GIANG HỒ TAM NỮ HIỆP

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau

Chương con truyện Giang hồ tam nữ hiệp - Chương 1 - Chương 5

Chương 1: Tỷ muội sinh đôi tặng áo giáp tơ vàng.Huyết Trích Tử đến một kiếm thấy bạn hiền

Kiếm đảm cầm tâm nói cùng ai, giang hồ phiêu bạc ba nữ hiệp.

Trải bao năm tháng, hoa niên tựa làn khói.

Xa xăm trời chiều lạnh, tịch mịch đường núi vắng.

Bay đến tận chân trời, một mình tự về tổ.

(Tự đề “giang hồ tam nữ hiệp”, theo điệu Bồ tát man)

Sơn thôn vắng lặng, đường cúc vàng nghênh đón khách xa; Trung Thu sắp tới, tiết trời chớm lạnh hiu hiu.

Trên con đường núi ngoằn ngoèo có một hán tử tuổi trạc ngũ tuần, tay cầm chiếc tẩu thuốc dài đang thảnh thơi rít thuốc.

Hai bên đường hoa cỏ cây cối rườm rà, mấy đóa hoa cúc dại càng nổi bật hơn, gió núi thổi đến, hương thơm thoảng đưa.

Người đó chẳng phải là văn nhân nho sĩ, ông ta là võ sư đất Nhữ Châu miền Hà Nam tên gọi Quảng Liên.

Ông ta không phải đến đây du sơn ngoạn thủy, thôn trang phía trước có nhà người thân gia. Thân gia của ông họ Phùng tên là Quảng Triều, cũng là một võ sư. Con trai của Phùng Quảng Triều là Phùng Anh Kỳ cưới con gái của ông ta là Quảng Luyện Hà, năm ngoái đã hạ sinh được một đôi bé gái, hôm nay là ngày tròn một tuổi của chúng, ông ta đến uống rượu “trảo châu”. “Trảo châu” là phong tục ở quê hương họ, trong ngày tròn một tuổi của con cái, cha mẹ bày tất cả lễ vật trước mặt đứa bé để cho nó tự “bắt”, từ đó cha mẹ có thể đoán được tương lai của con cái thông qua những vật nó đã “bắt”.

“Người ta bảo hai đứa cháu gái của mình là ngọc nữ hạ phàm, Luyện Hà thật có phước. Ừ, hôm nay mình phải xem cho kỹ đồng tiền của chúng, kẻo Luyện Hà lại cười mình”. Số là hai đứa cháu gái sinh đôi của ông ta không những xinh xắn mà trông chẳng khác gì nhau, trên má mỗi đứa đều có một cái lún đồng tiền. Điểm khác nhau là lún đồng tiền của cô chị thì bên trái, còn của cô em thì bên phải.

Ông ta đang nghĩ đến hai đứa cháu gái yêu của mình thì chợt nghe văng vẳng có người nói chuyện.

“Không sai chứ?” “Đúng thế. Đứa trẻ ấy, ta...”

Tựa như có hai người đang nói chuyện, nghe tiếng được tiếng mất. Quảng Liên chăm chú nghe kỹ, lại nghe được một câu tương đối đầy đủ: “Giao tình của họ không tầm thường”. Nhưng câu sau thì lại không rõ: “Đã có... người đó nhất định...” giọng nói càng lúc càng nhỏ, cuối cùng thì chẳng nghe gì được.

Hai người này đã bước ra khỏi thôn, nhưng Quảng Liên từ trên cao nhìn xuống tuy không thấy rõ mặt họ nhưng có thể nhìn ra bóng dáng của họ. Ông ta quen tất cả mọi người trong thôn, nhưng hai người này rõ ràng là người lạ.

Quảng Liên nổi lòng nghe ngờ, thầm nhủ: “Nghe khẩu khí của bọn chúng, hình như đến đây dò hỏi chuyện gì đấy, chỉ là không biết là nhân vật của hắc đạo hay công sai của bạch đạo?”

Người trong thôn toàn là dân thường, chỉ có một hộ khác lạ, đó chính là thân gia của ông ta, Phùng Quảng Triều. Thời còn trẻ Phùng Quảng Triều cũng từng đi lại trên giang hồ, nhưng năm ba mươi hai tuổi thì đã qui ẩn cố hương, đóng cửa tạ khách. Ông ta ẩn cư ở quê cũ thấm thoắt đã được mười năm. Bằng hữu võ lâm cũng hỏi tại sao đang tuổi tráng niên mà đã qui ẩn, ông ta thường lảng sang chuyện khác hoặc mỉm cười không đáp.

Quảng Liên cũng chẳng biết nguyên nhân, nhưng ông ta biết trong mười năm này Phùng Quảng Triều thực sự đã không bước chân ra giang hồ. Ông ta tuy chỉ mới bốn mươi hai tuổi, trẻ hơn Quảng Liên đến sáu tuổi, nhưng đã là một người già lòng như nước lặng. Từ sau khi ông ta có cháu nội thì không hỏi đến chuyện bên ngoài nữa, chỉ vui vầy với con cháu.

Quảng Liên còn biết ông ta không bao giờ tham gia những bang hội phản Thanh, tuy họ bất mãn chuyện người Mãn Châu vào Trung Hoa áp bức người Hán. Nhưng nền móng của triều đình đại Thanh đã vững chắc, Lúc này là năm Khang Hy thứ bốn mươi lăm, người Mãn Thanh đã đặt nền thống trị ở Trung Hoa được sáu mươi ba năm. Bất mãn cũng đâu phải là cách? Bao nhiêu bậc nghĩa sĩ cũng chỉ có thể im lặng nhẫn nhục, lặng lẽ chờ đời thời cơ, huống chi họ chỉ là dân thường.

Lúc này hai người ấy đã biến mất, Quảng Liên lại ngẫm nghĩ mấy câu nói rời rạc của họ: “Đứa trẻ mà chúng nói là ai? Nghe khẩu khí của người ấy hình hư quen biết với đứa trẻ này, đương nhiên không thể là hai đứa cháu ngoại của mình? Đứa trẻ ấy có liên quan gì đến người mà chúng vừa mới nói? Mình đều biết bằng hữu của Quảng Triều, có lẽ người thân thiết với ông ta chỉ có mình. Ông ta đã sớm không còn qua lại với bằng hữu trên giang hồ, vậy thì còn ai nữa? Nhưng ‘người ấy’ có phải là mình không?”

Ông ta ngẫm nghĩ một hồi mà vẫn chẳng ra, cuối cùng quyết định: “Câu chuyện của hai người này chưa chắc có liên quan đến thân gia của mình; không chừng bọn chúng chẳng phải điều tra gì cả, chắc là chỉ đoán mò mà thôi! Mặc bọn chúng, mình phải mau đến thăm hai đứa cháu ngoại đáng yêu mới được. Gặp Quảng Triều rồi tính tiếp”. Ông ta lại nhét thuốc vào tẩu, rồi tiếp tục thong thả đi về phía trước.

Nơi luyện võ của nhà họ Phùng ngay rìa thôn, từ xa Quảng Liên có thể thấy một thiếu niên lưng ong tay vượn mày kiếm mắt sáng xoay chuyển nhanh như gió, lúc thì hạ người sát xuống đất tựa như tê giác ngắm trăng, lúc thì vung tay phóng vọt người lên như đại bàng tung cánh. Quảng Liên thầm nhủ: “Ông thân gia thường khen đứa học trò mới nhận thông minh giỏi dang, xem ra chẳng sai tí nào, nhưng không biết đây là môn công phu gì?”

Phùng Quảng Triều có hai đệ tử, đại đệ tử Vương Lăng, ba năm trước học xong xuất sư, làm bảo tiêu ở kinh đô. thiếu niên đang luyện võ trên sân tên gọi Đường Hiểu Lan, là nhị đệ tử. Đường Hiểu Lan có lai lịch rất kỳ lạ, Quảng Liên cũng không biết chàng là người ở đâu. Ngày nọ Phùng Quảng Triều chợt dắt theo một thiếu niên tuổi khoảng đôi chín đến bái kiến ông ta. Bảo rằng đó là học trò mới nhận, Đường Hiểu Lan nói giọng quan ngoại nhưng mắt thanh mày tú trông rất hiền lành. Phùng Quảng Triều chưa bao giờ ra quan ngoại, làm sao nhận một học trò nói giọng quan ngoại, Quảng Liên nghĩ mãi không ra, cũng đã hỏi riêng ông thân gia nhưng ông ta chẳng chịu nói rõ. Đã là người trong võ lâm thì không nên hỏi chuyện bí mật của người ta, Quảng Liên cũng đành thôi. Hôm nay thật trùng hợp, Quảng Liên đã gặp Đường Hiểu Lan luyện võ, ông ta nhìn kỹ một hồi, không khỏi cả kinh thất sắc!

Đường Hiểu Lan triển khai thân pháp càng lúc càng nhanh, cây hòe bên sân bị gió thổi xào xạc, từng phiến lá rơi xuống lả tả, Quảng Liên nhìn kỹ mà không biết ám khí gì, xem lại thân pháp và thủ pháp của chàng thì đó không phải là công phu như Phách không chưởng, và lại nếu bị chưởng phong chấn động thì là phải rơi xuống hàng đống chứ không phải từng phiến rơi xuống nhẹ nhàng như bị người ta ngắt thả xuống. Quảng Liên nhận ra Đường Hiểu Lan đã dùng loại ám khí nhỏ như Mai Hoa châm đâm cho cuống lá rơi xuống. Ám khí như Mai Hoa châm rất nhẹ, bởi vậy muốn phóng trúng vào mục tiêu cực kỳ khó. Thế nhưng nay Đường Hiểu Lan có thể đánh rơi lá cây cách ba trượng, quả thực lực cổ tay rất mạnh, mắt rất tinh, dù các bậc võ sư thành danh cũng hiếm thấy, chẳng qua chàng chỉ mới theo Phùng Quảng Triều được hơn một năm, làm sao chàng có thể luyện được công phu như thế? Vả lại Quảng Liên cũng biết ông thân gia của mình chẳng hề biết Mai Hoa châm.

Quảng Liên lại nghĩ: “Chả lẽ hắn biết võ công rồi mới theo Quảng Triều, vậy sư phụ trước đây của hắn là ai, hắn đã có công phu như thế cần gì phải đến tìm Phùng Quảng Triều. Ông ta tuy cao minh hơn mình nhưng trên giang hồ cũng không phải là hảo thủ thuộc hàng nhất lưu. Sư phụ trước đây của hắn chắc chắn cao minh hơn Quảng Triều nhiều”.

Đường Hiểu Lan luyện được một hồi thì đột nhiên ngừng bước, rút ra một thanh kiếm dài hơn ba thước lia lên không trung, thanh kiếm đâm trái chém phải, nhanh tựa như khỉ vượn, nhẹ nhàng như ly miêu, kiếm hoa lả tả, loang loáng dưới ánh nắng sớm. Quảng Liên càng thêm kinh ngạc, nghĩ bụng Phùng Quảng Triều xưa nay nổi danh bởi ngón Lục Hợp thương, làm sao có thể dạy học trò dùng kiếm? Vả lại kiếm pháp của Đường Hiểu Lan nhanh nhạy tuyệt luân, người có thể dạy bộ kiếm pháp này không phải là tông sư của một phái thì cũng là một kiếm khách thành danh.

Quảng Liên càng lúc càng ngạc nhiên, đang đứng ngẩn người ra thì chợt thấy Đường Hiểu Lan múa kiếm thành một vòng tròn, giơ ngang kiếm trước ngực, tay phải đặt lên thân kiếm, cuối người nói: “Đệ tử mới luyện kiếm cũng còn sơ hở, xin đừng cười chê, có phải tiền bối đến tìm gia sư đấy không?” Phùng Quảng Liên thầm bực dọc: “Cái gì mà tiền bối với chẳng tiền bối, chả lẽ tên tiểu tử nhà ngươi không nhận ra ta?” đang định mắng chàng thì chợt nghe một tiếng hú dài vọng tới, trong sân xuất hiện một người để râu ba chòm, tay cầm cây quạt xếp, trông nhẹ nhàng như thần tiên. Xem ra đó là một nho sinh tuổi hơn tứ tuần. Thân pháp của người này nhanh đến mức khó hình dung, Quảng Liên không biết y đến từ lúc nào, sao có thể đột nhiên nhảy vọt vào trong sân tựa như trên trời giáng xuống, dưới đất chui lên. Người khách phe phẩy cây quạt lông, cười nói: “Đã lâu ta không thấy ai sử dụng bộ kiếm pháp này, ngươi đã có được ba phần hỏa hầu, không nên khiêm nhường, dựa vào bộ kiếm pháp này ngươi có thể đủ gầy dựng tên tuổi trên giang hồ! Nào, nào, ta sẽ chỉ ngươi vài chiêu!” rồi y xếp cây quạt lông lại, vẫy tay Đường Hiểu Lan nói: “Ta không cần dùng binh khí đổi chiêu với ngươi, ngươi đến đây, xem thử Truy Phong kiếm pháp của ngươi có thể chạm vào vạt áo của ta được không!”

Đường Hiểu Lan hơi chần chừ, quái khách lại cười nói: “Ngươi cứ yên tâm, lệnh sư sẽ không trách ngươi đâu, mười năm trước ông ta mới biết bộ kiếm pháp này, đã từng đổi chiêu luyện kiếm với ta đến mười ngày mới xong”.

Đường Hiểu Lan chợt biến sắc, cao giọng nói: “Nhờ Quảng lão bá đến bẩm báo gia sư, tôi phải tiếp lão tiền bối vài chiêu”. Rồi cây thanh cương kiếm đâm ngược ra, quái khách chỉ hơi lắc người, Đường Hiểu Lan đã đâm hụt, chàng phóng người đánh ra một chiêu Quái mãng phiên thân, người xoay theo thế, kiếm quyết tay trái chỉ lên trên, tay phải cầm kiếm hất lên, lại chém soạt vào mạch môn của quái khách, quái khách vung tay, cả cười nói: “Mau thì có mau, nhưng vẫn chưa chính xác!” y đang lơ lửng người trên cao, đột nhiên hạ người xuống, Đường Hiểu Lan thu người đánh hất lên một kiếm, chợt nghe tiếng gió lướt qua, mũi chân của quái khách đã điểm nhẹ trên vai chàng, lộn người ra sau lưng chàng. Nếu quái khách đạp mạnh thì Đường Hiểu Lan chắc chắn sẽ bị gãy xương vai! Đường Hiểu Lan thất kinh, thân pháp của quái khách ấy không những rất nhanh mà còn có thể thu phát tùy ý. Chỉ mỗi công phu này cũng đã hơn sư phụ của chàng rất nhiều.

Không những Đường Hiểu Lan lo lắng mà cả Quảng Liên cũng kinh hãi hơn! Ông ta vốn muốn vào thông báo cho Phùng Quảng Triều nhưng vì tò mò nên muốn xem một lúc, nào ngờ chỉ trong kkh, đôi bên đã đổi nhau mấy chiêu hiểm hóc, ông ta nào dám chần chừ, vội vàng chạy về phía nhà họ Phùng, sau lưng còn nghe tiếng quái khách buông giọng cười: “Ồ, mấy chiêu này cũng rất khá, vững vàng hơn lúc nãy nhiều!” Quảng Liên không quay đầu lại, chạy một mạch đến nhà họ Phùng!
Phùng Quảng Triều đang ngồi hút thuốc suông trong sân, thấy Quảng Liên hớt hải chạy vào thì bật cười nói: “Ông thân gia đến thăm cháu gái cũng không cần gấp gáp như thế!” Quảng Liên ném lễ vật xuống đất, kéo Phùng Quảng Triều chạy, nói: “Thân gia, học trò của ông đánh nhau với người ta bên ngoài, ông mau ra xem thử!”

Quảng Liên lo lắng quái khách lúc nãy là kẻ địch của Phùng Quảng Triều có ý đến trả thù, nên rước tiên đánh bại học trò sau đó sẽ đến lượt sư phụ.

Phùng Quảng Triều vừa nghe thì đã chạy nhanh hơn nhưng vẫn khí định thần nhàn mỉm cười nói: “Ai thế? Chắc Hiểu Lan có thể chống đỡ được vài ba chiêu!”

Sân luyện võ cách cửa nhà họ Phùng khoảng trăm bước, hai người chạy một lát đã tới. Người trong sân đang đánh nhau rất kịch liệt, chợt nghe soạt một tiếng, quái khách phóng vọt ra khỏi sân, trong tay đang cầm cây trường kiếm của Đường Hiểu Lan. Còn Đường Hiểu Lan thì đã ngã xuống đất chân chổng lên trời. Quảng Liên điểm hai chân xuống đất định phóng vọt ra cứu người, Phùng Quảng Triều đã giữ tay ông lại, cười với người khách rằng: “Tôi tưởng là ai, té ra là ông! Học trò của tôi thế nào, ông đánh hắn ra nông nỗi thế này là quà gặp mặt cho tôi đấy sao? Ha ha!” học trò bị người ta đánh ngã mà ông ta vẫn không hề nổi cáu.

Quái khách buông giọng cười: “Mười năm không gặp, học trò của ông cũng cao minh thật!” rồi phẩy ống tay áo, chỉ thấy ống tay áo đã bị lưỡi kiếm chém mất một mảng. Té ra ông ta thấy Phùng Quảng Triều đến hơi phân tâm thì Đường Hiểu Lan đã nhanh chóng đâm một kiếm xuống hạ bàn, ông ta buộc phải thu chỏ về thúc tới, đánh ngã Đường Hiểu Lan nhưng áo cũng bị Đường Hiểu Lan cắt đứt một mảng.

Phùng Quảng Triều cười: “Ai bảo ông già mà không nên nết, bắt nạt bọn tiểu bối!”

Quái khách phẫy nhẹ cây quạt, cười rằng: “Tôi tặng cho học trò của ông một phần quà mà kẻ làm sư phụ không chịu đáp tạ, lại bảo tôi bức hiếp, người ta nghe thấy há chẳng phải sẽ cười vỡ bụng hay sao!”

Lúc này Đường Hiểu Lan đã bò dậy, chàng chạy đến trước mặt quái khách, quỳ xuống hành đại lễ, miệng nói: “Đa tạ lão tiền bối chỉ điểm!” quái khách kéo chàng dậy, nói: “Kiếm pháp của ngươi cao minh hơn ta dự liệu rất nhiều, ta vốn tưởng ngươi chẳng thể chạm được vào áo của ta, không ngờ ngươi có thể chém rách bộ quần áo ta vừa mới may”.

Phùng Quảng Triều nhảy vọt vào giữa sân, cười ha hả: “Chả lẽ tôi không biết ông đã chỉ điểm cho tiểu đồ, ông hãy yên tâm, nhà tôi tuy nghèo nhưng có thể thường nổi bộ áo trường sam. Nào, nào, ông hãy gặp thân gia của tôi, tiểu nhi đã thành hôn. Hỡi ơi, thời gian trôi qua thật nhanh!” rồi vẫy tay, Phùng Quảng Triều bước vào, vừa kinh ngạc vừa hổ thẹn, thầm nhủ: “Mình chưa bao giờ nghe Quảng Triều nói có một bằng hữu võ nghệ cao cường như thế, thật hổ thẹn, mình đã không nhận ra y chỉ muốn chỉ điểm cho Hiểu Lan”.

Đường Hiểu Lan khổ luyện Truy Phong kiếm thức, nhưng một năm qua chưa bao giờ thử dùng để ứng địch, lúc nãy mới thực sự tiếp chiêu, quái khách vừa ra tay vừa chỉ điểm cho chàng, đương nhiên khiến chàng hiểu biết ra rất nhiều. Chàng đứng bên cạnh lắng nghe sư phụ nói chuyện.

Phùng Quảng Triều vuốt râu nói: “Đồ nhi, món quà gặp mặt của sư bá giành cho con không nhỏ tí nào, té một lần cũng đáng lắm, thân gia, chắc ông đã từng nghe tên của người khách này, ông ta chính là bậc danh túc Vô Cực kiếm Chung Vạn Đường!”

Phùng Quảng Liên kêu ôi chao lên một tiếng rồi nói: “Té ra là Chung lão sư, chả trách nào lợi hại đến thế!”

Sư tổ của Chung Vạn Đường là thần y Phó Thanh Chủ, người sống vào cuối thời Minh đầu thời Thanh, nên ông ta cũng thông hiểu y thuật, khi đi lại trên giang hồ cũng mang theo túi thuốc và bảo kiếm, cũng đã làm không ít chuyện hiệp nghĩa, nhưng mười năm gần đây cũng giống như Phùng Quảng Triều, ông ta đột nhiên mai danh ẩn tích. Quảng Liên không ngờ kiếm khách lừng lẫy giang hồ này đột nhiên đến miền quê hẻo lánh, vả lại còn là hảo hữu của thân gia.

Phùng Quảng Triều bước tới, nói: “Tôi biết ông sẽ đến, nhưng không ngờ ông đến sớm như thế!” Chung Vạn Đường nói: “Đúng thế, sớm ba ngày, ông vẫn còn nhớ kỹ cái hẹn mười năm trước!” Phùng Quảng Triều nói: “Ba ngày nữa là Trung Thu, lẽ nào tôi không nhớ? Này, ông đến đây thật đúng lúc, tôi tuy tóc chưa bạc nhưng đã làm tổ phụ! Hôm nay hai đứa cháu gái của tôi vừa tròn một tuổi, ông cũng đến xem chúng trảo châu!” Chung Vạn Đường nói: “Cả con trai của ông tôi chưa gặp, giờ đây ông đã có cháu nội. Phùng lão đệ, ông có phước hơn lão già này nhiều!” Phùng Quảng Triều cười nói: “Tôi làm tổ phụ mà vẫn chưa nhận già, ông đã bảo mình là già?” hai người vừa nói vừa cười, đi thẳng tới nhà họ Phùng.

Con trai của Phùng Quảng Triều là Phùng Anh Kỳ hành đại lễ bái kiến tiền bối xong, Quảng Luyện Hà cũng bế hai con ra cho Chung Vạn Đường xem!

Hai bé gái đẹp tựa như ngọc, hai đôi mắt tròn xoe cứ nhìn xung quanh, khuôn mặt giống nhau như tạc, khi cười thì cùng cười, khi khóc thì cùng khóc, tựa như tâm trạng cũng giống nhau! Chung Vạn Đường ngẩn người ra nhìn, khen rằng: “Lão đệ, Vương mẫu nương nương, Quan âm Bồ Tát đều tặng ngọc nữ cho đệ, chắc là đệ mừng lắm đây!” Phùng Quảng Triều cười nói: “Tôi chỉ cười huynh già mà chẳng nên nết, cứ cười như hai đứa cháu của tôi!” ông ta ngừng lại rồi nói: “Hai đứa trẻ này rất ngoan, nhưng có một điều không được!” Quảng Luyện Hà vội vàng hỏi: “Công công, có chuyện gì vẫn chưa được?” Phùng Quảng Triều vuốt râu cười nói: “Chúng ra đời cùng một lúc, ta chưa phân biệt nổi đứa nào là tỷ, đứa nào là muội. Này, con nói cho ta nghe thử xem, đâu là Anh nhi, đâu là Lâm nhi”.

Té ra cô chị tên Phùng Anh, cô em tên Phùng Lâm. Nhưng Phùng Quảng Triều không phân biệt nổi.

Quảng Luyện Hà nói: “Bình thường con cũng chẳng nhận ra! Trừ phi trêu chúng cười mới phân biệt được đâu là tỷ đâu là muội!” Phùng Quảng Triều ngạc nhiên nói: “Ồ, rắc rối như thế ư? Chúng cười có điều gì lạ?” Quảng Luyện Hà bế một đứa lên làm mặt xấu khẽ nói: “Ngoan nào, cười cho công công xem!” trêu một hồi, cả hai bế gái nhoẻn miệng cười, trên má mỗi cô bé đều có một cái lún đồng tiền, Quảng Luyện Hà nói: “Công công, người đã thấy chưa? Một đứa có lún đồng tiên bên trái, một đứa có lún đồng tiền bên phải”. Hai đứa trẻ lại nhoẻn miệng cười, Phùng Quảng Triều nhìn kỹ lại quả nhiên là thế, ông ta vui đến nỗi cười ha hả. Quảng Luyện Hà nói: “Đứa có lún đồng tiền bên trái là tỷ tỷ, đứa có lún đồng tiền bên phải là muội muội, công công đứng nhớ nhầm đấy!”Bạn cũ gặp nhau, cháu gái tròn tuổi, Phùng Quảng Triều rất vui mừng, ông ta cứ cười cười nói nói, đến giờ ngọ thì Quảng Luyện Hà đã chuẩn bị xong, nói với công công rằng: “Đến giờ Anh nhi và Lâm nhi trảo châu!” nhà họ Phùng không mời thân hữu khác, nhưng quà bày trên cái bàn tròn phủ vải đỏ thì không ít, có đồ chơi, bánh kẹo, phấn son, gương soi, còn có cả vàng bạc.

Chung Vạn Đường nói: “Hay lắm, ta cũng bỏ vào hai món, nếu bọn trẻ chụp được thì ta sẽ tặng làm quà gặp mặt”. Nói rồi lấy một bộ nhuyễn giáp tơ vàng, bộ nhuyễn giáp này vốn là của Phó Thanh Chủ, ông ta săn được một con quái thú tên gọi kim mao hống ở núi Hy Mã Lạp Nhã, sau đó bảo thợ khéo lột da của nó rồi dùng tơ vàng kết thành, đến nay thì truyền cho Chung Vạn Đường. Bộ áo giáp này có thể chống lại đao kiếm, quý giá vô cùng! Phùng Quảng Triều thấy ông ta lấy món bảo vật ra thì thất kinh nói: “Lão ca, sao lại thế? Đó là bảo vật của quý phái!” Chung Vạn Đường nói: “Ông đã quá coi thường phái Vô Cực chúng tôi. Báu vật truyền đời của phái chúng tôi là y dược và kiếm thuật chứ không phải bộ nhuyễn giáp này. Đây là do năm xưa Phó sư tổ rong chơi nhân gian, tình cờ lấy được mà thôi”.

Phùng Quảng Triều vẫn thấy không ổn, đang định từ chối thì Chung Vạn Đường đã lấy ra món quà thứ hai, nói: “Món quà này chẳng quý giá bằng nhuyễn giáp tơ vàng nhưng là thứ ta thích nhất trong đời”. Đó là một cây trủy thủ dài năm tấc, điều kỳ lạ là cây trủy thủ đen bóng, cả lưỡi cũng phát ra ánh sáng màu đen. Té ra đó là loại ám khí nổi tiếng của Chung Vạn Đường tên gọi Đoạt Mệnh thần đao. Bậc nữ hiệp tiền bối của phái Vô Cực, một trong Thiên Sơn thất kiếm là Mạo Hoàn Liên, năm xưa khi đi theo Phó Thanh Chủ học võ nghệ sử dụng loại ám khí tên gọi Đoạt mệnh thần sa. Loại ám khí này có độc, nếu chẳng may bị dính phải, trong vòng mười hai canh giờ nếu không có thuốc giải thì độc phát thân vong. Khi Chung Vạn Đường học được môn ám khí này, cảm thấy Đoạt mệnh thần sa có ưu điểm mà cũng có khuyết điểm, ưu điểm là chỉ cần vãi ra một nắm thì có thể lấy ít địch nhiều, khuyết điểm là không thể đánh tầm xa, kẻ địch cách ba trượng thì khó trúng. Chung Vạn Đường dùng thuốc độc luyện thần sa để ngâm phi đao, cây phi đao này sắc bén vô cùng, vì đã được tẩm độc nên thấy máu là phong hầu. Phùng Quảng Triều thấy ông ta lấy ra thì im lặng không nói, cảm thấy loại ám khí này quái hiểm độc, không hợp với nữ nhi. Nhưng thấy Chung Vạn Đường đang cao hứng nên cũng đành thôi. Chung Vạn Đường đút phi đao vào một cái túi da, cười nói: “Nếu đứa nào lấy được, ta sẽ dạy cho nó loại ám khí này”.

Sau khi bày xong lễ vật, Quảng Luyện Hà bế hai đứa bé bắt đàu trảo châu. Kể ra cũng thật kỳ lạ, ngay từ ban đầu hai bé gái đã chụp một thanh kiếm gỗ, Chung Vạn Đường cười nói: “Hay lắm, chúng đều muốn làm nữ hiệp khách, e rằng ông phải truyền tất cả tuyệt kỹ cho chúng”.

Lúc này đứa trẻ lại với tay ra, Quảng Luyện Hà đi quanh chiếc bàn một vòng, Phùng Anh đưa tay chụp lấy bộ nhuyễn giáp tơ vàng. Phùng Quảng Triều nói: “Hay lắm, con thật biết xem hàng, đã lấy vật báu của người ta!” Phùng Lâm thì mở đôi mắt vừa to vừa tròn nhìn một hồi, Phùng Quảng Triều rất lấy làm lạ, chỉ thấy Quảng Luyện Hà bế cô bé lại đi một vòng quanh bàn, cô bé bất chợt kêu a a, Quảng Luyện Hà ngừng lại, nhìn xem cô bé làm gì. Chỉ thấy bàn tay nhỏ nhắn của cô bé thò ra, xé tung vật trên bàn, Quảng Luyện Hà trách: “Con lại nghịch phá nữa rồi!” Phùng Lâm kêu a a một hồi thì chợt chụp lấy cây phi đao có độc! Phùng Quảng Triều nhíu mày im lặng không nói. Chung Vạn Đường thì mừng rỡ: “Hay lắm, nó đã nhìn ra tuyệt chiêu của tôi. Lão Phùng, khi nó lớn lên, ông hãy để cho tôi dạy nó, tôi sẽ nhận nó làm học trò”. Phùng Quảng Triều cười gượng: “Còn gì tốt bằng, nhưng tôi chỉ sợ sau này nó sẽ trở thành một Công chúa ngang ngạnh!”

Trảo châu xong, cả hai người bằng hữu lại trò chuyện một hồi, chỉ nghe Chung Vạn Đường nói: “Sau khi đại hiệp tiền bối Lăng Vị Phong chết đi, nghe nói Chưởng môn chi phía Bắc của phái Võ Đang Quế Trọng Minh cũng qua đời. Mà kiếm khách ở Trung Nguyên lại không bằng các bậc tiền bối lúc trước nữa!” hai người than thở một hồi, Phùng Quảng Liên càng rầu rĩ hơn. Đến chiều bên ngoài chó sủa ầm ĩ, tiếp theo là những tiếng kêu gào, tựa như đã hoảng sợ trước việc gì rất quái dị, Quảng Liên nói: “Thân gia, để tôi ra ngoài xem thử là ai tới”. Bước ra cửa, chỉ cảm thấy một luồng máu tanh xộc vào mũi, đang ngạc nhiên thì có một hán tử cao gầy, râu ria xồm xoàm, tay cầm một cái túi da đang sải bước tới!

Quảng Liên rùng mình, bước lên chặn lại hỏi: “Thế nào? Tìm ai đấy?” hán tử ấy chẳng màng đến ông ta, vung hai tay một cái, Quảng Liên chỉ cảm thấy một nguồn lực lớn dồn tới, thế là thân người bị bay bổng vào trong nhà, khi bò dậy thì người ấy đã bước vào sảnh đường, Phùng Quảng Triều và Chung Vạn Đường kêu hoảng, vừa kêu được một tiếng: “Châu đại hiệp, ông sao thế?” người ấy đã ngã bổ xuống đất, thều thào nói: “Đem thuốc kim sang và giải độc tán đến đây!” rồi chỉ rùng mình một cái thì ngất đi. Quảng Liên kinh hoảng đến sững người, chẳng nói ra lời. Phùng Quảng Triều kêu lên: “Thân gia, mau, mau đóng cửa lớn lại!” Quảng Liên biết chuyện này rất Quảng Triều nên vội vang chạy ra đóng cửa, chỉ thấy Chung Vạn Đường đã đỡ người ấy lên giường, mở áo kiểm tra vết thương cho y. Lúc này Quảng Liên mới chú ý rằng, hán tử này sắc mặt vàng vọt, có lẽ đã năm mươi tuổi, chiếc áo chẻn trên người nhuốm đầy máu, mùi máu tanh nồng, chắc là đã trúng loại ám khí gì rất độc, đang gấp tìm thuốc chữa trị nên chẳng màng đến mình mà đã xông thẳng vào.

Chung Vạn Đường mở áo của hán tử ấy ra, sắc mặt tái nhợt. Phùng Quảng Triều run rẩy nói: “Đây là ám khí gì?” Quảng Liên bước tới gần xem, chỉ thấy trên ngực người ấy hình như bị vuốt sắt cào trúng, nhưng lại cũng giống bị trủy thủ vạch bị thương, mỗi vết thương đều hằn sâu như nhau, trông rất ngay ngắn, xếp thành hình bán cầu, trông giống như bị một đôi tay chụp vào ngực, nhưng đếm kỹ lại có đến hơn mười vạch, rõ ràng không phải là bị cào, vả lại chỉ lực của người ta cũng không đến nỗi lợi hại như thế. Đang lúc này, chợt nghe Phùng Anh Kỳ kêu hoảng: “Cha, đầu người!” Phùng Anh Kỳ nhất thời tò mò, mở cái túi da của quái khách ra, hai cái đầu người máu thịt bầy nhầy lăn ra tựa như hai quả bóng da, mùi máu xộc vào mũi khiến người ta muốn nôn. Phùng Quảng Triều mắng: “Sao con lại cứ mở đồ của người ta! Con biết ông ta là ai không?” rồi vội vàng bỏ cái đầu người vào trong túi da. Chung Vạn Đường vẫn lẳng lặng bôi thuốc cho quái khách ấy, Phùng Quảng Triều nói: “Có cứu được không?” Chung Vạn Đường nói: “Ám khí của các nhà các phái, dù không thấy tôi cũng đã từng nghe qua, chỉ có loại ám khí này tôi chẳng nghe chẳng thấy. Chất độc tẩm trên ám khí không phải là khổng tước đảm cũng là hạc đỉnh hồng, e rằng rất khó trị. Tôi dùng thuốc giải của Đoạt Mệnh thần đao thử xem, nếu Châu đại hiệp nội lực thâm hậu có lẽ vẫn còn sinh cơ”.

Sau khi được bôi thuốc, hơi thở của quái khách dày hơn, nhưng vẫn còn chưa tỉnh. Phùng Quảng Triều quỳ xuống, cung kính thay áo cho y, lau sạch vết máu, lúc đó mới thở dài nói với Phùng Anh Kỳ: “Con có biết đây là ai không? Ông ta là sư tổ của con!” Quảng Liên ngạc nhiên nói: “Quang Triều, sư phụ của ông Lục Hợp Thương Dư Đại Trang chẳng phải đã qua đời rồi sao? Ở đâu lại có một sư phụ nữa?” Phùng Quảng Triều cười khổ nói: “Có lẽ tôi gọi ông ta là sư phụ cũng hơi gượng ép, tôi chỉ là đồ đệ ký danh của ông ta. Anh nhi, con phải quỳ xuống dập đầu ba cái, sư phụ tuy đang hôn mê nhưng không thể bỏ lễ nghi!” Phùng Anh Kỳ quỳ xuống dập đầu, Đường Hiểu Lan cũng quỳ bên cạnh khóc thút thít, Phùng Quảng Triều đỡ chàng dậy nói: “Không uổng Châu bá bá thương yêu con, con đúng là người có tình nghĩa”. Quảng Liên nghe xong thì càng ngạc nhiên hơn, quái khách này được Chung Vạn Đường gọi là đại hiệp, lại là bá bá của Đường Hiểu Lan. Vả lại quái khách này xem ra không quá năm mươi, cũng không lớn hơn Phùng Quảng Triều bao nhiêu, thế nhưng lại là sư phụ của ông ta.

Phùng Anh Kỳ dập đầu ba cái rõ to rồi đứng dậy, Phùng Quảng Triều mới nói: “Sư tổ của con tên gọi Châu Thanh, là đệ tử ký danh của Thiên Sơn kiếm khách Lăng Vị Phong!” Phùng Quảng Liên thất kinh, thầm nhủ “Chả trách nào lại lợi hại như thế, sau khi trọng thương mà vẫn còn có thể hất ngã ta!”

Phùng Quảng Triều lại nói: “Năm Khang Hy đầu tiên, Lăng Vị Phong bị đồng môn sư huynh Sở Chiêu Nam dắt quân bao vây, nhốt tại cung Bố Đạt Lạp ở La Sa Tây Tạng, sau đó được một thị vệ triều Thanh giúp đỡ chạy thoát. Lăng Vị Phong vì báo đáp y nên đã dạy y Truy Phong kiếm pháp, nhận y là đệ tử ký danh (không phải thu nhận học trò chính thức). Thị vệ này chính là Châu sư tổ của con!” có nhiều bậc tiền bối trong võ lâm biết câu chuyện này (chú thích: Mời xem bộ truyện “Thất Kiếm Hạ Thiên Sơn”) Phùng Anh Kỳ lần đầu tiên nghe được chuyện ấy, chàng ta há hốc mồm chẳng nói lời nào, không ngờ rằng cha của mình lại có dây mơ rễ má với bậc kiếm khách tiền bối Lăng Vị Phong.

Phùng Quảng Triều nhấp một ngụm trà, lại nói với Quảng Liên: “Ông thân gia, không phải tôi cố tình giấu ông, nhưng vì ông là người thật thà, biết xong chuyện này chắc sẽ hoảng lên. Lăng Vị Phong ẩn cư ở Thiên Sơn, triều đình chẳng làm gì được ông ta. Còn Châu Thanh là khâm phạm bị truy đuổi hơn ba mươi năm nay!” Chung Vạn Đường mỉm cười nói: “Châu đại hiệp né tránh quan sai, còn tôi thì tránh kẻ thù, ít khi lộ mặt trên giang hồ, hơn mười năm nay tôi cũng buồn chết đi được!” Phùng Quảng Triều hơi ngập ngừng rồi tiếp tục nói: “Ông thân gia, đêm nay ông đã thấy rồi đấy, tôi cũng không cần giấu ông. Xem ra Châu đại hiệp chắc chắn bị kẻ cường địch đánh bị thương, bọn chúng sớm muộn cũng sẽ tới đây, tôi xin gởi gắm cháu ngoại cho ông, ông hãy dắt bọn chúng trốn đi! Ông là một võ sư an phận thủ thường, trên giang hồ ít có người biết ông, triều đình cũng không để ý đến ông!” Quảng Liên mới vỡ lẽ ra: “Té ra hai tên ấy đã nói đến Châu Thanh”. Thế rồi mới khảng khái bảo: “Ông thân gia, sao lại nói thế? Tôi tuy bỏ võ theo nghề nông nhưng cũng là một hán tử đầy nhiệt huyết, chúng ta có nạn cùng gánh, nếu kẻ địch đuổi đến đây, chúng ta sẽ cùng nhau xông ra!” Phùng Quảng Triều mỉm cười: “Cũng mong là có thể xông ra được, nói ra mong ông đừng giận, với mấy món công phu mèo ba cẳng của chúng ta, chỉ e không thể chống lại nổi cường địch!” Quảng Liên thấy cả Châu Thanh mà còn bị như thế, biết Phùng Quảng Triều chẳng nói ngoa, thở dài nói: “Sáng sớm ngày mai tôi sẽ dắt Anh nhi và Lâm nhi đến Loan Châu tìm sư huynh của tôi”.

Phùng Quảng Triều sờ trán Châu Thanh, thấy ông ta vẫn chưa tỉnh, lại nói tiếp: “Ông thân gia, mười năm trước tôi về quê qui ẩn, bằng hữu trên giang hồ đều rất lấy làm lạ, ông cũng hỏi tôi, lúc ấy tôi không dám nói, giờ đây có thể cho ông biết, khi đó tôi vừa mới theo Châu đại hiệp học được Truy Phong kiếm pháp, chính Châu đại hiệp đã bảo tôi qui ẩn!” Phùng Anh Kỳ mở to mắt hỏi: “Cha, tại sao cha học được Truy Phong kiếm pháp mà lại không dạy con, chỉ dạy con Lục hợp đại thương. Có phải Đường sư đệ luyện Truy Phong kiếm pháp không?” Phùng Quảng Triều khẽ gật đầu. Phùng Anh Kỳ lộ vẻ không vui, trách cha mình tại sao thiên vị, chỉ truyền Truy Phong kiếm pháp cho người ngoài mà không truyền cho con trai. Phùng Quảng Triều tựa như hiểu được lòng dạ chàng ta, chợt nói: “Con hiểu cái gì? Ta không muốn liên lụy đến con!” Đường Hiểu Lan đứng bên cạnh mà hai mắt đỏ ửng tựa như muốn khóc.

Phùng Quảng Triều vuốt râu chép miệng, thầm nhủ: “Chi bằng cứ nói ra để bọn chúng khỏi ghen tị nhau”. Thế rồi nắm tay con trai, từ tốn nói: “Cha được tổ sư truyền cho Truy Phong kiếm pháp là vì Đường sư đệ của con. Để cha kể con nghe, con sẽ biết cha không chịu dạy kiếm thuật cho con. Mười năm trước, ta ra miền tái ngoại, ngày nọ đi ngang qua miếu Bách Linh, lúc này trời đã về chiều, chợt nghe tiếng quát tháo vọng tới, ta thấy có hơn mười tên cường đồ bao vây một thiếu phụ, đôi bên đánh nhau rất hăng! Kiếm pháp của thiếu phụ ấy hiểm hóc lạ thường, đã có mấy tên cường đồ bị thương, nhưng bọn chúng vẫn bao vây chặt. Thiếu phụ tay phải cầm kiếm, tay trái dắt theo một đứa trẻ khoảng bảy tám tuổi, chỉ có thể phòng ngự chứ không thể tấn công. Trong lúc kịch chiến thiếu phụ vì bảo vệ cho đứa trẻ ấy mà nhiều lần gặp nguy hiểm. Khi ta chạy tới nơi thì nghe thiếu phụ ấy kêu lớn: ‘Các người muốn lấy mạng ta cũng được, sao lại cứ phải hại con trai ta?’ bà không kêu thì còn khá, đến khi kêu lên thì đao thương kiếm kích của bọn cường đồ nhất tề đâm về phía đứa trẻ, thiếu phụ vung kiếm chặn trước gạt sau, tựa như một vòng ngân hồng che đến gió mưa không lọt. Nhưng bà ta bảo vệ được cho con trai của mình còn mình thì rơi vào nguy hiểm, chỉ nghe bà ta kêu thảm mấy tiếng, rõ ràng đã bị trọng thương. Ta không kìm được, mặc cho võ công của mình còn kém, thế là thúc ngựa từ trên đồi phóng thẳng xuống bất ngờ đâm ngã hai tên cường đồ, xông vào giữa trận chiến, thiếu phụ ấy thấy ta xông tới thì ném đứa trẻ lên lưng, kêu lên: ‘Nghĩa sĩ, xin gởi đứa trẻ này cho ông, ông hãy xông ra ngoài!’ bà ta vung kiếm nhanh như gió chặn bọn cường đồ lại. Ta bế đứa trẻ cố gắng chạy ra còn thiếu phụ thì yểm hộ mở ra một đường máu cho ta. Nhưng vừa xông ra khỏi vòng vây, ta liền nghe sau lưng có tiếng kêu thảm, thiếu phụ ấy đã trúng độc thủ! Ta quay lại nhìn, một mũi ám tiễn bất ngờ bắn tới, ngực ta đau nhói ngã xuống ngựa, đứa trẻ cũng văng theo, nó khóc òa lên. Bọn cường đồ xông tới, trong lúc chìm vào cơn mê ta còn nghe một tiếng quát lớn: ‘Bọn chuột nhắt dám lớn gan!’ một bóng người từ trên sườn núi phóng xuống, ta nằm phục ở dưới đất nên chỉ nghe tiếng kim khí giao nhau, rồi lại nghe tiếng cười dài, ta cố mở hai mắt dùng tay chống người dậy nhìn qua, chỉ thấy phía trước mặt có vô số bóng đen, một mảng ngân quang bay lượn, tất cả hòa vào nhau, trong đó có một luồng bạch quang chói mắt, luồn qua lách lại giữa vô số bóng đen nhanh như điện chớp, ánh bạch quang đi đến đâu bóng đen tản mát, luồng bạch quang ấy đuổi theo nhanh như tên bắn, lúc chạy về phía Đông, lúc chạy về phía Tây, chỉ trong chớp mắt bóng đen đã bị quét sạch, ánh bạch quang thu lại, giữa cánh đồng trống trải chỉ còn lại một hán tử cao lớn, người ấy bước đến đỡ ta, nói: ‘Nghĩa sĩ, ngươi có sao không?’ ta vốn đau muốn ngất đi, thấy trận kịch đấu ấy thì sợ đến nỗi há mồm trợn mắt, trái lại chẳng còn thấy đau nữa, ta nói: ‘Ngài có phải là kiếm tiên không?’ người ấy mỉm cười, lấy thuốc kim sang bôi cho ta rồi nói: ‘Trong thiên hạ có khối người có công phu như ta!’ lúc ấy đứa trẻ đã bò dậy, ôm chân người ấy khóc rằng: ‘Châu bá bá, Châu bá bá, mẹ của con đâu?’.” Ông ta kể đến đây Đường Hiểu Lan đã ứa nước mắt!

Phùng Quảng Liên nghĩ thầm: “Lẽ nào đứa trẻ mà hai tên ấy nói chính là Đường Hiểu Lan?” Ông ta nghĩ chưa xong thì quả nhiên Phùng Quảng Triều chỉ Đường Hiểu Lan nói: “Đứa trẻ ấy chính là hắn!” ông ta ngập ngừng, nhấp một ngụm trà rồi tiếp tục nói: “Hán tử cao lớn chính là sư phụ Châu Thanh của ta sau này. Ông ta nghe Hiểu Lan nói thì cười rầu rĩ mà rằng: ‘Cậu bé, cậu vẫn còn nhớ đến ta, nhưng ta thì đến muộn!’ rồi ông ta cầm tay Hiểu Lan dắt đi tìm xác của thiếu phụ, trầm giọng nói: ‘Mẹ của con vì bảo vệ cho con đã bị kẻ địch giết hại, nhưng bá bá đã giết chết bọn chúng. Con phải làm một đứa trẻ tốt, sau này báo thù cho cha của con!’ Đường Hiểu Lan rất lanh lợi, khóc một hồi thì ôm Châu đại hiệp nói rằng: ‘Bá bá, xin người hãy dạy võ công cho con’. Châu đại hiệp nói: ‘Chỉ cần con làm một đứa trẻ tốt...’ đến đây thì ông ta nghẹn ngào không nói được nữa. Ông ta dùng kiếm đào một cái hố, chôn mẹ của Hiểu Lan rồi nói với ta rằng: ‘Vợ chồng họ là bằng hữu thân nhất của tôi, tôi đã sớm đoán được có ngày hôm nay nhưng vẫn đến muộn một bước’. Lúc đó tôi đã bôi thuốc xong, tuy đã hết đau nhưng không thể cử động được, Châu đại hiệp đỡ tôi lên lưng ngựa, ôm đứa trẻ phóng ngựa chạy theo. Sáng sớm này hôm sau thì đến một căn cổ miếu, theo Châu đại hiệp nói, nơi này chính là vùng Đồ Cổ Lý Khắc gần ranh giới Hồi Cương. Hòa thượng trong miếu là bằng hữu của người. Tôi tịnh dưỡng mấy ngày trong miếu, thương thế dần dần giảm bớt. Tôi nài nỉ người nhận tôi làm học trò, người suy nghĩ một đêm mới nói với tôi rằng: ‘Thấy lời lẽ và hành động của ngươi, ta đoán ngươi là người có nghĩa khí. Có điều tuổi tác chúng ta không hơn kém nhau bao nhiêu, vả lại ta quanh năm suốt tháng lưu lạc, lại là khâm phạm của triều đình, chẳng rảnh dạy cho ngươi. Thế này nhé, ta sẽ truyền cho ngươi một bài kiếm pháp và một loại ám khí, chúng ta cứ coi nhau là bằng hữu, không theo danh nghĩa thầy trò’. Ta kiên quyết không chịu, cuối cùng đôi bên đều lùi bước, ông ta chấp nhận ta là đệ tử ký danh. Châu đại hiệp bỏ ra bảy ngày dạy Truy Phong kiếm pháp và Phi mãng ám khí cho ta, người bảo rằng: ‘Ngươi đừng coi thường hai món công phu này, đó là võ công của Thiên Sơn kiếm khách Lăng Vị Phong! Truy Phong kiếm pháp nhanh nhẹn tuyệt luân, là những chiêu số tấn công mạnh nhất trong Thiên Sơn kiếm pháp, Phi mãng ám khí được cải biến từ món ám khí Thiên Sơn thần mãng đã nổi tiếng từ lâu của Lăng đại hiệp, nhưng phi mãng nhỏ hơn thần mãng nhiều, nó được luyện từ ngũ kim, trông giống như Mai Hoa châm, chuyên tấn công vào huyệt đạo, mắt hoặc tai của kẻ địch. Sau khi luyện thành, trên giang hồ hiếm thấy địch thủ! Có điều ta phải nhắc trước ngươi không được khoe khoang, nếu không sẽ gặp họa sát thân! Không được ta cho phép thì không truyền cho kẻ khác, tuy thân thiết như vợ con cũng không được truyền thụ. Ngươi có chịu không?’ ta vội vàng chấp nhận. Châu đại hiệp lại nói: ‘Không phải ta cố ý giấu nghề mà bởi bên trong có lý lẽ khác. Ngươi có biết ta là ai không? Ta là Châu Thanh đệ tử ký danh của Lăng Vị Phong, nay là khâm phạm của triều đình, hai mươi năm trước là vệ sĩ đại nội. Ở Trung Nguyên chỉ có một mình ta biết Truy Phong kiếm pháp của Lăng Vị Phong, nếu ngươi để lộ ra, chắc chắn sẽ bị bọn ưng khuyển của triều đình nhận ra, lập tức sẽ mang họa diệt môn. Ngươi có hiểu chưa?’ Sau bảy ngày, ta đã học xong kiếm thức, Châu đại hiệp lại nói: ‘Ở miền Hà Nam có một kỳ nhân đương thế võ công chẳng kém gì ta, ông ta là truyền nhân của Vô Cực kiếm ngoại hiệu Phong Trần Y Ẩn Chung Vạn Đường, ông ta tuy không hiểu Truy Phong kiếm pháp nhưng Vô Cực kiếm của ông ta chuyên lấy nhu khắc cương, tương phản tương thành với Truy Phong kiếm pháp. Giờ đây ngươi đã hiểu đại khái kiếm thức, ta không còn thời giờ dạy cho ngươi nữa, ngươi hãy đem vật này đến núi Phục Ngưu tìm ông ta, nhờ ông ta tiếp chiêu luyện kiếm với ngươi, như thế đôi bên đều có ích!’.” Phùng Quảng Triều kể đến đây thì Châu Thanh chợt cựa mình. Chung Vạn Đường vội vàng bắt mạch cho ông ta, nói: “Nội công của Châu đại hiệp thật cao cường, xem ra không bao lâu nữa sẽ tỉnh lại. Có điều bị trúng độc quá nặng, thuốc giải kém sau khi tỉnh dậy cần phải dùng khí công trị liệu thêm ba ngày nữa”.

Phùng Quảng Triều thở phào, tiếp tục kể: “Khi sắp giã biệt, Châu đại hiệp còn nói với ta rằng: ‘Ta và hào kiệt năm tỉnh phía Bắc cứ năm năm gặp nhau một lần, ngày Trung Thu vào mười năm sau sẽ là lần hẹn thứ hai, địa điểm là ở núi Thái Hàng tại Hà Nam. Chung Vạn Đường vì né tránh kẻ thù, chắc cũng không tham gia lần thịnh hội này, ngươi hãy bảo ông ta đến nhà ngươi vào tết Trung Thu mười năm sau, có lẽ ta sẽ tiện đường ghé ngang qua. Lúc đó chúng ta lại sẽ trò chuyện’ không ngờ chưa tới kỳ hẹn mà hai người đã gặp nhau!”

Chung Vạn Đường mỉm cười, nói: “Lúc đầu ta ẩn cư ở núi Phụng Ngưu, hai năm trước bị kẻ địch phát hiện, ta chỉ đành tìm nơi khác lẩn tránh. Không ngờ mấy ngày trước nghe tin đồn rằng hai kẻ thù của ta đã đến nơi ấy, nên ta vội vàng xin phép chủ nhà, giả vờ bảo rằng về quê thăm người thân, thực ra là đến thăm ông”. Phùng Quảng Triều giật mình, hỏi: “Sao lại có chủ nhà nào ở đây?” Chung Vạn Đường nói: “Hai năm nay ta đi dạy học”. Phùng Quảng Triều rất lấy làm ngạc nhiên, hỏi: “Là bằng hữu nào trên giang hồ mà có thể mời được Phong Trần Y Ẩn?” Chung Vạn Đường lại cười: “Ta dạy cho một đứa trẻ nghịch ngợm nhất trên đời này, cha của nó chẳng có liên quan gì đến bằng hữu trên võ lâm nhưng lại liên quan rất nhiều đến quan phủ Hà Nam!” Phùng Quảng Triều càng ngạc nhiên hơn, đang định hỏi thì Chung Vạn Đường đã hỏi ngược lại: “Vậy có phải Châu đại hiệp đã bảo ông dạy cho Hiểu Lan không?”

Phùng Quảng Triều nói: “Đúng thế. Vào tết Đoan Ngọ năm ngoái, đứa trẻ này mang thư của Châu đại hiệp đến, trong thư bảo rằng nó đã lớn, ông ta không thể cứ dắt nó lang thang trên giang hồ mãi, lại không muốn làm lở giở việc học công phu của nó nên mới bảo nó đến học Truy Phong kiếm pháp và Phi mãng ám khí của tôi”.

Nói đến đây, Đường Hiểu Lan chợt bảo: “Ồ, Châu bá bá đã tỉnh!” Phùng Quảng Triều vội vàng bước tới xem, chỉ thấy Châu Thanh chậm rãi mở mắt, khẽ nói: “Phùng lão đệ, đã khiến ngươi lo lắng!” Phùng Quảng Triều vội vàng nói: “Châu lão sư, người thấy thế nào?” “Hãy đem túi da của ta đến đây!” Đường Hiểu Lan cầm đem tới đưa cho ông ta. Châu Thanh mở cái túi da, đột nhiên ngồi dậy, thò tay vào trong người, khép ba ngón tay lại búng vào túi da một cái, chỉ trong chốc lát hai cái đầu người đã biến thành máu! Lại cười ha hả nói rằng: “Đủ cả vốn lẫn lời, ta chết cũng đáng!” Chung Vạn Đường nói: “Với công lực của ông, tịnh tọa ba ngày là có thể trị thương!” Châu Thanh cười nói: “Ai bảo cần phải tịnh tọa ba ngày, ta chỉ ngồi chốc lát thì sức lực sẽ hồi phục, ta sẽ ra đi ngay. Nếu cứ chần chừ nữa sẽ liên lụy đến các người!” Phùng Quảng Triều nói: “Sư phụ có nạn, đệ tử muôn chết không từ”. Châu Thanh nói: “Ta cũng chẳng phải là đối thủ của bọn chúng, huống chi là ngươi!” Chung Vạn Đường nói: “Kẻ địch nào mà lợi hại đến thế?” bản lĩnh của Chung Vạn Đường chẳng kém gì Châu Thanh, ông ta thầm nhủ: “Sau khi bị thương nặng mà Châu Thanh có thể chạy đến đây, vậy mình ít nhất cũng có thể chặn bọn chúng lại”. Châu Thanh chẳng nói lời nào, chỉ vào vết thương nơi ngực bảo: “Các người có thấy chỗ này không?” Chung Vạn Đường đang định hỏi ông ta bị thương bởi ám khí gì, Châu Thanh đã lấy ra một vật tròn trịa trong túi da ở phía sau lưng!

Té ra đó là một trái cầu bằng sắt, bên ngoài chẳng có gì kỳ lạ. Châu Thanh dùng lực xoay một cái, trái cầu ấy đột nhiên bật ra, bên trong có chứa mười mấy ngọn đao bén, mỗi ngọn dài không quá năm tấc, trong suốt mỏng như lá liễu, xếp thành một hình vòng cung trông như cánh chim giang ra. Châu Thanh nói: “Lần này ta từ kinh đô bị đuổi đến đến đây, cuối cùng đã bị trúng loại ám khí này! Ta giết hai người, đoạt được một cái, bọn chúng mới không dám đuổi theo gấp!” Chung Vạn Đường thấy món ám khí rất kỳ lạ. Châu Thanh nói: “Loại ám khí này tên gọi Huyết Trích Tử. Ta cũng chỉ thấy lần đầu tiên, chỉ cần bấm cái lẫy thì khoái đao bên trong sẽ xoay tròn như bánh xe, trái cầu mở ra chụp vào đầu người và lập tức khép lại, lúc đó đầu người đã bị cắt! Đoản đao bên trong đều được tẩm độc, dù không bị nó cắt đầu, chỉ cần bị nó đả thương thì cũng mất mạng. Lần này ta bị mười mấy trái Huyết Trích Tử vây công, nhất thời tránh không được nên bị thương! Nếu các người đơn đả độc đấu với Huyết Trích Tử phải dùng ám khí đánh rơi nó hoặc dùng khinh công né tránh. Nếu bị Huyết Trích Tử vây công, chắc chắn sẽ nguy hiểm muôn phần!”

Chung Vạn Đường đứng dậy, nói: “Nếu địch không lại, chúng ta hãy đi thôi! Tôi cùng ông đến núi Thái Hàng, trên đường sẽ dùng thuốc giữ khí ở đơn điền cho ông, đến gần núi Thái Hàng thì không sợ nữa. Mấy ngày nay hào kiệt năm tỉnh phía Bắc đang lần lượt kéo tới, lúc đó chúng ta cũng không cần sợ Huyết Trích Tử!” Châu Thanh mở mắt hỏi: “Ông không sợ kẻ thù sao?” Chung Vạn Đường nói: “Lúc này còn sợ cái gì nữa? Bình thường thì tránh bọn chúng, lúc này cũng đành phải liều mạng!” Châu Thanh lắc đầu, Chung Vạn Đường vội nói: “Ông không đi được, tôi sẽ cõng ông!” Châu Thanh nói: “Thong thả đã!” rồi nhảy xuống giường đặt tai xuống lắng nghe, nói: “Từ xa có tiếng ngựa hí, giờ chạy ra chắc chắn sẽ gặp bọn chúng!” Chung Vạn Đường thổi tắt lửa trong lò sưởi, nói: “Chúng ta đừng lên tiếng, nếu bọn chúng đến đây, lúc đó mới liều mạng!”

Trong bóng tối Châu Thanh rút ra một thanh bảo kiếm, lập tức ánh hàn quang lấp lánh chiếu vào mặt. Chung Vạn Đường khẽ nói: “Hãy cất vào! Đợi kẻ địch đến cửa rút ra cũng không muộn!” Châu Thanh tra kiếm vào vỏ, kéo Đường Hiểu Lan đến sát bên cạnh, khẽ nói: “Thanh kiếm này trao cho con, đây chính là kiếm của tổ sư gia Lăng Vị Phong truyền lại, tên gọi Du Long kiếm!” Chung Vạn Đường thất kinh, Du Long kiếm là một trong hai món báu vật trấn sơn của phái Thiên Sơn, mấy mươi năm trước phản đồ Sở Chiêu Nam của Hối Minh thiền sư đã từng dùng thanh kiếm này trấn áp giang hồ. Không ngờ Lăng Vị Phong đã tặng cho Châu Thanh nay lại truyền cho Đường Hiểu Lan. Ông ta không khỏi lấy làm lo lắng cho Đường Hiểu Lan, sợ rằng võ công của chàng không đủ giữ kiếm. Trong bóng tối Châu Thanh lại nắm tay Chung Vạn Đường, nói bên tai ông ta: “Lão đệ, chúng ta hiếm khi gặp nhau, hôm nay e rằng sẽ âm dương cách biệt. Kẻ thù của lão đệ đã đến nơi, đệ còn tránh ở nơi nào?” tình nghĩa của hai người vững bên như sắt đá, Chung Vạn Đường ứa nước mắt, cũng khẽ nói: “Đa tạ quan tâm. Mấy năm nay đệ dạy học ở huyện Trần Lưu”.

Châu Thanh chợt nói: “Có phải là nhà họ Niên không?”

Chung Vạn Đường nói: “Đúng thế!”

Châu Thanh chợt kêu lên: “Đệ đã dạy được đồ đệ giỏi!” câu này chắc có nội tình gì nữa, nhưng ngay lúc này ông ta như phát giác ra điều gì, vội vàng nói: “Đến rồi! Im lặng!” Chung Vạn Đường thấy ngạc nhiên, không tiện hỏi dấn tới, chỉ đành nằm xuống đất, một hồi sau đã nghe tiếng vó ngựa lọc cọc chạy đến trước cửa. Chính là:

Nửa đêm ngựa đuổi tới, làng vắng có ngọa long.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 2: Máu nhuộm làng vắng mười năm hết hẹn cũ Đại nội kỳ án nửa đêm quất ngựa đi

Trong bóng tối ai nấy đều nắm chặt binh khí, nín thở ngưng thần, tiếng vó ngựa đến trước cửa đột nhiên ngừng lại, Chung Vạn Đường lấy làm lạ: “Chả lẽ chỉ có một người một ngựa?”Châu Thanh cũng ngạc nhiên, đang định nhỏm dậy thì bên ngoài có người vỗ cửa kêu lớn: “Sư phụ! Sư phụ!” Phùng Quảng Triều thở phào, mừng rỡ nói: “Là Vương Lăng. Hiểu Lan hãy ra mở cửa đón đại sư ca của con trở về!” Châu Thanh chợt kéo Phùng Quảng Triều lại, khẽ nói: “Có phải tên đồ đệ làm bảo tiêu ở kinh đô không?” Phùng Quảng Triều vâng một tiếng. Châu Thanh bảo: “Đừng nói ngươi đã bái ta làm sư!” Phùng Quảng Triều kinh ngạc hỏi: “Tại sao thế?” Châu Thanh nói: “Cẩn thận vẫn hơn”.

Cửa lớn mở ra, đèn đuốc lại được đốt sáng trở lại, một hán tử khỏe mạnh tuổi khoảng hai mươi chậm rãi bước vào, thấy trong nhà có nhiều người cúi người nói: “Sư phụ, hôm nay là ngày vui gì thế?” Phùng Quảng Triều nói: “Con có thêm hai điệt nữ, hôm nay là ngày tròn một năm tuổi của chúng”. Vương Lăng vội vàng chúc mừng Phùng Anh Kỳ, hỏi: “Đệ muội và điệt nữ đâu? Đã ngủ cả rồi sao?” Phùng Anh Kỳ nói: “Ở bên trong, lát nữa mẹ con nàng sẽ ra gặp sư ca”. Phùng Quảng Triều dắt y đến gặp khách, y vừa nghe nói đến cái tên Phong Trần Y Ẩn Chung Vạn Đường thì thất kinh, lại nghe đến tên Châu Thanh thì vội vàng quỳ xuống bái. Châu Thanh hai mắt sáng quắc, lên tiếng hỏi: “Trên đường ngươi có gặp kẻ nào khác lạ không?” Vương Lăng nói: “Tiểu điệt đã thấy ở gần Tiết Điếm có hơn mười võ sĩ phóng ngựa chạy về phía Tây”. Tiết Điếm cách Nhữ Châu không quá trăm dặm, nếu đây là bọn Huyết Trích Tử từ kinh đô đuổi tới chắc là đến Nhữ Châu trước Vương Lăng. Phùng Quảng Triều bớt lo hơn, thầm nhủ: “Chắc bọn chúng không biết Châu lão sư ở đây, lúc này đã đi vòng qua Nhữ Châu đến phía Tây”. Sắc mặt của Châu Thanh dần dần giãn ra, lại hỏi: “Bọn chúng có hỏi ngươi điều gì không?” Vương Lăng lắc đầu: “Không có!” Châu Thanh kêu ờ một tiếng chứ không nói gì nữa.

Quảng Luyện Hà nghe giọng nói của sư ca, bế Phùng Anh và Phùng Lâm bước ra, Vương Lăng hôn hai đứa bé, hớn hở nói: “Đệ muội, xin chúc mừng! Ta chưa uống rượu mừng của đệ muội mà đã uống rượu gường trước!” Quảng Luyện Hà mỉm cười chứ không nói gì. Phùng Quảng Triều lại nói: “Công việc của con ở trong kinh đang bận rộn, sao lại trở về?” Vương Lăng nói: “Tiêu cục phái con đến Hoài Dương nhận tiêu, tiện đường ghé qua thỉnh an sư phụ”. Quảng Luyện Hà cười nói: “Công công, sư ca từ xa trở về, để huynh ấy vào trong rửa ráy trước rồi sẽ ra nói chuyện”. Phùng Quảng Triều cũng cười: “Đúng thế, ta vẫn chưa lớn tuổi mà đã hơi lẩm cẩm. Con hãy đưa sư ca vào trong, cứ để Lâm nhi và Anh nhi ở đây”.

Châu Thanh vốn đang trầm tư, thấy hai đứa bé gái xinh xắn, mắt sáng lên, bước tới nhìn kỹ một hồi, sờ vào xương đầu của cả hai rồi nói: “Hai đứa bé này khá hơn ngươi nhiều, có năng khiếu tập võ!” Chung Vạn Đường cười nói: “Lão Châu, không ngờ ông cũng biết xem tướng”. Châu Thanh nghiêm mặt nói: “Tinh tướng học vốn chẳng phải chuyện đùa, nhưng cốt cách tính tình từ nhỏ đã lộ ra. Tôi lăn lộn trên giang hồ đã lâu, chỉ thấy được ba đứa trẻ có cốt cách đặc biệt, tôi chưa biết tính tình của hai đứa trẻ này, đứa trẻ còn lại mười năm sau không phải anh hùng cũng là một kiêu hùng, lão Chung phải cẩn thận đấy!” Chung Vạn Đường thất kinh nói: “Có phải ông muốn nói đến học trò của tôi?”

Châu Thanh nói: “Đúng thế, tôi đã từng gặp đứa trẻ ấy. Chỉ vì tôi đang có việc bận, nếu không tôi đã sớm dắt nó đi!” Chung Vạn Đường ngạc nhiên: “Ông đã từng gặp nó, sao tôi lại không biết?” “Học trò của ông có e là con trai của Niên Hà Linh, tên gọi Niên Canh Nghiêu hay không?” Chung Vạn Đường khẽ gật đầu, nói: “Đứa trẻ này cũng hơi kỳ lạ!” Phùng Quảng Triều bất giác thất kinh, thầm nhủ: “Niên Hà Linh là người giàu có nổi tiếng ở Hà Nam, sao Chung Vạn Đường lại cam lòng làm kẻ tôi tớ cho y?” rồi ông ta lại nghĩ: “Nếu chỉ vì tránh mặt kẻ thù mà ẩn thân trong nhà họ Niên, đó đương nhiên cũng là một chỗ dừng chấn rất tốt. Có điều Chung Vạn Đường võ công cao thâm, thế nhưng lại phải tránh Đông né Tây, vậy kẻ thù của ông ta chắc chắn còn lợi hại hơn cả bọn Huyết Trích Tử!”

Châu Thanh nói: “Từ lâu tôi đã nghe Niên Canh Nghiêu có hành vi quái dị, có người nói hắn là một thần đồng, có người bảo hắn là thiên hạ đệ nhất ngoan đồng. Năm ấy tôi đi ngang Trần Lưu, đã lén vào Niên phủ xem thử, thấy một thầy giáo già đang mắng hắn không chịu đọc sách, hắn chớp mắt nói: ‘Ông đọc lại một lần con nghe thử’ thầy giáo ấy bảo: ‘Được, ta sẽ dạy lại cho con một lần nữa, nếu đêm nay không thuộc thì đừng hỏng ngủ’. Thầy giáo ấy đọc lại một lượt, Niên Canh Nghiêu cười ha hả: ‘Hãy nghe đây!’ rồi hai tay chống nạnh, lớn giọng đọc lại đoạn văn ấy chẳng sai một chữ nào. Thầy giáo nghe xong ngẩn người ra, Niên Canh Nghiêu chợt mắng: ‘Đọc sách có gì khó, tiểu gia chẳng thèm đọc sách của ông, ông dám quản ta!’ rồi nhảy lên tung hai cú đấm, nó chỉ là đứa trẻ sáu bảy tuổi mà hai tay có khí lực đến trăm cân, đáng thương cho ông thầy già bị nó đánh ngã lăn cù, ta nghĩ lão không dám trở lại nữa. Lão Chung, ông có bị nó đánh không?”

Chung Vạn Đường nói: “Đứa trẻ này đã rất kính trọng tôi, có điều tôi phải vất vả cả năm trời mới thu phục được tên ma tinh này”. Đang định kể tiếp thì thấy sắc mặt Châu Thanh khác lạ, hỏi: “Sao thế?” Châu Thanh phục người xuống đất, lắng nghe, một hồi sau đứng dậy nói: “Ta đoán không lầm, bọn Huyết Trích Tử không đến Nhữ Châu mà quay trở lại đây!” Chung Vạn Đường nói: “Vậy hãy mau tắt hết đèn đuốc, chuẩn bị ám khí!” Châu Thanh Đảo mắt, nói: “Đừng ở trong nhà nữa. Kẻ địch từ hướng Nam đến, chúng ta xông ra hướng Bắc!” Chung Vạn Đường lắc đầu nói: “Như thế quá mạo hiểm, ông tạm thời đã được giải độc, nhưng sức khỏe vẫn chưa hồi phục!” Châu Thanh chợt nói: “Ở trong nhà càng nguy hiểm hơn!” rồi phóng vọt người ra cửa lớn, Chung Vạn Đường, Phùng Quảng Triều đều ngạc nhiên, không đoán được tại sao lúc nãy ông ta chịu ở trong nhà mà giờ đây lại vội vàng chạy ra!

Sắp đến Trung Thu, ánh trăng sáng vằng vặc, Chung Vạn Đường phóng người đuổi theo, chợt thấy ở bên ngoài xuất hiện một người, người ấy mũi ưng miệng sư tử, vẻ mặt trông rất hung dữ, y hú dài một tiếng nghe mà kinh tâm động phách. Châu Thanh quát lên: “Hỏa vân động chủ, ngươi cũng cam lòng làm nô tài cho Hồ lỗ, đáng tiếc anh danh một đời của Hải Vân trưởng lão đã bị tên phản đồ nhà ngươi bôi bẩn!” Hỏa vân động chủ vốn tên gọi Long Mộc Công, là tù trưởng của một tộc người Lê ở núi Ngũ Chỉ thuộc đảo Hải Nam. Sư phụ của y Hải Vân hòa thượng là kiếm sư lẫy lừng miền Nam cương, có điều hai mươi năm qua Long Mộc Công không bước vào Trung Nguyên nên rất ít kiếm khách Trung Nguyên biết y. Hơn mười năm trước Châu Thanh đã vượt biển đến Quỳnh Nhai, đã từng gặp mặt Long Mộc Công, không ngờ nay y đã bị triều đình mua chuộc, gặp lại đã là kẻ địch của nhau.

Hỏa vân động chủ Long Mộc Công cười hềnh hệch, Châu Thanh lách người tới, một đốm hàn tinh bay tới trước mặt, Chung Vạn Đường tiến tới một bước, vung kiếm chặn lại, keng một tiếng, một cây cương tiêu rơi xuống đất, trên cây cổ hòe trong sân chợt có một người phóng xuống, kêu lớn: “Châu Thanh, gia tộc của ngươi đời đời chịu ân vua, hãy theo ta trở về!” người này tóc đỏ như lửa, Châu Thanh vừa gặp đã nổi cáu đùng đùng, quát rằng: “Nhờ ám khí tẩm độc đả thương người khác đâu có phải là hảo hán. Hãy nhận lại ám khí!” rồi hai chưởng vung lên, một trái thiết cầu bay vù tới!

Người này tên gọi Lôi Hải Âm, là môn khách của Tứ bối lạc Dận Trinh (tức là Hoàng đế Ung Chính sau này). Khang Hy có mười sáu người con trai và bảy con gái, trong đó người y yêu mến nhất là bối lạc thứ mười bốn. Bối lạc thứ tư thông minh khôn khéo nhất nhưng lại không được lòng vua cha. Số là ngày nọ Khang Hy đem hai lồng chuột bạch Tây Tạng ban cho bối lạc thứ tư và bối lạc thứ mười bốn, mười ngày sau hỏi lại thì bối lạc thứ mười bốn trả lời: “Hoàng nhi thấy đám chuộc bạch bị nhốt trong lồng rất đáng thương nên đánh liều thả chúng ra. Mong phụ hoàng thứ tội!” bối lạc thứ tư thì chia bầy chuột bạch thành hai nhóm, huấn luyện cho chúng cắn xé lẫn nhau, chưa đầy mười ngày thì đã chết ráo cả. Y thấy phụ hoàng hỏi đến thì hớn hở trả lời. Khang Hy một đời chinh chiến, đến lúc tuổi già có ý bỏ võ sửa văn, chẳng hạn như bộ Khang Hy tự điển chính là do ông ta sai các quan biên soạn. Nghe Tứ bối lạc nói như thế thì nghĩ thầm: “Nếu hắn nối ngôi chắc chắn sẽ là một bạo quân”. Vì thế không thích y nữa. Việc truyền ngôi vua trong hoàng tộc nhà Thanh không theo thứ tự lớn nhỏ, nhà vua để lại di chiếu chỉ định một người nào đó rồi đặt trên cây lương ở điện Chính đại quang minh, sau khi vua băng hà cố mệnh đại thần cùng hoàng thất mở ra xem. Bởi vậy các bối lạc ganh đua nhau rất kịch liệt, Tứ bối lạc biết vua cha không ưa mình, vậy là càng nôn nóng đoạt vị, một mặc cấu kết với Quốc cựu Khoa Long Đa, một mặt nuôi dưỡng tử sĩ. Huyết Trích Tử là tổ chức do một lạt ma Hồng giáo Tây Tạng sáng lập, Lạt ma này làm việc cho Tứ bối lạc, nên đã truyền Huyết Trích Tử cho võ sĩ dưới trướng của Tứ bối lạc. Lôi Hải Âm là một trong tứ bá của Dận Trinh, còn Long Mộc Công thì mới được Tứ bối lạc mời về gần đây. Lần này Châu Thanh bị trúng Huyết Trích Tử là do Lôi Hải Âm phóng ra.

Châu Thanh vừa gặp Lôi Hải Âm thì bất đồ lửa giận nổi dậy, đoạt ngay trái Huyết Trích Tử trong tay y lập tức phóng ngược trở về.

Lôi Hải Âm vừa nghe tiếng gió rít thì biết kình lực rất lớn nên không dám tiếp. Long Mộc Công phóng người vọt lên, cây gậy đầu rồng điểm vào trái cầu đánh keng một tiếng trên không trung, Huyết Trích Tử bay xéo ra. Lôi Hải Âm cười hền hệt nói: “Châu Thanh, ngươi cũng là đại hành gia trên giang hồ, ngươi bị thương bởi Huyết Trích Tử, dù có thể tạm thời giữ được chân khí, trong vòng mười hai canh giờ chắc chắn sẽ độc phát thân vong, ngươi còn muốn liều mạng với ta làm gì? Chi bằng theo ta về kinh, ta sẽ cho thuốc giải” Châu Thanh mắng: “Nếu muốn quay trở về ba mươi năm trước ta đã không ra đi. Ngươi tưởng bán mạng cho Hoàng đế thì có thể kiếm được vinh hoa phú quý sao? Ta đã từng là người trong cuộc, hiểu rõ hơn ngươi rất nhiều, ta khuyên ngươi hãy mau buông đao đồ tể, để lại chút hậu phước cho con cháu!” ông ta tưởng rằng Lôi Hải Âm là thị vệ đại nội, nên lấy thân phận “người trong cuộc” để khuyên y mà không biết rằng Lôi Hải Âm một lòng muốn giúp Tứ bối lạc lên ngôi, bởi vậy y làm sao nghe lọt tai những lời như thế? Không đợi Châu Thanh nói xong, y đã bước tới quát rằng: “Không cần nhiều lời, nếu đã không chịu về kinh thì mau chịu chết!” rồi tung người vung cây Quỷ Đầu đao chém xuống đầu Châu Thanh.

Châu Thanh hạ thấp người, tránh được thế đao, cây gậy sắt của Long Mộc Công đã quét vù tới! Châu Thanh quát lớn một tiếng, chân phải đá quét ra, nhân lúc chồm người về phía trước đã né tránh cây gậy, chưởng trái đánh ra một chiêu Lực phách Hoa Sơn chém xuống mặt, công lực nội gia ba mươi năm của Châu Thanh đâu phải tầm thường, nếu bị chém trúng chưởng ấy cánh tay của Long Mộc Công sẽ bị gãy! Nhưng chiêu số của Long Mộc Công cũng thực sự tinh kỳ, y đột nhiên xoay người, cánh tay vung xéo ra, cây gậy sắt điểm vào huyệt thiên trì của Châu Thanh. Đây chính là chiêu vây Ngụy cứu Triệu, Châu Thanh thấy y quả là một cao thủ, thầm kêu đáng tiếc, thế là thu người ra sau nửa thước, trở tay chụp vào cánh tay của Lôi Hải Âm, quát lớn: “Cút đi!” rồi dùng lực đẩy một cái, Lôi Hải Âm té ra phía sau. Trong khoảnh khắc ấy, cây gậy sắt của Long Mộc Công lại quét tới, Châu Thanh vội vàng nghiêng người, cây gậy sắt điểm vào trước ngực, chợt chệch qua một bên đánh keng một tiếng, ánh lửa bắn ra tung tóe, té ra Chung Vạn Đường đã vung kiếm chặn cây gậy.

Châu Thanh thừa thế nhảy ra, Lôi Hải Âm cũng đứng dậy, giơ cây Quỷ Đầu đao ngang ngực chờ địch chứ không dám tấn công. Châu Thanh đã bị trúng độc trong Huyết Trích Tử, Lôi Hải Âm liệu rằng ông ta không chết cũng bị thương, nay thấy ông ta vẫn còn uy mãnh như thế thì kinh hãi. Châu Thanh đang định tiến tới tấn công, tiếng ngựa hí càng lúc càng gần, người nhà họ Phùng cũng đã đuổi ra, Châu Thanh thầm kêu: “Không xong!” nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, chỉ thấy Huyết Trích Tử xuất hiện từ bốn bên, bao vây người nhà họ Phùng vào ở giữa. Phùng Anh Kỳ bế Phùng Lâm, đang định cùng phụ thân xông ra ngoài, chợt nghe tiếng kêu quái dị trên đỉnh đầu, có mấy vật đen thui từ trên chụp xuống đầu, chàng ta vội vàng ôm chặt Phùng Lâm, co người lại né tránh, bên tai đã nghe tiếng cha kêu lớn, ở nơi cổ mát rượi, một trái Huyết Trích Tử đã chụp vào. Chung Vạn Đường đánh hờ một kiếm, gạt được Long Mộc Công, lướt ra mấy trượng, vung kiếm đánh rơi một trái Huyết Trích Tử, tuy nhanh hơn Phùng Quảng Triều nửa bước, lại giật được Phùng Lâm, nhưng đáng thương thay Phùng Anh Kỳ đã đầu một nơi thân một ngả.

Long Mộc Công và Lôi Hải Âm đã vây Châu Thanh, lúc này trên không trung vang lên những tiếng rít quái dị, Châu Thanh kêu lớn: “Mặc ta, chạy mau!” Chung Vạn Đường tay trái kẹp Phùng Lâm, tay phải vung kiếm mở đường, dặn Quảng Liên: “Theo tôi, đừng chạy bừa!” Quảng Liên là người chất phác, Chung Vạn Đường lại rất hợp với ông ta, biết ông ta võ công hơi kém nên cố gắng bảo vệ. Quảng Luyện Hà bế Phùng Anh thấy phu quân bị giết thì lòng dạ đau như xé, khóc chẳng thành tiếng. Vương Lăng và Đường Hiểu Lan, một người dùng Lục Hợp thương, một người cầm Du Long kiếm bảo vệ hai bên Quảng Luyện Hà. Một trái Huyết Trích Tử bay tới, Đường Hiểu Lan phóng vọt lên chém Huyết Trích Tử làm đôi. Du Long kiếm sắc bén lạ thường, ngày đó Châu Thanh bị hơn mười tên Huyết Trích Tử đuổi theo, bao vây mấy lần, nhờ có thanh kiếm mày mà Châu Thanh có thể thoát chết. Nay người nhà họ Phùng thì đông, Huyết Trích Tử không thể chỉ chuyên tấn công một người nên võ công của Đường Hiểu Lan tuy kém Châu Thanh nhưng vẫn có thể bảo vệ được cho Quảng Luyện Hà.

Vài tên võ sĩ bị mất Huyết Trích Tử, vừa thấy Đường Hiểu Lan sử dụng Du Long kiếm thì chạy đến quát tháo chặn lại. Đường Hiểu Lan nắm vững kiếm quyết, múa kiếm loang loáng, đâm được một tên võ sĩ, bên tai đã nghe tiếng kêu kỳ lạ của Vương Lăng. Chàng ta cũng không kịp quay đầu lại, chỉ múa tít cây Du Long kiếm đánh về phía trước. Nào ngờ trong số kẻ địch có hai tên là cao thủ, một tên sử dụng cây roi bảy đốt, loại binh khí này chẳng hề sợ Du Long bảo kiếm. Cây roi bảy đốt kêu lên vù vù, toàn là những chiêu số tấn công. Tên kia sử dụng cái hỗn nguyên bài, xem khí thế rất mạnh mẽ. Đường Hiểu Lan lần đầu tiên xuất đạo mà đã gặp cường địch nên luống cuống chân tay!

Vương Lăng lo bảo vệ cho Quảng Luyện Hà, không rảnh phụ cho Đường Hiểu Lan. Phùng Quảng Triều quát lớn một tiếng, triển khai Truy Phong kiếm pháp vù vù, đâm bị thương hai kẻ địch phía trước mặt, mở ra một đường máu, đang định cứu con dâu chợt thấy có hai bóng người phóng vọt người lên, Phùng Quảng Triều cúi đầu xuống, Châu Thanh đã lướt qua đầu ông ta, ông ta vừa vươn người lên, người ở phía sau đã từ trên không đâm một trượng xuống, ông ta vung kiếm lên gạt thì đã bị đánh lùi đến mấy bước. Người này chính là Hỏa vân động chủ Long Mộc Công!Châu Thanh đến rất đúng lúc, kẻ sử dụng roi bảy đốt đang quét mạnh vào eo phải của Đường Hiểu Lan, kiếm của Đường Hiểu Lan thì bị thiết bài đè lại không rút ra được, tưởng rằng khó thoát, kẻ sử dụng roi bảy đốt đang đắc ý không ngờ Châu Thanh đột nhiên từ trên phóng vọt xuống như quân nhà trời, tay phải đè vào roi, đột nhiên xoay người chân bước vào trung cung lướt người tiến lên. Thân pháp của Châu Thanh rất nhanh nhẹn, kẻ ấy không kịp rút roi chống trả, năm ngón tay của Châu Thanh đã bóp vào vai của y ném ra sau, kẻ ấy kêu thảm một tiếng, xương tì bà đã bị bóp vỡ. Người sử dụng hỗn nguyên bài đột nhiên giật mình, thủ kình nới lỏng ra, Đường Hiểu Lan rút phắt cây Du Long kiếm trở mũi lại đánh ra một chiêu Bàn trửu kích tra đâm vào ngực của kẻ ấy, kẻ ấy vội giơ thuẫn bài đánh ra chiêu Hoành giá kim lương chặn lại ở phía trên. Nào ngờ Đường Hiểu Lan trở hướng chém xuống hạ bàn của y. tên võ sĩ sử dụng thiết bài không kịp rút về chặn lại, hai chân đã bị chém đứt từ đầu gối trở xuống! Lúc này Vương Lăng và Quảng Luyện Hà vẫn còn cách đó mười mấy trượng, ác đấu với hai tên võ sĩ. Đường Hiểu Lan đang định chạy đến cứu viện thì Châu Thanh đã kéo chàng lại!

Đường Hiểu Lan đang ngạc nhiên Châu Thanh đã khẽ nói bên tai: “Coi chừng Vương Lăng!” rồi ông ta buông tay quát lớn một tiếng, tung người nhảy vọt ra phía sau. Đường Hiểu Lan ngạc nhiên nhìn lại, chỉ thấy bộ pháp của Phùng Quảng Triều đã rối loạn, người đã từ từ đổ xuống, Châu Thanh quay ngược trở lại là để cứu ông ta. Đường Hiểu Lan đau nhói trong lòng, bởi vì ngay trong lúc nguy cấp mà chàng không thể cứu được sư phụ của mình. Bởi vì võ công của sư huynh và sư tẩu kém hơn, tình thế đáng lo hơn nên chỉ đành vung kiếm phóng người tới cứu họ trước. Chàng cũng không có thời gian suy xét câu nói của Châu Thanh lúc nãy.

Té ra Châu Thanh lăn lộn trên giang hồ, bản lĩnh phục địa thính thanh của ông ta trăm lần không sai một, té ra lần đầu tiên ông ta nghe được không chỉ một người, nhưng sau đó chỉ có một mình Vương Lăng đến trước cửa nên thấy nghi hoặc. Bởi vậy ông ta mới không dám ở nhà họ Phùng. Sau đó vừa mở cửa ra đã thấy Long Mộc Công và Lôi Hải Âm nên càng nghi hơn. Ông ta nghĩ hai người này khinh công cao cường, chắc chắn là đi cùng một lúc với Vương Lăng. Chỉ là tuy hoài nghi nhưng không có chứng cứ cụ thể, sợ rằng nghi oan cho người tốt nếu không ông ta đã giết Vương Lăng ngay từ ban đầu!

Lại nói Phùng Quảng Triều đột nhiên gặp cường địch, thế là triển khai Truy Phong kiếm pháp đã khổ luyện mấy mươi năm, kết quả là hạ được hai tên Huyết Trích Tử, đang định xông ra nào ngờ gặp phải Hỏa vân động chủ Long Mộc Công, vừa tiếp một chiêu đã bị đánh lùi. Long Mộc Công múa tít cây gậy sắt, chợt nghe tiếng leng keng vang lên bên tai, Long Mộc Công chợt thấy vai hơi tê nhói, tựa như bị kiến cắn. Trong lòng chấn động, nghĩ bụng chắc là bị loại ám khí nhỏ bé như Mai Hoa châm đả thương, ỷ có nội công tinh thâm nên vận khí đóng lại những yếu huyệt còn cây gậy trong tay thì quét một chiêu Quái mãng phiên thân đến cát chạy đá bay, hung mãnh lạ thường. Phùng Quảng Triều tay trái phóng ra một nắm phi mãng, lúc này cây gậy của kẻ địch đã quét tới trước mặt. Phùng Quảng Triều biết không thể đánh liều nên chân trái giở lên, hộ ở trước bẹn, người xoay nửa vòng, mặt nhìn nghiêng qua, cây kiếm không đỡ chiêu mà chém ngược vào cổ tay của kẻ địch.

Đây là tuyệt chiêu cứu nguy trong Truy Phong kiếm pháp, lập tức phá được chiêu thế của kẻ địch. Nhưng Long Mộc Công cũng rất lợi hại, y quát lớn: “Truy Phong kiếm pháp quả nhiên bất phàm!” y vừa tránh chiêu đã tấn công, cây gậy quét ngang một chiêu Uyển để phiên vân vào thân kiếm của Phùng Quảng Triều, Phùng Quảng Triều tiếp chiêu trả chiêu, ông ta hạ eo xuống, cây kiếm chém tròn trở ra, chém ra một chiêu Xung vân tạc triển, đâm thẳng vào be sườn phải của kẻ địch. Long Mộc Công đột nhiên đảo người ra sau, cây gậy sắt phóng vút ra, gậy và kiếm giao nhau, dĩ nhiên kiếm nhẹ gậy nặng, cây kiếm của Phùng Quảng Triều bị đánh bật lên không trung, hổ khẩu đổ máu. Long Mộc Công phóng vọt người lên, vung bàn tay to bè chụp tới, dưới ánh trăng, chỉ thấy lòng bàn tay của y đỏ như son, Phùng Quảng Triều kinh hãi thối lui ra sau, thế nhưng vai tựa như bị một vật nặng ngàn cân đè xuống, ông ta vội vàng trầm vai thu chỏ lách ra phía sau thì vai đã chảy máu đầm đìa, té ra đã bị Long Mộc Công xé mất một mảng thịt!

Cả bốn động tác né kiếm, ném gậy, phát chưởng, vung trảo thh liền một mạch nhanh như điện chớp lửa xẹt! Đó là tuyệt chiêu sát thủ tìm thắng trong bại của Long Mộc Công! Châu Thanh cả kinh, vội vàng nhảy vọt ra sau, Phùng Quảng Triều cũng đã không đứng vững. Lúc này Quảng Liên đã theo Chung Vạn Đường xông ra, nghe tiếng kêu, quay lại định cứu thân gia, cây Quỷ Đầu đao của Lôi Hải Âm đã chém xuống một chiêu Thái sơn áp đỉnh, cả người lẫn đao từ trên hạ xuống bổ thẳng vào đỉnh đầu của Quảng Liên. Quảng Liên vội vàng lách người ra, cố gắng chống trả nhưng chẳng đủ sức. Lôi Hải Âm tung ra một cú đá trúng vào xương ống quyển của ông ta, Quảng Liên loạng choạng thối lui, va phải một tên Huyết Trích Tử, Chung Vạn Đường vội vàng phóng vọt người ra, tung cước đá tên Huyết Trích Tử té liểng xiểng, tay trái kéo Quảng Liên bước theo Đảo thái tinh bộ thối lui ra sau. Ngay lúc này chợt nghe Phùng Quảng Triều kêu lớn: “Chạy mau, chạy được người nào hay người đó!” dưới ánh trăng, chỉ thấy ông ta loạng choạng đi mấy bước, hai trái Huyết Trích Tử đã bay tới, Phùng Quảng Triều kêu rú lên, đầu đã bị Huyết Trích Tử hớt mất! Hai người Chung, Quảng vừa kinh vừa giận. Cô bé Phùng Lâm nằm trong tay Chung Vạn Đường chợt khóc òa lên.

Dưới ánh trăng, khuôn mặt bầu bĩnh của Phùng Lâm trông càng đáng yêu hơn. Chung Vạn Đường thở dài nghiến răng nói: “Cứu con trẻ trước!” rồi trao Phùng Lâm cho Quảng Liên, tay trái cầm một cây đao quát: “Theo ta xông ra ngoài!” Lôi Hải Âm phóng vọt tới chém một đao, Chung Vạn Đường đột nhiên hạ người, tựa như muốn né chiêu nhưng lại xoay người tựa như muốn đâm ra một đao, Lôi Hải Âm cũng là tay già dặn, thấy ông ta xuất chiêu hư thực khó lường, không dám liều tiến tới, hai tên võ sĩ bên cạnh y lại sánh vai xông lên. Cây kiếm thép trong tay Chung Vạn Đường múa ra loang loáng, một tên võ sĩ kêu hoảng, đã bị đâm trúng, may mà y lanh lẹ bổ nhào xuống đất lộn người ra mấy trượng! Tên còn lại thất kinh thối lui ra sau hai bước, đang định thu roi chặn kiếm, Chung Vạn Đường đã xoay người cùng kiếm, mấy cây Đoạt Mệnh thần đao trong tay trái phóng vút ra, miệng thì quát: “Ngã!” tên võ sĩ ấy quả nhiên ngã xuống đất, kêu lên: “Ám khí có độc!” Chung Vạn Đường lại vung tay lên, ba mũi phi đao liên tiếp bay ra. Lôi Hải Âm giơ ngang đao chặn lại, đánh rơi một mũi phi đao xuống đất, còn hai tên võ sĩ bên cạnh liên tục kêu lên ối chao rồi ngã xuống. Lôi Hải Âm thấy thế chẳng dám đuổi theo nữa. Y vội vàng quát: “Mau phóng Huyết Trích Tử!”

Huyết Trích Tử đánh xa chứ không đánh gần, trong lúc hỗn chiến không thể nào thi triển được. Chung Vạn Đường vừa thoát ra, Huyết Trích Tử đã bay tới, ông ta nghe trên đỉnh đầu có tiếng gió rít, vừa nhìn lại thì thấy năm sáu trái Huyết Trích Tử xé gió bay tới, Chung Vạn Đường tra kiếm vào bao, hai tay cầm sáu cây phi đao quát lớn: “Huyết Trích Tử có thể làm gì được ta!” cây phi đao bắn ra như điện chớp, tiếng leng keng vang lên trên không trung, Huyết Trích Tử bị phi đao đánh bật ra, mười hai mũi trủy thủ bắn ra ngoài! Trong đó có một trái Huyết Trích Tử có lẽ là do cao thủ phóng ra, lực cũng còn rất mạnh, bị phi đao chạm vào mà vẫn cứ xé gió lao tới. Chung Vạn Đường vội vàng phóng vọt lên, vung kiếm hất trái Huyết Trích Tử bay ra xa. Chung Vạn Đường cũng thất kinh, thầm nhủ: “Nếu bị mười mấy trái Huyết Trích Tử vây công thì quả thật khó chống trả”.

Lúc này ông ta đã đỡ Quảng Liên thoát ra khỏi phạm vi của Huyết Trích Tử, khi quay đầu nhìn lại chỉ thấy Châu Thanh tả xung hữu đột dưới ánh trăng. Chung Vạn Đường thầm nhủ: “Công phu của Châu Thanh chỉ trên mình, tuy ông ta đã bị thương nhưng Huyết Trích Tử cũng đã thương vong quá nửa. Ám khí phi mãng của ông ta chẳng kém gì phi đao của mình, chắc có thể thoát hiểm”.Chung Vạn Đường đang trầm ngâm, Phùng Lâm lại khóc òa lên, Chung Vạn Đường mỉm cười, hôn cô bé một cái. Từ xa Châu Thanh kêu lớn: “Đưa bọn trẻ chạy mau! Còn tên đồ đệ họ Niên của huynh, nếu phát giác y tâm thuật bất chính thì nên phế võ công, đừng chần chừ! Sau khi thoát hiểm tôi sẽ đến Trần Lưu tìm huynh, chạy mau!”

Chung Vạn Đường giật mình: “Trong lúc nguy cấp mà Châu Thanh vẫn không quên nhắc nhở mình, chả lẽ Niên Canh Nghiêu sẽ trở thành một kiêu hùng!” nhưng lúc này ông ta không kịp suy nghĩ nhiều, đáp rằng: “Châu huynh hãy bảo trọng, gặp lại ở Trần Lưu!” rồi bế Phùng Lâm cùng Quảng Liên phóng vọt đi như bay!

Châu Thanh thấy Chung Vạn Đường đã thoát hiểm thì thở phào, khi quay lại nhìn Đường Hiểu Lan thì thấy chàng ta cùng Vương Lăng, Quảng Luyện Hà đang đánh nhau rất kịch liệt với kẻ địch. Cây Du Long kiếm của Đường Hiểu Lan phát ánh sáng loang loáng, chuyên chặt vào binh khí của kẻ địch, cây Lục Hợp thương của Vương Lăng đỡ trên gạt dưới, hất trong đâm ngoài trông rất hăng say. Ba tên võ sĩ đối địch tuy chẳng phải hạng tầm thường nhưng so với Long Mộc Công và Lôi Hải Âm thì còn kém rất xa, bọn ba người Đường Hiểu Lan vẫn có thể chống trả nổi. Châu Thanh thở phào, chưởng trái đẩy lên, tay phải kéo ra sau kêu rắc một tiếng, bẻ gãy cánh tay phải của một tên võ sĩ. Long Mộc Công đùng đùng nổi cáu, chưởng thế đánh ngược lại nhanh như điện xẹt, bổ vào mặt của Châu Thanh, chiêu này rất hung hiểm, Châu Thanh né tránh không kịp, thế là vận nội lực vung tay lên, chịu một gậy của Long Mộc Công, người mượn lực phản chấn nhảy vọt ra ba trượng.

Long Mộc Công cũng thấy như đánh gậy vào sắt đá, y cũng thối lui mấy bước, hổ khẩu đau nhói, trong lòng bất giác kinh hãi. Y không biết Châu Thanh bị thương càng nặng hơn! Nội công của Châu Thanh tuy cao nhưng đã bị trúng độc, thế mà lại dám lấy tay tiếp một gậy, bởi vậy lục phủ ngũ tạng đều chấn động, hai mắt tối sầm, đau nhói đến tận tim, biết khó giữ được mạng. Đường Hiểu Lan kêu lên: “Châu bá bá, tới đây mau! Chúng ta cùng xông ra ngoài!”

Châu Thanh vung tay, phóng ra bảy cây phi mãng, đả thương bọn võ sĩ bao vây Đường Hiểu Lan và Quảng Luyện Hà, kêu lên: “Chạy mau! Đừng đợi ta!” Đường Hiểu Lan hơi chần chừ, Châu Thanh đã quát: “Ngươi có nghe lời không?” rồi nghe vù một tiếng, một trái thiết cầu lại bay lên đỉnh đầu, Đường Hiểu Lan hất kiếm lên, gạt được một trái Huyết Trích Tử, sau lưng đã nghe Châu Thanh kêu: “Chạy mau, dùng phi mãng đả thương bọn chúng!” Đường Hiểu Lan và Vương Lăng cùng Quảng Luyện Hà xông ra ngoài, sau lưng chỉ có vài tên võ sĩ đuổi theo.

Châu Thanh thấy bọn Đường Hiểu Lan đã thoát hiểm, tinh thần phấn chấn, ông ta biết khó giữ được mạng nên giành hơi cuối cùng để đoạn hậu cho họ. Lôi Hải Âm đuổi theo, Châu Thanh trợn hai mắt quát lớn một tiếng, trở tay đánh lại một chưởng nhanh như sấm sét, Lôi Hải Âm hoảng hồn thối lui ra sau nhưng đã không kịp nữa, xương vai đã bị vỡ nát, cây Quỷ Đầu đao vuột khỏi tay bay ra, ngã xuống đất bất tỉnh. Châu Thanh đứng sừng sững ở giữa đường, một tên Huyết Trích Tử nói: “Chúng ta đi thôi, cứ mặc y!” trong cuộc chiến này tuy cha con Phùng Quảng Triều bị giết nhưng bọn Huyết Trích Tử cũng thương vong quá nửa, Lôi Hải Âm lại bị trọng thương, ngoại trừ ba bốn người đuổi theo Đường Hiểu Lan, tính cả Long Mộc Công chỉ còn lại năm người. Long Mộc Công lạnh mình, nhưng vừa nhìn thì chợt mắng: “Đồ vô dụng! Theo ta, y không thoát được đâu!” cây gậy đầu rồng lại đâm về phía trước. Té ra y thấy khi Châu Thanh né Huyết Trích Tử, tuy lanh lẹ nhưng thân pháp không còn linh hoạt như trước, những kẻ kém cỏi không nhận ra nhưng Long Mộc Công là kẻ già dặn, vừa nhìn thì đã đoán Châu Thanh đã đuối sức.

Bọn Huyết Trích Tử đều là tử sĩ của Tứ bối lạc, bị Long Mộc Công mắng thì rất ấm ức, bởi vậy cố ý chậm trễ để cho y chạy lên phía trước. Châu Thanh vung hai tay vãi ra một nắm phi mãng, Long Mộc Công bay bổng người lên múa tít cây gậy nhưng vẫn bị một cây phi mãng đâm trúng mắt. Y chưa bao giờ thê thảm như lần này, thế là hung tính phát tác, đang ở trên không trung đã lộn người một vòng, cả người lẫn gậy từ trên đâm xuống, Châu Thanh đại triển thần oai, hai tay chụp lấy gậy quát lớn một tiếng, cả hai người đều dùng lực, cây gậy được đánh bằng thép gãy làm hai đoạn.

Long Mộc Công cầm nửa đoạn gậy ném tới, Châu Thanh tung cước đá cây gậy bay xa đến ba trượng nhưng ngực cũng đã bị đâm trúng, vết thương vỡ ra, chân khí tản mát, thế là người đệ tử ký danh của Lăng Vị Phong, vị hiệp sĩ duy nhất ở Trung Nguyên tinh thông Truy Phong kiếm pháp đã chết ở nơi làng vắng.

Long Mộc Công thấy ngực đau nhói, phun ra từng ngụm máu, y vội vàng đề khí hộ thương, chợt nghe một tên Huyết Trích Tử bên cạnh nói: “Xin chúc mừng, ngài đã đánh chết khâm phạm!” Long Mộc Công tức giận nói: “Hừ, bọn vô dụng các người, kẻ địch đã chết mới dám xông lên”. Bọn Huyết Trích Tử không dám lên tiếng, một hồi sau có một tên mới bảo: “Chúng tôi đúng là vô dụng! Chúng tôi cũng không muốn giành công, vậy ngài hãy cắt đầu Châu Thanh trở về bẩm báo với bối lạc”. Long Mộc Công đang bị trọng thương, nếu không có người bảo vệ chắc chắn sẽ chết ở nơi hoang vắng, nghe tên Huyết Trích Tử nói thế có vẻ như không thèm màng đến mình, cười hề hề rằng: “Chúng ta đều có công cả, không cần phải nổi cáu như thế!” tên Huyết Trích Tử ấy chỉ hừ một tiếng, rồi đỡ Long Mộc Công cùng Lôi Hải Âm lên. Từ đó giữa Long Mộc Công và Huyết Trích Tử đã có xích mích, sau này truyện sẽ kể.

Lôi Hải Âm dần dần tỉnh lại, chợt hỏi: “Thiếu niên sử dụng kiếm đâu?” tên võ sĩ bên cạnh đáp rằng: “Đã có mấy người đuổi theo y, chắc y không chạy thoát nổi!” Lôi Hải Âm hừm một tiếng, nói: “Chưa chắc đã kịp!” một tên võ sĩ trả lời: “Y chạy cùng Vương Lăng”. Lúc này vẻ mặt của Lôi Hải Âm mới đỡ hơn, y khẽ gật đầu nói: “Vậy thì còn có hy vọng. Các ngươi hãy chia hai người thông báo cho Huyết Trích Tử ở phía sau bao vây các ngã đường!”

Tứ bối lạc Dận Trinh lần này ngầm sai người truy bắt Châu Thanh có hai mục đích, té ra Khang Hy căm ghét những người phản bội mình, sợ rằng chuyện này đồn ra sẽ tạo thành tiền lệ không tốt cho đám võ sĩ bảo vệ mình, Châu Thanh là đại nội vệ sĩ duy nhất phản bội, Khang Hy rất bực mình, muốn bắt sống ông ta về băm vằm cho hả giận. Tứ bối lạc biết tâm ý của vua cha vì vậy hạ lệnh cho võ sĩ dưới trướng truy bắt gắt gao, mục địch là muốn trổ tài trước mặt Khang Hy, từ đó trấn áp các bối lạc khác. Mục địch khác là y muốn đoạt Du Long bảo kiếm và Truy phong kiếm quyết của Châu Thanh. Dã tâm của y rất lớn, vì tranh quyền đoạt vị nên đã dốc hết toàn lực. Một mặt cấu kết quyền thần trong triều, một mặt lấy lòng vua cha, mục địch của y là đến lúc cuối cùng sẽ dùng võ lực đoạt lấy ngôi vua, rưới máu cung đình. Bởi vậy y là kẻ nuôi võ sĩ nhiều nhất, vả lại bản thân y cũng tinh thông võ nghệ, có điều chỉ thiếu một cây bảo kiếm. Các giáo đầu cấm vệ quân và võ sĩ trong cung đều tấm tắc khen ngợi cây Du Long kiếm của Sở Chiêu Nam, bởi vậy y muốn chiếm làm của riêng. Lôi Hải Âm là một trong tứ bá của vương phủ, rất được Dận Trinh tin tưởng, y hiểu rõ tâm ý của bối lạc. Nay y biết Châu Thanh đã chết, tuy có thể dùng rượu thuốc ngâm đầu của Châu Thanh để đem về dâng cho Tứ bối lạc nhưng dẫu sao cũng không bằng bắt sống. Bởi vậy mục địch đầu tiên của Tứ bối lạc chỉ có nói chỉ đạt được một nửa. Mục đích còn lại không có hy vọng hoàn thành bởi vậy y rất không vui. Long Mộc Công thì càng bực tức hơn, y đã mù một mắt, mang trọng thương, y giết được Châu Thanh tưởng rằng có thể lập được công to nhưng nào ngờ bị đồng liêu mỉa mai.

Lại nói Đường Hiểu Lan cầm một nắm phi mãng trong bàn tay, ba bốn tên võ sĩ không còn Huyết Trích Tử trong tay không biết lợi hại tiếp tục đuổi theo. Đường Hiểu Lan nói: “Sư huynh, huynh hãy bảo vệ tẩu tẩu chạy trước một bước. Để đệ chặn bọn này!” Vương Lăng cả mừng, nói với Quảng Luyện Hà: “Được, chúng ta chạy trước!” Quảng Luyện Hà vẫn đứng yên, nói: “Có nạn cùng chịu, đại sư huynh, huynh hãy bế Anh nhi!” rồi giơ ngang kiếm định giúp Đường Hiểu Lan. Vương Lăng rất ngượng ngùng, nhận không được mà không nhận cũng không xong. Ngay lúc này chợt nghe Đường Hiểu Lan kêu lớn: “Ngã này!” hai tay vung lên, bốn kẻ địch ngã mất hai, còn hai tên đã bị trúng phi mãng, bước chân chậm chạp, Đường Hiểu Lan vung kiếm phóng lên phía trước, cây bảo kiếm Du Long đâm ra như gió liên tục mấy nhát kiếm, khiến cho hai tên võ sĩ luống cuống chân tay. Vương Lăng vội vàng chạy lên, vung cây Lục Hợp thương ra nói: “Sư đệ, ta giúp đệ!” nhưng y vẫn chưa tiến về phía trước, cây kiếm của Đường Hiểu Lan đã chặn trái quét phải, giết chết cả hai tên võ sĩ! Vương Lăng khen: “Kiếm pháp hay!” rồi y đảo mắt tựa như suy nghĩ điều gì. Đường Hiểu Lan quay đầu nhìn lại, chỉ thấy Quảng Luyện Hà đang khóc thút thít.

Chính là:

Thương thay nhà tan lại cửa nát, từ đây gặp bao cảnh hiểm nguy.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 3: Quỷ kế đa đoan gian đồ hiếp quả phụ Kỳ năng đại triển Tứ hiệp đấu Song ma

Phùng Anh đang ngủ say trong lòng mẹ, Quảng Luyện Hà khóc thút thít, Vương Lăng nói: “Sư muội, việc đã đến nước này, hãy bớt đau buồn mà chạy cho nhanh”. Quảng Luyện Hà khẽ vuốt khuôn mặt bầu bĩnh của Phùng Anh, rơi nước mắt mà nói: “Đáng thương thay, con của muội vừa mới tròn một tuổi mà đã nhà tan cửa nát, cốt nhục phân li. Đến bao giờ chúng mới được gặp nhau lại?” Đường Hiểu Lan nói: “Chung đại hiệp võ nghệ cao cường, ông ta lại muốn nhận tiểu điệt nữ làm đồ đệ, chắc là không sao, sư tẩu đừng quá đau buồn”.

Quảng Luyện Hà tuy là bậc nữ trung hào kiệt nhưng bất ngờ gặp biến cố bởi vậy cũng không thể nào bình tĩnh nổi. Nàng rầu rĩ hỏi: “Chúng ta có thể đi đến nơi nào?” Vương Lăng nói: “Quân tử báo thù mười năm chưa muộn, chúng ta hãy đến kinh đô. Ta làm tiêu sư ở kinh đô, quen biết rất nhiều người. Bọn Huyết Trích Tử ở đấy lại không nhận ra chúng ta, muội và điệt nữ cứ ở cùng ta, ta sẽ nhờ hảo thủ trong kinh dạy võ nghệ cho điệt nữ, đó là kế vạn toàn”.

Đường Hiểu Lan trầm ngâm một lát, ngẩng đầu nói: “Sư tẩu, chi bằng chúng ta đến núi Thái Hàng!” Quảng Luyện Hà nói: “Cái gì? Đi núi Thái Hàng?” Đường Hiểu Lan nói: “Châu đại hiệp đã từng bảo, hào kiệt năm tỉnh phía Bắc cứ mỗi mười năm tụ hội một lần, Trung Thu năm nay là đến kỳ tụ hội, địa điểm chính là núi Thái Hàng”. Vương Lăng nói: “Hào kiệt năm tỉnh phía Bắc tụ hội có liên quan gì tới chúng ta?” Đường Hiểu Lan nói: “Đệ tuổi trẻ nông cạn, nhưng vẫn thấy đám Huyết Trích Tử này còn có dư đảng. Nếu đến kinh sư đường xa diệu vợi, chắc chắn sẽ có nhiều nguy hiểm. Từ đây đến núi Thái Hàng chỉ có vài ngày đường, có hào kiệt năm tỉnh phía Bắc, bọn Huyết Trích Tử muốn làm khó chúng ta cũng phải kiêng dè”. Vương Lăng bĩu môi nói: “Hình như đệ quen biết với rất nhiều hào kiệt!” Đường Hiểu Lan không màng đến câu nói mỉa mai của Vương Lăng, tiếp tục bảo: “Đệ tuy không quen nhiều người nhưng hễ bậc hào kiệt thì giữa đường chắc chắn sẽ rút đao tương trợ!”

Hai người chẳng ai chịu ai, Quảng Luyện Hà cúi đầu suy nghĩ, cũng cảm thấy rất khó quyết đoán, Vương Lăng chợt nói: “Sư đệ, ai đã dạy kiếm pháp cho đệ?” Đường Hiểu Lan nói: “Đương nhiên là sư phụ”. Nói xong thì thấy không ổn, Vương Lăng lại bảo: “Cho ta xem thử thanh bảo kiếm của đệ!” Đường Hiểu Lan nhớ lại lời dặn của Châu Thanh, trong lòng sinh nghi, cười rằng: “Đây là kiếm của Châu đại hiệp tặng, người bảo đệ không được rời kiếm, tuy sư huynh có lệnh nhưng đệ không thể cãi lời Châu đại hiệp”. Vương Lăng hừ một tiếng, chợt hỏi: “Ngươi là người ở đâu?” Đường Hiểu Lan nói: “Đệ từ nhỏ đã mồ côi, lưu lạc giang hồ, cả bản thân cũng không biết là người ở đâu”. Vương Lăng nói: “Hình như đệ sống ở quan ngoại ở nhiều năm?” Đường Hiểu Lan nói: “Đúng thế, sao sư huynh lại hỏi như thế?” Vương Lăng quay sang Quảng Luyện Hà nói: “Ta ở trong sư môn nhiều năm mà không thấy sư phụ dùng kiếm, Đường sư đệ mới tới một năm mà sư phụ đã dạy cho y kiếm pháp thượng thừa đúng là rất có cơ duyện với nhau. Sư muội, từ nhỏ chúng ta đã quen biết nhau, hiểu rõ lai lịch của nhau, còn gã sư đệ này đột nhiên từ quan ngoại đến, lại được sư phụ thương mến, chắc chắn có nguyên do! Đáng tiếc y vừa mới vào sư môn được một năm, bọn Huyết Trích Tử đã đến bái phỏng, chẳng phải ta nói lời mê tín, e rằng số mệnh của y khắc với số mệnh của sư phụ”.

Những lời của Vương Lăng rõ ràng là bảo Đường Hiểu Lan lai lịch bất minh, lại ám chỉ Đường Hiểu Lan dẫn dắt bọn Huyết Trích Tử đến đây mưu hại cả nhà sư phụ. Đường Hiểu Lan nghe thế thì suýt nữa đã đên tiết. Nhưng chàng nghĩ lại lúc này không thể làm chuyện gà nhà đá nhau, vả lại lai lịch của chàng cũng có điểm không rõ ràng, chả trách nào gã sư huynh này không nghi ngờ. Chàng nghĩ như thế nên giằng được cơn giận, lại đưa mắt nhìn Quảng Luyện Hà. Trong lòng tính rằng, nếu sư tẩu cũng nghi ngờ thì mình chỉ đành ra đi.

Khi Phùng Quảng Triều kể lại chuyện Đường Hiểu Lan đến học kiếm pháp ở mình cho Chung Vạn Đường nghe, Vương Lăng vẫn chưa về, Quảng Luyện Hà lại ở bên cạnh. Nàng biết gã sư đệ này tuy có lai lịch không rõ ràng nhưng đích thân Châu đại hiệp đã nhờ công công của mình dạy dỗ. Bởi vậy nàng rất không vui bởi những lời khích bác của Vương Lăng. Số là nàng vẫn chưa quyết định được, lúc này chợt ngẩng đầu nói: “Đường sư đệ nói có lý, chúng ta hãy đi đến núi Thái Hàng trước!” Vương Lăng bất giác ngạc nhiên. Quảng Luyện Hà chỉ Phùng Anh nói: “Hai mẹ chúng tôi đều nhờ hai vị sư huynh đệ giúp đỡ, ba người chúng ta phải một lòng một ý đối phó với kẻ địch. Kiếp sau tôi xin nguyện kết cỏ ngậm vằn báo đáp đại đức của hai vị”. Vương Lăng nghe như thế thì biết Quảng Luyện Hà đã nghi ngờ mình, chỉ đành bảo: “Ta nghĩ đến kinh đô sẽ an toàn hơn, nhưng sư muội và Đường sư đệ đã nhất quyết đến núi Thái Hàng, ta cũng đành phải chìu theo”.

Núi Thái Hàng nằm ở Tây bắc tỉnh Hà Nam, cách Nhữ Châu khoảng năm ngày đường, Quảng Luyện Hà thầm tính, còn ba ngày nữa đến Trung Thu, khi đến núi Thái Hàng quần hùng tụ hội không quá hai ngày, chắc vẫn chưa tan. Trên đường nàng thấy thần sắc của Vương Lăng rất lạ, chỉ tưởng rằng y vì tranh chấp với Đường Hiểu Lan nên không để ý.

Đi được hai ngày, đến Lạc Dương, Vương Lăng đầy kinh nghiệm giang hồ, y nhìn kỹ thì quả nhiên thấy có dấu vết của nhân vật lục lâm qua lại trong thành nên thầm giới bị. Đường Hiểu Lan cũng cẩn thận đề phòng. Khi vào khách sạn, chợt thấy Vương Lăng và một đại hán gật đầu chào hỏi, khi hỏi lại thì Vương Lăng bảo: “Đó là bằng hữu ở tiêu hãng, cũng chẳng thân thiết gì nên chỉ chào hỏi”. Đêm ấy Đường Hiểu Lan không dám ngủ, kiếm vẫn đeo ở eo, trong tay cầm sẵn phi mãng, sau một đêm cũng chẳng có gì khác lạ.

Ngày thứ ba họ đến Mạnh Tân, đó là con đường giao thông quan trọng của Hà Nam, khi vào thành thì chợt thấy có một đám đại hán Sơn Đông ngồi trên mấy chiếc xe phóng ra thành. Kẻ phóng ngựa đi đầu là một đại hán mặt tía, nhìn thấy bọn Đường Hiểu Lan thì hình như hơi kinh ngạc, khi lướt qua thì chợt hỏi: “Các người đi đâu thế?” Vương Lăng nói: “Đến Mạnh Tân thăm bà con!” hán tử ấy lại hỏi: “Chẳng phải đến núi Thái Hàng sao?” Vương Lăng vội vàng nói: “Không phải, không phải!” đại hán định hỏi nữa thì Vương Lăng đã vội vàng vào thành. Người trên xe thúc giục: “Đại ca, mau lên đường!” hán tử ấy thúc hai chân vào bụng ngựa, thớt ngựa phóng về phía trước nhưng vẫn ngoái đầu nhìn lại bọn Vương Lăng.

Vào trong thành, Đường Hiểu Lan hỏi: “Sư huynh, ai thế?” Vương Lăng nói: “Lỗ Tây đại hào Mạnh Kiện Hùng”. Đường Hiểu Lan đã từng nghe Châu Thanh nói về những hào kiệt trong thiên hạ, bởi vậy chàng ta biết Mạnh Kiện Hùng là nhân vật lẫy lừng, giỏi đánh phi hỏa đạn, là lãnh tụ võ lâm miền Lỗ Tây. Bởi vậy chàng ta mới ngạc nhiên nói: “Đêm nay hào kiệt năm tỉnh phía Bắc tụ hội tại núi Thái Hàng, tại sao Mạnh Kiện Hùng không đến tham gia mà trái lại đi ngược hướng núi Thái Hàng mà còn trông rất vội vàng!” vì thế hỏi tiếp: “Mạnh Kiện Hùng cũng là nhân vật võ lâm, sao sư huynh không nói thực cho y biết?” Vương Lăng chợt biến sắc, bật cười: “Sư đệ, đệ đúng là tuổi trẻ ít kinh nghiệm giang hồ, tục ngữ nói rất hay, biết người biết mặt không biết lòng, huống chi Mạnh Kiện Hùng chẳng có giao tình gì với chúng ta, sao lại tùy tiện nói thực với người ta?” y vừa nói vừa liếc Quảng Luyện Hà.

Quảng Luyện Hà nói: “Đại sư huynh nói phải, cẩn thận một chút vẫn hơn”. Đường Hiểu Lan càng sinh nghi, đêm ấy chàng vẫn không dám ngủ say, may mà tới sáng vẫn chẳng có chuyện gì xảy ra.

Ngày thứ tư họ đến Tu Võ, đó là một huyện thành nhỏ bé, vốn là đã đi ngang qua Mạnh Tân, dần dần tiến vào vùng rừng núi, nhưng người qua kẻ lại rất náo nhiệt. Vương Lăng để ý kỹ, chốc chốc lại gặp nhân vật giang hồ đi ngược hướng với mình, Vương Lăng thầm cả mừng, Đường Hiểu Lan đã nhận ra tình hình không ổn. Chỉ có Quảng Luyện Hà xưa nay ít ra khỏi nhà nên không biết chuyện gì.

Đêm ấy, họ trọ tại một khách điếm ở Tu Võ, vừa mới đặt hành trang xuống chợt nghe phòng bên cạnh có tiếng rên. Đường Hiểu Lan len lén nhìn qua, chỉ thấy có một người bệnh đang năm trên giường, trong phòng có hai hán tử và một thiếu nữ. Thiếu nữ ấy xinh đẹp như tranh vẽ, trên khuôn mặt vẫn còn nét trẻ con, trông nàng chỉ mới khoảng đôi tám, thấy Đường Hiểu Lan thò đầu nhìn qua thì chợt trừng mắt, nói: “Này, nhìn cái gì?” hai hán tử kia nghe thế đứng dậy, cung tay nói: “Tiểu huynh đệ, xin mời qua đây ngồi”. Vương Lăng toan kéo lại nhưng Đường Hiểu Lan đã bước qua phòng bên kia.

Người nằm trên giường quả nhiên là một người bệnh, trên đệm và chăn vẫn còn vết máu. Đường Hiểu Lan bước vào, người ấy chợt ngồi dậy, thì ra đó là một ông già gầy ốm sắc mặt vàng vọt, nhưng đôi mắt trông sáng quắc có thần khiến người ta phải phát sợ. Ông già ấy nhìn Đường Hiểu Lan một hồi, lắc đầu chợt hỏi: “Trước mặt chân nhân không nên nói dối, có phải tiểu huynh đệ đến núi Thái Hàng không?” Đường Hiểu Lan không biết lai lịch của bọn người này bởi vậy không dám nói thật nên hỏi ngược lại: “Có phải tiền bối từ núi Thái Hàng đến đây không?” ông già kêu ừ một tiếng, đột nhiên đưa tay từ trong mền ra chụp lấy tay của Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan bất giác kêu ối chao một tiếng, rùng người xuống, trừng mắt hỏi: “Lão tiền bối, ông làm gì thế?” ông già chợt cười ha hả, buông tay ra nói: “Lão phu muốn đi vài bước, muốn nhờ tiểu huynh đệ đỡ một tay, không ngờ tiểu huynh đệ lại yếu ớt như thế!” nàng thiếu nữ vội vàng chạy đến đỡ ông già, nháy mắt với ông ta, ông ta lại lắc đầu nói: “Tiểu tử này không phải nhân vật giang hồ”. Đường Hiểu Lan bực bội, cung tay cáo từ, ông già khẽ nói ở sau lưng: “Ta mong y không phải đến núi Thái Hàng! Với võ công của y, nếu lên núi có một trăm cái mạng cũng không giữ được!” ông ta tuy nói rất nhỏ nhưng nghe rõ mồn một, tựa như là cốt để cho Đường Hiểu Lan nghe!

Đường Hiểu Lan quay về phòng, vừa bực dọc vừa lấy làm ngờ, không biết ông già ấy là địch hay bạn. Vương Lăng chạy đến hỏi, Đường Hiểu Lan sợ y chê cười, không dám kể chuyện mình bị người ta tấn công, chỉ nói đó là những lữ khách bình thường, muốn mình qua trò chuyện với họ, Vương Lăng chỉ cười lạnh chứ không nói gì.

Đêm ấy Đường Hiểu Lan lại không dám ngủ say, đến nửa đêm thì chợt nghe bên ngoài đánh ầm một tiếng, cánh cửa lớn của lữ quán đã bị người ta húc vỡ toan, đèn đuốc sáng trưng, Đường Hiểu Lan ngồi bật dậy, thấy có mười mấy tên đại hán từ bên ngoài xông vào đá cửa phòng hai bên tra xét, phòng bên cạnh không đợi bọn chúng tới đã tự mở cửa trước. Ông già bảo thiếu nữ đỡ ra cửa, dựa cửa nói: “Thiết Chưởng Thần Đạn Dương Trọng Anh ở đây, đừng quấy rối người khác!” đám hán tử ấy gầm lớn, đột nhiên kêu hoảng lên, ba trái thiết cầu bay về phía ông già, Đường Hiểu Lan kinh hãi kêu: “Huyết Trích Tử!” rồi chàng ta nhíu mày, không biết Vương Lăng đã thức dậy từ lúc nào, y đè vào vai Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan khẽ gằng giọng nói: “Sao thế?” Vương Lăng suỵt một tiếng nói: “Đừng làm càn!”

Khi Đường Hiểu Lan rùng vai lại hóa giải đòn Cầm Nã thủ của Vương Lăng. Vương Lăng mất thăng bằng suýt nữa đã té xuống, vội vàng nói: “Đường sư đệ, bọn chúng người đông, chúng ta đừng nhúng tay vào!” Đường Hiểu Lan kêu ồ một tiếng, thầm nhủ: “Té ra sư huynh có ý tốt”. Rồi chàng ta chỉ đứng xem. Lúc này ba trái Huyết Trích Tử đã bay lên đầu ông già, vừa mới chụp xuống thì không biết thế nào mà lại bay bổng lên không trung rồi tạt ngược trở về! Chỉ thấy ông già ấy thâu chưởng trở lại, cầm cây đạn cung từ trong tay của nàng thiếu nữ, quát lớn một tiếng, dây cung căng ra như mặt nguyệt, viên đạn bắn ra như sao xẹt khiến kẻ địch kêu hoảng. Chợt có một người nhảy ra, trông tướng nhảy của y như khỉ vượn, trên tay y mang bao bằng da hươu, y tung mình lên rồi chụp những viên đạn, quát lớn: “Thần đạn đã thấy qua, nay ta muốn lãnh giáo Thiết chưởng của ngươi!” rồi y tung người phóng tới trước mặt ông già, hai cánh tay vung lên, hai hán tử bên cạnh ông già loạng choạng thối lui mấy bước, ông già trở tay vỗ lại một chưởng nhanh như điện chớp, hán tử ấy cũng vừa đấm ra hai quyền chặn lại, chưởng trái của ông già đột nhiên xỉa ra vỗ trúng sườn trái của y, quát lớn: “Ngã này!” hán tử ấy loạng choạng thối lui mấy bước, quay đầu lại nói: “Thiết chưởng cũng đã lãnh giáo, chúng ta xông lên bắt sống lão giặc già này!”

Đường Hiểu Lan thấy thế kinh tâm động phách, chàng đã từng nghe Châu Thanh nói Thiết Chưởng Thần Đạn Dương Trọng Anh là hào kiệt tên tuổi lẫy lừng ở năm tỉnh phía Bắc, nhưng không biết cớ sao lại bị thương. Vả lại hôm nay quần hào đang tụ hội ở núi Thái Hàng, tại sao ông ta lại ở đây? Hán tử vừa rồi bị trúng một chưởng mà vẫn không ngã, rõ ràng võ công rất thâm hậu. Lúc này hai bên đã lao vào quần thảo, hán tử đối địch với Dương Trọng Anh có bộ pháp và thân pháp rất kỳ quái. Dương Trọng Anh lại bị trọng thương, xoay chuyển không tiện, hai chân cứ như đóng đinh dưới đất, vững như thái sơn, chẳng hề nhúc nhích, chưởng phong kêu lên vù vù, trong phạm vi tám thước, kẻ địch chẳng thể nào sấn lại gần được ông ta! Nàng thiếu nữ sử dụng một cây liễu diệp đao chẳng rời ông già, đao quang của nàng cứ loang loáng đánh ra, đó là loại đao pháp thượng thừa. Xưa nay chẳng ai chống nổi đôi chưởng của Dương Trọng Anh, thế mà nay ông ta thấy mình chẳng đánh ngã được kẻ địch, trong lòng thầm thất kinh, đánh một hồi thì chợt kêu lớn: “Ngươi có phải là môn hạ của Bát Tý Thần Ma hay không?” hán tử ấy cười gằng nói: “Ngươi có thể thoát được đôi chưởng của sư phụ ta, thế nhưng lại gặp phải ta, ngươi còn có điều gì muốn nói? Thiết Chưởng Thần Đạn, hôm nay là ngày chết của ngươi!” rồi y nhảy bổ lên tấn công tiếp. Dương Trọng Anh liên tục vỗ ra Liên hoàn chưởng, thân pháp của hán tử ấy rất nhanh, y vừa tránh đã lao tới, không màng đến chưởng phong, xem ra y muốn liều mạng với Dương Trọng Anh. Dương Trọng Anh thua ở chỗ không thể xoay chuyển, nhưng công lực lại trên hán tử này, lại không thể truy kích nên ông ta nhíu mày, chưởng trái giở hờ lên, hán tử ấy lách qua một bên, Dương Trọng Anh đột nhiên dấn tới một bước, chưởng phải vỗ ra, bốp một tiếng, một tên địch tấn công nàng thiếu nữ đã bị đánh bay ra ba trượng! Những kẻ vây công đại loạn, hán tử chợt kêu lên: “Tấn công hạ bàn của ả nha đầu!” rồi y phóng vọt người lên chụp xuống ông già, Dương Trọng Anh đấm thẳng lên một quyền, hán tử ấy nhẹ nhàng hạ xuống bên trái, tung cước quét ngang một cái, hạ bàn của thiếu nữ không vững, buộc phải thối lui mấy bước, thế là kẻ địch lập tức dồn lên, tách thiếu nữ ra khỏi ông già.

Nàng thiếu nữ cùng hai sư huynh ứng phó kẻ cường địch, suýt nữa đã rơi vào nguy hiểm. Dương Trọng Anh thì bị tên môn hạ của Bát Tý Thần Ma chặn lại, di chuyển không được, trong lúc kịch chiến Dương Trọng Anh bị kẻ ấy chụp một trảo, vai phải mất một mảng thịt, máu chảy đầm đìa. May mà hán tử vừa trúng một chưởng của ông ta, công lực đã giảm xuống chứ nếu không ông ta đã nguy to. Nàng thiếu nữ kêu hoảng một tiếng, suýt nữa đã trúng một đao của kẻ địch. Dương Trọng Anh kêu lớn: “Thanh nhi, dùng Toàn phong tảo diệp ngũ hổ Đoạn Môn đao!” nàng thiếu nữ nghe thế chợt thay đổi chiêu số, đao quang loang loáng từ dưới hất lên, giữ vững hạ bàn. Kẻ địch vốn tấn công vào hạ bàn của nàng, bị nàng dùng loại đao pháp này đẩy ra đương nhiên không thể đắc thủ. Đánh nhau một hồi nữa, Dương Trọng Anh quát lớn một tiếng, vai trái lại bị trúng một trảo, mồ hôi trên trán nhỏ giọt.

Đường Hiểu Lan vốn bực bội vì bị ông già bức hiếp lúc nãy, nhưng biết ông ta là Thiết Chưởng Thần Đạn Dương Trọng Anh, chàng thay đổi thái độ, sinh lòng kính trọng. Chàng cầm một nắm phi mãng trong bàn tay, ngầm vận nội lực bóp vỡ cánh cửa sổ rồi hai tay vung lên, phi mãng trong tay trái quét vào tên hán tử ấy, phi mãng trong tay phải phóng về phía kẻ địch đang vây công nàng thiếu nữ, phi mãng rất nhẹ, cả hai bên đang đánh nhau rất hăng, chỉ nghe tiếng quát tháo ầm ĩ, có hai người tựa như đã trúng phi mãng, lăn lộn ở dưới đất, những kẻ khác vội vàng tản ra, mắng lớn: “Tiểu tử phương nào dám lén phóng ám khí?” tên hán tử ấy võ công thâm hậu, tuy đang lúc kịch chiến nhưng vẫn có thể để ý đến xung quanh. Nghe tiếng phi mãng xé gió bay tới tuy rất nhỏ nhưng y đã mau chóng nhảy vọt ra, bổ về phía Đường Hiểu Lan đang ẩn thân!

Vương Lăng không biết Đường Hiểu Lan ngầm phóng ám khí, thấy thế cả kinh vội vàng chạy vào xó nhà, Đường Hiểu Lan lại vung tay phóng ra một nắm phi mãng, tên hán tử ấy cười hềnh hệch, phất ống tay áo lên một cái, phi mãng bay ngược trở lại, Đường Hiểu Lan vội vàng phục người, chỉ nghe tiếng lách tách vang lên không ngớt, té ra phi mãng đã chui qua cửa sổ cắm vào vách tường. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, tiếng cười chưa dứt thì chợt nghe rắc một tiếng, khung cửa sổ đã gãy, một bàn tay to bè thò vào, chưởng phong quét tới, Đường Hiểu Lan thấy trên đầu vừa lạnh vừa tê rần, xem ra kẻ ấy muốn chụp vào đầu của chàng. Đường Hiểu Lan bật người dậy lộn ra hơn một trượng. Ngay lúc ấy chợt nghe bên ngoài có người mắng: “Quân vô sĩ bức hiếp bọn tiểu bối”. Tiếp theo là bùng bùng hai tiếng tựa như gỗ va vào nhau, bàn tay ấy đã rút ra trở lại, tiếng quát dấn dần dời ra xa, Đường Hiểu Lan gan dạ đứng dậy, len lén nhìn ra ngoài, chỉ thấy bên ngoài có thêm hai quái khách, một người vừa cao vừa gầy, tròng mắt trắng dã, một người vừa béo vừa lùn khoảng ba thước, hai người này chỉ có đôi tay không, cả hai đều chằm dằm nhìn hán tử ấy. Dưới đất có sáu bảy người đang nằm lăn lộn, cũng không biết là bị thương bởi hai quái khách hay bởi chưởng lực của Dương Trọng Anh.

Hán tử ấy quát: “Bọn Quan Đông tứ hiệp các người sao rảnh rỗi đến thế! Ngày chết của các ngươi đã đến!” hán tử béo cười hì hì nói: “Bốn huynh đệ chúng ta trời không sợ đất không sợ, cả tên lão ma bọn ta cũng đã gặp qua, huống chi tên tiểu tốt nhà ngươi! Đổng Thái Thanh, hãy kêu sư phụ sư thúc của ngươi ra đây, bọn ta không bao giờ giết kẻ vô danh tiểu tốt!”

Lúc này Đường Hiểu Lan mới biết kẻ ác đấu với Dương Trọng Anh là Đổng Thái Thanh, thầm tự hỏi không biết Đổng Thái Thanh là ai, bình thường khi Châu Thanh nhắc đến những nhân vật giang hồ, chưa bao giờ kể đến người này, xem ra võ công của y chẳng kém gì Châu Thanh, còn hai người kia bảo y là “vô danh tiểu tốt”, vậy ắt hẳn võ công của họ càng cao thâm khó lường hơn. Đổng Thái Thanh gọi họ là Quan Đông tứ hiệp, thế mà chỉ có hai người, chắc là hai người vẫn chưa tới.

Đổng Thái Thanh cười gằn, chắc là rất tức giận, đưa tay chụp về phía người cao, người cao nói: “Tứ đệ, chúng ta ném bọn này ra ngoài”. Rồi đột nhiên y hú dài một tiếng, vươn mười ngón tay ra, trên mỗi ngón tay đều đeo một chiếc nhẫn, Đổng Thái Thanh chụp được nửa đường thì vội vàng rút về, rùng người xuống biến trảo thành chưởng đánh vào hạ bàn của y. Tay của người ấy rất dài, hai tay đè xuống phía dưới, chỉ trong chớp mắt hai người đã chạm nhau mấy chiêu, Đổng Thái Thanh chợt kêu lên một tiếng quái dị rồi rùng người xuống đất bước vòng qua một bên như bánh xe gió đánh vào ba lộ của kẻ địch, chiêu số rất quái dị. Người cao nhảy nhót né tránh như khỉ vượn, Đổng Thái Thanh đánh nhanh, y nhảy cũng nhanh, cả hai người đều thắng bại khó phân.

Đổng Thái Thanh biết võ công của người này không phải hạng vừa, vả lại người y cao lêu nghêu nên sử dụng thân pháp Bàn Long Như Bộ chuyên chụp vào chân và bẹn của kẻ địch. Nào ngờ khinh công của người này còn hơn cả mình, mà công phu Bàn Long Như Bộ lại không thể kéo dài, trong lòng thầm lo. Lúc này thầm nghe bên trong khách điếm như có tiếng quỷ khóc ma gào. Gã lùn đã đại triển thần oai, lúc chém lúc chụp, chưởng tựa như sấm sét, trảo tựa như móc sắt, bọn Huyết Trích Tử chạy tán loạn. Tên lùn cực mạnh lạ thường, công phu ngoại gia đã đến mức đăng phong tạo cực, y cứ chụp kẻ địch ném ra ngoài, cứ mỗi lên vung tay là chụp được một tên rồi giở lên như con gà con, chỉ trong chốc lát đám Huyết Trích Tử đã nằm ngổn ngang bên ngoài. Đổng Thái Thanh chợt tung người, đánh hờ ra một chưởng, kẻ cao lại hú dài một tiếng, hai chưởng vung lên, mười chiếc nhẫn trong ngón tay nhất tề bay ra. Trong chưởng phong bóng nhẫn, Đổng Thái Thanh kêu thét lên một tiếng rồi lộn người ra ngoài. Người lùn định đuổi theo, người cao đã kêu: “Y đã trúng ba chiếc nhẫn của ta mà vẫn có thể chạy thoát, coi như cũng là hảo thủ, cứ mặc y”.

Quan Đông tứ hiệp từ lúc xuất đạo, nếu kẻ địch có thể chạy thoát khi họ sử dụng tuyệt kỹ độc môn thì không bao giờ đuổi tận giết tuyệt. Người lùn ngừng bước, giương mắt nói: “Đồ đệ của lão quái cũng lợi hại đến thế ư?” người cao nói: “Tứ đệ, việc đã đến nước này, chỉ đành dốc hết sức mà thôi!” lời lẽ tựa như rất rầu rĩ!

Sau khi bị trọng thương, Thiết Chưởng Thần Đạn Dương Trọng Anh lại trải qua một hồi kịch chiến, sắc mặt tái nhợt, người lảo đảo muốn ngã, thều thào nói: “Tam ca tứ ca, lão hủ quá kém cỏi, liên lụy đến các vị, phải làm thế nào đây?” người lùn nói: “Dương đại ca, chúng ta nghe tiếng nhau đã lâu, hôm nay gặp mặt là đã may mắn lắm! Huyền Phong đại ca nhờ chúng tôi hỏi thăm ông, lại đem thuốc giải đến cho ông. Ông ta nói nếu sau lần tụ hội ở núi Thái Hàng mà vẫn giữ được mạng sống thì sẽ đến bảo trang bái phỏng”. Dương Trọng Anh nói: “Đa tạ tình nghĩa của các vị, có điều các vị phải cẩn thận hơn!” người cao cung tay nói: “Tôi biết! Dương đại ca, chuyện này không thể chậm trễ, ông hãy mau lên đường!” rồi bước tới đỡ Dương Trọng Anh, nàng thiếu nữ và hai đại hán đều ngạc nhiên nhìn họ. Lúc này Vương Lăng mới bình tĩnh, y vừa đứng dậy thì chợt thấy có gió quét tới, một luồng gió lạnh thổi vào.

Vương Lăng kêu lên: “Đường sư đệ, Đường sư đệ!” Đường Hiểu Lan cũng cảm thấy kình phong quét vào mặt, khi chàng vội vàng quay đầu lại thì chẳng thấy gì cả. Bên ngoài chợt vọng vào tiếng cười trong trẻo như chuông bạc, nàng thiếu nữ ấy giương tay nói: “Tiểu tử, xin đa tạ!” khi Đường Hiểu Lan quay đầu nhìn lại bọn Dương Trọng Anh và hai người kia đã đi sạch cả!

Sau một hồi kịch chiến, người trong khách điếm mới hoảng lên, vội vàng mở cửa phòng ra nhìn. Quảng Luyện Hà nằm trong phòng ngủ cũng kêu: “Vương sư huynh, Đường sư đệ, mau vào đây!” Vương Lăng và Đường Hiểu Lan vào phòng trong, chỉ thấy Quảng Luyện Hà bế Phùng Anh ngồi trên giường mà mặt mày kinh hãi. Phùng Anh lại khóc oa oa lên. Vương Lăng dịu dàng nói: “Sư muội, có chuyện gì thế?” Quảng Luyện Hà chỉ vào mặt bàn nói: “Trên bàn có thanh trủy thủ cắm mảnh giấy, trên mảnh giấy có mấy chữ: Mau quay đầu lại, đừng lên núi Thái Hàng!” Đường Hiểu Lan nói: “Chắc người này có ý tốt, nếu y muốn hại chúng ta, chúng ta còn mạng sao? Tẩu tẩu đừng lo” Quảng Luyện Hà nói: “Công công của ta và phu quân đã chết cả, ta còn sợ gì nữa, ta chỉ lo cho hai đứa con, dù thế nào ta cũng phải nuôi lớn chúng!” Phùng Anh rất ngoan ngoãn, khi bên ngoài xảy ra kịch chiến, Quảng Luyện Hà ôm chặt nó vào lòng, nó nằm yên chẳng nhúc nhích, giờ thấy mẹ lo lắng mới khóc òa lên. Quảng Luyện Hà hôn vào đôi má bầu bỉnh của cô bé, nói: “Con ngoan, đừng khóc nữa, đừng khóc. Mẹ ở đây!” Phùng Anh tròn xoe mắt nhìn mẹ, thấy mẹ cười thì cô bé cũng chẳng khóc nữa. Đường Hiểu Lan nảy ra một ý, chàng bước ra bên ngoài, chỉ thấy trên vách tường cũng cắm một cây trủy thủ, Quảng Luyện Hà bế Phùng Anh bước ra, hỏi: “Đường sư đệ, chuyện gì?” nàng vừa thấy cây trủy thủ đã hoảng hồn, Đường Hiểu Lan rút cây trủy thủ ra, ở mũi trủy thủ cũng cắm một mảnh giấy, trên có viết rõ ràng: “Mau quay trở lại, đừng lên núi Thái Hàng!” Quảng Luyện Hà nhíu mày, nói: “Sư đệ, chuyện này có nghĩa là sao?”

Đường Hiểu Lan tuổi tuy còn trẻ nhưng rất nhiều kinh nghiệm, chàng trầm ngâm một hồi rồi ngẩng đầu nói: “Chắc là tiền bối cao nhân chỉ điểm, đệ thấy không lên núi Thái Hàng thì hơn”. Lúc này Vương Lăng cũng bước ra, chợt cười gằng nói: “Bảo lên núi là ngươi, không lên núi cũng là ngươi, sao ngươi cứ như trẻ con thế?” Đường Hiểu Lan cố nén giận, nói: “Sư huynh, ông già lúc nãy là Thiết Chưởng Thần Đạn Dương Trọng Anh danh tiếng lẫy lừng năm tỉnh phía Bắc”. Vương Lăng nói: “Dương Trọng Anh thì thế nào?” Đường Hiểu Lan nói: “Trung Thu đêm qua là lúc hào kiệt năm tỉnh phía Bắc tụ hội ở núi Thái Hàng, lẽ ra Dương Trọng Anh cũng phải tham gia, nhưng trái lại ông ta lại ra khỏi núi Thái Hàng, chắc là trên núi đã có chuyện gì”. Vương Lăng nói: “Ngươi chỉ suy đoán bừa bãi, vả lại Dương Trọng Anh rõ ràng đã bị thương nặng, trong chốc lát làm sao y có thể để lại hai mảnh giấy này?” Đường Hiểu Lan nói: “Đệ không nói Dương Trọng Anh để lại giấy này. Nhưng bằng hữu của ông ta hoặc người nhà để lại cũng chẳng khác gì. Hơn nữa mấy ngày trước chúng ta đã gặp Phi hỏa đạn Mạnh Kiện Hùng, từ hai chuyện này mà thấy, nếu đi nữa thì chắc chắn lành ít dữ nhiều!” Vương Lăng xoa tay, chợt cười lạnh, Quảng Luyện Hà hơi không vui, hỏi: “Sư huynh cười gì thế?” Vương Lăng nói: “Té ra Đường sư đệ nhát gan như thế, nếu biết sớm thế này thì cứ đi thẳng đến kinh sư để khỏi phí công!” lúc này Quảng Luyện Hà đã mất bình tĩnh, nàng chép miệng: “Khắp nơi đều có kẻ địch, chẳng lẽ chúng ta không còn nơi nào để đi?” Đường Hiểu Lan chợt thầm nghĩ: “Nếu không lên Thái Hàng thì chắc phải theo Vương Lăng đến kinh sư. Lúc này chưa biết lòng dạ Vương Lăng thế nào, mình thì không sao, chỉ e sư tẩu mắc lừa y”. rồi chàng lại nhủ: “Sư tẩu nói không sai, khắp nơi đều là kẻ địch, tránh sang phía Đông không tránh được phía Tây, hào kiệt năm tỉnh phía Bắc tụ hội dù có hàn vạn binh mã cũng chẳng làm gì được họ”.

Vương Lăng thấy Đường Hiểu Lan cuối đầu suy nghĩ thì bật cười nói: “Thế nào? Có lên núi Thái Hàng nữa không?” Đường Hiểu Lan ngẩng đầu kiên quyết nói: “Dù là đầm rồng ổ cọp cũng phải tới, ngày mai chúng ta sẽ lên núi!” tuy Quảng Luyện Hà sống từ nhỏ ở nơi làng quê hẻo lánh, nhưng sau biến cố to lớn, lại đi cùng với nhau nhiều ngày cảm thấy Đường Hiểu Lan là người đáng tin hơn, nghe chàng nói như thế thì lập tức tán đồng, gật đầu trả lời: “Đã đi đến đây, núi Thái Hàng đã ở trước mặt, ta thấy lên núi cũng tốt, mong rằng có thể gặp được bằng hữu của công công hoặc Châu đại hiệp ở núi Thái Hàng”.Sáng sớm hôm sau ba người rời Tu Võ, đi được năm sáu mươi dặm đường, đến giữa trưa đã tới chân núi. Trên đường rất hiếm người qua lại, vào đến rừng núi càng chẳng thấy ai. Đường Hiểu Lan trong lòng thầm lo, nghĩ bụng: “Nếu hào kiệt năm tỉnh tụ hội ở đây, sao không thấy có người tiếp đã dưới chân núi?” núi Thái Hàng cao ngất, cây cối xum xuê, mây mù bao phủ, ba người chặt cành bạt gai đi được nửa ngày mà chỉ thấy bóng chim bay chứ chẳng nghe tiếng người. Đường Hiểu Lan chợt ngừng bước, Quảng Luyện Hà cũng thấy nghi hoặc, vừa nói được một câu: “Đường sư đệ, có nên đi nữa không?” chợt nghe tiếng tiêu rít lên, ở cách mười trượng cây cỏ xào xạc, Đường Hiểu Lan vội vàng kéo Quảng Luyện Hà nằm phục xuống, chợt đằng xa có mấy người bước ra! Đường Hiểu Lan vừa nhìn đã kinh hãi, kẻ đi đầu tay cầm gậy đầu rồng, đó chính là Long Mộc Công!

Vương Lăng hơi nhúc nhích, Đường Hiểu Lan đè tay vào vai y, khẽ nói: “Sư huynh đừng làm càn!” té ra chàng ta bóp vào xương tì bà trên vai của y, Vương Lăng hoảng sợ đến nỗi toát mồ hôi lạnh, biến sắc nói: “Sư đệ đừng đùa chứ!” Đường Hiểu Lan nói: “Huynh nằm xuống! Huynh muốn kẻ địch thấy ư?” Vương Lăng quả nhiên nằm yên chẳng dám nhúc nhích. Đường Hiểu Lan len lén nhìn ra, chỉ thấy Long Mộc Công mở to con mắt còn lại, nhìn sang xung quanh, nói với mấy tên đồng bọn: “Hình như ta nghe thấy tiếng người”. Những kẻ đi cùng với y toàn mặc đồ chảng màu xanh, tay cầm phác đao, eo đeo hai trái thiết cầu, rõ ràng là bọn Huyết Trích Tử. Một tên kêu lên: “Này, bằng hữu! Có phải là đi dò đường không? Hay là tham gia tụ hội? Hãy mau ra mặt!” Đường Hiểu Lan thầm thất kinh, chỉ nghĩ rằng tông tích của mình đã bị bại lộ, chàng nín thở ngưng thần chẳng hề nhúc nhích. Người ấy lên tiếng xong, im lặng một lúc thì một giọng khàn khàn quát lên: “Này, bằng hữu, nếu các ngươi còn không lên tiếng, bọn ta sẽ dùng ám khí!”

Đường Hiểu Lan nằm trong bãi cỏ, bên cạnh lại có mấy tảng đá nhô lên, lòng thầm nhủ: “Kẻ địch cứ kêu gào như thế chắc là không biết nơi mình ẩn thân, cứ mặc bọn chúng”. Kẻ ấy nói xong mà vẫn chẳng thấy ai trả lời, thế rồi y nháy mắt với đồng bọn, khẽ nói: “Bọn hào kiệt lớp thì bị đánh chết, lớp thì bị thương, vả lại hai ngày đã trôi qua, ngoài trừ người của phe mình chắc chắn chẳng còn ai dám lên núi! Chắc là Long đại ca đã hoa mắt!” Long Mộc Công gõ cây gậy xuống đất, trợn tròn mắt quát lớn: “Một con mắt của ta còn sáng hơn mười mấy cặp mắt của các ngươi, rõ ràng ta nghe có tiếng người, các người có điếc không?” trong cuộc chiến năm ngày trước với Châu Thanh, ngoại trừ bị chột một mắt, Long Mộc Công chẳng hề bị nội thương, y đã uống thuốc lại có nội công thâm hậu nên vẫn tiếp tục cùng bọn Lôi Hải Âm đuổi theo Đường Hiểu Lan. Bọn Đường Hiểu Lan gồm có ba người, Quảng Luyện Hà lại là một thiếu phụ xinh đẹp, bế theo một đứa bé gái nên càng khiến cho người ta chú ý hơn, Long Mộc Công vừa đi vừa hỏi dò, đã đuổi theo họ lên núi Thái Hàng. Y đã vào núi bằng đường khác nên lên núi trước họ. Tới tơi bọn người của Tứ bối lạc chưa rút lui, thế là đến bái kiến hai tên ma đầu, Lôi Hải Âm lập tức giữ lại bọn chúng để giúp mình, Long Mộc Công lại phái bảy tám tên Huyết Trích Tử đi tìm khắp nơi. Lúc này thương thế của Long Mộc Công đã giảm bởi vậy mới nghênh ngang trở lại, bọn Huyết Trích Tử đều không dám lên tiếng, Long Mộc Công giằng cây gậy xuống đất, quát lớn: “Các người còn chờ gì nữa, hãy mau đi tìm”.

Đường Hiểu Lan không dám rút kiếm, tay đã cầm sẵn một nắm phi mãng, chỉ đợi bọn Huyết Trích Tử đến thì chàng sẽ liều mạng với chúng. Bọn Huyết Trích Tử tìm kiếm xung quanh, khi sắp đến nơi thì Long Mộc Công chợt chỉ gậy về hướng Đông, quát: “Kẻ địch tới!” bọn Huyết Trích Tử vội vàng quay trở lại, Đường Hiểu Lan thở phào, dựa vào tảng đá thò đầu nhìn ra, chỉ thấy ở nơi chân núi có hai bóng đen, trong chớp mắt hai người ấy đã xuất hiện, kẻ đi đầu là một đạo sĩ mặc mặc áo đen, tay trái cầm cây gậy sắt, tay phải cầm cây trường kiếm, phía sau ông ta là một hòa thượng béo, hai tay không có binh khí, ở eo chỉ đeo một bầu hồ lô lớn.

Long Mộc Công quát: “Các ngươi là ai? Là người của Tứ bối lạc hay là bằng hữu của lão già Dương Trọng Anh?” đạo sĩ mặc áo đen cười nói: “Nói thế các ngươi chắc là người của Tứ bối lạc? Ta đang tìm các ngươi đây!” rồi vung gậy rút soạt kiếm. Long Mộc Công giơ ngang gậy chặn lại, thối lui mấy bước. Đạo sĩ áo đen cười nói: “Ồ, ngươi cũng không tệ!” miệng thì vẫn nói nhưng kiếm chiêu trong tay không hề chậm lại, ông ta đâm ra soạt soạt mấy kiếm, hai tên Huyết Trích Tử đã bị chém đứt bốn cái lỗ tai, bị ông ta cuốn vào ống tay áo. Long Mộc Công chưa bao giờ thấy kiếm chiêu nhanh đến như thế, y vội vàng vung tay: “Phóng ám khí!” trong chốc lát tiếng gió rít lên, năm sáu trái thiết cầu bay vù tới, đạo sĩ áo đen cười lớn nói: “Đồ chơi của trẻ con mà cũng dám đem ra lòe đời!” một trái thiết cầu bay tới đầu, đạo sĩ áo đen điểm cây gậy sắt một cái, trái thiết cầu ấy bay ngược trở về táng phải một tên Huyết Trích Tử khác, lập tức vỡ tung ra, phi đao từ trong bắn ra, đạo sĩ áo đen vung cây gậy quét ngang bổ dọc, đánh vỡ toàn bộ nắm sáu trái thiết cầu, thanh trường kiếm múa tít, làn mưa phi đao đều bị ông ta quét ra xung quanh, bọn võ sĩ vội vàng tháo chạy.

Long Mộc Công biến sắc, phóng vọt người lên, đạo sĩ áo đen quát: “Chạy đi đâu!” rồi ông ta phóng người như mũi tên bắn thẳng tới, cây gậy trên tay trái đánh ra một chiêu Bạo long lạo hải, quét tới như trận gió lốc, Long Mộc Công chặn ngang cây gậy lại, chỉ cảm thấy một nguồn đại lực tựa như sấm sét bổ vào đầu, công lực của y vốn chẳng phải tầm thường, thế nhưng chỉ vừa mới trúng một đòn mà cây gậy đã vuột khỏi tay, y đã đút cây gậy này ở Lạc Dương, trọng lượng của cây gậy nhẹ hơn cây gậy cũ vả lại chất thép không thuần nên đã gãy thành mấy đoạn trên không trung! Đạo sĩ áo đen đánh cây gậy lẫn kiếm ra, trường kiếm trong tay phải đánh ra một chiêu Đảo tả thiên hà, kiếm hoa tuôn xuống như mưa, Long Mộc Công vội vàng vận dụng khinh công Phi hoa quyện vũ, dùng thân pháp nhảy nhót né tránh, chui ra khỏi màn kiếm quang. Dù y nhanh chân cũng cảm thấy mang tai mát rượi, phía sau lưng chỉ nghe đạo sĩ áo đen cười ha hả: “Ngươi có thể tránh được nửa chiêu coi như cũng không tệ. Ngươi hãy đi đi!” té ra đạo sĩ ấy đánh ra một chiêu vốn là muốn cắt hai lỗ tai của y, nhưng Long Mộc Công quá lanh lẹ, kết quả là đạo sĩ áo đen trong chốc lát đã đánh ra một chiêu bảy thức cũng chỉ có thể cắt đứt tai phải của y. kiếm pháp của đạo sĩ áo đen độc bộ miền Bắc, bình sinh tự phụ về điều này, bởi vậy những ai có thể thoát khỏi kiếm ông ta không đuổi theo.

Bảy tám tên Huyết Trích Tử mất binh khí cũng ùa nhau tháo chạy, hòa thượng béo điểm hai chân xuống đất phóng vọt người lên, bọn Huyết Trích Tử ấy thấy trước mắt tối sầm tựa như một áng mây đen từ trên đầu chụp xuống, khi mở mắt ra thì hòa thượng béo đã đứng cười hì hì trước mặt, tay bưng bầu hồ lô, đầu lắc lư nói: “Đừng chạy nhanh như thế, bần tăng mời các ngươi uống rượu!”

Bọn Huyết Trích Tử ùa nhau xông lên, hòa thượng béo chợt há mồm phun một cái, mùi rượu thơm nồng tỏa ra, bọn Huyết Trích Tử chỉ thấy trước mặt trắng xóa một màu, mắt đau nhói, trời đất tối sầm, bên tai chỉ còn nghe tiếng cười ha hả của hòa thượng béo, cả bọn kinh hoảng, không màng đến cơn đau ở mắt hay đá núi lổm chổm nữa mà lăn người từ trên xuống. Hòa thượng béo cũng không đuổi theo, cười ha hả: “Đạo huynh, có đắc thủ chưa?” đạo sĩ áo đen trả lời: “Chỉ được một nửa, còn huynh?” hòa thượng béo trả lời: “Tôi chưa dốc hết sức, chỉ phun mù được mười ba con mắt chó”. Té ra trong đám tên Huyết Trích Tử có năm tên bị mù hai mắt, ba tên bị chột một mắt. Vương Lăng kinh hãi, mừng thầm vì lúc nãy Đường Hiểu Lan đã ngăn mình lại.

Đường Hiểu Lan cũng kinh tâm động phách, thấy võ công của hai người này thì chợt nhớ, trong hai ngày nay chàng liên tiếp gặp được bốn dị nhân, đây chắc là Quan Đông tứ hiệp, người đi đầu tên gọi Huyền Phong đạo trưởng, chính là người áo đen. Tay trái ông ta sử dụng gậy, tay phải dùng kiếm, kiếm pháp của ông ta tên là Loạn phi phong, là nhất tuyệt trong chốn võ lâm, đường lối cũng tương tự như Truy Phong kiếm pháp, mỗi chiêu đều ẩn chứa rất nhiều biến hóa, nhưng có điều hiểm hóc hơn Truy Phong kiếm pháp nhiều. Châu Thanh và Huyền Phong nghe tiếng nhau đã lâu, hơn hai mươi năm trước đã từng gặp nhau ở nhà Dương Trọng Anh, đôi bên nghiên cứu kiếm pháp kết thành bằng hữu. Ngoại trừ Lăng Vị Phong, kẻ Châu Thanh khâm phục nhất là Huyền Phong. Tuy Châu Thanh chưa gặp ba người còn lại nhưng cũng từng nghe Huyền Phong nhắc đến. Bởi vậy Đường Hiểu Lan cũng biết diện mạo của họ.

Người thứ hai trong Quan Đông tứ hiệp là hòa thượng béo tên gọi Lang Nguyệt thiền sư, tính tình vui nhộn, người ta gọi là Tiếu di lặc, thích nhất là uống rượu, võ công độc môn của ông ta là dùng rượu làm ám khí chuyên bắn vào hai mắt của kẻ địch, những hạt rượu mà ông ta phun ra cứ giống như đạn chì, cũng là nhất tuyệt trong chốn võ lâm! Nhân vật đứng thứ ba là người cao mà Đường Hiểu Lan đã gặp trong khách điếm, người này tên gọi Liễu Tiên Khai, khinh công trác tuyệt, để lại trủy thủ trong khách điếm là trò đùa của ông ta. Ông ta thích dùng nhẫn trên tay để đánh vào huyệt đạo của kẻ địch, nếu không dùng làm ám khí, mười chiếc nhẫn bằng thép ấy là một món binh khí. Người thứ tư là kẻ lùn tên gọi Trần Nguyên Bá, công phu ngoại gia của người này đã đến mức đăng phong tạo cực, lực mạnh vô cùng, võ công độc môn của ông ta là Đại suất bi thủ và Phân cân thác cốt thủ. Khi Châu Thanh và Huyền Phong kết giao với nhau, Liễu Tiên Khai và Trần Nguyên Bá vẫn còn trẻ, võ công tuy cao nhưng vẫn chưa có tên tuổi, bởi vậy lúc đó vẫn chưa có Quan Đông tứ hiệp. Sau này Liễu Tiên Khai và Trần Nguyên Bá nổi danh trên giang hồ, ba người thường đi chung với nhau nên mới gọi chung là Quan Đông tứ hiệp.

Đường Hiểu Lan thấy tuyệt kỹ của hòa thượng ấy, nghĩ bụng bốn người này chắc chắn là Quan Đông tứ hiệp, trong lòng mừng rỡ, đang định lên tiếng gọi thì chợt đạo sĩ áo đen nói: “Nhị đệ, hai lão quái ấy vẫn chưa xuất hiện, tam đệ, tứ đệ hẹn lên núi ngày hôm nay với chúng ta mà vẫn chưa tới, có lẽ đã gặp hai lão quái ấy. Chúng ta đi tìm họ, lát nữa sẽ gặp lại ở đây. Hòa thượng béo cười hì hì nói: “Cứ như thế!” hai người phóng vọt đi, trong chốc lát đã mất dạng.

Vương Lăng thở phào, nói: “Lợi hại thật!” Quảng Luyện Hà cũng toát mồ hôi ướt đẫm cả người. Vừa mới trấn tĩnh, Đường Hiểu Lan đã nói: “Đạo sĩ áo đen chính là bằng hữu của Châu bá bá”. Chợt nghe từ xa có hai tiếng hú quái dị nghe chối tai, Đường Hiểu Lan vội vàng kéo Vương Lăng phục xuống. Tiếng đến thì người đến, Đường Hiểu Lan mở mắt nhìn lén ra, chỉ thấy lại xuất hiện hai người. Đó là hai lão già gầy đét sắc mặt vàng vọt, trên người mặc bộ áo vàng, mặt cứ đơ ra chẳng hề biểu lộ tình cảm. Cả hai người đều xách một cái túi da, một người què chân trái, một người què chân phải, huyệt thái dương nhô cao, rõ ràng là nội công cực kỳ thâm hậu. Đường Hiểu Lan thầm lấy làm lạ, hai kẻ này mỗi người què một chân, thế nhưng di chuyển rất nhanh nhẹn!

Hai người im lặng không nói, chỉ đi một vòng, phát giác có dấu đánh nhau, một hồi sau lão già bên trái nói: “Ồ, chắc là bốn tên khốn kiếp ở Quan Đông đã kéo đên đây!” lão già bên phải nói: “Chúng ta có cần tìm bọn chúng không?” lão già bên trái nói: “Không cần!” rồi người chúm môi huýt một tiếng sáo, lần này khoảng cách đôi bên gần hơn, bọn ba người Đường Hiểu Lan chưa bao giờ nghe thấy âm thanh chối tai như thế, chỉ cảm thấy gan ruột như đứt đọan, khó chịu vô cùng. Phùng Anh mếu mồm toan khóc, Quảng Luyện Hà vội vàng xé áo nhét vào mồm của cô bé, Phùng Anh quơ loạn hai tay, Quảng Luyện Hà nhẹ nhàng vuốt ve cô bé, may mà hai tên ma đầu chỉ lo tìm kiếm ở phía trước chứ không để ý gì đến tảng đá ở cách đó mười trượng.

Lão già bên trái nói: “Bốn tên khốn kiếp ở Quan Đông đã muốn gặp chúng ta, nghe tiếng huýt sáo này chắc chắn sẽ tự dẫn xác tới”. Hai người đứng trên tảng đá nhìn ra xa, một hồi sau chợt thấy hai bóng người từ sườn núi chạy lên.

Đường Hiểu Lan tưởng rằng có là Quan Đông tứ hiệp, chàng ta nín thở chờ đợi một cuộc ác đấu sắp xảy ra. Một hồi sau hai bóng người đã lên đến đỉnh núi, đó chẳng phải là Quan Đông tứ hiệp. Một người tóc đỏ như lửa, một người mũi khoằm như chim ưng, kẻ tóc đỏ chính là Lôi Hải Âm.

Hai lão ma đầu thấy thế cũng bất ngờ, đồng thanh hỏi: “Lôi Hải Âm, bảo ngươi trấn thủ doanh trại, ngươi đến đây làm quái gì?” Lôi Hải Âm lấy tay áo lau mồ hôi, thở phì phò nói: “Đại trại bị người ta giở rồi!” hai lão ma đầu gầm lớn, nhảy dựng lên hỏi: “Cái gì, đã bị người ta giở? Có phải Quan Đông tứ hiệp không?” Lôi Hải Âm nói: “Tôi không biết có phải Quan Đông tứ hiệp hay không, hai kẻ ấy một cao một thấp, kẻ cao mười ngón tay đeo nhẫn thép, quyền đánh ra như gió, hễ vung tay lên là có người trúng đòn; kẻ gầy càng lợi hại hơn, y nắm lấy hậu tâm của từng người ném xuống sơn cốc!” lão già thọt chân phải gật đầu: “Đó là lão tam và lão tứ trong Quan Đông tứ hiệp, Vạn Lý Truy Phong Liễu Tiên Khai và Thiết Chưởng Khai Bi Trần Nguyên Bá!” Lôi Hải Âm tiếp tục nói: “Chúng tôi liều mạng xông ra, nào ngờ lại gặp hai kẻ địch, hai tên này còn lợi hại hơn hai tên lúc nãy. Một kẻ là đạo sĩ gầy, một tên là hòa thượng béo. Tên đạo sĩ tay trái cầm gậy sắt, tay phải dùng kiếm, tôi chỉ tiếp được một chiêu thì binh khí đã bị chặt gãy nên vội vàng lăn người xuống, may mà đạo sĩ ấy không đâm ra kiếm thứ hai!” lão già thọt chân trái khẽ gật đầu: “Ồ, ắt hẳn ngươi đã rất may mắn! Không sao, ngươi chỉ bị tên hắc đạo ấy chém đứt một lỗ tai”. Lôi Hải Âm mặt đỏ ửng, nói: “Tên đạo sĩ cắt đứt một lỗ tai của tôi, lại còn kêu lên: ‘Coi như ngươi cũng là một hán tử đáng tiếc! Đáng tiếc! Nhớ giữ cho kỹ lỗ tai bên trái của ngươi!” hai lão già tức tối nói: “Cái qui củ thối tha của bọn Quan Đông tứ hiệp thật khiến cho người ta điên tiết”. Rồi quay sang hán tử mũi chim ưng nói: “Còn ngươi? Có phải mắt trái của ngươi bị tên hòa thượng béo phun hay không?” mắt trái của y vẫn không ngừng chảy máu, y đang lấy thuốc bôi vào vết thương, rung giọng nói: “Sư phụ, con... con vô dụng đã bị hòa thượng béo ấy phun mù mắt!” hai lão già im lặng không nói, chợt mỗi người lại hú lên ba tiếng quái dị, bọn ba người Đường Hiểu Lan ở phía sau tảng đá đều nhìn nhau thất sắc. Cô bé Phùng Anh nằm trong lòng Quảng Luyện Hà kêu lên ằng ặc, nước mắt tuôn đẫm mặt, chân tay múa loạn xạ, Quảng Luyện Hà thấy lòng đau nhói, nhưng cũng không dám lấy cuộn vải ra khỏi miệng cô bé.

Lão già bên trái nói: “Xem ra công phu của Quan Đông tứ hiệp không tệ”. Lão già bên phải hừ một tiếng nói: “Đại ca, chúng ta là Thần Ma song lão, dù bọn chúng là Quan Đông bát hiệp cũng chẳng có gì đáng lo!” Đường Hiểu Lan nghe rất rõ ràng, bởi vậy chàng kinh hoảng. Trước đây Châu Thanh đã từng nhắc đến Thần Ma song lão, nghe nói hai người này vốn là đôi anh em sinh đôi, người anh tên là Tát Thiên Thích, người em tên là Tát Thiên Đô. Không biết hai anh em này học được võ công ở đâu, người anh có nội ngoại kim tu. Người em học được Tiểu châu thiên đại kim cương thủ trong ma giáo Tây Tạng. Người anh xưng là Bát Tý Thần Ma, người em xưng là Đại Lực Thần Ma, cả hai người này sống ở đảo Miêu Ưng tại cửa biển Lữ Thuận, gần đấy cũng có một nơi tên gọi Xà đảo, ở đó có một dị nhân là Độc long tôn dã, người ta gọi cả ba kẻ này là Quan Đông tam quái. Xà đảo và Miêu Ưng đảo là hai hòn đảo bí hiểm nhất ở vùng Bột Hải, hàng ngàn năm nay chưa ai dám lên đảo thám hiểm, ngư dân chỉ dám đi vòng qua, dù là võ lâm hào kiệt cũng không dám đặt trên lên đất này!

Nghe đồn hòn Xà đảo đầy rắn độc, hơi rắn phì ra thành sương, còn Miêu Ưng đảo có một loại quái điểu, vốn cùng loại với hải âu, tiếng kêu nghe như mèo gào, vuốt bén như vuốt ưng, nên gọi là chim miêu ưng. Miêu ưng bay thành từng đàn, thường ác đấu với rắn độc ở Xà đảo, miêu ưng bay thấp thường bị rắn độc cuốn chết hoặc phun độc khí rơi xuống, còn rắn độc cũng thường bị miêu ưng tấn công bất ngờ, chụp bay lên không trung. Ngư dân ở Bột Hải hễ thấy miêu ưng và độc xà ác đấu thường tránh xa, đợi chúng đánh nhau xong mới đến nhặt xác của chúng. Người phương Bắc không ăn rắn, nghe nói năm nọ có một đầu bếp vùng Quảng Đông đến Lữ Thuận, thấy chim ưng và ác độc ác đấu, có ngư dân nhặt xác rắn độc đem ngâm rượu thuốc, đầu bếp này mua hai con làm món ăn, nghe nói loại thịt rắn này ngon hơn cả các nơi khác.Châu Thanh nghe kể rằng hơn ba mươi năm trước, Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô đã kết bè kết cánh với Tây Vực tam ma ở Tây Tạng, Tây Vực tam ma mất mạng bởi tay Lăng Vị Phong, sau đó Tát Thiên Đô lại bị Lăng Vị Phong đuổi ra khỏi Tây Vực (chuyện Tây Vực tam ma ác đấu với Lăng Vị Phong xin mời ở bộ “Thất Kiếm Hạ Thiên Sơn”) sau khi bị đuổi ra khỏi Tây Vực, Tát Thiên Đô cùng Tát Thiên Thích đến đảo Miêu Ưng gầy dựng sào huyệt. Còn Độc long tôn giả suốt đời sống trên Xà đảo, chưa bao giờ ra ngoài, nên không ai biết võ công của ông ta như thế nào, Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích và Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô cứ mỗi hai năm xuất hiện ở đất liền một lần, kết thù chuốc oán với rất nhiều hiệp khách hào kiệt. Hơn mười năm trước, cả hai tên này đột nhiên biến mất dạng, không lộ mặt trên giang hồ nữa, có người bảo rằng bọn chúng đã gặp phải cường địch nên mới trở về đảo Miêu Ưng luyện võ công độc môn, không biết chuyện này là thực hay giả, hiệp khách trên giang hồ cũng không ai dám đến đảo Miêu Ưng tìm bọn chúng. Không ngờ đột nhiên bọn chúng lại xuất hiện ở núi Thái Hàng.

Té ra Tứ bối lạc Dận Trinh đã mời hai tên ma đầu này trở lại giang hồ. Tứ bối lạc sai một Lạt ma võ công cao cường, toàn thân mặc khôi giáp, đem theo thuốc giải độc và thuốc kim sang, trước tiên đến Xà đảo gặp Độc long tôn giả, Độc long tôn giả không chịu tái xuất giang hồ, y lại đến đảo Miêu Ưng gặp xong ma, Song ma đã luyện xong võ công độc môn, thầm nhủ: “Tứ bối lạc là người sáng suốt, mai này bước lên ngôi báu, nếu giúp y cướp ngôi chắc chắn sẽ được phong làm quốc sư, danh lừng thiên hạ. Vì thế nhận lời mời của Tứ bối lạc Dận Trinh, cả hai rời khỏi Miêu Ưng đảo.

Dưới trướng của Tứ bối lạc Dận Trinh có rất nhiều kỳ nhân dị sĩ, y biết hào kiệt năm tỉnh phía Bắc tụ tập ở núi Thái Hàng, muốn quét sạch bằng một mẻ lưới để lấy lòng vua cha, vì thế phái ba trăm võ sĩ, trong đó có hơn một trăm Huyết Trích Tử, những kẻ truy bắt Châu Thanh chỉ là một trong số đó. Ngoài ra còn có một đám võ sĩ do Song ma suất lĩnh đi thẳng đến núi Thái Hàng, ven đường đã hại rất nhiều người, trong đêm Trung Thu đã đại chiến với hàng trăm hào kiệt giang hồ trên núi Thái Hàng, Dương Trọng Anh đã đánh chết hơn mười tên võ sĩ nhưng bị thương bởi độc trảo của Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích.

Trong cuộc đại chiến này, hào kiệt năm tỉnh phía Bắc tử thương quá nửa nên bọn Đường Hiểu Lan đã gặp những nhân vật giang hồ phá vòng vây thoát khỏi núi Thái Hàng chạy ra. Phi hỏa đạn Mạnh Kiện Hùng vừa mới đến chân núi Thái Hàng, nghe người ta báo lại mới vội vàng quay trở về nên không bị thương. Dương Trọng Anh trúng độc trảo, lại bị đồ đệ duy nhất của Bát Tý Thần Ma là Đổng Thái Thanh bao vây tấn công, mấy lần suýt gặp bất trắc.

Cả hai tên ma đầu được nghe tin báo, biết Quan Đông tứ hiệp đã lên núi, thế là nhìn nhau cười. Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích nói: “Hôm nay nếu có thể đánh bại Quan Đông tứ hiệp, hào kiệt miền Bắc sẽ phải phục sát đất, sau đó chúng ta lại xuống Giang Nam trừ luôn Giang Nam bát hiệp”. Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô nói: “Được, chúng ta tiêu diệt Quan Đông tứ hiệp trước đã”. Hai người lại đi một vòng, Tát Thiên Đô chợt quát mớn một tiếng, chạy về phía bọn Đường Hiểu Lan ẩn thân, Đường Hiểu Lan, Quảng Luyện Hà đều sợ đến nỗi toát mồ hôi lạnh, mặt chẳng còn sắc máu, nhưng chỉ thấy y dừng lại, hai tay nhổ một tảng đá nhô lên, quát: “Ngã!” rồi ném tảng đá xuống! Nếu hai tay không có thần lực ngàn cân, tảng đá chẳng nhúc nhích, Đường Hiểu Lan dù gan lớn bằng trời cũng hoảng sợ đến nỗi toàn thân mềm nhũn, Quảng Luyện Hàt hầm kêu: “Bồ Tát phù hộ”. Đôi mắt Phùng Anh sáng lấp lánh, nước mắt đã thấm vào mảnh khăn, chắc là bị nhét vào mồm lâu quá nên hít thở hơi khó, bởi vậy cô bé vừa khóc vừa nhìn mẹ, tựa như cầu xin mẹ rút cuộn vải ra để cô bé thở. Tát Thiên Đô nhổ xong tảng đá quay trở về chỗ cũ, đặt tảng đá xuống mặt đất, cười nói với Bát Tý Thần Ma: “Đại ca, huynh thấy tảng đá này trơn tru biết bao nhiêu, trông như một cái bàn tròn. Để lát nữa đệ đi tìm thêm vài tảng!” lúc này Đường Hiểu Lan mới biết Tát Thiên Đô nhổ tảng đá lên là để làm cái bàn, nhưng không biết y dùng cái bàn đá này để làm gì, chả lẽ bày tiệc đãi khách?”

Tát Thiên Đô đi xung quanh, lại tìm thêm được năm tảng đá, thế là xếp cả sáu tảng đá ngay ngắn gọn gàng, bốn bên bốn tảng, ở giữa hai tảng, cười nói: “Xong rồi”. Rồi mở cái túi da ra, lấy từng món đặt lên bàn, Quảng Luyện Hà vừa nhìn đã ngất đi. Té ra Tát Thiên Đô đã lấy ra từng cái đầu người! Tất cả đầu người đều bị y ngâm thuốc nước, mặt mũi vẫn nguyên vẹn, trông giống như đang còn sống, chỉ là thu nhỏ hơn một nửa, não tủy trong đầu người đều đã được lấy ra, ở giữa khoét trống, Tát Thiên Đô đặt từng cái đầu người lên bàn đá, mỗi bàn gồm có sáu cái đầu người. Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích cũng mở túi da, mùi rượu thơm lan tỏa, té ra đó là một đao rượu ngon, cả hai người rót rượu vào trong những cái đầu rồi uống cạn, vỗ tay nói: “Chúng ta sẽ mới Quan Đông tứ hiệp uống rượu!”

Đường Hiểu Lan nghe tim đập thình thình, thấy Quảng Luyện Hà ngất xỉu vội vàng đỡ nàng dậy, chàng chợt liếc sang Vương Lăng, tuy y vẫn nằm phục dưới đất nhưng thần sắc không hề kinh hãi, Đường Hiểu Lan lấy làm lạ, thầm nhủ: “Gã đại sư ca này sao lớn gan đến thế!”

Quảng Luyện Hà dần dần tỉnh lại, thần trí mơ hồ, nàng chợt thấy sắc mặt Phùng Anh tái nhợt, mồ hôi nước mắt hòa lẫn với nhau, chiếc miệng nhỏ cố há to ra, Quảng Luyện Hà nhất thời đau lòng, trong lúc thần trí mơ hồ đã lấy cuộn vải trong miệng Phùng Anh ra, Phùng Anh khóa òa lên!

Tát Thiên Thích kêu lên một tiếng quái dị, hai chân điểm xuống đất phóng vọt người lên như con đại nhạn từ trên không bổ xuống chụp về phía Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan vãi ra một nắm phi mãng, rõ ràng đã nhắm vào người Bát Tý Thần Ma nhưng chỉ nghe tiếng phi mãng kêu lên lách tách rơi xuống, rõ ràng phi mãng chạm vào người y như chạm vào sắt đá! Đường Hiểu Lan kinh hãi, thấy bóng đen từ trên không chụp xuống, soạt một tiếng vang lên tảng đá vỡ nát, tia lửa tóe ra, té ra Tát Thiên Thích phóng tới quá nhanh, chụp một phát bóp vỡ tảng đá trước mặt Đường Hiểu Lan rồi tung ra một đòn phi cước đạp tảng đá sang bên cạnh, trừng mắt nhìn Đường Hiểu Lan, quát lớn: “Các ngươi là ai?”

Phùng Anh khóc oa oa gục đầu trên vai mẹ, không dám nhìn vẻ mặt hung dữ của Bát Tý Thần Ma. Lúc nãy Quảng Luyện Hà vừa mới sợ đến toàn thân mềm nhũn, lúc này tay trái nàng nắm cây đao, tay phải ôm chặt đứa con, gằng giọng quát: “Không đươc động đến con ta!” nàng quắc mắt lên, vẻ mặt rất cương nghị, bản năng của người mẹ giúp cho nàng có thêm dũng khí đối đầu với tên ác ma mà chẳng hề sợ sệt!

Bát Tý Thần Ma ngập ngừng, bất giác lùi mấy bước, Đường Hiểu Lan chợt rút phắt cây Du Long kiếm, ánh kiếm quang lóe lên, chàng đánh ra một chiêu Phi vân chế điện đâm về phía Tát Thiên Thích, Tát Thiên Thích kêu ồ một tiếng lách người qua. Lúc này Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô cũng đuổi tới, y đánh tới một chưởng, Bát Tý Thần Ma chợt kêu: “Đừng hại y!” Tát Thiên Đô đang đánh chưởng được nửa đường đột nhiên biến thành trảo, Đường Hiểu Lan xoay mũi kiếm đâm ra, chợt thấy cổ tay đau nhói, té ra đã bị người ta chụp chắc, thanh kiếm đã bị đoạt mất, còn người thì bị kẹp giở lên!

Quảng Luyện Hà ôm Phùng Anh đứng sững ngay tại chỗ, Phùng Anh khóc càng lớn hơn, Quảng Luyện Hà tra đao vào vỏ, tay trái vỗ nhẹ, khẽ nói: “Con ngoan, đừng sợ, hãy ngủ một lát, ngày mai mẹ sẽ mua kẹo cho con ăn, dắt con lên núi bắt chim!” nàng không màng đến bộ mặt hung hăng của hai tên ác ma mà chỉ lo dỗ dành con!

Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích nghe tiếng khóc nổi cáu, y vung tay, Quảng Luyện Hà trừng mắt, ánh mắt sáng quắc, Tát Thiên Thích nghiêng mặt qua, cánh tay xoay một cái chụp được Phùng Anh, quát: “Không được khóc!” rồi giơ cao Phùng Anh ném xuống tảng đá!” Phùng Anh khóc đã mệt mỏi, cô bé dần dần nín khóc, bị Tát Thiên Thích ném lên trên không trung, cảm thấy rất thích thú đột nhiên nhoẻn miệng cười, Tát Thiên Thích nhìn thấy nụ cười của cô bé, sát khí đột nhiên tan biến, cánh tay chậm rãi sụi xuống. Phùng Anh lại nhoẻn miệng cười, trên má xuất hiện hai cái lún đồng tiền, trông rất xinh xắn, Tát Thiên Thích chỉ cảm thấy đứa trẻ trong tay mình thật đáng yêu, y bình sinh giết người như cỏ rác, chẳng hề nhíu mày, nhưng giờ đây lại thấy không nỡ động thủ! Cả bản thân y cũng cảm thấy kỳ lạ, y trở tay để cô bé lên lưng mình, cười nói: “Ồ, đây đúng là duyên pháp!”

Vương Lăng từ từ đứng dậy, Tát Thiên Thích quát hỏi: “Ngươi là ai?” Quảng Luyện Hà đã mất con, liều mạng xông lên, Tát Thiên Thích nhẹ nhàng điểm ngón tay một cái, Quảng Luyện Hà toàn thân mềm nhũn, chẳng thể nào cục cựa nổi, Vương Lăng chợt xông ra, kêu lên: “Xin nể mặt của tiểu nhân, đừng hại nàng!”

Lôi Hải Âm vội vàng chạy tới, ghé tai Tát Thiên Thích nói: “Người này tên gọi Vương Lăng, chính tôi đã phái y đến nhà họ Phùng nằm vùng!” té ra Vương Lăng đến nhà Phùng Quảng Triều học võ nghệ, là một đôi thanh mai trúc mã với Quảng Luyện Hà, y sớm đã để ý đến nàng, không ngờ sau đó nàng lại lấy Phùng Anh Kỳ, Vương Lăng bực dọc không nói ra miệng. Không lâu sau y đến kinh đô làm bảo tiêu, lúc rảnh rỗi thường kể với người ta rằng sư phụ của mình quy ẩn ở tuổi tráng niên, chuyện ấy truyền đến tai bọn võ sĩ dưới trướng Tứ bối lạc, thế là bọn này nghi ngờ, từ từ uy hiếp và dụ dỗ để Vương Lăng làm việc cho Tứ bối lạc. Sau khi Vương Lăng đến kinh đô, sống cuộc sống ở chốn phồn hoa, đã có lòng ham mê công danh lợi lộc, lại thêm chẳng thể nào quên được Quảng Luyện Hà nên lý trí bị lợi lộc che mờ cuối cùng trở thành tay chân của Tứ bối lạc. Lần này võ sĩ môn hạ của Tứ bối lạc đi truy bắt người, tổng quản Huyết Trích Tử Cáp Bố Đà nhớ lại Vương Lăng là người Sơn Đông nên phái y đến nhà họ Phùng, tiện thể quan sát hành tung của quần hào năm tỉnh phía Bắc. Cáp Bố Đà không ngờ rằng Phùng Quảng Triều là truyền nhân của Truy phong kiếm, chẳng qua y tiện thể đặt xuống một con cờ để tạo thêm vây cánh vòng ngoài cho Huyết Trích Tử mà thôi. Không ngờ nước cờ ấy đi bừa mà trúng, Châu Thanh, kẻ mà Tứ bối lạc cần truy bắt chính là sư công của Vương Lăng.

Tát Thiên Thích nghe nói thì nhớ lại, cười ha hả: “Ồ, ngươi giỏi lắm!” Vương Lăng quỳ xuống dập đầu nói: “Cầu xin quốc sư thưởng nàng cho tiểu nhân”. Tát Thiên Thích trợn mắt, thầm nhủ: “Không biết kẻ này có phải là người thân tín của tứ điện hạ hay không, mình tiện thể ra ơn cũng tốt!” rồi phất tay nói: “Lôi Hải Âm, Hách Hạo Xương, bọn ngươi hãy cùng Vương Lăng dắt người đàn bà này về kinh để khỏi cản trở tay chân bọn ta!” Quảng Luyện Hà chỉ để ý đến con của mình chứ không hề hay biết gì. Đường Hiểu Lan tuy bị Tát Thiên Đô kẹp đến bất động, nhưng chàng cũng ráng mắng được mấy câu, Tát Thiên Đô vung tay chỉ một cái điểm váo á huyệt của chàng. Quảng Luyện Hà nghe tiếng mắng thì mới biết Vương Lăng là tên phản đồ, nàng mới lên tiếng: “Vương Lăng, công công của ta xem ngươi như con ruột, thế mà ngươi dám hại mẹ con ta, ngươi đúng là đồ cầm thú!” Vương Lăng bước tới, Quảng Luyện Hà phì một tiếng, phun một bãi nước bọt vào mặt y, Vương Lăng lấy tay áo lau mặt nhưng vẫn cười rạng rỡ, ghé sát tai nàng nói: “Hà muội, con gái muội đang trong tay kẻ địch, muội đừng làm dữ. Việc đã đến nước này, muội phải theo huynh về kinh mới có thể cứu được điệt nữ ra. Muội hãy nghĩ cho kỹ”.

Quảng Luyện Hà giật mình, chẳng thể nào mắng được nữa. Tát Thiên Đô giải huyệt đạo cho nàng, Lôi Hải Âm và Hách Hạo Xương trói chân tay nàng lại, giao cho Vương Lăng: “Nào, hãy dắt sư tẩu của ngươi đi!” Tát Thiên Đô nói: “Hạo Xương, nếu ngươi gặp Thái Thanh, bảo hắn về kinh trước”. Đổng Thái Thanh là đồ đệ của Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích, Hách Hạo Xương là đồ đệ của Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô, nhưng vì nhập môn hơi trễ, tư chất hơi đần độn, võ công hơi kém hơn Đổng Thái Thanh nhiều.

Đường Hiểu Lan thấy Quảng Luyện Hà bị Vương Lăng trói lại, chàng ta tức giận đến cùng cực nhưng không thể nói được lời nào nữa, chỉ đánh nghiến răng kèn kẹt. Phùng Anh đã khóc đến nỗi mệt mỏi nên giờ đây ngủ say trên lưng Tát Thiên Thích, không biết mẹ bị người ta bắt đi. Tát Thiên Đô nhìn Phùng Anh một hồi, trong lòng thích lắm, đột nhiên ném Đường Hiểu Lan xuống, hai tay sờ đầu Phùng Anh.

Tát Thiên Thích nói: “Không cần sợ nữa, đứa trẻ này đúng là có khiếu tập võ!” Tát Thiên Đô đặt Phùng Anh xuống, kéo Đường Hiểu Lan đứng dậy, Đường Hiểu Lan trợn hai mắt nhìn y trừng trừng, Tát Thiên Đô cười nói: “Tên tiểu tử này không hề sợ chết!” rồi chợt bung cây Du Long kiếm mấy cái, hú lên một tiếng quái dị vung kiếm lên chém xuống tảng đá, tảng đá bể làm đôi! Tát Thiên Đô khen rằng: “Du Long kiếm quả nhiên danh đồn không ngoa!” rồi quay lại giải á huyệt cho Đường Hiểu Lan, gằng giọng hỏi: “Lăng Vị Phong là người thế nào với ngươi?” Đường Hiểu Lan ngạo mạn nói: “Ngươi cũng biết thái sư tổ ta lợi hại!” Tát Thiên Đô lại búng cây Du Long kiếm thêm hai cái, cười gằng nói: “Tên tiểu tử nhà ngươi cứng đầu lắm!” rồi xỉa hai ngón tay vào vai chàng, toan bóp xương tì bà của chàng, Tát Thiên Thích chợt kêu lên: “Thong thả!” rồi bước tới nhìn kỹ Đường Hiểu Lan một hồi, nói: “Chúng ta đang thiếu một đồ đệ như thế này!” cả hai tên ma đầu ngang ngược mà vẫn chưa tìm được một đồ đệ cho vừa ý, nhất là Tát Thiên Đô, học trò của y là Hách Hạo Xương không thể chống nổi một chiêu của hòa thượng béo, vừa gặp mặt đã bị người ta phun mù mắt trái, nghe ca ca nói như thế thì chợt thầm nhủ: “Nếu có thể thu nhận môn nhân đời thứ tư của Lăng Vị Phong làm đồ đệ, không những có người kế thừa được tuyệt kỹ của mình mà cũng là chuyện lớn trong võ lâm”. Thế rồi sắc mặt giãn ra, tra cây Du Long kiếm vào bao, đeo trở lại eo của Đường Hiểu Lan, chậm rãi nói: “Thái sư tổ của ngươi đã chết ở Thiên Sơn, dù không chết y cũng chẳng phải là đối thủ của huynh đệ bọn ta. Nếu ngươi theo bọn ta, huynh đệ bọn ta đảm bảo ngươi sẽ học được tuyệt thế võ công”. Đường Hiểu Lan tức giận nói: “Ta thà chết cũng không làm đồ đệ của các ngươi!” Tát Thiên Đô sầm mặt, đang định phát tác chợt nghe từ xa có tiếng hú vọng tới, Tát Thiên Thích nói: “Quan Đông tứ hiệp đến!” Tát Thiên Đô nói: “Thôi được, lát nữa hãy nói chuyện này!” rồi điểm huyệt Đường Hiểu Lan đặt chàng ở một cái khe giữa hai tảng đá, gằng giọng nói: “Ngươi ngoan ngoãn nằm ở đây xem bản lĩnh của bọn ta!”

Quan Đông tứ hiệp sau khi giở doanh trại của bọn Huyết Trích Tử ở núi Thái Hàng, đang định xuống núi thì chợt nghe tiếng hú quái dị của hai tên ma đầu nên tìm đến chỗ cũ. Vừa lên đến đỉnh núi, chợt thấy hai lão già ngồi ở hai cái bàn ở giữa, trên bốn cái bàn xung quanh đều có đầu người, trông rất kinh khiếp. Người đứng đầu trong Quan Đông tứ hiệp là Huyền Phong đạo trưởng quát: “Có phải hai ngươi là Thần Ma song lão hay không? Các ngươi đang giở trò gì thế?” Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích chậm rãi đứng dậy, cười gằng nói: “Tứ hiệp từ xa đến đây không nghênh đón thật thất lễ, huynh đệ bọn ta đã bày sẵn rượu nhạt tẩy trần cho Tứ hiệp!” Tát Thiên Đô tiếp lời: “Bọn ta còn mời một đám bằng hữu đến vui cùng Tứ hiệp!” rồi y đưa tay chỉ, Trần Nguyên Bá kêu hoảng, cái đầu người trên bàn tuy đặt úp xuống nhưng vẻ mặt trông vẫn như còn sống, nhìn kỹ lại thì trong đó có rất nhiều bằng hữu thân thiết của mình. Tát Thiên Thích cúi người nói: “Xin mời Huyền Phong đạo trưởng ngồi ở vị trí đầu tiên, chỗ này có bọn Ngũ Hổ Đao Mã Côn bồi tiếp, xin mời Lang Nguyệt đại sư ngồi ở chỗ thứ hai, chỗ này có bọn Kim Thương Từ Ẩn Long bồi tiếp, mời Liễu tam ca ngồi ở hướng Tây, ở đây có bọn Hổ Thủy Côn Dương Thiên Bưu bồi tiếp, xin mời Trần tứ ca ngồi ở chỗ phía Đông, chỗ này có bọn Nhật Nguyệt Luân Hoa Tứ Bả bồi tiếp, xin mời! Xin mời ngồi xuống!”

Bọn Mã Côn, Từ Ẩn Long, Dương Thiên Bưu, Hoa Tứ Bả là hào kiệt lừng danh năm tỉnh phía Bắc, những người này nổi danh bởi Đoạn Môn đao, Hổ Thủy côn, Tiểu Kim thương, Nhật Nguyệt luân, cả bốn người đếu là bằng hữu thân thiết nhiều năm của Quan Đông tứ hiệp, không ngờ chết bởi tay của Thần Ma song lão, lại bị cắt đầu làm chum uống rượu để khoản đãi khách. Trần Nguyên Bá không kìm được, lửa giận bốc lên, ông ta trợn tròn mắt đang định quát lên, Huyền Phong đạo trưởng vung cây gậy tỏ ý bảo ông ta tạm thời nhẫn nhịn rồi ngồi xuống, bưng đầu của Mã Côn bỏ vào túi da, miệng nói: “Không dám phiền Mã đại ca bồi tiếp”. Lang Nguyệt thiền sư cũng ngồi xuống bên cạnh, cất thủ cấp của Từ Ẩn Long vào. Liễu Tiên Khai và Trần Nguyên Bá lập tức hiểu ra, biết được dụng ý của đại ca, nếu đã không tránh khỏi một cuộc kịch đấu, vậy trước tiên phải cất thủ cấp của cố nhân, như thế mới hợp lý, thế rồi cả hai người ngồi xuống bỏ đầu của Dương Thiên Bưu và Hoa Tứ Bã vào túi da.

Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích cười ha hả: “Quan Đông tứ hiệp quả nhiên mau mắn, xin mời uống cạn ba chén rồi nói đến chuyện chính!” y vừa nói vừa cùng Tát Thiên Đô uống cạn rượu trong ba cái đầu người, uống xong rồi ném cái đầu người xuống sơn cốc, bật cười ha hả. Quan Đông tứ hiệp ngồi yên chẳng nhúc nhích, Đại Lực Thần Ma nói: “Quan Đông tứ hiệp, xin mời uống rượu!” Huyền Phong đạo trưởng chợt lạnh lùng nói: “Có rượu mà không có thức ăn ngon vẫn chưa đủ! Để bần đạo mượn hoa kính Phật, lấy thức ăn ngon của các người kính lại hai vị”. Cả hai tên ma đầu không biết ông ta đang giở trò gì. Khi mở mắt ra nhìn thì Huyền Phong đạo trưởng chợt phất ông tay áo, từng cặp tai người đầm đìa máu tươi rơi xuống, số lỗ tai này đều được cắt ban nãy, tổng cộng có đến mấy mươi cặp lỗ tai, trong đó đương nhiên cũng có lỗ tai của Long Mộc Công và Lôi Hải Âm. Huyền Phong đạo trưởng đến núi Thái Hàng chỉ nửa ngày mà đã cắt được nhiều lỗ tai như thế, rõ ràng kiếm pháp của ông ta hiểm hóc lanh lẹ lạ thường, cả hai tên ma đầu đều thầm kinh hãi. Đại Lực Thần Ma cười gằng nói: “Hừ, một cái đầu người nhắm cùng hai lỗ tai, vẫn là rượu nhiều thức nhắm ít!” Huyền Phong đạo trưởng cười lạnh nói: “Nếu hai vị chê không đủ, để bần đạo thêm vào”. Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích cười quái dị: “Chúng ta không cần đấu khẩu nữa, hai vị từ xa đến đây nếu chê rượu nhạt, xin mời thấm giọng trước”. Rồi lại bưng một cái đầu người chứa đầy rượu uống ực một ngụm, cười lớn nói: “Đầu người làm chum rượu, uống hết máu kẻ thù!” Trần Nguyên Bá cả giận đứng dậy, Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô cũng vọt tới phía trước, chụp một hòn đá ném về phía Trần Nguyên Bá, cười lớn nói: “Trần tứ ca muốn bỏ cuộc rượu ư? Không được, nhất định phải uống vài chén!” Trần Nguyên Bá buông hai chưởng đẩy vào tảng đá, Tát Thiên Thích quát lớn một tiếng: “Uống rượu!” Trần Nguyên Bá chợt thấy kình phong dồn vào ngực, tảng đá đã dồn về phía mình, ông ta vội vàng ngưng thần vận lực, đẩy tảng đá sang một bên, công phu ngoại gia của hai người đều đã đến mức đăng phong tạo cực, lực lớn vô cùng, cả hai người đều dùng lực, chợt nghe một tiếng ầm vang lên, tảng đá vỡ ra vô số mảnh nhỏ bay trong không trung, Trần Nguyên Bá bị chấn động đến thối lui mấy bước, hai tay tê rần, Tát Thiên Đô vẫn đứng yên, cười ha hả. Chỉ sau một lượt tỉ thí, bề ngoài cả hai bên chẳng hề gì nhưng thực ra Trần Nguyên Bá đã thua nội lực, uy phong của Đơn chưởng khai bi mất trong tay Đại Lực Thần Ma.

Huyền Phong đạo trưởng và Lang Nguyệt thiền sư vẫn ngồi yên, Vạn Lý Truy Phong Liễu Tiên Khai đã đứng dậy. Bát Tý Thần Ma lại hú dài một tiếng, cầm hai cái đầu người thẩy về phía Liễu Tiên Khai, miệng quát: “Xin mời Liễu tam ca uống rượu!” Liễu Tiên Khai đè một chưởng lên mặt bàn, người bắn vọt lên như lò xo, khi đang ở giữa không trung ông ta lộn một vòng hạ xuống giữa trường, hai người lướt vai qua nhau, Liễu Tiên Khai chụp hai cái đầu người, miệng quát lớn: “Xin mời rượu chủ nhân!” rồi ném hai cái đầu người tới, hai cái đầu người của Tát Thiên Thích cũng bay tới, hai cặp đầu người lướt qua nhau, cả hai đều chụp đầu người trong tay, rượu trong đầu người không hề vãi ra ngoài, mỗi bên đều nhảy vọt ba bước nhìn nhau chằm chằm.

Khinh công của Bát Tý Thần Ma vốn đã đến mức đăng phong tạo cực nhưng Liễu Tiên Khai được gọi là Vạn Lý Truy Phong, khinh công hơn y một bậc, Tát Thiên Thích di chuyển thân người trước còn Liễu Tiên Khai thì phóng người sau, cả hai người đồng thời ra đến giữa sân, rõ ràng là Liễu Tiên Khai đã thắng. Tát Thiên Thích nội ngoại kim tu thế nhưng lại thua bởi khinh công bởi vậy mặt đỏ ửng, tay cầm hai cái đầu người bước về phía Lang Nguyệt thiền sư, lại nói: “Xin mời Lang Nguyệt đại sư chén rượu nhạt”. Hòa thượng béo cười ha hả, chụp lấy hai cái đầu người, há mồm hút đánh rột một tiếng, rượu trong đầu người đã vào bụng ông ta, đột nhiên ông ta lại há mồm phun phù ra, Bát Tý Thần Ma đã sớm biết Lang Nguyệt thiền sư có môn tuyệt kỹ này nên ngầm chuẩn bị, ném cái đầu người ra, người cũng bay lướt ra, vòi rượu chỉ bắn ướt dưới bàn chân y. Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô phóng tới, cổ họng của Lang Nguyệt thiền sư kêu lên òng ọc, ông ta cười khà khà nói: “Ta cũng mời ngươi một chén”. Thế rồi lại há mồm ra, tia rượu bắn tứ tán, Tát Thiên Đô chỉ tưởng rằng ông ta đã phun hết rượu, không hề phòng bị, đột nhiên thấy trước mặt một màn trắng xóa, thế là vội vàng giơ hai chưởng bảo vệ mắt, rượu rơi xuống mình y như mưa, áo quần bị tia rượu bắn lỗ chỗ tựa như tổ ông, nếu là võ sĩ bình thường chắc chắn chẳng chịu nổi. Còn Tát Thiên Đô là kẻ mình đồng da sắt, bị tia rượu bắn vào mình mà chỉ như bị kiến cắn. Thế rồi y quát lớn nhảy bổ về phía hòa thượng béo.

Phía bên kia Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích đã tránh được mưa rượu, phóng lướt qua đầu Lang Nguyệt thiền sư, hạ xuống trước mặt Huyền Phong đạo trưởng, vừa lên tiếng nói: “Xin mời Huyền Phong đạo trưởng chén rượu nhạt”. Huyền Phong đạo trưởng đã vung cây gậy hất ngã cái bàn đá, quát: “Cần gì phải mời rượu!” cây trường kiếm trong tay phải vung lên, ánh kiếm quang loang loáng dồn tới. Tát Thiên Thích hú lên một tiếng quái dị, lắc người theo kiếm chiêu của Huyền Phong đạo trưởng, trong chớp mắt đã tránh được bảy tám chiêu hiểm hóc. Lúc này cô bé Phùng Anh trên lưng y đã tỉnh dậy, cô bé chợt khóc lên oa oa. Loạn Phi Phong kiếm pháp của Huyền Phong đạo trưởng hiểm hóc lạ thường, liên tục tấn công mấy chiêu, thế mà chẳng chạm được vào tà áo của Bát Tý Thần Ma. Lúc này thấy đứa bé trên lưng y khóc oa oa, bất giác chậm tay lại. Tát Thiên Thích chợt phóng người vọt lên, mười ngón tay chụp xuống đầu Huyền Phong đạo trưởng! Chiêu này lanh lẹ lạ thường, khi Huyền Phong đạo trưởng vội vàng lách người, y cõng đứa trẻ xoay nửa vòng trên không trung, nhảy bổ tới vung trảo chụp đối phương. Huyền Phong đạo trưởng chưa kịp rút kiếm về, tay trái vung gậy chặn ngang qua, đã bị y chụp trúng. Huyền Phong đạo trưởng vội vàng trở kiếm đánh một vòng, thế là bị y kéo đi hai bước, tay trái cũng đã chụp tới trước mặt, Huyền Phong đạo trưởng vội vàng rùng người ra phía sau, đầu ngửa ra sau, chỉ trong chớp mắt đã có một bóng đen phóng lướt tới. Tát Thiên Thích hú một tiếng, hai tay buông ra, Huyền Phong đạo trưởng lắc lư, còn y đã nhảy lướt ra ngoài.

Chính là:

Song ma gặp Tứ hiệp, đôi bên lộ thần thông.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 4: Gió giật trời cao núi hoang đầy kiếm khí Trăng sáng giữa rừng một mình chống yêu ma

Người vừa phóng tới chính là Liễu Tiên Khai, ông ta thấy kiếm pháp của đại ca hiểm hóc như thế mà vẫn trở tay không kịp, đây là chuyện chưa bao giờ xảy ra, trong lòng thầm lo thế là phóng vọt người tới ứng cứu. Tát Thiên Thích vừa thua một chiêu khinh công, bởi vậy rất hậm hực, vừa thấy Liễu Tiên Khai thì buông ngay Huyền Phong đạo trưởng đuổi theo Vạn Lý Truy Phong. Liễu Tiên Khai biến hai chưởng thành quyền, đấm mười chiếc nhẫn thép xuống đầu Tát Thiên Thích, Tát Thiên Thích vươn hai tay ra, móng tay trên mười đầu ngón tay vươn dài cả thước, chạm với vòng sắt kêu lên leng keng, Liễu Tiên Khai thất kinh, Tát Thiên Thích xỉa thẳng vào hai mắt của Liễu Tiên Khai, Liễu Tiên Khai lộn người tránh qua một bên, Huyền Phong tay phải cầm trường kiếm, tay trái cầm gậy sắt từ sau lưng đâm tới, Tát Thiên Thích nhảy nhót cứ như khỉ vượn, đôi bàn tay sử dụng đủ các thủ pháp xé, cào, điểm, móc cứ như vuốt ưng!

Hai tên ma đầu ở đảo Miêu Ưng hơn ba mươi năm, thường thấy miêu ưng và rắn độc đấu nhau, ngộ ra không ít võ công. Nhất là Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích, y có sở trường khinh công và kình lực nội gia, lại học được thuật phóng vọt người từ trên bổ nhào tấn công xuống của miêu ưng, nên nếu chỉ luận về khinh công y hơi kém nhưng những công phu khác thì y lại hơn Liễu Tiên Khai. Tát Thiên Thích còn luyện được một môn công phu độc môn gọi là Miêu Ưng trảo, mười móng tay của y đã không được cắt mấy mươi năm, mỗi móng tay dài cả thước, cứng như sắt đá, bình thường cuộn lại trong ngón tay, khi dùng thì vươn dài ra biến thành vuốt bé, vả lại còn được tẩm nọc độc của độc xà, nếu bị y cào trúng, trong vòng mười hai canh giờ chắc chắn sẽ toi mạng! Trước đây không biết bao nhiêu hào kiệt giang hồ đã mất mạng bởi mười móng tay của y!

Huyền Phong đạo trưởng đánh cả kiếm lẫn gậy lại ác đấu với Bát Tý Thần Ma, Loạn Phi Phong kiếm pháp hiểm hóc vô cùng, kiếm quang loang loáng, kiếm phong vèo vèo, đôi bên quần thảo đến cát chạy đá bay. Bát Tý Thần Ma vươn dài mười móng tay, triển khai thuật Miêu Ưng Phốc Kích, lúc thì lượn trên không trung như con chim ưng, lúc thì lách người tựa như rắn độc, sử dụng đủ cả các đòn cào, điểm, móc, xé, thân pháp và chưởng pháp đều triển khai, bốn phương tám hướng đều như có bóng của Tát Thiên Thích, đúng là một người mà có đến tám cánh tay, lao bổ tới từ xung quanh! Huyền Phong đạo trưởng thấy lạnh xương sống, Bát Tý Thần Ma quả là một tên cường địch ông ta chưa từng gặp bao giờ trong đời!

Bát Tý Thần Ma cũng thầm thất kinh, y không ngờ Loạn Phi Phong kiếm pháp lại lợi hại đến thế, hai người lấy công đối công, chiêu thế đánh ra chỉ trong chớp mắt. Trong cuộc đại chiến này, chỉ thấy bóng gậy như núi, ánh kiếm như cầu vồng, mười trảo tung bay, nếu không cẩn thận thì chắc chắn sẽ xảy ra cục diện máu đổ đầu rơi! Liễu Tiên Khai thấy sư huynh nguy cấp, vội vàng lướt tới tấn công chớp nhoáng, khi Tát Thiên Thích chụp vào người ông ta, ông ta lại lướt người né tránh, Huyền Phong đạo trưởng nhờ có sư đệ hợp lực mới hơi chiếm được thượng phong. Đang quần thảo hăng máu, chợt nghe Đại Lực Thần Ma và Trần Nguyên Bá cùng kêu lớn một tiếng!

Té ra Tiếu di lặc Lang Nguyệt thiền sư cùng Đơn chưởng khai bi Trần Nguyên Bá vây đánh Đại Lực Thần Ma cũng đã đến lúc mạnh được yếu thua, sinh tử thắng bại. Lang Nguyệt thiền sư phun mấy ngụm rượu làm bộ quần áo của Tát Thiên Đô lủng lỗ chỗ, Tát Thiên Đô gầm lớn một tiếng, vận lực vùng một cái, tấm áo trên người rách thành vô số mảnh nhỏ bay ra, nửa thân người cứ trần trùng trục, lộ ra người làn da đỏ ao, hai tay y gồng lên quát lớn: “Hòa thượng béo nhà ngươi có bao nhiêu ám khí ta cũng không sợ!” rồi đánh ra một chiêu Song long xuất hải, cả hai quyền trái phải đánh vào hai bên huyệt thái dương của Lang Nguyệt thiền sư, Lang Nguyệt thiền sư cười ha hả, người xoay theo chưởng, tháo cây roi mềm xuống quét ra, Trần Nguyên Bá vỗ bốp bốp hai chưởng, đúng là bọ ngựa bắt ve, chim sẻ ở phía sau, cũng đấm vào hai huyệt thái dương của Tát Thiên Đô, Tát Thiên Đô chợt thu trỏ về thúc một cái, lộn người qua tiếp theo đánh ra một chiêu Trửu để kháng chùy, quyền trái từ dưới chỏ đấm ra, Trần Nguyên Bá thối lui nửa bước, chưởng trái hất lên, thuận thế đẩy quyền của y lên, năm ngón tay phải móc vào khớp khuỷu tay của y vặn một cái, đó là tuyệt kỹ bình sinh của Trần Nguyên Bá, là một chiêu sát thủ lợi hại trong thuật Phân cân thác cốt, hễ ông ta vặn một cái thì chắc chắn gân đứt xương nát, dù người có võ công cao đến mức nào, bị ông ta chụp trúng cũng không thể nào kháng cự! Không ngờ Tát Thiên Đô hạ khuỷu tay xuống, tựa như chẳng hề hay biết, chưởng trái đột nhiên đánh ra vù một tiếng, bổ thẳng xuống đỉnh đầu, Trần Nguyên Bá vội vàng buông tay, né tránh không kịp buộc phải hích vai lên, chịu một chưởng của Đại Lực Thần Ma, bởi vậy mới loạng choạng thối lui ra sau. Lúc này Lang Nguyệt thiền sư đánh soạt soạt hai roi, cũng trúng vào hậu tâm của Tát Thiên Đô, Tát Thiên Đô gầm lớn một tiếng, trở tay hớt lại, chụp trúng ngọn roi mềm dùng lực giật một cái, Lang Nguyệt thiền sư bất đồ cũng bị kéo theo, ông ta vội vàng buông tay, Tát Thiên Đô thâu thế không kịp, té sầm xuống đất, Trần Nguyên Bá nhảy bổ tới, Tát Thiên Đô lăn hai vòng dưới đất, ôm chặt Trần Nguyên Bá, tuy bị trúng mấy quyền trên lưng nhưng Trần Nguyên Bá cũng bị y đè xuống dưới! Lang Nguyệt thiền sư thu roi lại, cả kinh thất sắc, thấy hai người cứ ôm nhau lăn lộn ở dưới đất, Lang Nguyệt thiền sư giở roi đứng nhìn, không dám xuống tay. Một hồi sau hai tay Trần Nguyên Bá bị đè xuống, Tát Thiên Đô giơ ngang chỏ chẹn vào ngực ông ta, đang định dùng lực, Lang Nguyệt thiền sư vội vàng quét xuống một roi vào sau ót của Tát Thiên Đô, Tát Thiên Đô bị trúng một roi, đau đớn đến không chịu nổi, ôm Trần Nguyên Bá ném về phía trước rồi bật người dậy, lại ác chiến với Lang Nguyệt thiền sư!

Liễu Tiên Khai thấy thế cả kinh, buông Bát Tý Thần Ma phóng vọt người tới đỡ Trần Nguyên Bá đặt xuống, chỉ thấy Trần Nguyên Bá mặt mày sưng vêu lên, hỏi: “Thế nào?” Trần Nguyên Bá nghiến răng nói: “Chỉ bị ngoại thương!” rồi hai chưởng vung lên tiếp tục nhảy tới! Nhưng lúc này Huyền Phong đạo trưởng và Lang Nguyệt thiền sư đã bị hai tên ma đầu đánh thối lui từng bước.

Trần Nguyên Bá chưa bao giờ bị thất bại đến thế, lửa giận bốc lên ngùn ngụt, thế là lao tới càng hung mãnh hơn, đánh được một chốc, Trần Nguyên Bá lại dùng thủ pháp Phân cân thác cốt, mạo hiểm sáp tới, bóp vào vai của Tát Thiên Đô vặn một cái, nào ngờ Tát Thiên Đô lại tựa như chẳng hề hay biết, giở chưởng lên, đánh Trần Nguyên Bá bổ nhào xuống đất, lớn giọng nói: “Tên tiểu tử nhà ngươi cứ gãi ngứa cho ta!” Trần Nguyên Bá bật người dậy, chẳng nói nên lời.

Tát Thiên Đô mình đồng da sắt, đao thương bình thường chẳng làm gì được y, cả thuật Phân cân thác cốt cũng chẳng đả thương được y. Y chỉ cảm thấy đau nhói khi Lang Nguyệt thiền sư quét roi vào sau ót của y. Lang Nguyệt thiền sư nội công tuy cao nhưng cũng chẳng làm gì được y. Tiếu di lặc chẳng cười ra tiếng, chỉ đành cố gắng chống đỡ, vừa đánh vừa lui!

Sau một hồi ác chiến Trần Nguyên Bá lại chịu một chưởng, thấy đau nhói xương cốt, Huyền Phong đạo trưởng kêu lớn: “Nhị đệ tứ đệ, dời qua bên này, chúng ta sánh vai tác chiến!” Lang Nguyệt thiền sư lại uống một ngụm rượu, phun rượu vào hai mắt của y, Tát Thiên Đô dùng hai chưởng che mắt, thế tấn công hơi chậm lại, Lang Nguyệt thiền sư và Trần Nguyên Bá vội vàng phóng người đến chỗ Huyền Phong đạo trưởng, thế là uy lực tăng lên, Bát Tý Thần Ma lách người thối lui, Trần Nguyên Bá vỗ tới một chưởng, chợt cảm thấy gió quét tới, Tát Thiên Thích đã cắm móng tay vào vai, Huyền Phong đạo trưởng cuộn lại một kiếm, Trần Nguyên Bá nhảy người né tránh, Huyền Phong đạo trưởng lấy ra viên thuốc ném cho Trần Nguyên Bá, cao giọng nói: “Móng tay có độc, mau nuốt vào!” Trần Nguyên Bá thất kinh làm theo lời ông ta, lúc này ở vai đã thấy đau nhói!

Lúc này Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô cũng đã phóng tới, Liễu Tiên Khai nhảy bổ tới tung đòn, Tát Thiên Đô đã bị trúng một đòn trên thiên linh cái, đau như muốn vỡ đầu ra, y vung hai tay đánh bật Liễu Tiên Khai ra đến mấy trượng, Huyền Phong đạo trưởng xỉa kiếm tới cánh tay của Tát Thiên Đô, Tát Thiên Đô gồng lên, mũi kiếm trượt ra, Huyền Phong đạo trưởng kinh hãi, biết công phu ngoại gia của y đã đến mức đăng phong tạo cực, thế là ngầm vận nội lực thừa thế xoáy một cái, Tát Thiên Đô gầm lớn một tiếng, cánh tay đã bị vạch một đường máu thế là nhảy bật ra ngoài! Tát Thiên Thích cũng thừa cơ chụp vào đầu của Huyền Phong, Huyền Phong thu người lại tránh qua, nhưng vai đã bị trúng một trảo của y, bởi vậy ông ta vội vàng nhảy qua một bên nhai thuốc giải độc. Tát Thiên Đô bị trúng một kiếm, cánh tay trái không còn lanh lẹ nữa nhưng vẫn tấn công mạnh mẽ!

Quần thảo một hồi, Huyền Phong đạo trưởng và Trần Nguyên Bá chợt thấy muốn nôn mửa, té ra chất độc tẩm trên móng tay của Tát Thiên Thích được luyện từ nước dãi của loại rắn kim tiền độc địa nhất trên Xà đảo, thuốc của Huyền Phong tuy có thể trị các loại độc bình thường nhưng cũng chỉ có thể ngăn không cho chất độc phát tác, nhưng lúc này chất độc đã khiến cho ruột gan của họ nhộn nhạo cả lên! Hai tên ma đầu một tên giỏi khinh công chuyên tấn công bất ngờ, một tên mình đồng da sắt, lực mạnh vô cùng, cả hai lấy dài bù ngắn, tấn công rất hung mãnh, còn Tứ hiệp tuy mỗi người đều có võ công độc môn nhưng cũng dần dần chống cự không nổi!

Huyền Phong đạo trưởng cố gắng chặn một hồi, miệng ra nôn ra một ngụm nước vàng, Tát Thiên Thích chợt lách người né tránh, phía đạo trưởng chợt kêu lên: “Nhị đệ, tam đệ, nhảy ra khỏi vòng! Nhị đệ dùng rượu phun vào mặt bọn chúng! Tam đệ dùng vòng sắt đánh vào đầu bọn chúng!” Tát Thiên Thích giơ móng tay lên chụp tới, Liễu Tiên Khai và Lang Nguyệt thiền sư đã nhảy vọt ra, Lang Nguyệt thiền sư há miệng phun một cái, hai luồng rượu trắng bay thẳng vào hai mắt của Bát Tý Thần Ma.

Tát Thiên Thích xoay người tránh hai vòi rượu, Lang Nguyệt thiền sư lại há miệng phun ra, hai vòi rượu bắn về phía hai mắt của Tát Thiên Đô, Tát Thiên Đô không giỏi khinh công như anh của mình, thế là vội vàng giơ một tay che mắt, một tay chống địch, vòi rượu bay tới bị bàn tay to bè của y che lại, tia rượu bắn tung tóe, rơi lên mình y, y có mình đồng da sắt đương nhiên không sợ. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc này, trường kiếm của Huyền Phong đạo trưởng đã đâm ra soạt soạt ba kiếm, Tát Thiên Đô nhảy nhót né tránh đến luống cuống chân tay, bốp một tiếng, trên đầu đã trúng một quyền của Liễu Tiên Khai, những kẻ luyện công phu ngoại gia, những nơi như mặt, đầu, huyệt thái dương, hạ âm là tương đối yếu ớt, tuy không đến nỗi bị đánh một đòn đã mất mạng nhưng nếu bị người ta dùng thủ pháp nặng của nội gia đánh vào thì sẽ đau đớn khó chịu! Tát Thiên Đô tóe đom đóm, đau đến nỗi kêu lên oai oái. Huyền Phong đạo trưởng đa đâm kiếm đến chỗ yếu hại, Tát Thiên Thích vội vàng lướt tới, mười ngón tay từ phía sau chụp tới, Huyền Phong đạo trưởng xoay người nhưng lại lui ra phía sau, khi Tát Thiên Đô lao tới bổ chưởng xuống và Tát Thiên Thích phóng lên, Lang Nguyệt thiền sư lại phun hai vòi rượu bắn vào mắt của hai người!

Trong bốn người, nội công của Lang Nguyệt thiền sư chỉ kém Huyền Phong đạo trưởng, công phu phun rượu của ông ta đã luyện đến mức xuất thần nhập hóa, ông ta có thể phun rượu thành vòi, đồng thời một lần có thể phun được nhiều vòi, lại có thể phun rượu thành đạn, chuyên đánh vào hai mắt của kẻ địch. Hai tên ma đầu tuy là nhân vật có công phu tuyệt đỉnh nhưng cũng lúng túng khi đối phó với loại ám khí kỳ dị này.

Thế là tình thế thay đổi, lúc nãy hai tên ma đầu chiếm thượng phong nhưng giờ đây Tứ hiệp đã chuyển khách thành chủ, mỗi người đều thi triển tuyệt kỹ độc môn khiến cho hai tên ma đầu luống cuống, trong lúc kịch chiến Tát Thiên Thích phải liên tục né tránh đạn rượu và nhẫn thép, y vung tay chụp vào mạch môn của Trần Nguyên Bá, kiếm pháp của Huyền Phong đạo trưởng nhanh nhẹn tuyệt luân, ông ta liên tục sử dụng Truy phong bát kiếm, mũi kiếm không rời những chỗ yếu hại của Bát Tý Thần Ma. Tát Thiên Thích buộc phải vận dụng võ công thượng thừa Miêu Ưng trảo, chợt phóng vọt người lên, chụp xuống một trảo khiến Liễu Tiên Khai hoảng hốt thối lui, rồi y lộn người xuống đất, đang định kêu Tát Thiên Đô thối lui, lúc này cô bé Phùng Anh lại khóc lên oa oa! Tát Thiên Thích khựng người! Lang Nguyệt thiền sư phun rượu thành vòi bay thẳng tới trước mặt y! Tát Thiên Thích xoay người né tránh, Huyền Phong đạo trưởng xỉa mũi kiếm tới phía trước, ánh thanh quang đã đâm xéo vào cổ họng của y, Tát Thiên Thích vội vàng cúi đầu khom người, kiếm phong lướt qua mát rượi, Tát Thiên Thích lại lách người theo bản năng, thu nhỏ cơ bắp vào, y vốn đoán rằng khó có thể né được kiếm này nên vận khí thu cơ bắp, hy vọng giảm bớt tổn thương. Không ngờ chỉ trong chớp mắt, Phùng Anh kêu lên, số là Huyền Phong đạo trưởng đã đâm kiếm tới, Tát Thiên Thích cúi người né tránh, lộ ra mặt của Phùng Anh, chiêu kiếm này vốn đâm vào cổ họng của Tát Thiên Thích, Phùng Anh xoay mặt qua hướng thẳng vào mũi kiếm, cô bé thấy ánh kiếm loang loáng bởi vậy mới khóc òa lên! Huyền Phong khó khăn lắm mới đánh ra được chiêu kiếm này nhưng bị Phùng Anh chặn lại, dù họ có thù sâu như biển với hai tên ma đầu nhưng làm sao ông ta có thể nỡ lòng đâm tới! Huyền Phong chỉ hơi chần chừ dừng kiếm lại, Tát Thiên Thích đã trở tay chụp vào cổ tay của ông ta, thanh trường kiếm rơi xuống đất! Tát Thiên Đô thấy đại ca đắc thủ, y hú dài một tiếng lại nhảy bổ theo, chém vù xuống một chưởng, lúc nãy y bị Huyền Phong đâm trúng một kiếm nên nay dốc hết toàn lực quyết giết cho bằng được Huyền Phong! Trần Nguyên Bá không nề sinh tử lao tới liều mạng hai chưởng đẩy ra, ba chưởng giao nhau kêu bốp một tiếng, chưởng trái chịu lực nặng hơn, xương cổ tay trái gãy lìa, cánh tay sụi xuống! Dư lực của Tát Thiên Đô vẫn chưa hết, tiếp tục đè xuống Huyền Phong kêu bốp một tiếng, đánh Huyền Phong bật ra hơn một trượng! Tát Thiên Đô đẩy Trần Nguyên Bá ra, lao người tới toan lấy mạng Huyền Phong!

May mà Huyền Phong đạo trưởng nội công thâm hậu, lại được Trần Nguyên Bá chặn trước một chưởng, bởi vậy chưởng lực của Tát Thiên Đô đã giảm đi một nửa, bởi vậy ông ta mới không bị nội thương nhưng người cũng đứng không vững, Liễu Tiên Khai và Lang Nguyệt thiền sư nhảy bổ theo, chặn Bát Tý Thần Ma lại, bởi vì hai người biết thân pháp của Tát Thiên Thích nhanh như gió, nội lực thâm hậu, hơn hẳn Tát Thiên Đô. Sau khi Huyền Phong bị thương, vẫn còn có thể chống nổi Tát Thiên Đô nhưng không thể là đối thủ của Tát Thiên Thích nữa nên chặn Tát Thiên Thích, để mặc Tát Thiên Đô đuổi theo Huyền Phong.Huyền Phong đạo trưởng đã trúng độc trảo, mạch môn tay phải đau rát, chắc là bị thương cũng không nhẹ, thấy Tát Thiên Đô nhảy bổ tới như hung thần ác sát, ông ta nổi cáu quát lớn: “Đạo gia liều với ngươi!” thế rồi ngầm vận đủ nội lực vung cây gậy lộn người bổ tới, Tát Thiên Đô cậy mình đồng da sắt, không thèm né tránh, phát chưởng ra đánh vù một cái rồi lướt người tiến lên, nhưng bốp một tiếng, ở be sườn đã trúng một gậy, đây vốn là chỗ yếu hại, bởi vậy y trúng một gậy đau nhói đến tận xương, dù công phu ngoại gia đến mức đăng phong tạo cực cũng chịu không nổi, phun ra một ngụm máu tươi, hai que xương sườn đã gãy! Huyền Phong đạo trưởng nhảy bổ tới quét gậy như gió, Tát Thiên Đô không dám trân mình ra chịu đựng nữa, vội vàng né tránh liên tục, dùng Đại Lực Kim Cương thủ gạt gậy của ông ta ra, đang lúc kịch chiến đôi bên đều thối lui, Tát Thiên Đô cảm thấy lực gậy của Huyền Phong đạo trưởng chẳng phải tầm thường, Huyền Phong đạo trưởng cũng cảm thấy chưởng lực của y như sấm sét, đôi bên không dám khinh địch. Đang lúc kịch chiến, Huyền Phong đạo trưởng vận đủ nội lực đánh vù ra mấy gậy, Tát Thiên Đô nhảy chồm chồm né tránh, Huyền Phong đạo trưởng quét một gậy trúng tảng đá bên cạnh, đá vụn bay lên tung tóe, chợt một người té xuống, người ấy cao giọng kêu: “Huyền Phong đạo trưởng, hãy mau cứu tôi!”

Người này chính là Đường Hiểu Lan, chàng ta bị Tát Thiên Thích điểm trúng ma huyệt, đặt nằm ở giữa hai kẽ đá chẳng thể nào nhúc nhích được, chàng ta chứng kiến cuộc ác chiến mà trợn mắt há mồm, tiếng quát tháo dần dần đến gần, đột nhiên tảng đá vỡ ra, người bị chấn động, huyết mạch chợt thông suốt, té ra lực chấn động từ tảng đá truyền vào người khiến huyệt đạo của chàng tự giải.

Huyền Phong đạo trưởng kêu: “Ngươi là ai?” Đường Hiểu Lan phóng vọt người lên, trả lời: “Tôi là đứa trẻ mà Châu Thanh đã nuôi!” Huyền Phong kêu ối chao một tiếng, đánh ra vù vù mấy trượng, đẩy lui Tát Thiên Đô, phóng vọt người tới: “Ồ! Té ra ngươi ở đây!” Đường Hiểu Lan đưa cây Du Long kiếm cho Huyền Phong, nói: “Đạo trưởng, sử dụng thanh bảo kiếm này!”

Mười năm trước Châu Thanh đã từng gặp Huyền Phong đạo trưởng ở Quan Đông. Châu Thanh trốn chạy hơn ba mươi năm trên giang hồ, nhiều lần trải qua nguy hiểm biết mình sớm muộn gì cũng mất mạng nên đã nhờ Huyền Phong đạo trưởng ngày sau chiếu cố cho ái đồ duy nhất của mình, lúc đó Huyền Phong hỏi: “Người trẻ tuổi tướng mạo dễ thay đổi, tôi làm sao nhận ra hắn?” Châu Thanh trầm ngâm rồi nói: “Rất dễ dàng, cứ thấy thiếu niên nào sử dụng Du Long kiếm thì chính là hắn!”

Sau đó Châu Thanh ác đấu với bọn Huyết Trích Tử ở kinh sư, không địch nổi nên bỏ chạy đến Hà Nam. Quan Đông tứ hiệp cũng nghe chuyện này, Huyền Phong đạo trưởng hẹn bốn nghĩa đệ đuổi theo, nào ngờ đến Mạnh Tân thì gặp hào kiệt ở núi Thái Hàng chạy ra, bởi vậy mới biết hai tên ma đầu đến núi Thái Hàng làm mưa làm gió, rất nhiều bằng hữu chết thảm bởi hai kẻ này, sự việc gấp gáp nên chỉ đành chạy lên núi chặn hai tên ma đầu! Lại không ngờ trong lúc kịch chiến Đường Hiểu Lan đã xuất hiện!

Huyền Phong đạo trưởng nhận thanh bảo kiếm, búng hai cái, hú dài một tiếng, vui mừng nói: “Ngươi cứ xông về phía ta!” Bát Tý Thần Ma sau một lượt tấn công, đánh lui Lang Nguyệt thiền sư và Liễu Tiên Khai, rít lên: “Huyền Phong ác đạo, ngươi dám cướp đồ nhi của ta!” rồi phóng vọt người lên, sử dụng tuyệt kỹ Lăng Không Phốc Kích, sau ba lần trồi hụp đã vọt lên cao đến hơn ba trượng, vươn mười ngón tay chụp xuống đầu Huyền Phong! Huyền Phong gạt ngang cây Du Long kiếm trên không trung, Tát Thiên Thích đang lơ lửng trên không trung xoay một vòng, vẫn tiếp tục chụp xuống, thuật Miêu Ưng Phốc Kích của y trăm lần không sai một, vốn tưởng rằng có thể né được trường nhưng nào ngờ cây Du Long kiếm là báu vật, ánh kiếm quang loang loáng, kiếm phong loang ra đến cả nửa thước, năm móng tay phải của Tát Thiên Thích bị cắt đứt một nửa. Tát Thiên Thích tức giận gầm lớn một tiếng, lộn người hạ xuống đất, tay phải chụp về phía Huyền Phong, tay trái bấu vào vai của Đường Hiểu Lan, Huyền Phong múa kiếm như gió từ phía dưới chém ngược lên trở lại, Tát Thiên Thích vội vàng rụt tay phải, tay trái vẫn chụp vào vai của Đường Hiểu Lan. Huyền Phong đột nhiên xoay cổ tay phải, cây Du Long kiếm đánh ra một chiêu Kim điêu triển xí, chém ngang vào cổ tay của Tát Thiên Thích, Tát Thiên Thích tựa như sợ cây bảo kiếm, xoay người một vòng như gió xoáy, cây trường kiếm của Huyền Phong đột nhiên đâm xuống be sườn của y, trảo trái của y cũng tựa như mở ra! Đường Hiểu Lan sắc mặt trắng bệt, kêu ối chao một tiếng nhảy ra!

Huyền Phong đạo trưởng chụp kiếm, liên tiếp đánh ra mấy chiêu, Tát Thiên Thích thi triển thuật Miêu Ưng Phốc Kích né chiêu xuất chiêu, công lực của Tát Thiên Thích hơn Huyền Phong, hơn nữa Huyền Phong bị thương, vốn chẳng thể chống cự, nhưng ông ta có bảo kiếm nên chiếm lại phần tiện nghi, Tát Thiên Thích thường phải né tránh lưỡi kiếm, không dám sấn tới sát. Trong lúc này, Liễu Tiên Khai nhảy bổ tới phụ với Huyền Phong đạo trưởng, chặn thế công hiểm hóc của Tát Thiên Thích, Huyền Phong đạo trưởng cầm gậy trên tay phải, vội vàng lấy ra hai viên thuốc, ném một viên cho Đường Hiểu Lan, còn mình cũng uống một viên, trong chớp mắt, Liễu Tiên Khai lại bị Tát Thiên Thích đẩy lui! Còn Tát Thiên Đô cũng đánh Lang Nguyệt thiền sư và Trần Nguyên Bá luống cuống, lúc này Huyền Phong đã thấy cổ tay phải đau hơn trước, ruột gan cồn cào, khí từ dưới đơn điền xông lên trên cổ!

Công lực của Đường Hiểu Lan kém hơn, chàng đã bị trúng độc trảo, tuy nhai thuốc giải nhưng cũng không chịu nổi, chỉ cảm thấy đầu váng mắt hoa, lảo đảo như muốn ngã xuống, Lang Nguyệt cũng trúng một trảo, Huyền Phong thấy bốn người phe mình đã bị thương mất ba, nếu cứ đánh tiếp chắc chắn sẽ thất bại, khi ông ta suy tính, Tát Thiên Thích lại thi triển thuật Miêu Ưng Phốc Kích, phóng vọt người chụp xuống Đường Hiểu Lan. Huyền Phong đạo trưởng quát lớn một tiếng, cây Du Long kiếm hất lên, thừa lúc Tát Thiên Thích đã xoay tròn né tránh trên không trung, tay trái ném cây gậy ra, đó chính là tuyệt chiêu cứu nguy trong Phục Ma quải pháp của ông ta, tên gọi là Bạch hồng quán nhật, Tát Thiên Thích chưa kịp chạm đất, đã vung chưởng gạt ngang bốp một tiếng, lòng bàn tay đã bị cây gậy đâm vào sâu nửa tấc, đau đến thấu xương, y vội vàng lộn người trên không trung, Phùng Anh lại khóc òa lên, lúc này tiếng khóc của cô bé đã khàn khàn! Huyền Phong đạo trưởng vội vàng đỡ Đường Hiểu Lan dậy, giao cho Liễu Tiên Khai nói: “Tam đệ, dắt hắn chạy về phía Tây nam, lên Mang Sơn!” Liễu Tiên Khai lấy làm lạ, không biết tại sao phải lên Mang Sơn! Nhưng lúc này không thể hỏi nhiều, thế là cõng Đường Hiểu Lan chạy đi, Huyền Phong đạo trưởng lại nói: “Chia nhau chạy, cứ mặc ta!” Liễu Tiên Khai xưa nay kính phục sư huynh, không nói một lời, thi triển tuyệt kỹ Vạn Lý Truy Phong chạy xuống núi. Huyền Phong đạo trưởng cầm kiếm đoạn hậu, yểm hộ cho Lang Nguyệt thiền sư và Trần Nguyên Bá chạy xuống núi ở một đường khác!

Tát Thiên Thích lấy thuốc bôi vết thương, khi băng bó xong thì Tứ hiệp đã chia nhau hai đường bỏ chạy. Tát Thiên Thích nhíu mày, nói với Tát Thiên Đô: “Ngươi đuổi theo tên lỗ mũi trâu, ta đi bắt tên tiểu tử!” Tát Thiên Thích tuy căm hận Huyền Phong nhưng y nghĩ ba người phía Huyền Phong đều đã bị thương, sớm muộn gì chất độc cũng phát tác, công lực của Tát Thiên Đô tuy kém hơn nhưng chỉ bị ngoại thương, có thể lấy một chọi ba. Còn Liễu Tiên Khai khinh công trác tuyệt, bảo Tát Thiên Đô đuổi theo chắc chắn chẳng kịp ông ta, vả lại Đường Hiểu Lan lại là người có tư chất tốt, Tát Thiên Thích đang muốn thâu chàng làm đồ đệ!Khoan hãy nói chuyện Huyền Phong đạo trưởng. Lại nói Tát Thiên Thích chạy như bay xuống núi, đuổi theo Vạn Lý Truy Phong, khinh công của hai người không hơn kém nhau bao nhiêu, Liễu Tiên Khai cõng trên lưng một người lớn còn Tát Thiên Thích chỉ cõng một đứa trẻ, so ra Liễu Tiên Khai hơi thiệt hơn. Nhưng dù như thế, Liễu Tiên Khai hơn được ở chỗ chạy trước, Tát Thiên Thích đuổi theo cả nửa ngày mà chẳng thấy bóng dáng ông ta.

Mang Sơn ở phía Tây Hà Nam, là nhánh phía Bắc của dãy núi Tần Lĩnh, cách núi Thái Hàng bốn năm trăm dặm. Trưa hôm sau, Liễu Tiên Khai đến Tân An, ra khỏi Tân An là Hàm Cốc quan, Mang Sơn đang ở trước mặt. Vết thương của Đường Hiểu Lan phát tác, chất độc công tâm, khi đến Tân An đã bất tỉnh nhân sự. Liễu Tiên Khai cõng chàng vào khách điếm, trích máu giải độc cho chàng, chàng mới dần dần tỉnh lại. Liễu Tiên Khai vốn muốn tránh nguy hiểm trong khách điếm này, đợi Tát Thiên Thích chạy qua rồi mới lộ mặt, không ngờ đến nửa đêm chợt nghe bên ngoài khách điếm có tiếng trẻ con khóc, vạch rèm ra nhìn thì quả nhiên Bát Tý Thần Ma đang cho Phùng Anh ăn cháo ở ngoài, thì ra tên ma đầu này cũng ở trong khách điếm. Liễu Tiên Khai vừa lộ mặt, Tát Thiên Thích đã nhìn thấy. Y buộc Phùng Anh lên lưng mình rồi chạy ra, Liễu Tiên Khai quay vào phòng chụp Đường Hiểu Lan, đánh vỡ khung cửa sổ phóng tọt ra ngoài, Tát Thiên Thích đá cửa phóng, cũng nhảy ra cửa sổ phía sau, chủ khách điếm chạy theo la toán lên: “Bắt trộm!” lúc này cả hai người đều đã chạy ra đường!

Tân An là một trấn nhỏ, trời chưa tối, người trên đường vẫn còn đông đúc. Hai người rượt đuổi nhau trên đường phố, ai nấy đều nhốn nháo cả lên, Tát Thiên Thích lòng nôn nóng như lửa đốt, xô người đi đường té chổng cẳng, một hồi sau Liễu Tiên Khai đã chạy ra ngoại ô. Tát Thiên Thích tức giận đến cùng cực, thi triển khinh công độc môn đuổi theo Liễu Tiên Khai, mắng lớn ở sau lưng: “Ngươi có chạy đằng trời, lão tử cũng moi ngươi ra!” Liễu Tiên Khai chẳng nói một lời, thi triển tuyệt kỹ truy phong, chạy như bay trên suốt đoạn đường, qua mấy ngày đã bỏ Bát Tý Thần Ma ở phía sau.

Hoàng hôn buông xuống, trăng dần dần lên cao. Liễu Tiên Khai nghe ở phía xa có tiếng nước vỗ vào bờ oàm oạp, lúc đó mới biết mình đến bên bờ Hoàng Hà. Ngọn Hy Sơn và Mang Sơn nằm gần sông Hoàng Hà, hai núi này giăng ngang, tạo thành thế cậy dốc người xưa gọi là “Hy hàm thiên hiểm”. Liễu Tiên Khai ngẩng đầu lên nhìn, ngọn Mang Sơn đang sừng sững ở trước mặt, hai ngọn núi dựa vào nhau, vách dựng thẳng đứng, mặt Nam của núi là sông Hoàng Hà, Liễu Tiên Khai thầm mừng trong lòng, ngọn núi này rất hiểm trở, khinh công của Tát Thiên Thích lại không bằng ông ta, chắc chắn y chẳng đuổi theo kịp.

Liễu Tiên Khai leo lên ngọn ở phía Đông, càng đi sâu vào cây cối càng um tùm, gai góc giăng đầy lối, Liễu Tiên Khai nhón chân bước đi để không lưu lại dấu vết, đi một hồi thấy ở phía trước mặt có vách núi sừng sững, đá nhọn lô nhô, Liễu Tiên Khai cõng một người lớn, khó khăn lắm mới leo lên được bảy tám trượng. Lên đến bên trên chỉ thấy quái thạch lô nhô, trong đêm tối nhìn càng rùng rợn đáng sợ hơn. Liễu Tiên Khai cố giương mắt lên nhìn tình thế xung quanh, tiếp tục vòng qua những tảng đá lớn đi sâu vào bên trong.

Đi một hồi địa thế trước mặt chợt mở rộng, té ra đó là một sơn cốc lọt thỏm ở giữa, trên vách núi có một dòng thác đổ xuống, tia nước bắn tung tóe tựa như châu ngọc dưới ánh trăng. Liễu Tiên Khai chẳng còn lòng dạ nào thưởng thức, ông ta định vượt qua sơn cốc tiếp tục len lên trên, vừa chạy đến dòng thác chợt thấy có một người xuất hiện, Liễu Tiên Khai vừa nhìn thì ngẩn người ra!

Đó là một nàng thiếu nữ dung nhan tuyệt sắc, mặt trái xoan, đôi mắt to tròn, chân mày như vẽ, trông rất thanh tú, Liễu Tiên Khai không ngờ ở nơi núi rừng hoang sơ lại có một trang giai nhân. Nàng thiếu nữ dịu dàng hỏi: “Xin chào quý khách, trong đêm tối mà ngài lên núi làm gì thế?” Liễu Tiên Khai cố trấn tĩnh, chậm rãi đáp: “Cô nương, cứ mặc ta!” nàng thiếu nữ nhoẻn miệng cười, nói: “Ta cứ thích lo chuyện bao đồng đấy!” nói chưa dứt lời đã tung người vọt tới, gió núi thổi tới khiến tà áo nàng bay phất phới trông giống như một thiên tiên từ trên không giáng xuống, đứng chặn trước mặt Liễu Tiên Khai. Khinh công của nàng đúng là siêu phàm thoát tục, Liễu Tiên Khai tuy được người ta gọi là Vạn Lý Truy Phong nhưng cũng không khỏi thầm thán phục!

Liễu Tiên Khai chắp tay lại vái một cái, nói: “Tôi biết cô nương võ công tuyệt thế, xin đừng làm khó kẻ đang gặp nguy như tôi!” nàng thiếu nữ trợn tròn mắt, làn thu ba lóng lánh, ngạc nhiên nói: “Ồ, người đang gặp nguy hiểm? Tại sao đang gặp nguy hiểm? Xin hãy nói kỹ!” Liễu Tiên Khai lo lắng lạ thường, nói: “Kẻ địch sắp đuổi tới đây, cô nương, xin hãy buông tha cho tôi!” nàng thiếu nữ nói: “Không được!” từ xa vọng lại tiếng hú quái dị, Liễu Tiên Khai không khỏi bực bội, hai chân điểm một cái phóng vọt ra, nào ngờ vừa hạ xuống đất nàng thiếu nữ ấy đã nhoẻn miệng cười giơ tay chặn trước mặt ông ta!

Liễu Tiên Khai không ngờ khinh công của mình lại kém hơn một nàng thiếu nữ, lại lướt người phóng vọt lên, nào ngờ vừa mới hạ xuống đất thì thiếu nữ ấy đã chặn trước mặt, nàng nhoẻn miệng cười nói: “Ông cõng theo một người thi triển thuật khinh công rất khó khăn, hãy để tên này xuống!” Liễu Tiên Khai bình sinh lấy làm tự hào về khinh công của mình, lòng tranh thắng chợt nổi lên, ông ta đặt Đường Hiểu Lan xuống đất, vung hai tay phóng lướt người lên như chim hạc, bên tai nghe tiếng gió vù vù, lên đến đỉnh núi, nhưng nàng thiếu nữ vẫn lên trước ông ta một bước, nàng nhẹ nhàng đặt một người trên lưng xuống, nói: “Thế nào?” té ra nàng đã cõng Đường Hiểu Lan trên lưng mình, rồi lại thi triển khinh công, Liễu Tiên Khai đương nhiên phải nhận thua! Ông ta bất đồ thấy nhụt chí, chép miệng than: “Thôi đi, thôi đi, tôi chỉ tưởng rằng khinh công trùm đời, không ngờ trên đời lại có người giỏi hơn!” nàng thiếu nữ cười nói: “Coi như ông cũng không tệ!” lúc này độc trong người Đường Hiểu Lan đã phát tác, toàn thân mềm nhũn nhưng vẫn còn tri giác, chàng được nàng thiếu nữ cõng trên lưng lướt lên đỉnh núi tựa như đạp gió cỡi mây, chàng mở to đôi mắt nhìn nàng ta sững sờ, nàng thiếu nữ dung quang sáng ngời, Đường Hiểu Lan không khỏi kêu lên: “Cô nương là người hay thần tiên thế?” nàng thiếu nữ bật cười, chợt nhíu mày nói: “Sao ngươi bị thương nặng đến thế!” tiếng hú càng lúc càng gần, Liễu Tiên Khai nhảy bật dậy nói: “Ma đầu đã đến, hãy buông tha cho tôi!” bóng đen ở ngoài cốc càng lúc càng lớn, trong chớp mắt Bát Tý Thần Ma đã xuất hiện, lớn giọng nói: “Liễu Tiên Khai, ngươi có chạy đi đằng trời ta cũng đuổi kịp!” Liễu Tiên Khai vội vàng nói: “Cô nương, buông tha cho tôi!” nàng thiếu nữ kéo Đường Hiểu Lan qua một bên, hỏi: “Có phải người này đã hại ngươi không?” Đường Hiểu Lan chỉ Bát Tý Thần Ma nói: “Chính là y!” nàng thiếu nữ tức giận nói: “Được, ta sẽ đâm y một kiếm!” rồi nàng trao Đường Hiểu Lan cho Liễu Tiên Khai, nói: “Bảo vệ cho y, không cần phải chạy”. Rồi nàng xoay người lướt xuống sơn cốc trở lại.

Tát Thiên Thích trầm giọng quát: “Ả nha đầu nhà ngươi mau mau tránh qua một bên, ta không muốn hại ngươi!” Tát Thiên Thích giết người không chớp mắt, chỉ vì thấy nàng thiếu nữ xinh đẹp lạ thường, trong lòng hơi tiếc nuối. Nàng thiếu nữ cười nói: “Chưa chắc ngươi có thể hại được ta!” Tát Thiên Thích lướt người lên, đang định đề khí phóng vọt lên đỉnh núi, không ngờ chân chưa chạm đất, giọng nói trong trẻo của nàng thiếu nữ đã vang lên bên tai: “Không được lên!”

Tát Thiên Thích tức giận nói: “Được lắm, chính là ngươi đã chán sống, đừng trách ta!” rồi mười ngón tay vung ra chụp xuống, nàng thiếu nữ cười khanh khách, chỉ trong chớp mắt đã mất dạng! Tát Thiên Thích giơ chân trái hộ thân, chưởng phải lại chụp theo tiếng cười! Nàng thiếu nữ quát: “Chiêu số thật độc!” ánh thanh quang lóe lên, kiếm đã rút ra khỏi vỏ, nàng đâm soạt soạt hai kiếm vào ấn đường của Tát Thiên Thích, kiếm pháp vừa nhanh vừa chuẩn, tựa như còn hơn cả Huyền Phong, Tát Thiên Thích chợt kinh hãi, biết rằng đã gặp kình địch, quát lên một tiếng: “Hay lắm!” rồi lách xéo qua, đột nhiên lộn người tránh hai nhát kiếm. Y cũng không hề chậm trễ, nhân lúc nàng thiếu nữ vừa thâu kiếm thế, kiếm chiêu chưa kịp thay đổi, đã nhảy bổ theo, chưởng phải hất vào cùi của nàng, tay trái chụp vào be sườn. Liễu Tiên Khai thấy thế mà kinh tâm khiếp đảm!

Chính là:

Tuyệt đại phong hoa kỳ nữ tử, chỉ dùng một kiếm đấu thần ma.

Muốn biết hai người thắng bại như thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Chương 5: Thiết Chưởng Thần Đạn danh sư truyền tuyệt kỹ Tình yêu nảy nở ngọc nữ giả hờn ghen

Mười ngón tay cứ như móc câu, kiếm quang tựa như tia lửa, Liễu Tiên Khai rõ ràng đã nhìn thấy Bát Tý Thần Ma chụp vào be sườn của nàng thiếu nữ, không biết thế nào mà đột nhiên y gầm lên một tiếng phóng vọt người lên cao hơn một trượng, lướt ra ngoài. Thân pháp của y vẫn còn lanh lẹ, tựa như không phải bị thương, ông ta không đoán được tại sao y đã sắp đắc thủ mà lại thối lui! Khi nhìn lại nàng thiếu nữ, chỉ thấy nàng nắm kiếm quyết trên tay trái, tay phải cầm cây bảo kiếm chỉa xéo về phía trước, sắc mặt ngưng trọng, nhìn Tát Thiên Thích đăm đăm tựa như rất căng thẳng. Tát Thiên Thích vung hai tay, ánh mắt quắc lên, nhìn nàng thiếu nữ, không ai dám nhúc nhích. Liễu Tiên Khai rất lấy làm lạ.

Liễu Tiên Khai không biết rằng, trong khoảnh khắc như điện xẹt lúc nãy, cả hai bên đã giao nhau mấy chiêu, Bát Tý Thần Ma Tát Thiên Thích chụp tới một trảo, đoán rằng thế nào cũng trúng, nào ngờ móng tay chỉ chạm vào gấu áo của nàng. Nàng thiếu nữ không hề nhúc nhích, chỉ hóp ngực thu bụng, giả sử móng tay của Tát Thiên Thích dài hơn nửa tấc thì có thể dồn lực vào móng tay chụp vào ngực của nàng, nhưng cánh tay của Tát Thiên Thích đã vươn ra hết cỡ, chẳng thể nào dồn lực nữa nên hụt mất nửa tấc, mũi kiếm của nàng thiếu nữ cũng đã chém xéo tới. Tát Thiên Thích thấy trên đầu mát rượi, vội vàng trầm hai tay xuống đầu ngửa ra phía sau, khiến cho nàng ta chẳng thể nào đâm trúng thế là thoát khỏi hiểm nguy. Nhưng dù như thế, lọn tóc dài rối bời trên đầu cũng bị chém mất một mảng!

Nàng thiếu nữ cũng thầm kinh hãi, nàng tự tin Huyền Nữ kiếm pháp của mình đã đến mức xuất thần nhập hóa, không ngờ kẻ địch này có thể thoát được. Nàng thầm nhủ: “Bát Tý Thần Ma quả nhiên danh đồn không ngoa, chả trách nào sư phụ bảo mình phải để ý!”

Hai người đều tập trung tinh thần, tìm thời cơ đánh địch, cả hai bên đều không dám ra đòn trước. Một hồi sau, thiếu nữ chợt bật cười nói: “Tiếp nào!” trong khoảng thời gian chỉ một chớp mắt, Tát Thiên Thích phóng vọt lên, mười ngón tay chụp xuống, y muốn nhân lúc nàng thiếu nữ phân tâm mà đánh ngã nàng. Không ngờ nàng thiếu nữ chỉ muốn dụ y ra đòn trước, nàng đã sớm phòng bị, cây bảo kiếm vung lên, múa thành một vòng tròn trên đỉnh đầu, Tát Thiên Thích vội vàng xoay người, hai bên chạm nhau một chiêu, Tát Thiên Thích lại hạ chân xuống đất, phát động thế tấn công, lúc này đòn thế của y còn hung hiểm hơn khi đại chiến với Quan Đông tứ hiệp nhiều, Liễu Tiên Khai thấy thế mà thầm thất kinh, nàng thiếu nữ thì khí định thần nhàn, kiếm quang loang loáng, tá áo phất phới. Trong lúc quần thảo kịch liệt mà nàng vẫn mỉm cười, kiếm chiêu chợt thay đổi, ánh hàn quang bắn ra xung quanh, lúc tụ lúc tán, trông chẳng hề hiểm hóc tí nào mà tựa như nước chảy mây bay, nhẹ nhàng như én liệng giữa mùa xuân! Té ra nàng thiếu nữ dụ y ra đòn trước sau đó mới hạ nhuệ khí của y, một lát sau Tát Thiên Thích đã bị nhốt trong luồng kiếm quang, phải liều mạng khổ đấu! Liễu Tiên Khai lúc đó mới thở phào, bình tĩnh trở lại thầm nhủ: “Kiếm pháp của đại ca đã là tuyệt kỹ hiếm có, hình như nàng thiếu nữ này còn hơn cả đại ca mình, không ngờ nàng tuổi tác còn trẻ mà lại luyện được đến mức này!” rồi chợt giật mình: “Đại ca bảo mình tránh lên Mang Sơn, chả lẽ có liên quan đến nàng thiếu nữ này”. Đang lúc suy nghĩ, từ xa lại vọng đến một tiếng hú quái dị!

Liễu Tiên Khai nghe rất rõ ràng, tiếng hú này là của Đại Lực Thần Ma Tát Thiên Đô, trong lòng thầm lo, nàng thiếu nữ chợt quát lên: “Trúng!” khi nhìn lại thì cuộc ác đấu đã phân thắng bại! Tát Thiên Thích nhảy ra khỏi trường, trên vai máu tuôn xối xả. Đường Hiểu Lan kêu lên: “Bảo y bỏ đứa trẻ trên lưng xuống!” tiếng kêu chưa dứt, Tát Thiên Đô đã xuất hiện ở nơi sườn núi.

Tát Thiên Thích thấy em mình tới, trong lòng cả mừng, chẳng màng đến vết thương lại nhảy bổ tới, Tát Thiên Đô thấy thế gầm lớn một tiếng, vội vàng vung quyền đến trợ công. Nàng thiếu nữ xỉa thanh kiếm tới phía trước, đâm thẳng tới Tát Thiên Đô, Tát Thiên Thích chụp trảo vào huyệt khí hải của nàng thiếu nữ, kiếm pháp của nàng thiếu nữ lanh lẹ vô cùng, mũi kiếm vung lên đã vạch một vết thương trên người Tát Thiên Đô, móng tay của Tát Thiên Thích vừa chạm vào tà áo, nàng thiếu nữ đã lách người thâu thanh kiếm lại, chém một chiêu Ô long quyện vĩ vào hai chân của Tát Thiên Thích. Tát Thiên Thích vung hai tay phóng vọt người lên, kêu: “Dùng thủ pháp mạnh!” hai ngày nay Tát Thiên Đô liên tục bị thương, y nổi cáu, hai chưởng liên tục bổ ra tựa như đá lớn mở núi, chùy sắt tạt vào đá. Nàng thiếu nữ không dám tiến tới gần, kiếm quang máy động, thừa cơ tấn công. Thân thủ của Tát Thiên Thích rất lanh lẹ, y lại chụp mười ngón tay tới, cả hai tên ma đầu tấn công ở hai bên trái phải, nhất thời chuyển khách làm chủ, vây nàng thiếu nữ vào ở giữa!

Công lực của Tát Thiên Thích vốn chẳng kém, vừa rồi không biết hư thực của kẻ địch, lao tới tấn công bừa nên trúng một kiếm, lúc này tấn công lần nữa, được Tát Thiên Đô yểm hộ, vận dụng Đại Lực Kim Cương thủ cướp thanh kiếm của nàng thiếu nữ, chưởng phong kêu lên vù vù, chưởng phong và kiếm phong dồn vào nhau, kiếm chiêu của nàng thiếu nữ cũng không còn chuẩn xác như trước. Rõ ràng nàng đã đâm trúng yếu huyệt của kẻ địch thế nhưng bị chưởng phong quét lệch ra, còn vuốt bén của Tát Thiên Thích lại đánh tới như điện chớp! Nàng thiếu nữ tuy hơn ở chỗ kiếm pháp lanh lẹ, chiêu số kỳ diệu nhưng luận về côn lực vẫn kém hơn Tát Thiên Thích một bậc, lúc này bị cả hai tên ma đầu tấn công, mỗi tên đều có võ công độc môn, bởi vậy uy lực tăng lên đâu chỉ một lần, nàng thiếu nữ buộc phải chuyển công làm thủ, kiếm pháp chợt thay đổi, quanh mình nàng đều có một màn hàn quang loang loáng. Cả ba người quần thảo với nhau dữ dội, hai tên ma đầu tuy chiếm được thượng phong nhưng nàng thiếu nữ cũng không kém, lúc này cả hai bên đánh nhau đến thắng bại khó phân!

Liễu Tiên Khai ngưng thần xem chiến, đang lúc căng thẳng chợt nghe Đường Hiểu Lan rên rỉ khổ sở, hai mắt khép hờ, da mặt bầm đen, chắc là độc khí trong người đã lan tỏa ra! Liễu Tiên Khai kinh hoảng, chẳng màng đến cuộc ác đấu nữa, vội vàng xé áo ngực của Đường Hiểu Lan ra, dùng đá vạch một vết thương nặn máu cho chàng. Đường Hiểu Lan thở phì phò, khẽ nói: “Liễu đại hiệp cứ mặc tôi, chạy cho mau!” Liễu Tiên Khai nói: “Đừng nghĩ càn, ngươi không chết được đâu, chúng ta đi!” rồi kẹp Đường Hiểu Lan định nhảy xuống núi, chợt nghe hai tên ma đầu hú lên một tiếng, kiếm pháp của nàng thiếu nữ đã tán loạn, Liễu Tiên Khai bất giác chần chừ, thầm nhủ: “Nàng thiếu nữ này có lòng tốt rút kiếm tương trợ, chặn hai tên ma đầu cho mình, làm sao mình có thể bỏ nàng mà đi?” thế rồi định đặt Đường Hiểu Lan xuống, lại thấy chàng ta nhắm tịt mắt, mạch đập rất yếu, chỉ lo rằng nếu mình giúp nàng thiếu nữ, chưa thắng mà Đường Hiểu Lan đã hết cứu! Trong nhất thời không biết quyết định thế nào. Cả hai tên ma đầu càng đánh càng dữ, quát tháo rầm trời, Liễu Tiên Khai nghiến răng nói: “Phải lấy đạo nghĩa giang hồ làm đầu, thà mất mạng chứ không mất danh! Mong nhà ngươi cát nhân thiên tướng, gặp được may mắn”. Rồi đặt Đường Hiểu Lan xuống một bên, phóng người xuống núi.

Vừa chay được mấy bước, trên không trung vọng lại tiếng chim kêu, từ trong những rặng cây um tùm, chim bay ra ào ào. Liễu Tiên Khai bất giác chưng hửng, lòng thầm nhủ loài quái điểu nào mà lại ghê gớm đến thế? Trong chớp mắt trên đầu kêu lên vù vù, hai con chim đại bàng một trắng một đen giang rộng cánh bay lướt qua. Hai tên ma đầu hú lên một tiếng quái dị nhảy vọt ra khỏi trường. Ngay lúc này, bên cạnh dòng thác xuất hiện thêm một người, đó là một lão ni cụt tay! Liễu Tiên Khai đang chăm chú nhìn hai con chim đại bàng, chẳng hề biết lão ni ấy xuất hiện từ khi nào.

Độc tý thần ni bước tới mấy bước, lớn giọng nói: “Đồ nhi, vẫn chưa xong ư?” cả hai tên ma đầu đột nhiên xoay người tháo chạy, ném lại một câu: “Độc tí lão ni, có gan đến đảo Miêu Ưng tìm bọn ta!” lão ni hừ một tiếng, nói: “Bọn các ngươi chờ đấy, sẽ có người đến giở sào huyệt của các ngươi, nhưng trước tiên các ngươi phải để lại một món đồ!” rồi bà ta chúm môi thổi một tiếng, hai con đại bàng bay lướt qua, chỉ trong chớp mắt lại bay ngược trở về đậu xuống hai vai của lão ni cụt tay, miệng còn ngậm khăn trùm đầu của hai tên ma đầu. Nàng thiếu nữ chạy lên, vuốt ve hai con chim đại bàng, chợt nũng nịu nói: “Sao không bảo tiểu bạch và tiểu hắc mổ bọn chúng?” lão ni cười nói: “Con cũng đã thử mấy chiêu với bọn chúng, chả lẽ không biết bọn chúng lợi hại đến mức nào? Tiểu bạch và tiểu hắc làm sao có thể mổ được bọn chúng? Chẳng qua bọn chúng sợ thanh oai của ta, không dám đả thương đả thương tiểu bạch và tiểu hắc!” nàng thiếu nữ lại mỉm cười: “Sư phụ, kiếm pháp của con thế nào, có thể xuất đạo chưa?” lão ni nói: “Kiếm pháp của con còn giỏi hơn các sư huynh, nhưng kẻ thù của con còn lợi hại hơn hai tên ma đầu hàng trăm vạn lần! Giờ đây con chỉ mới học được bảy tám phần hỏa hầu, luyện thêm vài năm, hai tên ma đầu chẳng phải là đối thủ của con! Lúc đó có thể trả thù được hay không phải xem vận may của con”. Nói xong thì chậm rãi bước về phía Liễu Tiên Khai, cười nói: “Thầy trò chúng ta chỉ mãi nói chuyện, quên bẵng cả quý khách đến đây!”

Liễu Tiên Khai vừa kinh vừa mừng, không ngờ rằng gặp được vị lão ni cụt tay trên Mang Sơn. Vị lão ni này kiếm pháp trác tuyệt, có điều ít đấu với người khác, gần ba mươi năm nay không ai biết tung tích của bà ta. Theo các bậc tiền bối trong võ lâm kể lại, bà ta vốn là con gái của Hoàng đế Sùng Trinh, vị vua cuối cùng của triều Minh tên gọi Trường Bình công chúa, khi Sấm vương vào kinh, Sùng Trinh thắt cổ chết ở Môi Sơn, trước khi chết sợ Trường Bình công chúa bị làm nhục nên dùng kiếm chém đứt một tay của bà, Trường Bình công chúa nằm rên rỉ trong vũng máu, Sùng Trinh ném kiếm than rằng: “Ai bảo con sinh trong hoàng gia!” nhờ vậy Trường Bình công chúa mới được giữ mạng. Sau khi Sấm vương vào cung đã ưu đãi hoàng gia, thấy Trường Bình công chúa thê thảm như thế, than rằng: “Sao tàn nhẫn như thế?” rồi bảo cung nữ đỡ bà về cung chữa trị. Chuyện này không chỉ là truyền thuyết trong võ lâm mà còn có sử sách ghi lại. Về sau này không ai biết làm thế nào mà Trường Bình công chúa xuất cung học được võ nghệ cao cường, lập ra một môn phái riêng.

Liễu Tiên Khai tính lại triều Thanh đã nhập quan được hơn sáu mươi năm, không ngờ bà ta vẫn còn sống, vội vàng thi lễ. Lão ni cụt tay nói: “Quan Đông tứ hiệp, hào hiệp trượng nghĩa, danh đồn không ngoa!” rồi chỉ Đường Hiểu Lan nói: “Ắt hẳn y đã trúng độc trảo của Bát Tý Thần Ma!” Liễu Tiên Khai nói: “Mong thần ni giải cứu!” Độc tý thần ni chỉ khẽ gật đầu. Liễu Tiên Khai đỡ Đường Hiểu Lan đứng dậy, khẽ nói bên tai chàng: “Không sao rồi, hai tên ma đầu đã bỏ chạy”. Đường Hiểu Lan khẽ mở mắt, hạ giọng hỏi: “Có đoạt lại được điệt nữ của tôi không?”

Liễu Tiên Khai nói: “Đã bị y bắt đi!” Đường Hiểu Lan trợn hai mắt rồi ngất đi. Độc tý thần ni nói: “Là ta sơ suất, chỉ muốn xem Oanh nhi thử chiêu, không ngờ tên ma đầu ấy cướp đứa bé”. Liễu Tiên Khai nói: “Ơn cứu mạng không dám quên!” lão ni cụt tay nói: “Ngươi hãy theo ta, lát nữa sẽ còn vài vị bằng hữu của ngươi”. Liễu Tiên Khai nhớ lại, ở Hà Nam, ngoại trừ Dương Trọng Anh, mình chẳng có bằng hữu nào cả, trong lòng lấy làm lạ.

Không biết bao lâu, Đường Hiểu Lan dần dần tỉnh dậy, chỉ cảm thấy mùi u hương xông vào mũi, mở mắt ra nhìn, chẳng thấy bóng dáng Liễu Tiên Khai đâu, còn chàng thì nằm trong một căn phòng, căn phòng được bày biện rất thanh nhã, chàng chỉ nhớ lại nàng thiếu nữ đấu với hai tên ma đầu, Liễu Tiên Khai đặt mình xuống đất, sau đó thì chẳng biết gì nữa. Trong lòng thầm nhủ: “Chả lẽ nàng thiếu nữ đã đánh bại hai tên ma đầu cứu mình. Còn đây là phòng ngủ của nàng?” Đang cố gượng ngồi dậy chợt thấy xương cốt rã rời, toàn thân mềm nhũn, khi mở mắt ra nhìn chỉ thấy trên tường có hai câu đối viết rằng: “Vai sắt gánh đạo nghĩa, tay ngà viết văn chương”.

Ở giữa có một bức trung đường, viết một bài từ dài, từ rằng:

“Độ giang thiên mã nam lai, kỷ nhân chân thị kinh thủ? Trường An phụ lão, tân đình phong cảnh, khả liên y cựu! Di phủ Chư nhân, thần Châu trầm lục, kỷ tằng hồi thủ? Toán bình nhưng vạn lý, công danh bản thị, chân nho sự, quân tri phủ?

Huống hữu văn chương sơn đấu, đối đồng âm, mãn đình thanh đản. Đương niên trụy địa, nhi kim thí khán, phong vân bôn tẩu. Lục dã phong yên, thủy tuyền thảo mộc, Đông sơn ca tửu. Đãi tha niên, chỉnh đốn càn khôn sự liễu, vi tiên sinh thọ”.

Hàng dưới đề rằng: “Đây là bài thủy long ngâm của Tân Khí Tật viết mừng thọ Lưu Lương tiên sinh, Vãn hoa đình Trần Ngọa Tử”. Đường Hiểu Lan thường nghe Châu Thanh nói về chí sĩ hào kiệt của tiền triều, bởi vậy chàng mới biết Trần Ngọa Tử (tức là Trần Tử Long) là anh hùng kháng Thanh cuối thời Minh (chú thích của tác giả: Vào thời cận đại Long Du Sinh biên soạn cuốn “Cận tam bách niên danh gia từ tuyển”, đã xếp từ của Trần Tử Long đến hàng đầu) sau khi Mãn Thanh nhập quan, ông ta cử binh ở vùng Thái Hộ, sự việc bại lộ bị bắt làm tù binh, trên đường bị áp giải về kinh, ông ta nhảy xuống sông tự sát. Đường Hiểu Lan cũng biết sơ qua về thi từ, chàng hiểu đại khái bài từ này có ý thương tiếc cho chuyện nước mất nhà tan, thể hiện chí khí hồi phục lại đất Thần Châu, Tân Khí Tật cũng viết bài này cho người bằng hữu tên gọi Hồng Miễn. Trong bài từ có câu “Văn chương sơn đấu” Trần Tử Long viết “tặng cho Lưu Lương”, vậy Lưu Lương tiên sinh này chắc là một bậc đại nho! Rồi chàng chợt nhớ lại: “Chả lẽ ông ta chính là danh nho Lữ Lưu Lương ở Triết Đông!” sau khi Minh triều sụp đổ, Lữ Lưu Lương từ chối lời mời của nhà Thanh, cạo đầu làm tăng, chuyên viết sách làm thơ, có ảnh hưởng rất lớn. Đường Hiểu Lan lưu lạc trong giang hồ từ nhỏ, chàng không được học hành tử tế, chàng cũng chưa từng đọc qua sách của Lữ Lưu Lương nhưng từ lâu đã hâm mộ ông ta.

Đang lúc suy nghĩ, cánh cửa phòng chợt nhẹ nhàng bật ra, nàng thiếu nữ đêm qua bước vào, nhoẻn miệng cười nói: “Ồ, ngươi đã tỉnh rồi ư?” Đường Hiểu Lan nói: “Đa tạ nữ hiệp cứu mạng, xin thứ tôi không thể hành lễ”. Nàng thiếu nữ cười nói: “Sư phụ của ta đã cứu ngươi, chẳng liên quan gì đến ta. Này, ngươi đừng gọi ta là nữ hiệp, ta vẫn chưa xuất sư! Ngươi cứ gọi ta là Lữ Tứ Nương!” Đường Hiểu Lan chợt giật mình, khẽ kêu lên: “Lữ Tứ Nương? Chả lẽ cô nương là...” Lữ Tứ Nương mỉm cười nói: “Là cháu gái của Lữ Lưu Lương”. Đường Hiểu Lan nhìn nàng sững sờ, không ngờ cháu gái của một bậc đại nho mà có võ công tuyệt đỉnh!Lữ Tứ Nương khẽ cười: “Tiểu đệ, năm nay ngươi được bao nhiêu tuổi?” Đường Hiểu Lan nói: “Mười sáu tuổi”. Lữ Tứ Nương nói: “Mười sáu tuổi mà có công phu như thế cũng khá lắm, tuổi còn nhỏ mà gan dạ, dám tranh đấu với hai tên ma đầu, chả trách nào sư phụ ta bảo ngươi là nhân tài có thể vun bồi, bởi vậy mới ra sức trị thương cho ngươi. Ta lớn hơn ngươi ba tuổi, ngươi cứ gọi ta là Lữ Oanh tỷ tỷ cũng được”. Lúc này Đường Hiểu Lan mới biết nàng ta tên gọi Lữ Oanh, còn hai chứ “Tứ Nương” có lẽ là vị thứ của nàng trong gia đình, thầm nhủ: “Nàng chỉ lớn hơn mình ba tuổi, mà võ công hơn cả Quan Đông tứ hiệp, Thần Ma song lão, dù mình luyện thêm mười năm nữa cũng chưa chắc theo kịp nàng”. Bất giác thầm hổ thẹn. Lữ Tứ Nương lại nói: “Ngươi có từng đọc sách của tổ phụ ta chưa?” Đường Hiểu Lan hổ thẹn đáp: “Chưa. Nhưng từ lâu đã nghe danh của ngài”. Lữ Tứ Nương lại cười: “Người học võ cũng nên đọc sách, giờ đây ngươi phải học hành cho nhiều vào, ta tặng cho ngươi một quyển ‘Nhượng di lục’ của người”. Đường Hiểu Lan càng áy náy hơn, cúi đầu khẽ nói: “Đa tạ tỷ tỷ!” chàng rất khâm phục Lữ Tứ Nương, chỉ ta nàng như thần tiên, khiến chàng chẳng dám nhìn thẳng vào.

Một hồi sau, lại một giọng già nua vang lên ở phòng bên: “Tên tiểu tử ấy có sao không?” Lữ Tứ Nương trả lời: “Không sao cả!” rồi quay đầu lại nói với Đường Hiểu Lan: “Sư phụ ta gọi ngươi! Ngươi xuống giường thử đi lại xem sao!” Đường Hiểu Lan xuống giường đi mấy bước, chàng cảm thấy người tỉnh táo, chẳng hề đau đớn, cả mừng nói: “Tỷ tỷ, xin hãy dắt tôi đến gặp người”. Phòng bên bài trí tựa như một am đường, bức tượng ở giữa lại được che bằng vải vàng, Đường Hiểu Lan vừa bước vào đã nghe giọng nói quen thuộc gọi: “Hiểu Lan, coi như ngươi đã thoát nạn, hãy mau bước tới ra mắt Thần ni”. Người gọi chàng chính là Vạn Lý Truy Phong Liễu Tiên Khai. Bên cạnh ông ta là một lão ni cụt tay, ngoài ra còn có một ông già lạ mặt. Đường Hiểu Lan bước đến khấu tạ, nhưng chàng không biết pháp hiệu của lão ni cô ấy, bởi vậy không biết xưng hô thế nào. Lão ni mỉm cười: “Ta không có pháp hiệu, còn tên đấy à, đã từ lâu không dùng nữa, trên giang hồ gọi ta là Độc tí lão ni, ngươi cứ gọi ta như thế. Ngươi cũng không cần tạ ơn ta, ngươi phải tạ ơn Liễu đại hiệp, ông ta đã cõng ngươi từ núi Thái Hàng đến đây!” Đường Hiểu Lan lại cung kính dập đầu ba cái trước Liễu Tiên Khai. Liễu Tiên Khai mỉm cười đỡ chàng dậy. Lúc này Lữ Tứ Nương mới quay sang nói với ông già: “Nghiêm thúc thúc từ xa đến đây, chẳng lẽ gia phụ có chuyện gì?” Độc tí lão ni nói: “Nghiêm thúc thúc của ngươi bảo ngươi về”. Lữ Tứ Nương chợt giật mình, ông già họ Nghiêm nói: “Cha của con đã già, gần đây lại bệnh vặt, rất nhớ con”. Độc tí lão ni nói: “Oanh nhi, con đã theo ta chín năm, đã học được nhiều võ công hơn các sư huynh của con, ta cũng không còn gì dạy con nữa. Ngày mai con hãy trở về”. Lữ Tứ Nương rất buồn bã, Độc tí lão ni lại nói: “Trong thiên hạ chẳng có bữa tiệc nào không tàn, con là đồ đệ đắc ý nhất của ta, con phải nhớ kỹ lời dạy của ta. Sau khi về thăm nhà, hãy tìm kiếm tung tích đại sư huynh của con, xem thử y làm người thế nào, nếu y thực sự phản bội sư môn, hãy đem thủ cấp của y về gặp ta!” Liễu Tiên Khai nghe thế cả kinh, ngay lúc này bên ngoài cửa có mấy tiếng hú dài, Độc tí lão ni đứng dậy: “Ồ, bọn họ đã đến!” cánh cửa chầm chậm bật ra, Độc tí lão ni vui mừng nói: “Huyền Phong đạo trưởng, vẫn khỏe chứ!” bên ngoài cửa có bên người đứng sừng sững, đó chính là Huyền Phong, Lang Nguyệt và Trần Nguyên Bá. Huyền Phong vái dài nói: “Nhờ Thần ni giúp đỡ, hai tên ma đầu mới hoảng sợ bỏ chạy, bần đạo xin đa tạ”. Liễu Tiên Khai mới chợt hiểu ra, té ra đại ca kêu ông ta đến Mang Sơn là có ý dụ hai tên ma đầu đến gặp Độc tí lão ni.

Độc tí lão ni dắt Quan Đông tứ hiệp vào am đường, giới thiệu với ông già họ Nghiêm. Người này không phải là nhân vật trong võ lâm mà là môn sinh của Lữ Lưu Nương, cũng là một danh nho ở miền Triết Đông. Mấy mươi năm chuyên truyền bá học thuyết của Lữ Lưu Lương ở miền Đông Nam, ông ta cùng với cha của Lữ Tứ Nương là Lữ Bảo Trung cùng mưu việc kháng Thanh, Huyền Phong đạo trưởng đã từng nghe danh, cung tay cười nói: “Chúng ta một văn một võ, lại cùng chí hướng, lo gì không dựng lại nghiệp xưa cho nhà Hán”. Độc tý thần ni rưng rưng nước mắt, nhìn pho tượng trong Phật đường. Quan Đông tứ hiệp đều biết bà ta là Công chúa tiền triều, lòng đau đớn cho cố quốc, trong nhất thời chẳng nói ra lời.

Một hồi sau, Độc tý thần ni chợt lên tiếng: “Bần ni lòng đạo vẫn chưa sạch, khiến cho đạo huynh chê cười”. Huyền Phong đạo trưởng khẽ ho một tiếng, nói lảng sang chuyện khác: “Mấy năm trước nghe nói Song ma mỗi tên bị què một chân, tôi đoán chắc là do Thần ni”. Độc tí lão ni cười nói: “Ba năm trước tôi vân du đến Bát Đạt Lĩnh, khéo gặp hai tên ma đầu, bọn chúng không biết tiến thối, nhất định đời tỉ thí với tôi. Lúc đó bọn chúng vẫn chưa làm nhiều chuyện ác nên tôi chỉ trừng phạt nhẹ”. Huyền Phong đạo trưởng nói: “May mà Thần ni đã trừng trị bọn chúng chứ nếu không chúng tôi khó tránh độc thủ ở núi Thái Hàng”. Thế rồi kể lại việc hai tên ma đầu nhận lễ vật của Dận Trinh đến núi Thái Hàng giết hại hào kiệt năm tỉnh phía Bắc, Độc tý thần ni nghe thế tức giận nói: “Sớm biết như thế, hôm nay tôi đã không buông tha cho bọn chúng”.

Nói một hồi, Độc tý thần ni lại nói: “Gần đây bốn vị có đến Giang Nam không?” Huyền Phong nói: “Mười năm qua bốn huynh đệ chúng tôi chưa từng vượt qua Trường Giang”. Độc tý thần ni nói: “Nghe nói đại đồ đệ của tôi cấu kết với đạo tặc trong giang hồ gây hại cho khách thương, bốn vị có nghe chuyện này người?” Huyền Phong lắc đầu, Độc tý thần ni nói: “Tôi còn sống, y vẫn còn e ngại, nên tuy không giữ thanh qui của Phật môn nhưng không dám công nhiên làm chuyện xấu, e rằng sau khi tôi chết đi chắc chẳng ai chế phục nổi y”. Huyền Phong nghe xong thất kinh, số là Độc tý thần ni có tám đệ tử, ngoại trừ Lữ Tứ Nương, bảy người kia đều đã xuất sư đi khắp Giang Nam xưng là Giang Nam thất hiệp. Người đứng đầu tên gọi Liễu Ân, là một nhà sư, võ công của Liễu Ân cao cường nhất, đã từng dùng một cây thiền trượng đánh bại mười hai cao thủ, trấn áp khắp cả vùng Giang Nam. Thất hiệp tuy xuất thân từ một môn phái, nhưng võ công bản lĩnh lại hơn kém khác nhau, người xếp hàng thứ bảy tên Cam Phụng Trì tên tuổi lừng lẫy nhất nhưng nội công và ngoại công vẫn còn kém ra xa Liễu Ân. Tiếp theo là người xếp hàng thứ năm tên Bạch Thái Quan, còn Lộ Dân Đảm, Lý Nguyên, Châu Tầm lại kém hơn. Lộ Dân Đảm và Châu Tầm từng đến Quan Đông gặp Huyền Phong, Huyền Phong cũng từng đọ chiêu với họ, không đầy ba mươi chiêu hai người đều bại trận. Lúc đó Huyền Phong còn nghĩ: “Sao đệ tử của Độc tý thần ni lại tầm thường đến thế, chắc Cam Phụng Trì và Liễu Ân tuy danh lừng Giang Nam nhưng bản lĩnh cũng có hạn”. Nay thấy Độc tý thần ni nói thế thì không khỏi nghi ngờ. Độc tý thần ni chỉ Lữ Tứ Nương, mỉm cười nói: “Hôm nay nó thử kiếm, có thể một mình đánh bại Bát Tý Thần Ma coi như cũng được, nhưng phải luyện mấy năm nữa mới khắc chế đại sư huynh của nó”.

Huyền Phong nghe thế càng thất kinh hơn, thấy Lữ Tứ Nương cúi đầu mỉm cười, rõ ràng chỉ là một nàng thiếu nữ vô tư, không dám tin kiếm pháp của nàng lợi hại đến thế. Liễu Tiên Khai nói: “Đại ca, chính Lữ cô nương đã cứu mạng của đệ”. Huyền Phong chẳng thể tin nổi, nói: “Té ra Thần ni chưa ra tay mà hai tên ma đầu đã bỏ chạy”. Độc tý thần ni mỉm cười nói: “Thực ra nó không có được công phu như thế, Đại Lực Thần Ma xông vào vòng chiến, tôi phát hiện bọn chúng mới bỏ chạy”. Bà ta ngập ngừng rồi nói: “Hai năm trước, tôi đã nghe chuyện Liễu Ân không giữ thanh quy, nên đã truyền bộ Huyền Nữ kiếm pháp cho Oanh nhi, nếu sau này hắn làm chuyện càn quấy, Oanh nhi sẽ thay tôi thanh lý môn hộ. Nhưng e rằng công lực của nó vẫn chưa thâm hậu, đến lúc đó mong Tứ hiệp giúp cho một tay”. Huyền Phong vẫn im lặng. Độc tý thần ni lại nói: “Ngày mai Oanh nhi hạ sơn, sau này đi lại trên giang hồ, mong Tứ hiệp nâng đỡ cho”. Quan Đông tứ hiệp kêu không dám liền miệng, Trần Nguyên Bá cười nói: “Nữ hiệp xuống núi sẽ hợp thành Giang Nam bát hiệp, đông hơn chúng tôi đến hai lần, Nam Bắc hô ứng có thể tăng thanh thế cho nhau”. Độc tí lão ni chợt ngậm ngùi nói: “Cũng mong là thế!” Trần Nguyên Bá nghĩ lại mới biết mình lỡ lời, Liễu Ân đã đi vào nẻo tà làm sao có thể tính là một hiệp sĩ, chỉ cười gượng mà rằng: “Đáng tiếc nữ hiệp đến Giang Nam chứ nếu không chúng ta cùng tới kinh sư gây náo loạn Tử Cấm thành!” Lữ Tứ Nương chợt nhướng mày nói: “Rồi sẽ có một ngày như thế!” Quan Đông tứ hiệp nhìn nhau ngạc nhiên, Độc tí lão ni khẽ nói: “Có tráng khí như thế thật đáng mừng nhưng phải cẩn thận”.

Triết Đông danh nho Nghiêm Hồng Quỳ chậm rãi nói: “Điệt nữ, tổ phụ của con viết sách truyền bá phản lỗ dương duy, dựng lá cờ đường đường chính chính, chúng ta phải đuổi người Mãn ra khỏi bờ cõi, e rằng hành vi của Kinh Kha hay Yêu Ly chẳng có ích gì”. Yêu Ly và Kinh Kha là hai hiệp sĩ thời chiến quốc, Kinh Kha hành thích vua Tần, Yêu Ly ám sát Khánh Kị, đó là chuyện Du hiệp được ghi lại từ ngàn năm. Nghiêm Hồng Quỳ nói thế ý như không tán thành thủ đoạn ám sát để giải quyết việc quốc gia đại sự. Huyền Phong nghe thế không vui, lạnh lùng nói: “Chỉ e lời suông của nho sinh chẳng có ích gì!” Lữ Tứ Nương đỏ mặt, khẽ nói: “Đa tạ thúc phụ dạy bảo. Con thấy Thái Sử Công nói có lý, lấy kiến thức của bậc chân nho phối hợp với cái nghĩa của bậc hiệp sĩ, sau đó việc mới thành”. Câu nói Lữ Tứ Nương dẫn ra bắt nguồn từ phần “Du hiệp liệt truyện” trong sách “Sử kí” của Tư Mã Thiên, tức là Thái Sử Công). Nghiêm Hồng Quỳ nghe xong vuốt râu cười: “Té ra mấy năm nay con vẫn không quên đọc sách”. Lữ Tứ Nương nhấp một ngụm trà, khẽ vuốt lọn tóc mai, chợt buồn bã nói: “Tại Khoan đã lớn chưa? Chàng còn học với cha con không?” Nghiêm Hồng Quỳ nói: “Hắn đã cao hơn cha con cả nửa cái đầu! Hắn học hành rất chăm chỉ, sách Chư Tử các gia đều xem qua, xem ra sau này có thể kế thừa y bát của tổ phụ con”. Đường Hiểu Lan ngồi sững ra lắng nghe nhưng không biết Tại Khoan là ai, chàng nghe Lữ Tứ Nương nhắc đến một cách dịu dàng, trong lòng như có luồng điện lướt qua, không biết là cảm giác gì.

Huyền Phong đạo trưởng vỗ vai Đường Hiểu Lan, thở dài nói: “Châu đại hiệp là bằng hữu thân thiết của ta, ông ta gởi gắm ngươi cho ta, ta không thể mặc kệ, nhưng bốn người bọn ta lưu lạc chốn giang hồ, gần đây lại đối đầu với Tứ bối lạc, càng không thể an cư dạy võ nghệ cho ngươi”. Nói đến đây thì ngập ngừng, quay sang Độc tí lão ni nói: “Hắn là hậu duệ của Lăng đại hiệp, hãy nhận hắn làm đệ tử”. Đường Hiểu Lan cả mừng, vội vàng bước tới toan dập đầu, Độc tí lão ni không để chàng dập đầu, đỡ chàng ngồi dậy, bà mỉm cười nói: “Ta đã già nua, sau khi nhận Oanh nhi đã thề không thu nhận học trò nữa. Ở phía Bắc có một vị anh hùng tên tuổi lẫy lừng, sau Huyền Phong đạo huynh không đưa hắn đến đấy?” Huyền Phong đạo trưởng vỗ tay nói: “Có phải Thần ni nói Thiết Chưởng Thần Đạn Dương Trọng Anh không?” Độc tí lão ni nói: “Đúng thế”. Huyền Phong nghĩ thầm: “Dương Trọng Anh võ nghệ không kém gì mình, ông ta có thể thoát khỏi hai tên ma đầu có thể nói bản lĩnh cũng rất cao. Ông ta và mình lại có mối thâm cao mấy mươi năm, đưa Đường Hiểu Lan đến gởi gắm cho ông ta chắc là hợp nhất”. Thế rồi nói: “Nếu Thần ni đã không thu nhận học trò nữa, chúng tôi chỉ đành làm phiền Dương lão anh hùng vậy”.

Một đêm trôi qua, sáng sớm hôm sau Quan Đông tứ hiệp và Lữ Tứ Nương xuống Mang Sơn chia thành hai đường, Tứ hiệp dắt Đường Hiểu Lan đến chỗ Dương Trọng Anh, Lữ Tứ Nương và Nghiêm Hồng Quỳ quay về miền Nam, đôi bên giã biệt nhau dưới chân núi, Đường Hiểu Lan chỉ đứng ngẩn ra nhìn bóng dáng Lữ Tứ Nương. Lữ Tứ Nương vẫy tay nói: “Tiểu đệ, vài năm nữa, ta sẽ đến Đông Bình thăm ngươi!”

Dương Trọng Anh sống ở huyện Đông Bình tỉnh Sơn Đông, huyện này có một hồ lớn tên gọi hồ Đông Bình, nhà họ Dương tọa lạc ở bờ hồ Đông Bình. Hôm nay Đường Hiểu Lan theo Quan Đông tứ hiệp đến Dương gia trang, chỉ thấy đồi núi chập chùng, nước hồ trong vắt, rặng liễu la đà bên bờ hồ, Đường Hiểu Lan chưa vào đến nhà họ Dương mà đã yêu mến nơi này. Lên đến lưng chừng núi, chợt thấy có vài căn nhà trệt xây dựng dựa theo thế núi, dưới rặng cây có một tòa bình đài, trên đài có một thiếu nữ đang luyện võ, tay cầm một cây đạn cung, bắn đạn lên lưng chừng trời, đạn từ cây cung phóng vọt ra va vào nhau trên không trung tựa như sao xẹt. Huyền Phong khen: “Tuyệt kỹ thần đạn, gia học thâm sâu, hổ nữ ở chốn long môn quả nhiên danh đồn không ngoa!” nàng thiếu nữ quay đầu lại, nhìn Đường Hiểu Lan bật cười, nói: “Đêm ấy ngươi có sao không!” Huyền Phong đạo trưởng nói: “Liễu Thanh, con vào bảo với cha có Quan Đông tứ hiệp đến cầu kiến!” nàng thiếu nữ nhảy chân sáo chạy vào nhà. Huyền Phong nói: “Dương Trọng Anh chỉ có một đứa con gái này, ông ta cưng nó như trứng mỏng”.
Liễu Tiên Khai nói: “Tôi nghe bằng hữu võ lâm Sơn Đông nói có một nữ thần đồng tên gọi Dương Liễu Thanh, chắc là thiếu nữ này”. Huyền Phong nói: “Đúng thế, Dương Trọng Anh thích dương liễu nên đặt cho nói cái tên quái dị này”. Khi họ đang trò chuyện, Dương Trọng Anh đã bước ra, lớn giọng nói: “Ngọn gió nào đã thổi các vị đến đây”. Nói xong lại tạ ơn giúp đỡ của Liễu Tiên Khai và Trần Nguyên Bá, Dương Liễu Thanh đứng bên cạnh cười nói: “Còn có tiểu ca này nữa, đêm ấy y cũng vãi ra một nắm phi mãng, cha cũng nên đáp tạ người ta!” Dương Trọng Anh cười ha hả: “Ta già đến nỗi hồ đồ, vị tiểu ca này phóng ám khí rất khá!” Huyền Phong lại nháy mắt, Đường Hiểu Lan quỳ xuống, dập đầu ba cái, Dương Trọng Anh vội vàng đỡ lên, hỏi: “Thế là sao?” Huyền Phong nói: “Đứa nhỏ này không có chỗ nương tựa, mong lão ca thu nó là đồ đệ”. Dương Trọng Anh nhíu mày, nói: “Vào trong hãy tính!”

Dương Trọng Anh đưa mọi người vào nhà, kéo Huyền Phong sang phòng bên trò chuyện một lúc rất lâu, sau đó mới quay lại nói vớ Đường Hiểu Lan: “Tiểu huynh đệ hãy biểu diễn những công phu đã học cho ta xem thử”. Đường Hiểu Lan tháo cây Du Long kiếm, cúi người hành lễ rồi thi triển Truy Phong kiếm pháp, chỉ thấy ánh kiếm loang loáng, kiếm khí lạnh lẽo. Dương Trọng Anh nói: “Tốt lắm!” Dương Liễu Thanh trố mắt ra nhìn cây Du Long kiếm.

Dương Trọng Anh nói: “Ta nhận ngươi làm đồ đệ!” Đường Hiểu Lan cả mừng, cung kính quỳ xuống hành lễ bái sư. Huyền Phong cung tay chúc mừng Dương Trọng Anh, nói: “Thầy chọn trò, trò cũng chọn thầy, Dương đại ca, đảm bảo huynh sẽ hài lòng với đứa học trò này!” Dương Trọng Anh mỉm cười, rồi nghiêm mặt nói với Đường Hiểu Lan: “Môn phái của ta giới luật rất nghiêm ngặt, giờ đây ta đọc mười hai giới điều cho con nghe, con phải suy nghĩ cho kỹ càng, nếu không chấp nhận được phải lên tiếng cho sớm, ta không ép con”. Đường Hiểu Lan buông tay đứng một bên, nghe ông ta đọc: “Điều thứ nhất không được gian dâm đ*o tặc!” Đường Hiểu Lan khẽ gật đầu, Dương Trọng Anh tiếp tục đọc: “Điều thứ hai không được bán bạn cầu vinh, điều thứ ba không được ỷ mạnh hiếp yếu, điều thứ tư không được qua lại với quan phủ, ngươi có chịu không?” Đường Hiểu Lan nói: “Châu bá bá của con bị triều đình hại chết, con căm hận bọn chúng đến tận xương tủy!” Dương Trọng Anh lại tiếp tục đọc: “Điều thứ năm không được kết bè kết đảng, điều thứ sáu không được say rượu làm điều càn quấy...” ông ta lại đọc tiếp đến điều thứ mười hai: “Điều cuối cùng là quan trọng nhất, không được khi sư diệt tổ! Bất cứ chuyện gì cũng không được giấu sư phụ, tất cả phải nói cho thực, càng không được cấu kết kẻ xấu làm nhục sư trưởng. Những kẻ phạm vào điều này nhẹ thì phế võ công, con có chịu không?” Đường Hiểu Lan chần chừ, Dương Trọng Anh nói: “Ta biết lai lịch của ngươi kỳ lạ, từ nay về sau không được giấu diếm ta chuyện gì!” Đường Hiểu Lan dập đầu nói: “Chuyện xưa cả bản thân con cũng không rõ, từ nay sẽ nghe lệnh ân sư”. Dương Trọng Anh thở dài, nói: “Hãy đứng dậy! Mấy mươi năm qua ta chưa hề thu nhận học trò, từ rày về sau con sẽ là sư huynh của nó! Liễu Thanh, hãy bái kiến sư huynh của con!” Dương Liễu Thanh bĩu môi nói: “Con phải thử chiêu với hắn, nếu hắn thắng được con, con mới gọi hắn là sư huynh!” Đường Hiểu Lan vội nói: “Bản lĩnh của tôi rất kém, làm sao là đối thủ của sư muội... à không, sư tỷ, vả lại tôi nhập môn sau càng không dám nhận”. Dương Trọng Anh trợn mắt nói: “Liễu Thanh, con cứ nói càn không sợ các sư bá cười hay sao? Hiểu Lan, năm nay con được bao nhiêu tuổi?” Đường Hiểu Lan nói: “Mười sáu”. Dương Trọng Anh nói: “Lớn hơn Liễu Thanh hai tuổi, trong môn phái của ta không luận nhập môn trước sau, chỉ phân biệt tuổi tác. Liễu Thanh, hãy đến dập đầu, từ rày về sau phải gọi là sư huynh!” Liễu Thanh thè lưỡi, lẩm bẩm: “Lại phải dập đầu!” Dương Trọng Anh nạt: “Mau dập đầu!” Đường Hiểu Lan vội vàng đỡ dậy, Dương Liễu Thanh giật tay một cái, Đường Hiểu Lan không đề phòng, suýt nữa đã bị nàng quạt ngã, Dương Trọng Anh cười nói với Huyền Phong: “Mong đạo trưởng đừng chê cười, con gái tôi từ nhỏ đã mất mẹ, tôi đã chìu hư nó, năm nay đã mười bốn tuổi mà vẫn còn như trẻ con!” rồi lại quay sang Đường Hiểu Lan nói: “Võ công của bổn môn coi trọng công phu căn bản, ta thấy kiếm thuật của con rất đáng khen, nhưng công phu cơ bản vẫn chưa đủ, bắt đầu từ ngày mai con hãy theo ta học những công phu cơ bản như đứng tấn, hít thở, đẩy tay, cứ tuần tự mà tiến tới, không cần tham nhiều, con đã theo danh sư học võ, vậy có ý kiến gì hay không?” Đường Hiểu Lan chợt nói: “Con muốn ban ngày học võ, ban đêm học văn, đọc thêm nhiều sách vở!” Quan Đông tứ hiệp nhìn nhau ngạc nhiên, người trong võ lâm thu nhận học trò truyền võ nghệ, xưa nay chỉ coi trọng quyền cước binh đao chứ chẳng hề để ý đến chuyện sách vở, vả lại cũng chưa có học trò nào đề nghị như thế, Dương Trọng Anh chưng hửng, rồi bật cười ha hả!

Dương Trọng Anh vuốt râu nói: “Lời của con rất hợp ý ta! Được! Ta rất hài lòng! Huyền Phong đạo huynh, người học võ thường nóng nảy, lúc tuổi thiếu niên khí thịnh, ta đã gây ra không ít bao nhiêu họa. Đứa con gái yêu quý này của ta biết một chút võ công đã ngang ngược, chỉ biết lên ngựa xuống ngựa, múa đao lộng thương, chẳng hiểu lễ nghĩa. Ta thấy sau này nếu muốn kiếm chồng cũng khó. Ta đã sớm muốn nhờ người dạy nó đọc sách. Hiểu Lan muốn học cả văn lẫn võ thật là tốt. Ta có một người đường đệ, tuy thi rớt tú tài nhưng cũng thông hiểu văn chương. Ngày mai ta sẽ nhờ y đến dạy cho sư huynh muội chúng học hành”. Huyền Phong nghe xong, trong lòng cười thầm, nhủ rằng: “Rõ ràng ông đã chìu hư đứa con gái của ông, có liên quan gì đến chuyện học hành”.

Dương Trọng Anh thu nhận học trò vừa ý, trong lòng rất mừng rỡ, nói: “Thanh nhi, con hãy dắt sư huynh đi một vòng xem thử”. Ông ta lại trò chuyện một hồi với Quan Đông tứ hiệp, đến khi Tứ hiệp sắp cáo từ mới tìm Đường Hiểu Lan. Ra sân thì nghe tiếng quyền cước đấm nhau bình bịch, nhìn lại thì thấy con gái của mình múa chưởng như gió, đánh Đường Hiểu Lan thối lui từng bước!

Té ra Dương Liễu Thanh còn tính trẻ con, bái sư huynh mà trong lòng không phục, kéo tay chàng nói: “Này chúng ta hãy ra sân sau chơi!” Đường Hiểu Lan chẳng dám không theo, chàng bước ra sân, Dương Liễu Thanh chợt nói: “Này, cho mượn thanh bảo kiếm xem thử”. Đường Hiểu Lan đang còn chần chừ, Dương Liễu Thanh nói: “Hừ, nhà ngươi thật ích kỷ, ta chẳng cần nữa”. Đường Hiểu Lan đành tháo thanh kiếm đưa tới nói: “Sư muội cẩn thận, cây kiếm này rất bén, coi chừng đứt tay!” Dương Liễu Thanh hừ một tiếng, rút kiếm ra múa một hồi, tuy không nhanh bằng Truy Phong kiếm pháp nhưng kiếm phong cũng phát ra vèo vèo, Đường Hiểu Lan khen: “Sư muội thật giỏi, thập bát ban võ nghệ món nào cũng biết!” Dương Liễu Thanh hừ một tiếng, nghiêm mặt nói: “Ai cần ngươi khen bừa, này, cha của ta bảo kiếm pháp của ngươi rất giỏi, ta muốn dùng đôi chưởng thử lãnh giáo kiếm chiêu của ngươi!” Đường Hiểu Lan vội nói: “Sư muội võ công cao thâm, ngu huynh cam chịu thua, không cần phải thử nữa”. Dương Liễu Thanh nói: “Hãy thong thả đã, ta chưa nói xong, nếu ta thua sẽ, dập đầu trước ngươi ba cái, nếu ngươi thua hãy đưa thanh kiếm này cho ta! Này, trả kiếm cho ngươi!” rồi nàng ném kiếm về phía Đường Hiểu Lan, quát: “Ngươi đã cầm kiếm rồi, thế nào, hãy ra tay đi thôi!” Đường Hiểu Lan lo đến nỗi toát mồ hôi trán, vội vàng xua tay nói: “Không được! Không được!” Dương Liễu Thanh cười lạnh: “Hừ, thì ra ngươi nhát gan đến thế, ngươi sợ phải trao thanh bảo kiếm này cho ta!”

Đường Hiểu Lan vốn là người lanh lẹ, đến lúc này chàng đã bó tay trước nàng sư muội nghịch ngợm, bởi vậy cứ đứng ngẩn ra ở đấy chẳng nói nên lời. Dương Liễu Thanh bước gần tới hai bước, hai chưởng vung lên, nói: “Thế nào?” Đường Hiểu Lan nghiến răng, tra thanh kiếm vào bao, đưa cho nàng nói: “Sư muội, tặng muội thanh kiếm này!” giọng nói rung rung, Dương Liễu Thanh nhíu mày, cười lạnh nói: “Hừ, ai cần ngươi tặng! Hãy mau rút kiếm, nếu ta không nể mặt binh khí của ngươi, ta sẽ dập đầu trước ngươi!” Đường Hiểu Lan thối lui từng bước, nói: “Ngu huynh muôn lần không dám!” Dương Liễu Thanh chợt vỗ vù ra một chưởng!

Đường Hiểu Lan lách người tránh qua nhưng chẳng kịp, má đã bị trúng một chưởng đau nhói, Đường Hiểu Lan chưa bao giờ bị làm nhục đến thế, bất đồ lửa giận bốc cao! Dương Liễu Thanh liên tục vỗ ra mấy chưởng, chưởng nào cũng hung hiểm. Đường Hiểu Lan nhảy nhót né tránh, vai đã bị quét trúng một chưởng, may mà nàng tuổi nhỏ lực yếu chứ nếu không chàng chẳng chịu nổi. Đường Hiểu Lan ném kiếm xuống đất, khẽ ho: “Sư muội, ngu huynh sẽ chìu theo sư muội, nhưng muội cũng phải nương tay!” Dương Liễu Thanh mỉm cười nói: “Được thôi, hãy giở bản lĩnh ra!” thật ra nàng chỉ nghịch ngợm, chỉ muốn trêu đùa chàng mà thôi. Đường Hiểu Lan ngoài mềm trong cứng, bị trúng hai chưởng đã nổi cáu, chàng phất ống tay áo, vỗ liền ra hai chưởng, Dương Liễu Thanh nói: “Chiêu số lợi hại thật!” rồi nàng lách người, lập tức múa chưởng chém vào cánh tay phải của Đường Hiểu Lan, Đường Hiểu Lan đẩy chưởng trái lên cao, Dương Liễu Thanh biến chiêu rất nhanh, tay phải đánh một chiêu Kim long thám trảo chụp vào mặt của Đường Hiểu Lan!

Đường Hiểu Lan vốn chỉ muốn dằn mặt nàng để cho nàng rút lui. Không ngờ Dương Trọng Anh được người ta gọi là Thiết Chưởng Thần Đạn, quả thật chưởng pháp cũng rất lợi hại, từ nhỏ Dương Liễu Thanh đã học võ cùng cha, tuổi tuy còn nhỏ mà chưởng pháp đã đến mức thượng thừa. Thấy Đường Hiểu Lan tựa như đã nổi cáu, đánh ra toàn những chiêu số tấn công, nàng cười lạnh mấy tiếng lập tức thi triển thân thủ, lúc công lúc thủ, lúc tiến lúc lui, biến hóa đa đoan, Đường Hiểu Lan hít một hơi, không ngờ chưởng pháp của nàng lại lợi hại đến thế. Hai người quần thảo nhau đến mấy hiệp, Đường Hiểu Lan dần dần chọi không nổi. Dương Liễu Thanh buông tiếng trêu rằng: “Sư huynh, thế nào? Mệt rồi ư? Hãy đưa kiếm cho ta!” Đường Hiểu Lan thấy nàng đanh đá, trong lòng không muốn tặng Du Long kiếm của Châu Thanh cho nàng, nghiến răng chống chọi mấy chưởng, thầm nhủ: “Nhà ngươi chỉ là đứa bé gái, xem ngươi có được khí lực bao lâu. Đánh một hồi ngươi chắc chắn chẳng chịu nổi”. Chàng thay đổi chưởng pháp, giữ kín môn hộ, toan dụ cho nàng hao tổn chân khí, không ngờ đánh đến mấy mươi chiêu mà Dương Liễu Thanh vẫn còn chống chọi nổi, chưởng pháp càng lúc càng hiểm hóc, bốp bốp hai tiếng vang lên, Đường Hiểu Lan lại trúng hai chưởng ở trước ngực, tuy Dương Liễu Thanh tuổi nhỏ sức yếu nhưng chàng cũng thấy đau đớn lạ thường. Đường Hiểu Lan vừa tức vừa lo, liên tục thối lui. Ngay lúc này, Thiết Chưởng Thần Đạn Dương Trọng Anh đã ra tới nơi. Đường Hiểu Lan như trút được gánh nặng, vội vàng nhảy vọt ra, kêu lên: “Sư phụ! Sư phụ!”

Dương Trọng Anh nghiêm mặt mắng: “Thanh nhi, sao lại đánh nhau với sư huynh?” Dương Liễu Thanh cười hì hì nói: “Sư huynh bảo con thử chiêu, cha đã nói rồi kia mà, phải nghe lời sư huynh nên con chỉ đành chìu theo”. Dương Trọng Anh thấy Đường Hiểu Lan đánh rất thật tình, không phải là trò đùa thế là nửa tin nửa ngờ nói với Đường Hiểu Lan: “Sư muội của con tuổi vẫn còn nhỏ, con đừng chìu theo nó!” Đường Hiểu Lan nói: “Là sư muội đã ép con đọ chiêu”. Dương Trọng Anh chỉ cây kiếm ở dưới đất, nói: “Chuyện gì thế?” Đường Hiểu Lan lúng túng nói: “Sư muội thích thanh kiếm này, con vốn muốn tặng...” Dương Trọng Anh chợt nổi cáu, mắng: “Thanh nhi, con càng lúc càng lớn gan, dám giành đồ với người ta. Con có biết lai lịch thanh kiếm này không?” Dương Liễu Thanh khóc òa lên, thút thít nói: “Ai cần thanh bảo kiếm của y?”

Đường Hiểu Lan lúng túng lắm, vội vàng giải thích cho nàng: “Sư muội không đòi, chỉ bảo thích thanh bảo kiếm, muốn dùng tay không đọ chiêu với con”. Dương Trọng Anh thấy má chàng đã xưng vêu lên, hỏi: “Thế là các con đã đọ chưởng?” cả hai người gật đầu, không dám trả lời, Dương Trọng Anh thương yêu con gái, rõ ràng biết nàng không đúng bởi vậy mới không truy cứu nữa, chỉ đành mắng: “Nha đầu ngang ngược, bổn môn coi trọng trưởng ấu tôn ti, hắn tuy mới nhập môn nhưng là trưởng bối của con, hậu bối phải tôn trọng trưởng bối. Từ rày về sau không được bức hiếp trưởng bối, dù sau này đọ chiêu cũng phải dừng lại đúng lúc”. Hai người cúi đầu trả lời: “Vâng”. Đường Hiểu Lan thấy ấm ức lắm, sắc mặt tái xanh. Dương Trọng Anh kéo tay chàng, ôn tồn nói: “Hiểu Lan, sư muội của con vẫn là đứa trẻ, hãy nhường nhịn nó. Quan Đông tứ hiệp sắp ra đi, con hãy dập đầu cáo biệt họ”. Rồi ông ta dắt Đường Hiểu Lan ra ngoài, Quan Đông tứ hiệp thấy má chàng xưng vêu lên, nhìn nhau mỉm cười. Đường Hiểu Lan tạ ơn cứu mạng của Quan Đông tứ hiệp, thút thít nói: “Con từ nhỏ đã mồ côi, được Châu đại hiệp nuôi dưỡng và Phùng sư phụ truyền võ nghệ, hai vị Châu, Phùng đã chết thảm, sư tẩu và điệt nữ của con bị người ta cướp đi, mong Tứ hiệp để ý thăm dò tung tích cứu họ ra”. Huyền Phong cười nói: “Ngươi là đứa trẻ có tình có nghĩa, e rằng bọn ta lực bất tòng tâm, may mà Lữ Tứ Nương đã xuất sơn. Thế này nhé, bọn ta sẽ đến tìm nó, bảo nó giúp con”. Đường Hiểu Lan nghe Huyền Phong nhắc đến Lữ Tứ Nương, trong lòng xao xuyến, vội vàng bái tạ. Thế rồi Quan Đông tứ hiệp giã biệt, Huyền Phong nói: “Vài năm nữa, đợi sau khi con học thành tài, bọn ta sẽ đến đón con”.

Từ đó về sau, Đường Hiểu Lan sống ở nhà họ Dương, ban ngày học võ, ban đêm học văn. Lúc đầu, chàng rất sợ Dương Liễu Thanh gây rối, không biết đối phó với nàng sư muội lợi hại này như thế nào. Không ngờ vì ngày hôm ấy chàng che giấu cho nàng nên đã có thiện cảm với chàng. Tuy vẫn còn ngang ngạnh nhưng không bức hiếp chàng nữa. Thế rồi năm năm trôi qua.

Dương Trọng Anh vốn là Chưởng môn của phái Tung Dương. Phái này là chính tông nội gia, Đường Hiểu Lan học được năm năm, công phu cơ bản đã vững chắc, Truy Phong kiếm pháp cũng đã luyện đến mức tinh diệu tuyệt luân. Khi rảnh rỗi chàng thường đọ chiêu với Dương Liễu Thanh, tuy chưởng pháp và bắn cung, nhưng cũng không đến nỗi không thể chống đỡ như lúc đầu. Còn về chuyện học văn, Dương Liễu Thanh lười biếng, bởi vậy kém xa Đường Hiểu Lan, nhiều lúc phải nhờ chàng làm hộ bài vở. Vì thế Dương Liễu Thanh phải lấy lòng chàng.

Lúc này Đường Hiểu Lan đã hai mươi mốt tuổi, Dương Liễu Thanh cũng được mười chín tuổi. Dương Trọng Anh đã già, nhìn thấy con gái và đệ tử suốt ngày bên nhau, trong lòng nôn nao, ngày nọ ông âm thầm hỏi con gái: “Con cảm thấy Hiểu Lan thế nào?” Dương Liễu Thanh nói: “Chả thế nào cả, cha hỏi để làm gì?” Dương Trọng Anh cười nói: “Nha đầu ngốc, nay con đã không còn bé nữa, cũng đã phải đến lúc tìm nơi chốn. Con cảm thấy nhân phẩm của sư huynh thế nào? Ta thấy hắn rất chân thật”. Dương Liễu Thanh đỏ mặt, giận dỗi nói: “Con chả hiểu nhân phẩm hay chẳng nhân phẩm gì cả, hôm qua y không đọ chưởng lại con!” Dương Trọng Anh mỉm cười, chẳng hỏi tiếp nữa. Ông ta chỉ nghĩ rằng có lẽ con gái thấy võ công của chàng không cao nên không thích chàng.

Chính là:

Như mừng như giận lại như yêu, tâm sư nhi nữ khó đoán dò.

Muốn biết sau đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương sau