GIANG HỒ TAM NỮ HIỆP

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giang hồ tam nữ hiệp - Chương 31 - Chương 35

Chương 31: Khéo léo cứu giai nhân thâm ân cần báo Lòng nghi sinh ma quỷ dấm chua khó trừ

Lại nói chuyện Đường Hiểu Lan đấu với Xa Tịch Tà ở Tuyết Hồn cốc, vì cướp lại kiếm Du Long nên đã bị tổn thương xương chân, bởi vậy không thể cùng quần hùng lên mang sơn. Thần thâu Trần Đức Thái cũng bị chấn thương bởi chưởng lực của Đổng Cự Xuyên, cũng không thể đi lại được. Hai người dưỡng thương trong cốc được hơn một tháng mới hồi phục. Dương Trọng Anh nhờ người nhắn tin kêu Đường Hiểu Lan trở về Sơn Đông. Đường Hiểu Lan rầu rỉ, thầm nhủ: “Sư phụ kêu mình trở về, chắc chắn lại thúc mình kết hôn. Nhưng ân sư có lệnh, không thể bất tuân, chi đành cùng Trần Đức Thái rời khỏi Tuyết Hồn cốc đến Sơn Đông”. Không ngờ đi được hai ngày, gặp Hoằng Pháp đại sư ở một trấn nhỏ, Hoằng Pháp đại sư nói có một thiếu nữ đã trúng Thất Sát Bạch Mi châm vừa mới rời khỏi đây. Hoằng Pháp tuy không biết tên của Phùng Anh nhưng Đường Hiểu Lan nghe ông ta kể đã biết là một trong hai tỉ muội.

Đường Hiểu Lan nghe được tin này, lập tức cùng Trần Đức Thái đến Trần Lưu. Hai người mai phục ở một hòn núi gần nhà họ Niên, định rằng chờ Niên Canh Nghiêu rời khỏi nhà sẽ đến thăm dò.

Hôm nay hai người Đường Trần thấy hoa viên nhà họ Niên đèn đuốc sáng trưng, tiếng quát tháo vọng tới, Trần Đức Thái lẻn ra điểm huyệt một tên canh cửa kéo về núi, họ cũng biết Hoàng đế đang ở nhà họ Niên, bọn chúng đang bắt Phùng Lâm.

Đường Hiểu Lan cả kinh, chợt nảy ra một ý nói với Trần Đức Thái: “Trần đại ca, hôm nay tôi mới đến nhà họ Niên” Trần Đức Thái thất kinh nói: “Đệ muốn đi nạp mạng, chỉ thủ hạ của Niên Canh Nghiêu chúng ta đã không địch nỗi, huống chi Hoàng đế cũng ở nhà họ Niên, ở đó cao thủ như mây, làm sao có thể xông vào?” Đường Hiểu Lan mỉm cười, nói: “Chính vì có Hoàng đế nên đó là thời cơ tốt nhất”. Rồi hạ giọng dặn Trần Đức Thái mấy câu, Trần Đức Thái gật đầu lia lịa khen hay.

Đường Hiểu Lan một mình đến cửa cầu kiến, lúc đó Phùng Lâm đã bị bắt, bọn vệ sĩ đã nghỉ ngơi, đến nửa đêm trong vườn chỉ có Thiên Diệp Tản Nhân, y thấy có người cầu kiến cảm thấy ngạc nhiên, mở cửa ra thì gặp Đường Hiểu Lan, y càng kinh ngạc hơn. Đường Hiểu Lan nói: “Tôi có việc gấp, cần phải gặp Hoàng thượng, phiền ông hãy thông báo”. Thiên Diệp Tản Nhân nhớ lại kẻ này chính là vệ sĩ của Khang Hy, trước kia đã từng tuân lệnh Khang Hy đến phủ Tứ bối lạc, cũng là chỗ quen biết cũ của đương kiêm Hoàng thượng, bởi vậy không dám chậm trễ vội vàng vào thông báo.

Ung Chính đang suy đi nghĩ lại trong phòng, muốn giết Phùng Anh nhưng lại không nỡ, chợt nghe báo Đường Hiểu Lan cầu kiến, bực bội nói: “Lại là một tên tiểu tử nữa, ngươi hãy đánh y năm mươi hèo, sáng mai trẫm sẽ hỏi y”. Thiên Diệp Tản Nhân định lui xuống, Cáp Bố Đà nói: “Người này có chiếu thư của tiên hoàng, lại từng theo Thập tứ bối lạc đến Thưởng Xuân viên thăm bệnh cho tiên đế. Hình như là có cơ mật gì đó?” Ung Chính giật mình, nói: “Thôi được, cứ gọi y vào”.

Đường Hiểu Lan thấy Ung Chính, chỉ vái dài chứ không quỳ xuống. Ung Chính nổi giận nói: “Hừ, ngươi thật lớn gan dám đến đây gặp trẫm!” Đường Hiểu Lan cầm mảnh ngọc của Khang Hy trong tay, mỉm cười nói: “Chúc mừng Hoàng thượng lên ngôi báu, Hoàng thượng có nhận ra mảnh ngọc này không?”

Khang Hy biến sắc nói: “Ngươi có chuyện cơ mật gì muốn nói?” Đường Hiểu Lan nói: “Xin Hoàng thượng cho tả hữu lui ra”. Ung Chính thầm nhủ: “Đường Hiểu Lan võ công tuy bất phàm nhưng cũng không thể nào đả thương được mình”. Liền bảo: “Cáp tổng quản và Thiên Diệp Tản Nhân hãy tạm thời lui ra”.

Trong khách sảnh rộng rãi chỉ còn lại Ung Chính và Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan vẫn cầm mảnh ngọc, Ung Chính nói: “Tiên đế có di chiếu bảo trẫm phải đối xử tốt với ngươi, ngươi hãy ngồi xuống”. Đường Hiểu Lan cũng không khách sáo ngồi xuống. Ung Chính lại nói: “Hôm ấy tiên đế giá băng, ngươi theo Thập tứ bối lạc xông vào Thưởng Xuân Viên là có ý gì?”

Đường Hiểu Lan mỉm cười nói: “Hoàng thượng thật giỏi thủ đoạn”. Ung Chính tưởng rằng Đường Hiểu Lan chỉ việc hôm mình bị bắt, cười lạnh nói: “Trẫm xuất thân ở Thiếu Lâm, có gì phải sợ ngươi. Ngươi và ả tiện tì Lữ Tứ Nương có phải đồng mưu hại trẫm hay không? Ngươi nói thật ra, trẫm sẽ không tính chuyện xưa”. Đêm Ung Chính ngồi lên ngôi báu, y chưa kịp thẩm vấn thì Đường Hiểu Lan đã được Lữ Tứ Nương cứu đi, Ung Chính có nhiều câu hỏi ở trong lòng nên muốn hỏi cho rõ.

Đường Hiểu Lan chỉ cười lớn chứ không đáp, Ung Chính sầm mặt. Đường Hiểu Lan chợt nói: “Chuyện ngày mười sáu tháng ba năm Khang Hy thứ năm mươi chín, Hoàng thượng có còn nhớ không?”

Đêm hôm ấy Đường Hiểu Lan lần đầu tiên vào cung, gặp Phùng Lâm lẻn vào điện Đại quang minh, lúc đó Đường Hiểu Lan không biết Ung Chính bảo nàng xem lén di chiếu, cho đến khi Ung Chính lên ngôi, Đường Hiểu Lan nhớ lại chuyện ấy nên mới dùng lời hỏi dò.

Ung Chính nghe xong, mặt biến sắc, hừ một tiếng nói: “Quả thật ngươi có lòng trung với Thập tứ bối lạc”. Y vẫn tưởng rằng Đường Hiểu Lan là vệ sĩ của tiên đế, cũng là tâm phúc của Dận Đề.

Đường Hiểu Lan nghe thế thầm nhủ: “Xem ra mình đoán không sai!” rồi nhớ lại cái chết thê thảm của tiên đế, run giọng nói: “Ung Chính, ngươi đã làm chuyện tốt!”

Ung Chính thất kinh, đứng phắt dậy vung tay bóp vào cổ họng Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan rụt vai lại, tránh được chiêu ấy, lớn giọng nói: “Ngươi có giết ta cũng vô dụng!”

Ung Chính mặt tái xanh, chợt cười ha hả: “Ngươi xem đấy, ta cũng đâu sợ. Ngươi có bản lĩnh gì có thể làm lung lay ngôi báu, đoạt giang sơn của ta? Tục ngữ có nói, kẻ thức thời là trang tuấn kiệt, ngươi nói thật ra đi, ai đã sai khiến ngươi? Có phải Bát bối lạc hay là Cửu bối lạc? Nếu ngươi muốn đoạt vị cho bọn chúng, thế thì ngươi đã sai rồi! Nếu ngươi nói thực, chắc chắn sẽ có lợi cho ngươi”.

Sau khi Thập tứ bối lạc Dận Đề bị giam lỏng, trong số các bối lạc, Ung Chính sợ nhất là Bát bối lạc Dận Tự. Dận Tự tinh thông võ nghệ, lại rất được lòng người. Còn Cửu bối lạc Dận Đường là cùng một phe với Dận Tự. Sau khi Ung Chính đoạt ngôi, sợ các bối lạc khác dùng cách gậy ông đập lưng ông, mưu đoạt ngôi vua của mình, nên lúc nào cũng phải đề phòng.

Ngày ấy trong Thưởng Xuân viên, sau khi Ung Chính bóp chết Khang Hy, Đường Hiểu Lan mới xông vào, tuy tình trạng chết của Khang Hy đáng nghi nhưng cũng không dám ngờ rằng đó là do Ung Chính gây ra, nay nghe khẩu khí của Ung Chính, chàng hiểu rằng tiên đế đã bị y giết chết.

Trong khoảng sát na, Đường Hiểu Lan hầu như không thể kiềm được nữa, chàng muốn rút kiếm liều với y, Ung Chính mắt lộ huung quangg, khóe miệng cười lạnh. Đường Hiểu Lan rùng mình, đây không phải là lúc phô cái dũng của kẻ thất phu. Ung Chính bước dấn tới một bước, hỏi: “Ngươi có nói hay không? Kẻ sai khiến ngươi là Bát bối lạc hay Cửu bối lạc?” Đường Hiểu Lan cố nén lửa giận, ngửa mặt cười nói: “Ta là ai mà ngươi cũng không biết! Bọn chúng nào xứng sai khiến ta? Ngươi coi trọng ngôi vua, chả lẽ người khác cũng giống như ngươi?”

Ung Chính chưng hửng, nói: “Ngươi nói Bát bối lạc không muốn đoạt ngôi vua?” Đường Hiểu Lan cười ha hả: “Ta nói bản thân ta, có liên quan gì đến y? Ta thấy mình may mắn, may mà không lớn lên trong hoàng gia, ha ha!”

Ung Chính mắng: “Ngươi điên rồi phải không?” Y làm sao biết Đường Hiểu Lan là con rồng cháu phượng, chỉ là vì chàng tận mắt thấy sự hắc ám trong hoàng gia, bởi vậy nhất thời không kiềm chế được nên mới bi phẫn.

Đường Hiểu Lan cười rộ một hồi, Ung Chính lại hỏi: “Ngươi không giúp Bát bối lạc đoạt ngôi vua, vậy ngươi đến đây làm gì? Muốn nói cơ mật gì?”

Đường Hiểu Lan nói: “Ngươi sai người lén đến điện Đại quang minh lại bức tử tiên hoàng trong Thưởng Xuân Viên, đó chẳng phải là bí mật sao? Đối với ngươi không tính là bí mật, nhưng các Hoàng tử khác thì đó là bí mật to bằng trời, lẽ nào bọn ho chịu để cho ngươi yên!”

Ung Chính mắt lộ huung quang, hừ một tiếng nói: “Ngươi muốn uy hiếp ta?...” Y chưa kịp nói “người đâu, người đâu”, Đường Hiểu Lan chợt cười lạnh, tiếng cười như đâm vào tai, dù Ung Chính là kẻ xảo quyệt nhưng cũng không khỏi lạnh mình, chỉ nghe Đường Hiểu Lan nói: “Nếu hôm nay ngươi giết ta, trong vòng mười ngày bí mật của ngươi sẽ lan truyền khắp kinh sư!”

Ung Chính cười gằn: “Ngươi một mình đến đây, dù ta băm ngươi nát thành tương ai mà biết? Ngươi hãy ngoan ngoãn nghe lời trẫm, sẽ được công danh phú quý. Tiên đế còn có di chiếu gì trao cho ngươi?” Ung Chính đang muốn dùng cả mềm lẫn cứng để tra hỏi, Đường Hiểu Lan chợt cười dài, vỗ tay, trên mái chợt có người nói: “Đường huynh đệ yên tâm, lời của các người ta đã nghe cả!” Ung Chính kêu lớn: “Bắt thích khách!” Người trên mái nhà cười ha ha, Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân đuổi theo, chỉ trong chớp mắt người ấy đã biến mất.

Người ấy chính là Trần Đức Thái, y có bản lĩnh lẻn vào nhà người ta trộm cắp chưa từng thất bại. Đường Hiểu Lan và y đã tính kỹ, sau khi náo loạn, bọn canh sĩ đã nghỉ ngơi; vả lại một mình Đường Hiểu Lan vào cầu kiến, Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân đều chú ý ở chàng ta bởi vậy bọn chúng chỉ canh bên ngoài, để ý tiếng động bên trong. Bởi vậy Trần Đức Thái mới ung dung mai phục, cả gan lên tiếng!

Ung Chính mặt tái nhợt, ủ rủ ngồi xuống ghế chẳng nói lời nào. Một lát sau, Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân vào thỉnh tội nói rằng thích khách đã chạy xa. Cáp Bố Đà khẽ nói: “Hoàng thượng, xin hãy trao Đường Hiểu Lan cho thần, thần sẽ dùng cực hình bức cung, không lo y không nói ra lai lịch của thích khách”. Ung Chính đang tức giận, vung tay hướng vào mặt Cáp Bố Đà, y chợt nhớ Cáp Bố Đà trung thành cẩn cẩn bởi vậy chưa chạm vào mặt đã vỗ xuống ghế lại, nói: “Các ngươi ra ngoài, trẫm tự có chủ ý, không cần các ngươi nhiều lời!”

Đường Hiểu Lan vẫn bình tĩnh đợi Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân lui ra, mỉm cười nói: “Hoàng thượng, không nên nổi giận!”

Ung Chính nổi giận cùng cực, y chỉ đảo mắt một cái thì mặt đã dãn ra, cười lớn nói: “Giỏi lắm, hãy nói đi, ngươi vào đây gặp trẫm không phải nghe ai sai khiến, phải chắc chắn có việc cầu xin trẫm. Ngươi cứ nói thẳng ra, ngươi muốn cầu xin chuyện gì?”

Đường Hiểu Lan nói: “Hoàng thượng quả nhiên cao minh hơn Thập tứ bối lạc, chả trách nào đã có được ngai vàng”. Sau khi nói mấy câu khen ngợi có kèm theo mỉa mai, chàng chợt nghiêm mặt nói: “Thần lớn gan xin Hoàng thượng trao Lâm cô nương cho thần!”

Ung Chính chưng hửng, y không ngờ rằng Đường Hiểu Lan mạo hiểm là vì một nữ tử. Y nghĩ lại Phùng Lâm mặt đẹp như trăng, trong lòng thấy rất quyến luyến. Nhưng nghe Đường Hiểu Lan nói: “Sau khi tôi dắt nàng đi, thề không bước vào chốn thị phi, càng không quản đến chuyện hoàng gia của các người nữa”. Ung Chính giật mình, thầm nhủ: “Hình như y có liên quan gì đến hoàng thất? Tại sao phụ hoàng lại tin tưởng y như thế? Y rút cuộc có lai lịch thế nào?”

Đường Hiểu Lan thấy Ung Chính trầm ngâm không nói, lớn giọng nói: “Quân tử nói một lời xe bốn ngựa khó đuổi. Chúng ta từ rày về sau nước sông không phạm nước giếng, lời tôi đã hết, ngài cần gì phải lo sợ?” điều đó cho thấy rằng, nếu Ung Chính chịu thả Phùng Lâm, chàng sẽ không vạch trần bí mật của y.

Ung Chính cười ha hả, cố che giấu vẻ ái ngại, đưa tay nói: “Nếu ngươi cần ả, ta sẽ ban cho ngươi. Người đẹp ai thấy cũng yêu, không ngờ trẫm là vua của một nước mà không có phước hưởng, từ rày về sau ngươi phải đối đãi tốt với ả! Nào, người đâu!” Đường Hiểu Lan không ngờ y lại nghĩ thế, đỏ mặt, hừ một tiếng nói: “Chả trách nào Bản Vô đại sư mắng ngươi là thái hoa dâm tặc! Ta thật lấy làm tiếc cho họ Ái Tân Giác La!”

Ung Chính sầm mặt, lại cười nói: “Ngươi có còn nhớ chuyện phong lưu của trẫm khi ở Sơn Đông. Đúng, chúng ta vẫn còn là bằng hữu!”

Khi y đang nói, Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân đã bước vào, Ung Chính vẫy tay nói: “Cáp tổng quản, hãy đưa Lâm cô nương đến đây”. Rồi lại bảo với Thiên Diệp Tản Nhân: “Ngươi hãy đem rượu quý của trẫm đến. Trẫm muốn uống cùng Đường huynh mấy chén”.

Hai người nhận chỉ lui xuống, Đường Hiểu Lan nhớ việc Niên Canh Nghiêu đã giết chết Bản Vô đại sư bằng rượu độc, cười lạnh nói: “Tôi làm xong việc sẽ đi, không cần uống rượu với ngài”.

Thiên Diệp Tản Nhân cầm bình rượu bước vào, rót hai chén rồi buông tay lui xuống. Ung Chính cười nói: “Hiếm có dịp nào cố nhân đến đây, chúng ta đã cùng nhấm rượu ở Thanh Đảo, thoắt cái đã mười năm, thời gian như bóng câu qua cửa sổ, nghĩ lại cũng khiến người ta cảm thán!”

Đường Hiểu Lan vẫn ngồi yên không nhúch nhích. Ung Chính chợt cười nói: “Ngươi sợ trẫm hạ độc ngươi sao? Trẫm muốn giết ngươi, cần gì phải bỏ độc trong rượu?” rồi uống cạn chén rượu, ném ly cười nói: “Nếu ngươi đã lo sợ như thế, trẫm làm sao có thể gửi gắm cho ngươi?”

Đường Hiểu Lan thầm nhủ: “Không uống e rằng sẽ sinh ra rắc rối. Bí mật của y trong tay mình, chắc y không dám giết mình. Uống chén rượu có hại chi?” cũng bưng chén uống cạn rồi ném xuống đất. Ung Chính cười ha hả.

Đường Hiểu Lan chỉ thấy mùi rượu thêm nồng chứ chẳng có gì khác lạ. Lúc này Cáp Bố Đà đã dắt Phùng Anh lên. Phùng Anh kêu: “Ngươi muốn giết muốn mổ cứ tuỳ ý. Muốn ta nghe lời, muôn lần không thể. Ngươi hoang dâm vô đạo như thế, ta thấy ngôi vua của ngươi cũng không được bao lâu nữa!”

Đường Hiểu Lan nghe Phùng Anh mắng Hoàng đế, mừng trong lòng rằng: “Ả nha đầu đã khôi phục lại bản tính”. Phùng Anh chợt thấy Đường Hiểu Lan cũng trên đường, vừa kinh vừa mừng, kêu lên: “Đường thúc thúc, người cũng ở đây sao!”

Ung Chính nói: “Té ra các ngươi từng là thúc điệt, thôi được, Lâm cô nương, ngươi không muốn về kinh thì hãy theo thúc thúc của ngươi”. Phùng Anh mở to mắt nhìn Đường Hiểu Lan, trong mắt lộ vẻ nghi hoặc vô hạn. Đường Hiểu Lan nghe nàng kêu thúc thúc thì đã biết nàng chẳng phải là Phùng Lâm mà là Phùng Anh, hỏi: “Sư phụ đâu?” Phùng Anh nói: “Là sư phụ bảo thúc thúc đến đón điệt nữ sao?” lúc này nàng đã biết không phải nằm mơ, vẻ mặt mừng rỡ.

Đường Hiểu Lan nói: “Chúng ta đi thôi!” Ung Chính chợt rót một chén rượu, nói: “Lâm cô nương, đây là loại rượu cô nương thích uống nhất, uống một chén nhé?” Phùng Anh nổi giận: “Ai là Lâm cô nương của ngươi? Ai thèm rượu của ngươi?” rồi nàng vung tay gạt một cái, chén rượu rơi xuống vỡ nát, chợt bốc lên ánh lửa, Đường Hiểu Lan giật mình, thầm nhủ: “Loại rượu này không có gì khác lạ, tại sao lại lợi hại đến thế?”

Phùng Anh phất tay áo bước đi. Ung Chính chợt nói: “Đường Hiểu Lan, thong thả đã”. Phùng Anh chợt quay đầu lại hỏi: “Ta đã biết ngươi không có ý tốt, ngươi muốn giữ Đường thúc thúc của ta? Đường thúc thúc, tên Hoàng đế này rất xấu xa, lời nói của y không đáng tin, y làm sao để cho chúng ta đi dễ dàng, chắc chắn y đã có ngụy kế, người đừng mắc lừa”. Rồi nàng rút cây đoản kiếm định lao tới.

Ung Chính phất tay, Cáp Bố Đà chặn Phùng Anh lại. Ung Chính khẽ cười nói: “Đường huynh, không phải tôi không tin huynh mà bởi sự việc quá quan trọng, tôi phải để lại một vết dấu hiệu trên người Đường huynh”. Đường Hiểu Lan cười rộ nói: “Hay thật, ngài là Hoàng thượng ngôi cao mà cũng có quy củ như hắc đạo trên giang hồ sao? Thôi được, ta đã dám đến đây, dù cho có mệnh hệ gì cũng không nhíu mày”.

Ung Chính đắc ý cười nói: “Ta đã để lại dấu hiệu trên người của ngươi, ngươi không biết sao?” Đường Hiểu Lan chưng hửng, thầm nhủ: “Võ công của ngươi không cao minh bằng ta, vậy làm thế nào mà ra tay với ta?”

Ung Chính nói: “Đường huynh, ngươi đã trách nhầm ta, chén rượu lúc nãy là rượu độc!” Đường Hiểu Lan nói: “Ngươi không giữ lời hứa, cũng đừng trách ta!” Ung Chính cười: “Tuy là rượu độc nhưng chẳng có hại gì cho ngươi. Loại độc này một năm sau mới phát tác, trước khi phát tác ngươi vẫn bình thường. Sau khi phát tác, trong vòng ba ngày mắt sẽ mù, bảy ngày sẽ tàn phế, đến ngày thứ mười thì ói máu mà chết! Nên ngày này sang năm ngươi phải vào cung xin thuốc giải của ta”.

Đường Hiểu Lan tức đến nỗi run bần bật, chẳng nói được lời nào. Ung Chính đắc ý cười nói: “Trong vòng một năm này nếu ngươi an phận thủ kỹ, ngày này sang năm khi đến cầu ta, ta đương nhiên sẽ đưa thuốc giải cho ngươi. Nếu ngươi dám làm càng sinh sự, xúi giục các bối lạc khác đối phó với trẫm, vậy thì hừ hừ, ngươi đừng hòng sống nữa!” Chiêu này của Ung Chính quả thật rất nham hiểm, y đã tính toán, trong vòng một năm có thể trừ hết các phe đảng khác, dù lúc đó Đường Hiểu Lan và Phùng Lâm tiết lộ bí mật của y, y cũng không sợ.
Đường Hiểu Lan mắng: “Thủ đoạn thật hạ lưu!” Ung Chính cả cười: “Nếu không như thế, làm sao trẫm yên tâm!” rồi y sầm mặt, nói: “Một năm sau sẽ gặp lại, lúc đó ngươi cũng phải dắt Lâm quý nhân đến, ngươi có nghe rõ chưa? Cáp tổng quản, cứ để cho bọn chúng đi!”

Phùng Anh bị Cáp Bố Đà ngăn lại, đang lo chợt thấy y lui ra, Đường Hiểu Lan cũng bước ra, nàng mừng rỡ hỏi: “Đường thúc thúc, sao tên cẩu hoàng đế ấy lại chịu thả người?” Đường Hiểu Lan chẳng nói lời nào, dắt Phùng Anh bước ra khỏi vườn hoa mới thở phào.

Phùng Anh nói: “Chuyện gì thế?” Đường Hiểu Lan sợ rằng nói ra sẽ khiến Phùng Anh đau lòng mà chẳng ích gì, chỉ hờ hửng đáp: “Không sao cả”.

Đường Hiểu Lan hỏi Phùng Anh chuyện sau khi xuống núi, Phùng Anh kể sơ qua một lượt, chợt nói: “Đường thúc thúc, trên đời này có thể có hai người hoàn toàn giống nhau hay không?” Đường Hiểu Lan nói: “Nếu huynh đệ tỉ muội song sinh thì hoàn toàn giống nhau”. Phùng Anh cúi đầu suy nghĩ rất lâu rồi ngẩng đầu lên hỏi: “Vậy chắc điệt nữ còn có một tỉ muội sinh đôi nữa. Sư phụ không chịu cho điệt nữ biết lai lịch thân thế, Đường thúc thúc, người có biết không?”

Khi Đường Hiểu Lan xuống núi, Dịch Lan Châu đã từng dặn rằng sau khi tìm được sư tẩu của chàng là Quảng Luyện Hà cùng với Phùng Lâm mới cho Phùng Anh biết thân thế. Bởi vì Phùng Anh còn nhỏ tính tình nóng nảy, cho nàng biết không đúng lúc, không những gây trở ngại cho việc luyện công của nàng mà e rằng nàng sẽ gây ra chuyện.

Đường Hiểu Lan nghe Phùng Anh nói, thầm nhủ: “Xem ra đêm qua Phùng Lâm đã thoát. Trước đây sư phụ không để mình nói cho Phùng Anh biết, là bởi khiến nàng sẽ lo phiền mà ảnh hưởng đến việc luyện công, lại sợ nàng chạy vào cung đình hoặc dẫn đến kết quả cốt nhục tương tàn. Giờ đây nàng đã luyện công xong, Phùng Lâm đã chạy thoát, có nói cũng không hề chi”.

Phùng Anh thấy Đường Hiểu Lan lặng lẽ một lúc lâu mới hỏi dấn tới: “Đường thúc thúc, từ ngày điệt nữ biết chuyện ấy, lòng cứ mãi không yên. Dù người đó ở đâu, điệt nữ cũng phải tìm cho ra tung tích của người đó”.

Đường Hiểu Lan vẫn do dự, thấy nàng nôn nóng, thầm nhủ: “Tạm thời chi bằng đừng nói cho nàng biết. Đợi thêm một hai năm nữa có nói cũng không muộn”. Bởi vậy chàng chỉ gượng mỉm cười.

Lúc này Trần Đức Thái thấy Đường Hiểu Lan dắt một thiếu nữ trở về, mừng rỡ chạy ra đón. Cả ba người tìm Phùng Lâm khắp Trần Lưu mấy ngày mà chẳng hề có tin tức gì. Trần Đức Thái nói: “Hay là đến chỗ Dương lão anh hùng ở Sơn Đông vậy. Ông ấy quen biết khắp nơi, chắc có thể giúp chúng ta dò la được”.

Nửa tháng sau, bọn Đường Hiểu Lan từ Trần Lưu đi Thương Khâu, rồi đến Sơn Đông, tới huyện Định Đào, Trần Đức Thái nói: “Đưa người ngàn dặm rồi cũng sẽ có lúc chia tay. Nơi đây cách nhà Dương lão anh hùng không bao xa, chắc không còn chuyện gì xảy ra nữa, xin thứ tôi không thể cùng đi”. Rồi một mình đi về hướng nam tìm bọn Giang Nam thất hiệp.

Đường Hiểu Lan và Phùng Anh chưa tới nhà họ Dương, đã có người báo cho Dương Trọng Anh biết trước. Dương Trọng Anh ra nghênh đón, Đường Hiểu Lan nói: “Thanh muội đâu?” chàng không phải nhớ Dương Liễu Thanh mà không thấy nàng nên lấy làm lạ.

Dương Trọng Anh liếc Phùng Anh rồi kêu lên: “Ồ, chẳng phải chúng ta đã từng gặp nhau ở Mang Sơn rồi sao, cô nương, kiếm pháp của cô nương thật giỏi!” Phùng Anh nói: “Té ra đây là Dương lão tiền bối, chả trách nào đạn cung của ngài lại chính xác đến thế, ngày ấy không nhờ ngài nương tay, kiếm của tôi suýt nữa đã gãy”. Đường Hiểu Lan ngạc nhiên nói: “Các người đã gặp nhau ở Mang Sơn rồi sao?” Dương Trọng Anh nói: “Hiền tế, con đến đây, ta muốn hỏi con”.

Đường Hiểu Lan chợt nghĩ: “Sao hôm nay nhạc phụ lại có vẻ xa cách đến thế. Bình thường người rất mến khách, tại sao thấy điệt nữ của mình trái lại không vui”.

Phùng Anh cũng đoán được mấy phần, thầm nhủ: “Không ngờ ông ta lại hẹp dạ như thế? Hôm ấy vì nhầm lẫn nên mới đánh nhau một trận, thế mà vẫn còn giận”. Rồi nói dài một cái nói: “Đường thúc thúc, Dương lão tiền bối, tôi không quấy nhiễu nữa”. Dương Trọng Anh cười ha hả, nói: “Tiểu cô nương đừng đa nghi”. Rồi bảo một ả nha hoàn dắt nàng vào còn mình thì kéo tay Đường Hiểu Lan ra ngoài nói chuyện.

Đường Hiểu Lan lòng đầy hoài nghi, chỉ nghe Dương Trọng Anh hỏi: “Tiểu cô nương này làm sao lại điệt nữ của con?” Đường Hiểu Lan nói: “Chuyện này con đã từng nói với người. Sư phụ của con nuôi một cô nhi, cô nhi này chính là nàng. Khi chúng con ở Thiên Sơn, vẫn gọi nhau là thúc điệt”. “Thế ra nàng chính là đệ tử quan môn của Dịch tổ bà, lẽ ra là người hiểu lý lẽ, tại sao lại đối chọi với Giang Nam thất hiệp?” Đường Hiểu Lan ngạc nhiên kêu lên: “Sao lại đối chọi với Giang Nam thất hiệp?”

Dương Trọng Anh kể lại chuyện Phùng Lâm đánh nhau với bọn Lý Nguyên và Lộ Dân Đảm ở Mang Sơn, lại nói: “Lý Nguyên đã trúng một mũi phi đao của nàng suýt nữa tàn phế. Tuổi còn nhỏ sao lại tàn nhẫn như thế?”

Đường Hiểu Lan chưng hửng, chợt cười nói: “Chắc chắn là hiểu nhầm”. “Hiểu nhầm thế nào được?” “Bởi vì còn có một cô nương giống hệt như nàng. Lý đại ca chắc chắn đã gặp người đó”.

Dương Trọng Anh nửa tin nửa ngờ, chợt nói: “Vậy chẳng lẽ kẻ bức hiếp Thanh nhi là người khác sao?” té ra Dương Liễu Thanh đã kể lại chuyện bị Phùng Lâm rút cây ngọc thoa cho Dương Trọng Anh nghe. Đường Hiểu Lan nghe xong, thầm nhủ: “Chuyện này không thể không nói”. Thế rồi mới kể lại mọi việc cho Dương Trọng Anh nghe.

Dương Trọng Anh nghe xong rất thắc mắc nói: “suýt nữa ta đã trách nhầm!”

Lại nói Phùng Anh theo nha hoàn vào nhà, chẳng ai tiếp đãi, lòng thấy không yên. Ngồi xong mới hỏi: “Dương cô nương không có ở nhà sao?” nha hoàn đáp: “Có!” “nàng không khỏe sao?” “Tôi không biết. Hôm nay tiểu thư suốt ngày ở trong phòng”.

Phùng Anh thầm nhủ: “Nàng là thẩm thẩm của mình, mình tới nhà chơi, lẽ ra phải đến chào hỏi trước”. Vì thế mới nói: “Phiền hãy dắt ta vào phòng của tiểu thư”. A hoàn thầm nhủ: “Tiểu thư rất nóng tính, mình không dám chuốc phiền phức”. Phùng Anh đã đứng dậy đợi a hoàn dẫn đường.

A hoàn đành dẫn nàng ra hậu đường, chỉ về phía trước nói: “Căn phòng ở phía đông chính là khuê phòng của tiểu thư chúng tôi. Tôi có chút việc, xin thứ tôi không thể đi cùng”.

Phùng Anh thầm nhủ: “Ả nha hoàn này thật chẳng biết phép tắc. Dương Trọng Anh và người nhà ông ta thật chẳng ra sao cả!” dẫu sao nàng cũng là một tiểu cô nương chưa hiểu việc đời, nên cứ bước thẳng tới đẩy cửa vào phòng của Dương Liễu Thanh. Chỉ thấy một thiếu nữ ngồi trên giường, hầm hầm nhìn nàng!

Phùng Anh giật mình, vội vàng thi lễ kêu: “Thẩm thẩm”. Dương Liễu Thanh tức giận nói: “Ai là thẩm thẩm của ngươi?” Phùng Anh thầm nhủ: “Đúng thế, nàng ta và Đường thúc thúc vẫn chưa thành hôn, nên không thích mình kêu là thẩm thẩm”. Thế nên mới gọi là “cô cô”. Dương Liễu Thanh lại bảo: “Không dám, bản lĩnh của ngươi cao cường, ta đâu có phước như thế!”

Phùng Anh ngạc nhiên, thầm nhủ: “Sao mới gặp mặt mà đã trách ta. Chả lẽ nàng đã trúng tà?” nên mới đảo mắt nhìn lên mặt Dương Liễu Thanh.

Dương Liễu Thanh càng lúc càng tức tối, nói: “Ai đã kêu ngươi vào đây?” Phùng Anh trả lời: “Tôi cùng đến với Đường thúc thúc”. Dương Liễu Thanh càng tức hơn, thầm nhủ: “Sao Hiểu Lan không chịu gặp mình trước mà bảo ả nha đầu này đến trêu mình”. Phùng Anh nói: “Cô cô không khỏe sao? Trong phòng nóng nực, sao không ra ngoài tản bộ cho dễ chịu?” Dương Liễu Thanh đứng bật dậy, lấy đạn cung trên vách tường xuống, nói: “Hay lắm, chúng ta ra ngoài tản bộ”.

Phùng Anh tuy thấy nàng kỳ lạ, nhưng vẫn cười nói: “Luyện võ cho thư giãn gân cốt cũng được. Dương lão tiền bối nổi danh giang hồ nhờ thiết chưởng và thần đạn, chắc đạn cung của cô cô cũng giỏi lắm!”

Dương Liễu Thanh hừ một tiếng, thầm nhủ: “Ngươi lại mỉa mai ta rồi”. Rồi vạch rèm bước thẳng ra luyện võ trường ở phía sau.
Phùng Anh nói: “Đạn cung của cô cô dùng thế nào? Xin cho tôi mở rộng tầm mắt”. Dương Liễu Thanh chợt cả giận, quát: “Tiểu tiện nhân, ngươi đừng cuồng ngạo, hôm ấy ngươi may mắn thoát nạn, nay đã coi thường tuyệt kỹ thần đạn của nhà họ Dương ta rồi sao?” Phùng Anh chưng hửng, lửa giận bốc lên, nói: “Sao lại thế được?” “Cho ngươi mở rộng tầm mắt đây!” rồi nàng kéo dây cung, bắn ba viên đạn về phía các huyệt đạo của Phùng Anh.

Hôm ấy, Dương Liễu Thanh bị Phùng Lâm làm nhục, về nhà khổ luyện đạn cung, tự tin thắng chắc mười phần, nên vừa động thủ đã dùng thủ pháp liên châu mà không hề nương tay.

Phùng Anh xoay người, đạn của Dương Liễu Thanh đều bắn vào khoảng không, nàng kêu lên: “Khoan đã, tôi có lời muốn nói!” lúc này nàng lại nghĩ đó có thể là hiểu lầm, Dương Liễu Thanh đã tính nợ Phùng Lâm cho Phùng Anh.

Dương Liễu Thanh tức giận lạ thường, chẳng thèm để ý đến nữa, lần này càng lợi hại hơn, có ba viên xếp thành hình chữ phẩm bay tới, Phùng Anh cũng nổi cáu thật sự, nàng thi triển công phu tiếp ám khí, vung tay hất một cái, chụp được ba viên đạn rồi ném trở lại, đánh rơi toàn bộ số đạn của Dương Liễu Thanh vừa mới bắn tới nữa, cứ như thế chỉ trong chớp mắt, nửa túi đạn của Dương Liễu Thanh đã vỡ nát.

Dương Liễu Thanh đã lỡ leo lên lưng cọp, đến chiêu cuối cùng lại dùng thủ pháp Mãn Thiên Hoa Vũ, cứ bắn ra từng nắm. Phùng Anh thầm nhủ: “Ta phải cho ngươi biết một chút lợi hại”. Rồi điểm mũi chân phóng vọt người lên tựa như một viên đạn, Dương Liễu Thanh thấy một bóng trắng lao bổ tới mình, chân tay luống cuống, cây đạn cung cũng bị Phùng Anh giật mất bẻ gãy làm đôi ném xuống đất.

Dương Liễu Thanh vừa kinh vừa giận, nàng trở tay quét vào trung bàn của Phùng Anh, rồi lại tung ra một cú đá. Phùng Anh lách người, tránh cú đá của Dương Liễu Thanh, nhưng không tránh được thiết chưởng của nàng, bất một tiếng, chưởng ấy đã giáng trúng ngực của Phùng Anh.

Dương Liễu Thanh đắc ý cười lớn, chợt thấy cha và Đường Hiểu Lan bước vào. Dương Trọng Anh mặt tái xanh, tức tối nói: “Con... con thật không biết nghe lời!” Đường Hiểu Lan chạy đến nắm tay Phùng Anh, hỏi: “Điệt nữ thế nào, có bị thương không, để ta khôi cung khóa huyệt”.

Dương Liễu Thanh giận dỗi nói: “Cha, người ta tìm đến đây bức hiếp con gái của cha mà cha không màng đến, trái lại còn trách mắng con. Hiểu Lan, đến đây! Hừ huynh ở nhà tôi bao nhiêu năm thế mà giờ đây lại cùng tiểu tiện nhân đến bức hiếp tôi!” Dương Trọng Anh mắng: “Câm mồm!”

Phùng Anh mỉm cười, vái dài nói: “Cô cô, sao vừa mới gặp mặt cô cô đã đánh tôi mắng tôi? Tôi không phải tiểu tiện nhân mà là đồ đệ của Dịch nữ hiệp ở Thiên Sơn, đã bao giờ mạo phạm cô cô đâu?” Dương Trọng Anh và Đường Hiểu Lan thấy Phùng Anh sắc mặt vẫn như thường, không hề có vẻ như bị thương mới yên lòng, Dương Trọng Anh càng ngạc nhiên, thầm nhủ: “Bản lĩnh của Thanh nhi tuy bình thường nhưng mỗi chưởng ít ra cũng đánh đến năm trăm cân, tiểu cô nương này tiếp một chưởng mà chẳng hề gì, quả thực mình không bì kịp”.

Dương Liễu Thanh thấy Phùng Anh chịu một chưởng của mình mà vẫn chẳng hề gì, trong lòng phát hoảng, Đường Hiểu Lan nói: “Thanh muội, muội đã nhận nhầm người rồi”. Dương Liễu Thanh trừng mắt nói: “Cái gì? Tôi không phải là trẻ con!” Dương Trọng Anh nói: “Cha đã học võ nhiều năm, lại có không ít kinh nghiệm giang hồ mà sao không nhận ra môn hộ võ công của cô nương này khác với người lúc trước con đã gặp”. Dương Liễu Thanh thầm nhủ: “Võ công của người này tinh thuần, quả nhiên hơn hẳn tiểu cô nương ngày trước”. Đường Hiểu Lan cười nói: “Trên thiên hạ có rất nhiều người giống nhau. Cũng không thể trách được Thanh muội nhận lầm”. Lời này đúng là giải vây cho nàng, không nhờ Dương Liễu Thanh chẳng nuốt được cục giận, lại bị cha trách mắng nên ngang ngạnh nói: “Dù có nhận lầm người, ả cũng không nên bẻ gãy đạn cung của con, xưa nay nhà họ Dương nổi danh thiên hạ nhờ thiết chưởng thần đạn, ả bẻ gãy đạn cung của chúng ta coi như là thấy hết tiêu kỳ của tiêu cục. Cha, con chịu không nỗi nữa, nào chúng ta đánh nhau tiếp!”

Dương Trọng Anh tức đến nỗi mặt tái xanh, kéo con gái ra. Phùng Anh nói: “Chưởng pháp của cô cô cao minh, tôi đã thua cần gì phải đấu tiếp. Tôi chỉ vì tự vệ nên buộc phải bẻ gãy đạn cung của cô cô, xin được thứ lỗi”. Thật ra Phùng Anh cố ý chịu một chưởng của nàng để nàng xuống thang. Trên người Phùng Anh đã mặc bộ nhuyễn giáp tơ vàng mà Chung Vạn Đường đã tặng khi còn bé nên chịu một hai chưởng chẳng hề chi.

Dương Trọng Anh mắng: “Con xem đấy, tiểu cô nương nhỏ tuổi hơn con nhiều mà hiểu chuyện hơn con. Hãy mau xin lỗi tiểu cô nương, nếu không cha không nhận con làm con!” Dương Liễu Thanh thấy cha mình mặt đỏ ửng, râu vểnh ngược lên thì biết ông ta đã nổi giận.

Đường Hiểu Lan mỉm cười giải vây, một tay nắm Phùng Anh, một tay kéo Dương Liễu Thanh, cười nói: “Không đánh không quen nhau. Anh điệt nữ, Dương cô cô có phải giống trẻ con như điệt nữ không? Hai người hãy làm quen với nhau!” Phùng Anh lại kêu một tiếng: “Cô cô”, Dương Liễu Thanh chỉ vâng một tiếng. Dương Trọng Anh mới bớt giận.

Phùng Anh đang định lên tiếng, Dương Trọng Anh quay mặt sang một bên, cố ý tránh ánh mắt của nàng, Đường Hiểu Lan thấy không yên trong lòng, chỉ nghe Dương Liễu Thanh nói: “Hiểu Lan, đến đây!” rồi bỏ mặt Phùng Anh, kéo Đường Hiểu Lan vào phòng đóng cửa lại tra hỏi.

Phùng Anh thấy Dương Liễu Thanh dữ dằn như con cọp cái, bất giác bật cười. Dương Trọng Anh lắc đầu: “Thật chẳng còn cách nào. Cô nương, mong cô nương đừng cười”. “Không có gì. Từ lúc tôi xuống núi đến nay đâu chỉ một lần bị hiểu nhầm”. Dương Trọng Anh áy náy nói: “Anh cô nương, luận qua vai vế thế tục, cô nương là tôn nữ của tôi; luận theo vai vế trong võ lâm, chúng ta lại bằng vai phải lứa. Chúng ta đừng để ý đến điều này, cô nương đến nhà tôi, chúng ta sẽ như người một nhà. Con gái của tôi nóng nảy, mong cô nương đừng để trong lòng. Tôi sẽ bảo người chuẩn bị phòng, cô nương nghỉ ngơi trước”. Phùng Anh nói: “Dương công công, ông là trượng nhân của thúc thúc tôi, sao lại khách sáo với tôi như thế. Tôi nào dám trách cô cô”. Lúc này nàng đã nghe tiếng Dương Liễu Thanh chất vấn Đường Hiểu Lan, bất giác thấy ái ngại cho chàng.

Đêm khuya, Phùng Anh trằn trọc chẳng thể nào ngủ được. Nàng nhớ lại chuyện qua ngày, thầm nhủ: “Dương Liễu Thanh thật hung dữ khó gần. Mình cần gì cứ để nàng ta bức hiếp mãi!” rồi âm thầm thu dọn đồ đạc, lại nhủ: “Không từ biệt mà bỏ đi cũng không hay lắm, nhưng nếu từ biệt, Dương công công chắc sẽ giữ lại. Mình lại không thể trách con gái của ông ta, chi bằng mình cứ nói với Đường thúc thúc một tiếng để người nhắn lại với Dương công công”. Nàng biết Đường Hiểu Lan ở trong thư phòng nên nàng phóng lên mái nhà chạy đến thư phòng của Đường Hiểu Lan.

Trong thư phòng đèn vẫn chưa tắt, có người đang trò chuyện. Té ra đó là tiếng nói của Đường Hiểu Lan và Dương Trọng Anh. Phùng Anh cúi người lắng nghe, chỉ nghe Đường Hiểu Lan nói: “Sư phụ, không phải con muốn hối hôn mà bởi sẽ làm lở dở tuổi thanh xuân của Thanh muội”. Dương Trọng Anh nói: “Cái gì? Con có điều chi khó nói? Con chê Thanh nhi tính tình không tốt hay là có nguyên nhân khác, cứ nói thẳng cho ta biết!”

Đường Hiểu Lan nói: “Tánh mạng của con chỉ có thể giữ được một năm nữa, nếu thành hôn sẽ khiến Thanh muội trở thành quả phụ. Nên chi bằng xóa bỏ hôn ước. Mong sư phụ chọn người khác”.

Dương Trọng Anh vội hỏi: “Con đã bị nội thương sao?” “Không phải. Con uống rượu độc của Hoàng đế, một năm sau độc tính mới phát tác. Lúc đó nếu không vào cung lấy thuốc giải, mười ngày sau độc phát thân vong. Sư phụ, người biết tính của con, chúng ta là người hiệp nghĩa, đầu có thể rơi nhưng chí không thể nhục. Con thà chết chứ không muốn cầu xin Hoàng đế!” Dương Trọng Anh run rẫy nói: “Sao con lại vô ý uống rượu độc của y?” “Nếu không uống, y sẽ không cho con đưa Anh điệt nữ đi”.

Phùng Anh nghe đến đây, tim đập thình thình, suýt nữa đã té xuống. Nàng vội vàng trấn tĩnh tiếp tục lắng nghe.

Dương Trọng Anh lại nói: “Chả lẽ ngoại trừ thuốc giải của y không còn cách nào giải hay sao?” “Bích linh đơn của Thiên Sơn là thánh dược giải độc, con đã uống hết cả mà chẳng thấy có công hiệu. Không biết loại rượu độc này được luyện như thế nào mà lợi hại đến thế, bình thường không thấy gì, nhưng sau khi vận khí thì thấy đau nhói”. Chàng ngập ngừng rồi lại nói tiếp: “Con uống thuốc độc đến nay đã sắp một tháng, sang năm sẽ là ngày chết của con”.

Dương Trọng Anh vỗ tay xuống bàn đánh bình một tiếng, gằn giọng nói: “Hoàng đế thật nham hiểm”. Ông ta ngập ngừng rồi lại nói: “Ta không tin không có thuốc giải khác. Hiền tế, con cứ nghỉ ngơi cho khỏe, ta sẽ sai người đi khắp nơi tìm danh y, trong vòng một năm phải tìm cách cứu con”. Tuy nói là thế nhưng ông ta thật sự cũng chẳng nắm chắc.

“Người đừng nhọc lòng nữa. Con cầu xin người đừng cho Thanh muội và Anh điệt nữ biết chuyện này để họ khỏi lo lắng cho con”.

Phùng Anh lòng đau như cắt, thầm nhủ: “Té ra Đường thúc thúc uống rượu độc là vì mình, mình sao có thể bỏ đi”. Rồi lại nghĩ: “Mình nghe sư phụ nói, Đường thúc thúc ở Thiên Sơn ba năm, tuy đã học được chân truyền kiếm pháp của người nhưng vẫn chưa hiểu hết sự bí ảo của nội công bổn phái. Nên Đường Hiểu Lan chỉ là đệ tử ký danh của người, còn truyền nhân y bát của người. Sao mình không truyền yếu quyết nội công chi Đường thúc thúc. Nếu công lực củc Đường thúc thúc tăng cường có lẽ sẽ chống được chất độc”.

Phùng Anh quyết định không đi, cũng chẳng lòng dạ nào nghe nữa, thế là len lén trở về phòng.

Hôm sau Phùng Anh gặp mặt Dương Liễu Thanh, Dương Liễu Thanh vẫn chưa hết giận, chỉ hờ hững gật đầu, chẳng thèm để ý đến nàng. Phùng Anh vì thúc thúc nên cố gắng nhịn, vẫn chào hỏi ân cần, Dương Liễu Thanh thầm nhủ: “Hừ, ả nha đầu nhà ngươi cũng biết lấy lòng ta”. Rồi nàng cảm thấy không thể nào trách một “đứa trẻ” nên cũng cười nói với Phùng Anh.

Nhưng sau bữa điểm tâm, Dương Liễu Thanh lại nổi cáu. Phùng Anh chạy vào phòng Đường Hiểu Lan, đóng cửa phòng lại cả nửa ngày vẫn không ra. Dương Liễu Thanh gọi ba lần, Đường Hiểu Lan đều nói: “Sắp đến đây, sắp đến đây!” nhưng rút cuộc vẫn không ra.

Dương Liễu Thanh tức đến nỗi đập nát bình hoa trong khách sảnh, nói: “Cô nương mười sáu mười bảy tuổi đã không còn nhỏ nữa, lại chẳng có máu mủ ruột rà với nhau, thật không biết mắc cỡ, nấp trong phòng đàn ông mãi không chịu ra”.

Phùng Anh nghe câu mắng của nàng, quả nhiên rất bực tức, Đường Hiểu Lan vội nói: “Anh điệt nữ, Liễu Thanh nói chuyện không biết giữ lời, điệt nữ đừng giận”. Phùng Anh nhỏ nước mắt, nói: “Thúc thúc, vậy tối nay con sẽ đến thăm người”. Nàng đóng cửa lại chạy ra, Dương Liễu Thanh thấy Phùng Anh nghiêm mặt, trợn tròn hai mắt, sợ nàng nổi cáu nên chẳng dám nói gì nữa.

Đường Hiểu Lan đợi Dương Liễu Thanh vào phòng mới nghiêm mặt nói: “Cả điệt nữ của huynh mà muội cũng không tha, muội đến đây gặp huynh làm gì?” Dương Liễu Thanh chưng hửng, không ngờ Đường Hiểu Lan lại nổi giận với nàng, khóc rằng: “Hay lắm, huynh cần điệt nữ chứ không cần thê tử rồi!”

Đường Hiểu Lan nổi cáu nói: “Nói càn! Muội tưởng chúng tôi là người thế nào? Anh điệt nữ là cô nhi, muội còn muốn hành hạ người ta? Để huynh nói cho cha biết, muội không chấp nhận chúng tôi, hôm nay chúng tôi sẽ đi!” tuy Dương Liễu Thanh ngang ngạnh nhưng tâm địa cũng không xấu lắm, nghe thấy giật mình nín khóc ngay. Đường Hiểu Lan mềm mỏng khuyên nàng. Về sau Dương Liễu Thanh quả nhiên không dám nổi cáu trước mặt Phùng Anh nữa.

Phùng Anh cũng không dám đến phòng Đường Hiểu Lan lúc ban ngày. Tới canh ba mỗi đêm nàng lại lén đến gặp Đường Hiểu Lan, truyền phương pháp luyện công cho chàng.

Cứ như thế một tháng trôi qua, Phùng Anh và Dương Liễu Thanh chẳng có chuyện gì xảy ra, nội công của Đường Hiểu Lan càng tiến bộ hơn, chàng cũng rất vui mừng, một ngày nọ Đường Hiểu Lan muốn cùng Phùng Anh nghiên cứu Thiên Sơn kiếm pháp, nên hẹn nàng ra hậu sơn, Dương Liễu Thanh tìm mãi không thấy, đang ngồi bực dọc trong nhà chợt nghe bên ngoài có tiếng gõ cửa. Dương Liễu Thanh thầm nhủ: “Không biết khách nào đến đây?” rồi nàng lén trốn ở tấm bình phong sau sảnh nhìn ra ngoài. Chỉ thấy cha đã đợi trong khách sảnh, ba người khách, một nam hai nữ bước vào.

Người nam đã già nhưng sắc mặt vẫn hồng hào, còn hai người nữ là một già một trẻ đi phía sau, trông thiếu phụ rất tức giận, tựa như có ý tìm kẻ thù.

Chỉ nghe Dương Trọng Anh đứng phắt dậy, nói: “Đường nhị tiên tinh, ngọn gió nào thổi ông đến đây?” ông già nói: “Tôi dẫn tiểu nữ đến đây khấu đầu trước ông. Trại Hoa sao không khấu đầu trước Dương bá bá?” thiếu phụ khóc òa lên, quả nhiên quỳ xuống dập đầu. Dương Liễu Thanh lấy làm lạ, thầm nhủ: “Chuyện gì thế này?”

Dương Trọng Anh càng lạ hơn, lại ngại không đưa tay ra đỡ, chỉ đành khom người nói: “Có lời gì cứ nói! Chả lẽ có kẻ nào dám bức hiếp các người?”

Ông già thở một tiếng nói: “Con ơi, khóc lóc có ích gì, có Dương lão tiền bối chủ trì công đạo, con sợ gì thù lớn không trả được?”

Dương Trọng Anh nhíu mày, nói: “Đường nhị tiên sinh, các vị từ Tứ Xuyên đến đây, muốn tôi báo thù gì? Tôi tuổi đã già, đã không còn muốn xen vào chuyện trên giang hồ nữa. Hơn nữa với bản lĩnh của các vị sợ gì không thể trả được thù?”

Bà già đi cùng chợt xen vào, lạnh lùng nói: “Kẻ thù của họ nấp trong nhà một người rất có thế lực, không qua ngài, bọn chúng không dám đến tìm”.

Dương Trọng Anh ngạc nhiên nói: “Kẻ nào dám gây thù chuốc oán với các vị? Chuyện này thật là kỳ lạ. Rốt cuộc là thù hận gì? Kẻ thù là ai? Ai đã bao che cho y? Đường nhị tiên sinh, ông hãy nói ra, tôi tuy không muốn nhúng tay vào, nhưng nhân vật ở đây đều là bằng hữu của tôi, có việc gì khó cũng có thể bàn bạc”.

Ông già chợt lớn giọng nói: “Vậy chúng tôi xin đa tạ Dương lão anh hùng. Tiểu nữ muốn trả thù giết chồng, kẻ thù hiện đang ở đây!”

Chính là:

Sấm nổ giữa trời xanh, họa lớn giáng xuống đầu.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 32: Tên bắn đạn bay ánh kiếm kinh cự địch Ca song múa dứt sát khí ẩn hoa đường

Dương Trọng Anh cả kinh, thầm nhủ: “Thật là kỳ lạ! Chả lẽ Thanh nhi đã gây họa?” Ông ta nghĩ đến đây, không khỏi rung giọng nói: “Nhà họ Dương tôi chỉ có hai cha con, tôi phong đao đã lâu, con gái tôi bản lĩnh tầm thường, liệu rằng cũng không thể đả thương lệnh tế. Đường nhị tiên sinh, có lẽ ông đã tìm nhầm nơi!”

Ông già ho khan một tiếng, chậm rãi nói: “Lệnh tế đã trở về chưa?” Dương Trọng Anh nói: “Những chuyện Hiểu Lan làm tôi đều biết, tháng trước hắn vẫn còn dưỡng thương ở Tuyết Hồn cốc...” ông già không đợi nói xong, tiếp tục lên tiếng: “Tháng trước lệnh tế cùng một vị cô nương từ Hà Nam trở về?” Dương Trọng Anh nói: “Có chuyện này!” “Vậy tiểu cô nương ấy chính là kẻ thù giết nữ tế của tôi, mong lão anh hùng giao ra!”

Té ra Vương Ngạo, kẻ bị Phùng Lâm giết ở gần Trần Lưu chính là con rể của Đường nhị tiên sinh. Đường gia có ba đương gia, đều nổi danh giang hồ nhờ ám khí. Thất Sát Bạch Mi châm mà Phùng Lâm trúng trước kia là một trong những loại ám khí bí truyền của Đường gia.

Đường nhị tiên sinh tên là Đường Kim Phong, là kẻ cuồng ngạo nhất trong ba anh em, y chỉ sinh được một người con gái tên là Trại Hoa, Đường Kim Phong cưng như trứng mõng. Đường Trại Hoa nghe chồng chết thảm nên khóc lóc đòi sống đòi chết, bảo cha phải trả thù cho mình. Đường Kim Phong cũng thấy ái tế bị giết là chuyện tổn thương đến uy danh của Đường gia liền dắt con gái rời Tứ Xuyên đến Hà Nam tìm hung thủ giết Vương Ngạo.

Chẳng mấy khó khăn, y tìm được Diệp Hoành Ba, kẻ cũng có mặt hôm ấy. Nhưng lúc ấy triều đình truyền mật lệnh trong vòng một năm không được truy bắt Đường Hiểu Lan và Phùng Lâm. Còn nguyên nhân thế nào chỉ có một mình Cáp Bố Đà biết rõ. Diệp Hoành Ba căm tức Phùng Lâm, thấy cha con họ Đường đến tìm thì rất hợp ý. Mụ ta ngại mật lệnh của triều đình nên mượn tay cha con họ Đường trừ khử nàng.

Cha con Đường Kim Phong nhờ Diệp Hoành Ba chỉ dẫn đã đến Sơn Đông, dò la mới biết được Đường Hiểu Lan có dắt theo một tiểu cô nương đến nhà họ Dương. Diệp Hoành Ba và cha con họ Đường nào biết đó là Phùng Anh chứ chẳng phải Phùng Lâm nên vội đến nhà họ Dương đòi hung thủ.

Dương Trọng Anh cũng không biết Phùng Anh là hung thủ, nghe thế thất kinh, hỏi: “Lệnh tế bị giết ở nơi nào? Làm sao lại có thù với tiểu cô nương? E rằng nhị tiên sinh đã nghe nhầm!” Đường Kim Phong tức giận nói: “Bị giết ở Trần Lưu, Hàn thái thái chính là người làm chứng”. Dương Trọng Anh liếc nhìn Diệp Hoành Ba, thấy mụ ta đã hơn năm mươi tuổi mà vẫn ưỡn a ưỡn ẹo, chẳng phải kẻ đàng hoàng tử tế thế mới nói: “Hôm ấy Hàn thái thái cũng có mặt sao? Có thể kể lại tình hình cho lão phu biết hay không? Xin thứ lão phu hồ đồ, chưa hỏi tên của tôn phu nhân”.

Diệp Hoành Ba cười lạnh nói: “Có lẽ Dương lão anh hùng đã nghe tiện danh của phu phụ”. Đường Kim Phong nói: “Vợ chồng Hàn Trọng Sơn danh túc phái Linh Sơn, trên giang hồ không ít người biết, với thân phận của bà ta, lẽ nào lại vu oan cho một tiểu cô nương?”

Dương Trọng Anh ngửa mặt cười lớn: “Lão phu hoa mắt, thật đáng trách. Nghe nói Hàn Trọng Sơn là người giúp việc đắc lực cho Hoàng thượng, vậy cho lệnh tế cũng là công sai?”

Đường Trại Hoa nói: “Là công sai thì thế nào?” Dương Trọng Anh nói: “Công sai tuy bắt phạm nhân, bị giết cũng là chuyện bình thường. Cũng rất khó nói ai đúng ai sai. Nhị tiên sinh là bậc danh túc võ lâm, chắc cũng nên biết quan sai giết giặc hoặc giặc giết quan sai đều không thể coi là tư thù. Người trong võ lâm rất ít khi nhúng tay vào. Nhị tiên sinh, dù có phải ả giết hay không, tôi thấy nên mới giải mối thù này thì hơn”.

Dương Trọng Anh nói một hồi, Đường Trại Hoa khóc òa lên: “Chả lẽ phu quân của tôi vô duyên vô cớ bị người ta giết như thế sao? Lão thất phu, hôm nay ông phải giao hung thủ ra!”

Dương Trọng Anh lại ngửa mặt cười lớn, Đường Kim Phong nói: “Trại Hoa, con đường làm ồn, ta tự biết tính”. Dương Trọng Anh nói: “Nhị tiên sinh, tôi đã nói hết lời. Nếu ông còn nhớ đến giao tình ngày trước, chúng ta cùng uống cạn một chén. Xin đừng nhắc đến chuyện trả thù nữa!”

Đường Kim Phong lạnh lùng cười nói: “Dương lão anh hùng, ông đã quên một việc”. “Việc gì?” “Người bị giết là con rể của tôi, là phu quân của con gái tôi. Quan hệ giữa cha con chúng tôi với người chết chẳng phải như bằng hữu võ lâm bình thường. Chúng tôi muốn trả thù, ai cũng không ngăn cản nổi! Dương lão anh hùng, nếu ông đã không muốn xen vào, chúng tôi cũng không muốn ép. Vậy xin thứ chúng tôi vô lễ, chúng tôi sẽ lục soát bắt người!”

Dương Trọng Anh đùng đùng nổi giận, nói lớn: “Nhị tiên sinh, ông cũng quên một việc”. “Quên việc gì?” “Ông đã quên ở đây là nhà của Dương Trọng Anh! Nhà của tôi há để cho người ta tùy tiện lục soát hay sao?” “Vậy ông muốn ngăn cản chúng tôi?” “Ở đây toàn là người nhà của tôi, có việc gì tôi sẽ gánh vác, dù Hoàng đế muốn đòi người, tôi cũng không đưa!”

Đường Kim Phong cười hềnh hệch nói: “Thế ra chúng tôi đã uổng công đi một chuyến? Trại Hoa, con nhớ khi chúng ta ra khỏi nhà, cha đã nói gì với con không?” Đường Trại Hoa đáp: “Cha, cha đã từng nói nếu không thể trả thù thề không trở về Tứ Xuyên”. “Đúng thế, Dương lão anh hùng, ông nhẫn tâm thấy bộ xương già của tôi chôn nơi quê người hay sao?” “Được, vậy xin mời ông ra tay, cứ để tôi chôn xác ở trong nhà”. “Không dám! Nhưng Dương lão anh hùng cố chấp, bao che cho hung đồ, xin thứ mạo muội, tôi cũng phải lãnh giáo Thiết chưởng thần đạn của ông”. “Tốt lắm, tôi cũng muốn xem thử ám khí của Đường gia các người”. Rồi cầm đạn cung bước xuống, Đường Kim Phong đã nhảy ra giữa sân. Dương Trọng Anh nói: “Xin mời!” Đường Kim Phong phất ống tay áo, đánh ra một chiêu Trửu Để Kháng Chùy, Dương Trọng Anh vung hai tay lên, quét ra vù vù hai chưởng, Đường Kim Phong rụt vai lại đột nhiên xoay người, thi triển chiêu số của Trường quyền đấm ra, quyền phong quét vào mặt đối phương. Dương Trọng Anh thấy y công lực thâm hậu, khẽ quát: “Hay lắm!” rồi lách người đẩy chưởng, lướt tới mé phải của Đường Kim Phong, đánh ra một đòn Kinh đào phách ngạn, chưởng phong quét tới. Đường Kim Phong thối lui hai bước, cánh tay vạch thành một vòng tròn đánh ra một chiêu Loan Cung Xạ Điêu phá giải chiêu số của Dương Trọng Anh. Hai người càng đánh càng hăng, giữa sân tuy chỉ có hai người nhưng quyền phong chưởng ảnh vỗ ra nghe cứ như mấy chục người đang giao đấu với nhau. Dương Liễu Thanh thấy thế lo lắng, len lén chạy về lấy đạn cung ra.

Lúc này hai bên càng đấu càng dữ, dần dần đã không nghe tiếng quyền chưởng vỗ vào nhau nữa, chỉ thấy bóng người lướt vun vút, thanh thế không còn kinh người như lúc nãy mà trở nên như một trận sinh tử quyết đấu, cả hai người đều dùng nội công thấy chiêu phá chiêu, quyền cước chưa chạm nhau, chiêu thức đã đổi, hư hư thực thực, biến hóa vô cùng!

Một hồi sau chỉ nghe tiếng ống tay áo phất trong gió, chưởng pháp của Dương Trọng Anh chợt thay đổi, trong phiêu hốt bất định, người ngoài nhìn vào tựa như nhẹ nhàng chẳng hề có lực, nhưng trong chưởng hàm chứa nội kình, trong nhu có cương, chưởng này cũng rút tỉa sở trường của Thiết sa chưởng và Cầm Nã thủ. Đường Kim Phong thấy thế không dám tiếp đòn.

Dương Liễu Thanh đứng phía sau tấm bình phong mừng rỡ, buông cây đạn cung xuống. Khi hai người trong trường đấu đến lúc căng thẳng, Đường Kim Phong phải dùng phép du đấu, rõ ràng đã đuối sức. Đường Trại Hoa kêu: “Cha, sử dụng ám khí!” Dương Trọng Anh chợt hú dài một tiếng, hai chưởng một dẫn một phất, người lách một cái, chưởng trái đánh ra một chiêu Thiết Trị Đột Xuất, chưởng phải đánh ra một chiêu Trường Cổ Tề Minh, Đường Kim Phong đấm ra một quyền nhưng bị hụt, chưởng phong của đối phương đã quét tới trước mặt. Hay cho Đường Kim Phong, y lâm nguy mà không loạn, chân phải xoay một cái, mượn lực vặn trầm thân xuống né tránh, Dương Trọng Anh vỗ hai chưởng vào mặt của y, chưởng phong quét tới, Đường Kim Phong thấy đau nhói, mắt hầu như chẳng mở được nữa, y lộn người ra sau hơn một trượng, kêu: “Thiết chưởng của Dương gia quả nhiên danh bất hư truyền! Xem ám khí!” rồi trở tay vung ra, chỉ thấy hai mũi ngân tiêu xé gió bay ra!

Dương Trọng Anh xoay người, chợt mũi tiêu bay lướt qua. Vừa nói một chữ “hay”, chợt thấy ánh sao sa xuống trước mặt, Dương Trọng Anh biết đó chính là loại ám khí Thất Sát Bạch Mi châm của Đường gia, nên vội vận chân lực nội gia đẩy hai chưởng ra, chưởng phong kêu lên vù vù hai tiếng, Bạch Mi châm không thể nào chạm vào người ông ta được nơi rơi lả tả xuống đất. Đường Kim Phong nói: “Hay lắm, tiếp thêm nữa!” rồi vung tay lên, tiếng vù vù vang lên, năm khối màu đen từ trên đầu chụp xuống. Dương Trọng Anh kéo dây cung liên tục bắn đạn ra, ám khí chạm nhau trên không trung, năm trái cầu tròn của Đường Kim Phong đều vỡ ra, đột nhiên bắn ra mấy mươi ánh lửa!

Dương Trọng Anh lộn người xuống đất, khi đứng dậy thì xé tà trường bào múa tít trong gió, tia lửa bắn tung tóe, may mà vẫn chưa bị thương nhưng người thì đã lấm lem đất.

Dương Trọng Anh biết ám khí của nhà họ Đường có rất nhiều loại, muốn thắng phải tranh tiên để khống chế cục diện. Đường Kim Phong phóng ám khí ra ba lần mà vẫn chưa đả thương được kẻ địch nên cũng chùn bước. Dương Trọng Anh kêu lớn: “Có qua thì phải có lại!” rồi kéo dây cung, thiết đạn phóng ra vun vút.

Đường Kim Phong dùng thủ pháp Mãn thiên hoa vũ phóng Kim Tiền tiêu ra ứng phó với thiết đạn, lần này thiết đạn cũng rơi lả tả xuống đất. Thần đạn của Dương Trọng Anh tuy không bắn được vào người y, nhưng buộc y phải bận rộn ứng phó.

Đánh một hồi, hai bên đều chẳng bị thương, đột nhiên đều ngừng lại, một người đứng ở phía Đông, một người đứng ở phía Tây nhìn nhau tựa như hai con gà trống, một người tay kéo dây cung, trầm eo thủ thế, một người cầm sẵn ám khí mở to hai mắt. Hai người gườm nhau một hồi. Dương Liễu Thanh lấy làm lạ, không biết lúc này họ đã đến giai đoạn quyết chiến!

Cả hai đều biết khó hạ được đối phương nên đều đang tìm sơ hở để thi triển đòn sát thủ. Chợt nghe một tiếng quát vang lên, hai người đều nhảy lên, Dương Trọng Anh phóng thiết đạn, Đường Kim Phong phóng độc tiễn, mục tiêu đều là cổ họng của đối phương, thủ pháp của hai người đều nhanh, mạnh, chuẩn xác. Vừa mới đổi nhau một chiêu, cả hai đã tránh ra rồi ngừng lại, hai người đều khom người thủ thế, nhìn đối phương chằm chằm.

Dương Liễu Thanh thấy cha mình căng thẳng, mồ hôi nhỏ ròng ròng nhưng trong tay vẫn cầm cung đứng yên như pho tượng đá. Đường Kim Phong cũng như thế. Dương Liễu Thanh thầm nhủ: “Lão già này chẳng xem ai ra gì, mình dùng đạn liên châu đánh lén vào huyệt đạo của y”. Thế là kéo dây cung đánh liên tục ba phát đạn, một viên nhắm vào huyệt Mi Tâm ở thượng bàn, một viên nhắm vào huyệt Phong Phủ ở trung bàn, một viên nhắm vào huyệt Khiếu Âm ở hạ bàn, cả ba phát đạn cùng bắn ra, chợt nghe cha kêu một tiếng: “Không xong!” Dương Liễu Thanh thất kinh, chợt thấy một luồng kình phong quét tới, tấm bình phong vỡ ra, Đường Kim Phong bắn ra một mảnh thiết đạn, đánh ngược ba viên thiết đạn của Dương Liễu Thanh quay về. May mà Dương Liễu Thanh còn lanh lẹ, khi bình phong ngã xuống, nàng đã hụp người xuống đất, viên đạn bay lướt qua đầu nàng cắm vào vách tường.

Khi Dương Liễu Thanh đứng dậy, ám khí trong sân đã bay mù trời. Đường Trại Hoa tay trái phất Bạch Mi châm, tay phải phóng độc tật lê giúp cha mình đánh địch. Quy củ của nhà họ Đường họ không lấy hai địch một. Nhưng đối phương có người trợ chiến, coi như không cần theo quy củ ấy nữa. Công lực của Đường Trại Hoa hơn Dương Liễu Thanh nhiều, cả hai cha con cùng vây đánh nhất thời như hổ thêm cánh. Đường Kim Phong quát: “Dương lão đầu, có chịu thua chưa?” Dương Trọng Anh chẳng nói một lời, Đường Kim Phong phất hai tay, hồ điệp tiêu cùng với độc tât lê bay ra bốn hướng, trong hồ điệp tiêu có giấu cơ quan, lúc thì bay xéo, lúc thì bay theo đường thẳng chẳng thể nào tránh nổi! Dương Trọng Anh không phát thần đạn, vận chưởng thành gió đánh rơi hồ điệp tiêu, đột nhiên thấy chân tê rần, thế là khụy xuống đất. Đường Kim Phong kêu: “Trại Hoa dừng tay, hai chân của y đã trúng độc tật lê của con!”

Dương Liễu Thanh nhảy bổ tới, Đường Kim Phong nói: “Người này phải không?” Diệp Hoành Ba trả lời: “Không phải!” Đường Trại Hoa rút một cây phi đao chém đứt cây đạn cung của Dương Liễu Thanh làm đôi. Dương Trọng Anh nói: “Thanh nhi, không được tới!” rồi nghiêng mình ngồi dậy, sắc mặt tái nhợt. Đường Kim Phong cười hềnh hệch: “Dương đại ca, lần này xin đắc tội ông! Ông hãy giao hung thủ ra đây!” Dương Trọng Anh lớn giọng nói: “Đường lão nhị, ngươi muốn ta cúi đầu trước ngươi là điều không thể!” Đường Kim Phong nói: “Ông có biết ám khí của Đường gia chúng tôi lợi hại đến mức nào không? Ông đã trúng độc tật lê, không có thuốc giải của tôi, dù không mất mạng cũng tàn phế!” Dương Trọng Anh cười ha hả: “Nếu Dương mỗ sợ chết đã không lăn lộn trong võ lâm mấy mươi năm nay!” Đường Kim Phong giơ ngón tay cái nói: “Hay lắm, nếu ông có giao tình với hung thủ, vì bằng hữu mà chịu khổ cũng đáng lắm! Nhưng chúng tôi đã điều tra ông với ả nha đầu ấy chẳng có liên quan gì nhau. Tại sao ông lại bao che cho ả?” Dương Trọng Anh nói: “Trên giang hồ lấy đạo nghĩa làm đầu, nàng ta là một côi nhi, đã đến đây thì họ Dương ta quyết không để người bức hiếp nàng”. Đường Kim Phong cười lớn: “Việc đã đến nước này, ông muốn ả không bị bức hiếp cũng không được nữa. Giờ đây mạng ông khó giữ, làm sao bao che cho hung đồ? Xin lỗi, chúng tôi phải lục soát!”

Dương Trọng Anh tức đến nỗi run người, chợt nghe Diệp Hoành Ba nói: “Không cần lục soát nữa”. Bên ngoài cửa có hai người bước vào, đó chính là Đường Hiểu Lan và Phùng Anh.

Dương Trọng Anh nói: “Hiểu Lan, các con chạy mau!” Đường Kim Phong nói: “Có phải ả nha đầu ấy không?” Diệp Hoành Ba nói: “Đúng thế!” rồi mụ ta lắc người lướt tới chặn trước cổng. Phùng Anh không hề sợ hãi, cùng Đường Hiểu Lan bước sấn tới, cao giọng nói: “Công công, người có sao không?” Dương Liễu Thanh liếc nhìn Phùng Anh, nói: “Đều là tại ngươi, cha ta đã trúng độc tật lê!” hai chân mày Phùng Anh dựng lên, nàng nói: “Được! Giết người đền mạng, thiếu nợ trả tiền, ta sẽ gánh vách hết mọi thứ! Đường thúc thúc, hãy đỡ công công vào trước”.

Những câu này của Phùng Anh vốn chỉ là lời đầu môi chót lưỡi trên giang hồ, Đường Kim Phong nghe xong tưởng rằng nàng là hung thủ đã giết người lại còn lớn lối, cả giận quát: “Nha đầu kia, ngươi có tí tuổi đầu mà ra tay độc ác như thế, giết người mà không chịu nhận tội sao?” Đường Trại Hoa đã kìm không được, vung tay ném ra ba mũi phi đao!

Đường Hiểu Lan và Dương Liễu Thanh đỡ Dương Trọng Anh vào tịnh thất, Dương Trọng Anh ngồi xuống giường, thở phì phò nói: “Đường Hiểu Lan, có Thanh nhi trông chừng ta là đủ, dùng bảo kiếm dẫn đường, cứu Anh cô nương!”

Phùng Anh lắc người, tránh được hai mũi phi đao, rồi nàng giơ tay hớt một cái chụp được mũi phi đao thứ ba. Đường Trại Hoa lại vung tay tiếp, phóng ra ba trái độc tật lê, Phùng Anh phóng phi đao trả ngược trở lại, định hớt độc tật lê, chợt nghe Đường Hiểu Lan kêu: “Ám khí có độc!” Phùng Anh rụt vai, hụp người xuống, ba trái độc tật lê bay vào khoảng không.
Đường Kim Phong thấy thân pháp của Phùng Anh lanh lẹ như thế, thầm nhủ: “Chả trách nào Vương Ngạo mất mạng trong tay của ả”. Kêu lên: “Trại Hoa, để cho cha!” rồi liên tục bắn ra Kim Tiền tiêu đánh vào huyệt đạo của Phùng Anh!

Phùng Anh nghe tiếng gió, chỉ biết Kim Tiền tiêu bay tới rất mạnh, thế là rút thanh bảo kiếm gạt ngang một cái, chỉ thấy mũi kiếm rung lên bần bật, tia lửa bắn tung tóe, thầm nhủ: “Lực tay của kẻ này chẳng kém gì Dương công công!”

Đường Kim Phong thấy ba mảnh tiền tiêu đều bị bảo kiếm chặt vỡ thì đùng đùng cả giận, tay trái phóng tiền tiêu, tay phải phóng xà diệm tiễn! Phùng Anh vung kiếm tạt tiền tiêu, phóng người tránh hỏa tiễn. Xà diệm tiễn rơi xuống đất bốc cháy ngùn ngụt!

Phùng Anh nghe y nói, biết lại hiểu lầm nữa nhưng đối phương bắn ám khí ra như mưa, muốn giải thích đã chẳng được nữa. Hơn nữa Đường Kim Phong đã đả thương Dương Trọng Anh, bởi vậy nàng cũng chẳng thèm bảo y ngừng tay.

Thân pháp của Phùng Anh rất nhanh, kiếm chiêu kín kẽ, Đường Kim Phong đánh một hồi mà cũng chẳng đả thương được nàng, lửa giận bốc lên, thế là triển khai tuyệt chiêu, phóng bừa ám khí ra, có loại bay xéo, có loại rơi thẳng, toàn thân của Phùng Anh bị bao trùm trong màn ám khí, Đường Hiểu Lan kêu: “Không xong!” đang định rút kiếm trợ chiến, chợt thấy Phùng Anh múa thanh bảo kiếm vẽ thành một luồng ngân hồng che trên đầu, rồi nghe tiếng lốp bốp vang lên không ngớt, ám khí đã bay vào người nàng.

Phùng Anh đang mặc trong người bộ nhuyễn giáp của Chung Vạn Đường, đao thương bất nhập, sợ gì ám khí? Tuy Phùng Anh bị lực đạo của ám khí gây chấn động nhưng nàng chẳng hề bị thương mà vẫn tiếp tục xông về phía trước!

Đường Kim Phong thất kinh, thầm nhủ: “Chả lẽ người của ả bằng sắt thép sao?” ám khí của Đường Kim Phong tuy nhiều nhưng sau một hồi ác đấu đã chẳng còn được bao nhiêu!

Phùng Anh nhân lúc Đường Kim Phong lấy ám khí đã phóng vọt người lên tựa như con chim, kiếm quang lướt tới đâm thẳng vào huyệt Hồn Môn ở be sườn trái của Đường Kim Phong, Đường Kim Phong tung cước đá một cái, chưởng trái chém xuống, hai người đổi một chiêu, Phùng Anh vung tay trái, một nắm phi mãng bay ra như điện chớp.

Đường Kim Phong là tay tổ của ám khí, bản lĩnh hớt ám khí đã đến mức xuất thần nhập hóa, chỉ thấy y phất hai ống tay áo, nắm phi mãng như rơi vào biển khơi. Nhưng kiếm pháp của Phùng Anh rất lợi hại, nàng lấy ám khí để quấy nhiễu địch, thế rồi kiếm chiêu đã quét tới. Đường Kim Phong vừa mới chặn được ám khí, chợt cảm thấy khí lạnh căm căm, kiếm phong đã quét tới tận mặt. Dù y là bậc danh túc trong võ lâm cũng không khỏi hoảng hồn! Khi lui nhanh về phía sau, y chợt thấy đỉnh đầu mát rượi, té ra tóc đã bị hớt mất một mảng.

Đường Trại Hoa thấy cha mình nguy cấp, nên vội vàng múa đao đánh địch, Phùng Anh nói: “Ngươi cũng nếm ám khí của ta!” rõ ràng cây phi đao của Đường Trại Hoa đã phóng vào ngực nàng nhưng bay ngược trở về, Đường Trại Hoa không khỏi há mồm trợn mắt, ánh phi mãng chợt lướt tới, khi né tránh phải đã đau nhói!

Đường Kim Phong kéo con gái bỏ chạy, Phùng Anh lao bổ theo. Diệp Hoành Ba không ngờ cha con nhà họ Đường cũng thất bại, Phùng Anh nhảy bổ tới, Diệp Hoành Ba giơ ngang kiếm chặn lại thối lui một bước. Phùng Anh nổi dậy sát cơ, đâm liên tục ba nhát kiếm, đó đều là tuyệt chiêu trong Truy Phong kiếm pháp. Diệp Hoành Ba tuy võ công cao cường, chặn được mấy kiếm nhưng cũng chẳng lòng dạ nào đánh đấm nữa, thế là xoay người chạy ra cổng. Lúc này xà diệm tiễn trong sân đã bốc cháy. Đường Hiểu Lan biết võ công của Diệp Hoành Ba chẳng kém gì Phùng Anh, mà lão già họ Đường lại càng khó đối phó hơn, Phùng Anh tuy thắng nhưng chắc chắn sẽ thiệt thòi, vội vàng kêu: “Cứu người cứu hỏa gấp hơn!” Phùng Anh lạnh mình, kêu lớn: “Nếu các người còn dám đến đây, ta sẽ không nương tay!”

Khi quay trở về, người nhà họ Dương đã ra cứu hỏa. Phùng Anh vội vàng chạy ra hậu đường, vào tịnh thất, thấy hai chân của Dương Trọng Anh sưng lên như thùng nước, Dương Liễu Thanh cúi đầu khóc thút thít. Phùng Anh thấy rất ái ngại, nói: “Dương công công, con đã liên lụy đến người”.

Dương Trọng Anh ngạc nhiên hỏi: “Bọn chúng đâu?” Phùng Anh nói: “Đã bị con đuổi chạy!” Dương Trọng Anh cả mừng nói: “Lần này toàn nhờ con đã giữ uy danh cho nhà họ Dương!”

Khi họ đang nói chuyện, Đường Hiểu Lan cũng bước vào. Dương Trọng Anh cười nói: “Dương gia coi như không để mất hết tiếng, ta chết cũng nhắm mắt”. Đường Hiểu Lan thấy hai chân của ông ta sưng to, vội nói: “Anh nhi, mau lấy bích linh đơn ra!”

Dương Trọng Anh nói: “Ám khí của nhà họ Đường cực kỳ độc địa, ngoại trừ thuốc giải độc môn của bọn họ, chẳng ai có thể cứu nổi. Bích linh đơn có thể chữa trị nội thương, nhưng cũng chưa chắc trị được loại độc này”. Phùng Anh vẫn tiếp tục cho ông ta uống. Sau khi uống xong quả nhiên hơi đỡ một chút, độc khí không dâng lên nữa nhưng hai chân đã liệt, cũng không thể nào giải được chất kịch độc. Dương Liễu Thanh, Đường Hiểu Lan và Phùng Anh đều lo lắng không yên.

Dương Trọng Anh hít một hơi, nói: “Sống chết có số, ta không lo. Các con lo cho ta làm gì? Huống chi ta cũng chưa chắc mất mạng. Loại bích linh đơn này tuy không phải là thuốc giải nhưng chỉ cần độc khí không dâng lên, ta cũng không nguy hiểm”.

Phùng Anh nói: “Nếu chỉ có thuốc giải của bọn chúng mới có thể chữa trị được, vậy con và Đường thúc thúc sẽ đuổi theo”. Dương Trọng Anh nói: “Nếu bọn chúng đã đi cùng Diệp Hoành Ba, chắc là có đại nội cao thủ phía sau, hai người các con làm sao có thể ứng phó nổi?” Phùng Anh thầm nhủ: “Mình và Đường thúc thúc liều chết cũng không sao, nhưng ở nhà không có ai, nếu bọn chúng thừa cơ đánh vào, há chẳng phải khiến công công và cô cô mất mạng hay sao?” bởi vậy nàng tuy lo lắng muôn phần nhưng cũng không dám rời khỏi nhà họ Dương.

Dương Trọng Anh và Phùng Anh đều đoán nhầm. Trong vòng một năm, Ung Chính sẽ không phái cao thủ đến bắt Đường Hiểu Lan. Bởi vậy lần này Diệp Hoành Ba cùng cha con nhà họ Đường đến đây chỉ là ý riêng của mụ. Mà Đường Kim Phong đến đây cũng vì trả thù cho con gái chứ không phải là nanh vuốt của triều đình.

Đường Kim Phong tạo dựng uy danh được mấy mươi năm nhưng nay thảm bại trong tay một đứa con gái, bởi vậy vừa thẹn vừa giận, sau khi chạy ra khỏi nhà họ Dương thì lặng lẽ không nói, Diệp Hoành Ba và Đường Trại Hoa cũng không dám trò chuyện với y. Đi được hơn mười dặm, Đường Kim Phong chợt nói: “Có đúng là ả nha đầu ấy không? Bà không nhìn sai chứ?” y nhớ lại Diệp Hoành Ba đã từng bảo rằng, hôm ấy Vương Ngạo kịch đấu đến nửa ngày mới chết bởi phi đao của ả thiếu nữ ấy. Y không khỏi nghi ngờ, thầm nhủ: “Bản lĩnh của Vương Ngạo còn kém Trại Hoa, nếu đấu với ả nha đầu lúc nãy, chỉ e không đầy ba chiêu đã mất mạng, cần gì đến nửa ngày, vả lại ả chẳng phải sử dụng phi đao”.Diệp Hoành Ba cũng thấy nghi ngờ, khi Phùng Lâm ở phủ Tứ bối lạc, Diệp Hoành Ba cũng từng truyền võ nghệ cho nàng, bởi vậy biết rõ bản lĩnh của nàng. Sau đó đã từng gặp nhau ở gần Trần Lưu. Võ công của Phùng Lâm tuy tiến triển nhiều nhưng cũng chẳng phải là đối thủ của mụ. Nhưng hôm nay võ công của Phùng Anh xem ra chẳng kém gì mụ, Diệp Hoành Ba thầm nhủ: “Cách nhau không đầy ba tháng, dù có thần tiên truyền thụ, cũng không tiến bộ nhanh như thế”.

Diệp Hoành Ba đang nghi ngờ, nghe Đường Kim Phong hỏi như thế, mụ ta trầm ngâm một lúc lâu rồi mới lẩm bẩm: “Tướng mạo giống nhau, võ công không giống như. Ta cũng không biết là lẽ gì?”

Đường Kim Phong vỗ tay nói: “Hỏng bét, nếu không phải, chúng ta đã giết oan mạng Dương Trọng Anh. Kẻ thù giết Vương Ngạo là ai, sau này chúng ta lại sẽ tra xét. Nhưng không thể để cho Dương Trọng Anh mất mạng trong tay chúng ta”.

Đường Trại Hoa chưng hửng, nói: “Cha, vậy cha định thế nào?” Đường Kim Phong nói: “Đưa thuốc giải cho y!” Đường Trại Hoa bị phi mãng của Phùng Anh đâm thấu cả vai, tuy không sao nhưng trong lòng ôm hận, lập tức nói: “Dù không phải là ả nha đầu ấy, nhưng chúng ta đã thua trong tay ả. Sao có thể đưa thuốc giải được?” Đường Kim Phong nói: “Không phải là đưa cho ả mà đưa cho Dương Trọng Anh”. Đường Trại Hoa nói: “Dương Trọng Anh đâu có khác gì ả? Chúng ta tặng thuốc giải cho lão, nhưng trước tiên phải buộc bọn chúng cúi đầu”.

Đường Kim Phong chỉ có một đứa con gái, nghĩ lại cũng rất có lý nên không nói gì nữa. Đi một hồi, trong lòng lại thấy không yên, chợt đứng lại: “Được, ta có ý khác!”

Đường Trại Hoa hỏi: “Ý gì?” “Chúng ta không cần tặng thuốc giải cho y, cứ nhờ người khác đem đến là được. Trong võ lâm Dương lão đầu là nhân vật có tiếng tăm, tuy chúng ta không sợ y, nhưng nếu bằng hữu trong giang hồ biết y chết oan trong tay chúng ta, chắc chắn sẽ gặp nhiều phiền phức!” Đường Trại Hoa thầm nhủ nỗi lo của cha mình cũng chẳng phải là thừa nên không dám ngăn cản. Đường Kim Phong lập tức kéo một người qua đường, lấy một lượng bạc nhờ y đem thuốc đến cho Dương Trọng Anh. Người ấy cười rằng: “Ở huyện này ai cũng phục Dương lão gia. Xin ngài hãy cầm lại bạc, tôi sẽ thay ngài đem tới”. Rồi cầm thuốc giải đi thẳng đến nhà họ Dương.

Người ấy là một kẻ béo, chạy được nửa dặm thì đã thở phì phò. Y lại không biết thuốc giải quan trọng, y muốn chính tay đem đến cho người mình tôn kính, không chịu nhờ người khác đưa giùm. Cứ vừa đi vừa nghỉ, đến nhà họ Dương đã đến lúc lên đèn.

Lúc này hai chân của Dương Trọng Anh đã hoàn toàn tê liệt, dùng đao đâm vào nặn máu độc ra cũng không thấy đau. Người ấy hớt hải chạy đến gõ cửa, kêu: “Dương lão gia, có người tặng đồ cho ông”. Dương Trọng Anh thấy người quen, cười hỏi: “Vất vả cho ngươi, là ai đã nhờ người đem tới?” người ấy thấy bộ dạng Dương Trọng Anh, thất kinh nói: “Là người khách họ Đường nhờ tôi đem tới!”

Đường Hiểu Lan mừng rỡ, Dương Liễu Thanh nói: “Sao lão già ấy tự nhiên lại tốt bụng đến thế?” Dương Trọng Anh mở bình thuốc ra ngửi, quay mặt nói với Dương Liễu Thanh, nói: “Đường lão nhị hành sự tuy ngoan cố, nhưng y chắc chắn không tặng thuốc giả hại người”. Sau khi uống xong, quả nhiên hai chân đã xẹp bớt, nhưng vì để quá lâu, hai chân vẫn còn tê liệt.

Ba ngày sau, độc tính không còn nhưng huyết quản của Dương Trọng Anh đã bị sơ cứng, khi đi phải vịn vách tường, xem ra đã tàn phế.

Mọi người đều cảm thấy áy náy, nhưng Dương Trọng Anh có thể khỏi mất mạng đã là điều may mắn trong nỗi bất hạnh. Dương Liễu Thanh trong lòng thầm oán Phùng Anh, cho rằng vì nàng mà cha mình mới tàn phế.

Hôm nay Phùng Anh lại lén đến phòng Đường Hiểu Lan, trong ba ngày họ phải canh chừng bên cạnh giường Dương Trọng Anh nên không thể luyện tập võ công.

Chính vì thế, đêm hôm nay Dương Liễu Thanh thức dậy, định đến phòng cha xem thử, đi qua hành lang chợt thấy trong phòng Đường Hiểu Lan vẫn còn ánh đèn nên nàng nhẹ bước bước tới ghé tai lắng nghe, chợt nghe tiếng Phùng Anh và Đường Hiểu Lan cười nói.

Dương Liễu Thanh nổi điên lên, tung cửa xông vào, chỉ tay mắng: “Nha đầu đê tiện, thật là vô sỉ!”

Phùng Anh ngạc nhiên đứng dậy nói: “Cô cô, hãy nghe điệt nữ nói!” lúc này Dương Liễu Thanh đã mất hết lý trí, nàng túm tóc Phùng Anh, mắng lớn: “Ngươi còn muốn nói gì nữa? Nửa đêm canh ba ngươi đến đây làm gì? Hừ, thật vô sỉ!” Phùng Anh chợt hụp người, tránh cú chụp của Dương Liễu Thanh, Dương Liễu Thanh vẫn vừa khóc vừa mắng không thôi, nàng toan vung tay chụp tiếp, Phùng Anh chợt cả giận, mắng: “Ngươi nghĩ ta là người thế nào?” Dương Liễu Thanh cũng mắng: “Ngươi là tiểu tiện nhân cướp chồng người khác!” nàng ta vừa nói câu ấy, Phùng Anh đã vung tay tát bốp một tiếng vào mặt nàng. Dương Liễu Thanh đau quá lăn lộn dưới đất kêu gào, Phùng Anh cũng chạy ra ngoài.

Phùng Anh tính tình cứng rắn, nàng đánh một bạt tai cũng không thấy hối hận. Khi về phòng, thầm nhủ: “Đường thúc thúc đã hiểu hết nội công yếu quyết của bổn môn. Từ rày về sau chỉ cần tự tập luyện là được. Nhưng không biết nội công có thể giúp người hóa giải độc tính hay không. Sao mình không lên kinh thành một chuyến liều mạng lấy thuốc giải cho người để trả ơn. Từ rày về sau mình chẳng thèm để ý đến vị thẩm thẩm này nữa”. Nàng muốn là đi, thế là lập tức viết một bức thư bảo chàng trong vòng một năm không được rời khỏi nhà họ Dương đợi nàng lấy thuốc giải trở về, còn bảo chàng thỉnh tội với Dương Trọng Anh, sau khi viết xong, nàng đến phòng Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan và Dương Liễu Thanh đã không còn trong phòng. Phùng Anh bỏ thư lên bàn của chàng rồi đi ra.

Dương Trọng Anh nghe trong phòng Đường Hiểu Lan có tiếng ồn ào, bảo người nhà gọi Đường Hiểu Lan và Dương Liễu Thanh đến hỏi rõ nguồn cơn, rồi mắng Dương Liễu Thanh một trận. Dương Liễu Thanh khóc: “Cha, cha cứ giúp người ngoài, cha không biết bọn họ thân mật đến mức nào!” Dương Trọng Anh vỗ giường mắng lớn: “Ngươi còn nói nữa! Anh nhi là đứa trẻ mà lại đi cướp chồng của con! Con đúng là không biết sĩ diện, lại còn mắng người ta!” Dương Liễu Thanh chưa bao giờ bị cha mắng như thế, thế là khóc òa lên: “Trẻ con gì? Cô nương mười sáu mười bảy mà vẫn còn là trẻ con?” Dương Trọng Anh đấm ngực kêu lên: “Là ta không tốt, đã nuông chìu hư nha đầu nhà ngươi, cút ra ngoài cho ta!” Đường Hiểu Lan áy náy vô cùng, chạy đến đỡ Dương Trọng Anh nói: “Cha, xin người đừng giận!” Dương Liễu Thanh mặt tái nhợt, khóc òa lên chạy ra ngoài, nàng càng nghĩ càng ghét nên chạy vào phòng Đường Hiểu Lan, phát hiện trên bàn có bức thư của Phùng Anh, thầm nhủ: “Hừ, còn dám lén gửi thư cho nhau!” rồi nàng mở bức thư ra xem, thấy trong thư nói chuyện thuốc giải thì rất ngạc nhiên, nên xé nát vụn cả đi.

Đường Hiểu Lan khuyên một lúc lâu, Dương Trọng Anh mới bớt giận, rơi nước mắt than rằng: “Vì mẹ nó chết quá sớm, nếu không đã không như thế này”.

Đường Hiểu Lan thấy bẽ bàng trong lòng. Dương Trọng Anh chợt nói: “Hiểu Lan, bình sinh ta trọng nhất lời hứa, ta vốn hứa với con tìm Phùng Lâm, nhưng giờ đây ta đã tàn phế không thể đi lại được. Con hãy đi một chuyến. Con sẽ nhờ người hỏi thăm danh y, còn con bên ngoài cũng tự tìm thuốc giải. Ở nhà ta sẽ dạy dỗ Thanh nhi, khi con trở về, chúng ta lại sẽ tính tiếp”. Đường Hiểu Lan nói: “Chỉ là người...” Dương Trọng Anh nói: “Con không cần lo lắng cho ta, bằng hữu trên giang hồ biết ta bị thương chắc chắn sẽ đến thăm ta. Con sợ không có người bảo vệ cho ta sao?” Đường Hiểu Lan nói: “Vậy chờ bằng hữu võ lâm đến rồi tính tiếp”.

Sáng hôm sau, Đường Hiểu Lan biết Phùng Anh ra đi trong lòng càng lo hơn, chàng giận đến nỗi gặp Dương Liễu Thanh cũng chẳng thèm chào hỏi. Dương Liễu Thanh vốn muốn hỏi chàng lấy thuốc giải gì nhưng thấy chàng như thế cũng không nói. Đến trưa, các nhân vật võ lâm biết tin cũng lục tục kéo đến thăm hỏi. Đường Hiểu Lan mới yên tâm, đợi Dương Liễu Thanh vào phòng cha mới lẳng lặng ra đi.

Được nửa tháng, Đường Hiểu Lan đã đến Tế Nam. Người ở Tế Nam đồn rằng có một tiểu cô nương đẹp như tiên đã đả thương con trai của Trương tuần phủ và giáo đầu của phủ nha, công sai đang muốn bắt nàng. Đường Hiểu Lan nghe thế thất kinh, thầm nhủ: “Không biết tiểu cô nương này là Phùng Anh hay Phùng Lâm”.

Đường Hiểu Lan dò hỏi ở Tế Nam mấy ngày mà chẳng có tin tức gì. Một ngày chợt thấy cửa thành mở rộng, có cổ xe ngựa sang trọng phủ vải vàng, phía trước có nghi trượng, phía sau có tùy tùng tiền hô hậu ủng chạy thẳng đến phủ nha. Đường Hiểu Lan rất hiếu kỳ, thầm nhủ: “Chả lẽ người của hoàng thất đến đây?” rồi chàng chen vào đám người nhìn, thử, chợt thấy trong cỗ xe ngựa ở giữa có người vén rèm xe lên nhìn, người ấy mình mặc bào gấm, đầu đội mũ châu, ăn mặc như một vương giả, đắc ý giương giương, vẫy tay với đám đông. Đường Hiểu Lan thấy thế không khỏi cả kinh, người ấy chẳng phải ai khác chính là Ngư Xác!

Đường Hiểu Lan đứng sững sờ cho đến khi đám đông tản đi, chợt có một người vỗ vai chàng, Đường Hiểu Lan quay đầu lại, té ra người ấy chính là Cam Phụng Trì. Cam Phụng Trì khẽ nói: “Theo ta”.

Đường Hiểu Lan đến chỗ Cam Phụng Trì, Cam Phụng Trì đóng cửa phòng, cười rằng: “Lúc nãy đệ có thấy gì không? Ngư Xác còn vọng tưởng làm phiên vương ở Sơn Đông! Theo ta biết, lúc này Ung Chính đang phái thủy sư đánh thẳng vào sào huyệt của y”. Đường Hiểu Lan nói: “Lữ tỷ tỷ đâu?” Cam Phụng Trì nói: “Bát muội còn ở Triết Giang. Mấy ngày trước vợ chồng Bạch ngũ ca đã đến đây, giờ đã trở thuyền ra biển đến đảo Điền Hoành”. Đường Hiểu Lan nói: “Tại sao thế?” Cam Phụng Trì cười nói: “Ngư Xác có mấy trại thủy khấu, lương thực tài sản có rất nhiều, sao không lợi dụng. Nên ta muốn họ len lén trở về. Khi Ngư Xác không còn, con gái của ông ta sẽ chỉ huy chống địch”.

Đường Hiểu Lan nói: “Vậy Ngư Xác ở đây, há chẳng phải rất nguy hiểm sao?” Cam Phụng Trì nói: “Nên ta mới nhờ đệ giúp đỡ. Đệ biết ta và Bang chủ của các bang hội ở đại Nam giang Bắc rất thân thiết với nhau, trong phủ nha cũng có các huynh đệ. Ta muốn lẩn vào thừa cơ hành sự, nhưng những huynh đệ có bản lĩnh không nhiều, đệ đến thật đúng lúc, có muốn cùng ta mạo hiểm hay không?” ngoại trừ Lữ Tứ Nương, Đường Hiểu Lan khâm phục nhất là Cam Phụng Trì nên hứa ngay.

Lại nói Ngư Xác dắt theo bọn Lăng Vân đảo chủ Vệ Dương Oai, Thái Hồ trại chủ Mạnh Võ Công đến Sơn Đông phó hội. Tuần phủ Sơn Đông Trương Đình Ngọc mời họ nghỉ ngơi ba ngày, đến tối lại bày tiệc khoản đãi. Vừa vào tiệc, Trương Đình Ngọc nâng chén mời rượu Ngư Xác. Ngư Xác bưng chén lên toan uống, chợt một mũi phi đao bay tới đánh vỡ chén rượu trong tay Ngư Xác.

Chính là:

Hoa đường dậy sát khí, tráng sĩ thấy tiên cơ.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 33: Gặp nguy khó thoát anh hùng vào vòng vây Cải trang tân nương ngọc nữ ra oai thần

Ngư Xác cả kinh, chợt có người kêu: “Coi chừng ám toán!” Hàn Trọng Sơn và Thiên Diệp Tản Nhân ngồi bên cạnh Trương Đình Ngọc không hẹn mà đều lướt người lên như hai con chim ưng lao bổ xuống bên dưới! Trương Đình Ngọc quát: “Mau đóng cửa lớn, bắt gian tế!” tiếp theo bọn võ sĩ kêu ầm lên: “Ối chao, Giang Nam đại hiệp Cam Phụng Trì!” nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, chỉ nghe tiếng ám khí xé gió, đèn đuốc trong căn đại sảnh đều tắt ngấm! Chỉ có ngọn nến lớn trên bàn tiệc là vẫn còn cháy vì Ngư Xác dùng chưởng lực đánh rơi ám khí.

Trên bàn tiệc ánh nến chao đảo, người bên dưới rối loạn, Ngư Xác định thần nhìn lại, quả nhiên thấy Cam Phụng Trì và Hàn Trọng Sơn đang đánh nhau ngoài ra còn có một thiếu niên bị Thiên Diệp Tản Nhân đánh thối lui từng bước, nhìn dáng hình như đó là Đường Hiểu Lan.

Trương Đình Ngọc cười rằng: “Nghe nói Cam Phụng Trì và lệnh tế đều không muốn Ngư lão xưng vương”. Ngư Xác chau mày, Thái Hồ trại chủ Mạnh Võ Công nói: “Chúng ta giúp Hàn Trọng Sơn sư huynh một tay”. Ngư Xác lắc đầu, ngồi nhìn cuộc hỗn chiến bên dưới. Hàn Trọng Sơn và Thiên Diệp Tản Nhân cậy võ công cao siêu, bám lấy Cam Phụng Trì và Đường Hiểu Lan.

Cam Phụng Trì tiếp mấy chưởng của Hàn Trọng Sơn, đột nhiên phát ra ám hiệu, cùng Đường Hiểu Lan chui vào trong đám người, Thiên Diệp Tản Nhân cúi người chụp tới, chợt không biết một chiếc ghế dài ở đâu ném ra, suýt nữa trúng vào gót chân của y. Hàn Trọng Sơn vung tay, đẩy đám đông ra, Đường Hiểu Lan trở tay phóng một nắm phi mãng, Hàn Trọng Sơn phất ống tay áo, đánh rơi phi mãng lả tả, bọn lính vội vàng tháo chạy. Cam Phụng Trì và Đường Hiểu Lan nhân lúc ồn ào lẩn ra cửa hông ẩn mình. Hàn Trọng Sơn và Thiên Diệp Tản Nhân đuổi ra đã không còn thấy họ nữa. Hàn Trọng Sơn cả giận, biết trong phủ nha có gian tế nhưng cũng chẳng làm gì được.

Một lát sau, đèn đuốc trong sảnh thắp sáng trở lại. Trương Đình Ngọc nói: “Bị Cam Phụng Trì làm mất hứng, thật đáng tiếc! Chúng ta lại uống tiếp!” Ngư Xác vẫn ngồi yên, nói: “Tiểu vương trên đường đã bị nhiễm một chút phong hàn, không thể uống rượu được nữa!” Trương Đình Ngọc nói: “Nếu là thế, không nên cưỡng ép”. Rồi tự mình rót rượu uống liền ba chén, cười rằng: “Cam Phụng Trì dùng kế ly gián, may mà đại vương không để trong lòng, đại vương từ xa đến đây không khỏi mệt nhọc, xin hãy nghỉ ngơi trước”.

Ngư Xác thấp thỏm lo âu, y không biết lời cảnh báo của Cam Phụng Trì là ý tốt hay xấu. Nhưng y lăn lộn trên giang hồ đã lâu, bởi vậy cũng phải cẩn thận phòng bị. Nay thấy Trương Đình Ngọc tự rót tự uống, trong lòng bớt lo hơn, thầm nhủ hình như mình đã quá đa nghi.

Trương Đình Ngọc đích thân dắt Ngư Xác vào trong an nghỉ, Ngư Xác chợt nói: “Những người đi cùng vời tôi đều là thủ tốt của tôi, chúng tôi muốn ở cùng nhau”. Té ra Ngư Xác cũng không phải là kẻ dễ tin người, bởi vậy muốn kéo bọn Mạnh Võ Công, Vệ Dương Oai đến ở cùng, dụng ý là đề phòng ám toán, Trương Đình Ngọc nào không biết? Nhưng chỉ thấy y đảo mắt, gật đầu lia lịa.

Ngư Xác và hơn mười người đi cùng y đều được sắp xếp ở trong Phi Thúy lầu, Phi Thúy lầu nằm trong hậu viên của phủ nha, lầu cao ba tầng, mỗi phòng đều có ba căn phòng nhỏ và một khách sảnh lớn có thể chứa hơn mười người. Ngư Xác và Mạnh Võ Công cùng Vệ Dương Oai ở lầu ba, mở cửa ra có thể nhìn xa.

Vệ Dương Oai nói: “Đại vương, Cam Phụng Trì đến đây là ý gì?” Ngư Xác nói: “Thái Quan không muốn ta làm phiên vương, có lẽ Cam Phụng Trì dùng kế ly gián”. Đó thực ra là cách nói của Trương Đình Ngọc. Mạnh Võ Công trầm ngâm: “Cam Phụng Trì là Giang Nam đại hiệp, theo lẽ y chắc không nói dối để ly gián”. Ngư Xác ngẩng đầu nhìn trời, im lặng không nói một lúc lâu. Vệ Dương Oai nói: “Theo tôi biết, thật ra Liễu Ân đã bị Niên Canh Nghiêu ép bỏ đi, sau đó mới mất mạng ở Mang Sơn. Sở dĩ Niên Canh Nghiêu làm thế là được Ung Chính cho phép. Nếu Ung Chính đã đối phó với Liễu Ân như thế, bọn chúng làm sao cam lòng cắt đất phân phong, tặng Sơn Đông cho chúng ta”. Ngư Xác nói: “Không, chúng ta khác với Liễu Ân. Liễu Ân tuy có võ công tuyệt thế nhưng rốt cuộc một tay khó vỗ nên kêu, phía chúng ta có nhiều người, nếu Ung Chính không giữ lời hứa, lẽ nào y không sợ chúng ta quấy rối vùng biển của y?” Vệ Dương Oai nói: “Tuy là thế nhưng không thể không đề phòng”. Ngư Xác cười: “Điều đó đương nhiên. Hơn mười huynh đệ của chúng ta đều là những hảo hán một địch trăm. Trương Đình Ngọc muốn thi triển độc thủ, chúng ta cũng không sợ”.

Khi họ đang nói chuyện, chợt thấy trong vườn có bóng người đi lại. Một hồi sau, có người lên lầu báo: “Hàn Trọng Sơn muốn gặp đại vương”. Ngư Xác nói: “Đêm khuya thế này mà y còn lên đây làm gì?” rồi nói: “Cho mời”. Hàn Trọng Sơn nghênh ngang bước lên, thấy Ngư Xác chỉ ôm quyền vái, tỏ vẻ rất kiêu ngạo.

Ngư Xác rất chưng hửng, chỉ nghe Hàn Trọng Sơn nói: “Niên tướng quân không rảnh đến gặp các người”. Ngư Xác nói: “Nghe Trương tuần phủ nói, Hoàng thượng phái y đến đây bàn chuyện cắt Sơn Đông cho chúng tôi!” Hàn Trọng Sơn nói: “Y là đốc sư Thanh Đảo, làm sao rảnh đến gặp ông?” Ngư Xác thất kinh, nói: “Cái gì? Y là đốc cái gì sư?” Hàn Trọng Sơn nói: “Hoàng hải thủy sư giờ đã do y chỉ huy. Y sai tôi đến đây truyền đạt tướng lệnh!” Ngư Xác mặt biến sắc, Hàn Trọng Sơn cười lạnh, lớn giọng nói: “Niên đại tướng quân không nỡ giết kẻ vô tội, bảo ông mau mau viết biểu đầu hàng, ra lệnh cho bộ thuộc của ông bỏ khí giới xuống...”

Ngư Xác nổi giận cùng cực, nói: “Còn gì nữa?” Hàn Trọng Sơn nói: “Nghe nói nửa năm nay ông cướp đoạt, giấu rất nhiều tài sản, đó đều là những của bất nghĩa, theo lý phải thuộc về quốc khố. Ông hãy vẽ bản đồ giấu kho báu ra, sai người đem đến dâng cho Niên đại tướng quân để y khỏi tốn công lục soát! Làm xong hai chuyện này, Hoàng thượng sẽ đối xử tốt với ông, rước ông về Bắc Kinh rồi phong vương”.

Ngư Xác cười rộ lên: “Ha ha! Hoàng đế đại Thanh té ra là kẻ tiểu nhân vô ơn vô nghĩa! Đó chẳng phải là hành vi của kẻ tiểu tặc cướp tài đoạt mạng sao?” Hàn Trọng Sơn mắng: “Câm mồm, ngươi dám mắng nhiếc Hoàng thượng, không sợ lăng trì xử tử sao? Rốt cuộc ngươi có nghe lệnh của Niên đại tướng quân hay không?” Ngư Xác hừ một tiếng, nói: “Niên Canh Nghiêu là cái thá gì mà dám hạ lệnh cho ta? Được, bọn ta xông ra đốt cháy tòa phủ nha này!” rồi phẩy tay, Vệ Dương Oai cùng Mạnh Võ Công lao bổ lên, Hàn Trọng Sơn gạt cánh tay một cái, thối lui ba bước, cười lạnh nói: “Các người còn muốn xông ra? Đừng nằm mơ nữa! Bên dưới Phi Thúy lầu có chôn hàn ngàn trái thuốc nổ, trong số các người, chỉ cần một kẻ dám bước ra nửa bước, các ngươi sẽ lập tức tan xác!”

Ngư Xác vừa kinh vừa giận, chẳng nói lời nào, Hàn Trọng Sơn nói: “Ta để cho các ngươi thương lượng xong, nếu chịu nghe theo thì hãy phất cờ trắng. Nếu không tánh mạng khó giữ! Hừ, ngươi có công lao gì đối với Hoàng thượng? Để các ngươi xưng vương ở biển đã là quá lắm, ngươi lại còn muốn lấy cả Sơn Đông!” rồi y phóng tọt người ra khỏi cửa sổ.

Ngư Xác mặt tái xanh, một lúc rất lâu mới thở dài nói: “Hàn Trọng Sơn tuy đáng hận đáng giết nhưng y mắng rất đúng. Lúc chúng ta xưng vương ở ngoài biển tự do tự tại biết bao nhiêu, cần gì đi theo Ung Chính, thật đúng là nối giáo cho giặc, tự chui vào lưới”. Vệ Dương Oai nói: “Việc đã rồi đừng nhắc đến nữa. Vậy phải ứng phóng thế nào đây?”

Ngư Xác nói: “Ta một đời xông trên giang hồ, chưa bao giờ cúi đầu nhận thua trước ai, dù y có giết ta, ta cũng không dâng biểu đầu hàng!” Mạnh Võ Công và Vệ Dương Oai nhìn ra cửa sổ, chỉ thấy hỏa tiễn đã lắp lên cung, nhắm thẳng vào Phi Thúy lầu, chỉ cần ra lệnh một tiếng, hỏa tiễn sẽ bắn tới, Phi Thúy lầu sẽ bị nổ tan tành. Hai người đều lộ vẻ lo lắng, Ngư Xác thở dài, nói: “Ta đã đến tuổi hoa giáp, chết cũng không đáng tiếc. Có điều liên lụy các ngươi thịt nát xương tan thật không nỡ!”

Mạnh Võ Công nói: “Nghe Hàn Trọng Sơn nói, bọn chúng có lẽ muốn không đánh mà thắng, vả lại còn muốn bảo tàng của đại vương, xem ra sẽ không lập tức hạ thủ. Chúng ta hãy kéo dài thời gian”. Ngư Xác nói: “Kéo dài đến lúc nào?” Mạnh Võ Công nói: “Đến lúc nào thì hay lúc ấy”. Ngư Xác thầm nhủ: “Xông ra thì không thể, giương cờ trắng thì không được. Ngoại trừ kéo dài thời gian cũng chẳng còn cách nào khác”. Thế là gật đầu im lặng.

Cam Phụng Trì và Đường Hiểu Lan nhờ có huynh đệ yểm hộ nên ẩn mình trong phủ nha. Đến tối thì biết bọn Ngư Xác bị vây trên lầu Phi Thúy, Cam Phụng Trì nói: “Không ngờ người như Ngư Xác mà cũng bị trúng kế!” rồi chàng mới hỏi một tiểu đầu mục trong bang hội: “Trong hỏa tiển thủ có bao nhiêu người của chúng ta?” người ấy đáp: “Chỉ có hai người, cũng chẳng làm được chuyện gì. Thiên Diệp Tản Nhân và Hàn Trọng Sơn thay phiên chỉ huy hỏa tiển thủ, chỉ cần một mũi tên bắn trúng thuốc nổ, lầu Phi Thúy sẽ tan tành”. Cam Phụng Trì tuy có dũng có mưu nhưng cũng chẳng còn cách nào.

Ngư Xác kéo dài được bảy ngày, chẳng thèm để ý gì đến lời đe dọa của Hàn Trọng Sơn. Cam Phụng Trì biết tin, cũng rất khâm phục đối với sự cứng rắn của Ngư Xác. Nhng kéo dài thời gian cũng không phải là cách hay, chỉ cần thủy sư của Niên Canh Nghiêu đập tan sào huyệt của Ngư Xác, Hàn Trọng Sơn sẽ lập tức tung đòn sát thủ. Chàng ta chỉ kỳ vọng Ngư Nương và Bạch Thái Quan có thể bình yên đến hải đảo, cầm cự với quân Thanh.

Hôm nay mọi người trong phủ nha đắc ý dương dương, quét dọn khắp nơi, dựng hí đài trong vườn. Cam Phụng Trì hỏi ra mới biết mấy ngày nữa Trương Đình Ngọc sẽ cưới vợ cho con. Cam Phụng Trì hỏi: “Tân nương là con nhà ai?” “Nghe nói là thiên kim của Tuần phủ Triết Giang Lý Vệ”. Cam Phụng Trì nghe thế thất kinh, thầm nhủ: “Lý Vệ chỉ có một người con gái, vậy con dâu của Trương Đình Ngọc chắc chắn là Lý Minh Châu. Lý Minh Châu đã thề non hẹn biển với tam ca, sao lại có thể gả đến Sơn Đông?” tiểu đầu mục thấy Cam Phụng Trì mặt đổi sắc, hỏi: “Cam đại hiệp có tâm sự gì?” Cam Phụng Trì nói: “Không sao cả, tin của ngươi có thật không?” tiểu đầu mục nói: “Làm sao không thực? Nghe nói là Hoàng đế làm mai! Lý Vệ sai người đưa con gái đến, chắc ngày mốt là tới nơi”.

Cam Phụng Trì cúi đầu suy nghĩ, Đường Hiểu Lan lại hỏi: “Nghe nói con trai của Trương Đình Ngọc từng bị một tiểu cô nương đánh cho một trận, có việc ấy không?” tiểu đầu mục nói: “Đúng thế, đó là chuyện hơn mười ngày trước đây. Giáo đầu của phủ nha cũng bị đánh”. Đường Hiểu Lan hỏi: “Tại sao thế?” tiểu đầu mục cười rằng: “Bởi vì Trương công tử là kẻ háo sắc, bình thường hay hiếp đáp gái nhà lành, nghe nói hôm ấy y gặp một tiểu cô nương rất xinh đẹp trên tửu lâu, y chạy đến trêu chọc người ta, nói chưa đầy ba câu đã bị người ta ném xuống lầu. Giáo đầu xông lên cũng bị đánh gãy chân. Trương công tử chạy về dưỡng thương, may mà không nặng, nếu không đã bị đòn thêm một trận nữa”.

Đường Hiểu Lan hỏi: “Tại sao thế?” đầu mục ấy cười rằng: “Trương Đình Ngọc tự xưng là danh gia lý học, bình thường đạo mạo nghiêm trang, quản giáo rất nghiêm đối với con trai”. Đường Hiểu Lan nhớ lại Trương Đình Ngọc năm xưa đã để Ung Chính cướp mĩ nữ vào việc y ám toán Ngư Xác...

Đêm ấy Đường Hiểu Lan và Cam Phụng Trì thương lượng, định tìm tung tích của tiểu cô nương. Cam Phụng Trì chợt nói: “Huynh phải ra ngoài một chuyến, việc của đệ phải tạm thời gác lại”. Đường Hiểu Lan tuy nhớ chị em Phùng Lâm nhưng cũng đành chấp nhận.

Kẻ đả thương con trai của Trương Đình Ngọc là Phùng Anh. Lúc đó nàng chỉ tưởng y là con nhà giàu có bình thường nên ra tay không nặng. Đánh xong mới biết là con trai của Tuần phủ Sơn Đông, đêm ấy đã rời khỏi Tế Nam.

Mấy ngày sau, nàng nghe người ta nói Ngư Xác đến Tế Nam gặp Trương Đình Ngọc bàn chuyện lấy Sơn Đông. Phùng Anh nghĩ thầm: “Nghe nói Ngư Xác có nhiều của quý, có lẽ y có thuốc giải độc cho Đường thúc thúc”. Phùng Anh mới ra giang hồ, suy nghĩ còn ngây thơ, lại lớn gan nên quay trở lại Tế Nam.

Hôm nay nàng đã đi trên đường cái quan, chợt thấy phía trước bụi bốc mù mịt, một toán quan quân hộ tống hai cỗ xe từ xa đi tới. Con đường này một bên là núi một bên là sông, Phùng Anh nhảy lên một cây lớn nhìn xuống, chợt thấy cỗ xe ở giữa có treo một cặp đèn lồng, trên xe phủ gấm hoa, phía trước xe có một đôi hổ đầu bài, không nhìn rõ chữ bên trên. Chiếc xe chia làm hai phần, phía trước mở rộng, có một người đàn bà áo xanh ngồi chễm chệ, trong tay cầm cây trường kiếm. Phùng Anh nhận ra đó là người đàn bà đã giao thủ với mình trong nhà Dương Trọng Anh, sau này nàng mới biết đó là Diệp Hoành Ba, vợ của Hàn Trọng Sơn. Phùng Anh lấy làm lạ, thầm nhủ: “Sao mụ ta lại làm bảo tiêu? Xem bộ dạng mụ ta rất oai vệ”. Phùng Anh không biết rằng, Diệp Hoành Ba là sư phụ của Lý Minh Châu, mụ ta trở về là hộ tống đồ đệ thành thân.

Một lúc lâu sau, đám xe rước mới đi qua hết. Phùng Anh đợi một hồi mới nhảy xuống. Nàng đang định xuống núi, chợt nghe tiếng bước chân. Phùng Anh lại nhảy lên ngọn cây, chỉ thấy một thư sinh trung niên thở dài thườn thượt. Vẻ mặt u uất.

Người đó chính là Lộ Dân Đảm.

Trước đây Phùng Anh lên Mang Sơn tìm Lữ Tứ Nương, Lộ Dân Đảm tưởng nàng là Phùng Lâm nên mới giao thủ với nhau. Sau này nghe Đường Hiểu Lan nói, Phùng Anh mới biết là hiểu lầm nên trong lòng rất không yên. Lúc này Lộ Dân Đảm đang thở dài: “Minh Châu ơi Minh Châu, uổng thay huynh là người trong Giang Nam thất hiệp mà chẳng có cách nào cứu muội”. Phùng Anh muốn giúp đỡ nhưng thấy ái ngại. Lộ Dân Đảm lại than: “Lộ Dân Đảm ơi Lộ Dân Đảm, ngươi cũng thật nhát gan, tại sao không liều với bọn quan quân? Xem ra có mụ yêu phụ canh giữ, mình có xông ra cũng chỉ nạp mạng. Nạp mạng cũng được, còn hơn giờ đây muốn thấy mặt nàng cũng chẳng được”. Phùng Anh thầm nhủ: “Ồ, thì ra y đang nhớ đến tình nhân”.Thì ra Lộ Dân Đảm nghe được tin từ Triết Giang đến đây, nhưng vì quan quân canh giữ quá nghiêm ngặt, y ngàn dặm đuổi theo mà chỉ dám đi phía sau chứ chẳng dám ra tay. Lúc này đã gần đến Tế Nam, trong lòng không có kế gì nên cứ thở vắn than dài.

Phùng Anh nấp trên ngọn cây nhìn xuống, chợt thấy có một nhà sư đầu đội mũ sừng dê, mình mặc cà sa màu đen, tay cầm trường kiếm lẳng lặng vào rừng. Nhà sư này mắt lộ hung quangg, y đứng sau lưng mà Lộ Dân Đảm chẳng hề hay biết. Phùng Anh bẻ một cành cây phóng xuống bay lướt qua đầu Lộ Dân Đảm, Lộ Dân Đảm thất kinh, quay đầu lại mắng: “Hừ, lão lừa trọc dám ám toán!” hòa thượng ấy chưng hửng, cười nói: “Hừ, Lộ Dân Đảm, Phật gia muốn lấy mạng ngươi dễ như trở bàn tay, cần gì phải ám toán?” Lộ Dân Đảm rút thanh yêu đao, kêu: “Hãy báo tên!” hòa thượng cười ha hả: “Người ta nói Giang Nam thất hiệp hiểu biết rộng rãi, cả tên của Hải Vân đại sư mà ngươi cũng chưa từng nghe sao? Ngươi cứ đi theo bọn ta, lén lút như là chuột nhắt, ngươi tưởng bọn ta không biết? Bọn ta chỉ vì đang làm hỉ sự, nên không muốn mở rộng sát giới; còn ngươi không biết tiến thoái theo đến đây. Phật gia dù có lòng từ bi nhưng cũng phải siêu độ cho ngươi”.

Té ra Hải Vân hòa thượng vì nhiều lần làm việc thất bại, không được Ung Chính trọng dụng nên y được điều tới Triết Giang nghe Lý Vệ sai khiến. Lần này Lý Vệ gả con, y là một trong những người hộ tống.

Lộ Dân Đảm chợt cả giận, cây đao trong tay đánh ra một chiêu Tiều Phu Vấn Lộ, đâm thẳng vào ngực của đối phương, Hải Vân hòa thượng xoay người quát: “Xem kiếm!” rồi chợt một luồng kình phong quét ngang tới! Lộ Dân Đảm không dám tiếp, rút soạt thanh đao về, lưỡi đao xoay một vòng đánh xuống trung bàn. Chỉ trong chốc lát y đã chống được hơn năm mươi chiêu.

Nhưng kiếm pháp của Hải Vân hòa thượng độc bá trời Nam, càng tinh diệu hơn đao pháp của Lộ Dân Đảm. Năm mươi chiêu vừa đánh xong, chỉ thấy kiếm pháp của Hải Vân hòa thượng càng lúc càng nhanh, tựa như sông dài biển rộng cuồn cuộn đánh ra, Lộ Dân Đảm chỉ có thể chống đỡ chứ chẳng thể trả đòn.

Đang lúc hăng hái, hòa thượng quát: “Trúng!” rồi chui kiếm lật lại phất ra ngoài, đánh ra một chiêu Kim Điêu Triển Xí nhanh như điện xẹt, Lộ Dân Đảm giơ đao lên chặn lại, thanh đao bị đánh bay, xem ra cánh tay phải sắp bị y chặt đứt!

Trong lúc đang nguy ngập, Lộ Dân Đảm chợt thấy trước mắt sáng lên, một bóng người lướt tới, tiếp theo là keng một tiếng, áp lực chợt giảm xuống, chỉ thấy có một thiếu nữ áo trắng tay múa đoản kiếm gạt trường kiếm của Hải Vân hòa thượng ra ngoài, khi xem lại thì bất giác chưng hửng. Phùng Anh nói: “Lộ đại hiệp, đừng sợ, để tôi đuổi lão lừa trọc này rồi sẽ xin lỗi ông”.

Phùng Anh đột nhiên từ trên cây nhảy xuống, Hải Vân hòa thượng cũng không khỏi ngạc nhiên. Hôm ấy ở Tung Sơn, Hải Vân hòa thượng thua trong tay Lý Trị, suýt nữa đã mất mạng, đến giờ vẫn còn sợ. Y cứ nghĩ Phùng Anh là Phùng Lâm, trong lòng chấn động, bị Phùng Anh đánh liền mấy kiếm đến nỗi luống cuống chân tay.

Khi nhìn rõ lại chỉ thấy có một mình Phùng Anh, Hải Vân mới hơi định thần, nhưng Truy Phong kiếm pháp của rất lợi hại, vừa thi triển đã chiếm được thượng phong. Hải Vân lại thất kinh, sao kiếm pháp của ả nha đầu này lại tiến bộ mau chóng đến thế?

Lộ Dân Đảm nhặt cây yêu đao đứng một bên xem hai người đấu kiếm, trong lòng hoài nghi vô cùng, không biết tại sao Phùng Anh lại đột nhiên xuất hiện gúp mình?

Hải Vân hòa thượng dẫu sao cũng là kiếm sư thành danh, công lực hỏa hầu chẳng phải tầm thường, chiêu nào cũng hàm chứa nội kình kinh người. Nhưng Thiên Sơn kiếm pháp của Phùng Anh tinh diệu vô cùng, kiếm của nàng vừa chạm vào kiếm của y đã rút ra ngay lập tức, mũi kiếm toàn đâm vào những huyệt đạo yếu hại, sau mấy mươi chiêu, thế chủ khách đã đổi, Hải Vân hòa thượng chỉ còn có thể chống đỡ nhưng Lộ Dân Đảm lại không nhìn ra.

Y thấy kiếm pháp của Phùng Anh tuy tinh diệu, nhưng toàn chờ sơ hở để tấn công, chỉ tưởng rằng công lực của Phùng Anh không bằng kẻ địch, đánh lâu sẽ bại. thầm nhủ: “Không biết ả nha đầu này là ai? Nhưng hôm nay dẫu sao cũng là ân nhân cứu mạng của mình, mình làm sao có thể để ả mất mạng trong tay hung tăng?” thế là không kịp suy nghĩ, giơ đao đánh tới từ bên cánh.

Hải Vân hòa thượng đang đuối sức, thấy Lộ Dân Đảm đánh tới, trong lòng nảy ra một kế, điểm cây trường kiếm tới rồi quát: “Xem quyền!” rồi đánh ra một đòn Ngu Công Dời Núi đấm thẳng vào vai của Phùng Anh, chiêu này chỉ là đẩy kiếm thế của Phùng Anh ra, không phải là thực chiêu, cây kiếm trên tay phải của y điểm tới, trong khoảng sát na đã đẩy Lộ Dân Đảm đến gần Phùng Anh khiến hai người không thể nào triển khai chiêu số được, Phùng Anh có kinh nghiệm còn kém, đã mắc mưu Hải Vân hòa thượng, đang định trở tay đâm ra, Hải Vân hòa thượng thừa cơ luồn ra phía sau lưng nàng quát: “Trúng!” cây trường kiếm vẫy lên đâm thẳng vào người Phùng Anh!

Lộ Dân Đảm kinh hãi, chỉ trong khoảng sát na này, chợt thấy Phùng Anh trở tay đánh lại một kiếm nhanh như gió, Hải Vân hòa thượng kêu thảm, máu tươi phun lên trên vai, co giò bỏ chạy. Phùng Anh ném kiếm ngồi xuống đất, im lặng chẳng nói.

Té ra trên người Phùng Anh có mặc nhuyễn giáp tơ vàng, đao kiếm không thể nào đâm vào được, mũi kiếm của Hải Vân hòa thượng bị bắn ngược trở lại, chính vì thế mà luống cuống nên bị Phùng Anh đâm bị thương. Nhưng kình đạo trong nhát kiếm này của Hải Vân hòa thượng rất mạnh, tuy chẳng đả thương được Phùng Anh nhưng cũng khiến nàng chấn động. Phùng Anh sợ bị nội thương nên ngồi xếp bằng tịnh tọa điều tức dưỡng thần.

Một hồi sau, Phùng Anh đứng dậy, Lộ Dân Đảm nói: “Thế nào rồi?” Phùng Anh cười nói: “Lão lừa trọc ấy làm sao đả thương được tôi?” Lộ Dân Đảm biết rõ nàng đã trúng một kiếm mà chẳng hề gì, tưởng rẳng võ công của nàng đã đến mức thâm sâu khó lường, trong lòng khâm phục muôn phần!

Phùng Anh nói: “Lộ đại hiệp, ngày hôm ấy ở Mang Sơn đã mạo phạm ông”. Lộ Dân Đảm hỏi: “Chẳng phải cô nương đi cùng với Liễu Ân sao?” “Liễu Ân cái gì? Tôi không biết”. “Vậy người dùng phi đao đả thương Lý Nguyên lục ca của tôi không phải là cô nương sao?” Phùng Anh cười nói: “Tôi chưa bao giờ dùng phi đao. Ông đã nhầm rồi. Đó là do một người rất giống tôi làm ra chuyện này. Hiểu Lan thúc thúc đã nói cho tôi biết”. Lộ Dân Đảm đứng sững, thầm nhủ: “Lẽ nào trên đời lại có người giống hệt như nhau?”Chợt nghe ngoài bìa rừng có tiếng cười lớn, Cam Phụng Trì bước vào. Lộ Dân Đảm kêu lên: “Thất huynh, huynh cũng đến sao?” Cam Phụng Trì nói: “Tôi đã theo huynh cả nửa ngày mà huynh không biết sao?” Lộ Dân Đảm thầm kêu: “Hổ thẹn”. Rồi hỏi: “Lúc nãy chúng tôi mới đấu với lão lừa trọc, huynh cũng thấy hết cả sao?” Cam Phụng Trì cười nói: “Cả những lời các người nói tôi cũng đã nghe hết. Anh cô nương, kiếm pháp thật giỏi!” Cam Phụng Trì đã biết biết lai lịch của Phùng Anh nhờ Đường Hiểu Lan nói, lúc này đã biết được nàng là Phùng Anh.

Phùng Anh ngạc nhiên hỏi: “Đây là...” Cam Phụng Trì cười nói: “Tôi là Cam...” Phùng Anh không đợi y nói xong đã kêu lớn: “Có phải Giang Nam đại hiệp Cam Phụng Trì không?” Cam Phụng Trì cười nói: “Không dám. Đó chỉ là bằng hữu trên giang hồ gọi tôi”. Phùng Anh chợt hỏi: “Lúc nãy tại sao ông không ra đánh lão lừa trọc?” “Tôi chỉ muốn giữ lại mạng của y để y làm giùm tôi một chuyện”. “Y làm hộ ông chuyện gì?” “Tôi muốn y đưa tin cho tôi. Lúc nãy y chạy ra bìa rừng, tôi lại đấm thêm cho y một quyền”. Rồi Cam Phụng Trì chợt cười nói: “Cô nương cũng giúp tôi làm một việc có được không?” “Chỉ cần tôi làm được, xin đại hiệp cứ căn dặn”. “Chắc chắn là cô nương sẽ làm được. Chuyện này rất thú vị, cô nương hãy ghé tai qua đây”. Phùng Anh nổ lòng tò mò, quả nhiên ghé tai qua, vừa nghe nàng đã cười khanh khách.

Lại nói Diệp Hoành Ba và Lý Minh Châu cùng đi một xe, Hải Vân hòa thượng đi tìm Lộ Dân Đảm, sau đó mụ mới biết, biết rồi mụ lại không vui. Đến chiều đoàn xe đã dừng lại ở một trấn nhỏ cách Tế Nam năm mươi dặm. Hải Vân hòa thượng hớt hải chạy về gặp Diệp Hoành Ba. Diệp Hoành Ba nổi cáu: “Mọi việc do ta chủ trì, sao ông không nghe hiệu lệnh mà tự bỏ đi? Hay thật, giờ bị thiệt thòi nên mới đến tìm tôi” Hải Vân hòa thượng nổi cáu đáp lại: “Tên tiểu tử Lộ Dân Đảm cứ đi theo sau xe, chả lẽ bà không biết?” Diệp Hoành Ba cười lạnh nói: “Cần gì ông phải nhắc nhở? Tên tiểu tử Lộ Dân Đảm võ nghệ chỉ bình thường, làm được chuyện quái gì, việc gì màng đến y? Chúng ta may mắn không có chuyện gì xảy ra, ông lại phân tâm đi đối phó với một tên tiểu tử ngốc, chẳng may có người thừa cơ quấy nhiễu, biết làm thế nào đây?” “Kẻ đả thương tôi cũng đang tìm bà, tôi thấy bà chưa chắc đối phó nổi!” “Ai?” “Cam Phụng Trì!” thật ra Hải Vân hòa thượng bị Phùng Anh đâm trước rồi mới bị Cam Phụng Trì đấm thêm cho một quyền. Y sợ nói bị một tiểu cô nương đả thương càng mất thể diện hơn nên mới đổ hết cho Cam Phụng Trì.

Diệp Hoành Ba cười lạnh: “Cam Phụng Trì thì thế nào? Chả lẽ ta sợ y?” Hải Vân hòa thượng biết mụ ngang ngược, nên tức giận bỏ ra ngoài.

Đêm đến, Diệp Hoành Ba đốc thúc quan quân cẩn thận đề phòng, đến canh ba cũng chẳng có gì xảy ra.

Tuần phủ Triết Giang Lý Vệ phái một ngàn tinh binh, hơn ba mươi cỗ xe để hộ tống con gái, bởi vậy trên đường chẳng có chuyện gì xảy ra. Diệp Hoành Ba rất yên lòng, không ngờ đến canh ba chợt xe lương bốc cháy, Diệp Hoành Ba cả kinh, thầm nhủ: “Chả lẽ có gian tế?” vội vàng truyền lệnh kêu Hải Vân hòa thượng đem một toán quân đi cứu hỏa, còn những người khác thì không được làm càn. Chẳng may đêm ấy có gió Tây bắc lương thảo dễ cháy nên thế lửa càng lúc càng lớn.

Diệp Hoành Ba cả giận, đang định đích thân điều tra, chợt thấy một tên võ quan chạy như bay tới, Diệp Hoành Ba quát: “Ngươi không canh giữ, chạy đến đây làm gì?” nói chưa dứt lời, tên võ quan ấy cười ha hả: “Mụ giặc cái, nhìn xem ta là ai?” rồi vỗ vù tới một chưởng!

Diệp Hoành Ba quát: “Cam Phụng Trì, ngươi lớn gan thật!” mụ lách người qua, chưởng phong quét qua mặt đau nhói. Nhân lúc lách người mụ đã rút kiếm đánh ra một chiêu Thần Long Điếu Vĩ đâm ngược trở lại. Cam Phụng Trì bước sấn lên một bước, ngón tay phất vào nách phải của mụ ta, Diệp Hoành Ba lách người đâm tới mà chẳng trúng. Cam Phụng Trì rùng người xuống, chưởng phải xỉa ra thi triển một đòn Cầm Nã thủ, giật thanh kiếm của mụ, tay phải đẩy tới một chưởng. Diệp Hoành Ba cả giận, lướt người ra phía sau, đâm ra soạt soạt hai kiếm, Cam Phụng Trì cười ha hả tung mình nhảy vọt lên một cỗ xe, cúi chỏ thúc ngang một cái, một tên lính rơi xuống xe, chàng cười lớn: “Mụ giặc cái, có dám phân cao thấp với ta không!”

Cả hai người đều đã động thủ, bọn quan quân đều kinh hãi, Diệp Hoành Ba quát: “Dùng loạn tiễn bắn y!” bọn quan quân bao vây bên ngoài rất kín kẽ, lúc này loạn tiễn bay ào ào, Cam Phụng Trì cởi áo khoác ngoài múa tít, tên rơi xuống rào rào, chẳng mũi nào cắm được vào người. Diệp Hoành Ba cả giận cầm kiếm đuổi theo, Cam Phụng Trì phóng người lên cỗ xe ở phía Tây, tựa như cố ý chơi trò cút bắt với mụ. Diệp Hoành Ba một mặt phất tay ra hiệu phóng tên, một mặt đuổi theo.

Lại nói Lý Minh Châu vốn không muốn lấy con trai của Trương Đình Ngọc, người nhà gạt nàng, nàng mới chịu lên xe đi đến Sơn Đông trước. Đi được một hồi nàng đã thấy không ổn, nhưng Diệp Hoành Ba canh giữ rất chặt, đừng nói là chạy, có muốn chết cũng không được. Lý Minh Châu cũng tinh lanh, thầm nhủ: “Đến phủ nha Sơn Đông rồi tìm cách chạy cũng không muộn”. Nàng tuy tính toán như thế nhưng trong lòng rốt cuộc vẫn không yên.

Đêm đến, Lý Minh Châu đang ngồi suy nghĩ, chợt nghe bên ngoài có tiếng quát tháo, lòng thầm nhủ: “Sao không nhân lúc này mà bỏ chạy!” rồi nàng vạch trướng ra, chỉ thấy một toán quân đang đứng trước xe mà không hề rối loạn. Diệp Hoành Ba đang quát tháo đuổi theo kẻ địch, Lý Minh Châu thầm nhủ: “Thế này làm sao mà chạy thoát được?” nàng buồn bã thở dài, lúc này Diệp Hoành Ba đang bị Cam Phụng Trì trêu đến nỗi lửa giận bốc cao, vẫn tiếp tục chỉ huy binh sĩ phóng tên. Lý Minh Châu nghe bên ngoài quân sĩ đã rối loạn, định chạy ra nhưng lại không dám.

Chợt thấy một luồng gió thổi đến, rèm xe cuộn lên, một tên lính trẻ bước vào, Lý Minh Châu thất kinh, đang định quát hỏi, người ấy đã cởi áo khoác ngoài, lại còn lột mũ xuống, Lý Minh Châu kêu: “Ồ, Lâm cô nương đến phải không?” trước đây Phùng Lâm đã từng đến phủ nha Triết Giang, thường bơi thuyền trên Tây Hồ với Lý Minh Châu nên Lý Minh Châu cứ tưởng Phùng Anh là Phùng Lâm.

Phùng Anh mỉm cười, nàng đã quen với những chuyện hiểu làm như thế này cũng không lấy làm lạ nữa. Lý Minh Châu nói: “Lâm cô nương sao thế? Có phải sư phụ của tôi kêu cô nương đến hay không?” Phùng Anh nói: “Đừng hỏi nhiều, hãy bộ đồ này vào, nhân lúc rối loạn mà chạy ra ngoài”. Rồi ném éo cho nàng. Lý Minh Châu lập tức cởi bỏ những thứ trang sức trên người. Phùng Anh nhặt lên đeo vào người, chỉ trong chốc lát cả hai đều đã thay đồ xong. Lý Minh Châu nói: “Cô nương làm gì thế?” Phùng Anh nói: “Sẽ xuất giá hộ cho cô nương! Cô nương không nỡ rời khỏi chốn quyền quý sao?”

Đó chính là kế hoạch của Cam Phụng Trì, chàng tung tin cho Hải Vân hòa thượng biết sẽ đến dò thám quân doanh một mình, khiến Diệp Hoành Ba để ý phòng bị, thế là lơi lỏng việc canh giữ Lý Minh Châu. Trong số quan quân đưa dâu, cũng có người của bang Hải Dương ở Triết Giang, Cam Phụng Trì quen thân với họ, bởi vậy mới âm thầm lẻn vào trong quân, cùng Phùng Anh thay đổi y phục.

Lý Minh Châu nói với Phùng Anh: “Tôi có một tì nữ tâm phúc tên là Hạnh Hoa, ngày mai cô nương cứ bảo Hạnh Hoa hầu hạ, xin đa tạ”. Rồi vén rèm bước ra. Phùng Anh cười nói: “Phải bước mạnh bạo một tí, đúng thế, thế mới giống nam nhi”.

Diệp Hoành Ba đuổi theo Cam Phụng Trì, Cam Phụng Trì cứ nhảy qua nhảy lại trên cỗ xe, lúc thì phất áo gạt lên, lúc thì ném ám khí trả lại, một hồi sau, không biết đã có ai đã huýt mấy tiếng sáo, Cam Phụng Trì cười ha hả: “Các người cậy đông hiếp yếu, ta không rảnh đùa với các người nữa”. Rồi phóng xuống, tiện tay xách hai tên lính xoay tít ném ra ngoài, Diệp Hoành Ba vẫn tiếp tục bám theo, bọn quan quân sợ ném chuột bể đồ, chẳng dám ngăn cản, chỉ trong chốc lát Cam Phụng Trì đã xông ra. Diệp Hoành Ba dùng Thấu Cốt đinh phóng vào gót chân của Cam Phụng Trì liền ba phát mà chẳng trúng. Cam Phụng Trì quát: “Mụ già thối, ngươi đã trúng kế điệu hổ ly sơn!” Diệp Hoành Ba thất kinh, thầm nhủ: “Hỏng bét!” Cam Phụng Trì nhân lúc mụ ta ngẩn người, đột nhiên quát lớn một tiếng, ném hai con tin về phía mụ. Diệp Hoành Ba lách người thối lui, chân chợt đau nhói.

Té ra mụ đã trúng một cây trủy thủ dài đến năm tấc, mụ nghiến răng rút ra, may mà không trúng vào chỗ hiểm. Diệp Hoành Ba chỉ đành lấy thuốc kim sang bôi vào vết thương rồi tập tễnh trở về trại, lúc này lửa ở xe lương đã được dập tắt, cũng chẳng thấy bóng dáng kẻ địch đâu, Diệp Hoành Ba trở về trướng của Lý Minh Châu, vạch trướng ra nhìn, chỉ thấy Lý Minh Châu nằm quay vào trong, đang ngủ rất say, thế là quay ra sai người đem nước đến rửa vết thương chứ chẳng màng đến Lý Minh Châu nữa.

Đường Hiểu Lan nấp trong phủ nha Sơn Đông đợi đến hai ngày, vẫn chẳng thấy Cam Phụng Trì trở về. Ngư Xác vẫn còn bị nhốt trên lầu Phi Thúy. Đường Hiểu Lan rất lo lắng, ngày thứ ba thì chợt nghe báo Tuần phủ Triết Giang Lý Vệ sai người đưa con gái tới, trong phủ nha nơi nào cũng treo đèn kết hoa.

Khi Trương Đình Ngọc sắp xếp chuyện hôn sự cho con trai, không ngờ có chuyện Ngư Xác xảy ra, hôm nay nhà họ Lý đưa dâu đến, trong nỗi vui mừng có mấy phần giới bị. Đến trưa, hương sa đã tới trước cửa. Trương Đình Ngọc ra lệnh mở sảnh đường, kêu con trai ra đón dâu.

Trong ngoài lễ đường người đứng lố nhố, trông rất náo nhiệt. Hàn Trọng Sơn nghe Diệp Hoành Ba đến, trao việc chỉ huy hỏa tiển thủ cho Thiên Diệp Tản Nhân, bước ra đón rước. Diệp Hoành Ba nói: “Hôm qua tôi đã bị Cam Phụng Trì ám toán, ông phải báo thù cho tôi”. Hàn Trọng Sơn ngạc nhiên: “Cam Phụng Trì từng gây náo loạn ở đây, tôi đang tìm y, không ngờ y lại đến chỗ bà. Lữ Tứ Nương có xuất hiện không?” Diệp Hoành Ba nói: “Chỉ có một mình y”. Hàn Trọng Sơn nói: “Chỉ có một mình y còn dễ đối phó”. Khi họ đang nói chuyện, chợt nghe ba tiếng pháo nổ, con trai của Trương Đình Ngọc ra mở cửa xe, rước tân nương ra ngoài.

Phùng Anh có dáng dấp giống Lý Minh Châu, lại đội khăn đầu nên không ai nhìn ra. Đường Hiểu Lan cũng lẩn trong đám người xem lễ, chợt cảm thấy dáng người tân nương rất quen thuộc.

Ngoài Thiên Diệp Tản Nhân, các hảo thủ ở kinh thành phái đến và giáo đầu của Tuần phủ Sơn Đông đều nhìn tân nương không chớp mắt. Diệp Hoành Ba nói với phu quân mấy câu rồi bước vào.

Đôi tân nhân thong thả bước vào lễ đường, Diệp Hoành Ba thất kinh, dáng đi của Lý Minh Châu không giống như thường ngày. Nhưng vì quá đông người ở đại đường nên không dám lên tiếng. Bên ngoài lại vang lên ba tiếng pháo. Có tiếng hô: “Tân nhân lên đường, ngũ thế kỳ xướng. Tân nhân khấu đầu lạy tổ tiên, lạy...” chưa hô xong, tân nương tử đã giật khăn che đầu xuống, rút soạt thanh đoản kiếm ra cười lạnh nói: “Ai là tân nương của các ngươi!” con trai của Trương Đình Ngọc vốn đang nắm tay nàng, bị nàng vặn một cái,trái lập tức kêu lên như lợn rống.

Chính là:

Tiệc vui rộ sát khí, ngọc nữ náo hoa đường.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 34: Nến đỏ sáng trưng tiệc vui dậy sát khí Sóng lạnh vỗ bờ góc biển làm thuyền con

Sự biến xảy ra, khách khứa trong hoa đường đều kinh hãi, cao thủ của phủ nha lao tới. Phùng Anh kêu: “Trương Đình Ngọc, muốn con trai ngươi mất mạng thì cứ gọi thêm người đến đây”. Cây đoản kiếm của nàng đã xỉa vào sau lưng Trương công tử, miệng nói: “Dắt ta đến lầu Phi Thúy”.

Trương Đình Ngọc chỉ có một đứa con, bởi vậy y vội vàng quát bọn thủ hạ đứng lại. Phùng Anh đã kèm Trường công tử rời lễ đường bước ra hậu viên. Đường Hiểu Lan vừa kinh vừa mừng, chợt ở eo có người chạm nhẹ một cái, chỉ nghe Cam Phụng Trì nói: “Chúng ta mau ra ngoài tiếp ứng”.

Phùng Anh hiên ngang băng qua đám người, chỉ trong chốc lát đã đến hậu viên. Hàn Trọng Sơn tức tối, cầm ám khí trên tay mà không dám động đậy.

Thiên Diệp Tản Nhân thấy Phùng Anh đến thì rất kinh hãi, Trương Đình Ngọc van nài: “Hãy cho bọn chúng bước vào”. Thiên Diệp Tản Nhân phất tay ra lệnh hỏa tiển thủ tán ra, Diệp Hoành Ba hỏi chồng: “Sao ông không dùng ám khí?” Hàn Trọng Sơn nói: “Bà quên rồi sao? Ả là người được Hoàng thượng sủng ái, Hoàng thượng căn dặn chúng ta trong vòng một năm không được đụng tới ả”. Thiên Diệp Tản Nhân bàn rằng: “Để Ngư Xác chạy chẳng phải chuyện nhỏ, ông thấy thế nào?” Hàn Trọng Sơn nói: “Nếu chỉ là con trai của Trương Đình Ngọc, vậy chúng ta cứ phá hủy lầu Phi Thúy. Nhưng còn ả nha đầu thì sao?” Thiên Diệp Tản Nhân trầm ngâm không nói. Diệp Hoành Ba chợt nói: “Ả chưa chắc là Lâm nha đầu, để tôi thử ả”. Lúc này Phùng Anh đã bước lên lầu Phi Thúy gặp Ngư Xác.

Ngư Xác rất ngạc nhiên, Phùng Anh nói: “Cam đại hiệp sai tôi đến đây mời ông trở về Hoàng Hải”. Ngư Xác than rằng: “Ngư mỗ quen biết khắp thiên hạ, thế mà hôm nay mới biết ai là bằng hữu can đảm tương chiếu”.

Phùng Anh chợt nói: “Ngư đại vương, nghe nói ông có rất nhiều của báu, có đúng không?” Ngư Xác nói: “Cô nương hỏi thế làm gì?” trong lòng hồ nghe thầm nhủ: “Chả lẽ Cam Phụng Trì cũng dòm ngó đến bảo tàng của mình?” Phùng Anh mỉm cười nói: “Tôi có một thúc thúc, bị người ta ám toán, đã uống trúng rượu độc lợi hại, không biết ông có thuốc giải hay không?” Ngư Xác nói: “Rượu độc gì?” Phùng Anh nói: “Đây là loại rượu độc một năm sau mới phát tác. Nói thực cho ông biết, kẻ ám toán là Hoàng đế”. “Tôi chưa bao giờ nghe có loại rượu độc như thế”. Y nghĩ ngợi một hồi rồi đáp: “Tôi có loại cỏ thiên niên chi, không biết có thể giải được hay không?” “Tốt xấu gì cũng phải thử”. Nếu là bình thường Ngư Xác chắc chắn sẽ cười nàng trẻ con, cỏ thiên niên chi làm sao có thể dùng bừa bãi nhưng lúc này đành phải nói: “Tiểu cô nương, được cô nương tương cứu, những vật ngoài thân này có đáng là gì? Nhưng tôi không đem theo, chúng ta quay về rồi tính tiếp”.

Thế rồi Phùng Anh cùng bọn Ngư Xác bước ra khỏi lầu Phi Thúy. Phùng Anh đi ở phía sau rốt, mũi kiếm vẫn kề vào người Trương Đình Ngọc, bước ra vườn, đã vượt qua phạm vi của thuốc nổ, đi ngang qua trước mặt Diệp Hoành Ba, Diệp Hoành Ba đột nhiên vươn tay phóng ba mũi Thấu Cốt đinh về phía Phùng Anh, chỉ cần Phùng Anh dùng kiếm gạt ra, lập tức đã lộ thân phận. Nào ngờ trong đám đông có một người nhảy ra, vung tay hớt ba mũi Thấu Cốt đinh của Diệp Hoành Ba. Người đó chính là Cam Phụng Trì. Trương Đình Ngọc và Hàn Trọng Sơn cùng kêu: “Không được!” vội đẩy Diệp Hoành Ba ra, Cam Phụng Trì quát: “Hừ, giờ mà ngươi còn muốn ám toán?” Đường Hiểu Lan cũng nhảy ra cùng bọn Ngư Xác đứng thành vòng vây, Cam Phụng Trì nói: “Nếu ngươi không phục, chúng ta sẽ đấu một trận trong vườn”. Trương Đình Ngọc vội nói: “Xin các hảo hán cứ đi nhưng hãy thả con trai của tôi ra!” Cam Phụng Trì cười lạnh: “Đến bờ biển, bọn ta sẽ thả con trai của ngươi”. Diệp Hoành Ba tính toán, nếu đánh nhau ở đây cũng chưa chắc thắng, huống chi không biết ả này có phải là Phùng Lâm hay không bởi vậy cũng không dám lên tiếng.

Mười ngày trôi qua, bọn Ngư Xác đã đến bờ biển, Phùng Anh tát con trai của Trương Đình Ngọc hai bạt tai, rồi thả y đi. Ngư Xác tìm được thuộc hạ, cỡi chiếc thuyền lớn giường buồm ra biển. Bọn Cam Phụng Trì cũng đi cùng y. Lúc này mới biết thủy sư của Niên Canh Nghiêu đã vây đánh thủy trại hơn một tháng, bởi vậy muốn vượt biển không phải là chuyện dễ.

Ngư Xác cho thuyền đi vòng qua cửa biển Lữ Thuận đến Hoàng Hải, liên lạc với thủy khấu ở các đảo chuẩn bị giải vây.

Phùng Anh từ nhỏ sống ở Thiên Sơn, ra đến biển lớn thì rất thích thú. Đi được hai ngày, thuyền đã đến nơi giao giới giữa Bột Hải với Hoàng Hải, sáng sớm hôm nay sắc trời rất tốt, ở phía xa ánh lên một mảng sáng xanh, trời đang sáng chợt tím nhạt, rồi dần dần chuyển sang màu đỏ; mây trời chuyển sang màu vàng, nước biển trong veo. Phùng Anh nhìn đến xuất thần, Ngư Xác nhíu mày, té ra đây là lúc Bột Hải hay nổi sóng gió, nếu không có việc gì gấp, không ai dám dong thuyền ra biển trong thời tiết như thế. Hôm nay sắc trời trong sáng lạ thường, Ngư Xác dự cảm một cơn bão lớn sắp đến. Quả nhiên đến trưa, mấy tiếng sấm đánh oàng giữa trời, sắc trời thay đổi, gió lúc nổi lên, một chốc sau nước biển gào thét. Vệ Dương Oai kinh hoảng nói: “Sắp có bão tố!”

Một chốc sau, gió xoáy sóng cuộn, từng con sóng lớn tựa như quả núi ập tới, bọt sóng bắn tung lên cao vút, Ngư Xác than: “Tôi đã liên lụy các người”. Cam Phụng Trì giúp Ngư Xác cầm bánh lái, con thuyền cứ chao đảo, mọi người vội vàng hạ buồm xuống. Phùng Anh chợt kêu lên kinh hoảng: “Ối chao, thủy quái!”

Ngư Xác ngẩng đầu lên nhìn, chỉ thấy một con cá kình lớn như trái núi nổi lên mặt biển, phun cột nước về phía chiếc thuyền. Ngư Xác vội vàng kêu: “Mau xoay bánh lái tránh ra!” thực ra cá kình tuy không ăn thịt người nhưng nếu va phải nó thì chiếc thuyền sẽ lật úp.

Chợt một cơn sóng ập tới, chiếc thuyền bị sóng ném lên va phải đuôi con cá kình, bị con cá kình vẫy một cái, tất cả mọi người trong thuyền dù võ công tuyệt đỉnh nhưng cũng phải té nhào. May mà chiếc thuyền không phải chạm vào đầu hoặc bụng của con cá chứ nếu không đã chìm nghỉm. Tuy là thế, chiếc thuyền đã bị thủng một mảng, Ngư Xác kêu: “Mau bít lỗ thủng”. Bọn Cam Phụng Trì vội vàng lấy mền chèn vào chỗ nứt, nước biển xộc vào mũi rất khó chịu, tuy đã bít lỗ thủng nhưng nước biển vẫn thấm vào.

Ngư Xác than: “Ta một đời xưng vương trên biển, chả lẽ cũng chết trên biển?” bão tố nổi lên, tuy đã hạ buồm xuống nhưng con thuyền vẫn bị gió thổi đi như tên bắn, dù có lực ngàn cân cũng chẳng thể nào kìm nổi. Ngư Xác nói: “Chắc đã hết cách, Cam đại hiệp, trước khi chết xin nhận một lạy của tôi”. Cam Phụng Trì quát: “Một hơi thở vẫn còn, quyết không buông tay. Chúng ta phải tìm sống trong chết”. Rồi một mặt sai người tiếp tục bít lỗ hở, một mặt vận chân lực Thiên cân trụy giữ vững thân thuyền, tuy con thuyền vẫn chao đảo nhưng dẫu sao cũng khá hơn trước. Ngư Xác thầm kêu: “Hổ thẹn”, nhủ bụng: “Cam Phụng Trì tuy không tinh thông thủy tính như mình nhưng trong lúc sinh tử lại bình tĩnh hơn”.

Mọi người trên thuyền đều hợp lực kiên trì, không biết đã chịu đựng bao lâu trong bóng tối, chợt một tiếng ầm thật lớn vang lên, thân thuyền đã chạm phải đá ngầm, Cam Phụng Trì thất kinh, dốc hết sức mà vẫn không thể cứu vãn kíp nạn, đành chịu vậy. Ngư Xác cả mừng nói: “Có cách rồi. Đoạn này trên Bột Hải không có đá ngầm, mà chúng ta lại chạm phải chắc là đã va phải hòn đảo nào đấy”. rồi y lặn xuống nước tìm kiếm, quả nhiên có một hòn đảo nhỏ.

Ngư Xác nói: “Chúng ta đã bị mắc kẹt ở hòn đảo này”. Rồi cùng mọi người hợp lực kéo thuyền vào bờ, lúc này gió bão đã ngừng, đằng Đông lại hiện màu trắng của bụng cá, té ra họ đã trôi nổi trên biển một ngày một đêm.

Mọi người ngồi nghỉ ngơi trên bãi biển một hồi, ăn lương khô, hồi phục thể lực, gió biển thổi tới, mùi hương thơm xộc vào mũi, trong mùi hương thơm lại có vị tanh, nhìn từ xa chỉ thấy trên khắp đảo toàn là hoa, Ngư Xác thầm nhủ: “Hoa gì thế? Mình chưa từng gặp hoa này, sao mùi hương lại kỳ quái đến thế”.

Mặt trời mọc trên biển, mọi người đều đã khỏe trở lại. Ngư Xác đi phía trước dắt mọi người vào hải đảo. Một tùy tùng của Ngư Xác chợt nói: “Đây chẳng phải là cây du ư, sao lại kỳ lạ thế này?”

Cành của cây du này uốn éo trông như hình rắn, một người lấy làm lạ đưa tay sờ vào, Ngư Xác chợt giật mình, kêu lớn: “Chạy mau!” người ấy kêu thảm lên một tiếng, bổ nhào xuống, một con trường xà từ trên cây phóng xuống, Đường Hiểu Lan vung kiếm chặt đứt con rắn. Chợt lại có hai người kêu lớn, té ra họ đã đạp phải một con rắn lớn, may mà không bị cắn trúng.

Ngư Xác nói: “Mau lui ra bờ biển”. Trong rừng cây vang lên tiếng kêu xào xạc, vô số rắn bò ra, Ngư Xác bảo Cam Phụng Trì và Đường Hiểu Lan cùng y chặn hậu, dùng đá đánh chết mấy con rắn, lui ra đến bờ biển, người bị rắn cắn toàn thân đã tím đen, không thể cứu chữa, ai nấy đều cả kinh. Ngư Xác lấy một viên hùng hoàng, bảo mỗi người lấy một mảnh bỏ vào người, mặt vẫn còn lo lắng, nói: “Chúng ta đã đến ma đảo!”

Cam Phụng Trì ngạc nhiên hỏi: “Chả lẽ trên đảo này có ma?” Ngư Xác nói: “Cam đại hiệp không biết đấy thôi, ở phía Tây bắc của cửa biển Lữ Thuận có một hòn đảo nhỏ tên là Xà đảo, trên đảo có vô số rắn độc, xem ra đây chính là Xà đảo. Nước dãi của rắn độc có thể trị bệnh hủi, trên đảo cũng có một loại cây tên gọi là cây hủi, hoa của loại cây này không dính sương nên còn gọi là hoa tránh sương. Lúc nãy tôi mới ngửi hương hoa của cây hủi, nhất thời nhớ không ra, nếu không tôi đã không mạo mụi tiến vào. Rắn thích sống ở nơi ẩm ướt trong rừng, trừ khi ra ngoài sưởi nắng, bởi vậy đến chỗ khô ráo chúng ta sẽ tạm thời an toàn”. Đường Hiểu Lan chợt nhớ ra một chuyện, hỏi: “Có phải gần Xà đảo có đảo Miêu ưng không?” Ngư Xác nói: “Đúng thế, vốn gọi là đảo Hải Miêu, bởi vì ở đó có một loại chim khi bay ra phát ra tiếng kêu như mèo, nên được người ta gọi là hải miêu, thực ra nó không phải là mèo. Từ xưa đến nay không ai dám đến hòn đảo này”. Đường Hiểu Lan nói: “Tát thị song ma chẳng phải ở đảo Miêu ưng sao?” Ngư Xác cười rằng: “Tôi nhớ rồi, lần đó tụ hội ở đảo Điền Hoành, Song ma muốn nhận huynh đệ làm đồ đệ”, rồi y thở dài một tiếng, mới tiếp tục nói: “Từ xưa đến này không ai dám đến hai hòn đảo này, nhưng mấy mươi năm gần đây lại có ba người dám chiếm cứ. Hai người ở đảo Miêu ưng là Tát thị song ma, võ công của bọn họ tuy cao nhưng chưa đủ khiến người ta kinh hãi. Người chiếm cứ ở Xà đảo nghe nói võ công cao thâm khó lường, tuy chưa ai gặp nhưng y có thể thu phục rắn rết, chỉ điểm này đã đủ khiến người ta kinh dị”. Cam Phụng Trì nói: “Nghe các tiền bối trên giang hồ đồn rằng, người ở Xà đảo tên là Độc Long Tôn Giả, có phải không?” Ngư Xác nói: “Đúng thế! Ung Chính đã nhiều lần cho mời mà y không chịu, tôi cũng từng bảo Song ma hẹn y gặp gỡ nhưng y cũng không chịu. Nghe Song ma nói y vốn là một người bệnh hủi, y cậy có võ công, nghĩ bụng dù sao cũng không thể sống được ở cõi thế, sao không đến Xà đảo tìm vận may, lấy hoa trên cây hủi và nước dãi của rắn chữa trị. Sau đó y đã ở Xà đảo mấy năm, bệnh hủi cũng khỏi hẳn, y nhớ lại khi còn bị bệnh người đời lạnh nhạt nên không muốn quay về nữa. Tánh tình của y càng lúc càng lạ, hai tên ma đầu như Tát thị song ma tuy có qua lại với y nhưng cũng phải kiêng dè”.

Khi đó rắn trên đảo lại kêu lên chít chít. Vệ Dương Oai kinh hoảng kêu: “Độc Long Tôn Giả đến!” Cam Phụng Trì mở mắt ra nhìn, chỉ thấy một dã nhân đầu bù tóc rối đi ra, phía sau y là một bầy rắn, đến bờ biển, y chợt quát bầy rắn ngừng lại, rồi sải bước tới.

Ngư Xác vội vàng bước lên, cung tay nói: “Ngư Xác ở Hoàng Hải và Cam Phụng Trì ở Giang Nam gặp tổn thương gió xoáy, lên nhầm quý đảo, kính xin tôn giả lượng thứ”. Độc Long Tôn Giả trợn mắt, chẳng thèm để ý. Ngư Xác lại nói: “Trước đây Ngư mỗ đã từng nhờ Tát Thị huynh đệ gửi thư thăm hỏi tôn giả”. Độc Long Tôn Giả trợn mắt liếc nhìn mọi người, chợt nói: “Trong số các người có ai bị bệnh hủi không?” Ngư Xác nói: “Không có”. Độc Long Tôn Giả cười hềnh hệch, quát: “Nếu các ngươi đã không bị bệnh hủi, đến hòn đảo này làm gì? Cút xuống biển cho ta!” Ngư Xác thất kinh, vội nói: “Thuyền của chúng tôi đã bị gió xoáy phá hỏng, sau khi sửa xong sẽ rời khỏi đảo”. Độc Long Tôn Giả chợt gằn giọng nói: “Mặc kệ các ngươi, các ngươi không được ở lại đây, mau cút xuống biển cho ta!” Ngư Xác xưa nay xưng vương trên biển, chưa từng bị ai coi thường như thế, bất giác nổi cáu: “Sao ngươi lại không thông hiểu nhân tình như thế? Bọn ta không có thuyền, làm sao ra biển?”

Độc Long Tôn Giả chợt ngửa mặt cười lớn, nói: “Sao mà không thông nhân tình? Rắn độc của ta nuôi trên đảo còn nhiều hơn cả loài người!” trước đây khi Độc Long Tôn Giả còn bệnh hủi, y bị người đời lạnh nhạt, mọi người trong tộc đòi ném y xuống biển, nếu y không có võ công đã chết. Sau đó ai nấy đều né tránh y, bởi vậy Độc Long Tôn Giả mới mạo hiểm đến Xà đảo, sau khi trị xong bệnh hủi đã quyết cắt đứt liên lạc với loài người, mãi mãi không chịu trở về nữa. Lúc này chợt nghe Ngư Xác nhắc đến hai chữ “nhân tình”, sự ghẻ lạnh của người đời đối với y chợt dâng lên trong lòng, bởi vậy nổi cáu đùng đùng.

Ngư Xác và Cam Phụng Trì nào hiểu được cảm giác của Độc Long Tôn Giả, đều cảm thấy kẻ này thật quái dị. Ngư Xác nháy mắt với Cam Phụng Trì, lớn giọng nói: “Hòn đảo này chẳng phải ông mua, ai cũng có thể ở lại, ông dựa vào điều gì mà đuổi chúng tôi ra biển?” Độc Long Tôn Giả cười lạnh: “Vậy tại sao các ngươi lại đuổi ta ra biển, trên bờ vẫn còn rộng rãi kia mà? Các ngươi đừng hòng đặt chân trên hòn đảo này!” Ngư Xác ngạc nhiên nói: “Ông có điên rồi không? Ai đuổi ông xuống biển. Chúng tôi chỉ ở đây vài ngày mà thôi”. Y làm sao biết Độc Long Tôn Giả coi tất cả mọi người đều là những người đã từng bức hại mình năm xưa.

Độc Long Tôn Giả thấy Ngư Xác cố cãi, lại càng nổi cáu hơn, chợt quát: “Được, các ngươi không đi, ta sẽ ném các ngươi xuống biển!”

Rồi y phóng vọt người lên vung tay chụp vào đỉnh đầu của Ngư Xác, Cam Phụng Trì đã chuẩn bị trước, ngầm vận chân lực nội gia điểm mũi chân nhảy vọt tới gạt qua, hai tay chạm nhau, Cam Phụng Trì cảm thấy đau nhói, tựa như có một nguồn lực đẩy tới, từ trên không té nhào xuống, Độc Long Tôn Giả kêu ồ một tiếng nói: “Té ra các ngươi biết võ công, chả trách nào gan lì đến thế”. Rồi không thèm đổi chiêu, vẫn vung trảo chụp vào đỉnh đầu của Ngư Xác!

Đường Hiểu Lan và Phùng Anh đều thất kinh, cả hai cùng rút kiếm ra, hai đường hàn quang cuộn tới, Độc Long Tôn Giả kêu lên một tiếng quái dị, hất ống tay áo ra, đánh lệch hai lưỡi kiếm, trong khoảnh khắc ấy, Độc Long Tôn Giả luồn tay vào kẽ hai lưỡi kiếm, chưởng trái chuyển thành chụp tóm vào cây Du Long kiếm của Đường Hiểu Lan, rồi bổ ra một chưởng, Phùng Anh vội vàng thối lui, ngực tựa như nghẹt thở!

Cam Phụng Trì tuy rơi xuống đất nhưng cũng bật người dậy, hai chưởng dùng lực đẩy ra một chiêu Phách Sơn Đoạn Lưu, chạm vào chưởng trái của Độc Long Tôn Giả. Độc Long Tôn Giả lại kêu ồ một tiếng, xoay người đấm ngang tay phải ra, Cam Phụng Trì vội vàng rút chiêu. Đường Hiểu Lan và Phùng Anh đã đâm hai kiếm tới, Độc Long Tôn Giả kêu lên oai oái, lách người phân chưởng, đồng thời tấn công hai người, Ngư Xác tung ra một cước, Độc Long Tôn Giả không thèm xoay người, vẫn tiếp tục bước dấn tới, binh một tiếng, mũi chân của Ngư Xác tựa như chạm phải sắt thép nên bật ngược trở lại, nếu võ công của Ngư Xác tầm thường đã bị gãy chân!

Ngư Xác kinh hãi, vội vàng rút bảo đao hộ ở hạ bàn.

Cam Phụng Trì cả kinh phóng vọt tới, dùng thủ pháp Cầm Nã chém vào cổ tay của Độc Long Tôn Giả, Độc Long Tôn Giả thúc chỏ mà vẫn không trúng, cả hai bên đổi nhau một chiêu. Phùng Anh phóng vọt người lên đâm vào vai trái của y, Đường Hiểu Lan lách người đâm vào vai phải. Độc Long Tôn Giả buộc phải buông Cam Phụng Trì, vỗ ra vù vù hai chưởng đánh lệch mũi kiếm.

Độc Long Tôn Giả càng đánh càng giữ, một canh giờ sau vẫn tấn công mạnh mẽ, chưởng phong quét tới đâu là ai nấy đều tránh. Cam Phụng Trì tuy đuối sức nhưng cũng chẳng thấy chuyện gì. Phùng Anh khinh công cao siêu, cũng chẳng thấy có gì khác lạ. Nhưng Đường Hiểu Lan thì hơi vất vả. Ngư Xác thì càng cảm thấy đầu váng mắt hoa, khát khô cả cổ, dần dần chỉ có thể chống đỡ!

Phùng Anh chợt nói: “Đường thúc thúc, người hãy dùng Tu di kiếm thức, điệt nữ dùng Truy Phong kiếm pháp!” Tu di kiếm thức thủ nhiều công ít, khi thi triển toàn thân được hộ bởi một màn kiếm quang, Độc Long Tôn Giả không dám thò tay vào màn kiếm quang; Truy Phong kiếm pháp của Phùng Anh lanh lẹ lạ thường, tấn công về phía Độc Long Tôn Giả, cả hai người phối hợp Thiên Sơn kiếm pháp rất kín kẽ, uy lực chợt tăng lên, lại thêm chưởng lực hùng hậu của Cam Phụng Trì, đao pháp lão luyện của Ngư Xác, nhất thời chủ khách thay đổi, bốn người không còn vất vả như trước.

Đấu được nửa canh giờ, uy lực của Thiên Sơn song kiếm đã phát huy toàn bộ. Độc Long Tôn Giả dần dần bị lọt xuống thế hạ phong, nhưng vẫn không hề có vẻ mệt mỏi. Đang lúc căng thẳng, Độc Long Tôn Giả chợt huýt hai tiếng sáo, bầy rắn phía sau đột nhiên phóng tới.
Ngư Xác chợt kêu lên: “Đứng thành hình vuông, không được rối loạn!” bốn người có võ công tương đối cao gồm Vệ Dương Oai, Mạnh Võ Công, Lộ Dân Đảm, Lý Minh Châu đứng chia thành bốn góc, múa tít binh khí ném vào bầy rắn, chỉ trong chốc lát đã có mấy con rắn bị chém chết, bầy rắn kêu chít chít liên tục, tiếp tục lao về phía đám người. Nhưng họ vẫn không nguy hiểm bằng bọn Cam Phụng Trì!

Bọn bốn người Cam Phụng Trì một mình đấu với Độc Long Tôn Giả cũng chỉ có thể ngang tay, nay lại phải đối phó với rắn độc nên càng nguy hơn, chỉ hơi sơ suất thì sẽ lập tức mất mạng. May mà hai kiếm Du Long và Đoạn Ngọc đều là báu vật nên chỉ cần lia lên là mười con rắn bị chém làm đôi. Độc Long Tôn Giả gia tăng chưởng lực, tấn công gấp về phía Đường Hiểu Lan và Phùng Anh, có ý đồ khiến hai người không thể múa kiếm chém rắn!

Cam Phụng Trì chợt cười lạnh nói: “Hừ, nhờ vào sức của rắn độc, đâu phải là anh hùng!” Độc Long Tôn Giả nhíu mày, chợt cũng cười lạnh nói: “Ta vốn chẳng phải là anh hùng, ai bảo ta là anh hùng. Hừ, nếu các ngươi coi ta là anh hùng, đã không đến nỗi ép ta đến đảo hoang!” Cam Phụng Trì muốn dùng kế khích tướng trên giang hồ, nào ngờ Độc Long Tôn Giả hoàn toàn khác với những nhân vật trên giang hồ, không những như thế, y tựa như sống ở một thế giới khác hẳn, bởi vậy kế khích tướng của Cam Phụng Trì chẳng có hiệu quả.

Lại cầm cự được nửa khắc, tình thế càng nguy hiểm hơn, rắn độc càng kéo ra nhiều hơn. Mọi người tưởng tượng đến cảnh nửa khắc sau sẽ bị muôn ngàn con rắn độc cắn xé, không khỏi kinh hãi.

Chợt ngoài biển vọng lại một tràng thanh âm, bầy rắn thối lui ngậm đuôi kết thành một vòng tròn. Độc Long Tôn Giả ngửa đầu lên nhìn, cũng chợt nhảy ra khỏi vòng tròn, rời xa khỏi bầy rắn ngồi trên một tảng đá. Mọi người đều kinh ngạc ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy trời quang mây tạnh, chẳng có gì khác lạ. Một lát nữa, tiếng ồn càng lớn hơn, trên đầu vọng lại một tràng tiếng kêu quạc quạc, nghe như tiếng chim kêu, Phùng Anh chợt kêu: “Xem kìa!” một bầy chim quái dị từ đường chân trời bay tới tựa như một áng mây đen lớn, Ngư Xác kêu: “Miêu ưng đến, nấp mau, nấp may!” nhưng ở bờ biển chẳng biết nấp vào chỗ nào, mọi người chỉ đành tụ lại một chỗ, rút binh khí đợi chờ, trong lòng thấp thỏm, thầm nhủ nếu bầy Miêu ưng từ trên bổ nhào xuống chắc chắn sẽ càng khó đối phó hơn bầy rắn độc.

Lúc này bầy rắn đã kết thành một vòng tròn ngửa đầu nhìn lên, người cuộn thành hình chiếc lò xo, tựa như chuẩn bị phóng lên trời.

Một lát sau, bầy chim Miêu ưng đã bay vào đảo, lượn một hồi rồi chợt bổ xuống. Rắn độc phóng lên, trong nhất thời cảnh tượng kỳ lạ xảy ra. Chỉ thấy vô số chim Miêu ưng bay thấp bị rắn độc đớp trúng rơi xuống đất; nhưng cũng có vô số rắn độc bị Miêu ưng gắp lên không trung rồi thả xuống chết giữa biển, lúc này rắn bay đầy trời, mọi người đều kinh hãi sợ Miêu ưng thả rắn trên đầu mình, nhưng mừng vì Miêu ưng thả rất chính xác, chẳng con nào rơi lại xuống đất. Số là Miêu ưng và rắn độc thường ác đấu với nhau, sau trận gió xoáy, bầy Miêu ưng tấn công càng mạnh hơn. Đây là trận tấn công quy mô lớn nhất trong mười năm qua, mọi người may mắn mới thấy được trận ác đấu này. Miêu ưng biết thả ở bờ biển rắn sẽ không thể nào chết nên cứ ngoạm đầu rắn rồi bay ra biển thả.

Trận ác chiến giữa rắc độc và Miêu ưng diễn ra nửa canh giờ, dần dần đã phân ra thắng bại, tuy Miêu ưng chết rất nhiều nhưng vì có thể bay lượn giữa trời cao nên đã chiếm được phần hơn, bầy rắn cứ kêu chít chít loạn cả lên, trườn về rừng sâu, nấp trong các khe đá. Bầy chim Miêu ưng xà thấp lượn mấy vòng, kêu quạc một hồi tựa như đã chúc mừng thắng lợi, sau đó mới bay ra biển trở lại, có vài con vì mệt quá nên rơi tõm xuống biển.

Độc Long Tôn Giả mặt tái nhợt trong tay đã cầm sẵn sỏi nhưng không dám ném về phía Miêu ưng. Bởi vì nếu có người động thủ, chim Miêu ưng sẽ thay đổi mục tiêu tấn công, lúc đó dù võ công tuyệt thế cũng khó tránh mất mạng.

Bầy chim Miêu ưng bay đi, Độc Long Tôn Giả chẳng nói lời nào, lẳng lặng quay vào rừng, Cam Phụng Trì cười nói: “Đúng là một vật trị một vật, không ngờ bầy súc sinh có lông mao này đã cứu mạng chúng ta”. Ngư Xác nói: “Sau khi Miêu ưng và rắn độc ác đấu, ít nhất sẽ hươu chiến nửa tháng, chúng ta có thời gian phòng bị”. Nhưng họ vẫn chưa nghĩ ra được cách nào.

Ngư Xác khổ sở suy nghĩ, sau khi Phùng Anh thoát hiểm, lại ra bờ biển chơi, ở đấy có vô số vỏ sò rất đẹp, Phùng Anh nhặt đầy cả một túi. Nàng chợt kêu lên: “Mọi người nhìn xem, có con rùa biển thật lớn!” Ngư Xác nảy ra một ý, nói: “Để yên!” một hồi sau, con rùa chầm chậm bò lên bờ biển, phơi mình trên biển như một cái dù lớn. Cam Phụng Trì chưa từng thấy con rùa nào lớn như thế nên chạy tới lật ngửa nó lại rồi kéo vào. Ngư Xác nói: “Cam đại hiệp hãy bóp cổ nó”. Cam Phụng Trì làm theo lời y, một lát sau, một thứ mùi khai bốc lên, té ra con rùa đã tiểu ra một loại nước vàng. Ngư Xác cười nói: “Có nước tiểu của rùa, rắn sẽ tránh xa trong vòng ba trượng”.

Quả nhiên đêm đó không có rắn độc đến, Độc Long Tôn Giả cũng không ra quấy nhiễu. Hôm sau trời lại trong vắt. Ngư Xác nói: “Hôm nay chúng ta đóng sao cho xong thuyền rồi mau chóng rời khỏi nơi này”. Mọi người làm cả ngày mà vẫn chưa xong.

Tối đến mọi người thay phiên nhau canh gác, đến khoảng canh ba, chợt nghe ngoài bờ biển có tiếng bốp bốp vang lên, Cam Phụng Trì cùng mọi người chạy ra xem, chỉ thấy Độc Long Tôn Giả cầm một cây gậy sắt bổ vào thân thuyền, cứ mỗi cú bổ xuống, ván thuyền vỡ ra, khi mọi người chạy tới nơi, con thuyền đã nứt toác, muốn sửa lại cũng không được nữa.

Cam Phụng Trì cả giận, quát: “Ngươi không cho bọn ta ở lại đảo này, bọn ta sẽ đi. Tại sao lại phá hoại thuyền của bọn ta?” Độc Long Tôn Giả cười lạnh, nói: “Các người có muốn đi cũng không được nữa. Ta vẫn đùa chưa xong! Các người hãy thư giãn gân cốt đi!” té ra Độc Long Tôn Giả ở Xà đảo được mấy mươi năm, hàng ngày thường thấy rắn và Miêu ưng cùng các loại chuột lớn ác đấu với nhau đã sáng tạo ra rất nhiều loại võ công kỳ quặc, nhưng mấy mươi năm y không rời khỏi đảo, không biết rằng võ công của mình đã tiến bộ đến mức nào. Hơn mười năm trước, Tát thị song ma bảo võ công của y có một không hai trên đời, y cũng nửa tin nửa ngờ.

Lần này y chợt gặp bọn cao thủ như Cam Phụng Trì, đấu một hồi thấy rất sướng tay. Y về suy nghĩ, chợt thay đổi ý, nhủ rằng: “Mình cần gì phải giết chết hết bọn chúng ngay lập tức? Chả mấy khi gặp được bọn người biết võ công như thế, chi bằng giữ lại để thử chiêu, chừng nào chán sẽ ném bọn chúng xuống biển, hoặc cứ mặc cho bọn chúng bị độc xà cắn chết cũng chẳng sao”.

Cam Phụng Trì nghe thế tức đến nỗi thất khiếu bốc khói, quát: “Yêu nhân thật vô lý, hợp lực giết chết y!” Độc Long Tôn Giả cười ha hả: “Ta còn chưa muốn giết các ngươi, các ngươi còn muốn giết ta?” rồi vung gậy quét vù vù, Cam Phụng Trì không dám dùng tay không tiếp chiêu, rút cây đao chém xéo ra keng một tiếng, hổ khẩu chợt tê rần. Phùng Anh, Đường Hiểu Lan cùng thi triển song kiếm, Độc Long Tôn Giả hơi lách người, điểm cây gậy sắt về phía Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan thối lui một bước, giơ ngang kiếm chặn lại, không ngờ võ công của Độc Long Tôn Giả rất quái dị, y vừa phát kình, cây gậy bằng sắt chợt uốn cong lại soạt một tiếng, đánh về phía Phùng Anh. Phùng Anh không ngờ rằng cây gậy sắt của y có thể uốn cong, suýt nữa đã bị y quét trúng. May mà nàng khinh công trác tuyệt, khi gặp nguy hiểm, mũi kiếm điểm vào gậy một cái, người đột nhiên bắn vọt trở ra, Đường Hiểu Lan và Cam Phụng Trì đều toát mồ hôi lạnh, vội vàng xông vào phá giải thế nguy cho Phùng Anh.

Lần này Độc Long Tôn Giả cầm binh khí nên như hổ thêm cánh, bọn Cam Phụng Trì, Đường Hiểu Lan, Phùng Anh, Ngư Xác đều dốc hết bản lĩnh mà vẫn lọt xuống thế hạ phong! Ngư Xác hú lên một tiếng, Vệ Dương Oai, Mạnh Võ Công cũng nhảy vào vòng chiến. Võ công của hai người này tương đương với Ngư Xác, lúc này sáu chống một, đầu đuôi tiếp ứng lẫn nhau nên mới dần dần chuyển khách thành chủ.

Đấu đến khi sắc trời hửng sáng, hai bên đều đã sức cùng lực kiệt, Độc Long Tôn Giả cười ha hả, chạy vào rừng. Cam Phụng Trì nói: “Không đánh chết y, ngày nào cũng bị y quấy rối, chúng ta làm sao có thể trở về? Ai có thể cứu nguy cho thủy trại của ngư lão tiền bối?”

Ngư Xác than rằng: “Cứ mặc thủy trại của tôi, chỉ lo lại liên lụy đến mọi người”. Cam Phụng Trì nói: “Tôi thấy phải mạo hiểm đóng thuyền mới có lối thoát”. Ngư Xác nói: “Chưa đóng xong đã bị y phá hủy, đóng có ích gì”. Cam Phụng Trì nói: “Với sức của chúng ta, đánh y không chết, nhưng thắng cũng chẳng có vấn đề gì. Chúng ta ban ngày đóng thuyền, ban đêm thay phiên nhau canh gác”. Ngư Xác nói: “Rắc độc trên đảo trải qua một trận ác chiến chắc là không dám bò ra bờ biển nữa. Thật ra rắn độc rất nhát, chúng ta sẽ có cách đối phó”. Mọi người nghĩ dù đóng thuyền chưa chắc thành, nhưng còn hơn là chờ chết trong tuyệt vọng, vì thế nghe theo kế của Cam Phụng Trì, ban ngày đóng thuyền, ban đêm thay phiên canh gác, cứ thế đến ba ngày, ngoại trừ có một số ít rắn độc đến quấy nhiễu, Độc Long Tôn Giả cũng mất dạng.

Đến canh ba đến lượt Phùng Anh và Đường Hiểu Lan canh giữ, đến khi trời gần sáng vẫn không có động tĩnh gì. Phùng Anh cười nói: “Tên dã nhân này có lẽ không đến. Đường thúc thúc, thúc thúc lén bỏ đi mà không sợ thẩm thẩm giận sao?” Đường Hiểu Lan đỏ mặt: “Thúc thúc đâu phải lén bỏ đi”. Phùng Anh cười nói: “Chẳng lẽ thẩm thẩm để thúc thúc ra đi?” Đường Hiểu Lan nói: “Là sư phụ bảo thúc thúc đi tìm Anh nhi”. Phùng Anh nói: “Dương công công thật tốt, nhưng thẩm thẩm sao lại hung hăng như thế”. Đường Hiểu Lan lúng túng vô cùng, chàng ta đưa mắt nhìn sang nơi khác. Phùng Anh lại nói: “Hôm ấy Anh nhi đánh thẩm thẩm, thúc thúc có giận không?” Đường Hiểu Lan nói: “Như thế đáng đánh lắm”. Phùng Anh chợt nói: “Thúc thúc, thúc cũng thật đáng thương...”Phùng Anh nghĩ sao nói vậy, thấy Đường Hiểu Lan lộ vẻ ngượng ngùng nên vội vàng im bặt. Đường Hiểu Lan xúc động lắm, cầm tay Phùng Anh: “Anh nhi, thúc thúc đúng là số khổ. Sau này Anh nhi đừng giống như thúc, vì trả ơn nghĩa mà phải lấy người khắc ta”. Lần này đến lượt Phùng Anh đỏ mặt, nói: “Thúc thúc cứ nói càn. Anh nhi chưa bao giờ nghĩ đến việc này”. Hai người đang trò chuyện, chợt nghe một tiếng cười quái dị, không biết Độc Long Tôn Giả đã xuất hiện bên cạnh từ lúc nào. Y vung cây gậy sắt bổ xuống, Đường Hiểu Lan và Phùng Anh lách ra hai bên, hai kiếm đánh tới, khoảng cách lại rất gần, né tránh rất khó khăn, chỉ nghe keng một tiếng, hai cây kiếm chạm vào cây gậy sắt lửa bắn tung tóe, hai người Phùng, Đường chấn động suýt nữa đã té nhào, nhưng cây gậy của Độc Long Tôn Giả cũng bị mẻ hai miếng.

Đường Hiểu Lan kêu: “Yêu nhân đến!” Độc Long Tôn Giả cười hềnh hệch, đột nhiên vung bàn tay to bè tóm vào cổ tay Đường Hiểu Lan, nói: “Cho ta mượn xem thanh kiếm của ngươi!”.

Đường Hiểu Lan vung cổ tay, đảo mũi kiếm xuống, Độc Long Tôn Giả vốn chẳng xem Đường Hiểu Lan vào đâu, không ngờ Thiên Sơn kiếm pháp quá thần diệu, trong lúc nguy ngập mà vẫn có thể tự cứu được, thân kiếm giật xuống, vạch một đường trên cánh tay của Độc Long Tôn Giả. Lần này Độc Long Tôn Giả đã thực sự nổi hung, năm ngón tay y bóp chặt cổ tay của Đường Hiểu Lan, toàn thân Đường Hiểu Lan mềm nhũn.

Độc Long Tôn Giả chạy như bay, kêu: “Ta không cần bảo kiếm của ngươi nữa, ta phải ném ngươi xuống biển!” Phùng Anh phóng người đuổi theo, bọn Cam Phụng Trì cũng lao theo cứu Đường Hiểu Lan.

Phùng Anh chỉ sau ba lần trồi hụp, đã bổ đến sau lưng của Độc Long Tôn Giả, vung kiếm đâm tới, Độc Long Tôn Giả trở tay đánh lại một chiêu, cùng Phùng Anh phóng lên ba trượng thối lui hai trượng, mấy lần bị y đẩy lùi mà vẫn bám theo.

Cam Phụng Trì nói: “Anh cô nương, đừng mạo hiểm”. Phùng Anh nào chịu nghe, nàng đuổi ra đến bờ biển, thấy Độc Long Tôn Giả vung tay trái, ném Đường Hiểu Lan cả người lẫn kiếm xuống biển, Phùng Anh vừa khóc vừa nói: “Yêu nhân, ta liều với ngươi”. Rồi nàng múa kiếm như gió, đâm liền soạt soạt soạt ba kiếm, kiếm nào cũng dữ dội, Độc Long Tôn Giả múa vù vù hai gậy quét ngang tới, Phùng Anh vẫn phóng lên, Độc Long Tôn Giả thầm nhủ: “Kiếm pháp của ả này tinh diệu, nhưng không thể đánh chết ả”, y đã nhả kình lực, tuy đã kìm lại một nữa nhưng dù như thế, Phùng Anh cũng bị cây gậy hất lên không trung rồi rơi tõm xuống biển. Độc Long Tôn Giả lắc đầu kêu: “Tiếc thật, tiếc thật!”

Lúc này hải triều mới nổi, sóng biển vỗ vào bờ giữ dội, Phùng Anh tuy biết bơi nhưng vẫn bị dòng xoáy cuốn ra đến giữa biển, chỉ thấy Đường Hiểu Lan trồi hụp giữa biển khơi, cách mình không xa lắm. Phùng Anh cố gắng bơi tới, một con sóng đổ sầm tới, hai người bị con sóng ném lên cao đến hơn mười trượng, khi rơi xuống đã càng xa nhau hơn.

Cam Phụng Trì vừa kinh vừa giận, khi chàng chạy đến bờ biển, hai người đã bị nhấn chìm giữa con sóng. Độc Long Tôn Giả quát: “Ngươi cũng muốn xuống biển?” Cam Phụng Trì giở đao chém xuống, đao và trượng giao nhau, lập tức thối lui ra sau, Cam Phụng Trì cố nén cơn giận thi triển Bát quái du thân đao pháp, né thực tránh hư, du đấu cùng với y. Một hồi sau, bọn Ngư Xác cũng tới, hơn mười người vây Độc Long Tôn Giả vào ở giữa, từ buổi sáng cho đến trưa, đấu đến hơn ngàn chiêu mà vẫn ngang tay. Độc Long Tôn Giả cười ha hả: “Ta phải ngủ trưa, ngày mai gặp lại”. Rồi y múa trượng một hồi, chạy vào rừng trở lại. Cam Phụng Trì không dám đuổi theo, chỉ thấy y chạy về phía con thuyền, vung trượng bổ xuống hai nhát, lại đập vỡ một mảng. Ngư Xác và Cam Phụng Trì chỉ dám nhìn nhau, còn Độc Long Tôn Giả thì nghênh ngang quay vào rừng!

Cam Phụng Trì nói: “Hai người này mất mạng thật không đáng, ta làm sao yên tâm đây?” Ngư Xác giở đao nói: “Bị y hành hạ thế này, chi bằng chết cho xong!” lúc này mọi người đều đã mệt mỏi, bởi vậy nằm lăn xuống đất ngủ khò khò. Cam Phụng Trì thầm tính: “Thiếu Đường Hiểu Lan và Phùng Anh, thực lực giảm xuống nhiều, sau này càng không thể để mất người nào nữa”.

Bọn Cam Phụng Trì và Ngư Xác đều tưởng hai người Phùng, Đường đã chết, thực ra hai người này đang trôi nổi giữa biển khơi. Cả hai bị sóng biển cuốn trôi, cố gắng nín thở chịu đựng một lúc, Phùng Anh đuổi theo Đường Hiểu Lan, kéo chàng nổi lên khỏi mặt nước, hỏi: “Thúc thúc có bị thương không?” Đường Hiểu Lan nói: “Không có!” khi họ đang nói, một con sóng lại cuộn tới, cả hai người vội vàng lặn xuống nước, cứ để mặc cho dòng chảy ngầm cuốn họ, một lát sau, đợi con sóng cuộn qua, lại ló đầu lên đổi khí. Lúc này đang ở giữa biển, xung quanh mênh mông toàn là nước, không thấy bờ, họ cũng chẳng biết Xà đảo ở vị trí nào.

Trôi nổi nửa ngày, sóng gió cũng dần lặng, hai người lặn xuống nước để mặc cho dòng nước cuốn trôi. Lúc này họ mới phát hiện dưới biển là một thế giới kỳ diệu. Nhìn qua là nước xanh ngắt, chỉ thấy dưới biển có vô số san hô, có loại hình hoa cúc, hình hoa mẫu đơn, hình sừng nai, lại có loại thậm chí tựa như tùng như bách, cành lá xum xuê, đỏ cam vàng lục màu gì cũng có, thiên hình vạn trạng, tạo thành một thế giới kỳ ảo dưới nước.

Phùng Anh thấy thế quên hết tất cả nỗi hiểm nguy, nói: “Thúc thúc, để Anh nhi lặn xuống hái san hô”. Đường Hiểu Lan nhìn nàng ta nhóp nhép miệng chứ không nghe gì cả. Thấy nàng lặn xuống cũng đành lặn theo. San hô dưới biển nhìn thì như có thể chạm tay vào nhưng thực sự rất sâu, lặn một hồi, ánh mặt trời chẳng rọi tới nơi, chỉ thấy một màu đen tăm tối, bởi vậy chẳng thấy được san hô đâu nữa.

Phùng Anh thầm nhủ: “Té ra lặn xuống càng sâu lại càng chẳng thấy gì”. Đang định nổi lên chợt thấy dưới đáy biển có ánh sáng lấp lánh, té ra các loài thủy tộc ở vùng nước sâu có thể phát ra ánh sáng tựa như ánh sáng của đom đóm. Chẳng hạn như cá tì bà có thể phát ánh sáng để dẫn dụ đồng loại, hay đuôi của cá đại thực có thể phát ra ánh sáng để dụ một loài cá khác làm thức ăn cho chúng, còn có một loài cá ròng thân dài không quá năm tấc, trên mình có hai trăm đốt xương có thể phát ánh sáng tựa như một cây đèn. Phùng Anh chưa từng thấy loại cá này nên cứ nhìn ngơ ngẩn. Đột nhiên chân nàng tựa như có một vật cuộn vào, Phùng Anh đau đớn vùng vẫy, Đường Hiểu Lan đã phát hiện, té ra nàng đã bị con bạch tuột cuộn vào nên vội vàng rút kiếm chém đứt vòi, kéo nàng lên trên. Thế là nàng chẳng dám lặn xuống biển nữa.

Trôi nổi hơn nửa ngày, hai người đã đuối sức, chẳng còn có thể nín thở được lâu nữa. Đường Hiểu Lan thầm kêu không xong, nếu biết như thế này thì dù không chết trong bụng cá cũng sẽ chết đói và chết khác. Đang lo lắng, chợt thấy ở gần đó có một cột nước bắn lên không trung, một vật to như quả đồi nhỏ lộ lên khỏi mặt nước. Phùng Anh biết đó là cá kình, nàng vội nảy ra một ý, nói: “Chúng ta hãy cỡi lên lưng của nó”. Đường Hiểu Lan cảm thấy đây cũng là cách tìm sự sống trong cái chết nên cố gắng lặn về phía con cá kình, trèo lên lưng nó, con cá kình lớn như một quả đồi, có hai người trèo lên mà nó chẳng hề biết.

Con cá kình bơi một hồi, Đường Hiểu Lan phát hiện có một hòn đảo nhỏ nên vội vàng kêu Phùng Anh, khi con cá kình bơi qua, chàng nhảy xuống bơi lên đảo. Hai người lần mò lên đảo, hòn đảo này cây cối xanh um, rất nhiều chim thú, đáng mừng hơn là chẳng có con rắn nào. Té ra hòn đảo nhỏ này là do san hô và các loại phân chim kết thành.

Phùng Anh lên đến đảo mới thở phào, nàng đi quanh đảo xem xét, ở phía Tây của hòn đảo có một lạch nước lõm xuống, Phùng Anh vốc nước lên nếm thử, thấy mát dịu vô cùng, mừng rỡ nói: “Ở đây có nước ngọt. Thúc thúc, Anh nhi sẽ tắm rửa ở đây”. Đường Hiểu Lan xoay người bước ra nhìn biển, một lúc lâu sau, Phùng Anh đã tắm rửa và phơi quần áo xong. Đêm hôm ấy, cả hai người bắt được mấy con chim, nổi lửa ăn cho đỡ đói.

Ngày nào hai người cũng mong có thuyền đi ngang đảo, dần dần thu qua đông tới, khí hậu lạnh lẽo, Phùng Anh lấy vỏ cây dại kết thành áo chống lạnh. Thấy ban ngày càng ngắn hơn, ban đêm càng dài ra, hai người đều rất lo lắng, lại không biết Xà đảo ở đâu nên cũng không dám mạo hiểm tìm kiếm.

Hai người ở bên nhau tu luyện nội công kiếm pháp bởi vậy ngày tháng trôi qua cũng dễ chịu, trong chớp mắt, hoa trên đảo lại nở rộ, tựa như mùa xuân đã đến. Phùng Anh thấy Đường Hiểu Lan ngày nào cũng lo lắng, trong lòng thầm nhủ: “Một năm sắp trôi qua, tháng năm là tới kỳ hạn độc tưởu phát tác. Bây giờ có lẽ đã là mùa xuân”. Nàng càng nghĩ càng lo, ngày nọ, Phùng Anh nói với Đường Hiểu Lan: “Chúng ta mạo hiểm đóng thuyền ra biển”. Đường Hiểu Lan lắc đầu: “Chúng ta không biết đóng thuyền, lại không tinh thông thủy tính, làm sao có thể đi giữa biển khơi?” Phùng Anh im lặng không nói, chợt hỏi: “Đường thúc thúc, nội công của người tiến bộ rất mau, gần đây khi hít thở, ở ngực cảm thấy thế nào?” Đường Hiểu Lan nghe thế biết nàng muốn nói gì, gượng cười rằng: “Sống chết có số, Anh nhi cần gì phải lo cho thúc thúc?” Phùng Anh nói: “Chả lẽ chúng ta bó tay chịu chết trên đảo này sao? Chi bằng hãy mạo hiểm một lần thử xem!” Đường Hiểu Lan kiên quyết nói: “Dù thúc thúc chết ở đảo này cũng không khiến Anh nhi phải mạo hiểm. Đợi một hai năm nữa, chắc chắn sẽ có thuyền đi ngang, trên đảo lại không thiếu thức ăn, Anh nhi lo gì?”

Phùng Anh giật mình, đỏ mắt nói: “Không phải Anh nhi lo sợ cho bản thân mà là lo cho thúc thúc... Ôi chao, Đường thúc thúc, sao lúc nào thúc thúc cũng nghĩ cho Anh nhi? Chính Anh nhi đã khiến thúc thúc phải uống rượu độc, giờ đây lại khiến thúc thúc mất mạng trên hoang đảo”. Nàng vừa nói vừa khóc òa lên, hai tay ôm cổ Đường Hiểu Lan. Đường Hiểu Lan im lặng một lúc rất lâu mới kéo hai tay nàng ra, nói: “Nha đầu ngốc, dù thúc thúc sắp chết, chúng ta cũng phải sống vui vẻ”.

Phùng Anh ngừng khóc, chợt kêu lên: “Đúng thế, thúc thúc, chúng ta phải sống vui vẻ! Thúc thúc, hãy cho Anh nhi biết, người có việc gì không như ý?” Đường Hiểu Lan nghĩ lại thân thế thê lương và hôn sự không như ý của mình, trong lòng rầu rĩ, nhưng vẫn gượng cười đáp: “Chẳng có gì cả!”

Phùng Anh nói: “Nhìn mắt của thúc thúc, Anh nhi biết thúc thúc đang gạt Anh nhi!” một hồi sau, nàng chợt nói: “Thúc thúc, người rất tốt bụng, lúc nào cũng nghĩ cho người ta, tại sao thẩm thẩm lại hay giận người?” Đường Hiểu Lan nói: “Làm sao thúc thúc biết? Đừng nhắc đến nàng nữa! Nhắc đến nàng là ta thấy phiền não!” Phùng Anh cúi đầu không nói, một lúc sau chợt vỗ tay cười: “Thúc thúc, lúc nhỏ người đã từng dạy Anh nhi không được nói dối, có đúng không?” Đường Hiểu Lan nói: “Thì thế nào?” Phùng Anh nói: “Vậy thúc thúc cũng không được nói dối. Lúc nãy thúc thúc bảo không có chuyện gì không như ý, giờ lại bảo nhắc đến thẩm thẩm là phiền não. Chả lẽ đó chẳng phải là chuyện không như ý của thúc thúc sao?”

Đường Hiểu Lan sao xuyến cõi lòng, trong lòng hiện lên hình bóng của Lữ Tứ Nương, thầm nhủ: “Chính Lữ Tứ Nương đã dạy mình phải nghĩ cho người khác. Mình giờ đây chỉ coi nàng là bề trên, tình yêu trước kia cũng đã trôi qua”. Khoảnh khắc, hình bóng Dương Liễu Thanh vừa hiện lên đã lướt qua. Chàng mở mắt ra nhìn thì lại thấy nàng tiểu điệt nữ đang mỉm cười nhìn mình, lời lẽ của nàng đa lay động tiếng tơ lòng, chàng chợt thấy mặt nóng ran, không dám nghĩ tiếp.

Phùng Anh lại vỗ tay cười nói: “Xem kìa, thúc thúc đỏ mặt!” rồi hỏi dấn tới: “Tại sao lúc đầu thúc thúc lại đính thân với thẩm thẩm?” Đường Hiểu Lan cúi đầu: “Bởi vì cha của nàng tốt với thúc thúc”. Phùng Anh nói: “Vậy là thúc thúc đã bất đắc dĩ mới làm thế. Giả sử thúc thúc không chết, thúc thúc sẽ ở hoang đảo này suốt đời, nàng lại không thể theo thúc thúc, trong lòng thúc thúc có coi nàng là thê tử không?” Đường Hiểu Lan nhói lòng, xua tay nói: “Đừng nhắc đến chuyện này nữa. Anh nhi mà nhắc đến nữa, thúc thúc không vui!”

Phùng Anh cười nói: “Được, không nhắc. Thúc thúc, Anh nhi sẽ tìm cách khiến thúc thúc vui!” nay Phùng Anh đã là một thiếu nữ mười bảy mười tám tuổi, cũng chính là lúc tình yêu nảy nở, mấy tháng qua, nàng sớm tôi bên cạnh Đường Hiểu Lan, trong lòng vừa cảm kích ơn cứu mạng của chàng, bất giác đã yêu chàng. Bản thân nàng chưa bao giờ nghĩ sẽ làm thê tử của chàng, nàng chỉ nghĩ nếu Đường thúc thúc mà cưới Dương thẩm thẩm thì chẳng đáng tí nào. Nàng lớn lên ở Thiên Sơn, tính tình vô tư, trong lòng không có ý nghĩ của thế tục, chẳng hề để ý đến danh phận thúc điệt giữa hai người.

Bắt đầu từ hôm nay trở đi, một thứ tình cảm kỳ diệu đã len lỏi trong lòng hai người. Đường Hiểu Lan cứ cảm thấy nàng như một người bằng vai phải lứa với mình, tình thúc điệt dần dần biến mất. Họ cùng đi hái hoa dại, cùng chèo cây bắt chim, cùng câu cá ngoài biển, sáng sớm ngắm mặt trời lên, ban đêm ngắm sao, ngày tháng quả nhiên rất vui vẻ.

Họ cũng ngày ngày chờ thuyền đi ngang qua. Có lúc Đường Hiểu Lan có ý nghĩ rất kỳ lạ, nếu mình có thể trở về đất liền mà không chết thì thế nào? Nghĩ đến đây, chàng chợt cảm thấy những ngày tháng bên cạnh Phùng Anh thật có ý nghĩ biết bao!

Một ngày, họ lại ra bờ biển trông ngóng, hôm nay, sắc trời u ám, họ thầm nhủ chắc chắn chẳng có thuyền đi qua. Nào ngờ một hồi sau chợt thấy trên không trung có hơn mười con quái điểu bay tới, Phùng Anh nói: “Nếu tiết trời không trong sáng, chim ưng đã không ra tìm thức ăn”. Một hồi sau, trên mặt biển lộ một cây cột buồm, Phùng Anh mừng rỡ nói: “Trông ngày ngóng đêm, cuối cùng đã có thuyền!”

Đường Hiểu Lan nói: “Anh nhi đừng mừng, Anh nhi có thấy những con chim ấy bay trước thuyền hay không?” Phùng Anh nhìn lại, cũng ngạc nhiên nói: “Đây là chim Miêu ưng!” Đường Hiểu Lan nói: “Đúng thế, chim Miêu ưng bay từ đâu tới?” “Có lẽ đảo Miêu ưng và Xà đảo cách chúng ta không xa”. “Miêu ưng bay ra là phải cả đàn. Lần này chỉ có vài con có lẽ chỉ dẫn đường, có lẽ chúng ta không sợ Miêu ưng mà chỉ sợ người trên thuyền”. Phùng Anh nói: “Phải làm thế nào đây?” “Anh nhi hãy nghĩ thử xem, người nuôi Miêu ưng là ai? Ngoại trừ Tát thị song ma thì chính là Độc Long Tôn Giả. Xà đảo cách đảo Miêu ưng rất gần, y có thể nuôi rắn, chắc cũng có thể nuôi Miêu ưng! Giờ đây Song ma đang đi theo Niên Canh Nghiêu, ta thấy người trên thuyền có lẽ là Độc Long Tôn Giả. Nếu y đến đây, chúng ta còn mạng hay sao?” Phùng Anh nhớ lại ngày đó Độc Long Tôn Giả đã chứng kiến cảnh Miêu ưng mổ chết rắn độc của y, thầm nhủ: “Nếu đã thế, lẽ ra người trên thuyền không phải là y!” tuy nàng nghĩ vậy nhưng trong lòng vẫn lo lắng không yên, thấy chiếc thuyền càng đến gần, nhớ lại bộ dạng hung hăng của Độc Long Tôn Giả mà không khỏi lo lắng.

Chính là:

Trên hoang đảo hạnh phúc quên ngày tháng, chỉ lo ma đầu lại tới đây.

Muốn biết đó là ai, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 35: Cái chết giải oán thù ma đầu tặng thuốc Một lời mở nút thắt dốc lòng tâm sự

Con thuyền nhỏ lướt đi như tên bắn, càng lúc càng gần. Chỉ thấy trên thuyền có hai lão già gầy ốm sắc mặt vàng vọt, người mặc bộ đồ màu vàng, đó chính là Tát thị song ma. Phùng Anh kêu lên: “Lại là hai tên lão tặc, Đường thúc thúc, móng tay của bọn chúng có độc, lát nữa thúc thúc phải cẩn thận”. Lúc này con thuyền nhỏ đã cập bờ, Song ma nhảy xuống. Tát Thiên Thích kêu: “Lâm nha đầu, ngươi đừng lo, ta đến cứu ngươi”. Phùng Anh nói: “Ngươi là ai, ai cần ngươi cứu?” Tát Thiên Thích thấy Đường Hiểu Lan đứng bên cạnh, kêu: “Ồ, ngươi cũng có đây, hãy theo ta về đảo Miêu ưng làm đồ đệ của ta đi thôi!”

Đường Hiểu Lan chợt kêu: “Đây là kẻ thù của Anh nhi, trời đất thương xót, nên trước khi ta chết khiến các ngươi đến đảo này”. Đường Hiểu Lan nghĩ mình không còn sống quá một trăm ngày nữa cho nên muốn trước khi chết, cho Phùng Anh biết thân thế của nàng, nay thấy kẻ thù, không kịp nói nhiều đã lập tức rút kiếm xông tới.

Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô kêu: “Hay thật, ca ca, đệ đã bảo không nên tìm ả nha đầu này thế mà huynh không nghe, huynh thấy chưa, bọn chúng coi chúng ta là kẻ xấu!” Tát Thiên Thích nói: “Hiểu Lan, còn nhắc đến chuyện mười năm trước làm gì? Hơn nữa huynh đệ bọn ta đâu có giết cả nhà của ả!”

Phùng Anh vừa nghe như sấm nổ giữa trời xanh, kêu lên: “Đường thúc thúc, người nhà của Anh nhi có phải đã chết thảm không?” Đường Hiểu Lan nói: “Đúng thế, cha và tổ phụ của Anh nhi đều bị Huyết Trích Tử giết, còn mẹ của Anh nhi bị bọn chúng bắt đi. Còn Anh nhi cũng bị bọn chúng nhốt trong ổ giặc mấy năm!”

Phùng Anh phóng vọt tới lia thanh bảo kiếm đâm về phía Tát Thiên Thích, mũi kiếm máy động, ánh hàn quang vẫy ra tựa như cơn mưa hoa! Tát Thiên Thích vọt ngang người, kêu lên: “Lâm nha đầu, dẫu sao ta cũng có ơn nuôi dưỡng đối với ngươi. Mẹ ngươi tuy bị ta bắt đi nhưng sau đó đã bị Vương Lăng bức tử, chẳng liên quan gì đến ta!” thật ra Quảng Luyện Hà đã đánh cho Vương Lăng một trận rồi bỏ đi, còn Vương Lăng vì sĩ diện của mình nên phao lên rằng đã giết Quảng Luyện Hà. Song ma không biết sự thực, chỉ tưởng đó là thực.

Lúc này Phùng Anh đã đau đớn cõi lòng, không thèm hỏi Vương Lăng là ai, đã lia kiếm đâm về phía Tát Thiên Thích!

Tát Thiên Thích vội thi triển thuật Miêu Ưng Phốc Kích, đột nhiên nhảy vọt lên hơn ba trượng, Phùng Anh lao bổ tới nhưng y lại né qua, Phùng Anh đâm tới, chỉ nghe Tát Thiên Thích kêu: “Lâm nha đầu, ngươi chẳng phải đã từng bảo sẽ làm con gái của ta sao?” Tát Thiên Thích vẫn coi Phùng Anh là Phùng Lâm, Phùng Anh nổi giận quát: “Ai làm con gái của ngươi? Ta là môn hạ của phái Thiên Sơn, làm sao nhận giặc làm cha?” Tát Thiên Thích chưng hửng, kêu lên: “Cái gì, ngươi là môn hạ của phái Thiên Sơn?” Truy Phong kiếm pháp của Phùng Anh rất lợi hại, nàng đâm soạt soạt hai kiếm, Tát Thiên Thích cả kinh, thầm nhủ: “Kiếm pháp của ả nha đầu này càng lúc càng lợi hại!” y đã lách người tránh kiếm. Tát Thiên Đô chợt quát lớn một tiếng, nhổ một cây măng đá làm binh khí phóng vọt người xuống quét ra ngang eo, Phùng Anh gạt đoản kiếm lại, bị cây măng đá đánh lệch hướng, tuy hổ khẩu tóe máu nhưng cây bảo kiếm vẫn chẳng hề hấn gì. Tát Thiên Đô kêu lớn: “Ca ca, huynh không giết ả thì ả giết huynh. Việc đã đến nước này, huynh còn nương tay sao?”

Phùng Anh chạm với Tát Thiên Đô một chiêu, biết y lực mạnh vô cùng, không dám tiếp liều. Nàng chợt lia kiếm vào chỗ trống, Tát Thiên Đô trở tay quét lại, chỉ thấy kiếm quang loáng lên, Phùng Anh đã biến chiêu đổi vị, mũi kiếm đã máy động ở bên trái, Tát Thiên Thích rút chưởng về đẩy ra, Phùng Anh lại đến bên phải, một luồng thanh quang đâm vào sườn phải của y. Tát Thiên Đô bị nàng đánh một lúc ba chiêu hiểm hóc, luống cuống chân tay. Tát Thiên Thích thở dài một tiếng, vung tay tấn công về phía Phùng Anh, hóa giải thế nguy cho Tát Thiên Đô.

Tại sao Song ma lại đến đảo hoang này? Té ra từ sau khi Liễu Ân chết, Ung Chính nôn nóng tìm người giỏi thay cho Liễu Ân. Y ra lệnh cho Niên Canh Nghiêu cầm quân ra Hoàng Hải, chợt nhớ lại trước đây Song ma đã từng nói, ở giao giới của Hoàng Hải và Bột Hải có Xà đảo, trên Xà đảo có một kỳ nhân tên gọi Độc Long Tôn Giả. Ung Chính thầm nhủ: “Võ công của Song ma chẳng phải hạng thường, người mà bọn chúng khen ngợi dù không đúng sự thực cũng chẳng kém gì Liễu Ân. Mười năm trước, khi còn là Tứ bối lạc đã từng nhớ Song ma đem lễ vật đến Xà đảo, lúc đó Độc Long Tôn Giả chưa chịu xuất sơn, lần này y lên ngôi báu, trở thành Hoàng đế, nghĩ bụng mình đã là Hoàng đế ai dám chống lại, bởi vậy mới sai Song ma ra đảo.

Nào ngờ Song ma bị lạnh nhạt đã lâu, lại không muốn cam chịu khom gối trước người khác nên đã có lòng khác. Bọn họ biết rõ Độc Long Tôn Giả không chịu chấp nhận nhưng cũng quyết định ra đi là vì muốn rời xa Ung Chính, trở về đảo Miêu ưng xưng bá. Bọn chúng đến Xà đảo trước, lúc đó Độc Long Tôn Giả đang tỉ võ với bọn Cam Phụng Trì, Độc Long Tôn Giả không chịu ra khỏi đảo. Song ma nói với Độc Long Tôn Giả, kẻ đối đầu với y là Cam Phụng Trì trong Giang Nam thất hiệp. Độc Long Tôn Giả cười nói: “Ta mặc kệ y là thất hiệp hay bát hiệp, ta một mình sống ở hoang đảo mười mấy năm nay, hiếm có dịp người biết võ công đến đây, ta sẽ dày vò chúng rồi sau đó xua rắn cắn bọn chúng!” Độc Long Tôn Giả lại nhắc đến việc ném một thiếu nữ xinh đẹp như hoa xuống biển. Y nói: “Đáng tiếc các người không gặp ả, ả nha đầu này thật đáng yêu, ta vốn không muốn giết ả, đáng tiếc ả không biết tiến thoái”. Tát Thiên Thích hỏi kỹ dung mạo của nàng thiếu nữ, nghĩ bụng chắc là Phùng Anh. Tát Thiên Thích tuy là ma đầu giết người không chớp mắt nhưng lại cảm thấy có duyên với Phùng Lâm, hơn nữa y đã già, trái con không cái, bởi vậy càng nhớ đến Phùng Lâm hơn, nghe thế thất kinh, thế rồi từ biệt Độc Long Tôn Giả cùng Tát Thiên Đô về đảo Miêu ưng, sau đó mới dong thuyền ra biển đến các hòn đảo nhỏ gần đấy tìm kiếm, hy vọng Phùng Lâm vẫn chưa chết. Nào ngờ gặp Phùng Anh lại xảy ra một trận kịch đấu.

Tát Thiên Thích thấy Phùng Anh múa kiếm dữ dội, trong lòng đau đớn, thầm nhủ: “Ả đã biết mình là kẻ thù, mối gút này chẳng thể nào giải được nữa”. Phùng Anh đánh hết kiếm này đến kiếm khác, Tát Thiên Thích thầm nhủ: “Mối thù này đã không thể giải, mình không giết ả ả cũng giết mình”. Thế là thi triển những đòn sát thủ tấn công về phía Phùng Anh. Kiếm pháp của Phùng Anh tuy thần diệu nhưng chẳng thể nào địch nổi Song ma.

Đường Hiểu Lan nghe Song ma nói thì ngạc nhiên một lúc, lúc này thấy tình thế của Phùng Anh không xong nên rút kiếm tương trợ. Lúc này Đường Hiểu Lan đã học được chân truyền của Thiên Sơn kiếm pháp, võ công đã cao hơn lúc trước, thế là song kiếm phối hợp, chỉ thấy hai luồng kiếm quang bay lượn trong không trung, lúc phân lúc hợp, lúc tiến lúc thoái công tựa như sấm sét, thủ tựa như núi non, ác đấu được hơn một trăm chiêu, Tát Thiên Đô gầm lớn một tiếng phóng vọt lên mấy trượng, máu tươi ướt đẫm áo. Té ra y đã bị Phùng Anh đâm trúng một kiếm trên vai.

Phùng Anh chưa bao giờ nghe tiếng gầm quái dị như thế, bất giác lạnh mình. Chợt trên đỉnh đầu nghe tiếng kêu quái dị, mười mấy con Miêu ưng bổ nhào xuống, Phùng Anh không khỏi lạnh mình. May mà Du Long kiếm và Đoạn Ngọc kiếm là hai thanh bảo kiếm, hai kiếm triển khai ánh hàn quang bắn ra bốn phía, tạo thành một màn kiếm quang trên đầu. Bầy Miêu ưng sợ kiếm quang nên không dám tiến tới gần, chỉ chao lượn trên đỉnh đầu, chờ lúc thấy sơ hở thì nhảy bổ xuống, nhưng hai người Đường, Phùng múa kiếm nhanh đến gió mưa không lọt, bầy Miêu ưng tuy lợi hại nhưng chẳng làm gì được họ.

May mà Song ma rời đảo Miêu ưng hơn mươi năm, bầy Miêu ưng do bọn họ huấn luyện chỉ còn lại hơn mười con.

Giằng co một hồi, Phùng Anh hơi yên lòng, Tát Thiên Đô thấy bầy Miêu ưng chẳng thể đánh xuống được, trong lòng nôn nóng, lại phát ra tiếng kêu chít chít, tựa như chỉ huy bầy Miêu ưng lao bổ tới. Quả nhiên chim Miêu ưng càng lúc càng thấp, móng vuốt của chúng hầu như đã chạm vào kiếm quang, Phùng Anh chợt nhảy vọt lên, kiếm quang lướt lên tựa như rồng bay, chém đứt vuốt của hai con Miêu ưng bay thấp nhất, bầy Miêu ưng tuy sợ nhưng thấy chủ nhân ra lệnh cũng lao bổ xuống trợ chiến.

Phùng Anh và Đường Hiểu Lan thầm kêu khổ, ác đấu với hơn mười con Miêu ưng đã đủ vất vả, huống chi lại có thêm hai con ma đầu. Hai người vội thi triển Đại Tu Di kiếm thức che kín môn hộ. Hai người chỉ thủ chứ không công, cầm cự được hơn nửa canh giờ. May mà bầy Miêu ưng sợ ngộ thương chủ nhân cho nên khi bổ xuống, không dám dốc hết toàn lực, hai người tuy lọt xuống thế hạ phong nhưng vẫn chưa đến nỗi thất bại.

Đôi bên khổ đấu được hơn ba trăm chiêu, Tát Thiên Đô cứ nhảy chồm chồm tới, nhưng hai người Phùng, Đường thủ rất kín kẽ, hai tên ma đầu và bầy Miêu ưng tuy tấn công như vũ bão nhưng cũng không xông qua khỏi màn kiếm quang của họ được. Tát Thiên Đô vì mất sức quá nhiều, vai đã trúng một kiếm, di chuyển không lanh lẹ, Đường Hiểu Lan tìm sơ hở, đợi y lướt sát tới đột nhiên bước dấn trước trước nửa bước, trở tay đâm ra một kiếm, chỉ nghe Tát Thiên Đô kêu lớn, xương vai trái đã bị Du Long kiếm đâm thủng, bị thương càng nặng hơn lúc trước. Tát Thiên Thích vội vàng đỡ y, kéo bầy Miêu ưng rút lui, nấp ở phía Đông của hoang đảo dưỡng thương. Bầy Miêu ưng bay lượn bên cạnh bảo vệ cho hai tên ma đầu.

Đường Hiểu Lan thở phào, chợt thấy Phùng Anh rơi nước mắt, tra kiếm vào vỏ, nói với vẻ thê lương: “Thúc thúc, đừng giấu Anh nhi nữa”. Đường Hiểu Lan nói: “Anh muội, muội đừng trách huynh, huynh có nỗi khổ”. Mấy tháng nay, hai người sớm tối bên nhau, nhất là sau khi Phùng Anh thể hiện tình yêu, Đường Hiểu Lan bất giác đã không còn bị bó buộc bởi tình thuốc điệt nữa, gọi nàng là “Anh muội”. Nhưng Phùng Anh đã quen, nhất thời vẫn chưa thay đổi được, vẫn gọi là “thúc thúc”. Kiểu xưng hô ấy thật đáng buồn cười, nhưng trên hoang đảo chẳng có người thứ ba, cả hai người thích gọi gì thì cứ gọi thế ấy.

Lúc này trời đã về chiều. Đường Hiểu Lan nói: “Chúng ta tìm thứ gì ăn lót dạ”.

Hai người nướng cá ăn no nê, màn đêm đã buông xuống. Gió biển thổi tới có hơi lạnh. Đường Hiểu Lan nói: “Thời tiết lại thay đổi. Có lẽ trên biển lại có phong ba bão tố”. Hai người ở trên đảo mấy tháng, đã dần đần quen với thời tiết trên biển. Phùng Anh nghe tiếng gió thổi, nói: “Chắc đêm nay không có gió xoáy, chúng ta không cần nấp vào động”. Đường Hiểu Lan chợt nói: “Sắc trời thay đổi cũng như chuyện người vô thường. Không ngờ mấy tháng trước chúng ta còn ở trên đất liền, giờ đây lại bị cầm chân ở hoang đảo. Càng không ngờ chúng ta có thể ngồi bên nhau nghe tiếng biển gọi”. Vẻ mặt của chàng rất kỳ lạ, không biết là vui mừng hay đau khổ.

Phùng Anh tựa như hiểu mà không hiểu, chậm chậm nhích đến bên cạnh Đường Hiểu Lan, nắm tay chàng nói: “Thúc thúc, người hãy nói đi, người đã biết Anh nhi từ lúc còn nhỏ phải không?” Đường Hiểu Lan trả lời: “Lúc còn bé, hầu như ngày nào huynh cũng bế muội. Cha mẹ của muội là sư huynh và sư tẩu của huynh. Cha và tổ phụ của muội đều đã chết thảm, mẹ của muội thì sống chết không biết. Nha đầu ngốc, đừng khóc, muội hãy báo thù”. Lúc này Đường Hiểu Lan cũng rơi nước mắt.

Phùng Anh nghẹn ngào nói: “Thúc thúc, người hãy nói đi. Sư phụ đã từng dạy, thà đổ máu chứ không rơi nước mắt. Anh nhi không khóc nữa, thúc thúc, người hãy nói đi”. Trong bóng tối, đôi mắt Phùng Anh long lanh lệ, nàng vẫn nhìn chằm chằm Đường Hiểu Lan.

Đường Hiểu Lan thầm khen: “Đúng là một cô nương cứng cỏi!” rồi chàng nắm tay nàng thật chặt, chậm rãi nói: “Mười bảy năm trước, trong một đêm tối trời, còn ba ngày nữa là đến Trung Thu. Hôm đó là ngày tròn một tuổi của tỷ muội Anh nhi”. Pùng Anh kêu lên: “Ồ, thì ra Anh nhi còn có một tỷ muội, có phải là người rất giống Anh nhi hay không?” “Đúng thế. Đó là ngày tròn một tuổi của tỷ muội Anh nhi. Mọi người đều rất vui vẻ, chợt xuất hiện một người khách kỳ lạ...”

Gió đang rít, biển đang gọi, Phùng Anh chăm chú lắng nghe Đường Hiểu Lan kể chuyện. Đường Hiểu Lan nói rất chậm, có lúc nói rất nhanh. Nói đến bi kịch của gia đình họ, cũng kể về thân thế của mình. Khi nói đến chỗ đau lòng, có lúc chàng ngừng lại, chầm chậm lau nước mắt rồi lại nói tiếp.

Phùng Anh thở dài, dựa vào Đường Hiểu Lan nói: “Chả trách nào Anh nhi cứ cảm thấy thúc thúc là người thân của mình, té ra chúng ta lại thân thiết với nhau như thế”. Đường Hiểu Lan khẽ lau nước mắt cho nàng, Phùng Anh nghẹn ngào nói: “Anh nhi phải tìm mẹ và muội muội”. “Đúng thế, muội phải tìm họ. Hòn đảo này tuy nhỏ nhưng sẽ có thuyền đi ngang qua. Nhất định muội phải trở về đất liền tìm họ. Anh muội, muội một mình đi lại trên giang hồ phải cẩn thận”. Phùng Anh nói: “Thúc thúc, chẳng phải người sẽ cùng về với Anh nhi sao?” Đường Hiểu Lan cười khổ: “Làm sao huynh có thể về?” Phùng Anh chợt nhớ không bao lâu nữa Đường Hiểu Lan sẽ bị chất độc phát tác, nàng đột nhiên khóc òa lên, nằm phục trong lòng chàng.

Đường Hiểu Lan chỉ cảm thấy ái ngại, sắc mặt đỏ ửng, tim đập thình thình, một hồi sau chỉ nghe Phùng Anh thút thít nói: “Thúc thúc, mười mấy năm qua thúc thúc đã nhọc lòng vì tỷ muội Anh nhi, thậm chí còn liều mạng cứu Anh nhi, ơn tình này Anh nhi làm sao đáp đền?” Đường Hiểu Lan khẽ đẩy người nàng ra, nói: “Nha đầu ngốc, giữa chúng ta còn có hai chữ đáp đền nữa sao?” Phùng Anh ngẩng đầu lên, nhìn Đường Hiểu Lan rồi chợt nói: “Thúc thúc, thúc thúc có thích Anh nhi không?” Đường Hiểu Lan giật mình, chẳng nói ra nửa lời. Họ trong lòng đã yêu nhưng nhưng bề ngoài vẫn còn e ngại, đó là vì trong lòng chàng vẫn còn nghĩ Phùng Anh là điệt nữ của mình, vả lại trước khi chết chàng cũng không muốn làm nàng đau khổ.
Phùng Anh ngửa mặt nói: “Thúc thúc, người không thích Anh nhi sao?” Đường Hiểu Lan khẽ nói: “Chả lẽ bản thân Anh nhi không biết?” Phùng Anh nói: “Thúc thúc, Anh nhi mãi mãi ở bên cạnh thúc”. “Ai bảo đó là những lời trẻ con? Dù sông cạn đá mòn vẫn không thay đổi, sinh ly tử biệt làm sao có thể chia cách đôi ta?” Đường Hiểu Lan rúng động cõi lòng, bất giác đã ôm chặt nàng.

Hai người như ngây như ngất, không biết đã ôm nhau đến bao lâu, chợt nghe trên đỉnh đầu có tiếng kêu quạc quạc, Phùng Anh nói: “Thật đáng ghét, bầy Miêu ưng lại đến”. Đường Hiểu Lan ngẩng đầu nhìn lên, kêu: “Không xong, lửa, lửa!”

Phùng Anh đang cúi đầu nhắm mắt, say sưa trong tình yêu đầu đời, chợt bị đẩy ra, nàng mở mắt ra nhìn chỉ thấy cây cối xung quanh bốc lửa. Đường Hiểu Lan kêu: “Chắc chắn đó là do Song ma. Hãy mau chặn bọn chúng cướp thuyền!” hai người xông về góc rừng phía Đông, trong rừng vọng ra tiếng cười ha hả của Tát Thiên Đô.

Té ra Tát Thiên Đô thấy gió nổi lên, nảy ra một kế, định rằng sau khi phóng hỏa sẽ dong buồm bỏ chạy để Phùng Anh và Đường Hiểu Lan chết trong biển lửa. Tát Thiên Thích vốn không nỡ lòng, nhưng thấy không thể giải được mối thù này cũng đàng mặc y. Cả hai huynh đệ đang châm lửa, Phùng Anh và Đường Hiểu Lan đã cầm kiếm xông tới.

Tát Thiên Thích kêu: “Lâm nha đầu, hãy đi theo bọn ta!” Phùng Anh đâm kiếm tới, Tát Thiên Thích lách người né tránh, Phùng Anh vung kiếm liên miên không ngớt. Tát Thiên Đô kêu: “Ca ca, chạy mau!” nhưng khinh công của Phùng Anh còn hơn cả Tát Thiên Thích, trong nhất thời Tát Thiên Thích làm sao có thể thoát thân.

Tát Thiên Đô lo lắng chợt quát lớn một tiếng, bẻ một cành cây đang bốc cháy ném về phía Phùng Anh, Đường Hiểu Lan phóng người vọt lên, cây trường kiếm bạt ra, vẫy ra một đóa kiếm hoa từ trên không đâm xuống, Tát Thiên Thích giơ chưởng trái đẩy ra, kình phong quét tới, chưởng phải rút lại, toan vặn tay của Đường Hiểu Lan. Đường Hiểu Lan lách người xoay bước, kiếm quang dồn ra như sông dài biển rộng. Tát Thiên Thích sợ thanh bảo kiếm Du Long nên không dám tiếp liều, thân thủ lại không lanh lẹ như chàng, dù công phu ngoại gia đã đến lúc đăng phong tạo cực cũng không khỏi thối lui từng bước.

Hòn đảo nhỏ này chỉ có mấy dặm, gió lớn ngoài biển thổi tới, chỉ trong chớp mắt thế lửa đã bùng lên, cây cối bị đốt cháy kêu lốp bốp, khói mù xông vào mũi, mắt bị khói hun đau nhức, hầu như chẳng mở ra nổi. Đường Hiểu Lan và Phùng Anh cùng chạy về phía bờ biển.

Tát Thiên Đô quát lớn một tiếng, huýt một tiếng sáo, bầy Miêu ưng lại từ trên bổ xuống, Đường Hiểu Lan và Phùng Anh nếu né tránh Miêu ưng thì không kịp chạy. Hai người họ tuy biết bơi nhưng không giỏi, nếu không kịp chạy ra thuyền chắc chắn sẽ bị thiêu chết.

Tát Thiên Đô lại cười ha hả, một mặt chỉ huy bầy Miêu ưng vây đánh kẻ địch, một mặt chạy ra. Phùng Anh tức tối quát một tiếng, cả người lẫn kiếm phóng vọt lên. Bầy Miêu ưng sợ lửa, không dám bổ nhào xuống. Trong chớp mắt Phùng Anh đã lướt tới sau lưng Tát Thiên Đô, ánh kiếm quang lóe lên nhanh như điện chớp, Tát Thiên Đô kêu thảm một tiếng, té ra đã trúng một kiếm ở sau lưng!

Tát Thiên Thích quát lớn: “Lâm nha đầu, ngươi thật ác độc!” rồi thi triển tuyệt kỹ Miêu Ưng Phốc Kích từ trên không bổ xuống, Phùng Anh phóng vọt người lên, lia ngang thanh kiếm trên không trung, nào ngờ Tát Thiên Thích đang lơ lửng trên không trung mà vẫn có thể rút hai tay về rồi đâm xuống, Phùng Anh không kịp đề phòng, vai đã bị móng tay y chạm trúng, may mà nàng có khinh công tuyệt đỉnh cho nên chỉ vặn người một cái, đã tránh được vết thương chí mạng. Khi nàng ngã xuống đất, bầy Miêu ưng cũng lao theo.

Tát Thiên Đô đã trúng một kiếm ở sau lưng, nếu là người thường chắc chắn sẽ chết, nhưng y vốn mình đồng da sắt, tuy thế vẫn gào lên vài tiếng rồi nhảy vọt lên tiếp ứng cho Tát Thiên Thích. Đường Hiểu Lan thấy thế không khỏi kinh tâm động phách, lúc này thế lửa càng lớn hơn!

Tát Thiên Thích kêu lên: “Tiểu đệ, theo ta!” rồi y chạy vội ra phía trước. Nhờ có Miêu ưng yểm hộ, y đã xông ra đến mấy chục trượng, lúc này đã thấy bờ biển ở phía trước mặt. Chỉ nghe cuồng phong gào thét, sóng biển gầm gừ, chợt nghe một tiếng ầm thật lớn, con thuyền nhỏ đặt trên bờ biển bị gió bứt đứt dây ném lên bờ va phải tảng đá lớn, tan tành thành từng mảnh!

Đường Hiểu Lan lạnh mình, Phùng Anh kêu lên: “Thúc thúc, chúng ta không thể sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm, nhưng có thể chết cùng ngày cùng tháng cùng năm, chúng ta dù chết nhưng cũng không thể để cho hai tên ma đầu thoát!” rồi nàng không màng đến Miêu ưng, cầm kiếm xoay người tấn công! Đường Hiểu Lan cũng đuổi theo hai tên ma đầu, cả hai người trước sau tấn công kẹp lại. Lúc này thế lửa càng lớn hơn, cây cối trên đảo đã làm mồi cho lửa, bị cuồng phong quét tới, cả thân cây bật lên tựa như một con rồng lửa bay lướt qua đầu, sóng gió thét gào pha lẫn với tiếng nổ lốp bốp tựa như một bản nhạc giao hưởng chết chóc. Bầy chim biển trên hòn đảo vỗ cánh bay lên, chấp chới trong cuồng phong. Bầy Miêu ưng tuy hung dữ nhưng cũng không dám bay xuống, chỉ kêu quạc quạc một hồi rồi tản đi. Trên đảo chỉ còn lại bốn con người đang lao vào nhau!

Hai tên ma đầu cậy tinh thông thủy tính, vẫn còn muốn bỏ chạy, nhưng hai người Phùng, Đường liều chết ngăn cản, Tát Thiên Thích dốc hết tuyệt kỹ bình sinh, lúc thì từ trên không bổ xuống, lúc thì áp sát tới dùng đòn Cầm Nã thủ, ai nấy cũng muốn đánh ngã đối phương, tìm đường sống nên cất tất cả mọi ái hận ân thù ở phía sau.

Hai bên vẫn liều mạng ác đấu. Những cành cây bị lửa táp chốc chốc lại rơi xuống. Tát Thiên Đô liên tục trúng ba nhát kiếm, di chuyển không lanh lẹ, Phùng Anh cũng cảm thấy vai đau nhói, chắc là chất độc đã phát tác, nàng đã có ý liều chết nàng càng tấn công dữ dội hơn. Tát Thiên Đô gào thét điên cuồng, quyền đấm chân đá, đòn nào cũng mang theo kình phong, dồn Phùng Anh về phía có lửa cháy. Phùng Anh cố nén cơn đau, nàng đột nhiên băng qua làn khói vạch thêm một nhát kiếm trên ngực Tát Thiên Đô, Tát Thiên Thích phóng tới, Phùng Anh trở tay đánh lại một kiếm quát: “Trúng!” Tát Thiên Thích bị khói mù che mắt, chợt thấy ánh kiếm quang lóe lên, khi lách người né tránh thì mười móng tay đã hoàn toàn bị chặt đứt. Hai tên ma đầu kêu lên oai oái, chợt sấm sét nổi lên, trên không trung vang lên tiếng kêu đùng đùng!
Sấm nổ giữa trời xanh, sét đánh ngoằn ngoèo, một gốc cây to lớn bị tiện đứt, Tát Thiên Đô bị tiếng sấm chấn động, khi nhảy lên thì thân cây to lớn ấy đã đè lên người, Tát Thiên Đô gầm lớn một tiếng, vung hai tay, ném gốc cây sang một bên, nhưng bộ áo lông trên người của y đã bắt đầu bốc cháy, Tát Thiên Đô đột nhiên phóng vọt lên, lao đầu về phía Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan lách người, chỉ nghe trên bầu trời lại đánh ầm thêm một tiếng, cây rừng nghiêng ngả, ánh lửa nhảy múa lờn vờn, Tát Thiên Đô lao trúng phải một gốc cây, gốc cây đổ xuống, lửa táp vào người y, trong chốc lát y đã làm mồi cho lửa!

Tát Thiên Thích kêu: “Thiên Đô, Thiên Đô!” y không nghe thấy tiếng trả lời, y mở mắt ra thấy cảnh tượng thê thảm diễn ra trước mắt, thế là đau đớn lao về phía Đường Hiểu Lan toan xé nát chàng, Đường Hiểu Lan suýt nữa bị y chụp trúng, chàng thối lui liền từng bước, Phùng Anh vung kiếm đánh tới, Tát Thiên Thích quát lớn: “Trả mạng đệ đệ lại đây!”

Phùng Anh cười lạnh, lia thanh đoản kiếm lên, chỉ trong chớp mắt đã liên tục đánh ra mấy chiêu, mắng rằng: “Vậy mạng của người nhà ta biết đòi ở đâu? Huynh đệ của ngươi đã giết bao nhiêu người, những oan hồn ấy phải đòi nợ ở đâu?”

Tát Thiên Thích thất kinh, mấy câu này của Phùng Anh tựa như sấm động đánh vào lòng y. Y ngập ngừng, tay chân chậm lại, Phùng Anh đã vung kiếm đâm một nhát vào buồng tim của y, Tát Thiên Thích kêu lớn, hai mắt trợn ngược, chẳng thể nào nhúc nhích được nữa, Phùng Anh rùng mình rút kiếm ra, chỉ nghe Tát Thiên Thích nói: “Ta không trách ngươi!” rồi ngã xuống.

Đường Hiểu Lan kêu: “Anh muội nương tay”. Nhưng đã quá muộn. Đường Hiểu Lan nói: “Người này hình như đã có lòng hối hận, đáng tiếc thật!” lúc này sấm chớp ì đùng, mưa như trút nước, Đường Hiểu Lan thở phào, chạy đến bên cạnh Tát Thiên Thích, chỉ nghe Tát Thiên Thích nói: “Bảo Lâm nha đầu đến đây, ta có lời muốn nói”. Đường Hiểu Lan gọi Phùng Anh: “Người khi sắp chết sẽ nói lời tốt. Hãy nghe y nói gì?”

Phùng Anh trông thấy cái chết thê thảm của Tát Thiên Thích, quay mặt sang một bên rồi chậm rãi bước tới. chỉ nghe Tát Thiên Thích nói: “Lâm nha đầu, ngươi nói đúng, ta... ta...” giọng nói của y cứ ngắt quãng, nghe không rõ ràng.

Đường Hiểu Lan thở dài: “Hãy chôn y đàng hoàng tử tế”. Tát Thiên Thích chợt xoay người, gắng gượng nói: “Trên người ta có một viên thuốc, ngươi hãy lấy ra lăn trên vết thương của ngươi. Viên thuốc này còn có tác dụng rất lớn...” lúc này khí lực đã yếu nên chẳng còn nói được nữa.

Phùng Anh nhói lòng, không ngờ lão quái vật trước khi chết lại có lòng tốt như thế, nàng bất giác quay mặt lại, nói cũng thật lạ, trước khi chết trông y rất đáng sợ, nhưng giờ đây trong mắt Phùng Anh tựa như một ông già hiền từ. Phùng Anh nói: “Ông là kẻ thù của nhà ta, nhưng ông có công nuôi dưỡng ta mấy năm. Ân oán bù trừ lẫn nhau, ta cũng không tránh ông nữa”. Tát Thiên Thích mỉm cười, Đường Hiểu Lan đưa tay sờ vào ngực y, lúc này hơi đã đứt.

Phùng Anh nói: “Con người thật kỳ lạ”. Đường Hiểu Lan nói: “So với bọn người Niên Canh Nghiêu, y còn tốt hơn nhiều”. Rồi lục người y, quả nhiên lấy được một viên thuốc màu đen.

Viên thuốc này lớn như cái ly uống rượu phát ra mùi hôi thối, Đường Hiểu Lan vạch áo ngoài của Phùng Anh, lấy viên thuốc lăn hai lượt lên vết thương của nàng, Phùng Anh cảm thấy nhiệt khí dâng lên, cánh tay đã có thể cử động tự nhiên, cơn đau đã giảm xuống. Không ngờ viên thuốc này linh diệu như thế, chắc là thuốc giải độc môn của bọn họ, y còn nói viên thuốc này còn có tác dụng nữa, muội hãy giữ lấy”. Phùng Anh bịt mũi nói: “Anh nhi không cần”. Đường Hiểu Lan chỉ mỉm cười rồi cất vào trong áo.

Mưa gió đến thật nhanh nhưng cũng qua đi thật nhanh, lúc này gió chưa ngừng, mưa đã giảm, lửa đã tắt ngấm. Hoa cỏ đã cháy sạch trụi, chỉ còn lại vài cây cổ thụ trọc lóc. Đường Hiểu Lan nói: “Con thuyền của hai tên ma đầu đã vỡ, chúng ta chỉ đành chờ một thời gian nữa”. Chàng nghĩ lại không quá trăm ngày nữa mình sẽ ra đi nên không khỏi buồn rầu.

Hai người lặng lẽ đào huyệt chôn hai tên ma đầu. Sau cơn mưa lớn, trong gió mang hơi nước lạnh lẽo, Phùng Anh dựa vào người Đường Hiểu Lan, bất giác ngủ thiếp đi. Đường Hiểu Lan cởi áo ngoài đắp lên người nàng, chàng tuy mệt mỏi nhưng sự việc vừa rồi khiến chàng chẳng thể nào ngủ được, chốc thì nhớ đến việc mình sắp chết, chốc thì nhớ đến tình yêu của Phùng Anh giành cho mình, chốc lại nhớ đến tình cảnh trước khi chết của Tát Thiên Thích, chàng dù có nhắm mắt cũng chẳng ngủ được. Gió ngừng thổi, trên mặt biển hình như vọng lại tiếng quát tháo. Đường Hiểu Lan nghiêng tai lắng nghe, kéo Phùng Anh đứng dậy kêu: “Anh muội, hình như lại có thuyền tới!”

Phùng Anh dụi mắt, mừng rỡ kêu: “Hay lắm, chúng ta có thể thoát hiểm”. Đường Hiểu Lan nói: “Muội đừng mừng, chưa biết là ai sẽ tới!” Phùng Anh nói: “Mong không phải là Độc Long Tôn Giả!” hai người chạy ra bờ biển, trong đêm tối mênh mông, mặt nước lấp lánh ánh sáng, vẫn chưa thấy bóng dáng con thuyền. Phùng Anh nói: “Thúc thúc có nằm mơ không?” Đường Hiểu Lan nói: “Ồ, kỳ lạ thật, rõ ràng huynh nghe có tiếng người”.

Một chốc sau, chợt nghe tiếng sáo từ xa vọng tới, âm thanh nhỏ mà trong trẻo tựa như bay lượn trên không trung, Đường Hiểu Lan và Phùng Anh đều thất kinh, Phùng Anh nói: “Đây là công phu Truyền âm nhập mật!” nhìn một hồi, mới phát hiện ở phía xa có một chấm đen trôi nổi. Phùng Anh nói: “Huynh nói không sai, có một con thuyền nhỏ!” Đường Hiểu Lan nói: “Ở nơi xa tít mà tiếng sáo có thể vọng tới, công lực của người này cao thâm đến khó lường! Nếu đó là kẻ địch, hai chúng ta chẳng phải là đối thủ!”

Phùng Anh nói: “Chúng ta cứ mặc y”. Sóng biển đập vào bờ ầm ầm, chấm đen đã càng lớn hơn, lúc này đã thấy rõ đó là một con thuyền, con thuyền trôi trong sóng gió, Phùng Anh nhớ lại nỗi khổ mình từng chịu, nghiêm mặt nói: “Dù y là ai, cứu y trước rồi tính!” Đường Hiểu Lan cười nói: “Chúng ta suy nghĩ thật giống nhau, chắc y thấy ở đây có ánh lửa nên lái thuyền đến, lúc này lửa đã bị dập tắt nên y không biết phương hướng. Chúng ta hãy đốt lửa lên”. Phùng Anh nhặt một ít lá cây còn sót, bắt đầu đốt lửa lên, một hồi sau con thuyền lướt tới như tên bắn. Đường Hiểu Lan cất tiếng gọi, trên mặt biển vọng lại giọng của một thiếu nữ: “Có phải Hiểu Lan đấy không?”

Đường Hiểu Lan hầu như không dám tin vào tai mình, giọng nói ấy rất quên thuộc, dịu dàng, trước đây giọng nói ấy đã cho chàng sức mạnh, khiến cho chàng trỗi dậy từ trong tuyệt vọng, không ngờ ở đây chàng lại được nghe giọng nói này. Phùng Anh thấy chàng đứng ngẩn ra, trong mắt lộ vẻ vừa kinh vừa mừng, bất giác hỏi: “Có phải thúc thúc quen người trên thuyền không?” Đường Hiểu Lan nói: “Ồ, quen!” thiếu nữ ấy lại nói: “Có phải là Hiểu Lan không?” Đường Hiểu Lan trả lời: “Là đệ, Lữ tỷ tỷ!”

Một hồi sau, con thuyền cập bến. Một nam hai nữ trên con thuyền nhảy xuống, người nam là Bạch Thái Quan, hai người nữ là Lữ Tứ Nương và Ngư Nương. Bạch Thái Quan và Ngư Nương lộ vẻ mệt mỏi, áo quần ướt đẫm, rõ ràng vừa mới trải qua sóng gió. Lữ Tứ Nương tuy mệt nhưng thần thái vẫn như thường, Đường Hiểu Lan nói: “Tôi không nằm mơ chứ, ngọn gió nào đã thổi các người đến đây?”

Lữ Tứ Nương cười nói: “Còn ngọn gió nào nữa, đó chính là gió xoáy! Nếu không thấy ánh lửa, suýt nữa chúng tôi đã làm mồi cho cá”. Ngư Nương cười nói: “Trong ba người chúng tôi Lữ tỷ tỷ bơi kém nhất, nhưng tỷ ấy lại bình tĩnh nhất, sao các người lại tới hòn đảo này, còn tiểu cô nương này có phải là người đã đi cùng Liễu Ân trước kia hay không?” Ngư Nương và Bạch Thái Quan đã từng gặp Phùng Lâm ở Hàng Châu, lúc này bất giác đổi sắc mặt.

Đường Hiểu Lan cười nói: “Không phải, người đó chính là muội muội của nàng”. Rồi vẫy tay gọi Phùng Anh đến: “Đây chính là Lữ tỷ tỷ”. Phùng Anh nhìn Lữ Tứ Nương một hồi, chợt hỏi: “Có thực là Lữ tỷ tỷ không?” Đường Hiểu Lan nói: “Sao lại không phải?” Phùng Anh biết Lữ tỷ tỷ đã thành danh nhiều năm, lại nghe Đường Hiểu Lan nói Lữ Tứ Nương lớn tuổi hơn chàng, trong tưởng tượng của Phùng Anh, Lữ Tứ Nương chắc chắn là một thiếu phụ trung niên, nhưng giờ đây lại là một thiếu nữ xinh đẹp như hoa, bởi vậy bất giác ngẩn người ra.

Lữ Tứ Nương mỉm cười, kéo tay Phùng Anh nói: “Tiểu muội muội, ta chính là Lữ Tứ Nương, ta đã từng được sư phụ của muội truyền cho nội công Kiểm tinh nội thị, cho nên mới trẻ trung thế này”. Đường Hiểu Lan hỏi: “Phu phụ Bạch huynh chẳng phải đang đánh nhau với quân Thanh ở đảo Điền Hoành sao, giờ sao lại tới đây? Sao Lữ tỷ tỷ lại đi cùng với các người?” Bạch Thái Quan buồn bã nói: “Cơ nghiệp mấy mươi năm của nhạc phụ tôi đã tiêu tan”. Lữ Tứ Nương nói: “Họ Lữ chúng tôi bị triều đình truy sát, chỉ có một người cháu tên là Lữ Nguyên chạy thoát. Nửa năm trước, tôi đưa y đến chỗ Huyền Phong đạo trưởng để ông ta nhận làm học trò, từ bán đảo Lưu Đông trở về, vừa khéo gặp phải phu phụ Bạch sư huynh, Bạch huynh mời tôi cùng đến đảo Điền Hoành. Nhưng đáng tiếc đã chậm một bước, thủy sư quân Thanh đã bao vây thủy trại ở các đảo, chúng tôi vất vả lắm mới lẻn vào được, huynh đệ các thủy trại đã thương vong quá nửa, chúng tôi tuy cố gắng cự địch nhưng chẳng thể nào cứu vãn nổi. Nhưng chúng tôi đã giết được mấy vạn quân Thanh, đảo Điền Hoành cũng cầm cự được hơn ba tháng. Sau khi trại vỡ, chúng tôi đoạt một chiếc thuyền chạy đến đây”.

Rồi Đường Hiểu Lan kể lại những chuyện đã trải qua cho ba người nghe. Sáng hôm sau họ bàn bạc một hồi, quyết định cùng đến Xà đảo đối phó với Độc Long Tôn Giả.

Chính là:

Cùng ra tay bắt hổ, điểm hóa người u mê.

Muốn biết sau đó thế nào, mời sang hồi sau sẽ rõ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau