ĐỘNG ĐÌNH HỒ NGOẠI SỬ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Động đình hồ ngoại sử - Chương 16 - Chương 20

Chương 16: Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy Tân thanh đáo để vị thùy thương

Đào Kỳ kể lại tỉ mỉ ngày chàng cùng sư tỷ ra đi theo Nghiêm Sơn ra Bắc. Đến bến đò sông Hồng-hà thì gặp Nguyễn Tam-Trinh giả làm người lái đò, tấu nhạc cho nghe, rồi dìm thuyền bắt sống Nghiêm Sơn ra sao. Chàng kết luận:

– Nguyễn sư-bá với Nghiêm đại-ca là hai người anh hùng. Phàm đã là anh hùng, họ nhìn nhau, nghe nhau nói, là hiểu nhau liền. Sư bá Nguyễn Tam-Trinh biết đại-ca cầm quyền khuynh quốc, tước Lĩnh-nam công, nếu thả đại-ca ra mà đại ca thù hận, chỉ một ngày sau đất Mai-động sẽ thành bình địa. Thế mà sư bá vẫn tha. Còn Nghiêm đại-ca trở về, mấy hôm sau lại đem đủ lễ, nào trâu, nào bò, nào hoa quả, theo tục lệ Âu Lạc để thế mạng. Nghiêm đại-ca còn nói:

Dù đấu văn, đấu võ, đấu môn nào thua thì cũng là thua. Nghiêm đại-ca nhận thua sư bá Tam-Trinh. Sư-bá phục quá, hai người kết bạn với nhau. Sư-bá còn đứng ra làm lễ cưới tam sư-tỷ của tôi với Nghiêm đại-ca nữa.

Bỗng trên trời có tiếng Thần-ưng kêu lên the thé. Phương-Dung ngửa mặt nhìn lên, thấy đôi Thần-ưng đang bay trên đầu mình. Nàng huýt sáo một tiếng, đôi Thần-ưng đáp xuống trước ngựa. Nàng mở ống tre dưới chân chúng ra, lấy một mẩu giấy đọc:

" Đêm hôm qua Chinh-tây đại tướng quân Phùng Dị, Võ-oai tướng quân Lưu Thương lấy ngựa trốn về Hán. Vi Đại-Khê chỉ huy đội Ngao-thần canh phòng đuổi theo bị đánh trọng thương. Ba Ngao-thần bị giết. Sún Rỗ chỉ huy đội Thần-ưng tuần tiễu bị chúng bắt đi mất. Ta đấu chưởng với Phùng Dị bị thương nhẹ. Chúng chạy về hướng Trường-an báo cho tiểu sư-đệ biết mà liệu việc.

Dưới thư vẽ bông cúc vàng. Đào Kỳ biết đó là biểu hiệu của Hoàng Thiều-Hoa. Đào Kỳ hỏi Phương-Dung:

– Nếu Phùng Dị, Lưu Thương chạy thoát về Trường-an, thế nào cũng theo con đường chúng ta đi, e chúng ta không dùng binh phù của Nghiêm đại-ca được nữa.

Phương-Dung cười:

– Khi Phùng Dị, Lưu Thương đầu hàng em biết chúng không thực tâm, dặn Lục Sún cho Thần-ưng tuần phòng trên trời. Dù chúng chạy đâu cũng không thoát con mắt Thần-ưng. Nếu chúng về Trường-an, thế nào cũng theo con đường chúng ta đi. Chúng ta cứ thủng thẳng sẽ gặp chúng. Thần-ưng sẽ báo cho chúng ta biết.

Phương-Dung viết thư trả lời Hoàng Thiều-Hoa, rồi tung Thần-ưng lên trời. Chúng lượn một vòng rồi bay về hướng Nam.

Mọi người lại lên đường. Được mấy dặm, cặp Thần-ưng đưa thư lại lộn trở lại bay tà tà trên đầu. Chúng kêu lên những tiếng khẩn cấp như giục giã, như cầu cứu.

Phương-Dung hiểu ý nói:

– Có lẽ Sún Rỗ bị Phùng Dị bắt mang theo, đang ở gần đâu đây. Chúng thấy chủ tướng bị nạn đến báo cho chúng ta biết.

Năm người phi ngựa ngược trở lại hướng Nam. Đôi Thần-ưng bay lượn trên đầu dẫn đường. Chúng dẫn năm người tới một ngọn đồi cây cối um tùm. Trên trời một đoàn Thần-ưng từng năm con một lao xuống tấn công địch rồi lại bay lên. Chúng lên xuống từng đợt rất nhịp nhàng.

Năm người phi ngựa đến chân đồi, buộc ngựa vào gốc cây, hướng chỗ Thần-ưng đang tấn công lần tới. Xa xa họ nghe tiếng Sún Rỗ nói:

– Đ.M thằng Phùng Dị, mày thân làm Chinh-tây đại tướng-quân cho thằng Quang-Vũ, mà không sao bắt được ông, thì về nhà chui đầu vào quần vợ chết đi cho rồi.

Phùng Dị nghe chửi tức quá. Y đến gốc cây nhìn lên, thấy Sún Rỗ ngồi vắt vẻo trên cây, lấy ngón tay để vào mũi ngạo y. Y rút kiếm chặt cây. Công lực y cao thâm chỉ mười nhát, cây đã kêu răng rắc mấy tiếng rồi đổ xuống. Phùng Dị cười ha hả tiến lại bắt Sún Rỗ. Sún Rổ hú một tiếng, toán Thần-ưng trên trời đâm bổ xuống tấn công Phùng Dị. Phùng Dị, Lưu Thương cùng tấn công Thần-ưng. Nhưng Thần-ưng đã bay lên cao. Phùng Dị quay lại định bắt Sún Rỗ. Nó đã thoăn thoắt leo lên một ngọn cây khác.

Lưu Thương bàn:

– Chúng ta mau rời khỏi nơi đây, nếu không quân Thục đuổi theo thì nguy. Nhất là Đào Kỳ, Phương-Dung đuổi kịp tính mệnh khó toàn.

Có tiếng nói khoan thai đâu đó:

– Đào Kỳ, Phương-Dung đã đến từ lâu rồi.

Từ bụi cây năm người tiến ra. Đi đầu là Phương-Dung, rồi đến Đào Kỳ, Đô Dương, Khất đại-phu, Giao-Chi.

Phùng Dị không nói không rằng vung chưởng tấn công Phương-Dung. Phương-Dung nhún mình một cái nhảy lui lại. Ở trên không nàng đã rút kiếm, ánh kiếm lóe lên. Nàng phóng ra một chiêu, biến thành 36 rồi 72. Phùng Dị hoảng kinh lăn mình dưới đất tránh khỏi. Y vọt mình một cái đứng dậy, Phương-Dung không đuổi theo. Trước đây nàng là quân sư, chỉ huy y quen. Bây giờ phải ra tay với y, nàng không nỡ. Khất đại-phu cũng giúp y chống Thục nhiều lần, chỉ đứng nhìn y. Đào Kỳ tính đôn hậu, chàng đã gặp Phùng Dị trong lần hội quân ở Quế-lâm. Hai người đàm luận binh pháp rất tương đắc. Chàng thấy trong các tướng Hán, người có tài dùng binh nhất là Nghiêm Sơn, sau đó tới Đặng Vũ, Ngô Hán, Phùng Dị, Mã Viện và Sầm Bành. Chính sáu người này đã xây dựng nên nhà Đông-Hán. Bây giờ bảo chàng giết Phùng Dị thì không nỡ. Chàng ngẩn người ra suy nghĩ không biết giải quyết sao. Nếu giết y thì uổng một đại tướng tài, một cao thủ võ lâm.

Trong năm người thì Đô Dương là đại tướng Hán lâu năm, thống lĩnh hàng mấy trăm vạn binh, đánh đư trăm trận. Chàng là người trí dũng song toàn, linh mẫn. Quyết đoán ngang với Trưng Trắc, Trưng Nhị, Nghiêm Sơn, chàng nhận ra ngay hoàn cảnh hiện tại. Chàng nói với Phùng Dị:

– Chinh-tây đại tướng-quân, chúng ta chỉ giữ ngươi ở đây 15 ngày nữa, sau khi chiếm được Kinh-châu, Lĩnh Nam, ta thả ngươi. Đạo Hán-trung tới đây coi như ra mặt đối phó rồi, không cần giữ bí mật nữa. Ta đối xử tử tế với ngươi vì nhớ lại trước đây, chúng ta cùng chiến đấu dưới quyền Nghiêm đại-ca. Bây giờ, ngươi vì Hán, ta vì Lĩnh Nam, mà phải ở thế đối nghịch nhau. Ta lấy làm buồn lắm.

Sún Rỗ nhảy xuống dưới đất, nó nhìn Phùng Dị thè lưỡi ra trêu y. Mặt Phùng Dị xám như tro nói:

– Đô thái-thú, thôi tôi đành tuân lời ngươi vậy, chứ biết làm sao.

Sún Rỗ nói với Khất đại-phu:

– Ông nội ơi! Ông nội cho cháu đi Trường-an với nghe?

Nguyên Lục Sún là bọn trẻ con. Khất đại-phu là người nhiều tuổi. Tính trẻ, già thường dễ thân nhau. Chúng bắt chước Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa gọi người là ông đã quen.

Khất đại-phu lắc đầu:

– Con phải về ngay, nếu không Hoàng Thiều-Hoa phải lo sợ cho con mà thành mệt trí.

Hoàng Thiều-Hoa là người ôn nhu nhẹ nhàng, nàng thích trẻ con. Đối với Lục Sún, nàng săn sóc như con đẻ. Vì vậy Lục Sún luôn ở cạnh nàng. Nghe nhắc đến Thiều-Hoa, nó chợt tỉnh ngộ nói:

– Ông nội dạy đúng, con về với Hoàng sư tỷ đây.

Nó nhảy lên ngựa của Lưu Thương cầm tù-và thổi một hơi. Đàn Thần-ưng bay theo ngựa của nó.

Phùng Dị thở dài:

– Đào tướng-quân, tôi nói thực. Nếu Hoàng-thượng hỏi ý kiến tôi có nên cho Lĩnh Nam phục hồi hay không. Tôi khuyên người không cho. Lĩnh-nam nhân tài như lá rừng. Đến Lục Sún chưa quá 18 tuổi, mà còn cương quyết, tài giỏi là dường này. Thì nếu cho Lĩnh Nam phục hồi, chỉ cần năm năm sau. Các vị kéo lên Trung-nguyên quyết chiến một trận là nhà Hán sụp đổ ngay.

Đô Dương cười ha hả:

– Cám ơn Phùng tướng-quân quá khen ngợi. Phùng tướng-quân là tri kỷ của anh hùng Lĩnh Nam chúng tôi. Đại phàm trên đời có hai loại tri kỷ: Một loại biết ta, khuyến khích ta, giúp đỡ ta. Còn một loại tri kỷ nữa biết tài ta muốn kéo ta về với họ. Kéo không được phải tìm cách giết đi, để trừ hậu hoạ. Phùng tướng-quân là loại tri kỷ thứ nhì vậy.Vừa rồi thái sư-thúc, Đào sư-đệ, Phương-Dung đều không muốn giết Phùng tướng-quân, cũng vì biết tướng-quân là người tài vậy. Ở đây còn Chu Bá sư-thúc, Giao-Chi với tôi có thể kiềm chế các vị. Nhưng nghĩ cho kỹ, các vị chống Lĩnh-nam chẳng qua ai cũng vì giang sơn người ấy, chứ có thù oán gì nhau.

Giao-Chi trói Phùng Dị, Lưu Thương. Để hai người chung một ngựa, rồi lên đường.

Đoàn người phi ngựa nhanh như gió trong đêm. Dù phi ngựa song họ có võ công cao, câu chuyện không bị đứt đoạn. Bỗng có tiếng tiêu nhu hòa văng vẳng trong đêm. Đào Kỳ nhận ra đó là khúc Cổ loa di hận chàng đã được nghe tại Mai-động. Chàng quay lại nhìn thì người tấu là Giao-Chi. Tuyệt ở chỗ ngựa phi như bay mà nàng tấu khúc nhạc, tiếng tiêu liên miên bất tuyệt. Tiếng tiêu ngân vang, đầy sầu thảm trong đêm khuya, khiến những người hùng tâm như Đào Kỳ, quảng đại như Khất đại-phu cũng phải thổn thức trong lòng.

Tiếng tiêu vừa dứt. Đô Dương ra hiệu cho mọi người dừng lại. Chàng chỉ về phía trước:

– Đằng trước là Tam-lâm, quẹo xuống Nam mấy dặm nữa là thành Trường-an. Đêm khuya, lại nhân có Hán-đế ở đó, nên thành đóng cửa. Chúng ta ngừng tại đây chờ sáng hãy vào thành.

Đô Dương hỏi Giao-Chi:

– Sư-muội! Khúc nhạc sư-muội vừa tấu tên gì? Ngu-huynh hủ lậu quá không biết.

Giao-Chi đáp:

– Đại-ca chưa nghe qua là phải. Khúc nhạc này do bố em sáng tác mới đây. Tên là Cổ-loa di hận khóc cho người Việt vong quốc.

Đô Dương bàn:

– Nếu sư muội biết soạn nhạc, phải soạn ra khúc Xuân dạ Việt-nữ chiến Hàm-dương mới đúng hoàn cảnh của chúng ta. Giao-Chi gật đầu:

– Đa tạ đại-ca chỉ dạy.

Đào Kỳ nhận thấy ở Đô Dương tính tình hào sảng, lỗi lạc, có thể nói Đô Dương là một Nghiêm Sơn thứ nhì. Chàng nghĩ:

– Nếu Nghiêm đại-ca có bề gì, thì Đô đại-ca cũng sẽ là một đại tướng cầm quân chống Hán như Nghiêm đại-ca được.

Qua kinh nghiệm một thời gian cầm quân. Chàng nhớ đến lời giảng của Lục Mạnh-Tân hồi còn ở Thái-hà trang: Khi dùng tướng chia làm bốn loại. Phàm người có sức khỏe dùng vào việc xung phong, hãm trận, là dũng tướng ví như Phàn Khoái. Loại người có sức mạnh, biết điều khiển quân sĩ, đánh thành, hãm trận, đánh trên núi, đánh ở đồng bằng, ủy cho điều khiển một đạo quân, giao cho một nhiệm vụ. Đó là Chiến-tướng vậy. Loại không sức khỏe biết dùng binh, biết mình, biết người, trên thông thiên-văn, dưới hiểu địa lý, thì dùng làm Quân-sư như Trương Lương, Tiêu Hà. Còn loại trí dũng tuyệt vời, văn mô vũ lược, biết trông rộng, nhìn xa, nhìn giặc, nhìn mình, ngồi trong trướng mà quyết thắng ngoài nghìn dặm là đại tướng như Khương Thượng, Tôn Vũ, Ngô Khởi, Hàn Tín. Còn loại tối cao có chí lớn, ôm trời đất trong lòng, nhã lượng, cao trí, hùng tài, đại lược có đức Nhân như Vũ-Vương, Cao-Tổ, đó là loại Đế vương vậy.

Chàng nhẩm ước tính những người của mình, thì thấy: Khất đại-phu, Nguyễn Phan, Nguyễn Trát, Phan Đông-Bảng, Trương Thủy-Hà, Cao Cảnh-Minh, Đặng Thi-Kế, Nguyễn Thành-Công, đại sư-huynh Trần Dương-Đức, hai anh Nghi-Sơn, Biện-Sơn cho tới Thần-nỏ Âu-lạc, Mai-động ngũ kiệt, Cối-giang tứ hùng đều chỉ là những người có sức khỏe xung phong hãm trận mà thôi. Phật-Nguyệt, Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa lại khác.

Chàng suy nghĩ một lúc rồi nói thầm:

– Trội hơn hết có Nghiêm đại-ca, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Đặng Thi-Sách, bố ta, chú ta, cậu ta, bây giờ thêm Đô Dương là có tài đế-vương.

Chàng tự đặt câu hỏi:

– Thế thì những ai làm đại tướng được?

Rồi tự trả lời một mình:

– Dĩ nhiên bố ta đứng đầu. Võ công người cao, lại có tính quyết đoán, giải quyết mọi việc mau mắn. Về xung phong hãm trận, người giỏi đã đành, ước tính biết mình, biết người thật chính xác. Cứ xét như trận đánh cảng Bắc. Chỉ một nhóm đệ tử, tráng đinh chưa quá 500 người, thế mà người chống lại mấy vạn hùng binh của Thái-thú Nhâm Diên. Đốt cháy phủ Thái-thú, đánh Đô-úy trọng thương, giết vợ con Nhâm Diên. Những người tài như bố mình không thiếu. Đầu tiên là chú Đào Thế-Hùng, cậu Đinh Đại, Lê Đạo-Sinh và đệ tử Thái-hà trang cũng đều có tài đại tướng. Sư thúc Lương Hồng-Châu, Lại Thế-Cường, Đinh Công-Thắng, Triệu Anh-Vũ, tám vị Thái-bảo Sài-sơn, Lê Chân, Hồ Đề, Đàm Ngọc-Nga và Hoàng sư-tỷ. Ừ nhỉ! Lĩnh Nam mình nhiều nhân tài quá, do hoàn cảnh đất nước tạo nên.

Chàng lại tự đặt câu hỏi:

– Thế còn mình, mình thuộc loại nào đây? Sư-bá Nam-hải nói mình có tài đại-tướng. Nghiêm đại-ca dĩ nhiên tin là mình có tài đại-tướng mới giao ấn Chinh-viễn đại tướng-quân cho mình. Mình thống lĩnh cả sư-thúc Triệu Anh-Vũ, Lương Hồng-Châu, Đinh Công-Thắng và Hoàng sư-tỷ. Nghiêm đại-ca còn bảo mình là chiến tướng được. Điều này đúng, vì cái ông chiến tướng đó đại-ca dạy mình. Võ công mình cao, dĩ nhiên rồi. Nghiêm đại-ca tự biết tài điều quân, ước tính tình hình không bằng Phương-Dung, nên để Phương-Dung làm quân-sư. Đại-ca thực là người có tài đế vương, nên dù Phương-Dung nhỏ tuổi lại là gái, đại-ca cũng vẫn trọng dụng và tự nhận thua nàng. Chính cái biết dùng người và bỏ tự ái đó, đại-ca mới làm Lĩnh-nam vương. Đại-ca còn bảo mình có tài quân-sư, nên không cần quân-sư. Như vậy mình hơn Đặng Vũ, Ngô Hán, Sầm Bành, Phùng Dị sao?

Chàng chợt nhớ lời sư bá Nam-hải phê bình chàng:

– Cháu đủ tài, nhưng cháu thiếu đức biết người, tin người và để tình cảm át mất linh mẫn. Nếu như cháu biết người, tin người như Nghiêm Sơn, chỉ cần sai Vương Phúc, Trần Quốc đi thám thính Mỹ-cơ là đủ rồi. Việc gì cháu phải đem thân đại-tướng đi làm việc đó, bị Trần Thanh-Nhiên bắt suýt mất mạng. Đến việc vào Thành-đô cùng với Vương Nguyên cũng vậy. Cứ sai Vương Nguyên đi với Lương Hồng-Châu cũng được, việc gì phải thân chinh đi. Mình là đại-tướng, thống lĩnh ba quân, mạo hiểm như vậy đâu phải là người trí? Sư bá còn chê mình không bỏ được tình cảm riêng tư, người mới để cậu Đinh Đại thống lĩnh đạo Lĩnh-nam thay mình. Vậy mình phải sửa đổi mới được.

Đô Dương chỉ vào một xóm ven đường:

– Chúng ta vào dưỡng thần chờ trời sáng.

Đô Dương quen với địa thế ở đây. Chàng xuống ngựa dẫn mọi người đến ngôi đền gần đường. Ngôi đền khá lớn, phía trước có mấy cây cổ thụ, tấm bảng trước đền đề ba chữ lớn Tam-hoàng miếu. Mọi người cùng cột ngựa sau miếu. Giao-Chi đi trước, nàng đưa tay gõ cửa. Không có tiếng trả lời, nàng dùng tay đẩy mạnh. Cánh cửa bật tung, nàng định bước vào trong. Thì nhanh như chớp, Đô Dương chụp lấy dây lưng nàng, nhấc bổng lên kéo lại sau. Rồi chàng cầm cái túi trên lưng ném vào trong. Lập tức phía sau cánh cửa, một thanh kiếm chém vào cái túi của chàng. Cái túi văng vào góc. Chàng vẫn giữ nguyên Giao-Chi, nhảy lui lại lên tiếng:

– Chúng tôi là khách qua đường vào đây trú lạnh, chờ trời sáng nhập thành. Vì vậy làm phiền tôn-giá, xin tôn-giá miễn chấp.

Bây giờ chàng mới bỏ Giao-Chi xuống. Giao-Chi tỉnh ngộ:

– Mình đáng chết thực. Rõ ràng mình thiếu kinh nghiệm, không có Đô đại-ca thì mình lãnh nhát kiếm kia rồi.

Bên trong không có tiếng trả lời. Đô Dương rút kiếm cầm tay lao mình vào bên trong cánh cửa. Chàng chém luôn một lúc bốn chiêu vào mỗi bên, nhưng không thấy đối thủ phản ứng. Chàng đánh lửa lên nhìn khắp cả, thấy một người mặc quần áo kiểu binh Hán ngồi gục đầu vào hai chân. Dường như y bị thương. Tay cầm kiếm run run cất lên không nổi.

Khất đại-phu giàu lòng nhân đạo. Ông chạy đến đỡ y đưa lên trước bệ thờ thần, cầm mạch rồi nói:

– Không hề gì! Y chỉ vì đói và mệt quá, chứ không sao cả.

Phương-Dung lấy gói lương khô đưa cho Khất đại-phu. Ông đem cơm nắm, muối vừng đút cho y ăn. Y cố gắng nhai đập đạp rồi nuốt vào bụng. Chỉ lát sau y nhai hết nắm cơm lớn. Y cầm bình nước uống mấy hơi, rồi buông tiếng thở dài não ruột.

Đào Kỳ lấy cây nến châm lửa đưa đến gần mặt y. Chàng giật mình kêu lên:

– Ôi! Thì ra ngươi! Ngươi chưa chết sao.

Chu Bá cũng kêu lên:

– Trương Minh-Đức đấy hả? Tại sao mi ở đây?

Thì ra tên quân Hán là Trương Minh-Đức, con rể Chu Bá. Y là con trai huyện-lệnh Đăng-châu. Khi huyện-lệnh Đăng-châu làm phản. Nghiêm Sơn phong Đào Kỳ làm tướng mang quân đánh. Sau trận đánh, chàng và Phùng Vĩnh-Hoa cố gắng tìm hắn và Chu Tường-Quy, nhưng không thấy. Chàng cho rằng hai người chết chìm. Không ngờ nay lại gặp y ở đây.

Khất đại-phu ra dấu bảo mọi người để y im lặng. Vì y nhịn đói đã lâu ngày, mới được ăn, cần có thì giờ tiêu hóa thực vật, mới nói được. Đô Dương cầm đuốc dẫn Giao-Chi đi quanh đền tra xét một lượt, thấy góc đền còn xác chết một con ngựa nữa. Còn tuyệt không dấu vết gì khác. Từ lúc gặp Đô Dương đến giờ. Mọi người thấy ở chàng có một cái gì khác thường giống Nghiêm Sơn: Hào hiệp, thông minh, nhất là quyết đoán mọi việc nhanh chóng. Trải qua biến cố vừa rồi. Họ còn thấy ở chàng một người lịch duyệt võ lâm nữa. Người phục nhất là Phương-Dung và Đào Kỳ. Hai người thấy Đô Dương có bóng dáng của người võ hiệp, cái oai của tướng cầm quân, lại có cái ôn nhu văn nhã của người đọc sách.

Từ trước đến nay Đào Kỳ vẫn có thiện cảm với Chu Bá, vì chàng yêu Tường-Quy. Mối tình của chàng với Tường-Quy càng cay đắng khổ sở, hai người càng yêu nhau thắm thiết hơn lên. Tường-Quy là con nhà danh gia được giáo dục kỹ lưỡng về luân lý Khổng-Mạnh. Còn Đào Kỳ con một lạc-hầu yêu nước, chưởng môn phái Cửu-chân, lừng danh thiên hạ về võ đạo, về lòng yêu nước phục quốc. Thế mà hai người không giữ được bản thân, đã sa ngã chỉ vì ông ngoại nàng là Lê Đạo-Sinh dùng nàng như một món hàng. Lần thứ nhất trên đường về thăm ông ngoại trước khi lấy chồng. Nàng bị ông gài vào một hoàn cảnh gặp gỡ Đào Kỳ, rồi yêu nhau. Mục đích của Lê Đạo-Sinh muốn dùng cháu ngoại bắt Đào Thế-Kiệt. Vì bấy giờ y nghĩ những hành động bí mật của Đào Kỳ là do Đào Thế-Kiệt chủ động. Lần thứ nhì nàng đã lấy chồng rồi. Ông ngoại gọi về thăm nhà, rồi dùng nàng bắt Đào Kỳ hầu uy hiếp Đào Thế-Kiệt. Lê Đạo-Sinh không ngại ngùng gì mà giam nàng với Đào Kỳ vào trong một khoang thuyền. Tất cả những việc làm của Lê do Tô Định giật dây. Tô Định nguyên là cháu gọi Mã thái-hậu bằng cô họ. Mã thái-hậu thấy Nghiêm Sơn được phong Lĩnh-nam công. Sợ chàng nhân đó mà áp chế triều Hán. Bà áp lực ép Tam-công ban chiếu chỉ phong Tô Định làm thái-thú Giao-chỉ, hầu để con mắt dò xét Nghiêm Sơn. Theo luật lệ nhà Hán, Nghiêm được phong Lĩnh-nam công, chàng có quyền đề cử tất cả các thứ-sử, thái-thú, tướng-quân trong vùng. Nghĩa là chàng giống như một ông vua, có toàn quyền quyết định. Nhưng Nghiêm Sơn không muốn vì mình mà Mã thái-hậu, Quang-Vũ bất hòa. Tô Định được gửi sang, phong làm Thái-thú, chàng cũng nhận. Tô Định cậy là người Thái-hậu, khích Lê Đạo-Sinh chống Nghiêm. Nếu Lê hại được Nghiêm Sơn, y sẽ trực thuộc triều Hán. Y mặc sức vùng vẫy biên thùy một cõi. Còn Lê bại, thì Lê chết. Lê cũng khôn khéo, đẩy cho đệ tử là Phùng Chính-Hòa đem quân làm phản, vây Nghiêm Sơn ngoài đảo. Phùng bại, bị giết, Lê Đạo-Sinh phủi tay. Y đẩy Phong-châu song-quái phản Nghiêm Sơn. Việc không thành, Phong-châu song-quái bị bắt. Y chối không biết. Y tưởng lập công như vậy sau này Tô Định làm Thứ-sử Lĩnh Nam, ít ra y cũng được phong Thái-thú Giao-chỉ.

Sau vụ Thái-hà trang bị đổ bể vì giam cầm bắt cóc con trai Tô Định. Lê Đạo-Sinh biết rằng những mưu đồ bấy lâu hóa ra một trường mộng ảo. Y tụ tập đệ tử sang Trung-nguyên. May mắn gặp Công-tôn Thi, con thứ Công-tôn Thuật. Y giúp Thi xuất đạo kỳ binh đánh úp Dương-bình quan. Theo sự tính toán của y. Chiếm được Dương-bình quan, đạo quân Hán-trung mất đường về. Phía sau Công-tôn Tư sẽ phản công. Công-tôn Thi ở trước sẽ đổ ra chiếm Hán-trung, đánh về Trường-an. Khi Hán-trung, Trường-an trong tay, Công-tôn Thi quay lại áp chế Công-tôn Tư, cướp ngôi thái-tử. Thi lên làm vua, Lê Đạo-Sinh ít ra cũng được phong vương. Nhân đó y xuất đạo quân tiến về Lĩnh Nam mưu đồ việc lớn. Không ngờ cơ mưu của y chỉ thành công một nửa. Thời không đến với y. Quang-Vũ bạc đãi Nghiêm Sơn, anh hùng Lĩnh Nam phản Hán, âm mưu phế trưởng lập thứ của y thất bại.

Lê Đạo-Sinh bỏ Thục, dẫn đệ tử đến Lạc-dương. Y được tin Mã thái-hậu tuyển nhiều cao thủ, khống chế quần thần, sau sẽ áp chế hoàng-thân quốc-thích nhà Hán. Không gặp người tiến cử với Mã thái-hậu. Y nghĩ ra một cách: Mở võ đài ở Lạc-dương thách anh hùng thiên hạ đấu võ. Trong suốt một tháng mở võ đài. Anh hùng thiên hạ không ai đấu lại đệ tử của y. Một võ quan cao cấp trong đám thị-vệ là Việt-kỵ hiệu-úy Trương Linh lên đài đấu võ với Hoàng Đức. Linh chịu được 12 chưởng thì thua. Giữa lúc đó Mã thái-hậu đang lo lắng việc bà hại Hàn Tú-Anh, mẹ đẻ Quang-Vũ bại lộ. Bà cần nhiều cao thủ chung quanh khuynh đảo triều Hán. Bà nghe vụ võ đài, cho người bí mật mời Lê Đạo-Sinh vào tiếp kiến. Sau mấy câu chuyện. Bà biết rõ ý định của Lê, liền hứa cho Lê làm Thứ-sử chứ không phải Thái-thú Giao-chỉ. Bà còn hứa phong cho y tước hầu và chức Chinh-thảo tướng-quân. Các đệ tử đều được phong làm Thái-thú, Đô-úy, Đô-sát...Thế là Lê Đạo-Sinh đặt các đệ tử dưới quyền sai phái của Mã thái-hậu. Mã thái-hậu cho Chu Bá làm chức hiệu-úy trong cấm quân, cho Trương Minh-Đức làm cấm quân hầu hạ. Bà cho Lê Thị-Hảo, Chu Tường-Quy ra vào cung cấm như những cung nga người Hán.

Tuy được trọng dụng nhưng Chu Bá là người yêu nước. Thân phụ ông trước đây vì chống nhau với quân Hán mà bị giết. Bây giờ ông theo Lê Đạo-Sinh giúp Quang-Vũ đã là mối hận ghê gớm rồi. Ông bị đưa sang Hán, đặt dưới quyền một người đàn bà đanh ác, xảo quyệt như Mã thái-hậu. Ông cảm thấy nhục nhã hơn.

Mã thái-hậu thường sai ông dẫn các võ sĩ đi ám sát các đại-thần, nếu họ không chịu theo đường lối của bà. Chu Bá thấy mình đem tấm thân văn võ kiêm toàn chỉ để làm những chuyện như thế, thực là tủi hổ. Một hôm vô tình nghe Mã thái-hậu và Trương Linh bàn với nhau: Sau khi thành công mọi chuyện, sẽ tìm cách đổ hết tội lên đầu Lê Đạo-Sinh, sai đem ra pháp trường xử trảm.

Chu Bá thất kinh hồn vía, ông thấy nếu có nói ra Lê Đạo-Sinh cũng không tin nào. Ông đành để tâm chờ thời gian thuận tiện là ra đi. Trước khi đi Phù-phong với Mao Bạch. Ông viết sẵn phong thư giao cho người nữ tỳ thân tín dặn, nếu trong 10 ngày không thấy ông về, thì đưa cho Lê Thị-Hảo. Vì ông nghĩ trong dịp đi này, ông sẽ tìm đám anh hùng Lĩnh Nam về với đất nước.

Bây giờ trong đêm, gặp con rể ở giữa chỗ hoang vắng, trong hoàn cảnh sắp chết đói. Ông hoang mang không hiểu những gì đã xảy ra cho vợ con ông ở Lạc-dương.

Đào Kỳ tinh ý vẫy mọi người lui ra xa cho Chu Bá hỏi chuyện Trương Minh-Đức. Trương Minh-Đức nhờ được ăn cơm nắm, một lúc sau đã tỉnh táo, khỏe mạnh. Y ngồi nhìn Chu Bá rồi òa lên khóc.

Chu Bá hỏi:

– Có gì, ngươi cứ nói ra, tại sao phải khóc?

Trương Minh-Đức kể rằng: Một hôm cùng Tường-Quy vào cung hầu Mã thái-hậu, chẳng may gặp Quang-Vũ. Trương Minh-Đức với vợ vội quỳ xuống tung hô vạn tuế. Quang-Vũ thấy nàng đẹp ủy mị, đẹp não nùng, đẹp mơn mởn, không cầm được lòng, đứng ngây người ra nhìn rồi lên tiếng hỏi:

– Cô nương. Cô nương tên họ là gì, quê quán ở đâu? Con cháu vị đạÏi thần nào ở trong triều?

Tường-Quy tâu:

– Thiếp là con gái Chu Bá và Lê Thị-Hảo. Thân phụ thiếp người đất Lĩnh Nam. Hiện giữ chức hiệu-úy trong cung cấm, chưa có chức tước.

Quang-Vũ hỏi hết chuyện nọ đến chuyện kia, rồi truyền giữ Tường-Quy trong cung. Trương Minh-Đức tuyệt không biết vợ ở đâu, hiện ra sao. Một hôm Mã thái-hậu gọi y đến hầu, truyền lệnh bắt trói đem chém đầu về tội liên lạc với phản tặc Thục. Y kêu oan. Nhưng chỉ là một tên lính thì kêu với ai bây giờ? Trong khi bị đưa ra pháp trường. Y được Khúc-giang ngũ hiệp xuất hiện, đánh đuổi đám võ sĩ cứu y, cho con ngựa chạy trốn. Ngũ hiệp nói với y:

– Cháu nhớ nghe đây : vợ cháu lọt mắt xanh Quang-Vũ, bị bắt vào cung làm phi-tần rồi. Vì vậy Mã thái-hậu phải giết cháu để bịt miệng. Vậy cháu mau trốn khỏi nơi này, nếu không muốn tan xương nát thịt.

Trương Minh-Đức trốn đến đây thì ngựa chết. Y bị bệnh, tiền không có, đành nằm chờ chết thì gặp lại Chu Bá.

Chu Bá để Khất đại-phu cứu chữa cho Trương Minh-Đức. Ông lại bên cạnh Phương-Dung hỏi:

– Này cháu Phương-Dung, cháu bảo chúng ta phải làm sao?

Phương-Dung thở dài:

– Chỉ tội nghiệp cho Trương Minh-Đức mà thôi. Chắc y không chết đâu, người yếu vì vừa đói lại vừa bệnh. Bây giờ chúng ta cần an ủi y.

Phương-Dung bảo Đào Kỳ:

– Ngày nọ Trương Minh-Đức đã thấy đại ca tình tứ với Tường-Quy. Vậy đại ca tránh ra ngoài, cho y khỏi nhớ chuyện cũ sinh phẫn hận.

Đào Kỳ nghe Phương-Dung nói. Chàng nhìn vợ, thoáng thấy cười mà không phải cười. Chàng bước ra khỏi đền Nữ Oa.

Đô Dương từ trước đến giờ kính trọng Quang-Vũ vô cùng. Không ngờ bây giờ mới được thấy một khía cạnh hủ nát của y đến chỗ cực kỳ tàn tệ.

Đào Kỳ hỏi Khất đại-phu:

– Thái sư-thúc, Trương Minh-Đức nhắc đến Khúc-giang ngũ hiệp. Vậy họ là ai thuộc môn phái nào?

Khất đại-phu nói:

– Khúc-giang ngũ hiệp hay gọi Trần-gia ngũ kiệt. Năm người là anh em ruột. Họ có tên theo thứ tự Trần Nhất-Gia cho đến Trần Ngũ-Gia, thuộc phái Khúc-giang ở Nam-hải. Trước đây Đồ Thư mang quân sang chiếm ba quận Nam-hải, Tượng-quận và Quế-lâm. Các anh hùng người Việt bỏ ba quận này đi xuống Giao-chỉ. Riêng Trần-gia không chịu giữ vững Khúc-giang chống Đồ Thư. Triệu Đà cai trị ba quận nhiều lần mang quân đánh Khúc-giang mà không được. Y đành để Khúc-giang như một vùng tự trị. Khi Triệu Đà bị Hán tiêu diệt, Hán đem quân đánh Khúc-giang. Trần-gia đành quy phục. Một chi chạy xuống Giao-chỉ. Đó là ông nội của ta.

Đô Dương hỏi:

– Sư-thúc, vậy sư-thúc với Nam-hải nữ-hiệp là thế nào?

Khất đại-phu cười:

– Thì Trần Thị Phương-Châu tức Nam-hải nữ-hiệp. Trần Thị Phương-Chi tức Tiên-yên nữ-hiệp, Nam-thành vương Trần Công-Minh, Thiên-trường đại-hiệp Trần Quốc-Hương đều là cháu gọi ta bằng chú. So vai vế thì Khúc-giang ngũ hiệp dưới ta một vai. Chúng ta là anh em họ xa. Khúc-giang nhất hiệp với ta rất thân thiết. Võ công y cao hơn ta một chút. Tuổi nhỏ hơn ta, đâu khoảng 60 hơn gì đó. Năm anh em này cùng có chí hướng như Đào-hầu, Đinh-hầu vùng Cửu-chân. Uy tín của họ ở Nam-hải rất lớn.

Bỗng từ ngoài miếu vọng vào tiếng nhạc du dương. Điệu nhạc như nắng mới đầu xuân. Người nghe như cảm thấy bị giam trong vòng u tối, bây giờ mới được thấy ánh sáng. Phút chốc điệu sáo lại đổi sang nóng nực. Trong cái tức tưởi nóng nực, có cái mát mẻ như trận gió trưa hè. Một lát lại đổi như phượng gáy véo von trên trời. Khiến người nghe cảm thấy như hùng tâm tráng khí, muốn vung chân múa tay, rồi từ từ hạ xuống.

Đô Dương hỏi Chu Bá:

– Chu tiên sinh, khúc nhạc này tiên sinh được nghe bao giờ chưa nhỉ? Hậu sinh chưa từng biết qua, nên không rõ tên nó là gì? Dường như khúc này trái ngược với khúc Cổ loa di hận thì phải.

Chu Bá thấy Đô Dương là người tài kiêm văn võ, mà lại rất thích âm nhạc, ông trêu:

– Khúc này tác giả là Đô Nguyễn.

Đô Dương giật mình:

– Nếu vậy thì ra tác giả là người cùng họ với tiểu sinh đấy.

Chu Bá nhìn Đô Dương cười:

– Tác giả là hai người, một người họ Đô, một người họ Nguyễn. Đô thì xuất thân hiệp sĩ. Còn Nguyễn là một kiều nữ đất Mai-động. Họ cùng hợp nhau sáng tác trong lần đến Trường-an.

Mọi người cười ầm lên, Đô Dương chợt hiểu:

– Thì ra hồi nãy tiểu sinh đề nghị sư muội Giao-Chi sáng tác khúc Xuân dạ Việt nữ chiến Trường-an. Không ngờ sư muội Giao-Chi sáng tác nhanh như vậy.

Chàng gọi Giao-Chi:
– Sư muội tấu lại một lần nữa cho Thái sư-thúc và bọn ta thưởng thức tài nghệ Trương Chi tái sinh được chăng?

Giao-Chi cầm ống tiêu đưa lên môi, tiếng tiêu réo rắt. Nhưng âm thanh nặng nề. Người nghe có cảm tưởng như mình đang bị giam hãm trong hầm tối, nóng nực ngộp thở, khó chịu vô cùng. Dứt đoạn, Giao-Chi ngừng lại, nhìn mọi người cười tủm tỉm. Mắt của nàng là mắt bồ câu, lại thêm cái răng nanh khểnh ra ngoài, nàng cười nheo mắt với Đô Dương:

– Đoạn này để tặng Đô đại-ca.

Đô Dương cảm động nói:

– Đa tạ sư-muội. Đoạn này sư-muội tả cảnh dân Việt bị người Hán đô hộ, ta cảm thấy như bị trói, bị quăng xuống hầm tối.

Giao-Chi lại cầm tiêu thổi đoạn thứ nhì. Tiếng tiêu nhẹ nhàng, vang đi rất xa.

Đô Dương bàn:

– Tuyệt! Chỗ này sư muội muốn diễn tả lời kêu gọi dân Lĩnh Nam đứng dậy phục quốc. Tiếng tiêu tha thiết như tiếng mẹ dạy con, nhu hòa như tiếng vợ dặn chồng, lại pha lẫn những giọng buồn, hùng tráng, để diễn tả người người ra đi phục quốc.

Giao-Chi cầm tiêu thổi nốt đoạn cuối, rồi mỉm cười không nói gì. Đô Dương phê bình:

– Đoạn này như tiếng sắt, tiếng vàng chạm nhau, như muôn ngàn quân reo, lửa dậy. Cuối cùng là tiếng nhu hòa như đang bay trên mây. Vậy chắc sư muội muốn diễn tả chúng ta nổi dậy đánh thành, chiếm đất.

Giao-Chi ngước mắt nhìn Đô Dương tình tứ:

– Đa tạ Đô đại-ca! Đô đại-ca quả là tri kỷ của em.

Chu Bá thấy giữa Đô Dương với Giao-Chi như nước, như tình ngập ngừng chưa dám nói ra, song ý đã lộ. Ông là người lớn tuổi, kinh nghiệm nhiều, ông nghĩ:

– Đô Dương là người đại tài, trí dũng hơn đời. Giao-Chi là con gái yêu của Nguyễn Tam-Trinh, Mai-động-hầu thuộc phái Sài-sơn. Võ công, âm nhạc, nhan sắc vẹn toàn. Ta nhân đây ghép họ lại với nhau, chả là việc tốt đẹp ư?

Ông nghĩ vậy lên tiếng:

– Cháu Giao-Chi! Ta muốn đặt tên cho khúc tiêu này được không?

Giao-Chi chắp tay:

– Đa tạ sư bá đặt tên cho.

Chu Bá cười:

– Ban nãy Đô huynh có đề nghị cháu sáng tác khúc Xuân dạ Việt nữ chiến Trường-an cháu nhân đó sáng tác ra khúc này. Cháu là Việt nữ. Trên đường đánh Trường-an do Đô dẫn đầu, ta đề nghị đặt tên khúc hát này là Dương Chi tình khúc có phải hay hơn không?

Mọi người cười ầm lên. Giao-Chi là con nhà võ, theo quân sang Trung-nguyên đánh đư trăm trận. Nhưng nàng vẫn không mất nét nhu mì, e thẹn của một thiếu nữ. Nghe Chu Bá nói vậy nàng cúi đầu xuống, mặt đỏ lên. Còn Đô Dương võ công kinh người, tài trí song toàn, tước phong tới Hầu, quan tới thái-thú, chúa tể một vùng, tiền rừng bạc biển, chàng vẫn chưa lấy vợ chính thức. Vì chàng không muốn lấy vợ như các bạn đồng liêu khác, chỉ lấy vợ để có người hầu hạ. Chàng muốn có một cô vợ hiểu mình sống với nhau như đôi bạn. Làm quan trên đất Hán, chàng gặp toàn gái người Hán. Họ cũng xinh đẹp nhu mì, nhưng chàng thấy thiếu một cái gì khó diễn tả. Ngay trong buổi sơ giao, chàng gặp Giao-Chi, một cô gái xinh đẹp, nhu mì, âm nhạc, võ công đều vào hạng hiếm có. Chàng thấy động tâm nhưng chưa có một ý niệm gì. Bây giờ nghe Chu Bá ghép lại chàng cảm thấy hơi ngượng ngùng, liếc mắt nhìn Giao-Chi. Thế rồi chàng ngồi im không nói được câu nào.

Phương-Dung muốn phá tan bầu không khí yên tĩnh, nói:

– Thôi bây giờ chúng ta đi nghỉ, để mai còn lên đường vào Trường-an. Tất cả ngủ trong miếu này. Duy có Đô đại-ca, Giao-Chi ra trước miếu mắc võng canh phòng.

Phương-Dung liếc nhìn hai người, mỉm cười. Nàng nghĩ lại thưở ban đầu, giữa nàng với Đào Kỳ gặp nhau. Tình tứ như nước sông Hồng-hà, chảy không bao giờ hết. Bây giờ nàng cho hai người ra trước ngủ canh gác, nhưng sự thực để họ có thời giờ tâm tình với nhau.

Mọi người đang cười nói. Bỗng Khất đại-phu chỉ lên bàn thờ:

– Cháu Đô Dương! Cháu là trai chưa vợ. Thân thể sạch sẽ. Cháu lau bụi bặm trên tượng Quốc-tổ, Tổ-cô. Chu Bá lau bàn thờ. Đào tiểu-hữu lau các câu đối. Giao-Chi, Phương-Dung quét dọn đền thờ thật sạch sẽ.

Phương-Dung thắc mắc:

– Khất đại-phu! Chúng ta vốn người Việt, giòng giống Tiên-Rồng. Ta chỉ tôn kính Quốc-tổ, Quốc-mẫu Lĩnh Nam thôi. Việc gì phải tôn kính Quốc-tổ, Tổ-cô Trung-Nguyên? Cháu thấy có một điều lạ lùng. Người Việt mình bị Hán cai trị lâu quá. Rồi cái gì của Hán cũng hay đẹp cả. Mực thì phải mực Tàu, bút thì phải bút Thái-sơn. Bên Trung-nguyên người ta thờ Phục-Hy, Thần Nông... thờ cả bà Nữ Oa mình cũng bắt chước.

Khất đại-phu hừ một tiếng:

– Con bé Phương-Dung lầm rồi. Nhận xét của cháu chỉ đúng có một nửa. Phần đúng, vì con người có tính ưa của lạ. Điều này không đáng trách. Bởi cái gì hiếm cũng quý. Vì vậy dân chúng thích mực Tàu, bút Thái-sơn. Cũng như bên Trung-nguyên họ thích trà Tượng-quận, cam Nam-hải, nhãn Giao-chỉ, rươi Cửu-chân, nước mắm Nhật-nam.

Đến đây cử chỉ Khất đại-phu tỏ vẻ cung kính:

– Còn người Việt mình thờ Phục-Hy, Thần Nông... đều là tổ tiên của mình cả. Cháu không thấy các môn phái Lĩnh Nam đều thờ Phục Hy, Thần Nông, Hùng-Vương trong tổ đình đó sao?

Phương-Dung kính phục Khất đại-phu bác học. Nàng nói:

– Đại-phu, điều đó cháu không biết, thành ra cứ tưởng vua Phục Hy, Thần Nông không phải là tổ mình, bậy quá.

Giao-Chi xen vào:

– A cháu nhớ ra rồi. Hằng năm cứ đến ngày giỗ tổ Phù-Đổng thiên-vương. Bọn cháu được bố dẫn lên tổ đình của núi Sài-sơn. Đúng rồi trên bàn thờ có tượng Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa. Cháu cứ tưởng các vị là người Trung-nguyên. Xin đại-phu đừng tiếc công chỉ dạy cho bọn cháu.

Khất đại-phu chỉ lên bàn thờ:

– Trên bàn có ba ngôi tượng đặt ngồi ngang nhau. Con bé Dung đoán xem những tượng đó là ai?

Phương-Dung đáp:

– Cháu nhắm mắt cũng biết vị ngồi bên trái, lưng quấn miếng da, tay cầm bó cỏ, tay cầm cái cuốc là vua Thần Nông (1). Vua Thần Nông tìm ra phương pháp trồng trọt, ngài là tổ nghề nông, nghề thuốc. Vị ngồi giữa dáng người thanh nhã. Tay cầm bảng Bát-quái là vua Phục Hy. Vua Phục Hy tìm ra Tiên-thiên bát quái đồ. Ngài phát minh ra học thuyết Âm-dương ngũ-hành cùng bát-quái. Còn vị ngồi bên phải đầu hơi giống hình rồng là Kinh-Dương vương, quốc-tổ Lĩnh Nam.

Ghi chú

(1) THẦN NÔNG

Tên một vị vua thời tối cổ. Ngài là quốc-tổ của Việt-nam, Cao-ly, Nhật-bản, Trung-quốc. Nhiều sử gia Trung-quốc cho rằng ngài chỉ là một vị vua trong huyền sử, truyền tụng mà thôi. Bộ Sử-ký của Tư-mã Thiên không thấy chép thời đại Phục Hy, Thần Nông. Ông khởi chép từ vua Hoàng-Đế trong quyển 1 là Hoàng-đế bản kỷ.

Tương truyền ngàii sinh ở đất Khương-thủy lấy chữ Khương làm họ. Ngài là người đầu tiên chế nông cụ, dạy dân trồng ngũ cốc, vì vậy dân chúng tôn ngài làm Thần Nông. Ngài lấy lửa làm biểu hiệu. Vì vậy ngài mới có danh hiệu Viêm-Đế. Ngài khởi nghiệp ở Liệt-sơn, nên đôi khi có sách gọi ngài Liệt-sơn thị. Đóng đô ở đất Trần sau đổi về đất Lỗ.

Tuy trong chính sử không công nhận ngài. Song trong y học, nhất là phương diện tôn giáo, dân chúng vẫn thờ Phục Hy, Thần Nông. Người sau khám phá ra Tiên thiên bát quái cùng Học thuyết Âm-dương, Ngũ-hành, rồi nói rằng thuật do vua Phục Hy tìm ra và được tổ tiên truyền lại.

Chúng tôi được xem tượng thờ ngài ở Bắc-việt, Quảng-đông, Sơn-đông. Thấy đầu ngài có sừng như trâu, thân hình như người. Trên thân không có quần áo. Chỉ quàng miếng da. Tay cầm cái cuốc. Một tay cầm bó lúa (có nơi tạc bó cỏ). Tương truyền ngài để lại cuốn Thần Nông bản thảo gồm ba cuốn.

Xét nội dung Thần Nông bản thảo. Lời văn là lời văn đời Tần, đời Hán tức khoảng trước Tây-lịch 200 năm đến nay sau Tây-lịch 100. Trong ba cuốn, khảo cứu về 365 loại cây cỏ khác nhau, dùng để làm thuốc. Người sau căn cứ vào đó nghiên cứu rộng ra. Cho đến nay (1976) số vị thuốc lên tới 5680. Trong bộ ANH HÙNG TIÊU SƠN, chúng tôi chép về Tổ-sư y học Việt-nam là Nguyễn Minh-Không, sẽ trình bày diễn tiến hình thành các vị thuốc trong nền y học Hoa-Việt.

Khất đại-phu cười:

– Sai rồi cháu ơi! Cháu thử nhìn lên bàn thờ xem. Đây thuộc Trung-nguyên. Đời nào người Hán lại thờ Quốc-tổ Kinh-Dương vương.

Phương-Dung mở to mắt nhìn lên bàn thờ. Bên trái là tượng Thần Nông. Ở giữa là tượng Phục Hy. Còn bên phải không phải là tượng Kinh-Dương vương như nàng thường thấy ở Giao-chỉ mà là tượng Hoàng-Đế. Nàng xấu hổ nói:

– A thì ra là thế. Bên mình thờ Phục Hy, Thần Nông, Kinh-Dương vương. Còn bên Trung-nguyên, người ta thờ Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế. Đại-phu! Cháu đọc sử Lĩnh Nam thấy nói rằng:

Lĩnh-nam lập quốc từ năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây lịch). Khởi đầu từ Kinh-Dương vương. Tên nước là Xích-quỷ. Đến đời Hùng-Vương đổi tên là Văn-lang. Đóng đô ở Phong-châu.

Chứ chưa từng nghe Quốc-tổ là Phục Hy, Thần Nông.

Khất đại-phu nhìn Đào Kỳ cười:

– Đào tiểu hữu! Ngươi nổi tiếng là thông thạo lịch sử Hán, Việt. Ngươi giải nghĩa cho vợ nghe đi chứ.

Đào Kỳ được Đào-hầu dạy rất kỹ về lịch sử Lĩnh Nam. Chàng lại được thừa hưởng di sản văn hóa Trung-quốc từ Lục Mạnh-Tân. Về sử học, chàng hiểu biết rất rộng bỏ xa Phương-Dung. Chàng khẽ đập tay lên vai vợ:

– Để anh nói cho em nghe. Em phải phân biệt lập-quốc với tổ-tiên. Khi theo quân từ Giao-chỉ sang Quế-lâm. Hẳn em có qua Cấm-sơn, đọc bia của Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung chứ?

– Có! Em đọc một lượt thuộc làu. Trong đó nói Đế Minh cháu ba đời Thần Nông, đi tuần thú phương Nam. Đến núi Ngũ-lĩnh, gặp nàng tiên kết hôn với nhau, sinh ra Thái-tử Lộc Tục. Ngài lập đàn tế cáo trời đất. Phong cho con trưởng làm vua phương Bắc tức vua Đế Nghi. Thái-tử Lộc Tục làm vua phương Nam tức Kinh-Dương vương. Ừ nhỉ... thì ra Lĩnh Nam với Trung-nguyên cùng gốc ở một ông tổ.

– Quốc-tổ Kinh-Dương vương lập quốc năm Nhâm-Tuất. Lấy năm ấy là năm đầu. Sử gọi ông là vua Hồng-Bàng thứ nhất. Phương Bắc năm ấy là niên hiệu vua Đế Nghi thứ 10.

Đô Dương ngắt lời Đào Kỳ:

– Như vậy khi vua Kinh-Dương lên ngôi, thì vua Đế Nghi đã băng hà. Đế Nghi làm vua được 10 năm. Không biết lúc bấy giờ Kinh-Dương vương bao nhiêu tuổi?

Đào Kỳ đáp ngay:

– Sử không chép. Song các môn phái Lĩnh Nam đều chép rằng: Khi vua Đế Minh lập đàn, tế cáo trời đất, ấn định lấy núi Ngũ-lĩnh làm cương giới phân chia Trung-nguyên với Lĩnh Nam là năm Nhâm-Tý (2889 trước Tây lịch). Sau đó truyền ngôi cho con trưởng, là vua phương Bắc tức vua Đế Nghi. Lấy năm đó làm năm đầu. Bấy giờ Thái-tử Lộc-Tục mới ra đời. Vậy có thể kết luận Kinh-Dương vương lên làm vua lúc 10 tuổi.

Phương-Dung hỏi:

– Thế khi vua Kinh-Dương lên ngôi triều đại Thần Nông đã được bao nhiêu năm? Vua Phục Hy trước hay sau vua Thần Nông?

– Kể từ năm Thần Nông thứ nhất đến Hồng Bàng năm đầu gần 239 năm. Như vậy triều đại Thần Nông đến khi vua Kinh-Dương vương lên ngôi thì chia làm hai. Bắc do vua Đế Nghi, Nam do Kinh-Dương Vương. Bắc sau thành Trung-nguyên, Nam thành Lĩnh Nam. Đến đời Lạc Long Quân, Lĩnh Nam đổi quốc hiệu là Văn Lang. Đời An-Dương vương đổi thành Âu Lạc. Tuy vậy trong dân gian cứ dùng danh hiệu Lĩnh Nam. Sử Trung-nguyên chỉ ghi chép từ vua Thần Nông. Vua Phục Hy trước vua Thần Nông. Em gái của ngài là Nữ Oa. Người Trung-nguyên cứ cho Phục Hy, Nữ Oa là không có thật, vì họ không còn dấu vết gì. Ngược lại Lĩnh Nam mình còn đủ chứng tích, sử chép đầy đủ.

Khất đại-phu cười:

– Con bé Dung thấy chưa, Trung-nguyên, Lĩnh Nam cùng một nguồn gốc từ Thần Nông. Tuy sử Trung-nguyên không ghi chép vua Phục Hy, bà Nữ Oa vì không còn di tích. Thế nhưng truuyền tụng dân gian vẫn còn. Vì vậy họ mới thờ kính.

Đào Kỳ tiếp:

– Kết lại, nguồn gốc Lĩnh Nam phải kể từ vua Phục Hy, kế tiếp tới vua Thần Nông, Kinh Dương Vương. Vì vậy người Việt có tam Hoàng. Người Hán cũng có tam Hoàng. Tam Hoàng của Hán là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế. Tam Hoàng của Việt là Phục Hy, Thần Nông, Kinh Dương (2).

Ghi chú

(2) TAM HOÀNG

Nói về Tam Hoàng, giữa hai quốc gia Trung-quốc, Việt-nam không thống nhất. Ngay tại nội địa Việt-nam, nội địa Trung-quốc cũng không đồng nhất.

1. TẠI TRUNG QUỐC,
1.1. bộ sách đầu tiên nói đến Tam Hoàng là Chu Lễ chương Thiên ngoại quan sử chép:

Chưởng Tam Hoàng Ngũ Đế chi thư.

(Giữ sách của Tam Hoàng Ngũ Đế)

1.2. Các sử gia Trung-quốc không thống nhất về Tam Hoàng.

a) Sách Hà đồ Tam Ngũ lịch, Tam Hoàng là Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng.

b) Sách Thượng-thư Đại Truyện, Tam Hoàng là Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông.

c) Sách Bạch Hổ Thông, Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông, Toại Nhân.

d) Khổng An-Quốc trong bài tựa sách Thượng Thư và Hoàng-phủ Mật trong Đế vương thế-kỷ thì tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế.

Về phương diện tôn giáo, người Trung-quốc thờ Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế làm Quốc-tổ.

Năm 1976, thuật giả có viếng cố đô Trường-an, Hàm-dương, (nay thuộc tỉnh Thiểm-tây huyện Tây-an), nhân đó viếng đền thờ Tam Hoàng ở về phía Tây Trường-an khoảng 70 cây số. Trong đền thờ Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa. Một đền khác thuộc vùng Phù-phong lại thờ Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế.

2. TẠI VIỆT NAM,

Nói về tam Hoàng càng khác nhau:

a) Có nơi ảnh hưởng của Trung-quốc, thờ Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế. Đến đời Lý thì bỏ.

b) Có nơi thờ Phục Hy, Thần Nông, Kinh-Dương làm Tam Hoàng.

c) Có nơi thờ vua An-Dương, Kinh-Dương, Trưng-Vương làm Tam Hoàng.

d) Có nơi thờ Phục Hy, Thần Nông, Hùng-Vương làm Tam Hoàng.

e) Có nơi thờ chung Phục Hy, Thần Nông, An-Dương, Trưng-Vương.

Nhiều người Việt yêu nước quá khích, đến độ những gì có liên hệ với Trung-quốc đều gạt ra. Họ chỉ chấp nhận Quốc-tổ là An-Dương Vương. Song trải qua các triều đại Việt-nam đều chấp nhận Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông, Kinh Dương. Triều Nguyễn (1802-1945) các vua vẫn tế Phục Hy, Thần Nông, Kinh Dương, An Dương.

Độc giả muốn tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc Việt, xin đọc các sách của giáo sư Lương Kim-Định do An-việt Houston, Hoa-kỳ xuất bản. Giáo sư Lương Kim-Định căn cứ vào khảo cổ, hình tượng, triết học, văn hóa thời bình minh lịch sử, đã chứng minh rằng nguồn gốc chúng ta là con cháu vua Thần Nông, vào thời kỳ ngài còn làm giáo sư đại học Văn-khoa Sài-gòn (trước 1975). Lúc đầu nhiều người thiển cận cho rằng giáo sư suy luận trong chiều hướng yêu nước quá độ.

Tôi là con ếch ngồi đáy giếng. Suốt từ 1945-1975 chỉ cắm cúi với đống sách chữ Hán, mà không đọc sách Việt. Nên mãi năm 1986 mới được đọc sách của giáo sư Kim-Định. Nước mắt dàn dụa, vì vô tình ngài với tôi đi một đường. Ngài khởi đầu bằng triết học. Tôi khởi đầu bằng sử học. Ngài tốn biết bao tâm não, còn tôi thì chỉ tốn... tiền. Chúng tôi cùng tìm thấy sự thực lịch sử.

Một tỷ dụ: Độc giả biết đọc chữ Hán có thể tìm bộ TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI PHỤC SỨC NGHIÊN CỬU của Thẩm Tùng-Văn, do Thương vụ ấn thư quán, Hương-cảng xuất bản 1981. Những cuộc khai quật ở Vân-nam, Quảng-đông, Quảng-tây, Hồ-nam cho thấy, y phục một thế kỷ sau Tây-lịch về trước đều giống nhau. Trở lại với khảo cổ Việt-nam, các cuộc khai quật ở vùng Thanh-hóa, Nghệ-an, Sơn-tây, Bắc-ninh cho thấy y phục thời gian một thế kỷ sau Tây-lịch về trước cũng giống với cuộc khai quật nói trên của Trung-quốc. Vì vậy có thể kết luận: Vùng Thanh-Nghệ đến phía Nam sông Dương-tử từ tiền cổ đến 100 năm sau Tây-lịch có cùng một văn hóa: Mồ mả, y phục, xương sọ. Tức cùng một nước: Nước Lĩnh Nam.

Sau cuộc hành trình dài mọi người đặt mình xuống là ngủ ngay. Phía trước miếu Giao-Chi mắc võng vào hai cây, lấy chăn trùm lên người nằm ngủ. Đô Dương cũng mắc võng cạnh đó. Võng hai người cách nhau hơn trượng. Giao-Chi nhìn trăng tháng giêng chiếu xuống một vùng mờ mờ xa xa hỏi Đô Dương rằng:

– Đô đại ca, không biết trong thành Trường-an có nhiều cao thủ không?

Đô Dương suy nghĩ rồi đáp:

– Trước đây Lưu Huyền dấy binh tại Quang-trung, anh hùng đất Tần theo rất đông, cao thủ như rừng như biển. Sau khi diệt Vương Mãng chết mất khá nhiều. Người trấn thủ Trường-an hiện giờ là Lưu Nghi tước phong Tần-vương. Y khoảng năm mươi tuổi, võ công không thua gì Nghiêm đại-ca với tôi. Mưu trí và tài dùng binh tuyệt vời. Y là người hoàng-tộc, học võ với phái Kỳ-sơn. Hiện Quang-Vũ đến Trường-an, thì Hoài-nam vương, đệ nhất danh gia kiếm thuật đất Hán cũng đến. Các cao thủ trong đoàn nội thị hiệu-úy thế nào cũng tới. Tôi nghe Khất đại-phu, Phật-Nguyệt, Trưng Nhị có đến Trường-an đấu với cao thủ người Hán. Trưng Nhị thắng Trương Linh, Phật-Nguyệt thắng Hoài-nam vương, chắc đã làm cho chúng nhụt bớt nhuệ khí.

Giao-Chi hỏi:

– Đại-ca có thuộc đường lối trong thành không?

Đô Dương gật đầu:

– Thuộc chứ! Trường-an là kinh đô đời Tần và Tây-Hán, thành cao, hào sâu, rộng vô cùng. Ngoài là thành, trong có một thành nhỏ nữa gọi là Hoàng-thành, cố cung của các vua đời trước. Khi chiếm Trường-an lại từ Vương Mãng, tôi cùng với Nghiêm đại-ca đi ngắm tất cả các cung điện đời trước để lại, thuộc rất kỹ. Vả lại đất Phù-phong của tôi thuộc quyền Lưu Nghi. Mỗi tháng chúng tôi phải về họp một lần. Mồi lần như thế lại có dịp ngao du ngắm cung điện. Vì vậy tôi nhớ nằm lòng.

Chợt nhớ ra điều gì Đô Dương hỏi:

– Giao-Chi sư muội này! Sư muội có thể kể tôi nghe vì sao Nghiêm đại-ca gặp Hoàng sư-tỷ không? Tôi nghe đồn mối tình hai người làm rung động đất Lĩnh Nam, đến nỗi bên Trung-nguyên, Quang-Vũ cũng biết.

Giao-Chi đáp :

– Đúng đấy! Vì khi khởi sự người ta cứ tưởng Nghiêm đại ca là người Hán. Như đại-ca biết, chúng ta mất nước do âm mưu của Triệu Đà, nhưng cũng do Mỵ-Châu nhẹ dạ dẫn đường cho giặc. Vì vậy các phụ huynh Lĩnh Nam thù con gái Việt lấy chồng Hán. Hoàng sư-tỷ là đệ-tử của Đào-hầu vùng Cửu-chân. Đào-hầu là chưởng môn phái Cửu-chân. Từ mấy trăm năm nay phái Cửu-chân lúc nào cũng chủ trương phục hồi Lĩnh Nam. Cho nên cuộc tình duyên hai người gây chấn động Lĩnh-Nam là thế.

Đô Dương không chịu:

– Tôi nghe Đào-hầu trí dũng song toàn, yêu đệ tử như con, lại khoáng đạt tất phân biệt Nghiêm đại-ca là người thế nào chứ. Tôi nghĩ, phàm xét con người, phải phán xét hành động hơn là phán xét theo lối vơ đũa cả nắm.

Giao-Chi đáp:

– Nguyên khi Nghiêm đại-ca mới sang, đúng lúc Đào-hầu định khởi sự đánh đuổi người Hán. Lê Đạo-Sinh là người có tham vọng muốn làm Thái-thú Giao-chỉ. Nghiêm đại-ca có ý muốn mời Đào-hầu ra làm việc. Đạo-Sinh sợ Đào-hầu được tin dùng mới cho đệ tử vào làm việc cho tế tác, báo cáo rằng Đào-hầu là đầu trộm đuôi cướp. Vùng Đào-hầu cai quản dân chúng khổ sở vô cùng. Thái-thú Cửu-chân Nhâm Diên cũng báo cáo về Nghiêm đại-ca như vậy. Chính Nghiêm đại-ca mang quân đánh Đào-hầu. Chỉ một trận Đinh-hầu, Đào-hầu bỏ trang ấp trốn ra hải đảo. Khi Nghiêm đại-ca biết mình lầm lẫn đã muộn. Thành ra giữa Nghiêm đại-ca với Đào-hầu có mối thù khủng khiếp. Mà giữa trận đánh hai bên, Hoàng sư-tỷ gặp Nghiêm đại-ca.

Đô Dương nói:

– Năm trước đây Quang-Vũ định gả công-chúa Vĩnh-Hòa cho Nghiêm đại-ca. Sau hỏi lại được biết Nghiêm đại-ca đã cưới Hoàng sư-tỷ rồi mới thôi đấy chứ.

Giao-Chi cười:

– Đại-ca có biết Công-chúa Vĩnh-Hòa không? Y thị là người thế nào với Quang-Vũ?

Đô Dương đáp:

– Vĩnh-Hòa công-chúa là con Cảnh-Thủy hoàng-đế. Nguyên trước đây Trường-sa Định-vương có hai người con, người con lớn tên Huyền, tài kiêm văn võ. Ông say mê một kỹ nữ. Định-vương giận lắm, bắt Thế-tử nhận một trong hai điều: Một chọn ngôi Thế-tử, hai chọn kỹ nữ. Thế-tử chọn giải pháp thứ hai cùng người yêu ra ngoài thành sống hạnh phúc bên nhau. Người con thứ nhì được Định-vương truyền ngôi. Sau khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, Trường-sa Định-vương bị giết. Lưu Huyền trốn đến vùng Quang-Trung khởi binh xưng hoàng-đế, lấy niên hiệu là Cảnh-Thủy. Công-chúa Vĩnh-Hòa là con duy nhất của hoàng-đế Cảnh-Thủy. Hoàng-đế có ba người em kết nghĩa là Lý Điệt, Chu Huy và Phan Sùng. Ngài phong Lý Điệt làm Tấn-công, Chu Huy làm Ngụy-công và Phan Sùng làm Tề-công. Ngài trao chức Tam-công là Tư-không, Tư-đồ, Tư-mã cho các em. Phan Sùng một lần thấy hoàng-hậu của Cảnh-Thủy hồn phách y bay phơi phới. Y giết Cảnh-Thủy và hai sư huynh, cướp ngôi vua và định cướp cả hoàng-hậu. Hoàng-hậu xuất thân là kỹ nữ, nhưng trung thành với vua, tự tử chết theo. Khi Cảnh-Thủy hoàng-đế bị giết, Lưu Diễn anh Lưu Tú, tức con Trường-sa Định-vương, gọi Cảnh-Thủy bằng bác ruột mới khởi binh, nối tiếp sự nghiệp. Lưu Diễn chết, Nghiêm đại-ca với chúng tôi mới khuông phò Lưu Tú lên làm vua, hiệu là Quang-Vũ.

Giao-Chi hỏi:

– Tại sao người ta gọi Phan Sùng là Xích Mi?

Đô Dương đáp:

– Phan Sùng xuất thân là chưởng môn phái Trường-bạch. Võ công y rất cao. Y có hai lằn mi đỏ, nhân đó người ta gọi y là Xích Mi. Đi đâu y cũng mang theo một số con em đệ tử, chúng rất tàn ác, người ta gọi chúng là giặc Xích Mi.

Giao-Chi hỏi:

– Sao có thuyết nói rằng Quang-Vũ trước ở dưới quyền Cảnh-Thủy, được Cảnh-Thủy giao cho binh quyền, y cướp sự nghiệp của ngài.

Đô Dương gật đầu:

– Gần đúng như thế. Bởi Cảnh-Thủy không có tính quyết đoán, tướng sĩ không phục, nhất là Nghiêm đại-ca, Phùng Dị, Ngô Hán, Đặng Vũ, Sầm Bành và cả tôi nữa.

Ngừng một lát Đô Dương tiếp:

– Cảnh-Thủy chỉ có một công-chúa Vĩnh-Hòa, Tấn-công Lý Điệt chỉ có một quận-chúa Lý Lan-Anh và Ngụy-công Chu Huy chỉ có một quận-chúa Chu Thúy-Phượng. Quang-Vũ ban cho ba nàng, mỗi nàng một thanh Thượng-phương bảo kiếm, được quyền Thượng trảm hôn quân, hạ trảm gian thần. Ba nàng hiện lưu lạc ở Nam-hải cùng với Khúc-giang ngũ hiệp Trần-gia. Năm trước đây, trong lần về Trường-an giỗ Cảnh-Thủy hoàng-đế, tôi đã được thấy công-chúa Vĩnh-Hòa. Chà! Nàng đẹp như hoa xuân mới nở, tư thái phiêu hốt như một tiên nữ. Nàng rất giỏi về âm nhạc. Tôi e rằng trên thế gian không ai sánh được với nàng.

Giao-Chi hỏi:

– Kể ra Quang-Vũ cũng tử tế với Nghiêm đại-ca đấy chứ. Y định đem chị con ông bác gả cho Nghiêm đại-ca. Quả y đã ưu đãi Nghiêm đại-ca quá rồi còn gì nữa.

Đô Dương lắc đầu:

– Sư muội lầm rồi. Bấy giờ có tin Nghiêm đại-ca muốn phục hồi Lĩnh Nam. Y lo sợ cuống cuồng, vì vậy mới định gả công-chúa Vĩnh-Hòa cho Nghiêm đại-ca.

Giao-Chi à lên một tiếng:

– Quang-Vũ muốn mai phục một việc ngày xưa như Hán-đế dùng An-quốc Thiếu-Quý thôn tính đất Nam-Việt của con cháu Triệu Đà.

Nguyên Tần Thủy-Hoàng sai Đồ Thư mang 500.000 quân sang đánh Âu Lạc, chiếm các quận Nam-hải, Quế-lâm, Tượng-quận, giao cho một viên Quận-úy là Triệu Đà trông coi, rồi tiếp tục đánh xuống miền Nam. An-Dương vương dùng du kích chiến, cuối cùng đánh một trận giết Đồ Thư, nhưng không đòi lại được ba quận trên. Khi Tần Thủy-Hoàng chết. Anh hùng Trung-nguyên nổi dậy như ong. Triệu Đà xưng Nam-Việt vương giữ vững cai trị như một quốc-gia. Sau khi dùng mưu chiếm được nước Âu Lạc, An-Dương vương tự tử. Lãnh thổ Nam-việt trở thành rộng lớn. Triệu Đà xưng đế, cha truyền con nối. Có lần Đà mang quân đánh Trường-sa. Đến đời Hán-Văn đế cho người thuyết phục, dọa đào mồ cuốc mã tổ tiên họ Triệu, Đà mới chịu thần phục, hàng năm tiến cống. Truyền đến đời cháu Đà, Hán-đế bắt cho Thái-tử sang làm con tin. Thái-tử Anh-Tề sang Hán làm con tin, lấy người vợ tên Cù-Thị. Thái-tử Anh-Tề trở về nối ngôi vua được ít lâu thì chết. Hán-đế sai tình nhân cũ sang dụ Cù-Thị với con hàng Hán. Cù-Thị gặp tình nhân cũ, nhớ nước muốn về Trung-nguyên, thị khuyên con trai đầu hàng. Lữ Gia là Tể-tướng nước Nam-việt đứng lên giết Cù-Thị, sứ giả, lập vua khác.

Đô Dương hỏi:

– So sánh giữa Phương-Dung với Hoàng sư-tỷ ai đẹp hơn ai?

Giao-Chi đáp:

– Thực khó nói rằng hoa Lan hay hoa Thủy-tiên đẹp. Vì mỗi người mỗi vẻ. Phương-Dung thì đẹp sắc sảo chói chang, nhìn vào như một hoa Lan giữa buổi bình minh. Còn Hoàng sư-tỷ đẹp nhu mì, mỗi khi nhìn sư tỷ, dường như người nhìn bị hút mất năng lực. Võ công sư tỷ cực cao. Trong bốn nữ lưu Lĩnh Nam là Trưng Trắc, Trưng Nhị, Thiều-Hoa và Trần Năng thì trước đây Trần Năng, Thiều-Hoa kém xa hai sư tỷ kia. Nhưng nay vì Trần Năng được sư phụ là Thái-sơn bắc-đẩu Lĩnh Nam truyền dạy, tiến xa hơn nhiều. Còn Hoàng sư tỷ gốc học ở Đào-hầu, sau được sư đệ Đào Kỳ truyền dạy, mà trở thành bản lĩnh kinh nhân. Trước bản lĩnh Hoàng sư-tỷ ngang với Nghiêm đại-ca. Hiện nay bản lĩnh sư-tỷ cao hơn Nghiêm đại-ca một bậc.

Đô Dương thắc mắc:

– Ta nghe khi thất lạc Đào-hầu, Hoàng sư-tỷ nuôi Đào Kỳ như nuôi con, vậy sao võ công Đào Kỳ lại cao hơn sư-tỷ được?

Giao-Chi đem hết chuyện Đào Kỳ từ lúc rời Cửu-chân cho đến lúc chàng gặp bộ Văn-lang võ học kỳ thư, mà trở thành vô địch, nàng thuật lại một lượt cho Đô Dương nghe.

Lúc Đô Dương được Giao-Chi thuyết phục trở về Lĩnh-nam. Chàng vẫn cho rằng bản lĩnh Nghiêm Sơn là đệ nhất. Chàng có thua Nghiêm Sơn đôi chút, thì ít ra cũng vào bậc nhì. Bây giờ chàng mới biết Lĩnh Nam có không biết bao nhiêu nhân tài mà kể.

Hai người im lặng rồi ngủ đi lúc nào không rõ. Trong lúc mơ mơ tỉnh tỉnh, Đô Dương nghe tiếng ngựa phi lộp bộp ở xa. Chàng lắng nghe, có nhiều tiếng chân ngựa chứ không phải một tiếng. Tiếng chân ngựa mỗi lúc một gần. Chàng cúi xuống cầm viên sỏi nhỏ bắn sang võng Giao-Chi để đánh thức nàng, thì không thấy nàng đâu nữa. Chàng đảo mắt nhìn quanh, thì thấy nàng ngồi trên ngọn cây nhìn về phía tiếng ngựa phi. Một lát tiếng ngựa lại gần. Chàng định vào miếu báo cho mọi người biết, có tiếng Phương-Dung nói sẽ:

– Chúng tôi dấu hết ngựa rồi. Còn hai vị ẩn thân ở ngoài. Nếu thấy kẻ lạ vào đừng có lên tiếng, chúng tôi khắc có cách đối phó.

Giao-Chi cùng Đô Dương nhảy xuống thu võng, rồi ẩn thân vào bụi cây gần đó. Tiếng ngựa mỗi lúc một gần. Giao-Chi đếm: một, hai, ba... mười ba con ngựa. Toán thứ nhất chạy đến trước miếu, ngừng lại. Có tiếng một người nói:

– Đây có cái miếu, chúng ta ngừng lại nghỉ chân. Chứ chạy nữa, ngựa mệt quá rồi.

Họ nói tiếng Việt, Giao-Chi nhận ra tiếng nói rất quen thuộc, nhưng không biết là tiếng của ai.

Mười ba người xuống ngựa, tiến vào miếu. Giao-Chi nhìn kỹ xem họ là ai. Trong bóng đêm nàng phân biệt rõ trong 13 người, có 1 nữ, còn 12 nam. Trong 12 nam có 3 người đeo cung tên. Dường như họ đều mỏi mệt và có vài người bị thương nhẹ.

Người cầm đầu chỉ vào miếu nói:

– Chúng ta ẩn trong miếu này chống lại chúng. Cố gắng cầm cự, vận khí điều công phục hồi chân khí, rồi quyết chiến một trận. Từ đây đến chỗ đóng quân của chúng ta không xa cho lắm.

Giao-Chi nghe tiếng nói giật bắn người lên. Nàng nhận ra tiếng của đệ nhị sư bá Trần Công-Minh. Trần Công-Minh là Lạc-hầu ở Ký-hợp. Từ lâu ông không phục tùng người Hán, tách hẳn với chính quyền Giao-chỉ. Ông chiếm lĩnh một vùng tự xưng là Nam-thành vương, dưới tay ông có 2.000 quân và mấy trăm tráng sĩ. Ông là sư phụ của Đàm Ngọc-Nga, thủ lĩnh 36 động Thanh-hoa với trên 1000 tráng sĩ. Ông còn là sư phụ, cậu ruột Nguyễn Thánh-Thiên. Người thiếu nữ mà Đào Kỳ gặp ở Cổ-loa, rồi nàng bị Lê Đạo-Sinh bắt dâng cho Tô Định, được Nguyễn Trát, Đào Kỳ cứu thoát.

Trần Công-Minh bảo người đeo tên:

– Cảnh-Sơn hiền đệ cùng hai cháu chia nhau ra núp ba nơi. Cố bắn cản không cho giặc vào miếu. Chúng ta ở trong miếu ăn uống vận công. Sau một giờ công lực phục hồi, chưa chắc ai ăn ai.

Giao-Chi nói vào tai Đô Dương:

– Người đeo cung tên này tên Cao Cảnh-Sơn, chưởng môn phái Hoa-lư. Còn hai người đi theo kia chắc là Cao Cảnh-Khê và Cao Cảnh-Nham. Vậy cả 13 người đều là người Lĩnh Nam. Không biết họ sang đây làm gì? Vì tất cả những người này không tùng chinh sang Trung-nguyên.

Cao Cảnh-Sơn chỉ cho Cao Cảnh-Khê sang một ụ đất có cây um tùm bên kia đường ẩn nấp. Cao Cảnh-Nham núp ngay phía trái đền. Còn ông, ông leo lên ngọn cây. Thế là ba cha con chia nhau làm ba góc, trấn giữ trước ngôi đền.

Vừa lúc đó toán đuổi theo đến. Họ đông khoảng trên trăm người. Giao-Chi nhìn thấy suýt kêu lên. Vì người cầm đầu là Mã Viện, đi theo có bọn võ tướng Kinh-châu mà nàng đã thấy trong lần hội lớn ở Quế-lâm.

Giao-Chi bảo nhỏ Đô Dương:

– Không biết đạo Kinh-châu, sư tỷ Trưng Nhị đã tiến tới đâu rồi. Tại sao Mã Viện lại có mặt ở đây. Y là phó tướng đạo Kinh-châu. Đây đâu phải là đất của y.

Bọn Mã Viện tới trước đền, gò cương ngựa lại nói:

– Bọn phản tặc hiện ở trong đền, vì ta thấy các vết chân ngựa tiến vào đó. Vậy chúng ta phải bao vây, bắt hết, nộp cho Thái-hậu.

Vèo ba mũi tên từ trên cây, do Cao Cảnh-Sơn bắn ra, hướng vào Mã Viện, Viện kinh hoảng rút kiếm gạt đánh choảng một tiếng, trong đêm tối tên, kiếm đụng nhau tóe lửa. Kiếm của Mã Viện bật văng khỏi tay, hổ khẩu y tê dại.

Y vội vọt khỏi mình ngựa, chụp lấy kiếm, lộn một vòng đáp xuống đất. Nhưng Cao Cảnh-Sơn bắn một lúc ba mũi tên. Hai mũi còn lại hướng hai tỳ tướng bên cạnh Mã. Hai người định tránh né, nhưng không kịp. Mũi tên xuyên thủng lồng ngực bay ra sau. Vì Cao Cảnh-Sơn bắn từ trên cao, nên mũi tên đi xéo xuống đất. Dư lực mũi tên sau khi xuyên lồng ngực hai tỳ tướng, còn dư sức trúng vào đùi hai tướng khác, ghim đùi họ vào mình ngựa.

Mã Viện quát lên một tiếng, tất cả đám tùy tùng đều nhảy xuống đất núp vào ụ đất bên đường, nhìn về phía Cao Cảnh-Sơn. Hai tỳ tướng bị tên ghim vào mình ngựa. Ngựa đau quá ngã vật xuống, kéo theo hai tướng. Tương-dương nhị hùng đưa một nhát kiếm cắt hai mũi tên, gỡ hai tướng ra khỏi xác ngựa. Mã Viện chỉ vào trong đền nói:

– Chúng ta chia làm ba mũi: Tương-dương nhị, tam, tứ hùng bọc phía trái đền tiến vào. Mũi thứ nhì Tương-dương ngũ, lục, thất, cửu hùng vòng theo phía trái. Còn ta với các tướng tấn công chính diện. Phải cẩn thận, nếu không sẽ bị chúng bắn tên.

Cảnh Yểm cùng Mã Vũ vượt qua đường núp vào mô đất quan sát, vèo một tiếng tên của Cao Cảnh-Khê bắn từ bên kia đường qua. Sáu người rút kiếm ra gạt choang, choang, choang ba mũi tên bị gạt đi. Nhưng bọn Cảnh Yểm thấy cánh tay bị tê dại, không cử động được. Kiếm suýt bay mất. Ba người hoảng hốt vội nằm rạp xuống đất.

Bọn Tang Cung, Lưu Hân, Phùng Tuấn định tiến theo cánh trái vào, liên tiếp sáu tiếng, sáu mũi tên. Họ kinh hoàng khi thấy tên lần này lại ở phương vị khác bắn tới. Đó là tên của Cao Cảnh-Nham. Bọn Cảnh Yểm đã có kinh nghiệm, chúng lăn tròn đưới đất tránh tên. Thế là cả bọn Mã Viện bị cầm chân.

Bỗng cả ba phía tên cùng vèo, vèo bắn ra một loạt. Nhưng tên không bắn vào người mà bắn vào ngựa. Tiếng ngựa rú lên kinh khủng thê thảm trong đêm. Chỉ lát sau, gần một trăm con ngựa bị bắn chết hết.

Nguyên sau khi rời bản dinh ở đất Thục, Mã Viện bị Trưng Nhị lừa, y cùng các tướng lên đường về Trường-an yết kiến Quang-Vũ, nhậm chức trấn thủ Lương-châu. Vì đường xá xa xôi, gập ghềnh hiểm trở, cho nên mãi hôm qua mới đến Tân-phong. Trong khi nghỉ ở Tân-phong y gặp một đoàn lữ khách 12 người. Mã Viện biết họ là người Lĩnh Nam vì họ nói tiếng Việt. Sở dĩ y biết tiếng Việt, do những ngày y làm việc bên cạnh Trưng Nhị, y học ít câu. Đoàn người cùng vào một quán ăn uống, rồi lên đường. Vừa lúc đó có một người Hán, chạy đến trước mặt Mã Viện thi lễ, hỏi:

– Tiểu nhân thực vô lễ, dám hỏi đại nhân có phải Phục-ba tướng quân Mã quốc-cữu không?

Mã Viện gật đầu:

– Chính thị là ta.

Người đó nói sẽ:

– Tiểu nhân có điều cơ mật muốn trình với Quốc-cữu.

Mã Viện ra hiệu cho các tướng lui lại. Người đó móc trong bọc đưa cho Mã Viện một phong thư. Mã Viện mở ra thấy vỏn vẹn có mấy dòng:

Nay phái Vũ-vệ hiệu-úy Hầu Nhân-Đăng đi kinh-lý các vùng Trường-an, Đồng-quan, Lâm-đồng cho tới Tây-lương, Quang-trung. Phàm các tướng dĩ, bá quan văn võ, từ cấp Thứ-sử trở xuống đều phải tuân lệnh điều động của Hầu Vũ-vệ.

Bên dưới đóng ấn của Mã thái-hậu. Mã Viện nhìn rõ chữ cô ruột. Biết rằng đây là mật lệnh quan trọng, bà mới viết như vậy.

Y hỏi:

– Hiệu-úy định nhờ ta việc gì? Ta là cháu Thái-hậu. Việc của Thái-hậu ta phải hết tâm.

Hầu Nhân-Đăng chỉ bọn 13 người Việt đi trước:

– Thái-hậu truyền tiểu nhân cùng một số Vũ-vệ tuần hành quanh Trường-an trong những ngày hoàng-thượng tuần-du, bắt tất cả những người nào nói tiếng Việt đem về để Thái-hậu phát lạc.

Hơn ai hết, Mã Viện biết cô mình không phải là mẹ của Quang-Vũ. Mẹ ruột của Quang-Vũ hiện đang ở Lĩnh Nam. Vì vậy bà bắt người nói tiếng Việt tất có liên quan đến vụ này.

Y nói với Hầu Nhân-Đăng:

– Được! Ta sẽ cho vây bắt họ lập tức. Bây giờ chúng ta đuổi theo ngay mới kịp.

Y đứng lên nói với các tướng sĩ:

– Các ngươi đã thấy 13 tên Việt đi qua. Chúng là bọn phản tặc, có mật chỉ phải bắt chúng. Vậy các tướng hãy cố gắng ra sức, Thái-hậu sẽ trọng thưởng.

Các tướng sĩ đều biết Phục-ba tướng quân là cháu Thái-hậu. Cho nên khi thấy người lạ đưa trình cho Mã bao thư, rồi bàn luận với Mã. Họ biết rằng có việc cơ mật. Họ không ngờ việc cơ mật đó do Thái-hậu ban ra. Kinh nghiệm cho họ biết, xung phong hãm trận, vào sinh ra tử khó mà được thăng cấp mau. Còn làm những công tác mật như thế này, rất dễ mau thăng quan tiến chức. Cho nên khi nghe Mã nói, họ cùng lên ngựa đuổi theo rất gấp.

Các tướng theo Mã là Tương-dương cửu-hùng. Trước gồm Sầm Bành, Cảnh Yểm, Mã Vũ, Tế Tuân, Tang Cung, Lưu Hân, Phùng Tuấn, Đoàn Chí, Lưu Long. Sầm Bành, Tế Tuân đã bị giết chết. Họ đều là người theo Quang-Vũ khởi binh từ Nam-dương. Về công trạng, võ công, tài dùng binh, họ bỏ xa Mã Viện. Đạo Kinh-châu do Đại tư-mã Đặng Vũ chỉ huy, Mã Viện trấn thủ Kinh-châu cùng với Sầm Bành. Mỗi khi Đặng Vũ tiến chiếm được vùng nào, Mã Viện, Sầm Bành theo trấn giữ hậu quân. Vì vậy khi Đặng Vũ tiến tới Đồng-nam, Quảng-an thì Mã Vũ, Sầm Bành cũng theo tiếp nhận.

Chương 17: Huyền âm độc chưởng

Trưng Nhị dùng binh phù của Nghiêm Sơn truyền lệnh bãi binh, thì Đặng Vũ cùng các tướng lên đường về Lạc-dương. Y phái Mã Viện với Tương-dương cửu hùng đến Trường-an chầu Quang-Vũ. Lúc lên đường thấy vắng mặt Sầm Bành, Tế Tuân. Y đâu biết hai người này thám thính anh hùng Lĩnh Nam đã bỏ mạng.

Nghe Hầu Nhân-Đăng nói toán 13 bộ hành đều là người Việt ở Lĩnh Nam. Mã Viện hơi lo nghĩ một chút. Vì y thấy những người theo Nghiêm Sơn, trợ chiến ở Bạch-đế thành, từ võ công đến mưu trí đều kinh người. Y bì thế nào được. Trước mắt y hiện ra một Trưng Nhị võ công, mưu trí. Một Trần Năng chưởng lực hùng hậu, thuộc dương cương. Một Hồ Đề tinh nghịch, nhưng cạnh nàng thì nào là Thần-ưng, Thần-tượng, Thần-phong. Còn Phật-Nguyệt nữa, kiếm pháp của nàng kinh tâm động phách. Đến Vũ Chu, Công-tôn Thiệu còn bị thua.

Tuy nhiên, y vẫn tin tưởng vào hai điều. Một là 13 người Việt này võ công không cao. Hai là Tương-dương cửu hùng võ công kinh người, lừng danh thiên hạ, y cứ cho đuổi theo.

Đuổi được khoảng 20 dặm, y đã thấy đoàn người đang đi phía trước, dường như không biết Mã đuổi theo, họ thản nhiên tránh sang bên đường nhường lối.

Khi bắt kịp, Mã vẫy tay một cái, đoàn tướng sĩ dàn ra bao vây đoàn Việt vào giữa. Đoàn người bị vây bất thần, nhưng họ vẫn không luống cuống. Lập tức họ chia làm năm cặp, quay lưng vào nhau chờ đợi. Người chỉ huy rút kiếm ra khỏi vỏ hỏi Mã Viện:

– Chúng tôi là dân dã qua đây, không biết chúng tôi phạm tội gì mà quan quân bao vây thế này?

Mã Viện đáp:

– Ta là Phục-ba tướng quân Mã Viện, ta được mật chỉ bắt bọn phản tặc. Vậy các người mau chịu trói để chúng ta đem về triều xử tội.

Người cầm đầu vẫn nhũn nhặn:

– Thì ra ngài là Phục-ba tướng quân đây. Tôi ở mãi Lĩnh Nam mà cũng nghe danh đại nhân. Chúng tôi được tin đại nhân thắng Thục, được điều đi trấn thủ Lương-châu, không biết có đúng không? Tại sao lại đón đường làm khó dễ chúng tôi? Nếu Mã tướng quân bảo chúng tôi có tội, thì tội gì? Mã tướng quân có biết tên họ chúng tôi không? Nếu không biết tên họ chúng tôi, sao biết chúng tôi phạm tội? Theo luật của Tiêu thừa-tướng, bắt giam thì phải có chứng cớ. Bắt người phải biết tên họ, tội lỗi đầy đủ. Xin tướng quân trả lời cho.

Mã Viện không biết trả tời sao, nhìn Hầu Nhân-Đăng. Đăng biết ý nói:

– Ta là Vũ-vệ hiệu-úy trong cấm cung. Ta chỉ biết vâng mật chỉ của thái-hậu bắt tất cả những người Việt qua lại trên đường này.

Mười ba người nghe đến mật chỉ thái-hậu, họ đưa mắt nhìn nhau như hội ý một điều gì.

Người cầm đầu hỏi:

– Tôi nghĩ thái-hậu không ra mật chỉ như thế. Vì hiện hầu hết tướng sĩ Lĩnh Nam đều là người Việt, sang Trung-nguyên tòng chinh, giúp nhà Đại-Hán. Nếu bắt chúng tôi thì sao không bắt cả những vị đó? Phục-ba tướng quân, chúng tôi có Thiên-thủ viên hầu Lại Thế-Cường, lại còn năm nữ hiệp nữa là Trưng Nhị, Phật-Nguyệt, Trần Năng, Lê Chân và Hồ Đề theo giúp tướng quân, hiện họ ở đâu, xin cho chúng tôi tương kiến.

Các tướng sĩ nghe người cầm đầu nói vậy, thì ngẩn ra, họ biết những người này liên quan đến Trưng Nhị, không thể nào là tội phạm như Hầu Nhân-Đăng nói.

Mã Viện ngần ngừ không biết nói sao. Người cầm đầu chỉ đồng bọn giới thiệu với Mã:

– Tại hạ là Trần Công-Minh, đệ nhị thái-bảo phái Sài-sơn, tức sư thúc của Lê Chân.

Các tướng sĩ nhìn nhau gật đầu. Trần Công-Minh tiếp:

– Người này là sư muội của tại hạ, họ Trần tên Phương-Chi, đệ tam Thái-bảo phái Sài-sơn, tức Tiên-yên nữ hiệp, sư phụ của quân-sư Phùng Vĩnh-Hoa, thuộc đạo quân của Xa-kỵ tướng-quân Ngô Hán.

Mã Viện gật đầu:

– Quân-sư Vĩnh-Hoa mưu thần chước thánh, võ công kinh người, mà tài âm nhạc thế gian ít người bằng.

Trần Công-Minh lại chỉ vào người khác:

– Đây là lục sư đệ của tại hạ, họ Đặng tên Đường-Hoàn, hiệu Nam-thiên đại-hiệp.

Trần Công-Minh chỉ ba người đeo cung tên:

– Đây là Cao Cảnh-Sơn, chưởng môn phái Hoa-lư. Còn đây là hai công-tử của người tên Cao Cảnh-Khê, Cao Cảnh-Nham.

Trần Công-Minh lại chỉ vào năm người mặc quần áo vàng, đen, trắng, xanh, đỏ:

– Đây là Ngũ-phương thần kiếm, người Trung-nguyên chứ không phải Lĩnh Nam.

Mã Viện la lên:

– Ngũ-phương thần kiếm! Có phải trước đây các vị đã giúp Cảnh-Thủy hoàng-đế đánh Trường-an không?

Hoàng-kiếm gật đầu:

– Quả đúng thế, sau khi chiếm Trường-an và toàn đất Quan-trung. Cảnh-Thủy thiên-tử ban cho anh em tại hạ một thanh kiếm, kinh lịch khắp thiên ha,ï được quyền giết bọn tham quan, ô lại. Cao nhất tới tước vương. Phục-ba tướng quân có muốn xem không?

Hoàng-kiếm rút trên lưng một thanh kiếm đựng trong bọc lụa, từ từ cởi ra. Thanh kiếm sáng chói mắt mọi người. Mã Viện chưa nói gì, thì Hầu Nhân-Đăng tiến lên cầm lấy coi đi, coi lại. Trên chuôi kiếm có khắc chữ Ngự tứ thượng phương bảo kiếm. Tiền trảm hôn quân, hậu trảm gian thần.

Hầu Nhân-Đăng biết đây là kiếm thật, nhưng y vẫn nói lảng:

– Chưa chắc, để ta đem về Lạc-dương thử xem có đúng không đã.

Xích-kiếm là người nóng nảy. Từ mình ngựa vọt lên cao, nhảy về phía Hầu Nhân-Đăng, tay trái xỉa vào mặt y. Tay phải chụp lấy kiếm. Hầu Nhân-Đăng đưa cả kiếm lẫn bao đâm vào ngực Xích-kiếm. Xích-kiếm lơ lửng trên không, tay rút kiếm, ánh thép loang loáng mấy cái, kiếm chiêu phủ đầy người Hầu Nhân-Đăng. Thấp thoáng một cái đã thấy Xích-kiếm ngồi chung ngựa với Đăng. Tay trái cầm Thượng-phương bảo kiếm, tay phải tra kiếm vào vỏ, nhún mình một cái về ngựa mình, nhìn Nhân-Đăng cười lạt:

– Kiếm có thể giả mạo được. Còn võ công làm sao có thể giả mạo? Vũ-vệ hiệu-úy! Thấy kiếm như thấy Thiên-tử. Ngươi chống Thượng-phương bảo kiếm, thì bị tội gì có biết không?

Hầu Nhân-Đăng thấy mọi người nhìn mình với con mắt kỳ lạ. Y không hiểu, ngơ ngơ ngẩn ngẩn. Y thấy có gì khác lạ, đưa tay sờ lên đầu, thì búi tóc bị cắt đi từ hồi nào không hay. Thất kinh hồn vía, nhưng ỷ có mật chỉ trong tay, y nói cứng:

– Ngũ-phương thần kiếm là người của Hán-triều. Vậy hãy quỳ xuống nghe mật chỉ của thái-hậu.

Hoàng-kiếm cười nhạt:

– Thanh kiếm này tiên-đế ban cho bọn ta, khắp thiên hạ đều biết, mà ngươi không tin. Còn tờ giấy kia ta tin thế nào được? Ta không quỳ.

Hầu Nhân-Đăng nhìn Mã Viện:

– Mã quốc-cữu, xin người quyết cho vụ này.

Mã Viện biết mật chỉ đó do chính cô mình viết, không còn sai được nữa, y nói:

– Các vị anh hùng Lĩnh Nam, Ngũ-phương thần kiếm, mật chỉ này chính là thủ bút của Thái-hậu không sai. Vậy phiền các vị cùng về Lạc-dương một chuyến, để vàng, thau được phân biệt.

Đặng Đường-Hoàn quát lên:

– Chúng ta đường đường từ Lĩnh Nam sang đây giúp Thiên-tử dẹp giặc, mà tên Vũ-vệ hiệu-úy cứ muốn bắt chúng ta là thế nào? Ngươi có muốn bắt ta hãy hỏi hai cánh tay này đã.

Nói rồi ông vung chưởng tấn công liền. So về tuổi tác Đặng Đường-Hoàn thua sư huynh, sư tỷ. Nhưng chưởng lực của ông nổi tiếng Lĩnh Nam. Trước đây chỉ có hai người thắng được ông là Khất đại-phu và Lê Đạo-Sinh mà thôi. Cho nên chưởng vừa phát ra, gió lộng ào ào, áp lực cực mạnh. Hầu Nhân-Đăng vội lui ngựa bốn bước để tránh. Nhưng Đặng Đường-Hoàn đã nhảy vọt theo, đánh hai chưởng liên tiếp nữa. Hầu Nhân-Đăng vung chưởng đỡ. Thấy thế chưởng của Đặng Đường-Hoàn quá mãnh liệt. Tương-dương cửu-hùng Lưu Long xuất chưởng. Một chưởng đánh thẳng vào Đặng Đường-Hoàn, một chưởng cắt ngang chưởng của ông. Còn Mã Viện xỉa một chưởng tấn công ông để cứu Hầu Nhân-Đăng.

Cao Cảnh-Sơn thấy ba người bên kình địch đánh một người của mình. Ông rút cung buông tên nhắm đầu Tương-dương cửu hùng bắn một mũi. Lưu Long đã nhả chưởng lực. Nhưng thấy mũi tên bắn tới kình lực mạnh vô cùng, thì kinh hãi vội thu chưởng biến thành trảo thu về bắt mũi tên.

Chưởng của Đặng Đường-Hoàn chạm vào chưởng của Mã Viện, Tương-dương cửu-hùng, bật lên hai tiếng vang, cát bụi bay mịt mờ, cánh tay ông tê dại. Ông đứng yên nhìn đối phương. Còn Mã Viện với Tương-dương cửu-hùng bật lui hai bước mặt đỏ gay. Toàn thân như bị tê liệt.

Mã Viện lễ phép nói:

– Đa tạ Đặng tiên sinh nhẹ tay cho Hầu hiệu-úy.

Hầu Nhân-Đăng thoát chết, y kinh hồn đến đờ người ra. Còn Tương-dương cửu hùng nhìn mũi tên ngắm nghía, rồi lại nhìn Cao Cảnh-Sơn. Vì y bắt hụt, tên trúng ngực. Y cảm thấy đau nhói, vội chụp lên coi thấy tên đã bẻ mũi. Kình lực tuy mạnh nhưng dường như đối phương chỉ đe dọa, chứ thực sự không muốn hại mình. Nếu Cao Cảnh-Sơn muốn hại, thì y đã mất mạng rồi.

Trần Công-Minh chắp tay nói:

– Non xanh không bao giờ hết củi. Sông sâu không bao giờ hết nước. Sẽ có ngày tái ngộ.

Ông vẫy tay một cái, cả bọn hướng Trường-an tiến phát, coi bọn Mã Viện không vào đâu cả. Tương-dương cửu-hùng, tức Chinh-viễn đại tướng quân Lưu Long chửi thề:

– Mẹ cha con chó Việt làm tàng quá.

Cao Cảnh-Sơn cười ha hả không trả lời, thủng thỉnh đi. Bất thình lình ông giơ tay lên cao. Tách, tách mấy cái, một mũi tên xé gió hướng ngực Lưu Long. Y vội rút kiếm ra gạt đánh choang một cái, lửa tóe ra bốn phía. Cánh tay y cảm thấy tê rần. Bỗng con ngựa y hí lên một tiếng thảm thiết, rồi cắm đâm đầu vào một gốc cây, ngã lăn ra chết. Cửu-hùng Lưu Long vội vọt người lên cao nhảy xuống đất. Y cúi xuống xem con ngựa đang cỡi, hai mũi tên nhỏ bằng chiếc đũa, ngắn chưa đầy gang tay, xuyên thủng hai mắt của nó vào tới óc.

Cửu hùng Lưu Long tính nóng như lửa. Y đã từng làm đại tướng, cầm quân trên 10 năm qua, công lao không nhỏ. Y tự thị công lao, võ công đều hơn Mã Viện, mà dưới quyền y đã là nhục nhã. Bây giờ trước một cao thủ Lĩnh-nam, y bị nhục thì chịu thế nào được.

Y quát lên một tiếng nhảy theo, rút kiếm đâm Cao Cảnh-Sơn. Bạch-kiếm vòng một kiếm cản y lại nói:

– Cửu hùng Lưu Long không phải hiển lộ thân thế trong hoàn cảnh này. Chúng ta đều là người nhà, tại sao lại phải giết nhau?

Thế bọn Trần Công-Minh tiếp tục lên đường. Hoàng-kiếm bàn với Trần Công-Minh:

– Nam-thành vương! Không ngờ Mã thái-hậu ra tay sớm nhỉ. Tôi nghĩ Hàn Tú-Anh khó thoát khỏi âm mưu độc địa. Mã thái-hậu đã phái nhiều cao thủ đi khắp nơi tìm giết Hàn Tú-Anh, dường như chưa thấy. Trong dịp này, những người Việt bị bắt, giết oan cũng nhiều.

Tiên-yên nữ hiệp Trần Thị Phương-Chi nói:

– Như vậy cho đến hôm nay, Quang-Vũ vẫn chưa biết chúng ta phản hắn. Bọn Mã Viện bị Trưng Nhị đánh lừa. Y rời đạo Kinh-châu vẫn chưa về tới Trường-an. Đạo Kinh-châu giờ này đã tiến chiếm xong Kinh-châu và trên đường đánh xuống Trường-sa. Còn đạo Lĩnh Nam không biết đã tiến chiếm xong Tượng-quận chưa? Đạo Hán-trung tôi nghĩ có lẽ cũng sắp tới Trường-an rồi. Chúng ta phải vào Trường-an trước khi chiến trận xảy ra mới được.

Đến chiều cả bọn vào một hẻm núi, mắc võng lên cây nằm nghĩ, lấy lương khô ra ăn.

Nguyên sau khi rời Thục, Đinh Đại thống lĩnh đạo quân Lĩnh Nam lui về giao các thành của Thục cho Vương Phúc, Lộc, Thọ. Còn Trưng Trắc lãnh nhiệm vụ đặc biệt đi tìm Hàn Tú-Anh. Trưng Trắc là người võ công cao, mưu trí tuyệt vời, tinh minh mẫn cán vào bậc nhất thời bấy giờ. Nàng cảm thấy việc đi tìm kiếm Hàn Tú-Anh có tầm mức vô cùng quan trọng, nên ngày đêm đội mưa rẽ gió mà đi. Chỉ ba ngày sau nàng tới Quế-lâm, tìm đến phủ Lĩnh-nam vương. Khi vừa tới nơi, nàng gặp cảnh bối rối của người phái Quế-lâm. Hàn Tú-Anh đã ra đi. Người phái Quế-lâm không hề biết lý lịch Hàn Tú-Anh. Họ chỉ biết lờ mờ rằng Hàn Tú-Anh có một lai lịch rất lớn. Bà được thân phụ Nghiêm Sơn cứu thoát, đem về nuôi. Thân phụ Nghiêm Sơn không dám coi bà như những gia bộc khác, kính nể khác thường. Bà đẹp như thiên tiên, ôn nhu văn nhã, đàn ngọt hát hay. Bà dạy Nghiêm Sơn thế nào, cha Nghiêm Sơn không biết đến. Khi Nghiêm Sơn luyện võ, bà ngồi cạnh khuyến khích. Nghiêm Sơn học văn, bà ngồi quạt cho chàng học. Ai mới nhìn, cũng tưởng đây là một từ mẫu đối với con, chứ không phải nhũ mẫu. Khi thân phụ Nghiêm Sơn sắp qua đời, ông hội các cao thủ trong môn phái lại, hỏi xem ai xứng đáng kế vị chưởng môn. Người thì đề nghị người này, kẻ thì đề nghị người khác, khiến ông phân vân không quyết đoán. Đến khi ông mệt quá, Hàn Tú-Anh xuất hiện. Bà nói với thân phụ Nghiêm Sơn:

– Nghiêm Sơn võ công không bằng sư thúc, sư bá. Võ đạo không bằng nhiều vị ở đây. Văn chương, kiến thức còn thua nhiều người. Nhưng hợp lại Sơn có đủ thứ. Võ phái Quế-lâm lập ra để làm gì? Điều đó các vị đều biết. Vậy chưởng môn không cần cử võ công cao, võ đạo tuyệt vời, mà cần người có thể đạt được nhiệm vụ trọng đại của môn phái. Điều này chưởng môn nhân biết đấy, tương lai ngoài Nghiêm Sơn ai có thể thành công?

Thế là thân phụ Nghiêm Sơn truyền chức chưởng môn cho chàng. Nghiêm Sơn là người tập võ, đọc sách, nên chàng biết cách khu xử mọi việc, nên chàng rất được lòng sư thúc, sư bá.

Kịp đến khi Trung-nguyên biến động. Nghiêm Sơn biến mất cùng với Hợp-phố lục hiệp. Ít lâu sau chàng trở lại với chức Bình-nam đại tướng quân, tước Lĩnh-nam công.

Đất Lĩnh Nam kể từ khi Vạn-tín hầu Lý Thân được Tần Thủy-Hoàng phong tước hầu là lớn nhất. Còn lại dân chúng bị người Hán cai trị, coi như chó, lợn, không sao ngóc đầu lên được. Những chức nhỏ như huyện-lệnh, huyện-úy đều là người Hán. Người Việt chịu không biết bao nhiêu cay đắng, nhục nhã. Bây giờ thấy Nghiêm Sơn trở về với quyền uy, chức tước tột đỉnh. Lại được biết Nghiêm Sơn là anh em kết nghĩa với Thiên-tử; một tay Vương dựng cơ đồ cho nhà Hậu-Hán. Trong môn phái, ngoài họ hàng đều mừng rỡ vô cùng. Các quan chức ở Quế-lâm từ Thái-thú, đến Đô-sát, Đô-úy, Hiệu-úy, Tướng-quân, các Huyện-lệnh, Huyện-úy đều nhất nhất do Nghiêm Sơn bổ nhiệm. Họ kính Nghiêm Sơn như một vị thần. Nghiêm Sơn đối với Hàn Tú-Anh một niềm hiếu thảo như với mẹ đẻ. Dân chúng Quế-lâm gọi bà là Thái-phi. Bà gạt đi, bảo bà là nô bộc nhà họ Nghiêm, chứ không phải là mẹ đẻ của Nghiêm Sơn.

Cho đến lúc Nghiêm Sơn được phong Tả tướng-quốc Lĩnh-nam vương trên đường mang quân đánh Thục. Vương ghé thăm quê nhà, vương hiếu kính đối với Hàn Tú-Anh như xưa. Vì vậy mọi người gọi Hàn Tú-Anh là Vương thái-phi, Hàn Tú-Anh không nhận. Vì trong lòng bà. Bà biết Quang-Vũ là con, đến ngôi Thái-hậu kia, bà còn không muốn huống hồ ngôi Vương thái-phi đất Lĩnh Nam.

Thái-thú, Đô-úy, và người phái Quế-lâm nhất thiết bảo vệ cung phụng bà như một Vương thái-phi. Nay bỗng nhiên bà mất tích cùng với người em họ của Nghiêm Sơn là Nghiêm Đôn. Người ta tìm thấy trong nhà, bà để lại một bức thư nhỏ, dặn quản gia gìn giữ nhà cửa, bà về thăm quê ít tháng sẽ trở lại.

Thái-thú cũng như người nhà đều kinh hoảng, vì không ai hiểu bà quê quán ở đâu mà cho người theo bảo vệ. Bây giờ thấy Trưng Trắc trở về tìm bà, họ càng hoang mang hơn. Trưng Trắc thấy vậy, cho mời Thái-thú Hà Thiên, Đô-úy Đặng Thi-Kế và Đô-sát Trương Đằng-Giang lại dặn dò:

– Các vị cần giữ bí mật vụ này, nếu không Vương thái-phi sẽ bị hại. Các vị không còn chỗ để đội nón. Nhất là Thái-thú, đệ tử phái Quế-lâm, sư huynh của Lĩnh-nam vương. Phải cầm quân giữ vững thành trì. Những Huyện-lệnh, Huyện-úy nào trung với Lĩnh-nam vương thì để. Người nào có ý khác giết đi. Hào kiệt, phú-gia, quan lại người Hán phải canh chừng chúng. Kể từ giờ phút này, các vị tự coi như mình là thần dân Lĩnh Nam. Lĩnh Nam đã phục hồi. Lĩnh-nam vương tên Trần Tự-Sơn, chứ không còn là Nghiêm Sơn nữa. Chúng tôi đã tôn người làm hoàng-đế. Tuy nhiên việc này chúng ta chưa thể tuyên bố ra ngoài vì người còn đang bị giam ở Trường-an.

Đặng Thi-Kế là cha của Đặng Thi-Sách là cha chồng của Trưng Trắc. Sau thời gian bị Lê Đạo-Sinh giam cầm, được Đào Kỳ cứu ra. Ông thấy con trai, con dâu tiếng tăm vang dội khắp Lĩnh Nam vì chủ trương phản Hán, phục Việt. Ông có hùng tài đại lược, từ đấy, nhất nhất ông nghe theo kế hoạch của con trai và con dâu. Vì đại nghiệp Lĩnh Nam, ông phải làm Đô-úy Quế-lâm, để chờ ngày khởi binh. Bây giờ thời cơ đã đến, ông mừng rỡ ra mặt:

– Con yên tâm, gần một năm nay hai vị Thái-thú, Đô-sát đã cùng bố chuẩn bị cả rồi. Hiện chỉ còn ba Huyện-lệnh, một lữ-trưởng trung thành với Hán. Khi cứu được Hoàng-thượng ra, chúng ta bỏ cờ Hán, dựng cờ Lĩnh Nam.

Trưng Trắc viết một bức thư, dùng Thần-ưng gởi thư cho Đặng Thi-Sách biết tất cả những biến chuyển ở Trung-nguyên. Nàng dặn chồng phải chuẩn bị sẵn sàng, nàng sẽ về ngay, vì cuộc khởi nghĩa sắp diễn ra. Nàng xin Thi-Sách gửi cho nàng mấy cao thủ, dùng vào việc theo tìm, bảo vệ Hàn Tú-Anh. Đặng Thi-Sách được thư vợ giữa lúc đang hội họp tại Mê-linh. Ông đem thư Trưng Trắc đọc cho mọi người nghe, và dặn đâu cứ về đó, đợi Trưng Trắc về rồi mới khởi sự.

Có mười ba người tình nguyện sang Trung-nguyên, để lo việc cứu Hàn Tú-Anh. Đoàn người đến gần Quế-lâm thì gặp Trưng Trắc. Trưng Trắc thuật chuyện cho họ nghe. Mọi người đều ngơ ngác không biết tìm Hàn Tú-Anh ở đâu. Hoặc giả Tú-Anh bị bắt đi rồi cũng nên.

Trưng Trắc đưa ra một cuốn sách nhỏ. Đó là cuốn nhật ký ghi chú chi tiết mọi biến cố từ khi Trường-sa Định-vương gặp Hàn Tú-Anh, cho đến lúc Nghiêm Sơn được phong vương. Tiên-yên nữ hiệp Trần Thị Phương-Chi nói:

– Bây giờ chúng ta đi tìm bà có khác gì tìm chim không? Chi bằng chúng ta hãy đi Trường-an tìm Quang-Vũ, ta cho y biết về mẹ mình. Quang-Vũ sẽ phái cao thủ đi bảo vệ mẹ. Y hạ bệ Mã thái-hậu thì xong mọi chuyện.

Trưng Trắc nói:

– Sư bá! Cháu cũng biết thế. Nhưng như vậy chỉ giúp cho Quang-Vũ mẫu tử trùng phùng, mà Lĩnh Nam không được lợi lộc gì.

Tiên-yên nữ hiệp hỏi:

– Ý Đặng phu-nhân muốn thế nào?

– Cháu muốn tìm bà đưa về Lĩnh Nam. Dùng bà để giảng hòa giữa Quang-Vũ và Nghiêm đại-ca. Nghiêm đại-ca là hoàng đế Lĩnh Nam. Chúng ta tạo dựng một quốc gia như thời vua Hùng, chịu xưng thần tiến cống Quang-Vũ. Nghiêm đại-ca vẫn phụng dưỡng Hàn Tú-Anh. Như vậy Quang-Vũ để yên cho chúng ta, không dám đem quân xâm phạm. Chỉ cần từ năm đến mười năm, chúng ta có cơ sở vững vàng rồi, ta há sợ Quang-Vũ sao?

Khác với Trưng Nhị nói năng nhu nhã, ôn tồn. Trưng Trắc ngược lại, một là một, hai là hai. Nàng vẫn công nhận văn minh Trung-nguyên, chịu thua Trung-nguyên vì họ người nhiều đất rộng. Nàng luôn luôn đặt ra vấn đề: Ta biết ta nhỏ bé, người thưa, đất nghèo, nhưng ta không sợ Trung-nguyên. Trung-nguyên để ta yên, chúng ta là bạn. Không để ta yên, ta há sợ sao? Nàng luôn tỏ ra hào khí anh hùng.

Nam-thành vương Trần Công-Minh khẳng khái nói:

– Được, như vậy Đặng phu nhân cứ trở về lo mọi việc. Ta sẽ dẫn các vị này đi Trường-an. Mưu trí đã có sư muội Trần Thị Phương-Chi đây.

Thế rồi mọi người vội vã lên đường. Khi tới đây gặp bọn Mã Viện.

Tiên-yên nữ hiệp Trần Thị Phương-Chi nói:

– Điều cần nhất chúng ta phải gặp cho được Quang-Vũ trước khi Hoàng Thiều-Hoa tiến quân ra Thiên-thủy, Kỳ-sơn và Tý-Ngọ. Nếu tới trễ e sự giảng hòa khó thành.

Nam-thiên đại-hiệp Đặng Đường-Hoàn nói:

– Ngặt vì Mã thái-hậu ra tay trước. Y thị phái rất nhiều cao thủ đi khắp nơi tìm Hàn Tú-Anh. Mã Viện cũng chưa biết bị lừa. Chỉ mai này khi vào thành Trường-an. Y biết mình bị lừa, rồi Ngô Hán, rồi... các tướng sĩ khác. Quang-Vũ sẽ giận đến cực điểm.

Cao Cảnh-Sơn tiếp:

– Không sao, bây giờ ta đưa Hàn Tú-Anh ra để đánh bằng tình cảm. Một mặt dùng áp lực quân sự. Quang-Vũ trong phải đối phó với phe của Mã thái-hậu, ngoài phải đối phó với Công-tôn Thuật và chúng ta. Y bắt buộc phải chịu lui bước. Y thả Nghiêm Sơn ra thì hay, bằng không Lĩnh Nam ta đâu có thiếu người?

Tiên-yên nữ hiệp bàn:

– Vậy thế này, chúng ta cần tránh giao tranh với bọn Mã Viện càng tốt để có thể đi Trường-an ngay ngày mai.

Đến đó bỗng có tiếng nói:

– Nhưng trễ quá rồi, Mã Viện đã đến đây.

Nguyên Mã Viện là người cơ mưu. Y lưỡng lự không biết có phải tuân theo mật chỉ của Mã thái-hậu hay để bọn này đi. Vì vậy y cùng Kiến-oai đại tướng-quân Cảnh Yểm dò dẫm đến đây nghe ngóng tình hình.

Qua câu chuyện của anh hùng Lĩnh Nam mà y nghe được mấy câu đó, y cũng chưa biết vụ Lĩnh Nam phản Hán. Y chỉ biết rõ một điều: Cô y, Mã thái-hậu đang có điều khó khăn phải đối phó với hoàng-đế. Y biết nếu Mã thái-hậu thất bại, cả nhà y sẽ không có đất mà chôn. Vì vậy y sợ các tướng sĩ biết bí mật của cô mình. Y vội lên tiếng có cớ bắt 13 người Việt quan trọng này.

Mọi người giật mình, không ngờ bọn Mã Viện đã đến từ hồi nào. Thế là hai bên lăn xả vào đánh nhau.

Trong 13 người Lĩnh-nam thì Cao Cảnh-Khê, Cao Cảnh-Nham võ công thấp nhất, nhưng tiễn thủ hai chàng tuyệt hảo. Còn lại võ công tuyệt đỉnh. Bàn chung Cao Cảnh-Sơn, Trần Công-Minh, Tiên-yên nữ hiệp đều ngang tay với Mã Viện. Còn Đặng Đường-Hoàn cao hơn một bậc. Ngũ-phương thần kiếm, kiếm thuật thần thông, bản lĩnh vượt cả Mã Viện, chỉ thua Phương-Dung, Phật-Nguyệt mà thôi.

Ngược lại phía Mã Viện, Tương-dương cửu hùng đã mất hai, còn lại bảy người. Võ công kinh người. Bất cứ người nào trong bọn họ cũng ngang tay với Trần Công-Minh, Đặng Đường-Hoàn. Ngoài ra còn có hơn 30 bộ tướng của Mã Viện. Người nào võ công cũng suýt soát với Trần Công-Minh. Mã Viện là người trí dũng tuyệt vời. Y áp dụng xa luân chiến, chỉ một lát sau phía Lĩnh Nam dần dần yếu thế.

Cao Cảnh-Sơn ra hiệu cho cả bọn bỏ chạy, để cha con ông dùng phép bắn liên tiễn cản hậu. Bên Mã Viện có nhiều người bị thương. Vì họ tuân chỉ Mã thái-hậu, nên phải quyết tâm đuổi theo. Mặt khác Mã Viện biết rõ loại người cô mình muốn tiêu diệt, nên y cực lực cố gắng. Cuộc rượt đuổi nhau kéo dài đến đền thờ Tam-hoàng thì gặp đám Khất đại-phu, Phương-Dung đang dưỡng thần.

Thấy ba phía đều có tên bắn lại, làm tướng sĩ không thể tiến vào đền thờ Tam-hoàng. Mã Viện suy nghĩ: Nếu không vào được, để bọn này thoát thân, Mã thái-hậu không yên. Mã thái-hậu nguy, e cả dòng họ Mã nhà mình cũng nguy mất.

Mã Viện nói với các tướng sĩ:

– Các vị là những đại tướng quân. Võ công cao cường, ta chia thành toán ba người một, đứng trấn thủ phía phải trái và sau. Hễ thấy tên bắn đến gạt đi. Còn lại chúng ta cùng tiến lên.

Mã Viện hô lớn:– Chúng ta tiến lên.

Cả gần trăm người đồng tiến vào đền. Ba cha con Cao Cảnh-Sơn bắn một loạt liên châu đều bị các tướng gạt đi hết. Đám tướng sĩ ào vào bao vây chận các cửa. Mã Viện co chân phóng một cước, cánh cửa bật tung ra. Bên trong đèn đuốc sáng choang. Ngũ-phương thần kiếm, Trần Công-Minh, Trần Thị Phương-Chi, Đặng Đường-Hoàn thản nhiên ngồi nhìn.

Trần Công-Minh cười:

– Mã Viện ngươi dám tấn công chúng ta ư? Rồi đây ngươi sẽ bị Lĩnh-nam vương chặt ra từng khúc một, tru di tam tộc nhà ngươi. Nhà ngươi ỷ vào cô làm Thái-hậu. Nhưng ngươi có biết cô ngươi không phải là sinh mẫu Quang-Vũ không? Còn Lĩnh-nam vương với Quang-Vũ tình như tay chân. Người lại nắm binh quyền trong tay, người muốn giết mi lúc nào mà chẳng được. Các quân sư Phương-Dung, Vĩnh-Hoa, Trưng Nhị liệu có để cho bọn mi yên không? Mi có giỏi sáng mai cùng vào Trường-an yết kiến thiên-tử đối chất với chúng ta không?. Tại đây, Ngũ-phương thần kiếm có Thượng-phương bảo kiếm của Tiên-đế trong tay, mà mi còn dám làm loạn, thì cái họa chặt đầu không xa là mấy đâu!

Mã Viện không nói, không rằng, hô các tướng nhảy vào tấn công. Đặng Đường-Hoàn vận khí tấn công Mã Viện. Mã dùng hết sức vung chưởng đỡ. Bùng một tiếng, y loạng lui lại đến bốn năm bước. Còn Đặng đứng im, oai phong lẫm liệt. Mã Viện là người đã cao lớn. Đặng Đường-Hoàn còn cao lớn hơn. Sau khi đấu với nhau một chưởng, râu tóc dựng ngược. Ông vỗ hai tay vào nhau, trông oai nghiêm như một thiên tướng.

Long-nhượng đại tướng-quân Đoàn Chí vung chưởng tấn công Đặng Đường-Hoàn. Đặng Đường-Hoàn đã đối chưởng với bọn tướng Hán nhiều lần. Ông biết chưởng lực của chúng đều mạnh hơn ông đôi chút. Ông đề phòng đưa chưởng đỡ. Bốp một tiếng, cả hai đều lui lại. Thế là cả hai người dùng chưởng lực đấu với nhau. Đấu được trên 40 chưởng Đặng Đường-Hoàn có vẻ kém thế, vì ông tuổi già, sức yếu hơn Đoàn Chí. Thấy vậy Mã Viện kêu lớn:

– Xin ngừng tay.

Hai người nhảy lui trở lại, đứng nhìn nhau.

Ngoài này Đô Dương nói với Giao-Chi:

– Bọn Tương-dương cửu hùng này chưởng lực mạnh thực. Đến như Đặng sư thúc còn thua y, e rằng đất Lĩnh Nam ta khó có người đối lại với chúng. Chúng là những anh hùng vô địch, theo Quang-Vũ với Nghiêm đại ca từ lâu. Cũng may Sầm Bành, Tế Tuân đã bị giết. Còn lại có bảy tên.

Mã Viện nói:

– Chúng tôi đông người, các vị ít người. Nếu chúng tôi nhảy vào cùng một lúc, mang tiếng ỷ chúng hiếp cô. Bên chúng tôi có chỉ dụ của Thái-hậu. Bên quý vị có Thượng-phương bảo kiếm. Cả hai bên đều không chịu phục nhau. Vậy thế này, bên tôi với quý vị đấu ba trận. Nếu chúng tôi thắng, quý vị phải theo chúng tôi về Lạc-dương yết kiến thái-hậu. Rồi sau đó đến Trường-an triều kiến thiên-tử. Ngược lại bên quý vị thắng, chúng tôi phải theo quý vị vào Trường-an triều kiến thiên-tử, rồi về Lạc-dương yết kiến thái-hậu. Quý vị nghĩ sao?

Hoàng-kiếm tiến ra nói:

– Vậy được, chúng tôi là Hoàng-kiếm, Bạch-kiếm, Hắc-kiếm xuất thủ. Còn bên quý vị những ai ra tay xin cho biết.

Mã Viện cười:

– Chúng tôi được lệnh bắt những người Việt về phục lệnh, chứ không phải để bắt người Hán. Ngũ-phương thần kiếm là đại công-thần của Tiên-đế, đâu có liên quan đến vụ này? Vậy xin các vị tọa thủ bàng quan, để chúng tôi đấu với anh hùng Lĩnh Nam, các vị là sư thúc, sư bá của quân sư Vĩnh-Hoa, nữ tướng Lê Chân, oai danh nhất thế, không ngờ phải dựa vào Ngũ-phương thần kiếm ư?.

Trần Công-Minh bị khích khẳng khái nói:

– Đấu thì đấu, chứ ta há sợ các ngươi sao! Ở đây chúng ta có ba người, vậy bên ngươi, ngươi là một, Đoàn Chí là hai, Lưu Long là ba. Trận thứ nhất ta đấu với ngươi.

Nói dứt lời, ông tấn công vào mặt Mã Viện một quyền như vũ bảo. Mã Viện đưa tay gạt. Hai quyền chạm nhau, y cảm thấy tay bị tê dại, lui lại một bước. Trần Công-Minh tấn công quyền thứ nhì, rồi thứ ba. Y bị đánh trên 20 quyền, chỉ có đỡ mà không trả được đòn nào.

Bên ngoài nhị hùng Cảnh Yểm thấy Mã Viện không trả được đòn, biết y bị Trần Công-Minh ra tay trước chiếm mất tiên cơ. Y kiếm cách giúp Mã.

Thấp thoáng một cái Cảnh Yểm vọt người lên, lui lại. Đã thấy Mã Viện, Trần Công-Minh vọt người ra xa, ngẩn người... đứng nhìn Cảnh Yểm rồi nhìn tay mình, ngạc nhiên. Thì ra Cảnh Yểm nhảy tới, dùng chưởng xen vào giữa quyền hai người, xỉa một cái. Quyền hai người đụng phải một kình lực nhu hòa, nhưng mạnh vô cùng, đẩy bật ra. Cánh tay cảm thấy tê dại, nên cùng lui lại. Có điều thân pháp Cảnh Yểm cực kỳ thần tốc, không ai nhìn thấy y cử động ra sao, chiêu thức thế nào.

Trần Công-Minh nghĩ thầm:

– Thằng cha này từ lúc gặp nhau đến giờ, chưa thấy y ra tay bao giờ. Không hiểu vừa rồi y dùng thủ pháp gì, mà đẩy được cả ta lẫn Mã Viện.

Cảnh Yểm nói:

– Bên các vị ba người do các vị đưa ra. Bên tôi cũng ba người phải do chúng tôi đưa. Được bên tôi là Phùng Tuấn, Đoàn Chí, Lưu Long. Trận đầu Lưu Long ra tay trước, không biết bên quý vị là ai đây?

Bên ngoài Giao-Chi hỏi Đô Dương:

– Đô đại-ca, đại-ca biết nhiều về bọn này không?

Đô Dương đáp:

– Ngày đầu Nghiêm đại-ca giúp Quang-Vũ đã có tôi rồi. Tương-dương cửu hùng là chín người khác môn hộ, cùng gốc ở đất Tương-dương. Trước đây Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, anh hùng tứ phương nổi lên chống lại. Y tổ chức cuộc thi võ ở Trường-an tuyển người làm tướng võ. Tương-dương cửu hùng có bốn người tham dự là Sầm Bành, Cảnh Yểm, Mã Vũ, Tế Tuân. Sầm Bành, Mã Vũ, Phùng Dị ngang sức nhau. Vương Mãng lấy Sầm Bành đậu Trạng-nguyên. Mã Vũ với Phùng Dị đậu Bãng-nhãn. Mã Vũ không phục đề thơ phản Vương Mãng. Vương Mãng sai quân đuổi đánh. Trong lúc y gặp nguy nan thì Quang-Vũ, Nghiêm đại-ca với tôi cứu y thoát chết. Vì vậy y theo Quang-Vũ. Sầm Bành được Vương Mãng phong đại nguyên-soái, mang quân đi đánh dẹp các nơi. Khi y tới trận, đối thủ nào cao nhất, cũng chỉ chịu được năm chưởng là mất mạng. Trong trận đánh Côn-dương, Nghiêm đại-ca sai Mã Vũ, Phùng Dị đấu với y đều không hạ được. Y đánh quân Hán nhiều trận lao đao khốn khổ.

Giao-Chi thắc mắc:

– Tôi nghe nói Sầm Bành chỉ là tướng hữu dũng vô mưu. Còn Nghiêm đại-ca mưu trí tuyệt vời, sao không dùng kế mà trừ y đi?

Đô Dương nói:

– Dĩ nhiên! Nhưng lúc đầu binh Vương Mãng tinh nhuệ, tướng tài cả nghìn người. Còn binh Hán phần đông mới mộ, tướng chưa thiện chiến, vì vậy mới bị thua. Sau này chúng tôi dùng kế khiến Sầm Bành về đầu Hán.

Giao-Chi chợt hỏi:

– Cứ như thân thủ Sầm Bành, công lực y đâu có kém gì Lê Đạo-Sinh với Khất đại-phu. Đại ca nói Phùng Dị, Mã Vũ đều ngang tay với y, thế sao hôm rồi Phùng Dị không ra tay chống chúng ta, chịu để chúng ta trói?

Đô Dương cười:

– Về võ công Sầm Bành, Phùng Dị, Mã Vũ ngang nhau. Mã Vũ với Phùng Dị tài trí xuất chúng, đáng tài đại tướng. Tài dùng binh của chúng ngang với Ngô Hán, Đặng Vũ. Còn Sầm Bành mưu trí kém hơn. Mã Vũ, Phùng Dị theo Quang-Vũ từ lúc đầu, lập được nhiều công lao hơn Sầm Bành. Kịp khi Sầm Bành đầu hàng. Y lại ra sức lập công, chẳng bao lâu y lại ngang với hai người kia. Ngô Hán, Đặng Vũ võ công kém bọn này. Nhưng một là chúng theo Quang-Vũ ngay từ lúc đầu. Hai là chúng có tài đại-tướng, chỉ kém Nghiêm đại-ca một chút mà thôi. Vì vậy được Quang-Vũ giao cho thống lĩnh hai đạo binh. Sầm Bành được cử làm phó tướng cho Đặng Vũ, Phùng Dị được cử làm phó tướng cho Ngô Hán. Vì tự cho rằng võ công mình hơn chúa tướng, tài dùng binh không kém là bao, nên Sầm Bành, Phùng Dị, Mã Vũ không chịu xuất thủ. Có xuất thủ cũng đánh cầm chừng. Phùng Dị đã bàn với Sầm Bành, Mã Vũ rằng đợi Đặng Vũ, Ngô Hán bị bại. Quang-Vũ ra lệnh bãi binh. Tất Sầm Bành được trấn thủ Kinh-châu. Phùng Dị trấn thủ Hán-trung. Bấy giờ chúng mới xuất toàn lực tấn công Công-tôn Thuật chắc chắn thành công. Uy danh chúng sẽ vượt Đặng Vũ, Ngô Hán.

Giao-Chi hiểu ra:

– Bây giờ tôi mới biết. Trước đây trong các trận đánh của đạo Kinh-châu, Hán-trung. Sầm Bành, Phùng Dị chỉ lĩnh nhiệm vụ trấn đóng các thành đã chiếm được của Thục mà không chịu xuất lực. Còn hôm rồi Phùng Dị thấy Khất đại-phu, Đào tam-ca với sư tỷ Phương-Dung. Y biết có chống lại cũng mất mạng. Chi bằng chịu trói chắc chắn Đào đại-ca không giết y vì nghĩ đến tình quen biết nhau bấy lâu. Y biết người như vậy thực xứng đáng làm đại tướng.

Đô Dương tiếp:

– Tôi phải khích Đào tam-đệ giết y mới được. Để y, sau này là một mối lo cho đất Lĩnh Nam.

Giao-Chi hỏi:

– Dĩ nhiên về tài dùng binh mưu trí y thua đại-ca. Còn võ công y hơn đại-ca phải không? Giết đi thực uổng.

Đô Dương tỏ vẻ cương quyết:

– Sư muội mới cầm quân còn nghĩ đến điều đó. Tôi thì, tôi nghĩ đến Lĩnh Nam nhiều hơn. Vì Lĩnh Nam, tôi bỏ chức thái-thú, bỏ tước Tân-bình hầu trở thành một người dân. Nếu bảo tôi bỏ mạng, tôi cũng chấp thuận, há tiếc một tên Phùng Dị hay sao?

Giao-Chi nói nhỏ:

– Đa tạ đại-ca đã dạy cho bài học. Đại ca với Nhị Trưng có tài nhìn giống nhau. Thì ra kiến thức những bậc anh hùng chí cả đều giống nhau hết.

Trong miếu một viên quan theo Mã Viện là Trần Lữ nói:

– Người ta thường đồn đại, anh hùng Lĩnh Nam võ công hơn đời. Thế mà hôm nay ta được chứng kiến sự thực chỉ là bọn hèn hạ, đi dựa vào sự che chở của Ngũ-phương thần kiếm. Uy danh anh hùng Lĩnh Nam chỉ là một bọn hèn hạ không hơn, không kém.

Tiên-yên nữ hiệp biết bà cũng như Trần Công-Minh, Đặng Đường-Hoàn đều không phải là đối thủ của bất cứ một hùng nào trong 7 hùng cả. Từ đầu đến giờ, Trần Công-Minh, Đặng Đường-Hoàn ra tay đã nhiều rồi. Bây giờ bà phải ra tay. Với mưu trí tuyệt vời, bà hy vọng có thể thắng được chúng. Nghĩ vậy bà nói với Trần Lữ:

– Được, ta đấu với ngươi.

Bà vung chưởng tấn công. Trần Lữ khinh thường, né tránh rồi phản đòn. Hai người xuất chưởng quay tròn chiến đấu. Tiên-yên nữ hiệp nhẹ nhàng thoát tiến, thoát lui. Trần Lữ trầm trọng. Tiên-yên nữ hiệp công lực không bằng Trần Lữ. Nhưng một là bà khôn ngoan, hai là bà có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, nên hai bên cầm cự được với nhau trên 30 hiệp. Tiên-yên nữ hiệp cảm thấy đuối sức dần. Mỗi khi Trần Lữ phát chiêu, lại thấy mùi tanh hôi nồng nàn xông lên, rất khó chịu. Tiên-yên nữ-hiệp tuy kinh lịch nhiều nhưng không rõ nguyên do tại sao.

Bên ngoài Giao-chi nói với Đô Dương:

– Đô đại-ca, đại-ca có thể đấu được với Trần Lữ không?

Đô Dương lắc đầu:

– Không chắc lắm, nhưng nếu có bại cũng phải trên trăm chiêu. Tôi thấy võ công y rất quái dị, nội công âm nhu. Dường như võ công này tôi đã thấy nhiều lần hồi đánh với Xích My. Đúng rồi! Nội công này tôi đã gặp khi đánh cùng với Phan Sùng. Đây là nội công Âm-nhu đường đường chính chính, nhưng chúng lại dùng Ngũ độc luyện chưởng, nên trong cái chính có cái tà. Ai trúng chưởng của chúng, đau đớn không biết bao nhiêu mà kể, cứ cách ngày lên cơn một lần, cho đến khi kiệt lực mà chết.

Giao-Chi than:

– Không biết Khất đại-phu, Đào Kỳ, Phương-Dung đâu mà chưa chịu ra mặt? Những người này mưu trí tuyệt vời. Chắc họ còn chờ gì đây, chứ không phải họ không muốn ra tay.

Nàng thấy Tam sư-bá cứ lui hoài, trong khi đó Trần Lữ cứ tấn công như vũ bão.

Nghĩ được một kế, nàng nói với Đô Dương:

– Đô đại-ca, nhờ đại-ca bảo vệ phía trước tiểu muội. Để tiểu muội phá đám Mã Viện một trận.

Nói rồi nàng cầm ống tiêu để lên môi thổi. Tiếng tiêu của nàng pha lẫn nội lực, vang rất xa, bay bổng lên trời. Đó là bản Động-đình ca diễn tả lúc Quốc-tổ đến Động-đình hồ cầu hôn cùng Quốc-mẫu. Tiếng tiêu của nàng vừa cất lên Mã Viện thấy luống cuống xao xuyến trong lòng. Vì đã nghe Lê Chân tấu nhiều lần trong những ngày tiến từ Kinh-châu vào Thành-đô. Y đâu biết rằng những người phái Sài-sơn đều biết tấu bản này. Y cho rằng Lê Chân tấu. Lê Chân đến thì Trưng Nhị đến. Trưng Nhị đến sẽ có Phật-Nguyệt, Hồ Đề đến. Bọn người này đến, y chỉ có nước chôn xác, chứ làm sao đấu lại với đoàn Thần-ưng, Thần-phong, Thần-tượng? Trong đầu óc y tưởng tượng ra rằng Nghiêm Sơn ca khúc khải hoàn, về tới. Vậy thì tính mạng y nguy mất. Tuy nhiên là người nhiều mưu trí. Y cho rằng nếu sự thực Lê Chân tới, sao không xuất hiện. Cho nên y lại thản nhiên nghe ngóng.

Trong nhà Tiên-yên nữ hiệp nghe tiếng tiêu nhu hòa của bản Động-đình ca, biết bên mình đã có tiếp viện. Tinh thần tăng lên. Bà phản công vèo vèo liên tiếp mười chiêu, khiến Trần Lữ phải lui dần đến cửa đền.

Mã Viện cượt nhớ ra điều gì kêu lên:
– Trưng Nhị cô nương xin xuất hiện để tương kiến.

Giao-Chi từ bụi cây khoan thai bước ra chắp tay nói:

– Điệt nữ Nguyễn Giao-Chi ở Mai-động, xin tham kiến Nhị sư-bá, Tam sư-bá và Lục sư-thúc.

Mã Viện đã biết mặt Giao-Chi trong dịp nàng dẫn đội Giao-long từ đạo Lĩnh-nam đến trợ chiến đạo Kinh-châu. Y đáp lễ:

– Không dám, Nguyễn cô nương giá lâm. Chẳng hay Trưng cô nương đâu?

Giao-chi lắc đầu:

– Trưng sư tỷ hiện ở Thành-đô, không có ở đây. Ở đây chỉ có sư huynh Đào Kỳ, sư tỷ Phương-Dung mà thôi.

Trên đời chinh chiến Mã Viện không sợ bất cứ ai, mà chỉ sợ ba người. Một là Phương-Dung, hai là Trưng Nhị, ba là Phùng Vĩnh-Hoa. Nghe nói Phương-Dung đến. Mặt y trông thật khó coi. Y hỏi:

– Đào phu-nhân, xin mời ra tương kiến, còn Lĩnh-nam vương đâu?

Giao-Chi cười:

– Lĩnh-nam vương chiến thắng Thục, đã về Trường-an yết kiến hoàng-thượng. Hoàng-thượng thấy đang tiết Xuân, trăm hoa đua nở. Nhớ lại ngày nào cùng Lĩnh-nam vương ruỗi ngựa đánh Vương Mãng, tình huynh đệ thực thắm thiết, nên đã đến Trường-an cùng vương ngắm hoa, thưởng Xuân. Phục-ba tướng-quân, ngươi có lệnh phải về Trường-an, yết kiến hoàng-thượng, lĩnh chức trấn thủ Lương-châu. Sao không lên đường ngay, mà còn đem tướng sĩ đi gây chiến với sư thúc, sư bá của ta?

Mã Viện chỉ Hầu Nhân-Đăng:

– Vũ-vệ hiệu-úy có mật chỉ mời tất cả các vị người Việt về Lạc-dương mà các vị đó không chịu, nên mới có cuộc động thủ.

Lời nói Mã Viện đã có vẻ khách khí một chút. Giao-Chi tiến đến trước mặt Vũ-vệ hiệu-úy Hầu Nhân-Đăng hỏi:

– Mật chỉ đâu, đưa ta coi.

Hầu Nhân-Đăng đưa mật chỉ ra. Mã Viện, bực mình hỏi:

– Nguyễn cô nương không được ngạo mạn, thất kính với Thái-hậu.

Giao-Chi cầm mật chỉ cười:

– Mã tướng quân, ngươi uổng là cháu của Thái-hậu, mà không nhận được thủ bút người. Ngươi có biết những gì xảy ra cho Thái-hậu không?

Mã Viện ngơ ngác:

– Cô nương muốn nói?

Giao-Chi cười:

– Gần đây bọn tế tác Thục đã đem vàng bạc vào Lạc-dương mua chuộc nhiều người đồng nói rằng thiên-tử không phải là con của Thái-hậu. Sinh mẫu của thiên-tử hiện lưu lạc ở Lĩnh Nam. Rồi chúng mua được thái-giám hầu cận Thái-hậu, bảo y ăn cắp thủ bút thư tín của Thái-hậu. Sau đó chúng mạo chữ Thái-hậu, phái nhiều cao thủ đi khắp nơi, gây thù oán giữa người Lĩnh Nam với Thái-hậu. Chúng hy vọng anh hùng Lĩnh Nam đang phạt Thục, công phẫn nổi lên chống Hán. Chúng làm như vậy để chia rẽ giữa Thái-hậu với hoàng-thượng. Tên Hầu Nhân-Đăng này là người của Tế-tác đất Thục chứ không chối đâu được.

Hầu Nhân-Đăng kinh hồn nói:

– Nói láo! Ta chính là Vũ-vệ hiệu-úy nhận mật chỉ của Thái-hậu.

Giao-Chi cười gằn:

– Được! Ta sẽ gọi một người ra đây làm chứng. Người này Mã tướng-quân quen mặt. Chính người này đã bắt được nhiều tên mang mật chỉ giả của Thái-hậu.

Nàng quay ra ngoài gọi:

– Xin mời Tân-bình hầu lĩnh Phù-phong thái-thú ra tương kiến.

Đô Dương từ ngoài bước vào trông thấy Mã Viện chắp tay xá:

– Thái-thú Phù-phong lĩnh Tân-bình hầu, xin tham kiến Phục-ba tướng quân. Thế nào ? Lâu nay tướng-quân vẫn mạnh giỏi chứ. Nghe nói tướng quân được phong trấn thủ Lương-châu, tước Công thì phải. Xin mừng cho tướng quân.

Mã Viện cùng Đô Dương sát cánh bên nhau chiến đấu đánh Vương Mãng. Về võ công cũng như tài điều binh, y thua Đô Dương xa. Cho nên đánh xong Vương Mãng, y chỉ được phong Phục-ba tướng-quân mà không được phong tước. Còn Đô được phong hầu, lĩnh chức Thái-thú, chúa tể một vùng. Chỗ miếu Tam-hoàng này thuộc lĩnh thổ của Đô. Nay Mã Viện nghe Đô Dương nói thế. Y ngẩn người ra.

Đô Dương móc trong bọc ra một tờ giấy, đó là mật chỉ của Thái-hậu giao cho Mao Bạch, đi kinh lý. Đô Dương hỏi Hầu Nhân-Đăng:

– Hầu Vũ-vệ, ngươi có biết Mao Bạch không?

Hầu Nhân-Đăng nói:

– Có chứ, Mao Bạch là Vũ-vệ thường thị, sao ta không biết.

Đô Dương lạng người một cái chụp Hầu Nhân-Đăng nói:

– Thế là mi tự xưng rằng mình làm gian tế cho giặc. Hôm qua ta đến Trường-an yết kiến hoàng-thượng và Lĩnh-nam vương. Lĩnh-nam vương cho ta biết bọn gian tế Thục giả mật chỉ Thái-hậu, gây hỗn loạn các nơi. Vì vậy bắt được tên nào lập tức xử trảm. Ta đã xử trảm Mao Bạch. Không ngờ, trời xui đất khiến, hôm nay gặp mi ở đây. Thế là trời giúp ta lập công.

Miệng nói tay chàng gia tăng kình lực, khiến Hầu Nhân-Đăng không nói được câu nào. Đô Dương đưa mật chỉ trong người Mao Bạch cho Mã Viện coi. Mã Viện thấy đúng thủ bút của cô mình, cũng giống như tờ mật chỉ của Hầu Nhân-Đăng. Y hoang mang không biết những gì đã xảy ra. Nếu y cố gắng bắt những người này chưa chắc đã bắt được, mà lại gây thù chuốc oán với đám anh hùng Lĩnh Nam, bản tâm y không muốn. Hơn nữa đám này lại là sư huynh, sư đệ với Lĩnh-nam vương. Người được quyền ngồi ngang với hoàng-thượng, người giúp y trở thành trấn thủ Lương-châu. Lỡ khi bắt được họ, rồi khi về Lạc-dương, hóa ra chiếu chỉ giả, đầu y sẽ không giữ được.

Y đang suy nghĩ, Đô Dương đã rút kiếm đưa một nhát, đầu Hầu Nhân-Đăng rơi xuống đất. Mã Viện định cản, nhưng không kịp. Còn đám tướng sĩ Kinh-châu có đủ bản lĩnh, lại đứng quá xa.

Trong đầu óc Mã Viện, y cảm thấy như có một cái gì không ổn. Chính tai y đã nghe đám anh hùng Lĩnh Nam bàn tán đến vụ thái-hậu. Vì vậy vụ này chắc có một cái gì bí ẩn ở trong, y chưa hiểu nổi. Đợi ngày mai vào yết kiến thiên-tử, rồi về Lạc-dương hỏi Thái-hậu sau.

Mã Viện là người cơ tâm, y biết vụ này dù đúng dù sai cũng cần đề phòng trước. Y chắp tay hướng vào Trần Công-Minh, Trần Thị Phương-Chi và Đặng Đường-Hoàn:

– Người xưa nói: Không biết là không có tội xin ba vị mở lượng hồ hải, tha thứ cho.

Nói rồi y vẫy tướng sĩ cùng lên đường. Đợi bọn Mã Viện đi rồi, Phương-Dung mới từ sau bệ thờ nhảy ra. Nàng hô lớn:

– Xuất hiện đi thôi.

Khất đại-phu, Chu Bá, Đào Kỳ lần lượt từ nóc đền thờ nhảy xuống. Cao Cảnh-Sơn cùng hai con từ ngoài bước vào.

Phương-Dung nhìn Giao-Chi:

– Sư tỷ bây giờ mưu mẹo cũng ghê thực, người cùng với Đô đại-ca đánh lừa Mã Viện, để bọn ta khỏi xuất hiện! Người hay thật! Nếu bọn ta xuất hiện hỏng hết kế hoạch.

Nàng hỏi Tiên-yên nữ-hiệp tại sao lại đến đây. Bà tỉ mỷ kể cho nàng nghe hết tình hình Lĩnh Nam, từ khi Nghiêm Sơn mang quân đánh Thục và những biến chuyển trong vụ Hàn Tú-Anh.

Bỗng Tiên-yên nữ-hiệp kêu ối lên một tiếng, rồi ngã lăn ra, run lật bật, mặt tái mét, mồ hôi xuất đầm đìa.

Khất đại-phu gọi Tiên-yên nữ-hiệp:

– Lại đây! Cháu lại đây mau! Nguy đến nơi rồi.

Khất đại-phu là chú ruột của Nam-hải nữ-hiệp Trần Thị Phương-Châu, Nam-thành vương Trần Công-Minh, Tiên-yên nữ-hiệp Trần Thị Phương-Chi và Thiên-trường đại-hiệp Trần Quốc-Hương. Tính ông xuề xòa không câu nệ chi tiết. Đối với các cháu, dù đã lừng danh thiên hạ như Tiên-yên nữ hiệp, ông vẫn gọi là cháu, đôi khi còn xoa đầu bà. Thời bấy giờ nam nữ đụng chạm vào người nhau là điều cấm kỵ, dù là chú cháu. Nhưng ông tuổi đã trên 80. Lại sống vũ ngoại trần ai như một tiên ông, không câu nệ phép tắc luân lý. Hơn nữa ông là thầy thuốc, ông cho rằng đụng vào cơ thể phụ nữ, chẳng có gì đáng cấm kỵ cả.

Tiên-yên nữ-hiệp thấy ông gọi vội vã đến bên. Người bà lạnh toát run cầm cập:

– Thúc phụ! Người cháu lạnh quá trong thì nóng như lửa đốt.

Ông cầm tay Tiên-yên nữ-hiệp đưa ra cho mọi người coi: Bàn tay của bà có màu tím xanh mờ mờ. Ông khịt mũi mấy tiếng rồi nhăn mặt ngồi im. Người ông xuất thần nhìn về phương trời xa xôi. Mọi người biết xưa nay tính ông thâm trầm. Gặp ông chỉ thấy ông cười. Thế mà bây giờ ông lộ ra vẻ lo nghĩ, đều im lặng, không nói gì. Trong tất cả những người hiện diện. Đào Kỳ võ công cao nhất, nhưng lại thiếu kinh nghiệm lịch lãm. Phương-Dung có tài dùng binh vì nàng đọc thông Lục-thao, Tam-lược, Tôn-ngô. Còn những uẩn khúc sâu xa trong võ lâm, nàng còn thua Trần Công-Minh và Đặng Đường-Hoàn.

Nghĩ một lúc, Khất đại-phu bảo Tiên-yên nữ-hiệp:

– Từ chiều đến giờ cháu đối chưởng với những ai?

Tiên-yên nữ-hiệp nói:

– Cháu chỉ đối chưởng với bọn tướng sĩ Kinh-châu. Còn ngoài ra thì có tên Trần Lữ này mà thôi.

Khất đại-phu hỏi Đô Dương:

– Cháu ở Trung-nguyên lâu kiến văn quảng bác. Cháu có nghe đến Huyền-âm độc chưởng chưa?

Đô Dương nhảy phắt lên:

– Có! Cháu có nghe nói đến. Huyền-âm độc chưởng là chưởng pháp của phái võ Trường-bạch. Người cuối cùng của phái này biết xử dụng là Xích-Mi. Từ khi Xích-Mi chết đến giờ, ai cũng tưởng chưởng pháp này thất truyền. Không ngờ ngày nay vẫn còn ở thế gian.

Khất đại-phu gật đầu:

– Trong đám tướng Hán theo Mã Viện, ta không nghe nói có người nào biết chưởng pháp này. Ban nãy Tiên-yên đối chưởng với Tương-dương cửu hùng. Võ công chúng thuộc loại Dương-cương chứ không phải Âm-nhu. Vậy thì trong đám quan quân Mã Viện có một đại cao thủ thuộc phái Trường-bạch. Mã không biết đã đành, còn minh mẫn như Trưng Nhị cũng không biết thì thực lạ. Có điều y mai phục trong quân Mã Viện để làm gì, ta không nghĩ ra.

Đặng Đường-Hoàn hỏi:

– Tiên sinh! Tam sư tỷ bị trúng Huyền-âm độc chưởng rồi hay sao?

Khất đại-phu móc trong bọc ra hộp thuốc, lấy 5 viên đưa cho Tiên-yên nữ-hiệp, bảo bà nuốt đi, rồi buông thõng kình lực. Cấm không được vận công. Ông nói:

– Đúng vậy độc chưởng này trên đời không ai chữa được bọn Trường-bạch chỉ biết đánh người, chứ không biết cứu người. Ai trúng chưởng này 49 ngày sau phải chết. Lúc đầu cách ngày lên cơn một lần, người lạnh run lên, rồi về khuya phát sốt, chân tay vô lực, ăn uống không được. Ngay từ ngày đầu nạn nhân đau đớn không thể tưởng tượng, muốn sống không được, muốn chết cũng không xong.

Đô Dương nói:

– Cháu nghe đồn muốn chữa chưởng độc này chỉ có hai cách. Một là luyện độc chưởng của họ. Hai là bắt được chính kẻ đánh mình, giết đi lấy máu uống mà thôi. Ngoài ra thuốc giải độc chỉ chưởng môn mới có cách chế.

Khất đại-phu gật đầu, nói:

– Lúc nãy bọn quan binh Mã Viện vào đây, ta thấy có mùi tanh tanh đã nghi ngờ. Sau thấy Tiên-yên đấu với Trần Lữ mà không đổ mồ hôi thì biết là đã trúng độc.

Tiên-yên nữ hiệp nghĩ một lúc rồi nói:

– Đúng đấy! Cháu đấu chưởng với Trần Lữ. Thấy chưởng lực của y bao hàm nội lực Âm-nhu, thuộc chính phái, hơi giống nội công phái Long-biên. Có điều trong chưởng phong bao hàm một mùi tanh hôi rất khó chịu.

Phương-Dung nói:

– Vậy Trần Lữ là người của phái Trường-bạch. Võ công tuyệt cao nhưng y dấu thân phận, ẩn trong quân Mã Viện để mưu đồ việc gì. Cho nên khi bị sư bá tấn công, y chỉ vận khí chống đỡ. Nhưng chưởng lực sư bá mạnh quá, y phải vận độc chưởng chống lại.

Giao-Chi chợt nhớ ra điều gì nói:

– Phải rồi, cháu nhớ ra rồi. Trần Lữ làm y-quan trong quân Mã Viện. Võ công y vào hạng bình thường mà thôi.

Khất đại-phu lắc đầu:

– Đó là y giả bộ, thực sự ra võ y rất cao thâm.

Tiên-yên nữ-hiệp bảo Phương-Dung:

– Về nội công phái Long-biên, cháu luyện được mấy thành?

Phương-Dung e thẹn đáp:

– Về kiếm pháp cháu học được trọn vẹn. Còn về nội công luyện mấy năm nay, cũng chỉ được có 5 thành mà thôi. Sư-bá, có phải sư-bá muốn cháu thử xem nội công của cháu có giống Trần Lữ không?

Tiên-yên nữ-hiệp gật đầu:

– Bây giờ cháu vận sức ra tay, đánh vào ta một chưởng. Để ta so sánh nội Long-biên có giống Trần Lữ không?

Phương-Dung vâng lời, nàng vận khí phát một chưởng hướng Tiên-yên nữ-hiệp đánh tới. Nội công phái Long-biên thuộc âm-nhu, chưởng của nàng không có gió. Tiên-yên nữ-hiệp vung chưởng đỡ. Chưởng của bà ào ào chụp xuống, gió lộng rất mạnh. Gặp chưởng của Phương-Dung thì mất tăm, mất tích.

Mọi người sửng sốt, Tiên-yên nữ-hiệp nói:

– Cháu mới dùng có một thành công lực, cháu đánh mạnh hơn ta xem nào.

Phương-Dung hít hơi, nàng vận đủ mười thành công lực, chưởng của nàng êm dịu chụp xuống. Tiên-yên nữ-hiệp quát lên một tiếng vung chưởng đỡ. Chưởng của bà áp lực cực kỳ trầm trọng. Nhưng chạm phải chưởng của Phương-Dung thì xịt một tiếng, mất tăm, mất tích. Phương-Dung đứng im, còn bà lảo đảo lui lại.

Bà than:

– Vạn-tín hầu quả là thần, là thánh của đất Lĩnh Nam. Chưởng pháp Âm-nhu thực kỳ dị không tưởng được.

Ý bà muốn nói: Nội công Âm-nhu do Vạn-tín hầu sáng chế ra. Lưu truyền tới ngày nay, tâm pháp lấy nhu chế cương, dù người mới tập, cũng có thể thắng người luyện Dương-cương đi trước hàng mấy năm trời.

Phương-Dung ngơ ngác hỏi:

– Sư bá thấy thế nào?

Tiên-yên nữ-hiệp nói:

– Nội công của Trần Lữ giống hệt phái Long-biên. Khác một điều là chưởng pháp của cháu quang minh chính đại, còn chưởng pháp của Trần Lữ thì có độc chất bên trong.

Phương-Dung lắc đầu không hiểu.

Chương 18: Bây giờ nàng đã nghe ai Gặp anh ghé nón chạm vai chẳng chào

Khất đại-phu nói:

– Tên Trần Lữ kia có nội công Âm-nhu giống hệt nội công của phái Long-biên. Nhưng y lại dùng năm thứ nọc độc là: nọc rắn, nọc rết, nọc bò-cạp, nọc nhện-độc, nọc tằm-núi hợp lại với phân chim quạ và ma-hoàng. Năm loại độc này khi trộn với phân chim quạ, sẽ giữ nguyên độc chất trong người. Thêm ma-hoàng để độc chất dễ nhập vào da người ta. Trong năm thứ nọc độc, mỗi thứ nhập vào một tạng trong người. Nọc Rắn nhập Tâm, nọc Rết nhập Phế, nọc Bò-cạp nhập Can, nọc Nhện nhập Tỳ, nọc Tằm nhập Thận. Vì vậy không có cách gì cứu chữa được.

Chu Bá hỏi:

– Sư phụ! Tại sao nội công phái Trường-bạch lại giống nội công phái Long-biên. Hai bên ở cách nhau hàng mấy vạn dặm?

Khất đại-phu thở dài:

– Tất cả cùng một nguồn gốc mà ra. Nguyên khi Vạn-tín hầu Lý Thân cầm đầu anh hùng Lĩnh Nam sang đấu trước sân rồng Tần Thủy-Hoàng, trong đó có chín người đệ tử của ngài. Ngài ra lệnh khởi diễn cuộc đấu, ngày đầu chỉ lấy hòa. Thỉnh thoảng mới tấn công để đối phương trổ hết sở trường ra. Rồi tối về, thầy trò tóm tắt tất cả chiêu thức của họ lại, tìm lấy một yếu quyết võ công, đưa ra thế phá. Sau hơn 15 ngày đấu, thầy trò Vạn-tín hầu tìm ra khắp Trung-nguyên chỉ có 18 nguyên tắc võ học. Hầu hết đều thiên về Dương-cương. Một lần nữa ngài tìm ra thứ nội công Âm-nhu, phá nội công Dương-cương của Trung-nguyên. Nội công Âm-nhu này chỉ cần luyện một năm, có thể phá người luyện nội công Dương-cương đã tập đến 5 năm. Ngài đem nội công ra dậy cho tất cả 9 người. Sau khi đánh Hung-nô, xây Vạn-lý trường-thành xong, ngài cùng đệ tử trở về Âu-lạc. Tần Thủy-Hoàng giữ nhị đệ-tử của ngài là Trần Mạnh-Chi lại, lĩnh chức Nội-giám hiệu-úy thống lĩnh cấm quân, Trần Mạnh-Chi được phong hầu, lấy vợ Trung-nguyên, sinh con đẻ cái ở vùng Trường-bạch, lập môn phái dạy học trò. Đời thứ năm thì đổi khác. Phan Huy được sư phụ sai đi tiểu trừ một bọn dùng thuốc độc giết người, vô ý bị chúng bắt. Chúng dùng nọc độc để tra khảo y phải khai ra bí quyết võ công. Y vận công chống độc. Nội công y cao, y lại thông minh, nên dù bị kẻ thù dùng thứ tự năm thứ nọc độc, y chống được cả. Cuối cùng kẻ thù lấy phân chim bắt ăn, để phân chim cùng độc chất hành hạ y. Y vận công chống lại đến nổi mê man. Kẻ thù sợ y chết, nấu Ma-hoàng đổ vào cho y uống. Trong cơn mê mê tỉnh tỉnh, y vẫn vận công chống độc. Hai hôm sau y tỉnh dậy trong đêm, thấy người khỏe mạnh như thường, nội lực tăng tiến. Y vận công phá gông cùm, tìm giết kẻ thù. Khi y vận chưởng giết kẻ thù thấy mùi tanh hôi bốc ra, kẻ trúng chưởng bị đau đớn khủng khiếp, rồi mới chết. Y trở về phúc trình sư phụ. Sư phụ khuyên y bỏ lối luyện độc chưởng. Y không nghe cứ bí mật luyện. Cho đến một hôm bị sư phụ bắt được, đuổi y ra khỏi sư môn. Phan Sùng tức Xích-My là hậu duệ của y vậy.

Đào Kỳ ngồi im bây giờ mới xen vào:

– Cùng gốc ở Vạn-tín hầu, tại sao phái Trường-bạch, Long-biên rồi Tản-viên, rồi Cửu-chân lại khác nhau?

Khất đại-phu thở dài:

– Tiểu hữu hỏi câu này thực phải. Nguyên khi rời Trung-nguyên về Âu-lạc. Vạn-tín hầu chế ra nội công Âm-nhu, Trần Mạnh-Chi học được nội công này, vì vậy nội công Âm-nhu phái Trường-bạch giống nội công phái Long-biên.

Ngừng một lúc ông tiếp:

– Khi về đến Âu Lạc ông tập trung hết các chiêu thức ngoại công như quyền, chưởng của các phái Trung-nguyên. Ngài dậy đệ tử là Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung. Vì bấy giờ Vũ Bảo-Trung lĩnh chức Tư-mã của Âu Lạc thống lĩnh quân đội. Người thống lĩnh quân đội cần học võ công phá võ công Trung-nguyên để đánh giặc ngoại xâm. Muốn xử dụng những võ công phá võ công Trung-nguyên đó, phải học nội công Dương-cương. Do vậy Vạn-tín hầu chế nội công Dương-cương khắc chế nội công Trung-nguyên cho phù hợp với chiêu thức khắc chế võ công Trung-nguyên. Con cháu, đệ tử Trung-tín hầu sau lập ra phái Cửu-chân. Phái Cửu-chân thường đỉnh lập, tránh đụng chạm với người Việt, mà chỉ chú ý đến chống ngoại xâm. Vì vậy đời đời được anh hùng Lĩnh Nam kính trọng.

Chu Bá gật đầu tỏ vẻ hiểu biết:

– Sư phụ! Thì ra là vậy. Trước đây con lấy làm lạ rằng võ công Cửu-chân song kiệt không hơn chúng con làm bao. Nhưng Đinh-hầu, Đào-hầu được chúng nhân tôn phục, kính trọng tuyệt đối. Hơn hẳn nhạc phụ con là Lục-trúc tiên sinh. Chính vì uy đức yêu nước chống giặc?

Khất đại-phu gật đầu:

– Đúng thế! Đất Lĩnh Nam mình, người ít, đất rộng. Bên cạnh Trung-nguyên người đông, đất hẹp. Họ luôn muốn chiếm đất mình, vì vậy người Lĩnh Nam đặt võ đạo chống ngoại xâm lên hàng đầu. Ai chống ngoại xâm được kính trọng... Để ta tiếp, Vạn-tín hầu dạy con cháu nội công Âm-nhu, kiếm pháp thần thông. Con cháu người lập ra phái Long-biên. Vì vậy nội công Long-biên với Trường-bạch giống nhau. Tuy nhiên người tập võ công Cửu-chân muốn luyện võ công Long-biên cũng dễ dàng, vì cùng một nguồn gốc. Do đó Đào tiểu hữu gặp sư huynh, Nguyễn Phan được sư huynh dạy Long-biên kiếm pháp, mà chỉ mấy ngày luyện xong. Còn cháu Phương-Dung lấy chồng rồi, luyện võ công Cửu-chân cũng thành công là thế.

Việc Đào Kỳ học kiếm pháp của Nguyễn Phan dạy lại cho Phương-Dung ai cũng biết. Còn chuyện Phương-Dung được chồng dạy võ công Cửu-chân thì không ai biết. Nay nghe Khất đại-phu nói, mọi người ngơ ngác nhìn nàng. Phương-Dung xấu hổ hỏi:

– Tiên sinh, sao tiên sinh biết cháu luyện võ công phái Cửu-chân?

Khất đại-phu cười:

– Gì mà ta không hiểu! Nội công của cháu thuần Âm-nhu. Khi đối chưởng với Dương-cương bao giờ cũng lùi lại một bước hóa giải kình lực đối phương. Nhưng mấy lần cháu xuất thủ ngoài trận tuyến. Ta thấy cháu vận Dương-cương chống kình lực đối thủ, không chịu lùi bước. Rồi sau đó đổi ra Âm-nhu, xuất kiếm chiêu, thì ta biết cháu tập võ công Dương-cương của Cửu-chân.

Đô Dương gật đầu bái phục:

– Tiên sinh quả đúng là một tiên ông như người đời gọi. Tiên sinh chỉ liếc mắt, mà đã biết rõ nguyên ủy mọi việc. Thưa tiên sinh, cháu còn một chuyện thắc mắc, là bộ Văn-Lang võ học kỳ thư, rõ ràng do phò mã Sơn Tinh chép ra, tức gốc của võ công Văn-lang, tại sao trong đó lại có lẫn võ công của Vạn-tín hầu?

Khất đại-phu nhìn Đào Kỳ nói:

– Điều này Đào tiểu hữu biết rõ hơn ta. Nguyên khi An Dương vương đánh nhau với Hùng-vương, phò mã Sơn Tinh đấu với Vạn-tín hầu. Sơn Tinh dùng võ công Tản-viên, Dương cương, lấy căn bản là Phục Ngưu thần chưởng. Còn Vạn-tín hầu dùng Long-biên kiếm pháp Âm-nhu mà thắng. Khi chiếm được Văn-Lang, Vạn-tín hầu cướp cây đồng côn tượng trưng uy quyền của Hùng vương, trong đó chép võ công Tản-viên, tức võ công Văn-Lang. Ngài đem ra nghiên cứu, thấy võ công Tản-viên đạt đến cao độ bậc nhất Dương cương. Ngài tiếc rẻ một pho kỳ thư võ học. Ngài ngồi ngẫm nghĩ chế ra 36 chiêu Âm nhu cùng tên với 36 chiêu Dương cương, nhưng nội công lại thuộc Âm nhu, cách vận sức, chiêu số hoàn toàn khác các chiêu kia. Ngài khắc thẻ đồng, bỏ chúng vào trong cây đồng côn. Cây đồng côn đó sau thuộc đại đệ tử của ngài là Trung-tín hầu. Trung-tín hầu tuẫn quốc. Cây gậy vẫn để ở đền thờ ngài. Đào tiểu hữu có cơ duyên khám phá ra, mà học được đủ cả 36 chiêu Phục Ngưu thần chưởng cả Cương lẫn Nhu.

Tiên-yên nữ-hiệp hỏi:

– Thúc-phụ, cháu thấy có điều kỳ lạ là cây côn đồng chứa 200 thẻ đồng bên trong. Vậy mà từ Trung-tín hầu đến Đào Kỳ xử dụng tại sao không có tiếng kêu lóc cóc. Đã có tiếng kêu thì người cầm cây côn phải khám phá ra chứ.

Đào Kỳ trả lời:

– Khi cháu xử dụng cây côn đồng đấu với Vũ Hỷ, đã thấy hơi khác lạ. Cháu dùng kiếm gõ vào thấy lạch cạch. Lúc thợ rèn cho gậy vào lửa đốt, mối hàn ở đầu gậy chảy ra. Nắp gậy lộ khe hở. cháu dùng dao cạy, thì thấy bên trong ngoài 200 thẻ đồng, còn chứa đầy cát. Chính cát đã làm cho gậy với thẻ đồng không gây tiếng động.

Chu Báthắc mắc:

– Trước nhạc phụ con là Lục-trúc tiên sinh chỉ biết có 12 chưởng trong 36 chiêu Phục-ngưu thần chưởng. Cả 12 chiêu đều thuộc Dương-cương, không có chiêu nào thuộc Âm-nhu cả là tại sao?

Khất đại-phu đáp:

– Vạn-tín hầu chế ra nội công, chưởng pháp Phục-ngưu Âm-nhu, chứ ngài không xử dụng được chưởng pháp bằng Dương-cương. Vì ở đời làm gì có người vừa luyện được Âm-nhu lẫn Dương-cương một lúc bao giờ? Do đó bí lục Phục-ngưu thần chưởng Âm-nhu chỉ có Vạn-tín hầu biết. Còn Phục-ngưu thần chưởng Dương-cương chỉ có đệ tử Tản-viên biết xử dụng. Nhưng dần dà chưởng pháp bị mai một đi. Chưởng này, mỗi chiêu phát ra kình lực mạnh vô song. Đánh từng chiêu một, địch có thì giờ xen vào phản công. Nếu thuộc cả 36 chiêu, xử dụng như mây trôi, nước chảy, như thành đồng, vách sắt đối thủ không sao trở tay kịp. Thế rồi Đào tiểu hữu học nội công Dương-cương của Cửu-chân. Y có kỳ duyên tìm được bộ Văn-lang võ học kỳ thư, y không hiểu ất giáp gì cứ tự luyện lấy. Y luyện cả Dương-cương lẫn Âm-nhu. Khi y luyện sắp thành thì gặp ta. Ta đem lý thuyết hòa hợp chân khí thảo luận với y. Y tìm cách hợp hai thứ nội công lại không được. Trong lần thám thính Thái-hà trang, y đấu nội lực với Phong-châu song quái, giữa lúc nguy nan, y đâm liều vận sức cương-nhu cùng một lúc. Không ngờ thành công đánh Song-quái bị thương nặng.

Đào Kỳ nói:

– Khất đại-phu, hồi đầu cháu chỉ có thể phát chiêu hoặc Dương, hoặc Âm. Sau lần đó cháu có thể phát ra một lúc tay phải Dương tay trái Âm, hoặc ngược lại. Hiện cháu vẫn nghĩ rằng một ngày nào đó, hậu thế có người tài trí phát minh ra phương thức hòa hợp, đang giao chiến, thì dù bên tay phải hay trái phát chiêu khi Âm khi Dương. Như vậy có lúc cả hai bên đều Dương hoặc cả hai bên đều Âm, hoặc bên Âm bên Dương rồi thình lình đổi ngược lại.

Giao-Chi nghe các đại tôn sư võ học bàn luận võ công, nàng biết thân phận võ công mình kém nhất, nên chỉ ngồi nghe. Bây giờ mới xen vào:

– Thái sư-thúc, cháu có một thắc mắc mà cho đến nay không giải đáp được. Hồi đại hội Tây-hồ Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa còn là hai cô gái, võ công kém cháu và Hoàng sư tỷ xa. Thế rồi hơn hai năm nay, võ công hai người cao đến độ cháu không ngờ. Trong trận đánh Dương-bình quan, Võ-đô, Phùng sư-tỷ dùng hai người như là chiến tướng xung trận. Cháu thật không hiểu nổi.

Khất đại-phu cười:

– Cháu không hiểu là phải, từ trước đến giờ ta chỉ biết có 16 chưởng Phục-ngưu, dạy cho Quế, Quỳnh. Công lực chúng lại thua cháu xa, xử dụng Phục-ngưu thần chưởng làm sao phát huy được? Kịp đến khi Đào tiểu-hữu đây có lòng quảng đại đem tất cả bộ Văn-lang vũ học kỳ thư trao cho ta nghiên cứu. Ta dạy chúng nội công Dương-cương của Văn-lang rồi dạy chúng đủ 36 chiêu Phục-ngưu thần chưởng. Trong 36 chiêu nếu chúng xử dụng rời rạc, khi đấu với cháu, chỉ vài chưởng là cháu đã thắng chúng. Nhưng chúng xử dụng đủ 36 chiêu. Chiêu nọ đối chiêu kia, thành một dây liên miên bất tuyệt, như thành đồng vách sắt, nên võ công đã trở thành huyền ảo vô song.

Phương-Dung hỏi:

– Trong trận đấu Tây-hồ, cháu thấy tiên sinh dùng một thứ nội công kỳ lạ không phải của Tản-viên, thắng Lục-trúc tiên sinh. Phải chăng là do tiên sinh chế ra?

Khất đại-phu ngoắc tay cười:

– Cháu thực thông minh. Nguyên ta hợp giữa y học và võ học. Ta thấy luyện nội công mãi thì khí tức vận ra tay. Nhưng nó lớn như một cái cột, sức không mạnh. Vậy tại sao ta không phát ra từng kinh lạc một, có phải mạnh hơn không? Sau bao nhiêu năm luyện tập. Ta biết vận khí vào từng kinh một. Ta nhận thấy rằng Đốc-mạch tổng hợp các kinh Dương. Nhâm-mạch tổng hợp các kinh Âm. Ta vận khí luân lưu theo Đốc mạch, rồi dồn tay một lúc, kình lực mạnh khủng khiếp. Ngược lại chân khí tụ vào Nhâm-mạch rồi vận ra bàn tay, thì hóa ra chân khí nhu hòa. Ta luyện thành công phương pháp này, nên trước đây bản lĩnh ta thua sư đệ rất xa. Mà hôm ở Tây-hồ, ta đánh y mất hết công lực là thế. Y dồn chân khí ra tay như một cây cột. Còn ta thu về Đốc-mạch rồi dồn sang các kinh Dương ở tay là: Thủ dương-minh Đại-trường kinh, Thủ thái-dương Tiểu-trường kinh, Thủ thiếu-dương Tam-tiêu kinh. Vì vậy dương kình ta với sư đệ ngang nhau. Ta biết vận khí vào đơn điền, đưa đến Nhâm-mạch, chuyển qua ba kinh Âm ở tay là Thủ thái-âm Phế kinh, Thủ thiếu-âm Tâm kinh, Thủ khuyết âm Tâm-bào kinh, kình lực thành nhu hòa. Khi sư đệ dồn chân khí Dương-cương sang ta, ta để các chân khí đổ vào các kinh dương, chuyển về Đốc-mạch đưa sang Nhâm-mạch. Bao nhiêu chân khí của sư đệ dồn vào người ta, ta hóa mạnh, còn sư đệ kiệt quệ là thế.

Chu Bá hỏi Đào Kỳ:

– Đào tam-lang, tôi nhớ một hôm ở Thái-hà trang. Một mình người đấu nội lực với Phong-châu song quái. Chỉ một lúc sau Song-quái đều bị kiệt lực, đó là ngươi dùng phương pháp của sư phụ tôi phải không?

Đào Kỳ gật đầu:

– Hôm đó tôi mới gặp tiên sinh, được người mang về chữa bệnh cho, rồi chúng tôi thảo luận về võ học, y học. Do đó tôi học được phương pháp này của người. Trong lúc đấu với Song-quái, nội lực của tôi chỉ có thể ngang với một quái, mà phải đấu với hai người. Vì thế trong lúc nguy cấp, tôi áp dụng liều, hú họa mà thắng. Do đó tôi phát huy được nội lực Âm-Dương một lúc.

Trương Minh-Đức lại hỏi:

– Đào đại-ca! Tôi nhớ có lần Tường-Quy kể rằng đại-ca dùng một chiêu trong Phục-ngưu thần chưởng là Ác ngưu nan độ nhưng không có một chút kình lực nào, đấu với đại sư-bá Đức-Hiệp, khiến người bị kiệt lực. Có phải đại-ca dùng chiêu Âm-nhu của Vạn-tín hầu không?

Đào Kỳ gật đầu:

– Đúng đó, tôi học được 36 chiêu Phục ngưu thần chưởng trong đồng côn. Nhưng tôi chỉ có thể vận khí ra tay phải Dương, tay trái Âm hoặc ngược lại. Khi giao đấu với Lục-trúc tiên sinh ngoài hải đảo để cứu thân phụ tôi. Tay trái tôi phát chưởng Âm-nhu, tay phải tôi phát chưởng Dương-cương. Vì vậy tôi thắng người chỉ có trong ba chiêu là thế. Chứ thực sự công lực tôi lúc bấy giờ kém người xa.

Đô Dương khâm phục:

– Đào hiền đệ, nếu một ngày nào đó, hiền đệ có thể tay phải đang phát chiêu Dương thình lình phát chiêu Âm. Ngược lại tay trái cũng thế, thì trên thế gian này không ai có thể là đối thủ của hiền đệ được nữa, có phải thế không?

Khất đại-phu thêm vào:

– Khó lắm! Khó lắm. Như khi tay trái đang vận khí Dương-cương, muốn chuyển qua Âm-nhu hay ngược lại, phải mất bốn tiếng đập tim, có khác gì đưa đầu cho đối phương cắt. Vì vậy chỉ có thể tay phải vận Dương-cương, tay trái vận Âm-nhu là đã cao lắm rồi. Chứ còn đang phát chiêu bên phải từ Dương sang Âm, bên trái từ bên Âm sang Dương muôn ngàn lần khó khăn. Khó khăn là đang từ Dương, từ Âm muốn đổi ngược lại phải hóa giải chân khí đã vận trong người đã. Làm sao mà hóa giải được

Trần Công-Minh hỏi:

– Như Huyền-âm độc chưởng của Trần Lữ đánh vào người sư muội đây, chân khí Âm-nhu, độc khí nằm ở tay. Vậy với nội công Dương-cương của Đào tam-lang có thể đẩy được độc chất của sư muội ra ngoài không?

Khất đại-phu lắc đầu:

– Ta đã nghĩ đến điều đó. Bây giờ ta dùng nội công Dương-cương đẩy vào Thủ-tam dương kinh của Tiên-yên, lập tức chất độc lại chạy sang Thủ-tam âm kinh và ngược lại. Vì ngươi nên biết trong lục kinh, Thủ-tam âm, Thủ-tam dương, mỗi kinh Âm, Dương đều có Lạc-mạch thông với nhau. Như Thủ thái-âm Phế kinh tại huyệt Liệt-khuyết có Lạc-mạch thông sang Thủ-dương minh Đại-trường kinh. Ngược lại Thủ-dương minh Đại-trường kinh tại huyệt Thiên-lịch có Lạc-mạch thông Thủ-thái âm Phế kinh.

Phương-Dung sáng mắt lên nói:

– Nếu như tiên sinh vận khí đẩy vào Thủ tam-dương, Đào tam-lang đẩy vào Thủ tam-âm, như vậy độc sẽ chạy ra khỏi người phải không?

Khất đại-phu lắc đầu:

– Không được, hoàn toàn không được?

Phương-Dung xịu mặt xuống hỏi:

– Thưa tiên sinh tại sao thế?

Khất đại-phu nói:

– Độc chất khi nhập vào tay, theo kinh mạch nhập tạng phủ. Nếu ta dùng chân khí thúc vào tạng phủ, độc đẩy ra được. Nhưng Tiên-yên sẽ bị nát tạng phủ ra mà chết. Muốn chữa bệnh này phải có cách gì, biến đám độc khí trở thành không trong người, mới khỏi bệnh.

Khất đại-phu móc trong bọc ra một hộp thuốc đưa cho Tiên-yên nữ-hiệp:

– Cháu hãy cầm hộp thuốc này mỗi ngày uống ba viên vào lúc sớm mai, ba viên vào lúc tối. Tuy không chữa được bệnh cho cháu, nhưng cháu cũng đủ sức chống bệnh, không đến nỗi bỏ mạng. Trong thời gian đó ta tìm bắt tên Trần Lữ kiếm thuốc giải cho cháu.

Tiên-yên nữ-hiệp cũng biết sơ về thuốc, bà hỏi:

– Thúc phụ, thuốc này tên là gì vậy?

Khất đại-phu cười:

– Thuốc không có tên, do ta chế ra. Nguyên vùng núi Tản-viên có nhiều muỗi. Muỗi đốt người lên cơn sốt rét cách nhật. Nguyên do vì muỗi hút chất độc ở cây cỏ trong rừng. Khi nó đốt người đầu tiên dùng vòi châm vào da, nhả chất độc vào người theo vòi, rồi mới hút máu. Chất độc đó vào máu chạy khắp cơ thể. Chất độc của muỗi và máu làm huyết bị hư hoại, chất độc theo máu vào Can, Tỳ, Tâm. Tâm bị chất độc vào, làm thành bệnh. Y kinh nói rằng: Tâm chủ thần chí. Khi tâm có chất độc, thần chí u mê. Tỳ bị chất độc vào, không hoạt động đều, do vậy công năng sinh huyết kém đi. Người hóa ra vàng vọt. Can bị chất độc thì sưng lớn. Vì vậy người bị muỗi đốt vào mới làm cho gan sưng lớn. Bụng họ thường chướng lên.

Ông nhìn Tiên-yên nữ hiệp nói:

– Ta dùng Hà-thủ-ô pha lẫn với Quế-chi, Phục-linh, Đào-nhân chế ra thứ thuốc này. Hiệu năng của Hà-thủ-ô là ích tủy, thiêm tinh, điều hòa lao huyết như vậy được coi là vị chính để trị bệnh hoại huyết do chất độc. Nó có khả năng chống độc ở Tâm, Tỳ, Can. Còn Phục-linh để bổ Tỳ, đẩy thấp ra ngoài. Đào-nhân an thần, ngủ được, bổ tâm-huyết. Còn Quế-chi thông dương, cũng là để chống độc chất.

Tiên-yên nữ hiệp bỏ ba viên thuốc vào miệng nuốt. Bà ngồi nhắm mắt vận khí, một lát thì sắc mặt bà hồng hào, hơi thở nhẹ nhàng. Bà nói:

– Thuốc của thúc-phụ thật là thần diệu.

Khất đại-phu nói:

– Ta cần phải bắt tên Trần Lữ, khảo nó, bắt khai ra phép luyện Huyền-âm thần chưởng, rồi nghiên cứu ra phương pháp khử độc hầu cứu những người khác trong thiên hạ. Phương-Chi, cháu ngồi im, nhắm mắt, buông thả kình lực. Để ta vận khí chuyển bớt chất độc ra ngoài cơ thể cháu. Có như vậy mới không nguy hiểm.

Tiên-yên nữ hiệp ngồi xếp chân nhắm mắt dưỡng thần.

Khất đại-phu bảo Đào Kỳ:

– Này bạn nhỏ, ngươi vận khí Âm-nhu về đơn-điền. Chuyển qua Nhâm-mạch, đưa lên Thượng-tiêu rồi phát ra ở Thủ-khuyết-âm Tâm-bào kinh, phát Lĩnh-nam chỉ tại huyệt Trung-xung cho ta xem thử?

Đào Kỳ nói:

– Thưa tiên sinh, hôm trước tiên-sinh phát minh ra Lĩnh-nam chỉ pháp đặt trên nguyên tắc: Một là vận khí ra Dương-kinh rồi chuyển chân khí vào Lạc-mạch, xuất chỉ ở tĩnh-huyệt Âm-kinh. Như chúng ta vẫn dẫn khí vào kinh Tam-tiêu, không xuất chỉ ở huyệt Quang-xung, mà lại phát ra ở huyệt Trung-xung. Hai là vận khí ra Dương-kinh rồi xuất chỉ ở tĩnh-huyệt của nó. Như vậy vận khí ở Thủ-dương minh Đại-trường kinh rồi xuất chỉ ở huyệt Thương-dương.

– Đúng! Vì vậy Lĩnh-nam chỉ là chỉ pháp Dương-cương. Ta không tập nội công Âm-nhu. Tiểu hữu đã tập rồi. Vậy tiểu hữu thử vận nội công Âm-nhu rồi chuyển qua Âm-kình phát chỉ xem sao.

Đào Kỳ ngồi ngay ngắn, vận khí cho lưu thông khắp vòng Tiểu chu-thiên. Lập tức trên đầu chàng có một làn khí trắng mờ mờ bốc lên. Chàng quy liễm chân khí vào đơn-điền, đưa lên Thượng-tiêu chuyển vào Tâm-bào rồi dẫn tới vai theo Thủ khuyết âm Tâm-bào kinh tới đầu ngón tay. Ngón tay chàng run lên mãnh liệt. Chàng đưa tay lên phát chỉ nhưng không kết quả.

Chàng lại vận khí một lần nữa, lần này tay rung động mãnh liệt, chàng chỉa ngón tay lên không, chỉ lực phát ra Xì một tiếng. Tiếp theo tiếng choang rất lớn. Khắp phòng phủ một luồng khí lạnh kinh người.

Thì ra Đào Kỳ ngồi gần bệ thờ. Lúc chàng phát chỉ, trúng phải bát hương bằng đồng, bát hương bật tung khỏi bàn thờ.

Phương-Dung đứng lên nhặt bát hương để lại chỗ cũ, thấy thủng một lỗ bằng đầu ngón tay.

Khất đại-phu vỗ tay reo:

– Thành công rồi! Từ nay ta đặt Dương-chỉ là Lĩnh-nam cương chỉ. Còn Âm-chỉ gọi là Lĩnh-nam huyền-âm chỉ. Bây giờ Đào tiểu hữu vận khí, dùng ngón tay ấn lên huyệt Dũng-tuyền dưới bàn chân Phương-Chi, vận Huyền-âm chỉ đẩy ngược trở lên.

Đào Kỳ tuân lời đứng trước mặt Tiên-yên nữ hiệp. Chàng quỳ xuống vận Huyền-âm chỉ đẩy vào huyệt Dũng-tuyền của bà. Lập tức người bà rung động mãnh liệt. Khói trắng bốc lên đỉnh đầu như một làn sương. Giữa lúc đó thì Khất đại-phu chĩa ngón tay trỏ phát ra Lĩnh-nam chỉ đến véo một cái vào huyệt Đại-trùy của bà. Người bà đang lạnh toát bỗng thấy nóng bừng lên. Hai huồng Âm, Dương chỉ của Đào Kỳ và Khất đại-phu dồn vào người bà, hòa hợp làm một. Khiến bà cảm thấy cái đau đớn của độc chưởng từ từ tiêu tan. Một lát sau, người bà toát ra mùi hôi tanh không thể tưởng tượng được.

Khất đại-phu hô lớn:

– Ngưng lại.

Đào Kỳ thu nội lực lại, Khất đại-phu giảng:

– Chúng ta dùng Âm, Dương chỉ, đẩy chất độc ra ngoài người Phương-Chi. Song chỉ tạm thời không nguy hiểm mà thôi.

Từ khi Mã Viện đi rồi, mọi người xoay quanh câu chuyện võ công khử độc, bây giờ Phương-Dung mới có dịp hỏi Trần Công-Minh:

– Sư bá! Tại sao sư bá và các vị sư huynh Ngũ-phương thần-kiếm lại đi chung với nhau? Giữa đường gặp Mã Viện trong trường hợp nào để xảy ra cớ sự.

Trần Công-Minh kể lại tất cả chi tiết xảy ra, từ khi Nghiêm Sơn đem quân đánh Thục, cho tới khi Trưng Trắc trở về Lĩnh Nam, cùng những biến chuyển xung quanh việc Hàn Tú-Anh.

Phương-Dung tuy thông minh, giỏi điều quân, nhưng những suy nghĩ sâu xa về quốc sự nàng thua xa Trưng Trắc và Trưng Nhị. Nàng hỏi:

– Như vậy Trưng sư tỷ cùng các vị sư thúc, sư bá cùng quyết định rằng chúng ta phải làm bằng này việc. Thứ nhất cho Quang-Vũ biết mẹ đẻ là Hàn Tú-Anh. Hàn Tú-Anh là mẹ nuôi của Nghiêm đại-ca. Chính Nghiêm đại-ca đã nghe lời nhũ mẫu cứu Quang-Vũ. Thứ nhì cho Quang-Vũ biết vụ này, để gây cho trong triều Hán hai phe là phe Thái-hậu, phe Quang-Vũ xung đột nhau. Như vậy triều Hán sẽ yếu đi để Thục có thì giờ cũng cố các vùng mới chiếm. Thứ ba cứu bằng được Hàn Tú-Anh, đưa vào Lĩnh Nam làm con tin, khiến Quang-Vũ không dám xâm lăng Lĩnh Nam. Hầu chúng ta có thời giờ cũng cố binh lực, chia ba thiên hạ với Quang-Vũ. Thứ tư cứu Nghiêm đại-ca, đưa về làm Hoàng-đế, phục hồi thành một nước hùng mạnh, chịu điều kiện xưng thần với Quang-Vũ, như An-Dương vương đối với Tần Thủy Hoàng xưa kia. Còn nếu như Quang-Vũ cứ nhất định chiếm Lĩnh Nam. Chúng ta cùng Công-tôn Thuật đánh thẳng lên Lạc-dương.

Trần Công-Minh gật đầu:

– Sách lược thì như thế. Còn chi tiết thì Trưng Nhị, Vĩnh-Hoa, với cháu thực hiện.Phương-Dung suy nghĩ rồi nói:

– Như vậy chúng ta phải làm ngay ngày mai mới kịp. Phải ra tay trước khi Mã thái-hậu tìm được Hàn Tú-Anh. Chúng ta cần có phái đoàn đột nhập hoàng-thành, nói cho Quang-Vũ biết mẹ mình đang bị Mã thái-hậu truy lùng. Y có thể ra lệnh cho các nơi không tuân mật chỉ của Mã thái-hậu. Trong khi đó chúng ta cùng tìm Hàn Tú-Anh. Cũng đêm nay chúng ta cứu Nghiêm đại-ca ra khỏi nhà tù. Nội trong một ngày phải làm xong, nếu không sáng ngày thứ ba quân của Hoàng sư tỷ và thái-tử Công-tôn Thuật tới Trường-an. Đạo của sư bá Cao Cảnh-Minh tới Thiên-thủy, thì hỏng mọi sự. Nhất là ngăn làm sao không cho Mã Viện yết kiến Quang-Vũ trước khi quân Thục tới Trường-an.

Tiên-yên nữ hiệp nói:

– Thế này: Cứu Nghiêm Sơn thì Phương-Dung, Khất đại-phu, Đô Dương, Chu Bá. Còn yết kiến Quang-Vũ thì Trần sư huynh, Ngũ phương thần kiếm, Đào Kỳ và tôi. Tuy nhiên cần đề phòng lỡ chúng ta bị bắt hết, còn có kẻ báo cho mọi người biết. Vậy Đặng sư đệ cùng với Cao sư huynh, Giao-Chi, Cảnh-Nham, Cảnh-Khê, Trương Minh-Đức ở đây đợi tin tức. Nếu sau một ngày không thấy chúng ta về, phải sai Thần-ưng mang thơ cho Hoàng Thiều-Hoa.

Mọi người tiếp tục đi ngủ. Sáng hôm sau vừa thức giấc, Giao-Chi đã kêu lớn lên:

– Lưu Thương, Phùng Dị với Trương Minh-Đức đâu rồi?

Từ lúc vào miếu Phương-Dung trói Phùng Dị, Lưu Thương vào gốc cây phía sau, giao cho Trương Minh-Đức canh gác. Bây giờ nghe Giao-Chi nói vậy. Nàng chạy ra phía sau thấy mất hai con ngựa. Dây trói Phùng, Lưu bị cắt đứt bỏ ở đó. Mọi người đổ ra tìm dấu vết chúng thấy xác Trương Minh-Đức bị bóp cổ chết, quẳng ở bụi cỏ, trên cổ còn có vết tím bầm.

Đô Dương thở dài:

– Chúng ta sơ ý, để hai tên đó cọ tay vào cây, làm đứt dây trói. Chúng thừa dịp bóp cổ Trương Minh-Đức. Ăn cắp ngựa chạy trốn. Chắc chúng chạy về Trường-an. Ngày mai là ngày chẵn, Quang-Vũ không thiết triều. Vậy chúng ta cần hành động gấp. Bởi ngày kia Quang-Vũ thiết triều, Phùng, Lưu sẽ tâu hết kế hoạch của chúng ta cho Quang-Vũ.

Cả đoàn vội vã lên ngựa hướng Trường-an tiến. Trời vừa sáng, cửa thành mở, mọi người vào trong. Đô Dương dẫn cả đoàn đến nhà một người thân, trong trang trại lớn phía Đông thành. Tới nơi Đô Dương lấy vải, vẽ bản đồ các cung trong thành Trường-an.

Tiên-yên nữ hiệp nói:

– Bây giờ chúng ta ăn rồi đi nghĩ. Đợi tối hãy hành động. Chu Bá, Đô Dương thông thuộc đường lối, cùng cung cách của cấm binh, sẽ cùng Phương-Dung, Khất đại-phu giả làm cấm quân. Tìm chỗ giam Nghiêm Sơn cứu y ra. Cần nhất đừng để lộ tung tích, tránh giao tranh. Bất đắc dĩ phải giao tranh, thì tìm cách chạy vào hoàng-cung.

Đặng Đường-Hoàn ngạc nhiên:

– Chạy vào cấm cung ư? Như vậy chẳng hóa ra nguy hiểm ư?

Phương-Dung đáp:

– Sư bá! Đúng đấy, khi lộ tung tích, chúng ta chạy vào hoàng-cung ẩn náu. Dễ gì chúng tìm ra? Chứ nếu cứ trên đường chạy, chúng sẽ đưa quân đuổi bắt. Dù có cánh cũng không thoát.

Tiên-yên nữ-hiệp tiếp:

– Trần sư huynh với tôi, Ngũ-phương thần-kiếm và Đào Kỳ lẻn vào cung. Giữa đêm yết kiến Quang-Vũ trình bày vụ Hàn Tú-Anh.

Giao-Chi bàn:

– Cháu là gái còn nhỏ tuổi, để cháu đi dọ thám tin tức trong thành Trường-an, chắc chúng không nghi ngờ gì. Biết đâu chẳng có biến chuyển gì chăng?

Tiên-yên nữ hiệp gật đầu:

– Được cháu đi, ta cho Đô Dương theo cháu để tiện giúp đỡ.

Giao-Chi lấy ngựa cùng Đô Dương đi.

Hai người cỡi ngựa dạo khắp thành Trường-an. Trường-an là kinh đô thời Cao-Tổ nhà Hán xây cất lên. Trải qua mười mấy đời vua, đến đời Vương Mãng cướp ngôi. Quang-Vũ đời đô về Lạc-dương. Tuy thành bị cơn binh lửa vừa qua, nhưng đã kiến thiết lại. Dân cư đông đúc, phồn thịnh. Hiện Quang-Vũ ở Trường-an. Y mang theo 20 vạn quân, đóng trong thành 10 vạn, còn 10 vạn đóng ở Hàm-dương, cố đô nhà Tần, cách Trương-an khoảng 40 dậm. Còn quân sĩ của Tần-vương, trấn thủ Trường-an, đóng ở Phù-phong, Vị-nam. Trong thành binh tướng đi lại rầm rập. Dân chúng vui vẻ. Bọn binh sĩ thấy Giao-Chi, Đô Dương mặc quần áo sang trọng, tư thái khác thường, cho rằng họ là một cặp vợ chồng quan tước không dám gây sự.

Đối với Giao-Chi, Trường-an là một thế giới mới lạ. Cái gì nàng cũng hỏi, cũng muốn xem, muốn mua. Trong khi đó Đô Dương tuổi đã trên 30, kinh nghiệm đời nhiều, nhất nhất Giao-Chi muốn gì chàng cũng chiều hết. Chàng làm Thái-thú Phù-phong một thời, vàng ngọc không thiếu gì. Đi đến chiều Giao-Chi đã mua sắm đủ thứ.

Bản tính phụ nữ bao giờ cũng thế, thích mua sắm tất cả những loại quần áo, lụa là khác lạ. Giao-Chi mua một lúc hơn 10 tấm lụa, gấm khác nhau. Nàng là đệ tử Sài-sơn, khéo tay. Nàng định may mấy bộ quần áo gửi về biếu bố mẹ. Nàng thân với Phùng Vĩnh-Hoa, Phương-Dung, Thiều-Hoa và Trưng Nhị. Nàng muốn may cho mỗi người mấy bộ nữa. Đô Dương thấy nàng mua nhiều lụa, thản nhiên như không. Chàng chỉ biết đi theo trả tiền, chất lên ngựa. Giao-Chi xuất thân là con gái yêu của lạc-hầu, tiền rừng bạc biển đã quen. Nàng tiêu tiền không cần tính toán.

Đang đi tự nhiên Giao-Chi hỏi:

– Đô đại-ca này, đại-ca làm tới Thái-thú, tước phong hầu, tại sao đại-ca không lấy vợ đi?

Đô Dương thủng thẳng trả lời:

– Lúc đầu bản tính thích giang hồ, tôi theo Nghiêm đại-ca sang Trung-nguyên, rồi giúp Quang-Vũ, tôi đâu có muốn được phong hầu? Tôi những định về Lĩnh Nam cưới vợ nhưng chưa có dịp.

Giao-Chi cười:

– Bây giờ trở về Lĩnh Nam, đại-ca lại không kịp nữa rồi. Vì với tài của đại-ca, thì phải làm tướng cầm quân đánh Hán, làm sao có thời giờ để cưới vợ.

Đô Dương lắc đầu:

– Tại sao lại không? Đào tam đệ có vợ mà vẫn cầm quân đấy thôi? Huống hồ sư muội cũng biết võ công, cũng biết xung phong hãm trận...

Từ lúc gặp Giao-Chi, trong lòng Đô Dương đã định nhờ Tiên-yên nữ hiệp đứng ra hỏi nàng làm vợ, nên lúc nào chàng cũng coi Giao-Chi là vợ. Bây giờ chàng buột miệng nói, làm Giao-Chi ngượng quá suýt nữa đánh rơi roi ngựa.

Ở nhà Phương-Dung cùng mọi người chờ đợi, tới chiều Giao-Chi và Đô Dương trở về.

Đô Dương nói:

– Quang-Vũ hiện ở cung Trường-lạc với Tường-Quy. Trong đó tuyệt đối không cho bá quan văn võ lai vãng. Đúng ra y tới đây bắt Nghiêm đại-ca rồi về. Nhưng mới cướp được Tường-Quy, nên muốn ở lại cùng Tường-Quy thưởng xuân, vì sợ về Lạc-dương hoàng-hậu, phi-tần sẽ kiếm chuyện.

Đô Dương chỉ lên bản đồ nói:

– Chúng ta từ Đông thành vượt tường vào hoàng thành, là cung Vĩnh-lạc. Đi lên phía Bắc là Bắc-cung, rồi tới lầu Thúy-hoa, điện Gia-đức. Từ điện Gia-đức đi về phía Tây là điện Ôn-minh, phía trái điện Ôn-minh là cung Trường-lạc. Phía phải điện là cung Vị-ương.

Đô Dương đã mua được đủ quần áo cấm quân cho mọi người. Chàng nói:

– Chúng ta mặc quần áo cấm quân vào hoàng thành cho dễ. Khi đối diện với Quang-Vũ thì thay quần áo Lĩnh Nam.

Nhờ có bộ áo cấm quân, cả đoàn người nhập hoàng-thành dễ dàng. Nhập hoàng-thành rồi, Tiên-yên nữ hiệp bảo mọi người thay quần áo Lĩnh Nam mặc vào, hầu giữ quốc thể.

Tiên-yên nữ hiệp bảo Trần Công-Minh, Đào Kỳ, Ngũ-phương thần kiếm đến cung Trường-lạc. Đây là cung điện rất lớn có đến trăm nóc nối tiếp nhau. Họ chờ trời tối hẳn men theo hành lang mà đi. Đi qua 6 dãy hành lang, tới một chỗ đèn đuốc sáng trưng, giáp sĩ canh gác nghiêm mật. Tiên-yên nữ hiệp đoán rằng Quang-Vũ đang ngự ở đây. Tám người vọt lên mái nhà. Cứ nóc nọ chuyền nóc kia, tới lầu thứ ba, nghe thấy tiếng nhã nhạc du dương chuyền ra. Tiên-yên nữ hiệp, Nam-thành vương đều là người phái Sài-sơn tinh thông âm nhạc, biết đó là nhã nhạc vua dự tiệc. Tám người bám cửa sổ, ghé mắt nhìn vào: Bên trong Quang-Vũ đang ngồi trước án, đầy đồ ăn trân quý. Cạnh đó một thiếu nữ cực kỳ diễm lệ cùng ngồi. Phía trước đoàn thị nữ múa hát theo điệu nghê thường, đàn sáo du dương.

Nhìn thiếu nữ Đào Kỳ giật bắn người. Nàng chính là Chu Tường-Quy. Chàng đã nghe Trương Minh-Đức nói Tường-Quy bị Quang-Vũ bắt vào cung nên chàng không đến nỗi kêu thành tiếng.

Đào Kỳ để ý nhìn Quang-Vũ, thấy da trắng nhợt. Mặt lưỡi cầy, trán nhọn đầu tròn, xuống dưới cằm thì thóp lại. Cằm hơi vênh ra trước. Mắt chiếu tia sáng khá tinh anh.

Chàng nghĩ thầm:

– Mình cứ tưởng vua chúa thì tướng mạo uy phong khác thường. Thế mà Quang-Vũ chẳng có gì đặc biệt cả. Mình nghe nói mẹ của Quang-Vũ là hoa khôi, nổi tiếng một thời. Tại sao con trông chẳng hợp nhãn tý nào cả? Có lẽ Quang-Vũ có tướng mạo giống cha hơn giống mẹ.

Hết bản nhạc, Quang-Vũ ra lệnh cho nhạc công, cung nữ ra ngoài hết. Chỉ còn hai cung nữ đứng phục thị hai bên. Quang-Vũ bưng chung rượu đưa cho Tường-Quy nói:

– Ái khanh hãy uống chung rượu này, để ghi nhớ đêm xuân chúng ta ở cố cung Tiên-đế. Nơi Trường-lạc cung này, trước đây Cao-Tổ nhà trẫm đã nghe tấu nhạc, tận hưởng những ngày thần tiên. Bây giờ Nghiêm Sơn bị bắt, Thục bình xong, bốn phương phẳng lặng. Trẫm được ái khanh là một thiên tiên từ Lĩnh Nam tới đây với trẫm. Trên thế gian này không ai được hưởng thanh phúc bằng trẫm nữa.

Tường-Quy vẻ mặt như bất đắc dĩ, cầm ly rượu nhấp một chút:

– Đa tạ hồng ân hoàng-thượng! Thần thiếp không uống được rượu.

Rồi nàng cầm chung dâng lên. Quang-Vũ cầm chung rượu uống hết, rồi lại rót chung khác uống. Tường-Quy chưa từng uống rượu bao giờ, sau khi uống một chung nhỏ, mặt nàng ửng hồng. Dưới ánh đèn trông càng thêm quyến rũ. Ngoài này tim Đào Kỳ đập liên hồi, chàng như say, như tỉnh. Nhớ lại ngày đầu tiên hai người gặp nhau ở Thái-hà trang, du ngoạn Cổ-loa cố đô của Âu-lạc. Tối về nàng cùng chàng xuống du thuyền của Lê Đạo-Sinh, ngắm trăng nước, nàng đàn cho chàng nghe. Bây giờ chàng tìm lại cái say đắm thủa trước. Hình ảnh cũ hiện lên, ngày chàng đến Đăng-châu, ôm nàng trong tay, rồi bị nàng đâm một kiếm, đánh một chưởng suýt bỏ mạng. May nhờ Phương-Dung cứu thoát. Thế rồi đêm đó chàng được em họ là Đào Phương-Dung giúp chàng gặp Tường-Quy trên hoang sơn. Chính đêm đó nàng đã cho chàng hết cả. Đến ngày chàng lên đường đi Mê-linh, nàng gửi cho chàng bộ quần áo lụa xanh. Bộ quần áo này nàng đã mặc liên tiếp nửa tháng, để giữ hơi nàng vào quần áo. Từ đấy, cứ đêm đêm chàng đem bộ quần áo ra ôm vào lòng mà ngủ. Sau này Lê Đạo-Sinh đem giam chàng với Tường-Quy xuống khoang thuyền, trong hai tháng trời. Chàng với nàng sống với nhau như cặp vợ chồng trăng mật. Nhưng rồi chàng thoát khỏi tay Lê Đạo-Sinh, đánh Lê bị thương nặng. Kịp đến khi Nghiêm Sơn phong chàng làm Trấn-viễn đại tướng quân, mang quân đánh Kinh-châu. Chàng tìm không thấy nàng, cho rằng nàng đã chết, chàng khóc hết nước mắt ra bờ sông tế vọng. Không ngờ bây giờ nàng hãy còn sống, đang ở bên Quang-Vũ kẻ thù của dân Lĩnh Nam.

Quang-Vũ nâng chung mời Tường-Quy uống rượu, nàng cúi đầu nói:

– Thiếp chưa từng uống rượu xin Hoàng-thượng ân xá cho thiếp cái tội không hầu rượu Hoàng-thượng được.

Quang-Vũ ngây người nhin vẻ đẹp của nàng mắt đầy vẻ đắm đuối. Nhìn con mắt Quang-Vũ, Tường-Quy chợt nảy ra ý nghĩ so sánh những người tình qua trong đời nàng. Trương Minh-Đức là chồng nàng thật. Nhưng y đần độn, không biết thưởng thức sắc đẹp của nàng. Đào Kỳ là một tình nhân lý tưởng. Nàng yêu thương rất xâu xa, không biết bây giờ chàng ở đâu? Còn Quang-Vũ, nàng sợ hơn là yêu. Tuy nhiên sau khi uống chung rượu vào, nhìn con mắt tóe lửa của Quang-Vũ, nàng cũng muốn ngã vào lòng y.

Quang-Vũ đã hơi say, y ôm Tường-Quy vào lòng. Tường-Quy là con nhà võ, nàng né tránh hai tay y rất dễ dàng. Quang-Vũ ôm hụt, y lại đưa tay ôm nàng lần nữa, lần này nàng lại né tránh và nói:

– Hoàng-thượng đại xá! Thần thiếp là gái có chồng. Hoàng-thượng là chúa tể muôn dân, hai bên cách biệt nhau quá xa. Xin hoàng-thượng đừng bắt thiếp phải thất tiết.

Quang-Vũ mắt đỏ ngầu, nhìn nàng như con thú say mồi. Y đưa tay chụp lần nữa, lần này Tường-Quy không dám tránh né. Quang-Vũ ôm nàng vào lòng, ghé miệng hôn lên môi. Nàng nhắm mắt lại buông lỏng cuộc đời. Quang-Vũ ôm nàng mân mê một lúc, rồi đặt nàng lên một chiếc giường gỗ sơn son thiếp vàng, có chạm hai con rồng chầu.

Đến đây Trần Công-Minh huýt sáo. Lập tức Tiên-yên nữ hiệp, Đào Kỳ, Ngũ-phương thần kiếm cùng vượt cửa sổ, nhảy vào trong. Như đã phân phối trước, Hắc-kiếm trấn cửa Bắc, Bạch-kiếm trấn cửa Tây, Lam-kiếm trấn cửa Đông, Xích-kiếm trấn cửa Nam.Tám người vào phòng đều là đại cao-thủ, bước chân nhẹ như chim, Quang-Vũ vẫn không hay biết. Y lần tay cởi áo Tường-Quy. Tiên-yên nữ hiệp là phụ nữ, bà quay mặt đi không muốn nhìn cảnh đó, bà đến trước cái bàn ngồi. Trần Công-Minh ra đóng cửa lầu chặn không cho người ở dưới lên cứu.

Đào Kỳ ngồi vào bàn trên để đầy trái cây. Chàng cầm một trái cây nhỏ, vận Dương-khí vào tay búng ra. Trái cây quay tròn với tốc lực rất mạnh, kêu lên tiếng vo vo, từ từ bay tới trúng vào cùi chỏ Quang-Vũ đánh bộp một cái. Quang-Vũ đang say men tình tự nhiên thấy cánh tay mất hết kình lực y vẫn không để ý, cho rằng mình say rượu. Y tiếp tục đưa tay cởi áo Tường-Quy. Đào Kỳ lại cầm một trái cây, vận Âm-kình búng ra. Trái cây quay đi rất mau, nhưng không một tiếng động trúng vào đầu gối Quang-Vũ. Y mất kình lực, ngã ngồi xuống đất, y loạng choạng đứng dậy, mới chợt thấy trong phòng nhiều người đột nhập, định kêu lên, thì một trái cây bay trúng miệng, âm thanh không phát ra được nữa.

Y biết nguy hiểm vội vàng nhảy lên rút thanh Thượng-phương bảo kiếm treo ở đầu giường, hướng Đào Kỳ chém xuống một nhát. Đào Kỳ không đứng dậy, đưa hai ngón tay kẹp cứng thanh kiếm. Quang-Vũ vùng vẫy giật ra, nhưng thanh kiếm như bị đóng đinh vào tường, không nhúc nhích. Biết gặp đối thủ lợi hại, y vung quyền đánh vào mặt Đào Kỳ. Đào Kỳ đưa tay kẹp cổ tay y. Y cảm thấy đau thấu xương, giật tay về, cánh tay không sao nhúc nhích được.

Y hoảng kinh mở miệng kêu lớn, Đào Kỳ búng một cái trái cây trúng vào miệng y. Chàng nắm vai y để ngồi xuống cạnh long sàng.

Tường-Quy thấy Quang-Vũ bồng nàng lên giường đưa tay cởi quần áo, nàng nhắm mắt lại để mặc y làm gì thì làm. Một lúc sau thấy y không động đậy gì, mở mắt ra nhìn, nàng thấy trong phong có 8 người, trong đó Đào Kỳ đang chiết chiêu với Quang-Vũ.

Tâm sự Tường-Quy thật khó diễn tả nỗi. Trước sau nàng coi Trương Minh-Đức là một tên ngố làm dơ bẩn thân thể ngọc ngà của nàng. Bao nhiêu tình ý nàng dồn cho Đào Kỳ. Rồi Đào Kỳ lấy vợ là Phương-Dung, đẹp như nàng, võ công kiến thức bỏ xa nàng. Rồi gia đình nhà chồng bị suy sụp, thân thể phiêu bạt. Bây giờ nàng gặp Quang-Vũ. Y say mê nàng đến điên đảo thần hồn. Từ khi gặp nàng, y lưu nàng lại trong cung. Nhưng nàng cứ nhất quyết cự tuyệt định tự tử. Y phải nhượng bộ. Bây giờ y đưa nàng ra Trường-an, để hưởng ngày xuân đẹp, nàng cảm động, bắt đầu yêu thương y. Hồi nãy tuy chống đối, nhưng gọi là lấy lệ. Nàng đã nhắm mắt mơ màng, mặc cho y thỏa tình xuân, lại gặp Đào Kỳ. Nàng ngồi trên long sàng im lặng xem vở kịch đi về đâu?

Đào Kỳ cầm con lân bằng ngọc để trên án thư. Chàng vận âm kình bóp mạnh, con lân bể ra. Chàng bóp mấy cái nữa, con lân hóa thành bột. Chàng rắc bột trước mặt Quang-Vũ.

Quang-Vũ đang say men tình. Y tuy đã tìm cách giữ Tường-Quy ở trong cung Lạc-dương hơn nửa tháng, nàng khóc lóc, kháng cự. Mỗi lần y muốn gần, thì nàng lại đòi tự tử. Tâm lý đàn ông ở thời nào, ở giai cấp nào, ở hoàn cảnh nào cũng thế. Khi họ yêu thương một người đàn bà, họ muốn ôm, muốn cấu xé, muốn nuốt người đàn bà đó. Khi họ đã thõa mãn rồi lại hay chán. Đối với những người đàn ông ở giai cấp vua, quan thời xưa tại Á-châu, họ có hàng trăm cơ thiếp, mỹ nữ. Cơ thiếp, mỹ nữ, hầu hết được tuyển trong những gia đình giàu có, tuổi từ 13 đến 16. Hóa cho nên những thiếu nữ này được đưa đến vua chúa, họ không có một chút ý niệm, kinh nghiệm về đàn ông, về phòng the. Họ tỏ ra vụng về sợ hãi. Cho nên bậc vua chúa đến với họ được một lần, hai lần là chán chường. Thỉnh thoảng có những thiếu nữ, thiếu phụ tuổi trên 20, thường đã có chồng, có người yêu, hoặc là kỹ nữ xuất thân từng trải mùi đời. Họ có nhiều kinh nghiệm về đàn ông, về phòng the. Họ lọt vào cung cấm của vua chúa. Họ có tài làm cho các đấng vua chúa say mê đến điên đảo thần hồn như Tây Thi, Trịnh Đán làm sụp đổ sự nghiệp Ngô Phù Sai. Vì hai nàng được Phạm Lãi huấn luyện trước khi dâng cho vua Ngô. Triệu Phi-Yến làm nghiêng ngả giang sơn nhà Hán vì nàng đã có chồng. Bị Hán-đế cướp đêm nhập cung. Dương Ngọc-Trân tức Dương Quý-phi, đã từng trải mấy người đàn ông rồi mới tới tay Đường Minh-Hoàng, suýt làm đổ giang sơn nhà Đường. Người đẹp gần đây nhất là Trần Viên Viên, làm chết năm ông vua là Sùng-Chinh, Long-Võ, Vĩnh-Lịch, Phụng-thiên vương Lý Tự-Thành, Chu-đế Ngô Tam-Quế, nàng xuất thân kỹ nữ ở Tô-châu.

Quang-Vũ xuất thân con Trường-sa vương có dòng máu lãng mạn của mẹ là Hàn Tú-Anh. Sau khi cha, anh chết, nối tiếp sự nghiệp trùng hưng nhà Hán. Nay sự nghiệp đã thành, không còn chinh chiến nữa. Trong lòng sinh ra khuynh hướng hưởng thụ. Một hôm y gặp Tường-Quy ở trong hoàng-thành Lạc-dương, sắc đẹp của thiếu phụ 21 tuổi tươi như hoa nở, khiến y ngây ngất, rồi không kiềm chế được. Y sai cung nữ tìm cách lưu Tường-Quy lại. Quang-Vũ sai đặt tiệc cùng nàng nghe hát uống rượu...đòi hỏi. Nàng cương quyết chống cự. Nàng xuất thân con nhà võ, võ công tuy không bằng Hoàng Thiều-Hoa, Trần Năng, nhưng với bản lĩnh nàng Quang-Vũ không xâm phạm được.

Càng bị chống đối, Quang-Vũ càng như điên, như cuồng, càng say mê nàng. Khi đi Trường-an, y ra lệnh mang nàng theo. Trải qua gần hai tháng ở Trường-an, nay nàng mới thuận tình cho y được như ý muốn. Y cảm thấy như bay bổng lên trời. Đang lúc sắp sửa lên tuyệt đỉnh Vu-sơn thì bị một số người lạ mặt đe dọa.

Đào Kỳ hỏi:

– Tôi hỏi thực hoàng-thượng, đầu người có cứng bằng con lân này không?

Chàng xòe bàn tay ướm thử vào đầu Quang-Vũ, điệu bộ làm như sắp bóp bể đầu y.

Quang-Vũ hoảng kinh rú lên một tiếng.

– Xin đại hiệp tha mạng cho trẫm. Đại hiệp muốn gì trẫm cũng xin tuân theo.

Đào Kỳ nói:

– Nếu tôi bóp mạnh, đầu hoàng-thượng sẽ vỡ ra làm nhiều mảnh. Vậy tôi yêu cầu hoàng-thượng ngồi im, không được tri hô.

Chàng nói tiếng Hán bằng giọng của Nghiêm Sơn. Quang-Vũ thấy chàng nói giọng Trường-sa thì hỏi:

– Ngươi ở Trường-sa hay Linh-lăng.

Đào Kỳ nói:

– Tôi ở Lĩnh Nam chưa hề đến Trường-sa hay Linh-lăng.

Quang-Vũ cụt hứng cãi:

– Rõ ràng ngươi nói giọng Trường-sa chứ đâu phải Lĩnh Nam? Người Lĩnh Nam nói tiếng Việt, chứ đâu nói tiếng Hán?

Đào Kỳ buông y ra, nói:

– Ta là người Việt ở Lĩnh-nam. Nhưng ta ở cạnh một người nói giọng Trường-sa là tỷ phu. Ngươi có muốn biết tên tỷ phu ta không? Tỷ phu ta rất thân với ngươi.

Quang-Vũ hỏi:

– Ta sinh trưởng ở Trường-sa. Tiên-đế trấn nhậm Trường-sa, ta có rất nhiều người thân nói giọng Trường-sa. Vậy tỷ phu ngươi là ai?

Đào Kỳ nói gằn:

– Y là Nghiêm Sơn.

Quang-Vũ nghe đến tiếâng Nghiêm Sơn biết điều bất hảo sẽ tới. Y nhìn mặt Đào Kỳ, thấy chàng bớt khắt khe, hỏi:

– Các ngươi là ai? Đến đây định làm gì?

Tiên-yên nữ hiệp đến ngồi trước mặt y nói:

– Để tôi giới thiệu các người này cho hoàng-thượng biết. Đây là Nam-thành vương Trần Công-Minh ở Giao-chỉ.

Quang-Vũ gật đầu:

– Trẫm nghe Tô Định mật tấu về Nam-thành vương làm giặc ở Giao-chỉ chống lại triều đình.

Trần Công-Minh nổi cộc, ông tát Quang-Vũ hai cái nẩy đom đóm mắt:

– Mi là tên Hán hai chân, đồ chó đẻ, đồ khốn kiếp. Đất nước của mi, mi xưng Kiến-Vũ thiên tử, đất nước của tao, tao xưng Nam-thành vương, tại sao mi bảo tao làm phản? Vậy tao cũng bảo mi làm phản, chém cái đầu chó má của mi, mi nghĩ sao?

Quang-Vũ đau quá nói:

– Xin Nam-thành vương tha cho trẫm. Trẫm sẽ phong người làm Nam-thành vương thực thụ.

Trần Công-Minh rút kiếm đưa mấy nhát trên đầu Quang-Vũ, làm y hoảng hồn, y co rút đầu lại. Ông nói:

– Lĩnh Nam là đất nhà ta. Ta là Nam-thành vương không phong chức cho Quang-Vũ thì thôi. Tại sao Quang-Vũ lại phong chức cho ta?

Tiên-yên nữ-hiệp tự giới thiệu:

– Tôi là Tiên-yên nữ hiệp Trần Thị Phương-Chi. Tôi là sư phụ của Phùng Vĩnh-Hoa, nữ quân-sư đạo quân Hán-trung, đánh vào Thục.

Quang-Vũ gật đầu:

– Trẫn đọc tấu chương của Ngô Hán, nói rằng Phùng Vĩnh-Hoa tài sắc vẹn toàn, điều khiển ba quân tiến đánh 9 thành của Thục, Trẫm sẽ phong cho Phùng Vĩnh-Hoa làm công-chúa.

Miệng tuy nói thế, nhưng Quang-Vũ cũng đoán ra được phần nào những người hiện diện hôm nay vì lý do gì.

Tiên-yên nữ hiệp chỉ Đào Kỳ:

– Vị này là Đào Kỳ giữ chức Trấn-viễn đại tướng quân, điều khiển đạo quân Lĩnh-nam tiến vào Thành-đô đầu tiên. Y là sư đệ của Lĩnh-nam vương phi.

Quang-Vũ đã nghe nói rất nhiều về Đào Kỳ. Y thấy Đào Kỳ có tài, muốn dùng để thay Nghiêm Sơn, y nói:

– Thì ra Đào tướng quân, trẫm nghe nói nhan sắc của Đào phu-nhân khuynh quốc, kiếm thuật thần thông, thâm mưu viễn lự. Còn tướng quân võ công bậc nhất thiên hạ, trí mưu hơn người. Trẫn đợi sau khi bình Thục xong, sẽ phong cho ngươi làm Tả tướng-quốc, tước Hán-trung vương. Hôm nay tướng quân vào đây có việc gì?

Tiên-yên nữ-hiệp chỉ Ngũ-phương thần kiếm nói:

– Đây là Ngũ-phương thần kiếm, người đã giúp Cảnh-Thủy hoàng-đế tiến chiếm Trường-an, giết Vương Mãng, được ban cho Thượng-phương bảo kiếm.

Hoàng-kiếm đưa thanh kiếm cho Quang-Vũ coi. Y thấy đầu thanh kiếm có con rồng, trên khắc chữ Ngự tứ Thượng-phương bảo kiếm, dưới khắc chữ Thượng trảm hôn quân, hạ trảm gian thần.

Quang-Vũ nói:

– Vậy thì ra đại công thần của bản triều. Tại sao Ngũ-phương thần kiếm lại cùng ba vị này đến đây khó dễ trẫm?

Tiên-yên nữ hiệp cười gằn:

– Ngũ-phương thần kiếm hôm đến đây để trảm đầu hôn quân.

Quang-Vũ run run hỏi:

– Trẫm một thanh gươm, phất cờ, trùng hưng đại nghiệp tổ tiên. Sao lại gọi là hôn quân?

Hoàng-kiếm thấy y run sợ quá nói:

– Được để tôi nói cho hoàng-thượng nghe tội lỗi của mình. Tôi hỏi hoàng-thượng. Nếu có người Hán, có mẹ không nhận, lại đi nhận người hại mẹ mình làm mẹ. Hoàng-thượng xử như thế nào?

Quang-Vũ khẳng khái:

– Con không nhận mẹ, chỉ còn là cầm thú. Trẫm sẽ chặt đầu tức khắc.

Hoàng-kiếm đáp:

– Nếu một đại thần cũng phạm tội trên?

Quang-Vũ nói:

– Đã làm tới đại-thần, phải làm gương cho dân chúng, thế mà lại bất hiếu, còn để làm gì? Phải chém đầu đem bêu khắp chợ để noi gương.

Hoàng-kiếm giọng đanh thép hơn:

– Còn thân làm hoàng-đế, có mẹ không thờ, đi tôn thờ một người hại mẹ mình đến không còn đường sống. Ngày ngày ngồi trên ngai vàng ban phúc cho thiên hạ, mà không nhận mẹ mình thì phạt như thế nào?

Quang-Vũ lắc đầu:

– Sai rồi, mẫu hậu trẫm họ Mã, hiện ở Lạc-dương. Trẫm vẫn thần hôn định tỉnh, kính lễ như thiên tiên, sao có chuyện đó được?

Hoàng-kiếm gằn từng tiếng:

– Mã thái-hậu không phải là mẹ đẻ của hoàng-thượng đâu. Mẹ của hoàng-thượng họ Hàn tên Tú-Anh, hiện đang bị Mã thái-hậu truy lùng rất gắt, không biết giờ này có còn sống được chăng?

Quang-Vũ ngẩn người ra:

– Có chứng cớ nào không?

Tiên-yên nữ hiệp đưa cho Quang-Vũ cuốn nhật ký của Hàn Tú-Anh, chép từ khi gặp Trường-sa Định-vương cho đến khi Nghiêm Sơn đem quân đánh Thục. Rồi bà kể vắn tắt cho Quang-Vũ nghe chuyện Mã thái-hậu chiêu mộ nhiều cao thủ để làm việc này.

Gần đây Quang-Vũ thấy Mã thái-hậu bỏ nhiều tiền bạc chiêu mộ cao thủ, sai họ đi làm việc bí mật. Y tưởng rằng thái-hậu cùng lo việc ổn định giang sơn cho mình, nên không chú ý. Tới các đại thần như Tam-công đều kính nể Thái-hậu vô cùng. Nhất nhất Thái-hậu đưa ý kiến gì là Tam-công nghe răm rắp. Quang-Vũ là người hiếu thảo. Y không dám trái ý mẹ. Bây giờ nghe Hoàng-kiếm nói, y thấy mình như người mê ngủ mới tỉnh. Quang-Vũ cầm tập sách nhỏ đọc sơ lược một lần, rồi lại đọc lần thứ nhì. Y lắc đầu tỏ vẻ không tin:

– Trẫm không tin điều này.

Trần Công-Minh nói:

– Dễ lắm, trong những người theo hầu ngươi, có Dư Thúy-Nham nuôi ngươi từ nhỏ phải không? Ngươi cứ đòi Dư-thị lên đây, tra hỏi, thì ra ngay, chứ có khó gì đâu?

Bạch-kiếm nói:

– Còn nữa, phàm người đàn bà nào đã sinh con một lần, da bụng nhăn nheo như vảy cá. Ngươi với Mã thái-hậu đã là tình mẹ con, khi thần hôn định tỉnh, ngươi cứ thử xem bụng bà thì rõ: da bụng bà mịn màng, chứng tỏ bà chưa từng sinh nở bao giờ.

Xích-kiếm trấn cửa Nam, mở cửa ngó đầu ra ngoài, thấy một cung nữ đang ngồi ngủ gật ở đó, bảo thị:

– Hoàng-thượng cho triệu Dư Thúy-Nham lên gấp.

Cung-nữ vội vàng xuống lầu ngay. Bạch-kiếm nói:

– Trong chỗ kín của ngươi có mụn nốt ruồi son rất lớn. Bàn tay ngươi có ba gạch song song với nhau, ngươi có biết không?

Quang-Vũ giật mình nói:

– Sao? Sao ngươi biết?

Hoàng-kiếm nói:

– Thì mẫu thân ngươi nói như thế. Ta muốn khám xem có đúng hay không?

Quang-Vũ xòe bàn tay, quả có ba đường chỉ nằm song song, như ba sợi chỉ căng thẳng. Y nói:

– Còn chỗ kín quả có nốt ruồi son lớn, ngươi khỏi cần khám, ta công nhận là đủ rồi.

Chương 19: Tấc lòng cố quốc tha hương Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời

Một lát có tiếng leo cầu thang, rồi có tiếng nói:

– Lão tỳ Dư Thúy-Nham cầu kiến hoàng-thượng.

Xích-kiếm mở cửa cho mụ vào, rồi đóng cửa lại. Dư Thúy-Nham thấy có nhiều người ngồi cùng hoàng-đế thì ngơ ngác không hiểu. Thị phục xuống đất dập đầu:

– Lão tỳ triều kiến thánh-hoàng. Không hiểu đêm khuya thánh-hoàng triệu thần đến đây có việc gì?

Tiên-yên nữ-hiệp nói:

– Cho ngươi bình thân. Hôm nay trong phòng này có 8 chúng ta là chỗ thâm tình với hoàng-thượng, thêm mỹ nhân kia là 9. Chúng ta hỏi câu nào ngươi phải trả lời cho đúng. Nếu sai trái một câu ta cắt đầu, tru di tam tộc nhà ngươi.

Dư Thúy-Nham kinh sợ run run hỏi:

– Xin lệnh-bà cho lão tỳ biết rõ hơn?

Tiên-yên nữ-hiệp hỏi:

– Dư bà, ngươi nuôi hoàng-thượng từ lúc sơ sinh phải không?

– Vâng, đúng thế.

– Bấy giờ Tiên-đế là Trường-sa Định-vương. Tại sao ngươi không ở trong cung nuôi hoàng-thượng, mà lại ở Đào-trang?

– Dạ... dạ... vì Tiên-đế sinh hoàng-thượng ở ngoài dân dã.

– Thôi được, như thế cũng đủ. Ngươi mau đem tất cả mọi chuyện kể ra hết. Dấu một câu, ta chặt đầu.

Tiên-yên nữ-hiệp rút kiếm đưa qua, đưa lại trước mặt Dư Thúy-Nham, làm mụ run lẩy bẩy. Mụ kể lại mọi sự từ khi theo hầu kỹ nữ Hàn Tú-Anh, rồi Trường-sa Định-vương giả làm văn nhân đeo đuổi nàng. Hai người ở với nhau có hai con, Thái-phi cho đem vào phủ nuôi nấng. Ít lâu sau Hàn Tú-Anh mất tích. Thái-phi bắt Dư Thúy-Nham dấu mọi chuyện, phao rằng Mã vương-phi sinh ra hai thế-tử.

Đào Kỳ nói với Dư Thúy-Nham:

– Dư bà! Nếu Dư bà ở trong cung này sẽ bị người ta giết đi để che dấu cái xấu. Ngay đêm này tôi sẽ đưa Dư bà rời khỏi nơi đây, gặp Hàn Tú-Anh.

Dư Thúy-Nham lạy thụp xuống đất nói:

– Suốt mấy chục năm nay, lão tỳ vẫn mong được gặp lại Hàn thái-hậu. Không biết bây giờ người ra sao?

Đào Kỳ đáp:

– Hồi đó bà bị Thái-hậu, là vương-phi Trường-sa Định-vương sai võ sĩ mang vào rừng giết. Bấy giờ phụ thân Nghiêm Sơn là Phấn-uy tướng quân ở Trường-sa. Người đi săn gặp Hàn tiểu-thư bị nạn, vội ra tay nghĩa hiệp cứu thoát, mang về nuôi nấng. Người còn sợ Thái-phi biết chuyện, phải cáo quan về Quế-lâm. Nhân vì thân mẫu Nghiêm Sơn bị bệnh mất sữa. Hàn tiểu-thư xa con, sữa căng khó chịu. Bà tình nguyện nuôi Nghiêm Sơn. Nghiêm Sơn kính bà như mẹ đẻ. Chính bà đã dùng tình mẫu tử, sai Nghiêm Sơn đi cứu tên hôn quân này.

Quang-Vũ ngẩn người ra hỏi:

– Tại sao Nghiêm Sơn không nói cho Trẫm biết? Không thể như thế được.

Đào Kỳ lắc đầu:

– Ngươi làm vua quen nhìn từ trên xuống, không còn biết nhân tình thế thái là gì nữa. Mẫu thân ngươi xuất thân là kỹ nữ. Ngươi lại đang độ phất cờ trung hưng, nếu đưa một người mẹ làm kỹ nữ ra, ai theo ngươi? Vì vậy mẫu thân ngươi hy sinh trọn vẹn cho ngươi, cấm Nghiêm Sơn không được thố lộ một chi tiết nào về bà. Ngươi thử nghĩ coi, nếu không vì nguyên do ấy. Tại sao Nghiêm Sơn ở cách xa vạn dặm, lại lên Trường-sa, một đêm đánh 20 trận, bị thương 15 lần cứu ngươi. Nếu bảo Nghiêm Sơn thích công danh phú quý ư? Thì Nghiêm Sơn đi theo Cảnh-Thủy hoàng-đế, hoặc Ngỗi Hiêu, hoặc Xích-Mi, chứ đâu có theo ngươi?

Qua câu chuyện trao đổi giữa Dư Thúy-Nham với Tiên-yên nữ hiệp, qua lời nói của Đào Kỳ. Quang-Vũ hiểu được phần nào câu chuyện, y nói:

– Như vậy thì Nghiêm Sơn cứu Trẫm là do mẫu thân trẫm sai y. Y là em trẫm thực sự chứ không phải em kết nghĩa nữa. Không ngờ Mã thái-hậu hại mẫu thân trẫm, hại cả em trẫm nữa. Trẫm quyết không để yên vụ này. Điều tiên quyết các ngươi phải giúp trẫm tìm cho ra mẫu thân trẫm, trẫm mới tin.

Hoàng-kiếm tra kiếm vào vỏ nói:

– Ngươi không biết mẫu thân, không nhận là không có tội. Ta hỏi tội khác của ngươi. Trước đây ngươi bị Vương Mãng đuổi bắt, một mình Nghiêm Sơn với Hợp-phố lục hiệp tả xung hữu đột. Một đêm đánh đến 20 trận, Nghiêm Sơn bị thương 15 chỗ. Sau đó còn kết nghĩa huynh đệ với ngươi. Rồi Nghiêm Sơn một mình một ngựa kinh lý Lĩnh Nam, đem người, lương thực cho ngươi đánh Trung-nguyên. Khi Ngô Hán, Mã Viện đánh Thục bị bại, Nghiêm Sơn mang quân từ Lĩnh Nam về đánh Thục, đại quân đến Thành-đô, tại sao ngươi vô ơn bạc nghĩa bắt giam Nghiêm Sơn? Thậm chí Nghiêm xin một thanh gươm, một con ngựa, ngao du bốn phương, ngươi cũng không cho? Như vậy có phải là hôn quân không? Ta quyết chặt đầu ngươi.

Quang-Vũ kinh hoàng run run nói:

– Ngươi không hiểu cho ta. Tổ tiên ta vì tin Vương Mãng mà mất nước. Cảnh-Thủy hoàng-đế tin Xích Mi mà bị giết. Nay Nghiêm Sơn nắm trọng binh Lĩnh Nam, Đông-xuyên, Tây-xuyên, Kinh-châu. Nếu Nghiêm trở mặt liệu ta có còn không?

Đào Kỳ cười gằn:

– Ngươi định bắt chước tổ tiên ngươi là Lưu Bang, xong việc bỏ tù Tiêu Hà, giết Hàn Tín phải không? Ta yêu cầu ngươi ba việc.

Quang-Vũ là người xảo quyệt, y nghĩ thầm: Điều kiện gì ta cũng cứ thuận cả, sau này sẽ liệu. Y nói:

– Được! Ngươi cứ nói.

– Điều thứ nhất, ngươi thả Nghiêm Sơn ngay để y được tiêu dao tự tại. Không lẽ y giúp ngươi đến như vậy, nuôi nấng, phụng dưỡng mẫu thân ngươi như vậy, mà ngươi nỡ nhẫn tâm giết y ư?

Quang-Vũ đáp:

– Trẫm lại không biết điều đó. Có điều uy tín Nghiêm Sơn lớn quá, nếu thả ra để y tiêu dao thì chúng nhân thiên hạ chê trách trẫm. Sau này còn ai dám vì nhà Hán mà ra sức nữa. Vì vậy trẫm giữ y lại, để tìm ra một tội hầu cách chức y.

Đào Kỳ cười nhạt:

– Có khó chi. Ngươi kết tội y giết đại thần là đủ rồi. Y chả từng nói thế là gì? Y nhất tâm hy sinh cho ngươi, giết Tư-đồ, Tư-không thuộc vây cánh thái-hậu, giúp ngươi để cho ngươi có thể cách chức y.

Quang-Vũ ngẩn người ra. Vì khi Nghiêm Sơn giết Tư-đồ, Tư-không trước mặt y, để y có cớ cách chức Nghiêm Sơn là điều cực kỳ bí mật, không hiểu sao Đào Kỳ cũng biết.

Đào Kỳ tiếp:

– Điều thứ hai là trả Lĩnh-nam cho người Lĩnh-nam. Bắc của Hán, Nam của Việt, đời đời không xâm phạm nhau. Đất Trung-nguyên rộng lắm ngươi còn chiếm thêm Lĩnh-nam để làm gì?

Quang-Vũ lắc đầu:

– Cửu-chân, Nhật-nam, Giao-Chỉ thì trả được. Còn Nam-hải, Tượng-quận, Quế-lâm là đất Trung-nguyên từ lâu. Dân ở đó đã là dân Hán, không trả về Lĩnh-nam được nữa.

Trần Công-Minh quát lên:

– Người Hán chiếm đất cai trị các dân khác thì được, thì người Việt không cai trị dân Hán trên đất Việt được sao?

Quang-Vũ vẫn ngoan cố:

– Chúng ta là Trung-nguyên các dân khác phải cúi đầu thần phục. Ai chống lại sẽ bị trừng trị.

Trần Công-Minh nhảy chồm lên, chửi tục:

– Đ. M. mày chứ, người Hán cũng là người, những người khác cũng là người. Tại sao các xứ khác phải tuân phục Trung-nguyên mà Trung-nguyên không tuân phục các xứ khác?

Ông nói với Đào Kỳ:

– Đào tam lang, đây là tên Hán con, tổ tiên nhà y nhiều đời tự hợm hĩnh cho rằng họ Lưu mới là Thiên-tử. Thiên-tử cái con đĩ mẹ mày. Tổ tiên mày Lưu Bang xuất thân bán thịt, vô lại, văn dốt, vũ nát, gặp thời mà lên nghiệp lớn. Mẹ mày xuất thân đĩ điếm, đẻ ra mày, vinh dự gì mà mày tự kiêu? Được hôm nay ông cố nội mẹ mày thử khoét hai mắt cắt lưỡi, chặt hai chân, hai tay, để Mã thái-hậu lập ấu quân khác lên cho mày biết thân.

Ông rút kiếm đưa lên ánh thép lấp loáng. Đào Kỳ biết ông chỉ dọa Quang-Vũ nên để cho ông tự do. Quang-Vũ sợ quá vãi đái, vãi phân ra ngoài ra quần. Đào Kỳ thấy thối hoăng lên, đẩy y ra. Chàng tiếp:

– Điều thứ ba phải để cho Lĩnh-nam yên. Nếu ngươi cất quân đánh Lĩnh-nam, lập tức ta tìm giết ngươi. Ta nói cho mi biết, võ công ta cao gấp ngàn lần vệ sĩ của ngươi. Ta muốn giết ngươi lúc nào mà chẳng được. Ngươi hãy coi đây.

Chàng hít hơi, vận đủ 10 thành công lực vào tay, phát chiêu Ác ngưu nan độ trong Phục-ngưu thần chưởng, là chiêu dũng mãnh nhất, đánh thẳng vào chiếc long sàng. Vì chàng vận âm kình, không có tiếng động, khi chàng đánh xuống xong, chiếc long sàng bằng gỗ cứng như vậy, mà vỡ ra thành từng mãnh nhỏ.

Vừa lúc đó có tiếng chiêng trống từ xa vọng lại. Có tiếng người lên cầu thang, rồi có tiếng cung nữ nói:

– Muôn tâu bệ-hạ, Tần-vương Lưu Nghi, Tư-đồ Đậu Dung thỉnh bệ-hạ lâm triều khẩn cấp.

Quang-Vũ chỉ ra phía cầu thang:

– Có việc khẩn cấp, các đại thần đánh chuông trống thỉnh trẫm thiết triều.

Đào Kỳ chụp Dư Thúy-Nham tung cho Tiên-yên nữ hiệp:

– Sư bá cần đem người này đi gặp Hàn Tú-Anh. Nếu để đây e không toàn tánh mạng.

Dư Thúy-Nham hướng Quang-Vũ lạy thụp xuống đất:

– Bệ hạ! Tiểu tỳ sống với Hàn thái-hậu từ nhỏ. Khi biết Hàn thái-hậu bị Mã vương-phi hại, thần thiếp cắn răng chịu đựng. Từ đó đêm đêm thần thiếp thường khóc thầm, thương nhớ Hàn thái-hậu. Bây giờ dù tan xương, nát thịt, mà được gặp lại người tiểu tỳ cũng vui lòng. Bệ hạ ơi! Nguồn gốc thân xác con người ta là cha mẹ. Con người quên cha, quên mẹ thì là loài cầm thú, chứ không còn là người nữa. Bệ hạ mau đi đón Hàn thái-hậu về kinh phụng dưỡng, cho phải đạo.

Đào Kỳ đến bên Tường-Quy nắm tay nàng nói:

– Trong trận đánh Đăng-châu, anh tìm em khắp nơi mà không gặp. Anh nghĩ rằng em chết rồi, khóc hết nước mắt, anh đành ra sông tế vọng. Không ngờ em vẫn còn sống trên thế gian. Hôm nay gặp em ở đây, anh muốn cứu em ra, em hãy đi với anh.

Tường-Quy cúi đầu xuống khóc:

– Duyên nợ giữa anh và em như vậy là hết rồi. Em lấy Trương Minh-Đức thì đã là một Mỵ-châu. Thôi đã là Mỵ-Châu thì là Mỵ-Châu luôn. Hoàng-thượng đã phong em làm Tây cung quý-phi. Anh đi đi.

Đào Kỳ tuyệt không ngờ Tường-Quy lại nói thế. Chàng nhìn nàng, chờ cho Tiên-yên nữ hiệp, Trần Công-Minh đi rồi. Đào Kỳ nhỏ nhẹ với Quang-Vũ:

– Hoàng-thượng nhớ rằng hiện phe cánh Mã thái-hậu rất lớn. Có thể cuộc thiết triều này do vây cánh Mã thái-hậu xếp đặt. Ngũ-phương thần kiếm và tôi đã có thơì giúp hoàng-thượng. Chúng tôi xin ở lại hộ vệ hoàng-thượng thiết triều. Nếu vây cánh của Mã thái-hậu định làm gì, chúng tôi giết chúng trước.

Quang-Vũ thấy Đào Kỳ nói đúng. Y mặc quần áo, rồi đi cùng Đào Kỳ, Ngũ-phương thần-kiếm xuống lầu. Các thị vệ, thái-giám, cung-nữ thấy Quang-Vũ cùng 6 người lạ mặt đi xuống, chúng không hiểu chuyện gì.

Quang-Vũ hướng về phía điện Vị-ương đi tới. Trước điện giáp sĩ canh phòng nghiêm mật. Quần thần văn võ đứng thành hai hàng, áo mão chỉnh tề. Các quan nhất loạt quỳ gối, cúi đầu tung hô vạn tuế. Quang-Vũ vẫy tay nói câu Miễn lễ. Các quan mới đứng dậy. Họ ngạc nhiên khi thấy Đào Kỳ, Ngũ-phương kiếm theo Quang-Vũ, chia nhau đứng hai bên và phía sau ngai vàng.

Luật nhà Hán cấm tất cả bá quan, dù hoàng-thân quốc-thích cũng không được mang vũ khí vào triều kiến. Mà họ thấy Đào Kỳ, Ngũ-phương thần-kiếm đều đeo bảo kiếm bên cạnh vua, thì không hiểu gì cả.

Một người áo mão Vương-gia bước ra quỳ tâu:

– Thần Tần-vương Lưu Nghi, trọng trấn Trường-an. Xin kính cẩn cúi tâu để hoàng-thượng biết. Người Lĩnh-nam theo Nghiêm Sơn tùng chinh làm phản. Họ quay giáo giúp Thục, nên chỉ một tháng Thục chiếm lại hết các thành trì đã mất, còn lấy luôn Hán-trung, 9 quận Kinh-châu của ta nữa. Hiện Phục-ba tướng quân Mã Viện, Xa-kỵ đại tướng-quân Ngô Hán, Đại tư-mã Đặng Vũ tự trói mình về triều kiến bệ hạ để chịu tội.

Quang-Vũ liếc nhìn Đào Kỳ hỏi:

– Làm sao họ có thể làm như vậy được? Ngô Hán, Đặng Vũ cầm trọng binh trong tay. Tại sao lại bại trận đến chỉ còn người không? Triệu họ vào cho trẫm hỏi.

Đặng Vũ, Mã Viện, Ngô Hán tự trói mình, từ ngoài bước vào phủ phục trước điện tâu rằng:

– Bọn thần bất tài, bị mắc mưu giặc, chỉ còn người không về phục mệnh. Xin bệ-hạ ban cho được chết.

Quang-Vũ ngơ ngác hỏi:

– Sự thể ra thế nào?

Quan Tư-đồ Đậu Dung tâu:

– Không biết tại sao, đêm hôm bệ-hạ bắt giam Nghiêm Sơn, người Lĩnh-nam biết được. Hôm sau họ đón đường giết sạch sứ giả. Rồi quân-sư Phương-Dung dùng binh-phù của Lĩnh-nam vương triệu hồi Ngô Hán cùng các tướng về. Ngô Hán bị bệnh không về. Các tướng về bị bắt hết. Họ đầu hàng Thục. Còn Đặng Vũ, Mã Viện bị Trưng Nhị dùng binh phù Lĩnh-nam vương, truyền rằng bình Thục xong, giao binh quyền cho nàng. Mã Viện về Trường-an triều kiến hoàng-thượng lĩnh chức Tây-lương thứ sử. Đặng Vũ về trấn giữ Lạc-dương trong khi hoàng-thượng ở Trường-an. Trưng Nhị lại dùng binh phù truyền chỉ lui binh về Kinh-châu. Các thứ-sử, thái-thú ra đón, bị bắt hết. Vì vậy chỉ trong một tháng Thục đoạt lại thành trì đã mất, còn chiếm thêm Kinh-châu, Hán-trung.

Tần-vương Lưu Nghi tâu:

– Người Lĩnh-nam hợp với Thục làm phản. Họ chia quân làm ba đạo. Đạo Lĩnh-nam trở về chiếm Tượng-quận, rồi sau đó làm phản chiếm hết 6 quận Lĩnh-nam. Đạo Kinh-châu chiếm Kinh-châu, đánh ngược lên Nam-dương tiến về Lạc-dương. Đạo Hán-trung xuất làm ba đường Thiên-thủy, Phù-phong, Tý-Ngọ, tiến đánh Trường-an.

Quang-Vũ truyền:

– Vậy là lỗi ở triều đình cách chức Nghiêm Sơn, mà không cho ngựa lưu tinh kịp thời truyền lệnh, nên các tướng không biết. Không thể trách các tướng được. Nghiêm Sơn trị binh rất nghiêm. Y lại vốn là người thân của ta. Y nói gì, đâu ai dám không tin. Hơn nữa đám nữ quân sư là chỗ sư muội, sư huynh với y. Họ nói gì các tướng vẫn tưởng Nghiêm Sơn nói. Bây giờ triều đình hỏa tốc cho ngựa lưu tinh đi khắp nơi loan báo tin: Lĩnh-nam vương đã hồi triều phục mệnh không còn cầm quân nữa. Các nơi chỉ nghe lệnh của triều đình mà thôi.

Đào Kỳ thấy Quang-Vũ nói vậy, biết y sợ hãi, không dám công bố cách chức Nghiêm Sơn, còn muốn chàng điều đình với Lĩnh-nam.

Mã Viện tâu:

– Đạo quân Kinh-châu chiếm xong Linh-lăng Trường-sa, đang đánh lên Nam-dương. Đạo này do Công-tôn Thiệu chỉ huy. Tước của y là Trường-sa vương. Còn đạo Thiên-thủy do Xa-kỵ đại tướng-quân Nhiệm Mãng chỉ huy, đã đánh được Thiên-thủy, chiếm Kỳ-sơn từ hôm qua. Đạo theo Tà-cốc tiến ra, do Tề-vương Tạ Phong chỉ huy, đánh được Phù-phong, My-thành. Thái-thú Phù-phong là Đô Dương đã đem 5 vạn binh mà giao cho Thục. Đô Dương là em kết nghĩa với Nghiêm Sơn.

Quang-Vũ tê dại người trên ngai vàng, tuyên chỉ:

– Trẫm giao cho Tần-vương thống lĩnh Ngô Hán, Mã Viện hãy đẩy lui giặc ở Trường-an. Ra lệnh cho mặt Nam-dương cố thủ. Còn Đặng Vũ mau về cầm quân bảo vệ Lạc-dương.

Đến đó có Điện-tiền hiệu-úy vào tâu:

– Tâu hoàng-thượng có Chinh-tây Đại tướng-quân Phùng Dị và Vũ-oai đại tướng-quân Lưu Thương xin vào triều kiến.

Quang-Vũ hỏi Ngô Hán:

– Xa-kỵ đại tướng-quân Ngô Hán mới vừa tâu với trẫm rằng Chinh-tây đại tướng-quân Phùng Dị, Vũ-oai đại tướng-quân Lưu Thương đầu Thục, sao bây giờ họ lại trở về? Nếu bảo Lưu đầu hàng giặc thì trẫm còn tin được. Còn Phùng theo trẫm đã lâu, trí dũng song toàn, đời nào lại hàng giặc? Triệu tất cả vào đây.

Phùng Dị, Lưu Thương vào quỳ gối tung hô vạn tuế. Quang-Vũ hỏi:

– Hai khanh bình thân hãy kể hết tự sự cho trẫm nghe.

Phùng Dị thấy Đào Kỳ đeo kiếm đứng sau Quang-Vũ. Y ngỡ ngàng không biết những gì đã xảy ra. Y đem hết sự thực tâu lại một lượt. Từ vụ y tuân theo binh phù của Nghiêm Sơn trao thành lại cho người. Bị đánh lừa, y giả hàng Thục rồi thừa cơ trốn thoát. Dọc đường bị Đào Kỳ bắt, y giết Trương Minh-Đức để thoát thân.

Phùng Dị tiếp:

– Xin bệ-hạ khẩn cho phòng vệ cẩn thận. Có thể nội đêm nay giặc sẽ tấn công thành. Nhất là chúng được người Lĩnh-nam giúp sức, đội Thần-tượng có thễ dẫm nát quân mình. Đội Thần-hổ, Thần-báo xung vào trận không ai đương nổi. Đội Thần-phong đánh quân trên thành, cho quân ngoài leo vào. Đội Thần-hầu vượt Kim-sơn, dù thành cao mấy cũng leo lên được. Còn đội Thần-xà và Thần-ngao nữa.

Quang-Vũ hỏi Phùng Dị:

– Người ta nói trong đạo quân Lĩnh-nam có các cao thủ vô địch Trần Đại-Sinh, Đào Kỳ với hai tay kiếm thuật thần sầu quỉ khốc Phật-Nguyệt, Phương-Dung. Bản lĩnh Phật-Nguyệt, trẫm đã thấy đấu với Hoài-nam vương. Trần Đại-Sinh Trẫm đã thấy mặt, nhưng chưa thấy bản lĩnh. Vậy bản lĩnh Phật-Nguyệt so với Phương-Dung thế nào?

Phùng Dị đáp:

– Phật-Nguyệt chỉ là kiếm thuật danh gia, Phương-Dung kiếm thuật ngang với Phật-Nguyệt, thị là người văn mô, vũ lược tài trí nhất Lĩnh Nam. Tất cả việc hoạch định ba đạo quân đánh Thục đều do thị cả. Giỏi dùng binh như Lĩnh-nam vương mà còn phải để cho thị làm quân-sư. Y thị là vợ của Trấn-viễn tướng-quân Đào Kỳ.

Y nói đến đây liếc nhìn Đào Kỳ. Chàng nheo mắt chế diễu y, rồi đứng yên. Phùng Dị tiếp:

– Còn bản lĩnh của Đào Kỳ với Khất đại-phu chỉ nghe nói mà chưa thấy. Từ hôm vào Thục, Đào Kỳ chưa đấu trận nào. Võ công cao như Vương Phúc, tước phong Bình-nam vương, đấu ngang tay với Hoàng Thiều-Hoa tức vương-phi Lĩnh-nam vương. Còn Trần Đại-Sinh thì ông là bạn với Thiên-sơn lão tiên, Thái-sư phụ của Thiên-sơn thất hùng. Đại-Sinh bản lĩnh cao thâm không biết đâu mà kể. Ông dám đứng cho Nhiệm Mãng, Triệu Khuôn đánh mà không việc gì. Ông chưa xuất thủ bao giờ, chuyên đứng lược trận cho hai cháu gái xuất chiêu. Khi cháu thất bại, ông nhặt vài viên sỏi bắn ra, tướng Thục đã bị bại liền.

Quang-Vũ đã bị Đào Kỳ vận sức búng trái cây tấn công y, y tỏ vẻ đồng ý với Phùng Dị, gật đầu thông cảm.

Lưu Thương tâu:

– Trên đường trốn chạy, thần nghe Phiêu-kỵ đại tướng-quân Sầm Bành, Chinh Lỗ đại tướng-quân Tế Tuân, Trung-lang tướng Lai Háp nhận mật chỉ của Thái-hậu, do thám bọn Lĩnh Nam bị bại lộ. Cả ba đều tuẫn quốc.

Triều đình Đông-Hán trên từ Quang-Vũ xuống đến bọn vệ sĩ điện Vị-ương đều kêu lên những tiếng kinh ngạc.

Hoài-nam vương chưa biết mặt Đào Kỳ. Chàng đứng bên cạnh Quang-Vũ, ông cũng không biết. Ông hỏi Lưu Thương:

– Ba vị đại tướng quân ấy bị tên bắn chết hay bị thuốc độc? Vì với bản lĩnh của họ, làm gì có người Lĩnh Nam địch nổi?

Lưu Thương đáp:

– Muôn tâu, ba người đang dọ thám buổi họp giữa đám Lĩnh-nam và Thục, nghe trộm được âm mưu tạo phản của họ, bị đoàn Thần-ưng khám phá. Họ bị 600 Thần-ưng, 300 Thần-hổ, 200 Thần-ngao bao vây. Ba người bất thần bắt sống ba nữ tướng Lĩnh Nam, bắt chúng phải mở vòng vây. Song khi ba tướng chạy đến đồi Bành-vong. Bọn Lĩnh Nam thả trăn ra quấn họ, ba tướng bị bắt. Nữ tướng Hồ Đề của Lĩnh Nam muốn thả ba tướng ra. Phía Lĩnh Nam không chịu, họ cử ba người ra đấu với ba tướng. Ai thắng sẽ được tha. Trận đầu Tế Tuân dùng đao đấu với Phương-Dung bị bại. Trước đây Tế Tuân với nữ tướng Trần Năng thân thiện với nhau. Trần Năng băng bó cho y. Nhưng y dùng dao bắt sống nàng làm con tin. Không ngờ Trần Năng võ công cao cường, dùng chỉ pháp xuyên thủng ngực y. Y chết tại chỗ.

Mã Viện nhíu mày không tin hỏi:

– Chinh-lỗ đại tướng-quân võ công cái thế. Hiện chỉ thua sút có Sầm Bành, Phùng Dị, Mã Vũ một chút. Làm sao Trần Năng dùng chỉ lực bắn chết y được? Trên đời làm gì có thứ võ công dùng ngón tay xuyên thủng áo giáp tới ngực người ta?

Phùng Dị chỉ Đào Kỳ:

– Hiện diện tại đây có Chinh-viễn đại tướng quân Đào Kỳ, sư thúc của Trần Năng. Để Đào tướng-quân trả lời.

Bấy giờ triều đình mới nhìn Đào Kỳ. Đào Kỳ vận khí vào đơn-điền, chuyển qua Đốc-mạch, dẫn vào Thủ-dương minh Đại-trường kinh, vào huyệt Thương-dương, hướng vào Mã Viện phóng một chỉ. Véo một tiếng, chiếc mũ bằng thép đội trên đầu Mã bay ra xa đến hơn trượng, trúng vào chiếc cột đá kêu đánh bộp một cái. Chiếc mũ bẹp dúm lại.

Mã Viện kinh hoảng la lên một tiếng.Ra dấu cho mọi người im lặng Quang-Vũ hỏi tiếp:

– Còn Trung-lang tướng Lai Háp tại sao bị giết?

Lưu Thương đáp:

– Trung-lang tướng thấy Chinh-lỗ đại tướng quân bị giết, liền tấn công Trần Năng trả thù. Hai người đấu với nhau một lúc, thì rơi xuống hồ. Hồ đóng thành băng. Họ rơi mạnh quá, băng vỡ. Hai người chìm xuống đáy. Lát sau thấy Trần Năng túm đầu Lai Háp mang lên. Lai Háp gần như chết lạnh. Trần Đại-Sinh đang hút thuốc, ông thấy vậy búng tàn thuốc trúng vào trán Lai Háp. Lai tỉnh dậy, nhưng vẫn không đi được. Sau đó Phiêu-kỵ đại tướng-quân Sầm Bành đấu với Chinh-viễn đại tướng-quân Đào Kỳ. Bành bị Đào đánh một chưởng, vỡ làm năm sáu mảnh. Chết thảm thiết vô cùng.

Quang-Vũ hỏi Phùng Dị:

– Hán có ba đại cao thủ Sầm Bành, Mã Vũ và nhà ngươi? Nhà ngươi đã thử sức với Trần Đại-Sinh và Đào Kỳ chưa?

Phùng Dị lắc đầu:

– Hạ thần chưa có dịp.

Mã Viện đưa mắt nhìn Đào Kỳ và Ngũ-phương thần kiếm lòng đầy nghi hoặc. Vì đêm hôm trước y được Hầu Nhân-Đăng trao mật chỉ của thái-hậu dặn phải bắt hết những người Việt trên đường đến Trường-an, vì nghi là người của Hàn Tú-Anh cử đến gặp Quang-Vũ. Y cùng Tương-dương cửu hùng đại chiến với Ngũ-phương thần kiếm bao phen. Cuối cùng Đô Dương xuất hiện, mượn uy Nghiêm Sơn giết sứ giả, Mã Viện phải chịu. Bây giờ lại nảy ra vụ Nghiêm Sơn bị giam lâu ngày, Mã bị lừa để mất Kinh-châu. Y thấy Đào Kỳ cùng với Ngũ-phương thần kiếm đứng sau lưng Quang-Vũ là tại sao? Những gì đã xảy ra? Y biết Đào Kỳ là người được Nghiêm Sơn sủng ái nhất trong đám sư huynh, sư đệ theo Nghiêm tùng chinh, võ công Đào Kỳ cực kỳ cao thâm.

Trong lòng y đầy nghi vấn:

– Phải chăng Quang-Vũ đã biết mọi chuyện về Mã thái-hậu? Nếu biết tại sao Quang-Vũ không nhân vụ bị mất Kinh-châu mà xử tử y?

Y đứng trong võ ban lấm lét nhìn Đào Kỳ.

Bỗng Hoàng-kiếm bước ra chắp tay vái Quang-Vũ nói:

– Anh em chúng tôi là Ngũ-phương thần kiếm xin hoàng-thượng cho hỏi Phục-ba tướng-quân mấy câu.

Quần thần nghe đến Ngũ-phương thần kiếm thì giật bắn người kêu lên:

– Úi cha!

– Ố trời!

Tần vương Lưu Nghi chắp tay hỏi:

– Năm vị đây có phải người đã giết chết Phiêu-kỵ đại tướng-quân của Vương Mãng, một đêm đánh chiếm lại Trường-an, Lâm-đồng, Đồng-quan thời Tiên-đế không?

Hoàng-kiếm gật đầu:

– Vương-gia nhớ dai lắm nhỉ?

Hoài-nam vương hỏi:

– Tiểu vương lúc đó ở Quang-trung. Nghe tin Bát-tuấn của Vương Mãng võ công kinh người, thế mà một trận bị Ngũ-hiệp giết sạch, cùng dân chúng nổi dậy chiếm một dải sông Vị từ Thiên-thủy tới Phú-thành, Trường-an, Lâm-đồng, Đồng-quan. Sau vụ đó Cảnh-thủy Thiên-tử phong công-tước, năm vị đều từ chối, muốn hạc nội mây ngàn. Vì vậy tiên-đế có ban cho năm vị thanh Thượng-phương bảo kiếm. Lệnh truyền cho thiên-hạ thấy gươm cũng như thấy thiên-tử. Trên từ Thiên-tử dưới đến thứ dân đều phải tuân theo. Ngũ-phương thần kiếm được quyền Thượng trảm hôn quân, hạ trảm gian thần. Không biết hôm nay năm vị về triều có chuyện gì?

Xích-kiếm bước ra hỏi:

– Tôi muốn hỏi Phục-ba tướng quân một vài câu.

Mã Viện biết tình thế nguy hiểm, y bước ra chắp tay:

– Tiểu tướng xin chờ lệnh.

Xích-kiếm gằn từng tiếng:

– Cách đây ba ngày, chúng ta đang trên đường về Trường-an triều kiến thiên-tử, tâu khẩn cấp về việc người Lĩnh Nam trở mặt tiến đánh các nơi. Giữa đường ta gặp ngươi. Ngươi một mực nói đã bình xong Thục, ngươi sắp được phong tước công, trấn thủ Lương-châu. Truyện ngươi mặc ngươi. Sao lại giả mật chỉ Thái-hậu rồi cho tướng sĩ vây bắt bọn ta? Ta đã đưa Thượng-phương bảo kiếm ra, ngươi còn bảo là kiếm giả. Ngươi nhất định bắt ta về Lạc-dương cho Thái-hậu. Ta bảo cần triều kiến Hoàng-thượng trước. Như vậy là ngươi làm phản cố tình giao Kinh-châu cho giặc, là một tội. Thấy Thượng-phương bảo kiếm mà còn vô phép là hai tội. Cản trở ta cáo cấp quân cơ là ba tội. Ngươi hãy trả lời cho ổn. Nếu không ta lấy đầu ngươi ngay ngày hôm nay.

Mã Viện nghe nói hồn phi phách tán. Y chưa biết trả lời sao, thì từ phía ngoài pháo nổ liên hồi. Quân reo dậy đất, trống thúc rung động mặt thành.

Một lát sau võ tướng quỳ tâu:

– Muôn tâu hoàng-thượng không biết quân Thục từ đâu đến bất thình lình bao vây Trường-an. Các tướng đã điều động quân sĩ lên trấn giữ bốn cửa rất nghiêm. Xin Hoàng-thượng định liệu.

Tần vương nói với Ngũ-phương kiếm:

– Tội Mã Viện xin Thần-kiếm để đó. Chúng ta mau ra xem giặc từ đâu đến, tình hình ra sao đã!

Đào Kỳ nói với Ngũ-phương thần kiếm:

– Các vị cùng tôi bảo giá hoàng-thượng ra cửa Nam quan sát tình hình.

Bấy giờ trong thành tướng sĩ thức dậy, người ngựa phi rầm rập, tiến ra phòng thủ. Tần-vương là vai chú họ Quang-Vũ trấn thủ Trường-an. Ông dụng binh rất giỏi, tính tình khoan hòa, được lòng tướng sĩ. Trong thành Trường-an đã có 5 vạn quân bộ và một vạn quân Kỵ do thứ-sử Trường-an là Vũ-kỵ đại tướng-quân Tạ Thanh-Minh chỉ huy. Khi Quang-Vũ tới đây mang theo 8 vạn bộ-binh, 2 vạn Kỵ-binh đều là cấm quân, do Nội-giám Thống-lĩnh cấm quân Ngô Lương tước Diên-thọ đình-hầu thống lĩnh.

Tạ Thanh-Minh có trong tay 6 vạn binh, nhưng thành Trường-an quá rộng lớn, 6 vạn binh không thể trải ra giữ thành. Y đến trước Tần vương hỏi:

– Vương-gia! Giặc bên ngoài bao vây đông quá. Chúng ta phải đốt Phong-hỏa đài cho quân từ Vị-nam về cứu viện.

Nguyên binh lực Tần vương tại Trường-an có 10 vạn, 5 vạn đóng trong thành, 5 vạn đóng ở Vị-nam làm thế ỷ dốc. Ngoài ra còn 5 vạn nữa đóng ở Phù-phong. Nhưng Thái-thú Phù-phong là Đô Dương đã đem số quân đó giao cho Thục mất rồi.

Tần vương Lưu Nghi lắc đầu:

– Chưa cần dùng tới. Giặc đến bất thần thế này chắc do hang Tý-Ngọ tiến ra. Nếu ta kéo quân Vị-nam về, thì khi quân Thục từ Tà-cốc, Phù-thành, Thiên-thủy kéo tới, thì chỉ có chết mà thôi.

Ông quay lại nói với Ngô Lương:

– Nội-giám thống-lĩnh cấm quân! Ngươi chia 10 vạn cấm quân ra làm 4, bảo vệ bốn cửa thành.

Ngô Lương đi điều quân liền. Tần vương Lưu Nghi tiếp tục:

– Xa-kỵ đại tướng-quân Ngô Hán trấn cửa Bắc. Phục-ba tướng-quân Mã Viện cửa Nam. Thống-lĩnh cấm quân Ngô Lương trấn cửa Đông. Vũ-kỵ đại tướng-quân, thứ-sử Trường-an trấn cửa Tây. Hoài-nam vương và ta bảo vệ hoàng-thượng. Chúng ta mau ra phía Nam xem tình hình quân giặc thế nào.

Quân-sĩ Trường-an và Cấm-quân là những đội quân tinh nhuệ bậc nhất thời bấy giờ. Giáp sĩ leo lên mặt thành, gươm đao sáng loáng đề phòng. Còn kỵ binh thì đi đi lại đề phòng cứu ứng các nơi.

Đào Kỳ nghĩ:

– Ngũ-phương thần-kiếm hiện trung lập giữa Lĩnh Nam và Quang-Vũ. Dường như họ không ưa Thục. Đạo quân Thục từ Tý-ngọ tiến ra do Công-tôn Tư điều khiển, có sư thúc Đinh Công-Thắng theo giúp với đội Thần-ưng, Thần-phong. Thái-tử Công-tôn Tư võ công cao, giỏi dụng binh, nhưng với 5 vạn binh làm thế nào y dám đánh Trường-an? So sánh lực lượng trong thành có tới 15 vạn quân, đã gấp ba y. Theo binh pháp, một thủ phải mười mới công được. Với 15 vạn binh Hán, Thục phải có 150 vạn binh, hãy công thành. Không hiểu sao Công-tôn Tư lại làm thế? Chắc y có lý của y chứ không làm liều đâu.

Quang-Vũ tới cửa Nam. Tướng sĩ thấy hoàng-đế tung hô vạn-tuế. Quang-Vũ lên mặt thành nhìn xuống, quân Thục hàng ngũ tề chỉnh. Thấp thoáng trong ánh đuốc, một tướng trẻ cỡi ngựa đứng hàng đầu, hướng lên mặt thành gọi lớn lên:

– Lưu Tú ra đây nói chuyện với ta.

Quang-Vũ cầm roi chỉ xuống:

– Có phải ngươi là Công-tôn Tư không? Cha ngươi trước chẳng ăn lộc của triều đình. Nay sao không quy thuận lại kéo quân tới đây phạm giá? Binh lực của ngươi được làm bao mà dám lộng hành?

Công-tôn Tư chỉ Quang-Vũ nói:

– Lưu Tú! Ngươi sát hại công thần, anh hùng thiên hạ nổi lên tru diệt ngươi. Lĩnh-nam vương cùng anh hùng Lĩnh-nam vì ngươi mà xuất mã. Khi sắp thành công, ngươi bắt giam Lĩnh-nam vương, cho nên anh hùng Lĩnh-nam cùng chúng ta liên hợp trừ một bạo chúa cho thiên hạ. Để ta cho ngươi nhìn một người.

Một tướng từ sau phi ngựa ra, hướng lên thành hô lớn:

– An-viễn tướng-quân, An-thọ đình-hầu Chu Á-Dũng muốn nói chuyện với Lưu Tú.

Quang-Vũ thất kinh hỏi:

– Ngươi chẳng phải là Tiền tướng-quân Chu Á-Dũng, giòng dõi trung thần Chu Á-Phu của bản triều đó ư? Tại sao ngươi lại phản ta theo Thục?

Chu Á-Dũng nói:

– Ta có lập công bao nhiêu chăng nữa cũng không bằng Lĩnh-nam vương. Thế mà khi sự vừa thành. Ngươi bắt chước tổ tiên ngươi là Lưu Bang, bắt giam Lĩnh-nam vương, vì vậy ta theo Thục trừ diệt một bạo chúa mà thôi.

Quang-Vũ bảo các tướng:

– Chúng ta đi thăm các cửa thành khác.

Quang-Vũ xuống mặt thành cùng các tướng đi khắp bốn cửa thành quan sát thấy binh Thục không nhiều, nhưng không hiểu sao chúng dám vây thành như vậy.

Ngô Hán góp ý:

– Công-tôn Tư là người dụng binh giỏi nhất đất Thục, thần bị bại nhiều lần về tay y. Y ít quân mà dám bao vây Trường-an, chắc là có mưu kế gì đây, chứ không phải làm liều đâu.

Tần vương Lưu Nghi bàn:

– Chúng ta cứ để chúng vây thành, đợi trời sáng sẽ liệu.

Trời tờ mờ sáng. Lại thấy ngoài thành pháo lệnh nổ liên hồi, quân reo dậy đất, trống thúc khẩn cấp. Một võ quan vào báo:

– Thục chia làm ba đạo kéo tới. Đạo thứ nhất từ Phù-phong binh sĩ đều là binh Hán. Đạo thứ nhì từ Thiên-thủy kéo tới, đạo này do Phiêu-kỵ tướng-quân Thục là Nhiệm Mãng chỉ huy. Đạo thứ ba do Tề vương Tạ Phong từ ngã Tà-cốc tiến ra. Quân sĩ các đạo lên tới 30 vạn người.

Hoài-nam vương bàn:
– Như vậy quân số giặc đông bằng chúng ta. Hiện Tần-vương có 10 vạn mất ở Phù-phong 5 vạn, còn 5 vạn. Cấm quân 20 vạn. Chúng ta có 25 vạn. Bây giờ chúng ta mở cửa thành ra đại chiến một trận. Rồi nhân đó cử người ra trấn thủ Lâm-đồng, Vị-quan, Đồng-quan cho vững, nếu không chúng ta mất đường về Lạc-dương.

Quang-Vũ quyết định:

– Cho quân sĩ nghỉ ngơi ăn cơm trưa xong sẽ xuất cửa Tây đánh giặc. Trong khi đó Hoài-nam vương vượt cửa Đông đem quân ở Vị-nam trải ra trấn thủ Đồng-quan, Lâm-đồng. Cần giữ vững thành trì không nên tham chiến.

Kể từ lúc Quang-Vũ rời điện Vị-ương, bị Đào Kỳ luôn ở sát. Y nghĩ:

– Cái họa Mã thái-hậu chưa biết có thực hay không. Nhưng Đào Kỳ là cái họa ngay trước mắt. Ngũ-phương thần-kiếm tuy khắt khe thực, nhưng vẫn là người Hán. Ta phải tìm cách trừ Đào Kỳ đã

Kể từ lúc Quang-Vũ rời điện Vị-ương, bị Đào Kỳ luôn ở sát. Y nghĩ:

– Cái họa Mã thái-hậu chưa biết có thực hay không. Nhưng Đào Kỳ là cái họa ngay trước mắt. Ngũ-phương thần-kiếm tuy khắt khe thực, nhưng vẫn là người Hán. Ta phải tìm cách trừ Đào Kỳ đã.

Y chợt nghĩ được một kế nói với quần thần:

– Đây là Chinh-viễn tướng-quân Đào Kỳ người Lĩnh Nam. Tướng-quân chỉ huy đạo Lĩnh-nam tiến vào Thành-đô đầu tiên. Vậy trẫm phong tướng-quân là Hán-trung vương, ăn lộc suốt một dãi đất Ích-châu. Chúng ta hiện có một anh hùng vô địch còn sợ gì Công-tôn Thuật?

Vũ-kỵ đại tướng-quân Tạ Thanh-Minh tâu:

– Hoàng-thượng phong Đào tướng-quân làm Hán-trung vương do lời hứa, ai vào Thành-đô trước được làm chúa Ích-châu. Còn dậy rằng Hán-trung vương là anh hùng vô địch, thần quyết không phục. Hán có Phiêu-Kỵ đại tướng quân Sầm Bành, Bô-lỗ đại tướng-quân Mã Vũ, Chinh-di đại tướng-quân Phùng Dị, Diên-thọ đình-hầu Ngô Lương và thần. Việc Đào vương-gia giết Sầm tướng quân, thần không tin.

Bạch-kiếm vốn có cảm tình với Đào Kỳ. Ông nói:

– Được, có khó gì đâu. Ngươi muốn kiến thức võ công của Đào vương-gia cũng dễ thôi.

Quang-Vũ muốn thoát ách Đào Kỳ và Ngũ-phương thần-kiếm, y nghĩ:

– Ta bày ra cuộc đấu võ, mượn tay võ sĩ giết chúng. Sĩ dân thiên-hạ không dị nghị ta được nữa.

Quang-Vũ nói với Đào Kỳ:

– Trước đây Lĩnh-nam vương thượng biểu tấu rằng Đào tướng-quân vũ dũng trùm Lĩnh-nam. Những anh hùng như Phong-châu song quái, Lê Nghĩa-Nam, Hoàng Đức-Tiết, Lê Đạo-Sinh đều bị thua dưới tay Đào tướng-quân. Hôm nay Trẫm muốn được kiến thức võ công của Đào tướng-quân.

Hoàng-kiếm rất cảm tình với Đào Kỳ. Y sợ Đào Kỳ không biết Tạ Thanh-Minh, giới thiệu:

– Vũ-kỵ đại tướng-quân lĩnh chức Trường-an thứ-sử. Người là một đệ nhất cao thủ Quang-trung. Trước đây từ Lĩnh-nam vương cho đến Phục-ba tướng-quân đều không phải là đối thủ của người. Vì vậy Đào tiểu-hữu phải cẩn thận.

Đào Kỳ nói:

– Tạ thứ-sử muốn đấu văn hay đấu võ, hay đấu binh thư, kế sách?

Tạ Thanh-Minh hỏi:

– Đào vương-gia cũng học cả văn nữa sao?

Đào Kỳ cười:

– Phàm làm tướng, văn võ phải thông. Trên thông thiên văn. Dưới thông địa lý. Xưa kia Y Doãn giúp vua Thành-Thang, Thái-công giúp vua Văn-vương, Hàn Tín giúp Cao-Tổ đều tài kiêm văn võ cả. Ta há thua họ sao?

Người Hán coi Y Doãn, Chu Công, Khương Thái-Công là những vị thần, không ai có thể so sánh. Thế mà Đào Kỳ tự ví như vậy, khiến quần thần ngơ ngác nhìn nhau.

Tạ Thanh-Minh nói:

– Tiểu tướng xin được đấu chưởng với Đào vương-gia.

Bạch-kiếm rất nhiều mưu trí, chàng nói nhỏ với Đào Kỳ:

– Quần thần ở đây được Mã thái-hậu mua chuộc chống Lĩnh-nam vương. Hôm trước tuy Trưng Nhị thắng Trương Linh, Phật-Nguyệt thắng Hoài-nam vương, dường như họ vẫn chưa phục. Hồi ấy Tạ Thanh-Minh đi vắng, chưa có dịp kiến thức võ công Lĩnh-nam. Y nổi tiếng cao thủ vùng Quang-trung. Chưởng lực của y kỳ diệu vô song.

Đào Kỳ cảm ơn Bạch-kiếm, bước ra sân rồng chắp tay đứng. Trong khi Ngũ-phương thần-kiếm đứng quanh Quang-Vũ bảo vệ.

Đào Kỳ nghĩ:

– Nếu mình không đập cho bọn này tan xương nát thịt, e rằng chúng còn lôi thôi với mình nhiều. Ta giết tên này để cho chúng khiếp đảm mới xong. Trước đây Nghiêm đại-ca tổ chức đại-hội Tây-hồ, đem anh hùng Lĩnh-nam sang đấu với võ lâm Trung-nguyên. Sau vì đại ca được phong vương, toàn quyền quyết định, mới bỏ vụ đó. Hôm rồi tuy Trưng Nhị, Phật-Nguyệt tuy có thắng Trương Linh với Hoài-nam vương. Song bọn này chưa phục. Được ta cho bọn mi biết.

Tạ Thanh-Minh hít chân khí, bước chéo sang phải vung chưởng đánh thẳng vào mặt Đào Kỳ. Chưởng của y bao hàm khí Dương-cương cực mạnh. Đào Kỳ thấy chưởng này mạnh hơn Phong-châu song quái, Đức-Hiệp; nhưng kém Lê Đạo-Sinh một chút. Hèn chi, y dám thách chàng đấu là phải. Đào Kỳ không đỡ, bước xéo về bên phải tránh chưởng của y. Tạ Thanh-Minh đảo chưởng, biến thành một chiêu khác chụp từ trên đầu xuống.

Đào Kỳ nhảy lui về sau, vọt người lên không tránh. Tạ Thanh-Minh đánh hụt. Chưởng đập xuống nền điện Vị-ương thành một tiếng bùng khá lớn. Khiến các quan văn trong điện nghẹt thở.

Hoài-nam vương kêu lên:

– Các văn thần lui lại mau, nếu không chưởng lực ép đến nổ lồng ngực mà chết.

Vừa rồi Quang-Vũ cũng bị chưởng lực ép cho làm cho choáng váng. Hoàng-kiếm, Bạch-kiếm đồng xuất chưởng hóa giải áp lực, y mới thở được.

Tạ Thanh-Minh lại vung chưởng từ dưới đánh lên, và từ trên đánh xuống. Đào Kỳ vẫn không trả đòn. Thấp thoáng một cái, Vương vọt ra phía sau y, khoanh tay đứng nhìn. Tạ Thanh-Minh thất kinh nghĩ:

– Tên họ Đào khinh công đến trình độ như thế này, quả thực ta chưa từng thấy bao giờ.

Vừa rồi Đào Kỳ dùng khinh công phái Long-biên, lấy mau làm căn bản. Tạ Thanh-Minh nhìn không ra, Vương đã di chuyển như thế nào. Đợi cho Tạ Thanh-Minh ngừng lại, Vương mới nói:

– Tôi từ Lĩnh-nam lên đây là khách. Còn Vũ-kỵ đại tướng-quân là chủ. Tôi nhường người ba chiêu. Người lớn tuổi hơn tôi, ba chiêu sau tôi chỉ đỡ mà không phản công. Từ chiêu thứ bảy, tôi mới phản công. Thôi người tấn công nữa đi.

Thái độ của Đào Kỳ không coi Tạ Thanh-Minh vào đâu, khiến y nổi giận. Y xử dụng một chưởng pháp cực kỳ quái dị, chưởng vừa đánh ra đã thấy mùi tanh rất khó chịu. Đào Kỳ biết đó là độc chưởng. Người nào bị đánh trúng không còn đất sống. Vương thấy chưởng này có mùi tanh giống chưởng của Trần Lữ đánh vào Tiên-yên nữ-hiệp. Song công lực Tạ Thanh-Minh mạnh hơn nhiều. Vương biết khi hai chưởng đối nhau. Công lực Vương mạnh hơn, thì Tạ Thanh-Minh bị độc chất chạy vào người mà chết. Còn công lực bằng nhau, Vương sẽ bị trúng độc.

Ở bên cạnh Nghiêm Sơn nhiều năm, Vương biết khá nhiều về võ công Trung-nguyên.

Ngày nọ Khất đại-phu kể Xích-Mi xuất thân từ phái Trường-bạch, kết huynh đệ với Lưu Huyền tức Cảnh-Thủy hoàng-đế, Lý Điệt, Chu Huy. Sau Cảnh-Thủy phong Lý Điệt làm Tư-đồ tước Tấn-công. Chu Huy chức Tư-không, tước Ngụy-công. Xích-Mi làm Tư-mã tước Sở-công. Xích-Mi thấy hoàng hậu Cảnh-Thủy đem lòng say đắm, bèn giết hoàng-đế cùng Ngụy-công, Tấn-công. Sau khi Xích-Mi chết rồi, các cao thủ của phái Trường-bạch bị truy lùng rất gấp, nhưng họ tản mác khắp nơi ẩn thân. Có điều nội công phái Trường-bạch cùng nguồn gốc với phái Long-biên, không hiểu sao nội công Tạ Thanh-Minh thiên về Dương-cương?

Vương biết nội công, ngoại công phái Long-biên chỉ khắc chế võ công Trung-nguyên, chứ không khắc chế với võ công Lĩnh-nam. Còn giữa võ công Lĩnh-nam với nhau. Võ công Tản-viên là bậc nhất. Võ công của Tạ Thanh-Minh thuộc phái Trường-bạch, tất có liên hệ với võ công Lĩnh-nam. Vương phải dùng võ công Tản-viên.

Chàng hít một hơi chân khí, dẫn vào đơn-điền, chuyển ra Đốc-mạch, dồn ra Thủ-tam dương kinh phát chiêu Thanh-ngưu ư dã trong Phục-ngưu thần chưởng. Gió lộng ào ào như nước cuốn đổ ra. Chưởng của chàng chạm vào chưởng Tạ Thanh-Minh, bật thành tiếng kêu lớn. Tạ Thanh-Minh bật lui lại đằng sau đến ba bốn bước. Còn chàng, tiến lên ba bước coi như không có sự gì.

Tạ Thanh-Minh dồn chất độc ra chưởng, tấn công Đào Kỳ. Trong thâm tâm, y tưởng với chưởng này, khi y dồn độc chất vào người Vương sẽ khiến Vương đau đớn, khóc lóc cầu xin tha mạng. Y được mở mặt trước hoàng-đế. Không ngờ, khi hai chưởng giao nhau, y cảm thấy như trời long đất lỡ, khí huyết đảo lộn. Y cố nín hơi lùi lại hai ba bước, mới thoát.

Đào Kỳ đỡ một chưởng của Tạ Thanh-Minh thấy mùi tanh hôi, khó chịu, Vương nghĩ :

– Tên Tạ Thanh-Minh này thật khả ố. Rõ ràng y là người của Xích-Mi, ẩn thân ở đây mưu sự gì ta không rõ. Ta với y không thù, không oán, mà y muốn hại ta thì lạ thực. Ta cứ đỡ chưởng của y, không đẩy chất độc về người y vội. Nếu y biết điều, rút lui thì thôi. Còn không ta sẽ xử dụng phương pháp của Khất đại-phu, đẩy chất độc trở lại, cho y tự hại mình.

Ta nên nhớ Đào Kỳ là con trai Đào Thế-Kiệt, một đệ nhất anh hùng Lĩnh-nam, lấy lượng cả bao dung người làm đầu, Vương mới có ý tưởng đó. Chứ nếu là Nam-thành vương Trần Công-Minh, ngay chưởng đầu ông đã đẩy chất độc vào người họ Tạ rồi.

Tạ Thanh-Minh hít một hơi chân khí, đánh một chưởng nữa. Chưởng này quái dị vô cùng, gia số kỳ ảo. Đào Kỳ vẫn bình tĩnh. Vương phát chiêu trong Phục ngưu thần chưởng là Ngưu ngọa ư sơn đỡ. Bùng một tiếng nữa, mùi tanh hôi bay khắp Kim-loan điện. Tạ Thanh-Minh thấy đom đóm mắt nổ liên hồi, y lùi bốn bước liền, run run nghĩ:

– Thằng họ Đào này công lực quả không tầm thường. Y lĩnh của mình hai chưởng độc, giỏi lắm lát nữa sẽ kêu cha, kêu mẹ van xin.

Tạ Thanh-Minh lại vận chưởng thứ ba đánh ra. Lần này chưởng lực nhẹ nhàng, thu gọn lại, nhọn như một mũi dao. Đào Kỳ thấy vậy không dám chần chờ, vận chiêu Kình ngư quá hải trong Cửu-chân chưởng pháp ra đỡ. Vì chiêu này cũng thu nhọn lại như chiêu của Tạ Thanh-Minh. Bộp một tiếng Tạ Thanh-Minh lảo đảo muốn ngã, lui lại đến mười bước. Không ai hiểu nguyên do vì sao.

Chỉ có Đào Kỳ là hiểu: Vừa rồi Tạ Thanh-Minh xử dụng một chiêu thức Trung-nguyên, đánh Vương. Vương dùng võ công Cửu-chân đánh lại, y bị thất bại ngay.

Đào Kỳ để cho y thở, rồi nói:

– Tạ Vũ-kỵ, người chuẩn bị đi. Tôi sẽ phản công lại người ba chiêu. Nếu sau ba chiêu này mà người vô sự, thì coi như tôi thua.

Vương hít một hơi chân khí, vận dương-cương vào Đốc-mạch, chuyển ra Thủ-thiếu dương Tam-tiêu kinh, áp dụng phương pháp Khất đại-phu, tấn công. Tạ Thanh-Minh vận khí đưa chưởng đỡ. Khi hai chưởng chạm nhau, y mới cảm thấy có điều không ổn ở trong. Vì bình thường chưởng rộng lớn. Đây y cảm thấy chưởng Đào Kỳ như một cái mộc đỡ chưởng của y. Ở giữa mộc có một tia nhỏ cực mạnh đâm vào. Bình một tiếng, người y bật lên cao. Đào Kỳ tiến lên đánh tiếp một chưởng, đó là chiêu Ác ngưu nan độ, Vương vận khí Âm-nhu. Từ ngày học chưởng Phục-ngưu âm, rồi vận khí theo kinh mạch. Đây là lần thứ nhì Đào Kỳ áp dụng, kình lực mạnh như trời long đất lỡ.

Hai chưởng gặp nhau, bịch một tiếng. Người Tạ Thanh-Minh bay ngang ra xa mấy trượng rơi xuống điện. Tất cả bá quan văn võ đều lấy làm lạ về chưởng Âm-nhu của Đào Kỳ. Đánh ra không gió lộng, làm cho Tạ Thanh-Minh lạc bại.

Tạ Thanh-Minh cố gắng đứng dậy. Y lảo đảo đứng không vững. Oẹ một tiếng, y hộc ra một búng máu tươi. Y cố gắng vịn vào đồng liêu đứng dậy. Y vẫy tay nói:

– Hán-trung vương, thần xin phục.

Đào Kỳ nhảy vèo đến nhấc bổng y lên để giữa điện quát lớn.

– Người là người thế nào với Xích-Mi, nói mau!

Tạ Thanh-Minh đáp:

– Thần chưa từng gặp Xích-Mi dĩ nhiên không quen biết y.

Tiếng quát của Đào Kỳ làm Hoài-nam vương giật mình. Ông nói:

– Đào vương-gia nói sao? Tạ thứ-sử đây là người danh môn chánh phái, đâu có liên quan gì đến Phan Sùng?

Đào Kỳ cầm tay Tạ Thanh-Minh đưa cho mọi người coi:

– Các vị võ học danh gia ở đây đều biết rằng: Trên thế gian này chỉ có phái Trường-bạch là biết luyện Huyền-âm độc chưởng. Khi xử dụng chưởng mùi tanh hôi bốc ra nồng nặc. Chưởng đầu tiên Tạ thứ-sử đánh tôi, mùi tanh bốc ra các vị đã biết.

Vương ngưng một lúc nói:

– Phàm xử dụng độc chưởng, công lực phải cao hơn người mới dùng được. Hai chưởng giao nhau, độc khí từ tay y tràn qua người đối phương. Chỉ sau nữa giờ, đối phương đau đớn chết đi sống lại, không thuốc nào chữa được.

Tần-vương Lưu Nghi hỏi:

– Thế nghĩa là thế nào?

Đào Kỳ nhắc lại lời của Khất đại-phu:

– Độc chưởng của phái Trường-bạch gồm có năm nọc là nọc rắn, nọc rết, nọc bò-cạp, nọc nhện và nọc tằm. Mỗi thứ nọc nhập vào một tạng-phủ. Không có cách nào trục ra. Độc chưởng của Tạ thứ-sử xử dụng gốc từ phái Trừơng-bạch là nơi xuất thân của Xích-Mi. Các cao thủ phái này đều theo phò Xích-Mi.

Vương hỏi Tạ Thanh-Minh:

– Tạ thứ-sử. Ta với ngươi vốn không thù, không oán, tại sao ngươi lại dùng độc chưởng hại ta? Đúng ra khi ngươi đánh trúng ta, bàn tay ta hóa xanh lờ lờ. Mà ngược lại, bàn tay ngươi hóa xanh là nguyên do làm sao?

Tạ Thanh-Minh đáp:

– Thần cũng không biết nữa.

Đào Kỳ cười:

– Giữa ngươi với ta, công lực cao thấp cách nhau quá xa. Khi ngươi dùng độc chưởng đánh ta, ba chiêu đầu ta chỉ đánh mà không đỡ, để mở mắt cho ngươi rằng, ngươi kém xa ta. Ngươi không tỉnh ngộ, còn tiếp tục đấu với ta. Ta dùng chưởng đỡ ba chưởng của ngươi. Ngươi đã biết thua còn tiếp tục đánh. Ta tấn công ngươi hai chưởng, một dương, một âm. Hai chưởng chạm nhau, ta đẩy chất độc trở lại ngươi, cho nên tay ngươi hóa xanh. Từ xưa đến giờ, ngươi dùng độc chưởng đánh người ta quá nhiều, ngươi chưa biết cái đau đớn đó nó ra làm sao. Bây giờ ngươi tự làm thì ngươi tự lãnh lấy hậu quả, đừng trách ai hết.

Bỗng Tạ Thanh-Minh kêu ối một tiếng rồi run lên bần bật. Y biết chất độc bắt đầu phát tác, y năn nỉ:

– Đào vương-gia, xin người dung thứ cho tôi.

Đào Kỳ nói:

– Ngươi đánh người thì phải biết chữa chứ? Ta có một người thân bị trúng Huyền-âm độc chưởng. Ta cũng không biết cách nào chữa, làm sao chữa cho mi. Bây giờ ta hỏi câu nào, ngươi trả lời cho đúng họa may ta cứu được ngươi.

Tạ Thanh-Minh run bần bật, lăn lộn kêu la thảm thiết. Các văn võ bá quan thấy tình trạng y như vậy, cực kỳ kinh hãi.

Đào Kỳ hỏi:

– Phái Trường-bạch thiên về Âm-nhu, tại sao ngươi lại biết nội công Dương-cương. Ngươi thuộc môn phái nào?

Tạ Thanh-Minh chưa đáp, thì Hoài-nam vương hỏi:

– Tạ Thanh-Minh thì ra là ngươi! Ta biết ngươi là ai rồi. Trước đây mấy tháng trong cung xảy ra mấy vụ án. Hoàng thái-phi tự nhiên bị bệnh, đau đớn bảy ngày, bảy đêm, lăn lộn khốn khổ rồi mới b!ng. Các quan Thái-y không tìm ra nguyên do. Sau đó lại xảy ra việc Trung-lang tướng Lưu Phúc cũng bị bệnh tương tự mà chết. Thì ra tất cả đều do ngươi. Ngươi là người của Xích-Mi, trường phục trong thành Trường-an này với mục đích gì?

Tạ Thanh-Minh vẫn lăn lộn dưới đất, kêu la thảm thiết, y cố gắng trả lời:

– Không phải tôi làm. Đó là thái-hậu truyền mật chỉ cho tôi làm. Thái-hậu truyền mật chỉ cho tôi ở Trường-an canh chừng Tần-vương. Nếu Tần-vương có ý chống thái-hậu, phải ra tay giết liền.

Tạ Thanh-Minh nói câu này có ba người hiểu rõ nguyên do. Một là Đào Kỳ, Vương biết Mã thái-hậu đang gây một thế lực bao vây lấy Quang-Vũ, giết Hàn Tú-Anh. Còn Quang-Vũ hiểu rằng: Mã thái-hậu sai các quan làm nhiều việc riêng tư cho bà. Ai không theo bà sai giết đi. Hoàng thái-phi, Lưu Phúc đều bị thái-hậu giết. Còn Mã Viện biết rõ nhất, sở dĩ thái-hậu mua chuộc nhiều cao thủ, cho quan tước, gây uy thế của ngoại thích như hồi Lã thái-hậu xưa kia.

Hơn bất cứ thời nào, đời nhà Hán bọn ngoại thích hoành hành mạnh vô cùng. Ngoại thích tức bà con, giòng họ của Hoàng-hậu, Thái-hậu, chúng dựa vào thế lực của nội cung, chèn ép ngay cả Vương-thân. Ngoại trừ hoàng-đế, các chú vua, em vua cũng bị chúng chèn ép giết hại.

Nạn này xảy ra từ thời Cao-Tổ, do Lã thái-hậu gây ra đầu tiên làm tiền lệ.

Chợt Mã Viện bảo một viên tướng đứng sau y:

– Trần Lữ, ngươi mang Tạ thứ-sử ra ngoài cho người nhà chạy chữa.

Đào Kỳ nghe tiếng Trần Lữ biết ngay là người đả thương Tiên-yên nữ hiệp. Hôm qua, nghe Khất đại-phu nói, Vương những tưởng Trần Lữ mai phục trong quân Mã Viện với mưu đồ gì đây. Bây giờ thấy việc Tạ Thanh-Minh, Vương mới tỉnh ngộ rằng:

– Thì ra Trần Lữ với Tạ Thanh-Minh cùng là người của Mã thái-hậu. Như vậy Trần Lữ mới thực sự đóng vai trò chính.

Nghĩ vậy, Vương lạng người ra trước chụp Trần Lữ. Trần Lữ bản lĩnh đâu phải tầm thường? Song Đào Kỳ ra tay thần tốc quá, y chưa kịp trở tay, đã bị kiềm chế.

Ngô Lương phóng ra một chưởng đánh vào đầu Vương, để Vương phải buông Trần Lữ ra. Đào Kỳ vung tay trái phóng ra một chiêu trong Thiết-kình phi chưởng của Cửu-chân, đẩy Ngô Lương lùi trở lại.

Ngô Lương là người coi tất cả cấm quân tức vệ sĩ hoàng-cung. Võ công y cao hơn Tạ Thanh-Minh một bậc. Chưởng vừa rồi của y phóng ra không xử dụng hết công lực. Hơn nữa Đào Kỳ lại xử dụng võ công Cửu-chân khắc chế với võ công của y. Nên y phải lùi lại một bước.

Ngô Lương quát lên:

– Vương-gia! Người không được vô lễ. Trước mặt hoàng-thượng dám ám toán đại thần ? Người mau thả Tả-quân hiệu-úy Trần Lữ ra.

Đào Kỳ để Trần Lữ xuống nền điện, đạp chân lên ngực y nói:

– Tên Trần Lữ là người của Xích-Mi. Ta bắt y phải lộ chân tướng ra trước mặt hoàng-thượng cho các người coi.

Vương vận sức xuống chân rồi hỏi:

– Trần Lữ mau đưa thuốc giải Huyền-âm thần chưởng ra cứu Tạ Thanh-Minh. Nếu không, ta sẽ vận kình lực vào chân, ngươi sẽ bị giập nát hết tạng phủ mà chết.

Trần Lữ bị chân Đào Kỳ đè nặng quá, y hoảng hồn nói:

– Tôi không giữ thuốc giải. Thuốc giải chỉ Thái-hậu mới có. Thái-hậu giữ thuốc giải, để những ai bị chúng tôi đánh bị thương, người bắt phải cúi đầu tuân phục, người mới ban cho.

Chương 20: Oai trấn Trung nguyên

Đào Kỳ cười nhạt :

– Điều này dễ lắm. Ta hãy đánh ngươi một chưởng, đẩy chất độc vào người như Tạ Thanh-Minh, xem ngươi có thể nào không tự đem thuốc giải ra không ?

Bỗng hai người từ hai phía nhảy ra tấn công Đào Kỳ. Đào Kỳ nhận ra đó là Kiến-oai đại tướng-quân Cảnh Yểm, Bô-lỗ đại tướng-quân Mã Vũ. Kình lực mạnh gấp bội Tạ Thanh-Minh. Vương không dám coi thường. Tay trái phát chiêu Thanh-ngưu nhập điền Dương-cương, tay phải phát chiêu Ác ngưu nan độ Âm-nhu. Bùng, bịch hai tiếng. Vương cảm thấy ngạt thở, nhảy lui lại ba bước. Trong khi đó Cảnh Yểm, Mã Vũ cũng bật ngược trở lại. Nhanh như chớp Tang Cung chụp lấy Trần Lữ nhảy ra ngoài điện.

Cảnh Yểm, Mã Vũ cùng lên tiếng khen ngợi Đào Kỳ :

–Tuyệt ! Võ công tuyệt cao. Thất lễ ! Thất lễ !

Sau khi Đào Kỳ đối chưởng với Cảnh Yểm, Mã Vũ, Vương biết một mình chàng khó địch lại Tương-dương cửu hùng. Vương tính kế khác, Vương hướng vào Hoài-nam vương :

– Vương gia ! Trần Lữ là người của Xích My ẩn náu trong quân, không biết để làm gì ? Vương gia điều khiển quân mã thiên hạ. Mong Vương-gia dậy cho.

Hoài-nam vương vẫy Trần Lữ:

– Tả quân hiệu-úy, ngươi bước ra đây cho ta hỏi mấy lời.

Trần Lữ từ từ bước ra. Hoài-nam vương hỏi y:

– Hán-trung vương Đào vương-gia nói ngươi là người của Xích My, sự thực như thế nào, ngươi phải khai cho rõ?

Trần Lữ chắp tay nói:

– Tiểu tướng từ khi theo Phục-ba tướng-quân đến giờ lập nhiều công lao mà lên. Tiểu tướng không hề biết Xích Mi và phái Trường-bạch bao giờ cả.

Mã Viện cũng tiếp:

– Thần thấy hình như những người Lĩnh Nam có âm mưu chia rẽ giữa ngoại thích với hoàng-tộc. Hán-trung vương định nói khống cho Trần tả-quân hiệu-úy. Xin Vương-gia xét lại.

Hoài-nam vương là người ghét cay, ghét đắng ngoại thích, nay nghe Mã Viện nói vậy. Ông cho rằng y nói xóc. Ông nghiêm nghị nói:

– Dù bịa đặt, dù vu cáo cũng không thoát khỏi cái lý của nó.

Bạch-kiếm là người nhiều mưu trí, mấy hôm nay ông bị nhóm Mã Viện làm nhục, bực tức không có chỗ phát tiết, nhất là Trần Lữ võ công không phải là tầm thường, chính y đã đấu với một trong Ngũ kiếm ngang tay. Bạch-kiếm đấu với y, thấy công lực, võ công y cao hơn ông, dường như y tránh né không dùng hết lực. Chỉ một lần phải đối chưởng với Tiên-yên nữ-hiệp. Y bị dồn vào thế bí, mới xử dụng hết công lực, khiến cho Tiên-yên nữ-hiệp bị trúng độc.

Bạch-kiếm nhảy vèo đến phóng chưởng đánh y. Thế chưởng cực kỳ quái dị nhắm đỉnh đầu chụp xuống. Trần Lữ vội vàng đưa tay lên đỡ. Bốp một tiếng, cả hai đều lùi lại. Một mùi tanh hôi từ tay Trần Lữ bốc ra khiến mọi người buồn nôn.

Hoài-nam vương hô:

– Võ sĩ đâu, bắt y lại.

Trần Lữ hoảng kinh nhắm Hoài-nam vương đánh một chưởng. Chưởng phong nhu hòa ẩn mùi tanh hôi nồng nặc. Hoài-nam vương cung tay gạt. Trần Lữ bỏ ông tấn công Quang-Vũ. Hoàng-kiếm, Bạch-kiếm đứng cạnh cùng xuất chưởng tấn công Trần Lữ cứu Quang-Vũ. Trần Lữ lạng người đi một cái đến phía sau hai người, tay trái chụp cổ Quang-Vũ giơ lên. Tay phải để lên đầu y nói :

– Ngươi mau bảo tất cả dừng tay, nếu không ta nhả độc chưởng, ngươi chết tức thời.

Quang-Vũ quát lên :

– Các ngươi không được vọng động.

Tần-vương Lưu Nghi hỏi :

– Trần Lữ, ngươi muốn gì nói ra đi.

Trần Lữ nói :

– Đúng như tên lỏi con Đào Kỳ nói. Ta là sư đệ của Xích Mi. Ta không giúp Xích Mi làm phản. Thế mà khi Xích Mi bị hại, quan quân nhà Hán truy lùng bắt giết ta. Trải qua trăm cay, nghìn đắng mới thoát chết. Trong khi trốn chạy ta nghe một tin...

Trần Lữ ngưng một lúc nhìn Mã Viện nói :

– Chính bọn ngoại thích các ngươi lộ cho ta biết. Trước kia thiên hạ chia làm bảy nước. Các nước của cải súc tích vô hạn. Sau bảy nước bị Tần Thủy-Hoàng gồm thâu. Của cải thuộc về Tần. Thời Tần, Thủy-Hoàng vơ vét hết của cải dân chúng các nước xung quanh mang về Hàm-dương. Khi tổ tiên nhà Hán chiếm Hàm-dương, của cải đó lại về nhà Hán. Suốt đời nhà Hán các vua đã thụ lĩnh của cải biết bao đời, bao nước, lại còn nhận đồ tiến cống của các nước xung quanh, kho đụn chồng chất. Khi Vương Mãng cướp ngôi, kho tàng đó lại về Vương Mãng. Cảnh-Thủy hoàng-đế khởi binh đánh Vương Mãng. Người sai Xích-Mi cầm quân giết Vương Mãng, đoạt lại tất cả kho tàng đó. Xích Mi cất giấu một nơi. Rồi Xích-Mi bị bại. Tấm bản đồ kho tàng nằm trong tay vợ con y. Vợ con y bị xử tử, tấm bản đồ đó hiện ở đâu chúng ta không biết. Vì vậy chúng ta chia nhau làm quan với Hán để tìm tung tích kho tàng.

Hoài-nam vương hỏi:

– Thế Tạ Thanh-Minh với mi là thế nào?

– Tạ Thanh-Minh là em kết nghĩa của Xích-Mi. Y học võ công phái khác, khi gần Xích-Mi, y học được phép luyện độc chưởng. Nghĩa là nội công của y thuộc dương-cương, độc chưởng lại của phái Trường-bạch chúng ta.

Tần-vương nói:

– Ngươi phải buông Thiên-tử ngay. Nếu không chúng ta băm vằm ngươi ra từng mảnh.

– Tần-vương uổng có tiếng là trí dũng hơn đời, mà sao lại ngu quá vậy? Nếu các ngươi băm vằm ta được, thì đã băm vằm rồi. Bây giờ điều kiện thế này: Ta tha Quang-Vũ ra. Song trước hết y phải ban chỉ tha Tạ Thanh-Minh cùng với ta. Quang-Vũ phải theo ta ra ngoài thành. Y không được mang quân sĩ theo. Ngoài thành có sẵn hai con ngựa cùng lương thực cho chúng ta tẩu thoát. Vậy có ai phản đối giải pháp này không?

Bỗng một tiếng ầm trên nóc điện. Ngói gạch, cát bụi bay mịt mờ, có hai bóng người nhảy xuống. Tiếng phụ nữ thanh thoát:

– Ta phản đối giải pháp của ngươi.

Người còn trên không đã xỉa kiếm tấn công Hoài-nam vương. Chiêu kiếm nhắm giữa cổ Vương đâm tới. Ông hoảng hốt lộn người đi ba vòng mới tránh khỏi. Người đó lại tấn công Tần-vương, chiêu kiếm đâm vào ngực ông. Ông tránh không kịp lăn tròn dưới đất đến 10 trượng. Người đó lại dùng năm chiêu nữa đẩy lui Ngũ-phương thần kiếm, rồi tấn công Trần Lữ.

Đào Kỳ nghe tiếng nói biết vợ mình. Khi Phương-Dung tấn công Tần-vương, Hoài-nam vương thì Tương-dương thất hùng, Phùng Dị, Mã Viện đồng tấn công nàng. Đào Kỳ vận âm kình phát liền chín chưởng trong Phục-ngưu thần chưởng đánh lui cả bọn. Chín người xúm vào bao vây Đào Kỳ. Khất đại-phu từ trên nóc điện nhảy xuống, ông phóng chưởng tấn công Phùng Dị, Mã Viện.

Chỉ hai chiêu kiếm, Phương-Dung đã đâm Trần Lữ bị thương ở tay, y buông Quang-Vũ xuống. Phương-Dung chụp lấy Quang-Vũ. Nàng xỉa một nhát kiếm trúng chân Trần Lữ. Y ngã lăn giữa điện Vị-ương.

Trong điện Vị-ương Ngũ-phương thần-kiếm, mỗi người đấu với một Tương-dương thất hùng. Còn Đào Kỳ đấu với Cảnh Yểm, Mã Vũ.

Ngũ-phương thần-kiếm đấu với bọn Tương-dương, một chọi một ngang tay nhau. Vì cả hai bên đều là những cao thủ tuyệt hảo của Trung-nguyên.

Còn Khất đại-phu đấu với Phùng, Mã ngang tay nhau. Ông tuy là đệ nhất cao nhân Lĩnh-nam. Nhưng võ công con người dù ở đâu cũng vậy, chỉ có thể đạt tới tuyệt đỉnh là hết. Tuy giữa những cái tuyệt đỉnh đó, khó có sự sai biệt nhau.

Đào Kỳ đấu với Mã Vũ, Cảnh Yểm cứ mỗi lần Vương dùng Phục-ngưu thần chưởng của Tản-viên, thì chân tay rung động, khí huyết nhộn nhạo. Vương biết rằng công lực chúng không kém gì mình, một đấu với hai e khó thắng. Khi Vương xử dụng Phục-ngưu thần chưởng âm nhu của Vạn-tín hầu Lý Thân, thì y như chiếm được thượng phong đôi chút.

Vương tự nghĩ:

– Vậy ta thử dùng võ công Cửu-chân xem sao.

Vương lui lại phát chiêu Loa-thành nguyệt ảnh đánh xuống đầu Mã Vũ, Mã Vũ vung chưởng đỡ. Binh một tiếng, người y bật lui trở lại, y phải lui lại bốn năm bước mới đứng vững. Đào Kỳ tỉnh ngộ:

– Thì ra võ công Cửu-chân khắc chế võ công bọn Tương-dương.

Vương phát chiêu Hải triều lãng đãng là chiêu thức uy mãnh nhất của Cửu-chân. Lớp đầu phát ra, chưởng phong ào ào. Bình một tiếng, Cảnh Yểm bay bổng lên cao, đập lưng vào cột điện. Đào Kỳ phát lớp thứ nhì đánh vào Mã Vũ. Mã Vũ vừa đứng dậy được, công lực chưa phục hồi, bị trúng một chưởng như vũ bão, y bay bổng ra sân điện, nằm đứ đừ. Đào Kỳ phát lớp thứ ba, lớp này mạnh đến long trời lở đất, trúng vào Cảnh Yểm, y bị bay ra sân nằm bên cạnh Mã Vũ.

Khổ một cái là Hải triều lãng đãng có những năm lớp, đã phát đến lớp thứ ba thì không ngừng được lớp thứ tư và năm. Thấy Ngô Lương đang tấn công Phương-Dung, Vương hướng lớp thứ tư vào người y. Y chỉ kêu được một tiếng ối, người bay bổng lên bắn vọt ra ngoài sân, rơi xuống bụi hoa.

Lớp thứ năm của Đào Kỳ phát ra. Vương hướng vào năm cao thủ Tương-dương đang đấu với Ngũ-phương thần kiếm. Ngũ-phương thần kiếm biết lợi hại của chưởng này, cả năm bỏ bọn Tương-dương vọt lên cao tránh. Năm tướng danh tiếng Kinh-châu thấy chưởng Đào Kỳ, đồng quay lại phóng năm chưởng đỡ. Binh, binh... liền năm tiếng. Đào Kỳ vẫn đứng nguyên. Còn năm tướng bật lùi mấy bước, ọe một tiếng, phun ra búng máu tươi. Năm người lảo đảo ngồi xuống vận công.

Khất đại-phu đấu với Phùng Dị, Mã Viện ngang tay. Ông thấy Đào Kỳ hiển linh uy vũ, liền áp dụng phương pháp chuyển Âm thành Dương, chuyển Dương thành Âm mà ông sáng chế ra, đánh Lê Đạo-Sinh ở Tây-hồ. Ông vung hai chưởng đánh hai người, sáu chưởng gặp nhau, ông ung dung đứng yên lặng chuyển sức của Mã Viện, Phùng Dị đánh lẫn nhau. Người ngoài nhìn vào tưởng ông đấu nội công với hai người. Có ngờ đâu ông dùng nội lực của người nọ đánh người kia. Được một lát Mã Viện công lực yếu hơn. Mồ hôi y nhỏ giọt khói bốc lên đầu.

Đào Kỳ thấy vậy nghĩ:

– Một năm trước đây, ta với Khất đại-phu đều không phải là đối thủ của bọn Tương-dương cửu hùng. Không biết Quang-Vũ làm cách nào mà chiêu dụ được chín tên theo y. Cũng may ta giết được Sầm Bành và Tế Tuân, chúng chỉ còn bảy người với Phùng Dị là đáng lo.

Về phần Khất đại phu, đấu với Mã Viện, Phùng Dị, ông dúng quy pháp Âm-Dương, hút chân khí của hai người. Một lát sau, Mã Viện lảo đảo mấy cái, rồi ngã ngồi xuống điện. Khất đại-phu là một đại danh y. Đánh người đấy, lại thương người. Ông chĩa tay phóng đến vèo một cái trúng giữa huyệt Bách-hội của Mã Viện. Y từ từ đứng dậy, mặt xám như tro.

Đào Kỳ hỏi Phương-Dung về việc cứu Nghiêm Sơn:

– Kết quả ra sao?

Phương-Dung gật đầu:

– Tốt đẹp cả.

Phương-Dung đặt Quang-Vũ ngồi lên ngai. Nàng hỏi ngũ-phương thần kiếm:

– Thần-kiếm! Việc đi đến đâu rồi.

Hoàng-kiếm đáp:

– Chưa đi đến đâu hết.

Tần-vương Lưu Nghi hỏi Phương-Dung:

– Cô nương là ai? Mà lại đến đây cứu giá?

Triều thần đều biết mặt Khất đại-phu, hôm ông chữa bệnh cho Quang-Vũ. Họ không ngờ võ công ông cao đến trình độ đó. Họ đã thấy kiếm pháp của Phật-Nguyệt. Họ tưởng rằng Lĩnh Nam chỉ có một người kiếm thuật thần thông. Bây giờ họ thấy thêm Phương-Dung nữa.

Khất đại-phu chỉ Phương-Dung nói:

– Đây là Đào phu nhân nhũ danh Phương-Dung, chính là quân-sư của Lĩnh-nam vương Nghiêm Sơn.

Quần thần cùng kêu lên:

– Ồ!

– Úi chà!

– Ối trời!

Vì họ đã được nghe Quân-sư của Nghiêm Sơn là một thiếu phụ trẻ trên 20 tuổi, nhan sắc diễm lệ kiếm thuật thần thông. Nay họ được thấy tận mắt.

Quang-Vũ được Phương-Dung cứu thoát. Bây giờ y mới nhìn rõ mặt nàng, dung mạo nàng đẹp hơn Tường-Quy nhiều. Nàng mặc bộ quần áo trắng, dây lưng xanh, trông phiêu phiêu, hốt hốt như một tiên nữ.

Quang-Vũ cảm động nói:

– Trần tiên-sinh, hôm trước tiên-sinh chữa bệnh cho trẫm, đến nay trẫm thấy khỏe mạnh như thường. Ngày hôm sau trẫm cho người ra công quán thỉnh tiên-sinh thì tiên sinh đã hạc nội mây ngàn, ngao du mất. Hôm nay trẫm gặp nạn, lại được tiên-sinh, Đào phu nhân cứu thoát. Trẫm hết lòng đa tạ tiên-sinh, với Đào phu-nhân.

Hoài-nam vương là kiếm thuật danh gia, thấy kiếm pháp của Phương-Dung sinh lòng khâm phục. Vương nói:

– Đào vương-phi mưu trí không thua Khương Thái-Công. Tài dùng binh không thua Tôn Tử. Kiếm thuật thần thông. Hôm nay vương-phi giá lâm Trường-an cứu Thiên-tử. Công ấy không nhỏ.

Khất đại-phu nói:

– Tôi là kẻ dân dã, không hiểu việc triều đình. Có điều tôi muốn thỉnh hoàng-thượng. Đào Kỳ, Phương-Dung với chúng tôi đều có đại công với hoàng-thượng. Tôi xin hoàng-thượng chuẩn cho ba điều: Một là ân xá cho Lĩnh-nam vương. Hai là cho chúng tôi phục hồi cố quốc Lĩnh Nam. Ba là Trung-nguyên với Lĩnh Nam đời đời giữ hòa khí.

Quang-Vũ gật đầu:

– Trẫm thuận ba điều đó. Nếu sau này trẫm sai lời, không bằng loài cầm thú.

Phương-Dung vỗ tay một tiếng:

– Các vị xuống đây cả đi thôi.

Đô Dương, Chu Bá, Nghiêm Sơn từ nóc điện nhảy xuống. Đô Dương đến trước Quang-Vũ dập đầu xuống:

– Thần là Đô Dương tước Tân-bình hầu. Thần vốn là người Lĩnh Nam, nay hoàng-thượng cho phục hồi Lĩnh Nam. Thần đến đây từ biệt hoàng-thượng.

Quang-Vũ thở dài:

– Tân-bình hầu, ngươi đem 5 vạn quân và thành trì của ta dâng cho Thục. Ngươi đá ta một cái đau đớn quá.

Đô Dương đứng lên nói:

– Thần làm như vậy chẳng qua cũng vì cố quốc.

Quang-Vũ hỏi:

– Ngươi được phong tước hầu, chức tới Thái thú. Tưởng dễ gì thiên hạ mấy người theo kịp. Thế mà ngươi phản ta trở về với Lĩnh Nam một nước nhỏ thấp nhiệt, nghèo khổ, vinh dự gì?

Đô Dương là người đọc sách nhiều, chàng nói:

– Xưa đức Cao-Tổ được thiên hạ, cũng trở về đất Bái làm bài ca Đại-phong. Thần có làm vua Trung-nguyên cũng không sướng bằng làm tên nhà quê Lĩnh Nam. Vả lại người xưa nói, con giết cha, tôi phản chúa, không phải một ngày mà xảy ra. Thần phản hoàng-thượng, một vì cố quốc, hai là vì Thái-hậu dồn thần đến chỗ không đừng được. Đây xin hoàng-thượng đọc mật chỉ của Thái-hậu thì rõ.

Đô Dương trình tờ mật chỉ Thái-hậu lấy ở trong người Mao Bạch đưa cho Quang-Vũ. Quang-Vũ liếc qua, mặt tái nhợt, bỏ tờ chỉ dụ vào túi, không nói gì.

Quang-Vũ nói với Chu Bá:

– Chu hiệu-úy, ngươi cùng nhạc phụ Lê Đạo-Sinh sang Trung-nguyên giúp trẫm. Trẫm hứa phong Lê Đạo-Sinh làm Thứ-sử Giao-chỉ. Các sư huynh, sư đệ ngươi đều được phong làm Tướng-quân, Đô-úy. Con gái ngươi được trẫm sủng ái, sao ngươi lại phản trẫm?

– Hoàn cảnh của Đô đại-ca với thần cũng giống nhau. Những điều Đô đại ca tâu lên hoàng-thượng, cũng là câu trả lời của thần.

Chu Bá thêm:

– Thái-hậu sai thần giết nhiều đại-thần, rồi lại bàn với Chưởng-quản cấm quân Ngô Lương rằng sau khi hoàn tất, sẽ giết thần.

Đợi cho Quang-Vũ hỏi mấy người xong. Nghiêm Sơn tiến lại bên cạnh Quang-Vũ, Vương cầm tay y nói:

– Nghĩa huynh! Giữa chúng ta không còn gì là Kiến-Vũ thiên-tử và Lĩnh-nam vương nữa. Đệ muốn cùng đại-ca và các vị đại thần ôn lại những kỷ niệm thân ái cũ, trước khi chúng ta ân đoạn, nghĩa tuyệt.

Các vương-thân, đại thần có mặt đều kính nể Nghiêm Sơn đã lâu. Khi họ thấy Quang-Vũ bắt Nghiêm Sơn, lòng họ đầy phẫn nộ, mà không dám nói ra. Bây giờ thấy Nghiêm Sơn xuất hiện, sau câu hứa tha Nghiêm, họ cảm thấy vui vẻ trong lòng.

Tần-vương Lưu Nghi nói:

– Lĩnh-nam vương, hoàng-thượng ban chỉ ân xá cho Vương-gia, kể từ nay chúa tôi quân thần cộng lạc, sớm tối có nhau, tại sao Vương-gia lại nói câu đó.

Vương nhìn các quan một lượt rồi nói:

– Tôi nghĩ giữa tôi với đại-ca không ai có thể xen vào. Thế mà khi tôi về đây, Tư-đồ, Tư-không, cho đến tên Việt-kỵ thường-thị đều chất vấn tôi. Tôi biết đó là ý của đại-ca. Họ chất vấn tôi muốn làm vua Lĩnh Nam, thì tôi đã làm Lĩnh-nam vương rồi, còn gì nữa? Họ chất vấn tôi tâu gian, người Lĩnh Nam có tài. Tôi cho Phật-Nguyệt đấu với Hoài-nam vương. Trưng Nhị đấu với Trương Linh. Họ thắng cả. Thế nhưng đại-ca vẫn bắt giam tôi. Đại-ca có biết đâu trong lúc đại-ca và các quan Tư-đồ, Tư-không kết tội bắt giam tôi, họ ở trên nóc điện nghe hết. Vì vậy họ bỏ đi, đón đường giết sứ giả của đại-ca sai ra báo tin cho Ngô Hán, Mã Viện. Họ giả lệnh tôi, trở cờ phản đại-ca. Chỉ ít lâu sau họ lấy được đất Thục, Hán-trung, Kinh-châu. Mới hơn tháng họ tiến lên Nam-dương, đánh về Lạc-dương. Đạo Lĩnh-nam trở về Lĩnh Nam phục quốc. Họ còn tiến ra Trường-an với ba đạo. Một từ Thiên-thủy về Kỳ-sơn, một từ Tà-cốc đến Phù-phong, một đạo kỳ binh tiến thẳng tới đây bằng ngả hang Tý Ngọ.

Vương chỉ Đào Kỳ:

– Đây là sư đệ của vợ tôi. Võ công y thế nào đại-ca đã thấy rõ. Đây là Phương-Dung, vợ của Đào Kỳ, kiếm pháp mưu trí thế nào bệ-hạ cũng rõ. Hôm qua họ đột nhập Trường-an, một toán cứu tôi khỏi nhà ngục. Một toán lên lầu Trường-lạc yết kiến đại-ca, nói về nhũ-mẫu của tôi. Thế rồi những trận đấu kinh khủng ở đây đại-ca đã thấy. Tôi ở trên nóc điện Vị-ương cũng biết hết. Tôi dự định tự tử để khỏi bị cấu xé giữa lời thề cùng đại-ca và cố quốc. May đại-ca hứa tha cho tôi. Khất đại-phu đánh vỡ nóc điện, chúng tôi xuống đây tương kiến với đại-ca.

Nghiêm Sơn quay lại nắm tay Quang-Vũ, nói với các quan:

– Cơ nghiệp nhà Hán đến thời Vương Mãng là chấm dứt. Khi được nhũ-mẫu ủy thác cứu con trai người. Thực tâm tôi không nghĩ đến nhà Hán chính thống hay Vương Mãng chính thống. Hán là giặc hay Vương Mãng là giặc. Tôi là con người hiệp nghĩa, nối chí cha làm việc hiệp nghĩa. Vì vậy tôi rủ sư đệ Đô Dương cùng Hợp-phố lục hiệp đi cứu người. Bấy giờ tôi mới 17 tuổi. Cứu người rồi thuận thế giúp người. Vì vậy cơ nghiệp nhà Hán trung hưng lên được.

Nghiêm Sơn cười khô héo:

– Thần dân thiên hạ ai cũng nói rằng cơ nghiệp Quang-Vũ do bàn tay tôi tạo lên. Không có Trần Tự-Sơn thì không có nhà Đông-Hán. Các đại tướng bậc nhất nhà Đông-Hán đều do một tay tôi tạo ra. Người chết vì Đông-Hán cũng nhiều, kẻ sống hiện còn Đặng Vũ, Ngô Hán, Phùng Dị, Cảnh Yểm, Mã Vũ, Mã Viện... Nếu không có việc đại-ca Lưu Tú vong ân bội nghĩa bắt giam tôi, giờ phút này họ vẫn còn hăng hái lăn mình vào chỗ chết. Bây giờ họ có mặt ở đây để thấy đại ca đền đáp cho tôi bằng lời hứa tha tội với Khất đại-phu. Vì Phương-Dung đã cứu đại-ca.

Vương thở hắt ra:

– Tha tội? Tội gì? Này các vị đại thần, các vị có đồng ý với tôi rằng, nếu không có tôi, thì không có cảnh mũ cao, áo rộng của quý vị không? Đại-ca nhớ, các vị nhớ từ nay tôi là Trần Tự-Sơn chứ không phải Nghiêm Sơn nữa đâu nhé.

Các đại thần đều gật đầu.

Vương nhìn vào mặt Quang-Vũ:

– Đại-ca là một ông vua phụ ơn công thần. Một người bạn đểu cáng nhất mà tôi gặp. Người con bất hiếu nhất lịch sử cổ kim.Phùng Dị bước ra quát lên:

– Lĩnh-nam vương! Xin người giữ lời, đạo lý cổ kim xưa nay, vua bảo tôi chết, tôi phải chết. Vương-gia đã được Thiên-tử xá tội, còn đứng đây xỉ mạ người. Tội đó đáng tru di tam tộc.

Y nói rồi vung chưởng tấn công Nghiêm Sơn. Chưởng của y như vũ bão không thể tưởng tượng được.

Phùng Dị muốn ganh với Ngô Hán, Đặng Vũ, Mã Viện nhưng y chưa có dịp. Nay nhân Tự-Sơn đứng kể tội Quang-Vũ. Y nghĩ mình nên bất thình lình xuất chưởng đánh Nghiêm. Nghiêm chết, Quang-Vũ hài lòng vô cùng, Nghiêm không chết, Quang-Vũ cũng cho mình là người trung liệt. Y thấy xung quanh còn Khất đại-phu, Đào Kỳ, Phương-Dung và Ngũ-phương thần-kiếm, nếu một chưởng không giết nổi Trần, thì khó thành công, vì vậy y vận toàn lực.

Chưởng của Phùng Dị phát ra như sấm nổ. Y lại đứng cạnh Trần Tự-Sơn. Vương không bao giờ tưởng tượng rằng y dám phát chưởng đánh mình. Khi Vương phát hiện, chưởng đã tới người Vương rồi. Vương chỉ còn biết đưa hai chưởng lên vòng một vòng, hóa giải kình phong đối phương, rồi nhảy lùi lại tránh.

Vương lui lại, lưng chạm phải hai bàn tay. Một luồng nội lực hùng hậu như núi lở, như thác đổ dồn vào lưng vương, khiến người vương muốn nổ tung ra. Hai chưởng của vương phát ra thành một con trốt chạm vào chưởng Phùng Dị. Rầm một tiếng mặt y tái nhợt, bật lui đến ba bước. Y lảo đảo muốn ngã.

Tự-Sơn quay lại nhìn xem ai đã cứu mình, thì ra Khất đại-phu. Vương lễ phép nói:

– Đa tạ Trần tiên-sinh đã cứu mạng.

Đào Kỳ giận quá tiến tới chỉ mặt Phùng Dị:

– Tên lưu manh kia. Chúng ta đã tha chết cho mi một lần, rồi mi lại nhân đêm tối giết Trương Minh-Đức, ta chưa hỏi tội mi. Bây giờ mi lại ra tay đánh trộm ư? Nếu không có Trần đại-ca, giờ này ngươi có được đứng đây không? Hãy tiếp chưởng này của ta.

Vương phóng chưởng liền. Bản lĩnh Phùng Dị ngang với Sầm Bành. Phùng Dị đã thấy Đào Kỳ giết Sầm Bành rất thảm khốc. Y thấy chưởng của Vương đánh tới không dám coi thường, vận đủ mười thành công lực đỡ, rồi mượn đà nhảy lui về sau mấy bước hóa giải.

Vừa rồi Đào Kỳ phát chiêu Ác ngưu nan độ trong Phục ngưu thần chưởng rất dũng mãnh. Phùng Dị đỡ được. Vương nghĩ:

– Ta phải đánh tên này tan xương nát thịt, mới mong thoát khỏi nơi đây. Chắc bên ngoài cấm quân đã bao vây.

Vương nghiến răng phát liền hai chiêu. Chiêu đầu là Kình ngư quá hải, chiêu sau là Lưỡng ngưu tranh phong. Vương muốn dùng chiêu đầu khắc chế võ công của Phùng, làm y tê liệt, rồi chiêu sau rất dũng mãnh giết y.

Phùng Dị thấy thế chưởng hung ác. Y vận hết sức đỡ. Bình một tiếng, người y bật vào tường, lảo đảo, hộc máu ra. Thì chưởng thứ nhì đã tới, cả triều thần đều nhắm mắt lại, có người kêu thét lên.

Cảnh Yểm đứng cạnh thấy Phùng Dị nguy cấp. Y phóng chưởng đánh vào sau lưng Đào Kỳ. Chỉ thấy bóng trắng thấp thoáng, đầu Cảnh Yểm bay khỏi cổ, thân hình y chưa đổ xuống, máu phun lên trời có vòi. Diễn tiến nhanh quá không ai ngờ được.

Thì ra Phương-Dung đã xử dụng kiếm pháp cứu phu quân.

Bây giờ chưởng phong của Đào Kỳ mới giáng xuống, rầm một tiếng, bức tường thủng một lỗ lớn. Còn Phùng Dị bị dập nát người, vỡ làm năm sáu mảnh, ruột gan, máu me xương thịt văng tứ tán.

Quang-Vũ cùng triều thần chết lặng người vì kinh khủng. Họ nhìn lại mới biết Phương-Dung rút kiếm giết Cảnh Yểm.

Phương-Dung quát lên lanh lảnh:

– Nếu ai còn phê phán võ công Lĩnh Nam thì bước ra?

Quang-Vũ run run nói:

– Đào vương-phi, trẫm đã phong Đào Kỳ làm Hán-trung vương. Vương-phi có công lớn cứu giá hồi nãy, trẫm phong vương-phi làm Nghi-Hòa công-chúa.

Chu Bá cười ha hả:

– Này Lưu Tú, ngươi có nằm mê không? Đào phu-nhân kiếm thuật thần thông, mưu trí trùm vũ trụ, nhan sắc khuynh thành. Ngươi tưởng phu nhân ham cái tước công-chúa của ngươi lắm hay sao? Mẹ ngươi là kỹ nữ mà còn không ham cái ngôi thái-hậu của ngươi, mà ngươi định đem cái bả công-chúa ra dụ dẫm ư? Ngươi bảo ngươi phong Đào Kỳ làm Hán-trung vương? Sao ngươi ngu lắm vậy? Đất Hán-trung hiện ở trong tay Thục. Ngươi định phong như vậy để Đào Kỳ lăn vào đánh Thục cho ngươi chăng? Nếu chúng ta muốn làm vua, đã giết ngươi tại đây chiếm lấy cơ nghiệp rồi. Vậy thì mi hãy đợi ta trở về Lĩnh Nam, bầu lấy người thủ lĩnh, chúng ta sẽ phong cho ngươi làm Trung-nguyên vương.

Chu Bá thấy Quang-Vũ còn ngẩn ngơ chưa hiểu. Ông nhổ một bãi nước miếng vào mặt y. Võ công ông cao cường, kình lực bãi nước miếng khá mạnh trúng vào trán y đánh bẹt một tiếng. Y ngồi nguyên không giám đưa tay lên chùi trán.

Chu Bá tiếp:

– Hồi nãy ngươi phong Đào hiền-đệ làm Hán-trung vương. Vậy ngươi có thấy Đào hiền-đệ lạy tạ không? Hay y làm thinh như nghe một bãi rắm chó?

Trần Tự-Sơn thấy sỉ nhục Quang-Vũ như vậy đã đủ. Vương nói:

– Đại-ca Lưu Tú. Đại-ca có mẹ mà không nhận. Còn tôi! Tôi phải bảo vệ nhũ-mẫu để không bị con ác phụ họ Mã hại. Khi tôi bị giam, quần hùng Lĩnh Nam ước hẹn với Thục, giúp Thục lấy Kinh-châu, Đông-xuyên, Quang-trung. Còn họ, họ giữ Lĩnh Nam, như vậy là thiên-hạ chia ba. Đại-ca đánh Thục, họ từ Lĩnh Nam đánh lên. Đại-ca đánh Lĩnh Nam, Thục sẽ kéo quân từ Kinh-châu đánh lên Lạc-dương, một đạo đánh từ Trường-an về. Đại-ca hứa tha cho tôi, thực sự tôi đã ngồi trên nóc điện. Đại ca hứa cho Lĩnh Nam phục hồi, sự thực Lĩnh Nam đã phục hồi. Đại-ca hứa để Lĩnh Nam yên, sự thực Lĩnh Nam đâu có sợ đại-ca? Bây giờ ngoài thành Trường-an, ba đạo quân Thục vây đại-ca. Anh hùng Lĩnh Nam giúp Thục, tôi đã ân đoạn nghĩa tuyệt với đại-ca. Từ nay không còn giữ lời thề trong vườn bắp nữa. Tôi không phải giúp đại-ca nữa. Mà tôi có giúp đại-ca cũng không làm được gì. Anh hùng Lĩnh Nam đối với tôi là tình bằng hữu, chứ họ không phải là thuộc hạ của tôi. Đã là bằng hữu, vì tình cảm tôi nói với họ điều chi, họ nghe thì nghe, họ không nghe thì thôi. Tôi chỉ là bằng hữu, họ thương tôi, quý tôi thực. Đứng trước việc phục hồi cố quốc. Họ có thể hy sinh thân họ, gia đình, họ cũng làm, chứ đừng nói hy sinh thân tôi. Nếu tôi giúp đại-ca chống lại họ, chẳng hóa ra chống nhiều bằng hữu tốt đi giúp một bằng hữu tồi tệ nhất thế gian ư? Họ sẽ coi tôi như một tên phản quốc, phản bạn. Họ sẽ giết tôi ngay.

Quang-Vũ thở dài:

– Trần hiền-đệ phải hiểu cho ta. Tổ tiên ta vì tin tưởng ở Vương Mãng mà mất nghiệp. Cảnh-Thủy hoàng-đế vì tin tưởng Xích-Mi mà chết. Này Ngũ-phương thần-kiếm! Các vị có đại công với tiên-đế, vậy các người thử nghĩ xem, nếu các người ở vào địa vị trẫm, các người sẽ làm gì, để bảo vệ công nghiệp của tổ tiên?

Bạch-kiếm đáp:

– Điều đó có gì khó đâu? Hoàng-thượng ban cho Lĩnh-nam vương một thanh Thượng-phương bảo kiếm, một con ngựa để Vương tiêu dao tự tại. Rồi hoàng-thượng cho tạc tượng Vương tại Công-thần các, để đời đời ghi công.

Quang-Vũ lắc đầu:

– Sự việc đâu có giản dị như vậy. Sau khi đánh Thục xong. Ta sẽ phải phong quan chức cho hàng trăm anh hùng Lĩnh Nam. Công của họ đâu có tầm thường? Ta đã phong cho Đào Kỳ tước Hán-trung vương rồi. Còn Triệu Anh-Vũ, Lương Hồng-Châu, Đinh Công-Thắng, Lại Thế-Cường, Cao Cảnh Minh đều phải phong hầu, chức tới Thái-thú hoặc Thứ-sử. Còn những phụ nữ, ít ra phải phong tới Công-chúa, ăn lộc một quận, một huyện. Ta phong chức tước cho họ, đương nhiên họ sẽ xin về trấn thủ Lĩnh Nam. Làm sao ta có thể từ chối? Họ là những người có tài, có trí, có đức, họ trở về Lĩnh Nam, mỗi người làm Thái-thú một quận, rồi những chức Đô-úy, Đô-sát, Đốc-bưu, họ sẽ đề cử người Lĩnh Nam. Trên thì Lĩnh-nam vương bổ nhiệm hết các vị tướng quân cầm quyền...Thế là Lĩnh Nam trở thành một giang sơn riêng biệt ở phía Nam, hướng lên Bắc xưng hùng với Trung-nguyên.

Quang-Vũ thở dài:

– Ngày trước Triệu Đà từng xưng Nam-Việt vương, mang quân đánh Trường-sa. Tổ tiên trẫm chịu không biết bao nhiêu cay đắng mới chống nổi. Bấy giờ Triệu Đà không được lòng dân, nhân tài ít mà còn thế. Huống hồ bây giờ đất Lĩnh Nam người tài như rừng như biển. Lĩnh-nam vương lại được lòng dân. Trung-nguyên sẽ gặp hung hiểm không lường.

Đào Kỳ đổ quạu:

– Hiện trong thiên hạ có hàng trăm, hàng ngàn nước. Ở đâu có anh hùng của họ, đứng ra cai trị dân họ. Đâu phải tất cả dân chúng trong gầm trời đều phải thống thuộc nhà Hán? Và ngay dân Trung-nguyên đâu phải dành riêng cho họ Lưu?

Tư-không Tống Hoàng bước ra nói:

– Hán-trung vương nói vậy là sai. Các thư tịch cổ, từ các kinh Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân-thu đều nói rằng trời sinh ra vua. Vua là thiên-tử cai trị thiên-hạ.

Phương-Dung cười khúc khích:

– Tống tư-không sao hủ lậu lắm vậy? Những sách vở đó do người Trung-nguyên trước tác, bao giờ cũng muốn người Trung-nguyên ngồi trên đầu thiên hạ.

Đến đó, Phương-Dung nghĩ: Đã vậy, mình cũng bịa đặt những điều hoang đường để dọa chúng chơi. Nàng nói tiếp:

– Như Lĩnh Nam tôi có bộ kinh Thiên-địa nghĩa, chép từ thời tối cổ mới tạo thiên lập địa, cho tới Kinh-Dương vương. Thiên Trị tắc nói rằng: Trời sinh ra dân Lĩnh Nam để làm chúa thiên hạ. Thiên Thiên nghĩa nói rằng: Lĩnh Nam có núi Tản-viên, Thượng-đế ngự xuống dự tiệc. Con người làm chúa thiên-hạ. Đó chẳng là sách chép đó ư?

Đào Kỳ thấy quần thần nhà Hán ngớ ngớ, ngẩn ngẩn vì lới bịa đặt của Phương-Dung, suýt nữa chàng bật cười thành tiếng.

Bạch-kiếm thở dài:

– Bây giờ hoàng-thượng là Kiến-Vũ thiên-tử. Chứ không phải là cậu bé, bị võ sĩ Vương Mãng đuổi giết ở Trường-sa, phải trốn ở vườn bắp, hái bắp non ăn. Nếu hồi ấy không có Lĩnh-nam vương ra tay nghĩa hiệp, nay đâu còn nhà Hán, để hoàng-thượng muốn tất cả dân chúng trong gầm trời quỳ gối trước Hoàng-thượng.

Trần Tự-Sơn cười:

– Việt-Vương Câu Tiễn chịu nhục nếm phân, nếu không nhờ Phạm Lãi, Văn Chủng thì suốt đời nếm phân. Nhưng khi được nước rồi thì trở mặt. Cao-Tổ nhà Hán, nếu thất bại, thì muôn đời vẫn là người đình trưởng. Khi sự nghiệp đã thành thì giết hết công thần. Lưu Tú đại-ca, tôi kết bạn lầm với một người vô ơn bạc nghĩa như đại-ca.

Tự-Sơn nhìn Tần-vương đáp:

– Cái đạo xưa nay là Vua đã nghi, tôi phải chết. Làm quan mà công trùm thiên hạ tránh sao khỏi ghen tỵ? Làm tôi mà quyền quynh quốc khiến vua phải lo lắng thì chết là đáng. Tôi ở trong cả ba hoàn cảnh đó. Cổ nhân nói rằng:

Sự phùng đắc ý tuyên hưu tức,

Phú quý trường trung dị bạch đầu.

(Khi gặp sự đắc ý thì phải lui ngay,

Trong phú quý, đầu dễ bạc)

Hôm nay tôi sẽ nói thật hết, những bí ẩn giữa tôi và hoàng-thượng. Tôi phải nói để các vị không hiểu lầm hoàng-thượng, không hiểu lầm tôi. Có thể hôm nay các vị với tôi còn ngồi với nhau. Ngày mai, biết đâu chúng ta chẳng sẽ phải đánh nhau, kẻ chết, người sống khó mà lường được.

Các vương công, đại thần không ít thì nhiều đã nghe loáng thoáng về xuất thân của Nghiêm Sơn. Có dư luận nói rằng Nghiêm Sơn người Trường-sa vì chàng nói giọng Trường-sa. Có dư luận nói rằng chàng người Quế-lâm. Thời bấy giờ Quế-lâm, Nam-hải, Tượng-quận bị người Hán cai trị trên 200 năm. Dân chúng phân nửa nói tiếng Hán, sống đời sống như người Hán. Nhưng đối với các quan lại người Hán, họ vẫn coi đó là vùng man di mọi rợ, khinh khi như chó, như lợn. Có dư luận nói rằng Vương là con của người tỳ thiếp Trường-sa Định-vương. Như vậy Vương là em ruột Quang-Vũ. Còn Quang-Vũ đã có dư luận nói rằng, Quang-Vũ là con của người tỳ thiếp Trường-sa Định-vương, sinh đẻ ở ngoài dân dã. Sau Thái-phi mới ra lệnh cho Mã vương-phi nuôi. Có người nói Quang-Vũ với Nghiêm Sơn là anh em cùng cha khác mẹ.

Bây giờ họ biết Nghiêm Sơn sắp nói ra sự thực tất cả. Họ lắng nghe không dám xen vào.

Nghiêm Sơn chậm chạp kể:

– Tôi là người Việt ở Lĩnh Nam chứ không phải người Hán!...

Từ Quang-Vũ đến triều thần đều bật lên tiếng kêu Ồ! Ối chà!.

Nghiêm Sơn tiếp:

– Tôi thuộc dòng dõi Phương-chính hầu Trần Tự-Minh nước Âu-lạc. Khi An-Dương vương bị Triệu Đà đánh lừa cướp mất nước trong vụ Mỵ-Châu, Trọng-Thủy. Vua viết chiếu nhường ngôi cho con trai Tể-tương Trần Tự-Minh là Trần Tự-Anh, thống lĩnh anh hùng phục quốc. Đến đời thân phụ tôi là Trần Kim-Bằng mới nảy ra ý tưởng xưng là người Hán, cải họ Nghiêm lên Trường-sa thí võ, được làm tướng quân. Sau lên tới đại-tướng quân. Khi tôi được hai tháng thì xảy ra biến cố. Hôm đó phụ thân tôi đi săn ở trong rừng. Bỗng nghe có tiếng khóc lóc thảm thiết của người đàn bà từ xa vọng lại. Người vội vàng chạy đến tìm kiếm, thì thấy hai võ sĩ của Trường-sa Định-vương sắp sửa giết chết một thiếu nữ. Phụ thân tôi quát tháo, bắt chúng thả thiếu nữ đó ra. Hai võ sĩ đó nhận được mặt phụ thân tôi, chúng nói:

– Chúng tôi tuân chỉ Vương thái-phi phải giết người đàn bà này. Nếu tướng quân can thiệp vào sẽ bị họa diệt tộc.

Phụ thân tôi thấy việc đã bị lộ. Không dừng được, người giết chết hai võ sĩ kia, cứu thiếu nữ. Bấy giờ người mới nhận thấy đó là một thiếu nữ sắc nước hương trời, có một không hai ở đời. Thân phụ tôi hỏi lý do gì thiếu nữ bị giết? Nàng kể rằng tên nàng là Hàn Tú-Anh, thứ phi Trường-sa Định vương.

Tự-Sơn kể đến đó, trong điện im phăng phắc, không một tiếng động. Nhưng trong lòng các đaÏi thần đã thấy hé mở một tia sáng về lý lịch Tự Sơn và Quang-Vũ. Còn Quang-Vũ đã nghe nói rồi, y không ngạc nhiên. Riêng Mã Viện trong lòng y nóng nảy vô cùng.

Nghiêm Sơn tiếp:

– Phụ thân tôi nghe thuật, trong lòng kinh sợ. Vì người đã nghe nói Trường-sa Định-vương có một thứ phi tên Hàn Tú-Anh. Việc thái-phi muốn giết Hàn Tú-Anh, là chuyện trong nội cung vương-phủ. Thế nhưng phụ thân tôi đã nhúng tay vào, cái họa diệt tộc khó tránh. Người đem Hàn Tú-Anh về nhà kể cho mẫu thân tôi nghe. Mẫu thân tôi quyết định rằng: đã trót cứu người thì cứu cho trọn. Vì vậy phụ thân tôi cáo quan về Quế-lâm ở, mang theo Hàn Tú-Anh. Hàn Tú-Anh mới kể tâm sự cho mẫu thân tôi nghe, tại sao thái-phi muốn giết nàng.
Tự-Sơn hạ giọng:

– Thì ra Hàn Tú-Anh cùng một người bạn nữa là Chu Mẫu-Đơn, hai người xuất thân là con nhà khá giả ở Trường-sa. Rồi một ngày cha mẹ hai người đều bị vu cáo là phản loạn, cả nhà bị giết. Hai người bấy giờ nhan sắc đang độ 16, được người cai ngục cứu ra đem bán cho thanh lâu. Hai người lọt vào lầu xanh, nổi danh tài sắc một thời. Hai người thề nguyện không bao giờ tiếp khách họ Lưu. Vì cho rằng, Trường-sa Định vương đã giết hại cả nhà mình. Một ngày kia có khách văn nhân tới, dáng người thanh nhã. Chàng bỏ tiền ra không tiếc, chuộc Chu Mẫu-Đơn khỏi lầu xanh. Hai người ngày ngày cùng ngao du sơn thủy. Chàng làm từ, làm thơ, nàng ca hát. Rồi sau đó chàng mới thú nhận mình họ Lưu tên Huyền, hiện là thế-tử của Trường-sa Định vương. Chàng nhất định về thưa với phụ thân đem nàng vào thành ở. Trường-sa Định vương thấy con say mê một kỹ nữ, nổi giận ra hai điều kiện: Một là chọn ngôi thế-tử, hai là chọn Chu Mẫu-Đơn. Chàng quyết định chọn Chu Mẫu-Đơn bỏ ngôi thế-tử, ra ngoài Đào-trang sống hạnh phúc bên người yêu. Thế-tử Lưu Huyền bỏ phú quý sống với người mình yêu, khiến người em được kế vị thế-tử. Rồi lên ngôi làm Trường-sa Định vương. Trường-sa vương có Mã vương-phi, có nhiều phi tần. Nhưng ngài không cảm thấy hạnh phúc, hơn nữa ngài không có con. Một ngày kia tiếp kiến người anh, thấy anh hạnh phúc vô cùng bên Chu Mẫu-Đơn, ngài ước mong tìm được hạnh phúc như anh. Vương giả làm văn nhân nghèo tìm Hàn Tú-Anh. Thế rồi tài tử giai nhân gặp nhau họ yêu nhau say đắm. Vương nói dối với Hàn Tú-Anh rằng ngài là học sinh đến Trường-sa du học, chỉ đêm đêm chàng mới về nhà. Còn ban ngày phải vào thành học. Được ít lâu, Hàn Tú-Anh có mang sinh ra đứa con thứ nhất đặt tên là Lưu Diễn, ít lâu sau sinh đứa thứ nhì đặt tên là Lưu Tú.

Thời bấy giờ, luật lệ cấm không được nhắc đến tên húy của vua chúa. Nhưng Tự-Sơn kể chuyện vương cứ nói thản nhiên như không chú ý đến vấn đề này. Vương tiếp:

– Khi đã có hai con, Hàn Tú-Anh khẩn khoản xin chồng đổi chỗ ở, sợ rằng sau này hai con lớn lên sẽ cảm thấy nhục nhã khi mẹ mình là kỹ nữ. Vương không chịu. Hàn Tú-Anh nhờ người vú nuôi con mình tên Dư Thúy-Nham theo dõi Vương-gia, để biết nhà thầy dạy, hầu Hàn Tú-Anh cầu thầy khuyên chồng.

Dư Thúy-Nham đi một buổi trở về cho biết rằng chồng Hàn Tú-Anh là Trường-sa Định-vương. Hàn Tú-Anh nghe tin khóc hết nước mắt. Chiều đến vương-gia về, thấy tình hình biết đã bại lộ, mới an ủi vợ rằng: Các vương-phi trong phủ không ai có con. Tuy nàng là kỹ nữ, nàng cho Vương hai người con, vậy Vương đưa nàng về phủ sống.

Vương nói là làm, Vương đưa Hàn Tú-Anh về phủ phong làm thứ-phi, cực kỳ sủng ái. Vương thái-phi thấy Vương-gia có hai người con, mừng lắm. Bà không muốn trong vương-phủ có một kỹ nữ sống. Nhất là kỹ nữ đó sau này làm Vương thái-phi. Vì vậy thái-phi nhân một hôm Vương-gia vắng nhà, mới sai hai võ sĩ đưa Hàn Tú-Anh vào rừng giết. Khi Vương-gia trở về hỏi Hàn Tú-Anh đâu. Thái-phi nói nàng có đại tang, phải trở về quê gấp, sẽ trở lại sau ít ngày.

Tự Sơn kể từng chi tiết một, khiến một số quan văn nhiều tình cảm trong điện, nước mắt chan hòa. Phương-Dung dầu sao cũng là một thiếu nữ, nàng đã nghe chuyện này lần thứ nhì, nhưng cũng không ngăn được nước mắt.

Tự Sơn lại tiếp:

– Thân phụ tôi đem Hàn Tú-Anh về Quế-lâm. Giữa đường mẫu thân tôi bị cảm mạo, mất sữa. Hàn Tú-Anh tình nguyện nuôi tôi. Từ đó bà trở thành nhũ mẫu của tôi. Cha tôi là Lạc-hầu một trang ấp tuy không lớn, nhưng cũng có vài ngàn người. Nhũ mẫu được cấp một căn nhà cạnh hồ, có rất nhiều hoa thơm cỏ lạ. Bà được cấp tỳ nữ, đầu bếp hầu hạ. Bà nuôi tôi, dậy tôi đọc sách, dậy tôi nói giọng Trường-sa. Vì vậy tôi nói tiếng Hán giọng Trường-sa như Hoàng-thượng.

Vương đưa mắt nhìn Quang-Vũ ngơ ngẩn xuất thần nói:

– Tôi tập võ với cha. Cha tôi cho mời thầy dạy chữ cho tôi. Người xin thầy dạy toàn Lục-thao, Tam-lược, binh-pháp. Không hiểu giữa người và nhũ mẫu có ước định gì về tôi không rõ, mà khi cha tôi sắp qua đời, người suy tính chưa tìm ra người để chỉ định làm thừa kế chức chưởng môn. Sau hơn mười ngày không quyết định được, nhũ-mẫu tôi đến thăm người, nói nhỏ vào tai người rằng, nếu sau này muốn phục hồi Lĩnh Nam thì truyền chức cho tôi. Bà nói rằng đợi con trai người lên ngôi Trường-sa vương bà mới xuất hiện. Khi mẫu tử trùng phùng bà nhờ con giúp tôi phục hồi Lĩnh Nam. Cha mẹ qua đời, tôi sống bên cạnh nhũ-mẫu. Người thương yêu tôi không biết đâu mà kể. Khi tôi đọc sách, người ngồi cạnh quạt cho tôi, khi tôi tập võ, người đánh đàn, hát cho tôi nghe. Tôi thấy bên cạnh người thực là hạnh phúc toàn vẹn.

Vương ngừng một lúc rồi đi đi lại lại nói tiếp:

– Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, Trường-sa Định vương cùng với Mã vương-phi, Lưu Diễn, Lưu Tú, trốn ở Vương-sơn, không ai biết. Tất cả những biến cố gia đình, lý lịch nhũ-mẫu, tôi không biết. Cho đến năm 17 tuổi, một đêm tôi thấy nhũ-mẫu khóc lóc thảm thiết. Tôi gạn hỏi mãi, bà mới chịu nói rõ thân thế cho tôi nghe. Bà yêu cầu tôi hãy xuất lĩnh anh em đi Trường-sa tìm tông tích hai người con bà. Tôi yêu nhũ-mẫu, bà nói gì tôi cũng nghe. Tôi biết võ công mình chưa đủ cao, tôi mời thêm Hợp-phố lục hiệp là người môn phái Quế-lâm cùng lên đường. Chúng tôi tới Trường-sa dò la tin tức, không tìm được gì cả. Một ngày kia do lòng thương nhũ-mẫu, tôi đến Đào-trang nơi nhũ-mẫu cùng Trường-sa Định vương ở, tìm lại di tích người xưa.

Tự Sơn thở dài:

– Giữa lúc đó Vương Mãng sai võ sĩ đến giết gia quyến Vương. Tôi cùng Hợp phố lục hiệp liều mạng mới cứu được hai người con của Vương-gia. Chúng tôi bảo vệ hai thế-tử, vừa đánh vừa chạy. Một đêm đánh đến 20 trận, tôi bị thương 15 chỗ...

Tự Sơn thản nhiên cởi áo ra chỉ vào 15 chỗ bị thương. Mỗi chỗ Vương thuật từng chiêu thức bị thương như thế nào. Vương tiếp:

– Chúng tôi vừa đánh, vừa chạy suốt đêm, cho đến lúc mệt lử thì tới vườn bắp, hái bắp non ăn. Trong khi chạy, Lưu Tú bị thương. Tôi phải cõng thế-tử chạy. Đến sáng, ngồi dưỡng thương ở vườn bắp, Lưu Tú hỏi tuổi tôi. Thì ra chúng tôi cùng tuổi. Lưu Tú muốn cùng tôi kết nghĩa huynh đệ. Tôi nghĩ trong lòng: Người với ta tuy khác máu mủ, nhưng cùng uống một dòng sữa. Mẫu thân người là nhũ-mẫu ta, người với ta là anh em rồi còn gì nữa? Chúng tôi so tuổi, Lưu Tú sinh giờ Sửu ngày mồng một tháng sáu tuổi Bính-thìn. Tôi cũng Bính-thìn, sinh tháng chín, ngày mồng một giờ Thìn. Như vậy tôi nhỏ hơn ba tháng. Chúng tôi cùng quỳ xuống thề với trời đất rằng sau này có phước cùng hưởng, có họa cùng chịu. Nếu ai phản bội hai lòng trời tru, đất diệt. Lưu Tú hỏi về chí hướng của tôi. Tôi đáp rằng, chỉ mong một người, một gươm ngao du sơn thủy, hành hiệp giúp đời. Còn Lưu Tú muốn nuốt trời, ôm đất vào lòng, muốn kế tục sự nghiệp Cao-Tổ. Lưu Tú yêu cầu tôi giúp. Tôi hứa sẽ giúp, điều kiện là khi mọi sự đã thành, cho tôi một con ngựa, một thanh gươm ngao du thắng cảnh. Lưu Tú nói: Chúng ta là anh em, cùng khởi nghiệp, sau này giang sơn của ta là của hiền đệ, chúng ta chia đôi sơn hà để cùng hưởng.

Thấy Tự Sơn ngưng kể, Quang-Vũ như đắm vào cõi mộng, hỏi:

– Rồi sao nữa?

– Rồi chúng ta khởi binh đại chiến Côn-dương. Khi thu được nửa thiên hạ, đại-ca nói rằng: Tuy đoạt được Kinh-châu, nhưng phía sau Kinh-châu còn Quế-lâm, Nam-hải, Tượng-quận, Cửu-chân, Nhật-nam, Giao-chỉ. Các Thứ-sử, Thái-thú tại đó nay theo Vương Mãng, mai theo Hán. Đại-ca muốn tôi xuống xếp đặt cho yên vùng này. Tôi cùng Hợp-phố lục-hiệp, một người, một ngựa kinh lý đất Lĩnh Nam. Đại-ca phong cho tôi làm Bình-nam đại-tướng quân, tước Lĩnh-nam công. Các Thứ-sử, thái-thú khoanh tay quy phục. Tôi ra lệnh tuyển quân, thu nạp lương thảo cho đại-ca tranh hùng ở Trung-nguyên.

Tự Sơn thở dài:

– Nhưng khi tôi tới Lĩnh Nam mới bừng tỉnh mình là người Lĩnh Nam. Các Thái-thú ở đây coi người Việt như trâu, như chó. Tôi ra lệnh cho các Thái-thú phải bỏ những chính sách hà khắc, coi người Việt như người Hán. Tôi cho người Việt được quyền làm các chức quan như người Hán. Tôi gửi tấu chương về xin đại-ca bổ nhiệm một người Việt tên Đặng Thi-Sách làm Thái-thú Giao-chỉ. Đại-ca không những không đồng ý, mà còn tuân chỉ Thái-hậu bổ nhiệm Tô Định làm Thái-thú. Tô Định mang theo Ngũ-phương thần kiếm sang, với ý định vu vạ cho tôi làm phản. Ngũ-phương thần kiếm minh mẫn tìm ra sự thật. Tô Định ỷ là cháu Thái-hậu, đánh thuốc mê Ngũ-phương thần kiếm toan giết đi. Chính hào kiệt Lĩnh Nam cứu họ thoát chết.

Nghiêm Sơn mơ màng nhìn ra xa:

– Trong khi ở Lĩnh Nam, tôi nhận thấy một điều: Các quan lại người Hán đến Lĩnh Nam chỉ với mục đích vơ vét cho đầy túi tham. Chém giết cho phỉ chí, làm mất đức hiếu sinh của Thượng-đế, làm mất cái đức thương dân như con đỏ của đại-ca. Tôi nghĩ: Đất Lĩnh Nam xa xôi, trở thành quận, huyện cũng thế, mà cho người Việt tự trị cũng thế. Tôi đồng ý cho một người Việt là Lê Đạo-Sinh đứng ra tổ chức đại hội hồ Tây, đưa anh hùng võ lâm thiên hạ sang Trung-nguyên cầu kiến đại-ca, xin được tự trị. Vừa tổ chức xong, tôi nhận được chiếu chỉ của đại-ca phong làm Lĩnh-nam vương, Tả tướng-quốc mang quân đánh Thục. Anh-hũng Lĩnh Nam nghĩ rằng nếu họ lập được chút công tất nhiên đại-ca ban chức tước cho họ. Lúc đó nếu họ đều từ chối, chỉ xin cho Lĩnh-nam phục quốc. Chắc đại-ca cũng sẽ ưng thuận.

Vương cười lớn:

– Không ngờ lúc đại-quân vào đất Thục, thế như chẻ tre, đại ca lại nói mang quân đến Trường-an để tiếp viện. Tôi cũng như hào kiệt đều biết rằng: Chúng tôi sắp diệt Thục thì việc gì đại-ca phải mang quân tiếp viện? Chẳng qua đại-ca nghi ngờ, bắt chước Cao-Tổ du Vân-mộng bắt Sở vương Hàn Tín. Mọi người xúi tôi rằng: Chúa đã nghi, bầy tôi phải chết. Thì trước khi chết đánh một trận cho hả lòng. Vì đại quân Lĩnh-nam, Kinh-châu, Đông-xuyên, Tây-xuyên, Trường-an nằm trong tay tôi. Nếu tôi phản đại ca, dù không thành đại sự thì cũng chia đôi thiên hạ. Tôi không thích làm quan, không thích làm vua. Tôi tin vào đại-ca. Tôi dắt Khất đại-phu, Phật-Nguyệt, Trưng Nhị đi Trường-an.

Đến đó Vương ngưng lại, cầm thanh Thượng-phương bảo kiếm của Quang-Vũ đưa lên, khẽ rung động hai lần. Thanh kiếm vọt ra khỏi vỏ. Vương búng tay một cái, thanh kiếm gãy làm hai. Vương búng thêm mấy cái nữa, thanh kiếm gãy nát ra. Vương tiếp:

– Về võ công đại-ca thấy, tôi chỉ hơn Ngô Hán, Mã Viện, chứ không hơn Ngũ-phương thần kiếm, Tương-dương cửu-hùng. Thua cả đến Tạ Thanh-Minh, Trần Lữ, Ngô Lương, và lại càng không bằng Hoài-nam vương nữa. Nhưng sở dĩ tôi thành công, vì mối nhu tình nhũ mẫu đối với tôi, mà tôi quyết tâm giúp đại-ca. Người ta theo giúp đại-ca vì công danh, vàng bạc. Tôi theo giúp đại ca vì lòng nghĩa hiệp. Nay đại-ca đi trái với nghĩa hiệp, thì tôi không giúp đại-ca nữa. Ơn nhũ mẫu đối với tôi là ơn cá nhân. Tôi trả như vậy đủ lắm rồi. Tôi không thể đem sinh linh Lĩnh-nam cho đại-ca, để đại-ca sai những tên chó Ngô sang giết hại dân chúng. Ở đây có Ngũ-phương thần kiếm, tại Lĩnh-nam còn Lục Mạnh-Tân. Họ cũng là người Hán như đại-ca, hơn nữa họ lại có công với tiên-đế. Nếu họ tham công danh phú quý, họ đã xu phụ theo đại-ca. Họ đã đến Lĩnh Nam, đã thấy những tên Hán bốn chân tàn sát lương dân. Họ không chịu được, họ vung thước gươm cứu khổn phò nguy. Họ quyết giúp cho Lĩnh Nam phục hồi cố thổ.

Đoạn vương nói với các quan:

– Từ sau hôm nay trở đi, tôi với đại-ca Lưu Tú không còn tình nghĩa gì nữa. Nếu gặp nhau trên chiến trường, ai vì giang sơn người ấy. Còn ai giết hại Lưu Tú cũng không liên quan đến Trần Tự-Sơn. Ai giết Trần Tự Sơn cũng không liên quan gì đến Lưu Tú.

Vương quay lại:

– Khất đại-phu, Chu huynh, Đô hiền đệ, Đào sư đệ, Dung muội. Khất đại-phu là một tiên ông trên thế gian. Suốt đời lấy y đạo cứu người. Chu huynh tuy là đệ tử, con rể Lê Đạo-Sinh, nay tỉnh ngộ trở về với Lĩnh Nam, không theo phú quý của người Hán, là điều Trần mỗ khâm phục vô cùng. Đô hiền đệ kết bạn với ta từ nhỏ, luyện võ với nhau, đánh nhau, chửi nhau.

Vương chỉ vào vết thẹo ở tay trái:

– Hồi ta chín tuổi, Đô hiền đệ bảy tuổi. Chúng ta tranh nhau bắt một con chim. Ta nhanh tay bắt được. Đô hiền đệ nhảy đến vật ta, dành con chim, ta lớn tuổi hơn học võ trước, ta đá Đô hiền đệ lăn xuống ruộng. Đô hiền đệ nhảy lên cắn ta. Ta đau quá phải xin hàng. Đô hiền đệ mới tha ta ra. Từ đấy chúng ta là một cặp huynh đệ không rời nhau. Khi ta nghe lời Nhũ-mẫu cứu Trường-sa vương Lưu Diễn, Lưu Tú. Đô hiền đệ khẳng khái bảo ta rằng: Nên làm, vì cứu người Việt hay người Hán cũng là cứu. Dù cứu con chó, con mèo cũng là cứu. Ta nghe lời Đô hiền đệ, lòng đầy hân hoan lên đường.

Vương nắm tay Đô Dương:

– Khi nghe ta giúp Lưu Tú, đại chiến Côn-dương. Hiền đệ lại tới với ta. Trận Côn-dương khiến cho muôn đời kinh hồn động phách, do công hiền đệ. Bấy giờ quân ta ít, quân giặc nhiều. Ta không biết làm sao thắng giặc, mới nảy ra ý dùng một đội cảm tử quân, nửa đêm xông vào trại đốt lương, rồi chúng ta ở ngoài đánh vào. Mã Anh, Mã Viện là cháu Thái-hậu cũng không dám lĩnh nhiệm vụ đó. Chỉ có hiền đệ dám làm. Ta còn nhớ trước khi lên đường, chúng ta tế sống hiền đệ. Thế rồi trận Côn-dương kinh hồn động phách diễn ra. Hiền đệ vẫn còn sống. Hiền đệ được phong tước Tân-bình hầu, lĩnh Thái-thú Phù-phong. Thế mà khi nghe ta bị giam, hiền đệ bỏ quan tước, đi cứu ta. Xét về võ đạo, về tình nghĩa, hiền đệ hơn Lưu Tú nhiều.

Vương ngừng lại nói với Đào Kỳ, Phương-Dung:

– Đào tiểu sư đệ, bây giờ sư đệ đã lớn quá rồi. Ta vẫn muốn dùng tên Tiểu sư-đệ để lưu niệm. Ta nhớ khi ta mang quân vào đánh Cửu-chân, làm Đào-gia nhà tan, cửa nát. Thế mà khi đối trận trong đêm, hiền đệ nhìn ra ta không phải ô quan, ta không phải người chủ động hại nhà hiền đệ. Ai cũng bảo ta là chó Ngô, chó Hán, chỉ có hiền đệ bảo Hán, Ngô, Việt cũng thế cả, ai có lòng tốt thì trọng. Đừng thấy Hán mà cho là độc ác hết, đừng thấy Việt mà cho là tốt hết. Hiền đệ thân mật với ta giữa trận tiền. Hiền đệ có con mắt tinh đời, biết rõ chân tâm ta. Trong đời hiền đệ chỉ có Tam sư-tỷ là người thân nhất với đệ. Hiền đệ có ý mở đường cho ta. Nhờ đệ, ta tìm được diễm phúc nhất trần gian. Hoàng sư tỷ đối với ta như nước sông Trường-giang, võ công nàng cao, tính tình nhu thuận, và... trên thế gian này không có người nào đẹp hơn. Ta nghĩ rằng, giá ta bỏ hết Lĩnh-nam vương, bỏ tất cả, để đổi lấy Hoàng sư-tỷ cũng sẵn lòng. Ta nghĩ dù ta có vì Hoàng sư tỷ mà chết đến một trăm lần, cũng không bằng một phần tấm lòng của nàng đối với ta. Các vương hầu nhà Hán, thê thiếp hàng đàn. Còn ta, chỉ sủng ái một mình Hoàng sư-tỷ vẫn cho là không đủ.

Vương mỉm cười bí mật:

– Chính tiểu sư đệ đi cạnh ta để phục hồi đất Lĩnh-nam. Khi ta đem quân từ Lĩnh Nam về đánh Thục. Các anh hùng nhất quyết chống lại. Nhờ tiểu sư đệ thuyết phục, họ mới theo giúp. Tiểu sư đệ lại thân cầm đạo quân Lĩnh-nam đánh vào phía sau Thục, vượt núi Kim-sơn là điều mà cổ kim chưa ai làm được. Hoàng-thượng hứa rằng ai vào Thục đầu tiên, sẽ cho làm chúa Ích-châu. Chính tiểu sư đệ đã vào Thục đầu tiên, bỏ xa Mã Viện, Ngô Hán. Hoàng-thượng trở mặt với ta. Tiểu sư đệ cũng không ham công danh, phú quý, thân vào ngục cứu ta ra... Thôi ta nói vậy đủ rồi. Khất đại-phu, Chu đại-ca, Đô hiền đệ, Đào sư đệ, Dung muội chúng ta mau đi Lạc-dương cứu nhũ mẫu. Trước đây khi mới khởi sự, có một thầy tướng nhìn Lưu Tú nói rằng: Người này nói ưa điệu bộ, chu mỏ ra, hay cau có. Đó là người chỉ biết có mình, mặt lại hóp như lưỡi cày chắc chắn sẽ coi người thân như cừu thù, kẻ ác như chân tay, còn nói gì tử tế tình nghĩa với ai. Thôi chúng ta đi Lạc-dương cứu Nhũ-mẫu ta.

Chu Bá hỏi:

– Phương-Dung! Tại sao chúng ta lại đi Lạc-dương?

Phương-Dung cười:

– Chu sư bá, người chủ trương giết Hàn thái-hậu là Mã thái-hậu. Chúng ta cứ đi Lạc-dương dí kiếm vào cổ Mã thái-hậu là yên mọi chuyện. Tại Lạc-dương tuy vệ sĩ đông, tuy quân nhiều, nhưng không ai đỡ được chưởng của Khất đại-phu, Đào tam-lang và thanh kiếm của tôi.

Thấp thoáng một cái, nàng nhảy lên cao, vung kiếm đưa ra những chiêu quái dị vô cùng. Choang, choang, choang, hơn hai mươi chỏm mũ của các võ quan tại đó bị cắt đứt. Quang-Vũ cảm thấy cổ mát lạnh, y rú lên một tiếng, đưa tay lên sờ cổ, không bị thương, còn mái tóc bị xén mất cái chỏm.

Các quan kinh hoàng. Khi định thần lại thì Phương-Dung đã vọt mình lên nóc điện, biến mất hồi nào.

Quang-Vũ nói:

– Trần hiền-đệ, ngươi nói về mẫu thân ta, ta không tin được. Ta chỉ tin khi nào ngươi đưa mẫu thân ta đến đây đối chất.

Đào Kỳ quát lên:

– Ngươi thân là hoàng-đế, giàu sang nhất thế gian, mà có mẹ không nhìn, lại còn bảo phải đưa mẹ đến đối chất. Cái thứ vua chúa bất hiếu như ngươi để làm gì.

Vương hít hơi, vận đủ mười thành công lực, phóng một chưởng như trời long đất lở vào người Quang-Vũ.

Trần Tự-Sơn kêu lên:

– Tiểu sư đệ! Xin dung tình.

Đào Kỳ nghe đến tiếng tiểu sư đệ, lại nhớ đến những ngày còn nhỏ, mất tin cha mẹ, ở với Trần Tự-Sơn và Thiều-Hoa, tình nghĩa thâm trọng. Vì vậy Vương hướng chưởng chênh chếch sang phía Đông điện. Ầm một tiếng, cả nóc điện bể tan tành, ngói gạch rơi xuống ào ào.

Quang-Vũ thấy Đào Kỳ phóng chưởng, y những tưởng mất mạng. Nhưng rồi chưởng của Vương hướng lên trời, y còn được Ngũ-phương thần kiếm cùng vung chưởng hóa giải, nên y khỏi bị áp lực. Thế mà y còn cảm thấy ngực như muốn tắt thở.

Tự-Sơn hú lên một tiếng cùng mọi người nhảy lên nóc điện, phút chốc biến mất.

BÀI ĐỌC THÊM

Y phục thời Lĩnh-Nam

Trong khi khởi thảo viết bộ Anh hùng Lĩnh-nam vào ngày 10 tháng 3 năm Mậu-thân (1968), một những vấn đề làm thuật giả bận tâm là y phục thời đó ra sao? Điều này đưa tới việc tìm hiểu văn minh của người Việt trong buổi bình minh lịch sử. Đọc trong kho tàng văn hóa Việt-nam, không thấy thư tịch nào nói đến. Hỏi thăm những bậc thức giả, mười người thì đủ mười đều lắc đầu. Thảng hoặc có vị cho vài lời khuyên.

Một vị khuyên rằng:

– Nên theo y phục những năm trước đây, người ta cho các thiếu nữ trung học Trưng-vương, Gia-long tại Sài-gòn đóng vai hai bà Trưng vào ngày phụ nữ hay ngày giỗ vua Trưng.

Một vị khuyên:

– Cứ cho mặc áo dài, khăn đóng vành vàng, khoác ngoài lớp sa mỏng trắng, quần trắng, đi hài là được.

Đem ý kiến ấy hỏi một vị khác, lập tức vị này bác bỏ:

– Không được, như vậy là đầu gà đít vịt, chẳng ra thể thống gì. Bởi chiếc áo dài đó phỏng theo áo Le Mur mới chế vào thập niên 1930, rồi biến hóa đi. Khi áo Le Mur vào đến Huế, lại có màn tân cổ giao duyên, thêm chiếc khăn với cái áo choàng ngoài. Y phục ấy đâu phải y phục thời Trưng Vương. Quần đó là quần tân thời, không phải của người Việt xưa.

Một vị khác khuyên :

– Bà Trưng quê ở Bắc-ninh, Sơn-tây, chắc hồi ấy mặc quần đen, áo búi que, đầu đội khăn vuông mỏ quạ như con gái Bắc-ninh đầu thế kỷ này.

Lập tức vị khác nhăn mặt :

– Bậy ! Phụ nữ Việt-nam mặc quần, mới chỉ có từ thời Nguyễn. Trước kia các cụ bà mặc váy. Trong văn chương bình dân chẳng từng có câu :

Tháng tám có chiếu vua ra,

Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng.

Không đi thì chợ không đông,

Đi thì ăn cướp quần chồng sao đang!

Như vậy từ triều Nguyễn về trước đàn ông mặc quần, đàn bà mặc váy. Loại váy này cho đến năm 1947-1948 ở nông thôn vẫn còn tồn tại. Còn áo dài ư ? Từ triều Nguyễn về trước phụ nữ Việt-nam mặc áo tứ thân, thắt khăn vòng qua bụng nút ở ngang hông. Gái chưa chồng thì nút ở bên phải. Gái có chồng thì nút ở bên trái.

Đại loại những ý kiến như thế được đưa ra. Nhưng không ý kiến nào có luận cứ vững chắc. Có vị khuyên :

– Anh viết tiểu thuyết như vẽ ma, vẽ quỷ, muốn tả y phục thời ấy như thế nào mà chả được.

Ý kiến này gia nghiêm gạt thẳng :

– Lịch đại văn học Việt-nam, chưa có vị nào chịu bỏ thì giờ, chịu bỏ cả đời viết tiểu thuyết lịch sử trường thiên. Nay con là người đầu tiên viết. Con viết vì muốn làm sáng tỏ hào khí dân tộc. Con viết vì muốn trả nợ tổ tiên. Ông kỳ vọng vào con. Bố kỳ vọng vào con. Con phải học hỏi những gì của người đi trước. Tại sao bộ Tam quốc chí của La Quán-Trung lại thành công hơn các bộ Phong thần, Đông-Chu liệt quốc, Tây-Hán, Đông-Hán, Thuyết-Đường, Chinh-Đông, Chinh-Tây ? Một là văn La diệu hơn văn các vị kia. Hai là La đi sát với lịch-sử, đi sát với sự thực, nên được tin tưởng hơn. Gần đây, Kim-Dung thâu thái của cổ nhân, thêm vào nghệ thuật Tây-phương mà thành công. Kim-Dung chỉ đặt tác phẩm vào hoàn cảnh lịch sử, mà không viết tiểu thuyết lịch sử. Con đi sau tất cả bằng ấy người. Con có kiến thức Trung-quốc ngang với họ, con lại có kiến thức Tây-phương sâu xa. Con hơn họ ở điểm con được luyện võ từ nhỏ, nay đến trình độ đáng kể. Con hơn hẳn họ ở điểm con học tới trình độ cao nhất của y học Đông lẫn Tây. Con cần viết sao cho tác phẩm không đi đến chỗ quá đáng như ma trâu đầu rắn. Con nhớ rằng một lời con viết là Trưng-Vương nói, Hưng-Đạo vương nói. Tuyệt đối không nên, không thể bịa đặt quá đáng. Không tìm ra y phục thời vua Trưng chắc chắn, thì tìm lấy một nét có thể bấu víu được, là quần áo các bà hầu bóng Ngài. Hay hãy tìm trong y phục cổ Việt-nam, lấy một loại quần áo cổ điển nhất, rồi phong cho làm y phục thời vua Trưng là được rồi, việc gì phải quá câu nệ.

Thói thường của thuật giả, là khi gặp vấn đề nan giải là tắm rửa sạch sẽ, đến trước bảo điện đọc kinh Bát-nhã, rồi nhập thiền. Sau khi nhập Thiền nhắm mắt tưởng tượng. Trong tưởng tượng đó thấy gì hiện ra thì tùy nghi giải quyết. Bởi vậy đối với y phục thời Lĩnh-nam thuật giả nhập Thiền ba lần đều thấy vua Trưng mặc một thứ y phục rất khác lạ với y phục Trung-quốc và Việt-nam, nhưng lại rất quen thuộc.

Trong dịp giỗ vua Trưng năm 1969, thuật giả chở mẫu thân đi giúp bà bạn hầu bóng hay nói nôm na là lên đồng vua Trưng. Khi bà mặc quần áo về đồng uy nghi mà đẹp vô cùng. Thuật giả mới bừng tỉnh : Mình đáng chết thực, thì ra từ nhỏ mình đã thấy hình bóng, y phục vua Trưng qua các bà đồng, cho nên trong lúc nhập thiền, y phục đó hiện lên.

Kỷ niệm về thời thơ ấu sống lại mãnh liệt. Đền thờ hai Bà bao giờ cũng có tượng, trong tư thế ngồi bệ vệ, quần áo rực rỡ, đầu đội khăn. Tượng đặt phía sau màn. Chỉ quan khách đặt biệt mới được phép mở màn chiêm ngưỡng tượng hai Bà. Hai bên bệ thờ còn có tượng của sáu hai nữ đại công thần, đẹp đẽ trong các bộ quần áo đủ màu, đầu đội khăn.

Hồi ấy cứ đến ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch, tại các đền thờ vua Trưng, ban trị sự đền tổ chức lễ tắm tượng, để chuẩn bị cho ngày Thánh hóa. Lễ tắm tượng được tổ chức theo nghi lễ cổ truyền như sau :

Công việc tắm tượng được trao cho một cụ bà đạo cao đức trọng. Trước ngày tắm tượng, bà phải trai giới ba ngày, tắm rửa sạch sẽ. Sáng ngày 6 tháng 2, bà mặc áo dài đỏ cùng với ba đồng nam, ba thiếu nữ, bưng nước ngũ vị hương, dùng lụa mới tắm tượng. Năm 11 tuổi, thuật giả cũng được hưởng ân huệ bưng nước ngũ vị tắm tượng vua Trưng cùng sáu nữ đại công thần. Vì vậy được thấy tường tận y phục các ngài. Y phục đó giống hệt y phục các bà đồng mặc, khi vào giá vua Trưng.

Đặt vấn đề ai đã may quần áo mặc vào tượng vua Trưng, cùng mười hai nữ đại công-thần ? Người may đã căn cứ vào đâu để may các loại y phục như vậy ? Một lần thuật giả đem vấn đề đó đặt ra với các vị trưởng thượng. Các vị đó đều cho ý kiến. Nhưng ý kiến của giáo sư Nguyễn Đăng-Thục có tính chất trung dung nhất, thuật giả xin ghi lại :

– Sau khi bà Trưng nhảy xuống sông Hát-giang tự tử, mười hai nữ đại công-thần vị quốc vong thân. Người đương thời đã lập đền, tạc tượng thờ. Dĩ nhiên họ phải may quần áo giống như hồi sinh tiền các ngài đã mặc. Đền thờ sau này tuy có trùng tu, xây mới. Nhưng không ai có can đảm may loại y phục khác với y phục trên tượng các ngài. Vì, vậy y phục trên tượng các ngài là y phục thời Lĩnh-nam. Còn các bà đồng khi bà hầu bóng, bao giờ cũng may y phục giống như y phục mặc trên tượng. Kết lại y phục trên tượng hai bà Trưng và mười hai nữ đại công thần được coi là đúng nhất so với y phục phụ nữ hồi đầu thế kỷ thứ nhất.

Thế là thuật giả căn cứ y phục trên tượng vua Trưng và mười hai nữ đại công-thần mà tả y phục phụ nữ thời Lĩnh-nam. Nhưng chỉ tuân theo loại quần áo mà không theo màu sắc. Về mầu sắc, thì lại theo sử, hoặc theo các cuốn phổ lưu truyền. Như y phục bà Hoàng Thiều-Hoa thường màu vàng. Y phục bà Hồ Đề theo người Mường, mầu tím. Y phục bà Phùng Vĩnh-Hoa, mầu trắng v.v...

Về cờ của Lĩnh-nam với Hán, thời bấy giờ mang mầu gì ? Tìm mầu sắc cờ Hán, phải trở lại với bộ sử ký Tư-mã Thiên. Trong đoạn Lưu Bang luận bàn với Trương Lương nên dùng mầu gì. Trương Lương đưa ý kiến nên dùng mầu đỏ. Lưu Bang kinh ngạc, vì Hán ở phương Tây thuộc Kim. Mầu đỏ thuộc Hỏa. Hỏa khắc Kim, nếu dùng mầu đỏ chẳng hóa ra tự mình khắc hại mình ư ? Trương Lương giải thích rằng : Hán ở phương Tây thuộc Kim. Kim cần Hỏa mới luyện thành khí. Kim không Hỏa thì không thành. Vì vậy ta mới dùng cờ màu đỏ. Khi vua Quang-Vũ nhà Hán phất cờ trung hưng, nối tiếp sự nghiệp tổ tiên, vẫn dùng cờ đỏ.

Còn cờ Lĩnh-nam ? Không một bộ sách nào ghi lại. Chúng tôi tạm theo cờ của đền thờ vua Trưng. Nền màu vàng, viền ngoài đỏ và tua màu xanh. Theo cuốn phổ của đền thờ Giao-long nữ ở Hổ-môn, Quảng-tây tả trận Lãng-bạc : Thủy quân Hán bại bỏ chạy, từ xa, hễ thấy thuyền nào kéo cờ vàng, tưởng là thuyền Lĩnh-Nam, thì bỏ vũ khí trốn chạy. Vì vậy trong toàn cuộc khởi nghĩa vua Trưng, tôi tả cờ Lĩnh-nam màu vàng.

Từ đấy thuật giả cặm cụi viết và vấn đề y phục thời Lĩnh-nam không nhắc đến nữa. Bẵng đi hai mươi năm không đem ra bàn cãi. Cho đến năm 1986, khi trao bản thảo bộ Anh hùng Lĩnh-nam cho nhà xuất bản Nam-á. Vấn đề y phục của vua Trưng lại được đặt ra. Anh Mai Trung giám đốc nhà xuất bản Nam-á muốn chọn một trong các bức danh họa đã có sẵn về vua Bà, làm bìa. Thuật giả nghiên cứu trong bốn mươi bức tranh vẽ cũng như sơn mài làm trước và sau 1975. Trong hơn bốn mươi bức đó, y phục hai Bà chia làm ba loại khác nhau :

– Loại thứ nhất, phỏng theo y phục các thiếu nữ mặc, khi đóng vai hai Bà Trưng trong ngày lễ phụ nữ vào khoảng 1956-1963. Trong đó có bức tranh của họa sĩ Phạm Hoàng, đã được chọn để làm bìa cho bộ Anh hùng Lĩnh-nam.

– Loại thứ hai quần trắng, áo dài Le Mur mầu vàng. Không thắt lưng, ngoài choàng một lớp sa mỏng mầu trắng. Chân đi hài đầu đội khăn vành.

– Loại thứ ba ngoài chít khăn mầu, quấn ngoài một giải khăn, để xõa xuống lưng. Áo dài hơi giống áo tứ thân, cổ choàng khăn, phủ xuống đến vai. Ngang lưng quấn khăn, nút sang một bên hông. Vua Trưng thì nút ở bên trái, bà Trưng Nhị thì nút ở bên phải, quần hơi giống quần phụ nữ ngày nay. Chân đi giày, lưng đeo kiếm.

Sở dĩ chúng tôi chọn tranh của Phạm Hoàng làm bìa, vì biết chắc rằng hồi quyết định y phục cho các thiếu nữ trường Trưng-Vương, Gia-Long đóng vai Hai Bà, ban tổ chức có tham khảo ý kiến của ban trị sự hội tôn kính Trưng-Vương. Trong hội này có rất nhiều lính hay ghế của hai Bà. Sau khi bàn đi tính lại, dung hòa ý kiến, ban tổ chức đưa ra y phục trên, hơi giống y phục của tượng hai Bà, sau đó canh tân đôi chút.

Một lý do nữa khiến chúng tôi chọn tranh ấy, vì trước mắt dân chúng Việt-nam, dù muốn, dù không y phục đó đã thành quen rồi. Tiểu thuyết khác với lịch sử. Sử cần đúng, cần thực chính xác. Tiểu thuyết cần quen với quần chúng. Khi loại y phục đó quen với quần chúng, thì tự nó đã thành tiểu thuyết rồi.

Một lý do nữa khiến chúng tôi chọn tranh ấy, vì trước mắt dân chúng Việt-nam, dù muốn, dù không y phục đó đã thành quen rồi. Tiểu thuyết khác với lịch sử. Sử cần đúng, cần thực chính xác. Tiểu thuyết cần quen với quần chúng. Khi loại y phục đó quen với quần chúng, thì tự nó đã thành tiểu thuyết rồi.

Có thân hữu nêu ý kiến, nên cho người về Việt-nam chụp hình đền thờ vua Trưng ở quận Hai Bà Trưng ở Hà-nội, hoặc chụp hình hai Bà trong đền để làm hình bìa.

Đến đầu năm 1988, giữa anh Mai Trung và thuật giả có bàn luận về việc chia cuộc khởi nghĩa của vua Trưng ra làm ba đoạn. Giai đoạn một vẫn để nguyên tên là Anh hùng Lĩnh-nam từ quyển một đến quyển bốn. Giai đoạn hai từ quyển năm đến quyển bẩy, đặt tên là Động-đình hồ ngoại-sử. Giai đoạn ba, từ quyển tám đến quyển mười đặt tên là Cẩm-khê di hận. Khi quyết định như vậy, đương nhiên hình bìa phải thay đổi. Hình bìa bộ Động-đình hồ ngoại sử phải nhờ họa sĩ Phạm Đình-Tín vẽ. Khi họa sĩ vẽ xong, thuật giả xem y phục của bà Phật-Nguyệt đứng trên chiếm hạm, thấy giống hoàn toàn y phục của các bà mặc khi hầu bóng Trưng-Vương. Thuật giả có hỏi họa sĩ Tín về lý do nào mà ông vẽ y phục như vậy ? Ông nháy mắt rồi cười tủm tỉm trả lời :

– A... à thì tôi đã thấy nhiều lần rồi.

Thuật giả hiểu trong cuộc đời gần bảy mươi năm của ông. Ông đã từng được xem bà xã là một nhà văn nữ lên đồng, các giá về vua Trưng, Hoàng Thiều-Hoa, Trần Quốc, cho nên ông vẽ giống như y phục ấy.

Ngày 20 tháng 12 năm 1989, thuật giả có công tác y học phải đi Vân-nam. Khác với những lần trước, muốn đi Vân-nam phải đến Bắc-kinh, rồi đổi máy bay đi Côn-minh. Lần này có đường bay mới từ Vọng-các đi thẳng Vân-nam. Thuật giả tới Vọng-các rồi đổi máy bay đi Côn-minh. Vừa đi vừa về giảm đường bay được 12.000 cây số, thành ra thời gian công tác dư được năm ngày. Các bạn đồng hành lập tức trở về Vọng-các tắm hơi, hoặc vào nhà hàng No hands để được các cô gái Thái xinh đẹp đút cơm, mớm thức ăn cho. Thuật giả thì lợi dụng thời gian đó đi Ngô-châu, Liễu-châu thuộc Quảng-tây và Quảng-châu thuộc Quảng-đông. Tại các bảo tàng viện di tích văn hóa cổ ở đây, thuật giả tìm được nhiều ánh sáng về y phục thời vua Trưng.

Trong bốn bảo tàng viện Côn-minh, Ngô-châu, Liễu-châu và Quảng-châu, các công trình khai quật những ngôi mộ cổ, cũng như tranh khắc ở các thạch động, trống đồng vào thế kỷ thứ nhất, cung cấp cho thuật giả nhiều chi tiết quan trọng về y phục thế kỷ thứ nhất. Dưới đây thuật giả trình bày các hình chụp các y phục vào thời vua Trưng và thời Đông-Hán.

– Lạc-dương, kinh đô nhà Đông-Hán.

– Liêu-đông, vùng phía Đông Trung-quốc.

– Vân-nam, Quảng-tây, Quảng-đông, lãnh thổ Lĩnh-nam.

Qua các hình cho ta thấy y phục ba tỉnh thuộc lãnh thổ Lĩnh-nam hoàn toàn khác biệt với y phục thuộc lĩnh thổ Hán. Khác biệt đến độ gần như hoàn toàn. Mà y phục đó giống y như y phục trên tượng vua Trưng, cũng như các bà lên đồng mặc khi hầu giá các anh hùng thời Lĩnh-nam.

Thuật giả không chép sử, không thể và không bao giờ có hy vọng viết sử. Thuật giả chỉ viết tiểu thuyết lịch sử. Tiểu thuyết tha hồ phóng túng. Dưới ngòi bút của La Quán-Trung, Ngụy Võ-đế Tào Tháo đang là một anh hùng, đang là một thi sĩ đáng yêu trở thành một thứ gian hùng. Quan Vũ đang là một tên vũ phu thô lỗ, trở thành một đại anh hùng, trung nghĩa thiên thu. Thuật giả không viết theo lối đó. Ngược lại theo sát lịch sử. Tuy y phục thời Lĩnh-nam không phải là yếu tố quan trọng, nhưng khi tả các ngài cũng không thể cho các ngài mặc quần đen, đội khăn vuông mỏ quạ như vậy chẳng khác gì cho các ngài mặc quần jean, nhảy disco. Tuy nhiên nếu muốn cho vua Trưng mặc váy, áo búi que, đầu chít khăn vuông mỏ quạ như các cô gái Bắc-ninh hồi trước 1945, trong giai đoạn đầu các cuộc khởi nghĩa thì cũng còn có thể cãi được rằng : Khi bà Trưng mới khởi nghĩa, bà mặc quần áo giống như thôn nữ, để hòa đồng với mọi người thì cũng được. Mấy năm trước đây, Phong trào liên bang Đông Nam Á, tranh đấu ở hải ngoại, đã cho cờ của quân Tây-sơn mầu vàng. Vua Quang-Trung thì mặc giáp trụ giống như giáp trụ của Tôn Sĩ-Nghị. Rồi phong trào ra nghiêm lệnh, cấm dùng bất cứ cờ nào khác. Hôm làm lễ ra mắt phong trào, có mấy đứa trẻ con hơn mười tuổi tham dự, chúng cãi rằng cờ của vua Quang-Trung mầu đào và ngài mặc quần áo nâu sồng như trai thôn quê, vì căn cứ vào bài Ai tư vãn của công chúa Ngọc-Hân sau khi được phong Hoàng-hậu, khóc ngài :

Mà nay áo vải cờ đào,

Thay vì người ta giải thích cho chúng, thì lại xua đuổi chúng ra, Buồn thực.

Viết tại Paris ngày giỗ thứ 1947 vua Trưng (1990).

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau