GIANG HỒ TAM NỮ HIỆP

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Giang hồ tam nữ hiệp - Chương 11 - Chương 15

Chương 11: Dốc hết tâm sức danh sư bị mưu hại Lòng dạ ác độc hoàng thất có kiêu hùng

Dận Trinh ngạo mạn hỏi: “Thế nào?” Bản Vô đại sư quát: “Ngươi đã mời người ngoài lý luận cho, vậy từ rày về sau ngươi có còn là đệ tử của chùa Thiếu Lâm nữa không?” nếu theo quy củ võ lâm, sau trận này, Dận Trinh đã thoát ly môn hộ, đi theo phái khác. Dận Trinh nói: “Phải thì thế nào, không phải thì thế nào?” Bản Vô đại sư cười lạnh nói: “Nếu ngươi đã không phải là đệ tử của Thiếu Lâm, vậy hãy trả lại võ nghệ của Thiếu Lâm!” rồi vung chỉ điểm tới vai của Dận Trinh. Đó là tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm tên gọi Thiết chỉ thiền, chỉ cần bị ông ta điểm trúng, võ công sẽ hoàn toàn mất hết. Cam Thiên Long và Đổng Cự Xuyên đều ra tay, chỉ thấy chưởng phong quét tới, bóng người thấp thoáng, hai người Đổng, Cam lách vai thối lui bảy tám bước. Dận Trinh biết Bản Vô rất nóng nảy, nếu chọc giận ông ta thì ông ta sẽ làm liều, thế rồi vàng kêu lên: “Đương nhiên tôi vẫn là đệ tử của Thiếu Lâm, sư phụ đã viết rất rõ ràng, chỉ bỏ danh nghĩa sư đồ, vẫn coi tôi là đệ tử của Thiếu Lâm!” Vô Trú thiền sư vội vàng bước tới nói: “Sư huynh, cứ để cho hắn đi thôi”. Bản Vô vẫn quát: “Đã là đệ tử của Thiếu Lâm, tại sao vô lễ với trưởng bối?” Dận Trinh vội vàng cúi người thi lễ, Bản Vô đại sư trừng mắt, Dận Trinh thấy hai chân mềm nhũn, bất đồ quỳ xuống đất, đang định dập đầu, Liễu Ân, Cáp Bố Đà biến sắc, vội vàng chạy tới đỡ, Dận Trinh đã lộ thân phận, bối lạc làm sao có thể quỳ trước thứ dân. Vô Trú thiền sư quét cây phất trần lên vai kéo y dậy, mỉm cười nói: “Phương trượng đời trước đã miễn lễ quỳ bái cho ngươi, vậy ngươi cứ tùy tiện”. Dận Trinh nghe thế, vội vàng lui ra cửa.

Sau một hồi rối loạn, Lữ Tứ Nương chợt nói: “Đường Hiểu Lan đâu?” Dịch Lan Châu đưa mắt nhìn xung quanh quả nhiên không thấy, ngạc nhiên nói: “Không biết thằng bé này lại đi đâu rồi?” Vô Trú thiền sư cũng hỏi: “Chung sư phụ đâu?” các nhà sư trong chùa tìm một lượt rồi quay về báo: “Chung sư phụ đã biến mất!” Lữ Tứ Nương hỏi: “Chung sư phụ là ai?” Bản Vô đại sư đáp: “Chính là Chung Vạn Đường truyền nhân của Vô Cực kiếm”. Dịch Lan Châu kêu ồ một tiếng: “Y là sư điệt của tôi. Năm xưa tôi và Phó Thanh Chủ đã từng đến Hồi Cương, không biết sao y lại ở đây?” Vô Trú thiền sư đáp: “Y dạy học ở Trần Lưu, đứa trẻ vừa rồi chính là đồ đệ của y”. Dịch Lan Châu nói: “Đứa trẻ này thật lợi hại, vậy hắn tên gì?” Bản Vô đại sư nói: “Niên Canh Nghiêu”. Rồi nhíu mày hỏi: “Còn Niên Canh Nghiêu đâu?” các nhà sư trả lời: “Niên Canh Nghiêu đã chạy ra ngoài”. Bản Vô đại sư ngạc nhiên nói: “Sao thầy trò họ không từ mà biệt?” Dịch Lan Châu giật mình, nhưng im lặng không nói.

Lại nói Chung Vạn Đường chợt gặp Thần Ma song lão nên vội vàng bỏ trốn về Trần Lưu. Cha của Niên Canh Nghiêu là Niên Hà Linh là cự phú ở một phương, hoa viên rất lớn, có tường cao bao quanh, Chung Vạn Đường nhảy vọt vào trong vườn, thấy bốn bên không có người vội vàng lẻn về phòng mình, lão bọc Đinh Phúc vẫn chưa ngủ say, trong phòng có đứa bé gái bảy tám tuổi cực kỳ lanh lẹ, nghe tiếng động nên mở mắt, kéo Chung Vạn Đường lại hỏi: “Chung bá bá, người đã trở về rôi ư? Canh Nghiêu ca ca đâu? Con nhớ hai người đến khổ!” Chung Vạn Đường vội khẽ nói: “Lâm nhi, im nào! Vào phòng rồi nói!”

Đứa trẻ này chính là Phùng Lâm. Trong đêm tròn tuổi, cô bé đã được Chung Vạn Đường cứu ra, dắt đến nhà họ Niên ở được hơn sáu năm, giờ đây đã là một bé gái tám tuổi. Chung Vạn Đường tinh thông y thuật, mỗi ngày đều dùng thuốc nước tắm rửa, truyền võ nghệ, bởi vậy xương cốt cô bé cứng cáp, tai thính mắt tinh, tay chân lanh lẹ, học được môn Đồng tử công chính tông. Lúc này, cô bé thấy Chung Vạn Đường lo lắng, mở to mắt hỏi: “Bá bá, chuyện gì đã xảy ra?” Chung Vạn Đường nói: “Có người xấu đến, lát nữa ta đánh nhau với người xấu, dù thắng hay thua, nếu kẻ xấu chưa đi con không được ra ngoài”. Phùng Lâm mò xuống gối lấy ra hai thanh tiểu đao dài ba tấc, nói: “Nếu có kẻ xấu, con sẽ đánh y”. Chung Vạn Đường mặt biến sắc, trầm giọng nói: “Con không nghe lời bá bá, từ rày về sau bá bá không màng đến con”. Phùng Lâm chưa bao giờ thấy ông ta nổi cáu, nghe thế nước mắt rân rấn, Chung Vạn Đường khẽ nói bên tai: “Ngoan ngoãn nào, đừng lên tiếng”. Rồi đẩy cô bé vào phòng. Trong mắt Phùng Lâm chứa đầy vẻ nghi hoặc và thắc mắc, cô bé mở to mắt nhìn Chung Vạn Đường, Chung Vạn Đường nghiêng tai lắng nghe, thở dài rồi chợt kéo Phùng Lâm ra, khẽ nói: “Vốn là ta chưa muốn cho con biết lai lịch quá sớm, giờ đây buộc phải nói cho con nghe. Con vốn không phải họ Niên, con họ Phùng. Cha của con đã chết rất thảm thiết, còn mẹ của con thì sống chết chưa biết, con còn một...” nói chưa dứt lời, trong đêm tối chợt vọng lại một tiếng hú quái dị, Chung Vạn Đường hoảng sợ đến nỗi im lặng, đẩy Phùng Lâm vào trong phòng.

Âm thanh quái dị ấy xé không trung từ xa vọng tới. Chung Vạn Đường nai nịt cẩn thận, đã nghe bên ngoài cửa có giọng nói trầm trầm: “Chung Vạn Đường, sao ngươi còn chưa ra?” Chung Vạn Đường cười lạnh, chợt rút then cài cửa, phóng hai mũi phi đao ra, nấp sau cánh cửa. Bên ngoài có một tiếng cười lạnh, phi đao bây ngược trở vào cắm trên vách tường, Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích và Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô đã nhảy vào phòng.

Tát Thiên Thích cười ha hả: “Gần hai mươi năm xa cách, không ngờ hôm nay gặp lại”. Chung Vạn Đường trầm giọng nói: “Chung mỗ chờ đợi đã lâu, ở đây không thể thi triển võ công, xin mời ra vườn hoa”. Tát Thiên Thích cười một tiếng quái dị, quát: “Ngươi còn muốn chọn chỗ chết?” rồi hai tay vung lên, mười móng tay dài cả thước bật ra như mười mũi đao đâm thẳng vào Chung Vạn Đường. Chung Vạn Đường xoay người né tránh, cây kiếm thép chặn lên phía trên, rồi quét vào eo của kẻ địch. Tát Thiên Thích tung người lộn ra cửa, quát rằng: “Chiêu này cũng không tệ, tiếp nào!” Chung Vạn Đường thấy đêm nay khó thoát, nên cũng đánh liều phóng vọt ra cửa sổ. Tát Thiên Đô gầm lớn một tiếng, hai chưởng đẩy ra một chiêu Bài Sơn Đảo Hải, chưởng phong mười phần mạnh mẽ, Chung Vạn Đường đẩy thanh kiếm về phía trước, tay trái điểm vào huyệt Quan Nguyên của Tát Thiên Đô. Tát Thiên Đô cười nói: “Ta sợ ngươi điểm huyệt?” rồi chưởng trái biến thành quyền, vẫn tiếp tục bổ xuống, nào ngờ Chung Vạn Đường hai mươi năm khổ luyện, công lực đã tăng tiến rất nhiều, huyệt Quan Nguyên là một trong ba mươi sáu đại huyệt, Tát Thiên Đô bị ông ta điểm một cái, chợt thấy đau nhói, quyền phong hạ xuống lực đã mất, kiếm chiêu của Chung Vạn Đường rất nhanh nhạy, lập tức vặt mũi kiếm vào mặt Tát Thiên Đô.

Thân pháp của Tát Thiên Thích rất nhanh, thấy em trai gặp nguy thì lập tức nhảy vọt tới như tên bắn, tay trái kéo Tát Thiên Đô ra, tay phải vạch vào mạch môn tay cầm kiếm của Chung Vạn Đường. Hai người đều nhanh như lửa xẹt, Chung Vạn Đường thấy không thể đả thương được kẻ địch, lập tức thâu thanh kiếm về, hộ ở trước thân, nhảy ngang ra năm sáu bước. Tát Thiên Thích vỗ vào huyệt Khí Du của Tát Thiên Đô, nói: “Đệ đệ, nghỉ ngơi một lát, đừng nôn nóng”. Tát Thiên Đô bị Chung Vạn Đường điểm trúng, may mà y đã luyện mình đồng da sắt, chứ nếu không đã mất mạng ngay tại trận. Thế rồi cũng không dám làm hung, ngồi dựa vào vách tường điều hòa hơi thở hành huyết giải huyệt.

Chung Vạn Đường đả thương được một người, không còn nguy hiểm nữa, cây kiếm thép múa lên như điện chớp, đâm soạt soạt liên tục, Tát Thiên Thích tung mình vọt một cái phóng lên trên không trung, lướt ra hơn hai trượng, Chung Vạn Đường gằng giọng quát: “Chạy đi đâu!” rồi vung kiếm đuổi theo. Nào ngờ đó chính là thuật Miêu Ưng Phốc Kích của Tát Thiên Thích, y lập tức lộn người trên không trung, mười móng tay nhọn từ trên không đâm xuống, chỉ nghe soạt một tiếng, ống tay áo của Tát Thiên Thích bị Chung Vạn Đường chém trúng, vai trái của Chung Vạn Đường đã bị trúng một trảo, may mà ông ta né tránh lanh lẹ chứ nếu không đã bị chụp trúng xương. Tát Thiên Thích cười ha hả: “Một kiếm đổi một trảo, coi như chúng ta hòa”. Y vừa hạ xuống đất thì lập tức phóng lên trở lại nhảy bổ về phía Chung Vạn Đường.

Khoảng hai mươi năm trước, Chung Vạn Đường từ Tây Vực trở về, đến ven hồ Ô Tạng Khách Thập ở Thanh Hải, đã từng gặp Tát Thiên Thích, lúc đó Chung Vạn Đường tuổi trẻ khí thịnh, biết y là đại ma đầu trên giang hồ, bởi vậy mới rút kiếm tỉ thí, quần thảo nhau nửa ngày, Tát Thiên Thích trúng một kiếm nên giờ đây y mới bảo một kiếm đổi một trảo.

Hai mươi năm sau gặp lại, hai phen ác đấu, Tát Thiên Thích đã luyện xong môn võ công độc môn Miêu Ưng trảo, loại võ công này hiểm hóc vô cùng, Chung Vạn Đường đấu với y hơn năm mươi chiêu, lấy nhanh chọi nhanh, đã dần dần không cầm cự nổi nữa, Tát Thiên Thích đắc ý dương dương, càng đánh càng hung hăng, Chung Vạn Đường bình tĩnh ứng phó, chợt kiếm chiêu thay đổi, Đông chỉ Tây vạch, trên tay tựa như cầm một vật nặng ngàn cân, rõ ràng rất vất vả, kiếm chiêu đã chậm hơn trước nhưng kiếm quang loang loáng tựa như dựng một bức tường sắt xung quanh mình. Chung Vạn Đường là hậu duệ của Vô Cực kiếm Phó Thanh Chủ, loại kiếm pháp này công thủ đều có lợi, khi thu về có thể hộ toàn thân, khi đánh ra có thể tấn công ở bốn phương tám hướng, Miêu Ưng trảo của Tát Thiên Thích tuy lợi hại lạ thường nhưng cũng không thể nào xông tới nổi.

Hai người càng đấu càng hăng, khoảng nửa canh giờ sau mà vẫn chưa phân thắng bại. đang lúc kịch đấu, Chung Vạn Đường chợt thấy vai ngứa ngáy thì thất kinh, biết rằng trảo của Tát Thiên Thích có độc. Thế là ông ta vội dùng nội công vận khí chống cự, đồng thời kiếm chiêu từ thủ chuyển sang công, định rằng đuổi Bát Tý Thần Ma rồi sẽ dùng thuốc cứu giải. Nào ngờ Tát Thiên Thích tuy bị đẩy lùi ra phía sau nhưng lại cố tấn công lên, gằng giọng quát: “Nhà ngươi đã trúng độc trảo, đừng hòng thoát chết!”

Chung Vạn Đường cả giận, triển khai loại kiếm pháp Bát phương phong vũ hội trung châu, chỉ thấy ánh ngân quang tỏa ra, bốn phương tám hướng đều là kiếm quang nhân ảnh. Tát Thiên Thích biết ông ta liều mạng nên vội vàng thối lui. Chung Vạn Đường thét một tiếng, xém mũi kiếm tới, Tát Thiên Thích thối lui không kịp, cổ tay đã bị vạch một vết thương. Chung Vạn Đường thừa thắng truy kích, nào ngờ Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô đột nhiên nhảy vọt dậy, quát lớn một tiếng đến nỗi cát chạy đá bay, té ra y đã nghỉ ngơi nửa canh giờ, khí lực đã hồi phục, y đã nhảy vọt lên lao tới như hung thần ác sát, Chung Vạn Đường kinh hãi. Chỉ thấy y cởi áo lộ ra bộ ngực đầy lông lá, nhảy ra giữa sân, hai tay ôm một gốc cây lớn, quát: “Lên!” rồi nhổ cả gốc quét về phía Chung Vạn Đường. Chung Vạn Đường phóng vọt người lên, chân điểm vào thân cây, đâm kiếm về phía Đại Lực Thần Ma, nào ngờ phía sau có tiếng gió quét tới, Tát Thiên Thích đã thừa cơ tấn công tới.

Thân cây này dài đến ba trượng, có thể quét từ bên này qua bên kia sân, Chung Vạn Đường nhờ có thân pháp khéo léo, nhảy nhót né tránh, may mà thân cây to lớn, xoay chuyển không tiện chứ nếu không đã trúng đòn.

Thế là tình thế thay đổi, Tát Thiên Thích nhảy bổ tới, bám sát Chung Vạn Đường chẳng hề rời, đánh một hồi nữa, cánh tay của Chung Vạn Đường lại trúng thêm một trảo, sâu vào đến tận thịt, máu đen chảy ròng ròng, đồng thời vai càng lúc càng ngứa ngáy khó chịu. Tát Thiên Thích kêu lên: “Chung Vạn Đường, sao ngươi chưa mau buông kiếm đầu hàng!” Chung Vạn Đường chợt nghiến răng, đột nhiên đút kiếm vào bao, nhân lúc cái cây quét tới, hai chân điểm vào cành cây phóng vọt người ra, hạ xuống bậc thềm, Tát Thiên Thích quát: “Chạy đi đâu!” rồi nhảy bổ tới nhanh như điện chớp, Chung Vạn Đường quay đầu lại quát: “Trúng!” hai tay vung lên, sáu mũi phi đao trên tay phải bay về phía Tát Thiên Thích, sáu mũi trên tay trái bay về phía Tát Thiên Đô. Loại Đoạt Mệnh thần đao này có tẩm độc, đây là tuyệt kỹ cả đời của Chung Vạn Đường, chỉ lúc nguy hiểm nhất mới sử dụng. Tát Thiên Thích phóng vọt người lên, xoay người trên không trung, hai mũi phi đao lướt qua đế giày, hai mũi lướt qua hông, còn hai mũi bay thẳng vào mặt, bị y phất ống tay áo đánh rơi xuống đất. Tát Thiên Thích dốc ra tuyệt kỹ cả đời mới tránh được phi đao, hoảng sợ đến nỗi toát mồ hôi lạnh, lộn ngược trở về chỗ cũ. Phía bên kia Tát Thiên Đô múa cái cây, bốn mũi phi đao đều cắm vào trong thân cây lút đến cán. Hai mũi phi đao còn lại thì tựa như rẽ hướng lướt qua thân cây rồi đột nhiên bắn ra hai bên. Tát Thiên Đô hai tay đang ôm cây, né tránh không kịp, hai mũi phi đao đã cắm vào hai bên be sườn, dù y mình đồng da sắt cũng không chống chọi nổi, y thét lớn một tiếng, hai tay vung lên ném cái cây về phía trước, khi Chung Vạn Đường vội vàng né tránh thì ầm một tiếng, cái cây cắm thẳng vào trong nhà, chắc là va phải bàn trà nên nghe đồ vỡ kêu loảng xoảng. Lúc này một đứa bé gái đột nhiên chạy ra.

Chung Vạn Đường kinh hãi, định nhảy vào trong nhà, nào ngờ tay phải đã bị trúng trảo vì vận động quá sức lại thất kinh nên chân khí tản mát chẳng thể nào giở lên nổi. Tát Thiên Đô trúng hai đao, hung tính phát tác, y đưa tay rút phăng hai mũi Đoạt Mệnh thần đao ra nhảy vọt tới ôm Chung Vạn Đường vật ngã lăn xuống bậc thềm, còn Tát Thiên Thích lại cười gằn nhảy vào trong nhà. Y chợt thấy một đứa bé gái đang ngồi dưới đất trông rất dễ thương. Y vội vàng kêu: “Ồ, Yến nhi, té ra ngươi ở đây, các nghĩa phụ đang tìm ngươi! Ngươi bị người xấu bắt đi, có sợ không?” Phùng Lâm mở to hai mắt rất ngạc nhiên, không biết y nói gì, Chung Vạn Đường nghe thế càng kinh ngạc hơn, Tát Thiên Thích lại nói: “Thật đáng thương, không ngờ ngươi bị hành hạ như thế này, không đầy một năm mà đã quên hết tất cả, cả ta mà cũng không nhớ sao?” rồi đưa tay toan bế, Phùng Lâm đột nhiên vung tay lên, hai mũi phi đao bắn ra, Tát Thiên Thích cũng không ngờ rằng cô bé lại làm thế, vả lại khoảng cách lại rất gần, chẳng thể đề phòng nổi, hai mũi phi đao cắm vào ngực, may mà Phùng Lâm tuổi nhỏ sức yếu, chứ nếu không đã đâm thẳng vào tim. Tát Thiên Thích vận lực bắn một cái, hai mũi phi đao bật ra, quơ cánh tay về phía trước kéo Phùng Lâm lên lưng, Phùng Lâm kêu to, cố gắng vùng vẫy.

Chung Vạn Đường và Tát Thiên Đô đang lăn lộn dưới đất, Tát Thiên Đô sức mạnh như hổ, nhưng Chung Vạn Đường nội công tinh thâm, lúc đầu tuy Tát Thiên Đô chiếm thượng phong đè lên người ông ta vung quyền đánh xuống, mới đánh được hai quyền thì độc khí trong phi đao đã tản mát, chỉ cảm thấy trong miệng khát khô, đầu óc như muốn hôn mê, kêu lên một câu: “Ca ca đến đây!” thì đã ngất đi!

Chung Vạn Đường bị trúng độc cũng không nhẹ, nhờ vào nội công tinh thâm nên mới cầm cự được đến lúc này, nhưng cũng đã đèn khô dầu cạn, toàn thân đã mềm nhũn. Tát Thiên Thích cõng Phùng Lâm chạy ra. Chung Vạn Đường thầm kêu: “Mạng ta đã xong!” rồi lăn ra hai trượng, Tát Thiên Thích thấy sắc mặt em bầm đen, biết rằng trúng độc đã quá nặng, mà mình cũng cảm thấy đau nhói, vừa giận vừa lo, y trợn mắt bước từng bước về phía Chung Vạn Đường. Chung Vạn Đường nắm hai tay, trầm giọng quát: “Ngươi tiến tới ba bước nữa, ta dùng đao tẩm độc lấy mạng hắn!” Tát Thiên Đô nghe tiếng bước chân, y lăn lộn gào lên: “Ta muốn uống nước, nước... nước...” Tát Thiên Thích đã bị thương ở ngực, càng sợ phi đao của Chung Vạn Đường hơn, y nghiến răng vận khí ngăn chặn chất độc, tay trái kẹp Tát Thiên Đô phóng vọt lên vách tường nhảy ra hoa viên.

Chung Vạn Đường mở hai tay ra, thở phào, lúc nãy ông ta chỉ sử dụng kế phong thành, trong tay ông ta làm gì có phi đao, dù có phi đao cũng chẳng thể phóng nổi. Lúc này hai tên ma đầu cũng bỏ đi, ông ta cố gắng bò vào trong phòng, leo lên giường rồi khẽ gọi mấy tiếng: “Đinh Phúc! Đinh Phúc!” trong vườn yên ắng, chỉ có tiếng côn trùng kêu rả rích, vị danh gia kiếm thuật của miền Giang Nam, đệ tử của phái Vô Cực đang rơi nước mắt, khẽ gọi: “Lâm nhi, Lâm nhi!” một hồi sau lại kêu: “Canh Nghiêu, Canh Nghiêu, cả con mà cũng không đến đưa tiễn ta sao?” ông ta cố gắng muốn trích máu mình ra nhưng lực bất tòng tâm, lúc này độc khí đã xông lên, suýt nữa đã muốn ngất đi. Một ý nghĩ lướt qua trong đầu ông ta: “Quyền kinh kiếm quyết binh pháp y thư của mình vẫn chưa truyền cho Niên Canh Nghiêu, không được, mình phải gắng gượng đợi nó trở về”. Ý chỉ cầu sinh nổi lên trong lòng, ông ta há miệng cắn vào tay, hút ra mấy ngụm máu độc, thần trí đã hơi tỉnh táo hơn, khẽ kêu: “Canh Nghiêu, hãy về đây! Sao ngươi vẫn chưa về!”

Khu vườn rộng mênh mông vẫn yên lặng như tờ, chỉ nghe tiếng nói yếu ớt của Chung Vạn Đường. Chung Vạn Đường thở dài, bóng dáng của Niên Canh Nghiêu chợt hiện ra trong làn nước mắt, “đứa trẻ này thật nghịch ngợm và đáng yêu!” ông nhớ lại việc mình đã dốc hết tâm huyết để thuần phục con ngựa hoang này, đã không màng đến lời khuyên của bằng hữu, mạo hiểm vun bồi thành một bậc kiêu hùng, một viên tướng văn võ toàn tài. Căn vườn rộng lớn này cũng do ông ta thiết kế, nay ông ta đã trúng độc mà không có người đến giúp đỡ giải cứu, đó là điều ông ta chưa từng ngờ tới. Trong nỗi đau đớn và tĩnh lặng đến cực độ, Chung Vạn Đường bất đồ nhớ đến chuyện xưa: Năm xưa mình cải trang thành một lang trung lang bạc giang hồ, đến nhà họ Niên, gặp cậu bé Niên Canh Nghiêu với tính cách kỳ lạ và trí thông minh hơn người đã quyết ý thâu cậu bé làm đồ đệ, không những muốn phái Vô Cực có một truyền nhân mà còn muốn vun bồi một bậc hào kiệt đủ sức xua đuổi Hồ lỗ cho Hán tộc. Niên Hà Linh đang lo cho con mình, bởi vì nhiều vị lão sư đã bị nó đuổi đi, không ai dám dạy nó nữa. Chung Vạn Đường đã lộ chút bản lĩnh, đàm đạo suốt một đêm với Niên Hà Linh, nhưng Hà Linh cũng rất hào sản, bảo: “Được, tôi giao khuyển tử cho ngài. Tất cả đều nghe theo chủ ý của ngài, muốn bao nhiêu tiền cũng được”. Đêm ấy hai người đã ký một hiệp định gồm hai điều, điều thứ nhất là ông ta bỏ ra năm vạn lượng bạc, điều thứ hai là ngày Niên Canh Nghiêu thành tài mới cho phép nó được gặp cha mẹ. Niên Hà Linh chấp nhận điều thứ nhất, lập tức bỏ ra năm vạn lượng bạc đưa cho ông ta sử dụng. Nhưng Niên Hà Linh lại chần chừ ở điều thứ hai, ông ta hỏi: “Vậy phải bao nhiêu năm?” Chung Vạn Đường thầm nhủ đó là điều mấu chốt, dù cha mẹ Niên Canh Nghiêu thương yêu nó thế nào ông ta cũng phải giữ ý kiến của mình. Vì thế Chung Vạn Đường nói: “Có thể là mười tám năm sau, nếu ông lưu luyến, tôi chẳng thể nào dạy nó thành tài”. Niên Hà Linh nghĩ ngợi, cuối cùng đã chấp nhận.

Nghĩ đến đây, Chung Vạn Đường nở nụ cười, ông ta đã phí biết bao công sức vì đứa trẻ này! Sau khi ông ta có tiền bạc, đã mua một mảnh đất trống ở sau nhà họ Niên, thuê nhiều thợ mộc xây nên hoa viên này, trong hoa viên có một tòa nhà chứa sách, chỉ có Chung Vạn Đường và lão bọc Đinh Phúc của nhà họ Niên sống ở đây. Hôm đó là ngày mưởi sáu tháng Giêng, đó là ngày Niên Canh Nghiêu bắt đầu học, Niên Hà Linh bày tiệc rượu, mời rất nhiều bằng hữu đến uống rượu cùng Chung Vạn Đường, tiệc tàn Niên Hà Linh đích thân đưa con trai đến học, lại còn vái Chung Vạn Đường ba lạy, nói những lời nhờ vả, rồi Chung Vạn Đường đưa ông ta ra khỏi vườn, sau đó sai thợ mộc bít kín cửa vườn lại, chỉ giữ một cửa sổ nhỏ để đưa thức ăn. Từ đó ba người cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. Suốt ngày Chung Vạn Đường ngồi trong thư phòng, đọc binh pháp y thư, luyện nội công kiếm thuật, chẳng hề hỏi đến Niên Canh Nghiêu, cậu bé cũng tự do tự tại, vui chơi trong vườn, chưa bao giờ bước vào phòng, cũng chưa bao giờ nói với ông ta một câu, khi vui thì cởi phăng quần áo nhảy xuống hồ bơi một vòng hoặc trèo cây bắt chim, mùa đông thả diều, mùa hạ câu cá, mùa thu bắt dế, mùa đông vò tuyết ném chơi, có lúc chơi chán lại đào đất nhổ hoa, chơi bời suốt một năm, cả một khu vườn rộng lớn mệnh mông bị cậu bé xới tung lên chỉ trừ phòng sách của Chung Vạn Đường. Một ngày nọ Chung Vạn Đường đang trầm tư, chợt thấy Niên Canh Nghiêu cầm một cây gậy đánh về phía mình!

Chung Vạn Đường giật mình “Đây có phải là ảo giác không? Không phải!” Niên Canh Nghiêu đã chơi chán, lão bọc Đinh Phúc cũng chẳng rỗi hơi chơi với cậu bé, Chung Vạn Đường chẳng hề lên tiếng, nhưng cậu bé đã tìm đến chỗ ông ta. Cậu bé đã chạy vào thư phòng nói: “Trong số các lão sư, coi như ông là tốt nhất, chưa bao giờ dám la mắng tôi. Nhưng giờ đây tôi chơi đã chán, tôi muốn ra ngoài”. Chung Vạn Đường lạnh lùng nói: “Hoa viên này không có cửa, ngươi muốn ra ngoài cứ việc trèo tường mà ra”. Bức tường này cao đến hơn ba trượng, người không giỏi khinh công chẳng thể nào nhảy ra được. Cậu bé thấy Chung Vạn Đường không chịu đục cửa, cười lạnh một tiếng rồi cầm cây gậy đánh về phía ông ta, Chung Vạn Đường đưa tay gạt qua, cây gậy gãy làm đôi. Chung Vạn Đường chỉ đè nhẹ vào cánh tay, cậu bé đau quá kêu lên, ông ta bảo cậu quỳ xuống, cậu bé đành phải nghe lời nhưng vừa buông tay, cậu đã chạy ra khỏi phòng sách. Suốt hai ba tháng trời sau đó, cậu chẳng hề dám bước chân vào phòng sách, chớp mắt hạ đi thu đến, cảnh tượng tiu điều, cậu bé chẳng còn trò gì mới mẻ nữa, thế là lẳng lặng bước vào phòng sách, lúc đó Chung Vạn Đường đang vùi đầu xem Tôn Tử binh pháp, cậu bé cứ đứng đấy nhìn nửa ngày, rốt cuộc cũng lên tiếng: “Cả khu vườn rộng lớn mà tôi chơi cũng chán. Ông chỉ có một quyển sách nhỏ mà đọc từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, có gì hay ho?” Chung Vạn Đường cười khà khà: “Cậu bé, cậu hiểu gì? Trong quyển sách này có một thế giới rộng hơn cả khu vườn hàng ngàn lần, chơi đến suốt đời suốt kiếp cũng không hết”. Cậu bé lắc đầu nói: “Tôi không tin, ông nói tôi nghe thử, có gì đáng vui?” Chung Vạn Đường cũng lắc đầu nói: “Ngươi không chịu bái ta làm thầy, làm sao ta giảng cho ngươi nghe”. Cậu bé trợn mắt, vỗ bàn nói: “Bái cái quái gì, ta không thèm”. Chung Vạn Đường cũng trừng mắt, cậu bé hoảng sợ chuồn ra ngoài. Rồi mười ngày nữa, cậu bé không kìm được, chạy vào thư phòng nói: “Ông chỉ gạt một cái mà cây gậy gỗ đã gãy đôi, có phải cũng học được từ trong sách không?” Chung Vạn Đường trả lời: “Sách cũng có nhiều loại, sách dạy đánh gãy gậy gỗ chỉ là bình thường, sách hữu dựng nhất có thể dạy cho ngươi trị quốc bình thiên hạ!” cậu bé thè lưỡi rồi lại lắc đầu: “Ta không tin đọc sách có lợi như thế”. Chung Vạn Đường cười rằng: “Tại sao lại không thể, học được bản lĩnh, muốn ra ngoài lúc nào cũng được”. Chung Vạn Đường dắt tay cậu bé ra vườn, nhẹ nhàng vọt một cái lên tường, sau đó lại nhảy xuống: “Ngươi xem, chẳng phải lúc nào ta cũng có thể ra ngoài được sao? Đọc sách, luyện bản lĩnh, đừng nói là bức tường này, dù có thiên quân vạn mã cũng không chặn nổi ngươi”. Cậu bé dập đầu xuống bái, nói: “Tôi đã phục, xin tiên sinh hãy dạy cho tôi!” Chung Vạn Đường đỡ cậu bé dậy, đầu tiên ông ta giảng cho cậu bé nghe chuyện Thủy Hử, cậu bé thích thú đến nỗi huơ chân múa tay, tiếp theo lại giảng Tam Quốc Chí, Nhạc truyện và các sự tích anh hùng từ xưa đến nay, những câu chuyện về các hiệp khách, tiếp theo là giảng binh thư, sử ký, thế rồi lại dạy cậu bé ám khí, quyền cước, cậu bé cũng rất thông minh, chỉ cần liếc qua quyển sách đã hiểu, giảng qua một lần đã học được. Đến mùa thu năm thứ ba, Chung Vạn Đường vì có hẹn với Châu Thanh, bảo cậu bé tự tu luyện, ông ta lẻn ra ngoài đi đến Nhữ Châu, không ngờ gặp phải bọn Huyết Trích Tử, Châu Thanh chết đi, Chung Vạn Đường dắt Phùng Lâm trở về. Lúc đó Phùng Lâm chỉ mới được tròn một tuổi, cô bé dần dần biết nói, Niên Canh Nghiêu khi rảnh rỗi lại chơi đùa cùng cô bé, thân thiết hơn cả huynh muội, Chung Vạn Đường bảo rằng Phùng Lâm là con gái của một bằng hữu, cậu bé không hề biết Chung Vạn Đường có chủ y đặc biệt khác.
Nhớ đến đây, trên mặt Chung Vạn Đường nở nụ cười, cảm thấy phấn chấn, dần dần quên cả cơn đau. Ông ta thầm nhủ: “Phùng Lâm cũng là đứa trẻ thông minh, ngay từ năm một tuổi đã có căn cơ, còn vững chắc hơn cả Niên Canh Nghiêu. Hai đứa trẻ này đúng là trời sinh một đôi, sau này kết thành phu thê, mình cũng cảm thấy an ủi. Nhưng hiện nay lại gặp tai họa, Lâm nhi bị tên ma đầu cướp đi, còn mình dù tinh thông y lý nhưng không ai giúp đỡ. Chao ôi, Canh Nghiêu, sao ngươi vẫn chưa trở về?”

Chung Vạn Đường nhìn ra bên ngoài, chỉ thấy bức tường cao ngất, cây hòe tám năm trước vẫn chưa cao quá bức tướng, thầm nhủ: “Dù Canh Nghiêu trở về, hắn cũng không thể nhảy qua bức tường. Chao ôi, không biết chuyện ở chùa Thiếu Lâm thế nào rồi? Canh Nghiêu thông minh như thế, nếu không gặp mình có lẽ hắn cũng nhờ người trong chùa Thiếu Lâm đứa hắn về”. Nhắc đến chùa Thiếu Lâm, ông ta lại thấy dễ chịu, lòng thầm nhủ: “Canh Nghiêu cũng thật là may mắn, Thiếu Lâm tam lão đều thương yêu, coi hắn như bảo bối. Hắn học võ được ba năm, mình mới len lén dắt ra ngoài. Mỗi khi ra ngoài mình giao Phùng Lâm cho Đinh Phúc coi sóc. Nhưng không biết Đinh Phúc đã đi đâu rồi? Đánh nhau đến trời long đất lở như thế này mà sao lão ta vẫn chưa thức dậy? Năm ngoái, có lúc mình đưa Canh Nghiêu ra ngoài, cứ để mặc cho hắn đi đâu thì đi. Tháng ba năm nay, hắn một mình ra ngoài đến nửa tháng mới trở về, thật là kỳ lạ! Mình nghĩ đi đâu thế này!” Chung Vạn Đường định thần, chợt thấy rung rẩy, ông ta nhớ lại lần đó Niên Canh Nghiêu đã nói rằng: “Sư phụ, năm mười hai tuổi Cam La trở thành Thừa tướng, năm nay con đã mười bốn tuổi, lớn hơn Cam La hai tuổi, con không thèm làm Thừa tướng, tốt nhất là nên làm Đại tướng quân, thống suất binh mã trong cả nước, Thừa tướng cũng phải sợ Đại tướng quân. Sư phụ, người bảo thử xem, con có thể làm Đại tướng quân không?” Chung Vạn Đường nói: “Cũng có thể lắm, nhưng phải trải qua thời gian rất lâu...” Chung Vạn Đường vốn muốn bảo cậu bé phải học binh pháp cho xong, luyện võ công cho giỏi, sau này kêu gọi anh hùng cùng dựng cờ khởi nghĩa, xua đuổi Thát lỗ quang phục Trung Hoa, lúc đó đâu chỉ là một đại tướng quân mà còn là một khai quốc công thần! Nhưng cậu bé tuổi vẫn còn nhỏ, sợ rằng cậu lỡ dại miệng nói ra, bởi vậy Chung Vạn Đường mới không nói. Không ngờ cậu bé hiểu nhầm ý của Chung Vạn Đường, bảo rằng: “Có phải sư phụ bảo là phải đợi đến khoa thi lên kinh ứng thí, rồi sau đó tòng quân mới có thể làm đại tướng quân hay không?” Chung Vạn Đường bảo không cần. Cậu bé nói: “Năm mười hai tuổi Cam La làm Thừa tướng, chỉ vì Hoàng đế biết ông ta thông minh tuyệt đỉnh, có tài cán, nên mới lập tức nâng đỡ. Giả sử có một Hoàng đế, hoặc một bối lạc cũng được, y biết bản lĩnh của con, có thể không cần kinh qua thi cử, con đã làm đại tướng quân!” Chung Vạn Đường nghe thế vừa kinh vừa giận, tám năm qua, cậu bé không luyện công trong vườn thì đến chùa Thiếu Lâm, sao lại biết những chuyện này? Tại sao lại nghĩ như thế? Lúc đó Chung Vạn Đường mắng cho cậu một trận, cho đến khi cậu quỳ xuống nhận lỗi mới thôi.

Lúc này chất độc trong mình đã lan đến tim, Chung Vạn Đường hít một hơi cố vận nội lực kìm chế, trong miệng thấy khát khô, trong lúc hôn mê chợt nghe bên ngoài có người kêu thảm một tiếng ối chao, tiếp theo người ấy nói: “Sư phụ, con đã bị thương, có người cắm đao có độc dưới đất?” giọng nói ấy chín là Niên Canh Nghiêu.

Trong lúc nguy cấp, Chung Vạn Đường chợt nghe giọng nói của Niên Canh Nghiêu cũng giống như người đi trong sa mạc chợt vớ được một bình nước, tinh thần chợt phấn chấn, ông ta kêu lên: “Canh Nghiêu, mau vào đây!” nước mắt ông ta rơi lả chả xuống đất, quả nhiên Niên Canh Nghiêu đang loạng choạng bước vào, không khỏi lẩm bẩm, “Tạ ơn trời đất, thằng bé quả nhiên quay trở về”. Chung Vạn Đường vốn rất thông minh, nhưng vì quá mừng rỡ nên quên nghĩ rằng tại sao Niên Canh Nghiêu lại có thể vượt qua bức tường cao hơn ba trượng.

Niên Canh Nghiêu nhảy vào, ôm sư phụ khóc rằng: “Sư phụ, chân của con vừa đau vừa ngứa, đã dẫm trúng Đoạt Mệnh thần đao”. Chung Vạn Đường cố gắng đưa tay vuốt đầu cậu bé, trìu mến nói: “Đừng lo, con vào trong phòng lấy túi thuốc ra đây”. Niên Canh Nghiêu kêu ừ một tiếng, lúc này mới chú ý đến sư phụ, hỏi: “Sư phụ, người làm sao thế?” Chung Vạn Đường đâu còn hơi sức kể rõ tường tận mọi chuyện, chỉ thúc cậu bé đi cho nhanh.

Một lát sau, Niên Canh Nghiêu kêu hoảng: “Lâm muội đâu?” Chung Vạn Đường lại thấy đau nhói lòng, Niên Canh Nghiêu cầm túi thuốc bước ra, Chung Vạn Đường khẽ gật đầu, Niên Canh Nghiêu quỳ phục bên cạnh ông, Chung Vạn Đường khẽ nói: “Lấy bình ngọc trong túi thuốc ra, trong bình có hai viên thuốc, một viên màu đỏ, một viên màu xanh, viên màu đỏ uống với nước, viên màu xanh nhai nát đắp bên ngoài, đó là thuốc giải độc Đoạt Mệnh thần đao”. Nói xông thì thở phì phò, thấy Niên Canh Nghiêu đã uống thuốc xong mới thều thào nói: “Con hãy dùng dao nhỏ rạch một vết thương ở nơi cách huyệt Kiên Tỉnh nửa tấc trên vai trái của ta, nặn máu độc ra ngoài sau đó mở hộp màu vàng trong túi thuốc ra”. Niên Canh Nghiêu kêu ừ một tiếng, nhưng không lập tức ra tay, cậu bé đưa mắt nhìn xung quanh, chợt thấy bên ngoài có bóng người thấp thoáng, một chàng công tử thiếu niên và một hán tử cao lớn tuổi khoảng hơn bốn mươi mặc y phục người Hồi bước vào. Chung Vạn Đường thất kinh, chàng công tử thiếu niên ấy chính là phản đồ Vương Tôn Nhất của chùa Thiếu Lâm, làm sao y có thể vào được đây?

Vương Tôn Nhất mỉm cười nói: “May mắn được gặp Chung đại hiệp!” Chung Vạn Đường trầm giọng nói: “Ngươi đến đây làm gì?” Vương Tôn Nhất nói: “Tôi có cuộc hẹn nhỏ với lệnh đồ”. Niên Canh Nghiêu cười hì hì nhảy vọt lên phía trước, đưa bình thuốc cho người Hồi, Chung Vạn Đường kinh hãi, quát: “Ngươi làm gì thế?” người Hồi ấy cười rằng: “Chung đại hiệp, ông bị thương rất nặng, muôn vạn lần đừng nổi nóng, ta là tổng quản của Huyết Trích Tử Bắc Kinh, nay đến bái phỏng ông!” Chung Vạn Đường hừ một tiếng, ngất đi. Cáp Bố Đà cất bình thuốc, cười rằng: “Thần Ma song lão đang nôn nóng chờ đợi, tôi đem về cứu tỉnh họ trước”. Rồi giơ ngón tay cái về phía Niên Canh Nghiêu, khen rằng: “Tiểu ca, ngươi rất giỏi! Ta đành chịu thua!”

Một hồi sau, Chung Vạn Đường dần dần tỉnh lại, Niên Canh Nghiêu dùng nước lạnh tạt vào mặt ông ta. Chung Vạn Đường như nằm trong ác mộng, thử dùng lực cắn lưỡi, cảm thấy đau đến nhói tim mới tin rằng không phải mình nằm ác mộng. Niên Canh Nghiêu mỉm cười nói: “Sư phụ, công tử này chính là Tứ bối lạc đương kim, tôi đã kết nghĩa huynh đệ với ông ta”. Chung Vạn Đường nổi cáu đến cùng cực.

Niên Canh Nghiêu cười hì hì nói: “Sư phụ, Tứ bối lạc mời người đến Bắc Kinh. Ở Bắc Kinh rất vui, được ăn được chơi, thứ gì cũng có”. Chung Vạn Đường tức đến nỗi nghẹn lời, trong lòng mắng mấy câu “súc sinh”.

Té ra lần này việc ngụy tạo bức thư, giả truyền di lệnh của Bản Không cứu Dận Trinh đều cho Niên Canh Nghiêu sắp đặt. Ba năm trước Dận Trinh học võ ở chùa Thiếu Lâm đã quen Niên Canh Nghiêu, y thấy đứa trẻ này chẳng phải nhân vật tầm thường, cũng âm thầm kết nạp nó, xem nó như người lớn. Đầu năm nay Niên Canh Nghiêu lên Tung Sơn một mình, nửa đường lại gặp Dận Trinh, Dận Trinh giới thiệu cho nó gặp các tiền bối võ lâm như Thiên Diệp Tản Nhân, Liễu Ân hòa thượng, bọn người này thấy nó chẳng phải trẻ con tầm thường, đều khen ngợi không ngớt. Niên Canh Nghiêu thấy Liễu Ân có võ công cao hơn cả sư phụ của mình, cũng rất khâm phục! Càng hợp ý hơn đối với khí độ đế vương, đại chí hùng đồ của Dận Trinh. Sau đó Dận Trinh nói ra lai lịch, kết thành huynh đệ với Niên Canh Nghiêu. Nên sau khi Niên Canh Nghiêu trở về mới dọ ý Chung Vạn Đường. Một tháng trước, Dận Trinh sắp lên chùa Thiếu Lâm đối chất với Bản Vô, đang suy nghĩ kế sách lưỡng toàn, chợt nhớ rằng Niên Canh Nghiêu tuy chỉ là một đứa trẻ mười bốn tuổi nhưng đã cực kỳ túc trí đa mưu, lại được Thiếu Lâm tam lão thương mến, nên đã phái Thiên Diệp Tản Nhân tìm nó, Niên Canh Nghiêu nghĩ ra mưu kế, giả nét chữ viết của Bản Không đại sư, ngụy tạo một bức thư, cả Vô Trú thiền sư mà cũng bị nó lừa.

Lại nói Dận Trinh thấy hai mắt Chung Vạn Đường trắng dã, gân xanh nổi lên mới dùng thuật Thôi Nã học được ở chùa Thiếu Lâm xoa lên người ông ta, mỉm cười nói: “Chung tiên sinh cần gì phải tức tối cho mệt? Lệnh đồ là kỳ tài trăm năm khó gặp, tiên sinh cũng là bậc cao sĩ đương thế, trời sinh người tài tất hữu dụng, nương thân ở chốn thôn dã chi bằng về với triều đình”. Chung Vạn Đường nghẹn lời, ngưng thần, nghiến răng vẫy tay: “Canh Nghiêu, ngươi đến đây”.

Niên Canh Nghiêu cậy được sư phụ thương yêu, cười hì hì nói: “Sư phụ, người đã nhận lời mời của bối lạc ca ca rồi chứ? Độc thương của người rất nặng, đã hứa rồi, con sẽ trị cho người!” Chung Vạn Đường càng tức hơn, không ngờ Niên Canh Nghiêu lại xấu xa đến thế, dám uy hiếp tánh mạng của mình! Mấy mươi năm công phu của Chung Vạn Đường đâu phải tầm thường, lúc này tuy đã nguy cấp nhưng vẫn còn công lực. Ông ta liều hơi thở cuối cùng, đợi Niên Canh Nghiêu đến gần, đột nhiên vung tay chụp lấy mạch môn, gằng giọng quát: “Nghiệt đồ, ngươi bán đứng sư phụ, ta giết ngươi!” đây chính là tuyệt chiêu Cầm Nã đoạt mệnh thủ của phái Vô Cực, Niên Canh Nghiêu bị ông ta chụp trúng, toàn thân mềm nhũn, chẳng thể nhào nhúc nhích được nữa.

Điều này khiến Dận Trinh và Cáp Bố Đà đều bất ngờ, muốn cứu cũng không kịp nữa. Chung Vạn Đường chợt nhớ đến lời Châu Thanh: “Nếu tên đồ đệ này tâm thuật bất chính ông phải làm cho nó tàn phế, đừng nuối tiếc!” trong lòng thầm than: “Rốt cuộc thì Châu Thanh vẫn sáng suốt hơn mình”. Thế là ba ngón tay dùng lực chầm chậm bóp chặt!Niên Canh Nghiêu sắc mặt trắng bệt, run giọng nói: “Sư phụ, xin người nghĩ đến tình thầy trò bảy năm, tha mạng cho con!” Chung Vạn Đường giật mình, việc bảy năm lướt qua trong đầu nhanh như điện chớp, một nhân tài mình đã dốc hết sức ra vun bồi, một đứa đồ đệ mình đã thương hơn con ruột, chả lẽ chính tay mình phải giết nó hay sao? Niên Canh Nghiêu lại nói: “Sư phụ, phái Vô Cực đơn truyền, đến đời con thì dứt, sư phụ nỡ lòng ra tay sao?” Chung Vạn Đường lại giật mình, ông ta đã truyền hết võ công của phái Vô Cực cho Niên Canh Nghiêu, nếu giết nó đi thì chẳng còn ai tái truyền y bát. Niên Canh Nghiêu lại nói: “Sư phụ, từ rày về sau con sẽ nghe lời người, buổi tối đi ngủ đúng giờ, buổi sáng dạy đúng giờ”. Té ra từ nhỏ Niên Canh Nghiêu đã nghịch ngợm, sau khi bị Chung Vạn Đường thâu phục, những điều khác thì tốt nhưng tính tình của nó lại rất ngang ngạnh, không hoàn toàn thay đổi, đến đêm khuya mà vẫn chưa đi ngủ, sáng sớm còn nằm nướng. Chung Vạn Đường vẫn thường khuyên răn nó như người cha hiền đối với đứa con. Lúc này nghe nó nói như thế, bất giác nước mắt trào ra, lời nói của Niên Canh Nghiêu khiến ông ta xiêu lòng, không màng đến lời khuyên của Châu Thanh nữa, tay vừa buông ra đã kêu thảm: “Canh Nghiêu, ngươi giỏi lắm!” rồi miệng phun ra một búng máu tươi, nằm ngay đơ chẳng hề nhúc nhích. Cáp Bố Đà chạy đến bắt mạch, mạch của Chung Vạn Đường đã ngừng, Cáp Bố Đà cười nói: “Lão già ngoan cố đã chết!” Niên Canh Nghiêu tuy hả hê nhưng bất giác cũng rơi mấy giọt nước mắt.

Dận Trinh nói: “Việc đã xong, chúng ta đi thôi!” Niên Canh Nghiêu lau nước mắt, chợt nhớ vẫn chưa lấy quyền kinh kiếm quyết y thư binh pháp của sư phụ, nói với Dận Trinh: “Bối lạc ca ca, đợi đệ một lát”. Đang định vào lục soát, chợt nghe bên ngoài có tiếng hú dài, một luồng ánh sáng màu đỏ phóng lên trời. Cáp Bố Đà nói: “Không xong, đi thôi!” rồi kéo Niên Canh Nghiêu chạy gấp ra ngoài.

Lại nói hôm ấy sau một hồi hỗn loạn trong chùa Thiếu Lâm, Dịch Lan Châu thấy Đường Hiểu Lan, Chung Vạn Đường và Niên Canh Nghiêu lần lượt biến mất, vội vàng cáo từ Vô Trú thiền sư cùng Lữ Tứ Nương và Bạch Thái Quan đến Trần Lưu. Cước trình của ba người rất nhanh, buổi sáng lên đường, ngoại trừ dừng lại ăn uống nghỉ ngơi chốc lát, đến canh ba đã vào huyện Trần Lưu được hai ba mươi dặm. Dịch Lan Châu nói: “Tìm đến nhà Niên Canh Nghiêu có thể gặp sư điệt của ta, ta đoán Hiểu Lan đã đi tìm y”. Lữ Tứ Nương nói: “Niên gia là triệu phú ở Hà Nam, tìm đến đấy chẳng khó gì”. Nhưng lúc này đã canh ba, trên đường hiếm người qua lại. đang lo lắng chợt thấy ở đám rừng phía xa có ánh lửa, Dịch Lan Châu ngạc nhiên nói: “Lạ thật, lúc này còn có người tụ tập trong rừng làm gì?” chạy tới, một luồng gió từ trong rừng thổi ra, Dịch Lan Châu hít hơi gió, thấy trong gió có mùi thuốc, Dịch Lan Châu vẫy tay với Lữ Tứ Nương, Bạch Thái Quan rồi tung mình vọt vào trong rừng.

Bên trong tối đen, cây rừng rậm rạp, Dịch Lan Châu vọt lên cây đưa mắt tìm nơi có ánh lửa. Chợt nghe bên cạnh có người cười lạnh: “Mụ ăn mày già, mụ gan thật dám từ chùa Thiếu Lâm đuổi đến đây, bọn ta chọn một nơi có phong thủy tốt làm nơi chôn thân cho mụ. Mụ không cần trở về Thiên Sơn chi cho xa xôi!”

Dịch Lan Châu tức giận nói: “Hay lắm, bà già này phải xem bọn tiểu bối các ngươi có bao nhiêu bản lĩnh?” rồi ba ta lách người phóng tọt vào trong rừng nhanh như mũi tên, người ấy định lên tiếng thì chợt thấy chưởng phong quét tới! Người ấy tuy thất kinh nhưng cũng lanh lẹ lạ thường, thì biết dù có xoay người nghênh địch hai tay lướt người về phía trước né tránh cũng không thoát nổi chưởng kình của Dịch Lan Châu, y lợi dụng địa hình, xoay người nhanh như cơn gió ra sau một gốc cây, phân tán chưởng lực của Dịch Lan Châu, rồi y xoay tiếp mấy vòng lẩn vào chỗ tối. Dịch Lan Châu hơi ngạc nhiên, thân pháp của người này thật kỳ lạ! Đang định đuổi theo chợt nghe tiếng vù vù, một vật đen thui từ phía sau bay tới, Dịch Lan Châu lách người, vật ấy bay lướt qua đỉnh đầu bà ta rồi bẻ ngoặt trở lại Dịch Lan Châu cả kinh phóng vọt người lên cây. Món ám khí ấy trông giống như một cái thước gắp, có thể bay vòng vèo tựa như có linh tính. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Dịch Lan Châu đã sớm rút kiếm trong tay, hất về phía món ám khí, món ám khí rơi ngay xuống đất, Dịch Lan Châu nhảy vọt xuống, không ngờ món ám khí lăn một vòng dưới đất rồi đột nhiên bay lên, quét ngang xuống hạ bàn của Dịch Lan Châu, Dịch Lan Châu kinh hãi, đột nhiên xỉa hai ngón tay về phía trước bằng Kim cương chỉ lực kẹp lấy món ám khí trong tay, miệng quát lớn: “Tên quái vật Hàn Trọng Sơn kia, dám đến hí lộng lão nương!” rồi vung kiếm Du Long đâm mấy nhát về phía người ấy!

Té ra kẻ này là Hàn Trọng Sơn, sư đệ đồng môn của Thiên Diệp Tản Nhân, y luyện được một món ám khí cực kỳ độc địa ở núi Côn Luân tên gọi là Hồi hoàn câu, hình dạng như cái thước gắp, hai đầu nhọn, dài hơn hai thước, ở giữa có chỗ nắm dài ba tấc, những chỗ khác đều lắp móc câu sáng quắc, lợi hại hơn là nó có thể bay tới bay lui. Khi ở núi Côn Luân, Hàn Trọng Sơn đã từng thấy người dân ở dưới chân núi dùng vật này bắt chim, thế là tạo ra một món ám khí độc môn, trải qua hơn ba mươi năm luyện tập và cải tiến, y đã đạt đến mức xuất thần nhận quỷ, không ngờ đã bị Dịch Lan Châu dùng kim cương chỉ lực kẹp lại!

Công lực của Hàn Trọng Sơn cao hơn Thiên Diệp Tản Nhân một chút, Thiên Diệp Tản Nhân bị Dịch Lan Châu làm nhục ở đảo Điền Hoành đã mời y đến đây. Cả hai huynh đệ quyết phải hạ cho bằng được bà ta. Lúc này Dịch Lan Châu vung kiếm nhanh như gió, Hàn Trọng Sơn đã cầm cây chày giã thuốc trong tay chặn được ba kiếm nhưng rất vất vả. Dịch Lan Châu từng bước tiến tới, chợt nghe Lữ Tứ Nương kêu lên: “Đường Hiểu Lan ở đây!”

Té ra khi Dịch Lan Châu bị Hàn Trọng Sơn phục kích, Lữ Tứ Nương đã phóng tới, chợt thấy có một người nhảy tọt ra vung chưởng đánh lệch kiếm của Lữ Tứ Nương sang một bên, Lữ Tứ Nương thâu kiếm lướt người, khi nhìn kỹ lại mới thấy đó chính là Thiên Diệp Tản Nhân, phía xa còn có một đống lửa, Liễu Ân hòa thượng canh bên đống lửa, Thần Ma song lão ngồi xếp bằng nhắm mắt chẳng hề nhúc nhích, Đường Hiểu Lan bị trói trên cây.

Lữ Tứ Nương múa kiếm như gió, thi triển tuyệt chiêu trong Huyền Nữ kiếm pháp đâm về phía Thiên Diệp Tản Nhân, chỉ lực của y tuy lợi hại nhưng chẳng chạm được vào người nàng, Thiên Diệp Tản Nhân thấy kiếm pháp của nàng quá lợi hại, tuy không đến nỗi bại trận nhưng thắng cũng rất khó, đang định gọi Liễu Ân đến giúp, chợt thấy Dịch Lan Châu đang tấn công tới tấp Hàn Trọng Sơn, y cả kinh chợt kêu lên: “Liễu Ân đại sư, cứu người của chúng ta chạy trước!” Liễu Ân thấy Dịch Lan Châu và Lữ Tứ Nương đã phóng tới, trong bụng cũng phát hoảng, vội vàng cắp Thần Ma song lão phóng ra khỏi rừng. Lữ Tứ Nương bị Thiên Diệp Tản Nhân chặn lại, chẳng thể nào đuổi theo.

Dịch Lan Châu thấy Liễu Ân đã chạy ra, nghĩ bụng không thể đuổi theo kịp, kêu: “Tứ Nương, cứu Hiểu Lan trước, ta phải đánh hai tên yêu nghiệt này”. Rồi bà ta xỉa cây kiếm Du Long tới, nhốt Hàn Trọng Sơn và Thiên Diệp Tản Nhân vào màn kiếm quang, Bạch Thái Quan rút đao tương trợ, bị Hàn Trọng Sơn gạt ngang một gậy, chấn động đến nỗi tê rần cả cánh tay, Thiên Diệp Tản Nhân bị kiếm chiêu của Dịch Lan Châu đánh cho luống cuống tay chân, thấy Bạch Thái Quan tiến tới thì chợt nảy ra một kế, liên tục đánh ra hai chưởng, buộc Bạch Thái Quan mở ra chỗ trống ở bên trái của mình, chặn được chiêu kiếm của Dịch Lan Châu. Dịch Lan Châu vừa bị chặn, Hàn Trọng Sơn và Thiên Diệp Tản Nhân đã phóng ra. Dịch Lan Châu kéo Bạch Thái Quan lại, nói: “Hãy giúp sư muội cứu người trước!” Bạch Thái Quan mặt đỏ ửng, chỉ đành lui xuống.

Lữ Tứ Nương tháo Đường Hiểu Lan xuống, thấy chàng đang mơ màng thì biết đã bị điểm huyệt đạo, thế là vội vàng cứu chàng tỉnh dậy. Đường Hiểu Lan chợt thấy Lữ Tứ Nương đang đứng trước mặt mình, vừa kinh vừa mừng, cảm kích nói: “Lữ Oanh tỷ tỷ, đa tạ cứu mạng”. Lữ Tứ Nương cười: “Chính là Dịch nữ hiệp đã cứu đệ, đâu có liên quan đến ta”. Đường Hiểu Lan định thần, nhớ lại một việc, kêu lên: “Lữ tỷ tỷ, mau cứu Chung đại hiệp!”

Té ra Đường Hiểu Lan một mình từ Thiếu Lâm đuổi theo, xông vào trong rừng, bị Liễu Ân chặn lại. Lúc đó Thần Ma song lão đã trúng Đoạt Mệnh thần đao, nấp trong rừng dưỡng thương. Không lâu sau, Niên Canh Nghiêu đã lừa lấy được thuốc về cứu Song ma, Dận Trinh khen ngợi Niên Canh Nghiêu một phen, rồi dắt Cáp Bố Đà cùng hắn bỏ đi. Đường Hiểu Lan nghe rất rõ ràng, vừa kinh vừa sợ, miệng kêu hoảng lên bị Liễu Ân dùng thủ pháp điểm huyệt đánh ngất, trong mờ màng chàng thấy có một bà già cõng một đứa trẻ bỏ chạy, sau đó thì chàng bất tỉnh nhân sự. Giờ đây thì Lữ Tứ Nương cứu tỉnh chàng, khi nghĩ lại chàng mới đoán chắc rằng đứa trẻ ấy chính là Phùng Lâm, Đường Hiểu Lan chịu ơn lớn của Phùng Quảng Triều, bởi vậy mới thúc giục Lữ Tứ Nương mau đi cứu. Chàng không ngờ rằng lúc này Phùng Lâm đã bị vợ của Hàn Trọng Sơn bắt đi được ba mươi dặm.

Dịch Lan Châu đã nghe tất cả những lời Đường Hiểu Lan nói, bà ta đánh gấp kiếm chiêu, đẩy bọn Thiên Diệp Tản Nhân thối lui mấy bước, kêu lớn: “Chắc chắn Niên gia ở gần đây, các ngươi hãy dắt Hiểu Lan đi, ta sẽ đuổi theo sau”. Lữ Tứ Nương đoán Dịch Lan Châu chắc chắn có thể hạ được hai tên ma đầu này nên vâng một tiếng, cùng hai người Đường, Bạch chạy ra khỏi rừng. Dịch Lan Châu đại triển thần oai, thế kiếm như cầu vồng kỳ ảo vô cùng, một mình quần thảo với Hàn Trọng Sơn và Thiên Diệp Tản Nhân.

Phép đánh chày của Hàn Trọng Sơn gồm một trăm lẻ tám lộ tuy không bằng Thiên Sơn kiếm pháp nhưng nhờ có thêm chưởng lực của Thiên Diệp Tản Nhân, trong nhất thời Dịch Lan Châu cũng không hạ được bọn họ. Lại được một lúc nữa, Dịch Lan Châu tay trái nắm kiếm quyết chỉa thẳng tới, tay phải vung kiếm đánh một chiêu Thám Lệ Thủ Châu, điểm mũi kiếm vào yết hầu của Thiên Diệp Tản Nhân, Hàn Trọng Sơn bổ xuống một chày, bà ta nghiêng mình thâu chiêu, chuyển đâm thẳng thành chém ngang, Hàn Trọng Sơn hạ chày chặn xuống, đánh một chiêu Hoành Vân Đoạn Phong quét vào be sườn của Dịch Lan Châu để cứu Thiên Diệp Tản Nhân. Dịch Lan Châu vẫn không thay đổi kiếm thức, người hơi lách qua, lại đánh ra chiêu Xảo Nữ Xuyên Châm, tay trái phụ lên cánh tay phải chợt tiến mạnh tới một bước, trở lại hất xuống cổ tay của kẻ địch, liên tục đâm ra soạt soạt mấy kiếm, mũi kiếm phóng tới rút lui tựa như độc xà phun nọc, hết chiêu này tới chiêu khác, trong lúc kịch chiến chợt nghe soạt một tiếng ống tay áo của Thiên Diệp Tản Nhân bị cắt mất một mảng. Hàn Trọng Sơn thấy thế, lấy ra một mảnh đạn lưu huỳnh, ném vù một tiếng lên không trung, nhất thời phát ra một màn pháo hoa màu xanh lè, quát lớn: “Sao còn không mau đến!” rồi y vung cây chày chặn cây Du Long kiếm lại, rồi cùng Thiên Diệp Tản Nhân sánh vai rút lui. Dịch Lan Châu chợt nhớ lại, vợ của Hàn Trọng Sơn là Diệp Hoành Ba võ công cũng rất lợi hại. Lòng thầm nhủ, nếu lại thêm một cao thủ, một mình chọi với ba người thắng bại khó đoán. Lại nhớ Thiên Diệp Tản Nhân và bọn Liễu Ân đã có mặt ở đây, vậy tất cả bọn cao thủ của Dận Trinh chắc cũng kéo đến, sợ Lữ Tứ Nương và Đường Hiểu Lan gặp chuyện bất trắc bởi vậy không tiếp tục đuổi mà để cho Thiên Diệp Tản Nhân cùng Hàn Trọng Sơn chạy ra khỏi rừng.

Lại nói bọn Lữ Tứ Nương chạy ra khỏi rừng được hai ba mươi dặm, quả nhiên thấy có một tòa nhà sừng sững, bức tường xung quanh cao ngất, Lữ Tứ Nương chợt thấy có mấy bóng đen từ sau hoa viên nhảy vọt ra, nói: “Chắc chắn Chung đại hiệp ở trong hoa viên”. Rồi cùng Bạch Thái Quan tung mình nhảy vào tường. Đường Hiểu Lan cũng dùng công phu Hoán chưởng di bộ vọt lên bức tường cao ba trượng. Ba người nhảy vào trong vườn, chỉ thấy gạch đá ngổn ngang, cây cối ngã rạp, rõ ràng ở đây vừa trải qua một trận ác đấu vì thế mới lần tìm theo dấu vết, đến thư phòng của Chung Vạn Đường, cửa phòng đã bị phá tung, Đường Hiểu Lan vừa nhìn vào thì thấy Chung Vạn Đường nằm dưới đất, chàng ta vội vàng chạy vào, cúi xuống kêu: “Chung đại hiệp, Chung đại hiệp!” chàng không thấy trả lời, dùng tay sờ thì người Chung Vạn Đường đã lạnh ngắt, Đường Hiểu Lan bất giác trào nước mắt khóc òa lên!

Một lúc sau Dịch Lan Châu cũng chạy tới, thấy thế kinh hãi, Đường Hiểu Lan mắng: “Cũng tại tên tiểu tặc Niên Canh Nghiêu!” Dịch Lan Châu hỏi: “Sao? Đứa trẻ ấy dám giết cả sư phụ ư?” Đường Hiểu Lan nói: “Đâu chỉ có thế”. Rồi kể lại những chuyện đã nghe trong rừng. Dịch Lan Châu không khỏi thở dài, thầm nhủ: “Thu nhận đồ đệ không thể không cẩn thận, Hối Minh thiền sư nhận nhầm Sở Chiêu Nam, Độc tý thần ni nhận nhầm Liễu Ân đều gây ra sóng gió, Niên Canh Nghiêu tuổi còn nhỏ mà đã lợi hại như thế, sau này chắc chắn sẽ làm nhiều chuyện ác hơn cả Sở Chiêu Nam và Liễu Ân”. Đường Hiểu Lan lại tìm khắp nơi một lượt, không thấy Phùng Lâm, chàng buồn bã nói: “Điệt nữ của tôi đã bị kẻ giặc bắt mất”. Dịch Lan Châu nói: “Ngươi có điệt nữ?” Đường Hiểu Lan kể lại chuyện xưa một lượt, Dịch Lan Châu chợt liền miệng kêu lạ. Đột nhiên bà ta nói với Đường Hiểu Lan: “Ngươi hãy đến Thiên Sơn, ta trả cho ngươi một điệt nữ”. Đường Hiểu Lan ngạc nhiên. Ngay lúc này, chợt nghe bên ngoài có tiếng người ồn ào, có người dùng búa đập tường.

Chính là:

Thiếu khách trải kỳ biến, kiêu hùng mới ra tay.

Muốn biết sau đó thế nào mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 12: Lời ẩn thiền cơ vi từ đâm Tuần phủ Tài kinh tứ tọa đại hiệp lộ thần thông

Dịch Lan Châu cất y thư và kiếm quyết của Chung Vạn Đường vào tay nải, thở dài nói: “Không biết chừng nào mới trả những thứ này cho truyền nhân của phái Vô Cực”. Tiếng người bên ngoài tường càng lúc càng lớn, té ra lão bộc Đinh Phúc rất khôn khéo, khi Chung Vạn Đường ác đấu với Thần Ma song lão, ông ta đã len lén bò đến vách tường, phát tín hiệu kêu cứu, gia đinh trong nhà họ Niên tụ tập đến, nhưng không ai có thể nhảy qua vách tường, chỉ đành dùng búa đục tường.

Dịch Lan Châu thu xếp xong mọi thứ, buồn bã nói: “Việc hậu sự của Chung Vạn Đường sẽ có người Niên phủ lo liệu, chúng ta không cần lo”. Rồi bà ta cùng ba người Lữ, Bạch, Đường phóng ra khỏi vách tường, lớn giọng nói: “Niên Hà Linh nghe đây, Chung sư phụ đã dốc hết tâm huyết vì con trai của ngươi, cả mạng già cũng mất trong tay con trai của ngươi, ngươi phải an táng ông ta cho tử tế”. Người nhà họ Niên nghe thế kêu hoảng, bốn người nhảy vọt xuống rồi phóng đi mất.

Khi trời sáng họ đã rời khỏi huyện Trần Lưu, Dịch Lan Châu cảm khái than rằng: “Lần này ta quay lại Trung Nguyên, không ngờ nhiều bằng hữu đã đi trước cả ta. Tứ Nương, ta phải lên Mang Sơn tế mộ sư phụ ngươi mới an lòng”. Lữ Tứ Nương rơi nước mắt bái tạ. Mang Sơn cách huyện Trần Lưu hơn tám trăm dặm, cước trình của bốn người rất nhanh, chạy được ba ngày đã lên tới nơi. Đường Hiểu Lan thấy danh sơn vẫn còn, việc người đã khác, nhớ lại Độc tý thần ni năm xưa cứu mạng mình mà không khỏi đau lòng. Sáng sớm hôm sau, cả bốn người cùng đến cúng mộ Độc tý thần ni, chỉ thấy bia mộ viết rằng: “Tiền Minh công chúa võ lâm hiệp ni chi mộ”. Dịch Lan Châu khẽ gật đầu: “Bia mộ đề rất hay”. Bà ta nhớ Độc tý thần ni một đời vất vả, số phận cũng giống mình, lại nhớ từ rày về sau, không còn ai có kiếm thuật ngang hàng với mình, lại thêm thấy quạnh quẽ. Đang lúc cảm khái, chợt thấy có một cặp chim điêu một đen một trắng giang rộng cánh bay lượn vòng trên mộ, Lữ Tứ Nương vẫy tay, cặp chim điêu hạ xuống kêu không ngớt. Dịch Lan Châu chép miệng: “Chim vẫn còn mà người ở đâu?” rồi buồn bã trở vào am đường, nhìn Lữ Tứ Nương một lúc rất lâu chợt nói: “Tứ Nương, ta truyền cho ngươi một ít yếu quyết nội công, hãy theo ta vào tịnh thất”. Té ra Dịch Lan Châu thấy Lữ Tứ Nương dung mạo xinh đẹp, muốn giúp nàng lưu giữ tuổi thanh xuân nên dắt nàng vào trong tịnh thất, truyền cho phép Kiểm tinh nội thị, đây là loại nội công chỉ có nữ giới mới tu luyện được, Dịch Lan Châu đã học được loại nội công này từ Bạch Phát ma nữ. Số là năm xưa Bạch Phát ma nữ vì bất hạnh trong tình trường, tuổi đời còn trẻ mà tóc đã bạc. Bà quý nhất là dung mạo của mình bởi vậy mới tìm cách tu luyện để giữ sắc đẹp, đến tuổi già mới nghĩ ra một loại nội công có thể giữ dung mạo chỉ có nữ giới mới luyện được. Loại nội công này tuy không thể giúp cho người ta trường xuân bất lão nhưng có hiệu quả trụ nhang, nếu luyện đúng cách, có khi đến bốn năm mươi tuổi mà vẫn như thiếu nữ đôi mươi. Lúc đó Bạch Phát ma nữ đã gần một trăm tuổi, bà ta không thể thử nghiệm ở bản thân mình nữa nên truyền cho Dịch Lan Châu. Lúc đầu Dịch Lan Châu cũng tu luyện, sau đó vì chồng mất, một mình sống ở chốn rừng sâu, cũng chẳng còn lòng dạ gì giữ gìn dung mạo nữa nên chẳng luyện tiếp. Nay thấy Lữ Tứ Nương xinh đẹp, bởi vậy mới truyền công phu Kiểm tinh nội thị cho nàng.

Mấy ngày sau Lữ Tứ Nương đã luyện tập thành thục, Dịch Lan Châu đưa Đường Hiểu Lan về Thiên Sơn luyện kiếm, Lữ Tứ Nương đưa bà xuống Mang Sơn, quyến luyến không rời. Dịch Lan Châu nói: “Mười năm nữa, kiếm thuật của ngươi có thể vô địch thiên hạ, ta có một đồ đệ, lúc đó ngươi hãy nên giúp đỡ cho nó”. Dịch Lan Châu ngạc nhiên nói: “Dịch tiền bối kiếm pháp thông huyền, lệnh đồ chắc cũng là cao thủ, cần gì mười năm nữa mới có thể xuất đạo?” Dịch Lan Châu nói: “Giờ đây nó chỉ là đứa bé gái bảy tuổi mà thôi!” Đường Hiểu Lan giật mình, nhớ lại lời mấy ngày trước của Dịch Lan Châu, không khỏi hỏi: “Tôi có biết đứa bé gái ấy không?” Dịch Lan Châu cười nói: “Đến Thiên Sơn sẽ khắc biết”.

Dịch Lan Châu xuống núi, Lữ Tứ Nương và Thái Quan ở lại thêm hai ngày, sửa sang vườn mộ của sư phụ rồi mới chia tay. Hai người đã hẹn các đồng môn hỏi tội Liễu Ân. Khi chia tay, Bạch Thái Quan chợt như suy nghĩ điều gì đấy, rồi nói với Lữ Tứ Nương: “Bát muội, muội thấy Đường Hiểu Lan thế nào?” Lữ Tứ Nương nói: “Cũng tốt lắm!” Bạch Thái Quan nói: “Vài năm nữa, hắn học được chân truyền Thiên Sơn kiếm pháp, lúc đó sẽ càng tốt hơn”. Lữ Tứ Nương nói: “Đúng thế, nhưng sư huynh nói thế để làm gì?” Bạch Thái Quan cười nói: “Bát muội xin thứ huynh mạo muội, huynh là người lăn lộn trong tình trường, huynh thấy Hiểu Lan đối với muội...” Lữ Tứ Nương ngạc nhiên nói: “Cái gì?” Bạch Thái Quan nói: “Đối với muội hình như cũng có ý”. Lữ Tứ Nương tươi cười nói: “Ngũ ca, huynh đã quá đa tâm, muội chỉ xem Hiểu Lan là tiểu đệ, sao có chuyện này cho được”. Bạch Thái Quan thầm nhủ: “Chỉ e người ta không coi muội là tỷ tỷ”. Lữ Tứ Nương cười ngất, Bạch Thái Quan liếc nàng rồi nói: “Vậy phải chăng bát muội đã có ý trung nhân? Không biết là anh hùng hào kiệt nào?” Lữ Tứ Nương ngẩng đầu, lớn giọng nói: “Chả lẽ cứ phải là người trong võ lâm sao? Ngũ ca, đừng nói đến chuyện này nữa. Chúng ta hẹn đồng môn đến Mang Sơn tụ hội”. Rồi giơ tay cáo biệt.

Nàng về đến nhà đã đến mùa xuân, hoa đào mới nở. Lữ Tứ Nương hớn hở chạy đến trước cửa nhà, nàng chợt thất kinh, cửa nhà có dán giấy niêm phong của quan phủ, nhà trước nhà sau tịnh chẳng có bóng người, chợt nghe ba tiếng tên bay soạt soạt soạt, từ quả núi phía sau nhà phóng ra, đó là tín hiệu liên lạc của Giang Nam thất hiệp, Lữ Tứ Nương vội vàng thi triển công phu Lục địa phi hành phóng lên núi, lên đến đỉnh núi quả nhiên thấy nhị sư huynh Châu Tầm đang đứng, mặt lộ vẻ kinh hoàng.

Lữ Tứ Nương hỏi: “Nhị ca đến từ lúc nào? Cha của muội thế nào?” Châu Tầm nói: “Bát muội hãy theo huynh”. Rồi dắt Lữ Tứ Nương vào một tòa miếu, tòa miếu này tên gọi Triều Nguyên tự, trụ trì của chùa Nhất Niệm hòa thượng là một hòa thượng là bằng hữu thân thiết của Lữ Lưu Lương, Lữ Tứ Nương vào thiền phòng, cha nàng đang nằm trên giường sắc mặt vàng ệch, sư đệ của Nhất Niệm hòa thượng là Nhất Phiêu đứng bên cạnh nước mắt chảy ròng ròng. Lữ Bảo Trung nghe tiếng bước chân mở mắt ra, khẽ hỏi: “Có phải Oanh nhi đã về đây không?” Lữ Tứ Nương vội quỳ xuống trước giường, ôm lấy cha, chỉ nghe cha hổn hển nói: “Ca ca con đã bị bắt đi, Nhất Niệm đại sư vì cứu cha đã hy sinh, con phải báo thù cho chúng ta!” giọng nói của ông càng lúc càng nhỏ, nói xong thì chân tay duỗi thẳng, đứt hơi mà ra đi!

Lữ Tứ Nương khóc òa lên, Châu Tầm nói: “Bát muội bớt đau buồn mà lo ứng phó với sự việc”. Lữ Tứ Nương cố kìm nước mắt, nghe Châu Tầm nói: “Thẩm tiên sinh bị bắt không quá hai ngày, xe tù vẫn chưa tới Bắc Kinh, lục đệ đã chờ ở phía trước, bát muội hãy đuổi theo chắc vẫn còn kịp. Báo thù cho cha, cứu người sống quan trọng hơn phát tang, việc tang sự của bá phụ cứ để huynh và mọi người trong chùa lo liệu, muội hãy mau cứu Thẩm tiên sinh”.

Té ra tổ phụ của Lữ Tứ Nương là Lữ Lưu Lương lòng nhớ đến cố quốc, chuyên tâm viết sách bài xích Hồ lỗ. Sau khi ông ta qua đời, con trai của ông ta là Lữ Bảo Trung, Lữ Nghị Trung, đệ tử Nghiêm Hồng Quỳ vẫn tiếp tục công việc của ông ta. Thẩm Tại Khoan là môn sinh của Lữ Nghị Trung, rất thân thiết với Lữ Tứ Nương. Sự việc này xảy ra là bắt nguồn từ nhật kỳ của Nghiêm Hồng Quỳ. Nghiêm Hồng Quỳ viết nhật ký có ý bài xích Mãn Châu, quyển nhật ký ấy bị một tên học trò đánh cắp đem báo quan, quan sai đến bắt, Nghiêm Hồng Quỳ và Lữ Nghị Trung vừa khéo ra khỏi nhà, Lữ Bảo Trung và Thẩm Tại Khoan đã bị bắt. Trong lúc ấy Châu Tầm cũng đang ở nhà Lữ Tứ Nương, sau khi chàng ta chạy thoát đã vội vàng chạy đến chùa Triều Nguyên tìm Nhất Niệm thiền sư, cả hai đuổi theo ba mươi dặm chặn lại, sau một trận kịch chiến, Nhất Niệm thiền sư bị trúng bảy vết thương, Châu Tầm trúng một nhát kiếm nhưng cũng cứu được Lữ Bảo Trung đem về chùa. Nhất Niệm thiền sư vì trọng thương đã qua đời.

Lữ Tứ Nương nghe mà nghiến răng nghiến lợi, vái Châu Tầm rồi phẫn nộ nói: “Thù này không báo thề không làm người. Sư huynh, hãy dưỡng thương cho khỏe, muội phải lấy đầu bọn Thát tử đem về tế mộ”. Rồi nàng hỏi nơi Châu Tầm hẹn với Lộ Dân Đảm, sau đó liền phóng đi.

Lần này đám Ngự lâm quân đến bắt khâm phạm do thống lĩnh Tần Trung Việt suất lĩnh, kẻ này sử dụng đôi Phán Quan bút, là một danh gia điểm huyệt. Ngoài ra Dận Trinh cũng giới thiệu hai người giúp đỡ cho y. Hai người này chính là Cam Thiên Long và Đổng Cự Xuyên. Cả ba tên đều là hảo thủ thuộc hàng nhất lưu trên giang hồ, không ngờ thủ phạm chính Lữ Bảo Trung đã bị người ta cướp đi giữa đường, bởi vậy trên đường cứ lo lắng, chỉ mong sớm ngày về đến tỉnh thành rồi nhờ Tuần phủ Triết Giang Lý Vệ cho thêm hảo thủ áp giải cả bọn về kinh sư.

Hôm nay đoàn xe tù đã đi qua Hiếu Cảm, đang tiến vào vùng núi Thiên Mục, chợt nghe phía sau có tiếng nhạc ngựa leng keng, Lữ Tứ Nương ngồi trên thớt ngựa trắng, bụi tung mù mịt, hai người Cam, Đổng mặt biến sắc, thúc bọn Ngự lâm quân chạy cho mau. Tần Trung Việt nói: “Chỉ là một ả thiếu nữ, hai vị sao phải sợ như thế?” Cam Thiên Long mỉm cười nói: “Nếu như thế, Tần thống lĩnh hãy đoạn hậu, chúng tôi đi trước mở đường”. Đổng Cự Xuyên nói: “Ả này là Lữ Tứ Nương cháu gái của Lữ Lưu Lương, kiếm thuật của ả rất cao cường, Tần thống lĩnh phải cẩn thận”.

Tần Trung Việt nói: “Vậy thì tốt, chúng ta hãy bắt con gái của Lữ tặc để lập công”. Hai người Cam, Đổng biết Lữ Tứ Nương lợi hại, bọn chúng tính nếu đơn đả độc đấu quyết chẳng phải là đối thủ của Lữ Tứ Nương, nếu lấy một địch hai lại sẽ mất tiếng tăm trên giang hồ, vả lại sẽ bị Tần Trung Việt chê cười nên mới bảo Tần Trung Việt đoạn hậu, mượn tay Lữ Tứ Nương hạ uy phong của y rồi sau đó sẽ quay lại cứu y. Hai người Cam, Đổng rất xảo quyệt, Tần Trung Việt nào hiểu dụng ý của họ, trong lòng vẫn cười thầm.

Tần Trung Việt thầm nhủ: “Hai tên này đúng là chỉ có cái danh hão, chỉ một ả thiếu nữ mà cũng sợ”. Thế rồi mới quay đầu ngựa phóng tới, chặn Lữ Tứ Nương, giơ đôi bút lên quát: “Nữ tặc thật lớn gan!” rồi y thúc ngựa xông vào, hai cây bút đánh ra một chiêu Phong Lôi Hiệp Kích, điểm vào huyệt Ấn Đường của Lữ Tứ Nương. Nào ngờ mắt hoa lên, Lữ Tứ Nương đột nhiên vọt khỏi lưng ngựa, cây trường kiếm từ trên không trung đánh ra một đóa kiếm hoa từ trên bổ xuống, Tần Trung Việt hoảng hốt lăn người xuống bụng ngựa né tránh, chỉ nghe thớt ngựa hí lên một tiếng thảm thiết, bốn chân chổng lên trời, Tần Trung Việt lộn xuống đất, té ra thớt ngựa đã bị Lữ Tứ Nương chém chết. Lữ Tứ Nương điểm mũi chân xuống đất, ánh kiếm quang lóe lên, lại có vài tên Ngự lâm quân mất mạng, Tần Trung Việt chợt nổi cáu, bật người dậy lướt tới phía trước, hai cây bút quạt ngang một cái, chỉ nghe keng lên một tiếng, ánh lửa tóe ra. Tần Trung Việt thấy hai tay tê rần, Lữ Tứ Nương cũng thất kinh: “Công phu của tên này không kém!” rồi cây Sương Hoa kiếm đánh tới, một chiêu ba thức đâm vào eo chém vào be sườn xỉa vào ngực nhanh như điện chớp. Tần Trung Việt lách người thối lui, bút trên tay trái chặn ngang thanh kiếm, bút trên tay phải điểm vào huyệt Thái Ất trên be sườn của đối phương. Lữ Tứ Nương cười lạnh một tiếng, dùng thế Thu thủy hoành châu xoay người chặn lại, hai bút bị đánh bật ra, Lữ Tứ Nương đâm ra soạt soạt hai nhát kiếm, Tần Trung Việt thối lui liên tục, bị Lữ Tứ Nương đánh cho luống cuống chân tay. Đổng Cự Xuyên và Cam Thiêm Long nhìn nhau cười, Đổng Cự Xuyên nói: “Lão đệ, chúng ta ra tay đi thôi”. Cam Thiên Long vâng một tiếng thúc ngựa tới, đâm về phía Lữ Tứ Nương.

Lữ Tứ Nương nhận ra Cam Thiên Long chính là người đi theo Dận Trinh, mắng rằng: “Lão tặc, ta đã tha mạng chó của ngươi ở chùa Thiếu Lâm, ngươi lại đến đây làm càn”. Rồi nàng rút kiếm, đánh ra một chiêu Bạch Hạc Lượng Xí, gạt kiếm của Cam Thiên Long ra, trở tay đánh ra một chiêu Thần Long Điếu Vĩ, đẩy lùi Tần Trung Việt. Cam Thiên Long lại quét ngang kiếm nhảy bổ lên. Lữ Tứ Nương liên tục đánh ra ba kiếm đều bị y gạt ra. Võ công của Cam Thiên Long hơn hẳn Tần Trung Việt, chiêu số quái dị lạ thường, Lữ Tứ Nương cả giật, ánh kiếm quang loang loáng đánh ra như mưa gió, khiến Cam Thiên Long chỉ có thể chống đỡ chứ không thể trả đòn, may mà có Tần Trung Việt ở một bên tấn công, hai cây bút cứ tìm chỗ hở trong màng kiếm quang thừa cơ điểm huyệt khiến Lữ Tứ Nương không dám dốc hết toàn lực tấn công tới chứ nếu không Cam Thiên Long đã sớm mất mạng.

Hai người Tần, Cam quần thảo với một mình Lữ Tứ Nương mà vẫn lọt xuống thế hạ phong, Lữ Tứ Nương đánh như sấm sét, thủ như biển lớn lặng sóng, bọn Ngự lâm quân tuy đông nhưng không thể tiến vào nổi. Đổng Cự Xuyên phất tay, hai mũi Thấu Cốt đinh xé gió bay tới, hướng vào hai huyệt Hồn Môn ở sau ót và Trinh Bạch ở chân mày của Lữ Tứ Nương, Lữ Tứ Nương vung kiếm gạt rơi một mũi đinh, rồi nàng lộn người né tránh mũi đinh thứ hai. Đổng Cự Xuyên cũng không khỏi thất kinh. Y tiếp tục phóng ra ba bốn mũi nữa. Lữ Tứ Nương tuy liên tục né tránh hết nhưng cũng cảm thấy rất vất vả, nhất thời thế công yếu đi, dần dần lọt xuống thế hạ phong.

Cam Thiên Long cả mừng, y quét cây trủy thủ tới, chuyển thủ làm công, đánh ra toàn những chiêu số hiểm hóc. Tần Trung Việt liên tục đâm bút tới, không rời ba mươi sáu đại huyệt của nàng, vì né Thấu Cốt đinh của Đổng Cự Xuyên, Lữ Tứ Nương đã phân tấm khiến bản thân rơi vào nguy hiểm, nàng nghiến răng gạt ngang một kiếm, đẩy trường kiếm và đôi Phán Quan bút ra, vọt người lướt qua vai Cam Thiên Long, gằng giọng mắng: “Ta phải giết chết tên lão tặc phóng ám khí này trước!” rồi nàng múa kiếm đâm thẳng về phía Đổng Cự Xuyên. Đổng Cự Xuyên quát lến: “Hay lắm!” rồi vung tay phóng ra ba mũi Thấu Cốt đinh, ba mũi đinh bay tới theo ba hướng, thủ pháp phóng đinh này rất lợi hại, dù kẻ địch có bản lĩnh cao cường đến đâu, cũng không thể né tránh trong khoảng sát na. Nào ngờ Lữ Tứ Nương chẳng hề chùn bước, nàng vung tay phóng vọt lên cao ba trượng, ba mũi Thấu Cốt đinh lướt qua chân nàng bay xa đến năm sáu trượng. Lữ Tứ Nương quát lớn một tiếng trên không trung, đột nhiên cả người lẫn kiếm bổ nhào xuống. Bọn Ngự lâm quân ùa lên, Lữ Tứ Nương múa tít thanh bảo kiếm, hạ được hơn mười tên, vẫn tiếp tục xông về phía xe tù, bọn Ngự lâm quân liều chết ngăn cản bởi vậy Lữ Tứ Nương trong nhất thời cũng không dễ xông tới. Cam Thiên Long và Tần Trung Việt vội vàng đuổi theo, Lữ Tứ Nương vung tay trái, phóng ra ba mũi hưởng tiễn, một lát sau ở mảnh rừng bên đường có tiếng tiêu vang lên, mười hán tử phóng tên ra như mưa, bọn Ngự lâm quân vội vàng nằm phục xuống đất bắn trở lại. Trong đám người này có một thiếu niên áo trắng đột nhiên phóng ra. Múa đao tiến thẳng tới trong làn mưa tên.
Thiếu niên này chính là đồ đệ thứ sáu của Độc tý thần ni tên gọi Lộ Dân Đảm, Lộ Dân Đảm là con nhà giàu có ở miền Triết Giang, lần này trở về dắt theo gia đinh ra giúp Lữ Tứ Nương cướp xe tù.

Đổng Cự Xuyên thấy Lộ Dân Đảm tới, quát: “Lộ công tử, ngươi dám tạo phản?” Lộ Dân Đảm bổ soạt soạt hai đao tới, Đổng Cự Xuyên dùng hai chưởng một đẩy một dẫn, động tác rất mềm mại nhưng hàm chứa nội lực kinh người, Lộ Dân Đảm chém hụt hai đao, bị chưởng lực của y đẩy lui. Đổng Cự Xuyên thừa thắng truy kích, tung ra một cú đá, Lộ Dân Đảm không kịp đề phòng, bị y đá bay cây đao lên không trung. Đổng Cự Xuyên là cao thủ của phái Hình Ý, chưởng lực lấy như khắc cương, đã luyện đến mức lư hỏa thuần thanh, y tung một cước đá bay binh khí, tay trái giở lên đánh ra một hư chiêu, tay phải xuyên tới, quát lên: “Nằm xuống!” chưởng tâm đè tới vừa nhanh vừa mạnh. Lộ Dân Đảm vội vàng hóp bụng thu ngực, chàng chỉ lắc người chứ không ngã xuống. Trong Giang Nam thất hiệp, Lộ Dân Đảm võ công bình thường, Đổng Cự Xuyên quá kinh địch, Lộ Dân Đảm nhân lúc Đổng Cự Xuyên dùng chiêu quá sâu, liên tục vỗ hai chưởng ra, tấn công vào hạ bàn Đổng Cự Xuyên, Đổng Cự Xuyên thất kinh, hai chưởng hợp lại phân xuống phía dưới, phá giải chiêu thế của Lộ Dân Đảm. Trong lúc hỗn chiến Lữ Tứ Nương múa kiếm như gió, xông ra khỏi vòng vây của Ngự lâm quân tiến thẳng về phía xe tù.

Tần Trung Việt và Cam Thiên Long không chặn nổi chiêu này, Đổng Cự Xuyên sợ khâm phạm bị cướp, chẳng còn lòng dạ nào ham đánh, thối lui một bước, Lộ Dân Đảm dấn tới, y vung tay điểm ngược vào huyệt Kỳ Môn ở dưới rốn của Lộ Dân Đảm, rốt cuộc Lộ Dân Đảm hỏa hầu vẫn chưa sâu, không ngờ y lấy lui làm tiến, biến chiêu nhanh chóng như vậy, thế là ngã ngửa ra sau, may mà có gia đinh đỡ cho chàng nhưng sắc mặt tái xanh, mồ hôi rơi xuống ròng ròng.

Lữ Tứ Nương nhảy bổ đến xe tù, Đổng Cự Xuyên đã phóng lên xe. Lữ Tứ Nương vung kiếm vạch rách mái xe, kêu lớn: “Thẩm ca ca, Thẩm ca ca!” trong xe có người trả lời: “Oanh muội, đừng mạo hiểm!” giọng nói rất yếu ớt nhưng Lữ Tứ Nương nghe rất rõ ràng, nàng phấn chấn tinh thần phóng vọt lên mái xe. Trong khoảnh khắc ấy, rèm xe chợt bật ra, Lữ Tứ Nương giơ kiếm ngang ngực phóng vào xe, chỉ nghe Đổng Cự Xuyên cười hì hì: “Lữ Tứ Nương, ngươi không nhảy xuống, ta giết tên này!” té ra Đổng Cự Xuyên ngồi xếp bằng trong xe, đầu của Thẩm Tại Khoan gác trên đùi y, y một tay giữ đầu Thẩm Tại Khoan, một tay bóp vào cổ họng của chàng ta, chỉ cần năm ngón bóp mạnh hơn, chàng ta sẽ lập tức mất mạng.

Lữ Tứ Nương toát mồ hôi lạnh, trong nhất thời luống cuống, Thẩm Tại Khoan mở to mắt, lại khẽ nói: “Chỉ cần sư phụ bình an, ta chết cũng không tiếc. Oanh muội hãy quay về!” lúc này đúng là thấy nhau mà chẳng được gần nhau, Lữ Tứ Nương thấy lòng nghẹn ngào, chợt nghe dưới xe có tiếng quát tháo. Lộ Dân Đảm đã bị trọng thương, gia đinh của chàng làm sao có thể chống nổi bọn Ngự lâm quân, thế là bị vây vào ở giữa, Lữ Tứ Nương buồn bã kêu: “Thẩm ca ca, hãy bảo trọng, muội thề cứu huynh!” rồi đột nhiên từ trên xe nhảy bổ xuống, múa kiếm nhảy vào giữa đám đông, bọn Ngự lâm quân chưa từng thấy uy thế như thế, thế là chạy tứ tán, Lữ Tứ Nương ra tay như điện chớp, trong chớp mắt đã chém đứt chân tay của bọn Ngự lâm quân, tiếng quát tháo vang lừng, rồi nàng giải huyệt đạo cho Lộ Dân Đảm, nhưng vì thời gian quá lâu, Lộ Dân Đảm vẫn chưa thể cử động được. Lữ Tứ Nương vung kiếm dẫn gia đinh của Lộ phủ đánh thốc ra, Đổng Cự Xuyên quát: “Cứ để mặc ả”. Tần Trung Việt bước dấn tới phía trước hai bước, Lữ Tứ Nương phóng ra một ngọn phi đao lướt qua vai y, Tần Trung Việt hoảng đến nỗi thối lui từng bước, lúc này Lữ Tứ Nương đã chạy vào núi Thiên Mục. Trong trận này, Ngự lâm quân tử thương đến mấy chục người, gia đinh Lộ phủ cũng tử thương một nửa.

Đổng Cự Xuyên sai ném những xác chết, bỏ những kẻ bị thương lên ngựa, chỉnh đốn xong địa hình vội vàng lên đường tiếp. Tần Trung Việt vẫn chưa hết hoảng hồn, cứ liền miệng kêu: “Ả này thật lợi hại!” Đổng Cự Xuyên cười nói: “Tần huynh vạn an, qua đến Vu Tiềm, phía trước đã dễ đi hơn. Sẽ có Tuần phủ Triết Giang gánh vác cho chúng ta”. Đi được hai ngày, quả nhiên bình an đến Hàng Châu. Tuần phủ Triết Giang Lý Vệ là đại thần mà Khang Hy tin dùng, tề danh cùng với Tuần phủ Sơn Đông Điền Văn Kính, đều là những quan lớn đương thời. Lý Vệ nghe tin chạy ra nghênh tiếp, thấy đội hình Ngự lâm quân tán loạn, hỏi xong mới kinh hoảng!

Lý Vệ sai thêm cao thủ hộ vệ, bọn Cam Thiên Long, Tần Trung Việt, Đổng Cự Xuyên thay phiên nhau canh bên cạnh Thẩm Tại Khoan. Lúc về già Khang Hy bỏ võ sửa văn, lôi kéo nhân tài trong thiên hạ bởi vậy mới có mật lệnh cho Tuần phủ Lý Vệ, bảo y thẩm vấn phản nghịch, điều đầu tiên là phải buộc y khai ra đồng đảng rồi đến bắt ngay, điều thứ hai là khuyên hai bậc danh nho ở miền Triết Đông là Lữ Bảo Trung và Nghiêm Hồng Quỳ quy hàng, nếu họ không chịu thì cứ áp giải về Bắc Kinh. Nay bọn chúng chẳng bắt được Lữ Bảo Trung và Nghiêm Hồng Quỳ, chỉ bắt được học trò của Lữ Bảo Trung là Thẩm Tại Khoan, Lý Vệ rất thất vọng, nhưng y nghĩ lại, Thẩm Tại Khoan cũng có danh tiếng, chi bằng cứ thẩm vấn chàng ta một phen. Lý Vệ có một đứa con gái tên gọi là Lý Minh Châu được nuông chìu quen thói nên rất ngang ngạnh, nghe nói bắt được một tên thư sinh thiếu niên phản nghịch, thế là tò mò chạy theo cha đòi xem. Lý Vệ mắng: “Việc lớn của triều đình, đàn bà con gái xem làm gì?” Lý Minh Châu đáp: “Con chưa bao giờ thấy phản nghịch, chỉ xem thử có hại gì?” Lý Vệ chỉ đành nói: “Bọn lính canh toàn là đàn ông, con làm sao có thể đi xem thẩm vấn? Không sợ người ta cười là thiên kim của đề đốc mà không biết lễ nghĩa sao?” Lý Minh Châu nói: “Điều này rất dễ”. Rồi nàng vào phòng trong, một lát sau khi bước ra đã mặc đồ đàn ông, đi mấy bước rồi nói: “Con sẽ giả thành thư đồng của cha, khi cha thẩm vấn, con không lên tiếng, ai biết con cải trang”. Lý Vệ vừa buồn cười, vừa bực bội, chỉ đành chấp nhận.

Đêm hôm ấy Lý Vệ dắt con gái vào phòng tù, Thẩm Tại Khoan sau một ngày nghỉ ngơi, tinh thần đã hồi phục. Lý Vệ thấy chàng ta trong cảnh lao tù mà thần thái vẫn rạng rỡ, tướng mạo bất phàm, không khỏi thầm khen, nhủ rằng: “Nhân tài như thế này nếu chịu quy thuận, đường may sẽ rộng mở thênh thang”. Thấy con gái nhìn chàng chăm chăm, trong lòng không khỏi giật mình. Thế rồi nói: “Túc hạ đọc rộng hiểu nhiều, nay Thánh thượng đang cần nhân tài, nếu thúc hạ chịu quy thuận, tránh tà thuyết, theo thánh triều, ắt hẳn sẽ thăng quan tiến chức. Cần chi cứ giữ rịt điều cổ hủ làm việc ngu muội chuốc họa tan nhà nát cửa?” Thẩm Tại Khoan nói: “Phủ đài đại nhân cũng xuất thân từ khoa bảng, thông hiểu chữ nghĩa. Xin hỏi phủ đài đại nhân, tiền bối tài nhân Ngô Mai Thôn thế nào?” Ngô Mai Thôn là tài tử cuối thời Minh, xuất thân bảng nhãn, sau đó quy thuận triều Thanh, làm đến Quốc tử giám tế tửu, Lý Vệ thấy chàng ta nhắc đến Ngô Mai Thôn, lòng thầm mừng: “Té ra y cũng hiểu vài phần đạo lý”. Vì thế mới nói: “Ngô Mai Thôn là tài nhân một đời, hiểu đường sáng, biết đại thế. Ta đang lấy ông ta làm gương”. Thẩm Tại Khoan cười nói: “Vậy sao?” rồi ngâm rằng: “Cố nhân khảng khái đa kỳ tiết. Dị niên trầm ngâm bất đoạn, thảo giang thôn hoạt” Lý Vệ biến sắc, Thẩm Tại Khoan nói: “Tôi muốn hỏi phủ đài, mấy câu từ này của Ngô Mai Thôn giảng thế nào?” té ra đây là bài từ tuyệt mệnh của Ngô Mai Thôn, trong lúc Ngô Mai Thôn bệnh nặng, tự hổ thẹn rằng mình đã thất tiết nên đã viết một bài từ đặt tên là Hạ tân lang.

Bài từ này chan chứa tâm trạng tự trách mình của tác giả. Lý Vệ thì nói đến mặt tốt của Ngô Mai Thôn còn Thẩm Tại Khoan thì như nhắc đến bài từ tuyệt mệnh từ trách mình làm Hán gian của Ngô Mai Thôn, lời lẽ nghe rất mỉa mai, Lý Vệ nghe xong rất lúng túng, hỏi rằng: “Gần đây tiên sinh có tác phẩm gì hay không?” Thẩm Tại Khoan trả lời: “Có, lần này tôi tự thấy sẽ chết, trong đêm qua làm được hai câu: ‘Lục trầm bất tất do hồng thủy, thùy vị thùy châu lý cựu cương?’ nhưng đoạn sau vẫn chưa xong, phủ đài đại nhân tài cao bát đẩu, có thể làm cho vãn sinh một đoạn nữa không?” Lý Vệ nghe giọng điệu của Thẩm Tại Khoan như có ý trách mình, bởi vậy không nói nữa mà phất áo lui ra.

Lui ra khỏi phòng giam, Lý Minh Châu khẽ nói: “Cha, kẻ này có tài, ăn nói cũng lợi hại lắm!” Lý Vệ mặt tái xanh, không thèm để ý đến con gái mà trở về thư phòng viết tấu chương.
Ba ngày sau thống lĩnh Ngự lâm quân Tần Trung Việt đến thỉnh thị, bảo rằng phải áp giải tù phạm về kinh, nhờ ông ta sai người giúp đỡ. Lý Vệ nói: “Ông đến rất đúng lúc, bổn phủ đang muốn chọn vệ sĩ, ba người các ông đều võ công tinh thông, hãy giúp tôi xem thử”. Tần Trung Việt đương nhiên chấp nhận.

Phủ đài chọn vệ sĩ cực kỳ ngặt nghèo, trước tiên phải có người đáng tin cậy tiến cử, sau đó mới tính đến võ công. Đến hôm ấy, Lý Vệ bày tiệc rượu trong luyện võ sảnh, xem các vệ sĩ ứng tuyển. Vì Tần Trung Việt bận canh giữ Thẩm Tại Khoan nên không đến, chỉ có Cam Thiên Long, Đổng Cự Xuyên và hai tổng quản vệ sĩ trong phủ. Trong lần này, từ mười bảy người chọn ra ba người, Lý Vệ bước vào nhìn, thấy có hai hán tử cao lớn, còn một người thì ốm yếu một vàng ệch, thân hình trung bình trông giống như một tên bệnh hoạn.

Lý Vệ nhíu mày hỏi: “Ba người này do ai tiến cử?” tên tì tướng phụ trách việc chọn lựa nói: “Một người là do Tả Phiên Tư tiến cử, tên gọi Vương Phấn, một người là Hàn Chấn Sinh”. Lý Vệ kêu ồ một tiếng, lại nói: “Còn tên mặt vàng ệt ốm yếu kia là ai? Ai tiến cử hắn?” tên tì tướng trả lời: “Đại nhân đã quên rồi sao? Người này là do chính tay đại nhân tiến cử. Đại nhân quả nhiên tinh mắt, công phu của y cũng không tệ! Trong số mười bảy vệ sĩ hầu tuyển, có lẽ y là người giỏi nhất”.

Lý Vệ chưng hửng, mới nhớ lại một chuyện. Một tháng trước, y đã mời mấy gánh hát đến diễn tuồng, mãi nghệ để chúc thọ cho mẫu thân, trong đó có một thiếu nữ diễn rất hay. Con gái của y thấy thế nổi hứng, gọi nàng ta vào nội phủ hỏi han, sau đó còn giữ lại mấy ngày. Lý Vệ tuy không thích con gái qua lại với bọn người giang hồ nhưng nghĩ cũng chẳng hề chi nên chỉ mặc kệ. Hơn mười ngày trước, nàng ta biết việc chọn vệ sĩ, nàng bảo cũng giới thiệu cho một người. Nhớ đến đây, Lý Vệ bất đồ nhìn lại hán tử mặt vàng ốm yếu trước mặt.

Lúc này y đã nhớ hình như hán tử chính là một người trong gánh hát. Hôm ấy Lý Minh Châu bảo cũng giới thiệu cho một người, Lý Vệ hỏi đó là ai, nàng ta bảo là biểu ca của thiếu nữ mãi nghệ. Chắc là người này.

Lý Vệ vẫn còn nhớ con gái mình bảo y là Đường Long nên mới gọi y tới nói: “Đường Long, ngươi chẳng phải diễn tạp kỷ sao, học võ công ở đâu thế?” Đường Long nói: “Tiểu nhân học võ nghệ gia truyền, bất đắc dĩ mới ra giang hồ mãi nghệ”. Lý Vệ nói: “Được, hãy tỉ thí xem sao”.

Ba hồi trống vừa dứt, Lý Vệ nhờ Đổng Cự Xuyên làm chủ khảo, Đổng Cự Xuyên kêu Vương Phấn ra hỏi: “Ngươi luyện loại võ công gì?” Vương Phấn nói: “Tiểu nhân luyện Thiết sa chưởng”. Đổng Cự Xuyên nói: “Được, luyện thử cho ta xem”. Vương Phấn xếp ba chồng gạch lên cái trống đá trước sảnh, y vận công bước tới gần trống đá đột nhiên chém vù xuống một chưởng, đánh vỡ nát chồng gạch thứ nhất. Tổng quản vệ sĩ Hứa Thành nói: “Ngoại công của người này cũng có chút căn cơ”. Vương Phấn lại bước trở về, nói với Đổng Cự Xuyên: “Mỗi chồng gạch có mười viên, bây giơ tôi dùng chưởng lực đánh vỡ một viên trong chồng thứ hai, xin hỏi chủ khảo, muốn tôi đánh vỡ viên nào?” Đổng Cự Xuyên trả lời: “Viên thứ bảy”. Người ấy tiếng: “Tuân lệnh!” rồi bước tới cái trống đá, vỗ xuống một chưởng buông tay nói: “Xin hãy xem thử!” một viên tì tướng dời từng viên gạch ra, dời đến viên thứ bảy, quả nhiên đã vỡ nát, sau khi đã phủi đi, lại thấy viên thứ tám và viên thứ chín không hề suy suyễn. Hứa Thành giơ ngón tay cái nói: “Hay lắm!” Cam Thiên Long cười rằng: “Nội công của người này cũng có căn cơ”. Vương Phấn bước lên, Đổng Cự Xuyên cười nói: “Vậy chồng gạch thứ ba ngươi định làm gì?” Vương Phấn nói: “Sẽ đánh vỡ nát”. Hứa Thành nói: “Chẳng phải ngươi đã thử rồi sao? Hãy làm trò gì mới mẻ hơn”. Vương Phấn bẩm rằng: “Lần này khắc hẳn lần thứ nhất, tổng quản đại nhân, xin mời ngài xem”. Rồi y bước đến gần cái trống đá, hai tay co lại rồi vươn ra, miệng hít mấy hơi rồi nhẹ nhàng vỗ xuống một chưởng, sau đó buông tay nhảy ra, chồng gạch vẫn còn nguyên, Hứa Thành thấy ngạc nhiên, Đổng Cự Xuyên gật đầu nói: “Tốt lắm!” rồi bảo Hứa Thành lấy tay sờ xem sao, Hứa Thành vừa chạm tay vào chồng gạch đã đổ xuống, dưới đất toàn là bột. Té ra chồng gạch đã bị Vương Phấn dùng nội lực đánh nát như đậu hũ. Hứa Thành cả kinh, cảm thấy công lực của Vương Phấn còn hơn cả mình. Đổng Cự Xuyên cười nói với Lý Vệ: “Thiết sa chưởng của người này cũng được tám phần hỏa hầu, có thể chọn”. Vì thế kêu Hàn Chấn Sinh bước lên.

Đổng Cự Xuyên hỏi Hàn Chấn Sinh: “Ngươi luyện võ công gì?” Hàn Chấn Sinh nói: “Tôi luyện công phu cung mã, chú trọng thái kình hạ bàn”. Đổng Cự Xuyên nói: “Được, ta sẽ xem thái kình hạ bàn của ngươi”. Hàn Chấn Sinh bảo người đem tới hai mươi bao cát, mỗi bao cát nặng hai trăm cân, xếp mỗi chồng mười bao. Hàn Chấn Sinh nói: “Tôi có thể tung cước đá bất cứ bao nào bay lên”. Đổng Cự Xuyên nói: “Được, vậy ngươi hãy đá bao thứ tư ở chồng thứ nhất, bao thứ sáu ở chồng thứ hai”. Hàn Chấn Sinh bảo người ghi ký hiệu rồi từ xa chạy đến hai chồng bao cát, chưa đến gần đột nhiên tung ra mấy cú đá liên hoàn, hai bao cát bay lên đến năm sáu trượng, xem lại quả nhiên là bao thứ tư trong chồng thứ nhất và bao thứ sáu trong chồng thứ hai. Đổng Cự Xuyên kêu y lại hỏi: “Còn có công phu gì khác không?” Hàn Chấn Sinh nói: “Ngoài ra còn có công phu Cung mã”. Lý Vệ bảo y thử xem, y liên tục bẻ gãy năm cây cung ngũ thạch, lại bắn ba mũi tên liên tiếp trúng hồng tâm. Lý Vệ nói: “Người này là tướng tài có thể xung phong trận mạc”. Đổng Cự Xuyên cười: “Y là con nhà thế tộc Ba Đồ Lỗ, công phu cung mã đương nhiên phải luyện thành thục. Luận về bản lĩnh thật sự, y chẳng bằng Vương Phấn. Đại nhân có thể để y cầm quân”. Cuối cùng gọi Đường Long lên, hỏi: “Ngươi luyện công phu gì?” Đường Long nói: “Tôi chẳng luyện công phu gì cả”. Lý Vệ nói: “Vậy ngươi có sở trường gì?” Đường Long bẩm rằng: “Sở trường của tôi là chịu đánh”. Lý Vệ chưng hửng, đang định mắng, Đổng Cự Xuyên cười nói: “Vậy ngươi sẽ luyện công phu chịu đánh! Luyện như thế nào?” Đường Long nói: “Bảo hai người họ, một người dùng chưởng đánh tôi, một người dùng chân đá tôi, tôi quyết không trả đòn”. Lý Vệ và Cam Thiên Long đều thất kinh, Vương Phấn và Hàn Chấn Sinh, một người có thể vung chưởng đánh nát gạch, một người có thể tung cước đá bay bao cát, thế mà y dám chịu đòn của hai người này đúng là hoang đường, Đổng Cự Xuyên phẫy tay nói: “Được, hãy thử xem sao!” Đường Long nhảy ra giữa sân, buông tay đứng đợi, Vương Phấn vỗ vù hai chưởng vào ngực của y, Hàn Chấn Sinh cũng liên tục tung cước đá vào hạ bàn của y. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, chỉ nghe hai tiếng bốp bốp vang kên, Vương Phấn bị chấn động bay ra hơn một trượng, vẫn còn có thể đứng vững nổi, Hàn Chấn Sinh càng thảm hơn, y té soài xuống đất chẳng thể nhúc nhích nổi! Đổng Cự Xuyên vội bước ra, đỡ Hàn Chấn Sinh lên, chỉ thấy hai chân của y sưng tấy, Đường Long bước tới, nói: “Đắc tội!” rồi xoa lên chân của Hàn Chấn Sinh, nói: “Huynh đài cứ về nằm nghỉ ba ngày tự nhiên sẽ hết”. Rồi nói với Đổng Cự Xuyên: “Chủ khảo đại nhân, tôi chịu đánh như thế có được chưa?” Đổng Cự Xuyên nói: “Ngươi chờ một lát, ta hỏi phủ đài đại nhân”. Đổng Cự Xuyên cúi đầu suy nghĩ bước về chỗ ngồi. Lý Vệ đã kinh hãi đến trợn mắt há mồm. Khi Đổng Cự Xuyên quay về mời vội vàng hỏi: “Tên Đường Long ấy có yêu pháp gì không?” Đổng Cự Xuyên giật mình, nói: “Người này là do đại nhân tiến cử, xin đại nhân cho biết lai lịch của y”. Cam Thiên Long chen vào: “Y luyện công phu thượng thừa Triêm Y thập bát điệt! Bình sinh tôi đã thấy ba người luyện môn công phu này. Một người là Liễu Ân hòa thượng, một người là Thiên Diệp Tản Nhân, một người là Cáp Bố Đà tổng quản Huyết Trích Tử, giờ đây có thêm y là bốn”. Lý Vệ cả kinh, nói: “Ta không biết lai lịch của người này”. Đổng Cự Xuyên nói:“Vậy đại nhân tại sao tiến cử y?” Lý Vệ đỏ mặt, chỉ đành kể mọi chuyện ra, Đổng Cự Xuyên trầm tư không nói.

Lý Vệ nói: “Có gì không ổn?” Đổng Cự Xuyên trả lời: “Người này là dị nhân phong trần, tại sao y lại chịu làm vệ sĩ cho phủ nha?” Lý Vệ nghe thế trong lòng không vui, thầm nghĩ mình là đại thần được Hoàng đế tin dùng, là quan lớn của một tỉnh, làm vệ sĩ cho mình có gì thiệt thòi. Bởi vậy y mới nói: “Hiện nay Thánh thượng ngồi trên ngai vàng, Bốn biển yên bình, kỳ tài xuất hiện, bậc tài trí đương nhiên muốn xuất đầu lộ diện. Y đã là dị nhân phong trần, vậy đương nhiên phải ưu đãi y”. Tế rồi bảo Đường Long tới, đích thân rót cho ba chén rượu mời y uống. Đường Long nhận chén rượu trong tay Lý Vệ, đột nhiên lật cổ tay chộp lấy mạch môn của Lý Vệ giở lên, Cam Thiên Long rút trường kiếm đâm hai nhát vào bối tâm của y, những động tác ấy đều nhanh như điện chớp lửa xẹt, Đường Long trở tay trái đánh lại một chưởng, gạt rơi thanh kiếm của Cam Thiên Long, giở Lý Vệ quay một vòng, quát lớn: “Giang Nam đại hiệp Cam Phụng Trì ở đây, ai dám đến?”

Đổng Cự Xuyên kinh hãi, Cam Phụng Trì danh lừng hai miền Nam Bắc, tiếng tăm còn hơn cả Liễu Ân! Đổng Cự Xuyên đã từng nghe nói đến chàng ta, tại sao không nhận ra? Bọn vệ sĩ ùa tới nhưng ném chuột sợ bể đồ, không dám tiến tới gần. Vệ sĩ tổng quản Hứa Thành nói: “Nhà ngươi mạo danh Cam đại hiệp làm gì?” Đường Long giơ ống tay áo lên lau mặt, lập tức dung mạo thay đổi. Tám năm trước Hứa Thành đã từng gặp Cam Phụng Trì, lúc này nhận ra chàng ta, không khỏi luống cuống chân tay, vái dài nói: “Cam đại hiệp, tiểu nhân không biết ngài đến tỉnh thành, đã không nghênh đón từ xa, chả trách nào ngài nổi cáu. Mong ngài giơ cao quý thủ buông tệ chủ nhân xuống, tiểu nhân xin dập đầu”.

Cam Phụng Trì cười lạnh hì hì, lớn giọng quát: “Ai thèm nổi cáu với tên chó săn nhà ngươi, các ngươi hãy thả Thẩm Tại Khoan ra. Chúng ta một người đổi một người, nếu không ta vặn gãy cổ phủ đài đại nhân của các ngươi”. Hứa Thành nói: “Bẩm Cam đại hiệp, Thẩm Tại Khoan là do triều đình sai người bắt sống, không liên quan đến phủ đài đại nhân chúng tôi”. Cam Phụng Trì lại xoay Lý Vệ một vòng, trừng mắt nhìn Đổng Cự Xuyên nói: “Ồ, cao thủ phái Hình ý cũng trở thành thị vệ trong cung, thất kính, thất kính. Các ngươi tuy phụng chỉ bắt khâm phạm nhưng có lẽ cũng nên biết rằng, Lý Vệ là đại thần được Hoàng đế tin dùng, trong lòng Hoàng đế, Lý Vệ nặng ký hơn Thẩm Tại Khoan nhiều, đổi một tổng đốc với một thư sinh tay không tấc sắt, các ngươi cũng không thiệt thòi. Nếu không có mặt các ngươi ở đây mà ta giết đại thần, các ngươi dù lập công lớn bao nhiêu, Hoàng đế cũng trách tội, các ngươi hãy suy nghĩ kỹ đi”.

Đổng Cự Xuyên chớp mắt, khảng khái nói: “Được, Cam Phụng Trì, chúng ta sẽ thực hiện cuộc giao dịch này. Quân tử nói một lời xe bốn ngựa khó đuổi, ta trả Thẩm Tại Khoan cho ngươi, ngươi cũng không được động đến một sợi tóc của phủ đài đại nhân”. Cam Phụng Trì nói: “Đương nhiên”. Đổng Cự Xuyên kéo Hứa Thành bỏ chạy, Cam Thiên Long lúng túng, thầm nhủ: “Sao đại ca lại tự tiện chấp nhận, sau này biết ăn nói thế nào!”

Đổng Cự Xuyên kéo Hứa Thành chạy như bay, Hứa Thành cũng ngạc nhiên chẳng hiểu gì cả. Đổng Cự Xuyên thì thầm: “Hứa tổng quản, hãy tìm Lý tiểu thư, bảo rằng đại nhân sai ông đi mời nàng, đừng nói là đại nhân bị Cam Phụng Trì bắt”. Hứa Thành không hiểu dụng ý nhưng cũng chấp nhận. Một hồi sau quả nhiên Lý Minh Châu bước ra. Sau rèm còn có một nàng thiếu nữ.

Chính là:

Đổ mưa lật mây, liễu rậm hoa thưa.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 13: Đúng là tình si mười năm như một ngày Mấy phen ảo mộng suốt đời ở cấm cung

Hứa Thành là người thân tín của Lý Vệ, bình thường cũng hay vào nội đường nên Lý Minh Châu không nghi ngờ, chỉ vén rèm hỏi: “Cha gọi ta có chuyện gì?” nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Đổng Cự Xuyên lướt người lao bổ vào phòng trong. Nàng thiếu nữ ở phía sau né không kịp, chân phải tung ra một cú đá, Đổng Cự Xuyên đột nhiên thu người lại, gót chân xoay tròn, hai tay đẩy ra, nàng thiếu nữ đá hụt, chợt thấy chưởng phong quét vào, ống chân, vội vàng ngửa người ra sau tránh thế đánh của kẻ địch. Đổng Cự Xuyên không hề thâu thế, tay trái chụp vào cổ tay của kẻ địch, tay phải đấm vào mặt, thế công liên miên bất tuyệt, nàng thiếu nữ lạng người phất tay ra, hóa giải thế chưởng của Đổng Cự Xuyên, tay trái đấm về phía trước mặt, hóa giải quyền trái của kẻ địch, Đổng Cự Xuyên quát: “Trần Mỹ Nương, chồng của ngươi đã bị bắt, ngươi còn dám chống cử?”

Nàng thiếu nữ giật mình, Đổng Cự Xuyên trầm tay trái xuống, tay phải đánh vào huyệt Huyền Cơ giữa ngực của nàng thiếu nữ, thiếu nữ cả giận xoay người, hai chỏ tán ra phía trước và phía sau, thế đánh cực kỳ hung mãnh. Đổng Cự Xuyên biết chỉ dựa vào công lực của bản thân, tuy có thể thủ thắng nhưng phải trải qua một cuộc ác đấu, chỉ e sẽ trễ nãi mất nên ngay từ ban đầu đã dọa nàng ta để nàng ta rối loạn tinh thần, kế đó dùng loại thủ pháp khinh bạc dụ nàng nổi cáu, mà hễ nổi cáu tất sẽ sơ xuất, Đổng Cự Xuyên giơ tay trái đẩy vào cổ tay của kẻ địch, tay phải chụp vào huyệt Khúc Trì của nàng ta, Lý Minh Châu kinh hãi nói: “Hứa tổng quản, người này là ai? Tại sao vào phòng ngủ của ta bắt người?” Đổng Cự Xuyên cười nói: “Không bắt ả, cha của tiểu thư khó sống!” rồi bước sấn tới, cùng Hứa Thành tấn công nàng thiếu nữ kia.

Nàng ta tên gọi Trần Mỹ Nương, là vợ của Giang Nam đại hiệp Cam Phụng Trì. Võ công của Trần Mỹ Nương tuy kém Cam Phụng Trì rất nhiều nhưng cũng thuộc loại hiếm có trong giang hồ. Hai vợ chồng họ thích rong chơi đây đó, hành hiệp trượng nghĩa. Một tháng trước, họ đi theo gánh hát giang hồ đến Hàng Châu mãi nghệ. Vì Cam Phụng Trì quá nổi danh nên phải cải trang, đến Hàng Châu vừa khéo phủ đài Lý Vệ chúc thọ cho mẹ, gọi họ vào phủ nha biểu diễn, con gái của Lý Vệ quý mến Trần Mỹ Nương, thường gọi nàng vào phủ. Cam Phụng Trì chẳng có việc gì khác nên cũng ở lại. Càng ta muốn xem thử trong phủ nhà có những người tài nào nên tham giam cuộc tuyển vệ sĩ, khi Cam Phụng Trì đến Hàng Châu cũng liên lạc với Lộ Dân Đảm, Lữ Tứ Nương và Lộ Dân Đảm đuổi tới Hàng Châu, lập tức tìm Cam Phụng Trì nhờ chàng chỉ cách. Hôm nay gặp lúc Lý Vệ xem khảo thí, Cam Phụng Trì lộ thần kỷ, dùng thủ pháp Sấm sét bắt sống Lý Vệ. Nào ngờ Đổng Cự Xuyên biết có Cam Phụng Trì ở đây, đoán rằng nàng thiếu nữ kia chính là Trần Mỹ Nương nên thử vào nội đường, quả nhiên gặp phải.

Lại nói Cam Phụng Trì bắt Lý Vệ làm con tin, bọn vệ sĩ chẳng dám đến gần. Cam Phụng Trì nôn nóng, quát: “Tên lão tặc họ Đổng sao vẫn chưa quay lại?” nói chưa dứt lời dưới đường đã có người trả lời: “Cam đại hiệp đừng nóng nảy, ta tới đây!”

Đổng Cự Xuyên ba ngón tay nắm mạch môn của Trần Mỹ Nương, cười hì hì dắt nàng lên đường, Cam Phụng Trì thấy thế vừa kinh vừa giận. Đổng Cự Xuyên cười nói: “Đem phủ đài đại nhân trao đổi với hiền tẩu, chẳng phải hai bên đều không thiệt thòi sao?” Cam Phụng Trì tức đến nỗi thất khiếu bốc khói, nhưng dù thế nào chàng ta cũng phải chịu phép, thế rồi nghiến răng nói: “Được, ngươi trả nàng ra, ta trả phủ đài lại cho ngươi”. Đổng Cự Xuyên nói: “Đại hiệp không cần ngầm hạ độc thủ đấy nhé”. Cam Phụng Trì tức giận nói: “Giang Nam đại hiệp nói một không nói hai”. Đổng Cự Xuyên đẩy Trần Mỹ Nương về phía trước, Cam Phụng Trì cũng thả Lý Vệ ra. Lý Vệ chạy xuống bậc thềm, Trần Mỹ Nương chạy lên, lúc này trong nội đường có tiếng người quát tháo, bọn Ngự lâm quân đột nhiên bên trong phóng ra ngoài.

Lại nói Lý Minh Châu tận mắt chứng kiến Đổng Cự Xuyên bắt Trần Mỹ Nương, vừa kinh vừa giận, nàng không ngờ rằng thiếu nữ mãi nghệ chính là người tên tuổi lẫy lừng, thế là chạy vào phòng ngủ, đóng bình cửa phòng lại nằm khóc òa lên, tức tối vì vệ sĩ của cha nàng chẳng lễ phép với nàng. Đang khóc thút thít, cánh cửa tủ áo bật ra, một người chui ra, đó là một nàng thiếu nữ đẹp như thiên tiên, Lý Minh Châu ngẩn người ra, thiếu nữ mỉm cười: “Tiểu thư đang giận ai đấy? Nói tôi nghe, tôi sẽ có cách trả thù?” lời nói của nàng ta dịu dàng thân thiết, Lý Minh Châu hỏi: “Cô nương là ai?” thiếu nữ nói: “Tôi là tỷ muội của Trần tỷ tỷ”. Lý Minh Châu nói: “Tại sao tôi không thấy cô nương bước vào?” thiếu nữ trả lời: “Tôi nghe nói tiểu thư xinh đẹp tuyệt trần, tôi cũng muốn cùng Trần tỷ tỷ đến gặp cô nương, nhưng cô nương chỉ mời một mình Trần tỷ tỷ nên tôi chỉ đành lén vào đây”. Lý Minh Châu tính vẫn còn trẻ con, nghe nàng ta khen mình xinh đẹp thì rất thích, cười rằng: “Cô nương mới đẹp! Có phải cô nương mới vào gánh hát không?” nàng ta đáp: “Đúng thế! Trước đây tôi cứ tưởng mình rất đẹp, nay gặp tiểu thư mới biết tôi kém hơn rất nhiều!” Lý Minh Châu càng vui hơn, nghĩ rồi chợt hỏi: “Cô nương có cách gì báo thù cho tôi? Tỷ tỷ của cô nương đã bị bọn chúng bắt”. thiếu nữ nói: “Có phải bọn Ngự lâm quân ở kinh thành không?” Lý Minh Châu khẽ gật đầu: “Hình như là thế”. Thiếu nữ nói: “Vậy chúng ta cứ lén thả phạm nhân ra...” Lý Minh Châu kinh hãi nói: “Không được, cha sẽ mắng tôi”. Thiếu nữ cười nói: “Tiểu thư hãy nghe tôi nói, chúng ta âm thầm giấu đi, sau đó trao cho đại nhân, thế là phạm nhân vẫn ở trong phủ nha nhưng bọn Ngự lâm quân sẽ một phen mất mật. Ai bảo chúng không tôn trọng cha của tiểu thư, lại còn bức hiếp cả tiểu thư nữa?” Lý Minh Châu nói: “Nhưng chúng có người canh”. Thiếu nữ trả lời: “Chỉ cần cô nương dắt tôi vào nhà giam, tôi sẽ có cách”. Lý Minh Châu chỉ là thiếu nữ ngây thơ, chẳng biết trời cao đất dày, nàng cảm thấy việc này rất thú vị, vả lại cũng rất có thiện cảm với phạm nhân, thầm nhủ: “Mình giấu y để làm bạn, chắc chắn thú vị lắm. Tên phạm nhân này trông nho nhã, lại còn biết làm thơ nữa!” thế rồi mới nói: “Chúng ta đi”. Rồi lấy ra hai bộ quần áo nam nhân, nói: “Chúng ta hãy thay đồ”. Thiếu nữ khen: “Tiểu thư thật thông minh”. Chốc lát đã thay đồ xong, Lý Minh Châu dắt nàng đến nhà giam. Bọn vệ sĩ quát: “Ai đó?” Lý Minh Châu phát hoảng lên, chẳng nói ra lời.

Thiếu nữ nói: “Phủ đài đại nhân nghe nói khâm phạm bị bệnh, sai ta đến xem thử có nên mời đại phu hay không!” tên lính canh kêu ồ một tiếng rồi nói: “Sao phủ đài đại nhân biết?” thiếu nữ khẽ thúc vào người Lý Minh Châu, nói: “Ngươi quay về bẩm cáo với tổng quản, bảo ông ta đi mời đại phu. Ta vào xem thử”.lúc đầu Lý Minh Châu còn hăng hái, giờ thấy bọn vệ sĩ canh cửa nhìn mình như hung thần ác sát, bất giác lòng hoảng lên, chợt nhớ rằng giơ đây mình chẳng còn là thân phận thiên kim của phủ đài, nếu bị vạch trần thì chẳng phải sẽ mất hứng sao, nghe nàng thiếu nữ nói thế lập tức quay người, vẫy tay nói: “Ngươi xem khâm phạm xong hãy mau chóng đến tìm ta!” thống lĩnh Ngự lâm quân Tần Trung Việt kêu lớn: “Ai đó? Không được vào” Lý Minh Châu đã chạy ra. Bọn vệ sĩ canh cửa đưa tay chặn nàng thiếu nữ, thiếu nữ nói: “Phủ đài đại nhân muốn xem cũng không được sao?” tên vệ sĩ nói: “Đưa lệnh tiễn của phủ đài đại nhân đến đây!” nàng thiếu nữ mỉm cười, đưa tay búng một cái, điểm vào huyệt đạo của tên vệ sĩ, Tần Trung Việt ở bên trong nghe đánh sầm một tiếng, vội vàng nhảy ra, chỉ thấy một thiếu niên phóng tọt vào, giơ tay điểm vào hai mắt của y. Tần Trung Việt quát lớn: “Có thích khách!” thế rồi hạ bút đâm xéo ra, thân pháp của thiếu niên nhanh nhẹn lạ thường, chàng ta hạ người xuống, trong khi hai bút chưa hợp lại đã bước vào trung cung, chiêu thế không thay đổi, hai ngón tay trầm xuống, đâm thẳng vào huyệt Đương Môn trên ngực. Huyệt Đương Môn còn gọi là Huyết huyệt, là một trong chín tử huyệt của con người, Tần Trung Việt cả kinh né tránh không kịp, vội vàng lăn người xuống đất, phóng cây bút trên tay trái ra, chặn thế công của kẻ địch, thiếu niên ấy vung tay hớt cây bút, trở tay ném lại, đánh ngã một tên vệ sĩ vừa mới nhảy vào. Rồi chàng ta mau chóng đuổi theo, Tần Trung Việt bật người dậy, múa tít cây Phán Quan bút còn lại trong tay, sử dụng như ngũ hành kiếm chặn trước gạt sau. Bọn Ngự lâm quân bên ngoài cũng dồn vào. thiếu niên này thật lợi hại, chàng ta xoay người vọt một cái vượt qua hai tên Ngự lâm quân. Tần Trung Việt chợt giật mình, vội chạy thẳng đến phòng nhốt tù phạm, nào ngờ tiếng gió kêu lên vù vù, mắt hoa lên, chàng thiếu niên đã lướt qua đầu mình, đứng chặn trước cửa phòng, hai chưởng đẩy ra một vòng tròn, tay trái hất lên, tay phải đè xuống, Tần Trung Việt chặn cây bút lại, chàng thiếu niên đổi chưởng làm chỉ, một chỉ đâm vào huyệt Kỳ Môn, một chỉ điểm vào huyệt Tướng Đài, hai huyệt đạo này là Hôn huyệt, Tần Trung Việt vốn là kẻ giỏi đánh huyệt, thấy chàng thiếu niên này đánh huyệt quá nhanh, sợ đến nỗi toát mồ hôi lạnh, y vội vàng thối lui ra sau nào ngờ chẳng còn kịp nữa, vừa mới xoay người lưng đã thấy đau nhói, huyệt Tinh Túc ở be sườn trái đã bị điểm trúng. Huyệt Tinh Túc nằm ở giữa xương thứ hai và xương thứ ba từ trên đếm xuống, thuộc vùng tì vị, là một trong chín Á huyệt của con người, người bị điểm trúng toàn thân đã tê rần.

Sau khi đắc thủ, chàng thiếu niên kéo phạm nhân đứng dậy, khẽ gọi: “Thẩm ca ca!” Thẩm Tại Khoan khẽ rên rỉ, trả lời: “Không cần cứu ta!” chàng thiếu niên chính là Lữ Tứ Nương, nàng ta nghe Thẩm Tại Khoan vẫn còn có thể nói chuyện nên yên bụng. Thế là vác chàng ta lên vai, trong tay cầm thanh kiếm sáng loáng phóng ra ngoài!

Bọn Ngự lâm quân bên ngoài cửa chỉ quát tháo om sòm chứ chẳng thể nào cản nổi! Lữ Tứ Nương vọt thẳng ra đến đại đường. Cam Phụng Trì lớn tiếng reo, Đổng Cự Xuyên rất kinh hãi. Lý Vệ nói: “Mau chặn lại!” Đổng Cự Xuyên và Cam Thiên Long phóng lên. Cam Phụng Trì quát lớn một tiếng, dùng Đại Cầm Nã thủ chụp vào bối tâm của một tên vệ sĩ ném về phía hai người. Trần Mỹ Nương rút cây trủy thủ vượt qua mặt Cam Phụng Trì đâm về phía Đổng Cự Xuyên, Đổng Cự Xuyên giơ hai tay che mặt, tung chân phải đá về phía trủy thủ của Trần Mỹ Nương, Trần Mỹ Nương xoay người, Cam Thiên Long đâm tới một kiếm từ bên mặt, Trần Mỹ Nương trở trủy thủ lại gạt ra, Đổng Cự Xuyên xông lên, toan bắt sống Trần Mỹ Nương lần nữa. Chợt nghe vù một tiếng, Cam Phụng Trì lướt tới như mũi tên, hai tay phân ra, bốn cánh tay chạm nhau, Đổng Cự Xuyên lảo đảo suýt nữa đã té sầm xuống đất, thế là rút ra ba mũi Thấu Cốt đinh phóng vèo vèo, Cam Phụng Trì quát lớn một tiếng, tay trái tóm một tên vệ sĩ đẩy về phía trước, ba mũi độc đinh đều cắm phập vào người tên vệ sĩ, rồi chàng ta vung chưởng tiếp tục đánh về phía trước. Đổng Cự Xuyên vội vàng chạy lòng vòng, Lữ Tứ Nương đã chém được hơn mươi tên vệ sĩ xông ra nguyệt môn, quay đầu kêu: “Thất ca thất tẩu, chúng ta đi thôi!” Cam Thiên Long có võ nghệ tương đương với Trần Mỹ Nương, đang giằng co với nàng, bọn vệ sĩ cũng bao vây nàng vào ở giữa. Cam Phụng Trì trong chớp mắt đã đánh tan bọn vệ sĩ bao vây Trần Mỹ Nương. Cam Thiên Long kinh hãi, y vội vàng thối lui thì đã bị Trần Mỹ Nương đâm cây trủy thủ vào be sườn sâu đến ba tấc, rồi phóng ra ngoài. Bọn vệ sĩ trong phủ nha chưa bao giờ thấy cảnh như thế này, thế là vội vàng tản ra. Trong tiếng cười rộ, vợ chồng Cam Phụng Trì đã đuổi theo Lữ Tứ Nương, ba người đều phóng ra khỏi phủ nha.

Lữ Tứ Nương đến nhà Cam Phụng Trì, Trần Mỹ Nương dắt nàng vào phòng ngủ rồi mỉm cười lui ra, thuận tay khép hờ cửa lại. Lữ Tứ Nương đặt Thẩm Tại Khoan lên giường, khẽ nói: “Thẩm ca ca, muội đang ở bên cạnh huynh!” sắc mặt Thẩm Tại Khoan trắng bệt, hai mắt trợn trừng, thở dài nói: “Muội cứu huynh làm gì?” Lữ Tứ Nương thấy tim đập loạn lên, vội vàng mở áo ra xem, nhưng chẳng thấy có thương tích gì, nàng vừa mới buông tay Thẩm Tại Khoan đã bổ nhào xuống. Lữ Tứ Nương ghé tai lên ngực chàng lắng nghe, đưa tay khẽ vặn chân chàng, Thẩm Tại Khoan kêu ối lên một tiếng rồi nằm yên chẳng hề nhúc nhích. Lữ Tứ Nương kinh hãi, chỉ nghe Thẩm Tại Khoan nói: “Huynh đã trở thành phế nhân, muội cứu huynh cũng vô dụng”. Té ra Đổng Cự Xuyên rất xảo quyệt, sợ rằng có người cứu Thẩm Tại Khoan nên đã hạ độc thủ, dùng chưởng lực nội gia đánh đứt gân chi dưới của chàng ta, lại dùng âm lực đánh cho chàng bị nội thương, khiến chàng phải nằm liệt giường. Dù Hoa Đà tái thế cũng chẳng cứu nổi. Lữ Tứ Nương nghe như sấm nổ bên tai, hồn bay phách tán, nhưng vừa nhìn thấy ánh mắt thê lương tuyệt vọng của Thẩm Tại Khoan, nàng vội vàng trấn tỉnh, cứng rắn nói: “Sao lại vô dụng? Tại Khoan, huynh uổng là một bậc danh nho biết bao bậc đại nho tiền bối dù bị khiếm khuyết thương tật nhưng vẫn để lại danh tiếng cho muôn đời sau! Tại Khoan, chết thì dễ lắm, đại trượng phu phải sống trong gian khổ!” Lữ Tứ Nương nói xong thì rơi nước mắt.

Thẩm Tại Khoan nghe nàng khích lệ như thế, chợt thấy sức sống lại trở về, chàng ta nắm chặt tay Lữ Tứ Nương, Lữ Tứ Nương cũng rơi nước mắt, nhưng lúc này không phải là nước mắt tuyệt vọng, nước mắt ấy đã xua tan nỗi u oán trong lòng Thẩm Tại Khoan, chàng ta đã thấy ý nghĩa của cuộc sống.

Thẩm Tại Khoan nắm tay Lữ Tứ Nương rất lâu, rất lâu, khẽ nói: “Oanh muội, xin đa tạ”. Lữ Tứ Nương mỉm cười, nước mắt rơi lả chả trên mặt chàng. Thẩm Tại Khoan khẽ nói: “Có điều đã phụ tâm ý của muội”. Lữ Tứ Nương đưa mắt, nhìn chàng thắm thiết, quả quyết nói: “Tại Khoan, dù huynh bị tàn phế, nhưng tâm hôn của huynh vẫn khỏe mạnh! Huynh nói như thế có nghĩa coi muội là người ngoài”. Những câu nói ấy kiên định vô cùng, Thẩm Tại Khoan cảm động đến nỗi nghẹn lời. Một hồi sau, Lữ Tứ Nương lại nói: “Huống chi huynh chưa chắc mãi mãi tàn phế, chỉ cần huynh có nghị lực, muội có thể chỉ huynh phép thổ nạp, lúc huynh có thể tự dẫn khí huyết, lấy ý hành khí, huynh sẽ hoàn toàn hồi phục, lại còn khỏe mạnh hơn lúc bình thường”, Thẩm Tại Khoan nói: “Đó có phải là nội công không?” Lữ Tứ Nương nói: “Đúng thế, huynh bị người ta dùng nội công làm cho tàn phế, nên chỉ có tu luyện nội công mới chống cự lại được!” Thẩm Tại Khoan nói: “Phải mất bao lâu?” Lữ Tứ Nương nói: “Có lẽ phải đến mười năm”. Thẩm Tại Khoan nói: “Được, vậy thì rất hợp với ta”.

Trần Mỹ Nương đứng bên ngoài nghe tiếng khóc, khẽ mở cửa, Lữ Tứ Nương mở cửa kể lại mọi chuyện với vợ chồng Cam Phụng Trì. Trần Mỹ Nương nghe thế thầm than, nhủ rằng dạy một người tàn phế luyện tập nội công, mà người đó lại là một thư sinh chẳng có căn cơ võ công, trói gà không chặt, mười năm chưa chắc đã được, há chẳng phải đã uống phí tuổi thanh xuân của sư muội sao! Cam Phụng Trì nói: “Mười năm thì mười năm, có điều huynh e rằng sư muội không có nội tịnh tu”. Lữ Tứ Nương nói: “Sư đệ của Nhất Niệm đại sư là Nhất Phiêu hòa thượng, nội trong ngày nay sẽ di cư đến Tiên Hà, muội có thể dựng nhà cỏ bên cạnh, chăm sóc cho Tại Khoan”. Cam Phụng Trì nói: “Được, vợ chồng huynh đưa muội lên núi”.

Lữ Tứ Nương thuê một chiếc xe lừa, cải trang dung mạo rồi về quê, sau khi an tán cha già sẽ cùng Nhất Phiêu hòa thượng đến ẩn cư ở Tiên Hà lĩnh. Khi xuống núi Cam Phụng Trì nói với Lữ Tứ Nương: “Sau này chúng ta đấu với lão giặc trọc Liễu Ân, có lẽ phải nhờ sư muội giúp đỡ”. Lữ Tứ Nương nói: “Điều đó đương nhiên, trong thời gian tới muội cũng phải chăm chỉ rèn luyện kiếm pháp”.

Từ đó Thẩm Tại Khoan được Lữ Tứ Nương chăm sóc, tình hình ngày càng tiến triển, bất giác đã năm năm trôi qua.

Một buổi sáng sớm nọ, theo lệ thường Lữ Tứ Nương đến phòng Thẩm Tại Khoan, chưa vào phòng thì chợt thấy một mình chàng ta vịn vách tường đi lại, nàng mừng rỡ đẩy cửa bước vào. Thẩm Tại Khoan nói: “Đêm qua sau khi huynh tập hít thở, chợt thấy khí dồn tùng quang, thăng trầm lên xuống, hình như trong ngực có một vật gì đó có thể chuyển động lên xuống, huynh thử dùng lực đã có thể ngồi dậy, sáng nay huynh vịn tường đã đi từ giường đến án thư được ba vòng”. Lữ Tứ Nương nói: “Huynh đã tiến bộ thần tốc, xem ra không cần đến mười năm. Nhưng huynh mới học không nên quá cực nhọc, hãy lên giường nằm nghỉ”. Nàng chợt thấy trên bàn có mảnh giấy viết mấy hàng chữ, giận dỗi nói: “Huynh vừa mới khỏe một tí đã lao tâm làm thơ, muội phải phạt huynh”. Rồi cầm tờ giấy lên, Thẩm Tại Khoan vội kêu: “Muội muội, trả lại cho huynh!” chàng lảo đảo bước tới, bước chân không vững thế là té soài vào người Lữ Tứ Nương. Lữ Tứ Nương vội vàng đỡ chàng đến giường, chỉ thấy chàng đỏ ửng cả mặt, Lữ Tứ Nương đọc xong mấy dòng chữ ấy, té ra chẳng phải là thơ mà là một bài từ của tiền nhân, viết – điệu “Cán khê xa”, từ rằng: “Thùy đạo phiêu linh bất khả liên, kim lô đoạn tận tiểu triện hương, nhân sinh hà xứ tự tôn tiền? Kiến liễu hựu hưu hoàn tự mộng, tọa lai tuy cận viễn như thiên, đoạn lại năng hữu kỳ hồi trường?”

Lữ Tứ Nương thầm nhủ: “Té ra chàng ta vẫn còn nghi mình. Chàng yêu thương mình thắm thiết nhưng lại tự ti, sợ rằng mối nhân duyên tựa như hoa trong kính, trăng dưới nước, không dám thổ lộ chân tình với mình nên mới nói ‘kiến liễu hữu hưu hoàn tự mộng, tọa lai tuy cận vẫn như thiên’.” Thẩm Tại Khoan ngẩn ra nhìn nàng, Lữ Tứ Nương thở dài: “Ca ca ngốc, chả lẽ năm năm qua huynh không biết cho tâm sự của muội sao? Dù huynh thế nào, muội vẫn ở bên cạnh huynh”. Thẩm Tại Khoan bất giác rơi nước mắt, hai người nắm tay dịu dàng nhìn nhau. Trong lúc ngây ngất, chợt nghe Nhất Phiêu hòa thượng gọi ở bên ngoài.

Lữ Tứ Nương khẽ nói: “Huynh hãy nghỉ ngơi một lát, đừng nghĩ ngợi chi nhiều, muội đi ra một lát sẽ về”. Bước ra khỏi căn nhà, nàng thấy Nhất Phiêu hòa thượng đang đứng vẫy tay. Lữ Tứ Nương chạy tới, hỏi: “Đại sư gọi có việc gì?” Nhất Phiêu hòa thượng chỉ xuống chân núi, nói: “Cô nương xem kìa!” Lữ Tứ Nương nheo mắt nhìn, chỉ thấy một người từ dưới chân núi chạy lên nhanh như sao xẹt, lúc này đã đến lưng chừng núi, Nhất Phiêu hòa thượng nói: “Kẻ nào biết ta ẩn cư ở đây? Chẳng lẽ là bọn ưng khuyển của triều đình?” Lữ Tứ Nương cười lạnh: “Nếu là ưng khuyển của triều đình chắc chắn bọn chúng đã tìm đến cái chết”. Một hồi sau, bóng người ấy càng lúc càng hiện rõ, Lữ Tứ Nương ngạc nhiên nói: “Sao lại là y?” nói chưa dứt lời, người ấy đã nhảy vọt lên tới nơi, kêu lên: “Lữ tỷ tỷ, quả nhiên tỷ ở đây!” Lữ Tứ Nương mừng rỡ nói: “Đường Hiểu Lan, mấy năm không gặp mà ngươi đã lớn thế này”. Lữ Tứ Nương giới thiệu với Nhất Phiêu hòa thượng, Đường Hiểu Lan nói: “Lữ tỷ tỷ, đệ tìm tỷ đến khổ!” Lữ Tứ Nương nói: “Sao? Ai bảo cho ngươi biết?” Đường Hiểu Lan nói: “Cam đại hiệp. Nhưng ông ta lại không tin tôi. Lữ tỷ tỷ...” Nhất Phiêu hòa thượng thấy chàng ta nói chẳng đầu chẳng đũa, lại rất thân mật với Lữ Tứ Nương, lòng giật mình, nói: “Để ta vào pha trà cho các người”. Đường Hiểu Lan chờ Nhất Phiêu hòa thượng đi xong mới chợt nói: “Lữ tỷ tỷ, tỷ phải cứu đệ!” Lữ Tứ Nương ngạc nhiên nói: “Tại sao phải cứu đệ?” Đường Hiểu Lan nói: “Lữ tỷ tỷ, người ta đã vu oan cho đệ, chỉ có tỷ mới có thể cứu, tỷ có tin đệ không?” Lữ Tứ Nương dịu dàng cười nói: “Tiểu đệ, ta tưởng đệ đã lớn mà đệ vẫn cứ như trẻ con. Ai đã vu oan cho đệ?” Đường Hiểu Lan rung giọng nói: “Những người hiệp nghĩa trên giang hồ”. Lữ Tứ Nương ngạc nhiên nói: “Sao lại có chuyện như thế? Là ai đã cầm đầu?” Đường Hiểu Lan nói: “Chính là sư phụ trước đây của đệ, Thiết chưởng thần đạn Dương Trọng Anh”. Lữ Tứ Nương nói: “Còn ai nữa?” Đường Hiểu Lan nói: “Còn có Quan Đông tứ hiệp”. Lữ Tứ Nương nói: “Quan Đông tứ hiệp chẳng phải là bằng hữu của Châu Thanh hay sao?” Đường Hiểu Lan nói: “Họ vốn đối xử tốt với đệ, coi đệ như con cái”. Lữ Tứ Nương nói: “Vậy đệ hãy nói cho ta nghe thử”. Thế là Đường Hiểu Lan bắt đầu kể lại từ lúc theo Dịch Lan Châu lên Thiên Sơn. Đường Hiểu Lan nói: “Tỷ tỷ có còn nhớ đệ có hai điệt nữ song sinh rất dễ thương”. Lữ Tứ Nương cười nói: “Đúng thế, khi chúng ta mới gặp nhau ở Mang Sơn, Bát Tý Thần Ma cõng một đứa!” Đường Hiểu Lan nói: “Đó là cô chị tên là Phùng Anh”. Lữ Tứ Nương nói: “Sau đó Song ma lại cướp thêm một đứa trong tay Chung Vạn Đường nữa, có phải là đứa em hay không?” Đường Hiểu Lan nói: “Đúng thế. Nó tên là Phùng Lâm”. Lữ Tứ Nương nói: “Vậy có nghĩa là đôi chị em song sinh đều đã lọt vào tay Thần Ma song lão!” Đường Hiểu Lan nói: “Không phải, điều này thật kỳ lạ. Đệ theo Dịch tổ bà lên Thiên Sơn, người nói: ‘Ta đã bảo sẽ trả lại cho ngươi một đứa điệt nữ!’...” Lữ Tứ Nương chen vào nói: “Ta có nghe bà ta nói câu này ở nhà họ Niên. Có phải là bà ta nuôi dưỡng một đứa trẻ không?” Đường Hiểu Lan nói: “Không phải là nuôi dưỡng mà cướp về!” Lữ Tứ Nương ngạc nhiên nói: “Cướp của ai?” Đường Hiểu Lan nói: “Là cướp của Song ma! Số là trước khi Dịch tổ bà gặp đệ, đã từng đến miền Bắc. Ngày nọ đến trước phủ đệ của Tứ bối lạc, thấy Phùng Anh và Song ma chơi đùa, Dịch tổ bà vừa nhìn đã thích, bà tuổi đã già, dang muốn tìm một đồ nhi lanh lẹ, lúc đó bà cũng lấy làm lạ, một đứa trẻ dễ thương như thế sao lại đi cùng hai tên ma đầu? Vả lại xem ra bọn họ không phải cha con. Nhất thời nổi hứng nên lẻn vào phủ, hỏi ra mới biết hai tên ma đầu cũng cướp đứa trẻ này thế là cướp ngay Phùng Anh”. Lữ Tứ Nương cười nói: “Trong phủ Tứ bối lạc cao thủ nhiều như mây, chắc là Dịch lão tiền bối đã gây náo loạn ở đấy?” Đường Hiểu Lan tiếp lời: “Đệ đến Thiên Sơn, Dịch tổ bà gọi Phùng Anh ra gặp đệ”. Lữ Tứ Nương nói: “Khoan đã, khi Dịch tiền bối rời Thiên Sơn, ai chăm sóc cho nó?” Đường Hiểu Lan nói: “Là Võ lão tiền bối”. Lữ Tứ Nương nói: “Ồ, té ra Võ Quỳnh Giao vẫn còn sống” Đường Hiểu Lan nói: “Võ tiền bối rất mến Phùng Anh, suýt nữa đã giành với Dịch tổ bà”. Ngừng một hồi lại nói tiếp: “Đệ gặp Phùng Anh, nó nhoẻn miệng cười với đệ, bên má trái có lún đồng tiền, đệ nhớ nó chính là Phùng Anh, đang định gọi. Dịch tổ bà lại ngăn đệ. Sau đó mới nói rằng Phùng Anh đang luyện công phu cơ bản, tâm thân phải chuyên nhất, vả lại nó chỉ là đứa trẻ bảy tuổi, không thể cho nó biết thân thế” Lữ Tứ Nương nói: “Thế chuyện này có liên quan gì đến đệ?” Đường Hiểu Lan đang định lên tiếng, Lữ Tứ Nương chợt nói: “Thong thả!” rồi đứng dậy bước lên tảng đá.
Lữ Tứ Nương nói vọng xuống bên dưới: “Nhất Phiêu đại sư, một lát nữa tôi sẽ trở lại, không cần đợi tôi”. Rồi quay đầu lại ngắt một ít trái dại đưa cho Đường Hiểu Lan: “Đệ hãy ăn thử”. Mùi vị quả nhiên dịu ngọt, nồng nồng như có men rượu, Đường Hiểu Lan bất giác ngây ngất. Lữ Tứ Nương nói: “Chúng ta qua bên này ngồi, phong cảnh bên này đẹp hơn nhiều”. Đường Hiểu Lan đi theo Lữ Tứ Nương một hồi, chợt gặp một thác nước từ trên cao đổ xuống, tạo thành một đầm nước, Lữ Tứ Nương và Đường Hiểu Lan ngồi xuống, Lữ Tứ Nương nói: “Ta thích ngồi nơi này nghe tiếng nước”. Đường Hiểu Lan xốn xang cõi lòng nhưng thấy Lữ Tứ Nương nói rất thản nhiên, trong dịu dàng có nét đoan trang, khiến người ta không dám nhìn thẳng, chàng vội vàng định thần, ngồi xuống bên cạnh Lữ Tứ Nương, nói: “Đệ chịu ân lớn của Phùng lão sư ở Nhữ Châu, mười hai năm trước nhà ông ta gặp họa, chuyện đó chắc tỷ cũng biết, lúc đó đệ từng thề rằng phải cứu cho được điệt nữ trong tay của Thần Ma song lão, giờ đây đã tìm được Phùng Anh nhưng Phùng Lâm vẫn trong tay của bọn chúng. Nên đệ học kiếm thuật ba năm, xuống núi liền dò tìm tin tức của Phùng Lâm”. Lữ Tứ Nương nói: “Phùng Lâm ở trong phủ Tứ bối lạc, dù đệ bản lĩnh cao cường e rằng cũng khó được như mong muốn”. Đường Hiểu Lan nói: “Đúng thế! Nên sau đó mới gây ra chuyện. Cả đệ cũng không ngờ đến. Chuyện này cứ như một giấc mơ. Tỷ tỷ, tỷ đừng trách đệ, đệ coi tỷ như người thân nên mong tỷ hãy nghe kỹ”. Thế là Đường Hiểu Lan kể lại câu chuyện éo le ly kỳ mà mình đã trải qua.

Số là Đường Hiểu Lan rất cẩn thận, sau khi hạ sơn chàng không tìm ngay hai tên ma đầu. Chàng rong ruổi trên giang hồ, trước tiên đến bán đảo Liêu Đông, tìm Quan Đông tứ hiệp. Lúc này chàng đã là một thanh niên hai mươi tám tuổi, Quan Đông tứ hiệp lấy chàng đã lớn thành người, vui mừng lắm, Huyền Phong đạo trưởng nghe chàng sắp đến Bắc Kinh dò tìm Phùng Lâm, nói với chàng rằng: “Ta có một người quen tên gọi Cẩn Ngũ, khi nào đến Bắc Kinh cứ tìm y”. Đường Hiểu Lan cải dạng đến miền Bắc, vừa khéo Cẩn Ngũ đã ra ngoài. Đường Hiểu Lan chỉ đành trọ tại một ngồi chùa ở Tây Sơn, suốt ngày chẳng có việc gì làm nên đi thăm thú khắp nơi, một ngày nọ chàng mướn xe ngựa đến Nam Khẩu, leo lên Cư Dung Quan.

Vạn Lý Trường Thành từ Gia Dụ Quan đến Sơn Hải Quan, kéo dài hơn một vạn hai ngàn dặm, Cư Dung Quan băng qua Bát Đạt Lĩnh. Đường Hiểu Lan leo lên ngọn núi hiểm trở, chỉ thấy Vạn Lý Trường Thành kéo dài dằng dặc, tựa như một con trường xà. Quan thành Cư Dung Quan ở phía Bắc của Nam khẩu, hai bên là đỉnh núi nhỏ hẹp, trên núi hoa dại mọc um tùm, kết thành một bức tranh đẹp đẽ. Nơi đây chính là một trong Yên Kinh bát cảnh, Cư Dung Thúy Điệp. Đường Hiểu Lan ngắm một hồi lại đi qua những danh thắng như Lục Lan Ảnh, Mục Quế Anh điểm tướng đài, lên đến đỉnh cao của Bát Đạt Lĩnh, chỉ thấy có một vách núi có tạc hai chữ “thiên hiểm”, thế núi cực kỳ hiểm trở, Vạn Lý Trường Thành bắc qua sườn núi, Đường Hiểu Lan chợt bộc phát hào tình, leo lên trường thành cởi áo đón gió, cảm thấy đất trời rộng lớn bao la mà con người thì nhỏ bé.

Kiến trúc Vạn Lý Trường Thành rất hùng vĩ, trên tường thành có thể chứa năm con ngựa cùng phóng qua. Đường Hiểu Lan đứng trên trường thành đưa mắt nhìn ra xa, chỉ thấy thế núi trùng điệp vô tận, Cư Dung Quan nằm ở phía Bắc, Vạn Lý Trường Thành tựa như một con trường xà băng núi vượt đèo. Hôm ấy trời trong sáng, đứng trên tường thành có thể thấy thấp thoáng ngọn Bạch tháp ở Bắc Hải trong kinh thành. Đường Hiểu Lan thấy xung quanh không có người, chàng chợt nổi hứng tháo kiếm ra múa, đang lúc đắc ý chợt nghe có người khen: “Kiếm pháp hay!” Đường Hiểu Lan thất kinh, khi thâu kiếm lại nhìn không biết có một ông già đã đứng trên tường thành từ bao giờ. Đường Hiểu Lan nói: “Làm kinh động đến lão trượng, xin thứ lỗi”. Ông già cười bước tới, chợt hỏi: “Châu Thanh là người thế nào với ngươi?” Đường Hiểu Lan nào dám nói, chỉ đáp: “Vãn bối kiến thức nông cạn, xin hỏi ai là Châu Thanh?” Ông già nói: “Ồ, ngươi đang nghi ngờ ta? Khi ta quen biết với Châu Thanh, chỉ e ngươi vẫn chưa ra đời. Đưa kiếm của ngươi cho ta xem”. Châu Thanh là khâm phạm của triều đình, Đường Hiểu Lan không biết ông già là người thế nào, trong lòng lo lắng, thấy ông ta cứ bước dấn tới, không khỏi nổi cáu nói: “Tại sao phải đưa cho ông xem?” ông già chợt nói: “Nghe nói Châu Thanh đã chết, có phải không?”

Đường Hiểu Lan nói: “Nếu ông đã là bằng hữu của người, sao lại không biết?” ông già biến sắc, quát: “Ai đã giết ông ta, khai ra cho mau!” Đường Hiểu Lan nói: “Ông có phải là đương sai trong cung không?” ông già giãn nét mặt, chợt cười: “Nếu ngươi đã biết ta là vệ sĩ trong cung, vậy Châu Thanh chắc chắn đã từng nói với ngươi, hãy đưa thanh kiếm cho ta xem có phải là Du Long kiếm hay không!” Đường Hiểu Lan nói câu ấy chỉ là muốn dò thử, thấy ông ta thản nhiên nhận, thất kinh quát: “Té ra ngươi là ưng khuyển của triều đình, có bản lĩnh thì cứ đến lấy thanh kiếm này!” rồi chàng vung thanh kiếm lên, ông già chưng hửng, tựa như đã nổi cáu, quát: “Thật không biết trời cao đất dày!” Đường Hiểu Lan lo ông ta còn có đồng đảng, thế là đâm tới một nhát kiếm, ông già lách qua, quát: “Ngươi đúng là không biết tốt xấu!” Đường Hiểu Lan ra tay nhanh như chớp, chỉ trong nháy mắt đã tấn công liền năm chiêu, ông già không ngờ rằng kiếm pháp của chàng hiểm hóc tinh kỳ đến thế, không thể lên tiếng nói chuyện được với chàng, chỉ đành ngậm miệng vung chưởng. Một hồi sau, Đường Hiểu Lan càng đánh càng nhanh, khiến ông già luống cuống chân tay, ông già thầm thất kinh, nhủ rằng: “Sao kiếm pháp của tên thiếu niên này còn hơn cả Châu Thanh, chả lẽ mình đã nhìn nhầm, y không phải là kẻ mình muốn tìm”. Ông ta thối lui từng bước, Đường Hiểu Lan nổi lên sát cơ, đuổi sát theo sau, ông già chợt quát lớn, rút một thanh kiếm trong eo ra, chỉ nghe keng một tiếng, cây kiếm của ông già chập vào với cây Du Long kiếm, đánh một chiêu Thừa Long Dẫn Phụng, đẩy kiếm của Đường Hiểu Lan ra ngoài. Đường Hiểu Lan thất kinh, vội vàng thừa thế đẩy về phía trước, hóa giải thế kiếm ấy rồi chém soạt soạt vào kiếm của ông già, thân pháp của ông ta phiêu hốt, kiếm chiêu vô định, không để cho kiếm của Đường Hiểu Lan chạm vào, khi không né tránh được thì dùng phương pháp lấy nhu khắc cương hóa giải thế công của chàng. Đường Hiểu Lan theo Dịch Lan Châu học được ba năm, kiếm pháp thi triển ra nhanh như điện chớp, công lực của ông già cực kỳ cao cường, kiếm pháp tuy không bằng chàng nhưng chưa đến nỗi thất bại. Kiếm pháp của Đường Hiểu Lan tinh kỳ nhưng nội lực kém người ta, đấu được một trăm chiêu mồ hôi đã toát đầm đìa. Chàng rất lo lắng, không ngờ rằng mình học được Thiên Sơn kiếm pháp mà chẳng hạ nổi ông ta.

Đường Hiểu Lan không biết rằng, nếu chẳng phải chàng theo Dịch Lan Châu học ba năm kiếm pháp đã sớm thất bại. Đấu một hồi nữa, kiếm thế của Đường Hiểu Lan tuy vẫn không hề chậm lại nhưng đã dần dần cảm thấy hơi thở nặng nề. Đang lúc ác đấu, chợt nghe dưới tường thành có người kêu: “Hầu lão gia tử, ông đang đùa với ai thế?” Đường Hiểu Lan biết đó là đồng đảng của ông già, nghĩ bụng ba mươi sáu kế chạy là thượng sách, thế là đâm soạt soạt mấy kiếm mạnh như mãnh sư, rõ ràng là tấn công gấp tới nhưng thật sự là bỏ chạy, trong lúc ông già chống trả, Đường Hiểu Lan đã lách người bỏ chạy, ở dưới chân thành có mấy người đã chạy lên trên đầu thành, trong lúc gấp gáp Đường Hiểu Lan quay đầu lại nhìn, quả nhiên thấy những kẻ ăn mặc theo kiểu vệ sĩ, chàng càng chạy càng nhanh, được khoảng hơn mười dặm mới ngừng chân, lúc này đã đến gần Cư Dung Quan, trên Cư Dung Quan cũng có binh lính, Đường Hiểu Lan nhảy xuống tường thành, lẩn vào trong núi cho đến hoàng hôn mới dám trở về.

Đường Hiểu Lan lo lắng mấy ngày, may mà chẳng có chuyện gì xảy ra. vì thế lại đến nhà Cẩn Ngũ hỏi thăm, té ra Cẩn Ngũ đã về mấy ngày trước. Đường Hiểu Lan lấy ra bức thư của Huyền Phong đạo trưởng đưa cho Cẩn Ngũ. Cẩn Ngũ nói: “Trong hoàng phủ có nhiều người làm, tiểu huynh đệ cứ lẩn vào cải trang thành kẻ nô bộc. Không cần cho tổng quản biết, chỉ nói với viên chấp sự là được”. Đường Hiểu Lan thầm nhủ cứ tìm cơ hội dắt Phùng Lâm đi cũng được, vì thế nhờ Cẩn Ngũ tìm cho mình một chân nô bộc quét vườn.

Phủ đệ của Tứ bối lạc không nằm trong Tử Cấm thành, vốn là thần miếu để hoàng thất nuôi dưỡng Lạt Ma, nay Tứ bối lạc chiếm một nửa làm nơi ở, sau khi Tứ bối lạc lên ngôi, đổi thành thiền viện của Hoàng giáo, được ban tên là Ung Hòa cung, là một nơi bí hiểm có tiếng trong kinh thành. cung điện này rất rộng, đền đài hùng vĩ. Vườn hoa rất lớn, cây cối cao chọc trời. Đường Hiểu Lan vào hoàng phủ, chỉ thấy khắp nơi đều là những tượng Phật kỳ lạ. Làm việc được nửa tháng mà chàng chẳng thấy Phùng Lâm, cả Liễu Ân, Cáp Bố Đà và Thần Ma song lão cũng không thấy xuất hiện.

Một chiều nọ, Đường Hiểu Lan làm xong công việc, vốn cùng Cẩn Ngũ trở về nhà, chợt nghe hậu viên có tiếng cười của thiếu nữ, chàng len lén vào nhìn thì thấy có mấy đứa trẻ đang chơi trốn tìm trong vườn, trong đó có một bé gái khoảng mười hai mười ba tuổi, thân pháp rất lanh lẹ, bọn trẻ không thể nào bắt được cô bé, Đường Hiểu Lan nhìn một hồi, cô bé chơi rất vui, cứ cười khanh khách không thôi, ở má phải có lún đồng tiền trông rất xinh xắn. Đường Hiểu Lan đợi một hồi, bọn trẻ nói: “Không bắt được ngươi, không chơi với ngươi nữa”. Trời dần dần tối, bọn trẻ tản đi, Đường Hiểu Lan nhẹ nhàng đến bên cạnh nó, chợt nói: “Phùng Lâm, muội có còn nhớ Chung bá bá không?” đứa bé gái tròn mắt hỏi: “Ngươi nói gì? Ai là Phùng Lâm? Ai là Chung bá bá, ta có rất nhiều bá bá nhưng không ai họ Chung cả, có phải Chung bá bá mới đến không?” Đường Hiểu Lan thấy lòng đau nhói, thầm nhủ: “Khi Chung Vạn Đường chết, đứa trẻ này chỉ có bảy tuổi, làm sao có thể nhớ được chuyện gì”. Vì thế mới nói: “Muội đừng sợ, ta và cha của muội là hảo bằng hữu”.

Phùng Lâm nói: “Ta có nhiều nghĩa phụ, ngươi là hảo bằng hữu của ai?” Đường Hiểu Lan nói: “Cha mẹ ruột của muội muội”. Phùng Lâm nói: “Ta còn có cha mẹ ruột? Ngươi nói dối!” Đường Hiểu Lan nói: “Cha của muội bị người ta hại chết, mẹ của muội vẫn chưa chết. Khi còn bé ta đã từng bé muội, ta dắt muội ra ngoài học võ công, tìm mẹ của muội”. Phùng Lâm bật cười, nói: “Ngươi dắt ta ra ngoài? Học võ nghệ? Hừ, ngươi chính là kẻ xấu!” rồi vung tay, mấy mũi phi đao bay vút ra!

Đường Hiểu Lan xoay người, một mũi phi đao lướt qua hông chàng, Đường Hiểu Lan đột nhiên giơ ngang hai ngón tay, kẹp mũi phi đao thứ hai ném ra ngoài đánh rơi mũi thứ ba, Phùng Lâm vỗ tay nói: “Hay lắm, ngươi hãy thử tiếp xem sao, nếu tránh được cả, ta sẽ gọi ngươi là bá bá, học võ công của ngươi!” rồi bàn tay nhỏ nhắn tiếp tục vung lên, sáu mũi phi đao chia thành ba nhóm bay tới, bay được nửa đường đột nhiên tách ra hai bên trái phải, đó là tuyệt kỹ phi đao của Chung Vạn Đường, Phùng Lâm đã được ông ta chân truyền, Đường Hiểu Lan vốn muốn dùng tay không tiếp đao nhưng không thể nào để mắt nhìn xung quanh, chỉ nghe soạt soạt hai tiếng, hai mũi phi đao bay lướt qua tai chàng. Phùng Lâm vung tay liên tục, phi đao bay ra liên tiếp, càng lúc càng nhanh, Đường Hiểu Lan buộc phải rút thanh Du Long kiếm quét tạt ngang một cái, chỉ nghe tiếng kim khí gãy leng keng, toàn bộ số phi đao của Phùng Lâm đã bị Du Long kiếm chặt gãy. Ngay lúc này, chợt nghe hai tiếng hú dài quái dị, có người quát: “Ai làm càn ở đây?” Phùng Lâm kêu: “Tát bá bá, kẻ này bảo điệt nữ theo y!”Đường Hiểu Lan phóng vọt người lên, định lao qua tường, ở trên tường chợt có một bóng đen phóng xuống, mười ngón tay từ trên không chụp xuống, Đường Hiểu Lan vội vàng lia kiếm đánh ra một chiêu, rồi xoay người nhảy bổ về phía Phùng Lâm, chợt lại nghe một tiếng quát lớn, Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô đã chặn đường chàng. Phùng Lâm nấp sau lưng Tát Thiên Đô, tay cầm sẵn phi đao, miệng thì cười hì hì.

Kẻ từ trên tường nhảy xuống là Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích, cả hai huynh đệ kẹp Đường Hiểu Lan ở giữa, Tát Thiên Thích cười ha hả: “Đường Hiểu Lan, té ra là ngươi! Ngươi muốn đến đây bái sư ư?” Phùng Lâm nói: “Không phải, y muốn điệt nữ đi theo. Y nói sẽ dạy võ công cho điệt nữ!” Tát Thiên Đô quát: “Hay lắm, xem thử ngươi có cao chiêu gì?” rồi hai chưởng vung lên bổ thẳng tới, chưởng trái chém vào ngực, chưởng phải chụp vào cổ tay của chàng, Đường Hiểu Lan lia thanh kiếm nhanh như gió, Tát Thiên Đô không ngờ rằng kiếm pháp của chàng lại lanh lẹ đến thế, y vội vàng rút chưởng lại. Đường Hiểu Lan vẫy mũi kiếm, vạch một đường trên vai của y, Tát Thiên Thích vội vàng thi triển thuật Miêu Ưng Phốc Kích phóng vọt người lên rồi bổ nhào xuống, Đường Hiểu Lan vẫy ra một đóa kiếm hoa, múa thành một đường ngân hồng che trên đỉnh đầu, Tát Thiên Thích xoay người trên không trung, chao liệng ba vòng mà chẳng tấn công được, chỉ đành hạ xuống đất. Tát Thiên Đô gầm lên như sấm, vung quyền đánh tới. Đường Hiểu Lan đâm soạt soạt hai kiếm về phía hai tên ma đầu, Tát Thiên Thích quát: “Kiếm pháp hay!” rồi trở tay chụp lại, mười móng tay chụp vào cổ tay của Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan đánh ra một chiêu Thu Thủy Hoành Châu, chém ngang qua, Tát Thiên Thích chợt đổi hướng chụp vào sườn trái, hai chưởng của Tát Thiên Đô cũng bổ tới trước mặt. Đường Hiểu Lan vung thanh kiếm, vội thi triển Hàn đào kiếm pháp trong Thiên Sơn kiếm pháp ra, chỉ thấy lãnh điện sáng loáng, kiếm hoa tuôn ra như thác đổ, Tát Thiên Thích luồn qua lách lại trong màn kiếm quang, tìm cách tấn công Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan không nhảy ra được, Tát Thiên Thích cũng không thể sấn tới gần. Tát Thiên Đô đứng bên ngoài phát chưởng, chưởng nào cũng có kình lực mạnh mẽ, chưởng phong kêu lên vù vù, mỗi chưởng đều khiến mũi kiếm của Đường Hiểu Lan đánh lệch qua, tạo cơ hội cho Tát Thiên Thích tấn công vào. Kiếm chiêu của Đường Hiểu Lan tuy thần diệu nhưng công lực lại không sâu, chỉ trong chốc lát đã khó cầm cự, Tát Thiên Thích nhe nanh múa vuốt, càng đánh càng hung dữ!

Phùng Lâm vỗ tay cười: “Không biết xấu hổ, bản lĩnh như thế mà cũng đòi là sư phụ của ta”. Đường Hiểu Lan quát: “Phùng Lâm, hai người này là kẻ thù của muội, dù y giỏi đến mức nào muội cũng không được nhận giặc làm cha!” Đường Hiểu Lan thấy mình nguy hiểm, khó thoát ra được, bởi vậy mặc cho Phùng Lâm vẫn chưa hiểu việc, cũng phải nhắc nhở cô bé. Tát Thiên Thích chợt biến sắc, nói: “Yến nhi, đừng nghe y nói”. Rồi tung đòn càng hung dữ hơn, Đường Hiểu Lan sấn tới mấy lần đều bị y đẩy trở lại, xem ra sắp nguy tới nơi. Tát Thiên Thích quát: “Còn chưa buông kiếm đầu hàng!” Đường Hiểu Lan nghiến răng, múa kiếm cố tấn công. Lúc này người trong hoàng phủ đã bị kinh động, kéo ùa ra hậu viên, xem hai lão ma đầu bắt thích khách. Cẩn Trung thầm kêu khổ, đang định chạy trốn, chợt nghe bên ngoài có tiếng quát: “Mọi người dạt qua hai bên”, một đám người bước vào. Kẻ đứng đầu quát: “Cáp tổng quản của các người đâu? Bảo Dận Trinh đến gặp ta”. Tát Thiên Thích nhảy vọt ra khỏi vòng, Đường Hiểu Lan không thể rút lui được nữa.

Kẻ dẫn đầu là con trai trưởng của Hoàng đế Khang Hy, Trực Quận vương Dận Đề. Tuy Khang Hy chưa lập bị quân, nhưng trong đám hoàng từ, Dận Đề có quyền uy lớn nhất. Lúc đó cuộc tranh đoạt ngôi vị đang diễn ra rất kịch liệt, thế lực của Tứ bối lạc Dận Trinh, Bát bối lạc Dận Tự, Thập bối lạc Dận Nga, Thập tứ bối lạc Dận Đê là lớn nhất. Dận Đề là con trưởng, đương nhiên không chịu buông ngôi vua nên cũng cấu kết với một đám quần thần, nuôi một đám tử sĩ. Tứ bối lạc thưởng cải trang xuất kinh, ngày Đường Hiểu Lan vào kinh là lúc Tứ bối lạc ra ngoài nên Cáp Bố Đà, Liễu Ân và bọn Thiên Diệp cũng theo y. Tứ bối lạc tự tiện xuất kinh vốn là chuyện tuyệt mật, không ngờ Dận Đề lại biết.

Bối lạc tự tiện xuất kinh là chuyện phạm pháp. Tứ bối lạc Dận Trinh mỗi lần xuất kinh đều báo với vua cha mình bị bệnh. May mà Khang Hy có nhiều con cái, vả lại chẳng thương yêu gì Tứ bối lạc, rất ít khi triệu vào cung dù đôi khi triệu y vào cung, nghe y bệnh cũng thôi. Nên Tứ bối lạc ngày càng lớn gan, ở ngoài thì nhiều mà ở trong cung thì ít. Lần này Dận Đề điều tra được Dận Trinh tự tiện xuất kinh, vậy là nảy ra một kế, đích thân đến bái phỏng. Vào đến hoàng phủ nghe có tiếng quát tháo, y rất ngạc nhiên nên vào hậu viên xem.

Tát Thiên Thích vừa thấy thì luống cuống, vội vàng bẩm: “Tứ điện hạ bị bệnh không ngồi dậy nổi, không thể đích thân tiếp điện hạ”. Dận Đề nói: “Ta phải đi thăm hắn”. Rồi ra lệnh cho Tát Thiên Thích dẫn đường, Tát Thiên Thích nói: “Để tôi bắt tên thích khách này trước”. Dận Đề chợt quay lại một tên vệ sĩ bên cạnh, nói: “Hầu Tam Biến, ngươi hãy bắt tên thích khách này”. Rồi vẫn nói với Tát Thiên Thích: “Không cần ngươi nhọc sức, dắt ta đi gặp Dận Trinh”. Tên vệ sĩ bên cạnh Dận Đề vâng một tiếng, phóng vọt ra, Đường Hiểu Lan ngẩng đầu nhìn lên thì thất kinh, người đó chẳng phải ai khác mà chính là lão già mà chàng đã gặp trên Vạn Lý Trường Thành. Lúc này Đường Hiểu Lan đã nhụt chí, thầm nhủ: “Dù sao cũng chạy không thoát, rơi vào trong tay lão ta còn hơn lọt vào trong tay hai tên ma đầu”. Chàng đánh hờ vài chiêu, Hầu Tam Biến thi triển Đại Cầm Nã thủ nhấc bổng chàng lên.

Dận Đề nói: “Được, ngươi giải thích khách về trước”. Té ra Dận Đề nghi ngờ thích khách này có liên quan đến chuyện đoạt vị giữa các huynh đệ nên không giao chàng ta cho người của phủ Dận Trinh mà bảo Hầu Tam Biến giải về trước để đích thân thẩm vấn.

Dận Đề lại quát Tát Thiên Thích dẫn đường, Tát Thiên Thích nói: “Tôi chỉ là một vệ sĩ, làm sao dám tự tiện bước vào nội phủ”. Dận Đề chợt biến sắc.

Ngay lúc đó, một bé gái ở phía sau lưng Tát Thiên Đô lách ra, nói: “Điện hạ, tôi dẫn đường cho ngài”. Dận Đề nói: “Ngươi là ai?” Phùng Lâm nói: “Tôi là tì nữ hầu hạ tứ điện hạ”. Dận Đề nói: “Được, ngươi rất ngoan ngoãn, đi thôi”. Phùng Lâm nháy mắt với Tát Thiên Thích, dắt Dận Đề vào nội phủ.

Hầu Tam Biến bắt Đường Hiểu Lan, vội vàng phóng ra ngoài, bọn thái giám đã thắng sẵn xe ngựa, chạy thẳng vào cấm thành. Dận Đề là trưởng tử nên được sống trong cung. Xe ngựa chạy một hồi, vào cung từ Thần Võ môn ở phía sau. Sau khi xuống xe, hai thái giám đi ở phía trước, Hầu Tam Biến kẹp Đường Hiểu Lan đi phía sau, đi được một lúc lâu trời đã tối, các cung đều đã đóng cửa, trong vườn chỉ có bọn thái giám đi tuần. Dận Đề sống trong cung Thừa Càn ở phía Đông. Ba mươi sáu cung điện ở phía Tây là nơi ở của Hoàng đế và hậu phi, nếu chưa được gọi vệ sĩ và gia nhân của các bối lạc không được vào, đi được một hồi, đã đến nơi giao giới giữa hai cung Đông Tây, Hầu Tam Biến chợt khẽ nói vào tai Đường Hiểu Lan: “Ngươi mau chạy vào Tây cung, vượt qua hộ tường, tiếp tục chạy về phía Bắc khoảng hai trăm bước có một hòn non bộ, vòng qua hòn non bộ có một hồ sen, tiếp tục đi về bên trái của hồ sen năm mươi bước sẽ có căn nhà đá, ngươi đẩy cửa vào đấy, thấy người không được sợ, đảm bảo ngươi sẽ thoát hiểm!” nói xong thì đột nhiên buông tay, quát: “Ôi chao, tên thích khách thật lợi hại!” rồi rút thanh kiếm đâm mạnh vào chân mình, hai tên thái giám quay đầu lại, Đường Hiểu Lan đã phóng vọt lên tường, chạy vào Tây viện.

Đường Hiểu Lan thấy tim mình đập thình thình, không biết tại sao Hầu Tam Biến lại tha cho mình nhưng chàng đã sa cơ, chỉ đành đi theo lời y. Hoàng cung rất lớn, Đường Hiểu Lan vượt qua hộ tường, phóng vào vườn hoa, chạy tiếp về phía Bắc hai trăm bước, quả nhiên thấy có một hòn non bộ, chàng chạy vòng qua hòn non bộ thì đúng là có một hồ sen, Đường Hiểu Lan lại tiếp tục đi về phía bên trái năm mươi bước, tìm thấy căn nhà đá. Trong cung điện huy hoàng, chỉ có căn nhà đá này là xấu xí nhất, chàng bước tới cửa, chỉ thấy cõi lòng lạnh lẽo, trước mái toàn là tơ nhện, nghĩ bụng bình thường rất ít người tới. Đường Hiểu Lan đẩy cửa tiến vào, bước lên bậc tam cấp, chợt nghe bên trong có giọng nói yếu ớt: “Ai thế?” Đường Hiểu Lan đẩy cửa phòng ra, chợt thấy có một phụ nữ tóc bạc, người gầy đét đang gãy đàn dao. Thấy Đường Hiểu Lan bước vào thì trợn mắt lên.

Đường Hiểu Lan nói: “Hầu Tam Biến bảo tôi đến đây!” người đàn bà kêu ồ một tiếng, mắt chợt sáng lên, nhìn chằm chằm Đường Hiểu Lan, cơ mặt cứ dần giật, hai dòng nước mắt tuôn dài, Đường Hiểu Lan tựa như cảm thấy đã gặp người đàn bà này ở đâu đấy, cõi lòng thấy lạnh lẽo.

Người đàn bà nhìn một hồi, khẽ nói: “Ngươi ngồi xuống đây!” giọng nói tuy nhỏ nhưng tựa như có một sức mạnh không thể chống cử nổi. Đường Hiểu Lan ngồi xuống, lại nghe bà ta khẽ nói: “Cởi áo ra!” Đường Hiểu Lan thất kinh, người đàn bà nói: “Ta bảo ngươi cởi áo, ngươi hãy nhìn thử xem ở trước ngực ngươi có một nốt ruồi đen rất lớn, hai bên vú ngươi có hai nốt ruồi đen nhỏ thành hình chữ “phẩm”, ngươi tự sờ thử xem có đúng không?” Đường Hiểu Lan càng thất kinh.

Chính là:

Thân thế như chim bao, thâm cung gặp chuyện lạ.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 14: Ảo mộng trần duyên thâm cung giấu hận sự Phiêu linh gặp người một kiếm lên Tiên Hà

Đường Hiểu Lan thất kinh, sao người đàn bà này lại biết rõ ràng như thế. Chàng rung giọng nói: “Không cần cởi nữa, trên người tôi đúng là có ba nốt ruồi”. Người đàn bà nói: “Có phải nghĩa phụ của ngươi tên Châu Thanh không?” Đường Hiểu Lan càng thất kinh, đáp: “Đúng thế”. Người đàn bà chợt khóc òa lên: “Con ơi, con lớn đến thế này sao!” Đường Hiểu Lan nhảy bật dậy: “Cha mẹ tôi đã chết sớm, bà... bà...” chàng vốn muốn nói: “Bà điên rồi sao?” nhưng nhìn ánh mắt thân thương của bà ta chàng không thể nói ra lời.

Người đàn bà chưng hửng, chợt lau nước mắt, cười thảm nói: “Chả trách gì con chẳng biết. Con ngồi xuống đây”. Đường Hiểu Lan lại ngồi xuống. Người đàn bà nói: “Con tưởng rằng cha ruột của con là Đường Vạn Anh sao?” Đường Hiểu Lan nói: “Không phải ông ta thì là ai?” người đàn bà nói: “Là đương kim Hoàng thượng!” Đường Hiểu Lan tựa như bị giáng một gậy, chàng chẳng thể nào nín nhịn nổi, nhảy bật dậy: “Bà nói bậy!” người đàn bà nói: “Con hãy ngồi xuống, nghe ta nói. Có một người cha làm Hoàng đế tuy không tốt lắm nhưng dẫu sao ông ta cũng là cha của con, ta không còn sống được bao lâu nữa. May mà ông trời cho chúng ta gặp lại, ta không thể để cho con mù mờ một đời. Con đừng nhìn ta, con hãy ngồi xuống đây!” nghe ta nói, nghe ta nói!” Đường Hiểu Lan ngồi xuống: “Được, bà hãy nói đi”.

Người đàn bà nói: “Hơn ba mươi năm trước, lúc đó ta chỉ mười sáu tuổi, cả nhà ta sống ở Tây Môn. Ta đã đính hôn, vị hôn phu tên Chúc Gia Thụ, là một quan sai nho nhỏ trong nội vụ, lúc đó Châu Thanh vẫn còn là vệ sĩ trong cung, ba người họ đều là bằng hữu tốt. Ta bị chọn làm tú nữ, nhà nghèo không có tiền đút lót, ta bị đẩy vào trong cung. Lúc đó ta chỉ muốn chết cho xong, nhưng Gia Thụ nói: “Cứ mười năm cung nga sẽ được đào thải một lần, chỉ cần giữ thân trong cung, mười năm sau lớn tuổi, Hoàng thượng sẽ khai ân cho về nhà lấy chồng. Ta nghĩ có nhiều tú nữ vào cung, chỉ cần ta không xuất đầu lộ diện, Hoàng đế cũng chưa chắc chú ý đến ta. Gia Thụ cũng nguyện cho ta mười năm. Nếu ta chết đi há chẳng phải phụ lòng ông ấy sao, thế là ta vào cung.

Vào cung được năm năm, ta chưa từng thấy mặt Hoàng đế, lúc rảnh rỗi ta học gãy đàn, có ngày nọ ta đàn tiểu điệu Giang Nam, nhà chúng ta từ Giang Nam di cư đến Bắc Kinh, từ nhỏ ta đã nghe quen tiểu điệu này. Trùng hợp ngay lúc đó Hoàng đế đi ngang qua nghe tiếng đàn của ta rất thích, đêm ấy đã triệu hành ta. Lúc ấy ta muốn chết cũng không thể chết nổi. Bởi vì phàm những cung nga hậu phi trong cung nếu tự sát thì sẽ liên lụy đến cửu tộc, ta chỉ đành gắng gượng sống cho qua. Lúc đó Châu Thanh đã làm phản, Hầu Tam Biến có lúc hầu hạ Hoàng đế, thường vào nội đình, ta nhờ ông ta báo với Gia Thụ tìm người con gái khác, đừng đợi ta nữa. Nào ngờ Gia Thụ vẫn si tình, hôm sau đã bỏ chức quan, sau đó mới biết ông ta đi tìm Châu Thanh, từ đó không biết ông ta đi đâu nữa, Châu Thanh cũng không gặp ông ta.

Một năm sau con ra đời. Lúc đó Hoàng thượng đã có mười bốn bối lạc, việc lập bị quân đã bắt đầu nổi lên. Theo quy định trong cung, vốn là không cho phép lập Hán nữ làm phi, từ sau khi xảy ra chuyện giữa tiên đế với Đổng Ngạc phi, quy củ càng ngặt nghèo hơn. Các quý phi khác ghen tị với ta, đã nói lời dèm pha trước mặt Hoàng hậu, đầy ta vào lãnh cung, lại còn mưu sát con!”

Đường Hiểu Lan kinh hãi, kêu ồ một tiếng hỏi: “Vậy Hoàng đế có biết không?” người đàn bà cười thảm nói: “Trong cung phi tần đâu chỉ ngàn người, những người được ông ta triệu hạnh cũng chẳng biết bao nhiêu, Hoàng đế nào nhớ đến ta. Ta cũng chẳng rõ ông ta có biết Hoàng hậu đày ta vào lãnh cung hay không”. Đường Hiểu Lan chỉ thấy cõi lòng lạnh như băng, chàng rùng mình khẽ nói: “Thế là người ở lãnh cung hơn hai mươi năm”. Người đàn bà gật đầu: “Ta cũng đã quen. Lúc đầu có người canh giữ, không cho ta bước ra khỏi gian nhà đá này, lâu ngày Hoàng hậu chết đi, ta cũng già, chẳng ai để ý đến ta nữa. Vì thế họ để cho ta tự sinh tự diệt, mỗi ngày đều có người đưa hai bữa cơm, ngoài ra chẳng ai để ý đến ta, ta có thể đi lại tự do trong vườn, nhưng ta đã quen ở lãnh cung. Hàng ngày ta cứ ngồi trong căn nhà này chờ chết!” Đường Hiểu Lan không kìm được nữa, ôm chặt lấy mẹ, khẽ nói: “Khổ thân cho mẹ!”

Người đàn bà thở dài, khẽ vuốt tóc con trai, từ tốn nói: “Quen rồi, quen rồi, nước mắt cũng cạn khô. Không biết là có phải vì nhớ đến con hay không mà mẹ sợ mình chết sớm”. Đường Hiểu Lan khóc lạc cả giọng, người đàn bà nói: “Đừng khóc, cảm tạ trời đất, cuối cùng con đã tới. Nhớ lúc mẹ nhờ Hầu Tam Biến âm thầm đưa con ra khỏi cung, con vẫn chưa tròn tháng, ồ, để tính xem, mẹ cũng không rõ nữa, năm nay con được bao nhiêu tuổi?” Đường Hiểu Lan nói: “Đã hai mươi tám tuổi”. Người đàn bà nói: “Vậy mẹ ở lãnh cung cũng được hai mươi tám năm. Ngày tháng thật dài! Ta cũng không biết mình vượt qua thế nào, sau khi con ra đời, ta đã nhờ thái giám phòng kín sự báo với Hoàng đế, nhưng thái giám lại báo với Hoàng hậu. Ta đợi được vài ngày, không thấy ông ta đến, cũng không thấy người của tông nhân phủ tới, ta biết sự việc không xong, ta cũng hiểu trong hoàng thất có việc cốt nhục tương tàn. Ta rất sợ, vì thế ta lấy món trang sức tặng cho một tiểu thái giám, bảo y bế con ra khỏi cung giao cho Hầu Tam Biến, còn ta thì nói dối rằng con đã chết ỉu. Dù sao Hoàng đế cũng chẳng biết, cũng chẳng có người tra hỏi, ba ngày sau ta đã bị Hoàng hậu đày vào lãnh cung. Người ta gán cho ta cái tội quyến rũ Hoàng đế, làm loạn pháp kỷ tổ tông, thế là hai mươi tám năm đã trôi qua!” Đường Hiểu Lan nghẹn ngào hỏi: “Sau đó thì thế nào? Làm sao con đến được Đường gia?” người đàn bà ngập ngừng nói: “Mẹ quên nói với con, mẹ còn có một muội muội, được Châu Thanh làm mai, lấy một tiêu sư họ Đường. Hầu Tam Biến đưa con đến Đường gia, muội của ta chưa có con cái, bởi vậy coi con như con ruột”. Lúc này Đường Hiểu Lan tựa như mới thoát khỏi cơn ác mộng, lạc giọng kêu: “Té ra di phụ và di mẫu con đã chết thảm”.

Người đàn bà nói: “Đúng thế, mẹ ở trong lãnh cung được hai mươi tám năm Hầu Tam Biến đã âm thầm đến thăm mẹ bốn năm lần, mẹ mới biết có kẻ dò ra con đang sống ở Đường gia, phái người đến bắt nên, giết cả nhà họ Đường. Lần đó Hầu Tam Biến ra ngoài gặp Châu Thanh, Châu Thanh nói đã nhận con làm nghĩa tử, định trao Du Long kiếm cho con sử dụng, bảo rằng Hầu Tam Biến để ý, nếu sau này gặp một thiếu niên sử dụng Du Long kiếm thì chính là con”. Lúc này Đường Hiểu Lan mới hiểu ra toàn bộ sự việc. Té ra khi chàng múa kiếm trên Vạn Lý Trường Thành, Hầu Tam Biến đã nhận ra chàng. Người đàn bà hỏi: “Châu Thanh đâu? Có còn sống không?” Đường Hiểu Lan nói: “Thưa, đã chết được mười hai năm”. Rồi kể rằng mình và di mẫu bị đuổi đến miền tái ngoại, di mẫu chết thảm, Châu Thanh cứu được mình, sau đó đem đến nhà họ Phùng, lại bị bọn Huyết Trích Tử truy bắt, cha con họ Phùng và Châu Thanh đều chết. Người đàn bà rơi nước mắt, nghẹn ngào nói: “Đã bao nhiêu năm nay mẹ không rơi nước mắt, hôm nay phải khóc một trận cho thỏa thuê”. Đường Hiểu Lan nhìn mẹ mà lòng rối bời. Đã bao năm qua chàng căm hận người Mãn đến thấu xương. Từ đầu đến cuối Châu Thanh đều giấu thân thế của chàng, nên chàng cứ tưởng rằng mình là một người Hán, từ lâu đã có chí phản Thanh phục Minh. Không ngờ mình là một bối lạc Mãn Châu, sự việc này tựa như một cái búa tạ đánh vỡ nát con tim chàng, chàng hy vọng đó chỉ là một cơn ác mộng nhưng đáng tiếc lại không phải. Thù hận chủng tộc, thù hận thân thế giằng xé lòng chàng, chàng ngỡ ngàng hỏi: “Mẹ, con tên là gì?” người đàn bà lại vuốt tóc Đường Hiểu Lan, rất lâu mới nói: “Bị nhốt trong lãnh cung nhiều năm, mẹ rất đau lòng, cũng rất căm hận Hoàng đế. Sau đó mẹ ngồi ở đây chờ chết từng ngày, chẳng nghĩ ngợi gì nữa. Ôi, lạnh quá! Nỗi ái hận ngưng kết trong lòng mẹ. Con hãy để cho mẹ suy nghĩ. Con nên là một bối lạc, nhưng mẹ không muốn”. Đường Hiểu Lan đau đớn kêu lên: “Không phải chuyện này, thưa mẹ, con không thể làm một bối lạc. Con không chịu. Không phải việc này”. Người đàn bà nói: “Vậy con muốn gì?” bà ngẩng đầu lên, nhìn thấy ánh mắt đay khổ của con trai, cõi lòng bà rung lên, bà biết con mình đang nghĩ gì. Bà lo lắng con mình sẽ mất mạng trong biển đời. Bà buồn rầu nói: “Thôi, khóc cũng đã đủ, rốt cuộc mẹ con chúng ta cũng gặp lại”.

Bà ôm Đường Hiểu Lan rất lâu mới nói: “Con hãy nghe mẹ đàn, con chưa bao giờ nghe tiểu điệu của quê hương”. Rồi bà bắt đầu khảy đàn, đó là một tiểu điệu rất vui, nhưng tiếng đàn nghe sao đau khổ, Đường Hiểu Lan ngẩn người ra nghe, chợt thấy có một ông già râu tóc bạc phơ bước vào.

Ông già này chính là Hoàng đế Khang Hy. Năm tám tuổi Khang Hy lên ngôi, ở ngôi hơn sáu mươi năm, lúc này cũng gần bảy mươi tuổi. Gần đây ông ta không màng đến việc lớn, trải qua những năm tháng tuổi già trong điện dưỡng tâm, trăng đêm nay thật đẹp, ông ta nổi hứng cùng hai tên thái giám chậm rãi dạo bước trong vườn, nghĩ mình văn sự võ công một đời đều đã lên đến cực điểm, hiếm có vị Hoàng đế nào ở ngôi lâu như mình. Nhưng một đời sắp trôi qua, những văn sự võ công này tựa như áng mây trôi. Ông ta chợt cảm thấy quạnh quẽ, muốn tìm người bạn già trò chuyện, nhưng cũng chẳng còn mấy người. Hoàng hậu và các phi tần mình sủng ái thời trẻ đều đã chết cả. Ông ta chậm rãi bước đi dưới ánh trăng, đến gần tòa lãnh cung bên hồ sen.

Trong lãnh cung vong ra tiếng đàn, hình như ông ta đã nghe ở đâu đó? Ồ, đó là chuyện rất lâu, Hoàng đế Khang Hy lắng nghe tiếng đàn, hỏi thái giám: “Ai ở trong lãnh cung?” thái giám nói: “Nghe nói một cung nga rất già”. Khang Hy ngạc nhiên nói: “Tại sao vẫn chưa thả ra? Giam bao lâu rồi?” thái giám nói: “Bẩm Hoàng thượng, nô tài không rõ lắm. Khi nô tài vào cung, cung nga ấy đã ở đây, cũng thường gãy đàn, chẳng ai màng đến bà ta”. Hoàng đế Khang Hy lắng nghe một hồi, chợt nhớ lại gần ba mươi năm trước mình đã từng triệu hạnh một cung nga, lúc đó nàng ta cũng đàn bài này, sau đó mình quá nhiều việc nên quên bẵng đi. Ông ta nghĩ ngợi một hồi rồi hỏi tên thái giám: “Cung nga này có phải người Hán không?” thái giám nói: “Thưa hình như là thế”. Khang Hy nói: “Có phải mặt trái xoan, chân mày dài hay không?” thái giám nói: “Bẩm Hoàng thượng, nô tài chưa gặp. Bà ta suốt ngày ở trong lãnh cung chứ không ra ngoài”. Tên thái giám kia chen vào: “Đúng thế, Hoàng hậu qua đời, những người canh bà ta cũng rút lui, bà ta vẫn không chịu bước ra ngoài”. Khang Hy nhíu mày nói: “Vậy đã bị nhốt bao lâu? Các người đợi một lát, ta vào xem thử”. Lúc này Đường Hiểu Lan đang lắng nghe tiếng đàn của mẹ, chợt nghe tiếng bước chân, Đường Hiểu Lan vội vàng nấp sau rèm, Hoàng đế Khang Hy đẩy cửa bước vào. Người đàn bà ngẩng đầu lên, hỏi: “Ông là ai?” bốn mắt nhìn nhau, cả hai đều chưng hửng. Khang Hy nhìn một hồi, hỏi: “Bà có phải là Hải Đường không?” người đàn bà chẳng hề nhúc nhích, hờ hững trả lời: “Vạn tuế gia, Hải Đường đã chết vào hai mươi tám năm trước!” Khang Hy nói: “Bà không phải là Hải Đường?” người đàn bà đáp: “Ngài hãy xem tôi có khác gì chết?” Khang Hy thấy bà ta tóc bạc da mồi, nghĩ bụng mình cũng đã già, hai mươi tám năm qua mình làm một Hoàng đế trong nhung lụa, còn bà ta thì chờ chết trong lãnh cung, chợt cảm thấy hối hận, ngồi xuống nói: “Hoàng hậu quá tàn nhẫn, nhốt bà ở đây bao nhiêu năm, tôi chẳng hề biết gì cả. Bà phạm tội gì?” người đàn bà đáp: “Hoàng hậu bảo tôi quyến rũ Hoàng đế, làm bại hoại pháp kỷ”. Khang Hy thở dài: “Thật là thiệt thòi cho bà, nhưng Hoàng hậu đã chết hơn mười năm, món nợ này cũng không cần tính nữa. Ngày mai tôi sẽ thả bà ra ngoài, phong bà làm Thục phi”. Khang Hy tưởng rằng bà ta sẽ quỳ xuống tạ ơn, nào ngờ bà ta vẫn ngồi thừ ra, lạnh lùng nói: “Tạ Hoàng thượng, Hoàng thượng đừng trêu đùa tôi nữa, giờ đây người nhà của tôi đã chết, tôi cũng không sợ chết nữa”. Khang Hy nói: “Ồ, bà nói gì thế? Có phải bà hận tôi không? Chúng ta đều đã già cả, chẳng còn bao nhiêu năm nữa, bà hãy ra ngoài trò chuyện cùng tôi rồi mọi việc sẽ qua thôi”. Người đàn bà vẫn ngồi yên bất động. Khang Hy thở dài, hỏi: “Bà muốn gì?” người đàn bà chợt sáng mắt lên, đột nhiên nói: “tôi muốn ngài để con trai tôi an toàn ra khỏi cung!” Khang Hy chợt giật mình, hỏi: “Cái gì, con trai của tôi? Đêm ấy bà đã có thai? Tại sao thái giám phòng kính sự không cho tôi hay? Bà thật sự có một đứa con trai? Bao nhiêu năm qua nó trốn ở đâu?” người đàn bà nói: “Mấy năm nay nó lưu lạc trên giang hồ, lúc này đang ở đây, trong căn phòng này!” Khang Hy hoàng đế cả kinh.

Đường Hiểu Lan từ sau trướng nhảy ra, kích động kêu lên: “Ông đã hại mẹ tôi chưa đủ hay sao? Ông hãy để mẹ con tôi ra khỏi cung!” Hoàng đế Khang Hy chợt thấy một thiếu niên cao lớn đứng trước mặt mình, ánh mắt lạnh lẽo như băng tuyết, vẻ mặt quả nhiên hơi giống mình, bất giác rùng mình, chợt nhớ lại chuyện mình đã hại chết cha trên núi Ngũ Đài (mời xem tập một của “Thất Kiếm Hạ Thiên Sơn”), ông ta lạc giọng kêu lên: “Ngươi... ngươi muốn báo thù cho mẹ?” Đường Hiểu Lan rầu rỉ ngồi xuống, xua tay nói: “Ông không chịu thả tôi, vậy hãy ra ngoài đi”. Khang Hy định thần lại, thấy chàng thiếu niên tuy phong trần nhưng chính khí lẫm liệt, bất giác thấy áy náy, nói: “Ngươi cứ ở lại đây”. Đường Hiểu Lan nói: “Tôi thà chết chứ không ở lại đây!” Khang Hy thở dài: “Ngươi đi cũng tốt”. Ông ta cũng biết mười mấy đứa con trai của mình đang tranh quyền đoạt vị, nếu thêm một đứa là thêm một phần phiền phức. Huống chi Đường Hiểu Lan là con trai của phụ nữ người Hán, bao năm nay lưu lạc trên giang hồ, trong danh sách của phủ tông nhân không có tên chàng, dù muốn nhận lại chàng cũng rất phí công. Nhưng ông ta thấy hai mẹ con của chàng, trong lòng rất ái ngại, lại không muốn cốt nhục của mình phiêu bạt trên giang hồ, nghĩ ngợi một hồi rồi nói: “Vậy ta sẽ cho con một chức quan!” Đường Hiểu Lan nói: “Tôi không cần!” Khang Hy nói: “Vậy con không nhận phụ thân sao?” Đường Hiểu Lan chợt khóc, chẳng thể nào thốt được hai chữ “phụ hoàng”.

Khang Hy nói: “Con ra ngoài định làm gì?” Đường Hiểu Lan nói: “Ông đừng buộc tôi!” Khang Hy nói: “Ta buộc con làm gì?” rồi mắt chợt sáng lên, nói: “Con cũng muốn tranh quyền đoạt vị? Cốt nhục tương tàn?” Đường Hiểu Lan nói: “Người muốn cướp ngôi vua của ông là người Hán, tôi không cần gì cả”. Khang Hy nói: “Nếu con nhất định ra đi, ta cho phép con. Sau này con có đến gặp ta không?” Đường Hiểu Lan nói: “Tôi chỉ muốn phụng dưỡng mẫu thân, đi thật xa, mãi mãi không quấy rầy ông”. Khang Hy càng ái ngại hơn, lại nói: “Cha chấp nhận hứa với con một việc, con có yêu cầu gì?” tựa như ông ta không cho mẹ con họ một điều gì thì trong lòng không yên. Đường Hiểu Lan thầm nhủ rồi nói: “Được, vậy tôi muốn gặp tứ điện hạ, xin y một điều, y chắc chắn làm được”. Khang Hy nhíu mày, nói: “Con có việc cần đến hắn, chả lẽ ta không làm được sao? Có lẽ tứ a ca của con cũng có chút bản lĩnh”. Khang Hy chẳng ưa gì Dận Trinh, ông ta nghĩ chả lẽ đứa con này nhận ra tứ a ca chắc chắn sẽ nối ngôi vua nên mới lấy lòng hắn trước? Lại nói: “Được, ta chấp nhận. Nhưng ta muốn con gần gũi thập tứ a ca. Ta có thể cho con là phó thủ của hắn”. Thập tứ a ca, người Khang Hy cưng nhất đang cầm quân chinh phạt ở phía Tây. Đường Hiểu Lan nói: “Tôi chỉ muốn gặp tứ điện hạ”. Khang Hy nói: “Được, hãy theo ta ra ngoài, ngày mai ta sẽ cho mẹ con xuất cung”. Rồi nắm tay Đường Hiểu Lan chậm rãi bước ra khỏi lãnh cung, hai thái giám thất kinh, Khang Hy nói: “Đây là thị vệ mới tới, ta đã bảo y vào lãnh cung”. Hai thái giám không dám lên tiếng, lúc này vầng trăng đã lên cao, thái giám nói: “Xin mời Hoàng thượng về nghỉ ngơi, ngày mai có miễn tảo triều không?” Khang Hy nói: “Miễn!” rồi lặng lẽ dắt Đường Hiểu Lan bước ra vườn, băng qua cung Vĩnh Thọ, bước vào điện Dưỡng Tâm. Đường Hiểu Lan kêu ồ một tiếng, kéo Khang Hy đến một góc tối, nói: “Có người dạ hành phóng lên đại điện bên ngoài!”

Khang Hy nói: “Tại sao ta không thấy?” Đường Hiểu Lan trả lời: “Thân pháp của người này rất nhanh!” Khang Hy thầm nhủ: “Nếu là vệ sĩ trong cung, ắt hẳn không dám phóng lên đại điện bên ngoài. Nhưng nếu là người ngoài, lại càng không thể”. Ông ta giật mình rồi khẽ nói: “Con đi từ đây sang trái, men theo lan can bằng bạch thạch trong vườn, đến cho tới tảng đá thứ mười ba, hãy lật tảng đá lên, ở dưới có địa đạo dẫn ra phía sau đại điện bên ngoài, con len lén chui ra, xem thử có người ở đấy không, nếu có hãy nhớ kỹ dung mạo của y”. rồi tháo một mảnh ngọc đưa cho chàng: “Nếu có người phát hiện, hãy đưa vật này ra, cứ nói là thị vệ mới đến”. Đường Hiểu Lan nhận lấy mảnh ngọc, từ địa đạo chui vào đại điện, nấp sau góc cột, chợt thấy có hai người bước vào, họ ngẩng đầu lên nhìn, rồi ghé tai nhau nói nhỏ điều gì đấy. Đường Hiểu Lan cũng ngẩng đầu lên, thấy bên trên có tấm biển lớn ghi bốn chữ “Chính đại quang minh”, Đường Hiểu Lan thầm nhủ: “Hai người này xem gì trên tấm biển thế?” đợi một lát sau, cả hai người lại cúi đầu bàn bạc một hồi, sau tấm biển chợt thò ra một cái đầu, Đường Hiểu Lan vừa nhìn, suýt nữa đã kêu lên, té ra có một đứa bé gái nấp sau tấm biển, người đó chẳng phải ai khác mà chính là Phùng Lâm!

Té ra hôm ấy Phùng Lâm dắt Dận Đề thăm bệnh Dận Trinh, đi ngoằn ngoèo quăn co một hồi, cô bé đưa Dận Đề lên lầu sách, đẩy cửa một căn phòng, nói: “Tứ điện hạ dưỡng bệnh ở đây”. Dận Đề thò đầu vào nhìn, chợt thấy bên trong có tiếng xì xì, trong phòng rắn lớn rắn nhỏ bò từng đàn. Phùng Lâm kêu thét lên: “Tôi đã mở nhầm cửa phòng!” rồi lao bổ tới, cùi chỏ đột nhiên thúc vào eo Dận Đề, Dận Đề tựa như trúng chùy sắt, đau đớn kêu lên, Phùng Lâm lộn người xuống lầu. Rắn trong phòng phóng vút ra, Dận Đề sợ quá ngất xỉu.

Sau khi Dận Đề ra đi, Hàn Trọng Sơn và Thần Ma song lão trách cô bé: “Sao con lại làm càn như thế?” Phùng Lâm nói: “Việc gì phải sợ, con chỉ là một đứa nha đầu, khi y trách mắng tứ điện hạ, các người cứ bảo trong phủ có hàng trăm nha đầu, biết là ai? Vả lại dù huynh đệ họ tranh luận trước mặt Hoàng thượng, Hoàng thượng cũng chẳng tin một người to lớn như thế mà bị một đứa trẻ đánh ngất”. Hàn Trọng Sơn nói: “Hừ, không ngờ ả nha đầu nhà ngươi lại lợi hại đến thế!” trong lòng thầm nhủ: “May mà Thần Ma song lão đã biết trước, dùng thánh dược khiến nó mê mẩn, không thể nhớ được những việc trước kia chứ nếu không khó mà lừa được nó”.

Hàn Trọng Sơn và Thần Ma song lão bàn bạc một hồi, đang định sai người gọi Tứ bối lạc về kinh, Tứ bối lạc Dận Trinh đã chợt quay về. Suốt một ngày lo lắng, đột nhiên trút được gánh nặng, Hàn Trọng Sơn cười rằng: “Nếu đại a ca dám bảo tứ điện hạ tự tiện xuất cung, tứ điện hạ sẽ bảo y vu khống”. Dận Trinh hỏi rõ tình hình, biết đó là mưu đồ của Dận Đề nên nghĩ ra một chuyện, té ra nhà Thanh truyền ngôi không theo thứ tự lớn nhỏ, Hoàng đế sẽ để lại di chiếu chỉ định một người đặt sau tấm biển “Chính đại quang minh” trong cung Càng Thanh. Lần này Tứ bối lạc vội vàng về kinh chính là vì nghe quốc cựu Long Khoa Đa báo tin Hoàng đế đã lập di chiếu, còn chỉ định ai thì không biết.

Dận Trinh liền cho các tử sĩ tâm phúc của mình biết việc này. Thiên Diệp Tản Nhân nói: “Nếu thế chúng ta phải đánh cắp di chiếu”. Dận Trinh nói: “Đánh cắp không phải là cách, Hoàng thượng phát hiện di chiếu bị mất sẽ viết lại, vả lại cũng chắc chắn nghi ta. Chỉ cần đánh cắp để xem thử ai sẽ là người nối ngôi”. Thế rồi bọn Thiên Diệp Tản Nhân, Liễu Ân, Cáp Bố Đà đòi đi. Dận Trinh nói: “Lẻn vào cung Càng Thanh xem di chiếu không phải là chuyện tầm thường. Không nên đi quá nhiều người, chỉ cần một hai người có khinh công giỏi là được”. Luận về khinh công Thiên Diệp Tản Nhân cao nhất, Phùng Lâm lắng nghe chợt nói: “Tôi muốn đi cùng Thiên Diệp bá bá”. Bát Tý Thần Ma nói: “Ngươi đi làm gì?” Thiên Diệp Tản Nhân nghĩ, Phùng Lâm người nhỏ nhắn, sẽ dễ dàng leo lên tấm biển, vả lại khinh công của cô bé còn hơn cả Đại Lực Thần Ma, liền nói: “Được, ta dẫn ngươi đi. Ngươi không được làm càn đấy nhé”.

Lại nói con trai trưởng của Khang Hy là Dận Đề trở về phủ, đã tỉnh dậy, trong lòng rất căm tức. Chợt nghe báo Đại học sĩ Vương Dịch Thanh đến bái phỏng, Vương Dịch Thanh là người cùng phe Dận Đề, được Khang Hy tin dùng như quốc cựu Long Khoa Đa, hôm nay y mới biết việc Hoàng đế lập di chiếu nên vội vàng đến báo. Dận Đề và các tử sĩ tâm phúc bàn bạc, cũng nghĩ cách như Dận Trinh, phái ba vệ sĩ khinh công cao cường đến xem lén di chiếu. Đó chính là hai đại hán mà Đường Hiểu Lan thấy.

Ba tên vệ sĩ của Dận Đề bàn bạc một hồi, hai người canh cửa, một người vào điện leo lên, chợt thấy ở phía sau tấm biển có ánh sáng lóe lên, hai mũi phi đao đã cắm vào, y ngã sầm xuống. Phùng Lâm phóng vọt ra khỏi mái, nhảy lên mái ngói, rồi có người kêu lớn: “Có thích khách!” đó chính là kế giá họa giang đông của Thiên Diệp Tản Nhân, khi bọn thị vệ đại nội chạy tới, y và Phùng Lâm đã chạy qua điện Anh Hoa rồi nấp trên Cảnh Sơn.

Đường Hiểu Lan vội vàng chạy ra, chỉ thấy bên ngoài cung Càng Thanh đao kiếm sáng choang. Chàng chạy ra ngoài điện dưỡng tâm, Khang Hy từ xó tối thò đầu ra, định gọi chợt thấy bóng người phóng như bay, hầu như chạy đến cùng lúc với Đường Hiểu Lan. Tên thái giám kêu: “Ai dám kinh động thánh giá?” người ấy cười lớn, gằng giọng nói: “Hừ, ngươi chính là Hoàng đế!” rồi vỗ vù một chưởng tới Khang Hy, hai tên thái giám nhảy bổ tới cứu, cả hai bị đánh chết ngất. Người ấy quét chưởng xuống, tung chân trái lên, tình cha con trỗi dậy, Đường Hiểu Lan rút soạt thanh bảo kiếm, người ấy kêu hừ một tiếng phóng vọt người lên, Truy Phong kiếm pháp của Đường Hiểu Lan nhanh nhạy tuyệt luân, tấn công liên miên, người ấy tay không đánh được mấy chiêu, Khang Hy đã lẩn vào trong điện dưỡng tâm.Người ấy gầm một tiếng, chưởng pháp chợt thay đổi dồn ra cuồn cuộn, lao bổ tới trong luồng kiếm quang, hoàn toàn như muốn liều mạng, Đường Hiểu Lan thấy Khang Hy đã nấp, cũng thâu kiếm lại nhảy ra khỏi vòng, nào ngờ thân pháp của người này rất nhanh, Đường Hiểu Lan tung người nhảy vọt, y thừa thế đuổi theo, chộp lấy vai của chàng, hạ giọng nói: “Lãnh cung ở đâu?” Đường Hiểu Lan giật mình, vội dùng tuyệt chiêu cứu mạng chồm người về phía trước, trở tay đâm soạt một kiếm từ dưới be sườn ra, nếu người ấy không buông tay sẽ bị kiếm đâm vào bụng.

Người này không ngờ kiếm pháp của Đường Hiểu Lan lại lợi hại đến thế, thế là y buông tay nhảy vọt ra ba trượng, Đường Hiểu Lan cũng bị chưởng lực của y đánh loạng choạng thối lui đến bảy tám bước mới ngừng lại được, vai đau nhói như lửa đốt.

Đường Hiểu Lan không biết rằng, người này chính là vị hôn phu Chúc Gia Thụ của mẫu thân chàng, ông ta mất tích hơn ba mươi năm, té ra là phiêu bạt trong giang hồ, tìm thầy học nghệ, cuối cùng trở thành môn hạ của bậc danh túc phái Chung Nam là Võ Thành Hóa, khổ học hơn mười năm, hai môn quyền kiếm đều đã có thành tựu. Sau khi học thành đã hai phen đến kinh sư, gặp Hầu Tam Biến, biết Hải Đường đã bị đày vào lãnh cung càng thêm đau lòng. Ông ta vốn muốn vào cung, nhưng Hầu Tam Biến đã cố gắng khuyên lơn. Hầu Tam Biến nói: “Võ công của ông tuy cao nhưng cao thủ trong cung nhiều như mây, nếu lỡ có việc gì xảy ra, phải rằng sẽ uổng mạng, vả lại còn hại Hải Đường”. Thế rồi Chúc Gia Thụ mới buồn bã bỏ đi.

Nhưng ba mươi năm trôi qua, Chúc Gia Thụ vẫn chưa nhụt chí. Ông ta nghĩ bụng mình và Hải Đường đều đã già, nếu không gặp nhau nữa chắc phải đợi kiếp khác, bởi vậy mới liều mạng vào cung, không ngờ ngay trong đêm ấy, hai bối lạc đều phái thị vệ đến, mà Đường Hiểu Lan cũng có trong cung.

Lại nói Chúc Gia Thụ bị Đường Hiểu Lan đánh lùi, chỉ thấy trong cung Càng Thanh đao kiếm sáng loáng, vệ sĩ đại nội chạy ùa tới, ông ta chọn một lối vắng, vòng qua hòn giả sơn, tóm được một tên thị vệ kéo vào bên trong, lột hết áo quần mặc vào rồi nghênh ngang bước ra, bất giác đã đến hồ sen trước lãnh cung, chợt thấy một bầy cung nữ khiêng một cái giường tre, trên giường có một người đàn bà đắp vải trắng.

Người đàn bà này chính là kẻ Chúc Gia Thụ mong nhớ hơn ba mươi năm nay, từ lúc Đường Hiểu Lan đi theo Khang Hy, bà ta khóc một hồi rồi lại cười một hồi, chợt thấy vạn niệm giai không, bao nhiêu sức lực tản mát, thế là té soài xuống đất.

Bọn thái giám đã biết Khang Hy đích thân vào lãnh cung, bọn chúng là những kẻ xu phụ quyền thế, sau khi Khang Hy bỏ đi, vội vàng bẩm cáo với nữ quan quản lý lãnh cung, nữ quan này đến thăm dò, phát hiện Hải Đường đã chết, sau khi bàn bạc thì quyết định dời bà ta ra khỏi lãnh cung, sau đó bẩm cáo với nhà vua.

Chúc Gia Thụ từ ven hồ chạy qua, gặp phải đám cung nữ này, cung nữ quát: “Ai mà chạy bừa như thế?” Chúc Gia Thụ ngẩng đầu lên nhìn, chỉ thấy người đàn bà nằm trên giường tre phủ khăn trắng đầu tóc đã bạc trắng, sắc mặt rất đáng sợ, hai bên trái lộ ra ngoài, ngón tay cứ như móng gà, bất giác rùng mình, trong lòng thầm hối hận. Hơn ba mươi năm không gặp, Hải Đường là người ngọc vẹn toàn trong lòng ông ta, ông ta gặp mà không biết, nằm mơ cũng không ngờ rằng bà già mặt xấu xí kia chính là người tình trong mộng của mình.

Hải Đường chợt khẽ hé mắt, Chúc Gia Thụ đã vượt qua.

Lúc này hai tên vệ sĩ bị Dận Đề phái đi đã bị bắt, một trong hai tên đã trúng Đoạt Mệnh thần đao của Phùng Lâm trước, khi ác đấu lại dùng lực quá độ, cho đến khi sắp bó tay chịu trói thì độc phát thân vong.

Hoàng đế Khang Hy đích thân tra hỏi, mới biết chúng là người của Dận Đề, thế là cả giận lập tức hạ chiếu phế phong hiệu bối lạc của Dận Đề, giao cho tông nhân phủ tra xét.
Đêm ấy trong cung rối như canh hẹ, đến canh tư mọi việc mới yên. Khang Hy giữa Đường Hiểu Lan lại ở điện dưỡng tâm nghỉ một đêm, sáng hôm sau thái giám quản sự trong cung đến báo rằng cung nga trong lãnh cung đã chết đêm qua, Khang Hy nghe thế than thở không thôi, dặn lấy lễ thục phi hậu tán, gọi Đường Hiểu Lan vào thư phòng, buồn bã nói: “Con không cần đợi mẹ của con nữa, đêm qua bà ta đã qua đời”. Đường Hiểu Lan vốn đã đau lòng, lúc này chàng đứng chết sững, muốn khóc mà chẳng rơi được nước mắt, một lúc lâu sau mới hồi phục, kêu lên: “Tôi đi đây!” Khang Hy nói: “Con đợi một lát”. Rồi kêu quan giữ cửa vào, viết một tấm chiếu thư giao cho Đường Hiểu Lan, bảo quan giữ cửa dẫn chàng đến gặp Dận Trinh.

Đường Hiểu Lan thẫn thờ bước ra khỏi cửa cung, đến trước phủ của Dận Trinh, quan giữ cửa đẩy chàng, nói: “Đến rồi”. Lúc này chàng mới nhảy xuống ngựa như tỉnh cơn mơ. Quan giữa cửa thầm nhủ: “Hoàng thượng già đến nỗi lẩm cẩm, làm sao có thể chọn kẻ khờ khạo này làm vệ sĩ”. Đường Hiểu Lan đã tẩy thuốc dị dung ở trong cung, hai tên ma đầu vừa thấy chàng thì thất kinh. Nhưng chàng được quan giữ cửa dẫn đến đây, nghe quan giữ cửa nói chàng là thị vệ được Hoàng đế tin dùng, chỉ đành dắt chàng vào gặp Dận Trinh.

Dận Trinh thấy Đường Hiểu Lan cũng rất ngạc nhiên, Liễu Ân và Cáp Bố Đà đứng hầu một bên, mở trố mắt ra. quan giữ cửa quay về, Liễu Ân nén không được nói: “Đường Hiểu Lan, ngươi đang giở trò gì thế?” Dận Trinh xua tay, mỉm cười nói: “Bậc tài cao như Đường huynh phải xuất thân từ chính đồ. Đường huynh vào cung khi nào? Hoàng thượng có khỏe không?” Đường Hiểu Lan đáp: “Khỏe” chàng ngập ngừng rồi chợt nói: “Xin bối lạc hãy cho tả hữu lui ra”. Dận Trinh biến sắc nói: “Hai người này đều là tâm phúc, Đường huynh có việc gì cứ nói”. Đường Hiểu Lan nói: “Hai người chúng ta nói chuyện riêng vẫn tốt hơn”. Liễu Ân nổi sùng, nói: “Ngươi thật vô lễ!” Dận Trinh đảo mắt, đang định bảo Liễu Ân và Cáp Bố Đà lui xuống, chợt nghe ở dưới lầu có tiếng ồn ào, có người quát có “thích khách”, Liễu Ân cầm cây thiền trượng đứng bật dậy, nói thì chậm, sự việc diễn ra lúc đó rất nhanh, chỉ nghe gió phả vào mặt, cánh cửa thư phòng đột nhiên bật ra, một người cầm trường kiếm lao bổ vào! Đường Hiểu Lan nhìn lại, chính là người đêm qua. Chúc Gia Thụ vẫy một kiếm, đánh một chiêu Bạch Hồng Quán Nhật đâm về phía Dận Trinh, Liễu Ân dựng cây thiền trượng, chỉ nghe keng một tiếng, kiếm của người ấy lệch qua một bên, đâm vào be sườn của Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan thối lui đảo bước, vẫn không trả đòn, Cáp Bố Đà đã quét ngang chưởng trái, chưởng phải đấm ra, tấn công vào chỗ trống của y, người ấy tiếp một chiêu, biết công lực của Liễu Ân và Cáp Bố Đà hơn mình, đánh hờ ra hai kiếm, đột nhiên lại nhảy tọt ra cửa sổ. Cáp Bố Đà đuổi theo, Đường Hiểu Lan còn đang chần chừ, quát: “Ngươi có phải là thị vệ đại nội không, sao vẫn không trả đòn?” rồi y kéo phăng Đường Hiểu Lan xuống lầu, chàng không kịp đề phòng nên ghìm lại chẳng được, lúc này đã nghe tiếng binh khí giao nhau, có người kêu hoảng!

Đường Hiểu Lan nheo mắt nhìn, không khỏi thầm kêu khổ, dưới sân kiếm quang loang lóang, bóng người nhốn nháo, Quan Đông tứ hiệp đã tới. Điều tệ hơn là có Thiết chưởng thần đạn Dương Trọng Anh dắt con gái đến ác đấu, Dương Trọng Anh vừa thấy Đường Hiểu Lan thì kêu hoảng lên một tiếng, phóng vọt ra, Đường Hiểu Lan kêu: “Sư phụ, là con!” Chúc Gia Thụ kêu lớn: “Y là gian tế!” Dương Trọng Anh mặt biến sắc, vỗ vù ra một chưởng!

Té ra từ lúc ác đấu với hai tên ma đầu ở Mang Sơn, Quan Đông tứ hiệp đã quyết lòng rèn luyện võ công, muốn có một ngày tỉ thí trở lại với Song ma, nhưng Song ma đang trong phủ Tứ bối lạc, Quan Đông tứ hiệp không dám vào bừa. Lần này họ nghe Tứ bối lạc đã dắt một đám cao thủ ra ngoài chỉ có Song ma và một người họ Hàn trấn thủ. Lúc này công phu độc môn của Quan Đông tứ hiệp cao hơn trước rất nhiều bởi vậy họ đến đấy với mục địch báo thù.

Vừa khéo Dương Trọng Anh và Dương Liễu Thanh cũng đến kinh sư để dò tìm tung tích Đường Hiểu Lan. Một ngày nọ họ gặp Chúc Gia Thụ. Mấy ngày sau lại gặp thêm Quan Đông tứ hiệp, Quan Đông tứ hiệp rủ Chúc Gia Thụ cùng đến đấu Song ma, lúc đó Chúc Gia Thụ đang muốn vào hoàng cung nên khéo léo từ chối, Quan Đông tứ hiệp rất không vui. Khi Chúc Gia Thụ thất bại trở về, họ hỏi kỹ thì mới biết Chúc Gia Thụ có việc đau lòng như thế. Thế là Chúc Gia Thụ và Quan Đông tứ hiệp cùng cha con Dương Trọng Anh ngay hôm ấy đến phủ Tứ bối lạc tìm hai tên ma đầu.

Đường Hiểu Lan thấy sư phụ không trả lời, chỉ thấy chưởng phong phả vào mặt, chàng vội vàng né tránh, chưởng pháp của Dương Trọng Anh rất kỳ dị, ông ta tiến tới một bước, hai chưởng đẩy ra, Đường Hiểu Lan né tránh không kịp, đành đưa chưởng ra phản kháng theo bản năng, hóa giải chưởng thế của Dương Trọng Anh rồi phóng vọt lên hơn một trượng, Dương Trọng Anh thấy võ công của chàng tinh tiến, Dương Liễu Thanh kêu lớn: “Cha!” Dương Trọng Anh ngừng lại thu chưởng, Cáp Bố Đà vỗ vù tới một chưởng đẩy Dương Trọng Anh thối lui đến mấy bước. Dương Liễu Thanh vội vàng thi triển tuyệt kỹ thần đạn yểm hộ cho cha già.

Đường Hiểu Lan đột nhiên gặp sự biến, chàng hoang mang chẳng biết làm thế nào. Huyền Phong đạo trưởng rất nóng nảy, hỏi Chúc Gia Thụ: “Ông nói có thật không?” Chúc Gia Thụ nói: “Hôm qua y đi với lão Hoàng đế, nếu tôi thoát không nhanh đã sớm mất mạng dưới kiếm của y!” Huyền Phong đạo trưởng bừng bừng cả giận, chợt nghĩ: “Võ công của Chúc Gia Thụ chẳng kém gì mình, sao chẳng phải là đối thủ của Đường Hiểu Lan?” rồi lướt tới, tay phải cầm trường kiếm, tay trái cầm gậy nhất tề đánh ra. Đường Hiểu Lan biết Huyền Phong ra tay rất hiểm hóc, chẳng thể nào né tránh được, chỉ đành rút kiếm chống trả, chiêu số của Huyền Phong vốn là nửa hư nửa thực, ông ta có ý thử võ nghệ của Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan không biết điều này nên đã thi triển loại kiếm pháp phòng thân huyền diệu của Thiên Sơn ra, gạt gậy sắc của Huyền Phong ra ngoài, lúc này Huyền Phong mới biết Chúc Gia Thụ chẳng phải nói dối, kiếm chiêu của ông ta chợt thay đổi, chẳng giả vờ tấn công nữa mà đâm vào các chỗ yếu hại trên người Đường Hiểu Lan.

Đường Hiểu Lan liên tiếp chặn mấy kiếm, kêu lớn: “Sư phụ, sư bá, con có lời muốn nói”. Huyền Phong quát: “Ngươi là tên phản đồ vong ơn phụ nghĩa, ai nghe lời ngươi nói”. Thế rồi kiếm chiêu đánh gấp tựa như gió quét. Đường Hiểu Lan né tránh chậm chạp, bị Huyền Phong đâm xuyên một kiếm vào ống tay áo, chàng buộc phải quét ngang thanh trường kiếm từ trên xuống dưới, Đường Hiểu Lan chỉ vốn có ý phòng thân chứ cũng không biết rằng uy lực của chiêu số này quá lợi hại, đã phát ra làm sao thu lại dễ dàng, chỉ nghe keng một kiếng, cây gậy sắt trên tay trái của Huyền Phong đã bị Du Long kiếm chặt gãy một đoạn! Huyền Phong chưng hửng, Đường Hiểu Lan nhảy vọt ra, nào ngờ trước mắt lóe lên, mùi rượu xộc vào mũi, Lang Nguyệt thiền sư phun rượu thành vòi phóng thẳng vào hai mắt của Đường Hiểu Lan. Đường Hiểu Lan vội nghiêng đầu né tránh, Lang Nguyệt thiền sư phun vèo một tiếng, vòi rượu biến thành giọt rượu cứng như đạn chì, trên áo của Đường Hiểu Lan bị bắn lủng như tổ ong, Vạn Lý Truy Phong Liễu Tiên Khai đã phóng người tới nhanh như bắn, đột nhiên tóm rách ống tay áo của Đường Hiểu Lan, bức thư của Hoàng đế đã bị cướp mất.

Đường Hiểu Lan đứng ngây người ra, lắp bắp: “Tôi... tôi...” lời lẽ của chàng nghe nghẹn ngào bi thảm, Dương Liễu Thanh nói: “Tôi thế nào?” nàng vừa yêu vừa hận, giơ cao đạn cung bắn ra, Đường Hiểu Lan đang rối trí, cũng không biết đường né tránh, Liễu Ân hòa thượng gầm lớn, múa cây thiền trượng một vòng bắn ngược đạn trở về, y thấy Dương Liễu Thanh xinh xắn, ác niệm chợt nảy ra, y điểm cây thiền trượng xuống đất phóng vọt người lên, tay trái mở ra chụp về phía Dương Liễu Thanh! Huyền Phong cả kinh, múa kiếm đâm thẳng vào huyệt Thiên Liêu ở phía sau ót của Liễu Ân. Liễu Ân lấy trượng làm trụ, gót chân xoay một vòng vẫn không buông ra, tay trái chụp vào bối tâm của Dương Liễu Thanh. Kiếm pháp của Huyền Phong nhanh như chớp, ông ta không thèm thu kiếm mà vẫy mũi kiếm một cái, hóa thành chiêu số Dương Chi Trích Lộ, đâm vào huyệt Tinh Túc sau ót của Liễu Ân, Liễu Ân thấy kiếm pháp ông ta tinh diệu, không dám làm càn, thế là xoay người múa trượng tiếp chiêu. Liễu Ân công lực thâm hậu, trượng phong như đao, Huyền Phong chặn được mười chiêu đã biết không chống đỡ nổi, lúc này Tung Sơn đã trở nên hỗn loạn, người phía Tứ hiệp đã lọt xuống thế hạ phong, Dương Liễu Thanh càng nguy ngập hơn, Huyền Phong kêu lớn: “Đi!” rồi chia nhau đâm hai kiếm về Tát Thiên Thích, Tát Thiên Đô, cứu bọn Liễu Tiên Khai thoát ra. Dương Trọng Anh dắt theo con gái, nhờ có Chúc Gia Thụ yểm hộ ở phía sau cũng nhảy vọt ra khỏi vách tường. Liễu Ân đảo ngược cây thiền trượng, đang đuổi theo. Dận Trinh đã quát lớn: “Cứ để cho bọn chúng đi!” té ra khi Dận Trinh nghe được Thiên Diệp Tản Nhân kể lại việc xem di chiếu, y sợ rằng việc này xé ra to, các bối lạc khác sẽ thừa cơ tấn công nên mới gọi bọn Liễu Ân vào.

Đường Hiểu Lan lúc này lòng rối như tơ vò, khi biết về thân thế của mình chàng đã đau đớn, không ngờ hôm nay lại bị sư phụ hiểu nhầm, chàng muốn chết mà chẳng xong. Dương Trọng Anh và Quan Đông tứ hiệp đều có ơn lớn với mình, nếu chàng đột nhiên chết đi, tiếng xấu này thật khó rửa. Chàng từ từ hạ kiếm xuống, Liễu Ân cười lạnh nói: “Kẻ địch đã lui, ngươi còn đứng đây làm gì?” Đường Hiểu Lan bi phẫn vô cùng, chàng tung người vọt lên, quát: “Ta thà chết cũng không cứu các người”. Rồi phóng ra khỏi tường.

Đường Hiểu Lan thẫn thờ chạy ra cửa Bắc, trên tường thành chợt có người kêu: “Hảo tiểu tử, ngươi dám đuổi theo!” Đường Hiểu Lan thất kinh, người đó chính là Dương Trọng Anh, số là bọn Huyền Phong chạy ra khỏi hoàng phủ, cũng chạy theo con đường này trở ngược ra thành, Dương Trọng Anh đoạn hậu ở phía sau, chợt thấy một mình Đường Hiểu Lan chạy theo, chỉ tưởng rằng chàng truy kích mình.

Đường Hiểu Lan rung giọng kêu: “Sư phụ, hãy để con nói rõ”. Dương Liễu Thanh đang chạy ở phía trước, nghe tiếng chợt dừng lại. Nàng thấy lời lẽ của Đường Hiểu Lan rất đau khổ, liền bảo: “Cứ để y nói, chắc là có ẩn tình”. Huyền Phong nói: “Không thể đem tính mạng ra đùa!” rồi lớn giọng nói: “Dương huynh, đề phòng có người đuổi theo!” Dương Trọng Anh kéo cây đạn cung bắn ra hai tiếng, Đường Hiểu Lan đang thất thần, chẳng có ý né tránh, một viên bắn trúng vào trán một viên trúng vào cánh tay thế là té ngửa xuống đất. Chỉ nghe Dương Trọng Anh quát lớn: “Ngươi đã phạm vào đại giới của sư môn, ta không tha cho ngươi!” khi Đường Hiểu Lan đứng dậy, bọn Dương Trọng Anh đã đi xa.

Đường Hiểu Lan lủi thủi đi một mình, chàng nhớ lại giới luật của phái Tung Dương rất nghiêm ngặt, khi chàng mới vào môn đã nghe đọc mười hai giới điều này, trong đó điều thứ tư là không gần quan phủ, điều thứ mười hai là không được khi sư diệt tổ, thế nhưng nay chàng đã phạm tất cả. Nếu Dương Trọng Anh không sợ có bọn Liễu Ân đuổi ở phía sau chàng đã bị bắt. Nghĩ đến đây, chàng không lạnh mà rung. Chàng sợ rằng nỗi oan này mãi mãi chẳng thể nào rửa sạch.

Về đến Tây Sơn, chàng vẫn mãi mê suy nghĩ, trong biển người mênh mông chàng chẳng có người thân, cả người bạn để dốc lòng mà chẳng có, không khỏi thấy bi thương, suy nghĩ lại, chàng chợt nhớ đến Lữ Tứ Nương, chàng và Lữ Tứ Nương tuy chỉ gặp mặt mấy lần nhưng nàng là con gái của bậc danh nho, kiến thức bất phàm, rất quan tâm đối với mình, chàng suy đi tính lại, hình như trong khoảng trời đất này chàng chỉ có thể tin tưởng một mình Lữ Tứ Nương. Thế là rời khỏi kinh sư đến miền Triết Giang. Trên đường đi thường gặp các nhân vật võ lâm chặn đánh, té ra Dương Trọng Anh đã truyền việc Đường Hiểu Lan phản sư ra khắp giang hồ, may mà những người chặn đánh chàng chẳng phải hảo thủ, Đường Hiểu Lan mới an toàn đến Triết Giang. Tới nơi chàng mới biết năm năm trước Thẩm Tại Khoan bị bắt, Lữ Bảo Trung chết thảm, Lữ Tứ Nương đã dời đi nơi khác. Chàng dò hỏi mà chẳng biết Lữ Tứ Nương đang ở đâu, may mà Cam Phụng Trì rất nổi danh, vừa khéo cũng có ở Triết Giang, Đường Hiểu Lan đánh liều đến bái phỏng, Cam Phụng Trì tuy không tin nhưng rất thông tình đạt lý, thế là liền cho chàng biết nơi ở của Lữ Tứ Nương. Nhưng ông ta vẫn đề phòng chàng có vây đãng nên âm thầm đi theo phía sau cho đến Tiên Hà lĩnh, thấy một mình chàng lên núi mới thôi.

Đường Hiểu Lan ngồi bên dòng thác kể từ đầu đến cuối, bao nhiêu nỗi ấm ức trong lòng chàng đều được giải bày. Hai người đã nói được nửa ngày, Lữ Tứ Nương mỉm cười đứng dậy, kéo Đường Hiểu Lan leo lên một tảng đá, chỉ xuống núi cười nói: “Đệ lên cao nhìn xuống thử”. Đường Hiểu Lan cũng nghe lời leo lên tảng đá nhìn xuống, chỉ cảm thấy trong tầm mắt mình đồng ruộng mênh mông, bất giác lòng nhẹ nhõm, nỗi phiền muộn tiêu tan. Lữ Tứ Nương nói: “Đời người có quá nhiều chuyện không như ý, cần gì phải giữ trong lòng”. Rồi mỉm cười, Đường Hiểu Lan chợt thấy đám mây đen trong lòng đã bị nụ cười của nàng xua tan.

Chính là:

Núi sông như tranh vẽ, cung quắc thắng tu mi.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 15: Luận thế đàm từ một lời hiểu đại nghĩa Tìm hiểu bí mật du hiệp lộ thần oai

Lữ Tứ Nương lại cười nói: “Nghe nói khi đệ ở nhà Dương Trọng Anh, ban ngày học võ ban đêm luyện văn, đã từng viết một bài từ ‘Bách hoa lệnh’?” Đường Hiểu Lan đỏ mặt, ấp úng nói: “Bài từ này chẳng qua là đùa lúc còn thiếu niên, chẳng hay ho gì cả”. Té ra chàng viết bài từ này là vì nhớ Lữ Tứ Nương, không biết sao nàng đã biết, nghe nàng nhắc tới thì trong lòng lo âu. Lữ Tứ Nương nói: “Ta đã từng đọc bài từ này của đệ tuy cũng có ‘từ vị’ nhưng quá đau thương, người trẻ tuổi không nên như thế. Mấy câu mở đầu của đệ ‘Phiêu bình quyện lữ, toán mang mang nhân hải, bằng hữu tri phủ?’ nghe rất quạnh quẽ đau lòng. Thực ra trong biển người mênh mông, có rất nhiều người tri kỷ, vả lại chỉ cần đệ hành động hợp với nghĩa, cần gì lo không có người tri kỷ?”

Lữ Tứ Nương chỉ lấy từ luận thế, nửa câu chẳng nhắc đến tình nhi nữ. Đường Hiểu Lan cúi đầu không nói, trong lòng suy nghĩ mông lung.

Lữ Tứ Nương mỉm cười, lại nói: “Lúc còn bé ta đã từng làm một bài từ ‘Thủy long ngâm’, trong đó có hai câu: ‘Mạc học tân thanh hậu chủ, khủng từ tiên tiếu y hà khổ?’ ta thấy không bệnh mà ngâm đương nhiên không tốt, có bệnh ngâm cũng chẳng cần. Nếu bậc đại trượng phu gặp nguy nan, cần phải đứng vững như kiềng ba chân, gánh vác trách nhiệm, vượt qua cửa ải khó khăn, nếu học từ thì phải học theo Tô Đông Pha hay Tân Khí Tật, không nên theo đòi kẻ mất nước như Lý Hậu Chủ? Đệ đã từng đọc bài từ ‘Hạ tân lang’ của Tân Khí Tật chưa, ba câu đầu của bài từ này cũng giống như ba câu đầu trong ‘Bách hoa lệnh’ của đệ, nghe như than vắn thở dài, nhưng bài từ của ông ta lại có hào khí, khác hẳn với của đệ. Đệ có nhớ không, hãy thử đọc cho ta nghe”.

Đường Hiểu Lan ngẩng đầu lên, đọc rằng: “Thậm hĩ ngô suy hĩ! Trướng bình sinh giao du linh lạc, chích dương dư kỷ. Bạch phát không thùy tam thiên trượng, nhất tiếu nhân gian vạn sự, vấn hà vật năng lệnh công hỉ? Ngã kiến thanh sơn di ủy mị, liệu thanh sơn kiến ngã ứng như thị. Tình giữ mạo, lược tương tự. Nhất tôn sao đầu đông song lý, tưởng Uyên Minh, đình vân thi tựu, hà thời phong vị. Gian tả trầm cam cầu danh giả, khởi thức trọc lưu diệu lý? Hồi đầu khiếu vân phi phong khởi. Bất hận cổ nhân ngô bất kiến, hận cổ nhân bất kiến ngô cuồng da! Tri ngã giả, nhị tam tử”.

Tân Khí Tật viết bài từ này lúc tuổi đã về chiều nhưng hào khí tiêu thoát, còn hơn cả thiếu niên. Đường Hiểu Lan đọc xong, chợt thấy mình sao quá hẹp hòi, không khỏi tự cười mình, Lữ Tứ Nương không dùng lời an ủi chàng nhưng đã lấy từ để dẫn dắt chàng. Đường Hiểu Lan thấy lòng dần dần thư thái, chợt hỏi: “Tỷ tỷ hãy đọc lài bài ‘Thủy long ngâm’ cho đệ nghe thử”.

Lữ Tứ Nương nghĩ ngợi rồi đáp: “Cũng được”. Từ rằng:

“Vô biên phiêu diễu kỳ phong, tăng thụy ngã cựu thời gia xứ. Phất tụ khứ lai, nhuyễn trần sơ đạp, thạch môn tây trú. Đoản trợ tài hoa, trường thi tá tửu, kỹ hồi ngưng trữ. Quán liệt địch suy vân, cao ca tán vụ, chấn y thượng, thiên nham thụ.

Mạc học tân thanh hậu chủ, khổng từ tiên tiếu y hà khổ? Trích đẩu tinh duy, kinh sa lạc nguyệt, tụy khai vân lộ. Phùng đảo cựu du, viên kiều tân cảnh, tùng đầu phi độ. Thả bút tả tây giang, vân phiên bất hải, hoán thần long vũ”.

Bài từ này nghe sao hào tình muôn trượng, chí lớn cao vời, cõi lòng rộng mở. Nếu Lữ Tứ Nương không nói, Đường Hiểu Lan không dám tin rằng đây là một bài từ của một nàng thiếu nữ. Hai người nói chuyện rất hợp nhau, Đường Hiểu Lan thấy nỗi sầu muộn tuy tiêu tan nhưng cũng muốn hỏi đến đạo lập thân của nàng, đang suy nghĩ chợt nghe Nhất Phiêu hòa thượng kêu lớn: “Tứ Nương, Thẩm tiên sinh đang tìm”. Lữ Tứ Nương ngẩng đầu nhìn lên, cười rằng: “Đúng là nói chuyện vui đến nỗi chẳng biết thời khắc, vầng dương đã dời về phía Tây. Chắc đệ cũng đã đói bụng, vào chùa ăn lót dạ trước đã”.

Đường Hiểu Lan theo Lữ Tứ Nương xuống núi, hỏi: “Thẩm tiên sinh là ai?” Lữ Tứ Nương cười nói: “Chính là người mà ta thường nhắc với đệ, Thẩm Tại Khoan”. Đường Hiểu Lan kêu ồ một tiếng, nói: “Chẳng phải y đã bị bắt năm năm trước rồi sao?” Lữ Tứ Nương nói: “Cam sư huynh không nói với đệ, sau này bọn ta đã cứu chàng”. Đường Hiểu Lan thấy lòng xao xuyến, sau đó mới nghĩ: “Lữ Tứ Nương coi mình như tiểu đệ, đã khiến cho mình ghi tâm khắc cốt, làm sao có thể mong muốn được nhiều hơn?” chính vì nghĩ thế nên cõi lòng đã bình lặng, chàng lầm lũi bước theo Lữ Tứ Nương vào thiền viện.

Thẩm Tại Khoan vừa mới thức dậy, ngẫm nghĩ những lời nói buổi sáng của Lữ Tứ Nương, chỉ cảm thấy ngọt ngào tình tứ, chàng lập lại hai câu: “Kiếm liễu hựu hưu hoàn tự mộng, tọa lai tuy cận viễn như thiên” chàng đọc xong hai câu bất giác cười buồn. Thầm nhủ: “Lữ Tứ Nương đã yêu thương sâu sắc đến thế, mình còn tự tìm khổ não là vì cớ gì?” rồi chàng lại nghĩ: “Lữ Tứ Nương xinh đẹp tuyệt trần, năm năm qua chịu đựng nỗi cô quạnh, bầu bạn với kẻ tàn phế như mình, vả lại còn muốn suốt đời theo mình, tình ý ấy thật hiếm có”. Lúc này bao nhiêu nỗi ưu phiền cũng tan biến.

Lữ Tứ Nương dắt Đường Hiểu Lan vào thiền viện, hai người đi sánh vai bên nhau, Đường Hiểu Lan cao hơn Lữ Tứ Nương, trước thiền viện có một cái đầm nhỏ, nước trong đầm trong vắt, dưới đầm hắt bóng một chàng thiếu niên anh tuấn, một nàng thiếu nữ xinh đẹp. Lúc nãy nghe Đường Hiểu Lan than thở, Lữ Tứ Nương đang mãi nghĩ cách giải nguy cho chàng, trong lòng chẳng có ý gì khác, chẳng hề để ý đến hai chiếc bóng dưới mặt đầm, khi bước vào thiền viện chợt thấy bài từ của Thẩm Tại Khoan, nàng sợ Thẩm Tại Khoan vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng mình, thấy Đường Hiểu Lan sẽ hiểu nhầm, há chẳng phải khiến chàng bệnh nặng hơn hay sao? Nàng nghĩ đến đấy chân chợt chậm lại. Đường Hiểu Lan tựa như hiểu ra, chàng quay đầu hỏi: “Tỷ tỷ, tỷ đang nghĩ gì thế?” Lữ Tứ Nương ngẩng đầu lên, ánh mặt trời rực rỡ, hoa núi như đang cười, nói rằng: “Không sao cả!” nàng bước tới trước hai bước, dắt Đường Hiểu Lan vào thiền viện, đến trước cửa một căn phòng, kêu lên: “Tại Khoan, có khách đến viếng thăm huynh!”

Giường của Thẩm Tại Khoan kê sát cửa phòng, chàng vươn tay là có thể mở then cài, nhưng chàng bước xuống giường, vịn vách tường ra mở cửa, Lữ Tứ Nương vội vàng đỡ chàng, nói: “Huynh vừa mới cử động được, không nên quá mệt nhọc”. Thẩm Tại Khoan thấy Đường Hiểu Lan, chỉ ngạc nhiên rồi nói: “Muội phải tiếp đãi khách trước”. Lữ Tứ Nương nói: “Đây là người bằng hữu rất thân của muội”. Rồi nàng liếc Thẩm Tại Khoan, thấy chàng chẳng đổi sắc, đỡ chàng lên giường rồi giới thiệu cho hai người. Thẩm Tại Khoan nói: “Xin mời Đường huynh ngồi xuống, tôi đi đứng không tiện, xin được thất lễ”.

Đường Hiểu Lan thấy thế mới biết năm năm nay Lữ Tứ Nương bầu bạn bên cạnh một người tàn phế, trong lòng rất cảm động, càng cảm thấy Lữ Tứ Nương khắc hẳn người thường!

Lữ Tứ Nương vào nhà bếp lấy cơm chay bưng vào phòng, Đường Hiểu Lan đang nói chuyện với Thẩm Tại Khoan. Cơm nước xong Đường Hiểu Lan nói: “Tôi có một việc muốn thỉnh giáo Thẩm huynh”. Thẩm Tại Khoan nói: “Xin cứ nói”.

Đường Hiểu Lan lại kể mọi chuyện một lượt. Thẩm Tại Khoan nghe xong, chợt ngồi bật dậy, nói: “Nếu Đường huynh không cho tôi là người ngoài, tôi cũng muốn giúp cho Đường huynh. Oanh muội, muội hãy đi theo Đường huynh một chuyến!” Lữ Tứ Nương ngạc nhiên nói: “Còn huynh?” Thẩm Tại Khoan nói: “Nay huynh bệnh tình đã khá, có Nhất Phiêu đại sư chăm sóc là đủ. Việc của Đường huynh phải nhờ muội. Đường huynh và chúng ta là bằng hữu tri giao, y đang gặp nguy, lẽ chúng ta ngồi yên mà nhìn?” Lữ Tứ Nương không ngờ chàng lại phóng khoáng đến thế, bất giác cảm động đến rơi nước mắt.

Thẩm Tại Khoan lại nói: “Lần này Đường huynh gặp nạn, theo ta thấy, nạn ngoài dễ giải, giặc trong khó trừ”. Đường Hiểu Lan đã xem Thẩm Tại Khoan là ca ca, nói: “Mong được nghe dạy”. Thẩm Tại Khoan nói: “Đường huynh bị lệnh sư hiểu lầm, nếu có Tứ Nương ra giải thích, chắc mọi việc rồi sẽ yên. Chỉ có điều Đường huynh vừa biết thân thế, từ rày về sau sẽ rất khó xử”. Một lời nói trúng đích, Đường Hiểu Lan đang lo vì mình có huyết thống hoàng tộc. Thẩm Tại Khoan lại chậm rãi nói: “Cứ làm điều trăm họ thích, ghét điều trăm họ ghét, đó chính là đạo lập thân ở đời”. Đường Hiểu Lan cúi đầu suy nghĩ một lúc rất lâu, chợt ngẩng đầu lên nói: “Đa tạ Thẩm huynh chỉ giáo”.

Thẩm Tại Khoan nói: “Oanh muội, ngày mai muội hãy theo Đường huynh xuống núi”. Lữ Tứ Nương xao xuyến, chợt nói: “Vài ngày nữa là thắt tịch”. Thẩm Tại Khoan biết nàng vẫn còn lưu luyến mình, cười rằng: “Từ của Thiếu Du có viết rằng: ‘Kim phong ngọc lộ nhất tương phùng, tiện thắng khước nhân gian vô số’. Lại nói: ‘Lưỡng tình nhược thị cửu trường thời, hựu khởi tại triêu triêu mộ mộ’ năm năm qua chúng ta ở bên nhau, còn may mắn hơn cả Ngưu Lang Chức Nữ, đâu cần phải đau lòng vì một lúc tiểu biệt” Lữ Tứ Nương nghe xong, biết chàng đã hoàn toàn tin tưởng mình, chẳng hề có ý hoài nghi, tuy trong lòng có chút quyến luyến nhưng cũng thấy chút ấm áp.

Đang nói, Nhất Phiêu đại sư chợt gõ cửa nói: “Lữ Tứ Nương, không biết hôm nay có ngọn gió gì mà khách lại tới nữa!” Lữ Tứ Nương nói: “Ai thế?” Nhất Phiêu nói: “Chính là Giang Nam đại hiệp Cam Phụng Trì”. Đường Hiểu Lan nói: “Cam đại hiệp chỉ dẫn cho tôi đến dãy Hà Lĩnh, tôi tưởng rằng ông ta không đến”. Lữ Tứ Nương nói: “Cam sư huynh đến đây chắc có việc lớn”. Rồi cùng Đường Hiểu Lan bước ra nghênh tiếp.

Cam Phụng Trì thấy Đường Hiểu Lan cùng Lữ Tứ Nương bước ra, biết những điều chàng nói không phải là giả, thái độ thân mật hơn trước nhiều, nắm tay chàng cười nói: “Ta âm thầm bảo vệ ngươi lên núi, ngươi có biết không?” Đường Hiểu Lan hơi hổ thẹn, nói: “Tiểu đệ chẳng hề hay biết”.

Lữ Tứ Nương hỏi: “Năm năm qua các sư huynh có khỏe không?” Cam Phụng Trì nói: “Một hai năm nay ta ít gặp mặt họ. Không ngờ lúc nãy vô tình nhặt được tín vật của đồng môn”. Lữ Tứ Nương ngạc nhiên nói: “Vị sư huynh nào nhờ người đến gặp muội?” Cam Phụng Trì lấy ra một bức tranh, đưa cho Lữ Tứ Nương nói: “Muội hãy xem thử bút tích của ai trong bức tranh này?” trong bức tranh là một con chim ưng, trông rất uy võ nhưng bị nhốt trong lồng, mỏ chim ưng thì ra khỏi lồng, hai cánh giang rộng tựa như muốn kêu lên. Bên cạnh cái lồng chim có một nàng thiếu nữ dung mạo tựa như Lý Minh Châu con gái của Tuần phủ Triết Giang. Lữ Tứ Nương nhìn một hồi thì kêu lên: “Chả lẽ Lộ sư huynh bị Triết Giang tuần phủ giam lỏng?”Lộ Dân Đảm là con em nhà thế gia, võ công tuy không cao nhưng tài vẽ nổi tiếng, nhất là vẽ chim ưng. Trong bức họa này chàng ta đã vẽ chim ưng trong lồng, tựa như lấy chim ưng để nói người, thầm bảo mình bị giam. Lữ Tứ Nương rung giọng hỏi: “Cam sư huynh, làm sao huynh có được bức tranh này?”

Cam Phụng Trì trả lời: “Sau khi huynh đưa Đường huynh lên núi, một mình quay trở về Triết Giang, đi được khoảng ba bốn dặm đường, chợt nghe sau núi có tiếng ngựa hí, lại còn có cả tiếng kêu thê lương”. Lữ Tứ Nương biến sắc, nói: “Chả lẽ triều đình biết muội ẩn cư ở đây?” Cam Phụng Trì nói: “Huynh cũng lo như thế nên vội vàng chạy ra sau núi xem sao, chỉ thấy trên dịch đạo bụi tung bay mù mịt, mấy thớt ngựa đã phóng đi. Huynh nghĩ đuổi theo không kịp nữa chỉ đành đến xung quanh quan sát kỹ càng, chợt thấy trên tảng đá dưới chân núi có mấy vệt máu, chắc là lúc nãy có người kịch đấu trên dịch đạo, giằng co đến đây thì đã bị bắt”. Đường Hiểu Lan nói: “Theo Cam đại hiệp thấy, bọn chúng có muốn lên núi không?” Cam Phụng Trì đáp: “Ta cũng không rõ. Dấu chân và dấu máu cho thấy tựa như có cuộc đánh nhau từ dịch đạo đến sườn núi, sau đó càng đánh càng kéo xa. Xem tình hình hình như có vài người vây đánh một người, sau đó người này đã bị bắt. Giả sử những người này muốn lên núi, bọn chúng không cần phải quay ra gấp như thế”.

Lữ Tứ Nương hơi lo lắng, nói: “Kẻ bị bắt không biết có phải là Lộ sư huynh hay không?” Cam Phụng Trì nói: “Ta thấy cũng không phải. Lộ sư đệ không có võ công cao như thế”. Đường Hiểu Lan ngạc nhiên nói: “Cam đại hiệp không tận mắt chứng kiến, làm sao biết võ công của người ấy giỏi hay giở?” Cam Phụng Trì nói: “Dấu chân rất rõ ràng dưới đất, từ sự phân bố của dấu chân và các dấu vết di chuyển có thể nhiều người vây đánh một người, còn bộ pháp của người bị truy đánh thì không hề bị rối loạn, tiến lui rất có phép tắc. Lộ sư huynh tuy cũng có được võ công như thế nhưng y ít có kinh nghiệm, khi lâm địch không hề binh tĩnh như thế”. Cam Phụng Trì phân tích rất có lý, không những khiến Đường Hiểu Lan phục lăn mà Lữ Tứ Nương cũng cảm thấy chàng ta đúng là một đại hành gia trên giang hồ, dược lực chẳng kém gì mình.

Cam Phụng Trì nói: “Gần đây ta định đi xa, đến bái phỏng các vị sư huynh. Còn nữa, năm ngoái ta nghe nhị sư huynh nói, Quan Đông tứ hiệp rất muốn gặp mặt ta, có lẽ ta sẽ lên kinh sư, rồi từ đó đi sang Liêu Đông”. Lữ Tứ Nương cười nói: “Vậy thì tốt quá, ngày mai muội và Đường Hiểu Lan sẽ đi xa, vậy chúng ta sẽ đi cùng một đường. Có sư huynh đi cùng, bọn muội cũng yên tâm hơn nhiều”. Cam Phụng Trì nói: “Còn Thẩm tiên sinh thì sao?” Lữ Tứ Nương nói: “Gần đây chàng đã khá nhiều, hôm nay có thể vịn vách mà đi. Chàng biết chuyện của Hiểu Lan, bảo muội nên giải thích hộ cho giang hồ biết”. Cam Phụng Trì nói: “Thẩm tiên sinh can đảm tương chiếu, tuy là một thư sinh nhưng còn hiệp nghĩa hơn cả chúng ta!” thế rồi bảo Lữ Tứ Nương giới thiệu, đến tịnh thất bái kiến Thẩm Tại Khoan. Thẩm Tại Khoan nghe Cam Phụng Trì sẽ đi cùng họ, chàng càng thêm yên tâm.

Sáng sớm hôm sau, hai người cùng xuống núi rồi đi lên phía Bắc. Để cho tiện, Lữ Tứ Nương cải dạng nam trang, Cam Phụng Trì sửa đổi khuôn mặt cho Đường Hiểu Lan, trên đường quả nhiên không ai nhận ra.

Phía Bắc của dãy Tiên Hà là Triết Giang, ba người đi tới Du Long, Kim Hoa, rẽ sang phía Đông xuống Nghĩa Ô, Thiệu Hưng, đi thẳng đến Tiêu Sơn, định rằng đến nhà Lộ Dân Đảm thăm hỏi trước. Ra khỏi Tiêu Sơn là vùng ven biển Hàng Châu. Lữ Tứ Nương ở lâu trong núi, lúc này thấy biển rộng thì trong lòng thư thả. Hôm nay họ tiếp tục tiến về phía nhà Lộ Dân Đảm, con đường lớn dựa vào núi hướng mặt ra biển, Lữ Tứ Nương nhất thời nổi hứng, cùng hai người Cam, Đường lên núi, phóng mắt nhìn ra biển khơi, chỉ thấy đảo lớn đảo nhỏ nằm xen kẽ vào nhau, những con thuyền đánh cá như những đốm sao trên bầu trời, đang lúc ngắm cảnh, chợt nghe Cam Phụng Trì kêu.

Lữ Tứ Nương quay đầu lại, ngạc nhiên hỏi: “Chuyện gì thế thất sư huynh?” Cam Phụng Trì nói: “Muội xem đây”. Rồi dắt Lữ Tứ Nương đến phía dưới một mõm đá, phủi bụi trên đá chỉ thấy bên trên là những ký hiệu trông rất kỳ quái, Lữ Tứ Nương cũng không nhận ra, ngạc nhiên nói: “Những ký hiệu này có nghĩa là gì?” Cam Phụng Trì nói: “Huynh cũng không biết, có lẽ là ám hiệu của các bang hội trong giang hồ”. Lữ Tứ Nương nói: “Chúng ta không cần lo chuyện bao đồng”. Cam Phụng Trì nói: “Không sao, muội hãy tới xem thử”. Rồi dắt Lữ Tứ Nương bước xuống, có đến bảy tám hòn đá vẽ ký hiệu này.

Cam Phụng Trì nói: “Huynh hiểu đại khái hai loại ám hiệu, ý nghĩa là hẹn đến đây tụ hội”. Lữ Tứ Nương nói: “Chả lẽ hòn núi này là nơi hổ ẩn rồng nằm, có hào kiệt trên giang hồ? Nhưng chuyện đó cũng không liên quan tới chúng ta”. Cam Phụng Trì nói: “Bát muội, muội và Lộ sư huynh một người ở Triết Đông, một người ở Triết Tây, huynh cũng thường qua lại hai miền, các nhân vật có tiếng tăm ở miền này huynh cũng đều quen, nhưng chưa từng nghe nói quê Lộ sư huynh cũng có hào khách giang hồ ẩn cư”. Lữ Tứ Nương nói: “Có phải thất ca nghi ngờ chuyện này có liên quan đến Lộ sư huynh?” Cam Phụng Trì nói: “Huynh không dám chắc, nhưng từ đây đến nhà Lộ sư huynh chỉ còn hơn mười dặm đường, huynh cũng chưa bao giờ nghe Lộ sư huynh nói quê hương của y có người võ công cao cường nên rất lấy làm lạ. Chúng ta tìm hiểu thử xem sao”. Ba người đi một hồi nữa, thấy ở sườn núi đối diện có khói bốc lên từng cuộn, Lữ Tứ Nương nói: “Hình như bên đó có nhà”. Cam Phụng Trì cười rằng: “Chúng ta qua đó xem thử”. Ba người đi xuống một hồi lại thấy có ruộng lúa, Cam Phụng Trì cười nói: “Đâu chỉ là nhà, còn có cả thôn làng!”

Ba người băng ngang qua thung lũng, đến chân núi đối diện, Cam Phụng Trì vừa lên núi vừa đưa mắt thăm dò, lên được nửa chừng phát hiện có ba ám hiệu của các bang hội. Đi một hồi nữa lên đến đỉnh núi, chỉ thấy phía bên núi khói cuộn lên mù mịt, Lữ Tứ Nương cười nói: “Chúng ta đi cả nửa ngày, người dưới chân núi cũng đã nghỉ ngơi, nổi lửa nấu cơm. Chúng ta không ra thì đêm nay phải đành ở lại đây”. Cam Phụng Trì nói: “Xem một lúc nữa”. Đột nhiên ngừng lại, lộ vẻ ngạc nhiên.

Xưa nay Cam Phụng Trì là người trầm lặng. Trong số các đồng môn chàng là người bình tĩnh nhất dù là có chuyện gì xảy ra. Lữ Tứ Nương ngạc nhiên nói: “Thất ca, huynh lại thấy gì thế?” Cam Phụng Trì trầm ngâm không nói, một hồi sau mới trả lời: “Chẳng lẽ có sư huynh nào bị vây ở đây, điều này thật khiến ta không hiểu nổi!” Lữ Tứ Nương bước ra khỏi mõm đá, bên cạnh mõm đá có một tảng đá nhọn như mũi kiếm, trơn láng như mặt kính, trên đá có khắc ám hiệu các đồng môn thường dùng, ám hiệu rất rời rạc đơn giản, chỉ có bốn chữ: “Bị vây, cứu viện”. Cam Phụng Trì nói: “Muội nhìn xong, đây có phải là ám hiệu của đồng môn chúng ta không?” Lữ Tứ Nương nói: “Có điều gì đáng nghi?” Cam Phụng Trì nói: “Nếu là ám hiệu của các sư huynh, sao không có các con số?” té ra các đệ tử của Độc tý thần ni khi liên lạc với nhau cũng phải sắp xếp theo thứ tự. Ví dụ khi Cam Phụng Trì để lại dấu hiệu sẽ ký chữ thất, Lữ Tứ Nương sẽ viết thêm chứ bát, Cam Phụng Trì nói: “Muội có thấy điều gì lạ hơn không?”

Lữ Tứ Nương nói: “Thất ca, những ký hiệu này rất đơn giản, huynh làm sao thấy được nhiều điều? Còn có chuyện gì lạ nữa đâu? Muội chẳng thấy điều gì cả”. Cam Phụng Trì nói: “Những ám hiệu này tuy lấy móng tay thay bút, dùng chỉ lực vạch trên tảng đá. Xem ra công lực của người này hơn Lộ sư huynh nhưng kém Bạch sư huynh, tương đương với Châu sư huynh và Tào sư huynh, nhưng nếu hai người Châu, Tào viết, vết tích tất nhiên sẽ già dặn, nhưng những ký hiệu này xem ra rất non nớt, ta đoán rằng, người để lại ám hiệu không phải là người của bổn môn”. Lữ Tứ Nương thầm phục. Cam Phụng Trì nhìn một hồi rồi lại cười nói: “Lúc này huynh có thể đoán được đại khái ai”. Lữ Tứ Nương chợt cười nói: “Thất ca, huynh khoan nói, để muội đoán thử trước”. Đường Hiểu Lan cũng ngưng thần chăm chú, thế nhưng chẳng phát hiện được điều gì, đang lấy làm buồn bực. “Người để lại ám hiệu là nữ tử, còn trẻ hơn cả muội”. Cam Phụng Trì vỗ tay cười nói: “Đúng thế”.

Đường Hiểu Lan hỏi: “Các người rốt cuộc có nhận ra chưa?” Lữ Tứ Nương nói: “Đệ có nghiên cứu thư pháp không?” Đường Hiểu Lan nói: “Đệ từ nhỏ đã thất học, sau này theo Dương sư phụ mới học chữ nghĩa, lúc đó chỉ ham đọc thư từ chứ ít cầm bút luyện chữ”. Lữ Tứ Nương nói: “Nét chữ của nữ tử mềm mại hơn nam tử, có lẽ đệ cũng biết điều này. Những ký hiệu này tuy không phải là thứ chữ vuông vức, vả lại dùng chỉ lực vạch vào nhưng vẫn còn mang theo cách khác. Móc, mác giống với loại chữ được viết như bình thường, làm sao không thể nhận ra?” Cam Phụng Trì nói: “Huynh không nhận ra người này có hiểu biết thư pháp nhưng những ký hiệu trông nắn nót, bởi vậy có thể đoán được do một người phụ nữ dùng ngón tay vạch vào. Bát muội, muội tuy thiếu kinh nghiệm giang hồ nhưng rất thông minh”. Lữ Tứ Nương đỏ mặt: “Có phải ký hiệu của đồng môn để lại hay không muội cũng chẳng biết mà còn bảo thông minh?” Cam Phụng Trì nói: “Điều đó chẳng trách muội, muội vẫn còn chưa gặp mặt vài vị sư huynh, đương nhiên không hiểu rõ công lực của họ bằng huynh”. Cam Phụng Trì nghĩ ngợi rồi lại nói: “Trong sư môn ngoại muội, chẳng còn nữ tử nào khác, nàng làm sao biết ám hiệu của chúng ta, điều này thật kỳ lạ. Đã đi đến đây, chúng ta hãy xuống ngôi làng phía dưới núi dò hỏi thử”.Ba người leo lên đỉnh núi nhìn xuống, cảnh tưởng ở phía sau núi lại khác hẳn, chỉ thấy những hòn núi nhỏ chập chùng, tựa như núi non trùng điệp, nhưng ở sườn núi lại có con đường nhỏ lượn quanh. Cam Phụng Trì cười nói: “Tình thế ở nơi này cũng rất tốt”. Cả ba người từ trên đường núi đi xuống, đi được lưng chừng núi đã thấy dưới chân núi có hơn mười căn nhà. Lúc này mặt trời đã ngả về Tây, chim bay về tổ hót ríu rít nghe vui tai.

Ba người tiến dần vào thôn, người trong thôn đều đã dùng cơm, chỉ có vài người đang dạo bên ngoài, thấy ba người khách lạ đều rất ngạc nhiên. Trong thôn có một nhà họ Chu là đông nhất, Cam Phụng Trì vốn định hướng nhà người đó, có người bước tới hỏi: “Có phải quý khách tìm Trang chủ hay không?” Cam Phụng Trì nói: “Đúng thế”. Người đó nói: “Xin đợi một lát”. Rồi chạy đi như bay, Cam Phụng Trì khẽ nói với Lữ Tứ Nương: “Lát nữa chúng ta bước vào, cứ mặc huynh ăn nói, nếu có sự biến gì, hãy nhìn ánh mắt của ngu huynh mà làm theo”. Lữ Tứ Nương gật đầu. Lúc này họ đã đến trước căn nhà, hai cánh cửa sơn son đã mở toang.

Hai đại hán bước ra ngoài cửa, đưa tay chỉ xuống đất, hỏi: “Hai vị là đồng nguyên cùng đạo hay thiên kim nhập thổ?” Đó là tiếng lóng thường dùng trong bang hội, có nghĩa là: “Các người là người của bang phái khác nhưng đồng đạo hay là huynh đệ trong bổn bang đến tìm Long Đầu đại ca?” Cam Phụng Trì dựng ngón tay cái chỉ lên trời, lớn giọng nói: “Nhật nguyệt tinh thần, không về bùn đất”. Hai đại hán mặt biến sắc, vội vàng cung kính nói: “Xin mời ba vị vào, để tiểu nhân bẩm cáo Trang chủ”. Té ra hai câu nói ấy thể hiện thân phận của Cam Phụng Trì, nói rõ chàng không phải là người trong bang hội, không ai quản được chàng. Người nói câu này nếu không phải là đầu lĩnh của một phái thì cũng là nhân vật có danh tiếng.

Hai đại hán dắt ba người vào khách sảnh, ngồi một hồi chỉ thấy một ông già khỏe mạnh tuổi khoảng lục tuần từ hậu được bước ra, chắc đây chính là Thượng trang chủ. Đường Hiểu Lan toan đứng dậy, Cam Phụng Trì đã bật dây trước, bước ra giữa ba bước, sau đó bước ngang sang trái một bước, lại nhảy ngang sang phải một bước, lùi ba bước, rồi mới tỏ ý bảo hai người Lữ, Đường đứng dậy ôm quyền hành lễ. Ông già này chưng hửng, trông rất tức giận.

Té ra Thượng trang chủ này rất có danh tiếng, nghe thủ hạ báo rằng có ba người đến gặp, vội vàng ra nghênh tiếp, vừa nhìn thì rất thất vọng, lão tưởng là nhân vật thành danh nào đó, nào ngờ chẳng quen biết ai. Vả hai người Lữ, Đường trông rất trẻ tuổi, nhất là Lữ Tứ Nương vì học thuật Kiểm tinh nội thị của Dịch Lan Châu nên trông cứ như một thư sinh yếu đuối khoảng hai mươi tuổi; trong ba người thì Cam Phụng Trì lớn tuổi nhất, thái độ tuy già dặn nhưng chẳng qua chỉ mới hơn ba mươi tuổi, vả lại sắc mặt vàng ệt ốm yếu, trông giống như một người bệnh. Thượng trang chủ tưởng rằng bọn họ là những tên lừa đảo. Nhưng Cam Phụng Trì tiến lên rồi lui lại, hành lễ nhưng người bằng vai phải lứa, lúc đầu Thượng trang chủ tức giận, nhưng nghĩ họ đã có thể đến tìm mình, chắc chắn đã biết danh tiếng của mình, đã dám dùng lễ bằng vai phải lứa, chẳng phải là nhân vật tầm thường. Trên giang hồ dị nhân rất nhiều, lão không dám coi thường, thế là cười ha hả, ôm quyền trả lễ, ngầm vận công lực nội gia quét quyền phong về phía Cam Phụng Trì, Cam Phụng Trì chẳng hề nhúc nhích, trả lại một vái, Thượng trang chủ hơi run người, vội vàng kìm người lại, cười rằng: “Lão huynh công phu thật giỏi, hai vị tiểu ca này có phải là môn hạ của huynh không?” Cam Phụng Trì nói: “Đều là bằng vai phải lứa với tôi”. Thượng trang chủ đưa tay ra nói vói Lữ Tứ Nương: “Lão phu lỡ lời, xin thứ tội không biết”. Lữ Tứ Nương đưa tay ra nắm lấy tay y, Thượng trang chủ chợt thấy cổ tay tê rần, công phu của Lữ Tứ Nương còn hơn cả Cam Phụng Trì. Trong ba người thì Đường Hiểu Lan tráng kiện khỏe khoắn nhất, Thượng trang chủ không dám thử nữa, vội vàng mời ba người ngồi vào chỗ.

Cam Phụng Trì nói: “Nghe nói Trang chủ sắp làm lễ mừng thọ, ba huynh đệ chúng tôi đến đây làm phiền”. Đường Hiểu Lan ngạc nhiên thầm nhủ: “Làm sao Cam đại hiệp biết lão già này làm lễ mừng thọ?” chàng nào biết đó chính là tiếng lóng trong bang hội. Cam Phụng Trì đến đây, thấy hơn mười ám hiệu của bang hội, liệu rằng chủ nhân ở đây chính là chủ của một bang hội, có thể gần đây sắp mời người khác bang hội đến gặp gỡ bí mật. Cuộc gặp gỡ này được gọi là làm lễ mừng thọ nên Cam Phụng Trì mới buông lời hỏi dò. Không ngờ Thượng trang chủ cười ha ha: “Ba vị cao hiền nếu đã chịu đến đây, thật là vinh dự cho chúng tôi rất nhiều, chỉ là còn mấy ngày nữa mới đến kỳ hạn, ba vị cao hiền đành phải ở lại chờ!” Cam Phụng Trì nói: “Nếu đã là như thế, chúng tôi chỉ đành quấy rầy”. Thế rồi hỏi họ tên, Cam Phụng Trì đổi tên thành Đường Long, Lữ Tứ Nương đổi tên thành Lý Song Song, Đường Hiểu Lan đổi tên thành Phùng Nghiêu. Thượng trang chủ hỏi: “Ba vị là người ở phương nào?” Cam Phụng Trì nói: “chúng tôi chỉ như nước chảy mây bay, không dừng lại một nơi nào cả”. Thượng chủ lại hỏi: “Danh hiệu của ba vị trên giang hồ là gì?” Cam Phụng Trì lại đáp: “Không có danh hiệu không có môn phái, có hoa cắm hoa, có rượu uống rượu, trong hồ bốn biển đều là bằng hữu”. Hai người dùng ám ngữ trên giang hồ hỏi đáp nhau khiến Đường Hiểu Lan càng thêm thắc mắc. Té ra Thượng trang chủ vẫn còn nghi ngờ, trước tiên hỏi chàng có phải là Trại chủ hay đại ca của một thương đường nào đó hay không, Cam Phụng Trì nói không phải, vì thế lại hỏi có phải là đại đạo cước trên giang hồ không, Cam Phụng Trì lại bảo không phải, lại còn nói họ Niên quan gì đến hai phái hắc bạch nhưng người trên giang hồ đều là bằng hữu. Thân phận như thế thật là không đơn giản, nếu không phải cao nhân tiền bối thì là hiệp khách đã thành danh. Dù Thượng trang chủ hiếu biết rõ ràng cũng không đoán được. Ông ta thầm điểm lại các nhân vật thành danh trên giang hồ mà chẳng thấy ai trẻ tuổi như họ cả. Thượng trang chủ chỉ đành lấy lễ thượng khách tiếp đãi, bảo trang đinh dắt họ đến phòng khách yên nghỉ. Thượng trang chủ thầm nhủ, Hàn lão quái nếu đêm nay không đến chắc sẽ ngày mai. Lão ta nhất định biết lai lịch của ba người này.

Ba người vào phòng khách, Lữ Tứ Nương khẽ hỏi: “Thất ca xưa nay thâm tàn bất lộ, không biết lúc này sao lại tỏ thân phận?” Cam Phụng Trì nói: “Thượng trang chủ chắc hẳn là đầu lĩnh của một bang hội, chúng ta ngang nhiên xông vào đây, nếu không lộ một chút thân phận, y làm sao chịu tiếp đãi. Chúng ta đã không phải là người trong bang hội, chỉ đành mượn danh du hiệp giang hồ”. Thực ra, Cam Phụng Trì là một du hiệp tiếng tăm lừng lẫy nhất trên giang hồ lúc này, chẳng hề “mượn danh” tí nào. Cũng chính vì thế, Thượng trang chủ không dám đoán đây chính là Cam Phụng Trì.

Nghỉ ngơi một hồi, Cam Phụng Trì sai người đưa cơm nước đến, Lữ Tứ Nương hơi ngần ngại, Cam Phụng Trì cười nói: “Y không biết lai lịch của chúng ta, làm sao dám ám toán?” rồi cứ mặc sức ăn, nên vào thu dọn, nói: “Trang chủ thỉnh an ba vị, xin thứ không thể đến tiếp”. Cam Phụng Trì nói: “Nếu Trang chủ có việc, không cần khách sáo”.

Đêm hôm ấy ba người ngủ cùng phòng, đến nửa đêm, Cam Phụng Trì nói: “Bát muội, ra ngoài dò thử xem thử Trang chủ này có gì kỳ lạ?” Lữ Tứ Nương bước gần đến cửa, thấy bên ngoài cửa số có bóng người thấp thoáng, khẽ nói: “Thất ca, bên ngoài có người canh giữ”. Cam Phụng Trì nói: “Ta sẽ tìm cách dụ bọn chúng”. Rồi giơ ngón tay cái đâm vào vách tường, chàng tiện tay nhặt một phiến lá tre xuống đất cho vào trong cái lỗ ngoáy một hồi, nói: “Xong rồi”, chàng lại lấy một viên đạn trong túi ra, bắn vào cái lỗ, chỉ nghe soạt một tiếng, viên đạn bay ra ngoài. Tiếp theo là tiếng bước chân chạy rất nhẹ, Lữ Tứ Nương rất thông minh, biết rằng Cam Phụng Trì đang dùng kế dương Đông kích Tây, thế là phóng tọt ra cửa sổ! Bọn lâu la canh bên ngoài nghe thấy tiếng đạn tưởng rằng người dạ hành ném dá dò đường nên chạy về hướng có đạn rơi xuống. Khi quay lại, Lữ Tứ Nương đã vượt qua hai gian nhà, nấp sau hòn non bộ.

Hoa viên trong sơn trang rất rộng, sắp xếp trang nhã, chỉ thấy bốn bên là hòn giả sơn, ở giữa có một tòa lầu cao. Lữ Tứ Nương thầm ngạc nhiên: “Hình như mình đã đến nơi này?” nàng suy nghĩ một hồi chợt vỡ lẽ ra, té ra nơi này được bố trí theo kiểu viên lâm, mô phỏng theo kiến trúc tòa nhà của Ngư Xác ở Vạn Trượng Nham trên đảo Điền Hoành, tuy không hùng vĩ và hiểm trở như tòa nhà của Ngư Xác nhưng cũng rất khả quan. Lữ Tứ Nương nấp sau hòn giả sơn, đưa mắt nhìn xung quanh, đang định nhảy vọt ra chợt nghe tiếng bước chân vang lên, có bốn phụ nữ cầm đèn lồng đi ngang qua. Một thiếu nữ trong số đó nói: “Quận chúa thật ngang ngạnh, nàng ta trông thiên kiều bá mị thế kia, nào biết võ công lại cao cường”. Thiếu nữ khác nói: “Đúng thế, đêm qua nàng không chịu ăn cơm, Mạnh trại chủ khuyên nàng, không biết nói gì mà bị nàng tát cho một bạt tai, Mạnh trại chủ vội vàng lách đi, nàng đã vỗ gãy cái bàn”. Một người khác lại nói: “Sau đó Trang chủ vào nói một hồi nàng mới chịu ăn”. Nàng thiếu nữ thứ tư nói: “Nghe nói Mạnh trại chủ võ công chẳng khác gì Trang chủ chúng ta, đều là nhân vật đã thành danh trên giang hồ, thế mà ông ta vẫn nhịn được”. Thiếu nữ đầu tiên nói: “Nàng là Quận chúa kia mà! Làm sao ông ta không thể nhịn”. Lữ Tứ Nương thấy bốn thiếu nữ dần dần đi xa, tiếng cũng dần dần nhỏ. Nàng rất lấy làm lạ: “Ở đâu ra một Quận chúa? Chả lẽ đầu lĩnh của một bang hội mà dám bắt cóc tiểu thư của một vương gia?” lòng hiếu kỳ nổi lên, nàng lướt ra phóng theo sau lưng bốn thiếu nữ.

Đi một hồi, lại nghe một người nói: “Ngày mốt là đại điển khai bang, không biết đại vương có đến không?” Một người khác nói: “Con gái ông ta ở đây, sao không đến?” rồi nàng nói: “Tôi nghe thiếu chủ nói đại vương rất bận, chưa chắc có thể đích thân tới đây”. Thiếu nữ lúc đầu nói: “Thiếu chủ rất tốt với tỷ, thường nói chuyện với tỷ”. Nàng thiếu nữ ấy hừ một tiếng rồi lại nói nói cười, một hồi sau thiếu nữ đầu tiên nói: “Các người bảo Quận chúa xấu tính, nhưng tôi thấy nàng rất tốt, đêm hôm tôi hầu hạ nàng chải đầu, nàng giữ tôi hỏi ngắn hỏi dài tựa như tỷ muội”. Thiếu nữ lúc đầu nói: “Nghe nói đại vương không chịu cho nàng lấy chồng nên mới trốn đến đây”.

Bốn thiếu nữ vòng qua hòn non bộ, đi đến gốc cây của khu vườn, chỉ thấy một tòa lầu ba tầng, bên trên có treo mười tám ngọn đèn bát giác, tầng thứ ba cửa sổ mở rộng, ánh đèn hắt xuống, hiện rõ bóng dáng một nàng thiếu nữ trông rất quen, Lữ Tứ Nương không nhớ là ai. Nàng đang định phóng lên lầu. Đèn trên lầu vụt tắt, ở nơi góc vườn có hai người xuất hiện. Bốn thiếu nữ xuôi tay đứng yên, Lữ Tứ Nương vội vàng lẩn vào trong bụi cây, nàng đưa mắt nhìn ra, bất đồ thất kinh, hai người đó một người là Thượng trang chủ, một người là Hàn Trọng Sơn sư đệ của Thiên Diệp Tản Nhân. Chỉ nghe Thượng trang chủ nói: “Hôm nay lão huynh muốn đi sao, sao không đợi ngày mai, hôm nay có ba tên tiểu tử kéo tới, khẩu khí rất lớn, tôi muốn nhờ ông tìm hiểu lai lịch của bọn chúng!”

Lữ Tứ Nương càng thất kinh, thầm nhủ Hàn Trọng Sơn võ công cao cường, ám khí lợi hại. Nếu một mình y thì đỡ, chỉ lo bọn Liễu Ân cũng tới đây. Nàng đang suy nghĩ chỉ nghe Hàn Trọng Sơn nói: “Bằng hữu của tôi đang chờ, ngày mốt tôi chắc chắn đến đây. Lát nữa tôi sẽ đến xem ba tên tiểu tử kia, nếu chúng đúng là nhân vật đã thành danh, lẽ nào tôi không biết”. Thượng trang chủ nói: “Hay lắm, tôi lên thăm Quận chúa trước, mấy ngày nay nàng ta rất ngang ngạnh!” Hàn Trọng Sơn hừ một tiếng, nói: “Nha đầu đê tiện!” rồi cùng Thượng trang chủ lên lầu, Lữ Tứ Nương vội vàng chạy ra, thi triển khinh công tuyệt đỉnh trở về phòng.

Hai người Cam, Đường đang nóng lòng chờ đời, Lữ Tứ Nương phóng tọt vào cửa sổ, Cam Phụng Trì nói: “Muội có nghe ngóng được gì không?” Lữ Tứ Nương nói: “Lát nữa lão quái vật Hàn Trọng Sơn sẽ đến thăm chúng ta, chúng ta cứ giả vờ ngủ”. Căn phòng khách rất lớn, ba cái giường xếp kề nhau, Cam Phụng Trì ngủ ở giữa, một hồi sau chợt nghe tiếng gõ cửa, Cam Phụng Trì cố ý để cho bọn chúng đợi một hồi mới giả vờ ngái ngủ bước ra mở cửa, Hàn Trọng Sơn và Thượng trang chủ đứng ở cửa, Thượng trang chủ nói: “Lúc nãy có người dạ hành vào trang, ba vị có kinh hãi không?” Cam Phụng Trì kêu: “Hổ thẹn”. Nói: “Chúng tôi ngủ say quá, chẳng biết trời trăng gì cả”. Thượng trang chủ nói: “Tôi chỉ sợ kinh động đến quý khách, thật là ái ngại”. Rồi kéo Hàn Trọng Sơn giới thiệu cho ba người, Hàn Trọng Sơn nhìn một hồi, tuy Lữ Tứ Nương và Đường Hiểu Lan đã từng gặp y một lần nhưng giờ đã thay đổi dung mạo, Lữ Tứ Nương lại mặc nam trang. Trong ánh đèn nhập nhoạng, Hàn Trọng Sơn chẳng nhìn ra được gì cả.

Hàn huyên mấy câu, Hàn Trọng Sơn nói: “Đã quấy rầy” rồi cáo từ, Thượng trang chủ bước ra theo, Hàn Trọng Sơn nói: “Hình như ba tên tiểu tử này chẳng phải là nhân vật thành danh gì cả, nhưng xem ra võ công cũng rất khá, có lẽ là đệ tử danh gia, chắc là đến đây muốn gây rối”. Thượng trang chủ chợt nói: “Có phải là môn hạ của Thiên Sơn kiếm khách không?” Hàn Trọng Sơn nói: “Thiên Sơn kiếm chẳng còn truyền nhân, ông cứ ôm hận mãi làm gì?” rồi lại nói: “Trang chủ, xin thứ tôi lỡ lời, thực ra với võ công của ông, lại có Vệ đảo chưởng và Mạnh trại chủ ở đây chả lẽ sợ ba tên tiểu tử này gây rối?” Thượng trang chủ thấy y nôn nóng nên không nói gì nữa. Hàn Trọng Sơn cung tay, lướt ra khỏi trang nhanh như làn khói.

Ngày thứ hai, ngày thứ ba, đầu lĩnh của các bang hội lần lượt kéo tới, Thượng trang chủ bận rộn tối mày tối mặt, nhưng vẫn âm thầm sai người canh giữ bọn Cam Phụng Trì, Cam Phụng Trì rất già dặn kinh nghiệm giang hồ, lời ăn tiếng nói rất cẩn thận. Đến trưa ngày thứ tư, Thượng trang chủ nên đích thân đến mời, cả ba người cùng y bước ra vườn, trong vườn đã bày sẵn mấy bàn tiệc rượu. Lữ Tứ Nương chợt nhớ đến bữa tiệc của Ngư Xác đại vương, xem ra rất giống với hôm nay. Thượng trang chủ mời họ ngồi vào ghế, Lữ Tứ Nương thấy có hai người quen mặt, một người là Lăng Vân đảo chủ Vệ Dương Oai, một người là Thái Hồ trại chủ Mạnh Võ Công không khỏi thầm kêu lạ trong lòng.

Chính là:

Sơn trang nhốt ngọc nữ, trong tiệc thấy quần ma.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau