GIANG HỒ TAM NỮ HIỆP

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giang hồ tam nữ hiệp - Chương 16 - Chương 20

Chương 16: Tỉ thí tìm tiêu đường trường lộ thân thủ Giải mối nguy nan một lời chuyện đã rõ

Bọn ba người Cam Phụng Trì ngồi xuống chỗ, chỉ thấy có không ngớt người đến chúc mừng Thượng trang chủ, Cam Phụng Trì nghe khách chúc mừng đại điển khai bang, lòng thầm nhủ: “Sao một bang hội mới lập mà có khí thế như thế?” đang ngạc nhiên, Thượng trang chủ chợt bưng chén rượu, tay trái rút ra một cây quạt xếp bật ra, mặt quạt hướng ra ngoài đen bóng, nan quạt phát ánh sáng lấp lánh, Cam Phụng Trì vừa nhìn đã hiểu ra, nghĩ thầm: “Té ra Thiết Phiến bang đã hồi phục từ đống tro tàn!”

Năm mươi năm trước, Thiết Phiến bang là một bang hội lớn ở Giang Nam, Bang chủ Thượng Vân Đình võ công cực cao, chẳng chịu cả mềm lẫn cứng, không thèm lấy lòng hai đạo hắc bạch, tuy cậy mạnh xưng bá nhưng cũng là một nhân vật lừng lẫy. Không ngờ sau đó Thượng Vân Đình bị Nhân yêu Hách Phi Phụng mê hoặc, đối chọi với Thiên Sơn thất kiếm, bị Lăng Vị Phong bắt sống, cuối cùng mất mạng (xem trong bộ “Thất Kiếm Hạ Thiên Sơn”) sau khi Thượng Vân Đình chết đi, Thiết Phiến bang như rồng không đầu, tuyên bố giải tán. Lúc đó Thượng Vân Đình có một đứa cháu nội vừa tròn mười tuổi, lớn lên có chí hồi phục tổ nghiệp, đi khắp nơi tìm danh sư học được võ nghệ cao cường, tự đặt tên cho mình là Thượng Phúc Sơ. Bôn tẩu hơn mười năm, được Ngư Xác giúp đỡ mới lập lại Thiết Phiến bang, hôm nay là đại điển khai bang. Mang tiếng là khai bang nhưng thực sự là lập lại. Cam Phụng Trì đương nhiên cũng cùng mọi người nâng ly chúc mừng cho Thượng Phúc Sơ.

Thượng Phúc Sơ phe phẩy cây quạt sắt, cất giọng nói sang sảng: “Hôm nay tệ bang trùng kiến, tế tổ khai bang, được các vị đồng đạo không chê, đích thân đến hàn xá. Được Ngư Xác đại vương dốc sức tương trợ, trên dưới tệ bang đều cảm kích không nguôi”. Ngư Xác ngập ngừng, nâng chén rượu uống cạn rồi lại nói: “Các bang các đà ở Giang Nam chúng ta xưa nay rải rác như cát vụn, thế mạnh hơn năm mươi năm trước đã tiêu tan như làn mây, há chẳng đáng thẹn với tiền nhân hay sao, nay Ngư Xác đại vương xưng vương ngoài biển, khiến chúng ta ai nấy đều nứt lòng, các bang ở Giang Nam chúng ta sao không cắt máu ăn thề, giúp Ngư Xác đại vương”. Lời ấy vừa nói ra, đầu lĩnh của các bang đều bàn tán xôn xao, tuy trước khi đến đây bịn họ đã biết ý của Thượng Phúc Sơ, nhưng vì việc này liên quan quá lớn, nay được chính thức đề ra, không ai dám lên tiếng trước tiên cả. Cam Phụng Trì và Lữ Tứ Nương vẫn ngồi yên lặng, biết đầu lĩnh của các bang bất đồng ý kiến với nhau, lúc này Thượng Phúc Sơ đã lên tiếng: “Chuyện này liên quan đến sự hưng suy của các bang chúng ta, theo tôi thấy chỉ có trăm lợi mà không có hại”. Bang chủ của Hải Dương bang Đồ Cảnh Siêu đứng dậy nói: “Lời của Thượng trang chủ rất đúng. Việc này liên quan quá lớn, xin hãy cho chúng tôi bàn bạc kỹ càng đã!” Câu nói này của y bề ngoài là tán dương nhưng thực sự là muốn kéo dài. Thượng Phúc Sơ biết uy vọng vẫn chưa đủ, Bang chủ các bang đến đây một nửa là nể mặt Ngư Xác, một nửa là vì tiếng tăm của tổ tông mình; thấy thế không dám gượng ép, chỉ đành bảo: “Đồ bang chủ tính toán sâu xa, tiểu đệ nào dám không tuân. Việc này ngày mai hãy tính tiếp”. Mạnh Võ Công rất thất vọng, đang định lên tiếng, chợt thấy có hai bang hữu bưng một hộp vàng, Thượng Phúc Sơ mở ra xem, chỉ thấy bên trong có một nén vàng, một tấm thiệp đỏ.

Thượng Phúc Sơ cầm tấm thiệp lên xem, mặt biến sắc, nói: “Mời họ vào!” một hồi sau, bên ngoài có hai già một trẻ bước vào. Đường Hiểu Lan vừa nhìn đã suýt nữa kêu lên. Té ra trong hai người già này, có một người là Tháp Dực Thần Sư Trâu Minh Cao, người trẻ là Trâu Tích Cửu con trai ông ta, nhớ lại năm xưa hai cha con đến nhà họ Dương đề thân, Dương Liễu Thanh cố ý gây khó Trâu Tích Cửu, khiến cánh tay của chàng ta suýt nữa đã gãy. Đường Hiểu Lan rời khỏi nhà họ Dương ít nhiều cũng có liên quan đến việc này, cách biệt mấy năm, không ngờ họ lại xuất hiện ở đây. Lữ Tứ Nương thấy chàng ta ngồi sững ra, khẽ hỏi: “Đệ nhận ra họ?” Đường Hiểu Lan gật đầu, trong nhất thời chuyện xưa lướt qua trong đầu. Chàng thầm nhủ: “Không biết Trâu Tích Cửu có còn căm hận mình hay không?”

Trâu Minh Cao sải bước tới, cung tay với Thượng Phúc Sơ, đưa mắt nhìn toàn trường, cao giọng nói: “Té ra hôm nay Thượng trang chủ mời các vị cao hiền trong võ lâm, hì hì, tiểu lão đầu đến thật hợp lúc!” Thượng Phúc Sơ cũng cung tay nói: “Tháp Dực Thần Sư, ngưỡng mộ từ lâu! Hôm nay cùng Lăng tiêu đầu đến đây không biết có gì chỉ giáo?” Trâu Minh Cao ôm quyền vái dài đầu lĩnh các nơi, lớn giọng nói: “Tại hạ tên gọi Trâu Minh Cao, bằng hữu này chính là tổng tiêu đầu Lăng Nhạc của Thông Nguyên tiêu hãng tại Nam Kinh, còn đây là tiểu nhi Trâu Tích Cửu. Hai tháng trước, tiểu nhi giúp Lăng tiêu đầu đưa một chuyến tiêu đến miền Quảng Đông, nửa đường đã bị bằng hữu Thiết Phiến bang chặn lại, tiêu ngân tuy không nhiều, chỉ khoảng hơn năm vạn lượng, tuy trong mắt Thượng trang chủ chẳng là bao, nhưng đối với Lăng tiêu đầu và lão hủ lại là một số tài sản lớn, bồi thường không nổi, chúng tôi chẳng còn cách nào chỉ đành làm mặt dày đến đây mong Trang chủ nể mặt, trả lại số tiêu ngân ấy. Trâu Minh Cao này đã hữu lễ!” việc cướp tiêu trên giang hồ chỉ là chuyện cực kỳ bình thường. Huống chi Trâu Minh Cao và Dương Trọng Anh được người ta gọi là Bắc quốc song hùng, từ lâu lục lâm miền Nam đã nghe danh họ. Đầu lĩnh các bang nghĩ: “Chắc chắn Thượng Phúc Sơ sẽ trả lại. Năm vạn lượng bạc lại không nhiều, Thượng Phúc Sơ không thể gây xích mích với những nhân vật đã thành danh này”. Nào ngờ Thượng Phúc Sơ nghe xong thì cười ha hả, bảo: “Theo lý mà nói, Trâu lão anh hùng đã đích thân đến đây xin lại tiêu ngân, quả thực đã nể mặt tiểu đệ. Dù thế nào đi nữa cũng phải trả lại tiêu ngân này. Có điều hôm nay là ngày đại điển khai bang, nếu đem bạc suông ra cửa là điều kiêng kỵ. Chi bằng thế này vậy, coi như năm vạn lượng bạc là tiền thưởng, chúng tôi và cha con Trâu lão anh hùng cùng Lăng tổng tiêu đầu tỉ thí ba trận, giúp vui cho các vị bằng hữu ở đây, Trâu lão anh hùng chắc chắn sẽ thắng, chúng tôi thua cũng tâm phục khẩu phục!”

Thượng Phúc Sơ nói ra những lời ấy, quần hùng đều thấy bất ngờ. Cam Phụng Trì cũng cảm thấy người này không có phong độ Bang chủ. Chàng không biết rằng Thượng Phúc Sơ có suy nghĩ khác. Hơn mười năm nay Thượng Phúc Sơ bôn tẩu vì chuyện lặp lại Thiết Phiến bang, tuy cũng có danh tiếng nhưng uy vọng vẫn còn ít, nhất là lời đề nghị lúc ấy không có ai phụ họa khiến cho y càng cảm thấy lúng túng hơn. Ngay lúc ấy Trâu Minh Cao lại đến đòi tiêu ngân, Thượng Phúc Sơ đang hậm hực không có chỗ phát tiết, bởi vậy mượn cơ hội này hạ một nhân vật thành danh, tăng thêm uy phong cho mình.

Trâu Minh Cao thấy lửa giận bốc cao, ngửa mặt cười ha hả rồi vuốt râu nói: “Lão hủ chỉ có bộ xương già, nào dám tỉ thí võ nghệ để đòi tiêu, nhưng nếu Bang chủ đã không nể mặt, chúng tôi cũng không cần ép. Bang chủ đã đưa ra điều này, nếu chúng tôi không tiếp, tiêu ngân lại không thể bồi thường được. Đành chịu vậy, chúng tôi chỉ nghe theo lời của Bang chủ”. Thượng Phúc Sơ nói: “Được, nếu trong ba trận thắng hai, năm vạn lượng tiền thưởng này thuộc về người thắng. Các người là khách, xin mời!” Trâu Minh Cao đang định đích thân ra tay khiêu chiến Thượng Phúc Sơ, tiêu đầu Lăng Nhạc đã nhảy ra, cao giọng nói: “Tiểu đệ đã lãnh chuyến tiêu này, xin mời Bang chủ thưởng cho hai chiêu”. Thượng Phúc Sơ hừ một tiếng, tỏ ý khinh khi, rồi đưa tay vẫy một cái, một hán tử mặt đen nhảy tót ra, người ấy là một trong ba Phó bang chủ của Thiết Phiến bang tên gọi Tào Nguyên Lang, cao giọng cười nói: “Không cần làm phiền tới Bang chủ, ta xin tiếp cao chiêu của Lăng tiêu đầu”. Lăng Nhạc hỏi xong họ tên thì cung tay nói: “Chúng tôi đến đây là muốn đòi tiêu, nào dám coi quý bang là không thể địch, chúng ta nên dùng lại đúng lúc, xin phó tiêu đầu nương tay”. Việc tỉ thí đòi tiêu là chuyện bình thường trên giang hồ, Lăng Nhạc chặn đầu trước theo quy củ giang hồ, Tào Nguyên Lang lại là một hán tử thô hào, không hiểu lắm quy củ giang hồ, lòng thầm cười Lăng Nhạc chưa đánh đã sợ, nên bước ra, nói: “Quá lời, quá lời!” rồi lập tức khai chiêu, hai tay vươn vai, các khớp kêu lên răng rắc, đột nhiên y sấn tới, quét thẳng quyền tới, Lăng Nhạc là hảo thủ của phái Thái Cực, ông ta xoay người đánh một chiêu Tà Quải Đơn Tiên chém xéo vào cổ tay của kẻ địch, Tào Nguyên Lang cũng rất nhanh nhẹn, y xoay người đấm vù một chưởng vào be sườn của Lăng Nhạc, Lăng Nhạc đánh ra một chiêu Dã Mã Phân Tâm, chân trái đứng trụ, chân phải đứng hờ, tay trái giở lên, tay phải trầm xuống, cũng không biết ông ta đã xử lực như thế nào mà Tào Nguyên Lang đã bị ông ta đẩy lui mấy bước. Thượng Phúc Sơ nhíu mày, nói với Vệ Dương Oai: “Đối với Thái Cực quyền cần chi phải tấn công mạnh”. Câu này vốn là nói cho Tào Nguyên Lang nghe nhưng Tào Nguyên Lang đã thua một chiêu, y đang nóng nảy nào để ý lời của Bang chủ, ngón nghề của y là Hắc hổ quyền, đã luyện được một thân sức trâu, nghĩ thầm mình chịu một hai quyền của đối phương cũng chẳng hề gì, thế là đánh hờ một chiêu, đột nhiên lại xông lên, đánh ra một chiêu Ác Hổ Đào Tâm, quyền trái đánh nhanh như điện chớp vào ngực của Lăng Nhạc, Lăng Nhạc hơi lắc người, đột nhiên xoay cổ tay móc lấy cùi chỏ phải của kẻ địch, mà Thái Cực quyền là môn võ mượn lực sử lực, Tào Nguyên Lang đã dốc hết sức, bị ông ta đẩy một cái đã loạng choạng, chồm người về phía trước, Lăng Nhạc tống tay phải, đẩy chưởng trái Tào Nguyên Lang té sầm xuống đất, gắng gượng một hồi mới đứng dậy nổi. Đó là Lăng Nhạc nương tay, chỉ dùng ba phần sức chứ nếu không cổ tay của y đã bị vặn gãy.

Trâu Minh Cao mặt lộ vẻ vui mừng, cung tay nói: “Đa tạ đã nhường trận đầu”. Thượng Phúc Sơ đặt chén rượu xuống, nói: “Được, ta tiếp trận thứ hai!”

Trâu Minh Cao lập tức ra sân, cất giọng sang sảng nói: “Bang chủ đích thân chỉ giáo, thật là tốt quá”. Thượng Phúc Sơ cởi áo ngoài, đang đinh ra trường, chợt có một thiếu niên từ phía sau lách ra, nói: “Cha để cho con tiếp trận này!” đây chính là con trai của Thượng Phúc Sơ tên gọi Thượng Thiếu Đình, từ nhỏ đã nội ngoại kim tu, căn cơ rất vững chắc, Thượng Phúc Sơ trầm ngâm một lúc, thầm nghĩ con mình hỏa hầu tuy kém nhưng võ công đã tinh thuần, vả lại tuổi trẻ lực mạnh, trước tiên đã chiếm được tiện nghi, để hắn tỉ thí với Trâu Minh Cao thất bại cũng không nhục, nhưng thắng thì có thể lừng danh giang hồ, thế rồi gật đầu nói: “Được, con hãy cẩn thận đấy!” Thượng Thiếu Đình cởi áo khoác ngoài, Trâu Minh Cao mỉm cười thối lui một bên, Thượng Thiếu Đình ngạc nhiên nhìn chằm chằm, Trâu Tích Cửu đã nhảy ra, lớn giọng nói: “Ta tiếp Thiếu bang chủ trận này”. Thượng Thiếu Đình mới vỡ lẽ ra, té ra Trâu Minh Cao không thèm động thủ với mình.

Sau khi bị Dương Liễu Thanh dạy cho một bài học, Trâu Tích Cửu đã không còn nghênh ngang nữa, hai tay vươn ra, ngưng thần chờ địch. Thượng Thiếu Đình nói: “Xin mời Trâu anh hùng ra chiêu trước!” Trâu Tích Cửu nói: “Nào dám, tôi chỉ là kẻ học sau, mong Thiếu bang chủ chỉ giáo cho”. Thượng Thiếu Đình nói: “Ngươi là khách từ xa tới, chi bằng mời ngươi ba chiêu trước!” Trâu Tích Cửu lại nói hai câu khách sáo, tay trái lật ra ngoài, quyền phải đấm vù ra, Thượng Thiếu Đình đẩy xong chưởng, phá chiêu số của chàng ta. Trâu Tích Cửu thầm nhủ: “Té ra y cũng học võ công của phái Thái Cực”. Rồi đứng vững mã bộ, hai quyền tấn công. Công phu hạ bàn của Trâu Tích Cửu rất vững chắc, Thượng Thiếu Đình không thể mượn lực đánh lực để đẩy chàng ta ngã ngựa, đấu được khoảng hơn hai mươi hiệp, hai bên chẳng kiếm được phần hơn, Trâu Tích Cửu quyền nào cũng có lực, Đường Hiểu Lan toàn thần để ý xem, bất giác khen: “Ngũ Hành quyền của y đã có tiến bộ!” Lữ Tứ Nương ngồi bên cạnh hỏi: “Ngươi quen biết hắn?” Đường Hiểu Lan khẽ gật đầu, nhìn không chớp mắt, trong lòng thầm mong Trâu Tích Cửu đắc thắng.

Đánh một hồi, Trâu Tích Cửu hơi chiếm được thượng phong, nhưng không trầm ổn như trước nữa, quyền chiêu của Ngũ Hành quyền vốn lợi ở chỗ tấn công, phải phát chiêu trước mới có lợi. Trâu Tích Cửu chiếm được thượng phong, cảm thấy kẻ này chẳng qua chỉ có thế, thế là liền lách người tiến bước, từ thế Đăng sơn khoa hổ biến thành Trừu lương hoán trụ, chưởng trái hộ trước ngực, chưởng phải đánh vào ngực của kẻ địch. Thượng Thiếu Đình hơi lách người, đột nhiên đổi thành hầu quyền, lao bổ tới phía trước, vung tay chụp vào hai mắt của Trâu Tích Cửu, cú biến chiêu ấy khiến cho Trâu Tích Cửu bất ngờ, vội vàng thâu chiêu đã tấn công, chưởng trái hộ ở trước ngực lật úp xuống rồi gạt lên, nào ngờ Thượng Thiếu Đình hóa trảo thành chưởng, đột nhiên chụp vào cổ tay của Trâu Tích Cửu, chiêu này lại là Cầm Nã thủ, Trâu Tích Cửu rùng vai thối lui, nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, tay phải của Thượng Thiếu Đình đánh ra một quyền nhanh như lửa xẹt, Trâu Tích Cửu né không kịp, chỉ đành hích vai lên, chỉ nghe bin một tiếng, Trâu Tích Cửu chịu một quyền thối lui mấy bước, may mà vẫn chưa ngã xuống, người trong Thiết Phiến bang cười ầm lên!

Trâu Tích Cửu rèn luyện mấy năm, tuy đã trầm tĩnh hơn lúc trước nhiều nhưng giờ đây đã mất mặt, chẳng còn kìm nén được nữa, chàng ta tung mình phóng vọt lên, quyền đánh ra như gió, tấn công gấp gáp về phía Thượng Thiếu Đình.

Lúc này Thượng Thiếu Đình đã quen với đường quyền của Trâu Tích Cửu, y từ nhỏ đi theo phụ thân bôn tẩu trên giang hồ, thường tỉ quyền đấu kiếm với cao thủ các bang các phái, bởi vậy kinh nghiệm nhiều hơn Trâu Tích Cửu, lại thêm y học được nhiều món, không câu nệ bởi một loại võ công nào, Trâu Tích Cửu tấn công mạnh mẽ chính là hợp với ý của y, chỉ thấy y ung dung lướt qua lạch lại trong quyền phong của Trâu Tích Cửu, nhìn bề ngoài tựa như y bị Trâu Tích Cửu đánh thối lui, nhưng thực ra y đang chế địch chiếm tiên, chỉ đợi Trâu Tích Cửu đánh quyền chậm lại thì sẽ lập tức tung đòn sát thủ!

Trâu Minh Cao thấy thề thầm than, mắng con trai mình đã theo mình nhiều năm mà vẫn lỗ mãng như thế. Ông ta đã nói trước nhiều lần: “Thắng đừng kiêu, bại đừng loạn”. Thế nhưng Trâu Tích Cửu lại trước kiêu sau loạn, nếu cứ như thế chắc chắn sẽ bại.

Trâu Minh Cao vừa mắng vừa lo, xem ra Thượng Thiếu Đình chắc chắn nhân cơ hội này tung đòn sát thủ. Nhưng Trâu Minh Cao chỉ có thể lo suông, với thân phận và uy vọng của ông ta trên giang hồ, không thể nào giúp cho con mình, cả lên tiếng ngăn lại cũng không thể. Đang lúc lo lắng, chợt thấy Trâu Tích Cửu dùng chiêu Xung Vân Phách Vụ trong Ngũ Hành quyền, hai quyền đấm thẳng ra, tấn công vào hạ bàn của kẻ địch, Thượng Thiếu Đình cười lạnh một tiếng, chưởng phải vung ra chụp lại, tay trái đấm táng ngang vào huyệt Thái Dương của đối phương, nếu bị y đấm trúng, Trâu Tích Cửu sẽ nguy mất!

Trâu Minh Cao kêu hoảng một tiếng, không màng đến thân phận nữa, tung mình toan vọt ra, đột nhiên có người đè vào vai, bên tai nghe có người quát: “Ngươi làm gì thế?” người đè vai của ông ta chính là Lăng Vân đảo chủ Vệ Dương Oai. Trâu Minh Cao lòng lo như lửa đốt, nhún vai định nhảy vọt lên, trong khoảnh khắc ấy, chợt nghe Thượng Phúc Sơ quát lên một tiếng, một bóng đen lướt ra giữa sân nhanh như tên bắn, Thượng Thiếu Đình và Trâu Tích Cửu chợt tách sang hai bên, Vệ Dương Oai cũng buông tay ra, Trâu Minh Cao và Thượng Phúc Sơ nhảy vọt ra, chỉ thấy giữa sân có một chàng thiếu niên anh tuấn, ôm quyền cười hì hì nói: “Hai hổ đấu nhau tất sẽ có một bị thương, vãn bối mạo muội hòa giải cho hai người, mong hai vị lão tiền bối thứ lỗi”.

Cha con Trâu Minh Cao đã cách biệt Đường Hiểu Lan nhiều năm, lại thêm lúc này chàng đã thay đổi dung mạo, không nhận ra được. Trâu Tích Cửu rất cảm kích, Thượng Thiếu Đình tuy tức giận nhưng lúc nãy y bị Đường Hiểu Lan lôi ra, biết người này võ công trên mình, không dám bước tới làm khó, chỉ đứng một bên nói: “Ngươi có hiểu quy củ giang hồ không? Rõ ràng ngươi đã thấy ta thắng mà cứ xen vào, đây gọi là giúp đỡ chứ đâu phải hòa giải?”

Cam Phụng Trì thấy Đường Hiểu Lan đột nhiên ra tay cũng rất ngạc nhiên, thầm nhủ: “Hỏng bét!” quả nhiên người của Thiết Phiến bang quát mắng inh ỏi, Thượng Phúc Sơ cười lạnh: “Trâu lão anh hùng giao thiệp thật rộng, đã mời được người giúp đỡ. Có điều không chịu nói trước lại âm thầm ra tay, chỉ e không phải là hành vi của anh hùng. Nào, vị tiểu ca đã giúp cho Trâu lão anh hùng, vậy xin hãy tiếp trận này!”

Lời lẽ của Thượng Phúc Sơ rất già dặn, ý như muốn chê bai Trâu Minh Cao, lại trực tiếp khiêu chiến với Đường Hiểu Lan. Lúc này ánh mắt tất cả mọi người đều nhìn về phía Đường Hiểu Lan, Lữ Tứ Nương và Cam Phụng Trì đều thầm lo!

Trâu Minh Cao mặt tái xanh, chòm râu rung rung, ông ta là anh hùng đã có tiếng tăm, làm sao có thể chịu nỗi những lời chê bai của Thượng Phúc Sơ, thấy Thượng Phúc Sơ đang bước sấn tới, sắp giao thủ với Đường Hiểu Lan, Trâu Minh Cao quát lớn: “Thong thả!” rồi phóng tới chặn trước mặt Đường Hiểu Lan, cao giọng nói: “Ta có lời muốn nói!”

Thượng Phúc Sơ thấy đã chiếm được thượng phong về mặt đạo lý, chỉ cười nham hiểm nói: “Trâu anh hùng có điều gì dạy bảo?” Trâu Minh Cao sang sảng nói: “Chúng ta đã hẹn tỉ võ ba trận, trận thứ nhất quý bang đã nhường, trận thứ hai tuy chưa phân thắng bại nhưng Thiếu bang chủ đã chiếm được thượng phong, chúng tôi nhận thua, còn vị thiếu niên anh hùng này chẳng hề quen biết với tôi, y có lòng tốt hòa giải, tôi xin bái tạ. Tôi cũng không dám nhờ y ra mặt hộ, chúng ta cứ làm theo quy củ. Trận thứ ba này do tôi lãnh giáo cao chiêu của Thượng bang chủ. Bang chủ là nhân vật tiếng tăm lừng lẫy ở miền Giang Nam, nếu thua trong tay Bang chủ tôi cũng bại mà vinh. Chẳng may bộ xương già này vẫn còn chịu nổi, hoặc Thượng bang chủ nhường cho đôi ba chiêu, vậy tôi xin nhận đại ân của Bang chủ, tệ hữu cũng tránh khỏi họa tán gia bại sản”.

Những câu ấy của Trâu Minh Cao rất sắc bén, trước tiên nhận Trâu Tích Cửu đã thua trận này, sau đó vẫn đòi tỉ thí võ công để đòi tiêu, đồng thời chỉ ra khí độ hẹp hòi của Thượng Phúc Sơ. Đầu lĩnh các bang đều xì xầm bàn tán, cảm thấy Thượng Phúc Sơ muốn trả thù một thiếu niên hậu bối đã mất thân phận; vả lại vì năm vạn lượng bạc mà khiến cho người ta tán gia bại sản thật không nên. Bởi vậy sau khi Trâu Minh Cao nói xong, không ai đứng về phía Thượng Phúc Sơ, trái lại có rất nhiều người khen rằng: “Đúng là gừng càng già càng cay, lời lẽ của Tháp Dực Thần Sư vốn đã xoay chuyển được cục diện”.

Thượng Phúc Sơ biến sắc, phẫy tay nói: “Phùng thiếu hiệp hãy lui xuống, Trâu lão anh hùng, chúng ta tỉ thí bằng quyền cước hay binh khí?” Trâu Minh Cao phẫy tay, Đường Hiểu Lan và Trâu Tích Cửu cũng nhất tề lui xuống, Trâu Minh Cao đứng thủ thế, nói: “Dù quyền pháp hay binh đao, tôi cũng chìu theo”.

Thượng Phúc Sơ cả giận, phất ống tay áo chẳng thèm động thủ, chợt bên ngoài có người chạy vào, đó chính là tên hương chủ tri khách, tay cầm một cái tráp màu đỏ, cao giọng nói: “Bang chủ, Thiết chưởng thần đạn Dương Trọng Anh và Quan Đông tứ hiệp đến gặp!”

Thượng Phúc Sơ và Trâu Minh Cao đều thất kinh, Thượng Phúc Sơ nhảy phắt ra, vén ống tay áo cung tay nói với Trâu Minh Cao: “Chúng ta hãy tạm dừng!” rồi đích thân dẫn vài đầu mục trong bang bước ra nghênh tiếp.

Trâu Minh Cao giật mình, ông ta không ngờ gặp lại Dương Trọng Anh ở đây. Ông ta cũng không biết nên nói với Dương Trọng Anh những lời gì? Đường Hiểu Lan càng hoảng lên, Cam Phụng Trì mỉm cười, nắm tay chàng nói: “Đường huynh không cần lo lắng, lát nữa chỉ cần ngươi đường lên tiếng, cứ để cho ta gỡ mối gút cho ngươi”. Khi chàng ta đang nói, Dương Trọng Anh và Quan Đông tứ hiệp đã bước vào!

Dương Trọng Anh đảo mắt liếc nhìn cha con Trâu Minh Cao, bước tới ôm quyền nói: “Trâu đại ca, vẫn mạnh giỏi chứ?” Trâu Minh Cao hừ một tiếng, lạnh nhạt nói: “Vẫn mạnh giỏi!” Dương Trọng Anh chợt quay đầu lại, nói với Thượng Phúc Sơ: “Thượng bang chủ, hôm nay quý bang lập lại hương đường, Dương mỗ này đến đây chúc mừng, đồng thời cũng có việc nhờ vả”. Thượng Phúc Sơ nói: “Dương lão anh hùng có việc gì, xin hãy nói ra!” Dương Trọng Anh lớn giọng nói: “Nhờ Bang chủ cho mượn năm vạn lượng bạc!”

Thượng Phúc Sơ biến sắc, thế rồi ôm quyền nói: “Nếu Dương lão anh hùng thiếu bạc sử dụng xin cứ lấy, nhưng muốn biết tại sao nhất định phải là năm vạn?” Dương Trọng Anh nói: “Tôi có một người bằng hữu là sinh tử tri giao, con trai của ông ta cũng là cháu của tôi. Cháu của tôi áp tiêu cho người ta, mất năm vạn lượng bạc, họ phiêu bạt giang hồ, không phải là người giàu có hàng trăm vạn như Trang chủ. Họ không bồi thường nổi số bạc này, kẻ làm thúc phụ như tôi làm sao không thể lên tiếng hộ cho hắn?”

Thượng Phúc Sơ nói: “Ồ, thế ra ông đến đây là đòi tiêu ngân cho Tháp Dực Thần Sư?” Dương Trọng Anh nói: “Đúng thế, tôi và Quan Đông tứ hiệp mong ngài nể mặt cho!”Dương Trọng Anh có đức cao vọng trọng trong võ lâm, Quan Đông tứ hiệp là anh hùng lừng lẫy trên giang hồ. Thượng Phúc Sơ nhìn sang bên mình, mình có võ công cao nhất là Hàn Trọng Sơn vẫn chưa quay về, mình và Mạnh Võ Công cùng Vệ Dương Oai e rằng không phải là đối thủ của họ, trong lòng tuy tức giận nhưng cũng đành cố nặn một nụ cười, ôm quyền nói: “Chỉ một chuyện nhỏ này mà khiến năm vị từ xa đến đây, tại hạ thật ái ngại, nếu Dương lão anh hùng và Quan Đông tứ hiệp đã ra mặt, đừng nói là năm vạn lượng bạc, dù nhiều hơn tiểu đệ cũng dâng lên”. Nói xong, một mặt sai người lấy ngân phiếu, một mặt cho người bày thêm một bàn rượu, mời Dương Trọng Anh và Quan Đông tứ hiệp thượng tọa, lại đến trước mặt Trâu Minh Cao và Lăng Nhạc bồi lễ, mời họ ngồi cùng Dương Trọng Anh. Trâu Minh Cao đã thấy võ công của Thượng Thiếu Đình, rõ ràng Thượng Phúc Sơ ắt hẳn còn cao hơn, nếu tỉ thí thì mình cũng nắm phần thắng. Dương Trọng Anh đã giúp ông ta giải mối nguy, trong lòng rất cảm kích, nhưng vì có xích mích lúc trước, trong nhất thời lại không nói ra lời. Huyền Phong và Trâu Minh Cao cũng quen biết nhau, mỉm cười nói: “Dương đại ca nghe chuyện của Trâu lão anh hùng, trong lòng cũng nôn nóng, thúc giục huynh đệ chúng tôi gấp đường đến đây, may mà kịp lúc!” Trâu Minh Cao thầm nhủ té ra ông ta đến đây chỉ là vì mình. Dương Trọng Anh rót rượu, nói với Trâu Minh Cao: “Chuyện năm ấy, tiểu đệ rất ái ngại”. Trâu Minh Cao bưng chén rượu, uống cạn rồi cười lớn: “Qua hoạn nạn mới thấy giao tình, chuyện của con cái xin đừng nhắc đến nữa”.

Phía Dương Trọng Anh cười nói hớn hở, còn Thượng Phúc Sơ tiu nghỉu, bởi vậy mới tìm cách hạ Đường Hiểu Lan, y lớn giọng nói: “Hôm nay tệ bang lập lại hương đường, các vị anh hùng không hẹn mà đến, thật sự khiến chúng tôi vinh hạnh thêm rất nhiều, lúc nãy Phùng huynh đã lộ công phu, chúng tôi rất khâm phục. Đáng tiếc chỉ mới đôi chiêu ba thức, bởi vậy muốn mời Phùng huynh tiếp tục ra tay để chúng tôi mở rộng tầm mắt”.

Đường Hiểu Lan không biết đáp thế nào, Vệ Dương Oai là kẻ khôn khéo, nhìn thấy bộ dạng của Đường Hiểu Lan, nghe giọng nói của chàng, tựa như đã từng gặp qua ở đâu đó. Y đứng dậy nói: “Chi bằng tôi đọ vài chiêu với Phùng anh hùng để trợ hứng cho các vị”. Đường Hiểu Lan lo âu, trong nhất thời ánh mắt của mọi người đều tập trung về phía chàng.

Huyền Phong đạo trưởng già dặn giang hồ, những người ông ta đã thấy mặt, dẫu mười năm sau ông ta vẫn có thể gọi tên. Nhìn một hồi, chợt nói với Dương Trọng Anh: “Lão huynh xem thử kẻ này có giống Đường Hiểu Lan không?” Dương Trọng Anh đã nghi ngờ, nói: “Đúng là có hơi giống”. Trần Nguyên Bá nói: “Nhưng diện mạo thì không phải!” Trâu Minh Cao vội vàng kể lại chuyện Đường Hiểu Lan đã giúp mình. Ông ta vốn muốn giới thiệu cho Huyền Phong đạo trưởng, nào ngờ Huyền Phong đạo trưởng lại điểm cây gậy xuống đất, phóng vọt ra ngoài!

Vệ Dương Oai đang khiêu chiến, chợt thấy Huyền Phong nhảy tót ra, không biết ý ông ta thế nào, y mới chưng hửng, chỉ nghe Huyền Phong quát: “Lão đạo này thích nhất là những trò vui, vị anh hùng này đã mang theo bảo kiếm, chắc chắn là đệ tử của danh gia kiếm thuật, lão đạo muốn tỉ thì kiếm pháp với y”. Thượng Phúc Sơ vừa kinh vừa mừng. Loạn phi kiếm pháp của Huyền Phong đạo trưởng vang danh khắp nơi, không ngờ ông ta lại ra giúp mình tỉ thí với chàng thiếu niên này.

Cam Phụng Trì đẩy Đường Hiểu Lan ra, nói: “Bề trên đã có lệnh, kẻ dưới không nên từ chối, đệ hãy ra tiếp vị đạo trưởng nọ!” Đường Hiểu Lan thấy Cam Phụng Trì đã nói thế, chỉ đành đánh liều bước ra, Huyền Phong đạo trưởng lập tức quét gậy trên tay trái ra, trường kiếm trên tay phải từ dưới gậy đâm xuyên ra, kiếm pháp của Huyền Phong đạo trưởng như gió lốc mưa sa, hiểm hóc vô cùng, Đường Hiểu Lan tránh được hai chiêu, suýt nữa đã bị kiếm đâm trúng, chẳng còn tránh được nữa, chỉ đành rút cây Du Long kiếm ra, nhất thời hàn quang loang loáng, Huyền Phong đạo trưởng kêu lớn: “Tên phản đồ nhà ngươi còn chưa mau buông kiếm chịu trói!” rồi đâm soạt soạt hai kiếm vào các yếu huyệt trên mình Đường Hiểu Lan, cây gậy trên tay trái lại quét xuống, Đường Hiểu Lan buộc phải ngưng thần đối phó, không thể nào phân tâm nói chuyện được.

Cha con Trâu Minh Cao rất kinh hãi, Trâu Minh Cao kéo tay áo Dương Trọng Anh, vội nói: “Đại ca, vị thiếu niên anh hùng này đã cứu tiểu nhi, xem ra không phải xấu, có lời gì hãy từ từ nói, ông hãy ra bảo Huyền Phong đạo huynh ngừng lại!” Dương Trọng Anh lạnh lùng giật tay áo ra, nói: “Hắn phản bội sư môn, quy thuận Mãn Thanh, tội đáng muôn chết!” rồi đứng dậy nói: “Huyền Phong đạo huynh, hãy giúp tôi bắt tên nghiệt đồ, đừng giết chết y!” vốn là Dương Trọng Anh cũng muốn phóng ra nhưng đã có Huyền Phong ra tay, ông ta là kẻ bề trên nên không tiện xen vào. Trâu Minh Cao thấy ông ta mắng “nghiệt đồ”, ngạc nhiên hỏi: “Người này là ai?” Dương Trọng Anh nói: “Là Đường Hiểu Lan, năm xưa đã từng giao thủ với Tích Cửu”. Trâu Tích Cửu trừng mắt, tấn công cũng bất ngờ. Trâu Tích Cửu lòng dạ hẹp hòi, nhưng ân oán cũng phân minh, lúc nãy Đường Hiểu Lan vừa mới cứu mình đã có ơn với mình, muốn nói tốt cho chàng ta, nhưng thấy Dương Trọng Anh nghiêm nghị, làm sao dám lên tiếng, chỉ đành thở dài nói: “Chao ôi, không ngờ y lại như thế!”

Huyền Phong đạo trưởng đánh chiêu nào cũng lợi hại, Đường Hiểu Lan buộc phải dùng Thiên Sơn kiếm pháp, ánh ngân quang tỏa ra xung quanh, lúc như sóng dữ vỗ bờ, lúc như cầu vồng bắc ngang trời, chàng chỉ muốn phòng vệ chứ chẳng tấn công, phép đánh gậy và kiếm của Huyền Phong tuy rất ghê gớm nhưng chẳng hạ được chàng, giận đến nỗi mắng: “Phái Thiên Sơn đời đời đều có anh hùng, ngươi học được Thiên Sơn kiếm pháp mà làm nô tài cho bọn Mãn Thanh, đúng là ô nhục tiền nhân!” ông ta nói chưa xong, người của Thiết Phiến bang đã kêu ầm lên, Thượng Phúc Sơ múa quạt nhảy vọt ra, chặn cây quạt vào giữa hai người, lửa bắn tung tóe, Đường Hiểu Lan thừa thế nhảy lui hai bước. Thượng Phúc Sơ nói: “Huyền Phong đạo huynh, người này là kẻ thù của tệ bang, xin hãy nhường hắn cho tôi!” Huyền Phong nói: “Cái gì? Phải nhường cho ngươi?”

Thượng Phúc Sơ nói: “Ông là khách từ xa tới, dù có thâm thù đại hận với y cũng phải nhường cho chúng tôi!” lúc này Mạnh Võ Công, Vệ Dương Oai và người trong Thiết Phiến bang đã nhảy vọt ra, đứng thành một vòng vây, Huyền Phong đạo trưởng trừng mắt không chịu lui xuống. Thượng Phúc Sơ nói: “Tôi sẽ bắt tên này giao cho ông xử trí!” Huyền Phong thấy thế, tra kiếm vào bao nói: “Được, tên này tinh thông Thiên Sơn kiếm pháp, ông cẩn thận đấy!”

Thượng Phúc Sơ phẫy cây quạt sắt, Đường Hiểu Lan nói: “Tôi và Bang chủ xưa nay chẳng quen biết nhau, cũng chẳng qua lại với quý bang, sao lại kết thù?” Thượng Phúc Sơ nói: “Ngươi tuy là hậu sinh tiểu bối nhưng đã là môn hạ của phái Thiên Sơn, chả lẽ không biết gì về chuyện trước đây? Năm mươi năm trước tổ phụ của chúng ta đã bị Thiên Sơn thất kiếm hãm hại, không ngờ hôm nay tế tổ khai bang, tổ sư gia quả nhiên hiển linh, ma xui quỷ khiến ngươi đến đây, hừ! Quả tiền nhân trồng hậu nhân thu, tiền nhân có nợ máu hậu nhân phải trả, ngươi còn muốn chối tội?” bang chúng đều reo hò ầm ĩ trợ oai. Xem ra sắp phải động thủ, Cam Phụng Trì chợt nhảy vọt ra, quát lớn rằng: “Trả thù cũng không thể trả như thế, các ngươi muốn quần đả?”

Cam Phụng Trì mặt mũi vàng ệch, trông rất kinh tởm, tiếng quát ấy to như sấm, khiến lỗ tai ai nấy đều kêu lên ong ong. Người trong Thiết Phiến bang bất giác kinh hãi chùn bước. Thượng Phúc Sơ hừ một tiếng nói: “Ta quên còn có hai cao nhân ở đây, nếu hai vị đã đi cùng y, có phải là muốn gánh tội cùng y hay không?” Cam Phụng Trì nói: “Ta không phải là môn hạ của Thiên Sơn, ai rảnh lo chuyện bao đồng của nhà ngươi, nhưng trên giang hồ báo thù cũng phải có quy củ, ta không quen thấy những bọn ỷ nhiều hiếp ít!” Thượng Phúc Sơ đỏ mặt tía tai, vốn là y lấy thân phận của một Bang chủ, khiêu chiến một kẻ hậu sinh tiểu bối đã là mấy danh dự, huống chi Cam Phụng Trì lại bảo y quần đã mới cãi rằng: “Sao ngươi không mở to mắt mà xem, ai quần đả. Bang chúng của tệ bang nhất thời kích động, muốn xem rõ mặt của kẻ thù, có chỗ nào trái với quy củ? Y là môn nhân của Thiên Sơn thất kiếm, ta là hậu duệ của tổ sư Thiết Phiến bang, hôm nay ta và y sẽ kết liễu mối thù. Thiết Phiến bang của ta không cần lấy đông thắng ít, nếu hai vị muốn giúp, ta cũng có người chìu theo”. Lẽ ra Thượng Phúc Sơ phải gọi con trai của y động thủ với Đường Hiểu Lan mới hợp thân phận. Nhưng y đã biết kiếm pháp của Đường Hiểu Lan, biết rằng con trai của mình chẳng phải là địch thủ của chàng nên mới làm mặt dày bước ra khiêu chiến. Cam Phụng Trì cười ha hả: “Vốn là trả thù ở kẻ hậu bối là điều tệ hại trong bang hội, hôm nay điều tệ hại này cũng dần dần biến mất. Ông là chủ của một bang, nếu hành sự như thế vốn là đã khiến cho người ta không phục. Nhưng ông đã muốn như thế, có điều chúng ta phải nói rõ trước, nếu ông thua thì sao?” Thượng Phúc Sơ nói: “Thiết Phiến bang không làm khó y nữa! Còn nếu tôi thắng?” Cam Phụng Trì nói: “Cứ mặc cho ông xử trí!” Huyền Phong kêu lớn: “Người này là phản đồ của Thiết chưởng thần đạn, việc thắng thua của Thiết Phiến bang bọn ta không quản!” Cam Phụng Trì mỉm cười, cung tay nói với Huyền Phong: “Điều đó đương nhiên”. Thượng Phúc Sơ lại vẫy cây quạt, bang chúng đều lui xuống, Mạnh Võ Công và Vệ Dương Oai nhích đến gần Cam Phụng Trì, Cam Phụng Trì thần sắc vẫn tự nhiên, bưng chén rượu uống cạn!

Huyền Phong đạo trưởng và Dương Trọng Anh đều lấy làm lạ, trông bộ dạng của Cam Phụng Trì chỉ tầm thường nhưng lời lẽ lại lợi hại đến thế! Vả lại nghe khẩu khí của chàng ta, có lẽ thân phận không phải tầm thường. Tứ hiệp và Dương Trọng Anh chưa bao giờ gặp mặt Cam Phụng Trì, không ai đoán được là chàng. Mọi người đều ngầm suy đoán, Dương Trọng Anh nói: “Chả trách nào Đường Hiểu Lan dám làm phản, té ra phía sau có người chống lưng”. Huyền Phong nhíu mày nói: “Người này xem ra hiểu rõ đạo lý trên giang hồ, chắc là cùng phe với chúng ta”. Dương Trọng Anh cũng cau mày nói: “Nếu là cao nhân làm sao có thể giúp cho tên nghiệt đồ này”. Khi họ đang nói thì hai người Đường, Thượng đã ra tay.

Thượng Phúc Sơ biết kiếm pháp Thiên Sơn lợi hại, nhưng thấy Đường Hiểu Lan tuổi còn trẻ, liệu rằng công lực của chàng không cao, hỏa hầu chưa đủ, vừa ra tay đã dùng cả hư lẫn thực, y điểm cây quạt vào mặt của Đường Hiểu Lan, rồi đột nhiên xỉa xéo qua nhanh như điện chớp lửa xẹt, đánh vào huyệt Kiên Tỉnh bên vai phải của chàng. Đường Hiểu Lan tạt xéo thanh kiếm, ánh hàn quang loang loáng vạch nửa hình vòng cung, giữ chặt toàn bộ phận trung bàn, lưỡi kiếm chém ngược lại, đây chính là thức khởi thủ trong Thiên Sơn kiếm tên gọi Vân Tỏa Thiên Sơn, trong chớp mắt chàng đã biến hóa thành chiêu thứ hai Tị Vân Vọng Nguyệt, cây Du Long kiếm quét ngang, thừa thế từ dưới bật lên, đâm vào mặt của kẻ địch. Thượng Phúc Sơ thấy kiếm pháp của chàng quả nhiên lợi hại đến thế, vội vàng thụp người xuống, cây quạt mở ra sử dụng như Ngũ Hành kiếm, đánh ra một chiêu Bình Sa Lạc Nhạn chém vào cổ tay của chàng. Chiêu này dùng rất già dặn, Đường Hiểu Lan vội vàng xoay mũi kiếm gạt ra ngoài. Nếu trúng chiêu này, Đường Hiểu Lan chắc chắn sẽ bị thương, nhưng Thượng Phúc Sơ sợ cây Du Long kiếm của chàng chém sắt như bùn, không dám đẩy ra hết thế, vì thế Đường Hiểu Lan gạt kiếm ra ngoài, cây quạt của y cũng rút về phía sau, hai người đều chẳng hề gì. Đường Hiểu Lan múa kiếm xông lên, lại đánh ra tuyệt chiêu Lý Quảng Xạ Thạch trong Truy Phong kiếm pháp, lưỡi kiếm đâm vào mạch môn của kẻ địch, Thượng Phúc Sơ điểm cây quạt một cái, cây quạt chạm nhẹ vào thân kiếm, mũi kiếm của Đường Hiểu Lan đã lệch qua, Thượng Phúc Sơ lại phóng vọt người lên, đợi Đường Hiểu Lan đuổi theo y đã bay là là xuống đất.

Hai người càng đấu càng kịch liệt, đôi bên đều gặp nguy hiểm. Đường Hiểu Lan thắng ở chỗ kiếm pháp tinh kỳ, trong tay lại cầm bảo kiếm; Thượng Phúc Sơ thắng ở chỗ công lực hơi cao hơn, kinh nghiệm phong phú. Hai người đấu hơn một trăm chiêu, Thượng Phúc Sơ sử dụng cây quạt như ngũ hành kiếm, lúc điểm lúc đâm, biến hóa đa đoan, hư thực đều dùng. Đường Hiểu Lan không màng đến những hư chiêu của y, chỉ triển khai Thiên Sơn kiếm pháp trong Thiên Sơn kiếm pháp để phòng thân, đôi lúc lại dùng những tuyệt chiêu trong Truy Phong kiếm pháp để phản đòn. Thượng Phúc Sơ tuy già dặn nhưng kiếm pháp của Đường Hiểu Lan quá kín kẽ, chỉ đành buộc phải du đấu với chàng. Bang chúng của Thiết Phiến bang đều kinh hãi trố mắt, không ngờ một tên tiểu tử hậu sinh mà có thể đánh đến thắng bại khó phân đối với Bang chủ mà chúng coi như thần tiên.

Lữ Tứ Nương toàn thần quan chiến, so sánh tỉ mỉ Thiên Sơn kiếm pháp và Huyền Nữ kiếm pháp, cảm thấy Huyền Nữ kiếm pháp của mình tuy ảo diệu tinh kỳ nhưng nếu luận về trầm hùng mạnh mẽ, lại không bằng Thiên Sơn kiếm pháp. Nàng nhìn một hồi dần dần hiểu ra kiếm lý, Thiên Sơn kiếm pháp thắng ở chữ “bát” (rộng lớn), Huyền Nữ kiếm pháp thắng ở chữ “chuyên” (chuyên nhất), Đường Hiểu Lan bát chứ không chuyên, còn mình là chuyên chứ không bát. Trong lòng chợt nổi lên một ý nghĩ khác, nàng muốn dung hợp Thiên Sơn kiếm pháp và Huyền Nữ kiếm pháp nhưng nghĩ: “Dịch Lan Châu không thể thu mình làm học trò, Đường Hiểu Lan lại chưa đủ tinh thuần, trau dồi với y cũng chẳng ngộ được tinh túy của Thiên Sơn kiếm pháp. Vả lại mình có quốc thù gia hận, lấy đâu ra công phu mấy mươi năm để chuyên tâm tu luyện, nghĩ đến đây không khỏi cười khổ. Cam Phụng Trì nói: “Bát muội, võ học tinh thâm như biển lớn. Trước khi gặp Hiểu Lan, huynh thấy y công lực không cao, tưởng rằng y chỉ là hạng tầm thường. Không ngờ y có thể dùng kiếm pháp để bù vào chỗ công lực không đủ, có thể thấy đạo võ học dù bắt tay từ phía nào, chỉ cần có thể chăm chỉ rèn luyện thì sẽ có hy vọng”. Lữ Tứ Nương nói: “Lẽ văn võ tương thông, học võ cũng như học văn, người chăm chỉ còn hơn cả những kẻ chỉ nói mồm”. Cam Phụng Trì nghe xong thì mỉm cười.

Té ra trong phái Mang Sơn, ngoại trừ Liễu Ân hòa thượng, Cam Phụng Trì có căn cơ vững nhất, nhưng nếu luận về kiếm pháp và khinh công, Lữ Tứ Nương lại giỏi nhất. Cam Phụng Trì biết sư muội nói lời này là khen mình, nên mỉm cười nói: “Nếu học được nhiều mà không có diệu bút viết ra, vậy sức học ấy cũng chẳng thể nào biểu hiện được”. Lữ Tứ Nương cười nói: “Sư huynh nói rất phải, sư huynh học được quyền của sư phụ, muội học được kiếm của sư phụ, chúng ta trau dồi bù đắp cho nhau”.
Lúc này Đường Hiểu Lan và Thượng Phúc Sơ vẫn ác đấu đến khó phân thắng bại, Đường Hiểu Lan điểm mũi kiếm ra đều bị Thượng Phúc Sơ dùng quạt đánh lệch hướng, nhưng Thượng Phúc Sơ chỉ có thể nhờ vào công lực để giải nguy, không thể đánh vào được. Lữ Tứ Nương nói: “Công lực của người này không kém ngũ sư huynh”. Cam Phụng Trì nói: “Nếu gặp phải chúng ta, y có thể địch được năm bảy mươi chiêu”. Hai người bàn luận võ công tựa như chẳng có ai bên cạnh, khiến Vệ Dương Oai và Mạnh Võ Công đều thầm lo lắng. Vệ Dương Oai đã từng ác đấu với Lữ Tứ Nương trên đảo Điền Hoành, y nhìn một hồi, cảm thấy hình như mình đã gặp chàng thiếu niên này ở đâu đấy, đột nhiên nhớ đến Lữ Tứ Nương, không khỏi cả kinh nhưng nghĩ dù Lữ Tứ Nương có thể cải năm trang, nhưng cũng không có lẽ nào trẻ trung như thế, trông chàng thiếu niên này chỉ khoảng đôi mươi, nhưng khẩu khí lại lớn đến thế, dù y là đại hành gia trên giang hồ cũng không khỏi hoài nghi bất định.

Lúc này cuộc đấu trong trường càng gấp hơn, Huyền Phong đạo trưởng đã đứng dậy, chực đưa mắt nhìn ra ngoài, sắc mặt đổi khác, Cam Phụng Trì vội nhìn ra theo ánh mắt của Huyền Phong, chàng mới thấy bất ngờ, té ra Hàn Trọng Sơn và Đổng Cự Xuyên đang lôi một người bước vào, người này chẳng phải ai khác, chính là đệ tử thứ năm của Độc tý thần ni, Bạch Thái Quan!

Hàn Trọng Sơn và Đổng Cự Xuyên vâng lệnh Tứ bối lạc, đến tham gia đại điển khai bang của Thiết Phiến bang, Hàn Trọng Sơn có việc khác nên đêm ấy ra khỏi nhà họ Thượng, hôm nay mới trở về; Đổng Cự Xuyên đến phủ Lý Vệ làm khách, gặp Hàn Trọng Sơn rồi mới đến đây. Hai người vừa vào núi, chợt gặp Bạch Thái Quan đi một mình, cả hai đều có võ công cao hơn chàng ta, lại hợp lực tấn công, chỉ trong khoảnh khắc đã bắt được Bạch Thái Quan. Song bọn chúng biết Bạch Thái Quan là nữ tế của Ngư Xác, tuy việc hôn sự có thay đổi nhưng không biết rốt cuộc như thế nào; lại thêm Bạch Thái Quan là sư đệ của Liễu Ân, tuy sư huynh đệ của họ cũng bất hòa nhưng hai người Hàn, Đổng vì hai việc này, rốt cuộc không dám làm khó Bạch Thái Quan, chỉ dùng thủ pháp Cầm Nã điểm mạch môn của chàng, kéo vào trong trang.

Hai người vào trang chỉ thấy có người đứng lố nhố, hỏi ra mới biết Bang chủ đang tỉ thí với người ta, bởi vậy không khỏi ngạc nhiên, vội vàng vẹt bang chúng bước vào. Quan Đông tứ hiệp và Dương Trọng Anh đã từng ác đấu với Hàn Trọng Sơn ở phủ Tứ bối lạc, lúc này thấy y thì lửa giận bốc cao. Huyền Phong nói: “Thiết Phiến bang chắc chắn có liên quan đến Dận Trinh, chúng ta hôm nay phải mở rộng sát giới”. Dương Trọng Anh nói: “Các vị đối phó hai tên ma đầu để tôi đi bắt kẻ phản đồ!”

Hàn Trọng Sơn bước tới gần đấu trường, lớn giọng kêu: “Tại sao Thượng bang chủ lại tỉ thí với hạng tiểu bối?” y chưa nói xong, Quan Đông tứ hiệp đã lướt qua đầu các bang chúng! Hàn Trọng Sơn cả kinh, ở bàn tiệc gần đấy cũng có một bóng người phóng vọt lên!

Người phóng vọt lên chính là Lữ Tứ Nương. Vệ Dương Oai quát: “Các người làm trò gì thế?” nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Cam Phụng Trì đã vỗ vù tới một chưởng! Vệ Dương Oai gạt hai tay, bị chàng ta đẩy lui đến hai bước, Lữ Tứ Nương đã bay ra khỏi làn chưởng phong nhân ảnh như một con chim nhạn!

Quan Đông tứ hiệp phóng ra trước nhưng Lữ Tứ Nương càng nhanh hơn, từ trên không trung nàng đã vung cây kiếm múa ra một đóa kiếm hoa, đánh ra một chiêu Bạch Viên Kích Chi đâm xuống đầu Hàn Trọng Sơn, Hàn Trọng Sơn là sư huynh của Thiên Diệp Tản Nhân, võ công cực kỳ cao cường, thế là vội vàng buông tay, từ dưới đất phóng vọt lên, toan chụp thanh bảo kiếm của Lữ Tứ Nương. Nhưng y không ngờ rằng khinh công của Lữ Tứ Nương lại đến mức xuất thần nhập hóa, y vừa mới đánh được nửa chiêu Cầm Nã, ngón tay vừa mới búng vào thân kiếm của Lữ Tứ Nương, đã bị nàng kéo cùng rơi xuống, Lữ Tứ Nương lộn trên không trung một vòng, chiêu Bạch Viên Kích Chi vẫn không thay đổi, kiếm khí như cầu vồng đâm thẳng vào đầu y.

Đổng Cự Xuyên võ công hơi thấp hơn, không dám tiếp kiếm như Hàn Trọng Sơn, buộc phải buông tay ra, lách người phát ra hai chưởng. Bạch Thái Quan đã thoát thân, huơ chân múa tay mấy vòng để cho gân cốt thư giản, Hàn Trọng Sơn hạ người xuống, chém cây tị vân trợ về phía chàng ta. Quan Đông tứ hiệp đã tới, Huyền Phong đạo trưởng vung gậy đã đánh keng một tiếng, gạt cây tị vân trợ ra, tia lửa bắn ra tung tóe, cây trường kiếm trên tay phải cũng đâm soạt tới, Hàn Trọng Sơn múa cây tị vân trợ thành một vòng tròn lớn, gạt cả kiếm lẫn gậy của Huyền Phong ra ngoài. Lang Nguyệt thiền sư há mồm phun một vòi rượu về phía Hàn Trọng Sơn. Hàn Trọng Sơn cũng hơi thất kinh, thầm nghĩ nội công của người này thật ghê gớm. Huyền Phong lại đâm ra một kiếm, Hàn Trọng Sơn múa cây trợ thành một vòng tròn, mũi kiếm của Huyền Phong chợt đổi hướng, hạ xuống chém vào đôi chân của Hàn Trọng Sơn. Hàn Trọng Sơn gầm lớn một tiếng, chưởng phải đẩy ra, thối lui nửa bước, kiếm của Huyền Phong bị luồng chưởng phong gạt ra, cây gậy quét tới, lại bị đầu trợ chặn xuống. Lang Nguyệt thiền sư nhảy bổ tới, lại há miệng phun rượu, Hàn Trọng Sơn không dám tấn công, buộc phải múa tít cây tị vân trợ đến gió mưa không lọt, chờ đợi thời cơ để phản đòn.

Lữ Tứ Nương cũng đánh liên tục mấy kiếm, đẩy lui Đổng Cự Xuyên, Bạch Thái Quan nói: “Bát muội, giúp huynh một tay cứu Ngư Nương trước!” Lữ Tứ Nương nói: “Cái gì?” rồi nàng buông kiếm thế ra, Đổng Cự Xuyên rút chưởng thối lui, Liễu Tiên Khai điểm mũi chân xuống đất phóng vọt lên, co mười đầu ngón tay đột nhiên từ trên không đánh bổ xuống. Ngoại trừ vài vị lão tiền bối, khinh công Liễu Tiên Khai chỉ kém Lữ Tứ Nương, ngón tay của ông ta lại đeo nhẫn, bất ngờ đấm tới đỉnh đầu của Đổng Cự Xuyên, Đổng Cự Xuyên đau đến nỗi tóe đom đóm, chẳng phân biệt được Đông Tây, vội vàng thi triển một chiêu Vân thủ đẩy xéo ra. công phu dưới đất của Liễu Tiên Khai không cao, bị y đẩy một cái suýt nữa đã ngã nhào. Trần Nguyên Bá gầm lớn một tiếng, vận dụng Đại suất bi thủ vỗ ra một chưởng, chưởng phong kêu lên vù vù, Đổng Cự Xuyên thất kinh không dám tiếp đòn.

Công phu ngoại gia của Trần Nguyên Bá đã đến mức đăng phong tạo cực, nhưng nội công lại không bằng Đổng Cự Xuyên. Có điều Đổng Cự Xuyên không biết ông ta đến mức nào, chỉ thấy uy thế kinh người thì không khỏi thầm sợ, chỉ dám thi triển công phu Cầm Nã của phái Hình ý chạy vòng vòng xung quanh Trần Nguyên Bá. Liễu Tiên Khai lại một lần nữa phóng bổ tới, Trần Nguyên Bá vội né qua thừa thế đánh ra một chưởng, bị ông ta đẩy hai chưởng tới suýt nữa ngã nhào.

Lữ Tứ Nương và Bạch Thái Quan thấy Tứ hiệp đánh nhau với kẻ địch nhất thời khó phân thắng bại, lúc này trong trường đã rối loạn. Cam Phụng Trì ác đấu với Vệ Dương Oai và Mạnh Võ Công, bàn tiệc bên cạnh đã lật nhào, Đường Hiểu Lan múa bảo kiếm mở đường xông vào, Bạch Thái Quan cũng cướp được một thanh đơn đao đuổi theo sau. Lữ Tứ Nương hỏi: “Ngư Nương thế nào?” Bạch Thái Quan nói: “Ngư Nương đã chạy ra, định tìm huynh, trước tiên nhờ người báo tin, trên đường còn để lại ám hiệu, huynh theo dấu đến đây, xem ra nàng bị Thiết Phiến bang bắt giữ”. Lữ Tứ Nương chợt nói: “Được, huynh giúp cho Cam sư huynh, muội đi cứu Ngư Nương”. Bạch Thái Quan mừng rỡ nói: “Muội làm sao biết tung tích của nàng?” Lữ Tứ Nương không đáp lời, lướt về phía Tây bắc nhanh như bay.

Cam Phụng Trì một mình đấu với hai cao thủ, đôi bên huề nhau chợt thấy Dương Trọng Anh chạy ra giữa trường, tấn công về phía Cam Phụng Trì, trong lòng lo lắng, thấy Bạch Thái Quan chạy đến, vội vàng kêu: “Đệ chặn cho huynh một lúc”. Rồi đánh hờ ra một chiêu, nhảy bổ vào giữa trường, lúc này hỗn chiến đã nổ ra, đầu lĩnh của các bang và người của Thiết Phiến bang thấy khách khứa đánh nhau, mà trong số khách khứa co người đến giúp cho Bang chủ của mình, ai nấy đều ngạc nhiên, trong nhất thời chẳng dám ra tay.

Thượng Phúc Sơ và Đường Hiểu Lan ác đấu với nhau đã đến lúc không thể can được nữa, thấy Dương Trọng Anh đột nhiên chạy đến giúp thì mừng rỡ, tinh thần trở nên phấn chấn. Dương Trọng Anh quát: “Lui xuống!” rồi buông tay chụp Đường Hiểu Lan, Thượng Phúc Sơ ngạc nhiên thâu chiêu. Đường Hiểu Lan không dám đối địch với ông ta, vội vàng lách người, trong lòng đã phát hoảng, Dương Trọng Anh quát: “Nghiệt đồ còn dám chống cự!” rồi bổ một chưởng vào đỉnh đầu của chàng, Đường Hiểu Lan nhắm mắt chịu chết. Cam Phụng Trì đã nhảy bổ tới, vung tay gạt ra, Dương Trọng Anh như vỗ chưởng trúng sắt thép, chấn động đến thối lui mấy bước. Dương Trọng Anh được người ta gọi là thiết chưởng thần đạn, không ngờ đã bị người ta gạt một chưởng dễ dàng như thế, vội vàng quát: “Tôn giá tại sao giúp kẻ bất nghĩa?” Cam Phụng Trì nhảy ra phía trước, đưa tay xoa lên mặt, bôi lớp thuốc dịch dung, Dương Trọng Anh há mồm trợn mắt, Cam Phụng Trì nói: “Dương lão tiền bối, chúng ta đã nghe danh nhau từ lâu, không ngờ hôm nay mới gặp mặt!” Dương Trọng Anh nói: “Ngươi là ai?” Cam Phụng Trì nói: “Giang Nam Cam Phụng Trì!” Dương Trọng Anh kêu ối chao một tiếng, vội vàng thi lễ, Cam Phụng Trì cũng vội vàng trả lễ.

Từ ngày xuất đạo Cam Phụng Trì toàn làm việc hành hiệp trượng nghĩa cứu tế kẻ nguy nan, bởi vậy danh lừng giang hồ, hai đạo hắc bạch đều khâm phục, Dương Trọng Anh cũng là người đức cao vọng trọng trong võ lâm, chỉ có điều Dương Trọng Anh thường ở trong nhà còn Cam Phụng Trì lại phiêu bạt bốn biển, hành hiệp khắp nơi nên danh tiếng càng lớn hơn, hai người liền thi lễ với nhau. Dương Trọng Anh nói: “Dám hỏi Cam đại hiệp tại sao bao che cho tên nghiệt đồ này?” lúc này Thượng Phúc Sơ đã đấu với Đường Hiểu Lan, nghe người này tự xưng là Giang Nam đại hiệp, trong lòng không khỏi phát hoảng!

Cam Phụng Trì nói: “Lệnh đồ có nỗi khổ tuyệt đại, có ẩn tình tuyệt mật, y tuyệt không phải là kẻ phản sư bội nghĩa!” Cam Phụng Trì dùng liên tục ba chữ tuyệt, Dương Trọng Anh bất giác biến sắc, Cam Phụng Trì nói: “Xin ngài nể mặt Cam mỗ, đừng truy đuổi theo lệnh đồ, sau này tôi sẽ nói rõ mọi chuyện!” Dương Trọng Anh khẳng khái nói: “Cam đại hiệp một lời như chín đỉnh, nếu đã nói thế, chắc là tôi đã trách nhầm tiểu đồ!” lúc này Bạch Thái Quan và hai người Mạnh, Vệ đã ác đấu được hơn ba mươi chiêu, không còn cầm cự được nữa nên thối lui vào giữa trường, Cam Phụng Trì nói: “Mong Dương lão tiền bối giúp sư huynh tôi một tay”. Dương Trọng Anh nói: “Đương nhiên!” rồi phóng vọt lên vỗ một chưởng về phía Mạnh Võ Công.

Cam Phụng Trì nhảy vọt về phía trước, kêu: “Đường hiền đệ, tránh ra cho ta!” Thượng Phúc Sơ luống cuống chân tay, vội vàng nhảy ra, kêu lớn: “Các người còn chưa động thủ, giúp ta bắt những tên này lại!” người của Thiết Phiến bang vội vàng ùa lên, Cam Phụng Trì tung người vọt lên trên một hòn non bộ, vung tay quát: “Thượng Phúc Sơ xu phụ Ngư Xác, làm ưng khuyển cho triều đình, giành giang sơn cho Dận Trinh, muốn dìm Thiết Phiến bang vào chỗ bất nghĩa, hôm nay gặp phải Giang Nam thất hiệp bọn ta, quyết không để cho y đắc thắng, các người hãy nghe đi, đừng nối giáo cho giặc!” đầu lĩnh của các bang hội nhận ra Cam Phụng Trì, vội vàng nói với đồng bọn: “Đây là Giang Nam đại hiệp!” có người nói: “Không biết thất hiệp có đến hay không?” có người chỉ: “Bạch Thái Quan cũng ở đằng kia”. Các đầu lĩnh đến đây dự tiệc, một nửa là nể mặt tổ tiên của Thượng Phúc Sơ, một nửa là sợ uy của Ngư Xác, nghe Cam Phụng Trì nói thế, bọn họ thà đắc tội với Ngư Xác chứ không dám đắc tội với Giang Nam thất hiệp. Có những kẻ nhát gan đã dắt tùy tùng bỏ đi, người của Thiết Phiến bang quá nửa không dám động thủ, có một số ít cũng chạy tới bao vây, bị Đường Hiểu Lan múa kiếm chặt gãy hết binh khí. Cha con Trâu Minh Cao cũng rút binh khí nhảy vào vòng chiến, giúp Đường Hiểu Lan chống địch.

Phía bên khinh công Lữ Tứ Nương đã triển khai khinh công tuyệt đỉnh, trong chốc lát đã lướt đến góc Tây của khu vườn. Nàng đến trước tòa lầu ba tầng, bên trong có hai thiếu nữ đi ra, cả hai kêu ồ một tiếng, bước lên hỏi: “Ai bảo ngươi đến đây?” Lữ Tứ Nương nói: “Nghe nói Quận chúa không khỏe, Bang chủ bảo tôi đem thuốc tới”. Hai thiếu nữ lộ vẻ ngạc nhiên, đồng thanh nói: “A bảo Quận chúa bị bệnh? Quận chúa vẫn đang khỏe mạnh bình thường, lúc nãy còn nói còn cười!” Lữ Tứ Nương chỉ buông lời hỏi dò, đã chứng thực được Ngư Nương ở đây, trong lòng cả mừng, chẳng cần nói gì nữa mà rút phắt thanh kiếm tung vọt người lên mái tầng thứ hai, rồi nàng điểm thanh kiếm, người lại bắn tiếp lên tầng thứ ba. Nàng vừa mới đáp xuống chợt một thanh kiếm đâm ngang tới, Lữ Tứ Nương đẩy kiếm qua, dẫn mũi kiếm người ấy lệch về phía trước, hóa giải được kiếm chiêu, Lữ Tứ Nương đứng vững chân, nhìn kỹ lại người trước mặt, thì ra đó là một bà già tóc bạc phơ.

Lữ Tứ Nương nói: “Tránh ra, ta không đả thương bà!” bà già cười lạnh: “Kẻ hậu sinh vãn bối nhà ngươi mà cũng đến dò thám Quận chúa!” rồi bổ xuống tiếp một kiếm, Lữ Tứ Nương hơi lách vai, rồi lướt người qua như tên bắn, phóng vào phòng, chỉ thấy một thiếu nữ nằm trên giường, đó chính là Ngư Nương! Lữ Tứ Nương nói: “Bạch Thái Quan đang đợi ở bên ngoài!” Ngư Nương ngồi bật dậy, chợt nàng chần chừ: “Ngươi là ai?” Lữ Tứ Nương đang định đáp lời, bà già ấy đã múa kiếm xông vào!

Ngư nương kêu: “Bà cho tôi ra ngoài!” bà già nói: “Không được cha cô cho phép, không ai có thể thả cô!” Lữ Tứ Nương cười lạnh nói: “Tôi thấy bà đã lớn tuổi, có ý khuyên bà tránh ra, bà lại còn dám đến ngăn cản?” bà già cả giận, đâm tới một kiếm, Lữ Tứ Nương lách người như làn gió, bà già đâm đến hơn mười nhát kiếm mà chẳng chạm được vào áo của nàng, Lữ Tứ Nương quát lớn: “Có tránh ra hay không?” rồi nàng múa tròn thanh kiếm, chợt nghe keng một tiếng, cây kiếm của bà già suýt nữa đã vuột khỏi tay, bà ta biết không địch nổi, trừng mắt nhìn Ngư Nương rồi gằng giọng nói: “Được, ta nhớ tên tiểu tử nhà ngươi!” Lữ Tứ Nương cười nói: “Bà nhớ thì tốt!” rồi lách người, ánh kiếm quang lướt tới, đâm soạt vào vai trái của bà già, bà già không dám nói thêm một lời, vội vàng gạt nhát kiếm rồi nhảy tọt ra cửa sổ.

Ngư Nương thấy kiếm pháp của Lữ Tứ Nương thần kỳ như thế thì trố mắt, Lữ Tứ Nương nói: “Hảo cô nương của tôi ơi, người ta đang đợi cô, sao còn chưa ra cho mau?” Ngư Nương thấy Lữ Tứ Nương nói đùa với mình, nàng không dám tin, lại chần chừ thêm một hồi, Lữ Tứ Nương kéo nàng, Ngư Nương phất ống tay áo, cao giọng nói: “Bạch Thái Quan chắc chắn không có người bằng hữu như ngươi”. Lữ Tứ Nương cười nói: “Tại sao không có?” ngươi đã biết ta là người thế nào của Bạch Thái Quan mà mới gặp mặt đã buông lời trêu ghẹo!” lúc này Lữ Tứ Nương mới nhớ mình là nữ cải dạng nam trang, mỉm cười kéo mũ xuống, lộ ra mái tóc dài óng ả, Ngư Nương vừa lo vừa mừng, chợt hiệu ra nhảy bổ tới ôm Lữ Tứ Nương nói: “Hảo tỷ tỷ, có phải tỷ là sư muội của Bạch Thái Quan không?” Lữ Tứ Nương cười nói: “Giờ cô nương có còn lo nữa không?” Ngư Nương nói: “Tôi không ngờ tỷ tỷ lại trẻ trung đến thế!” rồi kéo tay Lữ Tứ Nương chạy xuống lầu.

Lúc này cuộc chiến trong trường càng thêm kịch liệt, Dương Trọng Anh và Bạch Thái Quan sánh vai tác chiến, bởi vậy ngang tay với hai người Mạnh Võ Công và Vệ Dương Oai. Cha con họ Trâu cùng Đường Hiểu Lan đánh bọn bang chúng chạy tứ tán, Cam Phụng Trì và Thượng Phúc Sơ đã giao thủ, Thượng Phúc Sơ múa cây quạt đánh rất vất vả, bị chàng ta dồn ra phía sau hòn non bộ, có hai tên phó thủ vội vàng chạy đến giúp nhưng vẫn lọt xuống thế hạ phong.

Lữ Tứ Nương đưa mắt nhìn xung quanh, thấy Quan Đông tứ hiệp lọt xuống thế hạ phong, nói với Ngư Nương: “Cô nương đến giúp cho Bạch Thái Quan, tôi đến giúp Quan Đông tứ hiệp”. Ngư Nương đương nhiên chấp nhận, rút cây liễu diệp đao xông ra phía trước, Bạch Thái Quan vừa thấy Ngư Nương, tinh thần phấn chấn, vừa đánh vừa kêu: “Ngư muội muội!” Ngư Nương đỏ ửng mặt, nhảy vào vòng chiến, khẽ nói: “Ở đây đông người, huynh đừng kêu như thế!” Bạch Thái Quan mỉm cười, vung đao đánh tới những chiêu số tấn công, Mạnh Võ Công là phó thủ của Ngư Xác, thấy Ngư Nương giúp Bạch Thái Quan đánh mình, kêu lên: “Tiểu thư làm sao thế? Tiểu thư phản cả cha mình hay sao?” Ngư Nương nói: “Mạnh thúc thúc, ông không tránh ra tôi không khách sáo. Hãy quay về nói với cha rằng, đừng màng đến tôi nữa, cứ coi như là không sinh ra đứa con gái này!” hai người Mạnh, Vệ cự với hai người Dương, Bạch đã thấy vất vả, Ngư Nương nhảy vào vòng chiến, đương nhiên không thể cầm cự nổi, vả lại Ngư Nương là ái nữ của chúa công, chẳng may lỡ tay đả thương nàng thì càng không hay, hai người kêu một tiếng rồi thâu chiêu bỏ chạy.

Hai người Mạnh, Vệ bỏ chạy, Thượng Phúc Sơ càng thêm hoảng, y đang muốn chạy thì Cam Phụng Trì đã tấn công gấp gáp, làm sao có thể thoát nổi! một chốc sau, hai tên phó thủ đã trúng đòn ngã xuống đất. Thượng Phúc Sơ nghiến răng, kêu: “Không phải ngươi chết thì ta vong!” rồi y dùng lực bẻ cây quạt, mười mấy cái nan quạt ngắn bắn ra.

Chính là:

Chí lớn tài hèn, lực bất tòng tâm.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 17: Kiếm trượng giao phong hung tăng gây náo loạn Tính tình chưa rõ ngọc nữ xuất kinh hoa

Cuộc ác đấu trong trường dừng lại, người của Thiết Phiến bang nghe Cam Phụng Trì quát một tiếng, nhất tề đều buông tay, chỉ nghe Cam Phụng Trì nói: “Các người đều là kẻ nghèo khổ, buôn bán ở chốn bạch đạo, cướp của bất nghĩa, Cam mỗ này không ngăn cản, nhưng bị triều đình lợi dụng, Cam mỗ này quyết không tha. Nếu là kẻ hiểu lý lẽ phải suy nghĩ lại cho kỹ”. Người của Thiết Phiến bang một nửa là sợ oai thế của Giang Nam đại hiệp, một nửa là thấy thế lớn đã mất, vội vàng nói: “Xin nghe lệnh Cam đại hiệp!”

Cam Phụng Trì tung cước đá một cái, Thượng Phúc Sơ phun ra một ngụm máu tươi té phịch xuống đất, Cam Phụng Trì nói: “Tuy Thượng Phúc Sơ nhà ngươi có dã tâm, nhưng vẫn chưa làm điều đại ác, nếu ngươi chịu cải tà qui chính, ta có thể tha cho ngươi một mạng”. Thượng Phúc Sơ lúc này làm sao dám nói nửa chữ không.

Cam Phụng Trì nói: “Ngươi muốn ta tha mạng, thứ nhất từ rày về sau không được gây náo loạn trên giang hồ”. Thượng Phúc Sơ vội vàng nói: “Xin nghe theo! Từ nay tôi xin giải tán bổn bang, dắt con về quê làm ruộng, đóng cửa phong đao, rửa tay gác kiếm!” Cam Phụng Trì nói: “Thứ hai, những tiền tài ngươi tích góp được phải trao cho ta xử trí, trừ những thứ trên người của ngươi, không được đem theo một đồng nào ra cửa”. Thượng Phúc Sơ tích góp mười năm, gia tài đâu chỉ trăm vạn, nghe Cam Phụng Trì nói không cho đem một đồng ra cửa, trong lòng rất đau đớn nhưng cũng chẳng còn cách nào, chỉ đành nói: “Tiền tài là vật ngoài thân, Cam đại hiệp cứ việc lấy hết cũng được”.

Cam Phụng Trì cười nói: “Ta cũng không cần lấy của ngươi”. Rồi bảo Thượng Phúc Sơ và người giữ chìa khóa tiền trong Thiết Phiến bang đem hết kim ngân châu báu ra, chàng ta giữ châu báu lại, chia tiền bạc cho các bang chúng, bận rộn nửa ngày mới giải quyết xong, Cam Phụng Trì quát: “Được, nhà ngươi có thể đi đi! Từ rày về sau đừng để ta gặp ngươi trên giang hồ!” Thượng Phúc Sơ thở phào, vội vàng dắt con ôm đầu co giò chạy ra khỏi thôn.

Lữ Tứ Nương nói: “Chúng ta gây náo loạn ở đây, lại thả bọn chúng ra, chỉ e chúng tụ tập đồng đảng tới, hoặc cấu kết với quan binh đến vây bắt chúng ta thì hỏng!” Cam Phụng Trì cười nói: “Không cần phải lo, xuất binh từ huyện thành ít nhất cũng phải hai ngày mới đến được đây, Ngư Xác muốn phái người đi cũng không dễ. Huống chi thôn trang này nằm giữa thung lũng, lại hiểm trở khó đi!”

Lữ Tứ Nương nghĩ bụng thấy cũng có lý, bảo: “Thất cả giỏi suy đoán, tiểu muội sánh không bằng”. Cam Phụng Trì nói: “Cẩn thận suy xét vẫn hơn”. Lúc này trời đã tối, Cam Phụng Trì gọi tất cả những nô bọc trong nhà họ Thượng ra, bày hai bàn tiệc, rồi chàng đưa mắt nhìn xung quanh mà chẳng thấy Bạch Thái Quan. Cam Phụng Trì nói: “Ngũ ca đâu?” Lữ Tứ Nương cười nói: “Lúc nãy muội thấy ngũ ca cùng Ngư Nương thì thầm tâm sự sau hòn non bộ, chắc là cũng vì trùng phùng, cả cơm cũng quên ăn”. Cam Phụng Trì cười nói: “Muội gọi họ đến đây!” Lữ Tứ Nương vâng một tiếng, đang định bước ra, Cam Phụng Trì lại cười: “Ám hiệu của bổn môn trên những hòn đá chắc là do Ngư Nương viết. Ngũ ca cũng thật là, sao lại cho người ngoài biết ám hiệu của bổn môn”. Lữ Tứ Nương nói: “Ngư Nương cũng không còn là người ngoài nữa”. Cam Phụng Trì nói: “Tuy họ đã là phu thê nhưng Ngư Nương không phải là người trong bổn môn, ngũ ca làm thế cũng không ổn lắm”. Lữ Tứ Nương nói: “Khi gặp ngũ ca, muội sẽ khuyên”. Cam Phụng Trì gật đầu. Số là Bạch Thái Quan tính tình phóng khoáng, thường không để ý đến những chuyện này. Tuy kiếm pháp của Độc tý thần ni rất độc đáo nhưng vẫn chưa khai tông lập phái, nên không có Chưởng môn. Cam Phụng Trì là sư đệ, lại không tiện nói chàng, chỉ đành thầm bảo Lữ Tứ Nương khuyên răn. Lữ Tứ Nương là con gái của bậc danh nho, võ công cực kỳ cao cường, tính tình cũng dễ gần gũi, Bạch Thái Quan lại thân thiết với nàng hơn.

Cam Phụng Trì bận rộn cả ngày, lúc này mới rảnh rỗi gặp gỡ Quan Đông tứ hiệp, Tháp Dực Thần Sư. Chàng thấy Đường Hiểu Lan đứng bên cạnh Dương Trọng Anh, nói với Dương Trọng Anh rằng: “Dương anh hùng có còn hiểu nhầm lệnh đồ hay không?” Dương Trọng Anh khẽ gật đầu, ôm quyền đáp tạ. Té ra Đường Hiểu Lan đã kể hết mọi việc, Dương Trọng Anh không ngờ rằng thân thế của chàng phức tạp đến thế, ông ta vốn rất thương yêu chàng, chỉ vì hiểu lầm chàng phản sư bội nghĩa nên mới đòi giết chàng. Nay đã được giải thích, bao nhiêu nỗi hiểu lầm tan biến, bất đồ vuốt tóc chàng nói: “Thật thiệt thòi cho con!” Đường Hiểu Lan nói: “Điều đó cũng chẳng trách sư phụ”.

Trâu Tích Cửu sau mấy năm rèn luyện, đã hiểu biết chuyện đời, thấy Dương Trọng Anh và Đường Hiểu Lan thân như cha con, tình yêu đối với Dương Liễu Thanh vốn đã nhạt nhòa, nay chẳng còn chút gì. Chàng bước đến đáp tạ Đường Hiểu Lan, Dương Trọng Anh thấy thế cả mừng, cùng Cam Phụng Trì chạm cốc.

Dương Trọng Anh uống mấy chén, vuốt râu nói: “Nghe nói Hiểu Lan sắp theo các người vào kinh?” Cam Phụng Trì nói: “Đúng thế!” Dương Trọng Anh nói: “Tôi muốn dắt hắn về nhà một chuyến”. Cam Phụng Trì cười nói: “Chúng tôi cùng đi đến đây, vốn là muốn tìm lão anh hùng giải thích, nay đã gặp mặt nhau, không còn hiểu lầm nữa chúng tôi cũng hết chuyện. Y nên về hầu hạ ngài”.

Khi họ đang trò chuyện, Lữ Tứ Nương và Bạch Thái Quan cùng Ngư Nương từ hòn giả sơn chạy vội ra. Lữ Tứ Nương kêu lớn: “Thất ca, đã tìm ra tung tích của Lộ sư huynh!”

“Lộ sư huynh ở đâu?” Lữ Tứ Nương nói: “Hôm Lộ sư huynh bị bắt, cũng có Ngư muội ở đấy”.

Ngư Nương đi bên cạnh Bạch Thái Quan, mặt đỏ ửng, nói: “Hôm ấy sau khi Lữ Tứ Nương và Bạch Thái Quan đại náo đảo Điền Hoành, cha tôi canh giữ tôi rất nghiêm ngặt, tôi giả vờ thuận theo ý của người, được mấy năm cha tôi bớt nghiêm ngặt hơn nhưng vẫn không có cơ hội nào chạy được. Cho đến tháng trước, cha tôi theo lời mời của Độc Long Tôn Giả đến một hòn đảo nhỏ ở cửa Lữ Thuận”. Nói đến đây Cam Phụng Trì kêu ồ một tiếng: “Độc Long Tôn Giả suốt đời ở Xà đảo, chưa bao giờ ra ngoài, làm sao lại hẹn với lệnh tôn?” Ngư Nương nói: “Tôi cũng không biết!” Lữ Tứ Nương nói: “Độc Long Tôn Giả danh tiếng lẫy lừng, không biết võ công thế nào?” Cam Phụng Trì nói: “Huynh chỉ biết y và Tát thị song ma rất thân thiết, còn võ công thế nào thì chẳng ai rõ”.

Ngư Nương tiếp tục nói: “Sau khi cha rời nhà, nhân lúc mọi người để ý, đến tối muội đã đánh cắp một chiếc thuyền rồi bỏ chạy. Trên thuyền có nhiều thực phẩm, muội lại giỏi thủy tính, hôm ấy thủy triều lớn, muội liệu rằng khi họ phát giác, muội đã ra biển đến mấy chục dặm, họ cũng đuổi theo không kịp”. Nàng nói xong thì bật cười khúc khích. Cam Phụng Trì cũng cảm thấy nàng và Bạch Thái Quan thương yêu nhau thật lòng, khen rằng: “Cô nương có dũng khí thật khiến cho người ta khâm phục”. Ngư Nương cười nói: “Cũng không sao cả. Chỉ là ngày nào cũng phải ăn cá, thật đơn điệu”. Nàng ngập ngừng rồi nói tiếp: “Trước đây nghe Thái Quan nói, Lộ tam ca ở vùng Tiêu Sơn ven biển Triết Giang thế là muội lái thuyền về hướng ấy”. Cam Phụng Trì nói: “Năm sáu năm trước, tôi và Lộ sư ca cùng bát muội đã từng đánh với Ngự lâm quân một trận để cứu Thẩm tiên sinh, sau đó tôi đưa bát muội đến dãy Tiên Hà, Lộ sư huynh đã chạy đến Quan Đông, có lẽ cô nương không biết chuyện này”. Lữ Tứ Nương nói: “Nàng đương nhiên không biết, nhưng sự việc thật trùng hợp, khi nàng đến Tiêu Sơn, vừa khéo Lộ sư huynh cũng lén quay về”.

Ngư Nương nói tiếp: “Giả sử muội biết chuyện này, muội đã không ngốc như thế, muội đến Tiêu Sơn, hỏi nhà họ Lộ, mọi người đều không dám nói, đang đi hỏi chợt một toán quân binh cùng một thiếu nữ bước tới hỏi: ‘Cô nương tìm Lộ Dân Đảm làm gì? Cô nương là người thế nào với y?’ muội thấy nàng ta không tốt, định bỏ chạy, nàng thiếu nữ này võ công rất cao, từ trên lưng ngựa đã phóng vọt xuống, chặn trước mặt muội. Muội đấu được vài ba mươi chiêu mới chiếm được thượng phong” Lữ Tứ Nương nói: “Có phải thiếu nữ ấy mặt trái xoan, chân mày rất dài, trông rất vô tư hay không?” Ngư Nương nói: “Đúng thế”. Lữ Tứ Nương ngạc nhiên nói: “Đó chính là con gái của Triết Giang tuần phủ Lý Vệ, tên gọi Lý Minh Châu. Nàng vốn không biết võ công mà sao chỉ trong vòng năm sáu năm mà có bản lĩnh cao cường đến thế?” Ngư Nương nói tiếp: “Muội vừa chiếm được thượng phong, đột nhiên có một thiếu phụ áo xanh trong đám quan binh phóng ra, chỉ đánh vài ba chiêu đã cướp binh khí của muội”. Lữ Tứ Nương hỏi: “Có phải thiếu phụ áo xanh là bà già tóc bạc phơ canh giữ cô nương hay không?” Ngư Nương nói: “Không phải. Song họ cùng một bọn”. Cam Phụng Trì nghe thế, trầm ngâm không nói. Chàng thầm nhủ với võ công của Ngư Nương, mình cũng chưa chắc trong vòng hai ba chiêu đã đoạt được binh khí của nàng, không biết thiếu phụ áo xanh đó là ai?

Lữ Tứ Nương hỏi: “Cô nương làm sao biết họ cùng một bọn?” Ngư Nương tiếp tục nói: “Sau khi thiếu phụ áo xanh bắt muội, đã treo muội lên một gốc liễu đối diện nhà họ Lộ, dùng roi đánh đập, chỉ mới đánh một roi, đột nhiên có một người phóng vọt ra, cao giọng nói: ‘Lộ Dân Đảm ở đây, các người muốn bắt cứ bắt, không liên quan gì đến kẻ vô tội!” thiếu phụ áo xanh cười hền hệt nói: ‘Hay lắm, ngươi đã tự chui vào lưới!’ rồi phóng vọt lên, chỉ khoảng mười chiêu đã bắt được Lộ sư huynh. Thiếu phụ áo xanh cầm roi quát: ‘Ả là người thế nào của ngươi?’ Lộ sư huynh nói: “Tôi chưa bao giờ gặp nàng’ thiếu phụ áo xanh nói: ‘Tại sao nàng tìm ngươi?’ Lộ sư huynh cùng mở mắt chằm chằm nhìn muội! Muội bị Lộ sư huynh nhìn đến đỏ mặt, trong tình hình như thế, muội không thể nói ra quan hệ với Thái Quan”. Lữ Tứ Nương bật cười, Ngư Nương giận dỗi nói: “Người ta đang e thẹn, tỷ tỷ lại cười”. Rồi nói tiếp: “Sau đó Lý Minh Châu đưa muội và Lộ sư huynh đến phủ nha, thiếu phụ áo xanh nói: ‘Kêu người Thiết Phiến bang đến nhận mặt thử, bọn chúng thường đi lại trên giang hồ, có lẽ biết lai lịch ả nha đầu này’. Hôm sau bà già ấy cũng đến đây, muội không biết bà ta, nhưng bà ta lại nhận ra muội, vừa gặp mặt đã nói tên của muội, thiếu phụ áo xanh lập tức thay đổi thái độ, cởi trói cho muội, giao muội cho bà già dắt đến Thiết Phiến bang”.

Cam Phụng Trì nghe xong, nói: “Bát muội đoán không sai, tam ca quả nhiên bị nhốt trong phủ nha Triết Giang. Chúng ta không cần đến quê của tam ca nữa”.

Hôm sau quần hùng chia tay nhau. Dương Trọng Anh cùng Đường Hiểu Lan về Sơn Đông. Quan Đông tứ hiệp cùng cha con Tháp Dực Thần Sư nhận lời mời của Dương Trọng Anh, cùng đến Sơn Đông. Khi chia tay nhau, Cam Phụng Trì chợt nói: “Mong Dương lão anh hùng cùng Quan Đông tứ hiệp giúp chúng tôi một việc nhỏ”. Dương Trọng Anh nói: “Xin Cam đại hiệp cứ căn dặn”. Cam Phụng Trì nói: “Chúng tôi không tiện mang theo châu báu của Thiết Phiến bang, xin các vị giữ hộ rồi dùng, hành hiệp trượng nghĩa đôi khi cũng phải dùng tiền”. Dương Trọng Anh mỉm cười chấp nhận.

Đường Hiểu Lan từ giã Lữ Tứ Nương, trong lòng rất rầu rĩ. Chàng tuy đã không còn tạp niệm đối với Lữ Tứ Nương nữa nhưng ơn sâu nghĩa trọng, rốt cuộc vẫn quyến luyến. Nhất là khi nhớ đến Dương Liễu Thanh, chàng cảm thấy Lữ Tứ Nương đáng yêu đáng kính. Dương Trọng Anh đã thấy điều đó, vội vàng thúc giục Đường Hiểu Lan đi cho mau.

Sau khi bọn Dương Trọng Anh kéo đi, bọn Cam Phụng Trì cũng thu xếp hành lý đến Hàng Châu. Tới ngày thứ ba họ đến Hàng Châu trú ngụ tại nhà trọ ở ven hồ, bàn nhau nửa đêm sẽ dò thám phủ nha. Lúc này trời vẫn còn sớm, bốn người thuê một con thuyền nhỏ, mặt hồ phẳng lặng như gương, cá lội tung tăng, chèo thuyền được một lát chợt thấy có ba tòa tháp cao vút in bóng xuống mặt hồ. Bên cạnh tòa tháp là một hòn đảo nhỏ, trên đảo hoa cỏ xanh tươi, lầu đài thấp thoáng. Ngư Nương vui mừng nói: “Nơi đây thật đẹp!” Lữ Tứ Nương cười rằng: “Đây là nơi đẹp nhất ở Tây Hồ tên gọi Tam Đàm Ấn Nguyệt, trong hồ có hồ, trong đảo có đảo, viên lâm đẹp nổi tiếng miền Đông Nam, nghe nói là do Tô Đông Pha xây dựng nên”. Thế là bốn người bỏ thuyền lên bờ, đi qua cây cầu chín khúc, Lữ Tứ Nương chợt chỉ tay nói: “Ở nơi phong cảnh tuyệt đẹp không thiếu người nhàn nhã. Chúng ta hãy nhìn thiếu niên kia!”

Ngư Nương đưa mắt nhìn xa xa, chỉ thấy trên mặt hồ có chiếc thuyền họa từ xa trôi đến, trên thuyền có một người tuổi khoảng ba mươi, mặt như quán ngọc, dung mạo tựa phan an. Trong thuyền có một bà già, trên bàn có bình trà xanh, một cây đàn giao, chàng thiếu niên vừa gãy đàn vừa hát, tiếng hát lan trên mặt hồ nghe du dương rất vui tai. Bạch Thái Quan cũng khen: “Người này thật bất tục”.

Tam Đàm Ấn Nguyệt là một hòn đảo nhỏ ở Tây Hồ, hòn đảo này thực tế chỉ là một bờ đê hình tròn, vây thành một hồ nhỏ bên trong, ở giữa lại có một đảo nhỏ hơn, nên mới nói là “Trong hồ có hồ, trong đảo có đảo”. Mà giữa hồ với hồ, giữa đảo với đảo được điểm tô bằng đình đài lầu tạ, trông rất dụng công. Lữ Tứ Nương nói: “Chúng ta vào trong”. Rồi băng qua cây cầu chín khúc, xuyên qua tòa đình hình chữ vạn, đến nơi có nhiều cây thùy dương, chỉ thấy một tòa trà đình trông rất trang nhã, trên biển đề rằng “Nghênh Thúy Hiên”, hai bên có hai câu đối viết rằng: “Vạn khoảnh hồ bình trường tự kính; tứ thời nguyệt hảo tối nghi thu” Lữ Tứ Nương khen rằng: “Chỉ có mười bốn chữ mà đã vẽ nên cảnh sắc của Tây Hồ, so sánh bình hồ với thu nguyệt, đúng là song tuyệt”. Cam Phụng Trì cười nói: “Bát muội đi đến đâu cũng nhớ đến thi thư, ta không có hứng như thế”. Mấy năm qua Ngư Nương bị nhốt ở đảo Điền Hoành, khi rảnh rỗi cũng đọc thi thư, thấy Lữ Tứ Nương cao hứng như thế liền bảo: “Lữ tỷ tỷ, tỷ hãy đọc lại cho tiểu muội nghe đôi câu đối về bình hồ thu nguyệt”. Lữ Tứ Nương cười nói: “Vội gì, lát nữa chúng ta sẽ đến bình hồ thu nguyệt, muội có thể chép lại những câu đối hay ở đấy”. Rồi nàng vẫn đọc: “Bằng lan kháng vân ảnh ba quang, tố hảo thị hồng liêu hoa sơ, bạch bình thu lão; bả tửu đối quỳnh lâu ngọc vũ, mạc cô phụ thiên tâm nguyệt mãn, thủy diện phong lai” Ngư Nương nghe xong, lẩm bẩm đọc mãi trong miệng.

Bốn người vào trà đình ngồi dựa xuống lan can, chủ quán trà chạy đến hỏi: “Bốn vị uống một ly ngẫu phấn rồi hai bình Long Tỉnh. Thế nào?” Ngẫu phấn và trà Long Tỉnh là nổi tiếng nhất ở Tây Hồ, Lữ Tứ Nương gật đầu: “Cũng được”.

Trong Nghênh thúy hiên có rất ít khách uống trà, ở bàn phía Đông có một ông già, thấy bọn Cam Phụng Trì bước vào thì tựa như để ý, chốc chốc quay nhìn họ. Lữ Tứ Nương thấy ông già rất quen mặt, trong nhất thời không nhớ ra.

Ngồi một hồi, ở nơi rèm trúc, chàng thiếu niên anh tuấn lúc nãy bước vào. Cam Phụng Trì thấy chàng ta khí độ hiên ngang, anh hoa nội kiểm, bởi vậy thầm để ý. Chàng thiếu niên cũng gọi một chén ngẫu phấn, pha một bình long tĩnh ngồi dựa lan can. Chàng ta nhìn sang phía Cam Phụng Trì với ánh mắt sáng quắc.

Lữ Tứ Nương và Ngư Nương đều cải dạng nam trang, chàng thiếu niên liếc mắt qua, Ngư Nương bất giác cúi đầu Lữ Tứ Nương khẽ dùng chân chạm vào nàng, nói: “Ngũ ca, hãy nhìn hoa sen trong hồ, thơ người xưa có nói: ‘Lưu đắc tàn diệp thính vũ thanh, đãn thính na du ngư điệp điệp chi thanh’. Giờ đây tuy không có mưa nhỏ, sen cũng chưa tàn, nhìn những hạt châu trên lá sen cũng đủ khiến người ta thêm phần khoan khoái”. Ngư Nương nói thế, biết Lữ Tứ Nương ngầm nhắc nhở mình, cố ý gọi nàng là ngũ ca, để nàng nhớ mình là một nam tử. Trong lòng nàng thấy buồn cười, nhưng nhớ lại không khỏi thầm lo, bởi vì nàng đã vô tình lộ vẻ e thẹn của một nàng thiếu nữ, nếu thiếu niên nọ nhận ra thì thật không tiện lắm.

Hình như thiếu niên cũng chẳng hề để ý, chàng ta nhìn lướt Lữ Tứ Nương, lại đưa mắt nhìn sang phía ông già, ông già tựa như cũng ngà ngà say, tự lan can ngâm rằng: “Vấn tấn hồ biên xuân sắc, trùng lai hựu thị tam niên. Đông phong suy ngã quá hồ thuyền, dương liễu ti ti phất diện. Thế lộ như thiên dĩ quán, thử tâm đáo xứ du nhiên. Hàn quang đình hạ thủy liên thiên, phi khởi sa âu nhất phiến”.

Đây là bài từ Tây giang nguyệt của từ nhân thời Nam Tống Trương Vu Hồ, ông già ngâm lên nghe tràn trề tình cảm. thiếu niên vỗ nhịp thưởng thức, tiếng ca vừa dứt, quả nhiên có mấy con chim từ bụi lau đập cánh bay lên, chàng thiếu niên chợt đứng dậy, bước đến bàn ông già, vái dài rồi nói: “Lão trượng chắc chắc là Xa lão bá đây rồi”. Ông già trả lại một lễ, nói: “Lý công tử, tôi và tôn ông cách biệt hơn ba mươi năm, không ngờ đến hôm nay còn gặp lại công tử”.

Lữ Tứ Nương chợt nhớ ra, ông già này chính là Xa Đỉnh Phong, người của Thọ Sương thư viện. Số là ngày trước có rất nhiều nho sinh ở các nơi đến nghe Lữ Lưu Lương dạy học, sơn trưởng của Thọ Sương thư viện (tức là hiệu trưởng ngày nay) Xa Đỉnh Phong cũng đến nghe, lúc đó Lữ Tứ Nương rất còn nhỏ, có lẽ chưa đầy mười tuổi; sau này Lữ Tứ Nương theo Độc tý thần ni đến Mang Sơn bởi vậy không gặp lại nữa. Nàng nghe cha mình nói, Xa Đỉnh Phong tuy xuất thân từ huyện Thọ Sương nhưng lớn lên ở Tứ Xuyên, nghe nói thời trẻ ông ta cũng có sự nghiệp, còn sự nghiệp gì thì cha nàng không nói rõ. Sau đó nàng thường nghe người ta nói, năm bảy tám tuổi, Xa Đỉnh Phong về quê cũ, đóng cửa đọc sách, không đầy mười năm đã thông hiểu kinh sách, tuy một nửa là do Lữ Lưu Lương chỉ điểm nhưng nghị lực của ông ta cũng đủ khiến cho người ta khâm phục.

Lúc này chàng thanh niên được gọi là Lý công tử nói rất nhỏ tựa như sợ người ta nghe thấy. Lữ Tứ Nương thầm nhủ: “Hai người này tựa như là thế giao, nhưng Xa Đỉnh Phong nói, ông ta và cha của chàng ta cách biệt hơn ba mươi năm, vậy khi đó chàng ta chắc chắn chưa ra đời, tại sao Xa Đỉnh Phong vừa nhìn đã kêu chàng là Lý công tử, tựa như đã biết được lai lịch của chàng từ trước?”

Chàng thiếu niên và Xa Đỉnh Phong nói chuyện một hồi thì đứng dậy, ông già cũng đứng dậy toan bỏ đi. Chàng thiếu niên lại ngồi xuống, đưa mắt nhìn ra ngoài, mặt lộ vẻ ngạc nhiên. Lữ Tứ Nương quay đầu nhìn ra, thấy ở nơi rèm trúc có ba phụ nữ bước vào, một người là thiếu phụ áo xanh, một người là Lý Minh Châu, còn người kia là tiểu cô nương tuổi khoảng mười bốn mười lăm trông rất đáng yêu, má trái có đồng tiền sâu.

Lữ Tứ Nương giật mình, cảm thấy ngón tay của Ngư Nương hơi rung rung. Lữ Tứ Nương biết ngay người đàn bà áo xanh này chắc chắn đã từng bắt nàng, vội vàng nắm chặt tay nàng, tỏ ý bảo nàng bình tĩnh.

Ngư Nương thầm nhủ: “Mình đã cải dạng nam trang, người đàn bà áo xanh chưa chắc nhận ra. Vả lại có Giang Nam đại hiệp Cam Phụng Trì và Lữ Tứ Nương ở đây, dù có nhận ra cũng chẳng làm gì được, không cần phải sợ bà ta”. Thế là nàng vững dạ hơn, giả vờ tiếp tục ngắm cảnh.Lý Minh Châu bước vào, cũng ngồi xuống chiếc bàn gần lan can, kéo tay đứa bé gái cười rằng: “Tiểu muội muội, cảnh sắc ở đây so với Bắc Hải ở kinh thành thì thế nào?” Bé gái lại mỉm cười, đưa đôi mắt to tròn nhìn quét xung quanh.

Ngay lúc này, chàng thiếu niên anh tuấn chợt đứng dậy, cao giọng nói: “Anh muội, sao muội lại đến đây?” bọn Lý Minh Châu cũng trợn mắt lên nhìn chàng ta, nhưng không ai đáp lời. Chàng thiếu niên vội bước tới, nói: “Anh muội, làm sao thế, ba năm không gặp mà muội đã không nhận ra huynh sao?” rồi đưa tay nắm lấy nàng thiếu nữ.

Nàng thiếu nữ lách người, trở tay tát tới, chàng thiếu niên suýt nữa đã bị nàng tát trúng, vội vàng nhảy lui hai bước, nói: “Anh muội, muội điên rồi sao?” Bé gái mắng: “Ai là Anh muội của ngươi?” rồi hai chân nhún một cái vung chưởng tát tới, chàng thiếu niên xoay gót chân, lách qua hai vòng, thân pháp của nàng tu rất nhanh, chỉ trong chớp mắt đã đánh ra mấy chưởng, chưởng nào cũng lợi hại. Cam Phụng Trì thất kinh, thiếu nữ này rõ ràng đã được cao nhân truyền thụ, vả lại không chỉ học võ công của một nhà!

Thiếu nữ ra tay rất nhanh mà thân pháp của chàng thiếu niên càng nhanh hơn, chỉ thấy chàng ta xoay mấy vòng, chưởng của nàng thiếu nữ tựa như sắp đánh trúng nhưng rốt cuộc lại hụt. Chàng thiếu niên lại kêu: “Này, muội không nhận ra huynh, chả lẽ cũng quên bộ công phu này rồi sao?”

Thiếu nữ mắng: “Nói bừa, chỉ mới chút bản lĩnh như thế, sao xứng làm sư phụ của ta? Nếu ngươi muốn dạy ta, hãy đem bản lĩnh chân thực ra!” rồi chưởng pháp đánh gấp hơn, vả lại lúc quyền lúc chưởng, lúc điểm lúc đâm, tấn công vào các chỗ huyệt đạo của chàng thiếu niên, chàng thiếu niên chỉ né tránh, suýt nữa đã bị nàng điểm trúng, thế là vội vàng đưa tay phải ra chống cự, đồng thời đưa tay trái kéo nàng. Nàng thiếu nữ phóng vọt người lên, mở mười ngón tay chụp xuống đầu chàng ta, chàng thiếu niên thất kinh, vội vàng thối lui: “Có phải muội điên rồi không? Muội học ở đâu loại công phu bàng môn tả đạo như thế?” Lữ Tứ Nương cũng thất kinh, nàng chưa bao giờ thấy có người nào biết nhiều môn võ công như thiếu nữ này, võ công của phái Thiếu Lâm, phái Vô Cực, phái Tuyết Sơn, lại còn có công phu độc môn của Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích.

Thiếu nữ vung quyền đánh lên, thiếu phụ áo xanh đột nhiên vọt tới, lướt qua mấy cái bàn, chụp về phía chàng thiếu niên, kêu lên: “Tiểu muội muội, lui xuống. Để ta bắt tên điên này!” chàng thiếu niên lách người, suýt nữa đã bị bà ta chụp trúng, chàng ta vội vàng nhảy tót qua một cái bàn, thiếu phụ vung tay đẩy ra một chưởng, thiếu niên vung hai chưởng chặn lại, quát: “Ngươi là ai?” chàng ta lảo đảo người, lại nhảy vọt qua một cái bàn nữa. Thiếu phụ cười lạnh từ xa đánh tới một chưởng, chưởng phong mạnh mẽ lạ thường, chàng thiếu niên đột nhiên giở cái bàn lên chặn, chỉ nghe bình một tiếng, cái bàn bị chưởng lực đánh vỡ nát! Ông chủ quán trà kêu hoảng: “Khách quan, có lời gì từ từ hãy nói, đừng đánh nhau ở đây!”

Thiếu phụ áo xanh nào màng tới, cứ luồn qua lách lại trong quán trà đuổi theo thiếu niên. Ông chủ quán trà nấp ở một góc, có vài người khách đã chạy ra. Ông già cũng nấp ở góc tường, kêu lên bài hãi: “Đang yên ổn tốt lành sao lại đánh nhau?”

Bọn Lữ Tứ Nương cũng nép đến góc tường, xem ra thiếu phụ áo xanh càng đánh càng dữ, chưởng phong cứ kêu lên vù vù, bàn ghế trong quán lật nhào, ly tách vỡ nát!

Thiếu phụ áo xanh ra tay rất mạnh mẽ, rõ ràng công lực rất cao; nhưng chàng thiếu niên kia cũng không kém, thân pháp của chàng phiêu hốt như gió. Vốn là nơi này rất chặt hẹp, bàn ghế lại ngả nghiêng chiếm chỗ, thế mà chàng thiếu nữ vẫn có thể luồn trái lách phải như bươm bướm xuyên hoa. Thiếu phụ áo xanh hất ngã hầu hết bàn ghế trong quán nhưng cũng chẳng chạm được vào người chàng. Thiếu niên quát: “Mụ già ăn mày kia, sao mụ lại ngang ngược vô lý đến thế?” thiếu phụ áo xanh nói: “Ai bảo tên điên nhà ngươi không nói lý lẽ?” chưởng phong càng dữ dội hơn, chỉ trong chốc lát, bàn ghế trong quán trà chẳng còn nguyên vẹn, thiếu phụ áo xanh đạp bừa lên đống bàn ghế đuổi theo chàng thiếu niên. Chàng thiếu niên nói: “Đừng phá hoại đồ đạc của người khác, muốn đánh hãy ra ngoài!” thiếu phụ áo xanh nói: “Được, cứ ra ngoài!” thiếu niên quát: “Nơi đây là thắng cảnh, không phải nơi tỉ thí, muốn đánh ngày mai đến Cửu khê thập bát giản mà phân cao thấp”.

Nào ngờ thiếu phụ áo xanh lại lạnh lùng cười: “Đừng hòng giở kế hoãn binh!” tay vẫn không chậm lại, lúc này bàn ghế đều đã ngã nghiêng, thiếu phụ thi triển thân pháp và bộ pháp Mai hoa trang, liên tục sấn về phía chàng thiếu niên. Chàng thiếu niên chẳng né tránh được nữa, chỉ đành đạp bừa lên đống bàn ghế chống cự với mụ ta, đánh được một hồi dần dần lọt xuống thế hạ phong.

Cam Phụng Trì không kìm được nữa, định ra tay khuyên nhủ. Lữ Tứ Nương chợt kéo chàng ta lại, nói: “Chúng ta đi thôi!” Cam Phụng Trì nói: “Tại sao?” Lữ Tứ Nương chỉ ra ngoài, chỉ thấy trên mặt hồ có một con thuyền nhỏ lướt tới, trên thuyền có một hòa thượng béo, tay cầm một cây thiền trượng, ngực phanh ra đón gió, người này chẳng phải ai khác mà chính là Liễu Ân!

Cam Phụng Trì thất kinh, một nửa võ công của chàng ta là do Liễu Ân truyền thụ, tuy chàng ta đã biết Liễu Ân bội sư phản nghĩa, đã sớm cắt tình huynh đệ, nhưng đây là lần đầu tiên chàng gặp y sau khi y bỏ chánh theo tà, trong khoảng sát na này, chàng vẫn coi Liễu Ân như sư huynh, nhớ đến y đã từng truyền võ công cho mình, trong nhất thời không biết có nên đối địch với y hay không.

Võ công của Lữ Tứ Nương do Độc tý thần ni truyền thụ, nàng không hề sợ Liễu Ân, thấy Cam Phụng Trì trố mắt ra thì nói: “Hai người chúng ta liên thủ đấu với y, sẽ nắm chắc phần thắng nhưng không biết có ai đi theo y hay không, vả lại không nên đánh nhau ở nơi này, chi bằng đi thôi!”

Ông già dựa sát vách tường, thấy thế kinh hãi, liên tục kêu lên: “Ngừng tay, ngừng tay, có chuyện gì cứ từ từ nói, sao lại đánh nhau như thế?” thiếu phụ áo xanh chợt cười lạnh nói: “Suýt nữa ta quên tên điên này còn có đồng bọn, Yến nhi, hãy bắt Tào lão đầu!” nàng thiếu nữ vâng một tiếng, lướt người tới, bàn tay nhỏ chụp xuống đầu Xa Đỉnh Phong.

Xa Đỉnh Phong phân hai chưởng, tưởng rằng đối phương chỉ là một bé gái hơn mười tuổi, bởi vậy chỉ cần gạt tay ra là xong, nào ngờ thiếu nữ tuổi còn nhỏ mà ra tay rất hiểm học, chưa chụp trảo xuống đã lập tức biến chiêu, chưởng trái đẩy vào cùi chỏ của kẻ địch, chưởng phải luồn qua cánh tay của kẻ địch kéo giật lại, Xa Đỉnh Phong kêu thảm một tiếng, cánh tay phải đã bị trật khớp, nàng thiếu nữ vỗ chưởng trái đánh bốp một tiếng, lại trúng vào ngực của ông ta!

Lúc này con thuyền nhỏ của Liễu Ân đã dần cập sát tới.

Lữ Tứ Nương và Cam Phụng Trì đang định chạy ra, tai nghe Xa Đỉnh Phong kêu thảm, thế là đùng đùng nổi cáu. Cam Phụng Trì nói: “Muội đi cứu ông già ấy, huynh giúp chàng thiếu niên”. Lữ Tứ Nương không đợi Cam Phụng Trì nói xong đã bay vọt người lên rồi đột nhiên nhảy bổ xuống, chụp vào hậu tâm của Xa Đỉnh Phong giở ông ta lên. Nàng thiếu nữ đúng là ngựa non háu đá, đã thấy khinh công của kẻ địch trác tuyệt như thế mà chẳng hề sợ hãi, nhân lúc Lữ Tứ Nương chưa đứng vững, hai chỉ đã đâm tới nhanh như điện chớp vào huyệt Khúc Trì của Lữ Tứ Nương. chiêu này đúng là hiểm hóc vô cùng!

Chỉ thấy Lữ Tứ Nương hơi lách người, chưởng trái đẩy ra, hóa giải chiêu số của nàng thiếu nữ, nàng thiếu nữ lách người, đột nhiên tung cước quét một đòn Hoành giang kích đấu, chưởng trái trở tay chém ngược lại, tay trái hợp chỉ thành chưởng, sử dụng chiêu số Cầm Nã. Lữ Tứ Nương nghiêng người kéo Xa Đỉnh Phong ra sau, đẩy một tay ra phía trước hóa giải đòn Cầm Nã thủ của nàng thiếu nữ; nàng thiếu nữ chẳng biết tiến lùi, tiếp tục bổ chưởng ra. Lữ Tứ Nương vừa giận vừa buồn cười, chưởng phải hạ xuống rồi đẩy ra ngay, hóa thành Thuận Thủy Thôi Châu, chưởng này hàm chứa nội lực, không những đã phá giải chưởng thế của nàng thiếu nữ mà còn chặn chưởng thế của nàng lại, khiến nàng không thể nào phát ra chiêu thức được, muốn rút về cũng chẳng xong. Lúc này Lữ Tứ Nương chỉ cần hơi dùng kình, nàng thiếu nữ chắc chắn bị nội thương, khuôn mặt nàng ta đỏ ửng trông rất đáng yêu. Lữ Tứ Nương không nỡ đả thương nàng, lập tức thu chưởng lại, chụp Xa Đỉnh Phong xông ra ngoài. Nàng thiếu nữ hoảng hồn, dựa vào tường thở hổn hển.
Lại nói thiếu phụ áo xanh sắp đắc thủ, chợt Cam Phụng Trì nhảy vọt vào, vỗ vù ra một chưởng, thiếu phụ nghe chưởng phong biết ngay là kình địch, thế là hai chưởng hợp lại rồi đẩy ra phía trước, cả hai bên đều thấy cánh tay tê rần. Thiếu phụ áo xanh thất kinh, chưởng pháp thay đổi, một chân tiến về phía trước, hai chưởng tiếp tục đẩy về phía trước, chiêu này gọi là Khoa Hổ Đăng Sơn, trong chưởng có dồn âm kình. Cam Phụng Trì lảo đảo tựa như kẻ say, người ngửa ra phía sau, đột nhiên chồm về phía trước, tay phải xuyên lên, thiếu phụ đẩy chưởng lực tới, chỉ cảm thấy như trúng vào vật mềm mại, Cam Phụng Trì chợt quát: “Ngã!” bàn tay phải đã chập vào phía dưới cánh tay trái của thiếu phụ, chưởng trái đã vỗ ngang vào huyệt Thái Dương bên mang tai của mụ ta. Đây chính là công phu bí truyền Triêm Y thập bát điệt của Độc tý thần ni, trong số các đệ tử của Độc tý thần ni chỉ có Liễu Ân và Cam Phụng Trì biết sử dụng, còn Lữ Tứ Nương khi vào sư môn tuổi vẫn còn trẻ, công lực chưa đủ, chưa được truyền thụ. Đối phó với những kẻ võ công tầm thường, không cần ra tay, chỉ cần mượn lực xử lực thì có thể quật ngã kẻ địch. Cam Phụng Trì biết thiếu phụ áo xanh là kình địch nên một mặt dùng công phu nội gia thượng thừa Triêm Y thập bát điệt hóa giải chưởng lực của mụ ta, mặt khác dùng công phu Phân cân thác cốt và Đại suất bi thủ phản đòn!

Thiếu phụ áo xanh không kịp đề phòng, cánh tay trái đã bị Cam Phụng Trì tóm chặt, người ngã sấp về phía trước, nhưng nội công của mụ ta tinh thâm, khi lảo đảo sắp ngã, cùi chỏ táng qua, mượn lực kéo của Cam Phụng Trì chúi về phía trước, Cam Phụng Trì hóp ngực thu bụng, định dùng tiếp công phu Triêm Y thập bát điệt hóa giải cú táng của mụ ta, nào ngờ cú táng ấy chỉ là hư chiêu, mụ ta chùi người về phía trước, trầm vai buông chỏ, hóa giải chân lực nội gia của Cam Phụng Trì.

Cam Phụng Trì vỗ chưởng phải qua, chưởng phong quét qua màng tang của thiếu phụ áo xanh, khiến mụ bị thương. Thiếu phụ áo xanh cũng rút tay trái ra, loạng choạng mấy bước, mấy chiêu ấy hung hiểm cùng cực, chàng thiếu niên cũng phải hoa mắt.

Cam Phụng Trì liên tục sử dụng công phu Triêm Y thập bát điệt, thế mà chẳng quật ngã được thiếu phụ áo xanh, trong lòng thầm lấy làm lạ, lúc này Lữ Tứ Nương đã xông ra khỏi quán trà, Bạch Thái Quan và Ngư Nương cũng đuổi theo, Cam Phụng Trì kêu thiếu niên: “Chạy mau!” đột nhiên cúi người chụp hai chiếc ghế ném về phía thiếu phụ áo xanh, thiếu phụ áo xanh đẩy hai chưởng ra, đánh vỡ hai chiếc ghế thành bốn mảnh. Thiếu niên cũng thoát ra ngoài.

Cam Phụng Trì vội đuổi theo Lữ Tứ Nương, chui vào thuyền, dong buồm lướt đi. Con thuyền nhỏ của thiếu niên thì đậu ở bên cạnh, lúc này chàng ta cũng vừa mới nhảy lên thuyền. Thiếu phụ áo xanh chạy theo, chợt thấy Liễu Ân đứng ở đầu thuyền, vội kêu: “Bảo quốc thiền sư, đuổi theo tiểu tặc!” Liễu Ân nói: “Tiểu tặc nào?” thiếu phụ áo xanh nói: “Người trên hai con thuyền ấy đều là kẻ thù, ông bắt tên tiểu tặc trên chiếc thuyền họa bên trái trước cho tôi!”

Con thuyền của chàng thiếu niên đã lướt được hơn mười dặm, Liễu Ân ngồi xuống, dùng thuyền trượng quạt nước, con thuyền nhỏ lướt về phía chàng thiếu niên nhanh như tên bắn. Lúc này thuyền của Lữ Tứ Nương cách thuyền của Liễu Ân đến mấy mươi trượng, thấy Liễu Ân sắp sáp tới chàng thiếu niên, nàng đột nhiên quay đầu thuyền, nói: “Thất ca, xem ra thiếu niên kia là người cùng phe của chúng ta, chúng ta quay lại cứu y”. Cam Phụng Trì nói: “Được, cẩn thận một chút!” rồi quay đầu thuyền chèo vào giữa hai con thuyền.

Con thuyền của Liễu Ân lướt tới rất nhanh, trong chốc lát đã đuổi theo con thuyền họa, chàng thiếu niên chợt thấy một hòa thượng béo đuổi theo, trông uy phong lẫm lẫm tựa như tượng kim cương canh giữ sơn môn, không khỏi tức giận nói: “Ta đâu có oán thù gì với các ngươi, sao các ngươi lại hiếp người quá thể!” Liễu Ân chẳng màng tới, giở cây thiền trượng đứng trên đầu thuyền, rồi đánh vù tới một trượng! Chàng thiếu niên thấy y quá hung dữ, rút thanh kiếm gạt qua đánh keng một tiếng, lửa bắn ra tung tóe, thanh kiếm suýt nữa vuột khỏi tay!

Vốn là kiếm pháp của chàng thiếu niên cực cao, nếu ở trên bờ, dù chàng ta không đánh lại Liễu Ân cũng cầm cự được năm bảy mươi chiêu, nhưng giờ đây mỗi bên đều đứng trên con thuyền của mình ra tay, dù kiếm chiêu trác tuyệt cũng không thể nào thi triển, kiếm và trượng chạm nhau, ai lực mạnh hơn là thắng, Liễu Ân múa tít cây thiền trượng kêu lên vù vù bổ thẳng xuống như núi Thái đè đầu. Chàng thiếu niên chống cự không nổi, chàng ta lách người phóng lên mái thuyền, Liễu Ân quát lớn, quét cây thiền trượng đánh gãy cột buồm, chàng thiếu niên bị chao đảo, Liễu Ân quát một tiếng, quét tới trượng thứ nhất, lại đánh tiếp trượng thứ hai, con thuyền nghiêng qua, đánh tiếp trượng thứ ba, mái thuyền đã vỡ toác, chàng thiếu niên ngã chúi xuống nước, con thuyền nhỏ lật úp trên mặt hồ!

Liễu Ân đứng trên đầu thuyền cười lớn, chợt giở cây thiền trượng hua xuống nước một hồi. Ngay lúc đó, con thuyền nhỏ của Lữ Tứ Nương đã lướt tới như tên bắn, Bạch Thái Quan nói: “Chàng thiếu niên đã bị đánh rơi xuống hồ, làm sao đây?” Ngư Nương nói: “Không sao, chỉ cần y không bị đánh trúng, muội có thể cứu!” rồi đột nhiên nhảy ùm xuống nước.

Liễu Ân khua loạn cây thiền trượng xuống nước một hồi, con thuyền nhỏ của hai người Cam, Lữ đã lướt tới. Cam Phụng Trì và Bạch Thái Quan tuy đã cải dạng, nhưng không qua nỗi mắt Liễu Ân. Liễu Ân đột nhiên rút cây thiền trượng lên, quát lớn: “Cam Phụng Trì, ngươi cũng đến đây đối chọi với ta?”

Cam Phụng Trì cầm đao trên tay, đáp: “Tiểu đệ không dám đối chọi với sư huynh, nếu sư huynh gạt bỏ lòng danh lợi, tuân theo lời dạy của sư phụ, bọn đệ vẫn tôn trọng sư huynh...” Liễu Ân không đợi chàng ta nói xong đã quát: “Nếu không thì sao?” Cam Phụng Trì lạnh lùng nói: “Nếu sư huynh cứ cố chấp, vậy huynh chẳng còn là người trong bổn môn, tiểu đệ cũng không dám coi huynh là huynh trưởng”. Liễu Ân tức đến nỗi chân mày dựng ngược, quát: “Cam Phụng Trì, ngươi có nhớ ai đã truyền võ nghệ cho ngươi, ai đã giúp cho Giang Nam đại hiệp nhà ngươi lừng lẫy giang hồ?” Cam Phụng Trì rất thông minh, trước khi Liễu Ân phản bội, y rất yêu mến chàng ta, khi dạy dỗ cho chàng rất dụng công bởi vậy mới luôn nhắc đến ân nghĩa. Nhưng trên thực tế, Liễu Ân đặc biệt dụng tâm truyền võ nghệ cho chàng là thật, còn về danh hiệu Giang Nam đại hiệp là do Cam Phụng Trì tự phấn đấu mà có chứ chẳng liên quan gì đến Liễu Ân. Nhưng sau khi chàng ta có danh tiếng lẫy lừng, Liễu Ân đố kỵ trong lòng, nên gặp ai cũng bảo mình đã giúp chàng ta. Thậm chí trước mặt Cam Phụng Trì cũng nói như thế.

Cam Phụng Trì đương nhiên chẳng tính toán gì, nghe y mắng như thế trong lòng trái lại thấy chua xót, thầm than sư huynh của mình đã ra nông nỗi này. Liễu Ân thấy chàng ta đỏ ửng mắt, tưởng chàng hối hận tự trách, y giằng cây thiền trượng xuống đầu thuyền, nói: “Ngươi có thể biết sai là tốt, giờ hãy đi theo ta. Này, con Bạch Thái Quan nhà ngươi thì sao? Ngươi quyết đối chọi đến cùng với ta?” Cam Phụng Trì không kìm được nữa, nghe Liễu Ân nói như thế, chợt trợn mắt nói lớn: “Sư huynh, biết lỗi có thể sửa, thật là tốt biết bao nhiêu! Nhưng mong sư huynh tự hỏi lại mình, rốt cuộc là ai đã sai? Điều đầu tiên trong mười sáu giới điều sư phụ dạy nói gì? Ơn của sư huynh tuy sâu nhưng nghĩa của sư môn càng nặng hơn, đệ thà phản bội sư huynh chứ không đi ngược lại với đại giới của sư phụ!”

Nghe đến đây, Lữ Tứ Nương chợt lớn giọng nói: “Cái gì mà sư huynh với không sư huynh, y đã không còn là sư huynh của chúng ta từ lâu, thất ca, cần gì xưng đệ gọi huynh với y?” Liễu Ân trợn mắt, giằng cây thiền trượng xuống, cười rộ lên: “Ồ, té ra là do con tiện tì nhà ngươi đứng ở giữa bới móc!” Rồi vận đủ mười phần lực, quét vù qua một chưởng, Cam Phụng Trì đứng gần y nhất, chàng ta vung đao chặn lại, chấn động đến nỗi hổ khẩu đổ máu, Liễu Ân cũng lắc lư, trong lòng thầm nhủ: “Chả trách nào tiếng tăm của y lừng lẫy đến thế, công phu quả thật giỏi hơn lúc trước nhiều!”

Cam Phụng Trì chặn được một chiêu, biết mình vẫn chưa địch nổi sư huynh, trượng thứ hai của Liễu Ân đã quét tới, Cam Phụng Trì vận kình vào hai chân, đẩy vào mặt thuyền, con thuyền lướt ngang sang một bên, tránh được một trượng, Liễu Ân lại vung tiếp trượng thứ ba, Lữ Tứ Nương chợt cười dài, phóng vọt lên cao, cây Sương Hoa kiếm vẫy ra một đóa kiếm hoa từ trên không đâm xuống. Liễu Ân vung trượng lên trên, cây kiếm của Lữ Tứ Nương đè lên thân trượng, người lại bắn lên không trung, Cam Phụng Trì thất kinh, Lữ Tứ Nương lộn một vòng trên không trung, cả người lẫn kliếm bổ nhào xuống, Liễu Ân quát lớn: “Ngươi đã chán sống!” rồi cây thiền trượng từ dưới móc lên, kình phong quét tới, tà áo của Lữ Tứ Nương bay phất phới tựa như tiên nữ đạp gió, tư thế đẹp tuyệt vời! Liễu Ân đã dốc hết nội lực trong trượng này, mũi kiếm của Lữ Tứ Nương điểm vào đầu trượng, lại bắn mình lên không trung, Cam Phụng Trì vung tay, hai mũi trủy thủ phóng về phía Liễu Ân, Lữ Tứ Nương lộn một vòng tròn trên không trung, cả người lẫn kiếm lại hạ xuống, uy thế càng kinh người. Hay cho Liễu Ân, y vươn tay trái hớt hai mũi trủy thủ, cây thiền trượng vung lên, lại quét về phía vòng kiếm quang của Lữ Tứ Nương, Lữ Tứ Nương đạp mũi giày vào cây thiền trượng, lại bắn mình lên cao hơn, những ngư phủ ở gần đấy đứng cả lên thuyền ngó qua, lòng cứ ngỡ là tiên nữ bay xuống Thái Hồ.

Liễu Ân hòa thượng vung cánh tay trái, hai mũi trủy thủ bay ngược về phía Cam Phụng Trì, Cam Phụng Trì không dám hớt trủy thủ, chàng lách người, hai mũi trủy thủ cắm lên ván thuyền. Lúc này Lữ Tứ Nương lại từ trên không hạ là là xuống, kiếm quang tỏa ra bốn hướng, lối đánh này đúng là hiếm có xưa nay, cả Cam Phụng Trì cũng ngẩn người ra. Liễu Ân thầm lo, không ngờ khinh công của nàng tiểu sư muội này lại tinh diệu hơn so với lúc ở đảo Điền Hoành! Lữ Tứ Nương trải qua năm năm khổ luyện ở dãy Tiên Hà, lúc này thi triển, tưởng rằng một đòn có thể đánh thắng, nào ngờ vẫn chẳng làm gì được Liễu Ân, trong lòng cũng phát hoảng. Lối đánh này rất hao phí tinh thần, chỉ cần sơ ý thì sẽ bị thiền trượng quét nát thây.

Liễu Ân ngưng thần múa trượng, vừa chặn được nhát kiếm thứ tư của Lữ Tứ Nương, đột nhiên con thuyền chòng chành, ván thuyền vỡ toác ra, nước chảy vào ồ ồ, cả con thuyền dần dần chìm xuống, té ra đó là trò của Ngư Nương!

Ngư Nương lớn lên ở vùng biển, tinh thông thủy tính, dù phong ba sóng gió cũng chẳng sợ, huống chi đây chỉ là Tây Hồ tĩnh lặng! Nàng lặn xuống nước, vốn là cứu chàng thiếu niên kia nhưng tìm mãi vẫn chẳng thấy, còn trên thuyền Lữ Tứ Nương đang đánh nhau với Liễu Ân, nàng ló đầu lên nhìn, thấy Lữ Tứ Nương gặp nguy, đột nhiên nghĩ ra một tuyệt chiêu, thế là lặn xuống đáy thuyền, rút cây bội đao, chỉ trong chốc lát đã đục lủng một lỗ lớn ở thuyền của Liễu Ân!

Liễu Ân võ công cực cao nhưng lại không giỏi thủy tính, không khỏi luống cuống chân tay, Lữ Tứ Nương từ trên không đâm xuống nhát kiếm thứ năm, Liễu Ân kêu lớn: “Không phải ngươi chết thì ta vong!” thế là chân điểm vào đầu thuyền, tung người lên cao hai mươi hai trượng, bổ cây trượng về phía Lữ Tứ Nương, đồng thời tay trái vung ra toan tóm lấy Lữ Tứ Nương trên không trung!

Cam Phụng Trì và Bạch Thái Quan đồng thời kêu hoảng, Cam Phụng Trì ném trủy thủ, Bạch Thái Quan vãi Mai Hoa châm, Liễu Ân múa tít cây trượng một vòng, trong tiếng trượng phong vù vù Lữ Tứ Nương đột nhiên bay trở về con thuyền nhỏ như một viên đạn! Cam Phụng Trì cả kinh, vội vàng nhảy vọt vào trong khoang, Lữ Tứ Nương bật dậy, cười nói: “Nguy hiểm thật!” Cam Phụng Trì thấy nàng chẳng hề gì mới yên lòng, chợt con thuyền nhỏ chao đảo, chỉ nghe Bạch Thái Quan kêu: “Thất ca ra đây!” Cam Phụng Trì vội vàng chạy ra, chỉ thấy con thuyền của Liễu Ân sắp chìm xuống, Liễu Ân nhảy lên mái thuyền, múa cây thiền trượng bổ mạnh xuống con thuyền của mình, hai con thuyền cách nhau khoảng hai ba trượng, cây thiền trượng chẳng thể nào đánh tới, nhưng trượng phong vù vù, thanh thế cũng rất ghê gớm. Liễu Ân đang tìm cách đẩy hai con thuyền gần nhau, Bạch Thái Quan giơ cây phát đao đứng trên đầu thuyền, sắc mặt tái xanh!

Cam Phụng Trì kêu: “Ngũ ca, để tiểu đệ tiếp một trượng”. Rồi xông tới trước mặt Bạch Thái Quan, Liễu Ân xoay gót chân một cái, con thuyền xoay một vòng, hai con thuyền đã gần nhau hơn một trượng, Liễu Ân quát lớn một tiếng, đột nhiên phóng vọt người lên bổ xuống một trượng về phía Cam Phụng Trì, Cam Phụng Trì dốc hết thần lực đánh ngang một đao, trượng và đao giao nhau, Cam Phụng Trì thấy một luồng lực lớn dồn tới, hổ khẩu rách toác, cây hồng mao đao trong tay bay bổng lên không trung, còn người thì bị chấn động lùi vào khoang thuyền.

Cam Phụng Trì té ngửa xuống, Liễu Ân suýt nữa cũng rơi xuống nước. Té ra công lực của Cam Phụng Trì tuy không bằng Liễu Ân nhưng cách nhau cũng không xa lắm. Chàng ta dốc hết sức mình đỡ một đao, Liễu Ân đang ở trên không trung, sau đao ấy thì không thể phát được lực nữa, bị chân lực nội gia của Cam Phụng Trì chấn động, lộn một vòng trên không trung, lọt xuống con thuyền đang lâm nguy của y! Ngư Nương ở dưới nước dùng lực kéo một cái, con thuyền nhỏ trên dưới đều chịu lực, lập tức lật úp!

Liễu Ân không thông thủy tính, lúc này chân đã chìm xuống nước, Ngư Nương dùng kiếm chém y, bị y dùng trượng khuấy dưới nước một cái, đôi trượng chạm với mũi kiếm, lực đạo tuy không mạnh nhưng Ngư Nương cũng không chọi nổi, thanh kiếm rơi xuống đáy hồ, thế là nàng vội vàng lặn xuống nhặt, không dám tấn công y nữa.

Liễu Ân trong lúc lâm nguy sinh trí, y cúi người xuống bẻ một mảnh ván thuyền, ném xuống nước, người bốc lên, mũi chân điểm xuống mảnh ván đang trôi lền bền, rồi lại tung người vọt lên cao, khi vọt lên cao thì dùng trượng đẩy miếng ván thuyền trôi đi, khi hạ xuống, vẫn dùng cách này, mượn một mảnh ván thuyền làm bàn đạp phóng lên bờ.

Sau khi đánh úp thuyền của Liễu Ân, Ngư Nương trồi lên mặt nước, leo lên con thuyền nhỏ, vội vàng quay đầu thuyền trèo về phía Cô Sơn, chiếc thuyền lướt đi như tên bắn, khi Liễu Ân phóng lên bờ, bọn Lữ Tứ Nương đã qua bờ bên kia.

Cam Phụng Trì cõng Xa Đỉnh Phong cố ý đi một đoạn đường vòng rồi trở về khách sạn, may mà không gặp kẻ địch.

Lữ Tứ Nương thở phào, nói: “Tên phản tặc thật lợi hại!” rồi bảo với Bạch Thái Quan: “Huynh hãy bôi thuốc trị thương cho lão trượng trước, lát nữa muội và thất ca sẽ tiếp xương cho ông ta”. Rồi nàng lập tức ngồi xếp bằng điều tức. Cam Phụng Trì cũng làm thế. Ngư Nương thấy thế ngạc nhiên, Bạch Thái Quan nói: “May mà có thất ca tiếp hộ huynh một trượng”. Té ra hai người Cam, Lữ bị trượng lực của Liễu Ân chấn động, sợ bị nội thương nên ngồi xếp bằng tịnh tọa vận khí điều nguyên. Một hồi sau, cả hai người đứng dậy, nói: “May mà không có chuyện gì!”

Chính là:

Đồng môn ác đấu, khiếp vía kinh tâm.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 18: Nghi mưa nghi gió nói dối kể chuyện xưa Nửa thật nửa ảo có ý dò chuyện trước

Ngư Nương mỉm cười bước tới nắm tay Lữ Tứ Nương: “Tỷ tỷ, không ngờ tỷ tỷ xinh đẹp như thiên tiên mà võ công lợi hại đến thế!” Lữ Tứ Nương cười nói: “Nếu không nhờ muội đánh úp thuyền của tên ác tặc, không biết trận đấu này sẽ ra sao!”

Lúc này Bạch Thái Quan đã bôi thuốc kim sang cho Xa Đỉnh Phong, Xa Đỉnh Phong hé mắt, mặt vàng ệch. Cam Phụng Trì tức giận nói: “Ả này ra tay thật độc ác!” Lữ Tứ Nương bước tới nói: “May mà khí lực của nàng ta còn kém, chỉ gãy một xương sườn”. Cam Phụng Trì giỏi thuật tiếp gân nối xương, trước tiên sửa khớp cho ông ta, sau đó mới băng bó lại. Một hồi sau, Xa Đỉnh Phong dần dần hồi phục tinh thần, ông ta mở mắt, khẽ gật đầu tỏ ý cảm tạ. Lữ Tứ Nương nói: “Ông hãy nằm nghỉ một lát”. Xa Đỉnh Phong thều thào nói: “Xin hỏi ân công cao tính đại danh?” Lữ Tứ Nương cười nói: “Tiên tổ họ Lữ, tên hiệu là Vãn Thôn, lão trượng có quen biết không?” Xa Đỉnh Phong kêu ối chao một tiếng nói: “Có phải ân công là công tử của tiên sinh Bảo Trung hay không? Năm xưa tôi tuy không phải là môn nhân nhưng cũng từng được lệnh tổ chỉ điểm”. Ông ta gắng gượng toan ngồi dậy bái tạ. Lữ Tứ Nương vội vàng đỡ ông ta nằm xuống, nói: “Lão trượng là trưởng bối của tôi, y nhân thường nhắc tới, xin đừng khách sáo”. Xa Đỉnh Phong vẫn còn đau, thấy Lữ Tứ Nương coi ông ta như bậc trưởng bối nên cũng đành thôi. Cam Phụng Trì nói: “Thiếu niên đi cùng lão trượng là ai?” Xa Đỉnh Phong nhìn Cam Phụng Trì rồi nói: “Y... y...” Lữ Tứ Nương biết ông ta e ngại, nói: “Đây là sư huynh của tôi”. Xa Đỉnh Phong rùng mình, chợt nhớ Lữ Bảo Trung không có con trai, định thần nhìn lại Lữ Tứ Nương một hồi rồi nói: “Xin thứ cho tôi mạo muội, tôi nhớ Bảo Trung tiên chỉ có một người con gái tên gọi Oanh nhi, không biết có đi cùng thế huynh hay không?” Lữ Tứ Nương mỉm cười tháo khăn xuống, nói: “Không dám giấu gì, Lữ Oanh là tôi”. Xa Đỉnh Phong cả mừng nói: “Từ lâu đã nghe nữ hiệp có tuyệt thế võ công, hôm nay được gặp quả nhiên không sai. Ở dưới suối vàng lệnh tôn cũng được nhắm mắt”. Lữ Tứ Nương nghe ông ta nhắc đến cha mình bất giác rơi nước mắt. Xa Đỉnh Phong lại nói: “Còn đây có phải là người trong Giang Nam thất hiệp không?” Lữ Tứ Nương nói: “Đây là thất sư huynh Cam Phụng Trì”. Xa Đỉnh Phong mừng rỡ, chống tay nhổm dậy nói: “Không ngờ lại gặp Giang Nam đại hiệp ở đây!” vì vui mừng quá độ nên chợt kêu ối chao một tiếng rồi ngất đi.

Một lát sau Xa Đỉnh Phong vẫn chưa tỉnh dậy, mọi người về phòng nghỉ ngơi, ăn cơm tối xong, Lữ Tứ Nương, Cam Phụng Trì và Bạch Thái Quan ngồi lại bàn bạc, Lữ Tứ Nương nói: “Việc không thể chậm trễ, hôm nay muội muốn dò thám một phen”.

Bạch Thái Quan nói: “Vậy cứ để Ngư Nương canh giữ ở đây, chúng ta cùng đi”. Cam Phụng Trì nghĩ ngợi nói: “Người đông trái lại sẽ đánh cỏ động rắn. Chi bằng cứ để một mình bát muội đi trước, sau khi tìm ra hư thực chúng ta lại sẽ đi bước tiếp theo cũng không muộn!” té ra Cam Phụng Trì vì sợ Liễu Ân đang ở phủ nha, mà khinh công của Lữ Tứ Nương lại trác tuyệt, dù y có biết cũng chẳng làm gì được nàng. Bạch Thái Quan nghĩ ngợi cũng hiểu ý của Cam Phụng Trì nên không nói gì thêm.

Lữ Tứ Nương ăn cơm tối xong, ngủ một giấc ngắn, nghe tiếng trống điểm canh ba mới thức dậy, thay bộ đồ dạ hành màu đen, lướt người ra khỏi cửa sổ. Sau khi ra khỏi khách sạn, Lữ Tứ Nương chạy như làn khói vào trong thành. Đến phủ nha, nàng nhảy vào hậu viên, trong khi bọn chúng chẳng phát hiện ra nàng.

Hậu viên nối liền với nội thất của phủ nha, Lữ Tứ Nương phóng lên mái nhà, thầm nhủ: “Tìm Lý Minh Châu hỏi thử xem”. Chợt thấy ở mái nhà đằng xa có một bóng người lướt tới, Lữ Tứ Nương thầm cười: “Không ngờ có người đồng đạo, xem thử y là ai?” nàng phóng người lướt theo sau lưng người ấy, được một đoạn nàng búng hai ngón tay vào nhau đánh tách một tiếng, rồi vội vàng nhảy tránh qua một bên, người ấy quay đầu lại, dưới ánh trăng hạ huyền tuy không rõ ràng nhưng Lữ Tứ Nương có thể nhìn thấy đó chính là chàng Lý công tử đã gặp ban ngày. Chàng ta quay đầu lại, không thấy bóng người, rất ngạc nhiên nên phóng người vào nội viện.

Lữ Tứ Nương bám theo chàng ta nhẹ nhàng nhảy xuống, trong phòng chợt có hai ả nha đầu bước ra, chàng Lý công tử ấy nấp sau một gốc cây, Lữ Tứ Nương lại nhún người phóng vọt lên xà ngang, chỉ nghe một ả nha đầu nói: “Tiểu thư và sư phụ đã qua bên ấy, nghe nói là đi gặp Bảo quốc thiền sư gì đó, tỷ không cần bưng tổ yến đường phèn lên nữa”. Một người nói: “Nhưng thiếu nữ ấy lại cần. Hừ, không biết ả là thiên kim nhà đại phú đại quý gì mà cả tổ yến của tiểu thư chúng ta cũng chê dở, bảo là không bằng ở nhà ả!” hai ả nha đầu ca cẩm một lúc rồi đi ra ngoài.

Lữ Tứ Nương không màng theo chàng Lý công tử ấy nữa mà phóng lướt về phía trước mặt hai ả nha đầu, chợt thấy thiếu phụ áo xanh và Liễu Ân đi tới, Lữ Tứ Nương cả kinh, nằm phục trên mái nhà không dám động đậy, Liễu Ân và thiếu phụ bước vào phòng, căn phòng này nằm ở bên dưới nàng. Lữ Tứ Nương nhẹ nhàng đẩy mái ngói ra nhìn xuống, Liễu Ân vừa bước vào, chợt nghe thiếu phụ gằng giọng nói: “Hừ, Lữ Tứ Nương!” Liễu Ân trợn mắt hỏi: “Lữ Tứ Nương thế nào?”

Thiếu phụ áo xanh nói: “Bảo quốc thiền sư, sao ông lại dung túng sư muội như thế?” Liễu Ân hừ một tiếng, không thể nói ra lời. Thiếu phụ lại nói: “Chả lẽ chẳng có tên sư đệ nào nghe lời ông?” Liễu Ân tức giận nói: “Không có bọn chúng cũng được”. Ngừng một hồi rồi lại tiếp: “Chắc bà đã hiểu ý của tôi rồi chứ?” Thiếu phụ nói: “Không phải ông đem mật thư của Tứ bối lạc đến cho Lý đại nhân sao?” Liễu Ân nói: “Ngoài ra còn có ba việc”. Thiếu phụ nói: “Xin nói”. Liễu Ân nói: “Việc thứ nhất, Lộ Dân Đảm tuy đã đắc tội với đại nhân nhà bà nhưng đó là sư đệ của tôi, phải do tôi xử trí”. Thiếu phụ cười nói: “Vốn là như thế, nhưng cũng không tiện lắm. Y bị nhốt ở gian phòng này, lát nữa ông vào mật thất sẽ biết ngay”. Liễu Ân nhíu mày: “Ai canh giữ y?” Thiếu phụ nói: “Là Lý tiểu thư của chúng tôi!” lúc này Lữ Tứ Nương mới hiểu ra tại sao thiếu phụ lại dắt Liễu Ân vào nơi này, té ra Lộ Dân Đảm bị nhốt ở đây.

Lữ Tứ Nương ngưng thần lắng nghe, chỉ nghe Liễu Ân hừ một tiếng nói: “Đồ đệ của bà thật vô sỉ!” thiếu phụ mặt biến sắc, nói: “Bảo quốc thiền sư, ông không được mắng bừa như thế! Chả lẽ đồ đệ của tôi không xứng với sư đệ của ông?” Liễu Ân nói: “Việc này phải do ta làm chủ”. Thiếu phụ chợt cười nói: “Không cần ông nôn nóng, tôi thấy họ đã quyết định chuyện chung thân. Sư đệ của ông lúc đầu vẫn còn cứng cỏi, chẳng hề màng đến tiểu thư của chúng tôi nhưng giờ đây đã cười nói thân mật tựa như một cặp tiểu phu thê!” Liễu Ân nói: “Được, dù họ có thành thân, Dân Đảm cũng phải theo tôi đến kinh thành”. Thiếu phụ nói: “Chỉ cần ông có thể thuyết phục y, tôi y ăn nói rất bất kính với ông!” Liễu Ân cả giận, vỗ bốp lên cái bàn, nói: “Y dám như thế!” Thiếu phụ vội vàng nói: “Bảo quốc thiền sư bớt giận, dù sao sư đệ của ông cũng không chạy thoát nổi, ông có thể từ từ dạy dỗ y. Xin hỏi điều thứ hai?”

Sắc mặc của Liễu Ân hơi giãn ra, y chợt cười nói: “Đại tẩu, Hàn đại ca đã gặp bà chưa?” Thiếu phụ nói: “Đã gặp!” Liễu Ân nói: “Các người đã gây nhau mười năm, vợ chồng già cũng nên hòa giải đi thôi”. Thiếu phụ nói: “Ông lại làm thuyết khách cho y?” Liễu Ân nheo mắt cười nói: “Có những chuyện phong lưu vốn chỉ là trò đùa, qua rồi thì xong, đại tẩu, tẩu nói có phải không?” Thiếu phụ hừ một tiếng nói: “Chẳng đàng tử tế gì cả. Chuyện thứ ba?”

Lúc này Lữ Tứ Nương mới biết thiếu phụ lạ vợ của Hàn Trọng Sơn, thầm nhủ: “Mụ ta quả thật biết giữ nhan sắc, trông chỉ như người hơn bốn mươi tuổi”. Nàng từng nghe sư phụ nói: “Hàn Trọng Sơn là sư huynh của Thiên Diệp Tản Nhân, hai sư huynh đệ đều có sở trường, chưởng lực của Thiên Diệp có thể nói là một trong năm người giỏi nhất võ lâm hiện nay; còn ám khí của Hàn Trọng Sơn có thể xếp vào ba người giỏi nhất”. Thiếu phụ áo xanh này chính là Diệp Hoành Ba, vợ của Hàn Trọng Sơn, võ công của mụ cũng rất cao cường. Chả trách nào Cam Phụng Trì cũng chỉ có thể đánh ngang tay với mụ.

Liễu Ân ngập ngừng rồi nói: “Còn đứa bé gái kia? Bảo ả về theo tôi!” Thiếu phụ nói: “Ta đã nhận ả làm nghĩa nữ!” Liễu Ân nói: “Đại tẩu lại đùa rồi, tôi phải dẫn ả đi cho bằng được!” thiếu phụ nói: “Sao ả lại một mình rời khỏi Bắc Kinh?” Liễu Ân nói: “Bà đừng lo chuyện bao đồng, tóm lại là phải trả ả cho tôi”.

Thiếu phụ có vẻ rất không vui, hỏi: “Chừng nào ông về kinh?” Liễu Ân nói: “Ngày mốt”. Thiếu phụ nói: “Vậy ông không màng đến Lữ Tứ Nương? Ả cũng là khâm phạm”. Liễu Ân thầm nhủ: “Lữ Tứ Nương, Cam Phụng Trì, Bạch Thái Quan là ba người võ công cao nhất, nếu mình và Diệp Hoành Ba cự với bọn chúng, e rằng không nắm chắc nổi phần thắng”. Thế rồi trầm ngâm, chợt nói: “Hàn đại ca sắp đến đây phải không?” Thiếu phụ nói: “Việc gì đến tôi?” Liễu Ân nói: “Nếu phu phụ tẩu đồng tâm hợp lực, vậy tôi sẽ bắt Cam Phụng Trì để tẩu hả cơn giận”. Thiếu phụ nói: “Được thôi, ông ở lại thêm hai ngày nữa, đợi lão quỷ ấy đến rồi tính tiếp. Tôi cũng không nỡ rời Yến nhi!”

Liễu Ân chợt nghiêm mặt, nói: “Giờ bà hãy gọi ả đến đây, tôi có chuyện hỏi ả”. Thiếu phụ tỏ vẻ ái ngại, chạy ra ngoài vỗ ba tiếng, chúm môi huýt một tiếng sáo dài, lát sau, có thiếu nữ không biết từ góc nào chạy ra, thiếu phụ nắm tay nàng, nói: “Có quý khách muốn gặp con”. Thiếu nữ ấy bĩu môi nói: “Con không gặp Bảo quốc thiền sư”. Thiếu phụ đẩy nàng vào phòng, trách: “Không nên vô lễ như thế”.

Thiếu nữ thấy Liễu Ân, tựa như rất e sợ, Liễu Ân vẫy tay: “Đến đây!” thiếu nữ lắc đầu nói: “Không!” Liễu Ân nổi sùng nói: “Ngươi vẫn ngang ngạnh, bọn họ cứ chìu ngươi đến hư mất!” thiếu nữ chợt nói: “Tứ bối lạc bảo tôi không cần nghe lời ông. Đừng gần gũi ông”. Liễu Ân nhảy dựng lên: “Cái gì? Ngươi nói bậy!” thiếu nữ cười nói: “Người nói ông là một dâm tăng, này, đại sư phụ, dâm tăng là gì thế?” sắc mặt của Liễu Ân lúc xanh lúc đỏ, không biết có phải Tứ bối lạc đã nói như thế hay không.

Lữ Tứ Nương nghe vừa tức vừa buồn cười, tức là vì sư phụ của mình được người trong võ lâm kêu là Thần ni, thế mà có một đệ tử mang danh dâm tăng, nếu sư phụ ở dưới chính suối mà biết cũng không nhắm mắt; buồn cười là vì Liễu Ân làm ra vẻ nghiêm nghị trước mặt một đứa bé gái, bị nó mắng như thế mà chẳng làm gì được. Lúc đó, chợt bên ngoài có một bóng người lướt tới, nấp ở góc tối, kề tai vào vách tường nghe lén. Lữ Tứ Nương thầm nhủ: “Ồ, y cũng đến đây, thật là lớn gan!” người đó chính là Lý công tử.

Thiếu nữ lại nói: “Tôi ở trong cung buồn bực, ra ngoài rong chơi, các người làm gì mà căng thẳng đến thế, ngày mai tự tôi sẽ trở về”. Liễu Ân nói: “Tứ bối lạc bảo ngươi cùng về với ta”. Thiếu nữ nói: “Người nói có thật không?” Liễu Ân bực dọc nói: “Ngươi cứ nói càn nữa ta vả vào mặt”. Rồi đứng dậy, đưa bàn tay to bè toan vả nàng. Thiếu phụ áo xanh chợt cản: “Bảo quốc thiền sư, đừng nóng nảy, nó sợ thì sao?” thiếu nữ vụt chạy ra ngoài. Chàng Lý công tử lướt ra đuổi theo!

Liễu Ân kêu lớn: “Có trộm!” rồi phóng vọt người đuổi theo. Lữ Tứ Nương biết Lý công tử không phải là đối thủ của chàng, chỉ trong chớp mắt, Liễu Ân đã lướt qua hai mái nhà, thiếu phụ áo xanh cũng đuổi theo, Lữ Tứ Nương nhún người lướt qua một gian nhà, kêu lớn: “Liễu Ân, ngươi có dám tử chiến với ta không?” Liễu Ân cả kinh, đột nhiên thu bước, xoay người lại, Lữ Tứ Nương vung hai tay lên, sáu mũi trủy thủ sáng loáng bay về phía Liễu Ân.

Trừ Liễu Ân, các đệ tử của Độc tý thần ni đều luyện ám khí độc môn, như Bạch Thái Quan luyện Mai Hoa châm, Cam Phụng Trì và Lữ Tứ Nương luyện phi đao, phi đao của Lữ Tứ Nương lại khác với Cam Phụng Trì, ngoại trừ ngắn hơn của Cam Phụng Trì, chui đao trống rỗng, khi phóng ra phát tiếng kêu u u nghe kinh tâm động phách! Liễu Ân múa tít cây thiền trượng, đánh rơi bảy mũi phi đao, tiếng kêu quái dị của phi đao cũng khiến cho y thấy bồn chồn. Khi tinh thần Liễu Ân bất định, Lữ Tứ Nương thi triển khinh công lướt vù qua người y, rồi nàng quay đầu lại phóng ra sáu mũi phi đao, đến khi Liễu Ân đã đánh rơi toàn bộ số phi đao, Lữ Tứ Nương đã nhảy ra khỏi phủ nha. Liễu Ân biết không đuổi theo kịp, thế là nhảy xuống trở lại. Thiếu phụ nói: “Bảo quốc thiền sư, Yến nhi đâu?” Liễu Ân nói: “Cũng đi rồi!” thiếu phụ nói: “Sao không đuổi theo?” Liễu Ân nổi sùng nói: “Bà tự đuổi theo! Con nha đầu này lớn gan như thế, té ra là ả tiện tì Lữ Tứ Nương ngầm giúp”. Thiếu phụ áo xanh nghe nói là Lữ Tứ Nương, một mình làm sao dám đuổi theo?

Lữ Tứ Nương nhảy ra khỏi phủ nha, vọt lên nhà dân, nàng đưa mắt nhìn xung quanh, chỉ thấy gốc Tây bắc có một bóng đen chạy nhanh như ngựa, phóng thẳng ra thành, trước bóng đen, thấp thoáng có một chấm đen lướt đi như sao xẹt. Lữ Tứ Nương biết chấm đen này chính là thiếu nữ, bóng đen ở phía sau có lẽ là chàng thiếu niên ấy. Khi bóng đen chạy ra khỏi thành, Lữ Tứ Nương mới phóng người đuổi theo, đuổi được một chốc, bóng đen dần dần hiện rõ, Lữ Tứ Nương mới chậm bước. Khinh công của chàng thiếu niên cũng coi như thuộc hàng đệ nhất lưu, thế nhưng Lữ Tứ Nương đuổi theo sau lưng chàng ta, chàng ta chẳng hề hay biết!

Thiếu niên đã chạy đến bờ Tây của Tây Hồ, chàng ta chợt phóng lên một ngọn núi cao ven hồ, ngọn núi này tên gọi là Cát Lĩnh, nằm ở giữa núi Bảo Thạch và dãy Tây Hồ, tương truyền thời xưa Cát Hồng đã từng luyện đan trên núi, bởi vậy người đời sau mới gọi là Cát Lĩnh. Lúc này thiếu nữ đã chạy lên núi, chàng thiếu niên đuổi theo sau, chỉ thấy quái thạch lô nhô, nàng thiếu nữ đã biến mất, chàng thiếu niên kêu lớn: “Anh muội, Anh muội!” chỉ có âm thanh vang vọng chứ không nghe có ai trả lời.

Chàng thiếu nữ lại kêu hai tiếng, chợt nghe có người cười ở sau lưng: “Người ta không nhận ngươi, ngươi còn gọi làm gì?” chàng thiếu niên cả kinh, không dám quay đầu lại, nhảy ngang qua ba bước, rút thanh kiếm ra rồi mới xoay người. Lữ Tứ Nương cười nói: “Chúc mừng các hạ, hôm nay nạn lớn không chết, sau này sẽ có phước”. Chàng thiếu niên nhận ra đó là Lữ Tứ Nương, nổi lòng nghi ngờ quát: “Đêm hôm khuya khoắt ngươi theo dõi ta có ý gì?” té ra ban ngày khi ở trong quán trà, chàng ta đã thấy Lữ Tứ Nương chào Xa Đỉnh Phong, không biết nàng cứu người, nghi nàng cùng một giuộc với người đàn bà áo xanh. Đến khi Lữ Tứ Nương và Cam Phụng Trì ác đấu với Liễu Ân trên mặt hồ, chàng ta đã rơi xuống nước, nên không đoán được Lữ Tứ Nương là địch hay bạn.
Vốn là Lữ Tứ Nương chỉ cần nói cho rõ ràng thì sẽ chẳng có chuyện gì. Nhưng nàng mang thù nước nợ nhà, không thể không cẩn thận, chàng thiếu niên này trông không phải người xấu nhưng dẫu sao cũng là kẻ lạ, Lữ Tứ Nương không muốn tỏ thân phận cho chàng biết. Chàng thiếu niên thấy nàng không đáp, giận dữ nói: “Ngươi rốt cuộc là bằng hữu phương nào, ta với ngươi không quen biết, tại sao ngươi lo chuyện bao đồng?”

Lữ Tứ Nương thầm nhớ đến thân pháp quái dị của chàng thiếu niên, nhủ rằng: “Mình phải thử bản lĩnh của y xem sao”. Rồi giả vờ lạnh lùng cười: “Ngươi và Xa lão đầu có quan hệ gì?” thiếu niên chợt biến sắc, hừ một tiếng nói: “Uổng cho ngươi có thân thủ thế này mà đành làm ưng khuyển!” rồi chàng ta lắc vai đấm tới một kiếm. Lữ Tứ Nương lách qua, rút phắt thanh kiếm cười nói: “Ngươi là đệ tử của ai?” chàng thiếu niên đâm soạt soạt hai nhát, hiếm hóc lạ thường, lớn giọng nói: “Có nói ra ngươi cũng chẳng biết!” hình như chàng rất tự phụ về mặt kiếm pháp. Lữ Tứ Nương thầm cười, nhủ rằng: “Có kiếm pháp của nhà nào mà ta không biết? Chỉ cần ngươi dùng đúng mười chiêu, ta sẽ nói chẳng sai”.

Chàng thiếu niên vẫy thanh kiếm đánh gấp lên, lại chém xéo một kiếm vào eo Lữ Tứ Nương. Lữ Tứ Nương không né tránh nữa, đã nhận ra chiêu này chính là Khổng Tước Tước Linh của phái Võ Đang, vì thế nàng giơ ngang kiếm đè xuống, thi triển chiêu thức Đảo Chuyển Âm Dương trong Huyền Nữ kiếm pháp, thế rồi nâng kiếm lên, tưởng rằng chàng thiếu niên chắc chắn sẽ rút kiếm; nào ngờ chiêu số của chàng ta rất quái lạ, thấy Lữ Tứ Nương đè kiếm xuống thì đột nhiên vẫy thanh kiếm chém ngược trở ra! Lữ Tứ Nương suýt nữa đã trúng đòn, may mà kiếm pháp của nàng đã đến mức lư hỏa thuần thanh, thế là nàng xoáy thanh kiếm, lập tức hóa giải chiêu thức của kẻ địch, chàng thiếu niên nhảy ra hai bước, trở người đánh lại một chiêu, chiêu kiếm này rõ ràng là Phụng hoàng triển xí của phái Tung Dương, kiếm thế lẽ ra từ trái sang phải, Lữ Tứ Nương thông hiểu kiếm pháp các nhà, nàng hơi lắc người đã chặn phía bên trái, không ngờ chàng thiếu niên đánh kiếm nửa chừng đột nhiên thay đổi đâm thẳng vai phải, Lữ Tứ Nương rút kiếm không kịp, đành phải nhờ khinh công tuyệt đỉnh vặn người, né tránh nhát kiếm ấy nhanh như điện chớp.

Lữ Tứ Nương rất kinh ngạc, kiếm chiêu của nàng thiếu niên rất quái dị, đúng là nàng chưa từng thấy bao giờ, thế là vội vàng thi triển ba mươi sáu đường Liên Hoàn kiếm pháp hộ thân trong Huyền Nữ kiếm pháp ra, thanh bảo kiếm múa thành một vòng tròn đầu đuôi nối tiếp nhau, giọt nước không lọt vào. Khi phòng thủ, đôi lúc nàng cũng đánh vài chiêu tấn công, chàng thiếu niên múa kiếm đánh tới như giông bão, đôi bên phá giải hơn ba mươi chiêu, Lữ Tứ Nương vẫn chưa nhìn ra chiêu số của đối phương!

Kiếm pháp của chàng thiếu niên tuy quái dị nhưng Lữ Tứ Nương sử dụng kiếm thuật chính tông, tinh diệu vô cùng, tuy trong nhất thời không dò ra được lộ số của đối phương, không giám phóng tay tấn công nhưng muốn ứng phó vẫn còn dư.

Lữ Tứ Nương không biết rằng, chàng thiếu niên càng nôn nóng hơn nàng. Nàng không dò được lộ số của chàng, chàng cũng không biết lộ số của nàng, chỉ cảm thấy kiếm pháp của Lữ Tứ Nương tinh vi ảo diệu, tựa như rất giống Thiên Sơn kiếm pháp. Lại thêm công lực của Lữ Tứ Nương cao hơn chàng, đấu được đến khoảng năm mươi chiêu, chàng đã đỏ mặt thở hơi dồn dập, còn Lữ Tứ Nương vẫn khí định thần nhàn!

Chàng thiếu niên nôn nóng, thi triển kiếm chiêu càng nhanh hơn. Lữ Tứ Nương đánh cả thủ lẫn công, thầm quan sát đối phương, chỉ cảm thấy kiếm pháp của thiếu niên này tựa như tập hợp sở trường của các nhà, mỗi chiêu đều ngược lại với kiếm pháp bình thường. Ví dụ trong kiếm pháp của phái Võ Đang có một chiêu tên gọi Vô Thường Đoạt Mệnh, chiêu thế phải đánh từ trên xuống dưới, đâm xuống hạ bàn của đối phương; còn chàng thiếu niên lại đánh từ dưới lên trên đâm vào trung bàn của đối phương. Lại như trong phái Tung Dương có chiêu Trừu Triệt Liên Hoàn, lẽ ra phải đâm bên trái ba nhát kiếm, bên phải một nhát, rồi lại đâm hai nhát ở giữa; thế nhưng chàng ta lại đâm ba nhát bên phải trước rồi đâm hai nhát bên trái, sau đó mới đâm ở giữa một nhát. Lữ Tứ Nương đấu với chàng ta một trăm chiêu, chợt vỡ lẽ ra, chặn ngang thanh kiếm đẩy chàng thiếu niên thối lui ba trượng, cười nói: “Ngươi là hậu duệ của Bạch Phát ma nữ! Sư phụ của ngươi là Phi Hồng Cân hay Võ Quỳnh Giao?”

Lữ Tứ Nương đã vạch trần sư thừa của chàng thiếu niên, chàng ta cả kinh, giơ ngang kiếm không giám xuất chiêu! Lữ Tứ Nương đút kiếm vào vỏ, cười nói: “Không cần đấu nữa, ta đấu với ngươi một trăm chiêu mới biết được gia số của ngươi, ta đã cam bái hạ phong!”

Chàng thiếu niên trố mắt, vừa nghi hoặc vừa hổ thẹn, kiếm pháp của đối phương rõ ràng hơn mình, sao lại nhận thua? Điều khiến chàng ta càng hổ thẹn hơn là Lữ Tứ Nương đã nhìn ra gia số của chàng mà chàng chẳng hề biết gì về kiếm pháp của Lữ Tứ Nương. thế rồi chàng mới ôm kiếm vái dài: “Ta đã nhận thua, nếu ngươi muốn bắt ta, ta sẽ bó tay chịu trói!” Lữ Tứ Nương cả cười: “Ai muốn bắt ngươi, ngươi có nghe danh Độc tý thần ni chưa?”

Chàng thiếu niên kêu ối chao, vái dài sát xuống đất, nói: “Vậy huynh đài là môn hạ của Độc tý thần ni, người trong Giang Nam thất hiệp?” Lữ Tứ Nương nói: “Chính thế”. Chàng thiếu niên nheo mắt, chợt lộ vẻ nghi hoặc. Té ra chàng ta đã từng theo mẫu thân Võ Quỳnh Giao đến luận kiếm cùng Dịch Lan Châu, Dịch Lan Châu nói: “Trong thiếu hiệp hiện nay có bốn phái kiếm pháp, mỗi phái đều có sở trường, khó phân hơn kém. Một là Thiên Sơn kiếm pháp của Hối Minh thiền sư, hai là Đạt Ma kiếm pháp của phái Võ Đang phía Bắc do tông sư Quế Trọng Minh truyền lại; ba là Huyền Nữ kiếm pháp của Độc tý thần ni, bốn là kiếm pháp độc môn của Bạch Phát ma nữ”. Lúc đó Võ Quỳnh Giao nói: “Thiên Sơn kiếm pháp có sở trường bao la, Đạt Ma kiếm pháp hay ở chỗ kỳ lạ, Huyền Nữ kiếm pháp hơn người ở chỗ tuyệt diệu, cả ba nhà này đều khó phân cao thấp, còn kiếm pháp của tôi lại nghiêng lệch, tỷ tỷ cũng xếp chung với họ, thật khiến cho tôi nở mày nở mặt”. Dịch Lan Châu nói: “Tỷ tỷ đừng quá nhún nhường, nếu luận về kỳ dị hiểm hóc, kiếm pháp của tỷ tỷ còn hơn cả ba nhà kia”. Võ Quỳnh Giao than ràng: “Trong kiếm pháp của ba nhà, đáng tiếc tôi chưa từng gặp Huyền Nữ kiếm pháp”. Võ Quỳnh Giao chỉ nhắc đến ba nhà, rốt cuộc không dám xếp kiếm pháp của mình đứng chung, đương nhiên là vì bà ta khiêm nhường. Dịch Lan Châu nói: “Nghe câu nói này của tỷ tỷ, tôi chợt nghĩ rằng, nếu kiếm pháp của bốn phái đến Thiên Sơn tụ hội cũng là một thịnh sự. E rằng tuổi thọ còn người có hạn, chỉ mơ tưởng chứ không làm được. Tôi đã từng thấy Huyền Nữ kiếm pháp, ba mươi năm trước Độc tý thần ni lên Thiên Sơn, đáng tiếc tỷ tỷ không có ở đây. Kiếm pháp của bà ta chỉ truyền cho nữ đệ tử quan môn là Lữ Tứ Nương, Lữ Tứ Nương mang nợ nước thù nhà, suốt ngày rong ruổi trên giang hồ, e rằng không thể đến Thiên Sơn”.

Chàng thiếu niên nhớ lại những lời năm xưa, trong lòng thầm lấy làm lạ tại sao người trước mặt mình lại là một nam nhi. Lữ Tứ Nương mỉm cười kéo khăn trùm đầu, nói: “Tôi là Lữ Tứ Nương, dám hỏi huynh đài cao tính đại danh?” chàng thiếu niên nói: “Tôi là Lý Trị, gia mẫu là Võ Quỳnh Giao”. Lữ Tứ Nương cung tay nói: “Té ra huynh đài là hậu duệ của Sấm vương, thất kính, thất kính!”

Số là năm xưa thất kiếm qui ẩn Thiên Sơn, Võ Quỳnh Giao và Lý Tư Vĩnh thành thân, ẩn cư ở chỗ Bạch Phát ma nữ chỉ sinh được một người con trai là Lý Trị. Khi Lý Trị được mười tuổi, Lý Tư Vĩnh qua đời, Võ Quỳnh Giao truyền kiếm pháp độc môn cho chàng ta. Hai năm sau, Dịch Lan Châu dắt Phùng Anh về Thiên Sơn, lúc ấy Phùng Anh chỉ có bảy tuổi. Tuy họ cùng ở Thiên Sơn nhưng một người ở phía Bắc một người ở phía Nam, cách nhau đến ngàn dặm, mỗi năm Võ Quỳnh Giao đều đến thăm Dịch Lan Châu một lần nên Lý Trị với Phùng Anh coi như cũng là một đôi thanh mai trúc mã, Lý Trị lớn hơn sáu tuổi, vẫn xem Phùng Anh là muội muội. Sáu bảy năm trước, Dịch Lan Châu lại đến Trung Nguyên, bởi vậy nhờ Võ Quỳnh Giao chăm sóc cho Phùng Anh. Chính vì thế Lý Trị và Phùng Anh rất thân thiết nhau.

Lữ Tứ Nương và Lý Trị hỏi họ tên nhau, đôi bên nói mấy lời khách sáo. Lữ Tứ Nương nói: “Lý huynh rời Thiên Sơn được bao lâu rồi? Xa lão đầu là người thế nào?” Lý Trị nói: “Tôi rời Thiên Sơn chưa được hai năm, trước đây Sa thế bá là trọng sự của gia phụ ở Tứ Xuyên. Lần này tôi xuống núi, gia mẫu đã đưa một danh sách, bảo tôi thăm các thuộc hạ cũ của phụ thân, xem thử có bao nhiêu người còn sống? Mấy ngày trước tôi nhờ bằng hữu báo tin tôi đến Hàng Châu cho Xa lão bá, người hẹn tôi gặp nhau ở Tam Đàm Ấn Nguyệt, không ngờ lại gây ra họa, may mà từ lúc còn nhỏ tôi đã bơi lội ở Thiên Trì trên Thiên Sơn, cũng hơi thông hiểu thủy tính chứ nếu không đã mất mạng. Không biết tên hung tăng kia là ai mà võ công ghê gớm đến thế!” Lữ Tứ Nương kêu “hổ thẹn” rồi cho chàng ta biết lai lịch của Liễu Ân.

Lý Trị nói: “Thiếu nữ hôm trước là ái đồ của Dịch lão tiền bối, cũng là truyền nhân duy nhất của bà, mong cô nương giúp tôi tìm kiếm”. Lữ Tứ Nương chưng hửng, thầm nhủ: “Thiếu nữ này võ công rất phức tạp, làm sao là ái đồ của Dịch Lan Châu?” thế mới nói: “Hình như Lý huynh đã nhận lầm người?” Lý Trị cười nói: “Tôi lớn lên cùng nàng, làm sao nhận lầm? Có điều không biết tại sao hình như nàng ta bị mê lú, tôi thật lo lắng!” Lữ Tứ Nương nói: “Nếu đã là truyền nhân y bát của Dịch lão tiền bối, tôi đương nhiên phải dốc sức tìm kiếm”.Khi đang nói chợt nghe ba mũi hưởng tiễn kêu lên u u, một tiếng dài hai tiếng ngắn từ phía Đông Nam phát ra. Lữ Tứ Nương thất kinh, nói với Lý Trị: “Mong huynh đài thứ lỗi, tôi có chuyện gấp phải trở về khách sạn”. Lý Trị nói: “Sao nửa đêm lại có người phát hưởng tiễn?” Lữ Tứ Nương nói: “Là tín hiệu liên lạc của đồng môn chúng tôi!” Lý Trị cũng thất kinh nói: “Nếu như thế, xin cứ tùy tiện!” Lữ Tứ Nương cung tay, đang định xuống núi, chợt nói: “Lý huynh, Xa lão bá của huynh đang ở chỗ chúng tôi. Ngày mai hãy đến”. Thế rồi nói địa chỉ của khách sạn cho chàng nghe, Lý Trị mừng rỡ nói: “Ngày mai tôi sẽ đến sớm”. Lữ Tứ Nương điểm mũi chân lướt người đi như sao xẹt, trong chớp mắt đã biến mất! Lý Trị rất khâm phục.

Đến nửa đêm, mặt trăng dần dần chìm về phía Tây, chắc là đã canh năm. Lý Trị nhảy lên một mõm đá đưa mắt nhìn ra xa, núi vắng tĩnh mịch, chỉ có tiếng gió thổi qua tai nghe như nước triều. Lý Trị rất thất vọng, chợt nghe tiếng cười khanh khách, chàng vội vàng nhảy xuống kêu: “Anh muội, Anh muội!” thiếu nữ ban ngày chợt bước ra, cười khanh khách nói: “Ta ở đây!”

Lý Trị cả mừng, thiếu nữ vẫy tay nói: “Đến đây!” Lý Trị hơi chần chừ, thiếu nữ cười nói: “Ta không đánh ngươi, ban ngày ta chỉ đùa với ngươi, ngươi còn giận ta ư?” Lý Trị bước tới nắm tay nàng, thiếu nữ giật tay ra. Lý Trị chưng hửng, chợt nhớ rằng nàng ta đã là một tiểu cô nương mười bốn tuổi, có lẽ đã biết hổ thẹn, cũng mỉm cười hỏi: “Thiếu phụ áo xanh là ai, sao muội lại quen bà ta?” nàng thiếu nữ nói: “Ngươi cứ mặc ta! Chả lẽ những người ta quen biết đều phải nói cho ngươi biết hay sao?” Lý Trị khựng người, thầm nhủ: “Sao tính tình của nàng lại thay đổi như thế, trước đây nàng có nói thế bao giờ đâu?”

Khi còn ở Thiên Sơn, Lý Trị và Phùng Anh tình như huynh muội. Phùng Anh rất nghe lời chàng ta. Lý Trị nghĩ bụng chỉ mới không gặp hơn hai năm mà nàng ta lại ăn nói như thế với mình. Thiếu nữ lại cười khanh khách: “Ngươi ngồi xuống, đứng sững nhìn ta làm gì?” Lý Trị ngồi xuống bên cạnh nàng, hỏi: “Dịch bá mẫu có khỏe không?” thiếu nữ nói: “Rất khỏe, người cũng đang nhớ ngươi!” Lý Trị nói: “Tóc của người thế nào rồi?” thiếu nữ nói: “Thì vẫn bạc như trước?” Lý Trị nhảy bật dậy nói: “Cái gì, tóc của Dịch bá mẫu đã bạc?” mấy mươi năm trước Dịch Lan Châu đã từng ăn hoa ưu đàm, mái tóc có thể đen mãi không bạc. Nếu đã bạc tức là sắp chết tới nơi, nên Lý Trị hỏi đầu tóc của bà ta, thực sự có nghĩa là bà ta có khỏe hay không, nay nghe thiếu nữ nói tóc của bà đã bạc, bởi vậy làm sao không lo. Nàng thiếu nữ chợt cười nói: “Ta lừa ngươi đấy, ngươi vốn rất thông minh kia mà, sao lần này lại ngốc đến thế? Ta không phải bảo tóc của người vẫn như trước sao? Tóc của người lúc trước thế nào, chả lẽ ngươi không biết? Ngươi xuống núi chẳng phải chỉ hai năm”. Lý Trị vừa nghe, quả nhiên nàng đã nói như thế. Cười nói: “Sao muội lại nghịch ngợm thế? Dám đem chuyện ấy ra dọa ta! Tóc của Dịch bá mẫu mãi mãi không bạc, muội nói đã bạc, chẳng phải nguyền rủa người sắp chết sao? Uổng cho người thương yêu muội, muội lại đùa như thế!” thiếu nữ thè lưỡi nói: “Lần sau ta không dám nữa!”

Thật ra thiếu nữ này không phải là Phùng Anh mà là Phùng Lâm. Nàng nấp sau tảng đá, đã nghe hết cuộc nói chuyện giữa Lữ Tứ Nương với Lý Trị. Trong lòng vừa kinh vừa mừng. Nàng tuổi tuy còn nhỏ nhưng cũng từng nghe người ta nói đến Dịch Lan Châu và Võ Quỳnh Giao, biết hai người này là nữ kiếm khách lợi hại nhất trên đời, trong đó Dịch Lan Châu là một cao thủ kiếm thuật, Liễu Ân hòa thượng và Thiên Diệp Tản Nhân thường hay mắng bà ta, còn bảo rằng sẽ mời mười cao thủ thuộc hàng nhất lưu quyết hạ bà ta cho bằng được. Phùng Lâm tuy nhỏ nhưng rất thông minh, thấy bọn chúng căm ghét bà ta như thế thì biết Dịch Lan Châu có bản lĩnh đến mức nào, trong lòng rất ngưỡng mộ.

Lúc nãy đứng sau tảng đá, nghe Lý Trị là con của Võ Quỳnh Giao, lại nghe Lý Trị nói mình là truyền nhân duy nhất của Dịch Lan Châu, lại cùng lớn lên với mình, trong lòng lấy làm lạ, lẽ nào trên đời lại có người giống hệt mình? Nhưng không biết người kia tên họ là gì? Thế là mạo nhận nàng thiếu nữ kia để trêu Lý Trị.

Lý Trị nằm mơ cũng không ngờ rằng thiếu nữ trước mặt mình không phải Phùng Anh, lại hỏi: “Hai năm qua muội có gặp mẫu thân của ta không?” Phùng Lâm cười hì hì, đáp bừa rằng: “Có gặp một lần”. Lý Trị nói: “Người thế nào?” Phùng Lâm nói: “Người vẫn đang luyện kiếm”. Lý Trị ngạc nhiên nói: “Sao lại luyện kiếm? Người không tọa quan sao?” té ra khi Lý Trị xuống núi, Võ Quỳnh Giao đã bắt đầu tọa quan, cứ bảy ngày là một kỳ, mỗi lần tịnh tọa bảy ngày, khi tịnh tọa chỉ ăn hoa quả, qua bảy ngày thì ăn uống lại bình thường. Sau đó nghỉ ngơi ba ngày rồi lại tịnh tọa tiếp. Lối tọa quan trường kỳ này là cửa ải cuối cùng của người luyện tập nội công thượng thừa nhất. Trong thời kỳ tọa quan, không màng đến việc đời, càng không cần luyện kiếm. Lý Trị vừa nghe Phùng Lâm bảo mẹ mình đang luyện kiếm thì rất lấy làm lạ. Phùng Lâm biết mình đã hớ, mỉm cười nói: “Ta và sư phụ cùng tới, sư phụ nói mẫu thân của ngươi đã tẩu hỏa nhập ma!”

Lý Trị càng kinh hãi, rung giọng kêu lên: “Tẩu hỏa nhập ma? Ôi chao, người thế nào rồi?” Phùng Lâm lớn lên trong phủ Tứ bối lạc, luyện tập võ công của các phái. Thế nhưng các dị nhân trong phủ Tứ bối lạc, ngoại trừ Liễu Ân, không ai biết nội công huyền môn chính tông, mà hễ luyện nội công của bàng môn tả đạo thì thường tẩu hỏa nhập ma nên Phùng Lâm đã nghe quen bốn chữ “tẩu hỏa nhập ma” vì thế mới nói: “May mà khi sư phụ ta đến, thấy bá mẫu có điều khác lạ, cơ mặt co rút, sư phụ ta vừa nhìn thì biết người đã tẩu hỏa nhập ma, vội vàng vận chân khí nội gia giúp người hít thở, người mới hồi phục lại bình thường. Sư phụ ta nói nếu người đến không kịp lúc, bá mẫu đã bán thân bất toại. Nên sau đó bá mẫu không tọa quan nữa, bảo rằng luyện kiếm đến mức xuất thần nhập hóa rồi mới tiếp tục”. Những câu nói này nghe ra cũng rất có căn cứ, Lý Trị không thể không tin. Chàng thiếu niên võ công của Bạch Phát ma nữ vốn chẳng phải huyền môn chính tông, chàng tưởng rằng nội công của mẹ mình thâm hậu, nếu luyện chẳng hề chi, nào ngờ cũng tẩu hỏa nhập ma. Bởi vậy trong lòng rầu rĩ. Phùng Lâm lại cười nói: “Sư phụ ta nói không sao, ngươi buồn làm gì? Người bảo mẹ ngươi có trải qua chuyện đó, sau này tọa quan cũng biết né tránh, người còn chỉ điểm cho mẹ ngươi yếu quyết luyện tập nội công thượng thừa nhất, đáng tiếc ta nghe không hiểu”. Lý Trị cả mừng, nói: “Ồ, té ra mẹ của ta vì họa mà được phúc”. Phùng Lâm mỉm cười lại nói: “Ngươi có thể dạy ta kiếm pháp độc môn của ngươi hay không?”

Lý Trị ngạc nhiên nói: “Thiên Sơn kiếm pháp của muội bao la rộng lớn, tại sao lại còn đòi học kiếm pháp của ta?” Phùng Lâm nói: “Sư phụ của ta nói: Kiếm pháp của hai nhà chúng ta một chính một phản vốn từ một nguồn, nên ta nghĩ, nếu được học cả hai thứ chẳng phải sẽ tốt hơn sao? Ta vốn muốn bá mẫu dạy cho nhưng đáng tiếc ta vội vàng xuống núi nên không có cơ hội”. Lý Trị chợt cười nói: “Thực ra sư phụ của muội cũng biết kiếm pháp của ta. Trước đây sư tỷ của mẹ ta Phi Hồng Cân đã từng dạy cho bà”. Phùng Lâm thầm thất kinh, không ngờ đã lộ sơ hở. May mà Lý Trị cười rồi lại nói: “Sư phụ cũng không dạy cho muội, chắc là thấy muội tuổi còn nhỏ, sợ muội học quá nhiều món nên chỉ bảo muội chuyên luyện Thiên Sơn kiếm pháp”. Lý Trị nói đến đây, chợt rùng mình hỏi: “Muội xuống núi được bao lâu?” Phùng Lâm nghĩ ngợi rồi đáp: “Ồ, được hơn nửa năm”. Lý Trị nói: “Trong vòng nửa năm, tại sao lại học được võ công của nhiều phái đến thế?” Phùng Lâm dẫu môi nói: “Ta thích kia mà, tại sao cứ thích quản ta thế? Ta giờ đây đã lớn dần lên, học nhiều một chút cũng không sao. Ồ, ta biết rồi, ngươi không muốn dạy ta nên cố ý trách ta”. Lý Trị nghe thế nhíu mày nói: “Sao muội lại nói thế? Muội muốn học, huynh sẽ dạy”.

Phùng Lâm cả mừng, lại nói: “Vậy khí hậu thiên là gì, khí tiên thiên là gì? Nội đan tu luyện thế nào?” Lý Trị lại ngạc nhiên một hồi nữa, lòng thầm nhủ: “Sao Dịch bá mẫu lại không dạy những điều cơ bản trong cách tu luyện nội công cho nàng”. Số là khí hậu thiên và khí tiên thiên là cách nói của đạo gia, sau đó những người luyện nội công cũng dùng. Khí hậu thiên là khí trong hung phế, bởi vì hít vào từ bên ngoài nên gọi là khí hậu thiên, khí trong khí hải và đơn điền gọi là khí tiên thiên, khi con người ra đời đã có. Người bình thường khi hít thở, khí trong hung phế và khí trong đơn điền không thể hòa lẫn với nhau; nếu người đã luyện qua công phu thổ nạp, có thể hòa hai khí thành một, gọi là “khí thông”, đến cảnh giới khí thông, khí tiên thiên và khí hậu thiên trên dưới kết hợp, vô hình trung đã kết thành một viên “đơn hoàn” trong người, có thể di chuyển lên trên và dưới, đó chính là nội đơn mà đạo gia vẫn thường nói, thực ra đó là một luồng khí kình được luyện thành trong cơ thể chứ không mang màu sắc mê tín gì cả.

Phùng Lâm chẳng hề biết gì yếu quyết nội công, nên mới hỏi như thế. Thấy Lý Trị ngạc nhiên thì đảo mắt, cười rằng: “Ngươi nhất định sẽ lấy làm lạ tại sao sư phụ ta không dạy điều đó chứ gì? Người bảo ta tuổi còn nhỏ, không kiên nhẫn tịnh tọa nên chỉ dạy ta luyện kiếm, không dạy ta nội công”. Khi Phùng Anh được bảy tám tuổi, do Võ Quỳnh Giao coi sóc, sau đó theo Dịch Lan Châu trở về phía Bắc, cho đến năm mười hai tuổi, trong bốn năm này, mỗi năm Lý Trị đến thăm nàng một lần mỗi lần gặp nhau khoảng nửa tháng, Lý Trị xem nàng như đứa trẻ nên không hỏi nàng có luyện nội công hay không. Lúc này chàng thầm nhủ: “Dịch bá mẫu chỉ truyền võ nghệ chứ không truyền nội công, cách dạy này há chẳng phải khiếm khuyết hay sao?” thế rồi nói: “Huynh nói cho muội nghe cũng chẳng sao, nhưng nếu bá mẫu mà biết chắc chắn sẽ cười huynh mất”. Phùng Lâm nói: “Ta không nói cho người biết là xong. Người vốn bảo ta ra giang hồ ba năm, khi về núi sẽ dạy cho ta phương pháp tu luyện nội công. Chỉ e lúc đó người đã già, nếu có chuyện gì bất trắc há chẳng phải suốt đời không được học hay sao!” Lý Trị nghe thế lại nhíu mày, nói: “Sao lại nói thế”. Thầm nhủ: “Đứa trẻ này xưa này dịu dàng dễ mến, sao chỉ có nửa năm mà hư hỏng đến thế, chỉ nghĩ đến bản thân mình. Nếu chẳng may ân sư chết đi, đau đớn còn không kịp, sao lại nghĩ đến chuyện khác. Nếu Dịch bá mẫu mà nghe chắc chắn sẽ tức chết đi được”.

Phùng Lâm thấy chàng ta lại sầm mặt, kêu ôi chao một tiếng nói: “Ta biết ta đã nói lỡ lời, hảo ca ca đừng giận, từ rày ta không nói càn nữa”. Lý Trị chỉ bảo: “Thôi được, ta không giận. Nếu muội muốn học nội công, ta sẽ dạy yếu quyết cơ bản cho muội”. Giảng được nửa canh giờ, Phùng Lâm đã hiểu cả mừng đáp tạ. Lý Trị lại nhíu mày nói: “Muội làm sao thế, tựa như đã biến thành người khác?” Phùng Lâm mỉm cười: “Trước đây muội thế nào? Huynh nói cho muội nghe thử”. Lý Trị vừa bực mình vừa buồn cười nói: “Muội cũng chỉ mới mười ba mười bốn tuổi mà cả bản thân cũng quên mất!” Phùng Lâm mỉm cười đứng lên, tựa như rất vui mừng vì được chàng chỉ điểm. Lý Trị nói xong, trong lòng đột nhiên thấy run sợ, thầm nhủ: “Chả lẽ có người mau quên bản tính của mình như thế?” bất giác sững người nhìn nàng, chẳng nói ra lời.

Lúc này trời đã hửng sáng, đám mây ngũ bay qua bầu trời. Cảnh buổi sáng trên Cát Lĩnh vốn là một trong tiền đường bát cảnh. Từ Cát Lĩnh nhìn về phía xa, sông Tiền Đường trắng sáng vươn mãi ra biển Đông. Lúc này vầng mặt trời dần dần từ biển nhô lên, tựa như một cái mâm đồng màu đỏ tía. Trong làn gió lạnh buổi sáng, Lý Trị tỉnh táo hơn, chàng đứng trên Sơ Dương đài, nhìn cái mâm đồng đỏ tía dần dần nhô lên cao, từ màu đỏ tía biến thành màu vàng cam, rồi lại từ màu vàng cam biến thành màu trắng chói mắt. Cúi xuống nhìn Tây Hồ, nước hồ long lanh trong vắt khắp núi rừng như nhuộm màu mặt trời!

Lý Trị hít một hơi dài, nhớ lại những lời Lữ Tứ Nương, nói với Phùng Lâm: “Chúng ta đi thăm Lữ Tứ Nương!” Phùng Lâm giả vờ không biết, hỏi: “Lữ Tứ Nương là ai?” Lý Trị nói: “Chính là người đêm qua đấu kiếm với ta”. Phùng Lâm nói: “Ta sợ đồng bọn của tỷ ấy, chính là hán tử mặt vàng đấy”. Lý Trị nói: “Người đó là Giang Nam đại hiệp Cam Phụng Trì, có gì đáng sợ? Muội cũng nên kết giao với người chính phái”. Phùng Lâm chỉ đành đi theo chàng.

Đêm qua hai người Cam, Bạch thấy Lữ Tứ Nương đi mãi mà không trở về, trong lòng lo lắng, chẳng ngủ được ngon giấc, đến canh tư, Cam Phụng Trì một mình ngồi dậy, thả bộ trong sân, mảnh trăng đầu tháng dần dần chuyển qua đầu. Lúc ấy trời trong vắt không gợn mây, chàng chợt nghe có tiếng kêu thất thanh của phụ nữ, tựa như ở trong khách sạn. Cam Phụng Trì tuy trong lòng có tâm sự nhưng cũng không khỏi chạy đến xem, khách sạn này rất lớn, có khoảng hai ba mươi gian phòng. Cam Phụng Trì nhảy lên mái nhà, nghe tiếng kêu phát ra từ căn phòng phía Đông, thế là vội vàng chạy tới, móc hai chân vào mái nhà thò đầu xuống nhìn, thế là chàng không khỏi thất kinh!

Chỉ thấy trong nhà có một ông già lưng đứng xoay ra cửa, mặt hướng về phía một thiếu phụ, lạnh lùng nói: “Ngươi kêu đi! Ngươi mà kêu nữa ta sẽ khiến cho ngươi muốn sống không được muốn chết không xong!” người phụ nữ ấy mặt tái xanh, hình như rất sợ hãi nhưng vẫn gằng giọng nói: “Ngươi đúng là mặt người dạ thú, vô tình bạc nghĩa, lừa ta đến Hàng Châu thi triển độc thủ!” ông già cười gằng nói: “Bà nhà ta không dung thứ cho ngươi, chẳng còn cách nào cả, chỉ đành mượn ngươi một vành tai mười ngón tay để chuộc tội cho ta. Ta vẫn còn nhớ đến ân nghĩa trước kia, ngươi hãy tự ra tay đi, ta có linh đơn cho ngươi cầm đau!” thiếu phụ run rẩy không ngừng, lão già rút soạt thanh đao ra.

Cam Phụng Trì nhận ra giọng nói của lão già rất quen tai, thấy lão ta rút đao thì đột nhiên kêu: “Hàn Trọng Sơn ngươi làm gì thế?” rồi phóng một mũi phi đao vào cửa sổ!

Hàn Trọng Sơn võ công cực cao, chỉ vì mãi chú ý người thiếu phụ nên không nghe hơi thở. Lúc này y trở tay hất được mũi phi đao. Cam Phụng Trì gầm một tiếng, nhảy tọt vào bên trong! Hàn Trọng Sơn thuận tay đâm mũi trủy thủ về phía trước, Cam Phụng Trì lộn người, đánh một chiêu Phúc Vũ Phiên Vân, chặt xuống cổ tay cầm đao của Hàn Trọng Sơn, Hàn Trọng Sơn lật cổ tay, cây trủy thủ rơi xuống đất. Người phụ nữ trong nhà vội vàng nhảy tọt ra cửa sổ. Hàn Trọng Sơn cả giận, hai tay đẩy ra phía trước, Cam Phụng Trì cũng đẩy chưởng ra cự lại, chỉ cảm thấy một luồng đại lực dồn ra, Cam Phụng Trì bất đồ bị đẩy ra ngoài cửa, cánh cửa bật tung ra. Hàn Trọng Sơn cũng bị thần lực của Cam Phụng Trì đẩy ngã chổng vó trên giường.

Chính là:

Tám lạng nửa cân, ngang tài ngang sức.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 19: Mộng đẹp tiêu tan cấm cung sầu vĩnh biệt Trời Nam đất Bắc sa trường vui tương phùng

Hàn Trọng Sơn cả giận, vung tay phát ra ám khí độc môn hồi hoàn câu, Cam Phụng Trì nói: “Vật gì thế?” thế rồi vẫy hai mũi phi đao đánh tới, hồi hoàn câu trông giống như cái thước gấp, Cam Phụng Trì ném hai mũi phi đao một trước một sau đã đánh trúng, không ngờ món ám khí kêu vù lên một tiếng, đánh rơi phi đao rồi nay ngược trở lại, Cam Phụng Trì thất kinh, thấy món ám khí bay về phía Đông, vội né sang phía Tây, nào ngờ hồi hoàn câu của Hàn Trọng Sơn rất quái dị, đột nhiên đổi hướng giữa đường, bay như điện chớp về phía đỉnh đầu của Cam Phụng Trì, mũi câu sáng loáng móc xuống cổ của Cam Phụng Trì, Cam Phụng Trì né tránh không kịp, vung tay phẫy một cái, mũi câu móc vào bàn tay của chàng, Cam Phụng Trì vận nội công thượng thừa, hít lòng bàn tay vào, cơ bắp thu lại, mũi câu móc vào bàn tay tựa như đâm vào đống bông, lực bay tiêu biến. Cam Phụng Trì khép năm ngón tay bẻ gãy hồi hoàn câu làm hai đoạn.

Hồi hoàn câu là ám khí giúp Hàn Trọng Sơn thành danh, nay đã bị Cam Phụng Trì chụp được, Hàn Trọng Sơn không khỏi cả giận, tự trong phòng nhảy vọt ra, hai chưởng đẩy ra, Cam Phụng Trì lách người, đánh ra một chiêu Bính Đao Thắng Tiễn, hai ngón tay kẹp vào hổ khẩu của Hàn Trọng Sơn, Hàn Trọng Sơn trở tay đẩy một cái, trầm chỏ xuống thúc ra, hai người vừa phân đã hợp, đều nhảy xuống sân của khách sạn.

Khi đáp xuống đất, Hàn Trọng Sơn đã rút ra tị vân trợ, vốn Hàn Trọng Sơn dùng cây trợ này hái thuốc, tuy dài chỉ có ba thước nhưng được luyện bằng tinh kim, bổ xuống một trợ, kình phong quét tới, trong đêm tối trông rất uy mãnh!

Cam Phụng Trì không hề lo sợ, thi triển chưởng pháp hùng hậu. Đang lúc hăng say, Hàn Trọng Sơn chợt hú lên một tiếng quái dị, ở phía Tây lại có một người nhảy ra, Cam Phụng Trì đang đánh tới chiêu Khoa Hổ Tiến Chưởng, tay trái đẩy vào cây tị vân trợ, chưởng phải vỗ vào ngực của kẻ địch, người ấy đột nhiên xen vào, vận chưởng dẫn một cái, hóa giải chưởng lực của Cam Phụng Trì. Hàn Trọng Sơn bổ cây trợ xuống nhưng lại thu ngược về. Cam Phụng Trì vừa nhìn thì nhận ra người ấy chính là Đổng Cự Xuyên. Cam Phụng Trì thầm kêu khổ, Hàn Trọng Sơn đã khó đối phó, thế mà lại chui ra thêm một cao thủ nữa.

Hàn Trọng Sơn kêu: “Đổng huynh, huynh chặn hậu lộ của y, đừng để y chạy thoát”. Đổng Cự Xuyên mỉm cười lui xuống, trong tay cầm ba mảnh Thấu Cốt đinh, nhìn vào đấu trường không chớp mắt. Cam Phụng Trì và Hàn Trọng Sơn ác đấu một hồi, người trong khách sạn đều giật mình tỉnh dậy. Bạch Thái Quan chạy sang phòng bên, nói với Ngư Nương: “Muội trông chừng Xa lão bá, đừng tự tiện ra ngoài”. Rồi chàng chạy ra ngoài, Đổng Cự Xuyên vừa thấy đã cười nói: “Ồ, té ra là Bạch Thái Quan nhà ngươi! Nhạc phụ của ngươi đang giận ngươi lắm đấy!” Bạch Thái Quan tức giận nói: “Nói càn!” Đổng Cự Xuyên vung tay, ba mảnh Thấu Cốt đinh xé gió bay tới, Bạch Thái Quan vội rút đao chém rơi một mảnh, tay phải phất lên kẹp mảnh thứ hai trong tay, rồi lại búng lên trên, đánh rơi tiếp mảnh thứ ba.

Trong số các đồng môn, võ công của Bạch Thái Quan xếp hàng thứ tư nhưng công phu ám khí của chàng cũng thuộc hàng số một số hai, nên thủ pháp tiếp ám khí cũng rất thuần thục, Đổng Cự Xuyên thầm nhủ: “Sao Bạch Thái Quan lại lợi hại như thế”. Y không dám coi thường, thế là vọt đến mấy trượng, hai chưởng đẩy ra, sử dụng tuyệt chiêu của phái Hình Ý.

Bạch Thái Quan chém ngang một đeo, Đổng Cự Xuyên đột nhiên lật chưởng phải, chưởng phong phát ra, bổ vào be sườn phải của Bạch Thái Quan, Bạch Thái Quan chém ra hai đao nhưng đều hụt cả, chàng lách trái né phải, Cam Phụng Trì thấy thế thất kinh, chưởng pháp hơi chậm lại, suýt nữa đã bị tị vân trợ bổ trúng. Đổng Cự Xuyên múa chưởng nhưng gió, trong nhu có cương, toan đoạt binh khí của Bạch Thái Quan, Bạch Thái Quan xoay cả người lẫn đao, đột nhiên đánh một chiêu Bình Sa Lạc Nhạn, toan tìm thắng trong bại. Nào ngờ chưởng pháp của Đổng Cự Xuyên là tinh túy của Hình Ý môn, như hư như thực, hai tay phân ra, chưởng trái bạt vào chui đao, quát: “Trúng!” Bạch Thái Quan ngã lăn xuống đất, Đổng Cự Xuyên cả mừng toan bước tới, Bạch Thái Quan vung tay trái chợt quát: “Có đến mà không đi không phải lễ! Xem châm!” lập tức một mảng ngân quang loang loáng bay tới. Đổng Cự Xuyên thất kinh, nhảy vọt hơn một trượng, vội vàng phất ống tay áo, tuy quét được mảng Mai Hoa châm nhưng cũng luống cuống chân tay.

Đổng Cự Xuyên hạ người xuống đất, vung chưởng tấn công tiếp, thân pháp thay đổi, chỉ thấy người của y cứ xoay mòng mòng bên cạnh Bạch Thái Quan, khiến Bạch Thái Quan chẳng biết đề phòng ở nơi nào cũng chẳng rút ám khí ra được. Khi nắm chắc phần thắng trong tay, người có công lực cao hơn thường dùng công phu du đấu để đối phó với người yếu hơn, may ở chỗ Bạch Thái Quan tuy võ công tương đối kém hơn nhưng vẫn không cách quá xa, bởi vậy chàng có thể gắng gượng chống cự nổi. Lại đánh nhau thêm một hồi nữa, chưởng pháp của Đổng Cự Xuyên càng gấp hơn, phiêu hốt như gió! Đao quang của Bạch Thái Quan loang loáng, chẳng chạm vào được kẻ địch, chỉ đành che kín môn hộ. Nhưng dù như thế vẫn cảm thấy hai chưởng của kẻ địch như con thần long đánh loạn trước mắt mình.

Phía bên kia Cam Phụng Trì và Hàn Trọng Sơn đánh ngang tay, nhưng vì Cam Phụng Trì lo cho sự an nguy của Bạch Thái Quan, không khỏi bị ảnh hưởng, một trăm lẻ tám đường tị vân trợ pháp của Hàn Trọng Sơn biến hóa vô cùng, thấy Cam Phụng Trì hơi chậm tay thì liên tục đánh đòn sát thủ, trong lúc gấp gáp, Cam Phụng Trì hú lớn một tiếng, vỗ vù ra một chưởng bạt cái tị vân trợ ra, phóng vọt ra hơn một trượng, đột nhiên quát: “Xem tiêu!” Hàn Trọng Sơn giơ ngang trợ gạt qua, Cam Phụng Trì đã phóng ra ba mũi hưởng tiễn, một mũi phát ra tiếng dài, hai mũi phát ra tiếng ngắn, ba mũi hưởng tiễn bay vút lên trời cao kêu lên u u nghe rất chối tai. Hàn Trọng Sơn thấy Cam Phụng Trì không phóng hướng tiễn về phía mình, nói: “Ngươi làm trò quái gì thế?” y tưởng rằng ám khí của chàng quái dị nên giơ ngang trợ phòng bị, không dám lơi lỏng. Cam Phụng Trì lại như bổ về phía Đổng Cự Xuyên, đánh ra một chiêu Kim Long Thám Trảo chụp vào hậu tâm của Đổng Cự Xuyên. Đổng Cự Xuyên trở tay vỗ lại một chưởng, nhưng làm sao có thể chống nổi thần lực của Cam Phụng Trì, thế là bị đẩy ra hơn một trượng, suýt nữa đã ngã xuống. Hàn Trọng Sơn cả giận phóng vọt lên, y vung tị vân trợ chặn Cam Phụng Trì lại.

Đổng Cự Xuyên trúng một chưởng, lúc đầu chưa thấy gì, nhưng sau đó xương cốt đau nhói. Cam Phụng Trì đã dồn âm lực vào chưởng này, dù Đổng Cự Xuyên là cao thủ, trúng một chưởng cũng hao tổn nguyên khí. Y lại du đấu với Bạch Thái Quan, thân pháp không còn linh hoạt như trước nữa. Thế là Bạch Thái Quan tuy vẫn lọt xuống thế hạ phong nhưng không còn vất vả nhưng trước.

Trận ác chiến kéo dài đến một canh giờ, người trong khách sạn đều bị đánh thức, có vài người lớn gan thò đầu nhìn ra cửa sổ. Chủ khách sạn hoảng hồn, không dám đến khuyên ngăn. Có người kêu: “Mau báo quan!” Cam Phụng Trì vừa nghe thầm kêu không xong. Chàng đánh vội ra mấy chiêu, lấy tiến làm lui, Hàn Trọng Sơn đã hiểu dụng ý của chàng, lạnh lùng quát: “Hừ, còn muốn chạy!” cây tị vân trợ múa tít, một bước cũng không lui. Phía bên Bạch Thái Quan tuy còn có thể cầm cự nổi nhưng không thoát nổi phạm vi chưởng lực của Đổng Cự Xuyên.

Trên Cát Lĩnh, Lữ Tứ Nương nghe hưởng tiễn của đồng môn, vội vàng quay về. Khách sạn này được xây dưới chân núi, lưng dựa vào núi mặt hướng ra hồ, trên đường trở về Lữ Tứ Nương chợt thấy một thớt ngựa phóng tới chạy thẳng vào thành. Lữ Tứ Nương rùng mình, điểm mũi chân lướt lên lưng ngựa, vung tay tóm lấy người ấy kéo xuống. Thớt ngựa hí vang, chạy sang một bên. Lữ Tứ Nương nói: “Ai thế?” người ấy nói: “Ngươi có phải là Lý tướng công ở trong tiểu điểm hay không?” Lữ Tứ Nương nhận ra đó là người chăm sóc ngựa trong khách sạn người ấy nói: “Trong khách sạn có cường đạo đến cướp, đang đánh nhau với bằng hữu của tướng công, xin tướng công buông tôi ra”. Tên tiểu nhị trông ngựa này thật bạo dạn, Lữ Tứ Nương nói: “Được, ngươi đi báo quan, ta trở về giúp các ngươi bắt kẻ trộm”. Rồi nàng cúi xuống nhặt một viên sỏi nhỏ vung tay lên, ném bị thương chân ngựa. Con ngựa này đúng là ngựa tốt, nó hí vang một tràng, chạy không xa thì ngừng lại, vẫn đợi chủ nhân. Tên tiểu nhị trông ngựa không biết Lữ Tứ Nương là người tốt hay kẻ xấu, thấy nàng chịu thả mình thì vội vàng phóng lên lưng ngựa. Cam Phụng Trì và Bạch Thái Quan đang căng thẳng, Bạch Thái Quan càng lúc càng nguy, Đổng Cự Xuyên tiến dần tới từng bước, Bạch Thái Quan chợt kêu: “Bát muội!” Đổng Cự Xuyên nói: “Có kêu trời cũng vô dụng!” nói chưa dứt, chợt thấy một luồng bạch quang lóe lên, Lữ Tứ Nương cả người lẫn kiếm lao bổ đến trước mặt như cơn gió lốc, Đổng Cự Xuyên cả kinh lách người qua, vỗ một chưởng vào vai của Lữ Tứ Nương, Lữ Tứ Nương rất nhanh nhạy, nàng lật cổ tay đánh ra một chiêu Thần Long Điêu Thủ, cây bảo kiếm chém vèo qua, dù Đổng Cự Xuyên là một cao thủ nhưng khi thu mình né tránh, ống tay áo cũng bị đứt một mảnh. Đổng Cự Xuyên kêu: “Nguy rồi!” Đổng Cự Xuyên khom eo, một mũi hỏa diệm tiễn đột nhiên bắn ra, đó là một trong những ám khí cứu mạng của y, Lữ Tứ Nương gạt ngang thanh kiếm, chợt nghe nổ bình một tiếng, Lữ Tứ Nương giật mình nhảy vọt ra mấy bước, may mà không bị cháy. Hàn Trọng Sơn thấy Lữ Tứ Nương đến, nào dám ham đánh, vội vàng phóng người lên mái nhà, cùng Đổng Cự Xuyên bỏ chạy. Cam Phụng Trì nói: “Chỗ này không thể ở lâu”. Rồi vội vàng ném cho lão chủ khách sạn hai lượng bạc.

Ngư Nương đang nóng lòng chờ đợi, không lâu sau bọn Bạch Thái Quan vào phòng. Ngư Nương nói: “Thế nào? Cam đại hiệp gặp ai thế?” Bạch Thái Quan nói: “Đừng hỏi nhiều, mau thu dọn, chúng ta đi ngay thôi!” Cam Phụng Trì nói: “Xa lão bá!” Xa Đỉnh Phong nghiêng người rồi chợt ngồi dậy.

Lữ Bảo Trung nói: “Xa lão bá, người có sao không?” Xa Đỉnh Phong nói: “Thiếu nữ ấy ra tay thật hiểm độc, may mà được hai vị tương cứu”. Cam Phụng Trì nói: “Ngũ ca, huynh hãy cõng Xa lão bá, tôi và bát muội đoạn hậu”. Xa Đỉnh Phong nói: “Học trò của Thọ Sương thư viện đều là những thiếu niên ôm lòng cứu quốc, nếu Cam đại hiệp không có chỗ nào dừng chân, chi bằng đến đấy tạm lánh mặt”. Cam Phụng Trì nói: “Thật là tốt”. Lữ Tứ Nương chợt nói: “Thất ca, muội lại đến phủ nha một chuyến”. Bạch Thái Quan nói: “Sao muội không đi cùng?” Lữ Tứ Nương nói: “Người trong khách sạn đã báo quan, Liễu Ân chắc chắn đích thân đến đây”. Cam Phụng Trì nói: “Huynh đã biết dụng ý của bát muội. Đó là kế điệu hổ ly sơn. Liễu Ân đến bắt chúng ta, còn chúng ta đi cứu Lộ sư huynh”. Ngư Nương nói: “Lữ tỷ tỷ, kế này tuy hay nhưng tỷ đã mệt suốt đêm, cũng nên nghỉ ngơi”. Lữ Tứ Nương cười nói: “Không sao”. Rồi ăn vội mấy miếng lương khô, uống một ly nước, xong xuôi thi triển khinh công tuyệt đỉnh phóng lên mái nhà.

Lý Trị và Phùng Lâm xuống Cát Lĩnh, Phùng Lâm thấp thỏm lo âu, Lý Trị nói: “Anh muội, Cam đại hiệp biết muội là đứa trẻ, chắc là không trách muội”. Hai người đi một hồi đã đến gần khách sạn, chợt thấy một toán quan binh chạy bên ngoài, Phùng Lâm nói: “Không xong, chúng ta mau chạy”. Trong khách sạn chợt có một nhà sư nhảy ra, đó chính là Liễu Ân.

Liễu Ân vừa thấy Phùng Lâm, cả giận quát: “Hừ! Chạy đi đâu cho thoát?” rồi phóng tới đuổi theo, Phùng Lâm nói: “Lý ca ca, huynh chặn y một hồi, muội dùng ám khí giúp huynh”. Khinh công của Liễu Ân tuy không bằng Lữ Tứ Nương nhưng lại cao minh hơn Phùng Lâm rất nhiều, chỉ thoáng chốc đã đuổi theo tới sau lưng, y vung bàn tay to bè chụp xuống đầu nàng. Chợt ánh hàn quang lóe lên, Lý Trị đã đâm soạt đến một kiếm, kiếm chiêu cực kỳ nhanh nhạy, Liễu Ân rụt chưởng bổ xuống, Phùng Lâm vung tay phóng ra hai mũi phi đao, Liễu Ân đưa cây thiền trượng hất lên, hai mũi phi đao đều bị y đánh bay lên không trung, rơi xuống lại mặt hồ. Phùng Lâm chạy vắt dò lên cổ, hơn mười tên bổ khoái phóng ngựa đuổi theo, Liễu Ân lách người, Lý Trị lại đâm soạt soạt hai kiếm, Liễu Ân quát: “Ngươi đã chán sống!” thế rồi đánh vù một trượng bổ xuống đỉnh đầu của Lý Trị, Lý Trị lách người, đâm mũi kiếm thẳng vào ngực của Liễu Ân, đây chính là một chiêu sát thủ trong kiếm pháp độc môn của Bạch Phát ma nữ, Liễu Ân đánh ra một trượng, môn hộ mở rộng, Lý Trị tưởng rằng có thể đắc thủ, nào ngờ cây thiền trượng của Liễu Ân lại xoay một vòng trên không trung, không cần rút trượng hộ thân, Lý Trị lại cảm thấy một luồng lực lớn dồn tới, người bất đồ thối lui hai bước, mũi kiếm cũng bị trượng phong đánh lệch qua. Liễu Ân quát lớn một tiếng, đuôi trượng vểnh lên quét ra vù vù.

Lý Trị cả kinh, không dám chống trả, chàng lộn người trong trượng phong, đột nhiên tấn công vào chỗ trống bên trái của y, Liễu Ân dựng cây thiền trượng quét ra. hai người đọ nhau ba mươi chiêu, thanh kiếm của Lý Trị đánh nhanh như điện xẹt, thế mà chẳng chạm được vào trượng của y, đang lúc đấu rất hăng, Lý Trị lại đâm thẳng vào huyệt Phong Phủ trên vai của y, Liễu Ân hướng vào kiếm thế của chàng, thân trượng đẩy về phía trước, nào ngờ kiếm pháp của Lý Trị lại ngược với lại kiếm pháp bình thường, rõ ràng là chàng đâm vào mặt trái nhưng không biết thế nào lại đổi hướng, Liễu Ân điểm vào trượng, chợt cảm thấy gió lạnh lượt tới, lưỡi kiếm đã đâm tới vai trái, Lữ Tứ Nương rùng vai trái, chưởng trái chụp về phía trước, mũi kiếm của Lý Trị đã điểm vào vai của Liễu Ân, chợt thấy mất trọng tâm đã bị Liễu Ân chụp trúng cổ tay, chẳng thể nhúc nhích được, cây trường kiếm rơi xuống đất.

Liễu Ân giở bổng Lý Trị lên, toan quăng xuống nhưng lại thu về, hỏi: “Ngươi là môn hạ của ai?” Lý Trị nói: “Ngươi muốn giết cứ ra tay, không cần phải hỏi nhiều!” Liễu Ân nghĩ bụng người này kiếm pháp quỷ dị, tựa như chẳng kém gì Lữ Tứ Nương, không nên tùy tiện giết y, nói: “Ngươi có thể tiếp hơn ba mươi chiêu của ta cũng coi như là một trang hảo hán. Tạm thời tha cho ngươi”. Thế rồi năm ngón siết lại, dùng thủ pháp Phân cân thác cốt lợi hại nhất bóp Lý Trị đến toàn thân mềm nhũn, thấy mồ hôi trên trán Lý Trị nhỏ xuống ròng ròng, mà chàng ta cũng chẳng hề rên rỉ. Liễu Ân cũng không khỏi thầm khen, bảo bọn quan sai trói chàng lại rồi ném lên lưng ngựa tiếp tục đuổi về phía trước.

Phùng Lâm chạy vắt giò lên cổ, phía sau có mười mấy thớt khoái mã đuổi theo, Phùng Lâm đợi bọn chúng đến gần, trở tay đột nhiên phóng ra hai mũi phi đao, phi đao cắm vào mắt ngựa, độc tính lập tức phát tác, hai thớt ngựa biến thành ngựa mù, hất hai tên bổ khoái xuống ngựa.

Phùng Lâm thở phào lại chạy tiếp. Tên bổ đầu lại xua người đuổi theo, khi bọn chúng đến gần, Phùng Lâm lại phóng phi đao đánh ngã hai thớt ngựa nữa. Cứ như thế mấy lần, trong túi ám khí của Phùng Lâm chỉ còn lại hai mũi phi đao, nàng cũng chẳng dám phóng ra tiếp. Bọn bổ khoái đuổi càng gấp hơn, đến một khúc quanh chợt thấy một toán quân xông ra, trên ngoạn soái kỳ cao hơn ba trượng có một chữ “Niên”. Chợt tên quân cầm cờ phóng ngựa ở phía trước thấy có một thiếu nữ chạy đến, sau lưng có bảy tám tên công sai đuổi theo rất lấy làm lạ, một tên tì tướng xông lên, chĩa cây trường mâu về phía Phùng Lâm, quát: “Đứng lại!” Phùng Lâm lớn lên trong phủ Tứ bối lạc, có quan sai nào mà chẳng gặp, bởi vậy nàng cũng chẳng hề lo lắng, chụp lấy cây trường mâu giật một cái, viên tì tướng bị nàng kéo từ trên ngựa xuống, Phùng Lâm cũng bắt chước theo giọng của y: “Đứng lại!” tên tì tướng tức giận quát: “Đứa trẻ nhà ngươi thật lớn gan, ngươi tên gì?” Phùng Lâm cũng nói: “Ngươi tên gì?”

Bảy tám tên bổ khoái đuổi tới, thấy đại quân ở trước mặt không dám làm càn. Tên bổ đầu bước tới bẩm rằng: “Bảo quốc thiền sư bảo chúng tôi đuổi bắt đứa trẻ này”. Tên lính cầm cờ nói: “Ai là Bảo quốc thiền sư?” Liễu Ân được phong làm Bảo quốc thiền sư, trong quân không hề biết. Tên bổ đầu nói: “Nghe nói đứa trẻ này là người trong phủ Tứ bối lạc, Tứ bối lạc sai Bảo quốc thiền sư đi bắt nó về”. Tên lính cầm cờ biến sắc, nói: “Té ra là thế, đợi ta một lát”. Rồi quay vào bẩm cáo.

Tên tì tướng bị Phùng Lâm trêu tức đến nỗi thất khiếu bốc khói, bảo võ sĩ ùa lên bao vây, thấy Phùng Lâm nghênh ngang như thế vừa đáng yêu vừa buồn cười, Phùng Lâm vẫn còn nắm cây trường mâu, tên tì tướng giật cây trường mâu quát: “Ngươi có buông tay ra không?” Phùng Lâm cũng cười quát: “Ngươi có buông tay ra không?” rồi ngầm vận nội lực giật cây trường mâu, tên tì tướng ngã ngửa xuống đất.

Bọn binh sĩ thấy thế đều thầm cười. Tên võ quan thẹn quá hóa giận, nhảy bật lên vung quyền đánh tới. Bọn binh sĩ chợt tản ra xung quanh, một viên tướng trẻ tuổi cỡi con ngựa to lớn thong thả đi tới, quát: “Ai gây sự ở đây?” tên võ quan vội vàng ngừng tay, bẩm: “Chính là đứa trẻ này”. Phùng Lâm cũng nói: “Nhà ngươi là tướng quân sao không quản bộ hạ để y bức hiếp trẻ con?” viên tướng trẻ tuổi thấy nàng thiếu nữ mặt mày hớn hở, trông rất đáng yêu, còn viên võ quan kia mặt sưng lên quần áo lôi thôi bởi vậy vừa kinh ngạc vừa buồn cười, hỏi: “Nhà ngươi ở đâu ra thế? Tại sai lại đánh nhau với quan quân?” Phùng Lâm nói: “Ta đang đi yên ổn, thế mà y chặn ta”. Một tên quân đến báo: “Bẩm phó soái, nghe bổ khoái Hàng Châu nói, ả này là người trong phủ Tứ bối lạc”. Viên tướng trẻ tuổi hơn biến sắc, nói: “Ngươi mời đại soái ra đây”.

Phùng Lâm nói: “Ngươi mặc kệ ta là người ở đâu, ta chẳng làm gì phạm pháp, cả Hoàng đế cũng không chặn được ta”. Viên tướng trẻ tuổi nói: “Ngươi thật chua ngoa”. Ngập ngừng rồi lại nói: “Ngươi theo ai học võ nghệ?” Phùng Lâm nói: “Không nói cho ngươi biết”. Viên tướng cười nói: “Ngươi đánh vài quyền ta xem thử”. Phùng Lâm nói: “Ta không phải người mãi nghệ trên giang hồ, tại sao phải múa cho ngươi xem, có muốn thì cứ tỉ thí với nhau”. Viên tướng mỉm cười nhảy xuống ngựa, nói: “Được, ta tỉ thí với ngươi”. Phùng Lâm nói: “Ta thắng ngươi phải thả ta đi đấy”. viên tướng nói: “Được thôi, ngươi phát chiêu trước”.

Té ra đây là toán quân của Niên Canh Nghiêu, viên tướng trẻ tuổi là phó tướng của y tên gọi Nhạc Chung Kỳ. Từ sau khi Niên Canh Nghiêu theo Tứ bối lạc, lại học bốn năm binh thư, đến năm mười tám tuổi, Tứ bối lạc mới để y cầm binh, theo đại tướng Phó Định chinh phạt bộ lạc Chuẩn Cát Nhĩ lập được công lớn, được phong làm tổng binh, rồi được phong làm Đô đốc, trước sau không quá ba năm, từ một viên tì tướng đã trở thành chủ soái, có thể nói là người thăng tiến nhanh nhất trong thời Thanh. Lúc này Niên Canh Nghiêu mới hai mươi mốt tuổi. Nghe nói Nhạc Chung Kỳ là hậu duệ của Nhạc Phi, năm nay chỉ mới hai mươi hai tuổi, cũng là người do Tứ bối lạc đề bạt. Y tinh thông võ nghệ, thuộc lòng binh thư.

Nhạc Chung Kỳ đối xử với thuộc hạ rất khoan dung, còn Niên Canh Nghiêu trị quân rất nghiêm. Nên thuộc hạ trong quân đều sợ Niên Canh Nghiêu như cọp, nhưng trái lại thân thiết với Nhạc Chung Kỳ. Nhạc Chung Kỳ thấy Phùng Lâm chỉ là đứa trẻ mười ba mười bốn tuổi nhưng đã đánh ngã một tên võ quan, lại thấy nàng rất đáng yêu, nhất thời nổi hứng nên muốn trêu nàng chơi.

Phùng Lâm rất nghịch ngợm, Nhạc Chung Kỳ vừa nói “được thôi”. Nàng đã đưa chân đạp vào gối của Nhạc Chung Kỳ, Nhạc Chung Kỳ khom eo tiếp lấy, Phùng Lâm vỗ bốp bốp hai chưởng, Nhạc Chung Kỳ kêu “hay!” hai chưởng giáng thẳng xuống, chỉ vì sợ đả thương Phùng Lâm nên không dám dốc hết toàn lực, y chỉ hơi chần chừ, Phùng Lâm đã hóa chưởng thành quyền đánh ra một chiêu Lôi Tinh Cản Nguyệt đánh vào bụng dưới của y.

Nhạc Chung Kỳ cả kinh vội vàng lộn người, hai chưởng đẩy ra hóa giả thế công của nàng, thầm nhủ: “Đứa trẻ này tuổi còn nhỏ mà sao ra tay lại hiểm độc đến thế”. Bất giác thiện cảm đối với nàng giảm mất một nửa, Phùng Lâm tiến tới một bước, quyền phải thu về eo, tay trái biến thành chưởng chém vào mặt trái của đối phương, đây chính là chiêu Thản Đương Thiết Chưởng của Thiếu Lâm quyền. Nhạc Chung Kỳ gạt ngang chưởng chặn lại, nàng đã tung hai cước đá liên hoàn, chân trái đá vào huyệt Bạch Hải trên mặt gối của Nhạc Chung Kỳ, chân phải đá vào huyệt Củng Binh dưới đầu gối. Đó chính là đòn Liên Hoàn cước trong Thái Tổ quyền Bắc phái. Nhạc Chung Kỳ phải vận dụng mấy chiêu Tả Hữu Khai Cung, Thác Thiên Hoán Nhật trong Nhạc gia táng thủ mới chặn được nàng.

Phùng Lâm càng đánh càng dữ, chiêu số biến hóa vô thường phức tạp, lúc quyền lúc chưởng. Nhạc Chung Kỳ thầm lấy làm lạ, không ngờ rằng nàng tuổi còn nhỏ mà đã học được nhiều võ công kỳ dị đến thế. Phùng Lâm người lại thấp bé, nên chỉ chuyên tấn công vào hạ bàn của kẻ địch, Nhạc Chung Kỳ đành phải khom eo ứng chiến rất vất vả.

Đánh một hồi, binh sĩ xung quanh chợt yên lặng. Nhạc Chung Kỳ biết chắc chắn Niên Canh Nghiêu đã tới, thầm nhủ: “Mình đánh không lại một đứa trẻ, há chẳng phải bị y cười chê sao”. Thế là mặt nóng ran, không hề nhườnh nhịn nữa. Nhạc Chung Kỳ có môn Nhạc gia táng thủ tinh diệu tuyệt luân, Phùng Lâm tuy biết nhiều loại võ công nhưng rốt cuộc tuổi vẫn còn nhỏ sức còn yếu, hỏa hầu chưa đủ, Nhạc Chung Kỳ ra tay thực sự, Phùng Lâm dần dần lọt xuống thế hạ phong. Bộ pháp của Nhạc Chung Kỳ cứ như khỉ vượn, xuất quyền như hổ báo, đánh xong mười chiêu, Phùng Lâm chẳng thể nào tấn công tới nữa. Nhạc Chung Kỳ cười nói: “Tiểu cô nương nhà ngươi đã chịu thua chưa?” Phùng Lâm chẳng nói một lời, thối lui hai bước, đột nhiên trở tay phất lại, hai luồng ô kim bay xẹt ra. Nhạc Chung Kỳ hoảng hồn, biết ám khí chắc chắn có độc, thế là lách người vung tay búng một cái lên chui phi đao, cây phi đao thứ nhất rơi xuống đất. Mũi thứ hai bay đến rất nhanh, Nhạc Chung Kỳ không dám búng tiếp, cũng không dám hớt lấy, chỉ đành rùng vai lách qua, mũi phi đao lướt qua đầu, chỉ nghe Niên Canh Nghiêu quát: “Dừng!” Nhạc Chung Kỳ buông tay thối lui, tiếng quát này tựa như có uy nghiêm vô hạn, Phùng Lâm nghịch ngợm đến thế mà cũng giật mình ngừng tay.Niên Canh Nghiêu cầm mũi phi đao trong tay, nhìn qua ngó lại, trầm ngâm chẳng nói. Nhạc Chung Kỳ bước tới nói: “Phi đao này có độc, đại soái hãy cẩn thận”. Niên Canh Nghiêu chỉ nói hai chữ: “Không sao”. Nhạc Chung Kỳ nói: “Đứa trẻ này thật lạ, có lẽ đúng là người trong phủ Tứ bối lạc”. Niên Canh Nghiêu kêu ừ một tiếng, mặt biến sắc, không nói ra lời. Nhạc Chung Kỳ rất lấy làm lạ. Y làm việc với Niên Canh Nghiêu đã được ba năm, chưa bao giờ thấy Niên Canh Nghiêu tỏ vẻ thất sắc như thế. Nhạc Chung Kỳ thầm nhủ: “Dù đứa trẻ này là người của Tứ bối lạc, đại soái cũng không sợ như thế, sao lại cứ trầm ngâm suy nghĩ”.

Nhạc Chung Kỳ không biết rằng, Niên Canh Nghiêu và Phùng Lâm từ nhỏ đã ở bên nhau, Niên Canh Nghiêu lớn hơn nàng bảy tuổi, lúc nhỏ thường bế nàng, tình như huynh muội. Từ sau khi Chung Vạn Đường qua đời bởi độc trảo của Tát Thiên Thích, Phùng Lâm bị Song ma bắt đi, giấu trong phủ Tứ bối lạc, thế là hai người chẳng gặp nhau nữa. Niên Canh Nghiêu chỉ nghe Liễu Ân nói Tứ bối lạc cũng rất yêu mến Phùng Lâm. Tứ bối lạc đã lấy thuốc trong đại nội pha vào trà cho nàng uống vì thế nàng đã quên hết tất cả mọi chuyện lúc trước.

Lúc đó Niên Canh Nghiêu cũng không hề để ý, thầm nhủ: “Ả nha đầu này thông minh xảo quyệt, để ả quên chuyện xưa cũng tốt”. Bảy năm trôi qua, Niên Canh Nghiêu dần dần trở nên người lớn, gần một hai năm nay, cũng có người mai mối cho y. Vì thế Niên Canh Nghiêu nhớ đến Phùng Lâm, không biết nàng ta đã như thế nào, nghĩ bụng nàng ta đã mất hết trí nhớ, thấy mình chắc cũng không nhận ra, mỗi lần nghĩ đến đó trong lòng thấy nôn nao.

Lúc nãy Niên Canh Nghiêu nghe đến báo có một thiếu nữ gây sự bên ngoài, y chột dạ bước ra xem. Thấy Phùng Lâm đánh với Nhạc Chung Kỳ đến khó phân thắng bại, trong lòng thầm thất kinh, nghĩ bụng thiếu nữ này quá nửa là nàng ta. Đến khi chụp được cây phi đao mới càng đoán chắc hơn.

Phùng Lâm gặp Niên Canh Nghiêu, tâm hồn nhỏ bé cũng nhói lên, thầm nhủ không biết đã gặp qua người này ở đâu nhưng nàng chẳng thể nhớ ra nổi. Niên Canh Nghiêu nói: “Tiểu cô nương, đến đây, ta có chuyện muốn hỏi”. Phùng Lâm chớp mắt nói: “Được, ngươi cứ hỏi”.

Niên Canh Nghiêu bảo bọn tham tướng gọi nàng lên xe ngựa của mình, chợt dặn Nhạc Chung Kỳ: “Bắt toàn bộ bổ khoái Hàng Châu lại, truyền lệnh không được để lộ chuyện này”. Nhạc Chung Kỳ rất lấy làm lạ nhưng cũng chỉ làm theo chứ không dám hỏi.

Niên Canh Nghiêu nhảy lên xe ngựa, bảo Phùng Lâm ngồi bên cạnh mình, nhìn kỹ nàng, thấy trên khuôn mặt bầu bĩnh của nàng có lún đồng tiền, hỏi rằng: “Ngươi nói thực cho ta nghe, có phải ngươi là người trong phủ Tứ bối lạc không?” Phùng Lâm nói: “Phải thì thế nào?” Niên Canh Nghiêu nói: “Đang ở yên ổn sao ngươi lại chạy ra?” Phùng Lâm đỏ mặt, nói: “Không nói cho ngươi biết”. Niên Canh Nghiêu nói: “Tứ bối lạc sai Bảo quốc thiền sư bắt ngươi trở về, ngươi có biết không?” Phùng Lâm nói: “Ta không về”. Niên Canh Nghiêu nói: “Tại sao không về?” Phùng Lâm giận dỗi nói: “Không về thì không về chứ sao, hỏi mãi thế?” Niên Canh Nghiêu nói: “Tứ bối lạc có đối xử tốt với ngươi không?” Phùng Lâm nói: “Ồ, tốt...” nàng chợt rưng tưng nước mắt nói: “Ngươi là tướng quân gì, tại sao hỏi ta?” Niên Canh Nghiêu ngẩn người, tiếp theo đó giật mình, thầm nhủ nếu nàng trở về nói với Dận Trinh là mình đã tra vấn nàng thì Dận Trinh sẽ nghi ngờ, bèn nói: “Ta khuyên ngươi trở về thì hơn”. Phùng Lâm nói: “Hừ, té ra ngươi cũng là kẻ xấu!” Niên Canh Nghiêu ngạc nhiên nói: “Ta xấu thế nào?” Phùng Lâm nói: “Ngươi cầm binh bên ngoài tự do tự tại, lại khuyên ta trở về cái nơi buồn tẻ ấy”.

Niên Canh Nghiêu nói: “Ồ, té ra ngươi vẫn ham vui như thế”. Phùng Lâm mở to mắt hỏi: “Làm sao ngươi biết ta ham vui?” Niên Canh Nghiêu lại giật mình, gượng cười: “Trong bộ dạng ngươi như thế đã biết ngươi ham vui! Ngươi ham vui cũng không sao, chỉ cần ngươi không bỏ trốn, Tứ bối lạc cũng cho phép ngươi ra ngoài rong chơi, kinh thành Bắc Kinh to lớn như thế mà vẫn không đủ cho ngươi chơi hay sao?” Phùng Lâm tức giận nói: “Ngươi đúng là người xấu!” Niên Canh Nghiêu nhíu mày nói: “Tại sao ta là người xấu?” Phùng Lâm trả lời: “Tại sao ngươi cứ buộc ta trở về phủ Tứ bối lạc?” Niên Canh Nghiêu nói: “Khuyên ngươi trở về hướng phước mà là xấu ư?” Phùng Lâm nói: “Vậy không xấu là gì? Ta chết cũng không quay về!”

Niên Canh Nghiêu giật mình, Phùng Lâm nói kiên quyết như thế, chắc là có ẩn tình, liền nói: “Được, ta không khuyên ngươi nữa, ngươi cứ ở trong xe này, đừng chạy bừa”. Phùng Lâm nói: “Được, vậy Bảo quốc thiền sư mà đến, ngươi cũng đừng nói cho y biết”. Niên Canh Nghiêu không đáp vạch rèm xe, quát bảo: “Chém hết bọn bổ khoái Hàng Châu cho ta!” bọn lính thất kinh, Niên Canh Nghiêu phẫy tay: “Đi đi! Truyền quân lệnh không được để lộ chuyện này!” Niên Canh Nghiêu trị quân rất nghiêm, hễ không bằng lòng thì giết ngay, bọn lính thân cận đã thấy quen. Nhưng không ngờ y giết cả bổ khoái Hàng Châu, một lát sau bảy tám tên bổ khoái đều đầu một nơi thân một ngã. Nhạc Chung Kỳ muốn khuyên cũng không kịp nữa. Niên Canh Nghiêu sai hỏa thiêu những cái xác ấy, vãi tro xuống sông.

Hủy xác diệt tích xong, Niên Canh Nghiêu hạ lệnh đưa quân vào Hàng Châu. Đi một hồi, quân cầm cờ báo: “Có một hòa thượng cầm cây trượng to như miệng bát, mặt mũi hung hăng tự xưng Bảo quốc thiền sư, nói là bằng hữu của đại soái muốn đến cầu kiến”. Niên Canh Nghiêu nói: “Được, để ta đích thân tiếp y”.

Sau khi bắt được Lý Trị, Liễu Ân dùng thủ pháp Phân cân thác cốt đả thương các khớp của Lý Trị, khiến chàng trong vòng mười hai canh giờ không thể hồi phục lại, sau đó lại trao chàng cho vệ sĩ của phủ nha là Vương Phấn và Hàn Chấn Sinh còn mình tiếp tục phóng ngựa đuổi theo.

Chạy được hơn mười dặm, tới quãng đồng vắng có hai tên bổ khoái chạy ra kêu lớn Bảo quốc thiền sư, Liễu Ân thấy mặt mũi chúng sưng vêu quát hỏi có chuyện gì. Hai tên bổ khoái kể lại chuyện Phùng Lâm ném phi đao, Liễu Ân cả giận nói: “Ả nha đầu này thật ngang ngạnh!”

Liễu Ân phẫy tay bảo hai tên bổ khoái trở về phủ nha trước còn mình thì đuổi theo. Chạy được hơn hai mươi dặm nữa, lại thấy hai tên bổ khoái chặn đường than thở, Liễu Ân nổi cáu lên, cứ thế đi được vài dặm lại có hai tên bổ khoái chạy ra, y gộp cả thảy đến tám người. Liễu Ân thấy quá nửa số bổ khoái đều bị Phùng Lâm đả thương, thầm nhủ: “Ả có cả thảy mười hai mũi phi đao, dùng tám mũi đả thương tám thớt khoái mã, bị mình đánh rơi hai mũi, trên người ả nhiều nhất chỉ còn hai mũi, cũng chỉ có thể đả thương được hai thớt ngựa nữa, xem thử bọn bổ khoái chưa bị thương làm ăn thế nào”.

Liễu Ân vỗ ngựa chạy được năm sáu dặm nữa, vẫn không thấy bọn bổ khoái bị thương, thầm lấy làm lạ. Đột nhiên thớt ngựa hí dài, tung vó loạn cào cào. Liễu Ân cả giận, kẹp hai chân vào bụng ngựa, thớt ngựa hí một tiếng rồi khụy xuống. Liễu Ân thất kinh, quát hỏi: “Ai dám ám toán?” chợt nghe tiếng chuông kêu lên leng keng, một lang trung giang hồ quẩy túi thuốc lắc chuông từ trên sườn núi bên cạnh đi xuống, hát rằng: “Thần y trại Hoa Đà, tinh thông y đạo, bất luận người ngựa, bị thương hỏi ta!” y vừa hát vừa lắc chuông.

Liễu Ân giật mình, lúc này ngựa của y đã chổng vó lên trời chết tốt.

Liễu Ân cả kinh, y tự phụ võ công tuyệt thế vô song, ngựa của mình bị người ta ám toán mà không hề biết chúng đã dùng thủ pháp gì. Chỉ thấy lang trung ấy lại hát rằng: “Bắn ngựa không bắn người, còn để lại chút tình; muốn chữa phải cho sớm, đừng qua quá giờ ngọ”. Liễu Ân mặt biến sắc, ngầm vận nội công hộ toàn thân, vẫy tay nói: “Này, đến trị cho ta!” lang trung lấy túi thuốc, chống cây gậy bước tới từng bước, Liễu Ân chợt quát lớn một tiếng, múa cây thiền trượng bổ xuống đầu.

Lang trung ấy cười lạnh: “Người xuất gia sao ngang ngược đến thế!” khi nói, cây trượng của Liễu Ân đã đánh xuống đầu, Liễu Ân thấy y không thể nào chống trả, muốn nương tay nên tạt xuống vai. Lang trung ấy chẳng hề nhúc nhích, khi cây trượng cách vai còn khoảng một thước, đột nhiên lách người, cây gậy trong tay đánh hất lên kêu keng một tiếng, lửa bắn ra tung tóe. Liễu Ân cảm thấy tay tê rần, cây thiền trượng suýt nữa đã vuột ra. lang trung cũng lảo đảo thối lui mấy bước, nói: “Đáng tiếc!”Liễu Ân vừa lo vừa giận, nội công của kẻ này chẳng kém gì y. Thế là y vung cây thiền trượng quét một chiêu Hoành Tảo Thiên Quân vào mạng sườn của kẻ địch, lang trung tạt ngang cây gậy, quét cây thiền trượng ra. Liễu Ân sấn tới, cây thiền trượng điểm ra một chiêu Thanh Long Xuất Hải, đó là một trong những đòn sát thủ của y, cây gậy của lang trung chặn ở bên ngoài, không rút về kịp, Liễu Ân dốc hết toàn lực, liệu rằng chắc chắn sẽ trúng, nào ngờ lang trung ấy hơi nghiêng người, dùng chui gậy dẫn nhẹ một cái, cây thiền trượng của Liễu Ân đã bị đẩy ra ngoài, y vội vàng điểm về phía trước, hóa giải âm kình của kẻ địch, quát lớn: “Ngươi là ai, hãy mau báo tên, thiền trượng của Phật giá không đánh kẻ vô danh tiểu tốt!”

Lang trung cười hì hì nói: “Đại hòa thượng, ta không phải vương gia cũng chẳng phải nhà phú hộ, ngươi muốn hóa duyên chắc chắn sẽ thất vọng”. Liễu Ân nổi khùng nói: “Ai hóa duyên của ngươi!” rồi quét cây thiền trượng ra vù vù.

Liễu Ân dốc hết sức mình xuất chiêu, phóng trượng như con thần long nhe nanh múa vuốt. Nào ngờ cây gậy trong tay lang trung cũng loang loáng ánh hàn quang, hai người chẳng ai nhường ai, quần thảo được hơn năm mươi chiêu mà vẫn chẳng phân cao thấp. Trượng và gậy mỗi lần chạm nhau đều tóe lửa, cả hai người đều thấy hổ khẩu nóng ran, phải dốc hết toàn lực nắm binh khí mới không bị đối phương đánh bay.

Liễu Ân thầm thất kinh, nhủ rằng trên đời này chỉ có vài người đánh ngang tay với mình, nhưng lang trung giang hồ này tựa như chẳng kém gì mình.

Một hồi sau, lang trung ấy thay đổi chiêu số, tay trái lấy ra cái chuông đồng, Liễu Ân quét tới một trượng, lang trung tung mình vọt lên, cái chuông đồng chợt kêu leng keng trong tai, Liễu Ân quạt trượng ra, quát: “Ngươi dám bỡn cợt Phật gia!” rồi xoáy cây trượng về phía trước, lập tức bốn phương tám hướng đều có bóng của Liễu Ân, một cây thiền trượng đã hóa thành muôn ngàn bóng trượng, bao vây lang trung ấy đến nỗi gió mưa không lọt, đó là Thiên ma trượng pháp do Liễu Ân sáng tạo, chuyên dùng đối phó với những kẻ cường địch.

Lang trung ấy cười nói: “Ngươi còn có bao nhiêu bản lĩnh cứ đem ra hết đây”. Miệng tuy nói cười nhưng tay vẫn không hề chậm lại, cây gậy trong tay chặn trước quét sau, đâm ngang bổ dọc, che kín môn hộ. Trong tiếng trượng phong vù vù, tiếng chuông vẫn kêu lên leng keng không ngừng. Liễu Ân sử dụng Thiên ma trượng pháp mà vẫn không đắc thủ, tiếng chuông càng lúc càng dày, lang trung làm ra vẻ lăm lăm niệm chú tựa như người ta chiêu hồn bắt ma. Liễu Ân rối trí, Thiên ma trượng pháp dần dần thưa thớt, lang trung thừa thế phản công, chuyển khách làm chủ. Đang lúc kịch chiến, lang trung chợt cười lớn: “Đại quân đã đến, xin thứ không thể chìu theo! Khi ngươi đến Tây Thiên, ta lại sẽ gọi hồn cho ngươi!” thế rồi thu cây gậy về quay người toan bỏ chạy, Liễu Ân tức giận nói: “Chạy đi đâu?” rồi quét ra một trượng, lang trung ấy phất tay trái, cuộn ống tay áo lên, Liễu Ân thấy mắt mình hoa lên, y vội vàng rút trượng hộ thân, đến khi mở mắt ra, lang trung ấy đã chạy lên sườn núi!

Liễu Ân định thần lại, nghĩ bụng chỉ có công phu Lưu vân phi tụ của Phó Thanh Chủ phái Vô Cực là có thể dùng ống tay áo làm binh khí, lang trung giang hồ này sao lại biết tuyệt kỹ hiếm thấy như thế? Vậy y có phải là truyền nhân của Phó Thanh Chủ hay không? Nhưng truyền nhân của phái Vô Cực rõ ràng chỉ có một mình Chung Vạn Đường, nhưng thân pháp của người này lại không phải của phái Vô Cực, làm sao có thể sử dụng được tuyệt chiêu Lưu Vân Phi Tụ?

Liễu Ân điểm cây thiền trượng xuống đất mà lòng hoang mang. Đây là lần đầu tiên y bại trận từ ngày xuất đạo. Thực ra y cũng từng bại trong tay Dịch Lan Châu nhưng Dịch Lan Châu là người đồng vai phải lứa với sư phụ của y, thất bại cũng không lạ.

Liễu Ân đang suy nghĩ, chợt thấy phía trước bụi cuốn mù lên, một toán quân kéo tới. Liễu Ân thầm nhủ: “Tên lang trung này thật thính tai, đang lúc kịch chiến mà vẫn có thể nghe được tiếng hành quân trên đường”. Y chợt thấy lá soái kỳ có thêu chữ “Niên” tung bay trong gió không khỏi cả mừng, thầm nhủ: “Tên tiểu tử Niên Canh Nghiêu về nhanh như thế, chắc ả nha đầu đã bị y chặn lại”.

Niên Canh Nghiêu giấu xong Phùng Lâm, thúc ngựa ra phía trước rồi nhảy xuống cung tay, Liễu Ân cười lớn nói: “Lão đệ, đúng là ngươi, tựa như đại tướng quân trên sân khấu”. Niên Canh Nghiêu hơi bực bội nhưng vẫn cố nén, mỉm cười nói: “Bảo quốc thiền sư, tiểu đệ đang cầm quân, không thể đón tiếp đàng hoàng tử tế. Mời thiền sư đổi ngựa, chúng ta trò chuyện một lúc”. Bọn lính dắt tới một thớt ngựa khỏe Mông Cổ, Liễu Ân nhảy lên lưng ngựa, lại cười: “Lão đệ, ngươi vừa làm tướng quân đã đa lễ như thế, kẻ thô lỗ như ta không biết khách sáo. Này, ngươi có thấy ả nha đầu ấy không?”

Liễu Ân tự coi mình là trưởng bối của Niên Canh Nghiêu, làm ra vẻ nghênh ngang hống hách, Niên Canh Nghiêu rất không vui, nhưng y biết Liễu Ân là người của Tứ bối lạc, nên vẫn rất cung kính, giả vờ không biết hỏi: “Ả nha đầu nào?” Liễu Ân ngạc nhiên nói: “Ngươi không gặp ư? Còn ả nha đầu nào nữa? Chính là đứa cháu gái của Chung Vạn Đường”. Niên Canh Nghiêu nói: “Ả chẳng phải đang ở trong phủ Tứ bối lạc sao?” Liễu Ân nói: “Ồ, đúng là ngươi không gặp ả. Vậy bọn bổ khoái Hàng Châu đâu rồi?” Niên Canh Nghiêu nói: “Bổ khoái Hàng Châu nào? Bảo quốc thiền sư, tôi thật chẳng hiểu gì cả, tôi vừa mới từ Phúc Kiến về đây”.

Liễu Ân nói: “Ngươi đúng là tài giỏi, vừa mới từ Thanh Hải trở về lại đến Phúc Kiến đánh giặc, chắc là đã nhận được mật lệnh của Tứ bối lạc, sắp về kinh phải không?” Niên Canh Nghiêu nói: “Đúng thế. Tôi đi ngang qua Hàng Châu, nhân tiện bắt theo một đám khâm phạm”. Liễu Ân nói: “Ngươi tuổi còn trẻ mà đánh trận thật giỏi, chả trách nào Tứ bối lạc coi trọng ngươi như thế”. Niên Canh Nghiêu mỉm cười nói: “Làm sao bằng Bảo quốc thiền sư võ công trùm đời vô song”. Liễu Ân bình thường thích nhất là người ta khen mình võ công cao cường, lần này vừa mới thất bại nghe thế trái lại lúng túng, lảng sang chuyện khác: “Tứ bối lạc có mật lệnh kêu ngươi về kinh, chả lẽ không nhắc đến chuyện ả nha đầu ấy sao?” Niên Canh Nghiêu nói: “Không có!” Liễu Ân cười rằng: “Xem ra Tứ bối lạc rất thích ả nha đầu này”. Niên Canh Nghiêu đỏ mặt tía tai, nuốt nước miếng rồi cố cười rằng: “Thế ư? Ả nha đầu vừa lanh lẹ vừa xinh xắn, ai gặp cũng mến”. Liễu Ân cười nói: “Không phải như thế. Ta thấy Tứ bối lạc có ý giữ ả, định rằng sau này nạp vào hậu cung”. Niên Canh Nghiêu gượng cười: “Hình như đại sư đã quá đa tâm?” Liễu Ân cười lớn một hồi rồi nói: “Ta hiểu rõ Tứ bối lạc hơn ngươi. Y cũng giống như ta, đều là kẻ háo sắc. Ả nha đầu tuổi tuy còn nhỏ nhưng sau này sẽ là một mỹ nhân, nếu Tứ bối lạc không có ý với ả, ta đã cướp làm của riêng! Năm nay ả cũng đã mười bốn tuổi, hai năm nữa đã là một cô nương xinh đẹp!” Niên Canh Nghiêu vừa căm tức vừa lo lắng, thầm nhủ: “Té ra là thế, chả trách nào Phùng Lâm không chịu quay về. Có điều Tứ bối lạc có ý với ả, mình làm sao giữ ả lại?”

Hai người vỗ ngựa sánh vai nhau, một lát sau Liễu Ân chợt thấy Hàn Chấn Sinh và Vương Phấn tập tễnh bước ra, y vội vàng kìm ngựa hỏi: “Làm sao thế? Phạm nhân đâu?” Vương Phấn nói: “Đã bị cường nhân cướp đi rồi!” Liễu Ân mắng: “Đồ vô dụng, hai người canh một phế nhân mà cũng không xong! Là kẻ nào lớn gan dám cướp người giữa thanh thiên bạch nhật?” Hàn Chấn Sinh nói: “Là một lang trung giang hồ, y xông bừa vào, thiếu niên vừa gặp đã kêu y là cựu cựu, chúng tôi định quát hỏi, nào ngờ thân pháp của y rất nhanh, chúng tôi nhìn chưa rõ đã bị y dựng ống tay áo phất một cái ngã lăn xuống đất. Khi mở mắt ra, phạm nhân đã biến mất”. Liễu Ân thất kinh, không dám mắng. Niên Canh Nghiêu chợt nói: “Cái gì? Dùng ống tay áo phất ngã các ngươi? Tới đây ta xem thử”. Hai người tập tễnh bước tới, Niên Canh Nghiêu bảo bọn chúng vén quần lên xem, quả nhiên thấy chân của hai người sưng đỏ. Niên Canh Nghiêu vội vàng dùng lực vặn chân bọn chúng, cả hai đều kêu ối lên một tiếng, kêu xong, cơn đau tựa như giảm mất, có thể đi lại như bình thường.

Niên Canh Nghiêu nói: “Bảo quốc thiền sư đừng mắng chúng, chúng đã gặp phải cao thủ tuyệt đỉnh trong võ lâm!” Liễu Ân chợt nói: “Làm sao ngươi biết?” Niên Canh Nghiêu nói: “Ngươi quên lão sư phụ chết dẫm của ta là truyền nhân của phái Vô Cực hay sao? Công phu dùng ống tay áo phất huyệt này chính là chiêu số trong Lưu Vân Phi Tụ của phái Vô Cực. Nhưng công lực của người này còn cao hơn cả sư phụ của ta, đừng nói là hai tên này, dù người có võ công cao hơn bọn chúng cũng chịu không nổi một cú phất của y”. Liễu Ân ngạc nhiên, hỏi: “Sư tổ của ngươi Phó Thanh Chủ còn có truyền nhân khác sao? Chả lẽ ngoài sư phụ của ngươi phái Vô Cực còn có ai học được chân truyền của Phó Thanh Chủ?”

Niên Canh Nghiêu nói: “Sư phụ của ta là truyền nhân duy nhất của phái Vô Cực”. Liễu Ân nói: “Nếu đã thế, làm sao lại chui ra một tên lang trung giang hồ?” Niên Canh Nghiêu nói: “Y không phải là người của phái Vô Cực nhưng có liên quan đến Thái sư tổ của chúng tôi”. Liễu Ân nói: “Là ai thế?” Niên Canh Nghiêu nói: “Ông có biết Võ Quỳnh Giao trong Thiên Sơn thất kiếm không?” Liễu Ân bực bội nói: “Làm sao mà không biết?” Niên Canh Nghiêu nói: “Tên lang trung giang hồ này chính là tiểu đệ của Võ Quỳnh Giao”. Liễu Ân ngạc nhiên: “Võ Quỳnh Giao còn có một tiểu đệ?” Niên Canh Nghiêu nói: “Người này tên là Võ Thành Hóa. Từ nhỏ đã đến tái ngoại, khi thất kiếm qui ẩn, y chỉ khoảng mười mấy tuổi, mấy mươi năm qua ở miền tái ngoại, không có sự tích gì lưu truyền trong võ lâm, chả trách nào đại sư không biết”. Liễu Ân nói: “Nếu đã thế, y có liên quan gì đến phái Vô Cực của các người?” Niên Canh Nghiêu nói: “Tôi cũng nghe sư phụ nói, Thái sư tổ là bằng hữu thân thiết với cha của Võ Thành Hóa, bởi vậy mới truyền tuyệt kỹ Lưu vân phi tụ cho y”. (mời xem trong bộ “Thiên Sơn Thất Kiếm”).

Liễu Ân nghe xong, thầm nhủ: “Té ra tên lang trung này lại ghê gớm đến thế, thua y nửa chiêu cũng đáng lắm”. Rồi chợt nói: “Trong số các khâm phạm Hàng Châu, có một người có liên quan đến ngươi!” Niên Canh Nghiêu nói: “Đại sư đừng nói đùa”. Liễu Ân nói: “Không phải đùa, quan hệ của ngươi với phái Thiếu Lâm như thế nào?” Niên Canh Nghiêu nói: “Một nửa võ công của tôi là do Thiếu Lâm tam lão truyền cho”. Liễu Ân nói: “Lộ Dân Đảm có một bằng hữu bằng hữu là Ấn Hoằng hòa thượng, y là đồ đệ của Bản Vô thiền sư chùa Thiếu Lâm. Lần này Lộ Dân Đảm bị bắt, nghe nói Ấn Hoằng đưa thư cho y, bị cao thủ phủ nha đuổi đến dãy Tiên Hà bắt về qui án. Chắc chắn Tuần phủ Triết Giang sẽ trao Ấn Hoằng cho ngươi áp giải bọn chúng về kinh”. Niên Canh Nghiêu cười nói: “Tôi nay đã làm đại tướng của triều đình, chỉ biết chấp pháp chứ không nương tay. Tuy tôi có quen biết Ấn Hoằng hòa thượng nhưng cũng phải áp giải y về kinh”. Liễu Ân hòa thượng cả cười nói: “Chấp pháp cái quái gì! Tiểu Niên, ta cười đến vỡ bụng mất. Vương pháp là cái quái gì, ta biết ngươi cũng biết, trước mặt ta cần chi phải nói những lời như thế. Thật ra Ấn Hoằng hòa thượng có đưa thư cho Lộ Dân Đảm hay không đến giờ vẫn không có chứng cứ”. Lần này Liễu Ân nói thật tình.

Hai người vừa đi vừa trò chuyện, đến trưa đã vào đến Hàng Châu, chỉ thấy trong thành cứ cách mười bước lại có một trạm gác, Liễu Ân ngạc nhiên nói: “Sao căng thẳng như thế?” đến khi nhận được tin báo, Tuần phủ Triết Giang Lý Vệ hớt hải chạy ra nghênh đón!

Đó là bởi vì Lữ Tứ Nương đại náo phủ nha. Lữ Tứ Nương giúp hai người Cam, Bạch đánh lùi Hàn Trọng Sơn và Đổng Cự Xuyên, đoán rằng Liễu Ân chắc chắn sẽ chạy ra truy đuổi, trong phủ nha thiếu cao thủ, bởi vậy thừa cơ cứu người, vì thế thi triển khinh công tuyệt đỉnh, trong đêm tối đến phủ nha. Đến Hàng Châu, gà vừa mới gáy sáng, bọn lính đổi phiên trực.

Lữ Tứ Nương hiểu rõ đường lối trong phủ nha, lại biết Lộ Dân Đảm bị nhốt ở đâu bởi vậy cứ đi thẳng tới. Nàng phóng lên mái nhà giở ngói nhìn xuống, chợt nghe có một thiếu nữ kêu: “Lữ Tứ Nương...” Lữ Tứ Nương thất kinh, tưởng rằng bị phát hiện, chỉ nghe thiếu nữ nói: “Lữ Tứ Nương không hổ là nữ trung hào kiệt, chỉ tiếc ta không thể học được như nàng”. Cánh cửa ngầm ở góc tường chợt bật ra, Lý Minh Châu dắt Lộ Dân Đảm chậm rãi bước ra.

Lữ Tứ Nương ngạc nhiên nói: “Tại sao nàng ta lại nhắc đến mình? Sao lại lớn gan dám dắt phạm nhân ra mật thất”. Chỉ nghe Lý Minh Châu lại nói: “Lữ Tứ Nương đúng là nữ trung hào kiệt, thư sinh mà nàng thích cũng là một trang tuấn kiệt”. Lữ Tứ Nương mặt nóng ran, trong lòng rất thích. Lộ Dân Đảm cười nói: “Làm sao muội biết?” Lý Minh Châu cười nói: “Trước kia y đã từng bị nhốt ở đây, cha của muội lấy lợi dụ dỗ nhưng y không hề khuất phục”. Lữ Tứ Nương nghe thế cả mừng, có thiện cảm với Lý Minh Châu.

Lộ Dân Đảm thấy nàng ngưỡng mộ Lữ Tứ Nương và Thẩm Tại Khoan, mỉm cười rằng: “Thực ra muốn học theo họ cũng không khó, chúng ta cứ cùng bỏ trốn rồi tìm họ”. Lý Minh Châu mặt biến sắc, lắc đầu nói: “Không được, muội không thể rời cha mẹ”. Nàng tuy khác lúc trước nhưng cũng chưa đến mức rời bỏ gia đình, rời bỏ địa vị tiểu thư thiên kim.

Lộ Dân Đảm hình như rất thất vọng, im lặng không nói. Lý Minh Châu nói: “Huynh hãy nhân cơ hội này chạy trốn. Trước khi trời sáng lão lừa trọc Liễu Ân vẫn chưa quay về. Sư phụ của muội đang ngủ, trong nha phủ không có cao thủ, huynh hãy yên tâm mà chạy!”

Lộ Dân Đảm thất bất ngờ, trong hơn một tháng bị giam lỏng, chàng đã nhận ra tình cảm của Lý Minh Châu đối với mình, trong lòng sợ nàng sẽ đeo bám mình, nào ngờ nàng lại chịu thả cho mình đi, trong lòng cảm động nhưng trái lại thấy chần chừ. Lý Minh Châu đẩy chàng nói: “Đi mau! Đợi một lát trời sẽ sáng, muốn chạy cũng không dễ!” nói xong mắt đã đỏ ửng, Lộ Dân Đảm càng thấy lòng nao nao.

Lúc này chợt nghe tiếng cười lạnh: “Hay thật, nữ sinh hướng ngoại, ngươi muốn thả y?” Thiếu phụ áo xanh đẩy cửa vào.

Chính là:

Tuy có hồng nhan tri kỷ đấy, nhưng biết cách nào chạy trốn đây.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 20: Ám khí liên châu phi châm đả nữ hiệp Âm mưu mật kế độc thủ hại thiền sư

Lý Minh Châu kêu hoảng: “Sư phụ”, thiếu phụ áo xanh nghiêm mặt, tóm về phía Lộ Dân Đảm, quát: “Quay về!” Lữ Tứ Nương chợt hú dài từ trên mái ngói lao xuống!

Thiếu phụ áo xanh này chính là Diệp Hoành Ba vợ của Hàn Trọng Sơn, mụ ta cùng Hàn Trọng Sơn ở núi Côn Luân tu luyện, sau đó Hàn Trọng Sơn đến Tây Vực hái thuốc, dò la tung tích của Thiên Diệp Tản Nhân, đi một lần đến mấy năm trời vẫn không về núi, Diệp Hoành Ba xuống núi dò hỏi mới biết y tằng tịu với một nữ tặc vùng Tây bắc là Hồng Cẩm Nương, Diệp Hoành Ba rất nổi cáu, thế là hai vợ chồng trở mặt nhau. Sau đó Hàn Trọng Sơn theo Tứ bối lạc, Diệp Hoành Ba cũng đến phủ nha, làm sư phụ của Lý Minh Châu. Diệp Hoành Ba nội công thâm hậu, hơn năm mươi tuổi mà vẫn trông như người bốn mươi. Hàn Trọng Sơn chẳng có thành ý đối với nữ phi tặc, lâu ngày sinh chán nản, không khỏi lại nhớ đến vợ mình. Vì thế y nhờ Liễu Ân hòa giải cho mình. Lúc đầu Diệp Hoành Ba kiên quyết không chịu, sau đó nghĩ đến tình phu thê, chấp nhận hòa giải nhưng đưa ra một điều kiện độc ác đó là muốn Hàn Trọng Sơn cắt một lỗ tai của Hồng Cẩm Nương, mười đầu ngón tay đem về làm vật chuộc tội. Nhưng may nhờ Cam Phụng Trì xuất hiện mới cứu được Hồng Cẩm Nương.

Lữ Tứ Nương vọt xuống, tay đã rút sẵn cây Sương Hoa kiếm. Diệp Hoành Ba nhảy lướt ngang ba bước, cũng rút thanh bảo kiếm. Lữ Tứ Nương nói: “Lộ sư huynh, chúng ta ra ngoài!” Diệp Hoành Ba cả giận quát: “Lữ Tứ Nương, ta không sợ ngươi!” rồi đâm soạt tới một kiếm! Lữ Tứ Nương chém vào cổ tay trái của mụ ta, Diệp Hoành Ba lập tức lộn người, quét ra một kiếm vào vai trái của Lữ Tứ Nương.

Lữ Tứ Nương cười nói: “Kiếm pháp của ngươi cũng khá lắm”. Rồi đột nhiên chuyển thân kiếm, chập vào thân kiếm của Diệp Hoành Ba rồi xéo một cái, kiếm của Diệp Hoành Ba suýt nữa đã vọt khỏi tay! Mụ ta thất kinh, vội vàng vận lực kìm lại, giải chiêu trả chiêu. Trong chớp mắt Lữ Tứ Nương đã tấn công ba chiêu, mụ ta chỉ có thể chống trả, Diệp Hoành Ba vẫn không hề thối lui, vừa chặn vừa kêu lớn: “Người đâu!”

Võ công của Diệp Hoành Ba chẳng kém gì chồng, Lữ Tứ Nương không muốn đánh lâu, cây Sương Hoa kiếm đánh ra soạt soạt mấy chiêu, kêu: “Lộ sư huynh, nhảy lên mái nhà trước”. Lộ Dân Đảm vái Lý Minh Châu một cái rồi đẩy cửa sổ tung người vọt ra. Lữ Tứ Nương múa kiếm như gió, trong vòng mười chiêu đã khiến Diệp Hoành Ba hoa cả mắt, thối lui hai bước. Lữ Tứ Nương cười nói: “Tạm biệt!” rồi xoay eo nhảy tọt ra cửa sổ. Diệp Hoành Ba tức tối cầm kiếm đuổi theo, chỉ trong chớp mắt Lữ Tứ Nương đã vượt qua ba lớp nhà.

Chợt nghe Lộ Dân Đảm kêu hoảng ở phía trước! Lữ Tứ Nương phóng mình lên như tên bắn, lại băng qua một lớp nhà nữa, chỉ thấy một người đang tung chưởng đánh Lộ Dân Đảm xoay mòng mòng, còn một người kia thì cầm một cây trợ chặn đường chàng ta lại, người đó chính là Đổng Cự Xuyên và Hàn Trọng Sơn.

Số là Đổng Cự Xuyên rất xảo quyệt, y và Hàn Trọng Sơn bị ba người Cam, Lữ, Bạch hợp lực đánh lui, đoán rằng Lữ Tứ Nương chắc chắn sẽ thừa cơ cứu người bởi vậy mới cùng Hàn Trọng Sơn vội vàng chạy về.

Lữ Tứ Nương thấy Lộ Dân Đảm đang gặp nguy, người chưa vững đã liên tục phóng ám khí, hai mũi trủy thủ xé gió bay vèo ra, Hàn Trọng Sơn cũng vung tay ném ba vật sáng loáng ra, món ám khí của y tên là hàn quang phi bạt, bốn bên rất sắc bén, hai cây trủy thủ của Lữ Tứ Nương bị đánh rơi xuống, cái phi bạt ở giữa bay thẳng vào ngực nàng, Lữ Tứ Nương dùng kiếm hất lên, quét phi bạt bay lên đỉnh đầu, thuận tay lại phóng hai mũi trủy thủ về phía Hàn Trọng Sơn và Đổng Cự Xuyên.

Hàn Trọng Sơn phóng vọt người lên, dùng tị vân trợ đánh bay trủy thủ lên không trung, nhảy bổ tới Lữ Tứ Nương; Đổng Cự Xuyên cũng lách người tránh một cây trủy thủ nhưng hơi chậm lại, Lộ Dân Đảm đã thoát thân được. Đổng Cự Xuyên quát: “Chạy đi đâu!” rồi nhảy qua hòn giả sơn chặn lại!

Phía bên này Lữ Tứ Nương đang chặn cây tị vân trợ của Hàn Trọng Sơn, trả lại một kiếm, nàng không muốn giằng co với y, Hàn Trọng Sơn chém ngang tới một trợ, nàng thuận thế điểm kiếm vào đầu trợ, mượn lực của Hàn Trọng Sơn bật ngược người lên rồi bổ nhào xuống Đổng Cự Xuyên, Đổng Cự Xuyên vội vàng tránh qua, kiếm quang của Lữ Tứ Nương lóe lên, đâm vào huyệt Phong Phủ sau lưng của y. Đổng Cự Xuyên vội vàng thu người, đột nhiên đẩy hai chưởng ra, thừa lúc Lữ Tứ Nương chưa đứng vững, đã đánh vào chỗ trống của nàng, đó là một tuyệt chiêu sát thủ của y, không ngờ kiếm của Lữ Tứ Nương thuần diệu vô cùng, biến ảo khôn lường, khi từ trên không trung đáp xuống, tựa như nàng đã đoán được y sẽ tấn công, cây Sương Hoa kiếm đột nhiên phát ra cuộn thành một vòng tròn, vừa nhanh vừa chuẩn, Đổng Cự Xuyên đẩy hai chưởng tới trước ngực, mũi kiếm của nàng đã quét thành một vòng tròn! May mà Đổng Cự Xuyên vẫn chưa đánh hết đòn, y vội vàng lộn người lăn xuống đất chứ nếu không mười ngón tay đã bị chặt đứt, dù như thế, vẫn bị Lữ Tứ Nương đạp cho một cái lăn ra ba trượng mới bò dậy nổi!

Lữ Tứ Nương kêu lên: “Lộ sư huynh, chạy mau, để muội đoạn hậu”. Tiếp theo nàng lại nói hai câu ám ngữ của bổn môn cho chàng biết Cam Phụng Trì đang ở đâu. Hàn Trọng Sơn đã chạy tới, cây tị vân trợ bổ xuống đầu, Lữ Tứ Nương khom eo, không lùi mà tiến, đâm soạt soạt hai kiếm vào huyệt Chiêu Môn của hai be sườn của y, Hàn Trọng Sơn buộc phải thối lui ba bước, đưa cây trợ chặn ngang qua. Lộ Dân Đảm đã nhảy vọt ra khỏi bức tường.

Lúc này Diệp Hoành Ba đã đuổi tới, thấy Hàn Trọng Sơn đang ác chiến với Lữ Tứ Nương, mụ ta chưng hửng, vừa mừng vừa tủi, kêu lên: “Lão quỷ, còn đến đây làm gì?” Hàn Trọng Sơn kêu: “Hảo thê tử, chuyện chúng ta lát nữa hãy tính. Giúp tôi chặn con tiện tì này lại!” lúc này Đổng Cự Xuyên cũng múa chưởng tấn công tới, buộc Lữ Tứ Nương phải chuyển công làm thủ.

Lữ Tứ Nương thầm nhủ, bản lĩnh của mình dù cao hơn nữa cũng không chặn được ba cao thủ thuộc hàng nhất lưu, thế là đánh hờ một kiếm, tay trái chợt mở ra, vạch vào mặt của Đổng Cự Xuyên, Đổng Cự Xuyên vội vàng hụp đầu né tránh, Lữ Tứ Nương trở tay đánh ra một kiếm đâm hờ về phía Hàn Trọng Sơn, người đã chui qua chưởng của Đổng Cự Xuyên. Diệp Hoành Ba đã chạy đến phía trước, vung kiếm chặn lại. Lữ Tứ Nương điểm mũi chân xuống đất, phóng vọt lên cao hơn một trượng, phẩy ra một đóa kiếm hoa đâm lướt về phía đầu của Diệp Hoành Ba, Diệp Hoành Ba giơ kiếm hất lên, gạt được kiếm của Lữ Tứ Nương, Lữ Tứ Nương đã lướt qua hòn non bộ đối diện, chỉ cần nàng vọt một cái nữa thì có thể phóng ra khỏi tường. Ngay lúc này, Hàn Trọng Sơn hú dài một tiếng, phóng ra năm cái phi bạt!

Lữ Tứ Nương nghe gió rít lên, nàng không dám chậm trễ, lia cây Sương Hoa kiếm lên đầu một vòng nhưng ba cái phi bạt bay cách đỉnh đầu nàng tới trên ba thước, thành kiếm không chạm trúng. Lữ Tứ Nương lấy làm lạ, nhưng tình thế cấp bách, khi năm cái phi bạt vừa lướt qua đỉnh đầu nàng, nàng đã điểm mũi chân thi triển khinh công phóng vọt về phía vách tường.

Nào ngờ nàng vừa mới vọt lên, năm cái phi bạt đột nhiên tách ra đổi hướng bay lại, một cái bay về phía đỉnh đầu nàng, một cái bay xuống hai chân của nàng; còn hai bên trái phải đều có hai cái bay tới, cái cuối cùng thì bay thẳng vào ngực nàng. Chỉ cần trúng một cái, không mất mạng cũng tàn phế.

Hàn quang phi bạt và hồi hoàn câu đều là ám khí thành danh của Hàn Trọng Sơn, y tưởng rằng Lữ Tứ Nương chẳng thể nào tránh được, bất giác cười ha hả.

Lữ Tứ Nương đang lơ lửng trên không trung, tiến chẳng được mà lui cũng không! Trong khoảnh khắc sinh tử ấy nàng đã dùng một loại tuyệt kỹ bình sinh! Chỉ thấy nàng chặn ngang kiếm qua hai bên trái phải, gạt hai cái phi bạt ra; thân kiếm xoay một cái, tay cầm ngược chui kiếm đẩy ra ngoài, cái phi bạt ở giữa cũng bị bắn ngược ra. Lúc này trên đầu và dưới chân nàng vẫn còn phi bạt, Lữ Tứ Nương đột nhiên thu người lại, hai chân co lên, hai cái phi bạt lướt vù qua! Lúc này Lữ Tứ Nương đã bật người lên vách tường!

Lữ Tứ Nương vừa thở phào nhảy xuống tường, chợt nghe phía sau có tiếng u u, nàng nghi là phi bạt nên không dám vọt về phía trước, buộc phải quét cây Sương Hoa kiếm ra sau, chỉ thấy một vật trông như cây thước gắp rơi xuống đất. Lữ Tứ Nương cười nói: “Ám khí của ngươi tuy lợi hại nhưng chẳng làm gì được ta!” chưa dứt lời, đột nhiên một luồng kình phong phả vào mặt, té ra Thiên Diệp Tản Nhân đột nhiên từ xó tối lao ra, vỗ một đòn Đại suất bi thủ, lớn giọng cười: “Tiện tì, vẫn còn có ta!”

Lữ Tứ Nương dù tài cao gan lớn, kiếm pháp cao cường cũng không khỏi lạnh mình! Công lực của Thiên Diệp Tản Nhân còn hơn cả Hàn Trọng Sơn, vả lại nàng không biết còn có cao thủ nào nữa hay không!

Thực ra Thiên Diệp Tản Nhân không phải mai phục trước mà đến tìm Hàn Trọng Sơn. Y nghe tiếng ám khí của Hàn Trọng Sơn rít trong gió nên chạy tới, vừa khéo gặp phải Lữ Tứ Nương xông ra ngoài, y biết Lữ Tứ Nương khinh công cao cường nên đã dùng Đại suất bi thủ đánh lui nàng mấy bước để đợi Hàn Trọng Sơn đến giáp trong.

Lữ Tứ Nương không dám tiếp chưởng lực của kẻ địch, quả nhiên nhảy vọt ba bước, món ám khí rơi dưới đất đột nhiên bay bổng lên lao về phía hai chân của Lữ Tứ Nương!

Đây là trái hồi hoàn câu của Hàn Trọng Sơn, Lữ Tứ Nương chưa kịp thấy bao giờ, nàng hoảng hồn nhảy lên, suýt nữa đã bị nó móc trúng! Nàng vội vàng điểm mũi kiếm xuống, bắn vọt người lên, trái hồi hoàn câu bay vù qua chân nàng, Thiên Diệp Tản Nhân đuổi tới vỗ hai chưởng, Lữ Tứ Nương nhảy nhót né tránh, cái hồi hoàn câu chạm vào vách tường bay ngoặt trở lại. Lúc này Hàn Trọng Sơn cũng đã nhảy xuống tường, lớn giọng nói: “Sư đệ, dùng chưởng lực đánh bay thanh kiếm của ả!” rồi vung tay, phóng hai cái phi bạt cuối cùng ra, lúc này y dùng thủ pháp cực kỳ thâm độc, một cái thì dùng thủ pháp phát ám khí tấn công hậu tâm của kẻ địch, một cái thì dùng thủ pháp ném xoáy, giữa hai cái phi bạt còn kẹp theo một cây thất sát châm.

Lữ Tứ Nương tránh chưởng lực của Thiên Diệp Tản Nhân, cái hồi hoàn câu bay tới trước tiên, Lữ Tứ Nương nghe tiếng gió biết nó đã bay ba vòng sẽ mất đà, thế là nàng chém ngang cây Sương Hoa kiếm, chặt hồi hoàn câu làm hai đoạn, cái hồi hoàn câu rơi xuống đất vẫn không ngừng xoay nhưng không bay lên được nữa. Lữ Tứ Nương đứng yên giơ kiếm hộ thân, định rằng nếu phi bạt bay qua đầu thì sẽ dùng kiếm chém, nào ngờ cái phi bạt từ sau lưng bay tới được đánh bằng thủ pháp phóng ám khí bình thường, vừa nhanh vừa chuẩn, Lữ Tứ Nương chợt nghe tiếng ám khí xé gió, cái phi bạt đã đến sau lưng, nàng vội vàng trở kiếm chém ngược lại đánh rơi cái phi bạt xuống, cái phi bạt ở phía trước cũng bay ngược về nhanh như điện chớp, Lữ Tứ Nương rút kiếm hất một cái, Thiên Diệp Tản Nhân chợt quát lớn một tiếng, nhảy lên cao đến hơn một trượng, vận chân lực nội gia từ xa phát ra một chưởng, mũi kiếm của Lữ Tứ Nương bị đánh lệch qua, cái phi bạt ấy chạm vào lưỡi kiếm bay xéo xuống, Lữ Tứ Nương vọt người lên, đột nhiên thấy bụng đau nhói, cây thất sát châm đã bắn vào thịt! Hàn Trọng Sơn liên tục phóng ra ba loại ám khí kỳ môn, lại thêm chưởng lực của Thiên Diệp Tản Nhân, cuối cùng khiến Lữ Tứ Nương bị thương!Lúc này Đổng Cự Xuyên và Diệp Hoành Ba đã đuổi tới, nhảy xuống vách tường. Lữ Tứ Nương lạnh mình, thầm nhủ: “Chả lẽ hôm nay mình mất mạng ở đây”. Nàng chợt nhớ thù người chưa báo, hận nhà khó quên, người yêu đang bận hoạn, bằng hữu đang mong chờ, chợt dũng khí tăng lên, thầm nhủ: “Mình quyết không thể chết ở đây!” nàng cố nén đau, lia cây Sương Hoa kiếm lên không trung đâm về phía mặt trái của Thiên Diệp Tản Nhân, Thiên Diệp Tản Nhân thấy nàng trúng ám khí mà vẫn lợi hại như thế, cười lạnh một tiếng, hai chưởng vẫn tiếp tục đẩy ra, Lữ Tứ Nương vẫy thanh kiếm ra tay nhanh như điện chớp, mũi kiếm chợt đâm vào hai chưởng, xỉa thẳng vào huyệt Toàn Cơ trên ngực của Thiên Diệp Tản Nhân. Lúc này nếu Thiên Diệp Tản Nhân hợp hai chưởng lại, Lữ Tứ Nương khó giữ mạng mà y cũng sống không xong. Trong khoảng sát na điện chớp lửa xẹt, Thiên Diệp Tản Nhân hóp bụng thu ngực theo bản năng, tay trái chặn lấy chui kiếm của nàng, tay phải vạch vào cổ tay của nàng, đó là đòn nửa công nửa thủ, trước tiên hóa giải thế địch, Lữ Tứ Nương thừa cơ lách người, cây bảo kiếm vẫy ra đâm xuống be sườn của Thiên Diệp Tản Nhân, Thiên Diệp Tản Nhân cũng buộc lách người, Lữ Tứ Nương xoay thanh kiếm, đột nhiên vẫy ra một đóa kiếm hoa thật lớn, vù một tiếng vọt qua đầu Thiên Diệp Tản Nhân. Thiên Diệp Tản Nhân cả giận, vội vàng đuổi theo, vợ chồng Hàn Trọng Sơn và Đổng Cự Xuyên cũng chạy theo phía sau.

Nếu luận về khinh công, Lữ Tứ Nương cao hơn Thiên Diệp Tản Nhân một bậc, song vợ chồng Hàn Trọng Sơn và Đổng Cự Xuyên còn cao hơn rất nhiều. Nhưng nàng đã trúng một mũi thất sát châm, bởi vậy khinh công không khỏi bị ảnh hưởng.

Lữ Tứ Nương chạy ở phía trước, bọn Thiên Diệp Tản Nhân đuổi theo sau, chỉ trong chốc lát đã chạy ra thành Hàng Châu. Bọn lính canh trong thành thấy mấy cái bóng trắng lướt qua, cả nam hay nữ cũng chẳng nhận ra chứ đừng nói là chặn lại.

Được nửa canh giờ đầu, Lữ Tứ Nương có thể gắng gượng cầm cự, giữ khoảng cách năm trượng với Thiên Diệp Tản Nhân. Còn bọn Hàn Trọng Sơn thì ở phía sau hơn mười trượng. Qua nửa canh giờ, chân của Lữ Tứ Nương càng lúc càng đau, Thiên Diệp Tản Nhân rướn sức đuổi theo tiếp, lúc này cách Lữ Tứ Nương không đầy ba trượng!

Lữ Tứ Nương nghe tiếng chạy ở sau lưng càng lúc càng gần. Nàng thầm nhủ mình đã đuối sức, xem ra khó thoát, chi bằng cứ quyết tử chiến với bọn chúng một trận. Tuy nàng biết lúc này chỉ một mình Thiên Diệp Tản Nhân thôi đã khó đối phó, nhưng thà tử chiến chứ không bị nhục, thế là nàng liều mạng bước chậm lại, trở tay chém một kiếm! Thiên Diệp Tản Nhân không ngờ nàng xuất chiêu ấy, y đang ra sức đuổi theo, suýt nữa đã bị nàng đâm xuyên ngực, thế là vội vàng xoay người tránh được kiếm ấy của nàng, hoảng đến nỗi toát mồ hôi lạnh. Lữ Tứ Nương đánh xong đòn ấy thấy có hiệu quả, trong lòng cả mừng nên cố nén cơn đau tiếp tục chạy!

Thiên Diệp Tản Nhân định thần, vẫn đuổi theo không ngừng, lại một chốc nữa, Lữ Tứ Nương lại thấy bụng đau nhói, nàng nghe tiếng chân thì biết Thiên Diệp Tản Nhân đã gần hơn, chỉ trong vòng khoảng hai trượng! Lữ Tứ Nương lại giở cách cũ, đột nhiên ngừng bước trở tay đâm một kiếm, nào ngờ Thiên Diệp Tản Nhân cũng đã đề phòng, y vận chưởng lực quát lớn một tiếng, hai chưởng đẩy ra, Lữ Tứ Nương vừa ngừng, chợt thấy kình phong dồn vào ngực, lúc này nàng đã sức cùng lực kiệt, bị chưởng lực đánh ngã vào bụi rậm bên đường, trong lúc nguy cấp, chợt thấy có người chụp mình lại rồi ném đi một cái, bên tai còn nghe tiếng: “A di đà Phật!” khi mở mắt ra nàng thấy mình nằm dưới đất. Người ấy ném nàng tựa như nhấc nàng lên rồi đặt nhẹ nhàng xuống đất.

Lại nói Thiên Diệp Tản Nhân tưởng rằng Lữ Tứ Nương đã bị chưởng lực của mình đánh ngã, trong lòng mừng rỡ định nhảy vào bụi rậm, chợt nghe một tiếng A di đà Phật, tựa như có người nói bên tai: “Khi đắc thủ nên buông tay, tha được cho người thì cứ tha!” mỗi câu mỗi chữ nghe rất rõ ràng! Thiên Diệp Tản Nhân giơ chưởng trái hộ trước ngực, chưởng phải chống địch, khi định thần nhìn lại chỉ thấy một nhà sư mặc tăng bào màu trắng, chân đi giày cỏ hai tai, tay cầm phất trần, trên cổ tay treo một tràng hạt, người ấy chẳng phải ai khác mà chính là Bản Vô đại sư!

Thiên Diệp Tản Nhân hít một hơi, y đã từng thấy bản lĩnh của Bản Vô đại sư trong chùa Thiếu Lâm bởi vậy chẳng dám làm hung. Bản Vô đại sư quét cây phất trần, chắp tay nói: “Tản nhân vẫn mạnh giỏi chứ!” Thiên Diệp Tản Nhân trả lại một lễ, nói: “Pháp thể của thiền sư vẫn an khang!” Bản Vô nói: “Xin đa tạ, Tản nhân là tông chủ của một phái, thế mà cũng rảnh rỗi đến Hàng Châu du sơn ngoạn thủy?” Bản Vô thiền sư biết mà vẫn hỏi, Thiên Diệp Tản Nhân đỏ mặt, ấp úng đáp chẳng ra lời, vợ chồng Hàn Trọng Sơn và Đổng Cự Xuyên đã chạy tới.

Ba người này chưa từng gặp Bản Vô đại sư, thấy Thiên Diệp Tản Nhân tỏ ra cung kính đối với một hòa thượng mà Lữ Tứ Nương đã đứng một bên, trong lòng không khỏi ngạc nhiên. Hàn Trọng Sơn nói: “Sao sư đệ ngừng tay?” rồi giơ cây tị vân trợ toan bổ về phía Lữ Tứ Nương. Bản Vô đại sư chợt tiến tới phía trước chặn lại, chắp tay cười nói: “Sao thí chủ cứ làm khó một thiếu nữ, xin nể mặt bần tăng, tha cho nàng đi thôi!”

Hàn Trọng Sơn nổi cáu: “Đừng nhiều chuyện!” rồi vung cây tị vân trợ bổ tới, Thiên Diệp Tản Nhân kêu lớn: “Đừng!” Bản Vô đại sư mỉm cười, quét cây phất trần chặt vào cây tị vân trợ, Hàn Trọng Sơn chợt thấy tựa như có một vật nặng ngàn cân đè xuống, Thiên Diệp Tản Nhân nói: “Sư huynh, đây chính là Bản Vô đại sư giám tự chùa Thiếu Lâm!”

Hàn Trọng Sơn thất kinh, Bản Vô buông cây phất trần, Hàn Trọng Sơn rút cây trợ về, nói: “Nữ tặc này là cháu gái của tên phản nghịch Lữ Lưu Lương, đại sư là cao tăng hữu đạo, bao che cho ả làm chi?”

Bản Vô đại sư cười lạnh nói: “Vãn thôn tiên sinh có phải là phản nghịch hay không vẫn chưa biết, nhưng hai vị là danh túc của võ lâm, tông sư của một phái, không biết đã làm việc công từ lúc nào, có công văn của quan phủ địa phương hay không?”

Lữ Tứ Nương nghỉ ngơi một hồi, khí lực đã dần dần hồi phục, nàng vung tay phóng ra ba mũi hưởng tiễn bay thẳng lên không trung, cây Sương Hoa kiếm chặn trước ngực, cười lạnh nói: “Thiên Diệp Tản Nhân, ngươi có sư huynh, ta cũng có sư huynh. Nếu ngươi muốn quần đả, bọn ta cũng sẽ có người tiếp ngươi. Nếu ngươi muốn đơn đả độc đấu, xin mời hẹn thời gian, ta chắc chắn sẽ chìu theo”. Thiên Diệp Tản Nhân nóng ran mặt, rất lúng túng. Hàn Trọng Sơn thấy Lữ Tứ Nương phóng hưởng tiễn, biết nàng đang gọi đồng môn, thầm nhủ: “Lão trọc Bản Vô này quả nhiên danh đồn không ngoa. Con tiện tì Lữ Tứ Nương tuy bị thương nhưng vẫn còn hung hăng. Bốn người bọn mình đấu với hai người bọn chúng chưa chắc nắm được phần thắng. Nếu Cam Phụng Trì và Bạch Thái Quan cũng kéo tới, mình chắc chắn sẽ thất bại”. Bản Vô thiền sư lại mỉm cười, nói: “Tứ Nương, trước mặt tiền bối đừng làm hung! Oan gia nên giải không nên kết, giữa các người chẳng có thù sâu hận lớn, cần gì phải hẹn ngày tỉ võ? Theo ý của lão nạp, chuyện hôm nay nên dùng lại đi thôi!” lời của Bản Vô bề ngoài tựa như trách Lữ Tứ Nương nhưng thực ra là trách huynh đệ Thiên Diệp Tản Nhân. Trong võ lâm, địa vị của Bản Vô đại sư cũng cao vời như Dịch Lan Châu, Hàn Trọng Sơn và Thiên Diệp Tản Nhân đều thấp hơn ông ta nửa bậc. Vừa nói ra lời ấy, Thiên Diệp Tản Nhân đã cung tay nói: “Xin nghe theo lệnh đại sư”. Hàn Trọng Sơn nói: “Hôm nay coi như dừng lại ở đây, nhưng sau này vẫn chưa biết”. Bản Vô thiền sư cười nói: “Điều này bần tăng không quản!”
Bọn Hàn Trọng Sơn bỏ đi, Bản Vô thiền sư mới nói: “Ngươi cũng thật lớn gan, sao một mình chống lại bốn tên ma đầu ấy?” Lữ Tứ Nương nói: “Thưa chẳng qua chỉ vì bất đắc dĩ”. Rồi kể lại mọi chuyện lúc nãy. Bản Vô thiền sư thở dài: “Chùa Thiếu Lâm không may, đã dạy ra tên phản đồ Vương Tôn Nhất, khiến cho hiệp sĩ giang hồ gặp nhiều tai nạn”. Vương Tôn Nhất tức là tên của Dận Trinh, Bản Vô thiền sư đã gọi quen, tuy đã biết là Dận Trinh nhưng vẫn không thay đổi. Lữ Tứ Nương cười nói: “Dù Dận Trinh không theo quý phái, y cũng làm khó chúng tôi như thường. Điều này không liên quan đến Thiếu Lâm, đại sư đừng áy náy”. Khi họ đang nói chuyện, chợt nghe ba tiếng hưởng tiễn vang lên, Lữ Tứ Nương mừng rỡ: “Cam thất ca đã đến!”

Một hồi sau Cam Phụng Trì và Bạch Thái Quan quả nhiên đã kéo tới. Họ thấy Lữ Tứ Nương dáng vẻ tiều tụy thì đều thất kinh. Lại thấy Bản Vô thiền sư lại mừng. Biết Bản Vô thiền sư đã cứu Lữ Tứ Nương, hai người Cam, Bạch vội vàng cung tay tạ ơn. Sau khi hỏi han thương thế của Lữ Tứ Nương, Cam Phụng Trì nói: “Đại sư xuống núi có việc gì?” Bản Vô nói: “Tôi có một đồ đệ làm trụ trì của ở chùa Từ Ân huyện Tiêu Sơn”. Cam Phụng Trì nói: “Ồ! Có phải là Ấn Hoằng sư huynh không? Ông ta rất thân với Lộ sư huynh của chúng tôi. Mấy hôm trước chúng tôi đến Tiêu Sơn, vốn là tìm ông ta, đáng tiếc gặp phải chuyện bất ngờ nên vẫn chưa gặp mặt”. Bản Vô thiền sư nói: “May mà Cam đại hiệp không đến chứ nếu không đã uổng công”. Cam Phụng Trì nói: “Sao? Ông ta không ở Tiêu Sơn?” Bản Vô nói: “Hắn đã bị phủ nha Triết Giang bắt đi. Nghe có liên quan đến việc đưa thu cho Lộ đại hiệp”. Cam Phụng Trì kêu ối chao một tiếng, nghĩ lại trận kịch đấu mà mình đã thấy ở dãy Tiên Hà, và bức tranh còn để lại, thầm nhủ chắc người bị bắt chính là Ấn Hoằng hòa thượng, bèn nói: “Ấn Hoằng đại sư vì Lộ sư huynh của chúng tôi mà gặp nạn, nếu đại sư muốn huynh đệ chúng tôi giúp sức, xin cứ căn dặn”. Bản Vô đại sư cười nói: “Giờ thì không cần. Tôi định đến hỏi Niên Canh Nghiêu đòi người”.

Cam Phụng Trì ngạc nhiên nói: “Tại sao?” Bản Vô nói: “Nghe nói lần này Niên Canh Nghiêu áp giải khâm phạm về Bắc Kinh. Ngày mai tôi sẽ đến gặp y”. Cam Phụng Trì vội nói: “Đại sư, phải suy nghĩ kỹ mới được!” Bản Vô nói: “Cam đại hiệp có cao kiến gì?” Cam Phụng Trì nói: “Giờ đây Niên Canh Nghiêu đã là đại tướng của triều Thanh, chỉ e bất lợi đối với đại sư”. Bản Vô đại sư nói: “Từ nhỏ y được Thiếu Lâm tam lão chúng tôi thương mến, đích thân tôi truyền La Hán quyền pháp cho y, chắc là y không dám vô lễ đối với tôi”. Cam Phụng Trì nói: “Cẩn thận vẫn hơn”. Bản Vô thở dài: “Niên Canh Nghiêu là người tài hiếm có, dù y trở nên xấu xa, tôi cũng muốn đích thân xem thử y xấu đến mức nào!” Cam Phụng Trì định nói thêm, Bản Vô lại cười nói: “Hơn nữa, bần tăng tuổi tuy già nhưng binh mã của Niên Canh Nghiêu cũng chẳng vây được bần tăng!” Cam Phụng Trì không dám can nữa, chỉ bảo: “Vậy chúng tôi xin đợi tin tốt lành ở Thọ Sương thư viện”. Thế rồi họ chia tay Bản Vô đại sư.

Lý Vệ đón Niên Canh Nghiêu và Liễu Ân vào thành, Liễu Ân nghe Lộ Dân Đảm đã được Liễu Ân cứu đi, gào thét như sấm, Niên Canh Nghiêu mỉm cười, nói: “Một tên Lộ Dân Đảm có gì đáng lo? Thiên hạ đều trong tay chúng ta, dù y có chạy thoát cũng chẳng làm được trò chống gì”. Liễu Ân bớt giận, không lâu sau Hàn Trọng Sơn và Thiên Diệp Tản Nhân cũng về, báo rằng giám tự chùa Thiếu Lâm Bản Vô đại sư ra tay cứu Lữ Tứ Nương, Niên Canh Nghiêu nhíu mày, nói: “Lão già này thích lo chuyện bao đồng”.

Hôm ấy Lý Vệ giao mười tám khâm phạm cho Niên Canh Nghiêu, quả nhiên có Ấn Hoằng trong đó. Niên Canh Nghiêu cũng không lên tiếng, bảo phó soái Nhạc Chung Kỳ áp giải phạm nhân về doanh trại. Còn mình và Lý Vệ trò chuyện một hồi rồi cũng quay về.

Đêm hôm ấy y mở tiệc đãi bọn Liễu Ân. Bọn Liễu Ân đều ra vẻ kẻ cả với Niên Canh Nghiêu, thấy y đã trở thành chủ soái, vừa thích thú vừa ghen tị. Sau khi tiệc tan, Niên Canh Nghiêu trở về lều của mình, lúc này đã canh ba. Y vừa vạch rèm lên, Phùng Lâm đã nhảy ra cười nói: “Ồ, té ra ngươi cũng là tên ma men, uống đến nỗi say lúy túy thế này”. Niên Canh Nghiêu nói: “Ngươi biết cái quái gì, ta không uống rượu thì ngươi sẽ bị giải về phủ bối lạc”. Phùng Lâm bật cười: “Ngươi uống rượu có liên quan gì đến ta?” Niên Canh Nghiêu suỵt một tiếng nói: “Bảo quốc thiền sư đang ở đây, ta đã chuốc say bọn chúng”. Phùng Lâm đảo mắt nhìn, chợt vỗ tay cười: “Ồ, ngươi thật thông minh, ngươi chuốc say bọn chúng sau đó thả ta đi”. Rồi nàng toan bước ra. Niên Canh Nghiêu nói: “Thong thả đã!” Phùng Lâm quay người lại, nói: “Ngươi lại không muốn thả ta đi sao?” Niên Canh Nghiêu nói: “Ngươi tên gì? Cha mẹ của ngươi đâu?” Niên Canh Nghiêu vốn muốn thử xem nàng biết được bao nhiêu điều về thân thế của mình. Thật ra Niên Canh Nghiêu cũng chẳng biết lai lịch của nàng, chỉ biết nàng là đứa bé gái Chung Vạn Đường dắt về. Phùng Lâm chưng hửng, nhíu mày nói: “Chưa bao giờ có ai hỏi ta như thê!” Niên Canh Nghiêu nói: “Vậy thì giờ đây ta hỏi ngươi!” Phùng Lâm nói: “Ta cũng chẳng biết. Trát bá bá nói từ nhỏ ta đã mồ côi cha mẹ, ông ta nuôi ta lớn lên. Họ đều gọi ta là Lâm nhi”. Niên Canh Nghiêu nói: “Ngươi không về phủ bối lạc, vậy ngươi định đi đâu?” Phùng Lâm mỉm cười, Niên Canh Nghiêu thấy nàng trông rất đáng yêu, nói: “Ồ, ngươi thật là nghịch ngợm, ta đang hỏi đàng hoàng tử tế thế mà ngươi cứ cười”. Phùng Lâm nói: “Ngươi hỏi thật lạ, chả lẽ ngươi sợ ta cứ ở lì ở nhà ngươi hay sao?”

Niên Canh Nghiêu chột dạ, nói: “Hỏi ngươi đi đâu có điều gì là lạ? Vài năm nữa ngươi sẽ lớn phổng lên, chả lẽ cứ lang bạc mãi hay sao?” Phùng Lâm nói: “Có gì mà không tốt, ta đói thì đánh cắp, đánh cắp đồ rất dễ, lại thú vị nữa, ngươi không biết sao?” Niên Canh Nghiêu vừa bực mình vừa buồn cười: “Người của phủ Tứ bối lạc thường đi lại trên giang hồ ngươi không sợ gặp họ sao?” Phùng Lâm nói: “Ta rất tinh mắt, vừa nhìn thấy bóng bọn chúng đã bỏ chạy. Vả lại ngoại trừ Bảo quốc thiền sư, bọn chúng cũng không biết ta đã lẻn ra. Mụ già kia không biết, gặp ta cứ kéo lại hỏi ngắn hỏi dài, hỏi Tứ bối lạc phái ta đi ra có chuyện gì!” Niên Canh Nghiêu biết nàng nói đến Diệp Hoành Ba, bất giác mỉm cười. Lại mừng vì nàng chỉ nói thật với mình, liền bảo: “Giờ đây chỉ có Bảo quốc thiền sư biết, sau này làm sao đảm bảo không có thêm người biết. Tứ bối lạc không thấy ngươi trở về phủ, chắc chắn sẽ sai người bắt ngươi”. Phùng Lâm nói: “Hừ, ngươi đừng dọa ta, ta không sợ!” Niên Canh Nghiêu thấy mặt nàng tái xanh, biết nàng thực sự rất sợ, bèn nói: “Chi bằng ngươi ở lại nhà ta cho xong”. Phùng Lâm nói: “Vậy nhà ngươi có ai?” Niên Canh Nghiêu nói: “Có cha mẹ ta, có bọn hạ nhân. Nhà ta có một khu vườn rất rộng, trong vườn có hoa có chim chơi rất vui. Ngươi có thể ở trong vườn”. Phùng Lâm mỉm cười không đáp.

Niên Canh Nghiêu lấy ra một mảnh ngọc trao cho Phùng Lâm: “Cha của ta tên gọi Niên Hà Linh, sống ở huyện Trần Lưu tỉnh Hà Nam, ngươi cứ đến Trần Lưu hỏi là biết ngay, ngươi gặp cha ta, đưa mảnh ngọc này cho người, cứ bảo ta kêu ngươi đến là được. Ngươi không được nói càn với người khác, có biết chưa?” Phùng Lâm cầm mảnh ngọc, nói: “Ồ, vật này thật là ngộ nghĩnh. Ngươi lắm điều quá, ta cũng chưa chắc đến nhà của ngươi!” vốn là Niên Canh Nghiêu đang dựa dẫm Dận Trinh, không nên mạo hiểm thả người của Dận Trinh đi. Nhưng không biết thế nào mà khi nhìn thấy nét cười vô tư của Phùng Lâm y đã quên đi mọi nguy hiểm, sau khi y quyết định, trong lòng đã có đối sách, dù bại lộ cũng chẳng hề chi.

Phùng Lâm toan xoay người bước ra, Niên Canh Nghiêu nói: “Này, nha đầu ngốc, ngươi đi ra như thế sao?” rồi ném một bộ quần áo cho nàng: “Vào bên trong thay đồ”.

Khi Phùng Lâm vào trong thay đồ, Niên Canh Nghiêu đã gọi quân gác đêm đến, ra lệnh cho y âm thầm đưa Phùng Lâm ra ngoài doanh trại.

Sáng sớm hôm sau, Niên Canh Nghiêu ra ngoài tuần tra, thấy bọn Liễu Ân vẫn còn chưa tỉnh, lòng thầm cười nói: “Đúng là cái dũng của bọn thất phu”. Rồi sai người nấu canh dã rượu cho bọn chúng uống còn mình thì vào hậu đường ở trong hổ trướng, chuẩn bị đem bọn khâm phạm ra thẩm vấn. Đột nhiên một tên phó quan vào báo: “Có một hòa thượng nói quen biết với đại soái, muốn gặp ngài”. Niên Canh Nghiêu nhíu mày, phẫy tay chợt nói: “Thôi được, kêu lão vào đây, tạm thời đừng đưa nghi phạm lên!” một hồi sau, Bản Vô thiền sư cầm phất trần bước vào! Niên Canh Nghiêu vội vàng nghênh tiếp, mấy năm không gặp, thấy Bản Vô thiền sư vẫn khỏe mạnh như xưa, hai mắt sáng quắc, không lộ mà oai, nhìn Niên Canh Nghiêu chằm chằm khiến y khiếp sợ.

Niên Canh Nghiêu vội thi lễ: “Đại sư từ xa đến đây, xin thứ vãn bối không thể nghênh tiếp”. Bản Vô đại sư hừ một tiếng, hất tay trái, nói: “Không dám! Ngươi đã là đại tướng quân, nào dám để ngươi nghênh tiếp!” Niên Canh Nghiêu định khom người thi lễ, chợt thấy một luồng đại lực giở mình lên, y vừa lo sợ vừa lúng túng.

Niên Canh Nghiêu đích thân bưng chiếc ghế bọc da hổ đến ngồi cùng Bản Vô đại sư, nói: “Vãn bối được công danh như hôm nay toàn nhờ năm xưa đại sư chỉ dạy!” Bản Vô hừ một tiếng nói: “Ta có dạy ngươi điều chi?” Niên Canh Nghiêu biết ông ta rất nóng nảy nên không dám nói nhiều. Một hồi sau mới đánh trống lãng: “Mỗi ngày vãn bối đều học bộ La Hán quyền của lão thiền sư truyền dạy”. Bản Vô lạnh lùng nói: “La Hán có ích gì? La Hán quyền đâu giúp ngươi lấy được công danh?” Niên Canh Nghiêu không dám trả lời. Bản Vô đại sư thấy y có vẻ sợ sệt, cũng bớt giận hơn nói: “Chính Vương Tôn Nhất đã đem lại công danh cho ngươi!” Niên Canh Nghiêu nói: “Tứ bối lạc cũng là sư điệt của lão thiền sư”. Bản Vô tức giận nói: “Ta đâu có được sư điệt như thế!” Niên Canh Nghiêu nói: “Năm xưa Bản Không chủ trì đã viết thư chỉ rõ Tứ bối lạc vẫn là đệ tử của phái Thiếu Lâm, y tuy tôn quý nhưng vẫn không dám quên ân tình của phái Thiếu Lâm, khi tôi xuất kinh, y còn bảo nếu một ngày ngồi lên ngôi báu, sẽ đến thăm lại Thiếu Lâm”. Thật ra Dận Trinh nói rằng nếu một ngày ngồi lên ngai vua chắc chắn sẽ san bằng Thiếu Lâm! Bản Vô thiền sư chỉ cười lạnh, chợt nói: “Năm xưa ngươi chứng minh bức thư ấy là thủ bút của sư huynh ta, công lao này thật lớn!” Niên Canh Nghiêu giật mình, thầm nghĩ cách đối phó.

Bản Vô thiền sư nhìn Niên Canh Nghiêu, thầm nhủ: “Gã này quả nhiên đã thay đổi, chỉ biết công danh lợi lộc, quên cả mình là người Hán”. Nhưng giới quy của Thiếu Lâm xưa nay không màng đến triều chính, cũng không cấm môn đồ làm quan, huống chi Niên Canh Nghiêu lại không phải là môn nhân của phái Thiếu Lâm, Bản Vô chẳng quản được y. Niên Canh Nghiêu thấy Bản Vô đại sư không nói, sắc mặt tựa như đã giãn ra, lại cười bảo: “Pháp thể Vô Trú thiền sư vẫn mạnh giỏi chứ?” Bản Vô nói: “Mạnh”. Niên Canh Nghiêu nói: “Từ xưa có câu tình thầy trò như tình cha con, vãn bối tuy vô phúc không được làm môn hạ của phái Thiếu Lâm nhưng được lão thiền sư chỉ điểm, xưa nay xem người như sư phụ. Lão thiền sư từ xa đến đây, xin cho đệ tử chuẩn bị bữa tiệc chay”. Rồi truyền lệnh xuống dưới, Bản Vô chợt nói: “Khoan đã!” Niên Canh Nghiêu nói: “Đại sư có gì căn dặn?” Bản Vô nói: “Ta đến đây không phải hóa chay, ta hỏi ngươi, trong số các nghi phạm ngươi sắp giải về kinh, có đồ đệ Ấn Hoằng của ta không?” Niên Canh Nghiêu hơi chần chừ, đáp: “Có”. Bản Vô nói: “Hắn phạm tội gì?” Niên Canh Nghiêu nói: “Đưa thưa cho tên phản tặc Lộ Dân Đảm”. Bản Vô nói: “Có chứng cứ không?” Niên Canh Nghiêu nói: “Vẫn chưa tìm ra”. Bản Vô nói: “Vậy mong đại tướng quân cho tôi bảo lãnh hắn”. Niên Canh Nghiêu vội nói: “Đại sư đã nặng lời!” Bản Vô nói: “Đừng nói nhiều lời khách sáo! Ngươi cứ nói cho hay không là được”. Niên Canh Nghiêu nói: “Điều này, điều này...” Bản Vô cười lạnh: “Đã không bằng không cứ, vậy theo qui tắc của triều đình các ngươi, cũng có thể được bảo lãnh, chả lẽ giám tự chùa Thiếu Lâm muốn bảo lãnh một người mà Niên đại tướng quân nhà ngươi không tin hay sao?” Niên Canh Nghiêu chỉ đành nói: “Đó là người Tứ bối lạc cần”. Bản Vô nổi cáu, lớn giọng nói: “Được, vậy ngươi cứ bảo với Tứ bối lạc là ta đã dắt đi, nếu y muốn đến đòi người cứ đến chùa Thiếu Lâm!”

Bản Vô đại sư đã nổi cáu thực sự, không ngờ Niên Canh Nghiêu chợt cười, vái dài xuống đất, nói: “Đại sư đừng giận, vãn bối sẽ lập tức mời Ấn Hoằng sư huynh ra. Nếu có việc gì vãn bối sẽ gánh vác. Mong đại sư đợi một lát”. Rồi gọi lính ra căn dặn mấy câu, một chốc sau, bọn lính quả nhiên đã đưa Ấn Hoằng hòa thượng ra. Niên Canh Nghiêu tự tay tháo gông cùm cho ông ta, Ấn Hoằng kêu: “Sư phụ”. Bản Vô nói: “Ngươi cũng nên tạ ơn Niên tướng quân”. Ấn Hoằng đầy thắc mắc, chắp tay làm một lễ.

Bản Vô đã tắt lửa giận, nghĩ bụng Niên Canh Nghiêu rốt cuộc cũng là người có tuệ căn, vẫn chưa hoàn toàn thay đổi. Trong quân bưng lên món cơm chay, Niên Canh Nghiêu tự tay rót ba chén trà nóng, trà thơm xông vào mũi, nâng ly nói với Bản Vô thiền sư: “Đại sư từ xa đến đây, xin mời dùng chút đồ chay”. Bản Vô bưng chén trà, Ấn Hoằng chợt nói: “Sư phụ, chúng ta đừng làm phiền Niên tướng quân nữa, chi bằng cứ đi cho sớm!” Niên Canh Nghiêu uống cạn chén trà, nói: “Sao Ấn Hoằng sư huynh lại làm mặt lạ như thế? Hôm qua tôi vừa mới đến Hàng Châu, biết sư huynh bị nhốt đã lâu, trong lòng thấy ái ngại lắm. Nếu sư huynh không nể mặt, há chẳng phải vẫn còn trách tiểu đệ hay sao!” Bản Vô thấy Ấn Hoằng thúc giục, chợt chột dạ, lại thấy Niên Canh Nghiêu đã uống cạn chén trà, ông ta thầm cười Ấn Hoằng đa nghi. Thế rồi nâng chén trà lên nói: “Xưa nay ta không xu phụ quan phủ, hôm nay phá lệ uống với ngươi một chén trà”. Thế rồi uống cạn chén. Ấn Hoằng đưa chén trà lên môi, chần chừ một hồi, Bản Vô thiền sư chợt nhảy lên, đánh vỡ chén trà của Ấn Hoằng, lớn giọng nói: “Niên Canh Nghiêu, ngươi dám ám toán!” Niên Canh Nghiêu cười ha hả, đã sớm lui ra phía sau trướng. Bản Vô đại sư quét cây phất trần cuốn tấm rèm lên, vù một tiếng Liễu Ân hòa thượng đã đánh trượng ra!

Bản Vô nói: “Ấn Hoằng, xông ra!” rồi quét cây phất trần cuộn cây thiền trượng của Liễu Ân, chém một chưởng vào vai trái của y, Thiên Diệp Tản Nhân chợt nhảy ra, hai chưởng đẩy tới, vận hết lực tiếp chưởng ấy của Bản Vô, Liễu Ân rút cây phất trần nhảy ra, Hàn Trọng Sơn và Đổng Cự Xuyên cũng xông ra, bốn cao thủ thuộc hàng nhất lưu bao vây Bản Vô đại sư ở giữa! Niên Canh Nghiêu lại bước ra, ngồi chễm chệ trên chiếc ghế bọc da hổ nhìn trận đấu đang diễn ra.

Bản Vô nổi cáu, quét cây phất trần về phía Đổng Cự Xuyên, Đổng Cự Xuyên vội vàng xoay người né tránh, vỗ ngược lại một chưởng từ trên mặt; Bản Vô đại sư lướt người ra, toan hạ thủ Thiên Diệp Tản Nhân, Thiên Diệp giơ ngang chưởng trái trước ngực, chưởng phải quét ra, Bản Vô quát: “Trúng!” chưởng ấy tựa như sấm, đánh Thiên Diệp Tản Nhân bắn ra hơn một trượng! Cây phất trần trong tay phải lại quét vào mặt Liễu Ân! Bản Vô ghét nhất là Liễu Ân nên đã tung đòn sát thủ Ngũ long trảo diện! Hàn Trọng Sơn phất ống tay áo, ám khí phi hoàn châm bay ra như mư, Bản Vô đại sư buộc phải quét cây phất trần một vòng mấy mươi mũi phi hoàn châm nát thành bụi! Nhưng Liễu Ân đã tránh được đòn nguy hiểm lúc nãy, y vội vàng nhảy ra sau một trượng, nói: “Bao vây y! Y đã trúng kịch độc, chẳng thoát được đâu!” thế là triển khai cây thiền trượng đánh kêu lên vù vù, không để Bản Vô áp sát đến, Thiên Diệp Tản Nhân, Đổng Cự Xuyên, Hàn Trọng Sơn cũng đồng thời tấn công! Cây phất trần của Bản Vô tuy có thể cuộc binh khí nhưng ông ta đang bị bốn cao thủ vây đánh, nếu cuộn binh khí của một người thì sẽ để lộ chỗ trống, ba người kia chắc chắn sẽ đánh vào! Thế là chỉ đành du đấu với bọn chúng!

Chính là:

Thiền sư đang gặp nguy, ác tặc dùng gian kế.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau