ĐỘNG ĐÌNH HỒ NGOẠI SỬ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Động đình hồ ngoại sử - Chương 11 - Chương 15

Chương 11: Hữu nữ đồng xa Nhan ngư nghiêu hoa

Ba người lấy ngựa từ biệt Tạ viên ngoại, lên đường về Thành-đô. Mãi tới chiều mới tới nơi. Thành-đô bấy giờ là thủ đô của đất Ích-châu, Hán-trung, Tây-xuyên, Đông-xuyên. Dân cư đông đúc, nhà cửa san sát. Ba người vừa vào trong thành thì trời bắt đầu tối. Vương Nguyên quen thuộc với Thành-đô, ông đi trước, Đào Kỳ và Sa-Giang theo sau. Đến góc Tây-thành, ông dừng ngựa trước một trang trại khá đẹp. Đào Kỳ lại ngạc nhiên một lần nữa:

– Tại sao lão quen với nhiều phú gia như vậy? Mà người nào cũng cung cung, kính kính với lão? Có lẽ họ biết lão từ khi lão còn làm Tể-tướng cho Công-tôn Thuật cũng nên?

Lão dặn Đào Kỳ:

– Đào huynh đệ, ngưòi nhớ rằng người câm đấy nhé.

Lão giật chuông, lát sau một nô bộc ra mở cửa. Tên nô bộc rất hùng dũng, rõ ra vẻ người có võ công cao. Y trông thấy Vương Nguyên thì luống cuống như tên nô bộc Tạ viên ngoại:

– Lục... lão tiên sinh giá lâm. Nô bộc xin vào loan báo chủ nhân.

Vương Nguyên gọi theo:

– Ngươi báo rằng có Vu-Sơn và Sa-Giang tới thăm Điền trang chủ.

Một lát chủ nhân ra. Điền trang chủ tuổi đã lớn, ít ra trên 50 tuổi. Y thấy Vu-Sơn thì khoanh tay:

– Vu-Sơn tiên sinh giá lâm tệ trang, thật là vạn hạnh.

Vu-Sơn chỉ Đào Kỳ:

– Người này là con rể lão. Lão mới gả chồng cho con gái được hơn một tháng. Rể lão bị câm. Nhưng võ công khá lắm.

Điền trang chủ mời ba người vào trong nhà. Trà nước rồi, Vương Nguyên nói:

– Lão phiền trang chủ cho một phòng vắng để rể và con gái lão ở. Rể lão không biết nói, ít muốn tiếp xúc với người ngoài. Còn lão thì cho ở đâu cũng được.

Điền trang chủ gọi người quản gia:

– Lão Nhất! Lão đưa cô nương và công tử ra căn nhà phía sau vườn hoa ở tạm.

Lão Nhất dẫn hai người ra vườn sau nhà chính. Y chỉ vào căn nhà bằng gỗ, kiến trúc đơn sơ:

– Đây là căn nhà đẹp nhất Điền gia trang, công tử và tiểu thư sẽ được yên tĩnh.

Người quản gia đi rồi, Đào Kỳ than thầm:

– Khổ quá, giá đừng nói dối là vợ chồng, có phải mình được tự do không? Đêm nay mình lại phải ngủ ngồi nữa rồi. Chả biết mình có qua nổi cám dỗ không?

Đào Kỳ thấy Điền gia trang như có một cái gì bí mật, nhưng đoán không ra. Chàng tự hỏi:

– Với võ công của ta, ta há sợ cạm bẫy sao?

Vương Sa-Giang cầm đàn dạo mấy tiếng, rồi vừa đàn vừa hát.

Hữu nữ đồng xa,

Nhan như nghiêu hoa,

Tương can, tương cường.

Bội ngọc hoàn cư,

Bỉ mỹ Mạnh Khương,

Tuấn mỹ thả đô.

(Có một người con gái đi cùng xe với ta,

Nhan sắc tươi như hoa nở,

Chúng ta cùng đi chơi ngoài hoang dã.

Nàng đeo ngọc trên người,

Nàng là thiếu nữ danh giá, mỹ lệ,

Nàng đẹp phiêu hốt, văn nhã.)

Sa-Giang vừa cầm đàn, vừa hát khúc thứ nhì:

Hữu nữ đồng hành,

Nhan như Nghiêu anh,

Tương cao, tương tường,

Bỉ mỹ Mạnh Khương,

Đức âm bất vong.

(Có một người con gái đồng hành,

Má nàng tươi như hoa hồng mới nở,

Chúng ta cùng ngao du hoang dã.

Tiếng ngọc của nàng khua leng keng,

Nàng là con gái đẹp họ Khương,

Nàng xinh đẹp, phẩm chất để muôn đời.)

Đây là bài thơ Hữu nữ đồng xa trong Kinh-thi, thiên Trịnh-phong, kể truyện đôi trai gái yêu nhau say đắm, cùng đi trên một cái xe. Hồn phách mơ mơ màng màng. Bài này được phổ nhạc. chàng đã nghe lần đầu do Lan-Phương vợ Lục Mạnh-Tân, vừa tấu, vừa hát. Song lần này, hoàn cảnh chàng với Sa-Giang đúng như nội dung bản ca. Giọng ca Sa-Giang lại thanh thoát, êm ngọt, hòa với tiếng đàn vang vang trong đêm, khiến hồn chàng bay phơi phới.

Tiếng đàn và giọng ca Sa-Giang làm chàng lo sợ. Chàng muốn làm một việc gì, để phá tan cái tịch mịch đó. Chàng mở bọc ra tìm sách đọc, vô tình đụng phải bộ quần áo của Tường-Quy. Chàng lấy bộ quần áo ra, ngắm nhìn, ngơ ngẩn xuất thần. Chàng đưa bộ quần áo áp vào mặt. Hơi của Tường-Quy vẫn còn thoang thoảng. Chàng cất bộ quần áo, tay đụng phải một hộp nhỏ, mở ra là hộp thuốc. Chàng nhớ hộp thuốc đó của Khất đại-phu cho chàng. Ông bảo cứ đem theo người. Lỡ ra trúng độc dược, thuốc mê, nhân lúc chưa ngã, bỏ vào miệng một viên, chỉ lát sau tỉnh như thường. Chàng cầm hộp thuốc bỏ vào túi. Ngồi đợi Vương Nguyên đến bàn việc đột nhập hoàng cung thám thính. Đến chiều một người đầy tớ mang cơm cho chàng với Sa-Giang. Hai người ngồi ăn như cặp vợ chồng mới cưới. Ăn xong Sa-Giang đứng dậy rót nước cho chàng. Bỗng nàng cảm thấy choáng váng đầu óc, đứng không vững. Nàng đánh rơi tách nước xuống, gọi:

– Đại ca! Em...em...

Rồi nàng ngã xuống. Đào Kỳ nhảy lại đỡ nàng. Nàng ôm chặt lấy chàng rồi ngất đi. Chàng định hỏi Sa-Giang tại sao, thì chàng cũng cảm thấy đầu óc hơi choáng váng. Chàng vội ngồi xuống vận nội lực chống đỡ, bấy giờ chàng mới biết mình với Sa-Giang bị trúng thuốc mê. Chàng móc hai viên trong túi, bỏ vào miệng nuốt. Lát sau tỉnh táo như thường. Chàng nghĩ:

– Thế này là Điền viên ngoại đánh thuốc độc mình đây. Chắc chúng nó rình xung quanh. Vậy mình phải giả vờ mê man, xem chúng làm gì đã.

Nghĩ vậy, chàng giả vờ ngã đè lên người Sa-Giang rồi nằm yên. Một lát sau có tiếng hai ba người đi tới. Tiếng Điền viên ngoại hỏi:

– Thuốc rất mạnh, trúng phải ít nhất bốn giờ sau mới tỉnh. Các ngươi bồng hai người đặt lên giường, dùng chăn đắp lại cẩn thận.

Tiếng Vương Nguyên nói:

– Đào công tử võ công cao thâm. Muốn cẩn thận phải trói lại. Để y tỉnh dậy thì nguy lắm. Lão Nhất, ngươi ngồi đây canh hai đứa cho ta nghe.

Bấy giờ Đào Kỳ mới tỉnh ngộ:

– Chết thực! Ta bị trúng kế của lão già Vương Nguyên. Y đánh lừa ta đưa về đây không biết để làm gì? Nhưng nếu lão muốn hại ta sao lại đem con gái ngàn vàng đẩy vào cho không ta như thế này, thực khó hiểu. Điều chắc chắn ta bị lão đánh lừa. Bao nhiêu mưu kế của ta bên địch biết hết rồi. Ta thực vô dụng quá. Việc này lộ ra ta còn mặt mũi nào nhìn thiên hạ nữa?

Điền viên ngoại và Vương Nguyên đi rồi, lão Nhất cầm dây tới trói Đào Kỳ. Y vừa đụng vào người. Chàng chụp lấy hai tay khẽ bóp, lách cách hai tiếng, tay y bị gẫy. Chàng bịt miệng y nói:

– Mi kêu một tiếng ta bẻ gãy cổ, mi biết không?

Lão Nhất gật đầu. Đào Kỳ dùng dây trói lại, lấy giẻ nhét vào miệng, quăng y vào gầm giường, rồi vọt mình lên khu đại sảnh có đèn chiếu sáng trưng. Chàng nhảy lên mái nhà gỡ ngói nhìn xuống. Trong sảnh đường Vương Nguyên ngồi đối diện với Tạ viên ngoại, Điền viên ngoại.

Vương Nguyên nói với Tạ viên ngoại:

– Ngũ sư huynh, tất cả mọi chuyện tiểu đệ biết hết rồi. Chính anh hùng Lĩnh-Nam đã thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Thái sư phụ với anh em chúng ta. Cho nên đáng lẽ đệ cùng Đào Kỳ vào Thành-đô bắt đại ca trả thù. Đệ quyết gạt bỏ thù nhà, hợp với các vị huynh đệ bảo vệ trăm họ Ích-châu và phái Thiên-sơn nhà ta.

Đào Kỳ tự chửi thầm:

– Thì ra Tạ viên ngoại là Tạ Phong. Người đứng thứ năm trong Thiên-sơn thất hùng, tước phong Tề-vương, hiện giữ chức Tư-đồ trong triều Thục.

Vương Nguyên nói với Điền viên ngoại:

– Tứ sư ca. Chúng ta vào yết kiến đại sư ca ngay mới kịp, nếu không chỉ nội hai ngày nữa, đạo Lĩnh-Nam tới đây, tất cả đều tan nát hết.

Đào Kỳ tỉnh ngộ:

– Thì Điền viên ngoại là Điền Sầm, tước phong Tần-vương, giữ chức Tư-không trong triều Thục.

Vương Nguyên, Điền Sầm, Tạ Phong cùng đứng dậy ra cửa. Ba người lên ngựa hướng hoàng cung.

Thành-đô tuy nhỏ hơn kinh đô Lạc-dương, Trường-an. Nhưng ba trăm năm trước là nơi Cao-tổ nhà Hán đã đóng đô, rồi tiến ra đánh Hạng Vũ. Thành có hai lớp. Lớp ngoài dài khoảng 15 dặm, rộng khoảng 10 dặm. Trong lớp thành này là quân sỹ, dinh thự các quân tại triều. Lớp trong là hoàng thành dài khoảng bốn dặm, rộng khoảng ba dặm là cung thất của nhà vua. Đào Kỳ theo bén gót. Tới một dinh thự đồ sộ, phía trước có vệ sĩ canh phòng cẩn mật. Điền Sầm nói với quân canh:

– Người vào tấu với Hoàng-thượng rằng có Tần-vương và Tề-vương xin vào cầu kiến.

Đào Kỳ theo sát tên vệ sĩ. Chàng vọt lên mái nhà đi vào hai dãy nữa, thì thấy một tòa lâu đài lớn, sơn son, đèn bên trong chiếu ra sáng trưng. Chàng nhảy vọt lên, đeo cửa sổ ghé mắt nhìn vào.

Chàng suýt bật thành tiếng kêu lớn: Bên trong một người tướng mạo hùng vĩ ngồi trên cái ngai sơn son thiếp vàng. Hai bên giáp sĩ cầm gươm đứng hộ vệ. Có mấy người vận quần áo rất đẹp, đứng làm hai hàng. Trong đám ấy có Lê Đạo-Sinh, Đức-Hiệp, Hoàng Đức, Phong-châu song quái. Chàng tỉnh ngộ:

– Thì ra đây là nơi thiết triều của Công-tôn Thuật. Người ngồi trên ngai vàng chắc là y rồi.

Công-tôn Thuật mặt hầm hầm bảo một lão già:

– Trần thừa tướng. Ngươi xin ta thiết triều giữa đêm khuya có việc gì?

Lão già mập quỳ gối xuống trước mặt Công-tôn Thuật rập đầu:

– Thần là Trần Kim, dám lớn gan xin Hoàng-thượng khẩn cấp vì tình hình an nguy của xã tắc trong sớm tối. Những tin tức từ các nơi gởi về nói Thái-tử tư thông với giặc, đầu hàng Hán, để được làm vua đất Thục.

Công-tôn Thuật gật đầu:

– Tất cả những biểu chương đó ta đọc kỹ rồi. Nhưng ta thấy vô lý. Con ta là Thái-tử, hiện lĩnh Tư-mã coi hết quân quốc trọng sự. Ta lại già rồi. Một mai đương nhiên cơ nghiệp này không vào tay y thì vào tay ai? Vậy y phản để làm gì? Ta không tin là thế.

Trần Kim tiếp:

– Thái-tử đầu Hán không phải vì ngôi vua thôi, mà vì một người đàn bà. Thần xin cho nhân chứng tâu cùng bệ hạ.

Y vẫy tay gọi một tên thái-giám ra quỳ gối nói:

– Đây là thái-giám Nhật-Thanh hầu hạ Thái-tử. Y biết hết mọi chuyện. Chắc y không dám tâu oan cho Thái-tử đâu.

Nhật-Thanh là một tên thái-giám người gầy, sắc diện xanh xao bước ra rập đầu trước Công-tôn Thuật. Thuật hỏi:

– Ngươi hãy đem câu chuyện Thái-tử với Phùng Vĩnh-Hoa ra nói cho ta biết.

Nhật-Thanh chậm chạp tường thuật lần đầu tiên Phùng Vĩnh-Hoa cùng Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa xuất hiện dưới thành Dương-bình quan đánh Hầu Đơn bị thương. Rồi sau đó đấu âm nhạc, phi ngựa thổi tiêu với Công-tôn Tư, cho tới vụ nàng cùng Tư hẹn nhau trên đồi Định-cường tấu nhạc ngâm phú Ly Tao. Lúc trở về thì xảy ra trận chiến Dương-bình quan, thành mất.

Lê Đạo-Sinh bước ra tâu:

– Tâu Hoàng-thượng, nhân vật Lĩnh-nam thần biết rất rõ. Họ khác người Trung-nguyên ở điểm. Người Hán xuất trận chửi bới bên địch, rồi mới đánh nhau. Còn họ thì ngược lại, đối với bên địch lúc nào cũng nói năng nhỏ nhẹ, lịch sự. Khi Vĩnh-Hoa xuất hiện ở Dương-bình quan cùng Thái-tử đấu cỡi ngựa, thổi tiêu, là lúc y thị điều quân tới Võ-đô hẹn Thái-tử hai ngày sau gặp nhau trên đồi Định-cường. Rồi lập tức y thị đến Võ-đô điều khiển trận chiến. Sau khi đánh Võ-đô, y thị cho các tướng tiếp tục vây Nam-bình, Bình-võ rồi lộn trở về Định-cường cùng Thái-tử hẹn hò. Vì là chuyện trai gái, nên Thái-tử cấm không cho người ngoài vào căn nhà của hai người. Y thị giữ Thái-tử lâu như vậy, để Ngô Hán điều quân đánh Dương-bình quan. Chúa tướng bị cầm chân bởi nữ sắc trên đồi Định-cường, các tướng không biết xin lệnh ai, do đó Dương-bình quan mới mất.

Công-tôn Thuật gật đầu:

– Con ta không biết gì về nhân vật Lĩnh-nam nên mới mắc mưu chứ không thể nói vì nữ sắc mà nhường thành cho Hán.

Nhật-Thanh nhắc lại lời Phương-Dung nói với Công-tôn Tư trước trận Kiếm-các.

Thừa tướng Trần Kim tâu:

– Thái-tử nhờ anh hùng Lĩnh-Nam giúp làm chúa đất Thục. Thái-tử đang là chúa mà nhờ người giúp để được làm chúa, thì chỉ còn một việc là đầu hàng mà thôi.

Lê Đạo-Sinh tâu:

– Hai nhân chứng quan trọng nhất là hyện-lệnh Ba-trung và tệ đồ Đức-Hiệp thì không thể nào chối cãi được.

Công-tôn Thuật thở dài:

– Ta thẩm vấn hai người này, họ đều nói giống nhau. Vì vậy ta đã cho triệu Thái-tử về đối chất. Bay âu, mời Thái-tử vào đây.

Công-tôn Tư bước vào, quỳ gối tung hô vạn tuế:

– Hài nhi từ mặt trận được lệnh triệu hồi. Trước xin vấn an Phụ-hoàng, không biết Phụ-hoàng triệu con về có điều chi khẩn cấp?Công-tôn Thuật chỉ ghế bên cạnh:

– Hài nhi, ngươi ngồi đây.

Công-tôn Tư ngồi xuống ghế.

Thuật nói:

– Đại thần gởi biểu tấu nói rằng hài nhi định hàng Hán, để được làm chúa Ích-châu. Vì vậy ta mới triệu hài nhi về. Hài nhi trả lời với họ đi!

Công-tôn Tư quắc mắt nhìn khắp quần thần, mắt của y đến đâu mọi người đều rùng mình.

Y nói:

– Không cần biết ai nói gì, thần nhi chỉ xin tóm tắt lại mấy câu. Thần nhi được Phụ-hoàng dạy dỗ, văn không dở, võ không hèn. Hài nhi là Thái-tử cầm quyền Đại tư-mã. Binh quyền trong tay. Thần tuy chưa tiếp nhận ngôi trời, nhưng ngôi trời sẽ ở trong tay thần, hà cớ gì thần phải đầu Hán, phải nhờ ai giúp đỡ cho mới được ngôi trời?

Tư quay lại nhìn quần thần:

– Ai nói gì, ra đây đối chất với ta. Phụ-hoàng có nhớ chuyện Tăng Sâm không? Tăng Sâm là người hiền thục đến con kiến cũng không nỡ giết. Một hôm có người trùng tên với ông giết người. Tăng mẫu đang ngồi dệt cửi, có người qua nói với bà: Tăng Sâm giết người. Tăng mẫu điềm nhiên nói: Con ta hiền không giết người. Một lát người thứ nhì qua nhà nói: Tăng Sâm giết người. Tăng mẫu cũng điềm nhiên nói: Con ta hiền thục, không giết người. Một lát sau, người thứ ba đi qua nói: Tăng Sâm giết người. Tăng mẫu sợ quá, bỏ khung cửi leo qua cửa sổ mà chạy. Biết con không ai bằng Tăng mẫu. Hiền không ai bằng Tăng tử, thế mà ba người nói, Tăng mẫu cũng tin. Trước đây, ai cũng khuyên thần nhi không nên cầm quân, vì cầm quân thắng cũng không được thêm gì, mà bại e mất ngôi Thái-tử như không. Thần biết thế nhưng vẫn cầm quân. Vì nghĩ, ai cầm quân cũng dễ bị dèm xiểm mà hỏng việc, nên thần phải làm. Không ngờ đến ngay thần nhi, là giọt máu của Phụ-hoàng được Phụ-hoàng sủng ái, thân tới Thái-tử mà còn bị miệng thế dèm pha.

Lê Đạo-Sinh nói về vụ Đức-Hiệp với hyện lệnh Ba-trung nghe chính miệng Nghiêm Sơn, Phương-Dung nói trong đêm.

Công-tôn Tư nổi giận nói:

– Lê tiên sinh, tiên sinh từ Lĩnh Nam lên đây giúp đất Thục. Tôi xin đa tạ. Nhưng có điều tiên sinh mưu việc phế trưởng lập thứ, thực không hợp đạo lý chút nào. Tiên sinh khuyên Phụ-hoàng cho xuất đạo kỳ binh đánh Dương-bình quan. Phụ-hoàng nghe lời, ban chỉ thị cho xá đệ phải hợp với tôi. Nhưng tiên sinh khuyên y không cho tôi biết, thế là nghĩa làm sao? Tôi cầm quân bấy lâu nay, đánh dư trăm trận, tôi biết rõ tình hình giặc, mà tôi không được thông báo, để có thể hợp binh. Tiên sinh cùng xá đệ bê trễ việc canh phòng Ba-trung, đến nỗi bị giặc đánh úp lấy hết lương thảo. Huyện lệnh là em ruột Tây-cung quý phi, là cậu ruột xá đệ. Chắc y cùng Đức-Hiệp xuất thành, bịa ra chuyện Nghiêm Sơn cùng với Phương-Dung để hại tôi.

Y hỏi thái giám Nhật-Thanh:

– Nhật Thanh! Đêm mà Lê tiên sinh nói là ngươi được ta cử đi liên lạc với Nghiêm Sơn, ngươi ở bên cạnh ta kia mà?

Nhật Thanh run rẩy:

– Thần cũng tâu với Hoàng-thượng như vậy. Nhưng Lê tiên sinh bắt thần phải nhận, nếu không Lê tiên sinh giết cả nhà thần.

Lê Đạo-Sinh cười:

– Thái-tử, vậy việc Điện-hạ hẹn hò với Vĩnh-Hoa để làm gì? Trước trận Phương-Dung nói sẽ giúp Điện-hạ làm chúa Ích-châu là tại sao? Tại sao Vĩnh-Hoa bắt được vợ con, của cải các tướng ở Dương-bình quan lại đem về trả cho Thái-tử?

Công-tôn Tư nói:

– Điều đó Phụ-hoàng ta đã biết rồi. Chính Nghiêm Sơn cũng khoe trước trận rằng y chủ trương việc đó, để giữ gìn đạo lý võ lâm. Còn Vĩnh-Hoa thì nàng rất tử tế với ta.

Lê Đạo-Sinh cười nhạt:

– Thái tử bảo thị tử tế với Thái-tử ư? Thị tử tế để đánh úp Dương-bình quan, Kiếm-các, Võ-đô, Bình-võ và Giang-du ư?

Giữa lúc đó Tây-cung quý phi từ sau ngai vàng bước ra quỳ gối.

– Xin Hoàng-thượng minh xét, hyện-lệnh Ba-trung tuy là em của thần thiếp, nhưng không thể bịa chuyện hại người được. Đó là một điều đúng. Thái-tử là trừ quân, vừa ra trận đã bị nữ sắc mê hoặc, để đến nỗi Võ-đô bị đánh úp, rồi mất luôn Nam-bình và Bình-võ. Sau đó Thái-tử lại hẹn hò với nữ quân sư của giặc, tự tình trên đồi Định-cường, cấm không cho ai quấy rầy suốt một ngày, để giặc có thời giờ bố trí đánh Dương-bình quan. Dương-bình quan mất, giặc lại đem tỳ thiếp của Thái-tử, vợ con của tướng sĩ trả với của cải là thế nào? Rồi trước trận Phương-Dung hứa giúp Thái-tử làm chúa Ích-châu. Sự thể đã rõ ràng rồi. Thần dám xin Bệ-hạ hãy truất phế Thái-tử, giao cho người khác cầm binh quyền. Nếu không, thần e đất Ích-châu một sớm, một tối cũng về tay Hán mất.

Công-tôn Thuật thở dài:

– Lời quý phi tâu cũng có phần đúng. Được đợi ta hỏi ý kiến các sư đệ ta đã.

Thái-tử Công-tôn Tư tâu:

– Tâu Phụ-hoàng, hiện giờ Thành-đô bị ba đạo quân uy hiếp. Sự thực các tướng Hán thì con không sợ làm bao. Thần bị bại là do Nghiêm Sơn từ Lĩnh Nam về mang theo một số anh hùng, đồng đạo, nên Thục mới bị bại. Tài như thúc phụ là Trường-sa vương ở mặt Kinh-châu còn bị mất Xuyên-khẩu, Bạch-đế, Võ-lăng, Phong-đô, Bột-thành. Còn đạo phía Nam thì tiến như vũ bão. Nghĩa đệ Phúc, Lộc, Thọ đầu hàng giặc, có lẽ một hai ngày nữa đạo này tới Thành-đô. Thế mà trong triều, trên là Thừa-tướng, cho tới quý phi mong hại thần nhi...

Công-tôn Tư thở dài:

– Đạo Hán-trung sỡ dĩ thắng Thục vì họ có đạo kỳ binh luyện tập rất tinh thục. Đó là 300 con báo, 300 con hổ, sức mạnh bằng mấy chục vạn binh. Đạo Lĩnh Nam sỡ dĩ vượt qua qua Kim-sơn là nhờ đội Thần-hầu, đến 600 con khỉ leo núi, chăng cầu dây cho quân qua. Độ-khẩu mất vì đội Thần-xà bơi qua sông. Thủy quân trở thành vô dụng. Đạo Kinh-châu bị đội Thần-ưng, Thần-phong và Thần-tượng. Con nghĩ, xưa kia Lưu Bang bị Hạng Võ đánh thua 72 trận, chỉ thắng một trận mà thành đại nghiệp. Vậy Phụ-hoàng nên di giá về vùng phía Tây. Chúng ta cùng dân Thục nằm gai nếm mật, trường kỳ chống giặc. Chỉ ít lâu sau đám anh hùng Lĩnh Nam rời đất Thục. Chúng ta đánh một trận là thành công.

Công-tôn Thuật nói:

– Thái sư phụ của ta có đứng chứng kiến đàn khỉ vượt Thiên-sơn, người lẫn trong quân Hán, nên biết rất rõ những gì diễn ra.

Công-tôn Thuật hỏi Lê Đạo-Sinh:

– Lê tiên sinh! Tiên sinh có biết tại sao đám anh hùng Lĩnh Nam không lo phục quốc, mà bỏ quê hương viễn chinh đánh Thục giúp Hán?

Lê Đạo-Sinh đáp:

– Có lẽ chúng muốn kiếm mấy chức Thái-thú, Huyện-úy của Quang-Vũ.

Công-tôn Tư lắc đầu:

– Tiên sinh nói sai rồi. Chính Vĩnh-Hoa, Trưng Nhị đều nói giống nhau. Họ là những người hùng tài đại lược, nhất định không muốn làm quan... Trước đó họ tổ chức đại hội Hồ-tây, tuyển người sang tâu cùng Quang-Vũ trả Lĩnh Nam về cho người Việt. Họ muốn làm như xưa kia Vạn-tín hầu Lý Thân đã làm. Những người sang Hán cầu phong đều là những người tài giỏi bậc nhất. Vạn nhất Quang-Vũ muốn thử tài. Họ sẵn sàng đấu với võ lâm Trung-nguyên. Còn nếu Quang-Vũ không cho, họ trở về phất cờ khởi nghĩa. Họ muốn dùng Nhu trước. Họ đang chuẩn bị lên đường thì Quang-Vũ phong cho Nghiêm Sơn làm Bình-nam vương đánh Thục. Cho nên họ muốn lập công lao, hầu dễ nói năng với Quang-Vũ. Đó là điều không may cho Thục mà thôi.

Ngừng lại một lúc y tiếp:

– Lê tiên sinh, trong đại hội Tây-hồ tiên sinh là một trong những người trọng tài. Nếu không có Khất đại phu, Đào Kỳ, Phương-Dung, Phật-Nguyệt thì tiên sinh là đệ nhất cao nhân Lĩnh Nam rồi phải không? Trước kia ai cũng tưởng tiên sinh là đệ nhất cao nhân, là quân tử. Không ngờ Nguyễn Phan bị tiên sinh giam giữ, nhưng vẫn truyền được võ công cho Phật-Nguyệt, Đào Kỳ. Đào Kỳ truyền cho Phương-Dung. Thế là tới hai tay kiếm thuật kinh người có thể thắng tiên sinh. Đào Kỳ tìm được bộ Văn-lang võ học kỳ thư, tức Văn-lang võ kinh, luyện tập đầy đủ, rồi gặp sư huynh của tiên sinh là Khất đại-phu. Hai người trao đổi, phát minh thêm, thành ra võ công họ mới bỏ xa tiên sinh. Trong trận Tây-hồ, tiên sinh bị sư huynh đánh thập tử nhất sinh. Trên đảo Đào-hoa, tiên sinh bị Đào Kỳ đánh suýt bỏ mạng, may nhờ cháu ngoại là tình nhân của Kỳ xin cho, tiên sinh mới thoát chết. Sự tình như thế mà tiên sinh còn dấu diếm làm gì?

Công-tôn Thuật nói:

– Khất đại-phu với Thái sư-phụ ta là Thiên-sơn lão tiên đã hội với bảy sư huynh đệ. Đại phu hứa để anh hùng Lĩnh Nam phản Hán giúp Thục, chia ba thiên hạ. Hoặc giả cũng không giúp Hán nữa.

Y ngừng lại rồi nói với Lê Đạo-Sinh:

– Tiên-sinh tới đây giúp chúng ta. Sau khi chiếm được Trung-nguyên, ta hứa phong cho tiên sinh làm Lĩnh Nam vương. Suốt vùng Lĩnh Nam từ thứ-sử cho đến thái-thú, huyện-lệnh, huyện-úy đều do tiên sinh bổ nhiệm hết. Sau tiên sinh lại mưu việc phế lập, làm loạn trong nhà ta?

Giữa lúc đó thị vệ vào quỳ tâu:

– Muôn tâu, có Tần-vương, Tề-vương, Trường-sa vương và Lũng-tây vương xin vào bệ kiến bệ hạ.

Công-tôn Thuật gật đầu:

– Ta cần những người này giải quyết vụ Thái-tử. Mời ba vị vào đây.

Công-tôn Thuật tỏ vẻ kính phục bốn người này, y đứng dậy đón Công-tôn Thiệu, Điền Sầm, Tạ Phong, Triệu Khuôn cùng Vương Nguyên vào. Năm người định phủ phục xuống lạy, Thuật phất tay một cái. Kình lực hùng mạnh, đẩy năm người dậy.

Y trông thấy Vương Nguyên, chạy lại ôm lấy. Hai người đứng lặng giờ lâu, không nói nên lời. Cả hai nước mắt dàn dụa. Triều thần cũng im lặng. Một lúc lâu Thuật mới nói:

– Lục sư đệ, ta nhớ sư đệ quá. Ta cho tìm sư đệ khắp nơi mà không thấy. Mới đây nghe sư đệ đi theo đạo quân Lĩnh Nam, định mượn tay người Lĩnh Nam giết chết sư huynh để trả thù. Hôm rồi trước mặt Thái sư-phụ, ta hứa sai người đi tìm sư đệ, truyền ngôi cho sư đệ hầu tạ lỗi xưa. Không ngờ hôm nay sư đệ trở về đây.

Y dắt Vương Nguyên ngồi xuống ghế bên cạnh.

Công-tôn Khôi đến trước mặt Vương Nguyên quỳ xuống, rút kiếm đưa cho y nói:

– Sư đệ, ngươi giết ta đi để trả thù cho hiền thê của ngươi. Mấy chục năm nay, ta sống trong tủi nhục, hối hận, còn khổ gấp mười sư đệ.

Vương Nguyên cầm kiếm quăng ra xa, phất tay đẩy Công-tôn Khôi dậy, nói:

– Đệ về đây để bàn về cái thế mất còn của Ích-châu và phái Thiên-sơn. Chứ không phải về để bàn chuyện trả thù riêng.

Vương Nguyên tiếp:

– Đệ ở với đạo Lĩnh Nam mấy tháng nay được biết, anh hùng Lĩnh Nam sang trợ Hán đều là những người trọng nghĩa hiệp. Khi khởi binh từ Giao-chỉ, họ đã không muốn giúp Hán. Nhưng nhờ uy thế của Đào Kỳ, Phương-Dung họ mới chịu theo. Đào Kỳ là sư đệ của Lĩnh-nam vương-phi. Trong trận đấu tiếp xúc với Tam sư huynh ở Xuyên-khẩu. Anh hùng Lĩnh Nam nhận thấy, họ trợ Hán là giúp kẻ ác đánh người đồng đạo. Nghiêm Sơn nhắc nhở họ rằng, dù biết Thục là người hiệp nghĩa, cũng phải đánh để có cái thế đòi lại Lĩnh Nam. Đạo Hán-trung cũng vậy, Phùng Vĩnh-Hoa gặp Thái-tử, thấy ở Thái-tử và tướng sĩ đầy hiệp nghĩa, nên khi đánh được Dương-bình quan, Vĩnh-Hoa mới đem vợ, con, tài sản trả lại cho tướng sĩ.
Công-tôn Thuật gật đầu, công nhận là đúng. Vương Nguyên tiếp:

– Sau Nghiêm Sơn đánh úp Ba-trung, gặp Đức-Hiệp ở đó. Y bày ra kế giả thái-giám Nhật-Thanh, rồi vờ sơ sẩy để Đức-Hiệp và huyện-lệnh vượt ngục hầu có cớ để hại Thái-tử.

Vương Nguyên hướng vào Công-tôn Tư:

– Thái-tử phải ra trận ngay, giữ vùng quan ải, an ủi sĩ tốt. Có hai việc sẽ xảy ra: Sứ giả của nhị sư huynh đi Lĩnh Nam gặp Đặng Thi-Sách đã có kết quả. Đặng Thi-Sách vẫn nhớ lời nhị sư ca. Ông cho mời các chưởng môn nhân Lĩnh Nam đến hội. Họ đồng ý với đề nghị của Đặng Thi-Sách. Vì vậy họ cử hai người có uy tín nhất là Đinh Đại, sư thúc của Đào Kỳ và cũng là sư thúc cũng Lĩnh-nam vương phi với Đặng phu-nhân tức Trưng Trắc sang đây thuyết phục anh hùng Lĩnh-nam theo kế sách của Nhị ca: Chia ba thiên hạ. Tuy vậy Đào Kỳ vẫn cho tiến binh vào Thành-đô. Nội ngày mai quân tới đây. Đại ca ra lệnh cho các nơi tránh giao tranh để bảo vệ chủ lực. Đào Kỳ sẽ hội với anh hùng Lĩnh Nam hai đạo kia rồi mới quyết định. Nếu tất cả đồng ý với giải pháp của Nhị ca. Quân trong tay, họ chỉ trở cờ một ngày trả Ích-châu về cho ta, chiếm lại Hán-trung, Kinh-châu ngay tức khắc. Còn trường hợp không đồng ý, họ cũng sẽ bảo vệ gia quyến chúng ta sang Lĩnh Nam lánh nạn. Tất cả công ơn đó đều do Thiên-sơn lão tiên Thái sư-phụ và tiên ông Khất đại phu mà ra.

Công-tôn Tư chắp tay hướng Vương Nguyên:

– Đa tạ sư thúc dạy bảo.

Vương Nguyên đứng lên hướng Công-tôn Thuật:

– Xin đại sư huynh cho đệ mượn thanh Thượng-phương bảo kiếm.

Công-tôn Thuật rút kiếm đưa cho Vương Nguyên. Vương Nguyên chỉ vào mặt Thừa-tướng Trần Kim:

– Nhà ngươi thân làm Thừa-tướng, mà đi nhận tiền đút lót của Quang-Vũ để hại Thái tử. Bây đâu đem chém đầu làm hiệu lệnh.

Vệ sĩ dạ ran, mang Trần Kim ra ngoài tức thời.

Vương Nguyên chỉ vào Thái giám Nhật-Thanh:

– Ngươi ăn lộc chúa, thấy chúa bị nạn, phải xả thân ra cứu mới phải, thế mà vì sợ Lê Đạo-Sinh, bịa đặt hại chúa. Để ngươi sống làm gì?

Y vung tay, chĩa ngón trỏ điểm vào trán Nhật-Thanh. Phập một tiếng, đầu y thủng lỗ, ngã lăn xuống thềm điện. Nhưng y chưa kịp ngã, Vương Nguyên đá một cái, người y bay bổng ra ngoài cửa sổ, rơi xuống.

Đào Kỳ nghe phía sau có tiếng chân người vụt qua rất nhẹ. Chàng quay lại thấy ba cái bóng vọt qua nóc điện rất nhanh. Khinh công như vậy chàng chưa thấy bao giờ. Chàng biết những bóng này không phải là của vệ sĩ. Vì vệ sĩ không có khinh công đến độ đó.

Chàng buông cửa sổ, chạy sát theo ba cái bóng, thấy họ chạy ra ngoài hoàng thành. Chàng cũng rời hoàng thành chạy theo họ sát nút.

Ba bóng đen vượt qua thành ra ngoài, chàng cũng vượt theo. Vừa đáp xuống, một bóng đen phóng chưởng đánh chàng. Chưởng chưa phát ra, chàng đã thấy ngạt thở. Chưởng này còn mạnh hơn chưởng của Lê Đạo-Sinh nhiều. Kinh hãi, chàng hít hơi vận đủ mười thành công lực, phát chiêu Ác ngưu nan độ trong Phục ngưu thần chưởng nhưng vận âm kình, đỡ vào chưởng kia. Bịch một tiếng sẽ, chàng cảm thấy trời long đất lỡ, mắt nẩy đom đóm, ngực muốn vỡ tung ra, chân tay tê dại, chàng phải lùi lại hai bước, mới đứng vững được.

Chàng nghĩ rất nhanh:

– Tại sao đất Thục cũng có cao thủ đến cỡ này? Chưởng lực của y ngang với Lê Đao-Sinh, Khất đại-phu chứ không phải tầm thường. Dù Lê Đạo-Sinh, khi chàng vận âm kình y cũng bị bại, thế mà người này cũng chỉ lùi có một bước.

Chàng nghĩ vậy vận sức dương cương phát chiêu Hải triều lãng lãng của phái Cửu-chân. Đối thủ cũng vận sức đánh vào giữa chưởng của chàng. Lần này hai chưởng dương cương gặp nhau, binh một tiếng lớn, tuyết bay lên trắng xóa một vùng. Chàng nhận ra chưởng của đối phương là Phục ngưu thần chưởng. Đối thủ đã phát chiêu thứ ba, chàng vận khí phát lớp thứ nhì của Hải triều lãng lãng, lần này hai chưởng gặp nhau, tuyết bay mù mịt, không nhận ra đối thủ đâu nữa.

Chàng hít một hơi, vận chân khí phóng ra lớp thứ ba. Chưởng lực ào ào đổ chụp lên đầu đối phương. Đối phương ra chiêu Lưỡng ngưu quy gia cũng trong Phục ngưu thần chưởng. Bùng một tiếng cả hai lùi lại. Đào Kỳ thấy ngực đau ngâm ngẩm.

Chàng vội đổi, không phát chưởng Cửu-chân nữa, mà phát chiêu Ác ngưu nan độ vận âm kình. Bịch một tiếng, đối phương bật lui trở lại, vì chưởng lực của chàng làm tiêu hết công lực dương cương của đối thủ. Bỗng có tiếng quát thanh thoát:

– Khoan, người nhà cả, đánh lẫn nhau rồi.

Chàng nghe tiếng quát, thấy ấm cả lòng. Chính là tiếng Phương-Dung.

Phương-Dung từ bóng tối nhảy ra. Đào Kỳ ôm lấy nàng bế bổng lên.

Chàng nghe tiếng Khất đại-phu:

– Đào tiểu hữu, chưởng lực ngươi mạnh hơn lão rồi đấy. Người sau hơn người trước là phúc cho đất Lĩnh Nam.

Trong bóng tối còn hiện ra Trần Năng nữa. Phương-Dung vẫy tất cả đến một ngôi nhà vắng.

Nàng thuật cho Đào Kỳ nghe rằng các mặt trận đều tạm ngưng tiến quân. Chờ đạo Lĩnh Nam tiến vào Thành-đô. Trần Năng từ đạo Kinh-châu tới, cho biết đạo này đã tới Phụng-kê. Khất đại-phu, Phương-Dung, Trần Năng thám thính Thành-đô, vừa nhập hoàng cung thì gặp Đào Kỳ. Họ tưởng thị vệ nên bỏ chạy.

Đào Kỳ thuật sơ lược những gì chàng đã nghe thấy ở hoàng cung đất Thục. Chàng chỉ dấu không nói đến vụ Sa-Giang.

Khất đại-phu nói:

– Đào tiểu hữu, ngươi đã nhận được thư của Đào hầu rồi chứ? Đào hầu, Đinh hầu, Trưng Trắc, Thi-Sách là bốn người thủ lĩnh trong việc phục hồi Lĩnh Nam. Họ mời cao nhân Lĩnh Nam tới họp, quyết định phản Hán, bắt tay với Thục, chia ba thiên hạ. Chúng ta sở dĩ giúp Hán, là muốn mang 30 vạn quân Hán ra khỏi Lĩnh Nam. Bây giờ việc đó đã thành. Chúng ta chỉ cần thuyết phục Nghiêm Sơn chịu phản Hán, lên ngôi Hoàng-đế Lĩnh Nam nữa mà thôi. Cho nên đạo Hán-trung, Kinh-châu đều ngưng tiến quân. Vì khi vào Thành-đô, họ sẽ không tuân theo lệnh Nghiêm Sơn. Còn đạo của tiểu hữu cứ tiến vào Thành-đô, nhưng tránh giao tranh.

Phương-Dung nói:

– Điều căn bản là chúng ta phải họp anh hùng Lĩnh Nam cả ba đạo, bàn xem phải hành động như thế nào? Nếu không Ngô Hán, Đặng Vũ, Mã Viện ra tay, chúng ta không có đường về.

Đào Kỳ nghĩ đến Nghiêm Sơn, Thiều-Hoa ngần ngại chưa quyết đoán.

Khất đại-phu nói:

– Đào tiểu hữu, người phải bỏ tình riêng ra mới được. Dù có phải hy sinh Hoàng Thiều-Hoa, Nghiêm Sơn hay cả phái Tản-viên ta mà được Lĩnh Nam, chúng ta cũng làm. Giờ đây việc cầu Quang-Vũ trả Lĩnh Nam thật là khó khăn. Chi bằng, chúng ta sẵn quân ở trong tay, chỉ phất cờ mà được đất Lĩnh Nam, tại sao chúng ta không nắm lấy thời cơ?

Phương-Dung ở bên Nghiêm Sơn đã lâu, nàng hiểu tính Nghiêm Sơn hơn ai hết:

– Nếu chuyện này xảy ra, Nghiêm đại ca sẽ đứng bên ngoài chẳng giúp bên nào cả. Một bên nghĩa huynh Quang-Vũ, một bên biết bao nhiêu bằng hữu Lĩnh Nam.

Khất đại-phu cười:

– Cháu Dung! Ta biết chắc Nghiêm Sơn sẽ ngả theo chúng ta. Cháu quên nguồn gốc Nghiêm Sơn rồi à? Cháu quên những gì Nghiêm Sơn nói với chúng ta trên con thuyền ở Cối-giang, khiến chúng ta phải lạy Nghiêm đó sao?

Trần Năng nhìn sư phụ gật đầu cười:

– Sư phụ nhưng bí mật đó mình có nên nói ra hay không?

Khất đại-phu lắc đầu:

– Khi khởi sự hãy nói!

Sáng hôm sau, các đạo Lĩnh Nam tiến sát Thành-đô. Đào Kỳ truyền án dinh hạ trại. Chàng cấm không cho binh sĩ rời trại, không cho quấy nhiễu dân chúng. Chàng họp tất cả anh hùng Lĩnh Nam, tường thuật những điều tai nghe mắt thấy ở hoàng cung Thục.

Trưng Trắc, Đinh Đại bàn:

– Bây giờ chúng ta cần cử người vào Thành-đô gặp Thiên-sơn thất hùng, rồi mai này chờ các sư huynh đệ các đạo khác tới sẽ họp sau.

Phương-Dung nói:

– Bàn về hành quân, vây địch, thì em dám quyết định. Việc này phải nhờ sư thúc Đinh Đại với sư tỷ Trưng Trắc mới được.

Khất đại phu nói:

– Để ta đi với các cháu.

Trưng Trắc cùng Khất đại-phu, Đinh Đại lên ngựa đến cổng Thành-đô. Tướng giữ cổng đứng trên vọng lâu hỏi xuống:

– Ba vị là ai? Đi đâu?

Khất đại-phu nói:

– Ngươi vào tâu với hoàng thượng rằng có lão ăn mày đất Lĩnh Nam cùng với Đinh Đại, Trưng Trắc, cầu kiến.

Viên tướng vào trong một lúc, cửa thành phát ba tiếng pháo rồi mở rộng. Bên trong một hàng giáp sĩ dàn chào. Công-tôn Thiệu, Vương Nguyên ra cổng đón vào.

Ba người được dẫn đến một ngọn đồi nhỏ. Trên đồi có căn nhà gỗ lớn. Công-tôn Thiệu mời ba người vào trong, đã có đủ mặt Thiên-sơn thất hùng. Công-tôn Thiệu mời ba người an tọa. Y bưng trà mời khách, giới thiệu tất cả các sư đệ.

Cuối cùng y nói:

– Mời Thái sư-phụ ra tiếp khách.

Sau tấm màn gấm, một lão già râu tóc bạc phơ như tuyết, tươi cười bước ra. Khất đại-phu trông thấy mừng quá, đứng dậy nắm tay lão nói:

– Đinh sư điệt, con bé Trưng Trắc, đây người bạn già 60 năm nay của lão. Chúng ta đáng lẽ được hưởng phúc tiên cảnh, không ngờ vì Lĩnh Nam và Ích-châu mà phải lăn mình vào cõi trần.

Thế rồi hai ông nắm tay nhau ngồi bên ấm trà nói chuyện. Bên ngoài tuyết bay trắng xoá bầu trời.

Trưng Trắc đứng lên chắp tay cung kính:

– Kính thưa Thiên-sơn lão tiên, tiện nữ nghe nói, hôm Đinh Công-Thắng, Triệu Anh-Vũ sư bá, cùng Tây-vu lục hầu tướng vượt Kim-sơn được lão tiên khoan hồng đại độ không xuống tay. Vì vậy họ còn sống đến ngày hôm nay. Tiện nữ muôn vàn cảm tạ lão tiên.

Thiên-sơn lão tiên xua tay:

– Cảm tạ cái gì? Có cái gì mà phải cảm tạ? Ta đứng trên đỉnh núi, thấy đám Lĩnh Nam sử dụng bầy khỉ vượt Thiên-sơn. Ta nhìn qua, biết họ là những hào kiệt thời đại, làm những chuyện cổ kim chưa ai dám làm. Hồi đầu ta định bắn sỏi đứt dây, giết hết chúng để bảo vệ đám đồ tử, đồ tôn phái Thiên-sơn. Song ta nghĩ: Anh hùng trên đời có mấy người, giết đi thật uổng. Nên ta chỉ để thơ cảnh cáo mà thôi. Ha! Lĩnh Nam, Ích-châu có nhiều anh hùng mới dám chống Quang-Vũ. Lĩnh Nam giúp Quang-Vũ đánh Thục là tự đánh mình vậy. Hôm nay lão phu ngồi xem Lĩnh Nam lão tiên giải quyết.

Ông rót rượu mời Khất đại-phu uống. Hai ông cụ lại bàn chuyện võ công, võ đạo cứu người.

Công-tôn Thiệu lên tiếng:

– Đặng sư tỷ, lâu nay Đặng sư huynh vẫn mạnh chứ?

Trưng Trắc đáp lễ:

– Đa tạ Công-tôn tam sư huynh, tiện phu vẫn mạnh khỏe. Hôm nay tiểu muội tới đây tạ tội với tam sư huynh về sự thất hứa của tiện phu. Trước đây tiện phu cùng tam sư huynh đấu võ kết bạn, sau đó bàn quốc sự định rằng Thục, Hán, Việt chia ba thiên hạ. Tiện phu vì giữ đúng lời hứa với sư huynh, không cho tiểu muội biết. Vì vậy trong lần đại hội anh hùng Lĩnh Nam trợ Hán. Chính tiểu muội chủ tọa, mà không biết đến kế sách của sư huynh với tiện phu đã định, mới để anh hùng Lĩnh Nam trợ Hán đánh Thục. Sự thể đã ra thế này, chỉ có cách là quên hết mọi chuyện để làm lại từ đầu mà thôi.

Công-tôn Thuật lên tiếng:

– Đặng sư tỷ quá lời, phái Thiên-sơn từ trên, xuống dưới hiện giờ như cá nằm trên thớt. Sống hay chết, còn hay mất chỉ là trông cậy vào anh hùng Lĩnh Nam mà thôi.

Vương Nguyên nói:

– Trước mặt Thái sư phụ cùng với các vị, tôi xin trình bày rằng. Chúng tôi không dám đòi hỏi thi hành lời hứa của Đặng sư huynh với Tam sư huynh tôi, mà chỉ xin so sánh dùm chúng tôi. Một là diệt Thục thì bốn phương phẳng lặng. Quang-Vũ và triều Hán kiêu căng, liệu các vị xin trả lại Lĩnh Nam họ có thuận không? Dù có thuận, nay kiếm cớ này, mai kiếm cớ khác, rồi mang quân sang đánh, liệu các vị có ở yên được không? Trước đây Quang-Vũ theo phò Cảnh-Thủy hoàng đế, rồi y cũng cướp lấy sự nghiệp của ngài. Y cùng với Ngỗi Hiêu vạch đất chia giang sơn, rồi y cũng mang quân cướp mất sự nghiệp. Y cùng đại sư huynh chúng tôi chỉ trời, thề nhau chia thiên hạ. Rồi y cũng đem quân đánh. Huống hồ khi quý vị diệt xong chúng tôi, y đâu cần quý vị nữa, y sẽ trở mặt, quý vị có nhiều nhân tài thật, nhưng muốn chiếm lại Lĩnh Nam cũng tốn biết bao xương máu.

Đinh Đại, Trưng Trắc đồng gật đầu. Vương Nguyên tiếp:

– Còn đường lối thứ nhì, các vị giúp Thục phục hồi, chúng ta cùng khởi binh chiếm lại đất cũ, chia ba thiên hạ. Khi Hán đánh Thục, Lĩnh Nam đánh lên. Khi Hán đánh Lĩnh Nam, Thục đánh vào Lạc-dương, Lĩnh Nam cũng như Thục, dùng đạo nghĩa võ đạo cai trị dân. Chỉ mấy năm, chúng ta thịnh vượng lên. Trong khi Hán, vua thì hôn ám, quan thì tham ô, dân chúng không phục, giặc giã nổi lên. Chúng ta cứ ngồi khoanh tay mà coi có phải sướng hơn không? Chứ nay các vị đòi họ cho phục hồi Lĩnh Nam, dù Quang-Vũ có cho chăng nữa, Lĩnh Nam cũng phải tiến cống xưng thần nhục nhã gì bằng? Quang-Vũ là người ngu đần, văn dốt võ rát. Chúng ta là người văn mô, vũ lược, phải quỳ gối trước hắn ư? Tại sao vua Lĩnh Nam phải tiến cống Quang-Vũ, mà Quang-Vũ không tiến cống vua Lĩnh Nam?

Trong lò sưởi, củi nổ lách tách, Đinh Đại, Trưng Trắc nghe Vương Nguyên trình bày, hiểu rõ đạo lý. Trưng Trắc là người có đởm lược, hùng tâm, trông rộng nhìn xa. Nàng nói:

– Những điều Vương đại hiệp nói, tiểu muội đã nghĩ đến. Có điều đất Lĩnh Nam, anh hùng làm việc phải có ý kiến của nhau. Mai này đại hội, tiểu muội cố gắng trình bày cho họ hiểu. Khổ một điều, hiện các người cầm quyền thuộc loại trẻ, ảnh hưởng của Nghiêm Sơn với họ rất nhiều. Quan trọng nhất là Phương-Dung, Vĩnh-Hoa, Trưng Nhị. Như các vị thấy, hiện nay về tài dùng binh, dù Hán, dù Thục, không ai địch lại ba người này. Bản lĩnh Đào Kỳ tuy kém ba người đôi chút. Nhưng e rằng không kém Công-tôn thái tử, hơn Đặng Vũ, Ngô Hán. Võ công y cao nhất Lĩnh Nam. Phương-Dung tuy giỏi thật, nhất thiết mọi việc quốc sự đều nghe theo chồng. Đào Kỳ lại nghe theo sư tỷ Hoàng Thiều-Hoa. Hoàng Thiều-Hoa là Lĩnh-nam vương phi. Giới trẻ còn lại đều là người thân với chúng cả. Vậy trước khi vào đại hội, Đinh-hầu đây là sư thúc của Đào Kỳ, Thiều-Hoa. Chỉ Đinh-hầu mới có thể bắt Đào Kỳ, Thiều-Hoa theo mình mà thôi.

Nàng chỉ Khất đại-phu:

– Còn Thái sư thúc, thì ngài là chú của Nam-hải nữ hiệp, Tiên-yên nữ hiệp, Thiên-trường đại hiệp, lại là sư thúc của Trưng Nhị, có thể bảo được Trưng Nhị, Vĩnh-Hoa, Lê Chân. Còn Phật-Nguyệt thì có phần hơi khó.

Đinh Đại chỉ vào túi:

– Đặng phu nhân yên tâm. Đám đệ tử Cửu-chân như Thiều-Hoa, Đào Kỳ, Hiển-Hiệu, Phương-Dung. Chúng tài ba đến đâu, võ công siêu việt đến thế nào đi nữa, sư huynh tôi chỉ nói một câu, dù mất mạng chúng cũng vui lòng tuân theo. Gia pháp của Đào sư huynh tôi rất nghiêm. Trước khi khởi hành, Đào sư huynh đã viết thư cho Thiều-Hoa, Đào Kỳ, Phương-Dung, Hiển-Hiệu, bảo chúng tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh tôi. Người dặn tôi tuyệt đối nghe quyết định của Đặng phu nhân. Vậy đám đệ tử Đào-gia không còn là điều khó khăn nữa.

Công-tôn Thiệu hỏi Trưng Trắc:

– Trưng sư muội! Có một điều ta không hiểu là anh hùng Lĩnh-nam tài ba thế, mà khi nghe đến Đặng tiểu đệ, đến Đào-hầu, Đinh-hầu và sư muội họ đều răm rắp nghe theo?

Trưng Trắc đáp:

– Kể về vai vế thì Thái sư thúc Khất đại-phu lớn nhất. Kể đạo đức thì sư bá Nam-hải đứng đầu. Song sở dĩ Đào-hầu, Đinh-hầu với vợ chồng tôi được anh hùng Lĩnh Nam răm rắp nghe theo, vì trọn đời chúng tôi dành cho việc Phản Hán phục Việt.

Thiên-sơn lão tiên nói:

– Cứ theo sự nhận xét của lão, thì Trần sư huynh đây mà mở miệng nói ra, mọi người phải nghe theo. Sư huynh còn quả quyết rằng giải pháp đó đưa ra, Nghiêm Sơn sẽ đứng trung lập không theo Hán, cũng chẳng theo Lĩnh Nam, chắc là sư huynh đã biết một sự bí mật nào đó của Nghiêm Sơn rồi, chứ không sai đâu.

Công-tôn Thuật sai bày tiệc đãi khách. Trưng Trắc thấy Thiên-sơn thất hùng đãi mình trong căn nhà gỗ, nơi thờ phụng tổ tiên phái Thiên-sơn, chứ không đãi trong hoàng-cung, biết họ muốn lấy chữ nghĩa hiệp đãi mình. Nàng cảm động, ngồi ăn nói chuyện, trao đổi về các nhân vật đương thời.

Vương Nguyên ứng đối như nước chảy. Trưng Trắc nghe y bàn, chuyện gì cũng hợp lý. Y xứng đáng là người đã từng làm nguyên soái cho Ngỗi Hiêu, đánh Quang-Vũ bao lần nghiêng ngả. Đến nỗi y phải rạch đất chia thiên hạ cho Ngỗi Hiêu. Chỉ vì Ngỗi Hiêu chết, con y hèn hạ đầu hàng Quang-Vũ, đến nỗi đất Lũng-thượng mất. Thục mất thế ỷ dốc, thành ra cô đơn. Dù cô đơn, Thục cũng đánh Hán nhiều phen nghiêng trời lệch đất, đến nỗi những đại tướng khét tiếng như Sầm Bành, Phùng Dị, Đặng Vũ, Ngô Hán đều bị thua. Quang-Vũ phải gọi đến Nghiêm Sơn để cứu vãn đại cuộc. Nghiêm Sơn cũng chẳng hơn gì bọn họ, mà hoàn toàn ỷ vào đám hào kiệt Lĩnh Nam.

Chương 12: Phản Hán phục Việt

Khất đại phu, Đinh Đại, Trưng Trắc trở về trại Hán. Đào Kỳ ra đón trở vào trướng. Anh hùng Lĩnh Nam tụ hội nghe kết quả.

Trưng Trắc nói:

– Đào hiền đệ! Anh hùng Lĩnh Nam ta bị lầm mất rồi. Phàm làm anh hùng biết mình bị lầm lẫn, thì nhận lỗi sửa chữa cũng không sao. Khi khởi binh có chiếu chỉ của Hán Quang-Vũ kể tội Công-tôn Thuật đủ thứ: Nào là Ngụy chiếm Tam-xuyên, Ích-châu. Nào là xuất thân trộm cướp, cát cứ đạo tặc, trăm họ lầm than. Vì vậy ta mới đồng ý xuất chinh diệt Công-tôn Thuật. Nhưng từ hôm vào Ích-châu tới giờ, sư đệ thấy dân sống sung túc, giàu có. Trăm họ thái bình yên vui. Tướng sĩ một lòng sống chết bảo vệ đất Thục. Trên từ vua, xuống đến các quan, đều có tinh thần hiệp sĩ như chúng ta. Vì vậy chúng ta nên xét lại những việc làm của mình xem có đúng đạo lý hay không.

Nam-hải nữ hiệp nói:

– Ta cũng nhận thấy thế. Lấy bạo tàn, thay bạo tàn là có tội. Huống hồ lấy bạo tàn thay hiệp nghĩa. Cháu có nghe lời ta không?

Đào Kỳ đứng dậy chắp tay:

– Cháu nguyện nghe lời dạy dỗ của sư bá.

Nam-hải nữ hiệp thở dài:

– Lập tức cháu cho liên lạc với các đạo quân kia, mời anh hùng Lĩnh Nam tới đây hội nhau. Chúng ta thảo luận, cùng quyết định trước khi chiếm Thành-đô. Không biết cháu nghĩ thế nào?

Đinh Đại biết Đào Kỳ vướng mắc tình cảm với Hoàng Thiều-Hoa. Ông là sư thúc, là cậu của chàng. Ông biết chàng với Thiều-Hoa sống với nhau từ nhỏ. Tình thì sư tỷ sư đệ, mà trên thực tế như mẹ với con. Bây giờ bảo chàng đổi thái độ với Thiều-Hoa, Nghiêm Sơn, thực khó hơn bắc thang lên trời. Ông biết trên đời, ngoài Đào Thế-Kiệt với ông ra, không ai có thể bắt chàng làm chuyện đó được

Khất đại-phu nói:

– Đào tiểu hữu! Ngươi biết rõ nguồn gốc Nghiêm Sơn là thế nào rồi đó. Trên thế gian này chỉ có ta với Trần Năng là biết thêm một cơ mật của Nghiêm Sơn nữa. Song ta không nói ra. Nghiêm sở dĩ giúp Quang-Vũ, không hẳn vì nghĩa đệ huynh, mà còn một lý do khác. Bây giờ chúng ta đâu có phản Nghiêm? Chúng ta phản Quang-Vũ, tôn Nghiêm lên làm hoàng-đế mà thôi. Có điều bắt Nghiêm chống Quang-Vũ, khiến Nghiêm buồn trong lòng. Song đổi cái buồn mà lấy Lĩnh Nam thì thực là lợi quá.

Thấy Đào Kỳ có vẻ xiêu lòng, Đinh Đại lấy bức thư của Đào Thế-Kiệt để trước mặt chàng.

– Bố cháu thảo luận với ta rồi mới viết thư cho cháu và Thiều-Hoa, dặn nhất nhất phải nghe ta và Trưng Trắc.

Đào Kỳ nghe nhắc đến bố vội vàng đứng dậy:

– Cháu xin nghe lời cậu và sư tỷ Trưng Trắc.

Đinh Đại thấy cần phải tự quyết. Ông cầm lịnh tiễn của Đào Kỳ gọi con gái là Đinh Bạch-Nương dặn:

– Con cầm lịnh tiễn qua đạo Kinh-châu, hiện đã tới Đồng-nam, mời sư bá Lại Thế-Cường, sư tỷ Phật-Nguyệt và Trưng Nhị đến đây họp khẩn cấp. Nhất thiết tạm ngừng tiến quân. Nói dối rằng Khất đại-phu triệu tập về đây ăn Tết.

Ông gọi đệ tử là Quách Lãng dặn:

– Con cầm lệnh tiễn này đến đạo Hán-trung, mời tất cả anh hùng Lĩnh Nam về đây họp. Kể cả những người của Hồ Đề.

Trưng Trắc dặn Đào Kỳ:

– Sư đệ cho người đưa ba anh em họ Vương về đây bảo vệ cẩn thận, đừng để họ bị hại. Sư đệ phải ra lịnh cho tất cả tướng sĩ trấn thủ, chỉ nghe lịnh một mình sư đệ mà thôi. Ai trái lịnh chém đầu liền. Vì có thể tin này lộ ra. Quang-Vũ cho người đến tiếp nhận các ải, mình hết đường về.

Nàng dặn Hồ Đề:

– Phía Nam Thành-đô, có núi My-sơn. Sư muội mang đội Thần-tượng, Thần-hầu, Thần-phong và Thần-xà đến dàn ra tại núi này, để chúng ta tới họp. Về nhân lực, chỉ mang theo người Lĩnh Nam mà thôi. Đợi Ngao-sơn tứ lão tới đây, chúng ta dùng đội Thần-ngao canh phòng quanh đồi.

Sự thực Nghiêm Sơn thấy Đào Kỳ biết dùng binh, võ công cao, sủng ái Thiều-Hoa mà để chàng cầm quyền nguyên soái cho tiện. Chứ thực địa vị tại Lĩnh Nam thì chàng đối với Nam-hải, Đinh Đại hay Trưng Trắc hoàn toàn là bề dưới. Cho nên khi thấy Đinh Đại, Nam-hải, Trưng Trắc quyết định, chàng chỉ biết tuân theo.

Trưng Trắc tiếp:

– Các tướng chỉ huy quân từ Lĩnh Nam, thì Lại Thế-Cường chỉ huy đạo Nhật-nam đóng với quân Kinh-châu, không đáng lo. Minh Giang chỉ huy đạo Quế-lâm, Hiển-Hiệu chỉ huy đạo Tượng-quận, Lương Hồng-Châu chỉ huy đạo Nam-hải, từ lúc rời Phiên-ngung đến giờ, họ không rời quân nắm vững tình hình. Chỉ duy có đạo Giao-chỉ của Đinh Công-Thắng và đạo Cửu-chân của Triệu Anh-Vũ là đáng sợ. Vì hai người phải leo núi, tạm giao lại cho Đào Kỳ và Thiều-Hoa thống lĩnh. Bây giờ phải trả quân lại cho họ, để họ giữ vững quân tình. Nếu không thì sinh biến.

Sáng hôm sau Đào Kỳ dậy sớm, cùng Nam-hải nữ hiệp, Trưng Trắc kéo nhau đến núi My-sơn. Từ xa đã thấy trên trời từng đoàn Thần-ưng bay lượn trông rất đẹp mắt. Khi chàng đến chân núi thì Thần-hầu cầm gậy dàn chào. Chàng liếc mắt nhìn trên các ngọn cây, chỗ nào cũng thấy Thần-hầu canh gác nghiêm ngặt. Đi lên chút nữa, đội Thần-tượng gác vòng trong, cuối cùng là đám Lục-Sún ngồi vắt vẻo trên cây, cầm tù-và. Đâu đó trên các ngọn cây đều có Thần-xà cuốn trên các cành. Xa xa đội Thần-Ngao đi đi, lại lại tuần phòng.

Nam-hải nữ hiệp than:

– Hồ Đề là tiên ở sơn lâm, mới điều khiển thú vật được. Không biết nàng làm cách nào mà nội trong một ngày đã san bằng khu đất, làm được căn nhà nhỏ với mấy chục cái ghế ngồi. Canh phòng thế này, đến con kiến cũng không lọt vào được, chứ đừng nói là gian tế.

Nam-hải nữ hiệp bước vào trong, thấy đủ người của đạo Hán-trung: Khất đại-phu, Phùng Vĩnh-Hoa, Cao Cảnh-Minh và Phương-Dung. Bà kiểm lại người của mình: Đào Kỳ, Lương Hồng-Châu, Triệu Anh-Vũ, Đinh Công-Thắng, Trưng Trắc và Đinh Đại, đạo Kinh-châu mới có Trần Năng, Hồ Đề.

Bà nghi ngờ hỏi Vĩnh-Hoa:

– Không biết có gì xảy ra mà không thấy Trưng Nhị, Phật-Nguyệt và sư bá Lại Thế-Cường.

Mọi người đều biết cuộc họp này do Đinh Đại triệu tập khẩn cấp. Họ cảm thấy như có một cái gì không ổn đã xảy ra.

Cao Cảnh-Minh tuy võ công cao, nhưng về ước tính thời cuộc ông còn thua xa Vĩnh-Hoa, Phương-Dung. Ông biết Đinh Đại, Đào Thế-Kiệt là người văn võ song toàn, nhận thức thời cuộc rõ ràng minh bạch. Nay Đinh Đại triệu tập như vậy ắt có điều không hay xảy đến. Nếu đánh Thục thì không phải, việc chiếm Thành-đô đã nắm trong tay quân Hán, cần gì phải hội đặc biệt như vậy? Thấy vắng mặt Nghiêm Sơn và Hoàng Thiều-Hoa thì ông cho rằng người Hán đã trở mặt với mình.

Trưng Trắc đứng lên nói:

– Dù còn thiếu sư bá Lại Thế-Cường với Trưng Nhị, chúng ta vẫn phải khai hội, nếu không e trễ mất.

Bỗng có tiếng kêu kéc kéc, một Thần ưng bay đến trước Hồ Đề đậu vào tay nàng miệng ngậm miếng giấy.

Hồ Đề mở ra coi, rồi nói:

– Phái đoàn đạo Kinh-châu tới. Sún Lé cho Thần ưng báo trước để chúng ta khỏi bỡ ngỡ.

Hồ Đề thả Thần-ưng bay khỏi lều, thì có tiếng chân ngựa, rồi Trưng Nhị, Phật-Nguyệt, Lại Thế-Cường người đầy tuyết bước vào.

Chào hỏi nhau xong, Nam-hải nữ hiệp đứng lên nói:

– Đinh-hầu với tôi có ý mời các vị tới đây họp, quyết đoán một việc rất quan trọng. Trước khi vào đề, xin Trưng Nhị cho biết nhận xét về đạo Kinh-châu.

Trưng Nhị đứng lên nói:

– Chúng tôi tới Xuyên-khẩu giữa lúc quân Đặng Vũ mất tinh thần vì thua mấy trận liền. Sau đó chúng tôi giúp y đánh chiếm Xuyên-khẩu, Bạch-đế. Đến đây chúng tôi được đạo Lĩnh-nam cho tăng cường Giao-long nữ với đội Giao-long binh của Đào hiền đệ. Vì vậy chúng tôi ngược Trường-giang chiếm Lương-bình, Võ-lăng, Phong-đô, Bồ-thành, Quảng-an và Đồng-nam. Về tình hình dân chúng, mặc dù chúng tôi ra lệnh cho quân sĩ không được cướp của đốt nhà. Nhưng dân chúng vẫn thương khóc thảm thiết, vì Thục bị thua. Họ nói Thục nhân nghĩa, Hán ác độc. Binh tướng Thục đều cương quyết chiến đấu. Họ thà chết chứ không chịu đầu hàng. Đời sống dân chúng trong đất Thục sung túc, giàu có hơn các vùng Hán cai trị rất nhiều. Cho nên tôi linh cảm thấy rằng những gì Quang-Vũ nói với chúng ta về Thục: Nào là ngụy Thục, cát cứ quân phiệt, nào là phải tiến quân mau để cứu dân Ích-châu đều là trái ngược. Chúng ta đã vô tình giúp bạo nghịch đánh người hiền.

Ngừng một lát, nàng nói:

– Lục Sún có công đầu chiếm thành Bạch-đế, bắt Công-tôn Thiệu. Sau đó chúng thăm dân, thấy họ khóc thương Thục, oán hận Hán. Chúng vào nhà tù hỏi Công-tôn Thiệu xem y làm cách nào khiến dân chúng sung sướng. Thiệu đã kể về cuộc gặp gỡ giữa Khất đại-phu với Thiên-sơn lão tiên và cuộc kết bạn, cùng hứa chia ba thiên hạ với Đặng đại ca. Lục Sún không tin, chúng bảo Thiệu viết thư cho Đặng đại ca. Chúng sai Thần ưng mang về Lĩnh Nam. Sau được Thần-ưng mang thư Đặng đại ca sang xác nhận. Chúng bí mật thả Công-tôn Thiệu ra. Việc đó tôi biết, nhưng nhắm mắt lờ đi. Vì chúng ta dạy chúng hành hiệp, dùng nghĩa giúp đời. Nay chúng thực hành lời dạy, không thể trách chúng được.

Phùng Vĩnh-Hoa đứng lên trình bày về đạo Hán-trung:

– Đạo Hán-trung gặp phải một kình địch khủng khiếp, đó là Thái-tử Công-tôn Tư, người nắm quyền Đại tư-mã đất Thục. Tư, tài kiêm văn võ, tôi phải trăm cay, nghìn đắng mới lấy được Dương-bình quan, Kiếm-các, Võ-đô. Nhưng ngay trận đầu tiếp xúc với Công-tôn Tư, tôi đã biết mình đánh lầm người ngay. Vì vậy, tôi hứa giúp y, ít ra giữ vững ngôi vua Ích-châu. Kể từ đó tôi không tiến quân nữa. Bởi các vùng mới chiếm được, đi đến đâu cũng nghe dân chúng khóc thương Thục-đế.

Trưng Trắc đứng lên nói:

– Ở Lĩnh Chúng tôi chưa kịp trả lời, lại được thư của Thái sư thúc Khất đại-phu, Phùng Vĩnh-Hoa. Chúng tôi không dám tự chuyên, phải mời các vị Thái bảo phái Sài-sơn, Cao-cảnh hầu phái Hoa-lư, Đào-hầu, Đinh-hầu phái Cửu-chân, Nguyễn Trát tiên sinh phái Long-biên hội ý. Tất cả đều đồng ý rằng: Chúng ta đã mang được 30 vạn quân Hán khỏi Lĩnh Nam, coi như phục hồi Lĩnh Nam được một nửa. Bây giờ Quang-Vũ có trả lại Lĩnh Nam hay không cũng thế thôi. Chúng ta hãy dùng Thái sư-thúc Khất đại phu, Đặng đại ca kết hợp với Thục, chia ba thiên hạ, mới bảo vệ nổi Lĩnh Nam. Hội nghị cử tôi với Đinh-hầu sang đây, họp các vị xin ý kiến.

Đào Kỳ đứng lên nói:

– Chúng ta đều là người dưới của Nghiêm đại ca. Đại ca đã đem bí mật đời mình trình bày với quý vị. Sỡ dĩ đại ca không phản Quang-Vũ vì hai lý do. Một, đại ca với y có nghĩa huynh đệ. Hai là một lý do khác. Lý do đó chỉ có Khất đại phu biết. Vì vậy đại ca muốn chúng ta giúp đại ca đánh Thục. Sau đó đòi Lĩnh Nam. Dù được, dù không, đại ca cũng không màng công danh, tiêu dao sơn thủy. Bây giờ bắt đại ca phản Quang-Vũ, thì ra chúng ta bắt đại ca làm người bất nghĩa sao?

Sún Rỗ lên tiếng:

– Các sư bá, sư thúc dạy cháu phải giúp người thiện, đánh kẻ ác. Từ khi tiến vào Kinh-châu, cháu thấy bọn quan quân Hán tàn bạo, ác độc. Còn quan quân Thục thì thương dân, được dân theo. Rõ ràng là chúng ta giúp kẻ ác, đánh kẻ thiện. Chúng ta lầm đứt đuôi con nòng nọc rồi.

Sún Lé nói:

– Trong trận đánh Bạch-đế, chúng cháu bắt Công-tôn Thiệu. Vì vậy hàng ngày cháu vào nhà tù thăm y. Y tỏ vẻ thản nhiên không giận hờn bọn cháu. Y bảo giữa chúng cháu với y không thù, không oán, chẳng qua ai cũng vì nước của người ấy. Y kể không biết bao nhiêu điều tàn ác của quân Hán. Cháu thấy đúng, vì chính bọn quân Hán tàn ác, đã giết cha mẹ chúng cháu, khiến chúng cháu thành mồ côi.

Sún Lùn tiếp:

– Mỗi khi tiến quân đến đâu. Chúng cháu lại thấy dân chúng khóc lóc thảm thiết, giúp đỡ bại binh Thục trốn tránh quân Hán, rõ ràng Thục có chính nghĩa. Vì vậy chúng cháu bàn nhau, rồi bí mật thả Công-tôn Thiệu ra. Chúng cháu còn tự hứa, không dùng Thần-ưng giúp Hán nữa.

Sún Cao hỏi:

– Sư tỷ Trưng Nhị! Sư tỷ là quân-sư. Vậy từ ngày tới Kinh-châu đến giờ, sư tỷ đã chi bao nhiêu tiền lương thực để chúng em nuôi Thần-ưng?

Trưng Nhị ngẩn người ra nói:

– Sư tỷ quên mất khoản đó. Với 600 thần ưng, mỗi ngày tiêu thụ 1200 cân thịt. Vậy các Sún lấy đâu ra cho chúng ăn?

Sún Cao lè lưỡi như nhát Trưng Nhị:

– Sư tỷ bảo chúng em, phàm làm tướng phải biết đến ăn uống bệnh tật, tinh thần binh sĩ. Vậy mà sư tỷ quên không cho 600 Thần-ưng ăn. Nếu đợi đến nay nhắc sư tỷ mới nhớ ra, thì Thần-ưng chết rục xương rồi.

Hồ Đề hỏi:

– Thế các sư đệ nuôi Thần-ưng bằng gì?

Sún Lé cười:

– Còn bằng gì nữa? Đệ thấy mấy tên Hán quân nào mà độc ác với dân là bí mật bắt cho Thần ưng ăn thịt. Một ngày mười Thần-ưng ăn một người. Như vậy mỗi ngày mất 60 tên quân Hán. Từ hồi đến Kinh-châu tới giờ tổng cộng là 237 ngày. Thần-ưng đã nhá hết 14.220 tên quân Hán ác độc.

Trưng Nhị gật đầu:

– Ta thường nghe Đặng Vũ than rằng, từ khi rời Kinh-châu bị mất tích bí mật gần 20.000 quân, thì ra các sư đệ cho Thần-ưng ăn.

Mọi người nghe Lục Sún nói đều giật mình, vì không ngờ đầu óc non trẻ của chúng mà hành động trả thù quân Hán đến như vậy.

Ngao-sơn tứ lão là những người hiền lành, ít nói, bây giờ Vi Đại-Lâm mới xen vào:

– Chúng tôi dùng chó để tìm bắt gian tế của Thục gần chỗ đóng quân. Có lần tôi cho chó cắn rách chân tay một gian tế Thục, hỏi cung. Thế mà chúng vẫn nghiến răng không chịu khai. Chúng còn nhiếc chúng tôi rằng: Lĩnh Nam bị Hán cai trị, sao không về đánh đuổi người Hán đi, mà lại đi đánh Thục. Từ ngày đó, chúng tôi gặp Tế tác Thục thì tha cho đi, chứ không bắt họ nữa.

Trưng Nhị, Phương-Dung, Vĩnh-Hoa nghe Ngao-sơn tứ lão nói vậy thì kinh hoàng. Vì họ tưởng đây là những người hiền lành ít nói dễ điều khiển. Có ngờ đâu, phàm những người ít nói, họ thường có đường lối hành động riêng, khó mà biết được. Còn những người phản đối, la hét um sùm, rất dễ điều khiển, thuyết phục.

Phương-Dung nói:

– Bây giờ chúng ta có hai quyết định, một là theo đường cũ, hai là đổi theo đường mới, xin quý vị quyết định cho. Ở đây chúng ta có quyền biểu quyết, nếu đa số theo đường nào, thì chúng ta phải theo đường đó. Như vậy hay hơn.

Tất cả đều đồng ý. Phương-Dung đứng dậy kiểm điểm lại.

– Vai nhất: Khất đại-phu Trần Đại-Sinh, Cao Cảnh-Minh. Cộng 2 người.

– Vai nhì: Nam-hải nữ hiệp, Lương Hồng-Châu, Triệu Anh-Vũ, Đinh Công-Thắng, Lại Thế-Cường, Nga-sơn tứ lão, Đinh Đại. Cộng 10 người.

– Vai ba: Thiều-Hoa (vắng mặt), Trưng Trắc, Đinh Bạch-Nương, Trưng Nhị, Hồ Đề, Phật-Nguyệt, Trần Năng, Lê Chân, Phương-Dung, Lê Ngọc-Trinh, Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa, Thần Nỏ Âu-lạc tứ hùng(4), Trần-gia tam nương(3), Đào Kỳ, Trần Quốc, Giao-Chi, Mai-động ngũ hùng(5), Đào Hiển-Hiệu, đội Giao-long binh (100), đội Thần-long Mai-động (100), Tây-vu lục hầu tướng (6), Tây-vu tam hổ tướng (3), Tây-vu tam báo tướng (3), Ngũ-long công-chúa (5), Thần-tượng (10), Lục-phong quận-chúa (6), Lục Sún (6). Cộng 268 người.

Tổng cộng có 281 người, vắng mặt một người,. Mỗi người được phát hai phiếu, một phiếu ghi Trợ Hán, một phiếu ghi Trợ Thục. Nhưng chỉ được bỏ một phiếu mà thôi.

Bầu xong, Khất đại-phu, Nam-hải nữ hiệp hai người vai vế cao nhất, kiểm điểm số thăm thấy:

– Trợ Hán có 30 phiếu.

– Trợ Thục có 250 phiếu.

Khất đại-phu bàn:

– Thôi chúng ta nghĩ một lát nữa, biểu quyết lại. Hy vọng có người đổi ý kiến chăng?

Vừa lúc đó có tiếng tù-và thổi từ xa vọng lại, mọi người nhìn Hồ Đề như hỏi ý kiến. Hồ Đề bước ra một lúc rồi trở vào nói:

– Có văn thư khẩn cấp gởi Đào hiền đệ. Văn thư này được chuyển bằng Thần-ưng từ Dương-bình quan về đây.

Nàng đưa văn thư cho Đào Kỳ. Đào Kỳ bóc ra xem, là thư của Nghiêm Sơn gửi. Chàng đọc cho mọi người cùng nghe.

Lĩnh-nam vương, Tả tướng quốc

gửi cho sư đệ là Đào KỳTa vừa được ngựa lưu-tinh báo cho biết Kiến-Vũ thiên-tử mang đại quân lên Trường-an tiếp viện cho chúng ta đánh Thục. Vì vậy ta phải đi Dương-bình quan tiếp giá. Đào hiền đệ khẩn điều khiển đạo Lĩnh Nam đóng ngoài Thành-đô, đợi đạo Kinh-châu tới lập tức tiến quân bắt Công-tôn Thuật.

Ngao-sơn tứ lão nói lớn:

– Vậy thì ngày một, ngày hai Quang-Vũ cũng tới đây. Chúng ta phải chiếm Thành-đô đòi công lao với y cho xong.

Phương-Dung nhìn Vĩnh-Hoa, Trưng Nhị, ba người lắc đầu tỏ vẻ không đồng ý.

Trưng Trắc đứng lên nói:

– Thôi rồi, Nghiêm Sơn nguy đến nơi rồi.

Phương-Dung, Vĩnh-Hoa, Trưng Nhị cùng nhìn nhau gật đầu. Phương-Dung hạ lệnh:

– Hồ sư tỷ cho Thần-ưng chuyển thư ngay, giữ Nghiêm đại ca lại đừng cho y đi đón Quang-Vũ. Nếu không Nghiêm đại ca sẽ bị y giết.

Mọi người nhìn nhau tỏ ý không hiểu.

Phương-Dung vỗ bàn:

– Phải làm ngay! Nếu không thì không kịp. Này nhé, chúng ta tiến quân như vũ bão. Mỗi ngày đều có tấu chương gửi về cho Quang-Vũ. Thì y phải biết chúng ta thò tay ra là bắt được Công-tôn Thuật, việc gì y phải mang đại quân ra Trường-an tiếp viện? Có lẽ gian thần xàm tấu, Quang-Vũ nghi ngờ Nghiêm đại ca. Vì vậy một mặt y giả vờ đem quân tiếp viện, một mặt y đóng ở Trường-an đề phòng Nghiêm đại ca. Y muốn bắt chước Cao-tổ nhà Hán là Lưu Bang vờ chơi Vân-mộng bắt Hàn Tín. Như vậy việc nhờ Nghiêm đại ca tấu với Quang-Vũ cho phục hồi Lĩnh Nam đã hỏng rồi. Vậy chúng ta chỉ còn đường thứ nhì thôi.

Đào Kỳ hiểu ra, chàng uất ức quá độ, mặt đỏ bừng, vận chưởng phóng mạnh vào một cây to bằng bắp đùi bên đường đến rầm một cái. Cây gẫy đôi từ từ đổ xuống.

– Bọn Hán triều thực khả ố. Tổ tiên chúng xưa là Lưu Bang đã tàn nhẫn với công thần. Nay con cháu suýt tuyệt diệt mà vẫn giữ thói cũ.

Trưng Trắc thản nhiên vỗ vai Đào Kỳ:

– Sự đời là thế đó, có gì mà không hiểu. Khi Lưu Tú còn hàn vi, bị Vương Mãng đuổi bắt. Y được Nghiêm Sơn và Hợp-phố lục-hiệp xả thân một đêm đánh 20 trận cứu thoát, rồi từ đó trung hưng lên được. Y còn nhờ Nghiêm Sơn kinh lược 6 quận Lĩnh Nam đem lương thực, quân mã về tranh dành Trung-nguyên. Y phong cho Nghiêm Sơn làm Lĩnh-nam công, rồi mới đây khi cần Nghiêm Sơn đánh Thục, y phong cho làm Lĩnh-nam vương. Bây giờ lấy xong Thành-đô, y phải phong cho hiền đệ làm Hán-trung vương như lời hứa. Y biết Nghiêm Sơn nắm binh quyền, chỉ trở tay một cái là lật được y. Vì vậy y phải ra tay trước.

Khất đại phu nói:

– Việc này cần mưu mẹo nhiều hơn là hành binh bố trận. Vĩnh-Hoa hãy điều động mọi người theo đường lối mới. Nếu không khéo, Quang-Vũ cho người truyền lệnh tới Mã Viện, Ngô Hán và Đặng Vũ thì chúng ta hết đường về Lĩnh Nam.

Phùng Vĩnh-Hoa đứng lên hỏi:

– Có quý vị nào phản đối không?

Tất cả đều gật đầu đồng ý với nhau.

Phùng Vĩnh-Hoa hạ lệnh:

– Bây giờ cần hai người, một võ công cực cao, một mưu trí tuyệt vời theo Nghiêm đại ca. Nếu thấy quả Quang-Vũ vô tình không nghi ngờ Nghiêm đại ca thì thôi. Bằng y bắt giam Nghiêm đại ca, phải cứu Nghiêm đại ca, rồi chuyển thư về đây cho chúng ta biết để còn trở tay kịp. Tôi đề nghị Thái sư-thúc Khất đại-phu đi cùng các sư tỷ Phật-Nguyệt và Trưng Nhị.

Khất đại-phu gật đầu đồng ý.

Trưng Nhị cầm bút viết thư cho Nghiêm Sơn bảo chàng chờ nàng cùng Khất đại phu và Phật-Nguyệt ở Dương-bình quan rồi cùng đi Trường-an đón Quang-Vũ. Nàng viết thư xong, nhờ Hồ Đề đưa Thần-ưng chuyển đi ngay lập tức.

Phùng Vĩnh-Hoa tiếp:

– Đường rút lui của chúng ta rất trọng yếu. Dù chúng ta liên kết với Thục chăng nữa vẫn phải giữ con đường về cho thật chắc. Vậy phiền Đinh-hầu cùng với Bạch-Nương, Quách Lãng trấn thủ các thành từ Hán-nguyên tới Độ-khẩu. Đào hiền đệ hãy ban lệnh Minh Giang trấn thủ Độ-khẩu. Đạo quân Kinh-châu do Đặng Vũ chỉ huy cùng với Sầm Bành, Mã Viện án binh bất động. Vương Nguyên trở về với Thục, chưa ai hay. Ta cử y trấn thủ từ Quảng-an tới Kinh-châu. Khi khởi sự Vương Nguyên chặn đường về của Đặng Vũ

Còn các thành Kiếm-các, Dương-bình quan, Võ-đô thì sư thúc Cao Cảnh-Minh với Thần-nỏ tứ hùng tổng trấn.

Sư tỷ Trưng Trắc liên lạc với Công-tôn Thuật, để Thuật cho lệnh tấn công Đặng Vũ, Ngô Hán, chúng ta sẽ đánh từ phía sau, tất hai đoàn quân này sẽ tan nát cả. Khi rút quân thì chúng ta rút qua Độ-khẩu, rồi về Lĩnh Nam. Tới Lĩnh Nam chúng ta lập tức khởi binh.

Bây giờ anh hùng đạo nào về đạo đó. Cần nhất theo dõi, để khi có lệnh thì kiềm chế các tướng Hán kịp thời. Riêng đạo Kinh-châu Trưng Nhị, Phật-Nguyệt đi rồi, Phương-Dung với Vương Nguyên thay thế.

Trưng Nhị cùng Khất đại phu, Phật-Nguyệt lên ngựa hướng Dương-bình quan khởi hành. Ba người biết rằng, chậm một bước, Nghiêm Sơn nguy một bước. Cho nên chỉ một ngày sau, đã tới nơi. Nghiêm Sơn không thấy Phương-Dung và Vĩnh-Hoa trở về mà lại thấy Phật-Nguyệt với Trưng Nhị thì ngạc nhiên lắm. Vương hỏi Trưng Nhị:

– Sư muội tại sao lại có sự thay đổi vậy? Dù thay đổi gì chăng nữa, các sư tỷ, sư muội phải cho ta biết chứ? Sư muội là quân sư, Phật-Nguyệt là đệ nhất cao thủ đạo Kinh-châu. Cả hai tự tiện tới đây thì đạo Kinh-châu nguy mất. Hôm qua Phương-Dung nói rằng Đào sư đệ bị bệnh, nàng cùng Thái sư thúc Khất đại-phu đi Thành-đô chữa bệnh cho y. Sau ta thấy sư bá Cao Cảnh-Minh, Thần nỏ tứ hùng và Vĩnh-Hoa cũng đi. Ta chẳng hiểu nữa. Có gì xảy ra, xin cho ta biết!

Trưng Nhị cười nhạt:

– Đại ca đã nhận được thư chúng tôi gởi bằng Thần-ưng chưa?

– Nhận được rồi.

– Chúng tôi gởi thư nói với đại ca như thế là cố giữ đại ca ở lại chờ chúng tôi đấy. Hôm nay chúng tôi biết đại ca sắp chết, nên đến đây phúng điếu. Hoàng sư tỷ sẽ đến sau.

Nghiêm Sơn biết tính Trưng Nhị nghiêm trang, không đùa cợt bao giờ, dù là đối với Lục Sún, nay nghe nàng nói vậy, thất kinh hỏi:

– Tại sao? Tại sao ta sắp chết? Ta có bệnh gì đâu?

Phật-Nguyệt xen vào:

– Tôi hỏi đại ca câu này nhé.

– Được sư muội cứ hỏi.

– Đại ca kết huynh đệ với vua Quang-Vũ phải không?

– Đúng thế, ta lấy nghĩa huynh đệ mà giúp hoàng-thượng.

– Được, khi cần tranh dành Trung-nguyên, cả đất 6 quận Lĩnh Nam còn nằm trong tay Vương Mãng. Đại ca một thân cùng với Hiệp-phố lục hiệp xuống Lĩnh Nam thu phục vùng này cho Quang-Vũ. Vì vậy y mới phong cho đại ca làm Bình-nam đại tướng quân, Lĩnh-nam công có đúng không?

– Đúng thế!

– Sau khi y bị Công-tôn Thuật đánh thua, y nhờ đại ca mang đạo quân Lĩnh Nam về đánh Thuật. Y phong cho đại ca làm Lĩnh-nam vương, Tả tướng-quốc. Có đúng thế không?

– Đúng!

– Đại ca đánh đâu thắng đó, thế tựa chẻ tre. Nay sắp lấy Thành-đô, như vậy là suốt giải Kinh-châu, Lĩnh Nam, Tây-xuyên, Đông-xuyên và Ích-châu đều nằm trong tay đại ca. Quân thế hùng tráng, sức mạnh nghiêng nước. Xưa nay, thế bề tôi mạnh hơn vua chỉ có hai đường. Hoặc là bề tôi lật vua như Vương Mãng hoặc là bề tôi bị vua giết như Hàn Tín, có đúng không?

– Ta với hoàng-thượng đối với nhau như anh em. Ta không ham danh lợi, điều đó chắc hoàng-thượng biết, không lẽ người còn nghi ta?

Trưng Nhị cười:

– Đại ca u mê mất rồi! Đại ca cầm quân ở ngoài, Quang-Vũ không nghi đại ca, nhưng quần thần có phải ai cũng nghĩ như Quang-Vũ đâu? Kẻ nói ra, người nói vào mãi rồi y cũng phải nghe theo. Vả lại, nếu đợi Đào Kỳ chiếm được Thành-đô, có lẽ y phải phong Đào Kỳ làm Hán-trung vương mới đúng. Điều đó chắc quần thần không ai chịu. Thôi bỏ qua chuyện đó. Bây giờ tôi hỏi đại ca. Đại ca chỉ dơ tay một cái là bắt được Công-tôn Thuật. Thế tại sao Quang-Vũ phải mang đại quân đến Trường-an, rồi bảo đến Dương-bình quan tiếp viện cho đại ca? Đại ca có thua Thuật đâu?

Trưng Nhị thở dài tiếp:

– Thời Tây-Hán, biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt theo giúp Lưu Bang. Khi dựng được nghiệp rồi, Trương Lương phải bỏ đi tu. Tiêu Hà bị bỏ ngục, Hàn Tín bị giết ba họ. Thay vào đó là bọn ngoại thích. Lã thái-hậu chuyên quyền. Anh em Lã-hậu nắm quyền bính, giết cả Tề-vương là con Cao-tổ. Rồi suốt mấy trăm năm bọn ngoại thích làm mưa, làm gió trong triều. Gần đây Vương Mãng cũng là ngoại thích, chiếm ngôi vua. Bây giờ Mã thái-hậu ngồi ở trong ảnh hưởng đến các đại thần. Thái-hậu chiêu dụ một số cao thủ để sai khiến. Ai nghe thì để, ai không nghe thì bí mật giết đi. Tô Định là cháu Mã thái-hậu được đưa sang để chèn ép đại ca.

Nghiêm Sơn nghe Trưng Nhị nói, mồ hôi vã ra như tắm. Vương ngồi im không nói gì. Khất đại phu nói:

– Điều này dễ hiểu lắm, ở đây chỉ có Nghiêm vương với ta biết rõ ràng Mã thái-hậu không phải là sinh mẫu của Quang-Vũ. Truyện này Quang-Vũ chưa biết nhưng Mã thái-hậu phải thủ trước. Vì vậy bà cần dèm pha để Quang-Vũ giết Nghiêm-vương hầu chặt đứt bớt vây cánh trung thần. Quang-Vũ mắc kế Mã thái-hậu mà thôi.Trưng Nhị tiếp:

– Như vậy rõ ràng Quang-Vũ nghi đại ca. Vua nghi bầy tôi, thì bầy tôi phải chết. Quang-Vũ bắt chước Cao-tổ du Vân-mộng bắt Hàn Tín. Bây giờ y cũng mang quân đến Hán-trung để đại ca ra đón. Đại ca đón, y sẽ bắt đại ca giết lập tức. Còn nếu đại ca làm phản, y dùng quân đó đánh đại ca. Bây giờ đại ca tiến lên thì gặp Công-tôn Thuật, lui lại thì Đặng Vũ, Quang-Vũ ở sau, cho nên tôi biết đại ca sắp chết, mà đến đây tiễn đại ca mấy ly rượu.

Nghiêm Sơn nghe nói chân tay rụng rời. Vương thẫn thờ hỏi:

– Trưng sư muội, người bảo ta phải làm gì bây giờ.

– Tôi có ba kế, xin đại ca nhận lấy một.

– Xin cứ nói.

– Thứ nhất, ngay đêm nay đánh chiếm Thành-đô. Xong, triệu tập Đặng Vũ, Ngô Hán tới giết đi. Rồi cho người trấn giữ, Kinh-châu, Giang-nam, Lương-châu, Hán-trung, chỉnh bị binh mã kéo ra Trường-an. Một mặt đạo Kinh-châu đánh trở lên. Đạo Giang-nam vượt Trường-giang lên phía Bắc. Chúng ta tranh phong giang sơn với Quang-Vũ. Chỉ cần đánh một trận lấy Thiên hạ. Đại ca lên làm hoàng-đế.

Nghiêm Sơn lắc đầu:

– Ta không muốn làm hoàng-đế, bỏ kế này đi.

– Tại sao Triệu Đà, Quang-Vũ cai trị được Lĩnh Nam mà đại ca không cai trị được Trung-nguyên?

– Ta là người hiệp nghĩa, khác với bọn ác độc đó, chỉ có thế.

– Kế thứ nhì : Giữ vững Kinh-châu, Hán-trung. Trả đất cho Công-tôn Thuật. Cho chúng tôi về Lĩnh Nam. Chúng ta chia ba thiên hạ với Quang-Vũ.

– Còn kế thứ ba?

– Kế thứ ba, cho đạo Lĩnh Nam rút về. Đại ca ra Trường-an đón Quang-Vũ, đưa đầu cho hắn chặt.

Nghiêm Sơn thở dài sườn sượt:

– Kế thứ nhất khó quá, ta không làm nổi. Kế thứ nhì thì ta cũng không muốn phản nghĩa huynh. Thôi ta cứ án binh, mình chúng ta đến yết kiến hoàng-thượng. Dù ta chết cũng được, còn hơn để cho hàng vạn người phải chết khổ sở.

Trưng Nhị thở dài:

– Chúng tôi biết đại ca không dám phản Quang-Vũ, nên đã chuẩn bị sẵn. Nếu Quang-Vũ hại đại ca, chúng tôi đồng khởi binh, đánh nhau một trận trời sầu đất thảm mới thôi. Được, chúng ta lên đường.

Dọc đường Trưng Nhị bàn với Nghiêm Sơn:

– Khi đến Trường-an, chúng ta vào triều kiến Quang-Vũ. Với công lao của đại ca, y khó trở mặt. Tuy nhiên nếu y bắt đại ca, thì chúng ta kềm chế y, dí kiếm vào cổ, thoát thân. Tôi có mang theo năm Thần ưng rất khôn ngoan của Hồ Đề. Có gì tôi cho chúng mang thư về ba đạo Hán-trung, Kinh-châu, Lĩnh-nam. Ba nơi cùng khởi binh đánh Kinh-châu, Hán-trung, Trường-an. Đại ca nghĩ thế nào?

Nghiêm Sơn tự tin:

– Ta chắc hoàng-thượng không trở mặt với ta. Điều đó không cần đến. Tuy nhiên nếu thực sự như sư muội nói. Ta mặc sư muội muốn hành động lẽ nào tùy ý.

Ba người lên đường đi Hán-trung. Nghiêm Sơn chỉ mang theo có mười quân kỵ mà thôi. Hôm sau tới Nam-trịnh. Vùng này là vùng trấn nhậm của Nghiêm Sơn. Thứ sử ra đón chàng. Thứ sử Nam-trịnh là người em kết nghĩa của Nghiêm Sơn. Nhờ uy tín của vương, y mới được bổ nhiệm làm Thứ-sử. Y tên Đô Thiên. Sau khi ăn cơm xong, Trưng Nhị bảo Đô Thiên:

– Đô thứ sử là em kết nghĩa với Lĩnh-nam vương, lại thuộc quyền quản trị của người. Vậy phải nhớ: Kể từ lúc này, chỉnh bị binh mã. Những tướng sĩ không trung thành với Đô tướng quân, phải cho thế liền. Nội ngày nay, ngày mai sẽ dùng đến. Phải nhớ một điều, dù Ngô Hán, dù Đặng Vũ hay ai điều động cũng không nghe lời.

Đô Thiên cúi đầu tuân phục. Ba người lên đường về Trường-an. Tới nơi thấy quân sĩ đóng trại dài hàng mấy chục dặm. Nghiêm Sơn hơi chột dạ. Vương cùng Khất đại-phu, Trưng Nhị, Phật-Nguyệt đồng vào thành. Quang-Vũ cho người ra ngoài đón tiếp. Bước vào trướng, Nghiêm Sơn thấy Quang-Vũ ngồi trên ngai vàng, bá quan văn võ đứng hai bên đông tới hàng trăm. Phía ngoài giáp sĩ canh gác gươm giáo sáng loáng.

Nghiêm Sơn ra hiệu cho ba người, cùng vương phủ phục xuống đất. Vương hô lớn:

– Lĩnh-nam vương, lĩnh Tả tướng-quốc cùng ba hào kiệt đất Lĩnh-nam Trần Đại-Sinh, Trưng Nhị, Phật-Nguyệt cung nghinh thánh giá.

– Nghĩa đệ và các vị bình thân. Nghĩa đệ vì ta kinh lược Lĩnh Nam, khiến cho 6 quận phía Nam thuộc về cương thổ nhà Đại-Hán. Lại tổ chức được đạo quân từ Lĩnh Nam về đánh Công-tôn Thuật. Công ấy không nhỏ. Nghĩa đệ hãy ngồi vào ghế này.

Nghiêm Sơn ngồi vào ghế phía trái Quang-Vũ.

Nghiêm Sơn đứng dậy chỉ Khất đại-phu:

– Đây là Thái sư thúc của hạ thần, họ Trần tên Đại-Sinh. Tiên sinh không những là người võ công đệ nhất Lĩnh Nam, mà còn là một thần y. Tiên sinh thích giang hồ chữa bệnh cho bá tánh, không nhận tiền của. Ai cho gì cũng nhận và ăn, nên người đời tặng danh hiệu là Khất đại-phu. Năm nay đại-phu 80 tuổi nhưng vẫn theo quân. Các đệ nhất cao thủ của Thục như Thiên-sơn thất hùng đều bị tiên sinh khuất phục.

Quang-Vũ nhìn Khất đại-phu thấy, lông mày, râu, tóc chưa bạc khen rằng:

– Quả thực là một tiên ông. Không ngờ Tiên-ông 80 tuổi mà tráng kiện như người mới 40. Thực hiếm có. Hãy mời tiên sinh ngồi.

Vương chỉ Phật-Nguyệt:

– Đây là sư muội Phật-Nguyệt 25 tuổi. Kiếm thuật thần thông bậc nhất Lĩnh Nam. Trong trận đánh Xuyên-khẩu, Bạch-đế, chỉ một thanh kiếm, đàn áp Vũ Chu và Công-tôn Thiệu.

Quang-Vũ nhìn Phật-Nguyệt thấy dáng người nàng mảnh mai, mắt phượng, mi thanh, mục tú, môi hồng, ngón tay trắng dài, thì nghĩ:

– Điều khó tin, người con gái thế này mà đánh thắng Vũ Chu, Công-tôn Thiệu thì quá đáng.

Tuy nghĩ vậy nhưng Quang-Vũ vẫn gật đầu:

– Lĩnh Nam quả nhiều anh hùng hiệp nữ. Mời nữ hiệp ngồi xuống.

Phật-Nguyệt ngồi xuống sau Nghiêm Sơn.

Nghiêm Sơn chỉ Trưng Nhị:

– Đây là Trưng Nhị cô nương võ công tuyệt thế, văn mô, vũ lược, là quân sư cho Đặng Vũ, đánh chiếm Xuyên-khẩu, Bạch-đế, Vũ-lăng và Quảng-an.

Quang-Vũ gật đầu:

– Trẫm nghe nói nghĩa đệ có ba nữ quân sư, Phương-Dung, Vĩnh-Hoa, Trưng Nhị. Còn hai người kia đâu?

– Tâu bệ hạ! Các quân sư cùng tướng sĩ hiện phải cầm quân đối đầu với giặc. Thần chỉ dẫn ba người về hầu bệ hạ. Đợi sau khi bình định được Ích-châu, thần sẽ dẫn tất cả về Lạc-dương chầu bệ-hạ.

Quang-Vũ hỏi:

– Nghĩa đệ đã tới Thành-đô chưa?

– Tâu bệ-hạ, đạo Lĩnh-nam đã tới Thành-đô. Quân số bẩy vạn người, phải để lại Hán-nguyên mất ba vạn. Tại Thành-đô giặc có tới 13 vạn, đạo này chưa dám công thành. Phải đợi đạo Hán-trung, Kinh-châu tới mới đánh. Hôm nay đã là ngày 23 tháng chạp rồi. Ngày Tết Nguyên-đán, thần sẽ hái hoa đào ở Thành-đô về dâng bệ hạ.

Một lão già đầu bạc bước ra tâu:

– Muôn tâu Bệ hạ, thần là Lý Thông lĩnh chức Tư-đồ, dám xin hỏi Lĩnh-nam vương mấy câu. Không biết vương có cho phép không?

Nghiêm Sơn biết lão này vốn là cậu của Mã thái-hậu. Lão muốn kiếm chuyện với Vương đây. Vương thản nhiên nói:

– Lý tư-đồ cứ hỏi.

– Thần nghe, dường như Lĩnh-nam vương lấy vợ người man di Cửu-chân. Vì thế bất cứ thứ gì của đất man di người đều cho là hay cả. Bởi vậy những cô gái trẻ như hai cô gái này, thần e trói gà không chặt. Thế mà Vương-gia tâu rằng kiếm thuật thần thông, thì e rằng khi quân phạm thượng thái quá. Mong Bệ-hạ xét lại.

Lại thêm một lão nữa bước ra tâu:

– Thần là Phạm Thăng là Hàn-lâm bác-sĩ, xin Bệ-hạ xét lại công việc của Lĩnh-nam vương. Hiện có tin Lĩnh-nam vương dùng người Nam-man chống thiên-triều. Người định lập lại nước Lĩnh Nam, quay về Bắc ăn thua với Hán-triều. Vậy xin bệ-hạ điều tra cho rõ.

Nghiêm Sơn nhìn hai lão già, mắt chàng toát ra tia hàn quang uy nghiêm, khiến hai lão già rùng mình lui lại. Lý Thông ngã ngồi xuống đất. Vương thấy vậy đã đoán ra tám chín phần: Từ ngày ta một thanh gươm cùng Quang-Vũ dựng nghiệp. Dù văn quan, dù vũ tướng đều biết ta với Thiên-tử tình nghĩa như tay chân. Ta là Thiên-tử, Thiên-tử là ta. Ai cũng tuân phục. Bây giờ đám văn quan này dám đàn hạch ta. Một là Quang-Vũ sắp đặt với chúng. Hai là Quang-Vũ tỏ ý nghi ngờ ta. Chúng theo gió lấy lòng Quang-Vũ.

Nghiêm Sơn bình thản tâu:

– Thần quả có kết hôn với người con gái Việt. Tiện thê là người có võ công cao, cũng tùng chinh theo đạo Lĩnh-nam, lập được khá nhiều công trạng. Vả lại khắp thiên-hạ đâu chẳng là con dân của Bệ-hạ? Người Hán, người Lương, người Sở, người Việt đều là con dân bệ-hạ cả. Thần có kết hôn với họ đâu có gì phạm pháp?

Lý Thông lại tâu:

– Tâu bệ-hạ, thần được biết trong khi Hán-Thục dàn quân tại Cẩm-dương, Công-tôn Thuật cho người dâng Lĩnh-nam vương hai mâm châu báu giữa ba quân. Đó là một điều ngờ. Trường-sa vương Công-tôn Thiệu, Bắc-bình vương Công-tôn Khôi, Bình-nam vương Công-tôn Phúc bị bắt, không hiểu sao Bình-nam vương lại phóng thích chúng. Đó là hai điều ngờ. Quân sư của đạo Hán-trung là Phùng Vĩnh-Hoa, hẹn hò, tình tứ với Đại tư-mã Thục là Thái-tử Công-tôn Tư. Đó là ba điều đáng ngờ. Xin Bệ-hạ cho điều tra thực hư thế nào thì rõ.

Nghiêm Sơn cười lạt:

– Khi ta một thanh gươm đánh đuổi Vương Mãng, cùng hoàng-thượng kết huynh đệ thì chưa có những thứ văn quan hủ lậu như người. Một thanh gươm hoàng-thượng với ta đánh trận Côn-dương, chiếm Trường-an, cũng chưa có những loại người như Thừa-tướng Lý Thông. Khi ta chiếm được 9 quận Kinh-châu, cũng chưa có những người như Lý thừa-tướng. Ta một gươm kinh-lược Lĩnh Nam, đem quân, đem lương thực tranh hùng ở Trung-nguyên. Kịp đến khi Đặng Vũ, Ngô Hán bị bại, ta lại trở về đánh Thục. Nay chỉ giơ tay một cái là đánh được Thục, các người bới lông tìm vết định làm gì ta đây? Công-tôn Thuật có tặng ta hai mâm lễ vật trước trận, đó là quần áo cho Vương-phi của ta. Nếu sự thực ta có tư túi gì thì phải kín đáo, chứ có đời nào làm trước ba quân? Thế mà ngươi cũng đặt điều, thứ đặt điều ngu xuẩn. Còn Công-tôn Thiệu, Công-tôn Khôi vượt ngục là do gian tế. Vả lại hai tên đó tuy thoát, nhưng ta chỉ giơ tay là lấy được Thành-đô. Chúng chạy đâu cho thoát? Còn chuyện Phùng Vĩnh-Hoa sư muội gặp Công-tôn Tư là dùng mỹ nhân kế, để cầm chân y, hầu Ngô Hán đánh úp Dương-bình quan. Điều này ta có thượng biểu về triều rồi chẳng có gì đáng dấu diếm cả.

Một người trong hàng võ ban bước ra tâu:

– Thần là Việt-kỵ hiệu-úy Trương Linh. Vừa rồi Lĩnh-nam vương tâu rằng Phật-Nguyệt cô nương đánh thắng Công-tôn Thiệu, Vũ Chu thần không tin. Vũ Chu là đệ nhất cao thủ vùng Kinh-châu. Công-tôn Thiệu là một trong Thiên-sơn thất hùng, võ công vô địch. Chỉ có Phiêu-kỵ đại tướng-quân Sầm Bành mới đánh lại y. Thế mà Lĩnh-nam vương tâu rằng một cô gái nhỏ bé ẻo lả thế kia, mà thắng chúng thì muôn ngàn lần thần không tin. Ấy là những người có mặt tại đây mà Lĩnh-nam vương còn tâu như vậy, huống hồ những người vắng mặt? Lại nữa như ông già sắp chết kia, mà bảo là võ công cao nhất thiên-hạ, thực là khinh anh hùng võ lâm Trung-nguyên quá đáng.

Nghiêm Sơn thấy một tên Việt-kỵ Hiệu-úy, chức tước của y chỉ bằng hạt vừng, hạt đậu so với Vương, mà y cũng dám ra đàn hặc Vương, thì nhất định phải có người đứng sau. Vương chưa biết trả lời sao, thì Trưng Nhị bước ra tâu:

– Tâu bệ-hạ bất cứ tâu về điều gì, có thể tâu láo được. Còn nói về võ công không thể giỏi nói dở, dở nói giỏi. Ở đây thần có ba người, vậy xin bệ-hạ cho ba người ra đấu sẽ biết ngay gian.

Quang-Vũ gật đầu:

– Được, vậy trẫm đồng ý để Việt-kỵ hiệu-úy đấu với anh hùng Lĩnh Nam để rõ trắng đen.

Trưng Nhị tâu:

– Xin bệ-hạ dạy thể lệ đấu.

Quang-Vũ cũng biết võ nói:

– Bây giờ trẫm cho đóng ở sân bốn cây cờ bốn góc. Hai người đấu trong đó. Nếu ai đánh bật hoặc chạy ra khỏi vòng là thua. Ai chết coi như thua. Ai biết mình võ công thấp, hãy xin hàng.

Nghiêm Sơn bảo Trưng Nhị:

– Việt-kỵ hiệu-úy Trương tướng-quân, chưởng lực không kém gì Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa đâu. Ta yêu cầu Trưng sư muội ra đấu với tướng quân.

Trưng Nhị nghe vậy thì biết võ công Trương Linh rất tầm thường. Nàng chắp tay nói:

– Tuân lệnh đại ca.

Bốn vệ sĩ đã đem bốn cây cờ ra cắm ở bốn góc sân. Các quan văn võ đứng xung quanh sân coi. Từ lâu họ nghe đất Lĩnh Nam nhiều nữ kiệt. Hôm nay họ thấy Trưng Nhị, một thiếu nữ vẻ người đậm đà, mắt phượng, môi hồng yểu điệu, dám đấu với một Việt-kỵ hiệu-úy của hoàng-đế là một điều lạ.

Trưng Nhị ra đứng giữa sân. Nàng quỳ gối hướng về phương Nam khấn:

– Đệ tử là Trưng Nhị, cúi xin các vị liệt tổ Lĩnh Nam tha tội cho đệ tử. Đệ tử thật không muốn đấu võ, nhưng sự bất đắc dĩ. Xin liệt tổ ân xá.

Hai người cùng hướng vào Quang-Vũ hành lễ, thủ thế.

Quang-Vũ cầm dùi đánh ba tiếng trống. Trong sân rồng các quan reo hò ầm ĩ.

Trương Linh muốn trổ tài vũ dũng. Y hít một hơi chân khí, vọt người lên cao. Hai chân chụm lại phóng song cước vào cổ và mắt Ttrưng Nhị. Trưng Nhị thấy thế cước kình lực rất mạnh. Nàng nhún chân nhảy vọt lên cao, thành ra Trương Linh đá hụt vào khoảng không. Người bay xuống dưới Trưng Nhị. Trưng Nhị lộn một vòng trên không đáp trúng vai Trương Linh. Nàng mượn đà đó vọt lên một lần nữa, tà tà đáp xuống. Thân pháp đẹp vô cùng. Nam nhân người Hán thường coi đàn bà là một thứ dơ bẩn, chỉ cần tay mó vào quần là phải rửa vì sợ ô uế. Đây Trương Linh mới ra một chiêu, bị Trưng Nhị nhảy qua đầu. Bá quan thấy vậy reo hò ầm ĩ. Y xấu hổ mặt đỏ lên.

Trương Linh xuất thân là đệ tử của phái võ Liêu-đông, nhờ võ công cao, được Quang-Vũ tin cẩn, dùng làm hộ vệ trong suốt thời gian đánh Vương Mãng, Ngỗi Hiêu, Xích My. Dần dần y được thăng đến chức Việt-kỵ hiệu-úy, tức chỉ huy đội kỵ binh bảo vệ hoàng-đế. Gần đây y muốn được theo Đặng Vũ, Ngô Hán cầm quân ở ngoài, hy vọng cho bước tiến trình. Vì vậy y bỏ ra không biết bao nhiêu tiền bạc mua tin tức từ mặt trận gởi về. Khi Đặng Vũ, Vũ Chu bị Công-tôn Thiệu đánh bại. Y đã xin ra điều khiển đạo Kinh-châu đánh giặc lập công. Bây giờ nghe Nghiêm Sơn nói mấy thiếu nữ Lĩnh Nam đánh thắng Vũ Chu. Y cho là nói láo. Y muốn đánh bại mấy thiếu nữ mà Nghiêm Sơn khen trước mặt Quang-Vũ rồi có thể xin ra trận lập công. Nhưng mới chỉ một chiêu đầu, y đã bị làm nhục. Lại bị các bạn đồng liêu cười chế nhạo, y nổi giận hít một hơi dài, vung chưởng đánh tới.

Chương 13: Điểu tận cung tàn

Trưng Nhị thấy chưởng của y hùng hậu, tinh diệu, nàng không đỡ vội, vọt người sang bên trái tránh. Trương Linh quát một tiếng vung chưởng lên cao, dồn hết chân khí đánh xuống. Thế chưởng của y hung dữ, xoay tròn, bụi bay mịt mù. Trưng Nhị nhảy lui liền hai bước. Tay phải phát chiêu, tay trái biến thành chảo, đó là chiêu Ngưu hổ tranh phong trong Phục ngưu thần chưởng. Bùng một tiếng, người nàng lại vọt lên cao. Trưng Nhị vốn dĩ thích mặt áo trắng, dây lưng vàng như Phương-Dung. Bây giờ nàng ở trên cao, mượn sức hai chưởng vọt lên như chiếc pháo thăng thiên, trông đẹp vô cùng.

Quang-Vũ cũng phải xao xuyến trong lòng :

– Gái Việt đẹp thật, hèn chi khi xưa Ngô Phù Sai chẳng bị mất nước vì Tây-Thi. Tại sao trong hậu cung mình lại không có những người như thế này?

Trương Linh thấy Trưng Nhị đánh ở trên không một chưởng mạnh như vũ bão, khiến y tê dại cả chân tay. Y chưa kịp phát chiêu đánh tiếp, Trưng Nhị đã tà tà đáp xuống bên cạnh. Nàng xoay mình đánh ra một chưởng từ phải vòng ra sau sang trái, đó là chiêu Ngưu ngọa ư sơn trong Phục ngưu thần chưởng. Chiêu này vừa trầm, vừa mãnh liệt. Trương Linh vung tay đỡ, binh một tiếng, cả hai cùng lui lại. Trưng Nhị là người tuyệt thế thông minh mượn sức lui trở lại, nàng chuyển chưởng thành một dây, từ sau về trước đúng lúc Trương Linh vọt đến tấn công. Chưởng này là chưởng Cửu-chân, hôm ra đảo Đào-hoa, bà Đào Thế-Kiệt đã dạy nàng. Thế chưởng nhàn nhã, gió phát ra nhẹ nhàng, làm y phục nàng bay phơi phới, trông đẹp không thể tưởng tượng được. Trên từ Quang-Vũ xuống đến các quan ai cũng xuýt xoa.

– Gái Việt có khác, đẹp thực!

So về sắc đẹp với Phương-Dung, Tường-Quy, Thiều-Hoa thì Trưng Nhị không thể nào sánh bằng. Nhưng khi đấu võ, thân pháp nàng làm cho quần áo, dây lưng, khăn choàng cổ bay lượn. Tạo thành một hình ảnh đẹp, như tiên nữ múa khúc nghê-thường.

Hai người quấn lấy nhau giao chiến. Trương Linh thì trầm trọng, chưởng lực rất hùng hậu. Còn Trưng Nhị phiêu phiêu, hốt hốt. Nàng dùng toàn võ công Tản-viên. Đấu được trên trăm hiệp. Các võ tướng mới thấy khâm phục Trương Linh võ công kinh người, họ tự nghĩ: Bản lĩnh y như vậy, hèn chi Quang-Vũ không dùng y làm cận vệ. Nhưng dù y tấn công cách nào chăng nữa, cũng không thắng được Trưng Nhị.

Trước đây Phong-châu song quái làm việc dưới quyền Nghiêm Sơn một thời gian. Vì vậy Vương hiểu rất tường tận võ công Tản-viên. Vương đã có dịp trắc nghiệm võ công Song-quái, thấy công lực chúng thấp hơn Vương một bực. Còn ngoại công, chúng biết có 12 chưởng Phục ngưu. Phục-ngưu thần chưởng tinh diệu thì có tinh diệu. Song đánh từng chưởng rời rạc, kết quả lại không đạt được trình độ tối cao. Khi Song-quái phản sư môn, võ công chúng do Lê Đạo-Sinh truyền dạy, cao hơn sư phụ là Nguyễn Thành-Công một bậc.

Hôm nay thấy võ công Trưng Nhị, công lực của nàng dường như cao hơn Song quái, không kém gì Vương. Đó là một điều khiến Vương ngạc nhiên. Điều Vương ngạc nhiên thứ nhì, là nàng xử dụng đủ 36 chiêu Phục ngưu thành một dây, không còn một chỗ sơ hở nào để phản công.

Thoáng một cái Vương đã tìm ra nguyên lý. Sở dĩ võ công Trưng Nhị đạt đến mức này là do Đào Kỳ đã dạy nàng nội công tâm pháp và 36 chưởng Phục ngưu mà y đã học được ở trong gậy đồng.

Vương nghĩ thầm:

– Đào sư đệ quả là người tính tình hào sảng rộng rãi. Thấy y dạy Phục ngưu chưởng pháp cho Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa, ta tưởng y với hai cô nhỏ này là bạn thanh mai, trúc mã, y dạy để chiều lòng. Thì ra y dạy cả Trưng Nhị nữa. Người trong võ lâm, khi mình phát minh hoặc tìm kiếm được võ công kỳ lạ, thường giữ làm của riêng, chỉ dạy cho đệ tử thân tín con cái mà thôi. Ít khi dạy cho người ngoài.

Cơ duyên may mắn, Đào Kỳ được bộ Văn lang võ học kỳ thư, chàng nghĩ đây là công trình tâm huyết của tổ tiên để lại. Chàng trao cho Khất đại-phu. Khất đại-phu luyện tập dạy lại cho Nguyễn Thành-Công, Đặng Thi-Kế, Đặng Thi-Sách, nhị Trưng, Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa.

Phục-ngưu thần chưởng kỳ diệu ơ¨¨û chỗ người công lực yếu hay mạnh đều xử dụng được. Nếu xử dụng từng chiêu chỉ có sức mạnh mà thôi. Còn nếu học được 36 chiêu, chưởng lực biến thành một thứ tường đồng vách sắt bao trùm lấy người, đối phương không sao tấn công được.

Hai người đấu với nhau đến hiệp thứ hai trăm, Phật-Nguyệt hỏi Khất đại-phu:

– Thái sư thúc, xin người chỉ cho Trưng sư tỷ cánh thắng Trương Linh. Vì sợ đấu lâu, thì người Hán biết võ công mình thì khó thay.

Khất đại-phu với Phật-Nguyệt nói bằng tiếng Việt. Những người có mặt ở đó chỉ Nghiêm Sơn là hiểu.

Khất đại-phu quan sát trận đấu. Ông là đại tôn sư võ học, liếc qua ông cũng biết tình hình. Ông là thầy thuốc, không muốn chém giết người, mà cũng chẳng còn hiếu thắng. Đối với ông, Trưng Nhị thắng cũng thế, mà Trương Linh thắng cũng vậy. Ông không quan tâm cho lắm. Ông biết Quang-Vũ dàn cảnh cho Trương Linh đàn hạch Nghiêm Sơn. Trưng Nhị có thắng cũng chẳng đi đến đâu. Tuổi tác của Trưng Nhị còn nhỏ hơn Trương Linh 20 năm luyện tập, nàng có thua Trương Linh cũng là sự thường.

Ông lơ đãng nhìn khắp điện Vị-ương. Khi Phật-Nguyệt nhắc, ông quan sát trận đấu thấy Trưng Nhị muốn thắng Trương Linh mà không nổi. Ông nghĩ: Ừ thì để con nhỏ này thắng Trương Linh cho nó vui lòng.

Ông lại nghĩ : Chưởng pháp Tản-viên của Trưng Nhị tinh diệu. Nhưng công lực không đủ phát huy để đàn áp Trương. Muốn đàn áp Trương Linh phải dùng võ công Cửu-chân.

Ông tủm tỉm cười, quan sát, dự đoán tình hình hai bên, rồi thình lình lên tiếng:

– Ngưu hổ tranh phong, Loa thành nguyệt ảnh.

Trưng Nhị đang đấu với Trương Linh thấy Thái sư thúc hô như vậy, nàng dùng hết sức ra chiêu Ngưu hổ tranh phong trong Phục ngưu thần chưởng. Hai chưởng đánh mạnh về phía trước. Trương Linh chụm hai tay đỡ. Hai chưởng của nàng và y chạm nhau. Người nàng vọt lên cao. Từ trên cao nàng chuyển chưởng thành chiêu Loa thành nguyệt ảnh của Cửu-chân đánh xuống.

Trương Linh tưởng nàng đưa ra chưởng dương cương như trước, vung chưởng đánh lên, thì chiêu Loa thành nguyệt ảnh chụp xuống người. Bốn chưởng chạm nhau. Chưởng pháp Cửu-chân khắc chế võ công Trung-nguyên. Chưởng của Trưng Nhị đánh xuống, khiến Trương Linh bị bật vèo về phía sau đến mấy trượng, chân tay bủn rủn lảo đảo chực ngã. Trưng Nhị là người thông minh mưu trí bậc nhất thời Lĩnh Nam. Nàng thấy Trương Linh bị tuyệt căn bản, bước xéo về phải đánh chiêu Thiết kình thăng thiên, tiếp theo chiêu Kình ngư quá hải, đều là hai chiêu thuộc võ công Cửu-chân mà Đào phu nhân dạy nàng. Trương Linh thấy hai chiêu chưởng bao hàm khắc tinh với mình, sát thủ ác liệt. Y vội hít hơi đẩy ra một chưởng đỡ. Chưởng của y chạm vào chưởng của Trưng Nhị, y cảm thấy như tay đẩy vào quãng không. Biết nguy hiểm, y nhảy vọt lên cao, thì chiêu Kình ngư quá hải đã bao trùm khắp người. Cả triều thần thấy vậy đều kêu thét lên kinh hoàng. Những cao thủ bậc nhất muốn ra tay cứu cũng không kịp. Thiết kình phi chưởng là chưởng pháp đánh ra kình lực như mũi dao đâm vào. Trương Linh nhắm mắt chờ chết, Trưng Nhị thấy giết y thì gây oán thù không nhỏ với triều Hán. Nàng nhảy lùi lại đến bốn bước để giảm bớt sức mãnh liệt của chưởng này. Trương Linh chỉ còn bị có hai phần công lực đánh vào đầu gối. Y rơi xuống đất đầu gối nhũn ra, người chúi về phía trước, giống như quỳ lạy Trưng Nhị. Trưng Nhị nhanh trí, thu chưởng, rồi nhảy lại đỡ y dậy. Nàng cười tủm tỉm:

– Trương hiệu-úy! Đa tạ ngài đã nhẹ tay.

Trên từ Quang-Vũ xuống đến các quan đều nghĩ rằng lời nói của Khất đại-phu chắc bao hàm một bí ẩn gì giúp Trưng Nhị thắng Trương Linh. Nhưng họ không có chứng cớ đành im.

Trưng Nhị hướng Quang-Vũ bái rồi nhảy ra khỏi vòng đấu.

Nghiêm Sơn tâu với Quang-Vũ:

– Tâu bệ-hạ Trưng cô nương là quân-sư đạo Kinh-châu, chứ không phải là võ tướng. Sở dĩ Trưng cô nương biểu diễn được mấy chiêu vì cô nương học phòng thân mà thôi. Cuộc đấu vừa qua Trưng cô nương được Trương hiệu-úy nhường cho mấy chiêu.

Quang-Vũ kết huynh đệ với Nghiêm Sơn. Đã từng ăn cùng mâm ngủ cùng giường, y còn lạ gì tính tình của Vương nữa. Vương nói câu đó là khiêm nhường, vuốt mặt cho Trương Linh, nhưng đầy kiêu khí. Bảo rằng Trưng Nhị học mấy chiêu phòng thân, mà đã như thế. Nếu nàng học thực, võ công sẽ đi đến đâu? Vương lại vuốt mặt cho Trương Linh bằng câu nhường cho mấy chiêu.

Một lão già từ võ ban ra phục xuống đất tâu:

– Tâu bệ-hạ, võ công Trưng cô nương cao cường, tinh diệu thì đúng rồi. Thần nghe Vũ Chu kiếm pháp thần thông mà cô nương Phật-Nguyệt thắng được y, thần không tin. Xin bệ-hạ cho phép thần được qua lại mấy chiêu với Phật-Nguyệt.

Nghiêm Sơn nhìn ra thì là Thái-sơn thần kiếm Lưu Quang. Lưu Quang nguyên thuộc tôn thất nhà vua. Cha ông nguyên là Sở-vương, ham võ nghệ, đi khắp thiên hạ chiêu mộ những tay kiếm khách về, để học lấy những chiêu thức đặc biệt. Rồi từ đó sắp xếp thành hệ thống, tạo ra phái Thái-sơn. Cha của ông về ẩn ở Thái-sơn, lập môn hộ luyện tập võ nghệ. Đến đời Lưu Quang, Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán. Lưu Quang xách kiếm phò Quang-Vũ đánh Vương Mãng, Ngỗi Hiêu rồi Xích Mi. Xích Mi nguyên là một kiếm khách khét tiếng Trung-nguyên, được tôn hiệu là Bất bại thần kiếm. Bởi vậy lúc đầu y dấy nghĩa ở vùng Lũng-thượng, tranh dành ngôi vua với Vương Mãng. Sau khi Vương Mãng bại, y tự tôn mình làm vua chống nhà Hán. Quang-Vũ sai Lưu Quang mang quân chinh tiễu. Xích Mi cùng Lưu Quang đấu ba ngày, ba đêm không phân thắng bại. Lưu Quang về suy nghĩ nửa tháng, tìm ra cách phá phi kiếm của Xích-Mi, rồi đánh bại y.

Kiếm pháp của Lưu Quang được coi là vô địch Trung-nguyên. Bất cứ đấu với ai, y chỉ đánh một hai chiêu là đối thủ mất mạng. Y hiện được phong tước Hoài-nam vương, trấn thủ vùng Lạc-dương, tức kinh-đô nhà vua. Trước đây Nghiêm Sơn đã đấu với y. Chỉ 10 hiệp đã bị đánh bay mất kiếm. Nghiêm đành chịu thua.

Bây giờ nghe Lưu Quang nói muốn đấu với Phật-Nguyệt, Vương nghĩ:

– Hiện kiếm pháp cao nhất Lĩnh-nam là Nguyễn Phan tiên sinh, thì ông bị tật. Thứ đến Đào Kỳ, Phương-Dung, Phật-Nguyệt, khó biết ai cao, ai thấp. Không hiểu Phật-Nguyệt có đủ công lực đấu với Lưu Quang hay không?

Vương nói với Phật-Nguyệt:

– Sư muội! Người là thừa kế của Vạn-tín hầu. Vậy người hãy dùng Long-biên kiếm pháp đấu với Hoài-nam vương mấy chiêu. Hy vọng vương-gia dạy cho muội những chiêu kiếm tinh kỳ.

Phật-Nguyệt đi theo đạo Kinh-châu, được nghe nói nhiều đến Lưu Quang. Đặng Vũ nói đến Lưu Quang không ngớt lời ca tụng. Nay thấy y thách nàng đấu thì không khỏi lo ngại. Tuy nhiên nàng tự nghĩ rằng. Long-biên kiếm pháp là kiếm pháp của sư tổ Vạn-tín hầu Lý Thân. Mà Lý Thân chế ra để khắc chế với kiếm pháp Trung-nguyên, nàng tự tin phần nào.

Phật-Nguyệt bước ra sân với hai tay không, nàng tâu:

– Khi tiểu nữ tới đây bệ kiến thánh-hoàng, không dám mang kiếm theo.

Quang-Vũ truyền đưa 18 loại kiếm để nàng lựa. Phật-Nguyệt lựa một thanh nhỏ và dài nhất giống như kiếm Việt. Nàng cầm kiếm hướng vào Quang-Vũ bái một bái, rồi lại hướng Lưu Quang hành lễ.

Nàng nói:

– Hoài-nam vương gia! Tiểu nữ mới được sư phụ truyền nghề. Thời gian luyện tập không được bao lâu. Xin vương-gia nhẹ tay cho.

Quang-Vũ bảo Lưu Quang:

– Hoàng-thúc xin nhẹ tay với nàng một chút.

Lưu Quang vung kiếm lên. Ánh kiếm thành cầu vồng như điện xẹt, mọi người lóa con mắt. Tiếp theo y đánh trên 10 chiêu, kiếm quang bao trùm lấy người Phật-Nguyệt.

Phật-Nguyệt là học trò yêu của Nguyễn Phan, chưởng môn phái Long-biên. Ông đã dốc túi truyền cho nàng. Khi nàng thấy Lưu Quang vung kiếm như đe dọa, thì biết đó là những hư chiêu. Nàng không đỡ, không rút kiếm ra khỏi vỏ.

Đợi Lưu Quang đánh hết mười mấy hư chiêu, nàng mới xoay tròn kiếm đẩy nhẹ vào ngực y rất nhẹ nhàng.

Lưu Quang ngơ ngác, tự hỏi kiếm pháp gì mà kỳ lạ thế này?

Y đợi kiếm của nàng tới ngực, mới đưa tay định bắt. Nhưng kiếm nàng bật đánh véo một cái đưa vào cổ y. Lưu Quang tuyệt không ngờ trên đời có kiếm pháp quái dị như vậy. Y bật ngửa người ra sau tránh, thuận đà lộn đi một vòng. Nhưng Phật-Nguyệt di chuyển thân hình. Khi y đáp xuống đất, mũi kiếm lại đâm vào ngực y.

Muốn đưa kiếm gạt, sợ không kịp, y nín hơi vọt lên không tránh thế kiếm ác liệt đó. Thì nghe tiếng xoạc, áo trước ngực y bị rách một đường dài.

Quang-Vũ cùng quần thần kêu lên:

– Chết !

Lưu Quang ở trên không, khua kiếm dưới chân đề phòng nàng đuổi theo. Nhưng khi y đáp xuống thì Phật-Nguyệt ôm kiếm đứng cách xa chỗ y mấy trượng, thản nhiên như không có gì xảy ra.

Phật-Nguyệt là người trầm tĩnh, ít nói, mặt hơi lạnh lùng, nhưng dáng người xinh đẹp. Qua mấy chiêu kiếm vừa rồi, ai cũng tưởng nàng sẽ hò hét hay tấn công tới. Nhưng nàng chỉ cầm kiếm đứng tần ngần, kiếm vẫn chưa rút ra khỏi vỏ.

Bấy giờ Lưu Quang mới nhớ lời phụ thân khi ông dạy kiếm pháp cho y:

– Cách nay hai trăm năm, một kiếm khách Âu-lạc sang đấu với võ sĩ của Tần Thủy-Hoàng. Y đấu trong một tháng liền, thu thập các chiêu thức của Trung-nguyên rồi tước bỏ bớt đi, chế ra một thứ kiếm pháp khắc chế lại. Vì vậy sau này Đồ Thư sang đánh Âu-lạc. Bất cứ các tướng sĩ dùng chiêu thức gì đấu với ngươi Âu-lạc chỉ một hai chiêu là mất mạng.

Nghĩ vậy y lên tiếng hỏi:

– Cô nương, phải chăng cô nương là con cháu của Vạn-tín hầu Lý Thân?

Phật-Nguyệt lễ phép:

– Vạn-tín hầu là sư tổ của tiểu nữ.

Lưu Quang bấy giờ mới tỉnh ngộ, tự nhủ:

– Chết thật, thì ra thế. Hèn chi những chiêu thức của con bé này đánh ra, chiêu nào cũng bao hàm sát thủ, khắc chế với kiếm pháp của ta. Ừ thì Vạn-tín hầu là người, ta cũng là người, ta không nghĩ ra chiêu thức để thoát vòng kềm chế của Lĩnh-nam kiếm pháp ư?

Nghĩ vậy Lưu Quang vận sức vào kiếm, phóng ra những chiêu thức cực kỳ hùng hậu, kiếm chiêu veo véo. Phật-Nguyệt chuyển thân vung kiếm đánh lại. Có điều chiêu thức Lưu Quang dũng mãnh, đánh là đánh. Còn chiêu thức của Phật-Nguyệt hư hư, thực thực, đâm bên phải đấy nhưng bất thần vọt lên trên. Đang bên trên lại chuyển ra phía hông. Thành ra Lưu Quang cứ phải nhảy nhót tránh né, hao rất nhiều chân lực.

Các võ quan đứng ngoài lúc đầu còn phân biệt được Lưu Quang, Phật-Nguyệt công hay thủ. Nhưng dần dần họ chỉ thấy hai quả cầu bạc bao trùm lấy hai người. Lưu Quang vọt lên cao, nhảy xuống đất. Còn Phật-Nguyệt phiêu phiêu, hốt hốt, khi phải khi trái.

Đấu với nhau trên 200 hiệp, Phật-Nguyệt đã tìm ra nguyên lý kiếm thuật của Lưu Quang. Y dùng kiếm khí nhiều hơn kiếm chiêu. Còn nàng thì dùng kiếm chiêu. Lưu Quang dùng dương cương, còn nàng thì dùng âm nhu. Nàng thấy tất cả cái sơ hở của y. Kể ra muốn giết y thật không khó khăn gì. Là đệ tử của Nguyễn Phan tính tình hiền hòa. Nàng thấy Lưu Quang là hoàng-thúc tước phong tới Hoài-nam vương, địa vị y không phải nhỏ, phải làm thế nào cho y khâm phục hơn là làm nhục y.

Đánh đến 300 hiệp, nàng nghĩ: Bây giờ ta dùng chiêu thức thật mau, để cho y mệt lử, chịu thua là xong.

Nghĩ vậy, nàng lùi lại rồi đâm 10 kiếm thật thần tốc vào vai, cổ, ngực y. Lưu Quang kinh hoàng nhảy nhót tránh né, nhô lên hụp xuống. Nhưng dù tránh né thế nào chăng nữa, kiếm của Phật-Nguyệt cũng theo sát y như bóng với hình. Y nhảy nhót được gần trăm hiệp, công lực đã giảm. Y nhận thấy đối phương không muốn hại mình, thì còn đấu làm gì. Nghĩ vậy, y vọt lên cao đá gió một cái, người bay ra khỏi đấu trường.

Y chắp tay:

– Lão phu chịu thua cô nương. Đa tạ cô nương nhẹ tay.

Phật-Nguyệt chắp tay đáp lễ:

– Tiểu nữ vô phép, mong Vương-gia khoan dung, đại lượng.

Lưu Quang là đại tôn sư võ học, lại là bậc hoàng-thúc, nên y có cái nhìn xa. Y tâu:

– Thần nghĩ Lĩnh Nam là đất anh hùng. Kỳ này các hào kiệt Lĩnh Nam tùng chinh đông đảo, lập được nhiều công lao. Qua sớ tâu về triều, thần đọc thì thấy, nếu không có hào kiệt Lĩnh Nam. Hán quân chưa chắc đã thắng được Thục mau như vậy. Thần dám xin bệ-hạ theo chuyện Tần Thủy-Hoàng phong tước Vạn-tín hầu cho Lý Thân, mà phong tước cho hào kiệt Lĩnh Nam. Để sáng cái đức coi con dân bốn bể là con dân của triều đình. Nghiêm vương chỉ dẫn về đây có hai người, tuổi còn trẻ, mà võ công đã dường ấy. Xin bệ-hạ nên trọng dụng họ hơn là nghe lời dèm xiểm.

Quang-Vũ truyền chỉ:

– Trưng cô nương và Phật-Nguyệt cô nương đã hiển oai thần võ, còn Trần tiên sinh, xin tiên sinh cho quả nhân được chiêm ngưỡng võ công của Lĩnh Nam đệ nhất nhân.

Khất đại-phu bước ra tâu:

– Thần năm nay đã 80 tuổi rồi. Từ nhỏ chí của thần là làm sao cho bớt sự đau khổ của chúng sinh. Cho nên thần chuyên chú nghiên cứu y học. Ở Lĩnh Nam thần phiêu bạt thất thường, chữa bệnh cho người, cho thú, cho cây cỏ. Không bao giờ thần đòi tiền ai. Nhưng ai cho gì thần cũng nhận. Gặp đường, ngủ đường, gặp chợ ngủ chợ. Chữa bệnh cho vương, hầu thì vương, hầu đãi cho những miếng ngon, vật lạ. Chữa bệnh cho khỉ, khỉ cho thần hoa quả ăn. Uống nước suối tắm nước sông... Vì vậy người ta gọi thần là Khất đại-phu tức là thầy thuốc đi ăn mày.

Quang-Vũ ngắm nhìn Khất đại phu từ đầu đến chân rồi khen:

– Tiên sinh đúng là tiên ông giáng trần, để cứu giúp chúng sinh. Quả nhân có một bệnh hơi kỳ lạ, dám thỉnh tiên sinh dạy cho.

Khất đại phu hỏi:

– Xin bệ-hạ cứ kể.

– Mấy năm gần đây, quả nhân ăn uống vào thường bị đầy ứ không tiêu. Khi đi ngược gió thì mửa. Mửa ra cả thực vật. Bàn chân, bàn tay lạnh. Đầu căng thẳng, thường thấy như mắc nghẹn mà nuốt không xuống.

Khất đại phu cầm mạch, một lúc ông nói:

– Bệnh của bệ hạ không do ngoại tà, mà do nội thương. Trong cơ thể thì Tâm thuộc hỏa, Phế thuộc kim, Tỳ thuộc thổ, Can thuộc mộc, Thận thuộc thủy. Ngũ tạng phải điều hợp với nhau. Khi bệ-hạ lo lắng quá, hoặc ẩm thực không tiết độ, làm thương tổn đến Tỳ. Tỳ chủ vận hòa nước ra ngoài cơ thể. Khi Tỳ-dương bị hư tổn, công năng vận hóa thủy thấp kém đi. Do vậy thủy thấp đình lưu trong cơ thể. Tỳ thuộc âm. Vị thuộc dương. Giữa Tỳ với Vị tương thông biểu lý. Khi Tỳ-dương hư không giúp công năng vị tiêu hóa được. Do vậy bệ-hạ ăn vào thấy đầy ứ. Khi đi ngược gió, gió lạnh nhập vào cơ thể, Tỳ-dương đã hư còn thêm lạnh nữa, cho nên Vị không thể làm nóng thực phẩm, nên bệ-hạ mới nôn ra thực phẩm.

Ngừng một lúc ông nói:

– Tỳ chủ vận hóa chân khí, khi Tỳ dương hư, thì chân khí không được chuyển ra khắp chân tay. Do chân tay bị lạnh. Bụng bệ-hạ ngày càng chướng lên là do thủy thấp đình lưu. Khi Tỳ dương hư thì dương khí không lên được đầu, thành ra đầu nặng, càng khó chịu. Vì bị lạnh, kéo theo thực quản lạnh, nên bệ-hạ tưởng như mắc nghẹn, kỳ thực là do Vị.

Quang-Vũ nhìn Thái-y rồi nói với Khất đại-phu:

– Tiên sinh luận bệnh quả-nhân, thật không sai tí nào. Không biết tiên sinh có chữa cho quả-nhân được không?

Khất đại-phu nói:

– Tâu bệ-hạ, việc chữa bệnh Tỳ, Vị thật dễ dàng. Nhưng cần phải bỏ ra những ưu tư làm thương tổn Tỳ mới dứt được. Có hai phương thức điều trị: Một là dùng dược, hai là dùng nội công thượng thừa đẩy vào kinh mạch tống thấp ra, xin bệ-hạ chọn lấy một.

Quang-Vũ gật đầu:

– Trẫm muốn dùng cả hai. Xin tiên sinh trị cho quả nhân.

Khất đại-phu nói:

– Thần sẽ dùng Lĩnh-nam chỉ pháp. Chỉ pháp này do Chinh-viễn đại tướng quân Đào Kỳ với thần hợp nhau chế ra. Thần vận khí dương về Đốc-mạch, chuyển qua kinh Tam-tiêu, sau đó phóng chân khí vào các huyệt Trung-uyển, Lương-môn, Thủy-phân, Quang-nguyên, Trung-cực, Âm-lăng tuyền, Tam-âm-giao, Thái-khê cuối cùng là các huyệt Can-du, Thận-du, Tỳ-du, Cách-du. Như vậy chỉ trong một ngày, bệ-hạ sẽ đi tiêu ra ngoài 10 cân nước: Thủy tà được trục ra hết. Sau đó chỉ việc uống vài thang thuốc bổ dưỡng nữa là xong.

Quang-Vũ hỏi:

– Tiên sinh có thể trị ngay tại đây, cho triều đình được chiêm ngưỡng thủ thuật của thần tiên chăng?

Khất đại-phu cười:

– Thưa được. Trong khi hạ thần dồn chân khí vào người bệ-hạ. Xin bệ-hạ không nên vận khí chống lại, cũng không nên chuyển động thân hình.

Quan Thái-y hỏi:

– Thưa tiên sinh, tại sao tiên-sinh dùng kinh Tam-tiêu mà không dùng kinh khác?

Khất đại-phu lắc đầu:

– Lý ngũ-hành là Hỏa sinh Thổ. Tam-tiêu thuộc Hỏa. Tỳ thuộc Thổ. Vì vậy lão phu mới dùng kinh Tam-tiêu để trị Tỳ, Vị.

Ông vận khí rồi hướng lên không điểm đến vèo một cái. Khiến quần thần đều kinh hãi. Ông giảng:– Đầu tiên thần điểm huyệt Trung-uyển. Trung-uyển là mộ huyệt của Vị. Phụ thêm có Lương môn, là huyệt gần nhất của Vị, để làm ấm Vị. Vị ấm thì sẽ đủ khí vận thủy thấp ra ngoài.

Ông chĩa ngón tay giữa, hướng ngực Quang-Vũ điểm hai cái chỉ lực kêu lên véo, véo. Mặt Quang-Vũ đang tái, hồng hào hẳn lên, há miệng ợ liền bốn năm lần. Y nói:

– Thực là khoan khoái. Xin tiên sinh tiếp tục.

Khất đại-phu giảng:

– Bây giờ thần điểm huyệt Thủy-phân. Thủy-phân là huyệt ngăn cách giữa Trung-tiêu và Hạ-tiêu. Mục đích để thông thủy thấp Tam-tiêu, thì thủy mới dễ trục ra. Tiếp theo là huyệt Quan-nguyên để bổ nguyên khí. Khi bệ-hạ bị Tỳ, Vị hư, thì nguyên khí bị suy nhược. Thần điểm luôn huyệt Trung-cực là mộ huyệt của Bàng-quang, có vậy Bàng-quang mới khí hòa, dễ thông tiểu tiện.

Giảng đến đâu, ông vung tay điểm đến đấy, chân khí tiết ra kêu veo véo.

Ông lại giảng tiếp:

– Bây giờ thần điểm tới huyệt Thái-khê. Thái-khê là nguyên huyệt của Thận. Thận chủ thủy. Dùng nguyên huyệt của Thận, để Thận tống nước ra ngoài.

Kế tới là huyệt Tam-âm-giao, để điều hòa Túc tam-âm kinh Can, Tỳ, Thận. Thần còn dùng thêm Túc tam-lý là Hiệp-huyệt của Vị. Âm-lăng-tuyền là Hiệp-huyệt của Tỳ. Hiệp-huyệt để kích thích công năng tạng phủ. Như vậy Tỳ, Vị làm việc, đẩy thủy thấp ra ngoài.

Khất đaị-phu nói đến đâu, điểm đến đó. Ông định bảo Quang-Vũ quay lưng để ông điểm vào các Du-huyệt trên lưng, thì Quang-Vũ vẫy tay đứng lên. Ông biết Quang-Vũ muốn đi tiểu. Vì ông điểm bằng ấy huyệt, thì thủy thấp bị kích động, thoát ra đầy Bàng-quang của y.

Khất đaị-phu cầm bút ghi một toa thuốc, đưa cho Quang-Vũ:

Bạch-truật 4 tiền, Thượng-truật 4 tiền, Hậu-phác 3 tiền, Quế-chi 3 tiền, Cam-thảo 2 tiền, Phục-linh 5 tiền.

Quang-Vũ đưa cho Thái-y. Thái-y đọc nhưng không hiểu, hỏi:

– Trần tiên sinh! Tiểu nhân tối tăm lắm, xin tiên sinh dạy cho. Tại sao lại không dùng Sâm-thang, Lộc-nhung?

– Đại-nhân hỏi câu này thực phải. Rõ ràng Tỳ, Vị hư nhược, phải ôn bổ Tỳ, Vị, dùng Nhân-sâm là đúng. Dương hư dùng Lộc-nhung là đúng. Nhưng trường hợp Thiên-tử bị thấp ứ đọng quá nhiều. Nếu dùng Nhân-sâm, Lộc-nhung bổ Tỳ, Vị, thành ra bổ luôn thủy thấp. Hàn thấp hóa nhiệt thấp, càng khó khăn. Vậy lão phu mới dùng Hậu-phác, Thượng-truật trục thủy-thấp ra. Hai vị này công năng vừa ấm, vừa thông tiểu, thủy thấp sẽ ra ngoài. Thêm Bạch-truật, Phục-linh là hai vị vừa trục thủy thấp, vừa bổ Tỳ, Vị. Riêng Quế-chi là vị thuốc là để thông dương, hành thủy. Tức đưa dương khí chạy khắp cơ thể, làm cho nước chuyển động. Thiên-tử sẽ hết nặng đầu, chân tay ấm áp. Như vậy thang thuốc này 7 phần tả chỉ có 3 phần bổ. Sau khi uống ba thang, thủy thấp tống ra hết rồi, bấy giờ mới đổi thuốc.

Ông ngừng một lát, nói tiếp:

– Sau đấy mấy ngày thấp trong người bệ-hạ đã tống ra hết, bấy giờ mới cần bổ Tỳ, Vị. Thái-y có thể dùng thang thuốc như sau:

Bạch-truật 4 tiền, Phục-linh 4 tiền, Nhân-sâm 2 tiền, Nhục-quế 3 tiền, Cam-thảo 2 tiền, Xuyên-khung 3 tiền.

Uống trong vòng 10 đến 15 thang thì mình rồng khỏe mạnh, không còn sợ gì nữa.

Lưu Quang hỏi:

– Trần tiên sinh! Còn Tiểu-vương luyện võ từ nhỏ, thân thể cường tráng, mà sao gần đây cứ nhức đầu hoa mắt, không thuốc chi trị được cả.

Khất đại-phu bắt mạch, rồi bảo Lưu Quang lè lưỡi ra xem. Ông nói:

– Vương gia cũng bị nội thương chứ không phải ngoại tà. Lão phu cầm mạch thấy Trầm mà Xác. Trầm chủ bệnh nội thương, chủ hư chứng. Xác là chủ nhiệt. Như vậy bệnh của Vương-gia là Âm hư nội nhiệt. Trong người Vương-gia thì khí là Dương, huyết là Âm. Trong các tạng phủ đều có Âm, Dương cả. Như Tâm cũng phân Tâm-âm, Tâm-dương. Thận cũng Thận-âm, Thận-dương. Thận chủ âm, chủ thủy. Tâm thuộc Hỏa. Thủy khắc Hỏa, công năng của Thận khắc công năng của Tâm. Khi Thận-âm hư thì, Âm không đủ kềm chế Tâm-hỏa, vì vậy Tâm-hỏa bốc lên. Cho nên vương mới hay nổi giận. Tâm chủ thần chí. Khi Tâm-hỏa bốc lên thì vương mất ngủ. Bây giờ Thận-âm hư đưa đến nhiều bệnh: Thận chủ não, khi Thận hư, thì não không được nuôi dưỡng. Vương gia hay bị mất trí nhớ. Hoa của Thận là tóc. Khi Thận hư thì tóc sớm bạc. Vì vậy tóc vương-gia trắng hết rồi. Thận chủ cốt, chủ tủy. Khi Thận hư thì cốt tủy không được nuôi dưỡng, nên vương-gia thường thấy mỏi mệt đầu gối khớp xương. Thận khai cùng ở tai. Khi Thận-âm hư thì Dương hỏa bốc lên, nên vương-gia thường thấy tai kêu như ve sầu.

Lưu Quang bái phục:

– Tiên sinh gọi ra bệnh, mà chính Tiểu-vương biết mình, cũng không diễn tả được. Vậy xin tiên sinh cho thang thuốc dùng.

Khất đại-phu cầm bút viết:

Thục-địa 5 tiền, Hà-thủ-ô 5 tiền, Cam-thảo 2 tiền, Trạch-tà 3 tiền, Kỷ-tử 3 tiền, Sơn-thù nhục 3 tiền, Sơn-dược 3 tiền, Phục-linh 3 tiền, Mẫu-lễ 3 tiền, Đơn-bì 3 tiền.

Ghi chú,

Bệnh của Hoài Nam vương tương đương với ngày nay là Huyết-áp cao. Người bị chứng này còn bị thêm nạn bất lực sinh lý (Dysfonction érectile). Phương thuốc này nay còn giá trị. Tuy nhiên cần phải uống mỗi ngày một thang, uống liền 10 thang, sau đó mỗi tuần hai thang, trong vòng 8 tuần thì nghỉ.

Thái-y xem qua hỏi:

– Tiểu nhân có đôi chút thắc mắc. Vương-gia nhức đầu, mất ngủ mà tiểu nhân không thấy tiên sinh dùng những vị thuốc trấn thống và an thần là tại sao?

Khất đại-phu cười:

– Dùng cũng được, mà không dùng cũng được. Vương-gia nhức đầu là do hỏa-vượng, bởi vậy lão phu mới cho uống Mẫu-lễ để hạ hỏa. Còn lại thì các vị Trạch-tả, Sơn-thù nhục, Đơn-bì, Sơn-dược đều để bổ âm cả. Có thêm Hà-thủ-ô, Kỷ-tử bổ huyết. Vì vương-gia hơi gầy nên lão phu mới cho thêm Phục-linh để vương-gia ăn được. Khi hạ hư hỏa rồi thì làm sao còn nhức đầu? Khi bổ âm rồi, thì Tâm-hỏa không vượng nữa, thần chí yên tĩnh thì ngủ ngon, nên không cần các vị kia là như vậy.

Quan Binh-bộ thượng-thư Hàn Song hỏi:

– Kính thỉnh Trần tiên sinh! Ty chức năm nay mới 45 tuổi, không hiểu sao cứ mỗi buổi sáng chải tóc thấy rụng hàng búi. Nếu cứ như thế này mãi, một ngày kia sẽ trở thành trọc đầu mất. Xin tiên sinh cứu chữa cho.

Khất đại-phu đến bên ông cầm tay chẩn mạch. Một lúc sau nói:

– Lão phu xem mạch đại nhân thấy Trầm mà Trì. Như vậy rõ ràng Thận-dương hư suy. Hoa của Thận là tóc. Khi Thận hư thì tóc rụng. Vì vậy chỉ cần mười thang thuốc bổ thận là tóc khỏi rụng ngay.

Đại-phu cầm bút viết:

Trạch-tử 4 tiền, Đơn-bì 4 tiền, Sơn-dược 4 tiền, Phục-linh 3 tiền, Sơn-thù-nhục 3 tiền, Thục-địa 4 tiền, Nhân-sâm 5 tiền, Quế-chi 3 tiền.

Rồi ông nói:

– Xin đại nhân uống liền 10 thang thì tóc hết rụng, người hết mệt, ăn uống ngon, phòng sự tốt.

Thế rồi Khất đại-phu chữa bệnh cho hầu hết các quan của triều đình Quang-Vũ. Tối hôm đó Hoài-nam vương thay hoàng-đế tiếp đãi Khất đại-phu, Trưng Nhị, Phật-Nguyệt. Còn Nghiêm Sơn thì hội họp riêng với Quang-Vũ.

Các quan triều Hán, người này mang kiệu tới đón, người kia mời chữa bệnh cho bản thân, cho thân nhân. Suốt ba ngày Khất đại-phu dẫn theo Trưng Nhị, Phật-Nguyệt chữa bệnh trong thành Trường-An. Sáng ngày thứ tư. Thái-giám đến trao chiếu chỉ triệu Khất đại-phu, Trưng Nhị, Phật-Nguyệt yết kiến Thiên-tử.

Hoài-nam vương cho người đi tìm không biết Khất đại-phu ở đâu. Ông hoảng hốt sai 300 thị-vệ đi khắp Trường-an. Đến chiều một thị-vệ thấy ông đang ngồi giữa chợ trị bệnh cho đám... ăn mày.

Hoài-nam vương than:

– Khất đại-phu đúng là một vị tiên ông. Dù hoàng-đế, dù vương-hầu chúng ta, đức đều không bằng ngài.

Trưng Nhị lấy cớ phục thị Thái-sư thúc. Nàng luôn ở cạnh đại-phu, giúp đại-phu chữa bệnh cho dân trong thành Trường-an. Dân chúng nghe đồn có tiên ông giáng trần, ùn ùn kéo đến thỉnh tiên sinh cứu trị. Tiên sinh nhận lời hết. Có người cho tiên sinh là tiên ông dâng đồ chay, tiên sinh nhận. Có người dâng thịt, tiên sinh cũng nhận hết.

Hoài-nam vương chắp tay thỉnh ông:

– Có chiếu chỉ mời tiên sinh và nhị vị cô nương vào triều kiến Thiên-tử. Song bây giờ đã trễ. Vậy sáng mai Tiểu vương đem kiệu đón tiên sinh và nhị vị cô nương.

Chiều hôm đó tuyết xuống trắng thành Trường-an. Khất đại-phu Trưng Nhị, Phật-Nguyệt qua đêm với đám người cùng khổ vô gia cư trong miếu thờ hoàng-đế. Những người ăn xin cùng khổ, được Khất đại-phu chữa bệnh. Ông còn ở chung với họ trong đêm 23 tháng chạp. Họ nhặt củi vụn đốt lên sưởi ấm cho ông.

Đến nửa đêm, tiên sinh đến bên Trưng Nhị, Phật-Nguyệt đánh thức hai người dậy. Vẫy họ cùng ra ngoài miếu nói chuyện.

Tiên sinh nói sẽ:

– Hôm trước ta quan sát, thấy đám văn thần, võ tướng Quang-Vũ dường như có ý hại Nghiêm Sơn. Ba ngày qua ta không được tin của Nghiêm. Hôm nay có chiếu chỉ triệu hồi bọn ta. Ta đã nghĩ đến biến cố nguy hiểm. Song nhìn vẻ mặt Hoài-nam vương thì thấy bình thường. Tuy vậy lòng người nan trắc. Chúng ta đi thám thính xem sự thể ra sao.

Trưng Nhị nói:

– Nhất định Quang-Vũ định hại Nghiêm đại ca. Bình thường mà nói Nghiêm đại-ca là anh em kết nghĩa của Quang-Vũ, hỏi ai dám xen vào việc của đại ca. Nghiêm đại ca là ân nhân cứu mạng của Quang-Vũ, không có chỉ dụ của nhà vua ai dám đàn hạch? Đại ca lại đang cầm binh quyền trong tay. Võ công thuộc loại thượng thừa, kẻ nào gan bằng trời cũng không dám nói ngược với đại ca một câu, chứ đừng nói kể tội. Thế nhưng từ Tể-tướng, Tư-không, Tư-đồ, cho đến thứ tôm tép Việt-kỵ hiệu-úy cũng dám nói xấc. Chắc Quang-Vũ định trở mặt hại Ngiêm đại-ca. Nếu đại ca bị Quang-Vũ bắt giam, thì y sai võ sĩ tìm bắt chúng ta chứ? Có đâu lại cho chiếu chỉ mời?

Khất đại-phu nói:

– Hai người ở đây ta đi thám thính xem sao. Nếu đến sáng không thấy ta về. Các người cứ dùng Thần-ưng báo cho Phương-Dung biết để nó lo liệu mọi chuyện.

Trường-an là kinh đô nhà Hán, nên trong có đủ cung, miếu như kinh đô Lạc-dương. Khất đại-phu hướng nội cung phóng mình trong đêm tối. Ông đến Hoàng-thành, nhảy lên một cây cao quan sát. Thấy tại điện Vị-ương đèn còn sáng, ông chuyền theo nóc nhà đến. Đứng trên cao nhìn xuống thấy thị-vệ đi đi, lại lại canh phòng rất cẩn mật. Ông vọt lên nóc điện, bám vào một cửa sổ nhòm vào. Bên trong Quang-Vũ ngồi trên ngai vàng. Hai bên có khoảng 10 người vừa văn, vừa võ đứng chầu.

Tư-đồ họ Lý chắp tay nói:

– Đất Lĩnh Nam từ xưa đến giờ là nơi xa xôi với vương-triều. Khí hậu thấp nhiệt, rừng hoang, ruộng sâu. Cho nên đời Tần Thủy-Hoàng mới để cho vua Âu-lạc được yên. Về sau Tần Thủy-Hoàng không biết lượng sức mình, sai Đồ Thư sang đánh, bị thất bại...

Ngừng một lát y tiếp:– Thủy Hoàng chiếm được ba quận Nam-hải, Quế-lâm, Tượng-quận giao cho Triệu Đà làm Quân-úy. Đà nhân đó lập ra một nước mang quân sang đánh Trường-sa vương nhiều trận điên đảo. Mãi đời đức Văn-đế nhà ta y mới chịu quy phục. Y ở Lĩnh Nam lâu ngày biết phong thổ, nhân vật, sai con là Trọng-Thủy sang ở rể bên Âu-lạc mà chiếm được nước. Sau khi Đà chết, tiên-vương cử Lộ Bác-Đức sang chinh tiễu.

Một văn quan tiếp:

– Trong hai trăm năm vong quốc, người Việt vẫn mưu đồ phục quốc. Bây giờ họ đã chuẩn bị. Tổ chức đại hội Tây-hồ, cử người cầu xin bệ-hạ phục quốc. Thần cho rằng, một mai họ cường thịnh lên, hướng mặt về Bắc tranh phong với ta. Không cho, họ khởi loạn, rất khó đánh. Trong khi đó bệ-hạ sai Nghiêm-vương đánh Thục. Họ tòng chinh lập công. Đương nhiên bệ-hạ phải phong chức tước cho họ. Số người tham dự hàng trăm. Bệ-hạ phong cho họ hàng trăm tước Hầu, tước Bá. Hiện các Thái-thú, Đô-úy, Đô-sát đã do họ nắm. Đạo quân Lĩnh Nam chia làm sáu đạo do sáu đại tướng quân văn võ kiêm toàn chỉ huy. Tổng số trên 30 vạn người. Thần không hiểu tại sao Nghiêm vương người Trung-nguyên, thuộc dòng dõi trung thần, lại sa thải hết người Hán chỉ chuyên dùng người Việt?

Hoài-nam vương tâu:

– Không nên trách Nghiêm. Vương xuất thân là người nghĩa hiệp, thấy những gì hợp với nghĩa hiệp là làm. Vương kinh lý Lĩnh-nam thấy quan lại tham ô tàn ác, mà triều đình thì ở xa. Vương nghĩ rằng triều đình cai trị Lĩnh Nam cũng chả giàu, mạnh hơn tí gì. Cử quan lại tới thì sao bằng cử quan lại người Việt. Mà quan lại người Việt sao bằng cho người Việt phục quốc. Hàng năm tiến cống có hơn không? Chính vì vậy vương-gia mới tổ chức đại hội Tây-hồ sang xin cầu phong.

Hàn-lâm bác sĩ Phạm Thăng tâu:

– Bây giờ phải làm gì? Vương gia đánh Thục công rất lớn. Ngô Hán, Đặng Vũ đều bại. Thế mà đến tay vương gia thì thế như chẻ tre. Đánh Thục xong, bệ-hạ phải phong vương cho Đào Kỳ lẽ đương nhiên. Hơn trăm hào kiệt Lĩnh Nam cũng phải phong hầu, bá cả. Không thể đừng được. Sau khi đánh Thục, binh quyền trong tay, triều đình không cho phục quốc, họ trở mặt, bấy giờ ai đánh lại họ? Cho nên thần dám tâu: Bệ-hạ phải xuống tay từ bây giờ. Bệ-hạ giữ vương-gia ở triều, cho một chức thực lớn, không còn cầm quyền binh nữa. Ba đạo quân kia đánh Thành-đô xong bệ hạ bí mật lệnh Ngô Hán, Đặng Vũ đánh úp đạo Lĩnh Nam, bắt tất cả đám hào kiệt giết sạch là xong. Làm như vậy sĩ dân không trách Bệ-hạ vong ân bội nghĩa với vương-gia. Còn đám man mọi Việt kia. Bệ-hạ muốn giết cứ giết, bất cần miệng thế?

Quang-Vũ nghĩ ngợi một lúc rồi ngửa mặt lên:

– Ta vì giang sơn tổ tiên đành phụ đám hào kiệt Lĩnh Nam. Các người đâu mời Lĩnh-nam vương vào đây.

Một lát vệ sĩ dẫn Nghiêm Sơn vào, Vương bị trói hai tay. Nhưng gương mặt quật cường. Vương lạnh lùng nhìn Quang-Vũ, triều thần không nói, không rằng.

Quang-Vũ đứng dậy cởi trói cho Vương, rồi mời ngồi:

– Hiền đệ đừng giận ta! Ta vì sự nghiệp ngàn năm của tổ tiên mà phải làm như vậy. Hiền đệ hãy đặt mình vào địa vị của ta, mới thấy nỗi khổ tâm của ta.

Nghiêm Sơn lạnh lùng hỏi:

– Xin bệ-hạ cho hạ thần biết hạ thần bị tội gì mà bị đánh thuốc mê, rồi bị trói ném vào trong ngục như một con chó ghẻ?

Quang-Vũ tái mặt không biết nói gì. Lý tư-đồ nói:

– Bệ-hạ vì giang sơn vạn dặm, phải diệt tất cả những mầm mống nguy hại cho xã tắc. Đất Lĩnh Nam địa linh, nhân kiệt, khí hậu thấp nhiệt, địa thế hiểm trở. Mà cho người Việt phục quốc, chỉ mấy năm sau họ hưng thịnh lên, quay về Bắc chống với Trung-nguyên, thực là nguy hại. Vì vậy hoàng-thượng phải trở mặt với họ. Chẳng qua cũng là vì nước cả.

Nghiêm Sơn quắc mắt nhìn Tư-đồ, khiến y sợ quá lùi lại. Vương nói:

– Ta đang tâu với hoàng-thượng, chứ có nói chuyện với bọn hèn hạ các ngươi đâu?

Vương nhổ toẹt một bãi nước miếng vào mặt y. Kình lực mạnh kêu lên một tiếng véo. Lý tư-đồ ngã ngồi xuống điện. Mặt y tái mét lùi lại hai bước. Vương quay lại nhìn Quang-Vũ:

– Cách đây mười mấy năm, lúc bệ-hạ còn là một công tử. Bị Vương Mãng sai võ sĩ bắt, đem về kinh giết. Trên đường từ Hoài-dương về Lạc-dương, bệ-hạ bị bỏ đói, bỏ khát, bị chúng coi như con vật, khốn khổ vô cùng. Bấy giờ hạ thần liều mạng, một gươm đánh nhau với chúng cướp bệ-hạ. Hai chúng ta trốn vào ruộng bắp, bẻ bắp sống ăn để khỏi chết đói. Ngày hôm sau lại phải chạy nữa. Trong hai ngày chạy, hạ thần bị thương đến 15 chỗ, cương quyết cứu bệ-hạ. Rồi khi bệ-hạ khởi binh, có thần là người đầu tiên với 300 đệ tử. Bệ-hạ chả từng nói rằng: Nếu sau này được thiên hạ, chúng ta chia nhau, cùng hưởng phú quý. Hạ thần không nghĩ thế, hạ thần nói ngay bấy giờ rằng, hạ thần giúp bệ-hạ là vì nghĩa hiệp. Sau khi thành đại nghiệp, xin bệ hạ cho hạ thần một thanh gươm, một con ngựa ngao du bốn bể.

Vương quắc mắt nhìn Quang-Vũ nói tiếp:

– Khi hạ thần diệt được Vương Mãng, nhưng còn Xích Mi, Ngỗi Hiêu, Công-tôn Thuật chiếm cứ các nơi. Thế mà một giải Lĩnh Nam theo Vương Mãng. Thần một người, một ngựa kinh lý Lĩnh Nam mang về cho bệ-hạ. Từ đó đến giờ nào là lương thảo, lừa ngựa, nào là quân lính, cung cấp đầy đủ để đánh Ngỗi Hiêu, Xích Mi.

Ngừng một chút vương cười nhạt:

– Sau khi Ngô Hán, Đặng Vũ đánh Công-tôn Thuật bị thất bại, bệ-hạ triệu hạ thần về đánh Thục. Hạ thần xuống Lĩnh Nam với hai tay trắng. Nếu không nhờ bạn hữu Lĩnh Nam giúp, làm sao có đạo binh hùng mạnh với hàng trăm hào kiệt giúp bệ-hạ? Nay Thành-đô chỉ giơ tay ra là lấy được. Bệ-hạ nghe lời gian thần, đãi ân nhân cứu mạng. Đãi nghĩa đệ, đãi đại công thần bằng cách trói bỏ vào nhà ngục như con chó ghẻ. Thần đã tâu từ trước: Thần là người hiệp nghĩa mong sự nghiệp thành rồi một người, một ngựa ngao du bốn bể, thế mà bệ-hạ không cho.

Vương lại tiếp:

– Xưa kia Cao-tổ sợ Sở-vương Hàn Tín công lớn quá, lại là người có tài dùng binh, bất chấp công trạng đem giết cả nhà, còn có lý. Đây thần không hề thích công danh, chỉ mong bệ-hạ đối xử thường tình giữa con người và con người mà thôi; thế mà cũng không được đáp lại. Thần xin ngao du tứ hải cũng không cho. Khi hạ thần vây Thục, bất thần nghe tin bệ-hạ đem quân tới Trường-an. Hạ thần nghĩ: Hạ thần thắng Công-tôn Thuật thế như chẻ tre, chỉ giơ tay là lấy được Thục. Việc gì bệ-hạ phải mang quân tiếp viện? Thần biết bệ-hạ nghi ngờ hạ thần vì nghe lời dèm xiểm của bọn hủ Nho. Bọn người chỉ biết ngồi ăn nịnh bợ, hại những người lăn mình vào gươm đao, thập tử nhất sinh. Bệ-hạ mang quân đến Trường-an, bắt chước Cao-tổ du Vân-mộng bắt Sở-vương Hàn Tín. Ai cũng can thần đừng đi vì sẽ bị hại. Nhưng thần nghĩ, Sở vương ham danh, hám của. Chứ thần chỉ xin một con ngựa, một thanh gươm. Giữa bệ-hạ với hạ thần có tình huynh đệ, sao bệ-hạ có thể hại thần được?

Nghiêm Sơn thở dài, nói tiếp:

– Khi hạ thần tới đây, thấy bọn mặt dơi tai chuột hạch hỏi. Hạ thần biết chúng được bệ-hạ chuẩn cho. Chứ đời nào chúng dám hạch hỏi một tước vương cầm đại quân trong tay. Lại là em kết nghĩa của bệ-hạ? Là ân nhân cứu bệ-hạ. Nhưng dù chúng bới lông tìm vết cũng không tìm ra được một tội nào của thần.

Nghiêm Sơn nói một hơi làm Quang-Vũ ngượng mặt ngơ ngác. Nghiêm Sơn nói tiếp:

– Dù sao bệ-hạ cũng cho trói thần rồi. Bây giờ bệ-hạ có tha thần ra, vẫn cảm thấy mình là người vong ân, bội nghĩa. Tất sau bệ hạ sẽ tìm cho ra một vài tội để giết thần, mới lấp được miệng thế gian. Cho nên thần đã cầm cái chết trong tay. Vậy bây giờ bệ-hạ có chuẩn cho thần một ngựa, một gươm ngao du bốn biển không?

Hàn-lâm bác sĩ Phạm Thăng tâu:

– Tâu bệ-hạ! Bệ-hạ cho Vương-gia đi như vậy, tướng sĩ khắp nơi náo loạn hết. Chắc chắn Vương sẽ về Lĩnh Nam, rồi giúp người Lĩnh Nam tạo phản, thì nguy thay.

Nghiêm Sơn cười:

– Theo ý Phạm hàn-lâm, giá tôi có một tội gì đó, khả dĩ bệ-hạ có thể đem chém. Rồi ra cái bộ nhân từ, nghĩ đến công lao, tha chết, cách hết chức tước, đuổi ra ngoài dân dã phải không?

Tư-đồ, Hàn-lâm bác sĩ, đều nhìn Quang-Vũ cả hai gần như đồng ý với nhau. Nghiêm Sơn cười:

– Điều đó dễ lắm, để hạ thần làm một tội, nghĩa huynh bệ-hạ có thể giải quyết cái khó khăn.

Vương vẫy Tư-đồ, Hàn-lâm bác-sĩ lại gần:

– Hai vị lại đây, tôi nói nhỏ cho nghe phương cách phạm tội của tôi.

Hai người ghé sát đầu lại gần Nghiêm Sơn. Bất thình lình Vương túm tóc hai người quát lên như sấm nổ:

– Cái tội của tôi để bệ-hạ có thể cách chức, đó là giết đại thần trước mặt bệ-hạ vậy.

Vương hít hơi giật mạnh tay, hai người bay ngược lên cao. Vương quật xuống thềm. Hai người bể tan đầu, óc phọt ra nền điện, máu me chan hòa.

Quang-Vũ kinh hoảng lắp bắp:

– Hiền đệ đừng hại ta.

Nghiêm Sơn cười khổ sở:

– Bệ-hạ kết huynh đệ với thần, mà giờ này không hiểu thần. Người nghĩa hiệp đã kết bạn với nhau, sống chết có nhau, không vì một lý do gì mà hại nhau. Lưu Tú huynh, đệ không hại huynh đâu, huynh hô võ sĩ bắt đệ để trị tội đi.

Quang-Vũ hô lên, các võ sĩ chạy vào. Nghiêm Sơn chỉ vào hai xác Tư-đồ, Tư-không nói:

– Các ngươi mau trói ta giam lại. Ta ỷ mình là nghĩa đệ của bệ-hạ giết mất hai đại thần rồi.

Các võ sĩ nhìn Quang-Vũ hỏi ý kiến. Quang-Vũ gật đầu. Chúng xúm lại trói Nghiêm Sơn.

Quang-Vũ tiễn Nghiêm Sơn ra cửa:

– Ta lại cho giam hiền đệ vào nhà lao đây. Hiền đệ đừng giận ta nghe.

Nghiêm Sơn bước đi, không quay lại, Vương chỉ cười nhạt.

Khất đại-phu vội buông cửa sổ, vọt khỏi điện Vị-ương rời Hoàng-thành ra chỗ trú ngụ. Trưng Nhị, Phật-Nguyệt đón ông. Hai người nhìn nét mặt ông thì đoán có chuyện hung hiểm đã xảy ra.

Trưng Nhị hỏi:

– Có chuyện không hay xảy ra rồi sao?

Khất đại-phu thở dài:

– Nghiêm Sơn bị bắt giam. Quang-Vũ định giết hết chúng ta!

Ông từ từ thuật lại hết những gì nghe thấy ở điện Vị-ương cho hai người nghe.

Ánh mắt Phật-Nguyệt chiếu ra những tia hàn quang sáng rực, nàng đề nghị:

– Phải viết thư cho Phương-Dung, Vĩnh-Hoa, chúng ta rời khỏi đây ngay đêm nay.

Trưng Nhị ngồi viết thư rồi cột vào chân Thần-ưng. Hai thần-ưng bay bổng lên cao, hướng đất Ích-châu bay đi.

Phật-Nguyệt bàn:

– Bây giờ chúng ta cứu Nghiêm đại ca, rồi hãy đi chứ?

Khất đại-phu lắc đầu:

– Nghiêm Sơn có một bí mật về thân thế, chỉ có ta mới biết. Y vì tình nghĩa hiệp và vì nhũ mẫu mà giúp Quang-Vũ. Y không muốn phản Quang-Vũ. Mặt khác y muốn phục hồi Lĩnh Nam như chúng ta. Bây giờ giữa chúng ta với Quang-Vũ có chiến tranh. Y không thể giúp Quang-Vũ phản Lĩnh Nam. Y cũng không thể giúp Lĩnh Nam đánh Quang-Vũ. Y đành ở lại cho Quang-Vũ giết. Y muốn dùng cái chết của mình, hầu làm nản lòng binh tướng Hán, khích động lòng hận thù của chúng ta với Quang-Vũ.

Phật-Nguyệt bàn:

– Vậy thì sáng mai Quang-Vũ sẽ cho triệu chúng ta vào triều đãi yến, rồi nhân đó bỏ thuốc mê bắt chúng ta. Sau đó y gửi chiếu chỉ đi khắp nơi bố cáo việc bắt giam Nghiêm đại-ca. Chúng ta cần trì hoãn việc của y, càng lâu, càng tốt. Trong khi đó chúng ta có đủ thì giờ hành sự.

Trưng Nhị quyết định:

– Không có gì khó cả. Chúng ta nói với mấy người ăn mày rằng: Khất đại-phu đi Hàm-dương chữa bệnh cho Thái-thú, ba ngày sau sẽ về. Hoài-nam vương ngồi chờ chúng ta ba ngày, rồi mới cho người đến Hàm-dương tìm. Khi biết bị chúng ta lừa, thì đã trễ ba ngày. Bấy giờ Quang-Vũ xuống chiếu. Sai sứ giả truyền lệnh cho Ngô Hán, Đặng Vũ cũng phải mất 10 ngày đi đường. Tổng cộng chúng ta có nửa tháng. Với nửa tháng đó ta dư sức chiếm Kinh-châu, Hán-trung, làm giang sơn nhà Hán nghiêng ngửa.

Suy nghĩ một lát, Trưng Nhị tiếp:

– Chúng ta đón đường bắt sứ giả giết đi. Rồi giả chiếu chỉ Quang-Vũ gửi cho Ngô Hán, Đặng Vũ truyền lệnh trao binh quyền cho chúng ta, về Trường-an nhận chức mới. Còn ta, ta coi như Nghiêm đại ca còn cầm quyền, dùng binh phù Lĩnh-nam vương, lệnh các nơi phản Hán. Tướng nào nghe thì ta để, tướng nào chống thì ta giết. Mọi việc phải thực hiện trong 15 ngày. Sau 15 ngày chiếu chỉ Quang-Vũ tới các nơi thì sự đã rồi. Mặt khác ta cản trở chiếu chỉ đi chậm ngày nào, hay ngày nấy. Một trong ba chúng ta ở lại rình bắt giết sứ giả Quang-Vũ gửi đi Kinh-châu, Ích-châu, Hán-trung, Lĩnh Nam.

Phật-Nguyệt nói:

– Việc này em có thể làm được.

Trưng Nhị mừng lắm nói:

– Gặp sứ giả phải giết ngay, không nhân nhượng. Sau khi giết đốt, hoặc chôn xác để không ai nhìn ra. Nhưng công văn trong người sứ giả đem về cho chị gấp.

Phật-Nguyệt khẳng khái nhận lời.

Trưng Nhị cùng Khất đại-phu phi ngựa về hướng Dương-bình quan. Đến Nam-trịnh, Trưng Nhị bảo Thứ-sử Đô Thiên:

– Tai họa diệt tộc của sư huynh đến nơi rồi!

Đô Thiên kinh hãi hỏi:

– Tại sao vậy?

Trưng Nhị tường thuật tỉ mỉ các việc xảy ra cho Đô Thiên nghe, rồi nàng kết luận:

– Quang-Vũ truyền phái sứ giả đi khắp nơi, truyền bắt giam trừ diệt tất cả tướng sĩ, thân thuộc, bằng hữu của Nghiêm đại ca. Vì vậy tôi báo để đại ca biết hầu định liệu.

Đô Thiên chết lặng giờ lâu, hỏi Trưng Nhị:

– Trưng cô nương, cô nghĩ sao?

Trưng Nhị cười:

– Người Trung-nguyên của đại ca thì vua muốn bầy tôi chết, bầy tôi chết. Người Lĩnh Nam chúng tôi không thế. Ta giúp người, người phải đãi ngộ ta. Ta giúp người mà người không đền đáp ta, ta đòi. Ta xây sự nghiệp cho người, khi thành công, người giết ta để hưởng tất cả. Ta phải chống lại để tự tồn.

Đô Thiên run run đáp:

– Trưng cô nương, anh hùng Lĩnh Nam sao thì tôi vậy. Xin cô nương chỉ cho tôi con đường sống nguyện không dám quên ơn.

Trưng Nhị thở dài:

– Đại ca có hai con đường. Một là, chuẩn bị gia thuộc, tắm rửa ngồi chờ Quang-Vũ sai người tới đem ra chợ chặt đầu, của cải tịch thu. Xác chết đem phơi nắng mưa, đầu đem bêu khắp nơi cho quần chúng coi.

Đô Thiên nhăn nhó:

– Tôi không chịu được như thế.

Trưng Nhị tiếp:

– Con đường thứ nhì triệu tập hết chân tay thân tín, uống máu ăn thề. Sau đó gọi các tướng cầm quân, huyện-lệnh, huyện-úy về nói rõ việc mình làm. Ai theo thì để, ai không theo thì chặt đầu. Rồi truyền, lệnh đi khắp nơi đóng chặt đồn ải, hợp với chúng tôi phản Hán.

Đô Thiên rút thanh kiếm, chém sạt một góc bàn thề:

– Tôi quyết theo kế sách của cô nương. Cô về đem đại quân ra Trường-an bắt Quang-Vũ, tôi nguyện dẫn đường.

Chương 14: Gươm thiêng tộc Việt

Khất đại phu, Trưng Nhị về tới Dương-bình quan vào buổi trưa. Quần hùng Lĩnh Nam tụ họp đầy đủ. Người người đều có vẻ mệt mỏi. Có lẽ họ vừa trải qua một cuộc hành trình khẩn cấp dưới tuyết về đây hội họp. Hoàng Thiều-Hoa mặt tái nhợt ngồi bên cạnh Đào Kỳ, Phương-Dung. Ngoài ra còn thấy có đám anh hùng Thiên-sơn như Công-tôn Khôi, Công-tôn Thiệu, Điền Sầm, Triệu Khuôn, Tạ Phong v.v... Tất cả đang ngồi uống trà. Thấy Khất đại-phu, Trưng Nhị người đầy tuyết bước vào. Họ đứng dậy hỏi tin tức Nghiêm Sơn.

Hoàng Thiều-Hoa run run hỏi:

– Sư muội Nghiêm đại ca và Phật-Nguyệt đâu?

Trưng Nhị ngồi xuống uống một ly trà cho ấm rồi đáp gọn lỏn:

– Nghiêm đại-ca bị giam ở Trường-an. Còn Phật-Nguyệt có việc phải làm chưa về đây được.

Rồi Trưng Nhị tường thuật chi tiết chuyến đi Trường-an cho quần hùng nghe.

Hoàng Thiều-Hoa ngắt lời:

– Theo sư muội nghĩ, liệu Quang-Vũ có giết Nghiêm đại-ca không?

Trưng Nhị lắc đầu:

– Quang-Vũ là người khôn khéo, không cố chấp. Nếu chúng ta khởi binh phản Hán. Chắc chắn y phải giữ Nghiêm đại-ca để điều đình. Chuyện Quang-Vũ bắt Ngiêm đại-ca chưa lộ ra ngoài. Sư muội Phật-Nguyệt với Thứ-sử Nam-trịnh Đô Thiên đang phục kích bắt sứ giả của Quang-Vũ, hầu đề phòng y truyền chiếu chỉ đến Ngô Hán, Đặng Vũ, Mã Viện. Dù các sứ giả có thoát được lưới của Thứ-sử Nam-trịnh với Phật-Nguyệt, chúng ta cũng còn chán thì giờ để hành động

Ngưng một lát Trưng Nhị tiếp:

– Đối với các đạo Lĩnh-nam, Hán-trung, Kinh-châu, các Thái-thú của Lĩnh Nam, Ích-châu, Đông-xuyên, Tây-xuyên, Trường-an, Tây-lương thì Nghiêm đại-ca vẫn còn là Lĩnh-nam vương thống lĩnh binh mã. Vì vậy chúng ta dùng binh phù của Nghiêm đại-ca, đem quân phản Hán.

Phương-Dung quyết định:

– Phải cẩn thận, Nghiêm đại-ca tuy là Lĩnh-nam vương song các vùng Kinh-châu, Hán-trung, Tây-lương, Trường-an vẫn do Mã Viện, Ngô Hán, Đặng Vũ thống lĩnh trực tiếp. Chỉ có đất Lĩnh Nam là ta nắm được mà thôi. Vậy đối với Lĩnh Nam chúng ta sai Thần-ưng đem thư cho Long-biên hầu Lưu Nhất-Phương cùng các thái-thú, đô-úy, đô-sát giữ vững địa phương. Chuẩn bị quân mã chống cự nếu Quang-Vũ cử binh đến, còn những vùng đất Đông-xuyên, Tây-xuyên, Ích-châu, Kinh-châu chúng ta giả lệnh Ngiêm đại ca nắm lấy binh quyền loại Ngô Hán, Đặng Vũ, Mã Viện. Những thành trì đó giao cho Thục.

Nam-hải nữ hiệp hỏi Công-tôn Tư:

– Công-tôn thái tử, bây giờ chúng ta làm việc chung, không biết người của thái-tử có nghe theo chúng tôi không?

Công-tôn Tư khẳng khái:

– Các vị anh hùng Lĩnh Nam phản Hán, chiếm đất để làm gì, nếu không phải trao cho chúng tôi? Vì vậy tôi quyết trên từ phụ-hoàng xuống đến các tướng đều sẵn sàng tuân lệnh sư bá.

Khất đại phu nói:

– Trước kia mọi quyết định do Nghiêm Sơn. Bây giờ Nghiêm Sơn bị bắt rồi, ta phải có người cầm đầu, vậy là ai đây?

Phương-Dung nói:

– Từ cổ đến giờ phàm người cầm đầu cần có đức. Bàn về đức ngoài Thái sư-thúc ta phải kể đến Nam-hải sư-bá. Nhưng Thái sư-thúc là một tiên ông trong cõi trần, người không chịu dính bụi thế gian. Chúng ta đề nghị Nam-hải sư-bá làm thủ lĩnh.

Mọi người đều đồng ý.

Nam-hải nữ hiệp khảng khái nhận lời. Bà bảo Vĩnh-Hoa:

– Con vốn thân với Thục lại nhiều mưu lắm mẹo. Con hãy định kế hoạch, còn hành quân phải để Phương-Dung.

Vĩnh-Hoa vâng dạ, thưa:

– Bây giờ chúng ta chia làm ba đạo đánh cho giang sơn nhà Hán nghiêng ngửa một phen. Thứ nhất đạo Hán-trung sẽ xuất ra Dương-bình quan qua ngả Hán-trung, chiếm Trường-an. Đạo này chắc chắn gặp đại quân của Quang-Vũ. Xin sư bá chỉ định người thủ lĩnh của đạo này.

Nam-hải nữ hiệp nói:

– Đạo này do Hoàng Thiều-Hoa thống lĩnh. Còn những người phò trợ thì do cháu đề cử. Vì cháu hiểu nhiều hơn ta.

Vĩnh-Hoa tiếp:

– Đạo Kinh-châu đánh chiếm vùng Giang-nam, Kinh-châu. Xin sư bá chỉ định người cho.

Nam-hải nữ hiệp chỉ Vương Nguyên:

– Xin Vương tiên sinh đảm trách cho.

Vĩnh-Hoa hỏi:

– Còn đạo Lĩnh-nam trước đây là Đào tam lang. Không biết sư bá có thay đổi gì không?

Nam hải nữ hiệp nói:

– Đúng ra cháu Đào Kỳ đủ tài thao lược, làm đại tướng được, cũng tự làm quân sư được. Võ công cháu cao làm chiến tướng cũng được. Nghiêm Sơn thực là người có tài xét đoán. Trong ba đạo quân đạo nào cũng phải có đại tướng, quân sư, chiến tướng, riêng đạo Lĩnh-nam chỉ có một mình cháu. Thế nhưng sự thế bây giờ đổi khác. Cháu là sư đệ Thiều-Hoa. Thiều-Hoa là Lĩnh-nam vương-phi triều Hán. Cháu lại là Trấn-viễn tướng-quân, làm việc chung với tướng sĩ Hán đã lâu, mà bắt cháu trở mặt với họ thực là khó khăn. Vậy đạo Lĩnh-nam để Đinh-hầu thống lĩnh. Đinh-hầu thao lược, tài kiêm văn võ, điều khiển binh tướng đã quen. Xin Đinh-hầu nhận cho.

Đinh Đại khẳng khái nhận lời.

Vĩnh-Hoa hỏi Phương-Dung:

– Sư muội, chị chỉ nhiều mưu mẹo, chứ về hành quân thì phi sư muội, không xong. Vậy sư muội điều động dùm chị.

Phương-Dung đem tấm bản đồ treo trước mặt mọi người nói:

– Hiện giờ Quang-Vũ chưa kịp chuyển lệnh cách chức Nghiêm đại ca. Như vậy đối với tướng sĩ, quan lại các vùng Ích-châu, Hán-trung, Kinh-châu và Lĩnh Nam, chúng ta vẫn mượn lệnh của Nghiêm đại ca sai khiến họ. Chỉ duy có Đặng Vũ là khó khăn đôi chút vì y là Đại-tư mã có toàn quyền quyết định điều khiển binh mã. Vậy thì thế này:

– Chúng ta chia quân ra làm ba đạo. Đạo Hán-trung nhanh chóng làm chủ một giải Đông-xuyên, rồi xuất đường Tà-cốc đánh Trường-an. Đến Trường-an tất gặp đại quân của Quang-Vũ.

– Đạo Kinh-châu xuất qua ngã Xuyên-khẩu chiếm chín quận Kinh-châu. Sau đó tiến lên đánh Nam-dương uy hiếp kinh-đô Lạc-dương. Quang-Vũ thấy Lạc-dương bị uy hiếp tất đưa quân từ Trường-an về cứu viện kinh đô. Bấy giờ đạo Hán-trung sẽ đuổi theo y.

Phương-Dung hỏi Công-tôn Tư:

– Công-tôn thái-tử, liệu sau khi chiếm Kinh-châu, Hán-trung, Trường-an. Thái-tử có xua quân chiếm Đồng-quan rồi vào kinh-đô Lạc-dương không?

Công-tôn Tư lắc đầu:

– Xin cô nương hiểu cho, Ích-châu đất hẹp, người thưa, địa thế hiểm trở. Nếu chúng tôi thủ thì đến một nghìn Ngô Hán, Đặng Vũ cũng bó tay. Nhưng xuất ra chiếm Trung-nguyên, tướng không hèn, sĩ tốt bền chí, nhưng không đủ người trấn đóng. Hơn nữa chúng tôi mới bị đạo Lĩnh-nam làm cho hao tổn nguyên khí rất nhiều. Việc chiếm toàn đất Trung-nguyên chưa được. Bây giờ các vị giúp chiếm lại Ích-châu là may rồi. Còn được Đông-xuyên, Tây-xuyên, Kinh-châu thêm Trường-an nữa là quá sức. Chúng tôi dừng quân, chỉnh đốn binh mã. Trong ba năm kéo ra Lạc-dương tranh hùng với Quang-Vũ sau.

Phương-Dung gật đầu đồng ý:

– Thái-tử đúng là người hiểu tình thế hơn ai hết.

Nàng tiếp:

– Còn đạo Lĩnh-nam trở về Độ-khẩu. Di chuyển đến Quế-lâm, Nam-hải trấn nhậm ở đấy phòng Quang-Vũ mang quân xuống đánh.

Phương-Dung quay lại nói với Trưng Nhị:

– Sư tỷ Trưng Nhị làm quân sư cho đạo Kinh-châu. Chiếm Kinh-châu xong, xin trả cho Thục. Sư tỷ mượn một đạo binh từ Trường-sa, Linh-lăng đánh xuống Quế-lâm, Nam-hải sau khi gặp đạo Lĩnh-nam thì kéo về Giao-chỉ.

Nam-hải nữ hiệp nói với Công-tôn Tư:

– Hôm trước Khất đại phu, Trưng Trắc họp với các vị chưởng môn phái Thiên-sơn tức Thục-đế. Chúng tôi hứa với nhau tạm chia ba thiên hạ. Chúng tôi chiếm 6 quận Lĩnh Nam, một thước đất của Trung-nguyên cũng không đụng đến. Còn Thục giữ Ích-châu, chiếm Tam-xuyên, Kinh-châu. Giữa Thục với Lĩnh Nam làm thế ỷ dốc. Nếu Hán mạnh, chúng tôi từ Lĩnh Nam theo đường bờ bể đánh lên Bắc. Còn Thục theo đường Kinh-châu, Trường-an đánh về Lạc-dương. Hiện Thục chưa đủ binh lương chiếm toàn Trung-nguyên. Thục cần ít nhất 3 đến 5 năm chỉnh đốn quân mã, hướng lên Bắc tranh phong với Hán. Ta hãy tạm chia ba thiên hạ như vậy. Sau này Thục đủ lực lượng diệt Hán, đó là chuyện của Thục. Bây giờ chúng tôi giúp Thục chiếm lại đất đai đã mất, chiếm thêm Kinh-châu, Tam-xuyên. Không biết Công-tôn thái tử nghĩ sao?

Công-tôn Tư là người anh hùng, chàng đứng lên cầm mũi tên, bẻ làm đôi, thề rằng:

– Công-tôn Tư tôi thề giữ lời hứa với các vị anh hùng Lĩnh Nam. Nếu sau này bội ước thì dòng họ Công-tôn sẽ tuyệt tử, tuyệt tôn.

Vĩnh-Hoa tiếp lời:

– Bây giờ thế này đạo Kinh-châu do Vu-Sơn tiên sinh thống lĩnh, Trưng Nhị làm quân sư. Các anh hùng Lĩnh Nam sau đây theo giúp: Sư tỷ Hồ Đề, Phật-Nguyệt, Trần Năng và Lại sư bá. Hỗ trợ thêm đội Thần-hổ, Thần-báo. Sau khi chiếm Kinh-châu, anh hùng Lĩnh-nam sẽ dẫn một đạo quân đánh trở xuống vùng Quế-lâm, Nam-hải. Còn Vu-Sơn tiên sinh trấn nhậm vùng Kinh-châu để Trường-sa vương Công-tôn Thiệu đánh lên vùng Nam-dương. Đạo này cần hai đội Thần-ngao theo giúp.

Vương Nguyên đứng lên:

– Thưa Nam-hải nữ hiệp, nhị sư huynh Công-tôn Thiệu tước phong Trường-sa vương. Vậy xin nữ hiệp để nhị sư huynh cầm đầu đạo Kinh-châu. Còn tôi sẽ phải đi tổ chức lại những địa phương vừa bị chiến tranh tàn phá, hầu có cơ sở vững chắc. Tiến ra chiếm Kinh-sở, Lũng-tây, lui về thủ Ích-châu, Hán-trung.

Nam-hải nữ hiệp gật đầu đồng ý.

Sún Lé giơ tay hỏi Phương-Dung:

– Sư tỷ! Trước kia Lục Sún chiến thắng thành Bạch-đế, tại sao bây giờ không được trở về chiến trường cũ?

Vĩnh-Hoa phì cười:

– Các Sún chỉ huy Thần-ưng phải chiến đấu ở mặt trận nào khó khăn nguy nan mới xứng tài. Mặt trận Kinh-châu chúng ta đánh Thục thì khó, chứ đánh Hán thì dễ, đâu cần Thần-ưng. Vì vậy Lục Sún sẽ tham chiến chiếm Trường-an.

Lục Sún nhìn nhau cười nhe răng rất đều, rất đẹp không sún cái nào cả làm ai cũng phì cười.

Vĩnh-Hoa tiếp:

– Đạo Hán-trung do Hoàng sư-tỷ thống lĩnh. Phó thống lĩnh là Công-tôn thái-tử. Các anh hùng Lĩnh Nam sau đây theo trợ giúp: Thái sư-thúc Khất đại-phu, các sư bá Cao Cảnh Minh, Lương Hồng-Châu, Đinh Công-Thắng, các sư huynh Thần-nỏ Âu-lạc, Giao-long binh, sư tỷ Nguyễn Giao-Chi, Trần Quốc, Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa, các sư huynh Nguyễn Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Quân sư là sư tỷ Phương-Dung. Hỗ trợ có đội Thần-ưng, Thần-Phong, Thần-hầu và Thần-tượng.

Vĩnh-Hoa nhìn Đinh Đại:

– Đạo Lĩnh-nam Đinh-hầu làm thống lĩnh, cháu sẽ làm quân-sư. Hỗ trợ có sư bá Nam-hải, các sư tỷ Trưng Trắc, Đinh Bạch-Nương, Trần Hồng-Nương, Trần Đạm-Nương, Trần Thanh-Nương. Các sư huynh Quách Lãng, Đào Hiển-Hiệu. Phía Thục thì xin các sư huynh Vương Phúc, Lộc, Thọ theo tiếp thu đất cũ.

Đào Kỳ hỏi:

– Thưa sư bá! Cháu theo đạo binh nào?

Phương-Dung cười:

– Tam lang với em phải đi cứu Nghiêm đại ca. Tất cả uyên nguyên đầu mối Nghiêm đại ca bị hại đều do lòng tốt của đại ca với Lĩnh Nam. Mà lòng tốt đó do sư tỷ Thiều-Hoa sủng ái Tam-lang. Tam-lang với em lợi dụng đại ca mưu phục quốc. Vậy dù phải tan xương nát thịt, em với Tam-lang cũng phải cứu đại-ca. Nếu không thì từ Khất đại-phu cho đến chúng ta không đáng làm người nữa, chứ đừng xưng là anh hùng Lĩnh Nam!

Khất đại-phu xen vào:

– Từ trước đến giờ già này có một chuyện không nói với các vị vì đã hứa với Nghiêm Sơn. Vậy Trần Năng, con cho mọi người nghe về nguồn gốc Nghiêm đại ca đi.

Trần Năng nhìn Khất đại-phu tủm tỉm cười hỏi:

– Sư phụ! Thuật hết mọi chi tiết hay chỉ lược qua thôi?

Trần Năng tiếng là học trò Khất đaị-phu, nhưng tình nghĩa như ông cháu. Bởi sự chênh lệch tuổi quá xa. Khất đại-phu là người giàu tình cảm, không câu nệ khách sáo. Trần Năng được thế hay vui đùa trước mặt sư phụ. Ông cũng cười xòa tha thứ:

– Kể hết, không bỏ một chi tiết nào.

Nàng nhắm mắt ôn lại chuyện cũ rồi thuật:

– Trước khi mang quân sang đánh Trung-nguyên, Lĩnh-nam vương nhờ sư thúc Đào Kỳ viết thư mời các vị sau đây về Cối-giang họp mặt. Sư phụ của tôi, sư tỷ Nam-hải, các vị Nguyễn Tam-Trinh, Đặng Thi-Sách, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Đào-hầu, Đinh-hầu. Cuộc họp có 10 người. Kể cả Trần Quốc, Lĩnh-nam vương-gia và vương-phi là 13 người. Trong buổi họp vương gia cho biết, người không phải là người Hán mà là người Việt.

Quần hùng nghe đến đó đều ồ lên một tiếng đầy kinh ngạc.

Trưng Trắc tiếp lời:

– Các vị ngạc nhiên, chứ Đặng đại ca với chúng tôi không ngạc nhiên. Này nhé, khi Vương-gia được phong Lĩnh-nam công. Nếu là người Hán phải tổ chức cai trị chặt chẽ. Chứ có đâu ban lệnh cho Lĩnh Nam tự do tập võ. Ban lệnh cho các Lạc-hầu, Lạc-tướng được nhiều quyền hạn như một ông vua con. Vương lại thay thế dần hết các quan lại người Hán bằng người Việt. Những kẻ xu phụ người Hán, đáng lẽ được trọng đãi thế mà Vương-gia lại thải dần như sư thúc Lê Đạo-Sinh và đệ tử của người.

Hoàng Thiều-Hoa xen vào:

– Khi Nghiêm đại-ca bị Mai-động hầu bắt. Dù chỉ là huyện lệnh thôi, Đại-ca đã đem quân san bằng trang Mai-động. Thế mà đại-ca một người, một ngựa đến trang Mai-động mang trâu, bò thế mạng. Sư bá Nguyễn Tam-Trinh không hiểu hành động này. Vì vậy Nghiêm đại-ca phải thổ lộ nguồn gốc mình. Rồi kết luận: "Biết Mai-động hầu phản Hán phục Việt, nếu tôi là người Hán, tôi tiêu diệt trang Mai-động. Song là người Việt, tôi đã tìm được đồng đạo. Chúng ta phải từ từ mà làm, lộ ra, tính mạng của tôi e khó toàn". Chính vì vậy sư bá Nguyễn Tam-Trinh mới quỳ lạy Nghiêm đại-ca, đứng ra gả tôi cho Nghiêm đại-ca.

Trưng Trắc tiếp:

– Trong buổi hội ở Cối-giang với chúng tôi, Vương-gia xuất trình hai tài liệu. Tài liệu thứ nhất là một chiếu chỉ của An-Dương Vương truyền ngôi cho con trưởng Phương-chính hầu Trần Tự-Minh là Trần Tự-Anh. Nguyên khi An-Dương Vương bị Triệu Đà lừa trong vụ Mỵ-Châu. Ngài hối hận viết chiếu chỉ sai sứ đến Khúc-giang triệu con trai đầu lòng là Phương-chính hầu Trần Tự-Anh giao cho việc kháng chiến phục quốc. Giòng dõi Trần Tự-Anh giữ chiếu chỉ đã 8 đời. Đến đời thứ 8 là Trần Kim-Bằng cải ra họ Nghiêm lên Trường-sa lập nghiệp. Ngài dự tính với tài trí của mình, có thể làm tới đại-tướng quân, rồi mang quân phản Hán phục Việt. Lĩnh-nam vương là con của tướng quân Nghiêm Bằng, tên thực Vương-gia là Trần Tự-Sơn chứ không phải Nghiêm Sơn.

Khất đại-phu nói:

– Hôm đó Vương-gia trình chiếu chỉ, ấn, kiếm của An-Dương vương. Vì vậy chúng tôi lậy ngài như lậy Hùng-Vương, An-Dương vương. Vương-gia còn đưa gia phả ra nữa. Theo gia phả tôi là vai thúc phụ người. Còn người là anh của Nam-hải, tức đời thứ 9 kể từ tể-tướng Âu-lạc Trần Tự-Minh.

Hoàng Thiều-Hoa chỉ Đào Kỳ nói:

– Hôm tiểu sư đệ, Phương-Dung, Trưng Nhị đến phủ Lĩnh-nam công. Trưng Nhị giả xưng đệ tử của sư thúc Đào Thế-Hùng, Nghiêm đại-ca biết rõ. Đại-ca nói: "Các em làm chuyện phục hồi Lĩnh Nam, đó là chuyện ta cầu mà không được, ta nhắm mắt che chở cho chúng".

Trưng Nhị nhìn Phương-Dung, Đào Kỳ toát mồ hôi. Vì nếu Nghiêm Sơn không phải là người Việt, không phải là Trần Tự-Sơn, Nghiêm đã đem ba người ra chặt đầu rồi.

Khất đại-phu nói:

– Có điều, trước đó Vương-gia tìm đến ta, mời ta làm thái-thú Cửu-chân. Vương-gia biết ta là thúc-phụ người. Ta từ chối, Vương-gia kể lý lịch mình cho ta nghe. Hôm đó có Trần Năng ở đấy. Trần Năng! Con kể cho mọi người mọi người biết đi.

Cách đây mấy năm, một hôm Trần Năng vào rừng cùng cha săn thú. Nàng thấy con gấu đang bơi dưới ao. Nàng dương cung bắn. Mũi tên sắp đến đầu gấu, thì một sợi dây từ đâu bay lại, kình lực mạnh vô cùng, chụp lên đầu gấu, kéo vào bờ. Nàng thấy có người tranh mất gấu, bèn dùng tên bắn một mũi, đứt sợi dây thắt cổ con gấu. Nàng bắn một mũi nữa trúng đầu gấu chết tươi. Từ trên một cành cây, Khất đại-phu nhảy xuống chỉ nhấp nhô mấy cái, đã túm đầu con gấu nhảy lên bờ. Bản tính Trần Năng nghịch ngợm, ưa đùa phá. Thấy một ông già đầu râu tóc bạc cướp con gấu của mình, thì la lớn:

– Con gấu này của tôi sao lão già lại cướp đi.

Khất đại-phu dừng lại nói:

– Cô ơi! Gấu này là gấu hoang chứ có phải gấu nhà nuôi đâu mà cô bảo là gấu của cô?

Trần Năng cãi bướng:

– Tuy không phải cháu nuôi, nhưng cháu săn được là của cháu. Luật đi săn xưa nay, ai bắt được thì là của người đó. Nay trên mình gấu có mũi tên, mũi tên đó mang tên cháu, thì con gấu là của cháu?

Khất đại-phu rút mũi tên trên mình con gấu thì rõ ràng có chữ Trang Toàn-liệt, Trần-hầu. Ông không cãi được đành nói:

– Cô ơi! Ta cần mật gấu cứu người. Vậy cô cho ta cái mật gấu này, ta hứa trả ơn cô.

Giữa lúc đó Trần-hầu, thân phụ Trần Năng đến. Thấy con gái trêu tức một ông già, liền xen vào:

– Lão tiên sinh, cháu nó trẻ con vô phép với tiên sinh, mong tiên sinh đại xá cho. Con gấu này coi như chúng tôi biếu tiên sinh, xin tiên sinh cứ mang đi.

Khất đại-phu định mang con gấu đi, Trần Năng biết mình đùa quá lố, xin lỗi ông:

– Lão tiên sinh! Nhà cháu có hàng chục cái mật gấu phơi khô, tiên sinh muốn dùng bao nhiêu xin quá bộ đến trang Toàn-liệt, cháu xin dâng tiên sinh.

Trần-hầu với Trần Năng dẫn Khất đại-phu về trang, làm cơm đãi tiên sinh và biếu ông hơn mười cái mật gấu. Tính tiên sinh sòng phẳng, ông nói:

– Trần cô nương, ta nhận của cô bằng này mật gấu là món quà lớn quá. Trọn đời ta không muốn nợ ai. Vậy cô nương muốn gì, ta sẽ đền đáp.

Trần Năng ngẫm nghĩ nói:

– Cháu thấy tiên sinh nhô lên hụp xuống mấy cái bắt được gấu. Vậy tiên sinh dạy cháu phương pháp đó đi.

Khất đại-phu nói:– Đêm rằm này, cô nương cứ tới chỗ hồ săn gấu hôm nay ta sẽ dạy cô.

Từ đấy cứ đêm rằm Trần Năng tới hồ săn gấu, Khất đại-phu dạy nàng về tọa công, thở hít. Nàng tuyệt không ngờ đó là nội công thượng thừa của phái Tản-viên, cũng không biết rằng Khất đại-phu võ công đệ nhất thiên hạ. Một đêm kia nàng đang luyện công, thấy có một võ quan Hán xuất hiện, tức Nghiêm Sơn. Nghiêm Sơn đấu võ với Khất đại-phu. Hai người ước hẹn nhau rằng: Nếu Nghiêm Sơn thắng thì Khất đại-phu phải ra làm quan cho vua Hán. Ngược lại nếu Khất đại-phu thắng, Nghiêm Sơn phải làm cho ông một điều ông muốn.

Hai người đấu với nhau được 6 chưởng. Nghiêm Sơn nhận thua, sẵn sàng làm điều gì Khất đại-phu muốn. Khất đại-phu nói:

– Lão phu là thầy thuốc, trọn đời lo cho thiên hạ. Những bệnh tật thì lão phu cứu được. Còn dân chúng lầm than, thì không cứu được. Ngươi hiện là Lĩnh-nam công, lại là anh em kết nghĩa với Hán Quang-Vũ, được trao toàn quyền giải quyết mọi sự ở Lĩnh Nam. Vậy lão phu xin người hãy diệt ba tên thái-thú định đồng hóa người Việt với người Hán, để diệt tuyệt dòng Việt là Nhâm Diên, Tích Quang và Đặng Nhượng. Sau phải giúp cho người Lĩnh Nam phục quốc.

Nghiêm Sơn ngập ngừng:

– Đó là điều tại hạ nung nấu trong bao nhiêu năm qua, nhưng chưa thực hiện được đó thôi.

Khất đại-phu nói:

– Nghiêm tướng-quân! Tướng-quân là em kết nghĩa của Quang-Vũ, Quang-Vũ là tướng-quân. Hơn nữa đất Lĩnh Nam đang nằm trong tay Vương Mãng. Tướng-quân một kiếm, một ngựa kinh-lược thì đất này là của tướng-quân. Vậy tướng-quân trả cho dân Lĩnh Nam có gì lạ đâu. Chắc tướng-quân có điều khổ tâm đây chứ không đâu. Nếu tướng-quân thấy lão phu đáng tin cậy, xin cứ nói ra, họa may lão phu có giúp gì được không.

Bấy giờ Nghiêm Sơn mới nói:

– Tại hạ xin tuân lệnh lão tiên sinh. Tại hạ mong lão tiên sinh giữ kín điều này cho, vì lộ ra ngoài, e sự khó thành. Tại hạ nguyên là người Lĩnh Nam, ở đất Quế-lâm. Thuở nhỏ, gia phụ làm quan với người Hán, lưu lạc sang Kinh-châu sinh tại hạ ra ở đó. Lúc tại hạ được một tháng, gia mẫu bị bệnh không có sữa. Giữa lúc đó gia phụ đi săn gặp một thiếu phụ tuổi khoảng 19-20, đẹp tuyệt trần bị hai võ sĩ Hán định giết ở rừng Trường-sa. Gia phụ động lòng nghĩa hiệp, dùng võ công giết hai võ sĩ Hán, cứu nàng thoát chết. Hỏi thiếu phụ nhà ở đâu để đưa về và uyên nguyên tại sao lại bị Hán binh đuổi theo giết như vậy.

Thiếu phụ mới kể rõ sự tình: Nàng tên Hàn Tú-Anh, xuất thân một ca nhi danh tiếng vùng Kinh-sở. Tiếng nàng đồn khắp Kinh-sở, trên từ vương-tôn, dưới đến hàn-sĩ đều say mê. Nguyên vua Cảnh-đế nhà Hán phong con thứ là Phát làm Trường-sa Định-vương trấn thủ 9 quận Kinh-sở, truyền đến nay đã 4 đời. Trường-sa Định-vương đời thứ tư có hai người con. Người con lớn tên Huyền là thế-tử nối ngôi cha. Nhưng thế-tử say mê một ca kỹ nên bị Trường-sa Định-vương phế làm thứ dân truyền ngôi cho con thứ. Người con thứ nhì nối nghiệp cha làm Trường-sa Định-vương. Ông lại say mê một ca kỷ khác là Hàn Tú-Anh. Chuyện lộ ra, làm chấn động hết vùng Kinh-sở, Tthái-phi giận đến nổi điên lên, không biết giải quyết ra sao.

Vương tuy năm thê, bảy thiếp nhưng vẫn hiếm hoi, may mắn Hàn Tú-Anh lại có với vương hai đứa con, một tên Lưu Diễn, hai tên Lưu Tú, Thái-phi cho rước Tú-Anh vào vương phủ. Bà thấy hai cháu khôi ngô, mừng lắm, cưng chiều rất mực. Nhưng bà không muốn một ca kỹ như Tú-Anh một ngày kia làm Vương thái-phi. Bà sai võ sĩ đem ca kỹ vào rừng giết. Nhưng Tú-Anh được thân phụ tại hạ cứu thoát.

Phụ thân tại hạ thương tình Tú-Anh đem về giấu trong nhà. Tú-Anh đang nuôi con, nay ngưng bị sữa căng chịu không được. Phụ thân tại hạ nhờ bà cho tại hạ bú sữa. Từ ấy tại hạ được Tú-Anh nuôi sữa. Bà thương tại hạ như con. Phụ thân tại hạ sợ chuyện Tú-Anh lộ ra thì mang họa diệt tộc, mới cáo quan từ chức, về sống ẩn dật ở Quế-lâm.

Khất đại-phu tỉnh ngộ:

– Vì vậy người ta mới ngộ nhận tướng quân là người Hán.

Nghiêm Sơn đáp:

– Đúng thế! Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, mang quân đánh xuống Trường-sa. Nhũ mẫu gọi tại hạ vào khóc lóc, xin tại hạ đến cứu hai con bà là Lưu Diễn và Lưu Tú. Tại hạ được nhũ mẫu nuôi dưỡng dạy dỗ lâu ngày, kính yêu bà chẳng khác nào mẹ ruột. Hàng ngày bà nhắc nhở đến hai người con luôn, nên tại hạ coi Lưu Diễn, Lưu Tú như anh em ruột. Bây giờ được nhũ mẫu ủy thác cứu hai người anh nuôi, tại hạ lên đường ngay. Tại hạ mang Hợp-phố lục hiệp đến Trường-sa giữa lúc quân Vương Mãng chiếm được thành. Trường-sa vương bị giết chết. Hai Thế-tử Lưu Diễn và Lưu Tú bị truy lùng rất gắt. Lưu Diễn được bộ hạ hộ vệ trốn thoát. Còn Lưu Tú bị bắt. Giữa lúc Lưu Tú sắp bị hành hình, tại hạ và Hợp-phố lục hiệp xuất hiện đánh chết võ sĩ của Vương Mãng cứu ra. Trên đường chạy trốn, một đêm tại hạ phải đánh 20 trận, bị thương 15 lần, mới cứu được Lưu Tú. Hai người trốn trong một vườn bắp cải, phải hái bắp non ăn sống.

Khất đại-phu hỏi:

– Thế Quốc-công có nói cho Lưu Tú biết tại sao Quốc-công cứu y không?

– Không! Vì nhũ mẫu dặn tuyệt đối không được tiết lộ thân thế của nhũ mẫu, cũng như tại hạ, sợ làm Lưu Tú đau lòng. Cái gì đã qua để cho nó qua luôn.

Khất đại-phu khen:

– Hàn Tú-Anh quả là người hy sinh cho con tuyệt đối. Khó tìm được người thứ nhì như vậy.

Nghiêm Sơn tiếp:

– Thế rồi Lưu Tú với tại hạ kết nghĩa huynh đệ. Tại hạ chiêu tập anh hùng thiên hạ, khởi binh đánh Vương Mãng giúp nghĩa huynh. Khi nghe tin Lưu Diễn hội quân ở Côn-dương. Lưu Tú và tại hạ mang quân về trợ chiến. Chiến thắng ở Côn-dương hoàn toàn do tại hạ và Hợp-phố lục-hiệp, đánh Vương Mãng kinh hồn táng đởm. Sau Lưu Diễn chết, chỉ để lại hai người con trai còn nhỏ tuổi. Quần thần phân vân không biết giải quyết sao, tại hạ xuất ý lập Lưu Tú lên thay. Lưu Tú lên thay rồi cử hùng binh đánh Vương Mãng. Trong suốt năm năm đánh nhau với Vương Mãng và các sứ quân. Một tay tại hạ điều động ba quân. Đến năm Kiến-Vũ thứ tư (28 sau Tây-lịch), tại hạ đề nghị với Quang-Vũ để tại hạ xuống miền Nam kinh-lý. Thái-thú nào theo Hán thì để, chống thì giết, mục đích có một vùng lớn để cung cấp lương thảo, nhân lực, vũ khí cho Trung-nguyên. Quang-Vũ phong cho tại hạ chức Bình-nam đại-tướng quân, tước Lĩnh-nam công. Giao cho toàn quyền kinh lý Lĩnh Nam. Coi Lĩnh Nam như đất phong của tại hạ. Tại hạ là người nghĩa hiệp xuất thân, muốn mời anh hùng Lĩnh Nam cùng xuất lực tạo thành một vùng dùng nghĩa hiệp cai trị dân chúng. Vì vậy tại hạ mới đấu võ cùng tiên sinh, mời tiên sinh ra làm quan, hầu ban phước cho dân.

Khất đại-phu gật đầu:

– Điều bí mật nhất của Quốc-công mà Quốc-công cũng nói với lão phu, chứng tỏ Quốc-công là người anh hùng hào sảng, có mắt tinh đời. Vậy lão phu sẵn sàng giúp Quốc-công đạt ý nguyện. Lão phu sẽ hô hào anh hùng Lĩnh Nam đứng sau Quốc-công tạo phúc cho thiên hạ.

Khất đại-phu bảo Trần Năng phải giữ kín câu chuyện giữa ông và Nghiêm Sơn. Trần Năng nói:

– Tiên sinh hứa với y, chứ cháu có hứa đâu? Lát nữa rời đây, lập tức cháu sẽ kể hết cho bạn bè nghe.

Khất đại-phu bực quá:

– Con nhỏ này cứng đầu quá đúng là Trần Thị Bà Chằng.

Trần Năng càng đùa:

– Cháu vốn họ Trần, vậy cháu là Trần Thị Bà Chằng rồi còn gì nữa. Nếu tiên sinh cho rằng nói cho bạn bè nghe chưa đủ, cháu sẽ cho người hầu ra chợ kể hết cho dân chúng nghe.

Khất đại-phu thấy Trần Năng cứng đầu quá xuống nước:

– Vậy cô nương muốn gì ta sẽ chiều, nhưng đừng tiết lộ chuyện hôm nay.

Trần Năng bây giờ mới nói:

– Cháu muốn tiên sinh thu cháu làm đệ tử, dạy võ cháu. Cháu là đệ tử của tiên sinh, đương nhiên sư phụ nói gì cũng phải nghe, đâu còn dám tiết lộ chuyện hôm nay nữa.

Khất đại-phu nói:

– Con nhỏ ngạnh đầu này, ta không thu mi làm đồ đệ. Được, ta hứa dạy võ cho ngươi, nhưng ngươi không phải là đệ tử của ta đâu nhé.

Từ đấy Trần Năng được Khất đại-phu truyền thụ võ nghệ.

Nghe Trần Năng kể xong, quần hùng đều cúi mặt xuống, khâm phục Trần Tự-Sơn. Vương phải ẩn nhẫn giữa hai luồng đối nghịch nhau: Là người Việt, mà phải đóng vai một viên quan Hán, hứng chịu mọi mũi dùi của đất Lĩnh Nam. Một mặt che dấu hành tung với Hán để phục quốc, giúp đỡ người Việt, mà vẫn bị người Việt gọi là chó Ngô.

Nam-hải nữ hiệp nói:

– Việc Trần Tự-Sơn vương-gia trắng đen rõ rệt. Bây giờ chúng ta cứu vương-gia ra, tôn lên làm hoàng-đế Lĩnh Nam, đánh bọn Hán một trận trời long, đất lở.

Thiều-Hoa nói:

– Việc này Nghiêm đại-ca đã nói cho cháu nghe. Hiện giờ Lưu Tú vẫn chưa biết mẹ đẻ mình đang ở Quế-lâm. Cũng chưa biết Nghiêm Sơn được mẹ mình nuôi dưỡng từ nhỏ. Vậy chúng ta phải đi đón bà khai thác vụ này. Xin sư tỷ Trưng Trắc đón bà ở Quế-lâm dùm.

Nam-hải nữ hiệp nói lớn:

– Xin quý vị xuất phát khẩn cấp ngay đêm nay, để Quang-Vũ không trở tay kịp. Đạo Lĩnh Nam về tới Độ-khẩu thì tiến chậm được. Còn đạo Hán-trung xuất phát tức thời. Xin mời các vị lên đường.

Thình lình có tiếng Thần-ưng ré lên trên không. Tiếng Thần-ngao gầm gừ, Thần-hổ, Thần-báo rống. Quần hùng cùng nhau nhìn Hồ Đề như hỏi xem có chuyện gì xảy ra. Hồ Đề nói:

– Trước khi họp tôi ra lệnh cho Ngao-sơn tứ lão dùng Thần-ngao canh gác bên ngoài. Trên trời là Lục-Sún dùng Thần-ưng canh gác. Vòng ngoài là Tam hổ tướng dùng Thần-hổ canh phòng. Chắc có kẻ gian đột nhập bị phát hiện. Chúng ta mau ra ngoài xem.

Quần hùng vội ra khỏi trướng, thấy Sún Đen đang cầm cờ chỉ huy từng đoàn 25 Thần-ưng một, nhào xuống tấn công ba người ăn mặc theo lối binh lính Hán. Phía dưới đoàn Thần-ngao hơn 100 con vây vòng trong. Phía ngoài đoàn Thần-hổ hơn trăm con vây vòng thứ ba.

Tần-vương Điền Sầm nói với Trường-sa vương Công-tôn Thiệu:

– Đội Thần-ưng, Thần-ngao, Thần-hổ lợi hại thế kia thì Tam sư huynh mất thành Bạch-đế, Xuyên-khẩu cũng không nên buồn vì bất tài. Không hiểu ba người bị vây kia là ai? Dù có cánh cũng không thoát được.

Ba người mặc theo lối quân Hán, đứng dựa lưng vào nhau, một người dùng kiếm ngửa mặt lên phòng Thần-ưng. Hai người cầm đao chống với Thần-ngao. Song Thần-ngao đứng xa xa gầm gừ. Còn Thần-ưng nhào xuống bay lên đe dọa mà thôi.

Hồ Đề hỏi Sún Đen:

– Họ là ai vậy?

Sún Đen đáp:

– Em cũng không rõ. Thần-ưng phát hiện họ núp ở trên nóc nhà đại sảnh. Chúng réo lên báo cho em biết. Em gọi họ, họ không chịu xuống. Em cho Thần-ưng tấn công. Họ dùng kiếm giết mất một Thần-ưng, rồi định bỏ chạy, thì bị Thần-ngao bao vây. Em báo động gọi trăm Thần-ưng tới tiếp chiến, rồi Thần-hổ nữa.

Vương Nguyên kinh ngạc:

– Chúng ta bằng này cao thủ hội họp mà không phát hiện ra chúng? Vậy chúng phải là đại cao thủ hiếm có trên thế gian. Chúng ta thử lại gần xem chúng là ai? Là người của Hán hay của Thục.

Phương-Dung nói:

– Chắc chắn không phải Tế-tác Thục. Vì Tế-tác Thục đâu có dò thám các vị Thiên-sơn. Cũng không phải của chúng tôi. Có lẽ của Quang-Vũ. Phải bắt lấy chúng, nếu không kế hoạch của chúng ta bị lộ hết.

Hồ Đề đến gần ba tên quân Hán:

– Các ngươi là binh sĩ Hán, chúng ta là chúa tướng. Tại sao các người tò mò? Các ngươi mau bỏ vũ khí. Nếu không ta gọi Thần-phong đến bây giờ.

Ba người vội bỏ vũ khí. Hồ Đề vẫy tay ra hiệu, đội Thần-ngao nới rộng vòng vây. Còn đội Thần-ưng vẫn bay lượn trên cao.

Hồ Đề, Giao-Chi, Trần Quốc cùng tiến lại bắt ba tên gian tế. Bất thình lình ba tên phân làm ba ngả nhảy vèo đến tấn công Hồ Đề, Giao-Chi, Trần Quốc. Chưởng lực của chúng mạnh kinh người. Ba người hoảng hốt vung chưởng đỡ, song đã muộn, cả ba đều bị bắt. Chiêu thức chúng vừa hùng mạnh, vừa nhanh không thể tưởng tượng được.

Một trong ba tên nói:

– Các người đứng yên, nếu không ta kẹp tay một cái ba đứa con gái này chết tươi lập tức.

Đoàn Thần-ngao, Thần-ưng, Thần-hổ thấy chúa tướng bị bắt, chúng ré lên nhào xuống cứu.Phương-Dung ra lệnh cho Vi Đại-Lâm:

– Lão bá cho Thần-ngao lui lại ngay.

Thần-ngao, Thần-hổ bao vây phía ngoài như thành đồng, vách sắt. Lục-Sún chỉ huy tất cả 600 Thần-ưng bay lượn trên trời. Thoáng một cái đội Dã-nhân, Thần-hầu hơn 600 mang vũ khí vây vòng ngoài. Thiên-ưng Tây-vu lục tướng tức Lục Sún, cho tới Lục-hầu tướng đều là trẻ mồ côi, được Hồ Đề nuôi dạy từ nhỏ. Tuy chúng gọi nàng là sư tỷ chứ thực sự tình nghĩa còn hơn mẹ con. Chúng thấy Hồ Đề bị bắt, thì dậm chân, múa tay bực tức. Ngũ-long công chúa, Lục-phong quận-chúa cũng đã đến.

Trưng Nhị từ từ tiến tới trước gian tế, nàng đã nhận ra họ:

– Thì ra Phiêu-Kỵ đại tướng quân Sầm Bành, Chinh-lỗ đại tướng quân Tế Tuân và Trung-lang tướng Lai Háp đây. Chúng ta là người một nhà cả. Tại sao các vị dò thám, rồi bắt người là thế nào??

Trung-lang tướng Lai Háp nói:

– Trưng cô nương, ngươi đừng giả nhân, giả nghĩa nữa. Các ngươi họp với bọn Thục. Kế hoạch ta đã biết hết rồi. Khi các ngươi từ Lĩnh Nam về, chúng ta được mật chỉ của Mã thái-hậu theo dõi hành vi của các ngươi. Lục Sún thả Công-tôn Thiệu, cho Thần-ưng ăn gần 20 ngàn quân Hán. Trưng Trắc, Đinh Đại từ Lĩnh Nam sang chủ trương phản Hán thả Công-tôn Khôi, vào Thành-đô họp với Công-tôn Thuật ta biết hết. Các ngươi mau mở vòng vây tha ta ra, bằng không ta giết chết ba đứa con gái này.

Hiện diện tại đó có các cao thủ bên Thục như Công-tôn Khôi, Công-tôn Thiệu, Điền Sầm, Tạ Phong, Vương Nguyên, Triệu Khuôn, Nhiệm Mãng. Họ đều có thể đấu ngang tay với ba tướng Hán này. Bên Lĩnh-nam thì Khất đại-phu, Đào Kỳ, Phương-Dung, Cao Cảnh-Minh đều thắng được chúng. Song họ đành bó tay không biết làm thế nào, vì ném chuột sợ vỡ đồ.

Phùng Vĩnh-Hoa nghĩ được một kế, ghé tai Đào Kỳ, Khất đại-phu, Phương-Dung dặn dò mấy câu. Nàng gọi Ngũ-long công-chúa lại nói nhỏ.

Trưng Nhị nói:

– Thôi được, chúng ta mở đường cho các vị đi. Các vị đi về hướng Bắc, ra khỏi cổng thành để người của ta xuống. Này Phiêu-kỵ đại tướng quân, cửa Bắc thành này có đồi Bành-vong. Nghĩa là chỗ chết của người tên Bành. Tướng quân nên cẩn thận.

Sầm Bành chợt nhớ trong bản đồ của Thục có địa danh tên Bành-vong. Hôm trước y xin đổi là Bành vạn-thọ. Nguyên đạo làm tướng Trung-hoa tin rằng khi đánh trận nơi nào trùng với tên mình hoặc tên hiệu mình, thì y như là bị chết tại chỗ đó. Sầm Bành nghe Trưng Nhị nói, mặt tái đi.

Ba người cặp ba con tin, hướng cửa Bắc mà đi. Vừa qua cổng thành, bất thình lình chân họ bị vướng vào dây, ngã lăn ra. Họ dùng tay gỡ dây, thì vèo, vèo, vèo ba viên sỏi bay đến trúng vào tay. Cánh tay họ tê chồn. Họ buông con tin vọt lên định chạy, thì hai tay, rồi khắp người họ bị dây cuốn lại không cử động được. Những sợi dây tanh hôi kinh khiếp. Bây giờ họ mới biết đó là những con trăn.

Chinh-lỗ đại tướng quân Tế Tuân nói:

– Các ngươi xưng là anh hùng Lĩnh Nam, Thiên-sơn thất hùng, thế mà bảo thả bọn ta rồi còn dùng trăn bắt. Đồ hèn hạ! Ta không phục! Trưng Nhị! Bấy lâu ta ở dưới trướng người, bây giờ mới biết người hèn hạ thế. Ta cảm thấy tủi nhục.

Trung-lang tướng Lai Háp nói:

– Các ngươi có giỏi, một chọi một. Nếu thắng, bọn ta mới phục. Chớ các ngươi ỷ đông người. Có chết ta vẫn khinh rẻ bọn ngươi.

Hồ Đề là gái nhưng nàng là nữ anh hùng Tây-vu. Nàng huýt sáo cho trăn thả bọn chúng ra. Nàng nói:

– Ba vị tướng quân, võ công ba vị cao hơn ta nhiều. Ta bị bắt tức là bị thua. Ta là Hồ Đề, ta ra lệnh cho Thần-ưng, Thần-ngao, Thần-long thả các ngươi. Song ở đây còn anh hùng đất Thiên-Sơn, Lĩnh Nam. Nếu các ngươi thắng được họ, các ngươi có thể thư thả ra về.

Sầm Bành nói:

– Bọn Thiên-sơn ta chỉ nể mặt tên Vương Nguyên. Còn tất cả chúng ta từng giao đấu qua rồi. Có người hòa ta, có người bại dưới tay ta. Lần này ta muốn đấu với bọn Lĩnh Nam các ngươi.

Khất đại-phu nói:

– Chúng nó là bọn hậu sinh, ta không muốn ra tay. Các cháu làm sao thì làm. Ta với người bạn già ngồi lược trận được rồi. Thiên-sơn lão tiên! xuất hiện đi thôi!

Từ trên nóc nhà, Thiên-sơn lão tiên nhảy cái vèo xuống. Ông móc trong túi ra ba tấm thẻ bài, đưa cho Sầm Bành:

– Các ngươi phục trên nóc đại sảnh ta đã biết từ lâu. Các ngươi mải dọ thám bị ta móc túi lấy mất thẻ bài mà cũng không hay.

Ba tướng toát mồ hôi lạnh. Với bản lĩnh của họ hiếm có trên thế gian, mà bị Thiên-sơn lão tiên móc thẻ bài mà không hay biết. Nếu lão tiên muốn lấy tính mạng của họ, thì họ đã chết từ lâu rồi.

Thiên-sơn lão tiên cầm tay Khất đại-phu, lại ngồi gần bên tảng đá gần đó. Quế-Hoa mang cái điếu đến để trước mặt hai ông, đánh lửa châm đóm. Thiên-sơn lão tiên nói:

– Cái món thuốc Lào Lĩnh Nam thực là tuyệt. Này Trần đại huynh, đại huynh là y học danh gia. Đại huynh thử phân tích xem cái lý nào làm người ta say mê thuốc lào đến bỏ không được.

Khất đại phu cười:

– Trước hết đệ nói về cách chế thuốc lào. Cây thuốc phải trồng trong vùng đất tốt, hơi ẩm thấp một chút. Đợi lá thuốc vàng ngà ngà thì đi hái về. Lá thuốc rửa thật sạch, để cho ráo nước. Dùng dây bó thành từng bó bằng cổ tay hay bắp chân. Thái thực nhỏ. Càng nhỏ, càng tốt. Cho thuốc vào giỏ đậy lại, ngâm dưới nước ba ngày, ba đêm. Nhựa thuốc trôi ra, có như vậy khi hút vào mới thấy bớt nóng, bớt cay, bớt nồng.

Thiên-sơn lão tiên hỏi:

– Tại sao thuốc lào có cái gì dẻo dẻo, sền sệt, giống nhựa.

– Đúng đấy. Thuốc được đem phơi khô, rồi đồ với nước cháo. Dùng gạo tám thơm nấu thành cơm nhão một chút. Cơm cho vào nước sôi, đánh thành hồ. Lấy nước hồ đồ vào thuốc, rồi đem phơi không nên phơi khô quá. Phải âm ẩm, thì hút mới ngon. Bàn về lý âm dương. Lá thuốc lào vị cay, cay nhập phế. Tính chất của vị cay là phát tán. Người hút có thể bị khí hư, hại phổi. Thuốc cay như vậy là dương. Đem ngâm dưới nước, dương bớt đi, hợp với nước là âm, thế là âm dương điều hòa. Hút thuốc không bị hại khí cũng không bị hại phổi. Thuốc đồ với nước cháo. Nước cháo thuộc vị ngọt. Vị ngọt có tính chất cô đọng, chống phát tán, vì vậy hút thuốc lào thấy cay cũng có cay. Ngọt thì cũng có vị ngọt. Nước cháo cháy thành than nên còn vị đắng. Ba vị nhập vào môi, vào lưỡi nên thành mùi vị đặc biệt. Y học nói vị cay nhập Phế, vị ngọt nhập Tỳ, vị đắng nhập Tâm. Y học cũng nói:

Tâm tàng thần, Phế tàng phách, Tỳ tàng ý.

Nghĩa là Tâm chứa thần khí, Phế chứa phách, Tỳ chứa ý tưởng. Khi bị ba vị trong thuốc làm cho mê mê, say say thực. Nhưng ý tưởng, thần chí, hồn phách cực kỳ khoan khoái. Đại huynh có thấy đúng không?

Thiên-sơn lão tiên nói:

– Đúng vậy.

Thiên-sơn lão tiên lại hỏi:

– Từ khi Trần huynh cho đệ hút thuốc đến giờ, đệ ghiền, bỏ không được.

Khất đại-phu cười:

– Bỏ làm gì? Hút thuốc lào để tiêu khiển, là một nghệ thuật, tại sao lại bỏ? Khói thuốc bị đốt cháy từ ống điếu chạy qua nước. Nước lọc hết khí độc. Khói thuốc từ lửa xuyên qua nước. Thế là Âm, Dương, Thủy, Hỏa điều hòa. Sỡ dĩ hút thuốc vào bị say đến mờ con mắt đi là vì hồ ở trong thuốc. Hồ có tính chất cô đọng, giữ hương vị lâu dài. Phàm hút thuốc, phải say đến mờ mắt, say đến trời đất quay cuồng mới thú vị.

Thái-tử Công-tôn Tư đứng hầu cạnh Thiên-sơn lão tiên lên tiếng hỏi:

– Lĩnh-nam lão tiên! Đệ tử thấy lão tiên cất thuốc trong cái hộp bằng gỗ. Cất thuốc như vậy có nguyên lý gì không?

Khất đại-phu mở cái hộp lớn ra, trong có năm cái hũ đựng thuốc hai cái bằng gỗ, một cái bằng vàng, một cái bằng sành và một cái bằng vỏ con trai. Ông lấy hai cái hộp gỗ ra đưa cho Công-tôn Tư ngửi, rồi hỏi:

– Thái-tử thấy thế nào?

Công-tôn Tư nói:

– Một cái thì hương vị thuốc trầm, một cái thì thơm tho bốc lên thực mạnh, chạy thẳng vào tới tim.

Khất đại-phu giảng:

– Đúng! Hộp thuốc thứ nhất bằng gỗ cây dừa. Dừa mọc dưới nước thuộc thủy, tính của nó thuộc âm hàn, vì vậy hương vị dịu hơn. Còn hộp này là quế. Tính của quế thuộc nhiệt, thuộc hỏa, nên vị nồng nặc.

Ông bỏ điếu thứ nhất rồi châm lửa cho Thiên-sơn lão tiên hút. Xong lại bỏ điếu thứ nhì vào cho lão hút.

– Hay thực, điếu thuốc trong hộp gỗ dừa, hút vào ngọt dịu, mát miệng. Còn điếu thuốc trong hộp gỗ quế, hương thơm mạnh chạy khắp cơ thể.

Khất đại-phu lại lấy điếu thuốc trong hộp bằng vàng cho vào điếu mời Thiên-sơn lão tiên hút. Lão rít một hơi. Điếu kêu lên những tiếng lách cách vang dội. Lão ngửa mặt lên trời, thở ra, lim dim mắt nói:

– Thuốc này giữ nguyên mùi vị.

Khất đại-phu gật đầu:

– Đúng! Kim loại không hút vị thuốc, cũng không làm đổi vị thuốc, vì vậy không có gì biến đi cả.

Ông lấy một điếu thuốc trong cái hộp bằng sành và một điếu trong cái hộp bằng vỏ con trai, cho vào điếu, mời Thiên-sơn lão tiên:

Thiên-sơn lão tiên hút xong hai điếu thuốc nói:

– Điếu trong cái hũ bằng sành thì nhẹ nhàng. Còn điếu trong cái vỏ con trai thì mát dịu.

Khất đại-phu vỗ đùi reo:

– Đúng như vậy. Hũ sành thuộc thổ. Thổ sinh ra Mộc là thuốc, vì vậy vị thuốc nhẹ nhàng, hương thơm giữ lâu trong cổ. Còn thuốc đựng trong con trai, tuy cũng thuộc Thổ. Song trai ở dưới nước thuộc Thủy, Thủy tính làm cho thuốc dịu đi là thế.

Đến đây Khất đại-phu cũng rít một hơi, thở khói bay tỏa trên không. Thình lình ông thổi vào ống điếu một cái, tàn thuốc bay đến vèo, trúng vào một người nằm dài dưới đất. Người này choáng váng đứng dậy. Công-tôn Tư nhìn lại thì ra y là Trung-lang tướng Lai Háp.

Nguyên trong khi Khất đại-phu với Thiên-sơn lão tiên luận bàn về thuốc lào, đám anh hùng Lĩnh-nam bàn định cử người đấu với ba tướng Hán. Hiện ngoài Đào Kỳ, Phương-Dung không ai địch lại ba cao thủ Hán.

Phùng Vĩnh-Hoa bàn:

– Đào hiền đệ đấu với Sầm Bành. Phương-Dung đấu với Tế Tuân, chắc chắn thắng cả hai cuộc. Vậy cuộc thứ ba ai đấu mà chẳng được. Có thể để Đinh-hầu đấu với Lai Háp.

Sầm Bành lên tiếng trước:

– Trận đầu do Chinh-lỗ đại tướng quân ra tay bằng đao, vậy bên Lĩnh Nam ai muốn xuất thủ?

Phương-Dung bước ra nói:

– Được! Ta dùng kiếm đấu với ngươi.

Tế Tuân đã thấy kiếm pháp của Phật-Nguyệt. Y nghe nói kiếm pháp của Phương-Dung cao hơn Phật-Nguyệt một bậc, y có ý sợ. Song đã trót. Y đành rút dao đứng trước trận.

Y múa đao nói:

– Đào phu nhân, ai vì nước người ấy. Ta là tướng Hán, ăn cơm mặc áo Hán, ta phải trung thành với Thiên-tử. Phu nhân vì Lĩnh Nam, phải phục hồi Lĩnh Nam, vậy chúng ta đấu với nhau. Nào mời phu nhân.

Y quay tròn đao đẩy thẳng về phía trước. Phương-Dung thấy kình lực như vũ bão, vội vọt người lên cao như cây pháo thăng thiên. Tế Tuân cũng vọt người theo. Y đánh ba đao, bao trùm hạ bàn Phương-Dung. Nàng điểm mũi kiếm vào giữa làn đao của y. Người nàng lại vọt lên cao như con hạc. Kiếm của nàng bật lên những tiếng leng keng. Nàng lộn liền ba vòng đáp xuống. Tế Tuân ra tay trước chiếm được tiên cơ một chiêu. Y phấn khởi đẩy mũi đao chênh chếch vào ngực Phương-Dung.

Phương-Dung muốn nghiên cứu đao pháp của y. Nàng chỉ xuất chiêu cầm chừng. Vì vậy hai người đấu trên 300 chiêu vẫn không phân thắng bại.

Trưng Trắc đứng ngoài lo ngại quân Hán biết tình hình. Nàng nói:

– Giải quyết đi thôi!

Bấy giờ Phương-Dung mới đánh liền 9 chiêu, biến thành 81. Kiếm chiêu bao trùm khắp người Tế Tuân. Y hoa mắt không biết đâu mà đỡ. Xoẹt một tiếng, đao của y rơi xuống đất. Y ôm cườm tay nhăn nhó, máu ra đầm đìa.

Hồi tham chiến ở Kinh-châu, Trần Năng rất thân với Tế Tuân. Nàng thấy y bị thương tiến lên nói:

– Chinh-lỗ đại tướng quân! Người thua rồi, để tôi băng bó vết thương cho người.

Nàng lấy vải, thuốc tiến lại băng bó vết thương cho y. Sau khi băng bó xong, nàng nói:

– Tướng quân đã bị sư thẩm của tôi đánh bại. Vậy chúng tôi xin lưu tướng quân lại đây. Khi xong việc chúng tôi để tướng quân về Hán.

Bất chợt Tế Tuân xuất chiêu, tay phải chụp tóc Trần Năng, tay trái rút đao đâm vào ngực nàng.

Võ công Trần Năng cao gấp trăm lần Hồ Đề, Giao-Chi, Trần Quốc. Tay phải nàng túm lấy nắm tay của Tế Tuân vặn mạnh, y nghiêng người đi. Tay trái nàng phóng một chỉ vào ngực y đến phụp một cái. Ngực y bị thủng một lỗ lớn, máu phun ra có vòi. Trong khi đó con đao mới chạm da nàng.

Lai Háp quát lên:

– Tiện tỳ! Mi giết đại tướng của triều đình. Ta phải trả thù cho Chinh-lỗ đại tướng quân.

Y phóng chưởng đánh Trần Năng. Trần Năng lùi lại một bước, xử dụng Lĩnh-nam chỉ phản công. Chưởng phát trên một diện tích lớn, thành ra mất uy lực. Còn chỉ phát ra như mũi nhọn, lợi hại vô cùng. Vì vậy võ công Lai Háp tuy cao hơn Trần Năng, mà vẫn không làm gì được nàng.

Trời đổ mưa, tuyết xuống trắng xóa, hai người giao tranh dưới tuyết. Lai Háp ở Trung-nguyên đã lâu chịu lạnh quen. Còn Trần Năng ở Giao-chỉ, vùng thấp nhiệt quanh năm không chịu được khí lạnh.

Phùng Vĩnh-Hoa đến bên Đào Kỳ nói nhỏ mấy câu. Đào Kỳ bật cười. Chàng thò tay vào túi móc ra ba viên thuốc chống lạnh. Chàng vận khí nhắm vào đầu và hai vai Trần Năng, dùng Lĩnh-nam chỉ bắn tới. Ba viên thuốc kêu vo vo, nhưng tốc độ đi rất chậm. Khi chạm vào người Trần Năng tan ra thành bụi bắn vào da nàng. Trần Năng cảm thấy người nóng bừng lên. Nàng quay lại nói với Đào Kỳ:

– Đa tạ sư thúc cho ba cái lò sưởi ấm.

Miệng nói tay nàng phát chiêu vù vù. Lai Háp đưa vai chịu một chưởng rồi ôm lấy Trần Năng. Hai người lăn trong tuyết đấu vật. Lai Háp biết Trần Năng chịu lạnh thua y. Y lăn dần tới bờ hồ, rồi vận sức chuyển động. Cả hai người lăn xuống bờ hồ đầy nước, đã đóng thành băng. Hai người rơi xuống. Tảng băng thủng ra, cả hai chìm xuống đáy.

Quần hùng đứng trên bờ lo lắng. Một lát sau thấy Trần Năng nắm tóc Lai Háp vọt khỏi hồ, đặt y nằm dài dưới đất. Nguyên cả hai rơi xuống hồ. Trần Năng được ba viên thuốc chống lạnh, nàng chịu nổi giá buốt. Còn Lai Háp, chỉ một khắc cóng tay chân, bị ngàng đánh một quyền vào đầu, y ngất xỉu.

Nàng đặt y xuống bờ hồ, Khất đại-phu đang hút thuốc. Ông thở một hơi mạnh, tàn điếu thuốc trúng giữa trán. Y cảm thấy nóng bừng trong người. Y đứng dậy đi được một hai bước, rồi lại ngã ngồi xuống.

Sầm Bành thấy Tế Tuân chết, Lai Háp bị thương nặng, y tiến ra thách thức Đào Kỳ.

– Ta nghe ngươi võ công vô địch Lĩnh-nam. Song vô địch Lĩnh-nam chưa phải vô địch thiên hạ. Hôm nay ta muốn lĩnh giáo chưởng pháp Lĩnh-nam.

Tần-vương Điền Sầm nói:

– Đào huynh đệ! Sầm Bành trước đây là Võ trạng nguyên của Vương Mãng. Khi y cầm quân đánh Hán, chỉ có Phùng Dị, Mã Vũ đánh ngang với y mà thôi. Bên Thục của ta, sư đệ Triệu Khuôn, Vương Nguyên cũng không thắng được y. Chưởng lực của y bao hàm cương nhu rất ảo diệu.

Từ ngày học Phục ngưu thần chưởng, cả âm lẫn nhu, Đào Kỳ đánh thắng Lê Đạo-Sinh, chàng chưa có dịp đấu với thiên hạ. Chàng lại cùng Khất đại-phu sáng chế ra cách truyền nội lực theo các kinh. Chàng có thể xử dụng một tay âm, một tay dương. Song chàng chỉ tập với Khất đại-phu, chứ chưa xử dụng đúng mức. Bây giờ đứng trước Sầm Bành vô địch Trung-nguyên, chàng muốn thử nghiệm xem sao.

Chàng tiến lên:

– Phiêu-kỵ đại tướng quân! Xin mời.

Sầm Bành hít một hơi, y phóng chưởng đến vù một cái. Chưởng của y xoáy tròn, tuyết theo chưởng của y bay lên như con rồng. Đào Kỳ muốn thử nghiệm võ công Lĩnh-nam trước đệ nhất cao thủ Trung-nguyên. Chàng đứng nguyên phát chiêu Ác ngưu nan độ trong Phục ngưu thần chưởng, vận khí dương cương. Hai chưởng chạm nhau, bùng một tiếng. Tuyết bay trắng xóa một vùng. Cả hai cùng lui lại một bước. Đào Kỳ thấy cánh tay ê ẩm. Chàng khen thầm trong lòng:

– Trước khi phát minh ra lối vận công theo kinh mạch, và cách chuyển Âm thành Dương theo lối hỗ tương. Ta với Khất đại-phu không phải là đối thủ của thằng cha này.

Sầm Bành vận đủ mười thành công lực, phát chưởng thứ nhì. Chưởng này tay trái đánh xéo từ dưới lên. Tay phải từ trên đánh xuống. Hai chưởng giao nhau như một cái kéo. Đào Kỳ thấy chưởng tay trái của y âm hàn lạnh lẽo. Chưởng tay phải thì dương cương. Trên mặt y bên xanh, bên đỏ.

Muốn thử nghiệm võ công Tản-viên xem sao. Chàng phát chiêu Ngưu hổ tranh phong vào giữa hai chưởng của Sầm Bành. Bình một tiếng nữa. Những người công lực yếu như Hồ Đề, Giao Chi, Trần Quốc, Lê Chân phải lui lại để tránh áp lực hai chưởng.

Đào Kỳ thấy một luồng hơi lạnh nhập tay trái, một luồng hơi nóng nhập tay phải. Chàng chuyển chân khí tay trái vào Nhâm-mạch, tay phải vào Đốc-mạch, rồi hòa lẫn hai luồng chân khí với nhau bằng huyệt Hội-âm, chàng cảm thấy khoan khoái vô cùng. Thiên-sơn lão tiên giảng cho đám Công-tôn Tư, Điền Sầm nghe:

– Âm-Dương chưởng là chưởng lực của người Cao-ly. Người Cao-ly sống dưới tuyết quanh năm, họ luyện thành chưởng. Khi người trúng chưởng khí âm hàn nhập vào tạng phủ. Nặng, người lạnh như băng mà chết. Nhẹ, lạnh nhập vào tạng phủ, không cách nào chữa khỏi. Còn Chu-sa chưởng của Tây-vực, thiên về nhiệt. Ai trúng chưởng, nóng quá, đứt gân máu mà chết. Khắp Trung-nguyên chỉ có một mình Xích-My Phan Sùng với Sầm Bành hợp hai chưởng một lúc. Các đồ tử, đồ tôn phái Thiên-sơn bị bại dưới tay Sầm Bành vì chưởng này. Song y chỉ phát được có ba chiêu mà thôi. Đào tiểu hữu dùng Phục ngưu thần chưởng đỡ được chưởng này của y dễ dàng thì thực là thần nhân.

Chương 15: Hồ mã tê Bắc phong Việt điểu sào nam chi

Sầm Bành lại phát chiêu thứ ba. Lần này Đào Kỳ đổi cách vận khí. Một tay chàng phát chiêu Thiết kình phi chưởng của Cửu-chân theo Thủ-tam-dương kinh đỡ vào Âm-Dương chưởng của Sầm Bành. Một tay chàng phát chiêu Ngưu ngọa ư sơn của Tản-viên, vận khí theo Thủ-tam-âm kinh đỡ vào Chu-sa chưởng của y. Binh, binh, hai tiếng, tuyết bay trắng xóa trời đất. Tuyết rơi xuống hết, mọi người thấy Đào Kỳ ung dung, tư thái nhàn nhã. Còn Sầm Bành tái nhợt, lui lại đến hai trượng thắng bại đã rõ.

Sầm Bành nói:

– Đào Kỳ, ta đánh khắp Trung-nguyên, chỉ bại dưới tay Xích-My Phan Sùng vì độc chưởng của y. Còn phái Thiên-sơn, thì Thiên-sơn lão tiên là người lớn, không thèm đấu với hậu bối, ta chưa biết rõ. Duy chỉ có Vương Nguyên hợp Âm, Dương, cương, nhu làm một, đấu ngang tay với ta. Ngoài ra còn Điền Sầm, Triệu Khuôn dùng chưởng Dương chống nổi ta. Song họ đã trên 40 tuổi. Công lực thâm hậu. Lần đầu tiên một người trẻ tuổi như ngươi chịu được ba thứ chưởng của ta. Chưởng đầu hòa hợp Cương, Nhu phát ra như mũi dùi. Chưởng thứ nhì hợp Âm-Dương, Chu-sa. Ngươi chống được nội lực của ta, không bị thương thực là hiếm có. Đến chiêu thứ ba ta thấy ngươi phát hai thứ chưởng khác nhau. Chưởng Dương-cương rõ ràng từ nội công, chiêu số đều khắc chế với võ công của ta. Còn Âm-nhu chưởng pháp thuộc Dương-cương mà sao nội công lại Âm-nhu. Giỏi! Ngươi là Lĩnh-nam dị nhân. Ta quyết đấu với ngươi. Hãy đỡ chưởng thứ tư của ta.

Hai tay y phát chưởng thuần dương kình lực như núi lở. Đào Kỳ vận sức phát chiêu Ngưu hổ tranh phong vận khí nhu kình thành ra như không có. Hai chưởng gặp nhau xì một tiếng. Chưởng của Sầm Bành mất tăm, mất tích. Y kinh hoảng nhảy lui lại hai bước, rồi đánh liền ba chưởng. Đào Kỳ thong thả dùng toàn chiêu Dương cương thuộc Phục ngưu thần chưởng đấu với y đến 50 hiệp vẫn ngang sức.

Thiên-sơn lão tiên thấy vậy nói:

– Hai bên cùng luyện tới mức tối cao về Dương cương, dù đánh nhau đến 10 ngày thì cũng hòa mà thôi.

Thình lình Đào Kỳ đổi cách phát chưởng. Chàng phát toàn chưởng Âm-nhu của Phục-ngưu. Được gần mười chưởng Sầm Bành đã luống cuống rõ rệt.

Thiên-sơn lão tiên nói:

– Vạn-tín hầu Lý Thân là thần nhân, với nội công Âm-nhu của người, khắc chế nội công Trung-nguyên. Chỉ mười chưởng nữa thì Sầm Bành nguy mất.

Đào Kỳ thấy vậy thì đã rõ sự lợi hại của Phục-ngưu thần chưởng Âm-nhu. Bấy giờ chàng lại muốn thử nghiệm lối vận công theo kinh mạch của mình. Giữa lúc Sầm Bành phát hai chưởng Âm-Dương, Chu-sa đánh tới. Chàng vận chưởng Âm-nhu đỡ Chu-sa chưởng. Chưởng Dương-cương đỡ chưởng Huyền-âm. Bộp một tiếng, tay của hai người dính chặt vào nhau. Đào Kỳ thấy người rung động một cách mãnh liệt. Hai luồng chân khí của Sầm Bành ào ào tấn công vào người chàng. Chàng ung dung vận khí vào đơn-điền, rồi chuyển về Đốc-mạch, phát ra Thủ-dương-minh Đại-trường kinh, Thủ-thiếu-dương Tam-tiêu kinh và Thủ-thái-dương Tiểu-trường kinh. Chỉ một nháy mắt, Đào Kỳ đã đàn áp được chưởng Chu-sa của Sầm Bành. Điều này dễ hiểu: Tuy hai bên cùng Dương-cương. Song Đào Kỳ vận khí ra ba kinh Dương, như ba mũi dùi tấn công. Sầm Bành nhăn mặt lùi một bước, để hóa giải bớt kình lực của Đào Kỳ. Còn tay kia Đào Kỳ vận khí và Thủ-tam-dương kinh, gặp phải Âm-Dương chưởng của địch thủ. Âm, Dương đụng nhau tranh đấu bất phân thắng bại.

Đấu một lúc, Đào Kỳ đã hiểu rõ khả năng lối vận khí ra kinh mạch của mình. Thình lình chàng vận khí ra đơn-điền, huyệt Trung-uyển rồi chuyển ra Thủ-thái-âm Phế kinh, Thủ-thiếu-âm Tâm kinh và Thủ-khuyết-âm Tâm-bào kinh. Hai tay đang từ Dương sang Âm. Sầm Bành cảm thấy Chu-sa chưởng cuồn cuộn bị hóa giải. Còn Âm-Dương chưởng bị đẩy lùi trở lại. Y kinh hoàng nhưng không biết làm sao thu nội lực về được.

Thiên-sơn lão tiên hỏi Khất đại-phu:

– Đào huynh đệ còn nhỏ tuổi, mà đã có công lực ngang với bọn ta. Y hòa hợp được cả với hai thứ chân khí, thực hiếm có trên thế gian. Còn tên Sầm Bành, y cũng là một thiên tài. Lĩnh-nam lão tiên, ngươi mau nói Đào tiểu đừng biến chưởng thành chỉ giết y. Người như thế giết đi thực uổng.

Thực ra Thiên-sơn lão tiên muốn nhắc Đào Kỳ biến chưởng thành chỉ giết Sầm Bành, trừ đi một tai họa cho Thục. Song ông làm như cứu y vậy.

Đào Kỳ tỉnh ngộ:

– Ta chẳng nên giết y làm gì. Ta áp dụng phương pháp quy liễm chân khí, thu hút nội lực của y, khiến y thành người tàn tật cũng đủ rồi.

Chàng từ từ thu nội lực, cho chân khí Sầm Bành tràn vào người chàng. Hai luồng Cương, Nhu của y đánh lẫn nhau. Đào Kỳ thư thả quy liễm vào đơn điền.

Sầm Bành đang đấu nội lực với Đào Kỳ, y thấy nội lực Đào Kỳ kỳ ảo không thể lường được. Bỗng nhiên thấy nội lực chàng yếu dần. Y mừng quá dồn chân lực sang, cảm thấy người rung động, rồi chân khí ào ào biến mất. Y kinh hoàng muốn thu nội lực về, nhưng không được nữa.

Người ngoài cuộc chỉ có Thiên-sơn lão tiên và Khất đại-phu là biết. Còn tất cả đều không rõ, ai sẽ thắng, ai sẽ bại. Khoảng tàn một bữa ăn, người Sầm Bành run lên bần bật.

Đào Kỳ thấy như vậy y cũng đủ thành tàn phế, chàng thu chân khí lại. Bỗng Sầm Bành cắn vào lưỡi mình. Máu đỏ loang ra, y phun máu vào mặt Đào Kỳ, Thiên-sơn lão tiên hô lớn:

– Đào tiểu hữu! Cẩn thận, Ngũ-độc hóa huyết đơn.

Nghe Thiên-sơn lão tiên nhắc, Đào Kỳ tỉnh ngộ. Vì hôm hội quân ở Quế-lâm, Nghiêm Sơn kể cho chàng nghe rằng: Sầm Bành thường cất trong người ba viên thuốc cực độc gọi là Ngũ-độc hóa- huyết đơn. Khi gặp nguy cấp, y cắn vỡ viên thuốc ra, lẫn với máu, rồi phun vào đối phương. Thuốc không thì không nguy hiểm. Song thuốc với máu thành một thứ độc dược. Trúng da thịt ai, hóa thành nước vàng, lan khắp cơ thể. Lát sau chỉ còn lại bộ xương. Còn Sầm Bành đã uống thuốc ngừa nên vô sự.

Hai người ở gần nhau. Y phun máu ra ngoài sức tưởng tượng. Đào Kỳ tránh không kịp. Chàng thấy mùi máu tanh hôi kỳ lạ, biết rằng nguy hiểm. Cháng phát tay phóng chiêu Loa thành nguyệt ảnh, đánh y văng ra để tránh máu vào người mình.

Sầm Bành bị một chiêu như núi lở, băng tan. Người y vỡ làm năm sáu mảnh, văng ra xa. Máu me, ruột gan đỏ lòm trên tuyết.

Nhưng một giọt máu đã trúng mặt chàng. Chàng thấy ngứa định đưa tay lên gãi. Thì Khất đại-phu vọt người lên gạt tay chàng:

– Chớ có gãi! Ngồi xuống vận tất cả chân khí theo sáu Dương-kinh, rồi tỏa ra ngoài da.

Đào Kỳ vội làm theo. Trên đầu chàng bốc lên làn khói trắng, rồi cái ngứa ngáy khó chịu biến mất.

Công-tôn Tư hỏi:

– Lĩnh-nam lão tiên. Xin lão tiên giảng cho đệ tử nghe, nguyên do nào Đào huynh đệ trúng phải chất độc của Sầm Bành.

Khất đại-phu nói:

– Trước khi đấu võ. Ta thấy y bỏ vào miệng một viên gì khá lớn bằng quả nhãn, mà không thấy y nhai. Cho đến khi lạc bại, y mới nhai, rồi cắn lưỡi mình cho máu hòa lẫn, phun lên mặt Đào Kỳ để cả hai cùng chết. Chất độc này ghê gớm lắm. Nếu dùng tay gãi máu rớm chảy ra, chất độc sẽ lẫn với máu gây chết người.

Bỗng Lai Háp la lên một tiếng kinh khủng, đưa tay gãi mặt. Y càng gãi càng thấy ngứa. Phút chốc mặt y ứa đầy nước vàng, trơ ra còn xương không. Nguyên lúc Sầm Bành phun máu độc vào người Đào Kỳ, chàng hất ngược trở lại. Máu đỏ trúng mặt Lai Háp. Y lạnh cóng người. Muốn tránh mà không được. Y ngứa quá đưa tay gãi, máu chảy ra lẫn với thuốc, khiến y chết thảm.

Đợi quần hào các đạo lên đường rồi, Hoàng Thiều-Hoa hỏi Phương-Dung:

– Sư muội, bây giờ chúng ta cần đánh thẳng vào Trường-an bằng hai đạo kỳ binh. Một khẩn cấp vượt hang Tý-Ngọ đánh phía Đông Trường-an. Một đạo theo hang Tà-cốc đánh vào Trường-an và một đạo xuất ra ở Kỳ-sơn. Trong ba đạo thì đạo đánh vào Tý-Ngọ phải có người giỏi binh pháp, mới đương được. Vì đạo này sẽ bị Quang-Vũ ở Trường-an đánh thục mạng để trốn về Lạc-dương và bị đạo binh Lạc-dương đến cứu Quang-Vũ. Ta nhờ sư muội điều quân dùm.

Phương-Dung nói:

– Điều khẩn yếu bây giờ là phải sai người đi triệu các tướng Hán và cả Ngô Hán về đây họp, chúng ta trình bày việc phản Hán. Ai theo thì tha. Ai chống thì giết liền. Vậy như thế này:

– Sư bá Cao Cảnh-Minh và thần nỏ Âu-lạc ra trấn Vũ-đô, Nam-bình, Bình-vũ, Giang-du và Hồng-nguyên thay cho các tướng Hán về Dương-bình quan. Sau khi các tướng Hán đi rồi cho rút quân khỏi thành này. Xa-kỵ tướng quân Nhiệm Mãng dẫn binh Thục tới tiếp nhận các thành trên. Nội ngày hôm nay phải xong. Sau đó sư bá dẫn quân lên chiếm Thiên-thủy, và đánh từ Tây sang Đông tiến về Trường-an. Dọc đường dùng binh phù của Nghiêm đại-ca tiến qua các ải. Vào ải nào chiếm ải đó, giao cho Xa-kỵ tướng quân Nhiệm Mãng giữ.

– Sư bá Lương Hồng-Châu mang theo Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa đến thay tướng Hán tại Ba-trung, Kiếm-các và Dương-bình quan. Sư bá dùng binh phù của Nghiêm đại-ca rút quân ra khỏi các thành để Lũng-tây vương Triệu Khuôn dẫn quân đến tiếp nhận. Sau đó tiến vào trấn đóng Hán-trung để kiềm chế các tướng Hán tại đó. Đây là kế hoạch rút khỏi Thục, trả đất về cho Thục.

– Ngay đêm chúng ta nay kéo tất cả quân Hán đến Hán-trung vẫn dùng cờ Hán, dùng binh phù của Nghiêm đại-ca. Chúng ta chia quân làm hai đường tiến đánh Trường-an. Đạo thứ nhất do Thái-tử Công-tôn Tư và sư bá Đinh Công-Thắng, mang theo đội Thần-phong, Thần-tượng vượt hang Tý-Ngọ tiến đánh Trường-an. Đạo thứ nhì chính Hoàng sư-tỷ cùng với Khất đại-phu, Giao-long nữ, Giao-Chi. Tôi cùng Đào tam lang đi theo đạo này, tiến ra uy hiếp Trường-an bằng ngả Tà-cốc. Như vậy Trường-an bị uy hiếp cả ba mặt.

Nàng hỏi Công-tôn Tư:

– Xin Thái-tử cho biết, về phía Thục ai sẽ đi theo đạo Tà-cốc?

Công-tôn Tư đáp:

– Chính Tề-vương Tạ Phong dẫn một đội hùng binh của Thục đi theo.

Phương-Dung tiếp:

– Chúng tôi giúp Thục chiếm Trường-an, sau đó sẽ trở về Lĩnh Nam ngay. Nào bây giờ quý vị lên đường. Chúng tôi ở đây chờ các tướng Hán trở về. Việc đối phó với các tướng Hán xin nhờ Khất đại-phu, ba vị Triệu Khuôn, Nhiệm Mãng, Vũ Chu và Đào tam lang.

Các đạo quân rầm rộ khởi hành.

Đào Kỳ hỏi Phương-Dung:

– Dung ơi! Bây giờ các tướng Hán trở về đây ta phải làm gì để kiềm chế họ?

Phương-Dung ghé tai Đào Kỳ, Khất đại-phu nói nhỏ mấy câu, hai người đồng ý gật đầu. Phương-Dung gọi Sún Lé lại bên cạnh, dặn dò chi tiết. Đào Kỳ không biết vợ dặn dò gì Lé, chỉ thấy Lé cười khúc khích, tỏ vẻ thích thú lắm. Chàng nghĩ:

– Một bên thì nhiều mưu hay đùa nghịch, một bên thì trẻ con, ở rừng. Không biết hai người phác họa kế hoạch phá Hán thế nào đây?

Sáng hôm sau có tin báo với Phương-Dung:

– Thưa Quân sư, có Tham-quân Vương Hữu-Bằng, Đô-đốc Lý Thái-Hiên, Hậu-quân Chu Á-Dũng về phục lệnh.

Phương-Dung mời ba người vào. Ba người nhập trướng không thấy Nghiêm Sơn, Ngô Hán đâu thì hơi bỡ ngỡ. Phương-Dung thở dài:

– Ba vị tướng quân. Tôi mời ba vị về đây để loan báo cho ba vị biết tai họa đã đến với chúng ta. Vua Quang-Vũ nghe lời gian thần dèm pha, truyền bắt giam Vương-gia, tất cả các vị và chúng tôi nữa. Vương-gia hiện bị giam ở Trường-an. Còn chúng tôi thoát được về đây, gặp sứ giả đến bắt, chúng tôi giết sứ giả. Chúng tôi nghĩ Quang-Vũ là người. Chúng ta lăn mình vào chỗ chết, bảo vệ ngai vàng cho hắn, mà hắn muốn bắt chước Lưu Bang giết hại công thần. Thôi đằng nào cũng chết, tội gì chúng mình không làm phản? Làm phản mà thắng thì sự nghiệp vào tay. Còn bại cũng chết. Nhưng chết cho hả cái tức. Hiện quân mã đã lên đường đánh Trường-an. Vậy ba vị muốn trung thành với Hán thì đem nhau về Trường-an mà nộp đầu. Còn muốn phản Hán thì hãy theo chúng tôi đánh Hán mưu đại sự.

Ba tướng nhìn nhau ngơ ngác không hiểu gì cả. Tham-quân Vương Hữu-Bằng hỏi:

– Nếu chúng ta phản Hán thì nguy thay. Phía sau bị Thục ép, phía trước bị Hán vây, làm sao mà chịu được?

Phương-Dung cười:

– Chúng ta hợp tác với Thục chia ba thiên hạ. Vì vậy tất cả những thành chiếm của Thục, giờ này chúng tôi trao trả Thục hết rồi. Hiện thành này do Thục chiếm đóng, nhưng bề ngoài vẫn treo cờ Hán để lừa Ngô Hán đến đây bắt giam nữa là xong. Còn đại quân đã vượt qua Thiên-thủy, Tý-Ngọ, Kỳ-sơn rồi. Mặt Đông chúng tôi tiến chiếm 9 quận Kinh-châu. Mặt Nam chiếm 6 quận Lĩnh-nam. Tóm lại chỉ trong hai ngày, chúng tôi chiếm được hai phần ba giang sơn nhà Hán.

Phương-Dung thấy Tham-quân Vương Hữu-Bằng chưa tin. Nàng vỗ tay một cái, từ phía trong trướng một người bước ra mỉm cười:

– Vương tham-quân vẫn mạnh giỏi à? Ta chờ Vương tham-quân, Lý đô-đốc và Chu hậu-quân từ lâu rồi.

Ba người nhìn lại, thì ra là Xa-kỵ đại tướng-quân Nhiệm Mãng.

Chu Á-Dũng định đưa tay rút kiếm, Phương-Dung cười:

– Chu tướng-quân, người liệu xem có phải là đối thủ với Nhiệm tướng-quân không? Huống chi ngoài Nhiệm tướng-quân, còn có ta đây. Ngoài ta ra còn có Thái sư-phụ của ta là Khất đại-phu nữa?

Vương Hữu-Bằng thở dài:

– Bản tâm chúng tôi không muốn phản Hán, nhưng nay sự thể đã như thế này, thì không thể giữ lòng trung được nữa. Đào phu-nhân, chúng tôi xin đầu Thục.

Từ sau trướng một người bước ra nói:

– Vương tiên-sinh, người theo Hán phải cúi đầu khom lưng. Còn theo Thục, phái Thiên-sơn nhà ta đối xử như anh em. Ngươi vẫn giữ được địa vị, lại cùng Thục chúa sớm tối cộng tác. Ngươi hàng Thục là thức thời đó.

Vương Hữu-Bằng nhìn lại thì là Bắc-bình vương Công-tôn Khôi. Hữu-Bằng là người khôn ngoan tinh tế, y vội quỳ xuống:

– Vương-gia, Vương Hữu-Bằng này được Vương-gia thu nhận, từ nay xin hết mình đền ơn tri ngộ.

Công-tôn Khôi phất tay áo một cái, không cho Vương quỳ, nói:

– Thục đế với ta tình như chân tay, ta thay Thục-đế trấn nhậm toàn thể Tây-xuyên. Thục-đế là ta, ta là Thục-đế, chứ không như Quang-Vũ được Nghiêm vương cứu 20 lần, một tay kinh lược Lĩnh Nam, rồi đem hết bằng hữu các nơi về đánh Thục, gây dựng cơ nghiệp nhà Hán. Công đến như thế dù là Hàn Tín, Trương Lương, Tiêu Hà còn thua xa. Thế mà Quang-Vũ nghe lời gian thần bắt giam Nghiêm-vương, lòng dạ còn hơn rắn rết. Tài như Vương huynh ở bên Hán chỉ được giữ chức Tham-quân, nhỏ bằng hạt vừng, hạt đậu. Trong khi đó bọn nịnh hót thì làm quan lớn tại triều. Nghĩ mà giận thay. Vương huynh, ngươi hãy ở lại Hán-trung với ta, tạm giữ chức Trấn-bắc tướng quân, Hán-trung Thứ-sử, tước Đô-đình hầu. Một giải Đông-xuyên, nhờ tay ngươi cả.

Vương Hữu-Bằng quỳ xuống tạ ơn, Công-tôn Khôi phất tay không cho quỳ. Kéo ghế mời ngồi. Công-tôn Khôi quay lại nhìn Chu Á-Dũng và Lý Thái-Hiên:

– Lý đô-đốc, Chu tướng-quân hai vị nghĩ sao?

Hai người định quỳ xuống. Công-tôn Khôi phất tay một cái, kình lực nhu hòa đỡ lại, khiến hai người không sao quỳ được.

Công-tôn Khôi vui vẻ:

– Lý đô-đốc, ngươi có tài khuynh quốc thế mà chỉ lĩnh có chức Đô-đốc của một đạo Hán-trung dưới quyền Ngô Hán thực uổng tài năng đi. Bây giờ ngươi về với Thục. Ta phải dùng ngươi đúng tài. Ngươi tạm lĩnh chức Tiền đô-đốc, Chinh-đông tướng-quân, tước Thiên-thủy hầu, nay mai ngươi thống lĩnh thủy quân đánh từ Thiên-thủy về Trường-an ra biển Đông.

Công-tôn Khôi nói với Chu Á-Dũng:

– Chu tướng-quân, ngươi là một cao thủ võ lâm, một tướng lãnh uy vũ kinh người. Biết bao lần ngươi làm cho Thục ta kinh sợ. Càng kinh sợ, ta càng mến tài ngươi. Hôm nay ngươi về với ta, ta như được một kho vàng vậy. Bây giờ ngươi tạm lĩnh tước An-định hầu. Ngươi hãy theo quân của Thái-tử ra Trường-an, cho Quang-Vũ biết cái ngu của y không biết dùng người.

Công-tôn Khôi sai mở tiệc ăn mừng. Trong tiệc ông hỏi Vương Hữu-Bằng:

– Vương tướng-quân, theo ý tướng-quân, ta nhờ anh hùng Lĩnh-nam trợ giúp chỉ một ngày là lấy được đất Ích-châu, còn chiếm được Đông-xuyên bây giờ ta phải làm gì?

Vương Hữu-Bằng nói:

– Nhị-xuyên là cái kho trời cho. Trước đây, Lưu Bang đã dùng Ích-châu, Hán-trung làm cơ sở, chỉnh bị quân mã kéo ra Trung-nguyên tranh thiên hạ với Hạng Vũ. Bây giờ Vương-gia được anh hùng Lĩnh Nam giúp đỡ chỉ một ngày là lấy được Hán-trung, song quân mã là quân mã của Hán, tướng sĩ tuy đầu hàng, nhưng thực lòng thì ít, mà bị trúng kế phải tùng quyền thì nhiều. Hán-trung tuy chiếm được, mà giữ không phải là dễ. Trong khi đó Thái-tử mang quân ra Trường-an tranh hùng với Quang-Vũ. Gốc là Hán-trung đã không vững, mà ngọn đi tranh dành với người, lòng quân tới tướng đều không yên. Xưa nay gốc loạn mà ngọn yên, không bao giờ có vậy. Lẽ tiến thối đó Vương-gia cũng dư biết, mà Thái-tử cũng dư biết. Nhưng tại sao vẫn làm? Đó chẳng qua muốn làm mất nhuệ khí của Quang-Vũ, hầu trấn an Lưỡng-xuyên, Kinh-châu mà thôi.

Công-tôn Khôi đứng lên chỉnh đốn y phục mà tạ rằng:

– Tướng quân đã biết cái lý như thế. Vậy có kế gì giúp ta chăng?

Vương Hữu-Bằng thưa:

– Bây giờ Vương-gia thử dụng những quan lại của Hán ở Đông-xuyên thăng thưởng, vỗ về cho họ đi trấn nhậm ở Nam Ích-châu như Độ-khẩu, Việt-tây, Hán-nguyên. Lại đem các tướng sĩ Thục từ vùng ấy về Hán-trung. Thế là không lo gì tướng mới hàng nữa. Vương-gia dùng lễ hậu mời các danh sĩ đất Xuyên ra giúp việc. Cử họ vào những chức vụ quan trọng, tất họ vì ơn tri ngộ mà hết lòng với Vương-gia. Như vậy đất Xuyên trở nên vững chắc, tướng sĩ xuất ra đánh Trường-an mới yên dạ.

Công-tôn Khôi chắp tay tạ ơn:

Phương-Dung nói với Vương Hữu-Bằng:

– Vương tướng-quân tài đâu kém gì Tiêu Hà? Vương-gia có con mắt tinh đời mới dùng được Vương tướng-quân.

Khi đó bỗng có quân báo:

– Ba tướng Phùng Dị, Lưu Thương, Vương Thường trở về đợi lệnh. Còn Ngô tướng-quân bị bệnh không về được.

Phương-Dung đứng lên từ tạ:

– Xin các vị ngồi đây để tôi ra tiếp ba người đó.

Ba tướng vào trướng thấy Phương-Dung thì chắp tay:

– Thưa Quân-sư chúng tôi về phục mệnh không biết bây giờ Lĩnh-nam vương ở đâu?

Phương-Dung sai bắc ghế mời ba tướng ngồi rồi hỏi:

– Kể về tài, về đức và thâm tình của các vị trước Thiên-tử so với Lĩnh-nam vương như thế nào?

Phùng Dị thưa:

– Chúng tôi là mạt tướng, đến diện kiến Thiên-tử còn khó khăn thay. Còn vương-gia trong là tình huynh đệ kết nghĩa với hoàng-đế. Ngoài tước phong tới vương, tay cầm trọng binh, lại có công cứu giá đến 20 lần thì bì thế nào được.

Phương-Dung thở dài:

– Thế mà Thục chưa đánh xong, Quang-Vũ nghe lời xàm tấu, tống giam Vương-gia, hạ lệnh bắt các tướng. Vì vậy anh hùng Lĩnh Nam đến thay các vị đã mở cửa cho Thục vào. Trả lại thành của họ, và kéo quân đổi thành cờ Thục, kéo ra Trung-nguyên đánh Quang-Vũ. Thục tiếp tất cả các thành đã mất. Chúng tôi dùng binh phù của Vương-gia truyền đi, lấy Kinh-châu, Hán-trung. Hiện tiến chiếm hết Lĩnh Nam. Đạo Hán-trung tiến ra đánh Trường-an, đạo Kinh-châu tiến đánh Nam-dương. Vậy tùy ba tướng muốn hàng Thục thì được trọng dụng, hoặc mang đầu về cho Quang-Vũ chém thì cứ tự tiện.

Ba tướng nghe tin ngơ ngẩn xuất thần. Họ không biết sẽ phải quyết định ra sao. Phương-Dung nói:

– Ba vị không tin thì vào trong kia sẽ rõ. Nào mời ba vị!

Ba người vào thấy Đào Kỳ, Khất đại-phu đang ngồi dự tiệc với Công-tôn Khôi, Vương Hữu-Bằng, Lý Thái-Hiên, Chu Á-Dũng.

Phùng Dị hỏi Vương Hữu-Bằng:

– Vương tham-quân, cái gì đã xảy ra vậy?

Công-tôn Khôi cười lớn:

– Phùng tướng-quân, Vương tham-quân bây giờ là Trấn-bắc tướng-quân, tước Thiên-thủy hầu, lĩnh Hán-trung Thứ-sử của Thục rồi đó.

Lưu Thương ngơ ngẩn:

– Tôi không tin! Tôi không tin.

Phương-Dung vẫy tay:

– Tướng quân không tin ư? Thôi tôi để ba tướng Phùng, Lưu, Vương nói chuyện với ba tướng Lý, Vương, Chu.

Nàng vẫy Công-tôn Khôi, Đào Kỳ, Khất đại-phu ra ngoài.

Bốn người đang chuyện trò, thì Sún Lé chạy vào gọi lớn:

– Sư tỷ! Sư tỷ có thư của sư bá Lương Hồng-Châu do thần-ưng mang về.

Phương-Dung cầm lấy mở ra coi:

"Ta cùng Triệu Khuôn, Quế, Quỳnh-Hoa tiếp nhận các thành Ba-trung, Nam-giang, Kiếm-các. Các tướng Phùng Dị, Vương Thường, Lưu Thương đã lên đường về trình diện cháu. Còn Ngô Hán dường như y nghi ngờ, cáo bệnh, không chịu đi. Ta phải trở mặt. Toàn bộ tướng sĩ đạo Hán-trung dưới quyền Ngô Hán cùng ta kịch chiến. Một nửa đầu hàng, một nửa cùng Ngô Hán kéo hơn ba vạn quân về giữ Tử-dương, chiếm Hán-thủy. Ta đã tiến quân lên vây Tử-dương. Các thành giao cho Thục. Tướng Hán bị ta giết là Tây-lương thứ-sử Mã Thành. Hán-trung Thứ-sử Sử Hùng. Rất tiếc, nhưng bất đắc dĩ. Cáp Diên cũng chạy theo Ngô Hán."

Phương-Dung trở vào trong trướng. Công-tôn Khôi nói:

– Đào phu-nhân. Ba vị tướng quân đều chịu đầu Thục cả rồi. Để tôi giới thiệu với phu-nhân. Phùng tướng quân, tước quan Nội-hầu, lĩnh Tử-dương thái thú. Vương tướng-quân là Phục-ba tướng quân, tước Cao-dương hầu, lĩnh Lạc-nam Thái-thú. Còn Lưu tướng-quân lĩnh Trung-quân tư-mã, lĩnh Vạn-tín hầu.

Phương-Dung kể chuyện biến cố cho mọi người nghe.

Đào Kỳ ôm đầu tỏ vẻ buồn:– Tiếc thay Mã Thành, Sử Hoành không được gặp chúng ta nên mới chống lại, bị giết thật đáng buồn. Còn Ngô Hán chắc y không đầu hàng đâu, chúng ta phải đánh thành Tử-dương, nếu không đạo quân đánh ra hang Tý-ngọ bị chặn mất đường về.

Công-tôn Khôi mừng hớn hở:

– Thế là việc tiếp thu các thành trì của Ích-châu thành công. Thành Tử-dương bên trong có hai vạn quân cộng với ba vạn của Ngô Hán, là mối lo lớn cho chúng ta. Vậy chúng ta phải đánh ngay mới được.

Vương Hữu-Bằng cười:

– Hiện nay Thục đã tiến chiếm lại hết các thành của Hán, chiếm Tây-xuyên, Kinh-châu. Nhưng vẫn chưa đổi cờ hiệu Hán, nên Ngô Hán mới giữ được thành Tử-dương. Chỉ cần ngày mai, khi ba đạo quân Tý-ngọ, Tà-cốc, Võ-đô tiến đánh Thiên-thủy, Kỳ-sơn, Trường-an rồi thì các nơi đổi cờ Thục một lượt, quân trong thành Tử-dương rúng động. Lương thảo của thành Tử-dương để ở An-khang. Mà An-khang bị chiếm, trong thành lại thêm ba vạn quân Ngô Hán nữa, chỉ hai ngày là chết đói. Ngô Hán là người tài kiêm văn vũ, chắc y sẽ cho mở cửa thành, đánh liều một trận rồi chạy về phía Cốc-thành phía Đông. Ta cần phục binh bắt lấy quân, chứ không cần bắt Ngô Hán. Vì bắt thì y không hàng. Y không hàng chẳng lẽ lại giết để mất lòng tướng sĩ Hán.

Đào Kỳ gật đầu:

– Vậy xin Vương-gia cùng Vương tướng-quân lo đánh thành Tử-dương. Sau khi đánh Tử-dương lập tức phái đạo quân của sư bá Lương Hồng-Châu và Xa-kỵ tướng-quân Nhiệm Mãng ra Tà-cốc tới Kỳ-sơn trợ chiến cho đạo quân của Công-tôn thái-tử và Hoàng sư tỷ.

Công-tôn Khôi nói:

– Nhờ Khất đại-phu và anh hùng Lĩnh Nam, bỗng nhiên tôi được một lúc 6 đại-tướng. Tôi xin giữ lại ba, còn ba sẽ đưa ra Kỳ-sơn trợ chiến, đánh cho Quang-Vũ thất điên bát đảo.

Nói về Hoàng Thiều-Hoa thống lĩnh đạo chính binh đi theo ngã Tà-cốc. Tề-vương Tạ Phong của bên Thục là người lớn tuổi, kinh nghiệm hành quân, mang theo nhiều binh tướng dũng mãnh. Từ Hán-trung ra Trường-an thuộc thẩm quyền Nghiêm Sơn, nên đi đến đâu Tạ Phong cũng dùng binh phù của Nghiêm Sơn. Nên chỉ mấy ngày sau họ đã tới Kỳ-sơn.

Tạ Phong chỉ lên bản đồ nói với Thiều-Hoa:

– Vương-phi, xuất khỏi Tà-cốc có một thành nhỏ tên là My-thành, My-thành là một huyện nhỏ chỉ có khoảng 300 quân trấn đóng. Sau My-thành tới Phù-phong, tại đây có trọng binh đồn trú. Thái-thú Phù-phong là người cũ của vương-gia, trí dũng không thua gì vương-gia. Tài của y ngang với Ngô Hán, Đặng Vũ, xin vương-phi định liệu. Vạn bất đắc dĩ phải đánh nhau với y là một điều tai hại lớn. Y tên Đô Dương người Lĩnh Nam. Tuy làm Thái-thú, phong tước hầu, mà y vẫn chưa lấy vợ. Y đợi về Lĩnh Nam cưới con gái Việt.

Hoàng Thiều-Hoa hỏi lại:

– Trong thành có bao nhiêu quân đồn trú? Có bao nhiêu cao thủ?

Tiền đô-đốc Lý Thái-Hiên bên Hán mới đầu hàng Thục đáp:

– Trong thành có 5 vạn quân bộ, 1 vạn quân kỵ. Thái-thú tên Đô Dương, y là người nghĩa hiệp xuất thân, theo Lĩnh-nam vương chinh chiến có công được cử làm thái-thú Phù-phong, tước Tân-bình hầu. Năm nay tuổi khoảng 30. Phong tư, tài mạo tuyệt vời. Người đất Giao-chỉ hay Cửu-chân gì đó.

Phương-Dung hỏi:

– Theo đô-đốc ước đoán liệu y sẽ trung thành với Hán hay sẽ theo chúng ta?

Lý Thái-Hiên đáp:

– Khó mà đoán được y sẽ nghiêng về bên nào. Theo ý tiểu tướng, binh bất yếm trá. Chúng ta dùng binh phù vương-gia gọi y đến. Y theo thì tốt, y không theo thì bắt lấy rồi chiếm thành. Có điều vùng này không thuộc quyền của vương-gia, e rằng dùng binh phù không hiệu nghiệm.

Phương-Dung cười:

– Được, điều đó có khó gì đâu. Tôi đã có kế.

Phương-Dung gọi Nguyễn Giao-Chi và Nguyễn Tín tới:

– Sư huynh, sư tỷ cầm binh phù của Lĩnh-nam vương tới Phù-phong, gọi thái-thú Đô Dương tới đây tiếp kiến vương-gia. Nhớ đừng để lộ hình tích.

Nàng lại gọi hàng tướng Hán là Vương Thường, tước mới là Phục-ba tướng quân lại dặn:

– Tướng quân cùng với Giao-long nữ đi tiên-phong kéo cờ Hán giả làm quân Ngô Hán về Trường-an tiếp giá. Huyện lệnh My-thành tất ra đón. Tướng quân chiếm lấy thành. Cần nhất đừng cho một người nào chạy thoát.

Nhắc lại hai anh em Nguyễn Tín, Giao-Chi, dùng ngựa trực chỉ hướng Phù-phong. Chiều tối đó tới nơi, Giao-Chi quan sát thành, thấy tường cao, hào sâu. Nàng nói với Nguyễn Tín:

– Anh coi, thành cao như thế này, mà đánh làm sao vào được?

Hai người nhập thành trời chập choạng tối. Giao-Chi hỏi thăm đường tới phủ thái-thú. Tới nơi, nàng nói với quân canh:

– Ngươi vào báo với Đô thái-thú có sứ giả của Lĩnh-nam vương tới yết kiến trình mật thư.

Lát sau một hán tử trung niên, dáng điệu hùng vĩ đi ra. Giao-Chi nói nhỏ với anh:

– Anh xem, Đô Dương coi bộ to lớn không kém gì sư bá Cao Cảnh-Minh. Lý Thái-Hiên bảo Đô Dương phong tư tài mạo tuyệt vời quả đúng. Ừ sao những người thân với Nghiêm đại-ca đều có cử chỉ giống nhau như vậy nhỉ?

Đô Dương bước tới trước mặt. Giao-Chi chắp tay xá, nói tiếng Việt:

– Tiểu muội là Nguyễn Giao-Chi ở đất Lĩnh Nam, cùng anh là Nguyễn Tín, vâng lệnh Lĩnh-nam vương yết kiến Đô sư-huynh.

Đô Dương chắp tay mời:

– Thì ra hai vị là chỗ sư huynh, sư đệ với Nghiêm đại-ca đấy. Xin mời vào. Tôi gốc người Cửu-chân, Lĩnh Nam.

Y nói câu đó bằng tiếng Việt rất rõ ràng. Y còn nhại giọng của Giao-Chi nói chữ Lĩnh thành chữ Nĩnh làm hai người cười ồ lên. Thế là cả ba không còn khách sáo nữa. Họ chuyện trò như pháo rang. Đô Dương kể những kỷ niệm hồi thơ ấu cùng Nghiêm Sơn tập võ với nhau, sau đó y theo Nghiêm Sơn chinh chiến khắp Trung-nguyên. Y nói:

– Trong trận đánh Côn-dương, tôi với Nghiêm đại-ca tả xung hữu đột bắt Vương Mãng. Nghiêm đại-ca bị thương đến bốn nơi, còn tôi bị thương hết ba nơi. Chiến trường kéo dài trên 40 dặm. Phía Vương Mãng chết hơn 20 vạn, phía Hán hơn 10 vạn. Trận đánh thực khủng khiếp.

Tới phủ Thái-thú, Đô Dương sai pha trà đãi khách. Phân ngôi chủ khách, y cất tiếng hỏi:

– Nghiêm đại-ca vẫn mạnh khỏe chứ?

Giao-Chi đáp:

– Nghiêm đại-ca vẫn bình thường. Người từ Lĩnh Nam trở về phạt Thục, thành công. Nay trên đường về Trường-an yết kiến Thiên-tử. Người hiện đang ở My-thành. Người nhớ đến Đô huynh, sai chúng tôi thỉnh sư huynh đến My-thành đàm đạo. Nói rồi trình binh phù của Nghiêm Sơn. Đô Dương kính cẩn cầm lấy để sang bên cạnh. Y hỏi về tình hình Lĩnh Nam và binh Thục. Giao-Chi cứ sự thực trình bày. Nàng dấu đoạn anh hùng Lĩnh Nam phản Hán giúp Thục. Đô Dương truyền gia nhân thết tiệc đãi khách. Tiệc đang giữa chừng, quân vào báo:

– Có Thánh-chỉ khẩn cấp từ Trường-an tới.

Đô Dương vội vàng đứng lên nói:

– Hai em cứ tự tiện, để ta ra tiếp chỉ đã.

Đô Dương đứng lên, Giao-Chi cũng liếc mắt nhìn Nguyễn Tín rồi đi theo. Tới công đường sứ giả người đầy bụi, chứng tỏ vừa trải qua một cuộc hành trình cực nhọc. Đi theo sứ giả là một võ quan, lưng đeo bảo kiếm tướng mạo uy nghiêm. Đô Dương quỳ xuống hướng về Trường-an lạy bốn lạy, nói:

– Hạ thần thái-thú Phù-phong, Tân-bình hầu kính cẩn tiếp chỉ.

Sứ giả mở cuộn giấy cầm lên định đọc. Bất thần viên võ quan rút kiếm chém một nhát vào cổ Đô Dương.

Động tác thần tốc vô cùng. Giao-Chi, Nguyễn Tín thất kinh, không kịp đưa kiếm cứu Đô Dương. Hai người xuất chưởng tấn công viên võ quan, để y phải thu kiếm về tự cứu mình. Y vội chuyển lưỡi kiếm về hướng cổ Giao-Chi, còn tay trái đỡ chưởng của Nguyễn Tín.

Đô Dương thấy kiếm viên võ quan đánh xuống đầu mình, những tưởng sẽ nguy đến tính mạng, không ngờ được Giao-Chi, Nguyễn Tín cứu. Y lăn mình đi một vòng, nhảy vọt lên cao. Thì vừa lúc Giao-Chi đã rút kiếm ra đấu với viên võ quan. Hai kiếm chạm nhau choang choang, tóe lửa. Giao-Chi yếu thế lui dần. Nguyễn Tín cũng rút kiếm nhảy vào vòng chiến với em. Viên võ quan kiếm thuật rất tinh vi, nội lực hùng hậu. Nhưng hai anh em Nguyễn Tín, Giao-Chi hợp lại, khiến y luống cuống. Đô Dương thấy Giao-Chi thắng thế, y quay lại chụp tên sứ giả. Viên sứ giả lạng người đi tránh khỏi, rồi phát chưởng tấn công. Đô Dương nhảy lùi lại phía sau, rút thanh kiếm treo trên tường đâm sứ giả, hỏi:

– Các người là ai, mà dám đến đây ám sát ta?

Sứ giả quát lớn:

– Ta tuân chỉ Thiên-tử đến đây bắt phản tặc.

Đô Dương tấn công ba chiêu kiếm liền, đẩy lùi sứ giả hỏi:

– Ngươi bảo rằng tuân chỉ, thế chiếu chỉ đâu? Tại sao chưa đọc chiếu chỉ đã hành thích ta?

Có tiếng nói ở ngoài:

– Đây chiếu chỉ đây.

Một người mặc quần áo đen, rút kiếm tấn công Đô Dương, kình lực mạnh vô cùng. Đô Dương vung kiếm đỡ. Hai thanh kiếm chạm nhau, Đô Dương cảm thấy cánh tay tê rần. Y quát lớn:

– Quân bây đâu, hãy vào bắt tụi giặc này cho ta.

Khi viên võ quan tấn công Đô Dương, quân hầu đã chạy ra ngoài kêu binh sĩ. Bây giờ binh sĩ tràn vào bao vây công đường.

Đô Dương quát lớn:

– Ngừng tay.

Giao-Chi, Nguyễn Tín ngừng tay nhảy lui lại. Quân sĩ dương cung chĩa vào sứ giả, viên võ quan và người mặc quần áo đen, chỉ chờ Đô Dương ra lệnh là buông tên.

Đô Dương truyền lệnh:

– Các ngươi mau ra đóng cửa thành. Canh phòng cẩn mật. Không có lệnh của ta, không được mở cửa.

Y quay lại hỏi ba người:

– Các ngươi chịu hàng chưa? Nếu không chịu hàng, ta ra lệnh buông tên.

Ba người nhìn nhau hội ý, buông vũ khí. Đô Dương truyền trói cả lại. Y ngỏ lời cảm tạ Giao-chi, Nguyễn Tín đã cứu y. Một lát sau các tướng sĩ trong thành tề tựu, báo cáo:

– Quân sĩ được điều động lên mặt thành. Canh phòng nghiêm mật.

Đô Dương hỏi viên sứ giả:

– Ngươi tên là gì? Tại sao lại đến đây hành thích ta?
Sứ giả đáp:

– Ta là Phương Trọng giữ chức hiệu-úy trong đội cấm quân của Thiên-tử. Còn viên võ tướng này là Vũ-vệ thường-thị Mao Bạch.

Đô Dương chỉ người mặc quần áo đen hỏi:

– Tên này là ai?

Phương Trọng đáp:

– Một võ sĩ được Thái-hậu cử theo giúp chúng ta. Y tên Quách Anh.

Đô Dương khám trong mình ba người thấy, ngoài vàng bạc đã dùng ra, còn có thêm một phong thư. Y bóc ra đọc:

Lệnh cho Vũ-vệ thường-thị Mao Bạch và Vũ-vệ hiệu-úy đi công cán tại Trường-an. Quan quân các cấp từ thái-thú trở xuống, đều phải tuân lệnh điều động.

Khâm thử.

Dưới đóng ấn của Thái-hậu.

Đô Dương thấy việc trọng đại, truyền cho quân sĩ lui ra, rồi hỏi:

– Chỉ dụ của Thái-hậu cho các ngươi đi công cán, chứ đâu có cho lệnh các ngươi giết công thần. Ta đây xuất thân bằng võ nghiệp, lăn mình vào chốn gươm đao lập công, nên mới được phong Hầu, lĩnh chức Thái-thú. Tại sao các ngươi muốn giết ta.

Phương Trọng cười gằn:

– Thái-hậu sai chúng ta giết ngươi là vì gốc gác ngươi là con chó Việt ở đất Lĩnh Nam. Ngươi theo Nghiêm Sơn làm phản. Khi ta tới đây, cũng vừa lúc bộ hạ Nghiêm Sơn làm phản, đánh Trường-an. Trường-an nhờ có Phù-phong là ải che phía ngoài, nếu Phù-phong lọt vào tay Nghiêm Sơn, Trường-an sẽ lâm nguy. Ta không kịp điều động binh mã, vội giả chiếu chỉ giết ngươi, hầu giữ vững Phù-phong. Nhưng việc không thành. Thôi ngươi giết chúng ta quách.

Đô Dương nói:

– Ngươi nói láo. Lĩnh-nam vương đối với Thiên-tử tuy là nghĩa vua tôi nhưng thực ra là tình huynh đệ. Vương-gia một tay dựng lên cơ đồ nhà Hán. Tính tình hào sảng, ước hẹn với Thiên-tử rằng sau khi bình thiên hạ, người sẽ trở về đời sống giang hồ. Tại sao ngươi bảo Vương-gia phản bội?

Giao-Chi nghĩ ra một kế bảo Đô Dương:

– Đại-ca ra ngoài xem có ai đứng rình không? Tiểu muội sẽ nói cho đại-ca nghe nguyên ủy của vụ này.

Đô Dương đứng lên ra ngoài. Giao-Chi rút kiếm chém bay đầu Mao Bạch và Phương Trọng. Rồi nàng cắt dây trói cho Quách Anh bảo y:

– Ngươi nhảy qua cửa sổ trốn mau.

Quách Anh ngỡ ngàng một lúc, rồi vọt qua cửa sổ biến mất vào trong đêm.

Đô Dương vào thấy Mao Bạch, Phương Trọng đầu một nơi, mình một nẻo thì thất kinh hỏi:

– Cái gì đã xảy ra?

Giao-Chi nói:

–Tiểu muội giết hai tên này và tha Quách Anh rồi.

Đô Dương ngạc nhiên hỏi:

– Thế nghĩa là thế nào?

Giao-Chi tường thuật tất cả nội vụ cho Đô Dương nghe rồi kết luận:

– Thái-hậu lợi dụng Nghiêm đại-ca đang bị giam, cho người đi các nơi giết hết chân tay đại-ca, để Quang-Vũ không dám tha Nghiêm đại-ca nữa, vì sợ đại-ca sẽ phản. Đô đại-ca! Đại ca là bạn từ nhỏ của Nghiêm đại-ca, dĩ nhiên Thái-hậu phải trừ đầu tiên.

Đô Dương thở dài:

– Tại sao sư muội không giết Quách Anh luôn mà lại thả y ra?

Giao-Chi lắc đầu:

– Thả y ra để y về báo cáo với Thái-hậu, như vậy dù muốn, dù không đại-ca cũng phải phản Hán.

Nàng tiếp:

– Đô đại-ca! Đại-ca là người Lĩnh-nam, làm quan với Hán thì vinh dự gì? Dù đại-ca lập được công trạng như Hàn Tín, Nghiêm đại-ca chăng nữa, thì kết quả cũng đến bi thảm mà thôi. Chi bằng phất cờ đánh Trung-nguyên giúp Thục, chia ba thiên hạ, thì mới mong giữ được Lĩnh-nam nhà mình. Đại-ca là người đọc sách nhiều, kiến thức rộng, đại ca có biết con ngựa của đất Hồ, đem vào Trung-nguyên, khi gió Bấc thổi mạnh, thì nó hí những tiếng đau thương vì nhớ cố thổ không? Lại nữa, con chim đất Việt, bay lạc sang Trung-nguyên bao giờ nó cũng làm tổ hướng về Nam. Đến loài cầm thú còn không quên nguồn gốc, huống hồ con người, hơn nữa là một người như đại-ca.

Đô Dương là người văn võ kiêm toàn, kiến thức rộng. Y theo Ngiêm Sơn đã lâu, hiểu rõ tình thế. Y đứng lên nói:

– Đa tạ sư đệ, sư muội đã khuyên ta. Bây giờ ta tập họp tướng sĩ, ai nghe thì để, ai chống lại sẽ giết ngay.

Giao-Chi hỏi:

– Tướng sĩ ở đây, có ai võ công cao không?

Đô Dương lắc đầu:

– Họ hầu hết là người Hán bản lĩnh không phải tầm thường, nhưng không ai địch lại ta đâu. Hiện ta có đội cung thủ 100 người theo ta từ đất Lĩnh Nam, rất trung thành. Ta sẽ dùng vào việc này.

Đô Dương dặn Giao-Chi, Nguyễn Tín mấy câu, rồi lại gọi đội cung thủ dặn dò cẩn thận. Sau đó y đánh trống họp các tướng. Các tướng trên từ đô-úy, đô-sát cho tới các thiên-tướng, tiền-tướng đều tề tựu. Đô Dương đếm đủ 20 người.

Chàng đợi các tướng an vị xong, nói:

– Vừa rồi có thích khách giả chiếu chỉ đến định giết ta. Nhưng nhờ các tướng đã bắt được ba tên. Sau khi khám trong người họ, thấy có mật chỉ của thái-hậu. Thì ra thái-hậu mưu giết công thần như xưa kia Lã-hậu giết Hàn Tín. Ta tra hỏi bọn chúng được biết: Thiên-tử không phải con đẻ của thái-hậu. Thái-hậu muốn phế thiên-tử, lập người khác nhưng bà sợ Lĩnh-nam vương cầm quân bên ngoài. Bà cho người đi trừ hết vây cánh của vương. Bây giờ việc này đã lộ ra rồi, bây giờ dù chúng ta theo thiên-tử, sau này thiên-tử cũng giết chúng ta để bịt miệng, vì cái vụ mẫu thân của thiên-tử là kỹ nữ. Còn theo thái-hậu cũng không được, vì chúng ta đã giết người của thái-hậu. Vậy ta mời các tướng lên đây, nói cho các tướng biết. Ta quyết trở về Lĩnh Nam. Ai theo ta thì theo. Ai không theo thì mang đầu về Lạc-dương cho thái-hậu chém. Còn ai không muốn theo ta, đầu hàng Thục cũng được, ta không cấm cản.

Đô Dương lấy mật chỉ của Thái-hậu đọc cho các tướng nghe. Các tướng nhìn nhau, người người ngơ ngác.

Đô sát Đặng Vinh hỏi:

– Quân hầu bảo chúng tôi đầu Thục, liệu Thục có nhận chúng tôi không?

Đô Dương nói:

– Hiện Thục binh đã chiếm My-thành, Thiên-thủy vượt Tý-Ngọ đến sát Trường-an. Tôi dám quyết các vị đầu Thục đều được trọng dụng.

Các tướng còn ngần ngừ, thì trên nóc công đường, một người nhảy xuống, người chưa tới đã vung chưởng đánh xuống đầu Đặng Vinh. Chưởng lực của y hùng mạnh không thể tưởng. Các tướng trong công đường đều như muốn nghẹt thở. Đặng Vinh nhảy xéo lại, tay đẩy một chưởng đánh vào giữa chưởng của y. Y thu chưởng về, biến thành trảo, chụp xuống đầu Đặng Vinh. Đặng Vinh biến chưởng của mình thành cầm nã, chụp vào cổ y. Bốn tay đụng nhau, Đặng Vinh cảm thấy cánh tay tê dại.

Hai người chỉ trong chớp nhoáng biến đổi chiêu thức ba lần, chiêu nào cũng đều ác độc phi thường, khiến các tướng đều khâm phục.

Bây giờ các tướng mới nhìn rõ người nhảy xuống, y tuổi trạc 45, lưng đeo bảo kiếm, y nói lớn:

– Các người là tướng nhà Đại-hán, phải đem xương máu đền đáp thiên-tử, chứ có đâu lại đi hàng Thục? Nào các ngươi hãy giết chết Đô Dương, Đặng Vinh, giữ vững thành trì. Ta tâu lên thiên-tử, công lao các ngươi không nhỏ.

Đô Dương ngắm nhìn đối phương, thấy dáng người dường như không phải người Trung-nguyên, mà là người vùng Lĩnh Nam. Qua mấy chiêu thức vừa rồi, chàng nhận ra đó là võ công vùng Giao-chỉ. Có điều chàng ngạc nhiên rằng đối thủ vào công đường, ẩn trên nóc từ bao giờ, mà bằng này người không hay biết gì cả. Không biết y có cùng bọn với sứ giả Thái-hậu không?

Chàng ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói:

– Tiếc thay cho mi là một hào kiệt đất Lĩnh Nam, mà lại cam tâm đi làm chó săn, chim mồi cho Quang-Vũ. Ta hỏi mi điều này: Công lao mi lập với Quang-Vũ liệu có bằng một phần trăm của ta không? Thế mà ta không làm gì nên tội, thái-hậu cử người đến ám sát ta. Sau này tiền đồ ngươi cũng chẳng hay gì? Lại như Lĩnh-nam vương một tay gây dựng nên cơ đồ cho Quang-Vũ, một đêm đánh 20 trận, bị thương 15 lần, vào sinh ra tử cả ngàn lần. Rồi một người, một ngựa, bình 6 quận phía Nam. Cho đến khi Ngô Hán, Mã Viện đánh Thục bị thua, lại cũng phải mời người về cầm đại cuộc. Thế mà quân mới vào Thành-đô, Quang-Vũ đã trở mặt bắt giam người. Ta đây dù tước phong tới Tân-bình hầu, giữ chức Thái-thú, nhưng ta là người võ hiệp, ta quyết phản Hán. Hơn nữa ta đem ba thước gươm hỏi tội Quang-Vũ. Nếu ngươi là hảo hán, hãy nói tên họ cho chúng ta biết.

Nguyễn Giao-Chi đứng ngoài xen vào:

– Đô đại-ca! Người này họ Chu tên Bá, con rể của Lê Đạo-Sinh ở Giao-chỉ. Trong 10 đệ tử của Lê Đạo-Sinh, y là người có tài nhất. Tương đối y có tư cách. Y giữ chức huyện-úy Bắc-đái. Mới hôm trước đây, Lê Đạo-Sinh xuất lĩnh đệ tử giúp Thục, âm mưu phế trưởng lập thứ không xong, y lại sang theo Quang-Vũ.

Đô Dương:

– Thì ra Chu Bá huynh đấy. Từ Giao-Chỉ tới Phù-phong, đường xa vạn dặm, mà tôi đã nghe được danh tiếng người. Người tuy làm huyện-úy mà lòng dạ thực là tốt với dân chúng. Chu huynh, ngươi hãy bỏ chức huyện-úy nhỏ bằng hạt vừng, hạt đậu về với Lĩnh Nam phục hồi quốc thổ, muôn ngàn năm sau tên người còn ghi vào thanh sử, còn hơn đi theo Quang-Vũ ô danh muôn đời. Nào mời Chu huynh ngồi xuống đây với chúng tôi.

Chu Bá không khiêm nhượng y ngồi xuống nói:

– Mã thái-hậu truyền chỉ cho Mao Bạch, Phương Trọng, Quách Anh cùng ta đi ám sát Đô huynh. Dọc đường, ta nghe chúng bàn riêng với nhau rằng, sau khi giết được Đô huynh, sẽ ám sát ta để diệt khẩu. Vì vậy chúng ta đột nhập vào thành Phù-phong, định bất thình lình ám sát Đô huynh. Đô huynh đánh nhau với chúng, ta nhất định không xuất hiện, để chúng cho Đô huynh giết. Còn ta có chủ ý chống Đô huynh, thì tội gì nhảy xuống nơi đây để mất mạng? Chẳng qua ta thử Đô huynh mà thôi.

Bỗng có tiếng nói:

– Dù thử Đô Dương hay dù muốn ám sát Đô Dương cũng khó, vì có ta ở đây.

Đô Dương quát lớn:

– Ai?

Có tiếng nói:

– Tề-vương, Đào huynh đệ, Phương-Dung, chúng ta xuất hiện đi.

Lập tức từ trên mái nhà có bốn người nhảy xuống. Chu Bá nhận ra Khất đại-phu, vội vàng đến trước mặt quỳ xuống làm lễ:

– Đệ tử Chu Bá xin tham kiến đại sư-bá. Kính chúc sư bá sống lâu trăm tuổi.

Khất đại-phu cười hề hề, đỡ Chu Bá dậy:

– Trong các đệ tử của Lê sư đệ, ta kỳ vọng vào cháu nhất. Bây giờ cháu đã về với Lĩnh Nam, tương lai cháu không vừa. Được ta nhận cháu làm đệ tử của ta.

Chu Bá mừng quá, vội quỳ xuống lậy tám lậy. Chúng ta nên biết, Khất đại-phu nổi tiếng về y đạo, võ công, đạo đức. Người người đều gọi ông là tiên ông, ai cũng mong được yết kiến ông thì mới phỉ dạ. Bây giờ ông nhận Chu Bá làm đệ tử, y mừng không biết đâu mà kể.

Giao-Chi giới thiệu Khất đại-phu, Đào Kỳ, Phương-Dung với mọi người. Đô Dương truyền đổi cờ Hán thành cờ Thục. Chàng cầm ấn tín trao cho Tề-vương Tạ Phong:

– Vương gia, đây là ấn thái-thú Phù-phong xin dâng Vương-gia. Còn tôi xin về Lĩnh Nam chứ không ở đây nữa.

Tề-vương Tạ Phong cầm ấn giao cho Đặng Vinh:

– Đặng đô-úy, kể từ giờ này ngươi là Thái-thú Phù-phong. Tước Tân-bình hầu để thay Đô đại-hiệp. Các tướng lĩnh nhất thiết giữ nguyên, thăng mỗi người lên hai cấp. Quân sĩ được phát phụ trội hai tháng lương. Bao nhiêu tù nhân mở cửa thả hết.

Sau khi ăn tiệc Phương-Dung nói với Tề-vương:

– Vương-gia, xin ở lại chờ đạo Thiên-thủy, Tý-ngọ rồi hãy đánh Trường-an. Chúng tôi đi Trường-an cứu Nghiêm đại-ca.

Nàng nói với Đô Dương;

– Đô đại-ca! Đại-ca với Lĩnh-nam vương tình như ruột thịt. Đại-ca hãy cùng chúng tôi đi cứu Nghiêm đại-ca được không?

Đô Dương nói:

– Chúng ta có mật chỉ của thái-hậu, thì cứ giả làm Mao Bạch, Phương Trọng, Quách Anh hành sự. Vì ba nhân vật này chức rất nhỏ, khó có người biết mặt. Khất đại-phu giả làm Mao Bạch, Đào sư đệ giả làm Quách Anh, tôi giả làm Phương Trọng. Chu sư huynh thì giữ nguyên thân phận. Ngay đêm nay chúng ta đi Trường-an mới kịp.

Giao-Chi nhăn mặt nói với Phương-Dung:

– Sư muội! Sư muội không cho chị đi sao?

Phương-Dung chưa nói, Khất đại-phu bản tính dễ dãi, ông nói:

– Cháu gái muốn đi thì cứ đi, chứ có gì trở ngại đâu!

Sáu người dùng ngựa chuẩn bị lên đường. Phương Dung hỏi Giao-Chi:

– Em hỏi chị câu này nhé. Tại sao chị giết Mao Bạch, Phương Trọng, mà lại tha Quách Anh?

Giao-Chi cúi xuống cười xấu hổ, nàng nói sẽ:

– Chị bắt chước Vĩnh-Hoa lập mưu.

Phương-Dung nghiêm mặt:

– Điều đầu tiên em khuyên: Chị là con gái yêu của đệ tứ Thái-bảo phái Sài-sơn, võ công, đạo đức lừng thiên hạ. Chị đeo gươm, làm những chuyện vá biển lấp trời, dù việc làm của chị có thất bại hay thành công thì cũng là chuyện đại sự. Việc gì phải xấu hổ. Chị lập mưu thế nào, nói cho em nghe có được không?

Suốt thời gian vừa qua, Nguyễn Giao-Chi, Phùng Vĩnh-Hoa, hai chị em ở chung với nhau. Bất cứ việc lớn, việc nhỏ, Giao-Chi cũng hỏi Vĩnh-Hoa xem hành sự ra sao. Nên từ một cô gái chỉ biết nấu ăn ngon, đánh võ, bơi lội, đàn ca, nàng đã lĩnh hội được nhiều cung cách đối phó với biến cố. Giao-Chi được Phương-Dung giao cho việc liên lạc và thuyết phục Đô Dương. Nàng nhận lời, nhưng tự suy nghĩ không biết Đô Dương có chịu bỏ tước Tân-bình hầu và chức Thái-thú hay không? Thì vừa may gặp đoàn ám sát của Mã thái-hậu tới, rồi xảy ra cuộc chiến. Lúc thẩm vấn Quách Anh, Mao Bạch và Phương Trọng, nàng thấy Đô Dương có vẻ sợ sệt thái-hậu. Mà sợ sệt có nghĩa là còn tiếc quan chức của nhà Hán. Nàng đánh lừa cho Đô Dương ra ngoài, rồi nàng rút gươm giết Mao Bạch với Phương Trọng, sau tha Quách Anh ra. Nàng cho rằng nếu giết cả ba, có thể Đô Dương sẽ bắt nàng với Nguyễn Tín giết đi để phi tang hầu bảo vệ quan tước. Nàng tha Quách Anh, thì Đô Dương biết rằng không thể ngồi yên được nữa. Vì Quách Anh sẽ về tâu với Thái-hậu, e đầu của Đô khó giữ được trên cổ. Đô chỉ còn một con đường duy nhất là trở về với Lĩnh Nam mà thôi.

Phương-Dung giỏi điều binh khiển tướng, còn mưu mẹo nàng kém Vĩnh-Hoa. Hai người rất thân với nhau, hiểu nhau hơn hết. Nàng khen Giao-Chi:

– Nhà mình có phúc nên một cô thôn nữ, nhu mì, có bàn tay thần hóa phép thành những món ăn tuyệt vời, bây giờ cũng biết mưu mẹo. Mưu đó của chị cao thật, khiến Đô đại-ca phải trở về với Lĩnh Nam, nhưng có một điều không ổn.

Đô Dương hỏi:

– Phương-Dung bảo không ổn là thế nào? Ta thấy cô bé này hành sự linh mẫn như vậy, mà bảo không ổn, ta đâu có chịu. Thú thực khi ta chạy ra ngoài, trở vào thấy ba người của Mã thái-hậu, một người biến mất và hai người chết nằm đó. Thì dù ta không muốn phản Hán, cũng phải phản.

Phương-Dung nói:

– Giao-Chi tha cho Quách Anh, thì việc đầu tiên y chạy về tâu lại với thái-hậu rằng Đô thái-thú giết sứ giả làm phản.

Đô Dương vỗ đùi kêu lên:

– Thôi hỏng mất rồi, không ổn rồi. Giờ này có lẽ nó đã về tới Trường-an rồi cũng nên, thế thì chúng ta không giả mạo chúng về được nữa. Phương-Dung bây giờ phải làm thế nào?

Đào Kỳ cười:

– Cái không ổn của Giao-Chi là chỉ biết lập mưu cho xong vụ Đô đại-ca. Khi nghe Phương-Dung bàn giả làm người của họ đi Trường-an, thì Giao-Chi quên không đem vụ Quách Anh ra nói. Lúc xảy ra mọi chuyện chúng tôi núp ở ngoài biết hết. Quách Anh vừa vượt tường ra ngoài. Y bị Khất đại-phu bắt trói lại, đem về bản doanh quân Thục rồi.

Giao-Chi nhìn Đô Dương:

– Đô đại-ca, hồi trước Nghiêm đại-ca ghé qua trang ấp của bố em chơi, trong khi kể chuyện nhắc đến đại-ca nhiều lần.

Đô Dương cảm động:

– Nghiêm đại-ca dù ở cách xa vạn dặm cũng không quên tôi. Người đối với tôi vừa là sư phụ, vừa là sư huynh, vừa là thượng cấp. Nghiêm đại-ca gửi thư thăm tôi kể rằng đại-ca đấu võ với lệnh-tôn, bị lệnh-tôn đánh bại. Vậy võ công lệnh-tôn ít ra cũng bằng Khất đại-phu?

Khất đại-phu mỉm cười:

– Kể về tài đánh một người, hai người, tôi hơn Nguyễn Tam-Trinh. Còn tài đánh trăm người, nghìn người, vạn người thì Nguyễn Tam-Trinh hơn tôi nhiều lắm. Chuyện giao đấu trên sông Hồng-hà giữa Nguyễn Tam-Trinh với Nghiêm Sơn có Đào tiểu-hữu đây chứng kiến tận mắt. Thôi Đào tiểu-hữu kể lại cho mọi người nghe đi.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau