GIANG HỒ TAM NỮ HIỆP

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giang hồ tam nữ hiệp - Chương 26 - Chương 30

Chương 26: Tâm phúc nghi ngờ Song ma lại mời rượu Đồng môn tề tựu liên thủ diệt hung tăng

Tuy Liễu Ân uống thuốc giải nhưng chưa kịp vận khí điều nguyên, sau một hồi ác chiến, chất độc dần dần phát tác, biết không thể nào đánh lâu được, thế là y lộn người múa cây thiền trượng xông ra. Cung tiển thủ phóng tên, tên bay ra như mưa, chỉ trong chốc lát Liễu Ân đã chạy ra đến cổng, mắng lớn: “Niên Canh Nghiêu, con bà nhà ngươi, nếu lọt vào tay Phật gia, ta sẽ đánh gãy chân chó của ngươi!” rồi tung cước đá vỡ tung cánh cổng của nhà họ Niên, rồi vung hai trượng đánh nát hai con sư tử đá mới nghênh ngang bỏ đi.

Liễu Ân bỏ đi xong, Niên Canh Nghiêu bước xuống sân, chỉ thấy dưới đất toàn là tên gãy, trong lòng không khỏi kinh hãi, Song ma nói: “Để y chạy thoát, biết làm thế nào đây?” Niên Canh Nghiêu nói: “Ta sẽ lập tức hoạch tội y, Hoàng thượng chắc chắn sẽ không tin lời y. ta lại bảo Xa Tịch Tà và Đổng Cự Xuyên bắt y, y làm sao thoát khỏi lòng bàn tay của ta”.

Liễu Ân chạy ra khỏi nhà họ Niên, càng nghĩ càng tức. Y chạy vào quả núi gần đấy, ngồi đả tọa một hồi đẩy chất độc ra, thầm nhủ: “Mình một tay khó vỗ nên kêu, có tìm tên tiểu tử trả thù cũng đánh không lại bọn chúng. Chi bằng về kinh bẩm cáo Hoàng thượng để người cách chức y, sau đó lại sẽ tìm y tính sổ”. Liễu Ân cứ tưởng rằng Ung Chính có thể lấy lại công bằng cho mình thế là một mình hầm hầm đi về phía Bắc.

Còn Phùng Lâm sau khi chạy thoát khỏi nhà họ Niên cũng lên phía Bắc, hôm sau đến Tân An, người trên đường qua lại đều để ý đến nàng, thầm nhủ: “Mình là con gái một thân một mình, khó tránh bị người ta để ý”. Nàng không biết rằng người ta để ý là vì nàng quá xinh đẹp. Phùng Lâm lại nghĩ: “Chắc bọn Liễu Ân sẽ không tha cho mình. Mình phải cải trang”. Lúc này đã vào trấn, chợt nghe phía sau có tiếng nhạc ngựa vang lên, Phùng Lâm quay đầu nhìn lại thì thấy một thư sinh thiếu niên mặt trắng không râu, ăn mặc trông rất sang trọng. Nàng thầm nhủ: “Bộ quần áo của người này trông thật đẹp, đêm nay mình phải cải trang thành y”. Nàng theo dõi thấy y vào một căn khách sạn cũng đi theo. Lão chưởng quầy đang bận rộn tiếp đãi, hỏi: “Xin hỏi đại gia cần một hay hai phòng?” thư sinh ấy nói: “Cái gì?” quay đầu nhìn lại thì thấy có một thiếu nữ tuyệt sắc đang đi phía sau, biết lão chưởng quầy hiểu lầm, cười rằng: “Ta đi chỉ có một mình, làm sao ở được hai phòng?” lão chưởng quầy cũng cười: “Tôi tưởng tiểu cô nương này đi cùng ngài”. Phùng Lâm hừ một tiếng, lão chưởng quầy nói: “Cô nương đừng trách, lâu nay rất ít phụ nữ đi một mình”. Thư sinh ấy thuê một phòng, Phùng Lâm cũng thuê một phòng, lão chưởng quầy nhíu mày, không dám cho nàng ở. Phùng Lâm nói: “Cái gì? Ngươi tưởng ta không có tiền?” rồi lấy ra hai thỏi vàng, lão chưởng quầy vội vàng cười: “Nào dám, nào dám, tiểu điếm hầu hạ sơ sài, chỉ sợ cô nương chê mà thôi”. Thế là vội vàng dắt nàng lên phòng.

Đến nửa đêm Phùng Lâm lẳng lặng ngồi dậy vọt lên mái ngói, nhảy đến phòng bên cạnh, kề tai lắng nghe, bên trong chẳng hề có tiếng tăm gì, nàng thầm cười: “Thư sinh này chắc không phải là người lăn lộn trên giang hồ, không cần phải cẩn thận”. Thế là bóp nát khung cửa sổ chui tọt vào, nàng mò mẫm đến bên giường, lấy bộ quần áo. Người trên giường chợt cười lạnh nhảy ra, đưa tay móc một cái, chụp trúng cổ tay của Phùng Lâm! Phùng Lâm trầm vai thu chỏ, rút tay ra, thư sinh ấy kêu ồ một tiếng, xỉa tay về phía trước đâm vào huyệt Thiên Trụ phía sau ót của nàng.

Đêm hôm tối tăm mà thư sinh vẫn nhận huyệt chẳng sai tí nào, chắc chắn y là một cao thủ, nếu là nửa năm trước, Phùng Lâm đã trúng đòn. Thư sinh ra tay nhanh như điện chớp, khi điểm tới, y chợt thấy mềm nhũn, ngón tay lệch qua một bên, Phùng Lâm trở tay vỗ lại một chưởng, Phùng Lâm bị chưởng lực của y đẩy qua một bên suýt nữa đã té sầm xuống, người ấy rất bất ngờ, cũng bị chưởng lực của Phùng Lâm đánh thối lui, y vội vàng lướt người đến cửa, đánh đá lửa lên, cười nói: “Ta đã thừa biết ngươi sẽ tới. Ngồi xuống, ngồi xuống, chúng ta từ từ nói chuyện, đừng kinh động đến người trong khách sạn”. Phùng Lâm thấy hành tung đã bại lộ nàng ngượng ngùng chỉ đành ngồi xuống.

Thư sinh ấy châm cây đèn dầu, cười nói: “Với võ công và diện mạo của ngươi, cớ gì phải làm kẻ trộm?” Phùng Lâm nói: “Làm sao ngươi biết ta đến ăn trộm?” thư sinh nói: “Từ sau khi gặp nhau, ngươi cứ đi sát theo ta, nếu không nhận ra điều đó, ta làm sao có thể đi lại trên giang hồ? Nhưng ngươi đã nhìn lầm rồi, ta tuy ăn mặc sang trọng nhưng chẳng có thứ gì đáng cho ngươi đánh cắp. Nếu ngươi thiếu tiền dùng, ta tặng ngươi một thỏi vàng, nhiều nữa thì ta không có”. Phùng Lâm cười nói: “Ai cần vàng của ngươi?” rồi nàng tháo chiếc nút trên áo ngoài, để lộ một sâu chân trâu, đó là chân phẩm trong hoàng phủ, mỗi viên trân châu đều bằng nhau, vừa tròn vừa lớn. Chỉ một viên chân trâu cũng đáng hai trăm lượng vàng. Thư sinh ấy thất kinh, dù y hiểu biết rộng rãi nhưng cũng không đoán được lai lịch của Phùng Lâm.

Thư sinh chợt nghĩ ngợi, rồi đột nhiên đưa tay sờ chui kiếm, gằn giọng nói: “Ngươi không phải là nữ anh hùng hắc đạo, chắc là nữ cao thủ của nha môn? Thất kính, thất kính!” Phùng Lâm bật cười nói: “Cái gì mà hắc đạo với bạch đạo, ta chẳng biết gì cả!” thư sinh nói: “Vây ngươi đến đây làm gì?” Phùng Lâm nói: “Bộ đồ của ngươi đáng bao nhiêu tiền? Bán cho ta!” Thư sinh ngạc nhiên, không đoán được dụng ý của nàng, không biết nàng đùa hay thật. Phùng Lâm nói: “Ta dùng sâu chân trâu này mua bộ đồ của ngươi, chắc ngươi không thiệt thòi chứ?” thư sinh nói: “Ngươi đang nói càn gì thế?” Phùng Lâm nói: “Ai rảnh đùa với ngươi!” thư sinh thấy nàng nói có vẻ nghiêm chỉnh, liền bảo: “Tặng ngươi một bộ đồ cũng đâu có đáng gì. Xin hỏi tôn sư là ai? Có thể cho biết danh tánh hay không?” Phùng Lâm lại bật cười, nói: “Chúng ta bèo nước gặp nhau, cần gì phải hỏi cho kỹ càng. Hơn nữa ta có nhiều sư phụ, làm sao có thể nói từng người cho ngươi biết”. Thư sinh nói: “Ngươi cần quần áo đàn ông để làm gì?” Phùng Lâm nói: “Ngươi không cho thì ta đi vậy”. Thư sinh này không đoán được lai lịch của Phùng Lâm thì chẳng cam lòng, y mỉm cười đứng dậy nói: “Nếu ngươi có bản lĩnh thì hãy cứ đi ra”. Phùng Lâm nghĩ: “Đánh nhau ta không sợ, nhưng sợ kinh động đến người khác thì không hay lắm” liền bải: “Nói cho ngươi nghe cũng chẳng sao, nhưng ngươi đừng rêu rao ra đấy nhé”. Thư sinh nói: “Đương nhiên”. Phùng Lâm nói: “Cha ta là một cường đạo, người buộc ta lấy một người ta không thích, nên ta bỏ chạy, nhưng người có rất nhiều tai mắt, ta sợ người ta bắt gặp nên phải cải dạng”.

Phùng Lâm đương nhiên nói dối, nhưng nàng nói như thế lại hợp với chuyện của Ngư Nương. Thư sinh ấy ngẩn ra nhìn nàng, chợt hỏi: “Năm nay ngươi được bao nhiêu tuổi?” Phùng Lâm nói: “Ngươi thật vô phép, hỏi tuổi tác người ta làm gì?” Thư sinh ấy cười ha hả: “Được, không hỏi thì không hỏi vậy. Ngươi cũng không cần cho ta biết lai lịch. Chúng ta hiểu lòng nhau là được”.

Phùng Lâm nói: “Vậy ngươi có chịu bán cho ta bộ quần áo không?” Thư sinh nói: “Ta tặng ngươi”. Phùng Lâm cả mừng đáp tạ. Thư sinh lại bảo: “Võ nghệ ta tuy kém cỏi, nhưng trên giang hồ vẫn có một vài bằng hữu. Ngày mai hãy đi cùng ta. Đảm bảo chẳng ai dám động thủ với ngươi”. Phùng Lâm thầm nhủ: “Thư sinh này thật lớn lối, mình phải xem thử y là nhân vật thế nào”.

Thư sinh này chẳng phải ai khác, đó chính là Lý Nguyên, đệ tử thứ sáu của Độc tý thần ni, cũng tức là sư đệ của Bạch Thái Quan. Y là một cộng tử thế gia ở Hồ Nam, mười năm qua không bước chân ra khỏi Lưỡng Hồ. Gần đây Cam Phụng Trì gởi thư bảo y trong ngày Thanh Minh phải lên Mang Sơn tế mộ phần sư phụ bởi vậy Lý Nguyên mới một mình lên miền Bắc.

Tuy nhiều năm qua Lý Nguyên không bước chân ra khỏi Lưỡng Hồ, nhưng vẫn còn trao đổi tin tức với các đồng môn. Y đã nghe loáng thoáng chuyện Bạch Thái Quan, bởi vậy những lời của Phùng Lâm lúc nãy khiến y nghi ngờ nàng là Ngư Nương. Nhưng nhìn lại nàng chỉ là một cô bé mười ấy tuổi đầu, mà chuyện của Bạch Thái Quan đã đồn trên giang hồ năm sáu năm trước. Theo lẽ Ngư Nương không đến nỗi trẻ tuổi như thế. Nhưng chợt nghĩ: “Phụ nữ biết thuật trụ nhang, nghe nói bát muội Lữ Tứ Nương trông chỉ giống như một thiếu nữ hai mươi tuổi. Nếu Ngư Nương được dị nhân truyền thụ, giữ được diện mạo thanh xuân cũng không lấy gì là lạ. Dù nàng không phải là Ngư Nương, mình cứ đi cùng nàng một đoạn, sau này lên Mang Sơn, hỏi ra sẽ rõ”.

Hôm sau Phùng Lâm thay trang phục nam tử, mua một thớt ngựa khỏe, quả nhiên đi cùng Lý Nguyên. Trên suốt quãng đường hai người cứ dùng lời dọ nhau, Phùng Lâm rất khéo léo, Lý Nguyên chẳng thể nào thử được. Đi được một đoạn, hai người xuống ngựa nghỉ ngơi, ngồi trò chuyện dưới bóng râm. Lý Nguyên nói: “Trên giang hồ nữ tử giỏi võ công có thể đếm trên đầu ngón tay, ngoại trừ Lữ Tứ Nương thì là Ngư Nương”. Phùng Lâm mỉm cười, trong lòng rất thắc mắc. Lý Nguyên lại nói: “Võ công của ngươi cũng thuộc hạng khá, ta thấy ngươi dù không bằng Lữ Tứ Nương nhưng cũng ngang tài ngang sức với Ngư Nương”. Phùng Lâm lại mỉm cười nói: “Ngươi đã gặp hai người bọn họ?” Lý Nguyên ngẩn người, nói: “Chưa từng gặp”. Phùng Lâm cười: “Nếu ngươi không gặp hai người bọn họ, sao biết võ công của họ đến mức nào mà so sánh bừa thế?” Lý Nguyên vốn chỉ muốn dọ hỏi nàng, không ngờ bị nàng hỏi đến cứng họng, gượng cười rằng: “Tuy chưa từng gặp nhưng cũng nghe đồn đãi, bởi vậy mới biết đại khái. Ngươi đã từng gặp bọn họ chưa?” Phùng Lâm cười nói: “Ta đã gặp. Võ công của Lữ Tứ Nương đúng là hiếm có. Ngư Nương tuy biết võ nghệ nhưng cũng chẳng ra sao”. Phùng Lâm đã nói sự thực. Năm ngoái nàng đã động thủ với Lữ Tứ Nương, Ngư Nương và Liễu Ân ở Tam Đàm Ấn Nguyệt ở Hàng Châu. Lý Nguyên nghe nàng khen Lữ Tứ Nương mà chê Ngư Nương, càng ngờ rằng nàng chính là Ngư Nương, đang định dò hỏi tiếp. Phùng Lâm chợt kêu: “Đi mau, đi mau!” Lý Nguyên ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy một nhà sư tay cầm thiền trượng xăm xăm bước tới, đó chính là Liễu Ân. Lý Nguyên thất kinh, Liễu Ân kêu lớn: “Lục đệ hãy thong thả, đã gần mười năm chúng ta không gặp nhau!” Phùng Lâm thấy Lý Nguyên không đi, nghĩ thầm: “Nếu ta mà đi, lập tức sẽ bị Liễu Ân nhận ra. Y võ công cực kỳ cao cường, cướp ngựa đuổi theo, mình chắc chắn không thoát nổi”. Bởi vậy mới giả vờ trấn tĩnh, hờ hững dựa vào gốc cây, trong lòng nghĩ cách thoát thân.

Mười năm qua Lý Nguyên không gặp Liễu Ân nhưng cũng biết những việc làm của Liễu Ân gần đây, trong lòng thầm kêu khổ. Liễu Ân nói: “Sư đệ có khỏe không? Bằng hữu này là ai thế?” cũng như những đồng môn khác, võ công của Lý Nguyên quá nửa là do Liễu Ân truyền thụ, tuy biết y đã phản thầy nhưng cũng phải chào hỏi đàng hoàng tử tế, đáp rằng: “Vẫn bình an. Bằng hữu này chỉ là người khách qua đường”. Liễu Ân kêu ồ một tiếng, nheo mắt nhìn Phùng Lâm. Lý Nguyên nói: “Nghe nói gần đây sư huynh được nhiều điều đắc ý”. Liễu Ân nói: “Ồ, sư đệ không vui cho ta sao?” Lý Nguyên không dám đáp, Liễu Ân vẫn nhìn Phùng Lâm, Lý Nguyên thầm trách Phùng Lâm không hiểu lễ tiết giang hồ, bước tới nói với nàng: “Đây là Liễu Ân sư huynh của ta, ngươi hãy đến chào hỏi”. Phùng Lâm vung tay, chợt phóng ra ba mũi trủy thủ, một mũi bắn về phía con ngựa của Lý Nguyên, hai mũi bắn về phía Lý Nguyên, Lý Nguyên không kịp đề phòng nên chỉ tránh được một mũi, bị mũi kia bắn trúng vai trái bổ nhào xuống đất. Phùng Lâm phóng lên thớt ngựa, lấy trủy thủ đâm vào mông ngựa, thớt ngựa hí dài rồi tung vó chạy về phía trước!

Té ra Phùng Lâm nghe Liễu Ân và Lý Nguyên xưng huynh gọi đệ, trong lòng thầm tính: “Nếu không chạy cho mau, lát nữa huynh đệ bọn chúng hiểu ra, mình sẽ hỏng bét”. Nàng tuy tuổi còn nhỏ nhưng lắm mưu kế, biết Liễu Ân võ công cực cao, chắc chắn không thể phóng phi đao trúng y được bởi vậy mới phóng sang Lý Nguyên, thầm nhủ: “Sư đệ của y bị thương, y chắc chắn chẳng rảnh đuổi theo mình”. Phùng Lâm nghĩ không sai, nhưng đã vô cớ đả thương Lý Nguyên.

Liễu Ân thấy Phùng Lâm phóng lên ngựa bỏ chạy, đuổi theo không kịp nên quả nhiên cứu Lý Nguyên trước. Thực ra Lý Nguyên cũng chẳng thương yêu gì người sư đệ này mà muốn trị xong cho Lý Nguyên, buộc Lý Nguyên theo mình vào kinh. Liễu Ân xé lớp áo ngoài của Lý Nguyên, khoét thịt nặn chất độc ra, y vừa chạm vào người Lý Nguyên, lòng chợt nảy ra một ý, thế là mò mẫm trong người Lý Nguyên, lấy ra được một viên sáp, Liễu Ân bóp nát viên sáp, bên trong có một mẩu giấy, té ra đó là thư của Tăng Tịnh gởi cho Nhạc Chung Kỳ. Tăng Tịnh là bằng hữu của phụ thân Nhạc Chung Kỳ. Bức thư này khuyên Nhạc Chung Kỳ sau khi lấy được binh quyền thì nên dấy binh kháng Thanh. Liễu Ân tuy không biết nhiều chữ, nhưng vẫn hiểu được đại khái, thầm nhủ: “Nhạc Chung Kỳ là phó thủ của Niên Canh Nghiêu, có bức mật hàm này làm bằng chứng, mình có thể lật nhào cả Niên Canh Nghiêu”. Y nghĩ có thể trả thù, bất giác cả mừng. Lúc này Liễu Ân đã đổi ý, chỉ muốn áp giải Lý Nguyên về kinh lãnh thưởng, còn việc y có theo mình hay không cũng chẳng quan trọng

Hồi sau, Lý Nguyên dần tỉnh lại, thấy trong tay Liễu Ân cầm một mảnh giấy vẻ mặt nhơn nhơn. Lý Nguyên toát mồ hôi lạnh, biết sự việc đã bại lộ, thế là liều mạng vùng lên chạy, Liễu Ân cười lạnh đẩy một cái khiến Lý Nguyên té sấp xuống đất.

Liễu Ân quát: “Ngươi làm gì thế?” Lý Nguyên kêu lên: “Sư huynh, huynh có phải là người Hán không?” Liễu Ân nói: “Người Hán thì thế nào?” Lý Nguyên nói: “Nếu là người Hán thì hãy trả bức thư cho đệ”. Liễu Ân hừ một tiếng, nói: “Ngươi hãy ngoan ngoãn theo ta đi Bắc Kinh”. Lý Nguyên lại nói: “Huynh đã quên lời dặn của sư phụ rồi sao?” Liễu Ân cười rộ nói: “Sư phụ đã chết, nay ta chính là sư phụ của các ngươi”. Lý Nguyên nổi cáu nói: “Hay thật, Liễu Ân! Ngươi hãy giết ta đi!” “Ngươi muốn chết đâu có dễ, có điều ngươi cũng biết thủ đoạn của ta, ngươi muốn ta dùng thủ pháp Phân cân thác cốt lột da bẻ xương ngươi hay muốn ta dùng thủ pháp điểm huyệt khiến ngươi khó chịu đến ba ngày rồi chết?” hai thủ pháp này đều là hình phạt cực kỳ lợi hại, thủ pháp Phân cân thác cốt còn đau đớn hơn cả bị tùng xẻo, nhưng nếu bị y dùng thủ pháp độc ác điểm huyệt, cầu sống không được cầu chết không xong, còn đau khổ hơn cả bị tùng xẻo. Lý Nguyên xuất thân từ nhà giàu, bất giác lạnh mình. Liễu Ân thấy y tái mặt, cười rằng: “Ngươi đã nghĩ kỹ chưa?” Lý Nguyên từng đọc thi thư, nhớ đến câu “Người sống từ xưa ai chẳng chết, để lại lòng son chiếu sử xanh”, thế là đảm khí tăng lên, mắng rằng: “Không cần lắm lời, nếu ta sợ chết thì không phải là Giang Nam thất hiệp nữa!”

Liễu Ân cười gằn, kéo Liễu Ân đến sát mình, giơ bàn tay to lớn bóp vào cổ của Lý Nguyên. Lý Nguyên nhắm mắt đợi chết, chỉ nghe Liễu Ân cười nói: “Đáng tiếc từ rày về sau, Giang Nam thất hiệp chỉ còn lại sáu người. Ngươi cứ mãi nhắc đến di huấn của sư phụ, vậy ta cho ngươi đi gặp sư phụ! Từ đây cách Mang Sơn rất gần, ngươi có muốn ta chôn ngươi cùng sư phụ không?” Lý Nguyên nảy ra một ý, nghĩ bụng ngày mai có thể đến Mang Sơn, tuy không sợ chết nhưng nếu có một tia hy vọng cũng không thể bỏ qua. Liễu Ân đã chạm vào xương cổ của y, Lý Nguyên kêu lớn: “Sư huynh, đệ nghe theo huynh”. Liễu Ân cười ha hả, buông tay thầm nhủ: “Anh chàng công tử này quả nhiên sợ đến vãi đái!” Lý Nguyên nói: “Đệ sẽ theo huynh về Bắc Kinh, nhưng mong huynh đừng liên lụy đến Tăng lão tiên sinh”. Liễu Ân hừ một tiếng nói: “Sau này hẵng tính. Chỉ cần ngươi ngoan ngoãn nghe lời, ta có thể nương tay”. Liễu Ân lại hỏi Phùng Lâm làm sao đi cùng với y, Lý Nguyên trả lời thật tình. Liễu Ân biết mười năm nay y không bước chân ra khỏi giang hồ. Đoán rằng y chẳng phải nói dối. Bởi vậy không hỏi nhiều, tiếp tục lên đường.

Trưa ngày hôm sau đi ngang qua chân núi Mang Sơn, Liễu Ân nghe tiếng nước Hoàng Hà chảy ầm ầm, nhìn lại Mang Sơn cao ngất, nhớ đến chuyện xưa, bất giác đưa mắt nhìn xung quanh, Lý Nguyên chợt nói: “Sư huynh, hôm nay là ngày mấy?” Liễu Ân nói: “Ai mà nhớ”. Lý Nguyên nói: “Hôm nay chính là tiết Thanh Minh!” Liễu Ân tính lại quả nhiên không sai, nói: “Tiết Thanh Minh thì thế nào?” Lý Nguyên nói: “Sau khi sư phụ chết, tiểu đệ đã nhiều lần muốn lên tảo mộ nhưng vì công việc bận rộn, chưa thể nào đi được. Trong lòng hối hận vô cùng. Hôm nay tiết Thanh Minh đi ngang qua núi. Tiểu đệ xin sư huynh khai ân, cho đệ lên núi lạy trước mộ sư phụ”. Liễu Ân đỏ mặt, mình cũng chưa bao giờ đến tảo mộ sư phụ. Liễu Ân chẳng hề để ý đến cái chết của Độc tý thần ni, nhưng Độc tý thần ni dẫu sao cũng là sư phụ của y, nay đã đi ngang qua núi, lại là tiết Thanh Minh, bởi vậy cũng có ý tảo mộ, thế mới đáp: “Thôi được, chúng ta lên núi”. Rồi nắm tay Lý Nguyên dắt lên Mang Sơn.

Phong cảnh mùa xuân ở Mang Sơn thật đẹp, hoa rừng đua nhau khoe sắc. Đi một hồi đã lên đến ngọn núi chính, dòng thác trên núi buông xuống, tia nước bắn tung tóe. Liễu Ân tuy ham mê cảnh phồn hoa, nhưng lúc này cũng không khỏi thấy thoải mái. Ngẩng đầu nhìn lên, y vẫn còn nhớ mõm đá nhô ra ở phía trước mặt chính là nơi sư phụ dạy mình khinh công, chỉ vì từ nhỏ căn cơ của mình không tốt, bởi vậy không luyện khinh công đến mức đăng phong tạo cực. Y lại nhớ tảng đá lớn bên cạnh dòng suối là nơi mình thử trượng, dấu trượng trên đá chắc vẫn còn. Liễu Ân vừa đi vừa nghĩ ngợi, một hồi sau đã cùng Lý Nguyên lên đến đỉnh núi.
Trên đỉnh núi, hai con chim điêu của Độc tý thần ni bay lượn kêu vang trời tựa như tiếp khách. Liễu Ân kêu: “Tiểu bạch tiểu hắc”. Hai con điêu bay lướt qua đầu Liễu Ân, Liễu Ân kêu lên: “Ồ, tiểu bạch tiểu hắc chẳng thèm để ý đến ta nữa!” chợt nhớ rằng năm nay mình đã gần sáu mươi, rời khỏi Mang Sơn cũng hơn hai mươi năm, “tiểu bạch tiểu hắc” cũng trở thành “lão bạch lão hắc” cả rồi.

Hai con chim điêu xuất hiện, Lý Nguyên phấn chấn tinh thần, tiếp tục bước tới, từ xa có thể nhìn thấy khu vườn mộ. Liễu Ân chợt nói: “Ồ, bên đó có người”. Nói chưa dứt, Lữ Tứ Nương và Cam Phụng Trì đột nhiên xuất hiện, Liễu Ân thất kinh, quay người chụp Lý Nguyên, Lý Nguyên đã chạy ra xa, Lữ Tứ Nương huýt một tiếng sáo, hai con điêu từ trên không bổ xuống, Liễu Ân cả giận, quét cây thiền trượng lên ngang đầu, quát: “Hai con súc sinh các ngươi cũng dám bức hiếp ta!” hai con chim điêu chỉ lướt xuống rồi lại bay lên, chỉ trong chớp mắt, Lữ Tứ Nương đã vung kiếm phóng tới trước, dắt Lý Nguyên chạy lên.

Liễu Ân nổi cáu, Lữ Tứ Nương mỉm cười, trên núi có một đám người đi xuống, không những có sáu sư đệ mà cả Quan Đông tứ hiệp và Thiết chưởng thần đạn Dương Trọng Anh cũng đến. Châu Tầm lạnh lùng nói: “Liễu Ân, ngươi cũng tới sao?”

Lúc này Lý Nguyên mới biết người cứu mình là Lữ Tứ Nương, y rất kinh ngạc. Cam Phụng Trì đã thấy y bị thương ở vai, Lý Nguyên kể rõ mọi việc, Châu Tầm nói: “Hiếm có dịp ngươi đến đây, mời lên trước mộ sư phụ nói chuyện”.

Liễu Ân nghĩ cách thoát thân, cầm cây thiền trượng hiên ngang đi về phía trước, chỉ trong chốc lát đã đến vườn mộ, chỉ thấy bia mộ viết rằng “Tiền Minh công chúa võ lâm hiệp ni chi mộ” góc trái có ghi tên của các môn nhân: Châu Tầm, Lộ Dân Đảm, Tào Nhân Phụ, Bạch Thái Quan, Lý Nguyên, Cam Phụng Trì, Lữ Tứ Nương nhưng không có tên của Liễu Ân. Liễu Ân giằng cây thiền trượng xuống đất, nói: “Lập bia mộ này là chủ ý của ai? Ai viết chữ?”

Cam Phụng Trì nói: “Chính ta đã hỏi ý kiến các đồng môn rồi lập lên. Còn chữ trên bia mộ là do tam ca viết, thế nào?” Liễu Ân nói: “Vậy tại sao ngươi không hỏi ý ta? Trên bia mộ sao không có tên của ta?” Cam Phụng Trì im lặng không đáp. Châu Tầm nói: “Hôm nay chúng ta đã tề tựu ở đây, giờ hành lễ theo thứ tự”.

Bảy người xếp thành một hàng, Châu Tầm đứng đầu đang định hành lễ. Liễu Ân nhảy vọt tới trước, vỗ vù một chưởng đẩy Châu Tầm ra chiếm ở phía trước. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Lữ Tứ Nương phóng vọt lên chặn trước mộ, giơ ngang trường kiếm, lạnh lùng nói: “Đồng môn bọn ta tảo mộ, người ngoài không được tham dự. Ngươi muốn quỳ bái, phải đợi bọn ta tế xong đã”.

Liễu Ân kêu lên: “Phản rồi, phản rồi! Khi ta nhập môn ngươi vẫn còn chưa ra đời, thế mà giờ đây ngươi quản cả ta!” Châu Tầm phóng lên một tảng đá lớn nói: “Các đệ tử của Độc tý thần ni xin tế cáo trước linh tiền xuống sư phụ, đuổi phản đồ Liễu Ân ra khỏi sư môn. Nhân lúc các vị tiền bối võ lâm ở đây, hôm nay công cáo thiên hạ!” Liễu Ân phóng lên tảng đá, Lữ Tứ Nương cũng bước tới đứng bên cạnh Châu Tầm. Châu Tầm tiếp tục nói: “Phản đồ Liễu Ân phản sư phản đạo, hôm nay bọn đệ tử nghe theo di huấn của sư phụ, thanh lý môn hộ. Mong các vị tiền bối võ lâm làm chứng”. Châu Tầm nói xong, Cam Phụng Trì quát: “Liễu Ân, ngươi còn muốn bọn ta ra tay?” Liễu Ân cười lạnh, đột nhiên xoay người vọt một cái, cây thiền trượng múa thành một vòng tròn, Lộ Dân Đảm và Bạch Thái Quan vội tránh ra, Liễu Ân xông ra chạy lên ngọn núi phía bên trái. Đó là chỗ bọn Quan Đông tứ hiệp xem lễ, con gái của Tào Nhân Phụ là Tào Cẩm Nhi cùng Ngư Nương đang ngồi trên tảng đá trò chuyện, Liễu Ân đột nhiên xông tới, Ngư Nương kinh hoảng kêu một tiếng, rút đao phóng ra, Tào Cẩm Nhi chạy ra phía trước, bị Liễu Ân chụp trúng, y kêu lớn: “Ai dám lên đây!”

Cam Phụng Trì mắt như đổ lửa, cao giọng kêu: “Liễu Ân, ngươi thật vô sỉ! Sắp chết mà vẫn còn bức hiếp tiểu bối!” Liễu Ân cười ha hả, giơ Tào Cẩm Nhi lên không xoay một vòng, cười lạnh nói: “Tào Nhân Phụ, ngươi đã lớn tuổi, chắc là không trẻ con như bọn chúng, ngươi hãy nói một câu công bằng!”

Tào Nhân Phụ xếp hàng thứ tư trong các đồng môn, lớn hơn Liễu Ân đến hai tuổi. Tào Cẩm Nhi là con gái độc nhất của ông ta, bởi vậy ông ta cưng như trứng mỏng. Lúc này Tào Nhân Phụ thấy con gái trong tay Liễu Ân, lòng đau đớn vô cùng, rung giọng nói: “Liễu Ân, ngươi có còn là người không?” Liễu Ân cười hì hì, Tào Nhân Phụ nói: “Các đồng môn đã quyết định thì chẳng sai, dù ngươi có giết Cẩm Nhi, ta cũng nói ngươi là phản đồ!” lúc này Liễu Ân chợt thét một tiếng, vung tay ném Tào Cẩm Nhi xuống vực! Trủy thủ của Cam Phụng Trì và Mai Hoa châm của Bạch Thái Quan đều bắn về phía Liễu Ân nhưng nào trúng được y!

Mọi người đều kêu hoảng, Tào Nhân Phụ suýt nữa ngất xỉu. Lữ Tứ Nương đột nhiên vọt xuống sơn cốc, Liễu Ân mặt tái xanh, nói: “Hay thật, bọn tiểu bối các ngươi dám ám toán ta”. Cam Phụng Trì rút đao xông lên, xem ra sắp đánh nhau với Liễu Ân. Bạch Thái Quan kêu: “Ồ, bát muội đã lên, còn có một người nữa”. Chỉ trong chớp mắt, Lữ Tứ Nương đã bế Tào Cẩm Nhi phóng lên, Tào Nhân Phụ chạy tới đỡ Tào Cẩm Nhi, Lữ Tứ Nương nói: “Không sao!” Tào Nhân Phụ bế con gái vào lòng, chỉ thấy chân tay nàng bị thương, áo quần nhuốm máu nhưng vẫn còn sống, bất giác mừng đến phát khóc.

Té ra Tào Cẩm Nhi vốn tính tình cứng rắn, tuy võ công của nàng không bằng Liễu Ân, nhưng trong lúc nguy cấp vẫn nhớ đến một tuyệt chiêu cứu mạng mà Dịch Lan Châu đã dạy, nàng móc chân lên trên, đá trúng vào mạch môn của Liễu Ân, Liễu Ân buộc phải ném ra ngoài, may mà Lữ Tứ Nương khinh công cao cường, nhảy xuống chụp được chân của nàng nên mới cứu được.

Lúc này Cam Phụng Trì mới quát: “Liễu Ân, tên hèn hạ nhà ngươi còn dám đứng ở đây?” Liễu Ân tự cho mình là anh hùng, mắng rằng: “Ta hèn hạ? Ngươi có dám tử chiến với ta không?” Cam Phụng Trì nói: “Tự làm tự chịu, ngươi đã làm điều ác mà không chịu nhận. Chẳng phải là kẻ hèn nhát sao?” Liễu Ân cả giận, nói: “Được, chúng ta đến trước mộ sư phụ, ta phải xem thử các ngươi làm gì được ta?” Liễu Ân tuy nói cứng nhưng trong lòng đã hoảng, y đang định tìm lời thoát hiểm.Liễu Ân bước đến trước mộ sư phụ, đứng ở chỗ cao nhất, cười lạnh nói: “Các ngươi mời nhiều bằng hữu võ lâm đến đây, ta có chết cũng chẳng sợ!” Cam Phụng Trì nói: “Nói càn, bọn ta thanh lý môn hộ, đâu cần mượn ta người ngoài!” Liễu Ân hơi yên lòng, lại nói: “Ngoại trừ Lữ Tứ Nương, sáu người các ngươi đều do ta đích thân dạy dỗ, các ngươi bảo thanh lý môn hộ, ta cũng thanh lý môn hộ, tốt xấu gì ta cũng là sư huynh của các người, coi như là một nửa sư phụ của các người, hôm nay các người phạm thượng, đồng tình giết thầy, trước tiên ta sẽ trừng phạt các ngươi, xem võ nghệ của các ngươi có đủ giết được ta hay không!” bọn Cam Phụng Trì vốn muốn cùng Lữ Tứ Nương vây công, nhưng thấy y huênh hoang, rõ ràng là nói sáu người họ không phải là đối thủ của y, Châu Tầm lên tiếng trước: “Hay lắm, bọn ta sẽ để cho ngươi chết được nhắm mắt, vậy ngươi muốn thế nào?” Lữ Tứ Nương nói: “Ta và ngươi không có tình đồng môn, hôm nay ngươi không thể nào thoát được!” Liễu Ân tức giận nói: “Nếu trận thứ nhất ta thua, các ngươi sẽ định tội, nếu ta thắng, sẽ lại tỉ thí với ả tiện tì kia!” trong số các đồng môn, y ngại nhất là Lữ Tứ Nương, nhưng nghĩ thầm: “Nếu đơn đả độc đấu chắc chắn có thể thắng nàng” nên mới dùng lời gạt nàng ra ngoài rồi vung gậy cao giọng kêu: “Được, các ngươi cùng xông lên!” rồi bổ một gậy về phía Châu Tầm!

Võ công của Châu Tầm không giỏi lắm, y rút cây kích gạt lên, chỉ thấy hai tay đều tê rần, Cam Phụng Trì phóng vọt tới, tay phải cầm đơn đao đánh một chiêu Bạt Vân Kiến Nhật, chém ngang qua, tay trái móc lại thi triển thủ pháp Cầm Nã móc mạch môn của Liễu Ân, rõ biết là không kìm chế y được, dụng ý chẳng qua là yểm hộ cho Châu Tầm. Liễu Ân lanh lẹ lạ thường, y quét đơn đao của Cam Phụng Trì ra, rồi đánh vù một chưởng, bề ngoài là đánh Cam Phụng Trì ở trước mặt nhưng thực sự là đánh Lộ Dân Đảm ở bên cánh trái, Châu Tầm lướt bước giơ kích đâm mũi kích vào sau ót của Liễu Ân, Liễu Ân rùng người xuống, cây trượng đẩy ra sau kêu keng một tiếng, gạt cây phương thiên họa kích của Châu Tầm bay ra, chưởng trái vỗ vào ngực của Lộ Dân Đảm, Bạch Thái Quan nhảy vọt lên, bổ cây Quỷ Đầu đao xuống, chàng ta liền múa tít Bàn long đao pháp, nhất thời một vòng ngân quang chói lòa trước mắt Liễu Ân, Liễu Ân buộc phải rút chưởng phòng thân, thi triển thủ pháp tay không đoạt binh khí lao vào Bạch Thái Quan, tay phải cầm thiền trượng quét một lượt mấy món binh khí ra ngoài. Lý Nguyên bị thương vẫn chưa bớt, y múa cây roi bảy đốt quét xuống hạ bàn của Liễu Ân, Liễu Ân xoáy cây thiền trượng, cây roi bảy đốt quấn lên cây trượng, Liễu Ân quát: “Đi!” rồi ngầm vận nội lực giật một cái, cây roi bảy đốt của Lý Nguyên bị chấn động đứt thành ba đoạn. Lý Nguyên cả kinh nhảy ra khỏi vòng, Châu Tầm nhặt cây kích tiếp tục xông lên, Tào Nhân Phụ nói: “Lục đệ, hãy nghỉ một lát”. Lý Nguyên nghiến răng: “Cùng tiến cùng lui, không giết lão tặc, thề không ngừng tay!” rồi tháo sợi đai ra, múa tít tựa như con Du long, vẫn triển khai chiêu số nhuyễn tiên. Sợi dây đai hoàn toàn không chịu lực, không sợ bị đánh đứt, tuy không dồn Liễu Ân vào chỗ chết nhưng cũng có tác dụng kìm chế. Tào Nhân Phụ sử dụng một cây thiết tì bà có thể khóa chụp các loại binh khí hoặc cổ tay, trong cây tì bà lại chứa ám khí, lúc này cũng liều mạng già xông tới, Liễu Ân không dám không đề phòng.

Đôi bên đánh nhau đến trời đất tối sầm, nhật nguyệt tắt ngấm. Liễu Ân dốc hết tuyệt kỹ, chỉ nghe trượng phong kêu lên vù vù, trong phạm vi mấy trượng đều là tiếng gió, những người có công lực hơi thấp đều bị trượng phong đánh lệch binh khí ra. Nhưng bọn Châu Tầm lấy sáu địch một hô ứng lẫn nhau, Liễu Ân cũng không dễ phá vỡ trận thế. Lại thêm Cam Phụng Trì chỉ kém Liễu Ân không bao nhiêu, chàng và Bạch Thái Quan hợp lực tấn công trung lộ, chặn cây thiền trượng của Liễu Ân. Tào Nhân Phụ và Lộ Dân Đảm tấn công ở mặt trái mỗi khi nguy cấp, Tào Nhân Phụ lại nhấn vào cây thiết tì bà phóng ra ám khí; Lý Nguyên và Châu Tầm tấn công cánh phải phối hợp kìm chế. Sáu người chia thành ba nhóm bao vây Liễu Ân.

Quần hùng trên núi đều kinh tâm động phách, tuy trong lòng nôn nóng nhưng không tiện rút đao tương trợ. Lữ Tứ Nương thì khí định thần nhàn, dựa vào gốc cây đứng xem, chốc chốc lại mỉm cười. Huyền Phong nói: “Xem ra Giang Nam lục hiệp không thắng được sư huynh của họ, trận thứ hai chỉ có một mình Lữ Tứ Nương càng khó thắng hơn, có lẽ tên hung tăng này sẽ thoát hiểm!”

Dương Trọng Anh nói: “Nếu y thắng liền hai trận, khi xuống núi chúng ta lại sẽ chặn đánh y tiếp. Chúng ta trừ hại cho võ lâm, chẳng liên quan gì đến việc họ thanh lý môn hộ”. Liễu Tiên Khai cười nói: “Lão tiền bối không cần lo lắng, lát nữa xin mời xem Lữ Tứ Nương ra tay”. Trong Quan Đông tứ hiệp, Liễu Tiên Khai đã từng lãnh giáo bản lĩnh của Lữ Tứ Nương nên rất có lòng tin đối với nàng.

Đôi bên đã quần thảo một canh giờ, bọn sáu người Châu Tầm đều cảm thấy công lực của Liễu Ân cao hơn trước, Liễu Ân cũng cảm thấy sáu sư đệ không còn như ngày trước. Trong lúc kịch chiến Liễu Ân dần dần toát mồ hôi trán, hơi thở nặng nề, hai bên vẫn khó phân thắng bại. Liễu Ân thầm nhủ: “Không xong, mình vốn có sở trường dẻo dai, nhưng lúc này không nên đánh lâu với bọn chúng nữa”. Thế là trượng pháp thay đổi, liên tục đánh ra những đòn sát thủ. Cam Phụng Trì và Bạch Thái Quan dốc hết toàn lực mới chặn được, bốn người kia không dám tiến tới gần, Liễu Ân đánh vù một trượng, binh khí của hai người Cam, Bạch đều dạt ra, y quát lớn: “Ngừng tay! Trận này coi như huề nhau, ta muốn xem công phu của ả tiện tì kia có tiến bộ gì hay không?” y nói thế có nghĩa tự coi mình là sư huynh Chưởng môn, nói xong nhảy ra khỏi vòng chiến, giơ ngang cây gậy trước ngực trừng mắt nhìn Lữ Tứ Nương.

Trận đánh này khiến Liễu Ân tốn không ít khí lực, bọn Châu Tầm cũng đã mệt rã rời. Cam Phụng Trì nghĩ, nếu cứ giằng co tiếp, sẽ nắm chắc phần thắng trong tay nhưng cũng có một hai người bị nội thương, bởi vậy mới cầm đao lui xuống, tỏ vẻ đồng ý. Bọn Châu Tầm cũng lùi theo. Lữ Tứ Nương mỉm cười, phóng vọt vào giữa sân.

Liễu Ân định thần, quát: “Nếu trận này ta thắng, đôi bên không được trả thù nhau”. Câu này cho thấy y đã hơi nhụt chí. Lữ Tứ Nương nói: “Xin tuân lệnh!” rồi đâm soạt tới một kiếm. Liễu Ân lật cây trượng, đánh một chiêu Phiên Giang Đảo Hải cuộn tới, bọn ba người Châu Tầm, Tào Nhân Phụ và Lý Nguyên chưa bao giờ thấy bản lĩnh của nàng tiểu sư muội, nhìn Liễu Ân đánh ra chiêu hiểm độc đều không khỏi thất kinh! Cam Phụng Trì nói: “Không sao!” chợt nghe Lữ Tứ Nương hú dài một tiếng, chân trái đạp vào đầu trượng, mượn lực đạp ấy lộn người lên lướt qua đầu Liễu Ân, người chưa hạ xuống đã đánh tròn cây Sương Hoa kiếm trên không trung, sử dụng chiêu số Bằng Bác Cửu Tiêu, đâm vào cái đầu trọc của Liễu Ân! Quần hùng đều khen hay, Liễu Ân vung cây trượng lướt lên, đánh ra một chiêu Cử Hỏa Thiêu Thiên, gạt kiếm của Lữ Tứ Nương ra, thầm thất kinh: “Công phu của ả tiện tì lại cao hơn trước nhiều”.

Lữ Tứ Nương thấy Liễu Ân sau trận đánh kịch liệt mà dư thế vẫn còn, nàng chẳng dám coi thường, thế là triển khai Huyền Nữ kiếm pháp, kiếm thế như cầu vồng tấn công tới. Liễu Ân múa cây thiền trượng, thấy chiêu phá chiêu, thấy thức phá thức, cũng có công có thủ.

Đánh được nửa canh giờ vẫn chưa phân thắng bại. Liễu Ân vừa thất kinh vừa hối hận: “Hừ, sớm biết như thế không nên tốn khí lực với sáu tên kia”. Lữ Tứ Nương thấy y có ý khiếp sợ, kiếm chiêu càng gắt hơn, đúng như sông dài biển rộng cuồn cuộn xốc tới. Liễu Ân nghiến răng quát lớn một tiếng, dốc hết nội gia chân lực múa tít cây trượng, một trượng như núi bao bọc kiếm quang của Lữ Tứ Nương!

Bọn Châu Tầm lại thất kinh, một hồi sau chỉ thấy một luồng ngân quang luồn qua lách lại trong rừng bóng trượng. Lúc này họ đã không nhìn thấy đâu là Liễu Ân đâu là Lữ Tứ Nương nữa.

Té ra Lữ Tứ Nương sớm liệu rằng cuối cùng rồi cũng sẽ quyết chiến với Liễu Ân, nên ngoại trừ kiếm pháp, trong thời gian năm năm ở Tiên Hà lĩnh, nàng đã âm thầm tu luyện nội công, nghiên cứu kỹ càng nội công yếu quyết của sư phụ và Dịch Lan Châu, bởi vậy tiến bộ rất nhiều về mặt nội công, so với Liễu Ân cũng chẳng kém bao nhiêu. Mà Liễu Ân vừa trải qua một trận kịch chiến, khí lực đã hao tổn mất một nửa, bởi vậy giờ đây Lữ Tứ Nương không những chiếm thượng phong về kiếm pháp mà cả về công lực cũng ngang tay với Liễu Ân! Trước đây sở dĩ Lữ Tứ Nương thua Liễu Ân là bởi công lực không thâm hậu bằng y, mà giờ đây công lực đôi bên lại ngang bằng nhau, Liễu Ân mới bạo dạn tấn công chẳng hề e ngại.

Với bản lĩnh của Liễu Ân, dẫu đã lọt xuống thế hạ phong nhưng vẫn có thể đánh thêm nửa ngày, thế mà giờ đây y lại nôn nóng lo sợ, cố gắng tốc chiến tốc quyết, dốc hết toàn lực liều mạng tấn công, Lữ Tứ Nương lấy khỏe đợi mệt, thừa cơ tấn công, lại đánh được nửa canh giờ, Liễu Ân đã lộ vẻ mệt nhọc, đang lúc kịch đấu quần hùng chợt nghe một trận cười dài, Liễu Ân cầm trượng tháo chạy, té ra y đã bị Lữ Tứ Nương đâm mù một mắt.

Lữ Tứ Nương khinh công trác tuyệt, nào để cho y chạy thoát, nàng phóng người lên, chặn trước mặt Liễu Ân, kiếm quang đánh ra loang loáng buộc Liễu Ân thối lui trở về!

Lúc này Liễu Ân tựa như một con hổ dữ bị thương, y múa cây thiền trượng kêu lên vù vù xông tới. Cam Phụng Trì kêu: “Bát muội cẩn thận!” Lữ Tứ Nương định thần ứng phó, thanh kiếm đánh tựa như bươm bướm xuyên hoa, bước chân lanh lẹ như linh miêu bắt chuột, người mềm mại như cành liễu đu đưa trước gió, Liễu Ân đánh cây thiền trượng sang phía Đông, nàng tránh phía Tây, Liễu Ân quét cây thiền trượng đến phía Nam nàng lách sang phía Bắc; nhưng không chỉ né tránh, trong khi né tránh nàng cũng liên tục tấn công. Lại một hồi kịch chiến, quần hùng chợt thấy hoa mắt, chỉ nghe Liễu Ân kêu thảm, con mắt còn lại cũng bị Lữ Tứ Nương đâm mù. Lữ Tứ Nương lách người tới, hớt ngang thanh kiếm, định cắt đầu Liễu Ân xuống, nàng chợt nghĩ lại dẫu sao y cũng là đại đệ tử của sư phụ, đã từng chỉ điểm võ công cho sáu sư huynh bởi vậy nên giữ cho xác y nguyên vẹn, nên kiếm đi được nửa đường đột nhiên thay đổi, mũi kiếm nàng điểm nhẹ vào huyệt đạo dưới be sườn của Liễu Ân một cái, Liễu Ân kêu lớn, phóng cây thiền trượng ra phía trước, trước khi chết mà kình đạo của y vẫn còn ghê gớm đến thế, Lữ Tứ Nương nghiêng mình lách qua, cây thiền trượng cắm sâu vào vách núi chỉ còn lộ ra một đoạn rất ngắn.

Liễu Ân có võ công tuyệt đỉnh, chỉ vì một ý nghĩ sai lầm mà đi vào nẻo tà, giờ đây phải chết thảm trước mộ sư phụ, quần hùng đều thở dài lấy đó làm gương. Cam Phụng Trì nghĩ trước đây y từng thay sư phụ truyền võ nghệ cho mình, bởi vậy cũng than: “Nếu huynh chịu nghe theo di huấn của sư phụ, đâu đến nỗi có kết quả như hôm nay”. Mọi người bàn bạc một hồi, quyết định chôn y bên cạnh mộ sư phụ, lập bia nói rõ mọi việc đã năn người đời sau. Mọi người đều quyết định do Lữ Tứ Nương chấp bút, Lữ Tứ Nương cùng Lộ Dân Đảm vào căn nhà đá trước kia Độc tý thần ni ở để tạc văn bia. Cam Phụng Trì ngồi một mình im lặng chẳng nói, chợt nghe bên ngoài tựa như có tiếng người, Lữ Tứ Nương cũng kinh ngạc, vội vàng đẩy cửa ra. Khi ra đến chỗ mộ địa chẳng thấy bóng người, nhưng đầu của Liễu Ân đã không còn nữa.

Chính là:

Đang mừng Mang Sơn diệt phản đồ, ngạc nhiên ban ngày mất thủ cấp.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 27: Ngày trắng mất đầu đồng môn thêm kẻ địch Nước biếc soi hình ngọc nữ nhọc lòng lo

Lữ Tứ Nương kêu ủa một tiếng, nhíu mày nói: “Ai mà lớn gan dám lên Mang Sơn đánh cắp đầu?” Cam Phụng Trì cúi người xuống đất lắng nghe, nói: “Vẫn còn chưa đi xa, mau đuổi về phía Bắc!” bọn Bạch Thái Quan cùng Quan Đông tứ hiệp vội vàng đuổi theo. Cam Phụng Trì nói: “Phiền Lang Nguyệt thiền sư và Nguyên Bá đại ca ở đây trấn thủ, tam ca ngũ ca và Dương lão anh hùng đến lối ra ở phía Nam xem thử. Nhị ca và tứ ca canh giữ trong am, những người khác hãy đuổi theo cùng tôi”.

Cam Phụng Trì đuổi một hồi, chợt phát hiện có bốn người đang chạy xuống núi như bay. Lữ Tứ Nương lướt xuống như sao xẹt, đến lưng chừng núi thì nhìn rõ bọn chúng là Thiên Diệp Tản Nhân, Xa Tịch Tà, Đổng Cự Xuyên và Cam Thiên Long.

Số là Niên Canh Nghiêu buộc Liễu Ân làm phản, trong lòng thấp thỏm không yên, về đến doanh trại thì Ung Chính (sau khi lên ngôi, Ung Chính đổi niên hiệu là Ung Chính. Từ đây sách sẽ gọi Ung Chính là Ung Chính) đích thân đến thăm, Niên Canh Nghiêu vội vàng vào trại khấu kiến. Ung Chính rất hài lòng về chuyện y đã giải quyết Dận Đề. Niên Canh Nghiêu hơi yên bụng, thừa cơ bẩm rằng: “Liễu Ân cậy công coi thường bề trên, không những không nghe tướng lệnh của hạ thần mà còn nói xấu Thánh thượng sau lưng, bảo rằng Thánh thượng có ngày hôm nay toàn là nhờ công lao của y. Hạ thần vừa nó được vài câu y đã tức giận bỏ đi. Chắc là y muốn về cung diện thánh cáo tội hạ thần”.

Ung Chính đảo mắt, cười ha hả: “Ta đang muốn gặp y!” Niên Canh Nghiêu giật mình, sắc mặt tái nhợt. Ung Chính vỗ vai Niên Canh Nghiêu, nói: “Niên tướng quân, khanh là trụ cột của trẫm, thống suất đại quân, ngày đêm cực nhọc. Cần gì phải nổi giận vì một tên thất phu”. Rồi lại cười nói: “Y muốn gặp ta? Chỉ e khi y đến gặp ta đã không thể nói được lời nữa!” rồi lập tức gọi bọn Thiên Diệp Tản Nhân, Xa Tịch Tà, Đổng Cự Xuyên, Cam Thiên Long tới ban chỉ rằng: “Hạn cho các ngươi trong vòng mười ngày phải lấy thủ cấp Liễu Ân về gặp ta!” Ung Chính đang còn phải nhờ vào Niên Canh Nghiêu nên thừa cơ hy sinh luôn Liễu Ân để vỗ về y. Bọn Thiên Diệp ra khỏi trướng, Niên Canh Nghiêu mới dập đầu xuống bẩm rằng: “Ơn lớn của chúa thượng, tiểu tướng dù gan óc đầy đất cũng không thể không báo”. Ung Chính mỉm cười kéo y dậy, nói: “Trẫm còn có việc lớn bàn với khanh”. Rồi cùng Niên Canh Nghiêu vào sau trướng bàn kín.

Bọn Thiên Diệp Tản Nhân đi tìm Liễu Ân, Liễu Ân tướng mạo hung dữ, lại là một hòa thượng nên tìm kiếm không khó. Bọn Thiên Diệp tuy biết Liễu Ân lợi hại nhưng nghĩ bụng với bốn người đủ sức giết chết y nên mới bạo dạn đuổi lên tới Mang Sơn. Không ngờ khi lên đến Mang Sơn Liễu Ân đã chết, bọn Thiên Diệp Tản Nhân thất kinh, vội vàng cắt đầu Liễu Ân chạy xuống núi.

Lữ Tứ Nương đuổi xuống lưng chừng núi, cười lạnh mắng rằng: “Bọn ngươi thật lớn gan, ai cho phép các ngươi làm loạn ở đây?” Xa Tịch Tà thấy chỉ có một mình Lữ Tứ Nương, thầm nhủ: “Kiếm pháp của ả tiện tì này lợi hại, mình phải thử xem sao”. Rồi chỉ cây trường kiếm về phía trước đánh ra một chiêu Đẩu Chuyển Tinh Hoành, quét ngang qua, Lữ Tứ Nương cười lạnh, đẩy cây Sương Hoa kiếm ra ngoài, lập tức một luồng ngân quang bùng lên, nàng chỉ xoáy nhẹ một cái đã phá được chiêu số của kẻ địch. Xa Tịch Tà đang định xuất chiêu, Lữ Tứ Nương xỉa mũi kiếm về phía trước nhanh như điện chớp, đâm soạt vào cổ họng của y, Xa Tịch Tà gạt ngang thanh kiếm, kiếm của Lữ Tứ Nương trượt xuống tựa như con ngân xà, Xa Tịch Tà vội thối lui ba bước mà vẫn không né tránh kịp, cổ tay đã bị mũi kiếm vạch một đường, hầu như không cầm được kiếm nữa. Thiên Diệp Tản Nhân thấy thế nguy cấm, vội vàng đánh ngang một chưởng mới giải nguy được cho Xa Tịch Tà, lớn giọng quát: “Tiện tì, ngươi đã hại sư huynh của ngươi, đáng tội gì?”

Lữ Tứ Nương nổi cáu mắng: “Liên quan gì đến ngươi? Mau trả thủ cấp của Liễu Ân!” rồi đâm tới soạt soạt hai kiếm, đấu với Thiên Diệp Tản Nhân, Xa Tịch Tà lách mình tấn công từ mặt bên. Đổng Cự Xuyên nói: “Ả còn có bè đảng, chạy mau!” Thiên Diệp Tản Nhân đánh một đòn Thủ huy tì bà, vung chưởng phản công, Lữ Tứ Nương trả lại một kiếm, võ công của Thiên Diệp Tản Nhân chẳng kém gì Liễu Ân, chưởng trái biến thành quyền, đánh ra một chiêu Ngự Bộ Ban Lan, Lữ Tứ Nương rút kiếm phản công, Xa Tịch Tà đánh hờ một chiêu, thừa thế phóng ra, lúc này Cam Phụng Trì, Huyền Phong đạo trưởng và Liễu Tiên Khai cũng chạy tới giao thủ với Đổng Cự Xuyên, Cam Thiên Long. Xa Tịch Tà vung kiếm xông tới, không ngờ trúng một đòn của Liễu Tiên Khai, đầu đau như muốn nứt ra, buộc phải du đấu với Liễu Tiên Khai. Một hồi sau, quần hùng cũng đều kéo tới, Thiên Diệp Tản Nhân chẳng có lòng nào đánh tiếp, thế là phân hai tay, chưởng trái bạt nhẹ vào chui kiếm của Lữ Tứ Nương, chưởng phải chặt vào cổ tay của nàng. Đây là chiêu lấy công làm thủ rất lợi hại, Lữ Tứ Nương xoay mũi kiếm, thân rê bước đổi, biến chiêu chặt xéo xuống, chỉ trong chớp mắt Thiên Diệp Tản Nhân đã thoát ra khỏi vòng kiếm quang của Lữ Tứ Nương.

Huyền Phong đạo trưởng và Bạch Thái Quan xông tới, Thiên Diệp Tản Nhân quát lớn một tiếng, tay trái đánh ra một chiêu Thần Ưng Phốc Thố chụp xuống đầu Bạch Thái Quan, tay phải dẫn cây gậy sắt của Huyền Phong qua, thừa thế tránh được kiếm chiêu trên tay phải của ông ta. Chỉ trong chớp mắt Thiên Diệp Tản Nhân đã liên tục tránh được ba món binh khí đánh kẹp tới, còn có thể phản công, Huyền Phong cả giận, thi triển kiếm chiêu cùng Bạch Thái Quan tấn công từ hai bên trái phải.

Lữ Tứ Nương quát: “Không trả thủ cấp của Liễu Ân, đừng hòng xuống núi!” Thiên Diệp Tản Nhân chẳng nói một lời, trở tay đánh vù ra một chưởng, đẩy cây kim đao của Bạch Thái Quan ra, lại xoay người tránh nhát kiếm của Huyền Phong đạo trưởng, hai tay vung lên, phóng vọt lên cao hơn một trượng, lướt qua đầu Huyền Phong đạo trưởng.

Lữ Tứ Nương biết Huyền Phong đạo trưởng háo thắng, nên không muốn lấy ba địch một, cùng tấn công kẻ địch. Lúc này Thiên Diệp Tản Nhân dùng Đại suất bi thủ đánh lui sư huynh, vội vàng bỏ chạy, Thiên Diệp Tản Nhân chạy như con gió lốc, phất ống tay áo, đẩy Liễu Tiên Khai ra, nhờ vậy Xa Tịch Tà mới thoát thân chạy xuống núi. Trong khoảng sát na ấy, Lữ Tứ Nương lướt theo như hình với bóng, một luồng thanh quang đâm thẳng vào lưng của Thiên Diệp Tản Nhân, Thiên Diệp Tản Nhân cười dài vung tay, quát: “Nhận lấy!” một cái tay nải màu đỏ phóng tới trước mặt Lữ Tứ Nương, nàng cúi đầu vươn tay hớt lấy cái tay nải ấy, Thiên Diệp Tản Nhân nói: “Trả lại sư huynh cho ngươi!” Lữ Tứ Nương chạm vào cái tay nải chỉ thấy tròn tròn, nghĩ bụng chắc trong tay nải là đầu của Liễu Ân, lúc này Thiên Diệp Tản Nhân đã phóng xuống núi.

Đổng Cự Xuyên và Cam Thiên Long đang đánh nhau với Cam Phụng Trì, thấy thế không xong, y cũng xoay người lăn xuống núi. Y luyện công phu Bát quái lưu thân chưởng, xương cốt của toàn thân có thể hoạt động như ý, lăn xuống núi mà chẳng hề bị thương. Trong bốn kẻ lên Mang Sơn, Cam Thiên Long có võ công kém nhất, đang định chạy theo, Cam Phụng Trì quát lớn một tiếng trở tay vung ra một chưởng, Cam Thiên Long vừa mới chạy được hai bước, chợt cảm thấy sau lưng như bị trúng một nhát búa, y kêu thảm một tiếng hộc máu mồm, té nhào xuống đất. Cam Phụng Trì đang định chạy đuổi theo, Lữ Tứ Nương nói: “Đã lấy được đầu của Liễu Ân, cứ để mặc y”. Cam Phụng Trì mở tay nải ra, chỉ thấy đầu của Liễu Ân máu vẫn chưa khô, vẻ mặt trông rất nanh ác đáng ghét, chợt nhớ lại năm xưa y thay thầy truyền võ nghệ cho mình, bao nhiêu chuyện xưa dâng lên trong lòng, bất giác rơi nước mắt, thở dài: “Thôi, chúng ta nối thủ cấp của y lại, coi như y chết cũng toàn thây”. Rồi kẹp Cam Thiên Long về trước mộ sư phụ.

Lúc này bọn Lý Nguyên vẫn chưa về, trời đã tối, ráng chiều còn lửng lờ ở phía Tây, Lữ Tứ Nương chợt nói: “Nhìn xem, bên góc trời có áng mây đỏ!” áng mây đỏ ấy trông rất kỳ lạ, tựa như một bức màn màu đỏ căng ra giữa lưng trời, Huyền Phong nói: “Mây đỏ xuất hiện chắc chắn có họa máu rơi!” Lữ Tứ Nương nói: “Sao lại thế!” một hồi sau, áng mây đỏ càng lúc càng mở rộng, chân trời phía Nam đỏ một lúc rất lâu, Cam Phụng Trì chợt kêu lên: “Tung Sơn bốc lửa!” mọi người đều lên cao nhìn, quả nhiên thấy ở phía Tung Sơn thấp thoáng bóng lửa.

Mang Sơn và Tung Sơn cách xa nhau đến hơn ba trăm dặm, thế mà đứng ở Mang Sơn có thể thấy được lửa bốc cháy ở Tung Sơn, đủ biết thế lửa mạnh đến mức nào, Lữ Tứ Nương và Cam Phụng Trì nhìn nhau, Bạch Thái Quan ngạc nhiên nói: “Chùa Thiếu Lâm có năm trăm tăng nhân, ai nấy thân mang tuyệt kỹ, sao không dập tắt lửa mà để lửa cháy ngùn ngụt như thế, thật là kỳ lạ!” Lữ Tứ Nương nói: “E rằng đây là mồi lửa của triều đình!” Cam Phụng Trì run bần bật, chợt chụp Cam Thiên Long giở lên, quát: “Ai đã đốt lửa?” Cam Thiên Long cười gằn nói: “Bọn ngươi đã đoán trúng, cần chi phải hỏi ta! Lớn mạnh như Thiếu Lâm tự mà đối chọi với triều đình cũng có kết cuộc như thế! Vài người các ngươi làm được chuyện quái gì? Hãy mau thả lão tử!” Cam Phụng Trì cười lạnh, vung chỉ xỉa vào be sườn của y, Cam Thiên Long chợt cảm thấy như trong người có vô số con rắn nhỏ bò lúc nhúc, đau đến nỗi kêu lên thảm thiết. Cam Phụng Trì nói: “Tại sao các ngươi lên Mang Sơn đánh cắp đầu, hãy mau khai thật! Nếu không sẽ còn chịu khổ nữa!” Cam Thiên Long buộc phải khai thực. Cam Phụng Trì nghiến răng mắng: “Không ngờ Ung Chính và Niên Canh Nghiêu lại ác độc đến thế. Đáng tiếc tên này đến trễ nửa ngày, nếu không Liễu Ân đã biết được bán mạng cho Hoàng đế sẽ có kết quả như thế nào!” Cam Thiên Long khai xong, Cam Phụng Trì giở y lên ném xuống sơn cốc. Lúc này phía Tung Sơn thế lửa càng lúc càng lớn, nhìn từ xa tựa như một con trường xà màu đỏ bao vây Tung Sơn, Bạch Thái Quan lo lắng nói: “Sao tam ca và lục đệ vẫn chưa trở về?” Lữ Tứ Nương ngẩng đầu cười nói: “Ngũ ca đừng lo lắng, họ đã về kia rồi! Ồ, sao lại thêm một người nữa!” lúc nãy chỉ có ba người Dương Trọng Anh, Lộ Dân Đảm và Lý Nguyên đi xem ở phía Nam, giờ đây lại có thêm một người nữa.

Chỉ trong chớp mắt, bốn người đã lên núi, Lữ Tứ Nương kêu: “Ồ, sao Nhất Phiêu đại sư ngài cũng đến đây? Còn Tại Khoan đâu?” Nhất Phiêu hòa thượng buồn bã ngã xuống đất, một lát sau vẫn không nói ra lời. Lữ Tứ Nương nhìn ông ta, bất giác lo lắng nói: “Ông đã bị thương, may mà không nặng”.

Té ra hôm ấy Phùng Anh rời khỏi nhà họ Niên, vội vàng lên Mang Sơn, khi lên đến Mang Sơn trời đã tối, nàng lên từ mặt Nam của Mang Sơn, vừa vào cửa núi, chợt có một người xông ra mắng: “Hừ, ả nữ tặc nhà ngươi cũng dám đến Mang Sơn! Phi đao của ngươi đâu?” người ấy vừa mắng vừa đánh tới, phía sau lại còn có một nhà sư và một thiếu niên, ba người này là Lý Nguyên, Lộ Dân Đảm và Dương Trọng Anh. Lý Nguyên từng trúng một đao của Phùng Lâm, bởi vậy lần này chợt gặp Phùng Anh, chỉ tưởng rằng Phùng Lâm tự chui đầu vào lưới nên nào chịu bỏ qua.

Phùng Anh nghe thế rất ngạc nhiên, vội vàng né tránh, hỏi: “Này, ngươi nói gì thế? Ngươi là ai?” Lý Nguyên lại nhảy bổ tới một bước, vung sợi roi đánh một chiêu Trường Xà Nhiêu Thụ, quét vào eo của Phùng Anh, mắng: “Nữ tặc, dù ngươi có thành tro ta cũng nhận ra ngươi!” võ công của Lý Nguyên chẳng kém gì Bạch Thái Quan, lại thêm đang tức giận nên ra tay rất nhanh nhẹn, Phùng Anh né tránh mấy lần suýt nữa đã bị y quét trúng, tức giận kêu: “Ngươi thật vô lý, đừng trách ta không nương tay”. Rồi rút soạt thanh kiếm ra, Lý Nguyên đánh hụt một chiêu, chợt thấy ở sau ót có gió quát tới, té ra kẻ địch đã vòng ra sau lưng mình. Lý Nguyên vội vàng rê người đổi bước, chỉ thấy mũi kiếm sáng loáng đâm vào cổ họng của mình, Lý Nguyên vung sợi đai lướt tới tấn công, toan đoạt thanh kiếm của Phùng Anh, nào ngờ Phùng Anh học được chân truyền Thiên Sơn kiếm pháp, kiếm chiêu đánh ra rất lợi hại. Lý Nguyên dù không bị thương cũng không phải là đối thủ của Phùng Anh, huống chi chàng bị thương chưa hết, lại đã từng kịch đấu với Liễu Ân!

Lộ Dân Đảm thấy đồng môn bị nguy, rút đao trợ chiến, Dương Trọng Anh cũng rất lấy làm ngạc nhiên, thầm nhủ: “Kiếm pháp của ả thiếu nữ này thật lợi hại”. Hai người Lý, Lộ sánh vai tác chiến mà vẫn thủ nhiều công ít, lọt xuống thế hạ phong, đang lúc kịch chiến Lộ Dân Đảm thay đổi đao pháp, chân bước theo bộ pháp của Bát quái chưởng, đi vào cung ly, chạy đến vị khảm, đánh ra một chiêu Thần Long Đẩu Giáp, lưỡi đao chặt vào bả vai của kẻ địch, Phùng Anh đổi hai chiêu mà vẫn không trúng vào binh khí của y thì rất ngạc nhiên. Té ra Độc tý thần ni suốt đời nghiên cứu võ học, tinh thông hết thảy mười tám ban võ nghệ nên mỗi môn đồ đều sử dụng một loại binh khí khác nhau, đều có sở trường riêng biệt. Lộ Dân Đảm được bà truyền cho Bát Quái Tử Kim đao pháp, tấn công theo phương vị của ngũ hành bát quái, trong thủ có công, chuyên dùng để khắc chế kẻ cường địch. Phùng Anh đánh mấy chiêu mà vẫn không chiếm được phần hơn, trong lòng lo lắng, kiếm chiêu thay đổi thi triển Tu Di kiếm thức trong Thiên Sơn kiếm pháp ra.

Lộ Dân Đảm tuy có sở trường về đao pháp nhưng rốt cuộc vẫn không thần diệu bằng Thiên Sơn kiếm pháp, nhất là Đại Tu Di kiếm thức trong Thiên Sơn kiếm pháp biến hóa ảo diệu, không thể nào sánh nổi, mỗi chiêu đều hàm chứa rất nhiều biến hóa. Trên đời này chỉ có Huyền Nữ kiếm pháp của Độc tý thần ni truyền lại mới có thể kháng cự nổi. nhưng chỉ có Lữ Tứ Nương học được môn kiếm pháp này. Lộ Dân Đảm và Lý Nguyên đều luống cuống tay chân. Dương Trọng Anh thấy thế không xong, rút đạn cung bắn liên tục mấy phát.

Phùng Anh thấy Dương Trọng Anh phóng ám khí, cười thầm: “Đại Tu Di kiếm thức của mình rẩy nước vào còn không lọt, mấy viên đạn nhỏ của y làm gì được mình!” rồi kiếm chiêu đánh gấp lên, vẫn tiếp tục tấn công hai người Lý, Lộ, chẳng thèm coi đạn cung của Dương Trọng Anh vào đâu. Chợt nghe mấy tiếng leng keng vang lên, Phùng Anh thấy hổ khẩu đau nhói, kiếm chiêu đã mất chuẩn, Tử Kim đao của Lộ Dân Đảm và sợi dây đai của Lý Nguyên thừa cơ tấn công vào!

Té ra Đại Tu Di kiếm thức tuy thần diệu vô cùng, thần đạn của Dương Trọng Anh cũng không thể bắn vào được nhưng công lực của Phùng Anh vẫn còn kém, thần đạn của Dương Trọng Anh không những chính xác mà kình lực cũng rất mạnh, may mà thanh kiếm của Phùng Anh là kiếm quý chứ nếu không đã bị thần đạn bắn mẻ.

Phùng Anh cả kinh, may mà Dương Trọng Anh chỉ bắn một loạt đạn, khi hai người Lý, Lộ tấn công tiếp, nàng lại có thể múa kiếm chống cự.

Phùng Anh thất kinh, mà Dương Trọng Anh càng thất kinh hơn, xưa nay thần đạn của ông ta thiên hạ vô địch, thế mà chẳng bắn trúng được một viên, các đạn sắt đã bị bảo kiếm đánh vỡ! Nếu kẻ địch là nhân vật thành danh thì chẳng có điều gì lạ, thế mà kẻ địch lại là một ả thiếu nữ mới mười mấy tuổi đầu! Dương Trọng Anh không biết rằng, kiếm Đoạn Ngọc của Phùng Anh là bảo kiếm, lại thêm nàng học được kiếm pháp tinh diệu nên vẫn có thể chống cự nổi.

Đạn cung vừa hết, Lý Nguyên và Lộ Dân Đảm lại buộc thối lui từng bước, Lý Nguyên kêu: “Dương tiền bối, mau bắn đạn!” Dương Trọng Anh lại tiếp tục phóng đạn, hai người Lý, Lộ mới có thể đánh ngang tay với Phùng Anh.

Sau một hồi, một hộp sáu mươi tư viên thiết đạn của Dương Trọng Anh đã hết, Phùng Anh vẫn chưa rút lui, Dương Trọng Anh là nhân vật đã thành danh, ông ta cũng không muốn giúp hai người Lý, Lộ tấn công một ả thiếu nữ nữa. Vả lại Dương Trọng Anh tuy không biết kiếm pháp của Phùng Anh nhưng cũng thầm khâm phục, lòng mến tài nổi lên, ông ta kêu lớn: “Đây là nơi mộ địa của Độc tý thần ni, hôm nay quần hùng võ lâm đến đây cúng tế, sao lại mang kiếm lên núi? Mau cút xuống núi!” câu này rõ ràng là ý muốn bảo nàng bỏ chạy nhưng Phùng Anh đang chiếm thượng phong, nghe thế thì lửa giận bốc lên, kiếm chiêu đánh ra càng gấp hơn. Trong lúc kịch chiến cây Bát Quái Tử Kim đao của Lộ Dân Đảm đã bị bảo kiếm của Phùng Anh chặt gãy làm đôi. Dương Trọng Anh cả kinh định xông tới trợ chiến, chưa kịp nhảy vào đã thấy Lộ Dân Đảm bị Phùng Anh đẩy lùi đến mép vực, Lộ Dân Đảm vận dụng liền mấy loại thân pháp nhưng không tránh nổi vòng kiếm quang của nàng!

Thực ra Phùng Anh không muốn dồn Lộ Dân Đảm vào chỗ chết, nàng chỉ bực bội bọn họ, định trừng phạt họ mà thôi. Dương Trọng Anh lo lắng, bắn ra ba viên đạn cuối cùng, Phùng Anh hơi chậm lại, từ dưới sườn núi chợt có một người phóng lên, Lộ Dân Đảm kêu: “Nhất Phiêu đại sư cứu tôi!” nhà sư ấy vung quyền đấm vù ra, Phùng Anh kêu lên một tiếng rơi xuống sơn cốc tựa như con diều đứt dây.

Té ra Nhất Phiêu hòa thượng nghe Lộ Dân Đảm kêu, vội vàng chạy đến cứu người, thấy Phùng Anh chỉ là thiếu nữ trẻ tuổi, liền đẩy ra một chiêu Bài Sơn Vận Chưởng, chưởng lực rất mạnh mẽ, nhưng môn hộ đã mở rộng, Phùng Anh vung kiếm đâm vào huyệt Khí Du dưới cổ họng của ông ta, may mà Phùng Anh còn có ý nương tay, thấy Nhất Phiêu đại sư lách người né tránh, nàng đâm lệch mũi kiếm qua vai của ông ta, nhưng bản thân của nàng đã bị chưởng lực đánh rơi xuống sơn cốc.

Lữ Tứ Nương thấy Nhất Phiêu hòa thượng bị thương rất ngạc nhiên, hỏi Dương Trọng Anh: “Là cường địch nào thế?” Lộ Dân Đảm nghiến răng nói: “Chính là ả nha đầu mà chúng ta đã gặp ở Hàng Châu”. Lữ Tứ Nương nghe xong rất ngạc nhiên, nghĩ bụng Phùng Lâm võ công tuy cao nhưng làm sao có thể đả thương nổi Nhất Phiêu đại sư. Nàng đang định lên tiếng, Nhất Phiêu đại sư đã đứng dậy, mỉm cười nói: “Các vị huynh đệ đã trách nhầm rồi!”Ông ta vừa nói như thế, mọi người đều ngạc nhiên. Cam Phụng Trì nói: “Đại sư đã bị thương như thế này, rõ ràng ả thiếu nữ ấy rất độc ác”. Nhất Phiêu cởi áo ngoài, lộ ra vết thương trên vai, chỉ thấy ở nơi xương tì bà có một vết thương rất cạn, ở huyệt Thông Hải còn có một chấm đỏ lớn như đầu đinh, nếu bị điểm vào huyệt Thông Hải khí huyết không thể nào lưu thông được, bởi vậy Cam Phụng Trì đã thôi cung quá huyệt cho ông ta.

Lý Nguyên nói: “Vừa ra tay đã đâm vào yếu huyệt, chẳng phải độc ác sao?” Nhất Phiêu nói: “Lão nạp chưa bao giờ thấy ai có kiếm pháp tinh diệu như nàng ta. Chắc là nàng đã hợp nhất tâm và kiếm nên có thể tùy ý thu phát, lúc nãy nàng chỉ cần dùng lực, chẳng phải xương tì bà của lão nạp đã bị nàng chặt gãy hay sao? Lúc đó lão nạp đã trở thành phế nhân, chẳng thể nào luyện võ được nữa!” Lộ Dân Đảm thầm nhủ: “Với kiếm pháp của ả, đúng là có thể chặt gãy xương tì bà của Nhất Phiêu đại sư. Từ đó có thể thấy hình như ả đã nương tay đối với mình”. Bất giác trong lòng thấy thắc mắc.

Lữ Tứ Nương nói: “Dù thế nào đi nữa chúng ta cũng không thể trừ nàng”. Lý Nguyên nói: “Lẽ nào bát muội nhận ra ả? Ả là ai?” Lữ Tứ Nương nói: “Có thể là truyền nhân của Dịch lão tiền bối, cũng có thể là đồ đệ của Song ma”. Lộ Dân Đảm ngạc nhiên nói: “Sao lại nói thế?” Lữ Tứ Nương đang định kể lại chuyện của Đường Hiểu Lan, chợt nhìn lại Nhất Phiêu rồi im bặt.

Lộ Dân Đảm nói: “Sao bát muội không nói?” Lữ Tứ Nương nói: “Chuyện này rất dài, Nhất Phiêu đại sư từ xa đến đây chắc có việc gấp, chúng ta nghe ông ấy nói thử xem”.

Nhất Phiêu nói: “Cũng chẳng có việc gấp gì, Tại Khoan thấy cô nương đi lâu mà không trở về, bảo lão nạp đem thư đến cho cô nương”. Rồi ông ta lấy bức thư ra đưa cho Lữ Tứ Nương, nói tiếp: “Tháng trước có một người cháu họ của cô nương tên là Lữ Nguyên đến tìm Tại Khoan”. Lữ Tứ Nương vốn đang mỉm cười, vừa mở thư ra xem sắc mặt chợt tái nhợt. Trong thư viết rằng: Ung Chính lên ngôi, lập tức phái quân đến bắt hết gia tộc của Lữ Lưu Lương, chỉ có một mình Lữ Nguyên chạy thoát. Ngoài việc đốt hết sách của Lữ Lưu Lương, bọn chúng còn đào mộ của Lữ Lưu Lương và Lữ Bảo Trung moi xác thị chúng. Lữ Nguyên chạy lên Tiên Hà lĩnh, không gặp Lữ Tứ Nương chỉ đành cho Thẩm Tại Khoan biết việc này. Nhất Phiêu hòa thượng rất nóng nảy, nếu ông ta biết việc này chắc chắn sẽ liều mạng cướp ngục, chẳng giúp ích được gì mà lại có hại, sau khi suy nghĩ, Thẩm Tại Khoan quyết định giấu Nhất Phiêu, chỉ nhờ ông ta đem thư cho Lữ Tứ Nương. Nhất Phiêu thấy Lữ Tứ Nương mặt tái nhợt, hỏi: “Tại Khoan nói gì thế?” Lữ Tứ Nương đưa thư cho ông ta, rút kiếm chém tảng đá bên cạnh làm đôi, ứa nước mắt mà nói: “Thù này không trả, thề không làm người”. Bọn Cam Phụng Trì cũng đã xem xong thư của Thẩm Tại Khoan, nói: “Nếu như thế, chúng ta hãy cùng đi!”

Sáng hôm sau quần hùng xuống Mang Sơn, Lữ Tứ Nương đã bớt đau đớn mới kể lại chuyện của Đường Hiểu Lan, Lý Nguyên nói: “Thế ra Phùng Anh và Phùng Lâm là đôi tỉ muội sinh đôi giống nhau, vậy không biết ta đã gặp Phùng Anh hay Phùng Lâm?” Lữ Tứ Nương nói: “Cả Đường Hiểu Lan cũng không nhận ra, đừng nói là chúng ta”. Cam Phụng Trì nói: “Muốn phân biệt họ chỉ có một cách, võ công của Phùng Anh cao hơn”. Nhất Phiêu nói: “Giả sử võ công của Phùng Lâm cũng tiến bộ thì sao?” Cam Phụng Trì nói: “Vậy chẳng cách nào nhận ra nữa”. Nhất Phiêu nói: “Đường Hiểu Lan đâu?” Lữ Tứ Nương nói: “Y và Thập nhị chỉ thần thâu Trần Đức Thái đến Tuyết Hồn cốc dưỡng thương”.

Nhất Phiêu nói: “Ung Chính vừa mới lên ngôi được mấy tháng mà đã bắt bớ tràn lan, lại còn hỏa thiêu chùa Thiếu Lâm!” Cam Phụng Trì hỏi: “Đại sư có đi ngang qua Tung Sơn không?” Nhất Phiêu nói: “Trên đường tôi gặp đại quân của Niên Canh Nghiêu kéo về phía Tung Sơn, chỉ đành đi đường vòng, không lâu sau thì thấy Tung Sơn bốc lửa, năm trăm cao tăng trong chùa Thiếu Lâm ai nấy đều mang tuyệt kỹ, nếu bị bọn chúng quét sạch một mẻ lưới thì chính là hào kiếp của võ lâm!” Cam Phụng Trì nhớ lại năm xưa mình đã từng đưa Ấn Hoằng lên Tung Sơn, nghe Vô Trú thiền sư dự liệu chùa Thiếu Lâm sẽ có đại kiếp, nói: “Vô Trú thiền sư nhìn xa trông rộng, mong có thể thoát khỏi trận hào kiếp này”. Đứng từ xa nhìn về phía Tung Sơn, thế lửa vẫn chưa tắt, quần hùng đều không khỏi thở dài.

Lại nói Phùng Anh chạy ra khỏi Mang Sơn, nhớ lại mọi chuyện từ trước đến nay, cảm thấy từ khi xuống núi trải qua rất nhiều chuyện kỳ lạ. Trên đường gặp rất nhiều người vô duyên vô cớ đuổi theo nàng, Niên Canh Nghiêu lại coi nàng là người khác, ở Mang Sơn gặp phải một thiếu niên tay cầm dây đai lại bảo mình dùng độc đao đả thương, thật không biết là lẽ gì!

Phùng Anh suy đi nghĩ lại, nhủ rằng: “Chả lẽ trên đời này còn có một người tướng mạo rất giống mình?” rồi nàng đi thẳng đến Trần Lưu, quyết lòng tìm cho ra lẽ.

Lúc này Phùng Lâm cũng có suy nghĩ như nàng. Đêm ấy nàng thoát ra khỏi căn nhà trong khu vườn, đánh cắp một con ngựa chạy ra khỏi Trần Lưu, nhớ lại Lý Trị đã từng xem nàng là đồ đệ của Dịch Lan Châu, lúc nào cũng gọi nàng là “Anh muội”, Niên Canh Nghiêu vừa về đã hỏi nàng có ra khỏi khu vườn hay không, lại nói thấy nàng đánh nhau với Song ma. Từ đó có thể thấy chắc chắn có một người rất giống nàng. Phùng Lâm cũng muốn về nhà họ Niên tìm cho ra lẽ nhưng vì sợ Liễu Ân nên chỉ đành đi bừa về phía trước.

Ngày nọ, Phùng Lâm đang đi trên đường, chợt thấy phía trước có một thớt ngựa trắng, trên ngựa có một nước mặc đồ đỏ trông rất nổi bật, eo nàng có đeo cây bội kiếm, lại còn có túi ám khí, chắc là người luyện võ. Phùng Lâm thầm nhủ: “Từ ngày mình xuất đạo chưa gặp một nữ tử biết võ công, không biết võ công của ả này thế nào?” thế là nàng phóng ngựa đi theo sau thiếu nữ ấy. Thiếu nữ nghe phía sau có tiếng vó ngựa nên quay đầu lại, liếc Phùng Lâm một cái, Phùng Lâm thấy nàng mặt như trăng rằm, mắt sáng như sao, bờ môi cong cong trông rất đẹp nhưng vẻ mặt ngạo mạn khó ưa. Phùng Lâm thấy nàng ta trừng mắt nhìn mình cũng lườm lại một cái. Nàng thiếu nữ chợt hừ một tiếng tỏ vẻ khinh bỉ rồi thúc ngựa phóng về phía trước.

Phùng Lâm từ nhỏ sống trong hoàng phủ, mọi người đều tôn trọng nàng, bất giác nổi cáu thầm nhủ: “Ả thiếu nữ này thật vô phép, mình cứ đi theo trêu ả một phen”. Phùng Lâm quên rằng mình đang cải dạng nam trang, thiếu nữ thấy nàng đi theo sau tưởng nàng có ý trêu ghẹo nên nổi cáu.

Nếu là một người bình thường thì không sao, nhưng nàng ta chính là Dương Liễu Thanh nổi tiếng kiêu ngạo trên giang hồ. Bằng hữu trên giang hồ vì nể mặt Dương Trọng Anh nên nhường nàng vài phần. Nàng tưởng rằng mình tài ba hơn người nên tự xem mình là nữ hiệp. Lần này Dương Trọng Anh cùng Đường Hiểu Lan đến kinh sư, vốn là bảo nàng ở nhà. Nàng đợi mấy tháng không thấy cha trở về, lại nhớ Đường Hiểu Lan nên một mình đến kinh sư.

Phùng Lâm thấy Dương Liễu Thanh kiêu ngạo nên cứ đi theo trêu tức nàng. Khi Dương Liễu Thanh đi nhanh, nàng cũng ra roi phóng nhanh, khi Dương Liễu Thanh chậm lại, nàng cũng buông dây cương. Dương Liễu Thanh bị nàng trêu tức đến nỗi thất khiếu bốc khói, đến nơi hoang vắng nàng chợt kìm ngựa tháo đạn cung xuống, trừng mắt quát: “Tên tiểu tử nhà ngươi làm gì thế?”

Phùng Lâm bật cười, nói: “Cô nương, đường ai nấy đi, việc gì đến cô nương nào?” Dương Liễu Thanh trợn mắt, quát: “Tiểu tử, ngươi tên gì? Là người ở phe nào?” Phùng Lâm cười rằng: “Chúng ta chẳng thân thiết nhau, cô nương hỏi làm gì? Vả lại con đường này chẳng phải của cô nương. Cô nương đi được mà lẽ nào tôi lại không?”

Dương Liễu Thanh cười lạnh, cao giọng nói: “Ngươi có biết ta là ai không?” Phùng Lâm đáp lời: “Biết, cô nương là người đi tìm nam nhi!” Dương Liễu Thanh đỏ mặt, quát: “Hảo tiểu tử, tuổi tác còn trẻ mà miệng lưỡi khinh bạc, tha ngươi không được!” rồi nàng kéo dây cung, bắn ra ba viên thiết đạn, Phùng Lâm lách người tránh được một viên, vung tay hớt được viên thứ hai rồi nhẹ nhàng bắn trở về trúng viên thứ ba rơi xuống.Dương Liễu Thanh cả giận kéo dây cung bắn tới, Phùng Lâm kêu: “Ôi chao, không xong!” rồi nàng đột nhiên ngã trút xuống ngựa nhưng vẫn chưa chạm xuống đất, té ra nàng dùng chân móc vào lưng ngựa đu người xuống, lúc này thớt người đã lướt ra hơn mười trượng, viên đạn của Dương Liễu Thanh chỉ bay xẹt qua lưng ngựa chứ không trúng được nàng!

Dương Liễu Thanh không khỏi thầm lo. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Phùng Lâm lại lộn người lên lưng ngựa, kêu: “Có qua thì phải có lại, tiếp đao!” rồi nàng vỗ ngựa xông về phía trước, hai mũi phi đao bắn vọt ra như điện chớp! Dương Liễu Thanh xoay eo, định tránh mũi thứ nhất rồi sẽ đánh rơi mũi thứ hai, nào ngờ mũi thứ hai phóng sau mà đến trước, Dương Liễu Thanh vừa lách sang bên trái, một luồng hàn quang đã lướt tới trước mặt, Dương Liễu Thanh vội vàng giơ thanh đạn cung lên gạt, chỉ nghe soạt một tiếng, cây đạn cung đã gãy làm đôi. Dương Liễu Thanh cảm thấy ở cổ mát rượi, mũi phi đao thứ nhất đã bay xẹt qua da. Đó là Phùng Lâm chỉ có ý trêu đùa chứ không muốn lấy mạng nàng bằng không mũi phi đao đã đâm vào cổ họng.

Dương Liễu Thanh vừa kinh vừa giận, nàng rút thanh bội kiếm vỗ ngựa xông lên toan tử chiến với Phùng Lâm, chợt nghe phía sau vọng lại tiếng vó ngựa, Phùng Lâm tinh mắt đã nhận ra ở cách hai ba dặm có rất nhiều ngựa, người ngồi trên ngựa tựa như là bọn công sai, nàng thầm nhủ: “Nếu Ung Chính phái người đến đây thì thật không hay”. Thế là tay trái vỗ vào cổ ngựa, thớt ngựa ấy là chiến mã của Niên Canh Nghiêu, bị nàng vỗ một cái mới hí dài lên một tràng. Dương Liễu Thanh chợt thấy ngựa của Phùng Lâm lướt qua như gió, nàng hoa cả mắt lên, thế là đâm hai nhát vào ngựa của Phùng Lâm, chợt thấy trên đầu tựa như bị người ta vỗ nhẹ, tiếng gió kêu lên vù vù, thớt ngựa của Phùng Lâm đã phóng lướt qua, Dương Liễu Thanh sờ lại trên đầu té ra hai cây ngọc thoa đã bị Phùng Lâm rút mất!

Dương Liễu Thanh cả giận vỗ ngựa đuổi theo, càng chạy càng xa, một lúc sau chẳng thấy bóng dáng Phùng Lâm đâu cả.

Phùng Lâm phóng ngựa chạy nửa canh giờ đến hơn hai mươi dặm, từ xa đã thấy Tung Sơn, nàng thở phào thầm nhủ: “Nghe nói trên trên Tung Sơn có chùa Thiếu Lâm, mình đã học được võ công của các nhà các phái, không biết có thể sánh với tăng nhân trong chùa hay không”. Thế là nàng nảy ra ý muốn lên chùa Thiếu Lâm lễ bái, khi chiều chạng vạng nàng đến một trấn nhỏ tên gọi là Quách Gia trấn, nơi này cách Tung Sơn khoảng hai ngày đường, nếu ngựa chạy nhanh nửa ngày sẽ tới.

Phùng Lâm đến trú tại một khách sạn sang trọng nhất trong trấn, cơm nước xong xuôi đang định nghỉ ngơi, chợt nghe bên ngoài có giọng thiếu nữ nói: “Chưởng quầy, chuẩn bị cho ta một phòng tốt nhất!” lão chưởng quầy cung kính đáp: “Dương nữ hiệp, ở đây vẫn còn phòng tốt. Tiểu nhị, đưa quý khách đến phòng phía Đông”. Phùng Lâm nghe giọng nói ấy quen, nàng ghé mắt qua khe cửa nhìn ra, chỉ thấy đó chính là người mình đã gặp trên đường, nàng mỉm cười thầm nhủ: “Chỉ một chút bản lĩnh mà cũng gọi là nữ hiệp!” căn phòng của Dương Liễu Thanh vừa khéo bên cạnh phòng nàng.

Một hồi sau, Phùng Lâm nghe có tiếng ngáy nhỏ, định ngồi dậy chợt nghe bên ngoài có tiếng người tiếng bước chân, khách sạn mở cửa, khách khứa bên trong đều xôn xao, lão chưởng quầy lớn giọng kêu: “Công sai đến tra xét! Các vị khách quan đang ở trong phòng đừng ra ngoài”. Phùng Lâm lo lắng, khoác áo ngồi trên giường. Nào ngờ tiếng bước chân của các công sai tựa như chia thành hai nhóm, một nhóm lục soát các dãy phòng ở hai bên.

Phùng Lâm lo lắng giới bị, phòng bên cạnh chợt vọng ra tiếng cãi cọ, Dương Liễu Thanh rít lên: “Các người đã lục soát xong chưa? Mau ra ngoài cho ta!” một tên quan sai cười hì hì nói: “Lục phòng đã xong nhưng vẫn chưa lục trên người của cô nương!” lời chưa dứt chỉ nghe bốp một tiếng, tên quan sai ấy tựa như bị ăn một tái tai, rống lên như lợn bị chọc tiết. Dương Liễu Thanh quát: “Cút ra ngoài cho bổn cô nương!” thế là bọn quan sai đang lục soát ở các phòng khác cũng kéo tới, Dương Liễu Thanh quát lên: “Cút!” rồi vỗ ra hai chưởng, đánh ngã hai tên quan sai ra ngoài, rút thanh kiếm nhảy vọt ra, bọn quan sai kêu: “Ả nữ tặc thật hung dữ!”

Chợt có người quát: “Bắt ả nữ tặc này trước!” lập tức nghe tiếng đao kiếm giao nhau. Phùng Lâm thất kinh nghĩ: “Ồ, trong số bọn quan sai quả nhiên có cao thủ!” nàng thò đầu ra nhìn, chỉ thấy bốn tên quan sai vây Dương Liễu Thanh ở giữa, kẻ đi đầu sử dụng một cây Câu Liêm thương, chiêu nào đánh ra cũng rất lợi hại, Dương Liễu Thanh chỉ có thể chống đỡ, tính thế rất nguy hiểm. Phùng Lâm thầm nhủ: “Được, nể tình ngươi cũng là phận nữ nhi, ta cứu ngươi”. Rồi lấy hai cây ngọc thoa của Dương Liễu Thanh bắn ra, Dương Liễu Thanh chợt thấy Phùng Lâm, thất kinh nghĩ: “Chắc tên khốn khiếp này cùng một giuộc với bọn ưng khuyển! Hỏng bét!”

Người sử dụng Câu Liêm thương lách người kêu: “Để ý!” hai tên quan sai bao vây Dương Liễu Thanh đột nhiên ngã nhào ra đất, Dương Liễu Thanh nhảy vọt ra khỏi vòng, Phùng Lâm cười hì hì: “Trả lại ngọc thoa cho cô nương, sao cô nương không nhận!” Dương Liễu Thanh phóng ra khỏi khách sạn nhanh như gió, nàng kéo cây đạn cung bắn bừa vào bên trong. Tên sử dụng Câu Liêm thương gầm lớn, gạt thiết đạn ra, đang định xông ra chợt nghe một giọng đàn bà kêu lên: “Bắt tên tiểu tử này lại, ồ, hắn không phải là tiểu tử thối mà là ả nha đầu ngang ngạnh, ả chính là khâm phạm của Hoàng thượng!”

Phùng Lâm vừa nghe thì thất kinh, người đàn bà này chính là Diệp Hoành Ba, vợ của Hàn Trọng Sơn! Diệp Hoành Ba cười lạnh nói: “Hừ, đồ đệ mà dám đánh lại cả sư phụ!” rồi vỗ một chưởng phách không, mũi phi đao của Phùng Lâm bị chưởng phong đánh bay ngược trở lại chạm với hai mũi phi đao phát sau rồi rơi xuống đất. Hán tử sử dụng Câu Liêm thương cũng phóng lên, đánh ra một chiêu Quy Xà Tỏa Giang, cây Câu Liêm thương xỉa về phía trước khóa kiếm của Phùng Lâm, Phùng Lâm đâm soạt soạt hai nhát kiếm, hai tên công sai đứng gần bị thương, rồi nàng quay lại đấu với tên hán tử sử dụng Câu Liêm thương.

Diệp Hoành Ba cười hềnh hệch, kêu lớn: “Lão thối, mau đến đây xem đồ đệ ngoan của lão!” đột nhiên một tiếng động lớn như trời long đất lở vang lên, vách tường phía Tây của khách sạn đổ nhào, tiếng kêu thảm vang lên, có hai người phóng ra, chỉ nghe Hàn Trọng Sơn kêu lớn: “Mụ thối tha, xem đây!” Phùng Lâm đưa mắt nhìn, chỉ thấy có một nhà sư vàng vọt gầy ốm, hai mắt sáng quắc có oai, gầm lớn một tiếng, tay trái xách một đại hán ném xuống, tay phải đánh bật cậy tị vân trợ của Hàn Trọng Sơn. Hàn Trọng Sơn bị chưởng lực của nhà sư đánh bật thối lui. Phùng Lâm phân tâm nhìn, cái Câu Liêm thương đã đánh bổ tới, suýt nữa đã bị y đâm trúng, Phùng Lâm buộc phải ngưng thần chống cự với kẻ địch. Trong tai vẫn nghe tiếng Hàn Trọng Sơn: “Mụ thối, mau qua đây, Vương Ngạo, ngươi để ý phi đao của ả nha đầu, chỉ được bắt sống, ngươi cẩn thận!” Diệp Hoành Ba liếc Phùng Lâm, rút kiếm giúp chồng của mình, bọn vệ sĩ cũng xông lên bao vây nhà sư, chỉ có một mình hán tử sử dụng Câu Liêm thương chặn Phùng Lâm.

Đang lúc kịch chiến chợt nghe tiếng kêu thảm vang lên liên tiếp, chắc là có kẻ bị nhà sư đánh ngã. Hán tử sử dụng Câu Liêm thương võ công rất cao, Phùng Lâm phải dốc hết tâm trí đối phó với y, không dám đưa mắt nhìn xung quanh.

Té ra nhà sư này chính là Hoằng Pháp đại sư giám tự chùa Thiếu Lâm. Sau khi giám tự tiền nhiệm là Bản Vô đại sư bị Niên Canh Nghiêu hại chết ông ta được thăng lên làm giám tự, Ung Chính lên ngôi, trụ trì chùa Thiếu Lâm Vô Trú thiền sư liệu rằng sẽ có hào kiếp giáng xuống, hai năm nay đã ra lệnh cho các tăng lữ chùa Thiếu Lâm dọn dẹp đồ đạc âm thầm bỏ đi, một nhánh đến Phồ Điền Phúc Kiến, một nhánh đến Nam Hải Quảng Đông, trước đêm chùa Thiếu Lâm bị hỏa thiêu, chín phần mười nhà sư đã đi sơ tán. Hôm ấy, nghe nói Niên Canh Nghiêu đóng quân ở trấn Chu Tiên, Hoằng Pháp và trưởng lão Đạt Ma viện mời trụ trì lánh nạn, nào ngờ Vô Trú thiền sư mỉm cười nói: “Các người hãy chạy cho mau, một mình ta sẽ ở đây!” bọn Hoằng Pháp đại sư không chịu, Vô Trú thiền sư nói: “Nếu Ung Chính và Niên Canh Nghiêu lên Tung Sơn mà không thấy lão nạp nào chịu bỏ qua? Ta dù sống được một lúc nhưng cũng liên lụy đến tất cả mọi người trong chùa. Phật tổ dạy, ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục, lão nạp dù bất tài nhưng cũng nguyện cố gắng hết sức”. Bọn Hoằng Pháp vẫn không chịu, Vô Trú nghiêm nghị chắp tay, nói: “Hôm nay ta lấy thân phận chủ trì chùa Thiếu Lâm lệnh cho các ngươi phải mau rời khỏi chốn này!” bọn Hoằng Pháp đại sư chỉ đành rời khỏi chùa, sáng hôm sau đại quân của Niên Canh Nghiêu đã bao vây Tung Sơn.

Ung Chính và Niên Canh Nghiêu đều xuất thân từ Thiếu Lâm, biết rõ các nhà sư trong chùa võ công cao cường, đã sớm chuẩn bị sẵn hỏa khí lợi hại nhất, dùng ba trăm Ngự lâm quân cầm ống lửa có chứa lưu huỳnh bao vây chùa rồi sau đó khai hỏa. Ngoài ra Ung Chính còn phái hơn một ngàn cung tiển thủ giương cung chờ sẵn bên ngoài. Nào ngờ lửa cháy phừng phừng mà cửa chùa Thiếu Lâm vẫn đóng chặt, chẳng ai chạy ra.

Ung Chính thấy bất ngờ, nói với Niên Canh Nghiêu: “Chả lẽ bọn chúng ngồi bên trong chờ chết?” trong chớp mắt, chùa Thiếu Lâm chìm vào biển lửa. Một mảng vách tường đổ xuống, chỉ thấy ở giữa một tòa thạch tháp có một người đang ngồi, Niên Canh Nghiêu nói: “Chắc các trụ trì chịu không nổi thế lửa nên chạy lên đỉnh tháp? Cung tiển thủ cẩn thận!” nói chưa dứt, Vô Trú niệm một tiếng Phật hiệu từ trên tháp nhảy vọt xuống xông vào biển lửa, một lát sau thạch tháp đổ ầm xuống, ba mươi sáu đại điện chùa Thiếu Lâm cùng Hoa Nghiêm bảo tháp đều hóa thành tro bụi! Niên Canh Nghiêu thở phào nói: “Trụ trì chùa Thiếu Lâm đã tự thiêu, các nhà sư chắc cũng đã hóa thành tro bụi trong biển lửa!” Ung Chính nghĩ thầm, Vô Trú thiền sư là người đứng đầu năm trăm nhà sư, cả ông ta cũng không thoát, không lẽ gì những người khác lại chạy trước ông ta, chỉ có một điều không rõ ràng đó là tòa thạch tháp cao hơn mười trượng, sao có thể dễ dàng sụp đổ như thế?

Ung Chính không biết rằng, tháp Hoa Nghiêm đổ một nửa là do thế lửa, một nửa là do Vô Trú thiền sư tự hủy. Vô Trú thiền sư từ dưới đất lên đỉnh tháp, cứ mỗi tầng đều dùng chưởng đánh chấn động các trụ cột, sau đó lại xuất hiện trên đỉnh tháp để Ung Chính thấy ông ta tự nhảy vào lửa mà yên tâm, vì thế mới bảo vệ được nhiều tăng lữ chùa Thiếu Lâm. Vì Ung Chính thấy kẻ đứng đầu đã bị trừ, dù nghi ngờ có người chạy thoát cũng truy cứu không nghiêm ngặt.

Sau khi Ung Chính và Niên Canh Nghiêu phóng hỏa đốt chùa Thiếu Lâm, để lại một tốp người canh giữ, lại phái một tốp người đi tuần tra ở phạm vi ba trăm dặm núi Tung Sơn, mục địch là đề phòng cao nhân của phái khác đến Tung Sơn thăm dò.

Sau khi chùa Thiếu Lâm bị đốt nửa tháng, việc tra xét lơi lỏng bớt, Ung Chính cùng bọn Cáp Bố Đà đi làm việc khác, chỉ để lại vợ chồng Hàn Trọng Sơn coi sóc mọi việc ở Hà Nam. Còn trên Tung Sơn chỉ để lại Hải Vân hòa thượng và thống lĩnh Ngự lâm quân Tần Trung Việt canh giữ. Hoằng Pháp đại sư biết triều đình đã lơi lỏng, lòng lo cho Vô Trú thiền sư nên lén trở về Hà Nam mới biết trụ trì đã hy sinh, vì thế trời đen tối lên núi tìm kiếm ở tháo Hoa Nghiêm, lấy được một nắm đất làm thánh vật của chùa Thiếu Lâm định đem về Phố Điền để lưu lại cho đệ tử đời sau chiêm ngưỡng. Hoằng Pháp đại sư võ công cao cường, lén lên Tung Sơn mà bọn Hải Vân không biết. Đáng tiếc chẳng thoát được cửa ải thứ hai, cuối cùng đã gặp phải bọn vợ chồng Hàn Trọng Sơn ở trong khách điếm này.

Người đang đánh nhau với Phùng Lâm tên là Vương Ngạo, y là đệ nhất cao thủ ở Hà Nam, Tuần phủ Hà Nam sai y giúp vợ chồng Hàn Trọng Sơn. Người này võ công tuy không bằng vợ chồng Hàn Trọng Sơn nhưng hơi cao hơn Phùng Lâm, vả lại y cũng là người giỏi đánh ám khí, đã luyện được loại ám khí độc môn độc địa.

Phùng Lâm ác chiến với Vương Ngạo, liên tục dùng võ công của mấy phái mà vẫn không thoát thân được, nàng chợt nhớ Hàn Trọng Sơn dặn rằng y phải bắt sống nàng, thầm nhủ: “Kẻ này không dám lấy mạng mình, cần gì phải sợ y?” thế là kiếm pháp đánh ra rất gấp, toàn những chiêu số tấn công, võ công của Phùng Lâm cách Vương Ngạo không bao xa, lại chẳng lo lắng gì, nên cứ tấn công liều tới, đòn thế hiểm hóc hơn trước, Vương Ngạo bị nàng đánh đến thối lui từng bước, xem ra nàng sắp xông ra khỏi cửa. Vương Ngạo nghiến răng dấn tới chặn trước cửa, cây Câu Liêm thương đẩy về phía trước chặn kiếm của Phùng Lâm lại, tay trái giương lên, Phùng Lâm chợt thấy cổ tay tựa như bị kiếm chích vào, nàng cũng không hề để ý, dùng chiêu số Thiên Cân Nhất Vũ của phái Vô Cực lội Câu Liêm thương của Vương Ngạo ra ngoài cửa, rồi đâm lại soạt soạt hai kiếm, mở được một lối thoát nhảy ra khỏi cửa. Chợt nghe Vương Ngạo cười ha hả: “Nha đầu ngang ngạnh, ngươi đã trúng ám khí độc môn của ta, sau không mau buông kiếm đầu hàng để xin ta chữa trị?” Phùng Lâm khựng người, Vương Ngạo đã đuổi tới sau, chẳng ngờ bị Phùng Lâm trở tay phóng lại hai mũi phi đao, Vương Ngạo xoay người gạt một cái, keng một tiếng, cây Câu Liêm thương đánh rơi được một mũi phi đao, nhưng mũi thứ hai vẫn bay lướt qua vai, y thấy vai đau nhói lên. Vương Ngạo cả giận, quát: “Nha đầu ngang ngạnh muốn chết!” rồi cây Câu Liêm thương đánh như mưa bão, bao bọc Phùng Lâm vào ở giữa. Ngay lúc này, chợt nghe một tiếng ầm vang lên, cánh cổng của khách sạn bị vỡ tung bay ra ngoài, mấy bóng người xông ra.

Chính là:

Lần đầu bị ám toán, nguy cơ mà không biết.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 28: Thất chí đau lòng chân tình sinh ái niệm Kim châm cứu nạn bệnh lạ đau lòng ai

Những kẻ vừa mới xông ra ngoài chính là vợ chồng Hàn Trọng Sơn, hai người bọn chúng cùng bốn tên bổ khoái bao vây Hoằng Pháp đại sư, bốn tên bổ khoái võ công kém hơn, chỉ trong chớp mắt đã bị Hoằng Pháp đại sư đánh trọng thương, nửa canh giờ sau lại có bốn tên võ sĩ bị ông ta đánh ngã. Vợ chồng Hàn Trọng Sơn thất kinh cố gắng chống đỡ. Võ công Hoằng Pháp đại sư chỉ kém Thiếu Lâm tam lão, vợ chồng Hàn Trọng Sơn tuy là hảo thủ thuộc hàng nhất đẳng nhưng cũng không chiếm được bao nhiêu tiện nghi. Có điều Hoằng Pháp đại sư cũng không thoát ra được.

Trận đánh diễn ra một lúc lâu, Hoằng Pháp đại sư nôn nóng trong lòng, lo rằng bên đối phương sẽ có cao thủ đến, ông ta ngầm vận chân lực nội gia múa chưởng một vòng rồi đấm quyền ra. Hàn Trọng Sơn giơ ngang chưởng đỡ lại nhưng nào được, bình một tiếng, quyền phong đã quét trúng sườn phải, cả thân người bị đẩy ra đến cổng.

Diệp Hoành Ba đánh hờ một kiếm phóng người toan chạy, Hoằng Pháp đại sư nhảy bổ ra cửa, chợt nghe tiếng kêu tu tu, một vật đen thui bắn tới, Hoằng Pháp đại sư tung người né tránh, món ám khí ấy thật lạ, có thể bay vòng trở lại, Hoằng Pháp đại sư cả giận vỗ tới một chưởng, chưởng phong quét ra, món ám khí bay vào vách tường. Hoằng Pháp đại sư co giò toan đuổi theo, nào ngờ ám khí chạm vào vách tường đột nhiên bắn lên, Hoằng Pháp đại sư thấy gót chân đau nhói, té ra ám khí đã móc vào đến xương chân. Hoằng Pháp đại sư dùng hai ngón tay kẹp vào rút ám khí ra, khi đuổi ra bên ngoài thì vợ chồng Hàn Trọng Sơn đã biến mất. Món ám khí mà Hoằng Pháp đại sư trúng chính là Hồi hoàn câu của Hàn Trọng Sơn. Vương Ngạo đang ác đấu với Phùng Lâm, thấy vợ chồng Hàn Trọng Sơn hô nhau bỏ chạy, Hoằng Pháp đại sư rượt ra đến cửa khiến y hoảng vía cũng phóng người bỏ chạy. Phùng Lâm đang định đuổi theo, chợt bên tai có người kêu: “Cô nương đừng đuổi nữa! Để lão nạp xem thử, cô nương đã trúng ám khí”. Phùng Lâm chưng hửng, chỉ thấy nhà sư ấy đứng trước mặt mình. Nàng thầm nhủ: “Lão hòa thượng này thật lợi hại, vừa nhìn đã nhận ra mình là nữ cải dạng nam trang. Mình trúng ám khí gì?” Hoằng Pháp đại sư cầm tay Phùng Lâm, sờ nhẹ vào, mặt chợt biến sắc kêu lên: “Đây là ám khí Thất Sát Bạch Mi châm của Đường gia Tứ Xuyên”.

Phùng Lâm không biết ám khí Thất sát bạt mi châm là gì, cũng không biết Đường gia Tứ Xuyên là thế nào, chỉ cười hỏi: “Lão hòa thượng, ông thật là có bản lĩnh, có thể đánh bọn vợ chồng Hàn Trọng Sơn bỏ chạy. Ông đã trúng Hồi hoàn câu của bọn chúng. Chắc đau lắm. Nhưng tôi chẳng đau tí nào cả, ông hãy tự trị cho mình trước”. Hoằng Pháp nghe nàng không những biết tên của Hàn Trọng Sơn mà còn biết cả loại ám khí mà mình vừa mới trúng, bất giác ngạc nhiên, vội vàng hỏi: “Sư phụ của cô nương là ai? Cô nương tên là gì?” Phùng Lâm chưng hửng, vốn định không muốn nói nhưng thấy nhà sư mặt mũi hiền từ, lại đối xử với mình tốt, buột miệng nói: “Tôi có rất nhiều sư phụ, vợ chồng Hàn Trọng Sơn cũng là sư phụ của tôi, nhưng lão hòa thượng đừng lo, tôi sẽ dạy ông cách trị thương”. Hoằng Pháp vừa nghe cảm thấy rất bất ngờ.

Phùng Lâm mỉm cười tiếp tục nói: “Hồi hoàn câu không có độc, có lẽ móc câu đã ăn sâu vào thịt, ông dùng từ thạch hút ra là được. Ông xem, đơn giản biết bao nhiêu”. Phùng Lâm thầm nhủ: “Mình chỉ như bị mũi cắn mà ông ta lo lắng đến thế, chắc là võ công của ông ta tuy cao nhưng không rành ám khí”. Phùng Lâm nghĩ nhà sư này đối xử tốt với mình, lại muốn thừa cơ cho ông ta thấy mình hiểu ám khí như thế nào mà không biết rằng đã múa rìu qua mắt thợ.

Hoằng Pháp đại sư bật cười, thầm nhủ: “Đứa trẻ này thật đáng yêu, đáng tiếc thích tỏ ra thông mình, không biết trời cao đất dày”. Té ra Thất sát bạt mi châm là loại ám khí cực độc của Đường môn Tứ Xuyên, nhỏ tựa như lông nên được gọi là Bạch Mi châm. Khi cắm vào người, sẽ thuận vào buồng máu mà đến buồng tim, thần tiên cũng khó cứu. Phùng Lâm bị trúng châm ở cổ tay, có lẽ bảy ngày sau Bạch Mi châm sẽ đến buồng tim. Vả lại trong vòng ba ngày mà không thể ngăn độc châm dâng lên, sau này dù có thuốc giải cũng tàn phế. Chỉ có nhà họ Đường mới có thuốc giải, Vương Ngạo là con rể của nhà họ Đường ở Tứ Xuyên, y vốn không phải muốn lấy mạng Phùng Lâm mà chỉ vì muốn buộc nàng đầu hàng. Không ngờ việc diễn ra quá bất ngờ, Vương Ngạo vội vàng bỏ chạy, lúc này cũng không biết đã ở nơi nào nên chẳng thể nào xin được thuốc giải.

Hoằng Pháp đại sư cười xong rồi lại lo, thấy nàng xinh xắn đáng yêu, nếu để nàng biết trong vòng bảy ngày sẽ độc phát thân vong không biết nàng sẽ đau lòng thế nào. Chùa Thiếu Lâm tuy có nhiều linh dược nhưng lại không có thứ trị Thất Sát Bạch Mi châm.

Hoằng Pháp đại sư thầm lo, Phùng Lâm thấy ông ta im lặng không nói, cười rằng: “Ông có thể đi được không? Nếu không được tôi sẽ tìm từ thạch cho ông”. Hoằng Pháp đại sư chắp tay nói: “Tiểu cô nương có lòng dạ Bồ Tát, lão nạp xin đa tạ. Tôi không cần dùng từ thạch, cô nương đừng lo cho tôi. Nhưng vết thương của cô nương...” Hoằng Pháp đại sư không nỡ nói lời thực, chỉ đành ấp úng, Phùng Lâm nói: “Thế nào?” Hoằng Pháp đại sư lấy ra ba viên thuốc: “Cô nương uống mỗi ngày một viên. Sau đó đến chùa Thiếu Lâm ở Phổ Điền Phúc Kiến, cứ bảo rằng trên đường gặp được lão nạp, lão nạp kêu cô nương đến, họ sẽ giữ cô nương lại”. Loại thuốc này chính là Tiểu Hoàn đơn, tuy không phải là thuốc giải nhưng trong vòng năm ba ngày có thể ngăn độc khí dâng lên, trong vòng một tháng không đến nỗi độc phát thân vong. Hoằng Pháp đại sư tính toán, trong vòng hai ngày ông ta sẽ đến phủ nha Hà Nam bắt Vương Ngạo buộc y đưa ra thuốc giải. Nhưng không biết có thành công hay không nên không dám nói trước. Hoằng Pháp đại sư là tội phạm của triều đình nên không dám dắt Phùng Lâm đi cùng.

Phùng Lâm cầm viên thuốc, cười hì hì: “Thuốc này có đắng không?” Hoằng Pháp nói: “Không đắng, không đắng. Hãy mau nuốt vào. Có người đến, lão nạp phải đi đây!” rồi phóng lên nóc nhà bỏ chạy, Phùng Lâm thấy chân trái của ông ta tuy bị thương nhưng đi lại vẫn nhanh nhẹn, lúc này trăng đã lên đến giữa bầu trời, dưới ánh trăng có hai bóng người đuổi tới, một người chính là Đường Hiểu Lan. Phùng Lâm kinh hoảng, chỉ lo Đường Hiểu Lan đi cùng với Lữ Tứ Nương đến bắt mình.

Nàng liền đứng dậy chay thật nhanh, chợt nghe nhà sư lên tiếng hỏi: “Đường Hiểu Lan, có phải ngươi và Trần đại ca đấy không?” Phùng Lâm thầm nhủ: “Ồ, té ra họ quen biết nhau”. Nàng càng chạy nhanh hơn, nhà sư và Đường Hiểu Lan không đuổi theo, chắc là Đường Hiểu Lan chưa phát hiện ra nàng mà nhà sư cũng bận trò chuyện với họ.

Phùng Lâm chạy một hồi đã đến trấn nhỏ, thầm nhủ: “Mình cần gì phải lên Phố Điền ở Phúc Kiến, Tung Sơn ở gần đây, muốn đến Thiếu Lâm tự sao lại bỏ gần lấy xa. Vả lại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn nổi tiếng hơn Thiếu Lâm ở Phúc Kiến nhiều”.

Chạy được khoảng hai ba mươi dặm trời vẫn chưa sáng, Phùng Lâm mệt rã rời, cởi áo ngoài nằm xuống ở sườn núi, không bao lâu thì ngủ thiếp đi.

Trong mơ màng nàng chợt nghe tiếng bước chân, Phùng Lâm xoay người lại, chợt có người kêu: “Ồ có thiếu nữ ngủ ở đây!” Phùng Lâm bật người dậy định thần nhìn, sợ đến nỗi chẳng còn muốn ngủ nữa, hai người ấy chính là Vương Ngạo và Diệp Hoành Ba.

Số là sau khi Hàn Trọng Sơn và Diệp Hoành Ba, không lâu sau hội họp với Vương Ngạo, Hàn Trọng Sơn bị trúng một chưởng của Hoằng Pháp đại sư tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng phải nghỉ ngơi vài ngày, Vương Ngạo đã trúng độc đao, chất độc dần dần phát tác. Hàn Trọng Sơn nói: “Lão lừa trọc Hoằng Pháp đã trúng Hồi hoàn câu của ta, mụ già hãy đuổi theo y. Ta sẽ kêu Thiên Diệp sư đệ giúp bà”. Rồi lại bảo với Vương Ngạo: “Ngươi đã trúng độc đao của nha đầu, hãy bắt ả để lấy thuốc giải”. Thật ra Hàn Trọng Sơn cũng có thuốc giải nhưng sợ Vương Ngạo không chịu ra sức nên mới không đưa cho y, chỉ cho y hai viên thuốc giải độc bình thường rồi thúc y đuổi theo.

Phùng Lâm đứng vọt dậy, xoay người toan bỏ chạy, Diệp Hoành Ba giơ ngang kiếm chặn lại, Phùng Lâm giơ ngang kiếm chặn lại. Phùng Lâm đánh một chiêu Cơ Ưng Lược Vũ đâm qua. Diệp Hoành Ba cười ha hả: “Ngươi còn có bao nhiêu sức mà dám đấu kiếm với sư nương!” rồi chặn ngang thanh kiếm ra ngoài, chiêu này công thủ đều có rất lợi hại. Nhưng Diệp Hoành Ba sợ ngộ thương Phùng Lâm không dám dốc hết toàn lực, chỉ gạt hờ một cái, tưởng rằng kiếm của Phùng Lâm bị mụ gạt bay, nào ngờ Phùng Lâm ngày nay chẳng phải lúc trước, hai kiếm giao nhau, cây kiếm của Diệp Hoành Ba bị bạt ra, mụ ta thất kinh thầm nhủ: “Hừ, sao ả nha đầu tiến bộ thần tốc đến thế?” rồi mụ không dám sơ ý, đâm soạt soạt mấy kiếm đè bẹp kiếm thế của Phùng Lâm.

Diệp Hoành Ba dốc bản lĩnh thật sự ra, Phùng Lâm đương nhiên không phải là đối thủ của mụ, nhưng trong vòng năm bảy mươi chiêu vẫn chưa nao núng. Vương Ngạo định xông lên, Diệp Hoành Ba quát: “Không cần ngươi giúp đỡ, lão nương không tin chẳng bắt được ả!” kiếm chiêu đánh gấp, lập tức nhốt Phùng Lâm trong làn kiếm quang. Có điều Diệp Hoành Ba chỉ muốn bắt sống, nên Phùng Lâm tuy gặp nguy hiểm nhưng vẫn có thể chống đỡ nổi.

Khoảng năm mươi chiêu nữa lại trôi qua, Diệp Hoành Ba thấy chẳng còn mặt mũi nào, toan đánh liều đâm nàng bị thương, thế là kiếm chưởng đều sử dụng, kiếm đâm vào Ma huyệt, chưởng đoạt binh khí, Phùng Lâm cố gắng chống đỡ mấy chiêu mà rất vất vả, xem ra sắp bị bắt sống, chợt có người kêu: “Anh muội, có phải muội đấy không?” Phùng Lâm không dám quay đầu giơ kiếm chống trả, lớn giọng đáp, “Lý đại ca, mau đến đây giúp muội!” Diệp Hoành Ba đè kiếm xuống, khiến Phùng Lâm chẳng thể nào giở kiếm lên được, tay trái xỉa vào Ma huyệt của nàng!

Ngay lúc này Lý Trị đã phóng tới, tay phải cầm trường kiếm gạt qua, đánh bạt cái Câu Liêm thương của Vương Ngạo ra, chưởng trái đẩy về phía trước, hóa giải chiêu số điểm huyệt của Diệp Hoành Ba. Diệp Hoành Ba nhận ra đó là chàng thiếu niên mà mình đã gặp ở Tam Đàm Ấn Nguyệt, cười hì hì nói: “Lại thêm một tên khâm phạm nữa!” kiếm chiêu chợt nở rộ đánh về phía Lý Trị, Lý Trị xoay chui kiếm, đâm vào be sườn của kẻ địch. Diệp Hoành Ba đánh ra một chiêu Phong Hầu Đoạt Ấn, toan chặn kiếm của Lý Trị lại, nào ngờ kiếm chiêu vừa mới thi triển, kiếm của Lý Trị đã đâm tới phía bên phải, Diệp Hoành Ba bị chàng ta đánh luôn mấy quái chiêu khiến chân tay luống cuống, Phùng Lâm nhảy ra, Diệp Hoành Ba lớn giọng kêu: “Vương Ngạo, đối phó ả nha đầu!” Vương Ngạo triển khai Câu Liêm thương chạy đến trợ chiến, trong lòng cười thầm: “Té ra cả hai đứa trẻ mà đánh cũng không lại, thế mà còn lên mặt!”

Bốn người vừa hợp đã phân, kiếm của Lý Trị theo sát Diệp Hoành Ba, hai bên đều thi triển đòn sát thủ, từ dưới rừng đánh lên tới trên núi. Kiếm pháp của Lý Trị rất quái dị, thiên hạ chẳng ai địch nổi, Diệp Hoành Ba có công lực tuy cao nhưng trong nhất thời cũng bị lọt xuống thế hạ phong. Phùng Lâm thấy Lý Trị đến thì tinh thần phấn chấn, nàng đã có kinh nghiệm đêm qua, đánh Vương Ngạo mà không cần tiến gấp, chỉ triển khai Vô Cực kiếm pháp loang loáng che kín môn hộ. Vương Ngạo đánh liền hai mươi chiêu người dần dần đuối, miệng khát khô, biết rằng chất độc đã phát tác, thế công đành chậm lại.

Phùng Lâm cười hì hì: “Tên cẩu tặc nhà ngươi chẳng qua chỉ có thế, sao còn chưa mau đầu hàng!” võ công của Vương Ngạo trên thực tế hơn nàng, chỉ vì độc tính phát tác quá nhanh nên không cầm cự nổi, giận dữ cười lạnh: “Nha đầu ngang ngạnh, ngươi đã trúng độc châm của ta, trong bảy ngày chắc chắn sẽ mất mạng, thế mà còn làm hung!”

Phùng Lâm cười ha hả, nói: “Nói càn!” rồi đột nhiên chuyển thủ làm công, sử dụng Đạt Ma kiếm pháp mà Ung Chính đã từng dạy cho nàng, chỉ trong vòng mười chiêu đã khiến Vương Ngạo luống cuống. Vương Ngạo kêu: “Ngươi không tin lời ta? Có phải huyệt Khúc Trì của ngươi đang đau nhói hay không?” Huyệt Khúc Trì nằm ở giữa khớp cổ tay, Vương Ngạo tính rằng Bạch Mi châm từ huyết quản đi lên, giờ đây đã đến gần huyệt Khúc Trì, bởi vậy mới lên tiếng cảnh cáo, không ngờ Phùng Lâm đã uống Tiểu Hoàn đơn của Hoằng Pháp đại sư, Bạch Mi châm đã bị huyết dịch chặn lại, tạm thời không dâng lên, bởi vậy không cảm thấy đau đớn. Phùng Lâm thấy y toát mồ hôi, tưởng rằng y dọa dẫm mình, cười hì hì nói: “Xem thử là ai chết trước!” thế rồi kiếm chiêu càng hiểm hóc hơn, chỉ trong chốc lát Vương Ngạo đã trúng hai nhát kiếm, y lướt sang Diệp Hoành Ba, Diệp Hoành Ba đang đánh nhau rất hăng với chàng thiếu niên, không ai hơn được ai, y nghĩ bụng Diệp Hoành Ba không thể nào giúp cho mình được nữa, bất giác nhụt khí, nói với giọng van vĩ: “Ta chết ngươi cũng chẳng sống, chi bằng chúng ta trao đổi thuốc giải, đôi bên không phạm nhau!” Phùng Lâm cả cười: “Nếu ngươi cầu xin, có lẽ ta sẽ tha cho ngươi, ngươi có ý đồ uy hiếp, ta không thể tha được cho ngươi!” rồi nàng xoáy thanh kiếm một cái, cây Câu Liêm thương của Vương Ngạo vuột khỏi tay rơi xuống. Vương Ngạo nhìn Phùng Lâm rồi kêu: “Ngọc mạo hoa dung, đáng tiếc, đáng tiếc!” Phùng Lâm tức giận nói: “Đáng tiếc thế nào?” rồi nàng vung kiếm đâm từ trước ngực ra tới sau lưng của Vương Ngạo!

Lý Trị và Diệp Hoành Ba đều dốc hết bản lĩnh, Lý Trị hơn ở chỗ kiếm pháp quỷ dị, Diệp Hoành Ba hơn ở chỗ công lực thâm hậu, đôi bên đọ nhau hơn trăm chiêu, Lý Trị toát mồ hôi trán, hơi thở gấp gáp, Diệp Hoành Ba đang chuyển thủ thành công liên tục chiếm được tiên cơ, chợt nghe Vương Ngạo kêu thảm, bất giác lạnh mình thầm nhủ: “Nếu hai người bọn chúng liên thủ chắc mình sẽ thua to”. Thế rồi đánh hờ ra một chiêu rồi chạy như bay, còn Lý Trị thì thở phì phò gọi Phùng Lâm mà không đuổi theo.

Phùng Lâm nhớ lại trước kia mình đã mặc khi chàng bi thương mà lòng hổ thẹn, Lý Trị cười nói: “Anh muội, huynh tìm muội đến khổ. Chẳng phải muội rất thân thiết với mụ già lúc nãy sao? Ba năm trước ở Tam Đàm Ấn Nguyệt, muội cùng đi với mụ ta mà giờ đây sao lại đánh nhau với mụ?” Phùng Lâm mỉm cười nói: “Muội thích thân thiết với ai cũng được, có gì là lạ? Mụ yêu phụ này bức hiếp muội, muội không thích mụ ta nữa”.
Lý Trị thầm mừng, nghĩ rằng: “Dẫu sao nàng cũng không mất hết Lý Trị, nay đã phân biệt được người tốt kẻ xấu. Nàng còn nhỏ không hiểu biết việc đời, mình phải giúp nàng mới được”. Chàng chợt thấy Phùng Lâm nhíu mày thì hỏi: “Anh muội, muội đã bị thương à?” Phùng Lâm nói: “Không, chỉ là ở gần huyệt Khúc Trì hơi đau, không biết là vì cớ gì?” nói xong thì chợt nhớ đến lời Vương Ngạo, bất giác thất kinh. Té ra Phùng Lâm uống Tiểu Hoàn đơn, tạm thời kìm chế được Bạch Mi châm, nhưng sau một hồi kịch đấu, huyết lưu chảy gấp, Bạch Mi châm dần dần dâng lên. Lý Trị cũng hiểu chút ít y đạo, thế là đưa tay chạm vào cổ tay nàng, Phùng Lâm đỏ mặt, Lý Trị chẳng hề để ý vì từ nhỏ chàng và Phùng Anh vẫn thường chơi đùa bên nhau, chàng chợt thất kinh kêu: “Muội đã bị thương bởi ám khí có độc! Ám khí này chắc chắn rất nhỏ, chắc là Mai Hoa châm!” Phùng Lâm nói: “Không phải Mai Hoa châm, hình như là Thất Sát Bạch Mi châm”.

Lý Trị thất kinh, mồ hôi trán tuôn xuống ròng ròng. Phùng Lâm thấy chàng căng thẳng như thế thì kinh hãi hỏi: “Có phải Thất Sát Bạch Mi châm rất lợi hại không?” Lý Trị vội hỏi: “Ai đã nói cho muội biết? Có phải muội đã thực sự trúng Thất Sát Bạch Mi châm không?” Phùng Lâm chỉ Vương Ngạo, nói: “Chính là y đã cho muội biết, y đã bắn ra Thất Sát Bạch Mi châm. Y còn nói, bảy ngày nữa muội sẽ độc phát thân vong!” rồi nàng nghiêng đầu nghĩ ngợi, cười nói: “Hừ, muội không tin. Lúc nãy y còn đòi trao đổi thuốc giải với muội, muội cứ mặc kệ y. Y cứ tưởng muội là trẻ con, muội không mắc lừa y đâu”. Lý Trị vừa nghe thì sợ đến nỗi mặt tái xanh, không đợi nàng nói xong đã vội vàng bước lên lục soát trên người Vương Ngạo, Phùng Lâm che mặt nói: “Hừ, y chết trông thật khó coi, lôi xác sang một bên, muội không muốn nhìn”.

Lý Trị không thèm để ý, chàng lấy ra được một ống ám khí, mở nắp ống thì bên trong có mấy cây tiểu hoa châm nhỏ như lông trâu, Lý Trị đau nhói lòng, vội vàng tiếp tục lục soát mà chẳng tìm thấy thuốc giải, Phùng Lâm nói: “Ngươi không nghe lời ta, ta phải đi đây!” rồi nàng chạy đến bên mép múi, Lý Trị vội vàng kêu: “Muội đừng chạy!” rồi đá cái xác sang một bên, lấy lá cây che kín. Phùng Lâm bật cười nói: “Ta không chạy nữa. Này, Thất Sát Bạch Mi châm có lợi hại thật không?”

Lý Trị thấy nàng chết đến nơi mà vẫn không hề biết, cứ vui đùa như một đứa trẻ, vừa đau lòng vừa lo lắng, hỏi: “Binh khí của người này đâu?” Phùng Lâm trả lời: “Rơi xuống sông rồi”. Nước sông chảy cuồn cuộn, xem ra chẳng tìm được nữa. Thuốc giải của Vương Ngạo được giấu trong cây thương, dù Lý Trị có tìm được cũng không biết cách phá cơ quan, huống chi đã không thể nào tìm được nữa.

Lý Trị đã biết lai lịch của Thất Sát Bạch Mi châm, thầm tính: “Từ đây đến Tứ Xuyên ít nhất cũng phải đi hơn một tháng, dù Đường gia có chịu cho thuốc giải cũng chẳng kịp”. Trong lòng lo lắng nên bất giác rơi lệ, rồi lại nghĩ: “Nhưng không thể cho Anh muội biết, nàng biết chắc chắn sẽ sợ chết, dù không thể cứu được cũng phải để cho nàng sống vui trước khi chết”. Chàng len lén quay đi lau nước mắt. Nhưng Phùng Lâm đã thấy, trong lòng rất cảm động, thầm nhủ: “Trước đây khi chàng ta bị thương mình bỏ chàng, thế mà chàng chẳng trách gì mình, giờ đây mình đã trúng ám khí, chàng còn lo hơn mình gấp trăm lần. Ôi chao, người này tuy không thông minh lắm nhưng cũng thật hiếm có”. Sống trong hoàng phủ, tuy Phùng Lâm được thương yêu nhưng đây là lần đầu tiên trong đời nàng cảm nhận được sự quan tâm của người khác đối với mình.

Lý Trị quay đầu lại, gượng cười nói: “Anh muội, muội thích gì? Huynh sẽ chìu muội”. Phùng Lâm nói: “Sao huynh lại lo như thế, cả cười cũng rung! Cười chẳng ra cười, thật khó coi!” rồi nàng nhăn mặt trêu Lý Trị khiến cho chàng cũng phải bật cười. Phùng Lâm nói: “Muội không lo gì cả! Sao huynh phải lo. Muội tin Thất Sát Bạch Mi châm không lấy được mạng muội. Đêm hôm qua muội đã uống thuốc giải của lão hòa thượng, chẳng thấy đau đớn gì cả. Ông ta còn bảo muội đến chùa Thiếu Lâm ở Phố Điền. Huynh nghĩ thử xem, nếu muội không sống được bảy ngày, làm sao ông ta nói như thế? Trên đường muội đã chết từ lâu!” Lý Trị mừng rỡ hỏi: “Lão hòa thượng nào? Có còn thuốc hay không?” Phùng Lâm nuốt một viên thuốc rồi nói: “Hòa thượng ấy võ công rất giỏi”. “Nhưng ông ta cũng phải có tên chứ?” “Ông ta không nói muội làm sao biết?” Lý Trị thầm nhủ: “Chẳng lẽ là cao tăng chùa Thiếu Lâm, hay là trụ trì của chùa Thiếu Lâm ở Phố Điền. Nhưng chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn chẳng phải sẽ gần hơn nhiều hay sao, ôi, mình thật ngốc! Chẳng nhớ ra chùa Thiếu Lâm! Linh đơn diệu dược trong chùa rất nhiều, nói không chừng không cần đến thuốc giải của Đường gia cũng có thể cứu cho nàng”. Lý Trị không biết chùa Thiếu Lâm đã bị thiêu hủy, càng không ngờ rằng Phùng Lâm đã gặp giám tự chùa Thiếu Lâm Tung Sơn mà vẫn không thể nào cứu được.

Phùng Lâm thấy Lý Trị đứng ngẩn ra, nói: “Huynh nghĩ gì thế?” “Huynh muốn cùng muội đến Tung Sơn. Dù chúng ta không cần đi nhanh, ngày mai cũng sẽ tới nơi. Chẳng phải sẽ còn nhanh hơn cả đi Phố Điền hay sao?” Phùng Lâm vỗ tay cười nói: “Muội cũng nghĩ như huynh, này, sau khi chúng ta xin được thuốc giải, lại sẽ tỉ kiếm với cao tăng chùa Thiếu Lâm”. “Chùa Thiếu Lâm là Thái Sơn Bắc Đẩu trong võ lâm, muội đến Thiếu Lâm không được làm càn”. Lại bảo: “Sư phụ của muội và Bản Không đại sư trụ trì trước kia của chùa Thiếu Lâm vốn quen biết nhau, người trong chùa chắc chắn sẽ tiếp đã muội”. “Thế à? Sao muôi chưa từng nghe sư phụ nói?” “Dịch bá mẫu thấy muội còn bé, đâu phải chuyện gì cũng nói!” “Đúng thế, người chê muội lắm lời nên chẳng nói gì cho muội biết” Lý Trị chưng hửng, nói: “Trước kia muội rất trầm tĩnh, giờ lớn lên mới thích nói nhiều phải không?” Phùng Lâm giật mình, thầm nhủ: “Lại hỏng bét”. Nhưng nàng vốn lanh lẹ, sắc mặt vẫn bình thản, chẳng hề biểu hiện ra, mỉm cười rằng: “Đối với người gần gũi nhất muội mới lắm lời, đối với người quen bình thường muội đâu thích nói”. Lý Trị nghĩ cũng có lý. Phùng Lâm và Dịch bá mẫu tình như mẹ con, nàng nũng nịu trước Dịch bá mẫu cũng là chuyện bình thường. Phùng Lâm thấy chàng mỉm cười, không dám nói nhiều, cẩn thận hỏi dò rằng: “Cựu cựu của huynh đâu?” “Người có chuyện phải quay về Thiên Sơn”. Phùng Lâm thở phào, nàng biết Lý Trị tính tình trung hậu, chắc chắn chàng sẽ không biết mình giả làm đồ đệ của Dịch Lan Châu.

Phùng Lâm lại cải dạng nam trang đi cùng Lý Trị, trên suốt quãng đường nàng cứ gợi cho Lý Trị kể chuyện trên Thiên Sơn, không đầy nửa ngày nàng đã biết hết chuyện về Thiên Sơn thất kiếm, mối quan hệ giữa họ cùng tính cách của đồ đệ Dịch Lan Châu.

Tung Sơn là tên gọi chung của hai núi Thiếu Thất và Thái Thất, hôm sau hai người đã đến chân núi Thiếu Thất, lúc này chùa Thiếu Lâm đã bị hỏa thiêu gần một tháng, Lý Trị và Phùng Lâm đứng từ xa nhìn thấy trái núi trọc lóc, rất kinh hãi, hai người lên núi, chỉ thấy một đống đổ nát hoang tàn.

Phùng Lâm nói: “Sao lại thế này, hay là huynh đã đi nhầm đường. Ở đây chẳng có căn nhà nào, làm sao tìm ra chùa Thiếu Lâm?” Lý Trị nói: “Chùa Thiếu Lâm ở đâu ai mà không biết, làm sao đi nhầm được”. Rồi chỉ đống đổ nát nói: “Muội có thấy đống gạch kia không? Chắc chắn ở đây đã xảy ra một trận hỏa hoạn”. Hai người rất thất vọng, Lý Trị càng đau đớn hơn, thầm nhủ: “Cứu Anh muội chỉ hy vọng ở Thiếu Lâm, mà nay Thiếu Lâm đã bị hỏa thiêu, mình đi đâu tìm linh đơn diệu dược đây?”

Phùng Lâm cười nói: “Huynh lại lo rồi à? Dù không có thuốc giải, muội cũng không đến nỗi chết”. Phùng Lâm đã nuốt viên Tiểu Hoàn đơn cuối cùng, nàng chỉ cảm thấy cổ tay đau nhói chứ chẳng hề gì. Lý Trị nhảy lên một tảng đá lớn nhìn ra, chợt kêu lên: “Hình như ở đằng kia có một căn nhà, ồ, còn có một người nữa”. Chàng nhảy xuống chạy tới phía trước mấy trượng, mừng rỡ nói: “Người này là một hòa thượng”. Phùng Lâm nói: “Chắc chắn là nhà sư chùa Thiếu Lâm, chúng ta gọi y!” rồi nàng chúm môi huýt một tiếng sáo, người ấy phóng tới như bay, quả nhiên là một hòa thượng. Lý Trị cung kính hỏi: “Xin hỏi pháp danh của đại sư?” hòa thượng nói: “Các ngươi tìm ai?” Phùng Lâm thấy hòa thượng đầu đội mũ sừng dê, mình mặc cà sa màu đen, mắt lộ huung quangg, tay cầm một cây trường kiếm sáng loáng, trông chẳng giống như cách ăn mặc của sư chùa Thiếu Lâm, trong tay cầm sẵn phi đao, buột miệng trả lời: “Chẳng tìm ai cả”. Lý Trị lại nói: “Xin hỏi chùa Thiếu Lâm bị đốt từ lúc nào? Vô Trú thiền sư có ở đây hay không?” hòa thượng ấy cười gằn, cao giọng nói: “Các ngươi tìm chủ trì của chùa Thiếu Lâm? Hừ, đến thật đúng lúc, ta đang tìm các ngươi đây!”

Lý Trị giật mình, nói: “Đại sư nói thế là có ý gì?” hòa thượng nói: “Ý gì? Là ta muốn ngươi đi gặp Vô Trú!” cây trường kiếm chợt vung ra, quét vù tới một nhát kiếm.

Người này chính là Hải Vân hòa thượng ở lại Tung Sơn canh giữ, y đã canh ở đây gần cả tháng, hôm nay mới thấy người ngoài, thầm nhủ: “Hừ, rốt cuộc cũng có hai tên tiểu tặc tự chui đầu vào lưới”. Lý Trị suýt nữa bị y đâm trúng, chàng phóng mình lên cao mới tránh được nhát kiếm ấy. Hải Vân hòa thượng múa kiếm đâm tiếp, Phùng Lâm phóng ra ba mũi phi đao, Hải Vân hòa thượng vạch một vòng tròn rồi xoay người hai cái, ba mũi phi đao đều bị kiếm phong quét lên trời, rơi xuống sơn cốc trở lại. Lý Trị kêu lên: “Anh muội, đừng động thủ. Nếu muội động thủ huynh sẽ giận đấy!” rồi rút kiếm ác đấu với Hải Vân hòa thượng.

Hải Vân hòa thượng vốn chẳng xem Lý Trị vào đâu, không ngờ chàng ta chỉ mới đánh mấy chiêu mà đã cảm thấy khó hóa giải. Y thất kinh không dám sơ suất, cây trường kiếm kêu lên vù vù, kiếm quang chụp xuống toàn thân, kiếm pháp của Lý Trị tuy quái dị tuyệt luân nhưng cũng không thể nào đánh vào được. Chỉ trong chớp mắt hai người đánh nhau đến hơn năm mươi chiêu, Hải Vân hòa thượng đầu tiên lấy thủ làm công, sau đó lấy công đối công, cả hai bên tám lạng nửa cân, chẳng ai thua ai. Phùng Lâm cứ nhấp nhổm muốn nhảy vào, có điều nàng sợ Lý Trị giận nên không dám tiến lên. Phùng Lâm vốn rất ít nghe lời người khác, chỉ vì Lý Trị thương yêu nàng, nên bất giác nàng đã thay đổi, không thể nào không nghe lời Lý Trị.Hải Vân hòa thượng đánh được năm mươi chiêu mà vẫn chẳng chiếm được phần tiện nghi nào, chỉ cảm thấy kiếm pháp của kẻ địch quái dị vô cùng, chẳng thể nào nắm bắt được; vốn là y muốn đánh cả hai, nhưng giờ đây lại sợ Phùng Lâm tấn công vào. Lý Trị cũng thầm thất kinh, bởi vì kiếm pháp của Hải Vân hòa thượng nhanh như sấm sét, mỗi nhát kiếm đều như nặng đến ngàn cân, nếu đánh tiếp chỉ sợ sẽ thất bại. Đang tìm cách thoát ra, chợt nghe kẻ địch hú dài, tựa như muốn gọi đồng bọn, trong lòng càng lo, thế là chàng vội đâm soạt ra một kiếm. Hải Vân hòa thượng thấy mũi kiếm của kẻ địch máy động, tựa như đâm ở phần thượng bàn nhưng lại đâm xuống gối, y lùi một bước, chưởng trái bạt ngang ra, tay phải cầm kiếm giơ ngang ngực, phòng thủ cả trên dưới trái phải, dù đối phương biến chiêu như thế nào cũng có thể ứng phó nổi. Không ngờ mũi kiếm của Lý Trị vẫy một cái, đổi hướng đâm về phía huyệt Tiếu Huyệt ở trung bàn. Hải Vân hòa thượng không kịp đề phòng, bị mũi kiếm điểm vào, vừa ngứa ngáy vừa tê rần, lập tức cười lên như phát cuồng. Lý Trị cả mừng, xoay người lại kéo Phùng Lâm chạy xuống núi. Chạy đến lưng chừng núi, phó thủ của Hải Vân hòa thượng là thống lĩnh Ngự lâm quân Tần Trung Việt đã đuổi tới, đôi Phán Quan bút phân ra hai bên trái phải chặn lại giữa đường. Bọn lính canh trên núi Tung Sơn lúc đầu rất nhiều, sau mấy ngày chẳng thấy chuyện gì, Ung Chính lại có việc khác nên dần dần rút đi chỉ còn để lại Hải Vân hòa thượng và Tần Trung Việt. Võ công của Tần Trung Việt tuy không bằng Hải Vân hòa thượng nhưng chiêu số điểm huyệt bằng đôi bút Phán Quan của y cũng rất độc đáo, muốn đánh lùi y trong chốc lát là điều không thể.

Đấu được khoảng ba mươi chiêu, chợt nghe Hải Vân hòa thượng gầm lớn đuổi xuống. Lý Trị lạnh mình, huyệt Tiếu Yêu là một trong những huyệt gây tê, nằm ở cuối xương sườn mềm, thuộc vị trí của thận tạng, nếu bị điểm trúng chắc chắn sẽ cười như điên không ngừng, sức lực tiêu tan. Nào ngờ Hải Vân hòa thượng chỉ cười một hồi lại có thể chạy xuống như bay, quả thực công lực của y đúng là bất phàm! Phùng Lâm rút đoản kiếm, tay cầm phi đao, Lý Trị nói: “Muội đứng sang một bên, nếu huynh không địch nổi, muội hãy chạy xuống núi trước”. Khi chàng đang nói thì Hải Vân hòa thượng đã đuổi tới.

Lý Trị trước sau đều gặp địch, tình thế thay đổi, đánh được năm mươi chiêu, chiêu số đã dần đần bị kẻ địch vây khốn, Hải Vân hòa thượng vung cây trường kiếm xoáy một cái, keng một tiếng, kiếm của y đã chập vào thân kiếm của Lý Trị, Lý Trị không thể nào triển khai được kiếm chiêu, Tần Trung Việt phân hai cây bút ra, đánh ra một chiêu Song Phong Quán Nhĩ, bút trái xỉa hờ vào mặt, bút phải đâm vào huyệt Huyền Cơ trên ngực, xem ra Lý Trị khó thoát nổi chiêu này.

Phùng Lâm lướt qua một bên, lúc nàng không thèm để ý đến lời của Lý Trị nữa, đã vung tay lên, phi đao bắn ra, Tần Trung Việt xoay người né tránh, cây bút lệch qua một bên, đến khi điểm lại thì đã bị Phùng Lâm ném thêm một mũi phi đao đánh lệch Phán Quan bút của y, Tần Trung Việt nhảy tránh sang một bên, Lý Trị điểm cây trường kiếm về phía trước, hóa giải chiêu số của Hải Vân hòa thượng, kêu lớn: “Anh muội, chạy mau, đừng xông lên!” Phùng Lâm cười rằng: “Huynh đừng giận, một mình huynh chẳng đánh được lão lừa trọc, sau này hẵng giận cũng không muộn”. Tuy miệng đang nói nhưng tay nàng chẳng hề ngừng, cây đoản kiếm quét ngang về phía Tần Trung Việt.

Võ công của Phùng Lâm rất phức tạp, chỉ trong chốc lát đã đổi sáu bảy loại chiêu số khác nhau, Tần Trung Việt cũng chỉ là hảo thủ thuộc hàng số hai, bởi vậy đầu váng mắt hoa trước những chiêu số biến ảo vô thường của nàng, sau năm mươi chiêu, y chỉ có thể chống đỡ. Lý Trị luôn miệng quát tháo mà Phùng Lâm không thèm để ý. Đang đấu nhau rất hăng, Tần Trung Việt chợt tìm thắng trong bại, y đánh liều bước sấn tới, giơ hai bút điểm vào huyệt Mệnh Môn ở sau lưng của Phùng Lâm. Khinh công của Phùng Lâm cao hơn y, Tần Trung Việt vừa bước sấn tới, nàng đã chuẩn bị, khi Tần Trung Việt điểm hai bút đến sau lưng, Phùng Lâm đã điểm mũi chân xoay người nửa vòng, lướt xéo ra, quét kiếm ra phía sau một vòng tròn, hai bút của Tần Trung Việt vừa chạm vào kiếm của nàng, bị nàng xoáy một cái, dùng lực đánh lực chỉ nghe keng keng hai tiếng, hai cây bút đã bị nàng cuộn vuột khỏi tay. Phùng Lâm lại xoay người đâm một kiếm, chặt đứt năm ngón tay của Tần Trung Việt. Tần Trung Việt kêu thảm lăn người xuống núi.

Hải Vân hòa thượng và Lý Trị đều có sở trường, vốn là không ai thắng ai. Có điều lúc nãy Hải Vân hòa thượng bị điểm trúng huyệt Tiếu Yêu, tuy có nội công thâm hậu, chẳng hề tổn thương nhưng khí lực đã giảm một chút, vốn đã bị kiếm pháp của Lý Trị chèn ép, nay thấy Tần Trung Việt đã mất mạng, y càng kinh hãi hơn, cây trường kiếm đánh ra một chiêu Lý Quảng Xạ Thạch, bề ngoài là tấn công tới nhưng thực sự là thối lui.

Phùng Lâm kêu: “Hòa thượng béo, ngươi có còn cười được không?” rồi vung tay ném ra ba mũi phi đao, Hải Vân hòa thượng đã tấn công ra không thể nào rút về đề phòng, chưởng trái vung chưởng thành gió, đánh bay phi đao, nhưng như thế lực đạo của nhát kiếm đã giảm xuống, nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Lý Trị đâm xuống một kiếm, ở khớp gối của Hải Vân hòa thượng đã bị mũi kiếm chém đứt gân, Hải Vân hòa thượng cũng thật ghê gớm, y nhào người xuống đất rồi lăn xuống núi.

Phùng Lâm cười khanh khách: “Ồ, giống gì thế? Chẳng khác gì chó đói táp phân”. Nàng cười chưa dứt cũng té nhào xuống. Té ra sau một hồi kịch chiến, Bạch Mi châm đã lại dâng lên, độc tính phát tác, tuy có Tiểu Hoàn đơn nhưng chẳng thể nào kìm được.

Lý Trị cả kinh cúi người xuống nhìn, chỉ thấy sắc mặt của nàng vàng ệch, chàng kêu mấy tiếng mà không nghe nàng trả lời. Lý Trị đưa tay sờ ngực Phùng Lâm, chỉ cảm thấy ấm áp, rõ ràng khí vẫn chưa đứt, chỉ là dùng lực quá độ nên ngất đi. Lý Trị liền kề miệng xuống tiếp khí cho nàng. Một lát sau Phùng Lâm dần dần tỉnh lại, lúc này Lý Trị mới thấy xao xuyến trong lòng, vội vàng nhích miệng ra, khẽ hỏi: “Thế nào rồi?” Phùng Lâm nói: “Muội rất khát”. Lý Trị biết độc tính đã phát tác, nói: “Chúng ta tìm một nơi nghỉ ngơi”. Rồi bế Phùng Lâm ra phía sau núi, tìm một sơn động, Lý Trị bế nàng vào động rồi lấy áo khoác của mình đắp cho nàng, sau khi được uống một ít nước, Phùng Lâm đã dần dần tỉnh táo hơn, nàng nói: “Huynh hãy đi đi, cứ mặc muội”. “Anh muội, muội yên tâm, muội sẽ khỏe lại ngay. Huynh sẽ ở bên cạnh muội!” Phùng Lâm lẩm bẩm nói: “Muội không tốt, muội không ở cạnh huynh”. Lý Trị biết nàng nhắc lại chuyện trước kia, nói: “Muội đừng nghĩ ngợi nhiều nữa, để huynh tìm trái cây cho muội ăn”. Phùng Lâm lại lẩm bẩm: “Muội lừa huynh, muội có lời muốn nói với huynh...” nàng nói chưa dứt thì đã ngất đi.

Lý Trị chẳng còn cách nào, chỉ biết nhẹ nhàng vỗ về nàng, một lát sau Phùng Lâm lại tỉnh dậy, miệng há to, tựa như muốn nói gì đó, Lý Trị nói: “Anh muội, muội đừng nói chuyện, hãy nghỉ ngơi”. Rồi lại lấy tay nải của Phùng Anh định kê đầu cho nàng để nàng ngủ dễ chịu một chút. Nhưng tay chàng chạm vào một vật rất dày, Lý Trị lấy ra xem, té ra đó là một quyển sách, bìa đề bốn chữ lớn “Kim châm độ thế”.

Lý Trị vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, chàng đã nghe mẹ mình nói rằng, kim châm độ thế là tâm huyết một đời của Phó Thanh Chủ. Phần đầu tiên quyền kinh kiếm quyết cũng bình thường, nhưng phần y thư thứ hai là vật hiếm có trên đời. Không biết sao lại lọt vào tay “Phùng Anh”? chàng nghĩ lại, Dịch Lan Châu đã từng cho mẹ mình biết chuyện Chung Vạn Đường chết thảm, bà ta còn bảo quyển sách này chắc chắn trong tay Chung Vạn Đường, đáng tiếc lúc đó quên tìm kiếm. Lý Trị thầm nhủ: “Có thể Dịch bá mẫu bảo Phùng Anh đi lấy quyển sách này. Mình vốn không nên xem lén, nhưng trong sách chắc chắn có cách giải Thất Sát Bạch Mi châm, nay đã lâm vào đường cùng, chỉ đành phải xem trước, nếu may mắn cứu được Anh muội, mình lại sẽ thú thật với nàng”.

Lý Trị lấy quyển y thư ra, bắt đầu đọc từng trang, xem được hơn hai mươi trang chợt thấy đề mấy chữ “bệnh ly hồn”. Lý Trị thầm nhủ: “Bệnh này thật là!” nhưng vì vội vàng tìm cách giải độc cho Phùng Lâm chàng lại lật tiếp hơn mười trang nữa, chợt thấy một trang viết rằng: “Cách giải tà độc phi châm”. Lý Trị cả mừng, ra đến cửa động xem cho kỹ. Phùng Lâm chợt trở mình nói: “Huynh làm gì thế?” Lý Trị nói: “Huynh đang xem sách của muội”. Phùng Lâm lại lẩm nhẩm: “Chứng ly hồn, chứng ly hồn, huynh có hiểu không?”

Lý Trị giật mình, lúc này Phùng Lâm đã nhắm mắt xoay người ngủ thiếp đi. Lý Trị thầm nhủ: “Tại sao nàng lại nhắc đến chứng ly hồn, ồ, nàng khác hẳn khi ở Thiên Sơn, không nhớ nhiều chuyện lúc nhỏ, chả lẽ đã mắc chứng ly hồn? Chuyện này sau hẵn tính, mình phải tìm cách giải độc trước”.

Võ Thành Hóa tinh thông y lý, Lý Trị cũng học được nhiều điều ở ông ta nên có thể hiểu được những điều trong sách nói. Xem qua một lượt, chàng cả mừng, té ra cách giải Thất Sát Bạch Mi châm cũng giống như cách giải những loại độc khác, không cần phải nhờ thuốc giải mà có thể dùng phương pháp châm cứu của Phó Thanh Chủ. Trước tiên dùng ngân châm đâm các huyệt đạo có liên quan, sức đề kháng trong cơ thể sẽ được kích thích, từ đó giảm bớt độc tính, cuối cùng dùng ba đậu cho người uống đại tả, chất độc sẽ theo phân bài tiết ra ngoài, còn ngân châm rất nhỏ, dù không lấy ra được cũng chẳng có hại gì.

Lý Trị mừng rỡ gấp sách lại, nhưng chợt nhớ ở nơi núi rừng hoang vắng, chẳng có ngân châm để châm cứu lại chẳng có ba đậu, biết làm thế nào đây. Nghĩ ngợi một hồi, chàng mới nhìn ra ngoài động, khắp nơi đều là cây trúc, thầm nhủ: “Mình gọt tre làm châm, có lẽ cũng được. Cũng có thể dùng thuốc khác để thay cho ba đậu, tóm lại làm cho người bệnh đại tả là được”. Chàng nhớ có một loại vỏ cây, ăn lúc còn hườm hườm sẽ bị tiêu chảy, chắc có thể thay cho ba đậu.

Lý Trị thấy Phùng Lâm đã ngủ say, thế rồi mới cởi áo đắp cho nàng rồi ra ngoài động tìm trái cây. Đi ra khỏi cửa động, nhìn xuống sơn cốc chợt thấy có một bóng người tập tễnh bước lên, cứ đi hai bước lại dừng một bước, có lúc lại rên rĩ, nhìn kỹ lại thì thấy đó chính là hòa thượng bị mình đâm bị thương lúc nãy. Thầm nhủ: “Ồ, té ra tên này chưa chết”. Lý Trị không rảnh quan tâm tới y, thế là đi tìm trái cây, tìm nửa ngày cũng đã thấy. Lý Trị chọn năm sáu trái hường hường rồi chặt cành tre vót thành kim nhọn đem về động.

Lúc này Phùng Lâm đã tỉnh, không thấy Lý Trị thầm nhủ: “Ồ, chàng ta bỏ mình ra đi, cũng đáng lắm”. Lý Trị đã trở về. Phùng Lâm nói: “Sao huynh vẫn chưa đi? Muội tứ chi vô lực, trong người khó chịu muốn nôn, đầu nhức miệng khô, chắc là không thể cứu được nữa. Huynh hãy trở về Thiên Sơn mà tìm Anh muội của huynh đi”. Lý Trị tưởng nàng thần trí không tỉnh táo, cười rằng: “Chẳng phải Anh muội ở đây sao? Muội hãy yên tâm, huynh sẽ trị cho muội, đảm bảo muội sẽ khỏe ngay”. Rồi kéo Phùng Lâm dậy, nói: “Anh muội thứ lỗi, đừng trách huynh vô lễ”. Phùng Lâm nói: “Sao?” Lý Trị nói: “Hãy vén ống quần lên để huynh châm cứu vào huyệt đạo cho muội”. “Huynh đừng phí công nữa!” nàng thấy Lý Trị lộ vẻ nôn nóng, chợt cười nói: “Được, muội sẽ để huynh trị”.

Lý Trị dùng thúc châm đâm vào các huyệt đạo của nàng, để nàng ngủ một hồi, đến lúc chạng vạng thức dậy, Phùng Lâm thấy đói rã cả ruột, Lý Trị cả mừng: “Tạ ơn trời đất, thế là xong rồi! Muội có muốn ăn trái cây không? Trái cây này ngọt lắm”.

Chính là:

Một đôi người có duyên, hoạn nạn thấy chân tình.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 29: Ngọc nữ lộ cơ tâm lòng đầy thắc mắc Quân vương tham tuyệt sắc nguy hiểm trùng trùng

Phùng Lâm mỉm cười nói: “Huynh thật là giỏi”. Rồi cắn một miếng, nhăn mặt kêu: “Huynh lừa muội, trái cây này rất chua”. “Chua càng tốt, nghe lời huynh, hãy ăn trái cây này”.

Phùng Lâm miệng khát bụng đói, thế là ăn hết một nửa số trái cây, một hồi sau bụng cứ réo ùng ục, Phùng Lâm đỏ mặt nói: “Huynh ra ngoài một tí”.

Chàng vừa bước ra cửa động, chợt thấy bên ngoài động có bóng người thấp thoáng, Lý Trị quát: “Ai?” rồi nhặt một hòn đá ném về phía bóng người.

Người ấy bám vào sợi dây rồi đu xuống núi, nấp trong bụi rậm. Lý Trị đã nhìn rõ ràng, đó chính là Hải Vân hòa thượng, trong lòng thầm kêu không xong, không dám bỏ Phùng Lâm đuổi theo, chỉ ra dòng suối bên cạnh rửa chân tay.

Mấy ngày sau Phùng Lâm đã dần dần khỏe, nàng có thể vịn vách hang động đi lại được. Bao nhiêu thức ăn dự trữ, Lý Trị đều nhường cho nàng. Hôm nay chàng ra ngoài tìm một ít thú rừng. Đi một hồi chàng chợt nghe tiếng kêu thét theo gió núi vọng lại. Lý Trị giật mình, nằm phục người xuống đất lắng nghe, thì ra đó là tiếng kêu của Phùng Lâm! Lý Trị kêu lên: “Không xong, chắc chắn Anh muội đã gặp lão hòa thượng hung ác ấy”.

Lý Trị thi triển khinh công chạy trở về, vì lúc này chàng đã cách hang động rất xa nên chạy một hồi đã thở hổn hển, hai chân tựa như mang gông, cảm giác rất nặng nề. Lúc này tiếng kêu của Phùng Lâm càng rõ ràng hơn, rõ ràng là gọi tên chàng, Lý Trị chạy về phía sơn động, vì chàng quá vội nên vấp phải hòn đá té nhào xuống, bao nhiêu sức lực tiêu tan, chẳng cất bước nổi nữa.

Lý Trị lo lắng: “Giờ đây mình đã đuối sức, chạy trở về cũng chẳng ích gì”. Chàng ngồi xuống đất, tiện tay kéo cành cây bên cạnh, vạch mấy trái trên cây, một hồi sau, tiếng quát tháo đã dần đến gần, té ra nơi Lý Trị ngã xuống cách hang động không xa, Phùng Lâm đánh nhau với kẻ địch đã lướt dần đến nơi Lý Trị ẩn thân. Lý Trị nhìn ra phía sau tảng đá, kẻ đang đánh nhau với Phùng Lâm là một hòa thượng hung dữ, chỉ thấy chân trái của y tập tễnh, di chuyển chậm chạp, có lẽ đã bị thương.

Té ra Hải Vân hòa thượng dưỡng thương trong sơn cốc mấy ngày, vết thương dần dần lành hẳn, y thấy Lý Trị vót tre làm trúc châm, y biết chàng dùng trúc châm giải độc cho Phùng Lâm bởi vậy cả mừng thầm nhủ: “Hai tên này đã trúng kịch độc, cơ hội của mình đã tới”. Y không biết rằng chỉ có một mình Phùng Lâm trúng độc mà thôi.

Hải Vân từ dưới sơn cốc bò lên, đến trước cửa sơn động dòm ngó không cẩn thận nên đặt phải cạm bẫy mà Lý Trị đã đặt, bởi vậy trúng liền hai mũi tên đau đến nỗi kêu lên oai oái, rồi y toan lấy cỏ khô lấp cửa động định phóng lửa. Phùng Lâm rút kiếm xông ra đánh nhau với Hải Vân.

Khi Phùng Lâm lên núi vẫn ăn mặc kiểu nam tử, nay đã mặc quần áo của nữ nhi, Hải Vân hòa thượng thất kinh. Y tưởng rằng hai người đã trúng kịch độc, nào ngờ chỉ có một mình Phùng Lâm, mà sau khi nàng đã được giải độc, được ăn ngủ đầy đủ, tinh thần đã hồi phục, ngoại trừ hơi ốm, chẳng hề có vẻ gì bệnh hoạn. Hải Vân hòa thượng thầm kêu không xong, nhủ rằng: “Chả lẽ bọn chúng bày cạm bẫy dụ mình mắc câu?” rồi y đâm hờ tới một kiếm xoay người bỏ chạy.

Phùng Lâm nhốt mình trong động mấy ngày, vừa thấy ánh mặt trời thì tinh thần phấn chấn, thấy Hải Vân hòa thượng bị thương bỏ chạy, thầm nhủ: “Lão lừa trọc đang bị thương, mình phải nhân cơ hội này trừ mối họa”. Khinh công của Phùng Lâm vốn rất giỏi, lại thêm sau khi Hải Vân hòa thượng bị thường càng chẳng bằng nàng, y chạy được hai ba mươi bước thì bị nàng đuổi theo, Hải Vân hòa thượng thầm nhủ: “Võ công của ả này kém hơn mình, đồng bọn của ả lại không có ở đây, mình bắt ả làm con tin để uy hiếp tên kia”.

Hải Vân hòa thượng công lực thâm hậu, tuy y đã bị thương nhưng bản lĩnh còn hơn cả Phùng Lâm, y dụ nàng đến chỗ địa hình hiểm trở, đột nhiên xoay người phản công, chặn mất lối ra, dồn Phùng Lâm trong vùng núi đá, thế là cả hai người quần thảo ác liệt với nhau. Bất giác đã kéo đến chỗ nấp của Lý Trị.

Lý Trị nấp sau tảng đá nhìn ra, thấy kiếm chiêu của Phùng Lâm kín kẽ không hề có sơ hở, mừng thầm nói: “Tuyệt kỹ kim châm của Phó Thanh Chủ quả nhiên linh diệu lạ thường. Xem ra nàng đã khỏe hẳn”. Nhưng Hải Vân hòa thượng công lực thâm hậu, kiếm thế loang loáng tuy thân pháp không lanh lẹ bằng Phùng Lâm nhưng cũng đã chiếm thượng phong, Phùng Lâm chỉ có thể chống đỡ chứ không thể trả đòn.

Lý Trị nhìn một hồi, thấy Phùng Lâm chỉ trong khoảnh khắc mà sử dụng đến năm sáu loại kiếm pháp, mỗi khi gặp nguy thì kiếm pháp thay đổi.

Phùng Lâm vừa mới bệnh khỏi, khí lực dẫu sao vẫn còn yếu, chống chọi được hơn một trăm chiêu thì kiếm pháp dần dần tán loạn. Hải Vân hòa thượng cười ha hả, tay phải múa kiếm như gió, tay trái triển khai công phu tay không đoạt binh khí toan giật bảo kiếm của Phùng Lâm. Phùng Lâm kêu lên: “Lý ca ca, đến đây mau!” Hải Vân hòa thượng cười lớn: “Ngươi kêu cả nửa ngày mà y chẳng trả lời ngươi, ngươi có muốn ta nói cho ngươi biết ta đang ở đâu không?” Phùng Lâm cố gắng chống hai chiêu, suýt nữa bị y chụp trúng, Hải Vân hòa thượng vừa tấn công vừa mỉa mai: “Lý đại ca của ngươi đang đợi gặp ngươi ở suối vàng có điều ta không nỡ tiễn ngươi xuống suối vàng mà thôi!”

Lý Trị nghe thế bốc lửa giận, hít một hơi rồi đứng bật dậy quát: “Tên giặc trọc kia, ta đợi ngươi đã lâu, ha ha, hôm nay ngươi cũng tự chui đầu vào lưới!” Hải Vân hòa thượng thất kinh, khi y chưa bị thương đã không phải là đối thủ của Lý Trị, chợt thấy chàng xuất hiện thì nghĩ rằng quả đúng mình đã rơi vào cạm bẫy, cố gắng đánh hai kiếm đẩy Phùng Lâm tránh qua một bên, nhân lúc Lý Trị chưa phóng tới đã xoay người bỏ chạy. Phùng Lâm vỗ tay cười lớn nói: “Lý ca ca, mau đuổi theo!” chợt thấy Lý Trị sắc mặt tái nhợt, lảo đảo như muốn ngã xuống, Phùng Lâm thất kinh nhưng chợt cười lớn nói: “Ha ha, huynh đánh được một con hổ, dù sao ăn canh xương hổ vẫn ngon hơn!” Lý Trị chưng hửng, nhưng lập tức hiểu ra, chàng cười lớn nói: “Phải đấy, muội đi lột da hổ, còn huynh sẽ múc nước. Chúng ta đã ngán thịt dê nướng, cũng nên thay đổi khẩu vị”. Nói xong lại té xuống đất, may mà Phùng Lâm đã bước tới bên cạnh đỡ chàng. Nàng khẽ nói bên tai chàng, nói: “Huynh nhịn một lát, đợi lão lừa trọc đi xa, muội sẽ đỡ huynh về”.

Phùng Lâm lên đỉnh núi nhìn, khi Hải Vân hòa thượng khuất bóng nàng mới cười nói: “Nguy hiểm thật, té ra huynh cũng dùng kế không thành!” rồi đưa tay sờ vào trán Lý Trị, áy náy nói: “Huynh chắc chắn đã mệt, huynh cảm thấy thế nào? Đừng bệnh đấy nhé!” Lý Trị thấy nàng lo lắng như thế, trong lòng cảm thấy an ủi, thầm nhủ: “Nàng cũng biết quan tâm đến người khác”. Phùng Lâm nói: “Còn may, huynh không bị sốt. Sao huynh không nói?” Lý Trị rất ái ngại, khẽ nói: “Huynh đang đói, không phải bệnh”. Phùng Lâm bật cười rồi đỡ chàng về lại sơn động.

Về đến sơn động, Phùng Lâm nói: “Còn một ít lương khô, huynh hãy ăn đi. Muội đi săn đây!” Lý Trị nói: “Muội vừa mới khỏi bệnh, cũng nên nghỉ ngơi đi thôi!” Phùng Lâm nói: “Thật kỳ lạ, muội đánh một hồi, toàn thân đổ mồ hôi, nhưng tinh thần lại khỏe khoắn. Huynh hãy nằm nghỉ một lát”. Rồi mỉm cười bước ra khỏi động.

Lý Trị ăn lương khô rồi nằm xuống đất, nhìn tòa sơn động đến xuất thần, thầm nhủ: “Sau khi rời khỏi Thiên Sơn, Anh muội đã thay đổi. Thiên Sơn kiếm pháp của Dịch bá mẫu tuy thần dịu nhưng tại sao lúc nãy Anh muội lại dùng đến năm sáu loại kiếm pháp, nhưng rốt cuộc vẫn không thi triển kiếm pháp của bổn môn?” chàng ta suy đi nghĩ lại mà vẫn chẳng hiểu, bất giác nhớ đến những chuyện từ sau khi gặp Phùng Lâm, chàng chỉ cảm thấy lời lẽ với cách làm việc của nàng cùng với những thói quen nhỏ hàng ngày đều khác với Phùng Anh, “chả lẽ nàng không phải là Anh muội? Không thể, không thể! Trên đời này làm sao có hai người hoàn toàn giống nhau?” dần dần bóng chiều ngã về Tây, sơn động đã tối mịt mà chẳng thấy Phùng Lâm trở về!

Lý Trị thầm lo: “Chả lẽ nàng lại bỏ mình như lần trước?” nhưng nghĩ lại: “Từ lúc lên Tung Sơn, xem ra nàng có vẻ ngoan ngoãn hơn trước, chắc nàng không đến nỗi bỏ mình”. Đang suy nghĩ chợt thấy có một bóng người hiện ra trước cửa động, Phùng Lâm xách một cái đùi dê nướng bước vào. Lý Trị thầm trách mình đã nghĩ xấu cho nàng.

Phùng Lâm tay phải xách đùi dê, tay trái kéo Lý Trị ngồi dậy, đưa đùi dê cho chàng nói: “Huynh ngửi thử xem, có thơm không?” Lý Trị luôn miệng khen: “Thơm lắm, thơm lắm!” rồi cầm lấy đùi dê cắn nhồm nhoàm. Phùng Lâm cười nói: “Hunh không nên ăn quá nhiều, coi chừng trúng thực”. “Muội hãy yên tâm, chúng ta luyện nội công, bao tử không yếu như người bình thường”. Trong chốc lát chàng đã ăn sạch cái đùi dê.

Phùng Lâm nhìn chàng mà buồn cười, chợt nhớ chàng đã vì mình mà chịu đói, Lý Trị lại nói: “Huynh lo muội sẽ không trở về!” “Muội không dám nướng gần hang động, sợ ảnh hưởng đến huynh”. “Hay lắm, bây giờ muội đã hiểu việc”.

Chỉ thấy Lý Trị nhìn nàng xuất thần, Phùng Lâm cười nói: “Sao thế? Có phải huynh lại giận muội không?” Lý Trị chợt nói: “Huynh đang nghĩ đến một chiêu kiếm”. “Chiêu kiếm nào?” “Lúc nãy muội đấu kiếm với tên hung tăng, tên hung tăng ấy đánh ra một chiêu gọi là Hàn Đào Phách Ngạn, muội dùng Nhất Vĩ Độ Giang trong Thiếu Lâm kiếm pháp nhẹ nhàng hóa giải thế công, khéo léo tránh qua được, điều đó đương nhiên là đúng; nhưng huynh nhớ trong Hàn đào kiếm pháp của Dịch bá mẫu có một chiêu gọi là Lãng thông kim môn, một chiêu bốn thức, kín kẽ lạ thường, chuyên dùng để khắc chế chiêu Kinh Đào Phách Ngạn. Tại sao muội không dùng? Không biết huynh nói có đúng hay không, muội hãy đánh lại chiêu Lãn Thông Kim Môn cho huynh xem thử”.

Phùng Lâm ngạc nhiên, cười gượng đáp nói: “Muội đã quên rồi”. “Muội làm sao quên được?” Phùng Lâm đỏ ửng mắt, nói: “Sau khi xuống núi, muội đã từng bệnh nặng, lúc đó không có huynh chăm sóc, một bà già bưng thuốc cho muội uống, bệnh xong thì chẳng còn nhớ đến chuyện trước kia nữa”. Phùng Lâm đương nhiên nói dối, Lý Trị nghe xong cũng cảm thấy khó tin, chàng ta chỉ mở to mắt nhìn nàng.

Phùng Lâm thầm nhủ: “Sớm muộn gì chàng ta cũng biết, mình không cần phải nói dối nữa”. Lý Trị chợt thở dài nói: “Đáng tiếc! Thiên Sơn kiếm pháp ảo diệu vô cùng thế mà muội đã quên mất”. Phùng Lâm bước tới nắm tay Lý Trị, chợt cười nói: “Nếu muội nói dối, huynh có giận muội không?”

Lý Trị chợt nghe câu này thì thất kinh, vội hỏi: “Muội nói dối những gì?” Phùng Lâm nói: “Muội không hề biết Thiên Sơn kiếm pháp!” Lý Trị cười lớn: “Đây mới là lời nói dối, muội không hiểu Thiên Sơn kiếm pháp thì ai biết?” Phùng Lâm ứa nước mắt, chợt nói: “Muội biết tâm ý của huynh, huynh nghi ngờ muội không phải là Anh muội của huynh, huynh cảm thấy chăm sóc cho muội không đáng đúng không?” Lý Trị giật mình nói: “Sao muội lại nói như thế? Chúng ta là người hiệp nghĩa, dù cho không quen biết nhau, khi gặp nạn bị thương cũng phải giúp đỡ lẫn nhau. Huống chi là huynh với muội? Muội nói như thế đã coi huynh là người thế nào?” Phùng Lâm vốn muốn nói ra sự thật, nhưng thấy chàng ta như thế thì kìm lại, bật cười nói: “Muội chỉ đùa với huynh, huynh cho là thật ư?”

Suốt đêm ấy cả hai đều trằn trọc chẳng yên giấc. Phùng Lâm chưa bao giờ thấy một quân tử chí thành như thế, trong lòng suy đi nghĩ lại, chốc thì muốn cho chàng ta biết sự thật, chốc thì lại muốn giấu mãi. Không biết thế nào mà chợt nhớ đến Niên Canh Nghiêu, Niên Canh Nghiêu hùng tài bá khí, ngôn hành cử chỉ đều uy nghi, Phùng Lâm rất khâm phục trong lòng, trước khi đến Tung Sơn, nàng ta thường cảm thấy Lý Trị không thể bì được với y, nhưng sau một trận bệnh, bóng hình của Niên Canh Nghiêu dần dần nhạt nhòa. Phùng Lâm lại nhớ đến việc Ung Chính bức hôn, chợt có một ý nghĩ kỳ quái: “Làm người tại sao phải kết hôn, mình cũng chẳng biết, nhưng phụ nữ rồi cũng phải có chồng, có lẽ không thể tránh được. Giá như bảo mình chọn một người chồng thì mình sẽ chọn ai? Niên Canh Nghiêu? Hay là anh chàng Lý Trị ngốc nghếch này? Tốt nhất người đó phải hiền lành như đất, mình có thể vo tròn bóp méo mặc ý. Hừ, ý nghĩ này thật ngốc! Giờ đây mình không muốn kết hôn, nghĩ điều đó làm gì?” bất giác bật cười.

Lý Trị cũng đang nghĩ ngợi mông lung, nhớ lại những lời Phùng Lâm đã nói, trong lòng thấy thắc mắc, chợt nghe Phùng Lâm cười mới ngồi dậy nói: “Muội vẫn chưa ngủ sao?” Phùng Lâm nói: “Muội nhớ lại lão lừa trọc bị huynh dọa chạy nên bất giác buồn cười”. “Ban đêm rất lạnh, muội phải cẩn thận, có cần đốt lửa hay không?” “Không cần, muội không phải là nàng tiểu thư sợ gió sợ mưa”. Nàng ngủ không được, ngồi dậy trò chuyện cùng Lý Trị, nàng lấy tay nải rút quyển sách ra, Lý Trị cười nói: “Nhờ quyển sách này mà huynh mới cứu được mạng của muội”.

Phùng Lâm nghĩ đến ân đức của Lý Trị, chẳng có gì báo đáp được nên mới đưa quyển sách cho chàng rồi nói: “Huynh thích quyển sách này, muội sẽ tặng cho huynh”. Lý Trị ngạc nhiên nói: “Quyển sách này chẳng phải Dịch bá mẫu bảo muội lấy sao?” “Đúng thế, huynh làm sao biết?” “Người muốn muội lấy quyển sách này, đương nhiên lại phải trả lại cho truyền nhân của phái Vô Cực. Muội làm sao có thể cho người khác?” Phùng Lâm thầm nhủ: “Hỏng bét, lần này đã để cho chàng biết mình nói dối mất”, bởi vậy mới thở dài thườn thượt. Lý Trị nhìn quyển sách rồi thở dài nói: “Nhớ năm xưa Dịch lão tiền bối cùng Phó tổ sư của phái Vô Cực từ Trung Nguyên đến tái ngoại, có thể có mối giao tình nhiều đời với phái Vô Cực, nay thấy Phó Thanh Chủ chẳng có một truyền nhân, cũng không biết trả quyển sách này cho ai, nếu Dịch lão tiền bối thấy quyển sách này chắc đau lòng lắm!” Phùng Lâm đảo mắt, cười nói: “Việc này không cần huynh lo, phái Vô Cực đã có truyền nhân”. Lý Trị nói: “Ai? Có phải Niên Canh Nghiêu không? Niên Canh Nghiêu tuy là đồ đệ của Chung Vạn Đường nhưng y bán thầy cầu vinh. Nghe Dịch lão tiền bối nói, người cùng mẫu thân của huynh sẽ giúp Chung Vạn Đường thanh lý môn hộ, đuổi Niên Canh Nghiêu ra khỏi phái Vô Cực!”Khi chàng đang nói đến đấy, chợt thấy Phùng Lâm nhíu mày, vẻ mặt không vui, Lý Trị ngạc nhiên dừng lại, nắm tay Phùng Lâm hỏi: “Sao muội lại không vui?”

Phùng Lâm khó chịu vô cùng, nàng không ngờ rằng Niên Canh Nghiêu, kẻ mà nàng khâm phục bấy lâu nay lại là kẻ xấu xa trong mắt người hiệp nghĩa võ lâm. Nàng muốn hỏi Niên Canh Nghiêu đã phản sư như thế nào nhưng lại sợ Lý Trị nói ra những chuyện khiến mình đau lòng hơn, cuối cùng cũng kìm được. Lý Trị hỏi: “Muội bảo phái Vô Cực có truyền nhân, nếu không phải Niên Canh Nghiêu thì là ai?”

Phùng Lâm đã nghĩ sẵn một câu chuyện, nàng định thần rồi nói: “Là người huynh quen biết đấy”. “Ai?” “Là muội!” Lý Trị thất kinh, nói: “Sao Dịch bá mẫu lại chịu để cho muội sang phái khác? Muội là truyền nhân duy nhất của người, nếu muội trở thành đệ tử của phái khác, chả lẽ đã uổng phí mười năm tâm huyết của người sao?” “Sư phụ nói người vốn muốn tìm truyền nhân khác cho phái Vô Cực nhưng nếu người đó không giỏi sẽ có lỗi với Phó Thanh Chủ, đến khi tìm ra thì người tuổi đã già, chẳng còn bao nhiêu thời gian. Nên mới bảo muội lập lại môn hộ cho phái Vô Cực. Còn truyền nhân của phái Thiên Sơn chẳng phải còn có Đường thúc thúc của muội sao?” Phùng Lâm nghe Lý Trị kể lại nên biết quan hệ của những người trong phái Thiên Sơn nên nói rất suôn sẻ.

Lý Trị vừa nghe đã cười nói: “Thế ra muội sẽ là Chưởng môn của phái Vô Cực trong tương lai, xin chúc mừng!”

Phùng Lâm cười nói: “Nên muội có quyền tặng quyển sách này cho huynh”. “Huynh không muốn theo phái khác, muội tặng cho huynh làm gì?” “Muội chẳng có thứ gì tặng cho huynh, huynh phải lấy quyển sách này. Hãy yên tâm, muội không cần huynh theo phái Vô Cực”. Lý Trị cười nói: “Đừng trẻ con như thế nữa. Đây là báu vật của phái Vô Cực, muội không thể tùy tiện tặng cho người khác”. “Phần đầu là quyền kinh kiếm quyết, muội đã nhớ kỹ. Phần sau là y thư, muội chẳng hiểu gì cả, còn giữ lại để làm gì?”

Lý Trị nghe nàng nhắc đến y thư, mắt sáng lên, chợt nảy ra một ý nghĩ: “Anh muội bảo sau khi bị bệnh thì quên hết Thiên Sơn kiếm pháp, không biết là thật hay giả”. Rồi chàng mỉm cười nói tiếp: “Vậy muội hãy đưa phần y thư cho huynh”. Phùng Lâm thấy chàng chịu lấy, mừng rỡ đưa phần sau cho chàng, cười rằng: “Thôi được, huynh cứ xem hết, sau này muội có bệnh gì sẽ đến tìm huynh”. Hai người nhìn nhau cười.

Sáng hôm sau, Lý Trị thức dậy, Phùng Lâm đã không còn trong hang. Lý Trị thầm nhủ: “Chắc chắn nàng đi săn”. Lý Trị ăn no nê, lại được ngủ một giấc, tinh thần đã hoàn toàn hồi phục. Chàng chạy ra ngoài hít thở không khí trong lành rồi vận động cho thư giãn gân cốt rồi mới chạy lên núi tìm Phùng Lâm.

Chàng lên ngọn Thiếu Thất tìm kiếm một hồi, chỉ thấy một đống đổ nát hoang tàn. Bỗng nhiên từ xa vọng lại tiếng người nói cười. Lý Trị lách người nấp ra sau tảng đá lớn. Có một đám người từ xa đi lại, đến trước tảng đá chợt đứng yên. Lý Trị liếc nhìn ra, chỉ thấy có một hán tử tuổi khoảng ba mươi ăn mặc rất sang trọng, khí độ phi phàm, y đứng lại đưa mắt nhìn xung quanh, những người đi theo y đứng cách ra hai bên, người đứng sát y nhất trông rất uy võ, Lý Trị vừa nhìn đã suýt nữa kêu lên thành tiếng!

Người đó chính là Niên Canh Nghiêu, chỉ thấy y khúm núm cười nói: “Hoàng thượng tính toán như thần, uy nhất đều có, mới lên ngôi không đầy mấy tháng mà bốn biển phục tùng, xung quanh khiếp sợ, Dận Đề nắm trong tay hai mươi vạn hùng binh mà vẫn bó tay chịu trói, chùa Thiếu Lâm khoe khoang võ nghệ vô song nay cũng tiêu tan thành tro bụi, dầu Tần hoàng Hán Võ Đường tông Tống tổ cũng chẳng bằng Hoàng thượng”. Lý Trị cả kinh, không ngờ người này chính là đương kim Hoàng đế Ung Chính.

Ung Chính mỉm cười nói: “Đó cũng là công lao của Niên tướng quân”. Niên Canh Nghiêu chỉ đống đổ nát, nói: “Năm trăm nhà sư chùa Thiếu Lâm đều bị thiêu trong lửa đỏ, chẳng ai dám ra chống cự, đủ thấy sự uy võ của Thánh thượng”. Ung Chính cười ha hả, chợt buồn rầu nói: “Chùa Thiếu Lâm có từ ngàn năm nay, nay hủy trong một ngày cũng khiến trẫm đau lòng”. Niên Canh Nghiêu vội nói: “Hoàng thượng khoan dung nhân hậu, đáng tiếc nhà sư chùa Thiếu Lâm không biết lễ pháp của triều đình, không hiểu được thánh ân”. Lý Trị nghe mà cảm thấy chán ghét, bất đồ rùng mình.

Ung Chính lại nói: “Chùa Thiếu Lâm bị phá hủy cũng đáng tiếc, sau khi trẫm về kinh sẽ ra lệnh cho Tuần phủ Hà Nam xây dựng lại chùa miếu, gọi tăng nhân hữu đạo khác chủ trì”. Lý Trị nghe đến đây, chợt thấy hòn đá phía trước y hơi rung rinh.

Lý Trị khom người lại, chợt nghe một tiếng quát như sấm: “Ai, mau ra đây!” tảng đá đổ ầm xuống, Lý Trị tung người vọt ra, đã rơi vào vòng vây!

Số là sau khi hỏa thiêu chùa Thiếu Lâm, chỉ có một mình Hải Vân hòa thượng ở lại canh giữ, một tháng sau chẳng thấy y trở về báo cáo, Ung Chính lại muốn xem thử tình hình chùa Thiếu Lâm thế nào nên nhất thời nổi hứng, dắt theo bọn Thiên Diệp Tản Nhân, Cáp Bố Đà lên Tung Sơn lần nữa. Lúc này đột nhiên phát hiện thấy mai phục, Ung Chính vẫn bình tĩnh, mỉm cười phất tay nói: “Sau khi chùa Thiếu Lâm bị hỏa thiêu, tông chủ các phái trong võ lâm chẳng ai dám tới, người này dám lên Tung Sơn quả nhiên gan cũng lớn lắm. Các ngươi tạm thời lui xuống, để trẫm hỏi y”.

Lý Trị kiêu hãnh nói: “Ngươi muốn hỏi gì?” Ung Chính nói: “Ngươi có phải là đệ tử tục gia của chùa Thiếu Lâm không?” Lý Trị nói: “Không phải”. “Vậy ngươi có giao tình gì với trưởng lão trong chùa?” “Trưởng lão trong chùa Thiếu Lâm đức cao vọng trọng, ta làm sao xứng kết giao với họ”. Niên Canh Nghiêu biến sắc, Ung Chính cười ha hả: “Vậy tại sao ngươi lên Tung Sơn?”

“Ngươi có xích mích gì với chùa Thiếu Lâm, tại sao ngươi lại đốt chùa?” những kẻ tùy tùng quát: “Tên thất phu lớn gan, dám tra vấn Hoàng thượng!” Ung Chính nhíu mày thầm nhủ: “Thật là một tên tiểu tử không sợ chết, nếu thu phục được y chắc chắn có thể dùng”.

Một tên tùy tùng bẩm báo: “Đã phát hiện thi thể thống lĩnh Ngự lâm quân Tần Trung Việt, Hải Vân hòa thượng vẫn chưa tìm ra. Xin Hoàng thượng ra lệnh bắt tên tiểu tặc này lại thẩm vấn”.

Lý Trị nghĩ: “Xem ra hôm nay khó thoát, không thể liên lụy đến Anh muội”. Vì thế không đợi Ung Chính hỏi, đã đáp rằng: “Tất cả là do ta làm!” Ung Chính hỏi: “Tần Trung Việt bị ngươi giết, còn hòa thượng kia?” “Đã bị ta đâm một nhát kiếm, chẳng ai cứu nổi, chắc là đã chết!” bọn tùy tùng đều nổi cáu, toan động thủ. Ung Chính lại cười hỏi: “Tiểu tử, ngươi đừng khoác lác. Một mình ngươi làm sao có thể vượt qua trạm canh gác của Hàn Trọng Sơn, lại giết chết hai cao thủ của trẫm?”Lý Trị chưng hửng, thầm nhủ: “Chả lẽ Hoàng đế này tinh thông võ nghệ?” Niên Canh Nghiêu nói: “Hoàng thượng minh xét, tên tiểu tử này chắc chắn có vây đãng. Xin truyền lệnh cho Ngự lâm quân lục soát!”

Lý Trị lo lắng, buột miệng nói: “Cao thủ cái gì, chẳng qua là đồ vô tích sự!” Thiên Diệp Tản Nhân đứng bên cạnh giận dữ nói: “Hoàng thượng, nếu không dạy cho tên tiểu tử này một bài học, vệ sĩ cung đình chẳng còn mặt mũi nào nữa”. Ung Chính mỉm cười, gọi Cáp Bố Đà tới, khẽ dặn mấy câu rồi nói: “Tiểu tử, ngươi đừng tưởng có thể lên được Tung Sơn là đã ghê gớm lắm, đừng tưởng có thể giết hai người của trẫm là đã ngông nghênh tự đại, trong số các tùy tùng trẫm dắt theo đến hôm nay, ngươi cứ chọn một người ra đấu, chỉ cần ngươi đấu ngang tay, trẫm cho ngươi xuống núi”. Lý Trị đã liều chết, chẳng còn sợ y nữa, rút kiếm quát: “Ngươi cứ tùy tiện chọn người! Ra một người đấu một người, ra hai đấu hai!” chàng cố ý nói lớn để Phùng Lâm nghe thấy mà nấp vào.

Ung Chính cười nói: “Tên tiểu tử này thật ngông cuồng, Cáp Bố Đà!” Cáp Bố Đà nhảy ra, rút đôi chùa lưu tinh quét về phía Lý Trị.

Lý Trị thấy y hung hăng nên lách người nhảy bổ tới vẫy ra một kiếm, mũi kiếm đâm nhanh như điện chớp về phía trung lộ của Cáp Bố Đà, Cáp Bố Đà thuận theo kiếm thế, gót chân xoay một vòng, cây chùy trong tay trái tạt vào thân kiếm. Nào ngờ kiếm pháp của Lý Trị khác với người, chàng đâm về phía trung lộ nhưng thực sự là chém xuống hạ bàn, Cáp Bố Đà quét chùy qua, mũi kiếm của kẻ địch đã đâm tới trước khớp gối, y cả kinh tung chân trái đá bay lên, gót chân chạm vào mũi kiếm thối lui ba bước. Ung Chính khen: “Kiếm pháp hay!”

Cáp Bố Đà nghe Hoàng đế khen đối phương, cảm thấy mặt mũi chẳng còn, thế là múa tít đôi chùy lao bổ tới. Công lực của y tương đương với Liễu Ân, lúc nãy là do khinh địch, nay y muốn lấy lại sĩ diện trước mặt Hoàng đế nên múa tít đôi chùa kêu lên vù vù, uy thế thật kinh người. Kiếm pháp của Lý Trị tuy quỷ dị vô cùng nhưng cũng bị đôi chùy của y chèn ép đến nỗi không thể thi triển được. May mà không khi xuống núi Lý Trị đã có nhiều kinh nghiệm chứ nếu không đã sớm bị y bắt sống.

Hai người đấu được bảy mươi chiêu, Ung Chính nói với Thiên Diệp Tản Nhân, “Tiểu tử này tuổi còn trẻ mà có thể cầm cự được với Cáp tổng quản lâu như thế, coi như cũng hiếm có!” Thiên Diệp nói: “Song y đã dần dần đuối sức, nhiều nhất cũng chỉ có thể cầm cự được năm mươi chiêu nữa”. Ung Chính chợt nói: “Kiếm pháp của y quái dị, ngươi có nhận ra không?” Thiên Diệp Tản Nhân đỏ mặt, y không thể nào nhận ra được kiếm pháp của Lý Trị. Ung Chính nghĩ ngợi một hồi rồi nói: “Ta đã từng thấy Thiên Sơn kiếm pháp và Huyền Nữ kiếm pháp, kiếm pháp của người này không phức tạp như Thiên Sơn kiếm pháp, cũng không tinh vi như Huyền Nữ kiếm pháp. Nhưng lại hơn hai nhà này ở chỗ quái dị, xem ra đây không phải là Đạt Ma kiếm pháp thì cũng là kiếm pháp độc môn của Bạch Phát ma nữ”. Thiên Diệp Tản Nhân nghe thế thầm thất kinh, nói: “Hoàng thượng, kiếm pháp của người này chắc chắn là kiếm pháp độc môn của Bạch Phát ma nữ, có lẽ y là con trai của Võ Quỳnh Giao. Võ Quỳnh Giao ra tay hiểm độc, còn khó đối phó hơn cả Dịch Lan Châu, chúng ta không thể tùy tiện đả thương y”. Ung Chính nói: “Ta đã sớm căn dặn Cáp tổng quản, ta mặc y là con trai của ai, người này gan dạ như thế đúng là nhân tài hiếm có”.

Lại đấu được ba mươi chiêu nữa, Lý Trị đã đuối sức, quả nhiên đang nao núng, nhưng Cáp Bố Đà muốn bắt sống chàng cũng không dễ. Cáp Bố Đà tuy giỏi hơn một bậc nhưng bị hạn chế vì không được đả thương chàng, kiếm pháp của Lý Trị biến hóa khó lường, Cáp Bố Đà đã nhiều lần muốn đánh bay bảo kiếm của chàng nhưng đều bị chàng khéo léo né tránh.

Cáp Bố Đà nôn nóng chợt nghĩ ra một cách, y liên tục đánh ra những đòn sát thủ, xem ra sắp giết chết Lý Trị. Cứ mỗi lần tung đòn sát thủ, Cáp Bố Đà đều quát lớn bảo chàng đầu hàng. Nào ngờ Lý Trị lại cứ liều đánh chẳng hề sợ hãi, trong lúc kịch đấu, chùa lưu tinh của Cáp Bố Đà cứ lướt qua đỉnh đầu chàng đến năm sáu tấc, thật là kinh người. Lý Trị mắng: “Ngươi muốn ta đầu hàng, đừng nằm mơ!” thế rồi kiếm quyết thay đổi, chuyển thủ làm công liều mạng xông tới, đang lúc căng thẳng, chợt nghe một tiếng kêu thét lên, Phùng Lâm đã xuất hiện ở bìa rừng.

Lý Trị kêu: “Anh muội, chạy mau!” chàng hơi phân tâm, bảo kiếm đã bị kẻ địch đánh bay. Bên tai đã nghe Ung Chính quát: “Dừng tay!” Phùng Lâm nghe tiếng đánh nhau nên chạy tới bìa rừng, chợt thấy Ung Chính dắt theo rất nhiều cao thủ đứng một bên quan chiến, nàng sợ đến nỗi hồn bay phách tán, đang định bỏ chạy. Nhưng liếc nhìn lại thì thấy có Cáp Bố Đà đang dồn ép Lý Trị, nàng thầm nhủ: “Nếu mình không cứu, chàng khó giữ mạng”. Lúc này Phùng Lâm cũng không sợ Ung Chính nữa mà rút độc đao nhảy ra phía trước.

Ung Chính vừa kinh vừa mừng, cười nói: “Lâm nha đầu, ngươi đùa đủ chưa, sao còn chưa theo ta trở về!” Phùng Lâm giơ cây đao chĩa vào tim, kêu lớn: “Nếu ngươi đả thương Lý ca ca, ta cũng không muốn sống nữa!” Ung Chính cười nói: “Ai đả thương y, ngươi đến đây!”

Lúc nãy Lý Trị bị bao vây mà không hề sợ, thế mà giờ đây thấy Phùng Lâm cầu xin trước mặt Hoàng đế thì lại kinh hãi vô cùng! Chàng hầu như tưởng mình đang nằm ác mộng, chợt cảm thấy cổ tay nhói lên, Cáp Bố Đà đã chụp được mạch môn của chàng.

Phùng Lâm bước dấn tới từng bước. Niên Canh Nghiêu giật mình, sợ rằng Phùng Lâm sẽ kể đã nấp ở nhà mình, thế là nháy mắt với nàng. Phùng Lâm tựa như chẳng hề hay biết, vẫn lẳng lặng bước tới bên cạnh Hoàng đế.

Ung Chính nói: “Lâm nha đầu, bỏ đao xuống”. Phùng Lâm chẳng thèm để ý. Ung Chính nói: “Vua không nói chơi, ngươi cất đao ta sẽ không đả thương y”. Phùng Lâm nhướng mày, cất đao vào túi ám khí, nói: “Tứ bối lạc, tôi xin thỉnh an trước người!” Cáp Bố Đà nói: “Ngươi gặp Hoàng thượng sao không quỳ?” ý là muốn nhắc nàng đổi cách gọi. Ung Chính cười nói: “Ả ngang ngạnh đã quen, không cần câu thúc”. Rồi lại cười nói: “Ngươi đi khắp nơi chắc đã khổ nhiều. Hoàng phủ của chúng ta trước kia đã đổi thành cung Ung Hòa, phòng của ngươi vẫn còn như cũ”. Phùng Lâm nói: “Ngài cứ thả chàng, tôi sẽ trở về”. Ung Chính cười bảo: “Ngươi theo ta về kinh, ta sẽ thả y”. Phùng Lâm nói: “Vua không nói chơi, ta theo ngươi trở về!”

Lý Trị há mồm trợn mắt, Phùng Lâm gọi chàng hai tiếng mà chàng vẫn chẳng trả lời. Ung Chính phẫy tay, Cáp Bố Đà kéo Lý Trị đi xuống trước. Ung Chính nói: “Y là người thế nào của ngươi? Y và ngươi rất thân thiết phải không?” Phùng Lâm nói: “Y là nghĩa huynh của tôi, đương nhiên rất tốt với tôi!” nàng vừa nói vừa nghĩ cách đối phó.

Ung Chính chợt thấy nhói lòng, chỉ cười lạnh chứ không nói. Niên Canh Nghiêu thấp thỏm lo âu nhưng lại mừng vì Phùng Lâm không nói gì đến mình. Niên Canh Nghiêu bẩm: “Xin mời Thánh thượng đến nhà tiểu thần trước”. Ung Chính khẽ gật đầu, Phùng Lâm đảo mắt liếc nhìn y, Niên Canh Nghiêu vội vàng cúi đầu.

Nhà của Niên Canh Nghiêu cách Tung Sơn không xa, sau khi xuống núi lại đổi khoái mã, đêm hôm ấy đã đến nhà họ Niên. Ung Chính nói: “Ngươi sắp xếp chỗ ở cho ả”. Niên Canh Nghiêu nhận lệnh, bắt nàng nhốt trong thư phòng trước kia. Bên ngoài thư phòng có Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân canh giữ.

Từ khi Niên Canh Nghiêu trở về nhà, y đã tu sửa lại vườn hoa, xây thêm nhiều phòng ốc, không hoang tàn như trước nữa. Ung Chính và Lý Trị ở trong vườn hoa. Ăn cơm xong, Ung Chính chợt sai người gọi Niên Canh Nghiêu đến.

Niên Canh Nghiêu lo lắng không yên, vào gặp Hoàng đế. Ung Chính nói: “Trẫm muốn lập Lâm nha đầu làm quý phi, khanh thấy thế nào?” Niên Canh Nghiêu nói: “Đó là việc nhà của Hoàng thượng, hạ thần không dám nói nhiều”. Ung Chính bảo: “Ngươi biết Lâm nha đầu lai lịch bất minh, tuy quy cách trong cung đã nới lỏng nhưng thái hậu vẫn còn sống...” y muốn nói gì đấy nhưng lại thôi. Niên Canh Nghiêu thừa hiểu điều đó, y thầm nhủ: “Năm xưa ta đoán ý Hoàng đế, quả nhiên không sai”. Thế rồi mới tâu rằng: “Hạ thần mạo muội nhận Lâm quý nhân làm nghĩa muội”. Ung Chính cười nói: “Ngươi quả nhiên thông minh. Tốt, hãy cứ nhận làm đường muội. Ngươi sai người đưa ả vào cung, thái hậu chắc chắn sẽ chẳng nói gì”. Niên Canh Nghiêu thầm mừng. Ung Chính chợt nói: “Việc chinh Tây có thể chậm lại. ngày mốt ta và ngươi về kinh”. Niên Canh Nghiêu vốn muốn thừa cơ gặp Phùng Lâm, nghe thế tựa như bị dội nước lạnh, hỏi: “Còn chuyện của Ngư Xác thì thế nào?” té ra sau khi Niên Canh Nghiêu giải quyết chuyện Dận Đề, vốn định trở về nhà ở thêm ba ngày, sau đó Ung Chính đến, bảo y tạm gác lại chuyện Tây chinh, âm thầm bố trí đại quân đối phó Ngư Xác.

Ung Chính cười nói: “Cứ để Ngư Xác làm đại vương thêm hai tháng nữa”. “Y muốn cầu xin Hoàng thượng giao Sơn Đông chi y quản hạt, vậy phải đối phó thế nào?” Ung Chính cười nói: “Vài tháng nữa, y đã là con cá trong chum”. Niên Canh Nghiêu chỉ đành kêu phải, cúi người thoái lui. Thầm nhủ: “Nếu Lâm nhà đầu vào cung, sớm muộn gì cũng lộ ra chuyện mình che giấu ả, phải đối phó thế nào đây?” Y về phòng cứ đi tới đi lui, nghĩ cách đối phó.

Phùng Lâm bị nhốt trong thư phòng, thấy màn trướng như mới, gối cao nệm ấm, bất giác nhớ lại chuyện xưa. Thầm nhủ: “Niên Canh Nghiêu đối xử với mình không tệ, làm sao gặp được y đây?” rồi lại nghĩ: “Hình như mình đã từng ở nơi này, nhưng sao mình chẳng nhớ ra, nếu ở thêm nửa năm có thể sẽ tìm được một chút manh mối”. Nàng đang suy nghĩ, Ung Chính đã cho gọi nàng.

Phùng Lâm bước vào phòng, trong phòng chỉ có một mình Ung Chính. Ung Chính hỏi: “Nàng ở trong hoàng phủ bao nhiêu năm, ta đối xử với nàng không tệ, tại sao nàng lại chạy trốn?” Phùng Lâm dẫu môi, nói: “Tôi chỉ thấy chán, muốn ra ngoài đi đây đó, chả lẽ đã phạm phải thiên quy gì?” Ung Chính thấy lòng xốn xang, cười nói: “Được, chuyện xưa không truy cứu nữa, từ rày về sau nàng không được ra ngoài nữa!” Phùng Lâm nói: “Tôi chẳng phải là người nhà của ngài, tại sao ngài lại quản tôi?” Ung Chính cười nói: “Từ rày về sau nàng sẽ là người nhà của ta!” rồi bước tới toan hôn Phùng Lâm, Phùng Lâm lách ra nói: “Ngài xem tôi là bọn cung nữ hạ tiện hay sao?”

Ung Chính giật mình, cười rằng: “Ta sẽ phong nàng làm quý phi, ngoại trừ Hoàng hậu, trong cung nàng là kẻ tôn quý nhất”. Phùng Lâm rất bực tức, cố nén giận. Ung Chính lại nói: “Thế nào, hôm nay nàng đừng ra ngoài nữa!” rồi nắm lấy tay nàng.

Phùng Lâm thầm nhủ: “Võ công của y hơn mình, nếu động thủ thì khó đối phó lắm”. Nàng chỉ mỉm cười nói: “Đường đường là Hoàng đế mà ngài làm chuyện lén lút như thế, không thấy hổ thẹn sao? Ngài muốn phong tôi làm quý phi cũng phải chờ tôi chấp nhận mới được”. Nào ngờ Ung Chính có ý đối với Phùng Lâm đã lâu, nay thấy nàng đã lớn hơn trước rất nhiều, trông càng xinh đẹp muôn phần trong lòng ngứa ngáy chẳng kìm chế nổi.

Chính là:

Trời sinh mỹ lệ gặp tai ương, lọt vào thâm cung ngày tháng dài.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 30: Mật thất giấu gian tướng quân lộ mặt thật Đêm khuya thổ lộ quân chủ phí tâm cơ

Phùng Lâm lui hai bước, Ung Chính cười nói: “Trẫm muốn làm chuyện gì, ai dám nói ra nói vào!” rồi bước sấn tới trước đưa tay kéo Phùng Lâm. Phùng Lâm chợt nói: “Tứ bối lạc lên ngôi tôi vẫn chưa chúc mừng. Xin chúc mừng Hoàng thượng!” Ung Chính chưng hửng, nói: “Sao nàng lại khách sáo như thế?” “Di chiếu trên điện Đại quang minh sửa thật hay!” Ung Chính thất kinh, nghĩ bụng chính nàng và Thiên Diệp Tản Nhân đã đánh cắp di chiếu rồi Khoa Long Đa đã sửa di chiếu, biến sắc nói: “Nàng có nói cho ai hay không?” “Tôi còn biết đại thể, làm sao dám nói bừa. Nhưng nếu có người chọc giận tôi, tôi sẽ la lên”. Dận Đề tuy đã được trừ, nhưng vây đảng của các bối lạc khác vẫn còn, nếu chuyện này mà lộ ra ngoài, ngai vàng của Ung Chính sẽ của vững, nhất thời lửa dục tắt mất một nửa, cười rằng: “Thôi được, ta sẽ dùng lễ quý phi, chính thức rước nàng vào cung, chúng ta lại sẽ làm vợ chồng”. “Sau này hẵng nói”. “Nàng không theo ta, ta sẽ giết Lý ca ca của nàng!”

Phùng Lâm giật thót tim, thầm nhủ: “Phải nửa tháng mới vào hoàng cung, thoát được lúc nào hay lúc đó”. Rồi cười nói: “Đêm đã khuya, tôi quay về đây”. Ung Chính thấy nàng đã dịu giọng, thầm nhủ: “Phú quý vinh hoa ai mà không muốn. Nha đầu này chỉ làm cao, chắc chắn đòi sách phong chính thức mới được”. Trong lòng mừng rỡ, xua tay nói: “Được, nàng hãy quay về!”

Phùng Lâm đi được hai bước, vừa ra đến cửa, Ung Chính lại vẫy tay nói: “Trở vào đây!” Phùng Lâm giật thót tim, quay đầu hỏi: “Hoàng thượng còn có gì căn dặn?” Ung Chính chần chừ nói: “Nàng đi lại trên giang hồ chẳng để ý gì đến bề ngoài. Ta bảo bọn cung nga trang điểm lại cho nàng”. Phùng Lâm rất ngạc nhiên, không hiểu tại sao y lại nghĩ đến chuyện này!

Ung Chính bước vào phòng trong, một hồi sau dắt hai ả cung nga ra, một người tay cầm hộp trang điểm, một người bưng chậu rửa mặt, sửa sang tóc tai cho nàng, Phùng Lâm bực dọc ngồi chờ bọn chúng. Một ả cung nga lấy ra chiếc hộp nhỏ, bên trong có chứa phấn son, ả cung nga chấm vào rồi bôi lên cánh tay Phùng Lâm. Phùng Lâm nói: “Tại sao lại bôi lên cánh tay, có một giấu đỏ thật khó coi!” rồi nàng lấy áo lau qua, quả nhiên lau không đi. Ung Chính cười ha hả: “Nàng hãy dùng nước rửa đi thôi!” Phùng Lâm rất ngạc nhiên, giật khăn trong tay ả cung ngay chấm vào nước rồi dùng lực chà, không ngờ càng chà càng đỏ, Ung Chính cười ha hả tỏ vẻ rất đắc ý.

Té ra Ung Chính thấy nàng quan tâm đến Lý Trị, trong lòng ghen tuông nên bảo bọn cung nga dùng thủ cung sa thử cho nàng. Người ta cho thằn lằn ăn chu sa và mỡ trâu hoặc mỡ dê, sau nhiều ngày, thằn lằn trở thành màu đỏ, người ta rút máu thằn lằn ra trộn với phấn son, bôi lên cánh tay của thiếu nữ, nếu thiếu nữ vẫn còn là trinh nữ sẽ chẳng thể nào bôi sạch được, càng bôi màu càng tươi hơn.

Phùng Lâm làm sao biết Hoàng đế dùng thủ cung sa thử nàng, cứ chùi mãi mà không ra, tức giận nói: “Ngài làm trò quái gì thế?” Ung Chính cười xong bảo cung nga đỡ nàng ra khỏi phòng. Phùng Lâm giằng ra khỏi tay ả cung nga tự mình chạy ra ngoài.

Hôm sau, Niên Canh Nghiêu mời cha mẹ đến cử hành lễ nhận con gái, Phùng Lâm cứ để mặc cho bọn chúng sắp xếp, mẹ của Niên Canh Nghiêu vốn yên thương Phùng Lâm, biết rằng nếu nhận nàng làm con nàng sẽ được đưa vào cung nên rất ái ngại. Bà ta chải tóc cho nàng mà nước mắt rơi lả chả. Phùng Lâm thấy thế khẽ nói: “Mẹ, con thật không nỡ rời mẹ”. Mẹ của Niên Canh Nghiêu nói: “Con ngoan, mẹ cũng không nỡ xa rời con. Chỉ trách...” bà ta vốn muốn nói: “Chỉ trách Canh Nghiêu không có phước”. Nhưng lại cúi đầu quay đi. Phùng Lâm thừa biết điều đó, nói: “Sao Canh Nghiêu ca ca không đến thăm con?” “Từ rày về sau con sẽ là quý phi, không có lệnh của Hoàng thượng, hắn làm sao dám tự tiện gặp con!” “Mẹ phải bảo với y, con rất nhớ y”. “Ta biết rồi”. Rồi xoay người đi len lén lau nước mắt.

Đến giờ cơm tối Song ma canh giữ Phùng Lâm, Tát Thiên Thích bưng cơm vào, tức giận nói: “Lâm quý nhân, mời dùng thiện!” Phùng Lâm nói: “Tát bá bá, sao người lại đối với con như thế?” Tát Thiên Thích nói: “Quý nhân lại kêu tôi là bá bá nữa sao? Có phải lại lấy kiếm đâm tôi hay không?” Trước đây Tát Thiên Thích nghĩ Phùng Anh là Phùng Lâm, suýt nữa đã bị nàng đâm bị thương, đến nay vẫn chưa hết giận. Phùng Lâm ngạc nhiên nói: “Con nào dám động thủ với người, sao người lại nói thế?” Tát Thiên Thích thấy nàng có vẻ tự nhiên, không giống như giả mạo, ngạc nhiên nói: “Tháng trước ở gần Niên Gia, ngươi chẳng phải mắng bọn ta, lại còn đâm nhị đệ bị thương hay sao?”

Phùng Lâm giật mình: “Thật kỳ lạ, đến giờ con vẫn chưa rõ, ngày hôm ấy con vẫn chưa hề bước ra khỏi phòng, Niên Canh Nghiêu vừa quay về đã bảo con động thủ với các người, con vẫn tưởng y gặp ma, nay nghe các người nói như thế, chả lẽ trên đời còn có một người rất giống con bởi vậy các người mới tưởng người đó là con?” Tát Thiên Thích khựng người, y cũng không biết Phùng Lâm còn có một tỷ tỷ sinh đôi, mười sáu năm trước, y cướp Phùng Anh ở núi Thái Hàng, sau bị Dịch Lan Châu đánh cắp, cuối cùng y đã cướp Phùng Lâm từ trong tay Chung Vạn Đường, thế nhưng từ đầu đến cuối y vẫn nghĩ rằng đó chỉ là một người, nghe thế ngạc nhiên nói: “Hôm ấy thật không phải là ngươi? Trên đời này sao lại có người giống nhau như thế?”.

Phùng Lâm chợt nói: “Tát bá bá, có phải người đã đưa con vào cung không?” Tát Thiên Thích nói: “Sao thế?” “Xin người hãy cho con biết, cha mẹ con rốt cuộc là ai?” Tát Thiên Thích kinh hãi, thầm nhủ: “Mình là một trong những kẻ thù của ả, làm sao nói cho ả biết”. Vì thế mới cười khan một tiếng nói: “Ta chẳng phải đã nói nhiều lần với ngươi hay sao? Ngươi là đứa trẻ bị bỏ rơi bên đường, ta đã nhặt ngươi về”. Phùng Lâm dẫu môi, nói: “Con không tin!” “Ngươi không tin ta cũng đành chịu”. “Nếu con là đứa trẻ bị bỏ rơi, người nhặt con về, vậy người coi như là cha mẹ của con, con là con gái của người. Người không có con gái, con làm con gái của người có được không?” Tát Thiên Thích thấy lòng nhói lên, nói: “Người đã là quý nhân, ta làm sao dám trèo cao!” Phùng Lâm chợt nói: “Tát bá bá, người đã lớn tuổi mà vẫn phải làm việc trong cung, cớ gì phải khổ như thế? Chi bằng con sẽ giúp người ra ngoài, con sẽ phụng dưỡng người suốt đời”. Tát Thiên Thích chợt giật mình suy nghĩ, y đi theo Ung Chính vốn là muốn làm quốc sư, nhưng không ngờ ở Trung Nguyên có quá nhiều người giỏi, trong phe Ung Chính, y vẫn mãi bị bọn Liễu Ân, Cáp Bố Đà đè đầu cưỡi cổ, mười mấy năm qua chỉ là một tên vệ sĩ, giờ lại phải nghe Niên Canh Nghiêu sai khiến. Y nghe Phùng Lâm nói như thế thì thầm nhủ: “Cứ thế này mãi thì chừng nào ngóc đầu lên nổi, chi bằng tìm một đứa con cho nó phụng dưỡng lúc tuổi già”. Nhưng y nghĩ lại thủ đoạn của Hoàng đế và Niên Canh Nghiêu, tuy là một ma đầu nhưng cũng cảm thấy lạnh mình.

Trong mắt Phùng Lâm lộ vẻ cầu khẩn, Tát Thiên Thích rùng mình, chợt tránh ánh mắt của nàng, nói: “Ngươi đừng nghĩ bừa nữa, ta ra ngoài đây”. Phùng Lâm rất thất vọng, ăn cơm xong ngồi phệt xuống giường, tựa như một nhà sư già nhập định, thoạt nhìn vách đứng muất xuất thần. Lúc này đã canh hai, nàng chợt nghĩ: “Trong phòng có cửa ngầm thông ra ngoài, sao mình không ra xem thử?” nhưng nghĩ lại: “Có ra cũng chẳng ích gì, bên ngoài có người canh giữ, mình làm sao có thể thoát nổi. Vả lại Lý Trị vẫn còn nằm trong tay bọn chúng”. Nàng lại ngồi thêm một canh nữa, nghe tiếng trống canh ba vang lên, bên ngoài cửa tiếng bước chân tựa như Song ma đã đổi phiên gác, Phùng Lâm thầm nhủ: “Mình có ngồi ở đây cũng vô ích, chi bằng ra ngoài xem thử, Song ma đối với mình không tệ, nếu đến phiên họ canh gác, có lẽ cũng không ngăn cản mình, mình đến gặp Lý ca ca, lúc đó có chết cũng cam lòng”. Nàng bước ra khỏi trướng, đè vách tường, mở cánh cửa ngầm đi vào vách trong.

Vách trong tối om om, Phùng Lâm lần mò bước về phía trước, chợt thấy có một khối đen cũng di động về phía mình, Phùng Lâm thất kinh, cầm mũi trủy thủ tẩm độc trong tay, chỉ nghe người ấy khẽ kêu: “Lâm muội, yên lặng, là ta!”

Lúc này nàng đã vào vách trong một hồi, mắt bắt đầu quen với bóng tối nên có thể nhận ra đó là Niên Canh Nghiêu, Phùng Lâm thu cây độc đao lại, chầm chậm tiến về phía trước, hai tay nắm vào nhau, trong tĩnh lặng Niên Canh Nghiêu có thể nghe được tim Phùng Lâm đập thình thình.

Rất lâu, rất lâu sau, Phùng Lâm mới nói: “Huynh cũng đến sao?” “Huynh biết muội nhớ huynh nên liều chết đến đây”. Trong bóng tối Phùng Lâm thoáng nở nụ cười, nói: “Muội biết huynh sẽ tới!”

Từ sau khi gặp Niên Canh Nghiêu ở Hàng Châu, Phùng Lâm cảm thấy như đã từng quen biết với y, sau đó lại đến nhà họ Niên trú ngụ, tình yêu đã ngầm nảy nở. Lúc này bàn tay nhỏ nhắn của nàng đã nằm gọn trong tay của Niên Canh Nghiêu, nàng thầm nhủ: “Chưa chắc Niên Canh Nghiêu xấu như bọn họ nói, có lẽ y cũng giống như mình, không hợp với sư phụ nên mới rời bỏ sư môn!”

Chỉ nghe Niên Canh Nghiêu hỏi: “Muội có muốn trốn không?” “Huynh làm thế nào được?” Niên Canh Nghiêu mỉm cười nói: “Huynh khuyên muội không nên trốn, hôm nay không phải như lúc trước, Hoàng thượng đã đến đây...”

Té ra lần trước sau khi Phùng Lâm chạy trốn, Niên Canh Nghiêu đã tìm kiếm kỹ càng, phát hiện mật thất, lúc đầu cũng muốn bít cửa ngầm lại nhưng sau đó lại nghĩ, có lẽ sau này sẽ dùng nên mới lắp đặt thêm cơ quan, lại đào được một địa đạo từ bên ngoài thông vào đây.

Phùng Lâm nghe Niên Canh Nghiêu nói, nàng cũng lạnh mình hỏi: “Huynh nắm trong tay đại quân mà cũng sợ y sao?” “Huynh lén vào đây, không thể chần chừ lâu được, chúng ta phải nói những chuyện quan trọng trước”.

Phùng Lâm thật tình nghĩ ở mặt tốt, tưởng rằng Niên Canh Nghiêu mạo hiểm đến đây chắc chắn là tìm cách cứu nàng, cười nói: “Còn có chuyện gì quan trọng?” Niên Canh Nghiêu chần chừ một lúc, chưa biết nói thế nào, Phùng Lâm đã tiến đến gần y, khẽ bảo: “Muội cũng có chuyện quan trọng muốn hỏi huynh, hình như trước đây muội đã từng gặp huynh, không biết có phải là trong mơ hay không?” “Huynh hình như cũng gặp muội, té ra chúng ta rất có duyên”. “Muội cũng không biết đó có phải là duyên hay không, chỉ cảm thấy huynh là người muội rất thân thiết, thân thiết như huynh muội vậy”.

Niên Canh Nghiêu cười thầm, Phùng Lâm tiếp tục nói: “Giờ đây muội đúng là muội muội của huynh, muội rất vui. Muội chẳng muốn vào cung tí nào cả, huynh có thể lén thả muội như lúc ở Hàng Châu hay không? Có lẽ huynh không thể cứu muội, nhưng huynh hãy tìm cách cứu Lý ca ca. Niên ca ca, muội sẽ cảm kích huynh suốt đời. Có lẽ chúng ta gặp nhau trong mơ nên vừa gặp huynh, muội đã thấy tin tưởng”.

Niên Canh Nghiêu thấy lòng xao xuyến nhưng chợt nghĩ lại: “Mình giờ đây vẫn chưa đủ lông đủ cánh, khó khăn lắm mới lấy được binh quyền, không thể vì một đứa con gái mà hỏng đại sự”. Phùng Lâm nói một hồi, Niên Canh Nghiêu chợt bảo: “Sau này chúng ta sẽ có nhiều dịp gặp lại, muội hãy nghe huynh nói đây”. Phùng Lâm nhìn y, Niên Canh Nghiêu nói: “Muội có cho Hoàng thượng biết trước đây huynh đã từng giấu muội không?” “Không hề!” Niên Canh Nghiêu bớt lo hơn, nói: “Hoàng thượng đã lên tiếng không ai dám chống cự. Sau khi vào cung, Ngài chắc chắn sẽ yêu thương muội, lúc đó muội còn có quyền lực hơn cả Hoàng hậu, chúng ta một trong một ngoài tiếp ứng lẫn nhau. Muội là người thông minh, huynh không nói nữa!”

Niên Canh Nghiêu mạo hiểm vào đây thực sự là muốn nói những điều này. Phùng Lâm nghe xong thấy như sấm nổ bên tai, lập tức đứng đờ ra, chẳng nói được lời nào, nàng không ngờ rằng Niên Canh Nghiêu lại bỉ ổi đến thế.

Tiếng trống canh lại vang lên, Niên Canh Nghiêu nói: “Muội hãy về phòng trước, đừng để lộ chuyện này. Chúng ta hiểu lòng nhau, đôi bên giúp đỡ lẫn nhau, ai cũng có lợi. Muội muội, muội là người thông minh, huynh không cần phải nói nhiều”.

Thật ra y không yên tâm nên lại nói một lần nữa. Phùng Lâm nghe y nói hiểu lòng nhau mà chợt thấy buồn nôn. Niên Canh Nghiêu rút tay nàng ra, nói: “Huynh phải đi đây!” Trong bóng tối chợt nghe tiếng bước chân, Cáp Bố Đà vỗ cửa, nói: “Lâm quý nhân, mở cửa tiếp giá, Hoàng thượng đến thăm!” Té ra Ung Chính định rằng ngày mai về kinh, trong lòng nôn nóng nên đến thăm nàng.

Niên Canh Nghiêu kinh hoảng, đưa tay lên cái nẫy cơ quan, định mở cửa ngầm, Phùng Lâm chợt chụp tay y, trầm giọng nói: “Không được đi!” Bên ngoài Ung Chính kêu lớn: “Lâm nhi, nàng ngủ chưa?”

Niên Canh Nghiêu toát mồ hôi lạnh, sợ rằng phát ra tiếng động nên không dám rút ra khỏi tay Phùng Lâm, chỉ khẽ van nài: “Hảo muội tử, đừng đùa nữa, buông tay ra!” Ung Chính đợi ở bên ngoài rất lâu, thấy không mở cửa, kêu lên: “Nàng làm gì bên trong thế?” rồi lẩm bẩm: “Quái, sao không có người trả lời! Này, nàng không mở cửa, ta sẽ tự vào đấy nhé!” Phùng Lâm nắm chặt tay Niên Canh Nghiêu, khẽ nói bên tai y: “Ngươi dắt ta ra ngoài cứu Lý Trị, sau đó ta thả ngươi”. Niên Canh Nghiêu vừa kinh vừa giận, Phùng Lâm lại nói: “Ngươi không chịu, ta lập tức kêu lớn!” Bên ngoài cửa đánh bình một tiếng, Ung Chính đã đấm một quyền lên cửa.

Niên Canh Nghiêu mở cửa ngầm, kéo Phùng Lâm vào địa đạo, nhằn giọng hỏi: “Muội muốn hại ta chết?” “Ta cũng chỉ có một câu, ngươi có chịu cứu Lý Trị hay không?” “Ta cũng không biết y bị nhốt ở đâu”. “Được, ta la lên đây!” Bên ngoài cửa lại kêu bình thêm một tiếng!

Niên Canh Nghiêu chạy được hai bước, ác niệm nảy sinh, thầm nhủ: “Chi bằng cứ giết quách ả cho rồi!” Phùng Lâm chợt kêu lên một tiếng, Ung Chính ở bên ngoài nói: “Ta còn tưởng nàng không có ở bên trong, mở cửa mau!”

Niên Canh Nghiêu vội nói: “Được, ta hứa với ngươi, đừng kêu ầm lên nữa!” thầm nhủ: “Võ công của ả không tệ, giết ả không xong càng hỏng bét. Vả lại dù cho có thể giết được ả ở đây cũng không thoát tội”.

Ung Chính đợi một hồi, thấy bên trong không có tiếng trả lời, Cáp Bố Đà đứng xuôi theo một bên nhìn lén y, Ung Chính cảm thấy rất ái ngại, thầm nhủ: “Ả nha đầu này cũng thật ngang ngạnh. Ả chẳng thèm để ý đến mình, mình còn để mặt ở đâu nữa chứ?” kêu lên hai tiếng mà vẫn không ai trả lời. Ung Chính tức tối ngầm vận chuyển lực đánh bật hai cánh cửa ra.

Niên Canh Nghiêu nghe đánh ầm một tiếng, hồn vía bay lên mây, kéo Phùng Lâm chạy nhanh. Phùng Lâm nói: “cứu Lý Trị ra, ta sẽ lập tức bỏ đi, nếu ta chạy không thoát cũng sẽ khai ra ngươi!”

Niên Canh Nghiêu chạy ra địa đạo, cùng Phùng Lâm nấp sau hòn non bộ, chỉ về căn phòng ở hướng tây, nói: “Lý Trị bị nhốt ở đấy”. Phùng Lâm nói: “Ngươi hãy giúp ta dụ bọn người kia đi!” Niên Canh Nghiêu hơi nghi ngờ, Phùng Lâm nói: “Ngươi có làm hay không, nếu không chịu ta trở về gặp Hoàng thượng!”

Lại nói Ung Chính bước vào trong phòng thấy chẳng bóng người, thất kinh kêu lên: “Chả lẽ lúc nãy không phải là tiếng nói của ả?” Cáp Bố Đà sợ đến nỗi tái xanh mặt, lúng túng nói: “Sau khi nô tài đổi phiên gác, còn thấy bóng của nàng trên cửa sổ”. “Chắc hẳn nàng vẫn còn trong phòng”.

Trong cung có rất nhiều loại cơ quan theo kiểu cửa ngầm hay vách đôi, bởi vậy Ung Chính liền đẩy cái giường ra, cầm cây chùy lưu tinh trong tay Cáp Bố Đà quét quanh vách một vòng, phát động cơ quan, cánh cửa ngầm mở ra, Ung Chính nói: “Không ngờ tiểu Niên lại có trò này!” Cáp Bố Đà nói: “Trong vườn có thân tín của Hoàng thượng, chắc hẳn Niên Canh Nghiêu và nàng sẽ chạy không thoát. Bọn họ vẫn còn trong địa đạo”. Ung Chính nói: “Ngươi vào xem thử, nếu phát hiện thì mời bọn họ ra, đừng lên tiếng”.

Một hồi sau, Cáp Bố Đà chui ra khỏi địa đạo, tâu rằng: “Bên trong không có người!” Ung Chính chợt nói: “Việc hôm nay chỉ có ta và ngươi biết, không được nói cho người thứ ba hay! Thấy Niên tướng quân thì vẫn phải giữ vẻ cung kính như thường, quyết không lộ ra mặt!” Ung Chính cực kỳ thâm trầm, lúc này tuy đã muốn giết Niên Canh Nghiêu nhưng tây vực vẫn chưa được bình định, ngưu hồ vẫn chưa trừ, những kẻ chống đối vẫn còn nhởn nhơ, y quyết không thể quyết liệt với Niên Canh Nghiêu.

Cáp Bố Đà toát mồ hôi lạnh, run giọng nói: “Nô tài biết”. Ung Chính xua tay nói: “Mau ra bên ngoài lục soát. Ta liệu rằng tiểu Niên cũng không dám lớn gan cùng Lâm nha đầu chạy trốn”. Cáp Bố Đà kêu vâng một tiếng, lập tức đẩy cửa bước ra, sau đó tiếng cảnh hiệu vang lên!

Niên Canh Nghiêu bị Phùng Lâm ép buộc, chợt nghe tiếng cảnh hiệu, nảy ra một kế, thế là chạy ra ngoài, thấy kẻ canh giữ Lý Trị là Xa Tịch Tà, Niên Canh Nghiêu chỉ về phía đông nói: “Bên kia có biến, ngươi hãy chạy qua giúp!”

Xa Tịch Tà chạy đi, Phùng Lâm mới chạy ra, Niên Canh Nghiêu nói: “Ngươi hãy tự cứu lấy”. “Ngươi hãy ngoan ngoãn ngồi ở đằng kia, không được giở trò. Đợi ta ra ngoài ngươi mới được đi”. Rồi cầm kiếm nhảy vào trong phòng.
Sau khi Ung Chính dùng thủ cung sa thử, biết Phùng Lâm và Lý Trị chẳng có quan hệ gì, lại muốn thu phục chàng nên vẫn đối đãi tốt với chàng, chẳng hề gông cùm, Phùng Lâm nhảy vào trong phòng, kêu lớn: “Chạy mau!”

Hai ngày nay Lý Trị tự nhiên nằm mơ, bao nhiêu câu hỏi cứ vởn vơ ở trong lòng, ngay lúc này chàng cũng không thể nào hỏi được, chi đành chạy theo Phùng Lâm nhảy tót ra cửa sổ.

Trong vườn bóng người thấp thoáng chạy về phía nơi ở của Phùng Lâm. Phùng Lâm chạy ra sau hòn dã sơn, cười với Niên Canh Nghiêu: “Ngươi có thể đi rồi đấy!” Tình cảm của nàng đối với Niên Canh Nghiêu tuy đã tiêu tan nhưng dẫu sao vẫn còn một chút duyên bằng hữu nên cũng không muốn làm khó y.

Niên Canh Nghiêu đưa tay ra, nói: “Mong muội có thể thoát khỏi miệng hùm, nếu chúng ta có duyên, kiếp sau sẽ gặp lại!” Phùng Lâm thấy bẽ bàng, đưa tay ra nắm lất tay y, Niên Canh Nghiêu đột nhiên trở tay chợp vào mạch môn rồi vỗ một chưởng vào ngực nàng.

Té ra Niên Canh Nghiêu cân nhắc lợi hại, thầm nhủ: “Hai người bọn chúng chắc chắn không thoát nổi, dù cho có thoát, ả cũng đã hết tình hết nghĩa đối với mình, giữ ả lại cũng mang họa”. Khi thấy nàng và Lý Trị mạo hiểm chạy ra, lòng thầm nhủ: “Ả đã phụ mình, chi bằng cứ để mình phụ ả”. Y biết võ công của Phùng Lâm không tệ, nên cố ý dùng lời để khiến nàng xúc động, thừa lúc nàng phân tâm đột nhiên ra độc sát thủ.

Lý Trị bước ra phía trước, thấy nàng cười nói với Niên Canh Nghiêu đã nghi ngờ, chàng chợt quay đầu cả kinh kêu lên: “Ngươi làm gì thế!” rồi trở tay vỗ ra một chưởng gạt tay của Niên Canh Nghiêu ra, tay phải cầm kiếm vẫy một đóa kiếm hoa vào ngực của Niên Canh Nghiêu, Niên Canh Nghiêu thu người, buông tay Phùng Lâm, xoay người bỏ chạy.

Thế là việc ấy kinh động đến bọn thị vệ trong vườn, lập tức có người chạy đến, Lý Trị nổi giận định đuổi theo Niên Canh Nghiêu, Phùng Lâm vội kéo chàng vào bụi hoa, Lý Trị nói: “Tên gian tặc thật nham hiểm, đúng là trên đời hiếm có!” Phùng Lâm né tránh ánh mắt của Lý Trị, khẽ nói: “Cứ mặt y, chúng ta chạy mau!” Trong lòng nàng hổ thẹn vô cùng!

Vườn hoa nhà họ Niên rất rộng, người không quen thuộc đường lối đi cả nửa ngày cũng chẳng tìm được đường ra. Phùng Lâm dắt Lý Trị chạy băng qua những bụi hoa, đang chạy chợt nghe Thiên Diệp Tản Nhân kêu lớn: “Các người mau đến đây, lục soát ở giữa vườn!” Phùng Lâm len lén nhìn ra, chỉ thấy Niên Canh Nghiêu và Thiên Diệp Tản Nhân đứng trên hòn đá cao, tay chỉ về phía mình ẩn thân. Phùng Lâm thầm kêu khổ, nhủ rằng: “Y còn biết rõ đường lối trong vườn hơn cả mình, làm thế nào bây giờ?” Lý Trị định xông ra, Phùng Lâm kêu: “Khoan đã!” chỉ thấy hơn mười người chia làm ba mặt áp tới, Phùng Lâm tính toán: “Y bất nhân thì mình bất nghĩa, bọn người ấy không dám lấy mạng mình, mình gặp Hoàng đế sẽ vạch trần mưu gian của y rồi sau đó tự sát”. Nàng đã quyết định nên đã vững lòng hơn, thấy ba tên thị vệ bước tới càng lúc càng gần. Phùng Lâm nắm tay Lý Trị, chỉ cảm thấy lòng bàn tay của chàng toát mồ hôi.

Phùng Lâm thầm nhủ: “Lý ca ca thật đáng thương, ngày ấy chàng sa vào vòng vây mà không hề sợ chết. Hôm nay tay chân lạnh ngắt chắc là vì lo cho mình!” Thế là nàng quyết tâm định một mình dẫn dụ kẻ địch. Chợt thấy ba tên thị vệ lại rẽ về lối khác mà không đến gần, bất giác thấy ngạc nhiên!

Té ra không những Phùng Lâm và Lý Trị lo lắng mà Niên Canh Nghiêu càng hoảng hơn. Y cũng liệu rằng nếu Phùng Lâm bị bắt, chắc chắn sẽ khai y ra. Lúc này y chỉ còn tìm cách ngầm giúp họ chạy thoát!

Phùng Lâm thở phào, dắt Lý Trị chạy vòng vèo một hồi đã ra đến cửa vườn, Phùng Lâm nói với Lý Trị: “Phía trước là một hồ sen, chắc chắn phải chèo thuyền mới qua được, nhưng hai bên hồ sen có rất nhiều thuyền, giữa hồ có một tảng đá, hồ sen rộng khoảng mười trượng, tảng đá giữa hồ cách chiếc thuyền gần nhất khoảng hơn ba trượng, huynh hãy nhìn kỹ vị trí của tảng đá ấy, thấy muội phất tay, huynh lập tức nhảy ra phóng lên thuyền, mượn tảng đá làm bàn đạp vọt qua bờ bên kia. Huynh đã nhìn thấy rõ chưa?” Lý Trị gật đầu, Phùng Lâm thấy bờ bên kia không có người, nàng khẽ phất tay một cái, Lý Trị lập tức vọt qua bờ bên kia.

Nào ngờ bờ bên kia đã có Song ma mai phục, Lý Trị đang ở trên không trung, chân chưa hạ xuống đất. Tát Thiên Thích đã từ phóng ra, vươn tay tóm chân Lý Trị kéo xuống!

Hay cho Lý Trị, chàng lâm nguy mà không loạn, người đang ở trên không trung đã đâm xuống một kiếm, Tát Thiên Thích thu tay lại, Lý Trị hạ người xuống. Nào ngờ Tát Thiên Thích giỏi thuật Miêu Ưng Phốc Kích, y phóng lên khỏi mặt đất, lật cánh tay qua cánh thân kiếm, lại chụp được vai của Lý Trị, cả hai người cùng rơi xuống đất.

Lý Trị chợt thấy đau nhói, trỏ trái thúc một cái thoát được kẻ địch, đâm ra soạt soạt hai kiếm. Tát Thiên Thích nói: “Hừ, tên tiểu tặc, ngươi muốn chạy!” rồi lao bổ tới. Tát Thiên Thích gầm lớn một tiếng, vỗ ra phù phù hai chưởng, khiến Lý Trị chấn động cả người, Tát Thiên Thích lại chụp xuống một trảo! Chợt Phùng Lâm đã nhảy vọt qua, phóng tới như mũi tên bắn, Tát Thiên Thích giật mình, đã chụp hụt trảo ấy, bên tai chỉ nghe tiếng Phùng Lâm kêu: “Tát bá bá, Cáp Bố Đà ở bên bờ đối diện, cớ gì người phải chặn chúng tôi!” Tát Thiên Thích hơi chần chừ, Phùng Lâm đã kéo Lý Trị lướt ra khỏi trảo của y, Tát Thiên Đô vỗ ra một chưởng, Tát Thiên Thích khẽ kêu: “Cứ để mặc nó đi”. Chỉ trong chớp mắt Phùng Lâm và Lý Trị đã lẫn vào bụi cây.

Nhưng bọn thị vệ trong vườn nghe Tát Thiên Đô gầm lớn đã đuổi tới, pháo thủ Cáp Bố Đà là Bằng Văn Ứng canh ở cửa xông tới trước tiên. Tát Thiên Thích cũng chẳng thể nào giúp được Phùng Lâm nữa!

Bằng Văn Ứng hỏi: “Ả nha đầu và tên tiểu tặc chạy về hướng nào?” Tát Thiên Thích trả lời: “bọn chúng rất lanh lẹ, tôi giao thủ mấy chiêu đã chụp tên tiểu tặc bị thương, nhưng bọn chúng vẫn thoát được, trong bóng tối không nhìn rõ, chắc là đi về hướng kia” rồi y chỉ bừa về một hướng. Bànhg Văn Ứng nói: “Được, chúng ta hãy cẩn thận tìm kiếm! Chúng mọc cánh cũng khó thoát!” rồi phát ra hai mũi hưởng tiễn, chỉ trong chốc lát, Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân đã đuổi tới. Phùng Lâm lạnh mình, võ công của hai người này trác tuyệt, vả lại nửa phía bên này không rộng như phía bên kia, cây cối cũng không nhiều, vòng vây dần dần siết chặt thì muôn lần khó thoát.

Lý Trị chợt nói: “Chúng ta liều với bọn chúng!” Phùng Lâm lắc đầu, chợt nghe Cáp Bố Đà kêu lớn: “Lâm quý nhân, Hoàng thượng mời quý nhân trở về!” Phùng Lâm thất kinh, thầm nhủ: “Mình và Cáp Bố Đà cách nhau đến mấy trượng, chả lẽ y đã thấy chỗ mình ẩn thân?” Nàng đã định nhảy ra, chợt nghe bọn thị vệ kêu: “Ở đây, ở đây!” rồi tiếng bước chân chạy về hướng Tây bắc, cả Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân hình như cũng chạy về hướng ấy, Phùng Lâm ngạc nhiên kêu: “Chuyện hôm nay thật khiến cho muội bất ngờ! Chả lẽ bọn chúng gặp ma!” nàng vẫn nằm phục trong bụi hoa, chẳng dám động đậy, một hồi sau chợt nghe tiếng binh khí chạm nhau, trong phạm vi mấy trượng gần chỗ nàng ẩn thân chẳng có một bóng người. Phùng Lâm nói: “Đây đúng là cơ hội trời ban, chúng ta mau chạy ra khỏi khu vườn này!”

Lúc này nàng chợt nghe tiếng nữ tử, quả là giọng nói ấy rất giống với Phùng Lâm, Lý Trị rất tinh mắt, chàng chợt khẽ kêu lên: “Ồ, thật lạ, phía bên kia có người giống muội!”

Phùng Lâm giật mình, ngước mắt nhìn lên, nàng thiếu nữ ấy đã sa vào vòng vây, lại bị người ta che nên không thấy được nữa. Phùng Lâm vẫn ngày đêm mong muốn tìm ra thân thế của mình, nay đã có một chút manh mối, trên thế gian này đúng là có một người rất giống mình! Trong chốc lát Phùng Lâm vừa mừng vừa ngạc nhiên, bao nhiêu ý nghĩ dâng trào, nhưng nay đang trong chốn nguy hiểm, tuy có thể vươn tay ra là vén được bức màn bí mật nhưng Phùng Lâm đành phải buông xuôi. Hai người bọn họ len lén ra khỏi vườn.

Phùng Anh cũng vì thân thế của mình mà đến, nàng đến nhà họ Niên chính là tìm một người giống mình. Không ngờ vừa vào trong vườn đã sa vào vòng vây, có người kêu nàng là Lâm quý nhân, có người mắng nàng là nha đầu ngang ngạnh, có người khuyên nàng trở về, có người buộc nàng bó tay chịu trói, hầu như khiến nàng tưởng rằng đã rơi vào thế giới điên cuồng. Phùng Anh ngạc nhiên, lòng thầm nhủ có lẽ một người nào đó rất giống mình, nhưng người đấy có ở đây không? Nàng đã định hỏi thì bọn họ đã tấn công. Phùng Anh đành phải thi triển Thiên Sơn kiếm pháp đánh lùi bọn thị vệ, Thiên Diệp Tản Nhân xông vào đánh ra một chiêu Phong Quyển Tàn Vân, chụp vào cổ tay của Phùng Anh! Phùng Anh thất kinh, người này ra tay thật hiểm độc, nàng hơi lách vai rồi nghiêng người trả lại một kiếm.

Nhát kiếm ấy vừa nhanh vừa chuẩn, phương vị cũng thật là chính xác, lập tức công thủ đổi thế, Thiên Diệp Tản Nhân kêu ối một tiếng, buộc phải biến chiêu thoái lui. Y kinh hãi trước kiếm pháp tinh diệu của Phùng Anh, thầm nhủ: “Ả nha đầu ra ngoài không bao nhiêu năm mà sao học được kiếm pháp ghê gớm như thế này!”

Bọn thị vệ tuy đông nhưng ai nấy đều tưởng nàng là Phùng Lâm, bởi vậy chẳng ai dám đả thương nàng, Thiên Diệp Tản Nhân kêu: “Các ngươi lui xuống, để cho ta!”
Thiên Diệp Tản Nhân tuy võ công cao hơn Phùng Anh, nhưng không dám phát hết chưởng lực, bị rơi vào thế nguy hiểm, Cáp Bố Đà đã ném binh khí xông đến trợ chiến. Hai cao thủ đại nội đã vây chặt được nàng nhưng không thể nào cướp được cây kiếm trong tay nàng.

Ung Chính đang chạy ra thì thấy Niên Canh Nghiêu, Niên Canh Nghiêu đã hoảng sợ, nhưng không hề lộ ra mặt, tâu rằng: “Nghe nói Lâm quý nhân đã chạy thoát, Hoàng thượng yên tâm, Thiên Diệp Tản Nhân và Cáp Bố Đà đã đuổi theo”. Ung Chính nói: “Khanh gia đã vất vả!” Niên Canh Nghiêu giật mình, khi nhìn lại Ung Chính, y vẫn thản nhiên nắm tay Niên Canh Nghiêu cười nói: “Khanh là một đại tướng mà hôm nay phải chỉ huy truy bắt một ả nha đầu, nói ra cũng thật buồn cười!” Niên Canh Nghiêu thấy nhà vua vẫn tin tưởng y, trong lòng thấy bớt lo, Ung Chính lại nói: “Đàn bà chỉ là vật tiêu khiển, có mất cũng chẳng đáng tiếc”. Niên Canh Nghiêu mới định thần trả lời rằng: “Hoàng thượng lòng dạ rộng rãi, chẳng ai bì được. Lâm quý nhân tuổi còn trẻ, có lẽ nhất thời ham chơi nên đi ra ngoài, Hoàng thượng cứ gọi quý nhân về giao cho gia mẫu canh giữ”. Ung Chính cười nói: “Nếu bắt được nàng trở về, lúc đó lại phiền Niên thái phu nhân về kinh bầu bạn với nàng”. Niên Canh Nghiêu nói: “Hoàng thượng yên tâm, nàng quyết không thể nào ra khỏi khu vườn này được”. Thật ra y cũng cầu mong cho Phùng Lâm thoát cho mau.

Đi được mấy bước, có tên thị vệ đến báo: “Đã tìm được Lâm quý nhân, Cáp tổng quản và Thiên Diệp Tản Nhân đang khuyên quý nhân trở về”. Ung Chính nói: “Tốt lắm, để ta đích thân ra kêu nàng về” rồi cười nói với Niên Canh Nghiêu: “Chúng ta ra xem thử”. Niên Canh Nghiêu vừa mới hơi vững bụng, giờ đây lại hoảng lên, dù y là một kẻ kiêu hùng nhưng cũng không khỏi hơi run rẫy, trong khoảng sát na ấy, Ung Chính đã cảm nhận được điều đó nhưng chỉ giả vờ không biết, vẫn tiếp tục nắm tay y cùng lên thuyền chèo qua bờ bên kia.

Phùng Anh một mình đấu với Cáp Bố Đà và Thiên Diệp Tản Nhân, mấy lần suýt bị đoạt kiếm. Đang lúc căng thẳng, chợt có người kêu: “Các ngươi lui xuống để trẫm hỏi nàng”. Phùng Anh không ngờ người ấy là Hoàng đế, đang lúc căng thẳng, chẳng rảnh rỗi suy nghĩ chữ trẫm có nghĩa là gì, chợt thấy xung quanh yên ắng, hai người đang giao thủ với mình cũng nhảy ra khỏi vòng, nàng đưa mắt nhìn lên, thấy có một người khoảng hơn ba mươi tuổi, khí độ cao quý, ánh mắt nghiêm nghị mỉm cười với mình, nói: “Lâm nhi, sao nàng lại làm thế, hãy mau theo ta trở về!”

Phùng Anh thầm nhủ: “Hai người đấu với mình võ công cao cường hiếm thấy trên đời, thế mà vẫn cung kính đối với y, nếu y không phải là tông chủ của một phái chắc cũng là quan lớn trong triều, dẫu sao mình cũng chẳng thoát được, cứ đi vào cùng y, xem thử y có nói lý hay không” liền bảo: “Tốt lắm, ta cũng không muốn đấu với các người nữa, ngươi đến rất đúng lúc, ta có việc muốn hỏi rõ ngươi”. Ung Chính không biết nàng muốn hỏi chuyện gì, sợ rằng nàng lại nói càng, liền bảo: “Được, vào rồi hẳn nói!”

Niên Canh Nghiêu nghe trống ngực đập thình thình. Phùng Anh cùng họ đi xuống thuyền, nàng chợt kêu lên: “Ngươi là Niên Canh Nghiêu, ta nhận ra ngươi!” Niên Canh Nghiêu giật mình, mồ hôi lạnh toát ra, hầu như đứng chẳng vững nổi.

Ung Chính cười nói: “Nha đầu ngốc, nàng điên rồi sao? Sao nàng lại không nhận ra Niên tướng quân? Hôm nay nàng mới vừa bái nghĩa phụ nghĩa mẫu”. Phùng Anh chưng hửng, thầm nhủ: “Chắc bọn họ nghĩ mình là Lâm quý nhân nào đó”.

Về đến bên kia bờ, Ung Chính cười nói: “Niên tướng quân, đêm nay khanh đã mệt, hãy nghĩ sớm đi”. Niên Canh Nghiêu trong lòng thấp thỏm lo âu, chỉ đành cáo lui.

Ung Chính dắt nàng vào hoa sảnh, xung quanh không có người, Phùng Anh hỏi: “Có phải ở đây có một Lâm quý nhân hay không, nàng đâu rồi?” Ung Chính kinh hãi hỏi: “Có phải nàng trúng ta rồi không?” Phùng Anh trả lời: “Các ngươi mới trúng tà, chắc chắn đã nghĩ ta là nàng, các ngươi hãy gọi nàng ra đây, sự việc sẽ rõ ràng ngay!” Ung Chính cười ha hả: “Nàng thật thú vị, nói chuyện vui mà lại thật như thế, người đẹp như nàng, đừng nói là nhân gian, trên trời cũng khó tìm, làm sao có một người giống như nàng?” dù Phùng Anh nói thế nào, Ung Chính cũng không tin, Phùng Anh khổ sở vô cùng, nói: “Nếu các người không tin, ta chỉ đành đi thôi!”

Ung Chính cười nói: “Nàng nói thật dễ, nàng đã chạy ra một lần, đã mất thân phận lắm, nàng còn muốn chạy nữa, trẫm còn để mặt mũi ở đâu!”

Phùng Anh lần này đã nghe rõ ràng, thất kinh hỏi: “Ngươi là ai? Ngươi có thân phận gì? Chuyện gì thế này?”

Ung Chính cả cười, nói: “Đừng giả điên giả dại nữa! Khanh đã hứa cùng trẫm trở về kinh, giờ lại hối hân ư? Khanh hãy nghĩ xem, thân phận quý phi tôn quý biết chừng nào, làm sao có thể tùy tiện lộ mặt làm chuyện hoang đường được!”

Phùng Anh run giọng nói: “Ngươi là Hoàng đế?” Ung Chính nghiêm mặt nói: “Ta là Hoàng đế, khanh là quý phi, năm nay khanh cũng đã mười sáu tuổi, cũng nên học phép tắc của hoàng gia!”

Phùng Anh thoái lui một bước, liếc mắt nhìn lên mặt y, lúc này nàng không còn sợ ánh mắt khiếp người của Ung Chính nữa, hừ một tiếng nói: “Hừ, té ra ngươi là tên bạo quân hoang dâm vô đạo!”

Ung Chính cố kiềm nén cơn tức giận nói: “Ta hoang dâm vô đạo thế nào?” Phùng Anh nghiêm mặt nói: “Nghe ngươi nói, chắc là Lâm quý nhân nào đó đã sợ ngươi ép buộc nên đã bỏ chạy. Nay ngươi đã là thiên tử, không tìm cách làm cho thiên hạ thái bình mà lại bức bách nữ tử, không phải hoang dâm vô đạo thì là gì?”

Ung Chính cố kiềm nén, cười lạnh nói: “Hay thật, khanh nói ta hoang dâm vô đạo? Hôm nay ta sẽ triệu hạnh khanh!” rồi đưa tay kéo tay nàng, Phùng Anh cả giận, trở tay tát vào mặt Ung Chính một bạt tai!

Phùng Anh ra tay tuy nhanh nhưng Ung Chính vẫn lách kịp, có điều chưởng phong quét vào mặt cũng thấy đau nhói.

Ung Chính cả giận kêu: “Phản rồi, phản rồi! Hay lắm, ta sẽ giết Lý Trị ca ca của ngươi trước!” Phùng Anh cả kinh, nói: “Ngươi nói gì? Ai là Lý Trị ca ca?” Ung Chính nói: “Hừ, ngươi sợ rồi sao? Có phải ngươi đã yêu tên tiểu tử thối đấy không? Ta đếm ba tiếng, nếu ngươi không chịu nghe ta sẽ truyền lệnh giết chết y”.

Phùng Anh nghe thấy thầm nhủ: “Chả lẽ Lý Trị ca ca đã lọt vào tay bọn chúng?” Ung Chính đếm “một”, thấy Phùng Anh suy nghĩ, trong lòng thích thú, tưởng rằng nàng đã sợ, lại đến một tiếng “hai”, chưa kịp nói tiếng “ba” thì Phùng Anh đã rút thanh kiếm đâm về phía y, kêu: “Ngươi không thả Lý Trị ca ca, ta khiến ngươi đỗ máu!”

Ung Chính thất kinh, Phùng Anh đâm tới hai nhát kiếm, suýt nữa đã trúng, Phùng Anh đâm tiếp nhát kiếm thứ ba, Ung Chính xoay người tiện tay chụp một cái ghế gạt lên, cái ghế này làm bằng gỗ đàn nên rất gắng chắc, Phùng Anh chẳng chém đứt được, chỉ thấy hổ khẩu đau nhói. Ung Chính nói: “Chỉ có chút võ công mà muốn tạo phản?”

Phùng Anh cả giận, triển khai Truy Phong kiếm pháp tấn công về phía y, lúc đầu Ung Chính tưởng võ công của Phùng Lâm chẳng là đối thủ của mình, nào ngờ đánh được mấy chiêu, chỉ cảm thấy kiếm chiêu của nàng vừa nhanh vừa dữ, tựa như giống với Đường Hiểu Lan, kiếm khế như cầu vồng biến ảo vô cùng, chiêu nào cũng đánh vào yếu hại của mình. Ung Chính múa tiếp cái ghế kêu lên vù vù, thế mà chẳng gạt được thanh kiếm của nàng ra!

Phùng Anh cũng kinh hoảng, nàng tưởng rằng Hoàng đế sống ở trong cung, được nuông chiều nên không biết võ công. Nàng liệu rằng trong vòng ba chiêu sẽ bắt được y làm con tin, nào ngờ Ung Chính lấy ghế làm vũ khí, đánh ra những chiêu số của phái Thiếu Lâm, kình lực lại rất lớn, đúng là loại công phu thuộc hàng nhất đẳng.

Chỉ trong chớp mắt, Phùng Anh đã đánh được ba mươi chiêu.

Niên Canh Nghiêu chẳng lòng dạ nào ngủ nghê, lúc này nói chuyện với Cáp Bố Đà bên ngoài, Cáp Bố Đà nghe theo lời Ung Chính, cũng đối xử với y kính cẩn như thường. Đang lúc trò chuyện chợt nghe tiếng bốp bốp bên trong, hai người nhìn nhau, vì chưa nghe nhà vua gọi nên không dám vào cứu giá. Cáp Bố Đà nói: “Ả nha đầu thật lớn gan, hình như đã động thủ với Hoàng thượng!” Niên Canh Nghiêu thầm mừng, nghĩ bụng: “Ả với Hoàng thượng gây đến mức này, chắc là không nói xấu mình, mà có nói ra Hoàng thượng cũng chẳng tin”.

Cáp Bố Đà chợt kêu: “Không xong!” Niên Canh Nghiêu nói: “Sao thế?” “Ả nha đầu này kiếm pháp tinh diệu, chỉ e Hoàng thượng không phải là đối thủ. Hoàng thượng lại không chịu gọi, chúng ta vào cũng không được. Làm thế nào đây!” Lúc này Niên Canh Nghiêu đang mong Phùng Lâm giết quách Hoàng đế, cũng chiều theo Cáp Bố Đà nói: “Đúng thế, ả không phải là thích khách bình thường mà là quý phi tương lai, Hoàng thượng động thủ với quý phi, chúng ta không thể vào được”.

Bên trong càng đánh càng kịch liệt, có tiếng bàn ghế ngã đổ, Cáp Bố Đà chợt nói: “Được, ta thà bị Hoàng đế trách tội cũng phải vào cứu giá!” Cáp Bố Đà xông vào, Niên Canh Nghiêu cũng chột dạ, vội vàng tranh vào cứu giá!

Lúc đầu Ung Chính tưởng rằng có thể buộc Phùng Anh cúi đầu, lại cảm thấy nếu gọi vệ sĩ vào thì sự việc càng không thể giải quyết. Bởi vậy cứ muốn ác đấu với Phùng Anh. Nào ngờ đánh đến năm sáu mươi chiêu, cái ghế dẫu sao cũng không linh hoạt bằng kiếm, về Phùng Anh dồn ép sức nên đã bị thương, trong lòng lo lắm. Đang định gọi vệ sĩ, Cáp Bố Đà và Niên Canh Nghiêu đã xông vào. Ung Chính nói: “Khanh gia đến thật đúng lúc, hãy bắt ả tiện tì này cho trẫm. Bắt sống càng tốt, giết chết hay đả thương cũng không sao!”

Cáp Bố Đà được lệnh xông tới, Niên Canh Nghiêu không chịu lọt phía sau, cũng nhảy tới trợ chiến. Phùng Anh kiếm pháp tuy tinh diệu nhưng đấu với Ung Chính một hồi khí lực đã giảm mất một nửa, giờ đây bị hai cao thủ vây đánh, được khoảng năm mươi chiêu đã bị Cáp Bố Đà quét một chưởng trúng vào cổ tay, thanh kiếm vuột khỏi tay, Niên Canh Nghiêu lướt sát tới xỉa vào huyệt Tinh Thúc của nàng, lập tức toàn thân nàng tê rần.

Ung Chính thấy Phùng Anh ngã xuống đất, rất ái ngại. Niên Canh Nghiêu khẽ bẩm: “Quý phi có lòng phản nghịch, để lại bên mình không phải là phước của Hoàng thượng”. Ung Chính nói: “Khanh gia hộ giá có công, nói lời thẳng không kiêng dè, đúng là trung thần của trẫm. Khanh gia hãy tạm lui, trẫm tự biết xử lý”. Niên Canh Nghiêu mừng rỡ dập đầu thoái lui.

Ung Chính gọi Cáp Bố Đà nói: “Ngươi hãy giải huyệt cho ả, nhốt vào phòng khác, ngươi phải đích thân canh giữ”. Cáp Bố Đà buông tay kêu vâng một tiếng, Ung Chính gọi hai tên thái giám đến khiêng Phùng Anh đi theo Cáp Bố Đà.

Cáp Bố Đà vừa bước ra khỏi cửa phòng, Ung Chính chợt nhớ ra một chuyện, bảo y quay trở lại, hỏi: “Lý Trị đâu?” Cáp Bố Đà cũng mới biết Lý Trị chạy thoát, dập đầu tâu rằng: “Nô tài tội đáng chết, đốc thúc không nghiêm, Xa Tịch Tà tự tiện rời khỏi phiên gác, đã để y chạy trốn. Lúc nãy nô tài cũng chỉ mới biết, sợ Hoàng thượng lo phiền nên không dám vào bẩm báo”. Ung Chính phẫy tay nói: “Được, ngươi hãy lui ra”.

Cáp Bố Đà đi rồi, Ung Chính ngồi trong phòng suy đi nghĩ lại: “Chắc chắn là ả tiện tì thấy ý trung nhân đã chạy thoát nên mới dám đấu với mình. Hừ, không ngờ ả lại yêu tiểu tử này như thế”. Trong lòng y thấy chua chát khó chịu. Rồi chợt nghĩ: “Lúc nãy ả nghe mình đòi giết tên tiểu tử, thần sắc căng thẳng vô cùng, nếu ả biết y đã chạy thoát, chắc là không như thế”. Thế là sát cơ nổi lên, nhưng chợt nghĩ: “Người đẹp như thế mà giết đi há chẳng đáng tiếc hay sao?” y cứ suy đi nghĩ lại mà không biết có nên giết hay không.

Chính là:

Người đẹp trời sinh khó lìa bỏ, quân vương cũng phải nhíu đôi mày.

Muốn biết sau đó thế nào mời sang hồi sau sẽ rõ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau