạn, cũng hối hận vì tỉnh ngộ quá muộn”.

Qua khỏi Hoàng Hải, suốt quãng đường thuận buồm xuôi gió, sau khi lên bờ, mọi người lại cải trang vào kinh đô. Đến kinh đô đã sau tiết Đoan Dương, Cam Phụng Trì đưa mọi người đến ở trọ tại nhà một người quen, hỏi đến những chuyện gần đây mới biết Niên Canh Nghiêu từ sau khi đánh Ngư Xác trở về đã đến Thanh Hải. Các bối lạc lớp thì bị giết, lớp thì bị đày đi nơi xa hoặc bị cắt hết vây cánh, chẳng còn sức lực chống chọi. Ung Chính chiêu tập võ sĩ, xây dựng cung điện, chọn tú nữ để điểm tô cho cái không khí gọi là “thăng bình”.

Ngày hôm sau Lữ Tứ Nương đến bái phảm một danh y, danh y này họ Diệp, là bằng hữu của Lữ Lưu Lương, y thuật tinh thông trên đời có một không hai, chỉ là tính tình quái dị, bình thường lấy việc đọc sách làm vui, không dễ dàng trị bệnh cho người ta, không ngờ đến nơi mới biết ông ta vì không chịu trị bệnh cho kẻ quyền quý nên suýt nữa đã bị tống giam vào ngục, may mà được người ta báo tin nên đã bỏ trốn.

Phùng Anh nghe thế rầu rĩ. Lữ Tứ Nương khảng khái nói: “Để ta vào cung xem thế nào?” Đường Hiểu Lan khuyên mãi không được, Lữ Tứ Nương nói: “Tên Ung Chính này là kẻ thù của nhà ta, lần này ta vào cung cũng là một công đôi chuyện. Nếu có cơ hội ta sẽ giết chết y”. Cam Phụng Trì khuyên nàng cẩn thận, Lữ Tứ Nương vẫn kiên quyết ra đi. Phùng Anh cũng muốn đi theo, Lữ Tứ Nương biết nàng khinh công cao xiêu nên cũng gật đầu chấp nhận. Cam Phụng Trì hẹn với hai người nếu canh năm không trở về thì chàng sẽ cùng mọi người đại náo hoàng cung.

Đêm đến, bọn Cam Phụng Trì ngồi đợi ở nhà, đến canh bốn, Lữ Tứ Nương và Phùng Anh đã nhẹ nhàng hạ xuống sân, dưới ánh trăng mờ sau thưa, chỉ thấy hai người trên mình toàn là máu. Cam Phụng Trì hỏi đến, Lữ Tứ Nương thở dài: “Tên cẩu hoàng đế này phòng bị rất nghiêm ngặt, võ sĩ ở khắp nơi. Chúng tôi vào cung không bao lâu thì đã bị phát hiện nếu không nhờ tuyệt kỹ của sư môn, suýt nữa đã không thoát!” Phùng Anh mừng rỡ nói: “Lữ tỉ tỉ đúng là lớn gan, chúng tôi đã bị bao vây, cũng nhờ tỉ tỉ mở đường chúng tôi mới thoát được”. Cam Phụng Trì nói: “Các người có gặp Ung Chính không?” Phùng Anh nói: “Có gặp! Y đứng từ xa bảo Đường thúc thúc chỉ còn bảy ngày nữa, nếu không vào cung sẽ chết chắc”. Cam Phụng Trì lẩm bẩm: “Bảy ngày, chỉ còn bảy ngày?” Phùng Anh nghẹn ngào nói: “Đúng thế, chỉ còn bày ngày, làm thế nào đây?” Đường Hiểu Lan chợt từ phòng trong bước ra, cười thảm nói: “Mọi người đừng nhọc lòng vì tôi nữa. Cam đại hiệp, cầu xin huynh làm cho tôi một chuyện”.

Chính là:

Thù chung tình riêng đôi đường khó, chả lẽ hoàng thổ chôn anh hùng.

Muốn biết sau đó thế nào, mời sang hồi sau sẽ rõ.

Chương 37: Gửi lời đưa di thư tình sầu miên man Xả thân toan cứu nạn tâm lực uổng phí

Lữ Tứ Nương cười nói: “Không cần căng thẳng, tỉ chỉ muốn muội cùng đi mời danh y mà thôi”. Phùng Anh ngạc nhiên hỏi: “Mời danh y? Có phải là danh y họ Diệp không? Chẳng phải ông ta đã đi xa rồi sao?” Lữ Tứ Nương nói: “Ông ta chỉ đến nhà Trần Khang ở huyện Hoài Nhu mà thôi”. “Huyện Hòai Nhu cách đây có xa không?”

“Cách đây khoảng hai trăm dặm, chúng ta có thể đi một ngày là tới nơi, hôm sau sẽ trở về”. Phùng Anh cả mừng, yên tâm ngủ một giấc, ăn xong cơm trưa thì cùng Lữ Tứ Nương lên đường.

Khi trời sụp tối họ đến Sương Bình, lúc này đã cách Hòai Nhu sáu mươi dặm. Họ dừng chân ở đây một đêm, hôm sau trời vừa tản sáng Lữ Tứ Nương và Phùng Anh đã thi triển khinh công chạy một mạch hơn ba mươi dặm, vào đến ranh giới huyện Hòai Nhu. Phùng Anh hít gió buổi sáng, người thấy thoải mái. Lữ Tứ Nương chỉ cánh đồng ở phía trước, nói: “Ở cuối cánh đồng kia có thôn Hoàng Trúc, nơi ông ta ẩn cư. Có lẽ đi thêm ba mươi dặm nữa”. Phùng Anh lo lắng nói: “Nghe nói danh y họ Diệp tánh tình rất quái dị, nếu ông ta không chịu chữa thì thế nào?” Lữ Tứ Nương trả lời: “Muội yên tâm, ông ta là bằng hữu của tổ phụ tỷ. Chúng ta cứ nói ra lai lịch, lẽ nào ông ta không thèm để ý đến”. Khi họ đang nói chuyện, chợt thấy phía trước có người rượt đuổi nhau, từ xa đã nghe tiếng quát tháo chém giết. Lữ Tứ Nương ngạc nhiên, chợt kêu lên: “Anh muội, xem kìa!”

Phùng Anh nhìn theo hướng chỉ của Lữ Tứ Nương, thấy trong đám người dưới chân núi có một thiếu nữ, tuy nàng nhìn không rõ nhưng bóng dáng rất quen thuộc. Phùng Anh giật mình, đứng sững sờ. Lữ Tứ Nương nói: “Muội nhìn xem nàng ta hình như rất giống muội đấy!” Phùng Anh nói: “Ồ, đó chắc chắn là tỷ muội song sinh của muội! Chúng ta mau đuổi theo!” té ra cánh đồng ở dưới chân núi cách họ đến hai mươi dặm, đám người chợt tản vào sơn cốc, Phùng Anh định thần thầm nhủ: “Cứu Đường thúc thúc rất quan trọng, không thể phân thân đuổi theo nàng thiếu nữ ấy”. Rồi nàng chỉ đành thở dài, lẩm bẩm: “Lại bỏ qua một cơ hội”. Lữ Tứ Nương an ủi: “Đã biết nàng xuất hiện ở đây, chúng ta cứ mời danh y trước chữa cho Hiểu Lan rồi sẽ đi tìm cũng không muộn”.

Hai người lại xuống núi, băng ngang qua cánh đồng, khi đến thôn Hoàng Trúc, quả nhiên vẫn chưa đến trưa. Họ dò hỏi nhà của Trần Khang, nơi danh y họ Diệp ở nhờ. Nhà họ Trần ở phía Tây của thôn Hoàng Trúc, phía sau nhà có một vạt rừng trúc, trông rất uông nhã. Hai người đến trước cửa, thấy cửa lớn mở hé, bên trong có tiếng người ồn ào.

Lữ Tứ Nương gõ cửa mấy lượt mà không có người bước ra, bên trong tựa như đang cãi nhau, có người nói: “Bọn ta có ý tốt mời mọc, ông có đi hay không?” có người nói: “Y không chịu thì cứ trói lại!” Lữ Tứ Nương nói: “Không xong, chắc chắn có người buộc ông ta phải chữa bệnh!” Phùng Anh nói: “Chúng ta vào đuổi bọn người này đi”. Bên ngoài lại có tiếng người vọng ra: “Bọn ta đã biết ngươi nấp ở đây!” có người bảo: “Ngươi nhẫn tâm để cho huynh đệ của ta tàn phế hay sao?” Phùng Anh lòng lo như lửa đốt, kêu: “Bọn hung đồ chớ có cưỡng ép người!” rồi rút phắt thanh đoản kiếm lao vào bên trong.

Trong khách sảnh có bốn người đang bao vây một ông già. Phùng Anh vừa tới nơi, bốn người này chợt buông ông già chạy ra. Trong bốn người có ba đại hán cao lớn. Có một người là ông già trông rất hiền từ, không giống như hạng hung đồ. Ba đại hán cao lớn đồng thanh quát: “Ngươi đã đả thương huynh đệ của bọn ta lại còn muốn đuổi tận giết tuyệt?” Phùng Anh ngạc nhiên, ba người ấy đã rút binh khí hè nhau xông lên. Ông già kêu: “Khoan đã, ngươi là người thế nào của Niên Canh Nghiêu?” ba đại hán rất hung hăng, Phùng Anh đang nổi nóng, làm sao có thể dừng lại được, chỉ nghe tiếng binh khí gãy rổn rảng, cây Đoạn Ngọc kiếm của Phùng Anh múa trái quét phải, chặt gãy toàn bộ binh khí của ba người ấy, một người trong số đó còn bị đâm trúng xương sườn. Ông già chợt nổi giận: “Nha đầu, ngươi ra tay thật ác độc!” rồi cầm tẩu thuốc bổ xuống đầu Phùng Anh, đồng thời điểm vào huyệt Kiên Tỉnh của nàng, Phùng Anh thầm nhủ: “Ông già này trông diện mạo hiền từ thế mà cùng một giuộc với bọn này!” rồi nàng xoay thanh kiếm, lập tức đâm vào huyệt Hồn Môn của ông ta.

Ông già xoay người lướt bước, tiếp tục vung cái tẩu thuốc đánh ra chiêu Vân Ma Tam Vũ, đây là một chiêu gồm ba thức, công lực phi phàm. Phùng Anh không dám khinh địch, thi triển tuyệt chiêu Lưu Tinh Phi Xử và Dã Mã Thao Điền trong Truy Phong kiếm pháp, hai chiêu này tấn công ở bên trên và bên dưới, bên trên đâm vào hai mắt, bên dưới đâm vào đan điền, kiếm thế rất hiểm hóc. Ông già gạt ngang cái tẩu thuốc đổi công làm thủ, cây kiếm của Phùng Anh bị ông ta giằng xuống, nàng chỉ cảm thấy cánh tay tê rần. Còn ông già trong sảnh tức giận nói: “Sao lại có lẽ này, đây đâu phải là chiến trường mà các ngươi đánh nhau!”

Phùng Anh không hề biết rằng, ông già đang đối địch với nàng chính là Quảng Liên. Số là trong đêm nàng một tuổi, Quảng Liên đến uống rượu, gặp lúc bọn Huyết Trích Tử truy bắt Châu Thanh nên bị vạ lây, Chung Vạn Đường bế Phùng Lâm cùng Quảng Liên chạy thoát, Chung Vạn Đường đến nhà họ Niên dạy học tránh thù, không tiện ở cùng Quảng Liên, bởi vậy giới thiệu ông ta đến chỗ Trại chủ Trương Linh Phong ở núi Thiên Đài. Trương Linh Phong cao hơn Chung Vạn Đường một bậc, là một đại đạo nổi danh trong chốn lục lâm, Quảng Liên chỉ là một võ sư nhà quê chất phác, vốn chẳng muốn làm nghề cướp bóc, nhưng việc đã đến nước đấy chỉ đành chấp nhận.

Trương Linh Phong tính tình hào sảng, rất thích sự chất phác của Quảng Liên, hai người rất hợp nhau. Khi rảnh rổi Trương Linh Phong chỉ điểm võ công cho ông ta, sau đó còn để ông ta làm Phó trại chủ. Quảng Liên và Trương Linh Phong chỉ hơn kém nhau sáu bảy tuổi, Trương Linh Phong ngại không nhận ông ta làm học trò, nhưng Quảng Liên cảm ơn tri ngộ, cứ kiên quyết đòi hành lễ bái sư.

Trương Linh Phong chết đi, con trai của ông ta là Trương Thiên Trì làm Trại chủ, Quảng Liên vẫn ở núi Thiên Đài giúp đỡ cho y. Trương Thiên Trì không tài bằng cha mình, nhiều lần bị quan binh tấn công, thế lực ngày một suy yếu. Chung Vạn Đường đã chết, tin ấy truyền đến, Quảng Liên lấy làm đau lòng. Sai người đi dò hỏi mới biết Phùng Anh đã sớm mất tích. Một ngày nọ Quảng Liên trò chuyện với Trương Thiên Trì, bảo rằng sau khi Chung Vạn Đường chết đi, võ công của phái Vô Cực thất truyền, kiếm phổ y thư của Phó Thanh Chủ không biết đã rơi vào tay ai. Trương Thiên Trì nổi lòng tham, sai hai đồ đệ lén đến nhà họ Niên tìm di thư, không ngờ bị Phùng Lâm giết chết, sau đó Trương Thiên Trì mới không dám sai người đi nữa.

Lại mấy năm trôi qua, Trương Thiên Trì bị quan binh tấn công, sơn trại bị đốt, chỉ dắt được hơn mười thủ hạ cùng Quảng Liên chạy thoát. Từ đó lưu lạc trên giang hồ, tình cảnh ngày càng tệ hơn. May mà y tuy mất sơn trại nhưng cũng là Chưởng môn của phái Thiên Đài, người trong võ lâm coi như cũng tôn trọng y. Khi quan binh truy bắt, thường có người báo tin cho y vì thế mới sống qua ngày trên giang hồ.

Trương Thiên Trì lại nhớ đến y thư của Phó Thanh Chủ, đến huyện Trần Lưu lục soát, gặp lúc Lý Trị và Phùng Lâm chạy ra khỏi nhà họ Niên, Trương Thiên Trì đã tra xét diện mạo của Phùng Lâm, biết nàng là kẻ thù giết đồ đệ của mình, liền sai người đuổi theo cho đến gần Bắc Kinh. Ngày hôm ấy Quảng Liên và vài đồ đệ của Trương Thiên Trì đi ở phía trước, gặp Lý Trị và Phùng Lâm ở cánh đồng tại huyện Hòai Nhu, mấy tên đồ đệ của Trương Thiên Trì đến khiêu chiến, bị Phùng Lâm dùng đao độc đả thương, may có Quảng Liên yểm hộ nên mới thoát. Phùng Lâm và Lý Trị không biết lai lịch của họ, vả lại cũng sợ gây chuyện sẽ khiến quan binh chú ý nên sau khi ra tay đã nấp lên núi.

Phùng Lâm ra tay rất hiểm độc, ba người bị thương không những trúng độc hôn mê mà xương cốt gãy lìa, có khả năng bị tàn phế. Trương Thiên Trì từ sau đuổi tới, thấy thế cả giận. Nhưng cứu người quan trọng hơn nên chẳng rảnh truy tìm kẻ địch. Trương Thiên Trì lưu lạc các nơi, theo thói quen của chốn lục lâm, cần phải tra xét những người có tiếng trong vùng. Thuốc kim sang của Trương Thiên Trì mang theo không trị nổi, y nhớ đến danh y Diệp Thọ Thường đang ẩn cư ở nhà họ Trần tại thôn Hoàng Trúc liền bảo Quảng Liên dắt người đến mời ông ta chữa trị. Trương Thiên Trì biết Diệp Thọ Thường có liên quan đến phái Vô Cực, mà Quảng Liên lại là bằng hữu của Chung Vạn Đường, bởi vậy mới phái Quảng Liên đi. Không ngờ Quảng Liên đã gặp phải Phùng Anh ở đây.

Quảng Liên học được võ công của phái Thiên Đài, lại thêm mười tám năm rèn luyện, võ nghệ hơn hẳn trước kia. Phùng Anh liên tục đánh đến hai mươi chiêu mà vẫn không đắc thủ, nàng chợt thay đổi kiếm pháp, vận dụng những chiêu số tinh diệu trong Truy Phong kiếm pháp, phối hợp với khinh công, tìm sơ hở tấn công, thanh kiếm chỉ Đông đánh Tây, chỉ Nam đánh Bắc như điện chớp lửa xẹt. Quảng Liên đã già, thân pháp không lanh lẹ như Phùng Anh, bị nàng tấn công đến luống cuống chân tay. Phùng Anh đánh gấp tới, xem ra sắp đâm trúng Quảng Liên. Lữ Tứ Nương đang đứng xem chợt nhảy vọt tới giữa hai người, tay trái kéo Phùng Anh ra, tay phải chụp được cái tẩu thuốc của Quảng Liên rồi trả trở lại nói: “Ông hãy nghỉ ngơi một lát”.

Quảng Liên chưa từng thấy ai có võ công cao cường như Lữ Tứ Nương, không dám đánh tiếp nữa nên xoay người bỏ đi. Những kẻ đi cùng đành cõng đồng bọn chạy đi.

Lữ Tứ Nương bước tới thi lễ, ông già trong sảnh tức giận nói: “Các ngươi đã quấy rối đủ chưa?” Lữ Tứ Nương nói: “Diệp công công...” đang định nói ra thân phận nhờ ông ta chữa trị. Nào ngờ ông già trợn mắt, vỗ bàn nói: “Ta đã bảo ta không biết trị bệnh, ta cũng chẳng phải là Diệp công công gì cả, các người còn lôi thôi ở đây làm gì?” Lữ Tứ Nương ngạc nhiên nói: “Ông không phải là Diệp công công?” ông già trả lời: “Đã bảo không phải là không phải, ta không đổi tên ngồi không đổi họ, Trần Khang chính là ta, bình sinh chỉ biết gãy đàn nhưng ta cũng không gãy cho các ngươi nghe!” rồi phất tay áo tức giận lui vào bên trong.

Lữ Tứ Nương và Phùng Anh không khỏi nhụt chí, Phùng Anh nhảy đến cửa, chặn lại hỏi: “Vậy xin hỏi Diệp lão tiên sinh ở đâu?” Trần Khang trợn mắt nói: “Không biết. Có biết cũng không nói cho ngươi nghe! Ta đã quá phiền phức, các người thấy chưa đủ hay sao?” Lữ Tứ Nương vội nói: “Cháu gái của Triết Đông Lữ Lưu Lương xin thỉnh an người!” Trần Khang giật mình, quay lại hỏi: “Cái gì, cô nương là cháu gái của Lữ Lưu Lương?” Lữ Tứ Nương nói: “Khi tiên tổ còn sống, thường nhắc đến hai vị tiền bối, bảo rằng nếu tiểu điệt nữ có đến kinh đô phải đến chào hỏi”. Trần Khang lập tức đổi sắc mặt, hỏi: “Cái gì? Tổ phụ của cô nương cũng biết tôi sao?”

Lữ Tứ Nương nói: “Lão trượng có tài đánh đàn nổi danh thiên hạ ai mà không biết!” Trần Khang chợt nói: “Ý nghĩa thật sự của mấy chữ ‘cao sơn lưu thủy’ là thế nào?” Lữ Tứ Nương trả lời: “Ngoài là lời ngâm vịnh, còn thể hiện ý của Chung Tử Kỳ khuyên Bá Nha”. Trần Khang nói: “Khuyên cái gì?” Lữ Tứ Nương nói: “Khuyên ông ta vứt bỏ công danh vui cùng sông núi. Chỉ có sông núi quê hương mới có thể gợi lên tiếng đàn”. Trần Khang ồ một tiếng, lấy ra một cây cổ cầm đặt trên bàn: “Cô nương có thể nghe tôi gãy đàn”. Rồi nhắm mắt đàn một hồi, hỏi: “Cô nương có nghe được gì không?” Lữ Tứ Nương rơi nước mắt nói: “Đa tạ lời chia buồn của lão trượng, cũng đa tạ lời khích lệ của người”. Té ra Trần Khang đã đàn bài “Hoàng điểu chi ca”, bài này có ý nghĩa tiếc thương cho hiền nhân. Đây là một bài trong “Tần phong” của Kinh thi, trong đó có câu “Như khả độc thề, nhân bách kỳ thân” (có nghĩa có thể chuộc lại mạng của người ấy, ta chấp nhận lấy một trăm đổi cho một) bài thứ hai là “Vu điền chi ca”, là một bài tán ca, ca tụng võ sĩ trong “Trịnh phong” của Kinh thi, dụng ý là khích lệ tinh thần tiến thủ của Lữ Tứ Nương. Xem ra ông ta đã nghe hiệp danh của nàng.

Lữ Tứ Nương vừa nói đã trúng, Trần Khang nói: “Cô nương đã không gạt ta, cô nương đúng là cháu gái của Lữ Lưu Lương!” Lữ Tứ Nương nói: “Tôi có một người bằng hữu đang gặp nguy. Mong người chữa trị”. Trần Khang nói: “Nửa năm trước, ông ta đã rời khỏi nơi này”. Lữ Tứ Nương nói: “Đi đâu? Lão trượng có thể cho biết không?” Trần Khang cười nói: “Nể mặt tổ phụ của cô nương, tôi chỉ đành để các người đi làm phiền Diệp lão đầu. Diệp lão đầu còn có một người bằng hữu là Trần họa sư ở Khang trang thuộc phía Đông Bát Đạt lĩnh, một đồ đệ họ Dương ở Nam Khẩu thuộc phía Tây Bát Đạt lĩnh. Hai người này mời ông ta đến ở. Tôi cũng không biết hiện giờ ông ta đang ở nhà ai. Khang trang và Nam Khẩu cách đây hơn một trăm dặm, các người hãy nghỉ ngơi một đêm, sáng mai đi tiếp”. Lữ Tứ Nương nói: “Không cần, để chúng tôi đến thăm Diệp công công rồi sẽ quay lại nghe người gãy đàn”. Trần Khang nói: “Cũng được!” rồi thở dài: “Bây giờ chẳng mấy ai hiểu được tiếng đàn của ta!”

Lữ Tứ Nương từ biệt ra khỏi nhà họ Trần, lúc này trời đã trưa, nàng bàn bạc với Phùng Anh rằng: “Không ngờ sự việc lại trắc trở thế này. Chúng ta hãy chia nhau lên đường. Tỷ đến Khang trang tìm họa sư họ Trần. Muội đến Nam Khẩu tìm người họ Dương. Nhớ lấy, muội phải tôn kính đối với các bậc tiền bối, nếu nóng nảy sẽ hỏng việc”. Phùng Anh đỏ mặt, nói: “Đương nhiên”. Thế rồi hai người chia nhau lên đường.

Phùng Anh thầm tình, giả sử đến Nam Khẩu, tìm được, lập tức sẽ thuê xe mời ông ta về, bốn ngày sẽ đến nơi. Nào ngờ nàng lại đi nhầm đường, may mà vừa phát giác đã lập tức hỏi người ta, đến nửa đêm mới lần dò đến Nam Khẩu. Phùng Anh dò đường đến nhà họ Dương, nàng nhảy lên mái nhà, chợt thấy bên trong đèn đuốc vẫn còn thắp sáng, Phùng Anh định nhảy xuống bái kiến, nhưng nàng lại ngại làm bọn họ giật mình nên nằm phục trên mái ngói nhìn xuống bên dưới.

Chỉ thấy trong căn phòng có một cái bàn đặt một lư hương, khói hương vờn quanh. Một ông già ngồi trên cái ghế thái sư, bên cạnh có một ông già đang đứng. Phùng Anh thầm nhủ: “Người đang ngồi chắc là Diệp Thọ Thường đây”.

Diệp Thọ Thường khép hờ hai mắt, miệng thì giảng giải y đạo cho người đứng bên cạnh mình. Giảng giải xong Diệp Thọ Thường lại nói: “Thời gian không còn nhiều nữa, nay ta sẽ truyền tâm pháp”. Rồi cầm cây bút lông sói vừa viết vừa giảng, Phùng Anh đang định bỏ đi, Diệp Thọ Thường chợt ngẩng đầu nói: “Này, ngươi nghe lén đã lâu, sao vẫn còn chưa xuống?” Phùng Anh thất kinh, thầm nhủ: “Hỏng bét, lần này chắc chắn ông ta sẽ trách”. Nàng chỉ đành lướt người xuống, bước tới thi lễ, nói: “Xin tiền bối thứ lỗi, tôi vốn định ngày mai đến, nhưng...” nàng đang định tìm lời, ông già chợt nói: “Đưa tay tới, ta sẽ bắt mạch cho ngươi”. Phùng Anh ngạc nhiên, Diệp Thọ Thường cầm tay nàng, một hồi sau chợt buông tay nói: “Lạ thật, lạ thật. Bệnh người thân ngươi không có một năm cũng nửa năm, tại sao ngươi không đi chữa trị?” Phùng Anh ngạc nhiên nói: “Diệp công công, làm sao người biết?” Diệp Thọ Thường trả lời: “Căn cơ nội công của ngươi rất vững chắc, sư phụ của ngươi là ai?” Phùng Anh không dám giấu giếm, đáp rằng: “Sư phụ của vãn bối là Thiên Sơn Dịch Lan Châu”. Diệp Thọ Thường nói: “Ồ, thật kỳ lạ, té ra ngươi là đồ đệ của Dịch Lan Châu”. Ông ta nhắm mắt một hồi, nói: “Trong người của ngươi có một luồng uất khí, mà can hỏa lại nóng, chắc chắn có việc gì rất đáng nghi ngờ mà không giải thích được. Nửa đêm ngươi đến gặp ta, chắc là muốn mời ta chữa trị. Nếu không phải người thân, ngươi sẽ không lo lắng như thế. Nếu không phải bệnh lạ, ngươi không thể lo lắng lâu như thế. Ngươi nói thử xem, người thân của ngươi bị bệnh gì?” Phùng Anh mừng rỡ nói: “Diệp công công, người đúng là y đạo thông huyền, liệu việc như thần. Vãn bối muốn mời người trị bệnh, người thân của vãn bối...” nói chưa xong, ông già đứng bên cạnh vội lên tiếng: “Sư phụ, sao người lại lo lắng đến thế?” Phùng Anh vội vàng nói: “Lữ tỷ tỷ đã kêu vãn bối đến đây. Tỷ ấy bảo vãn bối thăm hỏi người cho tổ phụ của tỷ ấy”. Diệp Thọ Thường chợt thấy nàng nói mấy câu thừa thải, bất giác hỏi: “Tỷ tỷ nào của ngươi? Tổ phụ của ả là ai?” Phùng Anh nói: “Tỷ tỷ của vãn bối là Lữ Tứ Nương, còn tổ phụ của tỷ ấy là Lữ Lưu Lương”. Diệp Thọ Thường cười ha hả, chợt mặt lộ vẻ không vui nói: “Cháu gái của Lữ Lưu Lương sao lại tầm thường thế? Lẽ nào không biết người làm nghề y gặp bệnh lạ, trừ phi vạn bất đắc dĩ chắc chắn sẽ chữa trị, cần gì phải lôi cả tổ phụ ra?” Phùng Anh mừng rỡ nói: “Vâng vâng!” không ngờ Diệp Thọ Thường trợn mắt, nói: “Đáng tiếc ta không thể đi!”

Phùng Anh vội kêu: “Người chẳng phải nếu không vạn bất đắc dĩ mới không đi hay sao?” Diệp Thọ Thường nói: “Ta chính là đang vạn bất đắc dĩ đây!” Phùng Anh lo đến nỗi ứa nước mắt: “Y chỉ còn có ba ngày rưỡi nửa, nếu người không cứu, chẳng ai có thể cứu y”. Diệp Thọ Thường hơi ngạc nhiên, cười khổ nói: “Y làm sao biết ngày chết?” Phùng Anh trả lời: “Không phải là y có thể tự biết mà người ta buộc y biết”. Diệp Thọ Thường càng lấy làm lạ hơn, nói: “Có chuyện này nữa ư, ta chưa từng nghe, người ép y chết là ai?” Phùng Anh nói: “Là đương kim Hoàng đế”. Diệp Thọ Thường trả lời: “Ồ, thế thì ta phải chữa trị”. “Vậy tiểu nữ sẽ cõng người đi, đến khi trời sáng chúng ta lại sẽ thuê xe ngựa”. Diệp Thọ Thường lại lắc đầu: “Không, ta không thể đi! Nhưng ngươi cứ kể chịu trứng cho ta nghe thử”. Ông già đứng bên cạnh lại bảo: “Sư phụ, sáu mươi năm qua người ngày nào cũng hành y, hôm nay đừng lo lắng nữa”. Ông già nổi giận nói: “Nói càn, ta đã nghe thấy bệnh lạ, nếu không tìm cách chữa trị, có chết cũng không yên lòng”. Ông già ấy chỉ đành cười khổ nói: “Thôi được, đệ tử sẽ ghi lại y án cho ngài”.

Phùng Anh kể lại việc Đường Hiểu Lan bị Ung Chính lừa uống rượu độc và những triệu chứng gần đây. Diệp Thọ Thường nói: “Có rượu độc như thế sao? Y án xưa nay đều không ghi. Đấy là rượu độc gì?” rồi lại nhắm mắt suy nghĩ một chốc, tựa như không nghĩ ra, ông ta mở mắt thở dài nói: “Đáng tiếc ta không thể đến xem tận nơi”. Phùng Anh lo lắng, run giọng nói: “Vậy có còn cách nào không?” Diệp Thọ Thường nói: “Đừng lo, để ta suy nghĩ tiếp”. Rồi nhắm mắt tịnh tọa, chẳng hề nhúc nhích. Phùng Anh và ông già đứng bên cạnh cũng rất lo lắng, tiếng gà gáy vang lên từng hồi, ông ta vẫn ngồi suốt một canh giờ, mới ho một tiếng, mở mắt ra nói: “Dương lão đệ, ngươi hãy bốc thuốc cho y. Hãy dùng lục hợp ninh thần hoàn nghiền nát phối hợp với bảy vị thuốc khác. Dùng lá ngô đồng mùa thu và một đôi dế trống mái làm chất dẫn”. Ông già đứng bên cạnh là đệ tử của ông ta, trong nhà có rất nhiều loại thuốc quý, bởi vậy lập tức chuẩn bị. Diệp Thọ Thường nói: “Thuốc này chỉ có thể dùng thử một lần”. Rồi cầm bút viết một bài thuốc, nói tiếp: “Uống xem thuốc vừa rồi, nếu thấy có hiệu quả, lại uống thêm ba lần theo bài thuốc này. Đây chỉ là loại thuốc giúp an thần ngủ ngon, rất dễ tìm”.

Phùng Anh cả mừng, nhận lấy gói thuốc và bài thuốc, đang định cáo từ, Diệp Thọ Thường chợt nói: “Này, ngươi không trả tiền chữa bệnh sao?” Phùng Anh không ngờ ông ta lại nói thế, đỏ mặt trả lời: “Trên người tiểu nữ không mang theo tiền, tiểu nữ... tiểu nữ đưa cho người xâu chân trâu này vậy”. Diệp Thọ Thường nói: “Ta đã lớn tuổi, còn cần những thứ đó làm gì? Ngươi hãy làm cho ta một việc, coi như là trả tiền thuốc”. Phùng Anh nói: “Xin công công cứ căn dặn”. Diệp Thọ Thường nói: “Y thuật của ta là do Phó Thanh Chủ chỉ điểm, mấy mươi năm qua, coi như ta không phụ lòng kỳ vọng của người, đã trị được không ít người bệnh, tích lũy được không ít y án, đáng tiếc người không xem qua được. Hỡi ơi!” ông già đứng bên cạnh nói: “Sư phụ đừng đau lòng, tổ sư biết chúng ta có thể kế thừa y bát của người, nếu có linh thiêng chắc chắn cũng thấy an ủi”.

Diệp Thọ Thường chợt cười lạnh nói: “Cái gì, ngươi dám nói chúng ta có thể kế thừa y bát của tổ sư?” ông già đứng bên cạnh lo lắng nói: “Đệ tử ngu muội, y đạo còn thấp kém, thua xa các bậc tiền bối. Nhưng sư phụ dốc hết cả đời nghiên cứu y đạo, coi như cũng có thể sánh được với Phó sư tổ năm xưa”. Diệp Thọ Thường lắc đầu nói: “Còn kém lắm! Ta vẫn còn nhiều điều chưa biết, cũng như căn bệnh lúc nãy. Mỗi khi ta nghĩ không thông, hận không thể tìm sư tổ để hỏi. Song, ta tự tin y án của ta có thể hơn hẳn người khác”. Ông ta ngập ngừng rồi nói: “Ngươi có biết võ công và y thuật của Phó Thanh Chủ truyền cho ai không?” Phùng Anh nói: “Nghe nói là đồ tôn của ông ta tên Chung Vạn Đường, Chung Vạn Đường lại truyền võ công cho Niên Canh Nghiêu, nhưng không biết có truyền y thuật cho y hay không”. Diệp Thọ Thường thở dài: “Không có!” rồi ngập ngừng nói: “Dịch Lan Châu có thể thay phái Vô Cực tìm truyền nhân y bát”. Phùng Anh nói: “Vãn bối cũng nghe sư phụ nói đến điều này”.

Phùng Anh rất lấy làm lạ, Diệp Thọ Thường bảo có chuyện muốn nhờ nàng, tại sao lại cứ nhắc đến những chuyện xưa. Ông ta lại thở dài, trầm giọng nói: “Phó sư tổ có một quyển y thư gọi là Kim châm độ kiếp. Sau này nếu sư phụ của ngươi thay phái Vô Cực lập truyền nhân, có lẽ có người đã lấy được cuốn di thư này, nếu hành vi thuộc chính phái, ngươi hãy dắt y đến đây, bảo y kế thừa y án của ta. Phó tôn sư năm xưa bôn ba vì việc nước, y án không còn nhiều. Được di thư của ông ta, lại xem y án của ta mới có thể phát dương quang đại y học. Đời ta đã dứt, mong có người hơn được người trước. Chuyện này rất quan trọng, ngươi có biết không?” Phùng Anh khom người nói: “Thưa biết!” Diệp Thọ Thường lại nói: “Vì ngươi là hiệp nữ trong chốn võ lâm, cho nên ta mới nhờ ngươi làm việc này”.

Phùng Anh hơi ngạc nhiên, nói: “Vãn bối nhất định sẽ làm được”. Diệp Thọ Thường đột nhiên nhắm mắt ngồi yên, từ từ gục đầu xuống. Ông già đứng bên cạnh bước tới bắt mạch, chợt quỳ xuống đất, cung kính dập đầu ba cái rõ to, nói: “Đệ tử nhất định kế thừa di chiếu của tiên sư. Đệ tử sẽ bảo quản y án của người, đợi người tài đến đến lấy, người hãy yên tâm mà ra đi!”

Phùng Anh ngạc nhiên nói: “Diệp công công thế nào rồi?” ông già nói: “Người đã chết”. Phùng Anh rơi nước mắt, nói: “Có phải tôi đã khiến lao tâm quá độ không?” ông già đáp: “Không liên quan đến cô nương. Tiên sư tinh thông Thái tố kinh, người đã sớm đoán được ngày ra đi của mình. Cho nên đã tranh thủ truyền tâm pháp cho tôi. Song phải khi chết mà còn có thể trị bệnh giúp người thân của cô nương thật là điều không ngờ”. Phùng Anh cảm kích vô cùng, cũng quỳ xuống dập đầu ba cái rõ to.
Ông già đưa Phùng Anh ra khỏi cửa, trịnh trọng nói: “Cô nương đừng đánh mất đơn thuốc này. Mong người thân của cô nương có thể khỏi bệnh”. Phùng Anh bái tạ, thấy sắc trời đã sáng nên vội vàng cáo từ. Lại nói Quảng Liên bị Lữ Tứ Nương và Phùng Anh đuổi khỏi nhà họ Trần, trong lòng rất bực tức, vài tên đầu mục nói: “Ả nha đầu ra tay thật lợi hại, chúng ta mời Trại chủ đến, không thể buông tha cho ả”. Quảng Liên trầm ngâm không nói, chợt nghĩ bụng: “Khi ả nha đầu đụng độ với mình ở ngoài cánh đồng, ra tay còn độc địa hơn, chẳng thèm lên tiếng đã dùng phi đao đả thương ba người. Sau đó gặp ở nhà họ Lục, ra tay tuy lợi hại, nhưng chỉ chặt gãy binh khí, đánh một người bị thương nhẹ, so với lúc đầu hình như đã nương tay, không biết là vì nguyên cớ gì”.

Bọn Trương Thiên Trì đợi ông ta ở một hòn núi gần Bát Đạt lĩnh, Quảng Liên không mời được danh y, lại có một người bị thương nên rất hổ thẹn, vừa đi vừa nghĩ cách để Trương Thiên Trì không đi trả thù. Trương Thiên Trì võ công còn cao hơn cả Quảng Liên, nhưng Quảng Liên cẩn thận hơn y. Quảng Liên biết Trương Thiên Trì rất nóng tính, lần này có đến bốn thủ hạ bị thương, chắc chắn sẽ tìm ả nha đầu liều mạng. Nhưng ả này bản lĩnh rất cao, vả lại thiếu nữ đi cùng ả võ công còn thần kỳ hơn. Quảng Liên nghĩ bụng: “Giờ đây đã đuối thế, sao có thể chuốc thêm phiền toái? Mình nhận ơn lớn của Trương Linh Phong, sao để con trai của ông ta đi nạp mạng được”. Trên lòng thầm tính nhưng vẫn chưa nghĩ ra cách nào ngăn cản y. Đến chiều, Bát Đạt lĩnh đã ở trước mặt, đang đi, ở góc núi chợt một người nhảy ra quát: “Các ngươi là ai, đứng lại cho ta!”

Quảng Liên nhìn lại, người ấy mũi ưng miệng sư tử, mặt mũi nanh ác, té ra đó chính là Long Mộc Công. Long Mộc Công là tù trưởng tộc Lê, tướng mạo kỳ dị, Quảng Liên vừa nhìn đã nổi giận, ngẩng mặt cười ha hả: “Đi mòn gót sắt tìm chẳng có, nay thấy được chẳng mất công phu! Long thị vệ, thật may mắn!”

Té ra sau khi Hầu Tam Biến dắt Phùng Anh chạy ra khỏi cung, bọn người trong cung sợ Hầu Tam Biến quen thuộc đường lối lại sẽ dẫn kẻ địch vào, vì thế một mặt chỉnh đốn thị vệ, mặt khác Cáp Bố Đà lại sai thị vệ tâm phúc đi khắp nơi tìm Hầu Tam Biến và Phùng Anh. Hải Vân hòa thượng và đồ đệ của lão là Long Mộc Công lục soát ở các huyện gần kinh đô. Hôm nay bọn chúng băng qua Bát Đạt lĩnh, Hải Vân hòa thượng lên cao nhìn xa, để Long Mộc Công tiếp ứng bên dưới.

Lúc đầu Long Mộc Công còn tưởng bọn Quảng Liên là hạng vô danh tiểu tốt trong hắc đạo, muốn tiện tay bắt sống để lập công nhỏ. Không ngờ Quảng Liên nói ra lai lịch của y, bất giác ngạc nhiên, y nhìn lại thì thấy ngờ ngợ quen, Quảng Liên quát: “Ngươi đã nhìn rõ chưa? Món nợ ở nhà Phùng Quảng Triều tại Nhữ Châu Hà Nam, ngươi có còn nhớ không?” Long Mộc Công trợn mắt, quát: “Hừ, ta tưởng là ai, té ra là lão thất phu lọt lưới nhà ngươi. Lão tử bình sinh giết người không đếm xuể, làm sao nhớ được! Ngươi có tài cán gì mà báo thù cho Phùng Quảng Triều?” rồi rút kiếm ra tay.

Mười bảy năm trước, Quảng Liên bị Long Mộc Công đánh chạy chối chết, võ công của hai người hơn kém nhau rất xa. Long Mộc Công nào coi ông ta ra gì, vừa động thủ chân đã bước vào trung cung, lúc thì đâm kiếm. Nào ngờ trong vòng mười bảy năm sự việc thay đổi quá nhiều, Quảng Liên ngày nay đã khác lúc trước, cái tẩu thuốc đánh ra một chiêu Cử Hỏa Thiêu Thiên, lập tức gạt trường kiếm của Long Mộc Công ra ngoài. Long Mộc Công thất kinh, Quảng Liên gạt cái tẩu thuốc xuống, điểm vào huyệt Thiên Khu của y, Long Mộc Công buộc phải thối lui ba bước, cao giọng kêu: “Sư phụ đến đây!”

Quảng Liên cười lớn: “Sao không bảo sư nương ra cứu mạng?” rồi vội vàng đuổi theo, cái tẩu thuốc đâm vào hậu tâm của y. Long Mộc Công trở tay đánh lại một kiếm, người xoay nửa vòng rồi đâm xéo tới. Quảng Liên đè tẩu thuốc xuống cây trường kiếm của Long Mộc Công, quát: “Đi!” rồi vùng tay một cái, Long Mộc Công bị đẩy ra hơn một trượng. Long Mộc Công đúng là bản lĩnh cũng không kém, y không hề ngã xuống đất, lại kêu lớn: “Sư phụ!”

Quảng Liên đổi chiêu đánh tiếp, Long Mộc Công tránh mấy chiêu chỉ có thể chống đỡ chứ chẳng thể trả đòn. Quảng Liên càng đánh càng dữ, khoảng được năm mươi chiêu, người bên cạnh kêu: “Phó trại chủ, có một hòa thượng đến!” Quảng Liên nói: “Hay lắm, để cho sư phụ của y nạp mạng thay!” Long Mộc Công phấn chấn tinh thần, gắng gượng đánh một kiếm, đâm ngược vào be sườn của Quảng Liên. Quảng Liên đã sớm đoán được y sẽ đánh chiêu này nên rút tẩu thuốc trở lại, Long Mộc Công đánh hụt, trọng tâm không vững, chồm người về phía trước, Quảng Liên cười lớn, cái tẩu thuốc sắp đánh ra một chiêu Đảo Đả Kim Chung kêu bốp một tiếng, xương cổ của Long Mộc Công vỡ nát, ông ta cười lớn nói: “Ông tân gia, hôm nay tôi đã trả được thù cho ông!”

Chỉ trong chớp mắt, Hải Vân hòa thượng đã đuổi tới nhanh như bay, lớn giọng quát: “Ai dám đả thương đồ đệ của ta?” bốn thủ hạ của Quảng Liên nào biết lợi hại, vội vàng xông lên. Quảng Liên vừa giải quyết xong Long Mộc Công, lập tức đã nghe tiếng kêu thảm vang lên, chỉ thấy hòa thượng vung kiếm lên, lập tức tia máu tuôn ra, chỉ trong chớp mắt bốn đại hán đã chết dưới kiếm của y. Quảng Liên cả giận, điểm cái tẩu thuốc về phía trước, Hải Vân hòa thượng cũng tiến về phía trước, kiếm quang mở rộng, quét vào cổ tay của ông ta, Quảng Liên gạt ra ngoài, thân pháp của Hải Vân hòa thượng di chuyển rất nhanh, kiếm chiêu lại như điện, chợt chém ngang xuống, Quảng Liên rụt vai, đấm ngược vào huyệt Bối Lương của y, Hải Vân hòa thượng lách người, kiếm thế hơi lệch qua, vù một tiếng, kiếm phong lướt qua vai, Quảng Liên thầm kêu: “Nguy hiểm!” rồi nhảy vọt ba bước, sau đó xoay lại tiếp tục tấn công.

Quảng Liên tuy khổ luyện mười tám năm, nhưng so với Hải Vân hòa thượng vẫn còn kém một bậc. May mà võ công của phái Thiên Đài có nhiều chiêu số kỳ lạ, cái tẩu thuốc có thể sử dụng như ngũ hành kiếm, cũng có thể dùng để điểm huyệt, bởi vậy ông ta mới có thể đánh được hơn trăm chiêu.

Lúc này trời vừa sụp tối, màn đêm đã bao trùm, tiếng chim kêu táo tác, Quảng Liên không cầm cự nổi nữa, đã cảm thấy lạnh mình. Ông ta liều mạng chợt phản kích. Hải Vân hòa thượng đang xử đến chiêu Tiên Nhân Hoán Ảnh, chiêu này gồm hai thức, một hư một thực, hư đâm vào mặt, thực đâm vào be sườn, y tưởng rằng Quảng Liên không gạt trên cũng chặn dưới, lúc đó hư thực sẽ đổi cho nhau, Quảng Liên chẳng thể thoát nổi. Nào ngờ Quảng Liên liều mạng, đột nhiên nhảy bổ đến đánh vào trung bàn của y, chỉ nghe soạt một tiếng, xương ngực của Quảng Liên đã bị mũi kiếm của y chặt gãy, trước ngực Hải Vân hòa thượng đã bị cái tẩu thuốc của ông ta đánh một cú rất mạnh!

Hải Vân hòa thượng có nội công thâm hậu, trúng cú đánh này mà vẫn còn cầm cự được, nhưng ngực đã đau như dao cắt, bất giác cả giận, co giò đá một cước khiến Quảng Liên lộn nhào, Quảng Liên vốn đã bị thương, lại trúng cú đá này nên ngất ngay tại chỗ.

Hải Vân hòa thượng cười gằn, đưa tay ôm ngực, đang định đến cắt thủ cấp của kẻ địch, chợt nghe trên núi có người quát: “Lão giặc trọc Hải Vân, chạy đi đâu cho thoát?” Hải Vân vừa nghe đã sợ đến nỗi hồn bay phách tán, thầm nhủ: “Tên này chắc không sống nổi, mình phải chạy thôi”. Rồi y cố nén cơn đau, vội tìm đường bỏ chạy.

Người vừa mới lên tiếng chính là Lý Trị.

Từ lúc Lý Trị cùng Phùng Lâm chạy ra khỏi nhà họ Niên, chàng đã biết nàng không phải là Phùng Anh, nhưng vì gần gũi đã lâu, tình yêu đã sớm nảy nở, tuy biết nàng không phải Phùng Anh nhưng cũng không nỡ xa rời.

Khi Phùng Lâm chạy ra khỏi nhà họ Niên chính là lúc Phùng Anh chạy vào, tuy chỉ nhìn lướt qua nhưng đã khó quên! Lúc này Phùng Lâm mới biết trên đời còn có một người rất giống mình! Nhưng nàng vẫn chưa biết người đó chính là tỷ tỷ của mình!

Phùng Lâm đã quên hết chuyện lúc nhỏ. Lý Trị ba lần bốn lượt gợi lại cho nàng mà vẫn chẳng ích gì. Nhưng Phùng Lâm lại nhớ chuyện từ sau khi đến phủ Tứ bối lạc. Lý Trị tuy không biết Phùng Anh là tỷ tỷ của nàng nhưng lúc nhỏ đã nghe mẹ nói rằng, Phùng Anh được Dịch Lan Châu cứu ra từ phủ Tứ bối lạc, bất giác lại nghĩ: “Trên đời sao có chuyện vừa khéo đến thế? Hai người có tướng mạo giống nhau, vả lại đã từng sống ở phủ Tứ bối lạc?”

Lý Trị vốn là người chất phác, trọng tình cảm. Chàng Phùng Anh là đôi thanh mai trúc mã, nhưng lúc nhỏ lại không biết chuyện nam nữ, trong lòng chỉ coi đối phương là bằng hữu tốt nhất. Lúc này Lý Trị tuy đã yêu Phùng Lâm nhưng rốt cuộc vẫn không quên Phùng Anh. Chàng ta thầm nhủ: “Anh muội đã xuống núi, dẫu thế nào mình cũng phải tìm cho ra nàng”. Phùng Lâm cũng nghĩ như thế. Nhưng Phùng Lâm là người Hoàng đế muốn bắt, cả hai người đều không dám lộ mặt ở đường lớn, chỉ chọn đi ở những đường vắng vẻ, hơn một năm mới đến huyện Hòai Nhu ở ngoại ô Bắc Kinh.

Trong một năm này, hễ rảnh là Lý Trị lại xem y thư của Phó Thanh Chủ, đọc nhuyễn như cháo chảy, chàng lại nghiên cứu căn bệnh ly hồn. Chỉ là khi chàng chưa nắm rõ, không dám thử nghiệm ở Phùng Lâm.Trong một năm này, Phùng Lâm cũng nghiên cứu kỹ càng quyền kinh kiếm phổ của Phó Thanh Chủ, Phùng Lâm tinh thông nhiều loại võ công, nay có được chân truyền của nội gia, võ công càng cao hơn ngày trước!

Hôm nay họ đang đi ở cánh đồng dưới chân Bát Đạt lĩnh. Chợt bọn người Quảng Liên đời di thư. Phùng Lâm ra tay đả thương ba người, cùng Lý Trị chạy lên núi. Lý Trị chợt nghĩ ra một chuyện, nói: “Không xong!”

Phùng Lâm cười nói: “Ca ca ngốc, đã đánh thắng trận, còn có gì không xong?” Lý Trị chau mày nói: “Ta đã nhớ lại. Vốn là muội không phải truyền nhân của phái Vô Cực”. Phùng Lâm nói: “Muội vốn chỉ lừa huynh mà thôi. Lẽ ra huynh không nên biết điều này, tại sao giờ mới nhớ ra”. Lý Trị cười khổ nói: “Ta chỉ mãi đọc di thư nên quên bẵng hết mọi chuyện. Y thư của Phó Thanh Chủ ngoại trừ truyền nhân y bát của phái Vô Cực, người khác không được lấy”. Phùng Lâm chưng hửng, cười nói: “Chả lẽ phải trả lại cho Niên Canh Nghiêu sao?” “Đương nhiên không thể, nhưng chúng ta cũng không nên chiếm làm của riêng” “Dù sao cũng là vật vô chủ, chúng ta giữ lấy có hề gì?” “Nhưng người quân tử chẳng làm như thế”. Phùng Lâm giận dỗi nói: “Huynh đã đọc thuộc y thư, muội cũng đã tập quyền kinh kiếm quyết, làm sao lấy ra bây giờ?” Lý Trị rất khổ não, nói: “Sớm biết như thế, huynh đã không nên đọc”. “Huynh chẳng phải nói Dịch bá mẫu của huynh có thể lập truyền nhân cho phái Vô Cực sao? Bảo người lập muội là được rồi”. Lý Trị nói: “Muội và phái Vô Cực có quan hệ gì, muội đâu phải là đệ tử của Chung Vạn Đường”. Phùng Lâm chợt nói: “Lần đầu tiên muội nghe tên Chung Vạn Đường đã cảm thấy rất quen, không biết là vì nguyên cớ gì? Có lẽ không chừng muội cũng có liên quan đến phái Vô Cực”. Lý Trị cười nói: “Muội lại gạt huynh!”

Phùng Lâm tuy thắc mắc, Lý Trị trong lòng cứ không yên, sau đó Phùng Lâm chẳng hề để ý đến chàng nữa. Đến chiều, hai người đã tới Bát Đạt lĩnh, chợt nghe trong rừng vọng ra tiếng chuông chùa. Lý Trị nói: “Chúng ta đến đấy ở nhờ một đêm”. Hai người tìm đến một ngôi chùa hoang vắng, tiếng chuông vọng ra từ ngôi chùa này. Lý Trị đến gõ cửa, tiếng đọc kinh bên trong ngừng lại, ở nơi cửa có một ni cô trung niên tay cầm tràng hạt nói: “Dưới chân núi không xa có nhà nông, tôi chỉ là một ni cô, không tiện cho khách ở nhờ”.

Phùng Lâm ngẩng đầu nhìn, chợt thấy ni cô này tựa như rất quen, ni cô cũng thấy Phùng Lâm, chợt đổi sắc mặt, người hơi rung nói: “Ồ, té ra cũng có một nữ cư sĩ, xin mời vào, mời vào!”

Lý Trị không biết tại sao bà ta lại thay đổi nhanh như thế, chỉ thấy Phùng Lâm đã theo bà ta vào trong liền nói tiếng đáp tạ. Ngôi chùa cổ tuy hoang vắng nhưng bên trong rất sạch sẽ, ni cô chợt thở phào, quay đầu lại hỏi: “Xin hai vị cho biết tên?” Lý Trị và Phùng Lâm đều dùng tên giả trên đường, ni cô vừa hỏi, Lý Trị đã nói tên giả của hai người ra, trên mặt ni cô lộ vẻ thất vọng.

Lý Trị rất lấy làm lạ, Phùng Lâm thì thấy ngẩn ngơ, tựa như cảm thấy có một việc gì đó liên quan rất mật thiết với mình. Ni cô trung niên mời hai người ngồi rồi nói: “Xin hỏi nữ cư sĩ năm nay bao nhiêu tuổi?” Phùng Lâm nói: “Mười tám tuổi!” Lý Trị thầm nhủ: “Ni cô này thật vô lễ, sao vừa gặp mặt đã hỏi tuổi tác của người ta?”

Thật kỳ lạ, Phùng Lâm vốn rất nghịch ngợm, thế mà lại tỏ ra ngoan ngoãn trước ni cô này, bà ta hỏi gì thì nàng đáp nấy, chẳng hề giận dỗi, cũng chẳng hề cười đùa. Lý Trị sợ nàng để lộ thân phận, chốc chốc lại cắt lời họ. Một hồi sau, ni cô vẫn ngồi gợi chuyện với Phùng Lâm. Lý Trị hỏi thẳng: “Chúng ta đã đi một ngày, trong bụng đã đói, không biết có thể cho một ít cơm chay không?” ni cô chợt nhớ ra, nói: “Xin lỗi cư sĩ, tôi đã chậm trễ”. Rồi bước vào nhà bếp.

Lý Trị vội vàng nói bên tai Phùng Lâm: “Muội không thể nói bừa được, hãy nhớ lấy, đừng nói chuyện muội đã từng ở phủ Tứ bối lạc. Chuyện này rất bí mật, đâu biết ni cô này là người thế nào?” Phùng Lâm lại tỏ vẻ khó chịu, nói: “Ni cô này rất thân thiện lại hiền lành, tựa như người thân của muội vậy”. Nhưng thấy Lý Trị không vui, chỉ đành cười bảo: “Huynh hãy yên tâm, muội sẽ không nói bừa”. Ni cô ấy lại bước ra, tay cầm nửa bát cơm chay, nói: “Thật không may, chỉ còn thừa một ít. Cơm và thức ăn đều đã hết, lúc này trời vẫn chưa tối, cư sĩ có thể xuống núi xin cho tôi một ít gạo không?” Lý Trị không tiện từ chối, Phùng Lâm nói: “Huynh hãy mau đi đi, huynh chẳng phải hòa thượng, không cần hóa duyên, dùng tiền là mua được”. Lý Trị nói: “Chi bằng chúng ta xuống núi ở trọ để khỏi quấy rầy sư thái”. Ni cô nói: “Không sao, tôi thích hai người nghỉ đêm tại đây”. Phùng Lâm nói: “Đúng thế, muội cũng thích ở đây. Huynh đi mau!”

Lý Trị hết cách, chỉ đành bưng cái bát ra cửa, khi chạy xuống núi trời đã tối. Lý Trị thầm trách: “Trong thiên hạ sao lại có một ni cô chẳng hiểu lý lẽ như thế”. Chàng không biết xin gạo ở đâu, chợt nghe bên dưới có tiếng quát tháo, té ra đó là tiếng của Hải Vân hòa thượng. Lý Trị quát một tiếng lập tức phóng xuống.

Xuống đến chân núi, Hải Vân hòa thượng đã bỏ chạy, chỉ thấy hai người nằm la liệt, chỉ có một người vẫn còn cử động được. Lý Trị vội vàng đến lật người ấy lại, người ấy mặt đầy máu, mở to mắt kêu: “Té ra là ngươi! Ngươi cứ đâm một đao để ta chết cho rồi!”

Lý Trị ngạc nhiên, nhưng chợt nhớ lại đây là người mới đòi sách của mình, trong lòng lấy làm áy náy: “Tôi với ông chẳng thù chẳng oán, giết ông làm gì?” Quảng Liên nói: “Ngươi không giết ta cũng chẳng sống nổi, chi bằng cứ cho ta một nhát đao, ta sẽ biết ơn ngươi”. Lý Trị nhẹ nhàng bắt mạch cho ông ta rồi nói: “Đừng lo, tôi có thể trị cho ông”. Quảng Liên tựa như đã đỡ hơn, lại nói: “Sư đệ của ta muốn cướp sách của các người, các người đừng đối chọi với y, hãy tránh mặt y!”

Lý Trị đang lấy làm lo lắng vì chuyện di thư của Phó Thanh Chủ, hỏi: “Sư đệ của ông là ai?” Quảng Liên nói: “Là Chưởng môn Trương Thiên Trì của phái Thiên Đài”. Vì ông ta nói quá nhiều nên đã đuối sức, hơi dần dần yếu đi. Lý Trị lại xem qua vết thương của ông ta, thấy ông ta bị thương tuy nặng nhưng mình vẫn còn cứu nổi, liền nói: “Ông không cần nói nhiều, tôi sẽ cõng ông đến ngôi chùa gần đây để trị cho ông. Lẽ ra chúng tôi không nên lấy quyển sách ấy, chúng ta hãy hòa giải với nhau”. Quảng Liên hít sâu một hơi, nói: “Ngươi không cần an ủi ta, xương ngực ta đã gãy, lại bị nội thương, dù có danh y cũng khó trị. Ngươi lấy đức báo oán đúng là một trang quân tử. Trước khi chết ta nhờ ngươi hai việc”. Lý Trị nói: “Ông không chết được đâu!” Quảng Liên vẫn một mực nói: “Ngươi không hứa, ta chết không nhắm mắt”. Lý Trị nghe thế liền bảo: “Ông cứ nói đi”. “Sau khi ta chết, ngươi hãy đem di thể của ta trao cho Trương Thiên Trì. Hôm nay y không thấy ta trở về, ngày mai chắc chắn sẽ đi ngang qua đây, ngươi gặp y, bảo y mau chóng giải tán mọi người rồi ẩn cư đi thôi”. “Nhưng ông vừa mới bảo tôi phải tránh mặt y kia mà”. “Đúng thế, ta sẽ để lại thư”. Rồi cắn ngón tay, xé toạc áo viết một bức huyết thư, viết xong sức đã tận, chỉ nói được một câu: “Ta còn có hai đứa cháu ngoại...” đến đây thì bất tỉnh nhân sự.

Lý Trị vội vàng bắt mạch cho ông ta, chỉ thấy mạch tuy yếu nhưng vẫn chưa đứt, liền bẻ gai tùng đâm vào huyệt để huyết khí lưu thông, lại lấy thuốc kim sang mang theo bôi vào vết thương cầm máu, thầm nhủ: “Giờ đây ông ta bị thương quá nặng, không thể cử động. Bị nội thương tốt nhất là phải tịnh dưỡng”. Thế rồi ngồi xuống xoa bóp cho Quảng Liên. Một hồi sau, Lý Trị thở phào, cảm thấy đã đói, may mà bọn Quảng Liên có mang theo lương khô. Lý Trị lấy lương khô nhai lót dạ rồi dựa vào gốc cây, bất giác cũng ngủ thiếp đi.

Không biết bao lâu, Lý Trị đột nhiên bị người ta lay tỉnh, chàng mở mắt ra nhìn, chỉ nghe Phùng Lâm trách cứ: “Sao huynh lại ngủ cùng người chết thế này?” Lý Trị nhảy bật dậy, nói: “Bây giờ là lúc nào?” “Là lúc nào nữa? Trời đã sắp sáng! Muội tưởng huynh đã xảy ra chuyện gì. Vị sư thái ấy cũng không yên lòng, đòi đi theo muội tìm huynh, nhưng muội thấy bà ta không biết võ công, cho nên một mình xuống núi tìm”. “Sau khi huynh đi, bà ta lại nói gì?” “Bà ta hỏi chuyện lúc nhỏ của muội, muội chẳng nhớ được, có thể nói được gì? Nhưng muội bảo biết võ công, bà rất vui mừng”. “Sau muội lại cho bà ta biết những điều này?” Phùng Lâm dẫu môi nói: “Điều này cũng không được nói điều kia cũng không được nói, thật là vô lý, ni cô ấy đâu phải người xấu”.

Lý Trị không cãi với nàng, ngồi dậy bắt mạch cho Quảng Liên, thấy mạch tượng của ông ta rất tốt, chàng chần chừ một hồi rồi nói với Phùng Lâm: “Muội hãy ở đây làm cho huynh một chuyện”. Phùng Lâm hỏi: “Đây là ai thế?” “Đây là người chặn đường chúng ta lúc sáng”. “Vậy huynh nhọc lòng chữa trị cho ông ta làm gì?” “Từ từ huynh sẽ nói cho muội nghe. Bây giờ muội hãy nghe lời huynh”. Phùng Lâm giận dỗi nói: “Được rồi, nói đi!” “Muội không được làm càn, phải làm theo lời huynh dặn!” “Được rồi, muội sẽ nghe lời huynh”. “Huynh muốn muội ở đây đợi một tên cường đạo”. Rồi trao bức huyết thư cho Phùng Lâm, nói: “Cường đạo tên Trương Thiên Trì, là sư đệ của người này, muội gặp y, dắt y lên chùa cho huynh. Còn nữa, nếu y động thủ với muội, muội không được đả thương y”. “Được thôi, muội sẽ giúp huynh”. Lý Trị mỉm cười, cõng Quảng Liên lên núi. Lúc này trời đã sáng tinh mơ.

Lại nói Phùng Anh lấy được gói thuốc, trên đường hết sức lo lắng, cứ cầm chắc trong tay sợ đánh rơi. Khi trời sáng, nàng đi ngang qua Bát Đạt lĩnh, phía trước chợt có mười thớt ngựa xông ra, có người kêu: “Chính là ả nha đầu này đả thương huynh đệ chúng ta!”

Tốp người này chính là bọn Trương Thiên Trì. Trương Thiên Trì không thấy Quảng Liên trở về, biết có chuyện xảy ra, ba người bị thương lại đã chết vì chất độc phát tác, chỉ đành đỡ những người bị thương lên lưng ngựa đi tìm kiếm. Bọn họ vừa ra khỏi cửa núi thì gặp Phùng Anh. Trương Thiên Trì nghe nói nàng là hung thủ, bất giác lửa giận bốc lên, thế là rút đôi Phán Quan bút xông tới ra đòn sát thủ!

Lần này khiến Phùng Anh bất ngờ, nàng không kịp lên tiếng kẻ địch đã lao tới phía trước, Phùng Anh lia thanh kiếm, Trương Thiên Trì võ công rất cao cường, hai cây bút đâm xéo ra, bút trái đâm vào huyệt Khúc Trì của nàng, bút phải đâm vào huyệt Huyền Cơ, Phùng Anh buộc phải tiếp chiêu. Trong lúc vội vàng nàng quên bẵng mình đang cầm thuốc trong tay trái, tay phải cầm đoản kiếm hất lên, chặn binh khí kẻ địch, tay trái vươn ra điểm vào huyệt đạo của kẻ địch. Ngay lúc này Phùng Anh kêu lên một tiếng kinh hãi, gói thuốc đã rơi xuống đất, nàng vội vàng nhặt lên, Trương Thiên Trì đang lo lắng, chợt nghe Phùng Anh kêu kinh hoảng, tưởng rằng nàng đã trúng ám khí của đồng bọn nên lập tức vung bút điểm vào sau lưng Phùng Anh.

Phùng Anh trở tay đánh ra một kiếm đâm vào vai phải của y, vội vàng kêu: “Ta không thù không oán với các ngươi, các ngươi để ta lấy thuốc, ta sẽ tha cho các ngươi!” Trương Thiên Trì nói: “Hừ, ngươi còn muốn chạy?” rồi hai cây bút điểm nhanh tới khiến Phùng Anh chẳng thể thoát thân. Thủ hạ của y thấy Phùng Anh kêu lên, lập tức có người nhặt thuốc, cười nói: “Đây là thuốc gì quý báu thế?” Vừa nói vừa xé bao thuốc, lại bảo: “Hừ, cả lá cây và dế mà cũng lấy làm thuốc, chắc chắn đây là một tên nữ yêu!” rồi tiện tay ném xuống dòng suối, bị nước suối cuốn mất dạng!

Phùng Anh đau đớn vô cùng, Đường Hiểu Lan chỉ còn sống không quá ba ngày, thuốc chẳng còn nữa, Diệp Thọ Thường đã chết, dù ông ta còn sống cũng hết cách, đúng là nàng đã rơi vào tâm trạng tuyệt vọng! Chỉ thấy trước mắt hoa lên, suýt nữa đã bị đôi bút của Trương Thiên Trì đâm trúng.

Phùng Anh đau đớn quá nổi điên lên, kêu: “Hôm nay ta không giết ngươi, thề không làm người!” kiếm pháp chợt thay đổi lợi hại hơn trước, võ công của Trương Thiên Trì tuy cao nhưng làm sao đỡ nổi Thiên Sơn kiếm pháp. Huống chi Phùng Anh đã liều mạng cho nên toàn đà đánh những đòn sát thủ. Năm mươi chiêu trôi qua, Trương Thiên Trì rơi vào nguy hiểm. Bè đảng của Trương Thiên Trì thấy kiếm quang bay bổng, khí lạnh tỏa ra xung quanh, chẳng phân biệt được bóng người nữa, chẳng dám bước lên giúp tay.

Trương Thiên Trì không ngờ rằng Phùng Anh lợi hại đến thế, bị nàng đánh đến luống cuống chân tay, cõi lòng lạnh lẽo, chợt nghe thuộc hạ kêu: “Lại có một ả yêu nữ. Trời ơi, ban ngày gặp ma, chạy mau, chạy mau!” Trương Thiên Trì phải dốc hết sức chống đỡ, chẳng dám nhìn ra ngoài, chỉ nghe một giọng nói trong trẻo vang lên: “Ngươi có phải là Trương Thiên Trì không?” Trương Thiên Trì nói: “Đúng thế! Nữ anh hùng nào đấy?”

Giọng nói ấy lại trả lời: “Đừng lo, ta giúp ngươi”. Người đến thì kiếm đến, một luồng thanh quang lướt đến trước mặt. Phùng Anh cả kinh, xoay mũi kiếm đâm xuống một nhát, xuyên vào xương tì bà của Trương Thiên Trì, rồi nàng rút kiếm chặn lại, bất giác ngẩn người, hai kiếm chạm nhau, cả hai người đồng thời quát lên: “Ngươi là ai?” Trương Thiên Trì đau đến tận tim phổi, tay phải rũ xuống chẳng giở lên nổi, y ngước mắt lên nhìn, chỉ thấy hai thiếu nữ diện mại y hệt nhau, hai kiếm giao nhau, hai bên đều sững sờ. Y sợ đến nỗi hồn bay phách tán, lạc giọng kêu: “Ma, đúng là gặp ma!”

Té ra người đến sau là Phùng Lâm, nàng không ngờ lúc này đã gặp lại người mà mình muốn tìm.

Chính là:

Đi rách giày sắt chẳng thấy đâu, gặp nhau cứ ngỡ là trong mộng.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 38: Phí hết tâm cơ danh y giải kỳ chứng Dốc hết tinh lực diệu dược chảy về đông

Lữ Tứ Nương cười nói: “Không cần căng thẳng, tỉ chỉ muốn muội cùng đi mời danh y mà thôi”. Phùng Anh ngạc nhiên hỏi: “Mời danh y? Có phải là danh y họ Diệp không? Chẳng phải ông ta đã đi xa rồi sao?” Lữ Tứ Nương nói: “Ông ta chỉ đến nhà Trần Khang ở huyện Hoài Nhu mà thôi”. “Huyện Hòai Nhu cách đây có xa không?”

“Cách đây khoảng hai trăm dặm, chúng ta có thể đi một ngày là tới nơi, hôm sau sẽ trở về”. Phùng Anh cả mừng, yên tâm ngủ một giấc, ăn xong cơm trưa thì cùng Lữ Tứ Nương lên đường.

Khi trời sụp tối họ đến Sương Bình, lúc này đã cách Hòai Nhu sáu mươi dặm. Họ dừng chân ở đây một đêm, hôm sau trời vừa tản sáng Lữ Tứ Nương và Phùng Anh đã thi triển khinh công chạy một mạch hơn ba mươi dặm, vào đến ranh giới huyện Hòai Nhu. Phùng Anh hít gió buổi sáng, người thấy thoải mái. Lữ Tứ Nương chỉ cánh đồng ở phía trước, nói: “Ở cuối cánh đồng kia có thôn Hoàng Trúc, nơi ông ta ẩn cư. Có lẽ đi thêm ba mươi dặm nữa”. Phùng Anh lo lắng nói: “Nghe nói danh y họ Diệp tánh tình rất quái dị, nếu ông ta không chịu chữa thì thế nào?” Lữ Tứ Nương trả lời: “Muội yên tâm, ông ta là bằng hữu của tổ phụ tỷ. Chúng ta cứ nói ra lai lịch, lẽ nào ông ta không thèm để ý đến”. Khi họ đang nói chuyện, chợt thấy phía trước có người rượt đuổi nhau, từ xa đã nghe tiếng quát tháo chém giết. Lữ Tứ Nương ngạc nhiên, chợt kêu lên: “Anh muội, xem kìa!”

Phùng Anh nhìn theo hướng chỉ của Lữ Tứ Nương, thấy trong đám người dưới chân núi có một thiếu nữ, tuy nàng nhìn không rõ nhưng bóng dáng rất quen thuộc. Phùng Anh giật mình, đứng sững sờ. Lữ Tứ Nương nói: “Muội nhìn xem nàng ta hình như rất giống muội đấy!” Phùng Anh nói: “Ồ, đó chắc chắn là tỷ muội song sinh của muội! Chúng ta mau đuổi theo!” té ra cánh đồng ở dưới chân núi cách họ đến hai mươi dặm, đám người chợt tản vào sơn cốc, Phùng Anh định thần thầm nhủ: “Cứu Đường thúc thúc rất quan trọng, không thể phân thân đuổi theo nàng thiếu nữ ấy”. Rồi nàng chỉ đành thở dài, lẩm bẩm: “Lại bỏ qua một cơ hội”. Lữ Tứ Nương an ủi: “Đã biết nàng xuất hiện ở đây, chúng ta cứ mời danh y trước chữa cho Hiểu Lan rồi sẽ đi tìm cũng không muộn”.

Hai người lại xuống núi, băng ngang qua cánh đồng, khi đến thôn Hoàng Trúc, quả nhiên vẫn chưa đến trưa. Họ dò hỏi nhà của Trần Khang, nơi danh y họ Diệp ở nhờ. Nhà họ Trần ở phía Tây của thôn Hoàng Trúc, phía sau nhà có một vạt rừng trúc, trông rất uông nhã. Hai người đến trước cửa, thấy cửa lớn mở hé, bên trong có tiếng người ồn ào.

Lữ Tứ Nương gõ cửa mấy lượt mà không có người bước ra, bên trong tựa như đang cãi nhau, có người nói: “Bọn ta có ý tốt mời mọc, ông có đi hay không?” có người nói: “Y không chịu thì cứ trói lại!” Lữ Tứ Nương nói: “Không xong, chắc chắn có người buộc ông ta phải chữa bệnh!” Phùng Anh nói: “Chúng ta vào đuổi bọn người này đi”. Bên ngoài lại có tiếng người vọng ra: “Bọn ta đã biết ngươi nấp ở đây!” có người bảo: “Ngươi nhẫn tâm để cho huynh đệ của ta tàn phế hay sao?” Phùng Anh lòng lo như lửa đốt, kêu: “Bọn hung đồ chớ có cưỡng ép người!” rồi rút phắt thanh đoản kiếm lao vào bên trong.

Trong khách sảnh có bốn người đang bao vây một ông già. Phùng Anh vừa tới nơi, bốn người này chợt buông ông già chạy ra. Trong bốn người có ba đại hán cao lớn. Có một người là ông già trông rất hiền từ, không giống như hạng hung đồ. Ba đại hán cao lớn đồng thanh quát: “Ngươi đã đả thương huynh đệ của bọn ta lại còn muốn đuổi tận giết tuyệt?” Phùng Anh ngạc nhiên, ba người ấy đã rút binh khí hè nhau xông lên. Ông già kêu: “Khoan đã, ngươi là người thế nào của Niên Canh Nghiêu?” ba đại hán rất hung hăng, Phùng Anh đang nổi nóng, làm sao có thể dừng lại được, chỉ nghe tiếng binh khí gãy rổn rảng, cây Đoạn Ngọc kiếm của Phùng Anh múa trái quét phải, chặt gãy toàn bộ binh khí của ba người ấy, một người trong số đó còn bị đâm trúng xương sườn. Ông già chợt nổi giận: “Nha đầu, ngươi ra tay thật ác độc!” rồi cầm tẩu thuốc bổ xuống đầu Phùng Anh, đồng thời điểm vào huyệt Kiên Tỉnh của nàng, Phùng Anh thầm nhủ: “Ông già này trông diện mạo hiền từ thế mà cùng một giuộc với bọn này!” rồi nàng xoay thanh kiếm, lập tức đâm vào huyệt Hồn Môn của ông ta.

Ông già xoay người lướt bước, tiếp tục vung cái tẩu thuốc đánh ra chiêu Vân Ma Tam Vũ, đây là một chiêu gồm ba thức, công lực phi phàm. Phùng Anh không dám khinh địch, thi triển tuyệt chiêu Lưu Tinh Phi Xử và Dã Mã Thao Điền trong Truy Phong kiếm pháp, hai chiêu này tấn công ở bên trên và bên dưới, bên trên đâm vào hai mắt, bên dưới đâm vào đan điền, kiếm thế rất hiểm hóc. Ông già gạt ngang cái tẩu thuốc đổi công làm thủ, cây kiếm của Phùng Anh bị ông ta giằng xuống, nàng chỉ cảm thấy cánh tay tê rần. Còn ông già trong sảnh tức giận nói: “Sao lại có lẽ này, đây đâu phải là chiến trường mà các ngươi đánh nhau!”

Phùng Anh không hề biết rằng, ông già đang đối địch với nàng chính là Quảng Liên. Số là trong đêm nàng một tuổi, Quảng Liên đến uống rượu, gặp lúc bọn Huyết Trích Tử truy bắt Châu Thanh nên bị vạ lây, Chung Vạn Đường bế Phùng Lâm cùng Quảng Liên chạy thoát, Chung Vạn Đường đến nhà họ Niên dạy học tránh thù, không tiện ở cùng Quảng Liên, bởi vậy giới thiệu ông ta đến chỗ Trại chủ Trương Linh Phong ở núi Thiên Đài. Trương Linh Phong cao hơn Chung Vạn Đường một bậc, là một đại đạo nổi danh trong chốn lục lâm, Quảng Liên chỉ là một võ sư nhà quê chất phác, vốn chẳng muốn làm nghề cướp bóc, nhưng việc đã đến nước đấy chỉ đành chấp nhận.

Trương Linh Phong tính tình hào sảng, rất thích sự chất phác của Quảng Liên, hai người rất hợp nhau. Khi rảnh rổi Trương Linh Phong chỉ điểm võ công cho ông ta, sau đó còn để ông ta làm Phó trại chủ. Quảng Liên và Trương Linh Phong chỉ hơn kém nhau sáu bảy tuổi, Trương Linh Phong ngại không nhận ông ta làm học trò, nhưng Quảng Liên cảm ơn tri ngộ, cứ kiên quyết đòi hành lễ bái sư.

Trương Linh Phong chết đi, con trai của ông ta là Trương Thiên Trì làm Trại chủ, Quảng Liên vẫn ở núi Thiên Đài giúp đỡ cho y. Trương Thiên Trì không tài bằng cha mình, nhiều lần bị quan binh tấn công, thế lực ngày một suy yếu. Chung Vạn Đường đã chết, tin ấy truyền đến, Quảng Liên lấy làm đau lòng. Sai người đi dò hỏi mới biết Phùng Anh đã sớm mất tích. Một ngày nọ Quảng Liên trò chuyện với Trương Thiên Trì, bảo rằng sau khi Chung Vạn Đường chết đi, võ công của phái Vô Cực thất truyền, kiếm phổ y thư của Phó Thanh Chủ không biết đã rơi vào tay ai. Trương Thiên Trì nổi lòng tham, sai hai đồ đệ lén đến nhà họ Niên tìm di thư, không ngờ bị Phùng Lâm giết chết, sau đó Trương Thiên Trì mới không dám sai người đi nữa.

Lại mấy năm trôi qua, Trương Thiên Trì bị quan binh tấn công, sơn trại bị đốt, chỉ dắt được hơn mười thủ hạ cùng Quảng Liên chạy thoát. Từ đó lưu lạc trên giang hồ, tình cảnh ngày càng tệ hơn. May mà y tuy mất sơn trại nhưng cũng là Chưởng môn của phái Thiên Đài, người trong võ lâm coi như cũng tôn trọng y. Khi quan binh truy bắt, thường có người báo tin cho y vì thế mới sống qua ngày trên giang hồ.

Trương Thiên Trì lại nhớ đến y thư của Phó Thanh Chủ, đến huyện Trần Lưu lục soát, gặp lúc Lý Trị và Phùng Lâm chạy ra khỏi nhà họ Niên, Trương Thiên Trì đã tra xét diện mạo của Phùng Lâm, biết nàng là kẻ thù giết đồ đệ của mình, liền sai người đuổi theo cho đến gần Bắc Kinh. Ngày hôm ấy Quảng Liên và vài đồ đệ của Trương Thiên Trì đi ở phía trước, gặp Lý Trị và Phùng Lâm ở cánh đồng tại huyện Hòai Nhu, mấy tên đồ đệ của Trương Thiên Trì đến khiêu chiến, bị Phùng Lâm dùng đao độc đả thương, may có Quảng Liên yểm hộ nên mới thoát. Phùng Lâm và Lý Trị không biết lai lịch của họ, vả lại cũng sợ gây chuyện sẽ khiến quan binh chú ý nên sau khi ra tay đã nấp lên núi.

Phùng Lâm ra tay rất hiểm độc, ba người bị thương không những trúng độc hôn mê mà xương cốt gãy lìa, có khả năng bị tàn phế. Trương Thiên Trì từ sau đuổi tới, thấy thế cả giận. Nhưng cứu người quan trọng hơn nên chẳng rảnh truy tìm kẻ địch. Trương Thiên Trì lưu lạc các nơi, theo thói quen của chốn lục lâm, cần phải tra xét những người có tiếng trong vùng. Thuốc kim sang của Trương Thiên Trì mang theo không trị nổi, y nhớ đến danh y Diệp Thọ Thường đang ẩn cư ở nhà họ Trần tại thôn Hoàng Trúc liền bảo Quảng Liên dắt người đến mời ông ta chữa trị. Trương Thiên Trì biết Diệp Thọ Thường có liên quan đến phái Vô Cực, mà Quảng Liên lại là bằng hữu của Chung Vạn Đường, bởi vậy mới phái Quảng Liên đi. Không ngờ Quảng Liên đã gặp phải Phùng Anh ở đây.

Quảng Liên học được võ công của phái Thiên Đài, lại thêm mười tám năm rèn luyện, võ nghệ hơn hẳn trước kia. Phùng Anh liên tục đánh đến hai mươi chiêu mà vẫn không đắc thủ, nàng chợt thay đổi kiếm pháp, vận dụng những chiêu số tinh diệu trong Truy Phong kiếm pháp, phối hợp với khinh công, tìm sơ hở tấn công, thanh kiếm chỉ Đông đánh Tây, chỉ Nam đánh Bắc như điện chớp lửa xẹt. Quảng Liên đã già, thân pháp không lanh lẹ như Phùng Anh, bị nàng tấn công đến luống cuống chân tay. Phùng Anh đánh gấp tới, xem ra sắp đâm trúng Quảng Liên. Lữ Tứ Nương đang đứng xem chợt nhảy vọt tới giữa hai người, tay trái kéo Phùng Anh ra, tay phải chụp được cái tẩu thuốc của Quảng Liên rồi trả trở lại nói: “Ông hãy nghỉ ngơi một lát”.

Quảng Liên chưa từng thấy ai có võ công cao cường như Lữ Tứ Nương, không dám đánh tiếp nữa nên xoay người bỏ đi. Những kẻ đi cùng đành cõng đồng bọn chạy đi.

Lữ Tứ Nương bước tới thi lễ, ông già trong sảnh tức giận nói: “Các ngươi đã quấy rối đủ chưa?” Lữ Tứ Nương nói: “Diệp công công...” đang định nói ra thân phận nhờ ông ta chữa trị. Nào ngờ ông già trợn mắt, vỗ bàn nói: “Ta đã bảo ta không biết trị bệnh, ta cũng chẳng phải là Diệp công công gì cả, các người còn lôi thôi ở đây làm gì?” Lữ Tứ Nương ngạc nhiên nói: “Ông không phải là Diệp công công?” ông già trả lời: “Đã bảo không phải là không phải, ta không đổi tên ngồi không đổi họ, Trần Khang chính là ta, bình sinh chỉ biết gãy đàn nhưng ta cũng không gãy cho các ngươi nghe!” rồi phất tay áo tức giận lui vào bên trong.

Lữ Tứ Nương và Phùng Anh không khỏi nhụt chí, Phùng Anh nhảy đến cửa, chặn lại hỏi: “Vậy xin hỏi Diệp lão tiên sinh ở đâu?” Trần Khang trợn mắt nói: “Không biết. Có biết cũng không nói cho ngươi nghe! Ta đã quá phiền phức, các người thấy chưa đủ hay sao?” Lữ Tứ Nương vội nói: “Cháu gái của Triết Đông Lữ Lưu Lương xin thỉnh an người!” Trần Khang giật mình, quay lại hỏi: “Cái gì, cô nương là cháu gái của Lữ Lưu Lương?” Lữ Tứ Nương nói: “Khi tiên tổ còn sống, thường nhắc đến hai vị tiền bối, bảo rằng nếu tiểu điệt nữ có đến kinh đô phải đến chào hỏi”. Trần Khang lập tức đổi sắc mặt, hỏi: “Cái gì? Tổ phụ của cô nương cũng biết tôi sao?”

Lữ Tứ Nương nói: “Lão trượng có tài đánh đàn nổi danh thiên hạ ai mà không biết!” Trần Khang chợt nói: “Ý nghĩa thật sự của mấy chữ ‘cao sơn lưu thủy’ là thế nào?” Lữ Tứ Nương trả lời: “Ngoài là lời ngâm vịnh, còn thể hiện ý của Chung Tử Kỳ khuyên Bá Nha”. Trần Khang nói: “Khuyên cái gì?” Lữ Tứ Nương nói: “Khuyên ông ta vứt bỏ công danh vui cùng sông núi. Chỉ có sông núi quê hương mới có thể gợi lên tiếng đàn”. Trần Khang ồ một tiếng, lấy ra một cây cổ cầm đặt trên bàn: “Cô nương có thể nghe tôi gãy đàn”. Rồi nhắm mắt đàn một hồi, hỏi: “Cô nương có nghe được gì không?” Lữ Tứ Nương rơi nước mắt nói: “Đa tạ lời chia buồn của lão trượng, cũng đa tạ lời khích lệ của người”. Té ra Trần Khang đã đàn bài “Hoàng điểu chi ca”, bài này có ý nghĩa tiếc thương cho hiền nhân. Đây là một bài trong “Tần phong” của Kinh thi, trong đó có câu “Như khả độc thề, nhân bách kỳ thân” (có nghĩa có thể chuộc lại mạng của người ấy, ta chấp nhận lấy một trăm đổi cho một) bài thứ hai là “Vu điền chi ca”, là một bài tán ca, ca tụng võ sĩ trong “Trịnh phong” của Kinh thi, dụng ý là khích lệ tinh thần tiến thủ của Lữ Tứ Nương. Xem ra ông ta đã nghe hiệp danh của nàng.

Lữ Tứ Nương vừa nói đã trúng, Trần Khang nói: “Cô nương đã không gạt ta, cô nương đúng là cháu gái của Lữ Lưu Lương!” Lữ Tứ Nương nói: “Tôi có một người bằng hữu đang gặp nguy. Mong người chữa trị”. Trần Khang nói: “Nửa năm trước, ông ta đã rời khỏi nơi này”. Lữ Tứ Nương nói: “Đi đâu? Lão trượng có thể cho biết không?” Trần Khang cười nói: “Nể mặt tổ phụ của cô nương, tôi chỉ đành để các người đi làm phiền Diệp lão đầu. Diệp lão đầu còn có một người bằng hữu là Trần họa sư ở Khang trang thuộc phía Đông Bát Đạt lĩnh, một đồ đệ họ Dương ở Nam Khẩu thuộc phía Tây Bát Đạt lĩnh. Hai người này mời ông ta đến ở. Tôi cũng không biết hiện giờ ông ta đang ở nhà ai. Khang trang và Nam Khẩu cách đây hơn một trăm dặm, các người hãy nghỉ ngơi một đêm, sáng mai đi tiếp”. Lữ Tứ Nương nói: “Không cần, để chúng tôi đến thăm Diệp công công rồi sẽ quay lại nghe người gãy đàn”. Trần Khang nói: “Cũng được!” rồi thở dài: “Bây giờ chẳng mấy ai hiểu được tiếng đàn của ta!”

Lữ Tứ Nương từ biệt ra khỏi nhà họ Trần, lúc này trời đã trưa, nàng bàn bạc với Phùng Anh rằng: “Không ngờ sự việc lại trắc trở thế này. Chúng ta hãy chia nhau lên đường. Tỷ đến Khang trang tìm họa sư họ Trần. Muội đến Nam Khẩu tìm người họ Dương. Nhớ lấy, muội phải tôn kính đối với các bậc tiền bối, nếu nóng nảy sẽ hỏng việc”. Phùng Anh đỏ mặt, nói: “Đương nhiên”. Thế rồi hai người chia nhau lên đường.

Phùng Anh thầm tình, giả sử đến Nam Khẩu, tìm được, lập tức sẽ thuê xe mời ông ta về, bốn ngày sẽ đến nơi. Nào ngờ nàng lại đi nhầm đường, may mà vừa phát giác đã lập tức hỏi người ta, đến nửa đêm mới lần dò đến Nam Khẩu. Phùng Anh dò đường đến nhà họ Dương, nàng nhảy lên mái nhà, chợt thấy bên trong đèn đuốc vẫn còn thắp sáng, Phùng Anh định nhảy xuống bái kiến, nhưng nàng lại ngại làm bọn họ giật mình nên nằm phục trên mái ngói nhìn xuống bên dưới.

Chỉ thấy trong căn phòng có một cái bàn đặt một lư hương, khói hương vờn quanh. Một ông già ngồi trên cái ghế thái sư, bên cạnh có một ông già đang đứng. Phùng Anh thầm nhủ: “Người đang ngồi chắc là Diệp Thọ Thường đây”.

Diệp Thọ Thường khép hờ hai mắt, miệng thì giảng giải y đạo cho người đứng bên cạnh mình. Giảng giải xong Diệp Thọ Thường lại nói: “Thời gian không còn nhiều nữa, nay ta sẽ truyền tâm pháp”. Rồi cầm cây bút lông sói vừa viết vừa giảng, Phùng Anh đang định bỏ đi, Diệp Thọ Thường chợt ngẩng đầu nói: “Này, ngươi nghe lén đã lâu, sao vẫn còn chưa xuống?” Phùng Anh thất kinh, thầm nhủ: “Hỏng bét, lần này chắc chắn ông ta sẽ trách”. Nàng chỉ đành lướt người xuống, bước tới thi lễ, nói: “Xin tiền bối thứ lỗi, tôi vốn định ngày mai đến, nhưng...” nàng đang định tìm lời, ông già chợt nói: “Đưa tay tới, ta sẽ bắt mạch cho ngươi”. Phùng Anh ngạc nhiên, Diệp Thọ Thường cầm tay nàng, một hồi sau chợt buông tay nói: “Lạ thật, lạ thật. Bệnh người thân ngươi không có một năm cũng nửa năm, tại sao ngươi không đi chữa trị?” Phùng Anh ngạc nhiên nói: “Diệp công công, làm sao người biết?” Diệp Thọ Thường trả lời: “Căn cơ nội công của ngươi rất vững chắc, sư phụ của ngươi là ai?” Phùng Anh không dám giấu giếm, đáp rằng: “Sư phụ của vãn bối là Thiên Sơn Dịch Lan Châu”. Diệp Thọ Thường nói: “Ồ, thật kỳ lạ, té ra ngươi là đồ đệ của Dịch Lan Châu”. Ông ta nhắm mắt một hồi, nói: “Trong người của ngươi có một luồng uất khí, mà can hỏa lại nóng, chắc chắn có việc gì rất đáng nghi ngờ mà không giải thích được. Nửa đêm ngươi đến gặp ta, chắc là muốn mời ta chữa trị. Nếu không phải người thân, ngươi sẽ không lo lắng như thế. Nếu không phải bệnh lạ, ngươi không thể lo lắng lâu như thế. Ngươi nói thử xem, người thân của ngươi bị bệnh gì?” Phùng Anh mừng rỡ nói: “Diệp công công, người đúng là y đạo thông huyền, liệu việc như thần. Vãn bối muốn mời người trị bệnh, người thân của vãn bối...” nói chưa xong, ông già đứng bên cạnh vội lên tiếng: “Sư phụ, sao người lại lo lắng đến thế?” Phùng Anh vội vàng nói: “Lữ tỷ tỷ đã kêu vãn bối đến đây. Tỷ ấy bảo vãn bối thăm hỏi người cho tổ phụ của tỷ ấy”. Diệp Thọ Thường chợt thấy nàng nói mấy câu thừa thải, bất giác hỏi: “Tỷ tỷ nào của ngươi? Tổ phụ của ả là ai?” Phùng Anh nói: “Tỷ tỷ của vãn bối là Lữ Tứ Nương, còn tổ phụ của tỷ ấy là Lữ Lưu Lương”. Diệp Thọ Thường cười ha hả, chợt mặt lộ vẻ không vui nói: “Cháu gái của Lữ Lưu Lương sao lại tầm thường thế? Lẽ nào không biết người làm nghề y gặp bệnh lạ, trừ phi vạn bất đắc dĩ chắc chắn sẽ chữa trị, cần gì phải lôi cả tổ phụ ra?” Phùng Anh mừng rỡ nói: “Vâng vâng!” không ngờ Diệp Thọ Thường trợn mắt, nói: “Đáng tiếc ta không thể đi!”

Phùng Anh vội kêu: “Người chẳng phải nếu không vạn bất đắc dĩ mới không đi hay sao?” Diệp Thọ Thường nói: “Ta chính là đang vạn bất đắc dĩ đây!” Phùng Anh lo đến nỗi ứa nước mắt: “Y chỉ còn có ba ngày rưỡi nửa, nếu người không cứu, chẳng ai có thể cứu y”. Diệp Thọ Thường hơi ngạc nhiên, cười khổ nói: “Y làm sao biết ngày chết?” Phùng Anh trả lời: “Không phải là y có thể tự biết mà người ta buộc y biết”. Diệp Thọ Thường càng lấy làm lạ hơn, nói: “Có chuyện này nữa ư, ta chưa từng nghe, người ép y chết là ai?” Phùng Anh nói: “Là đương kim Hoàng đế”. Diệp Thọ Thường trả lời: “Ồ, thế thì ta phải chữa trị”. “Vậy tiểu nữ sẽ cõng người đi, đến khi trời sáng chúng ta lại sẽ thuê xe ngựa”. Diệp Thọ Thường lại lắc đầu: “Không, ta không thể đi! Nhưng ngươi cứ kể chịu trứng cho ta nghe thử”. Ông già đứng bên cạnh lại bảo: “Sư phụ, sáu mươi năm qua người ngày nào cũng hành y, hôm nay đừng lo lắng nữa”. Ông già nổi giận nói: “Nói càn, ta đã nghe thấy bệnh lạ, nếu không tìm cách chữa trị, có chết cũng không yên lòng”. Ông già ấy chỉ đành cười khổ nói: “Thôi được, đệ tử sẽ ghi lại y án cho ngài”.

Phùng Anh kể lại việc Đường Hiểu Lan bị Ung Chính lừa uống rượu độc và những triệu chứng gần đây. Diệp Thọ Thường nói: “Có rượu độc như thế sao? Y án xưa nay đều không ghi. Đấy là rượu độc gì?” rồi lại nhắm mắt suy nghĩ một chốc, tựa như không nghĩ ra, ông ta mở mắt thở dài nói: “Đáng tiếc ta không thể đến xem tận nơi”. Phùng Anh lo lắng, run giọng nói: “Vậy có còn cách nào không?” Diệp Thọ Thường nói: “Đừng lo, để ta suy nghĩ tiếp”. Rồi nhắm mắt tịnh tọa, chẳng hề nhúc nhích. Phùng Anh và ông già đứng bên cạnh cũng rất lo lắng, tiếng gà gáy vang lên từng hồi, ông ta vẫn ngồi suốt một canh giờ, mới ho một tiếng, mở mắt ra nói: “Dương lão đệ, ngươi hãy bốc thuốc cho y. Hãy dùng lục hợp ninh thần hoàn nghiền nát phối hợp với bảy vị thuốc khác. Dùng lá ngô đồng mùa thu và một đôi dế trống mái làm chất dẫn”. Ông già đứng bên cạnh là đệ tử của ông ta, trong nhà có rất nhiều loại thuốc quý, bởi vậy lập tức chuẩn bị. Diệp Thọ Thường nói: “Thuốc này chỉ có thể dùng thử một lần”. Rồi cầm bút viết một bài thuốc, nói tiếp: “Uống xem thuốc vừa rồi, nếu thấy có hiệu quả, lại uống thêm ba lần theo bài thuốc này. Đây chỉ là loại thuốc giúp an thần ngủ ngon, rất dễ tìm”.

Phùng Anh cả mừng, nhận lấy gói thuốc và bài thuốc, đang định cáo từ, Diệp Thọ Thường chợt nói: “Này, ngươi không trả tiền chữa bệnh sao?” Phùng Anh không ngờ ông ta lại nói thế, đỏ mặt trả lời: “Trên người tiểu nữ không mang theo tiền, tiểu nữ... tiểu nữ đưa cho người xâu chân trâu này vậy”. Diệp Thọ Thường nói: “Ta đã lớn tuổi, còn cần những thứ đó làm gì? Ngươi hãy làm cho ta một việc, coi như là trả tiền thuốc”. Phùng Anh nói: “Xin công công cứ căn dặn”. Diệp Thọ Thường nói: “Y thuật của ta là do Phó Thanh Chủ chỉ điểm, mấy mươi năm qua, coi như ta không phụ lòng kỳ vọng của người, đã trị được không ít người bệnh, tích lũy được không ít y án, đáng tiếc người không xem qua được. Hỡi ơi!” ông già đứng bên cạnh nói: “Sư phụ đừng đau lòng, tổ sư biết chúng ta có thể kế thừa y bát của người, nếu có linh thiêng chắc chắn cũng thấy an ủi”.

Diệp Thọ Thường chợt cười lạnh nói: “Cái gì, ngươi dám nói chúng ta có thể kế thừa y bát của tổ sư?” ông già đứng bên cạnh lo lắng nói: “Đệ tử ngu muội, y đạo còn thấp kém, thua xa các bậc tiền bối. Nhưng sư phụ dốc hết cả đời nghiên cứu y đạo, coi như cũng có thể sánh được với Phó sư tổ năm xưa”. Diệp Thọ Thường lắc đầu nói: “Còn kém lắm! Ta vẫn còn nhiều điều chưa biết, cũng như căn bệnh lúc nãy. Mỗi khi ta nghĩ không thông, hận không thể tìm sư tổ để hỏi. Song, ta tự tin y án của ta có thể hơn hẳn người khác”. Ông ta ngập ngừng rồi nói: “Ngươi có biết võ công và y thuật của Phó Thanh Chủ truyền cho ai không?” Phùng Anh nói: “Nghe nói là đồ tôn của ông ta tên Chung Vạn Đường, Chung Vạn Đường lại truyền võ công cho Niên Canh Nghiêu, nhưng không biết có truyền y thuật cho y hay không”. Diệp Thọ Thường thở dài: “Không có!” rồi ngập ngừng nói: “Dịch Lan Châu có thể thay phái Vô Cực tìm truyền nhân y bát”. Phùng Anh nói: “Vãn bối cũng nghe sư phụ nói đến điều này”.

Phùng Anh rất lấy làm lạ, Diệp Thọ Thường bảo có chuyện muốn nhờ nàng, tại sao lại cứ nhắc đến những chuyện xưa. Ông ta lại thở dài, trầm giọng nói: “Phó sư tổ có một quyển y thư gọi là Kim châm độ kiếp. Sau này nếu sư phụ của ngươi thay phái Vô Cực lập truyền nhân, có lẽ có người đã lấy được cuốn di thư này, nếu hành vi thuộc chính phái, ngươi hãy dắt y đến đây, bảo y kế thừa y án của ta. Phó tôn sư năm xưa bôn ba vì việc nước, y án không còn nhiều. Được di thư của ông ta, lại xem y án của ta mới có thể phát dương quang đại y học. Đời ta đã dứt, mong có người hơn được người trước. Chuyện này rất quan trọng, ngươi có biết không?” Phùng Anh khom người nói: “Thưa biết!” Diệp Thọ Thường lại nói: “Vì ngươi là hiệp nữ trong chốn võ lâm, cho nên ta mới nhờ ngươi làm việc này”.

Phùng Anh hơi ngạc nhiên, nói: “Vãn bối nhất định sẽ làm được”. Diệp Thọ Thường đột nhiên nhắm mắt ngồi yên, từ từ gục đầu xuống. Ông già đứng bên cạnh bước tới bắt mạch, chợt quỳ xuống đất, cung kính dập đầu ba cái rõ to, nói: “Đệ tử nhất định kế thừa di chiếu của tiên sư. Đệ tử sẽ bảo quản y án của người, đợi người tài đến đến lấy, người hãy yên tâm mà ra đi!”

Phùng Anh ngạc nhiên nói: “Diệp công công thế nào rồi?” ông già nói: “Người đã chết”. Phùng Anh rơi nước mắt, nói: “Có phải tôi đã khiến lao tâm quá độ không?” ông già đáp: “Không liên quan đến cô nương. Tiên sư tinh thông Thái tố kinh, người đã sớm đoán được ngày ra đi của mình. Cho nên đã tranh thủ truyền tâm pháp cho tôi. Song phải khi chết mà còn có thể trị bệnh giúp người thân của cô nương thật là điều không ngờ”. Phùng Anh cảm kích vô cùng, cũng quỳ xuống dập đầu ba cái rõ to.
Ông già đưa Phùng Anh ra khỏi cửa, trịnh trọng nói: “Cô nương đừng đánh mất đơn thuốc này. Mong người thân của cô nương có thể khỏi bệnh”. Phùng Anh bái tạ, thấy sắc trời đã sáng nên vội vàng cáo từ. Lại nói Quảng Liên bị Lữ Tứ Nương và Phùng Anh đuổi khỏi nhà họ Trần, trong lòng rất bực tức, vài tên đầu mục nói: “Ả nha đầu ra tay thật lợi hại, chúng ta mời Trại chủ đến, không thể buông tha cho ả”. Quảng Liên trầm ngâm không nói, chợt nghĩ bụng: “Khi ả nha đầu đụng độ với mình ở ngoài cánh đồng, ra tay còn độc địa hơn, chẳng thèm lên tiếng đã dùng phi đao đả thương ba người. Sau đó gặp ở nhà họ Lục, ra tay tuy lợi hại, nhưng chỉ chặt gãy binh khí, đánh một người bị thương nhẹ, so với lúc đầu hình như đã nương tay, không biết là vì nguyên cớ gì”.

Bọn Trương Thiên Trì đợi ông ta ở một hòn núi gần Bát Đạt lĩnh, Quảng Liên không mời được danh y, lại có một người bị thương nên rất hổ thẹn, vừa đi vừa nghĩ cách để Trương Thiên Trì không đi trả thù. Trương Thiên Trì võ công còn cao hơn cả Quảng Liên, nhưng Quảng Liên cẩn thận hơn y. Quảng Liên biết Trương Thiên Trì rất nóng tính, lần này có đến bốn thủ hạ bị thương, chắc chắn sẽ tìm ả nha đầu liều mạng. Nhưng ả này bản lĩnh rất cao, vả lại thiếu nữ đi cùng ả võ công còn thần kỳ hơn. Quảng Liên nghĩ bụng: “Giờ đây đã đuối thế, sao có thể chuốc thêm phiền toái? Mình nhận ơn lớn của Trương Linh Phong, sao để con trai của ông ta đi nạp mạng được”. Trên lòng thầm tính nhưng vẫn chưa nghĩ ra cách nào ngăn cản y. Đến chiều, Bát Đạt lĩnh đã ở trước mặt, đang đi, ở góc núi chợt một người nhảy ra quát: “Các ngươi là ai, đứng lại cho ta!”

Quảng Liên nhìn lại, người ấy mũi ưng miệng sư tử, mặt mũi nanh ác, té ra đó chính là Long Mộc Công. Long Mộc Công là tù trưởng tộc Lê, tướng mạo kỳ dị, Quảng Liên vừa nhìn đã nổi giận, ngẩng mặt cười ha hả: “Đi mòn gót sắt tìm chẳng có, nay thấy được chẳng mất công phu! Long thị vệ, thật may mắn!”

Té ra sau khi Hầu Tam Biến dắt Phùng Anh chạy ra khỏi cung, bọn người trong cung sợ Hầu Tam Biến quen thuộc đường lối lại sẽ dẫn kẻ địch vào, vì thế một mặt chỉnh đốn thị vệ, mặt khác Cáp Bố Đà lại sai thị vệ tâm phúc đi khắp nơi tìm Hầu Tam Biến và Phùng Anh. Hải Vân hòa thượng và đồ đệ của lão là Long Mộc Công lục soát ở các huyện gần kinh đô. Hôm nay bọn chúng băng qua Bát Đạt lĩnh, Hải Vân hòa thượng lên cao nhìn xa, để Long Mộc Công tiếp ứng bên dưới.

Lúc đầu Long Mộc Công còn tưởng bọn Quảng Liên là hạng vô danh tiểu tốt trong hắc đạo, muốn tiện tay bắt sống để lập công nhỏ. Không ngờ Quảng Liên nói ra lai lịch của y, bất giác ngạc nhiên, y nhìn lại thì thấy ngờ ngợ quen, Quảng Liên quát: “Ngươi đã nhìn rõ chưa? Món nợ ở nhà Phùng Quảng Triều tại Nhữ Châu Hà Nam, ngươi có còn nhớ không?” Long Mộc Công trợn mắt, quát: “Hừ, ta tưởng là ai, té ra là lão thất phu lọt lưới nhà ngươi. Lão tử bình sinh giết người không đếm xuể, làm sao nhớ được! Ngươi có tài cán gì mà báo thù cho Phùng Quảng Triều?” rồi rút kiếm ra tay.

Mười bảy năm trước, Quảng Liên bị Long Mộc Công đánh chạy chối chết, võ công của hai người hơn kém nhau rất xa. Long Mộc Công nào coi ông ta ra gì, vừa động thủ chân đã bước vào trung cung, lúc thì đâm kiếm. Nào ngờ trong vòng mười bảy năm sự việc thay đổi quá nhiều, Quảng Liên ngày nay đã khác lúc trước, cái tẩu thuốc đánh ra một chiêu Cử Hỏa Thiêu Thiên, lập tức gạt trường kiếm của Long Mộc Công ra ngoài. Long Mộc Công thất kinh, Quảng Liên gạt cái tẩu thuốc xuống, điểm vào huyệt Thiên Khu của y, Long Mộc Công buộc phải thối lui ba bước, cao giọng kêu: “Sư phụ đến đây!”

Quảng Liên cười lớn: “Sao không bảo sư nương ra cứu mạng?” rồi vội vàng đuổi theo, cái tẩu thuốc đâm vào hậu tâm của y. Long Mộc Công trở tay đánh lại một kiếm, người xoay nửa vòng rồi đâm xéo tới. Quảng Liên đè tẩu thuốc xuống cây trường kiếm của Long Mộc Công, quát: “Đi!” rồi vùng tay một cái, Long Mộc Công bị đẩy ra hơn một trượng. Long Mộc Công đúng là bản lĩnh cũng không kém, y không hề ngã xuống đất, lại kêu lớn: “Sư phụ!”

Quảng Liên đổi chiêu đánh tiếp, Long Mộc Công tránh mấy chiêu chỉ có thể chống đỡ chứ chẳng thể trả đòn. Quảng Liên càng đánh càng dữ, khoảng được năm mươi chiêu, người bên cạnh kêu: “Phó trại chủ, có một hòa thượng đến!” Quảng Liên nói: “Hay lắm, để cho sư phụ của y nạp mạng thay!” Long Mộc Công phấn chấn tinh thần, gắng gượng đánh một kiếm, đâm ngược vào be sườn của Quảng Liên. Quảng Liên đã sớm đoán được y sẽ đánh chiêu này nên rút tẩu thuốc trở lại, Long Mộc Công đánh hụt, trọng tâm không vững, chồm người về phía trước, Quảng Liên cười lớn, cái tẩu thuốc sắp đánh ra một chiêu Đảo Đả Kim Chung kêu bốp một tiếng, xương cổ của Long Mộc Công vỡ nát, ông ta cười lớn nói: “Ông tân gia, hôm nay tôi đã trả được thù cho ông!”

Chỉ trong chớp mắt, Hải Vân hòa thượng đã đuổi tới nhanh như bay, lớn giọng quát: “Ai dám đả thương đồ đệ của ta?” bốn thủ hạ của Quảng Liên nào biết lợi hại, vội vàng xông lên. Quảng Liên vừa giải quyết xong Long Mộc Công, lập tức đã nghe tiếng kêu thảm vang lên, chỉ thấy hòa thượng vung kiếm lên, lập tức tia máu tuôn ra, chỉ trong chớp mắt bốn đại hán đã chết dưới kiếm của y. Quảng Liên cả giận, điểm cái tẩu thuốc về phía trước, Hải Vân hòa thượng cũng tiến về phía trước, kiếm quang mở rộng, quét vào cổ tay của ông ta, Quảng Liên gạt ra ngoài, thân pháp của Hải Vân hòa thượng di chuyển rất nhanh, kiếm chiêu lại như điện, chợt chém ngang xuống, Quảng Liên rụt vai, đấm ngược vào huyệt Bối Lương của y, Hải Vân hòa thượng lách người, kiếm thế hơi lệch qua, vù một tiếng, kiếm phong lướt qua vai, Quảng Liên thầm kêu: “Nguy hiểm!” rồi nhảy vọt ba bước, sau đó xoay lại tiếp tục tấn công.

Quảng Liên tuy khổ luyện mười tám năm, nhưng so với Hải Vân hòa thượng vẫn còn kém một bậc. May mà võ công của phái Thiên Đài có nhiều chiêu số kỳ lạ, cái tẩu thuốc có thể sử dụng như ngũ hành kiếm, cũng có thể dùng để điểm huyệt, bởi vậy ông ta mới có thể đánh được hơn trăm chiêu.

Lúc này trời vừa sụp tối, màn đêm đã bao trùm, tiếng chim kêu táo tác, Quảng Liên không cầm cự nổi nữa, đã cảm thấy lạnh mình. Ông ta liều mạng chợt phản kích. Hải Vân hòa thượng đang xử đến chiêu Tiên Nhân Hoán Ảnh, chiêu này gồm hai thức, một hư một thực, hư đâm vào mặt, thực đâm vào be sườn, y tưởng rằng Quảng Liên không gạt trên cũng chặn dưới, lúc đó hư thực sẽ đổi cho nhau, Quảng Liên chẳng thể thoát nổi. Nào ngờ Quảng Liên liều mạng, đột nhiên nhảy bổ đến đánh vào trung bàn của y, chỉ nghe soạt một tiếng, xương ngực của Quảng Liên đã bị mũi kiếm của y chặt gãy, trước ngực Hải Vân hòa thượng đã bị cái tẩu thuốc của ông ta đánh một cú rất mạnh!

Hải Vân hòa thượng có nội công thâm hậu, trúng cú đánh này mà vẫn còn cầm cự được, nhưng ngực đã đau như dao cắt, bất giác cả giận, co giò đá một cước khiến Quảng Liên lộn nhào, Quảng Liên vốn đã bị thương, lại trúng cú đá này nên ngất ngay tại chỗ.

Hải Vân hòa thượng cười gằn, đưa tay ôm ngực, đang định đến cắt thủ cấp của kẻ địch, chợt nghe trên núi có người quát: “Lão giặc trọc Hải Vân, chạy đi đâu cho thoát?” Hải Vân vừa nghe đã sợ đến nỗi hồn bay phách tán, thầm nhủ: “Tên này chắc không sống nổi, mình phải chạy thôi”. Rồi y cố nén cơn đau, vội tìm đường bỏ chạy.

Người vừa mới lên tiếng chính là Lý Trị.

Từ lúc Lý Trị cùng Phùng Lâm chạy ra khỏi nhà họ Niên, chàng đã biết nàng không phải là Phùng Anh, nhưng vì gần gũi đã lâu, tình yêu đã sớm nảy nở, tuy biết nàng không phải Phùng Anh nhưng cũng không nỡ xa rời.

Khi Phùng Lâm chạy ra khỏi nhà họ Niên chính là lúc Phùng Anh chạy vào, tuy chỉ nhìn lướt qua nhưng đã khó quên! Lúc này Phùng Lâm mới biết trên đời còn có một người rất giống mình! Nhưng nàng vẫn chưa biết người đó chính là tỷ tỷ của mình!

Phùng Lâm đã quên hết chuyện lúc nhỏ. Lý Trị ba lần bốn lượt gợi lại cho nàng mà vẫn chẳng ích gì. Nhưng Phùng Lâm lại nhớ chuyện từ sau khi đến phủ Tứ bối lạc. Lý Trị tuy không biết Phùng Anh là tỷ tỷ của nàng nhưng lúc nhỏ đã nghe mẹ nói rằng, Phùng Anh được Dịch Lan Châu cứu ra từ phủ Tứ bối lạc, bất giác lại nghĩ: “Trên đời sao có chuyện vừa khéo đến thế? Hai người có tướng mạo giống nhau, vả lại đã từng sống ở phủ Tứ bối lạc?”

Lý Trị vốn là người chất phác, trọng tình cảm. Chàng Phùng Anh là đôi thanh mai trúc mã, nhưng lúc nhỏ lại không biết chuyện nam nữ, trong lòng chỉ coi đối phương là bằng hữu tốt nhất. Lúc này Lý Trị tuy đã yêu Phùng Lâm nhưng rốt cuộc vẫn không quên Phùng Anh. Chàng ta thầm nhủ: “Anh muội đã xuống núi, dẫu thế nào mình cũng phải tìm cho ra nàng”. Phùng Lâm cũng nghĩ như thế. Nhưng Phùng Lâm là người Hoàng đế muốn bắt, cả hai người đều không dám lộ mặt ở đường lớn, chỉ chọn đi ở những đường vắng vẻ, hơn một năm mới đến huyện Hòai Nhu ở ngoại ô Bắc Kinh.

Trong một năm này, hễ rảnh là Lý Trị lại xem y thư của Phó Thanh Chủ, đọc nhuyễn như cháo chảy, chàng lại nghiên cứu căn bệnh ly hồn. Chỉ là khi chàng chưa nắm rõ, không dám thử nghiệm ở Phùng Lâm.Trong một năm này, Phùng Lâm cũng nghiên cứu kỹ càng quyền kinh kiếm phổ của Phó Thanh Chủ, Phùng Lâm tinh thông nhiều loại võ công, nay có được chân truyền của nội gia, võ công càng cao hơn ngày trước!

Hôm nay họ đang đi ở cánh đồng dưới chân Bát Đạt lĩnh. Chợt bọn người Quảng Liên đời di thư. Phùng Lâm ra tay đả thương ba người, cùng Lý Trị chạy lên núi. Lý Trị chợt nghĩ ra một chuyện, nói: “Không xong!”

Phùng Lâm cười nói: “Ca ca ngốc, đã đánh thắng trận, còn có gì không xong?” Lý Trị chau mày nói: “Ta đã nhớ lại. Vốn là muội không phải truyền nhân của phái Vô Cực”. Phùng Lâm nói: “Muội vốn chỉ lừa huynh mà thôi. Lẽ ra huynh không nên biết điều này, tại sao giờ mới nhớ ra”. Lý Trị cười khổ nói: “Ta chỉ mãi đọc di thư nên quên bẵng hết mọi chuyện. Y thư của Phó Thanh Chủ ngoại trừ truyền nhân y bát của phái Vô Cực, người khác không được lấy”. Phùng Lâm chưng hửng, cười nói: “Chả lẽ phải trả lại cho Niên Canh Nghiêu sao?” “Đương nhiên không thể, nhưng chúng ta cũng không nên chiếm làm của riêng” “Dù sao cũng là vật vô chủ, chúng ta giữ lấy có hề gì?” “Nhưng người quân tử chẳng làm như thế”. Phùng Lâm giận dỗi nói: “Huynh đã đọc thuộc y thư, muội cũng đã tập quyền kinh kiếm quyết, làm sao lấy ra bây giờ?” Lý Trị rất khổ não, nói: “Sớm biết như thế, huynh đã không nên đọc”. “Huynh chẳng phải nói Dịch bá mẫu của huynh có thể lập truyền nhân cho phái Vô Cực sao? Bảo người lập muội là được rồi”. Lý Trị nói: “Muội và phái Vô Cực có quan hệ gì, muội đâu phải là đệ tử của Chung Vạn Đường”. Phùng Lâm chợt nói: “Lần đầu tiên muội nghe tên Chung Vạn Đường đã cảm thấy rất quen, không biết là vì nguyên cớ gì? Có lẽ không chừng muội cũng có liên quan đến phái Vô Cực”. Lý Trị cười nói: “Muội lại gạt huynh!”

Phùng Lâm tuy thắc mắc, Lý Trị trong lòng cứ không yên, sau đó Phùng Lâm chẳng hề để ý đến chàng nữa. Đến chiều, hai người đã tới Bát Đạt lĩnh, chợt nghe trong rừng vọng ra tiếng chuông chùa. Lý Trị nói: “Chúng ta đến đấy ở nhờ một đêm”. Hai người tìm đến một ngôi chùa hoang vắng, tiếng chuông vọng ra từ ngôi chùa này. Lý Trị đến gõ cửa, tiếng đọc kinh bên trong ngừng lại, ở nơi cửa có một ni cô trung niên tay cầm tràng hạt nói: “Dưới chân núi không xa có nhà nông, tôi chỉ là một ni cô, không tiện cho khách ở nhờ”.

Phùng Lâm ngẩng đầu nhìn, chợt thấy ni cô này tựa như rất quen, ni cô cũng thấy Phùng Lâm, chợt đổi sắc mặt, người hơi rung nói: “Ồ, té ra cũng có một nữ cư sĩ, xin mời vào, mời vào!”

Lý Trị không biết tại sao bà ta lại thay đổi nhanh như thế, chỉ thấy Phùng Lâm đã theo bà ta vào trong liền nói tiếng đáp tạ. Ngôi chùa cổ tuy hoang vắng nhưng bên trong rất sạch sẽ, ni cô chợt thở phào, quay đầu lại hỏi: “Xin hai vị cho biết tên?” Lý Trị và Phùng Lâm đều dùng tên giả trên đường, ni cô vừa hỏi, Lý Trị đã nói tên giả của hai người ra, trên mặt ni cô lộ vẻ thất vọng.

Lý Trị rất lấy làm lạ, Phùng Lâm thì thấy ngẩn ngơ, tựa như cảm thấy có một việc gì đó liên quan rất mật thiết với mình. Ni cô trung niên mời hai người ngồi rồi nói: “Xin hỏi nữ cư sĩ năm nay bao nhiêu tuổi?” Phùng Lâm nói: “Mười tám tuổi!” Lý Trị thầm nhủ: “Ni cô này thật vô lễ, sao vừa gặp mặt đã hỏi tuổi tác của người ta?”

Thật kỳ lạ, Phùng Lâm vốn rất nghịch ngợm, thế mà lại tỏ ra ngoan ngoãn trước ni cô này, bà ta hỏi gì thì nàng đáp nấy, chẳng hề giận dỗi, cũng chẳng hề cười đùa. Lý Trị sợ nàng để lộ thân phận, chốc chốc lại cắt lời họ. Một hồi sau, ni cô vẫn ngồi gợi chuyện với Phùng Lâm. Lý Trị hỏi thẳng: “Chúng ta đã đi một ngày, trong bụng đã đói, không biết có thể cho một ít cơm chay không?” ni cô chợt nhớ ra, nói: “Xin lỗi cư sĩ, tôi đã chậm trễ”. Rồi bước vào nhà bếp.

Lý Trị vội vàng nói bên tai Phùng Lâm: “Muội không thể nói bừa được, hãy nhớ lấy, đừng nói chuyện muội đã từng ở phủ Tứ bối lạc. Chuyện này rất bí mật, đâu biết ni cô này là người thế nào?” Phùng Lâm lại tỏ vẻ khó chịu, nói: “Ni cô này rất thân thiện lại hiền lành, tựa như người thân của muội vậy”. Nhưng thấy Lý Trị không vui, chỉ đành cười bảo: “Huynh hãy yên tâm, muội sẽ không nói bừa”. Ni cô ấy lại bước ra, tay cầm nửa bát cơm chay, nói: “Thật không may, chỉ còn thừa một ít. Cơm và thức ăn đều đã hết, lúc này trời vẫn chưa tối, cư sĩ có thể xuống núi xin cho tôi một ít gạo không?” Lý Trị không tiện từ chối, Phùng Lâm nói: “Huynh hãy mau đi đi, huynh chẳng phải hòa thượng, không cần hóa duyên, dùng tiền là mua được”. Lý Trị nói: “Chi bằng chúng ta xuống núi ở trọ để khỏi quấy rầy sư thái”. Ni cô nói: “Không sao, tôi thích hai người nghỉ đêm tại đây”. Phùng Lâm nói: “Đúng thế, muội cũng thích ở đây. Huynh đi mau!”

Lý Trị hết cách, chỉ đành bưng cái bát ra cửa, khi chạy xuống núi trời đã tối. Lý Trị thầm trách: “Trong thiên hạ sao lại có một ni cô chẳng hiểu lý lẽ như thế”. Chàng không biết xin gạo ở đâu, chợt nghe bên dưới có tiếng quát tháo, té ra đó là tiếng của Hải Vân hòa thượng. Lý Trị quát một tiếng lập tức phóng xuống.

Xuống đến chân núi, Hải Vân hòa thượng đã bỏ chạy, chỉ thấy hai người nằm la liệt, chỉ có một người vẫn còn cử động được. Lý Trị vội vàng đến lật người ấy lại, người ấy mặt đầy máu, mở to mắt kêu: “Té ra là ngươi! Ngươi cứ đâm một đao để ta chết cho rồi!”

Lý Trị ngạc nhiên, nhưng chợt nhớ lại đây là người mới đòi sách của mình, trong lòng lấy làm áy náy: “Tôi với ông chẳng thù chẳng oán, giết ông làm gì?” Quảng Liên nói: “Ngươi không giết ta cũng chẳng sống nổi, chi bằng cứ cho ta một nhát đao, ta sẽ biết ơn ngươi”. Lý Trị nhẹ nhàng bắt mạch cho ông ta rồi nói: “Đừng lo, tôi có thể trị cho ông”. Quảng Liên tựa như đã đỡ hơn, lại nói: “Sư đệ của ta muốn cướp sách của các người, các người đừng đối chọi với y, hãy tránh mặt y!”

Lý Trị đang lấy làm lo lắng vì chuyện di thư của Phó Thanh Chủ, hỏi: “Sư đệ của ông là ai?” Quảng Liên nói: “Là Chưởng môn Trương Thiên Trì của phái Thiên Đài”. Vì ông ta nói quá nhiều nên đã đuối sức, hơi dần dần yếu đi. Lý Trị lại xem qua vết thương của ông ta, thấy ông ta bị thương tuy nặng nhưng mình vẫn còn cứu nổi, liền nói: “Ông không cần nói nhiều, tôi sẽ cõng ông đến ngôi chùa gần đây để trị cho ông. Lẽ ra chúng tôi không nên lấy quyển sách ấy, chúng ta hãy hòa giải với nhau”. Quảng Liên hít sâu một hơi, nói: “Ngươi không cần an ủi ta, xương ngực ta đã gãy, lại bị nội thương, dù có danh y cũng khó trị. Ngươi lấy đức báo oán đúng là một trang quân tử. Trước khi chết ta nhờ ngươi hai việc”. Lý Trị nói: “Ông không chết được đâu!” Quảng Liên vẫn một mực nói: “Ngươi không hứa, ta chết không nhắm mắt”. Lý Trị nghe thế liền bảo: “Ông cứ nói đi”. “Sau khi ta chết, ngươi hãy đem di thể của ta trao cho Trương Thiên Trì. Hôm nay y không thấy ta trở về, ngày mai chắc chắn sẽ đi ngang qua đây, ngươi gặp y, bảo y mau chóng giải tán mọi người rồi ẩn cư đi thôi”. “Nhưng ông vừa mới bảo tôi phải tránh mặt y kia mà”. “Đúng thế, ta sẽ để lại thư”. Rồi cắn ngón tay, xé toạc áo viết một bức huyết thư, viết xong sức đã tận, chỉ nói được một câu: “Ta còn có hai đứa cháu ngoại...” đến đây thì bất tỉnh nhân sự.

Lý Trị vội vàng bắt mạch cho ông ta, chỉ thấy mạch tuy yếu nhưng vẫn chưa đứt, liền bẻ gai tùng đâm vào huyệt để huyết khí lưu thông, lại lấy thuốc kim sang mang theo bôi vào vết thương cầm máu, thầm nhủ: “Giờ đây ông ta bị thương quá nặng, không thể cử động. Bị nội thương tốt nhất là phải tịnh dưỡng”. Thế rồi ngồi xuống xoa bóp cho Quảng Liên. Một hồi sau, Lý Trị thở phào, cảm thấy đã đói, may mà bọn Quảng Liên có mang theo lương khô. Lý Trị lấy lương khô nhai lót dạ rồi dựa vào gốc cây, bất giác cũng ngủ thiếp đi.

Không biết bao lâu, Lý Trị đột nhiên bị người ta lay tỉnh, chàng mở mắt ra nhìn, chỉ nghe Phùng Lâm trách cứ: “Sao huynh lại ngủ cùng người chết thế này?” Lý Trị nhảy bật dậy, nói: “Bây giờ là lúc nào?” “Là lúc nào nữa? Trời đã sắp sáng! Muội tưởng huynh đã xảy ra chuyện gì. Vị sư thái ấy cũng không yên lòng, đòi đi theo muội tìm huynh, nhưng muội thấy bà ta không biết võ công, cho nên một mình xuống núi tìm”. “Sau khi huynh đi, bà ta lại nói gì?” “Bà ta hỏi chuyện lúc nhỏ của muội, muội chẳng nhớ được, có thể nói được gì? Nhưng muội bảo biết võ công, bà rất vui mừng”. “Sau muội lại cho bà ta biết những điều này?” Phùng Lâm dẫu môi nói: “Điều này cũng không được nói điều kia cũng không được nói, thật là vô lý, ni cô ấy đâu phải người xấu”.

Lý Trị không cãi với nàng, ngồi dậy bắt mạch cho Quảng Liên, thấy mạch tượng của ông ta rất tốt, chàng chần chừ một hồi rồi nói với Phùng Lâm: “Muội hãy ở đây làm cho huynh một chuyện”. Phùng Lâm hỏi: “Đây là ai thế?” “Đây là người chặn đường chúng ta lúc sáng”. “Vậy huynh nhọc lòng chữa trị cho ông ta làm gì?” “Từ từ huynh sẽ nói cho muội nghe. Bây giờ muội hãy nghe lời huynh”. Phùng Lâm giận dỗi nói: “Được rồi, nói đi!” “Muội không được làm càn, phải làm theo lời huynh dặn!” “Được rồi, muội sẽ nghe lời huynh”. “Huynh muốn muội ở đây đợi một tên cường đạo”. Rồi trao bức huyết thư cho Phùng Lâm, nói: “Cường đạo tên Trương Thiên Trì, là sư đệ của người này, muội gặp y, dắt y lên chùa cho huynh. Còn nữa, nếu y động thủ với muội, muội không được đả thương y”. “Được thôi, muội sẽ giúp huynh”. Lý Trị mỉm cười, cõng Quảng Liên lên núi. Lúc này trời đã sáng tinh mơ.

Lại nói Phùng Anh lấy được gói thuốc, trên đường hết sức lo lắng, cứ cầm chắc trong tay sợ đánh rơi. Khi trời sáng, nàng đi ngang qua Bát Đạt lĩnh, phía trước chợt có mười thớt ngựa xông ra, có người kêu: “Chính là ả nha đầu này đả thương huynh đệ chúng ta!”

Tốp người này chính là bọn Trương Thiên Trì. Trương Thiên Trì không thấy Quảng Liên trở về, biết có chuyện xảy ra, ba người bị thương lại đã chết vì chất độc phát tác, chỉ đành đỡ những người bị thương lên lưng ngựa đi tìm kiếm. Bọn họ vừa ra khỏi cửa núi thì gặp Phùng Anh. Trương Thiên Trì nghe nói nàng là hung thủ, bất giác lửa giận bốc lên, thế là rút đôi Phán Quan bút xông tới ra đòn sát thủ!

Lần này khiến Phùng Anh bất ngờ, nàng không kịp lên tiếng kẻ địch đã lao tới phía trước, Phùng Anh lia thanh kiếm, Trương Thiên Trì võ công rất cao cường, hai cây bút đâm xéo ra, bút trái đâm vào huyệt Khúc Trì của nàng, bút phải đâm vào huyệt Huyền Cơ, Phùng Anh buộc phải tiếp chiêu. Trong lúc vội vàng nàng quên bẵng mình đang cầm thuốc trong tay trái, tay phải cầm đoản kiếm hất lên, chặn binh khí kẻ địch, tay trái vươn ra điểm vào huyệt đạo của kẻ địch. Ngay lúc này Phùng Anh kêu lên một tiếng kinh hãi, gói thuốc đã rơi xuống đất, nàng vội vàng nhặt lên, Trương Thiên Trì đang lo lắng, chợt nghe Phùng Anh kêu kinh hoảng, tưởng rằng nàng đã trúng ám khí của đồng bọn nên lập tức vung bút điểm vào sau lưng Phùng Anh.

Phùng Anh trở tay đánh ra một kiếm đâm vào vai phải của y, vội vàng kêu: “Ta không thù không oán với các ngươi, các ngươi để ta lấy thuốc, ta sẽ tha cho các ngươi!” Trương Thiên Trì nói: “Hừ, ngươi còn muốn chạy?” rồi hai cây bút điểm nhanh tới khiến Phùng Anh chẳng thể thoát thân. Thủ hạ của y thấy Phùng Anh kêu lên, lập tức có người nhặt thuốc, cười nói: “Đây là thuốc gì quý báu thế?” Vừa nói vừa xé bao thuốc, lại bảo: “Hừ, cả lá cây và dế mà cũng lấy làm thuốc, chắc chắn đây là một tên nữ yêu!” rồi tiện tay ném xuống dòng suối, bị nước suối cuốn mất dạng!

Phùng Anh đau đớn vô cùng, Đường Hiểu Lan chỉ còn sống không quá ba ngày, thuốc chẳng còn nữa, Diệp Thọ Thường đã chết, dù ông ta còn sống cũng hết cách, đúng là nàng đã rơi vào tâm trạng tuyệt vọng! Chỉ thấy trước mắt hoa lên, suýt nữa đã bị đôi bút của Trương Thiên Trì đâm trúng.

Phùng Anh đau đớn quá nổi điên lên, kêu: “Hôm nay ta không giết ngươi, thề không làm người!” kiếm pháp chợt thay đổi lợi hại hơn trước, võ công của Trương Thiên Trì tuy cao nhưng làm sao đỡ nổi Thiên Sơn kiếm pháp. Huống chi Phùng Anh đã liều mạng cho nên toàn đà đánh những đòn sát thủ. Năm mươi chiêu trôi qua, Trương Thiên Trì rơi vào nguy hiểm. Bè đảng của Trương Thiên Trì thấy kiếm quang bay bổng, khí lạnh tỏa ra xung quanh, chẳng phân biệt được bóng người nữa, chẳng dám bước lên giúp tay.

Trương Thiên Trì không ngờ rằng Phùng Anh lợi hại đến thế, bị nàng đánh đến luống cuống chân tay, cõi lòng lạnh lẽo, chợt nghe thuộc hạ kêu: “Lại có một ả yêu nữ. Trời ơi, ban ngày gặp ma, chạy mau, chạy mau!” Trương Thiên Trì phải dốc hết sức chống đỡ, chẳng dám nhìn ra ngoài, chỉ nghe một giọng nói trong trẻo vang lên: “Ngươi có phải là Trương Thiên Trì không?” Trương Thiên Trì nói: “Đúng thế! Nữ anh hùng nào đấy?”

Giọng nói ấy lại trả lời: “Đừng lo, ta giúp ngươi”. Người đến thì kiếm đến, một luồng thanh quang lướt đến trước mặt. Phùng Anh cả kinh, xoay mũi kiếm đâm xuống một nhát, xuyên vào xương tì bà của Trương Thiên Trì, rồi nàng rút kiếm chặn lại, bất giác ngẩn người, hai kiếm chạm nhau, cả hai người đồng thời quát lên: “Ngươi là ai?” Trương Thiên Trì đau đến tận tim phổi, tay phải rũ xuống chẳng giở lên nổi, y ngước mắt lên nhìn, chỉ thấy hai thiếu nữ diện mại y hệt nhau, hai kiếm giao nhau, hai bên đều sững sờ. Y sợ đến nỗi hồn bay phách tán, lạc giọng kêu: “Ma, đúng là gặp ma!”

Té ra người đến sau là Phùng Lâm, nàng không ngờ lúc này đã gặp lại người mà mình muốn tìm.

Chính là:

Đi rách giày sắt chẳng thấy đâu, gặp nhau cứ ngỡ là trong mộng.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 39: Gửi lời đưa di thư tình sầu miên man Xả thân toan cứu nạn tâm lực uổng phí

Cam Phụng Trì nói: “Đường huynh đệ cứ nói”. Đường Hiểu Lan trả lời: “Tôi có một bức di thư nhờ Cam đại hiệp gửi cho ân sư Dương Trọng Anh”. Cam Phụng Trì nói: “Còn bảy ngày nữa, có lẽ sẽ còn cách, Đường huynh yên tâm đừng nghĩ ngợi nhiều”. Đường Hiểu Lan cười khổ nói: “Sống chết đã có số, sức người chẳng thể nào cứu vãn được. Chi bằng cứ sắp xếp chuyện hậu sự trước để khỏi làm lỡ chuyện của người ta”. Cam Phụng Trì không biết chuyện giữa Đường Hiểu Lan và Dương Liễu Thanh đã đến mức chẳng thể nào cứu vãn nổi, nói: “Chỉ e thời gian bảy ngày quá ít, không thể mời Dương lão tiền bối đến kinh sư”. Cam Phụng Trì còn tưởng rằng Đường Hiểu Lan muốn gặp mặt cha con Dương Trọng Anh trước khi chết. Đường Hiểu Lan nói: “Ân sư đã bị trúng ám khí của Đường Gia Tứ Xuyên, nay đã tàn phế, không thể mời người đến được. Tôi chỉ muốn trước khi chết, xóa bỏ hôn ước để khỏi làm lỡ dở tuổi thanh xuân của Liễu Thanh”.

Cam Phụng Trì còn đang định an ủi. Lữ Tứ Nương nói: “Cứ để y viết. Nếu y đã có ý này, không để y làm trái lại khiến y càng thêm lo”. Cam Phụng Trì nghe thế cũng đành thôi.

Đường Hiểu Lan về phòng viết di thư, Phùng Anh đứng nhìn theo mà nước mắt tuôn trào.

Lữ Tứ Nương nắm tay nàng, dắt ra giữa sân, Phùng Anh chợt nói: “Vì trả ơn lớn mà liều thân theo kẻ thù có phải là thất tiết hay không?” Lữ Tứ Nương chưng hửng, nói: “Không, nhưng cần gì phải làm thế?” Phùng Anh nói: “Giờ đã là lúc sơn cùng thủy tận...” Lữ Tứ Nương nói: “Nhưng không chừng sẽ liễu rậm hoa thưa... Ồ, ai thế?” Lữ Tứ Nương chưa nói xong, chợt trên mái nhà của tiếng cười ha hả, Cáp Bố Đà và một Lạt ma mặc tăng bào màu đỏ đột nhiên xuất hiện, cao giọng nói: “Ngự chỉ của Hoàng thượng đến, mời Đường đại hiệp và Lâm quý nhân mau vào cung!” nói xong thì nhảy xuống sân, đưa mắt nhìn xung quanh.

Lạt ma mặc áo đỏ này tên gọi là Ngạch Âm Hòa Bố, là đại Lạt ma của Hồng giáo, Ung Chính tôn Lạt ma là quốc giáo, từ sau khi Liễu Ân chết đi, Ung Chính cần phải tìm người khác bù vào, Ngạch Âm Hòa Bố có võ công cao nhất trong Lạt ma Hồng giáo, võ công và khinh công chẳng kém gì Liễu Ân. Ung Chính phong y làm đại quốc sư, ban cung Ung Hòa cho y.

Lữ Tứ Nương và Phùng Anh đại náo hoàng cung, khi Ngạch Âm Hòa Bố đến, bọn họ đã chạy ra khỏi cung, y và Cáp Bố Đà đuổi theo, tuy không kịp nhưng khoảng cách không quá xa, bọn chúng bám theo nên đã phát hiện nơi ở của họ.

Đường Hiểu Lan ngồi trong phòng viết di thư, chợt nghe Cáp Bố Đà kêu lớn “tuyên chiếu” thì chợt cả giận, nhảy ra mắng: “Ta thà chết chứ không chịu nhục, ngươi muốn ta vào cung cầu khẩn, đừng hòng, cút đi cho ta!” Lữ Tứ Nương chợt nói: “Thế thì quá lợi cho y! Hiếm có dịp Cáp tổng quản đến đây, chúng ta hãy mời y ở lại!” Cam Phụng Trì nghe thế, biết dụng ý của Lữ Tứ Nương là muốn bắt Cáp Bố Đà để đổi thuốc giải. Rồi vung tay vỗ ra hai chưởng, Cáp Bố Đà tiếp một chiêu, mỗi bên thoái lui ba bước. Ngạch Âm Hòa Bố cười lạnh: “Tiểu tử không biết trời cao đất dày, các ngươi dựa vào cái gì mà giữ người?” Lữ Tứ Nương lách người, đâm soạt ra một kiếm như điện chớp vào yết hầu của y, quát: “Dựa vào thanh kiếm này!”

Nào ngờ Ngạch Âm Hòa Bố chợt lướt qua, quét cây phất trần trong tay một cái, cuộn vào thanh kiếm của Lữ Tứ Nương. Lữ Tứ Nương hơi thất kinh, chợt lắc người thừa thế vặn một cái, liên tục chém ra ba nhát kiếm, Ngạch Âm Hòa Bố vẫn đứng yên, cây phất trần quét trái múa phải, tiếp liên tục ba chiêu. Hai người đều dùng võ công thượng thừa lao vào nhau, chẳng ai nhường ai. Ngạch Âm Hòa Bố muốn đoạt thanh kiếm của Lữ Tứ Nương, đương nhiên không thể; Lữ Tứ Nương muốn giết chết y cũng không được!

Cáp Bố Đà và Cam Phụng Trì công lực đều như nhau, chẳng ai kém ai, lúc này đã đọ nhau hơn hai mươi chiêu. Đường Hiểu Lan rút cây Du Long kiếm xông lên trợ chiến. Cáp Bố Đà cười ha hả: “Chất độc trong người của ngươi đã bắt đầu phát tác, ngươi muốn chết sớm hơn ư?” Phùng Anh kéo Đường Hiểu Lan nói: “Thúc thúc hãy lui xuống, Anh nhi có chủ ý”. Đường Hiểu Lan thở dài, bụng chợt thấy đau nhói, chỉ đành lui vào bên trong. Ngạch Âm Hòa Bố và Lữ Tứ Nương đọ nhau bảy mươi chiêu mà chẳng phân thắng bại, Phùng Anh rút phắt thanh đoản kiếm định xông đến tương trợ, chợt nghe Ngạch Âm Hòa Bố hú dài một tiếng, trên tường đã xuất hiện bốn Lạt ma Hồng giáo, tất cả đều mặc tăng bào màu đỏ, đầu đội mũ sừng trâu màu đen, trông rất chói mắt. Cáp Bố Đà lại quát: “Rượu mời không uống mà muốn uống rượu phạt? Lâm quý nhân, ngươi có nghe Hoàng thượng tuyên chiếu hay không?”

Phùng Anh cầm kiếm phóng lên, bốn Lạt ma đều nhảy xuống, Phùng Anh kêu: “Các người đừng hòng vô lễ, ta sẽ cùng các người vào cung!” Cam Phụng Trì nghe thế cả kinh, kêu lên: “Cái gì? Sao Phùng cô nương lại làm thế?” Cáp Bố Đà nói: “Còn Đường Hiểu Lan? Hoàng thượng muốn cả hai người”. Phùng Anh đã chạy về phía bọn Lạt ma, lớn giọng đáp: “Ta sẽ nói rõ với Hoàng thượng. Ngươi là cái thá gì mà dám lên tiếng?” Cáp Bố Đà vội nói: “Vâng, vâng, nô tài sẽ cùng quý nhân vào cung”. Cam Phụng Trì và Lữ Tứ Nương định đến chặn lại nhưng vì kẻ địch quá mạnh, Phùng Anh đã cùng bốn Lạt ma phóng qua vách tường.

Đường Hiểu Lan nghe rất rõ ràng, trong lòng đau đớn chạy ra, kêu lớn: “Anh muội! Anh muội!” Phùng Anh từ bên ngoài nói vọng vào: “Đường thúc thúc, hãy quay vào. Anh nhi sẽ lấy thuốc giải cho người!” giọng nói và bước chân dần xa, Đường Hiểu Lan cố nén cơn đau nhảy lên tường, Ngạch Âm Hòa Bố quát: “Ngươi đến thật đúng lúc! Hãy đi theo ta!” rồi y phóng vọt lên, cây phất trần từ trên không trung cuốn xuống, Đường Hiểu Lan chém xéo thanh kiếm, chợt cảm thấy một luồng kình phong quét tới, suýt nữa thanh bảo kiếm đã vuột khỏi tay, Ngạch Âm Hòa Bố vung tay trái, năm ngón chụp xuống, Đường Hiểu Lan không chống đỡ nổi té xấp xuống vách tường. Ngạch Âm Hòa Bố lao theo, Lữ Tứ Nương vung kiếm chặn lại, chỉ trong chớp mắt, đôi bên lại đổi nhau mười chiêu. Cáp Bố Đà nói: “Lâm quý nhân đã vào cung, cần chi phải dằn co với bọn chúng?” rồi rút đôi chùy Lưu Tinh phóng ra khỏi vách tường, Ngạch Âm Hòa Bố thầm nhủ: “Nếu cứ đánh nữa cũng chưa chắc chiếm được phần hơn”, cao thủ trong cung vẫn chưa đến, lúc nãy chỉ là bốn tên đồ đệ của y, bản lĩnh cũng có hạn cho nên thấy thế y phóng vọt ra ngoài.

Cam Phụng Trì tức tối nói: “Sao Phùng cô nương lại trẻ con đến thế? Tôi không tin Hoàng đế sẽ trao thuốc giải!” Lữ Tứ Nương thở dài: “Phùng Anh vốn là trẻ con, đó gọi là có bệnh vái trăm nơi, nàng không còn cách nào nữa chỉ đành làm thế”. Cam Phụng Trì nói: “Tuy là thế, nhưng lần này chỉ e nàng đã tự đưa thân vào miệng hùm, chẳng được ích gì!” Đường Hiểu Lan lo lắng trong lòng, nói: “Dù sao tôi cũng sẽ chết, chi bằng cứ để tôi vào cung”. Cam Phụng Trì nói: “Một người nộp mạng vẫn chưa đủ sao?” Đường Hiểu Lan trả lời: “Nàng đã liều mạng vì đệ, đệ còn mặt mũi nào sống trên cõi đời này?” Cam Phụng Trì nghe thế, bất giác ngạc nhiên, lúc này mới nhận ra điều khác lạ. Lữ Tứ Nương mỉm cười: “Hiểu Lan, đệ đừng suy nghĩ gì nữa. Thất ca, chúng ta phải tìm cách khác. Nơi này không thể ở lâu!”

Lại nói Cáp Bố Đà và Ngạch Âm Hòa Bố dắt Phùng Anh về cung, lúc đó trời mới hửng sáng, Hoàng đế lên triều chưa quay về. Cáp Bố Đà giao Phùng Anh cho bọn cung nha trang điểm, còn mình ở bên ngoài canh giữ. Phùng Anh cố nén cơn giận, cứ để mặc cho bọn cung nha tô son điểm phấn cho nàng. Phùng Anh chẳng nói một lời, chỉ có điều không cho bọn cung nha lấy thanh đoản kiếm của mình mà vẫn giấu trong lòng.

Hôm nay chính sự rất nhiều, Ung Chính xử lý xong xuôi đã đến gần trưa. Nghe Ngạch Âm Hòa Bố và Cáp Bố Đà vào bẩm rằng Lâm quý nhân tự động về cung, trong lòng cả mừng, lập tức cho gọi.

Một chốc sau, bốn ả cung nha dắt Phùng Anh vào. Ung Chính vừa gặp đã cười ha hả: “Một năm không gặp mà nàng lại xinh đẹp đến thế!” Phùng Anh nổi giận nhưng chưa vội phát tác. Ung Chính lại cười nói: “Mỹ nhân, sao nàng lại không lên tiếng?” rồi bảo với bọn cung nha: “Cuộn tay áo của nàng lên, để trẫm xem thử dấu thủ cung sa của nàng có còn hay không?” Hai ả cung nha định ra tay, Phùng Anh đã vung tay, hai ả kêu ối cha một tiếng văng ra hơn một trượng. Phùng Anh tức giận nói: “Ngươi làm gì thế?” Ung Chính trả lời: “Sau khi tra xét, trẫm mới có thể phong nàng làm quý phi!” Phùng Anh nói: “Ngươi không chịu trao thuốc giải trước cho ta, đừng hòng ta nghe theo!” “Đúng thế. Đường thúc thúc của nàng đâu? Tại sao y không đến cầu xin ta?” “Người là trang hán tử, sao có thể cầu xin ngươi! Ngươi không muốn trao thì thôi”. “Nếu trao thì thế nào?” “Nếu trao ta sẽ ở lại cung làm nô tì cho ngươi”. Ung Chính vui mừng nói: “Đâu cần nàng chịu thiệt thòi làm nô tì, nàng sẽ là quý phi”. Rồi đổi sắc hỏi: “Nếu không cho thì sao?” “Thì ta sẽ liều với ngươi, quyết không để ngươi làm nhục!”

Ung Chính đảo mắt, cười ha hả: “Được, nể mặt nàng, ta sẽ trao thuốc giải. Cáp Bố Đà...” Cáp Bố Đà và Ngạch Âm Hòa Bố đang đứng chờ bên ngoài, nghe Hoàng đế kêu mới vâng một tiếng, Ung Chính nói lớn: “Ngươi không cần vào. Ngươi hãy mau chóng đem thuốc giải đến cho Đường Hiểu Lan. Bảo y mau mau ra khỏi kinh, không được làm khó y”. Cáp Bố Đà trả lời: “Nô tài tuân lệnh!” rồi bước ra khỏi cung, bước chân cố ý dặm mạnh như để Phùng Anh nghe thấy.

Ung Chính mỉm cười nói: “Thế nào? Vua không nói chơi, nàng cũng phải giữ lời!” rồi đưa tay kéo Phùng Anh, Phùng Anh trừng mắt phất ống tay áo đánh bốp một tiếng vào ngực Ung Chính, Ung Chính dù võ công cao cường cũng cảm thấy đau nhói nên vội vàng tránh sang, quát: “Thế nào? Ngươi muốn nuốt lời? Cáp Bố Đà vẫn chưa ra khỏi cung, ngươi nuốt lời e rằng đã quá sớm, ta lập tức sai người gọi y trở về”.

Phùng Anh nói: “Chúng ta nói câu nào tính câu ấy, nhưng ngươi không được giở trò!” Ung Chính nói: “Sao lại có lẽ này, cả trẫm mà ngươi cũng không tin?” “Không phải là không tin. Ai biết ngươi có phải đem thuốc giải đến cho Đường thúc thúc hay không? Ta phải chờ tin của Đường thúc thúc, biết người đã hoàn toàn khỏe ta mới chịu theo ngươi. Giờ ngươi muốn gạt ta là không được! Ngươi tưởng ta là trẻ con?”

Ung Chính thấy nàng quả thật lợi hại nên không dám liều tiến tới, chỉ nhíu mày rồi nảy ra một kế, cười rằng: “Nếu ngươi cứ đòi biết tin tức của Đường Hiểu Lan, trẫm sẽ đem về cho ngươi”. Phùng Anh nói: “Ngươi còn ở đây làm gì? Có tin của người, ngươi hãy đến gặp ta”. Ung Chính nói: “Hừ, phách lối thật!” Ung Chính mặt lạnh như sương, lui ra khỏi cung.

Phùng Anh tuy không nhiều kinh nghiệm, nhưng từ lâu đã có lòng đề phòng Hoàng đế, bọn cung nha đưa thức ăn xuống, nàng đều đòi chúng thử trước rồi mới nếm sau, Ung Chính có mưu đồ khác cho nên không hề bỏ thuốc mê vào cơm canh.

Bất giác lại đến tối, trong cung đèn đuốc sáng trưng, Ung Chính lại bước vào. Phùng Anh, nghiêm mặt hỏi: “Ngươi có đưa thuốc giải hay chưa? Đường thúc thúc của ta có tin tức gì không?” Ung Chính nói: “Có!” Phùng Anh vừa mừng vừa lo, nói: “Thế nào?” Ung Chính nói: “Người đâu!” bên ngoài kêu vâng một tiếng, Ngạch Âm Hòa Bố đẩy cửa bước vào, trong tay cầm một bức thư.

Phùng Anh giật mình, thầm nhủ: “Sau khi xong thư, mình sẽ liều mạng!” nàng đã sớm có ý xem xong thư sẽ rút kiếm tự sát.

Ung Chính nói: “Đưa bức thư cho Lâm quý nhân đọc!”. Ngạch Âm Hòa Bố từ từ bước đến gần, Phùng Anh run bần bật, đưa tay định nhận thư, chợt nghe Ung Chính quát lớn: “Phế võ công của ả!” nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Ngạch Âm Hòa Bố lật tay, trong bức thư có dấu một cây ngân châm, lúc này cây ngân châm lấp lánh đã đâm về phía Phùng Anh. Biến cố ấy quá bất ngờ khiến Phùng Anh không thể đề phòng, nàng đành liều mạng vỗ nhanh hai chưởng kêu lên vù vù vào người của Ngạch Âm Hòa Bố, nhưng trên người cũng đã trúng mấy cây ngân châm của y.

Đó là cạm bẫy của Ung Chính, số là Ngạch Âm Hòa Bố có một loại võ công độc môn, có thể dùng ngân châm đâm vào huyệt cách một lớp áo, hóa giải khí chân nguyên của kẻ địch, dù có võ công cao cường đến mức nào cũng bó tay. Khi bị trúng châm phải luyện vài ba năm mới hồi phục. Nhưng loại võ công này rất khó vận dụng khi đánh nhau với cao thủ, chưởng thể dùng để ám trán hoặc dùng để tra tấn tù binh. Ung Chính biết Phùng Anh không chịu nghe theo bởi vậy phải dùng độc châm này!Ngạch Âm Hòa Bố đột kích tuy thành công nhưng cũng trúng hai chưởng của Phùng Anh, Thiên Sơn chửơng pháp lợi hại phi phàm, khoảng cách lại quá gần, hai chưởng đánh trúng vào chỗ yếu hại, dù Ngạch Âm Hòa Bố võ công cao cường đến thế nhưng cũng không chống cự nổi, y chỉ cảm thấy ngực đau nhói, vội vàng vận khí cho máu lưu thông lại. Ung Chính nói: “Được, không có việc của ngươi nữa, cho ngươi nghỉ ngơi ba ngày!”

Phùng Anh bị đâm mấy cây châm, cảm thấy như kiến cắn vào người. Chỉ nghe Ung Chính cười ha hả: “Lâm nha đầu, từ rày về sau nàng hãy ở trong cung hưởng vinh hoa phú quý, không cần dùng võ công nữa. Nào, chúng ta hãy gần gũi với nhau!”

Phùng Anh trợn mắt, Ung Chính cười gằn nói: “Ngươi đã mất hết võ công, còn làm hung cho ai coi? Nào, xem thử thủ cung sa của ngươi có còn hay không?” rồi sờ vào cánh tay của Phùng Anh.

Phùng Anh chợt thất kinh, thầm nhủ: “Chả lẽ y đâm bừa mấy cây châm mà võ công của mình hoàn toàn chẳng còn?” nàng vốn đã muốn liều chết, mặc cho võ công có còn hay không, nàng đỡ tay đánh bốp một tiếng, Ung Chính kêu ối chao một tiếng, hai cái răng rớt ra, nửa bên mặt sưng vù lên.

Ung Chính thất kinh, thế này đâu có giống đã mất võ vông? Nói thì chậm, sự việc lúc đó diễn ra rất nhanh, Phùng Anh rút soạt thanh kiếm đâm tới, Ung Chính phất tay áo đánh soạt một tiếng, ống tay áo đã bị cất mất một đoạn, Ung Chính rút thanh kiếm đánh keng một tiếng, hai kiếm chạm nhau, mỗi bên thoái lui mấy bước, hai thanh bảo kiếm đều mẻ một miếng. Võ công của Phùng Anh chẳng hề mất, Ung Chính thầm mắng trong bụng: “Ngạch Âm Hòa Bố khốn kiếp, sao lại thế này?” Phùng Anh đâm soạt soạt mấy kiếm, Thiên Sơn kiếm pháp tinh diệu tuyệt luân, Ung Chính bị nàng đánh đến tay chân luống cuống, vội kêu lớn: “Người đâu!”

Té ra không phải thủ pháp của Ngạch Âm Hòa Bố mà chính xác mà bởi Phùng Anh có mặt bộ nhuyễn giáp, bộ nhuyễn giáp này đao thương còn chẳng đâm vào được huống chi là ngân châm. Phùng Anh lại học nội công của chính phái, hễ nàng bị đánh lén, cơ bắp sẽ tự lõm vào trong, khi đâm Ngạch Âm Hòa Bố lại không dám dùng lực, chỉ đâm sao cho nàng mất võ công mà thôi.

Ung Chính kêu mấy tiếng, hai tên võ sĩ canh gác bên ngoài lên tiếng trả lời. Lúc này Ung Chính mới nhớ Ngạch Âm Hòa Bố đã quay về nghỉ ngơi, Cáp Bố Đà ra ngoài chưa về, bọn vệ sĩ bên ngoài chẳng phải là đối thủ của nàng nên càng lo lắng.

Ung Chính lo lắng, Phùng Anh cũng e ngại. Nàng liên tục đánh mấy chiêu mà vẫn không đắc thủ, thầm nhủ: “Nếu Đường thúc thúc chưa nhận được thuốc giải, mình liều chết cũng chẳng có ý nghĩa gì, trước khi chết mình phải gặp người một lần”. Bên ngoài tiếng bước chân càng gần hơn, chợt nàng đánh một chiêu kinh lôi thiển điện, đã lôi Ung Chính rồi phóng vọt ra cửu sổ!

Hai tên võ sĩ vừa đuổi tới, Phùng Anh tiện tay đâm ra hai nhát kiếm, giết chết được một tên rồi phóng ra ngoài, Ung Chính kêu lớn: “Mau thổi cảnh hiệu, bắt ả nha đầu lại!” Phùng Anh chạy ra ngự hoa viên, nghe tiếng tiêu nổi lên xung quanh, bóng đen từ bốn phía chạy tới, nàng lại không thông thuộc đường lối trong cung, chỉ đành chạy bừa trong những nơi tối tăm.

Rồi nàng chạy đến một hồ sen, bên hồ có vách tường cao đến mấy trượng, gần vách tường có một căn phòng cửa sắc, ở cửa có một cửa sổ nhỏ, một tên thái giám đang đúc thức ăn vào cửa, y nói vọng vào: “A Kỳ Na, mau tọng cho no bụng, lão tử không rảnh hầu ngươi!” Phùng Anh thầm nhủ: “Người bị nhốt bên trong chắc là phạm nhân. A Kỳ Na có nghĩa là gì? Có phải là tên của phạm nhân không?” tiếng bước chân sau lưng càng lúc càng gần. Một ý nghĩ chợt nảy lên trong đầu Phùng Anh, nàng cầm kiếm đâm chết tên thái giám ấy, kéo xác y ném xuống hồ sen rồi chặt đứt dây xích bên ngoài cửa, đẩy cửa bước vào.

Trong bóng tối chợt nghe có người gằn giọng: “Đến đây! Ngươi là cung nữ của cung nào?” người này ở lâu trong hắc lao, mắt đã nhìn quen bóng tối, cho nên đã thấy được mặt của Phùng Anh; Phùng Anh lại không thấy y. Nàng thầm nhủ: “Y đã bị Hoàng đế nhốt ở đây, chắc chắn là người tốt”. Lớn giọng nói: “Ngươi đừng lo, ta đến cứu ngươi!” trong bóng tối chợt vang lên tiếng cười quái dị, một luồng kình phong quét tới, Phùng Anh đau nhói ở vai, té ra đã bị người ấy chụp trúng, nàng chợt trầm vai xuống thoái lui mấy bước, người ấy kêu ồ một tiếng: “Ngươi không phải là cung nữ ư?” tiếp theo lại nghe tiếng gông cùm va vào nhau, té ra người này đã bị khóa vào gốc tường, không thể di chuyển.

Phùng Anh thầm nhủ: “Sao người này lại hung hăng như thế” người ấy lại quát: “Ngươi đã nói đến cứu ta, tại sao không đến đây?” Phùng Anh liên thanh đoản kiếm, vừa ngắm hàng quang nheo mắt nhìn, chỉ thấy đầu bù tóc rối, đôi mắt lộ ra, nếu nàng là người tầm thường đã bị y dọa chết. Người ấy lại kêu: “Trong tay ngươi có phải cầm thanh bảo kiếm không? Mau, hãy chặt gãy gông cùm!” Phùng Anh hơi chần chừ, chợt nghe bên ngoài có tiếng bước chân, người ấy lại tức giận nói: “Ngươi có đến đây hay không? Không đến ta đánh chết ngươi, ngươi đừng tưởng ta không thể di chuyển, xem đây!” khi đang nói, ngón tay của y đã móc được hai hòn sỏi dưới đất, rồi y búng một cái đánh keng lên cánh cửa sắc, ánh ra một tia lửa, rồi cười khằng khặc nói: “Ngươi có dám chạy hay không?”

Phùng Anh cảm thấy bực mình, lớn giọng nói: “Ta không phải sợ ngươi mà đến cứu ngươi, ta thấy ngươi bị cẩu hoàng đế giam giữ nên muốn cứu ngươi thế thôi!” người ấy lại kêu ồ một tiếng, nói: “Được, hãy cứu ta!” Phùng Anh nhảy vọt tới, liên thanh bảo kiếm lên, chỉ trong chớp mắt gông cùm trên tay chân người ấy đều bị chặt gãy cả. Người ấy khen: “Đúng là bảo kiếm!” tiếng bước chân đã đến trước cửa căn nhà lao. Người ấy chợt nói: “Này, Ngạch Âm Hòa Bố có ở trong cung không?” Phùng Anh trả lời: “Có!” người ấy nói: “Trông ngươi võ công không kém, ngươi nhớ đấy, mệnh môn của Ngạch Âm Hòa Bố là huyệt Khảm Hỏa Ly Thủy, ngươi dùng bảo kiếm đâm y!” Phùng Anh định hỏi huyệt Khảm Hỏa Ly vị Thủy trên cơ thể con người là chỗ nào, chợt nghe bên ngoài có tiếng người huyên náo: “Ai đã mở cửa nhà lao?” lại có người kêu: “Xem kìa, trong hồ sen có cái xác nổi lên, ôi chao... đó chính là tên thái giám đưa cơm!” người ấy hoàn toàn chẳng hề để ý đến tiếng ồn ào bên ngoài, y vươn vai người kêu lên răng rắc, Phùng Anh nghe thế đã biết nội công của y đến mức đăng phong tạo cực, trong lòng tuy ghét y nhưng cũng lấy làm vui mừng vì có được cao thủ tương trợ. Đang định lên tiếng, người ấy trầm giọng nói: “Ngươi dùng bảo kiếm mở đường cho ta, ngươi có nghe hay không?” rồi y đưa tay đẩy nàng. Phùng Anh định lên tiếng trách y, chợt nghe bên ngoài có người kêu: “Bát bối lạc, Bát bối lạc? Thế nào, chả lẽ đã chạy rồi sao?” Phùng Anh thất kinh, người lách qua một bên. Chỉ nghe người ấy trầm giọng nói: “Ngươi đã biết thân phận của ta, ngươi giúp ta thoát nạn, ngày sau nếu lên ngôi báu, ta phong ngươi làm chính cung nương nương!”
Té ra người này là em trai của Ung Chính, tức là Bát bối lạc Dận Tự. Tuy y không nắm binh quyền trong tay như Dận Đề nhưng từ nhỏ y đã học võ công của Hồng giáo Lạt ma, lại có thần lực bẩm sinh, cho nên Ung Chính cũng rất e ngại. Ung Chính lên ngôi được một năm, cơ nghiệp đã vững mới dám ra tay đối với y. Y và Lạt ma Hồng giáo vốn có tình đồng môn, khi y còn là bối lạc, Ngạch Âm Hòa Bố là tâm phúc của y. Sau khi Ung Chính đoạt ngôi, đã âm thầm mua chuộc Ngạch Âm Hòa Bố, rồi lại dùng sức của Ngạch Âm Hòa Bố bất ngờ bắt giữ y. Lúc đó Ung Chính vẫn chưa hoàn toàn triệt bỏ vây đảng của các bối lác, sợ rằng giết y sẽ gây ra biến loạn cho nên chỉ tước vương hiệu của y, nhốt trong nhà đá, đổi tên y là A Kỳ Na, trong tiếng Mãn có nghĩa là “chó”. Mỗi ngày Ung Chính sai lấy thức ăn của chó đem đến cho y.

Phùng Anh bị Dận Tự uy hiếp dụ dỗ, cả giận hừ một tiếng: “Các người chó cắn chó, cốt nhục tương tàn chẳng liên quan gì đến ta. Ngươi đi đường ngươi, ta đi đường ta!” Dận Tự mắng: “Hay cho ả tiểu tiện nhân!” người bên ngoài cửa lao sợ Dận Tự sức mạnh thần dũng, không dám liều tiến vào, chỉ nghe bước chân càng lúc càng nhiều. Dận Tự chợt nói: “Được, chúng ta cùng giúp đỡ nhau xông ra, sau khi thoát nạn ai đi đường nấy!” Phùng Anh nói: “Được”.

Bên ngoài ánh lửa bừng sáng, tựa như đã có cao thủ tới, bọn họ đã bắt đầu vào hắc lao. Dận Tự mắt lộ hung quang, chợt nhảy bổ về phía trước, quát: “Cho ta mượn thanh bảo kiếm của ngươi!” Phùng Anh khinh công trác tuyệt, vốn đã có chuẩn bị trước nào để cho y ám toán, nàng lướt qua đỉnh đầu của y, Dận Tự xoay người lao bổ tới nhanh như kình phong, Phùng Anh lách người, đẩy Dận Tự bay ra ngoài cửa! Dận Tự tuy võ công cao cường nhưng không ngờ một tiểu cô nương lại có công phu nội gia thượng thừa, lập tức ngã chõng vó ở bên ngoài!

Phùng Anh thầm nhủ: “Mình vốn có ý tương trợ mà y lại ích kỷ đến thế”. Rồi rút thanh đoản kiếm nấp vào gốc tường. Chỉ nghe bên ngoài vang lên tiếng kêu cha gọi mẹ, té ra Dận Tự có công phu kim cương thủ thiết bố sam, bọn võ sĩ định hợp lực bắt giữ y, bị y vùng một cái, tiện tay tóm được hai tên ném xuống hồ sen! Lại nghe Cáp Bố Đà quát lớn: “A Kỳ Na, ngươi thật lớn gan, Hoàng thượng đã tha chết cho ngươi thế mà ngươi còn muốn bỏ chạy?” Dận Tự mắng lại: “Ngươi mới là A Kỳ Na, nếm một chưởng của ta!” bên ngoài có tiếng đánh nhau bốp bốp, tiếng chân đuổi theo tựa như Dận Tự đã xông ra khỏi vòng vây, Cáp Bố Đà xua quân đuổi theo!

Một hồi sau, tiếng người dần xa, Phùng Anh mới thở phào, thầm nhủ: “Bọn chúng cấu xé lẫn nhau, mình mới có cơ hội thoát hiểm”. Rồi nàng men theo vách tường lần dò ra ngoài xem thử. Bên ngoài có bóng người thấp thoáng, chợt có một người xông vào lao, Phùng Anh cúi người đâm một kiếm về phía người ấy, nhát kiếm này của Phùng Anh vừa nhanh vừa dữ, không ngờ đã hụt, thêm một kiếm, mũi kiếm đâm vào vách đá, trong nhất thời chẳng rút ra nổi!

Phùng Anh kinh hoảng, chợt nghe có người kêu nhỏ: “Phùng cô nương, đừng lo, hãy mau theo tôi”. Phùng Anh vận lực vào ngón tay rút thanh kiếm ra, nhìn lại thì ra đó là một ông già tóc bạc phơ, tay cầm gậy, trên người mặc quần áo của thị vệ. Phùng Anh giơ ngang kiếm phòng thủ, quát hỏi: “Ngươi đã lớn tuổi như thế này mà còn muốn bán mạng cho cẩu hoàng đế?” Phùng Anh tưởng rằng tên thị vệ già này sẽ bắt nàng đến gặp Ung Chính, ông già mỉm cười nói: “Khá lắm, cô nương tuổi còn nhỏ mà thật thông minh. Nhưng ai nói ta bán mạng cho cẩu hoàng đế?” Phùng Anh thấy y nói thế, ngạc nhiên hỏi: “Ông là ai?” ông già nói: “Tôi vâng lệnh Cam đại hiệp đến đón cô nương ra ngoài!” Phùng Anh không dám tin, nhưng vẫn nắm kiếm quyết. Ông già lại nói: “Cô nương có nghe tên của Hầu Tam Biến chưa? Đó chính là tôi!” Phùng Anh đã nghe Đường Hiểu Lan kể chuyện Hầu Tam Biến cứu mình, sau đó ra khỏi cung, đi theo Lãnh Thiền ẩn cư, nàng không khỏi vừa kinh vừa mừng, nói: “Ồ, té ra ông là Hầu bá bá”. Rồi nàng đút kiếm vào bao, bước lên thi lễ, chợt ông già lại vỗ một chưởng lên mặt nàng, thuận tay vuốt một cái, Phùng Anh chỉ cảm thấy nhớt nhúa, có mùi hôi thối, mắt hầu như chẳng mở ra nổi.

Nhưng chưởng này rất nhẹ nhàng, Phùng Anh chẳng hề thấy đau đớn, chỉ là Phùng Anh giật mình, chưa kịp rút kiếm ra khỏi bao, ông già đã nói: “Phùng cô nương đừng lo. Nếu không bôi một lớp bùn lên mặt, cô nương làm sao có thể thoát ra?” Phùng Anh thầm nhủ, võ công của ông già này rất cao cường, nếu đúng là áp toán, chưởng ấy có thể đánh vỡ cả đầu mình. Nàng tin rằng ông ta không có ác ý, ông già lại lau sạch tay, ném một cái tay nải nhỏ cho Phùng Anh, nói: “Thay bộ quần áo này vào”. Nói xong quay người đi.

Phùng Anh mở ra nhìn, thấy trong đó là một bộ quần áo thái giám, cười rằng: “Ông suy nghĩ thật chu đáo”.

Số là sau khi Phùng Anh vào cung, Cam Phụng Trì và Lữ Tứ Nương đều rất lo lắng, suy đi nghĩ lại mới nhớ đến Hầu Tam Biến và Lãnh Thiền còn ẩn cư ở Tây Sơn, hai người này quen thân với một số thị vệ trong cung bởi vậy Lữ Tứ Nương với Cam Phụng Trì đã đến Tây Sơn nhờ giúp đỡ.

Phùng Anh đã thay xong quần áo, định theo Hầu Tam Biến ra ngoài, chợt nghe ở ngoài cửa lao lại có tiếng người, Phùng Anh định xông ra ngoài nhưng Hầu Tam Biến đã giữ nàng lại.

Người bên ngoài cửa kêu: “Lão Hầu, ngươi thật lớn gan!” Phùng Anh toát mồ hôi lạnh, chỉ nghe Hầu Tam Biến cười nói: “Lôi lão nhị, vào đây, bên ngoài thế nào rồi?” một lát sau, lại có một thị vệ già bước vào, trong tay cầm cây đuốc, vừa thấy Phùng Anh đã kinh hãi. Hầu Tam Biến nói: “Ta phải hộ tống vị tiểu ca này ra ngoài, ngươi có cách nào không?” người họ Lôi chính là kẻ đã giúp đỡ Hầu Tam Biến vào cung, y nói: “Té ra ngươi mạo hiểm vào cung là vì y hay sao?” trong lòng lấy làm lạ tại sao Hầu Tam Biến liều mạng vì một thái giám nhỏ. Y bước tới kéo Phùng Anh, Phùng Anh chợt rụt tay lại, thị vệ này thấy trên mặt nàng bùn đất lấm lem, cười rằng: “Té ra là một ả nha đầu. Này, lão Hầu, ả là ai thế?” Hầu Tam Biến nói: “Là quý phi Hoàng thượng mới phong!” thị vệ ấy kêu ối chao một tiếng, lúng túng nói: “Ngươi... ngươi đã gây ra chuyện lớn!” Hầu Tam Biến nói: “Đó không chỉ là quý phi Hoàng thượng mới phong mà là truyền nhân duy nhất của phái Thiên Sơn, là đệ tử cuối cùng của Dịch lão tiền bối!” người họ Lôi chưng hửng, bàng hoàng nói: “Ôi chao! Chả trách gì ngươi liều mạng đến thế. Té ra là vì cứu đệ tử của Dịch lão tiền bối”.

Hầu Tam Biến cười nói: “Lôi lão nhị, ngươi có muốn đi theo bọn ta không?” người họ Lôi nói: “Ở trong cung ăn cơm chờ chết, cũng chẳng có ý nghĩa gì, chi bằng đi theo ngươi cho xong”. Hầu Tam Biến nói: “Dận Tự thế nào rồi?” người họ Lôi trả lời: “Đang áp chiến loạn Cáp Bố Đà bên ngoài. Tây Hoa môn có ít binh lính, làm sao ngươi biết nàng trốn trong nhà lao?” Hầu Tam Biến nói: “Dận Tự luyện võ công của Hồng giáo, cái xác trong hồ sen có dấu tay, sau lưng lại không gãy, rõ ràng là không phải do y giết chết. Ngoại trừ nàng thì còn ai?” thế rồi ba người chạy ra khỏi nhà lao.

Hoàng cung rất rộng, binh lính trong cung đều chạy theo truy bắt Dận Tự bởi vậy việc lục soát Phùng Anh mới lơi lỏng, Hầu Tam Biến dắt Phùng Anh chạy ra cửa tây, đêm ấy trăng mờ sau thưa, họ lại mặc quần áo của thị vệ và thái giám, lại thêm có người họ Lôi dẫn đường cho nên dễ dàng chạy đến tây hoa môn.

Người canh Tây Hoa môn là Lôi Hải Âm, y vốn là đại đầu mục của Huyết Trích Tử, từ xa thấy Hầu Tam Biến chạy đến, tưởng là thị vệ trong cung, hỏi: “Này, nghe nói Dận Tự đã bị Cáp Bố Đà bắt sống, bên trong trời long đất lỡ, sao các ngươi lại không ở trong đó mà xem?” Hầu Tam Biến nói: “Bọn ta vâng lệnh đi bắt bè đảng của y, mau mở cửa ra”. Lôi Hải Âm nói: “Có văn thư không?” Hầu Tam Biến nói: “Đưa cho y!” Phùng Anh nhảy vọt tới trước, đột nhiên đâm ra một kiếm, Lôi Hải Âm là người năm xưa bắt Châu Thanh, võ công rất giỏi, Phùng Anh đâm tới một kiếm, y vội vàng lách qua, lớn giọng nói: “Mau bắt phản tặc!” Phùng Anh liên tục đâm ra ba nhát kiếm, Lôi Hải Âm dốc hết bản lĩnh mới tránh được hai hiêu.

Chiêu thứ ba là Minh Đà Thiên Lý, một tuyệt chiêu trong Thiên Sơn kiếm pháp, mũi kiếm xoáy một vòng, đâm ngược trở xuống, Lôi Hải Âm nhảy vọt lên trên, rút chân đã bị mũi kiếm đâm trúng thế là ngã chỏng vó xuống đất, Hầu Tam Biến lập tức chạy đến mở khóa, bất ngờ trên tường thành lại có hai người vọt xuống, người chưa đến, kiếm đã đâm tới, cả hai kiếm đều đâm vào cổ của Hầu Tam Biến, hai người này chính là Hải Vân hòa thượng và đồ đệ của y Long Mộc Công.

Nhát kiếm này của Hải Vân hòa thượng tụ hết công lực bình sinh của y, hiểm hốc lạ thường, y tưởng rằng nhát kiếm này có thể kết liễu kẻ địch. Nào ngờ Hầu Tam Biến cũng có công lực tinh thuần, thấy kiếm thế của y vừa dữ vừa mạnh, lập tức hạ người xuống, quyền phải đấm thẳng vào bụng của kẻ địch, quyền trái đá hất vào yếu huyệt thận môn của y. Hải Vân hòa thượng buộc phải lách người, lưỡi kiếm đi chệch qua một bên, đâm lướt qua cổ của Hầu Tam Biến.

Kiếm thế của Long Mộc Công thì hơi chậm hơn, y đâm xuống một kiếm đã hụt, đã định đổi chiêu đâm tiếp, nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, kiếm của Phùng Anh đã đâm tới từ mặt bên, kiếm quang lóe lên, chỉ trong chớp mắt đã đánh mấy đòn sát thủ, Long Mộc Công tuy chẳng phải hạng tầm thường nhưng nào có thể chặn nổi Thiên Sơn kiếm pháp tuyệt diệu, không đầy năm chiêu, cổ tay đã bị thương, cây trường kiếm rơi keng xuống đất! Lúc này Hầu Tam Biến và Hải Vân hòa thượng đang đánh đến bất phân thắng bại. Phùng Anh múa kiếm như gió đâm tới, Hải Vân hòa thượng thấy thế vượt tường bỏ chạy. Hầu Tam Biến và Phùng Anh vội vàng mở cửa thành, chạy về phía cảnh sơn ở sau hoàng cung. Khi bọn lính đuổi tới, họ đã vượt qua cảnh sơn.

Bọn Cam Phụng Trì, Đường Hiểu Lan đang nóng lòng đợi ở Tây Sơn, đến sáng sớm hôm sau mới thấy Hầu Tam Biến và Phùng Anh trở về. Khi hỏi ra, Đường Hiểu Lan không khỏi toát mồ hôi lạnh. Lữ Tứ Nương mỉm cười: “Từ rày về sau muội muội không được làm càn nữa, muốn làm chuyện gì cũng phải bàn bạc với mọi người!” Phùng Anh rất xấu hổ, cúi đầu nói: “Đã khiến mọi người lo lắng”.

Phùng Anh ở trong cung một ngày một đêm, nay có thể thoát hiểm, nói ra thật may mắn. Nhưng như thế Đường Hiểu Lan chỉ có thể sống được năm ngày nữa. Phùng Anh nhớ đến điều này không khỏi lo lắng, hỏi Đường Hiểu Lan: “Huynh cảm thấy thế nào?” Đường Hiểu Lan nói: “Cũng không sao cả, có điều sức ngày càng yếu”. Phùng Anh tuôn trào nước mắt, Đường Hiểu Lan cười nói: “Thật ra được chết như thế cũng là chuyện tốt. Trong thiên hạ có mấy người biết được ngày chết của mình”. Đường Hiểu Lan giả vờ tỉnh như không, Phùng Anh nghe xong càng đau lòng. Lữ Tứ Nương nói: “Anh muội, chưa đến mức phải tuyệt vọng, muội đi theo tỉ một chuyến”. Phùng Anh nói: “Dù nhảy vào dầu sôi lửa bỏng, muội cũng đi theo”.

Chính là:

Đồi núi chập chùng tưởng hết lối, liễu rậm hoa thưa lại một thôn.

Muốn biết sau đó thế nào, mời sang hồi sau sẽ rõ.

Chương 40: Mỉm cười lộ kỳ năng phi đao cắt tóc Lâm nguy trổ diệu thủ liên kiếm trị hung

Phùng Anh chợt nghe câu ấy tựa như sấm nổ trên đầu, khóc chẳng thành tiếng, người cứ run bần bật lao vào cửa, Cam Phụng Trì sợ nàng đau lòng, định cản lại nhưng thấy nàng như thế chỉ đành thở dài nhường đường.

Phùng Anh lao vào bên trong, thấy bọn Ngư Xác, Bạch Thái Quan, Ngư Nương, Lộ Dân Đảm đứng vây quanh bên giường bệnh, họ vừa thấy Phùng Anh thì đều lách ra. Lúc này Phùng Anh mới bật khóc, kêu lên: “Đường thúc thúc, Anh nhi đây, thúc thúc có nghe không?” Đường Hiểu Lan hé mắt, người khẽ động đậy nhưng chẳng nói nên lời. Lý Trị bước vào, chỉ nghe Bạch Thái Quan nói: “Các người đã về muộn, y vừa mới thở dốc!”

Lý Trị lúc này cũng cả kinh, kêu: “Không thể như thế!” rồi vẹt mọi người ra, chỉ thấy Phùng Anh đang khóc rất thảm thương, Ngư Nương và Lý Minh Châu đang đỡ nàng, không để nàng bổ nhào vào người Đường Hiểu Lan.

Lý Trị bắt mạch, chỉ thấy mạch tượng yếu tựa như sợi tơ, lại ghé tai lên ngực chàng lắng nghe, trên ngực vẫn còn ấm, tim vẫn còn đập nhè nhẹ. Xem kỹ lại mạch, mạch tựa như chẳng hề có triệu chứng của người bệnh, chỉ là rất yếu ớt, hơi thở hầu như cũng không thể phân biệt được, đúng là không thể hiểu nỗi, trong khoảnh khắc chợt nhớ lại cách đoán bệnh của Diệp Thọ Thường và lý do tại sao ông ta dùng lá ngô đồng mùa thu, một cặp dế trống mái và thuốc ninh thần, chàng đang ngồi bật dậy, nói với Phùng Anh: “Hãy nín khóc, nếu không y chẳng sống nỗi!”

Phùng Anh nói: “Có cứu được không?” Lý Trị gật đầu, Phùng Anh vội lau nước mắt. Mọi người đều ngạc nhiên, rõ ràng đã đứt hơi tại sao bảo còn có thể cứu? Vả lại trong lúc này biết tìm thuốc ở đâu?

Lý Trị kéo Phùng Anh qua một bên, khẽ nói: “Muội dùng ngón tay đâm vào nhân trung của y, kêu bên tai y rằng đã tìm được linh đơn!”

Phùng Anh nghi hoặc, nói: “Linh đơn ở đâu?” Lý Trị nói: “Hôm nay muội phải nghe lời huynh, đảm bảo sẽ có công hiệu”.

Phùng Anh nửa tin nửa ngờ, làm theo lời Lý Trị, chỉ thấy Lý Trị đổ một ly nước nóng, tiện tay bốc một ít tro nhang trong lư nhang búng vào ly nước, nói: “Cho y uống vào!”

Phùng Anh mặt biến sắc, Lý Trị đã trừng mắt nói: “Mau cho y uống, đó chính là linh đơn!” vẻ mặt của chàng rất nghiêm túc. Phùng Anh bưng ly nước, Lý Trị lại nói: “Đổ vào, bảo là linh đơn!”

Phùng Anh nói nên tai Đường Hiểu Lan: “Linh đơn đây!” Đường Hiểu Lan lại nhúc nhích người, Lý Trị nói tiếp: “Uống vào sẽ khỏe!” Phùng Anh đổ Lý Trị nước vào miệng Đường Hiểu Lan, một lúc sau, chỉ thấy hơi thở của Đường Hiểu Lan bắt đầu nặng nề, sắc mặt dần dần hồng hào, từ từ mở mắt nói: “Ồ, có phải tôi nằm mơ đây không? Rõ ràng tôi thấy đã bị bắt đi, sao lại trở về?”

Mọi người thấy thế đều ngạc nhiên. Chỉ thấy Lý Trị mỉm cười, nói: “Đường huynh, có nhận ra tiểu đệ không?” Đường Hiểu Lan nhìn một hồi rồi nói: “Ồ, hiền đệ, té ra đệ cũng đến đây!” Giọng nói vẫn còn yếu ớt, Lý Trị chợt nói: “Các vị hãy nghe tôi kể một câu chuyện”.

Mọi người càng lạ hơn, Phùng Anh vừa mừng vừa ngạc nhiên, không hiểu lúc này chàng còn lòng dạ nào kể chuyện!

Lý Trị chậm rãi nói: “Ngày xưa có một đại tướng nhiều lần lập được công lớn cho nước nhà, trở thành trụ cột của triều đình, Hoàng đế coi ông ta như thủ túc. Vị tướng này sức mạnh có thể địch vạn người, võ công trùm đời nhưng lại sợ vợ!”

Lộ Dân Đảm và Bạch Thái Quan đều bật cười, chỉ nghe Lý Trị tiếp tục nói: “Vị tướng này đã sắp năm mươi tuổi mà chẳng có con cái, Hoàng đế khuyên ông ta lập thiếp, ông ta sợ vợ nên chẳng dám có ý nghĩ này. Có một ngày, Hoàng đế cho gọi vợ của viên tướng vào cung, đặt một ly rượu trước mặt bà ta, nói rằng: ‘Đây là một ly rượu độc, uống xong trong vòng mười hai canh giờ thất hiếu sẽ chảy máu mà chết, chẳng thuốc nào cứu nỗi! Nếu khanh hứa cho chồng lập thiếp, trẫm sẽ ban một cung nữ cho y, rồi khanh đích thân đưa cung nữ này về nhà. Nếu khanh không chịu, trẫm sẽ ban chén rượu độc này cho ngươi!’

Vợ của viên tướng này cười nói: ‘Thần thà chết chứ không cho chồng lập thiếp!’ Nói xong thì bưng chén uống cạn. Tuy như thế, trong lòng vẫn lo, lúc đó dám uống rượu độc là vì nhất thời nổi giận, sau khi về nhà, nghĩ lại nếu chết thì thật là uổng mạng, bởi vậy rất lo lắng. Vì thế mới nằm trên giường chờ chết, nào ngờ sau mười hai canh giờ mà chẳng có việc gì xảy ra. Hôm sau viên tướng lên triều, Hoàng đế cười nói: ‘Phu nhân của khanh đã như thế, trẫm cũng chẳng còn cách nào. Chuyện lập thiếp đành thôi vậy’. Viên tướng vẫn lo lắng, hỏi: ‘Chẳng phải Hoàng thượng đã ban rượu độc rồi sao?’ Hoàng đế cười rằng: ‘Trẫm tuy vô đạo nhưng làm sao có thể tự tiện giết thê tử của văn thần? Đó chỉ là chén giấm mà thôi!’”

Lý Trị kể xong, mọi người đều cưởi ha hả. Đường Hiểu Lan chợt ngồi dậy, hỏi: “Chả lẽ ngày ấy Ung Chính không phải cho tôi uống rượu độc?”

Lý Trị cười nói: “Trước đây đệ không dám đoán, nhưng giờ đã có thể quả quyết đó không phải là rượu độc! Thứ đệ cho huynh uống lúc nãy cũng không phải là linh đơn”.

Phùng Anh ngạc nhiên nói: “Làm sao huynh có thể đoán ra?”

Lý Trị nói: “Tên cẩu hoàng đế Ung Chính thật là một tên tiểu nhân nham hiểm, ngày ấy y sợ Hiểu Lan tiết lộ chuyện y đoạt ngôi cho nên mới dùng quỹ kế”

Đường Hiểu Lan hỏi: “Vậy tại sao mấy ngày nay tôi lại bệnh nặng?”

Lý Trị nói: “Thử nghĩ xem thê tử của vị tướng ấy bị dọa chỉ có một ngày mà về nhà thấp thỏm không yên. Huống chi trong vòng một năm, huynh lúc nào cũng nghĩ tới việc đã bị uống thuốc độc, trong lòng không dám hoài nghi thứ mình uống không phải là rượu độc, đương nhiên tin vào lời hù dọa của y. Huynh tuy không sợ chết nhưng trong lòng đã có ý nghĩ sẽ chết, bởi vậy đến thời hạn này, tinh thần đã bị y khống chế, sinh cơ ngừng lại, làm sao không lâm trọng bệnh? May mà huynh không giống như người thường, chứ nếu không e rằng chưa đến kỳ hạn đã bị y dọa chết”.

Đường Hiểu Lan thầm hổ thẹn! Cam Phụng Trì mới bước vào, nghe Lý Trị nói mới bảo: “Thực ra tham sống sợ chết là chuyện thường tình của con người. Chúng ta là những người không sợ chết, vì nhân nghĩa mà nguyện liều thân. Trong lòng tự có mục đích. Thê tử của vị tướng ấy vì ghen mà không sợ chết, tuy không thể bì với chúng ta nhưng cũng có cùng một mục đích, nếu chết mà không có nguyên nhân sẽ rất oan khuất. Nếu thản nhiên chấp nhận thì đó không phải là chuyện thường tình của con người”.

Lý Trị lại nói: “Lúc đầu tôi không nghĩ ra, sau đó mới suy đoán cách dùng thuốc của Diệp Thọ Thường, đó chỉ là thuốc ninh thần tịnh khí, không phải là thuốc giải độc, tôi mới lớn gan nghi ngờ, sau đó cẩn thận cầu chứng. Vì Diệp Thọ Thường không đích thân bắt mạch cho nên không dám suy đoán, chỉ nghĩ đến việc ninh thần giải táo; còn tôi thì nghĩ đến nỗi lo về mặt tinh thần của Đường huynh. Đó có nghĩa là bệnh tâm phải trị bằng thuốc tâm. Anh muội là người gần gũi với y, Anh muội bảo tro nhang là linh đơn, y đương nhiên sẽ tin là linh đơn!”

Bạch Thái Quan cười ha hả: “Chả trách nào một số lang băm dùng tro nhang gạt người. Chắc chắn là có những người bệnh vốn không cần dùng thuốc có thể khỏe, uống tro nhang của họ, vì tin họ có thể chữa bệnh nên càng dễ khỏe hơn”. Mọi người đều bật cười.

Đường Hiểu Lan lại suy nghĩ, đợi mọi người cười xong mới ngẩng đầu nói: “Tên cẩu hoàng đế Ung Chính thật độc ác, tôi đã đoán được dụng ý của y. Y cho tôi thời hạn một năm, trong thời gian này y đã gạt bỏ các phe đảng khác. Nếu lúc đó ngai vàng của y đã vững, y không sợ tôi tiết lộ bí mật, đã có thể giết chết tôi. Nếu chưa vững, lại sẽ cho tôi uống bừa “thuốc giải”, dùng tiếp cách này để kéo thời hạn ra thêm một năm, như thế tôi sẽ không thoát khỏi bàn tay của y. Vả lại y còn mượn cách này lừa Anh muội vào cung, đúng là một viên đá có thể bắn trúng hai con chim”. Phùng Anh nghĩ lại mấy ngày trước mình mạo hiểm vào cung, định rằng sẽ hy sinh mình để cứu Đường Hiểu Lan đúng là ấu trĩ mạo muội, trong lòng thầm kêu nguy hiểm.

Đường Hiểu Lan tuy không gặp nguy nhưng trong bảy ngày ăn ngủ không yên, sức khỏe đã hư nhược. Lý Trị căn cứ vào bài thuốc ninh thần của Diệp Thọ Thường, bảo mọi người nấu cho chàng uống. Chỉ mấy ngày sau, Đường Hiểu Lan đã khỏe lại như thường.

Đến khi Đường Hiểu Lan khỏe lại, Phùng Anh mới cảm thấy mình đầu váng mắt hoa, đã định đi ngủ, chợt nhớ lại một chuyện, té ra trong phòng đã thiếu một người.

Bốn ngày trước, nàng và Lữ Tứ Nương chia nhau tìm danh y, lúc đó đã từng hẹn dù có tìm được hay không cũng phải về Tây Sơn gặp nhau, lẽ ra Lữ Tứ Nương đã về nhưng giờ sao lại không thấy, chả lẽ đã xảy ra chuyện gì? Nàng buộc miệng hỏi: “Lữ tỉ tỉ đâu?” Cam Phụng Trì ngạc nhiên nói: “Ta cũng đang muốn hỏi muội đấy!” Phùng Anh nói: “Tỉ tỉ vẫn chưa về sao?” Cam Phụng Trì nói: “Ta rất lấy làm lạ, tại sao muội đi cùng Tứ Nương mà lại quay về với vị đại ca này”.

Lúc này Lý Trị mới chào hỏi mọi người, Phùng Anh cũng kể chuyện nàng và Lữ Tứ Nương chia nhau tìm thầy thuốc, Cam Phụng Trì rất lấy làm lạ.

Phùng Anh nghỉ ngơi một đêm, sáng hôm sau kể chuyện cả nhà đã đoàn viên cho Đường Hiểu Lan nghe, Đường Hiểu Lan mừng rỡ nói: “Đúng là đi mòn gót sắt tìm chẳng có, thấy được chẳng phí chút công phu. Tâm sự mười mấy năm qua của huynh coi như đã giải quyết xong”. Phùng Anh nói: “Mẹ rất muốn gặp huynh”. Nói xong thì cúi đầu mỉm cười.

Đường Hiểu Lan nói: “Nơi Lữ tỉ tỉ đi cách Bát Đạt lĩnh có xa không?” Phùng Anh nói: “Nơi đó là Khang trang ở phía đông của Bát Đạt lĩnh. Ngôi chùa của mẹ muội thì ở phía bắc”. Đường Hiểu Lan nói: “Vậy huynh và Cam đại hiệp tìm Lữ Tứ Nương xong sẽ đến thăm mọi người”. Chợt nhớ lại năm xưa sư tẩu coi chàng là tiểu đệ, bất giác đỏ mặt. Phùng Anh đã đoán được tâm sự ấy, lại mỉm cười nói: “Để muội và Lý ca ca đến gặp mẹ trước để cho mẹ đón huynh”.

Lại nói sau khi Phùng Lâm hồi phục lại trí nhớ, tâm hồn cởi mở, hoạt bát hơn cả lúc trước. Nàng tin chắc Lý Trị có thể chữa bệnh cho Đường Hiểu Lan. Nhưng Quảng Liên và Trương Thiên Trì thì lại lo lắng, mười mấy họ ở trong một am ni cô, trong đó có quá nửa vừa bị thương mới khỏi, rất sợ quan binh đuổi tới cho nên kêu Phùng Lâm chốc chốc ra cửa núi nhìn.

Hai ngày trôi qua chẳng có chuyện gì. Đến bữa cơm sáng ngày thứ ba, mọi người đang thổi cơm, Trương Thiên Trì đã có thể đi lại được. Khi ăn cơm, chợt ném bát đũa phụp xuống đất, Phùng Lâm ngạc nhiên nói: “Làm gì thế?”Một lúc sau Trương Thiên Trì mới đứng dậy nói: “Có mấy nhóm người ngựa tựa như chia nhau chạy qua phía đông, may mà bọn chúng không lên núi nhưng cũng phải đề phòng. Lâm cô nương, chỉ đành làm phiền cô một lần, cô hãy đến cửa núi phía đông xem có chuyện gì?”

Trương Thiên Trì là đại đạo trên giang hồ, phục địa thính thanh chưa bao giờ thất bại. Phùng Lâm ra đứng cửa núi nhìn, quả nhiên thấy ở dưới chân núi có vài thớt ngựa phóng lướt qua, xem ra hình như là bọn công sai. Một lúc sau, bọn công sai đã vượt qua, Phùng Lâm định trở về lại thấy mấy thớt ngựa chạy đến như bay, nhìn rõ lại thì thấy có một nữ tử cưỡi ngựa trắng mặc đồ đỏ trông rất bắt mắt. Phía sau có ba tên công sai cưỡi ngựa đuổi theo, kỹ thuật cưỡi ngựa của nữ tử này rất tinh diệu, nhưng ba người phía sau cũng không kém, đuổi đến chân núi, nữ tử mặc đồ đỏ phóng ngựa vào sơn cốc, chợt thớt ngựa hí lên thảm thiết, bốn vó tung lên, nữ tử áo đỏ lộn người xuống ngựa, kéo dây cung bắn về phía bọn truy binh. Nào ngờ ba tên công sai cũng nhảy xuống ngựa, rút binh khí gạt đạn ra, chỉ trong chớp mắt đã bao vây nàng ta.

Thiếu nữ đánh nhau với ba công sai đã dần dần núng thế, quát lớn: “Các ngươi thật lớn gan, có từng nghe tên của Thiết chưởng thần đạn Dương Trọng Anh chưa? Ta chính là con gái của ông ta!” nào ngờ bọn người kia vừa nghe đã cười ha hả, một người nói: “Dương lão đầu đấy à, bọn ta muốn kết thông gia với lão. Nào, tiểu nương tử, ta thấy nàng cứ khóc ngắn khóc dài, chắc là phu quân đã chết, chưa tìm được người mới. Nàng hãy chọn đi, ba huynh đệ bọn ta nàng thích ai?” Dương Liễu Thanh cả giận, thanh kiếm trong tay múa tiếp, ba tên kia càng thắt chặt vòng vây hơn.

Té ra mười mấy ngày trước, Cam Phụng Trì được Đường Hiểu Lan nhờ nên sai khoái mã đem thư đến báo tin xấu cho Dương Trọng Anh, trong di thư của Đường Hiểu Lan đã nói trước mình nhận được đại ơn, không thể nào đáp đền, kế đến nói rằng giờ đang gặp tai họa, sống chết vẫn chưa biết, sau đó lại xin lỗi cha con họ, xin được giải trừ hôn ước để khỏi làm lở tuổi thanh xuân của Dương Liễu Thanh.

Dương Trọng Anh đọc thư ấy mới cả kinh thất sắc, nhưng mình đã tàn phế không thể đi lại được, chỉ đành bảo Dương Liễu Thanh một mình vào kinh dò thám tin tức, đồng thời dặn nàng rằng: “Nếu hắn chưa chết, con phải tìm danh y trị cho hắn; nếu đã chết phải đem hài cốt về đây”.

Dương Liễu Thanh ngựa không ngừng vó chạy vào kinh đô, nhưng vì nhận tin quá muộn, đến Hòai Nhu đã quá thời hạn ba ngày, Dương Liễu Thanh nghĩ khi mình đến nơi, có lẽ Đường Hiểu Lan đã được hâm liệng, từ rày không thể gặp mặt chàng, lòng càng đau đớn hơn bởi vậy vừa thúc ngựa vừa rơi nước mắt.

Thiếu nữ phóng ngựa chạy một mình đã gây chú ý, huống chi nàng vừa phóng ngựa vừa khóc, bởi vậy càng khiến cho người ta dòm ngó.

Hôm nay, vừa khéo có một đám Huyết Trích Tử và cấm vệ quân đến Nam Khẩu bắt một khâm phạm quan trọng, vốn là chẳng thể nghĩ đến chuyện khác. Nhưng trong đó có ba tên xuất thân là thái hoa đại đạo, thấy Dương Liễu Thanh xinh đẹp, lại cưỡi ngựa quý cho nên nảy lòng đoạt tài cướp sắc, vì thế mới đuổi theo nàng, đầu tiên dùng ám khí giết chết con ngựa của nàng rồi bao vây nàng.

Dương Liễu Thanh đang vất vả, chợt nghe tiếng cười khanh khách vang lên, Phùng Lâm từ trên cây vọt xuống, nàng vừa vung tay ba mũi Đoạt Mệnh thần đao đã xé gió bay tới, ba tên Huyết Trích Tử tuy không phải kẻ tầm thường nhưng làm sao có thể chống nỗi lại ám khí này, một người có võ công hơi kém lách người qua, bị phi đao xuyên thủng cổ họng chết ngay lập tức! Một người dùng đao gạt ra, mũi phi đao bay lướt qua bên cạnh, vạch đứt bã vai của y; một tên nữa võ công hơi cao hơn, sau khi gạt đao đã lộn người xuống đất, dù tránh kịp phi đao nhưng cũng hồn bay phát tán, vội vàng chạy thục mạng.

Dương Liễu Thanh rất kinh ngạc, ngẩng đầu lên nhìn thì thấy Phùng Lâm cười hì hì đứng trước mặt nàng, vẻ mặt lộ nét coi thường.

Dương Liễu Thanh chỉ tưởng nàng là Phùng Anh, năm ngoái nàng đã bị Phùng Anh đánh cho một bạt tay, đến nay vẫn còn chưa hết giận, nay tuy được nàng cứu mạng nhưng lại bị nàng coi thường bởi vậy tức càng thêm tức. Nhưng dầu thế nào đi nữa, Dương Liễu Thanh cũng không dám phát tác.

Phùng Lâm liếc nhìn Dương Liễu Thanh một hồi, cười hỏi: “Cô cô, sao cô cô đi gấp thế? Công công đã khỏe chưa? Cô cô, tuyệt kỹ thần đạn của cô cô đã cao minh hơn trước”. Phùng Lâm đã nghe Phùng Anh kể lại chuyện lúc trước, không đợi nàng lên tiếng đã giả mạo thân phận của Phùng Anh mà nói chuyện với nàng.

Dương Liễu Thanh cười một tiếng, nói: “Ngươi biết rõ mà còn hỏi. Một năm qua, ngươi chẳng phải ở cùng thúc thúc của ngươi sao?” Phùng Lâm nói: “Đúng thế! Chúng tôi sớm tối bên nhau, thật là vui vẻ!” Dương Liễu Thanh nghe thế nổi ghen lồng lộn, bất giác cười lạnh mấy tiếng, Phùng Lâm trừng mắt nhìn nàng, Dương Liễu Thanh sợ không dám phát tác, lại nôn biết tin của Đường Hiểu Lan, chỉ đành nén giận hỏi: “Hiểu Lan thế nào rồi? Ngươi thân với chàng như thế, sao lúc chàng bệnh sắp chết mà vẫn còn rong chơi thế này?”

Phùng Lâm cười khanh khác, hỏi: “Ngươi nghe ai nói thế? Đường thúc thúc chẳng hề bị bệnh!” Dương Liễu Thanh kinh hãi, hỏi: “Cái gì, Hiểu Lan không hề bị bệnh?” Phùng Lâm trả lời: “Đúng thế!” Dương Liễu Thanh nói: “Chàng lại viết thư bảo đã sắp chết đến nơi, ta tưởng chàng đã chết!” Phùng Lâm cố làm vẻ kinh ngạc, hỏi: “Cái gì? Đêm qua ta còn lấy mứt anh đào cho Đường thúc thúc ăn nữa, sao lại phải viết một bức thư như thế cho ngươi?” rồi nàng giả vờ ngạc nhiên suy nghĩ, một hồi sau mới vỗ tay nói: “Ồ, ta biết rồi, Hiểu Lan thật là hư, chẳng chịu nói với ta một tiếng”.

Dương Liễu Thanh nghe nàng gọi thân mật như thế, bất giác sắc mặt thay đổi. Nhưng vì muốn biết tại sao Đường Hiểu Lan lại viết thư như thế, chỉ đành nghiến răng, cố nuốt cục giận, trầm giọng hỏi: “Ngươi biết được điều gì?”

Phùng Lâm hỏi: “Trong thư chẳng phải chàng kêu ngươi xóa bỏ hôn ước hay sao? Chàng đã nói với ta, bảo ta giúp chàng suy nghĩ, xem thử có cớ gì tránh thành hôn với ngươi hay không!”

Nói chưa dứt lời, Dương Liễu Thanh đã tức giận kêu lên một tiếng, mắng rằng: “Thật là một tên tiểu súc sinh vong ơn phụ nghĩa!” Phùng Lâm nói: “Này, ngươi mắng thúc thúc của ta, ta không khách sáo với ngươi nữa đâu!” Dương Liễu Thanh lúc này đã quên hết mọi thứ, nàng vung tay tát vào mặt Phùng Lâm. Phùng Lâm nhảy bật ra, kêu lên: “Ngươi là cô cô, ta nhường cho ngươi một chưởng!” Dương Liễu Thanh kêu lên: “Ta liều với ngươi, ngươi có bản lĩnh hãy đánh chết ta!” rồi nàng cứ lao đầu tới, Phùng Lâm lại nhảy ra, nói: “Ta với ngươi chẳng oán chẳng thù, tại sao phải đánh chết ngươi?” Dương Liễu Thanh lao vào khoảng không, suýt nữa đã ngã chõng vó, nàng kéo đạn cung mắng: “Ngươi đúng là con tiểu tiện nhân vô sĩ, thiên hạ có biết bao nhiêu đàn ông, ngươi lại cứ đòi thúc thúc của ngươi?” rồi đạn bắn ra như mưa, Phùng Lâm cười nói: “Đạn cung của ngươi cũng đả thương được người sao?” rồi nàng vừa nhảy nhót né tránh, vừa thi triển thủ pháp chụp ám khí mà Hàn Trọng Sơn đã dạy, hất toàn bộ đạn của Dương Liễu Thanh ném qua một bên, một hồi sau Dương Liễu Thanh chẳng còn viên đạn nào nữa.

Phùng Lâm lại trợn mắt, mắng trở lại: “Ta bảo ngươi mới chính là tiểu tiện nhân vô sĩ, trong thiên hạ biết bào nhiêu là người đàn ông, ngươi lại cứ bám lấy Hiểu Lan! Chàng đã không thích ngươi, ngươi cứ đeo bám mãi mới đúng là vô sĩ!” Dương Liễu Thanh mặt tái nhợt, căm giận vô cùng, rút kiếm đâm bừa tới, kêu: “Được, hôm nay ngươi không chết thì ta vong!” nàng liệu rằng Phùng Anh không dám giết mình bởi vậy mới làm liều đâm tới.
Phùng Lâm cười ha hả, đột nhiên vọt người lên, thi triển tuyệt kỹ Miêu Ưng Phốc Kích đoạt thanh kiếm trong tay Dương Liễu Thanh, rồi bẻ gãy làm đôi ném xuống sơn cốc, cao giọng nói: “Này, ngươi nghe đây. Với bản lĩnh của ngươi, làm sao có thể giết ta. Ta cũng không muốn giết ngươi, nhưng nếu ngươi cứ ngang tàng như thế, ta sẽ dùng phi đao rạch mặt ngươi, đâm mù hai mắt của ngươi để ngươi mãi mãi làm một kẻ xấu xí. Ta nói được là làm được, ngươi hãy xem đây! Đao thứ nhất, ta đánh gãy đạn cung của ngươi!” rồi nàng vung đao, cây đạn cung của Dương Liễu Thanh gãy làm đôi, Phùng Lâm lại mắng: “Đao thứ hai, ta hớt đứt tóc của ngươi!” Dương Liễu Thanh vội vàng né tránh, chỉ cảm thấy một luồng gió lạnh lướt tới, đao quang lóe lên, chợt thấy trên đầu mát rượi, sờ đầu thì mái tóc trên đỉnh đã bị hớt một mảng, Phùng Lâm lại quát: “Nếu ngươi không đi nữa, đao thứ ba ta sẽ rạch mặt ngươi!” Dương Liễu Thanh nhất thời nổi giận, tuy không sợ chết nhưng sợ Phùng Lâm ra tay hủy dung nhan, khiến nàng chẳng thể nào gặp được ai nữa, bất giác kêu khổ một tiếng quay đầu tháo chạy.

Phùng Lâm trên Dương Liễu Thanh xong, đắc ý cười lớn rồi xuống suối rửa ráy mặt mày, chợt nghe có người nói bên tai: “Hừ, ta tưởng là ai? Té ra là ngươi!” Phùng Lâm giật mình, ngẩng đầu nhìn lên thì thấy một Lạt ma mặc áo đỏ nhe răng cười với mình. Lúc này võ công của Phùng Lâm đã đến mức bất phàm, thế mà Lạt ma này có thể đến bên cạnh nàng một cách im ắng, nếu chẳng có bản lĩnh kinh người, sao có thể làm được điều đó.

Phùng Lâm rất lanh lẹ, nàng biết đã gặp kình địch nên bình tĩnh cười rằng: “Ngươi có phải là đại pháp sư trong hoàng cung không?” Lạt ma trợn mắt, cười nói: “Đúng là quý nhân dễ quên, may mà ta còn nhẫn nại chứ nếu không đã phế Thiên Sơn chưởng lực của ngươi!”

Phùng Lâm thầm nhủ: “Mình thường đem lại phiền phức cho tỉ tỉ, nhưng lần này tỉ tỉ đã đem phiền phức cho mình!” Lạt ma ấy định vung tay tóm nàng, Phùng Lâm chợt nhảy ra, nói: “Ta đang muốn trở về hoàng cung gặp Hoàng thượng, không cần ngươi đến đây khuyên, ngươi dám bắt ta? Ta sẽ nói với Hoàng thượng trách phạt ngươi”. Lạt ma ấy rụt tay về, nói: “Hay thật, Lâm quý nhân, ngươi chưa được sủng ái mà đã muốn cắn ta hay sao? Lần này dù ngươi có xảo quyệt như hồ ly cũng không thể thoát khỏi lòng bàn tay của ta. Nếu ngươi đã muốn gặp Hoàng thượng, vậy hãy đi mau”. Phùng Lâm nói: “Ngươi không thấy ta đang sửa san tóc tai hay sao?” rồi nàng ngồi xuống vóc nước gội đầu, Lạt ma áo đỏ đứng sau lưng nàng, đang nghĩ cách có nên dùng biện pháp mạnh với nàng không.

Phùng Lâm gội đầu xong, lại sửa san quần áo, nói: “Được thôi, ta đi theo ngươi”. Rồi nàng trở tay phóng ba mũi Đoạt Mệnh thần đao, khoảng cách lại gần, ra tay lại bất ngờ, Lạt ma áo đỏ cũng chỉ có thể né tránh được một mũi, còn hai mũi thì bắn trúng vào ngực của y.

Phùng Lâm vỗ tay cười nói: “Ngã này, ngã này!” nào ngờ hai mũi phi đao chạm vào người y lại phát ra keng một tiếng tựa như trúng phải sắt thép, rồi lại rơi xuống đất. Phùng Lâm cả kinh, hai tay vung ra, sáu mũi phi đao bay tới, Lạt ma áo đỏ chỉ che mắt, hớt được hai mũi bay vào mặt, còn bốn mũi chạm vào người y rơi xuống đất. Lạt ma cười lớn: “Phật gia có thân kim cương bất hoại, cần gì phải sợ mấy mũi phi đao của ngươi!” rồi bốc người lên, từ trên không bổ xuống, vung bàn tay to bề chụp vào đỉnh đầu của Phùng Lâm.

Lạt ma này chính là Ngạch Âm Hòa Bố, y cũng vâng lệnh bắt một khâm phạm rất quan trọng, nửa đường lại gặp bọn Huyết Trích Tử, bởi vậy y mới biết trong sơn cốc có một tiểu cô nương rất lợi hại, khi nghe thấy liền nghĩ, nếu có thể bắt Phùng Lâm sẽ khiến cho Hoàng đế càng vui lòng hơn.

Phùng Lâm dùng thuật Miêu Ưng Phốc Kích tránh hai trảo của y, Ngạch Âm Hòa Bố lại chụp tiếp trảo thứ ba, Phùng Lâm xoay người trên không trung, vẫy ra một đóa kiếm hoa đâm vào mắt của y!

Ngạch Âm Hòa Bố cúi đầu, hai chưởng chém xéo ra, chụp cổ tay của nàng, Phùng Lâm chém ngang thanh kiếm, quát: “Đi!” một năm qua nàng đã tu luyện nội công thượng thừa của phái Vô Cực, kình đạo của nhát kiếm này rất lớn, Ngạch Âm Hòa Bố tuy có công phu Kim chung tráo và Thiết bố sam, cũng không dám để nàng chém vào mạch môn, thế là hai chưởng thay đổi, lướt xéo ra hai bước, trở tay đánh ra một chưởng, quát: “Buông kiếm!” chưởng này quét ra kình phong nổi lên, Phùng Lâm thấy hổ khẩu đau nhói, thanh kiếm suýt nữa rơi xuống đất, thế là nàng vội vàng phóng người tháo chạy.

Ngạch Âm Hòa Bố thấy chưởng này không đánh rơi được binh khí của nàng, cũng rất lấy làm lạ, cười lạnh nói: “Ả nha đầu nhà ngươi cũng có chút bản lĩnh, nhưng muốn thoát khỏi bàn tay của Phật gia còn khó hơn cả lên trời!” rồi phóng vọt người lên, hai chưởng đẩy ngang ra, lần này kình đạo càng lớn hơn, chưởng phong mạnh hơn, Phùng Lâm bị một luồng lực dồn tới, vội vàng chòm người về phía trước, thuận theo chưởng thế của y, lướt ra thêm mấy trượng rồi ngã xuống!

Ngạch Âm Hòa Bố cười ha hả: “Mỹ nhân có bị thương không, để ta trị cho ngươi!” Phùng Lâm bật người dậy, vung hai mũi phi đao bắn vào hai mắt của y, Ngạch Âm Hòa Bố cả giận, giơ tay đánh rơi hai mũi phi đao, đang định đẩy ra chưởng thứ ba, chợt nghe có người quát: “Ai dám bức hiếp muội muội của ta!”

Ngạch Âm Hòa Bố nhìn lại, chỉ thấy trên sườn núi có một bóng trắng lướt đi như gió, trong chớp mắt một thiếu nữ đã đuổi tới, người đó chính là Phùng Anh, Ngạch Âm Hòa Bố thấy họ giống hệt nhau, bất giác sửng cả người.

Phùng Anh lướt tới đâm sào một kiếm vào cổ họng của Ngạch Âm Hòa Bố, Ngạch Âm Hòa Bố lách người trở tay chụp vào mạch môn của nàng, Phùng Anh xoay mũi kiếm, đâm vào huyệt Tam Nguyên ở sươn hông của y, Ngạch Âm Hòa Bố cả giận, tự phụ là thân kim cương bất hoại, không sợ đao kiếm, thế là hai chưởng hợp lại chụp vào vai của Phùng Anh. Y không ngờ thanh đoản kiếm trong tay Phùng Anh là bảo kiếm, thanh kiếm đâm thấu vào da thịt của y đến mấy tấc, Ngạch Âm Hòa Bố chỉ cảm thấy đau nhói, vội vàng vận công làm cho da thịt lõm vào, buộc mũi kiếm phải chùi ra, y vận kình trên chân, lực đạo của hai chưởng đương nhiên giảm xuống, Phùng Anh cũng thừa cơ thoát ra, chỉ cảm thấy vai đau nhói. May mà Ngạch Âm Hòa Bố không biết nàng có phải là người Hoàng đế muốn bắt hay không, không dám dùng hết mười phần lực, chứ nếu không xương tỳ bà đã bị y bóp nát.

Huyệt Tam Nguyên là một trong những tử huyệt của con người, Ngạch Âm Hòa Bố bị kiếm đâm trúng mà vẫn có thể nhảy nhót như bay, Phùng Anh cũng kinh hãi! Ngạch Âm Hòa Bố vận khí bế huyệt, nhưng vẫn không hết đau, y nổi giận, nói: “Dù ngươi là quý nhân hay tiện nhân, Phật gia cũng đưa ngươi về tây thiên”. Rồi y đứng yên chợt quát lớn một tiếng, hai chưởng đẩy ra, Phùng Lâm nói: “Tỉ tỉ cẩn thận!” Ngạch Âm Hòa Bố đã dùng hết mười thành lực trong chưởng này, chưởng phong tựa như sấm sét bổ tới. Phùng Anh quát: “Hay lắm!” rồi nàng lướt lên ba trượng, kình phong quét qua chân nàng mà nàng chẳng hề bị thương. Phùng Anh trên không trung thi chuyển tuyệt chiêu của Thiên Sơn kiếm pháp, đánh ra một chiêu Băng Hà Đảo Quải, luồng ngân quang túa ra chụp xuống.

Ngạch Âm Hòa Bố thất kinh, không dám dùng tay không đối địch, rút cây phất trần quét lên không trung chặn lại. Nhát kiếm này của Phùng Anh hiểm hóc lạ thường, nhưng không ngờ bị phất trần cuộn vào, chẳng thể nhả được lực ra, chỉ thấy Ngạch Âm Hòa Bố lại cười ha hả, ngón tay điểm vào huyệt Thiên Tĩnh của nàng.

Phùng Lâm thấy tỉ tỉ nguy cấp, đã sớm xông tới trước, đâm sào một kiếm vào lưng của y, Ngạch Âm Hòa Bố trở tay đánh lại một đòn, Phùng Anh thu vai lại, né tránh hai chỉ của y, tay trái quét vào ngực của y, Ngạch Âm Hòa Bố thất kinh, vội vàng lách người né tránh để Phùng Anh rút kiếm ra.

Phùng Anh và Phùng Lâm tấn công liên tục. Chưởng lực của Ngạch Âm Hòa Bố tuy lợi hại nhưng phải vận khí mới phát chưởng được, mà hai kiếm lại tấn công liên tục khiến y không rãnh vận khí để phát chưởng. Nhưng cây phất trần của y là loại binh khí hiếm thấy trên võ lâm, có thể mềm có thể cứng, có thể đoạt đao kiếm, có thể phất vào huyệt đạo, Phùng Anh và Phùng Lâm đều không dám để cho y cuộn vào binh khí. Ngạch Âm Hòa Bố lướt người đánh sáp lá cà, hai tỉ muội truy hô ứng lẫn nhau nhưng cũng gặp nguy hiểm. May mà đánh một hồi, thân pháp của hai nàng đều xoay nhanh. Ngạch Âm Hòa Bố chẳng nhận ra ai là Phùng Lâm, ai là Phùng Anh, đương nhiên không phân biệt được ai đang cầm bảo kiếm, bởi vậy càng kiêng dè không dám tấn công mạnh. Y dùng cây phất trần chặn hai kiếm của hai người, thừa cơ tìm cách ra đòn sát thủ.

Đánh một hồi sau, trên núi lại có thêm một người, người đó chính là Lý Trị, chàng vốn tưởng Phùng Anh ra tay, cả hai tỉ muội liên thủ thì cường địch nào cũng chặn nỗi, không ngờ đánh một hồi mà chỉ thấy Ngạch Âm Hòa Bố quét cây phất trần lợi hại vô cùng, cả hai nàng chỉ có thể chống đỡ.

Ngạch Âm Hòa Bố cười gằn nói: “Lại có thêm một tên, Phật gia chẳng thèm sợ ngươi”. Rồi cây phất trần quét ngang, đẩy đôi kiếm ra, cán phất trần chỉ thẳng về phía trước. Nhân lúc Lý Trị vừa mới đến, y đột nhiên điểm vào huyền cơ trước ngực của chàng, nào ngờ kiếm pháp của Lý Trị quái dị lạ thường, rõ ràng là chàng đâm kiếm về phía bên trái, trung lộ mở rộng, không ngờ đột nhiên thay đổi, kiếm lại xỉa về phía bên phải, kiếm thế thay đổi, bộ pháp cũng thay đổi, hư biến thành thực, thực biến thành hư, Ngạch Âm Hòa Bố không những chẳng điểm trúng huyệt đạo của chàng mà suýt nữa đã bị chàng đâm cho một kiếm. May mà y võ công cao cường, một chiêu bị đánh hụt, phương vị lập tức thay đổi mới có thể né tránh được tuyệt chiêu của Lý Trị.

Lúc này tình thế lại thay đổi, Lý Trị cùng Phùng Anh và Phùng Lâm với ba loại kiếm pháp thượng thừa trên đời, Ngạch Âm Hòa Bố đã bắt đầu kiêng dè. Hai bên có công có thủ, lại đấu nhau hơn một trăm chiêu nữa.

Nhưng sau khi Lý Trị nhảy vào vòng chiến, có lợi cũng có hại, lợi là vì ba kiếm liên thủ, hô ứng lẫn nhau, không lâu sau đã chiếm được thượng phong. Hại là vì sau một hồi quần thảo, Ngạch Âm Hòa Bố đã biết kiếm của Lý Trị không phải bảo kiếm, cho nên dùng kim cương chỉ lực chịu nỗi đau nhất thời, cướp binh khí của chàng. Tay phải y dùng phất trần, chặn hai thanh kiếm của hai tỉ muội, tay trái lại dùng thủ pháp Cầm Nã đánh sáp lá cà với Lý Trị.

Cả hai bên liên tục đánh ra những hiểm chiêu, thế nhưng vẫn khó phân thắng bại. Phùng Anh nôn nóng, chợt nhớ lại hôm đó mình gặp Dận Tự ở trong hắc lao, Dận Tự bảo mệnh môn của Ngạch Âm Hòa Bố là huyệt Khảm Hỏa Ly Thủy, nhưng nàng không biết huyệt Khảm Hỏa Ly Thủy là bộ phận nào trên cơ thể con người. Chợt nhớ võ công của muội muội rất phức tạp, đã học qua võ nghệ của các phái chính tà, vì thế đang lúc kịch đấu, chợt hỏi: “Muội muội, có biết huyệt Khảm Hỏa Ly Thủy không?”

Phùng Lâm trả lời: “Huyệt Khảm Hỏa nằm dưới sươn cùng ba tấc, huyệt Ly Thủy là mệnh căn của y!” số là huyệt Ly Thủy là bộ phận của thận nan người đàn ông.

Ngạch Âm Hòa Bố cả kinh, không biết tại sao hai tỉ muội có thể đọc tên các huyệt đạo bằng thuật ngữ của Lạt ma Hồng giáo; càng không hiểu tại sao họ biết yếu huyệt Mệnh Môn của mình. Lúc này Phùng Anh vẫn chưa biết là bộ phận nào nhưng giả vờ đã hiểu, kêu lên: “Được lắm, chúng ta đâm vào huyệt Mệnh Môn củay!”

Ngạch Âm Hòa Bố lạnh mình, với võ công của y, nếu lấy một địch một, dù gặp phải hảo thủ thuộc hàng nhất đẳng, mà đối phương lại biết được yếu huyệt Mệnh Môn của y, y vẫn có thể phòng vệ chu toàn, chẳng hề lo lắng. Nhưng giờ đây y lấy một địch ba, kiếm pháp của ba người lại thần diệu vô cùng, chỉ e nếu phòng ngự không kỹ càng, mạng sẽ ô hô.

Phùng Anh múa kiếm đâm tới, chỉ thấy Ngạch Âm Hòa Bố dốc sức đỡ hai chiêu, giả vờ tấn công tới nhưng người có ý muốn lui ra. Phùng Anh cố ý để y chạy, nàng vừa lách người, Ngạch Âm Hòa Bố đã bỏ chạy. Phùng Anh thở phào, vẫn không đuổi theo.

Phùng Lâm cười nói: “Tỉ tỉ, tỉ làm sao biết võ công của tà phái?” Phùng Anh mới kể lại lời của Dận Tự. Sau một hồi kịch chiến, ba người ngồi xuống nghỉ ngơi, Phùng Lâm hỏi: “Đường thúc thúc của tỉ đâu?” Phùng Anh nói: “May mà đã được Lý ca ca của muội chữa khỏi”. Phùng Lâm lại kể cho Phùng Anh nghe chuyện mình đã chơi khâm Dương Liễu Thanh. Phùng Anh nghe xong mặt biến sắc, Phùng Lâm thất kinh hỏi: “Chả lẽ muội đã làm sai chuyện gì?” Phùng Anh thở dài: “Muội muội, muội quá nghịch ngợm, thế là đã hỏng mọi chuyện!”

Chính là:

Thiếu nữ thật chẳng hiểu việc đời, phi đao cấp tốc chuốc phiền to.

Muốn biết sau đó thế nào, mời sang hồi sau sẽ rõ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau