ĐOẠT HỒN KỲ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Đoạt hồn kỳ - Chương 71 - Chương 75

Chương 71: Tuyệt thế tư dung

Tưởng đầu tiên Tra Phong ham sống sợ chết, chuyến này thế nào cũng hoảng hồn kinh vía. Nào hay sự việc đến lại trái ngược hẳn, chỉ nghe tên Tra Phong quát lớn:

- Này Hắc y sứ giả, nhà ngươi chỉ là hạng người thêm vi thêm cánh cho quân ác để hoành hành tác quái, thầy trò chúng ta đã bằng lòng giao sinh mạng ra thì thôi chớ... thế mà nay còn làm nhục người ta như thế, thử hỏi có ai chịu nổi sự bức hiếp quá độ như thế?... Tra Phong này nguyện liều mạng với ngươi luôn cho xong.

Dứt lời hắn nhảy ngay tới với đôi tay không, Thượng Quan Linh cũng đã biết công lực của người này ra sao rồi, đâu để ý gì, nhưng có điều chàng thắc mắc, tại sao muốn xem mặt lão bà bịt mặt đây là một điều tối kỵ như thế? Nghĩ xong chàng cười nhạt một tiếng, sửa soạn ra tay tiếp đòn Tra Phong, chợt lão bà bịt mặt đứng cạnh lên tiếng quát:

- Tra Phong! Mau lui về, châu chấu đá xe, thiêu thân chụp lửa, nào có bổ ích gì cho việc đâu?

Tra Phong đành cung kính nghe lời thầy lui ngay về sau đứng yên. Lão bà bịt mặt trầm tiếng rằng:

- Dám phiền Sứ giả hãy theo lão bà ta ra ngoài một chuyến, thế nào cũng làm vừa lòng sự yêu cầu của Sứ giả...

Giọng nói vô củng bi phẫn, Thượng Quan Linh đã nằm trong thế cưỡi lưng cọp đành ráng cứng đầu cứng cổ rằng:

- Nếu vậy thì hay lắm! Đi! Đi...

Tra Phong lẽo đẽo đi theo, nhưng bị lão bà bịt mặt ngăn ngay lại rằng:

- Phong con, đừng theo thầy đi làm gì nữa, vậy con hãy chờ tại lều đây, nếu thầy còn sống mà về, đó là một chuyện may mắn, còn nếu không, con phải nghe theo lời của sứ giả, không nên ương ngạnh, phải hiểu rằng con có chống cũng vô ích... may ra sứ giả không nỡ đang tay tận diệt, trong ba thầy trò, sẽ để con sống sót lại, khi đó con hãy hỏa táng thi hài của ta và anh con, xong đem tro cốt ấy về Ai Lao Sơn Vân Nam mà mai táng, và con cũng nên trầm tâm lo học đạo, chớ nên lưu luyến cảnh sống của giang hồ, càng không nên can dự vào bất luận là chuyện ân oán thị phi gì... Tình thầy trò bấy lâu, nay chắc phải quyết biệt nhau, vậy thầy mong rằng con sẽ gắng nghe lời thầy, chớ để thầy phải ngậm ngùi...

Thượng Quan Linh đứng cạnh, nghe những lời nói bi ai này cũng đâm mủi lòng, chàng chỉ nghĩ: mình vô tình bắt chẹt, chứ nào có ý làm nhục đâu, nay vì phải đóng vai Hắc y sứ giả, nằm trong thế cưỡi lưng cọp, nên không tiện ra mặt. Lúc này, tên Tra Phong đã quì ngay trước mặt lão bà bịt mặt khóc nức nở.

Lão bà đành cầm ngay cây trượng của mình bước nhanh ra lều, Thượng Quan Linh theo ngay đằng sau.

Lúc này vào khoảng canh ba của đêm trường, tay lão bà cầm ngay một cây tùng liệu (cây đuốc nhựa thông) sáng trưng, cùng với Thượng Quan Linh rời xa hẳn hai ngôi lều trên mười trượng, đến ngay một bãi cát im tịch. Sau khi cắm cây đuốc tùng liệu xuống cát, lão bà bịt mặt giơ ngay cây trượng lên rằng:

- Hắc y sứ giả! Không phải ta có ý muốn chống lệnh nhưng quả thật ta đã có lời nguyền từ trước, nghĩa là từ khi ta khởi sự che mặt đến nay, đã hơn ba bốn mươi năm rồi và chính ta đã tự đặt cho ta một qui lệ, trừ phi ta chết, hoặc là kẻ nào võ công thắng nổi ta, ngoài ra không ai có thể được thấy mặt thật của ta... mãi đến khi ta bắt đầu gặp Tỉ Vương - Nói tới đây, lão bà ngừng lại rồi tiếp ngay: - Xin lỗi, lão bà ta bây giờ không cần phải kính nể gì mà gọi Chúa công nữa... Lẽ đương nhiên, bộ mặt thật của Tỉ Vương và thậm chí đến thân hình của người này, trong bao nhiêu năm nay, chưa ai được thấy đích xác bao giờ, ta chỉ được nghe bằng giọng nói, nếu lão bà ta nhớ không lầm, lúc ấy y quả đã chấp thuận lời yêu cầu của ta, quyết không miễn cường bắt ta phải lộ diện thật... nhưng nào ngờ nay y lại ngang nhiên nuốt lời hứa như thế...

Ngập ngừng một hồi, lão bà lại tiếp:

- Đương nhiên sự đến đây của Hắc y sứ giả là phụng mạng Tỉ Vương, lão bà ta đâu còn biết nói gì hơn, nhưng lại không thể nào không giữ đúng theo lời nguyền của ta... Chính ta cũng biết Sứ giả là vị đại hiệp khét tiếng Bắc Ưng Lãnh Lạc, nay lại nghiễm nhiên là tay trợ lực đắc ý nhất của Tỉ Vương, lão bà ta tuy ở tít tại miền Vân Nam, nhưng cũng đã nghe danh sấm sét của ngươi, quả đáng khâm phục! Khâm phục!

Thượng Quan Linh ăn năn và lúng túng, chàng không biết nên xử trí ra sao trong trường hợp này, cảm thấy mặt nóng, nhưng may có mặt nạ che kín, nếu không chàng đã bị lộ tẩy ngay!

Lão bà bịt mặt thình lình cất giọng rằng:

- Nhưng ngày nay, Hắc y sứ giả không còn là vị đại hiệp Bắc Ưng Lãnh Lạc xưa kia nữa rồi, lão bà ta quả thật cũng không bội lời nguyền xưa kia, vậy Sứ giả đòi xem mặt ta... Hà hà!... Ít nhất cũng xin nhà ngươi ra tay biểu lộ vài ngọn tuyệt học của ngọn ưng trảo liêm khiến cho lão bà đây tâm phục khẩu phục, và ta sẽ tự sát để cho Sứ giả người tha hồ ghi chép về khuôn mặt của ta.

Dứt lời cây trượng của lão bà giơ ngay lên. Thượng Quan Linh phân vân và bối rối, không biết nên xử trí ra sao, cũng đành giơ ngay ưng trảo liêm lo giữ thế của mình.

Lão bà bịt mặt lại lên tiếng nói rõ:

- Sứ giả, trận đấu này sau khi phân rõ thắng bại, hễ lão bà ta may mắn thắng nửa đòn nào, dám phiền Sứ giả hãy về báo rõ lại với Tỉ Vương, thầy trò ta từ nay sẽ thoát ly khỏi quan hệ với y, mặc cho y có hăm dọa hay bắt chẹt bằng thủ đoạn gì, thầy trò ta thà chết chứ không chịu quay đầu! Nếu ta thua, đương nhiên không còn yêu sách gì để đòi hỏi, hơn nữa ta cũng đã chán đời rồi, chết đi cũng chẳng sao, nhưng... nhưng... nhưng về tên Tra Phong, nếu được Sứ giả tha cho hắn mạng sống, để hắn có thể đem di cốt của ta về quê mai táng, lão bà ta tuy có chết, cũng cám ơn đại đức của Sứ giả...

Thượng Quan Linh nhận lời ngay, lão bà bịt mặt lập tức cám ơn, nay khách sáo mời ngay Thượng Quan Linh ra tay trước.

Đấu óc Thượng Quan Linh lúc này rối lung bung, đối với lão bà bịt mặt này, tuy giận rất đậm, nhưng cũng khiêm tốn rằng:

- Lão bà niên trưởng, vậy kính xin ra tay trước!

Lão bà không còn do dự gì, ứng ngay tiếng:

- Mạn phép!

Dứt lời ào một trượng quất ngay sang.

Thượng Quan Linh hấp tấp né tránh, không ngờ lão bà già nua mà lại không thua gì thiếu niên, thân pháp nhanh, kình lực mạnh, Thượng Quan Linh hơi chột dạ.

Nhưng lại còn có chuyện quái lạ xảy ra, thế lão bà đánh ra toàn các ngọn lạ lùng, lúc này tay trái mụ ta thình lình trở ngược rạ, vận chỉ điểm ngay sang mặt Thượng Quan Linh, khi gần đến nơi lại bỗng đổi ngay lối điểm thành lối bấu hình như có ý muốn bấu quào này của đối phương, xem ra như vô tình nhưng quả thật là hữu tâm, phải biết rằng trên khuôn mặt của chàng lúc này, ngoài trừ đôi mắt sáng long lanh là của chính Thượng Quan Linh ra, còn lại tất cả tướng mạo đều mượn dạng cũ của Bắc Ưng Lãnh Lạc cả, nếu bị đối phương quào trúng, lập tức lộ nguyên hình ngay. Nhưng bản tính con nhà võ đã khiến Thượng Quan Linh nhoáng nhanh người để né tránh, tay trái dùng chưởng, tay mặt câu liêm, đồng thời phát đòn ra cự địch.

Hai ngọn binh khí một trượng và một câu liêm còn chưa kịp giáp tiếp nhau, chưởng bên trái của Thượng Quan Linh, đã hoa nhanh ngay trước mặt để đỡ ngay bàn tay như quỉ trảo của lão bà, và đang lúc tính phát đòn ra công hãm, thình lình lão bà bịt mặt biến đâu mất, Thượng Quan Linh biết lợi hại ngay, chợt vội quay nhanh ngay mình lại. Thì ra mụ ta đã nhoáng vèo về phía sau lưng chàng, lúc này đôi bên chỉ cách nhau có gần một thước. Thượng Quan Linh giật mình thất kinh, công lực của lão bà nay lại cừ giỏi hơn trước nhiều, tuy tuổi tác đã cao niên, nhưng với thân pháp lanh lẹ và linh động tuyệt độ quả thật là khiến người ta khó lòng tin! Nguy cơ hiện ngay trước mắt, Thượng Quan Linh chỉ còn hét lên một tiếng, từ ngọn chưởng và cả cây câu liêm đồng thời đánh thốc ra nhanh như nhoáng điện để tự cứu bản thân và công hãm địch thủ.

Choang một tiếng vang lên dữ dội, ngọn ưng trảo liêm chém trúng ngay cây trượng đen của lão bà bịt mặt, sao lửa tóe nhoáng lên một vùng nhỏ, binh khí đôi bên đều là loại thép quí, ngang nhiên thành thế cờ trống tương đương, bên kia tám trượng bên này nửa cân! Nhưng cũng trong chớp mắt đó, ngọn kình lực bên tay trái của Thượng Quan Linh đã chiếm ưu thế, đừng nói là lão bà bịt mặt là người đã cao niên, dù cho còn trẻ đi nữa cũng quyết không thể nào đỡ nổi thần lực của Thượng Quan Linh, nay song chưởng tương giao với nhau, nội lực của đối phương dần dần yếu hẳn, cuối cùng, chịu không nổi, khẽ hừ lên một tiếng, nhanh chân lùi tránh.

Lão bà bịt mặt lùi ngay một hơi mấy bước, mới đứng vững tấn của mình, chỉ nghe một tiếng thở dài sau tấm khăn che mặt của lão bà, Thượng Quan Linh lúc này ngầm cảm thấy sung sướng, chàng nhớ bị Phủ Chưởng Hàn ngày nào của lão bà bịt mặt đây, nay mình nghiễm nhiên thắng hiên ngang như thế, quả đã nhờ kỳ công của Tuyết bi tiên hoa. Nay ỷ vào thần lực tinh diệu và võ nghệ của mình đây, đâu còn phải ngán sợ gì ngọn Phủ Chưởng Hàn? Khi nghĩ đến Phủ Chưởng Hàn, Thượng Quan Linh lại giận tiết lên tiếng rằng:

- Nay lão lão, sao không dùng ngọn độc công Phủ Chưởng Hàn; Bản sứ giả sẵn sàng tiếp hầu ngọn tuyệt kỹ độc công xem lợi hại đến đâu!

Lão bà bịt mặt giật mình, giọng nói có vẻ đau khổ rằng:

- Xin Sứ giả chớ có nhắc đến chuyện Phủ Chưởng Hàn làm gì nữa, lão bà ta đã phát thệ, suốt kiếp này, không bao giờ dùng đến ngọn độc công ấy nữa.

Thượng Quan Linh ngạc nhiên hỏi:

- Tại sao vậy?

- Vì nửa năm trước đây, ta đã thử chưởng lực này khiến cho một vị thiếu niên bị thương, sống chết không biết ra sao, nay ta hối hận vô cùng...

- Hừ!...

Lời đoán này của lão bà, quả nhiên trùng hợp với sự nghi đoán của Thượng Quan Linh.

Thình lình lão bà bịt mặt lên tiếng:

- Hừ!... Hắc y sứ giả, chính nhà ngươi đây đâu phải là Bắc Ưng Lãnh Lạc gì, mà nhà ngươi chính là ác ma Tỉ Vương, và ta cũng tin chắc nhà ngươi đã giết mất Bắc Ưng Lãnh Lạc và đeo ngay bộ mặt nạ giống hệt của vị đại hiệp này... Nay ta đã sắp thành kẻ thiên cổ, ta chỉ cầu mong ngươi cho ta được thấy bộ mặt thật của Tỉ Vương của ngươi! Hơn nữa ta đã sắp về chín suối, lẽ đương nhiên đâu còn có thể tiết lộ bí mật của ngươi ra trong thiên hạ...

Trong lòng Thượng Quan Linh lúc này đủ các mùi vị chua đắng, cay, ngọt, mặn, chàng đứng ngẩn người không biết tính ra làm sao. Bụng nghĩ thầm: Nếu mụ mà thấy mặt thật của ta, e lại không hoảng đến cấm khẩu luôn ấy à! Nào ngươi có ngờ đâu con trai của kẻ thù đã thân hành đến đòi món nợ máu trong trường hợp quá ly kỳ này!

Chợt nghe tiếng lão bà kêu lên:

- Cho ta xem! Cho ta xem!

Vừa kêu vừa loạng choạng chạy sang, Thượng Quan Linh nổi khùng, giang ngay tay chận, đồng thời phát ra một ngọn đòn kỳ khí chỉ nghe soét một tiếng, giở bung ngay khăn che mặt của lão bà - một chiếc khăn đen mà đã che suốt bốn mươi năm trời. Lúc này, trời gần sắp sáng, Thượng Quan Linh được thấy chân diện mục của lão bà bí mật. Chàng kinh hoảng, tiếp theo là hoang mang và như người bị vây trong mê hồn trận, không còn hiểu tại sao và tại sao nữa... Lão bà lúc này chỉ mỉm cười nham hiểm. Thượng Quan Linh ngó chăm chăm vào khuôn mặt ấy nhưng chợt đôi tay như quỉ trảo đã thò ngay gần cổ Thượng Quan Linh...Thượng Quan Linh cảm thấy một luồng gió lạnh tạt tới trước mặt chỉ chớp mắt, chiếc mặt nạ tướng mạo của Bắc Ưng Lãnh Lạc đã nằm ngay trong đôi trảo của Lão bà!

Khi một khuôn mặt anh tuấn lộng lẫy xuất hiện trước mặt lão bà, sự kinh hãi cao độ đã khiến cho mụ ta ối lên một tiếng thất thanh!

Phần Thượng Quan Linh, khi chàng đang bị mê hoặc với mặt thật của lão bà ấy, bỗng dưng gặp sự thay biến thình lình như thế, với bản năng tự vệ của con người khi gặp biến, chàng đã nhanh tay bửa ra một chưởng, phét một tiếng, toàn thân lão bà đã lăn xuống mặt cát như một nhánh cây khô bị gãy. Đến khi Thượng Quan Linh phát giác sự việc ấy là chuyện gì thì lão bà đã bị trúng chưởng nơi ngực, và chính mụ ta đã cố ý không tránh ngọn đòn ấy, tính mạng của mụ ta khó mà kéo dài!

Với thần lực của Tuyết bi tiên hoa, ngọn chưởng ấy đâu phải tầm thường gì, dù cho là hạng đệ nhất lưu cao thủ, cũng khó mà chịu nổi, huống hô đây lại là một lão bà cao niên, và lạ nhất là sau khi mụ ta kêu lên một tiếng ôi lại không chịu né tránh đòn đánh, trái lại ngang nhiên hứng chịu ngay đòn chí mạng cua Thượng Quan Linh. Thậm chí mụ ta không hề hự lên được một tiếng nào, chắc chắn đã bị trọng thương nơi ngực, máu tươi đã thấy ứa ra đằng miệng.

Thượng Quan Linh đã bị mê hoặc, một thứ mê hoặc mà không sao giải thích nổi: chuyện này sao lại có thể như thế được?! Chàng cố suy ngẫm... trong khi Thượng Quan Linh bắt chẹt để lột chiếc khăn của lão bà ấy; thâm tâm của chàng đinh ninh rằng: sau tấm khăn che mặt ấy, nhất định phải là một khuôn mặt xấu xí vô cùng và già nua. Rất có thể là khuôn mặt ấy không thua các nhân vật kinh tởm trên Phi Các ma cung của Vô ảnh Phong, phải là bộ mặt thịt rữa xương tan rùng rợn vì các bệnh cùi lở loét nếu không thì cũng là bộ mặt bị người thù phá hủy. Bốn mươi năm trời như thế, nên hiểu rằng chuộng đẹp vốn là thiên tính của loài người, nhất là đối với phái nữ, luôn luôn thích cho mọi người phải trầm trồ về vẻ đẹp của mình, vô phúc cô nào không đẹp thì cũng ráng tìm chút duyên nổi hoặc duyên chìm để cầu bắt những cái nhìn lắc lư của thiên hạ, thế mà lão bà này đã chịu khó che bộ mặt của mình suốt bao nhiêu năm ấy, chẳng cần nghĩ cũng đoán được bộ mặt ấy phải kinh tởm rùng rợn lắm!

Nhưng tất cả mọi biến chuyển, đều xáo trộn một cách quá đột ngột, không thể nào tưởng tượng được, càng khiến cho Thượng Quan Linh phải ngơ ngác kinh dị. Khi chàng tước được chiếc khăn che mặt của lão bà ra, một khuôn mặt đặc biệt ngoài sức tưởng tượng của chàng đã xuất hiện trước mặt chàng! Đó là một bộ mặt tuyệt đẹp, trẻ măng như cô gái mười bảy mười tám, làn thu ba sáng long lanh, mày hình lá liễu, môi hình anh đào, mũi thon và cao, nghĩa là tất cả các ngũ quan trên bộ mặt này đều phối hợp một cách khéo léo lạ, từ má đến trán, không thể nào tìm ra được một nét nhăn của tuổi già, với bộ mặt tươi trẻ như thế, nhiều lắm là hai mươi tuổi là cùng, nhưng bộ mặt hấp dẫn ấy lại không tương xứng với bộ tóc trắng đen lẫn lộn trên đầu và thân hình luộm thuộm của lão bà già nua, đã có gần sáu mươi tuổi. Thượng Quan Linh cũng càng không hiểu việc mà lão bà đã tự xưng đã gần sáu mươi, nhưng tại sao lại còn giữ được một dung mạo trẻ đẹp như cô gái mười tám như thế, không lý dưới trần gian này lại có thứ linh dược quí báu đến thế sao? Hay là nhờ sự hung dâm mà giữ được phong độ thanh xuân đến thế. Chàng nghĩ ngay: Với bộ mặt tuyệt đẹp và hấp dẫn như thế, người khác, họ đã cố phô trương hầu như cho thiên hạ đều phải say đắm về dung nhan tuyệt thế của mình, nhưng người này sao lại quái gở khác thường đã che đậy giấu giếm đi như thế trong suốt bốn chục năm trời với tấm khăn đen? Thượng Quan Linh say sưa suy nghĩ để tự tìm câu giải đáp, mãi đến khi chiếc mặt nạ của chàng bị người tước ra mới kinh tỉnh. Càng không ngờ trong lúc cuống quít phát chưởng ra, đối phương lại không chịu né tránh, nên bị thương nặng và nằm chờ tử thần đến rước.

Thượng Quan Linh chăm chú nhìn, phát giác người này hãy còn sống, lúc này đang từ từ ngồi nửa mình dậy, trên nét mặt hấp dẫn lạ lùng ấy này, hình như đã cảm thấy một sự vui mừng trong lòng vậy, lúc này chỉ thấy đôi mắt hiền hòa của lão bà có bộ mặt thiếu nữ này nhìn chăm vào Thượng Quan Linh.

Thượng Quan Linh bất giác ngồi xổm ngay xuống dịu dàng hỏi:

- Còn nhận được tôi chứ?

Mặc dù bị trọng thương trong mình, nhưng lão bà vẫn có thể phát âm nói rõ từng âm ngữ rằng:

- Có! Tôi nhận ra anh, anh là Thượng Quan Linh, và tôi... tôi không bao giờ quên được anh...

Thượng Quan Linh giải thích với vẻ hối hận.

Quả thật tôi không có ý đánh bị thương... như thế, tuy chúng ta có mối thâm thù huyết hận với nhau, nhưng khi tôi biết bà đã có ý ăn năn hối cải, tôi đã không muốn ra tay làm gì... nhưng ngặt vì, dung mạo của bà khiến tôi kinh ngạc sững sờ, và trong lúc ấy bà lại thình lình nhân cơ hội để tước mặt nạ của tôi... Với bản năng tự vệ của con nhà võ, không ngờ đã khiến cho bà phải trọng thương...

Vẻ ăn năn lúng túng của Thượng Quan Linh, khiến cho lão bà vui tươi hồn nhiên...

Chỉ thấy lão bà tươi tỉnh cười rằng:

- Ta cũng không giấu gì anh, với bộ mặt hấp dẫn này của ta đây, bốn mươi năm về trước, không biết đã làm điên đảo biết bao nhiêu chàng trai hồi bấy giờ, dẫu cho các người trai anh tuấn hồi đó có anh hùng hảo hán đến đâu đi nữa, nhưng đứng trước mặt Lỗ Yểu Nương ta, đều phải ngoan ngoãn nghe lời bày bịa của ta...

Bấy giờ Thượng Quan Linh mới hiểu rõ kẻ thù của mình tên gọi là Lỗ Yểu Nương, nghe tên này cũng quen tai lắm, nhưng Thượng Quan Linh không nhớ rõ mình đã nghe tại dâu, chỉ mơ màng hiểu rằng, cái tên này đã từng vang danh một thời trong làng giang hồ mấy mươi năm về trước. Thượng Quan Linh không khỏi cho lời nói của Lỗ Yểu Nương là đúng, vì sau bốn mươi năm của ngày hôm nay đây, Lỗ Yểu Nương đã tóc trắng, động tác đã hoàn toàn của một bà già, ấy thế mà dung nhan của bà vẫn còn sức thu hút người nhìn không chán đến thế, ngược dòng thời gian về bốn mươi năm về trước, vào thời vàng son của Lỗ Yểu Nương, với bộ mặt hấp dẫn tuyệt vời như tiên ấy, cộng thêm bộ tóc đen óng mượt, thân hình yểu điệu Thượng Quan Linh nhắm mắt tưởng tượng cũng hình dung được sắc đẹp ấy có thể hơn Liễu Mi bây giờ của mình, thậm chí so với A Hương chắc cũng tương đương và có phần hơn là khác.

Lúc này, Lỗ Yểu Nương nhìn chăm Thượng Quan Linh, từ từ cất giọng rằng:

- Bốn mươi năm trước, chính ta đã tự động che mặt lại phần vì chính bản thân mình, phần nữa là vì một người khác, và ta cũng không muốn để cho thiên hạ vì sắc đẹp của ta mà nổi lòng si mê để quấy phiền ta, thậm chí có thể gây nên những bi kịch không đâu...

Không ngờ hồi đó nàng Lỗ Yểu Nương lại biết suy nghĩ lợi hại đến thế, lại càng không muốn dùng sắc đẹp. của mình để gây khổ cho các chàng trai si tình, đành dùng khăn che ngay dung mạo tuyệt đẹp của mình lại để tránh bớt thị phi, hành vi này quả khiến ta khâm phục kính nể.

Thượng Quan Linh bất giác đâm ra hảo cảm với Lỗ Yểu Nương rằng:

- Lão có tâm tình hoài bão như thế, nhưng không biết lão vừa rồi nói, một nửa vì mình, như vậy có ngụ ý gì bên trong?

Lỗ Yểu Nương bị hỏi đột ngột, hình như đã chạm vào chuyện thầm kín vậy, bất giác thở dài rồi nói:

- Có gì đâu, trọn bốn mươi năm về trước, ta đã cố gắng tìm cách để giữ gìn dung nhan cho tươi hoài, nhưng mục đích để làm gì? Giờ đây nói ra kể cũng nực cười, bởi vì hồi ấy ta áp đảo một vị thiếu nữ đẹp, vì thiếu nữ đó với ta cùng yêu một chàng trai anh tuấn xuất sắc, hành động này của ta, có thể là cố cạnh tranh để được yêu...

Thượng Quan Linh cho rằng hành động này không có gì là quá đáng, chàng vừa nghe vừa gật gù.

Lỗ Yểu Nương với một giọng bi thảm lại nói tiếp:

- Nhưng về sau, bao nhiêu công trình của ta đều sụp đổ hết, mặc dù ta có thể giữ dung nhan tươi trẻ mãi mãi, và sắc đẹp của ta hấp dẫn đến độ không sao từ chối, nhưng chàng ta... chàng ta đã nhiếc ta là loại hồ ly tinh, dẫu cho biết bao đàn ông phải điên đảo với ta... mặc dù ta đã tận dùng hết các cách, nhưng đều vô hiệu và người mà ta yêu ấy đã tuyệt tình ra đi... Kể từ đó ta cũng tuyệt vọng bằng cách dùng khăn đen che ngay nhan sắc của ta lại không muốn cho ai thấy...
À ra là vậy, Thượng Quan Linh nghĩ thầm, Lỗ Yểu Nương này kể ra cũng là gái chung tình lắm, nhưng không biết người đàn ông đó ghét người ta về điểm nào mà nỡ tuyệt tình đến thế, lúc này Thượng Quan Linh cảm thấy thương hại cho mối tình tuyệt vọng của Lỗ Yểu Nương, bèn hỏi rằng:

- Nếu vậy, chắc lão ghét giận người đó ghê lắm?

Lỗ Yểu Nương gật đầu:

- Đúng thế! Ta giận vô cùng, đã có một dạo ta đã nghĩ đến ăn thịt uống huyết chàng ta mới hả dạ... Nhưng những năm gần đây, ta đã nghĩ vỡ hết lẽ sống của đời, tất cả mọi sự trên thế gian này, chẳng khác nào làn khói bay ngang mắt mình vậy, tài cao, sắc đẹp, rút cục rồi cũng hóa thành đất bụi, tất cả mọi sự của thế gian, đều không sao tồn tại với sự tàn phá vô tình của thời gian... Đúng là đàn bà họa thủy, hồng nhan là cạm bẫy, tự cổ không biết đã chôn vùi biết bao nhiêu anh hùng hiệp sĩ!... Thượng Quan Linh! Anh nên nghe lời răn khuyên của ta, chớ nên bị sắc đẹp quyến rũ ý trí của mình, tự mình phải nắm chắc chủ trương của mình! Chính người đàn ông mà ta đã yêu ấy, không khác gì điển hình của anh bây giờ, chàng ta đã phân biệt rõ thị phi và thiện ác, càng không bao giờ bị sắc đẹp mê hoặc, tuy hồi đó ta giận chàng lắm, nhưng nay suy ra, ta không thể nào chối cãi là chàng ta đã có lý.

Thượng Quan Linh lúc này nghiễm nhiên nghe những lời khuyên răn, mắt thấy vị Lỗ Yểu Nương nay hiện thân nói rõ cuộc đời xưa kia, vô tình cũng như đã cho Thượng Quan Linh biết rõ xưa kia, lão bà cũng là người đẹp trời nghiêng nước ngửa như ai, nhưng khác là đáy lòng độc như rắn của nàng, rất có thể thanh danh còn bị vang tiếng là khác. Tuy đã bị người ta bỏ rơi, mà vẫn nay phải công nhận là người ta có lý.

Nhìn kỹ sắc mặt của Lỗ Yểu Nương, thấy càng tái mét hẳn, vài vết thương nơi vai và ngực đều trầm trọng, nay lão bà đều trông vào công lực để duy trì sự sống của mình. Tử thần đã mỗi lúc một gần Lỗ Yểu Nương.

Thượng Quan Linh bất giác lên tiếng hỏi:

- Lỗ lão lão, bây giờ ngài thấy sao?

Lỗ Yểu Nương hiện ra một nụ cười tươi trên khóe miệng rất nhanh và khẽ giọng rằng:

- Cám ơn anh đã hỏi han, ta còn khá lắm, anh cứ yên tâm. Anh đã rộng lượng với ta như thế, ta mừng lắm!...

Thượng Quan Linh tuy không nói gì, nhưng lòng chàng vô cùng mâu thuẫn, trước mặt mình đây, là kẻ đại thù của gia đình mình, thôi, mình không đang tay hạ thêm độc thủ làm gì cho mang tiếng ác, nay phó mặc hết cho định mạng vậy!

Lỗ Yểu Nương lại lên tiếng rằng:

- Đến nay, manh mối của thù oán với song thân của anh, ta đều đã viết rõ trong lá thư, nên lúc này cũng chẳng có phải thuật lại nơi đây làm gì, sau này anh rảnh xem sẽ rõ! Những gì đã lầm lỗi, đều lầm lỗi cả rồi, người chết không thể nào sống lại được... Ta đã ăn năn bao nhiêu vì chuyện ấy, ta cũng không còn nhiều thì giờ để sống nữa... - Nói tới đây, âm giọng của Lỗ Yểu Nương quá nhiên tất cá đã yếu dần hẳn.

Thượng Quan Linh thấy mủi lòng, vội vàng rằng:

- Lỗ lão lão xin đừng nói những chuyện ấy nữa, xin hãy an lòng nghỉ cho khỏe, để tôi đi cho tin Tra Phong lại đây lo cứu cấp...

Lỗ Yểu Nương vội lắc đầu hấp tấp nói:

- Thôi! Anh cũng chẳng nên quýnh lên thế làm gì, số phận của ta chỉ có thế thôi, đừng có miễn cưỡng làm gì nữa. Nay nhân lúc không có ai tại đây, ta còn đủ chút hơi thừa, vậy hãy mau nghe ta thuật lại những bí mật về Tỉ Vương, để anh có thể áp dụng lối biết người biết ta, với tài trí thông minh của anh, để mà đi phó hội mùng mười Tết tới đây tại Bách Linh Miếu.

Với giọng yếu đuối của người sắp chết, Lỗ Yểu Nương bèn sơ lược về cá tính bí mật của Tỉ Vương ma quân, người này quả là một quái nhân bất bình phàm, xuất đạo giang hồ đã lâu năm, đến nay, các phái trên giang hồ đều bị y thao túng, đông nhất là số người trong hai phe Hắc, Bạch đạo, đã ngang nhiên tạo thành một tổ chức hết sức lớn lao, nhưng có điều lạ nhất: xưa nay chưa ai thấy qua mặt thật của người này ra sao. Y có bốn vị sứ giả lừng danh là Tử y sứ giả, Lục y sứ giả, Bạch y sứ giả và Hắc y sứ giả, bốn người đều thay mặt y để hành sự theo cái gọi là lệnh Chúa công, bốn người này đều là những nhân vật nổi danh, công lực tuyệt cao và nhất là một lòng trung thành với Tỉ Vương, chỉ huy đám quần hào, nếu ai không tuân phục, một trong bốn Sứ giả có thể ra tay tiền trảm hậu tấu ngay. Có khi bốn Sứ giả không ra tay giết, nhưng kẻ bị nạn có thể chết một cách bí mật rùng rợn, trường hợp đó các Sứ giả sẽ loan báo: chính đó là do Chúa công thân hành ra tay trừng trị tội nhân. Những cảnh trừng phạt ghê rợn khủng khiếp như thế, khiến không ai lại không ngán sợ! Còn với bốn Sứ giả hung ác lại càng dữ tợn, hễ không ra tay thì thôi, còn một khi đã can thiệp vào chuyện gì, không bao giờ để cho người nào sống sót, nên chi những nhân vật có dính dáng đến Tỉ Vương, không ai là không bị kềm chế thao túng theo lối khủng bố tinh thần đó! Không còn ai dám phán kháng Chúa công ghê gớm Tỉ Vương!

Nghe đến đây, Thượng Quan Linh bỗng sực nhớ đến vụ qua sông băng tuyết ở Hoàng Hà, khét tiếng như Bắc kiếm Phổ Côn mà cũng phái ngán oai lực của Tỉ Vương nên đã phải thốt ra câu nói: Ta còn muốn sống thêm vài ngày. Lỗ Yểu Nương lại kể tiếp, theo như lão bà được biết, hiện nay đám người đang bị Tỉ Vương thao túng trong tay, ngoài trừ ba thầy trò của Lỗ Yểu Nương ra, có phái Điểm Thương ở Vân Nam, thầy trò Độc Ma Vô ảnh Phong, Kê Vĩ Bang miền Giang Nam, Biện Trang Hổ miền Dực Đông, Thái Hành Lục Khấu. Bắc kiếm Phổ Côn đầu hàng, còn hai vị Đông tăng Túy Đầu Đà và Tây đạo Thiên Si không chịu phục, lúc này đã bị giam cầm, và gần đây nghe đâu tên phiên tăng miền Thiên Trúc là Tả Pháp Thụ và trưởng nữ của Thanh Thông Bang Liễu Văn, cũng đã tham gia vào trận doanh của Tỉ Vương, mà còn giao luôn chiếc cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ cho Tử y sứ giả để chuyển giao lại cho Tỉ Vương, đồng thời Liễu Văn cũng đã viết thơ gửi về Thanh Thông bang chủ Liễu Khải, mời ngay ông già đến mạn Bắc miền quan ngoại để dự thịnh hội Bách Linh Miếu vào ngày mùng mười Tết.

Dụng ý của Tỉ Vương là muốn kết đúc lại đồng minh thật lớn mạnh, giăng lưới để bổ vây khắp các cao thủ trong thiên hạ, tới sẽ so tài cao thấp với Độc chỉ Thôi Bác tại miền Trung Nguyên, cần Tứ đại sứ giả hoặc dùng phi xà huyện lệnh, hoặc thân hành ra quân, hạ lệnh cho mọi người phải đến tập trung tại Bách Linh Miếu, vào đúng ngày mùng mười Tết. Chúa công của mọi người sẽ thân hành ra đứng ra lãnh việc chủ trì để làm lễ khai đàn lập phái cho các cao thủ.

Và hết thảy những nhân mã hảo hán của các đường lục lâm và bị Ti Vương thao túng ấy, trong mấy ngày nay đây họ đã kéo nhau đến địa giới của Mạc Bắc này rồi. Ai nấy cũng biết rằng chỉ riêng phần Tỉ Vương công lực cao tuyệt không thể nào ngờ được, các tay trợ thủ đắc lực như Tứ đại sứ giả, toàn là những nhân vật sóng gió oai hách một thời trong giang hồ võ lâm xưa kia. Trong đó, Tử y sứ giả lại là Tử tu khách Yểu Phi, một nhân vật nổi tiếng miền Hiệp Bắc, vị này là một tiền bối trong làng Bạch đạo công lực cao giỏi, tính tình ngay thẳng và nhân hậu, lừng danh trên giang hồ, đã phong đạo qui ẩn lâu năm, nhưng không hiểu sao nay ông ta lại chịu giúp tên Tỉ Vương thật là một sự kiện quái lạ...

Lam y sứ giả là Lân vương Cổ Thái Huyền, người này vốn là một đại đạo độc cước nổi danh trong làng Hắc đạo giỏi về ngọn ám khí Lân hỏa đơn, có thể nói là không ai địch lại. Lục y sứ giả là âm ty tú tài Trần Thân là một tay bại loại trong giang hồ, tên này vốn là một tên thám hoa dâm tặc. Hai tên Cổ Thái Huyền và Trần Thân này, đều là những kẻ đã chồng chất khá nhiều vụ án, công lực thuộc vào hạng cao thủ tuyệt vời trong làng Hắc đạo, nay đều bị Tỉ Vương thu nạp dưới trướng đã gây vi gây cánh thêm cho mạnh, không gì lạ lắm.

Lạ nhất là với Hắc y sứ giả, từ tướng mạo cho đến binh khí, đều tỏ rõ cá tính của người này xưa kia là người công bình chánh trực, chính thế mà Bắc Ưng Lãnh Lạc lại được người đời ví cho cái danh của Lỗ Trọng Liên, nhưng nay xét ra, có hai điểm khác xa nhau, Bắc Ưng Lãnh Lạc vốn là người thích màu trắng, chuyện này ai ai cũng biết, nhưng nay thình lình lại chuyển biến hẳn sang màu đen, điểm thứ là Bắc Ưng Lãnh Lạc vốn là con người nghĩa hiệp chánh phái, tại sao lại cam chịu đi làm tay sai như thế, đáng nghi ngờ lắm.

Trong Tứ đại sứ giả đối với Cổ Thái Huyền và Trần Thân, không ai lạ gì, vì bản lĩnh sài lang của chúng như thế nhưng đối với Lãnh Lạc và Yểu Phi, mọi người có vẻ nghi ngờ. Trong sự suy đoán của lão bà bịt mặt Lỗ Yểu Nương, vì xưa nay chưa hề thấy Tứ đại sứ giả cùng tập họp nhau và xuất hiện cùng một lúc bao giờ cả, như vậy có thể đoán ràng; Tứ đại sứ giả đây, rất có thể là kẻ hóa thân của Tỉ Vương, vi trên thực tế, tên Tỉ Vương này vốn là kẻ thông minh tuyệt đỉnh, ở thể nói ít ai bì kịp, càng có thể những người như Tử Tu Khách Yểu Phi, Bắc Ưng Lãnh Lạc, Lân Vương Cổ Thái Huyền, Âm Ty tú tài Trần Thân, bốn người này sự thật đã bị Tỉ Vương giết từ lâu hoặc đã giam cầm tại một nơi nào?

Còn chính bản thân của Tỉ Vương lại mượn lốt của Tứ đại sứ giả này xuất hiện tùy theo nhu cầu để thao túng các phái bằng bộ óc hết sức tinh khôn của y. Đến nay, giả thuyết của Lỗ Yểu Nương lập ra và được Thượng Quan Linh đem đối chứng với những sự kiện đã xảy ra, rất có thể đúng với dự tưởng nêu ra lắm, và cũng chứng tỏ kẻ đầu tiên gặp tại bãi sa mạc và chàng giở đá thi sức với Sở Canh đã bày ra ấy, chính là Tỉ Vương đội lốt của Bắc Ưng Lãnh Lạc. Còn ba Sứ giả Lục, Lam, Tử ấy, Cổ Thái Huyền và Trần Thân rất có thể là chính bản thân chúng đang làm Sứ giả nhưng vị Yểu Phi quả đáng nghi ngờ, nếu không phải là Tỉ Vương đội lốt, cũng có thể tay trợ thủ đắc lực nào đang giả dạng.

Giờ đây, tất cả mọi bí mật đã gần như rõ cả, Hắc y sứ giả đã là bạn thân của Tỉ Vương, mà nay y lại đội lốt Thượng Quan Linh, lẽ đương nhiên vị Hắc y sứ giả phải đành gác lại, theo sự suy tính của Lỗ Yểu Nương, đến giờ đây mà vẫn chưa nhận được Phi xà truyền lệnh để ra lệnh cho mọi người đề phòng Hắc y sứ giả phản loạn, như vậy là các tay bộ hạ của Tỉ Vương vẫn chưa hay biết gì về tin Hắc y sứ giả phản loạn. Và chính đây là một cơ hội lớn lao để dồn Tỉ Vương vào con đường đại bại!

Tỉ Vương nay đã đội lốt Thượng Quan Linh và chắc rằng đã đến Bách Linh Miếu, và tất cả các thủ hạ của y chắc cũng đã đến đông đủ, mặc dầu trong bụng họ đều không cam chịu, nhưng lại không dám chống đối ra mặt. Theo dự đoán của Lỗ Yểu Nương, Tỉ Vương nay đã bắt chẹt Bắc kiếm Phổ Côn, giam hãm Thiên Si Tây Đạo và Đông tăng Túy Đầu Đà, và lẽ đương nhiên không thể buông tha Nam bút Gia Cát Dật, thế nào cũng tìm đủ mọi kế để hàng phục vị nho sĩ này. Nam Bút ương ngạnh sẽ chung số phận với hai sư huynh luôn, nghĩa là sẽ bị giam bí mật vào một nơi mà không ai hay biết. Còn phần Liễu Mi và Sở Canh, Tỉ Vương hiện đang cần kéo vây cánh Thanh Thông Bang, may ra không gì đáng ngại cho hai người này. Nay nhân cơ hội chúng đang huy động toàn lực tập trung chú ý về cuộc thịnh hội lập ra tại Bách Linh Miếu, Thượng Quan Linh hãy đội lốt Hắc y sứ giả đến xuất hiện ngay đó, tin chắc thế nào cũng khiến cho Tỉ Vương kinh người ngạc nhiên!

Và đám người ở Bách Linh Miếu ngoài trừ một số ít là tử đảng của Tỉ Vương ra, còn phần đông điều bị áp bức bó buộc cả! Chuyến đi này của Thượng Quan Linh, trách nhiệm vô cùng gian nan, phải lo cứu Nam Bút, Tây Đạo, Đông Tăng, Liễu Mi, Sở Canh, càng nên giải thích những gông ách của Tỉ Vương đang trùm lên đầu cổ các nhân vật sa cơ thất thế của các tay giang hồ hảo hán, khiến cho mọi người khôi phục lại tự do, cải hối lầm lỗi của mình để hướng thiện. Đồng thời cũng nhân ngay dịp ấy truy diệt Tỉ Vương và bè đảng tai ác của chúng, phá tan luôn âm mưu khai đàn lập giáo của Tỉ Vương ma quân. Thượng Quan Linh nghĩ đến chuyến đi này, không phải không hy vọng thành công, nhưng vì cô thân độc mã, không một tay giúp sức, phần thành công có vẻ mỏng manh lắm. Lão bà bịt mặt Lỗ Yểu Nương tuy đã hết lòng ăn năn với lỗi lầm của mình nay muốn trợ giúp Thượng Quan Linh thành công nhưng với tình trạng trước mắt đây Lỗ Yểu Nương cũng chỉ đề cập rõ đến những sự kiện mà mình biết, và dự đoán cho chàng, đồng thời hết lòng khuyến khích ý chí cho Thượng Quan Linh, còn về công việc kế hoạch tiến hành ra sao, Lỗ Yểu Nương cũng vô phương, tất cả đều chờ đợi theo thiên ý an bài vậy...

Dần dà, tiếng nói của Lỗ Yểu Nương càng lúc càng nhẹ:

- Thượng Quan Linh... anh mau... anh mau đi đi... đừng...lo... cho... tôi... nguyện... anh... thân hành... diệt được tên ma quân... Tỉ Vương... và hãy... cầu xin hộ song thân của anh... hãy tha thứ... tội lỗi cho tôi.

Dứt lời, Lỗ Yểu Nương ngã ngửa người ra, hơi thở đã dồn dập, Thượng Quan Linh quýnh rối lên! Chàng đã hết ý thù địch với kẻ hấp hối trước mắt, vội ngồi sát ngay xuống khẽ tiếng:

- Thưa tiền bối, ngài hãy ráng nghỉ ngơi, chớ nghĩ đến những chuyện đau lòng trong lúc này làm gì, ngài yên trí, thế nào cũng sẽ hợp sức với vãn bối này để lo tiêu diệt tên Tỉ Vương...

Lỗ Yểu Nương đã không nói rõ, chỉ thấy hai môi mấp máy, Thượng Quan Linh vội ghé sát tai gần mới nghe rõ:

- Thôi... Hết rồi... tất cả... đã hết... tôi... rất... sung sướng... anh nên đi ngay... chúc... anh... thành công...

Chỉ thấy vị nữ ma đầu có lòng hướng thiện này, đôi mắt từ từ nhắm lại với vẻ vô cùng thoải mái, nét tươi tỉnh đã hiện rõ trên bộ mặt tuyệt đẹp ấy, càng khiến kẻ nhìn không sao chán được...

Thượng Quan Linh đành thúc thủ vô phương nhìn tử thi. Lúc này đã hết cảnh bình minh, ánh nắng mùa đông đang chiếu tỏa trên bộ mặt của Lỗ Yểu Nương, hiện tất cả những khía cạnh của một trang tuyệt thế tư dung. Vị Lỗ Yểu Nương quả không hổ danh nữ trung quái kiệt, với sáu mươi tuổi đời như thế, mà vẫn giữ nổi sắc đẹp như thế, và suốt bốn mươi năm trời nay không hề được thấy, nhưng trong lúc hấp hối bước sang thế giới u linh này, lại ngẫu nhiên được vị thiếu niên anh tuấn chiêm ngưỡng vẻ đẹp cuối cùng của cuộc đời!

Thượng Quan Linh lúc này chỉ cảm thấy tiếc rẻ cho trang tuyệt sắc giai nhân, cuộc đời của bà ta đã liên can đến cha mẹ mình, khiến nỗi yêu mà xảy ra bi kịch vụ án giết hết toàn gia của mình.

Kẻ thù đã chết, mối ân oán của các bậc thượng bối nay đã được Lỗ Yểu Nương ghi rõ trong phong thư khá dày, Thượng Quan Linh bất giác từ trong mình lấy bức thư dày cộm ấy ra xem!

Trước cảnh hoang vu của bãi sa mạc, Thượng Quan Linh đã mê mẩn ngây ngất theo dõi câu chuyện ân oán của các bậc thượng bối, trong đó có song thân của chàng, vì quá mải miết. Thượng Quan Linh không còn chú ý đến các sự kiện đang xảy ra xung quanh mình.

Khí hậu tháng giêng, bãi sa mạc càng hanh lạnh hơn bao giờ, gió đùa từng cơn, khiến cho mớ tóc trắng của Lỗ yểu Nương bay phất phơ như các làn khói tỏa, cảnh sắc thật não nùng thê lương!

Thượng Quan Linh không hề chú ý những cảnh trạng mủi lòng ấy! Tâm tư chàng đã bị những chữ đen trên giấy trắng thu hút hẳn, thậm chí đã có người xuất hiện bên cạnh, mà chàng vẫn chưa hay biết, một đôi mắt tròn xoe của người tráng niên đang xuất hiện trên bãi cát. Khi người tráng niên nhận rõ người đang ngồi chăm chú xem thư ấy, chiếc mặt nạ da người đã rớt trên mặt cát và người này lại có bộ mặt tươi trẻ anh tuấn phong nhã của một thiếu niên, không phải là bộ mặt của Hắc y sứ giả Bắc Ưng Lãnh Lạc, người tráng niên từ từ lẩm bẩm một mình:

- Hừ! Thằng nhãi chết toi. Thì ra là ngươi! Thế mà đã dọa cho Tra Phong này bay hồn bay vía suýt chết mấy lần!... Nhưng quái lạ! Sao đã trúng Phủ Chưởng Hàn của thầy ta mà còn không chết, trái lại công lực còn tiến triển kinh khủng như thế... Lạ thật! Lạ thật!

Thình lình, Tra Phong giật bắn người như bị ai đâm trúng mình vậy, toàn thân hắn run lên như gà sắp toi!

Chương 72: Thanh y hiện thân

Thì ra Tra Phong đã nhìn thấy thi thể của thầy mình Lỗ Yểu Nương, đang nằm trên mặt cát, mớ tóc trắng tung bay tua tủa từng hồi theo làn gió, khăn che mặt rớt một phía, cây thủ trượng cũng nằm một nơi... Tra Phong và cùng với người em đã chết là Tra Lôi, tuy biết thầy mình xưa kia từng dùng thuật thám bổ trú nhan (tìm chất bổ để giữ dung nhan), nên khiến cho vẻ mặt không bao giờ bị già nua đi được, nhưng hai anh em họ Tra lại chưa bao giờ được thấy mặt thật của thầy lần nào! Mãi nay, thầy đã chết, Tra Phong mới hân hạnh được thấy dung mạo lộng lẫy của sư tôn, không ngờ lại có vẻ đẹp nghiêng trời ngửa nước ấy. Lập tức, hai hàng lệ tuôn như mưa, miệng lảm nhảm than vãn kể lể:

- Ôi thầy ơi!... Hơn bốn mươi năm trời nay, ai đâu dám to gan mà tước đoạt chiếc khăn che mặt thiêng liêng của thầy để xem dung nhan đâu, thế mà nay thằng oách con này đã giết thầy mà còn ngang nhiên xem trộm dung nhan của thầy, nó đã phạm luật đại kỵ của thầy trò chúng ta, Tra Phong này còn sống ngày nào, quyết không đời nào dung tha tội cho nó được... Ân sư ơi! Ân sư!... Tất cả đều bị thằng tiểu quỉ này, nếu không vì chuyện giết hết toàn gia nhà nó, thầy trò chúng mình đâu đến nỗi bị Tỉ Vương thao túng để mất hết tự do, mà sau khi thảm họa xảy ra, ngài đã lập lòng từ bi hối hận về hành động của mình, nhất là sau dùng Phủ Chưởng Hàn đánh thằng nhãi này, từ đó tâm tư ngài càng đâm ra bất an. Nào ngờ hôm nay, ngài đã phải thiệt mạng vào chính tay của con cá độc đã thoát lưới này, không bị chết về nội thương đau đớn, mà còn bị nó ngang nhiên tước khăn che mặt làm nhục như thế... ôi!... ân sư ơi! ân sư! Nếu anh linh của ngài còn lảng vảng đâu đây, xin hãy mau mau về phù hộ cho đệ tử, nhân lúc thằng nhãi đang mê mẩn xem thư của ngài, để đệ tử ra tay giết ngay nó hòng trả mối thâm thù đại hận cho ngài...

Tra Phong lúc này mặt lộ hung quang, lập tức rút ngay ngọn dao găm hình lá mía bên người nhẹ chân bước ngay lại phía sau lưng Thượng Quan Linh, thình lình hắn vung hết bình sinh của mình thẳng tay đâm phập ngay xuống...

Nào hay chỗ bị đâm ấy lại mềm nhũn như bông gòn, Thượng Quan Linh không hề bị thương tích gì, Tra Phong chỉ còn nước kinh hoảng kêu thầm trong bụng: Ối trời đất quỉ thần ơi! Ngã đùng ngay ra mặt đất, lăn nhanh ngay lại bên cạnh xác thầy để nhắm mắt chờ chết!...

Quái lạ! Thượng Quan Linh hình như không hề cảm thấy có gì xảy ra, với cái đâm thình lình của Tra Phong như thế, hình như không kinh động đến chàng ta chút nào cả, thậm chí Tra Phong nằm kế sát ngay đó hồi hộp thở mà Thượng Quan Linh vẫn không hay biết.

Chỉ thấy chàng ta đang chăm chú xem thư, sắc thái trên mặt luôn luôn thay đổi, có hồi vui vẻ, lúc lại bi ai, khi thì nắm tay đấm thật chắc nịch, khi lại thở dài não nề, lúc lại nước mắt tuôn sa dầm dề...

Tra Phong ngạc nhiên lạ lùng, nghĩ thầm: Sao chuyện lạ... thế kìa, không lý đây là một kế hoạch thành công của ân sư trước khi chết đã để lại? Nên phong thư này đã có oai lực khiến cho thằng nhãi này bị điên rồ mất trí khôn, nên mới khóc cười thất thường như thế....

Nay đã đâm hắn không chết, Tra Phong đành mạnh dạn đứng ngay dậy, nhẹ nhàng lượm ngay chiếc khăn che lại dung nhan cho thầy, nhặt luôn cây trượng, rồi cõng ngay xác thầy lên lưng. Tất những hành động như vậy mà Thượng Quan Linh vẫn không hay, Tra Phong dùng ngay cây trượng viết ngay chữ trên mặt cát, xong xuôi cười nhạt vài tiếng, ung dung bỏ đi!

Không biết là bao lâu, nhưng lúc này Thượng Quan Linh đã coi xong bức thơ dài, trong lòng xúc động vô cùng! Lên tiếng gọi inh lên:

- Tiền bối! Tiền bối!

Nhưng chỉ thấy toàn cảnh cát hoang vu, thi hài lão bà bịt mặt Lỗ Yểu Nương không biết đã biến đâu mất.

Sau khi hiểu rõ các ẩn khúc trong thư, Thượng Quan Linh nhận thấy đáng tha thứ cho Lỗ Yểu Nương lắm, và càng không thể nào để người ta chết về tay mình được, nhưng quái lạ, vừa rồi rõ ràng còn nằm đây, chớp mắt đã không thấy!? Thượng Quan Linh đứng dậy để quan sát, trên bãi cát, có chữ nguệch ngoạc để lại.

Sát hạ ân sư, tước khăn che mặt, trộm nhìn dung nhan, mối đại thù này thế nào cũng báo, mong ngươi hãy chờ đợi... Tra Phong lưu tự...

Thượng Quan Linh khóc sướt mướt, không phải chàng sợ Tra Phong sau này trả thù, mà vì Lỗ Yểu Nương đã chết, chàng ăn năn bi thảm về hành động lỗ mãng của mình. Chàng tự lẩm bẩm: Thượng Quan Linh ơi! Thượng Quan Linh! Hãy mau mau trấn tĩnh lại tinh thần đi dự cho kịp cuộc hội Bách Linh Miếu, nếu không, e sẽ phụ lòng người đã khuất mà còn thẹn lòng với người còn đang sống...

Nghĩ xong, vội hấp tấp nhặt ngay chiếc mặt nạ của Bắc Ưng Lãnh Lạc đeo ngay, dắt cẩn thận lại ngọn ưng trảo liêm, bước nhanh về lều, đã có người vội lo ngay ngựa, chuẩn bị sẵn lương khô và nước uống. Thượng Quan Linh nhảy lên yên ngựa đi ngay, đám người không dám thở mạnh, vì họ biết Hắc y sứ giả sau khi nổi giận, ba thầy trò của lão bà bịt mặt, một người bị giết, hai người mất tích, đâu có ai dám ho he ngo ngoe gì để rước họa vào thân.

Trong lúc ấy, suốt dọc đường đưa tới Bách Linh Miếu, vị Hắc y sứ giả giả hiệu này đã được các thủ hạ tiếp đón cung kính và thận trọng, từ chỗ ăn chỗ ở cho đến việc đổi tuấn mã, đều chu đáo hết chỗ chê? Lẽ đương nhiên Thượng Quan Linh càng phải tận dùng oai quyền hống hách của Hắc y sứ giả để cho mọi người khỏi ngờ vực, nên suốt dọc đường đều thuận tiện, và nhờ sự đổi ngựa liên miên, thời gian và lộ trình càng được rút ngắn một cách mau chóng!

Ngày mùng bảy Tết, Thượng Quan Linh đã đặt gót đến đại thành của miền Mạc Bắc là Bách Linh Miếu. Chuyến này chàng bắt đầu tinh quái hơn, sợ mình xuất hiện với vai Hắc y sứ giả lúc này chưa tiện, có khi còn gây thêm khó khăn là khác, trước khi vào thành, chàng đã mua ngay một áo da mặc ngoài, lại dùng khăn đen choàng lên đầu, đóng bộ thành một người dân bản xứ, một chiếc khăn đen ngay sống mũi trở xuống, rồi ngang nhiên tiến bước vào thành.

Chỉ thấy thành của miền Mạc Bắc đây, lúc này náo nhiệt vô cùng, phố xá nhộn nhịp, người chen vai nhau đi, có đủ loại người, Hán, Mông, Tạng, Hồi, thậm chí có cả người mũi lõ Tây phương. Thượng Quan Linh rất cẩn thận về hành động của mình, thình lình thấy khách đi đường bỗng chen nhau rối loạn về hai bên đường. Quay đầu nhìn lại, chàng mừng thầm trong bụng, chỉ thấy bốn tên đại hán đang khiêng một chiếc kiệu lớn đi như bay lại, phía sau và phía trước của kiệu lớn ấy, có cả thảy sáu thiếu niên cưỡi ngựa đi kèm. Nhìn người ngồi trên kiệu, ăn mặc theo lối văn nhân, tuổi ước ngũ tuần, để râu đen, nước da ngăm ngăm, ánh mắt oai nghiêm, nhưng lại đượm vẻ rầu buồn không vui. Thượng Quan Linh từng nghe Liễu Mi kể, trong cuộc hội tại Nhữ Nam trước kia, từng có nhân vật này tham gia, và người này chính phái Điểm Thương ở Vân Nam, tức Hận thư sinh Hoàng Kha đây! Đang lúc Thượng Quan Linh không biết đi đâu để tìm tung tích của họ, nay bỗng gặp Hoàng Kha tại đây, và người này lại có quan hệ với Tỉ Vương, vậy đúng là một nhân vật hướng dẫn chỉ đường cho mình.

Nghĩ vậy, Thượng Quan Linh đành rảo bước theo bén gót đoàn kiệu của Hoàng Kha, chả mấy chốc, một ngôi miếu tự nguy nga đã sừng sững trước mắt. Chỉ thấy người chưởng môn của Điểm Thương Phái Hận thư sinh Hoàng Kha vội hấp tấp xuống ngay kiệu vào trong; từ đằng xa có thể thấy rõ cửa miếu nguy nga đồ sộ, có người canh giữ, Thượng Quan Linh không dám đi thẳng bằng cửa trước, chàng bèn quay ngay sang phía sau miếu, phi thân vọt ngay bức tường cao, lẻn vào trong. Chỉ thấy miếu tự đây trang trí huy hoàng tráng lệ, kẻ tăng người tục tấp nập, những ai nấy đều im lặng di động, sự ăn mặc của Thượng Quan Linh lúc này, không khác nào những kẻ tục gia đang đi ấy.

Chàng bạo gan chen bừa ngay vào đám đông, vì chàng muốn tìm Hận Thư Sinh, nhưng người này đã biến đâu mất. Chàng đi một cách vô mục đích để tìm; cũng vô tình chàng bước lại một ngôi lầu, nghe tiếng thì thầm từ dưới lầu vọng ra. Chàng lắng tai, bất giác mừng thầm trong lòng, thì ra cả đám bại loại gian manh giang hồ đã có mặt tề tựu tại đây hết. Chàng vội nấp vào một nơi tối, chăm chú nhìn xuống dưới đại sảnh, thấy một đám người đang ngồi quay quần chung một bàn ăn uống vui vẻ với nhau!

Trong số người ấy nổi bật nhất là thân hình hộ pháp, và với bộ mặt ngựa đen thui như cột nhà cháy của Tả Pháp Thụ, bên cạnh là một hồng y mỹ nữ Liễu Văn, chị sinh đôi với Liễu Mi. Một phía khác sư bá Bắc kiếm Phổ Côn ngồi một mình phía sau có người già đứng hầu, Thượng Quan Linh nhận ra đó là Tư Đồ Cống. Còn Hoàng Kha thì ngồi rầu rĩ, chính là bản tính đặc biệt của y nên mới có biệt danh Hận Thư Sinh, đối chọi với Hận Thư Sinh là Độc Ma - chủ nhân của Phi Các ma cung trên Vô Ảnh Phong, chỉ thấy toàn thân Độc Ma mặc cẩm bào hào nhoáng mặt che khăn đen, nói năng hoạt bát vui vẻ bên cạnh Độc Ma cũng có một người bịt mặt, Thượng Quan Linh cho rằng rất có thể là Nhị đồ đệ của y - Đinh Hãm. Ngoài ra còn khá nhiều người phần đông đều là các nhân vật bắt mắt, y phục cổ quái, tiếng cười nói kinh dị, theo những lời trò chuyện của đám người kỳ lạ ấy, Thượng Quan Linh cũng biết rõ ngay họ là những nhân vật của: Kê Vĩ Bang, Thái Hành Lục Khấu, Dực Đông Biện Trang Hổ, cha con Lỗ bắc Náo hải thần Chung Thiên Thu.

Đám người này chia thành ra nhiều nhóm, cười nói huyên thiên, chỉ duy có Tả Pháp Thụ, Bắc Kiếm, Hoàn Kha, không mấy nói chuyện với nhau. Hoàng Kha vốn bản tính như vậy, nên mọi người không ai trách làm gì, Bắc Kiếm xưa nay tự cao ít nói, Tả Pháp Thụ là phiên tăng ngoại quốc, ngôn ngữ không tiện, cũng không đáng trách. Nhưng nàng tà dâm Liễu Văn lúc này tha hồ cười tình với bất cứ ai mà nàng cảm thấy hay hay, trong cả một ngôi đại sảnh, tiếng cười tiếng nói vang lên hỗn độn. Bỗng có một gã đàn ông hùng dũng đứng ngay lên dõng dạc nói rằng:

- Cũng thưa chư vị... không biết chư vị có ai thấy qua nhan sắc của Thiên Hậu Nương Nương năm nay chưa?

Sau câu hỏi của Dực Đông Biện Trang Hổ thoát ra khỏi miệng, mọi người phản ứng không giống nhau, có người cho Thiên Hậu Nương Nương xinh đẹp tuyệt sắc, có người lại mến tiếc. Bắc Kiếm ngồi lặng thinh không nói, Hận thư sinh Hoàng Kha thở dài. Chỉ có Tả Pháp Thụ và Liễu Văn, hình như không rõ về nội tình của câu chuyện này, nên họ cũng điềm nhiên không quan tâm lắm, nhưng nàng Liễu Văn muốn biết chuyện, và đã tuyển ngay đến vị Hận thư sinh Hoàng Kha làm đối tượng hỏi chuyện rằng:

- Kìa Hoàng lão gia! Ngài thở dài buồn gì vậy! Vậy chắc ngài đã được thấy cô bé ấy, nên tiếc chứ gì?

Hoàng Kha không nói gì nhưng bên cạnh có người lên tiếng!

- Lão Hoàng xưa nay đều vậy! Thở dài chính là ký hiệu đặc biệt của lão Hoàng, có gì phải lạ?

Lại có tiếng người khác rằng:

- Không đâu, Hoàng huynh quả đã mến tiếc thật đấy! Nếu không nói ra thì thôi, còn đem khai rõ lai lịch của cô bé ấy! E thế nào trong đám chúng mình đây có người phải đau khổ là khác!

Người này nói xong quay nhìn ngay vào mặt Liễu Văn...

Liễu Văn cảm thấy người nói câu này có dụng ý! Đôi mắt phụng ngước hẳn lên như muốn truy hỏi thêm, người kia cảm thấy mình đã lỡ vui miệng, lập tức quay nhanh sang phía khác để làm ngơ. Liễu Văn càng nghi, đoán không ra là lý do gì! Quay nhìn về phía Tả Pháp Thụ, thấy vị phiên tăng này hình như không vừa lòng với thái độ lẳng lơ của mình, sắc mặt hầm hầm vì ghen gió.

Trưởng nữ của Thanh Thông vốn là gái thông minh, làm gì chả hiểu ý ghen của tên phiên tăng, nhưng lúc này nàng cũng tỏ ra biết điều và ngồi yên phận, tạm gác câu chuyện nghi ngờ sang một bên. Kẻ phủ phục trên lầu là Thượng Quan Linh, lúc này chàng đang suy nghĩ đến một nghi vấn, rõ ràng câu nói của người kể về Thiên Hậu Nương Nương ấy muốn ám chỉ có liên hệ với Liễu Văn. Không lẽ tên Tỉ Vương ma quân lại chọn đến Liễu Văn để đảm nhiệm chức Thiên Hậu Nương Nương sao? Thượng Quan Linh cố suy nghĩ để tìm hiểu lời ám chỉ nọ, nhưng sự biến đổi đột ngột đã dập tắt ngay sự suy tư của chàng, vì có tiếng báo lớn lên rằng:

- Lam y sứ giả giá đáo...

Mọi tiếng ồn ào trong đại sảnh bỗng im bặt, sự im lặng có thể nghe rõ cả tiếng kim rớt dưới mặt đất là khác. Thượng Quan Linh cũng phải ngầm khen sức oai phong của Tứ đại sứ giả Hắc, Tử, Lục, Lam. Chính chàng cũng lo cẩn thận đề phòng, e mình thở mạnh mà tránh không khỏi những tai mắt vô cùng bén nhọn của những cao thủ trong đại sảnh! Chỉ thấy cửa sảnh mở, một người Lam y nghiễm nhiên bước vào, mọi người trong sảnh lập tức cung kính thi lễ! Chỉ riêng có tên phiên tăng Tả Pháp Thụ là kẻ không hề khom lưng, chỉ thấy đầu của phiên tăng khẽ gật. Thân hình của Tả Pháp Thụ và Bắc Kiếm đều suýt soát đồ sộ gần bằng nhau, đều thuộc vào hạng thân hình Hạc lập kê quần (thân chim hạc lọt vào đàn gà) nhưng tác phong của hai người lại đối chọi nhau hẳn, Bắc Kiếm thì cúi mình gần sát mặt đất, còn Tả Pháp Thụ chỉ khẽ gật đầu, sự trái ngược kịch liệt ấy đã gây sự kinh ngạc vô ngần cho mọi người. Thượng Quan Linh chăm chú quan sát vị Lam y sứ giả, trong quả oai nghiêm thật. Trong toàn sảnh đều là các tay ma đầu lừng danh lẫm liệt nay hết thảy đều tỏ vẻ vô cùng cung kính với Lam y sứ giả, nhưng sứ giả ngạo mạn khẽ gật gù, kể như đã đáp lễ mọi người!

Chỉ thấy người này khoác một áo choàng màu xanh, trùm hết toàn thân, thân hình cỡ trung bình, sắc mặt âm u lạnh lùng, tuổi ước ngoại ngũ tuần, quắc thước vô ngần, lúc này vừa đáp lễ vừa khách sáo rằng:

- Chư vị cứ việc tự tiện! Tự tiện!

Dứt lời đưa tay cởi ngay áo choàng, đã có người đến tiếp nhận mang đi treo. Lúc này Lam y sứ giả lại xuất hiện với bộ võ phục gọn gàng và cũng màu xanh, hai bên hông đeo hai hồ lô màu xanh, có lẽ đó là hai quả Lân hỏa đơn khét tiếng của y. Lúc này mọi người trong sảnh, để tỏ lòng tôn kính với Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền này, mọi người chưa ai dám ngồi xuống, trước khi Lam y sứ giả còn chưa an tọa, chỉ riêng độc mình Tả Pháp Thụ chẳng cần để ý về lễ phép, lại nữa Cổ Thái Huyền cũng đã nói là tự tiện, thế là vị phiên tăng chẳng nề gì ngồi bịch ngay xuống trước tiên!

Lân vương Cổ Thái Huyền mắt trợn trừng, lạnh lùng cười nhạt và bước về phía Tả Pháp Thụ. Liễu Văn biết sẽ có chuyện lôi thôi, nàng vội đứng ra dung hòa cho tình hình bớt căng thẳng đôi bên bằng cách tươi cười giới thiệu cho cả hai bên:

- Trời ơi! Chắc có lẽ hai vị còn chưa quen biết nhau, nào! Nào! Nào!... để tiểu muội đứng ra giới thiệu cho!

Lam y sứ giả ngừng ngay bước, Tả Pháp Thụ vẫn ngay người ngồi đực ra, Liễu Văn vội kéo ngay tên cột nhà cháy dậy rồi nói:

- Đây là một trong Tứ sứ giả của Chúa công, tức Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyễn... còn vị này là Thiên Trúc can tăng Tá Pháp Thụ tôn giả, mới đến Trung Nguyên chưa bao lâu, nên tất cả các tập quán đều chưa quen...

Tiếng oanh thỏ thẻ êm tai, thế là một cuộc diện sắp nổ bùng bị dập tắt ngay, Liễu Văn tuy đã khéo dàn xếp, nhưng vị Lam y sứ giả, cũng chẳng biết y có ỷ vào công lực của bản thân, hay lại mượn oai phong của Tỉ Vương mà ngang nhiên kiêu hãnh lạ lùng!

Lúc này, Lam y sứ giả hình như không coi Tả Pháp Thụ vào đâu, chỉ lạnh lùng rằng:

- Hân hạnh. - Thình lình ôm quyền vái dài sang Tả Pháp Thụ.

Phiên tăng không hề hay biết gì về ý nghĩa cái vái ấy, nhưng mọi người đứng cạnh đã thất kinh, Liễu Văn không dám ra tay giúp, đang tính nhắc tỉnh cho tình nhân, nhưng mọi sự đã trễ.

Một ngọn kình phong ngấm ngầm bắn ra, thân hình đồ sộ của Tả Pháp Thụ không sao đứng vững nổi, chỉ thấy vị phiên tăng bị bật lùi liên miên ra phía sau... may được Độc Ma lấy ngay một chiếc ghế đỡ ngay về phía lùi của Tả Pháp Thụ.

Bản ý của Độc Ma, vốn có lòng tốt giúp người trong lúc sa cơ, nên mới hấp tấp đẩy ghế ra, chỉ cốt sao nạn nhân khéo léo xoay sở thu bớt tốc lực lại ngồi xuống, như thế đã giữ ngay được thể diện, nhưng nào ngờ thân hình của vị phiên tăng này quá nặng cân, sau khi khối thịt nặng nề ngồi vào chiếc ghế, chỉ nghe rắc một tiếng, chiếc ghế gỗ kiên cố ấy lập tức bị gãy tan tành.

Lân vương Cổ Thái Huyền, đưa mắt nhìn tả hữu quát ngay:

- Quí khách giá đến, tại sao dám dùng loại ghế yếu hư như thế, còn không mau mau dọn ngay ghế sắt ra đây?

Sau một tiếng dạ chát tai vang lên, chớp mắt mọi người đã thấy bảy tám mạng đại trán ì ạch khiêng ngay ra một chiếc ghế sắt!

Nhưng lạ nhất là chiếc ghế này lại bốc khói nóng, hình như đã bị nung nóng sẵn, kẻ ngồi vào, thế nào chả bị tóe khói...

Đừng nói mọi người trong đại sảnh kinh ngạc, đến như chàng Thượng Quan Linh đang phủ phục trên lầu nhìn xuống ấy, cũng không làm sao đoán rõ nổi dụng ý của Lân vương Cổ Thái Huyền. Chàng đâu hiểu rằng đây là một thủ đoạn khủng bố tinh thần cao độ và cách dùng áp lực của Tỉ Vương, nhất là đối với những người mới nhập bọn, càng được các Sứ giả biểu diễn những cảnh rùng rợn để thu phục đám ma đầu, khiến cho họ không dám nghĩ tới chữ phản!

Lúc này Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền, cố biểu lộ một ngọn công lực tuyệt kỹ để chấn át tinh thần mọi người. Chỉ thấy Lam y sứ giả bước lại bên ghế sắt, đưa tay chụp và cử ngay lên và đưa ngay về phía Tả Pháp Thụ, với vẻ cung kính nói rằng:

- Xin mời quí khách ngồi!
Cuộc biểu diễn tuyệt kỹ này, không chỉ các ma đầu trong đại sảnh lúc này phải lắc đầu le lười mà cả đến Thượng Quan Linh cũng đăm ra băn khoăn khó nghĩ, không biết đôi tay của Lân Vương là thứ loại gì mà ngang nhiên dám cầm vào chiếc ghế sắt nóng bốc khói như vậy.

Từ ngày xuất đạo giang hồ đến nay, Thượng Quan Linh đã thâu được khá nhiều kinh nghiệm, nhưng xưa nay chưa thấy và cũng chưa nghe ai nói đến một ngoại công như thế, với bàn tay thịt đi bốc sắt nóng bỏng như thế. Nếu Thượng Quan Linh có thể nghĩ về biệt hiệu Lân Vương của Cổ Thái Huyền, may ra cũng có thể đoán được vị hỏa khí chuyên gia chơi lửa nổi tiếng này một phần manh mối nào!

Lúc này bao nhiêu con mắt trong sảnh đều dồn hết vào vị phiên tăng, khiến cho vị ác tăng này lúng túng vừa tức giận vừa luống cuống, sắc mặt đã xấu nay càng xấu thêm. Thượng Quan Linh tức cười thầm xem Tả Pháp Thụ sẽ ứng phó ra làm sao.

Trong lúc mọi người chờ đợi và Tả Pháp Thụ rối quýnh lo tìm cách đối phó, thình lình trong sảnh lại thay đổi không khí! Liễu Văn đứng ngay dậy cười lẳng lơ từ trên bàn cầm ngay hai ấm bằng sắt, tươi tỉnh rằng:

- Trời ơi! Trà đều nguội lạnh hết rồi? Nay sẵn lò đây để tiểu muội lo hâm lại cho nóng...

Thuận tay nàng đặt ngay hai ấm trà lên chiếc ghế sắt đang bốc khói, và quay về lấy chiếc ghế của mình đẩy cho Tả Pháp Thụ. Thì ra chiếc ghế sắt ấy, quả nhiên bên trong trống bọng, và được đốt than, nên đặt hai ấm sắt không bao lâu, trà đã bắt đầu sôi lục bục!

Liễu Văn lăng xăng rót trà ân cần mời tất cả ma đầu trong sảnh, người được mời trước là Lân vương Cổ Thái Huyền. Trong chớp mắt, cuộc căng thẳng được Liễu Văn khéo léo dàn xếp ổn thỏa.

Không khí vui vẻ lại bắt đầu, bỗng Dực Đông Biện Trang Hổ đứng ngay dậy cất tiếng hỏi:

- Kính thưa sứ giả, nghe đâu cuộc Mạc Bắc thịnh hội này, hình như Chúa công chúng ta có ý khai đàn lập giáo, vậy không biết chuyện này có thật?

Câu hỏi này khiến cho các ma đầu im lặng hẳn, ai nấy lo tập trung tia nhìn về phía Lân vương Cổ Thái Huyền, bên trên lầu, Thượng Quan Linh càng lắng tai hơn ai hết. Nhưng Lân vương Cổ Thái Huyền không phủ nhận, cũng không chịu nói rõ, mà chỉ khẽ gật gù.

Mọi người cảm thấy thất vọng, trong đám người bỗng lại có tiếng lanh lảnh rằng:

- Dám hỏi sứ giả? Nếu đã là khai đàn lập giáo, thế nào Chúa công lại chẳng thân hành đến chủ trì cho cuộc lễ thêm long trọng, vậy chắc chúng mình đây sẽ được chiêm ngưỡng chân diện mục của Chúa công cũng nên?

May mà câu nói này do thiếu nữ tuyệt sắc long y Liễu Văn hỏi, vì chỉ có nàng mới dám hỏi đến như thế.

Lân Vương lại thấy cô nàng dễ mến, nên cũng không nổi giận. Chỉ nghe Lam y sứ giả nói:

- Lẽ đương nhiên là Chúa công sẽ thân hành lại chủ trì cho cuộc đại lễ, nhưng xưa nay, những kẻ được thấy mặt Chúa công chỉ riêng có Tứ đại sứ giả của chúng ta mà thôi, và nay Chúa công cũng không phá lệ thường đó! Nếu chư vị nhất định muốn được xem mặt Chúa công chỉ sợ không được. Vì Chúa công luôn thay hình đổi dạng, không bao giờ hiện mặt thật để gặp ai, kể cả Tứ đại sứ giả chúng ta cũng thế, nhưng được cái vinh hạnh Chúa công cho biết trước mà thôi. Còn đối với chư vị, e đến ngày mùng mười sắp tới dây, chắc vẫn không làm sao có thể biết được ai là Chúa công? Bởi vì Chúa công có đứng sát ngay cạnh chư vị, chư vị cũng không thể nào nhận ra nổi...! Hà! Hà! Hà...

Chủ nhân Phi Các ma cung Độc Ma bỗng hỏi:

- Không lý Chúa công không đứng ra làm chủ tọa cuộc thỉnh hội?

Lân vương Cổ Thái Huyền lắc đầu, mọi người xôn xao bàn tán, cho rằng thế nào cũng do một trong Tứ đại sứ giả đứng ra thay mặt. Nhưng là ai? Tử y sứ giả Yểu Phi, Hắc y sứ giả Lãnh Lạc, hai vị này có uy thế hơn Lục y sứ giả Trần Thân và Lam y sứ giả Cổ Thái Huyền nhiều. Nhưng Lân vương Cổ Thái Huyền đã cho mọi người hay đừng mất công đoán mò làm gì, người chủ trì đại lễ này là người ngoài Tứ đại sứ giả, tức là có riêng một người khác...

Sau khi nghe câu nói này, ai nấy thất kinh, đến kẻ đang nghe trộm như Thượng Quan Linh cũng đâm ra ngơ ngác khó hiểu, cuộc thịnh hội Mạc Bắc này, tất cả bộ hạ của Tỉ Vương lo tập trung để khai đàn lập giáo, nay kẻ chủ trì thịnh hội lại không phải bản thân của Tỉ Vương, càng không phải Tứ đại sứ giả? Mà lại là một người lạ khác. Như vậy quả là một việc quái lạ? Bao nhiêu đôi mắt đều đổ dồn về hết Cổ Thái Huyền, kể cả tia nhìn của Thượng Quan Linh, ai nấy cùng chờ đợi câu giải thích.

Lân vương Cổ Thái Huyền rằng:

- Gần đây, ngoài Tứ đại sứ giả Hắc, Tử, Lục, Lam ra Chúa công đã tìm thêm được một vị và lập ngay làm Thanh y sứ giả, và vị Thanh y sứ giả sẽ là thủ lãnh của Ngũ đại sứ giả và kỳ Bách Linh Miếu đại hội này, chúng ta khai đàn lập giáo, chính do vị Thanh y sứ giả ấy đại biểu Chúa công đến chủ trì cuộc lễ...

Mọi người lại xôn xao, không biết lại vị cao thủ nào nổi danh trên giang hồ, mà được Tỉ Vương trọng vọng đến vậy.

Thanh y sứ giả là nhân vật gì? Không ai biết, đã có người sốt ruột về chuyện này, và công khai hỏi Cổ Thái Huyền rằng:

- Dám hỏi Sứ giả, vậy Thanh y sứ giả này là người trong làng Bạch Đạo hay Hắc Đạo?

Cổ Thái Huyền nói:

- Người trong làng Bạch Đạo!

Mọi người suy đoán ngay về những nhân vật thứ yếu trong làng Bạch đạo, thậm chí đoán luôn cả đến Giang nam Ngọc điệp Châu Phụng.

Con của Lỗ Bắc Náo Hải lúc này cất tiếng hỏi:

- Thôi, tôi đoán ra rồi, tôi biết Thanh y sứ giả là ai rồi?

Mọi người quay nhìn hết về phía thiếu niên, chỉ nghe thiếu niên rằng:

- Thưa chư vị Thúc, Bá, chúng ta thử nghĩ xem, trong làng Bạch đạo thử hỏi ai có bản lãnh thắng được chư vị thúc bá Tứ đại sứ giả? Theo ý của tiểu điệt nghĩ, chỉ có người ấy... người đã ẩn cư trên Mặc Phụ Sơn, sống vất vưởng với những đóa hoa đỏ, nhưng công lực của người này thì quả là không ai bì kịp được, trong làng Bạch đạo được suy làm thủ lãnh...

Trong sảnh lúc này có người kinh rú lên:- Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác!

Lúc này con của Chung Thiên Thu là Chung Lệnh Gia suy đoán về tham vọng của Độc chỉ Thôi Bác, không những công lực có thể hơn tứ đại sứ giả mà còn có thể so ngang hàng với Tỉ Vương là khác, nhưng sự việc có thể như thế được không? Nếu Độc chỉ Thôi Bác cũng đã thần phục Tỉ Vương để làm chức Thanh y sứ giả, vậy trong đương đại võ lâm, Tỉ Vương đã thành người vô đối thủ! Và công nhiên trở thành minh chủ trên giang hồ, vậy thì cần gì phái khai đàn lập giáo cho lôi thôi? Đương nhiên sự suy đoán của Chung Lệnh Gia không thể nào đứng vững được.

Lam y sứ giả Cổ Thái Huyền lạnh lùng lên tiếng:

- Chư vị cũng chớ nên suy đoán mò làm gì cho toi công: phải biết Thanh y sứ giả kỳ này thay quyền Chúa công lại đây, địa vị chí tôn, mong chư vị hãy thận trọng lời ăn tiếng nói của mình, phải tuyệt đối phục tùng và tôn kính để khỏi mang họa vào thân!...

Trong sảnh, không khí bắt đầu nặng nề, vì cũng hiểu rằng khi Tỉ Vương nâng đỡ một người nào lên, và để gây uy tín cho kẻ ấy, thường hay có những cuộc tàn sát ghê gớm để khủng bố tinh thần quần ma, nay sự việc đang bắt đầu, nhất là sau khi nghe lời cảnh cáo của Cổ Thái Huyền, ai nấy đều lo cho bản thân mình. Trong sảnh lúc này bỗng trở nên im lặng!

Thình lình, bên ngoài sảnh có tiếng rằng:

- Thanh y sứ giả giá lâm!... Lục y sứ giả...

Mọi người giật mình thất kinh, ai nấy ngóng dài cổ để chiêm ngưỡng xem người đó là ai?

Thượng Quan Linh trong bóng tối cũng giương mắt chăm chú xem Thanh y sứ giả là vị ma nào mà được Tỉ Vương chiếu cố hậu đãi như vậy! Trong sảnh im phăng phắc, Lam y sứ giả mặt hướng ra ngoài cửa, cung kính để nghênh tiếp, mọi người thấy Cổ Thái Huyền làm như vậy! Không ai dám chểnh mảng. Mọi người bắt chước theo khom lưng cúi mình, nhưng mắt lại cố ngước lên để nhìn ra phía cửa, trông bộ tịch đến buồn cười.

Lúc này tên phiên tăng Tả Pháp Thụ cũng phải bắt chước theo động tác của mọi người luôn! Mọi người nghe tiếng chân mỗi lúc một gần thêm...

Thượng Quan Linh lúc này cũng căng thẳng tuyệt độ về tiếng bước ấy, chàng đề phòng... trong bụng nghĩ thầm: công lực người này quả không hổ đệ nhất lưu trên giang hồ. Tiếng chân đến cửa sảnh đường thì ngừng hẳn, thình lình một lồng cầu xanh lè nhoáng vụt ngay vào trong. Mọi người ngửng đầu nhìn, ai nấy vội cúi ngay đầu xuống đồng thanh rằng:

- Kính bái Lục y sứ giả!

Thượng Quan Linh nhìn kỹ, chỉ thấy người này mặc áo choàng màu lục, áo quần, giày, thậm chí đến vỏ kiếm và chuôi kiếm, đều màu lục hết, trông rất chói mắt, mặt trắng như thoa phấn, sắc mặt ngạo mạn vô cùng, tuổi hình như còn trẻ.

Thượng Quan Linh biết người này từng nổi danh quỉ kế và thành công trong làng Hắc đạo với danh âm ty tú tài Trần Thân! Chỉ nội xem y vừa rồi nhoáng thân vào sảnh ấy, cũng hiểu ngay khinh công của y đã thuộc hạng đệ nhất lưu trong giang hồ rồi. Trong cả hai làng Hắc Bạch đạo cũng khó mà tìm được tay đối thủ lanh lẹ tuyệt mức như thế.

Sau khi âm ty tú tài Trần Thân xuất hiện, trông lại càng có vẻ hiển hách hơn Lam y sứ giả Cổ Thái Huyền nhiều, mọi người thăm hỏi kính cẩn, y vẫn ngang nhiên không thèm trả lời và cũng chẳng cần đáp lễ một ai. Chỉ thấy y tay nắm vào chuôi kiếm và dõng dạc hiên ngang nói:

- Thanh y sứ giả nay là vị thay mặt cho Chúa công đã đến ngoài cửa, vậy tất cả những ai có mặt tại đây phải coi sứ giả như Chúa công, và để tỏ lòng cung kính ngưỡng mộ Chúa công, tất cả phải quì xuống để nghênh tiếp Sứ giả cho chu đáo lễ nghi...

Tiếng nói của âm Ty Tú Tài có một oai lực vô biên, khiến cho toàn đám quì mọp ngay xuống!

Lúc này thấy hai vị sứ giả Lục và Lam, bước gần ra phía cửa cúi khom lưng và đồng thời cung kính rằng:

- Kính thỉnh Thanh y sứ giả!

Người thanh y hiên ngang bước vào, khí phách hiu hiu tự đắc. Thượng Quan Linh trên lầu nhìn kỹ, người này mặc toàn thân màu xanh, vì mặt ngửa lên, nên Thượng Quan Linh càng nhìn rõ, khuôn mặt tuấn tú, mắt sáng như sao, đường nét cấu tạo của bộ mặt đều cân dối, nhìn xong, Thượng Quan Linh ngộp hẳn hơi thở, ngầm than thầm: Trời ơi! Thì ra là vậy...

Lúc này Thanh y sứ giả đứng ngay cửa, hai sứ giả Lam và Lục hướng dẫn mọi người tung hô:

- Cung nghinh Thanh y sứ giả và nguyện Sứ giả phúc thọ khang ninh! Chúa công phúc thọ khang ninh!

Thanh y sứ giả giơ tay ra dấu cười rằng:

- Chư vị, xin bình thân!

Mọi người, lúc này mới ngửng đầu và đứng lên chiêm ngưỡng oai dung của Thanh y sứ giả. Ngay trong chớp nháy đó, trong sảnh cũng đã vang lên tiếng ối! ối! kinh ngạc. Tâm tình mọi người lúc này khác lạ hẳn, từ Kê Vĩ bang chủ, Biện Trang Hổ, Thái Hành Lục Khẩu, Điểm Thương Hoàng Kha, cha con Chung Thiên Thu và Chung Lệnh Gia đều không ngờ rằng Thanh y sứ giả lại trẻ măng đến thế, mà cũng không biết thiếu niên này là ai? Còn thầy trò Độc Ma, Bắc kiếm Phổ Côn, trưởng nữ Thanh Thông Liễu Văn, Tá Pháp Thụ, lúc này không những kinh hãi, mà còn không thể nào tin được, sau tiếng ối! ối! của mọi người, bất giác đều khẽ tiếng buột miệng:

- Trời ơi!... là... Thượng Quan Linh!

Đúng thế! Khuôn mặt của Thanh y sứ giả đây chính là bộ mặt anh tuấn bắt mắt của Thượng Quan Linh! Lúc này sự biến đổi huyền ảo của bầu không khí đại sảnh đây ngoại trừ bản thân của Thanh y sứ giả và Thượng Quan Linh thiệt đang nấp trên lầu ra, không còn ai có thể biết nội tình ẩn khúc trong này ra sao, kể luôn cả Cổ Thái Huyền và Trần Thân!

Thanh y sứ giả nghiễm nhiên mỉm cười đứng nhìn mọi người, thần sắc oai phong nhưng nhã mắt, hình như sứ giả cũng biết mọi người không tin, nhưng vẫn đứng uy nghi cho mọi người quan sát tường tận, cho họ dụi mắt thật kỹ để xem và chứng tỏ rõ đây không phải là mộng, mà là sụ thực.

Lục y sứ giả âm ty tú tài Trần Thân đứng cạnh giới thiệu ngay rằng:

- Gần đây Chúa công đã dùng kim phi xà truyền mật lệnh báo rõ cho tất cả Tứ đại sứ giả biết tin về sự tân nhiệm Thanh y sứ giả là Thượng Quan Linh đại hiệp. Và vị Thượng Quan Linh đại hiệp đây vốn là người trong làng bạch đạo, cũng là một vị thiếu niên anh hùng ưu tú của võ lâm, xuất thân danh môn mà lại còn là cao túc đắc ý nhất của Nam bút Gia Cát Dật tiên sinh trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt...

Câu nói này tới đây, tất cả mọi người đều kinh ngạc, ai nấy dồn hết tia nhìn sang phía Bắc kiếm Phổ Côn. Quá là một chuyện đột ngột ly kỳ không ai có thể tin được! Đời thửa nào mà lại có sư điệt nghiễm nhiên chễm chệ làm thủ lãnh của Ngũ đại sứ giả mà trong khi đó vị sư bá già nua phải quì lạy sư điệt mình. Bắc kiếm Phổ Côn đã chịu không nổi quái trạng này, hừ lên một tiếng lạnh lùng toàn thân nhích động như muốn ra tay. Nhưng Bắc kiếm Phổ Côn cũng đâu phải người ngốc gì, tuy không ngửng đầu lên, nhưng cũng đã phát giác Lân vương Cổ Thái Huyền, âm ty tú tài Trần Thân đang chăm chú nhìn mình. Toàn thân Bắc Kiếm khẽ rung một hồi rồi trở lại yên tịnh, cúi đầu không nói năng gì và cũng chẳng buồn nhìn ai. Thượng Quan Linh đang nấp trên lầu nhìn xuống, cảm thấy thương hại cho tình cảm của sư bá mình, vì sống mà đã phải trả không biết bao nhiêu giá, kể cả giá đau khổ và giá nhục nhã!

Lục y sứ giả đã cười lên với mọi người rằng:

- Chắc chư vị đây kinh ngạc về tuổi trẻ của Thượng Quan Linh đại hiệp, nhưng chuyện này đâu có gì lạ, tự cổ có câu Hậu sinh khả úy, anh hùng vốn xuất thân trong đám thiếu niên, Thượng Quan Linh đại hiệp vốn là một điển hình của lớp thiếu niên anh hùng, chắc chư vị cũng cảm thấy không đáng tín niệm người trẻ chứ gì, thôi được, xin mạn phép Thanh y sứ giả bản sứ giả này được giới thiệu thêm!

Thanh y sứ giả mỉm cười như nhận lời âm ty tú tài Trần Thân lại nghiễm nhiên rằng:

- Trần Thân ta đám vỗ ngực nói một câu, trong số chư vị đang có mặt tại đây, tin chắc là không có một ai có thể hòng làm tổn thương đến sợi lông chân của đại hiệp Thượng Quan Linh... đương nhiên chư vị sẽ không tin lời nói của ta, nhưng chư vị nên hiểu cho rằng, Thượng Quan đại hiệp đã may mắn được ăn một cây tiên thảo gọi Tuyết bi tiên hoa... và dưới trần gian này của vòm trời võ lâm, chỉ ngoài hai báu vật ra, không còn có báu vật thứ ba nào có thể hại được Thượng Quan đại hiệp. Mà trong hai báu vật ấy là gì? Xin nói nhanh một là Lãnh điện tỉ thủ hiện nay ở đâu, đương nhiên chư vị rõ, còn một báu vật thứ hai là Tiểu Đoạt Hồn Kỳ nhờ Liễu đại tiểu thư và Tả Pháp Thụ có nhã ý đem hiến tặng cho Chúa công... cho nên, chư vị không lấy làm lạ gì, người mà đã có thể kềm chế vị Thượng Quan đại hiệp, là nhờ trong tay có hai báu vật quí hóa này, người ấy chính là Chúa công của chúng ta... âm ty tú tài Trần Thân nói tới đây Thượng Quan Linh thiệt đang nấp lên trên đầu sảnh đưa ngay tay lên rờ cổ mình.

Có quả thật vậy không? Không biết báu vật Kỳ lân bảo đới còn có công hiệu nữa không chứ? Nhưng bảo đới này chỉ có thể giữ được chiếc cổ, nếu Tỉ Vương dùng Lãnh điện tỉ thủ hay Tiểu Đoạt Hồn Kỳ để chiếu cố các nơi trọng huyệt trên người thì tính sao! Càng nghĩ Thượng Quan Linh càng ớn lạnh...

Sau câu giới thiệu của âm Ty Tú Tài xong, những người chưa quen biết chàng Thượng Quan Linh đều có vẻ tin tưởng và tỏ lòng khâm phục chàng thiếu niên anh tuấn này lắm. Nhưng thầy trò Độc Ma, Liễu Văn, Tả Pháp Thụ đều rõ Thượng Quan Linh hơn ai hết, lúc này đâu chịu phục, sắc mặt mấy người này đã hầm hầm, Thanh y sứ giả nhận ra, nhưng chỉ mỉm cười... do Lục y sứ giả và Lam y sứ giả tiến dẫn vị Thanh Y đi ngang khắp mặt mọi người, cười nói huyên thuyên, bất luận là đứng trước mặt vị đại ma đầu nào trong đám, vị sứ giả thiếu niên anh tuấn, đều ung dung ăn nói đâu vào đấy! Lễ độ vô ngần, đối với những người chưa biết Thượng Quan Linh, lúc này đều bị khớp về khí độ hiên ngang của chàng, ai nấy cung kính đối xử. Thượng Quan Linh thiệt trên lầu nghĩ bụng, nếu mình đứng trong địa vị đó, chắc không sao bì nổi với người ta được?

Thanh y sứ giả hình như cũng biết rõ ai đang không phục mình, sau khi hàn huyên xong với cha con Chung Thiên Thu và Hận thư sinh Hoàng Kha, vẫn do hai sứ giả Lục và Lam tiến dẫn đi về phía thầy trò Độc Ma.

Cổ Thái Huyền bên cạnh nói rằng:

- Đây là vị chủ nhân của Phi Các tiên cung trên Vô Ảnh Phong Độc Ma, kia là cao túc Đinh Hãm...

Chưa dứt lời, Đinh Hãm đã lạnh lùng rằng:

- Thanh y sứ giả! Chúng ta đều là chỗ đã quen nhau từ trước kia mà!

Thanh y sứ giả mỉm cười nói:

- Thế sao? - Tay khẽ giơ lên, tên Đinh Hãm trước mặt bỗng cảm thấy đầu gối đau nhói, không sao chịu nổi bịch một tiếng quì ngay trước mặt, Thanh y sứ giả vội rằng:

- Không dám? Không dám! Sao thế huynh lại dùng trọng lễ với ta như thế, Cổ Thái Huyền, hãy mau thay mặt ta đỡ ngay vị thế huynh này dậy!

Cổ Thái Huyền đỡ ngay tên Đinh Hãm dậy, chỉ thấy mặt hắn trắng toát, Độc Ma vừa hoảng vừa giận, trong lòng xót thương ái đồ biết hắn đã bị trúng ám khí.

Bèn quan tâm hỏi ngay:

- Sao Đinh Hãm? Con cảm thấy sao?

Thình lình Độc Ma cảm thấy đầu gối mình tê nhức, đôi chân của Độc Ma, vốn là đôi chân giả, nhưng chính lại đau ngay chỗ tiếp giáp giả thật ấy, trong lòng kinh hoảng. Đầu gối như muốn quì thấp xuống, Độc Ma hoảng cuống lên, nghĩ bụng nếu mình quì xuống! Còn gì là thể diện của Độc Ma Phi Các tiên cung nữa!

Chương 73: Ngộ thương ái đồ

Lúc này chỉ thấy Thanh y sứ giả khẽ phất vạt áo, cũng chẳng biết là y đã dùng thủ pháp gì, thầy trò Độc Ma lập tức cảm thấy hết đau nhức ngay! Thanh y sứ giả cười nói cố che ngượng cho thầy trò Độc Ma, hai thầy trò lúc này biết thân phận đành cúi đầu không ho he gì. Thượng Quan Linh nấp lén bên trên lầu, biết rõ y vung tay để đánh ám khí, không những về cách đánh ám khí nhanh nhẹ tuyệt luân đến thế đã là hiếm thấy, càng lạ hơn nữa là cái phất vạt áo bào, ngang nhiên có thể hút về những ám khí đánh ra! Luyện thế nào mà có thể đến mức điêu luyện ấy kìa?!

Trong lúc chàng Thượng Quan Linh thiệt bên trên đang cau mày suy nghĩ thì chàng Thượng Quan Linh giả bên dưới đã bước ngay lại mặt Liễu Văn và Tả Pháp Thụ. Và chính hai người này lại càng không phục, nhưng nàng Liễu Văn lấy làm lạ tại sao con người như Thượng Quan Linh mà cũng đầu vào dưới trướng của Tỉ Vương và vinh nhiệm chức thủ lãnh trong Ngũ đại sứ giả. Nghĩ vậy Liễu Văn lẳng lơ ghẹo ngay rằng:

- Kìa sứ giả! Dám hỏi trong kỳ Đại Ngũ Trì đó, cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đã gây thương tích cho sứ giả chỗ nào nhỉ?

Câu hỏi này chẳng qua nhắc đến chuyện cũ của Đại Ngũ Trì, khi Liễu Văn đoạt được Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, bỗng cắm mạnh vào lưng Thượng Quan Linh, chàng né nhanh nên bị sướt vào sườn, áo rách và rớm máu, nhắc chuyện cũ này, chẳng qua là muốn bêu xấu Thượng Quan Linh chơi! Lúc này, Thượng Quan Linh thiệt nấp trên lầu cười thầm trong bụng, chàng thầm nhủ: chuyến này cô ả có tinh khôn đến đâu cũng bị lầm to quáng mắt gà rồi. Những câu nói ấy khác nào như đem đàn gảy vào tai trâu. Thượng Quan Linh giả làm sao hiểu được chuyện này! Chàng bất giác cười thầm trong bụng và chăm chú nhìn, chỉ thấy Thanh y sứ giả khéo vờ vẫn cười tỉnh. Cái cười ấy khiến cho nàng Liễu Văn lại như nóng bỗng khắp trong mình, vì lúc này nàng vẫn còn thấy yêu Thượng Quan Linh, thôi thì nàng giở hết các ngọn lẳng của mình để tống tình với Thanh y sứ giả. Lúc này Tả Pháp Thụ khẽ hừ một tiếng lạnh lùng và sửa soạn gây sự...

Nhưng sự kiện lạ lùng đã khiến cho hắn bỏ ngay ý định gây sự của mình. Vì lúc này thấy Thanh y sứ giả ngồi ngay vào chiếc ghế sắt nóng bốc khói ấy mà không hề hấn gì. Chỉ nghe Thanh y sứ giả nói:

- Quê hương của đại sư, vốn ở miền sông Hằng Hà bên Thiên Trúc, và chắc ở ngay trong tịnh xá của rừng Bàn Na Tha? Tôn sư chắc là Minh Quang đại sư, nghe nói vị cao tăng này đã tiên du từ lâu, nhưng đến nay, các môn hạ còn đang lò dò thăm về tin tức hai vị đại sư Tá Pháp Thụ và Hữu Duy Na, nay người chủ trì ngôi tịnh xá Bàn Na Tha là Bảo Nghiêm pháp sư này, chính đại sư cũng đã nhờ tại hạ tìm thăm tin tức của nhị vị. Hà! Hà!...

Câu nói này khác nào như dao đâm vào người Tả Pháp Thụ, vô tình cho tên phiên tăng này biết là bao nhiêu bí mật của y đều đã lọt vào bộ óc của Thanh y sứ giả. Và chính những nhược điểm này mà Tỉ Vương lợi dụng để thao túng tinh thần của nạn nhân.

Lúc này không còn ai có vẻ dị nghị gì đến Thanh y sứ giả nữa. Chỉ thấy Thanh y sứ giả từ từ bước lại phía Bắc kiếm Phổ Côn, Thượng Quan Linh trên lầu bất giác trợn tròn mắt, thầm nghĩ: ma đầu này không biết sẽ uy hiếp và dày vò tinh thần của sư phụ mình đến mức độ nào đây?

Bắc kiếm Phổ Côn rõ thấy Thanh y sứ giả là sư điệt của mình, nhưng ông ta đã nghiễm nhiên khớp vẻ oai phong của Thanh y sứ giả, hai mắt cúp ngay xuống, không dám nhìn ngược lên.

Thanh y sứ giả đứng cách lối hai bước nhìn Bắc kiếm Phổ Côn không ôn hòa mà cũng chẳng uy hiếp.

Bắc kiếm Phổ Côn bỗng lảm nhảm tự hỏi:

- Nam Bút... Nam Bút đệ... giờ đây em ở đâu?...

Dù cho lão đại của nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt bề ngoài có lạnh lùng tàn nhẫn đến đâu đi nữa, nhưng trên thực tế, đối với ba sư đệ đều quan tâm, nhất là đối với sự chót út của Nam Bút, Bắc Kiếm biết sư đệ cùng đi với Thượng Quan Linh, rùng mình biến đi như Đại Thánh trong truyện Tây Du, đã nghiễm nhiên trở thành Thanh y sứ giả! Nhưng Nam Bút đi đâu kìa?

Trước mặt sứ giả thân tín của Tỉ Vương, thế mà Bắc Kiếm vẫn dám tỏ vẻ quan tâm đến sư đệ Nam Bút, khiến cho Thượng Quan Linh thiệt trên lầu vô cùng cảm động...

Dù sao cũng là nhân vật trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt, tuy bị lỡ bước vào cạm bẫy địch, nhưng vẫn có lương tri của tình nghĩa huynh đệ. Chính câu hỏi lảm nhảm của Bắc Kiếm cũng là điều muốn biết của Thượng Quan Linh, chàng cố lắng tai theo dõi.

Thanh y sứ giả khẽ mỉm cười rằng:

- Nay ba anh em họ đều ở chung với nhau. Nhưng vì ý kiến của ba người vẫn chưa cải biến, nên Chúa công có lệnh làm sao cố khuyên ba người để hoàn thành sứ mạng trước ngày mùng mười Tết. Và mong ngài cố khuyên họ cho khéo để hoàn tất nhiệm vụ!

Bắc kiếm Phổ Côn sắc mặt trắng như tờ giấy, cung kính lãnh mạng.

Bắc Kiếm nghĩ: thằng sư điệt này quả đã biến đổi quá nhiều, không những không coi sư bá ra gì, mà cả đến Thiên Si Tây Đạo và Đông tăng Túy Đầu Đà sư bá cùng với ân sư Nam Bút đều không còn nể nang gì nữa, đã không xưng hô lễ độ, mà đều xưng tổng quát là ba anh em họ, không những Bắc Kiếm ức vị sư điệt ăn hiếp mình mà hầu hết các tay ma đầu tại sảnh đường, đều cho đây là sự bất kính của hậu bối đối với tiền bối, khiến cho ai nấy căm giận vô cùng. Thượng Quan Linh thiệt lúc này cắn răng nghiến lợi nguyên sẽ thân hành trả thù tên mạo xưng tướng mạo của mình, khiến nỗi thanh danh trong trắng của mình bị phá sản, đáng hổ thay! Chỉ thấy Thanh y sứ giả thình lình quay thân lại, mọi người lại len lét như rắn mùng năm, ai nấy tỏ vẻ sợ sệt vô ngần.

Thanh y sứ giả đưa mắt nhìn tứ hướng và hỏi ngay với Lân vương Cổ Thái Huyền rằng:

- Lão bà bịt mặt sao còn chưa thấy lại kia?

Thượng Quan Linh đang nấp trên này bất giác giật thót mình.

Chỉ nghe tiếng Cổ Thái Huyền bẩm lại:

- Thưa Sứ giả, vừa rồi đã cho người điều tra rồi...

Thượng Quan Linh quýnh người, chàng cho rằng, nếu họ dùng lối truyền tin bằng kim phi xà thần tốc như thế và lại khám phá ra Hắc y sứ giả đã giết lão bà bịt mật, Tra Phong đào tẩu, như vậy thì nguy mất. Thượng Quan Linh lúc này đã biết đích xác, Hắc y sứ giả và Thanh y sứ giả đều là sự hóa trang kín đáo và khéo tuyệt của Tỉ Vương. Đúng như lời của lão bà bịt mật Lỗ Yểu Nương nói, trong số Tứ đại sứ giả ấy chỉ có Lục y sứ giả và Lam y là có người chính cống, còn Tử y và Hắc y là bản thân của Tỉ Vương.

Nào hay trong ngàn sự kín đáo ấy là còn có nửa điều hớ hênh, tưởng đâu Bắc Ưng Lãnh Lạc đã tàn phế và bị nhốt trong hầm bí mật của Bắc Ưng Trang cùng với tên Thượng Quan Linh hấp hối trúng độc chờ chết là yên chuyện! Đâu có thể ngờ Bắc Ưng Lãnh Lạc lại hy sinh tính mạng cho mình để cứu sống Thượng Quan Linh mà tạo nên một lỗ trống hổng to tướng thế này.

Từ Bắc Ưng Lãnh Lạc, Lỗ Yểu Nương, và chính kinh lịch của bản thân mình, Thượng Quan Linh dần dần đã suy đoán ra, kẻ đang đóng vai Thanh y sứ giả ấy, chính là Tỉ Vương. Nhưng chàng vẫn chưa hiểu rõ, tại sao tên Tỉ Vương lại xưng Thượng Quan Linh để đóng vai Thanh y sứ giả?

Phải biết Thượng Quan Linh danh vọng đâu có thể ngang hàng với các bật tiền bối như Lỗ Yểu Nương, Lãnh Lạc... không hiểu Tỉ Vương có dụng ý gì? Nhưng cuộc diện trước mắt đây quả nguy hiểm, không cho chàng nghĩ ngợi vu vơ nhiều!

Tỉ Vương biết chắc chắn Hắc y sứ giả không bao giờ có thể xuất hiện được, nhưng nếu khi nghe tin Cổ Thái Huyền báo lại là Hắc y sứ giả đã xuất hiện, và giết mất lão bà bịt mặt tại vùng sa mạc, như thế chẳng bị lộ tẩy ư? Bây giờ phải lập tức lo kế đối phó!

Chỉ thấy Thanh y sứ giả đã giao lệnh lại cho một tay thân cận, vạt áo bào nhoáng lên, chuẩn bị rời ngay đại sảnh. Thượng Quan Linh trên này hấp tấp tính theo dõi, nhưng khốn nỗi mình đang ở trên lầu, dưới lầu toàn các cao thủ, nếu sơ suất để lộ tung tích thêm rầy rà, chàng hối hả quay thân, tính xuống lầu lo theo dõi. Và ngay trong lúc lúng túng ấy, tung tích của Thanh y sứ giả đã biến dạng mất. Thượng Quan Linh cuống lên chẳng cần suy nghĩ gì, chàng bước sâu thêm vào ngôi miếu tự. Loanh quanh một chập, đến một chỗ tương đối vắng, bổng nghe có tiếng quen quen thì thầm với nhau, Thượng Quan Linh mừng thầm.

Thì ra chính là âm thanh của Thanh y sứ giả! Thượng Quan Linh vội rón rén bước ngay lại gần phòng, bên trong có tiếng truyền ra rằng:

- Pháp giá của Thiên hậu Nương Nương phải chăng đã đến trong miếu?

Hình như tiếng của Lân vương Cổ Thái Huyền rằng:

- Dạ thưa đã đến. Chúa công cần xem xét không?

Quả nhiên Thượng Quan Linh đã đoán trúng, người Thanh y sứ giả mà đội lốt Thượng Quan Linh chính là bản thân của Tỉ Vương vì từ trong cách xưng hô Chúa công của Cổ Thái Huyền ấy đã chứng minh rõ ràng! Một tiếng cười nhẹ nhàng từ trong phòng vọng ra. Âm ty tú tài Trần Thân cười rằng:

- Quả là người đẹp nghiêng trời ngửa nước, hèn gì Chúa công cũng phải mê mẩn, nhưng bản sứ giả cảm thấy có hai điều hơi khó khăn, một là vào ngày mùng mười Tết này có cuộc lễ thịnh soạn linh đình như thế liệu nàng có thể sợ mà ngất đi không? Thứ hai, nếu mặt thật của nàng lộ ra, liệu có làm rúng động các người có mặt trong buổi lễ, chẳng hạn như Trưởng nữ Thanh Thông Bang Liễu Văn...

Thượng Quan Linh giật thót mình. Trời ơi! Không lẽ là nàng thật đó sao? Trong lòng rối quýnh, càng đâm chăm chú theo dõi câu chuyện, nhưng nghe Thanh y sứ giả khẽ tiếng rằng:

- Trần Thân! Trong hai điểm mà ngươi đã nghi ngờ ấy ta đã nghĩ tới từ trước, và đã sẵn sàng chuẩn bị hết rồi, khỏi cần phải lo...

Cổ Thái Huyền tâng bốc rằng:

- Chúa công xưa nay hành sự châu đáo, thần cơ tài tình, bọn tôi làm sao so sánh cho bằng... Chúa công? Có cần bảo Pháp Đô đem nàng vào đây để giải nỗi lòng tương tư của Chúa công...

Thanh y sứ giả nhẹ cười rằng:

- Thôi cũng được! Vậy Thái Huyền hãy đi nói cho Pháp Đô hay, khi pháp giá của Nương Nương vào thánh điện, tạt ngang đây, hãy cuốn ngay mành mành lên, chúng ta hãy ở trong phòng này xem được rồi, trước sau gì cũng chỉ còn có ba ngày, cần gì phải hấp tấp vội vã trong lúc này!

Cổ Thái Huyền hấp tấp lãnh mạng đi ngay; lúc này trời đã vào buổi hoàng hôn, ngôi chùa to lớn đã bắt đầu chìm dần vào cảnh âm u. Thượng Quan Linh nấp nơi bóng tối nên không bị phát giác.

Chờ đâu một lúc, xa xa có tiếng bánh xe chuyển bánh Thượng Quan Linh hồi hộp chờ đợi, chăm chú theo dõi! Dần dần xe đã đến gần, khi tạt qua cửa phòng, mành mành được vén lên, trong xe một mỹ nhân tuyệt sắc buồn rầu ngồi trong. Thượng Quan Linh khi nhận rõ người đẹp trong xe, cơn tức giận nổi ngay trong lòng, chàng cảm thấy trời đất quay đất ngửa tối tăm mặt mày.

Chàng cố trấn tĩnh tinh thần, thầm nhủ lòng: Liễu Mi em ơi! Mong em chớ có hoang mang hoảng sợ! Ngu huynh đã đến đây. Trước sau gì cũng liều mạng để cứu em thoát hiểm... cầu chúc em yên tâm... Chàng hấp tấp lén theo ngay xe, Thượng Quan Linh hết sức cẩn thận đề phòng ba tên ma đầu, trong phòng là Tỉ Vương, Lân vương Cổ Thái Huyền, âm ty tú tài Trần Thân. May là phía sau xe Nương Nương ấy có khá nhiều tăng lữ và tục nhân theo sau. Thượng Quan Linh cũng lén nhập ngay vào bọn sau xe này, không ai phát giác. Sau khi đã được một chặp, pháp giá của Thiên Hậu đến ngay một ngôi nhà lớn rộng âm u, Thượng Quan Linh liếc nhìn một lượt, không thấy Tỉ Vương, Cổ Thái Huyền và Trần Thân theo, ở đây ngoại trừ đám tăng lữ và tục nhân theo phía sau xe ra, đằng trước pháp giá có một Lạt ma tăng cao lớn, và bốn Lạt ma khác theo hộ giá, cộng thêm bốn thiếu nữ Mông Cổ theo hầu.

Chàng nghĩ: lúc này không ra tay còn đợi đến chừng nào? Chàng tung vọt mình lại phía trước xe, một tay kéo ngay ngựa đang đi lại, tay kia bung ngay rèm xe cất tiếng gọi:

- Liễu Mi em!...

Cỗ xe pháp giá của Thiên Hậu Nương Nương do ba ngựa kéo, lúc này làm sao chịu nổi thần lực của Thượng Quan Linh, cỗ xe ngừng ngay lại và ngựa kêu hí vang lên.

Đồng thời cả bốn tên thiếu nữ Mông Cổ cũng hét rú lên vì kinh hoảng, bốn tên Lạt ma hộ giá lập tức ra tay, hai tên gần nhất giơ ngay tay hộ pháp, chụp ngay sau lưng Thượng Quan Linh...

Thượng Quan Linh cũng chẳng thèm ngoảnh đầu lại tay mặt hắn túm chặt ngựa, tay trái vung ra đằng sau, hai tên Lạt ma giận quát lên một tiếng, thế đánh mới phát ra được một nửa, toàn thân đã bị chưởng lực của đối phương đánh bay bạt luôn. Thượng Quan Linh lại lên tiếng gọi:

- Liễu Mi em! Em! Ngu huynh đã đón đây! Em! Sao thế em?

Chàng chỉ thấy thiếu nữ toàn thân y phục lộng lẫy, trên đầu vai phủ đầy các dây châu báu, ngọc ngà lòa mắt.

Thượng Quan Linh vừa tính nhảy lên xe, hai cây thiền trượng đồng thời bửa tới phía eo của chàng, mặc dù đánh trúng mà Thượng Quan Linh vẫn trơ trơ không hề hấn gì! Hai tên ma đầu lại cứu giá ấy, lúc này thấy sự việc xảy ra quái lạ, chúng tưởng hai cây thiền trượng sắc bén, thế nào cũng gây nên cảnh máu loang thiền điện, hoặc tiếng thét ghê rợn vang lên, nào hay xảy ra ngoài dự đoán của chúng, khách lạ không khác nào một bóng ma, ngang nhiên không bị một thương tích gì! Hai tên Lạt ma giật mình bỏ luôn thiền trượng, hai người bốn tay, chia nhau ôm ngay hai chân của Thượng Quan Lỉnh tính kéo ngay chàng xuống. Thượng Quan Linh đã bị kéo xuống một nửa, nhưng chàng như vẫn chưa hề phát giác, mắt vẫn chăm chú vào xe để nhìn một dung nhan tuyệt thế, chỉ thấy đôi mắt của thứ nữ Thanh Thông là Liễu Mi lúc này bám chặt, trông nàng không khác nào như một pho tượng bồ tát oai nghiêm bằng ngọc. Thượng Quan Linh hoảng người vì sự im lặng quái gở của người yêu, chàng đâm nghi, không lẽ đã bị điểm huyệt hay đã bị độc thủ của Tỉ Vương, mà phải uống phải chất độc gì chăng? Chàng rối trí, bèn tính bồn ngay nàng rời khỏi đây đã. Chợt chàng cảm thấy nửa thân phía dưới mình đã có sức trì nặng, thì ra hai tên bị chưởng đánh bay ấy, lúc này cũng vào hùa cùng hai đồng bọn lại níu kéo kịch liệt. Thượng Quan Linh quát lên một tiếng, nửa thân trên không động đậy, hai chân hất tung mạnh ra, trong bốn tên Lạt ma, có hai tên biết chuyện đã vội buông tay, còn hai tên kia lại liều chết như ôm cột nhà sắp đổ, nhưng làm sao chịu nổi ngọn đá thần lực ấy, chỉ thấy hai tên ấy không khác gì hai trái cầu bị đá tung đi!

Cảnh náo động vang lên phía sau xe, bọn người cả tăng lẫn tục ầm ầm rút binh khí bủa vây tới. Thượng Quan Linh đang lo về người yêu, thấy đám người này đến quấy phá mình, chàng nổi giận, tung ngay người xuống xe, quyền cước lung tung đánh túi bụi! Chớp mắt chưởng phong ào ào khắp xung quanh, kình lực mạnh tuyệt luân, đám người vây đánh ấy binh đao bị bật văng, tiếng kinh tiếng hoảng vang liên hồi, ai nấy lo lui ngay thế để liệu kế đánh lại. Thượng Quan Linh chỉ ngại những tiếng kêu thét ấy sẽ kinh động đến Tỉ Vương, Cổ Thái Huyền, Trần Thân thì càng thêm rầy rà chàng bèn ra tay đánh nặng đòn, hy vọng thoát đám người trước mặt, cứu Liễu Mi và rời ngay nơi này.

Chớp mắt thần lực ào ào bửa ra, oai phong lẫm liệt, bốn tên Lạt ma và đám người tăng tục ấy đâu phải là địch thủ của Thượng Quan Linh, lúc này trông chàng không khác nào như cọp lọt vào đàn dê non. Đám người thi nhau ngã. Nhưng đám người này đã bị oai lực của Tỉ Vương ăn sâu trong óc, mặc dù thấy thua và có thể bị mất mạng ngay trước mắt đây, cũng không dám ngang nhiên bỏ chạy. Họ chỉ còn nước vừa lo chống cự vừa lo la hét để hy vọng cầu viện binh tới.

Thượng Quan Linh nổi khùng, nên ra tay nặng đòn thêm. Mắt thấy sắp sửa toàn thắng, vừa tính phi thân lên xe để cứu người yêu. Thình lình phía xa có tiếng lạnh lùng quát rằng:

- Hãy giang ra hết, để bần tăng tiếp hầu với vị cao nhân quí khách này xem!

Tiếng nói oang oang như chuông đồng rền, nghe qua đủ biết, công lực người này không phải hạng xoàng xĩnh gì. Chính người này là vị Lạt ma cao lớn đang lãnh đạo cuộc pháp giá của Thiên Hậu Nương Nương, chắc người này là Pháp Đô đây, nhưng quái lạ! Từ lúc Thượng Quan Linh ra tay giao tranh với đám người hộ giá ấy, vị Pháp Đô này đứng khoanh tay nhìn, không hề ra tay ngăn đỡ, mãi đến lúc mọi người thua hết, y mới đứng ra tiếp đòn!

Câu nói của Pháp Đô lúc này chẳng khác gì lệnh Hoàng ân đại xá của bực vua, mọi người mừng rối và lui rạp ngay hết. Pháp Đô nhảy vọt ngay lại quát lệnh, mọi người hấp tấp ra roi cho ngựa tiến. Thượng Quan Linh cả giận, bung người vọt theo xe. Vị đại Lạt ma Pháp Đô đã chận ngay trước mặt, lạnh lùng cười, chợt phát ra một chưởng, một ngọn kình phong bắn thẳng và ép sang phía chàng. Đồng thời lên tiếng hỏi:

- Bần tăng Pháp Đô, dám hỏi tôn giá là ai? Sao dám ngang nhiên chặn giá cướp đoạt Thiên Hậu Nương Nương như thế?

Thượng Quan Linh vừa cuống vừa giận, không thèm trả lời vung chưởng phạt ngay ra; chàng cũng thừa biết tên đại Lạt ma là người chủ chốt của nhóm người hộ giá này, đâu dám chểnh mảng, dùng ngay sáu phần chân lực, chuẩn bị ép lùi đối thủ, rồi sẽ quăng mình đuổi theo pháp giá.

Nào hay vị đại Lạt ma Pháp Đô quả là tay cừ, ngang nhiên vung chưởng đón tiếp, chỉ nghe đến pắc một tiếng vang lên, hai ngọn kình lực tiếp giao, Thượng Quan Linh hơi bị nhoáng mình, giật mình về công lực của Pháp Đô, mắt thấy xa giá Nương Nương đã vào trong ngôi nhà lớn, lòng dạ cuống lên, không màng giao đấu với địch nữa, chàng tính tung mình đuổi theo. Thân hình của Pháp Đô linh động tuyệt vời, chỉ nhoáng mắt đã chắn ngay lối tiến của Thượng Quan Linh, hét rằng:
- Nếu thí chủ không chịu nói rõ nguyên do, dù bần tăng có bất tài, cũng dám to gan ngăn ngay sự tiến bước của thí chủ lại!

Thượng Quan Linh đành bị dồn vào thế liều, khẽ hừ một tiếng bước tới nửa bước, hai cánh tay vẽ hẳn hai vòng bán cung, thình lình quát lớn:

- Ai dám ngăn cản bước tiến của ta!

Nhanh như điện trời nhoáng, song chưởng từ ngực đẩy mạnh ra, chưởng phong ào ào, Pháp Đô lật đật vung chưởng chống đỡ, tà áo cà sa trên mình bay tung phất phới. Chỉ nghe Pháp Đô lớn tiếng khen:

- Công lực khá lắm!

Dứt tiếng khen, một ngọn kỳ hiểm được đánh ra, ào một tiếng, hai ống tay áo cà sa cuồn cuộn lên, nhắm ngay song nhãn (đôi mắt) của Thượng Quan Linh đánh tới.

Chàng không dám chểnh mảng, quát lên một tiếng, song chưởng vung ra chàng không tránh mà lại nghênh tiếp đón, biến chưởng xòe thành trảo, đồng thời ra tay chớp nhoáng, một tay chụp ngay ống tay áo của Pháp Đô, tay kia đấm mạnh ngay sang phía mặt địch thủ. Ống tay áo của Pháp Đô, xem ra khó lòng tránh khỏi ngọn bắt bằng trảo của Thượng Quan Linh, nếu bị chụp trúng, thế nào cũng bị rách soạt áo cà sa. Nào hay sự kiện xảy ra quá bất ngờ, chỉ thấy vạt ống áo của Pháp Đô vụt từ thế đang duổi thẳng ấy đột ngột biến lượn sang hình rắn uốn khúc vọt ngay khỏi bàn tay của Thượng Quan Linh và quẹt ngang ngay tới phía Kỳ môn trọng huyệt trên ngực chàng. Đồng thời, ống tay áo nọ cũng đã đụng ngay đến chưởng bên trái của Thượng Quan Linh.

Thượng Quan Linh kinh hoàng không biết giở đòn ra sao, đành ấm ức khẽ hừ lên một tiếng vèo thân né tránh...

Hai bàn tay như cự linh chưởng của Pháp Đô đã từ trong hai ống tay áo cà sa thò ngay ra, và luân phiên đánh tới tấp, khí thế dũng mãnh tuyệt luân, ngăn chặn lối thoát của Thượng Quan Linh, khiến chàng không sao rút được nửa bước! Mắt thấy pháp xa đã gần khuất dạng, trong lòng rối quýnh, ức giận, bị thương vì mình không sao cứu kịp người yêu bị nạn, trong trạng thái giữa giận và ức ấy chàng bắt liều đánh túi bụi, ra tay đều là những ngọn đòn sát thủ cả! Sau năm hiệp chớp nhoáng, chàng nếm ngay phần ưu thế về mình, lúc này thấy vị tăng Lạt ma Pháp Đô bị trùm kín trong những chưởng phong tới tấp của Thượng Quan Linh, chỉ còn nước đỡ mà không còn thế công hãm như trước!

Thượng Quan Linh đã phát hết công lực bình sinh của mình và đem hết những gì đã học được trên Ngao Sơn ra áp dụng, chàng sực nhớ đến ngọn Phân Hoa Phất Liễu (rẽ hoa khoát cành liễu) của sư bá Đông tăng Túy Đầu Đả đã truyền dạy, chưởng và quyền nhập một đánh ra! Chỉ thấy toàn thân chàng phất phơ như gió thổi cành liễu trông lại tựa hồ như chàng say ma men hết đảo phía Đông lại nghiêng hướng Tây, bên đấm bên quạt, thoạt nhìn vào, tưởng đâu là lối đánh bừa bãi vô chưởng pháp, nhưng thực ra là một lối đánh biến ảo vô cùng tận, vừa bí hiểm vừa tuyệt luân, chỉ nháy mắt đã khiến cho vị đại Lạt ma Pháp Đô lúng túng tay chân, đầu óc rối loạn! Chỉ nghe Pháp Đô vừa cố đỡ đòn vừa lên tiếng.

- Xin thí chủ hãy nương tay và cho biết danh tánh và chủ ý của cuộc viếng thăm này.

Thượng Quan Linh không thèm trả lời, chàng nghĩ đã là địch thủ với nhau, nói làm gì cho tốn hơi. Ỷ ngay kỳ công của Tuyết bi tiên hoa, không né không tránh, tiến đánh bừa vào địch, mình có chịu mấy đòn cũng chẳng ăn nhằm gì, nhưng nếu hễ địch trúng một đòn của mình, lập tức ngã lăn quay ra ngay.

Chưởng vung ồ ạt, nhoáng mắt lại trên mười hiệp, thình lình một tiếng quát oai của Thượng Quan Linh vang lên, song chường vung ra đẩy mạnh ngay vào địch. Ngọn đòn này của chàng tuy lợi hại, nhưng cửa ngực của chàng lúc này vô cùng trống rỗng, Pháp Đô lạt ma thấy ngay cơ hội ngàn năm có một thuở, phần lại Pháp Đô cũng hết lối tránh né, bèn chụp ngay cơ hội, thình lình đánh thốc song chưởng vào ngực đối phương, nhưng quái lạ Thượng Quan Linh không hề né thân hay gỡ đòn, chợt Pháp Đô biết mình bị mắc bẫy địch, tính thu thế biến ngay lối đánh, nhưng đã trễ. Chỉ nghe một tiếng Bùng vang lên, đôi chưởng hộ pháp của Pháp Đô đã đánh trúng vào ngực của Thượng Quan Linh, và cũng trong lúc tóe lửa ấy, bả vai mình cũng bị Thượng Quan Linh bửa mạnh hai đấm như trời giáng.

Sau khi đôi bên đều trúng đòn, Thượng Quan Linh vẫn trơ trơ như tượng đá, riêng phần Pháp Đô đã hự lên một tiếng trầm nặng, toàn thân loạng choạng lùi ngay vài bước và ngồi bịch ngay xuống, mặt dầu Thượng Quan Linh không nỡ giết, chàng tung ngay mình nhảy vọt qua đầu Pháp Đô, lao nhanh vào ngôi đại điện nguy nga sắp chìm trong cảnh tối.

Khi vào đến trong điện, trên giá xa đã mất dạng Liễu Mi, trong điện đèn đuốc sáng trưng, khá nhiều tăng lữ đang làm lễ bái Phật.

Nghe thoảng tiếng gió, mọi người trong điện quay nhìn, thấy Thượng Quan Linh đang đứng ngang nhiên nơi cửa điện, trong đại điện lập tức hỗn loạn có người lớn tiếng:

- Chính hắn! Mau bắt ngay lại!

Chớp mắt đã có vài tên Lạt ma nhảy bổ ngay lại, Thượng Quan Linh không muốn giao tranh với họ, chàng quay mình bỏ chạy. May nhờ ngôi Phật tự ở đây nguy nga rộng lớn, đình đài lầu các nhan nhản, lúc này trời chập choạng tối, chẳng mấy chốc, Thượng Quan Linh đã thoát khỏi cuộc truy nã của đám tăng của Lạt ma. Chàng chạy đến một nơi vắng hoang, tìm thử xem có cách gì để đối phó?! Bỗng chàng sực nhớ đến, rõ khờ quá, sao mình không xuất hiện với danh phận Hắc y sứ giả của Bắc Ưng Lãnh Lạc để ép chúng giao ngay Liễu Mi và sư phụ cùng sư bá? Tuy lúc này tên Tỉ Vương đã đề phòng và đang lo điều tra tin tức về lão bà bịt mặt, nhưng theo Thượng Quan Linh phỏng đoán, chắc y còn chưa nhận được báo cáo, nay mình vẫn có thể thử xem thời vận may mắn của mình. Nghĩ vậy, Thượng Quan Linh bèn giở ngay khăn bịt đầu và khăn che mặt, cởi ngay chiếc áo da, rút ngay ngọn binh khí ưng trảo liêm cầm tay, sửa soạn chắc lại Kỳ lân bảo đới nơi cổ. Lúc này chàng đã nghiễm nhiên trở thành một Hắc y sứ giả oai hách, chàng khẽ hít một hơi dài để định lại tinh thần, xong ung dung nhấc chân bước di mạnh bạo! Chàng quay về nơi giao đấu với Lạt ma Pháp Đô vừa rồi, không thấy vị tăng nhân hộ pháp này đâu nữa! Chàng lại quay bước vào trong đại điện!

Vừa đến tiền điện, hai tên Lạt ma cầm đuốc chạy phăng phăng ngay lại.

Thượng Quan Linh quát lên một tiếng:

- Đứng im!

Hai tên hốt hoảng đứng ngay lại, cả hai cùng đồng thanh hỏi:

- Ai vậy?

Thượng Quan Linh lại quát:

- Rõ quân đui mù. Đến ta mà không nhận ra sao?

Nghe tiếng quát lạnh người rợn da gà, cả hai tên lạt ma run rẩy giơ đuốc để xem cho rõ, nhưng cả hai hoảng vía, lùi và quì mọp ngay xuống đất rằng:

- Bọn nô bộc không biết là đại giá của Hắc y sứ giả đến, tội đáng chết! Đáng chết!

Thượng Quan Linh yên bụng, lên tiếng gắt nhẹ nhàng:

- Đứng dậy!... Chúa công có lệnh cho ta đến đây hộ giá Nương Nương, ta mới tới, chưa biết Thiên Hậu Nương Nương nay đâu, vậy hãy mau đưa ta lại đó cho khỏi mất thì giờ!

Hai tên Lạt ma trả lời ngay rằng:

- Dạ bẩm sứ giả, nay Thiên Hậu Nương Nương đang ở trong thánh điện và do nhóm hộ vệ Pháp Đô trông chừng công việc hộ giá, nhưng mật đạo vào trong điện ấy đã bị phong toả, bọn nô bộc đây không có chìa khóa...

Thượng Quan Linh chợt lại nghĩ ra một kế hoạch, chàng đổi sang vấn đề khác rằng:

- Thôi được, đã có Pháp Đô hộ vệ, ta đi thăm chậm chút cũng không ngại gì, nhưng còn ba nhân vật trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt nay giam cầm tại đâu, đưa ngay ta lại tuần tra kỹ càng một lượt xem sao!

Hai tên Lạt ma đưa mắt nhìn nhau, giơ ngay đuốc lửa đi trước dẫn dường. Lúc này Thượng Quan Linh suy tính ngầm trong bụng, Liễu Mi ít nhất cũng đến mùng mười mới đem ra làm lễ tế thần, vậy giờ đây chưa có gì gọi là nguy hiểm, chẳng thà lúc này nên nghĩ cách cứu thoát sư phụ và hai sư bá thoát hiểm trước, xong sẽ hợp sức của bốn người có lẽ dễ hành sự hơn.

Thượng Quan Linh theo hai tên Lạt ma đi quanh co mãi, không biết đã đi được bao xa, nhưng khi ra bằng một cửa bên hông, đã thấy cách xa hẳn ngôi đại miếu, chàng không dám lơ đểnh, suốt dọc đường, chàng cố thầm nhớ lối đã đi qua, khi đến trước một ngọn núi, thấy một cánh rừng xuất hiện trước mắt, xuyên qua cánh rừng, thấy ánh sáng ẩn hiện lập lòe, thì ra là một ngôi nhà tranh được cất sát ngay cạnh núi. Hai tên Lạt ma ngừng bước lại. Thượng Quan Linh ra dấu cho hai người ra về, trong lòng chàng lúc này không khỏi hồi hộp, đứng im một chặp để định thần xong, chàng mới quyết tâm đẩy cửa vào. Bên trong, một tên đại hán thình lình đẩy cửa đứng dậy.

Thượng Quan Linh biết ngay đại hán là một trong. nhóm quần ma vừa rồi là Dực Đông Biện Trang Hổ. Chỉ thấy Biện Trang Hổ cung kính rằng:

- Tưởng ai, hóa ra là sứ giả ngài đã đến! Hà! Hà!... vừa rồi Thanh y sứ giả xuất hiện, ai nấy đều ngờ đâu Hắc y sứ giả và Tử y sứ giả chuyến này không đến! Nào hay giờ này ngài đã đến!Thượng Quan Linh rằng:

- Cuộc thịnh hội của Bách Linh Miếu, vốn là đại lễ khai đàn lập giáo của chúng mình, ai mà không mong lại dự cho thêm long trọng!

Vừa nói vừa nhìn chăm chăm vào Biện Trang Hổ, Biện Trang Hổ vội tươi cười nói:

- Vừa rồi tại hạ nhận lệnh của Lam y sứ giả, ở đây canh gác ba tên nhân vật của Càn Khôn Ngũ Tuyệt! Vì những anh em ở đây đều đã được điều động về miếu tự lo công việc khác cả...

Thượng Quan Linh nghi ngờ, ngôi nhà tranh nho nhỏ này, trừ những bàn ghế và dụng cụ đơn giản ra, không có gì khác lạ thêm, không hiểu thầy mình và hai vị sư bá bị giam cầm nơi đâu, chàng bèn hờ hững nói rằng:

- Thanh y sứ giả đã cho ta hay, có người đây canh gác cũng vững rồi, nhưng chúng ta cũng nên đi tuần tra xem sao.

Biện Trang Hổ được Hắc y sứ giả cho nước ngọt, mừng như mở cờ trong bụng, vội hớt hải lấy ngay ra một xâu chìa khóa, bước ngay lại một chiếc tủ trong nhà tranh, thò ngay chìa vào mở cửa tủ.

Ồ! Sau khi cửa tủ mở, thì ra bên trong là một đường hầm, Thượng Quan Linh biết ngay đây là mật thất được xây cất trong lòng núi, dùng để giam giữ các tội phạm, chàng để ý nhớ kỹ hình dáng chiếc chìa khóa, rồi lên tiếng rằng:

- Phiền ngươi đi trước cho!

Biện Trang Hổ lật đật thắp đuốc dẫn đường đi trước, không bao lâu, trước mặt đã hiện ra một thạch thất, trên vách thạch thất, có ánh sáng lập lòe và chiếu rõ ba người bên trong, chính thầy mình Nam Bút đang ngồi như nhập định, sư bá Đông Tăng đang ôm bầu rượu ngủ say và tiếng ngáy khò khò, một vị nữa đang ngồi như suy tư, vì chỉ thấy lưng, nhưng Thượng Quan Linh đoán chắc là sư bá Tây đạo Thiên Si.

Lúc này Biện Trang Hổ khẽ tiếng nói với Thượng Quan Linh rằng:

- Ba người này kỳ quái lắm, mỗi người có một đặc điểm cá tính riêng, Thiên Si đạo trưởng suốt ngày ngồi ỳ như suy tư, còn Túy Đầu Đà là ma men, hễ có rượu vào là yên chuyện, chỉ riêng có Nam bút Gia Cát Dật là kỳ quái nhất, và cũng chẳng ai dám trêu ghẹo đến quái tiên sinh này!

Lúc này Thượng Quan Linh nào còn nghe gì đến lời nói của Biện Trang Hổ đâu, chàng chăm chú nhìn vào các song sắt, biết ngay các song sắt ấy thế nào cũng có chuyện lạ lùng bên trong, còn không làm sao có thể giữ nổi ba nhân vật cao thủ của Càn Khôn Ngũ Tuyệt như thế. Chùm chìa khóa này đang ở trong tay Biện Trang Hổ, nên lợi dụng ngay, nghĩ vậy bèn nói:

- Biện Trang Hổ, ngươi hãy mở ngay song cửa này đi!

Biện Trang Hổ tưởng đâu mình lãng tai nghe nhầm, nghi ngờ hỏi lại:

- Sứ giả muốn mở ngay Nhuyễn kim lao (loại cửa lao bàng sắt dẻo dai) ra sao?

Quả nhiên Thượng Quan Linh đã đoán trúng, thì ra loại song sắt ở đây gọi là Nhuyễn kim, hèn gì cố thể giam giữ nổi nhân vật của Càn Khôn Ngũ Tuyệt và từ trong câu hỏi ngạc nhiên của Biện Trang Hổ, Thượng quan Linh biết ngay hắn kinh hãi sợ sệt, lỡ ra ba nhân vật trong đây bị sẩy thoát ra, hậu quả thật không thể nào tưởng tượng nổi!

Thượng Quan Linh lên tiếng gắt gỏng:

- Hừ! Bộ chưa nghe rõ lời ta sao? Ta muốn mở ngay cửa này ra!

Biện Trang Hổ lật đật lo mở, bụng nghĩ thầm, công lực của Hắc y sứ giả tuyệt cao, chắc là có gì đây, hơn nữa có người ta lo anh lo làm gì? Lựa ngay ra một chìa và trèo ngay lên vách cách xa chỗ đứng vài thước, thò vào một lỗ nhỏ để mở. Thượng Quan Linh thấy vậy càng lạ, ra lỗ khóa không nằm ngay song sắt, có lẽ đề phòng tù nhân cướp chìa trong lúc mở nên mới đặt khóa ở nơi xa như thế!

Lúc này ba nhân vật bên trong đã bị kinh động, ai nấy ngửng đầu lên nhìn!

Nhưng Nam Bút làm sao mà nhận nổi Hắc y sứ giả đây là học trò của mình Thượng Quan Linh!? Chỉ nghe Nam Bút lạnh lùng cười rằng:

- Hà! Hà!... Tỉ Vương, gió nào đã thổi ngươi lại đây vậy!

Câu nói này không khiến cho Hắc y sứ giả giật mình, trái lại đã khiến cho Dực Đông Biện Trang Hổ giật bắn người, hắn ngờ đâu Hắc y sứ giả đây chính là Chúa công Tỉ Vương và hiện lại đứng ngay bên cạnh mình đây, chùm chìa khóa trên tay đã rớt ngay xuống đất từ lúc giật mình. Thượng Quan Linh lạnh lùng hừ một tiếng, Biện Trang Hổ vội lượm ngay lên và lật đật tra vào lỗ trên vách. Nào hay phía sau vù đến một tiếng gió, Biện Trang Hổ có nằm mơ cũng không thể nào ngờ rằng vị Chúa công lại ra tay đối với mình như thế, chẳng kêu được một tiếng nào, hôn mê huyệt đã bị điểm, lăn đùng ra mặt đất.

Cả ba nhân vật Càn Khôn Ngũ Tuyệt đều kinh ngạc việc lạ xảy ra trước mắt, Nam Bút mỉa mai rằng:

- Tỉ Vương! Kể ra nhà ngươi không được chính đáng quang minh chút nào, người ta chỉ là chó săn của ngươi, sao lại đang tay làm như thế?

Thượng Quan Linh không nói gì, xoay ngay một vòng chìa khóa soẹt... một tiếng lớn, lưới song sắt vọt hẳn lên năm thước. Ba nhân vật Càn Khôn không thể nào tin được Tỉ Vương thân hành đến mật thất, ra tay điểm huyệt Biện Trang Hổ, lại mở cửa nhuyễn kim lao!

Thiên Si Tây Đạo ngửng ngay đầu tóc bù xù của mình hỏi:

- Tỉ Vương! Người tính làm gì vậy?

Thượng Quan Linh thấy sư bá và sư phụ đang vô cùng khẩn trương, trong lòng đâm ra thương cảm, đang tính đưa tay gỡ ngay mặt nạ của Bắc Ưng Lãnh Lạc cho ba vị tiền bối reo mừng.

Nào hay sư bá Đông tăng Túy Đầu Đà lớn tiếng quát: xông bừa ra mau!...

Toàn thân Đông Tăng loạng choạng như người say ào bừa ra ngoài song cửa như con mãnh hổ, chẳng nói ất giáp gì ào một tiếng bửa ngay một chưởng vào hậu não Thượng Quan Linh! Thượng Quan Linh tránh không kịp vội lớn tiếng:

- Sư bá hãy khoan!

Ngọn võ tuyệt kỹ Phân Hoa Phất Liễu của Đông tăng Túy Đầu Đà đánh ra với tất cả công lực của mình, bởi vì đối phương đây là đại ma đầu Tỉ Vương ma quân, không thể nào coi thường được. Thượng Quan Linh tuy nhờ công hiệu của Tuyết bi tiên hoa nên không bị mất mạng trong ngọn đòn này, nhưng trước ngực đã cảm thấy bị chấn động mạnh, khí huyết rạo rực, trong tạng phủ đã đau nhói từng cơn. Khổ nỗi ba vị tiền bối lại không nghe rõ tiếng kêu của chàng. Lúc này Đông tăng Túy Đầu Đà thấy đánh trúng một đòn kinh khủng như thế, mà địch thủ vẫn ngang nhiên không ngã và hề hấn gì, bất giác ngẩn người trợn mắt, rồi lớn tiếng:

- Hừ! Tỉ Vương kể ra ngươi cũng giỏi đấy! - Dứt lời Đông Tăng quay sang Tây Đạo và Nam Bút nói tiếp: - Kìa, lão Nhị và lão Tứ, còn chần chờ gì mà không ra tay dẹp dọn tên ma đầu này cho rồi!

Thượng Quan Linh lúc đau quá, nói không lên lời, chàng cố chịu đau, và giơ tay ra dấu đừng đánh vội!

Nào hay chàng vừa giơ tay lên, phía trong lao, Tây đạo Thiên Si lập tức hiểu lầm ý, cùng với Nam Bút song song nhảy vọt ra ngoài, tiếng Tây đạo Thiên Si quát lớn:

- Hãy cố gắng sát cánh với nhau để đối phó với tên đại ma đầu này, không cần phải kiêng nể gì đạo nghĩa qui luật giang hồ với những hạng ma đầu tàn ác số một này làm gì! Cứ việc thẳng tay!

Thượng Quan Linh quýnh lên muốn biện bạch rõ, nhưng ác cái hai vị cao thủ lúc này đã đỏ ngầu mắt, ra tay nhanh như chớp, toàn những thế vừa hiểm vừa ác vừa dữ, đều nhắm các nơi trọng yếu của địch chiếu cố! Thế là cả ba tay tổ của nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt, mạnh ai nấy giở hết tuyệt kỹ của mình ra: Nam Bút tuy đánh ngọn Đinh Giáp Khai Sơn khí thế ào ào, lập tức oai thế hiện khắp một vùng, Đông Tăng bửa đánh với ngọn Phân Hoa Phất Liễu, vừa cố đánh lén địch trong lúc gặp sơ hở của địch; Tây đạo Thiên Si vốn giỏi nhất về ngọn khinh công trong nhóm Càn Khôn, lúc này lo thủ giữ một hướng, thân hình nhoáng động lanh lẹ tuyệt vời, luôn luôn chủ động với thế đánh!

Thượng Quan Linh tính lên tiếng biện bạch, nhưng ác nỗi trong ngực đau nhói, không sao thốt ra tiếng. Trong lòng cuống và hoảng, nhưng thấy hai sư bá và sư phụ vây khốn chặt chẽ như thế, đâu có thì giờ để tĩnh dường hồi sức lại, và cả ba vị tiền bối bấy lâu đã căm giận Tỉ Vương, lúc này gặp dịp tiêu diệt đại ma đầu, đời nào họ chịu bỏ qua cơ hội ngàn năm một thuở ấy. Phần vì Thượng quan Linh chỉ lo giữ thân mà không trả đòn, nên ba vị tiền bối càng được thể bạo gan đánh bừa, lúc này ai nấy lo giở hết ngọn tuyệt học bình sinh của mình ra, từ lối đánh đến phần công lực, toàn dùng đến trên tám phần mười kình lực và chiếu cố vào những nơi nguy hiểm nhất của địch! Thượng Quan Linh ức là lúc này lại bị tắt tiếng, không sao lên tiếng để giải thích với ba vị tiền bối, thậm chí nguy cấp đến nỗi không cho chàng có thì giờ rút lui để gỡ mặt nạ Bắc Ưng Lãnh Lạc! Đành cố cắn răng chịu đựng, phần lo ngầm vận chân lực để mong khôi phục tiếng nói, phần phải ỷ vào kỳ công của tiên hoa cố gắng vận dụng hết tất cả những tinh xảo sở trường của mình ra để né tránh trong làn gió ào ạt của ba tay tổ vây hãm. Chừng nào quýnh quá đành giơ những chỗ tương đối không trọng yếu ra chịu đấm hay chưởng!

Cuộc đánh vây liên tiếp! Chợt Thượng Quan Linh dùng ngay lối đánh của bản môn phái lúc nào cũng không hay,

Đông tăng Túy Đầu Đà phát giác trước và lên tiếng nói với Nam Bút:

- Kìa! Lạ không! Lão tứ, sao Tỉ Vương cũng học được ngọn Đinh Giáp Khai Sơn của cậu kia! Hà! Hà!...

Túy Đầu Đà chưa cười xong, chuyện kỳ lạ xảy ngay ra, chỉ thấy kẻ địch trước mắt thình lình biến đổi ngay lối đánh toàn thân loạng choạng như anh say rượu, chưởng nào chưởng nấy và quyền nào quyền nấy đánh ra khéo léo vô cùng, lúc hư lúc thực, biến ảo kỳ lạ! Đây chính là ngọn tuyệt kỹ độc đáo Phân Hoa Phất Liễu của Đông tăng Túy Hòa Thượng. Trời ơi chuyện gì kỳ lạ thế kìa! Tỉ Vương ngang nhiên biết cả ngọn giữ nhà của mình, và có vẻ còn linh hoạt hơn cả mình là khác. Đông Tăng lẩm bẩm thốt ra lời:

- Không lẽ tên này đã học trộm võ nghệ của anh em chúng ta?

Thiên Si cho ngay tên Tỉ Vương là nhân vật thần bí quỉ quyệt tuyệt luân, chắc đây lại là mưu kế sâu độc gì của y, vội nhắc tỉnh ngay hai sư đệ Đông Tăng và Nam Bút, chớ nên chểnh mảng. Cả ba lại ồ ạt cố mở các thế đánh dữ dội!

Ai nấy đã dốc hết toàn lực bình sinh của mình, và họ cũng đã cảm thấy với ba người khét tiếng trong nhóm Càn Khôn hợp lực đối phó với một tên Tỉ Vương người ta như thế, đã trên mười hiệp trôi qua, thế mà vẫn chưa áp đảo được địch, ai nấy cảm thấy chạm phải lòng tự ái, nếu về sau chuyện này truyền ra, còn gì là thanh danh oai lừng của Càn Khôn!

Thượng Quan Linh lúc này rối quýnh lên vì né tránh! Đối với sư phụ Nam Bút và sư bá Đông Tăng, nhờ chàng biết rõ các lối đi, nên công việc né đòn hay chịu đòn đều thuận tiện cả. Nhưng riêng với Nhị sư bá Tây đạo Thiên Si, võ nghệ ông ta riêng hẳn một lối, thân pháp lanh lẹ không chê, chưởng phong lại dũng mãnh vô cùng. Thượng Quan Linh đã mấy lần bị đòn, nhưng phần vì nhờ công hiệu của tiên hoa, phần những nơi trúng đòn ấy không đáng ngại lắm, nên vẫn còn miễn cưỡng cầm cự nổi. Nhưng lúc này chàng vừa quýnh, tiếng bị tắt, không sao giải thích rõ với ba vị tiền bối, chỉ sợ ngoài hai mươi hiệp, thế nào cũng chết về tay sư phụ và hai sư bá mất!

Thình lình, Thượng Quan Linh cảm thấy trong người hơi khác, chàng mừng sắp sửa thốt được tiếng nói. Lúc này, vừa gần đúng hai mươi hiệp, cả ba đều giận, thở dốc và dồn hết toàn lực đánh thốc!

Xưa kia, Càn Khôn Ngũ Tuyệt cũng từng có thế đánh hợp sức mọi người như thế, tuy đã cách lâu năm không sử dụng đến; nhưng giờ phút này, đối phó kình địch trước mắt, đành phái giở ngay ra đánh!

Thượng Quan Linh vừa trườn khỏi qua Đông Tăng thì gặp ngay Tây Đạo, và bùng một tiếng bị một chưởng ngay lưng.

Thượng Quan Linh cố dồn hết lực mình bay vèo ngay ra trận chiến, chàng biết nếu không thoát bằng lối nguy cấp này, chỉ Nam Bút và Đông Tăng càng hợp sức giáng thêm một đòn thí mạng mình sẽ đi đứt mất. Nhưng dù sao chàng đã kiệt sức, cái đà bay ấy chàng đã không còn sức để thu tốc lực lại, chỉ nghe Bịch một tiếng nặng nề, toàn thân Thượng Quan Linh bị rớt ngay vào một góc vách. Nhưng ngờ đâu ngọn chưởng lại chữa ngay được cấm khẩu của chàng!

Sau khi Thượng Quan Linh bị trúng một chưởng của Tây đạo Thiên Si, ọc một tiếng... chàng bị thổ ra một búng máu tươi! Đồng thời chàng cố tập trung tàn lực của mình hấp tấp hét:

- Khoan. Khoan!... - Dứt lời đưa nhanh tay gỡ mặt nạ đang đeo trên mặt ra!

Đông Tăng đầu đà đang tính vung chưởng quạt thốc tới chợt thấy rõ đối thủ là ai, hòa thượng vội thu ngay thế đánh lại lớn tiếng rằng:

- Này này!... Lão tứ (Nam Bút) mau lại mà xem chuyện gì mà kỳ quái vậy?!...,

Chương 74: Họa giáng thần tự

Nam bút Gia Cát Dật và Tây đạo Thiên Si bước gần lại phía thiếu niên nằm bất tỉnh dưới đất, chỉ thấy thiếu niên nằm bất tỉnh dưới đất, chỉ thấy thiếu niên hai mắt nhắm chặt, sắc mặt trắng bệch như vôi. Tây đạo Thiên Si không nhận ra thiếu niên bất tỉnh này là ai, lúc này lạnh lùng rằng:

- Bộ đây là mặt thật của Tỉ Vương ma quân đó sao?

Nam Bút đứng cạnh lên tiếng ngay:

- Thưa sư huynh! Đây chính là sư điệt Thượng Quan Linh của ngài, chuyện này phải truy cho ra manh mối mới được!

Trong những ngày tháng bị giam hãm trong mật lao Nhuyễn kim này, Đông tăng Túy Đầu Đà thuật rõ về đồ đệ của sư đệ Nam Bút, nào ưu tú ra sao! Nào khôn lanh như thế nào. Túy Đầu Đà vốn không thu môn đệ, nhưng lại rất mến thích sư điệt Thượng Quan Linh, trong lúc kể chuyện, đương nhiên không tránh khỏi lòng thiên vị cho sư điệt, phịa hết chỗ can! Làm như vị sư điệt sắp trở thành nhân vật đệ nhất trong thiên hạ không bằng. Từ ngày xảy ra vụ án ở Cửu U Địa Khuyết tại Vạn Tính Công Phần, Thiên Si đạo trưởng quả nhiên chưa hề gặp Thượng Quan Linh hồi nào, nên không sao phán đoán đích xác được, trong lòng chỉ có một ý niệm, cho rằng Thượng Quan Linh bất quá cũng như đến ái đồ Chu Hoàng (Hầu Hạo) của mình là cùng. Mãi đến sau, Nam Bút cũng bị bắt và giam vào mật thất đây mới kể rõ đầu đuôi câu chuyện kỳ ngộ của Thượng Quan Linh và đồ đệ Tây Đạo là Chu Hoàng, hiện nay hai chàng thiếu niên anh hùng đang bước dần lên thang danh vọng của làng võ lâm!

Nay thấy hai sư đệ Nam Bút và Đông Tăng rối rít lên vì Thượng Quan Linh, đều cúi sát xuống thăm thương thế và kiểm soát xem có phải chàng không! Nhưng...

Tây đạo Thiên Si vẫn hồi hộp, vội nhắc tỉnh cho hai sư đệ:

- Hãy coi chừng, không lại mắc mưu của Tỉ Vương?

Chỉ thấy Nam Bút và Đông Tăng vội vã xem xét, bỗng Túy Đầu Đà nước mắt dầm dề rằng:

- Trời ơi là trời, chính hắn đây? Tội nghiệp cho sư điệt! Tôi biết rõ những vết kín trong người hắn, dù cho Tỉ Vương có giỏi thuật dị dung đến đâu, cũng không thể nào biết các vết kín đáo của nó được!

Thiên Si thấy vậy mới yên dạ ngồi xuống, giọng Nam Bút run run nói:

- Tội nghiệp Linh nhi, nó đã cải dạng Bắc Ưng Lãnh Lạc, nên mới lừa được tên Biện Trang Hổ để cứu anh em chúng mình, khổ nỗi chúng mình lại không phát giác sớm, chúng mình ra tay hợp sức như thế, làm sao nó chịu nổi, nếu không nhờ kỳ công Tuyết bi tiên hoa chắc nó chết về tay chúng mình rồi!

Túy Đầu Đà Đông Tăng dậm chân than rằng:

- Trời! Bây giờ làm sao đây!... Tại sao hắn lại không gọi một tiếng Túy sư bá để đến nông nỗi này!... Rõ khổ thân chưa?...

Tây đạo Thiên Si bình tĩnh hơn, vội lên tiếng ngay:

- Hai sư đệ chớ vội hoảng lên thế, hãy mau ngồi xuống, giúp sức khôi phục ngay cho nó!

Câu nói nhắc tỉnh luôn hai người, vội ngồi thụp ngay xuống, mỗi người đưa ra một chưởng, đều áp ngay vào lưng và ngực của Thượng Quan Linh, từ từ ép nội lực ra để giúp thiếu niên khôi phục lại. Thiên Si đạo trưởng dùng luôn song chưởng áp hết vào phía sau Thượng Quan Linh, thế là cá ba vị cao thủ tuyệt đỉnh lo ép nội lực giúp cho chàng.

Thượng Quan Linh lúc này vẫn còn tri giác, chàng cẩn thận vận khí hiệp lực với sư phụ cùng hai sư bá để điều hòa trị thương khiến cho khí huyết nghịch trở nên thông suốt qua thập nhị trọng lâu phục qui khí hải, khạc một tiếng, Thượng Quan Linh nhả ngay ra một búng máu tươi.

Tây đạo Thiên Si thở dài khoan thai rằng:

- Thôi! Khỏi lo nữa!

Nhưng Nam Bút và Đông Tăng rất mến Thượng Quan Linh, hai người vẫn chưa chịu buông tay. Sau một lúc, Thượng Quan Linh đã cảm thấy khỏe khoắn, chàng vội cất tiếng:

- Đa tạ nhị sư bá và sư phụ! Đệ tử đã khỏi hẳn.

Nói xong tính đứng ngay dậy làm lễ bái kiến. Đông Tăng và Tây Đạo bèn khuyên hãy tỉnh dưỡng, chớ nhiều lễ lúc này mà trở ngại cho sức khỏe. Đông Tăng cưng sư điệt nhất, Túy Hòa Thượng đưa ngay bầu rượu của mình kề ngay miệng cho sư điệt hớp một ngụm cho máu huyết lưu thông. Dần đà mặt Thượng Quan Linh đỏ gay vì hơi men, bốn thầy trò ngồi ngay nơi mật thất kể sơ về những cuộc chia tay bấy lâu.

Thượng Quan Linh lúc này mới hay hai vị sư bá và ân sư của mình bị nạn ra sao! Thoạt tiên là sư bá Bắc kiếm Phổ Côn bị Tỉ Vương uy hiếp bắt phải mời gọi ba sư đệ đến, Phổ Côn trước mắt tìm đến nhị sư đệ Tây đạo Thiên Si, lừa hai sư đệ đến miền Mạc Bắc của thành Bách Linh Miếu, khuyên Tây Đạo nhập vào đảng Tỉ Vương, Thiên Si không chịu, dùng lời đại nghĩa khiển trách và khuyên sư huynh Bắc Kiếm nên quay về con đường chính nghĩa!

Nhưng Bắc Kiếm bị mắc thế kẹt vào tay Tỉ Vương đành phải nghe theo lệnh của ma quân, cầm tù ngay nhị sư đệ Tây Đạo tại Mạc Bắc, và đem giam ngay vào mật thất này để làm mồi nhử thêm hai sư đệ là Đông Tăng và Nam Bút, Tây Đạo phần vì cô thân yếu thế, phần nghĩ tình sư huynh, nên cũng chẳng buồn phản kháng làm gì, yên trí ngồi tù trong Nhuyễn kim lao. Sau sư đệ Đông Tăng tìm đến, nhưng vì đánh không lại dư đảng của Tỉ Vương, nhất là sự hợp lực công hãm của Lam y sứ giả, Lân vương Cổ Thái Huyền và Lỗ Yểu Nương, âm ty tú tài Trần Thân, đành tình nguyện vào thạch thất để ngồi tù với sư huynh Tây Đạo! Sau cùng đến Nam bút Gia Cát Dật, từ ngày chia tay rời khỏi Bắc Ưng trang viện, và phát giác Thượng Quan Linh giả đi chung với Tỉ Vương và y đã giết lạc đà để thị oai với mọi người! Thế là ba người chia ra ba ngả: Liễu Mi quay về Bắc Ưng trang viện để cứu Thượng Quan Linh, Sở Canh lo về Trung Nguyên cầu viện cứu cấp, Nam Bút đơn thân dấn mình phó hội Bách Linh Miếu. Không ngờ sau khi đến nơi, lập tức bị trúng kế hiểm độc của Tỉ Vương, chỉ thấy đao kiếm kề ngay cổ Bắc Kiếm để uy hiếp Nam Bút, vì tình thủ túc sư huynh đệ bấy lâu, không nỡ thấy cánh sư huynh già tuổi mà chết về cảnh đầu rụng như thế, đành hiên ngang nạp mình vào chung luôn nhà lao với hai sư huynh luôn. Cả ba sư huynh đệ đều nhất quyết không chịu sự cám dỗ oai bức của Tỉ Vương ma quân, ai nấy coi chết nhẹ như lông hồng, khiến cho tên Tỉ Vương cũng đành thúc thủ chưa biết tính kế gì để đối phó!

Mãi nay, Thượng Quan Linh lại cứu cả ba sư huynh đệ, thấy được vị nối nghiệp thiếu niên anh hùng như thế, ai nấy đều khoan khoái trong lòng vô ngần. Thượng Quan Linh cũng lo thuật hết mọi việc mà mình đã đụng độ và đến lúc vào cứu ba vị tiền bối, ai nấy vừa kinh hãi vừa khâm phục thầm Thượng Quan Linh, đều phải công nhận hậu sinh khả uý. Sau khi rõ mọi sự, thầy trò bốn người khiêng Biện Trang Hổ giam ngay vào Nhuyễn kim lao rồi mọi người rời ngay khỏi thạch thất bí mật.

Thượng Quan Linh lúc này canh cánh lo đến thân phận của người yêu Liễu Mi, tính đi cứu ngay, Nam Bút đành dặn chàng hãy đi trước, còn ba vị tiền bối sẽ lo tiếp ứng sau!

Lúc này trời đã bắt đầu sáng dần, Thượng Quan Linh lo đến sự an nguy của Liễu Mi, căn cứ theo manh mối, chàng biết ngay rằng hiện Liễu Mi đang bị giam cầm tại Thánh điện, hấp tấp đi ngay. Bụng lúc này nghĩ thầm, mình đã dùng lốt của Hắc y sứ giả Bắc Ưng Lãnh Lạc mà cứu được ba vị tiến bối, nay thử thêm một chuyến nữa cũng chẳng sao.

Nghĩ xong bèn sửa soạn nai nịt gọn ghẽ, nghiễm nhiên ung dung xuất hiện với lốt dạng của Hắc y sứ giả ngầm tiến về phía Thánh điện.

Trời sáng tinh sương, mọi cảnh im tịnh và lạnh, cửa Thánh điện đóng kín mít, lòng Thượng Quan Linh rối quýnh, chàng không do dự tìm ngay đến một cửa sổ đưa tay quạt ra một chưởng, cửa bung, toàn thân chàng vèo nhẹ vào như một làn khói đen, bên trong là ngôi đại thất, la liệt bày các pháp khí, cảnh im tịnh!

Thượng Quan Linh bất kể đến hậu quả ra sao, chàng tìm kiếm tứ tung hết ngôi Thánh điện. Nhưng chàng không phát hiện được một chuyện gì cả. Càng không biết Liễu Mi bị Tỉ Vương giam giữ tại đâu? Chàng bạo gan lần mò ngay thẳng lại đại Thánh điện để quan sát. Chỉ thấy một tượng Phật nguy nga oai vệ, đèn nhang trên hương án nghi ngút, không khí khắp trang điện âm u rờn rợn. Dưới hương án một lò lửa đang cháy phừng phừng, không hiểu đốt gì bên trong, chỉ thấy ngọn lửa xanh lè. Thượng Quan Linh nghĩ nay đã mùng chín, mai là mùng mười Tết, cũng là ngày mà Tỉ Vương khai đàn lập giáo, và sẽ làm lễ tế thần để thiêu sống người yêu của mình trong tước vị Thiên Hậu Nương Nương, nhưng giờ đây nàng ở đâu? Càng nghĩ càng quýnh. Trong cơn rối trí, mắt Thượng Quan Linh vô tình liếc về phía sau hương án, chàng phát giác như có gì lạ ở Thánh kham (cái trang để thờ cúng thần Phật), chàng bước gần lại vào đưa tay rờ ngay vào Thánh kham!

Cạch một tiếng, thì ra phía dưới Thánh kham được ngầm đặt một miếng ván hoạt động mở hoác hẳn để lộ một miệng hố vừa đủ cho mọi người tiến vào, bên trong ẩn hiện ánh sáng, nhưng không nhìn rõ bên trong có gì quái lạ? Thượng Quan Linh tần ngần một hồi, cuối cùng chàng quyết tâm vào trong thám thính, vì Liễu Mi, nên chàng không ngần ngại gì? Sau khi vào, chàng đóng trái cánh ván và nó tự động khép lại như cũ. Đi không bao lâu bỗng chàng ngửi thấy một mùi thơm là lạ, và nhờ ánh sáng trên vách, chàng nhận ra nơi mình đứng hình như là một khuê các của thiếu nữ thì phải, trong này trang hoàng lộng lẫy xa hoa. Không xa lại có một cỗ nha sàng (giường ngủ bằng ngà), cẩm trướng buông phủ sát chân giường, bên trong hình như đang có vị tuyệt sắc giai nhân nằm phơi thân ngọc. Chàng hồi hộp bước lại, cũng chẳng cần nghĩ gì đến lễ giáo Thọ thọ nữa, đến gần sàng, đưa tay vén ngay cẩm trướng lên, chàng mừng như điên khẽ reo lên:

- Em! Liễu Mi... - cúi thân xuống ôm ngay người ngọc vào lòng thủ thỉ: - Liễu Mi... ngu huynh đã khổ sở đi tìm em, nay may nhờ trời run rủi, nên ngu huynh mới gặp em đừng sợ... chúng mình sẽ trốn ngay khỏi nơi nguy hiểm này...

Nhưng người ngọc trong lòng không có phản ứng gì... Thượng Quan Linh phát giác có chuyện lạ, chàng thấy Liễu Mi trong lòng mình lúc này mắt nhắm nghiền, toàn thân lạnh cứng, tim đã ngừng đập!... Thượng Quan Linh vô cùng tuyệt vọng và đau khổ! Không ngờ khi mình tìm ra được người, chỉ còn lại một cỗ xác không hồn. Chàng không biết Liễu Mi bị thiệt mạng bằng cách nào, chắc đã bị tên Tỉ Vương vùi liễu dập hoa mà chết, hoặc nàng thấy tuyệt vọng, tự tìm cái chết!

Thượng Quan Linh đau khổ... chàng lẩm bẩm:

- Liễu Mi em ơi!... em đã đi trước anh như thế, hỏi ngu huynh còn sống ở đời này làm gì nữa. Em! Em hãy chờ anh nơi suối vàng, anh sẽ lại ngay để gặp em...

Chàng rút ngay ưng trảo liêm tính đâm ngay vào ngực, chợt chàng nghĩ lại, từ khi mình ăn Tuyết bi tiên hoa, ngoài trừ hai thứ Lãnh điện tỉ thủ và Tiểu Đoạt Hồn Kỳ là những binh khí có thể giết mình ra, những binh đao khác không làm gì được thân mình, chàng lại thất vọng buồn bã, muốn chết mà cũng không được! Lúc này chàng lại đâm ra oán trách Tuyết bi đã làm khổ cho chàng!...

Thượng Quan Linh ôm xác người ngọc ngồi thừ như phỗng, sự bi ai quá mức đã khiến chàng tê dại khắp tâm thần, linh hồn chàng như đã rời khôi xác. Ngay lúc này, bỗng lại có chuyện lạ xảy ra. Chỉ nghe tiếng tranh luận của hai người, mỗi lúc một lớn dần, một tiếng kiên quyết rằng:

- Thưa thầy! Con đã quyết tâm thử xem!

Tiếng già nua rằng:

- Thôi đành vậy! Thầy nay đã ngoài bảy mươi, dù mai đây có chết, cũng không thể nói là yểu tướng, vậy con tội gì phải đi gửi gấm hy vọng vào người mình không quen biết bao giờ ấy!... Huống hồ người này lại là người mới vang danh hiệp nghĩa sau đây, nếu con làm phiền người ta, chẳng may có chuyện gì, chúng ta làm sao ăn nói...Tiếng người trẻ lại nói:

- Kính bẩm sư tôn, đệ tử dù cho có tan xương nát thịt, cũng quyết không đời nào để sư tôn bị mất mạng thảm thê, dù cho là một hy vọng mỏng manh đến đâu, đệ tử cũng liều mạo hiểm một phen? May được trời phù hộ, chưa biết chừng lại thành công cũng nên. Nếu không...

Tiếng người già ngắt ngang ngay:

- Thầy hiểu ý con, nghĩa là con không chịu sự chi phối của thuyết định mạng, hơn nữa mai đây khó tránh một cái chết, chẳng thà thử một phen...

- Kính sư tôn, đệ tử quả có ý như vậy...

Thượng Quan Linh lấy làm lạ, nghe giọng nói người trẻ tuổi quen tai lắm, nghe câu chuyện này thì hình như học trò không nỡ để người thầy mai phải chết khổ sở, nên bàn tán tìm kế cứu giải, và cũng hình như hai thầy trò đang tính đi làm phiền đến một người nào không liên can đến họ. Thượng Quan Linh bỗng sực nghĩ, không lẽ người họ muốn làm phiền đó lại là mình đây sao?? sau một hồi im lặng, người già hình như cảm động về chân tình môn đệ, chỉ nghe tiếng thở dài của người già rằng:

- Thôi đành! Sự việc đã ra nông nỗi này! Liều xem vậy, con hãy ra đi là vừa, nhưng cần phải cẩn thận...

Tiếng chân bước gần đâu đây, trong khoảnh khắc, tiếng chân đã kề gần vào khuê các và im bặt lại. Thượng Quan Linh thò đầu khỏi trướng nhìn, một Lạt ma cao lớn xuất hiện ngay cạnh, hóa ra là Pháp Đô lạt ma, hèn gì Thượng Quan Linh nghe giọng nói quen tai.

Thấy hai mắt của Pháp Đô nhìn về mình, Thượng Quan Linh lên tiếng ngay rằng:

- Này Pháp Đô, người đừng có hòng nhờ cậy ta giúp gì trái lại ta muốn yêu cầu người giúp cho một việc, xin người hãy mau mau giết chết ta cho rồi! Được vậy, ta sẽ đội ơn người vô cùng nơi chín suối.

Pháp Đô lộ vẻ ngạc nhiên rằng:

- Tôn giá là người công lực siêu tuyệt và lại nhờ công hiệu của tiên hoa, ai mà có thể giết được tôn giá, tuy đang đứng trong tình trạng long đàm hổ huyệt (đầm rồng hang hổ) nhưng vẫn vững chắc như núi Thái Sơn, không hiểu sao tôn giá lại nói những lời tang tóc như vậy?

Thượng Quan Linh gượng cười đau khổ rằng:

- Không nói giấu gì đại Lạt ma, Liễu Mi đây vốn là ái thê chưa cưới của tại hạ, nay nàng chết đi như thế, quả thật tôi không thiết sống làm gì nữa, nhưng ác nỗi Tuyết bi tiên hoa đã hại tôi, khiến tôi muốn chết mà cũng không xong, nên nay phiền đại Lạt ma giúp tôi được toại nguyện...

Nghe xong câu nói của Thượng Quan Linh, Pháp Đô bỗng ngửng đầu lên, ánh mắt sáng ngời nhìn thẳng ngay vào mặt Thượng Quan Linh, rồi lẩm bẩm rằng:

- Xin Phật tổ khoan dung đệ tử...

Dứt lời khấn, Pháp Đô bước ngay lên một bước, với vẻ hy vọng tràn trề với Thượng Quan Linh rằng:

- Xin thiếu hiệp chớ vội kinh hoàng, thực ra Liễu Mi nữ hiệp không phải bị chết đâu...

Thượng Quan Linh vừa kinh vừa nghi, không dám tin tường, mắt tròn xoe chờ đợi sự giải thích của Pháp Đô lạt ma.

Nhưng vị đại Lạt ma lại khéo tránh chuyện, nói lảng sang việc khác rằng:

- Thiếu hiệp muốn cứu Liễu Mi nữ hiệp không có gì khó, đáng lẽ bần tăng tận tình giúp đỡ là khác, nhưng... không biết thiếu hiệp có chịu cho điều kiện của bần tăng đưa ra không...

Thượng Quan Linh chẳng cần suy nghĩ, gật đầu nhận ngay, chàng chỉ cần miễn sao cứu sống được Liễu Mi, còn về điều kiện của Pháp Đô, nếu sức mình có thể làm được, cũng chẳng cần phải khước từ? Trong ánh mắt Pháp Đô không sao giấu nổi nỗi vui mừng, lật đật bước gần lại trước cẩm trướng, giải thích rõ tình hình hiện tại.

Thì ra Tỉ Vương ma quân thần xuất quỉ nhập tung hoành dọc ngang trên giang hồ như thế để nô dịch quần hào sai khiến quần ma, nhưng y lại có một tánh tốt, không thích sắc đẹp. Nhưng không hiểu tại sao, khi y đội lốt của Bắc Ưng Lãnh Lạc để hiện thân với chức Hắc y sứ giả tại Lãnh Ưng Trang và khi gặp được thầy trò Nam Bút và Sở Canh cùng Liễu Mi, vị ma đầu này lại đâm ngẩn người mê ngay trang giai nhân thiên hương tuyệt sắc Liễu Mi, và muốn chiếm hẳn thuộc về mình.
Sự ngấm ngầm điều tra đã cho Tỉ Vương biết nàng là vợ chưa cưới của Thượng Quan Linh, và với bộ óc tinh vi nhiều mưu chước của con người đệ nhất ma đầu ấy, kế độc ngang nhiên được thi hành. Biết không thể dùng Lãnh điện tỉ thủ để giết, vì như vậy sẽ lộ chuyện ngay, nên đã sát hại Thượng Quan Linh bằng thuốc độc và nhốt chung với Bắc Ưng Lãnh Lạc, rồi đổi lốt thành Thượng Quan Linh để lừa Liễu Mi, nhưng nào hay thứ nữ Thanh Thông này quá thông minh, nên đã phát giác, khiến cho Tỉ Vương ma quân càng phục lại càng yêu mê thêm, nguyền chiếm nàng cho kỳ được. Sau khi Tỉ Vương khám biết Liễu Mi còn là xử nữ nguyên vẹn, lại càng quyết ý nạp làm thê thất và chính thức dùng Phi xà truyền thư thông báo là đã tuyển lựa được Thiên Hậu Nương Nương và mở ngay một cuộc vây bắt Liễu Mi như chúng ta đã thấy, và chính Pháp Đô là người đã nghênh giá Thiên hậu để đưa về đại thành Bách Linh Miếu.

Tỉ Vương giao ngay quyền trông coi Liễu Mi cho Pháp Đô, chuẩn bị đến mùng mười Tết sẽ đem ra làm lễ hy sinh tế thần với danh nghĩa Thiên Hậu Nương Nương xuất giá. Nhưng tại sao Liễu Mi không phản kháng, mà lại chịu để cho Pháp Đô đưa về Bách Linh Miếu? Bởi trong Lãnh Ưng Trang nàng phát giác Thượng Quan Linh đã tẩu thoát, và tin chắc thế nào người yêu cũng đến cứu mình, nên nàng chẳng hề chống làm gì, tha hồ để cho Pháp Đô áp tải. Còn phần Lạt ma Pháp Đô, cũng là người có lòng tốt, khi phát giác cửa vách thạch động bí mật của Lãnh Ưng Trang bị phá, biết đã có phạm nhân trọng yếu vượt ngục, nhưng y giấu nhẹm việc này trong bụng, sau khi đậy kỹ lại cửa hang khổng lồ ấy, khi về đến Bách Linh Miếu, nghiêm cấm các bộ hạ không được tiết lộ bí mật này ra.

Liễu Mi sau khi đến Bách Linh Miếu, nàng mất hết tự do. Dưới sự thiết kế tinh vi của Tỉ Vương, y lột trần hết y phục của người đẹp, để lộ nguyên một khỏa thể tuyệt đẹp dùng ngay một loại sáp đặc chế, thoa bôi ngay một lớp vào mình nàng Liễu Mi thành hẳn một bộ áo sáp tuyệt tinh xảo, chỉ chừa có hai lỗ mũi để thở. Lẽ đương nhiên khi thi hành xong bọc sáp lõa thể này, nàng Liễu Mi đã bị điểm huyệt kỹ, và nhờ bộ áo sáp tuyệt diệu ấy Thượng Quan Linh tường đâu người yêu mình đã chết.

Nếu bảo Tỉ Vương đang yêu say đắm nàng Liễu Mi vậy tại sao lại ngược đãi người đẹp như vậy? Ấy, chính đó là tất cả kế hoạch khéo léo của Tỉ Vương... bởi y hiểu rằng, Liễu Mi đã chết lòng về Thượng Quan Linh từ lâu rồi, nay muốn chiếm được tim óc của người đẹp đâu phải là việc dễ, nên y đã tận dụng tất mọi khả năng tuyệt vời của mình...

Với lệnh truyền rùng rợn bằng phi xà khiến cho toàn nhóm thủ hạ nghênh tiếp long trọng suốt dọc đường sa mạc, cốt để khiến cho Liễu Mi cảm thấy thế lực lớn lao vô cùng của Tỉ Vương mà sinh lòng sợ sệt! Rồi tất cả mọi biện pháp được tiến hành chu đáo, nay lại biến Liễu Mi trở thành, một người đẹp bằng sáp, để đem ứng dụng trong ngày khai đàn lập giáo, làm lễ hỏa thiêu Thiên Hậu Nương Nương để hiến dâng trinh nữ cúng tế thần linh, Tỉ Vương đã bố trí sẵn sàng hết, và cuộc lễ hỏa tế ấy sẽ do tay chơi lửa nhà nghề Lân vương Cổ Thái Huyền sắp đặt kế hoạch, nghĩa là dùng lửa đốt bộ áo sáp của Liễu Mi, nhưng lại không hề gây tổn thương đến da thịt của người đẹp, và khi đến giờ phút tóe lửa chớp nhoáng ấy, sẽ cho tỏa ra một đám khói mù mịt để che tai mắt mọi người, bức thạch đài tế lễ ấy sẽ tự động bật ra và trút ngay toàn thân Liễu Mi vào một đường mật đạo ăn tuốt đến thạch thất của Thánh kham này.

Đến khi đó, Tỉ Vương sẽ xuất hiện với lốt Thượng Quan Linh để chiếm cứ người ngọc Liễu Mi. Trong cơn kinh hoảng tột độ và liên miên sống trong trạng thái chập chờn với thần chết ấy, sự uy hiếp và cộng thêm một thủ đoạn ôn hòa trìu mến mềm dẻo, tin chắc thế nào cũng chiếm được trọn vẹn thể xác và tinh thần nàng. Quá là một kế hoạch tuyệt diệu khéo léo hết chỗ chê. Nay được Pháp Đô nói rõ hết ra, khiến cho Thượng Quan Linh không thể nào không kinh hãi cho được. Nhưng điều lạ, Pháp Đô vốn tay sai đắc lực của Tỉ Vương tại sao đem bí mật này kể cho Thượng Quan Linh hay?!

Sau khi chàng rõ đầu đuôi tự sự, biết người yêu chưa bị gì chàng vững dạ, cũng không vội hỏi Pháp Đô về cách thức cứu người! Mà chàng vào thẳng đề với Pháp Đô là muốn đánh đổi với điều kiện gì? Đại Lạt ma Pháp Đô đưa tay lên vỗ mạnh một tiếng, nơi phụ cận, lập tức có tên Lạt ma khác xuất hiện, Pháp Đô dùng tiếng Mông Cổ nói với họ một hồi, hai tên nọ lãnh mạng đi luôn. Lúc này Thượng Quan Linh mới nhận ra, thì ra Pháp Đô cũng cẩn thận chu đáo, khi bàn chuyện với mình, đã cho lo canh chừng bên ngoài để phòng hờ những tử đảng của Tỉ Vương... Trong chốc lát, có Lạt ma đem ngay cơm nước lại, Pháp Đô và Thượng Quan Linh ngồi đối diện với nhau ăn uống, trong bữa ăn, Pháp Đô kể ngay đến việc yêu cầu của mình.

Cách mười năm về trước đây, ngôi thánh tự điện Bách Linh Miếu vốn là một cửa Phật thanh tịnh nghiêm trang. Chủ trì Tang Kim đại lạt ma nguyên là vị cao tăng đắc đạo và cũng là sư tôn của Pháp Đô, võ công xuất chúng, nhiệm chức Giám tự Thánh tự, nên khiến cho ngôi cổ miếu của Mạc Bắc an ninh vô cùng. Nhưng nào ai có ngờ, cảnh thanh bình bỗng gây sóng gió, một kỳ họa đã tới ngôi Thánh tự giám. Từ đó trở đi, ngôi Thánh tự Bách Linh Miếu bắt đầu bị một bầu không khí tà ác bao phủ hết. Trong đêm đó, nơi ngủ của Pháp Đô, cách thiền phòng của thầy Tang Kim đại lạt ma không xa lắm vì thầy đã trên lục tuần, nên Pháp Đô thường hay quan tâm đến sức khỏe của thầy về đêm. Đêm ấy là một đêm lạnh cắt da, vào nửa đêm, Pháp Đô bỗng bị một âm thanh kỳ lạ đánh thức giấc và tiếng ấy đã phát ra tại thiền phòng của Tang Kim đại lạt ma, hình như là tiếng gắt gỏng của sư tôn. Pháp Đô kinh hoảng hấp tấp vùng ngay dậy, và chạy sang phòng thầy.

Ra khỏi cửa, đi chưa được mấy bước, trong bóng tối, bỗng lù lù xuất hiện một người, khi Pháp Đô nhìn rõ, bất giác toát mồ hôi lạnh. Thì ra chính là sư tôn Tang Kim đại lạt ma, chủ trì Bắc Ưng Lãnh Lạc chỉ thấy vị cao tăng khoác chiếc áo mỏng xông về phía Pháp Đô mỉm cười.

Pháp Đô không thể nào tin được, thầy mình xưa nay sợ lạnh hơn ai hết, thế mà giờ đây lại choàng chiếc áo mỏng tanh trong đêm khuya lạnh thấu xương này, vừa tính cất tiếng hỏi, trước mắt hoa hẳn lên, thầy mình đã biến tích luôn! Pháp Đô lật đật đến ngay thiền phòng đẩy cửa vào, trời ơi! Rõ sư tôn Tang Kim đại lạt ma đang nằm trên thiền sàng! Vậy người vừa rồi quyết không phải thầy mình, rất có thể là hồn hiển linh của thầy mình chăng.

Nghĩ tới đây, Pháp Đô rùng mình ớn lạnh, vội bước nhanh lại lên tiếng:

- Bạch sư phụ!

Nhưng không có tiếng trả lời. Pháp Đô tưởng đâu thầy mình đã qua đời, nhanh tay khám nghiệm, thì ra đã bị người ta dùng lối điểm huyệt nặng, khiến cho hai chân bị tàn phế hẳn. Tang Kim đại sư tuổi cao sức yếu, không sao chịu nổi cơn đau đớn nên đã hôn mê bất tỉnh luôn!

Pháp Đô vừa hoảng vừa giận, vội lo cứu cấp, Tang Kim đại lạt ma sau khi tỉnh dậy, thảm thiết nói với đồ đệ rằng:

- Ma chướng của Thánh tự Bạch Linh đã đến rồi con ơi1

Thì ra tên thần xuất quỉ nhập Tỉ Vương đã không hoạt động tại Trung Nguyên mà nay đã ngang nhiên về Mạc Bắc, nay lại dùng thủ pháp kỳ dị để uy hiếp và thao túng Tang Kim đại lạt ma. Và từ đó Phật quốc trang nghiêm của miền Mạc Bắc này trở thành một đại bản doanh sào huyệt đại ma đầu Tỉ Vương, toàn ban Lạt ma trong Thánh tự đều bị uy hiếp thao túng triệt để, Pháp Đô tính thí mạng liều chết với Tỉ Vương, nhưng vì sức yếu và thế cô, đành phải chịu nhục, sống chết đều dở dang.

Dưới sự sắp xếp của Tỉ Vương, sáng ngày hôm sau, trong Thánh tự tuyên bố Tang Kim đại lạt ma bắt đầu bế quan mười năm sau sẽ dự kỳ đắc đạo chánh quả, bạch nhật phi thăng, và chức chủ trì thánh tự do Pháp Đô thăng nhậm, còn Tang Kim đại lạt ma bị di chuyển ngay xuống mật thất của Thánh kham, từ đó các Lạt ma trong Bách Linh thánh tự, đều trở nên nanh vuốt của Tỉ Vương tàn ác!

Và tất cả những nguyên nhân của đám Lạt ma triệt để làm hài lòng Tỉ Vương ma quân chẳng qua cốt để đánh đổi lại sự giải huyệt của Tỉ Vương đối với thầy Tang Kim đại lạt ma, nhưng đã mười năm trôi qua, họ đã cố nhẫn nại chờ đợi... và gây không biết bao chuyện ác do Tỉ Vương sai khiến, nhưng vẫn không thể nào cầu xin được chút lòng thương hại của Tỉ Vương để giải cứu cho thầy.

Đến nay, kỳ hẹn mười năm đã hết, bè lũ quần ma của Tỉ Vương đã tấp nập đến tế tựu tại mạn Mạn Bắc để chuẩn bị khai đàn lập giáo, các tay sai của Tỉ Vương tuyên bố, ngoài chuyện cúng tế trinh nữ để hiến thần linh ra, sẽ còn mục nhục thân thành Phật của Tang Kim đại lạt ma đắc đạo thăng thiên.

Tin này do Lục y sứ giả âm ty tú tài Trần Thân và Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền truyền ra, từ Pháp Đô cho đến hết thảy Lạt ma trong thánh tự đều kinh ngạc và tức giận vô cùng. Lúc này mới biết rõ tính tình tàn ác thâm độc của tên Tỉ Vương ma quân này.

Nay trong cơn tuyệt vọng, thầy trò Pháp Đô thà chịu chết bằng cách tự sát hơn là để ác ma Tỉ Vương lợi dụng trong kế hoạch thâm độc của y. Trong khi hai thầy trò ôm nhau tính tự tử ấy, bỗng có tay sai của Tỉ Vương Lục y sứ giả hiện thân ra lạnh lùng cười, cánh cáo hai người chớ hành động dại dột mà mang thêm tai họa.

Lục y sứ giả cho biết là Tỉ Vương đã bố trí sẵn sàng hết, nhất là đã bỏ một thứ thuốc độc ghê gớm vào các giếng nước ăn trong Bách Linh Tự, thứ thuốc độc ấy đã nhiễm hết vào trong các Lạt ma trong Thánh Tự, loại thuốc độc này chỉ có riêng mình Tỉ Vương mới có thể giải cứu. Nếu Tang Kim đại lạt ma không chịu nghe lệnh hy sinh về kế hoạch cho Tỉ Vương, sau ngày đại hội quá mười ngày các tăng lữ Lạt ma trong miếu tự sẽ trúng độc chết thảm khốc.

Sự tàn sát thâm độc của Tỉ Vương quả hết chỗ chê, thoạt tiên dùng tính mạng của Tang Kim đại lạt ma để uy hiếp các tăng lữ, nay lại dùng tính mạng của các tăng lữ để uy hiếp Tang Kim phải hy sinh đúng với kế hoạch của Tỉ Vương.

Tang Kim đại sư quả không hổ danh là vị cao tăng, vì tính mạng các đồng đạo ông ta nghiễm nhiên nhận lời của Tỉ Vương, Lam y sứ giả và Lục y sứ giả nở những nụ cười nham hiểm, tiếp theo là những kế hoạch của Tỉ Vương ngày khai đàn lập giáo ấy chỉ ngại trong số các tay ma đầu có kẻ không chịu phục, sẽ xảy ra rắc rối, nên ngoài sự dùng võ lực trấn át ra, còn thêm ít mục múa rối để che tai mắt thiên hạ, khiến cho những kẻ phó hội phải tin và tuân theo triệt để.

Trong cuộc thịnh lễ sắp khởi sự để hỏa thiêu Tang Kim đại lạt ma thăng thiên ấy, vị chủ trì Thánh Tự phải đọc một bài diễn thuyết đại ý là khuyên các quần hào phải triệt để tuân nghe theo lệnh của Tỉ Vương vì đó là ý Trời đã định cho Tỉ Vương giữ chức minh chủ võ lâm, tuyệt không thể hoài nghi gì nữa.

Trong cơn bị uy hiếp và tuyệt vọng ấy... trời đã không nỡ tuyệt lộ kẻ mắc cạn, trong Bách Linh Tự bỗng lại lóe lên một tia hy vọng của sự sống còn! Đó là sự xuất hiện của thượng Quan Linh thiệt. Khi Pháp Đô chứng kiến sự biến cố của Lãnh Ưng Trang, không ngờ trên thế gian này lại có người thần lực đến như thế, nếu có thể hợp tác với người này để chống Tỉ Vương, may ra có thể xoay chuyển tình thế lại. Sau khi về Bách Linh Tự, Pháp Đô đã ngấm ngầm chú ý đến sự thăm viếng của vị cái thế thần lực kỳ hiệp xuất hiện. Trong khi các thủ hạ và bè lũ của Tỉ Vương tập tụ về Bách Linh Miếu đông đủ, thì chỉ thiếu mặt ba thầy trò lão bà bịt mặt, tên Tỉ Vương đang đội lốt Thượng Quan Linh và đóng vai Thanh y sứ giả ấy lập tức nghi ngờ và hạ lệnh cho điều tra tức khắc. Một cuộc thâu tin đại qui mô bằng lối phi xà truyền lệnh được tung đi khắp trạm.

Pháp Đô cũng ngấm ngầm mạo hiểm cho các tay thủ hạ thân tín của mình đi thu ngay các rắn bay ấy lại, ngoài số tin không quan trọng thì bắt được một tin đặc sắc là thầy trò lão bà bịt mặt, đã bị Hắc y sứ giả Bắc Ưng Lãnh Lạc tiêu diệt, Pháp Đô là người hiểu rõ nội tình, biết trong tứ sứ giả ấy Hắc y sứ giả và Tử y sứ giả chỉ có danh mà không có thật, mà cũng chính là hiện thân của Tỉ Vương. Nay Tỉ Vương đã xuất hiện với danh nghĩa là Thanh y sứ giả, lẽ dĩ nhiên không thể nào đóng thêm vai Hắc y sứ giả để giết thầy trò lão bà bịt mặt. Vậy thì vị Hắc y sứ giả này rất có thể là vị đại hiệp đã trốn khỏi huyệt bí mật tại Lãnh Ưng Trang, Pháp Đô nghe lén những cuộc bàn tán của các tay tâm phúc của Tỉ Vương, và biết người giả lốt Bắc Ưng Lãnh Lạc để đóng vai Hắc y sứ giả ấy là Thượng Quan Linh thiệt, và sớm muộn gì cũng sẽ đến Bách Linh Miếu để cứu thứ nữ Thanh Thông Liễu Mi. Mà kẻ lo canh giữ Liễu Mi lại chính do Pháp Đô, thế là vị Pháp Đô lạt ma này lo sẵn mưu kế của mình, chờ đợi Thượng Quan Linh đến. Và nay, trong ngôi mật thất của Thánh kham, các thủ hạ thân tín của Pháp Đô lo canh ráo riết khắp bên ngoài, bên trong Pháp Đô ân cần tiếp đãi Thượng Quan Linh ăn uống và kể rõ tự sự.

Sau cuộc kể rõ mọi việc, Pháp Đô lạt ma bèn đi ngay vào đề chính là mời Thượng Quan Linh hợp tác cùng với họ, sẽ tương kế tựu kế, vào ngày mồng mười Tết mai đây, trong cuộc đại lễ khai đàn lập giáo, sẽ mở ngay một cuộc đại náo Tỉ Vương ma quân cho hả dạ. Thượng Quan Linh đang rầu về phe mình yếu thế cô sức, Sở Canh về Trung Nguyên cầu viện chưa tới, xa như thế chắc gì đến kịp, nay may mắn được nhóm Pháp Đô hợp tác, còn gì mừng cho bằng, chàng lập tức nhận lời ngay. Gần đến giờ ngọ, bỗng nghe có tiếng ám hiệu vang lên, thì ra ám hiệu của thủ hạ Pháp Đô, cho biết có người đang đến.

Pháp Đô vội kéo ngay Thượng Quan Linh trốn vào một phòng khác, quả trong nháy mắt Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền đi tuần đến, Pháp Đô cung kính nghênh đón, sau khi thấy không có gì lạ xảy ra, bèn căn dặn Pháp Đô và Tang Kim, mai đây ngày tối quan trọng, tất cá đều chiếu theo hoạch định mà thi hành, cấm chểnh mảng xao lãng, Pháp Đô cung kính vâng dạ liên hồi và tiễn đưa Cổ Thái Huyền ra ngoài, xong xuôi lại cẩn thận cho người canh gác, hấp tấp vào thương lượng với Thượng Quan Linh để tìm cách đối phó. Một ngày êm tĩnh trôi qua, không khí bên ngoài càng hiền hòa thì trái lại bên trong càng khẩn trương tột độ, một cuộc u ám đang phủ khắp mọi lòng người có liên quan đến cuộc thịnh hội của Bách Linh Thần tự mai đây.

Về phần ba vị tiền bối Thiên Si, Nam Bút, Đông Tăng, tự biết sức Tỉ Vương, nên sau khi thoát khỏi thạch thất, tìm cách ẩn tích ngay, mắt thấy quần hào đang mở cuộc lùng soát, ba người kinh hoảng. Tỉ Vương, Lục y sứ giả, Lam y sứ giả không hề tham gia một cuộc lùng soát! Mà chỉ ra lệnh cho Dực Đông Biện Trang Hổ ngấm ngầm quan sát động tĩnh của Bắc kiếm Phổ Côn.

Bắc kiếm Phổ Côn, dù sao cũng còn tình nghĩa hương hỏa với ba vị sư đệ, nếu không có Ngũ đại sứ giả thân hành ra đốc trận, Bắc Kiếm cũng mở cuộc điều tra cho lấy lệ, nhưng nào hay lại có Biện Trang Hổ theo sát nách giám thị mình, phải đành cúi đầu làm đúng nguyên tắc. Nhưng trong ngấm ngầm khấn vái cho ba sư đệ liệu khôn ngoan mà rời khỏi ngay nơi đất thị phi này. Tỉ Vương và các tay sai đắc lực sao không tiến hành cuộc lùng soát? Chỉ vì tại ba thầy trò lão bà bịt mặt vẫn chưa thấy tới, mà tin của phi xà đem về toàn là tin không đáng kể. Tỉ Vương đã ra lệnh cho Lam và Lục hai sứ giả lo tiến hành riêng về vụ này. Nhưng mặt khác, Biện Trang Hổ đã chứng thực sự xuất hiện của Hắc y sứ giả và đã ngang nhiên cứu thoát ba nhân vật của nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt là Tây Đạo, Đông Tăng và Nam Bút, vụ này quá quan trọng, hai sứ giả Lục và Lam cấp tốc lo thúc lãnh thủ hạ, cẩn thận mở cuộc lùng bắt. May Thượng Quan Linh và Pháp Đô hai bên đã hợp tác với nhau và đương ẩn thân một nơi an toàn nhất của Bách Linh Tự.

Kết quả cuộc lùng soát, ba nhân vật Càn Khôn và Hắc y sứ giả vẫn bặt vô âm tín, một đêm căng thẳng lẳng lặng trôi qua!

Sáng mồng mười Tết, mọi việc đã sẵn sàng. Thoạt tiên, đại thành Bách Linh Miếu, tiếng pháo nổ rền tai mọi người, báo trước cuộc thịnh lễ sắp khởi hành. Tiếp đến, tiếng trống tiếng chuông đổ rền, cổng miếu tự mở toang hết một lượt, các tăng lữ Lạt ma, tay bê pháp khí xếp hàng thủng thỉnh đi theo thứ tự và xếp theo hàng lối đã định trước trong đại điện âm u hùng tráng. Thanh y sứ giả với bộ áo lộng lẫy cùng với Lam y sứ giả và Lục y sứ giả xuất hiện cùng một lượt để chủ trì cuộc lễ, nghi thức tôn giáo bắt đầu. Trong đại điện lúc này, ngoại trừ tăng lữ Lạt ma ra, còn phần đông đều là thủ hạ của Tỉ Vương, cùng với các phái anh hào, và các thân hào nhân sĩ địa phương, đông đảo có trên trăm người, ai nấy im lặng như tờ.

Bên ngoài điện, toàn dân thập phương đến xem lễ đầu người lô nhô chen chúc, ai nấy lúc này ngóng dài cổ ra để xem các cuộc thịnh lễ ngoạn mục sắp diễn.

Chủ trì của Thánh Tự là Pháp Đô lạt ma, cất tiếng sang sảng tuyên bố, tất cả các cuộc thịnh hội hôm nay là do Thanh y sứ giả Thượng Quan đại hiệp đứng ra thay mặt chúa công để chủ trì buổi lễ. Dưới sự phò trợ của hai sứ giả Lam và Lục, Thanh y sứ giả ung dung tiến bước lên tế đàn, lưng quay về phía thần tượng, mặt hướng về mọi quan khách, áo quần lộng lẫy, kiếm dắt bên mình trông oai nghi lẫm liệt và anh tuấn lạ! Ngôi đại điện đây âm u lạnh lùng, lúc này Thanh y sứ giả đứng hiên ngang trên đàn, cất giọng tuyên bố bắt đầu thịnh lễ, nhưng vì muốn cho dân chúng thập phương bên ngoài điện được chiêm ngưỡng cuộc thịnh lễ, ngôi nóc đại điện và bức tường nên gỡ ngay cho mọi người được thấy.

Sau câu tuyên bố nảy lửa của Thanh y sứ giả quần hào nhao nhao bàn tán xì xầm, dẫu cho là công lực tuyệt cao của ba sứ giả Thanh y, Lam y, Lục y lợi hại đến đâu đi nữa nhưng muốn trong một thời gian ngắn ngủi này mà dời hết nóc đại diện và bức tường đồ sộ kia, đâu phải là chuyện bỡn.

Trên lễ đàn, Thanh y sứ giả chỉ mỉm cười. Thình lình! Thanh y sứ giả song chưởng giơ ra phạt ngay một chưởng lên không “ào” một tiếng, tất cả các đôi mắt trong điện lúc này, chỉ thấy nóc nhà đại điện bị bay mất một mảng lối năm thước tư vuông!

Chương 75: Xử nữ hiến tế

Tất cả những người có mặt trong đại điện lúc này đều kinh hồn tán đảm, nhưng chuyện lạ vẫn tiếp tục diễn ra mà không ai có thể tin được, lúc này ánh sáng mặt trời đã từ nơi lỗ trống chiếu hắt vào trong đại điện, không khí u ám rờn rợn trong điện đã biến tan. Thanh y sứ giả trên tế đàn vẫn liên miên phạt chưởng, các mái nóc đã bay đi từng tảng năm thước tư vuông ngay ngắn và thuận lợi theo đúng ý của Thanh y sứ giả, chớp mắt đã gỡ hẳn đi một trong ba mái ngói của đại điện, mọi quần hào trong điện kinh hãi tột độ. Đừng nói là chưa ai thấy thứ chưởng lực đánh gỡ ngói nhà ngăn nắp như thế bao giờ, mà lạ nhất là không một miếng ngói nào bị rớt xuống, mà đều bay bổng ra ngoài hết, đồng thời ai nấy nghĩ bụng, thế nào các tảng ngói ấy sẽ gây thương tích cho dân chúng bên ngoài, nhưng quái lạ lúc này bên ngoài lại vang lên những tiếng hoan hô kịch liệt, không hề nghe một tiếng kêu la hoảng hốt nào cả. Đến khi Thanh y sứ giả ngừng tay, thì ra từng lớp ngói ấy bị bay ra phía bên phải của đại điện, nằm ngay ngắn thành lớp tại khoảng đất trống ấy.

Dẫu cho là các tay quần hào trong đại điện đây là những bậc đại ma đầu nổi danh trên giang hồ đi nữa, nay chứng mắt thấy được những hạng công lực kinh thiên động địa quỉ khóc thần sầu như thế, không ai là không khâm phục hay kinh sợ. Chỉ nghe thầy trò Độc Ma và Bắc kiếm Phổ Côn thì thầm rằng:

- Không tin Thượng Quan Linh lại có công lực ghê gớm như thế!

Thiên Trúc phiên tăng Tả Pháp Thụ xưa nay thường tự phụ với thần lực của mình, nay chuyện kỳ lạ diễn ra trước mắt, khiến hắn không sao không thầm phục, gật đầu tấm tắc khen. Cả đến Liêu Văn đứng cạnh cũng khâm phục vô ngần. Trong lúc đó, ở dưới tế đàn trong thánh kham bốn con mắt từ kẽ hở đang quan sát động tỉnh bên ngoài.

Thì ra hai đôi mắt ấy là của Thượng Quan Linh thiệt và sư đệ cua Pháp Đô lạt ma là Pháp Sơn, Thượng Quan Linh thiệt nhìn xong một chặp mới khẽ tiếng rằng:

- Khó tin thật! Thế gian đâu có thể có công lực ghê gớm như thế?

Pháp Sơn bên cạnh thấy Thượng Quan Linh ngạc nhiên kinh người và không thể nào tin sự kiện trước mắt là thiệt, và sợ chàng mất lòng tin mà không dám tiến bước thì tất cả mọi kế hoạch đều bị tan rã hết. Pháp Sơn nghĩ vậy bèn vội lên tiếng giải thích và để cổ vũ lòng tự tin của Thượng Quan Linh rằng:

- Thiếu hiệp xin chớ kinh hoảng vội, những trò này đều giả hết, trên thế gian này làm gì có công lực ghê gớm như thế, đây cũng là một lối làm từa tựa loại ma thuật mà thôi, đám tử đảng của Tỉ Vương đã ngấm ngầm xếp đặt sẵn các trò ma tịt trên mái điện...

Thượng Quan Linh thiệt lúc này được giải thích mới khẽ ồ lên một tiếng, lòng tự tin của chàng lập tức khôi phục ngay lại.

Chớp mắt, cả một mái ngói của nóc điện bị chưởng phong của Thanh y sứ giả gỡ hết đi, quần hào lúc này trố mắt sững người kinh hãi đến quên cả vỗ tay hoan hô. Lúc này Lục y sứ giả âm ty tú tài Trần Thân cất tiếng cao giọng rằng:

- Thanh y sứ giả vạn tuế!

Ai nấy trong đại điện như vừa tỉnh cơn mê, đồng thanh hoan hô và chúc tụng theo Lục y sứ giả. Thanh y sứ giả lúc này đứng trên tế đàn tỏ vẻ vô cùng hài lòng, miệng mỉm cười sắc thái ung dung! Trong hàng người thứ ba của ngôi đại điện có ba đàn ông Mông Cổ, lúc này đều cúi đầu và đưa mắt khẽ nhìn nhau với vẻ thất vọng. Ba người này là Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút. Họ được Thượng Quan Linh cho biết nay Tỉ Vương đội lốt của Thượng Quan Linh xuất hiện với chức Thanh y sứ giả, nay thấy Tỉ Vương công lực ghê gớm như thế, thực quả không ai có thể tin được!

Nếu đem công lực của tên ma đầu khét tiếng này so với Độc chỉ Thôi Bác, có thể hơn hẳn một bực là khác. Đông Tăng khẽ bàn với Nam Bút, thanh thế Tỉ Vương lớn lao như vậy, tiền đồ của nhóm hiệp nghĩa giang hồ quả bị lu mờ ảm đạm hẳn. Đừng nói là muốn đại náo cuộc đàn khai lập giáo của tên ma đầu tàn ác này không có hy vọng, mà cả đến chuyện Thượng Quan Linh lo cứu nguy cho Liễu Mi cũng khó lòng mà thực hiện được.

Túy Đầu đã khẽ tiếng rằng:

- Xem tình hình nghiêm trọng quá! Nhị sư huynh! Chúng mình nên tính sao?

Tây Đạo vốn là người trầm tĩnh túc trí đa mưu, nghe sư đệ Đông Tăng hỏi như vậy, cũng nhẹ tiếng rằng:

- Chớ lo ngại, theo riêng ý ngu huynh, Tỉ Vương không thể nào có nổi công lực như thế được, nếu y mà có nổi công lực như vậy, thế nào lại chả đi tìm kiếm ngay Độc chỉ Thôi Bác để tỉ thí? Trong này có sự bịp bợm đây, chúng mình nên thận trọng để chờ, chớ để mắc mưu của Tỉ vương ma quân...

Sau câu nói của Tây Đạo, Nam Bút, Đông Tăng tạm vững bụng và cũng hùa theo mọi người vờ hoan hô reo mừng. Cả ba người đều hóa trang những đàn ông xứ Mông Cổ, khó ai mà nhận diện ra nổi.

Tiếng hoan hô tạm ngưng, Lục y sứ giả âm ty tú tài Trần Thân, mặt hớn hở vui vẻ tuyên bố:

- Thanh y sứ giả đã biểu lộ ngọn tuyệt kỹ để gỡ hết mái nóc của đại điện rồi, nay còn chừa lại ba vách tường sẽ do tại hạ và Cổ huynh đây sẽ chia nhau dọn...

Trong tiếng hoan hô cổ vũ tưng bừng ấy, Lục y sứ giả oai hách đứng đợi tả hữu khiêng ra một ngọn binh khí quái dị, thì ra là một Đại thiết bài (bảng sắt lớn), ước sức nặng bốn năm trăm cân, thiết bài có kèm theo xích sắt để cầm. Mọi người trong đại điện, thấy âm ty tú tài Trần Thân có loại binh khí này không khác gì với loại dây xích nhỏ tinh vi của Lãnh điện tỉ thủ của Tỉ Vương, không lý tên Trần Thân này lại dùng thiết bài này để làm binh khí giết người sao? Loại binh khí nặng nhọc quái dị thế này, quả hiếm thấy trên giang hồ lắm, xem hắn sử dụng ra làm sao?

Nhưng mọi sự xảy ra đều luôn luôn theo ngoài dự đoán của mọi người, trông tướng dạng âm Ty Tú Tài phong nhã yếu đuối, tuyệt không thể nào có sức khỏe để sử dụng miếng thiết bài, nhưng nào ngờ đâu cây thiết bài ấy là binh khí của Trần Thân. Chỉ thấy hắn bước lại cửa điện, khi còn cách xa lối bốn năm thước dừng chân đứng lại các tăng Lạt ma đã lo dẹp những người xung quanh ra xa hẳn một trượng. Lục y sứ giả vận ngay kình lực khắp toàn thân, thình lình hét lên một tiếng, cây thiết bài đánh bật ngay sang phía cửa chánh của đại điện. Ầm một tiếng vang lên, cả một mảng lớn cửa điện đổ rầm xuống, và Âm Ty Tú Tài không ngừng tiếng hét, vung thiết bài đánh ầm ầm vào các thế khéo léo tuyệt lạ, chớp mắt cả một bức tường chánh điện bị đập đổ hết.

Thượng Quan Linh đang nấp trong mật huyệt nhìn ra, thấy cảnh tường phá này oai hách quá? Chàng ngẫm nghĩ, nếu mình ra tay đẩy phá, chắc cũng được như ý muốn. Nhưng nói về cách khéo léo lanh lẹ, tuyệt không thể nào đem so với tên Âm ty tú tài Trần Thân này được.

Pháp Sơn bên cạnh Thượng Quan Linh rụt trí vội lên tiếng khẽ cổ vũ rằng:

- Tên Lục y sứ giả Âm Ty Tú Tài này, không những tuyệt về võ công, mà còn kiêm cả cơ trí mưu mô xảo quyệt không hổ là một tên trợ thủ đắc lực của Tỉ Vương nhưng hắn cũng là một trong những nhân vật ta phải tiêu diệt, nên tên hắn đã nằm trong sổ đen của chúng ta. Vậy xin thiếu hiệp an tâm, nếu thiếu hiệp nay xuất hiện với diện mạo của Thanh y sứ giả, tên này thế nào cũng chết về tay thiếu hiệp chứ không chạy đâu khỏi?

Thượng Quan Linh gật đầu lia lịa, trong lòng bàn tính, nay thấy công lực của Lục y sứ giả hay như thế, nếu khi giao tranh phải nắm ngay thời cơ hạ sát đối thủ ngay tức khắc, không cần phải do dự gì.

Nhìn trong đại điện, lúc này Âm ty tú tài Trần Thân đã hoàn tất nhiệm vụ phá hẳn bức tường chánh của đại điện, miệng nở nụ cười, hiu hiu tự đắc, bước về tế đàn. Tiếng hoan hô lại ầm vang khắp đại điện. Chờ tiếng hoan hô ngớt. Lam y sứ giả Cổ Thái Huyền đủng đỉnh bước ra giữa điện cất tiếng cười rằng:

- Giờ luân đến phiên tại hạ xin múa rối với hai bức tường hai bên còn lại...

Dứt lời thò tay vào mình lấy ra hai vật tròn xoe chia ném về cánh tường bên trái và cánh tường bên phải.

Pắc! Pắc! hai tiếng nổ nhỏ vang lên, ngọn lửa bắn phụt ngay ra, cả hai bức tường bốc lửa cháy phừng phừng. Mọi người trong điện, kẻ lớn gan vẫn đứng yên nhìn, nhưng đối với kẻ công lực yếu đuối, thấy lửa cháy càng lúc càng tợn, trong lòng hoảng vía kinh hồn, đã tính co giò chạy.

Lân vương Cổ Thái Huyền đứng giữa điện dõng dạc đưa hai tay nói:

- Xin chư vị chớ vội kinh hoảng, chỉ trong chớp mắt đây hai bức tường sẽ tan hết theo làn khói, Cổ Thái Huyền này xin đảm bảo từ sợi tơ tóc của chư vị, xin chư vị cứ an lòng ngồi yên chớ kinh hoảng.

Ai nấy lúc này bán tín bán nghi, ngọn lửa đổi sang khói xanh, tuy cách xa hơn mười thước, nhưng mọi người không thấy sức nóng lan tới, thật kỳ lạ. Quả nhiên trong chốc lát, hai cánh tường tả hữu đã bị ngọn lửa liếm trụi ra tro khói. Mọi người thấy Lân vương Cổ Thái Huyền chẳng cần tốn công lao khó nhọc gì mà ngang nhiên phá tiêu hẳn hai bức tường đi như vậy, ai nấy đều kinh hãi về loại ám khí lợi hại chưa hề thấy bao giờ này.

Nhưng không ai biết được hai viên đạn ấy làm sao mà lại có nổi oai lực ghê gớm vậy. Cả Thượng Quan Linh cũng lấy làm lạ lùng khó hiểu. Lúc này Thượng Quan Linh đang ngầm đo lường sức địch, nếu chính thức giao tranh với tên âm Ty Tú Tài, chỉ nội cây thiết bài nặng bốn năm trăm cân ấy cũng đáng ngại lắm. Còn bên Lâu vương Cổ Thái Huyền càng đáng ngại hơn, hắn chỉ đưa tay tung ra một viên hỏa đạn, oai lực không biết đâu mà đoán được.

Cả bên trong lẫn bên ngoài cửa đại điện, quý khách đông đến cả ngàn người, ai nấy liệu thấy rõ tình hình trên Thánh đàn và tin tức của nội điện truyền rao đều biết là các ngọn kiệt tác của ba vị sứ giả, Thanh y, Lục y, và Lam y tiếng hoan hô cổ vũ vang động cả một vùng đại điện, khiến những kẻ yếu tim phổi phải bồi hồi.

Kế hoạch giáo đầu của Tỉ Vương kể như đã thành công mỹ mãn theo ý tưởng, khiến cho các quần hào khiếp phục mà không dám có ý mạt thị. Còn đám dân chúng thì tôn ba vị sứ giả như thần Phật vậy.

Trong cảnh hoan hô náo nhiệt, thình lình một thánh tự vang lên ba tiếng chuông đồng. Nghi thức tế thần bắt đầu. Lúc này không còn ai dám nói ba vị sứ giả là tục gia không đủ tư cách để chủ trì cuộc lễ, Thanh y sứ giả đứng giữa hai Lục y và Lam y cùng nhau bước lên đại đàn để làm lễ. Tiếng chuông vang lại, các tăng lữ Lạt ma cất tiếng đọc kinh và gõ các pháp khí. Khói hương nghi ngút tỏa quấn thần tượng, một bầu không khí vô cùng tôn nghiêm bao quanh khắp ngôi đại điện. Quần hào đều ngồi im không nhúc nhích. Nghi thức vẫn tiến hành, sau khi đọc xong kinh, tiếp theo cuộc lễ đi đến mức cao trào, khởi sự tế sống trinh nữ.

Kẻ phụ trách Ty nghi (người đọc chương trình) cất giọng tuyên bố, để cảm tạ thần ân, một lệ cũ đã bỏ phế từ lâu trong cuộc lễ đầu năm nay sẽ quyết định khôi phục lại và đã tuyển được Thiên Hậu Nương Nương để hiến cho thần linh.

Quần hào là đám người đứng gần đài tế nhất, lẽ dĩ nhiên thấy rõ mọi việc đang tiếp diễn, chợt trưởng nữ Thanh Thông Bang Liễu Văn giật nảy mình, tiếng kinh hoảng chưa dám rú ra, vội kéo ngay Tả Pháp Thụ đứng cạnh, hấp tấp nói nhỏ:

- Trời ơi! Đó là em Liễu Mi!

Tá Pháp Thụ gật đầu nói:

- Đúng rồi, đúng là cô em Liễu Mi của em! Anh nhận rõ lắm!

Liễu Văn cuống quít, nàng tự biết công lực và cơ trí của mình, mặc dù sao, cũng không thể nào cứu sống được em mình, khẽ tiếng nói với Tả Pháp Thụ đứng cạnh rằng:

- Anh không thể nào đứng im khoanh tay như thế được tôi chỉ có mỗi một người em, xưa nay tuy chị em bất hòa, nhưng nó cũng còn mến tôi lắm, chuyện gì cũng nương chiều theo ý tôi, tội nghiệp cho nó nay lại bị cảnh đầy đọa này...

Liễu Văn càng nghĩ những tính tốt của em lại càng rơm rớm nước mắt?

Tả Pháp Thụ khẽ tiếng rằng:

- Thật là lạ hết sức! Anh không hiểu vì lý do gì cả? Thằng nhãi Thượng Quan Linh chẳng đã ăn hỏi với em của cô rồi sao? Thế mà nay nó mới lên được địa vị Thanh y sứ giả đã nhẫn tâm thiêu sống người yêu của nó như thế?

Liễu Văn nay đã bối rối lục thần vô chủ, nào đâu có biết phán đoán gì nữa. Chỉ nghe nàng hấp tấp gắt rằng:

- Anh còn suy đoán gì nữa, chắc Liễu Mi thấy Thượng Quan Linh hợp tác với Tỉ Vương để làm Thanh y sứ giả, nên hai người đã trở mặt với nhau, và Thượng Quan Linh đã ác tâm tàn nhẫn dùng ngay kế mượn đao giết người, nay nguy cơ đã hiện rõ trước mắt, hãy mau mau nghĩ cách để cứu người đã...

Tả Pháp Thụ lắc đầu rằng:

- Em...! Chính em cũng hiểu rõ anh, em nghĩ đến anh đâu có cách gì để cứu Liễu Mi bây giờ?Liễu Văn nào phải không biết, đừng nói là sức của hai người không đi đến đâu, cho dù đám quần hào ở đây muốn rục rịch lập tức sẽ bị ba Sứ giả đàn áp ngay.

Liễu Văn sau khi quyết định cứu em, bèn khẽ tiếng nói nhỏ bên tai Tả Pháp Thụ, phiên tăng đứng im không nói, nhưng sắc mặt có vẻ khó coi lắm. Từng cao nhất của tế đàn lúc này có hương xa của Thiên Hậu Nương Nương, từng dưới ba vị sứ giả đứng sát cánh với nhau. Âm Ty Tú Tài liếc đôi mắt diều hâu nhìn khắp một lượt về phía quần hào. Hắn phát hiện trong đám quần hào ấy, chỉ trừ thầy trò Độc Ma đeo mặt nạ ra, mọi người ai cũng có vẻ luyến tiếc một giai nhân sắp thọ nạn, nhất là Bắc kiếm Phổ Côn, Liễu Văn càng đâm ra bất an. Âm Ty Tú Tài chỉ mỉm cười.

Bỗng hắn phát hiện có những tia nhìn phẫn nộ và bối rối xuyên lại phía mình, âm Ty Tú Tài nhận ngay đó là tia nhìn của một gã người Mông Cổ, đôi mắt của âm ty tú tài Trần Thân quả lợi hại, hắn đã nhận ra ngay người này không phải là người Mông Cổ, mà chỉ là một sự hóa trang, và chắc không ai xa lạ hơn là vị út của Càn Khôn Ngũ Tuyệt, Nam Bút tiên sinh đây.

Trần Thân điềm tĩnh mỉm cười, tia nhìn lập tức nhẹ chớp ra dấu với Dực Đông Biện Trang Hổ, tiếp theo khẽ thì thào với Bắc kiếm Phổ Côn, Bắc Kiếm kinh hãi, bất giác quay đầu lại nhìn, đúng quá! Cả ba sư đệ của mình đang bàn tán với nhau. Bắc kiếm Phổ Côn đành lặng thinh, sắc mặt ảm đạm. Bên kia, Nam Bút tiên sinh bối rối cuống lòng, cho ngay hai vị sư huynh hay, người đang đóng lốt Thiên Hậu Nương Nương này, không phải là ai xa lạ chính là thứ nữ của Thanh Thông Bang Liễu Khai tên Liễu Mi, và cũng là vợ chưa cưới của ái đồ Thượng Quan Linh, như vậy chứng tỏ sự mạo hiểm của Thượng Quan Linh không những chưa cứu được người, mà trái lại rất có thể ái đồ đã gặp nạn cũng nên.

Xem tình trạng đã quá nguy cấp, sư huynh đệ ba người lo âm thầm thương lượng để cứu người. Các Lạt ma sau khi dứt tiếng đọc kinh, tay cầm pháp khí, bốn mươi chín người cùng đứng ngay dậy một lượt. Lúc này trên thượng đài của tế đàn thị nữ, Lạt ma và ba vị sứ giả đều lui hết ngay xuống, các tăng lữ bắt đầu đi xung quanh tụng kinh.

Hiển nhiên đã sắp đến giờ khắc kinh hoàng nhất. Lam y sứ giả Lân vương Cô Thái Huyền đã thò tay vào người lấy hỏa đạn chuẩn bị ném lửa thiêu đàn. Mọi người đều cảm thấy không khí ngột ngạt khẩn trương...

Lân vương Cổ Thái Huyền đang lăm le tính ném hỏa đạn. Nhưng thực ra chỉ huy trương thanh thế dụng ý chẳng qua muốn cho thiên hạ để ý đến Liễu Mi, mà cố nhử cho các tay muốn cứu Liễu Mi lộ ngay nguyên hình, như thế Thanh y sứ giả và Lục y sứ giả có thể thẳng tay tàn sát ngay những ai dám ngang nhiên cướp lễ tế thần này để tận diệt những phần tử dị kỷ.

Thanh sứ giả và Lục y sứ giả, lúc này chú ý quan sát động tĩnh của mọi người. Quả nhiên kẻ thứ nhất không chịu nổi là Liễu Văn, thình lình nàng đứng phắt dậy, tay đã sẵn ám khí, nàng tính phát ra để đánh bật viên đạn lửa của Cổ Thái Huyền, nào ngờ ám khí của nàng còn chưa tung ra, chợt dưới nách bị tê, khẽ nấc lên một tiếng, hôn mê bất tỉnh nhào ngay vào lòng Thiên Trúc ác tăng Tả Pháp Thụ. Hóa ra là Tả Pháp Thụ đã chuẩn bị sẵn, y không muốn để cho người yêu quá mạo hiểm như thế, nên đã kịp thời điểm trúng huyệt hôn mê của nàng. Lúc này Tả Pháp Thụ thở dài, ôm ngay thân Liễu Văn vào lòng, sắc mặt buồn thảm.

Thanh y sứ giả và Lục y sứ giả mỉm cười lạnh lùng. Đằng kia Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút đã chuẩn bị ra tay nhưng Thiên Si nhanh mắt, phát giác ngay cái nhìn của sư huynh Bắc kiếm Phổ Côn, đầy vẻ ngầm cảnh báo.

Chứng tỏ rõ Phổ Côn Bắc Kiếm nay tuy đứng về phe địch, nhưng đối với ba sư đệ vẫn còn tình hương hỏa, nên có ý ngăn trở ba người để miễn bị hy sinh. Nhưng ba nhân vật của Càn Khôn Ngũ Tuyệt không thể nào đứng khoanh tay nhìn Liễu Mi bị chết thảm thiết như thế, và đã quyết tâm liều mạng, phó thác thành bại cho trời định, đối với ý cảnh cáo của Bắc Kiếm, ba người đều vờ như không biết.

Tây Đạo trong tay đã cầm sẵn ám khí. Nam Bút rờ sẵn chuôi kiểm bên mình, cách thức cứu người của họ có vẻ chu đáo hơn Liễu Văn nhiều, nghĩa là họ chờ cho Lân vương Cổ Thái Huyền ra tay trước rồi mới hành động sau theo kế hoạch là Tây Đạo, Đông Tăng cố ngăn chặn địch, Nam Bút phụ trách giúp người, nếu thuận lợi, sẽ cùng với Liễu Mi đột vây thoát trước.

Nhưng vỏ quít dày thường gặp móng tay nhọn! Bắc kiếm Phổ Côn thấy mình tỏ ý cảnh cáo mà không được kết quả gì, đành thở dài đứng dậy. Tiếp theo Dực Đông Biện Trang Hổ, cha con Lỗ Bắc Chung Thu Tử, Giang Nam Kê Vĩ bang chủ cũng nối đuôi nhau đứng dậy, ai nấy lo canh chừng hành động của ba vị sư đệ. Đông tăng Túy Đầu Đà khẽ tiếng rằng:

- Chúng mình đã bị lộ tẩy, nay họ đang xiết chặt vòng vây.

Tây đạo Thiên Si ung dung rằng:

- Cứ tùy cơ mà ứng biến, chớ có sửa đổi làm gì!

Ba người xưa nay vốn là hiệp sĩ nhiệt huyết, sau khi ba người đã quyết định mạo hiểm, chẳng ai còn để ý đến sự sống chết của mình nữa.

Về phía Thượng Quan Linh thiệt và Pháp Sơn lạt ma đang trố mắt ngắm nhìn chăm chú, Pháp Sơn thấy hành động của Bắc kiếm Phổ Côn kỳ lạ, bèn nhắc tỉnh ngay với Thượng Quan Linh. Thấy hai sư bá và sư phụ mình đang chuẩn bị ra tay cứu Liễu Mi trên tế đàn,

Thượng Quan Linh bối rối tự lẩm bầm: Trời ơi! Sư bá và sư phụ ơi! Các ngài chớ có ra tay trong lúc này! Vì đệ tử đây đã an bài sẵn kế hoạch rồi... Thượng Quan Linh vội nói với Pháp Sơn lo tìm cách để báo tin cho sư bá và thầy biết, Pháp Sơn trịnh trọng tỏ ý lắc đầu không làm sao báo tin được trong tình trạng quá gay go này, vì ba nhân vật này đã bị chúng canh chừng cẩn mật, nếu mình báo tin, thế nào cũng bị bại lộ, mà kế hoạch trù liệu sẽ bị tan theo mây khói hết.

Thượng Quan Linh biết, bây giờ phải nghĩ đến đại cuộc, lỡ ra sẽ nguy hết đến tình mạng của ba vị tiền bối, chàng chỉ còn cách âm thầm khấn vái thần linh phù hộ. Mắt chăm chăm theo dõi các động tĩnh đang diễn biến bên ngoài, thế là sự thể khiến ai nấy lo ngại nhất đã không thể nào tránh, các tăng lữ đã qui vị, Lam y sứ giả cười lạnh lùng rồi vung tay ném ngay hỏa đạn ra! Ám khí của Tây đạo Thiên Si bay vèo ra khỏi tay cheng một tiếng, đan xéo nhau với hỏa đạn của Lân vương Cổ Thái Huyền, chỉ thấy hỏa đạn bay ngay về phía Thanh y sứ giả nếu hỏa đạn nổ, thế nào cũng chết người của bọn chúng.

Nhưng, chuyện lạ lại bắt đầu xảy ra, hỏa đạn sau khi trúng vào thân Thanh y sứ giả lại không nổ tung, Lân vương Cổ Thái Huyền chỉ cười nhạt. Ba vị phía Càn Khôn Ngũ Tuyệt biết bị mắc mưu, đồng thanh quát lớn, rút ngay binh khí nhảy vọt ra cứu người, các tay cao thủ lập tức ngăn chặn ngay hành động của họ lại. Đồng thời lúc đó, Lân vương Cổ Thái Huyền lấy ra một hỏa đạn ném ngay lên tế đàn, lửa phất lên ùn ùn.

Nam Bút tiên sinh kinh hoảng, hét lên một tiếng lớn, vung ngay kiếm chém bung ra. Đông tăng Túy Đầu Đà thấy ánh lửa trên tế đàn, cuống lên lo cứu người, ai nấy tung hết các ngọn đánh tuyệt kỹ của mình ra, quả là: nhất phu biện mạng, vạn phu mạc địch (một người liều mạng, vạn người khó đỡ), huống hồ cả ba người đều là nhân vật nổi tiếng đương thời, thuộc đệ nhất lưu của làng võ lâm, trận xung đột này lập tức thấy rõ oai thế ngay, cha con Chung Thiên Thu đã không sao chống đỡ cuộc tấn công dũng mãnh như cọp rừng này. Ba vị sứ giả vẫn không hề ra tay. Thanh y sứ giả chỉ đứng mỉm cười. Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền vốn có ám khí hỏa đạn, nhưng vì cảnh hỗn chiến có bạn có địch, không thể nào đem xử sự trong lúc rối ren này.

Ba người nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt đã áp tới dần, Lục y sứ giả Âm ty tú tài Trần Thân hạ lệnh quát ngay rằng:

- Nay Thanh y sứ giả đại diện Chúa Công truyền lệnh, hôm nay thế nào cũng bắt cho kỳ được ba người này.

Tiếng tuyên bố vừa dứt, quần hào xôn xao, trừ Thiên Trúc phiên tăng Tả Pháp Thụ đang lo cho nàng Liễu Văn ra, hầu hết mọi quần hào đều đã tuốt hết binh khí, lo chen vào trợ chiến. Đám ma đầu này, toàn là những tay khét tiếng trên giang hồ, nay họ dốc toàn lực ra công hãm, dẫu cho cho người có công lực tuyệt giỏi đến đâu đi nữa, tục ngữ có câu: song quyền nan địch tứ thủ (hai tay đấm khó lợi với bốn tay) dưới tình thế địch đông mình yếu như thế, lập tức họ bị sa hẳn vào cuộc khổ chiến, bị vây và đần dà phải lùi hẳn, và chỉ còn nước đỡ đòn để báo vệ.

Cuộc kịch chiến vẫn tiến hành, Thanh y sứ giả liếc nhìn về phía tế đàn, ngọn lửa đã liếm dần sang phía Thiên Hậu Nương Nương. Thanh y sứ giả nói thầm với Âm ty tú tài Trần Thân, lập tức thấy vị Lam y sứ giả này tung mình nhoáng ngay gần đến Thánh kham. Trong Thánh kham lúc này có bốn con mắt đang chăm chú theo dõi cuộc kịch chiến bên ngoài. Thượng Quan Linh rối quýnh như kiến phải bỏng, thấy ân sư và hai vị sư bá đang xông ra bị quân ma đầu vây hãm tới tấp, chàng ức mình vì không thể nào ứng chiến trong lúc này, chàng lẩm bẩm tự hỏi:

- Trời ơi? Sư bá và sư phụ ơi! Nếu có thiêng xin ba ngài mau mau rời khỏi ngay đây đi. Khổ quá! xem chừng tôi phải xông ra liều chết với chúng luôn...

Pháp Sơn nghe vậy kinh hoảng rằng:

- Ấy chết1 Thiếu hiệp chớ có nông nổi thế, phải chiếu theo kế hoạch đã vạch sẵn mà tiến hành, nếu sai một ly đi một dặm, chúng ta sẽ hoàn toàn thất bại hết, không những thế mà hầu hết tính mạng của mọi người đều bị hy sinh hết, xin thiếu hiệp hãy thận trọng suy xét.

Thượng Quan Linh đã mất bình tĩnh, chàng run lên rằng:
- Đại sư nói đúng, nhưng các vị tiền bối ấy đang lâm nguy như thế, tôi đâu có thể ngồi yên cho được, nếu lỡ có bề gì, suốt đời tôi phải ân hận và sẽ trở thành một kẻ tội nhân lớn lắm sao?

Pháp Sơn lạnh lùng như nhắc tỉnh lại:

- Nhưng thiếu hiệp không thể nào rời khỏi nơi đây, vì tí nữa đây, sau khi áo sáp của Liễu cô nương bị cháy tan, thân cô nương sẽ từ trên tấm thạch bán ấy trút xuống đây, đồng thời Tỉ Vương sẽ thân hành xuất hiện tại đây để ép liễu vùi hoa, nếu lúc ấy không có thiếu hiệp ở đây thử hỏi ai là người cứu nguy cho Liễu cô nương?

Nghe câu nói này, Thượng Quan Linh vẫn bàng hoàng chưa quyết định dứt khoát, Pháp Sơn lại lên tiếng rằng:

- Ba vị tiền bối đều là bực cao thủ đương thời, nay tuy bị vây hãm như thế, nhưng vẫn dư sức để tự vệ, lại nữa Tỉ Vương cũng chưa muốn giết ba vị, nếu có thua chắc cũng bị bắt sống mà thôi.

Thượng Quan Linh lúc này đã như lục thần vô chủ mắt vẫn ghé nhìn trận chiến ác liệt bên ngoài, đồng thời chàng cũng thấy ánh lửa đốt lan đến chân Liễu Mi, nhìn những ngọn lửa xanh lè ấy, tinh thần Thượng Quan Linh càng kinh hoàng căng thẳng tột độ. Chàng đã có triệu chứng suýt ngất. Pháp Sơn thấy vậy khẽ ý lên một tiếng vội nhắc tỉnh ngay chàng, chỉ thấy Thanh y sứ giả đang đứng ra để che cho Lục y sứ giả Trần Thân, mà hình như Trần Thân đang chờ đợi cơ hội để hành động vậy.

Pháp Sơn lúc này trấn tĩnh nhất, và biết ngay đây là gian mưu của Tỉ Vương, khẽ tiếng nói với Thượng Quan Linh rằng:

- Xem kế hoạch của chúng đã thay đổi hẳn, khi tấm thạch bản lộn ngược xuống ấy, Tỉ Vương Thanh y sứ giả thế nào cũng thân hành lại đây, nhưng nay có lẽ vì trận chiến kịch đấu đang xảy ra, nên Tỉ Vương không sao rút thân ra được, nên sai Âm Ty Tú Tài đến đây lo liệu cũng nên.

Thượng Quan Linh thất kinh hấp tấp hỏi:

- Vậy kế hoạch của chúng ta có cần thay đổi để đối phó với họ không?

Pháp Sơn chẳng cần suy nghĩ:

- Quá trễ rồi! Nay sư huynh Pháp Đô đang bận bên ngoài, sự liên lạc đã bị gián đoạn, nếu chúng mình thay đổi kế hoạch, trong tình trạng không liên lạc với nhau ấy thế nào cũng rước lấy những sự không may vào người. Nay chúng mình nên theo kế hoạch cũ mà tiến hành, vậy xin thiếu hiệp hãy mau mau chuẩn bị, vì tên Trần Thân sắp vào đến nơi đây. Chúng mình lo nấp kỹ trước đã.

Dứt lời kéo Thượng Quan Linh nấp ngay vào một nơi mật huyệt của Thánh kham.

Bên ngoài hỗn chiến vẫn diễn ra sôi nổi, quần hào chỉ lo vây kín ba nhân vật của Càn Khôn Ngũ Tuyệt, nhưng mọi người không ai muốn hạ độc thủ Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút, ba nhân vật khét tiếng một thời xưa, vẫn oai dũng chống trả kịch hệt, thình lình Biện Trang Hổ trúng kiếm của Nam Bút, bị thương nặng, máu chảy thành vòi. Biện Trang Hổ vừa lùi lập tức vòng chiến bị khuyết, Nam Bút cố xông bừa ra. Thầy trò Độc Ma cười ha hả thế ngay vào lỗ hổng đó, Nam Bút lại bị vây như cũ.

Lúc này, ngọn lửa xanh đã thiêu đốt toàn thân Thiên Hậu Nương Nương, tất cả số người dự hội tại đây đều mục kích vị tuyết đại giai nhân này đang bị rước đi bằng ngọn lửa tai ác của Lân vương Cổ Thái Huyền. Tiếng cười điên cuồng của Cổ Thái Huyền vang lên khắp trong điện, tiếp theo hắn lại ném thêm hai hỏa đạn nữa, lập tức trên tế đàn và dưới Thánh kham tỏa lên một đám khói mờ mịt, cũng nhân đám khói để làm bình phong yểm hộ này, thạch bản của tế đàn khởi sự lộn ngược và trút ngay thân Thiên Hậu Nương Nương xuống dưới mật huyệt của Thánh kham còn tên Âm Ty Tú Tài lúc này cũng nhanh chân lướt ngay vào đường hầm bí mật.

Khi tiếng chuông vang lên, khói đã tan hết, ngọn lửa xanh lè đã tắt hẳn, tung tích của Thiên Hậu Nương Nương đã mất biệt. Tên ty nghi tuyên bố, cuộc lễ đã hoàn tất pháp thể của Thiên Hậu đã được thánh hỏa rước về trời. Những tiếng than tiếc ngấm ngầm trong lòng mọi quần hào.

Nam Bút tiên sinh đứng nhìn ngẩn về phía tế đài, rối rít kêu:

- Liễu Mi!...Liễu Mi ơi! - Sau tiếng kêu ông ta lăn ra bất tỉnh luôn.

Biện Trang Hổ chỉ chờ dịp để trả thù vừa rồi, nay gặp dịp ngàn năm một thuở này, đâu chịu bỏ qua. Vác ngay ngọn đao của mình bửa bừa ngay xuống. Mắt thấy Nam Bút thế nào cũng chấm dứt mạng sống oanh liệt một thời, trong thời gian tóe lửa ấy, thình lình nghe choang một tiếng vang lên, đao kiếm đụng nhau, và ngọn kiếm đã gạt phắt ngay đao của Biện Trang Hổ, khiến cho cánh tay của Biện Trang Hổ tê buốt hẳn. Khi Biện Trang Hổ định thần nhìn xem ai, hóa ra là Bắc kiếm Phổ Côn.. đã ra tay cứu Nam Bút, lập tức nổi giận đùng đùng:

- Lão già chết toi này! Bộ tính làm phản sao?

Bắc Kiếm trợn mắt tính nổi cơn thịnh nộ nhưng lập tức lại bừng tỉnh ngay và ôn hòa rằng:

- Người ta đã bất tỉnh như thế, hà tất phải hạ độc thủ làm gì?

Biện Trang Hổ nổi giận, vung đao chém bừa lại, ngay lúc này một tiếng lạnh lùng vang lên rằng:

- Chính ta cũng gai mắt tên già này rồi!

Thì ra kẻ nói tiếng này là một trong Thái Hành Ngũ Khấu, lão tứ Phi ngô tiêu Lỗ Tiến, dứt câu nói vung tay phóng luôn ám khí đánh thẳng sang Bắc kiếm Phổ Côn, Bắc Kiếm né tránh không kịp. Thiên Si, Đông Tăng vốn vẫn kính mến sư huynh, nay thấy sư huynh lại ra tay cứu Nam Bút tứ đệ như thế, càng cảm động. Thấy sư huynh đang lâm nguy, tính ra tay cứu nhưng đã trễ.

Thiên Si cảm thấy mắt tối sầm lại, điên cuồng xông bừa sang. Túy Đầu Đà miệng phun máu uất ra, bắn đầy mặt cha con Chung Thiên Thu, khiến hai cha con này không sao mở mắt kịp, hai nhân vật Càn Khôn lập tức bay toàn thân sang, cứu sư huynh.

Đằng này Thái Hành Lục Khấu, phái Điểm Thương Hoàng Kha đều bổ ra vây kín lại. Bên kia ám khí đã bay sát gần sau lưng Bắc Kiếm, bỗng Tư Đồ Cống hét lên một tiếng như điên, toàn thân nhoáng vèo lại hứng chịu hết những ám khí, chỉ nghe những tiếng chịch! chịch! chịch! liên tiếp, ba ngọn phi ngô tiêu (hình tiêu con rết) đã trúng hết vào nơi trọng yếu của Tư Đồ Cống, chết không kêu được một tiếng nào. Sự biến đổi quá đột ngột này đã gây kinh ngạc cho khắp quần hào về cử chỉ nghĩa bộc cứu chủ này, ai nấy thì thào bàn tán xôn xao, tất cả những tay ma quân giết người không gớm tay lúc nào đều đã tự động ngừng chiến. Bắc kiếm Phổ Côn mếu máo chảy nước mắt, ôm ngay xác Tư Đồ Cống để khám nghiệm, thấy ba mũi tiêu đều vào các nơi trọng huyệt, khiến cho nghĩa bộc già của mình thiệt mạng.

Đang khi mọi người còn xúc động về sự kiện xảy ra trước mắt ấy, thì Tây Đạo, Đông Tăng lo bước ngay lại phía Nam Bút vội vàng ôm ngay sư đệ lên tính hấp tấp rời ngay vòng vây. Thình lình Lam y sứ giả Lân vương Cổ Thái Huyền vèo nhoáng thân ra, nhẹ xòe bàn tay, một hỏa đạn nằm gọn ngay lòng bàn tay, cười nham hiểm trầm tiếng lạnh lùng rằng:

- Trò vui đã diễn hết đâu! Sao vội đi ngay thế - Dứt tiếng y tính ném ngay hỏa đạn trên tay ra, Tây Đạo, Đông Tăng biết lợi hại, vội vàng đề phòng.

Lại có chuyện kinh người tiếp diễn trong đại điện, chỉ thấy Thanh y sứ giả tà áo bay uyển chuyển, lướt ngay tới Bắc kiếm Phổ Côn, thình lình ra tay vung chưởng, chỉ cách thiên linh cái của Bắc Kiếm ước chừng hai tấc, rồi lạnh lùng cười rằng:

- Càn Khôn Ngũ Tuyệt kết nghĩa kim lan, nay Bắc Kiếm đã ở đây, không lý Tây Đạo, Đông Tăng, Nam Bút lại không ở chung với sư huynh sao?

Chỉ cần bản chưởng của Thanh y sứ giả ép thêm xuống, dẫu cho chiếc đầu của Bắc Kiếm có làm bằng sắt đi nữa, ắt cũng bị bể vỡ ngay. Đang lúc Tây Đạo, Đông Tăng đang ôm Nam Bút để đột thoát vòng vây ấy, không ngờ Tỉ Vương ma quân lại dùng thủ đoạn lấy tính mạng của sư huynh để ép chẹt, lúc này cả hai người đều kinh hãi! Thanh y sứ giả mỉm cười lạnh lùng rằng:

- Tả hữu đâu? Còn không mau mau chuẩn bị tịnh thất để chiêu đãi quí khách sao?

Quần hào bỗng ào hết lên một lượt, áp giải luôn nhóm Càn Khôn.

Đại điện khôi phục ngay sự trật tự, lúc này nghi thức lại bắt đầu.

Nay xin quay đầu bút thuật lại Thiên Hậu Nương Nương từ trên tế đàn cao ấy rớt xuống một đường hầm bí mật của Thánh kham.

Chỉ thấy một thân hình lõa thể từ trên trút xuống và rớt ngay vào một nha sàng đã đặt sẵn. Sau khi nằm trong sàng, không thấy thiếu nữ nhúc nhích gì. Thượng Quan Linh tính vọt ra ngay để xem sao. Vừa chực động thân, Pháp Sơn đã nhanh hơn chàng, lập tức ngăn trở lại và khẽ tiếng nói bên tai chàng:

- Tên âm Ty Tú Tài đã đến, chớ nên nông nổi mà hỏng kế hoạch.

Thượng Quan Linh nhìn kỹ, quả nhiên công lực của vị Lục y sứ giả cừ khôi lắm, hành động nhanh nhẹ như con chồn mướp, không gây một tiếng động nào, hai mắt hắn sáng quắt. Chỉ thấy tên Trần Thân này sau khi ngó quanh ngó quất một hồi, sau chót ngừng ngay tia nhìn lại chiếc giường ngà... Thượng Quan Linh nổi tức đùng đùng trong tâm thần, ngầm quyết định thế nào cũng thủ tiêu tên gian ác này.

Nhưng chàng nghĩ ngay: nếu mình ra khiêu chiến đường hoàng với danh nghĩa của bản thân mình, chưa chắc gì đã là địch thủ của âm ty tú tài Trần Thân, còn mình xuất hiện với bộ dáng Thanh y sứ giả tên Trần

Thân sẽ ngộ nhận là đồng đạo, khi ấy mình sẽ thẳng tay hạ độc thủ đẽ tiêu diệt y. Khéo ngẫu nhiên là Tỉ Vương đang đội lốt của Thượng Quan Linh để xuất hiện với chức Thanh y sứ giả, nay Thượng Quan Linh thiệt đâu cần gì phải hóa trang mà càng dễ đánh lừa Trần Thân, đồng thời nhóm của Pháp Đô lạt ma đã chuẩn bị sẵn từ trước quần áo của Thượng Quan Linh lúc này, hoàn toàn phục sức đúng hệt theo lối ăn mặc của Thanh y sứ giả Tỉ Vương. Chỉ cần hiện thân ra, thế nào tên âm Ty Tú Tài cũng ngỡ là Chúa Công mình đã đến. Và hắn tuyệt nhiên không thể nào nghi ngờ được. Thượng Quan Linh và Pháp Sơn lúc này đâu dám lên tiếng, đôi bên đều trao đổi ý kiến bằng lối viết vào bàn tay của nhau, sau khi hai người đồng ý. Thượng Quan Linh hồi hộp chờ đợi.

Chỉ thấy tên Âm ty tú tài Trần Thân lẩm bẩm một mình:

- Đã nghe đồn vế sắc đẹp của thứ nữ Thanh Thông Bang, nay được thấy quả là trang tuyệt sắc giai nhân...

Lòng dục đã thúc tên âm ty sứ giả bạo phổi chiếm đoạt người đẹp trước mắt... Sau khi thẫn thờ nhìn ngắm ngây ngất, hắn từ từ cúi mình xuống để ôm thân người đẹp. Thình lình một giọng cười lạnh lùng vang lên, Trần Thân vội quay phắt ngay mình lại, Thanh y sứ giả xuất hiện đột ngột phía sau, khiến cho âm Ty Tú Tài hồn bay vía lạc, tay chân gần muốn rụng rời. Trong bộ óc bén nhạy của hắn còn nghĩ cá tính khắt khe của Tỉ Vương, một khi Chúa Công đã phát giác nội vụ có dã tâm phản nghịch như thế, không làm sao tránh khỏi một sự tàn sát ghê gớm sẽ xảy ra.

Trần Thân chợt thoáng nghĩ nhanh Tỉ Vương đang bận chủ trì cuộc lễ bên ngoài diện, sao lại xuất hiện thình lình nơi đây kìa? Nhưng vì muốn giữ mạng sống, hắn không cần tìm hiểu nguyên do, hấp tấp quay mình dồn hết toàn lực bình sinh vào song chưởng đẩy bung ra ngay.

Thượng Quan Linh cũng thừa biết hắn sẽ liều mạng chết mạo hiểm, nên chàng đã chuẩn bị sẵn không cần đắn đo gì, vung ngay chướng nghênh địch. Bùng một tiếng dữ dội, hai luồng kình phong đụng độ vì Thượng Quan Linh sợ bị lộ tẩy trước mắt tên Trần Thân, nên lúc ra tay chàng đã vận dụng đến chín mười phần công lực, công hiệu của Tuyết bi tiên hoa đâu phải vừa gì, khi chưởng phong đôi bên tiếp giao, dù cho tên Trần Thân giỏi đến đâu đi nữa, cũng không làm sao chịu đựng nổi, lúc này chỉ thấy toàn thân hắn lảo đảo.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau